Khác [Six Of Crows]_MÓNG VUỐT QUẠ ĐEN

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
359,957
Phản ứng
0
VNĐ
44,735
365548874-256-k177735.jpg

[Six Of Crows]_móng Vuốt Quạ Đen
Tác giả: ZeroKasa
Thể loại: Hành động
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

[ SIX OF CROWS - MÓNG VUỐT QUẠ ĐEN ]
{Leigh Bardugo - Hoàng Anh}

●Six Of Crows I

Sáu Kẻ Bất Hảo ; Phi Vụ Bất Khả

●Crooked Kingdom(SOC II)

Mưu Ma Chước Quỷ ; Giang Hồ Hiểm Ác

Ketterdam là trung tâm giao thương quốc tế, nơi mọi thứ đều có thể đoạt lấy nếu được trả một cái giá tương xứng - và không ai hiểu rõ điều đó hơn thiên tài tội phạm Kaz Brekker.

Kaz được đề nghị thực hiện một phi vụ hiểm hóc với mức tiền công sẽ giúp anh giàu sang hơn bất cứ giấc mơ điên rồ nào của mình.

Nhưng anh không thể hoàn thành được nó một mình.

"Một tù nhân với cơn khát trả thù
Một tay thiện xạ không thể cưỡng lại cám dỗ của trò đỏ đen
Một người trốn chạy quá khứ trong nhung lụa
Một gián điệp mang biệt danh Bóng Ma
Một Độc Tâm Y dùng sức mạnh để sinh tồn trong khu ổ chuột
Một tên trộm tài năng với những cuộc đào thoát không tưởng."

Họ có thể cứu thế giới khỏi sự hủy diệt - Nếu như họ không giết lẫn nhau trước!!

Đây là thế giới của các Grisha, gián điệp, tù nhân, thiên tài tội phạm - với những cuộc đào thoát không tưởng.

Họ có thể cứu thế giới khỏi sự hủy diệt - Nếu như họ không giết lẫn nhau trước!!

Đây là thế giới của các Grisha, gián điệp, tù nhân, thiên tài tội phạm - với những cuộc đào thoát không tưởng.



sixofcrows​
 
Có thể bạn cũng thích !
  • Descendants of Heaven
  • [ Arknights]: Phantom of The Past
  • ECSTATIC ( DaouOffroad )
  • [OffGun] Tình yêu của 5 năm bạn thân
  • [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    I♤ SÁU KẺ BẤT HẢO


    Phần Một: PHI VỤ MỜ ÁM

    1 JOOST

    2 INEJ

    3 KAZ

    4 INEJ

    5 KAZ

    6 NINA

    Phần Hai: ĐẦY TỚ & ĐÒN BẨY

    7 MATTHIAS

    8 JESPER 9 KAZ

    10 INEJ

    11 JESPER 12 INEJ

    13 KAZ

    14 NINA

    15 MATTHIAS

    Phần Ba: THẤT VỌNG

    16 INEJ

    17 JESPER

    18 KAZ

    19 MATTHIAS

    20 NINA
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Một: Phi Vụ Mờ Ám 1-3


    1

    JOOST

    Joost có hai vấn đề: mặt trăng và ria mép.

    Lẽ ra cậu phải đi tuần tra quanh tư dinh của ngài Hoede, thế nhưng suốt mười lăm phút vừa qua cậu chỉ quanh quẩn ở bức tường phía đông nam của khu vườn, tìm kiếm trong vô vọng một thứ gì đó lãng mạn mà không ngớ ngẩn để nói với Anya.

    Giá mà cô có đôi mắt xanh như biển khơi hoặc như màu ngọc lục bảo.

    Nhưng chúng lại có màu nâu, đáng yêu và mơ màng...

    Nâu như sôcôla tan chảy ư?

    Hay là nâu như lông thỏ?

    "Cứ nói là làn da cô ấy tựa như ánh trăng," anh bạn Pieter đã khuyên Joost như vậy.

    "Bọn con gái thích thế."

    Một giải pháp hoàn hảo, nhưng thời tiết ở Ketterdam không chiều lòng Joost.

    Suốt cả ngày nay chẳng có cơn gió nào từ ngoài cảng thổi vào, lớp sương trắng đục quấn chặt những con kênh và ngõ ngách quanh co trong sự ẩm ướt.

    Ngay cả ở đây, giữa những tư dinh tại Geldstraat này, không khí cũng sực mùi cá và mùi nước súc hầm tàu.

    Khói từ các xưởng tinh chế trên những hòn đảo lân cận tạo thành một lớp mây mù thớ lợ che phủ bầu trời đêm.

    Vầng trăng tròn trông bớt giống một viên ngọc và như một cái mụn rộp vàng đục cần được chọc vỡ nhiều hơn.

    Hay là ca tụng nụ cười của cô ấy nhỉ?

    Chỉ có điều, Joost chưa bao giờ nghe Anya cười.

    Pha trò không phải là thế mạnh của cậu.

    Joost liếc nhìn mình ở một trong những tấm gương gắn trên các cánh cửa đôi dẫn ra vườn.

    Mẹ của cậu nói đúng: ngay cả trong bộ đồng phục mới này, trông cậu vẫn giống như một đứa con nít.

    Joost lướt nhẹ ngón tay qua môi trên.

    Giá như bộ ria mép của cậu chịu mọc.

    Dù sao thì nó cũng có vẻ dày hơn hôm qua, rõ ràng là thế.

    Mới làm vệ quân trong đội thị tuần được non sáu tuần lễ mà Joost đã thấy công việc này không thú vị như mong đợi.

    Cậu cứ tưởng mình sẽ được truy đuổi những tên trộm ở Barrel, hoặc đi tuần tra hải cảng để kiểm định những chuyến hàng cập bến.

    Nhưng từ sau vụ ám sát ông đại sứ tại Toà thị chính, Hội đồng Thương buôn liên tục kêu ca về tình hình an ninh, và thế là Joost bị mắc kẹt với việc đi lòng vòng quanh tư dinh của một tay lái buôn may mắn.

    Nhưng ông ta không phải là một kẻ vô danh.

    Ủy viên hội đồng Hoede là thương gia có chức vụ cao nhất trong chính quyền Ketterdam.

    Kiểu người có thể làm nên đại sự.

    Joost chỉnh lại áo xống và khẩu súng, rồi vỗ nhẹ cây dùi cui nặng trĩu treo lủng lẳng bên hông.

    Biết đâu cậu có thể lọt vào mắt xanh của Hoede.

    Tinh mắt và sử dụng dùi cui linh hoạt, cậu ta xứng đáng được thăng cấp!

    Joost hình dung ông ta sẽ nói như thế.

    "Trung sĩ Joost Van Poel," cậu lẩm nhẩm, tận hưởng từng chữ một.

    "Đội trưởng Joost Van Poel."

    "Đừng có ngắm vuốt nữa mà."

    Joost giật nảy người, hai má đỏ ửng, trong lúc Henk và Rutger tiến ra vườn.

    Cả hai người đều lớn tuổi hơn, to con hơn và có đôi vai rộng hơn so với Joost.

    Họ là cận vệ trong nhà, gia nhân của ủy viên hội đồng Hoede.

    Do vậy họ được mặc chế phục mầu xanh của ông ta, mang những khẩu súng trường bá cháy của Novyi Zem, và luôn nhắc cho Joost nhớ rằng cậu chỉ là một anh lính quèn trong đội tuần tra của thành phố.

    "Có nâng niu mấy sợi râu loe ngoe đó thì cũng chẳng làm cho chúng mọc nhanh hơn được đâu," Rutger nhận xét kèm theo một tràng cười sang sảng.

    Joost đáp, cố vớt vát một chút thể diện.

    "Tôi phải đi tuần tra nốt đây."

    Rutger huých Henk một cái.

    "Có nghĩa là cậu chàng sắp thò đầu vào trong xưởng Grisha để ghé thăm bạn gái đấy."

    "Anya ơi, em có thể dùng năng lực Grisha để làm râu anh mọc được không?"

    Henk chế giễu.

    Joost quay gót, hai má đỏ bừng, và bước đi dọc theo mặt đông của toà nhà.

    Bọn họ đã trêu chọc cậu từ hôm đầu tiên cậu đến đây.

    Nếu không vì Anya, chắc cậu đã nài nỉ đội trưởng cho mình đổi qua nhiệm vụ khác.

    Anya và Joost chỉ trao đổi với nhau vài lời trong các chuyến tuần tra, nhưng cô luôn là khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong những đêm dài của cậu.

    Ngoài ra, Joost phải công nhận là cậu cũng thích tư dinh của Hoede, ít nhất với những thứ cậu quan sát được trong vài lần trộm nghía qua cửa sổ.

    Ngài Hoede sở hữu một trong những tư dinh lớn nhất Geldstraat.

    Sàn nhà được lát những vuông đá hai màu trắng đen, các vách tường gỗ bóng sẫm màu được chiếu sáng bởi những chùm đèn thuỷ tinh thổi giống như đàn sứa lơ lửng gần các ô trần.

    Đôi khi Joost vờ như đây là nhà mình, và cậu là một thương gia giàu có đang đi hít thở không khí trong khu vườn tráng lệ của mình.

    Trước khi đi tới góc tường, Joost hít một hơi thật sâu.

    Anya à, đôi mắt em nâu như... vỏ cây?

    Cậu sẽ nghĩ ra một thứ gì đó.

    Dù sao thì cậu nên ứng khẩu là hơn.

    Joost ngạc nhiên khi thấy mấy cánh cửa kính của xưởng Grisha đang mở.

    Sự giàu có của Hoede không chỉ nằm ở lớp gạch lam vẽ tay được lát trong nhà bếp hay những lò sưởi phủ đầy chậu hoa tulip, mà còn ở chính cái xưởng này.

    Các Grisha giúp việc theo giao kèo không hề rẻ, và Hoede có đến ba người.

    Nhưng Yuri không xuất hiện bên bàn thợ dài, còn Anya thì chẳng thấy đâu.

    Chỉ mỗi mình Retvenko đang ở đó, nằm ườn trên ghế trong chiếc áo choàng màu lam thẫm, mắt nhắm nghiền, một cuốn sách đang mở đặt trên ngực.

    Joost ngập ngừng trên ngưỡng cửa, rồi hắng giọng.

    "Mấy cái cửa này nên được đóng lại và khoá chặt vào buổi tối."

    "Ở đây nóng như cái lò," Retvenko dài giọng đáp lại mà không buồn mở mắt, với âm sắc Ravka nặng và uốn lưỡi nhiều.

    "Bảo Hoede là bao giờ tôi không chảy mồ hôi nữa thì tôi sẽ đóng cửa."

    Retvenko là một Tiết Khí Sư, lớn tuổi hơn những Grisha giúp việc theo giao kèo khác.

    Mái tóc ông ta đã ngả màu muối tiêu.

    Theo lời đồn thì ông ta từng chiến đấu cho phe thua cuộc trong nội chiến Ravka và chạy sang Kerch sau đó.

    "Tôi sẽ rất sẵn lòng chuyển lời phàn nàn của ông tới Ủy viên hội đồng Hoede," Joost nói dối.

    Toà nhà luôn luôn được sưởi quá mức như thể Hoede bị buộc phải đốt than, nhưng Joost không phải là người lưu ý chuyện đó với ông ta.

    "Trong lúc chờ đợi..."

    "Cậu có tin của Yuri à?"

    Retvenko cắt ngang, rốt cuộc cũng mở đôi mắt trũng sâu của mình.

    Joost bối rối nhìn những bát đựng nho đỏ và các chồng vải nhung màu đỏ rượu nằm trên bàn thợ.

    Yuri đang nghiên cứu cách nhuộm màu đỏ của trái nho cho những tấm rèm của phu nhân Hoede, nhưng mấy hôm trước anh ta ngã bệnh nặng và Joost không gặp anh ta kể từ lúc đó.

    Bụi đã bắt đầu bám trên chỗ vải nhung, còn những trái nho bắt đầu hỏng.

    "Tôi không nghe gì cả."

    "Phải rồi.

    Cậu còn bận nghênh ngang tới lui trong cái bộ đồng phục tím ngớ tím ngẩn."

    Đồng phục của cậu thì có liên quan gì?

    Mà tại sao Retvenko phải có mặt ở đây?

    Ông ta là Tiết Khí Sư riêng của Hoede, thường xuyên rong ruổi trên những con tàu hàng quý báu nhất của ngài thương gia để bảo đảm mưa thuận gió hoà, cho phép chúng cập bến an toàn và nhanh chóng.

    Tại sao ông ta không đi biển vào lúc này?

    "Tôi nghĩ có thể Yuri đang bị cách li."

    "Hữu ích ghê," Retvenko đáp với nụ cười khinh khỉnh.

    "Cậu có thể ngừng vươn cổ ngó nghiêng được rồi đó.

    Anya đi rồi."

    Joost lại cảm thấy mặt mình nóng bừng.

    "Cô ấy đang ở đâu?"

    Cậu hỏi, cố tỏ ra uy quyền.

    "Cô ấy nên ở trong nhà vào buổi tối."

    "Một giờ trước Hoede đã đưa con bé đi.

    Cũng giống như cái đêm ông ta đến tìm Yuri."

    "Ông nói ông ta 'đến tìm Yuri' nghĩa là sao?

    Anh ta bị bệnh mà?"

    "Hoede đến tìm Yuri, khi về Yuri ngã bệnh.

    Hai ngày sau, thằng bé mất tích luôn.

    Giờ tới lượt Anya."

    Mất tích luôn?

    "Biết đâu đây là một việc khẩn cấp.

    Nếu có ai đó cần được cứu chữa thì..."

    "Đầu tiên là Yuri, giờ là Anya.

    Tôi sẽ là người tiếp theo, và không ai

    để ý ngoại trừ anh lính quèn Joost.

    Cậu đi ngay đi."

    "Nếu Ủy viên hội đồng Hoede..."

    Retvenko giơ cánh tay lên, và một luồng gió đẩy Joost lùi lại.

    Cậu loạng choạng cố đứng vững, bám tay vào khung cửa.

    "Tôi đã bảo đi ngay."

    Retvenko vẽ một vòng tròn trong không khí và cánh cửa đóng sầm lại.

    Joost buông tay ra vừa kịp lúc để tránh bị kẹp ngón tay.

    Cậu ngã ra ngoài vườn.

    Joost đứng dậy nhanh hết mức có thể và phủi sạch bộ đồng phục với cảm giác nhục nhã ê chề trong lòng.

    Một tấm kính cửa đã bị rạn do lực tác động.

    Qua lớp kính rạn cậu nhìn thấy nụ cười của Retvenko.

    "Chuyện này sẽ được tính vào giao kèo của ông," Joost vừa nói vừa chỉ tay vào tấm kính rạn.

    Cậu căm ghét giọng điệu nhỏ nhen ti tiện vừa bật ra từ miệng mình.

    Retvenko vẫy tay, và cánh cửa rung lên lạch cạch.

    Joost bất giác lui lại một bước.

    "Đi tuần đi, cún con à," ông ta nói.

    "Mọi chuyện suôn sẻ ghê!"

    Rutger cười khúc khích, lưng dựa vào bờ tường của khu vườn.

    Anh ta đứng đó được bao lâu rồi?

    "Anh không có chuyện gì khác để làm ngoài bám theo tôi à?"

    Joost hỏi.

    "Tất cả các cận vệ được gọi đến nhà thuyền, kể cả cậu.

    Hay là cậu đang bận kết bạn?"

    "Tôi chỉ đang nhắc ông ta đóng cửa lại."

    Rutger lắc đầu.

    "Đừng nhắc.

    Hãy ra lệnh.

    Bọn họ là gia nhân, không phải khách mời danh dự."

    Trong lòng chưa hết nhục nhã, Joost bước đi bên cạnh anh ta.

    Tệ nhất là Rutger nói đúng.

    Retvenko không có quyền gì để mà nói năng với cậu như vậy.

    Nhưng cậu còn làm gì được đây?

    Ngay cả khi cậu có đủ dũng khí, việc ẩu đả với một Tiết Khí Sư cũng giống như đánh một cái bình đắt tiền.

    Các Grisha không phải là người giúp việc đơn thuần, họ là tài sản quý báu của Hoede.

    Ngụ ý của Retvenko khi nói về Yuri và Anya khiến Joost bận tâm.

    Có phải ông ta đang bao che cho Anya hay không?

    Các Grisha giúp việc theo giao kèo bị giữ ở trong nhà là có lí do cả.

    Nếu lang thang ngoài đường mà không được bảo vệ, họ có nguy cơ sẽ bị bọn buôn nô lệ bắt mất.

    Biết đâu cô ấy đang hẹn hò ai đó, Joost rầu rĩ phỏng đoán.

    Dòng suy nghĩ của Joost bị cắt ngang bởi ánh sáng và sự nhộn nhịp bên cạnh nhà thuyền đối diện dòng kênh, cậu có thể nhìn thấy ở bờ bên kia những toà nhà tráng lệ của các thương gia, cao và thanh thoát.

    Các đầu hồi gọn ghẽ trên mái tạo thành những hình thù đen thâm trên nền trời.

    Các khu vườn và nhà thuyền của chúng được chiếu sáng bằng những ngọn đèn lồng rực rỡ.

    Vài tuần trước đó, người ta bảo Joost rằng nhà thuyền của Hoede sẽ được cải tạo và cậu có thể gạch nó khỏi danh sách tuần tra.

    Tuy nhiên, khi cùng với Rutger bước vào bên trong, cậu không thấy các thùng sơn hay giàn giáo chi cả.

    Những chiếc thuyền gondel và mái chèo đã được đẩy vào sát tường.

    Các cận vệ trong bộ chế phục xanh lá đã có mặt, và Joost cũng nhận ra hai thị tuần mặc đồ tím.

    Nhưng phần lớn không gian của nhà thuyền bị choán chỗ bởi một cái buồng lớn, kiểu buồng độc lập hình như được làm từ thép gia cố.

    Các mối ghép của căn buồng được gắn chi chít đinh tán, một cửa sổ lớn được trổ ở bên vách của nó.

    Qua lớp kính cửa sổ cong, Joost có thể nhìn thấy một cô gái đang ngồi cạnh bàn, tay siết chặt lớp áo lụa đỏ quanh người.

    Phía sau cô gái có một thị tuần đang canh chừng.

    Anya.

    Joost giật mình khi nhận ra cô.

    Đôi mắt nâu của cô mở to và hoảng sợ, làn da cô tái nhợt.

    Cậu bé ngồi đối diện với cô trông còn hoảng sợ gấp đôi.

    Tóc cậu ta rối bù, đôi chân đong đưa trên ghế, căng thẳng đá vào không khí.

    "Sao lại có nhiều vệ quân như thế này?"

    Joost thắc mắc.

    Phải có đến hơn mười vệ quân đang tập hợp trong nhà thuyền.

    Ủy viên hội đồng Hoede cũng có mặt, cùng với một thương gia mà Joost không quen biết, cả hai đều mặc trang phục đen của các thương nhân.

    Joost đứng thẳng người lại khi thấy họ đang nói chuyện với đội trưởng đội thị tuần.

    Cậu thầm mong mình đã phủi sạch đất cát trên bộ đồng phục.

    "Chuyện này là sao?"

    Rutger nhún vai đáp.

    "Ai mà biết?

    Một chút thay đổi trong quy trình."

    Joost lại nhìn qua lớp kính.

    Anya đang nhìn Joost, nhưng ánh mắt cô không tập trung vào cậu.

    Vào ngày đầu tiên cậu đến tư dinh của Hoede, cô đã chữa lành một vết bầm trên má cậu.

    Cũng chẳng có gì, chỉ là vết màu vàng còn lại của chỗ rách trên mặt sau một bài huấn luyện, nhưng có vẻ như Hoede đã nhìn thấy nó và không muốn các cận vệ của mình trông giống bọn du đãng.

    Joost được đưa tới xưởng Grisha, và Anya đã cho cậu ngồi xuống một vuông nắng cuối đông sáng rực.

    Những ngón tay mát lạnh của cô lướt trên da cậu, và mặc dù nó ngứa khủng khiếp, chỉ vài giây sau vết bầm đã biến mất như chưa từng xuất hiện.

    Khi Joost nói lời cảm ơn, Anya mỉm cười, và cậu đã bị chinh phục.

    Cậu biết mình không có hi vọng nào.

    Ngay cả nếu như cô có một chút quan tâm dành cho cậu, cậu cũng không bao giờ có đủ điều kiện để chuộc lại giao kèo của cô từ tay Hoede, và Anya cũng sẽ không bao giờ cưới chồng trừ phi được Hoede cho phép.

    Nhưng điều đó không ngăn được việc cậu ghé qua chào hoặc mang cho cô những món quà nhỏ.

    Cô thích nhất tấm bản đồ nước Kerch, một bức vẽ kì quặc hoạ lại đảo quốc của họ, vây quanh bởi đám người cá bơi trong Chân Hải và tàu thuyền bị cuốn theo các cơn gió thể hiện qua hình ảnh những người đàn ông phùng má.

    Đó là một món đồ lưu niệm rẻ tiền, loại mà các du khách vẫn mua ở Đông Stave, nhưng hình như nó làm cô vui.

    Joost đánh liều giơ tay phác một cử chỉ chào.

    Anya không có phản ứng.

    "Cô nàng không thể thấy cậu được đâu, nỡm ạ," Rutger bật cười.

    "Tấm kính được tráng gương ở mặt bên kia."

    Hai má Joost ửng đỏ.

    "Làm sao tôi biết chuyện đó được?"

    "Mở mắt ra và chú ý vào."

    Đầu tiên là Yuri, giờ là Anya.

    "Tại sao họ lại cần đến một Thiện Tâm Y?

    Cậu bé kia bị thương sao?"

    "Tôi thấy cậu ta hoàn toàn khoẻ mạnh."

    Người đội trưởng và Hoede dường như đã đạt được một sự đồng thuận nào đó.

    Qua lớp kính tráng gương, Joost thấy Hoede bước vào bên trong căn buồng và vỗ vai khích lệ cậu bé.

    Chắc căn buồng phải có lỗ thông hơi, vì Joost nghe thấy Hoede nói: "Dũng cảm lên, xong việc này cháu sẽ được nhận vài kruge."

    Nói đoạn ông ta tóm lấy cằm của Anya bằng bàn tay đầy đốm đồi mồi.

    Cô gái căng người lên, ruột gan Joost quặn lại.

    Hoede lay nhẹ khuôn mặt Anya.

    "Hãy làm như được bảo, và chuyện này sẽ sớm kết thúc, ja?"

    Anya rụt rè mỉm cười.

    "Vâng, thưa ngài."

    Hoede thì thào gì đó với người vệ quân đứng sau lưng Anya, rồi bước ra ngoài.

    Cánh cửa đóng lại với một tiếng thình vang vọng, và Hoede cài chiếc then cửa nặng trịch.

    Cùng với người thương gia kia, ông ta đứng vào vị trí gần như trước mặt Joost và Rutger.

    Người thương gia lạ mặt lên tiếng: "Ông có chắc việc này là khôn ngoan không đấy?

    Cô bé này là một Tâm Y.

    Sau những gì xảy ra với Sáng Chế Gia của ông..."

    "Nếu là Retvenko thì tôi sẽ lo.

    Nhưng Anya rất ngoan.

    Cô bé là một Thiện Tâm Y.

    Không có khuynh hướng hung hãn."

    "Ông đã giảm liều chưa?"

    "Rồi, nhưng chúng ta nhất trí rằng nếu như việc này cho ra cùng một kết quả với cậu Sáng Chế Gia, Hội đồng sẽ đền bù cho tôi đấy nhé?

    Người ta không thể bắt tôi gánh phí tổn đó."

    Khi người thương gia lạ mặt gật đầu, Hoede ra hiệu cho tay đội trưởng.

    "Tiến hành đi."

    Cùng một kết quả với cậu Sáng Chế Gia.

    Retvenko bảo là Yuri đã biến mất.

    Phải chăng là như vậy?

    "Trung sĩ," đội trưởng gọi, "anh sẵn sàng chưa?"

    Người vệ quân trong căn buồng gật đầu: "Sẵn sàng, thưa sếp."

    Nói đoạn anh ta rút ra một con dao.

    Joost nuốt khan.

    "Lần thử đầu tiên," đội trưởng tuyên bố.

    Người vệ quân cúi xuống bảo cậu bé xắn tay áo lên.

    Cậu ta làm theo và chìa cánh tay ra, đồng thời đút ngón cái của bàn tay còn lại vào miệng.

    Lớn già đầu rồi mà còn...

    Joost nghĩ bụng.

    Nhưng hẳn là cậu ta rất sợ hãi.

    Joost từng ôm gấu bông ngủ cho đến năm mười bốn tuổi và bị các anh trai chọc quê tan nát vì chuyện đó.

    "Sẽ chỉ nhói một chút thôi," người vệ quân nói.

    Cậu bé ngậm chặt ngón cái trong miệng và gật đầu, mắt mở to.

    "Chuyện này không cần thiết..."

    Anya lên tiếng.

    "Im lặng nào," Hoede ra lệnh.

    Người vệ quân vỗ vai cậu bé rồi rạch một đường trên cẳng tay nó.

    Cậu bé lập tức oà khóc.

    Anya cố đứng lên khỏi ghế, nhưng người vệ quân đã đặt một bàn tay cương quyết lên vai cô.

    "Không sao đâu, trung sĩ," Hoede nói.

    "Để cô bé chữa trị cho thằng nhóc."

    Anya chồm người tới trước, dịu dàng nắm bàn tay cậu bé. nói.

    "Để chị giúp em."

    "Ngoan nào..."

    Cô nhẹ nhàng

    "Có đau không ạ?"

    Cậu bé thút thít.

    Anya mỉm cười.

    "Không hề.

    Chỉ hơi ngứa thôi.

    Cố gắng giữ yên cái tay cho chị nhé?"

    Joost bất giác nghiêng người tới trước, cậu chưa bao giờ thực sự chứng kiến Anya chữa trị cho người khác.

    Anya rút khăn tay từ trong ống tay áo ra và lau chỗ máu đã chảy.

    Sau đó, những ngón tay của cô cẩn thận lướt qua vết thương của cậu bé.

    Joost kinh ngạc quan sát làn da của cậu ta từ từ tái tạo và liền lại.

    Vài phút sau, cậu bé nhoẻn cười, giơ cánh tay ra.

    Trông nó còn hơi đỏ, nhưng phẳng lì không một tì vết.

    "Đây là phép màu ạ?"

    Anya chạm nhẹ vào mũi cậu ta.

    "Đại loại thế.

    Giống như phép màu của cơ thể con người khi được cho thời gian và băng bó một chút."

    Cậu bé tỏ ra khá thất vọng.

    "Tốt rồi," Hoede sốt ruột lên tiếng.

    "Bây giờ đến lượt parem."

    Joost nhíu mày.

    Cậu chưa bao giờ nghe thấy chữ này.

    Tay đội trưởng ra hiệu cho trung sĩ của mình.

    "Lần thử thứ hai."

    "Chìa tay ra nào," người vệ quân lại nói với cậu bé.

    Cậu bé lắc đầu.

    "Cháu không thích."

    "Mau lên."

    Môi dưới của cậu bé run lên, nhưng cậu vẫn chìa cánh tay ra.

    Anh lính rạch tay cậu bé lần nữa.

    Rồi anh ta đặt một cái bì thư nhỏ bằng giấy sáp lên bàn, trước mặt Anya.

    "Nuốt hết thứ đựng bên trong cái đó," Hoede ra lệnh cho Anya.

    "Cái gì đây?"

    Cô hỏi, giọng run run.

    "Cô không việc gì phải lo."

    "Cái gì đây?"

    Anya lặp lại.

    "Nó không giết chết cô đâu.

    Chúng tôi sẽ yêu cầu cô làm một vài nhiệm vụ đơn giản để đánh giá hiệu quả của nó.

    Trung sĩ có mặt ở đó là để bảo đảm cô chỉ làm đúng những gì được bảo, hiểu chưa?"

    Quai hàm Anya cứng lại, nhưng cô gật đầu.

    "Sẽ không có ai làm hại cô đâu," Hoede nói tiếp.

    "Nhưng nên nhớ, dù có làm trung sĩ bị thương, cô cũng sẽ không thể ra khỏi căn buồng này.

    Cửa buồng đã bị chốt từ bên ngoài."

    "Cái đó là gì vậy?"

    Joost thì thào.

    "Chẳng biết nữa," Rutger đáp.

    "Anh biết được tới đâu?" cậu hỏi khẽ.

    "Đủ để im miệng."

    Joost cau mặt.

    Với bàn tay run rẩy, Anya cầm cái phong bì nhỏ lên và mở ra.

    "Làm đi," Hoede ra lệnh.

    Cô gái ngửa đầu, nuốt hết chỗ bột.

    Trong vài giây, cô ngồi im chờ đợi, môi mím lại.

    "Không phải cái này chỉ là jurda thôi à?"

    Cô hỏi với giọng khấp khởi.

    Joost cũng hi vọng như thế.

    Jurda thì không có gì phải sợ, nó chỉ là thứ thuốc kích thích mà mọi người trong đội thị tuần đều nhai để giữ tỉnh táo vào những phiên gác đêm.

    "Nó có vị như thế nào?"

    Hoede hỏi.

    "Giống như jurda, nhưng ngọt hơn.

    Nó..."

    Anya hít mạnh.

    Đôi tay cô nắm lấy cạnh bàn, hai đồng tử giãn nở khiến cho mắt cô gần như màu đen.

    "Ôiii..."

    Cô thốt lên và thở hắt ra.

    Nó gần giống như một tiếng rên.

    Người vệ quân giữ vai cô gái chắc hơn.

    "Cô cảm thấy thế nào?"

    Anya nhìn vào tấm kính tráng gương và nhoẻn cười.

    Lưỡi cô thè ra qua hai hàm răng.

    Nó có màu giống như rỉ sắt.

    Joost bỗng cảm thấy lạnh xương sống.

    "Cũng giống như chuyện đã xảy ra với cậu Sáng Chế Gia," người thương gia lạ mặt thì thầm.

    "Chữa trị cho thằng bé đi," Hoede ra lệnh.

    Anya phẩy tay với một cử chỉ gần như thô bạo, và vết cắt trên cánh tay cậu bé lập tức liền lại.

    Những giọt máu bay lên rồi biến mất.

    Làn da hoàn toàn nhẵn nhụi, mọi vết máu và hồng ban đều biến mất.

    Cậu bé rạng rỡ hẳn lên.

    "Cái này chắc chắn là phép màu rồi."

    "Nó cho cảm giác giống như phép màu," Anya nói, trên môi vẫn giữ nụ cười kì dị đó.

    "Anya," Hoede nói.

    "Nghe cho rõ đây.

    Bây giờ chúng tôi sẽ bảo vệ quân tiến hành thử nghiệm kế tiếp."

    "Hừm," Anya ngâm nga.

    "Trung sĩ," Hoede gọi.

    "Cắt đứt ngón cái của thằng bé."

    Cậu bé rú lên và lại bắt đầu khóc.

    Cậu ta nhét hai bàn tay vào bên dưới đùi để bảo vệ chúng.

    Mình nên chấm dứt chuyện này, Joost thầm nghĩ.

    Mình nên tìm cách bảo vệ cô ấy, bảo vệ cả hai người.

    Nhưng sau đó thì sao?

    Cậu chẳng là ai cả, một anh lính mới của đội thị tuần, vừa chân ướt chân ráo tới ngôi nhà này.

    Hơn nữa, Joost đầy xấu hổ nhận ra, mình muốn giữ công việc này.

    Anya nhếch mép cười và ngửa đầu ra sau để nhìn vào tay trung sĩ.

    "Bắn vào kính đi."

    "Cô ta nói gì thế?"

    Người thương gia lạ mặt hỏi.

    "Trung sĩ!"

    Tay đội trưởng quát to.

    "Bắn vào kính," Anya nhắc lại.

    Khuôn mặt của viên trung sĩ đờ ra.

    Anh ta nghiêng đầu qua một bên, như thể đang lắng nghe một giai điệu xa xăm.

    Sau đó anh ta nâng khẩu súng trường lên và nhắm vào kính cửa sổ.

    "Nằm xuống!"

    Ai đó hét lên.

    Joost quăng mình xuống đất, tay ôm đầu trong khi tiếng súng nổ vang lên và một cơn mưa các mảnh kính rơi rào rào xuống lưng cậu.

    Những ý nghĩ hoảng loạn tràn ngập trong đầu cậu.

    Tâm trí cậu cố chối bỏ chúng, nhưng cậu biết điều mình vừa trông thấy là gì.

    Anya đã ra lệnh cho tay trung sĩ bắn vỡ kính.

    Cô ấy đã khiến anh ta làm điều đó.

    Nhưng không thể thế được.

    Chuyên môn của Grisha Tâm Y là cơ thể con người.

    Họ có thể làm ngừng tim bạn, làm chậm hơi thở của bạn, bẻ gãy xương bạn.

    Nhưng họ không thể chui vào trong đầu bạn.

    Trong một khoảnh khắc mọi thứ rơi vào im lặng.

    Sau đó Joost đứng lên theo những người khác, tay lần tìm khẩu súng của mình.

    Hoede và tay đội trưởng cùng hét lên một lúc.

    "Khống chế cô ta!"

    "Bắn hạ cô ta!"

    "Anh có biết cô ta đáng giá bao nhiêu không vậy?"

    Hoede phản đối.

    "Ai đó khống chế cô ta đi!

    Đừng bắn!"

    Anya giơ tay lên.

    Hai ống tay áo đỏ rực của cô dang ra.

    "Chờ đó," cô nói.

    Cơn hoảng loạn của Joost biến mất.

    Cậu biết mình đã hoảng sợ, nhưng nỗi sợ hãi giờ là một thứ xa xôi.

    Trong đầu cậu tràn đầy sự mong đợi.

    Cậu không rõ chuyện gì đang đến, hoặc khi nào, chỉ biết rằng nó sẽ xảy ra và điều quan trọng là cậu phải sẵn sàng để đón nhận nó.

    Nó có thể là xấu, cũng có thể là tốt.

    Cậu không quan tâm.

    Tim cậu không còn lo lắng và khao khát nữa.

    Cậu chẳng màng điều gì, cậu chẳng thiết gì cả, tâm trí cậu lặng thinh, hơi thở cậu ổn định.

    Cậu chỉ chờ đợi.

    Joost trông thấy Anya đứng dậy và bế cậu bé lên.

    Cậu nghe thấy cô ậm ừ khe khẽ một khúc hát ru Ravka vào tai cậu ta.

    "Mở cửa ra và bước vào trong này, Hoede," Anya nói.

    Joost nghe thấy những từ ngữ đó, cậu hiểu chúng, và quên luôn.

    Hoede bước tới chỗ cánh cửa, mở then cài.

    Rồi ông bước vào trong căn buồng bằng thép.

    "Hãy làm như được bảo, và chuyện này sẽ sớm kết thúc, ja?"

    Anya mỉm cười nói khẽ.

    Đôi mắt cô đen kịt như hai hồ nước không đáy.

    Làn da cô bừng sáng, rạng rỡ, ấm áp.

    Một ý nghĩ chợt vụt qua trong đầu Joost.

    Xinh đẹp như trăng rằm.

    Anya xốc lại cậu bé trên tay mình.

    "Đừng nhìn," cô thì thầm vào tóc cậu ta.

    "Giờ thì, Hoede, cầm con dao lên.

    2

    INEJ

    Kaz Brekker không cần đến lí do.

    Đó là những gì được đồn trên các đường phố Ketterdam, trong tửu quán và tiệm cà phê, quanh những ngõ hẻm tăm tối và nhớp nháp của khu vực ăn chơi khét tiếng mang tên Barrel.

    Kẻ có biệt danh Tay Nhám không cần một lí do nào, cũng chẳng cần được cho phép để bẻ một cái chân, phá vỡ một liên minh, hoặc thay đổi vận mạng của một người như trở một quân bài.

    Tất nhiên là họ nhầm, Inej thầm nghĩ trong lúc đi trên cây cầu bắc qua dòng nước đen ngòm của con kênh Beurs để tới quảng trường vắng vẻ nằm phía trước Sàn giao dịch.

    Mọi hành động bạo lực đều cần suy tính, và mọi đặc ân đều đi kèm theo số dây nhợ ràng buộc đủ dùng cho một sân khấu múa rối.

    Kaz luôn có lí do của mình.

    Chỉ có điều Inej không dám chắc tất cả đều đúng đắn.

    Đặc biệt là đêm nay.

    Inej điểm lại mấy con dao của cô, thầm nhắc tên của chúng như vẫn làm mỗi khi cô nghĩ sẽ có rắc rối.

    Đó là một thói quen tiện lợi, nhưng cũng có cả tác dụng trấn an nữa.

    Lưỡi dao là bạn đồng hành của cô.

    Inej biết chúng luôn sẵn sàng trước bất cứ điều gì mà đêm đen mang tới.

    Cô trông thấy Kaz cùng những người khác tụ tập ở gần cổng vòm đá đánh dấu lối vào phía đông của Sàn giao dịch.

    Có ba từ được khắc vào phiến đá bên trên họ: Enjent,Voorhent, Almhent.

    Siêng năng, Chính trực, Thịnh vượng.

    Inej đi men theo những cửa hiệu đã đóng cửa nằm san sát quanh quảng trường, tránh chùm sáng rung rinh toả xuống từ những ngọn đèn khí đốt.

    Trong khi di chuyển, cô điểm lại nhóm người mà Kaz đem theo: Dirix, Rotty, Muzzen và Keeg, Anika và Pim, cùng hai người hộ vệ đi điều đình với anh đêm nay: Jesper và Bolliger Bự.

    Họ huých vai và xô đẩy nhau, cười giỡn, giậm chân trong trận rét vừa đánh úp cả thành phố suốt tuần qua, hơi thở cuối cùng của mùa đông trước khi mùa xuân hừng hực bắt đầu.

    Tất cả đều là những chiến binh thiện nghệ, được tuyển lựa từ các thành viên trẻ tuổi của băng Cặn Bã, những người được Kaz tin dùng.

    Inej nhận ra ánh phản chiếu từ những con dao được giắt trong thắt lưng, các đoạn ống nước, dây xích, cán rìu lởm chởm đinh rỉ, và nước thép bóng loáng của nòng súng.

    Cô khẽ chen vào giữa họ, không quên quét mắt quan sát những bóng đen gần Sàn giao dịch để tìm gián điệp của bọn Hắc Thủ.

    "Ba con tàu!"

    Người đang nói là Jesper.

    "Người Shu gửi chúng đến.

    Chúng vừa đậu lại ở Cảng số Một với đại bác giương sẵn, cờ đỏ tung bay, vàng chất đầy đến tận cột buồm."

    Bolliger Bự huýt sáo khẽ.

    "Phải đi ngó một cái mới được."

    "Phải đi xoáy một mẻ chứ," Jesper đáp.

    "Một nửa Hội đồng Thương buôn ở dưới đó đang quàng quạc hết lên, cố nghĩ xem nên làm gì."

    "Không phải họ muốn người Shu trả nợ sao?"

    Bolliger Bự thắc mắc.

    Kaz lắc đầu, mái tóc đen ánh lên dưới ngọn đèn đường.

    Anh là một tổng hoà của những đường nét cứng rắn và khắc nghiệt: quai hàm sắc nét, thân hình dong dỏng cao, áo choàng len chật khít nơi đôi vai vuông vức.

    "Vừa đúng vừa sai," Kaz đáp bằng chất giọng khàn khàn của mình.

    "Làm chủ nợ của một đất nước luôn là một ưu điểm.

    Như thế các cuộc thương thảo sẽ hữu nghị hơn."

    "Biết đâu người Shu đã chán tỏ ra hữu nghị," Jesper nói.

    "Họ đâu có buộc phải gửi cả một kho vàng đến?

    Anh có nghĩ họ đã xử tay đại sứ đó không?"

    Đôi mắt của Kaz đã nhận ra Inej trong nhóm đàn em.

    Ketterdam sôi sục quanh vụ ám sát viên đại sứ suốt mấy tuần nay.

    Vụ việc gần như huỷ hoại mối quan hệ giữa Kerch và Novyi Zem, đồng thời làm chấn động cả Hội đồng Thương buôn.

    Người Zemeni đổ lỗi cho người Kerch.

    Người Kerch lại nghi ngờ người Shu.

    Kaz không quan tâm ai là người chịu trách nhiệm.

    Vụ án mạng hấp dẫn Kaz vì anh không hiểu nổi nó được thực hiện như thế nào.

    Tại một trong những hành lang nhộn nhịp nhất của Toà thị chính, trước sự chứng kiến của hơn một chục viên chức, ông đại sứ thương mại người Zemeni bước vào một phòng vệ sinh.

    Không có ai đi vào hoặc đi ra từ trong đó, nhưng khi tay trợ lí của ông ta gõ cửa vài phút sau thì không có tiếng trả lời.

    Lúc phá cửa xông vào, họ trông thấy ông ta nằm sấp mặt trên nền gạch trắng với một con dao cắm vào lưng, vòi nước trong bồn vẫn chảy.

    Kaz đã cử Inej đi xem xét toà nhà sau đó vài tiếng.

    Phòng vệ sinh chỉ có một lối vào, không có cửa sổ hay lỗ thông gió, và ngay cả Inej cũng không thể nào xoay xở chui lọt được qua ống cống.

    Thế nhưng ông đại sứ của Novyi Zem đã chết.

    Kaz không thích những bí ẩn không lời giải đáp, anh và Inej đã nghĩ ra hàng trăm giả thiết gây án mà không một cái nào làm họ thoả mãn.

    Tuy vậy, đêm nay họ có những vấn đề cấp bách hơn.

    Inej thấy Kaz ra hiệu cho Jesper và Bolliger Bự cởi bỏ vũ khí.

    Luật đường phố quy ước trong những cuộc điều đình như thế này thì mỗi phó tướng chỉ được hộ vệ bởi hai đàn em và họ không được mang vũ khí.

    Điều đình.

    Hai chữ đó cho cảm giác của một sự lừa gạt - nó đạo đức giả một cách kì lạ và lỗi thời.

    Bất chấp luật đường phố quy định thế nào, đêm nay cũng sặc mùi bạo lực.

    "Thôi nào, đưa súng đây," Dirix nói với Jesper.

    Với một tiếng thở dài rõ to, Jesper tháo thắt lưng súng khỏi hông.

    Inej phải thừa nhận trông anh không còn là chính mình khi không mang súng.

    Chân tay dài thượt, làn da nâu bóng, tay thiện xạ người Zemeni không bao giờ đứng yên một chỗ được.

    Jesper áp môi vào phần báng súng cẩn ngọc trai, hôn từng khẩu súng yêu quý của mình một cách tiếc nuối.

    "Chăm sóc mấy bé cưng của tôi cho kĩ vào nhé," Jesper vừa nói vừa đưa mấy khẩu súng cho Dirix.

    "Chỉ cần nhìn thấy một vết trầy hoặc rãnh nứt thôi là tôi sẽ khắc dòng chữ xin tha mạng trên ngực cậu bằng lỗ đạn đó."

    "Đừng có phí đạn thế chứ."

    "Cậu ta sẽ chết tốt trước khi chữ mạng được khắc xong," Bolliger Bự nói trong lúc giao nộp cho Rotty một cái rìu nhỏ, con dao bấm, cùng món vũ khí ưa thích của mình - sợi xích bự chảng với một ổ khoá nặng trịch.

    Jesper đảo mắt.

    "Cái quan trọng là để lại thông điệp.

    Một xác chết với chữ xin tha mạng trên ngực thì có ý nghĩa gì chứ?"

    "Phiên phiến đi," Kaz nói.

    "Xin lỗi là được rồi, lại đỡ tốn đạn hơn."

    Dirix bật cười, nhưng Inej cũng nhận thấy cậu ta nâng niu mấy khẩu súng của Jesper một cách rất nhẹ nhàng.

    "Còn cái này thì sao?"

    Jesper hỏi, tay chỉ vào cây gậy chống của Kaz.

    Tiếng cười trầm đục của Kaz không có chút hài hước nào trong đó.

    "Ai lại đi tước cây gậy chống của một thằng què tội nghiệp kia chứ?"

    "Nếu thằng què đấy là anh, thì ai có trí khôn cũng làm thế hết."

    "Thế thật may là giờ chúng ta đi gặp Geels."

    Kaz rút đồng hồ trong túi

    áo ra.

    "Gần nửa đêm rồi."

    Inej hướng mắt về phía Sàn giao dịch.

    Nó chẳng qua là một cái sân hình chữ nhật bao quanh bởi nhiều nhà kho và văn phòng của các hãng tầu.

    Tuy vậy, vào ban ngày, Sàn giao dịch là trái tim của Ketterdam, với vô số thương gia giàu có mua đi bán lại phần hùn của mình trên những chuyến tàu buôn ghé ngang qua các hải cảng trong thành.

    Lúc này đồng hồ đã sắp đổ mười hai tiếng chuông, Sàn giao dịch không một bóng người, ngoại trừ mấy tay vệ quân đi tuần tra quanh đó và trên mái nhà.

    Bọn họ đã được hối lộ để nhìn đi hướng khác trong lúc diễn ra cuộc điều đình đêm nay.

    Sàn giao dịch là một trong vài phần còn sót lại trong thành chưa được phân định và tuyên chiếm sau vô số cuộc giao tranh giữa các băng nhóm của Ketterdam.

    Lẽ ra nó phải là một khu vực trung lập.

    Nhưng Inej không cảm thấy như vậy.

    Cô cảm thấy nó giống như sự im lặng trước khi con rắn phóng tới và con thỏ bắt đầu kêu ré lên.

    Giống như một cái bẫy.

    "Đây là một sai lầm," Inej lên tiếng.

    Bolliger Bự giật nảy người.

    Anh ta không biết Inej đã đứng đó tự lúc nào.

    Inej nghe thấy mọi người trong băng Cặn Bã xì xầm biệt danh mà họ dùng để gọi cô - Bóng Ma.

    "Geels đang âm mưu gì đó."

    "Dĩ nhiên rồi," Kaz đáp.

    Chất giọng của anh có độ khàn và sắc lạnh như tiếng đá nghiến vào nhau.

    Inej luôn tự hỏi liệu Kaz có nói chuyện với giọng như thế hồi còn bé hay không.

    Nếu anh từng có lúc là một cậu bé.

    "Vậy tại sao ta lại tới đây đêm nay?"

    "Bởi vì Per Haskell muốn như thế."

    Ông già lẩm cẩm, Inej nghĩ thầm trong bụng tuy không nói ra.

    Cô đoán những người khác trong băng cũng đang suy nghĩ giống mình.

    "Ông ta sẽ làm chúng ta chết cả nút," cô nói.

    Jesper duỗi đôi cánh tay dài thượt trên đầu và nhoẻn cười, hàm răng trắng nổi bật trên nền da sẫm màu.

    Anh chàng còn chưa giao lại súng trường, cái bóng của khẩu súng đeo chéo sau lưng làm anh giống với một con chim chân dài lóng ngóng.

    "Xét về mặt xác suất thống kê, ông ta chỉ có thể giết được một số người trong chúng ta."

    "Đây không phải là chuyện để đùa," Inej đáp trả.

    Kaz nhìn cô với ánh mắt thích thú.

    Inej biết mình nói chuyện với giọng điệu đanh đá cứng nhắc như một bà già khó chịu quen đứng chỉ đạo dưới hiên nhà. cô cũng không thích điều đó, nhưng cô biết mình đúng.

    Với lại các bà già ắt hẳn phải có lí, nếu không họ đã chẳng thể sống tới khi da dẻ nhăn nheo và phí thời gian quát tháo từ hiên nhà mình.

    "Jesper không đùa đâu, Inej," Kaz nói.

    "cậu ta chỉ đang hình dung ra các khả năng thôi."

    Bolliger Bự bẻ ngón tay rôm rốp.

    "Thôi nào, tôi có bia với trứng đang đợi sẵn ở Kooperom, nên tối nay tôi không thể chết được."

    "Dám đánh cược không?"

    Jesper hỏi.

    "Tôi sẽ không đánh cược trên mạng sống của mình đâu."

    Kaz đội mũ lên đầu và lướt ngón tay trên vành mũ thay cho một lời chào ngắn gọn.

    "Tại sao không, Bolliger?

    Chúng ta vẫn làm chuyện đó hằng ngày đấy thôi."

    Anh nói đúng.

    Món nợ của Inej đối với Per Haskell đồng nghĩa với việc cô đánh cược mạng sống của mình mỗi khi nhận một nhiệm vụ hoặc một công việc mới, mỗi khi cô rời khỏi căn buồng của mình ở Thanh Gỗ.

    Đêm nay cũng không ngoại lệ.

    Kaz gõ cây gậy chống của mình xuống lớp đá lát đường trong lúc những quả chuông nhà thờ Barter bắt đầu ngân vang.

    Nhóm người im bặt.

    Thời gian để buôn chuyện đã kết thúc.

    "Geels không mưu trí, nhưng cũng đủ khôn để gây rắc rối," Kaz nói.

    "Cho dù có nghe thấy bất cứ điều gì, mọi người cũng không được manh động, trừ phi tôi ra lệnh.

    Cảnh giác nhé."

    Anh gật đầu với Inej.

    "Và hãy ẩn mình cho kĩ."

    "Không đổ lệ," Jesper nói trong lúc tung khẩu súng trường của anh cho Rotty.

    "Không quan tài," những người còn lại rì rầm đáp.

    Đó là lời chúc may mắn theo cách của họ.

    Trước khi Inej biến vào trong bóng tối, Kaz gõ vào cánh tay cô bằng cây gậy chống có cái đầu quạ của mình.

    "Coi chừng tốp vệ quân trên mái nhà.

    Geels có thể đã mua chuộc họ."

    "Vậy là..."

    Inej chưa kịp nói dứt câu thì Kaz đã biến mất.

    Cô phẩy tay bực bội.

    Trong đầu cô có hàng trăm câu hỏi, nhưng như thường lệ, Kaz rất tiết kiệm câu trả lời.

    Inej chạy bộ về phía bức tường trông ra con kênh của sàn giao dịch.

    Chỉ có các phó tướng và hộ vệ của mình mới được tham gia vào cuộc điều đình.

    Nhưng trong trường hợp bọn Hắc Thủ dám manh động, các thành viên khác của băng Cặn Bã sẽ đợi sẵn ngay phía ngoài cửa đông với vũ khí trong tay.

    Inej biết Geels cũng đã cắt cử đám đàn em vũ trang tận răng phục sẵn tại cửa tây.

    Cô sẽ đi vào theo lối của mình.

    Luật chơi công bằng giữa các băng nhóm đã lạc hậu lắm rồi, từ thời của Per Haskell, vả lại, cô là Bóng Ma thứ duy nhất tác động lên cô là trọng lực, mà có khi cô cũng thách thức cả nó nữa.

    Tầng dưới của Sàn giao dịch toàn là các gian nhà kho không có cửa sổ, nên Inej tìm đến một cái ống nước để trèo lên.

    Có gì đó làm cô chần chừ trước khi vòng tay ôm lấy nó.

    Inej rút đèn xương trong túi ra và lắc mạnh để soi ống thoát nước bằng thứ ánh sáng xanh lét.

    Nó bóng nhẫy những dầu.

    Cô men theo bức tường, tìm đường khác, và thấy trong tầm với của mình một mái đua bằng đá có hình ba con cá bay biểu tượng của Kerch.

    Cô kiễng chân, rà tay dọc theo gò mái đua.

    Trên đó đầy mảnh thuỷ tinh.

    Họ đã đề phòng mình, cô nghĩ thầm với một sự khoái trá tê tái.

    Cách đây hai năm, cô gia nhập băng Cặn Bã khi còn vài ngày là tới sinh nhật thứ mười lăm của mình.

    Chỉ là để sinh tồn, nhưng cô cũng hãnh diện vì trong một thời gian ngắn cô đã trở thành một kẻ cần phải đề phòng.

    Dẫu vậy, nếu băng Hắc Thủ cho rằng mấy trò tiểu xảo như thế này có thể ngăn cản Bóng Ma đạt được mục đích thì bọn chúng đã sai lầm trầm trọng.

    Inej rút hai cái móc từ trong túi áo khoác chần bông ra, rồi lần lượt cắm hết cái này đến cái kia vào các khe đá của bức tường, đu người lên mỗi lúc một cao hơn trong lúc hai bàn chân dò dẫm tì vào từng cái mấu hoặc gò đá nhỏ nhất, cô từng học đi thăng bằng trên dây hồi bé với đôi chân trần, nhưng các con đường của Ketterdam quá lạnh lẽo và ẩm ướt.

    Sau vài lần ngã đau điếng, Inej đã trả tiền cho tay sáng Chế Gia làm chui trong tiệm rượu trên phố Wijnstraat để người này chế cho cô một đôi giày xỏ chân bằng da có đế cao su sần.

    Chúng đặc biệt ôm khít đôi chân cô và có thể bám chắc trên mọi bề mặt.

    Ở tầng hai của Sàn giao dịch, cô đu người lên một bậu cửa sổ vừa đủ rộng để đứng.

    Kaz đã ra sức đào tạo Inej, nhưng cô chưa lĩnh hội được cái biệt tài đục tường khoét vách của anh.

    Phải loay hoay phá khoá vài lần cô mới nghe được tiếng tạch đáng mừng trước khi cánh cửa sổ mở vào trong một văn phòng vắng lặng.

    Trên tường treo đầy bản đồ đánh dấu những tuyến đường giao thương, các tấm bảng ghi giá phần hùn và tên của những con tàu.

    Inej chui vào phòng, khoá cửa sổ lại, rồi len lỏi giữa các bàn làm việc với giấy tờ sổ sách xếp ngay ngắn.

    Cô băng qua vài cánh cửa để bước tới một ban công trông ra sân trong của Sàn giao dịch.

    Mỗi hãng tàu đều có một ban công dùng cho việc thông báo các chuyến tàu và chuyến hàng mới, hoặc treo cờ đen báo tin một con tầu bị mất tích ngoài khơi cùng với toàn bộ hàng hoá.

    Sàn giao dịch khi đó sẽ càng nhộn nhịp, cánh đưa tin sẽ lan truyền tin buồn đi khắp hang cùng ngõ hẻm trong thành, và giá hàng hoá, giao kèo cũng như phần hùn của những chuyến tầu ra khơi sẽ trồi sụt nhanh chóng.

    Nhưng đêm nay, tất cả đều yên ắng.

    Một cơn gió thổi từ ngoài cảng vào mang theo mùi biển, làm xao động mấy sợi tóc loà xoà bung ra từ bím tóc sau gáy Inej.

    Cô trông thấy dưới sân ánh đèn nhảy múa và nghe thấy tiếng gõ gậy của Kaz trên mặt đá, trong lúc anh cùng hai hộ vệ băng qua sân.

    Ở phía đối diện, cô ghi nhận vài chiếc đèn lồng khác cũng đang tiến đến chỗ họ.

    Bọn Hắc Thủ đã tới.

    Inej trùm mũ qua đầu.

    Cô leo lên lan can và nhẹ nhàng nhảy từ ban công này sang ban công khác, bám theo Kaz và hai hộ vệ của anh ở khoảng cách gần nhất có thể.

    Chiếc áo choàng đen của Kaz bay lật phật trong làn gió biển, dáng đi tập tễnh của anh đêm nay càng rõ hơn, giống như mỗi khi tiết trời trở lạnh.

    Cô có thể nghe thấy tiếng Jesper nói chuyện rôm rả và tiếng chậc lưỡi trầm trầm của Bolliger Bự.

    Khi tiếp cận nửa kia của cái sân, Inej nhận ra Geels đã chọn đem theo

    Elzinger và Oomen - đúng như dự đoán của cô.

    Inej biết điểm mạnh yếu của từng thành viên trong băng Hắc Thủ, cũng như băng chó Săn của Harley, băng Đầu Gấu, Chim cắt, Kim Sư và mọi băng nhóm đường phố hoạt động tại Ketterdam.

    Công việc của cô là phải biết Geels tin tưởng Elzinger vì cả hai đã cùng vươn lên trong hàng ngũ của Hắc Thủ, và bởi vì Elzinger có thân hình rắn chắc như một đống đá - cao gần hai mét mốt, cơ bắp cuồn cuộn, khuôn mặt to bè được gắn trên một cái cổ vạm vỡ như một cột trụ.

    Inej chợt thấy mừng vì Bolliger Bự đi cùng Kaz.

    Việc anh chọn Jesper làm hộ vệ không bất ngờ với cô.

    Bất chấp cái đầu nóng của mình, dù có hay không có súng thì Jesper cũng giỏi nhất khoản giao chiến, và cô biết anh sẽ làm bất cứ điều gì cho Kaz.

    Ngược lại, cô không tin tưởng cho lắm khi Kaz nhất quyết đưa Bolliger Bự theo cùng.

    Bol Bự là một vệ sĩ ở Quạ Đen, hoàn toàn thích hợp để đuổi cổ những vị khách say xỉn hoặc quỵt tiền, nhưng lại quá nặng nề cho những cuộc cận chiến.

    Tuy vậy, ít nhất anh ta cũng đủ cao để có thể nhìn thẳng vào mắt Elzinger.

    Inej không muốn nghĩ quá nhiều đến tên hộ vệ còn lại của Geels.

    Oomen làm cô căng thẳng, về mặt thể chất thì hắn không đáng sợ như Elzinger.

    Thật ra, Oomen trông giống với một con bù nhìn dù không khẳng khiu, như thể bên trong bộ quần áo, cơ thể của hắn vặn xoắn một cách kì lạ.

    Nghe nói hắn từng nghiền nát hộp sọ của một người bằng tay không, trước khi lau tay vào áo và tiếp tục uống rượu.

    Inej cố gắng kìm nén những linh cảm xấu đang cuộn lên trong lòng.

    Cô lắng nghe Geels và Kaz trò chuyện vu vơ trong lúc các hộ vệ lục soát lẫn nhau để bảo đảm không ai mang vũ khí.

    "Bé hư nhé," Jesper lên tiếng sau khi lôi ra một con dao bé xíu từ trong ống tay áo của Elzinger, rồi quăng nó ra xa.

    "Sạch," Bolliger tuyên bố khi đã lục soát Geels từ trên xuống dưới và tiếp tục với Oomen.

    Kaz và Geels bàn về thời tiết, về việc Kooperom cho khách uống rượu pha loãng do chi phí thuê nhà tăng lên.

    Hai người nói vòng vo lảng tránh nguyên nhân thực sự của chuyện họ đến đây đêm nay.

    Theo lí thuyết, họ sẽ nói chuyện, ngỏ lời xin lỗi, nhất trí tôn trọng các ranh giới của Cảng số Năm, sau đó tất cả cùng đi uống với nhau - ít nhất đó cũng là điều mà Per Haskell tin tưởng.

    Nhưng ông ta thì biết gì kia chứ?

    Inej nghĩ thầm trong lúc đưa mắt tìm kiếm tốp vệ quân đi tuần tra trên mái nhà, cố nhận ra bóng dáng của họ trong bóng tối.

    Haskell là người cầm đầu băng Cặn Bã, nhưng dạo này ông ta chỉ thích ngồi nhà uống bia nhạt, lắp ráp những con tàu mô hình và kể lể về những chiến công của mình cho bất kì người nào muốn nghe.

    Hình như ông ta cho rằng những cuộc tranh giành lãnh địa có thể được dàn xếp như hồi xưa, với một màn ẩu đả ngắn trước khi bắt tay thân thiện.

    Nhưng mọi giác quan của Inej đều cảnh báo cô rằng lần này sẽ không như thế.

    Theo như cách nói của bố cô thì đêm nay ma quỷ có lí lẽ riêng của chúng.

    Một điều gì đó tồi tệ sắp diễn ra ngay tại đây.

    Kaz đứng yên với đôi tay đeo găng đặt trên cái đầu quạ của cây gậy chống.

    Nom anh hoàn toàn thoải mái, khuôn mặt nhỏ bị che khuất dưới vành mũ.

    Hầu hết các băng đảng tại Barrel đều thích phô trương: những chiếc áo chẽn loè loẹt, đồng hồ đeo tay cẩn đầy đá quý giả, quần dài in những hoạ tiết ngoài sức tưởng tượng.

    Kaz là một ngoại lệ.

    Anh chọn sự kín đáo: bộ áo vest quần âu màu sẫm của anh được cắt đơn giản và may không cầu kì.

    Lúc đầu Inej cứ tưởng đó là do gu cá nhân, nhưng rồi cô hiểu ra nó là một trò giễu cợt của Kaz với các thương gia cao quý.

    Anh thích ăn mặc giống như bọn họ.

    "Tôi là một người làm ăn," anh từng nói với cô như vậy.

    "Không hơn không kém."

    "Anh là một tên cướp, Kaz à."

    "Không phải đó là điều tôi vừa nói đấy sao?"

    Lúc này trông anh giống với một thầy tu đi giảng đạo cho một nhóm xiếc.

    Một thầy tu trẻ, cô nghĩ thầm, và một lần nữa cảm thấy khó chịu.

    Kaz bảo Geels đã già và thất thế, nhưng rõ ràng đêm nay hắn ta không tỏ ra như vậy.

    Tay phó tướng của Hắc Thủ có thể đã có những vết chân chim và cái cằm nọng, nhưng hắn tỏ ra tự tin, đầy kinh nghiệm.

    Bên cạnh hắn, Kaz trông... không quá... mười bảy tuổi.

    "Ta nói thẳng luôn, ja?

    Tất cả những gì tụi này muốn là một miếng bánh lớn hơn," Geels vừa nói vừa gõ vào mấy cái nút bóng loáng trên chiếc áo chẽn màu xanh vỏ chanh.

    "Thật không công bằng khi chỉ các cậu được làm thịt đám du khách rủng rỉnh tiền bước xuống từ những chiếc du thuyền ở Cảng số Năm."

    "Cảng số Năm là của bọn tôi, Geels," Kaz đáp.

    "Băng Cặn Bã phải được vặt lông đám bồ câu du hí đó trước."

    Geels lắc đầu.

    "Cậu còn trẻ, Brekker," hắn nói với một điệu cười độ lượng.

    "Có lẽ cậu chưa hiểu hết những chuyện như thế này.

    Các hải cảng đều thuộc về chính quyền, và bọn tôi cũng có quyền sử dụng chúng như bất kì ai.

    Mọi người ai cũng phải sống mà."

    Về mặt lí thuyết mà nói thì đúng là như vậy.

    Nhưng cảng số Năm từng không thể sử dụng được và bị chính quyền bỏ hoang trước khi Kaz động đến.

    Anh đã cho nạo vét nó, xây dựng cầu tàu và bến bãi.

    Anh phải cầm cố Quạ Đen để làm chuyện đó.

    Per Haskell từng mắng Kaz về khoản phí tổn, nhưng cuối cùng cũng nhượng bộ.

    Theo Kaz, ông ta đã nói chính xác là: "Cậu thích mua dây buộc mình thì tôi chiều cậu."

    Nhưng nỗ lực của Kaz đã được đền đáp chỉ trong chưa đầy một năm.

    Giờ đây Cảng số Năm là nơi neo đậu của tầu buôn cũng như thuyền bè đến từ khắp thế giới mang theo du khách và binh lính, những người háo hức muốn tham quan và trải nghiệm mọi lạc thú của Ketterdam.

    Băng Cặn Bã nhanh chóng tiếp cận và hướng họ - cùng với cái hầu bao rủng rỉnh - vào các nhà thổ, tửu quán, sòng bạc do mình làm chủ.

    Cảng số Năm đã làm giàu cho ông già và biến băng Cặn Bã thành một đối thủ thực sự tại Barrel, theo cách thức mà ngay cả thành công của Quạ Đen cũng không thể làm được.

    Nhưng mối lợi này cũng đưa tới những sự nhòm ngó không mong muốn.

    Geels và Hắc Thủ đã quấy rối Cặn Bã suốt cả năm qua khi xâm nhập vào Cảng số Năm, bắn tỉa những chú chim câu béo tốt lẽ ra không thuộc về bọn họ.

    "Cảng số Năm là của bọn tôi," Kaz lặp lại.

    "Đó là điều không thể bàn cãi.

    Các ông đã xen vào chuyện làm ăn của chúng tôi.

    Các ông đã chặn một chuyến tàu chở jurda lẽ ra phải cập cảng cách đây hai hôm."

    "Tôi chẳng hiểu cậu đang nói gì."

    "Tôi biết chuyện đó rất dễ dàng, Geels à, nhưng đừng có giả ngu với tôi."

    Geels tiến lên trước một bước.

    Jesper và Bolliger Bự căng người lên.

    "Đừng có khiêu khích, nhóc," Geels nói.

    "Bọn tôi thừa biết ông già không đủ gan để sống mái một trận đâu."

    Tiếng cười của Kaz giống như những chiếc lá khô vỡ vụn.

    "Nhưng tôi mới là người nghênh đón ông, Geels à, và tôi không đến đây để chơi.

    Các ông muốn chiến tranh thì tôi sẽ cho các ông ăn đủ."

    "Thế nếu như cậu không còn tồn tại nữa thì sao?

    Mọi người đều biết

    cậu là cánh tay phải của Haskell.

    Chỉ cần chặt đứt là cả băng Cặn Bã sẽ sụp đổ."

    Jesper khịt mũi bình phẩm.

    "Hết gan lại tay.

    Còn gì nữa, lách à?"

    "Im mồm," Oomen nạt.

    Theo quy định trong những cuộc điều đình, một khi việc thương lượng đã bắt đầu thì chỉ có các phó tướng mới được lên tiếng.

    Jesper lẩm bẩm xin lỗi và làm cử chỉ đưa tay kéo khoá cái miệng của mình.

    "Tôi nghĩ ông chỉ đang doạ tôi thôi, Geels à," Kaz nói.

    "Nhưng tôi muốn biết chắc chắn trước khi quyết định hành động."

    "Cậu tự tin gớm nhỉ, Brekker?"

    "Ngoài bản thân thì tôi không tin bất cứ cái gì."

    Geels bật cười và huých cùi chỏ vào Oomen.

    "Nghe nhóc con nói nhảm kìa.

    Brekker, đường phố này không thuộc về cậu.

    Bọn ranh con như cậu chỉ là loài bọ chét, mỗi năm lại có một lứa mới quấy phá lung tung cho tới khi con chó quyết định gãi phứt đi.

    Nói nghe này, tôi chán bị ngứa lắm rồi."

    Geels khoanh tay lại, rõ ràng đang tỏ ra thích thú.

    "Thế nếu như tôi cho cậu biết ngay lúc này có hai vệ quân đang chĩa súng trường quân dụng vào cậu và đám hộ vệ thì sao?"

    Bụng Inej thắt lại.

    Chẳng phải Kaz đã bóng gió rằng Geels có thể mua chuộc đám vệ quân hay sao?

    Kaz ngước mắt nhìn lên mái nhà.

    "Mua chuộc thị tuần để thanh toán người khác cho ông à?

    Tôi dám chắc đó là một chi phí đắt đỏ đối với một băng đảng như Hắc Thủ.

    Tôi không tin ngân quỹ của các ông có thể kham nổi nó."

    Inej leo lên lan can và mạo hiểm rời khỏi ban công để lên mái nhà.

    Nếu đêm nay bọn họ sống sót, cô sẽ lột da Kaz.

    Luôn có hai người trong đội thị tuần đóng chốt trên mái của Sàn giao dịch, vài kruge từ băng Cặn Bã và Hắc Thủ là đủ để họ không can thiệp vào cuộc điều đình.

    Nhưng Geels đang ngụ ý một điều khác.

    Có thật hắn đã lót tay các thị tuần để họ nhận bắn tỉa cho mình hay không?

    Nếu thật thì cơ may sống sót của nhóm Cặn Bã đêm nay nhỏ như đầu kim.

    Giống như hầu hết mọi toà nhà của Ketterdam, Sàn giao dịch có mái rất dốc để nước mưa dễ thoát, nên tốp vệ quân phải đi tuần tra theo một lối đi hẹp trên mái với tầm nhìn bao quát cả sân.

    Inej tránh nó ra.

    Đó là lối dễ đi hơn, nhưng sẽ khiến cô quá lộ mình.

    Thay vào đó, cô leo lên đến lưng chừng mái ngói, rồi bắt đầu bò như một con nhện với thân hình nghiêng ở một góc đáng sợ, vừa di chuyển vừa để mắt trông chừng lối đi của vệ quân, đồng thời lắng tai nghe cuộc đối thoại bên dưới.

    Có thể Geels chỉ khoác lác.

    Nhưng cũng có thể ngay lúc này hai tên vệ quân đang khom người sau hàng lan can, với Kaz, Jesper hoặc Bolliger Bự trong tầm ngắm.

    "Cũng không dễ," Geels thừa nhận.

    "Hiện tại bọn tôi hoạt động với quy mô nhỏ, và đám thị tuần không dễ mua chuộc.

    Nhưng cũng đáng với cái giá phải trả."

    "Là tôi sao?"

    "Là cậu."

    "Thật hãnh diện."

    "Băng Cặn Bã sẽ không tồn tại nổi một tuần mà không có cậu."

    "Với cái đà hiện tại, cứ cho là một tháng đi."

    Ý nghĩ đó quần đảo trong đầu Inej.

    Neu Kaz ra di, mình có ở lại không?

    Mình có nên xù nợ không?

    Có mạo hiểm qua mặt dám tay chân của lão Per Haskell được không?

    Nếu không di chuyển nhanh hơn, cô sẽ có thể tìm thấy câu trả lời.

    "Đồ ranh con."

    Geels cười ha hả.

    "Tôi đang rất muốn dập tắt nụ cười đó của cậu."

    "Vậy thì làm đi," Kaz nói.

    Inej đánh bạo nhìn xuống phía dưới.

    Giọng điệu của Kaz đã đổi khác, không còn chút hài hước nào nữa.

    "Tôi có nên bảo họ bắn một phát đạn vào cái chân lành của cậu không đây, Brekker?"

    Các vệ quân đang ở đâu?

    Inej nhủ thầm và di chuyển nhanh hơn trên mái nhà dốc đứng.

    Sàn giao dịch có chiều dài gần bằng một khối nhà.

    Khu vực này quá rộng lớn.

    "Đừng nói nữa, Geels.

    Bảo họ bắn đi."

    "Kaz..."

    Jesper căng thẳng lên tiếng.

    "Làm đi.

    Có gan thì ra lệnh đi."

    Kaz đang chơi trò gì vậy?

    Anh đã dự liệu chuyện này sao?

    Hay anh tin rằng Inej có thể tiếp cận tốp vệ quân kịp thời?

    Cô lại liếc nhìn bên dưới.

    Geels tỏ ra nôn nóng thấy rõ.

    Hắn ta hít một hơi, lồng ngực căng lên.

    Inej hụt chân.

    Cô phải cố hết sức mới không bị trượt ngã khỏi mái nhà.

    Hắn sắp làm điều đó.

    Mình sắp chứng kiến Kaz chết.

    "Bắn đi!"

    Geels la lớn.

    Một phát đạn xé toang màn đêm.

    Bolliger Bự hét lên một tiếng rồi đổ gục xuống.

    "Mẹ kiếp!"

    Jesper la lớn và quỳ xuống bên cạnh Bolliger, ấn tay vào lỗ đạn trong khi anh ta rên rỉ.

    "Thằng mập kia!"

    Jesper quát to với Geels.

    "Mày vừa xâm phạm lãnh địa trung lập đó."

    "Ai sẽ làm chứng là bọn mày không bắn trước?"

    Geels đáp trả.

    "Mà cũng chẳng ai biết được.

    Không một đứa nào trong số bọn mày có thể thoát khỏi đây đêm nay."

    Giọng của Geels cao hẳn lên.

    Hắn đang cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng Inej có thể cảm thấy sự căng thẳng trong lời lẽ của hắn, tựa như tiếng đập cánh cuồng loạn của một con chim khiếp đảm.

    Tại sao?

    Vài giây trước hắn còn rất tự tin kia mà?

    Lúc đó cô mới nhận ra Kaz không hề nhúc nhích.

    "Ông có vẻ không khoẻ, Geels à."

    "Làm gì có chuyện đó," hắn phản bác.

    Nhưng Geels có vẻ tái nhợt và run rẩy.

    Đôi mắt hắn láo liên nhìn sang trái rồi sang phải, như thể đang tìm kiếm lối đi tuần tra kín đáo trên mái nhà.

    "Có chắc không đó?"

    Kaz hỏi một cách điềm tĩnh.

    "Mọi chuyện không diễn ra như kế hoạch, đúng không?"

    "Kaz," Jesper cất tiếng.

    "Bolliger đang chảy máu rất nặng..."

    "Tốt," Kaz nói, phớt lờ anh.

    "Kaz.

    Cậu ta cần được cứu chữa!"

    Kaz không buồn đưa mắt nhìn người bị thương.

    "Điều cậu ta cần làm là ngừng kêu ca.

    Cậu ta nên mừng vì tôi đã không bảo Holst kết liễu cậu ta với một phát đạn vào đầu."

    Dù đang quan sát từ trên cao, Inej cũng trông thấy Geels dao động.

    "Đó là tên của anh ta, đúng không?"

    Kaz hỏi.

    "Willem Holst và Bert Van Daal.

    Hai thành viên của đội thị tuần làm nhiệm vụ đêm nay.

    Những người ông đã moi cạn ngân quỹ để mua chuộc, đúng không?"

    Geels không nói gì.

    "Willem Holst," Kaz nói lớn, giọng anh vang vọng trên mái nhà, "vốn thích đánh bạc chẳng kém gì Jesper, nên khoản tiền của ông thật hấp dẫn.

    Nhưng Holst có những vấn đề lớn hơn.

    Rất cấp bách, có thể nói như thế.

    Tôi sẽ không đi vào chi tiết.

    Khác với tiền bạc, bí mật bị mất giá ngay khi được chuyển từ người này sang người khác.

    Tin tôi đi, chuyện này sẽ làm chính ông cũng phải choáng váng, có đúng như thế không, Holst?"

    Một phát súng khác vang lên đáp lại.

    Viên đạn đập vào mặt đá ngay gần chân Geels.

    Hắn buột miệng kêu lên và lùi lại.

    Lần này thì Inej có cơ hội tốt hơn để tìm ra xuất phát điểm của phát súng.

    Nó vang lên đâu đó gần cánh tây của toà nhà.

    Nếu Holst đang ở đó thì có nghĩa là vệ quân còn lại - Bert Van Daal - phải ở bên cánh đông.

    Có khi nào Kaz cũng đã kiểm soát được người này không?

    Hay anh đang trông cậy vào cô?

    Inej di chuyển thật nhanh trên mái nhà.

    "Cứ bắn nó đi, Holst!"

    Geels gào lên, sự tuyệt vọng lộ rõ trong giọng nói.

    "Bắn vào đầu nó ấy!"

    Kaz khịt mũi khinh bỉ.

    "Anh thực sự tin rằng bí mật đó sẽ xuống mồ cùng tôi à?

    Ra tay đi, Holst," Kaz gọi.

    "Bắn một phát vào đầu tôi đi.

    Những người đưa tin sẽ hỏi chuyện vợ anh và có mặt ở ngay cửa nhà đội trưởng của anh trước cả khi tôi ngã xuống đất."

    Không một phát súng nào vang lên.

    "Làm sao..."

    Geels cay đắng thốt lên.

    "Làm sao mày biết ai là người làm nhiệm vụ đêm nay?

    Tao đã phải cắn răng trả tiền để có được bảng phân công.

    Mày không thể trả cao hơn tao được."

    "Cứ coi như đề nghị của tôi có giá trị cao hơn đi."

    "Tiền nào mà chẳng là tiền."

    "Tôi đổi chác bằng thông tin, Geels à.

    Những điều mà người ta làm khi tưởng rằng không bị ai trông thấy.

    Sự hổ thẹn có giá cao hơn bất cứ đồng tiền nào."

    Kaz đang câu giờ, Inej nhận ra điều đó và tiếp tục di chuyển thật nhanh trên những mảnh ngói lợp.

    "Ông có lo về tay lính gác kia không?

    Già Bert Van Daal tử tế ấy?"

    Kaz hỏi.

    "Có lẽ lúc này ông ta đang ở đâu đó trên kia, tự hỏi mình nên làm gì.

    Bắn tôi, hay bắn Holst.

    Hay biết đâu ông ta cũng đã bị tôi nắm thóp và đang chuẩn bị khoan thủng một lỗ trên ngực ông, hả Geels?"

    Anh ngả người tới trước như thể đang chia sẻ một bí mật với Geels.

    "Sao ông không ra lệnh cho Van Daal để biết sự thật nhỉ?"

    Geels há miệng rồi ngậm lại như một con cá chép.

    Hắn gào tướng lên:

    "Van Daal!"

    Ngay khi Van Daal mở miệng định đáp lại thì Inej đã lẻn tới phía sau lưng và kề dao vào cổ họng ông ta.

    Cô chỉ kịp trông thấy bóng của Van Daal và lao từ trên mái ngói xuống.

    Thánh thần ơi, Kaz cứ thích thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc.

    "Suỵttt," cô thì thào vào tai của Van Daal, đồng thời ấn nhẹ mũi nhọn của con dao thứ hai vào người ông ta, ngay vị trí của quả thận.

    "Xin làm ơn," ông ta rên lên.

    "Tôi..."

    "Tôi thích nghe đàn ông van xin," Inej nói.

    "Nhưng bây giờ không phải là lúc."

    Phía bên dưới, cô có thể trông thấy lồng ngực Geels phập phồng theo từng nhịp thở đầy lo sợ.

    "Van Daal!"

    Hắn la lên một lần nữa.

    Khuôn mặt của Geels hiện rõ sự căm hận khi hắn quay về phía Kaz.

    "Mày luôn đi trước một bước sao?"

    "Geels à, với ông thì phải nói là tôi chạy trước cả chục mét ấy chứ."

    Nhưng Geels chỉ mỉm cười đáp lại.

    Một cái cười nhếch mép, căng cứng và hài lòng.

    Điệu cười chiến thắng, Inej nhận ra điều đó, và trong lòng cô lại rộn lên nỗi sợ mới.

    "Cuộc đua chưa chấm dứt đâu."

    Geels thò tay vào trong áo và lôi ra một khẩu súng đen ngòm.

    "Cuối cùng," Kaz thốt lên.

    "Tiết lộ lớn lao.

    Giờ thì Jesper có thể ngừng khóc lóc bên cạnh Bolliger như một cô nàng mít ướt được rồi."

    Jesper trân trối nhìn khẩu súng bằng đôi mắt bàng hoàng phẫn nộ.

    "Bolliger đã lục soát hắn ta...

    Ôi trời, Bol Bự à, mày ngu quá," anh rên lên.

    Inej không thể tin vào mắt mình.

    Người lính gác bị cô khống chế buột ra một tiếng kêu nhỏ.

    Trong cơn giận dữ, cô đã vô tình siết tay hơi mạnh.

    "Yên nào," cô nói và nói lỏng tay ra.

    Thánh thần ơi, cô chỉ muốn thọc dao vào cái gì đó.

    Bolliger Bự là người lục soát Geels.

    Không thể nào hắn ta bỏ sót khẩu súng được.

    Hắn đã phản bội bọn cô.

    Có lẽ chính vì thế mà Kaz nhất định đem Bolliger Bự theo đêm nay để có được sự xác nhận công khai cho chuyện hắn ngả theo phe Hắc Thủ chăng?

    Chắc chắn vì lẽ đó mà anh đã để cho Holst bắn vào bụng Bolliger.

    Rồi sao?

    Giờ thì mọi người đã biết Bol Bự là kẻ phản bội, nhưng Kaz lại bị một khẩu súng chĩa vào ngực.

    Geels cười giễu.

    "Kaz Brekker, bậc thầy tẩu thoát.

    Mày sẽ làm thế nào để thoát ra khỏi vụ này đây?"

    "Bằng đúng lối mà từ đó tôi đi vào."

    Kaz phớt lờ khẩu súng và hướng

    sự chú ý vào kẻ to xác đang nằm dưới đất.

    "Mày có biết vấn đề của mày là gì không, hả Bolliger?"

    Anh chọc đầu gậy vào vết thương nơi bụng hắn.

    "Đó không phải là một câu hỏi tu từ đâu.

    Mày có biết vấn đề lớn nhất của mày là gì không?"

    Bolliger rên lên.

    "Khôôông..."

    "Đoán thử xem," Kaz rít lên.

    Bol Bự không nói gì, chỉ buột ra một tiếng rên rỉ nữa.

    "Được rồi, tao sẽ nói cho mày biết.

    Mày lười chảy thây.

    Tao biết điều đó.

    Mọi người ai cũng biết.

    Thế nên tao đã tự hỏi vì sao thằng vệ sĩ lười biếng nhất của mình lại dậy sớm hai lần mỗi tuần để đi thêm hai dặm tới ăn sáng tại quán Đồ chiên Cilla, nhất là khi món trứng ở Kooperom ngon hơn nhiều.

    Bol Bự đột nhiên siêng năng dậy sớm, băng Hắc Thủ bắt đầu tăng sức ép quanh Cảng số Năm, rồi chặn bắt chuyến tàu chở jurda lớn nhất của chúng ta.

    Không khó để tìm ra mối liên hệ đâu."

    Kaz thở dài rồi nói với Geels.

    "Đây là chuyện xảy ra khi những thằng ngu bắt tay vào làm chuyện lớn, ja?"

    "Bây giờ nó cũng đâu còn quan trọng nữa," Geels đáp.

    "Nếu tình hình xấu đi, tao sẽ bắn từ cự li gần.

    Có thể đám tay chân của mày sẽ tóm được tao hoặc người của tao, nhưng mày sẽ không thể nào tránh được viên đạn này."

    Kaz bước tới trước, để cho nòng súng ấn thẳng vào ngực mình.

    "Hoàn toàn không thể, Geels à."

    "Mày tưởng tao sẽ không bắn sao?"

    "Ồ, tôi nghĩ ông rất sẵn lòng làm chuyện đó.

    Nhưng ông sẽ không làm.

    Không phải đêm nay."

    Ngón tay Geels ngọ nguậy nơi cò súng.

    "Kaz," Jesper lên tiếng.

    "Cái trò 'bắn tôi đi' này bắt đầu làm tôi thấy lo ngại rồi đấy."

    Lần này thì Oomen không buồn phản đối vì Jesper đã mở miệng nữa.

    Một người đã bị hạ.

    Lãnh địa trung lập đã bị xâm phạm.

    Mùi thuốc súng gay gắt còn phảng phất trong không khí, và cùng với nó là một câu hỏi không được nói ra, như thể thần chết đang chờ đợi câu trả lời: Đêm nay bao nhiêu máu sẽ đổ?

    Phía đằng xa, có tiếng còi hụ cất lên.

    "Số mười chín phố Burstraat," Kaz nói.

    Nãy giờ Geels vẫn đổi chân trụ, nhưng lúc này hắn đứng sững như trời trồng.

    "Đó là địa chỉ nhà cô bồ của ông, đúng không Geels?"

    Geels nuốt nước bọt.

    "Tao làm gì có bồ."

    "Ồ, có, ông có đấy," Kaz dài giọng.

    "Cô ta cũng xinh gái.

    Ừ thì, đủ xinh gái đối với một thằng ngẫn như ông.

    Ông yêu cô ta đúng không?"

    Dù quan sát từ trên mái nhà, Inej cũng có thể nhận thấy những giọt mồ hôi túa ra trên khuôn mặt trắng bệch như tượng sáp của Geels.

    "Tất nhiên rồi.

    Không ai thèm để mắt tới một kẻ rác rưởi như ông, nhưng cô ta thì khác, cô ta thấy ông quyến rũ.

    Nếu ông hỏi tôi thì, đó là dấu hiệu của chứng hoang tưởng, nhưng tình yêu kì lạ vậy đấy.

    Cô ta có thích ngả mái đầu xinh đẹp của mình lên vai ông không?

    Có thích nghe ông ôn lại những việc đã làm trong ngày không?"

    Geels nhìn Kaz như thể lần đầu tiên trông thấy anh.

    Thằng nhóc mà hắn từng biết ngạo nghễ, bất cần, dễ thoả mãn, nhưng không đáng sợ, không hề.

    Giờ thì con quái vật đã xuất hiện, với đôi mắt chết chóc không chút e dè.

    Kaz Brekker đã biến mất, Tay Nhám đã xuất hiện để kết thúc công việc.

    "Cô ta sống ở số mười chín phố Burstraat," Kaz nói với chất giọng trầm khàn của mình.

    "Tầng ba, cửa sổ có những chậu cây phong lữ.

    Lúc này có hai tên Cặn Bã đang đợi sẵn trước cửa ngôi nhà đó, nếu như tôi không rời khỏi đây với thân thể toàn vẹn và cảm giác công bằng, bọn họ sẽ thiêu rụi nơi đó, từ dưới lên trên.

    Nó sẽ bốc cháy chỉ trong vài giây, với cô nàng Elise tội nghiệp mắc kẹt trong biển lửa.

    Mái tóc vàng của cô ta sẽ bắt lửa trước tiên.

    Giống như tim của một cây nến."

    "Mày loè tao thôi," Geels đáp, nhưng bàn tay cầm súng của hắn đang run lẩy bẩy.

    Kaz ngửa đầu và hít một hơi thật sâu.

    "Giờ thì muộn rồi.

    Ông đã nghe thấy tiếng còi hụ.

    Tôi ngửi thấy trong gió mùi hải cảng, biển và muối, nhưng hình như có cả mùi khói, đúng không nhỉ?"

    Giọng nói của anh lộ rõ sự khoái trá.

    Thánh thần ơi, Kaz, Inej khổ sở nghĩ bụng.

    Anh đã làm gì vậy?

    Một lần nữa ngón tay của Geels ngọ nguậy trên cò súng, khiến cô căng người lên.

    "Tôi biết chứ, Geels, tôi biết."

    Kaz nói với giọng cảm thông.

    "Tất cả kế hoạch và âm mưu mua chuộc này, rốt cuộc chẳng được gì.

    Đó là suy nghĩ trong đầu ông lúc này.

    Thật tệ làm sao khi về nhà với nhận thức rõ ràng rằng mình đã thua.

    Ông trùm sẽ giận dữ đến thế nào khi ông xuất hiện trắng tay, và thậm chí còn nghèo đi.

    Sẽ thoả mãn biết bao nếu có thể bắn một phát đạn vào tim tôi.

    Ông có thể làm điều đó.

    Bóp cò đi.

    Chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau xuống lỗ.

    Xác chúng ta có lẽ sẽ được mang ra đảo Tử Thần để hoả táng, giống như mọi kẻ nghèo hèn.

    Hoặc ông có thể nuốt nỗi nhục vào trong, quay về phố Burstraat, ngả đầu vào lòng cô gái của ông, và ngủ ngon lành với giấc mơ báo thù.

    Tuỳ ở ông thôi, Geels.

    Liệu chúng ta có được về nhà đêm nay không?"

    Geels tìm kiếm ánh mắt của Kaz, và điều mà hắn trông thấy trong đó làm đôi vai hắn chùng xuống.

    Inej bất ngờ nhận ra cô cảm thấy thương hại hắn.

    Hắn đã tiến vào nơi này một cách ngạo nghễ, như một kẻ sống sót, nhà vô địch của Barrel.

    để rồi rời đi với tư cách là một bại tướng nữa của Kaz Brekker.

    "Một ngày nào đó mày sẽ phải trả giá, Brekker."

    "Vâng," Kaz đáp.

    "Nếu có chút xíu công bằng nào tồn tại trên thế giới này.

    Và hai ta đều hiểu nó như thế nào rồi."

    Geels buông thõng cánh tay.

    Khẩu súng vô dụng đong đưa bên hông hắn.

    Kaz lùi lại, phủi chỗ thuốc súng dính trên vạt áo, nơi nòng súng tì vào.

    "Về mà bảo ông trùm của ông rút băng Hắc Thủ ra khỏi Cảng số Năm.

    Bảo ông ta rằng chúng tôi mong nhận được khoản bồi thường cho chuyến tàu chở jurda bị mất, cộng thêm năm phần trăm vì xâm phạm khu vực trung lập, và năm phần trăm nữa vì cái tội ngu quá sức tưởng tượng."

    Cây gậy chống của Kaz đột ngột vung lên theo một đường vòng cung.

    Geels rú lên khi xương cổ tay của hắn bị đánh vỡ.

    Khẩu súng rơi cạch xuống mặt đá.

    "Xin hạ vũ khí!"

    Hắn hét lên, xoa xoa tay.

    "Xin hạ vũ khí!"

    "Ông mà chĩa súng vào tôi một lần nữa thì tôi sẽ đập gãy cả hai cổ tay của ông, và ông sẽ phải thuê người trợ giúp mỗi khi cần đi tiểu."

    Kaz đưa đầu gậy lên chạm vào vành mũ.

    "Hoặc ông cũng có thể nhờ cô nàng Elise dễ thương làm chuyện đó."

    Kaz cúi xuống bên cạnh Bolliger.

    Hắn rên lên.

    "Nhìn tao đây này, Bolliger.

    Nếu như đêm nay mày không chảy máu đến chết, thì mày có thời gian đến lúc mặt trời lặn ngày mai để biến khỏi Rotterdam.

    Tao mà nghe thấy mày bén mảng tới phía ngoài thành thì người ta sẽ tìm thấy xác mày bị nhét trong thùng rác ở quán Đồ chiên Cilla."

    Rồi anh quay sang phía

    Geels.

    "Nếu ông giúp đỡ Bolliger, hoặc tôi phát hiện nó tham gia băng Hắc

    Thủ, thì ông sẽ biết tay tôi."

    "Làm ơn đi, Kaz," Bolliger rên rỉ.

    "Mày từng có một ngôi nhà, nhưng mày lại đi đạp đổ nó, Bolliger à.

    Đừng mong chờ sự thông cảm của tao."

    Kaz đứng lên và xem giờ.

    "Tôi không nghĩ là chuyện này mất thời gian đến vậy.

    Tốt nhất tôi nên rời khỏi đây, nếu không cô nàng Elise tội nghiệp sẽ bị hơ lửa."

    Geels lắc đầu.

    "Mày đúng là không bình thường, Brekker.

    Tao không biết mày là gì, nhưng rõ ràng mày là một sản phẩm lỗi."

    Kaz nghiêng đầu.

    "Ông có xuất thân ngoại thành quê mùa, đúng không Geels?

    Vào thành để thử vận may?"

    Kaz đưa bàn tay đeo găng vuốt lại ve áo.

    "Geels này, tôi là loại con hoang mà người ta chỉ sản xuất ở Barrel thôi."

    Bất chấp khẩu súng có đạn nằm dưới chân bọn Hắc Thủ, Kaz quay lưng về phía chúng và tập tễnh băng qua mặt sân lát đá về phía cửa đông.

    Jesper ngồi xổm xuống bên cạnh Bolliger và vỗ nhẹ má hắn.

    "Đồ ngu," anh nói với giọng buồn bã, trước khi nối gót Kaz rời khỏi Sàn giao dịch.

    Từ trên mái nhà, Inej tiếp tục quan sát trong lúc Oomen nhặt khẩu súng của Geels lên giắt vào bao, và ba tên Hắc Thủ hạ giọng trao đổi với nhau một chút.

    "Đừng đi," Bolliger Bự van nài.

    "Đừng bỏ tôi."

    Hắn cố bấu víu vào gấu quần của Geels.

    Geels hất hắn ra.

    Chúng bỏ hắn nằm co quắp ở đó, máu vẫn đang rỉ xuống mặt đá.

    Inej tước khẩu súng trường của Van Daal trước khi thả tay ra.

    "Về nhà đi," cô nói với tay vệ quân.

    Van Daal ném một cái liếc nhìn sợ hãi qua vai rồi bỏ chạy.

    Phía bên dưới, Bol Bự bắt đầu cố gắng lết ra khỏi cái sân của Sàn giao dịch.

    Có thể hắn đủ ngu để phản bội Kaz Brekker, nhưng việc hắn tồn tại lâu như vậy ở Barrel chứng tỏ hắn ngoan cường.

    Hắn sẽ sống.

    Giúp hắn đi, một giọng nói trong đầu Inej lên tiếng.

    Mới vài phút trước, hắn còn là chiến hữu của cô.

    Thật không phải khi bỏ mặc hắn.

    Cô có thể xuống dưới đó để đề nghị chấm dứt nhanh chóng sự khốn khổ của hắn và cầm tay lúc hắn ra đi.

    Cô cũng có thể đi tìm một thầy lang để cứu hắn.

    Nhưng thay vào đó, cô cầu nguyện nhanh chóng bằng ngôn ngữ các vị thánh của mình, rồi bắt đầu trèo xuống bức tường bên ngoài.

    Inej thấy thương cho kẻ có thể chết trong cô độc hoặc sống đời lưu vong kia.

    Nhưng công việc của đêm nay chưa kết thúc, và Bóng Ma không có thời gian dành cho quân phản bội.

    3

    KAZ

    T

    iếng reo hò chào đón Kaz lúc anh bước qua cửa đông cùng với Jesper lê bước theo sau, mặt hầm hầm tức giận.

    Dirix, Rotty cùng những người còn lại lao tới chỗ họ, hú hét và giơ cao những khẩu súng của Jesper.

    Cả băng không thấy được chuyện xảy ra với Geels, nhưng cũng nghe được gần hết.

    Giờ thì họ đang hò reo: "Phố Burstraat cháy rồi!

    Cặn Bã không tạt nước đâu!"

    "Tôi không thể tin nổi hắn lại bỏ chạy như chó cụp đuôi!"

    Rotty chế giễu.

    "Trong tay hắn có một khẩu súng đầy đạn kia mà!"

    "Nói chúng tôi nghe gã vệ quân nợ anh chuyện gì đi!"

    Dirix nài nỉ.

    "Không thể là chuyện thường rồi."

    "Tôi từng nghe kể về một gã ở Sloken thích lăn mình trong siro táo rồi lấy hai..."

    "Còn lâu tôi mới tiết lộ," Kaz đáp.

    "Holst có thể vẫn còn hữu dụng."

    Trong tâm trạng phấn khích, tiếng cười của nhóm người có chút cuồng loạn còn sót lại từ cú thoát hiểm trong chân tơ kẽ tóc.

    Một số đã chờ đợi cuộc ẩu đả và vẫn còn ngứa ngáy tay chân.

    Nhưng Kaz biết còn một nguyên nhân nữa.

    Anh nhận thấy không ai nhắc đến cái tên Bolliger Bự.

    Tất thảy đều bàng hoàng vì sự phản bội của hắn, cũng như cách thức mà Kaz trừng phạt hắn.

    Phía sau tất cả màn reo hò nhảy nhót, là sự sợ hãi.

    Tốt thôi.

    Kaz tin tất cả mọi người trong băng Cặn Bã đều là sát thủ, đạo chích, và những kẻ nói dối.

    Anh chỉ cần bảo đảm bọn họ không hình thành thói quen nói dối anh.

    Kaz cắt cử hai đàn em đi theo dõi Bol Bự, để chắc chắn hắn rời khỏi thành nếu đứng dậy được.

    Đám còn lại có thể quay về Thanh Gỗ hoặc Quạ Đen để uống cho quên nỗi lo sợ, quậy phá và ba hoa về những sự kiện vừa diễn ra trong đêm.

    Bọn họ sẽ kể lại những gì vừa chứng kiến, thêm thắt đôi chút, tin tức càng lan truyền thì Tay Nhám sẽ càng trở nên điên rồ và nhẫn tâm hơn.

    Nhưng Kaz không việc gì phải bận tâm chuyện đó, chặng dừng chân đầu tiên của anh sẽ là Cảng số Năm.

    Jesper bước tới cản đường Kaz.

    "Lẽ ra anh nên cho tôi biết về Bolliger Bự."

    "Đừng có bảo tôi phải làm cái này cái kia, Jes."

    "Anh nghĩ tôi cũng bẩn như hắn, đúng không?"

    "Nếu tôi nghĩ thế thì lúc này cậu đã ôm cỗ lòng của mình nằm giữa Sàn giao dịch giống hắn rồi.

    Đừng có nhiều lời nữa."

    Jesper lắc đầu rồi đặt tay lên những khẩu súng vừa lấy lại từ Dirix.

    Mỗi khi bực mình, Jesper thích đặt tay lên một khẩu súng, tựa như một đứa trẻ tìm kiếm sự an ủi từ con búp bê ưa thích của mình.

    Việc hoà giải đáng lẽ phải dễ dàng hơn.

    Kaz có thể trấn an Jesper rằng anh tin Jesper không chơi bẩn, rằng anh tin Jesper sẽ là người hộ vệ thực sự duy nhất của mình nếu mọi chuyện đêm nay diễn biến xấu đi.

    Nhưng thay vào đó anh chỉ nói: "Thôi nào, Jesper.

    Cậu được tha hồ chơi chịu ở Quạ Đen đấy.

    Cứ chơi đến sáng xem vận may của cậu kéo dài được bao lâu đi."

    Jesper quắc mắt, nhưng không giấu được tia khao khát trong ánh mắt của mình.

    "Lại mua chuộc à?"

    "Tôi quen rồi."

    "May cho anh là tôi cũng thế."

    Jesper ngần ngừ một lúc rồi nói tiếp.

    "Anh không muốn chúng tôi đi cùng à?

    Đám thuộc hạ của Geels chắc đang rất tức tối đấy."

    "Cứ để chúng dẫn xác đến."

    Kaz quay gót đi xuôi về phía đường Nemstraat.

    Nếu anh không thể đi dạo một mình khi trời tối ở Ketterdam thì tốt nhất nên đeo cái biển đề ẻo lả trên cổ và nằm chờ bị đập đi là vừa.

    Kaz có thể cảm thấy ánh mắt của những người khác chiếu vào lưng mình trong lúc anh đi về phía cây cầu.

    Không cần lắng nghe anh cũng biết họ đang nói điều gì.

    Họ muốn đánh chén với anh, nghe giải thích xem làm thế nào anh biết Bolliger Bự đã phản phé, nghe anh mô tả ánh mắt của Geels khi hắn buông súng xuống.

    Nhưng họ sẽ không bao giờ có được những điều đó từ Kaz, và nếu không thích thì họ có thể tìm một băng nhóm khác để gia nhập.

    Bất luận họ nghĩ thế nào về anh, đêm nay họ cũng sẽ bước đi đầy kiêu hãnh hơn một chút khi ra về.

    Chính vì thế mà họ ở lại, và cố gắng trung thành nhất có thể với anh.

    Khi Kaz chính thức gia nhập Cặn Bã vào năm mười hai tuổi, cả băng chỉ là một trò hề với những đứa trẻ đường phố, dân lang thang và đám lừa lọc vặt vãnh sống trong một ngôi nhà đổ nát ở khu vực tệ hại nhất của Barrel.

    Nhưng anh không cần một băng nhóm vững mạnh, anh chỉ cần một băng nhóm mà mình có thể làm cho vững mạnh hơn - một băng nhóm cần anh.

    Giờ thì họ có lãnh địa riêng của mình, có sòng bạc riêng, và ngôi nhà đổ nát kia nay đã trở thành Thanh Gỗ, một nơi ấm cúng để đánh chén và trú ẩn khi bạn bị thương.

    Giờ đây người ta phải nể sợ các thành viên của băng Cặn Bã.

    Kaz đã mang lại cho họ điều đó.

    Anh không nợ họ bất cứ lời giải thích nào.

    Hơn nữa, đằng nào thì Jesper cũng sẽ dịu lại.

    Sau vài chầu rượu và vài lần đặt cược, tay thiện xạ sẽ lại quay về với bản chất tử tế của mình.

    Jesper giữ sự hận thù cũng như người ta giữ nước trong lòng bàn tay, và rất có năng khiếu trong việc biến thắng lợi của Kaz thành thắng lợi chung của mọi người.

    Trong lúc đi về phía những con kênh đào nhỏ dẫn tới Cảng số Năm, Kaz nhận ra điều mà mình đang cảm thấy, thánh thần ơi, chính là một chút hi vọng.

    Có lẽ anh nên đi gặp một thầy lang.

    Băng Hắc Thủ đã lén lút ngáng chân anh trong suốt nhiều tuần qua, và bây giờ anh buộc chúng phải ngửa bài.

    Chân anh cũng không quá tệ, bất chấp cái lạnh của mùa đông.

    Cơn đau vẫn còn đó, nhưng đêm nay nó chỉ âm ỉ thôi.

    Đau vậy, một phần trong Kaz tự hỏi liệu cuộc điều đình vừa rồi có phải là một thử thách mà Per Haskell đã đặt ra cho anh hay không.

    Ông ta rất giỏi trong việc tự thuyết phục bản thân rằng mình chính là thiên tài giúp cho băng Cặn Bã phất lên, nhất là khi được một trong mấy gã nịnh thần rót mật vào tai.

    Kaz không thích điều đó, nhưng anh có thể gác lại mối bận tâm về Per Haskell sang ngày mai.

    Lúc này, anh muốn chắc chắn mọi chuyện ở cảng diễn ra theo đúng lịch trình, trước khi quay về Thanh Gỗ để ngủ một giấc cực kì cần thiết.

    Anh biết Inej đang bám theo mình.

    Cô đã theo dõi anh suốt từ lúc rời Sàn giao dịch.

    Anh không gọi cô.

    Inej sẽ tự lộ diện khi đã sẵn sàng.

    Thường thì anh thích sự tĩnh lặng, anh rất sẵn lòng khâu miệng của phần đông mọi người lại.

    Nhưng khi Inej muốn, cô có cách để làm cho người ta cảm nhận được sự im lặng của cô.

    Nó nặng như chì.

    Kaz đã chịu đựng nó suốt chặng đường đi qua hàng lan can bằng sắt

    của cầu Zents, cây cầu với những song sắt được buộc các mẩu thừng thắt nút cầu kì.

    Lời cầu xin thượng lộ bình an của dân thuỷ thủ.

    Trò mê tín vớ vẩn.

    Cuối cùng anh bỏ cuộc và lên tiếng: "Nói phứt ra đi, Bóng Ma."

    Giọng nói của cô vang lên từ trong bóng tối.

    "Anh không hề cử người tới phố Burstraat."

    "Tại sao tôi phải làm chuyện đó?"

    "Nếu Geels không đến đó kịp thời thì..

    "Chẳng có ai phóng hoả ngôi nhà số mười chín cả."

    "Tôi đã nghe thấy tiếng còi hụ..."

    "Một sự tình cờ thú vị.Tôi đã lấy cảm hứng từ đó."

    "Hoá ra anh chỉ loè bịp.

    Cô ta không hề gặp nguy hiểm."

    Kaz nhún vai, không muốn nói ra điều đó.

    Inej luôn cố soi mói từng mẩu đạo đức của anh.

    "Khi mọi người nghĩ cô là một con quái vật, cô sẽ không cần mất thời gian làm mọi trò ma quỷ nữa."

    "Tại sao anh đồng ý gặp hắn khi biết đó là một cái bẫy?"

    Inej đang ở đâu đó phía bên phải Kaz.

    Cô di chuyển nhẹ nhàng không một tiếng động.

    Theo lời những thành viên khác trong băng thì cô di chuyển như một con mèo, nhưng anh thấy loài mèo còn phải bái cô làm sư phụ.

    "Tôi cho rằng đêm nay đã thành công," anh đáp.

    "Cô không nghĩ vậy sao?"

    "Anh suýt nữa bị giết.

    Jesper cũng vậy."

    "Geels phải dốc cạn ngân quỹ của Hắc Thủ cho những khoản hối lộ vô dụng.

    Chúng ta đã loại bỏ một kẻ phản bội, đòi lại chủ quyền ở Cảng số

    Năm, và tôi bình an vô sự.

    Đẹp quá còn gì."

    "Anh biết chuyện của Bolliger Bự được bao lâu rồi?"

    "Vài tuần.

    Chúng ta sẽ bị thiếu người đấy.

    À mà nói mới nhớ, cô tiễn Rojakke đi là vừa."

    "Tại sao?

    Không ai có thể qua mặt được anh ta trên bàn chơi bài."

    "Trên đời này thiếu gì người giỏi.

    Rojakke hơi nhanh tay quá.

    Anh ta ăn bớt tiền."

    "Anh ta là một người chia bài giỏi và có gia đình phải chu cấp.

    Anh có thể cảnh báo anh ta.

    Chặt một ngón tay chẳng hạn."

    "Khi đó anh ta sẽ không còn là một người chia bài giỏi nữa, đúng không nào?"

    Khi một người chia bài bị phát hiện ăn bớt tiền của sòng bài, ông chủ sẽ chặt một ngón tay của anh ta.

    Đó là một trong những biện pháp trừng phạt ngớ ngẩn nhưng lại trở thành luật ngầm của các băng nhóm.

    Nó phá vỡ sự cân bằng của người chia bài, buộc anh ta học lại cách xào bài, và cảnh báo cho mọi ông chủ tương lai rằng anh ta cần được giám sát.

    Nhưng nó cũng làm cho anh ta vụng về đi trong công việc.

    Điều đó có nghĩa là anh ta phải tập trung vào thao tác của mình thay vì quan sát người chơi.

    Kaz không trông thấy khuôn mặt Inej trong bóng tối, nhưng anh cảm nhận được sự phản đối của cô.

    "Lòng tham là chúa trời của anh đó, Kaz."

    Kaz suýt phì cười khi nghe điều đó.

    "Không, Inej.

    Lòng tham quỳ gối trước tôi.

    Nó là đầy tớ, là đòn bẩy của tôi."

    "Vậy anh phụng sự chúa trời nào?"

    "Bất cứ vị nào ban tặng vận may cho tôi."

    "Tôi không nghĩ chúa trời lại làm chuyện đó."

    "Tôi cũng chẳng cần."

    Inej bực bội thở hắt ra.

    Bất chấp tất cả những chuyện đã trải qua, cô vẫn tin các vị thánh Suli đang quan sát mình.

    Kaz biết chuyện ấy, và không hiểu sao anh thích chọc cho cô tức lên.

    Anh ước gì mình có thể đọc được vẻ mặt của cô lúc này.

    Luôn có gì đó làm anh thoả mãn khi thấy cái nhíu mày khẽ của cô.

    "Làm sao anh biết tôi sẽ tiếp cận Van Daal kịp thời?"

    Cô hỏi.

    "Vì cô luôn làm được."

    "Lẽ ra anh nên cảnh báo tôi nhiều hơn."

    "Tôi nghĩ các vị thánh của cô thích thử thách đó."

    Cô không nói gì trong giây lát, sau đó anh nghe thấy giọng cô từ đâu đó sau lưng mình.

    "Người ta dè bỉu thánh thần cho đến khi cần họ, Kaz à."

    Kaz không thấy cô bỏ đi, anh chỉ cảm nhận sự thiếu vắng cô.

    Anh bực bội lắc đầu.

    Nói là anh tin tưởng Inej thì hơi quá, nhưng anh phải thừa nhận rằng mình đã trông cậy vào cô.

    Việc chuộc lại cô từ Vườn Thú là một quyết định liều lĩnh, và nó làm băng Cặn Bã tốn kha khá tiền.

    Anh đã phải thuyết phục Per Haskell, nhưng Inej là một trong những khoản đầu tư hữu hiệu nhất mà Kaz từng thực hiện.

    Khả năng ẩn mình điệu nghệ biến cô thành một đạo chích tuyệt vời, người giỏi nhất của Barrel.

    Nhưng việc cô có thể che giấu bản thân dễ dàng như vậy làm anh lo ngại.

    Thậm chí cô còn không có mùi riêng.

    Mọi người ai cũng có mùi cơ thể, và chúng nói lên nhiều điều - mùi xà phòng trên ngón tay người phụ nữ, mùi khói trong tóc cô ta, mùi len ẩm trên bộ comlê của một người đàn ông, hay mùi thuốc súng vương lại nơi cổ tay áo ông ta.

    Nhưng Inej thì không.

    Bằng cách nào đó cô đã làm chủ được phép tàng hình.

    Cô là một tài sản giá trị.

    Vậy tại sao cô không thể cứ làm việc của mình thôi và ngưng xả cảm xúc của cô lên đầu anh chứ?

    Bỗng Kaz nhận ra anh đang không một mình.

    Anh dừng bước, nghe ngóng.

    Anh vừa đi tắt theo một ngõ hẻm nhỏ bị con kênh tăm tối cắt ngang.

    Ở đây không có đèn đường và vắng bóng người qua lại, chỉ có ánh trăng sáng và những chiếc thuyền nhỏ đập vào cọc neo.

    Anh đã mất cảnh giác và lơ đãng.

    Một bóng người sắc nét xuất hiện ở cuối ngõ.

    "Có chuyện gì?"

    Kaz hỏi.

    Cái bóng lao vào Kaz.

    Anh vung cây gậy chống của mình, lẽ ra nó phải đập trúng vào chân của kẻ tấn công, nhưng cây gậy chỉ vụt vào khoảng không.

    Kaz loạng choạng mất thăng bằng sau cú vung gậy.

    Thế rồi, không hiểu sao kẻ đó đã đứng ngay trước mặt Kaz.

    Một cú đấm giáng thẳng vào quai hàm của anh.

    Kaz lắc mạnh đầu để xua đi những ngôi sao đang chao lượn trong đó.

    Anh nhảy lui lại và vung gậy lần thứ hai.

    Nhưng đã không còn ai đứng tại đó nữa.

    Cái đầu gậy nặng trịch của anh bay vút qua khoảng trống và đập vào tường.

    Kaz cảm thấy cây gậy bị giật khỏi tay mình bởi kẻ nào đó đứng bên phải.

    Không lẽ chúng có hơn một người?

    Tiếp đó, một cái bóng đi xuyên qua bức tường.

    Bộ não của Kaz khựng lại và quay cuồng, cố gắng lí giải điều anh vừa chứng kiến, trong lúc màn sương trở thành một chiếc áo choàng, đôi bốt, và làn da tai tái của một khuôn mặt.

    Một bóng ma, Kaz nghĩ thầm.

    Nỗi sợ trẻ con ập tới với sự chắc chắn tuyệt đối.

    Rốt cuộc Jordie cũng xuất hiện để phục thù.

    Đã đến lúc trả món nợ của em rồi, Kaz.

    Em không bao giờ quỵt nợ được đâu.

    Ý nghĩ đó vụt qua tâm trí của Kaz trong một làn sóng hoảng loạn đáng xấu hổ trước khi bóng ma lao tới, và anh cảm nhận được cú chích đau nhói của một mũi kim nơi cổ.

    Ma mà cũng dùng kim tiêm sao?

    Ngu quá, anh chỉ kịp nghĩ tới đó trước khi rơi vào trong bóng tối.

    •••

    Kaz tỉnh lại vì bị mùi amoniac cay nồng xộc vào mũi.

    Đầu anh ngửa ra sau trong lúc ý thức quay trở lại.

    Người đàn ông lớn tuổi ở trước mặt anh mặc chiếc áo thụng của một thầy lang.

    Ông ta đang cầm một lọ muối ngửi trong tay và rà nó qua lại dưới mũi Kaz.

    Cái mùi tởm không thể chịu nổi.

    "Tránh xa tôi ra," Kaz kêu lên.

    Ông thầy lang nhìn anh một cách bình thản và cất chỗ muối ngửi vào trong cái túi da.

    Kaz co ngón tay lại, nhưng anh chỉ làm được có thế.

    Anh đang bị trói quặt tay ra sau trên một chiếc ghế.

    Thứ mà họ tiêm cho Kaz làm đầu anh váng vất.

    Ông thầy lang tránh sang bên cạnh.

    Kaz chớp mắt hai lần, cố nhìn cho rõ và lí giải sự xa hoa phi lí xung quanh mình.

    Anh tưởng đâu mình phải tỉnh lại giữa hang ổ của bọn Hắc Thủ hoặc một băng nhóm địch thủ nào khác.

    Nhưng đây không phải là một cảnh tượng rẻ tiền kiểu Barrel.

    Để có thể trang hoàng như thế này cần phải có nhiều tiền - những tấm ván gỗ dái ngựa chạm khắc dày đặc hình con sóng bạc đầu và cá bay, các kệ chất đầy sách, cửa sổ ghép kính, và anh gần như chắc chắn kia là một bức hoạ của DeKappel.

    Một trong số những bức chân dung sơn dầu ít phổ biến của ông ta, vẽ một người phụ nữ với cuốn sách mở trong lòng và con cừu non nằm dưới chân.

    Người đàn ông đang quan sát anh từ phía bên kia cái bàn làm việc lớn có nét phú quý của một thương gia.

    Nhưng nếu đây là nhà của ông ta thì tại sao lại có mấy gã thị tuần đứng gác ngoài cửa thế kia?

    Chết tiệt, Kaz nhủ thầm, không lẽ mình đã bị bắt?

    Nếu như vậy thì gã lái buôn này sẽ có một bất ngờ thú vị.

    Nhờ Inej, anh đã nắm được thông tin về mọi quan toà, thừa phát lại, cũng như các ủy viên hội đồng cao cấp ở Kerch.

    Anh sẽ ra khỏi buồng giam trước khi mặt trời mọc.

    Nhưng đây không phải là một buồng giam, và anh còn đang bị trói chặt vào ghế.

    Chuyện quái gì đang xảy ra vậy?

    Người đàn ông trạc tứ tuần, có một gương mặt đẹp nhưng hốc hác và phần trán bắt đầu có dấu hiệu bị hói.

    Bắt gặp ánh mắt của Kaz, ông ta hắng giọng và chắp hai tay lại.

    "Cậu Brekker, tôi hi vọng cậu không cảm thấy quá khó chịu trong người."

    "Đem gã lang băm này ra chỗ khác đi.

    Tôi khoẻ."

    Vị thương gia gật đầu với ông thầy lang.

    "Ông có thể đi.

    Gửi hoá đơn cho tôi nhé. và dĩ nhiên tôi sẽ rất cảm kích nếu ông giữ kín chuyện này."

    Ông thầy lang đóng túi lại rồi rời khỏi phòng.

    Trong lúc đó, vị thương gia đứng dậy và cầm lấy một xấp giấy trên bàn.

    Ông ta mặc một chiếc áo choàng cắt may cực khéo cùng với áo vest giống như mọi thương gia của Kerch - màu tối, trang nhã, thâm trầm một cách cố ý.

    Nhưng cái đồng hồ bỏ túi và chiếc ghim cài cravat đã báo cho Kaz những gì anh cần biết: Những mắt xích hình lá nguyệt quế kết thành phần dây đeo đồng hồ bằng vàng, còn chiếc ghim cài là một viên hồng ngọc lớn đẹp hoàn hảo.

    Tôi sẽ trấn món trang sức đó rồi găm chiếc ghim kia thẳng vào cái cổ của ông vì tội dám trói tôi vào ghế, Kaz nhủ thầm.

    Nhưng anh chỉ nói vỏn vẹn hai chữ: "Van Eck."

    Người đàn ông gật đầu.

    Không phải cái cúi mình thi lễ, tất nhiên rồi.

    Cánh thương gia không thi lễ với bọn cặn bã đến từ Barrel.

    "Vậy ra, cậu biết tôi?"

    Kaz biết các biểu tượng và đồ trang sức của mọi thương gia tại Kerch.

    Gia huy của Van Eck là cành nguyệt quế mầu đỏ.

    Chẳng cần phải là chuyên gia để nhìn ra được mối liên hệ.

    "Tôi biết ông," anh đáp.

    "Ông là một trong những thương gia luôn tìm cách dọn sạch Barrel."

    Van Eck khẽ gật đầu lần nữa.

    "Tôi chỉ tìm công việc tử tế cho mọi người."

    Kaz bật cười.

    "Có gì khác biệt giữa đánh bạc ở Quạ Đen và đầu cơ tại Sàn giao dịch nào?"

    "Một đằng là lừa lọc, một đằng là kinh doanh."

    "Một khi đã mất tiền thì người ta khó lòng phân biệt được sự khác nhau giữa chúng đấy."

    "Barrel là hang ổ của tục tĩu, đổi trụy, bạo lực..."

    "Những con tàu mà ông phái đi từ Ketterdam, bao nhiêu trong số đó không bao giờ trở lại?"

    "Chuyện đó không..."

    "Một trên năm, thưa ông.

    Cứ năm con tàu mà ông phái đi để tìm kiếm cà phê, jurda và tơ lụa, lại có một chìm xuống biển, va phải đá, rơi vào tay hải tặc.

    Một trên năm thuỷ thủ đoàn mất mạng, thân xác nằm lại nơi đất lạ quê người, làm mồi cho cá biển sâu.

    Làm ơn đừng nói tới bạo lực ở đây."

    "Tôi không tranh cãi các vấn đề đạo đức với một thằng ranh con Barrel."

    Kaz không thực sự muốn ông ta làm điều đó.

    Anh chỉ đang tìm cách câu giờ trong lúc thử độ chắc chắn của cặp còng tay.

    Anh lần ngón tay xa hết mức có thể dọc theo chiều dài của sợi dây xích, vẫn chưa hết thắc mắc về nơi Van Eck đưa mình tới.

    Mặc dù chưa bao giờ gặp ông ta, anh đã có dịp nghiên cứu sơ đồ ngôi nhà của Van Eck từ trong ra ngoài.

    Bất kể họ đang ở đâu thì đây cũng không phải là tư dinh của gã thương gia.

    "Ông không đưa tôi tới đây để đàm đạo, vậy ông cần gì?"

    Đó là câu hỏi thường mở đầu cho mọi cuộc gặp.

    Lời chào đón của một người ngang hàng, chứ không phải tiếng van xin của một tù nhân.

    "Tôi có một đề nghị dành cho cậu.

    Hay đúng hơn là Hội đồng có một đề nghị."

    Kaz cố giấu sự ngạc nhiên của mình.

    "Hội đồng Thương buôn bắt đầu mọi cuộc thương lượng bằng trò đánh đập à?"

    "Hãy coi đó là một sự cảnh báo.

    Một cách thể hiện."

    Kaz nhớ lại dáng người trong con hẻm, cách nó xuất hiện và biến mất như một bóng ma.

    Jordie.

    Anh thầm phản bác suy nghĩ đó trong đầu.

    Không phải Jordie, đồ hâm.

    Tập trung đi.

    Bọn họ tóm được anh vì anh vừa trải qua một thắng lợi và lơ đãng.

    Đây là hình phạt dành cho sai lầm của anh, một sai lầm mà anh sẽ không bao giờ lặp lại.

    Điều đó không giải thích được vụ bóng ma.

    Nhưng lúc này anh gạt ý nghĩ đó sang một bên.

    "Hội đồng có thể dùng tôi vào việc gì đây?"

    Van Eck lật xấp giấy trong tay.

    "Cậu bị bắt lần đầu tiên vào năm lên mười," ông ta vừa nói vừa xem lướt trang giấy.

    "Mọi người đều nhớ lần đầu tiên của mình."

    "Thêm hai lần nữa trong cùng năm đó, và hai lần khác năm mười hai tuổi.

    Sau đó cậu bị tóm cổ năm mười bốn tuổi khi đội thị tuần đột kích vào một sòng bạc, nhưng kể từ đó cậu hoàn toàn sạch sẽ."

    Đó là sự thực.

    Không một ai chộp được Kaz trong suốt ba năm vừa qua.

    "Tôi đã hoàn lương," Kaz đáp.

    "Tìm cho mình một công việc tử tế, dùng cuộc sống để lao động và cầu nguyện."

    "Đừng có báng bổ," Van Eck nói khẽ, nhưng đôi mắt ông ta toé lửa giận dữ.

    Một kẻ có đức tin, Kaz ghi nhận trong lúc thầm kiểm kê lại tất cả những gì mình đã biết về Van Eck - giàu có, ngoan đạo, goá vợ nhưng vừa tục huyền với một cô nàng không lớn hơn Kaz là bao.

    Và bên cạnh đó còn có câu chuyện bí ẩn về cậu con trai của ông ta, tất nhiên rồi.

    Van Eck tiếp tục lật giở tập tài liệu.

    "Cậu cá độ đấm bốc, đua ngựa, cùng những trò may rủi tự mình bày ra.

    Cậu điều hành sòng bạc tại Quạ Đen từ hơn hai năm nay.

    Là người trẻ nhất từng làm công việc đó, cậu đã làm lợi nhuận của nó tăng gấp hai lần.

    Cậu là một kẻ tống tiền..."

    "Tôi chỉ đổi chác thông tin."

    "Một tên lừa đảo..."

    "Tôi chỉ tạo cơ hội."

    "Một tên ma cô, một kẻ sát nhân..."

    "Tôi không dắt gái, và tôi giết chóc có mục đích."

    "Với mục đích gì?"

    "Cũng giống như ông thôi.

    Lợi nhuận."

    "Cậu moi thông tin bằng cách nào?"

    "Có thể nói tôi là một người bẻ khoá."

    "Hẳn cậu là một người bẻ khoá rất cừ."

    "Quả vậy."

    Kaz hơi ngửa người ra sau.

    "Ông thấy đấy, ai cũng có một cái két sắt cất giữ các bí mật và ham muốn của mình.

    Này nhé, có những kẻ dùng bạo lực, nhưng tôi thích một cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn.

    Một áp lực thích hợp vào đúng thời điểm, đúng vị trí.

    Đó là một công việc tinh tế."

    "Cậu lúc nào cũng ăn nói ví von như thế à?"

    Kaz mỉm cười đáp.

    "Đó không phải là một sự ví von."

    Anh thoát ra khỏi chiếc ghế trước cả khi sợi dây xích chạm mặt sàn.

    Anh nhảy lên bàn, một tay chộp con dao rọc giấy nằm trên đó, tay kia túm áo sơmi của Van Eck.

    Lớp vải áo nhăn nhúm lại khi anh ấn lưỡi dao vào cổ ông ta.

    Kaz vẫn còn choáng váng, chân tay anh tê rần do bị trói quá lâu, nhưng với một vũ khí trong tay thì mọi chuyện ngon lành hơn hẳn.

    Đội vệ quân của Van Eck lúc này đứng đối mặt với anh, gươm súng lăm lăm trong tay.

    Anh có thể cảm thấy quả tim thương gia đập thình thịch sau lớp vải len của áo khoác.

    "Tôi nghĩ mình không cần phí hơi để đe doạ," Kaz lên tiếng.

    "Nói cho tôi biết cách đường hoàng ra khỏi đây, nếu không tôi sẽ đem ông qua cửa sổ cùng với tôi."

    "Tôi có thể làm cậu đổi ý."

    Kaz thúc nhẹ vào ông ta.

    "Tôi không quan tâm ông là ai, hay viên hồng ngọc của ông lớn cỡ nào.

    Ông đừng hòng bắt cóc tôi rồi bày trò thoả thuận này nọ trong lúc tôi bị trói."

    "Mikka," Van Eck gọi.

    Và chuyện đó xảy ra một lần nữa.

    Một thằng bé đi xuyên qua bức tường để giá sách.

    Nó tái nhợt như một xác chết, trên người khoác chiếc áo choàng màu xanh biển của Tiết Hải Sư, với sợi ruy băng hai mầu đỏ và vàng trên ve áo thể hiện mối liên hệ với gia tộc Van Eck.

    Nhưng ngay cả một Grisha cũng không thể đi xuyên tường được.

    Thuốc, Kaz tự nhủ, cố gắng không hoảng sợ.

    Mình bị đánh thuốc rồi.

    Hoặc đây là một màn ảo thuật, giống như những gì người ta vẫn trình diễn tại các nhà hát trong khu Đông Stave - một cô gái bị cắt làm đôi, những con bồ câu bay ra từ ấm trà.

    "Chuyện quái gì thế này?"

    Anh gầm lên.

    "Thả tôi ra, tôi sẽ giải thích."

    "Ông có thể giải thích ngay tại đây."

    Van Eck run run thở hắt ra.

    "Điều mà cậu trông thấy là tác động của jurda parem."

    "Jurda chỉ là một chất kích thích."

    Những bông hoa nhỏ sấy khô được trồng tại Novyi Zem và bày bán khắp các cửa hiệu của Ketterdam.

    Hồi mới vào băng Cặn Bã, Kaz đã nhai chúng để tỉnh táo mỗi khi đi thám thính.

    Nó làm răng anh chuyển sang màu cam trong nhiều ngày sau đó.

    "Nó vô hại," anh nói.

    "Jurda parem là một thứ hoàn toàn khác, và chắc chắn là nó không vô hại."

    "Vậy đúng là ông đã cho tôi xài thuốc?"

    "Không phải cậu.

    Là Mikka."

    Kaz ghi nhận vẻ xanh xao bệnh hoạn trên khuôn mặt của thằng bé Grisha.

    Đôi mắt nó trũng sâu, cơ thể nó toát lên sự yếu ớt và run rẩy của một người ốm đói và không màng chuyện ăn uống.

    "Jurda parem là họ hàng của jurda thông thường," Van Eck nói tiếp.

    "Nó cũng xuất phát từ cùng một loài cây.

    Chúng tôi không rõ quy trình sản xuất của nó, nhưng một lượng nhỏ đã được gửi tới Hội đồng Thương buôn Kerch từ một nhà khoa học có tên là Bo Yul-Bayur."

    "Người Shu à?"

    "Phải.

    Vì muốn đào thoát khỏi đất nước, ông ta đã gửi cho chúng tôi mẫu thử để thuyết phục chúng tôi về những tác dụng kì diệu của loại thuốc này.

    Làm ơn đi, cậu Brekker, đây không phải là một tư thế thoải mái.

    Nếu cậu muốn, tôi sẽ đưa cho cậu một khẩu súng và chúng ta sẽ ngồi xuống bàn luận chuyện này theo cách thức văn minh hơn."

    "Một khẩu súng và cây gậy của tôi."

    Van Eck ra hiệu cho một thị tuần.

    Người này ra khỏi phòng rồi quay lại trong chốc lát cùng với cây gậy chống của Kaz.

    Anh thấy mừng vì anh ta đi bằng cái lối cửa chết tiệt.

    "Súng trước," Kaz nói.

    "Từ từ thôi."

    Người vệ quân tháo súng rồi đưa nó cho Kaz, báng súng quay về phía anh.

    Kaz chộp lấy và lên đạn trong nháy mắt, trước khi thả Van Eck, quẳng con dao rọc giấy xuống bàn, rồi giật phăng cây gậy chống của mình từ tay anh ta.

    Khẩu súng hữu dụng hơn, nhưng cây gậy mang lại cho Kaz một sự nhẹ nhõm mà anh không cần phải đong đếm.

    Van Eck lùi lại vài bước, giữ khoảng cách với khẩu súng đã lên đạn mà Kaz cầm trong tay.

    Có vẻ như ông ta không vội ngồi xuống ngay, Kaz cũng vậy.

    Anh tiếp tục đứng gần cửa sổ, sẵn sàng lao ra ngoài nếu cần.

    Van Eck hít một hơi thật sâu và tìm cách vuốt phẳng bộ trang phục.

    "Cây gậy đó là một món vũ khí tốt ra phết đấy.

    Nó được làm bởi một Sáng Chế Gia à?"

    Quả thực, cây gậy chống của Kaz là tác phẩm của một Sáng Chế Gia.

    Nó được bọc chì và có trọng lượng hoàn hảo để đập gãy xương.

    "Không phải chuyện của ông.

    Vào đề đi, Van Eck."

    Ông ta hắng giọng.

    "Sau khi nhận được mẫu jurda parem của Bo YulBayur gửi, chúng tôi đã thử nó trên ba Grisha thuộc các nhóm khác nhau."

    "Tình nguyện viên à?"

    "Người giúp việc theo giao kèo," Van Eck thừa nhận.

    "Hai người đầu tiên là Sáng Chế Gia và Thiên Tâm Y, thuộc sở hữu của ngài Hội đồng Hoede.

    Mikka là Tiết Hải Sư.

    Thằng bé là của tôi.

    Cậu đã thấy nó có thể làm được chuyện gì nhờ xài jurda parem rồi đó."

    Hoede.

    Cái tên này sao nghe quen quá vậy?

    "Tôi không biết mình đã thấy điều gì," Kaz vừa nói vừa liếc nhìn Mikka.

    Ánh mắt của thằng bé tập trung vào Van Eck như thể đang chờ đợi mệnh lệnh tiếp theo từ ông ta.

    Hoặc là một liều jurda parem nữa.

    "Một Tiết Hải Sư bình thường có thể kiểm soát các dòng hải lưu, triệu hồi nước và hơi ẩm từ trong không khí hoặc từ một nguồn gần đó.

    Họ kiểm soát thuỷ triều tại các hải cảng của chúng ta.

    Nhưng dưới tác động của jurda parem, Tiết Hải Sư có thể tự thay đổi trạng thái từ rắn sang lỏng hay khí, và ngược lại, cũng như có thể làm điều tương tự với các đồ vật.

    Kể cả một bức tường."

    Kaz định phản bác chuyện đó, nhưng anh không thể lí giải điều mình vừa chứng kiến theo cách nào khác.

    "Bằng cách nào?"

    "Thật khó để giải thích.

    Chắc cậu đã biết về bộ khuếch đại mà một số

    Grisha vẫn mang theo?"

    "Tôi đã trông thấy chúng," Kaz đáp.

    Xương, răng, vảy thú.

    "Tôi nghe

    nói chúng không dễ tìm."

    "Rất khó tìm là đằng khác.

    Nhưng chúng chỉ làm tăng năng lực của một Grisha mà thôi.

    Trong khi jurda parem làm thay đổi nhận thức của họ."

    "Thì sao?"

    "Grisha điều khiển được vật chất ở cấp độ cơ bản nhất.

    Họ gọi nó là thuật Điều Nhiên.

    Dưới ảnh hưởng của parem, sự điều khiển này sẽ trở nên nhanh chóng và chính xác hơn nhiều.

    Trên lí thuyết, jurda parem chỉ là một chất kích thích giống như jurda thông thường.

    Nhưng hình như nó có thể làm cho các giác quan của một Grisha trở nên sắc bén và nhanh nhạy hơn.

    Nhờ vậy họ có thể liên hệ các thứ với một tốc độ phi thường.

    Những điều không thể bỗng trở thành có thể."

    "Nó có tác dụng gì với đám thường nhân như ông và tôi?"

    Van Eck tỏ ra phật ý khi bị đánh đồng với Kaz, nhưng ông ta chỉ nói: "Nó gây chết người.

    Những bộ óc bình thường không thể dung nạp được parem, dù là ở liều thấp nhất."

    "Ông nói là các ông đã cho ba Grisha dùng thử.

    Hai người kia có thể làm được gì?"

    "Cậu xem đây," Van Eck vươn tay về phía một ngăn kéo bàn.

    Kaz nâng súng lên.

    "Từ từ thôi."

    Với một sự chậm rãi cường điệu hoá, Van Eck luồn tay vào trong ngăn kéo rồi rút ra một cục vàng.

    "Lúc đầu cái này là một cục chì."

    "Tôi cóc tin ông."

    Van Eck nhún vai.

    "Tôi chỉ có thể kể cho cậu những gì mình đã chứng kiến, cậu Sáng Chế Gia đã bỏ một cục chì vào lòng bàn tay, và giây lát sau nó thành ra thế này."

    "Làm sao ông biết nó là thật?"

    Kaz thắc mắc.

    "Nó có cùng điểm chảy với vàng, cùng trọng lượng và dễ dát mỏng như vàng.

    Nếu không phải là nó giống hệt vàng trên mọi phương diện thì điểm khác biệt giữa hai thứ nằm ngoài tầm nắm bắt của chúng tôi.

    Cậu cứ việc xem thử nếu thích."

    Kaz kẹp cây gậy chống vào nách rồi cầm lấy cục kim loại từ tay Van Eck.

    Anh bỏ nó vào trong túi.

    Cho dù nó là đồ thật hay đồ giả như thật, một cục vàng to như vậy cũng có thể mua được nhiều thứ trên đường phố Barrel.

    "Ông có thể đã kiếm được thứ này ở đâu đó," Kaz bắt bẻ.

    "Lẽ ra tôi đã đưa người Sáng Chế Gia của Hoede đến đây để cho cậu xem tận mắt, nhưng cậu ta không khoẻ."

    Ánh mắt của Kaz liếc nhanh sang phía gương mặt xanh xao và vầng trán đẫm mồ hôi của Mikka.

    Việc xài ma dược rõ ràng có cái giá của nó.

    "Cứ coi như chuyện này hoàn toàn là thật chứ không phải một trò ảo thuật rẻ tiền đi.

    Nó thì có liên quan gì với tôi?"

    "Có lẽ cậu đã biết chuyện nước Shu trả toàn bộ khoản nợ cho Kerch bằng một số lượng vàng lớn bất ngờ?

    Chắc cậu cũng biết vụ ám sát ngài đại sứ thương mại đến từ Novyi Zem?

    Và vụ ăn trộm tài liệu ở một căn cứ quân sự tại Ravka?"

    Vậy ra đây là bí mật đằng sau vụ ám sát ông đại sứ trong phòng vệ sinh.

    Số vàng chất đầy trong ba con tàu của nước Shu chắc phải được tạo ra bởi Sáng Chế Gia.

    Kaz chưa hề nghe nói tới vụ trộm tài liệu ở Ravka, nhưng anh vẫn gật đầu.

    "Chúng tôi tin rằng tất cả những sự việc đó đều là tác phẩm của các Grisha, chịu sự kiểm soát của chính quyền nước Shu và dưới tác động của jurda parem."

    Van Eck đưa tay gãi hàm.

    "Cậu Brekker, tôi muốn cậu suy nghĩ điều tôi đang nói với cậu.

    Với những người có thể đi xuyên tường, không một hầm vàng hay pháo đài nào còn được an toàn, với những kẻ có thể làm ra vàng từ chì hay bất cứ thứ gì khác, những kẻ có thể thay đổi vật chất của thế giới này, thị trường tài chính sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn.

    Nền kinh tế thế giới có thể sụp đổ."

    "Rất đáng chú ý.

    Có phải đó là điều ông muốn ở tôi không, Van Eck?

    Ông muốn tôi đi cướp tàu?

    Cướp công thức bí mật đó?"

    "Không, tôi muốn cậu cướp người."

    "Bắt cóc Bo Yul-Bayur á?"

    "Cứu ông ta.

    Một tháng trước chúng tôi đã nhận được lời nhắn xin được tị nạn từ Yul-Bayur.

    Ông ta lo lắng về những kế hoạch của chính phủ mình đối với jurda parem, và chúng tôi đã đồng ý giúp ông ta đào thoát.

    Chúng tôi đã sắp đặt một cuộc gặp, nhưng đã xảy ra một vụ giao tranh nhỏ tại điểm hẹn."

    "Với người Shu?"

    "Không, với người Fjerda."

    Kaz nhíu mày.

    Người Fjerda chắc là có gián điệp được cài sâu trong chính quyền Shu Han hoặc Kerch, nếu không họ đã không thể biết được kế hoạch của Bo Yul-Bayur nhanh chóng đến thế.

    "Vậy ông cử người của ông đi tìm ông ta đi."

    "Đây là một tình huống ngoại giao khá nhạy cảm.

    Chủ yếu là không được để chính quyền của chúng ta bị liên đới với vụ Yul-Bayur."

    "Ông nên biết rằng ông ta có thể đã chết.

    Người Fjerda đặc biệt thù ghét các Grisha.

    Bọn họ không đời nào để cho loại ma dược này tồn tại."

    "Theo nguồn tin của chúng tôi thì ông ta vẫn còn sống và đang đợi phiên toà xét xử..."

    Van Eck hắng giọng.

    "Tại Lâu Đài Băng."

    Kaz nhìn sững Van Eck hồi lâu, rồi bật cười.

    "Vâng, thật sung sướng khi bị các ông đánh ngất và đem về đây.

    Ông có thể yên tâm rằng lòng hiếu khách của ông sẽ được đền đáp vào một thời điểm thích hợp.

    Còn bây giờ, vui lòng bảo đám hầu cận của ông tiễn tôi ra về."

    "Chúng tôi sẵn sàng trả cho cậu năm triệu kruge."

    Kaz cất súng vào túi.

    Lúc này anh không lo sợ cho mạng sống của mình nữa, anh chỉ bực bội vì mất thời gian với Van Eck.

    "Có thể điều này làm ông ngạc nhiên, nhưng bọn lưu manh hạ tiện chúng tôi cũng trân quý mạng sống của mình chẳng kém gì các ông."

    "Mười triệu."

    "Một gia tài để làm gì khi tôi không còn sống để tiêu nó.

    Mũ của tôi đâu rồi?

    Tiết Hải Sư của ông đã bỏ nó lại trong hẻm à?"

    "Hai mươi."

    Kaz khựng lại.

    Anh có cảm giác lạ lùng rằng đàn cá bay chạm trên lớp ốp gỗ của bức tường vừa dừng lại nửa chừng để lắng nghe.

    "Hai mươi triệu kruge á?"

    Van Eck gật đầu.

    Ông ta trông có vẻ không vui.

    "Tôi cần thuyết phục một ê-kíp tham gia vào một sứ mạng tự sát.

    Cái giá của nó sao rẻ vậy được?"

    Chuyện đó không hoàn toàn đúng.

    Bất chấp điều anh vừa nói với Van Eck, tại Barrel có hàng đống người chẳng có lí do gì để sống.

    "Hai mươi triệu kruge thì khó có thể coi là rẻ," Van Eck gắt lên.

    "Chưa từng có ai đột nhập thành công Lâu Đài Băng."

    "Chính vì vậy chúng tôi mới cần cậu, cậu Brekker.

    Có thể là Bo YulBayur đã chết, hoặc đã tiết lộ mọi bí mật của mình cho người Fjerda, nhưng chúng tôi tin rằng ít nhất chúng tôi cũng có một chút thời gian để hành động trước khi bí mật của jurda parem được đưa vào sử dụng."

    "Nếu người Shu đã có công thức..."

    "Yul-Bayur khẳng định ông ta đã thành công trong việc đánh lừa thượng cấp và giữ kín công thức bí mật.

    Chúng tôi nghĩ họ đang sử dụng nguồn jurda parem giới hạn mà Yul-Bayur bỏ lại."

    Lòng tham quỳ gối trước tôi.

    Có thể Kaz đã quá tự mãn với câu nói đó.

    Giờ thì lòng tham đang ngả theo lời đề nghị của Van Eck.

    Đòn bẩy đang hoạt động, nó mạnh hơn sự kháng cự của Kaz và đẩy anh vào chỗ.

    Hai mươi triệu kruge.

    Công việc này sẽ như thế nào đây?

    Kaz chẳng biết gì về gián điệp hay những xung đột giữa các quốc gia, nhưng việc giải thoát Bo Yul-Bayur khỏi Lâu Đài Băng có gì khác với việc đánh cắp những món đồ giá trị khỏi két an toàn của một thương gia kia chứ?

    Nơi được bảo vệ nhất thế giới, anh tự nhắc trong đầu.

    Anh cần một nhóm hành động đặc biệt, một nhóm người liều lĩnh không nao núng trước khả năng họ sẽ không quay trở về vì công việc này.

    Và anh sẽ không thể chỉ tuyển lựa trong hàng ngũ của băng Cặn Bã.

    Ở đó không có đủ những tài năng anh cần.

    Điều này đồng nghĩa với việc anh phải dè chừng phía sau lưng nhiều hơn bình thường.

    Nhưng nếu họ thành công, thì kể cả sau khi Per Haskell nhận phần của ông ta, phần chia của Kaz cũng đủ để thay đổi mọi thứ và hiện thực hoá giấc mơ mà anh đã có từ cái lần đầu tiên lết ra khỏi nơi hải cảng lạnh lẽo với lòng hận thù khoét sâu trong tim.

    Món nợ của anh với Jordie rốt cuộc sẽ được thanh toán.

    Ngoài ra còn có những mối lợi khác nữa.

    Hội đồng của Kerch sẽ mắc nợ anh, chưa kể phi vụ này sẽ làm tiếng tăm của anh nổi như cồn.

    Lọt được vào trong Lâu Đài Băng chưa từng bị đột nhập để cướp người từ biểu tượng sức mạnh quân sự và niềm tự hào của người Fjerda ư?

    Với một tấm huy chương như vậy trước ngực và khoản tiền thưởng kia trong tay, anh sẽ chẳng cần đến Per Haskell nữa.

    Anh có thể hành động theo ý mình.

    Nhưng có một điều gì đó không đúng.

    "Tại sao lại là tôi?

    Tại sao là băng Cặn Bã?

    Ngoài kia có cả đống băng nhóm dày dạn kinh nghiệm hơn chúng tôi."

    Mikka bắt đầu ho, và Kaz trông thấy máu trên ống tay áo thằng bé.

    "Ngồi xuống đi," Van Eck nhẹ nhàng ra lệnh rồi giúp thằng bé Grisha ngồi vào một chiếc ghế, đoạn đưa cho nó chiếc khăn tay của mình.

    Ông ta ra hiệu cho một vệ quân.

    "Lấy nước."

    "Tại sao nào?"

    Kaz hỏi dồn.

    "Cậu bao nhiêu tuổi rồi, cậu Brekker?"

    "Mười bảy."

    "Cậu không hề bị tóm kể từ năm mười bốn tuổi, và vì tôi biết bây giờ cậu cũng chẳng đàng hoàng hơn gì so với ngày trước, nên tôi chỉ có thể kết luận rằng cậu có phẩm chất mà tôi cần nhất nơi một tên tội phạm: Không để bị bắt."

    Van Eck khẽ mỉm cười.

    "Nó cũng làm tôi nghĩ đến bức DeKappel của tôi."

    "Tôi dám chắc ông không biết mình đang nói gì đâu."

    "Sáu tháng trước, một bức sơn dầu của DeKappel trị giá gần một trăm ngàn kruge treo trong nhà tôi đã biến mất."

    "Tổn thất ghê nhỉ."

    "Đúng, nhất là khi tôi tin chắc phòng tranh ở nhà mình là không thể đột nhập, và các ổ khoá trên cửa là không thể phá được."

    "Tôi nhớ đã đọc về nó ở đâu đó."

    "Phải," Van Eck thừa nhận với một tiếng thở dài khẽ.

    "Kiêu hãnh là một thứ nguy hiểm.

    Tôi đã nhiệt tình phô trương bộ sưu tập của mình cũng như việc tôi dày công bảo vệ nó như thế nào.

    Thế nhưng bất chấp lực lượng bảo vệ, bầy chó, chuông báo động và đội ngũ gia nhân trung thành nhất Ketterdam, bức tranh của tôi vẫn biến mất."

    "Xin chia buồn."

    "Nó vẫn chưa xuất hiện ở bất cứ đâu trên thị trường thế giới."

    "Có lẽ tên trộm kia đã được một người mua đặt hàng trước."

    "Tất nhiên đó là một khả năng.

    Nhưng tôi khá tin rằng hắn đánh cắp nó vì một lí do khác."

    "Lí do gì?"

    "Chỉ để chứng minh rằng hắn làm được."

    "Một sự liều lĩnh ngu ngốc."

    "Ờ thì, ai mà đoán được mọi động cơ của bọn trộm cắp kia chứ?"

    "Không phải tôi, chắc chắn rồi."

    "Theo những gì tôi được biết về Lâu Đài Băng, thì kẻ đã đánh cắp bức tranh quý của tôi chính là người tôi cần cho công việc này."

    "Vậy tốt hơn ông nên đi thuê hắn ta.

    Hay cô ta."

    "Quả vậy.

    Nhưng tôi sẽ phải bằng lòng với cậu thôi."

    Van Eck nhìn thẳng vào mắt Kaz, như thể mong đợi thấy một lời thú tội trong đó.

    Cuối cùng, ông ta hỏi: "Vậy chúng ta coi như đã thoả thuận nhé?"

    "Không nhanh thế đâu.

    Còn Thiện Tâm Y kia thì sao?"

    Van Eck tỏ ra bối rối.

    "Ai cơ?"

    "Ông nói là ông đã đưa thuốc cho ba Grisha thuộc ba nhóm khác nhau.

    Mikka là một Tiết Hải Sư, cậu ta là Tiết Độ Sư của ông.

    Người biến chì thành vàng là một Sáng Chế Gia.

    Vậy chuyện gì đã xảy ra với người Thiện

    Tâm Y còn lại?"

    Van Eck hơi nhăn mặt đề nghị: "Cậu đi với tôi nhé, cậu Brekker?"

    Không rời mắt khỏi Mikka cùng tốp vệ quân, Kaz theo chân Van Eck ra khỏi phòng và đi xuôi theo hành lang.

    Ngôi nhà toát lên sự giàu có: những bức tường được ốp ván gỗ mầu tối, sàn nhà lát đá hai màu trắng đen sạch bóng, mọi thứ đều có gu, tối giản một cách hoàn hảo và được gia công kĩ lưỡng.

    Nhưng nó cho cảm giác của một nhà mồ.

    Các căn phòng trống vắng, rèm cửa kéo kín, đồ đạc được phủ những tấm vải trắng, biến những gian phòng mờ tối mà họ đi ngang qua thành thứ giống như mặt biển lởm chởm băng trôi.

    Hoede.

    Giờ thì cái tên đó đã khớp vào đúng chỗ.

    Tuần qua có một biến cố xảy ra trong tư dinh của Hoede ở Geldstraat.

    Toàn bộ chỗ đó đã được chăng dây cách li và lúc nhúc thị tuần.

    Kaz nghe người ta đồn về một vụ bùng phát dịch hoả đậu, nhưng ngay cả Inej cũng chẳng tìm hiểu được gì hơn.

    "Đây là nhà của Hội đồng Hoede," Kaz nói và nổi da gà.

    Anh không muốn bị lây bệnh, nhưng có vẻ như Van Eck và đội vệ quân của ông ta không mảy may lo ngại chuyện đó.

    "Tôi tưởng nơi này đang bị cách li."

    "Điều đã xảy ra tại đây không nguy hiểm cho chúng ta.

    Và nếu cậu làm xong việc tôi nhờ, nó sẽ không bao giờ lặp lại nữa."

    Van Eck dẫn Kaz băng qua một cánh cửa ra một khu vườn được tỉa tót cẩn thận, thơm nồng mùi hoa nghệ tây nở sớm.

    Mùi thơm ngọt ập vào Kaz như một cú đấm trúng mặt.

    Những kí ức về Jordie vẫn còn quá tươi mới trong tâm trí anh, và trong một thoáng, anh dường như không phải đang đi qua khu vườn bên bờ kênh của một thương gia giàu có, mà đang quỳ trên lớp cỏ xuân, ánh nắng mơn man đôi má, tiếng anh trai gọi về nhà văng vẳng bên tai.

    Kaz lắc đầu.

    Mình cần một cốc cà phê đậm nhất, đắng nhất có thể, anh nghĩ bụng.

    Hoặc là một cú đấm vào mặt.

    Van Eck đang dẫn anh tới một nhà thuyền trông ra con kênh.

    Ánh đèn lọt ra ngoài qua lớp cửa chớp của các ô cửa sổ tạo thành những hoa văn trên lối đi bộ trong vườn.

    Một thị tuần đứng nghiêm phía bên ngoài cửa trong lúc Van Eck rút chiếc chìa trong túi ra tra vào một ổ khoá lớn.

    Kaz đưa ống tay áo lên che mũi để cản thứ mùi khó ngửi bốc ra từ bên trong mùi phân và nước tiểu.

    Hương hoa nghệ tây hoàn toàn bị át đi.

    Bên trong, gian nhà thuyền được chiếu sáng bởi hai ngọn đèn lồng thuỷ tinh treo trên tường.

    Một nhóm vệ quân đang đứng đối mặt với một căn buồng thép lớn, mảnh thuỷ tinh vương vãi đầy trên mặt sàn dưới chân họ.

    Một số mặc bộ đồng phục tím của đội thị tuần, số khác mặc chế phục xanh biển của nhà Hoede.

    Qua thứ mà Kaz vừa nhận ra là một ô cửa sổ, anh trông thấy một người vệ quân nữa đang đứng trước cái bàn trống và hai chiếc ghế lật nghiêng.

    Giống như những người khác, anh ta đứng đó với hai cánh tay xuôi theo thân mình, khuôn mặt trơ trơ, mắt hướng về phía trước, không tập trung vào đâu cả.

    Van Eck chỉnh hướng một trong hai ngọn đèn, và Kaz trông thấy một người nằm dưới sàn trong bộ đồng phục tím, mắt nhắm nghiền.

    Van Eck thở dài, khom xuống lật thi thể lại.

    "Chúng tôi lại mất thêm một người nữa," ông lên tiếng.

    Người thanh niên còn rất trẻ, hàng ria mép chỉ mới lún phún.

    Van Eck gọi người vệ quân ngoài cửa vào, và cùng với sự giúp sức của một người tuỳ tùng khác, họ khiêng cái xác ra khỏi phòng.

    Những người vệ quân còn lại không hề phản ứng, chỉ tiếp tục nhìn đăm đăm phía trước.

    Kaz nhận ra một trong số họ - Henrik Dahlman, trưởng đội thị tuần.

    "Dahlman?"

    Anh gọi, nhưng người đàn ông không đáp.

    Kaz vẫy tay trước mặt anh ta, thậm chí búng tai anh ta một cái thật đau.

    Không có gì ngoài một cái chớp mắt chậm rãi và thờ ơ.

    Kaz nâng súng lên, chĩa thẳng vào trán của Dahlman.

    Anh lên đạn.

    Tay đội trưởng không hề nao núng hay phản ứng lại.

    Đồng tử của mắt anh ta cũng không co lại.

    "Anh ta coi như chết rồi," Van Eck nói.

    "Bắn đi.

    Thổi tung bộ óc của anh ta đi.

    Anh ta sẽ không phản đối, và những người kia cũng vậy.

    Kaz hạ vũ khí xuống, cảm giác lạnh toát nơi sống lưng.

    "Chuyện gì thế này?

    Chuyện gì đã xảy ra với họ?"

    "Đó là một Grisha Tâm Y giúp việc theo giao kèo của Hội đồng Hoede.

    Ông ta cho rằng vì cô ta là một Thiên Tâm Y chứ không phải Độc Tâm Y, nên đã chọn cô ta để thử parem cho an toàn."

    Cũng khá khôn ngoan.

    Kaz đã từng chứng kiến Độc Tâm Y ra tay.

    Họ có thể phá vỡ các tế bào của bạn, làm tim bạn nổ tung, rút cạn không khí trong phổi bạn, hoặc làm chậm nhịp tim đến mức bạn rơi vào hôn mê.

    Họ có thể làm tất cả những chuyện đó mà không hề chạm một ngón tay nào vào bạn.

    Nếu những lời Van Eck nói là đúng thì không nên cho một Độc Tâm Y dùng jurda parem.

    Do vậy họ đã thử thuốc trên một Thiện Tâm Y.

    Nhưng rõ ràng mọi chuyện đã không diễn ra như dự định.

    "Các ông đã cho cô ta dùng thuốc, và cô ta đã giết chủ nhân của mình?"

    "Không hẳn thế," Van Eck hắng giọng.

    "Họ đã nhốt cô ta trong cái buồng kiên cố này.

    Nhưng chỉ vài giây sau khi dùng parem, cô ta đã kiểm soát người vệ quân đứng trong buồng..."

    "Bằng cách nào?"

    "Chúng tôi không biết chính xác.

    Nhưng bất luận cách thức đó là gì thì nó cũng đã giúp cô ta khống chế những vệ quân này."

    "Không thể thế được."

    "Sao lại không?

    Bộ não chỉ là một cơ quan, một tập hợp của các tế bào và xung lực.

    Một Grisha dưới ảnh hưởng của jurda parem có thể điều khiển những xung lực đó chứ?"

    Sự ngờ vực lộ rõ trên khuôn mặt của Kaz.

    "Cứ nhìn những người này mà xem," Van Eck nhấn mạnh.

    "Cô ta đã bảo họ chờ.

    Và đó chính xác là điều họ làm kể từ khi ấy."

    Kaz quan sát nhóm người kĩ hơn.

    Đôi mắt họ không dại đi hay đục ngầu.

    Cơ thể họ cũng không thả lỏng.

    Họ đang chờ đợi.

    Anh cố nén cơn rùng mình.

    Anh đã từng chứng kiến nhiều chuyện dị thường, nhưng chưa bao giờ mục kích một cảnh tượng giống như thứ mình đang thấy.

    "Điều gì đã xảy ra với Hoede?"

    "Cô ta ra lệnh cho ông ta mở cửa buồng, và sau khi ông ta làm theo, cô ta khiến ông ta cắt một ngón tay cái của mình.

    Chúng tôi chỉ biết câu chuyện thông qua thằng bé phụ bếp có mặt lúc ấy.

    Cô ta đã không làm hại nó.

    Thằng bé nói chính Hoede đã tự cắt ngón tay cái của ông ta, với một nụ cười trên môi."

    Kaz không thích ý tưởng bị Grisha điều khiển này nọ trong đầu.

    Nhưng anh cũng không ngạc nhiên khi Hoede bị thứ mà ông ta đã trải qua.

    Trong cuộc nội chiến Ravka, rất nhiều Grisha phải đi lánh nạn và trả khoản chi phí đắt đỏ cho chuyến vượt biển tới Kerch thông qua các giao kèo làm việc mà không nhận ra họ đã tự biến mình thành nô lệ.

    "Ông ta chết rồi à?"

    "Hội đồng Hoede mất rất nhiều máu, ông ta đã được gia đình và đám hầu cận đưa về quê.

    Hiện tại ông ta cũng ở trong tình trạng giống như những người này."

    "Nữ Grisha kia đã quay lại Ravka à?"

    Kaz hỏi.

    Van Eck ra hiệu cho Kaz ra khỏi nhà thuyền và khoá cửa lại sau lưng họ.

    "Có lẽ cô ta đã cố làm chuyện đó," ông đáp trong lúc họ quay lại lối đi băng qua khu vườn và đi dọc theo bên hông ngôi nhà.

    "Cô ta đã đánh cắp một chiếc thuyền nhỏ, và chúng tôi đoán cô ta có ý định quay về Ravka.

    Nhưng cách đây hai hôm, xác của cô ta được tìm thấy ở gần cảng số Ba.

    Chúng tôi nghĩ cô ta bị chết đuối trong lúc cố quay trở lại đây."

    "Tại sao?"

    "Để kiếm thêm jurda parem."

    Đôi mắt long lanh và làn da trắng bệch của Mikka bỗng hiện lên trong đầu Kaz.

    "Nó khiến người ta bị nghiện?"

    "Theo như chúng tôi quan sát thì có vẻ như chỉ cần một liều cũng đủ

    gây nghiện.

    Sau khi thuốc hết tác dụng, nó làm cho cơ thể của Grisha rệu rã, và sự thèm thuốc bùng lên rất dữ dội.

    Cực kì hại sức."

    Hại sức.

    Nói như vậy còn hơi nhẹ.

    Hội đồng Thuỷ triều kiểm soát sự ra vào tại các hải cảng của Ketterdam.

    Nếu cô gái Thiện Tâm Y kia cố gắng quay lại trong đêm trên một con thuyền nhỏ, cô ta sẽ không có cơ may nào trong việc lội ngược dòng nước.

    Kaz nghĩ đến khuôn mặt hốc hác và cơ thể gần như bơi trong bộ đồ của Mikka.

    Ma dược đã làm thằng bé trở thành như vậy.

    Chưa hết cơn phê jurda parem, nó đã bắt đầu thèm thuốc.

    Trông thằng bé như sắp ngã vật ra đến nơi.

    Một Grisha có thể tiếp tục như vậy được bao lâu?

    Đó là một câu hỏi thú vị, nhưng không liên quan với anh.

    Họ đã đi tới cổng chính của dinh thự.

    Đã đến lúc hạ màn.

    "Ba mươi triệu kruge," Kaz lên tiếng.

    "Chúng ta đã thoả thuận hai mươi mà!"

    Van Eck lắp bắp.

    "Là ông ra giá hai mươi.

    Nhưng rõ ràng ông đang ở trong tình thế tuyệt vọng."

    Kaz liếc nhìn về phía nhà thuyền, nơi những con người xấu số đang chờ chết.

    "Và giờ thì tôi đã hiểu nguyên nhân."

    "Hội đồng Thương buôn sẽ cắt đầu tôi mất."

    "Họ sẽ ca ngợi ông đến tận mây xanh một khi ông đưa được Bo YulBayur đến nơi mà ông định sẽ che giấu ông ta."

    "Novyi Zem."

    Kaz nhún vai.

    "Ông có nhét ông ta trong một cái bình cà phê thì tôi cũng chẳng bận tâm."

    Van Eck nhìn thẳng vào mắt Kaz.

    "Cậu đã chứng kiến điều mà thứ thuốc này có thể gây ra.

    Tôi bảo đảm với cậu đó chỉ là sự khởi đầu.

    Nếu jurda parem được phổ biến trên thế giới, chiến tranh là điều không tránh khỏi.

    Những tuyến đường giao thương của chúng ta sẽ bị cắt đứt, các thị trường sẽ sụp đổ.

    Kerch sẽ không thể tồn tại.

    Mọi hi vọng của chúng tôi đều dồn vào cậu, cậu Brekker.

    Nếu cậu thất bại, toàn thế giới sẽ hứng chịu hậu quả."

    "Ồ, còn tệ hơn thế nữa kìa, thưa ông.

    Nếu tôi thất bại, tôi sẽ không được trả tiền."

    Vẻ ghê tởm trên khuôn mặt Van Eck xứng đáng được lưu truyền hậu thế trên một bức tranh của DeKappel.

    "Đừng tỏ ra thất vọng như thế chứ.

    Thử tưởng tượng mà xem, ông sẽ còn sốc như thế nào nếu khám phá ra một con chuột cống như tôi cũng có lòng yêu nước.

    Khi đó ông sẽ phải giãn cặp môi đang cong cớn kia và cư xử lễ độ hơn với tôi."

    "Cảm ơn vì đã miễn cho tôi sự bất tiện đó," Van Eck nói với giọng khinh khỉnh.

    Ông ta mở cổng, nhưng rồi dừng lại nửa chừng.

    "Tôi tự hỏi một thằng nhóc khôn lanh như cậu sẽ làm như thế nào trong những hoàn cảnh khác."

    Hỏi Jordie ấy, Kaz thầm nghĩ với một chút cay đắng.

    Nhưng anh chỉ nhún vai.

    "Thì tôi chỉ việc đánh cắp từ những kẻ giàu hơn.

    Ba mươi triệu kruge."

    Van Eck gật đầu.

    "Ba mươi.

    Nhất trí."

    "Nhất trí," Kaz đáp.

    Hai người bắt tay nhau.

    Khi bàn tay được chăm chút cẩn thận của Van Eck chạm vào những ngón tay đeo găng da của Kaz, ông ta nheo mắt lại.

    "Tại sao cậu lại đeo găng vậy, cậu Brekker?"

    Kaz nhướng mày.

    "Tôi dám cá ông đã nghe họ kể đầy tai về chuyện đó."

    "Toàn những điều khủng khiếp."

    Kaz cũng đã nghe đầy tai.

    Bàn tay của Brekker lấm máu.

    Bàn tay của Brekker đầy sẹo.

    Brekker có móng vuốt thay cho các ngón tay bình thường, vì anh ta có một phần quỷ trong người.

    Chạm vào tay Brekker, người ta sẽ phải bỏng như chạm vào lưu huỳnh - chỉ cần một tiếp xúc nhẹ với lớp da trần là đủ khiến da thịt họ teo lại và hoại tử.

    "Ông cứ việc chọn lấy một cái," Kaz đáp trong lúc biến vào bóng đêm, tâm trí đã bắt đầu nghĩ tới khoản tiền ba mươi triệu kruge và ê-kíp mà anh cần để thực hiện phi vụ.

    "Tất cả đều có một phần sự thật trong đó."
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Một: Phi vụ Mờ Ám 4-6


    4

    INEJ

    Inej nhận ra ngay khi Kaz bước vào Thanh Gỗ.

    Sự hiện diện của anh lan toả qua những căn phòng chật chội và hành lang quanh co trong lúc đám du côn, trộm cắp, buôn lậu, lừa lọc và cò mồi từ từ thức dậy.

    Phó tướng được Per Haskell yêu quý nhất đã trở về.

    Thanh Gỗ không có gì đặc biệt, nó chỉ là một ngôi nhà tầm thường trong khu vực tệ hại nhất của Barrel.

    Ba tầng gác nằm chồng chất lên nhau, đội thêm một gian áp mái và lớp mái ngói.

    Hầu như toàn bộ nhà cửa trong khu này đều được xây dựng không móng trên lớp đất sình lầy bị chia cắt bừa bãi bởi những con kênh.

    Chúng tựa vào nhau như những ông bạn chếnh choáng ở tửu quán, nghiêng ngả như muốn đổ gục.

    Inej đã viếng thăm nhiều căn nhà trong những lần làm nhiệm vụ.

    Bên trong chúng cũng chẳng khá hơn - lạnh lẽo và ẩm thấp, những bức tường lở lói, các lỗ trống ở cửa sổ đủ lớn cho mưa tuyết lọt vào.

    Nhưng Kaz đã tự bỏ tiền túi ra để chắp vá lại và cách nhiệt cho các bức tường của Thanh Gỗ.

    Tuy xấu xí, dị dạng và đông đúc, nhưng Thanh Gỗ khô ráo một cách hoàn hảo.

    Buồng của Inej nằm ở tầng ba, đó là mẩu không gian vừa đủ lớn cho một cái giường và chiếc rương để đồ, nhưng nó có cửa sổ trông ra chỗ mái ngói nhấp nhô đầy ống khói lộn xộn của Barrel.

    Khi cơn gió ùa tới xua tan màn sương khói bao trùm thành phố, cô thậm chí có thể trông thấy một mẩu xanh của vịnh biển.

    Vài tiếng nữa bình minh mới ló dạng, nhưng Thanh Gỗ đã tỉnh táo lắm

    rồi.

    Khoảng thời gian duy nhất mà ngôi nhà thực sự im lặng là vào buổi chiều, còn đêm nay tất thảy đều chộn rộn với biến cố ở Sàn giao dịch, số phận của Bolliger Bự, và bây giờ là vụ đuổi Rojakke tội nghiệp.

    Ngay sau khi nói chuyện với Kaz, Inej đã đi gặp anh chàng chia bài ở

    Quạ Đen.

    Anh ta đang ngồi chia bài cho Jesper và hai khách du lịch người Ravka.

    Sau khi Rojakke xong việc, Inej đề nghị hai người nói chuyện trong phòng riêng để tránh cho anh ta khỏi bẽ mặt vì bị sa thải trước mặt bạn bè, nhưng anh ta không chịu.

    "Thế là không công bằng," Rojakke thốt lên sau khi Inej thông báo với anh ta quyết định của Kaz.

    "Tôi không phải là kẻ gian lận!"

    "Anh đi mà nói với Kaz ấy," Inej nhẹ nhàng trả lời.

    "Và đừng có làm to chuyện," Jesper thêm vào, mắt liếc sang phía mấy người khách du lịch và thuỷ thủ đang ngồi ở các bàn lân cận.

    Những cuộc xô xát đánh nhau diễn ra rất thường xuyên tại Barrel, nhưng trong Quạ Đen thì không.

    Nếu có điều gì cần phàn nàn, bạn phải ra ngoài dàn xếp, để quá trình vặt lông các chú chim câu thần thánh không bị gián đoạn.

    "Brekker đang ở đâu?"

    Rojakke làu bàu.

    "Tôi không biết."

    "Cái gì mà cô chẳng biết," Rojakke chế giễu và chồm người tới trước, mùi bia trộn với mùi hành nồng nặc trong hơi thở.

    "Tay Nhám trả tiền cho cô vì chuyện đó mà?"

    "Tôi không biết anh ta đang ở đâu hay khi nào anh ta về.

    Nhưng tôi biết là anh sẽ không muốn có mặt ở đây khi anh ta về đến nơi."

    "Đưa ngân phiếu cho tôi.

    Các người thiếu tôi tiền công buổi cuối cùng."

    "Brekker không thiếu nợ anh gì hết."

    "Hắn thậm chí còn không thể đối mặt với tôi sao?

    Đến nỗi phải cử một đứa con gái tới đá đít tôi?

    Thế để tôi bắt cô nôn ra vài đồng vậy."

    Rojakke vươn tay ra định chụp lấy cổ áo của Inej, nhưng cô dễ dàng tránh được.

    Anh ta tìm cách tóm cô lần nữa.

    Thoáng thấy Jesper đứng lên khỏi ghế, cô xua tay, đoạn xỏ ngón tay vào cái tay gấu cất trong túi.

    Bằng một thao tác nhanh gọn, cô đấm thẳng vào má trái của Rojakke.

    Anh ta đưa tay ôm mặt.

    "Ê, tôi đâu có làm đau cô, chỉ nói chuyện thôi mà."

    Lúc này mọi người đã bắt đầu chú ý đến họ, nên Inej đấm anh ta thêm lần nữa.

    Mặc kệ quy định của Quạ Đen, tự vệ là trên hết.

    Khi Kaz đưa Inej về Thanh Gỗ, anh đã cảnh báo cô rằng anh không thể canh chừng cho cô được, rằng cô phải tự lo lấy thân, và Inej đã làm điều đó.

    Có thể cô chỉ cần quay đi khi bị chế giễu hoặc sàm sỡ, nhưng làm như vậy sẽ có nguy cơ bị nắm áo hoặc dồn vào tường.Thế nên cô không bỏ qua bất cứ lời sỉ nhục hay cợt nhả nào.

    Cô luôn ra đòn trước và đánh mạnh.

    Đôi khi thậm chí cô còn làm cho kẻ tấn công sứt đầu mẻ trán.

    Thật mệt mỏi, nhưng ở Kerch, ngoài việc kinh doanh ra thì chẳng có gì là bất khả xâm phạm cả, thế nên cô phải làm quá lên một chút để khiến cho việc xúc phạm cô đem lại rủi ro nhiều hơn ích lợi.

    Rojakke đưa mấy ngón tay chạm vào vết bầm trên má với vẻ mặt ngạc nhiên và có đôi chút bị phản bội.

    "Tôi tưởng chúng ta là bạn bè," anh ta phản đối.

    Điều đáng buồn nằm ở chỗ họ đúng là như thế.

    Inej quý Rojakke.

    Nhưng lúc này, anh ta chỉ là một kẻ sợ sệt tìm cách lấn át người khác.

    "Rojakke," cô nói.

    "Tôi đã xem anh làm việc với những lá bài.

    Anh có thể được bất cứ sòng bạc nào nhận vào làm.

    Về nhà đi, và hãy biết ơn Kaz vì anh ấy đã không lấy lại số tiền mà anh nợ anh ấy từ trong chỗ giấu của anh, hiểu chưa?"

    Anh ta bỏ đi trên đôi chân hơi run rẩy, tay vẫn ôm má như một đứa bé chứa hết bất ngờ.

    Jesper lập tức tiến đến.

    "Anh ta nói đúng.

    Kaz không nên cử cô đi làm công việc bẩn thỉu này."

    "Ở đây mọi công việc đều bẩn thỉu."

    "Nhưng chúng ta vẫn làm," anh thở dài.

    "Trông anh có vẻ mệt.

    Đêm nay anh có định đi ngủ không đấy?"

    Jesper chỉ nháy mắt.

    "Không, bài tôi đang lên.

    Ở lại chơi với tôi một lúc đi.

    Kaz sẽ cho cô thiếu nợ."

    "Thật á, Jesper?"

    Inej kéo mũ trùm qua đầu.

    "Nếu muốn quan sát người ta tự đào lỗ chôn mình thì tôi ra nghĩa địa cho nhanh."

    "Thôi nào, Inej."

    Jesper gọi với theo cô trong lúc cô bước qua cánh cửa đôi ra đường.

    "Cô đang đỏ mà!"

    Thánh thần ơi, cô tự nhủ.

    Nếu Jesper tin như thế tức là anh ta đang đen lắm đấy.

    Cô đã bỏ lại vận may của mình tại một lều du mục của người Suli trên bờ biển phía tây Ravka rồi.

    Cô không nghĩ mình sẽ thấy lại cả vận may lẫn nơi chốn đó.

    Lúc này Inej đang rời khỏi căn buồng bé xíu tại Thanh Gỗ và xuống cầu thang bằng cách tuột lan can.

    Cô không cần phải che giấu việc di chuyển của mình, nhưng sự im lặng đã trở thành một thói quen, và các bậc thang có xu hướng kêu to như bọn chuột phiền phức.

    Khi xuống đến tầng hai và trông thấy có đông người tụ tập bên dưới, cô dừng lại.

    Kaz vắng mặt lâu hơn dự kiến, nên ngay khi bước vào tiền sảnh u tối, anh bị mai phục bởi những người muốn chúc mừng anh đã trị được Geels và hỏi han tin tức về băng Hắc Thủ.

    "Nghe đồn Geels đã tập hợp một toán quân để trả đũa chúng ta đó," Anika lên tiếng.

    "Cứ để hắn làm thế!"

    Dirix la lớn.

    "Tôi mài rìu chờ sẵn rồi đây."

    "Geels sẽ không manh động một thời gian," Kaz đáp trong lúc đi qua hành lang.

    "Hắn không có đủ lực lượng để đối đầu với chúng ta trên đường phố, ngân quỹ hiện tại cũng không cho phép hắn thuê người.

    Mọi người còn chưa đi ra Quạ Đen à?"

    Chỉ một cái nhướng mày của Kaz là đủ để làm Anika cun cút chạy đi và Dirix nối gót.

    Những người khác đến để chúc mừng hoặc tuyên bố những câu đe doạ băng Hắc Thủ.

    Nhưng không ai đủ gan để vỗ lưng Kaz đó là cách tự chặt tay mình hiệu quả nhất.

    Inej biết Kaz sẽ tạt vào nói chuyện với Per Haskell, nên thay vì xuống nốt tầng dưới cùng, cô di chuyển vào trong tầng hai.

    Ở đó có một cái kho cất đủ thứ linh tinh, những cái ghế cũ gãy lưng, vải bố vẽ tranh dính đầy sơn.

    Inej đẩy sang bên cạnh một cái xô chất đầy dụng cụ vệ sinh mà cô đã để lại, thừa biết chẳng có ai ở Thanh Gỗ muốn đụng vào nó.

    Ô lưới thép nằm bên dưới cái xô cung cấp một lỗ nhòm hoàn hảo để cô quan sát phòng làm việc của Per Haskell.

    Inej cảm thấy hơi áy náy vì nghe lén Kaz, nhưng chính anh là người đã biến cô thành một kẻ do thám.

    Không thể huấn luyện con chim ưng rồi lại mong rằng nó không đi săn mồi.

    Qua lớp lưới, Inej nghe thấy tiếng gõ cửa và lời chào của Kaz.

    "Đã về và vẫn còn thở à?"

    Ông già hỏi.

    Inej chỉ có thể trông thấy ông ta đang ngồi trên chiếc ghế ưa thích của mình, tiêu khiển với cái mô hình tàu thuỷ mà ông ta đã làm gần cả năm qua, cùng một vại bia nằm trong tầm tay, như thường lệ.

    "Chúng ta sẽ không gặp rắc rối với Cảng số Năm nữa."

    Haskell ậm ừ và quay về với mô hình tàu thuỷ của mình.

    "Đóng cửa lại."

    Inej nghe thấy tiếng cánh cửa khép lại, chắn bớt các âm thanh ngoài hành lang.

    Cô có thể trông thấy đỉnh đầu của Kaz.

    Mái tóc đen của anh ướt nhẹp.

    Chắc trời vừa đổ mưa.

    "Lẽ ra cậu phải xin phép tôi trước khi xử lí Bolliger," Haskell nói.

    "Nếu tôi nói với ông trước thì tin tức sẽ bị lộ..."

    "Cậu nghĩ tôi sẽ để cho chuyện đó xảy ra sao?"

    Kaz nhún vai.

    "Chỗ này cũng giống như khắp nơi trong thành Ketterdam.

    Cái gì cũng rò rỉ."

    Inej dám thề là Kaz đã nhìn về phía lỗ thông gió khi nói câu đó.

    "Tôi không thích chuyện này, nhóc à.

    Bolliger là lính của tôi, chứ không phải của cậu."

    "Tất nhiên rồi," Kaz đáp.

    Tuy vậy, cả hai người bọn họ đều biết đó là một lời nói dối.

    Nhóm Cặn Bã của Haskell tập hợp những kẻ lừa lọc, gian thương và đám lính già của một thời kì đã qua.

    Bolliger thuộc về nhóm của Kaz - trẻ, mới và liều lĩnh.

    Có lẽ hơi liều lĩnh quá.

    "Cậu khôn ngoan, nhưng cậu cần học sự kiên nhẫn, Brekker à."

    "Vâng, thưa sếp."

    Ông già bật ra một tiếng cười.

    "Vâng, thưa sếp.

    Không, thưa sếp," ông ta nhại giọng.

    "Tôi biết cậu đang âm mưu gì đó mỗi khi bắt đầu nói giọng lễ phép.

    Nói ra xem nào."

    "Tôi có một việc," Kaz đáp.

    "Tôi cần đi vắng một thời gian."

    "Nhiều tiền không?"

    "Rất nhiều."

    "Rủi ro không?"

    "Tất nhiên.

    Nhưng ông sẽ có hai mươi phần trăm."

    "Cậu sẽ không làm bất cứ phi vụ lớn nào mà không được phép của tôi, hiểu chứ?"

    Hẳn Kaz vừa gật đầu, vì Per Haskell ngả người ra sau trên ghế và nhấp một ngụm bia.

    "Chúng ta sẽ giàu to chứ?"

    "Giàu như mấy ông thánh đội vương miện vàng ấy."

    Ông già khịt mũi.

    "Miễn là tôi không phải sống như họ."

    "Tôi sẽ nói chuyện với Pim," Kaz nói.

    "Cậu ta có thể đảm trách công việc hiện tại trong khi tôi đi vắng."

    Inej nhíu mày.

    Kaz sẽ đi đâu?

    Anh đã không hề nhắc đến phi vụ lớn nào với cô.

    Và tại sao là Pim?

    Ý nghĩ đó làm cô hơi xấu hổ một chút, cô có thể nghe thấy giọng nói của bố mình: Muốn làm Nữ hoàng của bọn trộm cắp lắm sao, Inej?

    Làm tốt công việc của mình là một chuyện.

    Thành công là một chuyện khác.

    Cô không muốn gắn cả đời mình với băng Cặn Bã.

    Cô muốn trả dứt món nợ và tự do rời khỏi Ketterdam, thế thì việc gì cô phải bận tâm chuyện Kaz chọn Pim làm người thay thế trong khi anh đi vắng?

    Bởi vì mình khôn ngoan hơn Pim.

    Bởi vì Kaz tin tưởng mình nhiều hơn.

    Nhưng cũng có thể anh không tin băng Cặn Bã sẽ nghe theo một cô gái như cô, một đứa chỉ vừa rời khỏi nhà chứa được hai năm, tuổi đời thậm chí chưa tròn mười bảy.

    Cô luôn mặc áo dài tay, và bao đựng dao của cô gần như che kín mặt trong cẳng tay trái, nơi từng có hình xăm của Vườn Thú, nhưng tất cả mọi người đều biết nó nằm ở đó.

    Kaz rời khỏi phòng của Per Haskell, và lnej ra khỏi chỗ nấp để chờ anh trong lúc anh khập khiễng leo lên cầu thang.

    "Rojakke sao rồi?"

    Anh hỏi trong khi đi ngang qua chỗ cô.

    "Đi rồi," cô đáp và bám theo anh.

    "Hắn có phản kháng nhiều không?"

    "Không có gì mà tôi không thể xoay xở."

    "Đó không phải là điều tôi hỏi."

    "Hắn giận lắm.

    Hắn có thể quay lại để gây rối."

    "Chuyện đó ở đây không thiếu," Kaz đáp khi hai người lên đến tầng trên cùng.

    Các gian phòng áp mái đã được cải tạo thành phòng làm việc và phòng ngủ của Kaz.

    Inej biết tất cả chỗ cầu thang này gây khó khăn lớn cho cái chân yếu của anh, nhưng có vẻ như anh thích có cả tầng lầu dành riêng cho mình.

    Kaz bước vào phòng làm việc mà không buồn ngoái nhìn cô và nói: "Đóng cửa lại."

    Căn phòng chủ yếu bị chiếm chỗ bởi cái bàn làm việc tự chế - một cánh cửa nhà kho cũ đặt trên bốn thùng trái cây.

    Trên bàn, giấy tờ chất thành đống.

    Một số địch thủ của họ đã bắt đầu sử dụng máy tính với những nút đồng kêu lách cách và các cuộn giấy, nhưng Kaz tính toán tiền nong cho Quạ Đen trong đầu.

    Anh cũng lưu giữ bằng sổ sách, nhưng chỉ để hài lòng ông trùm già, và để có cái mà đưa ra mỗi khi buộc tội người nào đó gian lận hoặc gặp gỡ các nhà đầu tư mới.

    Đó là một trong những sự thay đổi lớn mà Kaz đã đem tới Cặn Bã.

    Anh cho phép những tiểu thương bình thường và doanh nhân đàng hoàng mua cổ phần của Quạ Đen.

    Lúc đầu họ khá hoang mang, sợ bị cho vào tròng, nhưng Kaz thuyết phục họ tham gia bằng các khoản lợi tức nhỏ, và xoay xở huy động đủ vốn để mua lại những ngôi nhà cũ bỏ hoang, tân trang rồi đưa chúng vào sử dụng trở lại.

    Thương vụ đã mang lại lợi tức lớn cho những nhà đầu tư sớm kia.

    Ít nhất người ta cũng đồn đại như vậy.

    Inej chẳng bao giờ dám chắc đâu là chuyện có thật và đâu là những tin đồn mà anh sử dụng để phục vụ cho mục đích riêng.

    Tất cả những gì cô biết là anh sẵn sàng cuỗm sạch khoản tiết kiệm cả đời của một thương gia chân chính tội nghiệp nào đó để làm giàu cho Quạ Đen.

    "Tôi có một công việc cho cô đây," Kaz nói trong lúc giở sổ sách xem các con số kế toán của ngày hôm qua.

    Mỗi trang sổ sẽ được anh ghi vào bộ nhớ chỉ với một cái liếc sơ.

    "Cô nghĩ thế nào với khoản tiền bốn triệu krugé?"

    "Số tiền lớn như thế là món nợ đời nhiều hơn là quà tặng."

    "Cô em Suli sống có lí tưởng của tôi ơi, cô chỉ muốn một cái bụng no và một con đường thông suốt à?"

    Anh nói với sự chế giễu rõ ràng trong giọng điệu.

    "Và một cái tâm thanh thản, Kaz."

    Đó mới là phần khó.

    Kaz bật cười trong lúc đi qua cửa vào căn buồng nhỏ của mình.

    "Chuyện đó thì vô vọng rồi.

    Tôi thích tiền hơn.

    Cô có muốn có tiền hay không nào?"

    "Ở đây đâu có ai cho không ai bao giờ?

    Công việc như thế nào?"

    "Một nhiệm vụ bất khả thi, mười phần chết chín, xác suất rủi ro cao ngất, nhưng đừng nghĩ nhiều đến những cái đó...'' Anh ngừng lời, những ngón tay đặt trên cúc áo chẽn, mắt nhìn xa xăm, hơi mơ màng.

    Inej hiếm khi nào cảm nhận được một sự hào hứng đến vậy trong giọng nói khản đặc của anh.

    "Chúng ta có nên nghĩ đến chúng không?"

    Cô hỏi lại.

    Anh tặng cô một điệu cười bất ngờ và nghịch nhĩ như một tiếng sấm, đôi mắt anh đen kịt lại như cà phê đậm đặc.

    "Chúng ta sẽ là vua và nữ hoàng, Inej.

    Vua và nữ hoàng."

    "Hừm," cô đáp một cách hờ hững, làm ra vẻ như đang xem xét một con dao trong mớ vũ khí của mình, nhất quyết phớt lờ nụ cười kia.

    Kaz không phải là một chàng trai phù phiếm với nụ cười mê hồn và đang tính chuyện tương lai với cô.

    Anh là một tay chơi nguy hiểm thích sai khiến người khác.

    Luôn như vậy, cô kiên quyết tự nhắc nhở mình.

    Inej cúi mặt xếp lại một chồng giấy tờ trên bàn làm việc trong khi Kaz cởi áo ngoài và áo sơmi.

    Cô không rõ mình cảm thấy vui hay xấu hổ khi anh không tỏ ra e dè chút nào trước sự hiện diện của cô.

    "Chúng ta sẽ đi bao lâu?"

    Inej hỏi và đưa mắt liếc nhìn anh qua cửa phòng.

    Thân hình đầy cơ bắp và chằng chịt sẹo của Kaz chỉ có hai hình xăm: con quạ cùng cái li biểu tượng cho băng Cặn Bã nơi cẳng tay, và phía bên trên nó, một chữ R màu đen chỗ bắp tay.

    Inej chưa bao giờ hỏi anh về ý nghĩa của chữ cái đó.

    Đôi bàn tay của Kaz chính là thứ khiến cô chú ý khi anh cởi cặp găng da và nhúng một miếng vải vào chậu rửa.

    Anh chỉ tháo găng khi ở trong phòng riêng, và theo như Inej biết thì, chỉ khi ở cùng cô.

    Mối phiền não nào đó mà anh che giấu, cô không hề thấy dấu hiệu của nó, chỉ có những ngón tay bẻ khoá thon dài và một chuỗi sẹo sau cuộc hỗn chiến đường phố nọ cách đây đã lâu.

    "Vài tuần, có thể một tháng."

    Kaz đáp trong lúc dùng cái khăn ướt lau hai cánh tay và bộ ngực rắn chắc, khiến những giọt nước lăn xuống bụng anh.

    Thánh thần ơi, Inej thầm nghĩ trong lúc hai má cô đỏ ửng.

    Cô đã đánh mất hầu hết sự e thẹn của mình trong thời gian làm việc ở Vườn Thú, nhưng cái gì cũng có giới hạn.

    Kaz sẽ nói thế nào nếu cô cởi đồ và bắt đầu lau rửa cơ thể trước mặt anh?

    Có lẽ anh ta sẽ nhắc mình không để nước nhỏ xuống bàn làm việc, cô tự nhủ với một cái nhăn mặt.

    "Một tháng sao?

    Anh có chắc mình đi được trong khi bọn Hắc Thủ đang quấy nhiễu như thế hay không?"

    "Đây là một sự đặt cược đúng đắn.

    Nói mới nhớ, cô triệu tập Jesper và Muzzen nhé.

    Tôi muốn họ ở đây khi trời sáng, và tôi cần Wylan đợi sẵn ở Quạ Đen vào đêm mai."

    "Wylan?

    Nếu là vì một việc lớn thì..."

    "Cứ làm như tôi bảo đi."

    Inej khoanh tay lại.

    Một phút trước anh còn làm cô thẹn đỏ mặt, bây giờ anh đã lại làm cô muốn bóp cổ ai đó.

    "Anh có định giải thích cho tôi bất cứ chuyện gì không vậy?"

    "Để đến khi đông đủ tất cả mọi người đã."

    Kaz khoác lên người một cái áo mới, rồi bỗng ngần ngừ khi cài nút cổ.

    "Đây không phải là một sự phân công, Inej.

    Đây là một công việc mà cô muốn nhận hay không là tuỳ ở cô."

    Một hồi chuông báo động vang lên trong đầu Inej.

    Cô đã đưa mình vào nguy hiểm hằng ngày trên đường phố Barrel.

    Cô đã ra tay vì băng Cặn Bã, đã ăn trộm, hạ thủ người tốt lẫn kẻ xấu, và Kaz chưa bao giờ nói rằng các nhiệm vụ đó không phải là mệnh lệnh cần tuân theo.

    Đây là cái giá mà cô đã chấp thuận khi Per Haskell bỏ tiền chuộc cô ra khỏi Vườn Thú.

    Vậy công việc này có gì khác kia chứ?

    Kaz đã cài nút áo xong, anh khoác thêm chiếc áo chẽn màu xám đen, trước khi ném cho cô một thứ.

    Nó bay vèo qua không trung, và Inej tóm được chỉ bằng một tay.

    Khi mở nắm tay ra, cô thấy một cái ghim cài áo có đính viên hồng ngọc cỡ đại, viền xung quanh bằng những chiếc lá nguyệt quế vàng.

    "Tôi vừa xoáy được đấy," Kaz nói.

    "Của ai vậy?"

    "Giờ nó là của chúng ta."

    "Nhưng trước đó nó là của ai?"

    Kaz làm thinh.

    Anh nhặt áo choàng lên, dùng một cái bàn chải để chải sạch những mảnh bùn khô trên đó.

    "Một kẻ lẽ ra nên suy nghĩ cẩn thận hơn trước khi cho người đập tôi."

    "Đập anh?"

    "Cô nghe rồi đấy."

    "Có người đã tấn công anh sao?"

    Kaz nhìn Inej và gật đầu một cái.

    Cảm giác bất an len lỏi trong đầu cô và cuộn lại thành một khối lo lắng.

    Không ai thắng được Kaz.

    Anh là thứ mạnh mẽ nhất, đáng sợ nhất di chuyển trong các ngõ hẻm của Barrel, cô tin vào thực tế đó.

    Anh cũng vậy.

    "Chuyện này sẽ không lặp lại nữa," anh hứa.

    Kaz lấy ra một đôi găng tay mới, chộp chiếc gậy chống, và đi ra cửa.

    "Tôi sẽ quay lại sau vài giờ.

    Chuyển bức DeKappel chúng ta thó của Van Eck vào két an toàn.

    Tôi nhớ là nó đang được cuộn tròn giấu dưới giường tôi.

    À, và đặt làm một cái mũ mới cho tôi."

    "Làm ơn đâu?"

    Kaz thở dài trong lúc huy động dũng khí trước ba đoạn cầu thang khốn khổ.

    Anh liếc nhìn qua vai và nói: "Xin làm ơn, Inej thân mến của tôi, báu vật của tôi, cô gia ơn cho tôi bằng cách đặt làm một cái mũ mới cho tôi nhé?"

    Inej liếc nhìn cây gậy chống với một ánh mắt nhiều ẩn ý.

    "Chúc anh leo xuống vui vẻ."

    Nói đoạn, cô ngồi lên lan can, trượt xuống hết tầng lầu này đến tầng lầu khác, mượt mà như một miếng bơ trên chảo.

    5

    KAZ

    Kaz men theo Đông Stave đi về phía cảng, xuyên qua phần chóp khu cờ bạc của Barrel.

    Cái mớ rối rắm gồm các con phố nhỏ và những con rạch hẹp với tên gọi Barrel được đóng khung trong hai con kênh lớn, Đông Stave và Tây Stave, mỗi con kênh tiếp đón một loại khách riêng.

    Các toà nhà của Barrel không giống với bất kì đâu trong Ketterdam, chúng cao hơn, rộng hơn, sơn màu sặc sỡ, lôi kéo sự chú ý của khách qua đường Rương Báu, Nút Vàng, Thuyền Của Weddell.

    Những sòng bạc tốt nhất nằm về phía bắc, trong khu bất động sản cao cấp Lid, chỗ đoạn kênh gần các hải cảng nhất, với vị thế thuận lợi để thu hút khách du lịch và thuỷ thủ.

    Quạ Đen thì không, Kaz trầm ngâm suy nghĩ trong lúc ngước nhìn mặt tiền hai màu đen và đỏ của toà nhà.

    Phải tốn rất nhiều công sức để dẫn dụ khách du lịch cũng như các thương gia có máu cờ bạc đi xuống tận đây tìm thú tiêu khiển.

    Lúc này chuông nhà thờ đã sắp điểm bốn tiếng, nhưng khách khứa phía bên ngoài câu lạc bộ vẫn còn tấp nập lắm.

    Kaz nhìn dòng người di chuyển qua các cột trụ của cửa ra vào, dưới con mắt dò xét của con quạ bạc xỉn màu vì bị oxy hoá đang dang cánh phía trên cửa.

    Chúa ban phước cho đàn bồ câu, Kaz nhủ thầm.

    Chúa ban phước cho tất cả những kẻ tốt bụng hào phóng sẵn sàng dốc cạn hầu bao vào két sắt của băng Cặn Bã và gọi đó là một trò tiêu khiển.

    Ba tay cò mồi trước cửa đang hò hét chèo kéo các vị khách tiềm năng, ra rả quảng cáo nước uống miễn phí, cà phê nóng và một luật chơi công bằng nhất Ketterdam.

    Kaz gật đầu chào họ rồi đi tiếp lên phía bắc.

    Chỉ có một sòng bạc khác ở Stave hấp dẫn được anh: Cung Lục Ngọc, niềm hãnh diện và vui sướng của chủ nhân nó - Pekka Rollins.

    Toà nhà được sơn màu xanh lá cây xấu xí, trang trí bằng mấy cái cây giả trĩu nặng các đồng vàng đồng bạc giả.

    Toàn bộ nơi này được tân trang như một sự vinh danh di sản Kaelish của Rollins và băng Kim Sư của lão ta.

    Ngay cả những cô gái làm việc tại quầy đổi xèng và các bàn chơi bài cũng mặc những chiếc áo lụa xanh lá lấp lánh và nhuộm tóc thành màu đỏ sẫm để bắt chước vẻ ngoài của các thiếu nữ đảo Wandering.

    Khi đi ngang qua nơi đó, Kaz ngước nhìn những đồng vàng giả, để cho cơn giận dữ tràn vào trong đầu mình.

    Anh cần nó như một sự nhắc nhở về thứ mình đã đánh mất, thứ mà anh nhất định sẽ giành lấy.

    Anh cần nó để chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến mạo hiểm lần này.

    "Từng bước một," anh lẩm nhẩm với chính mình.

    Đó là những chữ duy nhất giúp kiểm soát được cơn giận dữ của anh và ngăn không cho anh lao qua những cánh cửa sơn hai màu vàng và xanh loè loẹt kia để hỏi tội Rollins.

    Từng bước một.

    Đó là lời hứa giúp anh ngủ hằng đêm, hoạt động hằng ngày, và đẩy lùi bóng ma của Jordie.

    Bởi lẽ một cái chết nhanh chóng là quá tốt cho Pekka Rollins.

    Kaz quan sát dòng khách ra vào Cung Lục Ngọc và bắt gặp các cò mồi của mình.

    Đó là những người đàn ông và phụ nữ được anh thuê để lôi kéo khách hàng của Pekka đi về phía nam, với lời hứa hẹn về những cơ hội tốt hơn, giải thưởng lớn hơn, gái đẹp hơn.

    "Anh đi đâu về mà mặt mũi tươi tỉnh thế?"

    Một người nói với người kia bằng giọng to hơn cần thiết.

    "Vừa từ Quạ Đen về.

    Thắng được hai trăm kruge trong có hai giờ đồng hồ đấy."

    "Không phải thế chứ!"

    "Thật đấy!

    Tôi chỉ lên đây để uống chút gì đó và gặp thằng bạn.

    Sao cậu không đi cùng chúng tôi luôn nhỉ?"

    "Quạ Đen!

    Sao lại không?"

    "Đi nào, tôi sẽ đãi cậu một chầu.

    Tôi bao cả quán luôn!"

    Và hai người vừa cười vừa bỏ đi, để lại những người khách quanh đó thắc mắc tự hỏi liệu mình có nên quá bộ xuôi theo dòng kênh thêm vài cây cầu để xem vận may ở đó có tốt hơn không.

    Lòng tham, người đầy tớ của Kaz, lôi kéo họ xuống phía nam như người ta thổi ống sáo thần kì.

    Kaz đã cẩn thận luân chuyển đội cò mồi để đám bảo vệ của Pekka không phát hiện ra, và với từng người khách một, anh hút bớt công việc làm ăn của Cung Lục Ngọc.

    Đây là một trong những biện pháp nhỏ nhặt mà anh có để tự củng cố bản thân trước Pekka - chặn các chuyến tàu chở jurda của hắn, bắt hắn đóng phí ra vào Cảng số Năm, giảm tiền thuê nhà để chèo kéo khách thuê của hắn, và dần dần, dần dần kéo tuột những sợi chỉ dệt nên cuộc sống của hắn.

    Bất chấp mấy thông tin dối trá mà anh đã cho lan truyền và những lời đe dọa đối với Geels đêm qua, Kaz không phải là một thằng con hoang.

    Thậm chí anh còn không phải là người Ketterdam.

    Anh lên chín và Jordie mười ba khi họ lần đầu tiên đến đây, với tấm séc có được sau khi bán trang trại của bố được giấu kĩ ở túi trong áo khoác của Jordie.

    Kaz còn nhớ như in ngày hôm đó, khi anh đi dạo khu Stave với đôi mắt thán phục, bàn tay nắm chặt tay Jordie để không bị lạc trong đám đông.

    Anh căm hận vì hai đứa đã quá trẻ con, hai con bồ câu ngờ nghệch chờ bị vặt lông.

    Nhưng hai thằng nhóc đó đã biến mất từ lâu, chỉ còn Pekka Rollins ở lại để chờ sự trừng phạt.

    Một ngày kia Rollins sẽ phải quỳ gối đến gặp Kaz, cầu xin sự giúp đỡ của anh.

    Nếu Kaz thực hiện thành công phi vụ của Van Eck, ngày đó sẽ đến nhanh hơn nhiều so với sự kì vọng của anh.

    Từng bước một, ta sẽ tiêu diệt ngươi.

    Nhưng nếu muốn có hi vọng đột nhập được vào Lâu Đài Băng, anh cần phải tập hợp được một đội ngũ thích hợp, và trong những giờ tới đây anh sẽ tiến gần hơn nữa trong việc thu phục hai mảnh ghép trọng yếu của bức tranh.

    Kaz rẽ vào trong một lối đi chạy dọc theo bờ một con kênh nhỏ.

    Các khách du lịch và thương gia thích đi lại trên những con phố được chiếu sáng, do vậy lưu lượng người tại đây ít hơn, Kaz di chuyển nhanh hơn.

    Chẳng mấy chốc, những ánh đèn và âm nhạc của Tây Stave đã xuất hiện, hai bờ kênh đặc kín những con người đủ mọi tầng lớp và quốc tịch đi tìm trò giải khuây.

    Tiếng nhạc tràn ra từ các phòng tiếp khách qua những cánh cửa mở rộng, phô bày những người đàn ông, đàn bà nằm dài ở trường kỉ, trên người khoác thứ trang phục loè loẹt làm từ những mảnh lụa vụn.

    Những người biểu diễn xiếc đi thăng bằng trên mấy sợi dây căng ngang qua kênh, kim tuyến dát đầy người, trong lúc đám nghệ sĩ đường phố ra sức trổ tài, mong kiếm được vài đồng xu từ người qua đường.

    Còn cánh bán hàng rong thì la hét chèo kéo những chiếc gondel sang trọng của các thương gia giàu có hoặc những con thuyền lớn hơn chở đầy khách du lịch và thuỷ thủ từ Lid đi vào.

    Rất nhiều du khách chưa từng đặt chân vào các nhà chứa của Tây

    Stave.

    Họ chỉ đến để quan sát đám đông, vốn dĩ đã là một thứ đáng xem.

    Nhiều người chọn đi thăm khu vực này của Barrel trong trang phục cải trang - đeo mạng hoặc mặt nạ, hay khoác áo choàng kín mít chỉ chừa lại đôi mắt.

    Họ mua trang phục ở một trong những tiệm chuyên kinh doanh nằm bên bờ các con kênh lớn, để thỉnh thoảng lẻn đi vui thú một ngày hay cả tuần lễ, hoặc cho đến khi tiêu cạn quỹ đen.

    Họ mặc giả làm những nhân vật của Hài kịch Thô lỗ: Ngài Đỏ thẫm, Cô dâu thất lạc, hoặc đeo chiếc mặt nạ kì dị có cặp mắt lồi của Gã điên.

    Ngoài ra còn có nhóm Chó rừng, gồm những thanh niên bày trò quậy phá khắp nơi trong Barrel và đeo mặt nạ sơn mài màu đỏ của thầy bói Suli.

    Kaz còn nhớ lần đầu tiên Inej trông thấy những chiếc mặt nạ chó rừng trong một tủ kính bày hàng, cô đã không thể nén được sự phẫn nộ của mình.

    "Thầy bói người Suli thực thụ rất hiếm.

    Họ là những người có phép thánh.

    Mấy cái mặt nạ được chuyền tay nhau như món đồ chơi tiệc tùng này là một biểu tượng thiêng liêng."

    "Tôi đã từng thấy các ông bà thầy bói người Suli bán chúng trên những đoàn xe lữ hành hoặc các chuyến tàu hành lạc, Inej.

    Bọn họ chẳng có vẻ gì là thần thánh cả."

    "Đó chỉ là những kẻ mạo danh.

    Tự biến mình thành trò hề cho anh và cái đám như anh."

    "Đám như tôi?"

    Kaz bật cười.

    Inej phẩy tay với vẻ mặt kinh tởm.

    "Shevrati" cô đã nói như thế.

    "Những kẻ không biết gì.

    Họ cười vào các anh phía sau lớp mặt nạ đó."

    "Không phải tôi, Inej.

    Tôi chưa bao giờ bỏ phí một xu nào để nghe tương lai của mình được lảm nhảm bởi một ai đó, dù là thánh nhân hay bọn lừa đảo."

    "Định mệnh đã an bài sẵn cho tất cả chúng ta rồi, Kaz."

    "Vậy là định mệnh đã đưa cô khỏi gia đình và tống vào một nhà chứa ở

    Ketterdam?

    Hay đó chỉ là vận rủi?"

    "Tôi chưa biết," cô đã đáp như vậy với giọng lạnh lùng.

    Trong những lúc như thế, anh nghĩ cô ghét anh.

    Kaz len lỏi đi qua đám đông như một bóng đen giữa hỗn hợp màu sắc.

    Mỗi nhà chứa đều có một điểm đặc biệt, ít nhiều dễ nhận biết.

    Anh đi ngang qua Diên Vĩ Xanh, Mèo Hoang, những gã đàn ông râu ria bặm trợn trên các cửa sổ của Lò Rèn, rồi Đèn Mờ, Liễu Rủ, những cô nàng tóc vàng ở Lầu Tuyết, và dĩ nhiên cả Vườn Thú, còn được biết đến với tên gọi Nhà Viễn xứ, nơi Inej từng phải khoác lên người những chiếc áo lụa Suli giả.

    Anh để ý thấy Dì Heleen trong bộ áo lông công và cái vòng cổ choker đính kim cương nổi tiếng đang tiếp khách trong căn phòng mạ vàng của mình.

    Bà ta điều hành Vườn Thú, cung cấp các cô gái, bảo đảm họ biết cư xử.

    Khi trông thấy Kaz, Heleen mím môi thành một lằn kẻ chua chát và nâng li lên, một cử chỉ hàm ý đe dọa nhiều hơn là chào mừng.

    Mặc kệ bà ta, anh đi tiếp.

    Nhà Hồng Bạch là một trong những nhà chứa cao cấp của Tây Stave.

    Nó có bến thuyền riêng, mặt tiền ốp đá trắng trông giống với tư dinh của thương gia hơn là một nhà chứa.

    Các chậu cây trang trí cửa sổ luôn mọc đầy giống hồng leo mầu trắng, hương hoa nồng nàn tỏa ngát cả một đoạn kênh.

    Phòng khách của ngôi nhà còn nồng nặc mùi hương hơn.

    Các bình thạch cao cắm đầy hồng bạch, còn những người đàn ông, đàn bà - một số đeo mạng hoặc mặt nạ, số khác để lộ mặt - chờ đợi trên trường kỉ mầu ngà, uống món rượu vang gần như không màu và nhấm nháp những chiếc bánh vani nhỏ tẩm rượu mùi hạnh nhân.

    Cậu trai ngồi ở bàn mặc một bộ comlê nhung màu kem, ve áo gài một bông hồng bạch.

    Cậu ta có mái tóc trắng và đôi mắt không màu.

    Ngoại trừ đôi mắt, cậu trông giống với một người bạch tạng, nhưng Kaz tình cờ biết một Grisha làm thuê đã biến đổi cậu ta cho hợp với sự bài trí.

    "Thưa ngài Brekker," cậu ta nói, "Nina đang tiếp khách."

    Kaz gật đầu rồi đi vào một hành lang nằm khuất sau một chậu hoa hồng, cố cưỡng lại ham muốn kéo áo lên che mũi.

    Chú Felix, ông trùm của Hồng Bạch, thích nói rằng các cô gái của ông ta cũng ngọt ngào như những đoá hồng, nhưng điều nực cười đó chỉ có thể lừa được các khách hàng.

    Giống hoa hồng bạch này, thứ duy nhất chịu được loại khí hậu ẩm ướt của Ketterdam, vốn dĩ không có mùi thơm.

    Tất cả các bông hồng ở đây đều được xịt nước hoa.

    Kaz lướt ngón tay dọc theo tấm ván gỗ ốp tường phía sau chậu hoa và ấn ngón cái vào một cái rãnh.

    Bức tường mở ra, và anh trèo lên một cầu thang xoắn dành riêng cho nhân viên.

    Phòng của Nina nằm ở tầng ba.

    Phòng ngủ bên cạnh đang mở toang cửa và không có người nên Kaz lẻn vào trong, dời một bức tranh tĩnh vật sang bên cạnh, rồi ghé mặt sát vào tường.

    Lỗ nhìn trộm là một đặc sản của mọi nhà chứa.

    Chúng là phương tiện để giữ cho các nhân viên an toàn và trung thực, đồng thời cũng mang lại niềm vui thú cho những kẻ thích nhìn lén người khác hành lạc.

    Kaz đã không ít lần chứng kiến đám cư dân của các khu ổ chuột hành sự trong các góc hẻm khuất, đến nỗi chuyện đó không còn làm anh hứng thú nữa.

    Ngoài ra, anh thừa biết bất cứ ai nhòm qua cái lỗ này với hi vọng tìm được một chút kích thích sẽ chỉ thất vọng tràn trề.

    Một người đàn ông nhỏ thó hói đầu mặc quần áo đầy đủ đang ngồi bên

    cái bàn tròn phủ vải màu ngà.

    Bàn tay ông ta xếp lại ngay ngắn bên cạnh một khay cà phê bằng bạc chưa được đụng tới.

    Nina Zenik đứng phía sau ông ta, quấn mình trong bộ kefta bằng lụa đỏ thông báo thân phận Grisha Độc Tâm Y của cô.

    Nina áp một bàn tay vào trán của ông khách, tay còn lại đặt sau gáy ông ta.

    Cô cao lớn và có thân hình như bức tượng bán thân được tạc bởi một bàn tay điêu luyện gắn ở đầu các con thuyền.

    Hai người im lặng như thể bị đông cứng tại chỗ.

    Trong căn phòng không có lấy một cái giường, chỉ có chiếc trường kỉ để cô cuộn mình nằm ngủ.

    Khi Kaz hỏi Nina nguyên nhân của chuyện đó, cô chỉ đáp ngắn gọn: "Tôi không muốn người ta nghĩ này nọ."

    "Đàn ông thì không cần đến giường chiếu cũng đã nghĩ này nọ rồi, Nina."

    Nhưng Nina đã chớp chớp hàng mi, đáp lại: "Cậu thì biết gì về chuyện đó, hở Kaz?

    Cởi đôi găng tay đó ra đi, để xem chúng ta sẽ có suy nghĩ gì."

    Kaz đã lườm cô bằng cặp mắt lạnh lùng cho đến khi cô cụp mắt xuống.

    Anh không thiết tha chuyện tán tỉnh Nina Zenik, và anh tình cờ cũng biết cô không hề để mắt đến anh.

    Cô chỉ thích đùa bỡn với mọi thứ.

    Anh từng thấy cô đá lông nheo với một đôi giày mà mình thích trong một tủ kính bày hàng.

    Nina và người đàn ông ngồi đó, không nói gì, trong lúc thời gian trôi qua, và khi chiếc đồng hồ treo tường đổ chuông, ông ta đứng lên hôn tay cô.

    "Anh đi đi," cô nói với giọng trịnh trọng.

    "Bình an nhé."

    Người đàn ông hôn tay Nina lần nữa, với đôi mắt ngấn lệ.

    "Cảm ơn em."

    Ngay khi ông khách đi khuất trên hành lang, Kaz bước ra khỏi căn phòng trống và gõ cửa phòng Nina.

    Cô thận trọng mở hé cửa, giữ nguyên sợi xích an toàn.

    "Ồ", cô thốt lên khi trông thấy Kaz.

    "Ra là anh."

    Cô không tỏ ra đặc biệt vui sướng khi thấy Kaz.

    Cũng không ngạc nhiên.

    Việc có Kaz Brekker xuất hiện trước cửa hiếm khi là điềm lành.

    Nina tháo dây xích và để anh bước vào phòng trong khi cô trút bỏ lớp áo kefta, phơi bày bộ đồ lót bằng satin không thể mỏng hơn.

    "Thánh thần ơi, tôi ghét cái thứ này quá đi."

    Cô vừa nói vừa đá văng chiếc áo đi và lôi ra từ trong ngăn kéo một cái áo choàng ngủ đã cũ sờn.

    "Nó bị làm sao?"

    Kaz thắc mắc.

    "Nó là đồ giả.

    Lại còn gây ngứa nữa."

    Cái áo kefta đấy được sản xuất tại Kerch, không phải tại Ravka - một bộ đồ hoá trang chứ không phải đồng phục.

    Kaz biết Nina không bao giờ mặc nó ngoài đường vì đó là hành động quá liều lĩnh đối với một Grisha.

    Việc Nina gia nhập Cặn Bã đồng nghĩa với bất kì ai động đến cô sẽ có nguy cơ bị băng nhóm này trả thù, nhưng tất cả cũng vô nghĩa nếu như khi đó cô đã lênh đênh trên một con thuyền nô lệ đi tới một phương trời chẳng ai biết được.

    Nina buông mình xuống một chiếc ghế bên cạnh cái bàn, bỏ chân ra khỏi đôi dép đi trong nhà trang trí cầu kì và bấm ngón chân vào tấm thảm nhung màu trắng.

    "Ôi, đã quá!"

    Cô khoan khoái thốt lên, trước khi tọng một chiếc bánh ngọt để trong khay cà phê vào miệng và lúng búng nói tiếp.

    "Anh có việc gì vậy, Kaz?"

    "Vụn bánh rơi xuống khe ngực cô kìa."

    "Kệ," Nina cắn thêm miếng bánh nữa.

    "Đói lắm rồi."

    Kaz lắc đầu, nửa thích thú nửa ấn tượng trước sự nhanh chóng của Nina khi cô rũ bỏ vai một nữ tu Grisha.

    Cô mà đi diễn kịch thì sẽ thành công thực sự.

    "Có phải là Van Aakster không, gã thương gia vừa rồi ấy?"

    Kaz hỏi.

    "Phải."

    "Vợ ông ta mới chết cách đây một tháng, và công việc làm ăn của ông ta xuống dốc từ đó.

    Giờ thì ông ta đến gặp cô.

    Liệu chúng ta có thể trông mong một sự xoay chuyển tình thế nào không?"

    Nina không cần đến giường, vì cô là chuyên gia trong việc điều khiển cảm xúc: vui vẻ, bình thản, tự tin.

    Hầu hết các Tâm Y tập trung vào cơ thể - để giết hoặc để cứu chữa - nhưng Nina cần một công việc giúp cô ở lại Ketterdam và không gặp rắc rối.

    Thế nên thay vì đánh liều mạng sống và kiếm thật nhiều tiền với tư cách một kẻ đánh thuê, cô làm chậm nhịp tim, hơi thở, thư giãn cơ bắp.

    Cô kiếm thêm bằng cách đi làm Thợ May cho đám nhà giàu Kerch muốn xoá nhăn hoặc gọt hàm, nhưng phần lớn thu nhập của cô là từ công việc điều chỉnh tâm trạng.

    Người ta tìm đến cô trong tâm thế cô độc, sầu thảm, hoặc buồn bã vô cớ, để được ra về với cảm giác có nơi nương tựa, mọi muộn phiền tan biến.

    Hiệu quả đó không kéo dài, nhưng đôi khi chỉ cần một chút ảo tưởng của hạnh phúc cũng đủ để làm các khách hàng của cô có can đảm đối mặt với cuộc đời thêm một ngày.

    Nina bảo là nó có liên quan sao đó với các tuyến nội tiết, nhưng Kaz không quan tâm lắm về chi tiết, chừng nào cô còn xuất hiện mỗi khi anh cần và chi trả hoa hồng cho Per Haskell đúng hạn.

    "Tôi nghĩ anh sẽ thấy một sự thay đổi," Nina đáp.

    Cô đã ăn xong chiếc bánh cuối cùng và mút ngón tay thích thú, trước khi bỏ cái khay ra ngoài cửa và nhấn chuông gọi người dọn dẹp.

    "Van Aakster bắt đầu đến đây từ cuối tuần trước, ngày nào cũng đến."

    "Tuyệt vời."

    Kaz ghi nhớ thông tin vào đầu để mua một số cổ phiếu đang rớt giá của công ty Van Aakster.

    Ngay cả khi sự thay đổi tâm trạng của ông ta là nhờ Nina, việc kinh doanh cũng sẽ khởi sắc.

    Anh ngần ngừ một chút rồi nói: "Cô làm cho ông ta cảm thấy khá hơn, quên đi ưu phiền này nọ... nhưng cô có buộc ông ta làm gì đó được không?

    Lãng quên bà vợ quá cố chẳng hạn?"

    "Thay đổi các kết nối trong đầu ông ta á?

    Đừng có dở hơi thế chứ."

    "Bộ não cũng chỉ là một cơ quan trong cơ thể," Kaz nói, nhắc lại lời của Van Eck.

    "Phải, nhưng nó cực kì phức tạp.

    Kiểm soát hoặc làm thay đổi suy nghĩ của người khác... hừm, nó không giống như làm chậm nhịp tim hoặc phóng thích một hoá chất nào đó để cải thiện tâm trạng của họ.

    Có quá nhiều tham số.

    Không Grisha nào có thể làm được chuyện đó."

    Chưa thôi, Kaz tự nhủ.

    "Vậy là cô chỉ điều trị triệu chứng chứ không phải căn nguyên."

    Nina nhún vai.

    "Ông ta đang né tránh sự lo phiền, chứ không xử lí nó.

    Nếu chọn tôi làm giải pháp, ông ta sẽ không bao giờ có thể vượt qua cái chết của vợ."

    "Vậy cô sẽ xua đuổi ông ta chứ? cô sẽ khuyên ông ta tìm một người vợ mới và thôi không ám cô nữa chứ?"

    Nina chải mái tóc màu nâu nhạt bằng một chiếc lược và liếc xéo Kaz trong gương.

    "Per Haskell có ý định xoá nợ cho tôi à?"

    "Không hề."

    "Vậy thì Van Aakster nên được thoải mái đau buồn theo cách của ông ta.

    Tôi phải tiếp một khách hàng trong vòng nửa tiếng nữa, Kaz.

    Anh cần gì ở tôi?"

    "Khách hàng của cô sẽ phải chờ.

    Cô biết gì về jurda parem?"

    Nina nhún vai.

    "Có nhiều lời đồn thổi, nhưng tôi thấy toàn những thứ vớ vẩn."

    Ngoại trừ Hội đồng Thuỷ triều, số ít Grisha làm việc ở Ketterdam quen biết nhau và sẵn sàng chia sẻ thông tin.

    Hầu hết đều chạy trốn một thứ gì đó và không muốn thu hút sự chú ý của bọn buôn nô lệ hoặc của chính quyền Ravka.

    "Không chỉ là tin đồn đâu."

    "Tiết Khí Sư biết bay, Tiết Hải Sư tàng hình á?"

    "Sáng Chế Gia biến chì thành vàng."

    Kaz thò tay vào trong túi và lôi cục kim loại màu vàng ra, ném cho Nina.

    "Thật đấy."

    "Sáng Chế Gia tạo ra vải vóc.

    Họ làm việc với kim loại và sợi vải.

    Họ không thể biến thứ này thành thứ khác."

    Nina giơ cục kim loại ra trước ánh sáng.

    "Anh có thể kiếm được cái này từ bất cứ nơi đâu," cô nói, giống y như lời phản bác của Kaz với Van Eck trước đó không lâu.

    Không đợi mời, Kaz ngồi xuống chiếc trường kỉ bọc nhung và duỗi dài cái chân yếu của mình.

    "Jurda parem là có thật, Nina, và nếu cô vẫn là một binh sĩ Grisha ngoan đạo như tôi nghĩ, thì cô sẽ muốn nghe điều mà nó gây ra cho những người như cô."

    Nina xoay xoay cục vàng trong tay, rồi siết dây áo choàng ngủ chặt hơn quanh eo và co mình lại ở đầu kia của chiếc trường kỉ.

    Một lần nữa, Kaz lại kinh ngạc với sự biến đổi của Nina.

    Trong căn phòng này, Nina đóng vai mà các khách hàng của cô muốn thấy - một Grisha mạnh mẽ, bình thản với sự hiểu biết của mình.

    Nhưng ngồi đây với đôi lông mày nhíu lại và hai bàn chân kê dưới mông, cô trông giống với bản chất của mình: một cô gái mười bảy tuổi, được nuôi dạy trong Tiểu Điện xa hoa biệt lập, xa gia đình và phải tự xoay xở để tồn tại qua ngày.

    "Kể tôi nghe đi," cô nói.

    Kaz bắt đầu kể.

    Anh giữ lại các chi tiết liên quan đến đề nghị của Van Eck và kể cho cô nghe về Bo Yul-Bayur, jurda parem, và tính gây nghiện của nó, đặc biệt nhấn mạnh vào vụ trộm tài liệu quân sự của Ravka mới đây.

    "Nếu tất cả chuyện này là thật thì Bo Yul-Bayur cần phải bị trừ khử."

    "Đó không phải là nhiệm vụ của chúng ta, Nina."

    "Chuyện này không phải chỉ là tiền bạc, Kaz."

    Trước giờ tiền bạc vẫn luôn là vấn đề trung tâm.

    Nhưng Kaz biết cần phải có một sức ép kiểu khác.

    Nina yêu quý đất nước và dân tộc của mình.

    Cô vẫn còn tin vào tương lai của Ravka và Hạ Quân - đơn vị quân tinh nhuệ gồm toàn Grisha đã gần như bị xoá sổ trong cuộc nội chiến.

    Bạn bè của Nina ở Ravka tin rằng cô đã chết như một nạn nhân của đám săn phù thuỷ người Fjerda, và hiện tại cô muốn họ tiếp tục nghĩ như thế.

    Nhưng Kaz biết cô hi vọng một ngày nào đó sẽ được hồi hương.

    "Nina, chúng ta sẽ đi tìm Bo Yul-Bayur, và tôi cần một Tâm Y để làm điều đó.

    Tôi muốn cô về đội của tôi."

    "Cho dù ông ta đang ẩn trốn ở đâu, thì một khi anh đã tìm thấy Bo YulBayur, việc để cho ông ta sống sẽ là một sự vô trách nhiệm khủng khiếp.

    Câu trả lời của tôi là không."

    "Ông ta không ẩn trốn.

    Người Fjerda đang nhốt ông ta trong Lâu Đài

    Băng."

    Nina khựng lại.

    "Vậy thì ông ta coi như chết rồi."

    "Hội đồng Thương buôn không nghĩ như vậy.

    Họ sẽ không mất công

    bày ra trò rắc rối này hoặc treo giải thưởng nếu nghĩ ông ta đã bị vô hiệu hoá.

    Van Eck đang lo lắng.

    Tôi có thể thấy rõ điều đó."

    "Lão thương gia mà anh đã nói chuyện đó hả?"

    "Phải.

    Ông ta tin đội ngũ gián điệp của họ hoạt động hiệu quả.

    Nếu không phải thế, tôi sẽ chịu trách nhiệm.

    Nhưng nếu Bo YuL-Bayur còn sống, ai đó chắc đang cố gắng giải cứu ông ta khỏi Lâu Đài Băng.

    Tại sao không phải là chúng ta?"

    "Lâu Đài Băng," Nina lặp lại.

    Kaz nhận ra cô đã bắt đầu lắp ghép được mọi thứ với nhau.

    "Anh không chỉ cần một Tâm Y, đúng không?"

    "Tôi cần một người biết rõ lâu đài đó từ trong ra ngoài."

    Nina bật dậy và bắt đầu đi tới lui, tay chống hông, tà áo choàng bay lật phật.

    "Anh đúng là đồ khốn, anh có biết không?

    Đã bao nhiêu lần tôi tìm đến anh, cầu xin anh giúp Matthias?

    Giờ anh lại còn muốn này nọ..."

    "Per Haskell không phải người làm từ thiện."

    "Đừng có đổ chuyện này cho ông ta," cô gắt lên.

    "Nếu anh muốn giúp thì anh thừa sức làm được."

    "Thế tại sao tôi phải giúp?"

    Nina quay ngoắt về phía Kaz.

    "Tại vì... tại vì..."

    "Tôi có bao giờ làm một việc nào đó mà chẳng vì điều gì không,

    Nina?"

    Cô há miệng ra, rồi ngậm lại.

    "Cô có biết tôi sẽ phải đi nhờ vả bao nhiêu người không?

    Có biết tôi sẽ phải đút bao nhiêu tiền để đưa Matthias Helvar ra khỏi tù không?

    Cái giá đó quá cao."

    "Giờ thì sao?"

    Nina khó nhọc thốt lên, đôi mắt vẫn bừng bừng giận dữ.

    "Giờ thì tự do của Helvar có một giá trị..."

    "Nó..."

    Anh giơ tay ngắt lời cô.

    "... có một giá trị đối với tôi."

    Nina day day thái dương.

    "Ngay cả khi anh tìm đến Matthias, anh ấy cũng sẽ không bao giờ đồng ý hỗ trợ anh."

    "Chỉ là vấn đề đòn bẩy thôi, Nina à."

    "Anh không biết anh ấy đâu."

    "Thật sao?

    Anh ta là một con người giống như bao người khác, bị dẫn dắt bởi lòng tham, sự ngạo mạn và nỗi đau.

    Cô nên hiểu điều đó hơn ai hết."

    "Helvar bị dẫn dắt bởi danh dự, và chỉ danh dự mà thôi.

    Anh không thể mua chuộc hoặc ép buộc được anh ấy."

    "Ngày trước thì có thể là như thế, Nina.

    Nhưng cả năm trời đã trôi qua.

    Helvar đã thay đổi rất nhiều."

    "Anh gặp anh ấy rồi à?"

    Đôi mắt xanh lục của cô mở to khấp khởi.

    Đó, Kaz nghĩ thầm, Barrel chưa làm cô tắt hết hi vọng đâu.

    "Phải."

    Nina hít một hơi thật sâu.

    "Anh ấy muốn được trả thù, Kaz."

    "Đó là điều anh ta muốn, không phải điều anh ta cần," Kaz đáp.

    "Dùng đòn bẩy có khéo hay không nằm ở chỗ phân biệt được hai cái đó."

    6

    NINA

    Cảm giác nôn nao của Nina không liên quan gì với sự dập dềnh của con thuyền.

    Cô cố gắng hít thở sâu, tập trung vào những ánh đèn hải cảng của Ketterdam đang dần biến mất phía sau họ và tiếng mái chèo khua nước đều đặn.

    Bên cạnh cô, Kaz chỉnh lại mặt nạ và áo choàng, trong lúc Muzzen chèo thuyền với tốc độ mạnh mẽ không ngơi nghỉ để đưa họ tới gần Terrenjel, một trong những hòn đảo nhỏ ngoài khơi của Kerch.

    Tới gần cổng Địa Ngục và Matthias.

    Màn sương ẩm ướt và cuộn xoáy bay là là mặt nước.

    Nó mang theo mùi hắc ín và dầu máy từ những xưởng đóng tàu ở Imperjum, cùng với một thứ khác - mùi ngòn ngọt của thi thể bị thiêu huỷ ở đảo Tử Thần, nơi Ketterdam xử lí xác của những người không lo liệu nổi cho mình một lỗ huyệt trong nghĩa trang phía ngoài thành.

    Tởm quá, Nina nghĩ bụng, đoạn siết chặt hơn nữa tấm áo choàng quanh người.

    Sao người ta lại muốn sống ở một đô thị như cái đang bị bỏ lại phía sau lưng cô kia chứ?

    Muzzen ậm ừ khe khẽ trong khi chèo thuyền.

    Nina chỉ biết sơ về anh ta - một vệ sĩ kiêm bảo vệ, giống như Bolliger Bự xấu số.

    Cô luôn tránh xa Thanh Gỗ và Quạ Đen.

    Vì chuyện đó mà Kaz gán cho cô cái mác của một kẻ học đòi, nhưng cô không quan tâm những điều Kaz Brekker nhận xét về ý thích của mình.

    Nina lại liếc nhìn bờ vai rộng của Muzzen, tự hỏi đêm nay Kaz đem anh ta theo chỉ để chèo thuyền hay để đề phòng bất trắc.

    Dĩ nhiên sẽ có rắc rối.

    Họ sắp sửa đột nhập vào một nhà tù, đó không

    thể là một đêm tiệc.

    Nhưng sao chúng ta lại ăn vận như đi dự tiệc?

    Cô gặp Kaz và Muzzen tại cảng số Năm vào đúng nửa đêm.

    Ngay sau khi cô bước lên chiếc thuyền nhỏ, Kaz đã đưa cho cô một cái áo choàng bằng lụa màu xanh và mạng che mặt cùng màu - những món đồ của cô dâu thất lạc, một trong hai bộ đồ hoá trang mà những kẻ đi tìm lạc thú thích sử dụng khi đi ra khỏi giới hạn của Barrel.

    Kaz thì khoác một tấm áo choàng rộng màu cam cùng chiếc mặt nạ của Gã điên nằm vắt vẻo trên đầu, Muzzen cũng ăn mặc y hệt.

    Chỉ cần một sân khấu là họ có thể biểu diễn một trong những màn kịch tăm tối và hoang dại của Hài kịch Thô lỗ mà người Kerch có vẻ rất thích.

    Kaz huých khẽ Nina.

    "Kéo mạng che xuống đi."

    Anh cũng kéo mặt nạ xuống che mặt. cái mũi dài và cặp mắt lồi trông càng khủng khiếp trong sương mù.

    Cô sắp sửa hỏi anh nguyên nhân khiến họ cần phải cải trang thì chợt nhận ra họ không một mình.

    Qua màn sương chuyển động, cô trông thấy hình bóng của những chiếc thuyền khác lướt đi trên mặt nước, mang theo nhiều Gã điên, Cô dâu, một Ngài Đỏ thẫm và Hoàng hậu Bọ hung.

    Những người này tới cổng Địa Ngục làm gì?

    Kaz đã từ chối tiết lộ chi tiết kế hoạch của anh với Nina, và khi cô năn nỉ, anh chỉ nói gọn lỏn: "Lên thuyền đi."

    Đúng kiểu của Kaz.

    Anh biết mình không cần phải nói cho cô biết mọi chuyện, vì tự do của Matthias đã là miếng mồi áp đảo mọi lí lẽ trong cô.

    Cô đã cố thuyết phục Kaz giải cứu Matthias khỏi ngục tù nhiều lần trong năm qua.

    Giờ thì anh có thể mang lại cho Matthias hơn cả sự tự do, nhưng cái giá chắc sẽ cao hơn mức cô tưởng.

    Chỉ có vài ánh đèn còn sáng khi họ tiếp cận vùng nước nông đầy đá

    của Terrenjel, quanh họ là bóng tối và những con sóng vỗ ì oạp.

    "Sao anh không mua chuộc cai ngục cho xong?"

    Cô thì thào với Kaz.

    "Tôi không cần phải để hắn biết hắn có thứ tôi muốn."

    Khi đáy thuyền chạm bờ cát, hai người đàn ông chạy tới kéo họ vào sâu hơn.

    Những chiếc thuyền khác mà cô thấy cũng đã cập bờ cùng với họ và đang được mấy người đàn ông vừa ra sức kéo vừa chửi thề.

    Nina chỉ thấy được hình ảnh lờ mờ của họ qua tấm mạng che, nhưng cô nhận ra hình xăm trên cánh tay họ: một con linh miêu cuộn tròn thành chiếc vương miện, biểu tượng của băng Kim Sư.

    "Tiền," một người trong số họ lên tiếng trong lúc cô và hai người còn lại trèo xuống khỏi thuyền.

    Kaz đưa ra một xấp dày những đồng kruge.

    Sau khi tiền được đếm xong, tên Kim Sư khoát tay ra hiệu cho họ đi tiếp.

    Họ đi theo hàng đuốc cắm dọc theo một lối đi mấp mô dẫn tới bên hông nhà tù.

    Nina ngửa đầu ra sau để ngước nhìn những ngọn tháp cao đen thẫm của pháo đài được biết đến với cái tên Cổng Địa Ngục, một nắm đấm bằng đá chọc thẳng lên từ dưới biển.

    Trước đây cô đã từng quan sát nó từ đằng xa trong cái lần cô trả tiền cho một ngư dân để được đưa tới hòn đảo.

    Tuy vậy, khi cô yêu cầu tiến đến gần hơn, ông ta từ chối.

    "Cá mập ở đó dữ lắm," ông ta đã nói như thế.

    "Bụng chúng đầy máu của đám tù nhân khổ sai."

    Nina rùng mình khi nhớ lại chi tiết đó.

    Cánh cửa mở ra.

    Một thành viên khác của băng Kim Sư dẫn Nina cùng những người còn lại vào bên trong.

    Họ đi vào một nhà bếp tối om nhưng đặc biệt sạch sẽ với nhiều thùng lớn kê dọc theo tường, nom có vẻ phù hợp với một xưởng giặt nhiều hơn.

    Gian phòng có mùi rất lạ, giống mùi giấm và lá xô thơm.

    Tựa như nhà bếp của một thương gia, Nina nghĩ bụng.

    Người Kerch tin rằng công việc đó cũng tương tự như cầu nguyện.

    Có thể vợ của các thương gia vẫn tới đây để cọ sàn nhà và cửa sổ, để vinh danh Ghezen - vị thần của công nghiệp và thương mại - với xà phòng, nước và đôi bàn tay chai sần của họ.

    Nina cố kiềm chế sự ghê tởm.

    Họ có thể cọ rửa tất cả mọi thứ họ muốn.

    Đằng sau mùi thơm này là mùi hôi thối không thể gột rửa của nấm mốc, nước tiểu và những cơ thể không được tắm rửa.

    Có lẽ phải cần một phép màu thực sự để tống khứ nó đi.

    Họ đi qua một tiền sảnh ẩm thấp.

    Nina tưởng họ sẽ tới thẳng chỗ các phòng giam, nhưng thay vào đó, họ đi qua một cánh cửa khác để ra một lối đi lát đá nối nhà tù chính với thứ giống như một toà tháp khác.

    "Chúng ta đang đi đâu vậy?"

    Cô thì thào hỏi.

    Kaz không trả lời.

    Cơn gió hất tấm mạng che của cô lên và quất hơi nước mặn vào đôi má cô.

    Khi họ bước vào cái tháp thứ hai, một bóng người hiện ra từ trong bóng tối, khiến Nina suýt nữa hét lên.

    "Inej", cô nói trong hơi thở run rẩy.

    Cô gái người Suli đeo cặp sừng và chiếc áo thụng cao cổ của Yêu tinh xám, nhưng Nina vẫn nhận ra cô.

    Không ai có thể di chuyển như thế, như thể thế giới này chỉ là sương khói và cô gái cứ thế đi qua.

    "Làm sao em tới được đây?"

    Nina thì thào hỏi Inej.

    "Em đến trước, trên một chuyến tàu chở đồ tiếp tế."

    Nina nghiến răng.

    "Có thật là mọi người ra vào nơi này như đi chơi không vậy?"

    "Mỗi tuần một lần," Inej đáp, cặp sừng tiểu yêu lắc lư theo cái gật đầu của cô gái.

    "Em nói vậy nghĩa là..."

    "Yên lặng," Kaz gằn giọng.

    "Đừng có bịt miệng tôi, Brekker," Nina khẽ rít lên.

    "Nếu đi vào Cổng

    Địa Ngục là chuyện dễ dàng như thế này thì anh..."

    "Vấn đề không phải là đi vào, mà là đi ra.

    Giờ thì im lặng và chú ý vào."

    Nina nuốt cơn giận vào trong.

    Cô phải tin tưởng Kaz để theo vụ này.

    Anh ta đã sắp xếp sao cho cô không có bất kì lựa chọn nào khác.

    Họ tiến vào một lối đi hẹp.

    Cái tháp này cho cảm giác không giống với tháp đầu tiên, nó cũ hơn, các vách tường bằng đá thô ráp đen nhẻm vì khói đuốc.

    Người dẫn đường đẩy mở một cánh cửa bằng sắt nặng nề trước khi ra dấu cho họ đi theo anh ta xuống một cầu thang dốc đứng.

    Ở đây, mùi cơ thể và mùi rác rưởi nồng hơn, chúng bị mắc kẹt bởi hơi ẩm nhớp nháp của nước biển.

    Họ đi theo cầu thang xoắn xuống phía dưới, vào trong lòng của hòn đảo đá.

    Nina vịn vào tường, cầu thang không được gắn lan can, và mặc dù không thể nhìn xuống dưới, cô sợ rằng cú ngã sẽ không dễ chịu.

    Họ không đi lâu, nhưng lúc xuống đến nơi, Nina run lẩy bẩy, các cơ bắp của cô căng cứng vì nỗ lực thì ít mà chủ yếu là vì cô biết Matthias đang ở đâu đó trong cái nơi khủng khiếp này.

    Anh ấy đang ở đây.

    Dưới mái nhà này.

    "Chúng ta đang ở đâu?" cô thì thào trong lúc họ khom người đi trong những đường hầm chật hẹp bằng đá, ngang qua những cái hốc tối tăm có lắp song sắt.

    "Đây là nhà tù cũ," Kaz đáp.

    "Khi xây cái tháp mới, họ đã bỏ mặc nơi này."

    Nina nghe thấy tiếng rên rỉ trong một xà lim nào đó.

    "Họ vẫn nhốt tù nhân ở đây sao?"

    "Chỉ những kẻ tệ nhất thôi."

    Nina nhòm qua chấn song của một xà lim trống.

    Có những cái cùm gắn vào tường, đen kịt vì han gỉ và một thứ hình như là máu.

    Xuyên qua những bức tường, một âm thanh vọng đến tai Nina.

    Tiếng thình thịch đều đặn.

    Lúc đầu, cô tưởng đó là tiếng sóng biển, nhưng rồi cô nhận ra nó có nhịp điệu.

    Họ tiến vào một đường hầm cong.

    Bên phải Nina là các buồng giam cũ, còn bên trái có ánh sáng tràn vào qua các vòm cửa so le, và cô thấy loáng thoáng phía bên ngoài một đám đông đang hò hét om sòm.

    Tay Kim Sư dẫn họ đi theo đường hầm tới cửa vòm thứ ba, nơi một lính gác nhà tù mặc đồng phục hai màu xanh - xám đang đứng gác, súng trường đeo chéo sau lưng.

    "Thêm bốn người nữa cho anh," người dẫn đường nói át tiếng đám đông, trước khi quay sang phía Kaz.

    "Nếu các người phải đi, anh ta sẽ gọi người hộ tống.

    Không ai được ra ngoài mà không có người dẫn, hiểu chưa?"

    "Tất nhiên, tất nhiên rồi, đâu ai dám mơ tưởng chuyện đó," Kaz đáp từ phía sau chiếc mặt nạ.

    "Chúc vui," tay Kim Sư nói với một nụ cười nhăn nhở.

    Người lính gác vẫy tay ra hiệu cho họ đi qua.

    Nina chui qua vòm cửa và có cảm giác như mình rơi vào một cơn ác mộng kì lạ.

    Họ đang đứng trên bậc đá trông xuống một cái hội trường thoai thoải được làm qua quýt.

    Tòa tháp đã được đục rỗng để tạo nên đấu trường này.

    Chỉ có các bức tường đen đúa của nhà tù cũ là còn sót lại.

    Mái của nó đã đổ sập hoặc bị phá huỷ từ lâu, phơi bày khoảng trời đêm trên cao đầy mây mù và không có ngôi sao nào.

    Cô có cảm giác như mình đang đứng trong cái thân rỗng hoác của một cây cổ thụ to lớn, đầy chết chóc và vọng âm.

    Xung quanh cô, những người đàn ông đeo mặt nạ và phụ nữ đeo mạng tụ tập trên các bậc đá, giậm chân hùa theo sự kiện diễn ra phía dưới.

    Các vách tường bao quanh hố thi đấu được thắp sáng bằng đuốc.

    Máu nhuộm đỏ lớp cát của sàn đấu.

    Phía trước cửa hang đen ngòm, một người đàn ông gầy gò, râu ria, tay đeo cùm đang đứng cạnh một bánh xe lớn bằng gỗ có gắn thứ gì đó giống như những hình vẽ muông thú nhỏ.

    Rõ ràng ông ta từng là một người khoẻ mạnh, nhưng giờ đây da dẻ ông ta chùng xuống, cơ bắp nhão nhoét.

    Một người trai trẻ hơn đứng cạnh ông ta, thân mình khoác chiếc áo choàng bẩn thỉu bằng bộ lông sư tử, khuôn mặt anh ta được đóng khung trong miệng của nó.

    Một cái vương miện vàng lòe loẹt được gắn vào giữa hai tai con sư tử, còn đôi mắt của nó thì bị thay thế bằng hai đồng tiền bạc.

    "Quay bánh xe đi!"

    Người trai trẻ ra lệnh.

    Ông già nhấc hai bàn tay bị cùm lên và quay mạnh bánh xe.

    Cây kim màu đỏ đập vào mép bánh xe tạo ra âm thanh tanh tách vui vẻ.

    Bánh xe quay chậm lại rồi dừng hẳn.

    Nina không nhìn ra được hình vẽ là gì, nhưng đám đông ồ lên, và đôi vai của người tù thõng xuống khi tên cai ngục tiến đến mở cùm cho ông ta.

    Người tù vứt cái cùm sang bên cạnh, và chỉ ngay giây sau Nina đã nghe thấy một tiếng gầm át cả tiếng reo hò cuồng nhiệt của đám đông.

    Người trai khoác bộ lông sư tử cùng tên cai ngục bước vội tới thang dây và được kéo lên khỏi hố đấu, trong lúc người tù nhặt một con dao nhỏ từ trong đống vũ khí đẫm máu nằm trên cát.

    Ông lùi xa nhất có thể khỏi miệng đường hầm.

    Nina chưa bao giờ trông thấy một sinh vật giống như thứ bò ra từ trong đường hầm.

    Nó là một loài bò sát có thân hình mập mạp bao phủ bởi một lớp vảy màu xanh xám, cái đầu to và bẹt, đôi mắt là hai cái khe vàng rực.

    Nó di chuyển chậm rãi bằng cách uể oải uốn mình trên mặt sàn.

    Quanh miệng con vật có một lớp vảy cứng màu trắng, và khi nó há miệng để gầm lên lần nữa, một thứ gì đó ướt, màu trắng, đầy bọt nhỏ xuống từ những chiếc răng cửa của nó.

    "Con gì vậy?"

    Nina hỏi.

    "Rinca moten" Inej đáp.

    "Một con thằn lằn sa mạc.

    Chất độc trong miệng nó có thể gây chết người."

    "Trông nó có vẻ chậm chạp."

    "Phải.

    Trông nó khá chậm."

    Người tù cầm dao xông tới.

    Con thằn lằn di chuyển nhanh đến nỗi Nina theo dõi không kịp.

    Một khắc trước người tù còn chồm lên nó, khắc sau con thằn lằn đã ở đầu bên kia của đấu trường.

    Chỉ trong giây lát, nó đã lao vào người tù, đè ông ta xuống đất.

    Người đàn ông chỉ biết la hét trong lúc chất độc từ miệng con vật nhỏ xuống mặt mình, làm khói bốc lên từ những nơi nó tiếp xúc với bề mặt da.

    Con quái vật đè bẹp người tù trong tiếng răng rắc đáng sợ và bắt đầu chậm rãi xé rách vai ông ta trong những tiếng hét đau đớn của nạn nhân.

    Đám đông huýt sáo.

    Nina quay mặt đi, không dám nhìn nữa.

    "Đây là cái gì vậy?"

    "Chào mừng đến với Đấu trường Địa Ngục," Kaz đáp.

    "Pekka Rollins đã nảy ra ý tưởng này cách đây vài năm và đề xuất nó với đúng người cần thuyết phục trong Hội đồng."

    "Hội đồng Thương buôn biết chuyện này sao?"

    "Tất nhiên là họ biết, Nina.

    Đây là chỗ kiếm tiền mà."

    Nina bấm móng vào lòng bàn tay của mình.

    Cái giọng điệu bề trên của Kaz khiến cô chỉ muốn tát cho anh ta một cái.

    Cô biết cái tên Pekka Rollins khá rõ.

    Đó là ông vua cai quản khu Barrel, chủ nhân của không chỉ một mà những hai sòng bạc -một cái sang trọng, cái kia phù hợp túi tiền đám thuỷ thủ - cùng nhiều nhà chứa cao cấp.

    Khi Nina đến Ketterdam hồi năm ngoái, cô không có bạn bè, chẳng một xu dính túi, lại xa gia đình.

    Ở tuần đầu tiên, cô lui tới các tòa án của Kerch để làm việc với những cáo buộc nhằm vào Matthias.

    Nhưng một khi đã làm chứng xong, cô bị đuổi thẳng ra Cảng số Một với khoản tiền vừa đủ để mua vé quay lại Ravka.

    Mặc dù rất muốn quay về quê hương, cô biết mình không thể để Matthias chết mòn trong tù.

    Lúc đó cô không biết phải làm gì, nhưng tin đồn về một Tâm Y mới đến Ketterdam đã nhanh chóng lan ra khắp thành.

    Người của Pekka Rollins chờ sẵn cô trên bến cảng cùng với lời hứa hẹn cung cấp cho cô sự bảo vệ và một nơi nương náu.

    Họ đưa Nina tới Cung Lục Ngọc, tại đó đích thân Pekka Rollins đã thuyết phục cô gia nhập băng Kim Sư và đề nghị cô làm việc tại Tiệm Kẹo.

    Nina gần như đã chấp thuận vì cô đang rất cần tiền và sợ đám buôn nô lệ bắt được mình, nhưng đêm hôm đó, Inej đã trèo qua cửa sổ phòng cô trên tầng thượng của Cung Lục Ngọc, mang theo lời đề nghị từ phía Kaz Brekker.

    Nina không bao giờ hiểu được làm thế nào giữa đêm tối Inej có thể trèo lên sáu tầng lầu bằng đá trơn nhẵn vì nước mưa bào mòn, nhưng các điều khoản của băng Cặn Bã đưa ra hấp dẫn hơn nhiều so với đề nghị từ phía băng Kim Sư.

    Đó là một hợp đồng mà cô có thể thanh lí trong một hoặc hai năm nếu biết dùng tiền khôn khéo.

    Và Kaz đã chọn đúng người thuyết khách cho anh - một cô gái Suli nhỏ tuổi hơn Nina vài tháng, lớn lên tại Ravka và đã trải qua một năm làm việc theo giao kèo rất tồi tệ tại Vườn Thú.

    "Em có thể nói gì về Per Haskell?"

    Đêm đó Nina đã hỏi Inej như vậy.

    "Không nhiều," Inej đã thừa nhận như thế.

    "Ông ta không tốt hơn cũng chẳng tệ hơn hầu hết các ông trùm ở Barrel."

    "Thế còn Kaz Brekker?"

    "Một kẻ nói dối, đầu trộm đuôi cướp và không có lương tâm.

    Nhưng anh ta sẽ tôn trọng thỏa thuận đạt được với chị."

    Nina đã nhận ra sự quả quyết trong giọng nói của Inej.

    "Anh ta đã giải phóng em khỏi Vườn Thú à?"

    "Ở Barrel không tồn tại tự do, chỉ có những điều khoản tốt thôi.

    Các cô gái của Dì Heleen không bao giờ kiếm nổi đủ tiền để thanh lí hợp đồng.

    Bà ta làm mọi cách để họ không thể.

    Bà ta..."

    Inej nói đến đó thì lạc giọng, và Nina có thể cảm thấy nỗi uất hận trào dâng trong lòng cô gái Suli.

    "Kaz đã thuyết phục Per Haskell chuộc lại em.

    Nếu không thì em đã bỏ xác trong Vườn Thú."

    "Em vẫn có thể chết trong băng Cặn Bã."

    Đôi mắt đen của Inej long lên.

    "Có thể, nhưng em sẽ chết trên đôi chân mình với một con dao trong tay."

    Sáng hôm sau, Inej đã giúp Nina trốn ra khỏi Cung Lục Ngọc.

    Họ gặp Kaz Brekker, để rồi bất chấp cung cách lạnh lùng cùng đôi găng tay kì quặc của Kaz, Nina đồng ý gia nhập Cặn Bã và làm việc ở Nhà Hồng Bạch.

    Chưa đầy hai ngày sau, một cô gái thiệt mạng tại Tiệm Kẹo do bị siết cổ ngay trên giường bởi một khách hàng mặc cải trang làm Ngài Đỏ tham.

    Hung thủ không bao giờ được tìm thấy.

    Nina đã tin tưởng Inej và chưa từng hối tiếc về điều đó, mặc dù lúc này cô cảm thấy giận tất cả mọi người.

    Cô trông thấy một nhóm Kim Sư dùng giáo nhọn chọc vào con thằn lằn sa mạc.

    Có vẻ như con thú đã thoả mãn sau bữa ăn và để cho người ta lùa mình trở vào trong đường hầm, thân hình nó lắc lư qua lại một cách lười biếng.

    Đám đông tiếp tục la ó trong lúc đám cai ngục vào trong đấu trường để đem phần thi thể còn lại của người tù đi.

    Những sợi khói vẫn còn bốc lên từ da thịt của ông ta.

    "Sao bọn họ lại phàn nàn?"

    Nina tức giận hỏi.

    "Không phải họ tới đây vì chuyện này hay sao?"

    "Họ muốn xem một trận chiến," Kaz đáp.

    "Họ chờ đợi ông ta cầm cự lâu hơn."

    "Chuyện này thật kinh khủng."

    Kaz nhún vai.

    "Điều kinh khủng duy nhất ở đây là tôi đã không nghĩ ra nó trước."

    "Những người này không phải là nô lệ, Kaz.

    Họ là tù nhân."

    "Họ là phường sát nhân và hãm hiếp."

    "Cùng trộm cướp và lừa đảo.

    Giống như những người của anh"

    "Nina, yên nào, họ không bị ép buộc chiến đấu.

    Họ tự nguyện thử vận may.

    Họ sẽ được ăn ngon hơn, được ở phòng riêng, uống rượu, xài jurda, được gặp các cô gái đến từ Tây Stave."

    Muzzen bẻ khớp ngón tay.

    "Nghe chừng có vẻ tốt hơn Thanh Gỗ."

    Nina quan sát đám đông la hét và những gã ghi cược đang đi dọc theo

    các lối đi.

    Các tù nhân ở đây tự nguyện thật hay không chưa biết, nhưng Pekka Rollins thì kiếm tiền thật.

    "Helvar không...

    Helvar không tham gia cái trò chiến đấu này, đúng không?"

    "Chúng ta đến đây không phải để chơi," Kaz đáp.

    Thật quá đáng.

    "Anh có biết tôi chỉ cần vẫy ngón tay là anh sẽ bĩnh ra quần không hả?"

    "Bình tĩnh nào, Độc Tâm Y.

    Tôi thích cái quần này.

    Ngoài ra, nếu cô nghịch dại với các cơ quan trong cơ thể tôi, Matthias Helvar sẽ không có cơ hội nhìn thấy mặt trời trở lại."

    Nina thở hắt ra và trừng mắt.

    "Chị Nina..."

    Inej thì thào.

    "Đừng có nói gì hết."

    "Chuyện này rồi sẽ suôn sẻ.

    Hãy để Kaz thể hiện khả năng của anh ấy."

    "Anh ta thật tồi tệ."

    "Nhưng hiệu quả.

    Tức giận Kaz vì anh ấy nhẫn tâm cũng giống như bực bội cái lò vì nó nóng.

    Chị thừa biết điều đó mà."

    Nina khoanh tay lại.

    "Tôi bực cả cô nữa đấy."

    "Em á?

    Tại sao?"

    "Tôi chưa rõ.

    Cứ bực vậy thôi."

    Inej siết tay Nina, và sau một lúc, Nina siết tay đáp lại.

    Cô ngồi xem hai trận đấu tiếp theo trong sự kinh hoàng, cô tự thuyết phục rằng mình đã sẵn sàng cho việc trông thấy anh trong cái nơi rùng rợn này.

    Xét cho cùng, cô là một Grisha, một binh sĩ Hạ Quân.

    Cô đã từng thấy những thứ còn tồi tệ hơn.

    Nhưng khi Matthias hiện ra từ trong đường hầm, Nina biết mình đã nhầm, cô lập tức nhận ra anh.

    Suốt một năm qua, đêm nào cô cũng đi ngủ với khuôn mặt anh trong tâm tưởng.

    Đôi lông mày ánh vàng, vết sẹo trên má anh đúng là không lẫn vào đâu được.

    Nhưng Kaz đã không nói dối: Matthias thay đổi quá nhiều.

    Con người đang quan sát đám đông bằng ánh mắt thịnh nộ kia là một kẻ xa lạ với cô.

    Nina còn nhớ lần đầu tiên trông thấy Matthias là trong một khu rừng trên đảo Wandering, dưới ánh trăng sáng vằng vặc.

    Vẻ đẹp của anh nằm ngoài mọi thang đo đối với cô.

    Ở một kiếp sống khác, cô có thể tin rằng anh đến để cứu cô, vị cứu tinh với mái tóc vàng và đôi mắt màu xanh nhạt của những con sông băng phương bắc ấy.

    Nhưng cô nhận ra sự thật về anh qua ngôn ngữ anh nói, và qua vẻ kinh tởm trên gương mặt anh mỗi khi anh nhìn cô.

    Matthias Helvar là một drüskelle, thợ săn phù thuỷ người Fjerda với nhiệm vụ truy lùng các Grisha để xử tội họ, mặc dù với cô, anh luôn giống với một chiến binh thần thánh, rạng rỡ ánh vàng.

    Giờ đây, trông anh đúng như bản chất: một sát thủ.

    Bộ ngực trần được đúc bằng thép.

    Anh có vẻ to lớn hơn, như thể cấu trúc cơ thể của anh đã thay đổi.

    Làn da anh từng có màu như mật ong, giờ trắng như bụng cá phía sau lớp cáu bẩn.

    Còn mái tóc... anh từng có một mái tóc tuyệt đẹp, dày và màu vàng nâu, để dài như các chiến binh Fjerda.

    Giờ đây, giống như những tù nhân khác, đầu anh bị cạo trọc, có lẽ là để ngừa chấy.

    Tay quản ngục phụ trách chuyện đó rõ ràng đã làm rất tệ.

    Ngay cả nhìn từ khoảng cách xa như thế này, cô cũng có thể thấy rõ các vết đứt, vết cứa trên da đầu anh, cùng những vệt tóc vàng loe ngoe còn sót lại ở những nơi lưỡi dao cạo bỏ sót.

    Thế nhưng, anh vẫn cứ đẹp.

    Anh quắc mắt nhìn đám đông và xoay mạnh bánh xe khiến nó tưởng như sắp văng ra khỏi trục.

    Tách tách tách tách.

    Rắn.

    Cọp.

    Gấu.

    Heo.

    Bánh xe quay một cách vui vẻ, trước khi chậm dần và dừng lại.

    "Không," Nina thốt lên khi cô trông thấy chỗ cái kim chỉ vào.

    "Nó có thể còn tệ hơn," Muzzen nói.

    "Có thể rơi vào con thằn lằn sa mạc một lần nữa."

    Nina tóm lấy cánh tay của Kaz và cảm thấy cơ bắp của anh căng lên dưới lớp vải áo.

    "Anh phải dừng chuyện này lại."

    "Buông tôi ra, Nina."

    Kaz đáp khẽ với chất giọng khàn của mình, nhưng cô có thể cảm nhận được sự đe dọa thực sự trong đó.

    Cô buông tay anh ra.

    "Làm ơn đi, anh không hiểu đâu.

    Anh ấy..."

    "Nếu Matthias Helvar sống sót, tôi sẽ đưa anh ta rời khỏi nơi này ngay đêm nay.

    Nhưng trận đấu này là phần việc của anh ta."

    Nina lắc đầu quầy quậy.

    "Anh không hiểu đâu."

    Ngay khi sợi xích rơi xuống mặt cát, tên cai ngục tháo cùm cho Matthias và tót lên chiếc thang cùng với gã hoạt náo viên để được đưa lên chỗ an toàn.

    Đám đông giậm chân la hét, nhưng Matthias đứng im không nhúc nhích, ngay cả khi cánh cửa mở toang và lũ sói bước ra khỏi đường hầm.

    Ba con sói gầm gừ đớp gió, chen nhau lao tới chỗ anh.

    Vào đúng giây cuối cùng, Matthias thụp xuống, đấm văng con sói đầu tiên, đoạn lăn tròn người tới nhặt con dao dính máu mà người tù trước đã bỏ lại trên cát.

    Anh đứng bật dậy, lưỡi dao giơ ra trước, nhưng Nina có thể cảm thấy sự lưỡng lự của anh.

    Đầu anh hơi nghiêng, trong đôi mắt xanh của anh có sự khẩn cầu, như thể anh tìm cách thương lượng với hai con sói đang vây quanh mình.

    Nhưng dù là gì thì lời cầu xin đó cũng không được lắng nghe.

    Con sói phía bên phải xông tới.

    Matthias khom xuống rồi xoay người, thọc dao vào bụng nó.

    Con thú kêu ăng ẳng đau đớn, và hình như anh rùng mình vì âm thanh đó.

    Con sói thứ ba lao vào Matthias, đè anh xuống cát.

    Nó cắn vào vai anh.

    Matthias vật lộn với con thú.

    Hàm răng của nó bập lại, nhưng anh đã lấy hai tay tóm lấy, tách chúng ra.

    Cơ cánh tay anh căng lên, khuôn mặt anh nhăn lại.

    Nina nhắm nghiền mắt.

    Một tiếng rắc rợn người vang lên.

    Đám đông hú hét.

    Matthias đang quỳ trước con sói.

    Với cái hàm bị bẻ gãy, con thú đang nằm trên cát, giãy giụa trong đau đớn.

    Anh vớ lấy một hòn đá rồi đập mạnh vào đầu con thú tội nghiệp.

    Nó nằm im.

    Đôi vai Matthias chùng xuống.

    Mọi người la hét và giậm chân, chỉ có Nina biết điều này có ý nghĩa thế nào với anh.

    Bởi anh là một drüskelle.

    Loài sói rất thiêng liêng đối với những người như anh, chúng được nuôi để chiến đấu như những con ngựa to lớn của họ.

    Vừa đồng hành vừa bầu bạn, sói chiến đấu bên cạnh những người chủ của chúng.

    Con sói đầu tiên đã đứng dậy và đang đảo quanh.

    Di chuyển đi, Matthias, cô tuyệt vọng gọi thầm.

    Anh đứng lên, nhưng cử động của anh chậm chạp và mệt mỏi.

    Anh không để tâm vào trận chiến này.

    Đối thủ của anh là những con sói xám hung hăng và hoang dã, anh em của loài sói trắng ở phía bắc Fjerda.

    Matthias chỉ có hòn đá đẫm máu trong tay, trong khi con sói còn lại đang chắn giữa anh và đống vũ khí.

    Nó hạ thấp đầu, nhe răng ra.

    Matthias lao sang trái.

    Con sói xông tới, cắn vào sườn anh.

    Anh gầm lên và ngã xuống đất.

    Trong một thoáng Nina đã nghĩ anh sẽ bỏ cuộc và để cho con thú kết liễu mình.

    Nhưng rồi anh vươn tay ra mò tìm gì đó trên cát.

    Những ngón tay anh siết lại quanh sợi xích mà lính gác đã dùng để cùm anh.

    Matthias tròng sợi xích qua cổ con sói và kéo mạnh, những mạch máu trên cổ anh phồng lên do gắng sức.

    Khuôn mặt máu me của anh áp sát vào diềm lông cổ của con sói, mắt anh nhắm chặt, và Nina thấy môi anh mấp máy.

    Anh nói điều gì?

    Một lời cầu nguyện của drüskelle chăng?

    Hay một lời vĩnh biệt?

    Hai chân sau của con sói cào vào lớp cát.

    Mắt nó trợn ngược, trắng dã trên lớp lông xám.

    Một tiếng rít bật ra từ lồng ngực của nó.

    Và rồi mọi chuyện kết thúc.

    Con thú không cử động nữa.

    Cả hai đối thủ đều nằm bất động trên cát.

    Matthias nhắm mắt, khuôn mặt anh vẫn vùi trong lớp lông của con thú.

    Đám đông cuồng nhiệt cổ vũ.

    Cái thang được hạ xuống, và gã hoạt náo viên nhảy ra, xốc Matthias đứng dậy, đoạn nắm lấy cổ tay anh giơ lên cao để công bố người chiến thắng.

    Gã huých nhẹ vào người Matthias, khiến anh ngẩng đầu lên.

    Nước mắt quyện với bụi bẩn lấm lem trên khuôn mặt anh.

    Vẻ dữ tợn đã biến mất, và dường như một ngọn lửa đã tắt cùng với nó.

    Nina chưa bao giờ thấy đôi mắt anh lạnh lẽo như vậy, chúng hoàn toàn vô cảm, không có một chút nhân tính nào.

    Đây chính là điều mà Cổng Địa Ngục đã gây ra cho anh.

    Và nó là lỗi của cô.

    Các cai ngục tiến đến chỗ Matthias, gỡ sợi xích ra khỏi cổ con sói và cùm anh lại.

    Trong lúc anh bị giải đi, đám đông kêu la phản đối: "Nữa đi!

    Nữa đi!"

    "Bọn chúng đưa anh ấy đi đâu vậy?"

    Nina hỏi với giọng run run.

    "Tới buồng giam sau trận đâu," Kaz đáp.

    "Ai sẽ chăm sóc vết thương cho anh ấy?"

    "Bọn họ có thầy lang.

    Chúng ta phải chờ đến khi Matthias ở một mình."

    Mình có thể trị thương cho anh ấy, Nina nghĩ thầm.

    Nhưng một giọng nói khác đã vang lên trong đầu cô, đen tối hơn, và đầy chế giễu.

    Không ngờ mày ngu xuẩn đến thế, Nina.

    Không một Thiện Tâm Y nào có thể cứu chữa anh ta.

    Chính mày đã xoá đi khả năng đó.

    Nina tưởng như không thể chịu nổi nữa trong lúc từng phút trôi qua.

    Những người còn lại xem trận đấu kế tiếp: Muzzen say sưa theo dõi, vừa bẻ ngón tay vừa dự đoán kết quả; Inej ngồi im lặng như một bức tượng; Kaz thì vẫn khó hiểu như mọi khi và đang tính toán gì đó sau chiếc mặt nạ gớm ghiếc.

    Nina thở chậm lại, cô trấn tĩnh bản thân, nhưng không tài nào dẹp yên được cơn bão trong lòng mình.

    Cuối cùng, Kaz huých khẽ cô một cái.

    "Sẵn sàng chưa, Nina?

    Tay lính gác trước nhé."

    Cô liếc nhìn tay lính gác đang đứng dưới vòm cửa.

    "Mức độ?"

    Đó là một lối nói của dân Barrel khi cần hỏi xem mình phải ra tay tới mức độ nào.

    "Nhắm mắt."

    Làm hắn bất tỉnh, nhưng không được làm hắn bị thương.

    Họ đi theo Kaz tới chỗ cái cửa vòm ban nãy.

    Đám đông hầu như không để ý tới họ vì còn mải theo dõi trận đấu phía dưới.

    "Cần hộ tống à?"

    Tay lính gác hỏi khi nhóm người đến gần.

    "Tôi có câu này muốn hỏi," Kaz nói.

    Bên dưới tấm áo choàng, Nina giơ hai bàn tay lên, cảm nhận dòng máu chảy trong huyết quản của tên lính gác, cũng như hai lá phổi của anh ta.

    "Không biết các tin đồn về mẹ anh có đúng không nhỉ."

    Nina cảm thấy mạch đập của tay lính gác tăng lên, và thở dài.

    "Anh không thể làm cho mọi việc dễ đi hay sao, hả Kaz?"

    Tay lính gác bước tới trước, giương súng lên.

    "Hai người nói gì vậy?

    Tôi..."

    Mi mắt anh ta sụp xuống.

    "Các người không th..."

    Nina làm nhịp tim anh ta chậm lại đột ngột, và anh ta ngã chúi.

    Muzzen đỡ lấy tay lính gác trước khi anh ta ngã xuống đất, trong lúc Inej quấn anh ta trong cái áo choàng của Kaz.

    Nina không mấy ngạc nhiên khi thấy anh đã mặc sẵn bộ đồng phục của cai ngục phía bên trong áo choàng.

    "Anh không thể hỏi giờ hay gì đó được à?"

    Cô trách móc.

    "Mà anh kiếm đâu ra bộ đồng phục này vậy?"

    Inej chụp cái mặt nạ Gã điên vào mặt của tay lính gác, rồi Muzzen quàng tay quanh anh ta, làm như thể đang dìu người say rượu.

    Họ đặt anh ta xuống một băng ghế kê sát bức tường phía cuối hội trường.

    Kaz vuốt lại ống tay áo đồng phục của mình.

    "Nina à, mọi người hay nhượng bộ những gã đàn ông trong bộ cánh đẹp.

    Tôi có đồng phục của thị tuần, cảnh sát cảng, cũng như chế phục của mọi gia đình thương gia trên phố Geldstraat.

    Đi thôi."

    Họ quay lại lối đi ban nãy, nhưng thay vì đi ngược lại, họ di chuyển theo hướng ngược chiều kim đồng hồ quanh tòa tháp cũ.

    Phía bên trái họ, các bức tường của đấu trường rung rinh theo tiếng reo hò và những cái giậm chân.

    Những tên lính gác ở các vòm cửa chỉ liếc nhìn họ, vài gã gật đầu với Kaz trong lúc anh rảo bước thật nhanh, cằm vùi vào cổ áo.

    Mải suy nghĩ, Nina suýt nữa không để ý khi Kaz giơ một bàn tay lên để cả nhóm giảm tốc độ.

    Họ vừa đi vòng qua một khúc cua nằm giữa hai cửa vòm và đang ở trong bóng tối.

    Phía trước, một thầy lang vừa bước ra khỏi một buồng giam cùng với những tên lính gác, một trong số đó xách đèn lồng.

    "Anh ta sẽ ngủ đến hết đêm," ông thầy lang nói.

    "Sáng mai nhất định phải cho anh ta uống gì đó, và kiểm tra đồng tử của anh ta.

    Tôi đã cho anh ta một liều thuốc ngủ mạnh."

    Trong khi ông ta và những tên lính gác đi về hướng ngược lại, Kaz ra hiệu cho nhóm của mình đi tiếp, cánh cửa gắn vào đá được làm bằng sắt đặc, chỉ có một cái khe nhỏ để đưa đồ ăn cho tù nhân.

    Kaz cúi người xuống lỗ khoá.

    Nina quan sát cánh cửa.

    "Chỗ này thật ghê rợn."

    "Hầu hết các đấu sĩ giỏi ngủ ở toà tháp cũ," Kaz đáp.

    "Họ được cách li với các tù nhân còn lại."

    Nina liếc nhìn sang bên trái rồi bên phải, nơi ánh sáng lọt ra ngoài qua những lối cửa ra vào đấu trường.

    Đám lính canh đứng ở mấy chỗ đó có thể đang lơ đãng, nhưng chỉ cần một người quay đầu là tiêu.

    Nếu họ bị bắt gặp, liệu đám cai ngục có mất công giao nộp họ cho đội thị tuần để xét xử, hay chỉ đơn giản là tống họ vào sàn đấu làm mồi cho cọp xơi?

    Biết đâu là con gì đó kém cao sang hơn, cô nghĩ bụng.

    Một bầy chuột cống chẳng hạn.

    Chỉ trong giây lát Kaz đã phá được khóa.

    Cánh cửa nghiến kèn kẹt mở ra và cả bọn tiến vào trong.

    Buồng giam tối như hũ nút.

    Quầng sáng xanh từ một cái đèn xương lập tức xuất hiện bên cạnh Nina.

    Inej giơ quả cầu thuỷ tinh nhỏ lên cao.

    Thứ đựng bên trong được làm từ xác khô nghiền nhỏ của các loài cá phát sáng dưới biển sâu.

    Đèn xương rất phổ biến trong giới giang hồ của khu Barrel, những kẻ không muốn bị mắc kẹt trong các ngõ hẻm tối, nhưng không thể mang theo đèn lồng vướng víu.

    Ít nhất nó cũng sạch sẽ, Nina nghĩ thầm trong lúc đôi mắt cô điều chỉnh với ánh sáng.

    Trống rỗng và lạnh lẽo, nhưng không bẩn thỉu.

    Nina trông thấy một tấm nệm làm từ những cái mền đắp cho ngựa cùng với hai chiếc xô để sát tường.

    Trên miệng của một chiếc xô có vắt một miếng giẻ đẫm máu.

    Ra đây là thứ mà các phạm nhân ở cổng Địa Ngục chiến đấu để có được: buồng giam riêng, nệm, nước sạch và xô để đi vệ sinh.

    Matthias đang nằm ngủ quay lưng vào tường.

    Ngay cả dưới thứ ánh sáng mờ tối của chiếc đèn xương, cô cũng có thể thấy mặt của anh bắt đầu sưng to.

    Một loại thuốc mỡ nào đó đã được bôi vào các vết thương của anh.

    Cao hoa cúc.

    Cô nhận ra mùi của nó.

    Nina dợm đi đến chỗ Matthias, nhưng Kaz đã nắm tay cô giữ lại.

    "Để Inej đánh giá vết thương."

    "Tôi có thể..."

    "Tôi cần cô tập trung vào Muzzen."

    Inej ném cho Kaz cây gậy chống đầu quạ mà cô đã giấu bên trong bộ trang phục Yêu tinh Xám, trước khi cầm đèn quỳ xuống bên cạnh Matthias.

    Muzzen bước tới.

    Anh ta cởi áo, tháo mặt nạ.

    Đầu anh ta đã cạo trọc, và bên trong lớp đồ cải trang, anh ta đã mặc sẵn chiếc quần dài của tù nhân.

    Nina nhìn Matthias, rồi lại nhìn Muzzen, cố gắng hiểu ý đồ của Kaz.

    Hai thanh niên có cùng chiều cao và vóc dáng, nhưng sự giống nhau chỉ dừng lại ở đó.

    "Anh không thể nào để cho Muzzen thế chỗ Matthias được."

    "Muzzen không đến đây để chơi," Kaz đáp.

    "Cô cần phải tái hiện các

    vết thương của Helvar trên cơ thể Muzzen.

    Inej, liệt kê ra xem nào?"

    "Đốt ngón tay bầm tím, răng mẻ, hai dẻ sườn bị gãy," Inej đáp.

    "Thứ ba và thứ tư bên trái."

    "Bên trái của anh ta hay của cô?"

    Kaz hỏi lại.

    "Bên trái của anh ta."

    "Chuyện này không được đâu," Nina nói với giọng buông xuôi.

    "Tôi có thể tái hiện các vết thương của Matthias, nhưng tôi không phải là một Thợ May đủ giỏi để làm cho Muzzen trông giống như anh ấy."

    "Cứ tin ở tôi, Nina."

    "Tôi thậm chí còn không tin anh sẽ buộc lại giày giúp tôi mà không xoáy mất dây đấy, Kaz."

    Nina quan sát khuôn mặt của Muzzen.

    "Ngay cả tôi có làm cho mặt Muzzen sưng lên thì anh ta cũng vẫn bị nhận ra thôi."

    "Đêm nay, Matthias Helvar, hay đúng hơn là Muzzen thân mến của chúng ta, sẽ bị mắc hoả đậu, hay còn gọi là sốt dịch chó sói.

    Sáng ngày mai, khi cai ngục phát hiện ra cơ thể anh ta có nhiều mụn mủ tới mức không thể nhận dạng, anh ta sẽ bị cách li một tháng để chặn đứng nguồn lây nhiễm và xem liệu anh ta có qua khỏi hay không.

    Trong khoảng thời gian đó, Matthias sẽ đi cùng chúng ta.

    Cô hiểu chưa?"

    "Anh muốn tôi làm xuất hiện các nốt hoả đậu trên cơ thể Muzzen á?"

    "Phải, và cô phải làm nhanh lên, vì trong vòng mười phút nữa, mọi thứ quanh đây sẽ trở nên rất lộn xộn."

    Nina nhìn Kaz chằm chằm.

    Anh ta định làm gì đây?

    "Dù tôi có làm gì với Muzzen thì nó cũng không thể tồn tại cả tháng trời được.

    Tôi không thể làm cho anh ta sốt hoài được."

    "Người của tôi ở trạm xá sẽ thu xếp chuyện đó.

    Chúng ta chỉ cần làm

    sao cho Muzzen vượt qua được sự chẩn đoán của thầy lang.

    Giờ thì bắt tay vào việc đi."

    Nina nhìn Muzzen từ trên xuống dưới.

    "Chuyện này sẽ làm anh đau đớn như thể chính anh đã đấu trận vừa rồi," cô cảnh báo.

    Anh chàng nhăn mặt, chuẩn bị tinh thần để đón nhận cơn đau.

    "Tôi chịu được."

    Nina đảo mắt rồi giơ hai tay lên, tập trung.

    Cô chém bàn tay phải vào bàn tay trái, bẻ gãy hai chiếc xương sườn của Muzzen.

    Anh chàng hự một tiếng và gập người lại.

    "Giỏi lắm," Kaz nói.

    "Anh đúng là một nhà vô địch.

    Tiếp theo là các đốt ngón tay, rồi tới khuôn mặt."

    Nina tạo ra các vết rách và bầm tím trên cánh tay cũng như các đốt ngón tay của Muzzen, theo đúng như miêu tả của Inej.

    "Tôi chưa bao giờ lại gần xem xét một ca bệnh hoả đậu nào," Nina nói.

    Đúng là cô chỉ quen thuộc với các hình ảnh minh hoạ được sử dụng trong lớp giải phẫu học ở Tiểu Điện.

    "Vậy hôm nay là ngày may mắn của cô rồi," Kaz đáp một cách dứt khoát.

    "Nhanh tay lên nào."

    Dựa vào trí nhớ, Nina tạo ra những vết sưng và nốt mủ trên da mặt và ngực của Muzzen, cho đến khi mọi người không thể nhận ra anh ta được nữa.

    Anh chàng to xác rên lên.

    "Sao anh lại chấp nhận làm chuyện này?"

    Nina thì thầm hỏi Muzzen.

    Lớp da thịt căng phồng trên khuôn mặt anh chàng nhúc nhích, có lẽ anh đang cố mỉm cười.

    "Tiền công hậu hĩnh," Muzzen nói một cách khó nhọc.

    Nina thở dài.

    Tiền đúng là động cơ duy nhất của con người ta tại Barrel.

    "Đủ hậu hĩnh để anh chấp nhận bị giam một tháng trong này sao?"

    Kaz gõ cây gậy chống xuống sàn.

    "Đừng có gây rắc rối nữa.

    Nina.

    Nếu Helvar hợp tác, cả anh ta lẫn Muzzen sẽ được tự do ngay khi phi vụ này hoàn thành."

    "Nếu anh ấy không chịu thì sao?"

    "Thì anh ta sẽ bị tống giam trở lại, còn Muzzen vẫn được tiền.

    Và tôi sẽ đưa Muzzen đi ăn sáng ở Kooperom."

    "Tôi có được ăn bánh waffle không?"

    Muzzen lí nhí hỏi.

    "Tất cả chúng ta sẽ ăn waffle, và uống whiskey.

    Nếu phi vụ này thất bại, sẽ không ai muốn lảng vảng quanh tôi lúc tôi tỉnh táo đâu.

    Xong chưa, Nina?"

    Cô gật đầu, và Inej bắt tay vào băng bó cho Muzzen để làm anh giống như Matthias.

    "Được rồi," Kaz đáp.

    "Đánh thức Helvar dậy đi."

    Nina khom xuống bên cạnh Matthias trong khi Kaz đứng gần đó, tay cầm chiếc đèn xương.

    Ngay cả trong lúc ngủ, khuôn mặt của Matthias vẫn cau lại, trán anh nhăn tít.

    Cô lướt ngón tay trên quai hàm sứt sẹo của anh, cố cưỡng lại mong muốn nấn ná ở đó lâu hơn.

    "Không cần làm mặt đâu, Nina.

    Tôi cần anh ta di chuyển được, chứ không cần xinh xẻo.

    Trị thương cho anh ta nhanh lên, lúc này chỉ cần làm đủ để anh ta đi được.

    Khoẻ quá thì anh ta lại gây rắc rối cho chúng ta."

    Nina kéo tấm mền ra và bắt tay vào việc.

    Chỉ là một cơ thể như những người khác thôi mà, cô tự nhủ.

    Cô thường xuyên nhận được yêu cầu của

    Kaz vào giờ khuya khoắt để điều trị cho các thành viên băng Cặn Bã bị thương, những người mà anh không muốn đưa tới gặp các thầy lang hợp pháp: các cô gái bị đâm, những cậu trai bị gãy chân hoặc trúng đạn, nạn nhân của một vụ đụng độ với đội thị tuần hoặc băng đảng khác.

    Cứ coi như đây là Muzzen, cô tự dặn lòng.

    Hoặc Bolliger Bự, hoặc một kẻ nào khác.

    Mày không biết chàng trai này và đó là sự thực.

    Chàng trai mà cô từng biết có thể là cỗ máy chém, nhưng có gì đó mới mẻ đã được gắn lên đó.

    Cô khẽ chạm vào vai anh.

    "Helvar," cô gọi.

    Anh không đáp.

    "Matthias."

    Cổ họng Nina nghẹn lại, và cô cảm thấy nước mắt mình sắp rơi.

    Cô hôn lên thái dương của anh.

    Cô biết Kaz cùng những người còn lại đang quan sát, và cô đang tự biến mình thành trò cười.

    Nhưng sau bao nhiêu tháng ngày, giờ anh đã lại hiện diện trước mặt cô, với cơ thể mang đây thương tích.

    "Matthias," cô lặp lại.

    "Nina?"

    Giọng nói của anh khàn khàn, nhưng vẫn dễ thương như ngày nào.

    "Thánh thần ơi, Matthias."

    Nina thì thân.

    "Thức dậy đi anh."

    Anh khó nhọc mở đôi mắt màu xanh nhạt.

    "Nina," Matthias nói khẽ.

    Những đốt ngón tay của anh vuốt ve má cô, bàn tay chai sần của anh ngập ngừng đỡ lấy khuôn mặt cô, trong sự ngỡ ngàng.

    "Nina?"

    Mắt cô đây lệ.

    "Suyt, Matthias.

    Chúng tôi tới đây để đưa anh ra."

    Trước khi Nina kịp chớp mắt, Matthias đã chộp lấy vai cô và đè nghiến cô xuống sàn.

    "Nina," anh gằn giọng.

    Những ngón tay anh siết lại quanh cổ cô.
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Hai: Đầy Tớ & Đòn Bấy 7-11


    7

    MATTHIAS

    Matthias lại mơ.

    Mơ thấy cô.

    Anh săn đuổi cô trong mọi giấc mơ của mình, có khi trên đồng cỏ đầu xuân xanh tươi, nhưng thường là trên cánh đồng băng tuyết, vừa đuổi vừa tránh các tảng đá và khe nứt bằng những bước chân chính xác.

    Anh luôn truy ra và tóm được cô.

    Trong những giấc mơ đẹp, anh quật cô xuống đất và siết cổ cô, chứng kiến sự sống rời bỏ đôi mắt cô với trái tim đầy hận thù.

    Rốt cuộc, rốt cuộc.

    Trong những giấc mơ tồi tệ, anh hôn cô.

    Trong những giấc mơ ấy, cô không chống lại anh.

    Cô cười như thể đó chỉ là trò chơi cút bắt, như thể cô biết anh sẽ bắt được cô, như thể cô muốn anh làm được, và cô sẽ không ở đâu khác ngoại trừ bên dưới anh.

    Cô nồng nhiệt và hoàn hảo trong vòng tay anh.

    Anh hôn cô, vùi mặt mình vào hõm cổ của cô.

    Những lọn tóc xoăn của cô cù vào má anh, và anh cảm thấy giá như mình có thể ôm cô lâu hơn một chút thì mọi vết thương, mọi nỗi đau, mọi điều tồi tệ đều sẽ tan biến.

    "Matthias," cô sẽ thì thầm như thế, tên anh vang lên thật ngọt ngào từ đầu môi cô.

    Đó là những giấc mơ tệ hại nhất, và khi tỉnh lại, anh căm ghét bản thân cũng nhiều như anh thù ghét cô.

    Việc biết được anh có thể tự phản bội chính mình, phản bội đất nước mình dù chỉ là trong giấc mơ, việc nhận ra rằng, sau tất cả những gì cô đã làm, một phần trong anh vẫn khao khát cô...

    điều đó thật quá sức chịu đựng.

    Đêm nay lại là một giấc mơ tồi tệ, rất tồi tệ.

    Cô khoác trên mình bộ

    váy lụa xanh, thứ trang phục sang trọng nhất mà anh từng thấy cô mặc.

    Mạng che mặt mỏng được gài trên mái tóc cô, ánh đèn xương lọt qua đó như qua một màn mưa.

    Djel, cô thơm quá.

    Mùi ẩm mốc vẫn còn đó, nhưng có cả hương thơm nữa.

    Nina thích sự hào nhoáng, và mùi hương này rất đắt tiền - hoa hồng và một thứ gì đó khác mà dường như cái mũi tiện dân của anh không thể nhận ra được.

    Cô áp đôi môi mềm vào thái dương anh, và anh dám thề là cô đang khóc.

    "Matthias."

    "Nina," anh thốt lên.

    "Thánh thần ơi, Matthias."

    Cô thì thầm.

    "Thức dậy đi anh."

    Anh bừng tỉnh, và anh biết mình đã hoá điên, vì cô đang ở đây, trong buồng giam của anh.

    Cô đang quỳ cạnh anh, bàn tay cô tì vào ngực anh.

    "Matthias, làm ơn."

    Trong giọng nói của cô có sự khẩn khoản.

    Anh đã từng mơ thấy điều này.

    Có khi cô cầu xin sự thương hại của anh.

    Có khi cô cầu xin những điều khác.

    Anh giơ tay lên và chạm vào mặt cô.

    Cô có làn da rất mềm mại.

    Anh từng cười vào mặt cô vì chuyện này.

    Không một chiến binh thực thụ nào lại có làn da như thế, anh đã nói với cô như vậy.

    Được chăm sóc, được chiều chuộng.

    Anh đã chế giễu sự hấp dẫn của cơ thể cô và xấu hổ với phản ứng của cơ thể mình trước nó.

    Anh áp tay vào đôi má ấm áp của cô, cảm nhận sự vuốt ve nhẹ nhàng của mái tóc cô.

    Đáng yêu quá.

    Thực quá.

    Không thể nào.

    Rồi anh nhận ra lớp băng gạc đẫm máu trên tay mình.

    Cơn đau ập đến khi anh tỉnh lại - nơi xương sườn, nơi đốt ngón tay.

    Một cái răng của anh đã bị mẻ.

    Anh không dám chắc là khi nào, nhưng có một lúc lưỡi anh đã bị nó cứa vào.

    Miệng anh vẫn đầy vị tanh của máu.

    Bầy sói.

    Bọn chúng đã bắt anh giết hại những con sói.

    Anh sực tỉnh.

    "Nina?"

    Những giọt lệ dâng đầy trong đôi mắt xanh lục xinh đẹp của cô.

    Cô không có quyền khóc, không có quyền thương xót.

    "Suỵt, Matthias.

    Chúng tôi tới đây để đưa anh ra."

    Chuyện này là thế nào?

    Một sự tàn ác mới hay sao?

    Anh chỉ vừa mới học được cách sống sót tại cái nơi quỷ quái này, vậy mà giờ đây cô lại xuất hiện để giáng xuống đầu anh một sự tra tấn mới.

    Anh lao tới, quật cô xuống đất và đè hai đầu gối lên hai cánh tay cô, dùng đôi tay mình siết cổ cô.

    Anh thừa biết nếu để hai cánh tay cô tự do thì Nina sẽ cực kì nguy hiểm.

    "Nina," anh rít lên.

    Cô bấu lấy đôi bàn tay của anh.

    "Đồ phù thuỷ," anh nghiến răng, cúi xuống.

    Anh trông thấy mắt cô mở to, khuôn mặt cô ửng đỏ vì tụ máu.

    "Cầu xin ta đi.

    Cầu xin ta tha mạng đi."

    Rồi anh nghe thấy một tiếng tách và một giọng nói trầm khàn vang lên: "Buông cô ấy ra, Helvar."

    Một kẻ nào đó từ phía sau đã kê súng vào cổ anh.

    Matthias không buồn nhìn hắn.

    "Cứ bắn ta đi," anh nói.

    Những ngón tay anh ấn sâu hơn vào cổ Nina.

    Không gì có thể tước đoạt được điều này khỏi anh.

    Không một thứ gì.

    Quân phản bội, đồ phù thuỷ ghê tởm.

    Mấy chữ đó vang lên trong đầu Matthias, nhưng cùng với chúng là những chữ khác: xinh đẹp, quyến rũ.

    Röed fetla, anh từng gọi cô như vậy, chim sẻ đỏ, do màu sắc Grisha của cô.

    Màu yêu thích của cô.

    Anh siết mạnh hơn, dập tắt dòng tư tưởng yếu đuối trong đầu.

    "Nếu anh thực sự đã mất trí thì chuyện này khó hơn tôi tưởng đấy."

    Giọng nói trầm khàn tiếp tục lên tiếng.

    Anh nghe thấy một tiếng rít xé gió của thứ gì đó bay vèo tới, rồi một cơn đau bùng nổ nơi vai trái của anh.

    Có cảm giác như anh vừa bị đấm bởi một nắm tay nhỏ xíu, nhưng toàn bộ cánh tay anh bỗng tê bại.

    Anh ngã chúi tới trước, một tay vẫn còn tóm lấy cổ Nina.

    Lẽ ra anh sẽ đè lên người cô, nhưng ai đó đã túm cổ áo anh lôi ngược lại.

    Một thằng nhóc mặc đồng phục của lính gác đứng trước mặt anh với đôi mắt đen tóe lửa, một tay cầm súng, tay kia cầm cây gậy chống.

    Phần tay cầm của cây gậy được đẽo thành hình đầu quạ, với một cái mỏ nhọn tàn ác.

    "Tỉnh lại đi, Helvar.

    Chúng tôi tới đây là để giải thoát cho anh.

    Tôi có thể làm cho chân anh bị giống như cánh tay của anh, rồi chúng tôi sẽ lôi anh ra khỏi đây.

    Hoặc anh có thể rời khỏi đây như một người đàn ông, đi bằng hai chân."

    "Không ai có thể thoát ra khỏi cổng Địa Ngục," Matthias nói.

    "Đêm nay thì khác."

    Matthias ngồi yên trong tư thế gục đầu, cố định thần, một tay níu chặt cánh tay tê liệt.

    "Các người không thể đưa tôi ra khỏi đây.

    Lính gác sẽ nhận ra tôi ngay.

    Tôi sẽ không đánh đổi đặc quyền giành được để đi tới một nơi có Djel mới biết cùng các người."

    "Anh sẽ đeo mặt nạ."

    "Nếu lính gác kiểm tra..."

    "Bọn họ sẽ không rảnh tay để làm chuyện đó," thằng nhóc nhợt nhạt, kì lạ trả lời.

    Đúng lúc đó tiếng la hét bắt đầu vang lên.

    Matthias ngẩng phắt lên.

    Anh nghe thấy tiếng chân rầm rập vang lên từ phía đấu trường, như thể một làn sóng người đang đổ dồn vào lối đi phía bên ngoài buồng giam của anh.

    Anh nghe thấy tiếng la hét của đám lính gác, tiếp nối bằng tiếng gầm của một loài mèo lớn và tiếng rống của voi.

    "Anh đã mở cửa chuồng," giọng nói của Nina run rẩy vì bàng hoàng, mặc dù ai mà biết đó là sự thực hay cô chỉ diễn trò.

    Matthias tránh nhìn về phía cô.

    Nếu làm thế, anh sẽ mất hết ý niệm về thực tại.

    Lúc này anh gần như không còn biết đâu là đâu nữa.

    "Lẽ ra Jesper phải đợi ba tiếng chuông," thằng nhóc kia nói.

    "Đã ba tiếng chuông rồi, Kaz."

    Một đứa con gái nhỏ nhắn đáp.

    Con bé có mái tóc đen và làn da nâu đồng của người Suli.

    Một người nào đó băng bó đầy mình đang tựa vào con bé.

    "Jesper bắt đầu đúng giờ từ hồi nào vậy?"

    Thằng nhóc phàn nàn trong khi đưa mắt nhìn đồng hồ.

    "Đứng dậy đi, Helvar."

    Thằng nhóc chìa một bàn tay đeo găng cho anh.

    Matthias nhìn nó.

    Đây là một giấc mơ.

    Giấc mơ kì lạ nhất mình từng có, nhưng rõ ràng là một giấc mơ.

    Hoặc là việc giết ba con sói đã làm anh thực sự hoá điên.

    Anh đã giết hại người thân của mình.

    Những lời cầu nguyện dành cho vong hồn của chúng cũng không thể sửa chữa được điều đó.

    Anh ngước nhìn thằng nhóc quái vật với đôi tay đeo găng.

    Kaz, đứa con gái đã gọi nó bằng cái tên đó.

    Kaz sẽ đưa anh ra khỏi cơn ác mộng này, hay chỉ lôi anh vào một địa ngục khác?

    Lựa chọn đi, Helvar.

    Matthias tóm lấy bàn tay của Kaz.

    Nếu chuyện này là thực, anh sẽ thoát ra khỏi bất cứ cái bẫy nào mà những người này bày ra cho anh.

    Anh nghe thấy Nina thở dài một cái - cô nhẹ nhõm hay tức giận?

    Anh lắc đầu.

    Anh sẽ xử cô sau.

    Đứa con gái da ngăm khoác một chiếc áo choàng qua vai anh và chụp cái mặt nạ mũi dài xấu hoắc xuống đầu anh.

    Lối đi phía bên ngoài buồng giam hỗn loạn kinh khủng.

    Những người đàn ông và phụ nữ mặc đồ cải trang vội vã đi qua, họ la hét, xô đẩy nhau, cố gắng tránh xa đấu trường.

    Đám lính gác giơ súng lên, và anh có thể nghe được những tiếng súng nổ.

    Anh thấy váng vất, sườn đau dữ dội.

    Cánh tay trái của anh vẫn vô dụng.

    Kaz chỉ về cửa vòm phía xa bên phải, ra hiệu cho họ di chuyển ngược hướng với đám đông và đi vào trong đấu trường.

    Matthias mặc kệ chỉ dẫn.

    Anh có thể lao vào đám người, chen lấn leo lên cầu thang và nhảy xuống một chiếc thuyền.

    Rồi sao nữa?

    Không quan trọng.

    Không còn thời gian để tính toán.

    Anh bước vào trong đám đông, và lập tức bị lôi ngược trở lại.

    "Những gã như anh sinh ra không phải để suy tính, Helvar," Kaz đáp.

    "Cái cầu thang đó dẫn vào một nút thắt cổ chai.

    Anh nghĩ đám lính gác sẽ không giở mặt nạ lên để kiểm tra trước khi cho anh qua hả?"

    Matthias nhún vai và đi theo những người còn lại, với bàn tay của Kaz đặt sau lưng.

    Lối đi phía ngoài đúng là hỗn loạn, nhưng đấu trường mới thực sự điên rồ.

    Matthias trông thấy bầy linh cẩu đang nhảy qua gờ đá.

    Có con đang đánh chén một thi thể khoác áo choàng đỏ.

    Một con voi đang húc vào tường của đấu trường, làm bụi bay mù mịt giữa tiếng rống tức giận của nó.

    Anh trông thấy con gấu trắng cùng với một trong số những con mèo rừng lớn đến từ Thuộc địa phương Nam đang nhe răng, khom người nấp dưới mái đua.

    Còn lũ rắn trong chuồng nữa.

    Anh chỉ hi vọng cái gã Jesper kia không ngu ngốc đến mức thả cả rắn ra.

    Cả đám lao qua mặt sân cát, nơi Matthias đã chiến đấu giành đặc quyền trong sáu tháng qua.

    Nhưng khi họ tiến đến chỗ đường hầm thì con thằn lằn sa mạc xông tới, miệng đầy chất độc sủi bọt trắng xóa, đuôi quét qua quét lại.Trước khi Matthias kịp suy nghĩ, đứa con gái da ngăm đã nhảy lên lưng con thú và thọc hai lưỡi dao sáng loáng qua khe vảy giáp.

    Con thằn lằn rít lên rồi đổ kềnh ra đất.

    Matthias chợt thấy mủi lòng.

    Nó là một con thú gớm ghiếc, và anh chưa từng thấy đấu sĩ nào sống sót sau khi đương đầu với nó, nhưng nó cũng là một sinh vật sống.

    Mày chưa từng thấy đấu sĩ nào sống sót sau khi đương đầu với nó cho tới lúc nãy, anh tự chữa lại.

    Cần phải dè chừng lưỡi dao của đứa con gái.

    Matthias tưởng đâu họ sẽ băng qua đấu trường và quay trở lên khán đài để tránh bị đám đông đang gây ùn tắc lối đi.

    Nhưng thay vào đó, Kaz dẫn họ đi vào trong đường hầm, băng qua các chuồng nhốt thú.

    Thật ra đó là các buồng giam cũ được sử dụng để nhốt những con vật mà đám trùm tổ chức Đấu trường Địa Ngục tìm được trong tuần - từ thú làm xiếc cho tới thú hoang săn mồi trong các khu rừng và miền quê.

    Khi chạy ngang qua những cánh cửa mở toang, Matthias thoáng thấy một cặp mắt vàng đang quan sát mình từ trong bóng tối, nhưng anh tiếp tục chạy.

    Anh rủa thầm cánh tay liệt của mình.

    Cùng với việc không có vũ khí trong tay, anh cảm thấy thật bất lực.

    Cái thằng Kaz này đang dẫn mọi người đi đâu đây?

    Họ chạy ngang qua con trăn đang ăn thịt một tên lính gác.

    Một con mèo đốm rít lên và phun phì phì vào họ, nhưng không tiến lại gần.

    Thế rồi, giữa mùi xạ của những con thú và mùi chất thải của chúng, anh ngửi thấy mùi biển.

    Tiếng sóng dội đến tai anh.

    Anh loạng choạng trượt chân và nhận ra những tảng đá dưới chân mình ẩm ướt.

    Anh chưa bao giờ được phép vào sâu đến thế này trong đường hầm.

    Chắc là nó dẫn ra biển.

    Bất kể ý định của Nina và đám người này là gì, đúng là họ đang đưa anh ra khỏi cổng Địa Ngục.

    Dưới ánh sáng xanh lục phát ra từ hai cái đèn xương mà Kaz và đứa con gái da ngăm mang theo, Matthias trông thấy một chiếc thuyền nhỏ neo đậu phía trước.

    Hình như một tên lính gác đang ngồi trên đó, nhưng gã ta lại vẫy tay ra hiệu cho họ tiến tới.

    "Cậu nhanh nhảu nhỉ, Jesper," Kaz vừa nói vừa đẩy Matthias lại gần thuyền.

    "Tôi đúng giờ mà."

    "Với cậu như vậy là sớm.

    Lần tới mà cậu dự định gây ấn tượng với tôi thì ít nhất cũng nên báo tôi một tiếng."

    "Thú đã được thả, các anh đã đến được thuyền.

    Đây là lời cảm ơn mà tôi nhận được à?"

    "Cảm ơn anh, Jesper," Nina đáp.

    "Không có chi, người đẹp.

    Thấy chưa, Kaz, người văn minh hành xử như vậy đó."

    Matthias không để tâm vào mẩu đối thoại của họ.

    Các ngón tay ở bàn tay trái của anh bắt đầu tê rần, báo hiệu cảm giác đã quay lại.

    Anh không thể đánh nhau với bọn họ trong tình trạng này, nhất là khi họ có vũ khí.

    Nhưng Kaz và kẻ tên Jesper ở trên thuyền hình như là hai người duy nhất mang súng.

    Tháo dây buộc thuyền, vô hiệu hoá Jesper.

    Anh sẽ có một khẩu súng và chiếm được chiếc thuyền.

    Rồi Nina có thể làm tim mày ngừng đập trước cả khi mày cầm lấy mái chèo, anh tự nhủ.

    Thế thì bắn cô ta trước.

    Một phát đạn vào tim.

    Nán lại đủ lâu để nhìn cô ta ngã xuống rồi biến khỏi chỗ này.

    Anh làm được.

    Anh biết mình làm được.

    Tất cả những gì anh cần là một sự đánh lạc hướng.

    Đứa con gái da ngăm đang đứng ngay bên cạnh anh.

    Nó cao chưa tới vai anh nữa.

    Dù đang bị thương, anh cũng có thể đẩy văng nó xuống nước mà không mất thăng bằng hoặc làm con bé bị thương.

    Hạ đứa con gái.

    Tháo dây buộc thuyền.

    Vô hiệu hoá thằng cầm súng.

    Giết Nina.

    Giết Nina.

    Giết Nina.

    Anh hít một hơi thật sâu rồi lao vào đứa con gái da ngăm.

    Con bé tránh qua một bên như thể đã biết anh đang lao tới, rồi ung dung đạp gót giày vào phía sau mắt cá chân của anh.

    Matthias hộc lên một tiếng khi ngã xuống mặt đá.

    "Matthias..."

    Nina bước tới.

    Anh loạng choạng lui lại, suýt nữa ngã nhào xuống biển.

    Nếu cô ta đặt tay lên anh một lần nữa, anh sẽ mất trí.

    Nina khựng lại, khuôn mặt lộ rõ sự đau đớn.

    Cô không có quyền.

    "Vụng về chưa kìa," đứa con gái da ngăm nói với giọng tỉnh bơ.

    "Làm hắn ngủ đi, Nina," Kaz ra lệnh.

    "Đừng," Matthias phản đối, cơn hoảng loạn dâng lên trong anh.

    "Anh có thể rồ dại tới mức làm lật thuyền."

    "Tránh xa ta ra, đồ phù thuỷ," Matthias gầm gừ với Nina.

    Nina gật đầu đáp.

    "Rất sẵn lòng."

    Cô giơ hai tay lên, và Matthias cảm thấy mi mắt mình nặng trĩu.

    "Ta... sẽ... giết...''Anh lắp bắp.

    "Chúc ngủ ngon."

    Giọng nói của cô như một con sói quấn lấy chân anh.

    Nó theo anh vào trong bóng tối.

    •••

    Trong một căn phòng không có cửa sổ, trải thảm màu đen và đỏ thẫm, Matthias im lặng lắng nghe những lời nói lạ lùng phát ra từ miệng của thằng nhóc da trắng quái đản.

    Matthias biết quái vật là gì, và chỉ cần liếc sơ Kaz Brekker anh cũng biết đây là một con quái vật đã ở trong bóng tối quá lâu - nó mang theo thứ gì đó cùng với mình khi bò ra ánh sáng.

    Matthias có thể cảm nhận được điều đó.

    Anh biết những người khác sẽ cười vào các trò mê tín đậm chất Fjerda, nhưng anh tin vào linh cảm của mình.

    Hay đúng hơn là từng tin, cho tới khi gặp Nina.

    Một trong những tác động tồi tệ nhất mà sự phản bội của cô mang tới chính là việc anh buộc phải dè chừng chính các suy nghĩ của mình.

    Sự nghi ngại suýt chút nữa đã làm anh bỏ mạng tại cổng Địa Ngục, nơi bản năng là tất cả.

    Khi ở trong tù, Matthias đã từng nghe nhắc tới cái tên Brekker và những chi tiết kèm theo: tên tội phạm thần sầu, tàn nhẫn, phi đạo đức.

    Họ gọi Brekker là Tay Nhám, bởi thằng nhóc đó không từ một tội lỗi nào, miễn là được tưởng thưởng xứng đáng.

    Giờ thì thằng quỷ đang bàn tính việc đột nhập vào Lâu Đài Băng và ép anh phản bội tổ quốc mình.

    Một lần nữa, Matthias tự nhắc nhở bản thân.

    Mình sẽ lại phản bội tổ quốc một lần nữa.

    Anh quan sát Brekker, biết thừa Nina đang nhìn mình từ phía bên kia phòng.

    Anh vẫn có thể ngửi thấy mùi hương hoa hồng của cô trong mũi, thậm chí trong miệng mình.

    Mùi hoa nồng nặc lưu lại trên lưỡi anh, như thể anh đã nếm cô.

    Lúc tỉnh lại, Matthias thấy mình đang bị trói vào ghế trong một nơi nom giống như sòng bạc.

    Hẳn là Nina đã đưa anh ra khỏi tình trạng u mê mà cô đã đưa anh vào.

    Ngoài Nina, con bé da ngăm cũng đang ở đó.

    Kẻ có chân tay dài ngoẵng mang tên Jesper đang ngồi trong một góc, đầu gối co lại, trong khi một thằng bé có mái tóc xoăn màu hung ngồi vẽ nguệch ngoạc vào mẩu giấy đặt trên cái bàn dùng để chơi bài, thỉnh thoảng đưa ngón tay cái lên gặm.

    Mặt bàn được phủ một tấm vải đỏ thẫm có in hoạ tiết hình con quạ.

    Dựng sát bức tường sơn đen là một bánh xe tương tự như cái được sử dụng trong Đấu trường Địa Ngục, nhưng có các hình vẽ khác.

    Matthias có cảm giác ai đó - có lẽ là Nina - đã tìm cách chữa lành một số vết thương của anh trong lúc anh đang ngủ.

    Ý nghĩ đó làm anh muốn bệnh.

    Thà chịu đau còn hơn nhận thứ tác dụng lừa mị kiểu Grisha đó.

    Sau đó, Brekker bắt đầu nói về một thứ ma dược tên là jurda parem, về một món tiền thưởng cao đến mức không tin nổi, và về ý tưởng đầy điên rồ là đột nhập vào Lâu Đài Băng.

    Matthias không rõ đó là sự thật hay hư cấu, nhưng sao cũng vậy.

    Khi Brekker nói xong, anh chỉ đáp gọn lỏn: "Không".

    "Anh phải tin tôi khi tôi nói điều này, Helvar.

    Tôi biết bị đánh ngất và tỉnh lại giữa một nơi xa lạ hoàn toàn không phải là cách thức thân thiện nhất để bắt đầu một mối quan hệ đối tác, nhưng anh đã không cho chúng tôi nhiều sự lựa chọn.

    Do vậy anh hãy cố tiếp nhận chuyện này trên tinh thần cởi mở đi."

    "Cho dù mấy người có quỳ gối đến gặp tôi thì câu trả lời vẫn là không."

    "Anh nên biết là tôi có thể tống anh trở lại vào cổng Địa Ngục ngay trong hôm nay.

    Một khi Muzzen tội nghiệp được đưa vào trạm xá, việc tráo người cũng dễ như bỡn."

    "Vậy thì làm đi.

    Tôi đang rất muốn kể lại cho cai ngục nghe kế hoạch nực cười của mấy người đây."

    "Điều gì làm anh nghĩ rằng anh sẽ quay lại đó với một cái lưỡi trong miệng vậy?"

    "Kaz..."

    Nina phản đối.

    "Muốn làm gì tôi thì làm," Matthias đáp.

    Anh sẽ không phản bội tổ quốc một lần nữa.

    "Tôi đã bảo mà," Nina nói.

    "Đừng có tỏ ra hiểu ta, đồ phù thuỷ."

    Anh gắt lên, mắt vẫn dán vào Brekker.

    Anh sẽ không nhìn cô ta.

    Anh từ chối làm chuyện đó.

    Jesper duỗi người trong góc phòng.

    Dưới ánh sáng đầy đủ, Matthias có thể nhận thấy Jesper có làn da nâu sậm của người Zemeni với đôi mắt xám lạc quẻ, vóc dáng giống như một con cò.

    "Không có anh ta thì sẽ không có phi vụ nào cả," Jesper lên tiếng.

    "Chúng ta sẽ không thể mù mờ đột nhập vào Lâu Đài Băng được."

    Matthias chỉ muốn bật cười.

    "Kiểu gì thì các người cũng không thể đột nhập vào trong đó được đâu."

    Lâu Đài Băng không phải là một tòa nhà bình thường.

    Nó là một pháo đài, thành luỹ lâu đời của Fjerda, nơi chứng kiến các vị vua và nữ hoàng tuần tự nối ngôi mà chưa một lần gián đoạn, nơi cất giữ các báu vật quan trọng nhất và những thánh tích thiêng liêng nhất.

    Đó là một chốn bất khả xâm phạm.

    "Thôi nào, Helvar," thằng nhóc quái vật nói.

    "Chắc chắn anh phải muốn một thứ gì đó.

    Chuyện này đủ đúng đắn đối với một kẻ cuồng tín như anh.

    Fjerda có thể nghĩ rằng mình đã nắm được đuôi của một con rồng, nhưng họ sẽ không giữ nổi nó.

    Một khi Bo YuL-Bayur tái sản xuất theo quy trình của ông ta, jurda parem sẽ tràn lan ngoài thị trường, và việc những kẻ khác học cách sản xuất nó chỉ là vấn đề thời gian."

    "Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra.

    Yul-Bayur sẽ bị đưa ra xét xử, và nếu có tội, ông ta sẽ bị xử tử."

    "Tội gì vậy?"

    Nina hỏi khẽ.

    "Tội chống lại loài người."

    "Người nào?"

    Anh có thể nghe thấy sự giận dữ chất chứa trong giọng điệu của Nina.

    "Người bình thường," anh đáp.

    "Những người sống hoà hợp với các điều luật của thế giới này thay vì bẻ cong nó để tư lợi."

    Nina bực bội khịt mũi.

    Những người còn lại tỏ ra thích thú và cười nhạo anh chàng Fjerda lạc hậu tội nghiệp.

    Brum từng cảnh báo anh rằng thế giới này toàn những kẻ dối trá, chạy theo lạc thú và vô đạo.

    Dường như những loại người đó đang hiện diện đầy đủ trong căn phòng này.

    "Anh cần phải nghĩ sâu xa hơn trong vụ này, Helvar à," Brekker nói.

    "Một nhóm người khác có thể đang trên đường tìm đến chỗ Yul-Bayur.

    Người Shu.

    Hoặc người Ravka.

    Ai cũng có mục đích riêng của mình.

    Các tranh chấp lãnh thổ và những mâu thuẫn xưa cũ chẳng là gì với người Kerch.

    Điều mà Hội đồng Thương buôn bận tâm lúc này là giữ cho jurda parem mãi mãi chỉ là tin đồn."

    "Thế dẫn một toán đầu trộm đuôi cướp vào Fjerda để giải thoát một tù nhân đắt giá là hành động yêu nước à?"

    Matthias bướng bỉnh đáp lại.

    "Vậy thì khoản tiền thưởng bốn triệu kruge cũng không lay chuyển được anh rồi."

    Matthias nhổ một bãi nước bọt.

    "Cứ việc giữ lấy chỗ tiền thưởng đó

    mà ăn cho nghẹn họng đi."

    Thế rồi một suy nghĩ chợt nảy lên trong đầu anh - ác độc, tàn nhẫn, nhưng nó là thứ có thể cho phép anh quay về cổng Địa Ngục với sự yên ổn trong lòng dù thiếu mất cái lưỡi trong miệng.

    Anh ngửa đầu ra sau hết mức có thể và dồn toàn bộ sự chú ý vào Brekker.

    "Tôi có một thỏa thuận thế này."

    "Tôi nghe đây."

    "Tôi sẽ không đi với các cậu, nhưng tôi sẽ cung cấp sơ đồ của lâu đài.

    Ít nhất nó cũng giúp các cậu qua được chốt kiểm tra đầu tiên."

    "Giá của thông tin đáng giá này là bao nhiêu?

    "Tôi không cần tiền của cậu.

    Tôi sẽ đưa sơ đồ cho cậu hoàn toàn miễn phí."

    Matthias thấy xấu hổ khi phải nói ra những lời như vậy, nhưng anh vẫn nói.

    "Nếu cậu để cho tôi kết liễu Nina Zenik."

    Đứa con gái da ngăm thốt lên một tiếng ghê tởm, thể hiện sự khinh bỉ rõ ràng với anh, còn thằng bé ngồi ở bàn ngừng vẽ, miệng há hốc.

    Tuy vậy, Kaz không hề tỏ thái độ ngạc nhiên.

    Nếu có chăng, thằng nhóc chỉ tỏ ra thích thú.

    Matthias có cảm giác rất khó chịu rằng thằng nhóc quỷ sứ đó đã biết chính xác anh sẽ nói ra câu này.

    "Tôi có thể cho anh một thứ còn tốt hơn thế," Kaz đáp.

    Còn gì có thể tốt hơn sự trả thù?

    "Tôi không muốn gì khác."

    "Tôi có thể giúp anh trở lại làm một drüskelle."

    "Cậu là pháp sư chắc?

    Một wej có thể biến mọi điều ước thành sự thực?

    Tôi có thể mê tín nhưng tôi không ngu."

    "Anh có thể vừa mê tín vừa ngu ngốc, anh biết đấy, nhưng chuyện đó không liên quan."

    Kaz thò tay vào trong túi áo.

    "Đây," cậu ta đưa một tờ giấy cho đứa con gái da ngăm.

    Lại một con quỷ khác.

    Con bé này đi khẽ đến mức tưởng như nó đến từ thế giới bên kia và không có người tốt bụng nào đuổi nó về lại đó.

    Con bé giơ tờ giấy ra trước mặt Matthias để anh đọc.

    Đó là một tài liệu được viết bằng tiếng Kerch và Fjerda.

    Anh không thể đọc được tiếng Kerch vì chỉ mới học nói bập bẹ trong tù, nhưng phần chữ bằng tiếng Fjerda cũng đã khá rõ ràng rồi, và trong lúc mắt anh lướt xem các dòng chữ, tim anh bắt đầu đập mạnh.

    Với chứng cứ mới này, Matthias Benedik Helvar được xoá ngay lập tức và hoàn toàn các cáo buộc liên quan đến việc buôn bán nô lệ.

    Anh được thả tự do vào hôm nay, ngày____, với lời xin lỗi của toà án, đồng thời được cung cấp chi phí đi lại để trở về quê hương hoặc đến một nơi tùy chọn.

    Một lần nữa, toà án và chính quyền Kerch xin gửi tới anh lời xin lỗi chân thành.

    Chứng cứ mới là gì vậy?"

    Kaz ngửa người ra sau trên ghế.

    "Nghe đâu Nina Zenik đã rút lại lời khai của mình.

    Cô ấy sẽ phải đối mặt với các hình phạt cho tội khai man."

    Giờ thì anh nhìn sang phía cô.

    Anh không thể kìm lại được.

    Anh đã để lại những vết bầm trên cái cổ duyên dáng của cô.

    Anh tự nhủ mình phải vui vì điều đó.

    "Khai man?

    Cô sẽ ngồi tù bao lâu cho tội đó, hả Zenik?"

    "Hai tháng," Nina nói lí nhí.

    "Hai tháng?"

    Anh bật cười thật lớn và thật lâu.

    Cơ thể anh rung lên vì cười, như thể nó là thứ chất độc khiến cơ bắp anh co rút.

    Những người còn lại nhìn anh với một chút lo ngại.

    "Thấy anh ta điên chưa kìa?"

    Jesper nói, ngón tay nhịp nhịp trên báng súng.

    Brekker nhún vai.

    "Anh ta không thực sự đáng tin cậy, nhưng anh ta là tất cả những gì chúng ta có."

    Hai tháng.

    Chắc là trong một nhà tù ấm áp, nơi cô ta có thể quyến rũ để sai khiến đám cai ngục phục vụ bánh mì tươi và sửa soạn gối chăn cho mình.

    Hoặc cô ta cũng có thể thuyết phục bọn họ cho mình đóng tiền tại ngoại, khoản tiền mà bọn giám hộ Grisha giàu sụ ở Ravka hoàn toàn có thể chi trả.

    "Cô ta không đáng tin đâu, cậu biết đấy," anh nói với Brekker.

    "Mọi bí mật mà các cậu moi được từ Bo Yul-Bayur, cô ta sẽ tuồn cho phía Ravka."

    "Chuyện đó để tôi tự lo, Helvar.

    Anh lo phần anh, còn các bí mật về Bo Yul-Bayur và jurda parem sẽ nằm trong tay của những người có đủ khả năng để giữ cho chúng mãi là tin đồn."

    Hai tháng.

    Nina sẽ ngồi tù và quay về Ravka với số tài sản giàu thêm bốn triệu kruge, và không việc gì phải bận tâm về anh nữa.

    Nhưng nếu vụ xoá tội này là sự thật thì chính anh cũng có thể về nhà.

    Nhà.

    Anh đã nghĩ đến chuyện đào thoát khỏi cổng Địa Ngục hàng trăm lần, nhưng chưa bao giờ thực sự lên kế hoạch trốn thoát.

    Cuộc sống bên ngoài có còn ý nghĩa gì nữa khi cái mác buôn nô lệ vẫn còn dán trên trán anh?

    Anh sẽ không bao giờ có thể quay về Fjerda.

    Mà cho dù chịu được sự nhục nhã, anh cũng sẽ phải trốn chui trốn nhủi sự lùng bắt của chính quyền Kerch như một tên tội phạm.

    Anh biết mình có thể làm lại cuộc đời ở Novyi Zem, nhưng cũng chẳng ích gì.

    Chuyện này thì khác.

    Nếu thằng quỷ Brekker nói thật, Matthias sẽ có thể về nhà.

    Khao khát ấy đã quay quắt trong anh từ lâu - được nghe thấy ngôn ngữ của mình, được gặp lại bạn bè, nếm món semla nồng vị hạnh nhân, cảm nhận làn gió phương bắc lạnh cắt da khi nó thổi qua mặt băng.

    Được về nhà và được chào đón mà không phải tủi hổ vì mất danh dự.

    Khi tên tuổi anh được gột sạch, anh sẽ có thể quay về với cuộc sống của một drüskelle.

    Nhưng cái giá phải trả để có được nó là một sự phản bội.

    "Nếu như Bo Yul-Bayur chết rồi thì sao?"

    Anh vặn hỏi Brekker.

    "Van Eck nhất quyết cho rằng ông ta chưa chết."

    Nhưng cái lão thương gia đó sao có thể nắm được cung cách làm việc của Fjerda kia chứ?

    Một phiên toà sớm muộn cũng sẽ diễn ra, và anh có thể dễ dàng dự đoán mức án.

    Người Fjerda sẽ không bao giờ thả tự do cho một kẻ nắm giữ bí mật khủng khiếp như vậy.

    "Nhưng nếu như ông ta chết thật rồi thì sao?"

    "Anh vẫn sẽ được xóa tội."

    Cho dù phi vụ này cầm chắc phần thua, Matthias vẫn sẽ có được tự do cho mình.

    Mà với cái giá như thế nào kia chứ?

    Trước đây anh đã từng phạm sai lầm.

    Anh đã từng ngu ngốc tin vào Nina.

    Anh đã yếu đuối và sẽ phải hổ thẹn về điều đó trong suốt phần đời còn lại.

    Nhưng anh đã trả giá cho sự ngu ngốc của mình bằng máu, bằng cuộc sống lầm than và bốc mùi ở Cổng Địa Ngục.

    Mà tội trạng của anh có gì lớn đâu, chỉ là sự khờ khạo của một thằng đàn ông.

    Tội lần này mới là nghiêm trọng.

    Việc tiết lộ những bí mật của Lâu Đài Băng, việc thấy lại quê hương với nhận thức rõ rằng mọi đường đi nước bước của anh ở đó đều là sự phản bội - liệu anh có thể làm một chuyện như thế được không?

    Brum chắc sẽ cười vào mặt đám người này và xé toang tờ giấy kia làm trăm mảnh.

    Nhưng Kaz Brekker là một kẻ khôn ngoan.

    Rõ ràng thằng nhóc có quyền lực trong tay.

    Sẽ ra sao nếu như Matthias từ chối, và bất chấp mọi trở ngại, Brekker cùng nhóm tay chân vẫn tìm được đường vào Lâu Đài Băng để giải cứu lão khoa học gia người Shu kia?

    Sẽ thế nào nếu như Brekker nói đúng và một nước khác tiếp cận ông ta trước?

    Nghe chừng parem có tính chất gây nghiện quá mạnh đối với các Grisha, nhưng nếu công thức làm ra nó bị rơi vào tay bọn Ravka và chúng điều chỉnh được tác dụng phụ?

    Để làm cho đội ngũ Hạ Quân của Ravka thêm hùng mạnh?

    Nếu tham gia vụ này, Matthias có thể xoay xở để bảo đảm Bo Yul-Bayur không thể sống sót rời khỏi Lâu Đài Băng, hoặc thu xếp một tai nạn chết người nào đó trên đường quay về Kerch.

    Trước khi gặp Nina, trước khi vào cổng Địa Ngục, chắc anh sẽ không bao giờ nghĩ ngợi chuyện này.

    Nhưng giờ đây anh thấy mình đang mặc cả với bản thân.

    Anh có thể tham gia phi vụ, được xóa tội, và khi anh trở lại làm drüskelle, Nina sẽ là mục tiêu đầu tiên của anh.

    Anh sẽ săn đuổi cô ta ở Kerch, ở Ravka, ở bất cứ chân trời góc bể nào mà cô ta tưởng mình được an toàn.

    Anh sẽ truy lùng Nina Zenik đến nơi đến chốn và buộc cô ta phải trả giá bằng tất cả những cách có thể hình dung được, cái chết sẽ là quá tốt với cô ta.

    Anh sẽ tống cô ta vào buồng giam ghê rợn nhất Lâu Đài Băng, nơi cô ta sẽ không bao giờ được sưởi ấm.

    Anh sẽ vờn cô ta như cô ta đã vờn anh.

    Anh sẽ chìa tay cứu giúp cô ta để rồi rút lại.

    Anh sẽ vờ ban cho cô ta sự trìu mến và tử tế để rồi giật lại.

    Anh sẽ khoái trá tận hưởng những giọt nước mắt của Nina và thay mùi hoa ngọt ngào kia bằng vị mặn của nước mắt cô ta.

    Nhưng dẫu vậy, Matthias vẫn cảm thấy vô cùng cay đắng khi thốt ra bốn chữ: "Tôi sẽ tham gia."

    Brekker nháy mắt với Nina, và Matthias chỉ muốn bẻ răng thằng nhóc.

    Sau khi cho Nina nếm mùi đau khổ, ta sẽ tìm tới ngươi.

    Anh đã từng đi bắt phù thuỷ, việc chém quỷ sẽ chỉ là chuyện nhỏ.

    Đứa con gái da ngăm gấp tờ giấy lại rồi trả cho Brekker để thằng nhóc cất vào trong túi áo.

    Matthias có cảm giác như mình đang quan sát một người bạn cũ biến vào trong đám đông, người mà anh không hi vọng sẽ được gặp lại và không thể gọi tên.

    "Chúng tôi sẽ cởi trói cho anh," Brekker nói.

    "Tôi hi vọng nhà tù chưa lấy đi của anh lí trí và cách cư xử đàng hoàng."

    Matthias gật đầu, và đứa con gái da ngăm rút một con dao ra để cắt sợi dây trói.

    "Chắc anh đã biết Nina," Brekker nói tiếp.

    "Cô bé dễ thương đang cởi trói cho anh tên là Inej, chuyên gia thu lượm bí mật của chúng tôi, người giỏi nhất hiện nay.

    Jesper Fahey là thiện xạ của chúng tôi.

    Cậu ta là người Zemeni, nhưng đừng có trách cậu ta về điều đó.

    Còn đây là Wylan, chuyên gia phá huỷ giỏi nhất ở Barrel."

    "Raske giỏi hơn," Inej nói.

    Thằng bé ngồi ở bàn ngẩng đầu lên, mặc kệ những sợi tóc hung lòa xòa che mắt, và lần đầu tiên cất tiếng.

    "Anh ta không giỏi hơn.

    Anh ta bất cẩn."

    "Anh ta biết việc mình làm."

    "Tôi cũng vậy."

    "Ờ, cũng biết võ vẽ," Jesper xen vào.

    "Wylan là người mới," Brekker thừa nhận.

    "Dĩ nhiên rồi, trông cậu ta như một thằng nhóc con mười hai tuổi ấy," Matthias vặn lại.

    "Tôi mười sáu tuổi rồi," Wylan nói với vẻ mặt sưng sỉa.

    Matthias không tin chuyện đó.

    Cùng lắm là mười lăm.

    Thằng bé thậm chí trông như chưa có râu để cạo.

    Thật ra thì với cái tuổi mười tám của mình, Matthias nghĩ anh là người lớn nhất trong bọn.

    Cặp mắt của Brekker có vẻ già dặn vậy thôi chứ nó không thể nào lớn tuổi hơn anh.

    Đây là đầu tiên Matthias thực sự quan sát nhóm người trong phòng.

    Toàn những kẻ gì đâu cho một phi vụ nguy hiểm đến thế sao?

    Tội phản bội không còn là vấn đề nữa nếu như cả bọn mất mạng.

    Và chỉ có anh mới biết chính xác chuyến mạo hiểm này sẽ khiến anh phản bội tới đâu.

    "Lẽ ra chúng ta nên dùng Raske," Jesper nói.

    "Anh ta giỏi chịu áp lực lắm."

    "Tôi cũng nghĩ thế," Inej đồng tình.

    "Ai hỏi ý kiến các cậu?"

    Kaz gạt đi.

    "Hơn nữa, Wylan không chỉ giỏi xoay xở với đá lửa và các thứ.

    Cậu ta chính là vật bảo đảm của chúng ta."

    "Cho chuyện gì?"

    Nina hỏi.

    "Xin hân hạnh giới thiệu với các bạn - Wylan Van Eck," Kaz tuyên bố trong khi khuôn mặt thằng bé đỏ ửng lên.

    "Con trai của Jan Van Eck, vật bảo đảm cho khoản tiền ba mươi triệu kruge của chúng ta."

    8

    JESPER

    Jesper nhìn Wylan đăm đăm.

    "Đương nhiên cậu là con trai của một ông Hội đồng rồi."

    Anh phá lên cười.

    "Chuyện đó giải thích cho tất cả."

    Anh biết mình nên giận Kaz vì đã ém nhẹm một thông tin mấu chốt như thế, nhưng ngay lúc này, anh chỉ khoái trá quan sát việc tiết lộ danh tính của Wylan Van Eck khuấy động tình hình trong phòng như một khẩu súng lục ngoan cố nhả đạn tứ tung.

    Wylan đỏ mặt xấu hổ.

    Nina bàng hoàng khó chịu.

    Tay người Fjerda tỏ ra bối rối.

    Kaz thì có vẻ cực kì mãn nguyện.

    Và dĩ nhiên, Inej không mảy may ngạc nhiên, cô thu thập các bí mật cho Kaz và giữ chúng rất cẩn thận.

    Jesper cố kìm nén cảm giác ghen tị khi nghĩ tới chuyện đó.

    Wylan hết mở miệng rồi lại ngậm miệng, và hắng giọng.

    "Anh biết rồi à?"

    Cậu ta hỏi Kaz một cách khổ sở.

    Kaz ngả người ra sau trên ghế, một chân co lại, còn cái chân yếu duỗi thẳng ra phía trước.

    "Thế cậu nghĩ tôi giữ cậu trong nhóm vì lí do gì?"

    "Vì tôi giỏi phá huỷ."

    "Chỉ dừng lại ở mức tạm được thôi.

    Nhưng cậu là một con tin rất ngon lành."

    Nói như thế thật tàn nhẫn, nhưng Kaz là vậy.

    Và Barrel là một ông thầy còn khắc nghiệt hơn cả Kaz.

    Ít nhất chuyện này cũng giải thích được vì sao Kaz giữ Wylan và giao việc cho cậu ta.

    "Không sao," Jesper nói.

    "Chúng ta vẫn nên đưa Raske theo và nhốt cậu thiếu gia này ở một nơi bí mật trong Ketterdam."

    "Tôi không tin tưởng Raske."

    "Thế anh tin Wylan Van Eck à?"

    Jesper hỏi với giọng nghi hoặc.

    "Wylan không quen biết đủ nhiều để có thể gây rắc rối cho chúng ta."

    "Tôi có được phát biểu không vậy?"

    Wylan làu bàu.

    "Tôi vẫn đang ngồi lù lù ở đây đó nha."

    Kaz nhướng mày.

    "Cậu có từng bị móc túi chưa, Wylan?"

    "Ơ... hình như là chưa."

    "Có bị trấn lột trong hẻm tối chưa?"

    "Chưa."

    "Hoặc là bị dúi đầu qua lan can cầu?"

    Wylan chớp mắt.

    "Không hề, nhưng..."

    "Cậu cũng chưa từng bị đánh tới mức không đi nổi?"

    "Chưa ạ."

    "Thế cậu nghĩ là nhờ vào đâu?"

    "Tôi..."

    "Đã ba tháng trôi qua kể từ khi cậu rời khỏi căn biệt thự của người cha thân yêu trên phố Geldstraat để đi bụi.

    Theo cậu thì vì sao chuyến phiêu lưu của cậu ở Barrel lại suôn sẻ đến thế?"

    "Do may mắn, chắc là vậy?"

    Wylan nói với giọng yếu ớt.

    Jesper khịt mũi.

    "Thần may mắn của cậu mang tên Kaz đó, thiếu gia à.

    Anh ta đã đưa cậu vào tầm bảo vệ của băng Cặn Bã, mặc dù cậu thật vô dụng, và phải đến tận bây giờ không một ai trong chúng tôi hiểu được lí do."

    "Đúng thế," Nina thừa nhận.

    "Kaz luôn có lí lẽ riêng," Inej lẩm bẩm.

    "Tại sao cậu bỏ nhà ra đi?"

    Jesper thắc mắc.

    "Đến lúc đi thì đi thôi," Wylan mím môi đáp.

    "Thiếu thực tế?

    Lãng mạn?

    Nổi loạn?"

    "Hay ngu ngốc?"

    Nina đế thêm.

    "Chẳng ai lại đi chọn Barrel làm nơi cư ngụ nếu có sự lựa chọn khác."

    "Tôi không vô dụng," Wylan đáp.

    "Raske là chuyên gia phá huỷ tốt hơn cậu vạn lần..."

    Inej nói.

    "Tôi đã từng tới Lâu Đài Băng.

    Cùng với cha tôi.

    Chúng tôi đã tham gia một bữa tiệc tối ở đó.

    Tôi có thể hỗ trợ việc vẽ sơ đồ."

    "Thấy chưa?

    Tiềm năng đấy."

    Kaz gõ gõ mấy ngón tay đi găng trên cái đầu quạ của cây gậy chống.

    "Vả lại, tôi không muốn bỏ lại Ketterdam thứ đòn bẩy duy nhất mà chúng ta có được đối với Van Eck trong lúc cả nhóm đi lên phía bắc.

    Wylan sẽ đi cùng chúng ta.

    Cậu ta tương đối giỏi khoản phá huỷ, và vẽ vời cũng tạm, nhờ công ơn các gia sư đắt tiền."

    Wylan đỏ mặt tía tai, còn Jesper chỉ lắc đầu.

    "Cậu cũng chơi được piano chứ?"

    "Sáo flute," Wylan chống chế đáp lời.

    "Nhất cậu."

    "Và vì Wylan đã từng tận mắt trông thấy Lâu Đài Băng," Kaz nói tiếp,

    "cậu ta có thể giúp anh duy trì sự trung thực dành cho chúng tôi, Helvar."

    Tay người Fjerda bực dọc nhăn nhó, trong khi Wylan tỏ ra hơi e sợ.

    "Đừng lo," Nina nói.

    "Ánh mắt của Matthias chẳng giết được ai đâu."

    Jesper để ý mỗi khi Nina lên tiếng là Matthias lại so vai.

    Anh không biết hai người này có chuyện gì với nhau, nhưng nhiều khả năng họ sẽ giết lẫn nhau trước khi đặt chân lên đất Fjerda.

    Jesper dụi mắt.

    Anh đang thiếu ngủ và cảm thấy kiệt sức sau vụ phá ngục đầy kích động.

    Mọi suy nghĩ trong đầu anh giờ đây tập trung vào cơ hội mà món tiền ba mươi triệu kruge mang lại.

    Ngay cả sau khi đã chia cho Per Haskell hai mươi phần trăm, mỗi người trong số họ vẫn còn lại bốn triệu.

    Anh có thể làm gì với một cục tiền lớn ngần ấy?

    Anh có thể nghe thấy tiếng bố mình văng vẳng bên tai, Ngã vào bãi phân to gấp đôi.

    Thánh thần ơi, anh nhớ bố ghê gớm.

    Kaz gõ gậy xuống sàn nhà lát gỗ bóng loáng.

    "Lấy giấy bút ra đi nào, Wylan.

    Chúng ta cho Helvar bắt tay vào việc thôi."

    Wylan thò tay vào cái túi da dưới chân rồi lôi ra một cuộn giấy gói hàng cùng cái hộp kim loại dùng để cất một cây bút có vẻ đắt tiền và lọ mực.

    "Đẹp nhỉ," Jesper nhận xét.

    "Mỗi việc một ngòi bút."

    "Kể đi nào," Kaz nói với tay người Fjerda.

    "Đến lúc lao động rồi."

    Matthias hướng ánh mắt giận dữ vào Kaz.

    Đúng là một ánh mắt mạnh mẽ.

    Thật thú vị khi thấy anh ta dùng nó để chống lại ánh mắt cá mập của Kaz.

    Cuối cùng, tay người Fjerda nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu và nói: "Lâu Đài Băng nằm trên một vách đá trông ra cảng biển ở Djerholm.

    Nó được xây dựng theo những vòng tròn đồng tâm, giống như vân gỗ."

    Matthias nói rất chậm rãi, như thể từng lời từng chữ đều gây đau đớn cho anh ta.

    "Đầu tiên là thành luỹ tròn, kế đến là vòng thành ngoài.

    Nó được chia làm ba khu vực.

    Tiếp theo là hào băng, và ở trung tâm của mọi thứ là Bạch Đảo."

    Wylan bắt đầu vẽ phác.

    Jesper nhòm qua vai cậu ta.

    "Nhìn chẳng giống cây gì cả.

    Giống cái bánh hơn."

    "Thì nó cũng giống như cái bánh thật mà," Wylan chống chế.

    "Mọi thứ được xây cao dần từ ngoài vào trong."

    Kaz ra hiệu cho Matthias nói tiếp.

    "Vách đá đó không thể leo được, và con đường ở phía bắc là lối ra vào duy nhất.

    Các cậu sẽ phải vượt qua một chốt gác trước khi tới được thành luỹ tròn."

    "Hai chứ," Wylan chỉnh lại.

    "Lúc tôi tới đó, có những hai chốt kiểm tra."

    "Đấy, thấy chưa," Kaz nói với Jesper.

    "Kĩ năng ăn tiền.

    Wylan đang giám sát anh đó, Helvar."

    "Tại sao lại có hai chốt kiểm soát?"

    Inej thắc mắc.

    Matthias nhìn xuống những tấm ván gỗ lát sàn màu đen và đáp: "Sẽ khó mua chuộc hơn nếu có hai tốp lính gác khác nhau.

    Các biện pháp an ninh tại lâu đài luôn được thiết lập với nhiều lớp dự phòng.

    Nếu các cậu đi xa được tới đó..."

    "Chúng ta, Helvar.

    Nếu chúng ta đi xa được tới đó," Kaz chỉnh lại.

    Tay người Fjerda khẽ nhún vai.

    "Nếu chúng ta đi xa được tới đó thì, vòng thành ngoài được chia làm ba khu vực - nhà tù, trại drüskelle, và toà đại sứ.

    Mỗi khu đều có cổng riêng ở thành tròn.

    Cổng của nhà tù luôn được sử dụng, nhưng được giám sát bằng lính gác có vũ trang.

    Vào bất kì thời điểm nào, chỉ có một trong hai cổng kia được sử dụng."

    "Điều gì quyết định lịch mở cổng?"

    Jesper hỏi.

    "Thời khoá biểu thay đổi mỗi tuần, và các lính gác chỉ được biết phiên trực của mình trước một ngày."

    "Biết đâu như thế lại hay," Jesper nói.

    "Nếu chúng ta có thể tìm ra được cổng nào không sử dụng, thì coi như đường thông thoáng rồi..."

    "Luôn có ít nhất bốn lính gác túc trực ngay cả khi cổng không được sử dụng."

    "Tôi khá chắc là chúng ta có thể xử lí bốn lính gác."

    Matthias lắc đầu.

    "Các cánh cổng nặng hàng tấn, và chỉ có thể mở từ bên trong trạm gác.

    Ngay cả khi các cậu có đủ sức nâng một cái lên thì việc mở một cánh cổng ngoài dự kiến sẽ kích hoạt Quy trình Đen.

    Toàn bộ lâu đài sẽ bị đóng kín, và các cậu sẽ lập tức bị phát hiện."

    Sự khó chịu lan ra khắp phòng.

    Jesper ngọ nguậy.

    Nếu căn cứ theo nét mặt của những người còn lại thì tất cả đều đang có cùng một câu hỏi trong đầu: Chúng ta đang đưa mình vào cái quái gì vậy?

    Chỉ có Kaz tỏ ra không nao núng.

    "Cứ kể ra hết đi đã," Kaz vừa nói vừa gõ ngón tay xuống tờ giấy.

    "Helvar, tôi hi vọng anh sẽ mô tả hệ thống báo động với Wylan sau."

    Matthias nhíu mày.

    "Thật sự tôi không biết nó vận hành như thế nào.

    Nó gồm một loạt dây cáp và chuông báo."

    "Cứ nói với cậu ta tất cả những gì anh biết.

    Họ có thể nhốt Bo YulBayur ở đâu?"

    Thật chậm rãi, Matthias đứng lên, tiến lại gần bản sơ đồ đang thành hình dưới nét bút của Wylan.

    Cử động của anh miễn cưỡng và thận trọng như thể Kaz vừa bảo anh thôi miên một con rắn chuông.

    "Có lẽ là ở đây," anh đáp, đặt ngón tay xuống tờ giấy.

    "Khu vực nhà tù.

    Các buồng biệt giam được đặt ở tầng trên cùng.

    Đó là nơi họ nhốt những tên tội phạm nguy hiểm nhất.

    Sát nhân, khủng bố..."

    "Grisha?"

    Nina lên tiếng.

    "Còn phải hỏi," Matthias đáp một cách dứt khoát.

    "Hai người này vui thật," Jesper nói.

    "Thường thì người ta chỉ bắt đầu ghét nhau sau khi vào việc được tuần lễ, nhưng hai anh chị chạy trước cả phần thiên hạ."

    Nina và Matthias cùng quắc mắt nhìn Jesper trong khi anh nhăn răng cười đáp lại.

    Tuy vậy, Kaz chỉ tập trung vào bản sơ đồ.

    "Bo Yul-Bayur không nguy hiểm," anh nói với giọng nghĩ ngợi, "ít nhất cũng không theo cách đó.

    Tôi không nghĩ họ sẽ nhốt ông ta chung với đám phạm nhân sừng sỏ đó."

    "Tôi thì nghĩ họ sẽ nhốt ông ta dưới mồ," Matthias đáp.

    "Cứ coi như ông ta chưa chết.

    Đó là một tù nhân có giá trị, một người mà bọn họ không muốn để rơi vào tay kẻ khác trước khi phiên tòa diễn ra.

    Ông ta sẽ ở đâu?"

    Matthias nhìn vào sơ đồ.

    "Vòng thành ngoài bao quanh một cái hào băng, và ở trung tâm của hào băng là Bạch Đảo, nơi có kho bạc và Cung điện Hoàng gia.

    Đó là nơi được bảo vệ cẩn mật nhất của Lâu Đài Băng."

    "Vậy thì đó chính là nơi Bo Yul-Bayur đang ở," Kaz nói.

    Matthias mỉm cười.

    Thật ra nó là một cái nhe răng thì đúng hơn.

    Anh ta đã học được kiểu cười đó ở Cổng Địa Ngục, Jesper nghĩ bụng.

    "Vậy thì phi vụ này chỉ phí công vô ích," Matthias nói.

    "Sẽ không bao

    giờ có chuyện một nhóm người ngoại quốc lên được Bạch Đảo."

    "Đừng có tỏ ra hí hửng như thế, Helvar.

    Chúng tôi không tới được đó thì anh cũng không được xóa tội đâu."

    Matthias nhún vai.

    "Tôi không thể thay đổi được sự thật.

    Hào băng được giám sát bởi nhiều tháp canh trên Bạch Đảo và một trạm gác trên nóc Đồng hồ Cả.

    Để vượt qua hào băng, chỉ có một cách duy nhất là đi trên cầu kính, và không thể nào đi lên cầu kính nếu không được cho phép."

    "Hringkälla sắp đến rồi," Nina nói.

    "Im đi," Matthias gạt ngang.

    "Không, cứ nói tiếp đi," Kaz can thiệp.

    " Hringkälla.

    Đó là Ngày Lắng nghe, khi các drüskelle mới được khai tâm trên Bạch Đảo."

    Matthias siết chặt nắm đấm.

    "Cô không có quyền nhắc tới những điều linh thiêng đó."

    "Chúng là sự thật.

    Hoàng gia Fjerda tổ chức một buổi đại tiệc linh đình với khách mời đến từ khắp thế giới, và nhiều trò giải trí được đưa thẳng từ Ketterdam tới."

    "Giải trí á?"

    Kaz hỏi lại.

    "Diễn viên, vũ công, một nhóm Hài kịch Thô lỗ, và những tài năng nổi trội nhất của các kĩ viện trong khu Tây Stave."

    "Tôi cứ tưởng Fjerda không cổ xuý mấy cái trò đó?"

    Jesper thắc mắc.

    Inej nhếch mép giễu cợt.

    "Anh chưa bao giờ trông thấy lính Fjerda ở hai khu Stave à?"

    "Ý tôi là khi họ ở nước họ."

    "Đó chính là ngày mà họ ngưng diễn trò khắc khổ và tận hưởng cuộc sống," Nina đáp.

    "Ngoài ra, chỉ các drüskelle mới sống như những nhà tu hành."

    "Tận hưởng cuộc sống không nhất thiết cứ phải có rượu và... thịt," Matthias lắp bắp.

    Nina chớp chớp mắt với anh ta.

    "Cuộc sống có quỳ gối trước mặt và ấn một cái kẹo mút vào mồm anh thì chắc anh cũng không biết tận hưởng."

    Nói đoạn cô quay sang bản sơ đồ.

    "Cổng toà đại sứ chắc chắn được mở.

    Có lẽ chúng ta không cần phải lo lắng tới chuyện đột nhập vào

    Lâu Đài Băng.

    Chúng ta chỉ việc đi vào cùng với các nghệ sĩ."

    "Đó không phải là Đấu trường Địa Ngục," Kaz nói.

    "Sẽ không dễ dàng đến thế."

    "Các khách mời được rà soát hàng tuần lễ trước khi họ tới Lâu Đài Băng.

    Bất cứ ai đi vào tòa đại sứ đều bị kiểm tra giấy tờ nhiều lần.

    Người Fjerda không ngu."

    Matthias khẳng định.

    Nina nhướng một bên lông mày.

    "Không phải tất cả đều khôn, ít ra là thế."

    "Đừng có chọc ngoáy tổ ong nữa, Nina," Kaz nói.

    "Chúng ta cần anh ta cư xử thân thiện.

    Bữa tiệc này sẽ diễn ra vào lúc nào?"

    "Nó là một lễ hội theo mùa," Nina đáp, "rơi vào ngày xuân phân."

    "Hai tuần nữa kể từ hôm nay," Inej ghi nhận.

    Kaz nghiêng đầu, mắt tập trung vào một điểm xa xăm.

    "Mặt ủ mưu kìa," Jesper thì thào với Inej.

    Cô gật đầu đáp.

    "Rõ quá còn gì."

    "Thế Nhà Hồng Bạch có cử người sang đó không?"

    Kaz đột nhiên hỏi.

    Nina lắc đầu đáp.

    "Chưa bao giờ nghe nói tới chuyện đó."

    "Ngay cả nếu như chúng ta lập tức đi tới Djerholm," Inej nói, "chúng ta cũng phải cần một tuần lễ đi đường.

    Ta không có thời gian làm các giấy tờ giả mạo đủ tinh vi để qua mặt các chốt kiểm soát."

    "Chúng ta sẽ không đi vào qua cổng toà đại sứ," Kaz đáp.

    "Phải luôn tấn công vào nơi mục tiêu không để ý."

    "Ai là mục tiêu ạ?"

    Wylan hỏi.

    Jesper bật cười.

    "Thánh thần ơi, cậu thật là...

    Mục tiêu, con bồ câu, thằng khờ mà cậu đang tìm cách lột sạch ấy."

    Wylan ngồi thẳng người lại.

    "Có thể tôi không có sự... giáo dục của anh, nhưng tôi tin chắc mình biết nhiều chữ mà anh không biết."

    "Cũng như cách gấp khăn đúng điệu và nhảy một bài minuet.

    À, còn chơi cả sáo flute nữa.

    Kĩ năng ăn tiền, thiếu gia à.

    Kĩ năng ăn tiền."

    "Giờ không ai nhảy điệu minuet nữa," Wylan làu bàu.

    Kaz ngả người ra sau.

    "Cách dễ nhất để móc ví một người là gì?"

    "Kề dao vào cổ?"

    Inej hỏi lại.

    "Dí súng vào lưng?"

    Jesper phỏng đoán.

    "Bỏ độc vào rượu?"

    Nina đề xuất.

    "Các người thật kinh khủng," Matthias thốt lên.

    Kaz đảo mắt.

    "Cách dễ nhất để móc ví một người là bảo với anh ta rằng bạn sắp sửa chôm cái đồng hồ của anh ta.

    Ta phải thu hút sự chú ý của anh ta và hướng nó vào nơi mình muốn.

    Hringkälla sẽ làm điều đó cho chúng ta.

    Lâu Đài Băng sẽ phải huy động các nguồn lực để giám sát khách khứa và bảo vệ gia đình hoàng gia.

    Họ không thể quan sát tất cả mọi nơi cùng lúc.

    Đó là cơ hội hoàn hảo để giải cứu Bo Yul-Bayur."

    Kaz chỉ tay vào cổng nhà tù mở ra pháo đài tròn.

    "Còn nhớ tôi đã nói gì với cô ở cổng Địa Ngục không, Nina?"

    "Thật khó mà nhớ được mọi phát ngôn thông thái của anh."

    "Tại nhà tù, họ không quan tâm lắm tới người đi vào, họ chỉ quan tâm tới những kẻ cố gắng thoát ra thôi."

    Ngón tay đi găng của anh lướt trên bản sơ đồ tới khu vực kế tiếp.

    "Tại toà đại sứ thì họ không quan tâm tới người đi ra, họ chỉ kiểm soát những người muốn đi vào.

    Chúng ta sẽ đi vào bằng lối nhà tù, và đi ra qua toà đại sứ.

    Helvar, Đồng hồ Cả có hoạt động không?"

    Matthias gật đầu.

    "Đồng hồ đổ chuông mỗi mười lăm phút.

    Nó cũng phát báo động luôn."

    "Nó chạy có chính xác không?"

    "Dĩ nhiên rồi."

    "Chất lượng đồ Fjerda mà," Nina nói với giọng chua chát.

    Kaz phớt lờ cô gái.

    "Vậy chúng ta sẽ dùng tiếng chuông Đồng hồ Cả để phối hợp tác chiến với nhau."

    "Chúng ta cải trang làm lính gác để đi vào à?"

    Wylan hỏi.

    Jesper không thể kiềm chế được sự nhạo báng của mình.

    "Chỉ có Nina và Matthias nói được tiếng Fjerda, nhóc à."

    "Tôi cũng nói được mà," Wylan phản bác.

    "Thứ tiếng trong sách vở chứ gì?

    Tôi dám cá cậu nói tiếng Fjerda ở trình độ tương đương tôi nói tiếng nai sừng tấm."

    "Vậy chắc tiếng nai sừng tấm là tiếng mẹ đẻ của anh á, Jesper," Wylan lẩm bẩm.

    "Chúng ta sẽ đi vào theo đúng thân phận của mình," Kaz nói.

    "Như những tên tội phạm.

    Nhà tù luôn rộng cửa đón chúng ta."

    "Để tôi diễn đạt lại cho xuôi nhé," Jesper nói.

    "Anh muốn chúng ta để mặc cho bọn Fjerda tống vào tù.

    Chẳng phải đó là điều chúng ta luôn cố tránh hay sao?"

    "Danh tính của tội phạm là một thứ rất khó nắm bắt.

    Đó là một trong những đặc quyền của tầng lớp chúng ta.

    Họ sẽ đếm người tại cổng nhà tù, kiểm tra tên tuổi và mức án, chứ không xem giấy thông hành hoặc con dấu của sứ quán."

    "Bởi vì chẳng ai muốn vào tù," Jesper gật gù.

    Nina xoa xoa hai cánh tay.

    "Tôi không muốn bị nhốt trong một cái buồng giam trên đất Fjerda."

    Kaz giũ ống tay áo, và hai que kim loại xuất hiện giữa các ngón tay của anh.

    Chúng nhảy múa qua các đốt ngón tay anh trước khi lại biến mất.

    "Dụng cụ phá khoá à?"

    Nina hỏi.

    "Cứ để tôi lo liệu vụ buồng giam," Kaz đáp.

    "Tấn công vào nơi mục tiêu không để ý," Inej gật gù.

    "Đúng vậy," Kaz nói.

    "Và Lâu Đài Băng cũng chỉ là một mục tiêu, một con bồ câu lớn nằm chờ chúng ta vặt lông."

    "Liệu Yul-Bayur có sẵn sàng hợp tác không?"

    Inej thắc mắc.

    "Theo lời Van Eck thì Hội đồng đã gửi cho ông ta một từ mã hoá trong lần đầu tiên họ tìm cách đưa ông ta rời Shu Han, để ông ta có thể biết được ai là người đáng tin cậy: Sesh-uyeh.

    Từ khóa đó sẽ cho ông ta biết chúng ta là người được Kerch cử đến."

    "Sesh-uyeh" Wylan lặp lại một cách vụng về.

    "Nó có nghĩa là gì vậy?

    Nina nhìn xuống sàn nhà và đáp: "Thất vọng."

    "Vụ này có thể làm được," Kaz tuyên bố.

    "Và chúng ta sẽ là những người thực hiện nó."

    Jesper cảm thấy tâm trạng của mọi người trong phòng thay đổi, khi cơ hội thành công rốt cuộc đã xuất hiện.

    Nó là một thứ rất tinh tế, nhưng anh đã học cách tìm kiếm nó tại bàn chơi bài - chính là thời điểm một người chơi nhận ra anh ta có bài đẹp và cầm chắc thắng lợi.

    Sự nôn nao dâng lên trong lòng Jesper.

    Hỗn hợp của sợ hãi và hào hứng đó khiến anh khó mà ngồi yên.

    Có lẽ Matthias cũng cảm thấy điều đó, vì anh ta đã khoanh đôi tay lực sĩ lại và nói: "Các cậu không biết mình đang chống lại thứ gì đâu."

    "Nhưng anh thì biết, Helvar.

    Tôi muốn anh tiếp tục hoàn thiện bản sơ đồ của Lâu Đài Băng từ bây giờ cho đến khi chúng ta lên đường.

    Không có chi tiết nào là quá vụn vặt hoặc thừa thãi.

    Tôi sẽ thường xuyên kiểm tra tiến độ của anh."

    Inej lướt ngón tay trên bản vẽ phác thảo của Wylan - một tập hợp các vòng tròn đồng tâm.

    "Trông cái này thực sự giống với vân gỗ của một thân cây bị cắt ngang," cô nói.

    "Không," Kaz đáp ngay.

    "Nó giống với một cái bia bắn."

    9

    KAZ

    "Hôm nay chúng ta xong việc rồi," Kaz nói với những người khác.

    "Tôi sẽ báo tin cho mọi người sau khi tìm được một con tàu cho chúng ta, nhưng hãy chuẩn bị tinh thần để lên đường ngay tối mai."

    "Sớm vậy sao?"

    Inej hỏi.

    "Chúng ta chưa rõ sẽ đối mặt với tình hình thời tiết thế nào, phía trước còn cả một hành trình dài.

    Hringkälla là cơ hội tốt nhất để tiếp cận Bo YulBayur.

    Tôi sẽ không để mất nó."

    Kaz cần thời gian để suy nghĩ thấu đáo kế hoạch đang hình thành trong đầu.

    Anh đã có những ý tưởng cơ bản - nơi họ đi vào, cách họ thoát ra.

    Nhưng kế hoạch đó đồng nghĩa với việc họ không thể mang theo nhiều thứ.

    Cả nhóm sẽ phải hành động mà không có những sự hỗ trợ thường có.

    Tức là sẽ có nhiều tham số hơn và nhiều nguy cơ thất bại hơn.

    Đem theo Wylan Van Eck đồng nghĩa với việc ít nhất anh cũng bảo đảm họ sẽ nhận được tiền thưởng.

    Nhưng vụ này sẽ không dễ dàng.

    Thậm chí còn chưa rời khỏi Ketterdam, Wylan đã bộc lộ sự non nớt của mình.

    Cậu ta không nhỏ tuổi hơn Kaz quá nhiều, nhưng trông vẻ ngoài giống như một đứa trẻ - da nhẵn mịn, mắt to tròn như một chú cún con giữa một căn phòng toàn những con chó chiến.

    "Không được để cho Wylan gặp rắc rối," anh nói với Jesper lúc giải tán cuộc họp.

    "Tại sao lại là tôi?"

    "Đáng tiếc thay, cậu nằm ngay trong tầm mắt của tôi.

    Mà này, tôi không muốn có cuộc hòa giải bất ngờ nào giữa hai cha con họ trước khi chúng ta lên đường đâu đấy."

    "Chuyện đó thì anh không cần phải lo," Wylan lên tiếng.

    "Chuyện gì tôi cũng lo hết, thiếu gia à.

    Chính vì thế nên tôi mới còn tồn tại.

    Và cậu cũng cần để mắt tới Jesper."

    "Canh chừng tôi á?"

    Jesper nổi cáu.

    Kaz trượt một tấm ván gỗ sang bên cạnh để mở một két an toàn phía sau.

    "Phải, chính cậu."

    Anh lấy ra bốn cọc tiền rồi đưa cho Jesper.

    "Đây là để mua đạn, không phải để đánh bạc.

    Wylan, cậu phải giữ cho đôi chân của Jesper không dẫn anh ta vào một sòng bạc trên đường đi mua vũ khí, hiểu chưa?"

    "Tôi không cần vú em," Jesper gạt ngang.

    "Người hộ tống thì đúng hơn, nhưng nếu muốn cậu ta giặt khăn và soạn giường cho mình thì, đó là việc của cậu."

    Phớt lờ vẻ mặt cay cú của Jesper, Kaz đưa tiền cho Wylan mua thuốc nổ và một ít cho Nina để mua những món dụng cụ Thợ May cô cần.

    "Chỉ mua đủ dùng cho chuyến hải hành thôi nhé," anh nói.

    "Nếu mọi chuyện diễn ra như tôi dự tính, chúng ta sẽ phải đi tay không vào Lâu Đài Băng."

    Kaz thấy gương mặt của Inej thoáng sa sầm.

    Cô không thích bị tước mất mấy con dao, cũng như anh không muốn mất cây gậy chống.

    "Tôi cần cô đi mua áo ấm," anh nói với Inej.

    "Có một cửa hàng trên phố Wijnstraat chuyên cung cấp đồ dùng cho dân bẫy thú, hãy bắt đầu từ đó."

    "Cậu nghĩ đến việc tiếp cận nó từ phía bắc à?"

    Helvar hỏi.

    Kaz gật đầu.

    "Cảng Djerholm lúc nhúc nhân viên hải quan, và tôi dám cá họ sẽ siết chặt an ninh vào ngày tiệc tùng của các anh."

    "Đó không phải là một buổi tiệc."

    "Nghe nó rất giống với một buổi tiệc," Jesper lên tiếng.

    "Nó thực chất không phải là một buổi tiệc," Helvar đính chính với vẻ mặt sưng sỉa.

    "Chúng ta làm gì với anh ta bây giờ?"

    Nina hất đầu về phía Matthias.

    Giọng nói của cô nghe có vẻ bàng quan, nhưng chẳng ai tin vào điều đó, ngoại trừ Helvar.

    Tất cả đều đã trông thấy những giọt nước mắt của cô lúc ở cổng Địa Ngục.

    "Trong lúc chờ đợi, anh ta sẽ lưu lại Quạ Đen này.

    Tôi muốn anh vét cạn trí nhớ của mình, Helvar.

    Wylan và Jesper sẽ tham gia cùng anh sau.

    Chúng ta sẽ đóng cửa căn phòng này lại.

    Nếu có ai ở ngoài sảnh thắc mắc, cứ bảo họ là trong này đang diễn ra một ván bài kín."

    "Chúng tôi phải ngủ ở đây à?"

    Jesper hỏi lại.

    "Tôi cần lấy một số đồ ở

    Thanh Gỗ."

    "Cậu xoay xở được mà," Kaz đáp, mặc dù thừa biết yêu cầu Jesper qua đêm ở một sòng bài mà không đánh bạc là một hành động hết sức tàn nhẫn.

    Anh quay sang nói với những người còn lại.

    "Không được hé răng dù chỉ một lời với bất kì ai.

    Không ai được biết chúng ta sắp rời Ketterdam.

    Mọi người đi theo tôi để lo liệu công việc ở một điền trang ngoại thành.

    Có vậy thôi."

    "Anh có định tiết lộ thêm với chúng tôi bất cứ chi tiết nào trong kế hoạch thiên tài của anh không đấy?"

    Nina hỏi.

    "Lên tàu sẽ rõ.

    Mọi người càng biết ít thì càng để lộ ít."

    "Thế có cần phải trói Helvar lại không?"

    "Anh có cư xử đúng mực được không?"

    Kaz hỏi Matthias.

    Đôi mắt anh ta có vẻ dữ dằn, nhưng anh ta gật đầu.

    "Chúng ta sẽ khóa chặt cửa phòng này lại và cử một người canh gác."

    Inej quan sát anh chàng Fjerda vạm vỡ.

    "Hai đi cho chắc."

    "Giao việc đó cho Dirix và Rotty, nhưng đừng tiết lộ quá nhiều.

    Bọn họ sẽ lên đường cùng chúng ta, và tôi có thể kể chi tiết với họ sau.

    Wylan này, tôi và cậu cần trao đổi với nhau một chút.

    Tôi muốn biết mọi thứ về công ty thương mại của cha cậu."

    Wylan nhún vai.

    "Tôi chẳng biết gì đâu.

    Ông ấy không cho tôi tham gia vào các cuộc họp."

    "Chẳng lẽ cậu không bao giờ chơi loanh quanh trong phòng làm việc của ông ta?

    Cậu không tò mò lật xem các giấy tờ sao?"

    "Không bao giờ," Wylan đáp, cằm hơi hếch lên.

    Kaz ngạc nhiên nhận ra mình tin lời cậu bé.

    "Anh thấy chưa?"

    Jesper nói với giọng vui vẻ trong lúc đi ra cửa.

    "Vô dụng."

    Những người còn lại cũng nối gót Jesper.

    Kaz đóng két an toàn lại và xoay núm số.

    "Tôi muốn nói chuyện một chút với cậu, Brekker," Helvar nói.

    "Chuyện riêng."

    Inej đưa mắt cảnh báo Kaz, nhưng anh phớt lờ.

    Cô tưởng anh không thể xử lí một gã lực điền như Matthias Helvar chắc?

    Anh đóng tấm ván ốp tường lại và co duỗi cái chân.

    Lúc này nó đang bị đau sau quá nhiều đêm thức khuya và quá nhiều thời gian nâng đỡ trọng lượng cơ thể của anh.

    "Cứ đi đi, Bóng Ma," anh nói.

    "Nhớ đóng cửa lại sau lưng cô."

    Ngay khi cánh cửa đóng lại, Matthias lao vào anh.

    Kaz để mặc cho chuyện đó xảy ra vì anh đã dự liệu sẵn rồi.

    Matthias đưa một bàn tay bẩn thỉu lên bịt miệng Kaz.

    Sự tiếp xúc tạo ra choáng váng trong đầu Kaz, nhưng nhờ đã tiên lượng cú tấn công nên anh kiểm soát được cảm giác buồn nôn của mình.

    Matthias thò bàn tay còn lại vào sục sạo các túi trong áo choàng của Kaz.

    "Fer esje?"

    Anh ta gầm ghè giận dữ bằng tiếng Fjerda.

    Và rồi: "Nó đâu rồi?" bằng tiếng Kerch.

    Kaz để yên cho Helvar lục soát một lúc nữa, rồi hạ cùi chỏ xuống và hất mạnh lên, buộc Helvar nới lỏng cú siết.

    Anh dễ dàng thoát ra và dùng gậy chống đập mạnh vào khoeo chân phải của Helvar.

    Tay người Fjerda đổ gục xuống sàn.

    Khi anh ta cố gắng đứng dậy, Kaz đá anh ta một cú.

    "Nằm yên đó, đồ tồi."

    Một lần nữa Helvar tìm cách đứng dậy.

    Anh ta khá nhanh nhẹn, và nhà tù đã làm cho anh ta mạnh hơn.

    Kaz đánh mạnh vào cằm Helvar, rồi dùng gậy chọc hai cú cực nhanh vào hai yếu huyệt trên vai anh ta.

    Tay người Fjerda rú lên, hai cánh tay tê liệt buông thõng bên sườn.

    Kaz xoay xoay cây gậy chống trong tay rồi ấn cái đầu quạ vào cổ họng Helvar.

    "Manh động một lần nữa thôi là tôi sẽ quật vào quai hàm anh mạnh tới mức anh chỉ có thể húp cháo trong suốt phần đời còn lại."

    Tay người Fjerda ngồi yên, đôi mắt xanh ánh lên ngọn lửa căm thù.

    "Lệnh ân xá đâu?"

    Helvar gằn giọng.

    "Tôi đã thấy cậu cất nó trong túi mà?"

    Kaz khom người cúi xuống bên cạnh anh ta và rút tờ giấy gấp nhỏ ra từ trong một túi áo mà chỉ mới vài giây trước hãy còn trống rỗng.

    "Cái này ấy hả?"

    Helvar buông thõng đôi tay vô dụng, rồi thốt lên một tiếng trầm đục khi Kaz làm cho tờ giấy biến mất ngay trước mặt anh ta.

    Nó xuất hiện trở lại giữa những ngón tay của Kaz.

    Anh lật nó lại, lướt tay trên các dòng chữ, rồi cho Helvar xem mặt giấy trắng.

    "Demjin" Helvar lẩm bẩm.

    Kaz không hiểu tiếng Fjerda, nhưng riêng chữ này thì anh biết nghĩa.

    Ma quỷ.

    Không hẳn thế.

    Kaz đã học trò ảo thuật này từ mấy gã chơi bài ở Đông Stave, và dành hàng giờ luyện tập trước tấm gương hoen ố mà anh mua được bằng tuần lương đầu tiên.

    Kaz gõ nhẹ cây gậy chống vào cằm Helvar.

    "Ngoài cái trò mà anh vừa thấy tôi làm, tôi còn cả trăm mánh lới khác.

    Anh tưởng một năm ngồi tù ở Cổng Địa Ngục làm anh cứng cỏi và thiện chiến hơn à?

    Hồi tôi còn bé, chắc cổng Địa Ngục sẽ là một thiên đường đối với tôi.

    Anh di chuyển như một con trâu, anh sẽ chỉ sống sót được hai ngày trên những con phố nơi tôi lớn lên.

    Đây là lần duy nhất tôi cho anh ra tay.

    Đừng có dại dột thử tôi lần nữa.

    Gật đầu đi, để tôi biết anh đã hiểu."

    Helvar cắn chặt môi và gật đầu một cái.

    "Tốt.

    Tôi nghĩ đêm nay chúng tôi sẽ còng chân anh lại."

    Kaz đứng lên, chộp lấy chiếc mũ đã bỏ lại trên bàn, và đá một cái cuối cùng vào thắt lưng của tay người Fjerda cho anh ta nhớ.

    Đôi khi những kẻ to xác hay quên mất cách cúi đầu.

    10

    INEJ

    Suốt cả ngày hôm sau, Inej thấy Kaz bắt đầu sắp xếp lại các phần trong kế hoạch của mình.

    Cô đã nghe lén những cuộc họp giữa anh và các thành viên khác trong nhóm, nhưng cô biết mình chỉ thấy được những mảnh nhỏ trong kế hoạch của anh.

    Đó là trò mà Kaz rất giỏi.

    Nếu Kaz nghi ngại về điều họ đang tìm cách thực hiện thì anh cũng không biểu hiện ra mặt, và Inej chỉ ước gì mình có được sự chắc chắn của anh.

    Lâu Đài Băng được xây dựng để có thể chống lại sự tấn công của quân đội, sát thủ, Grisha, cũng như các gián điệp.

    Khi cô nói điều đó với Kaz, anh chỉ đáp gọn lỏn: "Nó không được xây dựng để ngăn chặn chúng ta."

    Sự tự tin của Kaz khiến cô bực bội.

    "Chuyện gì khiến anh nghĩ chúng ta có thể làm được vụ này?

    Có những nhóm khác ở ngoài kia, những chiến binh và gián điệp với bề dày nhiều năm kinh nghiệm."

    "Đây không phải là một nhiệm vụ dành cho các chiến binh và gián điệp được đào tạo.

    Nó là một phi vụ dành cho bọn bất lương và trộm đạo.

    Van Eck hiểu điều đó, chính vì vậy ông ta mới thuê chúng ta."

    "Anh chẳng thể tiêu được tiền thưởng nếu anh bỏ mạng."

    "Tôi sẽ học những thói quen xa xỉ ở thế giới bên kia."

    "Có một sự khác biệt không nhỏ giữa tự tin và tự cao đấy."

    Đến đó thì Kaz quay lưng lại với cô, rồi kéo mạnh hai cái găng tay của mình.

    "Và khi cần nghe một bài thuyết giáo về điều đó, tôi biết mình phải tìm đến ai.

    Nếu cô không muốn tham gia thì cứ nói trắng ra đi."

    Inej thẳng người lại, lòng kiêu hãnh của cô dâng cao ngùn ngụt.

    "Matthias không phải là thành viên duy nhất không thể thay thế trong nhóm, Kaz.

    Anh cần tôi."

    "Tôi cần kĩ năng của cô, Inej.

    Đó là một chuyện khác.

    Cô có thể là người nhện giỏi nhất Barrel, nhưng không phải duy nhất.

    Tốt hơn cô nên ghi nhớ điều đó nếu muốn giữ phần chia trong khoản tiền thưởng."

    Không thèm đôi co vì không muốn cho thấy mình giận dữ đến thế nào, Inej bước ra khỏi phòng của Kaz và không nói chuyện với anh ta nữa.

    Giờ đây, trong lúc đi tới cảng, cô tự hỏi điều gì đã níu chân cô lại.

    Cô có thể rời khỏi Kerch bất cứ khi nào mình muốn.

    Cô có thể nhảy lên một con tàu hàng đi tới Novyi Zem.

    Cô có thể quay lại Ravka để tìm kiếm gia đình mình.

    Hi vọng họ vẫn an toàn ở phía tây khi cuộc nội chiến bùng nổ, hoặc có thể họ đã sang Shu Han để lánh nạn.

    Những đoàn lữ hành của Suli luôn đi theo cùng một lộ trình, và cô có kĩ năng để xoáy được những thứ cần thiết cho việc sinh tồn cho tới khi tìm ra họ.

    Điều đó sẽ đồng nghĩa với việc quỵt luôn món nợ đối với Cặn Bã.

    Per Haskell sẽ quy trách nhiệm cho Kaz.

    Anh sẽ phải gánh món nợ tiền chuộc của cô, và cô sẽ làm anh yếu đi vì thiếu các thông tin mật được cung cấp bởi Bóng Ma của anh.

    Nhưng chẳng phải anh đã bảo là người khác có thể dễ dàng thế chỗ cô đó sao?

    Nếu họ xoay xở hoàn thành được phi vụ này và quay về Kerch an toàn cùng với Bo Yul-Bayur, phần tiền cô nhận được sẽ thừa sức giúp cô trả dứt món nợ với Cặn Bã.

    Cô sẽ không còn nợ nần gì Kaz nữa, và cũng không còn lí do gì để ở lại.

    Còn khoảng một giờ nữa mặt trời mới ló dạng, nhưng đường phố đã đông hẳn lên trong khi cô đi từ Đông sang Tây Stave, có một câu ngạn ngữ Suli như thế này: Trái tim là một mũi tên.

    Nó cần một mục tiêu để cắm vào.

    Bố cô thích dẫn câu đấy lúc cô tập đi trên dây hoặc tập đu bay.

    Phải quyết đoán, bố nói vậy.

    Con phải biết mình muốn đi đâu trước khi tới đó.

    Mẹ cô vẫn cười khi nghe câu đó.

    Câu ấy không phải như vậy, mẹ sẽ nói thế.

    Anh cứ xoá bỏ sự lãng mạn trong mọi thứ.

    Thực ra không phải thế.

    Bố rất yêu mẹ.

    Inej còn nhớ bố đã giấu những bó hoa phong lữ dại nhỏ ở khắp nơi cho mẹ đi tìm, trong tủ chạn, trong xoong nồi, trong ống tay áo các bộ trang phục của mẹ.

    Bố có nên nói cho con biết bí mật của tình yêu chân thành không nhỉ?

    Có lần bố đã hỏi Inej như thế.

    Một người bạn của bố bảo rằng phụ nữ rất thích hoa.

    Chú ấy cưa cẩm không ít lần nhưng vẫn chưa tìm được người vợ ưng ý.

    Con có biết tại sao không?

    Bởi vì nhiều phụ nữ có thể thích hoa, nhưng chỉ có một người thích mùi của cây dành dành cuối hạ, thứ mùi khiến cô ấy nhớ tới hiên nhà của ông bà mình.

    Chỉ có một người phụ nữ thích những bông hoa táo nở trong chiếc tách màu xanh.

    Chỉ có một phụ nữ thích hoa phong lữ dại.

    Chính là mẹ!

    Inej đã thốt lên như thế.

    Đúng là mẹ con thích hoa phong lữ dại, vì không loài hoa nào khác có màu như thế.

    Mẹ bảo khi bẻ một cành hoa giắt vào sau tai, cả thế giới của mẹ sẽ có mùi hương mùa hè.

    Sẽ có nhiều đứa con trai tặng hoa cho con.

    Nhưng một ngày nào đó, con sẽ gặp một người biết được loài hoa ưa thích của con, bài hát ưa thích của con, loại kẹo ưa thích của con.

    Và ngay cả khi anh chàng ấy không có đủ tiền để tặng cho con những cái đó thì cũng không quan trọng, bởi vì cậu ấy đã dành thời gian để tìm hiểu con kĩ hơn những người khác.

    Chỉ có chàng trai ấy mới chiếm được trái tim của con.

    Câu chuyện tưởng như đã xa xưa hàng trăm năm rồi.

    Bố cô đã nhầm.

    Chẳng có chàng trai nào tặng hoa cho cô, chỉ có những gã đàn ông lắm tiền nhiều của.

    Cô có còn dịp nào gặp lại bố nữa hay không?

    Có còn được nghe mẹ hát, được nghe kể những câu chuyện ngốc nghếch của chú cô nữa không?

    Con không biết mình có còn trái tim để tặng cho ai đó nữa hay không, bố ơi.

    Vấn đề là Inej không còn dám chắc về mục đích sống của mình.

    Hồi cô còn bé, điều đó thật dễ dàng - một nụ cười của bố, sợi dây thăng bằng được nâng cao thêm, những chiếc bánh cam bọc trong giấy trắng.

    Sau đó là thoát khỏi Dì Heleen và Vườn Thú, kế đó nữa là sống sót qua từng ngày, mạnh mẽ dần lên sau mỗi lần vươn vai thức dậy.

    Nhưng giờ đây, cô không biết mình muốn gì.

    Ngay lúc này, mình chỉ cần một lời xin lỗi, cô tự nhủ.

    Và mình sẽ không lên tàu khi chưa nhận được nó.

    Nếu không thực lòng thì giả vờ xin lỗi cũng được.

    Ít nhất Kaz cũng nợ mình một lần cư xử như một con người.

    Nếu không phải đang bị muộn giờ, chắc cô đã đánh vòng qua Tây Stave, hoặc đơn giản là đi trên các mái nhà - đó là Ketterdam mà cô thích, vắng vẻ và yên tĩnh, cao trên đám đông, một vùng núi non tạo thành từ các đầu hồi và ống khói nhấp nhô dưới ánh trăng.

    Nhưng đêm nay cô không có nhiều thời gian.

    Kaz đã cử cô đi lùng sục các cửa hiệu để tìm hai cục parafin vào phút chót.

    Thậm chí anh không cho cô biết mình cần chúng cho việc gì và tại sao lại cần đến thế.

    Lại còn kính đi tuyết nữa chứ?

    Cô đã phải đi ba cửa hàng mới kiếm được.

    Cô mệt đến nỗi không tin mình có thể leo trèo trên mái nhà sau hai đêm không ngủ và một ngày vật lộn với đống trang bị dành cho chuyến đi tới Lâu Đài Băng.

    Nhưng đây cũng là một sự thử thách bản thân.

    Cô chưa bao giờ đi một mình vào Tây Stave, với vài thành viên băng Cặn Bã bên cạnh, cô có thể rảo bước ngang qua Vườn Thú mà không thèm nhìn về phía các song cửa sổ mạ vàng của nó.

    Nhưng đêm nay, tim cô đập thình thịch, và cô có thể cảm nhận được máu dồn lên tai khi cái mặt tiền vàng choé của nó hiện ra.

    Kiến trúc của Vườn Thú khiến người ta liên tưởng đến một cái lồng nhiều tầng.

    Hai tầng dưới cùng mở toang, nhưng được lắp các chấn song thưa mạ vàng.

    Nó còn được biết đến với tên gọi Nhà Viễn xứ.

    Nếu bạn thích gái đẹp Shu Han hoặc một cô nàng Fjerda đồ sộ, một nàng tóc hung đảo Wandering hay một cô Zemeni da nâu, Vườn Thú chính là nơi bạn cần tới.

    Môi cô gái ở đây được gọi theo tên một loài thú - báo hoa, ngựa cái, cáo, quạ, chồn sương, nai tơ, rắn.

    Các thầy bói Suli đeo mặt nạ chó rừng khi bán đồ và xem số mệnh cho người ta.

    Nhưng ai lại muốn lên giường với một con chó rừng?

    Thế nên cô gái người Suli Vườn Thú luôn có một cô gái Suli - được gọi là linh miêu.

    Khách hàng không đến để tìm kiếm các cô gái, họ chỉ tìm kiếm làn da ngăm của người Suli, mái tóc đỏ của người Kaelish, đôi mắt xếch ánh vàng của người Shu.

    Các loài vật được giữ nguyên dù các cô gái đã được thay thế nhiều lần.

    Thoáng thấy mấy cọng lông công trong phòng tiếp khách, tim cô bỗng đập dồn.

    Nó chỉ là vật trang trí của một bình hoa kiểu cách, nhưng sự hoảng loạn trong cô không cần biết điều đó.

    Nó dâng lên, bóp nghẹt đường thở của cô.

    Đám đông chen chúc đi theo các ngả đường, đàn ông đeo mặt nạ, phụ nữ đeo mạng, hay cũng có thể là đàn ông đeo mạng và phụ nữ đeo mặt nạ.

    Thật khó để xác định.

    Những cặp sừng của Yêu tinh.

    Các cặp mắt lồi của Gã điên, khuôn mặt rầu rĩ của Hoàng hậu Bọ hung được chạm trổ với hai màu đen và vàng.

    Giới hoạ sĩ thích vẽ quang cảnh của Tây Stave: các chàng trai cô gái làm việc tại các nhà chứa, những kẻ tầm hoan tác lạc ăn vận theo các nhân vật của Hài kịch Thô lỗ.

    Nhưng ở đây không có gì đẹp, không có niềm vui thực sự, chỉ có đổi chác, những con người trốn chạy thực tế hoặc đi tìm sự quên lãng đầy màu sắc, một giấc mơ hoang đàng mà người ta có thể thoát ra bất cứ khi nào mình muốn.

    Inej cố ép mình nhìn vào Vườn Thú khi đi ngang qua.

    Chỉ là một nơi chốn thôi mà, cô tự nhủ.

    Chỉ là một ngôi nhà.

    Kaz sẽ nhìn nó như thế nào nhỉ?

    Các cửa ra vào và lối thoát hiểm nằm ở đâu?

    Các ổ khoá hoạt động như thế nào?

    Cửa sổ nào không được lắp chấn song?

    Có bao nhiêu bảo vệ đứng canh, và những ai có vẻ cảnh giác?

    Chỉ là một ngôi nhà có khóa để phá, có két tiền để cạy, và có những chú bồ câu để vặt lông.

    Hơn nữa, bây giờ cô đã là kẻ săn mồi, chứ không phải mụ Heleen đeo lông công hay bất cứ người đàn ông nào đi trên con đường này.

    Ngay khi Vườn Thú khuất dạng, cảm giác tức ngực khó thở của Inej lập tức giảm hẳn.

    Cô đã thành công.

    Cô đã đi bộ một mình xuyên qua khu Tây Stave, ngay trước Nhà Viễn Xứ.

    Bất cứ điều gì chờ đợi cô tại Fjerda, cô sẽ đương đầu được.

    Bỗng một bàn tay tóm lấy cánh tay Inej và nhấc bổng cô lên.

    Inej nhanh chóng lấy lại thăng bằng.

    Cô quay người, tìm cách thoát thân, nhưng đối thủ quá mạnh.

    "Xin chào linh miêu."

    Inej hít một hơi và giật tay ra.

    Dì Heleen.

    Đó là cái tên mà các cô gái dùng để gọi Heleen Van Houden nếu không muốn ăn tát.

    Còn với phần còn lại của Barrel, mụ ta là Công, mặc dù Inej luôn cho rằng mụ ta giống một con mèo chải chuốt hơn là một con chim.

    Tóc của mụ dày và vàng óng, mắt màu nâu nhạt và hơi giống mắt mèo.

    Vóc dáng cao ráo với những đường cong nóng bỏng của mụ được bọc trong một lớp lụa xanh rực rỡ, cái cổ áo gắn những chiếc lông ngũ sắc cạ nhẹ vào chiếc vòng cổ choker đính kim cương đặc trưng của mụ.

    Inej quay người định bỏ chạy, nhưng bị chắn lối bởi một gã vệ sĩ to con khoác chiếc áo choàng nhung xanh có phần vai chật khít.

    Cobbet, vệ sĩ ưa thích của Heleen.

    "Ồ, đừng có bỏ chạy chứ, linh miêu."

    Mắt Inej nhoà lệ.

    Mắc bẫy.

    Mắc bẫy.

    Lại mắc bẫy.

    "Đó không phải là tên của tôi," cô gắng gượng thốt lên.

    "Cứng đầu thế."

    Heleen túm lấy áo Inej.

    Di chuyển đi, tâm trí cô hét lên, nhưng cô không thể nhúc nhích.

    Cơ bắp của cô cứng lại, nỗi kinh hoàng dâng lên trong cô.

    Heleen lướt một cái móng tay được chăm chút cẩn thận dọc theo má Inej.

    "Linh miêu là cái tên duy nhất của con," mụ nói như hát.

    "Con vẫn còn đủ xinh để được trả giá cao.

    Mặc dù đôi mắt đã hơi dừ sau khoảng thời gian quá dài dan díu với cái thằng du côn Brekker ấy."

    Một âm thanh đáng xấu hổ bật ra từ trong cổ họng Inej.

    Một tiếng khò khè nghẹn ngào.

    "Ta biết con là ai mà, linh miêu.

    Ta biết con đáng giá đến từng xu.

    Cobbet, hay là chúng ta đưa con bé về luôn nhỉ."

    Mắt Inej đen kịt lại.

    "Sao các người dám...

    Băng Cặn Bã..."

    "Ta có thể kiên nhẫn chờ đợi, linh miêu à.

    Con sẽ lại mặc những chiếc váy lụa của ta.

    Ta hứa đấy."

    Heleen thả cô ra.

    "Tận hưởng đêm của con đi nhé," mụ mỉm cười nói, rồi xoè cái quạt màu xanh của mình và ưỡn ẹo biến vào trong đám đông với Cobbet nối đuôi theo sau.

    Inej đứng sững, run bần bật.

    Sau đó cô lao vào trong đám đông để biến mất thật nhanh.

    Cô những muốn bỏ chạy, nhưng cô cố ép mình đi trên những bước chân vững vàng về phía hải cảng.

    Trong lúc bước đi, cô thả nút bấm của bao đựng dao ở cẳng tay và cảm nhận những con dao găm trượt xuống lòng bàn tay mình.

    Thánh Petyr, nổi tiếng vì sự quả cảm, bên tay phải; và lưỡi dao mảnh có cán bằng xương mà cô gọi là Thánh nữ Alina, bên tay trái.

    Inej cũng điểm lại tên của những con dao khác.

    Thánh nữ Marya và Thánh nữ Anastasia đeo ở hai bên đùi.

    Thánh Vladimir giấu trong giày, và Thánh nữ Lizabela trong thắt lưng, có phần lưỡi được chạm hình những bông hoa hồng.

    Bảo vệ ta, bảo vệ ta, cô phải tin các vị thánh của cô đã nhìn thấy và hiểu rõ những việc cô làm để tồn tại.

    Có gì không ổn nơi cô vậy?

    Cô là Bóng Ma.

    Cô không có gì phải sợ Dì Heleen nữa cả.

    Per Haskell đã trả tiền để chuộc cô ra.

    Ông ta đã trả lại tự do cho cô.

    Cô không phải là một nô lệ.

    Cô là một thành viên có giá trị của băng Cặn Bã, người đánh cắp bí mật giỏi nhất khu Barrel.

    Inej nhanh chóng băng qua vùng ánh sáng và tiếng nhạc của Lid để thấy hải cảng Ketterdam hiện ra trước mắt.

    Những âm thanh và quang cảnh của khu Barrel dần biến đi khi cô tiến lại gần mép nước.

    Ở đây không có đám đông nào chen lấn cô, cũng không có mùi nước hoa ngọt ngào giả tạo hay những chiếc mặt nạ gớm ghiếc.

    Cô hít một hơi thật sâu.

    Từ điểm quan sát này cô có thể trông thấy đỉnh của một trong những tòa tháp Tiết Hải Sư, nơi luôn sáng ánh đèn.

    Những cột đá đen đồ sộ được một nhóm Grisha cắm chốt cả ngày lẫn đêm, nhằm giữ cho thuỷ triều luôn cao hơn dải đất nối giữa Kerch và Shu Han.

    Ngay cả Kaz cũng chưa bao giờ biết được danh tính của Hội đồng Thuỷ triều, nơi họ sống, hay làm thế nào đảm bảo lòng trung thành của họ với Kerch.

    Họ cũng quan sát các hải cảng, và nếu nhận được tín hiệu từ một người phụ trách hoặc một công nhân bến cảng, họ sẽ làm thuỷ triều thay đổi, để không ai có thể ra khơi được nữa.

    Nhưng đêm nay sẽ không có tín hiệu nào.

    Tiền hối lộ đã được đút cho những người thích hợp, và con thuyền của bọn cô đã sẵn sàng ra khơi.

    Inej chạy tới bến bốc dỡ hàng của Cảng số Năm.

    Cô đã bị muộn giờ và không muốn nhận được cái nhíu mày chê trách của Kaz lúc tới nơi.

    Cô thấy mừng vì sự yên ắng trên bến, nhưng dường như chúng quá tĩnh lặng so với sự ồn ào hỗn loạn của Barrel.

    Ở đây, những dãy thùng hàng được chất chồng cao hai bên cô, có khi ba, bốn lớp thùng.

    Chúng biến khu vực này thành một dạng mê cung.

    Một giọt mồ hôi lạnh lăn xuống dưới thắt lưng cô.

    Cuộc chạm trán với Dì Heleen đã khiến cô rúng động, và ngay cả sức nặng của mấy con dao trong tay cũng không đủ để trấn an cô.

    Inej biết mình nên tập quen với việc mang súng theo người, nhưng trọng lượng của nó làm cô mất thăng bằng, và súng luôn có thể bị rít hoặc kẹt đạn vào những khoảnh khắc tệ hại nhất.

    Linh miêu bé nhỏ.

    Những con dao của cô mới đáng tin.

    Và chúng khiến cô có cảm giác như mình được sinh ra với bộ móng vuốt.

    Một làn hơi sương mỏng manh bốc lên từ mặt nước.

    Inej trông thấy qua màn sương bóng dáng của Kaz cùng những người khác đang đứng đợi trên cầu tàu.

    Tất cả đều mặc trang phục thường thấy của thuỷ thủ: quần dài vải gai dầu, áo khoác len dày và mũ.

    Ngay cả Kaz cũng đã cất bộ comlê may khéo để khoác lên người chiếc áo choàng len dày sụ.

    Mái tóc đen dày của anh được chải lật ra sau, phần tóc hai bên thái dương cắt ngắn như mọi khi.

    Trông anh giống như một công nhân bốc xếp, hoặc một chàng trai lần đầu tiên được giương buồm ra khơi.

    Inej có cảm giác như mình đang nhìn một thực tế khác, dễ chịu hơn, qua một cái ống nhòm.

    Phía sau lưng họ, cô trông thấy chiếc thuyền hai buồm nhỏ mà Kaz đã thuê.

    Trên thân thuyền là dòng chữ Ferolind viết bằng nét đậm.

    Nó sẽ lướt cùng đàn cá bay màu đỏ tía của Kerch và lá cờ sặc sỡ của Công ty Haanraadt Bay.

    Đối với bất kì ai ở Fjerda hoặc Chân Hải, họ sẽ trông giống như một đám thợ đặt bẫy người Kerch đang đi lên phương bắc để tìm kiếm da và lông thú.

    Inej chạy nhanh hơn.

    Nếu cô không muộn giờ, chắc họ đã lên thuyền hoặc thậm chí đang trên đường ra khơi.

    Họ chỉ sử dụng một thuỷ thủ đoàn gọn nhẹ gồm những cựu thuỷ thủ đã gia nhập vào băng Cặn Bã do một sự sa cơ nào đó.

    Qua màn sương, cô đếm nhanh số lượng người đang chờ đợi.

    Nhưng con số dường như không chuẩn xác.

    Họ đã huy động thêm bốn thành viên nữa của băng Cặn Bã để giúp giương buồm, vì không ai trong số bọn cô rành rẽ chuyện buộc dây, nhưng cô không thấy bốn người đó đâu.

    Chắc là họ đã lên thuyền chăng?

    Nhưng ngay khi nghĩ đến đó, đôi giày của cô bỗng đạp phải một thứ gì đó mềm mềm khiến cô loạng choạng.

    Cô nhìn xuống.

    Trong ánh sáng nhá nhem của những ngọn đèn đường, cô nhận ra Dirix, một thành viên băng Cặn Bã lẽ ra phải lên đường cùng bọn cô.

    Có một lưỡi dao cắm vào bụng anh, và đôi mắt anh đã mờ đục.

    "Kaz!"

    Cô hét lên.

    Nhưng đã quá muộn.

    Chiếc thuyền buồm nổ tung hất Inej lên cao, đồng thời nhấn chìm bến tàu trong biển lửa.

    11

    JESPER

    Jesper luôn cảm thấy khá hơn khi người ta bắn anh.

    Không phải anh thích chết (thật ra, kết cục tiềm tàng đó rõ ràng là một hạn chế), nhưng nếu lo lắng về chuyện phải sống, chắc anh sẽ không thể nghĩ được bất cứ điều gì khác.

    Âm thanh đó - tiếng rít của những loạt đạn - hơn hết thảy khiến cho cái phần rời rạc, nóng nảy và thường xuyên tìm kiếm của tâm trí anh tập trung trở lại.

    Nó tốt hơn việc ngồi bên bàn và chờ đợi ba lá bài chung đầu tiên của ván poker, tốt hơn việc đứng bên vòng quay may mắn và xem con số của mình xuất hiện.

    Anh đã khám phá ra điều này trong trận chiến đầu tiên ở biên giới Novyi Zem.

    Bố anh lúc đó đầm đìa mồ hôi, tay run rẩy đến nỗi suýt không nạp được đạn cho khẩu súng trường.

    Nhưng Jesper đã tìm thấy thiên hướng của mình.

    Lúc này anh đang tì tay vào nóc một thùng hàng và bắn bằng cả hai tay.

    Vũ khí của anh là những khẩu súng lục sản xuất tại Novyi Zem, có thể bắn sáu phát liên tục.

    Chúng không có địch thủ ngang tầm tại Ketterdam này.

    Anh có thể cảm thấy chúng nóng lên trong tay mình.

    Kaz đã cảnh báo họ nên đề phòng sự cạnh tranh đến từ những băng nhóm khác cũng đang muốn giành phần thưởng bằng mọi giá, nhưng mọi chuyện xấu đi quá sớm.

    Họ đang bị bao vây, mất ít nhất một người, phía sau lưng là con thuyền cháy rừng rực.

    Họ đã mất phương tiện di chuyển tới Fjerda, và cơn mưa đạn hiện tại cho thấy họ đang bị áp đảo về số lượng.

    Nhưng chuyện này đã có thể tệ hơn, họ có thể đã ở trên thuyền khi nó phát nổ.

    Jesper thụp người xuống để nạp đạn và không thể tin vào mắt mình.

    Wylan Van Eck đang nằm co quắp trên bến tàu, đôi bàn tay công tử mềm mại giơ lên che đầu.

    Jesper cố nén một tiếng thở dài, bắn vài phát đạn yểm trợ, rồi lao ra khỏi sự che chắn của cái thùng hàng.

    Anh túm lấy cổ áo của Wylan và lôi cậu nhóc vào trong chỗ nấp.

    Jesper lay nhẹ Wylan.

    "Bình tĩnh lại nào, nhóc."

    "Đừng gọi tôi là nhóc," Wylan lẩm bẩm và gạt tay anh ra.

    "Tốt thôi, ông cụ.

    Cậu có biết bắn súng không?"

    Wylan chậm rãi gật đầu.

    "Bắn chơi thì biết."

    Jesper đảo mắt.

    Anh gỡ khẩu súng trường đeo sau lưng và giúi vào ngực Wylan.

    "Tốt.

    Cái này cũng giống như bắn vào mấy con bồ câu bằng đất, chỉ khác ở âm thanh vang lên khi cậu bắn trúng."

    Jesper xoay người, lập tức giơ súng lục về phía vừa thoáng thấy động tĩnh, nhưng hoá ra đó là Kaz.

    "Đi về phía đông tới bến kế tiếp, thuyền neo ở cọc hai mươi hai," Kaz nói.

    "Cái gì ở cọc hai mươi hai cơ?"

    "Chiếc Ferolind thật."

    "Nhưng..."

    "Con thuyền vừa bị nổ chỉ là vật nghi trang."

    "Anh biết sao?"

    "Không, là tôi cẩn trọng.

    Tôi luôn như vậy, Jesper."

    "Lẽ ra anh nên nói với chúng tôi..."

    "Như thế thì vật nghi trang của chúng ta sẽ không còn ý nghĩa nữa.

    Đi thôi."

    Kaz liếc nhìn Wylan, lúc này đang đứng bồng khẩu súng trường như một đứa trẻ con.

    "Và bảo đảm cậu ta lên thuyền lành lặn."

    Jesper nhìn Kaz biến vào trong bóng tối với cây gậy trong một tay và khẩu súng trong tay còn lại.

    Dù chỉ có một chân khoẻ mạnh, Kaz đúng là nhanh nhẹn phát khiếp lên được.

    Anh huých nhẹ Wylan.

    "Ta đi thôi."

    "Đi á?"

    "Cậu không nghe những gì Kaz vừa nói à?

    Chúng ta cần phải tới được cọc neo thuyền số hai mươi hai."

    Wylan gật đầu lia lịa.

    Đôi mắt cậu nhóc bần thần, mở to như đít chén.

    "Cậu chỉ việc nấp phía sau lưng tôi và cố không để bị bắn hạ.

    Sẵn sàng chưa?"

    Wylan lắc đầu.

    "Vậy thì quên câu hỏi vừa rồi đi."

    Jesper đặt bàn tay của cậu bé lên báng súng trường.

    "Lên đường thôi."

    Anh bắn một loạt đạn nữa với mục đích tung hỏa mù.

    Xả xong chỗ đạn của khẩu súng lục, anh lao ra từ sau thùng hàng và chạy vào trong bóng tối.

    Tưởng đâu Wylan không bám theo mình, anh nhẹ cả người khi nghe thấy tiếng cậu ta thở hồng hộc trong lúc họ lao nhanh về phía mấy cái thùng chất đống phía trước.

    Jesper rít lên khi một viên đạn bay sượt qua má anh, gần đến nỗi để lại một vết bỏng.

    Họ nhảy bổ ra phía sau mấy cái thùng.

    Từ điểm quan sát này, anh trông thấy Nina chui vào giữa hai dãy thùng hàng.

    Cô giơ hai cánh tay lên, và khi một trong số những kẻ tấn công họ lộ diện, cô siết chặt nắm đấm.

    Gã kia đổ gục xuống đất, tay ôm ngực.

    Nhưng Nina gặp bất lợi giữa cái mê cung này.

    Độc Tâm Y cần phải nhìn thấy mục tiêu của mình mới hạ thủ được.

    Helvar đang ở phía sau Nina, lưng áp vào một thùng hàng, hai tay bị trói.

    Một biện pháp đề phòng cần thiết, nhưng anh chàng người Fjerda rất đáng giá.

    Jesper chưa kịp thắc mắc vì sao Kaz lại trói anh ta thì Nina đã rút từ trong tay áo ra một con dao và cắt phăng sợi dây trói.

    Cô ấn khẩu súng vào tay anh ta.

    "Tự vệ đi," cô gằn giọng, trước khi hướng sự tập trung vào cuộc chiến trở lại.

    Thiếu khôn ngoan rồi, Jesper nghĩ thầm.

    Đừng quay lưng về phía một gã Fjerda bặm trợn chứ.

    Helvar trông giống như đang cân nhắc việc bắn vào Nina.

    Jesper nâng súng lên, sẵn sàng bắn hạ anh ta.

    Nhưng rồi Helvar đã tiến lên đứng cạnh Nina và chĩa súng về phía mê cung các thùng hàng trước mặt.

    Như thể họ đang chiến đấu cùng nhau.

    Có phải Kaz đã cố tình để cho Matthias đi cùng với Nina không nhỉ?

    Với Kaz thì Jesper không thể nào đoán được đâu là một kế hoạch khôn ngoan, đâu là trò may rủi.

    Jesper huýt sáo một tiếng.

    Nina ngoái nhìn qua vai và trông thấy anh.

    Jesper giơ hai ngón tay lên hai lần, và cô gật đầu.

    Có phải cô đã biết cọc neo số hai mươi hai là điểm đến thực sự của họ?

    Còn Inej nữa?

    Kaz lại chơi cái trò đó.

    Anh ta tung hoả mù với các thông tin và để cho một hoặc tất cả mọi người trong nhóm phải đoán định.

    Jesper không thích nó, nhưng anh không thể phủ nhận việc họ vẫn còn phương tiện để đi tới Fjerda.

    Nếu họ sống sót và lên được chiếc thuyền đó.

    Anh ra hiệu cho Wylan, và hai người tiếp tục lom khom đi qua các tàu thuyền neo đậu dọc theo bến.

    "Đằng kia!"

    Anh nghe thấy một giọng nói cất lên từ đâu đó phía sau lưng.

    Họ đã bị phát hiện.

    "Mẹ kiếp!"

    Jesper thốt lên.

    "Chạy thôi!"

    Hai người cun cút chạy dọc theo bến thuyền.

    Ở phía trước, tại cọc neo số hai mươi hai, là một con thuyền hai cột buồm với chữ Ferolind trên thân.

    Sự giống nhau giữa hai con thuyền cho cảm giác khá lạ lùng.

    Trên thuyền không có một ngọn đèn nào được thắp lên, nhưng sau khi Jesper và Wylan leo lên boong, hai thuỷ thủ lập tức xuất hiện.

    "Hai cậu là người đầu tiên đấy," Rotty lên tiếng.

    "Mong rằng chúng tôi không phải là hai người cuối cùng.

    Các anh có vũ khí chứ?"

    Rotty gật đầu.

    "Brekker đã dặn chúng tôi nấp cho đến khi..."

    "Chính là lúc này đây," Jesper vừa nói vừa chỉ những người trên bến thuyền đang lao về phía họ, và giật lại khẩu súng trường của mình từ tay Wylan.

    "Tôi cần phải trèo lên cao.

    Hãy yểm trợ cho tôi trong chừng mực có thể."

    "Jesper..."

    Wylan cất tiếng.

    "Không một ai được tiến đến chỗ các cậu.

    Nếu chúng nó đánh đắm con thuyền này thì chúng ta cũng tiêu luôn."

    Những kẻ nã đạn vào họ không chỉ muốn ngăn chặn họ ra khơi.

    Chúng muốn tiêu diệt họ.

    Jesper bắn vào hai kẻ đang dẫn đầu trên bến thuyền.

    Một tên ngã xuống, tên còn lại lăn tròn rồi nấp vào phía sau mũi của một tàu đánh cá.

    Jesper bắn thêm ba phát nữa, rồi nhanh chóng leo lên cột buồm.

    Phía bên dưới, anh nghe thấy tiếng súng nổ.

    Ba mét, rồi sáu mét, và giày của anh bị mắc kẹt vào dây buồm.

    Anh phải dừng lại để gỡ chúng ra.

    Khi còn cách cái chòi canh trên đỉnh cột buồm vài mét, anh cảm thấy một cơn đau xé ruột nơi đùi.

    Bàn chân anh trượt đi, và trong một khoảnh khắc anh bị treo lơ lửng bên trên boong tàu, chỉ với đôi bàn tay bám vào sợi dây thừng.

    Anh cố gắng buộc đôi chân mình hoạt động và tìm được một điểm tựa bằng mũi giầy.

    Cái chân phải gần như không còn giá trị sau khi trúng đạn khiến anh phải vượt qua những mét cuối với đôi tay run lẩy bẩy và quả tim đập thình thịch.

    Các giác quan của anh giống như đang có lửa đốt.

    Rõ ràng là hơn cả khi thắng bài liên tục.

    Jesper không ngừng lại để nghỉ.

    Anh móc cái chân bị thương vào chỗ dây buồm, mặc kệ cơn đau, kiểm tra ống ngắm của khẩu súng, rồi bắt đầu nhả đạn vào bất kì địch thủ nào trong tầm ngắm.

    Bốn triệu kruge, anh tự nhủ trong lúc nạp đạn và phát hiện thêm một tên địch trong tầm ngắm.

    Màn sương khiến cho tầm nhìn bị hạn chế, nhưng đây là kĩ năng đã giúp anh tồn tại trong băng Cặn Bã ngay cả sau khi các món nợ của anh ngày một chồng chất và ai cũng biết máu bài bạc của anh lớn hơn vận may rất nhiều.

    Bốn triệu kruge sẽ xóa mọi nợ nần và cho phép anh sống sung túc một thời gian dài.

    Jesper trông thấy Nina và Matthias đang cố gắng tiến tới cầu tàu, nhưng ít nhất mười tên địch đang cản lối họ.

    Kaz hình như đang chạy về hướng ngược lại, còn Inej thì không thấy đâu cả, mặc dù điều đó không có nhiều ý nghĩa đối với Bóng Ma.

    Cô có thể đang treo mình trên lá buồm cách chỗ anh vài mét mà anh hoàn toàn không hay biết.

    "Jesper!"

    Tiếng gọi cất lên từ tít phía dưới chân anh, và phải mất một lúc Jesper mới nhận ra người vừa gọi là Wylan.

    Anh phớt lờ cậu ta và tiếp tục nhắm bắn.

    "Jesper!"

    Mình sẽ giết thằng nhóc ngu ngốc này!"

    Cậu muốn cái gì hả?"

    Anh quát to xuống phía dưới.

    "Nhắm mắt lại!"

    "Cậu không thể hôn tôi từ dưới đó đâu, Wylan."

    "Cứ làm như tôi bảo đi!"

    "Chuyện này nên có ích đấy!"

    Anh nhắm mắt lại.

    "Nhắm chưa?"

    "Mẹ kiếp, Wylan, tôi nhắm mắt r..."

    Một tiếng rít đinh tai và ánh sáng chói lòa bùng lên phía bên kia mi mắt của Jesper.

    Khi nó đã tắt, anh mở mắt ra.

    Phía bên dưới, anh trông thấy những tên địch đang luýnh quýnh chạy quanh, bị chói mắt do quả bom sáng mà Wylan vừa kích hoạt.

    Không tồi, đối với một cậu thiếu gia, anh nghĩ thầm trước khi khai hoả.
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Hai: Đầy Tớ & Đòn Bẩy 12-15


    12

    Inej

    Trước khi Inej đặt chân lên một sợi dây thăng bằng, dù chỉ là một sợi dây tập, bố đã dạy cô cách ngã để bảo vệ đầu và giảm thiểu chấn động bằng cách không chống lại quán tính của cơ thể.

    Ngay khi vụ nổ nhấc bổng cô lên, Inej cuộn tròn người lại.

    Cô tiếp đất khá đau nhưng lập tức đứng dậy, nép người vào một thùng hàng, tai lùng bùng, mũi khó chịu vì mùi thuốc súng gay gắt.

    Inej liếc mắt quan sát Kaz và những người còn lại, rồi làm điều mà cô giỏi nhất - biến mất.

    Cô nhảy lên các thùng hàng, leo như một con côn trùng nhanh nhẹn, bàn chân đi giày lần lượt tì vào các điểm bám.

    Quang cảnh nhìn từ trên cao thật đáng sợ.

    Nhóm Cặn Bã bị áp đảo số lượng và bị tấn công từ cả hai phía.

    Kaz đã chính xác khi quyết định giữ kín địa điểm tập kết của họ với những người khác.

    Ai đó đã tiết lộ thông tin.

    Inej đã cố giám sát cả nhóm, nhưng vẫn không tránh được chuyện ai đó trong băng có thể nghe lén họ.

    Chính Kaz cũng từng nói rằng mọi nơi ở Ketterdam đều rò rỉ, kể cả Thanh Gỗ và Quạ Đen.

    Một người nào đó đang bắn súng từ trên cột buồm của con thuyền Ferolind thật.

    Hi vọng là Jesper đã lên được thuyền, và cô chỉ việc cho những người còn lại đủ thời gian để tới được đó.

    Inej nhanh nhẹn lao đi trên nóc các thùng hàng, mắt dõi tìm mục tiêu bên dưới.

    Việc này khá dễ dàng.

    Không ai trong số họ chờ đợi một mối đe dọa từ trên cao.

    Cô tuột xuống đất phía sau lưng hai gã đàn ông đang bắn về phía Nina, và thầm cầu nguyện trong lúc cứa cổ cả hai.

    Khi tên thứ hai gục xuống, cô khom người, vạch tay áo hắn.

    Hình xăm là một bàn tay, với ngón cái và ngón trỏ đã bị cắt cụt một đốt.

    Băng Hắc Thủ.

    Có phải đây là màn trả đũa cho vụ đụng độ giữa Kaz và Geels, hay là thứ gì khác?

    Bọn chúng không thể huy động một quân số đông như thế này.

    Cô di chuyển đến dãy thùng kế tiếp, bám sát theo tấm bản đồ ghi vị trí của những kẻ tấn công trong đầu.

    Cô hạ gục một con mụ cầm khẩu súng trường cồng kềnh, rồi xử luôn tay đàn ông có nhiệm vụ yểm trợ cho ả.

    Hình xăm của gã là năm con chim tạo thành chữ V: băng Chim Cắt.

    Họ đang phải đối đầu với bao nhiêu băng đảng đây?

    Góc kế tiếp là một điểm mù, không có tầm quan sát.

    Cô nên trèo lên các thùng hàng để kiểm tra vị trí của mình, hay liều lĩnh đối mặt với bất kì thứ gì chờ đợi cô phía bên kia?

    Inej hít một hơi, rồi khom người lao qua góc chết.

    Đêm nay thánh thần rất rộng lượng - hai tên địch đang xả súng trên bến tàu, lưng quay về phía cô.

    Inej loại chúng khỏi vòng chiến bằng hai nhát dao nhanh gọn.

    Sáu thi thể, sáu mạng người.

    Cô sẽ phải sám hối rất nhiều, nhưng nhờ vậy mà cán cân lực lượng nghiêng về phía băng Cặn Bã thêm một chút.

    Giờ thì cô cần phải lên được con thuyền đó.

    Inej chùi sạch hai con dao, nhét chúng vào bao, rồi chạy một mạch tới thùng hàng gần nhất.

    Lúc những ngón tay của cô chạm tới mép trên của nó, Inej bỗng cảm thấy một cơn đau dữ dội bên dưới cánh tay.

    Cô quay lại vừa kịp lúc để thấy gương mặt xấu xí của Oomen nhăn nhở cười.

    Mọi thông tin mà Inej thu thập được về băng Hắc Thủ lập tức ùa vào đầu cô Oomen, cánh tay phải của Geels, là kẻ có thể bóp nát xương sọ bằng tay không.

    Hắn lôi cô xuống và túm lấy vạt áo trước của cô, làm con dao cắm vào sườn cô xoắn mạnh.

    Inej phải cố hết sức để không ngất đi.

    Khi mũ trùm đầu của cô bị tuột ra sau, Oomen la lên: “Ghezen!

    Bắt được Bóng Ma của thằng Brekker rồi.”

    “Lẽ ra mày nên nhắm… cao hơn,” Inej thở dốc.

    “Trượt tim rồi.”

    “Không muốn mày chết,” hắn nói.

    “Mày rất đáng giá.

    Tao đang nóng lòng muốn nghe những thông tin mà mày thu thập được cho Tay Nhám đây.

    Cả bí mật của nó nữa.

    Tao thích nghe những câu chuyện hay ho.”

    “Tao có thể kể cho mày nghe về kết thúc của chuyện này,” cô nói trong hơi thở hổn hển.

    “Nhưng mày sẽ không thích nó đâu.”

    “Thật sao?”

    Hắn xô mạnh cô vào cái thùng hàng, khiến cô đau điếng.

    Khi chân Inej vừa chạm đất thì máu cũng phun ra từ vết thương ở sườn cô.

    Oomen đang dùng tay tóm lấy vai và khóa chặt hai cánh tay của cô.

    “Mày có biết bí quyết khi đánh lại bọ cạp là gì không?”

    Oomen bật cười.

    “Nói nhảm rồi à, Bóng Ma?

    Đừng có chết nhanh quá.

    Phải băng bó mày lại mới được.”

    Inej đưa một đầu gối ra sau đầu gối còn lại, và nghe thấy một tiếng tạch.

    Cô đeo hai miếng đệm gối để leo trèo, nhưng cũng vì lưỡi dao giấu trong đó.

    “Bí quyết…”

    Cô thở dốc.

    “… nằm ở chỗ không bao giờ được rời mắt khỏi đuôi của nó.”

    Cô lên gối, chọc thẳng lưỡi dao vào giữa hai chân của Oomen.

    Hắn rú lên và buông cô ra, hai tay đưa xuống bụm lấy hạ bộ đang chảy máu.

    Inej loạng choạng giật lùi dọc theo dãy thùng hàng, cô nghe thấy tiếng người la hét gọi nhau, tiếng súng nổ hàng tràng.

    Phe nào đang thắng thế?

    Những người kia có lên được thuyền chưa?

    Cô bỗng cảm thấy chóng mặt.

    Khi chạm ngón tay vào vết thương ở sườn, cô thấy ướt.

    Máu ra nhiều quá.

    Những tiếng chân vang lên.

    Có ai đó đang đến.

    Cô không thể leo trèo với vết thương này và lượng máu đã mất.

    Cô còn nhớ lần đầu tiên được bố đặt lên cái thang dây.

    Trèo lên đi, Inej.

    Những thùng hàng ở đây chất chồng lên nhau thành một kim tự tháp.

    Nếu cô leo được qua dù chỉ một cái, cô sẽ có thể nấp trốn ở tầng thứ nhất.

    Chỉ một mà thôi.

    Nếu không thể trèo lên, cô sẽ đứng đây và chết.

    Cô trấn tĩnh lại và nhảy lên, bám ngón tay vào mép trên của thùng hàng.

    Trèo lên đi, Inej.

    Cô đưa người qua mép thùng hàng để trèo lên phần nóc của nó.

    Nằm đây cho cảm giác thật dễ chịu, nhưng cô biết mình đã để lại phía sau một vệt máu.

    Một cái nữa, Inej, cô tự nhủ.

    Một cái nữa, và mày sẽ được an toàn.

    Cô gắng gượng quỳ lên và vươn tới cái thùng hàng kế tiếp.

    Thùng hàng dưới chân cô bắt đầu rung lắc.

    Inej nghe thấy tiếng cười vang lên từ bên dưới.

    “Ló ra đi nào, Bóng Ma!

    Mày còn nhiều bí mật cần chia sẻ mà!”

    Tuyệt vọng, cô với tới cái nóc của thùng hàng kế tiếp và bấu chặt nó, cố chống lại cơn đau trong lúc thùng hàng dưới chân rơi ra.

    Thế là cô treo người lơ lửng tại đó, hai chân tuyệt vọng khua khoắng.

    Chúng không bắn.

    Chúng muốn cô sống.

    “Xuống đây đi nào, Bóng Ma!”

    Cô không biết sức mạnh của mình từ đâu ra, nhưng cô đã xoay xở leo được lên thùng hàng thứ hai.

    Cô nằm trên nóc của nó, thở hổn hển.

    Chỉ cần một cái nữa.

    Những cô không thể.

    Không thể gượng dậy, không thể với tay, thậm chí xoay người cũng không.

    Cô quá đau.

    Trèo lên đi, Inej.

    “Con không thể, bố ơi,” cô thì thào.

    Thậm chí đến bây giờ cô vẫn không muốn làm bố thất vọng.

    Di chuyển đi, cô tự nhắc mình.

    Chết ở nơi này thì ngớ ngẩn quá.

    Thế nhưng trong đầu cô vang lên một giọng nói bảo rằng có những nơi còn tồi tệ hơn.

    Cô sẽ chết tại đây, một cách tự do, dưới ánh bình minh đang ló dạng, cô sẽ chết sau khi đã chiến đấu ngoan cường, chứ không phải vì ai đó đã chán cô hoặc đòi hỏi nhiều hơn những gì cô có thể thực hiện.

    Thà chết tại đây dưới lưỡi dao của chính mình còn hơn là với gương mặt tô vẽ và cơ thể quấn trong những lớp lụa giả.

    Một bàn tay tóm lấy mắt cá chân cô.

    Bọn chúng đã leo lên thùng hàng.

    Sao cô lại không nghe thấy chúng nhỉ?

    Cô đã mê mụ tới mức đó sao?

    Chúng đã tóm được cô.

    Ai đó đang lật ngửa cô lại.

    Cô trượt con dao giấu nơi cổ tay ra.

    Ở Barrel, lưỡi dao sắc như thế này được gọi là lưỡi dao ân huệ.

    Nó đồng nghĩa với một cái chết nhanh chóng.

    Thà như vậy còn hơn những nhục hình của băng Hắc Thủ hoặc Chim cắt.

    Cầu mong các thánh thần đón nhận con.

    Cô ấn mũi dao vào ngực, giữa hai chiếc xương sườn, ngay vị trí của tim.

    Nhưng một bàn tay đã bóp chặt cổ tay cô, khiến cô buông rơi con dao.

    “Chưa cần đâu, Inej.”

    Chất khàn khàn trong giọng nói ấy giống như đá mài vào đá.

    Đôi mắt cô mở ra.

    Kaz.

    Anh bế cô lên và nhảy xuống khỏi thùng hàng.

    Cái chân yếu của anh

    oằn đi sau cú tiếp đất đột ngột.

    Inej rên lên khi hai người tiếp đất.

    “Chúng ta thắng rồi sao?”

    “Tôi đang ở đây, đúng chưa nào?”

    Chắc là anh đang chạy.

    Cơ thể cô nảy lên một cách đau đớn, đập vào ngực anh theo từng bước chạy loạng choạng.

    Anh không thể vừa bế cô vừa chống gậy.

    “Tôi không muốn chết.”

    “Tôi sẽ cố hết sức để thu xếp những công việc mới cho cô.”

    Inej nhắm mắt lại.

    “Nói tiếp đi, Bóng Ma.

    Đừng trốn tránh tôi.”

    “Nhưng đó là điều mà tôi làm giỏi nhất.”

    Anh ôm cô chặt hơn.

    “Chỉ cần ta lên được thuyền.

    Mở đôi mắt đáng ghét của cô ra, Inej.”

    Cô cố gắng làm theo.

    Mắt cô mờ đi, nhưng cô vẫn nhìn ra một vết sẹo nơi cổ Kaz, ngay dưới cằm.

    Cô còn nhớ lần đầu tiên gặp anh ở Vườn Thú.

    Anh trả tiền cho Dì Heleen để đổi lấy thông tin - các tin mật của sàn chứng khoán, những câu chuyện trà dư tửu hậu của đám chính khách, bất cứ thứ gì mà các khách hàng của Vườn Thú để lộ ra khi say xỉn hoặc đê mê trong khoái lạc.

    Anh chưa bao giờ đụng tới các cô gái của Heleen, mặc dù hàng tá cô sẵn sàng đưa anh lên phòng.

    Họ cứ nói rằng anh khiến họ rùng mình, rằng bên dưới lớp găng bàn tay anh không bao giờ sạch vết máu, nhưng cô nhận ra sự háo hức trong giọng nói của họ, trong cái cách họ nhìn anh ngấu nghiến.

    Một đêm nọ, khi anh đi ngang qua chỗ cô trong phòng tiếp khách, cô

    đã làm một việc rất xuẩn ngốc, một hành động khinh suất.

    “Tôi có thể giúp anh,” cô thì thầm như thế.

    Anh đã liếc nhìn cô, rồi đi tiếp, như thể cô chưa hề nói câu đó.

    Sáng hôm sau, cô được gọi tới phòng của Dì Heleen.

    Cô tưởng đâu mình sẽ nhận một trận đòn khác hoặc tệ hơn thế, nhưng Kaz Brekker đã đứng ở đó, người tựa vào cây gậy chống đầu quạ, chờ đợi để thay đổi cuộc đời cô.

    “Tôi có thể giúp anh,” cô nói ngay lúc này.

    “Giúp tôi chuyện gì?”

    Cô không thể nhớ ra.

    Có gì đó mà lẽ ra cô phải nói với anh.

    Nhưng nó không quan trọng nữa.

    “Nói chuyện với tôi đi, Bóng Ma.”

    “Anh đã quay lại vì tôi.”

    “Tôi chỉ bảo vệ khoản đầu tư của mình.”

    Khoản đầu tư.

    “Thật mừng là tôi đang dây máu ra khắp áo anh.”

    “Tôi sẽ ghi nó vào sổ nợ.”

    Giờ thì cô đã nhớ ra.

    Anh nợ cô một lời xin lỗi.

    “Xin lỗi tôi đi.”

    “Vì chuyện gì?”

    “Cứ nói đi.”

    Cô không nghe thấy anh nói nữa.

    Mọi thứ quanh cô bỗng tối đen.

    13

    KAZ

    “Đưa chúng ta ra khỏi đây,” Kaz quát to ngay khi khập khiễng trèo lên boong với Inej trên tay.

    Những cánh buồm đã được chỉnh hướng gió, và họ lập tức rời cảng, dù không được nhanh như anh muốn.

    Anh biết mình nên tuyển vài Tiết Khí Sư cho chuyến đi, nhưng không thể tìm ra.

    Trên boong lúc này mọi thứ thật hỗn độn.

    Mọi người la hét và cố gắng đưa con thuyền ra khơi nhanh hết mức có thể.

    “Specht!”

    Kaz thét gọi người mà anh đã chọn làm thuyền trưởng, một thuỷ thủ có biệt tài phóng dao đã từng vấp váp nhiều lần và gia nhập băng Cặn Bã ở thứ bậc thấp nhất.

    “Chỉnh đốn lại đội ngũ của anh trước khi tôi đập vỡ vài cái sọ!”

    Specht chào theo kiểu nhà binh trước khi kịp rụt tay lại.

    Anh ta không còn ở trong quân ngũ, và Kaz cũng không phải là một sĩ quan chỉ huy.

    Cơn đau chân của Kaz thật khủng khiếp, đây là lần anh đau nhất kể từ khi bị gãy chân sau cú rơi từ mái của một nhà băng gần đường Geldstraat.

    Khả năng cao là anh lại gãy xương một lần nữa.

    Sức nặng do cơ thể của Inej chỉ càng làm tình hình tệ thêm, nhưng khi Jesper bước tới đề nghị giúp đỡ, Kaz đẩy anh ta ra.

    “Nina đâu?”

    Anh quát to.

    “Đang xem xét những người bị thương bên dưới.

    Cô ấy đã kịp chữa lành cho tôi rồi.”

    Kaz lờ mờ ghi nhận vết máu khô nơi đùi Jesper.

    “Wylan bị thương trong cuộc đụng độ.

    Để tôi giúp anh…”

    “Tránh ra!”

    Kaz chạy vội qua Jesper, theo con dốc dẫn xuống boong dưới.

    Anh thấy Nina đang ở bên cạnh Wylan trong một cabin nhỏ.

    Hai bàn tay cô lướt trên cánh tay của cậu ta, làm miệng vết thương do đạn bắn liền lại.

    Nó chỉ còn giống như một vết xước nhỏ.

    “Tránh ra,” Kaz ra lệnh, và Wylan lập tức rời bàn.

    “Tôi chưa làm xong…”

    Nina lên tiếng, và trông thấy Inej.

    “Thánh thần ơi.

    Chuyện gì đã xảy ra?”

    “Dao đâm.”

    Cabin chật chội được chiếu sáng bởi vài chiếc đèn lồng.

    Một mớ băng gạc sạch đã được để sẵn trên kệ, bên cạnh một chai long não.

    Thật nhẹ nhàng, Kaz đặt Inej xuống bàn.

    “Mất máu nhiều quá,” Nina khẽ nói.

    “Cứu cô ấy đi.”

    “Kaz, tôi là một Độc Tâm Y, không phải Thiện Tâm Y.”

    “Cô ấy sẽ chết trước khi chúng ta tìm ra một Thiện Tâm Y.

    Bắt tay vào việc đi.”

    “Anh đang chắn ánh sáng đấy.”

    Kaz lùi ra khỏi cửa cabin.

    Inej nằm hoàn toàn bất động trên bàn, làn da nâu bóng của cô tái đi dưới ánh đèn run rẩy.

    Anh còn sống là nhờ Inej.

    Cũng như tất cả mọi người ở đây.

    Họ thoát nạn chính là nhờ cô đã ngăn không cho đối phương khép kín vòng vây.

    Kaz có thể cảm thấy thần chết đang hiện diện trên con thuyền, phủ bóng lên tất cả bọn họ, sẵn sàng mang Bóng Ma của anh đi.

    Người anh ướt đẫm máu của cô.

    “Nếu không giúp được gì thì anh đi đi,” Nina nói mà không buồn ngước lên nhìn Kaz.

    “Anh làm tôi căng thẳng.”

    Kaz lừng khừng trong giây lát, trước khi bỏ đi.

    Anh vào trong một cabin khác để thay áo.

    Lẽ ra anh không nên rúng động như thế này vì một cuộc đụng độ.

    Anh thấy mình căng thẳng và giận dữ.

    Cảm giác đó cũng giống như thứ anh cảm thấy lúc còn là một cậu bé, trong những ngày tháng tuyệt vọng sau cái chết của Jordie.

    Xin lỗi tôi đi.

    Đó là lời cuối cùng Inej nói với anh.

    Cô muốn anh xin lỗi về chuyện gì?

    Có quá nhiều khả năng.

    Hàng ngàn tội ác.

    Hàng ngàn chuyện ngu ngốc.

    Trên boong, anh hít một hơi thật sâu gió biển, quan sát hải cảng và Ketterdam mờ dần phía chân trời.

    “Chuyện quái gì vừa xảy ra vậy?”

    Jesper hỏi.

    Anh chàng thiện xạ đang tựa vào hàng lan can, khẩu súng trường đeo sau lưng.

    Mái tóc anh rối bù, hai đồng tử giãn rộng.

    Trông Jesper giống như người say rượu hoặc vừa bước ra khỏi giường của ai đó.

    Anh luôn có bộ dạng như thế sau mỗi trận chiến.

    Helvar thì đang oằn người nôn qua lan can.

    Rõ ràng anh ta không phải là một người đi biển thành thục, sắp tới họ sẽ lại phải cùm chân anh ta.

    “Chúng ta đã bị phục kích,” Wylan nói vọng xuống từ boong trước.

    Cậu ta đã xắn tay áo lên và đang sờ mó vết thương vừa được Nina chữa lành.

    Jesper quắc mắt nhìn Wylan.

    “Gia sư riêng đến từ các trường đại học, và chú nhóc chỉ nói được có thế thôi hả? ‘Chúng ta đã bị phục kích’?”

    Wylan đỏ bừng mặt.

    “Đừng gọi tôi là nhóc nữa.

    Chúng ta gần như bằng tuổi nhau mà.”

    “Cậu sẽ không thích những biệt danh khác mà tôi nghĩ ra cho cậu đâu.

    Tôi thừa biết chúng ta đã bị phục kích.

    Điều đó không giải thích được làm thế nào chúng biết chúng ta sẽ có mặt ở hải cảng.

    Có lẽ Bolliger Bự không phải là gián điệp Hắc Thủ duy nhất trong băng Cặn Bã.”

    “Geels không thể có đủ đầu óc hoặc nguồn lực để trả đũa nhanh như vậy,” Kaz nói.

    “Anh có chắc chắn không?

    Vì vụ này rất giống với một sự trả đũa.”

    “Hỏi là biết thôi.”

    Kaz cà nhắc tiến lại chỗ Rotty đã nhốt Oomen.

    Tao đã xử Bóng Ma của mày, Oomen đã cười khùng khục và nói như thế khi Kaz bắt gặp hắn nằm co quắp dưới đất.

    Tao đã xử đẹp nó rồi.

    Kaz đã nhìn vào vết máu trên đùi của hắn và đáp, Có vẻ như cô ấy cũng đã xử lí mày.

    Nhưng Inej đã đâm trượt, nếu không thì Oomen đừng hòng nói chuyện được với ai nữa.

    Sau đó, Kaz đánh ngất hắn và bảo Rotty đưa hắn lên thuyền trong lúc anh đi tìm Inej.

    Lúc này thì Helvar và Jesper đã lôi Oomen đang bị trói tới lan can thuyền.

    “Dựng hắn dậy.”

    Bằng một bàn tay hộ pháp, Helvar lôi Oomen đứng lên.

    Oomen nhăn nhó, mái tóc trắng bờm xờm của hắn nằm rạp xuống trán.

    “Sao mày không cho chúng tao biết điều gì đã khiến băng Hắc Thủ xuất quân hùng hậu như vậy nhỉ?”

    Kaz hỏi.

    “Vì chúng tao nợ mày.”

    “Một cuộc thanh toán công khai có súng và ba mươi người tham gia?

    Tao không nghĩ vậy.”

    Oomen cười mỉa.

    “Geels không thích bị mang nhục.”

    “Tao có thể nhét vừa bộ não của hắn trong mũi giày, và Bolliger Bự là gián điệp duy nhất của hắn trong băng Cặn Bã.”

    “Biết đâu…”

    Kaz ngắt lời Oomen.

    “Bây giờ tao muốn mày nghĩ cho kĩ.

    Geels rất có thể cho rằng mày đã chết, thế nên ở đây sẽ không có đổi chác gì cả.

    Tao có thể làm bất cứ điều gì tao muốn đối với mày.”

    Oomen phun nước bọt vào mặt Kaz.

    Kaz rút một chiếc khăn tay từ trong túi áo ra và cẩn thận lau mặt.

    Anh nghĩ tới Inej đang nằm bất động trên bàn, nghĩ tới cơ thể cô nhẹ bỗng trong vòng tay anh.

    “Giữ hắn,” anh nói với Jesper và Matthias.

    Kaz phẩy ống tay áo, và một con dao nạy vỏ hàu xuất hiện trong tay anh.

    Lúc nào anh cũng có hai con dao giấu đâu đó trong người.

    Anh thậm chí không tính con dao này một lưỡi dao nhỏ không đáng kể.

    Kaz rạch một đường từ lông mày tới xương gò má trên khuôn mặt Oomen, và trước khi hắn kịp lấy hơi để hét, anh đã rạch thêm một đường nữa, tạo thành chữ X hoàn hảo.

    Oomen rú lên đau đớn.

    Kaz chùi con dao cho sạch, cất nó vào trong ống tay áo trở lại, và ấn ngón tay đi găng vào hốc mắt của hắn.

    Oomen thét lên và giãy giụa trong lúc Kaz moi nhãn cầu của hắn ra, kéo theo một dây máu.

    Máu phọt ra đầy mặt hắn.

    Kaz nghe thấy tiếng Wylan ói mửa.

    Anh quẳng con mắt xuống biển và nhét cái khăn tay dính nước miếng vào hốc mắt trống rỗng của Oomen.

    Tiếp đó, anh tóm lấy quai hàm của Oomen, để lại những vệt máu đỏ trên cằm hắn.

    Thao tác của anh chính xác, thuần thục như thể đang chia bài ở Quạ Đen hoặc phá một ổ khoá dễ mở, nhưng cơn điên giận của anh khủng khiếp chưa từng thấy.

    Một thứ gì đó đã vùng thoát ra trong anh.

    “Nghe tao nói đây,” Kaz rít lên và ghé mặt sát vào Oomen.

    “Mày có hai lựa chọn.

    Mày nói cho tao biết điều tao muốn biết, và bọn tao sẽ thả mày xuống hải cảng kế tiếp với một số tiền đủ để mày trị thương rồi quay trở về Kerch.

    Hoặc tao sẽ móc nốt con mắt còn lại và hỏi lại câu này với một thằng mù.”

    “Đó chỉ là một công việc,” Oomen lắp bắp.

    “Geels nhận được năm ngàn kruge cho việc động binh.

    Geels cũng rủ thêm mấy thằng Chim cắt nữa.”

    “Tại sao không huy động nhiều quân hơn?

    Tại sao không huy động quân số gấp đôi bọn tao?”

    “Lẽ ra các người phải ở trên tầu khi nó nổ!

    Bọn tao lẽ ra chỉ phải xử nốt những đứa còn sót lại chưa lên tàu.”

    “Ai đã thuê chúng mày?”

    Oomen liếm môi.

    Nước mũi chảy lòng thòng xuống mặt hắn.

    “Đừng để tao hỏi lại lần nữa, Oomen,” Kaz nói khẽ.

    “Kẻ đó cho dù là ai cũng không thể bảo vệ mày bây giờ đâu.”

    “Ông ta sẽ giết tôi.”

    “Còn tao sẽ khiến cho mày thà chết còn hơn.

    Như thế mày sẽ có thể cân nhắc hai sự lựa chọn.”

    “Pekka Rollins,” Oomen khóc nấc lên.

    “Chính là Pekka Rollins!”

    Cho dù rất sốc, Kaz cũng kịp ghi nhận tác động của cái tên đó đối với

    Jesper và Wylan.

    Còn Helvar thì không biết tình hình đủ rõ để cảm thấy sợ hãi.

    “Thánh thần ơi,” Jesper rên rỉ.

    “Chúng ta tiêu thật rồi.”

    “Có phải chính Rollins đích thân chỉ đạo nhóm hay không?”

    Kaz hỏi Oomen.

    “Nhóm nào?”

    “Nhóm đi tới Fjerda.”

    “Tôi không biết gì về nhóm đó.

    Chúng tôi chỉ được thuê để ngăn không cho các cậu rời cảng.”

    “Hiểu rồi.”

    “Tôi cần một thầy lang.

    Làm ơn dẫn tôi tới gặp thầy lang.”

    “Tất nhiên rồi,” Kaz đáp.

    “Ngay đây thôi.”

    Anh nắm lấy ve áo của Oomen và nhấc bổng hắn lên, đẩy người hắn sát vào hàng lan can.

    “Tôi đã nói cho cậu biết những điều cậu muốn rồi mà!”

    Oomen hét lớn và giãy giụa.

    “Tôi đã làm theo những gì cậu yêu cầu!”

    Mặc dù khá mập mạp, Oomen có một sức mạnh đáng nể - kiểu lực điền, giống như Jesper.

    Chắc hắn đã lớn lên ở miền quê.

    Kaz chồm người tới để không ai nghe thấy điều anh nói: “Bóng Ma của tao có thể sẽ tha mạng mày.

    Nhưng nhờ mày, cô ấy không có mặt ở đây để xin xỏ cho mày.”

    Không nói thêm lời nào, anh đẩy Oomen ngã xuống biển.

    “Không!”

    Wylan la lên và chồm người qua lan can, mặt tái dại, đôi mắt kinh hoàng dõi tìm Oomen giữa những lớp sóng.

    Những tiếng khẩn cầu của Oomen vẫn còn vang lên trong lúc khuôn mặt máu me của hắn dần xa khuất.

    “Anh… anh đã nói nếu hắn ta chịu khai…”

    “Cậu có muốn đi theo hắn không?”

    Kaz hỏi.

    Wylan hít một hơi thật sâu, như để lấy dũng khí và lắp bắp: “Anh sẽ không ném tôi xuống biển.

    Anh cần tôi.”

    Tại sao mọi người cứ nói câu đó nhỉ?

    “Có thể,” Kaz đáp.

    “Nhưng hiện tại tôi đang không được tỉnh táo cho lắm.”

    Jesper đặt tay lên vai Wylan.

    “Thôi bỏ đi.”

    “Như thế không đúng…”

    “Wylan,” Jesper huých nhẹ cậu.

    “Có thể các gia sư đã không dạy cậu bài học này, nhưng cậu đừng có tranh cãi với một người máu me đầy mình và có dao trong tay.”

    Wylan mím chặt môi lại.

    Kaz không rõ cậu ta đang sợ hãi hay tức giận, nhưng anh không bận tâm lắm.

    Helvar đứng im quan sát mọi chuyện, khuôn mặt say sóng xanh như tàu lá.

    Kaz quay sang phía Jesper.

    “Trói Helvar lại để cho anh ta không gây sự,” anh vừa nói vừa đi xuống boong dưới.

    “Rồi tìm quần áo sạch và nước uống cho tôi.”

    “Tôi là đầy tớ của anh từ lúc nào vậy?”

    “Người có dao trong tay, quên nhanh thế?”

    Kaz đáp qua vai.

    “Người cầm súng thì sao?”

    Jesper gọi với theo.

    Kaz đáp trả bằng ngón tay thối và khuất dạng ở boong dưới.

    Anh chỉ muốn tắm nước nóng và một chai brandy, nhưng đành bằng lòng với việc ở một mình và gột rửa mùi máu.

    Pekka Rollins.

    Cái tên đó làm đảo lộn mọi thứ trong đầu anh tựa như một loạt đạn.

    Lúc nào cũng là Pekka Rollins, kẻ đã tước đoạt mọi thứ của anh.

    Kẻ hiện đang đứng giữa Kaz và phần thưởng lớn nhất mà mọi băng nhóm giang hồ đều thèm muốn.

    Liệu Rollins có cử ai đó đi, hay chính lão ta đích thân dẫn nhóm của mình đi cướp ngục?

    Trong ánh sáng nhá nhem của cabin, Kaz lẩm bẩm: “Từng bước một.”

    Giết Pekka Rollins luôn là một việc đáng khao khát, nhưng như thế chưa đủ.

    Kaz muốn lão ta sụp đổ.

    Anh muốn lão phải chịu đựng những gì anh và Jordie đã trải qua.

    Và phỗng tay trên ba mươi triệu kruge sẽ là một khởi đầu rất tuyệt, có thể Inej đã nói đúng.

    Có thể định mệnh không thèm bận tâm những người như anh.

    14

    NINA

    Trong cabin chật chội, Nina cố gắng vá víu cơ thể của Inej, nhưng cô không được huấn luyện cho công việc này.

    Trong hai năm đào tạo đầu tiên tại thủ đô của Ravka, tất cả các Grisha Tâm Y học chung với nhau, cùng một chương trình và trải qua các buổi mổ xác như nhau.

    Nhưng sau đó việc đào tạo họ được tách làm hai hướng.

    Thiện Tâm Y học chữa lành vết thương, trong khi Độc Tâm Y trở thành những chiến binh - chuyên gây ra các thương tích, chứ không phải chữa trị chúng, cùng một năng lực, nhưng cách tư duy khác nhau hoàn toàn.

    Tuy vậy, người sống khiến bạn vất vả hơn nhiều so với người chết.

    Một cú ra đòn chí tử cần sự quyết đoán và rõ ràng trong mục đích, chữa lành thì chậm rãi, có cân nhắc, một nhịp độ đòi hỏi sự suy tính kĩ lưỡng trong từng lựa chọn nhỏ.

    Những việc mà cô đã thực hiện cho Kaz trong năm vừa qua thật hữu ích, cũng như việc thay đổi tâm trạng và diện mạo mà cô làm tại Nhà Hồng Bạch.

    Nhưng giờ đây, khi nhìn xuống Inej, Nina thầm ước giá như quá trình học hành của mình không vắn tắt đến thế.

    Cuộc nội chiến nổ ra khi cô vẫn còn là một học sinh ở Tiểu Điện, buộc cô và các bạn cùng lớp phải đi sơ tán.

    Khi cuộc chiến kết thúc và lửa khói đã tắt, vua Nikolai muốn nhanh chóng huấn luyện số lượng ít ỏi các Grisha còn lại trên thực địa, nên Nina chỉ được học sáu tháng các môn chuyên sâu trước khi lên đường tham gia chiến dịch đầu tiên.

    Lúc đó cô thích lắm.

    Nhưng giờ cô chỉ mong được học thêm vài tuần.

    Inej là một người mềm dẻo, đầy cơ bắp và có khung xương nhỏ, điển hình của dân nhào lộn.

    Con dao đã đâm vào phía bên dưới cánh tay trái của cô.

    Đúng là suýt soát.

    Chỉ cần sâu thêm một chút thôi, lưỡi dao sẽ chọc thủng mỏm tim của cô gái.

    Nina biết nếu chỉ đơn thuần làm liền da vết thương của Inej, giống như điều cô đã làm với Wylan, cô gái sẽ tiếp tục chảy máu trong.

    Do vậy cô phải cầm máu từ trong ra ngoài.

    Cô nghĩ mình đã xoay xở làm điều đó tương đối tốt, nhưng Inej mất rất nhiều máu, và Nina không biết phải xử lí chuyện này bằng cách nào.

    Cô nghe nói một số Thiện Tâm Y có thể khớp máu của người này với người khác, nhưng nếu làm sai, hành động đó sẽ chẳng khác nào tiêm chất độc vào thẳng cơ thể bệnh nhân.

    Quy trình đó nằm ngoài tầm hiểu biết của cô.

    Sau khi khép miệng vết thương, Nina đắp cho Inej một tấm mền len mỏng.

    Hiện giờ tất cả những gì cô có thể làm là theo dõi mạch và nhịp thở của cô gái.

    Khi đưa cánh tay của Inej vào bên dưới tấm mền, cô trông thấy vết sẹo ở mặt trong cẳng tay của cô gái.

    Cô nhẹ nhàng lướt ngón cái trên vết sẹo gồ ghề.

    Đây chắc từng là cái lông công, hình xăm mà các thành viên của Vườn Thú phải mang.

    Kẻ xoá nó đã thao tác không khéo léo cho lắm.

    Tò mò, Nina vén ống tay áo bên kia của Inej lên xem.

    Phần da ở đó nhẵn nhụi và không có dấu vết gì.

    Inej không có hình xăm con quạ và cái li mà mọi thành viên chính thức của băng Cặn Bã đều mang.

    Các liên minh ở Barrel có thể thay đổi, nhưng băng nhóm của bạn cũng là gia đình bạn, là sự bảo vệ quan trọng duy nhất.

    Bản thân Nina có hai hình xăm.

    Trên cẳng tay trái của cô là hình xăm của Nhà Hồng Bạch.

    Còn bên tay phải mới là hình quan trọng: một con quạ đang cố uống nước từ một chiếc li gần cạn.

    Nó cho cả thế giới biết rằng cô thuộc về Cặn Bã, và đụng đến cô đồng nghĩa với nguy cơ bị họ trả thù.

    Inej gia nhập băng Cặn Bã trước Nina, nhưng lại không xăm hình con quạ.

    Cô gái là một trong những thành viên giá trị nhất trong băng, và rõ ràng là Kaz rất tin tưởng cô - trong chừng mực mà một người như anh ta có thể làm được.

    Nina nhớ lại vẻ mặt của Kaz khi anh đặt Inej lên bàn.

    Vẫn là một con người lạnh lùng, thô lỗ, khó đoán, nhưng phía sau sự giận dữ của Kaz, hình như Nina còn thấy được một điều gì khác.

    Cũng có thể vì cô là một người lãng mạn vô phương cứu chữa.

    Cô tự cười chính mình.

    Cô sẽ không ước cho tình yêu đến với ai đó.

    Tình yêu là một vị khách mà bạn chào đón để rồi không thể tống khứ.

    Nina vuốt mớ tóc đen suôn mềm che mặt Inej.

    “Hãy bình yên nhé,” cô thì thầm.

    Cô không thích sự run rẩy trong giọng nói của mình.

    Nghe nó không giống với một chiến binh Grisha hay một thành viên cứng cựa của băng Cặn Bã.

    Nó giống với một cô bé không biết mình đang làm gì.

    Và đó chính là điều mà Nina đang cảm thấy.

    Kì huấn luyện của cô quá ngắn.

    Cô được cử đi chiến dịch từ quá sớm.

    Zoya đã cảnh báo chuyện đó, nhưng Nina nài nỉ để được đi, và người ta cần cô, thế nên vị Grisha kia đã phải nhượng bộ.

    Zoya Nazyalensky là một Tiết Khí Sư quyền năng, đẹp đến phi lí và có khả năng biến sự tự tin của Nina thành tro bụi chỉ với một cái nhướng mày.

    Nina rất tôn thờ chị.

    Khinh suất, ngu xuẩn, dễ bị xao lãng.

    Zoya đã dùng những chữ đó để nói về Nina, thậm chí còn tệ hơn.

    “Chị đã nói đúng, Zoya.

    Chị mừng chứ?”

    “Nói chuyện một mình kìa,” Jesper cất tiếng từ trên ngưỡng cửa.

    Nina giật mình ngước lên và thấy anh chàng đang đứng đổi chân.

    “Zoya là ai vậy?”

    Anh hỏi.

    Nina chùng người xuống trên ghế.

    “Chẳng là ai cả.

    Một trong Tam Đại Grisha.”

    “Ngầu nhỉ.

    Những kẻ cầm đầu Hạ Quân á?”

    “Những gì còn lại của nó.”

    Lực lượng Grisha của Ravka đã chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh.

    Một số trốn chạy.

    Hầu hết bị giết.

    Nina giụi đôi mắt mệt mỏi.

    “Anh có biết cách tốt nhất để tìm ra một Grisha không muốn bị tìm thấy là gì không?”

    Jesper gãi gáy, chạm tay vào khẩu súng, rồi lại gãi gáy.

    Anh lúc nào cũng hoạt động luôn chân luôn tay.

    “Tôi chưa bao giờ nghĩ quá nhiều tới chuyện đó,” anh nói.

    “Hãy tìm những phép màu và nghe ngóng các câu chuyện cổ tích.”

    Lần theo những câu chuyện về phù thuỷ và yêu tinh, cũng như những chuyện không lí giải được.

    Đôi khi chúng chỉ thuần tuý là mê tín, nhưng thường thì chúng có cốt lõi sự thật trong đó - những người được sinh ra với năng lực thiên phú mà đất nước của họ không thể hiểu được.

    Nina đã trở nên rất thành thục trong việc đánh hơi những câu chuyện như vậy.

    “Với tôi thì nếu họ đã không muốn bị tìm thấy, chúng ta nên để họ yên.”

    Nina liếc xéo Jesper.

    “Các drüskelle sẽ không để bọn tôi yên.

    Họ săn lùng Grisha khắp nơi.”

    “Có phải tất cả đều là những anh chàng quyến rũ như Matthias không?”

    “Còn tệ hơn thế.”

    “Tôi cần phải tìm ra cái cùm để xích chân anh ta lại.

    Kaz giao cho tôi những việc hết sức hay ho.”

    “Muốn đổi với tôi không?”

    Nina hỏi với giọng mệt mỏi.

    Năng lượng mạnh mẽ trong cơ thể cao gầy của Jesper dường như tan biến.

    Anh đứng im phăng phắc, lần đầu tiên tập trung nhìn Inej kể từ lúc bước vào cabin.

    Jesper đã tránh không nhìn cô ấy, Nina chợt nhận ra.

    Anh ta không muốn nhìn cô ấy.

    Tấm mền khẽ di chuyển theo nhịp thở cạn của Inej.

    Khi Jesper nói tiếp, giọng anh nghe giống như một cây đàn bị căng dây quá mức.

    “Cô ấy không thể chết được.

    Không phải theo cách này.”

    Nina nhìn anh thắc mắc.

    “Cách này là cách nào?”

    “Cô ấy không thể chết,” anh lặp lại.

    Nina cảm thấy như bị giằng xé giữa mong muốn ôm Jesper thật chặt và việc hét vào mặt anh ấy rằng cô đã cố hết sức.

    “Thánh thần ơi, Jesper,” cô nói.

    “Tôi đang cố hết sức đây.”

    Jesper đổi tư thế, cơ thể anh dường như sống lại.

    “Xin lỗi,” anh bẽn lẽn đáp, rồi vụng về vỗ vai cô.

    “Cô đang làm rất tốt.”

    Nina thở dài.

    “Nghe chẳng thuyết phục gì cả.

    Sao anh không đi xích anh chàng tóc vàng đi?”

    Jesper chào cô rồi rút lui khỏi cabin.

    Dù anh gây phiền toái, Nina vẫn rất muốn gọi Jesper quay lại.

    Anh đi rồi, trong đầu cô chỉ còn lại giọng nói của Zoya nhắc nhở rằng khả năng tối đa của cô vẫn là chưa đủ.

    Làn da của Inej lạnh quá.

    Nina đặt hai bàn tay lên đôi vai cô gái, cố cải thiện tuần hoàn của cô để nâng thân nhiệt lên thêm một chút.

    Cô đã không hoàn toàn thành thật với Jesper.

    Tam Đại Grisha không chỉ muốn cứu các Grisha khỏi các thợ săn phù thuỷ người Fjerda.

    Họ cử phái viên tới đảo Wandering và Novyi Zem bởi vì Ravka cần tuyển quân.

    Những người này tìm đến các Grisha đang lẩn trốn và cố thuyết phục họ quay về Ravka để phục vụ cho quân đội hoàng gia.

    Lúc nổ ra cuộc nội chiến thì Nina còn quá nhỏ, nhưng sau đó cô rất nóng lòng muốn được tham gia vào công cuộc tái thiết Hạ Quân.

    Chính năng khiếu ngoại ngữ của cô đã thắng được sự dè dặt của Zoya - cô nói được tiếng Shu, Kaelish, Suli, Fjerda và thậm chí cả một ít tiếng Zemeni.

    Zoya đồng ý để Nina đi cùng mình và một đội thẩm tra tới đảo Wandering, và bất chấp những nghi ngại của Zoya, Nina đã thành công.

    Đóng giả làm khách du lịch, cô len lỏi vào các tửu quán và nhà để xe ngựa để nghe ngóng hoặc trò chuyện với dân địa phương, sau đó về báo cáo lại.

    Nếu cô muốn đi tới Maroch Glen thì nhớ đi vào ban ngày.

    Hồn ma bóng quế ở đó nhiều lắm, những cơn bão có thể tự dưng xuất hiện mà không báo trước.

    Phù thuỷ vùng Fells là có thật.

    Anh họ tôi từng đi gặp mụ sau một cơn bạo bệnh, và thề sống thề chết rằng mình chưa bao giờ khoẻ hơn.

    Cô nghĩ anh ấy bị lú lẫn à?

    Không, anh ấy tỉnh táo hơn cô nhiều đấy.

    Họ đã tìm thấy hai gia đình Grisha trốn trong nơi được coi là các hang động thần tiên tại Istamere, và cứu được một cặp cha mẹ cùng hai con trai – Tiết Hoả Sư, người có thể điều khiển lửa - khỏi một đám đông cuồng loạn ở Fenford.

    Thậm chí cả đội đã kịp chặn đứng một con tàu chở nô lệ ở gần cảng Leflin.

    Sau khi họ được phân loại, những ai không có năng lực được giúp hồi hương an toàn.

    Thẩm tra viên Grisha xác nhận những người có năng lực và đề nghị cho họ một nơi nương náu ở Ravka.

    Chỉ có duy nhất người Độc Tâm Y có biệt danh Phù thủy vùng Fells quyết định ở lại.

    “Nếu bọn chúng muốn lấy máu tôi, cứ để chúng tới đây,” bà ta đã vừa cười vừa nói như thế.

    “Tôi sẽ xin chúng tí huyết luôn thể.”

    Nina nói tiếng Kaelish thành thục như tiếng mẹ đẻ và thích thú với thử thách thay đổi danh tính mỗi khi tới một địa điểm mới.

    Nhưng sau tất cả những thành công của họ, Zoya vẫn chưa hài lòng.

    “Giỏi ngoại ngữ thôi chưa đủ,” chị ta mắng Nina như thế.

    “Em cần phải học để đừng… lộ liễu như thế.

    Em quá ồn ào, quá nhiệt tình, quá dễ nhớ.

    Em đang đối mặt với rất nhiều nguy cơ.”

    “Zoya,” người thẩm tra viên cùng đi với họ đã xen vào.

    “Nhẹ nhàng thôi.”

    Anh ta là một người khuếch đại.

    Sau khi chết, xương cốt của anh sẽ được phục vụ cho việc nâng cao năng lực của Grisha, không khác mấy so với những chiếc răng cá mập hoặc vuốt gấu mà nhiều Grisha vẫn đeo trên người.

    Nhưng lúc còn sống, anh có một giá trị không gì sánh được đối với công việc của họ, vì anh được huấn luyện để sử dụng khả năng khuếch đại của mình trong việc cảm nhận năng lực của các Grisha chỉ bằng cách chạm vào họ.

    Trong phần lớn trường hợp, Zoya vẫn nghe theo anh, nhưng lần ấy chị nheo đôi mắt xanh thẳm của mình lại và nói: “Các giáo viên luôn khắc nghiệt đối với tôi.

    Nếu con bé rơi vào tình thế bị một đám nông dân khát máu truy đuổi trong rừng thì anh cũng bảo bọn họ nhẹ nhàng thôi à?”

    Nina đã vùng vằng bỏ đi với lòng tự trọng bị tổn thương và xấu hổ vì mình mau nước mắt.

    Zoya quát với theo rằng cô không được bước qua đường phân thuỷ, nhưng cô bỏ ngoài tai, chỉ muốn đi thật xa khỏi vị Tiết Khí Sư khó tính ấy.

    Rốt cuộc cô tiến thẳng vào một lều trại của drüskelle.

    Nhóm sáu chàng trai tóc vàng nói tiếng Fjerda trên một vách đá trông ra biển.

    Bọn họ không đốt lửa trại và ăn mặc như dân Kaelish, nhưng Nina lập tức nhận ra chân tướng của họ.

    Bọn họ đã nhìn cô một lúc lâu dưới ánh trăng bàng bạc.

    “Ôi, tạ ơn trời,” cô đã nói như thế bằng một thứ tiếng Kaelish trôi chảy.

    “Tôi đang đi chơi cùng gia đình thì bị lạc trong rừng.

    Có anh nào giúp tôi tìm đường được không ạ?”

    “Tao nghĩ con bé bị lạc đường,” một người trong số họ phiên dịch sang tiếng Fjerda cho những người còn lại.

    Một người khác đứng dậy với chiếc đèn lồng trong tay.

    Anh cao hơn năm người kia, và bản năng thét bảo cô chạy đi lúc anh tiến lại gần.

    Họ không biết mày là ai, cô tự nhủ.

    Mày chỉ là một con bé Kaelish dễ thương đi lạc trong rừng.

    Đừng làm bất cứ điều gì ngu ngốc.

    Dụ hắn ra xa khỏi những tên còn lại, rồi hạ thủ hắn.

    Anh chàng cao lớn giơ cao chiếc đèn lồng, ánh sáng của nó chiếu sáng khuôn mặt của cả anh lẫn cô.

    Tóc anh dài và có màu vàng nâu, đôi mắt xanh nhạt của anh lấp lánh như băng tuyết dưới ánh mặt trời mùa đông.

    Trông anh đẹp như tranh vẽ, cô nghĩ thầm.

    Như một vị thánh dát vàng trên tường của một nhà thờ, sinh ra để cầm thanh gươm lửa.

    “Cô làm gì ở ngoài này?”

    Anh đã hỏi như thế bằng tiếng Fjerda.

    Cô vờ như không hiểu.

    “Tôi xin lỗi,” cô đáp lại bằng tiếng Kaelish.

    “Tôi không hiểu.

    Tôi bị lạc đường.”

    Anh lao vào cô.

    Cô phản ứng mà không kịp suy nghĩ, hai tay giơ lên để tấn công.

    Nhưng anh quá mau lẹ.

    Không chút ngập ngừng, anh thả đèn lồng xuống và chụp lấy hai cổ tay cô, chập hai lòng bàn tay của cô vào với nhau, khiến cô không thể sử dụng năng lực.

    “Drüsje,” anh đã thốt lên như thế với giọng hài lòng.

    Phù thuỷ.

    Anh có nụ cười của một con sói.

    Cú tấn công chỉ là một phép thử.

    Một cô gái lạc lối trong rừng sẽ co rúm lại, tay lần tìm con dao hoặc khẩu súng.

    Cô ta sẽ không cố dùng đôi tay mình để làm tim đối phương ngừng đập.

    Khinh suất.

    Bốc đồng.

    Đây chính là lí do khiến Zoya không muốn đem cô theo.

    Một Grisha được đào tạo bài bản sẽ không phạm những sai lầm như thế.

    Nina đúng là ngu ngốc, nhưng cô không cần phải phản bội những người còn lại.

    Cô van xin bằng tiếng Kaelish chứ không phải tiếng Ravka, và cô không kêu gọi trợ giúp - kể cả khi bị trói tay, bị đe doạ, bị ném xuống một chiếc thuyền như một bao tải hạt kê.

    Cô muốn hét toáng lên để Zoya chạy tới, muốn cầu xin ai đó cứu cô, nhưng cô không thể gây nguy hiểm đến tính mạng của những người khác.

    Đám drüskelle đã chèo thuyền đưa cô ra một con tàu lớn neo đậu ngoài khơi và tống cô vào một cái chuồng nhốt đầy Grisha ở dưới hầm tàu.

    Đó là lúc nỗi kinh hoàng thực sự bắt đầu.

    Ngày và đêm hoà vào nhau làm một trong hầm tàu nhớp nháp.

    Tay của các Grisha bị trói chặt để ngăn cản họ sử dụng năng lực.

    Họ được nuôi ăn bằng bánh mì cứng lúc nhúc mọt - với số lượng vừa đủ để cầm hơi - và phải sử dụng nước ngọt thật tiết kiệm vì chẳng biết khi nào sẽ được cung cấp tiếp.

    Mùi người và mùi chất thải gần như không thể chịu đựng nổi.

    Thỉnh thoảng con tàu buông neo và các drüskelle lại xuất hiện cùng với những người bị bắt khác.

    Đám Fjerda đứng phía bên ngoài lồng, ăn uống, chế nhạo sự bẩn thỉu và hôi hám của các tù nhân Grisha.

    Tuy vậy, nỗi sợ hãi về điều đang chờ đợi phía trước còn kinh khủng hơn - các điều tra viên ở Lâu Đài Băng, nhục hình tra tấn, và cái chết không tránh khỏi.

    Nina mơ thấy mình bị thiêu sống và choàng tỉnh khi miệng còn đang hét thất thanh.

    Ác mộng, nỗi sợ hãi và cơn đói hoà trộn với nhau tới mức cô không còn biết chắc được đâu là thực, đâu là ảo.

    Thế rồi một ngày kia, đám drüskelle tập hợp lại ở khoang dưới, trên người khoác bộ đồng phục phẳng phiu màu đen và bạc, một cái đầu sói nằm đĩnh đạc nơi ống tay áo.

    Bọn họ xếp ngay hàng thẳng lối và đứng nghiêm khi viên chỉ huy xuất hiện.

    Cũng giống như mọi người, ông ta cao lớn, nhưng có một hàm râu gọn gàng, mái tóc vàng dài điểm bạc ở hai bên thái dương.

    Tay chỉ huy đi dọc theo hầm tàu, rồi dừng lại trước các tù nhân.

    “Bao nhiêu?”

    Ông ta đã hỏi như thế.

    “Mười lăm ạ,” người con trai bắt cô đã đáp như thế.

    Đó là lần đầu tiên cô thấy anh ta xuống hầm tàu.

    Tay sĩ quan chỉ huy hắng giọng và chắp tay sau lưng.

    “Ta là Jarl Brum.”

    Cơn run rẩy sợ hãi tràn qua người Nina, và cô cảm thấy nó lan ra khắp các Grisha bị bắt giữ, một tín hiệu cảnh báo mà không ai có thể phớt lờ.

    Tại trường học, Nina bị ám ảnh bởi các drüskelle.

    Đó là những sinh vật khủng khiếp trong cơn ác mộng của cô với bầy sói trắng, những lưỡi dao tàn bạo và lũ ngựa mà bọn họ nhân giống để chiến đấu với các Grisha, chính vì vậy mà cô đã học tiếng Fjerda và tìm hiểu kĩ lưỡng về nền văn hoá của họ.

    Đó là một cách để chuẩn bị sẵn sàng cho bản thân, cho cuộc đối đầu sắp tới với bọn họ.

    Và Jarl Brum là người tệ nhất trong số đó.

    Ông ta là một huyền thoại, là con quái vật phục sẵn trong bóng tối.

    Drüskelle đã tồn tại hàng trăm năm nay, nhưng dưới sự lãnh đạo của Brum, lực lượng này đã tăng gấp đôi quân số và nguy hiểm bội phần.

    Brum đã thay đổi cách luyện tập, phát triển những kĩ thuật mới để xoá sổ các Grisha tại Fjerda, và vượt qua biên giới Ravka để truy đuổi các Grisha đơn độc ngay trên đất của họ.

    Thậm chí ông ta còn cho truy lùng các con tàu nô lệ để “giải phóng” các Grisha bị bắt giữ với mục đích duy nhất là xích họ lại và đưa về Fjerda xét xử.

    Nina đã mường tượng rằng một ngày kia cô sẽ đối mặt với Brum trong tư thế của một chiến binh báo thù hoặc một gián điệp mưu trí.

    Cô không nghĩ mình lại đối diện ông ta khi đang ở trong một cái lồng, đói lả, tay bị trói và áo quần rách tả tơi.

    Brum hẳn đã biết tác động mà cái tên của ông ta gây ra.

    Ông ta đợi một lúc lâu trước khi nói bằng một thứ tiếng Kaelish hoàn hảo: “Đứng trước mặt các ngươi là thế hệ drüskelle kế tiếp, lực lượng thần thánh có nhiệm vụ bảo vệ vương quốc Fjerda khỏi chủng loại các ngươi.

    Họ sẽ đưa các ngươi về Fjerda để xét xử, và nhờ đó thăng tiến trong đội ngũ.

    Họ là những người mạnh mẽ nhất và giỏi nhất của lực lượng này.”

    Lũ bắt nạt, Nina nghĩ bụng.

    “Khi chúng ta về tới Fjerda, các ngươi sẽ bị thẩm vấn và xét xử cho những tội ác đã gây ra.”

    “Xin làm ơn,” một người tù lên tiếng.

    “Tôi chẳng làm gì cả.

    Tôi là một người nông dân.

    Tôi không gây hại gì cho các ông.”

    “Ngươi là một sự sỉ nhục đối với Djel,” Brum đáp.

    “Một tai hoạ sống.

    Các ngươi nói chuyện hoà bình, nhưng con cái các ngươi thì sao, những kẻ được các ngươi truyền cho thứ năng lực quỷ quái đó?

    Sự thương hại của ta chỉ dành cho những người đàn ông và phụ nữ bị tiêu diệt bởi giống loài Grisha kinh tởm.”

    Ông ta quay về phía các drüskelle. ” Làm giỏi lắm, các chàng trai,” ông ta nói bằng tiếng Fjerda.

    “Chúng ta sẽ quay về Djerholm ngay lập tức.”

    Đám drüskelle trông như sắp nổ tung vì tự mãn.

    Ngay khi Brum rời khỏi hầm tàu, bọn họ thân mật vỗ vai nhau, cười nói một cách hài lòng và vui sướng.

    “Đúng là giỏi quá còn gì,” một người nói bằng tiếng Fjerda.

    “Mười lăm Grisha chuẩn bị áp giải tới Lâu Đài Băng!”

    “Nếu chuyện này không giúp bọn ta lên lon thì…”

    “Sẽ được thôi mà, mày yên tâm đi.”

    “Tốt, tao phát mệt vì cứ phải cạo râu mỗi sáng rồi.”

    “Tao sẽ để cho râu dài tới rốn.”

    Sau đó, một kẻ trong số họ đã thò tay qua song sắt và túm tóc Nina.

    “Tao thích con bé này, nó vẫn còn xinh xẻo và tròn trịa.

    Hay là ta mở lồng ra để vui vẻ với nó một chút.”

    Anh chàng có mái tóc vàng nâu đã hất tay gã kia ra.

    “Anh bị làm sao vậy?”

    Anh đã nói như thế.

    Đó là lần đầu tiên anh lên tiếng kể từ lúc Brum rời hầm tàu.

    Nhưng sự biết ơn của Nina nhanh chóng tan biến khi anh ta nói tiếp: “Sao anh có thể gian dâm với một con chó?”

    “Còn tuỳ trông nó như thế nào…”

    Những kẻ khác phá lên cười và bỏ đi.

    Kẻ đã ví cô như súc vật đi cuối cùng.

    Ngay khi anh ta sắp sửa bước ra khỏi hầm, cô nói bằng một thứ tiếng Fjerda hoàn hảo: “Tội ác nào vậy?”

    Anh ta khựng lại, và khi quay nhìn cô, đôi mắt xanh nhạt của anh ta bừng bừng lửa hận.

    Cô nhất quyết không nao núng.

    “Làm thế nào ngươi nói được ngôn ngữ của ta?

    Có phải ngươi làm nhiệm vụ ở biên giới phía bắc của Ravka không?”

    “Tôi là người Kaelish,” cô nói dối.

    “Và tôi nói được ngoại ngữ.”

    “Lại là phép phù thuỷ.”

    “Đúng vậy, nếu với anh phép phù thuỷ đồng nghĩa với việc trau dồi ngôn ngữ.

    Chỉ huy của các anh nói chúng tôi sẽ bị đem ra xét xử vì các tội ác đã gây ra.

    Tôi muốn anh cho tôi biết tôi đã gây ra tội ác gì?”

    “Ngươi sẽ bị xét xử tội gián điệp và những tội ác chống lại loài người.”

    “Chúng tôi không phải là tội phạm,” một Sáng Chế Gia ngồi dưới sàn nói bằng thứ tiếng Fjerda nhát gừng.

    Ông ta là người ở đây lâu nhất và ốm yếu đến mức không thể đứng dậy.

    “Chúng tôi chỉ là thường dân - nông dân, giáo viên.”

    Tôi thì không, Nina rầu rĩ nghĩ bụng.

    Tôi là một chiến binh.

    “Các ngươi sẽ bị xét xử,” tay drüskelle tóc vàng đáp.

    “Các ngươi sẽ được đối xử công bằng hơn những gì các ngươi xứng đáng nhận được.”

    “Có bao nhiêu Grisha từng được xử vô tội nào?”

    Nina hỏi.

    Người Sáng Chế Gia rên lên.

    “Đừng có chọc giận anh ta.

    Cháu không làm anh ta lay chuyển được đâu.”

    Nhưng cô đã tóm lấy song sắt bằng đôi bàn tay bị trói và nói tiếp: “Bao nhiêu Grisha đã bị các anh đưa lên giàn hoả?”

    Anh ta quay đi.

    “Khoan đã!”

    Anh ta phớt lờ cô.

    “Khoan đã!

    Xin làm ơn!

    Chỉ… chỉ xin anh một chút nước thôi.

    Anh có đối xử với con chó của anh như thế này không?”

    Anh ta dừng lại, bàn tay đặt trên cánh cửa.

    “Lẽ ra ta không nên nói câu đó.

    Ít nhất lũ chó cũng còn biết trung thành.

    Gọi ngươi là chó chẳng khác nào hạ thấp chúng.”

    Tôi sẽ ném anh cho một bầy chó dữ xé xác, Nina nhủ thầm.

    Nhưng những gì cô nói chỉ là: “Nước.

    Xin anh.”

    Anh ta biến ra khỏi hầm tàu.

    Cô nghe thấy tiếng anh ta trèo lên cầu thang, rồi cái then cửa được đóng lại với một tiếng động đinh tai.

    “Đừng phí hơi với nó,” ông Sáng Chế Gia khuyên nhủ.

    “Nó sẽ không tử tế với cháu đâu.”

    Nhưng sau đó ít phút, tay drüskelle quay lại với cái ca thiếc và một xô nước sạch.

    Anh ta đặt nó vào trong lồng rồi đóng cửa lại mà không nói tiếng nào.

    Nina giúp ông Sáng Chế Gia uống trước, sau đó cô múc một ca nước cho mình.

    Bàn tay cô run rẩy tới nỗi một nửa ca nước sánh ra ngoài, làm ướt áo cô.

    Anh chàng Fjerda quay mặt đi, và Nina hài lòng khi nhận ra cô làm anh ta bối rối.

    “Được tắm bây giờ thì tôi có chết cũng cam lòng,” cô trêu anh ta.

    “Anh có thể tắm cho tôi được đấy.”

    “Đừng có nói chuyện với ta,” anh ta gầm gừ, chân đã dợm bước ra cửa.

    Anh ta không quay lại nữa, và họ không được nhận nước sạch trong ba ngày kế tiếp.

    Tuy nhiên, khi cơn bão ập tới, chính cái ca thiếc đã cứu mạng cô.

    •••

    Cằm cô trễ xuống, và Nina choàng tỉnh.

    Cô vừa ngủ gà gật sao?

    Matthias đang đứng trên lối đi phía bên ngoài cabin.

    Dáng người anh ta choán gần hết khung cửa, quá cao lớn đối với không gian nhỏ hẹp dưới này.

    Matthias đã quan sát cô được bao lâu rồi?

    Nina nhanh chóng kiểm tra mạch đập và hơi thở của Inej, cô thấy nhẹ cả người khi tình hình cô gái dường như đã ổn định.

    “Tôi ngủ quên à?”

    Cô hỏi.

    “Ngủ lơ mơ.”

    Cô duỗi người, cố gắng xua đuổi sự mệt mỏi.

    “Nhưng không ngáy chứ?”

    Matthias không nói gì, anh ta chỉ quan sát cô bằng đôi mắt băng giá.

    “Họ để cho anh sử dụng dao cạo râu à?”

    Bàn tay bị xiềng của Matthias đưa lên sờ cái cằm mới cạo.

    “Jesper cạo đấy.”

    Hẳn là Jesper cũng đã cắt tóc cho Matthias.

    Những túm tóc lởm chởm trên đầu anh ta nay đã được cắt gọn.

    Nhưng nó quá ngắn, chẳng khác nào một lớp lông tơ vàng trên làn da đầy những vết trầy xước và bầm tím sau trận đấu cuối cùng ở Cổng Địa Ngục.

    Chắc Matthias phải vui sướng lắm khi được giải phóng khỏi bộ râu, Nina nghĩ thầm.

    Một drüskelle buộc phải mày râu nhẵn nhụi khi chưa tự mình hoàn thành nhiệm vụ và được công nhận là sĩ quan.

    Nếu Matthias đưa được Nina ra toà tại Lâu Đài Băng thì anh ta đã được cho phép để râu rồi.

    Anh ta cũng sẽ được đeo biểu tượng đầu sói bạc của một sĩ quan drüskelle.

    Cô muốn bệnh khi nghĩ tới nó.

    Chúc mừng sự thăng tiến lên ngạch sát nhân của anh.

    Ý nghĩ đó nhắc cô nhớ mình đang phải đối diện với ai.

    Cô ngồi thẳng lại, cằm hếch lên.

    “Hje marden, Matthias?”

    Cô hỏi.

    “Đừng,” anh nói.

    “Anh thích tôi hỏi bằng tiếng Kerch à?”

    “Tôi không muốn nghe ngôn ngữ của mình phát ra từ miệng cô.”

    Đôi mắt anh lia tới đôi môi cô, và Nina cảm thấy mình bất giác đỏ mặt.

    Cô khoái trá nói tiếp bằng tiếng Fjerda: “Nhưng anh luôn thích cách tôi

    nói tiếng mẹ đẻ của anh.

    Anh bảo nghe nó thuần khiết.”

    Đúng vậy.

    Anh thích ngữ điệu của cô - những nguyên âm của một công chúa, nhờ công ơn các giáo viên của cô ở Tiểu Điện.

    “Đừng ép tôi, Nina,” Matthias nói.

    Tiếng Kerch của anh ta thật cục mịch, thô bạo, thứ ngữ điệu yết hầu của bọn trộm cướp và giết người mà anh ta gặp trong tù.

    “Bản ân xá là một giấc mơ khó nắm giữ.

    Cảm giác về mạch đập của cô chậm dần trong tay tôi dễ nhỡ hơn nhiều.”

    “Cứ thử đi,” cô nói, đùng đùng nổi giận, cô đã chán ngán những lời đe dọa của anh ta rồi.

    “Lúc này tay tôi không bị khống chế đâu Helvar.”

    Nina cong một đầu ngón tay lại, và Matthias thở dốc vì tim bắt đầu đập dồn.

    “Đồ phù thuỷ,” anh ta thốt lên, tay bấu ngực.

    “Rõ ràng anh có thể làm tốt hơn thế.

    Giờ đây chắc anh đã có hàng trăm biệt danh dành cho tôi.”

    “Hàng ngàn,” anh ta gằn giọng, mồ hôi túa ra trên trán.

    Cô thả lỏng ngón tay và chợt cảm thấy bối rối.

    Cô đang làm gì vậy?

    Trừng phạt anh ta?

    Hay chơi đùa với anh ta?

    Anh ta có toàn quyền căm ghét cô.

    “Đi đi, Matthias.

    Tôi có người bệnh cần chăm sóc.”

    Nina hướng sự tập trung vào việc kiểm tra thân nhiệt của Inej.

    “Cô ta sẽ sống chứ?”

    “Anh quan tâm sao?”

    “Dĩ nhiên rồi.

    Cô ta là một con người.”

    Nina nhận ra hàm ý của câu nói đó.

    Cô ta là một con người, đâu như cô.

    Người Fjerda luôn tin rằng các Grisha không phải là con người.

    Thậm chí Grisha còn không được ngang hàng với súc vật, mà là một thứ gì đó hạ cấp, ma quỷ hơn, một thứ sâu mọt của thế giới, một giống loài đáng kinh tởm.

    Cô nhún một bên vai.

    “Tôi không biết nữa.

    Thật đấy.

    Tôi đã cố hết sức, nhưng năng lực của tôi không nằm ở việc này.”

    “Kaz đã hỏi cô liệu Hồng Bạch có cử đoàn đại diện tới Hringkälla hay không.”

    “Anh mà cũng biết đến Nhà Hồng Bạch à?”

    “Tây Stave là một đề tài bàn tán được ưa thích ở Cổng Địa Ngục.”

    Nina khựng lại.

    Rồi, không nói thêm gì nữa, cô vén một bên tay áo lên.

    Hai bông hồng quấn lấy nhau nơi mặt trong cẳng tay của cô.

    Cô có thể giải thích về công việc của mình ở đó, rằng cô không bán trôn nuôi miệng, nhưng đó không phải là việc của anh ta.

    Cứ để anh ta tin vào thứ anh ta thích tin.

    “Cô tự nguyện làm việc ở đó à?”

    “Nói tự nguyện thì hơi quá, nhưng đúng vậy.”

    “Tại sao?

    Tại sao cô ở lại Kerch?”

    Cô giụi mắt.

    “Tôi không thể bỏ mặc anh trong Cổng Địa Ngục.

    “Cô đã đẩy tôi vào đó.”

    “Đó là một lỗi lầm, Matthias.”

    Cơn giận bùng lên trong mắt anh ta, sự bình thản tan biến đâu mất.

    “Một lỗi lầm?

    Tôi đã cứu mạng cô, và cô đi cáo buộc tôi buôn bán nô lệ.”

    “Phải,” Nina đáp.

    “Và tôi đã dành phần lớn thời gian trong năm vừa rồi để tìm cách sửa chữa điều đó.”

    “Cô có bao giờ ăn nói thành thật không vậy?”

    Nina mệt mỏi chùng người xuống trên ghế.

    “Tôi chưa bao giờ nói dối anh.

    Và tôi cũng sẽ không bao giờ làm điều đó.”

    “Câu nói đầu tiên của cô với tôi là một lời nói dối.

    Bằng tiếng Kaelish, nếu tôi không nhầm.”

    “Nó được nói ra ngay trước khi anh bắt và nhốt tôi vào một cái lồng.

    Liệu đó có phải là lúc để nói sự thật không?”

    “Tôi không nên trách cô.

    Cô không thể làm khác được.

    Bản chất của cô là dối trá sẵn rồi.”

    Matthias quan sát cổ của Nina.

    “Các vết bầm của cô biến mất rồi.”

    “Tôi đã xóa chúng đi.

    Chuyện đó làm anh không vừa lòng à?”

    Matthias không nói gì, nhưng cô nhận thấy gương mặt anh ta thoáng chút xấu hổ.

    Để trở thành một drüskelle, anh ta phải xóa bỏ phần tử tế trong mình.

    Nhưng chàng trai mà lẽ ra anh ta nên trở thành vẫn luôn ở đó, và cô bắt đầu nhìn ra bản chất của Matthias trong những ngày tháng họ ở bên nhau sau vụ đắm tàu.

    Cô muốn tin rằng chàng trai ấy vẫn còn đó, được cất kĩ, bất chấp sự phản bội của cô và những điều anh ta đã hứng chịu ở Cổng Địa Ngục.

    Nhìn Matthias lúc này, Nina không còn chắc chắn nữa.

    Có lẽ đây mới là con người thật của anh ta, và hình ảnh mà cô níu giữ từ năm ngoái chỉ là ảo tưởng.

    “Tôi cần khám cho Inej,” cô nói để đuổi anh ta đi.

    Nhưng Matthias không đi.

    Thay vào đó, anh hỏi: “Cô có nghĩ tới tôi chút nào không, Nina?

    Tôi có quấy nhiễu giấc ngủ của cô không?”

    Cô nhún vai.

    “Một Tâm Y có thể ngủ bất cứ lúc nào mình muốn.”

    Dẫu vậy cô không thể kiểm soát những giấc mơ của mình.

    “Giấc ngủ là thứ rất có giá trị ở Cổng Địa Ngục.

    Nó là một mối nguy hiểm.

    Nhưng khi tôi ngủ, tôi mơ thấy cô.”

    Nina ngẩng đầu lên.

    “Đúng vậy,” anh nói tiếp.

    “Mỗi khi chợp mắt, tôi đều mơ thấy cô.”

    “Như thế nào?” cô vừa nóng lòng muốn biết câu trả lời, lại vừa sợ nó.

    “Toàn những chuyện khủng khiếp.

    Những cuộc tra tấn tàn bạo nhất.

    Cô chậm rãi nhấn nước tôi.

    Cô thiêu đốt trái tim trong lồng ngực tôi.

    Cô làm mù mắt tôi.”

    “Tôi là một con quái vật.”

    “Một con quái vật, một kẻ cám dỗ, một yêu tinh băng giá.

    Cô hôn tôi, thì thầm kể chuyện vào tai tôi.

    Cô hát cho tôi nghe và đỡ lấy tôi khi tôi ngủ.

    Tiếng cười của cô bám riết lấy tôi cho đến khi tôi tỉnh giấc.”

    “Anh luôn ghét tiếng cười của tôi.”

    “Tôi yêu tiếng cười của cô, Nina, và trái tim của một chiến binh kiêu hãnh trong cô.

    Có lẽ tôi đã từng phải lòng cô.”

    Có lẽ.

    Đã từng.

    Trước khi cô phản bội anh.

    Câu nói đó cứa sâu vào tim cô.

    Cô biết mình không nên nói ra, nhưng không thể kìm lại được.

    “Thế anh đã làm những gì, Matthias?

    Anh đã làm gì với tôi trong những giấc mơ của anh?”

    Con tàu hơi nghiêng đi.

    Những ngọn đèn lồng chao đảo.

    Đôi mắt anh xanh rực như ngọn lửa.

    “Mọi thứ,” anh nói, đoạn quay lưng bỏ đi.

    “Mọi thứ.”

    15

    MATTHIAS

    Khi bước lên boong, Matthias phải đi thẳng tới lan can thuyền.

    Tất cả cái đám đầu trộm đuôi cướp và dân ổ chuột này đều thích nghi nhanh chóng với việc đi biển, vì bọn họ từng nhảy từ thuyền này sang thuyền khác trên những con kênh của Ketterdam.

    Chỉ duy nhất thằng nhóc Wylan là có vẻ vất vả.

    Trông nó cũng tội nghiệp như anh.

    Tình hình khá hơn khi ở trên boong, nơi anh có thể quan sát đường chân trời.

    Anh đã từng đi nhiều chuyến hải trình với tư cách là một drüskelle, nhưng anh luôn cảm thấy thoải mái hơn khi ở trên đất liền hoặc trên băng.

    Thật đáng xấu hổ khi những kẻ ngoại quốc kia trông thấy anh ói mửa qua lan can thuyền lần thứ ba trong ngày.

    Ít nhất Nina cũng không có mặt ở đây để chứng kiến nỗi nhục của anh.

    Anh vẫn nghĩ tới hình ảnh cô trong cabin khoang dưới, khi cô theo dõi tình hình sức khoẻ của cô gái da ngăm kia với tất cả sự quan tâm và ân cần.

    Cả mệt mỏi nữa.

    Đó là một lỗi lầm, cô đã nói như vậy.

    Gán cho anh tội buôn nô lệ, để anh bị tống lên một con tàu của Kerch, rồi bị ném vào tù ư?

    Cô ta nói là đã cố gắng sửa chữa sai lầm.

    Nhưng ngay cả khi đó là sự thật thì nó có quan trọng gì đâu?

    Giống loài của cô ta không biết đến danh dự.

    Nina đã chứng tỏ điều đó.

    Cà phê đã được pha, và Matthias trông thấy mọi người uống nó bằng những cái cốc đồng có nắp sứ.

    Ý nghĩ mang tới cho Nina một cốc cà phê chợt xâm nhập tâm trí anh, và anh vội xua nó đi.

    Anh không cần phải chiều chuộng cô ta hoặc nói với Brekker rằng cô ta nên được nghỉ ngơi.

    Anh siết chặt nắm đấm và nhìn những đốt ngón tay đầy máu đóng vảy của mình.

    Cô ta đã gieo vào lòng anh một sự yếu đuối đáng sợ.

    Brekker ra hiệu cho Matthias tiến lại chỗ cậu ta đang nghiên cứu sơ đồ Lâu Đài Băng cùng với Jesper và Wylan, cách xa tầm hóng hớt của thuỷ thủ đoàn.

    Những sơ đồ này giống như lưỡi dao đâm vào tim anh.

    Tường thành, cổng rào, lính gác.

    Những thứ đó lẽ ra có thể làm nản chí đám người ngu ngốc này.

    Nhưng hình như anh cũng chẳng khôn ngoan gì hơn bọn họ.

    “Tại sao không có cái tên nào hết vậy?”

    Brekker hỏi, tay chỉ vào các bản sơ đồ.

    “Tôi không biết viết tiếng Fjerda, và chúng ta cần phải chính xác trong từng chi tiết,” Wylan đáp.

    “Chuyện đó nên để Helvar làm.”

    Cậu nhóc co rúm khi trông thấy vẻ mặt của Matthias và chống chế.

    “Tôi chỉ làm công việc của mình thôi.

    Đừng có lườm tôi.”

    “Ai thèm,” Matthias gầm gừ.

    “Đây,” Kaz nói và dúi cho Matthias một cái màng nhỏ hình tròn, trong suốt, lấp lánh dưới nắng.

    Thằng quỷ đã nhảy lên một cái thùng phuy và đang tựa người vào cột buồm, cái chân yếu gác lên một cuộn thừng, cây gậy chống đáng nguyền rủa đặt trong lòng.

    Matthias thích thú mường tượng ra cảnh anh bẻ tan tành cây gậy và tọng từng mảnh vào họng Brekker.

    “Cái gì đây?”

    “Một trong những phát minh mới của Raske.”

    Wylan ngẩng đầu lên.

    “Tôi tưởng anh ta làm thuốc nổ?”

    “Raske làm đủ thứ,” Jesper đáp.

    “Nhét nó vào răng hàm,” Kaz nói trong lúc đưa nó cho những người khác.

    “Nhưng đừng có nhai…”

    Wylan cắt ngang câu nói của Kaz bằng một tràng ho, tay cào cấu miệng.

    Một màng phim mỏng đã trùm qua đôi môi của cậu nhóc.

    Nó phồng lên như da cổ của một con ếch trong lúc Wylan cố hít thở, đôi mắt đảo tới lui kinh hoàng.

    Jesper cười phá lên, còn Kaz chỉ lắc đầu.

    “Tôi đã nói là đừng có nhai mà, Wylan.

    Thở bằng mũi đi.”

    Cậu bé hít sâu vài hơi, lỗ mũi nở ra.

    “Từ từ thôi,” Jesper nói.

    “Cậu sẽ làm mình ngất đi đấy.”

    “Cái này là gì vậy?”

    Matthias hỏi, anh vẫn còn giữ cái miếng tròn trong lòng bàn tay.

    Kaz nhét cái của mình vào sâu trong miệng, đảo nó giữa hai hàm răng.

    “Bóng biển.

    Tôi đã định không dùng mấy cái này, nhưng sau vụ phục kích, tôi không biết chúng ta sẽ còn gặp rắc rối kiểu nào trên biển.

    Nếu mọi người bị rơi xuống biển và không thể ngoi lên hít thở không khí, hãy dùng lưỡi lấy nó ra rồi nhai.

    Nó sẽ cho chúng ta mười phút hít thở.

    Ít hơn nếu ta hoảng loạn,” Kaz nhìn Wylan đầy ngụ ý, trước khi đưa một miếng bóng biển khác cho cậu bé.

    “Giữ cái này cho cẩn thận.”

    Rồi Kaz gõ vào mấy cái sơ đồ Lâu Đài Băng.

    “Tên, Helvar.

    Ghi hết mấy cái tên ra đây.”

    Một cách miễn cưỡng, Matthias cầm lấy cây bút và lọ mực, rồi bắt đầu viết tên của các toà nhà và đường sá xung quanh.

    Mỗi chi tiết ghi ra càng khiến anh thấy mặc cảm tội lỗi nhiều hơn.

    Một phần trong anh tự hỏi liệu anh có thể tìm ra cách nào đó để trốn đi khi họ tới nơi, rồi chỉ điểm cho quân lính bắt cả đám và khôi phục danh dự của mình.

    Liệu có ai ở Lâu Đài Băng nhận ra anh không?

    Có lẽ mọi người tin rằng anh đã chết đuối cùng với những người bạn và chỉ huy Brum trong vụ đắm tàu.

    Anh chẳng có bằng chứng nào chứng tỏ danh tính thật của mình.

    Anh sẽ là một người xa lạ, chẳng có phận sự gì tại Lâu Đài Băng, và lúc anh thuyết phục được ai đó chịu nghe mình thì…

    “Anh còn đang giấu giếm gì đó,” Kaz lên tiếng, đôi mắt đen nhìn thẳng vào Matthias.

    Matthias phớt lờ cơn rùng mình chạy dọc sống lưng.

    Đôi khi anh có cảm giác như thằng quỷ đó đọc được suy nghĩ của mình.

    “Tôi đã cung cấp cho các cậu tất cả những gì tôi biết.”

    “Lương tâm của anh đang can thiệp vào trí nhớ.

    Anh còn nhớ thoả thuận giữa chúng ta chứ, Helvar?”

    “Được rồi,” Matthias nói, cơn giận bùng lên trong lòng anh.

    “Cậu muốn nghe ý kiến của tôi chứ gì?

    Kế hoạch của cậu sẽ không thành công.”

    “Anh thậm chí còn không biết mặt mũi kế hoạch của tôi như thế nào.”

    “Đi vào bằng ngả nhà tù, đi ra qua cửa sứ quán chứ gì?”

    “Cái đó chỉ là bước đầu thôi.”

    “Chuyện đó không thể thực hiện được.

    Khu vực nhà tù hoàn toàn tách biệt với phần còn lại của Lâu Đài Băng.

    Nó không được kết nối với tòa đại sứ.

    Không có cách nào từ nhà tù đi sang tòa đại sứ được.”

    “Hai cái có chung một mái nhà, đúng không?”

    “Các cậu không thể trèo lên mái,” Matthias đáp với giọng hài lòng.

    “Các drüskelle có ba tháng làm việc với đám tù nhân Grisha, và trực gác là một phần của việc huấn luyện.

    Tôi đã từng vào trong nhà tù, và nó không có lối đi lên mái cũng chính là bởi lí do đó.

    Nếu một tù nhân xoay xở thoát được ra khỏi buồng giam của mình, chúng tôi không thể để anh ta chạy lăng quăng khắp Lâu Đài Băng.

    Nhà tù bị cô lập hoàn toàn với hai khu vực còn lại của vòng thành ngoài.

    Một khi đã vào trong là chỉ có ở trong đó thôi.”

    “Luôn có cách để ra ngoài.”

    Kaz cầm sơ đồ nhà tù lên.

    “Năm tầng, đúng không?

    Khu tiếp nhận, và bốn tầng xà lim.

    Thế còn cái tầng hầm này thì sao?”

    “Chẳng có gì.

    Một xưởng giặt và lò thiêu.”

    “Lò thiêu.”

    “Phải, nơi đốt quần áo của các tù nhân sau khi họ được đưa tới.

    Đó là một biện pháp để phòng ngừa dịch bệnh, nhưng…”

    Matthias chợt nhận ra điều mà Brekker đang nghĩ trong đầu.

    “Djel lòng lành, cậu muốn chúng ta trèo lên sáu tầng nhà theo đường ống khói à?”

    “Lò thiêu hoạt động vào lúc nào?”

    “Nếu tôi nhớ chính xác thì là mỗi sáng, nhưng ngay cả khi nó không nóng, chúng ta cũng…”

    “Kaz đâu có ngụ ý là tất cả chúng ta sẽ trèo ống khói đâu,” Nina lên tiếng sau khi từ khoang dưới bước lên.

    Kaz ngồi thẳng lại.

    “Ai đang lo cho Inej?”

    “Rotty,” Nina đáp.

    “Tôi sẽ quay xuống đó ngay thôi.

    Tôi chỉ cần hít thở chút không khí.

    Và đừng có giả bộ lo lắng cho Inej khi anh đang định bắt cô bé leo lên cái ống khói dài sáu tầng lầu chỉ với sợi dây thừng và lời cầu nguyện.”

    “Bóng Ma có thể làm được chuyện đó.”

    “Bóng Ma là một cô bé mười sáu tuổi đang nằm mê man trên một cái bàn.

    Thậm chí cô ấy có thể không qua khỏi đêm nay.”

    “Inej sẽ qua khỏi,” Kaz đáp, mắt ánh lên một tia hoang dại.

    Matthias đồ rằng Brekker sẵn sàng lôi cô gái từ địa ngục trở lại nếu phải làm thế.

    Jesper cầm khẩu súng trường lên và lau chùi nó bằng một miếng vải mềm.

    “Sao chúng ta phải bàn cãi chuyện leo ống khói trong khi còn có một vấn đề lớn hơn nhỉ?”

    “Vấn đề gì nào?”

    Kaz hỏi lại, dù Matthias có cảm giác cậu ta đã biết câu trả lời.

    “Chúng ta chỉ phí công đi tìm Bo Yul-Bayur nếu Pekka Rollins can dự vào.”

    “Pekka Rollins là ai?”

    Matthias thắc mắc, lúng búng những âm tiết kì cục đó trong miệng.

    Tên họ của người Kerch chẳng có chút giá trị nào đối với người Fjerda.

    Matthias biết ông ta là một trùm băng đảng và kiếm chác từ Đấu trường Địa Ngục.

    Như vậy cũng đủ tệ rồi, nhưng anh cảm thấy đó chưa phải là tất cả.

    Wylan rùng mình, bóc cái màng dẻo ra khỏi môi.

    “Đó là ông trùm lớn nhất, xấu xa nhất của Ketterdam.

    Ông ta có tiền bạc mà chúng ta đang thiếu, có những mối liên hệ ta không có, và nhiều khả năng đã xuất phát trước chúng ta.”

    Jesper gật đầu.

    “Lần này thì Wylan nói đúng.

    Nếu nhờ phép màu nào đó chúng ta giải thoát được Bo Yul-Bayur trước Rollins, thì một khi ông ta tìm ra kẻ đã phá bĩnh mình, chúng ta coi như chết chắc.”

    “Pekka Rollins là một trùm băng đảng ở Barrel,” Kaz nói.

    “Không hơn, không kém.

    Đừng có biến lão ta thành một loại thánh sống.”

    Có gì đó lấn cấn ở đây, Matthias nghĩ thầm.

    Brekker không còn sự hung hãn khi thanh toán Oomen trước đó, nhưng nó vẫn tồn tại trong cách nói chuyện của cậu ta.

    Matthias dám chắc Brekker có mối thâm thù với Pekka Rollins, không chỉ vì ông ta đã làm nổ tung con tầu của họ và thuê côn đồ bắn họ.

    Có cảm giác đây là một vết thương cũ và ít nhiều đổ máu.

    Jesper ngả người ra sau và nói: “Anh nghĩ Per Haskell sẽ ủng hộ anh khi ông ta phát hiện ra anh đã ngáng đường Pekka Rollins à?

    Anh nghĩ ông ta muốn chiến tranh sao?”

    Kaz lắc đầu, bực bội ra mặt.

    “Pekka Rollins không phải là một người được đẻ bọc điều và sống trong nhung lụa từ bé.

    Tầm nhìn của cậu hạn hẹp quá.

    Y như Per Haskell, và cũng là điều mà những kẻ như Rollins mong muốn.

    Hoàn thành phi vụ này để giành được khoản tiền thưởng kia, chúng ta sẽ trở thành những huyền thoại của Barrel.

    Chúng ta chính là những người đánh bại Pekka Rollins.”

    “Có lẽ chúng ta nên quên việc tiếp cận từ phía bắc đi,” Wylan nói.

    “Nếu nhóm của Pekka đã đi trước thì chúng ta nên tiến thẳng tới Djerholm.”

    “Hải cảng sẽ đầy nhóc đội ngũ an ninh,” Kaz đáp.

    “Bên cạnh các nhân viên hải quan và cảnh binh thường lệ.”

    “Từ phía nam thì sao?

    Qua ngả Ravka ấy?”

    “Đường biên giới đó bị khoá chặt rồi,” Nina đáp.

    “Nó rất dài,” Matthias nói.

    “Nhưng không có cách nào để ta biết được đâu là chỗ yếu nhất,” cô đáp.

    “Trừ phi anh có phép màu giúp ta biết được tháp canh và vọng gác nào đang hoạt động.

    Ngoài ra, nếu ta mượn đường qua ngả Ravka, chúng ta sẽ phải đối đầu với cả người Ravka lẫn người Fjerda.”

    Điều cô nói cũng hợp lí, nhưng nó làm Matthias cảm thấy bực bội.

    Tại Fjerda, phụ nữ không nói năng như thế, họ không bàn đến các vấn đề quân sự hoặc chiến thuật.

    Nhưng Nina luôn làm như vậy.

    “Chúng ta sẽ tiếp cận từ phía bắc như dự định,” Kaz nói.

    Jesper đập đầu vào thành thuyền và ngước mắt nhìn trời.

    “Tốt thôi.

    Nhưng nếu cả lũ chết dưới tay Pekka Rollins, tôi sẽ bắt vong hồn của Wylan dạy tôi chơi sáo và thổi cho đến khi hồn ma của các người điên đầu thì thôi.”

    Brekker mím môi.

    “Còn tôi sẽ thuê vong linh Matthias đá đít hồn ma của cậu.”

    “Linh hồn tôi còn lâu mới dây vào đám ma xó các cậu,” Matthias đáp trả, trước khi tự hỏi phải chăng gió biển đã làm đầu óc anh lú lẫn.
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Ba: Thất Vọng 16-20


    16

    INEJ

    Mọi thứ đều đau.

    Mà tại sao căn phòng lại di chuyển thế này?

    Inej dần dần tỉnh lại, các suy nghĩ như mớ bòng bong trong đầu cô.

    Cô còn nhớ cú đâm của Oomen, rồi cô leo lên mấy cái thùng hàng, người ta la hét trong lúc cô treo người trên không, đeo bám bằng mấy đầu ngón tay.

    Xuống đi nào, Bóng Ma.

    Nhưng Kaz đã quay lại với cô, để cứu khoản đầu tư của anh.

    Hẳn là họ đã kịp lên chiếc Ferolind.

    Cô cố xoay người lại, nhưng cơn đau quá kinh khủng nên cô đành chỉ quay đầu.

    Nina đang ngủ gật trên một chiếc ghế đẩu nằm kẹt giữa góc phòng và cái bàn.

    Bàn tay chị nắm hờ tay cô.

    “Nina,” cô gọi với giọng khản đặc.

    Cổ họng cô giống như bị bọc len.

    Nina choàng tỉnh.

    “Tôi đây!” chị thốt lên, rồi nhìn Inej với ánh mắt lờ đờ.

    “Em tỉnh rồi.”

    Nina ngồi thẳng người lại.

    “Thánh thần ơi, em tỉnh lại rồi!”

    Và Nina oà khóc.

    Inej cố gắng ngồi dậy, nhưng chỉ nhúc nhích được cái đầu.

    “Không, không,” Nina nói.

    “Đừng cố gắng cử động, cứ nghỉ ngơi đi em.”

    “Chị có sao không?”

    Nina bắt đầu cười qua làn nước mắt.

    “Chị ổn.

    Em là người bị đâm mà.

    Chị không biết mình bị sao nữa.

    Chỉ là hạ gục một người thì dễ hơn là chăm sóc họ.”

    Inej chớp chớp mắt, rồi cả hai chị em cùng cười.

    “Ôi…”

    Inej rên lên.

    “Đừng có làm em cười.

    Tệ lắm.”

    Nina nhăn mặt.

    “Em cảm thấy thế nào?”

    “Đau đớn, nhưng không kinh khủng.

    Em khát.”

    Nina đưa cho Inej một cái ca thiếc đầy nước lạnh.

    “Nước ngọt đấy.

    Hôm qua trời mưa.”

    Inej cẩn thận để Nina nâng đầu cô lên và nhấp từng ngụm.

    “Em đã mê man bao lâu rồi?”

    “Hơn ba ngày, gần bốn ngày rồi.

    Jesper làm mọi người điên hết cả lên.

    Chị chưa bao giờ thấy anh ta ngồi yên hơn hai phút.”

    Nina đứng bật dậy.

    “Chị cần phải báo cho Kaz biết là em đã tỉnh!

    Mọi người cứ nghĩ…”

    “Khoan đã,” Inej nắm tay Nina giữ lại.

    “Chỉ là… chúng ta báo cho anh ta sau được không?”

    Nina ngồi xuống, hoang mang ra mặt.

    “Được chứ, nhưng…”

    “Chỉ đêm nay thôi.”

    Inej ngừng lời.

    “Đang là ban đêm ạ?”

    “Phải.

    Vừa mới qua nửa đêm.”

    “Chúng ta có biết kẻ đã tấn công ở cảng là ai không?”

    “Pekka Rollins.

    Lão ta đã thuê bọn Hắc Thủ và Chim cắt để ngăn chúng ta rời cảng.”

    “Làm sao lão ta biết chúng ta dự định ra khơi?”

    “Mọi người chưa chắc chắn.”

    “Em đã thấy Oomen…”

    “Oomen chết rồi.

    Kaz giết hắn.”

    “Thật ạ?”

    “Kaz giết không ít người đâu em.

    Rotty thấy anh ta đuổi theo mấy gã Hắc Thủ đã dồn em vào thùng hàng.

    Hình như câu Rotty nói chính xác là, ‘Máu chảy đủ để nhuộm đỏ cả một nhà kho’.”

    Inej nhắm mắt lại.

    “Chết chóc quá nhiều.”

    Họ bị cái chết bủa vây khắp nơi tại Barrel.

    Nhưng đây là lần đầu tiên nó đến gần cô như vậy.

    “Kaz rất lo cho em đấy.”

    “Kaz chẳng lo quái gì đâu.”

    “Em phải nhìn thấy khuôn mặt của Kaz lúc anh ta đem em xuống đây.”

    “Em là một khoản đầu tư đáng giá mà.”

    Quai hàm Nina trễ xuống.

    “Đừng có nói với chị là anh ta đã nói như thế chứ.”

    “Dĩ nhiên là anh ta đã nói thế.

    À, không có chữ ‘đáng giá’.”

    “Ngu ngốc.”

    “Matthias thế nào rồi?”

    “Lại một thằng ngu khác.

    Em nghĩ mình có ăn được không?”

    Inej lắc đầu.

    Cô không hề cảm thấy đói.

    “Cứ thử đi,” Nina giục.

    “Em gầy còm quá.”

    “Lúc này em chỉ muốn nghỉ ngơi.”

    “Tất nhiên rồi,” Nina nói.

    “Chị sẽ tắt đèn.”

    Inej lại nắm lấy tay Nina.

    “Đừng.

    Em chưa muốn ngủ lại ngay.”

    “Chị có thể đọc cho em nghe nếu chị có sách vở ở đây.

    Hồi ở Tiểu Điện, có một Độc Tâm Y có thể đọc vanh vách những đoạn sử thi trong nhiều giờ liền.

    Khi đó chị chỉ ước gì mình chết đi cho xong.”

    Inej bật cười, rồi nhăn mặt.

    “Chị ở lại đây đi.”

    “Được rồi,” Nina đáp.

    “Vì em đang thích trò chuyện nên chị muốn hỏi vì sao em lại không xăm hình cái li và con quạ trên cánh tay.”

    “Bắt đầu với câu hỏi dễ thế ạ?”

    Nina bắt chéo chân và đưa hai bàn tay đỡ cằm.

    “Chị đang đợi đây.”

    Inej im lặng một lát.

    “Chị đã trông thấy các vết sẹo của em.”

    Nina gật đầu.

    “Khi Kaz thuyết phục được Per Haskell trả tiền chuộc em ra khỏi Vườn Thú, điều đầu tiên em làm là xoá hình xăm lông công.”

    “Kẻ thực hiện việc đó đã làm không có tâm.”

    “Anh ta không phải là Tâm Y hay thầy lang.”

    Đó chỉ là một trong những tay đồ tể có chút am hiểu, chuyên lợi dụng những kẻ lâm vào đường cùng ở Barrel.

    Ông ta đã cho Inej nốc một ngụm whiskey, rồi đơn giản là lóc bỏ lớp da, để lại một vết sẹo nham nhở trên cẳng tay cô.

    Inej mặc kẹ.

    Nỗi đau là sự giải thoát.

    Ở Vườn Thú, người ta thích bàn tán về làn da của cô.

    Nó giống như màu cà phê sữa.

    Nó giống như màu caramel.

    Mịn như satin.

    Cô sẵn lòng đón mọi vết cắt cứa và những dấu sẹo mà chúng để lại.

    “Kaz đã nói với em rằng em không phải làm gì ngoại trừ làm cho bản thân có ích.”

    Kaz đã dạy cô phá két an toàn, móc túi, sử dụng dao.

    Anh đã tặng cho cô con dao đầu tiên, và cô gọi nó là Thánh Petyr.

    Con dao không đẹp bằng những bông hoa phong lữ dại, nhưng tiện dụng hơn, cô nghĩ vậy.

    Biết đâu tôi sẽ sử dụng nó để chống lại anh, cô đã nói như vậy.

    Anh thở dài.

    Giá như cô khát máu được như thế.

    Cô đã không thể xác định được anh nói đùa hay nói thật.

    Giờ Inej cựa mình trên bàn.

    Cô vẫn cảm thấy đau, nhưng không quá mức.

    Căn cứ theo độ sâu của cú đâm, các vị thánh của cô hẳn đã hướng dẫn cho bàn tay của Nina.

    “Kaz nói nếu em chứng minh được bản thân thì em có thể gia nhập băng Cặn Bã khi đã sẵn sàng.

    Và em đã làm được.

    Nhưng em không xăm mình.”

    Nina nhướng mày.

    “Chị tưởng chuyện đó là bắt buộc?”

    “Về lí thuyết thì đúng thế.

    Em biết một số người không hiểu, nhưng Kaz bảo em… anh ta nói đó là sự lựa chọn của em, và anh ta không phải là người đóng dấu em một lần nữa.”

    Nhưng Kaz đã làm điều đó theo cách của riêng mình, bất chấp ý muốn của cô.

    Có cảm tình với Kaz Brekker là một sự ngu xuẩn khủng khiếp.

    Cô biết điều đó.

    Nhưng anh là người đã cứu cô, cho cô thấy tiềm năng của mình.

    Anh đã đặt cược vào cô, và điều đó có một ý nghĩa nhất định, cho dù anh làm thế vì những lí do ích kỉ cá nhân.

    Cũng chính anh đặt cho cô biệt danh Bóng Ma.

    Tôi không thích nó, cô đã nói như thế.

    Nghe tôi giống như thây ma vậy.

    Một bóng ma, anh sửa lại.

    Sao anh không gọi tôi là con nhện của anh chẳng hạn?

    Sao không dùng chữ đó?

    Bởi vì ở Barrel có cả đống nhện.

    Hơn nữa, cô muốn địch thủ của mình phải dè chừng.

    Chứ không phải để bọn họ suy nghĩ rằng họ có thể giẫm bẹp cô bằng mũi giày.

    Địch thủ của tôi?

    Địch thủ của chúng ta.

    Kaz đã giúp cô xây dựng nên một huyền thoại, và Inej dùng nó như một thứ áo giáp, lớn lao và đáng sợ hơn con người trước kia của cô.

    Inej thở dài.

    Cô không muốn nghĩ đến anh ta nữa.

    “Chị nói chuyện đi chứ,” cô bảo Nina.

    “Mi mắt em nặng trĩu rồi kìa.

    Em nên ngủ đi.”

    “Em không thích tàu thuyền.

    Kỉ niệm xấu.”

    “Chị cũng thế?’

    “Vậy chị hát gì đi.”

    Nina bật cười, “còn nhớ chị nói gì đó đại loại là em thà chết còn hơn không?

    Em sẽ không muốn nghe chị hát đâu.”

    “Làm ơn đi mà.”

    “Chị chỉ biết mấy bài dân ca Ravka và những bài của dân nhậu ở Kerch.”

    “Bài của dân nhậu ấy.

    Một cái gì đó om sòm, đi mà chị.”

    Nina khịt mũi.

    “Chỉ vì em thôi đấy, Bóng Ma.”

    Cố hắng giọng và bắt đầu hát.

    “Thuyền trưởng trẻ khoẻ, dũng mãnh biển khơi.

    Lính tráng và thuỷ thủ, không bệnh ăn chơi…”

    Inej bắt đầu cười khúc khích và phải ôm lấy sườn.

    “Chị nói đúng đấy.

    Chị không hát được đâu.”

    “Đã bảo rồi mà.”

    “Hát tiếp đi chị.”

    Giọng hát của Nina thật kinh khủng.

    Nhưng nó giúp giữ Inej ở lại con thuyền này, trong khoảnh khắc này.

    Inej không muốn nghĩ tới lần đi biển gần nhất của mình, nhưng những kí ức về nó thật khó mà trấn áp được.

    Lẽ ra cô không có mặt trên cỗ xe vào buổi sáng mà đám săn nô lệ bắt cóc cô.

    Lúc đó Inej mười bốn tuổi, và gia đình cô đang đi nghỉ hè ở bờ biển phía tây Ravka, vừa tận hưởng bãi biển vừa biểu diễn trong một lễ hội hoá trang ở ngoại vi Os Kervo.

    Lẽ ra cô phải giúp bố mạng lại tấm lưới an toàn.

    Nhưng cô lười và tự cho phép mình ngủ thêm vài phút bên dưới tấm mền mỏng bằng vải bông, trong tiếng sóng biển rì rầm.

    Khi một bóng người xuất hiện ngoài cửa xe, cô thậm chí còn không nghĩ đến chuyện chạy trốn, cô chỉ nói: “Cho con thêm năm phút, bố ơi.”

    Và rồi bọn chúng túm lấy chân cô lôi ra khỏi cỗ xe.

    Đầu cô đập mạnh xuống đất.

    Có bốn gã đàn ông cả thảy.

    Dân đi biển, to cao.

    Khi cô cố gắng hét lên, chúng lập tức bịt miệng cô.

    Chúng trói tay cô lại, và một tên vác cô trên vai trong lúc cả bọn lao tới chỗ chiếc xuồng mà chúng đã để ở vũng biển.

    Sau này Inej mới biết bờ biển đó là một nơi mà bọn săn nô lệ thường lui tới.

    Bọn chúng đã trông thấy đoàn xe Suli từ trên tàu, và chèo xuồng tiếp cận sau khi mặt trời mọc, lúc không có ai ở nơi cắm trại.

    Phần còn lại của ngày hôm đó là một vệt mờ.

    Cô bị ném vào trong hầm tàu cùng với một nhóm trẻ con - có đứa lớn hơn, có đứa nhỏ hơn, đa số là con gái, nhưng cũng có vài đứa con trai.

    Cô là người Suli duy nhất, tuy nhiên có một vài đứa trẻ nói được tiếng Ravka, và chúng đã kể cho cô nghe mình bị bắt cóc như thế nào.

    Một đứa bị bắt đi khi đang ở trong xưởng đóng tầu của bố.

    Đứa khác thì đang chơi trong hồ và ở quá xa đám bạn.

    Có đứa bị chính anh trai mình bán đi để gán nợ cờ bạc.

    Đám thuỷ thủ nói chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ mà Inej không hiểu, nhưng một đứa trẻ cho rằng cả bọn đang được đưa tới hòn đảo lớn nhất của Kerch, nơi chúng sẽ bị bán đấu giá cho các gia đình, hoặc những nhà chứa ở Ketterdam và Novyi Zem.

    Người mua đến từ khắp nơi trên thế giới.

    Inej nghĩ rằng buôn bán nô lệ là hành vi bất hợp pháp ở Kerch, nhưng rõ ràng nó vẫn tồn tại.

    Cô không bao giờ thấy được sàn đấu giá.

    Khi tàu buông neo, Inej bị đưa lên boong và giao cho một trong những người phụ nữ đẹp nhất mình từng gặp, với vóc dáng cao ráo, đôi mắt nâu, và mái tóc vàng rực.

    Người phụ nữ đã giơ cái đèn lên và săm soi từng li từng tí trên cơ thể cô - hàm răng, bộ ngực, thậm chí đôi bàn chân.

    Bà ta nắm chỗ tóc bù xù trên đầu cô và lên tiếng: “Cái này phải cạo đi.”

    Rồi bà ta lùi lại.

    “Xinh,” bà ta nói.

    “Gầy đét và phẳng lì như cái chảo, nhưng làn da của con bé hoàn hảo.”

    Bà ta quay sang trả giá với đám thuỷ thủ trong lúc Inej đứng đó, đôi tay bị trói đưa lên che ngực, chiếc áo vẫn còn phanh trần, váy bị vén lên tận eo.

    Inej có thể trông thấy ánh trăng phản chiếu trên những con sóng mặt vịnh.

    Nhảy đi, cô đã nghĩ như thế.

    Thứ ở dưới đáy biển sẽ còn tốt hơn nơi mà người phụ nữ này đưa mày tới.

    Nhưng cô đã không đủ can đảm.

    Người con gái mà Inej trở thành sau này chắc chắn sẽ nhảy mà không cần suy nghĩ, thậm chí là lôi theo một gã săn nô lệ với mình.

    Cũng có thể là không.

    Cô đã sợ cứng người khi đụng độ Dì Heleen ở Tây Stave.

    Cô chẳng mạnh hơn, chẳng can đảm hơn, cô vẫn chỉ là đứa con gái Suli chết nhát, tê liệt và nhẫn nhục trên boong tàu ngày ấy.

    Nina vẫn đang hát gì đó về một thuỷ thủ đã ruồng bỏ người yêu của mình.

    “Dạy em đoạn điệp khúc đi,” Inej nói.

    “Em nên nghỉ ngơi.”

    “Đoạn điệp khúc.”

    Thế là Nina dạy hát cho Inej, và hai chị em cùng cất tiếng hát, vấp váp vì quên lời và chênh phô lung tung, cho tới khi những ngọn đèn lồng tắt dần.

    17

    JESPER

    Jesper sẵn sàng quăng mình xuống biển chỉ để thay đổi sự nhàm chán này.

    Sáu ngày nữa.

    Sáu ngày nữa trên con tàu này, nếu may mắn và hướng gió thuận lợi, thì họ sẽ tới được đất liền.

    Bờ biển phía tây của Fjerda toàn đá ngầm nguy hiểm và những vách đá dựng đứng.

    Nó chỉ có thể được tiếp cận một cách an toàn ở Djerholm và Elling, nhưng vì an ninh ở hai hải cảng này rất chặt, họ buộc phải đi lên những hải cảng dành cho tàu bắt cá voi ở phía bắc.

    Jesper đã tưởng họ sẽ bị bọn hải tặc tấn công, nhưng con thuyền trông quá nhỏ để có thể chở thứ gì đó có giá trị lớn lao.

    Họ là một mục tiêu đáng khinh và êm thấm đi qua những tuyến hải trình nhộn nhịp nhất của Chân Hải, mang theo màu cờ trung lập của Kerch.

    Chẳng mấy chốc, họ đã tới vùng biển lạnh phương bắc, tiến vào Isenvee.

    Jesper đi thơ thẩn trên boong, trèo lên cột buồm, cố gắng dụ thuỷ thủ đoàn chơi bài với mình, lau súng.

    Anh nhớ đất liền, thức ăn ngon và bia mát lạnh.

    Anh nhớ thành thị.

    Nếu muốn không gian rộng lớn và sự yên tĩnh, chắc anh đã ở lại biên giới và nối nghiệp bố trở thành một người làm nông.

    Trên thuyền chẳng có gì nhiều để làm ngoài việc nghiên cứu cách bố trí của Lâu Đài Băng, nghe tiếng càu nhàu của Matthias, và chọc phá Wylan.

    Cậu nhóc luôn bận rộn với việc tái dựng cơ cấu vận hành của các cổng thành.

    Kaz đã tỏ ra khá ấn tượng với những sơ đồ được vẽ bởi Wylan.

    “Cậu có cái đầu của một thợ bẻ khoá,” Kaz đã nói với Wylan như vậy.

    “Không hề.”

    “Ý tôi là cậu có thể nhìn thấy không gian theo ba cái trục đó.”

    “Tôi không phải là một tên tội phạm,” Wylan phản đối.

    Kaz đã nhìn cậu bé bằng một ánh mắt thương hại.

    “Không, cậu là một người thổi sáo đi cùng đám người xấu.”

    Jesper ngồi xuống bên cạnh Wylan.

    “Cậu học cách tiếp nhận lời khen đi.

    Kaz không thường xuyên mở miệng khen ai đâu.”

    “Đó không phải là một lời khen.

    Tôi chẳng có gì giống với anh ta cả.

    Tôi không thuộc về nơi này.”

    “Cái đó thì khỏi phải bàn cãi rồi.”

    “Anh cũng không thuộc về nơi này.”

    “Cậu nói gì vậy, thiếu gia?”

    “Theo kế hoạch của Kaz thì chúng ta không cần tới một thiện xạ, vậy công việc của anh là gì?

    Ngoài đi tới đi lui và làm mọi người bực bội?”

    Jesper nhún vai.

    “Kaz tin tưởng tôi.”

    Wylan khịt mũi và cầm cây bút lên.

    “Anh có chắc không?”

    Jesper ngọ nguậy cơ thể một cách khó chịu.

    Tất nhiên là anh không hề chắc chắn về chuyện đó.

    Anh mất rất nhiều thời gian để phỏng đoán các suy nghĩ của Kaz Brekker.

    Và nếu như anh giành được một phần nhỏ niềm tin của Kaz, thì liệu anh có xứng đáng với nó không?

    Jesper gõ gõ ngón cái trên khẩu súng lục và đáp: “Khi đạn bắt đầu bay vèo vèo, có lẽ cậu sẽ thấy mừng khi có tôi bên cạnh.

    Mấy bức vẽ xinh xẻo này không giúp cậu giữ mạng sống được đâu.”

    “Chúng ta cần những tấm sơ đồ này.

    Và nếu anh đã quên thì chính quả bom sáng của tôi đã giúp chúng ta thoát khỏi cái bến cảng đáng nguyền rủa đó.”

    Jesper thở hắt ra.

    “Chiến thuật hay ghê.”

    “Nó đã thành công, đúng không?”

    “Cậu làm lóa mắt bọn Hắc Thủ lẫn người của chúng ta.”

    “Đó là một nguy cơ có tính toán.”

    “Cái đó gọi là ăn may đấy.

    Tin tôi đi, tôi hiểu chuyện đó mà.”

    “Ờ há.”

    “Thái độ vậy là sao?”

    “Thì mọi người đều biết anh không thể tránh xa một cuộc tỉ thí hoặc một trò cá cược, dù tỉ lệ may mắn có thế nào đi nữa.”

    Jesper nheo mắt nhìn mấy lá buồm.

    “Nếu cậu không được sinh ra với đủ mọi lợi thế, cậu sẽ phải học cách nắm bắt cơ hội.”

    “Tôi không…”

    Wylan bỏ lửng câu nói và đặt cây bút xuống.

    “Tại sao anh cứ nghĩ là anh biết hết mọi chuyện về tôi nhỉ?”

    “Tôi biết nhiều lắm, thiếu gia à.”

    “Tốt cho anh.

    Tôi thì luôn có cảm giác mình biết không đủ.”

    “Về chuyện gì?”

    “Về bất cứ chuyện gì,” Wylan lẩm bẩm.

    Jesper đâm tò mò.

    “Như là gì chẳng hạn?”

    Anh hỏi dồn.

    “Ờ thì, súng ống chẳng hạn,” cậu ta đáp và chỉ tay vào những khẩu súng của Jesper.

    “Chúng có một cơ chế khai hoả khác thường, đúng không?

    Nếu tôi có thể tháo rời chúng thì…”

    “Đừng có mơ tới chuyện đó.”

    Wylan nhún vai.

    “Hoặc là về cái hào băng này,” cậu ta gõ gõ ngón tay

    vào sơ đồ Lâu Đài Băng.

    “Matthias đã nói là nó không bị đông cứng hết, mà chỉ có một lớp băng rất mỏng trên hào nước lạnh giá, hoàn toàn lộ liễu và không thể vượt qua.”

    “Vậy thì sao?”

    “Chỗ nước đó từ đâu ra?

    Lâu đài nằm trên một ngọn đồi, thế thì mạch nước ngầm hoặc cầu máng dẫn nước nằm ở đâu?”

    “Chuyện đó có gì quan trọng?

    Có một cái cầu.

    Chúng ta không cần phải vượt qua hào băng.”

    “Nhưng anh không tò mò sao?”

    “Thánh thần ơi, không.

    Vẽ cho tôi cơ chế thắng bài poker hoặc vòng quay may mắn.

    Tôi chỉ tò mò mỗi mấy cái đó thôi.”

    Wylan quay về với công việc của mình, khuôn mặt lộ rõ vẻ thất vọng.

    Không hiểu sao, Jesper cũng cảm thấy hơi thất vọng một chút.

    •••

    Jesper kiểm tra tình hình Inej mỗi sáng và tối.

    Ý nghĩ rằng vụ phục kích trên bến cảng có thể kết liễu cô khiến anh rúng động.

    Bất chấp những nỗ lực của Nina, anh vẫn không dám chắc Bóng Ma sẽ còn sống được bao lâu nữa.

    Nhưng vào một buổi sáng nọ, khi Jesper xuất hiện, anh thấy Inej đã ngồi dậy, mặc quần ống túm, áo khoác chần bông, và áo thụng dài có mũ trùm đầu.

    Nina đang cúi xuống, vất vả nhét bàn chân của cô gái Suli vào đôi giầy đế cao su kì lạ của cô.

    “Inej!”

    Jesper thốt lên.

    “Cô không chết!”

    Inej mỉm cười yếu ớt.

    “Cũng như mọi người thôi.”

    “Đối đáp khôn khéo thế này chứng tỏ tình hình của cô đã khá hơn nhiều.”

    “Đừng có đứng trơ ra đấy,” Nina làu bàu.

    “Giúp tôi mang hai cái này vào chân Inej đi.”

    “Nếu mà chị để em tự làm thì…”

    “Không được gập người,” Nina gạt ngang.

    “Không được nhảy lên.

    Không được cử động đột ngột.

    Nếu em không hứa di chuyển nhẹ nhàng, chị sẽ làm chậm nhịp tim và để em mê man cho đến khi chị chắc chắn em đã hoàn toàn bình phục.”

    “Nina Zenik, ngay khi em tìm ra chỗ chị giấu bộ dao của em, chúng ta sẽ phải nói chuyện với nhau.”

    “Tốt hơn hết nó nên bắt đầu bằng câu Cảm ơn chị Nina vĩ đại, vì đã dành thời gian cứu vớt cuộc đời tồi tàn của em trong chuyến đi khốn khổ này.”

    Tưởng đâu Inej sẽ bật cười, Jesper bị bất ngờ khi cô khum hai bàn tay đỡ lấy khuôn mặt của Nina và nói: “Em cảm ơn chị vì đã giữ em ở lại với thế giới này, khi định mệnh dường như đã quyết chí lôi em sang thế giới bên kia.

    Em nợ chị ơn cứu mạng.”

    Nina đỏ bừng mặt.

    “Chị chỉ trêu em thôi mà, Inej.”

    Cô ngừng lời một chút.

    “Chị nghĩ cả hai chúng ta đều đã nợ nần đủ nhiều rồi.”

    “Món nợ này thì em sẵn sàng chấp chận.”

    “Được rồi, được rồi.

    Khi nào chúng ta quay về Ketterdam, em dẫn chị đi ăn bánh waffle nhé.”

    Giờ thì Inej bật cười.

    Cô bỏ hai tay xuống và tỏ vẻ nghĩ ngợi.

    “Món tráng miệng để đổi lấy ơn cứu mạng à?

    Em không nghĩ như vậy là đủ.”

    “Chị chờ đợi những cái bánh xuất sắc thực sự nhé.”

    “Tôi biết một chỗ,” Jesper xen vào.

    “Bọn họ có loại siro táo này…”

    “Anh không được mời,” Nina cắt ngang.

    “Giờ thì giúp tôi đỡ cô ấy đứng dậy nào.”

    “Em tự đứng được mà,” Inej làu bầu trong lúc tuột xuống khỏi cái bàn và đứng thẳng người lại trên đôi chân.

    “Cho tôi vinh dự nào.”

    Với một cái thở hắt ra, Inej nắm lấy cánh tay chìa ra của Jesper, và họ bước ra khỏi cabin để lên boong, Nina theo sau.

    “Chuyện này thật tức cười,” Inej nói.

    “Tôi khoẻ rồi.”

    “Ừ,” Jesper đáp.

    “Nhưng tôi có thể vấp ngã bất cứ lúc nào, cô nên chú ý vào.”

    Khi họ đã lên đến nơi, Inej siết tay Jesper một cái để anh dừng bước.

    Cô nghiêng đầu, hít thở sâu.

    Đó là một ngày xám xịt, mặt biển âm u lạnh lẽo bị phá vỡ bởi những con sóng bạc đầu và các vầng mây dày xếp chồng chất lên nhau trên bầu trời.

    Cơn gió mạnh thổi căng cánh buồm, đưa con thuyền nhỏ lướt nhanh trên sóng nước.

    “Thật dễ chịu khi được thưởng thức cái lạnh này,” Inej thì thầm.

    “Như thế này á?”

    “Gió lùa trong tóc, hơi biển trên da.

    Cái lạnh của sự sống.”

    “Hai vòng trên boong thôi đấy,” Nina cảnh báo.

    “Sau đó là quay vào giường.”

    Nói đoạn cô quay lại chỗ Wylan đang đứng ở đuôi thuyền.

    Jesper nhận ra Nina di chuyển đến điểm xa Matthias nhất trên thuyền.

    “Lúc nào họ cũng như thế à?”

    Inej hỏi, mắt đảo từ Nina sang phía anh chàng người Fjerda.

    Jesper gật đầu.

    “Y hệt như xem hai con mèo hoang vờn nhau.”

    Inej ậm ừ khe khẽ.

    “Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra khi họ lao vào nhau?”

    “Cào cấu nhau đến chết?”

    Inej đảo mắt.

    “Chẳng trách anh yếu kém đến thế trên bàn chơi bài.”

    Jesper đưa Inej tiến về phía lan can thuyền, nơi họ có thể đi dạo một chút mà không làm vướng chân ai.

    “Tôi chỉ muốn quăng cô xuống biển, nhưng Kaz đang quan sát chúng ta.”

    Inej gật đầu.

    Cô không ngước nhìn chỗ Kaz đang đứng phía sau Specht ở bánh lái.

    Nhưng Jesper quay lại nhìn anh ta và vẫy tay chào một cách vui vẻ.

    Nét mặt của Kaz không hề thay đổi.

    “Thỉnh thoảng mỉm cười một cái thì anh ta chết ngay chắc?”

    Jesper thắc mắc.

    “Dám lắm.”

    Các thành viên trong đoàn đều nói lời chào mừng và chúc sức khoẻ.

    Jesper nhận thấy Inej hếch cằm lên sau mỗi câu “Bóng Ma đã quay lại!”

    Ngay cả Matthias cũng gửi cô một cái cúi chào vụng về và nói: “Theo tôi hiểu thì cô chính là lí do khiến chúng ta rời khỏi hải cảng toàn mạng.”

    “Có nhiều lí do lắm,” Inej đáp.

    “Một trong số đó là tôi,” Jesper thản nhiên chen vào.

    “Dù thế nào thì, cảm ơn cô.”

    Matthias tiếp tục, phớt lờ Jesper.

    Hai người đi tiếp, và Jesper trông thấy một nụ cười thỏa mãn nở trên môi Inej.

    “Cô ngạc nhiên à?”

    Anh hỏi.

    “Một chút,” cô thừa nhận.

    “Tôi đã dành quá nhiều thời gian với Kaz.

    Tôi nghĩ…”

    “Cảm thấy được ghi nhận là một điều mới mẻ với cô.”

    Cô cười khẽ và ấn một tay vào cạnh sườn.

    “Tôi vẫn đau mỗi khi cười.”

    “Bọn họ mừng vì cô còn sống.

    Tôi cũng mừng.”

    “Tôi hi vọng thế.

    Tôi nghĩ mình chưa bao giờ cảm thấy thực sự phù hợp với băng Cặn Bã.”

    “Ờ, cô đúng là không hợp.”

    “Cảm ơn anh.”

    “Chúng ta là một băng nhóm có ít mối quan tâm, mà cô thì không đánh bạc, chửi thề, hoặc uống quá chén.

    Nhưng bí mật để được yêu thích là đây: liều mạng cứu những người đồng đội của mình khỏi mất xác trong một cuộc mai phục.

    Cách thức quá tuyệt vời để kết bạn.”

    “Miễn là tôi không phải tiệc tùng.”

    Khi họ lên tới boong trước, Inej nghiêng người trên lan can, đưa mắt quan sát chân trời.

    “Anh ta có xuống thăm tôi lần nào không?”

    Jesper hiểu cô đang muốn ám chỉ Kaz.

    “Hằng ngày.”

    Inej chiếu đôi mắt đen vào anh, rồi lắc đầu.

    “Anh không thể đọc được suy nghĩ của người khác, và anh không thể lừa họ.”

    Jesper thở dài.

    Anh ghét phải làm người khác thất vọng.

    “Không,” anh thú nhận.

    Cô gật đầu và lại đưa mắt nhìn biển cả.

    “Tôi không nghĩ Kaz thích giường bệnh,” Jesper nói.

    “Ai mà thích cơ chứ?”

    “Ý tôi là, thật khó cho Kaz khi thấy cô bị như thế.

    Ngày đầu tiên sau khi cô bị thương…

    Kaz có hơi nổi khùng một chút.”

    Jesper cảm thấy khá khó khăn khi phải thừa nhận điều đó.

    Liệu Kaz có nhỏ giọt lệ nào nếu người bị thọc dao vào sườn là anh không?

    “Ồ, dĩ nhiên rồi.

    Đây là một phi vụ dành cho sáu người, và hình như anh ta cần tôi leo lên cái ống khói lò thiêu.

    Nếu tôi chết thì kế hoạch sẽ đổ bể hết.”

    Jesper không bác bỏ điều đó.

    Anh cũng không thể giả vờ thông cảm cho Kaz hoặc động cơ của anh ta.

    “Tiết lộ cho tôi biết một chuyện đi.

    Mối bất hoà giữa Wylan và cha của cậu ta bắt nguồn từ đâu vậy?”

    Inej liếc nhanh về phía Kaz, rồi ngoái nhìn qua vai để bảo đảm không có người nào trong thuỷ thủ đoàn đang lảng vảng gần họ.

    Kaz đã nói rất rõ ràng rằng mọi thông tin dù chỉ liên quan một chút với công việc của họ đều không được để lộ ra bên ngoài.

    “Tôi cũng không biết chính xác.

    Ba tháng trước, Wylan dạt đến một quán trọ bình dân ở gần Thanh Gỗ.

    Cậu ta dùng một cái tên khác, nhưng Kaz luôn để mắt tới mọi khuôn mặt mới ở Barrel, thế nên anh ta đã cử tôi đi điều tra.”

    “Rồi sao?”

    Inej nhún vai.

    “Đám đầy tớ nhà Van Eck được trả công rất hậu, nên khó mà mua chuộc được họ.Tôi không thu được nhiều thông tin.

    Nghe đồn Wylan đã bị bắt quả tang khi đang nô đùa quá giới hạn với một gia sư.”

    “Thật á?”

    Jesper ngạc nhiên hỏi lại.

    Thằng nhỏ này cũng có võ ghê.

    “Chỉ là lời đồn thôi.

    Rõ ràng Wylan đã không bỏ nhà để đi xây tổ ấm với người tình.”

    “Thế thì tại sao cha cậu ta đuổi cổ thằng con ra đường?”

    “Tôi không nghĩ ông ta làm thế.

    Van Eck viết thư cho Wylan hằng tuần, nhưng cậu ta thậm chí không buồn mở thư.”

    “Những lá thư viết gì?”

    Inej cẩn thận tựa người vào lan can.

    “Anh tin rằng tôi đã đọc chúng à?”

    “Không phải sao?”

    “Tất nhiên là tôi đã đọc.”

    Rồi cô nhíu mày, cố nhớ lại.

    “Những bức thư đó lặp đi lặp lại cùng một thông điệp: Nếu con đọc được lá thư này, con nên biết cha muốn con quay về nhà nhiều đến thế nào.

    Hoặc là: Cha cầu nguyện để con đọc được những dòng chữ này và nghĩ tới thứ con đã bỏ lại phía sau.”

    Jesper nhìn về phía Wylan.

    Cậu nhóc đang tán gẫu với Nina.

    “Cậu ấm bí ẩn.

    Tôi đang tự hỏi Van Eck đã làm chuyện gì tệ đến nỗi khiến Wylan rơi vào tay chúng ta.”

    “Giờ đến lượt anh cho tôi biết một chuyện, Jesper.

    Điều gì đã khiến anh chấp nhận làm phi vụ này?

    Anh biết nó rủi ro như thế nào, anh biết cơ may sống sót trở về của chúng ta là bao nhiêu.

    Tôi biết anh thích thử thách, nhưng cái này thì hơi quá, ngay cả với anh.”

    Jesper đưa mắt nhìn những con sóng xám xịt không ngừng kéo nhau về phía chân trời.

    Anh chưa bao giờ thích biển, cái cảm giác chông chênh dưới chân với một thứ gì đó háu đói miệng đầy răng đang chực chờ để lôi anh xuống dưới.

    Đó là cảm giác của anh dạo gần đây, ngay cả khi ở trên đất liền.

    “Tôi đang mắc nợ, Inej à.”

    “Anh lúc nào chẳng nợ nần?”

    “Không.

    Quả này nặng lắm.

    Tôi mượn tiền nhầm người.

    Cô còn nhớ bố tôi có một trang trại chứ?”

    “Ở Novyi Zem.”

    “Đúng rồi, phía tây.

    Nó chỉ vừa bắt đầu sinh lời năm nay.”

    “Ôi, Jesper.

    Không thể nào…”

    “Tôi cần tiền…

    Tôi đã bảo với ông ấy là mình cần nó để hoàn tất việc học đại học.”

    Inej nhìn Jesper trân trối.

    “Ông ấy nghĩ anh là sinh viên sao?”

    “Chính vì thế nên tôi mới tới Ketterdam.

    Tuần lễ đầu tiên sau khi tới đây, tôi bám theo vài người bạn sinh viên khác tới khu Đông Stave.

    Tôi đặt cược vài kruge.

    Cái gì cũng muốn thử cho biết.

    Tôi thậm chí còn không biết luật chơi vòng quay may mắn.

    Nhưng khi người ta quay cái bánh xe, nó phát ra một âm thanh hay ho chưa từng thấy với tôi.

    Tôi thắng.

    Tôi thắng liên tục đêm đó.

    Cái đêm đẹp đẽ nhất cuộc đời tôi.”

    “Và kể từ đó anh chỉ chăm chăm tìm lại nó.”

    Jesper gật đầu.

    “Lẽ ra tôi phải ngồi trong thư viện.

    Tôi thắng bạc.

    Rồi thua.

    Thua hoài.

    Tôi cần tiền, và bắt đầu đi theo các băng nhóm.

    Có lần tôi bị hai thằng tấn công trong một con hẻm.

    Kaz đã hạ gục hai thằng đó, và bọn tôi bắt đầu cộng tác với nhau.”

    “Có thể Kaz đã thuê hai người đó tấn công anh, để anh cảm thấy mắc nợ anh ta.”

    “Không đâu…”

    Jesper khựng lại nửa chừng, rồi bật cười.

    “Mà cũng có thể lắm.”

    Anh duỗi các ngón tay ra, quan sát những đường chỉ tay của mình.

    “Kaz đúng là… tôi không biết nữa, Kaz không giống bất cứ người nào mà tôi từng biết.

    Anh ta luôn làm tôi bất ngờ.”

    “Phải rồi.

    Giống như một tổ ong trong tủ quần áo của anh vậy.”

    Jesper cười khùng khục.

    “Ừ, giống như thế.”

    “Vậy chúng ta đang làm gì ở đây?”

    Jesper quay lưng về phía biển, anh cảm thấy đôi má nóng bừng.

    “Hi vọng lấy được mật ong, tôi đoán thế.

    Và cầu nguyện để không bị chích.”

    Inej huých vai anh chàng thiện xạ.

    “Vậy thì ít ra chúng ta cũng ngu ngốc cùng một kiểu như nhau.”

    “Tôi không rõ lí do tham gia của cô là gì.

    Tôi mới là người chưa bao giờ thoát khỏi vận rủi.”

    Cô khoác tay anh.

    “Điều đó biến anh thành một con bạc khát nước, Jesper à.

    Nhưng anh là một người bạn tuyệt vời.”

    “Cô quá tốt đối với anh ta, cô biết không?”

    “Tôi biết.

    Anh cũng thế.”

    “Chúng ta đi chứ?”

    “Vâng,” Inej đáp và bắt đầu bước đi bên cạnh Jesper.

    “Ngoài ra, tôi cần anh đánh lạc hướng chị Nina để tôi có thể đi tìm bộ dao của mình.”

    “Không thành vấn đề.

    Chỉ cần lôi tay Helvar vào cuộc là xong.”

    Jesper liếc mắt nhìn về phía bánh lái trong lúc hai người đi tới cuối thuyền.

    Kaz không nhúc nhích.

    Anh ta vẫn đứng đó nhìn họ, với ánh mắt cứng rắn và khuôn mặt khó đoán hơn bao giờ hết.

    18

    KAZ

    Phải đến hai ngày sau khi Inej bước ra khỏi cabin khoang dưới, Kaz mới tiếp cận cô.

    Inej đang ngồi một mình, hai chân bắt chéo, lưng dựa vào thành thuyền, nhấp một tách trà.

    Kaz cà nhắc đi tới chỗ cô.

    “Tôi muốn cho cô xem cái này.”

    “Tôi khoẻ, cảm ơn anh đã hỏi thăm,” cô đáp và ngước mắt nhìn anh.

    “Anh thế nào rồi?”

    Kaz cảm thấy môi mình cong lên.

    “Tuyệt cú mèo.”

    Anh vụng về ngồi xuống cạnh cô, để cây gậy chống qua một bên.

    “Chân anh lại đau à?”

    “Nó ổn rồi.

    Xem này.”

    Anh trải rộng trước mặt họ bản sơ đồ nhà tù mà Wylan đã vẽ.

    Hầu hết các sơ đồ Lâu Đài Băng đều được vẽ từ trên cao, riêng khu vực nhà tù được vẽ theo mặt cắt ngang, cho thấy các tầng lầu chồng lên nhau.

    “Tôi xem rồi,” Inej đáp, và dùng ngón tay vạch một đường thẳng từ dưới hầm lên đến tận mái.

    “Sáu tầng lầu leo bằng đường ống khói.”

    “Cô có làm được không?”

    Cô nhướng mày.

    “Có lựa chọn nào khác à?”

    “Không.”

    “Thế nếu tôi nói là tôi không thể làm được, liệu anh có bảo Specht quay đầu con thuyền và đưa tất cả chúng ta về Ketterdam không?”

    “Tôi sẽ tìm một lựa chọn khác,” Kaz đáp.

    “Tôi không biết nó là gì, nhưng tôi sẽ không từ bỏ phần thưởng đó.”

    “Anh biết tôi có thể làm được, Kaz, và anh biết tôi sẽ không từ chối.

    Tại sao anh phải hỏi?”

    Bởi vì tôi đang tìm một cái cớ để nói chuyện với em sau hai ngày.

    “Tôi muốn chắc ăn rằng cô biết mình sẽ đối mặt với chuyện gì và cô đang nghiên cứu các sơ đồ.”

    “Tôi sẽ bị kiểm tra à?”

    “Phải,” Kaz đáp.

    “Nếu cô trượt, tất cả chúng ta sẽ bị mắc kẹt trong một nhà tù trên đất Fjerda.”

    “Hừm,” Inej nhấp một ngụm trà.

    “Và tôi sẽ mất mạng.”

    Cô nhắm mắt, ngả đầu tựa vào thành thuyền.

    “Tôi khá lo lắng về con đường thoát theo hướng hải cảng.

    Tôi không thích ý tưởng chỉ có một đường ra duy nhất.”

    Kaz cũng ngả người dựa vào thành thuyền.

    “Tôi cũng lo,” anh đáp và duỗi cái chân yếu.

    “Nhưng chính vì vậy người Fjerda mới xây nó như thế.”

    “Anh có tin tưởng Specht không?”

    Kaz liếc xéo cô.

    “Có lí do gì để tôi không nên làm thế à?”

    “Không hề, nhưng nếu chiếc Ferolind không chờ sẵn ở cảng thì chúng ta…”

    “Tôi đủ tin tưởng anh ta.”

    “Anh ta nợ anh à?”

    Kaz gật đầu.

    Anh quét mắt nhìn quanh, rồi nói: “Hải quân đã đuổi cổ anh ta vì tội bất tuân thượng lệnh và không cho anh ta hưởng trợ cấp.

    Specht còn một người chị gái phải chu cấp sống ở gần Belendt.

    Tôi đã giúp anh ta có tiền.”

    “Anh thật tử tế.”

    Kaz nheo mắt.

    “Tôi không phải là một nhân vật bước ra từ truyện cổ tích với những trò chơi khăm vô hại và đánh cắp của người giàu chia lại cho người nghèo.

    Tiền thì vẫn phải kiếm, và thông tin vẫn phải mò.

    Specht thuộc các tuyến hải trình như lòng bàn tay mình.”

    “Anh chẳng cho không ai cái gì bao giờ,” Inej nói với ánh mắt điềm tĩnh.

    “Tôi biết mà.

    Nhưng nếu chiếc Ferolind bị chặn lại, chúng ta sẽ không có đường nào thoát khỏi Djerholm.”

    “Tôi sẽ có cách.

    Cô biết mà.”

    Hãy nói là em biết đi.

    Anh cần nghe cô nói ra câu đó.

    Phi vụ này không giống với bất cứ thử thách nào mà anh từng trải qua trước đây.

    Mọi nghi ngờ mà cô nêu ra đều rất chính đáng, và chúng trùng khớp với nỗi sợ trong đầu anh.

    Anh đã gay gắt với Inej trước khi họ rời Ketterdam và bảo rằng mình sẽ đi tìm một người nhện khác cho công việc nếu cô không nghĩ anh có thể thành công.

    Anh cần biết cô tin rằng anh làm được, rằng anh có thể đưa họ vào trong Lâu Đài Băng rồi dẫn họ ra khỏi đó, hoàn toàn lành lặn, giống như anh đã làm với các nhóm khác trong những vụ khác.

    Anh cần biết cô tin tưởng anh.

    Nhưng tất cả những gì cô nói là: “Tôi nghe đồn Pekka Rollins chính là kẻ đã thuê người tấn công chúng ta trên bến cảng.”

    Kaz cảm thấy nỗi thất vọng đột ngột dâng lên trong lòng.

    “Thì sao?”

    “Anh đừng tưởng tôi chưa nhận ra sự thù hận dai dẳng của anh đối với ông ta, Kaz.”

    “Lão ta chỉ là một tay trùm như mọi tay trùm khác của Barrel.”

    “Ồ, không đâu.

    Khi anh đối đầu với các băng nhóm khác, đó là chuyện làm ăn.

    Nhưng với Pekka Rollins thì đó là vấn đề cá nhân.”

    Về sau Kaz không rõ vì sao anh lại nói ra.

    Anh chưa từng kể với bất kì ai, chưa bao giờ nói ra chuyện đó.

    Nhưng lần này, anh đưa mắt nhìn lên lá buồm và nói: “Pekka Rollins đã giết hại anh trai tôi.”

    Không cần phải nhìn, anh cũng biết Inej đang rất sốc.

    “Anh có một người anh trai à?”

    “Tôi có nhiều bí mật lắm,” anh lẩm bẩm.

    “Tôi xin lỗi.”

    Anh muốn cô thông cảm à?

    Có phải vì thế mà anh kể với cô?

    “Kaz…”

    Inej ngập ngừng, không biết nên làm gì bây giờ: đặt tay lên vai anh an ủi hay nói rằng cô thông cảm cho anh?

    “Tôi sẽ cầu nguyện cho anh ấy.

    Cầu cho anh ấy tìm được ở thế giới bên kia sự bình an mà anh ấy đã không có ở thế giới này.”

    Kaz không ngẩng lên nữa.

    Anh đang ngồi rất gần cô, vai họ gần như chạm nhau.

    Đôi mắt cô có màu nâu sẫm gần như đen, và đây là một trong những lần hiếm hoi Inej xoã tóc.

    Cô luôn buộc túm nó ra phía sau một cách không thương tiếc.

    Ngay cả việc gần gũi đến thế này với ai đó lẽ ra cũng phải làm anh nổi gai ốc.

    Nhưng thay vào đó, anh chỉ nghĩ thầm, Liệu sẽ thế nào nếu mình nhích sát hơn nữa?

    “Tôi không cần những lời cầu nguyện của cô,” anh nói.

    “Vậy anh cần gì?”

    Kaz nhanh chóng nghĩ tới những câu trả lời xưa như trái đất.

    Tiền bạc.

    Báo thù.

    Giọng nói của Jordie trong đầu tôi im lặng mãi mãi.

    Nhưng một câu trả lời khác đã vang lên, ồn ào, nài nỉ, và lạc lõng trong đầu anh.

    Em, Inej, em.

    Anh nhún vai và quay mặt đi.

    “Chết dưới đống vàng của tôi.”

    Inej thở dài.

    “Vậy thì tôi sẽ cầu cho anh ước gì được nấy.”

    “Lại cầu nguyện nữa à?

    Thế cô muốn gì nào, Bóng Ma?”

    “Quay lưng đi khỏi Ketterdam và không bao giờ nghe cái biệt danh đó một lần nào nữa.”

    Tốt.

    Anh cần phải tìm một người nhện mới, nhưng anh sẽ không bị xao lãng như thế này nữa.

    “Phần chia của cô trong khoản tiền ba mươi triệu kruge thừa sức biến mơ ước đó thành sự thực.”

    Kaz đứng lên.

    “Thế nên hãy để dành những lời cầu nguyện cho việc khác.

    Đừng lôi tôi vào chuyện đó.”

    •••

    Kaz đi cà nhắc lên mũi tàu, bực bội với bản thân và tức giận với Inej.

    Tại sao anh lại tìm đến cô?

    Sao anh lại kể cho cô nghe chuyện Jordie?

    Anh đã khó chịu và mất tập trung suốt mấy ngày.

    Anh đã quen với việc có Bóng Ma bên cạnh - cho lũ quạ ăn ngoài cửa sổ phòng anh, mài bộ dao của cô trong khi anh làm việc bên bàn giấy, ám anh với những câu thành ngữ Suli của cô.

    Đây không phải là Inej mà anh muốn.

    Anh chỉ muốn tìm lại nếp quen hàng ngày của họ.

    Kaz dựa người vào lan can thuyền.

    Anh ước gì mình đã không hé răng về người anh trai.

    Chỉ vài lời thôi cũng đủ làm kí ức cũ quay lại, kêu đòi được chú ý.

    Anh đã nói gì với Geels ở Sàn giao dịch nhỉ?

    Tôi là loại con hoang mà người ta chỉ sản xuất ở Barrel thôi.

    Một lời nói dối khác, một mảnh nữa của huyền thoại mà anh đã xây nên cho mình.

    Sau khi bố mất vì tai nạn máy cày thảm khốc, Jordie đã bán trang trại, số tiền thu được chẳng là bao vì phải trang trải các khoản nợ nần thế chấp, nhưng cũng đủ để hai anh em đi tới Ketterdam và sống tương đối thoải mái một thời gian.

    Kaz khi đó mới chín tuổi, vẫn còn nhớ bố và chưa hết sợ sệt sau khi đi khỏi ngôi nhà duy nhất mình từng biết.

    Cậu cứ níu chặt bàn tay của anh trai trong lúc hai đứa băng qua nhiều dặm đường quê êm đềm uốn lượn, cho tới khi gặp một dòng sông lớn và nhảy lên tầu chở hàng để đi Ketterdam.

    “Chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta tới đó?”

    Kaz đã hỏi Jordie như thế.

    “Anh sẽ xin vào làm chân chạy việc ở Sàn giao dịch, rồi làm thư kí.

    Anh sẽ trở thành nhân viên môi giới, thành một thương gia thực sự và kiếm cả gia tài.”

    “Còn em thì sao?”

    “Em sẽ đi học.”

    “Sao anh không đi học?”

    Jordie nhăn mặt.

    “Anh lớn quá rồi.

    Quá khôn nữa.”

    Mấy ngày đầu tiên ở Ketterdam trôi qua đúng như lời Jordie.

    Hai anh em đã đi dọc theo đường cong lớn của bến cảng mà người ta gọi là Lid, rồi đi xuống Đông Stave để xem các sòng bạc.

    Nhưng họ không đi quá xa về phía nam, nơi đường phố được cảnh báo có nhiều bất trắc.

    Hai anh em thuê phòng trọ trong một căn nhà nhỏ cách không xa Sàn giao dịch, và thử hết các món ăn mới mà họ bắt gặp, ních đến căng bụng món kẹo mộc qua.

    Kaz thích những quầy bán trứng chiên, nơi người ta có thể chọn những nguyên liệu bỏ vào trong trứng.

    Sáng sáng, Jordie tới sàn giao dịch để tìm việc và bảo Kaz ở lại trong phòng.

    Ketterdam không phải là một nơi an toàn đối với những đứa trẻ con đi một mình.

    Đường phố đầy bọn trộm cắp, móc túi, thậm chí là bọn bắt cóc các bé trai rồi bán lại cho người trả giá cao.

    Thế nên Kaz ở trong nhà.

    Cậu đẩy một chiếc ghế tới chỗ bồn rửa mặt rồi trèo lên đó, để có thể soi gương trong lúc làm các đồng tiền biến mất, giống như tay ảo thuật gia mà cậu đã xem ở trước cửa một sòng bạc.

    Kaz có thể đứng xem anh ta hàng giờ nếu không bị Jordie kéo ra chỗ khác.

    Màn ảo thuật với các lá bài rất hay, nhưng chính những đồng xu biến mất mới là thứ khiến Kaz mất ngủ.

    Làm thế nào anh ta làm được điều đó?

    Chỉ một giây trước đồng xu còn ở đó trước mặt cậu, thế mà chớp mắt một cái, nó đã biến mất.

    Thảm họa bắt đầu với một con chó vặn dây cót.

    Jordie quay về nhà với cái bụng đói và bộ mặt cau có, bực bội sau một ngày phí công vô ích.

    “Họ nói là không việc gì cho một thằng nhóc như anh.

    Tất cả những người làm việc tại đó đều là con em hoặc bạn bè của con cái ai đó.”

    Kaz khi đó không ở trong tâm trạng có thể làm anh trai mình vui lên.

    Cậu giận dỗi sau nhiều giờ ru rú trong nhà, chỉ có mấy lá bài và đồng xu làm bạn.

    Cậu muốn đi tới Đông Stave để tìm tay ảo thuật gia.

    Trong nhiều năm sau đó, Kaz luôn tự hỏi liệu chuyện gì sẽ xảy ra nếu như Jordie không chiều ý em trai, nếu họ đi ra cảng ngắm thuyền bè hoặc chỉ đơn giản là đi dạo trên bờ kênh.

    Kaz muốn tin rằng mọi việc có thể đã khác đi, nhưng càng lớn, cậu càng thấy chuyện đó là tất yếu.

    Hai anh em đã đi ngang qua đám đông xanh lè trước Cung Lục Ngọc, và ngay bên cạnh đó, trước cửa Điểm vàng, có một thằng bé ngồi bán những con chó nhỏ chạy bằng dây cót.

    Được lên dây nhờ một chìa khoá đồng, món đồ chơi đi lạch bạch trên những cái chân cứng nhắc, đôi tai ve vẩy.

    Kaz đã khom xuống, vặn tất cả những cái khoá, cố làm cho những con chó bước đi cùng một lượt, trong khi thằng bé bán hàng bắt chuyện với Jordie.

    Hoá ra nó tới từ Lij, cách quê nhà của Kaz và Jordie hai thị trấn.

    Thằng bé nói nó biết một người đàn ông đang cần tìm người chạy việc - không phải tại sàn giao dịch mà là ở một văn phòng ngay phía cuối đường.

    Jordie nên tới đó vào sáng hôm sau cùng nó để bàn công việc với người đàn ông kia.

    Thằng bé cũng đang muốn xin làm chân chạy việc.

    Trên đường về, Jordie đã mua cho hai anh em mỗi người một cốc sôcôla nóng, chứ không chia nhau một cốc như mọi lần.

    “Vận may bắt đầu mỉm cười với chúng ta rồi,” anh nói trong lúc họ cầm hai cái cốc nóng bốc khói, chân đung đưa trên một cây cầu nhỏ, với ánh đèn khu Stave nhảy nhót dưới dòng kênh.

    Kaz đã nhìn cái bóng phản chiếu của hai anh em trên mặt nước lung linh và cảm thấy mình thật may mắn.

    Thằng bé bán chó vặn dây cót tên là Filip, và người mà nó quen là Jakob Hertzoon, chủ một quán cà phê nhỏ nằm gần Sàn giao dịch, nơi ông ta thu xếp để các nhà đầu tư cấp thấp giao dịch cổ phần của những chuyến hàng ghé ngang qua Kerch.

    “Em nên đến xem chỗ đó,” Jordie nói với Kaz khi về nhà vào một buổi tối.

    “Ở đó lúc nào cũng đầy người nói chuyện trao đổi thông tin, mua bán các cổ phần và phần hùn, cả những người bình thường cũng đến đó, từ anh bán thịt, bác thợ làm bánh cho đến các công nhân bốc xếp.

    Ông Hertzoon bảo rằng bất kì người nào cũng có thể làm giàu.

    Tất cả những gì họ cần là vận may và những người bạn tốt.”

    Tuần lễ sau đó giống như một giấc mơ ngọt ngào.

    Jordie và Filip chạy việc cho ông Hertzoon, chuyển thư tín tới bến cảng và ngược lại, thỉnh thoảng còn đi đặt lệnh cho ông ta ở Sàn giao dịch hoặc những văn phòng kinh doanh khác.

    Trong thời gian họ làm việc, Kaz được phép ở lại quán cà phê.

    Người phục vụ tại quầy bar cho cậu ngồi trên mặt quầy luyện tập các trò ảo thuật và thoả thích uống sôcôla nóng.

    Hai anh em được mời ăn tối tại nhà của ông Hertzoon.

    Đó là một ngôi nhà lớn nằm trên phố Zelverstraat, có cửa ra vào màu xanh và cửa sổ treo rèm ren màu trắng.

    Ông Hertzoon là một người đàn ông to béo với khuôn mặt hồng hào thân thiện và hai chùm tóc mai đã bạc.

    Bà Margit vợ ông véo má Kaz và cho cậu thưởng thức món hutspot được nấu với xúc xích hun khói.

    Kaz cũng được chơi trong bếp cùng với con gái ông bà.

    Saskia.

    Cô bé mười tuổi, và Kaz cảm thấy đó là cô gái xinh đẹp nhất mà mình từng gặp.

    Hai anh em ở lại đến khuya để hát hò trong lúc bà Margit chơi piano và chú chó to lông xám của họ đập đuôi thình thịch theo nhịp nhạc.

    Đó là khoảng thời gian đẹp nhất mà Kaz từng có kể từ khi bố mất.

    Ông Hertzoon thậm chí còn để cho Jordie đặt những khoản tiền nhỏ mua cổ phần công ty.

    Jordie muốn đầu tư nhiều hơn, nhưng ông luôn khuyên anh thận trọng.

    “Từng bước nhỏ thôi, nhóc à.

    Từng bước nhỏ.”

    Mọi chuyện càng tốt đẹp hơn khi người bạn của ông Hertzoon từ Novyi Zem trở về.

    Ông này là thuyền trưởng của một con tàu chở hàng, và tình cờ gặp một người trồng mía ở một hải cảng của Novyi Zem.

    Người trồng mía than phiền với ông ta bên li rượu về ảnh hưởng của lụt lội trên trang trại của mình và nhiều hàng xóm trong vùng.

    Ngay lúc này giá đường còn thấp, nhưng trong vài tháng tới, khi đường trở nên khan hiếm, giá cả sẽ tăng vọt.

    Bạn của ông Hertzoon định sẽ mua tất cả số đường có thể mua được, trước khi tin tức lan đến Ketterdam.

    “Chuyện này giống như gian lận,” Kaz đã thì thầm như thế với Jordie.

    “Không phải gian lận,” Jordie bác bỏ.

    “Cái đó gọi là làm ăn.

    Làm thế nào những người tầm thường thăng tiến được trong xã hội nếu không có một sự hỗ trợ thêm?”

    Ông Hertzoon bảo Jordie và Filip đặt lệnh với ba văn phòng độc lập để việc mua một lượng đường lớn đến như vậy không lôi kéo sự chú ý của người khác.

    Tin tức về vụ mía thất bát lan tới, và ngồi trong quán cà phê, hai anh em phải cố giấu sự hả hê của mình khi thấy giá cổ phiếu leo thang trên bảng niêm yết.

    Khi ông Hertzoon cho rằng giá cổ phiếu đã lên cao hết mức có thể, ông cử Jordie và Filip đi bán lại để thu lợi nhuận.

    Lúc họ quay về quán cà phê, ông đã lấy từ trong két sắt ra cho hai người một khoản tiền thưởng hậu hĩnh.

    “Anh đã nói với em rồi mà,” Jordie bảo Kaz khi hai anh em rời quán đêm đó.

    “Vận may và những người bạn tốt!”

    Chỉ vài ngày sau đó, ông Hertzoon tiết lộ với họ về một tin mật khác mà ông nhận được từ ông bạn thuyền trưởng kia, về vụ jurda sắp tới.

    “Năm nay mưa làm tất cả mọi người đều bị ảnh hưởng nặng,” ông Hertzoon nói.

    “Nhưng lần này, không chỉ có đồng ruộng bị phá huỷ, mà cả các kho bãi trên bến tàu ở cảng Eames cũng thiệt hại nặng.

    Lần này sẽ là một vố lớn, và ta muốn chơi mạnh tay.”

    “Vậy thì chúng tôi cũng theo ông,” Filip nói.

    Nhưng ông Hertzoon nhíu mày đáp: “Ta e rằng vụ này không dành cho các cháu, số tiền đầu tư tối thiểu quá cao so với cả hai đứa.

    Nhưng yên tâm, sẽ còn nhiều vụ đầu tư khác!”

    Filip tỏ ra rất tức tối.

    Nó lớn tiếng với ông Hertzoon, bảo ông ta như thế là không công bằng.

    Nó nói ông Hertzoon cũng chẳng khác gì đám con buôn ở Sàn giao dịch, chỉ biết vơ vét làm giàu cho riêng mình.

    Nó gọi ông bằng những từ ngữ khiến Kaz cũng phải sợ.

    Khi Filip trút cơn giận xong và bỏ đi, tất cả mọi người trong quán đều nhìn khuôn mặt đỏ au và bối rối của ông Hertzoon.

    Ông ta quay vào trong văn phòng và buông mình xuống chiếc ghế.

    “Ta… ta không thể làm gì để thay đổi chuyện đó được.

    Người giao dịch chỉ muốn các nhà đầu tư lớn, những người có thể gánh được rủi ro.”

    Jordie và Kaz đứng đó, không biết phải làm gì.

    “Hai cháu cũng giận ta à?”

    Ông Hertzoon hỏi hai anh em.

    Tất nhiên là không rồi, họ đã trấn an ông như vậy.

    Filip mới là người cảm thấy không công bằng.

    “Ta hiểu vì sao thằng bé nổi giận,” ông Hertzoon nói.

    “Những cơ hội như thế này không xuất hiện thường xuyên.

    Nhưng ta không thể làm gì được.”

    “Cháu có tiền,” Jordie đáp luôn.

    Ông Hertzoon nở một nụ cười bao dung.

    “Jordie, cháu là một chàng trai tử tế, một ngày nào đó, ta tin chắc cháu sẽ là ông vua của Sàn giao dịch, nhưng cháu không có đủ số vốn cần thiết mà họ yêu cầu.”

    Lúc đó Jordie đã hếch cằm lên.

    “Cháu có.

    Từ khoản tiền bán nông trại của bố.”

    “Và ta đoán số tiền đó là tất cả những gì mà hai anh em cháu có để sống.

    Nó không phải là một thứ để đem ra mạo hiểm, bất luận kết quả sẽ như thế nào.

    Một đứa trẻ ở tuổi cháu không thể…”

    “Cháu không phải là một đứa trẻ con.

    Nếu đây là một cơ hội tốt thì cháu muốn có nó.”

    Kaz sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc đó, khi cậu chứng kiến lòng tham chế ngự anh trai mình.

    Nó giống như một bàn tay vô hình đẩy Jordie bước tới.

    Nhưng ông Hertzoon không đồng ý ngay.

    Họ cùng nhau về nhà ông và tranh luận đến khuya.

    Kaz đã gối đầu lên con chó và ngủ thiếp đi, với dải ruy băng đỏ của Saskia trong tay.

    Khi Jordie đánh thức Kaz dậy thì những ngọn nến đã gần tàn và trời đã sáng.

    Ông Hertzoon đã yêu cầu đối tác kinh doanh của mình đến nhà và thảo một hợp đồng vay tiền.

    Do Jordie chưa đủ tuổi, nên ông Hertzoon sẽ mượn tiền của anh để đặt lệnh giao dịch.

    Bà Margit dọn cho hai anh em món trà sữa và bánh pancake nóng hổi, dùng kèm kem chua và mứt.

    Sau đó mọi người đi tới ngân hàng mà Jordie đã gửi khoản tiền bán nông trại, và anh kí lệnh chuyển tiền.

    Ông Hertzoon nhất định đưa hai anh em về căn nhà thuê, trước khi ôm từ biệt họ trước cửa.

    Ông đưa giấy tờ thoả thuận vay nợ cho Jordie và dặn anh giữ nó cho thật cẩn thận.

    “Nghe này, Jordie, xác suất thất bại của vụ này rất nhỏ, nhưng rủi ro luôn tồn tại.

    Nếu nó xảy ra, ta tin cháu sẽ không dùng tài liệu này để đòi lại khoản nợ.

    Chúng ta phải cùng nhau tiếp nhận rủi ro.

    Ta tin cháu.”

    Lúc đó mặt Jordie như bừng sáng.

    “Thoả thuận thế nhé,” anh nói với ông Hertzoon.

    “Thoả thuận thế nhé,” ông Hertzoon đáp với giọng trịnh trọng, rồi hai người bắt tay như những thương gia thứ thiệt.

    Ông Hertzoon đưa cho

    Jordie một cọc dày tiền.

    “Để ăn mừng một bữa.

    Tuần sau cháu quay lại quán, chúng ta sẽ cùng nhau chứng kiến giá lên.”

    Tuần lễ đó, hai anh em đã chơi ridderspel và spijker ở các vòm cuốn của Lid, mua một chiếc áo khoác mới cho Jordie và một đôi giày da mềm cho Kaz.

    Họ ăn bánh waffle và khoai tây chiên, rồi Jordie mua tất cả những cuốn tiểu thuyết mà anh muốn đọc tại một hiệu sách trên phố Wijnstraat.

    Đúng một tuần sau, hai anh em dắt tay nhau đi tới quán cà phê.

    Quán trống không.

    Cửa trước đã bị khoá chặt.

    Hai anh em áp mặt vào cửa sổ tối om và nhận ra tất cả mọi thứ đã biến mất - từ bàn ghế, những cái vại bằng đồng cho đến tấm bảng niêm yết các số liệu giao dịch trong ngày.

    “Chúng ta có đi nhầm phố không vậy?”

    Kaz đã hỏi như thế.

    Nhưng cả hai đều biết họ không nhầm.Trong sự im lặng căng thẳng, họ đi tới ngôi nhà nằm trên phố Zelverstraat.

    Không ai ra mở cửa.

    “Chắc họ ra ngoài một lúc,” Jordie nói.

    Hai anh em chờ trên thềm nhà hàng giờ, cho đến khi mặt trời bắt đầu lặn.

    Không có ai xuất hiện.

    Không một ngọn nến nào được thắp lên trong nhà.

    Cuối cùng, Jordie đánh bạo gõ cửa một căn nhà hàng xóm.

    “Ai đó?”

    Một người hầu gái đội mũ trùm mầu trắng lên tiếng.

    “Cô có biết gia đình ở nhà kế bên đi đâu không ạ?

    Gia đình Hertzoon ấy?”

    Cô hầu gái nhíu trán.

    “Hình như họ chỉ lưu lại đây một thời gian.

    Họ đến từ Zierfoort.”

    “Không đâu,”Jordie đáp.

    “Họ đã ở đây nhiều năm rồi.

    Họ…”

    Cô hầu gái lắc đầu.

    “Nhà đó bỏ không gần cả năm trời sau khi gia đình trước dọn đi.

    Nó chỉ mới được thuê vài tuần trước…”

    “Nhưng…”

    Cô ta đóng sập cửa lại ngay trước mũi Jordie.

    Hai anh em không nói gì từ lúc đi bộ về nhà cho tới khi leo cầu thang lên tới căn phòng trọ.

    Họ ngồi trong bóng tối rất lâu.Tiếng người nói từ dưới kênh vọng tới họ khi con phố bắt đầu nhộn nhịp các hoạt động buổi tối.

    “Có chuyện gì đó đã xảy ra với gia đình ông ấy,” cuối cùng Jordie lên tiếng.

    “Một vụ tai nạn, hoặc chuyện gì đó khẩn cấp.

    Ông ấy sẽ sớm liên lạc.

    Ông ấy sẽ gửi thư cho chúng ta.”

    Đêm đó, Kaz lôi ra sợi ruy băng đỏ của Saskia mà cậu cất dưới chiếc gối của mình.

    Cậu cuộn chặt nó lại và nắm trong lòng bàn tay.

    Kaz nằm trên giường, cố cầu nguyện, nhưng tất cả những gì cậu nghĩ tới là đồng xu của tay ảo thuật gia: vừa mới đó đã biến mất tiêu.

    19

    MATTHIAS

    Thật quá sức chịu đựng.

    Anh không nghĩ mình sẽ cảm thấy khó khăn đến thế này khi được trông thấy lại quê hương sau một thời gian dài.

    Anh có hơn một tuần lễ trên chiếc Ferolind để chuẩn bị tinh thần, nhưng đầu óc anh bận rộn với con đường mình đã chọn, với Nina và thứ ma pháp khủng khiếp đã đưa anh ra khỏi tù rồi đặt anh lên một con thuyền tiến thẳng về phương bắc dưới bầu trời vô tận.

    Anh cảm thấy nặng trĩu không chỉ vì xiềng xích, mà còn vì gánh nặng của việc mình sắp làm.

    Matthias đã trông thấy đất liền ở phía bắc vào một buổi chiều tà, nhưng Specht quyết định chờ đến tối mới cập bến, với hi vọng ánh sáng nhá nhem sẽ che chở cho họ.

    Dọc theo bờ biển là những ngôi làng của dân đánh bắt cá voi, và không ai trong nhóm muốn họ bị phát hiện.

    Dù nấp dưới vỏ bọc của dân đặt bẫy, họ vẫn là một nhóm người đáng ngờ.

    Đêm đó họ ở lại trên thuyền.

    Rạng sáng hôm sau, Nina bắt gặp Matthias loay hoay với những bộ đồ lạnh mà Jesper và Inej đã phân phát.

    Matthias rất ấn tượng với sự dẻo dai của Inej.

    Mặc dù còn hai quầng thâm bên dưới mắt, cô di chuyển không chút khó khăn, nếu có đau đớn thì cô che giấu nó rất giỏi.

    Nina giơ một chiếc chìa khoá lên.

    “Kaz bảo tôi tháo xiềng cho anh.”

    “Đến tối cô có xích tôi lại nữa không?”

    “Cái đó tuỳ ở Kaz.

    Và cả anh nữa, tôi nghĩ thế.

    Ngồi xuống đi.”

    “Cứ đưa cái chìa khoá cho tôi là được rồi.”

    Nina hắng giọng.

    “Kaz cũng muốn tôi thay đổi diện mạo của anh nữa.”

    “Hả?

    Tại sao?”

    Ý tưởng bị Nina dùng phép phù thuỷ biến đổi ngoại hình thật không thể chấp nhận được đối với anh.

    “Chúng ta đã ở trên đất Fjerda rồi.

    Kaz muốn anh trông bớt giống… anh.

    Để đề phòng thôi.”

    “Cô có biết đất nước này lớn đến thế nào không?

    Cơ hội để…”

    “Khả năng anh bị nhận ra tại Lâu Đài Băng khá cao, mà tôi lại không thể biến đổi anh ngay tức thì nếu có biến.”

    “Tại sao?”

    “Tôi không phải là một Thợ May giỏi.

    Nó là một phần trong chương trình đào tạo Tâm Y, nhưng tôi không thích môn đó.”

    Matthias khụt khịt mũi.

    “Sao nào?” cô hỏi.

    “Tôi chưa bao giờ nghe cô thừa nhận mình không giỏi một thứ gì đó”

    “Ờ, chuyện đó khá là hiếm gặp đấy.”

    Matthias kinh hoàng nhận ra môi mình đang uốn thành một nụ cười, nhưng để dập tắt nó thì quá dễ, anh chỉ cần nghĩ tới cảnh gương mặt mình bị biến đổi.

    “Brekker muốn cô làm gì với tôi?”

    “Không có gì nghiêm trọng đâu.

    Tôi sẽ thay đổi màu mắt anh, mái tóc hay đúng hơn là phần còn lại của nó.

    Sự thay đổi sẽ không mang tính vĩnh viễn.”

    “Tôi không thích chuyện này.”

    Tôi không muốn cô đến gần tôi.

    “Sẽ không mất nhiều thời gian, và cũng không đau đớn, nhưng nếu anh muốn tranh cãi về việc này với Kaz…”

    “Thôi được,” anh đáp, cố trấn tĩnh bản thân.

    Tranh cãi với Brekker chỉ tổ mất công, thằng quỷ đó chỉ cần nhắc đến vụ ân xá là xong.

    Matthias cầm lấy một cái xô, úp ngược nó lại, rồi ngồi xuống.

    “Giờ cô đưa tôi chìa khoá được chưa?”

    Nina đưa nó cho Matthias, và anh mở còng tay, trong khi cô lục lọi cái hộp mang theo.

    Nó có một tay nắm và nhiều ngăn kéo nhỏ, bên trong chất đầy những cái hũ đựng bột hoặc phẩm màu.

    Cô lấy ra một cái hũ màu đen.

    “Cái gì đây?”

    “Antimon đen.”

    Nina bước lại gần anh và dùng đầu ngón tay nâng cằm anh lên.

    “Đừng nghiến răng nữa, Matthias, không thì anh sẽ chẳng còn cái răng nào trong miệng đấy.”

    Matthias khoanh tay lại.

    Nina bắt đầu rắc một chút bột antimon lên da đầu anh và thở dài đánh sượt.

    “Tại sao chàng drüskelle can trường Matthias Helvar lại không ăn thịt?”

    Cô hỏi với giọng cường điệu trong lúc làm phép.

    “Đó là một câu chuyện buồn lắm, cưng à.

    Răng của anh ta đã bị một Grisha ác độc vặt sạch, nên giờ đây chỉ có thể ăn được món pudding thôi.”

    “Thôi đi,” anh làu bàu.

    “Hả?

    Tiếp tục ngửa đầu ra nào.”

    “Cô đang làm gì vậy?”

    “Nhuộm đen lông mày và lông mi của anh.

    Giống như bọn con gái vẫn làm trước khi đi dự tiệc ấy.”

    Chắc Matthias nhăn nhó ghê lắm, vì cô cười phá lên.

    “Nhìn cái mặt anh kìa!”

    Cô cúi xuống, suối tóc nâu cọ vào má anh trong khi cô rắc phẩm màu lên lông mày của anh.

    Bàn tay cô đặt trên má anh.

    “Nhắm mắt lại,” cô nói khẽ.

    Ngón cái của cô di chuyển trên lông mi của anh, và Matthias nhận ra mình đang nín thở.

    “Cô không thơm mùi hoa hồng nữa,” anh buột miệng, và lập tức cảm thấy muốn đá bản thân mình một cú.

    Lẽ ra anh không được để tâm đến chuyện đó.

    “Chắc tôi toàn mùi tàu đánh cá.”

    Không, cô có mùi rất ngọt, tuyệt hảo giống như…

    “Kẹo caramel?”

    Nina nhìn lảng đi nơi khác như người có tội.

    “Kaz đã bảo chúng tôi được đem theo những thứ cần thiết cho chuyến đi.

    Một cô gái cũng cần phải ăn.”

    Nói đoạn cô thò tay vào túi và lôi ra gói kẹo caramel.

    “Anh muốn một chiếc không?”

    Có.

    “Không.”

    Cô nhún vai bỏ một viên kẹo vào miệng, đảo mắt và thở dài khoan khoái.

    “Ngon ơi là ngon!”

    Nói ra thì thật đáng xấu hổ, nhưng anh biết mình có thể nhìn cô ăn cả ngày.

    Đó là một trong những điểm mà anh thích nhất nơi Nina: cô tận hưởng mọi thứ, cho dù chỉ là một viên kẹo hay làn nước suối mát lạnh, hoặc một miếng thịt tuần lộc phơi khô.

    “Giờ thì mở mắt ra đi,” Nina nói lúng búng với viên kẹo trong miệng, tay lôi ra một chiếc lọ nhỏ từ cái hộp dụng cụ.

    “Anh sẽ phải giữ cho mắt mở đấy.”

    “Cái gì đây?”

    Anh hỏi với giọng căng thẳng.

    “Loại cồn thuốc được phát minh bởi một Grisha có tên là Genya Safin.

    Nó là cách thức an toàn nhất để làm thay đổi màu mắt của anh.”

    Cô lại cúi xuống.

    Đôi má cô ửng hồng vì lạnh, miệng cô hơi hé mở.

    Đôi môi cô cách môi anh chưa đầy mười centimet.

    Nếu anh ngồi thẳng người lại, môi họ sẽ chạm nhau.

    “Anh phải nhìn vào tôi,” cô hướng dẫn.

    Tôi đang nhìn đây.

    Ánh mắt hai người giao nhau.

    Cô nhớ bờ biển này chứ, Nina?

    Anh muốn hỏi như thế, mặc dù anh biết cô có nhớ.

    “Cô định làm mắt tôi có màu gì?”

    “Suỵt.

    Cái này khó lắm.”

    Cô dốc vài giọt dung dịch ra ngón tay rồi đưa nó lại gần mắt anh.

    “Sao cô không nhỏ nó vào?”

    “Sao anh không ngừng nói được nhỉ?

    Anh có muốn tôi làm anh mù luôn không?”

    Matthias im bặt.

    Cuối cùng, cô lùi lại, đưa mắt nhìn tổng thể gương mặt anh.

    “Màu nâu,” Nina đáp.

    Rồi cô nháy mắt.

    “Giống như màu caramel.”

    “Thế cô định làm gì với Bo Yul-Bayur?”

    Nina ngồi thẳng người, mặt đanh lại.

    “Ý anh là sao?”

    Matthias thấy hơi tiếc vì sự dễ chịu của cô đã biến mất, nhưng điều đó chẳng quan trọng.

    Anh liếc qua vai để bảo đảm không có ai đang lắng nghe họ.

    “Cô thừa biết tôi muốn ám chỉ điều gì.

    Còn lâu tôi mới tin cô để cho những người này giao nộp Bo Yul-Bayur lành lặn cho Hội đồng Thương buôn.”

    Nina cất cái lọ vào trong hộp.

    “Chúng ta sẽ phải lặp lại chuyện này ít nhất hai lần nữa trước khi tới Lâu Đài Băng, để màu mắt của anh đậm hơn.

    Thu dọn đồ đạc của anh đi.

    Kaz muốn chúng ta lên đường trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.” cô đóng sập nắp hộp đồ nghề, nhặt sợi xích lên, rồi quay gót bỏ đi.

    •••

    Lúc họ từ biệt thuỷ thủ đoàn, bầu trời đã ngả từ màu hồng sang màu vàng đồng.

    “Hẹn gặp lại các bạn ở cảng Djerholm,” thuyền trưởng Specht lên tiếng.

    “Không đổ lệ.”

    “Không quan tài,” những người khác đáp lại.

    Đám người kì lạ.

    Brekker đặc biệt kín tiếng về cách thức họ sẽ sử dụng để tiếp cận Bo Yul-Bayur và đem ông ta ra khỏi Lâu Đài Băng, nhưng cậu ta khẳng định rõ ràng rằng một khi đã đạt được mục đích, chiếc Ferolind sẽ là con đường thoát thân của họ.

    Nó có giấy tờ đóng dấu Kerch thể hiện rằng mọi lệ phí và đơn từ đều đã được nộp, cho phép đại diện của công ty Haanraadt Bay vận chuyển lông thú và hàng hoá từ Fjerda tới Zierfoort, một hải cảng nằm ở phía nam của Kerch.

    Nhóm người bắt đầu từ dưới bãi biển men theo vách đá đi lên.

    Mùa xuân đang đến, nhưng băng tuyết vẫn còn đóng dày trên mặt đất, khiến cho việc leo trèo trở nên vất vả.

    Khi lên đến đỉnh vách đá, họ dừng chân lấy hơi.

    Chiếc Ferolind vẫn còn nằm trong tầm mắt ở phía chân trời, căng buồm đón cơn gió đang quất mạnh vào má họ.

    “Thánh thần ơi,” Inej thốt lên.

    “Chúng ta đang làm chuyện này.”

    “Từng giây từng phút trong chuỗi ngày khổ sở vừa qua tôi đều ao ước được rời khỏi con tàu đó,” Jesper nói.

    “Sao tự dưng tôi lại nhớ nó thế này?”

    Wylan vừa giậm chân vừa đáp: “Có lẽ là vì chân chúng ta đã bắt đầu tê cóng.”

    “Khi nào lấy được tiền thưởng, các cậu có thể đốt những đồng kruge để sưởi ấm,” Kaz lên tiếng.

    “Đi thôi.”

    Kaz đã bỏ lại cây gậy chống đầu quạ trên thuyền và thay thế nó bằng một cây gậy ít gây chú ý hơn.

    Jesper thì đau đớn giã từ những khẩu súng cẩn ngọc trai đáng giá để sử dụng một cặp súng thường, còn Inej cũng làm điều tương tự với bộ dao đặc biệt của cô và chỉ mang những con dao có thể vứt bỏ khi họ đã vào trong nhà tù.

    Những sự lựa chọn thiết thực, nhưng Matthias biết những vật hộ mệnh có quyền năng của chúng.

    Jesper xem la bàn, rồi cả nhóm tiến về phía nam, tìm một lối đi dẫn tới con đường giao thương huyết mạch.

    “Tôi sẽ thuê người đốt tiền cho tôi.”

    Kaz sánh bước bên cạnh Jesper.

    “Thế sao cậu không thuê một người để anh ta thuê một người khác đốt tiền cho cậu?

    Dân chơi thứ thiệt toàn làm thế.”

    “Anh có biết các ông trùm thực sự sẽ làm như thế nào không?

    Bọn họ sẽ trả tiền cho ai đó để…”

    Giọng nói hai người tắt dần khi họ tiến lên phía trước, còn Matthias và những người còn lại theo sau.

    Matthias nhận ra cả hai đều liếc nhìn lần cuối chiếc Ferolind đang dần xa khuất.

    Con thuyền là một phần của Kerch, một phần quê nhà đối với họ, và cái thứ thân thuộc ấy đang mỗi lúc một trôi xa.

    Matthias cảm thấy hơi thông cảm đôi chút, nhưng càng đi, anh càng nhận ra mình thích thú khi lần đầu chứng kiến đám chuột cống kia run lẩy bẩy và vất vả đôi chút.

    Bọn họ tưởng đã biết thế nào là lạnh, nhưng cái rét phương bắc có cách để buộc những kẻ xa lạ phải đánh giá lại giới hạn của mình.

    Họ vấp váp, loạng choạng, vụng về trong những đôi giày mới, cố tìm cách bước đi trên lớp tuyết đã cứng lại, và chẳng mấy chốc Matthias đã vượt lên dẫn đầu, giữ nhịp cho cả đoàn, mặc dù Jesper vẫn liên tục xem la bàn.

    “Mang cái…”

    Matthias khựng lại nửa chừng, anh phải dùng điệu bộ để diễn tả cho Wylan.

    Anh không biết chữ tiếng Kerch tương đương với “mắt kính bảo vệ”, hoặc thậm chí là “tuyết”.

    Những chữ đó không được nhắc đến trong tù.

    “Che mắt cậu lại, nếu cậu không muốn hư mắt vĩnh viễn.”

    Người ta có thể bị mù ở cái xứ phương bắc xa xôi này.

    Họ có thể bị mất môi, tai, mũi, bàn tay và cả bàn chân.

    Hầu hết mọi người chỉ thấy sự cằn cỗi và khắc nghiệt, nhưng với Matthias nó thật đẹp.

    Băng tuyết mang tinh thần của Djel.

    Nó có màu sắc, hình dạng, thậm chí cả mùi hương nếu bạn biết cách phát hiện ra.

    Anh tiếp tục dấn bước, cảm thấy thật yên bình, tựa hồ Djel có thể nghe thấy anh và xoa dịu tâm hồn đau khổ của anh.

    Băng tuyết gợi lại những kí ức thời thơ ấu, những chuyến đi săn với bố anh.

    Họ sống ở phía nam, gần Halmhend, nhưng vào mùa đông, nơi đó cũng chẳng khác chỗ này là bao, một thế giới của hai màu trắng xám, chấm phá bởi những đám cây rừng có thân màu đen và nhiều cụm đá tưởng như mọc lên từ thinh không, tựa những xác tàu nằm dưới đáy biển trơ trọi.

    Chuyến đi bộ trong ngày đầu tiên với Matthias giống như một sự thanh lọc – rất ít tiếng trò chuyện, sự im lặng trắng xoá của phương bắc chào đón anh không chút phán xét.

    Anh đã chờ đợi nhiều lời phàn nàn, nhưng ngay cả Wylan cũng chỉ cúi đầu bước đi.

    Họ đều là những kẻ sống sót, Matthias đã hiểu ra.

    Họ thích nghi.

    Khi mặt trời lặn, họ ăn phần thịt bò khô và bánh quy của mình, trước khi lăn ra ngủ trong lều mà không nói tiếng nào.

    Nhưng sáng hôm sau đánh dấu chấm hết cho sự thinh lặng và cảm giác

    yên bình mong manh của Matthias.

    Giờ đây, khi đã ở cách xa con thuyền và thuỷ thủ đoàn, Kaz sẵn sàng chia sẻ các chi tiết trong kế hoạch của mình.

    “Nếu tính đúng, chúng ta sẽ đột nhập rồi thoát ra trước cả khi người Fjerda nhận ra tù nhân đáng giá của họ đã biến mất.”

    Kaz lên tiếng khi cả nhóm khoác đồ đạc lên vai và đi tiếp về phía nam.

    “Lúc vào trong nhà tù, chúng ta sẽ được đưa tới khu vực chờ nằm bên dưới buồng giam của nam và nữ để đợi điểm danh.

    Nếu Matthias nói đúng và quy trình chưa bị thay đổi, đội tuần tra chỉ đi qua các phòng chờ ba lần mỗi ngày để đếm tù nhân.

    Một khi đã ra khỏi đó, chúng ta sẽ có ít nhất sáu giờ để đi sang toà đại sứ, định vị Yul-Bayur trên Bạch Đảo, và đưa ông ta tới hải cảng trước khi bọn họ nhận ra có người biến mất.”

    “Thế còn những tù nhân khác trong khu phòng chờ thì sao?”

    Matthias hỏi.

    “Chúng tôi đã lo liệu chuyện đó.”

    Matthias nhíu mày, nhưng không quá ngạc nhiên.

    Một khi đã ở trong phòng chờ, Kaz và những người còn lại sẽ rất dễ bị tấn công.

    Chỉ cần Matthias báo với đám lính gác là kế hoạch của bọn họ sẽ đổ bể.

    Đó là điều mà chỉ huy Brum sẽ làm, lựa chọn của một người đàn ông có danh dự.

    Một phần trong Matthias đã tin rằng việc quay lại Fjerda sẽ giúp anh tỉnh ra, cho anh sức mạnh để từ bỏ phi vụ điên rồ này.

    Nhưng thay vào đó, nó chỉ khiến anh thêm quay quắt nhớ nhà, nhớ cuộc sống từng có với các huynh đệ drüskelle.

    “Sau khi đã ra khỏi buồng giam,” Kaz nói tiếp, “Matthias và Jesper sẽ đi lấy dây thừng trong chuồng ngựa, còn Wylan cùng với tôi giúp Nina và

    Inej thoát ra khỏi khu của nữ tù.

    Chúng ta sẽ gặp nhau ở tầng hầm.

    Đó là nơi có lò thiêu.

    Không ai ở lại trong xưởng giặt sau khi nhà tù đóng cổng vào ban đêm.

    Trong khi Inej leo lên, Wylan và tôi sẽ đi tìm trong xưởng giặt những thứ cậu ta cần để chế thuốc nổ.

    Để phòng trường hợp người ta quyết định nhốt Bo Yul-Bayur tại khu vực nhà tù và khiến công việc của chúng ta dễ dàng hơn, Nina, Matthias sẽ cùng Jesper đi tìm ông ta trong khu biệt giam ở tầng trên.”

    “Nina và Matthias?”

    Jesper hỏi lại.

    “Không phải tôi nghi ngờ tính chuyên nghiệp của ai cả, nhưng liệu đó có phải là một sự bắt cặp lí tưởng không?”

    Matthias cố nuốt trôi cục tức trong cổ họng.

    Jesper nói đúng, nhưng anh ghét bị đem ra nói như vậy.

    “Matthias biết các quy trình của nhà tù, còn Nina có thể xử lí đám lính gác mà không gây ồn ào.

    Công việc của cậu là ngăn không để hai người họ giết lẫn nhau.”

    “Bởi vì tôi là nhà ngoại giao của nhóm à?”

    “Không có ai là nhà ngoại giao cả,” Kaz đáp.

    “Nghe này, phần còn lại của nhà tù không giống với khu vực chờ.

    Việc tuần tra được thực hiện mỗi hai tiếng một lần, và chúng ta không muốn bất kì ai phát báo động, do vậy hãy khôn ngoan một chút, chúng ta sẽ căn chỉnh mọi việc theo tiếng chuông Đồng hồ Cả.

    Ngay sau sáu tiếng chuông, chúng ta sẽ ra khỏi buồng giam, rồi trèo ống khói lên mái lúc tám tiếng chuông.

    Không được có ngoại lệ.”

    “Sau đó thì sao?”

    Wylan hỏi.

    “Chúng ta đi qua mái của toà đại sứ và từ đó tiếp cận cầu kính.”

    “Chúng ta đã ở phía bên kia chốt kiểm soát,” Matthias nói, không thể giấu chút ngưỡng mộ trong giọng điệu của mình.

    “Lính gác trên cầu sẽ cho rằng chúng ta đã đi qua cổng của toà đại sứ và đã được kiểm tra giấy tờ tại đó.”

    Wylan nhíu mày.

    “Trong trang phục tù nhân sao?”

    “Giai đoạn hai,” Jesper đáp.

    “Cải trang.”

    “Đúng vậy,” Kaz nói.

    “Inej, Nina, Matthias và tôi sẽ mượn tạm một ít trang phục của một phái đoàn nào đó, không quên lấy dư cho ông bạn Bo Yul-Bayur của chúng ta, trước khi ung dung đi bộ qua cầu kính.

    Chúng ta sẽ tìm Yul-Bayur và đưa ông ta quay lại toà đại sứ.

    Nina, nếu có thời gian, cô sẽ chỉnh sửa diện mạo ông ta nhiều nhất có thể, nhưng miễn là chúng ta không kích hoạt báo động, sẽ không có ai để ý đến chuyện trong đoàn khách bỗng dưng có thêm một ông người Shu.”

    Trừ phi Matthias tiếp cận tay khoa học gia trước.

    Nếu ông ta đã chết trước khi được tìm thấy, Kaz sẽ không thể quy trách nhiệm cho anh.

    Anh sẽ vẫn được ân xá.

    Nhưng nếu anh không tách nhóm được thì sao?

    Một tai nạn đường thuỷ vẫn có thể xảy ra với Yul-Bayur trên hành trình quay về.

    “Như vậy, theo như tôi hiểu thì,” Jesper nói, “tôi tiếp tục bị kẹt với Wylan.”

    “Trừ phi cậu đột nhiên có được một kho kiến thức tổng hợp về Bạch Đảo, khả năng phá khoá, leo những bức tường không thể leo, hoặc moi các thông tin mật từ những nhân vật cấp cao.

    Ngoài ra, tôi cần hai người chế tạo bom.”

    Jesper rầu rĩ nhìn hai khẩu súng của mình.

    “Thật phí hoài.”

    Nina khoanh tay lại.

    “Cứ cho là tất cả chuyện này sẽ suôn sẻ đi.

    Chúng ta sẽ rời khỏi đó như thế nào?”

    “Đi bộ,” Kaz đáp.

    “Cái hay của kế hoạch này nằm ở chỗ đó.

    Còn nhớ

    tôi đã nói gì về việc điều khiển sự chú ý của mục tiêu không?

    Tại cổng toà đại sứ, mọi con mắt sẽ đổ dồn vào các vị khách đang tiến vào Lâu Đài

    Băng.

    Những người đi ra ngoài không còn là nguy cơ an ninh nữa.”

    “Vậy bom để làm gì?”

    Wylan hỏi.

    “Biện pháp đề phòng.

    Có mười hai cây số đường cần phải đi từ Lâu Đài Băng tới cảng.

    Nếu ai đó phát hiện Bo Yul-Bayur mất tích, chúng ta sẽ phải nhanh chóng cắt đứt con đường độc đạo.”

    Kaz vạch một đường trên lớp tuyết bằng cây gậy chống.

    “Con đường cái băng qua một hẻm sông.

    Nếu chúng ta cho nổ cây cầu, sẽ không ai bám theo ta được.”

    Matthias ôm đầu, tưởng tượng sự tàn phá mà những kẻ hạ đẳng này sắp sửa gây ra cho đất nước của anh.

    “Chỉ là một người tù thôi, Helvar,” Kaz nói.

    “Và một cây cầu,” Wylan đế thêm.

    “Và tất cả những gì chúng ta cần cho nổ giữa hai cái đó,” Jesper phụ hoạ.

    “Mọi người im đi,” Matthias gầm lên.

    Jesper nhún vai bình phẩm.

    “Đúng là dân Fjerda.”

    “Chuyện này không làm tôi thích chút nào,” Nina lên tiếng.

    Kaz nhướng mày.

    “Ờ, ít nhất cô và Helvar cũng có cái để đồng tình.”

    •••

    Họ đi xa hơn về phía nam.

    Bờ biển đã khuất hẳn, băng tuyết càng lúc càng bị chọc thủng nhiều hơn bởi những vạt rừng, các vệt đất đen và dấu chân thú, bằng chứng của sự sống.

    Trái tim của Djel vẫn đập.

    Những người kia cứ hỏi mãi không dứt.

    “Có bao nhiêu tháp canh trên Bạch Đảo?”

    “Anh có nghĩ Yul-Bayur đang ở trong lâu đài không?”

    “Trên Bạch Đảo có mấy trại lính.

    Nếu ông ta bị giam trong đó thì sao?”

    Jesper và Wylan tranh luận về loại thuốc nổ có thể tổng hợp được từ các hoá chất trong xưởng giặt, và việc liệu họ có thể xoáy được ít thuốc súng trong khu vực toà đại sứ hay không.

    Nina thì cố giúp Inej ước lượng tốc độ leo ống khói cần thiết để có đủ thời gian buộc dây thừng và giúp những người khác lên được mái nhà.

    Bọn họ liên tục ôn bài cho nhau về kiến trúc và các quy trình của lâu đài, cách bố trí của ba cổng thành, mỗi cái đều có kèm một sân trong.

    “Chốt kiểm soát đầu tiên?”

    “Bốn lính.”

    “Chốt thứ hai?”

    “Tám lính.”

    “Cổng thành tròn thì sao?”

    “Bốn lính khi không hoạt động.”

    Họ giống như dàn đồng ca điên rồ của những con quạ, cứ liên tục quàng quạc vào tai anh: Phản bội, phản bội, phản bội.

    “Quy trình Vàng là gì?”

    Kaz hỏi.

    “Khu vực có lộn xộn,” Inej đáp.

    “Quy trình Đỏ?”

    “Khu vực bị đột nhập.”

    “Quy trình Đen?”

    “Tất cả chúng ta tiêu,” Jesper nói.

    “Đúng đó,” Matthias lên tiếng, tay xốc lại cái mũ trùm đầu và lê bước đi trước nhóm người.

    Bọn họ thậm chí còn ép anh bắt chước những kiểu đổ chuông khác nhau.

    Một sự cần thiết, nhưng anh cảm thấy thật ngớ ngẩn khi cứ phải ngâm nga: “Bing bong bing bing bong.

    Không phải, bing bing bong bing bing.”

    “Khi tôi có nhiều tiền,” Jesper cất tiếng phía sau lưng anh.

    “Tôi sẽ đi tới một nơi mà tôi không bao giờ phải thấy tuyết nữa.

    Thế còn cậu, Wylan?”

    “Tôi không biết.”

    “Tôi nghĩ cậu nên mua một cái đàn bằng vàng…”

    “Sáo chứ.”

    “Và chơi nhạc trên một chiếc thuyền du lịch.

    Cậu có thể đậu nó trên đoạn kênh ngay trước nhà cha cậu.”

    “Nina có thể hát,” Inej xen vào.

    “Chúng ta sẽ song ca,” Nina chỉnh lại.

    “Cha cậu sẽ phải dọn nhà đi nơi khác.”

    Cô ta đúng là có một giọng hát dở tệ.

    Anh thấy ghét chính mình khi biết điều đó, nhưng không thể không liếc nhìn qua vai.

    Mũ trùm của Nina đã tuột ra sau đầu, để cho mái tóc dày lượn sóng đổ xuống cổ áo.

    Sao mình cứ làm chuyện này vậy?

    Anh bực bội nghĩ thầm.

    Ở trên tàu cũng thế.

    Anh đã dặn mình phớt lờ cô, nhưng mắt anh cứ đi tìm cô.

    Thật ngu ngốc khi vờ như cô không tồn tại trong đầu anh.

    Anh và Nina đều từng cùng nhau đi qua khu vực này.

    Nếu anh tính đúng thì họ đã trôi dạt vào bờ cách điểm cập bến của chiếc Ferolind vài cây số.

    Mọi chuyện bắt đầu với một cơn bão, và theo cách nào đó cơn bão ấy chưa bao giờ ngừng lại.

    Nina đã đổ bộ vào cuộc đời anh mang theo mưa gió, làm chao đảo thế giới của anh.

    Anh mất cân bằng kể từ đó.

    •••

    Cơn bão từ đâu ập tới, xoay vần con tàu như một món đồ chơi trên sóng nước.

    Biển hùa theo cho đến khi phát chán và nhấn chìm con tàu của họ giữa một đống buồm chão cùng những con người la hét.

    Anh còn nhớ sự tăm tối của làn nước, cái lạnh khủng khiếp, sự im lặng của đáy sâu.

    Điều tiếp theo mà anh nhớ là anh khạc nhổ nước mặn, hổn hển hít thở.

    Ai đó đã quàng tay quanh ngực anh, và cả hai trôi dạt theo dòng nước.

    Cái lạnh thật không thể chịu nổi nhưng không hiểu sao anh vẫn cầm cự được.

    “Dậy đi, đồ cơ bắp vô dụng.”

    Thứ ngôn ngữ Fjerda rõ ràng, chuẩn xác với âm sắc của giới quý tộc.

    Matthias quay đầu lại và sốc nặng khi nhận ra cô gái phù thuỷ mà họ đã bắt được ở bờ biển phía nam đảo Wandering đang túm lấy anh, miệng lẩm nhẩm nói chuyện với chính mình bằng tiếng Ravka.

    Anh đã biết trước cô ta không phải là người Kaelish.

    Không hiểu sao cô ta đã tự cởi trói và thoát ra khỏi cái lồng.

    Toàn bộ cơ thể anh rơi vào tình trạng hoảng loạn.

    Nếu không quá sốc và tê liệt, anh đã chống cự lại cô ta.

    “Nhúc nhích đi,” cô ta ra lệnh cho anh bằng tiếng Fjerda, giữa hơi thở hổn hển.

    “Thánh thần ơi, bọn họ nuôi anh ăn bằng gì vậy?

    Anh nặng như một cái xe chất đầy cỏ khô.”

    Cô gái cũng đang vất vả bơi để cứu cả hai người.

    Sao cô ta lại cứu mạng anh?

    Anh ngọ nguậy người, đạp chân để giúp cô đưa cả hai tiến tới.

    Anh ngạc nhiên khi nghe thấy cô bật khóc.

    “Tạ ơn các thánh thần.

    Bơi đi, đồ to xác.”

    “Ta đang ở đâu đây?”

    Anh hỏi.

    “Tôi không biết,” cô đáp, sự sợ hãi lộ rõ trong giọng nói.

    Anh quẫy chân tìm cách thoát ra.

    “Đừng!”

    Cô la lên.

    “Đừng bỏ đi!”

    Nhưng anh đạp mạnh, thoát ra khỏi vòng tay ôm của cô.

    Ngay lập tức, cái lạnh ùa vào.

    Cơn đau đột ngột bùng lên, và tay chân anh xuội lơ.

    Cô ta đã sử dụng ma thuật của mình để giữ ấm cho anh.

    Anh vươn tay tìm cô trong bóng tối.

    “Drüsje?”

    Anh gọi, xấu hổ vì sự sợ hãi trong giọng nói của mình.

    Đó là chữ “phù thuỷ” trong ngôn ngữ Fjerda, vì anh không biết tên cô.

    “Drüskelle!” cô la lên, và anh cảm thấy ngón tay mình chạm nhẹ tay cô trong làn nước tối đen.

    Anh vội túm lấy cô, lôi cô về phía mình.

    Cơ thể cô không thật ấm áp, nhưng ngay khi họ chạm nhau, cơn đau ở tay chân anh lập tức dịu đi.

    Anh bị giằng xé giữa cảm giác biết ơn và sự kinh tởm.

    “Chúng ta phải vào bờ,” cô hổn hển nói.

    “Tôi không thể vừa bơi vừa giữ nhịp cho hai quả tim của chúng ta được.”

    “Tôi sẽ bơi,” anh nói.

    “Cô…

    Tôi sẽ bơi.”

    Anh ấp lưng cô vào ngực mình, và vòng tay ôm ngang người cô, giống như cách cô ôm anh lúc nãy.

    Như thể cô đang chìm.

    Mà đúng thế thật, cả cô lẫn anh đều đang chết đuối, hoặc sắp chết đến nơi, nếu họ không chết vì lạnh trước.

    Anh khua chân đều đặn, cố không phung phí quá nhiều năng lượng, nhưng cả hai người đều biết có tiết kiệm sức cũng vô ích.

    Họ không ở quá xa đất liền khi cơn bão ập tới, nhưng lúc này quanh họ tối đen như mực.

    Có thể họ đang tiến vào bờ, mà cũng có thể đang ra ngoài khơi.

    Biển đêm không có âm thanh nào khác ngoài tiếng thở của hai người, tiếng quẫy nước và những con sóng ì oạp.

    Anh tiếp tục giữ cho họ di chuyển - rất có thể là theo một vòng tròn - còn cô giữ cho họ thở đều.

    Không biết ai sẽ buông xuôi trước.

    “Sao cô lại cứu tôi?”

    Cuối cùng anh hỏi.

    “Đừng có phí sức.

    Không nói chuyện.”

    “Sao cô làm điều đó?”

    “Vì anh là một con người,” cô bực bội đáp.

    Nói dối.

    Nếu họ vào bờ, cô sẽ cần một người Fjerda để sinh tồn, một người biết rõ vùng đất này, mặc dù rõ ràng cô nói được ngôn ngữ của nó.

    Dĩ nhiên rồi.

    Tất cả bọn cô đều là những kẻ lừa gạt, rặt một lũ gián điệp được huấn luyện để bắt những người không có năng lực siêu nhiên như anh.

    Bọn cô là loài thú săn mồi.

    Anh tiếp tục đạp chân, nhưng cơ bắp của anh đang rệu rã, và anh có thể cảm thấy cái lạnh len lỏi vào cơ thể.

    “Đã bỏ cuộc rồi sao, phù thuỷ?”

    Anh cảm thấy cô lắc lắc cho tỉnh táo, và máu lại tràn vào các đầu ngón tay ngón chân của anh.

    “Tôi sẽ theo nhịp của anh, drüskelle.

    Nếu chúng ta chết, chuyện này sẽ là gánh nặng anh phải mang ở kiếp sau.”

    Anh mỉm cười khi nghe cô ta nói như thế.

    Rõ ràng cô rất gan lì.

    Điều đó đã được chứng tỏ ngay cả khi cô bị nhốt trong lồng.

    Cứ thế họ cầm cự suốt đêm, người này chế nhạo người kia mỗi khi một trong hai tỏ ra xuống sức.

    Họ chỉ thấy biển cùng băng, và thỉnh thoảng là những cú nhồi của sóng hoặc của một con vật đói mồi lao vào họ.

    “Nhìn kìa,” cô gái phù thuỷ thì thào khi bình minh ló dạng, hồng hào, tươi tắn.

    Phía đằng xa, anh có thể trông thấy đường nét lởm chởm của băng và vệt đen huyền diệu của một bãi đá.

    Đất liền.

    Họ không phí thời gian để ăn mừng.

    Cô gái ngửa đầu ra sau, tựa vào vai anh, trong khi anh đạp chân, đưa họ nhích từng chút một.

    Sóng lôi họ lại, như thể biển cả không muốn buông tha.

    Cuối cùng, chân họ cũng chạm được đáy biển, cả hai nửa bơi nửa bò lết vào bờ.

    Họ tách nhau ra, và cơ thể Matthias cảm thấy khốn khổ tột cùng trong khi anh vượt qua những tảng đá đen để bước lên mảnh đất chết chóc băng giá.

    Lúc đầu, việc bước đi là điều không thể.

    Hai người di chuyển từng chút một, cố gắng bắt tay chân nghe lời, run lẩy bẩy vì lạnh.

    Cuối cùng, anh đứng dậy trên đôi chân.

    Anh đã định cứ thế bỏ đi tìm một chỗ trú ẩn, mặc kệ cô.

    Cô ta đang bò bằng tay và đầu gối, đầu gục xuống, mái tóc ướt rối bù che hết mặt.

    Anh có cảm giác mơ hồ rằng cô sắp gục xuống và không gượng dậy nữa.

    Anh bước một bước, rồi một bước nữa.

    Và anh quay lại.

    Dù có thế nào thì cô cũng đã cứu mạng anh đêm qua, không chỉ một lần, mà hết lần này tới lần khác.

    Đó là một món nợ máu.

    Anh loạng choạng tiến về phía cô và chìa tay ra.

    Khi cô ngước lên nhìn anh, khuôn mặt cô là một tổng hoà nhạt nhòa của sự ghê tởm và kiệt quê.

    Trong ánh mắt cô, anh thấy vẻ xấu hổ song hành với sự cảm kích, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, cô là tấm gương phản chiếu chính anh.

    Cô cũng không muốn nợ anh bất cứ điều gì.

    Anh có thể quyết định thay cô.

    Anh nợ cô điều đó.

    Anh cúi xuống và đỡ cô đứng dậy, rồi hai người tập tễnh rời khỏi bãi biển.

    Họ đi về phía mà anh hi vọng là hướng tây.

    Mặt trời phương bắc có thể đánh lừa sự định hướng của người ta, mà họ thì không có la bàn.

    Trời khá tối, và Matthias bắt đầu cảm thấy hoảng sợ thực sự, nhưng đúng lúc đó, họ trông thấy lều trại đầu tiên của những người săn cá voi.

    Nó trống vắng những tiền đồn này chỉ hoạt động vào mùa xuân - và chẳng có gì ngoài một túp lều tròn làm bằng xương, đất và da thú.

    Nhưng một nơi trú ẩn đồng nghĩa với việc ít nhất họ cũng sống sót qua đêm.

    Cửa lều không khoá.

    Họ gần như ngã nhào vào bên trong.

    “Cảm ơn anh,” cô rên rỉ trong lúc đổ gục xuống bên cạnh lò sưởi tròn.

    Anh không đáp.

    Tìm được cái lều này thật đúng là may mắn.

    Nếu dạt vào bờ ở xa hơn vài dặm chỗ này, họ sẽ cầm chắc cái chết.

    Những người săn cá voi đã để sẵn than bùn và củi khô trong lò.

    Matthias ra sức nhóm lửa, cố gắng để cho lửa bốc lên thay vì toả khói mù mịt.

    Anh vụng về, mệt mỏi và đói đến mức có thể ăn chính đôi giày của mình.

    Khi nghe thấy tiếng sột soạt phía sau lưng, anh quay lại và suýt đánh rơi thanh củi của mình.

    “Cô đang làm cái gì thế?”

    Anh la lên.

    Cô ngoái đầu qua đôi vai trần và đáp: “Thế anh tưởng tôi làm gì?”

    “Mặc quần áo vào!”

    Cô đảo mắt.

    “Tôi sẽ không chịu chết cóng chỉ để giữ thể diện cho anh.”

    Anh quắc mắt nhìn đống lửa, nhưng cô phớt lờ anh và tiếp tục cởi nốt những trang phục còn lại trên người - áo tunic, quần dài, thậm chí cả đồ lót - trước khi quấn mình bằng tầm da tuần lộc bẩn thỉu nằm chất đống gần cửa.

    “Thánh thần ơi, cái mùi này,” cô càu nhàu rồi đi tới đi lui, gom các tấm da và chăn mền lại thành một cái ổ bên cạnh đống lửa.

    Mỗi khi cô di chuyển, tấm da tuần lộc lại hở ra, để lộ một khoảng bắp vế, làn da trắng, khe ngực sâu.

    Rõ là cố ý.

    Anh biết mà.

    Cô đang tìm cách lung lạc anh.

    Anh cần phải tập trung vào đống lửa.

    Anh đã suýt chết, và nếu không làm cho lửa bùng lên được, anh vẫn có thể chết.

    Giá như cô không gây ồn ào nhiều như thế.

    Thanh củi rên kêu răng rắc trong tay anh.

    Nina bật cười và nằm xuống cái ổ vừa làm xong, tựa người trên một khuỷu tay.

    “Thánh thần ơi, drüskelle à, anh bị làm sao thế?

    Tôi chỉ muốn được ấm thôi.

    Tôi hứa sẽ không cưỡng hiếp anh trong lúc anh ngủ đâu.”

    “Tôi không sợ cô,” anh bực bội đáp.

    Nụ cười của cô thật đồi bại.

    “Thế thì anh cũng ngu ngốc y như vẻ ngoài của mình.”

    Anh tiếp tục khom người bên cạnh đống lửa.

    Anh biết mình phải nằm cạnh cô.

    Mặt trời đã lặn và nhiệt độ đang hạ xuống.

    Anh vẫn đang cố giữ cho răng không đánh lập cập.

    Họ cần hơi ấm của nhau để sống sót qua đêm nay.

    Lẽ ra anh chẳng có gì phải bận tâm, nhưng anh không muốn gần cô.

    Bởi vì cô ta là một kẻ sát nhân, anh tự nhắc mình.

    Lí do là vậy đấy.

    Một kẻ sát nhân, một ả phù thuỷ.

    Anh cố ép mình đứng lên và tiến về phía mấy tấm mền.

    Nhưng Nina đã giơ tay ra ngăn anh lại.

    “Đừng có đến gần tôi trong bộ đồ đấy.

    Anh đang ướt sũng!”

    “Cô có thể giữ cho máu chúng ta tiếp tục chảy.”

    “Tôi mệt rồi,” cô bực bội đáp.

    “Và khi tôi ngủ thiếp đi, chúng ta sẽ cần đống lửa kia để giữ ấm.

    Tôi có thể thấy anh đang run lẩy bẩy.

    Không lẽ anh chàng Fjerda nào cũng e thẹn như thế này sao?”

    Không.

    Có thể.

    Anh không biết.

    Drüskelle là một đội ngũ thiêng liêng.

    Họ phải sống chay tịnh cho đến khi lấy vợ - những người phụ nữ Fjerda tử tế, không quát vào mặt người khác và buộc người ta cởi đồ.

    “Thế mọi Grisha đều táo tợn như cô à?”

    Anh hỏi lại.

    “Con trai và con gái được huấn luyện cùng nhau trong cả Thượng Quân lẫn Hạ Quân.

    Thật sự không có chỗ cho sự thẹn thùng đâu.”

    “Phụ nữ đánh nhau là một chuyện phi tự nhiên.”

    “Thật phi tự nhiên là khi có một kẻ vừa cao vừa ngốc như cái người đang đứng trước mặt tôi.

    Anh bơi ngần ấy cây số để rồi chết rét trong cái lán này à?”

    “Đây là một cái lều, mà làm sao cô biết chúng ta đã bơi bao nhiêu cây số?”

    Nina bực bội thở hắt ra rồi co người nằm nghiêng, nhích lại gần đống lửa nhất có thể.

    “Tôi chẳng có hơi sức để tranh cãi với anh.”

    Cô nhắm mắt lại.

    “Thật không thể tin nổi khuôn mặt anh lại chính là thứ tôi nhìn thấy sau cùng trước khi chết.”

    Cảm thấy như cô đang thách thức, anh đứng đó, căm ghét cô vì đã khiến anh có cảm giác mình thật ngu ngốc.

    Rồi anh quay lưng về phía cô và nhanh chóng trút bỏ bộ quần áo ướt sũng, trải chúng ra bên cạnh đống lửa.

    Anh liếc nhanh để bảo đảm cô không nhìn, rồi đi tới đống chăn mền và chui vào trong, cố giữ khoảng cách với cái lưng của cô.

    “Gần nữa vào, drüskelle” cô dài giọng chế nhạo.

    Anh quàng một cánh tay qua người cô, áp lưng cô vào ngực mình.

    Cô buột miệng kêu lên và khó chịu cựa mình.

    “Đừng có nhúc nhích,” anh lẩm bẩm.

    Anh đã từng gần gũi với các cô gái - không nhiều, phải thừa nhận như vậy - nhưng chẳng có ai giống như cô.

    Những đường cong của cô thật là khiêm nhã.

    “Anh vừa lạnh vừa ướt,” cô run rẩy phàn nàn.

    “Giống như tôi đang nằm cạnh một con mực vạm vỡ ấy.”

    “Thì cô bảo tôi xích vào còn gì!”

    “Dịch ra một chút đi.”

    Khi anh làm theo, cô quay người lại, đối mặt với anh.

    “Cô đang làm cái gì vậy?”

    Anh hỏi và hốt hoảng lùi ra.

    “Thư giãn nào, drüskelle.

    Đây không phải là nơi để tôi làm này làm nọ với anh đâu.”

    Đôi mắt xanh của anh nheo lại.

    “Tôi không thích cách ăn nói của cô.”

    Có phải anh đang tưởng tượng ra sự đau đớn vừa vụt qua trên nét mặt cô?

    Như thể câu nói của anh có ảnh hưởng nào đó với cô phù thuỷ này vậy.

    Cô xác nhận anh chỉ tưởng tượng khi đáp trả: “Anh tưởng tôi thèm bận tâm xem anh thích hay không thích cái gì à?”

    Cô đặt hai bàn tay mình lên ngực anh, tập trung vào trái tim anh.

    Lẽ ra anh không nên để cô làm như vậy, không nên cho cô thấy sự yếu đuối của anh, nhưng khi dòng máu của anh chảy mạnh hơn và cơ thể nóng ấm lại, sự nhẹ nhõm dễ chịu mà nó gây ra thật khó cưỡng.

    Anh thả lỏng một chút, dù miễn cưỡng, dưới bàn tay cô.

    Cô quay người lại và kéo tay anh vòng qua người mình.

    “Không có chi, đồ ngốc.”

    Anh đã nói dối.

    Anh thích cách nói chuyện của cô.

    •••

    Và bây giờ vẫn thế.

    Anh có thể nghe thấy Nina thì thào gì đó với Inej sau lưng anh.

    Cô đang dạy cho cô gái Suli vài từ Fjerda.

    “Không phải.

    Hringkaaalle.

    Em phải kéo dài âm cuối ra một chút.”

    “Hringalah?”

    Inej thử lại.

    “Khá hơn, nhưng là thế này…

    Tiếng Kerch giống như con linh dương nhảy từ chữ này sang chữ khác, còn tiếng Fjerda giống như chim mòng biển, hết chao liệng lại lao bổ xuống.”

    Bàn tay Nina giống như cánh chim lướt trong gió.

    Đúng lúc đó, cô ngước nhìn lên và bắt gặp ánh mắt anh.

    Matthias hắng giọng.

    “Đừng có ăn tuyết đấy,” anh đe.

    “Nó sẽ càng làm các cô bị mất nước và hạ thân nhiệt.”

    Anh tiến tới trước, hăm hở leo lên quả đồi kế tiếp để gia tăng khoảng cách giữa họ.

    Nhưng ngay khi lên đến nơi, anh chết sững.

    Matthias quay lại, giơ hai tay ra.

    “Dừng lại!

    Mọi người sẽ không m…”

    Nhưng đã quá trễ.

    Nina đưa tay bịt miệng.

    Inej làm dấu thánh.

    Jesper lắc đầu, còn Wylan nôn khan.

    Kaz đứng im như tảng đá, khuôn mặt trơ lì.

    Giàn thiêu được đặt trên một đoạn dốc.

    Kẻ làm ra nó đã tìm cách đặt đống lửa bên dưới một tảng đá, nhưng như vậy không đủ để giữ cho lửa khỏi bị gió thổi tắt.

    Ba cái cọc đã được cắm xuống mặt đất băng giá, và trên cọc là ba thi thể cháy đen, lớp da nứt nẻ đen ngòm vẫn đang cháy âm ỉ.

    “Ghezen,” Wylan văng tục.

    “Cái gì vậy?”

    “Đây là điều mà người Fjerda làm với các Grisha,” Nina đáp.

    Khuôn mặt cô chùng xuống, đôi mắt xanh lục nhìn trân trối.

    “Chỉ có bọn tội phạm mới làm như thế này,” Matthias nói, ruột gan quặn lên.

    “Hoả thiêu người là hành vi phạm pháp kể từ khi…”

    Nina lao tới đẩy mạnh vào ngực anh.

    “Sao anh dám…” cô rít lên, sự phẫn nộ bùng cháy như một quầng sáng quanh cô.

    “Hãy nói cho tôi biết lần cuối cùng có ai đó bị xử tội vì thiêu chết một Grisha là khi nào.

    Các anh có gọi là sát nhân không khi các anh coi chuyện đó giống như giết một con chó?”

    “Nina…”

    “Anh có gọi nó là hành vi nào khác không, khi giết chóc với bộ quân phục trên người?”

    Đúng lúc đó họ nghe thấy tiếng động - một tiếng rên, nhẹ như tiếng gió rít.

    “Thánh thần ơi,” Jesper thốt lên.

    “Một trong số họ còn chưa chết.”

    Âm thanh đó lại vang lên, nhỏ và ai oán, từ thi thể ngoài cùng bên phải.

    Không thể xác định được đó là một người đàn ông hay đàn bà.

    Mái tóc đã cháy trụi, bộ quần áo dính sát vào cơ thể.

    Những mảng da đen đúa bị bong ra ở nhiều chỗ, phơi bày lớp xương trắng hếu.

    Tiếng nức nở bật ra từ cổ họng Nina, cô giơ tay lên, nhưng hai bàn tay quá run khiến cô không thể dùng năng lực của mình để chấm dứt sự thống khổ của nạn nhân.

    Cô quay đôi mắt rưng rưng lệ về phía những người khác.

    “Tôi… ai đó… xin làm ơn…”

    Jesper là người đầu tiên hành động.

    Hai phát súng vang lên, và thi thể lặng phắt.

    Jespei- cất súng vào bao.

    “Mẹ kiếp, Jesper,” Kaz cằn nhằn.

    “Cậu vừa mới thông báo về sự hiện diện của ta ra cả cây số quanh đây.”

    “Thì họ sẽ nghĩ chúng ta chỉ là một toán thợ săn.”

    “Cậu nên để cho Inej làm chuyện đó.”

    “Tôi đâu có muốn làm,” Inej đáp khẽ.

    “Cảm ơn anh, Jesper.”

    Quai hàm Kaz siết lại, nhưng cậu ta không nói gì nữa.

    “Cảm ơn anh,” Nina thốt lên.

    Đoạn cô lao tới trước trên nền đất lạnh cứng, lần theo dấu vết của con đường giữa lớp tuyết trắng.

    Cô sụt sịt khóc, vừa đi vừa vấp váp.

    Matthias vội bám theo cô.

    Ở đây có khá ít dấu mốc nên họ rất dễ bị lạc đường.

    “Nina, cô không thể tách nhóm…”

    “Anh quay lại vì điều này hả, Helvar?” cô nói với giọng gay gắt.

    “Đây chính là đất nước mà anh khao khát được phục vụ đấy.

    Nó có làm anh thấy tự hào không?”

    “Tôi chưa bao giờ thiêu chết một Grisha nào.

    Họ được đem ra xét xử trong những phiên toà công bằng…”

    Cô quay phắt lại, những giọt lệ đóng băng lấp lánh trên má cô.

    “Vậy thì tại sao chưa từng có bất kì Grisha nào được tuyên vô tội sau những phiên toà mà anh coi là công bằng đó?”

    “Tôi…”

    “Bởi vì tội của chúng tôi là tồn tại.

    Tội của chúng tôi là bản thân chúng tôi.”

    Matthias lặng thinh.

    Anh bị giằng xé giữa sự xấu hổ vì điều mình sắp nói, và nhu cầu phải nói ra những câu chữ đã được dạy, những điều vẫn còn đúng đối với anh.

    “Nina à, cô có bao giờ nghĩ rằng có lẽ… các cô không nên tồn tại?”

    Đôi mắt Nina nháng lửa.

    Cô bước một bước về phía anh, và Matthias có thể cảm thấy cơn giận ngùn ngụt toả ra từ cô.

    “Có khi chính các anh mới không nên tồn tại đó, Helvar.

    Yếu đuối và

    nhu nhược, với cuộc đời ngắn ngủi và những định kiến đáng buồn của các anh.

    Các anh tôn thờ thần rừng và thần băng giá, những thứ chẳng bao giờ xuất hiện, trong khi bản thân lại chăm chăm đi xoá bỏ các năng lực có thực.”

    “Đừng chế nhạo những điều mà cô không hiểu.”

    “Sự nhạo báng của tôi làm anh bận lòng à?

    Dân tộc tôi sẵn sàng chào đón nụ cười của các anh thay vì những hành vi man rợ này.”

    Một sự thoả mãn vụt xuất hiện trên gương mặt Nina.

    “Ravka đang được tái thiết.

    Hạ Quân cũng thế, và khi đó, tôi mong họ sẽ dành cho các anh một phiên toà công bằng mà các anh đáng được nhận.

    Tôi mong họ sẽ xích dám drüskelle các anh lại rồi bắt mấy người đứng nghe những tội ác đã gây ra, để cả thế giới này sáng mắt về sự độc ác của các anh.”

    “Nếu cô mong chờ sự trỗi dậy của Ravka đến thế, sao bây giờ cô còn chưa quay lại đó?”

    “Vì tôi muốn anh được ân xá, Helvar.

    Tôi muốn anh ở đây khi Hạ Quân tiến lên phía bắc và càn quét từng tấc đất của cái xứ khô cằn sỏi đá này.

    Tôi mong họ sẽ đốt cháy những cánh đồng của bọn anh và rắc muối xuống đất.

    Tôi mong họ sẽ đưa bạn bè và gia đình anh lên giàn thiêu.”

    “Bọn họ đã làm điều đó rồi, Zenik.

    Mẹ tôi, cha tôi, em gái bé bỏng của tôi.

    Tiết Hoả Sư, đám binh sĩ Grisha yêu quý các cô, những kẻ tàn bạo đó đã đốt sạch ngôi làng của chúng tôi.

    Tôi chẳng còn gì để mất nữa.

    Nina bật cười một cách cay đắng.

    “Có lẽ thời gian ngồi tù của anh ở Cổng Địa Ngục còn chưa đủ dài, Matthias.

    Anh luôn có thứ để mất.

    20

    NINA

    Mình có thể ngửi thấy họ.

    Nina vỗ vào mái tóc và quần áo của mình trong lúc loạng choạng băng qua tuyết, cố gắng không nôn oẹ.

    Cô vẫn chưa thể xoá đi hình ảnh của những thi thể đó, chỗ thịt đỏ nhức nhối ló ra qua lớp vỏ cháy đen như những hòn than trong lò.

    Có cảm giác như cô bị quấn trong lớp tro của họ, trong mùi da thịt cháy khét.

    Cô không tài nào hít thở được.

    Việc gần gũi Matthias khiến cô dễ quên đi con người thực của anh ta, cũng như suy nghĩ thực sự của anh ta về cô.

    Sáng nay cô lại vừa biến đổi anh ta, vừa chịu đựng ánh mắt trừng trừng và những tiếng càu nhàu.

    Không, cô thích thú mới đúng, cô vui vì có cớ được ở gần anh ta, và hài lòng một cách lố bịch mỗi khi làm cho anh ta suýt bật cười.

    Thánh thần ơi, sao mình lại bận lòng như vậy?

    Tại sao chỉ một nụ cười của Matthias Helvar cũng đủ cho cô cảm giác tương đương với năm mươi nụ cười của người khác?

    Cô cảm thấy tim anh ta đập dồn dập hơn khi bị cô ấn ngửa đầu ra để chỉnh sửa màu mắt.

    Cô đã nghĩ đến chuyện hôn anh ta.

    Cô muốn hôn Matthias, và cô dám chắc anh ta cũng có cùng suy nghĩ.

    Hoặc là anh ta chỉ đang nghĩ tới chuyện bóp cổ mình một lần nữa.

    Cô chưa quên điều Matthias nói lúc ở trên chiếc Ferolind, khi anh ta hỏi xem cô định làm gì với Bo Yul-Bayur, và liệu cô có thực sự muốn giao nộp ông ta cho Kerch hay không.

    Nếu cô phá hỏng phi vụ của Kaz, liệu Matthias có còn được ân xá không?

    Cô không thể làm điều đó.

    Bất luận anh ta là thế nào, cô cũng nợ anh sự tự do.

    Trong ba tuần lễ sau vụ đắm tàu, cô đi với Matthias.

    Họ không có la bàn, không biết mình đi đâu.

    Họ thậm chí còn không rõ đã dạt vào vị trí nào của bờ biển phía bắc.

    Họ dành những ngày dài đằng đẵng để nhọc nhằn băng qua tuyết, những đêm lạnh lẽo trong hốc trú ẩn sơ sài tự dựng, hoặc trong lều trại bỏ hoang của cánh thợ săn cá voi nếu gặp may.

    Họ ăn tảo biển nướng hoặc bất kì loại nấm và cây cỏ nào tìm được.

    Khi họ tìm thấy nơi cất giấu thịt tuần lộc khô ở dưới đáy của một cái balô trong một lều trại, nó giống như một phép màu.

    Hai người nhai thịt trong sự sung sướng câm lặng, gần như say sưa vì mùi vị của nó.

    Sau đêm đầu tiên, họ đi ngủ với bộ quần áo khô và những tấm chăn mền tìm được, ở hai phía của đống lửa.

    Nếu thiếu củi, họ nằm co quắp cạnh nhau, gần như chỉ chạm hờ, nhưng đến sáng, họ áp sát vào nhau, hít thở cùng một nhịp, mơ màng trong giấc ngủ tựa một mảnh trăng lưỡi liềm.

    Mỗi sáng Matthias đều phàn nàn rằng anh không tài nào đánh thức cô được.

    “Cứ như cố dựng một xác chết đứng lên vậy.”

    “Cái xác xin thêm năm phút,” cô đáp như thế và vùi đầu vào trong tấm da thú.

    Anh cứ giậm chân đi loanh quanh, thu dọn chỗ hành lí ít ỏi của họ một cách thật ồn ào, miệng lẩm bẩm “Làm biếng, nực cười, ích kỉ…” cho tới khi cô ngồi dậy và bắt tay vào việc sửa soạn cho một ngày mới.

    “Điều đầu tiên anh làm khi về nhà là gì?”

    Một hôm cô đã hỏi anh như thế trong lúc họ đi bộ trên tuyết, cố tìm dấu hiệu của nền văn minh.

    “Ngủ,” anh đáp.

    “Tắm.

    Cầu nguyện cho những người bạn đã mất.”

    “Phải rồi, những gã sát nhân cục súc kia.

    Mà này, làm thế nào anh lại trở thành drüskelle?”

    “Đám Grisha bạn cô đã tàn sát gia đình tôi trong một trận càn,” anh đáp với giọng lạnh lùng.

    “Chỉ huy Brum đã đỡ đầu tôi và cho tôi một mục tiêu để chiến đấu.”

    Nina không muốn tin, nhưng cô biết có khả năng đó.

    Trong những trận chiến, nhiều người vô tội vẫn thiệt mạng vì tên bay đạn lạc.

    Nhưng cô không thích nghĩ đến con quái vật mang tên Brum đó dưới hình ảnh của một người cha.

    Tranh cãi hay xin lỗi đều không đúng, nên cô đã nói suy nghĩ đầu tiên hiện lên trong đầu mình.

    “Jer molle pe oonet.

    Enel mörd je nej ajva trohem verret.’’ Tôi được sinh ra để bảo vệ Người.

    Chỉ có cái chết mới ngăn tôi thực hiện lời thề này.

    Matthias đã trố mắt nhìn cô một cách sửng sốt.

    “Đó là lời thề của các drüskelle đối với Fjerda.

    Làm sao cô biết được nó?”

    “Tôi đã cố tìm hiểu về Fjerda nhiều nhất có thể.”

    “Tại sao?”

    Cô hơi do dự một chút trước khi đáp: “Như thế tôi sẽ không sợ các anh.”

    “Cô có tỏ ra sợ hãi đâu.”

    “Vậy anh có sợ tôi không?”

    Cô hỏi.

    “Không.”

    Matthias có vẻ bất ngờ với chính câu trả lời của mình.

    Trước đó anh cũng đã tuyên bố như vậy.

    Lần này thì cô tin anh.

    Cô cố gắng nhắc nhở bản thân rằng đó không phải là một điều tốt.

    Họ đã đi tiếp một lúc, trước khi anh hỏi: “Thế điều đầu tiên mà cô sẽ làm là gì?”

    “Ăn.”

    “Ăn gì?”

    “Mọi thứ.

    Bắp cải nhồi, khoai tây hấp, bánh phúc bồn tử đen, bánh kiều mạch vỏ chanh.

    Tôi rất nóng lòng muốn nhìn thấy khuôn mặt của Zoya khi bước vào Tiểu Điện.”

    “Zoya Nazyalensky?”

    Nina khựng lại.

    “Anh biết chị ấy sao?”

    “Tất cả chúng tôi đều biết.

    Cô ta là một phù thuỷ hùng mạnh.”

    Lúc đó cô mới hiểu ra rằng với các drüskelle, Zoya cũng gần giống như Jarl Brum - tàn nhẫn, bất nhân, rình rập người ta trong bóng tối với cái chết trên tay.

    Zoya là con quái vật trong mắt Matthias.

    Suy nghĩ đó khiến cô thấy không thoải mái.

    “Cô thoát ra khỏi lồng như thế nào?”

    Nina chớp chớp mắt.

    “Sao cơ?”

    “Ở trên tàu ấy.

    Cô đã bị trói và nhốt trong lồng.”

    “Nhờ ca nước.

    Quai của nó bị gãy, nên chúng tôi dùng cạnh sắc lởm chỏm đó để cắt đứt dây trói.

    Một khi đôi tay của chúng tôi đã tự do thì…”

    Nina vụng về im bặt.

    Matthias nhíu mày.

    “Các cô đã định tấn công chúng tôi.”

    “Bọn tôi định sẽ hành động vào đêm hôm đó.”

    “Nhưng cơn bão đã ập tới.”

    “Phải.”

    Một Tiết Khí Sư và một Sáng Chế Gia đã khoét một cái lỗ trên boong tàu, và bọn họ bơi ra ngoài.

    Nhưng liệu có ai trong số đó sống sót giữa làn nước lạnh giá hay không?

    Họ có vào được đất liền không?

    Cô rùng mình.

    Nếu không có cái ca nước, chắc cô đã chết đuối trong lồng.

    “Thế các drüskelle ăn gì?”

    Cô hỏi và guồng chân bước nhanh hơn.

    “Ngoài các em bé Grisha?”

    “Chúng tôi không ăn thịt trẻ con!”

    “Mỡ cá heo hay móng tuần lộc?”

    Cô thấy miệng anh cong lên và tự hỏi anh đang buồn nôn hay đang cố nín cười.

    “Chúng tôi ăn rất nhiều cá.

    Cá trích, cá tuyết muối, và cả tuần lộc nữa, nhưng không ăn móng của chúng.”

    “Thế còn bánh ngọt?”

    “Sao cô lại hỏi thế?”

    “Vì tôi rất thích bánh.

    Tôi đang tự hỏi liệu chúng ta có tìm được điểm chung nào không.”

    Anh nhún vai.

    “Ồ, coi nào, anh chàng drüskelle,” cô nói.

    Họ vẫn chưa cho nhau biết tên, và cô không chắc là họ nên làm điều đó.

    Dẫu sao thì, nếu sống sót được, họ sẽ tới một thị trấn hoặc một ngôi làng, cô không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, nhưng anh ta càng ít biết về cô càng tốt.

    “Anh cứ làm như đang tiết lộ bí mật quốc gia không bằng.

    Tôi chỉ muốn biết tại sao anh không thích bánh ngọt thôi mà.”

    “Tôi thích chứ, nhưng chúng tôi không được phép ăn đồ ngọt.”

    “Mọi người hay chỉ các drüskelle?”

    “Các drüskelle.

    Nó được xem như một sự buông thả.

    Giống như rượu hoặc…”

    “Các cô gái?”

    Hai má anh ửng đỏ, và anh vội tiến lên phía trước.

    Thật dễ để làm khó anh.

    “Nếu các anh không được phép ăn đồ ngọt hoặc uống rượu, chắc anh sẽ rất thích pomdrakon.”

    Lúc đầu Matthias không nói gì mà chỉ bước tiếp, nhưng rốt cuộc im lặng trở nên quá sức chịu đựng đối với anh.

    “Pomdrakon là gì vậy?”

    “Chén rồng,” Nina đáp với giọng hào hứng.

    “Đầu tiên anh phải ngâm nho khô trong rượu brandy, sau đó anh tắt đèn và đốt nó.”

    “Để làm gì?”

    “Để làm nó khó cầm giữ.”

    “Thế các cô sẽ làm gì với nó sau khi đã cầm được?”

    “Chúng tôi ăn.”

    “Nó không làm các cô bỏng lưỡi à?”

    “Có chứ, nhưng…”

    “Thế thì tại sao…”

    “Vì nó vui, anh ngốc ạ.

    Anh có biết ‘vui’ nghĩa là gì không?

    Từ đó có tồn tại trong tiếng Fjerda, chứng tỏ các anh phải quen thuộc với nó.”

    “Tôi có rất nhiều niềm vui.”

    “Ồ, anh hay làm gì để cho vui nào?”

    Cứ thế, họ tiếp tục chọc ghẹo nhau, hệt như cái đêm đắm tàu, giữ cho nhau còn sống, từ chối chấp nhận rằng mình đang yếu dần, và nếu không tìm được một thị trấn đúng nghĩa thì họ sẽ không cầm cự được lâu nữa.

    Có những ngày cơn đói và ánh nắng phản chiếu trên mặt băng khiến họ đi thành vòng tròn, quay ngược lại, loạng choạng bước trên những dấu chân của chính mình, nhưng chưa bao giờ họ nói ra chữ lạc, như thể cả hai đều tin rằng chuyện đó đồng nghĩa với thừa nhận thất bại.

    “Tại sao người Fjerda không để cho đàn bà con gái đi đánh trận?”

    Một đêm nọ cô hỏi anh trong lúc họ nằm co ro bên dưới một mái dốc, với cái rét xuyên qua những tấm da được trải trên mặt đất.

    “Họ không muốn đánh nhau.”

    “Làm sao anh biết được?

    Anh có bao giờ hỏi họ chưa?”

    “Phụ nữ Fjerda là để tôn thờ và bảo vệ.”

    “Có lẽ đó là một chính sách thông minh.”

    Matthias đã hiểu cô đủ rõ để ngạc nhiên trước câu nói đó.

    “Thật à?”

    “Thử nghĩ mà xem, sẽ đáng xấu hổ đến thế nào nếu anh thua một cô gái Fjerda.”

    Anh ta hừ mũi.

    “Tôi rất muốn được thấy anh bị một cô gái cho ăn đòn,” cô nói với giọng vui vẻ.

    “Kiếp này thì còn lâu.”

    “Ồ, tôi cũng nghĩ mình sẽ không thấy được cảnh đó.

    Nhưng tôi sẽ được trải nghiệm khoảnh khắc tôi đá đít anh.”

    Lần này thì anh bật cười, một nụ cười thực sự mà cô có thể cảm nhận được từ phía sau.

    “Thánh thần ơi, này anh chàng Fjerda, tôi không biết anh có thể cười được đấy.

    Cẩn thận nhé, cười nhẹ thôi.”

    “Tôi thích sự ngạo mạn của cô, drüsje.”

    Đến phiên cô bật cười.

    “Có lẽ đây là lời khen tệ hại nhất mà tôi từng nhận được đấy.”

    “Cô không bao giờ nghi ngờ bản thân sao?”

    “Luôn luôn,” cô nói trong lúc bắt đầu thiếp ngủ.

    “Chỉ là tôi không thể hiện ra thôi.”

    Sáng hôm sau, họ vượt qua một cánh đồng băng đầy những khe nứt lởm chởm, men theo những dải đất cứng nằm giữa các vực sâu chết chóc, và tranh cãi về thói quen ngủ nghê của Nina.

    “Sao cô có thể tự coi mình là một chiến binh được nhỉ?

    Nếu tôi không gọi chắc cô ngủ luôn đến trưa mất.”

    “Cái đó thì có liên quan gì?”

    “Kỉ luật.

    Nề nếp.

    Cái đó không có nghĩa lí gì với cô sao?

    Djel ơi, tôi chỉ mong có cái giường ngủ riêng trở lại.”

    “Phải rồi,” Nina đáp.

    “Tôi biết anh ghét ngủ cùng tôi lắm mà.

    Sáng nào tôi cũng cảm thấy như vậy.”

    Matthias đỏ mặt.

    “Sao cô lại nói những chuyện như thế?”

    “Bởi vì tôi thích làm anh đỏ mặt.”

    “Bệnh quá.

    Cô không cần phải tỏ ra vô sỉ như thế.”

    “Nếu anh cứ coi như bình thường..

    “Tôi không muốn thế.”

    “Tại sao?

    Anh sợ chuyện gì sẽ xảy ra?

    Anh sợ anh sẽ thích tôi à?”

    Matthias không nói gì.

    Bất chấp sự mệt mỏi của mình, cô vượt lên phía trước.

    “Ra là thế.

    Anh không muốn thích một cô nàng Grisha.

    Anh sợ rằng nếu cười với những trò đùa của tôi hoặc trả lời những câu hỏi của tôi, anh sẽ bắt đầu coi tôi là một con người.

    Điều đó khủng khiếp đến vậy hay sao?”

    “Tôi có thích cô.”

    “Sao cơ?”

    “Tôi có thích cô,” anh đáp một cách giận dữ.

    Mặt cô sáng bừng, một làn sóng sảng khoái trào dâng trong lòng cô.

    “Ồ, nói thật nhé, chuyện đó xấu lắm à?”

    “Đúng!’’Anh gào lên.

    “Tại sao?”

    “Bởi vì cô thật kinh khủng.

    Cô ồn ào, đồi bại và… bội bạc.

    Brum đã cảnh báo chúng tôi rằng các Grisha rất có sức quyến rũ.”

    “Ồ, tôi hiểu rồi.

    Tôi là một cô ả Grisha mồi chài nguy hiểm.

    Tôi đã mê hoặc anh bằng các chiêu trò Grisha của mình!”

    Cô chọc vào ngực anh.

    “Thôi đi.”

    “Không.

    Tôi đang mồi chài anh mà.”

    “Thôi ngay.”

    Cô nhún nhảy quanh anh, chọc vào ngực, vào bụng, vào sườn anh.

    “Trời ạ!

    Anh thật rắn chắc.

    Hẳn là anh tập tành dữ lắm.”

    Matthias bật cười.

    “Thành công rồi!

    Chiêu trò đã phát huy tác dụng.

    Anh chàng Fjerda đã gục ngã.

    Anh không đủ sức cưỡng lại tôi.

    Anh…”

    Câu nói của Nina tắt nửa chừng khi lớp băng dưới chân cô sụp xuống.

    Cô quơ tay, tìm cách bấu víu vào thứ gì đó để khỏi ngã, những ngón tay cô cào cấu mặt băng và đá.

    Chàng drüskelle đã tóm lấy cánh tay cô, và Nina thét lên vì nó gần như long ra khỏi khớp vai.

    Cô bị treo lơ lửng giữa không trung, những ngón tay quắp chặt của anh là thứ duy nhất ngăn cô rơi xuống miệng hố băng đen ngòm.

    Trong một thoáng, khi nhìn vào mắt anh, cô tin chắc anh sẽ buông tay ra.

    “Làm ơn,” cô đã nói như thế với đôi mắt nhoà lẹ.

    Anh đã lôi cô lên khỏi mép vực, và họ chậm rãi bò vào chỗ vững chãi hơn.

    Hai người nằm ngửa ra, thở hồng hộc.

    “Tôi đã sợ… tôi đã sợ anh sẽ buông tay,” cô lắp bắp.

    Anh đã im lặng một hồi lâu trước khi đáp: “Tôi có nghĩ tới chuyện đó.

    Chỉ trong một giây thôi.”

    Nina khẽ bật cười.

    “Không sao,” cuối cùng cô nói.

    “Tôi cũng sẽ nghĩ tới chuyện đó nếu là anh mà.”

    Anh đứng lên và chìa tay ra.

    “Tôi tên là Matthias.”

    “Nina,” cô đáp.

    “Rất vui được làm quen với anh.”

    •••

    Vụ đắm tàu đã xảy ra từ cả năm trước, nhưng nó cho cảm giác giống như mới đây.

    Một phần trong Nina muốn quay lại với khoảnh khắc trước khi mọi thứ chệch hướng, với chuỗi ngày dài đằng đẵng bước đi trên băng tuyết, khi họ chỉ là Nina và Matthias, chứ không phải Grisha và thợ săn phù thuỷ.

    Nhưng càng nghĩ về nó, cô càng nhận ra khoảng thời gian đó không bao giờ tồn tại.

    Ba tuần lễ đó là một sự lừa dối mà cô và Matthias đã bày ra để sống sót.

    Sự thật chính là giàn thiêu kia.

    “Nina,” Matthias lên tiếng sau khi đã đuổi kịp cô.

    “Nina, nghe tôi nói

    đi.

    Cô phải đi cùng với những người khác.”

    “Để cho tôi yên.’”

    Khi anh cầm lấy tay cô, Nina vùng ra và siết nắm đấm, tống một quả thẳng vào cổ họng anh.

    Một người bình thường chắc sẽ buông cô ra, nhưng Matthias là một drüskelle đã được tôi luyện.

    Anh nắm lấy cánh tay còn lại của cô và kẹp nó vào người cô, khoá chặt lại, khiến cô không thể sử dụng hai bàn tay.

    “Thôi đi,” anh dịu dàng nói.

    Cô vùng vẫy, quắc mắt nhìn anh.

    “Thả tôi ra.”

    “Tôi không thể, khi cô là một mối đe doạ.”

    “Tôi sẽ luôn là một mối đe doạ đối với anh, Matthias.”

    Khoé miệng anh nhếch lên thành một nụ cười rầu rĩ.

    Đôi mắt anh buồn rười rượi.

    “Tôi biết.”

    Thật chậm rãi, anh thả cô ra.

    Cô lùi lại.

    “Điều gì sẽ chờ đợi tôi tại Lâu Đài Băng?”

    Cô hỏi.

    “Cô đang sợ.”

    “Đúng,” Nina đáp, cằm hất lên đầy thách thức.

    Không việc gì cô phải phủ nhận điều đó.

    “Nina…”

    “Cho tôi biết đi.

    Tôi cần biết.

    Phòng tra tấn ư?

    Giàn thiêu rừng rực cháy trên mái nhà hả?”

    “Họ không còn sử dụng giàn thiêu ở lâu đài nữa.”

    “Vậy thì cái gì?

    Phanh thây à?

    Hay xử bắn?

    Cung điện hoàng gia có chỗ để xem giá treo cổ không?”

    “Tôi phát chán với những võ đoán của cô rồi, Nina.

    Chuyện này cần phải chấm dứt.”

    “Anh ta nói đúng đó.

    Cô không thể tiếp tục hành xử thế này.”

    Jesper cất tiếng, anh đang đứng trên tuyết cùng với những người khác.

    Họ đã ở đó từ lúc nào?

    Họ có thấy cô tấn công Matthias không?

    “Đừng có xen vào chuyện này,” Nina quát.

    “Nếu cứ tiếp tục đấu đá, hai người sẽ làm cả nhóm bị lộ, mà tôi thì còn muốn chơi nhiều ván bài lắm.”

    “Hai người cần phải tìm cách làm hoà với nhau,” Inej lên tiếng, “ít nhất là trong một thời gian.”

    “Đây không phải là chuyện của cô,” Matthias gầm gừ.

    Kaz bước tới với nét mặt đầy nguy hiểm.

    “Đây là chuyện của tất cả chúng ta.

    Anh ăn nói cho cẩn thận.”

    Matthias giơ hai tay lên trời.

    “Tất cả các người đều bị cô ta bịp rồi.

    Cô ta làm cho mọi người tưởng rằng cô ta là bạn, để rồi…”

    Inej khoanh tay lại.

    “Để rồi sao?”

    “Bỏ đi, Inej.”

    “Không, Nina,” Matthias nói.

    “Nói cho họ biết đi.

    Cô đã từng nói cô là bạn của tôi.

    Còn nhớ chứ?”

    Anh quay sang phía những người khác.

    “Chúng tôi từng đi cùng nhau trong ba tuần lễ.

    Tôi đã cứu cô ta.

    Chúng tôi đã cứu lẫn nhau.

    Khi đến được Filing, chúng tôi… tôi đã có thể tố giác cô ta với những binh lính ở đó, bất cứ lúc nào.

    Nhưng tôi đã không làm thế.”

    Matthias bắt đầu đi qua đi lại, cất cao giọng như thể bị những kí ức cũ chế ngự.

    “Tôi đã mượn tiền.

    Tôi đã tìm nơi nương náu cho cả hai.

    Tôi đã sẵn sàng phản bội lại tất cả những gì mình tin tưởng, vì sự an toàn của cô ta.

    Lúc tôi đưa cô ta tới bến cảng để vượt biển, có một đoàn thương gia người Kerch đang sẵn sàng ra khơi.”

    Dường như Matthias đang quay lại bến cảng ấy, cô có thể trông thấy điều đó trong đôi mắt anh.

    “Hãy hỏi cô ta xem cô ta đã làm gì lúc đó, đồng minh đáng tin cậy của các người, kẻ luôn khăng khăng giữ sự phán xét của mình đối với tôi và đồng bào của tôi.”

    Không ai nói tiếng nào, nhưng tất cả đều quan sát, chờ đợi.

    “Nói cho họ biết đi, Nina,” anh yêu cầu.

    “Họ nên biết cô đối xử như thế nào với bạn bè của mình.”

    Cô nuốt khan, rồi thu hết sức lực để đối mặt với ánh mắt của bọn họ.

    “Tôi nói với tay người Kerch rằng anh ta là một gã buôn nô lệ, và anh ta đã bắt cóc tôi.

    Tôi đã van xin họ giúp tôi.

    Tôi có một dấu triện lấy được từ một con tàu nô lệ mà chúng tôi đã chặn lại gần đảo Wandering, và dùng nó làm bằng chứng.”

    Cô không thể nhìn họ được nữa.

    Kaz đã biết từ trước, tất nhiên rồi.

    Cô từng nói với anh về những lời tố cáo mà cô muốn rút lại khi cầu xin sự giúp đỡ của anh.

    Nhưng Kaz chưa bao giờ điều tra, chưa bao giờ hỏi tại sao, chưa bao giờ trừng phạt cô.

    Theo một cách nào đó, kể với Kaz là một sự an ủi.

    Một người như Tay Nhám thì không phán xét người khác.

    Nhưng giờ đây sự thực đã phơi bày cho mọi người.

    Một cách kín đáo, Kerch biết các nô lệ đến rồi đi qua các hải cảng của Ketterdam, và hầu hết giao kèo làm việc là một hình thức nô lệ kiểu mới.

    Nhưng về mặt công khai thì họ phản đối nó, và buộc phải truy tố mọi kẻ buôn nô lệ.

    Nina biết chính xác điều gì sẽ xảy ra khi cô gán tội đó cho Matthias.

    “Tôi đã không hiểu chuyện gì đang xảy ra,” anh nói.

    “Tôi không biết tiếng Kerch, nhưng Nina chắc chắn biết.

    Bọn họ đã bắt và xích tôi lại.

    Họ tống tôi vào khoang tàu và giữ tôi ở đó trong chuyến hải trình nhiều tuần lễ.

    Tôi chỉ được thấy lại ánh sáng ban ngày khi họ đưa tôi ra khỏi con tàu đó tại Ketterdam.”

    “Tôi đã không có lựa chọn nào khác,” Nina nói với giọng tắc nghẹn.

    “Anh không biết…”

    “Tôi chỉ cần biết một điều thôi,” Matthias nói.

    Trong giọng điệu của anh có sự giận dữ và cả một thứ gì đó khác, giống như lời khẩn nài.

    “Nếu có thể quay lại thời điểm đó, nếu có thể không làm điều đó với tôi, cô sẽ làm khác đi chứ?”

    Nina đứng đối diện với mọi người.

    Cô có lí lẽ của mình, nhưng chúng liệu có quan trọng không?

    Họ là ai mà có quyền phán xét cô?

    Cô thẳng lưng lại, cằm hất lên.

    Cô là thành viên của băng Cặn Bã, nhân viên của Hồng Bạch, và thỉnh thoảng cô là một cô gái ngu ngốc, nhưng trên hết cô là một Grisha, một chiến binh.

    “Không,” cô đáp rành rọt, giọng vang vọng trên mặt băng mênh mông.

    “Tôi sẽ lại làm chuyện đó.”

    Một tiếng ầm ầm làm mặt đất rung chuyển.

    Nina suýt nữa ngã nhào, và cô thấy Kaz phải dùng cây gậy chống để giữ thăng bằng.

    Mọi người nhìn nhau bối rối.

    “Tận trên phía bắc này mà cũng có các rãnh nứt sao?”

    Wylan hỏi.

    Matthias nhíu mày.

    “Theo tôi biết thì không, nhưng…”

    Mặt đất dưới chân Matthias bỗng trồi lên, hất anh ngã nhào.

    Một tảng đá vươn lên ngay ở bên phải Nina, khiến cô ngã sóng soài.

    Xung quanh họ, những khối đất đá đóng băng mọc lên như thể mặt đất vươn mình đứng dậy.

    Một luồng gió mạnh thổi thốc vào mặt họ, những bông tuyết quay cuồng náo động.

    “Chuyện quái gì thế này?”

    Jesper la lớn.

    “Động đất!”

    Inej hét lên.

    “Không phải,” Nina đáp, tay chỉ vào một cái chấm màu đen dường như đang lơ lửng trên bầu trời, không bị tác động bởi trận gió vần vũ.

    “Chúng ta đang bị tấn công.”

    Nina co người lại để tự bảo vệ.

    Cô tưởng như mình đã mất trí.

    Có ai đó đang lơ lửng giữa trời, tít phía trên cao.

    Cô đang chứng kiến một người bay.

    Tiết Khí Sư có thể kiểm soát gió trời.

    Thậm chí cô từng chứng kiến họ thay phiên tung nhau lên không trung tại Tiểu Điện, nhưng mức độ khéo léo và sức mạnh cần có để thực hiện một chuyến bay có kiểm soát là điều không thể tưởng tượng nổi - ít nhất là cho tới lúc này.

    Jurda parem.

    Cô đã không mấy tin lời Kaz.

    Thậm chí cô còn nghi ngờ anh đã nói dối về thứ mình đã chứng kiến để khiến cô chấp nhận tham gia phi vụ.

    Nhưng chuyện này là thật, trừ phi cô bị đập đầu lúc nào đó mà cô không nhớ.

    Tay Tiết Khí Sư quay mình trên không, biến cơn gió thành một trận tố lốc, thổi những mảnh băng tuyết vào mặt Nina đau rát.

    Cô gần như không quan sát được gì.

    Cô ngã ngửa khi một tảng đá khác mọc lên.

    Họ đang bị bao vây, dồn lại thành một khối mục tiêu duy nhất.

    “Tôi cần ai đó đánh lạc hướng!”

    Jesper hét lớn từ đâu đó trong gió lốc.

    Nina nghe thấy một tiếng teng.

    “Nằm xuống,” Wylan gào lên.

    Nina vội dán mình xuống mặt đất.

    Tiếng bùm vang lên chát chúa trên đầu cô, ánh sáng bùng lên ở ngay phía bên phải tay Tiết Khí Sư.

    Gió lốc quanh họ bỗng lặng đi khi hắn ta bị chao đảo và phải tập trung lấy lại thăng bằng.

    Khoảnh khắc đó kéo dài trong đúng một giây ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để Jesper nhắm bắn.

    Phát súng vang lên, và tay Tiết Khí Sư rơi thẳng xuống mặt đất.

    Một khối đá khác trồi lên, vào đúng vị trí.

    Họ đã bị quây kín lại như bầy gia súc chuẩn bị được đưa vào lò mổ.

    Jesper nhắm bắn vào một rặng cây phía xa qua khe hở giữa hai khối đá, và Nina nhận ra còn một Grisha khác đang đứng ở đó - một thằng nhóc có mái tóc đen.

    Ngay trước khi Jesper kịp khai hoả, thằng nhóc vung nắm đấm lên khiến một khối đất hất anh ngã nhào.

    Anh lăn tròn và nổ súng từ mặt đất.

    Thằng nhóc kia hét lên và khuỵu một chân xuống, nhưng hai cánh tay của nó vẫn giơ lên, làm cho đất đá rung chuyển ầm ầm dưới chân họ.

    Jesper nổ súng một lần nữa, nhưng bị trượt.

    Nina giơ tay lên, cố tập trung vào trái tim của thằng nhóc Grisha, nhưng nó ở ngoài tầm khống chế của cô.

    Cô trông thấy Inej ra hiệu cho Kaz.

    Không nói một lời, anh vào vị trí bên cạnh tảng đá gần nhất, hai bàn tay khum lại phía trước đầu gối.

    Mặt đất vẫn đang tròng trành lắc lư, nhưng anh giữ vững tư thế trong lúc cô gái đạp vào đôi tay anh nhảy bật lên theo một đường cong duyên dáng.

    Inej lao qua khối đá êm ru không một tiếng động.

    Giây lát sau, mặt đất yên tĩnh trở lại.

    “Hãy tin tưởng ở Bóng Ma,” Jesper thốt lên.

    Họ đứng đó, sững sờ, trong bầu không khí thinh lặng lạ thường sau sự hỗn loạn vừa xong.

    “Wylan,” Jesper nói trong lúc nhỏm dậy.

    “Đưa chúng ta ra khỏi chỗ này.”

    Wylan gật đầu, đoạn lấy ra một cục dẻo dẻo từ trong balô, cẩn thận gắn nó vào tảng đá gần nhất.

    “Mọi người nằm xuống,” cậu ra lệnh.

    Tất cả kéo nhau ra xa nhất có thể và khom người lại.

    Wylan đập tay vào khối thuốc nổ rồi lao tới, lách vào giữa Matthias và Jesper trong khi tất cả mọi người bịt tai.

    Không có gì xảy ra cả.

    “Cậu giỡn mặt tôi hả?”

    Jesper lên tiếng.

    Bùm.

    Khối đá vỡ tan.

    Nhưng mảnh băng và vụn đá rơi như mưa xuống đầu họ.

    Người đầy bụi đất, Wylan tỏ ra hơi ngỡ ngàng đồng thời cực kì sung sướng.

    Nina bật cười.

    “Cố mà làm ra vẻ cậu biết nó sẽ nổ đi.”

    Bọn họ lục tục kéo nhau ra khỏi bãi quây bằng đá.

    Kaz ra hiệu cho Jesper.

    “Đảo một vòng đi.

    Bảo đảm là không có bất cứ bất ngờ nào khác.”

    Đoạn hai người đi về hai hướng ngược nhau.

    Nina và những người còn lại tìm thấy Inej đang đứng cạnh một thằng nhóc Grisha run lẩy bẩy.

    Nó mặc bộ đồ màu olive, đôi mắt đờ đẫn.

    Máu trào ra từ lỗ đạn bắn ở đùi thằng nhóc, còn trên ngực phải ló ra phần chuôi của một con dao.

    Chắc Inej đã phóng dao trúng vào nó sau khi nhảy qua khối đá.

    Nina quỳ xuống bên cạnh thằng nhóc.

    “Tôi muốn một chút nữa,” thằng nhóc Grisha lẩm bẩm.

    “Chỉ một chút thôi mà.”

    Nó tóm lấy bàn tay của Nina, và chỉ khi đó cô mới nhận ra nó là ai.

    “Nestor?”

    Thằng nhóc cựa mình khi nghe thấy cái tên đó, nhưng không tỏ ra biết cô.

    “Nestor, là tôi đây, Nina đây.”

    Cô từng học chung với cậu ta ở Tiểu Điện.

    Cả hai đã được đưa tới Keramzin trong chiến tranh.

    Sau lễ đăng cơ của vua Nikolai, hai đứa đã chôm một chai rượu champagne và uống say khướt bên hồ.

    Nestor là sáng Chế Gia, một trong những Giả Kim Hợp Gia có thể xử lí kim loại, thuỷ tinh và sợi.

    Chuyện này thật khó hiểu, sáng Chế Gia làm ra vải vóc và vũ khí.

    Nestor không thể làm được điều Nina vừa chứng kiến.

    “Làm ơn đi,” cậu ta cầu xin, mặt nhăn nhó.

    “Tôi cần thêm một chút.”

    “Parem?”

    “Phải,” cậu ta thổn thức.

    “Đúng rồi.

    Làm ơn đi.”

    “Tôi có thể chữa lành vết thương cho cậu, Nestor, nếu cậu nằm yên.”

    Cậu ta bị thương khá nặng, nhưng nếu cô có thể cầm máu thì…

    “Tôi không cần cô giúp,” cậu ta nói với giọng tức giận và cố nhích ra xa.

    Nina cố gắng làm cậu bình tĩnh và làm chậm nhịp tim của cậu, nhưng cô lại sợ mình sẽ làm ngưng tim.

    “Làm ơn đi, Nestor.

    Làm ơn nằm yên.”

    Lúc này cậu ta bắt đầu la hét, chống cự lại cô.

    “Giữ cậu ấy lại,” Nina la lên.

    Matthias xông tới hỗ trợ, nhưng Nestor đã vung hai cánh tay.

    Mặt đất dâng lên như sóng, đẩy Nina và những người còn lại ra xa.

    “Nestor, làm ơn đi!

    Hãy để chúng tôi giúp cậu.”

    Cậu ta đứng dậy, loạng choạng vì cái chân bị thương, tay kéo con dao cắm trên ngực.

    “Họ đâu rồi?”

    Cậu hét lên.

    “Họ đi đâu mất rồi?”

    “Ai vậy?”

    “Người Shu!”

    Nestor than vãn.

    “Họ đi đâu rồi?

    Quay lại đây!”

    Cậu khập khiễng bước tới một bước, rồi một bước nữa.

    “Quay lại đây!”

    Nestor ngã sấp mặt xuống tuyết và không nhúc nhích nữa.

    Nina lao vội tới và lật cậu ta lại.

    Tuyết bám đầy mắt và miệng cậu.

    Cô đặt hai tay lên ngực cậu ta, cố làm hồi sinh trái tim cậu, nhưng vô hiệu.

    Nếu chưa bị chất gây nghiện tàn phá thì có lẽ cậu ta đã sống sót được.

    Nhưng cơ thể cậu ta quá yếu, chỉ có da bọc xương, một làn da tái mét trong suốt.

    Chuyện này không đúng, Nina nghĩ thầm.

    Luyện tập thuật Điều Nhiên giúp cho một Grisha khoẻ mạnh hơn mới phải.

    Đó là một trong những điều cô thích nhất ở năng lực của mình.

    Nhưng cơ thể cũng có giới hạn của nó.

    Dường như loại thuốc kia đã làm cho năng lực của Nestor vượt quá giới hạn cơ thể cậu, và làm nó kiệt quệ.

    Kaz và Jesper đã quay lại.

    Cả hai thở hổn hển.

    “Có gì không?”

    Matthias hỏi.

    Jesper gật đầu.

    “Một nhóm người đang đi về phía nam.”

    “Cậu ta đã gọi người Shu quay lại,” Nina nói.

    “Chúng ta đã biết phía Shu có thể cử một nhóm đi đòi lại Bo YulBayur,” Kaz nhận định.

    Jesper nhìn xuống thi thể bất động của Nestor.

    “Nhưng chúng ta không biết họ cử Grisha đi.

    Làm sao chúng ta có thể chắc chắn đây không phải là đám lính đánh thuê?”

    Kaz giơ một đồng xu có hình con ngựa ở một mặt và hai chìa khoá bắt chéo ở mặt kia.

    “Cái này nằm trong túi của tay Tiết Khí Sư,” anh tung đồng xu cho Jesper.

    “Nó là một đồng wen ye của người Shu.

    Một tín vật.

    Đây là một nhiệm vụ quốc gia.”

    “Làm thế nào họ tìm ra chúng ta?”

    Inej thắc mắc.

    “Có lẽ những phát súng của Jesper đã đưa họ tới đây,” Kaz trả lời.

    Jesper nổi đoá chỉ tay về phía Matthias và Nina.

    “Hoặc có thể họ đã nghe thấy tiếng hai người này cãi cọ.

    Có thể họ đã bám theo chúng ta nhiều cây số rồi.”

    Nina cố gắng suy nghĩ từ những chi tiết thu thập được.

    Người Shu không sử dụng Grisha làm binh lính.

    Khác với Fjerda, họ không xem các năng lực của Grisha là phi tự nhiên hay đáng ghê tởm.

    Họ bị mê hoặc bởi chúng.

    Nhưng họ vẫn không coi các Grisha thực sự là con người.

    Chính quyền Shu Han đã bắt giữ và thí nghiệm trên các Grisha suốt nhiều năm trời để tìm cách xác định nguồn gốc năng lực Grisha.

    Họ sẽ không bao giờ dùng các Grisha như lính đánh thuê, hay ít nhất trước kia là như thế.

    Có lẽ parem đã làm thay đổi cuộc chơi.

    “Tôi không hiểu,” Nina lên tiếng.

    “Nếu họ đã có jurda parem thì còn đi tìm Bo YuL-Bayur làm gì nữa?”

    “Có thể họ chỉ có một số lượng nhỏ và không thể tái sản xuất,” Kaz đáp.

    “Đó là suy nghĩ của Hội đồng Thương buôn.

    Cũng có thể họ muốn bảo đảm Bo Yul-Bayur không thể trao công thức cho bất kì ai khác.”

    “Anh có nghĩ họ sẽ sử dụng các Grisha xài thuốc để thâm nhập Lâu Đài Băng không?”

    Inej hỏi.

    “Nếu họ vẫn còn Grisha,” Kaz nói.

    “Nếu là tôi thì tôi cũng làm như vậy.”

    Matthias lắc đầu.

    “Nếu họ có một Độc Tâm Y thì chúng ta đã chết chắc.”

    “Vừa rồi cả bọn đã suýt chết đấy thôi,” Inej đáp.

    Jesper khoác súng lên vai.

    “Wylan đã chứng tỏ vị trí của mình.”

    Wylan giật nảy người khi nghe thấy tên mình.

    “Thật ạ?”

    “Ờ, cậu làm không tồi một chút nào.”

    “Ta đi thôi,” Kaz nói.

    “Ta cần chôn cất bọn họ,” Nina đề nghị.

    “Mặt đất quá cứng, chúng ta lại không có thời gian.

    Nhóm người Shu vẫn đang di chuyển về phía Djerholm.

    Chúng ta không biết bọn họ còn bao nhiêu Grisha, và nhóm của Pekka rất có thể đã vào được trong lâu đài.”

    “Ta không thể bỏ mặc họ cho lũ sói,” cô nói, cổ họng nghẹn lại.

    “Cô có muốn xây giàn thiêu cho họ không?”

    “Cút xuống địa ngục đi, Brekker.”

    “Làm công việc của cô đi, Zenik,” Kaz đáp trả.

    “Tôi không đưa cô tới Fjerda để cử hành tang lễ.”

    Cô giơ hai bàn tay lên.

    “Anh nghĩ sao nếu tôi bổ đôi hộp sọ của anh như một quả trứng chim?”

    “Cô sẽ không muốn nhìn thấy thứ ở trong đầu tôi đâu, Nina thân mến ạ.”

    Cô tiến tới trước, nhưng Matthias đã cản đường.

    “Thôi đi,” anh lên tiếng.

    “Tôi sẽ làm chuyện đó.

    Tôi sẽ giúp cô đào huyệt.”

    Nina nhìn anh trấn trối.

    Matthias lấy từ trong túi đồ ra một cái cuốc và đưa cho cô, rồi lấy cái cuốc khác từ túi của Jesper.

    “Đi thẳng về hướng nam kể từ chỗ này,” anh quay sang nói với những người khác.

    “Tôi biết khu vực này, tôi bảo đảm chúng tôi sẽ bắt kịp các cô cậu khi đêm xuống.

    Chúng tôi sẽ di chuyển nhanh hơn so với lúc đi chung cả nhóm.”

    Kaz nhìn anh chàng Fjerda không rời mắt.

    “Đừng quên bản ân xá của anh, Helvar.”

    “Liệu có phải là một ý hay khi chúng ta để họ lại một mình với nhau không?”

    Wylan hỏi trong khi cùng với những người còn lại đi xuống dốc.

    “Không,” Inej đáp.

    “Nhưng sao ta vẫn làm?”

    “Trước sau gì chúng ta cũng phải tin họ thôi,” Kaz đáp.

    “Còn tiết lộ nho nhỏ của Matthias về sự trung thành của Nina thì sao?”

    Jesper hỏi.

    Nina chỉ kịp nghe được câu trả lời của Kaz: “Tôi gần như chắc chắn không ai trong chúng ta có chữ ‘trung thành’ hay ‘chân thật’ trong lí lịch của mình.”

    Mặc dù rất muốn đấm cho Kaz mấy cú, cô không thể không cảm thấy biết ơn anh một chút.

    Matthias bước vài bước ra xa khỏi thi thể của Nestor.

    Anh bổ cuốc xuống mặt đất băng giá, giật nó ra, rồi lại bổ tiếp nhát nữa.

    “Ở đây sao?”

    Nina thắc mắc.

    “Thế cô muốn cậu ta ở đâu?”

    “Tôi… tôi không biết.”

    Cô đưa mắt nhìn miền đất trắng xoá, điểm xuyết bởi vài vạt rừng bạch dương thưa thớt.

    “Với tôi thì nhìn đâu cũng như nhau.”

    “Cô có biết các thánh thần của chúng tôi không?”

    “Tôi biết một số,” cô trả lời.

    “Nhưng cô biết Djel chứ?”

    “Suối nguồn.”

    Matthias gật đầu.

    “Người Fjerda tin rằng toàn bộ thế giới được liên kết với nhau thông qua nước của nó, từ các biển, băng tuyết, các con sông dòng suối, cho tới mưa và bão tố.

    Tất cả đều nuôi dưỡng Djel và được nuôi dưỡng từ Djel.

    Khi chúng tôi chết đi, chúng tôi gọi nó là felöt-objer, bám rễ.

    Chúng tôi trở thành giống như rễ của cây tần bì, uống nước từ Djel ở bất kì nơi nào chúng tôi nằm xuống.”

    “Có phải vì thế mà các anh hoả thiêu Grisha thay vì chôn cất họ?”

    Matthias khựng lại, rồi khẽ gật đầu.

    “Nhưng anh lại giúp tôi chôn Nestor và người Tiết Khí Sư ở đây.”

    Anh gật đầu lần nữa.

    Cô cầm lấy cái cuốc và bắt nhịp theo anh.

    Mặt đất rất cứng rắn.

    Mỗi nhát cuốc bổ xuống tạo ra chấn động chạy dọc cánh tay cô.

    “Nestor không thể nào làm những chuyện như vừa rồi,” Nina nói, đầu óc vẫn đang căng ra suy nghĩ.

    “Không một Grisha nào có thể sử dụng năng lực như vậy.

    Chuyện này quá sai.”

    Anh im lặng một lúc rồi nói: “Giờ cô đã hiểu chưa?

    Cảm giác khi phải đối mặt với một năng lực lạ lùng bản thân không hiểu rõ?

    Đối mặt với một địch thủ có sức mạnh siêu nhiên như thế?”

    Nina nắm cái cuốc chặt hơn.

    Nestor dưới ảnh hưởng của parem cũng giống như một sự xuyên tạc tất cả những gì cô yêu thích nơi năng lực của mình, có phải đó là điều mà Matthias và những người Fjerda khác nhìn thấy nơi các Grisha?

    Năng lực nằm ngoài tầm giải thích, một sự thách thức đối với tự nhiên.

    “Có thể.”

    Cô chỉ nói được có thế.

    “Cô bảo là cô không có lựa chọn khác ở cảng Elling,” anh nói mà không nhìn Nina, tay vẫn đều đặn cuốc đất.

    “Có phải do tôi là một drüskelle?

    Cô đã tính toán như thế ngay từ đầu à?”

    Nina còn nhớ cái ngày sau cùng mà họ thực sự ở bên nhau, nhớ cảm giác phấn chấn khi họ trèo lên một quả đồi cao và trông thấy thị trấn cảng biển trải rộng bên dưới.

    Cô đã bị sốc khi nghe thấy Matthias nói: “Tôi gần như phải xin lỗi cô, Nina.”

    “Gần như?”

    “Tôi quá đói nên không thể xin lỗi thực sự được.”

    “Cuối cùng anh cũng chịu thua ảnh hưởng của tôi.

    Nhưng chúng ta sẽ đi đâu để ăn khi không có tiền?”

    Cô hỏi như thế trong lúc họ xuống đồi.

    “Tôi có thể phải bán đi mái tóc đẹp của anh để có tiền mặt.”

    “Đừng có hâm,” anh đã nói như thế với một tiếng cười.

    Tiếng cười của anh vang lên ngày một dễ dàng hơn qua quá trình họ đi cùng nhau, như thể anh đã bắt đầu thông thạo một ngôn ngữ mới.

    “Nếu đây là Elling thì tôi có thể tìm được nơi nương náu cho hai chúng ta.”

    Khi ấy cô đã khựng lại, hoàn cảnh thực tế của họ ập vào cô với một sự rõ ràng khủng khiếp.

    Cô đang ở sâu trên đất của kẻ thù mà không có đồng minh nào ngoài một drüskelle, kẻ đã ném cô vào một cái lồng mới vài tuần trước đó.

    Nhưng trước khi cô kịp lên tiếng, Matthias đã nói: “Tôi nợ cô ơn cứu mạng, Nina Zenik.

    Chúng tôi sẽ đưa cô về nhà an toàn.”

    Cô đã ngạc nhiên khi thấy mình dễ dàng tin tưởng anh đến thế.

    Và anh cũng tin tưởng cô.

    Còn bây giờ, cô bổ cuốc, cảm thấy chấn động lan dọc theo cánh tay tới vai, và nói: “Ở Elling có Grisha.”

    Anh khựng lại.

    “Gì cơ?”

    “Họ là các gián điệp làm công việc do thám tại bến cảng.

    Họ đã trông thấy tôi đi tới quảng trường chính cùng với anh, và nhận ra tôi do quá trình học tập tại Tiểu Điện.

    Một người trong số họ cũng nhận ra anh,

    Matthias.

    Anh ta biết anh sau một cuộc giao tranh ở gần biên giới.”

    Matthias không nhúc nhích.

    “Họ đã tiếp cận tôi khi anh đi nói chuyện với tay chủ nhà trọ,” Nina nói tiếp.

    “Tôi đã thuyết phục họ rằng tôi cũng đang sử dụng một vỏ bọc.

    Họ muốn bắt anh, nhưng tôi bảo họ rằng anh không đi một mình, và bắt anh ngay sẽ rất rủi ro.

    Tôi đã hứa giao anh cho họ ngày hôm sau.”

    “Sao cô không nói cho tôi biết chuyện đó?”

    Nina bỏ cuốc xuống.

    “Nói với anh chuyện có các gián điệp Grisha ở Elling á?

    Anh có thể đã hoà giải với tôi, nhưng anh không thể mong chờ tôi tin anh không tố giác họ.”

    Matthias quay mặt đi, quai hàm giật giật, và cô biết mình nói đúng.

    “Sáng hôm đó,” anh nói, “trên bến cảng…”

    “Tôi phải đưa cả hai chúng ta rời khỏi Elling nhanh nhất có thể.

    Tôi đã nghĩ nếu mình có thể tìm cho chúng ta một con tàu để ra đi… nhưng các Grisha chắc chắn đã theo dõi khu nhà trọ và thấy chúng ta ra ngoài.

    Khi họ xuất hiện ở cảng, tôi biết ngay là vì anh, Matthias.

    Nếu họ bắt được anh, anh sẽ bị đưa về Ravka, thẩm vấn, thậm chí là xử tử.

    Thế rồi tôi trông thấy tay thương gia người Kerch.

    Anh biết luật chống buôn nô lệ của họ rồi đấy.”

    “Dĩ nhiên,” anh đáp với giọng chua chát.

    “Tôi đã tố giác anh.

    Tôi cầu xin họ cứu tôi.

    Tôi biết họ sẽ phải bắt giữ anh, và đưa cả hai chúng ta về Kerch.

    Nhưng tôi đã không biết, Matthias à, tôi đã không biết là họ sẽ tống anh vào Cổng Địa Ngục.”

    Đôi mắt anh đanh lại khi anh nhìn cô, các đốt ngón tay anh trắng bệch ra trên cái cán cuốc.

    “Tại sao cô không lên tiếng?

    Tại sao cô không nói ra sự thật khi chúng ta tới Ketterdam?”

    “Tôi đã cố.

    Tôi thề đấy.

    Tôi đã cố rút lại lời tố cáo.

    Nhưng họ không để cho tôi gặp quan toà.

    Họ không để cho tôi gặp anh.

    Tôi không thể giải thích được về dấu triện của tàu buôn nô lệ, càng không thể giải thích lí do hoang báo mà không tiết lộ về mạng lưới gián điệp của Ravka.

    Nếu làm vậy tôi sẽ phản bội lại những Grisha đang còn hoạt động.

    Tôi sẽ đẩy họ tới chỗ chết.”

    “Thế nên cô đã bỏ mặc tôi mục xương trong tù.”

    “Tôi đã có thể quay về Ravka.

    Thánh thần ơi, tôi muốn lắm chứ.

    Nhưng tôi đã ở lại Ketterdam.

    Tôi dùng tiền nong kiếm được để đút lót, cầu cạnh toà án…”

    “Cô đã làm mọi thứ, ngoại trừ nói ra sự thật.”

    Cô muốn tỏ ra dịu dàng, ăn năn, muốn nói với anh rằng ngày nào đêm nào cô cũng nghĩ tới anh.

    Nhưng hình ảnh giàn thiêu kia vẫn còn quá rõ rệt trong tâm trí cô.

    “Tôi đã cố gắng bảo vệ người của tôi, những người mà anh dành cả cuộc đời để đi tận diệt.”

    Matthias bật cười cay đắng, xoay xoay cái cuốc trong tay.

    “Wanden olstrum end kendesorum.”

    Đó là phần đầu của câu ngạn ngữ Fjerda: Nước nghe và nước hiểu.

    Có vẻ rất nhân hậu, nhưng Matthias biết Nina đã quá quen với phần sau của nó.

    “Isen ne bejstrum,” cô kết thúc câu nói.

    Nước nghe và nước hiểu.

    Băng thì không tha thứ.

    “Vậy bây giờ cô sẽ làm gì, Nina?

    Cô có phản bội những người mà cô gọi là bạn một lần nữa, vì các Grisha không?”

    “Sao cơ?”

    “Đừng có nói với tôi là cô định để cho Bo Yul-Bayur sống nhé.”

    Anh biết cô quá rõ.

    Với tất cả những điều cô vừa được biết về jurda parem, cô thừa hiểu cách duy nhất để bảo vệ các Grisha là đoạt mạng nhà khoa học đó.

    Cô nhớ lại cảnh Nestor dùng hơi thở cuối cùng để cầu xin những ông chủ người Shu quay lại.

    “Tôi không thể chấp nhận việc những người đồng loại của tôi bị nô lệ hoá,” cô thừa nhận.

    “Nhưng chúng ta có một món nợ phải thu xếp, Matthias.

    Lệnh ân xá là sự sám hối của tôi, và tôi sẽ không thể một lần nữa là người ngăn cản anh được tự do.”

    “Tôi không muốn nó.”

    Cô trố mắt nhìn anh.

    “Nhưng…”

    “Có thể các đồng loại của cô sẽ bị biến thành nô lệ.

    Cũng có thể họ sẽ trở thành một lực lượng không gì chặn nổi.

    Nếu Yul-Bayur sống sót và bí mật của jurda parem được công khai, thì bất kì điều gì cũng có thể xảy ra.”

    Suốt một lúc lâu, họ nhìn vào mắt nhau.

    Mặt trời đã hạ thấp trên bầu trời, rải những tia sáng vàng rực xuống mặt tuyết, cô có thể thấy màu vàng của hàng lông mi Matthias lộ ra phía sau lớp antimon đen mà cô đã sử dụng để nhuộm chúng.

    Cô lại sắp phải biến đổi anh rồi.

    Trong những tuần lễ tiếp nối vụ đắm tàu, cô và Matthias đã thoả thuận một sự đình chiến gượng gạo.

    Lớn lên giữa họ là một thứ gì đó mãnh liệt hơn sự cảm mến, một sự thông hiểu rằng cả hai người họ đều là chiến binh, và trong một kiếp sống khác, có lẽ họ đã là đồng minh thay vì đối thủ.

    Giờ cô lại cảm thấy điều đó.

    “Nó có nghĩa là phản bội những người còn lại,” cô nói.

    “Họ sẽ không nhận được tiền thưởng từ Hội đồng Thương buôn.”

    “Đúng.”

    “Và Kaz sẽ giết cả hai chúng ta.”

    “Nếu cậu ta biết được sự thật.”

    “Anh đã bao giờ thử nói dối Kaz Brekker chưa?”

    Matthias nhún vai.

    “Vậy chúng ta coi như sống không bằng chết.”

    Nina nhìn cơ thể gầy mòn của Nestor, “vì đại nghĩa.”

    “Chúng ta thống nhất với nhau chuyện này,” Matthias nói.

    “Bo YulBayur sẽ không sống sót rời khỏi Lâu Đài Băng.”

    “Thoả thuận thế nhé,” Nina nói bằng tiếng Kerch, ngôn ngữ của giao thương, không phải là tiếng mẹ đẻ của cả cô lẫn anh.

    “Thoả thuận,” anh đáp.

    Matthias vung cuốc và bổ xuống theo một đường vòng cung, như một sự xác nhận.

    Cô cũng nhặt cuốc lên và làm tương tự.

    Không nói thêm tiếng nào, họ quay lại với việc đào huyệt bằng một nhịp độ quyết đoán.

    Kaz ít nhất đã đúng ở một điểm.

    Matthias và cô cuối cùng cũng đã tìm được một thứ để đồng tình.
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    II♡ PHI VỤ BẤT KHẢ


    Phần Một: BÍ QUYẾT KHI NGÃ

    1 INEJ

    2 KAZ

    3 JESPER

    4 NINA

    5 INEJ

    6 KAZ

    Phần Hai: BĂNG KHÔNG THA THỨ

    7 JESPER

    8 INEJ

    9 MATTHIAS

    10 JESPER

    11 NINA

    12 JESPER

    13 INEJ

    14 NINA

    15 MATTHIAS

    16 JESPER

    17 NINA

    18 KAZ

    Phần Ba: NHỮNG TÊN TRỘM LỌC LÕI

    19 INEJ

    20 NINA

    21 MATTHIAS

    22 INEJ

    23 NINA

    24 JESPER

    25 KAZ

    26 PEKKA
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Một: Bí Quyết Khi Ngã 1-6


    1

    INEJ

    Inej cảm thấy như cô và Kaz đã trở thành hai đồng đội chí cốt, cùng nhau tiến lên, vờ như mình vẫn ổn trong khi che giấu các thương tích và vết bầm tím trước những người còn lại.

    Phải mất thêm hai ngày đường nữa để họ tới được vách đá trông xuống Djerholm, nhưng việc di chuyển trở nên dễ dàng hơn khi họ đi xuống phía nam và gần ra bờ biển.

    Thời tiết ấm áp lên, mặt đất tan giá bớt, và cô bắt đầu thấy những dấu hiệu của mùa xuân.

    Inej cứ ngỡ Djerholm cũng giống như Ketterdam - một tấm vải toan đầy sắc thái xám xịt, đường phố quanh co với sương khói quyện chặt và những con tàu đủ mọi chủng loại ra vào hải cảng, tấp nập theo nhịp độ giao thương sôi động.

    Cảng Djerholm đông đúc tàu thuyền, nhưng những con phố nhỏ hẹp đổ ra biển của nó được thiết kế quy củ, và các ngôi nhà được sơn đủ mầu - từ đỏ, xanh dương, tới vàng và hồng - như thể thách thức miền đất hoang dã trắng xoá và mùa đông phương bắc dài đằng đẵng.

    Ngay cả những dãy nhà kho trên bến cảng cũng mang nhiều màu sắc tươi vui.

    Nơi đây giống như hình ảnh cô mường tượng về các đô thị khi còn bé, mọi thứ đều có màu kẹo ngọt và nằm đúng chỗ của chúng.

    Chiếc Ferolind có đang đợi sẵn ở cảng, duyên dáng với lá cờ Kerch và hai màu sơn cam - xanh nổi bật của công ty Haanraadt Bay không?

    Nếu kế hoạch diễn ra theo đúng như mong đợi của Kaz, đêm mai họ sẽ xuống bến cảng cùng với Bo Yul-Bayur, nhảy lên con thuyền của mình và giương buồm ra khơi trước khi phía Fjerda kịp phát giác vụ việc.

    Cô không thích nghĩ tới viễn cảnh đêm mai nếu kế hoạch đổ bể.

    Inej đưa mắt nhìn lên Lâu Đài Băng sừng sững như một người lính gác đồ sộ trắng muốt đứng trên vách đá cao trông xuống hải cảng.

    Theo lời Matthias thì vách đá kia không thể leo lên được, và cô phải thừa nhận đấy là một thử thách thực sự ngay cả với Bóng Ma.

    Nó cao không tưởng tượng nổi, và nhìn từ xa, bề mặt nhẵn nhụi trắng phau của nó sáng bóng như mặt băng.

    “Đại bác kìa,” Jesper lên tiếng.

    Kaz nheo mắt nhìn lên những cỗ súng lớn chĩa thẳng ra vịnh biển.

    “Tôi đã đột nhập vào nhà băng, kho hàng, tư dinh, bảo tàng, hầm vàng, thư viện sách quý, thậm chí là phòng ngủ của một nhà ngoại giao người Kaelish có bà vợ đam mê ngọc lục bảo.

    Nhưng tôi chưa bao giờ bị một khẩu đại bác chĩa vào người.”

    “Chuyện gì cũng có lần đầu,” Jesper bình phẩm.

    Inej mím môi lại.

    “Hi vọng chúng ta không xui đến mức ấy.”

    “Mấy khẩu thần công kia là để chặn đứng những chiến hạm định ho he xâm lược,” Jesper đáp với giọng tự tin.

    “Chúng không thể bắn trúng một con thuyền nhỏ hai buồm rẽ sóng đi tìm của cải và vinh quang.”

    “Tôi sẽ dẫn lại lời anh khi quả đạn đại bác rơi vào lòng tôi,” Nina lên tiếng.

    Họ dễ dàng hoà vào dòng người ở điểm giao cắt giữa vách đá và con đường dẫn lên Thượng Djerholm ở phía bắc.

    Khu vực trên này là vùng mở rộng của đô thị bên dưới, một tập hợp lộn xộn gồm các cửa hàng, chợ búa, quán trọ để phục vụ cho các lính gác và nhân viên làm việc trong Lâu Đài Băng, cũng như các du khách.

    May mắn là đám đông đủ lớn và sặc sỡ để một nhóm người ngoại quốc có thể di chuyển mà không bị để ý, và Inej cảm thấy dễ thở hơn một chút, cô đã lo rằng mình và Jesper có thể bị nghi ngờ khi đi giữa biển tóc vàng của Fjerda.

    Có lẽ nhóm người nước Shu Han cũng dùng sự đa dạng của đám đông để che chở cho họ.

    Không khí của lễ hội Hringkälla tràn ngập khắp nơi.

    Cửa hàng cửa hiệu trưng ra những chồng bánh tiêu nướng có hình dạng con sói, hoặc treo chúng lủng lẳng như đồ trang trí trên các cây to có cành vặn xoắn.

    Cây cầu bắc qua hẻm sông được trang trí với hoa và ruy băng màu xám bạc - màu sắc của Fjerda.

    Cầu có hai chiều: một đi tới Lâu Đài Băng và một quay về.

    Liệu ngày mai họ có băng qua cây cầu này trong tư thế của người chiến thắng hay không?

    “Mấy cái kia là gì vậy?”

    Wylan thắc mắc khi dừng lại trước một xe đẩy bán hàng rong chất đầy những vòng hoa được làm từ các nhánh cây vặn xoắn và dây ruy băng màu xám bạc.

    “Cây tần bì,” Matthias đáp.

    “Vật linh thiêng dành cho Djel.”

    “Nghe nói có một cây tần bì trên Bạch Đảo,” Nina nói, phớt lờ ánh mắt cảnh báo của anh chàng người Fjerda.

    “Đó là nơi các drüskelle tập hợp lại để làm lễ.”

    Kaz gõ cây gậy chống xuống đất.

    “Tại sao đến bây giờ tôi mới được cho biết chi tiết này lần đầu tiên?”

    “Cây tần bì được nâng đỡ bằng linh hồn của Djel,” Matthias đáp.

    “Đó là nơi chúng tôi có thể nghe thấy giọng nói của ngài tốt nhất.”

    Mắt Kaz long lên.

    “Đó không phải là điều tôi hỏi.

    Tại sao nó không có trong kế hoạch của chúng ta?”

    “Bởi vì đó là nơi linh thiêng nhất Fjerda, và không quan trọng đối với nhiệm vụ của chúng ta.”

    “Tôi mới là người quyết định cái gì quan trọng, còn điều gì anh cố tình bỏ quên không đấy?”

    “Lâu Đài Băng là một cấu trúc rất rộng lớn,” Matthias quay mặt đi.

    “Tôi không thể nhớ hết mọi ngóc ngách của nó được.”

    “Vậy thì anh hãy hi vọng không có gì rình rập trong mấy cái ngóc ngách đó đi,” Kaz đáp.

    Thượng Djerholm không có một khu trung tâm thực sự, nhưng nhiều tửu quán, nhà trọ và sạp chợ tập trung quanh chân quả đồi dẫn lên Lâu Đài Băng.

    Kaz dẫn họ đi tưởng chừng như không có định hướng qua nhiều con phố cho đến khi gặp một tửu quán xập xệ có tên Gestinge.

    “Ở đây á?”

    Jesper phàn nàn và đưa mắt nhòm vào gian phòng chính ẩm thấp, nồng nặc mùi tỏi và cá.

    Kaz chỉ liếc mắt đầy ý nhị lên phía trên và đáp: “Sân thượng.”

    “Gestinge nghĩa là gì nhỉ?”

    Inej thắc mắc.

    “Nó có nghĩa là ‘thiên đường’,” Matthias đáp.

    Ngay cả anh ta cũng tỏ ra ngờ vực.

    Nina giúp cả nhóm đặt một bàn trên sân thượng của quán.

    Ở đấy gần như không có người khách nào vì thời tiết vẫn còn quá lạnh.

    Hoặc cũng có thể mọi người bị dọa chạy mất bởi đồ ăn - cá trích ngâm dầu trở mùi, bánh mì đen cứng quèo, và bơ trông như bị mốc.

    Jesper nhìn xuống đĩa thức ăn của mình và rên rỉ.

    “Kaz, nếu anh muốn giết tôi thì hãy tặng một viên đạn, chứ đừng có đầu độc thế này.”

    Nina nhăn mũi.

    “Đến tôi mà cũng không muốn ăn là anh đủ biết rồi đó.”

    “Chúng ta vào đây là vì tầm quan sát, chứ không phải đồ ăn.”

    Từ bàn của mình, họ có thể quan sát rõ ràng, tuy hơi xa, lớp cổng ngoài và chốt gác đầu tiên của Lâu Đài Băng.

    Nó được xây như một cổng vòm mầu trắng ghép lại từ hai con sói đá đồ sộ đứng trên chân sau, và nối với con đường dẫn lên đồi tới lâu đài.

    Inej và những người khác quan sát các phương tiện đi qua cổng thành trong lúc nhơi bữa trưa, chờ đợi dấu hiệu của đoàn xe chở tù.

    Sự ngon miệng của cô cuối cùng cũng quay lại, và cô đã ăn nhiều hết mức có thể cho lại sức, nhưng lớp váng trên bát súp khiến cô không muốn ăn.

    Quán không phục vụ cà phê, nên họ gọi trà và những li brännvin nhỏ đốt cháy thực quản trong khi chảy xuống dạ dày, nhưng nhờ đó giúp họ giữ ấm khi cơn gió nổi lên, khuấy động đám dây ruy băng bạc buộc trên những cành cây tần bì trồng dọc theo con đường bên dưới.

    “Chúng ta sắp trở nên đáng nghi đấy,” Nina nói.

    “Đây không phải là nơi mọi người thích ngồi lâu.”

    “Hay là bọn họ chẳng có ai để tống vào tù?”

    Wylan phỏng đoán.

    “Lúc nào cũng có người cần tống vào tù,” Kaz đáp, đồng thời hất hàm về phía con đường.

    “Nhìn kìa.”

    Một cỗ xe tứ mã vuông vức dừng lại trước chốt gác.

    Mái và hai mặt bên hông được phủ vải bạt đen hù.

    Cánh cửa phía sau làm bằng sắt dày, có cài then và được gắn ổ khoá.

    Kaz thò tay vào trong túi áo khoác.

    “Đây,” anh nói và đưa cho Jesper một cuốn sách mỏng có bìa cầu kì.

    “Đến giờ đọc sách cho nhau nghe à?”

    “Cứ mở ra đi, trang cuối ấy.”

    Jesper mở sách và lật tới trang cuối, bối rối tợn.

    “Rồi sao?”

    “Giơ nó lên để chúng tôi không phải nhìn cái bộ mặt xấu hoắc của cậu.”

    “Xấu nhưng cá tính nhé. với lại…

    Ồ!”

    “Sách hay chứ hả?”

    “Ai mà ngờ được tôi lại hứng thú với văn học như thế này?”

    Jesper đưa sách cho Wylan.

    Cậu nhóc ngập ngừng cầm lầy.

    “Sách viết gì thế?”

    “Cứ đọc đi,” Jesper giục.

    Wylan nhíu mày và giơ sách lên, rồi nhoẻn cười.

    “Anh kiếm được cái này ở đâu vậy?”

    Matthias thốt lên một tiếng ngạc nhiên khi đến lượt mình.

    “Nó gọi là sách không bìa,” Kaz nói trong lúc Inej đỡ lấy quyển sách từ tay Nina và giơ lên.

    Các trang sách dày đặc những bài thuyết giáo tầm thường, nhưng cái bìa sau chạm trổ cầu kì của nó che giấu hai thấu kính có thể được sử dụng như ống nhòm.

    Kaz đã bảo cô lưu ý những người phụ nữ sử dụng gương con với cấu tạo tương tự tại Quạ Đen.

    Bọn họ có thể xem trộm các lá bài từ xa, rồi ra hiệu với đồng bọn đang ngồi chơi bài.

    “Thông minh đấy,” Inej nhận xét khi đưa mắt nhìn qua hai thấu kính.

    Với người phục vụ quầy bar và các vị khách hiếm hoi trên sân thượng, bọn họ có vẻ như đang chuyền tay nhau một quyển sách và thảo luận về đoạn văn thú vị nào đó.

    Nhưng thật ra Inej đang quan sát cổng thành cùng cỗ xe chở tù đậu phía trước.

    Cánh cổng nằm giữa hai con sói chồm trên chân sau được làm bằng sắt rèn và mang biểu tượng cây tần bì linh thiêng.

    Hai bên cổng thành là một hàng rào cao có gắn cọc nhọn bao quanh khuôn viên lâu đài.

    “Bốn lính,” cô ghi nhận, đúng như Matthias đã nói từ trước.

    Mỗi bên cổng có hai lính gác đứng, một người trong số họ đang nói chuyện với người đánh xe của cỗ xe tù.

    Người đánh xe đưa cho anh ta một gói tài liệu.

    “Đó là lớp bảo vệ đầu tiên,” Matthias cho biết.

    “Họ kiểm tra giấy tờ và xác nhận danh tính, đánh dấu bất kì người nào mà họ nghĩ là cần xem xét kĩ hơn.

    Vào giờ này ngày mai, dòng phương tiện đi qua cổng sẽ chở toàn các khách mời của Hringkälla, và an ninh sẽ được thắt chặt cho tới hẻm sông.”

    “Lúc đó thì chúng ta đã ở bên trong rồi,” Kaz nói.

    “Cỗ xe này chạy có thường xuyên không?”

    Jesper thắc mắc.

    “Còn tuỳ,” Matthias đáp.

    “Thường là vào buổi sáng.

    Đôi khi cả buổi chiều.

    Nhưng tôi không hình dung được họ muốn đưa tù nhân tới vào cùng thời điểm với các khách khứa.”

    “Vậy thì chúng ta phải lên được chuyến xe sớm,” Kaz nói.

    Inej lại giơ cuốn sách lên.

    Người đánh xe tù mặc bộ đồng phục xám tương tự như các lính gác, nhưng không có đai lưng hay huy hiệu.

    Anh ta nhảy từ trên ghế lái xuống và đi vòng ra sau để mở cửa xe.

    “Thánh thần ơi,” Inej thốt lên khi cánh cửa mở ra.

    Mười tù nhân đang ngồi trên hai băng ghế chạy dọc theo thành xe, cổ tay và chân xiềng xích, đầu bị trùm kín.

    Inej đưa cuốn sách lại cho Matthias, và trong khi nó được chuyền tay, cô cảm thấy sự e sợ của cả nhóm tăng lên.

    Chỉ có Kaz vẫn điềm nhiên như không.

    “Trùm đầu, xích chân, còng tay cơ à?”

    Jesper thốt lên.

    “Anh có chắc chúng ta không thể đóng giả các nghệ sĩ biểu diễn không?

    Tôi nghe đồn Wylan rất có năng khiếu môn thổi sáo đấy.”

    “Chúng ta sẽ đóng vai của chính mình,” Kaz đáp.

    “Những tên tội phạm.”

    Nina nhòm qua hai thấu kính của cuốn sách.

    “Bọn họ đang đếm tù nhân.”

    Matthias gật gù.

    “Nếu quy trình vẫn giữ nguyên thì họ sẽ đếm nhanh số lượng tù nhân ở chốt gác đầu tiên, sau đó đếm một lần nữa tại chốt gác kế tiếp.

    Tại đấy, họ sẽ lục soát thùng xe và gầm xe.”

    Nina đưa cuốn sách cho Inej.

    “Người đánh xe sẽ nhận ra bị thừa sáu tù nhân khi mở cửa thùng xe.”

    “Làm như tôi chưa nghĩ tới chuyện đó vậy,” Kaz nói tỉnh bơ.

    “Nói là biết cô chưa móc túi ai bao giờ.”

    “Và anh chưa bao giờ nghĩ cho thấu đáo về mái tóc của mình.”

    Kaz nhíu mày, rồi đưa một bàn tay lên vuốt tóc.

    “Chẳng có điểm nào của mái tóc tôi là không thể sửa được với bốn triệu kruge”

    Jesper ngoẹo đầu, đôi mắt xám sáng lên.

    “Chúng ta sẽ dùng bánh tráo, đúng không?”

    “Chính xác.”

    “Tôi không biết cái món bánh tráo đó,” Matthias nói.

    Nina nhìn Kaz với ánh mắt khó chịu.

    “Tôi cũng không.

    Chúng tôi không giỏi kĩ xảo đường phố bằng anh, Tay Nhám.”

    “Và cũng sẽ không bao giờ bằng được,” Kaz nói tỉnh bơ.

    “Còn nhớ anh chàng Mục Tiêu của chúng ta chứ?”

    Wylan thu mình lại.

    “Coi như mục tiêu của chúng ta là một người khách du lịch đi bộ qua khu Barrel.

    Anh ta nghe nói đó là nơi du khách rất dễ bị móc túi, thế nên anh ta cứ liên tục sờ soạng cái ví tiền, bảo đảm là nó vẫn còn ở đó, tự cho rằng mình rất cảnh giác và thận trọng.

    Thật ngu.

    Mỗi lần làm như vậy là một lần anh ta thông báo cho bọn trộm cắp ở Stave chỗ cất tiền của mình.”

    “Thánh thần ơi,” Nina thốt lên.

    “Tôi cũng hay làm như vậy.”

    “Mọi người đều làm thế cả,” Inej nói.

    Jesper nhướng mày.

    “Không phải tất cả mọi người.”

    “Anh thì có bao giờ có đồng nào trong ví?”

    Nina đáp trả.

    “Thâm thế.”

    “Đó là sự thật.”

    “Sự thật chỉ dành cho những kẻ thiếu óc tưởng tượng,” Jesper phẩy tay.

    “Thế này nhé, một tên trộm kém cỏi,” Kaz nói tiếp, “một kẻ chưa rành đường đi nước bước, sẽ chỉ móc túi mục tiêu rồi cố gắng bỏ chạy thoát thân.

    Đó là cách tốt nhất để bị thộp cổ bởi đám thị tuần.

    Nhưng một tên trộm lọc lõi, như tôi chẳng hạn, sẽ nẫng cái ví tiền đồng thời bỏ vào túi vị khách kia một thứ gì đó để thay thế.”

    “Bỏ bánh vào á?”

    “Bánh tráo chỉ là tên thôi.

    Đó có thể là một hòn đá, một bánh xà phòng, thậm chí là một mẩu bánh mì nếu nó có kích thước phù hợp.

    Một tên trộm lọc lõi có thể ước lượng sức nặng của cái ví chỉ bằng cách nhìn mức độ cộm lên của áo khoác.

    Hắn sẽ đánh tráo cái ví, và anh chàng mục tiêu tội nghiệp vẫn tiếp tục sờ soạng túi áo, mừng thầm trong bụng.

    Chỉ đến khi cần lấy tiền trả cho món trứng chiên hoặc đặt cược bên bàn chơi bài, anh ta mới nhận ra mình bị móc túi.

    Lúc ấy thì tên trộm đã ung dung ngồi đếm tiền ở một nơi an toàn rồi.”

    Wylan ngọ nguậy trên ghế.

    “Móc túi một người vô tội là hành vi chẳng có gì đáng tự hào.”

    “Có chứ, nếu cậu làm tốt.”

    Kaz hất hàm về phía cỗ xe tù lúc này đang lăn bánh trên con đường dẫn tới Lâu Đài Băng và chốt kiểm soát thứ hai.

    “Chúng ta chính là bánh tráo.”

    “Gượm đã,” Nina nói.

    “Cửa xe được khoá từ bên ngoài.

    Làm thế nào chúng ta vào trong xe và khoá cửa lại được?”

    “Cái đó không thành vấn đề nếu cô có đồng bọn là một tên trộm lọc lõi.

    Cứ để tôi lo cái ổ khoá.”

    Jesper duỗi đôi chân dài ngoằng.

    “Vậy là chúng ta sẽ phải mở khoá, mở xiềng xích, vô hiệu hoá sáu tù nhân, thế chỗ của họ và bằng cách nào đó khoá cửa xe chở tù lại, mà đám lính gác và các tù nhân khác không hay biết gì cả?”

    “Đúng vậy.”

    “Còn nhiệm vụ bất khả thi nào mà anh muốn chúng ta hoàn thành nữa không?”

    Nụ cười mỉm xuất hiện trên môi Kaz.

    “Tôi sẽ liệt kê một danh sách cho cậu.”

    ***

    Gác chuyện trộm cắp sang một bên, Inej chỉ muốn ngủ một giấc ngon lành trên một chiếc giường đúng nghĩa, nhưng ở quán trọ thì không thể có tiện nghi được, nhất là khi họ còn phải tìm cách lên được cỗ xe chở tù và đột nhập vào Lâu Đài Băng trước khi lễ Hringkälla bắt đầu.

    Có quá nhiều việc phải làm.

    Nina được cử đi hỏi han người dân địa phương và xác định địa điểm tốt nhất để đánh úp xe tù.

    Sau cơn ác mộng mang tên món cá trích của quán Gestinge, mọi người đã yêu cầu Kaz bù đắp bằng thứ gì tiêu hoá được, và thế là cả bọn ngồi đợi Nina trong một tiệm bánh đông đúc, nhâm nhi món cà phê sôcôla, và rải vụn bánh quế thành từng đống trên bàn.

    Inej nhận thấy Matthias không động đến cốc của mình.

    Món thức uống nguội dần trong lúc anh nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Hẳn là khó khăn với anh lắm,” Inej nói khẽ.

    “Được ở đây mà không thực sự trở về nhà.”

    Anh chàng nhìn xuống cái cốc của mình.

    “Cô không hiểu đâu.”

    “Tôi hiểu chứ.

    Đã lâu lắm rồi tôi không được thấy lại nhà của mình.”

    Kaz quay sang trò chuyện với Jesper.

    Dường như anh ta luôn làm thế mỗi khi cô nhắc tới việc quay trở về Ravka.

    Tất nhiên cô không thể chắc chắn rằng mình sẽ tìm được bố mẹ tại đó.

    Người Suli là một dân tộc du mục.

    Với họ, “nhà” có nghĩa là “gia đình”.

    “Anh có lo ngại khi Nina ở ngoài kia không?”

    Inej hỏi.

    “Không.”

    “Chị ấy rất giỏi chuyện này, anh biết đấy.

    Nina là một diễn viên bẩm sinh.”

    “Tôi biết,” Matthias đáp dứt khoát.

    “Cô ta có thể hoà nhập với bất kì chỗ nào, bất kì người nào.”

    “Nhưng chị ấy giỏi nhất khi là Nina.”

    “Người đó là ai mới được?”

    “Tôi đoán anh hiểu rõ người đó hơn bất cứ ai trong chúng tôi.”

    Matthias khoanh đôi tay lực lưỡng lại.

    “Cô ta rất can đảm,” anh đáp

    cộc lốc.

    “Và hài hước.”

    “Ngớ ngẩn.

    Mọi thứ không cần phải trở thành trò đùa.”

    “Táo tợn,” Inej nói.

    “Ồn ào.”

    “Thế tại sao mắt anh cứ tiếp tục tìm kiếm chị ấy trong đám đông?”

    “Làm gì có,” Matthias cãi.

    Inej suýt bật cười vì cái nhăn mặt dữ dằn của Matthias.

    Anh chàng dùng ngón tay nghịch đống vụn bánh rồi nói tiếp:

    “Nina là tất cả những điều cô vừa nói.

    Như thế là quá nhiều.”

    “Hừm,” Inej nhấp một ngụm cà phê.

    “Có thể chỉ là anh không đủ.”

    Trước khi anh ta kịp đáp lại, chiếc chuông gắn trên cửa tiệm bánh kêu leng keng và Nina bước vào, đôi má ửng hồng, mái tóc nâu rối tung, với lời tuyên bố: “Ai đó gọi món bánh quế cuộn cho tôi ngay lập tức.”

    Bất chấp những tiếng làu bàu của Matthias, Inej không cho rằng cô chỉ tưởng tượng ra sự nhẹ nhõm trên khuôn mặt anh.

    ***

    Nina mất chưa đầy một giờ để khám phá ra hầu hết các chuyến xe chở tù đều đi ngang qua một tửu quán được biết tới với tên gọi Nhà Trạm Ông Cai, nằm trên con đường dẫn tới Lâu Đài Băng.

    Inej và những người khác phải đi bộ gần ba cây số ra khỏi Thượng Djerholm để tới được tửu quán đấy.

    Nó đông kín nông dân và người lao động địa phương, nên họ phải đi tiếp một đoạn, và lúc tìm thấy một địa điểm kín đáo với rặng cây đủ lớn thì Inej gần như ngã gục.

    Cô phải tạ ơn các thánh vì năng lượng tràn trề của Jesper.

    Anh xung phong làm nhiệm vụ cảnh giới phía ngoài.

    Khi chiếc xe tù đi ngang, anh sẽ dùng ánh sáng để báo hiệu cho cả nhóm, sau đó chạy nhanh tới chỗ họ.

    Nina mất vài phút để ngụy trang hình xăm trên cánh tay Jesper bằng một mảng da cáu bẩn.

    Cô sẽ xử lí hình xăm của Kaz và chính mình đêm nay.

    Rất có thể không ai trong đám tù nhân nhận ra dấu hiệu của một băng đảng Ketterdam, nhưng cẩn tắc vô áy náy.

    “Không đổ lệ,” Jesper lên tiếng trước khi biến vào trong ánh hoàng hôn trên đôi chân dài.

    “Không quan tài,” mọi người đáp.

    Inej thầm cầu nguyện cho anh.

    Cô biết Jesper có vũ khí và tự lo được cho mình, nhưng với vóc người lêu nghêu và làn da nâu Zemeni, anh rất dễ bị để ý.

    Họ hạ trại dưới một cái rãnh đất được che chắn bởi nhiều lùm cây bụi, và thay phiên nhau ngủ trên nền đất cứng hoặc canh gác.

    Bất chấp sự mệt mỏi, Inej đã nghĩ rằng cô sẽ không ngủ được, thế nhưng khi cô mở mắt ra thì mặt trời đã lên cao, rọi những tia nắng qua làn mây mù.

    Chắc đã quá trưa.

    Nina đang ngồi cạnh cô, nhấm nháp một chiếc bánh tiêu hình con sói mua ở Thượng Djerholm.

    Inej nhận thấy một đống lửa nhỏ đã được đốt lên, và trong đám tro có phần còn lại của một khối parafin.

    “Những người kia đâu rồi?”

    Cô hỏi, áy náy đưa mắt nhìn quanh.

    “Ngoài đường.

    Kaz bảo mọi người để em ngủ.”

    Inej dụi mắt.

    Cô đoán mình được ưu tiên do vết thương chưa lành hẳn.

    Có lẽ cô đã không che giấu tốt sự mệt mỏi của mình.

    Một loạt tiếng lụp bụp đột ngột vang lên khiến Inej lập tức bật dậy, dao rút ra cầm tay trong nháy mắt.

    “Không sao đâu,” Nina nói.

    “Là Wylan đó.”

    Chắc là Jesper vừa phát tín hiệu.

    Inej cầm lấy cái bánh từ tay Nina rồi chạy vội tới chỗ Kaz và Matthias đang xem Wylan mày mò gì đó dưới gốc một cây tùng đỏ lớn.

    Những tiếng lụp bụp lại vang lên, và nhiều luồng khói trắng phụt ra từ gốc cây.

    Trong một thoáng, tưởng như chẳng có gì xảy ra, nhưng rồi cái cây bật gốc, phơi ra bộ rễ xoắn xuýt và khô héo.

    “Chuyện gì thế?”

    Inej hỏi.

    “Một loại muối nào đó,” Nina đáp.

    Inej nghiêng đầu.

    “Matthias đang… cầu nguyện à?”

    “Chúc phúc thì đúng hơn.

    Người Fjerda luôn làm thế mỗi khi đốn hạ một cái cây.”

    “Thật ạ?”

    “Lời chúc phúc tuỳ thuộc vào việc em sử dụng gỗ của nó như thế nào.

    Xây nhà, xây cầu.”

    Nina ngưng trong giây lát.

    “Hoặc đốt lửa.”

    Họ mất không đầy một phút để cái cây đổ xuống, chắn ngang con đường.

    Với bộ rễ nguyên vẹn, trông nó như thể bị chết do bệnh.

    “Khi cỗ xe tù dừng lại, cái cây sẽ cho chúng ta khoảng mười lăm phút, không hơn,” Kaz nói.

    “Phải hành động thật nhanh.

    Đám tù nhân bị trùm đầu nhưng vẫn nghe được, nên ta không được phép nói bất cứ điều gì.

    Không được tạo ra nghi ngờ.

    Theo những gì họ biết, đây chỉ là một sự dừng chân như thường lệ, và chúng ta muốn giữ cho nó như vậy.”

    Trong khi Inej chờ đợi cùng những người khác, cô cân nhắc mọi khả năng các thứ đi chệch hướng.

    Đám tù nhân có thể không bị trùm đầu.

    Trong thùng xe có thể có một lính gác.

    Thế nếu họ thành công thì sao?

    Thì họ sẽ là những tù nhân được đưa tới Lâu Đài Băng.

    Đó cũng chẳng phải là một tương lai hứa hẹn gì.

    Ngay khi cô bắt đầu tự hỏi phải chăng Jesper đã nhầm lẫn và phát tín hiệu quá sớm, một cỗ xe tù xuất hiện.

    Nó chạy ngang qua chỗ họ, rồi dừng lại trước thân cây chắn ngang đường, cô có thể nghe thấy tiếng chửi rủa của người đánh xe với tên lính ngồi bên cạnh.

    Hai người xuống xe và đi lại chỗ cái cây.

    Trong suốt một phút dài họ chỉ đứng nhìn nó.

    Tên lính to con hơn tháo mũ và gãi bụng.

    “Đúng là đồ làm biếng,” Kaz lẩm bẩm.

    Cuối cùng, có vẻ như họ đã chấp nhận rằng cái cây sẽ không tự nó di chuyển được.

    Họ quay lại chỗ chiếc xe, lấy ra một cuộn dây lớn, rồi tháo một con ngựa để dùng nó kéo thân cây ra khỏi con đường.

    “Sẵn sàng nào,” Kaz nói, đoạn chạy về phía đuôi xe.

    Anh đã bỏ lại cây gậy chống dưới rãnh đất và che giấu rất tốt sự đau đớn của mình.

    Kaz lấy dụng cụ phá khoá giấu trong áo khoác ra rồi nhẹ nhàng phá ổ khoá.

    Trong nháy mắt nó đã bung ra, và anh kéo then cửa sang bên cạnh.

    Sau khi đưa mắt quan sát để chắc chắn hai tên lính gác vẫn đang bận rộn với cái cây, anh mở cửa.

    Inej căng người chờ đợi hiệu lệnh.

    Nhưng không có gì cả.

    Kaz chỉ đứng đó nhìn trân trối vào thùng xe.

    “Có chuyện gì vậy?”

    Wylan thì thào.

    “Hay là bọn họ không bị trùm đầu?”

    Inej đáp, cô không thể quan sát được bên trong thùng xe từ vị trí của mình.

    “Tôi sẽ đi.”

    Cả bọn không thể cùng một lúc lao ra chỗ đuôi xe được.

    Inej trèo lên khỏi rãnh đất và tiến đến chỗ Kaz.

    Anh vẫn đang đứng như trời trồng.

    Cô khẽ chạm vai anh, và Kaz giật nảy.

    Kaz Brekker giật nảy.

    Chuyện gì đang diễn ra thế này?

    Inej không thể đặt câu hỏi vì sợ bị đám tù nhân nghe thấy.

    Cô nhòm vào thùng xe.

    Các tù nhân đều bị còng tay và trùm đầu bang những cái túi đen.

    Nhưng bọn họ đông đúc hơn nhiều so với chuyến xe mà cả nhóm đã quan sát tại chốt kiểm soát.

    Thay vì được ngồi và bị xích vào hai băng ghế dọc theo thành xe, họ phải đứng nép sát vào nhau.

    Ngoài ra, họ còn bị xích cổ vào những cái móc gắn trên nóc thùng xe.

    Ai thụp xuống hoặc nghiêng người quá mức sẽ bị nghẹt thở.

    Việc họ phải đứng nép sát vào nhau tuy không hay chút nào nhưng cũng giúp họ không bị ngã và nghẹt thở.

    Inej huých Kaz một cái.

    Khuôn mặt anh trắng bệch như sáp, nhưng ít ra anh cũng không còn chôn chân tại chỗ nữa.

    Anh trèo vào thùng xe bằng những cử động giật cục và vụng về, rồi bắt đầu mở khoá xích cổ của các tù nhân.

    Inej ra hiệu cho Matthias nhập bọn với họ.

    “Có chuyện gì vậy?”

    Một người tù sợ hãi hỏi bằng tiếng Ravka.

    “Tig!”

    Matthias đe bằng tiếng Fjerda.

    Đám tù nhân xôn xao như thể đã bắt đầu chú ý.

    Inej cũng bất giác đứng thẳng người lại.

    Chỉ bằng một từ đó, Matthias dường như lại vừa khoác lên mình bộ đồng phục của một drüskelle.

    Inej nhìn anh một cách căng thẳng, cô đã bắt đầu cảm thấy thoải mái với anh.

    Một thói quen dễ mắc, nhưng rất khinh suất.

    Kaz tháo sáu bộ còng tay và cùm chân.

    Inej cùng Matthias lần lượt giải thoát cho sáu tù nhân đứng gần cửa nhất.

    Không có thời gian để xem xét chiều cao, tầm vóc, hay thậm chí là giới tính của họ.

    Hai người dẫn họ tới rìa của rãnh đất, không quên để mắt tới hai tên lính đang dời cái cây chắn đường.

    “Có chuyện gì vậy?”

    Một người tù hỏi, nhưng một tiếng “Tig!”

    đanh gọn khác của Matthias khiến anh ta im bặt.

    Sau khi họ đã khuất tầm mắt, Nina làm chậm nhịp tim của các tù nhân để khiến họ bất tỉnh.

    Chỉ khi đó Wylan mới mở mũ trùm đầu của họ.

    Bốn đàn ông, trong đó một người khá già, một phụ nữ trung niên, và một cậu bé người Shu.

    Không phải là lí tưởng, nhưng hi vọng các lính gác không quá xét nét.

    Nói cho cùng, một nhóm tù nhân bị xiềng xích thì gây rắc rối gì được kia chứ?

    Nina tiêm vào người các tù nhân một dung dịch gây ngủ để kéo dài thời gian, còn Wylan giúp cô đưa bọn họ xuống cái rãnh đất, giấu phía sau lùm cây.

    “Chúng ta cứ bỏ mặc họ nằm đây thôi à?”

    Wylan thì thào với Inej trong lúc họ vội vã tiến lại cỗ xe chở tù, mũ trùm đầu cầm trong tay.

    Inej tiếp tục quan sát hai tên lính đang dọn cái cây mà không nhìn cậu nhóc khi đáp: “Họ sẽ nhanh chóng tỉnh dậy và tháo chạy.

    Có thể họ sẽ tới được bờ biển để đào thoát, chúng ta đang giúp họ đấy.”

    “Trông chẳng giống thế chút nào, giống bỏ họ lại dưới huyệt thì đúng hơn.”

    “Suỵt,” cô ra lệnh.

    Đây không phải là chỗ thích hợp, cũng không phải lúc để nói chuyện đạo đức.

    Nếu Wylan không phân biệt được sự khác nhau giữa bị xích và không bị, cậu ta sẽ sớm hiểu ra thôi.

    Inej khum bàn tay trước miệng và phát ra một tiếng chim kêu nho nhỏ.

    Họ có bốn đến năm phút trước khi hai tên lính khai thông con đường, ơn trời, bọn chúng chỉ đang hò hét con ngựa và quát mắng nhau.

    Matthias xích Wylan trước tiên, rồi đến Nina.

    Inej thấy anh ta gồng lên khi Nina vén tóc, để lộ cái cổ trắng ngần.

    Khi xích cổ cô, hai người nhìn nhau, và ánh mắt họ có thể làm tan chảy hàng dặm băng tuyết phương bắc.

    Matthias vội quay đi.

    Inej suýt bật cười, chỉ cần có thế để biến anh chàng drüskelle trở lại thành một cậu bé.

    Jesper là người kế tiếp.

    Anh đang thở hồng hộc sau khi chạy từ giao lộ đến nơi.

    Jesper nháy mắt với cô trước khi được trùm đầu.

    Họ có thể nghe thấy tiếng hai tên lính quát tháo lẫn nhau.

    Inej xích cổ cho Matthias và nhón gót tròng mũ trùm qua đầu anh.

    Về phần mình, đúng lúc sắp sửa được trùm mũ cho thì Nina nháy mắt, hất đầu về phía cánh cửa thùng xe.

    Nina vẫn muốn biết làm thế nào Kaz khoá cửa từ bên trong.

    “Chị xem nhé,” Inej mấp máy môi.

    Kaz ra hiệu cho Inej, và cô nhảy xuống, cô đóng cánh cửa lại, cài then và bóp ổ khoá.

    Một giây sau, cánh cửa mở ra từ phía bản lề.

    Kaz là người gỡ chúng.

    Đó là một thủ thuật mà họ đã làm hàng trăm lần khi gặp một ổ khoá quá phức tạp không phá nổi, hoặc để dàn dựng như thể vụ trộm có nội gián.

    Rất lí tưởng để làm giả một vụ tự sát, Kaz có lần đã nói nửa đùa nửa thật như thế với cô.

    Inej quan sát con đường một lần cuối.

    Hai tên lính đã xong việc với cái cây.

    Tên to con phủi tay rồi vỗ vỗ lưng con ngựa.

    Tên còn lại đã bắt đầu đi về phía đầu xe.

    Inej lách qua cửa vào bên trong thùng xe.

    Ngay lập tức, Kaz khởi sự lắp lại bản lề.

    Inej trùm mũ qua đầu Nina khi cô còn chưa hết kinh ngạc, sau đó vào chỗ của mình bên cạnh Jesper.

    Tuy nhiên, ngay cả trong ánh sáng tù mù, Inej cũng có thể nhận ra Kaz đang thao tác quá chậm.

    Những ngón tay đeo găng của anh vụng về hơn thường lệ.

    Anh bị làm sao thế nhỉ?

    Và tại sao ban nãy anh lại đứng như trời trồng?

    Có gì đó đã làm anh ngần ngại, nhưng là gì mới được?

    Inej nghe thấy tiếng cách khi Kaz đánh rơi tua vít.

    Cô quan sát sàn xe rồi đá nó trở lại cho anh, cố phớt lờ tiếng trống ngực thình thịch của mình.

    Kaz khom xuống lắp cái bản lề thứ hai.

    Anh thở khá nặng nhọc.

    Cô biết anh phải thao tác trong bóng tối dựa vào sự mò mẫm với đôi găng tay da mà anh cứ nhất định phải đeo, nhưng có lẽ đó không phải là nguyên nhân khiến anh trở nên như vậy.

    Cô nghe thấy tiếng bước chân ở phía bên phải thùng xe.

    Một tên lính đang quát tên còn lại.

    Nhanh lên đi, Kaz.

    Cô đã không kịp xoá dấu chân của họ.

    Nhỡ bọn lính phát hiện ra thì sao?

    Nhỡ hắn kéo cánh cửa và nó long ra khỏi bản lề, để lộ một Kaz Brekker không hề bị xiềng xích lẫn trùm đầu thì sao?

    Inej nghe thấy một tiếng cách nữa, và Kaz rủa khe khẽ.

    Bỗng cánh cửa rung lên khi tên lính cầm ổ khoá lay thử.

    Kaz buộc phải áp chặt tay vào cái bản lề.

    Khe sáng trên cửa hơi rộng ra.

    Inej nín thở.

    Cánh cửa không bị bung ra.

    Lại một tràng quát tháo bằng tiếng Fjerda, rồi tiếng bước chân vang lên.

    Sau đó, bộ dây cương kêu lên và cỗ xe giật mạnh về phía trước, lục cục lăn bánh trên đường.

    Inej thở phào, cổ họng cô khô khốc.

    Kaz vào chỗ của mình bên cạnh Inej.

    Anh trùm mũ qua đầu cô, và mùi mốc xộc vào mũi cô.

    Chắc anh cũng đang trùm mũ cho mình trước khi tự xích chân.

    Một màn ảo thuật dễ dàng đối với anh.

    Cánh tay anh ép vào tay cô từ phần vai cho tới khuỷu tay khi anh tự xích cổ.

    Nhiều thân người chạm vào lưng và cạnh sườn cô, nhích sát vào cô.

    Lúc này thì họ đã an toàn, nhưng bất chấp tiếng bánh xe chạy trên đường, Inej vẫn có thể khẳng định Kaz đang thở dốc - những hơi thở cạn, nhanh, tựa như một con thú mắc bẫy.

    Đó là thứ âm thanh mà cô chưa từng nghĩ mình có dịp nghe thấy từ anh.

    Chính vì lắng nghe rất kĩ mà cố biết thời điểm chính xác khi Kaz Brekker, Tay Nhám, đứa con hoang của Barrel, kẻ đáng sợ nhất thành Ketterdam, ngất đi.

    2

    KAZ

    Số tiền lão Hertzoon để lại cho Kaz và Jordie cạn sạch trong tuần lễ tiếp theo.

    Jordie tìm cách trả lại chiếc áo khoác mới mua, nhưng cửa hàng từ chối nhận, còn đôi giày của Kaz thì rõ ràng đã không còn như mới.

    Khi hai anh em đem tờ giấy vay nợ của Hertzoon tới ngân hàng, họ phát hiện ra nó chỉ là một tài liệu vô giá trị, bất chấp các dấu niêm có vẻ hợp pháp.

    Không ai biết Hertzoon cũng như đối tác kinh doanh của lão ta là ai.

    Họ bị tống khỏi nhà trọ sau đó hai ngày, và phải chui xuống gầm cầu ngủ qua đêm, nhưng nhanh chóng bị thị tuần đuổi đi.

    Sau đó, họ lang thang vô định cho tới khi trời sáng.

    Jordie nhất quyết quay lại quán cà phê.

    Hai anh em ngồi thật lâu ở công viên bên kia đường, nhưng khi đêm xuống, khi đội tuần tra bắt đầu xuất hiện, Kaz và Jordie rút xuống phía nam, về phía những con phố của khu Barrel, nơi chẳng ai buồn ngó ngàng đi tuần.

    Kaz và Jordie ngủ dưới gầm cầu thang trong ngõ hẻm phía sau một tửu quán, co ro giữa mấy cái bếp lò bị vứt bỏ và các túi rác.

    Không ai quấy rầy họ đêm đó, nhưng đêm sau, họ bị một nhóm mấy thằng con trai tới hỏi chuyện, nói đó là địa bàn của băng Chim Cắt.

    Chúng đánh Jordie và đá Kaz xuống kênh sau khi cướp đôi giày của cậu.

    Jordie lôi Kaz lên bờ rồi khoác cho cậu cái áo khô của anh.

    “Em đói,” Kaz nói.

    “Anh thì không,” Jordie đáp.

    Không hiểu sao Kaz lại cảm thấy buồn cười, và hai anh em bắt đầu cười sằng sặc.

    Jordie quàng tay qua vai Kaz và nói: “Cuộc sống này đang thắng thế.

    Nhưng để xem cuối cùng chúng ta hay nó mới là kẻ chiến thắng.”

    Sáng hôm sau, Jordie thức giấc và lên cơn sốt.

    Nhiều năm về sau, người ta gọi dịch hoả đậu đã bùng phát tại Ketterdam là dịch bệnh Thị Nữ, theo tên của con tàu đã đem mầm bệnh tới đây.

    Nó hoành hành mạnh nhất trong các khu ổ chuột đông đúc của Barrel.

    Thi thể chất thành đống trên đường phố, và những con tàu phòng dịch phải len lỏi qua các dòng kênh, dùng câu liêm để lôi xác chết lên tàu đem ra đảo Tử Thần thiêu huỷ.

    Kaz bắt đầu sốt hai ngày sau cơn sốt của Jordie.

    Không có tiền để đi bác sĩ hay thầy lang, hai anh em đành rúc vào nhau trong đống thùng gỗ hỏng được họ gọi là Tổ.

    Không ai tới đuổi họ đi.

    Các băng nhóm đều bị suy yếu vì dịch bệnh.

    Lúc cơn sốt lên đến đỉnh điểm, Kaz mơ thấy mình quay về nông trại.

    Khi gõ cửa, cậu thấy Jordie và Kaz trong mơ đang ngồi bên bàn bếp.

    Họ nhìn cậu qua cửa sổ nhưng không cho cậu vào trong nhà.

    Thế là cậu đi lang thang ngoài cánh đồng, sợ rằng mình sẽ phải nằm ngủ giữa đám cỏ cao.

    Lúc tỉnh lại, Kaz không hề ngửi thấy mùi cỏ khô, cỏ ba lá hay mùi táo, mà chỉ toàn mùi khói và mùi rác phân huỷ.

    Jordie nằm cạnh em trai, mắt nhìn lên trời.

    “Đừng bỏ em,” Kaz muốn nói như vậy, nhưng không đủ sức.

    Cậu đành gối đầu lên ngực anh.

    Nó lạnh và cứng một cách khác thường.

    Kaz ngỡ mình đang mơ khi những người dọn xác khiêng cậu lên tàu phòng dịch.

    Cậu cảm thấy mình rơi tự do trước khi kẹt lại trong một đống thi thể.

    Cậu muốn hét lên, nhưng quá yếu sức.

    Họ ở khắp mọi nơi, những cái chân, cái tay, cái bụng cứng đờ, những khuôn mặt xanh lét đầy vết hoả đậu.

    Kaz lúc tỉnh lúc mê, không biết đâu là thực đâu là mơ, trong khi con tàu tiến ra biển.

    Lúc họ hất cậu xuống vùng nước nông của đảo Tử Thần, không hiểu sao cậu có đủ sức để hét lên.

    “Tôi còn sống,” cậu gào, lớn hết mức có thể.

    Nhưng cậu quá nhỏ bé, và con tàu đã bắt đầu quay trở về cảng.

    Kaz cố kéo Jordie lên khỏi mặt nước.

    Cơ thể anh đầy những nốt mụn mủ, làn da trắng bệch và thâm tím.

    Kaz nhớ tới con chó vặn dây cót và món sôcôla nóng trên cầu ngày ấy.

    Cậu cho rằng thiên đường sẽ giống như căn bếp của ngôi nhà trên phố Zelverstraat, và có mùi hutspot mà bà Hertzoon đã nấu cho họ.

    Cậu vẫn còn giữ dải ruy băng đỏ của Saskia.

    Cậu có thể đưa lại nó cho cô bé.

    Họ sẽ làm nến từ bột mộc qua, bà Margit chơi piano, và cậu có thể ngủ thiếp đi bên cạnh lò sưởi, cậu nhắm mắt chờ chết.

    Kaz tưởng đâu mình sẽ thức dậy ở thế giới bên kia, ấm áp, an toàn và no nê, với Jordie bên cạnh.

    Nhưng thay vào đó, cậu vẫn ở giữa đống xác chết, cậu nằm trong vùng nước nông, quần áo ướt sũng, da nhăn nheo vì ngâm nước quá lâu.

    Thi thể Jordie nằm bên cạnh cậu, gần như không thể nhận ra được vì đã trắng bệch và trương phình, nổi dập dềnh trên mặt nước như một con cá gớm ghiếc.

    Kaz nhìn rõ trở lại, các vết ban đỏ đã biến mất.

    Cơn sốt đã chấm dứt.

    Cậu đã quên cơn đói, nhưng khát nước điên cuồng.

    Suốt một ngày đêm, cậu chờ đợi giữa đống xác người, mắt trông về phía cảng, hi vọng con tàu phòng dịch quay lại.

    Họ phải tới để nổi lửa đốt xác chứ, nhưng là bao giờ?

    Họ có thu dọn xác hằng ngày không?

    Hay là hai ngày một lần?

    Cậu kiệt sức và mất nước.

    Cậu biết mình sẽ không thể cầm cự lâu được nữa.

    Bờ biển dường như ở rất xa, và cậu biết mình không đủ sức để bơi hết khoảng cách đó.

    Cậu đã vượt qua cơn sốt, nhưng có thể sẽ nằm chết ở đây.

    Mà cũng có sao đâu?

    Chẳng có gì đợi cậu trong thành, ngoài những cơn đói, các ngõ hẻm tăm tối và sự ẩm ướt của mấy con kênh.

    Nhưng nghĩ tới nó, cậu biết sự thật không phải vậy.

    Việc báo thù đang chờ đợi.

    Báo thù cho Jordie, và có thể là cho cả chính cậu.

    Nhưng cậu sẽ phải đi gặp nó.

    Khi đêm xuống, thuỷ triều đổi hướng, Kaz ép mình bám vào thi thể của Jordie.

    Cậu không đủ sức để tự bơi, nhưng với sự trợ giúp của Jordie, cậu có thể thả nổi.

    Cậu bám chặt vào người anh trai và đạp chân, hướng về phía những ánh đèn của Ketterdam.

    Cùng nhau, họ trôi dập dềnh trên biển cả, với cơ thể trương phình của Jordie là một chiếc bè.

    Kaz tiếp tục đạp chân, cố không nghĩ tới anh trai mình, tới lớp da thịt căng cứng của Jordie dưới bàn tay cậu.

    Cậu cố không nghĩ gì hết, ngoại trừ nhịp chân đạp, trong lúc di chuyển trên biển.

    Cậu nghe nói vùng biển này có cá mập, nhưng cậu biết chúng sẽ không đụng tới mình.

    Giờ cậu cũng là một con quái vật rồi.

    Kaz tiếp tục đạp chân, và khi bình minh ló dạng, cậu ngước mặt lên, thấy mình đã ở cực đông của Lid.

    Hải cảng gần như vắng lặng; trận dịch đã làm đình trệ việc giao thương của Kerch.

    Những mét cuối cùng cực kì gian khó.

    Thuỷ triều một lần nữa thay đổi, và lúc này nó đang chống lại Kaz.

    Nhưng giờ cậu đã có hi vọng, hi vọng và giận dữ, hai ngọn lửa song đôi bùng cháy trong cậu.

    Chúng dẫn dắt cậu tới cầu tàu, trèo lên thang.

    Khi lên đến nơi, cậu nằm vật ra trên lớp ván gỗ, trước khi cố gắng lật người lại.

    Thi thể của Jordie bị sóng đánh đập vào những trụ cầu bên dưới.

    Mắt anh vẫn mở, và trong một thoáng, Kaz tưởng như anh trai đang nhìn mình.

    Nhưng Jordie không nói, cũng không chớp mắt.

    Ánh mắt anh không đổi hướng khi bị thuỷ triều lôi khỏi trụ cầu và cuốn ra xa.

    Mình nên vuốt mắt cho anh, Kaz tự nhủ.

    Nhưng cậu biết nếu trèo xuống thang và bơi ra biển lúc này, cậu sẽ không bao giờ quay vào bờ được nữa.

    Cậu sẽ để mình bị sóng biển nhấn chìm, và điều đó là không thể được.

    Cậu phải sống.

    Ai đó phải trả giá.

    ***

    Trong cỗ xe tù, Kaz choàng tỉnh khi bị một cú chọc mạnh vào đùi.

    Người anh lạnh ngắt, xung quanh anh là bóng tối.

    Nhiều người đẩy anh từ sau lưng, hai bên sườn.

    Anh đang chết đuối giữa những thân người.

    “Kaz.”

    Một tiếng thì thầm cất lên.

    Anh rùng mình.

    Lại một cú chọc vào đùi nữa.

    “Kaz.”

    Giọng nói của Inej.

    Anh hít một hơi thật sâu bằng mũi, và cảm thấy cô dịch ra xa.

    Không hiểu sao, trong không gian chật chội của thùng xe, cô vẫn thu xếp cho anh có chỗ xoay trở.

    Tim anh đập thình thịch.

    “Nói chuyện tiếp đi,” anh thì thào.

    “Gì cơ?”

    “Cứ nói tiếp đi.”

    “Chúng ta đang đi qua cổng nhà tù.

    Ta đã qua hai chốt kiểm soát đầu tiên.”

    Câu nói của cô khiến anh bừng tỉnh.

    Họ đã qua được hai chốt kiểm soát.

    Tức là họ đã được đếm.

    Ai đó đã mở cánh cửa thùng xe, không chỉ một, mà những hai lần, thậm chí có thế còn đặt tay lên người anh, nhưng anh không tỉnh dậy.

    Anh có thể đã bị giết.

    Anh từng hình dung ra cái chết của mình hàng ngàn lần, nhưng chưa bao giờ nghĩ tới cái chết trong lúc ngủ.

    Anh ép mình hít thở sâu, bất chấp mùi hơi người.

    Anh vẫn đeo găng tay, điều mà đám lính áp giải lẽ ra có thể dễ dàng nhận ra.

    Đó là một nhượng bộ đối với sự yếu đuối của anh, nhưng nếu không làm thế, gần như chắc chắn anh sẽ phát điên.

    Phía sau lưng, anh có thể nghe thấy đám tù nhân xì xầm bằng những ngôn ngữ khác nhau.

    Bất chấp nỗi sợ bóng tối trỗi dậy trong lòng, anh thấy biết ơn nó.

    Anh chỉ hi vọng rằng những người còn lại trong nhóm, bị trùm đầu và trong lòng nặng trĩu lo âu, không ghi nhận được sự lạ lùng trong thái độ của anh.

    Anh đã chần chừ khi đánh úp cỗ xe, nhưng chỉ có vậy, và anh có thể bịa ra một cái cớ nào đó để bào chữa cho chuyện đó.

    Anh không thích bị Inej nhìn thấy như thế này, nhưng mặt khác, anh lại thấy thà là cô còn hơn.

    Trong tâm khảm, anh biết cô sẽ không bao giờ kể nó với bất kì ai, cô sẽ không bao giờ dùng nó chống lại anh.

    Cô trông cậy vào tiếng tăm của anh.

    Cô sẽ không muốn làm hình ảnh của anh trở nên yếu đuối.

    Nhưng còn có gì đó nữa, đúng không?

    Inej sẽ không bao giờ phản bội anh, anh biết.

    Nhưng anh không lấy đó làm mừng.

    Mặc dù đã tin tưởng cô không biết bao nhiêu lần trong đời, anh cảm thấy sợ hơn nhiều nếu phải thú thực với cô về lần nhục nhã này.

    Cỗ xe dừng lại.

    Then cửa được kéo, và cánh cửa mở ra.

    Các giọng nói bằng tiếng Fjerda cất lên, theo sau là những tiếng lạch cạch, cổ anh được tháo xích, và người ta giải anh từ trên xe xuống một cầu dẫn cùng với những tù nhân khác.

    Anh nghe thấy âm thanh giống như tiếng ken két khi một cánh cổng mở ra, rồi họ được lùa đi tới trước, loạng choạng trên đôi chân bị xiềng.

    Kaz nheo mắt lại khi mũ trùm đầu của anh đột ngột bị lột bỏ.

    Họ đang đứng trong một khoảng sân rộng, cái cổng đồ sộ của thành tròn đang được từ từ hạ xuống để đóng lại, gây ra những tiếng loảng xoảng và ken két rợn người khi chạm vào nền đá.

    Lúc Kaz nhìn lên, anh thấy các lính canh đã đứng đầy trên mái nhà, súng trường chĩa xuống đám tù nhân.

    Đám lính bên dưới thì đang đối chiếu tù nhân với hồ sơ được người đánh xe cung cấp, bằng tên hoặc nhân dạng.

    Matthias đã mô tả cách bố trí của Lâu Đài Băng một cách chi tiết, nhưng không nói gì nhiều về hình ảnh thực tế của nó.

    Kaz đã chờ đợi một thứ gì đó cũ kĩ và ẩm thấp, xây dựng bằng những tảng đá xám xịt vững chãi.

    Thay vào đó, quanh anh là lớp đá cẩm thạch trắng đến nỗi gần như xanh.

    Có cảm giác như anh đã lạc bước vào một phiên bản trong mơ của vùng đất khắc nghiệt phương bắc này.

    Thật khó mà nói được đâu là kính, đâu là băng, là đá.

    “Nếu đây không phải là công trình của một sáng Chế Gia thì tôi đi đầu xuống đất,” Nina thì thầm bằng tiếng Kerch.

    “Tig!”

    Một tên lính cất tiếng.

    Hắn giáng khẩu súng trường vào bụng Nina, khiến cô gập người lại vì đau đớn.

    Matthias vẫn quay mặt đi chỗ khác, nhưng Kaz kịp nhận thấy người anh chàng gồng lên.

    Đám lính gác đang xem xét chỗ giấy tờ của họ, cố gắng khớp số tù và nhân dạng với nhóm người trước mặt.

    Đây là khoảnh khắc lộ diện đầu tiên, một thứ mà Kaz không thể kiểm soát được.

    Sẽ rất mất thời gian và nguy hiểm nếu họ chọn lựa những người tù mà mình sẽ đóng giả.

    Đó là một rủi ro có tính toán, nhưng lúc này Kaz chỉ có thể chờ đợi và hi vọng sự lười biếng, quan liêu của đám lính gác sẽ giúp anh.

    Khi đám lính đi xuống cuối hàng, Inej giúp Nina đứng dậy.

    “Chị có sao không?”

    Inej hỏi, và Kaz cảm thấy mình bị hút về phía giọng nói của cô như nước chảy xuống chỗ trũng.

    Nina chậm rãi đứng thẳng người lại.

    “Chị ổn,” cô thì thào.

    “Nhưng chị không nghĩ chúng ta cần phải lo ngại về nhóm của Pekka Rollins nữa.”

    Kaz nhìn theo ánh mắt hướng lên của Nina, và thấy trên đỉnh tường thành có năm người đàn ông bị xiên vào cọc nhọn, lưng còng xuống, tay chân thõng thượt.

    Kaz phải nheo mắt nhìn nhưng anh nhận ra Eroll Aerts, thợ phá khoá giỏi nhất của Rollins.

    Những vết bầm dập và đòn roi hắn phải hứng chịu trước khi chết đã tím lại dưới ánh nắng ban mai.

    Kaz chỉ có thế nhìn thấy hình xăm Kim Sư của hắn như một vết đen trên cánh tay.

    Anh xem xét những gương mặt còn lại.

    Một số sưng tấy và biến dạng đến nỗi không thể nhận diện.

    Có thể nào một trong số đó là Rollins không?

    Kaz biết anh nên mừng khi một trong những đối thủ cạnh tranh bị loại bỏ, nhưng Rollins không phải là đồ ngu, và việc nhóm của lão ta không thể vượt qua cổng Lâu Đài Băng là một dấu hiệu đáng lo ngại.

    Ngoài ra, nếu Rollins phải chết trên một cái cọc ở Fjerda thì…

    Không, Kaz từ chối chấp nhận khả năng đó.

    Pekka Rollins thuộc về anh.

    Lúc này đám lính gác đang cãi cọ với người đánh xe, và một trong số bọn họ chỉ tay về phía Inej.

    “Có chuyện gì vậy?”

    Anh thì thào hỏi Nina.

    “Họ bảo là có nhầm lẫn trong giấy tờ, rằng họ nhận được một đứa con gái người Suli thay vì một thằng bé người Shu.”

    “Thế tay đánh xe bảo sao?”

    Inej hỏi.

    “Hắn cứ khăng khăng bảo rằng đó không phải là vấn đề của hắn.”

    “Vậy càng hay,” Kaz thì thầm khích lệ.

    Anh quan sát bọn chúng đi tới đi lui.

    Đây chính là điểm hay ho của những biện pháp dự phòng và các lớp bảo vệ mà chúng đã bố trí.

    Đám lính gác luôn cho rằng chúng có thể dựa vào người khác để sửa sai.

    Sự lười biếng không đáng tin cậy bằng lòng tham, nhưng vẫn là một đòn bẩy đáng kể.

    Họ chỉ là những tù nhân bị xiềng xích, bao vây tứ phía bởi lính gác, và sắp sửa bị tống vào buồng giam.

    Vô hại.

    Cuối cùng, một cai tù thở dài và ra lệnh cho quân của mình:

    “Diveskemen.”

    “Đi thôi,” Nina phiên dịch, rồi hạ giọng dịch tiếp trong lúc hắn nói.

    “Tống chúng vào khu phía đông rồi để cho kíp trực sau giải quyết.”

    Kaz tự cho phép mình thở phào khe khẽ.

    Đúng như dự tính, đám lính gác tách các tù nhân nam và nữ riêng ra, sau đó dẫn cả hai hàng đi qua cửa vòm có hình thù một miệng sói đang mở.

    Họ đi vào gian phòng có một người phụ nữ lớn tuổi đang ngồi với đôi tay bị xích, lính gác kè hai bên.

    Đôi mắt bà ta trống rỗng.

    Khi các tù nhân tiến đến, bà ta nắm lấy cổ tay từng người một.

    Một người khuếch đại.

    Kaz biết Nina từng làm việc với những người như vậy khi cô đi tìm kiếm các Grisha trên đảo Wandering để bổ sung lực lượng cho Hạ Quân.

    Chỉ bằng xúc giác, họ có thể cảm nhận được năng lực của một Grisha, và Kaz từng thấy họ được thuê vào làm trong các ván bài lớn để bảo đảm không ai trong số các người chơi là Grisha.

    Khả năng làm thay đổi nhịp tim của đối thủ hoặc thậm chí thay đổi nhiệt độ phòng là một ưu thế cạnh tranh không công bằng.

    Nhưng người Fjerda sử dụng họ vì một mục đích khác - để bảo đảm không Grisha nào lọt được vào trong các bức tường của họ mà không bị nhận diện.

    Kaz quan sát Nina bước tới.

    Anh có thể thấy cô run lên khi giơ tay ra.

    Những ngón tay của bà già khép lại quanh cổ tay của cô.

    Mi mắt bà ta nhắm lại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.

    Rồi bà ta buông tay Nina và phẩy tay ra hiệu cho cô đi tiếp.

    Bà ta biết nhưng không thèm nói?

    Hay lớp parafin mà họ dùng để phủ lên cẳng tay của Nina đã phát huy hiệu quả?

    Trong lúc họ được dẫn đi qua một vòm cửa phía bên trái, Kaz thoáng thấy Inej khuất dạng sau vòm cửa bên phải, cùng với các nữ tù nhân khác.

    Anh cảm thấy nhói trong ngực, và bàng hoàng nhận ra đó là sự sợ hãi.

    Cô là người đã đánh thức anh trên xe.

    Giọng nói của cô là thứ đã đưa anh trở về từ bóng tối, là sợi dây mà anh bám vào để tự đưa mình trở lại một sự lành mạnh giả hiệu.

    Các tù nhân nam được dẫn lên cầu thang tăm tối tới một cầu treo bằng sắt.

    Bên tay trái họ là tường thành tròn bằng đá trắng nhẵn thín.

    Bên tay phải cầu treo nhìn xuống một nhà kính dài gần bốn trăm mét và đủ cao để chứa nổi một tàu buôn.

    Nó được chiếu sáng bằng ngọn đèn lồng lớn treo trên trần, giống như một cái kén phát sáng.

    Phía bên dưới, Kaz trông thấy những dãy xe bọc thép có tháp pháo hình tròn trên nóc.

    Chúng có các bánh xe rất lớn, liên kết với nhau bằng xích.

    Trên mỗi cỗ xe có một nòng súng cỡ lớn chĩa về phía trước, nơi lẽ ra được dùng để buộc ngựa kéo.

    “Chúng là cái gì vậy?”

    Kaz hỏi khẽ.

    “Torvegen,” Matthias thì thào đáp.

    “Chúng không cần ngựa kéo.

    Họ vẫn còn hoàn thiện bản thiết kế lúc tôi đi khỏi đây.”

    “Không cần ngựa sao?”

    “Xe tăng đấy,” Jesper lẩm bẩm.

    “Tôi đã trông thấy mẫu xe này hồi còn làm với một thợ quân khí ở Novyi Zem.

    Tháp pháo có nhiều loại súng khác nhau, còn cái nòng to uỵch chĩa thẳng phía trước kia á?

    Hoả lực khủng đấy.”

    Trong nhà kính còn có những khẩu pháo hạng nặng, nhiều giá chất đầy súng trường, đạn dược, và những quả bom nhỏ được người Ravka gọi là grenatye.

    Trưng bày trên những bức tường phía sau lớp kính là các món vũ khí cổ hơn: rìu, giáo mác, cung tên.

    Phía trên chúng là một tấm biển hai màu bạc - trắng với dòng chữ: STRYMAKT FJERDAN.

    Khi Kaz liếc nhìn Matthias, anh ta lẩm bẩm: “Sức mạnh Fjerda.”

    Kaz nhìn qua lớp kính dày.

    Anh nhận ra Nina đã nói đúng, nhà kính này là một công trình khác của Sáng Chế Gia - kính chống đạn và không thể vượt qua.

    Những tù nhân đến và đi khỏi nhà tù sẽ trông thấy các món vũ khí, quân trang, máy móc chiến tranh – tất cả là một sự nhắc nhở về sức mạnh của nhà nước Fjerda.

    Thư giãn nào, Kaz nhủ thầm.

    Súng to cũng chẳng có nghĩa lí gì nếu họ không biết phải chĩa vào đâu.

    Phía bên kia của nhà kính, anh trông thấy một cầu treo khác, trên đó các tù nhân nữ đang bước đi.

    Inej sẽ ổn thôi mà.

    Anh cần phải tỉnh táo.

    Giờ họ đang ở trên đất của kẻ thù, một nơi vô cùng nguy hiểm, một tình thế mà bạn không thể thoát ra được nếu không sáng suốt.

    Nhóm của Pekka Rollins có đi xa được đến mức này trước khi bị phát hiện không?

    Hiện giờ lão đang ở đâu?

    Lão bình an vô sự tại Kerch, hay đã bị người Fjerda cầm tù?

    Những chuyện đó không quan trọng.

    Lúc này, Kaz cần phải tập trung vào kế hoạch của mình và tìm kiếm Bo Yul-Bayur.

    Anh liếc nhìn những người còn lại.

    Wylan trông như sắp sửa tè ra quần đến nơi.

    Helvar lầm lì như thường lệ.

    Còn Jesper chỉ nhăn nhở và thì thào: “Này, chúng ta vừa thành công trong việc vào bóc lịch ở nhà tù an ninh nhất thế giới đấy.

    Hoặc chúng ta là thiên tài, hoặc là những thằng con hoang ngu nhất từng hiện diện trên đời.”

    “Chúng ta sẽ sớm được biết thôi.”

    Họ được dẫn vào một căn phòng trắng khác, được trang bị nhiều chậu tắm và vòi nước.

    Tên lính nói gì đó bằng tiếng Fjerda, và Kaz trông thấy Matthias cùng một số người khác bắt đầu cởi quần áo.

    Anh cố nén cơn buồn nôn dâng lên tận cổ.

    Anh có thể làm chuyện này.

    Anh phải làm chuyện này.

    Anh nghĩ tới Jordie.

    Anh trai anh sẽ nói gì nếu đứa em trai mình đánh mất cơ hội đòi lại công lí chỉ vì không thể vượt qua cảm giác ghê tởm ngu ngốc trong đầu?

    Nhưng chuyện này chỉ gợi lại kí ức về cơ thể lạnh toát của Jordie, cái cách mà nó trương phình lên dưới nước, và những thi thể chồng chất quanh anh trên con tầu phòng dịch.

    Mắt anh bắt đầu hoa lên.

    Bình tĩnh đi nào, Brekker, anh nghiêm khắc tự chỉnh đốn.

    Nhưng vô ích.

    Anh sắp ngất một lần nữa, và toàn bộ chuyện này sẽ kết thúc.

    Inej từng đề nghị dạy anh cách ngã.

    “Bí quyết nằm ở chỗ không để mình bị đánh ngã,” anh đã vừa cười vừa bảo cô như thế.

    “Không phải đâu,” cô đáp, “bí quyết nằm ở chỗ biết đứng lên trở lại.”

    Lại là một ngạn ngữ Suli khác, nhưng bằng cách nào đó, nó giúp anh bình tĩnh lại.

    Anh đâu có yếu đuối như thế này.

    Anh phải mạnh mẽ.

    Không chỉ vì Jordie, mà còn vì cả nhóm.

    Anh đã đưa những người này tới đây.

    Anh đã đưa Inej tới đây.

    Việc của anh là đưa họ thoát ra ngoài.

    Bí quyết nằm ở chỗ biết đứng lên trở lại.

    Anh giữ giọng nói của Inej trong đầu, nhắc đi nhắc lại câu nói đó, trong lúc tuột giày, cởi quần áo, và tháo găng tay.

    Anh nhận ra Jesper đang chăm chăm nhìn bàn tay của mình.

    “Cậu chờ đợi cái gì vậy?”

    Kaz lầu bầu hỏi.

    “Móng vuốt.

    Ít ra là thế,” Jesper đáp và cụp mắt nhìn đôi bàn chân xương xẩu của chính mình.

    “Hoặc là một ngón cái đầy gai nhọn.”

    Tên lính đã quay lại sau khi đem quần áo của họ bỏ vào một cái sọt, chắc chắn là để đưa đi đốt.

    Hắn ngửa đầu Kaz ra sau và vạch miệng anh ra, ngoáy một vòng bên trong bằng những ngón tay chuối mắn.

    Mắt Kaz hoa lên khi anh cố gắng giữ cho mình tỉnh táo.

    Những ngón tay của tên lính lướt qua chỗ mấy cái răng mà anh đã nhét miếng bóng biển vào, trước khi bóp và chọc vào mặt trong má của anh.

    “Ondetäjrn!”

    Tên lính la lên.

    “Fellenjuret!”

    Hắn lôi ra hai mẩu kim loại mảnh từ trong miệng của Kaz.

    Dụng cụ phá khoá của anh bị ném thẳng xuống mặt sàn bằng đá.

    Tên lính quát tháo gì đó với Kaz bằng tiếng Fjerda, rồi tát vào mặt anh một cú trời giáng.

    Kaz khuỵu xuống, nhưng cố gắng gượng đứng lên trở lại.

    Anh ghi nhận vẻ mặt hoảng sợ của Wylan trong lúc bị tên lính đẩy vào hàng để chuẩn bị tắm.

    Khi anh đã tắm xong, lạnh ngắt và run lẩy bẩy, một tên lính khác đưa cho anh cái quần tù bạc thếch cùng áo thụng xếp trên giá phía sau hắn.

    Kaz mặc chúng vào, rồi cà nhắc tiến tới khu vực chờ cùng các tù nhân còn lại.

    Ngay lúc này, anh sẵn sàng bớt một nửa số tiền thưởng của mình để được cầm cây gậy chống quen thuộc.

    Các buồng giam ở khu vực chờ trông khá giống với những gì anh đã tiên liệu - không có tường đá trắng hay khu trưng bày vũ khí, chỉ có lớp đá xám ẩm ướt và các song sắt.

    Bọn họ được lùa vào một phòng giam vốn đã đông đúc sẵn.

    Helvar ngồi quay lưng vào tường, quan sát những người còn lại với đôi mắt nheo lại.

    Kaz đứng cạnh song sắt, nhìn những tên lính canh bỏ đi.

    Anh có thể cảm thấy sự chuyển động của những cơ thể phía sau lưng mình.

    Phòng giam đủ rộng, nhưng họ vẫn cảm thấy quá chật chội.

    Kiên nhẫn thêm một chút nữa thôi, Kaz tự nhủ.

    Anh cảm thấy bàn tay mình trần trụi một cách không thể chịu đựng nổi.

    Kaz chờ đợi.

    Anh biết chuyện gì sẽ xảy ra.

    Anh đã dò xét những người khác ngay khi họ bước vào phòng giam, và anh biết ngay gã người Kaelish vạm vỡ có vết bớt kia sẽ tới gây sự với mình.

    Gã bực dọc, căng thẳng, và rõ ràng cái chân yếu của Kaz đã bị gã để ý.

    “Ê, thằng què,” gã nói bằng tiếng Fjerda, trước khi lặp lại bằng tiếng Kerch.

    “Ê, thằng thọt.”

    Gã không cần phải nhọc công.

    Kaz biết từ què của đủ loại ngôn ngữ.

    Chỉ một tích tắc sau, Kaz đã cảm thấy không khí xáo động khi gã người Kaelish lao vào anh.

    Anh bước sang trái, làm gã chúi tới trước theo quán tính.

    Kaz vừa đẩy, vừa tóm lấy cánh tay gã và nhét nó vào khe hở giữa hai chấn song sắt, kéo đến tận vai.

    Gã hộc lên khi bị đập mặt vào song sắt.

    Kaz kẹp chặt tay gã đồng thời giáng mạnh cơ thể mình vào đối phương.

    Một tiếng rắc vang lên khi cánh tay của gã bị trật ra khỏi khớp vai.

    Khi há miệng để hét lên, gã bị Kaz dùng một tay bịt miệng, tay kia kẹp mũi.

    Cảm giác của da thịt trần trụi nơi ngón tay anh khiến Kaz buồn nôn.

    “Suỵttt,” anh nói, đồng thời dùng bàn tay kẹp mũi lái tên tù tới chỗ băng ghế sát tường.

    Các tù nhân khác vội vàng tránh đường.

    Gã ngồi xuống với đôi mắt ngấn lệ vì bị ngạt thở.

    Kaz tiếp tục kẹp chặt mũi và bịt miệng gã.

    Gã ta run rẩy dưới cái ghì của anh.

    “Mày có muốn tao lắp nó lại không?”

    Kaz hỏi.

    Gã ta rên lên.

    “Có muốn không?”

    Gã càng rên dữ trước ánh mắt quan sát của những tù nhân còn lại.

    “Mày mà hét lên, thì tao sẽ làm cho cánh tay mày có cũng như không, hiểu chưa?”

    Anh thả bàn tay bịt miệng ra, rồi giật mạnh cho cánh tay gã vào đúng ổ khớp vai trở lại.

    Gã ta co người lại, nằm trên băng ghế, và bắt đầu thút thít khóc.

    Kaz chùi tay vào quần rồi trở lại vị trí đứng cạnh song sắt ban nãy.

    Anh có thể cảm thấy những người khác đang nhìn, nhưng lúc này anh biết mình sẽ được yên thân.

    Helvar tiến đến đứng bên cạnh anh.

    “Có cần thiết phải như thế không?”

    “Không.”

    Nhưng thực ra là có.

    Anh cần bảo đảm mình được yên thân để làm việc cần làm, và để gợi nhắc bản thân rằng anh không bất lực.

    3

    JESPER

    Jesper muốn nhỏm dậy, nhưng rốt cuộc vẫn ngồi yên trên băng ghế, quyết giữ chỗ của mình.

    Có cảm giác như những luồng lo âu và kích động đang rung lên dưới da anh, và việc Wylan ngồi căng thẳng gõ ngón tay vào đầu gối ngay bên cạnh chỉ càng làm tình hình tệ thêm.

    Anh không nghĩ mình có thể chờ đợi lâu hơn được nữa.

    Đầu tiên là con thuyền, kế đến là chuyến đi trên tuyết, và giờ thì anh bị kẹt trong một phòng giam cho tới khi đám lính gác đến điểm danh buổi tối.

    Chỉ có bố anh là hiểu được sự hiếu động của con trai mình.

    Ông đã cố cho Jesper tiêu hao sức lực ở nông trại, nhưng công việc quá nhàm chán.

    Đại học lẽ ra phải cho anh một định hướng, nhưng anh lại rẽ sang con đường khác.

    Anh co rúm người khi nghĩ tới điều mà bố sẽ nói nếu biết con trai mình bỏ mạng trong một nhà tù Fjerda.

    Nhưng liệu ông có bao giờ biết được hay không?

    Nghĩ tới chuyện đó thật quá sức chịu đựng của anh.

    Bao nhiêu thời gian đã trôi qua?

    Sẽ thế nào nếu họ không thể nghe được tiếng chuông Đồng hồ Cả trong này?

    Đám lính gác sẽ điểm danh tù nhân lúc chuông đồng hồ điểm sáu tiếng.

    Sau đó anh và những người khác sẽ có khoảng thời gian cho đến nửa đêm để hoàn thành công việc.

    Hi vọng là thế.

    Matthias chỉ thực tập ở nhà tù này có ba tháng.

    Các quy trình có thể đã thay đổi.

    Anh ta cũng có thể nhớ nhầm chi tiết nào đó.

    Hoặc anh ta chỉ muốn cho chúng ta vào ngồi sau song sắt trước khi phản bội chúng ta.

    Nhưng Matthias vẫn ngồi im ở phía cuối phòng giam, gần Kaz.

    Jesper

    dĩ nhiên đã chứng kiến màn đụng độ giữa Kaz và gã người Kaelish.

    Không điềm tĩnh như trong các phi vụ khác, hôm nay Kaz tỏ ra khá căng thẳng vì một lí do mà anh không biết.

    Một phần trong anh muốn đặt câu hỏi, nhưng anh biết đó là phần ngu ngốc.

    Đó là anh chàng nông dân ngờ nghệch cứ toàn chọn người xấu nhất có thể để dính vào, tìm kiếm những tín hiệu mà anh thừa biết là chẳng mang ý nghĩa gì - khi Kaz chọn anh cho một phi vụ, khi Kaz hùa theo một trong những trò đùa của anh.

    Jesper chỉ muốn đá chính mình một cái.

    Cuối cùng anh cũng có cơ hội nhìn thấy Kaz Brekker không một mảnh vải che thân, nhưng anh lại mải lo lắng chuyện bị xiên trên cọc nhọn đến mức không chú ý.

    Nhưng Jesper chỉ lo lắng trong lòng, còn Wylan trông như sắp nôn mửa đến nơi.

    “Chúng ta biết làm gì bây giờ?”

    Cậu ta thì thầm.

    “Thợ phá khoá mà không có dụng cụ thì làm gì được?”

    “Yên nào.”

    “Còn anh nữa?

    Một thiện xạ không súng.

    Anh hoàn toàn không thích hợp cho nhiệm vụ này.”

    “Đây không phải là một nhiệm vụ, mà là phi vụ.”

    “Anh Matthias gọi nó là một nhiệm vụ.”

    “Anh ta là lính, không phải cậu.

    Tôi đang ngồi trong tù rồi, đừng khích cho tôi động thủ.”

    “Anh sẽ không giết tôi, và tôi cũng không thể vờ như mọi chuyện đều ổn.

    Chúng ta bị mắc kẹt rồi.”

    “Rõ ràng cậu thích hợp với một cái lồng son hơn là cuộc sống thực sự.”

    “Tôi đã bỏ nhà ra đi.”

    “Phải, cậu đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa để đi vi hành khu Barrel với bọn hạ đẳng chúng tôi.

    Nhưng điều đó không làm cho cậu trở nên khôn ngoan, Wylan à, nó chỉ cho thấy cậu rất ngu ngốc thôi.”

    “Anh chẳng hiểu cái quái gì cả.”

    “Vậy giải thích cho tôi hiểu đi,” Jesper quay sang nhìn cậu nhóc.

    “Chúng ta có thời gian mà.

    Điều gì đã khiến một thiếu gia như cậu bỏ nhà đi bụi với đám tội phạm?”

    “Anh hành động như thể anh là dân Barrel đích thực như Kaz, nhưng thực ra anh đâu phải người Kerch.

    Anh cũng chọn cuộc đời này mà?”

    “Tôi thích thành thị.”

    “Cái đó ở Novyi Zem không có chắc?”

    “Không giống như Ketterdam.

    Cậu đã đi được những đâu ngoài nhà cậu, khu Barrel, và những buổi dạ tiệc xa hoa của các đại sứ?”

    Wylan nhìn đi nơi khác.

    “Nhiều lắm.”

    “Đâu nào?

    Khu ngoại thành trong mùa đào à?”

    “Cuộc đua ở Caryeva.

    Mỏ dầu ở Shu Han.

    Nông trại jurda gần

    Shriftport.

    Weddle.

    Eiling.”

    “Thật không?”

    “Cha từng đưa tôi đi khắp nơi với ông.”

    “Cho tới khi?”

    “Anh hỏi vậy là sao?”

    “Cho tới khi nào?

    Cha từng đưa tôi đi khắp nơi cho tới khi tôi mắc chứng say sóng nặng, cho tới khi tôi ói mửa ngay trong một đám cưới hoàng gia, cho tới khi tôi cạ chân với một ngài đại sứ.”

    “Cái chân muốn được cạ.”

    Jesper bật cười.

    “Cũng rành quá ha.”

    “Quá rành ấy chứ,” Wylan làu bàu.

    “Nhưng cái đó chẳng đi tới đ…”

    Cậu nhóc bị ngắt lời bởi tiếng hô của một tên lính gác đúng lúc Đồng hồ Cả điểm sáu tiếng chuông.

    Ít nhất thì người Fjerda cũng đúng giờ.

    Tên lính gác lặp lại bằng tiếng Shu, rồi tiếng Kerch.

    “Đứng dậy.”

    “Shimkopper,” hắn nói tiếp bằng tiếng Fjerda.

    Mọi người nhìn tên lính với vẻ mặt tỉnh bơ.

    “Thùng tiểu,” hắn cố nói bằng tiếng Kerch.

    “Đâu rồi…

    để đem đổ?”

    Đáp lại là những cái nhún vai và liếc mắt nhìn nhau.

    Vẻ mặt của tên lính gác cho thấy rõ ràng hắn không quan tâm.

    Hắn đẩy một xô nước sạch vào trong phòng giam rồi đóng cửa lại.

    Jesper chen lên hàng đầu và uống nước bằng cái ca buộc ở quai xô.

    Phần lớn chỗ nước đổ ra áo anh.

    Khi đưa cái ca cho Wylan, anh cũng làm cho áo cậu ta ướt đẫm.

    “Anh làm cái gì vậy?”

    Wylan phản đối.

    “Bình tĩnh nào.

    Cứ làm theo bọn tôi.”

    Jesper vén ống quần lên và sờ soạng quanh vùng mắt cá chân.

    “Nói cho tôi biết có chuyện gì…”

    “Yên nào.

    Tôi cần tập trung.”

    Quả đúng như vậy.

    Anh hoàn toàn không muốn viên thuốc dưới da vỡ ra khi nó vẫn còn trong người anh.

    Jesper lần mò dọc theo những mũi khâu mà Nina đã thực hiện.

    Cơn đau khủng khiếp khi anh mở chúng và lấy viên thuốc ra.

    Nó có kích thước gần bằng một quả nho khô, và dính đầy máu.

    Chắc lúc này Nina cũng đang dùng năng lực để tự rạch lớp da của mình.

    Jesper tự hỏi liêu cô có đau bằng anh không.

    “Vén áo lên che miệng đi,” anh bảo Wylan.

    “Hả?”

    “Đừng có đần ra thế.

    Khi cậu khôn ngoan thì trông cậu dễ thương hơn đó.”

    Má Wylan đỏ bừng, cậu ta lườm một cái rồi kéo áo lên.

    Jesper lần tìm phía dưới băng ghế, nơi anh đã giấu thùng tiểu, và lôi nó ra.

    “Một cơn bão sắp đổ bộ,” anh nói to bằng tiếng Kerch.

    Kaz và Matthias đều đã đưa áo lên bịt miệng.

    Jesper quay mặt đi, kéo áo che miệng, rồi bỏ viên thuốc vào trong cái thùng.

    Một âm thanh xì xì vang lên khi khói bắt đầu phụt ra.

    Chỉ trong nháy mắt, nó đã bao trùm toàn bộ gian phòng, biến không khí thành màu xanh lá trắng sữa.

    Đôi mắt Wylan lộ rõ vẻ kinh hoàng bên trên cái cổ áo.

    Jesper định giả vờ ngất đi, nhưng cảnh đám tù nhân bắt đầu ngã lăn ra đất xung quanh mình cũng làm anh tạm thoả mãn.

    Anh đếm cho tới sáu mươi, rồi bỏ áo xuống và hít một hơi.

    Không khí vẫn có mùi ngọt và khiến họ chóng mặt một chút, nhưng tác dụng tồi tệ nhất đã qua đi.

    Khi lính gác đến ở lần điểm danh kế tiếp, đám tù nhân sẽ đau đầu dữ dội, nhưng không ai biết gì để kể.

    Hi vọng lúc đó nhóm của anh đã đi từ lâu.

    “Có phải là khí clo không?”

    “Thấy chưa, cậu dễ thương hơn khi tỏ ra khôn ngoan.

    Đúng rồi, viên thuốc là một vỏ nang chứa đầy bột clo.

    Nó sẽ vô hại cho tới khi tiếp xúc với amoniac.”

    “Nước tiểu trong thùng…

    Nhưng để làm gì?

    Chúng ta vẫn đang bị kẹt trong này.”

    “Jesper,” Kaz ra hiệu cho anh đến gần song sắt.

    “Chúng ta đang gấp.”

    Jesper xoay vai trong lúc đến chỗ Kaz.

    Loại công việc này thường đòi hỏi khá nhiều thời gian, vì anh chưa bao giờ thực sự tập luyện.

    Anh áp hai bàn tay lên một song sắt, và tập trung vào việc định vị các phân tử quặng tinh khiết.

    “Cậu ta đang làm gì vậy?”

    Matthias hỏi.

    “Thực hiện một nghi lễ cổ của người Zemeni,” Kaz đáp.

    “Thật á?”

    “Không.”

    Một lớp bụi mù bắt đầu tuôn ra từ giữa hai bàn tay của Jesper.

    Wylan há hốc mồm.

    “Có phải là quặng sắt không vậy?”

    Jesper gật đầu, cảm thấy mồ hôi rịn ra trên trán.

    “Anh có thể phá huỷ các chấn song á?”

    “Đừng có ngốc thế,” Jesper gằn giọng.

    “Cậu có thấy chúng dày đến thế nào không?”

    Thật ra, cái chấn song mà anh đang xử lí trông có vẻ như không hề suy suyển, nhưng anh đã rút sắt từ trong đó ra nhiều đến nỗi đám bụi mù giữa hai tay anh chuyển sang màu gần như đen.

    Anh cong các đầu ngón tay lại.

    Đám mây phân tử bắt đầu xoáy tròn, mỗi lúc một thu hẹp và dày đặc hơn.

    Jesper buông tay ra, và một cái kim nhỏ xíu rơi xuống sàn, kêu leng keng khe khẽ.

    Wylan chộp lấy, giơ lên cao để ánh sáng phản chiếu trên bề mặt bóng

    mờ của nó.

    “Anh là một Sáng Chế Gia,” Matthias khẳng định chắc nịch.

    “Gần như vậy thôi.”

    “Anh chỉ có thể là Sáng Chế Gia, hoặc không phải là thế, chứ không có chuyện nửa vời,” Wylan nói.

    “Thì tôi là vậy đó.”

    Jesper chọc một ngón tay vào Wylan.

    “Và cậu sẽ câm như hến về chuyện này khi chúng ta quay lại Ketterdam.”

    “Nhưng tại sao anh lại nói dối…”

    “Tôi thích được tự do đi trên đường,” Jesper đáp.

    “Tôi không thích phải lo ngay ngáy về việc bị đám buôn nô lệ thộp cổ, hoặc toi mạng vì một gã điên nào đó như anh bạn Helvar đây.

    Ngoài ra, tôi có những kĩ năng khác mang lại nhiều niềm vui và quyền lợi hơn cái này.

    Rất nhiều kĩ năng khác.”

    Wylan ho húng hắng.

    Tán tỉnh cậu ta có lẽ vui hơn là chọc tức cậu ta, nhưng không hơn bao nhiêu.

    “Nina có biết anh là Grisha không?”

    “Không, và cô ấy sẽ không được biết chuyện đó.

    Tôi không cần bài thuyết giảng về việc gia nhập Hạ Quân hay mấy lí tưởng quang vinh của Ravka.”

    “Làm tiếp đi,” Kaz chen ngang.

    “Nhanh lên.”

    Jesper lặp lại thao tác vừa rồi trên một song sắt khác.

    “Nếu kế hoạch là như thế này, việc gì anh phải lén lút đem theo dụng cụ phá khoá?”

    Wylan thắc mắc.

    Kaz khoanh tay lại.

    “Cậu đã bao giờ nghe kể về người đàn ông hấp hối được cứu sống một cách thần kì không?

    Ông ta lao ra ngoài đường nhảy nhót điên cuồng, để rồi bị một con ngựa giẫm chết.

    Cậu phải để cho mục tiêu cảm thấy như anh ta đã thắng.

    Đám lính gác có xem xét Matthias kĩ càng để kịp thấy anh ta quen mặt hay không?

    Bọn chúng có nhọc công điều tra Jesper khi những mảnh parafin tróc ra khỏi cánh tay của cậu ta trong lúc tắm không?

    Không, bởi vì chúng còn bận hả hê chúc mừng nhau vì đã bắt quả tang tôi đem đồ phá khoá vào đây.

    Chúng tưởng đã vô hiệu hoá được mối nguy.”

    Lúc Jesper xong việc, Kaz dùng ngón tay cầm hai thanh kim loại nhỏ lên.

    Thật kì lạ khi quan sát anh ta làm việc mà không đeo găng, nhưng chỉ trong giây lát ổ khoá đã mở ra, và họ được tự do.

    Sau khi họ đã ra ngoài, Kaz cẩn thận bóp ổ khoá lại để khoá cửa.

    “Mọi người đã biết nhiệm vụ của mình rồi đấy,” Kaz thì thào.

    “Wylan và tôi sẽ đi giải thoát cho Nina và Inej.

    Còn Jesper, cậu và Matthias sẽ…”

    “Tôi biết rồi.

    Đi kiếm càng nhiều dây thừng càng tốt.”

    “Hẹn nhau dưới tầng hầm sau nửa giờ nữa.”

    Họ tách nhau ra.

    Các bánh xe đã bắt đầu quay.

    Theo những sơ đồ mà Wylan vẽ, chuồng ngựa nằm giáp với chòi canh trong sân, do vậy Jesper và Matthias phải đi ngược lại con đường đã đi, xuyên qua khu vực chờ.

    Trên lí thuyết thì khu này chỉ hoạt động khi tù nhân mới được đưa vào hoặc tù nhân cũ được đưa ra, nhưng họ vẫn phải cẩn trọng.

    Chỉ cần chạm mặt một tên lính gác là mọi kế hoạch tan tành mây khói.

    Phần đáng lo nhất là băng qua cầu treo - một quãng đường dài, sáng sủa - và họ hoàn toàn lộ mình.

    Nhưng không còn cách nào khác, đành phải trông cậy vào may mắn mà chạy cho nhanh.

    Khi hai người đi xuống cầu thang và vào căn phòng mà bà khuếch đại già đã kiểm tra anh, Jesper cố nén cái rùng mình.

    Mặc dù lớp parafin trên cánh tay anh luôn phát huy hiệu quả ở mọi sòng bạc, tim anh vẫn đập thình thịch khi đối diện với bà ta.

    Bà ta ốm như một cây sậy và cũng rỗng ruột y như nó.

    Đấy là điều xảy ra với một Grisha bị phát hiện ở nơi không thích hợp và vào thời điểm không thích hợp: họ phải làm nô lệ suốt đời, hoặc còn tệ hơn.

    Khi Jesper đẩy cửa chuồng ngựa, tự dưng anh cảm thấy nhẹ nhõm phần nào.

    Mùi cỏ khô, hình bóng những con ngựa trong chuồng, tiếng hí của chúng, tất cả đưa anh về với những kí ức của Novyi Zem.

    Tại Ketterdam, các con kênh đã làm cho xe ngựa trở thành thừa thãi.

    Ngựa là thứ xa xỉ, một thú vui để cho người khác thấy bạn có chỗ chứa chúng, và có tiền để chăm sóc chúng.

    Anh đã không nhận ra mình nhớ những lúc được chơi cùng bầy gia súc đến thế nào.

    Nhưng lúc này Jesper không có thời gian để hoài niệm hay để vuốt một cái mũi mịn như nhung.

    Anh băng qua các chuồng ngựa để vào buồng cất yên cương.

    Matthias khoác lên mỗi bên vai một cuộn thừng to.

    Anh ta có vẻ ngạc nhiên khi thấy Jesper cũng lấy hai cuộn thừng.

    “Con nhà nông mà,” Jesper giải thích.

    “Trông cậu đâu có ra dáng.”

    “Ờ, tôi mỏng người,” Jesper đáp trong khi nhanh chóng quay ra cửa tàu ngựa.

    “Nhưng như thế tôi sẽ bị ướt ít hơn khi trời mưa.”

    “Tại sao?”

    “Nước mưa ít rơi vào người tôi hơn.”

    “Tất cả các cộng sự của Kaz đều kì quặc như thế này à?”

    Matthias hỏi anh.

    “Ồ, anh nên gặp gỡ những thành viên còn lại của băng Cặn Bã.

    Ở cạnh họ, chúng ta giống như hai người Fjerda vậy.”

    Họ đi qua khu vực phòng tắm, và thay vì đi tiếp, họ leo xuống một cầu thang hẹp với hành lang dài tăm tối dẫn xuống dưới hầm.

    Lúc này họ đã ở bên dưới nhà tù chính, với năm tầng xà lim, đám tù nhân và lính gác chồng chất trên đầu.

    Jesper tưởng đâu nhóm còn lại đã tập hợp các vật liệu điều chế thuốc nổ trong xưởng giặt.

    Nhưng anh chỉ thấy những cái bồn lớn bằng thiếc, các bàn dài để gấp đồ, và chỗ quần áo đang phơi trên những thanh sào cao quá đầu anh.

    Họ tìm thấy Wylan và Inej trong khu gom rác.

    Nó nhỏ hơn xưởng giặt và hôi mùi rác rưởi.

    Hai thùng lớn có bánh xe chất đầy quần áo bỏ đi đã được đẩy vào sát tường, chờ được đốt.

    Jesper cảm thấy hơi nóng toả ra từ lò thiêu ngay khi anh cùng Matthias tiến vào.

    “Chúng ta có một vấn đề,” Wylan nói.

    “Tệ cỡ nào?”

    Jesper hỏi lại và bỏ hai cuộn thừng xuống sàn.

    Inej chỉ tay về phía hai cánh cửa sắt lớn, được lắp vào thứ trông giống như ống khói lớn chạy dọc theo tường lên đến trần nhà.

    “Tôi nghĩ họ vừa đốt lò chiều nay.”

    “Anh đã nói là họ đốt lò vào các buổi sáng,” Jesper bảo Matthias.

    “Họ từng làm như thế.”

    Khi Jesper cầm hai tay nắm bọc da và mở cửa, một luồng khí nóng ập vào anh.

    Nó đầy muội than và có mùi rất hăng - mùi hoá chất, có lẽ là thứ gì đó mà bọn họ thêm vào để tăng nhiệt độ của ngọn lửa.

    Không dễ chịu chút nào.

    Đây là nơi xử lí mọi thứ bỏ đi của đám tù nhân, từ thức ăn thừa, các thùng chất thải cho tới quần áo, những thứ mà bọn họ bỏ vào chất đốt cũng không đủ để xoá sạch sự dơ bẩn.

    Jesper nghiêng người vào trong để quan sát, mồ hôi túa ra.

    Phía bên dưới, anh trông thấy chỗ than đốt lò đã tàn nhưng lâu lâu vẫn hồng rực lên.

    “Wylan, nhặt cho tôi một cái áo trong thùng,” anh nói.

    Jesper xé một ống tay áo và quăng nó vào trong lò.

    Nó rơi không tiếng động, bắt lửa và cháy tan trước khi chạm được tới lớp than.

    Anh đóng cửa lò lại và vứt cái áo vào thùng.

    “Vụ chất nổ coi như huỷ,” anh nói.

    “Chúng ta không thể đem theo thuốc nổ vào trong đó.

    Cô vẫn leo được chứ?”

    Anh hỏi Inej.

    “Có thể.

    Tôi không biết.”

    “Kaz bảo sao?

    Mà Kaz đâu rồi?

    Cả Nina nữa?”

    “Kaz chưa biết vụ cái lò,” Inej đáp.

    “Anh ấy và chị Nina đang đi kiểm tra các phòng giam ở tầng trên.”

    Mặt Matthias sa sầm như một bầu trời chuẩn bị đổ mưa.

    “Lẽ ra tôi và Jesper phải đi cùng Nina.”

    “Kaz không muốn đợi.”

    “Chúng ta vẫn đang đúng giờ mà,” Matthias bực bội nói.

    “Anh ta nôn nóng làm gì chứ?”

    Jesper cũng đang tự hỏi như vậy.

    “Kaz muốn cà nhắc lên xuống mấy tầng lầu, vừa đi vừa tránh lính gác à?”

    “Tôi đã cố nói điều đó với anh ấy,” Inej đáp.

    “Nhưng Kaz luôn làm chúng ta bất ngờ, anh quên rồi à?”

    “Giống như một tổ ong.

    Tôi thành thực mong rằng chúng ta sẽ không bị chích.”

    “Inej,” Wylan gọi từ bên cạnh một cái thùng.

    “Quần áo của chúng ta này.”

    Cậu ta thò tay vào trong thùng, rồi lần lượt lôi ra hai chiếc giày da của Inej.

    Khuôn mặt cô tươi hẳn lên.

    Cuối cùng cũng đã có một chút may mắn.

    Kaz không có gậy chống.

    Jesper thiếu súng, và Inej chẳng còn bộ dao.

    Nhưng ít nhất cô cũng có đôi giày màu nhiệm.

    “Cô đã nói gì nhỉ, Bóng Ma?

    Cô vẫn leo được chứ?”

    “Được.”

    Jesper cầm lấy đôi giày từ tay Wylan.

    “Nếu không sợ chúng dính đầy mầm bệnh, chắc tôi đã hôn luôn chúng và cả cậu rồi.”

    4

    NINA

    Nina leo cầu thang theo sau Kaz.

    Hết bậc đá này tới bậc đá khác, dưới ánh đèn khí đốt chập chờn.

    Cô quan sát anh kĩ lưỡng.

    Anh đi với một nhịp độ khá nhanh, nhưng dáng điêu lại cứng nhắc.

    Tại sao anh nhất quyết đi lên trên này?

    Thời gian không phải là vấn đề, nên có lẽ ngay từ đầu Kaz đã có ý định như vậy.

    Có thể anh muốn ém lại một số thông tin với Matthias.

    Hoặc là anh khăng khăng muốn tất cả mọi người phải tiếp tục suy đoán.

    Họ dừng lại ở mỗi chiếu nghỉ, nghe ngóng đám lính đi tuần.

    Nhà tù có rất nhiều âm thanh, và thật khó để không nhảy dựng khi nghe thấy chúng những giọng nói vọng xuống cầu thang, tiếng loảng xoảng đóng mở của các cánh cửa.

    Nina nhớ lại sự hỗn loạn đầy bạo lực ở cổng Địa Ngục, những khoản tiền đút lót đi từ tay người này sang người khác, lớp cát nhuộm máu.

    Cả một trời khác biệt so với cái nơi sạch sẽ này.

    Người Fjerda chắc chắn rất chú trọng việc giữ ngăn nắp mọi thứ.

    Trên đường họ đi lên tầng bốn, những giọng nói và tiếng bước chân đột ngột vang lên khắp cầu thang.

    Nina và Kaz vội lùi vào trong chiếu nghỉ tầng ba và lách qua một cánh cửa dẫn vào các buồng giam.

    Tên tù nhân trong xà lim gần họ nhất bắt đầu la lên.

    Nina nhanh chóng giơ tay bóp nghẹt đường thở của hắn.

    Hắn nhìn cô trân trối, mắt lồi ra, tay bấu lấy cổ họng.

    Cô làm chậm nhịp tim của hắn, khiến hắn bất tỉnh, đồng thời nhả bớt sức ép ở thanh quản để hắn thở được.

    Họ cần hắn im lặng, chứ không cần hắn chết.

    Tiếng ồn lớn dần khi đám lính gác đi xuống cầu thang.

    Nina nín thở, mắt quan sát cánh cửa, tay giơ lên sẵn sàng.

    Kaz không có vũ khí, nhưng anh cũng thủ thế, chờ đợi cánh cửa bật mở.

    Tuy nhiên, đám lính tiếp tục đi ngang qua chiếu nghỉ để xuống các tầng lầu bên dưới.

    Khi tiếng ồn tắt dần, Kaz ra hiệu cho cô, và hai người lách qua cánh cửa để ra ngoài trở lại, nhẹ nhàng khép cửa sau lưng, rồi tiếp tục đi lên.

    Bảy hồi chuông vang lên khi họ tới được tầng trên cùng.

    Một giờ đã trôi qua kể từ khi họ làm bất tỉnh đám tù nhân ở khu vực chờ.

    Họ có bốn mươi lăm phút để kiểm tra các phòng biệt giam, gặp nhau tại chiếu nghỉ, và quay xuống tầng hầm.

    Kaz ra hiệu cho cô đi theo hành lang bên trái cầu thang, trong khi anh tiến vào hành lang bên phải.

    Cánh cửa kêu ken két ồn ào khi Nina đẩy nó để bước vào trong hành lang.

    Những ngọn đèn lồng ở đây được treo cách nhau khá xa, và bóng tối giữa chúng đủ dày để người ta có thể ẩn mình.

    Cô mừng thầm vì điều đó, nhưng cũng thấy hơi ghê.

    Các buồng giam ở đây cũng khác.

    Cửa buồng làm bằng sắt đặc thay cho các chấn song, có một lỗ nhòm ở ngang tầm mắt cho phép quan sát bên trong.

    Tầm mắt của người Fjerda.

    Nina khá cao nhưng cô phải kiễng chân để nhòm qua những cái lỗ.

    Hầu hết các tù nhân đang ngủ hoặc nghỉ ngơi, thu mình trong một góc, hay nằm ngửa, vắt tay lên trán.

    Những người còn lại ngồi dựa lưng vào tường, mắt nhìn vô định.

    Thỉnh thoảng, cô bắt gặp một tù nhân đang rảo bước trong buồng giam, và phải lập tức lùi lại.

    Không có ai trong số họ là người Shu.

    “Ajor?”

    Một người gọi cô bằng tiếng Fjerda.

    Nina phớt lờ ông ta và đi tiếp, tim đập thình thịch.

    Sẽ thế nào nếu Bo YuL-Bayur bị nhốt ở một trong những buồng biệt giam này?

    Cô biết đó là một khả năng rất thấp, nhưng… cô có thể giết chết ông ta tại chỗ: cho ông ta chìm vào một giấc ngủ sâu, không đau đớn, rồi làm ngừng tim.

    Cô sẽ nói với Kaz là cô không tìm thấy ông ta.

    Thế nếu Kaz tìm thấy Bo Yul-Bayur thì sao?

    Cô có thể đợi cho tới khi họ đã rời khỏi Lâu Đài Băng để tìm một giải pháp, nhưng ít nhất cô cũng có thể trông đợi sự giúp sức của Matthias.

    Thoả thuận của họ đúng là kì lạ.

    Tuy vậy, trong lúc đi tới lui qua các hành lang, hi vọng của cô tắt dần.

    Thêm một dãy buồng giam nữa, cô tự nhủ, rồi quay trở xuống tầng hầm mà không phải lo nghĩ gì cả.

    Nhưng khi tiến vào hành lang cuối cùng, cô nhận thấy nó ngắn hơn những cái khác.

    Chỗ đáng ra phải có các buồng giam lại chỉ có một cánh cửa thép chắn ngang lối đi, dưới khe cửa có ánh sáng lọt qua.

    Một cảm giác bất an lướt qua Nina khi cô lại gần cánh cửa, nhưng cô vẫn mở nó ra.

    Nina phải nheo mắt lại trước thứ ánh sáng rực rỡ như ban ngày nhưng lại không nóng.

    Cô không thể xác định được nguồn phát ra nó.

    Cô nghe thấy tiếng cánh cửa sau lưng kèn kẹt khép lại, và kịp tóm lấy mép của nó ở giây cuối cùng.

    Linh cảm mách bảo cô cần phải có chìa khoá mới mở được cửa từ phía trong này.

    Cô đưa mắt tìm kiếm thứ gì đó để chặn cửa, và đành phải xé một mảnh quần nhét vào khe cửa.

    Chỗ này thật lạc quẻ.

    Tường, sàn, và trần có màu trắng, sạch sẽ đến nhức mắt.

    Một bên tường của hành lang được lắp những tấm kính láng hoàn hảo.

    Sản phẩm của Sáng Chế Gia.

    Cũng giống như cái nhà kính bày vũ khí dưới kia.

    Không một người thợ Fjerda nào có thể làm nổi một bề mặt kính nhẵn đến thế.

    Chắc chắn năng lực của Grisha đã được sử dụng để làm ra loại kính này.

    Có những Grisha không phục vụ bất kì quốc gia nào và họ có thể đã làm thuê cho chính phủ Fjerda.

    Nhưng liệu họ có sống sót sau những công việc như thế này không?

    Đây giống như công sức của nô lệ thì đúng hơn.

    Nina đi một bước, rồi một bước nữa.

    Cô liếc qua vai ra phía sau.

    Nếu một lính gác bước qua cửa, cô sẽ không có nơi nào để nấp.

    Vậy thì đi tiếp đi, Nina.

    Cô nhòm qua ô kính đầu tiên.

    Căn buồng cũng trắng toát như ngoài hành lang, và được chiếu sáng bởi cùng một thứ ánh sáng rực rỡ không đổi như vậy.

    Trong buồng trống rỗng, không có bất cứ đồ đạc nào - không ghế băng, không chậu rửa, cũng không có xô.

    Thứ duy nhất phá vỡ không gian tuyền một màu trắng là lỗ thoát nước ở chính giữa sàn nhà, bao quanh bởi nhiều vệt màu đỏ.

    Nina di chuyển tới căn buồng tiếp theo.

    Nó giống hệt như căn buồng trước và cũng trống rỗng.

    Căn buồng thứ ba và thứ tư cũng thế.

    Nhưng ở trong căn phòng thứ tư, cô bắt gặp một đồng xu nằm cạnh lỗ thoát nước.

    Không, không phải một đồng xu, mà là một cái cúc áo.

    Một cúc áo nhỏ có khắc hình cái cánh, biểu tượng của một Tiết Khí Sư.

    Nina cảm thấy cánh tay mình nổi da gà.

    Có phải những buồng giam này được làm ra bởi đám Grisha nô lệ để nhốt các tù nhân Grisha?

    Lớp kính này, những bức tường và mặt sàn kia, có phải được làm ra để chống lại năng lực của Sáng Chế Gia?

    Trong phòng hoàn toàn không có kim loại.

    Không có ống dẫn nước, để Tiết Hải Sư không thể phát huy năng lực.

    Cô cũng ngờ rằng lớp kính mà mình đang nhìn qua được tráng gương ở mặt bên kia để một Độc Tâm Y không thể nhìn thấy mục tiêu của mình.

    Những buồng giam này được thiết kế để giam giữ các Grisha.

    Như cô.

    Nina bước nhanh hơn.

    Bo Yul-Bayur không có ở đây, và cô chỉ muốn

    ra khỏi nơi này ngay lập tức.

    Cô rút miếng vải ra khỏi khe cửa rồi bước ra ngoài thật nhanh, không thèm bận tâm xem cửa có đóng lại sau lưng mình hay không.

    Hành lang phía ngoài dường như tối đi so với thứ ánh sáng rực rỡ trong kia.

    Nina lập cập chạy trở lại điểm hẹn.

    Cô biết mình đang bất cẩn, nhưng không tài nào xoá được hình ảnh những buồng giam trắng toát kia ra khỏi đầu.

    Lỗ thoát nước.

    Những vết màu đỏ cạnh đó.

    Có phải các Grisha đã bị tra tấn trong đó, để buộc họ thú nhận những tội ác chống lại loài người?

    Cô đã nghiên cứu về Fjerda - các lãnh đạo của họ, ngôn ngữ của họ.

    Cô thậm chí từng mơ đến việc làm gián điệp trà trộn vào trong Lâu Đài Băng như lúc này, để tấn công thẳng vào trái tim kẻ thù mà cô căm ghét tột độ.

    Nhưng giờ đây, khi đã ở trong này, cô chỉ muốn đi ra.

    Cô đã quen với Ketterdam, với những chuyến phiêu lưu do việc tham gia cùng băng Cặn Bã mang lại, với cuộc sống nhàn hạ ở Nhà Hồng Bạch.

    Nhưng ngay cả ở đó, liệu cô có được an toàn không?

    Một đô thị nơi cô không thể bước đi ngoài phố mà không sợ hãi?

    Mình muốn về nhà.

    Nỗi nhớ xoáy mạnh vào cô, một nỗi đau thể xác thực sự.

    Mình muốn về Ravka.

    Đồng hồ Cả bắt đầu điểm phút thứ bốn mươi lăm.

    Cô đang bị muộn giờ.

    Nhưng cô vẫn cố gắng bước chậm lại trước khi mở cánh cửa trông ra cầu thang.

    Không có ai ở đó, kể cả Kaz.

    Cô bước tới hành lang đối diện, thò đầu qua cửa quan sát để xem anh có đang đi đến hay không.

    Không, chỉ có các cánh cửa sắt và những khoảng tối, không có dấu hiệu nào của anh.

    Nina chờ đợi, không biết phải làm gì.

    Họ đã hẹn nhau tại chiếu nghỉ với mười lăm phút còn lại trước khi đồng hồ điểm giờ.

    Liệu anh có đang gặp rắc rối nào đó hay không?

    Nina ngần ngừ, rồi lao vào hành lang mà Kaz phụ trách tìm kiếm.

    Cô chạy ngang qua các buồng giam, tới lui giữa các hành lang, nhưng vẫn không thấy Kaz đâu cả.

    Đủ rồi, cô nghĩ bụng khi đi tới cuối đường.

    Hoặc là Kaz bỏ rơi cô và đã xuống dưới hầm gặp những người khác, hoặc anh đã bị bắt và lôi đi đâu đó.

    Dù thế nào thì cô cũng phải tới lò thiêu.

    Một khi gặp được những người còn lại, cô và họ sẽ bàn xem phải làm gì.

    Nina đua tốc độ quay trở lại và mở toang cánh cửa dẫn ra cầu thang.

    Hai lính gác đang đứng trò chuyện ở đầu cầu thang.

    Trong một thoáng họ trố mắt nhìn cô, quai hàm trễ xuống.

    “Sten.”

    Một tên la lên bằng tiếng Fjerda ra lệnh cho cô đứng im, trong lúc chúng luống cuống tìm súng.

    Nina giơ hai cánh tay lên, những ngón tay siết lại thành nắm đấm, và nhìn hai tên lính ngã xuống.

    Một tên ngã trên chiếu nghỉ, nhưng tên kia ngã xuống cầu thang, khẩu súng của hắn bị cướp cò, vãi đạn tứ tung vào tường đá, làm tiếng ồn đinh tai dội xuống cầu thang.

    Kaz sẽ giết cô.

    Còn cô sẽ giết anh ta.

    Nina vội vàng băng qua hai tên lính và xuống thang.

    Khi cô xuống đến chiếu nghỉ thứ ba thì cánh cửa bật mở, một tên lính lao ra cầu thang.

    Nina ngoắc tay, và cổ hắn gãy rắc.

    Cô lao đi trước cả khi cơ thể hắn chạm sàn.

    Đúng lúc đó, chuông Đồng hồ Cả bắt đầu vang lên.

    Không phải hồi chuông điểm giờ đều đặn, mà là tiếng ré lanh lảnh đinh tai - hồi chuông báo động.

    5

    INEJ

    Inej ngước lên, nhìn vào bóng tối.

    Tít cao bên trên cô nằm lơ lửng một mảng trời đêm màu xám.

    Sáu tầng lầu phải leo trong bóng tối với đôi bàn tay trơn nhẫy mồ hôi, hơi nóng địa ngục phía dưới, cuộn dây thừng trì xuống và không có tấm lưới bảo vệ nào để đỡ cô.

    Trèo lên đi, Inej.

    Tốt nhất là leo trèo với đôi bàn tay trần, nhưng sức nóng của lò thiêu không cho phép cô làm như vậy.

    Thế nên Wylan và Jesper giúp cô tìm ra đôi găng tay của Kaz trong thùng đồ bỏ đi.

    Cô đã ngần ngại trong giây lát.

    Kaz chắc sẽ bảo cô đeo chúng vào và làm bất cứ điều gì cần thiết để hoàn thành công việc, thế nhưng cô vẫn cảm thấy áy náy khi xỏ tay vào đôi găng da màu đen mềm mại, như thế cô lẻn vào phòng anh mà không xin phép, đọc trộm thư và nằm lên giường của anh.

    Đôi găng không có lớp lót, những đường may rất tinh xảo được giấu kĩ tại các đầu ngón.

    Để thuận lợi cho việc thao tác, cô nghĩ.

    Như thế anh có thể giữ được sự tiếp xúc với các đồng xu hay lá bài, hoặc thực hiện những công việc khéo léo như phá khoá.

    Cô không có thời gian để làm quen với cảm giác của đôi găng rộng.

    Với lại, cô đã từng leo trèo với găng tay nhiều lần, khi mùa đông Ketterdam làm ngón tay cô tê cóng, cô co duỗi ngón chân trong đôi giày da nhỏ của mình, thích thú với cảm giác thân quen, nhún nhảy trên cặp đế cao su sần, hăm hở và không hề sợ sệt.

    Sức nóng không là gì cả, chỉ khó chịu một chút thôi.

    Trọng lượng của cuộn dây thừng ư?

    Cô là Bóng Ma mà.

    Cô từng phải chịu nhiều thứ còn tồi tệ hơn thế.

    Cô bắt tay vào việc leo ống khói với sự tự tin tuyệt đối.

    Khi các ngón tay của Inej chạm vào mặt đá, cô phải kìm nén một tiếng hét.

    Ngay cả với lớp găng tay da, cô vẫn cảm thấy sức nóng dữ dội của cái lò.

    Nếu không đeo găng, chắc bàn tay cô sẽ phồng rộp ngay lập tức.

    Nhưng cô không có chọn lựa nào khác ngoài việc bám chắc, cô trèo lên tay rồi chân, rồi lại tay, tìm kiếm một khe nứt hoặc một cái mấu trên thành ống khói trơn nhẫy vì bồ hóng.

    Những giọt mồ hôi túa ra trên lưng cô.

    Họ đã nhúng ướt quần áo của cô lẫn sợi dây thừng, nhưng dường như chẳng có tác dụng gì nhiều.

    Toàn thân cô vẫn cảm thấy nóng ran, máu trong người cô muốn sôi lên như đang bị luộc từ từ.

    Đôi bàn chân cô nóng rần rật.

    Chúng nặng trĩu, vụng về như thể thuộc về một người khác.

    Cô cố gắng tập trung.

    Cô tin ở cơ thể mình.

    Cô biết thế mạnh của mình và những điều cần làm.

    Lại một bàn tay vươn lên, buộc các chi còn lại phối hợp nhịp nhàng, nhưng chỉ có sự lệch pha vụng về khiến cơ bắp cô run rẩy trong từng bước di chuyển.

    Cô tìm chỗ bấu víu tiếp theo.

    Trèo lên đi, Inej.

    Bàn chân cô trượt đi, các ngón chân đánh mất sự tiếp xúc với thành ống khói, và bụng cô thót lại khi cảm thấy bị trọng lực kéo xuống.

    Cô bám lấy mặt đá, ấn tay sâu vào khe nứt.

    Đôi găng của Kaz bị đùn lại quanh những ngón tay ướt đẫm mồ hôi của cô.

    Ngón chân cô đi tìm điểm tựa, nhưng chỉ trượt đi trên những viên đá.

    Bàn chân còn lại của cô cũng bắt đầu bị trượt.

    Không ổn rồi.

    Cô đánh liều nhìn xuống.

    Ở tít phía dưới là quầng đỏ của chỗ than đốt lò, nhưng thứ cô trông thấy nơi hai bàn chân mình mới làm cô sốc hoảng sợ thực sự.

    Hai đế giày của cô - đôi giày hoàn hảo yêu dấu của cô - đang chảy ra.

    Không sao, cô tự nhủ.

    Chỉ cần thay đổi tư thế.

    Dồn sức nặng vào đôi vai.

    Lớp cao su sẽ nguội lại khi trèo lên cao hơn.

    Nó sẽ giúp mình bám chắc.

    Nhưng cô có cảm giác như bàn chân mình bị hơ trên đống lửa.

    Nhìn thấy điều đang xảy ra càng làm cho tình hình tồi tệ thêm, như thể da thịt cô cũng bắt đầu tan chảy cùng với chỗ cao su ở đế giày.

    Inej chớp mắt xua đi giọt mồ hôi và rướn người lên cao thêm vài centimét nữa.

    Từ đâu đó bên trên, cô nghe thấy tiếng chuông Đồng hồ Cả.

    Nửa giờ rồi à?

    Hay là bốn mươi lăm phút?

    Cô cần di chuyển nhanh hơn.

    Lúc này lẽ ra cô đã phải ở trên mái nhà và đang buộc dây thừng.

    Cô đẩy người lên cao, và bàn chân cô trượt đi trên mặt đá.

    Cô rơi xuống, cơ thể đập vào tường trong lúc cô cuống cuồng ghì lại.

    Ở đây chẳng có ai để cứu cô.

    Kaz sẽ không thò tay ra đỡ cô, không có tấm lưới bảo vệ nào để ngăn cản cú rơi, chỉ có ngọn lửa sẵn sàng nuốt chửng cô bên dưới.

    Inej ngẩng đầu, tìm kiếm mảng trời xám.

    Dường như nó đang xa vời vợi.

    Còn bao xa nhỉ?

    Năm mét?

    Mười mét?

    Có khi hàng cây số cũng nên.

    Cô sẽ chết ở đây, từ từ, thê thảm trên lớp than hồng.

    Tất cả sẽ cùng chết Kaz, Nina, Jesper, Matthias, Wylan - và đó là lỗi của cô.

    Không.

    Không phải lỗi của cô.

    Cô tiến thêm một bước.

    Kaz đã đưa mọi người tới đây.

    Một bước nữa.

    Cô gắng gượng tìm chỗ bám mới.

    Kaz và lòng tham của anh ta.

    Cô không có lỗi.

    Cô không hối tiếc.

    Cô chỉ điên tiết.

    Điên tiết vì Kaz đã lao đầu vào phi vụ rồ dại này, điên tiết vì cô đã chấp nhận nó.

    Mà vì sao kia chứ?

    Để trả món nợ của cô ư?

    Hay bởi vì bất chấp lí trí

    và sự tỉnh táo, cô vẫn để cho mình cảm thấy gì đó với gã con hoang khu Barrel kia?

    ***

    Khi Inej bước vào phòng khách của Dì Heleen buổi tối hôm đó, Kaz đã đợi sẵn, trên người mặc bộ đồ màu xám thẫm, tay cầm cây gậy chống đầu quạ.

    Phòng khách được sơn xanh thếp vàng với một bức tường vẽ toàn hoạ tiết lông công.

    Inej căm ghét từng centimét của Vườn Thú - từ cái phòng tiếp khách nơi cô và các cô gái khác bị buộc phải đá lông nheo mời gọi đám khách hàng tiềm năng, cho tới phòng ngủ của cô, thứ được làm cho giống với một phiên bản lố bịch của cái xe lữ hành Suli, trang trí bằng lụa tím và xông hương thơm ngát.

    Nhưng phòng khách của Dì Heleen mới là thứ kinh khủng nhất.

    Nó là căn phòng của những trận đòn, nơi để mụ ta trút những cơn giận điên cuồng nhất.

    Inej từng cố trốn thoát khi mới đến Ketterdam.

    Cô đã đi khỏi Vườn Thú được hai khối phố, trên người vẫn đang khoác chiếc váy lụa, đầu óc choáng váng vì ánh đèn và sự hỗn tạp của Tây Stave, đôi chân cứ thế chạy không định hướng, trước khi bị Cobbet đặt một bàn tay nung núc thịt lên vai và lôi trở lại.

    Dì Heleen đã ném cô vào trong phòng và đánh cô một trận thừa sống thiếu chết, đến mức cô không thể làm việc trong một tuần lễ.

    Suốt cả tháng sau đó, mụ ta xích cô lại bằng một sợi xích vàng, thậm chí không cho cô đặt chân xuống phòng tiếp khách.

    Khi rốt cuộc Heleen cũng cởi xích cho cô, mụ nói: “Mày nợ tao một tháng thu nhập, còn dám bỏ trốn một lần nữa, tao sẽ quẳng mày vào Cổng Địa Ngục vì tội phá vỡ hợp đồng.”

    Đêm hôm đó, cô bước vào phòng mụ ta trong sự sợ hãi, và khi trông thấy Kaz Brekker ở đó, nỗi sợ của cô tăng lên gấp đôi.

    Tay Nhám chắc đã điều tra về cô.

    Hẳn anh ta đã mách với Dì Heleen rằng cô dám lên tiếng, rằng cô dám gây rắc rối.

    Nhưng Heleen chỉ ngả người ra sau trên chiếc ghế bọc nhung và nói: “Chà, linh miêu à, có vẻ như từ nay con đã trở thành vấn đề của người khác rồi.

    Hoá ra Per Haskell rất thích các cô gái Suli.

    Ông ta đã chuộc lại con bằng một khoản tiền khiêm tốn.”

    Inej nuốt khan.

    “Tôi sắp phải sang một nhà chứa khác à?”

    Heleen phất tay.

    “Haskell đúng là có một nhà vui thú - nếu con có thể gọi nó như thế - ở đâu đó dưới Barrel, nhưng con sẽ chỉ là một khoản đầu tư phí phạm nếu vào đấy, dù con sẽ thấy Dì Heleen đã tử tế với các con như thế nào.

    Không, Haskell muốn có con cho riêng ông ta.”

    Per Haskell là ai?

    Mà cũng có quan trọng gì đâu?

    Một giọng nói cất lên trong đầu cô.

    Ông ta là một kẻ đi mua phụ nữ.

    Mày chỉ cần biết như thế.

    Sự lơ đãng của Inej khiến Heleen bật cười khe khẽ.

    “Đừng lo.

    Ông ta già rồi, già phát tởm lên được ấy, nhưng có vẻ khá lành.

    Dĩ nhiên là chẳng ai biết rõ được.”

    Mụ ta nhún vai.

    “Biết đâu ông ta sẽ chia sẻ con với thằng nhóc chạy việc của ông ta, cậu Brekker đây.”

    Kaz lạnh lùng nhìn Dì Heleen.

    “Chúng ta xong việc chưa?”

    Đó là lần đầu tiên Inej nghe thấy anh lên tiếng.

    Cô kinh ngạc trước độ trầm khàn trong giọng nói của anh.

    Heleen khụt khịt mũi rồi đưa tay chỉnh lại sợi dây chuyền trên cổ.

    “Xong rồi đó, ranh con.”

    Mụ ta hơ nóng một thanh sáp màu xanh lông công và đóng dấu triện vào tài liệu trước mặt.

    Đoạn mụ đứng lên và kiểm tra hình ảnh của mình trong chiếc gương treo phía trên lò sưởi.

    Inej thấy mụ chỉnh lại cái vòng cổ choker đính kim cương, những viên đá ánh lên lấp lánh.

    Giữa cơn bão của các cảm xúc hỗn độn trong đầu, Inej đã nghĩ chúng trông giống như những vì sao bị đánh cắp.

    “Tạm biệt nhé, linh miêu,” Dì Heleen nói.

    “Ta không nghĩ con sẽ tồn tại được hơn một tháng giữa cái chốn ấy của khu Barrel.”

    Mụ liếc sang phía Kaz.

    “Đừng có ngạc nhiên nếu con bé bỏ trốn nhé.

    Nó chạy nhanh hơn so với vẻ bề ngoài đấy.

    Nhưng biết đâu Per Haskell lại thích thế.

    Không tiễn.”

    Mụ ta bước ra khỏi phòng giữa một đám mây lụa là và mùi hương dịu ngọt, để lại một Inej bàng hoàng phía sau.

    Thật từ tốn, Kaz băng qua phòng và đóng cửa lại.

    Inej căng người chờ đợi chuyện xảy ra tiếp theo, những ngón tay của cô co quắp dưới lớp váy lụa.

    “Per Haskell là người cầm đầu băng Cặn Bã,” Kaz nói.

    “Chắc cô đã nghe về chúng tôi?”

    “Đó là băng nhóm của anh.”

    “Phải, và Haskell là sếp của tôi.

    Của cô nữa, nếu cô thích.”

    Cô thu hết can đảm để hỏi lại: “Thế nếu tôi không thích thì sao?”

    “Thì tôi sẽ rút lại lời đề nghị và quay trở về như một thằng ngốc.

    Còn cô sẽ ở lại đây với mụ Heleen quái vật.”

    Inej đưa tay bịt miệng.

    “Bà ta đang nghe đấy,” cô hoảng sợ thì thào.

    “Cứ để bà ta nghe.

    Khu Barrel có đủ kiểu quái vật, và một số trong đó rất đẹp là đằng khác.

    Tôi trả tiền Heleen để đổi lấy thông tin.

    Thật ra tôi đã trả quá nhiều tiền.

    Nhưng tôi biết tỏng bà ta là ai.

    Tôi đã nói Per Haskell bỏ tiền ra để chuộc cô.

    Cô có biết vì sao không?”

    “Vì các anh thích gái Suli?”

    “Tôi không biết đủ nhiều cô gái Suli để có thể khẳng định điều đó.”

    Anh tiến đến bên bàn và cầm tờ giấy lên, cất vào trong áo khoác.

    “Đêm hôm trước, khi cô nói với tôi…”

    “Tôi không có ý xúc phạm, tôi…”

    “Cô muốn cung cấp thông tin cho tôi.

    Có lẽ là để đổi lấy sự giúp đỡ?

    Một bức thư cho cha mẹ cô?

    Một khoản tiền thêm?”

    Inej nhăn mặt.

    Đó chính xác là những gì cô muốn, cô đã nghe ngóng được thông tin về một vụ buôn lụa và nghĩ mình có thể dùng nó để đổi chác.

    Cô thật ngu ngốc và hỗn xược.

    “Inej Ghafa có phải là tên thật của cô không?”

    Một âm thanh lạ lùng bật ra từ trong cổ họng Inej, nửa như tiếng nức nở, nửa như tiếng cười.

    Một âm thanh yếu ớt và lúng túng.

    Đã nhiều tháng nay cô không được nghe thấy cái tên của chính mình.

    “Phải,” cô khó nhọc thốt lên.

    “Cô có thích được gọi như thế không?”

    “Tất nhiên,” cô đáp, rồi nói thêm.

    “Kaz Brekker có phải là tên thật của anh không?”

    “Gần như thế.

    Đêm hôm trước, khi cô tiếp cận tôi, tôi chỉ nhận ra cô đã ở bên cạnh khi cô lên tiếng.”

    Inej nhíu mày.

    Cô chỉ muốn kín đáo thôi mà.

    Chuyện đó thì có gì là quan trọng?

    “Chân cô có đeo lắc chuông,” Kaz nói và chỉ tay vào bộ trang phục của Inej.

    “Nhưng tôi không hề nghe thấy gì cả.

    Trên vai cô là lớp lụa tím và những đốm sơn, nhưng tôi không hề nhìn thấy.

    Trong khi tôi nhìn thấy mọi thứ.”

    Anh nghiêng đầu khi thấy cô nhún vai.

    “Cô được đào tạo để làm vũ công à?”

    “Diễn viên xiếc.”

    Cô ngập ngừng.

    “Gia đình tôi… chúng tôi là dân xiếc.”

    “Đi thăng bằng trên dây?”

    “Và đu bay.

    Tung hứng.

    Nhào lộn.”

    “Cô có dùng lưới không?”

    “Chỉ khi tôi còn bé.”

    “Tốt.

    Ở Ketterdam không có tấm lưới nào đâu.

    Cô có bao giờ đánh nhau chưa?”

    Inej lắc đầu.

    “Có từng giết ai chưa?”

    Mắt cô mở to.

    “Không hề.”

    “Chưa bao giờ cô nghĩ tới chuyện đó sao?”

    Cô ngập ngừng, rồi khoanh tay lại.

    “Mỗi đêm.”

    “Khởi đầu như thế là tốt.”

    “Tôi không muốn giết người, không hẳn thế.”

    “Rất đáng khen, cho tới khi người ta muốn giết cô.

    Và trong lĩnh vực của chúng ta thì điều đó xảy ra nhiều lắm “

    “Lĩnh vực của chúng ta?”

    “Tôi muốn cô gia nhập băng Cặn Bã.”

    “Để làm công việc gì?”

    “Thu thập thông tin.

    Tôi cần một người nhện để leo tường các ngôi nhà của Ketterdam, để nghe lỏm dưới cửa sổ và mái đua.

    Tôi cần một người có khả năng biến mình thành vô hình và trở thành một bóng ma.

    Cô có nghĩ là cô làm được chuyện đó không?”

    Tôi đã là một con ma sẵn rồi, cô nghĩ bụng, Tôi đã chết trên một con tàu nô lệ.

    “Tôi nghĩ là được.”

    “Ketterdam có rất nhiều người giàu.

    Cô sẽ tìm hiểu thói quen của họ, việc đi lại của họ, những điều nhơ nhuốc họ làm vào ban đêm, những tội ác họ muốn che giấu giữa ban ngày, cỡ giày của họ, mã két an toàn của họ, món đồ chơi họ yêu quý nhất khi còn bé.

    Còn tôi sẽ sử dụng những thông tin đó để cuỗm tiền của họ.”

    “Chuyện gì sẽ xảy ra sau khi anh lấy được tiền của họ và trở nên giàu có?”

    Kaz khẽ nhếch mép giễu cợt trước câu nói của Inej.

    “Khi đó cô cũng có thể đánh cắp những bí mật của tôi.”

    “Vì lí do này mà các anh mua lại tôi à?”

    Khuôn mặt Kaz lập tức nghiêm lại.

    “Per Haskell không mua cô.

    Ông ta bỏ tiền ra để chuộc cô.

    Điều đó có nghĩa là cô đang nợ tiền ông ta.

    Rất nhiều tiền.

    Nhưng nó là một hợp đồng tử tế.

    Đây,” anh nói và lấy trong áo khoác ra tài liệu mà Heleen đã cung cấp.

    “Tôi muốn cô thấy cái này.”

    “Tôi không đọc được chữ Kerch.”

    “Không sao.

    Thấy mấy con số này chứ?

    Đó là số tiền mà Heleen khẳng định cô đã mượn bà ta để đi tới đây từ Ravka.

    Đây là số tiền cô đã kiếm được cho bà ta.

    Và đây là số tiền cô còn nợ lại.”

    “Nhưng… không thể thế được.

    Con số còn lại lớn hơn cả khoản tiền ban đầu.”

    “Đúng vậy.

    Bà ta tính cả chi phí ăn ở, làm đẹp của cô nữa.”

    “Bà ta đã mua tôi,” Inej giận sôi máu.

    “Tôi thậm chí không đọc được thứ tôi đã kí.”

    “Buôn nô lệ là hoạt động bất hợp pháp tại Kerch.

    Nhưng giao kèo làm việc thì không.

    Tôi biết cái này chỉ là lừa đảo, và bất cứ vị quan toà có suy nghĩ nào cũng đồng ý với tôi.

    Nhưng xui thay, Heleen đã mua chuộc hết những người đó rồi.

    Per Haskell chỉ cho cô vay tiền, không hơn, không kém.

    Hợp đồng của cô sẽ được soạn bằng tiếng Ravka.

    Cô sẽ trả lãi, nhưng nó không trói buộc cô.

    Miễn là mỗi tháng cô trả ông ta một khoản tiền, còn cô muốn đi đâu làm gì thì tuỳ.”

    Inej lắc đầu.

    Chuyện này nghe thật khó tin.

    “Inej, tôi phải nói rõ với cô thế này.

    Nếu cô không trả tiền, Haskell sẽ cử người tới gặp cô, so với bọn họ thì mụ Heleen chỉ là một bà ngoại hiền lành, và tôi sẽ không ngăn cản ông ta.

    Tôi đã giơ cổ ra hứng chịu rủi ro cho vụ này.

    Đó là chuyện chẳng hề dễ chịu đâu.”

    “Nếu đây là sự thực,” Inej nói một cách chậm rãi, “thì tôi có toàn quyền từ chối.”

    “Dĩ nhiên.

    Nhưng rõ ràng là cô nguy hiểm, và tôi muốn cô về phe tôi.”

    Nguy hiểm.

    Cô muốn ôm ghì lấy những chữ đó.

    Cô gần như tin chắc anh chàng này bị lú lẫn, hoặc đơn giản là đang tự lừa dối bản thân, nhưng cô thích hai chữ đó, và trừ phi cô hiểu nhầm, anh ta đang đề nghị cô rời khỏi Vườn Thú ngay đêm nay.

    “Đây không phải là… một trò lừa đảo, đúng không?”

    Inej hỏi với âm lượng nhỏ hơn mong muốn.

    Khuôn mặt Kaz thoáng sa sầm.

    “Nếu là trò lừa đảo thì tôi đã hứa hẹn

    sự an toàn với cô, hứa cho cô hạnh phúc.

    Tôi không biết chúng có tồn tại ở

    Barrel hay không, nhưng cô sẽ không có cả hai thứ đó với tôi.”

    Không hiểu sao, câu nói của anh khiến cô an lòng.

    Thà là sự thật kinh khủng còn hơn những lời dối trá ngọt ngào.

    “Thôi được,” cô đáp.

    “Chúng ta bắt đầu từ đâu?”

    “Hãy bắt đầu với việc rời khỏi đây và tậu cho cô vài bộ quần áo tử tế.

    À, Inej này,” anh nói trong lúc đưa cô ra khỏi phòng, “đừng bao giờ làm tôi giật mình nữa nhé.”

    ***

    Sự thật là sau đó cô đã nhiều lần thử làm Kaz giật mình, nhưng đều bất thành.

    Cứ như thể một khi anh đã thấy được cô, anh hiểu làm thế nào để tiếp tục nhìn ra cô.

    Đêm đó cô đã tin tưởng Kaz.

    Cô đã trở thành cô gái nguy hiểm mà anh thấy bên trong cô.

    Nhưng cô đã phạm sai lầm khi tiếp tục tin tưởng anh, tin vào những huyền thoại mà anh dựng nên quanh mình.

    Chúng đã dẫn cô tới đây, trong cái bóng tối ngột ngạt này, chênh vênh giữa sự sống và cái chết như chiếc lá thu cuối cùng còn bám lại trên cành.

    Rốt cuộc, Kaz Brekker chỉ là một thằng nhóc, và cô đã để cho anh định đoạt số phận của mình.

    Nhưng cô không thể trách anh được.

    Cô để mình bị dẫn dắt, vì cô không biết bản thân mình muốn đi đâu.

    Trái tim là một mũi tên.

    Bốn triệu kruge, sự tự do, một cơ hội để trở về nhà.

    Cô đã nói cô muốn những thứ đó.

    Nhưng trong tim, cô không thể chịu đựng nổi ý nghĩ quay về với bố mẹ.

    Làm sao cô có thể kể sự thật với bố mẹ?

    Liệu họ có hiểu cho những điều cô đã làm để sống sót, không chỉ ở Vườn Thú, mà suốt từ ngày đó tới giờ?

    Làm sao cô có thể ngả đầu vào lòng mẹ và được tha thứ?

    Bố mẹ cô sẽ nhìn thấy điều gì khi họ nhìn cô?

    Trèo lên đi, Inej.

    Nhưng để đi đến đâu?

    Cuộc đời sẽ dành cho cô cái gì sau tất cả những điều cô đã chịu đựng?

    Lưng cô đau nhói.

    Tay cô rướm máu.

    Các cơ bắp ở chân cô run rẩy, và da cô có cảm giác như sắp bị lột ra.

    Mọi hơi thở đều làm phổi cô rát buốt.

    Cô không thể hít thở sâu được.

    Cô thậm chí không thể tập trung vào mảng trời xám trên đầu.

    Mồ hôi cứ tiếp tục tuôn từ trán xuống khiến mắt cô cay xè.

    Nếu cô bỏ cuộc, cô sẽ phụ lòng tất cả, từ Jesper và Wylan, Nina và anh chàng Fjerda của chị, cho tới Kaz.

    Cô không thể làm thế.

    Nó không còn phụ thuộc vào con nữa, linh miêu à.

    Giọng nói giả lả của Dì Heleen vang lên trong đầu Inej.

    Con còn cầm cự được bao lâu khi chẳng có gì để bấu víu?

    Sức nóng của lò thiêu bao trùm lên Inej như một sinh vật sống, một con rồng sa mạc nấp trong hang, trốn tránh băng giá để chờ đợi cô.

    Cô biết các giới hạn của cơ thể mình và hiểu cô không còn nhiều sức lực.

    Cô đã đánh cược một cách sai lầm.

    Đơn giản là thế.

    Chiếc lá thu có thể bám lại trên cành, nhưng nó đã chết, vấn đề chỉ là khi nào nó sẽ rơi.

    Bỏ đi, Inej.

    Bố đã dạy cô leo trèo, tin tưởng vào sợi dây, vào cái đu, và sau cùng, tin tưởng vào năng lực của bản thân, để biết rằng nếu nhảy cô sẽ sang được bên kia.

    Liệu bố có đón cô ở đó?

    Cô nghĩ tới những con dao của mình đang được giấu trên tàu Ferolind.

    Chúng có thể được sang tay một cô gái mơ ước trở nên nguy hiểm nào đó.

    Cô nhắc khẽ những cái tên của chúng: Petyr, Marya, Anastasia, Vladimir, Lizabeta, và Thánh nữ

    Alina, tử vì đạo trước khi tròn mười tám tuổi.

    Bỏ đi, Inej.

    Cô có nên nhảy bây giờ, hay đơn giản là đợi cho tới khi cơ thể cô buông xuôi?

    Inej cảm thấy má mình ươn ướt.

    Cô đang khóc sao?

    Không?

    Sau tất cả những gì cô đã làm, và tất cả những gì đã xảy ra với cô hay sao?

    Rồi cô nghe thấy nó.

    Những tiếng lộp độp khe khẽ, những tiếng gõ nhẹ không có nhịp điệu.

    Cô cảm thấy chúng trên má và trên mặt.

    Cô nghe thấy tiếng xì xì khi chúng chạm vào lớp than bên dưới.

    Những hạt mưa.

    Mát lạnh và hiền hoà.

    Inej ngửa đầu ra sau.

    Ở đâu đó, cô nghe thấy tiếng chuông điểm bốn mươi lăm phút, nhưng cô không bận tâm.

    Cô chỉ nghe tiếng nhạc của những hạt mưa khi chúng rửa trôi mồ hôi và bồ hóng, làn khói bụi của Ketterdam, lớp sơn giả tạo của Vườn Thú, khi chúng thấm ướt những sợi đay của cuộn thừng, và làm đế giày cao su của cô rắn lại.

    Nó giống như một hồng ân, mặc dù cô biết Kaz sẽ chỉ gọi nó là một hiện tượng thời tiết.

    Giờ thì cô phải di chuyển nhanh chóng trước khi bề mặt đá trở nên trơn nhẫy và cơn mưa biến thành kẻ thù.

    Cô bắt các cơ bắp của mình làm việc, những ngón tay tìm kiếm và rướn thêm một bước, rồi một bước nữa, cứ tiếp tục như thế trong khi miệng lầm rầm cầu nguyện các vị thánh.

    Trong lời thì thầm gọi tên các thánh, cô tìm thấy nhịp điệu mà ban nãy cô không có.

    Nhưng dù vậy, cô biết cơn mưa là không đủ.

    Cô muốn một cơn bão với sấm chớp, gió giật, mưa như trút nước.

    Cô muốn nó cuốn trôi các nhà chứa của Ketterdam, làm bật nóc và lôi những cánh cửa ra khỏi bản lề.

    Cô muốn nó làm biển cả dâng sóng, vây bủa mọi con tàu nô lệ, bẻ gãy cột buồm và hất chúng vào những bờ biển lởm chởm đá.

    Tôi muốn gọi cơn bão đó, cô nghĩ thầm.

    Và bốn triệu kruge có lẽ đủ để làm điều đó.

    Đủ cho con tàu của cô - một con tàu nhỏ và kiêu hãnh, với hoả lực mạnh mẽ.

    Cô sẽ truy đuổi bọn săn và bọn mua nô lệ.

    Chúng sẽ học cách sợ cô và sẽ biết đến tên cô.

    Trái tim là một mũi tên.

    Nó cần một mục tiêu để cắm vào.

    Cô chạm vào thành ống khói, nhưng chính mục tiêu mới là thứ cô bám vào và đưa cô lên trên.

    Cô không phải là một linh miêu, người nhện hay thậm chí cả Bóng Ma.

    Cô là Inej Ghafa, và tương lai đang đợi cô ở trên kia.

    6

    KAZ

    Kaz nhanh chóng đi qua các buồng giam, dành ít giây để liếc qua từng lỗ nhòm trên cửa.

    Bo Yul-Bayur không có ở đây.

    Và anh không có nhiều thời gian.

    Một phần trong anh cảm thấy bất ổn.

    Anh không có gậy chống.

    Anh đi chân đất.

    Anh đang mặc một bộ quần áo xa lạ, bàn tay anh tái nhợt và không được đeo găng.

    Anh không cảm thấy giống mình một chút nào.

    Không, không phải.

    Anh cảm thấy mình giống như cậu bé Kaz trong những tuần lễ sau cái chết của Jordie, như một con thú hoang, phải đấu tranh để sống sót.

    Kaz trông thấy một tù nhân người Shu ngồi thu lu trong góc của một buồng giam.

    “Sesh-uyeh,” anh thì thào.

    Nhưng nếu người đàn ông có nhận ra mật mã thì ông ta cũng không có phản ứng gì.

    “Yul-Bayur?”

    Vẫn không có gì.

    Người tù bắt đầu la hét với anh bằng tiếng Shu, và Kaz vội bỏ đi.

    Anh nhanh chóng xem qua các buồng giam còn lại, rồi trở ra chiếu nghỉ để xem xét các buồng giam tầng dưới thật mau chóng.

    Anh biết mình đang bất cẩn và ích kỉ, nhưng chẳng phải vì vậy mà họ gọi anh là Tay Nhám sao?

    Chẳng có công việc nào là quá rủi ro.

    Chẳng có hành động nào là quá thấp kém.

    Tay Nhám sẽ bảo đảm cho phi vụ nhám nhúa được hoàn tất.

    Anh không chắc điều gì đang thôi thúc mình.

    Rất có thể Pekka Rollins không ở đây.

    Rất có thể lão đã chết.

    Nhưng anh không tin.

    Tôi biết.

    Bằng cách nào đó tôi biết.

    “Mày phải chết dưới tay tao,” anh thì thầm.

    ***

    Chuyến bơi vượt biển trở về từ đảo Tử Thần đã tái sinh Kaz.

    Cậu bé Kaz trước kia đã chết vì hoả đậu.

    Cơn sốt đã thiêu cháy mọi thứ dịu dàng trong cậu.

    Sống sót không còn khó khăn như cậu tưởng, một khi cậu bỏ lại phép tắc sau lưng.

    Nguyên tắc đầu tiên là tìm một ai đó nhỏ hơn và yếu hơn, rồi chiếm đoạt những gì nó có.

    Mặc dù đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với một người nhỏ con và yếu ớt như Kaz.

    Cậu lê bước rời bến cảng, len lỏi trong các con hẻm, tiến về khu phố nơi gia đình Hertzoon từng sống.

    Khi thấy một tiệm kẹo, cậu chờ đợi phía ngoài, rồi mai phục một thằng nhỏ học sinh mũm mĩm bị bạn bè bỏ lại phía sau.

    Kaz đánh ngã thằng nhỏ, vét sạch túi nó, rồi tước cái gói kẹo cam thảo của nó.

    “Đưa tao cái quần của mày,” Kaz nói.

    “Nó quá lớn với anh mà,” thằng nhỏ la lên.

    Kaz cắn nó.

    Thằng nhỏ cởi quần ra đưa cậu.

    Kaz cuộn tròn nó thành quả bóng rồi ném xuống kênh, sau đó bỏ chạy với tốc độ tối đa mà đôi chân gầy của mình cho phép, cậu đâu có muốn cái quần của thằng nhỏ, cậu chỉ muốn nó phải chờ đợi thêm một lúc trước khi đi khóc lóc cầu cứu.

    Cậu biết nó sẽ co ro trong con hẻm hồi lâu, cân nhắc giữa nỗi xấu hổ khi không mặc quần ngoài phố và nhu cầu được về nhà kể lại chuyện đã xảy ra.

    Kaz ngừng chạy khi tới con hẻm tăm tối nhất của khu Barrel.

    Cậu lập tức nhai ngốn ngấu chỗ kẹo cam thảo, khó nhọc nuốt lấy chất ngọt của nó, rồi ói sạch.

    Cậu cầm tiền đi mua một khoanh bánh mì trắng nóng giòn.

    Người bán bánh thấy cậu đi chân đất và bẩn thỉu bèn cho cậu thêm một khoanh bánh nữa, để cậu tránh xa cửa hàng của ông ta.

    Khi đã cảm thấy lại sức đôi chút và bớt run, Kaz đi bộ tới khu Đông Stave.

    Cậu tìm đến sòng bạc tồi tàn nhất, cái không có nổi tấm bảng hiệu và chỉ có một tay cò mồi trước cửa.

    “Tôi muốn tìm việc làm,” cậu nói.

    “Ở đây không có đâu, nhóc.”

    “Tôi giỏi tính toán.”

    Gã ta bật cười.

    “Mày có đổ bô được không?”

    “Được.”

    “Tiếc quá, bọn tao đã có một thằng nhỏ đổ bô rồi.”

    Kaz chờ đợi suốt đêm cho tới khi thấy một thằng bé trạc tuổi mình rời khỏi sòng bài.

    Cậu bám theo nó vài khối nhà, rồi dùng một hòn đá đập vào đầu nó.

    Cậu ngồi lên chân thằng bé và cởi giầy của nó ra, sau đó cứa vào gan bàn chân nó bằng một cái mảnh chai.

    Thằng bé sẽ khỏi, nhưng không thể đi làm một thời gian.

    Việc chạm vào chỗ da nơi mắt cá chân thằng bé khiến Kaz thấy buồn nôn.

    Cậu vẫn còn nhìn thấy những thi thể trắng hếu, cảm thấy lớp da trương phình của Jordie dưới tay mình.

    Tối hôm sau, cậu quay lại sòng bài.

    “Tôi muốn làm việc,” cậu nói.

    Thế là cậu được nhận vào.

    Từ đó, Kaz làm việc và tích cóp.

    Cậu đi theo những đứa trộm cắp chuyên nghiệp ở khu Barrel và học cách móc túi, rạch bóp các quý bà.

    Cậu vào tù một lần, rồi hai lần.

    Cậu nhanh chóng có tiếng tăm nhờ luôn sẵn sàng nhận mọi phi vụ, và biệt danh Tay Nhám gắn với cậu từ đó.

    Kaz không phải là một đối thủ giỏi đánh nhau, nhưng cậu rất lì lợm.

    “Mày chẳng khéo léo chút nào,” một con bạc ở Nịt Bạc có lần đã nói với Kaz như vậy.

    “Chẳng có kĩ thuật gì.”

    “Tôi có chứ,” Kaz đã đáp như vậy.

    “Tôi biết kĩ thuật ‘lột áo trùm qua đầu đối thủ và đấm cho tới khi hắn đổ máu’.”

    Cậu vẫn dùng cái tên Kaz như trước, nhưng cậu lấy họ Brekker từ một cái máy mà cậu trông thấy ở bến cảng.

    Rietveld, cái họ thật của cậu, bị bỏ đi như người ta cắt một cái chi đã hoại tử.

    Nó là một cái họ quê mùa, là sợi dây cuối cùng gắn cậu với Jordie, bố, và con người trước kia của cậu.

    Nhưng cậu không muốn bị Jakob Hertzoon nhận ra.

    Kaz phát hiện ra mánh khoé lừa gạt mà Hertzoon sử dụng với anh em cậu rất phổ biến.

    Quán cà phê và ngôi nhà trên phố Zelverstraat chỉ là bối cảnh để vặt lông những thằng ngu mới ở quê lên.

    Filip và bầy chó vặn dây cót của nó là chim mồi dùng để dụ dỗ Jordie, còn Margit, Saskia và đám thư lại ở văn phòng thương mại là đồng loã.

    Ngay cả một nhân viên nhà băng cũng là tay trong của Hertzoon, hắn tuồn thông tin cho lão biết về những khách hàng mới ở quê lên và mở tài khoản tại ngân hàng của hắn.

    Có lẽ Hertzoon đã cùng một lúc lừa đảo nhiều người.

    Món tiền nhỏ của Jordie không nhiều đến mức khiến lão phải dàn dựng mất công như vậy.

    Nhưng phát hiện đau lòng nhất chính là năng khiếu chơi bài của Kaz.

    Lẽ ra nó đã có thể giúp hai anh em cậu trở nên giàu có.

    Mỗi khi học được một trò mới, cậu chỉ cần vài giờ để chơi thành thạo, và sau đó thì không ai có thể đánh thắng cậu.

    Cậu nhớ mọi lá bài đã chơi, mọi khoản tiền đặt cược.

    Cậu có thể nhớ đến năm cỗ bài.

    Nếu có gì đó không nhớ được thì cậu bù đắp bằng cách chơi ăn gian.

    Sự nhanh tay giúp cậu đánh tráo từ đồng xu cho tới những lá bài, cốc chén, bóp tiền, đồng hồ.

    Một ảo thuật gia giỏi cũng chẳng khác một tên trộm lọc lõi là bao.

    Chẳng mấy chốc, cậu đã bị cấm cửa tại mọi sòng bạc trong khu Đông Stave.

    Nơi nào cậu đến, từ quán rượu, quán trọ, nhà chứa cho tới nhà hoang, cậu cũng dò hỏi về Jakob Hertzoon, nhưng nếu có ai biết tới cái tên đó thì họ cũng phủ nhận.

    Thế rồi, một ngày nọ, Kaz đang băng qua một cây cầu ở Đông Stave thì thấy một người đàn ông có khuôn mặt đỏ và tóc mai dày bước vào một tiệm rượu.

    Ông ta không còn mặc bộ đồ đen trịnh trọng của thương gia nữa, mà thay vào đó là một cái quần kẻ sặc sỡ và chiếc áo vest hoa văn paisley màu nâu.

    Áo khoác ngoài của ông ta có màu xanh ve chai.

    Kaz vội lách qua đám đông, tim đập thình thịch, đầu ong lên, không rõ mình phải làm gì, nhưng cậu bị chặn lại ngay trước cửa tiệm bởi một bàn tay mập mạp của gã vệ sĩ đội mũ quả dưa.

    “Tiệm đóng cửa rồi.”

    “Tôi thấy nó vẫn đang mở.”

    Giọng nói của Kaz nghe thật sai lạc với chính cậu, the thé và khác lạ.

    “Cậu phải chờ thôi.”

    “Tôi cần gặp Jakob Hertzoon.”

    “Ai cơ?”

    Kaz cảm thấy như mình sắp sửa mất kiểm soát.

    Cậu chỉ tay về phía cửa kính.

    “Jakob Hertzoon chết tiệt kia.

    Tôi muốn nói chuyện với hắn.”

    Gã vệ sĩ nhìn Kaz như thể cậu bị loạn óc.

    “Tỉnh lại đi, nhóc.

    Đó không phải là tay Hertzoon vớ vẩn của cậu.

    Đó là Pekka Rollins.

    Muốn sống sót được trong khu Barrel thì tốt nhất cậu nên học tên của ông ta đi là vừa.”

    Kaz biết cái tên Pekka Rollins.

    Tất cả mọi người đều biết.

    Nhưng cậu chưa bao giờ nhìn thấy lão ta.

    Đúng lúc đó, Rollins quay mặt về phía cửa kính.

    Kaz chờ đợi lão ta nhận ra cậu - một cái nhếch mép, một nụ cười khinh bỉ, một dấu hiệu nào đó cho thấy lão đã nhận ra.

    Nhưng ánh mắt của Rollins không dừng lại nơi cậu.

    Chỉ là một con bồ câu.

    Một nạn nhân trong vô số nạn nhân.

    Sao lão ta phải nhớ kia chứ?

    Kaz đã được nhiều băng nhóm tiếp cận vì muốn có nắm đấm và bàn tay chơi bài của cậu.

    Nhưng cậu luôn từ chối.

    Cậu tới Barrel là để tìm Hertzoon và trừng trị hắn, chứ không phải để gia nhập một gia đình giả tạo.

    Tuy nhiên, khi biết được mục tiêu của mình chính là Pekka Rollins, cậu đã đổi ý.

    Đêm đó, cậu nằm trên sàn của một ngôi nhà hoang mà cậu đã chui vào chiếm dụng và nghĩ tới điều cậu muốn, điều mà cuối cùng sẽ trả được mối thù cho Jordie.

    Pekka Rollins đã lấy đi mọi thứ của Kaz.

    Nếu cậu muốn làm điều tương tự với lão, cậu cần phải ngang bằng, thậm chí hơn lão.

    Và cậu không thể đạt được điều đó một mình.

    Cậu cần một băng nhóm, không phải bất kì băng nhóm nào, mà là một băng nhóm cần cậu.

    Ngày hôm sau, cậu đi bộ tới Thanh Gỗ và hỏi Per Haskell xem ông ta có cần thêm tay chân không.

    Ngay từ lúc đó, cậu đã biết mình sẽ khởi đầu như một lính trơn để rồi băng Cặn Bã sẽ trở thành đội quân của cậu.

    ***

    Có phải những bước đi ấy đã mang Kaz tới đây đêm nay?

    Đây khó lòng là sự trả thù mà anh hằng mơ tưởng.

    Những dãy xà lim cứ trải dài mãi, dài mãi như vô tận, không thể đếm xuể.

    Anh không thể nào có đủ thời gian để tìm được Rollins.

    Nhưng không có gì là không thể.

    Tất cả đều có thể khi anh trông thấy vóc người to bè đó, khuôn mặt đỏ đắn đó qua lỗ nhòm của một cánh cửa sắt.

    Anh đang đứng trước phòng giam của Pekka Rollins.

    Lão ta đang nằm nghiêng, say ngủ.

    Ai đó đã cho lão no đòn.

    Kaz quan sát lồng ngực lão phập phồng.

    Đã bao nhiêu lần anh nhìn thấy Pekka Rollins kể từ khi bắt gặp lão tới tiệm rượu đó?

    Chưa bao giờ kẻ thối tha đó nhận ra anh.

    Kaz không còn là một cậu bé con nữa, Pekka không thể nhận ra được thằng bé mà lão đã lừa đảo năm nào trong vóc dáng hiện tại.

    Nhưng điều đó khiến anh sôi máu mỗi khi chạm mặt lão.

    Như thế không đúng.

    Anh không thể xoá khỏi tâm trí mình khuôn mặt của Pekka - hay của Hertzoon.

    Dường như nó đã bị khắc vào đó bằng một lưỡi dao lởm chởm răng cưa.

    Giờ đây, anh khom người, ước lượng trọng lượng nhỏ xíu của bộ dụng cụ phá khoá như thể đang nâng niu một con côn trùng trong lòng bàn tay.

    Chẳng phải đây là điều anh muốn hay sao?

    Được thấy một Pekka sa cơ, nhục nhã, khốn khổ và tuyệt vọng, những tên thuộc hạ giỏi nhất của lão phơi xác trên cọc nhọn, có lẽ như thế này cũng đủ rồi.

    Có lẽ tất cả những gì anh muốn lúc này là Pekka nhận ra anh là ai, và lão đã làm gì với anh.

    Anh có thể tự mình dựng lên một phiên toà nhỏ, luận tội, rồi thi hành án.

    Đồng hồ Cả bắt đầu điểm phút thứ bốn mươi lăm.

    Anh nên rời đi.

    Không còn nhiều thời gian để xuống tầng hầm.

    Nina chắc đang đợi anh.

    Tất cả mọi người đang đợi anh.

    Nhưng anh cần điều này.

    Anh đã đấu tranh vì nó.

    Đây không phải là cách anh từng hình dung, nhưng có lẽ cũng chẳng sao.

    Nếu Pekka Rollins bị hành quyết bởi một tên đao phủ vô danh người Fjerda thì tất cả sẽ trở nên vô nghĩa.

    Kaz có bốn triệu kruge, nhưng Jordie sẽ không bao giờ được báo thù.

    Cái ổ khoá trên cửa dễ dàng bung ra dưới bàn tay của Kaz.

    Đôi mắt của Pekka mở toang, và lão mỉm cười.

    Lão chỉ giả vờ ngủ.

    “Chào Brekker,” lão lên tiếng.

    “Đến đây để hả hê à?”

    “Không hẳn,” Kaz đáp.

    Anh để cho cánh cửa đóng lại sau lưng mình.
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Hai: Băng Không Tha Thứ 13-18


    13

    INEJ

    BA MƯƠI PHÚT SAU MƯỜI HỒI CHUÔNG

    “Chúng tôi còn phải đợi đến bao giờ?”

    Một người đàn ông mặc đồ nhung màu đỏ rượu lên tiếng.

    Đám lính gác phớt lờ ông ta, nhưng các vị khách khác đang dồn đống cạnh lối vào cùng Inej hùa theo phản đối.

    “Tôi tốn bao nhiêu tiền để đến đây…”

    Ông ta nói tiếp.

    “Không phải để giậm chân đứng chờ trước cửa như thế này.”

    Tên lính đứng gần họ nhất đáp với giọng đều đều chán chường: “Đội phụ trách chốt kiểm soát đang bận giải quyết những người khách khác.

    Ngay khi họ rảnh tay, các ông sẽ được đưa trở ra ngoài đó và tạm giữ để chờ xác minh lại danh tính.”

    “Tạm giữ?”

    Người đàn ông la lên.

    “Làm như chúng tôi là bọn tội phạm vậy!”

    Inej đã nghe nhiều phiên bản khác nhau của màn đối đáp vừa rồi trong suốt cả tiếng đồng hồ vừa qua.

    Cô liếc nhìn về phía cái sân nằm giữa toà đại sứ và cổng thành.

    Nếu muốn kế hoạch này thành công, cô phải cực kì khôn khéo và bình tĩnh.

    Mặc dù nó chẳng phải là một kế hoạch đúng nghĩa, và cô cũng chẳng bình tĩnh chút nào.

    Sự quyết đoán và lạc quan mà cô có được trước đó không lâu đã hoàn toàn biến mất.

    Cô chờ đợi trong khi thời gian trôi qua, mắt quan sát đám đông.

    Khi chuông Đồng hồ Cả điểm bốn mươi lăm phút, cô biết mình không thể chờ đợi thêm.

    Cô phải hành động ngay.

    “Tôi thấy đủ rồi đấy,” Inej nói lớn tiếng.

    “Đưa chúng tôi quay lại chốt kiểm soát, hoặc thả chúng tôi ra ngay.”

    “Đội phụ trách chốt…”

    Inej chen lên phía trước nhóm người và nói: “Chúng tôi nghe mãi điệp khúc đó rồi.

    Đưa chúng tôi ra khỏi cổng là xong.”

    “Yên lặng,” tên lính ra lệnh.

    “Mọi người là khách ở đây.”

    Inej chọc ngón tay vào ngực anh ta.

    “Vậy hãy đối xử với chúng tôi như khách.”

    Đoạn cô bắt chước giọng điệu của Nina.

    “Tôi muốn được đưa ra cổng ngay lập tức, đồ tóc vàng bị thịt.”

    Tên lính túm lấy cánh tay cô.

    “Cô muốn đi ra cổng lắm hả?

    Vậy thì đi.

    Cô sẽ không thể quay lại được đâu.”

    “Tôi chỉ…”

    Một giọng nói khác vang vọng khắp sảnh tròn.

    “Dừng lại!

    Anh kia, tôi bảo dừng lại!”

    Inej đã ngửi thấy mùi nước hoa của mụ ta - mùi huệ tây, sang trọng và ngọt ngào.

    Một mùi hương nồng nàn.

    Cô thấy buồn nôn.

    Heleen Van Houden, chủ nhân và cũng là người điều hành Nhà Viễn Xứ hay còn gọi là Vườn Thú - nơi có tiền bạn sẽ mua được cả thế giới, đang gạt đám đông ra để bước tới.

    Cô có nói là Dì Heleen rất thích thể hiện chưa nhỉ?

    Tên lính gác ngỡ ngàng khựng lại khi Heleen lao tới chỗ anh ta.

    “Thưa bà, sau đêm nay cô gái của bà sẽ quay lại với bà.

    Giấy tờ của cô ta…”

    “Con bé này không phải là của tôi,” Heleen đáp, đôi mắt nheo lại đầy hiểm độc.

    Inej đứng im, ngay cả cô cũng không thể biến mất khi không có đường nào để đi.

    “Đây là Bóng Ma, cánh tay phải của Kaz Brekker, một trong những tên tội phạm nguy hiểm nhất Ketterdam.”

    Mọi người xung quanh nhất loạt quay lại nhìn họ.

    “Sao mày dám tới đây, đóng giả làm người của Vườn Thú?”

    Heleen rít lên.

    “Cái nơi từng cho mày ăn ngon mặc đẹp như thế?

    Adjala đâu rồi?”

    Inej mở miệng, nhưng sự hốt hoảng làm cô nghẹn lời.

    Lưỡi cô tê dại và vô dụng.

    Một lần nữa, cô đang nhìn thẳng vào đôi mắt của mụ đàn bà đã đánh đập và đe doạ cô, kẻ mua cô đúng một lần để rồi bán cô hết lần này tới lần khác.

    Heleen túm lấy cánh tay Inej lay mạnh.

    “Con bé của tao đâu?”

    Inej nhìn xuống những ngón tay đang bấu vào da thịt mình.

    Trong một thoáng, tất cả nỗi kinh hoàng bùng lên trở lại trong lòng cô, và cô thực sự là một con ma đang thoát ra khỏi cái thân xác chỉ cho cô toàn nỗi đau.

    Không.

    Một thân xác đã đem lại cho cô sức mạnh.

    Thân xác này đã đưa cô qua những mái nhà của Ketterdam, phục vụ cô trong những trận chiến, và đưa cô leo lên sáu tầng lầu trong bóng tối của một cái ống khói đầy bồ hóng.

    Inej nắm lấy cổ tay của Heleen và vặn ngược sang bên phải.

    Mụ ta rú lên, đầu gối khuỵu xuống, trong khi đám lính canh lao tới.

    “Tôi đã quăng cô gái của bà xuống hào băng rồi,” Inej quát vào mặt mụ, cô gần như không nhận ra giọng nói của mình nữa.

    Bàn tay còn lại của cô tóm lấy cổ mụ và siết lại.

    “Thà cô ta ở đó còn hơn là dính với bà.”

    Ngay sau đó, những cánh tay khoẻ mạnh chộp lấy Inej, lôi cô ra khỏi mụ Heleen.

    Inej thở hổn hển tim đập thình thịch.

    Mình đã có thể giết mụ, cô nghĩ thầm trong bụng.

    Mình đã cảm thấy mạch đập của mụ trong tay.

    Lẽ ra mình nên giết mụ ta.

    Heleen đứng dậy, ho sặc sụa trong lúc những người khác kéo đến giúp mụ.

    “Nếu con bé này ở đây, tức là Brekker cũng đang ở đây!”

    Mụ ré lên.

    Ngay lúc đó, như thể đồng tình với mụ, tiếng chuông cảnh báo Quy trình Đen bắt đầu vang lên, ồn ào và đay nghiến.

    Sau một giây im lặng theo quán tính, toàn bộ sảnh tròn bắt đầu nhốn nháo khi lính gác vội vàng về vị trí và các chỉ huy bắt đầu ra lệnh.

    Một trong các tên lính, rõ ràng là đội trưởng, gào lên câu gì đó bằng tiếng Fjerda.

    Từ duy nhất mà Inej hiểu được là nhà tù.

    Hắn tóm lấy áo choàng của cô và quát lên bằng tiếng Kerch: “Cô đi cùng ai?

    Mục đích của cô là gì?”

    “Tôi sẽ không nói,” Inej đáp.

    “Cô sẽ phải nói nếu chúng tôi muốn,” hắn sừng sộ.

    Tiếng cười khùng khục của mụ Heleen vang lên đắc thắng.

    “Mày coi như tiêu rồi.

    Cả thằng Brekker nữa.”

    “Cầu đã bị đóng,” người nào đó tuyên bố.

    “Không một ai được đi tới hay rời khỏi đảo trong đêm nay!”

    Những vị khách giận dữ quay quắt tìm một ai đó để phản đối và yêu cầu giải thích.

    Đám lính gác lôi Inej qua sân, trước ánh mắt kinh ngạc của những vị khách, rồi ra khỏi cổng thành, trong khi tiếng chuông vẫn réo vang không dứt.

    Họ không buồn tỏ ra lịch sự hay nhã nhặn nữa.

    “Tao đã nói rồi mày sẽ lại mặc váy áo lụa là của tao mà, linh miêu,”

    Heleen quát với theo cô từ trong sân.

    Cánh cổng đã bắt đầu hạ xuống trong lúc đám lính khác phong toả nó theo đúng Quy trình Đen.

    “Giờ mày sẽ bị treo cổ trong bộ váy đó.”

    Cánh cổng đóng sầm lại, nhưng Inej dám thề là cô vẫn nghe được tiếng cười của mụ Heleen.

    14

    NINA

    BA MƯƠI PHÚT SAU MƯỜI HỒI CHUÔNG

    Nina cầu mong sao cho sự hốt hoảng của cô không thể hiện ra.

    Brum có nhận ra cô không?

    Ông ta trông vẫn y như thế: mái tóc vàng dài điểm bạc ở hai bên thái dương, cái cằm nhọn được viền bởi một hàm râu ngắn, bộ đồng phục drüskelle hai màu đen và bạc, ống tay áo bên phải có thêu hoạ tiết đầu sói màu bạc.

    Đã hơn một năm trôi qua kể từ khi cô gặp ông ta, nhưng cô sẽ không bao giờ quên được khuôn mặt hay ánh mắt xanh quyết đoán này.

    Lần cuối cô gặp Brum là lúc ông ta khệnh khạng đi tới đi lui trước mặt Matthias và các drüskelle đồng môn của anh trong khoang tàu.

    Matthias.

    Anh có thấy sư phụ Brum của anh vẫn còn sống và đang nói chuyện với cô chưa?

    Liệu lúc này anh có đang quan sát họ không?

    Cô cố cưỡng lại thôi thúc đảo mắt tìm kiếm dấu hiệu của anh và của Kaz trong đám đông.

    Những khoang tàu ấy rất tối, cô chỉ là một người trong đám tù nhân bẩn thỉu và sự hãi.

    Giờ đây cô sạch sẽ, thơm phức.

    Tóc cô có màu khác, làn da cô được đánh phấn.

    Cô thầm cảm ơn bộ trang phục lố lăng của mình.

    Brum xét cho cùng vẫn chỉ là một người đàn ông.

    Hi vọng Inej nói đúng, và ông ta thích ngắm một cô nàng Kaelish tóc đỏ với chiếc váy khoét cổ sâu.

    Cô cúi người thi lễ và ngước lên nhìn Brum qua hàng mi rợp.

    “Rất hân hạnh.”

    Ánh mắt ông ta lướt qua cơ thể cô.

    “Tôi cũng vậy. cô đến từ Nhà Viễn

    Xứ, đúng không?

    Kep ye nom?”

    “‘Nomme Fianna,” cô đáp bằng tiếng Kaelish.

    Ông ta đang thử cô chăng?

    “Nhưng ông có thể gọi tôi bằng bất cứ cái tên nào mà ông thích.”

    “Tôi tưởng các cô gái Kaelish của Vườn Thú khoác áo choàng ngựa cái màu đỏ?”

    Cô dẩu môi.

    “Cô nàng Zemeni trong nhóm tôi đã giẫm lên và làm rách áo rồi.

    Tôi nghĩ cô ta cố tình chơi xấu.”

    “Cô gái đáng ghét.

    Chúng ta có nên đi tìm cô ta để trừng trị không?”

    Nina cười khúc khích.

    “Ông định làm điều đó như thế nào?”

    “Người ta nói hình phạt phải phù hợp với tội lỗi, nhưng tôi lại thấy nó nên phù hợp với kẻ phạm tội.

    Nếu cô là tù nhân của tôi, tôi sẽ bỏ công sức ra tìm hiểu xem cô thích hay không thích điều gì, tất nhiên là cả những thứ cô sợ nữa.”

    “Tôi nào có biết sợ điều chi,” cô đáp cùng một cái nháy mắt.

    “Thật à?

    Hay nhỉ.

    Người Fjerda đánh giá lòng can đảm cao lắm đấy.

    Cô thấy đất nước chúng tôi thế nào?”

    “Một nơi tuyệt vời,” Nina thốt lên.

    Nếu ông chỉ thích toàn băng và băng.

    Cô cố tỏ ra cứng cỏi.

    Nếu ông ta đã nhận ra cô là ai thì cô có thể biết ngay bây giờ.

    Còn nếu ông ta chưa nhận ra thì cô vẫn cần phải tìm được Bo Yul-Bayur.

    Thật hả hê làm sao nếu moi được thông tin đó từ Jarl Brum huyền thoại, cô sát lại gần hơn.

    “Ông có biết nơi mà tôi thực sự muốn thăm viếng không?”

    Brum đáp lại với giọng điệu huyền bí không kém.

    “Tôi rất muốn biết mọi bí mật của cô.”

    “Ravka.”

    Môi trên của gã drüskelle cong lên.

    “Ravka?

    Một vùng đất của sự báng bổ và man rợ.”

    “Đúng, nhưng được gặp một Grisha…

    Ông có hình dung được sự háo hức đó không?”

    “Xin đảm bảo với cô, nó chẳng đáng để háo hức đâu.”

    “Ông chỉ nói vậy vì ông đang đeo dấu hiệu của sói.

    Điều đó đồng nghĩa ông là một… drüskelle, đúng không?”

    Cô vờ như gặp khó khăn trong việc phát âm chữ Fjerda đó.

    “Tôi là chỉ huy của họ.”

    Nina trố mắt.

    “Nếu vậy hẳn ông đã chiến thắng rất nhiều Grisha trên chiến trường.”

    “Chẳng vinh dự gì mấy khi đánh nhau với những sinh vật đó.

    Tôi thà đối đầu với ngàn kiếm sĩ có danh dự còn hơn là một trong những đứa phù thuỷ tởm lợm với năng lực phi tự nhiên ấy.”

    Khi các ông kéo đến với nào súng trường, nào xe tăng, khi ông giết hại những đứa trẻ và thiêu huỷ xóm làng vô hại, không lẽ chúng tôi không được sử dụng những vũ khí chúng tôi sở hữu?

    Nina cắn chặt mặt trong của má.

    “Ở Kerch có Grisha mà, đúng không?”

    Brum hỏi cô.

    “Tôi có nghe nói, nhưng chưa bao giờ thấy một Grisha nào ở Vườn Thú hay trong khu Barrel.

    Ít nhất là theo những gì tôi biết.”

    Cô có nên nhắc tới jurda parem không nhỉ?

    Một cô gái của Vườn Thú có thể biết được nhiều thứ đến thế hay không?

    Cô dựa vào Brum, cong môi lên để tạo thành một nụ cười tinh quái pha chút tội lỗi, và hi vọng nét mặt mình thể hiện sự háo hức hơn là tò mò.

    “Tôi biết họ rất đáng sợ, nhưng… họ đang khiến tôi run lên đây này.

    Tôi nghe nói năng lực của họ là không có giới hạn.”

    “Ờ thì…”

    Gã drüskelle ậm ừ.

    Nina có thể nhận thấy Brum đang đấu tranh với điều gì đó trong lòng.

    Tốt nhất là chiến thuật rút lui.

    Cô nhún vai.

    “Nhưng có lẽ đó không phải là chuyên môn của ông.”

    Liếc qua vai Brum, cô bắt gặp ánh mắt của một chàng quý tộc trẻ mặc chiếc áo lụa màu xám.

    “Đêm nay cô có muốn gặp một Grisha không?”

    Ánh mắt cô lập tức quay trở về với Brum.

    Tất cả những gì mình cần là một cái gương.

    Brum đang giam giữ các tù nhân Grisha ở một nơi nào đó sao?

    Điều cô muốn là những thông tin về Bo Yul-Bayur và jurda parem, nhưng một khởi đầu như thế này có lẽ cũng không tệ.

    Và nếu cô có thể đưa Brum ra một chỗ vắng…

    Cô vỗ nhẹ bàn tay lên ngực ông ta.

    “Ông chỉ trêu tôi thôi.”

    “Bà chủ của cô có phiền nếu cô lỉnh đi đâu đó không?”

    “Đó là lí do chúng tôi tới đây mà, đúng không?

    Để lỉnh đi đâu đó.”

    Brum chìa cánh tay ra.

    “Vậy ta đi chứ?”

    Nina mỉm cười và quàng tay qua cánh tay ông ta.

    Brum dịu dàng vỗ nhẹ cánh tay cô.

    “Cô gái ngoan.”

    Nina cảm thấy buồn nôn.

    Có lẽ tôi nên làm cho ông bị bất lực, Nina nghĩ thầm trong lúc Brum đưa cô rời khỏi phòng khiêu vũ và băng qua một cái sân đầy tượng điêu khắc bằng băng - một con sói ngậm chặt con chim ưng đang giãy giụa giữa hai hàm răng, một con rắn quấn mình quanh con gấu.

    “Thật là… nguyên thuỷ,” cô thì thào.

    Brum chậc lưỡi và một lần nữa vỗ nhẹ cánh tay cô.

    “Chúng tôi có một nền văn hoá chiến binh.”

    Chẳng phải sẽ rất hay nếu kết liễu ông ta ngay bây giờ sao?

    Cô ngẫm nghĩ trong lúc rảo bước.

    Làm cho nó giống với một cơn đau tim?

    Bỏ mặc ông ta trên tuyết lạnh?

    Nhưng cô có thể chịu được ánh mắt thèm thuồng của Brum thêm một lúc, miễn là điều đó đồng nghĩa với việc xoá sổ jurda parem khỏi thế giới này.

    Hơn nữa, nếu Bo Yul-Bayur đang ở đây, thì Brum chính là người sẽ đưa cô đến chỗ ông ta.

    Các lính gác ở trước cửa phòng khiêu vũ đã dễ dàng cho họ đi qua với một cái nhướng mày và nhếch mép.

    Ngay trước mặt họ, Nina trông thấy một cái cây bạc to lớn ở giữa một khoảng sân tròn.

    Tán cây xoè rộng tạo thành một mái vòm lấp lánh.

    Cây tần bì linh thiêng, vậy là họ đang ở trung tâm đảo.

    Bao quanh khoảng sân ở hai phía là những hàng cột trụ, nối với nhau bằng vòm cuốn.

    Nếu bản vẽ của Matthias và Wylan là chính xác thì toà nhà ngay phía sau kia chính là kho bạc.

    Nhưng thay vì dẫn Nina băng qua sân, Brum rẽ trái vào một con đường men theo hàng cột.

    Đúng lúc đó, Nina trông thấy một nhóm người khoác áo choàng đen có mũ trùm đầu đang di chuyển về phía cái cây.

    “Họ là ai vậy?”

    Nina hỏi, dù cô đã đoán được câu trả lời.

    “Các drüskelle”

    “Ông không phải đi cùng họ sao?”

    “Đây là một buổi lễ để cho các tập sự mới vào được đàn anh đón tiếp, chứ không dành cho các sĩ quan và chỉ huy.”

    “Chắc ông đã từng tham gia buổi lễ như thế này?”

    “Mọi drüskelle trong lịch sử đều được đưa vào đội ngũ qua cùng một nghi lễ như thế này, kể từ khi Djel ban phép cho những người đầu tiên trong chúng tôi.”

    Nina cố gắng không đảo mắt.

    Phải rồi, một cái nguồn suối vĩ đại tràn trề chọn ra vài gã đàn ông để lùng bắt những con người vô tội và sát hại họ.

    Nghe hợp lí gớm.

    “Đó là điều mà Hringkälla kỉ niệm,” Brum nói tiếp.

    “Và mỗi năm, nếu tìm được những người xứng đáng gia nhập đội ngũ, các drüskelle sẽ tập trung lại bên cây tần bì linh thiêng, nơi họ một lần nữa có thể nghe được giọng nói của thần linh.”

    Djel sẽ bảo các ông là một đám cuồng tín, mê mụ vì quyền lực.

    Hẹn năm sau gặp lại.

    “Mọi người đã quên rằng đây là một đêm thiêng,” Brum nói khẽ.

    “Họ tới cung điện để chè chén, nhảy nhót và ăn nằm với nhau.”

    Nina phải cắn chặt lưỡi trong miệng.

    Brum hứng thú với cái áo khoét sâu của cô thì khác chắc.

    “Những chuyện đó xấu xa vậy sao?” cô hỏi với giọng trêu ghẹo.

    Brum mỉm cười và siết chặt cánh tay cô.

    “Không, nếu chúng ta điều độ.”

    “Sự điều độ không phải là chuyên môn của tôi.”

    “Tôi có thể thấy điều đó,” Brum đáp.

    “Tôi thích vẻ mặt của một phụ nữ thích tận hưởng cuộc sống.”

    Tôi thích bóp cổ ông thì có, cô nghĩ thầm trong khi lướt ngón tay trên cánh tay ông ta.

    Nhìn Brum, cô biết mình không chỉ trách tội ông ta vì những chuyện mà ông ta đã gây ra với đồng bào của cô, mà vì cả những điều ông ta đã gây ra cho Matthias.

    Ông ta đã tiếp nhận một chàng trai quả cảm, nghèo khó và nuôi dưỡng anh bằng sự căm thù.

    Ông ta đã bịt miệng lương tâm anh bằng định kiến và lời hứa hẹn về một tiếng gọi linh thiêng mà có lẽ chỉ là tiếng gió lao xao trên tán lá của một cội cây già.

    Họ đã đi hết hàng cột.

    Nina chợt nhận ra Brum cố ý đưa cô đi một vòng quanh sân.

    Chắc ông ta không muốn dắt một cô gái làng chơi đi qua chốn linh thiêng.

    Đạo đức giả.

    “Chúng ta đang đi đâu đây?”

    Cô hỏi.

    “Tới kho bạc.”

    “Ông định quyến rũ tôi bằng nữ trang à?”

    “Tôi không nghĩ những cô gái như cô cần được quyến rũ.

    Có phải thế không?”

    Nina bật cười.

    “Ồ, mọi cô gái đều thích được chú ý mà.”

    “Thế thì đó là điều cô sẽ có.

    Và cả sự hào hứng mà cô đang tìm kiếm nữa.”

    Không lẽ Yul-Bayur đang ở trong kho bạc?

    Kaz đã nói ông ta sẽ ở trong chỗ an ninh nhất của Lâu Đài Băng.

    Nó có thể là cung điện, nhưng cũng có thể là kho bạc.

    Tại sao không?

    Nó chỉ là một toà nhà hình tròn, xây bằng thứ đá trắng hào nhoáng, nhưng kho bạc không có cửa sổ, không có lối trang trí kì dị, cũng không có những cái vảy rồng.

    Nó trông giống như một nấm mộ.

    Đứng gác trước cánh cửa vững chắc không phải là hai lính gác thông thường, mà là hai drüskelle.

    Bỗng dưng Nina cảm thấy áp lực của việc đang làm.

    Cô đang đi một mình với một trong những gã đàn ông tàn bạo nhất Fjerda, người sẽ thẳng tay tra tấn, thậm chí hạ sát cô nếu biết được cô thực sự là ai.

    Kế hoạch là tìm một ai đó có thể cung cấp thông tin về vị trí hiện tại của Bo Yul-Bayur, chứ không phải thân mật với tay drüskelle cao cấp nhất trên Bạch Đảo.

    Đôi mắt cô quét nhanh qua đám cây cối, những lối đi xung quanh và mê cung cây nằm sát bên cạnh sườn đông của kho bạc, hi vọng nhìn thấy một bóng người đang di chuyển, để biết cô không hoàn toàn đơn độc.

    Kaz đã thề sẽ đưa cô rời đảo, nhưng kế hoạch ban đầu của Kaz đã tan tành mây khói, và rất có thể kế hoạch này cũng vậy.

    Hai drüskelle không buồn chớp mắt khi Nina và Brum đi qua, mà chỉ phác một cử chỉ chào kín đáo.

    Brum lấy sợi dây chuyền đeo trên cổ ra.

    Trên đó có một mặt dây chuyền hình tròn nho nhỏ.

    Ông ta ấn nó vào một vết lõm gần như vô hình trên cửa, xoay nhẹ.

    Nina cảnh giác quan sát ổ khoá.

    Cái này có lẽ nằm ngoài khả năng phá khoá của Kaz Brekker.

    Tiền sảnh dạng vòm bán trụ lạnh lẽo và trống trải, được chiếu sáng bởi cùng thứ ánh sáng rực rỡ như ở trong các buồng biệt giam dành cho Grisha tại khu vực nhà tù.

    Không có đèn hơi đốt hay ánh nến.

    Không có gì để cho các Tiết Khí Sư hoặc Tiết Hoả Sư điều khiển.

    Nina nheo mắt.

    “Chúng ta đang ở đâu đây?”

    “Kho bạc cũ.

    Kho tiền đã được dời đi nhiều năm về trước.

    Nơi này đã được chuyển đổi công năng để trở thành một phòng thí nghiệm.”

    Phòng thí nghiệm.

    Mấy chữ đó khiến cho bụng Nina thắt lại.

    “Vì sao ạ?”

    “Cái cô nàng nhỏ nhắn tò mò này…”

    Tôi cao gần bằng ông đấy, cô nhủ thầm.

    “Toà nhà kho bạc vốn dĩ rất an toàn và nằm ở vị trí tốt trên Bạch Đảo, do đó nó là một lựa chọn hợp lí cho công năng như vậy.”

    Câu nói tưởng chừng vô thưởng vô phạt, nhưng nỗi sợ trong lòng Nina càng lớn thêm.

    Ngực cô thắt lại.

    Nina bước đều với Brum trên một hành lang có trần dạng vòm, ngang qua những cánh cửa trắng muốt, mỗi cái đều có một ô cửa sổ kính để nhìn qua.

    “Ta đến nơi rồi.”

    Brum dừng lại ngay trước một cánh cửa có vẻ giống hệt những cái khác.

    Nina nhòm qua lớp kính.

    Căn phòng cũng giống như những buồng giam ở tầng trên cùng của nhà tù, nhưng tấm gương hai chiều nằm ở phía bên kia, choán hết phân nửa bức tường đối diện.

    Trong phòng, cô thấy một cậu bé mặc bộ kefta màu xanh dương bẩn thỉu đang đi tới đi lui, lẩm nhẩm nói một mình, tay nọ gãi tay kia.

    Đôi mắt cậu ta trống rỗng, mái tóc bù xù.

    Cậu ta trông giống như Nestor ngay trước khi chết.

    Grisha không bao giờ bị bệnh, cô nghĩ thầm.

    Nhưng đây là một kiểu bệnh khác.

    “Trông cậu ta có vẻ không đáng sợ.”

    Brum tiến đến sát phía sau lưng Nina.

    Hơi thở của ông ta phả vào tai cô cùng với câu nói: “Ồ, tin tôi đi, cậu ta đáng sợ lắm đấy.”

    Nina sởn gai ốc, nhưng vẫn cố tình ngả nhẹ người vào ông ta.

    “Vì sao cậu ta lại ở đây?”

    “Tương lai.”

    Nina quay lại và đặt hai tay lên ngực Brum.

    “Còn nữa không?”

    Ông ta thở hắt ra một cách sốt ruột và dẫn cô tới cánh cửa kế tiếp.

    Một

    cô gái đang nằm nghiêng, mái tóc xoã tung che khuất mặt.

    Cô ta mặc một chiếc áo dơ dáy, hai cánh tay đầy những vết bầm.

    Brum gõ nhanh vào lớp kính, khiến Nina giật mình.

    “Có vẻ còn sống,” ông ta nói.

    Nhưng cô gái không cử động gì.

    Brum lướt ngón tay trên một cái nút đồng nằm cạnh ô cửa sổ.

    “Nếu cô muốn xem một màn trình diễn, tôi sẽ nhấn cái nút này.”

    “Nó có tác dụng gì?”

    “Rất kì thú.

    Màu nhiệm, thật đấy.”

    Nina đã đoán ra, cái nút có lẽ sẽ cung cấp cho cô gái một liều jurda parem theo cách nào đấy.

    Để làm trò tiêu khiển cho cô xem.

    Cô kéo Brum ra xa.

    “Được rồi.”

    “Tôi tưởng cô muốn xem một Grisha sử dụng sức mạnh?”

    “Ồ, có chứ, nhưng cô ta trông chẳng vui gì cả.

    Còn nữa không?”

    “Gần ba mươi.”

    Nina ngập ngừng.

    Hạ Quân đã gần như tan tác sau cuộc nội chiến Ravka.

    Cô không thể tin nổi có đến ba mươi Grisha ở đây.

    “Tất cả đều trong tình trạng như thế này sao?”

    Brum nhún vai và dẫn cô đi vào một hành lang khác.

    “Một số khá hơn.

    Số khác tệ hơn.

    Nếu tôi tìm cho cô một người hoạt bát, cô sẽ thưởng tôi cái gì nào?”

    “Cho ông xem phần thưởng sẽ dễ hơn là miêu tả nó bằng lời,” cô nhại tiếng gừ gừ của con mèo.

    Nina đã xem quá đủ những Grisha ốm đói và hoảng loạn.

    Cô cần YulBayur.

    Brum hẳn phải biết ông ta đang ở đâu.

    Kho bạc gần như vắng tanh.

    Họ không nhìn thấy một lính gác nào trong này.

    Nếu cô có thể lừa Brum vào một hành lang đủ xa lối vào để hai drüskelle đứng trước cửa không nghe thấy thì…

    Cô có thể tra tấn một drüskelle cứng cỏi được không?

    Cô có thể làm ông ta khai ra được không?

    Cô nghĩ là mình làm được.

    Cô sẽ bịt mũi và bóp nghẹt thanh quản của ông ta.

    Chỉ một vài phút thiếu không khí là ông ta sẽ nhũn như con chi chi.

    “Hay là chúng ta tìm một góc yên tĩnh nào đó?”

    Nina đề xuất.

    Brum ưỡn ngực làm dáng.

    “Lối này, dirre.”

    Bé cưng, trong tiếng Kaelish.

    Ông ta dẫn Nina đi vào một hành lang vắng lặng, đoạn mở khoá một cánh cửa bằng cái chìa tròn của mình.

    “Chỗ này chắc là được,” ông ta vừa nói vừa nghiêng mình.

    “Một chút riêng tư, một chút quyến rũ.”

    Nina nháy mắt và yểu điệu đi ngang qua Brum.

    Cô tưởng đâu đó sẽ là một kiểu văn phòng hoặc phòng nghỉ của lính gác.

    Nhưng căn buồng không có bàn ghế, cũng không có giường nệm.

    Nó hoàn toàn trống trải, ngoại trừ một lỗ thoát nước ở giữa sàn.

    Nina quay người đúng lúc cánh cửa buồng đóng lại.

    “Không!”

    Cô gào lên, tay cào cấu bề mặt cánh cửa.

    Nó không hề có tay nắm.

    Khuôn mặt của Brum xuất hiện nơi ô cửa sổ, tự mãn, với đôi mắt lạnh lùng.

    “Chắc ta hơi quá lời về sự quyến rũ, nhưng riêng tư thì trong ấy có thừa, Nina à.”

    Cô lùi lại.

    “Đó là tên của ngươi, đúng không?”

    Ông ta nói.

    “Ngươi tưởng ta không nhận ra ngươi sao?

    Ta vẫn còn nhớ gương mặt bướng bỉnh của ngươi trên con tàu đó, và bọn ta có hồ sơ về mọi Grisha đang hoạt động của Ravka.

    Ta đã dành thời gian tìm hiểu tất cả bọn họ, kể cả những người mà ta chỉ mong đã bị biển khơi nuốt chửng.”

    Nina giơ tay lên.

    “Cứ làm đi,” Brum nói tiếp.

    “Làm nhãn cầu của ta nổ tung trong hốc mắt đi.

    Bóp nát trái tim trong ngực ta đi.

    Cánh cửa này sẽ không mở ra, và trong lúc ngươi chưa kịp làm mạch đập của ta ngừng lại, ta sẽ ấn cái nút này.”

    Nina không thấy được cái nút đồng, nhưng cô có thể hình dung ngón tay Brum đang đặt trên đó.

    “Ngươi có biết nó dùng để làm gì không?

    Ngươi đã thấy hiệu quả của jurda parem rồi đấy.

    Có muốn thử không?

    Nó rất hiệu quả dưới dạng bột, nhưng ở dạng khí thì thậm chí còn hiệu quả hơn.”

    Nina chết lặng.

    “Cô gái thông minh.”

    Nụ cười của Brum làm lông tay cô dựng ngược.

    Tôi sẽ không cầu xin, cô tự nhủ.

    Nhưng cô biết mình sẽ làm thế.

    Một khi ma dược đã ngấm vào cơ thể, cô sẽ không tài nào ngăn nó lại được.

    Cô hít một hơi đầy không khí sạch.

    Một cử chỉ vô ích, thậm chí trẻ con, nhưng cô quyết tâm nín thở càng lâu càng tốt.

    Nhưng rồi Brum ngừng lại.

    “Không.

    Sự trả thù này không dành cho ta.

    Ngươi nợ một người khác nhiều hơn.”

    Ông ta rút lui khỏi cửa sổ, và chỉ giây lát sau, khuôn mặt Matthias đã choán đầy ô kính.

    Anh nhìn cô với ánh mắt cứng rắn.

    “Sao lại…”

    Cô thì thầm, không chắc họ nghe thấy từ phía bên kia cánh cửa.

    “Không lẽ cô tin rằng tôi có thể phản bội lại đất nước mình hay sao?”

    Giọng nói của Matthias chất chứa đầy sự ghê tởm.

    “Rằng tôi sẵn sàng từ bỏ lí tưởng đã theo đuổi cả đời?

    Tôi đã báo cho Brum ngay khi có thể.”

    “Nhưng anh đã nói…”

    “Tổ quốc là trên hết, Zenik.

    Đó là điều cô sẽ không bao giờ hiểu được.”

    Nina đưa tay lên bịt miệng.

    “Tôi có thể sẽ không bao giờ được trở lại làm một drüskelle,” anh nói.

    “Tôi có thể sẽ sống với cái mác ‘buôn nô lệ’ trên trán, nhưng tôi sẽ tìm được cách khác để phụng sự Fjerda. và tôi sẽ xem cô bị chuốc jurda parem ra sao.

    Tôi sẽ xem cô phản bội lại những người cô yêu quý cũng giống như cô đã yêu cầu tôi phản bội lại người thân của tôi.”

    “Matthias…”

    Anh đấm vào cửa sổ.

    “Đừng gọi tên tôi.”

    Rồi anh mỉm cười, một nụ cười lạnh lùng và không khoan nhượng như biển bắc.

    “Chào mừng đến với Lâu Đài Băng, Nina Zenik.

    Giờ thì nợ nần giữa chúng ta đã hết.”

    Từ đâu đó ngoài kia, hồi chuông thông báo Quy trình Đen bắt đầu ré lên.

    15

    MATTHIAS

    MƯỜI MỘT HỒI CHUÔNG

    “Con bé đẹp đấy,” Brum nói.

    “Đẹp bốc lửa.

    Cậu đã rất mạnh mẽ khi không bị nó xỏ mũi.”

    Tôi đã bị xỏ mũi rồi, Matthias nghĩ thầm, và không chỉ vì sắc đẹp của cô ấy.

    “Chuông báo động…’’Anh đáp.

    “Đồng bọn của nó, chắc chắn là thế.”

    “Nhưng…”

    “Matthias, người của tôi sẽ lo chuyện đó.

    Lâu Đài Băng rất an toàn.”

    Ông ta liếc nhìn về phía buồng giam Nina, “chúng ta có thể ấn cái nút đó ngay bây giờ.”

    “Cô ta sẽ không gây nguy hiểm sao?”

    “Chúng tôi đã kết hợp jurda parem với một loại thuốc ngủ để làm cho bọn chúng dễ bảo hơn.

    Chúng tôi vẫn đang tìm một tỉ lệ thích hợp, nhưng rồi sẽ ra thôi.

    Hơn nữa, kể từ liều thứ hai, cơn nghiện sẽ làm nốt việc kiểm soát chúng.”

    “Không phải liều đầu tiên à?”

    “Cái đó tuỳ theo từng Grisha.”

    “Các ông đã làm chuyện này bao nhiêu lần rồi?”

    Brum bật cười.

    “Tôi không đếm.

    Nhưng tin tôi đi, con bé sẽ chỉ muốn đòi thêm jurda parem và không dám hành động chống lại chúng ta.

    Đó là một sự chuyển biến đáng kinh ngạc.

    Tôi nghĩ cậu sẽ thích.”

    Bụng Matthias thắt lại.

    “Vậy ông vẫn để tay khoa học gia kia sống sót à?”

    “Hắn đã làm hết sức để tái tạo quy trình sản xuất ma dược, nhưng đó là một việc phức tạp.

    Một số lô có hiệu quả, số khác chỉ là đồ bỏ.

    Chừng nào còn sử dụng được, chừng đó hắn vẫn sống.”

    Brum đặt tay lên vai Matthias, ánh mắt ông ta dịu lại.

    “Tôi không thể tin nổi cậu đang ở đây, khoẻ mạnh và đứng ngay trước mặt tôi.

    Tôi cứ nghĩ cậu đã chết.”

    “Tôi cũng nghĩ ông đã chết.”

    “Khi thấy cậu trong phòng khiêu vũ, tôi gần như không nhận ra cậu, dù là trong bộ đồng phục này.

    Cậu đã thay đổi rất nhiều…”

    “Tôi buộc phải để cho ả phù thuỷ thay đổi diện mạo.”

    Khuôn mặt Brum hiện rõ sự ghê tởm.

    “Cậu đã để cho nó…”

    Không hiểu sao khi nhìn thấy nét mặt đó nơi một người khác, Matthias cảm thấy xấu hổ với cách mà anh đã phản ứng với cô.

    “Đó là việc phải làm,” anh đáp.

    “Tôi cần cô ta tin rằng tôi về phe cô ta.”

    “Mọi chuyện đã kết thúc rồi, Matthias.

    Giờ cậu đã an toàn, giữa những đồng môn của mình.”

    Brum bỗng nhíu mày.

    “Có gì đó làm cậu chưa yên lòng.”

    Matthias di chuyển dọc theo hành lang và nhìn vào căn buồng bên cạnh buồng giam Nina, rồi cái kế tiếp, và cái tiếp nữa.

    Brum theo sau anh.

    Một số Grisha đang rất tăng động và đi qua đi lại.

    Số khác áp mặt vào kính cửa sổ, hoặc chỉ nằm dài dưới sàn.

    “Ông không thể nào biết thông tin về parem từ nhiều hơn một tháng được.

    Nơi này được xây dựng từ bao giờ rồi?”

    “Tôi đã cho xây nó gần mười lăm năm về trước, nhờ sự chuẩn thuận của nhà vua và hội đồng.”

    Matthias kinh ngạc thốt lên.

    “Mười lăm năm?

    Vì sao?”

    “Chúng ta cần một nơi để giam giữ các Grisha sau khi xét xử chúng.”

    “Sau khi xét xử?

    Khi Grisha được tuyên có tội, bọn họ sẽ bị tử hình.”

    Brum nhún vai.

    “Nó vẫn là bản án tử hình, chỉ có điều là thời hạn thi hành án được trì hoãn lâu hơn thôi.

    Đã từ lâu chúng tôi nhận ra rằng các Grisha là một nguồn lực hữu ích.”

    Một nguồn lực.

    “Ông đã nói là bọn họ cần phải bị xoá sổ.

    Rằng họ là một tai ương của thế giới tự nhiên.”

    “Thì đúng là như vậy, khi bọn chúng cố giả dạng làm người bình thường.

    Chúng không thể suy nghĩ một cách đúng đắn, không thể sống nhân nghĩa.

    Chúng sinh ra là để bị kiểm soát.”

    “Vì vậy mà ông muốn có parem?”

    Matthias bàng hoàng hỏi lại.

    “Chúng tôi đã thử nghiệm những biện pháp của riêng mình suốt nhiều năm trời, với thành công ở mức độ hạn chế.”

    “Nhưng ông đã thấy jurda parem có tác dụng như thế nào, và các Grisha có thể làm được gì dưới ảnh hưởng của nó.”

    “Một khẩu súng không phải là con quỷ.

    Lưỡi dao cũng vậy.

    Jurda parem bảo đảm sự vâng lời.

    Nó làm cho bọn Grisha trở lại đúng với bản chất của chúng.”

    “Một Hạ Quân?”

    Matthias hỏi lại, giọng lạc đi vì khinh bỉ.

    “Một đội quân thì chỉ được tạo thành từ các chiến binh.

    Còn những sinh vật đó, chúng được sinh ra để làm vũ khí.

    Chúng được sinh ra để phục vụ các chiến binh của Djel.”

    Brum vỗ vai anh.

    “Matthias này, tôi nhớ cậu lắm.

    Niềm tin của cậu luôn tuyệt đối như thế.

    Tôi thấy mừng là cậu ngần ngại không muốn dùng đến phương tiện này, nhưng đây là cơ hội để chúng ta tung một cú đánh quyết định.

    Cậu có biết vì sao các Grisha khó bị tiêu diệt đến thế không?

    Bởi vì chúng không thuộc về thế giới này.

    Nhưng chúng rất giỏi việc giết lẫn nhau.

    Chúng gọi đó là ‘tương đồng kêu gọi tương đồng’.

    Hãy chờ cho đến khi cậu thấy được những gì chúng tôi đã thực hiện, những món vũ khí mà đám Sáng Chế Gia đã giúp chúng tôi chế tạo.”

    Matthias ngoái nhìn đoạn hành lang vừa đi qua.

    “Nina Zenik đã dành cả năm trời ở Kerch để giành lại tự do cho tôi.

    Tôi không nghĩ đó là hành động của một con quỷ.”

    “Một con rắn có thể nằm yên trước khi tấn công không?

    Một con chó có thể liếm tay cậu trước khi cắn cổ cậu không?

    Grisha có thể tỏ ra tử tế, nhưng điều đó không thay đổi được bản chất của chúng.”

    Matthias ngẫm nghĩ điều ông ta vừa nói.

    Anh nhớ đến hình ảnh Nina hoảng sợ đứng trong buồng giam khi cánh cửa đóng sầm lại.

    Anh đã rất muốn cô bị bắt giữ, bị trừng phạt như anh từng bị.

    Thế nhưng, sau tất cả những gì họ trải qua, anh không còn ngạc nhiên trước nỗi đau đớn mà anh cảm thấy khi chứng kiến ước mong của mình trở thành hiện thực.

    “Tay khoa học gia người Shu ấy thế nào?”

    Anh hỏi Brum.

    “Cứng đầu lắm.

    Vẫn còn chưa hết thương tiếc cha mình.”

    Matthias chẳng biết gì về cha của Yul-Bayur, nhưng có một câu hỏi quan trọng anh cần phải đặt ra.

    “Hắn có được an toàn không?”

    “Kho bạc là nơi an toàn nhất trên đảo.”

    “Ông giữ hắn ở đây cùng với các Grisha sao?”

    Brum gật đầu.

    “Kho tiền đã được chuyển đổi thành phòng thí nghiệm cho hắn.”

    “Và ông chắc chắn là nó an toàn?”

    “Tôi cầm chìa khoá chính đây,” Brum vừa nói vừa vỗ vỗ vào mặt dây chuyền đeo trên cổ.

    “Chưa kể hắn còn được canh gác ngày đêm.

    Chỉ một số ít người biết hắn đang ở đây.

    Đã khuya rồi, và tôi cần bảo đảm Quy trình Đen đang được triển khai, nhưng nếu cậu muốn, sáng mai tôi sẽ dẫn cậu đi xem hắn.”

    Brum vòng tay ôm Matthias một cái.

    “Và ngày mai chúng ta sẽ xem xét việc phục chức cho cậu.”

    “Tôi vẫn đang bị kết tội buôn bán nô lệ.”

    “Chúng ta có thể dễ dàng bắt con bé đó kí vào một văn bản rút lại lời khai.

    Tin tôi đi, một khi đã nếm thử jurda parem, nó sẽ làm mọi điều cậu yêu cầu và hơn thế nữa.

    Sẽ có một buổi điều trần, nhưng tôi xin thề là cậu sẽ được khoác áo drüskelle một lần nữa, Matthias à.”

    Áo drüskelle.

    Matthias từng mặc nó với một niềm tự hào vô bờ.

    Và những gì mà anh cảm thấy với Nina đã làm anh cực kì xấu hổ.

    Nhưng nó vẫn ở trong anh, có lẽ nó sẽ luôn ở đó.

    Sự hận thù đã tồn tại trong anh suốt một thời gian quá dài, không thể biến mất chỉ sau một đêm.

    Nhưng giờ đây nỗi xấu hổ là một tiếng vọng, và tất cả những gì anh cảm thấy là sự tiếc nuối - cho quãng thời gian đã bỏ phí, cho nỗi đau anh đã gây ra, thậm chí là cho điều anh sắp làm bây giờ.

    Anh quay nhìn Brum, người đàn ông đã trở thành người cha, người dẫn dắt của anh.

    Khi anh mất gia đình, chính Brum đã thu nhận anh để đào tạo thành một drüskelle.

    Matthias lúc đó còn nhỏ, đầy uất hận, và hoàn toàn thiếu kĩ năng.

    Nhưng anh đã trao những gì còn lại trong trái tim mình cho lí tưởng.

    Một lí tưởng sai lầm.

    Một sự dối trá.

    Anh đã nhận ra điều đó lúc nào?

    Lúc anh giúp Nina chôn cất bạn cô ư?

    Hay từ lâu trước đó, khi cô ngủ trong vòng tay anh vào cái đêm đầu tiên lên được đất liền?

    Hay là khi cô cứu anh khỏi vụ đắm tàu?

    Nina đã phản bội anh, nhưng cô làm thế để bảo vệ người của mình.

    Cô làm anh tổn thương, nhưng cô đã làm mọi cách trong khả năng để sửa chữa chuyện đó.

    Cô đã cho anh thấy qua hàng ngàn cách thức khác nhau rằng cô là một người đáng kính trọng, mạnh mẽ, hào hiệp và nhân đạo, thậm chí còn hơn bất kì người nào anh từng biết.

    Nếu cô là như thế thì các Grisha thực ra không xấu.

    Họ cũng giống như bất kì ai - đầy tiềm năng để làm những việc cực tốt, lẫn những chuyện cực tệ.

    Chính việc lờ đi điều đó mới biến Matthias thành kẻ xấu.

    “Ông đã chỉ dạy tôi rất nhiều,” anh nói.

    “Ông dạy tôi trọng danh dự và sự mạnh mẽ.

    Ông cho tôi những công cụ để báo thù khi tôi cần chúng nhất.”

    “Và với những công cụ đó, chúng ta sẽ xây dựng một tương lai xán lạn, Matthias.

    Thời của Fjerda cuối cùng cũng đã tới.”

    Matthias ôm Brum một cái.

    “Tôi không biết liệu ông có sai về các Grisha hay không,” anh nói một cách nhẹ nhàng.

    “Tôi chỉ biết là ông đã sai về cô ấy.”

    Anh ôm Brum thật chặt.

    Cái ôm mà anh đã được học trong những phòng tập của trại drüskelle, nơi anh sẽ không bao giờ được nhìn thấy một lần nữa.

    Anh siết chặt Brum trong khi ông ta giãy giụa trong chốc lát, rồi mềm oặt đi.

    Khi Matthias buông tay ra, Brum đã bất tỉnh.

    Nhưng anh không nghĩ sự dữ dằn trên khuôn mặt ông ta chỉ là do anh tưởng tượng.

    Anh sẽ ghi nhớ nó.

    Anh sẽ ghi nhớ nét mặt này.

    Anh cuối cùng đã trở thành một kẻ phản bội thực sự, và anh sẽ mang theo gánh nặng đó suốt đời.

    Sau khi bước vào phòng khiêu vũ, Matthias và Kaz đã lảng vảng quanh một hốc tường gần cầu thang.

    Họ thấy Nina bước vào trong bộ váy vảy cá lấp lánh đầy táo bạo đó, và rồi Matthias đã trông thấy Brum.

    Cú sốc của việc gặp lại ông ta nhanh chóng nhường chỗ cho sự kinh hoàng khi anh nhận ra ông ta đang bám theo Nina.

    “Brum đã biết,” anh nói với Kaz như thế.

    “Chúng ta phải giúp cô ấy.”

    “Hãy khôn ngoan vào, Helvar.

    Anh có thể cứu cô ấy, đồng thời giúp chúng ta có được Yul-Bayur.”

    Matthias đã gật đầu trước khi hoà mình vào đám đông.

    “Sự ngay thẳng…’’Anh đã nghe thấy Kaz nói với theo sau lưng mình như thế.

    “Cũng giống như một thứ nước hoa rẻ tiền.”

    Anh đã chờ Brum cạnh cầu thang.

    “Thưa…”

    “Không phải lúc này.”

    Matthias buộc phải tiến thẳng ra đứng trước mặt ông ta.

    “Thưa chỉ huy.”

    Lúc đó Brum mới dừng lại.

    Khuôn mặt ông ta tỏ vẻ giận dữ vì bị chặn đường, rồi thoáng bối rối, và cuối cùng là ngỡ ngàng.

    “Matthias?”

    Ông ta đã thì thầm như thế.

    “Thưa chỉ huy,” Matthias vội nói ngay.

    “Xin hãy cho tôi ít phút để giải thích.

    Có một Grisha đang hiện diện ở đây tối nay, với ý định sát hại một trong các tù nhân của ông.

    Nếu ông đi với tôi, tôi có thể trình bày âm mưu đó với ông và cách thức ngăn chặn nó.”

    Brum đã ra lệnh cho một drüskelle khác giám sát Nina, còn mình thì theo chân Matthias tới một góc tường bên dưới cầu thang.

    “Nói đi,” ông ta ra lệnh, và Matthias kể cho Brum nghe sự thật, một sự thật trần trụi: vụ thoát chết của anh sau tai nạn đắm tàu, lời tố cáo của Nina khiến anh bị kết tội buôn bán nô lệ và bị tống vào Cổng Địa Ngục, lời hứa về một lệnh ân xá.

    Anh gán tất cả mọi thứ cho Nina, nhưng không hề đả động đến Kaz cùng những người còn lại trong nhóm.

    Khi Brum hỏi lại xem có phải Nina hành động một mình hay không, anh chỉ đáp là mình không biết.

    “Cô ta tin rằng tôi đang đợi để đưa cô ta qua cây cầu bí mật.

    Tôi cắt đuôi cô ta ngay khi có thể và đi tìm ông.”

    Một phần trong Matthias cảm thấy tởm lợm vì những lời nói dối tuôn ra dễ dàng đến thế từ miệng anh, nhưng anh không thể phó mặc Nina cho sự định đoạt của Brum.

    Lúc này, anh đang nhìn Brum, với cái miệng hơi há ra trong lúc ngủ.

    Một trong những điều anh nể phục nhất nơi ông ta là sự không nhân nhượng, sẵn sàng làm những việc ghê gớm để bảo vệ lí tưởng.

    Nhưng Brum cũng lấy sự ngược đãi Grisha làm niềm vui thú, điều mà ông ta sẵn sàng làm với Nina và Jesper.

    Có lẽ những nhục hình ghê gớm chưa bao giờ gây khó cho Brum như chúng đã từng làm khó anh.

    Chúng không phải là một bổn phận thiêng liêng được miễn cưỡng thi hành vì sự an nguy của Fjerda.

    Chúng là niềm vui đối với ông ta.

    Matthias lấy chiếc chìa khoá đeo trên cổ Brum ra, rồi lôi ông ta vào một buồng giam trống, để ông ta dựa vào tường trong tư thế ngồi.

    Matthias không muốn bỏ mặc ông ta ở đó với cái cằm gục xuống ngực, đôi chân choãi ra, mất hết phẩm giá.

    Anh không thích sự nhục nhã mà ông ta sẽ cảm thấy, sự ê chề của một chiến binh bị phản bội bởi người ông ta tin tưởng và yêu quý.

    Anh đã kinh qua nỗi đau đó.

    Matthias áp trán mình vào trán Brum một lần cuối, trong giây lát.

    Anh biết ông ta không thể nghe thấy, nhưng anh vẫn nói.

    “Cuộc đời mà ông đang sống, mối thù mà ông đang cảm thấy, nó là thuốc độc.

    Tôi không thể uống nó được nữa.”

    Matthias khoá cửa buồng giam lại, trước khi nhanh chóng đi theo hành lang tới chỗ Nina, tới nơi lớn lao hơn.

    16

    JESPER

    MƯỜI MỘT HỒI CHUÔNG

    Jesper chờ đợi bên khe hở của bức tường.

    Một khe bắn tỉa, vị trí hoàn hảo đối với anh.

    Chúng ta vừa làm cái gì vậy?

    Anh tự hỏi trong đầu.

    Nhưng máu anh đang sôi sục, khẩu súng khoác trên vai anh, thế giới này bỗng có ý nghĩa trở lại.

    Vậy đám lính gác đâu?

    Jesper cứ tưởng chúng sẽ ùa ra sân ngay khi anh và Wylan kích hoạt Quy trình Đen.

    “Tôi xong rồi!”

    Wylan reo lên từ phía sau lưng anh.

    Jesper không thích từ bỏ một cứ điểm ngon trước khi biết được mình đang đối đầu với những gì, nhưng họ không còn thời gian nữa, và họ cần phải rút lên mái nhà.

    “Thôi được rồi.

    Ta đi nào.”

    Họ chạy nhanh xuống thang.

    Ngay khi sắp sửa lao qua vòm cửa của vọng gác, sáu tên lính ùa vào trong sân.

    Jesper khựng lại và giơ tay lên.

    “Quay lại,” anh nói với Wylan.

    Những cậu ta đang chỉ tay về phía bên kia sân.

    “Anh nhìn kìa.”

    Đám lính không tiến về phía vọng gác, tất cả sự chú ý của họ tập trung vào một người mặc trang phục màu nâu olive đứng bên cạnh một gờ đá.

    Bộ đồng phục đấy…

    Một phụ nữ vừa đi xuyên qua tường, đám sương khói mang hình người đông đặc lại bên cạnh kẻ lạ mặt kia.

    Chị ta cũng mặc trang phục màu nâu olive.

    “Tiết Hải Sư,” Wylan nói.

    “Người Shu.”

    Tốp lính khai hoả, hai Tiết Hải Sư biến mất trước khi xuất hiện trở lại phía sau lưng những tên lính, hai tay giơ lên.

    Những tên lính la hét và làm rơi vũ khí.

    Một đám sương mù đỏ quạch hình thành trên đầu chúng.

    Đám sương dày lên trong lúc tốp lính kêu gào, da thịt chúng dường như teo tóp lại.

    “Đó là máu của họ,” Jesper nói, mật đắng dâng lên tận cổ anh.

    “Thánh thần ơi, hai Tiết Hải Sư kia đang rút cạn máu của bọn họ.”

    Những tên lính đã hoàn toàn khô kiệt.

    Máu tạo thành những khối lơ lửng hình người đỏ rực, loang loáng trôi nổi giữa không trung, rồi đổ ập xuống đất đúng lúc tốp lính ngã gục, lớp da chùng tạo thành những nếp gấp gớm ghiếc trên cơ thể khô héo.

    “Quay trở lên cầu thang,” Jesper thì thào.

    “Chúng ta cần phải rời khỏi đây.”

    Nhưng đã quá muộn.

    Nữ Tiết Hải Sư biến mất và xuất hiện lại trên cầu thang.

    Chị ta đu người trên lan can và đạp vào ngực Wylan, làm cậu ngã đè lên Jesper.

    Hai người lăn lông lốc xuống mặt sân lát đá đen.

    Khẩu súng trường bị giật khỏi vai Jesper và quăng ra xa.

    Anh cố đứng dậy, nhưng nữ Tiết Hải Sư đã túm lấy tóc anh.

    Tiếp đó anh thấy mình nằm bên cạnh Wylan, trong khi hai Tiết Hải Sư đứng lừng lững bên trên.

    Họ giơ tay lên, và Jesper thấy đám mây màu đỏ bắt đầu hình thành.

    Anh sắp bị rút kiệt máu.

    Anh cảm thấy sức lực của mình bắt đầu cạn dần.

    Anh nhìn sang bên trái, nhưng khẩu súng nằm quá xa tầm với.

    “Jesper,” Wylan hổn hển nói.

    “Kim loại.

    Làm gì đi.” cậu ta bắt đầu hét lên.

    Trong nháy mắt, Jesper chợt hiểu.

    Đây là một cuộc đấu mà anh không thể thắng nếu dùng súng.

    Không còn thời gian để suy nghĩ hay nghi ngại nữa.

    Phớt lờ cơn đau xé da xé thịt, anh tập trung mọi sự chú ý vào những mạt sắt bám trên bộ quần áo của mình.

    Anh không phải là một Sáng Chế Gia giỏi, nhưng đối phương không biết anh là một Grisha.

    Anh giơ tay, và những mảnh kim loại bay lên khỏi người anh, hình thành một đám mây lấp lánh.

    Đám mây lơ lửng giữa không khí trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, rồi phóng thẳng về phía hai Tiết Hải Sư.

    Nữ Tiết Hải Sư rú lên khi bị chỗ kim loại cắm sâu vào da thịt.

    Chị ta cố gắng biến đi.

    Nam Tiết Hải Sư cũng làm điều tương tự.

    Cơ thể bọn họ hoá lỏng, nhưng rồi rắn đặc trở lại.

    Khuôn mặt của họ xám xịt, lấm tấm những mảnh kim loại.

    Jesper không dừng lại.

    Anh đẩy những mảnh kim loại vào bên trong các cơ quan nội tạng, mỗi lúc một sâu hơn.

    Anh có thể cảm thấy hai Tiết Hải Sư cố gắng điều khiển các phân tử kim loại.

    Nếu đó là một viên đạn, hoặc một lưỡi dao, có lẽ họ đã thành công, nhưng những vết cắt cứa của mạt sắt quá nhiều và quá nhỏ.

    Người phụ nữ ôm lấy bụng mình và khuỵu xuống.

    Gã đàn ông thét lên, ho khạc ra những bụm máu đen lẫn mạt sắt.

    “Cứu tôi với,” người phụ nữ nấc lên.

    Những đường nét của cơ thể chị ta mờ đi, rung rinh khi nó cố gắng biến thành một màn sương.

    Jesper thả tay xuống.

    Anh và Wylan lùi ra xa khỏi hai Tiết Hải Sư đang hấp hối.

    Liệu họ có chết không?

    Có phải anh vừa giết hai đồng loại của mình?

    Jesper lại nghĩ tới cái băng-rôn với những dải vải màu đỏ, xanh, tím treo trên tường.

    Wylan kéo tay anh.

    Khuôn mặt cậu ta tái nhợt, các mạch máu hằn rõ.

    “Jesper, chúng ta phải đi thôi.”

    Anh chậm rãi gật đầu.

    “Ngay bây giờ.”

    Jesper buộc đôi chân mình hoạt động, buộc cơ thể anh bám theo Wylan, đu sợi dây leo lên mái nhà.

    Anh thấy chóng mặt và váng vất.

    Những người còn lại đang trông cậy vào anh, anh biết điều đó.

    Anh phải đi tiếp.

    Nhưng anh cảm thấy như vừa bỏ lại một phần con người anh ở đâu đó dưới cái sân kia, một phần mà anh chưa từng nhận thức được tầm quan trọng, và hư ảo như một màn sương.

    17

    NINA

    MƯỜI LĂM PHÚT SAU MƯỜI MỘT HỒI CHUÔNG

    Khi Matthias mở cửa buồng giam cho Nina, cô ngập ngừng trong giây lát.

    Cô không thể không làm thế.

    Trong suốt phần đời còn lại, cô sẽ không bao giờ quên khuôn mặt của Matthias nơi ô cửa sổ ban nãy, sự tàn nhẫn trên đó, và mối nghi ngờ xuất hiện trong tim cô.

    Cô lại cảm thấy nó khi nhìn anh đứng trên ngưỡng cửa, nhưng khi anh chìa tay về phía cô, Nina biết họ không còn phải sợ hãi nữa.

    Cô lao vào Matthias, và anh ôm ghì lấy cô trong vòng tay mình.

    Anh vùi mặt vào mái tóc cô.

    Nina cảm thấy đôi môi Matthias mấp máy bên tai mình khi anh nói: “Anh không bao giờ muốn nhìn thấy em như thế này nữa.”

    “Ý anh là bộ váy, hay là buồng giam?”

    Anh cười rung người, “Chắc chắn là buồng giam rồi.”

    Rồi anh giơ hai tay lên đỡ lấy khuôn mặt cô.

    “Jer molle pe oonet.

    Enel mörd je nej afva trohem verret.”

    Nina nuốt khan.

    Cô nhớ những câu nói này và ý nghĩa của chúng.

    Tôi được sinh ra để bảo vệ Người.

    Chỉ có cái chết mới ngăn tôi thực hiện lời thề này.

    Đó là lời thề trung thành với Fjerda của các drüskelle.

    Nhưng giờ đây, nó trở thành lời hứa của Matthias với cô.

    Cô biết mình nên nói gì đó sâu sắc, đẹp đẽ để đáp lại.

    Nhưng thay vào đó, cô nói sự thật.

    “Nếu chúng ta sống sót thoát ra khỏi nơi này, em sẽ hôn cho tới khi anh bất tỉnh.”

    Nụ cười làm bừng sáng khuôn mặt đẹp trai của anh.

    Cô nóng lòng muốn nhìn thấy màu xanh thực sự trong mắt anh một lần nữa.

    “Yul-Bayur đang ở trong kho tiền,” anh nói.

    “Ta đi thôi.”

    Khi Nina nhanh chóng theo chân Matthias trên hành lang, tiếng chuông báo động của Quy trình Đen làm tai cô ong lên.

    Nếu Brum đã biết về cô, thì nhiều khả năng các drüskelle khác cũng vậy.

    Cô sợ rằng bọn họ sẽ nhanh chóng đến tìm chỉ huy của mình.

    “Làm ơn nói với em rằng Kaz không mất tích một lần nữa,” cô nói trong lúc hai người vội vã đi dọc theo hành lang.

    “Anh chia tay cậu ta trong phòng khiêu vũ.

    Chúng ta sẽ gặp lại cậu ta cạnh cây tần bì.”

    “Lúc nãy khi em đi ngang qua chỗ đó rất đông các drüskelle.”

    “Biết đâu Quy trình Đen sẽ giải quyết được chuyện đó.”

    “Nếu chúng ta không bị các drüskelle tiêu diệt thì Kaz cũng sẽ kết liễu chúng ta, nếu anh ta biết chúng ta thủ tiêu Yul-Bayur…”

    Matthias giơ một tay lên để ngăn cô lại trước khi họ đi vòng qua một góc tường.

    Họ chậm rãi tiến đến gần.

    Khi đi vòng qua góc tường, Nina nhanh chóng xử lí tên lính gác đang canh trước cửa kho an toàn.

    Matthias cầm lấy khẩu súng của anh ta rồi dùng chìa khoá của Brum mở cánh cửa tròn dẫn vào kho tiền.

    Nina giơ hai tay lên, sẵn sàng tấn công.

    Họ chờ đợi, tim đập thình thịch trong lúc cánh cửa từ từ mở rộng.

    Kho tiền cũng trắng muốt giống như những căn phòng khác, nhưng không hề trống trải.

    Trên những chiếc bàn dài của nó là hàng loạt cốc thí nghiệm đang được đun bằng ngọn lửa xanh, những thiết bị làm nóng và lạnh, các ống nghiệm thuỷ tinh đựng đầy thứ bột màu cam ở nhiều sắc độ khác nhau.

    Một vách tường được dành riêng cho một tấm bảng lớn, đặc kín những phương trình viết bằng phấn.

    Nơi bức tường bên kia có những ngăn ô bằng kính lắp cửa kim loại, bên trong là những cây jurda đang ra hoa.

    Nina đoán chúng phải được sưởi ấm mới sống được.

    Một cái giường nhỏ được đẩy sát vào bức tường còn lại, với lớp chăn mền nhăn nhúm, giấy tờ vương vãi bên trên, có một cậu bé người Shu đang ngồi khoanh chân trên đó với quyển sổ đặt trong lòng.

    Cậu ta ngước lên nhìn họ, mái tóc đen rủ xuống trán, cậu ta không thể quá mười lăm tuổi được.

    “Chúng tôi tới đây không phải để làm hại cậu,” Nina nói bằng tiếng

    Shu.

    “Bo Yul-Bayur đâu?”

    Cậu bé vén mái tóc loà xoà che đôi mắt vàng.

    “Ông ấy chết rồi.”

    Nina nhíu mày.

    Không lẽ thông tin của Van Eck không chính xác?

    “Vậy tất cả những thứ này là gì?”

    “Các người đến để giết tôi à?”

    Nina không có câu trả lời.

    “Sesh-uyeh?”

    Cô đánh liều hỏi thử.

    Khuôn mặt của cậu bé giãn ra.

    “Hai anh chị là người Kerch.”

    Nina gật đầu.

    “Chúng tôi tới để giải cứu Bo Yul-Bayur.”

    Cậu bé co hai đầu gối vào ngực rồi vòng tay ôm lấy chúng.

    “Muộn rồi.

    Cha tôi đã chết khi người Fjerda cố ngăn cản phía Kerch đưa chúng tôi đi khỏi Ahmrat Jen.”

    Giọng cậu lạc đi.

    “Cha tôi chết do đạn lạc.”

    Cha tôi.

    Nina phiên dịch cho Matthias nghe trong lúc cô cố gắng nắm bắt tình hình.

    “Chết rồi sao?”

    Matthias hỏi lại, đôi vai rộng của anh thõng xuống.

    Nina biết anh đang nghĩ gì.

    Tất cả những khó khăn họ phải chịu đựng, tất cả những điều họ đã làm, chỉ để biết được Yul-Bayur đã chết từ đầu.

    Nhưng người Fjerda giữ con trai ông ta sống sót hẳn phải có lí do.

    “Họ đang cố bắt cậu thiết lập lại công thức của cha cậu,” Nina nói.

    “Tôi đã giúp ông ấy làm thí nghiệm, nhưng tôi không nhớ được tất cả mọi thứ.”

    Cậu ta cắn môi.

    “Và tôi đang câu giờ.”

    Thứ ma dược mà người Fjerda đang sử dụng trên các Grisha hẳn là từ số lượng được Bo Yul-Bayur đã đem theo tới Kerch lúc ban đầu.

    “Cậu có thể làm được không?”

    Nina hỏi.

    “Thiết lập lại công thức ấy?”

    Cậu ta ngập ngừng.

    “Tôi nghĩ là được.”

    Nina và Matthias đưa mắt nhìn nhau.

    Cô nuốt khan.

    Cô đã từng giết người trước đây.

    Đêm nay cô cũng đã ra tay, nhưng đây lại là một chuyện khác.

    Thằng bé này không chĩa súng hay cố làm hại cô.

    Sát hại nó đồng nghĩa với việc phản bội Inej, Kaz, Jesper và Wylan.

    Những người đã đánh liều mạng sống của mình vì một giải thưởng lớn chưa từng thấy.

    Nhưng rồi cô nhớ tới cảnh Nestor nằm bất động trên tuyết, những Grisha khốn khổ trong buồng giam của mình, tất cả chỉ vì thứ ma dược này.

    Cô giơ tay lên.

    “Tôi xin lỗi,” cô nói.

    “Nếu cậu thành công, nỗi thống khổ mà cha con cậu gây ra sẽ không có giới hạn.”

    Cậu bé giương mắt nhìn không nao núng, cằm hếch lên một cách bướng bỉnh, như thể đã biết khoảnh khắc này rồi sẽ tới.

    Việc cần làm đã quá rõ.

    Kết liễu cậu ta một cách nhanh chóng, không đau đớn.

    Phá huỷ phòng thí nghiệm cùng với mọi thứ ở đây.

    Xoá sổ bí mật về jurda parem.

    Nếu muốn trừ khử một dây nho, cắt nó thôi không đủ.

    Phải nhổ bật gốc rễ của nó.

    Thế nhưng tay cô đang run lên.

    Có phải đây là cách suy nghĩ của drüskelle?

    Diệt trừ mầm hoạ, xoá sổ nó, bất kể kẻ đối diện có tội hay vô tội.

    “Nina,” Matthias nhẹ nhàng nói.

    “Cậu ta chỉ là một đứa trẻ.

    Một người giống như chúng ta.”

    Một người giống như chúng ta.

    Một cậu bé tuổi nhỏ hơn cô không bao nhiêu, bị cuốn vào một cuộc chiến mà cậu không tự mình lựa chọn.

    Một người sống sót.

    “Tên cậu là gì?”

    Nina hỏi.

    “Kuwei.”

    “Kuwei Yul-Bo,” cô bắt đầu nói, rồi khựng lại.

    Liệu cô có định tuyên án?

    Hay xin lỗi?

    Cầu xin sự khoan hồng?

    Cô chẳng bao giờ biết được.

    Khi nói tiếp, cô chỉ có thể hỏi: “Cậu có thể phá huỷ phòng thí nghiệm này nhanh cỡ nào?”

    “Rất nhanh,” cậu bé đáp.

    Cậu chém tay vào không khí, và ngọn lửa bên dưới một chiếc cốc thí nghiệm bỗng bùng lên, tạo thành một lưỡi lửa xanh lè.

    Nina trố mắt.

    “Cậu là Grisha.

    Một Tiết Hoả Sư.”

    Kuwei gật đầu.

    “Jurda parem là một sai lầm.

    Cha tôi đã cố gắng tìm một cách thức nhằm giúp tôi che giấu năng lực của mình.

    Ông là Sáng Chế Gia.

    Một Grisha, giống tôi.”

    Đầu óc Nina quay cuồng.

    Bo Yul-Bayur, một Grisha ẩn mình bên kia đường biên giới, trong lãnh thổ Shu Han.

    Cô không có đủ thời gian để tiêu hoá thông tin này.

    “Chúng ta cần phải phá huỷ tối đa những thứ này,” cô nói.

    “Ở đây có chất đốt,” Kuwei đáp và bắt đầu thu dọn giấy tờ cùng các mẫu jurda.

    “Tôi có thể tạo ra một vụ nổ.”

    “Chỉ trong này thôi.

    Ở đây còn nhiều Grisha.”

    Và lính gác.

    Và Brum.

    Nina rất sẵn lòng để ông ta chết, nhưng mặc dù Matthias đã phản lại ông ta, cô không nghĩ anh muốn chứng kiến người cha đỡ đầu của mình bị tan xác.

    Trái tim Nina lồng lên khi nghĩ tới những Grisha mà cô sẽ bỏ lại phía sau, nhưng cô không thể nào đưa họ tới bến cảng được.

    “Bỏ lại những thứ khác đi,” cô nói với Matthias và Kuwei.

    “Chúng ta phải đi thôi.”

    Cậu bé tập hợp một loạt các ống nghiệm đựng đầy chất lỏng và đặt chúng lên bếp lửa.

    “Tôi đã sẵn sàng.”

    Họ kiểm tra tình hình hành lang và chạy tới cửa ra vào của kho bạc.

    Ở mỗi khúc cua, cô đều chờ đợi drüskelle hoặc lính gác chặn đường, nhưng họ chạy qua các hành lang mà không gặp trở ngại nào.

    Tại cửa ra vào của kho bạc, ba người dừng lại.

    “Phía bên trái chúng ta có một mê cung cây,” Nina nói.

    Matthias gật đầu.

    “Chúng ta sẽ nấp ở đó trước khi chạy tới cây tần bì.

    Khi họ mở cửa, tiếng chuông báo động trở nên ồn ào không chịu nổi.

    Nina có thể trông thấy Đồng hồ Cả nằm trên đỉnh chóp cao nhất của cung điện, với mặt kim đồng hồ sáng rực như mặt trăng.

    Những ánh đèn phát ra từ các tháp canh quét qua lại trên đảo, và Nina có thể nghe thấy tiếng la hét của quân lính quanh cung điện.

    Cô nép sát vào tường, bám theo Matthias, cố gắng giữ mình trong bóng tối.

    “Nhanh lên,” Kuwei nói, ánh mắt căng thẳng hướng về phía phòng thí nghiệm.

    “Lối này,” Matthias nói.

    “Mê cung…”

    “Dừng lại!”

    Ai đó quát to.

    Đã quá trễ.

    Quân lính đang lao tới chỗ họ từ phía mê cung cây.

    Không còn cách nào khác ngoài chạy.

    Họ lao qua những hàng cột vào khoảng sân tròn.

    Các drüskelle ở khắp nơi, đằng trước lẫn đằng sau họ.

    Bất cứ lúc nào họ cũng có thể bị bắn hạ.

    Đúng lúc đó, vụ nổ xảy ra.

    Nina cảm nhận được nó trước khi nghe thấy: một làn sóng nhiệt nhấc bổng cô lên và ném cô ra xa, kèm theo một tiếng nổ điếc tai.

    Người cô đập mạnh xuống nền đá trắng.

    Mọi thứ chìm trong khói và sự hỗn loạn.

    Nina loạng choạng đứng lên, tai ù đặc.

    Một phía của kho bạc đã sụp đổ tan tành, khói bụi cuồn cuộn bốc lên bầu trời đêm.

    Matthias cùng với Kuwei bước nhanh đến chỗ Nina.

    Cô đứng dậy.

    “Sten!”

    Hai bóng người hô to sau khi tách ra từ một nhóm lính khác đang chạy về phía kho bạc.

    “Các người làm gì ở đây?”

    “Chúng tôi chỉ tận hưởng bữa tiệc!”

    Nina thốt lên với tất cả sự mệt mỏi và hoảng sợ.

    “Thế rồi… thế rồi…”

    Nước mắt cô tuôn chảy một cách dễ dàng.

    Gã drüskelle giơ súng lên.

    “Cho tôi xem giấy tờ của cô.”

    “Không có giấy tờ, Lars.”

    Gã săn phù thuỷ ngẩng phắt lên khi Matthias bước ra phía trước.

    “Tôi có quen anh à?”

    “Anh từng quen, mặc dù tôi trông hơi khác một chút.

    Hje marden, Lars?”

    “Helvar?”

    Gã hỏi lại.

    “Họ… họ nói anh đã chết.”

    “Đúng.”

    Lars đưa mắt sang phía Nina.

    “Đây là ả Độc Tâm Y Brum đã đưa tới kho bạc.”

    Gã chợt nhận ra sự hiện diện của Kuwei, và hiểu ra tất cả.

    “Quân phản bội,” gã quát vào mặt Matthias.

    Nina giơ tay lên để làm chậm dòng máu của Lars, nhưng một thứ gì đó đã lao vào cô từ phía bên phải, cô hét lên khi bị nó đập vào người.

    Đưa mắt nhìn xuống, cô thấy những vòng dây thít chặt, trói hai tay cô vào thân mình, cô không tài nào giơ tay lên được nữa.

    Cô không thể sử dụng năng lực của mình.

    Matthias gầm lên, Kuwei cũng hét toáng khi những sợi cáp bung ra từ trong bóng tối quấn quanh họ và trói tay họ lại.

    “Đây là điều bọn ta vẫn làm, đồ khát máu,” Lars gằn giọng.

    “Truy lùng quân rác rưởi các ngươi.

    Chúng ta đã quá rành những mánh lới của các ngươi.”

    Gã đá vào chân Matthias làm anh khuỵu xuống và hộc lên một tiếng.

    “Họ bảo bọn ta rằng ngươi đã chết, bọn ta đã khóc thương ngươi, đã đốt nhánh cây tần bì cho vong linh của ngươi.

    Nhưng hoá ra họ đã tránh cho bọn ta một sự thật tồi tệ.

    Matthias Helvar, một đứa phản bội, nối giáo cho giặc và giao du với giống loài phi tự nhiên.”

    Lars nhổ vào mặt Matthias.

    “Sao ngươi có thể phản bội đất nước và thần linh của ngươi?”

    “Djel là vị thần của sự sống chứ không phải của cái chết.”

    “Có ai khác tới đây tìm Yul-Bayur ngoài ngươi và con súc sinh này không?”

    “Không,” Nina nói dối.

    “Ta không hỏi ngươi, đồ phù thuỷ,” Lars nói.

    “Không sao.

    Bọn ta sẽ moi được thông tin từ các ngươi theo cách của bọn ta.”

    Gã quay sang phía Kuwei.

    “Cả ngươi nữa.

    Đừng tưởng chuyện này sẽ không bị trừng trị.”

    Lars phất tay ra hiệu.

    Từ trong bóng của những cây cột trụ, một hàng những người đàn ông xuất hiện: các drüskelle, với mũ trùm che kín mái tóc vàng lấp ló nơi cổ áo, trang phục hai màu đen và bạc, giống như những sinh vật sinh ra từ các khe nứt tăm tối của khối băng phương bắc.

    Họ toả ra, vây quanh Nina, Matthias và Kuwei.

    Nina nghĩ tới những buồng giam màu trắng với lỗ thoát nước trên sàn.

    Liệu tất cả chỗ ma dược có bị phá huỷ sau vụ nổ chưa?

    Kuwei cần bao nhiêu thời gian để chế ra một lô mới, và bọn họ sẽ bắt cô chịu những nhục hình gì trước đó?

    Cô tuyệt vọng đưa mắt nhìn lần cuối vào bóng tối, cầu mong được trông thấy dấu hiệu nào đó của Kaz.

    Phải chăng anh ta cũng đã bị bắt?

    Hay anh ta đã bỏ rơi bọn cô ở đây?

    Cô đáng ra phải là một chiến binh.

    Cô cần vững vàng hơn trước những gì sắp xảy ra.

    Một drüskelle tiến tới trước cầm theo thứ nom giống như một cái cán roi dài nối với những sợi cáp quấn quanh người họ, và đưa nó cho Lars.

    “Ngươi có nhận ra cái này không, Helvar?”

    Lars hỏi.

    “Ngươi phải nhận ra chứ.

    Ngươi đã tham gia thiết kế nó mà.

    Roi cáp thu dây được để khống chế cùng lúc nhiều người.

    Được trang bị gai nhọn, dĩ nhiên rồi.”

    Lars búng ngón tay vào một trong những sợi dây cáp, khiến Nina hét lên khi những cái gai nhỏ đâm vào tay và ngực cô.

    Đám drüskelle cười sằng sặc.

    “Để cô ấy yên,” Matthias gằn giọng.

    Trong một tích tắc ngắn ngủi, cô thấy sự sợ hãi vụt qua trên mặt các đồng đội cũ của anh.

    Matthias to lớn hơn tất cả, và anh từng là một trong những thủ lĩnh của họ, một trong những người giỏi nhất.

    Nhưng Lars đã búng mạnh sợi cáp khác.

    Những cái gai mọc ra, và Matthias hộc lên đau đớn, cúi gập xuống, một lần nữa trở lại thành con người bình thường.

    Những tiếng cười rinh rích vang lên ngay sau đó thật giảo hoạt và tàn nhẫn.

    Lars giật mạnh cái roi, những sợi cáp thu ngắn lại, buộc Nina, Matthias và Kuwei líu ríu tiến tới trước như trong một cuộc diễu hành vụng về.

    “Ngươi vẫn còn cầu nguyện vị thần của chúng ta chứ hả, Helvar?”

    Lars hỏi trong lúc giải họ đi ngang qua cây tần bì.

    “Ngươi có nghĩ Djel chịu nghe lời ca thán của những kẻ đã dâng mình cho bọn Grisha nhơ bẩn không?

    Ngươi có nghĩ…”

    Một âm thanh kì lạ như tiếng thú kêu chợt cất lên.

    Nina và những người còn lại phải mất vài giây mới nhận ra nó phát ra từ Lars.

    Gã há miệng, máu tuôn ồng ộc xuống cằm, phủ lên những cái cúc ánh bạc sáng loáng trên bộ đồng phục của gã.

    Tay gã buông rơi cán roi, và một drüskelle từ phía sau gã nhào tới chộp lấy nó.

    Những tiếng bụp bụp phát ra từ dưới gốc cây tần bì linh thiêng.

    Nina đã nhận ra âm thanh này, cô từng nghe thấy nó lúc họ đốn hạ cái cây để chặn đường chiếc xe chở tù.

    Cây tần bì kêu răng rắc và nghiến kèn kẹt.

    Bộ rễ lâu đời của nó bắt đầu bật lên.

    “Nej!”

    Một drüskelle rú lên.

    Tất cả bọn họ há hốc mồm kinh ngạc trước cái cây đang lung lay.

    “Nej!”

    Một giọng nói khác rên rỉ.

    Cây tần bì nghiêng đi.

    Nó quá lớn nên không thể bị đánh bật gốc chỉ bằng chút dung dịch muối đậm đặc, nhưng trong lúc nó nghiêng, một tiếng gầm trầm đục phát ra từ hố đen rộng hoác bên dưới.

    Đây là nơi các drüskelle tới để lắng nghe tiếng nói của vị thần mà họ tôn kính, và giờ ngài đã bắt đầu lên tiếng.

    “Sẽ hơi châm chích một chút,” gã drüskelle đang cầm cán roi nói.

    Chất giọng anh ta khàn đục và rất quen thuộc.

    Bàn tay anh ta đeo găng.

    “Nhưng nếu chúng ta sống, hai người sẽ cảm ơn tôi sau.”

    Mũ trùm đầu của anh ta tuột xuống, và khuôn mặt Kaz Brekker lộ ra.

    Đám drüskelle chưa hết bàng hoàng bắt đầu giơ súng lên.

    “Đừng cắn miếng bóng biển trước khi chạm đáy nhé,” Kaz nói to.

    Đoạn anh chộp lấy Kuwei và nhảy xuống miệng hố đen ngòm bên dưới gốc cây tần bì.

    Nina hét lên khi cô bị sợi cáp lôi tới trước.

    Cô cào cấu mặt đá tìm chỗ bám víu.

    Điều sau cùng cô trông thấy là Matthias ngã xuống cái hố cùng mình.

    Cô nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng lúc đó cô đã rơi vào bóng tối, vào sự giá lạnh, vào trong cái miệng của Djel.

    Vào hư không.

    18

    KAZ

    BỐN MƯƠI LĂM PHÚT SAU MƯỜI MỘT HỒI CHUÔNG

    Kaz đã cân nhắc việc nghe lén mẩu đối thoại giữa Matthias và Brum lúc ở trong phòng khiêu vũ, nhưng anh không muốn mất dấu Nina khi có quá nhiều drüskelle quanh đây.

    Dù đã đặt cược vào tình cảm của Matthias dành cho Nina, anh luôn thích đánh đu với rủi ro.

    Nguy cơ thực sự nằm ở chỗ liệu một người lương thiện như Matthias có thể nói dối một cách thuyết phục trước mặt kẻ đã dẫn dắt anh ta hay không.

    Rõ ràng anh chàng người Fjerda còn có nhiều tài lẻ chưa thể hiện ra.

    Kaz đã bám theo Nina và Brum tới kho bạc.

    Rồi anh nấp sau một bức tượng băng và tập trung vào nhiệm vụ khó nhọc là nôn ra chỗ muối nổ của Wylan mà anh đã nuốt vào trước khi họ chặn đường chiếc xe chở tù.

    Để tránh tiêu hoá mất, cứ mỗi hai tiếng anh lại phải nôn nó ra cùng với một túi thuốc clo và một bộ dụng cụ phá khoá dự phòng, những thứ mà anh đã nuốt xuống thực quản đề phòng trường hợp cần kíp.

    Chẳng thích thú chút nào.

    Anh đã học được mánh lới này từ một nhà ảo thuật diễn trò nuốt lửa ở Đông Stave.

    Ông ta đã diễn nó thành công suốt nhiều năm trời cho tới khi chết vì ngộ độc do vô ý nuốt dầu hoả.

    Khi đã làm xong, Kaz đi kiểm tra xung quanh kho bạc, cũng như mái nhà, lối vào của nó, nhưng rõ ràng anh không có việc gì để làm ngoài lẩn trốn, cảnh giác, và lo lắng cho kế hoạch của mình.

    Anh nhớ hình ảnh Inej đứng trên mái toà đại sứ, rạng rỡ với một thứ mà anh không hiểu nhưng vẫn có thể nhận ra - một mục đích.

    Nó làm cô sáng rạng.

    Tôi sẽ lấy phần chia của mình, và rời khỏi băng Cặn Bã.

    Khi cô nhắc đến việc rời khỏi Ketterdam trước đó, anh chưa khi nào tin cô.

    Nhưng lần này thì khác.

    Anh nấp trong bóng của hàng cột phía tây khi chuông báo Quy trình Đen bắt đầu ré lên.

    Tiếng chuông của Đồng hồ Cả vang vọng khắp đảo, làm rung chuyển không gian.

    Ánh đèn từ các tháp canh chiếu sáng loà.

    Các drüskelle quanh cây tần bì bỏ dở buổi lễ của họ và bắt đầu la hét ra lệnh, trong khi một nhóm đông lính gác từ trên các tháp canh đổ xuống, dàn ra khắp đảo.

    Kaz đếm từng giây từng phút, nhưng vẫn không thấy tăm hơi Nina và Matthias.

    Bọn họ đang gặp rắc rối, anh đã nghĩ như thế.

    Hoặc mày đã sai hoàn toàn về Matthias, và chính mày sẽ phải trả giá cho tất cả cái trò này.

    Kaz phải tìm cách vào bên trong kho bạc, nhưng anh cần một sự yểm trợ trong lúc phá cái ổ khoá không thể mở được đó, và đám drüskelle hiện diện khắp nơi.

    Rồi anh thấy Nina và Matthias cùng với một người mà anh đoán là Bo Yul-Bayur chạy ra khỏi kho bạc.

    Anh sắp sửa gọi họ thì vụ nổ xảy ra, và đất trời đảo lộn.

    Họ đã phá huỷ phòng thí nghiệm, anh nghĩ như thế trong lúc các mảnh vỡ rơi xuống như mưa quanh mình.

    Rõ ràng mình không hề bảo họ làm điều đó.

    Phần tiếp theo hoàn toàn là một sự ứng biến.

    Anh chỉ nói với Matthias là đến tìm anh ở cây tần bì khi Quy trình Đen được kích hoạt.

    Anh tưởng mình sẽ có thời gian để giải thích thêm trước khi nhảy xuống.

    Nhưng giờ thì anh chỉ còn biết hi vọng họ không hốt hoảng, và may mắn đang chờ đợi cả bọn ở đâu đó phía dưới.

    Cú rơi lâu không thể tin được.

    Kaz thầm mong cậu bé Shu mà anh đang ôm chặt là một Bo Yul-Bayur trẻ trung bất ngờ chứ không phải một tù nhân thiếu may mắn nào đó mà Matthias và Nina đã quyết định thả ra.

    Anh đã nhét cái màng vào miệng của cậu bé trong khi rơi và dùng ngón tay bóp vỡ nó.

    Anh giật cán roi để nó nhả các sợi dây cáp ra, và nghe thấy những người kia hét lên khi dây cáp được thu về.

    Ít nhất họ cũng không rơi xuống nước khi đang bị trói.

    Kaz đợi lâu hết mức có thể rồi mới cắn miếng bóng biển của mình.

    Khi anh đập người vào mặt nước lạnh giá, anh đã sợ tim mình sẽ ngừng đập.

    Anh không biết mình đang chờ đợi điều gì, nhưng sức nước của dòng sông thật khủng khiếp, nó chảy nhanh và mạnh như một trận lở tuyết, gây ra tiếng ồn điếc tai ngay cả khi họ đã chìm dưới nước.

    Tuy vậy, cùng với nỗi sợ hãi là một cảm giác chiến thắng.

    Anh đã đúng.

    Giọng nói của thần linh.

    Luôn có một sự thật đằng sau những huyền thoại.

    Kaz đã xây dựng những huyền thoại cho mình đủ lâu để nhận ra điều đó.

    Anh từng tự hỏi chỗ nước chảy vào hào băng và các đài phun nước ở đâu ra, tại sao hẻm sông lại sâu và rộng đến thế.

    Ngay khi Nina mô tả nghi lễ khai tâm của các drüskelle, anh đã hiểu ra: Thành trì của Fjerda được xây dựng không phải quanh một cái cây to, mà là quanh một dòng suối.

    Djel, suối nguồn nuôi dưỡng biển cả và các cơn mưa, cũng như bộ rễ của cây tần bì linh thiêng.

    Nước có tiếng nói của nó.

    Đó là một điều mà mọi cư dân kênh rạch đều biết, cũng như những ai đã từng ngủ gầm cầu, hoặc nấp tránh bão tuyết dưới một con thuyền lật ngược.

    Nước có thể trò chuyện bằng giọng nói của một người yêu dấu, một người anh trai đã mất từ lâu thậm chí của một vị thần.

    Mấu chốt nằm ở chỗ đó, và một khi Kaz đã hiểu ra, nó giống như ai đó đã vẽ cho anh một sơ đồ dễ hiểu của Lâu Đài Băng cùng với cách thức vận hành của nó.

    Nếu anh đúng, Djel sẽ tống họ ra hẻm sông.

    Chỉ mong sao họ không chết đuối trước đó.

    Nhưng chết đuối là một khả năng rất lớn.

    Miếng bóng biển chỉ cho họ lượng không khí đủ dùng trong mười phút, tối đa là mười hai phút nếu họ giữ được bình tĩnh, một điều mà anh không dám nghĩ tới.

    Tim anh đang đập như trống trận, và phổi anh đã bắt đầu thấy rát.

    Cơ thể anh tê dại và đau đớn do nhiệt độ của nước, còn bóng tối thì mịt mùng.

    Không có gì ngoài tiếng ầm ầm của dòng nước và cảm giác lộn nhào đáng sợ.

    Kaz đã không dám chắc về tốc độ chảy của nước, nhưng anh biết những con số khá sát với thực tế.

    Những con số luôn là đồng minh của anh - xác suất, tiền lãi, nghệ thuật đánh cược.

    Nhưng giờ đây anh phải dựa vào một thứ khác nữa.

    Anh phụng sự chúa trời nào?

    Inej đã hỏi anh như thế.

    Bất cứ cái gì giúp cho tôi trở nên giàu có.

    Người có điều kiện sẽ không phải chịu cảnh lộn tùng phèo dưới một cái hào băng giữa nơi đất dữ như thế này.

    Điều gì chờ đợi họ sau khi họ nổi lên ở hẻm sông?

    Ai sẽ đợi họ?

    Jesper và Wylan đã xoay xở kích hoạt thành công Quy trình Đen.

    Nhưng liệu họ có làm được những việc còn lại không?

    Liệu anh có gặp lại Inej ở bờ bên kia hay không?

    Sống sót.

    Sống sót.

    Sống sót.

    Đó là cách mà anh đã sống cuộc đời của mình, qua từng giây phút, từng hơi thở, kể từ cái buổi sáng khủng khiếp khi anh thức giấc và phát hiện Jordie vẫn chết, còn anh vẫn sống.

    Kaz quay người trong bóng tối.

    Anh lạnh hơn bao giờ hết.

    Anh nghĩ đến bàn tay của Inej đặt trên má mình.

    Tâm trí anh chao đảo vì cảm giác đó, cả một mớ lộn xộn không tả xiết.

    Nó là nỗi kinh hoàng, sự kinh tởm, và hơn hết thảy là sự ham muốn, một mơ ước thầm kín, một hi vọng rằng cô sẽ lại chạm vào anh một lần nữa.

    Năm anh mười bốn tuổi, Kaz lập nhóm đi cướp chính cái ngân hàng đã giúp Hertzoon biết đến Jordie và anh.

    Nhóm của anh lấy được tới năm mươi ngàn kruge, nhưng anh đã bị ngã gãy chân khi nhảy từ trên mái nhà xuống.

    Cái xương liền lại không chuẩn, và kể từ đó anh phải bước đi khập khiễng.

    Thế là anh đã tìm cho mình một Sáng Chế Gia để nhờ làm cây gậy chống.

    Nó trở thành một lời tuyên bố của anh.

    Mọi phần cơ thể của anh đều đã từng bị gãy, không một cái nào phục hồi thành công, nhưng tất cả đều trở nên mạnh mẽ hơn sau khi bị hỏng.

    Cây gậy chống trở thành một phần của huyền thoại mà anh đã xây nên.

    Không ai biết anh là ai.

    Không ai biết anh từ đâu tới.

    Anh đã trở thành Kaz Brekker, một thằng thọt tự tin, đứa con hoang của Barrel.

    Đôi găng tay là nhượng bộ duy nhất đối với sự yếu đuối của anh.

    Kể từ cái đêm nằm giữa các xác chết và chuyến bơi trở về từ đảo Tử Thần, anh đã không thể chịu được cảm giác da kề da.

    Nó thật kinh tởm đối với anh.

    Đó là phần duy nhất của quá khứ mà anh không thể biến thành một thứ gì đó nguy hiểm.

    Cái màng bắt đầu bong ra trên môi anh.

    Nước đang rỉ vào.

    Con sông đã đưa họ đi được đến đâu rồi?

    Họ còn phải đi bao xa nữa?

    Kaz vẫn đang túm cổ áo của Bo Yul-Bayur.

    Cậu bé người Shu nhỏ hơn anh, hi vọng cậu ta có đủ không khí.

    Những ánh chớp kí ức lập loè trong tâm trí Kaz.

    Một cốc sôcôla nóng giữa hai bàn tay đi găng hở ngón của anh, Jordie nhắc anh nên để cho nó nguội trước khi nhấm nháp.

    Chỗ mực khô dần trên trang giấy khi anh kí giao kèo với Quạ Đen.

    Lần đầu tiên anh nhìn thấy Inej ở Vườn Thú, trong bộ váy lụa tím, đôi mắt được viền bằng phấn côn.

    Con dao có cán bằng xương mà anh ta đã tặng cô.

    Tiếng nức nở từ sau cánh cửa phòng cô ở Thanh Gỗ vào cái đêm cô giết người lần đầu tiên.

    Tiếng nức nở mà anh phớt lờ.

    Kaz nhớ cô ngồi vắt vẻo trên bậu cửa sổ tầng áp mái của anh, đâu đó trong năm đầu tiên sau khi anh đưa cô vào băng Cặn Bã.

    Cô hay đem thức ăn cho lũ quạ tụ tập trên mái nhà.

    “Cô không nên kết bạn với quạ,” anh đã nói với cô như thế.

    “Sao lại không?”

    Cô hỏi.

    Anh ngẩng lên khỏi bàn giấy để trả lời, nhưng điều anh muốn nói đã biến mất khỏi đầu lưỡi của anh.

    Mặt trời ló dạng trong một dịp hiếm hoi, và Inej đang hướng mặt về phía nó.

    Đôi mắt cô nhắm lại, hàng mi rợp đen bóng nằm yên trên má cô.

    Gió cảng làm bồng mái tóc đen của cô, và trong thoáng chốc Kaz vụt trở lại là một cậu bé luôn tin rằng phép màu vẫn hiện diện trên cõi đời này.

    “Sao lại không?”

    Cô lặp lại, đôi mắt vẫn nhắm.

    Anh đã nói điều đầu tiên xuất hiện trong đầu mình.

    “Chúng không biết cách cư xử.”

    “Anh cũng không, Kaz à.”

    Cô bật cười, và nếu anh có thể đóng chai âm thanh đó để uống say mỗi đêm, anh sẽ làm ngay.

    Điều đó làm anh hoảng sợ.

    Kaz hít một hơi thật sâu khi miếng bóng biển tan đi và nước ùa vào.

    Anh mở hé mắt, hi vọng nhìn thấy một chút ánh sáng ban ngày.

    Dòng sông hất anh đập vào vách của đường hầm.

    Sức ép trong ngực anh tăng lên.

    Mình mạnh mẽ hơn thế này, anh tự nhủ.

    Ý chí của mình lớn hơn.

    Nhưng anh có thể nghe thấy tiếng cười của Jordie.

    Không đâu, em trai à.

    Không ai mạnh hơn.

    Em đã đánh lừa cái chết quá nhiều lần.

    Lòng tham có thể nghe lời em, nhưng cái chết không phục vụ ai hết.

    Kaz đã gần như chết đuối đêm hôm đó tại cảng, khi anh đạp chân cật lực trong bóng tối, nổi dập dềnh nhờ thi thể của Jordie.

    Giờ đây không có ai và không có gì cứu anh được.

    Anh cố gắng nghĩ về anh trai mình, sự trả thù, hình ảnh Pekka Rollins bị trói trên ghế trong căn nhà trên phố Zelverstraat với những tờ lệnh mua bán bị nhét vào cổ họng khi Kaz buộc lão phải nhớ ra tên của Jordie.

    Nhưng tất cả những gì anh có thể nghĩ đến là Inej.

    Cô phải sống.

    Cô phải thoát ra khỏi Lâu Đài Băng thành công, và nếu cô không làm được, thì anh phải sống để giải cứu cô.

    Cơn đau rát trong phổi của anh trở nên không thể chịu nổi.

    Anh cần nói với cô… nói gì đây?

    Rằng cô đáng yêu, can đảm và tốt hơn bất cứ thứ gì mà anh đáng được nhận.

    Rằng anh gàn dở, dối trá, lầm lạc, nhưng không hư hỏng đến độ không thể xứng làm người đàn ông dành cho cô.

    Rằng dù không muốn, anh đã bắt đầu dựa vào cô, tìm kiếm cô, cần cô ở gần bên.

    Anh cần phải cảm ơn cô vì chiếc mũ mới.

    Nước ép vào ngực anh, buộc anh phải mở miệng.

    Còn lâu, anh thề.

    Nhưng cuối cùng, môi anh tách ra, và nước ùa vào.
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Ba: Những Tên Trộm Lọc Lõi 19-26


    19

    INEJ

    Tim Inej đập loạn xạ trong lồng ngực.

    Trong môn đu bay, có một thời điểm bạn phải buông một thanh xà để với tới thanh xà khác, nhưng khi bạn nhận ra mình phạm sai lầm và không còn cảm thấy không trọng lượng nữa, tức là bạn bắt đầu rơi.

    Cô bị đưa trở vào trong nhà tù.

    Lần này có nhiều lính gác và súng ống chĩa vào cô hơn hẳn so với lần đầu cô tới đây, khi bước từ trên xe tù xuống cùng với những người khác trong nhóm.

    Đám lính đưa cô đi qua cái cổng miệng sói và lên cầu thang, chúng lôi cô đi trên cây cầu treo trông xuống nhà kính khổng lồ.

    Nina đã dịch câu khẩu hiệu trên tường cho cô nghe: Sức mạnh Fjerda.

    Lúc ấy cô đã cười khẩy với nó rồi đưa mắt nhìn những chiếc xe tăng và các món vũ khí, đồng thời quan sát Kaz cùng những người còn lại đi trên cầu treo phía đối diện.

    Cô đã tự hỏi loại người nào lại cần phô trương sức mạnh của mình cho đám tù nhân bị xiềng xích như thế.

    Những tên lính đang di chuyển rất nhanh.

    Lần thứ hai trong đêm, Inej bị vấp.

    “Đi,” tên lính quát bằng tiếng Kerch và lôi cô tới trước.

    “Các anh đi nhanh quá.”

    Hắn giật mạnh tay cô.

    “Không được trì hoãn.”

    “Cô không muốn gặp các điều tra viên hả?”

    Một tên lính khác hỏi cô.

    “Họ sẽ buộc cô phải nói.”

    “Nhưng sau đó cô sẽ không còn xinh xẻo nữa đâu.”

    Bọn chúng cười phá lên, và Inej thấy ruột gan mình quặn lại.

    Cô biết đám lính cố nói bằng tiếng Kerch để cô hiểu.

    Inej nghĩ mình có thể hạ gục họ bất chấp việc họ mang súng còn cô chẳng có dao.

    Tay cô không bị trói, và bọn chúng vẫn đang nghĩ cô là một ả gái điếm bị thất sủng.

    Heleen đã gọi cô là tội phạm, nhưng với chúng, cô chỉ là một con nhóc trộm cắp mặc váy lụa tím.

    Đúng lúc Inej định hành động, những tiếng bước chân khác vang lên.

    Cô thấy hai người đàn ông mặc quân phục sải bước tiên đến chỗ mình.

    Một mình cô có xử lí nổi bốn tên lính không?

    Cô không chắc, nhưng cô biết một khi đã ra khỏi đoạn hành lang này, mọi thứ sẽ kết thúc.

    Cô đưa mắt quan sát một lần nữa tấm biển trong nhà kính.

    Bây giờ hoặc không bao giờ.

    Cô móc chân mình vào mắt cá chân tên lính đi bên trái.

    Hắn chúi tới trước, và cô xỉa tay từ dưới lên, làm gãy mũi hắn.

    Tên lính thứ hai giơ súng lên.

    “Cô sẽ phải trả giá cho chuyện này.”

    “Anh sẽ không bắn tôi.

    Anh cần thông tin.”

    “Tôi có thể bắn vào chân cô,” hắn đáp, nòng súng chĩa xuống.

    Thế rồi hắn gục xuống, một cây kéo cùn cắm ở lưng.

    Tên lính đứng phía sau hắn vẫy tay vui vẻ.

    “Jesper,” cô thốt lên với giọng nhẹ nhõm.

    “Tôi cũng ở đây mà,” Wylan lên tiếng.

    Tên lính bị gãy mũi ở dưới sàn rên rỉ và cố gắng nâng súng lên.

    Inej tặng hắn một cú đá thật mạnh vào đầu.

    Hắn không cục cựa gì nữa.

    “Cô có cuỗm được viên kim cương nào đủ lớn không đấy?”

    Jesper hỏi.

    Inej gật đầu rồi lôi cái vòng cổ choker từ trong tay áo ra.

    “Nhanh lên,” cô nói.

    “Sớm muộn gì mụ Heleen cũng phát hiện ra nó đã bị mất.”

    Mặc dù với Quy trình Đen đang áp dụng thì mụ chẳng thể làm được gì nhiều.

    Jesper giật lấy cái vòng cổ từ tay Inej, miệng há hốc.

    “Kaz đã nói chúng ta cần kim cương.

    Anh ta đâu có bảo cô đánh cắp kim cương của Heleen Van Houden!”

    “Anh cứ bắt tay vào việc đi!”

    Kaz đã cho Inej hai mục tiêu: lấy trộm một viên kim cương đủ lớn để Jesper có thể sử dụng được nó, và quay trở lại hành lang này sau mười một giờ.

    Có cả đống kim cương mà cô có thể đánh cắp để phục vụ cho mục đích của họ và nhiều cách thức gây rối để cô có thể lôi kéo sự chú ý của lính gác.

    Nhưng cô muốn xử mụ Heleen.

    Với tất cả những bí mật mà mụ đã thu thập được, những tài liệu mụ đã đánh cắp, và những trận đòn mà mụ đã ra tay, cô muốn Heleen Van Houden phải nếm mùi.

    Và Heleen là một con mồi dễ dàng.

    Trong màn xô xát ở sảnh tròn, Inej đã siết cổ mụ để đánh lạc hướng sự chú ý.

    Sau đó thì tâm trí mụ dồn cả vào sự hả hê.

    Điều tiếc nuối duy nhất của Inej là cô không có mặt ở đó lúc mụ phát hiện ra cái vòng đắt giá trên cổ mình đã biến mất.

    Jesper thắp một ngọn đèn lồng và bắt tay vào việc bên cạnh Wylan.

    Chỉ khi đó Inej mới nhận ra hai người dính đầy bồ hóng sau khi chui trỏ xuống ống khói.

    Họ còn lôi theo hai cuộn dây thừng bẩn nữa.

    Trong lúc họ làm việc, Inej đi chặn các cánh cửa ở hai đầu hành lang.

    Họ chỉ có vài phút trước khi một tốp lính khác đi tuần ngang qua và phát hiện cửa bị đóng.

    Wylan lấy ra một đinh vít dài cùng với thứ nom giống như một tay quay lớn, và tìm cách buộc chúng với nhau để tạo thành thứ mà Inej đoán là một mũi khoan.

    Một tiếng thình vang lên ở cửa vào hành lang.

    “Mau lên,” Inej thốt lên.

    “Nói thế không giúp tôi làm việc nhanh hơn được đâu,” Jesper phàn nàn trong khi tập trung xử lí mấy viên đá.

    “Nếu tôi chỉ cắt nhỏ ra, chúng sẽ mất đi cấu trúc phân tử.

    Cần phải cắt một cách cẩn thận để các cạnh hợp nhất thành một mũi khoan hoàn hảo.

    Tôi không được huấn luyện để…”

    “Chuyện đó là do lỗi của ai?”

    Wylan hỏi, mặt không ngẩng lên.

    “Nào, lại nói năng vô ích rồi.”

    Giờ thì những tên lính gác đang đấm thình thình vào cửa.

    Ở cầu treo bên phía đối diện, Inej trông thấy nhiều tên lính xuất hiện, la hét và chỉ trỏ.

    Nhưng chúng không thể bắn xuyên qua hai lớp chống đạn của nhà kính.

    Chỗ kính này là sản phẩm của Grisha.

    Nina đã nhận ra điều đó ngay khi họ đi ngang qua đây.

    Sức mạnh của Fjerda được bảo vệ bởi kĩ năng của Grisha, và thứ cứng hơn thuỷ tinh của Sáng Chế Gia chính là kim cương.

    Những cánh cửa ở hai đầu hành lang rung lên bần bật.

    “Chúng sắp tới rồi!”

    Inej thông báo.

    Wylan gắn mũi khoan kim cương vào cái khoan tự chế.

    Tiếng kin kít vang lên khi Jesper đặt nó lên kính và quay tay quay.

    Tiến trình diễn ra vô cùng chậm chạp.

    “Nó có làm được không vậy?”

    Inej hét lên.

    “Kính dày lắm!”

    Có thứ gì đó nện mạnh vào cánh cửa bên phía tay phải của họ.

    “Chúng

    có dụng cụ phá cửa,” Wylan rên lên.

    “Làm tiếp đi,” Inej hối thúc trong lúc cởi giày.

    Jesper quay tay quay mạnh hơn.

    Anh vạch một vòng tròn bằng mũi khoan, bắt đầu là đường cong, rồi nửa vòng tròn.

    Nhanh hơn nữa.

    Cánh cửa gỗ ở cuối hành lang bắt đầu nứt.

    “Cậu cầm lấy cái này, Wylan!”

    Jesper hét lên.

    Wylan thế chỗ của Jesper và quay tay quay nhanh hết mức có thể.

    Jesper vớ lấy mấy khẩu súng của hai tên lính đang nằm dưới đất rồi chĩa nó về phía cánh cửa.

    “Chúng đang đến!’’Anh la lớn.

    Trên lớp kính, hình tròn đã được khép kín.

    Tấm kính tròn bị đẩy vào bên trong.

    Nó thậm chí chưa rơi chạm sàn nhà thì Inej đã lui lại lấy đà.

    “Tránh ra nào!”

    Cô yêu cầu.

    Và cô lao tới, đôi bàn chân nhanh thoăn thoắt, lớp áo lụa phấp phới như những chiếc lông, vào lúc này thì cô mặc kệ.

    Cô đã lừa được mụ Heleen Van Houden.

    Cô đã lấy được một mẩu nhỏ của mụ, một biểu tượng ngu ngốc, nhưng đáng giá.

    Nó còn chưa đủ - sẽ không bao giờ đủ - nhưng đó mới chỉ là sự khởi đầu.

    Sẽ còn nhiều chủ chứa để cô lừa, nhiều tay buôn nô lệ để cô gài bẫy.

    Chiếc áo lụa là lớp lông vũ của cô, và cô tự do.

    Inej tập trung vào lỗ hổng tròn trên kính - một mặt trăng, hay đúng hơn là sự thiếu vắng của mặt trăng, một ô cửa mỏ vào tương lai.

    Rồi cô nhảy, cái lỗ chỉ vừa đủ rộng để cô chui lọt. cô nghe thấy tiếng roạt khi cạnh sắc của thuỷ tinh cắt vào lớp lụa.

    Cô cong người lại rồi vươn tới.

    Cô chỉ có một cơ hội để bám vào cái đèn lồng lớn treo trên trần của nhà kính.

    Đó là một cú nhảy bất khả thi, một cú nhảy điên rồ, nhưng một lần nữa cô lại là đứa con gái nhỏ của bố, không bị trói buộc bởi trọng lực.

    Cô lơ lửng giữa không trung trong một tích tắc nghẹt thở, rồi hai bàn tay cô tóm lấy mép dưới của cái đèn lồng.

    Phía sau cô, cánh cửa ở đầu cầu treo mở ra, tiếng súng vang lên.

    Cầm chân chúng đi, Jesper.

    Cho tôi thêm thời gian.

    Cô đu người tới lui để lấy đà.

    Một viên đạn bay sượt qua cô.

    Đạn lạc à?

    Hay kẻ nào đó đã vượt qua được Jesper và Wylan để bắn vào cô qua cái lỗ?

    Khi đã lấy đủ đà, cô buông tay.

    Người cô đập mạnh vào tường.

    Không có cách nào duyên dáng hơn để làm điều đó, nhưng tay cô đã bám được vào gờ tường nơi những chiếc rìu cổ được trưng bày.

    Sau đó mọi chuyện dễ dàng hơn: cô nhảy từ gờ tường sang xà nhà, rồi xuống gờ tường bên dưới, trước khi đáp xuống nóc một chiếc xe tăng với đôi chân trần, cô chui vào tháp pháo.

    Cô vặn vài cái núm, cố gắng tìm cách điều khiển cỗ xe.

    Cuối cùng, một trong những nòng súng của nó giương lên.

    Cô bóp cò, và toàn thân cô giật nảy khi loạt đạn bay tới vách kính như một cơn mưa, vung vãi khắp mọi hướng.

    Đó là lời cảnh báo tốt nhất mà cô có thể gửi tới Jesper và Wylan.

    Inej chỉ có thể hi vọng cô vận hành được nòng pháo chính.

    Cô chui vào buồng lái của cỗ xe, rồi vặn cái tay quay duy nhất mà cô thấy.

    Nòng pháo đồ sộ bắt đầu vào vị trí.

    Cần gạt đây rồi, đúng ở nơi mà Jesper nói với cô.

    Inej kéo mạnh cái cần.

    Một tiếng tách nhỏ xíu vang lên.

    Sau đó, trong một khoảnh khắc dài kinh khủng, chẳng có gì xảy ra cả.

    Nếu nó không được nạp đạn thì sao nhỉ?

    Cô nghĩ thầm.

    Nếu Jesper nói đúng thì người Fjerda thật ngu ngốc khi để cho thứ hoả lực mạnh mẽ này nằm đó chỉ để chơi.

    Một tiếng thình vang dội khắp bên trong cỗ xe tăng.

    Cô nghe thấy cái gì đó lăn về phía mình và phát hoảng, sợ rằng cô đã thực hiện thao tác sai.

    Quả đạn sắp lăn ngược theo nòng súng và phát nổ ngay trên đùi cô.

    Nhưng không, một tiếng rít vang lên cùng với tiếng ken két giống như kim loại miết vào nhau.

    Khẩu pháo rung lên.

    Một tiếng uỳnh kinh thiên động địa xé toang không trung, kéo theo một bụm khói xám xuất hiện.

    Quả đạn trúng vào lớp kính, làm nó vỡ toang thành hàng ngàn mảnh nhỏ.

    Đẹp hơn cả kim cương, Inej nghĩ thầm.

    Cô hi vọng Jesper và Wylan tìm được chỗ nấp kịp thời.

    Cô chờ cho đám khói tan dần, hai tai ù đặc.

    Vách kính đã hoàn toàn đổ sụp.

    Bốn bề yên ắng.

    Từ cầu treo thòng xuống hai sợi dây thừng, Jesper và Wylan leo xuống.

    Jesper trông giống như một con côn trùng chân dài, còn Wylan vừa leo vừa nghỉ, ngọ nguậy như một con sâu đang cố chui ra khỏi kén.

    “Ajor!”

    Inej thốt lên bằng tiếng Fjerda.

    Nina hẳn sẽ rất tự hào về cô.

    Cô rê nòng pháo quanh phòng.

    Ở phía bên kia của vách kính còn lại, nhiều tên lính đang đứng la hét trên cầu treo.

    Khi bị nòng pháo chĩa về phía mình, họ lập tức tản ra.

    Inej nghe thấy tiếng bước chân và tiếng loảng xoảng khi Jesper và Wylan trèo lên xe tăng, cái đầu của Jesper xuất hiện trước, trong tư thế chúc ngược từ tháp pháo xuống.

    “Cô để tôi lái chứ?”

    “Nếu anh nhất định phải làm thế.”

    Cô dịch sang bên cạnh để Jesper có thể leo vào bàn điều khiển.

    “Chào bé cưng,” anh nói một cách vui vẻ.

    Jesper kéo một cái cần khác, và cỗ xe bọc thép bắt đầu rì rì khởi động, phụt ra khói đen.

    Con quái vật kiểu gì thế này?

    Inej tự hỏi.

    “Âm thanh đó là gì vậy?”

    “Tiếng động cơ đấy!”

    Jesper đáp.

    Bọn họ bắt đầu di chuyển mà không cần con ngựa kéo nào.

    Những phát súng vang lên từ phía trên.

    Có vẻ như Wylan đã bắt đầu điều khiển tháp pháo.

    “Lạy các thánh,” Jesper nói với Inej.

    “Giúp cậu ta nhắm bắn đi.”

    Inej leo lên ngồi cạnh Wylan trên tháp pháo và nhắm bắn bằng khẩu súng nhỏ để yểm trợ thêm khi các lính gác bắt đầu tiến vào nhà kính.

    Jesper đang quay xe và cho nó lùi xa hết mức có thể.

    Anh nã pháo thêm một phát nữa.

    Quả đạn phá tan lớp kính, bay qua cầu treo, và trúng vào tường thành tròn phía sau.

    Khói bụi và mảnh đá trắng bay tung tóe.

    Anh bắn tiếp.

    Quả đạn lần này làm bức tường đá rung chuyển.

    Jesper đã khoan một cái hốc khá to trên tường thành, nhưng chưa phải là một cái lỗ.

    “Sẵn sàng chưa?”

    Anh hỏi to.

    “Sẵn sàng,” Inej và Wylan đồng thanh lên tiếng.

    Họ tụt xuống khỏi tháp pháo.

    Wylan bị mảnh kính làm xước nhiều chỗ trên má và cổ, nhưng mặt cậu ta tươi rói.

    Inej nắm tay cậu ta và siết chặt.

    Họ đã đến Lâu Đài Băng lén lút như những con chuột.

    Dù sống hay chết, họ sẽ rời khỏi đây như một đội quân.

    Inej nghe thấy một tiếng thình lớn, tiếp nối bởi một tiếng lạch cạch và âm thanh vang rền của các bánh răng quay tròn.

    Cỗ xe tăng gầm lên.

    Âm thanh đó giống như sấm sét bị kẹt trong một cái trống bằng kim loại, khua loạn xạ hòng thoát ra ngoài, cỗ xe lùi lại, rồi lao tới trước.

    Họ lao đi càng lúc càng nhanh, cỗ xe nảy lên - chắc họ vừa ra khỏi nhà kính.

    “Bám chắc vào!”

    Jesper la lớn.

    Họ húc mạnh vào huyền thoại của Lâu Đài Băng - bức tường thành không thể vượt qua - với một âm thanh kinh thiên động địa.

    Inej và Wylan bay tới trước, đập lưng vào bàn điều khiển.

    Họ đã qua được.

    Cỗ xe tăng chạy rầm rầm trên đường, bỏ lại những tiếng la hét và tiếng súng nổ xa dần phía sau.

    Inej nghe thấy một tiếng khùng khục.

    Cô thẳng người lại và ngước lên nhìn.

    Wylan đang cười.

    Cậu ta đã thò đầu qua tháp pháo và đang nhìn về phía Lâu Đài Băng.

    Khi Inej bắt chước làm theo, cô thấy cái lỗ trên tường pháo đài tròn - một vết thủng đen ngòm giữa lớp đá trắng.

    Những gã đàn ông đang chạy qua đó, bắn loạn xạ về phía đám bụi mù mà cỗ xe tăng tạo ra.

    Wylan ôm bụng cười và chỉ tay xuống dưới.

    Tấm băng-rôn bị kéo lê phía sau họ, mắc vào đuôi xe.

    Bất chấp những vật bùn đất và khói súng, Inej vẫn đọc được dòng chữ STRYMAKT FJERDAN.

    Sức mạnh Fjerda.

    20

    NINA

    Họ lao ra khỏi bóng tối, ướt đẫm, bầm dập và thở hổn hển dưới ánh trăng.

    Nina có cảm giác như vừa bị dần cho nhừ tử.

    Những mẩu còn lại của miếng bóng biển bám dính ở khoé miệng cô.

    Bộ váy của cô rách tả tơi, và nếu cô không quá mừng rỡ vì bản thân vẫn sống và còn hít thở, chắc cô đã lo lắng hơn về việc mình đang đứng trong tình trạng gần như khoả thân, chân không giầy, tại một hẻm sông cách hải cảng và sự an toàn gần hai cây số.

    Phía đằng xa, cô vẫn còn nghe thấy tiếng chuông của Lâu Đài Băng.

    Kuwei đang ho khạc, còn Matthias thì đang kéo Kaz bất tỉnh nhân sự ra khỏi nước.

    “Thánh thần ơi, anh ta còn thở không vậy?”

    Nina hỏi.

    Matthias lật Kaz nằm ngửa ra một cách mạnh bạo và bắt đầu ấn vào ngực anh với một lực mạnh hơn cần thiết.

    “Tôi.

    Nên.

    Để.

    Cậu.

    Chết.

    Cho.

    Rồi.”

    Matthias lẩm nhẩm đứt quãng theo những cú ấn.

    Nina bò qua những tảng đá và quỳ gối bên cạnh họ.

    “Để em giúp, trước khi anh làm gãy xương ức của anh ta.

    Mạch còn đập không?”

    Cô kê ngón tay vào cổ Kaz.

    “Còn, nhưng đang yếu dần.

    Mở áo anh ta ra.”

    Matthias xé toang cái áo đồng phục của drüskelle.

    Nina đặt một bàn tay lên bộ ngực tái mét của Kaz, tập trung vào trái tim của anh và bắt nó co bóp.

    Cô dùng bàn tay còn lại kẹp mũi Kaz và mở miệng anh ra để cô thổi khí vào phổi anh.

    Những Tâm Y lành nghề hơn có thể tự rút nước ra, nhưng cô không có thời gian để bực bội vì sự thiếu huấn luyện của mình.

    “Anh ta sẽ sống chứ?”

    Kuwei hỏi.

    Tôi không biết.

    Nina áp môi vào miệng Kaz một lần nữa, canh chỉnh nhịp thổi của mình theo nhịp đập mà cô đã áp đặt với trái tim anh.

    Cố lên, cái đồ du côn Barrel nhà anh.

    Anh đã vượt qua nhiều tình thế còn khó khăn gấp bội kia mà.

    Cô cảm thấy sự biến chuyển khi trái tim của Kaz bắt đầu tự đập theo nhịp của nó.

    Anh ho sặc sụa, lồng ngực co thắt, nước ộc ra từ miệng.

    Kaz đẩy cô ra và hít một hơi.

    “Tránh xa tôi ra,” anh hổn hển nói, rồi đưa bàn tay đeo găng lên chùi miệng.

    Đôi mắt Kaz vẫn còn đờ đẫn, giống như đang nhìn xuyên qua Nina.

    “Đừng có chạm vào tôi.”

    “Cậu đang bị sốc, demjin,” Matthias lên tiếng.

    “Cậu gần như chết đuối đấy.

    Cậu lẽ ra đã chết rồi.”

    Kaz lại ho, toàn thân run rẩy.

    “Chết đuối,” anh lặp lại.

    Nina chậm rãi gật đầu.

    “Lâu Đài Băng, anh nhớ chứ?

    Phi vụ bất khả?

    Cái chết mười mươi?

    Ba triệu kruge đang chờ anh ở Ketterdam?”

    Kaz chớp mắt, ánh nhìn tỉnh táo lại.

    “Bốn triệu.”

    “Chắc cái đó đã đem anh trở lại.”

    Kaz đưa tay lên lau mặt, những cơn ho vẫn làm ngực anh co thắt.

    “Chúng ta đã thành công,” anh nói với giọng kinh ngạc.

    “Djel đã tạo ra phép màu.”

    “Cậu không xứng được nhận phép màu,” Matthias nhăn mặt.

    “Cậu đã mạo phạm cây tần bì linh thiêng.”

    Kaz đứng dậy, hơi lảo đảo.

    Anh hít thêm một hơi nữa.

    “Nó chỉ là biểu tượng thôi, Helvar.

    Nếu thần linh của anh mong manh đến thế thì có lẽ anh nên đi tìm một vị mới.

    Chúng ta rời khỏi đây thôi.”

    Nina giơ hai tay lên trời.

    “Không có chi, đồ vô ơn.”

    “Tôi sẽ cảm ơn cô khi chúng ta đã ở trên chiếc Ferolind.

    Đi thôi.”

    Kaz bắt đầu leo lên những tảng đá nằm dọc theo bờ xa của hẻm sông.

    “Trên đường đi hai người nên có lời giải thích vì sao nhà khoa học lỗi lạc người Shu của chúng ta lại có bề ngoài giống như một cậu bạn cùng lớp của Wylan.”

    Nina lắc đầu, bị giằng xé giữa cảm giác bực bội và sự ngưỡng mộ.

    Có lẽ đó là điều cần thiết để sống sót tại Barrel.

    Bạn không bao giờ được dừng lại.

    “Anh ta là bạn à?”

    Kuwei thắc mắc bằng tiếng Shu.

    “Tuỳ thời điểm.”

    Matthias đỡ cô đứng dậy, và họ làm theo Kaz, chậm chạp leo lên vách đá của hẻm sông để tới đầu bên kia của cây cầu trên đầu họ, gần Djerholm thêm chút nữa.

    Nina chưa bao giờ kiệt sức đến thế, nhưng cô không thể cho phép mình nghỉ mệt.

    Họ đã có giải thưởng trong tay.

    Họ đã đi xa hơn bất kì đối thủ nào.

    Họ đã thổi bay một toà nhà ở trung tâm của Lâu Đài Băng.

    Nhưng họ sẽ không bao giờ tới được bến cảng mà không có Inej cùng hai người còn lại.

    Cô tiếp tục di chuyển.

    Lựa chọn khác duy nhất là ngồi xuống một tảng đá và chờ đợi kết thúc.

    Một tiếng rầm rì bắt đầu vang lên ở đâu đó, từ phía Lâu Đài Băng.

    “Thánh thần ơi, mong sao đó là Jesper.”

    Cô khẩn khoản trong lúc họ

    leo lên rìa của vách đá và quay nhìn lại hẻm sông cùng cây cầu được trang hoàng lộng lẫy cho lễ Hringkälla.

    “Dù có là cái gì thì nó cũng rất lớn,” Matthias nói.

    “Chúng ta làm gì đây, Kaz?”

    “Chờ đợi thôi,” anh đáp trong lúc tiếng động kia lớn dần.

    “Sao không phải là ‘đi trốn’?”

    Nina vặn vẹo, căng thẳng đổi chân.

    “‘Chuẩn bị tinh thần’?

    Hay là ‘Tôi đã giấu hai mươi khẩu súng trong cái bụi cây đằng kia’?

    Cho chúng tôi cái gì đó đi chứ.”

    “Thế vài triệu kruge thì sao?”

    Kaz đáp.

    Một chiếc xe tăng rầm rập chạy lên đồi, làm bụi đất tung lên mù mịt phía sau.

    Ai đó đang vẫy họ từ trên tháp pháo.

    Không phải một, mà những hai người: Inej và Wylan đang hò hét và vẫy tay điên cuồng từ phía sau cái đỉnh tròn của tháp pháo.

    Nina rú lên một tiếng đắc thắng, trong khi Matthias trố mắt nhìn.

    Khi cô nhìn sang phía Kaz, Nina không tin nổi mắt mình.

    “Thánh thần ơi, Kaz.

    Trông anh thực sự hạnh phúc đấy.”

    “Đừng có nực cười như thế,” anh nạt.

    Nhưng rõ ràng Nina nói đúng.

    Kaz Brekker đang cười toét miệng như một thằng ngốc.

    “Tôi đoán bọn họ là người quen?”

    Kuwei hỏi.

    Nhưng niềm hân hoan của Nina tắt ngấm khi lời đáp trả của người Fjerda xuất hiện nơi đường chân trời.

    Một đoàn xe tăng hiện lên ở đỉnh đồi và lao xuống con đường đẫm ánh trăng, khói bụi bốc lên mù mịt phía sau.

    Có lẽ Jesper đã không đóng cổng khu trại drüskelle.

    Hoặc là bọn họ đã bố trí sẵn những chiếc xe tăng ở phía ngoài.

    Căn cứ theo hoả lực mà Lâu

    Đài Băng sở hữu bên trong vòng tường thành, cô đoán họ nên cảm thấy may mắn.

    Nhưng cô không làm nổi.

    Chỉ đến khi Inej và Wylan băng qua cây cầu, Nina mới nghe ra câu hò hét của họ: “Tránh đường mau!”

    Họ vội vàng nhảy ra khỏi con đường khi chiếc xe tăng gầm rú vượt qua và đỗ xịch lại.

    “Chúng ta có xe tăng,” Nina thốt lên.

    “Kaz, anh đúng là thiên tài.

    Kế hoạch đã thành công.

    Anh đã lấy được một chiếc xe tăng cho chúng ta.”

    “Họ chứ.”

    “Chúng ta có một chiếc,” Matthias nói và chỉ tay về phía đoàn xe bám đuổi phía sau.

    “Còn bọn họ có cả đống.”

    “Ờ, nhưng anh có biết thứ mà họ không có là gì không?”

    Kaz hỏi trong lúc Jesper quay nòng pháo của xe tăng.

    “Một cây cầu.”

    Một tiếng rít vang lên từ bên trong cỗ xe.

    Tiếp đó là một tiếng uỳnh rung chuyển mặt đất.

    Nina nghe thấy tiếng thứ gì đó xé gió bay vèo qua họ và trúng vào cây cầu.

    Lửa bùng lên ở hai trụ cầu đầu tiên, những tia lửa và mảnh vụn văng xuống hẻm sông bên dưới.

    Nòng pháo nhả đạn lần nữa.

    Với một tiếng oạp lớn, các trụ cầu sụp đổ hoàn toàn.

    Nếu người Fjerda muốn băng qua hẻm sông, họ sẽ phải bay.

    “Chúng ta có xe tăng và hào nước,” Nina nói.

    “Leo lên đi!”

    Wylan giục.

    Họ leo lên sườn xe tăng, cố sống cố chết bám vào bất cứ thứ gì nhô ra trên lớp vỏ kim loại của nó, trong lúc chiếc xe lăn bánh chạy trên đường, tiến về phía hải cảng với tốc độ tối đa.

    Khi chiếc xe tăng rầm rập chạy qua những ngọn đèn đường, người dân từ trong nhà đổ ra ngoài để xem chuyện gì đang xảy ra.

    Nina cố hình dung ra hình ảnh của bọn họ trong mắt của những người Fjerda.

    Người ta nhìn thấy gì khi ló đầu ra khỏi cửa?

    Một nhóm thanh niên reo hò, đu bám vào chiếc xe tăng sơn cờ Fjerda đang chạy như một cỗ xe hoa đi lạc khỏi cuộc diễu hành: một cô gái váy lụa tím và một cậu trai có mái tóc xoăn hung đỏ phía sau những khẩu súng, bốn thanh niên ướt sũng bám vào sườn xe một cậu bé người Shu mặc đồ tù, hai drüskelle lôi thôi lếch thếch và một cô gái trong bộ váy màu xanh két tơi tả đang hét toáng: “Chúng ta có hào nước!”

    Khi họ tiến vào thị trấn, Matthias gọi: “Wylan, bảo Jesper đi theo các con đường phía tây nhé.”

    Wylan thụp đầu xuống, và chiếc xe tăng rẽ sang hướng tây.

    “Đó là khu vực nhà kho,” Matthias giải thích.

    “Vắng vẻ vào ban đêm.”

    Chiếc xe tăng rầm rập lao đi trên lớp đá lát đường, hết nghiêng sang trái rồi lại nghiêng sang phải do leo lề đường và tránh các khách bộ hành, sau đó phóng vào trong khu vực hải cảng, ngang qua các tửu quán, cửa hiệu và văn phòng.

    Kuwei ngả đầu ra sau, khuôn mặt rạng rỡ vui sướng.

    “Tôi ngửi thấy mùi biển rồi,” cậu ta thốt lên.

    Nina cũng ngửi thấy nó.

    Ánh đèn hải đăng chớp tắt xuất hiện ở đằng xa.Thêm hai khối nhà nữa thôi là họ sẽ tới được bến tàu và tự do.

    Ba mươi triệu kruge.

    Với phần chia của cô và Matthias, họ có thể đi bất cứ nơi nào, sống bất cứ cuộc đời nào mà họ muốn.

    “Sắp tới rồi!”

    Wylan hét lên.

    Chiếc xe vòng qua một góc đường, và ruột gan Nina bỗng quặn lại.

    “Dừng xe!”

    Cô la lớn.

    “Dừng lại!”

    Cô không cần phải làm thế, vì chiếc xe đã thắng gấp, suýt nữa hất cô xuống đường.

    Bến tàu đang ở trước mắt họ, và phía đằng xa là những lá cờ của hàng ngàn tàu thuyền đang tung bay trong gió biển.

    Đêm đã về khuya.Trên bến lẽ ra không có người.

    Nhưng hàng hàng lớp lớp quân lính mặc đồng phục xám đang đứng ở đó.

    Ít nhất phải đến hai trăm người, và tất cả mọi nòng súng đều đang chĩa thẳng vào họ.

    Nina vẫn còn nghe thấy được tiếng chuông Đồng hồ Cả.

    Cô ngoái nhìn qua vai.

    Lâu Đài Băng lừng lững trên một vách đá cao, tựa như một con mòng biển ủ rũ với lớp lông xù ra.

    Những vách tường bằng đá trắng của nó được chiếu sáng từ bên dưới, nổi bật trên nền trời đêm.

    “Cái gì thế này?”

    Wylan hỏi Matthias.

    “Anh đâu có nói là…”

    “Chắc họ đã thay đổi quy trình.”

    “Những thứ khác vẫn y nguyên.”

    “Tôi chưa bao giờ chứng kiến Quy trình Đen được triển khai,” Matthias gắt lên.

    “Có lẽ họ luôn có binh lính đóng quân tại cảng.

    Tôi không hề biết.”

    “Yên lặng nào,” Inej lên tiếng.

    “Đừng có cãi nhau nữa.”

    Nina nhảy dựng khi một giọng nói cất lên từ trong những hàng lính.

    Đầu tiên nó nói bằng tiếng Fjerda, sau đó là tiếng Ravka, tiếng Kerch, và cuối cùng là tiếng Shu.

    “Hãy trao trả tù nhân Kuwei Yul-Bo cho chúng tôi.

    Hạ vũ khí và bước ra khỏi xe tăng.”

    “Họ không thể nổ súng,” Matthias nói.

    “Họ không dám làm bị thương Kuwei đâu.”

    “Họ đâu cần phải làm thế,” Nina đáp.

    “Nhìn kìa.”

    Một tù nhân gầy gò được đẩy ra phía trước.

    Mái tóc cậu ta bết vào trán.

    Cậu ta mặc bộ kefta tả tơi màu đỏ và nắm chặt ống tay áo của người lính bên cạnh, môi lẩm bẩm thật nhanh điều gì đó như thể đang rất muốn truyền đạt một nguyện vọng.

    Nina biết cậu ta đang đòi parem.

    “Một Độc Tâm Y,” Matthias nói một cách chắc nịch.

    “Nhưng cậu ta đang ở quá xa,”Wylan phản bác.

    Nina lắc đầu.

    “Điều đó chẳng có nghĩa lí gì.”

    Có phải bọn họ giữ cậu ta tại đây cùng với binh lính đồn trú trong khu vực Hạ Djerholm?

    Tại sao không?

    Cậu ta là một vũ khí tốt hơn bất kì súng ống hay xe tăng nào.

    “Tôi có thể trông thấy chiếc Ferolind,” Inej nói khẽ, tay chỉ ra xa.

    Nina mất một lúc để quan sát trước khi nhận ra lá cờ Kerch và cờ đuôi nheo của công ty Haanraadt Bay vui vẻ tung bay bên dưới nó.

    Họ đang ở rất gần con thuyền.

    Jesper có thể bắn hạ cậu Độc Tâm Y kia.

    Họ có thể vãi đạn vào đám đông quân lính, nhưng họ sẽ không bao giờ tới được con thuyền.

    Người Fjerda thà hi sinh mạng sống của Kuwei còn hơn để cho cậu ta lọt vào tay quân địch.

    “Này Kaz,” Jesper cất tiếng gọi từ bên trong xe tăng.

    “Làm ơn nói là anh đã tiên liệu chuyên này đi.”

    Kaz đưa mắt nhìn biển quân lính.

    “Tôi đã không nghĩ đến chuyện này.”

    Anh lắc đầu.

    “Có người đã nói với tôi rằng một ngày kia tôi sẽ hết chiêu.

    Có vẻ như anh đã đúng, Helvar.”

    Câu nói đó dành cho Matthias, nhưng mắt anh nhìn vào Inej.

    “Tôi chán bị bắt lắm rồi,” cô đáp.

    “Họ sẽ không bắt sống được tôi lần này.”

    “Tôi cũng thế,” Wylan nói.

    Jesper cất tiếng từ bên trong xe tăng.

    “Chúng ta cần tìm cho cậu ta những người bạn phù hợp hơn.”

    “Thà chết còn hơn để yên cho bọn chúng xiên cọc vào người,” Kaz nói.

    Matthias gật đầu.

    “Vậy là mọi người nhất trí.

    Chúng ta sẽ tử thủ tại đây.”

    “Không,” Nina thì thầm.

    Tất cả mọi người quay sang phía cô.

    Giọng nói kia lại cất lên một lần nữa từ giữa đám quân lính Fjerda.

    “Các người có từ một đến mười để tuân lệnh.

    Tôi nhắc lại: Thả tù nhân

    Kuwei Yul-Bo và đầu hàng.

    Mười…”

    Nina nói nhanh gì đó với Kuwei bằng tiếng Shu.

    “Chị không hiểu à?”

    Cậu ta đáp.

    “Chỉ cần một liều thì…”

    “Tôi hiểu,” cô đáp.

    Nhưng những người khác thì không.

    Cho đến khi Kuwei lấy ra một cái túi da nhỏ có miệng dính bột màu rỉ sắt.

    “Không!”

    Matthias hét lên.

    Anh vươn tay định giật lấy túi parem, nhưng Nina đã nhanh hơn.

    Giọng nói phía Fjerda kia tiếp tục đêm: “Bảy…”

    “Nina, đừng ngu ngốc thế,” Inej thốt lên.

    “Chị đã thấy…”

    “Có một số Grisha không bị nghiện ngay liều đầu tiên.”

    “Không đáng để liều lĩnh như vậy đâu.”

    “Sáu…”

    “Kaz đã hết chiêu.”

    Nina mở toang cái túi.

    “Nhưng tôi thì không.”

    “Nina, làm ơn đi,” Matthias nài nỉ.

    Cô lại thấy trên gương mặt anh sự đau đớn giống như lúc ở Elling, khi anh nghĩ cô đã phản bội mình.

    Theo một cách nào đó, giờ đây cô cũng sắp làm một chuyện tương tự.

    Cô sắp bỏ rơi anh một lần nữa.

    “Năm…”

    Liều đầu tiên có tác dụng mạnh nhất, có phải họ đã nói như thế không nhỉ?

    Cơn phê thuốc và năng lực mạnh mẽ mà nó mang lại ở những lần sau sẽ không bao giờ bằng lần đầu.

    Cô sẽ đi tìm nó trong suốt quãng đời còn lại của mình.

    Hoặc cũng có thể cô mạnh hơn nó.

    “Bốn…”

    Cô chạm nhanh vào má Matthias.

    “Nếu mọi chuyện xấu đi, hãy tìm cách kết thúc nó, Helvar.

    Em tin anh sẽ làm điều đúng đắn.”

    Cô mỉm cười.

    “Một lần nữa.”

    “Ba…”

    Cô ngửa đầu và đổ bột parem vào trong miệng, nuốt chửng.

    Ngoài vị khét ngọt của hoa jurda mà cô đã biết, nó còn có một thứ gì khác mà cô không thể diễn tả được.

    Cô thôi nghĩ ngợi.

    Máu cô bắt đầu chảy rần rật, tim cô đập dồn.

    Thế giới quanh cô bùng nổ những vệt ánh sáng, cô có thể thấy màu mắt thật của Matthias, thứ màu xanh thuần khiết bên dưới những đốm nâu và xám mà cô đã tạo ra cho anh, cô thấy ánh trăng thấm đẫm từng sợi tóc trên đầu anh.

    Cô thấy những giọt mồ hôi trên lông mày Kaz, và những vết châm kim gần như vô hình của hình xăm trên cẳng tay anh.

    Cô nhìn một lượt các hàng lính trước mặt.

    Cô có thể nghe thấy tiếng tim họ đang đập.

    Cô có thể nhìn thấy các nơron thần kinh của họ đang hoạt động, và cảm thấy xung lực của họ đang hình thành.

    Mọi thứ đều rõ ràng.

    Cơ thể họ là một bản đồ tạo nên bởi các tế bào, hàng ngàn phép tính được giải quyết trong một phần ngàn giây mà cô chỉ biết các đáp số.

    “Nina?”

    Matthias thì thào.

    “Tránh ra,” Nina đáp, và cô thấy giọng nói mình bay bổng trong không khí.

    Cô cảm thấy Độc Tâm Y kia trong đám đông, cổ họng di chuyển khi cậu ta nuốt liều ma dược của mình.

    Cậu ta sẽ là mục tiêu đầu tiên.

    21

    MATTHIAS

    “Hai… một…”

    Matthias thấy đồng tử của Nina giãn rộng.

    Đôi môi cô tách ra và cô đẩy anh qua một bên để bước xuống khỏi xe tăng.

    Bầu không khí quanh cô dường như kêu răng rắc, lần da cô sáng bừng như thể được thắp lên từ bên trong bởi một phép màu nào đó.

    Như thể cô đã trực tiếp hút được một mạch nguồn của Djel, và giờ đây năng lực của thần linh đang tuôn tràn trong cơ thể cô.

    Nina lập tức tấn công Độc Tâm Y kia.

    Cô lắc cổ tay, và đôi mắt cậu ta nổ tung.

    Cậu ta gục xuống không kịp kêu một tiếng.

    “Tự do đi nhé,” cô nhắn nhủ với cậu.

    Nina lướt nhẹ trên đường, tiến về phía đám đông binh lính.

    Matthias đi theo để bảo vệ cô khi trông thấy những nòng súng giương lên.

    Cô giơ tay lên.

    “Dừng lại,” cô ra lệnh.

    Tất cả bọn họ tê liệt.

    “Hạ vũ khí xuống.”

    Cả trăm người như một, họ tuân lệnh cô.

    “Ngủ đi,” cô nói.

    Nina vung tay thành một đường vòng cung, và các binh lính ngã xuống không một lời kháng cự, hết hàng này tới hàng khác, như những nhánh lúa mì đổ gục dưới một lưỡi liềm vô hình.

    Bầu không khí im phăng phắc lạ thường.

    Thật chậm rãi, Wylan và Inej trèo xuống xe tăng.

    Jesper và những người còn lại cũng làm theo.

    Cả nhóm đứng đó, sững sờ quan sát biển người ngã rạp, mọi ngôn từ đều bất lực trước cảnh tượng họ đang chứng kiến.

    Nó diễn ra quá nhanh.

    Không còn cách nào khác để tiến ra cảng ngoài việc bước qua những tên lính.

    Không nói một lời, họ bắt đầu len lỏi đi qua trong sự im lặng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng chuông của Đồng hồ Cả vang vọng từ phía xa.

    Matthias cầm tay Nina, và cô khẽ thở dài, để cho anh dắt đi.

    Sau khi bước qua đám binh lính, bến thuyền trước mắt họ vắng tanh.

    Những người còn lại đi tới chiếc Ferolind trong khi Matthias và Nina đi khoá đuôi.

    Anh có thể trông thấy Rotty vắt vẻo trên cột buồm, miệng há ra vì sợ.

    Specht đang đợi lệnh nhổ neo, vẻ mặt anh ta cũng không kém phần sợ hãi.

    “Matthias!”

    Anh quay phắt lại.

    Một nhóm drüskelle đang đứng trên bến, đồng phục ướt đẫm, mũ đen trùm kín đầu.

    Họ đeo những chiếc mặt nạ kết bằng sợi kim loại màu xám bóng loáng, mọi đường nét khuôn mặt được che kín sau lớp lưới.

    Nhưng Matthias đã nhận ra giọng nói của Jarl Brum.

    “Quân phản bội,” ông ta nói từ phía sau lớp mặt nạ.

    “Phản bội tổ quốc và thần linh của ngươi.

    Các ngươi sẽ không sống sót rời khỏi đây.

    Không một đứa nào.”

    Chắc ông ta đã được người của mình đưa ra khỏi kho bạc sau vụ nổ.

    Bọn họ đã theo Matthias và Nina nhảy xuống dòng sông ngầm bên dưới cây tần bì ư?

    Họ có sẵn ngựa và xe tăng ở trong thị trấn hay sao?

    Nina giơ hai tay lên.

    “Vì Matthias, tôi sẽ tặng cho các ông một cơ hội để cho chúng tôi ra đi.”

    “Ngươi sẽ không thể điều khiển được bọn ta, đồ phù thuỷ,” Brum đáp.

    “Mũ trùm, mặt nạ, mọi đường khâu trên trang phục của bọn ta đều được gia cố bằng thép Grisha, chúng được tạo ra bởi các Sáng Chế Gia theo lệnh của bọn ta, dành riêng cho mục đích này.

    Ngươi không thể bắt bọn ta làm theo ý ngươi được đâu.

    Ngươi không thể làm hại bọn ta.

    Ván đấu này kết thúc rồi.”

    Nina giơ một bàn tay lên.

    Không có gì xảy ra, Matthias biết Brum nói thật.

    “Đi thôi!”

    Matthias hét lên.

    “Xin làm ơn…”

    Brum nổ súng.

    Viên đạn lập tức găm vào ngực anh.

    Cơn đau đột ngột và dữ dội… tan biến ngay lập tức.

    Anh thấy viên đạn rơi ra khỏi ngực mình.

    Nó chạm đất với một tiếng keng.

    Anh vạch áo ra.

    Không có vết thương nào cả.

    Nina bước qua chỗ anh.

    “Không!’’Anh hét lên.

    Tốp drüskelle nã đạn vào cô.

    Anh thấy cô loạng choạng khi bị trúng đạn, thấy những vết máu xuất hiện trên ngực, bụng và đùi cô.

    Nhưng cô không ngã xuống.

    Cũng nhanh chóng như khi các lỗ đạn hình thành, các vết thương tự liền lại, và những viên đạn rơi xuống đất một cách vô hại.

    Tốp drüskelle há miệng nhìn Nina kinh ngạc.

    Cô cười vang.

    “Các người đã quá quen với những Grisha bị giam cầm.

    Chuồng nhốt làm bọn ta dễ bảo hơn.”

    “Vẫn còn cách khác,” Brum đáp và lôi từ thắt lưng ra cây roi dài giống như cái mà Lars đã sử dụng.

    “Năng lực của ngươi không thể chạm đến ta, đồ phù thuỷ, và bọn ta có chính nghĩa.”

    “Tôi không thể chạm tới ông,” Nina đáp trong lúc giơ hai tay lên.

    “Nhưng với họ thì khác.”

    Phía sau lưng tốp drüskelle, những người lính Fjerda nhỏm dậy với khuôn mặt vô hồn.

    Một người giật phăng cây roi khỏi tay Brum, nhiều người khác lột sạch mũ trùm và mặt nạ khỏi những khuôn mặt bàng hoàng của các drüskelle, khiến họ không còn được bảo vệ.

    Nina co ngón tay lại, và các drüskelle buông súng, hai tay giơ lên ôm đầu, miệng gào thét đau đớn.

    “Vì đất nước tôi,” cô nói.

    “Vì đồng bào tôi.

    Vì những đứa trẻ đã bị các người đưa lên giàn thiêu.

    Hãy nhận lấy thứ mà ông đã gieo đi, Jarl Brum.”

    Matthias thấy các drüskelle bắt đầu co giật, máu trào ra từ lỗ tai và hốc mắt, trong khi những người lính Fjerda khác vẫn cứ trơ trơ.

    Tiếng hét của bọn họ đồng thanh vang lên.

    Claas, người đã uống say bí tỉ cùng anh ở Avfalle.

    Giert, người đã luyện cho con sói của anh ta ăn trên tay chủ.

    Họ là những con quái vật, anh biết điều đó, nhưng cũng là những chàng trai giống như anh - được dạy dỗ bằng sự căm thù và nỗi khiếp sợ.

    “Nina,” anh lên tiếng, bàn tay vẫn đặt trên lớp da ngực lành lặn, nơi lẽ ra đã có một lỗ đạn.

    “Nina, làm ơn đi.”

    “Anh biết họ sẽ không thương xót anh mà, Matthias.”

    “Anh biết, anh biết.

    Nhưng thay vào đó, hãy để họ sống trong tủi hổ.”

    Cô ngập ngừng.

    “Nina, em đã làm anh trở thành một con người tốt hơn.

    Họ cũng có thể như vậy.”

    Nina nhìn vào mắt anh.

    Đôi mắt cô dữ tợn, với màu xanh thẫm của rừng rậm, hai đồng tử là những giếng nước tối tăm.

    Năng lượng làm rung rinh bầu không khí xung quanh Nina, như thể cô được hun nóng bởi một ngọn lửa bí ẩn nào đó.

    “Họ sợ em giống như anh đã từng sợ em,” anh nói tiếp.

    “Như em đã từng sợ anh.

    Chúng ta đều là những con quái vật đối với người khác, Nina à.”

    Suốt một lúc lâu, cô chăm chú quan sát khuôn mặt anh.

    Cuối cùng, cô hạ tay xuống, và tốp drüskelle ngã lăn ra đất, miệng rên rỉ.

    Cô cũng giải thoát cho những người lính kia để họ lại rơi vào giấc ngủ, tựa như những con rối đứt dây.

    Sau đó, bàn tay cô chém một nhát cuối cùng, và Brum rú lên.

    Ông ta ôm đầu, máu ứa ra qua các kẽ ngón tay.

    “Ông ấy sẽ sống chứ?”

    Matthias hỏi.

    “Có,” cô nói trong lúc bước lên thuyền.

    “Chỉ có điều ông ta sẽ trụi sạch tóc.”

    Specht ra mệnh lệnh, và chiếc Ferolind bắt đầu rời hải cảng, tốc độ tăng dần nhờ những cánh buồm căng gió.

    Không một ai ngăn cản họ.

    Không con tàu nào, không phát đạn nào.

    Không có ai để cảnh báo hay để ra hiệu cho các tay súng.

    Tiếng chuông Đồng hồ Cả vẫn tiếp tục vang lên trong khi chiếc thuyền biến mất ngoài khơi, bỏ lại quang cảnh thê lương phía sau.

    22

    INEJ

    Họ được hưởng một cơn gió mạnh.

    Inej cảm thấy nó lùa qua tóc cô, và tự dưng nghĩ một cơn bão sẽ ập đến.

    Ngay khi họ vừa lên boong, Matthias quay sang hỏi Kuwei.

    “Cô ấy còn chịu ảnh hưởng trong bao lâu?”

    Kuwei nói được vài từ tiếng Kerch và Nina phải dịch những chỗ còn lại.

    Nina làm chuyện đó một cách lơ đãng, ánh mắt hờ hững lướt qua mọi người và mọi vật.

    “Cảm giác phê thuốc sẽ kéo dài một giờ, có thể là hai.

    Nó tuỳ thuộc vào việc cơ thể cô ấy mất bao nhiêu thời gian để tiếp nhận một liều mạnh như thế.”

    “Sao em không đơn giản là tống nó ra khỏi cơ thể, giống như những viên đạn?”

    Matthias tuyệt vọng hỏi Nina.

    “Chuyện đó không đơn giản như vậy,” Kuwei đáp.

    “Cho dù cô ấy có thể chế ngự cơn thèm thuốc đủ lâu để bắt đầu quá trình thanh lọc, cô ấy cũng sẽ mất khả năng tống xuất parem khỏi cơ thể trước khi nó hoàn toàn bị thải trừ.

    Cô ấy cần phải nhờ đến một Tâm Y khác có sử dụng parem để hoàn tất chuyện đó.”

    “Nó sẽ gây ra điều gì cho Nina?”

    Wylan hỏi.

    “Rồi cậu sẽ thấy,” Matthias trả lời với giọng chua chát.

    “Chúng ta biết điều gì sẽ xảy ra mà.”

    Kaz khoanh tay lại.

    “Nó sẽ bắt đầu như thế nào?”

    “Đau cơ, ớn lạnh, không tệ hơn một cơn bệnh nhẹ,” Kuwei giải thích.

    “Sau đó là tăng nhạy cảm, tiếp nối bằng run rẩy và thèm thuốc.”

    “Cậu còn parem không?”

    Matthias hỏi.

    “Còn.”

    “Đủ để cô ấy dùng cho tới khi về Ketterdam?”

    “Tôi sẽ không dùng thêm,” Nina phản đối.

    “Tôi có đủ để cô không phải chịu đựng cơn vật vã,” Kuwei nói.

    “Nhưng nếu cô dùng thêm liều thứ hai, hi vọng cai được nó sẽ không còn.”

    Cậu ta nhìn sang phía Matthias.

    “Đây là cơ hội duy nhất của cô ấy.

    Biết đâu cơ thể cô ấy có khả năng thanh lọc được thuốc và không bị nghiện.”

    “Còn nếu không thì sao?”

    Kuwei giơ hai tay ra, nửa như phủi trách nhiệm, nửa như xin lỗi.

    “Nếu không được tiếp thêm thuốc, cô ấy sẽ phát điên.

    Còn nếu được dùng tiếp, cơ thể cô ấy sẽ kiệt quệ.

    Anh có biết chữ parem có nghĩa là gì không?

    Đó là cái tên mà cha tôi đã đặt cho loại thuốc này.

    Nó có nghĩa là ‘không thương xót’.”

    Khi Nina dịch xong, im lặng kéo dài bao trùm lên tất cả.

    “Tôi không muốn nghe thêm nữa.

    Có nghe cũng chẳng thay đổi được điều sắp xảy ra.”

    Nói đoạn Nina bỏ đi về phía mũi tàu.

    Matthias nhìn theo.

    “Nước nghe và nước hiểu,” anh khẽ lẩm bẩm.

    Inej đi nhờ Rotty lấy giúp mấy cái áo khoác len mà cô và Nina đã bỏ lại trên tàu.

    Cô tìm thấy chị đứng bên cạnh mũi tàu, mắt nhìn mặt biển phía trước.

    “Một giờ, có thể là hai,” Nina nói mà không quay người lại.

    Inej sững người.

    “Chị nghe thấy em đến à?”

    Không ai có thể nghe được Bóng Ma, đặc biệt là giữa âm thanh của sóng gió biển khơi như thế này.

    “Đừng lo.

    Không phải những bước chân đã tố cáo em đâu.

    Chị có thể nghe thấy mạch đập và hơi thở của em.”

    “Và chị biết đó là em?”

    “Mọi trái tim đều có nhịp đập riêng của nó.

    Trước đây chị đã không nhận ra điều này.”

    Inej đến đứng bên cạnh lan can thuyền và đưa áo khoác cho Nina.

    Chị khoác nó lên người, mặc dù không có vẻ gì là bị lạnh.

    Trên đầu họ, những ngôi sao lấp lánh giữa những vầng mây xám bạc.

    Inej đã sẵn sàng để đón bình minh, cô chỉ mong sao cho đêm dài mau chóng trôi qua, cũng như chuyến đi này.

    Cô ngạc nhiên khi nhận ra mình háo hức muốn thấy lại Ketterdam.

    Cô muốn một đĩa trứng chiên, một cốc cà phê thật ngọt.

    Cô muốn nghe thấy tiếng mưa rơi trên mái nhà trong lúc ngồi ấm áp trong căn buồng nhỏ xíu của mình tại Thanh Gỗ.

    Trước mắt sẽ còn nhiều chuyến phiêu lưu nữa, nhưng chúng có thể chờ đợi cho đến khi cô xong một chầu tắm nước nóng… có thể là nhiều chầu.

    Nina vùi mặt vào cổ áo len và nói: “Chị ước gì em có thể thấy điều chị đang cảm thấy.

    Chị có thể nghe được mọi cơ thể trên con thuyền này, mọi dòng máu chảy trong huyết quản.

    Chị có thể nghe thấy sự thay đổi trong hơi thở của Kaz khi anh ta nhìn em.”

    “Chị… chị có thể thật sao?”

    “Lần nào nó cũng nổi bần bật, như thể anh ta chưa bao giờ gặp em trước đó vậy.”

    “Thế còn Matthias?”

    Inej vội vàng đổi chủ đề.

    Nina nhướng mày, không để bị lừa.

    “Matthias lo lắng cho chị, nhưng tim anh ấy đập ổn định bất kể anh ấy đang cảm thấy gì.

    Rất Fjerda, rất kỉ luật.”

    “Em không nghĩ chị lại để bọn họ sống sót, những người trên bến cảng ấy.”

    “Chị cũng không chắc đó là điều đúng đắn.

    Chị sẽ là một câu chuyện kinh dị nữa về Grisha để bọn họ kể lại cho con cháu nghe.”

    “Cư xử cho ngoan vào, nếu không mụ Nina Zenik sẽ bắt mày đi…

    Kiểu vậy á?”

    Nina ngẫm nghĩ một lúc.

    “Ờ, nghe cũng hay đấy.”

    Inej tựa lưng vào lan can và nhìn Nina.

    “Chị trông thật rạng rỡ.”

    “Nó sẽ không kéo dài đâu.”

    “Nó có bao giờ kéo dài.”

    Nụ cười của Inej nhạt đi.

    “Chị có sợ không?”

    “Sợ khiếp lên được.”

    “Bọn em sẽ ở bên chị.”

    Nina run run hít một hơi và gật đầu.

    Inej có không ít đồng bọn ở Ketterdam, nhưng cô chỉ có vài người bạn.

    Cô ngả đầu vào vai Nina.

    “Nếu em là một thầy bói Suli, em sẽ có thể thấy được tương lai và bảo với chị rằng mọi chuyện sẽ ổn.”

    “Hoặc chị sẽ chết trong đau đớn quằn quại.”

    Nina áp má vào đỉnh đầu của Inej.

    “Nhưng em hãy cứ nói thứ gì hay ho đi.”

    “Mọi chuyện rồi sẽ ổn.

    Chị sẽ vượt qua lần này.

    Và chị sẽ giàu, cực giàu.

    Chị sẽ hát những bài hát của dân đi biển hoặc cánh bợm nhậu hằng đêm, trong một hộp đêm ở Đông Stave, và chị sẽ mua chuộc mọi người để họ đứng dậy vỗ tay sau mỗi bài hát.”

    Nina bật cười khe khẽ.

    “Hay là chị em mình mua lại Vườn Thú đi.”

    Inej nhăn mặt, nghĩ tới tương lai và con tàu nhỏ của mình.

    “Ta sẽ mua và đốt trụi nó.”

    Hai chị em nhìn những con sóng một lúc.

    “Em sẵn sàng chưa?”

    Nina hỏi.

    Inej nhẹ cả người vì không phải mở lời.

    Cô kéo ống tay áo lên, phơi bày hình xăm lông công trên lớp da sừng sẹo.

    Nina chỉ cần lướt nhẹ mấy đầu ngón tay trên đó trong một giây.

    Cơn ngứa ran trôi qua rất nhanh chóng.

    Khi đã hết châm chích, làn da cánh tay của Inej đã hoàn hảo trở lại - láng mịn và không tì vết, như thể nó là một phần cơ thể mới của cô.

    Inej chạm tay vào lớp da mềm mại.

    Nó đã được sửa chữa chỉ bằng một thao tác đơn giản như thế.

    Giá mà mọi vết thương đều được chữa lành dễ dàng như vậy.

    Nina hôn lên má Inej.

    “Chị phải đi tìm Matthias, trước khi mọi chuyện xấu đi.”

    Nhưng Inej nhận ra Nina còn có một lí do khác để rời đi.

    Kaz đang đứng trong bóng tối cạnh cột buồm.

    Anh đã khoác một chiếc áo choàng dầy và đang tì người trên cây gậy chống hình đầu quạ - anh gần như đã trở lại với hình ảnh cũ của mình.

    Những con dao của Inej đang đợi cô cùng các món đồ cá nhân khác.

    Cô nhớ bộ móng vuốt của mình quá.

    Kaz thì thầm trao đổi vài lời với Nina, và Inej thấy chị khựng lại vì ngạc nhiên.

    Inej không nghe được họ nói gì, nhưng cô có thể thấy cuộc đối thoại khá căng thẳng, trước khi Nina thốt lên một tiếng kêu bực bội và biến xuống khoang dưới.

    “Anh nói gì với Nina thế?”

    Inej hỏi Kaz khi anh tiến đến chỗ cô bên cạnh hàng lan can.

    “Tôi có một việc cần cô ấy thực hiện.”

    “Nina sắp trải qua một thử thách kinh khủng…”

    “Và công việc vẫn cần được hoàn thành.”

    Đúng kiểu thực dụng của Kaz.

    Tại sao phải để tình cảm chen vào chứ?

    Có khi Nina còn mừng vì được để tâm trí vào chuyện khác.

    Họ đứng cạnh nhau nhìn những ngọn sóng, im lặng hồi lâu.

    “Chúng ta sống rồi,” cuối cùng anh nói.

    “Có vẻ như anh đã cầu nguyện đúng địa chỉ.”

    “Hoặc là đi với đúng người.”

    Inej nhún vai.

    “Thế ai dẫn lối cho chúng ta?”

    Thấy Kaz không đáp, cô mỉm cười nói tiếp: “Anh không nói được câu nào sắc sảo à?

    Anh không cười vào mấy câu ngạn ngữ Suli của tôi sao?”

    Kaz lướt ngón tay đeo găng trên lan can.

    “Không.”

    “Chúng ta sẽ gặp Hội đồng Thương buôn như thế nào đây?”

    “Khi gần về đến nơi, Rotty và tôi sẽ chèo xuồng vào cảng.

    Chúng tôi sẽ tìm một người đưa tin để báo với Van Eck và tiến hành cuộc trao đổi trên đảo Vellgeluk.”

    Inej rùng mình.

    Hòn đảo đó nổi tiếng vì bọn săn nô lệ và buôn lậu.

    “Lựa chọn của Hội đồng hay của anh vậy?”

    “Van Eck đã đề nghị chỗ đó.”

    Inej nhíu mày.

    “Làm sao một thương gia như ông ta lại biết đến

    Vellgeluk được?”

    “Chuyện làm ăn mà.

    Có lẽ Van Eck không phải là một thương gia đáng kính như ông ta vẫn tỏ ra.”

    Hai người im lặng một lúc.

    Cuối cùng cô lên tiếng: “Tôi sẽ đi học lái tàu.”

    Kaz nhíu mày và ngạc nhiên nhìn cô.

    “Thật á?

    Vì sao?”

    “Tôi muốn dùng tiền của mình để thuê một thuỷ thủ đoàn và trang bị một con tàu.”

    Việc nói ra điều này khiến cô lo ngại ghê gớm.

    Ước mơ của cô vẫn còn mong manh lắm.

    Dù không muốn, cô vẫn hỏi ý kiến của Kaz.

    “Tôi sẽ đi truy lùng bọn săn nô lệ.”

    “Lí tưởng cao đẹp đấy,” anh nói với giọng trầm ngâm.

    “Cô biết một mình cô không thể bắt được hết bọn chúng.”

    “Nếu không thử thì tôi sẽ chẳng tóm được tên nào.”

    “Thế thì tôi thấy thương cho bọn săn nô lệ đấy.

    Chúng chẳng biết điều gì đang chờ đợi mình đâu.”

    Một thoáng ửng hồng làm ấm đôi má cô.

    Nhưng chẳng phải Kaz luôn tin là cô nguy hiểm đó sao?

    Inej chống khuỷu tay vào lan can và kê cằm vào lòng bàn tay.

    “Tuy vậy, trước hết tôi sẽ quay về nhà.”

    “Về Ravka sao?”

    Cô gật đầu.

    “Để tìm kiếm gia đình cô.”

    “Ừ.”

    Nếu là hai năm trước, chắc cô sẽ bỏ lửng cuộc nói chuyện ở đó, tôn trọng thoả thuận ngầm rằng họ không xâm phạm quá khứ của nhau.

    Nhưng bây giờ thì khác.

    “Anh chỉ có anh trai thôi à, Kaz?

    Bố mẹ anh đâu?”

    “Lũ con trai khu Barrel làm gì có bố mẹ.

    Bọn tôi chào đời trên bến cảng và bò ra các con kênh.”

    Inej lắc đầu.

    Cô nhìn biển động và thở dài, mỗi con sóng tựa như một tiếng thở.

    Cô chỉ có thể phân biệt được nơi đường chân trời sự khác biệt nhỏ giữa bầu trời đen tối và mặt biển thẫm hơn.

    Cô nghĩ tới bố mẹ của mình.

    Đã gần ba năm nay cô không gặp lại họ.

    Bố mẹ cô đã thay đổi như thế nào?

    Cô có thể trở lại làm con gái nhỏ của bố mẹ được không?

    Chắc là không thể ngay lập tức được rồi.

    Nhưng cô muốn ngồi ăn trái cây với bố trên bậc cửa cỗ xe.

    Cô muốn thấy mẹ phủi phấn bám trên tay trước khi chuẩn bị bữa tối.

    Cô muốn thấy lại đám cỏ cao phương nam và bầu trời mênh mông bên trên vùng núi Sikurzoi.

    Thứ cô cần đang chờ cô ở đó.

    Vậy thứ anh cần là gì?

    “Anh sắp giàu nứt đố đổ vách rồi.

    Anh sẽ làm gì khi không phải đổ máu hoặc trả thù ai đó?”

    “Chuyện đó thì không bao giờ cạn kiệt.”

    “Nhiều tiền hơn, nhiều bạo lực hơn, nhiều bàn thắng cần ghi hơn.

    Anh không có giấc mơ nào khác à?”

    Kaz không đáp.

    Điều anh khát khao nhất trong lòng ư?

    Có lẽ cô sẽ không bao giờ biết.

    Inej quay gót bỏ đi.

    Kaz nắm tay cô và giữ nó lại trên hàng lan can.

    Anh nói mà không nhìn cô.

    “Ở lại đi,” giọng anh khản đặc.

    “Ở lại

    Ketterdam đi.

    Ở lại với anh.”

    Cô nhìn xuống bàn tay đeo găng đang nắm tay mình.

    Mọi thứ trong cô đều muốn đáp có, nhưng cô sẽ không dễ dàng chấp nhận như thế, sau tất cả những gì đã trải qua.

    “Để làm gì?”

    Anh hít một hơi.

    “Anh muốn em ở lại.

    Anh muốn rằng em…

    Anh muốn em.”

    “Anh muốn em.”

    Inej lặp lại.

    Cô dịu dàng nắm lấy tay anh.

    “Thế anh sẽ có em như thế nào, Kaz?”

    Anh nhìn cô với đôi mắt long lanh, cái miệng cương nghị.

    Giống như những khi anh sắp đánh nhau.

    “Anh sẽ có em như thế nào?”

    Cô hỏi lại.

    “Quần áo chỉnh tề, tay đeo găng, mặt quay đi, để môi chúng ta không thể nào chạm nhau được ư?”

    Anh buông tay cô ra, vai anh so lại, ánh mắt anh vừa giận dữ lại vừa xấu hổ khi quay ra nhìn biển.

    Có lẽ vì anh quay lưng lại, nên cô mới có thể nói ra điều cần nói.

    “Em muốn có anh không một lớp áo giáp che chắn nào, Kaz Brekker.

    Hoặc hoàn toàn không có anh.”

    Nói đi, cô thầm nài nỉ trong lòng.

    Cho em một lí do để ở lại đi.

    Bất chấp tất cả sự ích kỉ và tàn nhẫn của anh, Kaz vẫn là chàng trai đã cứu cô.

    Cô muốn tin rằng anh cũng đáng được cứu.

    Những lá buồm kêu kẽo kẹt.

    Những đám mây tản ra nhường lối cho ánh trăng rồi tụ lại quanh cô.

    Inej bỏ lại Kaz với cơn gió thét gào.

    Bình minh còn lâu mới ló dạng.

    23

    NINA

    23

    NINA

    Cơn đau bắt đầu xuất hiện sau khi mặt trời mọc.

    Một giờ sau, có cảm giác như mọi chiếc xương trong cơ thể cô đang cố chọc xuyên qua vị trí của các khớp.

    Nina nằm trên cái bàn đã được cô sử dụng để điều trị vết thương do dao đâm của Inej.

    Các giác quan của cô vẫn còn đủ nhạy để có thể ngửi thấy mùi tanh của máu ẩn sau mùi chất tẩy rửa mà Rotty đã dùng để làm sạch bề mặt gỗ.

    Nó có mùi giống như Inej.

    Matthias đang ngồi bên cạnh cô.

    Anh cố cầm tay cô, nhưng cơn đau quá lớn.

    Ma sát giữa hai lớp da khiến cô đau rát.

    Mọi thứ dường như nằm sai chỗ và cho cảm giác sai lạc.

    Tất cả những gì cô nghĩ đến là vị ngọt khét của parem.

    Cổ họng cô ngứa ngáy.

    Làn da trở thành kẻ thù của cô.

    Khi cơn run rẩy bắt đầu, cô đã xin anh để cô lại một mình.

    “Em không muốn anh thấy em như thế này,” cô nói và cố gắng xoay nghiêng người.

    Anh vuốt lớp tóc ướt đẫm mồ hôi trên trán cô.

    “Nó có tệ lắm không?”

    “Tệ lắm.”

    Nhưng cô biết nó sẽ còn tệ hơn.

    “Em có muốn dùng jurda không?”

    Kuwei từng đề xuất rằng những liều nhỏ jurda bình thường có thể giúp Nina cầm cự qua ngày.

    Cô lắc đầu.

    “Em muốn… em muốn…

    Thánh thần ơi, sao trong này nóng thế?”

    Bất chấp cơn đau, cô tìm cách ngồi dậy.

    “Đừng cho em bất cứ liều nào nữa.

    Dù em có nói thế nào, Matthias, dù em có xin xỏ đến đâu.

    Em không muốn giống Nestor hay các Grisha bị giam giữ ở Lâu Đài Băng.”

    “Nina, Kuwei nói hội chứng cai thuốc có thể giết chết em.

    Anh sẽ không để em chết.”

    Kuwei.

    Lúc ở kho bạc, Matthias đã nói cậu ta là một người giống như chúng ta.

    Cô thích từ đó.

    Chúng ta.

    Một khái niệm không có sự chia rẽ hay biên giới, và dường như đầy ắp hi vọng.

    Cô nằm xuống trở lại trong sự phản kháng của toàn bộ cơ thể.

    Trang phục trên người tựa như găm đầy mảnh thuỷ tinh.

    “Em muốn giết chết mọi drüskelle trên đời.”

    “Chúng ta ai cũng có tội lỗi của mình, Nina.

    Anh cần em sống để anh có thể chuộc lại lỗi lầm của mình.”

    “Anh có thể làm điều đó mà không cần em, anh biết đấy.”

    Anh vùi mặt vào hai bàn tay.

    “Anh không muốn thế.”

    “Matthias,” cô vừa nói vừa lướt ngón tay trên lớp tóc ngắn của anh.

    Nó khiến cô đau đớn.

    Tất cả mọi thứ khiến cô đau đớn.

    Chạm vào anh khiến cô đau đớn, nhưng cô vẫn làm.

    Biết đâu cô sẽ không có cơ hội làm điều này một lần nữa.

    “Em không hề hối tiếc.”

    Anh cầm lấy bàn tay của cô và dịu dàng hôn lên những đốt ngón tay.

    Cô nhăn mặt, nhưng khi anh định buông tay ra, cô siết tay lại chặt hơn.

    “Ở lại đi,” cô hổn hển nói, những giọt nước mắt ứa ra.

    “Ở lại đến phút cuối đi.”

    “Kể cả sau đó,” anh nói.

    “Mãi mãi.”

    “Em muốn được cảm thấy an toàn trở lại.

    Em muốn quay về Ravka.”

    “Vậy thì anh sẽ đưa em về đó.

    Chúng ta sẽ đốt nho hay bất kì cái gì mà đám ngoại đạo các em vẫn làm để giải trí.”

    “Đồ cuồng tín nhà anh,” cô yếu ớt nói.

    “Phù thuỷ.”

    “Mọi rợ.”

    “Nina,” anh thì thầm, “chim sẻ đỏ.

    Đừng đi nhé.”

    24

    JESPER

    Trong lúc chiếc thuyền buồm lướt nhanh về phương nam, có cảm giác như toàn bộ thuỷ thủ đoàn đều tỏ ra cảnh giác.

    Mọi người hạ giọng khi nói chuyện với nhau và đi đứng khẽ khàng trên boong.

    Jesper cũng lo lắng cho Nina giống như bất kì ai - ngoại trừ Matthias, anh nghĩ thế.

    Nhưng sự im lặng này thật khó chịu.

    Anh cần một thứ gì đó để bắn vào.

    Có cảm giác như chiếc Ferolind đã trở thành một con tàu ma.

    Matthias luôn ở bên cạnh Nina trong cabin và nhờ Wylan phụ anh ta chăm sóc cô.

    Dù Wylan không thích hoá học, cậu ta vẫn rành về các loại cồn thuốc và thuốc men hơn bất kì ai trong đoàn, ngoại trừ Kuwei, nhưng Matthias lại không hiểu được Kuwei nói gì.

    Jesper đã không thấy Wylan ló mặt lên boong từ khi họ rời cảng Djerholm, và phải thừa nhận là anh thấy nhớ những lần mình chọc phá cậu ta.

    Kuwei có vẻ khá thân thiện, nhưng vốn tiếng Kerch của cậu ta rất hạn chế, và cậu ta cũng không phải là người nói nhiều.

    Thỉnh thoảng cậu ta lên boong tàu khi trời tối những chỉ đứng im bên cạnh Jesper, đưa mắt quan sát những lớp sóng biển.

    Chuyện đó khiến anh hơi khó chịu một chút.

    Mỗi Inej là tỏ ra muốn trò chuyện với bất cứ ai, vì hình như cô đang rất quan tâm đến các kiến thức hàng hải.

    Cô dành hầu hết thời gian với Specht và Rotty, học cách thắt nút và giương buồm.

    Jesper luôn biết có một khả năng lớn là họ sẽ không quay về sau chuyến đi này, rằng họ có thể rơi vào ngục tối ở Lâu Đài Băng hoặc bỏ mạng trên những cây cọc nhọn.

    Anh cũng nghĩ nếu họ giải thoát thành công Yul-Bayur và lên được tàu Ferolind thì chuyến hải hành trở về Ketterdam sẽ là một bữa tiệc.

    Họ sẽ uống bất cứ thứ gì mà thuyền trưởng Specht đã lén mang lên tàu, ăn cho đến chiếc kẹo caramel cuối cùng của Nina, điểm lại những lần hút chết và từng chiến thắng nhỏ.

    Nhưng anh đã không tiên liệu được việc họ bị bao vây trên bến cảng, và càng không tưởng tượng nổi điều mà Nina đã làm để giúp họ vượt qua chuyện đó.

    Jesper thấy lo lắng cho Nina, nhưng nghĩ đến cô khiến anh cảm thấy có tội.

    Khi họ nghe Kuwei giải thích về parem, một giọng nói nhỏ trong anh bảo rằng lẽ ra anh cũng nên đề nghị được dùng ma dược.

    Cho dù anh chỉ là một Sáng Chế Gia không được đào tạo, biết đâu anh có thể rút được parem ra khỏi cơ thể Nina và giải thoát cho cô.

    Nhưng đó là giọng nói của một người hùng, và đã từ lâu Jesper ngừng nghĩ rằng anh có tố chất của một người hùng.

    Trời ạ, một người hùng chắc đã xung phong sử dụng parem ngay khi họ đối đầu với quân lính Fjerda trên bến cảng rồi.

    Khi rốt cuộc những đường nét lờ mờ của Kerch cũng xuất hiện nơi chân trời, trong lòng Jesper dấy lên một cảm xúc khó tả, pha trộn giữa nhẹ nhõm và bất an.

    Cuộc sống của họ sắp thay đổi một cách phi thường.

    Họ buông neo, và khi đêm xuống, Jesper đã hỏi Kaz xem anh có thể cùng anh ta và Rotty chèo thuyền tới Cảng số Năm được không.

    Hai người không cần phải có Jesper đi cùng, nhưng anh cuồng chân cuồng tay lắm rồi.

    Sự hỗn loạn của Ketterdam vẫn như thế - những con tàu bốc dỡ hàng hoá trên bến cảng, khách du lịch và binh lính kéo nhau rời tàu, nói cười vui vẻ trên đường tới khu Barrel.

    “Có vẻ như nó chẳng khác gì lúc chúng ta ra đi,” Jesper nói.

    Kaz nhướng mày.

    Anh ta đã quay lại với bộ com-lê hai màu xám và đen, cùng với chiếc cà vạt nghiêm chỉnh.

    “Thế cậu mong chờ điều gì?”

    “Tôi cũng chẳng biết nữa,” Jesper thừa nhận.

    Nhưng anh cảm thấy khang khác, ngay cả khi có sức nặng quen thuộc của mấy khẩu súng lục cẩn ngọc trai giắt bên hông và khẩu súng trường đeo sau lưng.

    Anh vẫn nghĩ tới hình ảnh nữ Tiết Hải Sư gào thét trong cái sân đó, với khuôn mặt lỗ chỗ vết đen.

    Anh đã nhìn xuống đôi tay mình.

    Anh có muốn làm một Sáng Chế Gia không?

    Có muốn sống như thế không?

    Bản chất của anh thì không thể thay đổi được rồi, nhưng anh muốn phát triển năng lực của mình hay là tiếp tục che giấu chúng?

    Kaz bỏ lại Rotty và Jesper trên bến cảng để đi tìm một người báo tin cho Van Eck.

    Jesper muốn đi cùng, nhưng Kaz bảo anh ở lại.

    Bực mình, anh tranh thủ cơ hội để duỗi chân duỗi tay trước ánh mắt quan sát của Rotty.

    Anh có cảm giác như Kaz đã dặn Rotty để mắt tới anh.

    Không lẽ Kaz nghĩ anh sẽ lao thẳng tới sòng bạc gần nhất?

    Anh ngước nhìn bầu trời đầy mây.

    Sao phải chối nhỉ?

    Anh bị cám dỗ.

    Tay anh đang ngứa ngáy muốn cầm bài lắm rồi.

    Có lẽ anh nên rời khỏi Ketterdam.

    Một khi đã nhận được tiền thưởng và trả dứt nợ, anh có thể tới bất kì nơi đâu.

    Kể cả Ravka.

    Hi vọng Nina sẽ hồi phục, và khi cô bình thường trở lại, Jesper sẽ ngồi xuống bàn tính chuyện đó với cô.

    Không hứa hẹn trước gì cả, nhưng ít nhất anh cũng có thể tới đó thăm thú kia mà?

    Một tiếng đồng hồ sau, Kaz quay lại cùng với một thông điệp khẳng định rằng các đại diện của Hội đồng Thương buôn sẽ gặp họ trên đảo Vellgeluk vào bình minh ngày hôm sau.

    “Nhìn này,” Kaz chìa tờ giấy ra cho Jesper đọc.

    Bên dưới những chi tiết của cuộc gặp, tờ giấy có viết: Xin chúc mừng.

    Đất nước này cảm ơn các bạn.

    Dòng chữ đó để lại một cảm xúc kì lạ trong lòng Jesper, nhưng anh bật cười và nói: “Chừng nào đất nước này trả thưởng bằng tiền mặt.

    Hội đồng có biết lão khoa học gia đó đã chết chưa nhỉ?”

    “Tôi đã viết tất cả trong thư gửi Van Eck,” Kaz đáp.

    “Tôi viết rằng Bo Yul-Bayur đã chết, nhưng con trai ông ta còn sống và đang nghiên cứu về jurda parem cho phía Fjerda.”

    “Ông ta có mặc cả không?”

    “Trong thư thì không.

    Ông ta ‘bày tỏ sự quan ngại sâu sắc’, nhưng không đả động tới khoản tiền thưởng.

    Chúng ta đã làm công việc của mình.

    Chúng ta sẽ rõ liệu ông ta có tìm cách mặc cả hay không khi hai bên gặp nhau ở Vellgeluk.”

    Trong lúc họ chèo xuồng về tàu Ferolind, Jesper hỏi tiếp: “Wylan có đi cùng chúng ta tới gặp Van Eck không?”

    “Không,” Kaz đáp, ngón tay gõ gõ trên cái đầu quạ của cây gậy chống.

    “Matthias sẽ đi cùng chúng ta, nên phải có ai đó ở bên Nina.

    Hơn nữa, nếu chúng ta muốn sử dụng Wylan để gây sức ép với cha cậu ta thì tốt hơn không nên để lộ bài quá sớm.”

    Cũng có lí.

    Và cho dù giữa hai bố con họ có mối bất hoà như thế nào, Jesper cũng nghĩ Wylan không muốn để lộ điều đó trước mặt băng Cặn Bã và Matthias.

    Anh có một đêm trằn trọc khó ngủ trên võng và thức giấc khi mới tờ mờ sáng.

    Trời tịnh không một cơn gió, mặt biển phẳng lặng như một mặt hồ.

    “Trời khó chịu thật,” Inej khẽ nói trong khi nheo mắt nhìn về phía Vellgeluk.

    Cô nói đúng.

    Chân trời không một gợn mây nào, nhưng không khí đầy hơi ẩm như thể một cơn bão sắp hình thành.

    Jesper đưa mắt nhìn boong tàu vắng lặng.

    Anh cứ nghĩ Wylan sẽ lên boong đê tiễn mọi người lên đường, nhưng có lẽ Nina cần được chăm sóc.

    “Cô ấy thế nào rồi?”

    Anh hỏi Matthias.

    “Khá yếu,” anh chàng Fjerda đáp.

    “Cô ấy không ngủ được.

    Nhưng chúng tôi đã bón được cho cô ấy vài thìa nước súp, và cô ấy không nôn ra.”

    Jesper biết anh ích kỉ và cứng đầu, nhưng phần tầm thường trong anh tự hỏi phải chăng Wylan cố tình tránh mặt mình trong hành trình trở về.

    Có lẽ giờ đây khi phi vụ đã xong, tiền thưởng cũng sắp được nhận, cậu ta không còn muốn giao du với phường tội phạm nữa.

    “Chiếc xuồng còn lại đâu rồi?”

    Jesper hỏi khi cùng Kaz, Matthias, Inej, Rotty và Kuwei chèo xuồng rời tàu Ferolind.

    “Đang sửa chữa,” Kaz đáp.

    Vellgeluk là một hòn đảo bằng phẳng đến nỗi người ta gần như không nhận ra nó khi chèo thuyền trên biển.

    Hòn đảo chỉ rộng chưa tới một cây số rưỡi, một dải cát và đá cằn cỗi với điểm nhận biết duy nhất là toà tháp cũ kĩ sụp đổ từng được sử dụng bởi Hội đồng Thuỷ triều.

    Dân buôn lậu gọi nó là Vellgeluk, hay “chúc may mắn”, vì những bức bích hoạ vẫn còn tồn tại quanh phần đế của thứ lẽ ra là một ngọn tháp đá: những hình tròn màu vàng tượng trưng cho đồng tiền xu, biểu tượng thường thấy của Ghezen - vị thánh của công nghiệp và thương mại.

    Jesper và Kaz đã từng tới hòn đảo này trước đây để gặp gỡ bọn buôn lậu.

    Nó cách xa các hải cảng của Ketterdam, nằm ngoài khu vực tuần tra của đội tuần duyên, và không có toà nhà hay vũng vịnh nào để ém quân mai phục.

    Một nơi gặp lí tưởng cho các bên.

    Một con thuyền hai cột buồm nhỏ đang neo đậu ở bờ biển phía bên kia đảo, những lá buồm của nó treo ủ rũ vô dụng.

    Jesper đã thấy nó đi chầm chậm từ Ketterdam từ lúc tảng sáng, từ một chấm đen nhỏ xíu lớn dần thành một cái đốm ở đường chân trời.

    Anh có thể nghe thấy tiếng các thuỷ thủ gọi nhau trong khi chèo thuyền.

    Lúc này thuỷ thủ đoàn đang hạ thuỷ một chiếc xuồng chở đầy người.

    Khi xuồng của nhóm anh cập bờ, Jesper và những người khác nhảy xuống kéo nó lên bãi cát.

    Anh kiểm tra súng ống và thấy Inej sờ lần mấy con dao, môi lẩm nhẩm gì đó.

    Matthias chỉnh lại khẩu súng trường đeo trên lưng và xoay xoay đôi vai rộng.

    Kuwei im lặng quan sát mọi người.

    “Tốt rồi,” Kaz lên tiếng.

    “Ta đi lấy tiền thôi.”

    “Không đổ lệ,” Rotty nói trong khi ngồi xuống bên cạnh chiếc xuồng để chờ mọi người.

    “Không quan tài,” họ đáp.

    Cả nhóm sải bước tiến tới trung tâm đảo với Kaz dẫn đầu, tiếp đến là Kuwei, còn Jesper và Inej khoá đuôi.

    Khi họ đến gần điểm hẹn, Jesper thấy một người mặc trang phục màu đen của thương gia bước tới cùng với một người Shu cao lớn, mái tóc đen cột sau gáy, và theo sau họ là một nhóm thị tuần khoác áo tím, tất cả đều mang dùi cui và súng tiểu liên.

    Hai người trong số đó khiêng một cái rương, bước chân hơi loạng choạng vì trọng lượng của nó.

    “Hoá ra ba mươi triệu kruge trông như thế kia,” Kaz nói.

    Jesper huýt sáo khe khẽ.

    “Hi vọng cái xuồng của chúng ta chở nổi nó.

    “Chỉ có ông thôi à, Van Eck?”

    Kaz hỏi người mặc đồ đen.

    “Những thành viên còn lại của Hội đồng không thèm quan tâm sao?”

    Vậy ra người này là Jan Van Eck.

    Ông ta gầy hơn Wylan, trán cũng cao hơn, nhưng anh có thể thấy được sự tương đồng giữa họ.

    “Hội đồng cho rằng tôi là người phù hợp nhất cho nhiệm vụ này, vì tôi cũng là người đã thoả thuận với cậu trước đó.”

    “Kẹp đẹp đấy,” Kaz hất hàm về phía viên hồng ngọc gắn ở cà vạt của Van Eck.

    “Nhưng không đẹp bằng viên kia.”

    Đôi môi Van Eck hơi mím lại.

    “Cái kia là của gia bảo.

    Thế nào?”

    Ông ta hỏi người đàn ông Shu đứng bên cạnh.

    “Đó là Kuwei Yul-Bo.

    Đã một năm trôi qua kể từ lúc tôi gặp cậu ta.

    Cậu ta cao thêm một chút, nhưng đúng là giống bố như đúc.”

    Ông ta nói gì đó với Kuwei bằng tiếng Shu và hơi nghiêng người chào.

    Kuwei đưa mắt nhìn Kaz, rồi cúi chào đáp lại.

    Jesper có thể thấy trán cậu ta lấm tấm mồ hôi.

    Van Eck mỉm cười.

    “Tôi phải thừa nhận là tôi ngạc nhiên đấy, cậu Brekker.

    Ngạc nhiên nhưng nhẹ nhõm.”

    “Ông đã không nghĩ là chúng tôi sẽ thành công.”

    “Nói thật là tôi đã nghĩ cơ may của các cậu rất thấp.”

    “Có phải vì thế mà ông đã tìm cách nhân đôi cơ hội thắng cược cho mình?”

    “A, vậy ra cậu đã nói chuyện với Pekka Rollins.”

    “Ông ta khá là ba hoa nếu được khai thác đúng tâm trạng,” Kaz đáp, và Jesper nhớ tới những vết máu trên ngực áo anh ta lúc ở trong nhà tù.

    “Ông ta thừa nhận ông cũng đã thuê ông ta và băng Kim Sư đi tìm Yul-Bayur cho Hội đồng Thương buôn.”

    Với một chút khó chịu trong lòng, Jesper tự hỏi Rollins còn kể gì với Kaz.

    Van Eck nhún vai.

    “Thận trọng vẫn hơn.”

    “Và việc gì ông phải bận tâm việc một đám chuột cống cắn xé lẫn nhau trong khi săn một phần thưởng, đúng không?”

    “Chúng ta thừa biết xác xuất thành công của cả hai nhóm đều nhỏ.

    Là một con bạc, tôi hi vọng cậu hiểu điều đó.”

    Jesper chưa bao giờ coi Kaz là một con bạc.

    Con bạc luôn trông cậy vào cơ may.

    “Ba mươi triệu kruge sẽ xoa dịu cảm giác tổn thương của tôi,” Kaz nói.

    Van Eck ra hiệu cho đội thị tuần đứng phía sau.

    Họ khiêng chiếc rương tới đặt trước mặt Kaz.

    Anh khom người mở nó ra.

    Dù đứng nhìn từ xa, Jesper cũng có thể thấy được những cọc giấy bạc màu tím nhạt của Kerch với biểu tượng ba con cá bay.

    Chúng được xếp thành nhiều hàng và được quấn bằng những băng giấy mảnh có đóng dấu triện.

    Inej hít một hơi.

    “Ngay cả tiền của các cậu cũng có màu đặc biệt,” Matthias nói.

    Jesper chỉ muốn vọc tay vào đống tiền đẹp mắt kia.

    Anh muốn tắm với chúng.

    “Hình như miệng tôi bắt đầu nhỏ dãi đây này.”

    Kaz lấy ra một cọc tiền và dùng ngón cái đeo găng kiểm tra, sau đó anh lấy một cọc khác kiểm tra, để chắc chắn Van Eck không lừa họ.

    “Tất cả đều ở đây,” Kaz nói.

    Đoạn anh ngoái đầu ra hiệu cho Kuwei tiến lên phía trước.

    Cậu ta băng qua quãng đường ngắn ngủi giữa hai phe, và được Van Eck gọi tới bên cạnh, vỗ nhẹ vào lưng.

    Kaz đứng dậy.

    “Được rồi, Van Eck.

    Tôi muốn nói rằng tôi đã rất hài lòng, nhưng tôi không giỏi nói dối.

    Chúng ta ai về nhà nấy thôi.”

    Van Eck bước lên phía trước Kuwei và nói: “E rằng tôi không thể cho phép cậu làm chuyện đó, Brekker.”

    Kaz tì người vào cây gậy chống, nhìn Van Eck lom lom.

    “Có vấn đề gì à?”

    “Tôi thấy có một số vấn đề trước mắt.

    Và sẽ không có chuyện các cậu rời khỏi hòn đảo này.”

    Van Eck lấy trong túi áo ra một chiếc còi và thổi.

    Cùng lúc đó, đoàn tuỳ tùng của ông ta cũng rút vũ khí, và một trận gió từ đâu nổi lên - một trận gió mạnh khác thường xoáy tròn quanh hòn đảo nhỏ, trong khi mặt biển bắt đầu dâng.

    Các thuỷ thủ bên chiếc xuồng của phía Van Eck giơ tay lên.

    Sóng biển bắt đầu tụ tập quanh họ.

    “Tiết Hải Sư,” Matthias gằn giọng và với tay lấy khẩu súng trường.

    Hai bóng người nữa bay lên khỏi boong tàu của Van Eck.

    “Tiết Khí Sư!”

    Jesper la lớn.

    “Bọn họ đã dùng parem!”

    Các Tiết Khí Sư đảo người trên không, và cơn gió mạnh quần thảo xung quanh họ.

    “Ông đã giữ lại chỗ ma dược mà Yul-Bayur gửi cho Hội đồng,” Kaz nheo mắt nói.

    Các Tiết Khí Sư giơ tay lên, và gió bắt đầu gào rú.

    Jesper đưa tay tìm mấy khẩu súng lục.

    Chẳng phải anh đã muốn có thứ gì đó để bắn vào hay sao?

    Công nhận chỗ này đúng là may mắn, anh khấp khởi nghĩ thầm.

    Có vẻ như mong ước của mình đã thành hiện thực.

    25

    KAZ

    “Thoả thuận là thoả thuận, Van Eck,” Kaz nói trong tiếng gió rít.

    “Nếu Hội đồng Thương buôn không thực hiện cam kết của mình, sẽ không một ai ở Barrel giao dịch với các ông nữa.

    Lời nói của các ông sẽ không còn giá trị.”

    “Đó sẽ là vấn đề, nếu Hội đồng biết về thoả thuận này.”

    Đến đây thì anh bàng hoàng hiểu ra.

    “Họ chưa bao giờ dính dáng tới vụ này,” anh nói.

    Tại sao anh lại tin rằng Van Eck nhận được sự cho phép của Hội đồng Thương buôn kia chứ?

    Bởi vì ông ta là một thương gia giàu có, đáng kính trọng ư?

    Bởi vì ông ta cho gia nhân và cận vệ của mình mặc đồng phục tím của thị tuần ư?

    Kaz đã gặp Van Eck tại tư dinh bị cách li của một thương gia, chứ không phải trong một toà nhà công quyền, nhưng anh đã dễ dàng cắn câu.

    Lại cái trò Hertzoon và quán cà phê của lão, chỉ có điều giờ Kaz đã đủ lớn để nhận ra.

    “Ông muốn có YuL-Bayur.

    Ông muốn có công thức của parem.”

    Van Eck gật đầu xác nhận.

    “Sự trung lập là thứ mà Kerch đã tận hưởng quá lâu.

    Các thành viên Hội đồng cho rằng sự giàu có sẽ bảo vệ được họ, rằng họ có thể ngồi yên đếm tiền trong khi cả thế giới biến động.”

    “Và ông khôn hơn họ?”

    “Đúng vậy.

    Jurda parem không phải là một bí mật có thể được giữ kín hoặc trữ trong một cái kho trên đường biên giới của Novyi Zem.”

    “Vậy bài thuyết giảng của ông về các tuyến giao thương và thị trường sụp đổ kia…”

    “Ồ, nó sẽ xảy ra đúng như tôi đã tiên đoán, cậu Brekker à.

    Tôi rất chắc chắn về điều đó.

    Ngay khi Hội đồng nhận được thông điệp của Bo YulBayur, tôi đã bắt đầu mua lại nhiều cánh đồng jurda ở Novyi Zem.

    Khi parem được phổ biến trên thế giới, mọi quốc gia, mọi chính phủ sẽ muốn có một nguồn cung cấp sẵn sàng để dùng cho các Grisha của họ.”

    “Hỗn loạn,” Matthias thốt lên.

    “Phải,” Van Eck đáp.

    “Hỗn loạn sẽ xảy ra và tôi sẽ là chủ nhân của nó.

    Chủ nhân cực kì, cực kì giàu có của nó.”

    “Ông sẽ đẩy các Grisha vào con đường chết hoặc bị bắt làm nô lệ,” Inej nói.

    Van Eck nhướng mày.

    “Cô bao nhiêu tuổi rồi, cô gái?

    Mười sáu à?

    Hay mười bảy?

    Các quốc gia hết thịnh rồi suy.

    Thị trường phất lên rồi tàn lụi.

    Khi quyền lực đổi chiều, sẽ luôn có người phải chịu thiệt.”

    “Khi các lợi ích thay đổi chứ,” Jesper phản bác.

    Van Eck tỏ vẻ kinh ngạc.

    “Hai cái đó chẳng phải là một hay sao?”

    “Khi Hội đồng phát hiện ra…”

    Inej nói.

    “Hội đồng sẽ không bao giờ biết đến chuyện này,” Van Eck cắt ngang.

    “Theo các cô cậu thì vì sao tôi lại chọn mấy người để thực hiện phi vụ này?

    Ồ, các cô cậu giỏi giang và khéo léo hơn bất kì thương gia nào, tôi công nhận điểm đấy.

    Nhưng quan trọng là, sẽ chẳng có ai nhớ tới các cô các cậu.”

    Van Eck giơ tay lên.

    Các Tiết Hải Sư xoay tay.

    Kaz nghe thấy một tiếng thét và quay lại vừa đúng lúc một cơn sóng lớn trùm qua người Rotty.

    Con sóng đổ ập xuống chiếc xuồng, làm nó vỡ tan tành, trong khi Rotty vội chạy đi nấp.

    “Không một ai trong số các cô cậu rời khỏi hòn đảo này, và sẽ chẳng ai quan tâm đến chuyện đó.”

    Van Eck lại giơ tay lên, và các Tiết Hải Sư xuất chiêu.

    Một con sóng khổng lồ lao đến chỗ chiếc Ferolind.

    “Không!”

    Jesper gào lên.

    “Van Eck!”

    Kaz hét lớn.

    “Con trai ông đang ở trên chiếc tàu đó.”

    Van Eck quắc mắt nhìn anh.

    Ông ta thổi còi.

    Các Tiết Hải Sư khựng lại, chờ nghe lệnh.

    Một cách miễn cưỡng, Van Eck bỏ tay xuống.

    Các Tiết Hải Sư để cho con sóng tự tan đi và mặt biển dập dềnh vỗ vào thân tàu Ferolind mà không gây thiệt hại gì.

    “Con trai tôi?”

    Van Eck hỏi lại.

    “Wylan Van Eck.”

    “Cậu Brekker, hẳn cậu đã biết chính tôi đã đuổi nó ra khỏi cửa vài tháng trước.”

    “Tôi biết ông viết thư cho cậu ta mỗi tuần kể từ khi cậu ta rời nhà, nài nỉ cậu ta quay về.

    Đó không phải là hành động của một người đã từ mặt đứa con trai nối dõi duy nhất.”

    Van Eck bật cười - một tiếng cười khùng khục tưởng như vui vẻ, nhưng thực ra đầy chua chát.

    “Để tôi kể cho cậu nghe chuyện thằng con trai tôi.”

    Ông ta nói ra mấy chữ đó như thể chúng là độc dược.

    “Nó lẽ ra sẽ là người thừa kế một trong những gia tài đồ sộ nhất trên toàn cõi Kerch, một đế chế với những tuyến hàng hải vươn ra khắp thế giới, được dựng nên bởi cha tôi và ông nội tôi.

    Nhưng thằng con trai tôi, đứa con trai lẽ ra phải cai quản đế chế vĩ đại này, lại không thể làm điều mà một đứa trẻ lên bảy làm được.

    Nó có thể giải toán.

    Nó có thể vẽ vời và chơi sáo thành thục.

    Nhưng điều mà nó không làm được, thưa cậu Brekker, là đọc chữ.

    Nó không thể viết được.

    Tôi đã thuê những gia sư giỏi nhất đến từ khắp nơi trên thế giới.

    Tôi đã thử mọi biện pháp đặc biệt, thuốc bổ, thậm chí cả đánh đòn và thôi miên.

    Nhưng nó không thể dạy được.

    Cuối cùng tôi đành chấp nhận rằng Ghezen đã quyết định nguyền rủa tôi bằng một thằng con trai chậm trí.

    Wylan là một thằng bé không bao giờ trưởng thành.

    Nó là nỗi ô nhục của gia đình tôi.”

    “Nhưng những lá thư…”

    Jesper thốt lên với vẻ mặt giận dữ.

    “Ông không hề nài nỉ Wylan quay về.

    Ông chỉ chế nhạo cậu ấy.”

    Jesper nói đúng.

    Nếu con đọc được những dòng này, con sẽ biết cha muốn con quay về nhà nhiều đến thế nào.

    Mỗi lá thư là một cái tát, một trò đùa tàn nhẫn dành cho Wylan.

    “Cậu ấy là con trai của ông,” Jesper nói.

    “Không, nó là một sai lầm.

    Và sai lầm đó sẽ sớm được sửa chữa.

    Cô vợ trẻ yêu quý của tôi đang mang trong bụng một đứa trẻ, và dù nó là con trai hay con gái, hoặc thậm chí có một cặp sừng trên đầu, nó cũng sẽ là người thừa kế của tôi, không phải một thằng ngu không đọc nổi một bài thánh ca chứ đừng nói tới sổ sách kế toán, không phải một thằng đần chỉ tổ biến cái họ Van Eck thành trò cười cho thiên hạ.”

    “Ông mới là đồ ngu đó,” Jesper vặc lại.

    “Wylan thông minh hơn cả đám chúng tôi cộng lại, và cậu ấy xứng đáng có một người cha tốt hơn ông.”

    “Đã từng thôi,” Van Eck sẵng giọng, và thổi hai hồi còi.

    Các Tiết Hải Sư không hề do dự.

    Trước khi mọi người kịp lấy hơi để phản đối, hai bức tường nước khổng lồ dựng lên và lao tới chiếc Ferolind.

    Chúng nghiền nát con tàu với một âm thanh khủng khiếp, làm những mảnh vụn bay tứ tung.

    Jesper điên cuồng hét lên và giơ súng.

    “Jesper!”

    Kaz ra lệnh.

    “Hạ súng xuống!”

    “Ông ta đã giết họ!”

    Jesper la lối, mặt nhăn nhúm lại.

    “Ông ta đã giết chết Wylan và Nina!”

    Matthias đặt tay lên cánh tay Jesper và nói với giọng bình thản: “Cậu bình tĩnh lại đi.”

    Jesper nhìn những con sóng dữ, các miếng vỡ của cột buồm và mảnh buồm rách nát tại nơi con thuyền từng tồn tại trước đó ít phút.

    “Tôi không… tôi không hiểu.”

    “Phải thừa nhận là tôi cũng hơi bị sốc đấy, cậu Brekker,” Van Eck nói.

    “Không một giọt nước mắt sao?

    Không chút phẫn nộ vì đồng đội đã mất sao?

    Khu Barrel ấy nuôi dạy cậu lạnh lùng quá.”

    “Lạnh lùng và thận trọng,” Kaz đáp.

    “Chưa đủ thận trọng, có vẻ như thế.

    Ít nhất cậu cũng không phải sống trong tiếc nuối vì những sai lầm của mình.”

    “Nói cho tôi biết đi, Van Eck.

    Ông có thấy ăn năn không?

    Ghezen không thích những giao kèo bị phá vỡ.”

    Cánh mũi Van Eck nở ra.

    “Cậu mang lại điều gì cho thế giới này, Brekker?

    Cậu có tạo ra của cải không?

    Không.

    Sự thịnh vượng?

    Cũng không.

    Cậu ăn cắp của những con người lương thiện và chỉ phục vụ cho chính cậu.

    Ghezen nâng đỡ những người xứng đáng, những người xây dựng nên các đô thị, chứ không phải bọn chuột cống chuyên đi gặm phá nền móng của chúng.

    Ngài đã ban phước cho tôi và chuyện làm ăn của tôi.

    Cậu sẽ lụi tàn, còn tôi sẽ phát đạt.

    Đó là ý muốn của Ghezen.”

    “Có một vấn đề thế này, Van Eck à.

    Ông sẽ cần Kuwei Yul-Bo để làm được điều đó.”

    “Và cậu sẽ làm thế nào để cuỗm mất cậu ta từ tay tôi?

    Cậu đang bị chúng tôi áp đảo về số lượng và bao vây kia mà.”

    “Tôi đâu cần phải cuỗm cậu ta từ tay ông.

    Ông chưa bao giờ có cậu ta.

    Người này không phải là Kuwei Yul-Bo.”

    “Cậu chỉ lừa phỉnh.”

    “Tôi không giỏi trò đó, đúng không Inej?”

    “Theo lệ thường thì không.”

    Van Eck dẩu môi.

    “Rồi sao?”

    “Bởi vì anh ta lừa thật, chứ không phỉnh phờ,” cậu Kuwei Yul-Bo giả hiệu lên tiếng bằng thứ tiếng Kerch hoàn hảo.

    Van Eck sững người khi nghe thấy giọng nói của cậu ta.

    Jesper cũng nhíu mày.

    Cậu ta chìa tay ra.

    “Trả tiền cho tôi nào, Kaz.”

    Kaz thở dài.

    “Tôi ghét phải thua cược lắm.

    Ông thấy đấy, Van Eck, Wylan đã đánh cuộc với tôi rằng ông sẽ không do dự trong việc kết liễu cậu ta.

    Coi như là tôi sến đi, nhưng tôi đã không tin một người cha lại có thể nhẫn tâm đến vậy.”

    Van Eck nhìn chăm chú Kuwei Yul-Bo - hay cậu bé mà ông ta tin là Kuwei Yul-Bo.

    Kaz có thể thấy ông ta đang đấu tranh với việc giọng nói của Wylan phát ra từ miệng của Kuwei.

    Jesper cũng tỏ ra ngờ vực không kém.

    Anh sẽ giải thích mọi chuyện cho Jesper sau khi đã lấy được tiền.

    “Thật không thể nào,” Van Eck nói.

    Lẽ ra nó đã là một chuyện không thể làm được.

    Nina chỉ là một Thợ May với trình độ chấp nhận được, nhưng nhờ ảnh hưởng của jurda parem, như Van Eck từng nói, những điều không thể bỗng trở thành có thể.

    Một bản sao gần như hoàn hảo của Kuwei Yul-Bo đứng trước mặt họ, nhưng cậu ta có giọng nói của Wylan, phong thái của Wylan, và - mặc dù Kaz có thể thấy sự sợ hãi và đau đớn trong đôi mắt vàng của cậu ta - cả sự can đảm đáng kinh ngạc của Wylan nữa.

    Sau trận chiến trên bến cảng tại Djerholm, Wylan đã đến gặp Kaz để cảnh báo rằng cậu ta không thể được sử dụng như một đòn bẩy để tạo sức ép với cha cậu ta.

    Wylan đã rất tủi hổ và gần như không thể thổ lộ về nỗi khổ tâm của mình.

    Khi đó Kaz chỉ nhún vai.

    Một số người có thể làm thơ.

    Một số biết làm nông, số khác làm thương gia giàu có.

    Wylan có thể vẽ một bản sơ đồ hoàn hảo.

    Cậu ta có thể chế một cái khoan cắt xuyên qua lớp kính Grisha từ tay quay trục tời và vài mẩu kim cương của một chiếc vòng cổ.

    Việc cậu ta không thể đọc chữ thì có sao?

    Kaz đã chờ đợi Wylan phản đối ý tưởng chỉnh sửa diện mạo cho giống với Kuwei.

    Một sự thay đổi đến mức cực đoan như vậy nằm ngoài năng lực của bất kì Grisha bình thường nào.

    “Có thể sẽ không sửa lại được như cũ đâu đấy,” Kaz đã cảnh báo cậu ta như vậy.

    Wylan không buồn bận tâm chuyện đó.

    “Tôi cần được biết.

    Một lần cho dứt điểm.

    Tôi muốn biết cha thực sự nghĩ gì về tôi.”

    Và giờ thì cậu ta đã biết.

    Van Eck trợn mắt nhìn Wylan, cố tìm kiếm một đường nét nào đó quen thuộc.

    “Không thể nào.”

    Wylan tiến đến đứng bên cạnh Kaz.

    “Có lẽ cha nên cầu xin lòng khoan dung của Ghezen, cha à.”

    Wylan cao hơn Kuwei một chút, khuôn mặt cũng tròn hơn.

    Nhưng Kaz đã nhìn hai người đứng cạnh nhau, và sự giống nhau của họ thật đáng kinh ngạc, công trình của Nina, được thực hiện trên tàu trước khi cơn phê thuốc bắt đầu tan biến, gần như là hoàn hảo.

    Cơn thịnh nộ làm khuôn mặt Van Eck biến dạng.

    “Đồ vô dụng,” ông ta rít lên với Wylan.

    “Tao biết mày là một thằng ngu, nhưng hoá ra mày còn là đứa phản bội nữa.”

    “Một thằng ngu sẽ ngồi đợi trên con tàu đó để rồi tan xác.

    Còn với ‘đứa phản bội’, trong vài phút vừa rồi cha đã tặng cho tôi nhiều danh xưng còn tệ hại hơn thế nhiều.”

    “Thử nghĩ mà xem,” Kaz nói với Van Eck, “sẽ như thế nào nếu như cậu Kuwei Yul-Bo thật đã ở trên con tàu vừa bị ông nhấn chìm?

    Giọng nói của Van Eck bình thản, nhưng cái cổ ông ta đỏ ửng lên vì tức giận.

    “Kuwei Yul-Bo đang ở đâu?”

    “Hãy để cho chúng tôi rời đảo cùng với tiền thưởng, và tôi sẽ sẵn lòng cho ông câu trả lời.”

    “Mày không có đường thoát khỏi vụ này đâu, Brekker.

    Nhóm của mày làm sao địch lại các Grisha của tao được?”

    Kaz nhún vai.

    “Cứ giết chúng tôi đi, ông sẽ không bao giờ tìm thấy

    Kuwei.”

    Van Eck có vẻ nghĩ ngợi.

    Rồi ông ta lui lại.

    “Quân bay đâu!”

    Ông ta hét lớn.

    “Giết chết tất cả, ngoại trừ Brekker!”

    Kaz biết ngay anh đã phạm sai lầm.

    Tất cả bọn họ đều hiểu câu chuyện sẽ đi đến chỗ này.

    Lẽ ra anh nên tin tưởng người của mình.

    Đôi mắt anh lẽ ra nên tiếp tục nhìn vào Van Eck.

    Nhưng trong khoảnh khắc này, khi anh chỉ nên nghĩ tới trận chiến, mắt anh lại nhìn sang phía Inej.

    Van Eck đã trông thấy.

    Ông ta thổi còi.

    “Không cần bận tâm mấy đứa kia!

    Lấy tiền và bắt con nhỏ đó!”

    Bình tĩnh đi nào, bản năng trong anh nhắc nhở.

    Van Eck có tiền, chìa khoá nằm ở đó.

    Inej có thể tự bảo vệ mình.

    Cô chỉ là một con tốt, không phải giải thưởng.

    Nhưng anh đã quay người, chạy tới chỗ cô khi các Grisha ra tay.

    Các Tiết Hải Sư biến mất và xuất hiện trở lại bên cạnh Inej.

    Nhưng chỉ có ngu mới tìm cách tấn công cô bằng cận chiến.

    Bọn họ dùng sự tiếp cận bất ngờ để chộp lấy cô, nhưng Inej là Bóng Ma, và những lưỡi dao của cô không ngần ngại thọc sâu vào tim, cổ họng, hay lá lách.

    Máu tuôn xuống mặt cát khi hai Tiết Hải Sư ngã gục.

    Kaz thoáng thấy một Tiết Khí Sư bay nhanh tới chỗ Inej.

    “Jesper!”

    Anh hét lên.

    Jesper nổ súng, và Tiết Khí Sư rơi thẳng xuống đất.

    Gã Tiết Khí Sư thứ hai khôn hơn.

    Hắn bay là là, len lỏi giữa những đống đổ nát.

    Jesper và Matthias cùng nổ súng, nhưng họ bị chói nắng, và ngay cả một thiện xạ như Jesper cũng không thể nhắm mắt mà bắn được.

    Gã Tiết Khí Sư lao vào Inej và bay vọt lên trời cùng với cô.

    Đừng cử động, Kaz thầm nhắc cô trong lúc giương súng lên.

    Nhưng cô đã không làm thế.

    Cô vặn người, vung dao.

    Gã Tiết Khí Sư hét thất thanh và buông cô ra.

    Inej rơi xuống.

    Kaz lao bổ đến chỗ cô mà không suy nghĩ.

    Một vệt mờ lao vun vút trước mắt anh.

    Một Tiết Khí Sư thứ ba phóng xuống, chộp lấy Inej trước khi cơ thể cô chạm mặt cát, và đánh mạnh một cú vào đầu cô.

    Kaz thấy Inej mềm oặt đi.

    “Hạ hắn đi!”

    Matthias gầm lên.

    “Không!”

    Kaz la lớn.

    “Bắn hắn thì Inej sẽ bị rơi theo!”

    Tay Grisha đã bay lên cao, thoát khỏi tầm đạn, với Inej trong tay.

    Họ không thể làm gì ngoài việc đứng đó như những thằng ngốc và nhìn cô nhỏ dần trên bầu trời, từ một mặt trăng xa xôi thành một ngôi sao đang tắt dần, rồi biến mất.

    Đội cận vệ và các Grisha tiến lại gần, khênh cả Van Eck lẫn chiếc rương tiền đưa về tàu.

    Việc báo thù cho Jordie, điều mà Kaz đã dày công theo đuổi, đang tuột khỏi tầm tay.

    Anh mặc kệ.

    “Mày có một tuần để giao thằng Kuwei thật cho tao,” Van Eck lớn tiếng.

    “Bằng không tiếng hét của con bé kia sẽ vang vọng tới tận Fjerda.

    Và nếu chuyện đó còn chưa đủ, tao sẽ loan báo khắp nơi rằng mày đang giữ một con tin đắt giá nhất thế giới.

    Các băng đảng, chính phủ, đám buôn lậu và gián điệp sẽ đeo bám mày cùng băng Cặn Bã.

    Bọn mày sẽ không còn chốn nào để dung thân.”

    “Kaz, tôi có thể bắn,” Jesper nói trong lúc cất súng lục và với tay lấy khẩu súng trường.

    “Van Eck vẫn đang trong tầm bắn.”

    Nếu thế thì tất cả sẽ mất hết: Inej, tiền thưởng, mọi thứ.

    “Không,” Kaz đáp.

    “Cứ để họ đi.”

    Biển đã lặng, gió không còn thổi, nhưng các Tiết Khí Sư của Van Eck làm các lá buồm của con thuyền căng phồng bằng một luồng gió dẫn hướng.

    Kaz nhìn con thuyền lướt nhanh trên mặt nước về phía Ketterdam, về chốn an toàn, về với thành trì được dựng nên từ danh tiếng thương gia hoàn hảo của Van Eck.

    Anh có cảm giác giống như đang nhìn vào những ô cửa sổ tối om của ngôi nhà trên phố Zelverstraat.

    Một lần nữa bất lực.

    Anh đã cầu nguyện nhầm vị thánh.

    Jesper chậm rãi bỏ súng xuống.

    “Van Eck sẽ cử Grisha và lính của ông ta đi tìm kiếm Kuwei,” Matthias nói.

    “Ông ta sẽ không tìm được cậu ta.

    Hoặc Nina.”

    Không ở Thanh Gỗ hay bất cứ nơi nào khác của Barrel.

    Không ở bất cứ nơi đâu trong Ketterdam.

    Đêm trước, Kaz đã ra lệnh cho Specht đưa Kuwei và Nina từ tàu Ferolind lên chiếc xuồng thứ hai - chiếc mà anh đã nói dối Jesper là đang được sửa.

    Họ đã ẩn nấp an toàn trong mấy cái chuồng bỏ không ở bên dưới toà tháp cũ của Cổng Địa Ngục.

    Kaz đã dò la một chút lúc vào cảng để gửi tin nhắn cho Van Eck.

    Sau thảm họa Đấu trường Địa Ngục, người ta đã dọn sạch dấu vết của thú vật và thi thể trong các ngăn chuồng rồi bỏ trống chúng từ đó tới giờ.

    Matthias không thích Nina rời xa anh, nhất là trong tình trạng hiện tại, nhưng Kaz đã thuyết phục anh rằng việc giữ Nina và Kuwei trên Ferolind sẽ làm họ có nguy cơ gặp nguy hiểm.

    Kaz còn chưa hết sững sờ vì sự ngu ngốc của mình.

    Ngốc hơn một con bồ câu vừa chân ướt chân ráo rời tàu du lịch và đang tấp tểnh muốn làm giàu tại khu Đông Stave.

    Chỗ dễ bị tấn công nhất nằm ngay bên cạnh anh.

    Và giờ thì cô ấy đã biến mất.

    Jesper đang nhìn Wylan trân trối, săm soi mái tóc đen, đôi mắt vàng của cậu ta.

    “Tại sao?”

    Cuối cùng anh hỏi.

    “Tại sao cậu lại làm chuyện này?”

    Wylan nhún vai.

    “Chúng ta cần một đòn bẩy.”

    “Đó là giọng điệu của Kaz.”

    “Tôi không thể để các anh bước vào một cuộc trao đổi con tin với niềm

    tin rằng tôi là một sự bảo đảm.”

    “Nina đã chỉnh sửa cậu à?”

    “Vào cái đêm chúng ta rời Djerholm.”

    “Đó là lí do cậu biến mất trong suốt chuyến về,” Jesper nói.

    “Không phải cậu giúp Matthias chăm sóc Nina.

    Cậu trốn.”

    “Tôi không trốn.”

    “Cậu…

    đã bao nhiêu lần cậu đứng cạnh tôi trên boong tàu vào ban đêm mà tôi cứ tưởng cậu là Kuwei?”

    “Tất cả các lần.”

    “Nina có lẽ sẽ không thể phục hồi diện mạo cũ của cậu, nếu không dùng tới parem một lần nữa.

    Cậu có thể bị kẹt trong hình hài thế này mãi.”

    “Chuyện đó thì quan trọng gì?”

    “Tôi cũng chẳng biết nữa!”

    Jesper bực bội đáp.

    “Chắc là tôi thích cái bộ mặt ngốc nghếch của cậu.”

    Anh chàng quay sang phía Matthias.

    “Anh biết, Wylan biết, Inej biết.

    Mọi người đều biết, trừ tôi.”

    “Sao không hỏi tôi tại sao đi, Jesper?”

    Kaz lên tiếng khi sự kiên nhẫn của anh đã cạn.

    Jesper bối rối đổi chân.

    “Tại sao?”

    “Cậu là người đã bán đứng chúng tôi với Pekka Rollins.”

    Anh dứ một ngón tay với Jesper.

    “Cậu là nguyên nhân khiến chúng ta bị mai phục khi rời Ketterdam.

    Suýt nữa cậu đã làm cả bọn bị giết sạch.”

    “Tôi không hề nói gì với Pekka Rollins.

    Tôi không bao gi…”

    “Cậu đã nói với một tên trong băng Kim Sư rằng cậu sắp rời khỏi

    Kerch để làm một phi vụ lớn, có đúng không?”

    Jesper nuốt khan.

    “Tôi buộc phải làm thế.

    Bọn chúng ép tôi ghê quá.

    Nông trại của bố tôi…”

    “Tôi đã nói cậu không được kể với bất kì ai về chuyến ra nước ngoài.

    Tôi đã nhắc cậu giữ mồm giữ miệng.”

    “Tôi không còn lựa chọn nào khác!

    Anh đã nhốt tôi trong Quạ Đen trước khi chúng ta lên đường.

    Nếu anh để tôi…”

    Kaz quay ngoắt về phía Jesper.

    “Để cậu làm gì?

    Chơi vài ván bài à?

    Để cậu càng lún sâu trong nợ nần à?

    Cậu đã kể với một thành viên của băng Kim Sư rằng cậu sắp giàu to.”

    “Tôi không hề biết nó sẽ đi báo với Pekka.

    Tôi cũng không biết Pekka đã hay tin về parem.

    Tôi chỉ cố trì hoãn việc trả nợ thêm một chút.”

    “Thánh thần ơi, Jesper, cậu không học được gì sất từ băng Cặn Bã sao?

    Cậu vẫn là thằng nhà quê lên tỉnh ngờ nghệch đó.”

    Jesper lao tới, và Kaz chỉ muốn đánh cho anh chàng một trận.

    Rốt cuộc anh cũng có một cuộc đấu mà mình có thể thắng.

    Nhưng Matthias đã chen vào giữa và dùng đôi tay hộ pháp ngăn cản họ.

    “Thôi.

    Thôi ngay.”

    Kaz không muốn dừng lại.

    Anh chỉ muốn đánh cho Jesper nhừ tử, rồi quậy khắp khu Barrel.

    “Matthias nói đúng đó,” Wylan lên tiếng.

    “Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện phải làm sắp tới.”

    “Làm gì có sắp tới nữa,” Kaz nạt nộ.

    Van Eck sẽ bảo đảm điều đó.

    Họ sẽ không thể quay về Thanh Gỗ hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ từ Per Haskell và các thành viên khác trong băng Cặn Bã.

    Van Eck sẽ luôn theo dõi, chờ cơ hội để vồ mồi.

    Ông ta sẽ biến khu Barrel, ngôi nhà của anh, vương quốc nhỏ của anh, thành vùng đất thù địch.

    “Jesper đã phạm sai lầm,” Wylan nói.

    “Một sai lầm ngu ngốc, nhưng

    anh ấy không cố ý phản bội ai cả.”

    Kaz đi ra chỗ khác, cố gắng làm trống đầu óc.

    Anh biết Jesper đã không nghĩ đến hậu quả khi làm như vậy, nhưng anh sẽ không bao giờ có thể tin tưởng Jesper hoàn toàn được nữa.

    Có lẽ anh đã không tiết lộ chuyện của Wylan cũng bởi anh muốn trừng phạt anh ta một chút.

    Sau vài giờ nữa, khi không thể liên lạc được, Specht sẽ chèo thuyền đi tìm họ.

    Còn lúc này, họ chỉ có bầu trời xám xịt và khối đá chết chóc mà mọi người gọi là hòn đảo này.

    Cùng sự vắng mặt của Inej.

    Kaz chỉ muốn đánh ai đó.

    Hoặc ai đó đánh anh.

    Anh quan sát nhóm người còn lại của mình.

    Rotty vẫn đang thẫn thờ bên mảnh vụn của chiếc xuồng.

    Jesper ngồi khoanh chân, khuỷu tay chống vào đầu gối, gục mặt vào hai bàn tay.

    Bên cạnh anh ta là Wylan trong diện mạo của một người gần như xa lạ.

    Matthias thì đứng nhìn ra biển, về hướng cổng Địa Ngục, tựa như một pho tượng đá.

    Nếu anh là thủ lĩnh của bọn họ, thì Inej là hòn đá nam châm gắn kết họ với nhau khi họ tưởng như sắp tan rã.

    Nina đã che đi hình xăm con quạ và cái li của Kaz trước khi họ đến Lâu Đài Băng, nhưng anh giữ lại chữ R trên bắp tay.

    Anh chạm những ngón tay đeo găng vào hình xăm đó, qua lớp vải của ống tay áo khoác, bất giác để cho Kaz Rietveld quay lại.

    Anh không rõ điều này bắt đầu sau khi Inej bị trọng thương, hay sau chuyến đi khủng khiếp trên chiếc xe chở tù, nhưng không hiểu sao anh lại để mặc nó xảy ra, và nó đã làm anh phải trả một cái giá quá đắt.

    Nhưng như thế không có nghĩa là anh sẽ chấp nhận chịu thua một lão con buôn kẻ cắp.

    Kaz nhìn về phía nam, nơi có các hải cảng của Ketterdam.

    Một ý tưởng bắt đầu manh nha trong đầu anh, như một sự ngứa ngáy, một ý niệm rất mơ hồ.

    Đó chưa phải là một kế hoạch, nhưng có thể là phác thảo đầu tiên của nó.

    Anh có thể thấy nó thành hình - bất khả thi, phi lí, và đòi hỏi một số tiền không nhỏ.

    “Mặt ủ mưu kìa,” Jesper thì thào.

    “Chắc chắn rồi,” Wylan đồng tình.

    Matthias khoanh tay lại.

    “Đang lục lọi cái túi chiêu trò của cậu hả, demjin?”

    Kaz cong ngón tay lại trong lớp găng.

    Làm thế nào để sống sót tại Barrel?

    Khi bị người khác lấy mất tất cả, bạn phải tìm cách làm ra thứ gì đó từ chỗ không có gì.

    “Tôi sắp sáng tạo ra một chiêu trò mới,” Kaz đáp.

    “Thứ mà Van Eck sẽ nhớ suốt đời.”

    Anh quay sang phía những người còn lại.

    Nếu có thể một mình đi tìm Inej, anh sẵn sàng làm ngay, nhưng ngay cả anh cũng không làm được chuyện đó.

    “Tôi cần một nhóm người.”

    Wylan đứng bật dậy.

    “Vì Bóng Ma.”

    Jesper cũng đứng lên, vẫn không nhìn vào ánh mắt của Kaz.

    “Vì Inej,” anh nhẹ nhàng nói.

    Còn Matthias chỉ gật đầu một cách chắc nịch.

    Inej đã muốn Kaz trở thành một người khác, một người tốt hơn, một tên trộm có trái tim.

    Nhưng cậu bé đó không có chỗ đứng ở đây.

    Cậu bé đó đã đói lả trong một ngõ hẻm.

    Để rồi bỏ mạng.

    Cậu bé đó không thể đưa cô trở về.

    Tôi sẽ có số tiền của mình, Kaz thề trong lòng.

    Và tôi sẽ có cô ấy.

    Inej có thể sẽ không bao giờ là của anh hoàn toàn, nhưng anh sẽ tìm được cách để cho cô sự tự do mà anh đã hứa với cô từ lâu.

    Tay Nhám đã quay lại để đảm trách phi vụ khó khăn này.

    26

    PEKKA

    Pekka Rollins nhét một nắm jurda vào trong má rồi ngả người trên ghế để quan sát nhóm ranh con thảm hại mà Doughty đã dẫn tới.

    Rollins sống ngay phía trên Cung Lục Ngọc, trong một dãy phòng lớn với toàn bộ diện tích được phủ nhung màu xanh lá cây và thếp vàng.

    Gã thích sự lấp lánh - từ quần áo, bạn bè, cho tới các cô bồ.

    Đám trẻ con đang đứng trước mặt gã hoàn toàn không ra một phong cách gì.

    Chúng mặc những bộ trang phục của Hài kịch Thô lỗ, nhưng không một ai được vào phòng làm việc của gã mà không để lộ mặt, thế nên tất thảy bọn chúng đều bỏ mặt nạ xuống.

    Gã nhận ra một số đứa.

    Rollins từng hi vọng thu nạp được con nhỏ Độc Tâm Y Nina Zenik, nhưng hiện tại trông con bé giống như không sống nổi tới cuối tháng - thân hình xương xẩu, da trũng sâu ở nhiều chỗ, hai bàn tay run lẩy bẩy.

    Có vẻ như gã đã tránh được một khoản đầu tư phí phạm.

    Con bé dựa người vào một thằng nhóc Fjerda to xác, đầu cạo trọc và có đôi mắt xanh dữ tợn, có lẽ từng là lính, cả một núi cơ bắp.

    Không hiểu Kaz Brekker tìm đâu ra mấy đứa này?

    Thằng nhỏ đứng bên cạnh là người Shu, nhưng trông nó trẻ con đến mức không thể nào là tay khoa học gia mà tất cả mọi người đang muốn sở hữu.

    Ngoài ra, Brekker sẽ chẳng bao giờ đem một món hời như thế tới Cung Lục Ngọc.

    Đứa kế tiếp, gã dĩ nhiên phải biết, vì nó chính là Jesper Fahey.

    Tay thiện xạ đang mang những khoản nợ lớn khủng khiếp với gần như mọi sòng bạc ở khu Đông Stave.

    Sự lỡ miệng của Jesper đã giúp cho Rollins biết Brekker đem quân đi đánh quả tại Fjerda.

    Mất thêm một chút dò la cùng nhiều khoản tiền mua chuộc, Rollins nắm được thời gian và địa điểm xuất phát của chuyến đi - nhưng hoá ra thông tin đó không chính xác.

    Brekker đã đi trước Rollins và băng Kim Sư một bước.

    Sau cùng, thằng nhóc và đồng bọn đã xoay xở đột nhập vào Lâu Đài Băng thành công.

    Chuyện đó hoá ra lại tốt.

    Nếu không có Kaz Brekker, chắc Rollins giờ này vẫn đang ngồi trong buồng giam của cái nhà tù chết tiệt đó, chờ một màn tra tấn khác hoặc phơi thây trên cọc nhọn.

    Sau khi Brekker phá khoá buồng giam của gã, Rollins không rõ mình sẽ được giải cứu hay bị sát hại.

    Gã đã nghe nhiều tin đồn về Kaz Brekker kể từ khi thằng nhóc nổi lên trong đám Cặn Bã - cái thứ thảm hại mà Per Haskell gọi là băng nhóm.

    Rollins cũng từng thấy thằng nhóc vài lần trong khu Barrel.

    Thằng nhóc không biết từ đâu ra đó là nguồn cơn của hàng đống rắc rối, nhưng nó chỉ là một đứa cấp dưới, chưa lên tới vị trí thủ lĩnh, chỉ là một con chó cắn càn đối với Rollins.

    “Chào Brekker,” Rollins đã nói như thế.

    “Đến đây để hả hê à?”

    “Không hẳn.

    Ông biết tôi chứ?”

    Rollins nhún vai.

    “Đương nhiên, cậu là thằng nhãi chuyên đi cướp khách của tôi.”

    Vẻ mặt của Brekker sau câu nói đó khiến Rollins ngạc nhiên.

    Một sự thù hận tuyệt đối, sâu sắc, vô tận.

    Mình từng gây chuyện gì với thằng vô lại này à?

    Nhưng chỉ vài giây sau, vẻ mặt đó đã biến mất, và Rollins tự hỏi phải chăng gã chỉ tưởng tượng ra như thế.

    “Cậu muốn gì, Brekker?”

    Thằng nhóc đứng đó, đôi mắt ánh lên sự lạnh lùng và giận dữ.

    “Tôi muốn cho ông một ân huệ.”

    Rollins đã để ý tới đôi chân trần và bộ quần áo tù của Brekker.

    Thằng nhóc cũng không đeo đôi găng tay đen huyền thoại - một phụ kiện nực cười, “có vẻ như cậu không ở trong một vị trí thuận lợi để gia ân cho bất kì ai, nhóc à.”

    “Tôi sẽ không khoá cánh cửa này.

    Ông không ngu đến mức săn lùng Bo Yul-Bayur mà không có ê-kíp hỗ trợ.

    Hãy đợi thời cơ thuận lợi và chuồn ra ngoài.”

    “Vì sao cậu giúp tôi?”

    “Ông không được chết ở đây.”

    Không hiểu sao câu nói đó nghe như một lời nguyền.

    “Tôi nợ cậu, Brekker,” Rollins nói với theo Brekker như thế khi thằng nhóc rời khỏi buồng giam, trong đầu gã gần như không tin nổi sự may mắn của mình.

    Lúc đó Brekker đã ngoái nhìn gã với hai con mắt đen kịt.

    “Đừng lo, Rollins, rồi ông sẽ trả nợ cho tôi.”

    Có vẻ như giờ là lúc thằng nhóc tới để đòi nợ.

    Đứng giữa phòng làm việc xa hoa của Rollins, Brekker tựa như một vết mực đen với khuôn mặt u ám, đôi tay đặt trên cái đầu quạ của cây gậy chống.

    Thực ra Rollins không ngạc nhiên khi gặp lại Brekker.

    Tin tức cho thấy cuộc đổi chác giữa thằng nhóc và Van Eck đã không được xuôi chèo mát mái.

    Lão thương gia cho người dò la hang ổ và những nơi thường lui tới của Kaz Brekker, nhưng không để ý Cung Lục Ngọc.

    Lão ta chẳng có lí do gì để làm chuyện đó.

    Rollins thậm chí còn không nghĩ Van Eck đã biết gã sống sót quay về từ Fjerda.

    Khi Brekker đã giải thích xong mọi lẽ, Rollins nhún vai đáp: “Cậu bị lật kèo rồi.

    Theo tôi, cậu nên giao Kuwei cho Van Eck để khép lại vụ này.”

    “Tôi đến đây không phải để xin lời khuyên.”

    “Đám thương gia đó mê những khoản thuế mà chúng ta đóng.

    Bọn họ nhắm mắt trước những vụ trộm cắp và đột nhập lẻ tẻ, nhưng muốn chúng ta quanh quẩn trong khu Barrel này và để yên cho họ làm ăn.

    Nếu cậu gây chiến với Van Eck, tất cả chuyện đó sẽ thay đổi.”

    “Van Eck đã đi quá giới hạn.

    Nếu Hội đồng Thương buôn biết…”

    “Và ai sẽ là người báo cho bọn họ đây?

    Một con chuột cống đến từ khu ổ chuột tồi tệ nhất của Barrel chắc?

    Đừng có tự lừa dối mình nữa, Brekker.

    Thôi bỏ đi, để dành sức mà chiến lúc khác.”

    “Lúc nào tôi cũng chiến đấu hết.

    Ông đang bảo tôi cứ thế mà bỏ đi sao?”

    “Này, nếu cậu muốn tự bắn vào chân mình, cái chân lành ấy, thì tôi sẽ vui lòng chứng kiến chuyện đó.

    Nhưng tôi sẽ không liên minh với cậu.

    Không phải để chống lại một thương gia.

    Không ai muốn điều đó.

    Cậu không phải đang kích động một cuộc chiến băng nhóm, Brekker à.

    Cậu sẽ bị thị tuần, quân đội và hải quân của Kerch tiêu diệt.

    Bọn họ sẽ đốt trụi Thanh Gỗ cùng lão Per Haskell, đồng thời lấy lại Cảng số Năm.”

    “Không phải tôi đang muốn ông liên minh với tôi, Rollins.”

    “Vậy cậu muốn cái gì?

    Nó là của cậu.

    Trong chừng mực cho phép.”

    “Tôi cần chuyển một tin nhắn tới thủ đô của Ravka.Thật nhanh.”

    Rollins nhún vai.

    “Dễ như bỡn.”

    “Và tôi cần tiền.”

    “Sốc chưa.

    Bao nhiêu?”

    “Hai trăm ngàn kruge.”

    Rollins cười muốn sặc.

    “Còn gì nữa không, Brekker?

    Viên ngọc lục bảo Lantsov?

    Một con rồng khạc ra cầu vồng?”

    “Ông có thừa tiền, Rollins.

    Và tôi đã cứu mạng ông.”

    “Vậy lẽ ra cậu nên thương lượng lúc ở trong buồng giam đó.

    Tôi không phải là nhà băng, Brekker.

    Mà cho dù có là thế, với tình hình hiện tại của cậu, tôi phải nói rằng cậu là một rủi ro tín dụng khá lớn.”

    “Tôi không muốn mượn tiền.”

    “Cậu muốn tôi cho cậu hai trăm ngàn kruge á?

    Thế tôi được gì với hành động hào phóng đó nào?”

    Quai hàm của Brekker cứng lại.

    “Phần của tôi tại Quạ Đen và Cảng số

    Năm.”

    Rollins ngồi thẳng người lại.

    “Cậu định bán phần hùn của mình à?”

    “Phải.

    Và thêm một trăm ngàn nữa cho một bức tranh gốc của DeKappel.”

    Rollins ngả người ra sau và đan các ngón tay vào nhau.

    “Như thế không đủ, cậu biết đấy.

    Không đủ để gây chiến với Hội đồng Thương buôn.”

    “Với nhóm của tôi thì như vậy là đủ.”

    “Cái nhóm này á?”

    Rollins cười khẩy.

    “Tôi không thể tin nổi các cậu lại là nhóm đột nhập thành công Lâu Đài Băng.”

    “Ông cứ tin đi.”

    “Van Eck sẽ chôn sống cậu.”

    “Những người khác cũng từng cố làm điều đó.

    Nhưng bằng cách nào đó tôi vẫn từ cõi chết trở về.”

    “Tôi tôn trọng sự kiên quyết của cậu, nhóc à.

    Và tôi hiểu.

    Cậu muốn có tiền, cậu muốn Bóng Ma quay về, cậu muốn một phần trong số Van Eck…”

    “Không,” Brekker cắt ngang, giọng thằng nhóc nửa phần the thé, nửa phần gầm gừ.

    “Khi tôi tính sổ với Van Eck, tôi sẽ không chỉ lấy lại những gì của mình.

    Tôi sẽ phá huỷ cuộc đời lão.

    Tôi sẽ chôn vùi tên tuổi lão.

    Van Eck sẽ không còn gì nữa cả.”

    Pekka Rollins không thể đếm nổi những lời đe doạ mình từng nghe, những người gã từng giết hoặc chứng kiến bị giết, nhưng ánh mắt của Brekker vẫn khiến gã lạnh sống lưng.

    Một cơn thịnh nộ trong thằng nhóc đang gào thét đòi thoát ra, và Rollins không muốn có mặt ở đó khi nó xổng chuồng.

    “Mở két đi, Doughty.”

    Rollins đưa tiền cho Brekker, rồi bắt thằng nhóc viết lệnh chuyển toàn bộ phần hùn ở Quạ Đen cũng như mỏ vàng cảng số Năm.

    Khi gã bắt tay để xác nhận thoả thuận, Brekker suýt nữa làm trật các khớp đốt ngón tay của gã.

    “Ông vẫn chưa nhớ ra tôi đúng không?”

    Thằng nhóc hỏi.

    “Sao tôi phải nhớ ra cậu?”

    “Chưa thôi.”

    Lại là ánh nhìn đen kịt đó trong đôi mắt của Brekker.

    “Thoả thuận thế nhé,” Rollins nói, chỉ muốn nhanh chóng tống khứ đám ranh con quái dị.

    “Thoả thuận.”

    Khi chúng đã đi khỏi, gã nhìn qua ô cửa sổ lớn trông xuống tầng chơi bài của Cung Lục Ngọc.

    “Một món hời bất ngờ của ngày hôm nay, Doughty à.”

    Doughty làu bầu đồng tình trong lúc quan sát những hoạt động đang diễn ra bên dưới - đổ xúc xắc, chơi bài, quay roulette, những món tiền thắng thua, và một phần ngon lành trong tất cả những chuyện này sẽ rơi vào túi Rollins.

    “Thằng nhóc đó làm gì với đôi găng tay vậy ạ?”

    Tay vệ sĩ thắc mắc.

    “Làm màu ấy mà, tao đoán thế.

    Ai mà biết được?

    Ai thèm quan tâm chứ?”

    Rollins quan sát Brekker và nhóm của thằng nhóc di chuyển qua sảnh chơi bài đông đúc.

    Chúng mở cánh cửa dẫn ra đường, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi gã nhìn theo bóng đổ của bọn ranh con mặc áo choàng đeo mặt nạ dưới ánh đèn đường - một thằng thọt đi cùng những đứa nhóc mặc đồ cải trang.

    Đúng là một ê-kíp quái đản.

    Brekker là một tên trộm khôn lanh và cứng đầu, Pekka nhủ thầm.

    Sáng tạo nữa.

    Nhưng khác với đám bù nhìn thảm hại ở Lâu Đài Băng, Van Eck đã sẵn sàng nghênh chiến.

    Brekker sắp bước vào một cuộc chiến thực sự.

    Thằng nhóc sẽ không có cơ may nào.

    Rollins thò tay tìm chiếc đồng hồ trong túi.

    Đã đến giờ đổi ca của mấy đứa chia bài, và gã muốn đích thân giám sát chuyện đó.

    “Thằng con hoang,” gã thốt lên.

    “Có chuyện gì vậy, thưa ông?”

    Rollins giơ sợi dây xích đồng hồ lên.

    Một củ cải đang treo toòng teng ở nơi từng gắn cái đồng hồ đính kim cương của gã.

    “Thằng con hoang đó…”

    Bỗng trong đầu gã sực nhớ ra một điều.

    Rollins lục tìm cái bóp tiền.

    Nó đã biến mất.

    Cũng giống như chiếc ghim cài cà vạt, đồng xu Kaelish mà gã đeo trên cổ lấy hên, và cặp khoá vàng nơi đôi giày của gã.

    Khéo gã phải kiểm tra cả mấy vết trám răng cũng nên.

    “Nó móc túi ông sao?”

    Doughty bàng hoàng hỏi.

    Không ai dám qua mặt Pekka Rollins.

    Không một ai.

    Nhưng Brekker đã làm điều đó, và Rollins tự hỏi phải chăng đó chỉ là sự khởi đầu.

    “Doughty, tao nghĩ tao với mày tốt hơn nên cầu nguyện cho Jan Van Eck là vừa.”

    “Ông nghĩ Brekker sẽ thắng ông ta à?”

    “Cũng khó đấy, nhưng nếu không cẩn thận, lão ta sẽ tự dẫn xác lên đoạn đầu đài và để cho Brekker tròng dây thòng lọng vào cổ.”

    Rollins thở dài.

    “Tốt hơn hết chúng ta nên hi vọng Van Eck giết được thằng nhóc đó.”

    “Tại sao vậy?”

    “Bởi vì nếu không thì tao sẽ phải làm chuyện đó.”

    Rollins chỉnh lại cái cà vạt không còn được cài ghim của mình rồi đi xuống tầng chơi bài.

    Vấn đề của Kaz Brekker có thể tạm gác lại.

    Bây giờ phải đi kiếm tiền đã.
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    III◇MƯU MA CHƯỚC QUỶ


    Phần Một: TỪ BỎ

    1 RETVENKO 2 WYLAN

    3 MATTHIAS

    4 INEJ

    Phần Hai: LUỒNG GIÓ SÁT NHÂN

    5 JESPER

    6 NINA

    7 INEJ

    8 MATTHIAS

    9 KAZ

    10 JESPER

    Phần Ba: TỪNG BƯỚC MỘT 11 INEJ

    12 KAZ

    13 NINA

    14 WYLAN

    15 MATTHIAS

    16 JESPER
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Một: Từ Bỏ 1-4


    1

    RETVENKO

    Retvenko tựa người vào quầy bar và thò mũi vào li rượu bẩn.

    Món whiskey không làm ông ấm nổi.

    Không gì có thể làm người ta ấm được ở cái thành phố bị thánh thần bỏ rơi này.

    Và ông cũng không thoát được cái mùi lợm giọng của hầm tàu, đám nghêu và những tảng đá ẩm ướt, thứ dường như đã ngấm vào các lỗ chân lông của ông như thể ông bị ngâm trong một món trà có mùi tệ hại nhất trên đời.

    Mùi hương thảm hoạ dễ nhận thấy nhất là ở Barrel, đặc biệt tại một cái ổ chuột bần cùng như nơi này: một tửu quán tồi tàn nép mình ở tầng dưới của một trong những toà nhà xập xệ nhất vùng.

    Trần của nó bị võng xuống do phong hoá và xây dựng kém, các thanh xà đen kịt bồ hóng từ một cái lò sưởi đã lâu không hoạt động với ống khói nghẹt cứng vì rác.

    Sàn nhà được rải đầy mạt cưa để thấm bia, chất nôn, cùng đủ loại chất thải của đám khách khứa.

    Retvenko tự hỏi đã bao lâu rồi người ta không lau sàn.

    Ông ấn mũi sâu hơn vào trong li rượu, hít hà thứ mùi ngòn ngọt của món rượu tồi.

    Nó làm mắt ông cay cay.

    “Ê, cái đó là để uống, không phải để ngửi nha,” tay phục vụ quầy lên tiếng và bật cười.

    Retvenko đặt cái li xuống, uể oải nheo mắt nhìn người đàn ông.

    Anh ta có cái cổ bè và khuôn ngực vạm vỡ của một võ sĩ thực thụ.

    Retvenko từng chứng kiến anh ta tống cổ vài vị khách phiền hà ra đường, nhưng thật khó mà tôn trọng một kẻ khoác trên người thứ thời trang được bọn thanh niên Barrel ưa thích: áo sơ mi hồng với phần ống tay bó sát bắp tay đồ sộ, kèm theo chiếc gilet sặc sỡ bằng len sọc hai màu đỏ cam.

    Nom anh ta giống như một con cua lột diêm dúa.

    “Nói tôi nghe,” Retvenko bảo anh chàng với một thứ tiếng Kerch không sõi, lại còn lè nhè sau vài li rượu.

    “Sao cái thành phố này hôi hám thế nhỉ?

    Cứ như một nồi súp hỏng hoặc một chậu bát đĩa bẩn ấy.”

    Tay phục vụ bật cười.

    “Ketterdam là thế.

    Ông sẽ quen thôi.”

    Retvenko lắc đầu.

    Ông không muốn quen với cái chốn này, cũng như mùi hôi của nó.

    Công việc của ông tại nhà Uỷ viên hội đồng Hoede chán phèo, nhưng ít nhất căn buồng ở đó cũng khô ráo và ấm áp.

    Là một Grisha giúp việc theo giao kèo đáng giá, Retvenko được ăn ngon mặc ấm.

    Hồi đó ông nguyền rủa lão Uỷ viên hội đồng Hoede suốt ngày vì chán ngán công việc dẫn dắt các chuyến tàu chở hàng đắt giá trên biển, lại thêm phẫn uất với các điều khoản trong giao kèo bán mình ngu ngốc mà ông đã kí để thoát khỏi Ravka sau cuộc nội chiến.

    Nhưng giờ thì sao?

    Giờ thì ông không thể không nhớ tới cái xưởng Grisha ở nhà Hoede, nhớ ngọn lửa vui vẻ cháy trong lò, ổ bánh mì nâu ăn kèm bơ và những lát thịt giăm bông.

    Sau khi Hoede chết, Hội đồng Thương buôn của Kerch đã cho Retvenko làm việc trên những con tàu chở khách để mua lại tự do.

    Tiền thù lao đúng thật mạt hạng, nhưng ông còn lựa chọn nào khác kia chứ?

    Ông là một Tiết Khí Sư sống giữa một nơi thù địch, chẳng có kĩ năng gì ngoài thứ năng lực trời cho.

    “Nữa nhé?”

    Người phục vụ hỏi, tay chỉ vào li rượu đã cạn của Retvenko.

    Retvenko ngần ngừ.

    Ông không nên phung phí tiền bạc.

    Nếu khéo thu vén, ông chỉ cần phải bán mình trên một chuyến hải trình nữa, hoặc hai, và ông sẽ có đủ tiền để mua lại tự do, tậu một tấm vé quay về Ravka trên khoang tàu hạng ba.

    Ông chỉ cần có thế.

    Chưa đầy một giờ nữa là ông phải có mặt trên bến cảng.

    Người ta dự đoán sẽ có bão, do vậy thuỷ thủ đoàn phải trông cậy vào khả năng kiểm soát các luồng gió của Retvenko để đưa con tàu cập bến bình yên bất cứ nơi nào nó cần đến.

    Ông chẳng biết nơi đấy là đâu, và cũng chẳng quan tâm.

    Thuyền trưởng sẽ ra hiệu lệnh để ông thổi căng buồm hoặc làm gió lặng.

    Sau đó ông nhận tiền thù lao của mình.

    Nhưng gió máy có vẻ chưa nổi lên.

    Biết đâu ông có thể ngủ khò trong suốt đoạn đầu của chuyến đi.

    Retvenko vỗ tay lên quầy và gật đầu.

    Một người đàn ông thì phải làm gì đây?

    Ông xứng đáng được hưởng chút sung sướng trong cái thế giới này.

    “Mình đâu phải thằng chạy việc,” ông lẩm bẩm.

    “Sao thế?”

    Người phục vụ hỏi trong lúc rót cho Retvenko một li rượu khác.

    Retvenko phẩy tay.

    Anh chàng cục mịch này làm sao mà hiểu được.

    Cậu ta thu mình trong bóng tối.

    Để mong chờ cái gì chứ?

    Thêm một đồng xu lẻ trong túi quần?

    Ánh mắt liếc nhìn của một cô gái?

    Cậu ta chẳng biết thế nào là vinh quang chiến trận, chẳng biết thế nào là danh vọng.

    “Ông là dân Ravka hả?”

    Đang trong trạng thái lờ đờ do rượu, Retvenko đột ngột trở nên cảnh giác.

    “Sao cậu lại hỏi vậy?’

    “Đoán vậy thôi.

    Ông nói giọng Ravka.”

    Retvenko tự trấn an mình.

    Có rất nhiều người Ravka đến Ketterdam để tìm việc.

    Không có gì nơi ông tiết lộ bản chất Grisha cả.

    Sự hèn nhát khiến ông cảm thấy ghê tởm chính mình, tay phục vụ, lẫn cái thành phố này.

    Retvenko chỉ muốn ngồi thưởng thức li rượu.

    Không một người nào trong quán có thể áp đảo ông, và bất chấp khối cơ bắp của tay phục vụ quầy, Retvenko biết mình có thể xử lí anh ta một cách dễ dàng.

    Tuy vậy, đã là một Grisha thì kể cả có ngồi yên cũng đồng nghĩa với chuốc vạ vào thân.

    Dạo gần đây người ta đồn râm ran khắp Ketterdam rằng nhiều Grisha đã biến mất trên phố, hoặc thậm chí ngay trong nhà mình, có lẽ là bị bọn buôn nô lệ bắt cóc đem bán đấu giá.

    Retvenko sẽ không để chuyện đó xảy ra với mình, nhất là khi ông đã sắp tích góp đủ tiền để quay về Ravka.

    Ông nốc cạn chỗ rượu, dằn một đồng tiền xuống mặt quầy, rồi đứng lên khỏi chiếc ghế đẩu.

    Ông không để lại tiền boa cho tay phục vụ.

    Muốn kiếm tiền thì phải xứng đáng với nó.

    Retvenko cảm thấy hơi loạng choạng trong lúc bước ra ngoài, và bầu không khí ẩm thấp chỉ càng làm tình hình tồi tệ thêm.

    Ông cúi đầu, hướng về phía Cảng số Bốn, để cho chuyến đi làm đầu óc tỉnh táo.

    Thêm hai chuyến nữa thôi, ông tự nhủ, vài tuần lễ lênh đênh trên biển, vài tháng trong cái thành này nữa thôi.

    Ông sẽ tìm được cách để chịu đựng chuyện này.

    Ông tự hỏi liệu mấy người bạn cũ có chờ mình ở Ravka hay không.

    Nghe nói vị vua trẻ ban lệnh ân xá như rải kẹo, hăm hở muốn tái thiết Hạ Quân — đội quân Grisha đã tan tác sau chiến tranh.

    “Thêm hai chuyến nữa thôi,” ông nói thành tiếng và giậm mạnh đôi ủng trên mặt đường ẩm ướt.

    Sao năm nay đến giờ này mà mọi thứ vẫn lạnh lẽo và ướt sũng đến thế kia chứ?

    Sống ở đây chẳng khác nào bị kẹp trong cái nách băng giá của một gã người tuyết khổng lồ.

    Đi dọc theo kênh Graf, Retvenko thoáng rùng mình khi trông thấy đảo Mạng Đen nằm kẹp giữa hai doi đất.

    Đó là nơi đám nhà giàu người Kerch từng mai táng người chết trong những ngôi nhà mồ bằng đá nằm cao hơn mực nước biển.

    Khí hậu ẩm ướt làm cho hòn đảo quanh năm bị quấn trong một tấm vải liệm sương mù biến ảo.

    Nghe đồn nó bị ma ám.

    Retvenko rảo bước nhanh hơn.

    Ông không phải là một kẻ mê tín.

    Khi sở hữu một năng lực như của ông, người ta chẳng việc gì phải sợ những thứ lẩn khuất trong bóng tối.

    Nhưng ai mà thích đi dạo giữa một nghĩa địa kia chứ?

    Thu mình trong chiếc áo choàng, ông nhanh chóng đi xuôi con phố Havenstraat, đề phòng mọi động tĩnh từ các con hẻm ngoằn ngoèo.

    Chẳng bao lâu nữa ông sẽ trở lại Ravka, nơi ông có thể ung dung dạo bước trên đường.

    Với điều kiện ông được ân xá.

    Retvenko khó chịu vặn vẹo người trong chiếc áo choàng.

    Chiến tranh đã làm các Grisha đối đầu nhau, và phe của ông đặc biệt tàn bạo.

    Ông đã ám sát những người đồng đội cũ, các thường dân, kể cả trẻ con.

    Nhưng chuyện đã qua rồi.

    Vua Nikolai cần binh lính, và Retvenko là một chiến binh rất giỏi.

    Sau khi gật đầu chào người lính gác đang ngồi trong chốt trực phía trước Cảng số Bốn, ông ngoái đầu nhìn lại phía sau để chắc chắn mình không bị theo đuôi.

    Len lỏi qua những dãy container, Retvenko đi ra bến cảng, tìm nơi tàu neo đậu, rồi đứng vào hàng để đăng kí với viên thuyền phó.

    Ông ta vẫn y như trong các chuyến đi trước, luôn phiền hà và khó ưa với cái cổ cò hương ló ra khỏi cổ áo choàng.

    Ông ta đang cầm một xấp tài liệu dày, có dấu triện sáp màu tím của một thành viên Hội đồng Thương buôn.

    Những dấu triện còn quý hơn vàng ở Ketterdam này, vì chúng bảo đảm những vị trí neo tàu tốt nhất và lối tiếp cận bến cảng thuận lợi.

    Tại sao những tay Uỷ viên hội đồng lại được nể trọng và biệt đãi như thế?

    Chung quy cũng vì tiền cả.

    Bởi các thương vụ của họ mang lại lợi lộc cho Ketterdam.

    Năng lực có ý nghĩa lớn hơn tại Ravka, nơi các nguyên tố phục tùng sự sai khiến của Grisha, và đất nước được cai trị bởi một vị vua thực thụ, chứ không phải một đám lái buôn mới phất.

    Thật ra thì Retvenko từng cố gắng phế truất cha của nhà vua hiện tại, nhưng bản chất vấn đề vẫn là như thế.

    “Thuỷ thủ đoàn chưa sẵn sàng để lên đường,” viên thuyền phó nói với Retvenko khi ông xưng tên.

    “Ông có thể vào ngồi trong văn phòng cảng vụ cho ấm.

    Chúng tôi đang đợi tín hiệu của Hội đồng Thuỷ triều.”

    “Tốt thôi,” Retvenko thờ ơ đáp.

    Ông ngước mắt nhìn một trong những ngọn tháp đá đen vươn cao trên hải cảng.

    Nếu Hội đồng Thuỷ triều tình cờ trông thấy Retvenko từ trên đó, ông sẽ cho họ biết chính xác mình đang nghĩ gì qua một vài cử chỉ chọn lọc.

    Cũng là Grisha, nhưng họ có nhúc nhích dù chỉ một ngón tay để giúp đỡ các Grisha khác trong thành không?

    Những người thiếu may mắn đang cần một chút lòng tốt ấy?

    “Không, họ không hề giúp đỡ,” Retvenko nói thành tiếng.

    Viên thuyền phó nheo mắt.

    “Lạy Ghezen, ông say rượu à, Retvenko?”

    “Làm gì có.”

    “Ông nồng nặc mùi rượu.”

    Retvenko hít hà.

    “Có chút whiskey thôi mà.”

    “Làm gì cho giã rượu đi.

    Uống cà phê, hoặc dùng jurda liều mạnh vào.

    Lô bông vải này phải đến được Djerholm trong vòng hai tuần lễ, và chúng tôi không trả tiền để ông ngật ngưỡng dưới hầm tàu.

    Rõ chưa?”

    “Rõ, rõ rồi.”

    Retvenko phẩy tay đáp trong lúc đi về phía văn phòng cảng vụ.

    Nhưng ngay khi đi được vài bước, ông khẽ lắc cổ tay.

    Một luồng gió thổi thốc vào xấp giấy tờ trên tay thuyền phó, làm chúng bay lung tung trên bến cảng.

    “Chết tiệt!”

    Ông ta buột miệng trong lúc lập cập chạy qua cầu ván, cố gắng chộp lấy chỗ tài liệu trước khi chúng rơi xuống nước.

    Retvenko mỉm cười ranh mãnh, nhưng một nỗi buồn vô hạn bỗng dâng lên trong lòng ông.

    Là một người lực lưỡng, một Tiết Khí Sư thiện nghệ, một chiến binh xuất sắc, nhưng ở đây, ông chỉ là một kẻ làm công, một lão già Ravka nói tiếng Kerch bồi và say xỉn tối ngày.

    Nhà, ông tự nhủ.

    Không lâu nữa mình sẽ được về nhà.

    Ông sẽ được ân xá và lại chứng tỏ bản thân.

    Ông sẽ chiến đấu cho tổ quốc mình.

    Ông sẽ nằm ngủ dưới một mái nhà không bị dột và mặc kefta len xanh với diềm lông cáo xám bạc.

    Ông sẽ lại là Emil Retvenko, chứ không phải một cái bóng dật dờ như thế này.

    “Có cà phê đấy,” một nhân viên nói với Retvenko khi ông bước vào văn phòng cảng vụ và chỉ cho ông bình cà phê nằm trong góc phòng.

    “Có trà không?”

    “Chỉ có cà phê thôi.”

    Cái xứ gì đâu.

    Retvenko rót đầy một ca thứ chất lỏng sánh đặc màu nâu đen, chủ yếu để làm ấm đôi tay.

    Ông không thể chịu nổi mùi vị của nó, nhất là nếu không có một suất đường thật đậm, thứ mà tay trưởng cảng từ chối cung cấp.

    “Gió nổi lên rồi kìa,” người thư kí nói khi nghe thấy tiếng chuông gió kêu lanh canh bên ngoài.

    “Tôi có tai,” Retvenko làu bàu.

    “Ở đây thì chẳng đáng là bao, nhưng một khi ông đã ra khơi thì…”

    “Im mồm đi,” Retvenko nạt.

    Ông đứng dậy, nghe ngóng.

    “Cái gì thế?”

    Người thư kí hỏi.

    “Ngoài kia…”

    Retvenko giơ một ngón tay lên môi.

    “Có người la hét.”

    Âm thanh vọng đến từ bên tàu, nơi con thuyền neo đậu.

    “Bọn mòng biển đấy.

    Mặt trời sắp lên rồi, và…”

    Retvenko giơ một bàn tay lên, và một luồng gió thổi nhân viên cảng vụ bay vào tường.

    “Đã bảo im mồm.”

    Miệng gã nhân viên trễ xuống trong lúc anh ta bám vào một thanh gỗ, thân mình bay lơ lửng trong không khí.

    “Ông là Grisha của bọn họ à?”

    Lạy các thánh, không lẽ ông phải rút hết không khí trong phổi thằng nhãi này để làm nó im miệng sao?

    Qua các ô cửa sổ mờ đục, Retvenko có thể trông thấy bầu trời bắt đầu chuyển sang màu xanh, báo hiệu bình minh đã lên.

    Ông nghe thấy tiếng kêu ré của bầy mòng biển đang tìm mồi trên những con sóng.

    Rượu làm cho đầu óc ông rối tinh lên.

    Retvenko thả cho tay nhân viên rơi xuống sàn.

    Ông làm đổ một ít cà phê, nhưng không buồn đi rót thêm.

    “Đã bảo ông rồi, chẳng có gì đâu.”

    Nhân viên cảng vụ nói trong lúc lồm cồm bò dậy.

    “Chẳng có gì mà phải làm quá lên như thế.”

    Anh ta phủi phủi áo quần rồi ngồi vào sau bàn giấy.

    “Đây là lần đầu tiên tôi gặp một người như ông.

    Một Grisha.”

    Retvenko hừ mũi.

    Chắc chắn anh ta đã từng gặp Grisha, chẳng qua không nhận ra mà thôi.

    “Ông được trả hậu hĩnh cho chuyến đi chứ?”

    Anh ta hỏi.

    “Không được hậu hĩnh cho lắm.”

    “Tôi…”

    Phần còn lại của câu nói bị át đi khi cánh cửa văn phòng vỡ tan tành.

    Retvenko đưa tay lên che mặt.

    Ông thụp xuống, lăn vào bên dưới bàn giấy của nhân viên cảng vụ để ẩn nấp.

    Một phụ nữ tiến vào văn phòng — tóc đen, mắt vàng.

    Người Shu.

    Gã nhân viên với tay tìm khẩu súng gắn bên dưới mặt bàn.

    “Bọn cướp!”

    Anh ta la lên.

    “Không ai được đụng tới quỹ lương.”

    Retvenko kinh ngạc nhìn anh ta bật dậy như một chiến binh quả cảm và khai hoả.

    Thánh thần ơi, đúng là không gì có thể thôi thúc người Kerch hơn tiền bạc.

    Retvenko ló đầu qua góc bàn để quan sát đúng lúc khẩu súng khạc đạn vào giữa ngực người phụ nữ.

    Mụ ta bay ngược ra sau, đập người vào khung cửa rồi rơi thịch xuống sần.

    Ông ngửi thấy mùi thuốc súng gay gắt và mùi máu tanh nồng.

    Bụng dạ ông quặn lên một cách đáng xấu hổ.

    Đã lâu ông không chứng kiến người ta bị bắn hạ ngay trước mắt mình — kể từ thời chiến tranh.

    “Không ai được đụng tới quỹ lương,” nhân viên cảng vụ lặp lại với giọng hài lòng.

    Nhưng trước khi Retvenko kịp lên tiếng, ả người Shu đã giơ bàn tay đẫm máu lên bấu vào khung cửa, gồng người đứng dậy.

    Retvenko chớp mắt mấy cái.

    Ông đã uống bao nhiêu whiskey nhỉ?

    Ả người Shu bước tới.

    Qua lớp áo rách toạc, Retvenko nhìn thấy mảng thịt đầy máu và lỗ chỗ vết đạn, cùng với thứ gì đó lấp lánh như kim loại.

    Gã nhân viên luống cuống nạp đạn, nhưng ả kia quá nhanh.

    Ả giật khẩu súng và hạ gục anh ta bằng một cú giáng mạnh khủng khiếp.

    Đoạn ả vứt súng qua một bên và hướng đôi mắt vàng về phía Retvenko.

    “Tiền đây, lấy hết đi!”

    Retvenko la lên và loạng choạng lùi lại.

    Ông thò tay vào túi quần rồi ném cho ả ta cái ví gần như rỗng không của mình.

    “Muốn lấy gì thì lấy đi.”

    Người phụ nữ nhếch mép cười trước cảnh đó.

    Một nụ cười thương hại?

    Hay là thích thú?

    Retvenko cũng chẳng biết.

    Nhưng ông hiểu ra ả không hề đến đây vì tiền.

    Ả đến vì ông.

    Và ả là một kẻ săn nô lệ, một lái buôn, hay gì gì đó cũng mặc.

    Ả sẽ phải đối đầu với một chiến binh, không phải một kẻ yếu đuối hèn nhát.

    Retvenko bật dậy.

    Các cơ bắp miễn cưỡng đáp ứng yêu cầu của ông và chuyển sang trạng thái tấn công.

    Hai cánh tay ông quạt tới trước.

    Một luồng gió mạnh thổi qua phòng, hất một chiếc ghế cùng bình cà phê bay về phía ả người Shu.

    Ả uể oải gạt phăng chúng đi như người ta phủi một cái mạng nhện.

    Retvenko tập trung năng lực rồi chưởng mạnh tới trước, cảm thấy tai mình ù đi vì áp suất tụt xuống khi gió lốc cuồn cuộn nổi lên.

    Những viên đạn có thể không chặn được địch thủ của ông, nhưng để xem ả ta xoay sở thế nào trước cuồng phong bão tố.

    Ả ngươi Shu gầm lên khi bị gió thốc vào người, cuốn ra ngoài cửa.

    Ả bấu lấy khung cửa, cố gắng cầm cự.

    Retvenko bật cười ha hả.

    Ông đã quên mất cảm giác sảng khoái khi được chiến đấu.

    Thế rồi, từ phía sau lưng ông, một tiếng rắc vang lên, những chiếc đinh kêu ken két khi bay ra khỏi lỗ, và những súc gỗ gãy lìa.

    Ngoái đầu ra sau, ông trông thấy bầu trời rạng đông và bến cảng, vách tường bằng gỗ đã biến mất.

    Những cánh tay khoẻ mạnh tóm lấy ông, bẻ quặt tay ông ra sau lưng, ngăn không cho ông sử dụng năng lực.

    Retvenko bị nhấc bổng lên trời, bến cảng nhanh chóng thu nhỏ lại bên dưới.

    Ông trông thấy phần mái của văn phòng cảng vụ, thi thể của viên thuyền phó trên bến cảng, và con tàu mà lẽ ra ông phải phụ trách — boong tàu đầy mảnh gỗ, những thân người nằm chất đống bên cạnh cột buồm gãy vụn.

    Địch thủ của ông đã ghé qua đó trước.

    Không khí lạnh thổi vào mặt Retvenko.

    Tai ông nghe thấy tiếng tim đập dồn dập.

    “Làm ơn,” ông van nài trong lúc họ bay lên cao hơn, không rõ mình phải cầu xin điều gì.

    Cố tránh không làm động tác quá đột ngột hoặc quá mức, ông ngoái đầu quan sát kẻ bắt giữ mình.

    Retvenko buột thốt lên một tiếng kêu thảng thốt, pha trộn giữa tiếng nấc nghẹn và rên rỉ của một con thú mắc bẫy.

    Kẻ đang bắt ông là một người Shu.

    Mái tóc đen của hắn búi chặt sau đầu, đôi mắt vàng rực nheo lại trong gió, và trên lưng hắn có một đôi cánh khổng lồ đang đập phành phạch giữa trời.

    Chúng đầy khớp nối, được tạo tác một cách khéo léo từ những thanh thép cong lấp lánh và lớp vải bạt căng phồng.

    Hắn là thiên thần hay ác quỷ?

    Hay là một cỗ máy kì dị sống động?

    Hay đơn giản là ông đã mất trí?

    Trong cánh tay kẻ bắt giữ, Emil Retvenko trông thấy bóng đổ của họ trên mặt biển loang loáng phía dưới: hai cái đầu, một đôi cánh, bốn cái chân.

    Ông đã trở thành một con quái vật hùng mạnh, thế nhưng con quái vật này sẽ nuốt chửng ông.

    Những lời cầu xin của ông chuyển thành tiếng la hét, nhưng không ai đoái hoài đến chúng.

    2

    WYLAN

    Tôi đang làm gì ở đây thế này?

    Câu hỏi đó đã vụt hiện lên trong đầu Wylan ít nhất sáu lần kể từ cái ngày cậu gặp Kaz Brekker.

    Nhưng vào một đêm như thế này, cái đêm mà họ làm việc, câu hỏi đó cứ chập chờn trong đầu cậu như một giọng nam cao đang luyện thanh: Tôiđanglàmgìởđâythếnày tôiđanglàmgìởđâythếnàytôiđanglàmgìởđâythếnày?

    Wylan kéo mạnh đường diềm của chiếc áo vest màu xanh da trời, đồng phục hầu bàn tại sòng bạc Cumulus, và cố tỏ ra thoải mái.

    Cứ coi như đây là một bữa tiệc tối, cậu tự nhủ.

    Cậu đã từng chịu đựng vô số bữa ăn không thoải mái ở nhà cha mình.

    Hôm nay cũng thế.

    Thật ra, nó còn dễ dàng hơn.

    Không có những mẩu đối thoại ngượng nghịu xoay quanh chuyện học hành hay kế hoạch vào đại học của cậu.

    Tất cả những gì cậu phải làm là giữ im lặng, làm theo chỉ dẫn của Kaz, và nghĩ xem mình nên thu xếp đôi tay như thế nào.

    Chắp lại trước bụng?

    Quá giống một ca sĩ biểu diễn.

    Chắp tay sau lưng?

    Quân đội quá.

    Cậu cố gắng buông xuôi chúng hai bên sườn, nhưng vẫn không cảm thấy ổn thoả.

    Sao trước đó cậu không chú ý đến cách đám bồi bàn đi đứng nhiều hơn?

    Mặc dù Kaz đã cam đoan phòng khách tầng hai hoàn toàn thuộc về họ đêm nay, Wylan vẫn dám chắc vào một thời điểm nào đó, một nhân viên thực thụ sẽ bước vào phòng, chỉ thẳng mặt cậu và hét lên: “Kẻ mạo danh!”

    Nhưng dù sao thì cậu cũng cảm thấy như thế trong phần lớn thời gian.

    Chưa đầy một tuần lễ trôi qua kể từ ngày họ đặt chân trở lại Ketterdam, và chưa đầy một tháng từ khi họ rời Djerholm.

    Wylan vẫn mang khuôn mặt của Kuwei, nhưng mỗi khi bắt gặp mình trong gương hoặc cửa kính, cậu phải mất một lúc để nhận ra mình không phải đang nhìn một người lạ.

    Khuôn mặt này giờ đây là của cậu: đôi mắt vàng, vầng trán rộng, mái tóc đen.

    Diện mạo cũ của cậu đã bị xoá sạch, và Wylan không chắc cậu hiểu được nhân vật còn lại trong mình — kẻ đang đứng giữa một phòng riêng tại một trong những sòng bạc cao cấp nhất khu Lid, mắc kẹt với một mưu đồ khác của Kaz Brekker.

    Một người chơi giơ cao li rượu để được rót đầy, và Wylan vội lao tới từ chỗ mình đang đứng cạnh vách tường.

    Bàn tay cậu run lẩy bẩy khi nhấc chai rượu ra khỏi xô đá, nhưng những năm tháng sống trong tầng lớp quý tộc của cha cậu cũng có ích.

    Ít nhất cậu biết làm thế nào để rót một li champagne mà không làm trào bọt ra.

    Wylan dường như có thể nghe thấy giọng nói chế nhạo của Jesper bên tai.

    Kĩ năng ăn tiền, thiếu gia à.

    Cậu đánh liều liếc nhìn Jesper.

    Anh chàng thiện xạ đang ngồi ở bàn, khom người trên những lá bài của mình.

    Anh mặc một chiếc áo gilet cũ mèm màu xanh hải quân có thêu những ngôi sao vàng nhỏ, cùng áo sơ mi trắng nhàu nhĩ nổi bật trên làn da nâu sậm.

    Jesper đưa bàn tay mệt mỏi xoa mặt.

    Họ đã chơi bài suốt hơn hai giờ đồng hồ.

    Wylan không rõ dấu hiệu mỏi mệt của anh là thật hay giả vờ.

    Cậu rót đầy một li rượu khác, tập trung vào những chỉ dẫn của Kaz.

    “Chỉ cần ghi nhận yêu cầu của người chơi và lắng nghe mẩu đối thoại của Smeet,” anh ta đã nói như thế.

    “Đây là một công việc, Wylan.

    Hãy hoàn thành nó.”

    Tại sao họ lại gọi đây là một công việc?

    Nó chẳng cho cảm giác giống như cậu đang làm việc chút nào.

    Nó giống như bước hụt và bất thần nhận ra mình đang rơi.

    Một cảm giác hoảng loạn.

    Wylan bèn tập trung vào các chi tiết của căn phòng, mẹo cậu thường dùng để tự trấn tĩnh mỗi khi đến một nơi mới, hoặc khi cha cậu ở trong tâm trạng tồi tệ.

    Cậu ghi nhớ hoạ tiết hình ngôi sao đan cài vào nhau trên mặt sàn gỗ bóng loáng, các mấu hình vỏ sò trên giá nến bằng thuỷ tinh thổi, và những đám mây bạc dày đặc trên lớp giấy dán tường màu xanh da trời.

    Căn phòng không có cửa sổ đón ánh sáng tự nhiên.

    Kaz bảo là không một sòng bạc nào có cửa sổ, vì họ muốn người chơi mất đi khái niệm về thời gian.

    Wylan quan sát Kaz chia bài cho Smeet, Jesper và những người chơi khác đang ngồi quanh chiếc bàn tròn.

    Kaz cũng mặc áo vest màu xanh da trời giống như Wylan, hai bàn tay để trần, cảm giác lạ lùng sai trái của cậu không chỉ đến từ việc Kaz không đeo găng, mà còn ở chỗ đôi tay anh ta dường như được điều khiển bởi một cơ cấu bí mật mà cậu không thể hiểu được.

    Khi bắt đầu học vẽ, Wylan đã nghiên cứu các hình minh hoạ giải phẫu học.

    Cậu nắm khá rõ hệ thống cơ bắp, cách các xương, khớp và gân gắn với nhau.

    Nhưng bàn tay của Kaz di chuyển như thể chúng được sinh ra chỉ để thao tác với những lá bài.

    Những ngón tay thon dài trắng trẻo co duỗi theo nhịp điệu, chuyển động chính xác và gọn ghẽ.

    Kaz từng tuyên bố anh ta có thể kiểm soát bất cứ cỗ bài nào.

    Vậy tại sao Jesper lại thua thê thảm như vậy?

    Lúc Kaz vạch kế hoạch đêm nay tại nơi ẩn nấp trên đảo Mạng Đen, Wylan đã khá hoài nghi, và không chỉ có cậu nêu thắc mắc.

    “Tôi diễn xuôi lại thế này anh nghe xem có đúng không nhé,” Nina đã nói như vậy.

    “Âm mưu lớn lao của anh là cho Jesper vay một khoản tiền và cài cậu ta vào chơi bài với Cornells Smeet, đúng không?”

    “Smeet thích những ván bài cào có tiền cược lớn và các cô nàng tóc vàng,” Kaz đáp.

    “Thế nên chúng ta sẽ cho ông ta cả hai.

    Tôi sẽ phụ trách nửa đầu của buổi tối, sau đó đến phiên Specht.”

    Wylan không biết nhiều về Specht.

    Là một cựu binh hải quân, thành viên băng Cặn Bã này đã lèo lái con thuyền đưa họ đến Lâu Đài Băng và quay về.

    Nếu nói thật lòng thì cậu thấy anh ta hơi đáng sợ, căn cứ theo bộ râu quai nón hoa râm và chỗ hình xăm che hết một nửa cái cổ.

    Nhưng ngay chính Specht cũng tỏ ra lo lắng khi nói: “Tôi có thể chia bài, Kaz à, nhưng tôi không thể kiểm soát người chơi.”

    “Anh không cần phải làm thế.

    Kể từ lúc anh ngồi vào vị trí, cuộc chơi sẽ mang tính trung thực.

    Điều quan trọng là giữ chân Smeet tại bàn cho tới nửa đêm.

    Thời điểm đổi ca là lúc chúng ta có nguy cơ đánh mất ông ta.

    Ngay khi tôi đứng dậy, ông ta sẽ bắt đầu nghĩ đến việc chuyển sang một bàn khác, hoặc ra về, do vậy tất cả những gì anh cần làm là giữ ông ta ngồi dính vào cái bàn đó.”

    “Tôi có thể xử lí chuyện đó,” Jesper nói.

    Nina nhíu mày.

    “Phải rồi.

    Về giai đoạn hai của kế hoạch này, tôi có thể đóng giả là một người buôn lậu jurda parem.

    Có gì mà phải sợ?”

    Wylan sẽ không nói như thế, nhưng cậu đồng ý với Nina.

    Rất đồng ý.

    Họ nên giữ cho Jesper tránh xa các sòng bạc, không thể khuyến khích máu đỏ đen của anh ấy như vậy được.

    Nhưng Kaz không hề suy suyển.

    “Hãy làm việc của mình và giữ chân Smeet đến nửa đêm,” Kaz nói.

    “Mọi người biết chúng ta đang đánh đổi điều gì đấy.”

    Tất cả bọn họ đều biết.

    Mạng sống của Inej.

    Wylan không còn gì để cãi.

    Cậu luôn cảm thấy áy náy mỗi khi nghĩ tới điều đó.

    Van Eck đã nói là sẽ cho họ bảy ngày để trao trả Kuwei Yul-Bo trước khi bắt đầu tra tấn Inej.

    Họ đã sắp hết thời gian.

    Wylan biết cậu không thể ngăn cha mình chơi khăm cả nhóm và bắt cóc Inej, nhưng cậu vẫn cảm thấy có trách nhiệm.

    “Tôi phải làm gì với Cornells Smeet sau nửa đêm đây?”

    Nina hỏi.

    “Cố gắng dụ ông ta qua đêm với cô.”

    “Cái gì?”

    Matthias thốt lên, mặt đỏ tía tai.

    “Ông ta sẽ từ chối.”

    Nina hừ mũi.

    “Từ chối cơ đấy.”

    “Nina…”

    Matthias gằn giọng.

    “Smeet không bao giờ chơi ăn gian khi đánh bài và cũng không bao giờ lừa dối vợ mình,” Kaz giải thích.

    “Ông ta giống như một nửa số con bạc trong khu Barrel.

    Trong phần lớn thời gian, ông ta là một người đáng kính, tỉ mỉ, cực kì tiết kiệm và chỉ uống nửa li rượu vang trong bữa tối.

    Nhưng mỗi tuần một lần, ông ta tận hưởng cảm giác của một kẻ phá luật và đấu trí cùng những con bạc lắm tiền ở Đông Stave, với một cô nàng tóc vàng trong tay.”

    Nina bĩu môi.

    “Nếu ông ta đức hạnh đến thế thì vì sao anh lại muốn tôi tìm cách…”

    “Bởi vì Smeet là một kẻ rủng rỉnh tiền bạc, và bất cứ cô nàng đứng đắn nào ở Tây Stave cũng sẽ thử.”

    “Tôi không thích chuyện này,” Matthias nói.

    Jesper trưng ra nụ cười bất cần đời đặc trưng của mình.

    “Nói thật nhé, Matthias, có nhiều thứ anh không thích lắm.”

    “Cầm chân Smeet tại sòng bạc Cumulus từ tám giờ tối cho đến nửa đêm,” Kaz nói.

    “Tức là bốn tiếng đấu trí, do đó hãy cư xử một cách khôn khéo.”

    Nina rõ ràng đang chơi hết mình.

    Wylan không rõ cậu nên lo lắng hay thán phục nữa.

    Chị mặc một cái váy màu tím oải hương cùng chiếc corset tôn cao bộ ngực khiêu khích, và mặc dù bị sụt cân do phải vật lộn cai nghiện parem, thân hình chị vẫn có kha khá thứ để Smeet đặt tay vào.

    Nina ngồi vững trong lòng Smeet, miệng thủ thỉ tình tứ, một tay quàng vai người đàn ông, tay kia vuốt ve ngực ông ta, thỉnh thoảng luồn hẳn vào trong lớp áo gilet như một chú cún nhỏ đòi được âu yếm.

    Chị chỉ ngừng lại mỗi khi cần gọi món hàu hoặc một chai champagne khác.

    Wylan biết Nina có thể xử lí mọi gã đàn ông trong mọi tình huống, nhưng cậu không nghĩ chị cần phải ăn mặc lả lơi ngồi ngả ngớn trong lòng một tay luật sư khinh khỉnh giữa sòng bài lạnh lẽo như thế này.

    Chị có thể bị cảm lạnh không chừng.

    Jesper lại khom người và thở hắt ra một cái rõ to.

    Anh đã thua suốt hai tiếng qua.

    Jesper rất thận trọng trong mỗi lần đặt cược, nhưng cả vận may lẫn Kaz đều không đứng về phía anh.

    Họ phải giữ chân Smeet thế nào đây một khi Jesper cháy túi?

    Những con bạc lắm tiền khác liệu có là miếng mồi đủ ngon?

    Trong phòng đang có vài người như thế.

    Họ nấn ná cạnh các bức tường, quan sát ván bài với hi vọng thế chỗ một người chơi cạn tiền nào đó.

    Không ai biết trò chơi thực sự mà Kaz đang thực hiện.

    Khi Wylan cúi xuống để rót đầy li rượu của Nina, cậu nghe thấy Smeet thì thầm.

    “Một ván bài cũng giống như một cuộc quyết đấu.

    Những cú đấm nhẹ nhàng sẽ dọn đường cho đòn đánh quyết định.”

    Ông ta liếc nhìn Jesper phía bên kia bàn.

    “Thằng nhãi kia đang khô máu rồi.”

    “Em không hiểu làm thế nào anh nhớ hết các quy luật trong đầu,” Nina nói với một nụ cười khúc khích.

    Smeet nhếch mép, hài lòng ra mặt.

    “Cái trò này chẳng là gì nếu so với công việc quản lí kinh doanh.”

    “Em cũng không hình dung nổi chuyện đó đây.”

    “Đôi lúc chính anh cũng không biết,” Smeet thở dài đáp.

    “Tuần vừa qua thật khó khăn.

    Một nhân viên của anh không quay lại sau kì nghỉ lễ, khiến anh bị quá tải.”

    Wylan suýt nữa đánh rơi cái chai đang cầm, làm đổ một ít rượu xuống sàn nhà.

    “Tao trả tiền là để uống nó, chứ không phải để tắm với nó nghe nhóc,” Smeet quát to.

    Ông ta phủi quần và lẩm bẩm.

    “Đi thuê bọn ngoại bang là thế này đấy.”

    Ý ông ta muốn nói mình, Wylan vội vàng lùi ra xa.

    Cậu vẫn chưa biết làm thế nào để chấp nhận thực tế rằng mình đang mang diện mạo của một người Shu.

    Cậu cũng không nói được ngôn ngữ của họ.

    Chuyện này bắt đầu khiến cậu lo lắng sau khi chạm trán hai du khách người Shu ở Đông Stave.

    Cậu phát hoảng lên, luống cuống hoa tay múa chân rồi bỏ chạy vào trong sòng bạc Cumulus qua lối cửa dành cho nhân viên.

    “Tội nghiệp anh,” Nina nói với Smeet và luồn tay vào trong mái tóc thưa của ông ta, đồng thời chỉnh lại một bông hoa cài trên bím tóc vàng óng của mình.

    Wylan không biết chị có nói với Smeet rằng mình đến từ Nhà Diên Vĩ Xanh hay không, nhưng hẳn ông ta cũng đoán như thế.

    Jesper ngả người ra sau trên ghế, gõ gõ ngón tay vào báng súng.

    Cử chỉ đó dường như khiến Smeet lưu ý.

    “Hai khẩu súng đó đẹp thật.

    Báng súng cẩn ngọc trai xịn, nếu anh không nhầm,” Smeet nói bằng giọng điệu của một người sành sỏi.

    “Anh cũng có một bộ sưu tập hoả khí tinh xảo, nhưng còn thiếu những khẩu súng lừng danh của Novyi Zem.”

    “Thế à, em rất muốn xem những khẩu súng của anh,” Nina thủ thỉ, và Wylan phải ngước lên nhìn trần nhà để khỏi đảo tròn mắt.

    “Chúng ta định ngồi đây cả đêm à?”

    Wylan cố giấu sự hoang mang của mình.

    Không phải mấu chốt của toàn bộ chuyện này là giữ chân ông ta ở đây hay sao?

    Nhưng có vẻ như Nina nắm rõ tình hình hơn cậu, vì khuôn mặt Smeet tỏ ra bướng bỉnh ngay.

    “Yên nào.

    Nếu anh trúng lớn, anh sẽ mua cho cưng cái gì đó đèm đẹp.”

    “Vậy để em gọi thêm hàu.”

    “Em còn chưa ăn xong chỗ này mà.”

    Wylan nhận thấy cánh mũi Nina rung rung.

    Chắc chị đang cố gắng hít thở.

    Nina không còn ăn uống ngon miệng kể từ khi phải vật lộn chống lại parem, và cậu thực sự không biết làm thế nào chị có thể nuốt trôi gần nửa tá hàu.

    Wylan thấy chị rùng mình nuốt chửng con hầu cuối cùng.

    “Ngon lắm,”

    Nina cố gắng thốt lên, rồi liếc mắt sang phía Wylan.

    “Thêm hàu đi.”

    Đó chính là ám hiệu.

    Wylan vội lao đến để dọn cái đĩa nặng trĩu vỏ hàu và nước đá.

    “Quý cô đây đang rất đói,” Smeet nói với cậu.

    “Thêm hàu ạ?”

    Wylan hỏi lại.

    Giọng cậu hơi chói tai.

    “Hay là tôm sốt bơ ạ?”

    Giờ thì cậu lại hạ giọng quá mức.

    “Cả hai,” Smeet đáp.

    “Và thêm một li champagne nữa.”

    “Tuyệt,” Nina lên tiếng, mặt hơi tái.

    Wylan lao qua cánh cửa lật để vào khu bếp.

    Chất đầy trong đó là chén

    đĩa, li tách, khăn ăn, và một thùng đầy ắp đá lạnh.

    Một thang vận chuyển đồ ăn choán gần hết vách tường cuối phòng, ngay bên cạnh nó có một ống nói với phần miệng loe rộng để đám phục vụ liên lạc với nhà bếp.

    Wylan đặt đĩa vỏ hàu lên bàn rồi gọi xuống nhà bếp để yêu cầu món hàu và tôm.

    “À, với lại thêm một chai champagne nữa.”

    “Loại nào?”

    “Ơ… cùng loại lúc nãy.’’ Wylan từng nghe đám bạn bè của cha cậu bàn luận về những mùa nho nên đầu tư, nhưng cậu không đủ tự tin để lựa chọn.

    Lúc Wylan quay lại phòng chơi bài với đồ ăn và thức uống, Kaz đứng lên khỏi bàn.

    Anh làm cử chỉ giống như phủi bụi trên tay - dấu hiệu cho biết một người chia bài đã kết thúc ca làm việc của mình.

    Specht ngồi vào chỗ.

    Chiếc cà vạt lụa mầu xanh giúp che đi hình xăm nơi cổ anh ta.

    Specht xắn tay áo và mời mọi người đặt tiền.

    Ánh mắt Kaz và Wylan thoáng giao nhau trước khi anh biến vào trong khu bếp.

    Thời điểm đã đến.

    Theo Kaz và Jesper, người chơi thường cho rằng vận may của mình gắn liền với người chia bài và ngừng chơi khi việc đổi ca diễn ra.

    Wylan lo lắng nhìn Smeet duỗi người và vỗ mông Nina.

    “Chúng ta cũng thắng được kha khá rồi,” ông ta lên tiếng trong khi liếc mắt sang phía Jesper, người đang rầu rĩ nhìn đống xèng ít ỏi trước mặt.

    “Đi kiếm một bàn màu mỡ hơn nào.”

    “Nhưng đồ ăn của em vừa lên,” Nina phụng phịu đáp.

    Wylan bước tới trước, không biết phải nói gì để cầm chân Smeet.

    “Quý ngài có muốn gọi gì không ạ?

    Tôi phục vụ gì thêm cho ngài và cô đây nhé?”

    Smeet phớt lờ cậu.

    Bàn tay ông ta vẫn đang đặt trên mông Nina.

    “Ở khu Lid này thì thiếu gì đồ ăn ngon và phục vụ tốt hơn, cưng à.”

    Một người đàn ông to lớn mặc bộ com-lê kẻ sọc tiến lại gần Smeet, lăm le định nhảy vào thế chỗ.

    “Ông định về à?”

    Smeet tặng cho Jesper một cái gật đầu thân thiện.

    “Có vẻ như cả hai ta đều đang định về, đúng không nhóc?

    Chúc may mắn lần sau.”

    Jesper không buồn mỉm cười đáp lại.

    “Tôi chưa chơi xong.”

    Smeet giơ tay chỉ đống xèng của Jesper.

    “Ồ, trông thế kia mà chưa bỏ cuộc à?”

    Jesper đứng lên, hai bàn tay di chuyển về phía hai khẩu súng.

    Wylan nắm chặt chai rượu trong lúc những người chơi khác dịch ra xa, sẵn sàng rút vũ khí hoặc thụp xuống sàn tránh đạn.

    Nhưng Jesper chỉ cởi dây đeo súng.

    Anh từ tốn đặt hai khẩu súng lục lên bàn, ngón tay vuốt nhẹ những đường hoa văn bóng bẩy trên đó.

    “Chỗ này giá bao nhiêu?”

    Jesper hỏi.

    Wylan cố gắng nhìn vào mắt anh chàng thiện xạ.

    Đây có phải là một phần của kế hoạch không vậy?

    Jesper đang nghĩ gì vậy?

    Anh rất yêu hai khẩu súng này.

    Anh thà tự cắt tay mình còn hơn.

    Specht hắng giọng và đáp.

    “Cumulus không phải tiệm cầm đồ.

    Chúng tôi chỉ chấp nhận tiền mặt hoặc tín chấp của ngân hàng Gemens thôi.”

    “Tôi sẽ cấp vốn cho cậu,” Smeet tuyên bố bằng giọng lơ đãng có chủ đích, “nếu cậu chơi tiếp.

    Một ngàn kruge cho hai khẩu súng được không?”

    “Chúng đáng giá gấp mười lần như thế.”

    “Năm ngàn kruge.”

    “Bảy.”

    “Sáu, chỉ vì tôi đang trong cơn hào phóng.”

    “Đừng!”

    Wylan buột miệng.

    Căn phòng im phắc.

    Giọng nói của Jesper lạnh băng.

    “Tôi đâu có hỏi ý kiến cậu?”

    “Hỗn láo thật!”

    Smeet nói.

    “Từ bao giờ đám hầu bàn được phép xen vào cuộc chơi vậy?”

    Nina trừng mắt với Wylan.

    Specht lên tiếng với giọng điệu chất chứa sự tức giận và ngỡ ngàng.

    “Các quý ngài, chúng ta chơi tiếp được chưa?

    Đặt cược nào!”

    Jesper đẩy hai khẩu súng của mình qua bàn về phía Smeet, và ông ta đẩy lại cho anh một chồng xèng lớn.

    “Được rồi,” Jesper tuyên bố, đôi mắt xám trở nên vô hồn.

    “Tôi chơi tiếp.”

    Wylan lùi lại và biến vào trong khu bếp nhanh chóng hết mức có thể.

    Đĩa vỏ hàu đã biến mất.

    Kaz đang đợi cậu.

    Anh đã đeo găng và khoác lên người một chiếc áo choàng dài màu cam.

    “Kaz,” Wylan tuyệt vọng thông báo.

    “Jesper vừa đem súng của anh ấy đổi lấy tiền.”

    “Được bao nhiêu?”

    “Chuyện đó thì quan trọng gì?

    Anh ấy…”

    “Năm ngàn kruge à?”

    “Sáu.”

    “Tốt.

    Ngay cả Jesper cũng không thể phung phí hết số tiền đó trong ít hơn hai giờ.”

    Kaz ném cho Wylan áo choàng và mặt nạ, hai món y phục của Quỷ xám, một nhân vật trong Hài kịch Thô lỗ.

    “Đi thôi.”

    “Tôi á?”

    “Không, thằng ngu phía sau cậu ấy.”

    Kaz trêu, đoạn tiến đến bên ống nói và thông báo.

    “Cử một hầu bàn khác lên đây.

    Thằng ở trên này vừa đánh đổ rượu lên giày của một ông khách sộp.”

    Ai đó dưới bếp bật cười và đáp: “Được.”

    Hai người đi xuống cầu thang và ra khỏi cửa dành cho nhân viên sau đó ít phút, trang phục hoá trang cho phép họ dễ dàng trà trộn trong đám đông.

    “Anh đã biết Jesper sẽ thua.

    Anh đã làm tất cả để chuyện đó xảy ra,” Wylan buộc tội.

    Kaz ít khi sử dụng gậy chống ở những khu vực mà anh có thể bị nhận diện.

    Nhưng bất chấp dáng đi khập khiễng của anh, Wylan vẫn phải guồng chân mới theo kịp.

    “Dĩ nhiên.

    Tôi kiểm soát trò chơi mà, Wylan.

    Tôi đã có thể làm cho Jesper thắng trong mọi ván bài.”

    “Vậy thì tại sao…”

    “Chúng ta không đến đó để thắng bài.

    Chúng ta cần Smeet ngồi chết dí bên bàn chơi bài.

    Ông ta chòng chọc tia mấy khẩu súng đó chẳng kém gì ngắm bộ ngực của Nina.

    Giờ thì ông ta đang tự tin rằng mình có một tối may mắn.

    Nếu có thua thì ông ta cũng vẫn chơi tiếp.

    Ai mà biết được?

    Có khi Jesper thắng lại mấy khẩu súng của cậu ta thì sao?”

    “Tôi cũng hi vọng là thế,”Wylan nói trong lúc họ nhảy xuống một con thuyền lúc nhúc du khách để xuôi về hướng nam.

    “Cậu cứ hi vọng đi.”

    “Anh nói vậy là sao?”

    “Một người như Jesper thắng được hai ván là bắt đầu tưởng bở.

    Cuối cùng thì thua tất, và điều đó chỉ càng làm cho cậu ta khao khát thử vận may lần nữa.

    Các sòng bài sống được là nhờ những kẻ như cậu ta.”

    Vậy thì tại sao lại đẩy anh ấy vào một sòng bài?

    Wylan không nói ra suy nghĩ đó.

    Và tại sao lại khiến Jesper phải từ bỏ thứ có ý nghĩa với mình đến thế?

    Có những cách khác để cầm chân Smeet kia mà?

    Nhưng câu hỏi thực sự ở đây là vì sao Jesper làm tất cả chuyện này mà không một chút ngần ngại.

    Phải chăng Jesper vẫn đang tìm cách lấy lòng Kaz trở lại sau khi sai lầm của anh làm cho mọi người rơi vào ổ phục kích trên bến cảng và Inej suýt mất mạng.

    Hay là anh ấy muốn thứ gì đó còn hơn cả sự tha thứ từ Kaz.

    Mình đang làm gì ở đây thế này?

    Wylan một lần nữa tự vấn.

    Cậu bắt gặp mình đang gặm ngón tay cái, và ép bản thân dừng lại.

    Cậu ở đây là vì Inej.

    Chị ấy đã cứu mạng cậu hơn một lần, và cậu sẽ không quên điều đó.

    Cậu ở đây vì đang rất cần tiền, và nếu còn một lí do khác, thì đó chính là một anh chàng cao lêu nghêu có máu đỏ đen, nhưng lúc này cậu không muốn nghĩ tới chuyện đấy.

    Ngay khi họ bắt đầu tiến vào khu Barrel, Wylan và Kaz cởi bỏ lại áo choàng cùng áo vest xanh da trời, rồi đi sang phía đông, vào quận Zelver.

    Matthias đang đợi họ dưới một vòm cửa ở kênh Handel.

    “Tình hình ổn chứ?”

    Kaz hỏi.

    “Mọi thứ đều ổn,” anh chàng người Fjerda cao to đáp.

    “Ánh đèn ở tầng trên cùng ngôi nhà của Smeet đã tắt từ một giờ trước, nhưng tôi không rõ đám gia nhân còn thức hay đã ngủ.”

    “Ông ta chỉ có một người hầu và một đầu bếp làm việc theo giờ vào ban ngày,” Kaz nói.

    “Ông ta quá keo kiệt để thuê gia nhân làm trọn thời gian.”

    “Thế…”

    “Nina ổn.

    Jesper cũng ổn.

    Mọi người đều ổn, ngoại trừ tôi, vì tôi đang bị dính với một đám vú em phiền nhiễu.

    Canh gác đi.”

    Wylan nhún vai với Matthias, người dường như đang cân nhắc việc đập đầu Kaz vào tường, trước khi cậu vội vã guồng chân trên lớp đá lát đường để đuổi theo Kaz.

    Ngôi nhà kiêm văn phòng của Smeet nằm trên một con phố âm u thưa thớt người qua lại.

    Những ngọn đèn đường dọc theo con kênh vẫn sáng và một số ô cửa sổ còn le lói ánh nến, nhưng sau mười giờ đêm thì hầu hết các công dân đáng kính tại khu này đều đã đi nghỉ.

    “Chúng ta chỉ việc đi vào qua cửa chính à?”

    “Sử dụng đôi mắt cậu thay vì cái miệng đi,” Kaz đáp.

    Bộ dụng cụ phá khoá lấp loáng trong đôi tay đeo găng của anh.

    Thì tôi đang nhìn đây, Wylan thầm nghĩ.

    Nhưng sự thật không hẳn là như thế.

    Cậu đã quan sát các tỉ lệ của ngôi nhà, độ cao của mái nhà, những bông hồng chớm nở trong các chậu hoa trên cửa sổ.

    Nhưng cậu không quan sát ngôi nhà như một câu đố.

    Với một chút thất vọng, cậu phải thừa nhận là câu đố này đã được giải xong.

    Dân cư quận Zelver cũng vào loại khá giả, nhưng không hẳn giàu có.

    Đây là một nơi dành cho những nghệ nhân thủ công, kế toán viên và luật sư thành đạt.

    Mặc dù được xây vững chãi, sạch sẽ và trông ra con kênh rộng, những ngôi nhà ở đây nằm san sát nhau, không có chỗ cho những mảnh vườn lớn hoặc bến thuyền riêng.

    Nếu tiếp cận qua lối cửa sổ tầng trên, cậu và Kaz sẽ phải đột nhập vào một ngôi nhà hàng xóm và gặp hai lần khoá thay vì một.

    Tốt hơn là mạo hiểm với cửa chính và giả vờ như họ hoàn toàn có phận sự ở đây - mặc dù Kaz mang theo bộ dụng cụ phá khoá thay vì chùm chìa khoá cửa.

    Sử dụng đôi mắt cậu.

    Nhưng Wylan không thích nhìn thế giới theo cách của Kaz.

    Và một khi đã có tiền trong tay, cậu sẽ không bao giờ phải làm điều đó nữa.

    Đúng một giây sau, Kaz đã vặn tay nắm và cánh cửa bật mở.

    Ngay lập tức Wylan nghe thấy tiếng chân chạy, tiếng móng vuốt cào trên mặt gỗ, nhiều tiếng gầm gừ, và đàn chó của Smeet lao tới, những chiếc răng trắng nhởn loé lên, những tràng sủa ồn ào bật ra từ lồng ngực chúng.

    Trước khi đàn chó nhận ra người bước vào nhà không phải chủ nhân của mình, Kaz đã đưa cái còi của Smeet lên miệng và thổi.

    Nina đã khéo léo tháo nó ra khỏi sợi dây chuyền mà ông luật sư luôn đeo trên cổ và nhét vào bên dưới một cái vỏ hàu, trước khi Wylan lẹ làng đem ra khỏi phòng chơi bài.

    Không có âm thanh nghe được nào vang lên.

    Tiêu rồi, Wylan nghĩ bụng và hình dung ra những hàm răng đồ sộ cắn xé cổ họng mình.

    Nhưng đàn chó đột ngột dừng lại, bối rối va vào nhau.

    Kaz lại thổi một hồi còi khác để ra mệnh lệnh mới.

    Những con chó im bặt và nằm mọp xuống sàn nhà trong những tiếng ư ử cáu bẳn.

    Một con thậm chí còn ngửa bụng lên trời.

    “Sao con người lại không dễ dạy như thế này nhỉ?”

    Kaz lẩm bẩm trong lúc cúi xuống để gãi bụng con chó.

    Những ngón tay đeo găng đen vuốt ve lớp lông ngắn.

    “Đóng cửa lại đi.”

    Wylan làm theo, cậu đứng ép lưng vào cánh cửa, lo lắng đưa mắt nhìn đàn chó săn miệng đầy nước dãi.

    Khắp ngôi nhà đều bốc mùi chó - lông ẩm, da nhờn, hơi thở ấm nóng thoảng mùi thịt tươi.

    “Không thích động vật à?”

    Kaz hỏi.

    “Tôi thích chó,”Wylan đáp.

    “Nhưng chỉ khi chúng không to như gấu.”

    Wylan biết bài toán mà ngôi nhà của Smeet đặt ra cho Kaz rất hóc búa.

    Anh có thể phá mọi ổ khoá và vô hiệu quá mọi hệ thống chuông báo động, nhưng không thể vượt qua những con chó săn khát máu của ông ta mà không bị bại lộ.

    Vào ban ngày, đàn chó được nhốt trong chuồng, nhưng đêm đến, chúng được tự do chạy nhảy dưới nhà, trong lúc gia đình Smeet say giấc nồng ở những căn phòng sang trọng trên tầng ba, với cầu thang được chặn lại bằng một cánh cửa sắt.

    Smeet luôn tự mình dẫn chó đi dạo dọc theo kênh Handel.

    Hay đúng hơn là ông ta bị chúng lôi đi tựa như một cỗ xe ục ịch đội chiếc mũ đắt tiền.

    Nina đã đề xuất việc đánh thuốc đàn chó.

    Smeet đến tiệm thịt mỗi sáng để chọn mua thịt cho chúng, việc đánh tráo các gói thịt sẽ không có gì khó khăn.

    Nhưng Smeet muốn đàn chó đói bụng ban đêm, nên ông ta sẽ cho chúng ăn vào buổi sáng.

    Smeet sẽ nhận ra ngay nếu chúng lờ đờ cả ngày và có nguy cơ ông ta sẽ ở nhà để chăm chó.

    Ông ta phải trải qua buổi tối tại Đông Stave, và quan trọng nhất là khi trở về nhà, ông ta không được phát hiện gì cả.

    Mạng sống của Inej phụ thuộc vào điều đó.

    Kaz đã thu xếp vụ phòng riêng tại sòng bạc Cumulus, Nina đã xoáy được cái còi bên trong áo sơ mi của Smeet, và từng bước một, kế hoạch đã diễn ra như dự tính.

    Wylan không muốn nghĩ tới những gì họ đã làm để lấy được cái còi.

    Cậu rùng mình khi nhớ lại câu mà Smeet đã nói: Một nhân viên của anh không quay lại sau kì nghỉ lễ.

    Anh ta sẽ không bao giờ quay lại.

    Wylan vẫn còn nghe được tiếng la hét của người nhân viên khi Kaz nắm cổ chân anh ta đung đưa lủng lẳng trên đỉnh ngọn hải đăng ở mũi Hanraat.

    Tôi là người tốt, anh ta đã hét như thế.

    Tôi là người tốt mà.

    Đó là lời nói sau cùng của anh ta.

    Nếu nói ít hơn, có lẽ anh ta đã sống.

    Wylan nhìn Kaz gãi gãi phía sau tai của con chó đang chảy dãi rồi đứng dậy.

    “Ta đi thôi.

    Đi đứng cho khéo vào.”

    Hai người len lỏi qua đàn chó trong hành lang và khẽ khàng leo lên cầu thang.

    Cách bố trí của ngôi nhà này khá quen thuộc với Wylan.

    Hầu hết các thương gia trong thành đều tuân theo một kiểu: nhà bếp và các phòng dành để tiếp khách hàng nằm ngay tại tầng dưới, văn phòng và kho ở tầng hai, phòng ngủ của gia đình trên tầng ba.

    Những gia đình khá giả còn có tầng bốn dành cho gia nhân.

    Hồi còn bé, Wylan thường lẩn trốn cha cậu suốt nhiều giờ ở các tầng nhà bên trên.

    “Không buồn khoá cửa,” Kaz thì thào trong lúc hai người tiến vào phòng làm việc của Smeet.

    “Mấy con chó đã làm cho ông ta chủ quan.”

    Kaz đóng cửa lại rồi thắp một ngọn đèn, vặn nhỏ lửa.

    Căn phòng có ba bàn giấy nhỏ kê cạnh các cửa sổ để lấy ánh sáng tự nhiên.

    Một cho Smeet, và hai cho nhân viên của ông ta.

    Tôi là người tốt mà.

    Wylan lắc đầu xua kí ức đó đi và tập trung vào các ngăn kệ bố trí từ sàn nhà lên đến tận trần, đầy ắp sổ sách và giấy tờ.

    Tất cả đều được cẩn thận ghi tên của các khách hàng và công ty, Wylan đoán vậy.

    “Nhiều bồ câu quá,” Kaz thì thào trong lúc đọc lướt các nhãn dán.

    “Naten Boreg, gã khốn Karl Dryden.

    Smeet đại diện cho một nửa thành viên của Hội đồng Thương buôn.”

    Kể cả cha của Wylan.

    Smeet đã làm luật sư kiêm người quản lí tài sản cho Jan Van Eck kể từ hồi cậu biết ghi nhớ.

    “Chúng ta bắt đầu từ đâu đây?”

    Cậu thì thào hỏi.

    Kaz lôi một cuốn sổ cái to sụ từ trên giá xuống.

    “Đầu tiên, chúng ta phải bảo đảm cha cậu không tậu thứ gì mới bằng tên của ông ta.

    Sau đó, chúng ta sẽ tìm kiếm với tên của mẹ kế cậu, và của cậu.”

    “Đừng có gọi dì ấy như thế.

    Về tuổi tác thì Alys chỉ lớn hơn tôi một chút thôi.

    Với lại cha tôi cũng không cho tôi đứng tên bất kì tài sản nào đâu.”

    “Cậu sẽ ngạc nhiên với những gì mà người ta sẵn sàng làm để trốn thuế đấy.”

    Hai người dành gần một tiếng đồng hồ để tìm kiếm trong đống hồ sơ giấy tờ của Smeet.

    Họ đã nắm được toàn bộ các tài sản công khai của Van Eck - các nhà máy, khách sạn, xưởng sản xuất, xưởng đóng tàu, nhà nghỉ mát và trang trại ở miền nam Kerch.

    Nhưng Kaz tin rằng cha của Wylan phải có tài sản riêng, những thứ không nằm trong sổ sách công khai, những nơi ông ta có thể che giấu thứ gì đó - hoặc ai đó - nếu không muốn người khác tìm ra.

    Kaz đọc thành tiếng những cái tên và mục ghi trong sổ sách, anh chất vấn Wylan, cố gắng tìm kiếm mọi liên hệ tới các tài sản hoặc công ty mà họ chưa phát hiện ra.

    Wylan biết cậu chẳng nợ cha điều gì, nhưng vẫn cảm thấy mình giống như một thằng phản trắc.

    “Geldspin?”

    Kaz hỏi.

    “Một nhà máy dệt.

    Hình như nó nằm ở Zierfoort.”

    “Quá xa.

    Ông ta không thể giấu cô ấy tại đó.

    Thế còn Firma

    Allerbest?”

    Wylan cố gắng lục lọi trong trí nhớ.

    “Tôi nghĩ nó là một nhà máy đồ hộp.”

    “Cả hai đều là những cỗ máy in tiền và được đứng tên bởi Alys.

    Nhưng Van Eck giữ những thứ sinh lợi nhiều nhất cho mình — xưởng đóng tàu và các xi-lô ở Bãi Ngọt.”

    “Tôi đã nói rồi mà,” Wylan mân mê một cây bút trên chồng giấy thấm.

    “Cha tôi tin chỉ tin chính mình, có tin Alys cũng vừa phải thôi.

    Và ông ta không cho tôi đứng tên bất kì thứ gì.”

    Kaz chỉ đáp: “Sổ kế tiếp.

    Hãy bắt đầu với các tài sản kinh doanh.”

    Wylan thôi nghịch cây bút.

    “Trong đó có gì mang tên tôi không?”

    Kaz ngả người ra sau.

    Trong ánh mắt anh hiện lên sự thách thức khi đáp: “Một xưởng in.”

    Vẫn cái trò đùa cũ rích.

    Nhưng sao nó vẫn làm cậu đau nhói?

    Wylan đặt cây bút xuống.

    “Biết ngay mà.”

    “Ông ta không phải là một người tinh tế cho lắm.

    Cậu còn được đứng tên sở hữu Eil Komedie nữa đấy.”

    “Phải rồi,” Wylan đáp, thầm mong giọng điệu của mình đỡ chua chát hơn.

    Lại một trò đùa của cha cậu - một hòn đảo bỏ hoang, không có gì trên đó ngoài một công viên giải trí đã xuống cấp, một thứ vô giá trị dành cho thằng con trai mù chữ vô tích sự của ông ta.

    Lẽ ra cậu không nên hỏi.

    Trong khi Kaz tiếp tục đọc thành tiếng những cái tên, Wylan càng lúc càng bực bội hơn.

    Nếu cậu biết đọc, họ sẽ kiểm tra chỗ tài liệu này nhanh gấp đôi.

    Thật ra, nếu thế thì Wylan đã biết thừa công việc kinh doanh của cha cậu rồi.

    “Tôi đang làm anh bị chậm lại,” cậu nói.

    Kaz mở một xấp tài liệu mới.

    “Tôi biết chính xác việc này cần bao nhiêu thời gian mà.

    Họ của mẹ cậu là gì?”

    “Mẹ tôi chẳng đứng tên cái gì đâu.”

    “Chiều tôi đi mà.”

    “Hendriks.”

    Kaz tiến đến kệ tài liệu và chọn lấy một cuốn sổ cái khác.

    “Mẹ cậu mất khi nào?”

    “Năm tôi lên tám.”

    Wylan lại nhặt cây bút lên.

    “Cha tôi càng trở nên tồi tệ hơn sau khi mẹ ra đi.”

    Ít nhất đó là những gì cậu còn nhớ.

    Những ngày tháng sau cái chết của mẹ cậu là một vệt buồn bã và thinh lặng.

    “Cha không cho tôi đi dự tang lễ của mẹ.

    Tôi thậm chí còn không biết nơi mẹ tôi được chôn cất.

    Các anh hay nói thế nào nhỉ?

    Không đổ lệ, không quan tài à?

    Tại sao không nói chúc may mắn hay bảo trọng nhé?”

    “Chúng tôi muốn giữ sự kì vọng ở mức thấp.”

    Ngón tay đi găng của Kaz lướt dọc theo một cột số và dừng lại.

    Đôi mắt anh lướt qua lại giữa hai quyển sổ, rồi anh đóng sầm cái bìa bọc da lại.

    “Ta đi thôi.”

    “Anh tìm được gì rồi à?”

    Kaz gật đầu.

    “Tôi đã biết cô ấy ở đâu.”

    Wylan tin mình không nghe nhầm sự căng thẳng trong giọng nói khàn khàn của Kaz.

    Anh không la hét như cha cậu, nhưng Wylan đã học được cách nhận ra cái âm trầm đó, thứ hợp âm đen tối vẫn len lỏi vào trong giọng điệu của Kaz mỗi khi mọi chuyện sắp trở nên nguy hiểm, cậu đã nghe thấy nó ngay sau trận chiến trên bến cảng, nơi Inej bị Oomen đâm trọng thương, khi Kaz biết được chính Pekka Rollins là kẻ đã phục kích họ, và một lần nữa sau khi họ bị cha cậu trở mặt.

    Cậu đã nghe thấy nó rất rõ trên ngọn hải đăng, khi người nhân viên kia kêu gào cầu xin tha mạng.

    Wylan quan sát Kaz sắp xếp lại căn phòng.

    Anh dịch một cái phong bì sang trái chút xíu, kéo một ngăn của chiếc tủ hồ sơ to nhất ra thêm chút ít, và đẩy cái ghế về chỗ cũ.

    Sau khi làm xong, anh đảo mắt nhìn quanh phòng, rồi giật phắt cây bút từ tay Wylan và cẩn thận trả nó về chỗ cũ trên bàn.

    “Một tên trộm lọc lõi cũng giống như một món thuốc độc siêu hạng, thiếu gia à.

    Không để lại dấu vết.”

    Kaz thổi tắt ngọn đèn.

    “Cha cậu có làm từ thiện nhiều không?”

    “Không.

    Ông ta chỉ cúng tiền cho Ghezen.

    Cha tôi nói từ thiện tước mất của người ta cơ hội lao động chân chính.”

    “Này nhé, trong tám năm qua ông ta vẫn đều đặn cúng tiền cho nhà thờ Thánh Hilde.

    Nếu cậu muốn thăm viếng mẹ thì có thể bắt đầu từ chỗ đó.”

    Wylan sững người nhìn Kaz trong căn phòng tối.

    Cậu chưa từng nghe nói tới nhà thờ Thánh Hilde.

    Và cậu cũng chưa bao giờ thấy Tay Nhám chia sẻ một thông tin không mang lại lợi lộc gì cho mình.

    “Cái gì…”

    “Nếu Nina và Jesper hoàn thành tốt nhiệm vụ thì chẳng bao lâu nữa Smeet sẽ về đến nhà.

    Nếu vẫn còn ở đây vào lúc đó, chúng ta sẽ làm kế hoạch hỏng bét.

    Đi thôi.”

    Wylan có cảm giác như vừa bị phang một cuốn sổ vào đầu rồi được bảo hãy quên chuyện đó đi.

    Kaz mở hé cửa.

    Hai người bỗng khựng lại.

    Qua vai Kaz, Wylan trông thấy một bé gái nhỏ đang đứng trên hành lang, tựa vào cổ một con chó lông xám to tướng.

    Cô bé chỉ chừng năm tuổi, những ngón chân hơi ló ra dưới diềm cái váy ngủ bằng vải flannel.

    “Ghezen ơi,” Wylan thì thào.

    Kaz bước ra ngoài hành lang, khép hờ cánh cửa phòng sau lưng.

    Wylan ngần ngừ trong bóng tối, không rõ mình nên làm gì.

    Cậu kinh hoàng nghĩ tới điều mà anh ta có thể làm.

    Cô bé ngước đôi mắt to lên nhìn Kaz, rồi rút ngón tay cái đang ngậm trong miệng ra.

    “Chú làm việc cho ba hả?”

    “Không.”

    Kí ức đó lại ùa về trong đầu Wylan.

    Tôi là người tốt mà.

    Họ đã đón lõng người nhân viên của Smeet khi anh ta rời khỏi Vườn Thú rồi lôi anh ta lên đỉnh ngọn hải đăng.

    Kaz nắm cổ chân anh ta dốc ngược lên, khiến anh ta vãi ra quần, van xin tha mạng trước khi rốt cuộc cũng phun ra chi tiết cái còi gọi chó của Smeet.

    Kaz định lôi tay nhân viên vào thì anh ta bắt đầu đề nghị đủ thứ: tiền, số tài khoản ngân hàng của các khách hàng của Smeet, và rồi…

    Tôi có thông tin về một trong các cô gái ở Vườn Thú, cô người Zemeni.

    Kaz khựng lại.

    Anh biết gì về cô ta?

    Wylan đã nghe thấy âm thanh trầm đục cảnh báo đó.

    Nhưng tay nhân viên kia không biết Kaz và không nhận ra sự thay đổi trong giọng nói khàn khàn của anh.

    Anh ta nghĩ mình đã tìm được thứ mà Kaz cần.

    Một trong các khách hàng đã tặng cho cô ta những món quà giá trị.

    Cô ta giấu giếm bớt tiền lại.

    Cậu có biết mụ Công đã làm gì với cô gái giấu tiền riêng bị mụ phát hiện gần đây nhất không?

    Biết chứ, Kaz đã đáp như thế với đôi mắt sáng loé như một lưỡi dao cạo.

    Dì Heleen đánh cô ta tới chết.

    Kaz…

    Wylan cố can ngăn, nhưng tay nhân viên đã tiếp tục nói.

    Ngay ở trong phòng khách.

    Còn cô nàng này biết mình sẽ tiêu nếu tôi tiết lộ.

    Cô ta đã đồng ý tiếp tôi miễn phí để tôi ngậm miệng.

    Lôi tôi vào trong đi.

    Cô ta cũng sẽ chiều chuộng các cậu y như tôi.

    Bất cứ điều gì các cậu thích.

    Dì Heleen mà phát hiện ra, mụ sẽ giết chết cô nàng Zenemi của anh, Kaz đáp.

    Mụ sẽ lấy cô ta làm gương cho những cô gái khác.

    Đúng rồi, tay nhân viên hăm hở nói tiếp.

    Cô ta sẽ làm mọi thứ các cậu thích.

    Mọi thứ.

    Thật chậm rãi, Kaz bắt đầu để cho cái chân của tay nhân viên tuột dần xuống.

    Thật kinh khủng, đúng không?

    Khi sinh mạng mình nằm trong tay người khác.

    Giọng nói của tay nhân viên cất cao lên một quãng tám khi anh ta nhận ra sai lầm của mình.

    Cô ta chỉ là một đứa làm công, anh ta hét lên.

    Cô ta biết cái giá phải trả!

    Tôi là người tốt.

    Tôi là người tốt mà!

    Ở Ketterdam này không có người tốt, Kaz nói.

    Khí hậu không phù hợp với họ.

    Và anh buông tay ra.

    Wylan rùng mình.

    Qua khe cửa, cậu thấy Kaz khuỵu gối để có thể nhìn thẳng vào mắt cô bé con.

    “Anh chàng này tên là gì thế?”

    Kaz hỏi, một tay đặt trên cái cổ nhăn nheo của con chó.

    “Nhạc trưởng Đốm ạ.”

    “Thật à?”

    “Bạn ấy rất ngoan.

    Ba để cho cháu đặt tên toàn bộ đàn chó.”

    “Thế Nhạc trưởng Đốm có phải là con chó mà cháu thích nhất không?”

    Cô bé ra chiều ngẫm nghĩ, rồi lắc đầu.

    “Cháu thích Công tước Addam

    Von Silverhaunch nhất, rồi tới Fuzzmuzzle, sau đó mới tới Nhạc trưởng

    Đốm.”

    “Rất vui khi được biết điều đó, Hanna.”

    Miệng cô bé mở ra thành hình chữ O tròn trĩnh.

    “Sao chú biết tên cháu?”

    “Chú biết hết tên của bọn trẻ con.”

    “Thật ạ?”

    “Phải.

    Albert ngay nhà bên cạnh và Gertrude ở phố Ammberstraat.

    Ta sống dưới gầm giường và trong tủ đồ của chúng.”

    “Cháu biết ngay mà,” cô bé thì thào, sự sợ hãi và đắc thắng hoà lẫn trong giọng nói.

    “Mẹ bảo không có gì ở đó, nhưng cháu biết là có.”

    Cô bé ngoẹo đầu.

    “Trông chú không giống một con quái vật.”

    “Để ta nói cháu nghe bí mật này, Hanna.

    Những con quái vật xấu xa thực sự không bao giờ có vẻ ngoài giống quái vật đâu.”

    Giờ thì môi cô bé run lên.

    “Có phải chú tới để ăn thịt cháu không?

    Ba nói những đứa trẻ không chịu vâng lời đi ngủ sẽ bị quái vật ăn thịt.”

    “Đúng vậy.

    Nhưng ta sẽ không làm thế.

    Không phải đêm nay.

    Nếu cháu làm cho ta hai chuyện.”

    Giọng nói của Kaz rất điềm tĩnh, tựa như đang thôi miên.

    “Trước hết, cháu phải lên giường đi ngủ.

    Và thứ đến, cháu không bao giờ được kể cho bất kì ai, nhất là ba cháu, rằng cháu đã trông thấy bọn ta.”

    Kaz cúi người tới trước và kéo nhẹ bím tóc của cô bé.

    “Bởi vì nếu cháu hé răng, ta sẽ cắt cổ mẹ cháu, rồi ba cháu, và rồi ta sẽ moi tim tất cả những con chó cưng đầy nhớt dãi này.

    Ta sẽ để công tước Silverhaunch lại sau cùng, để cháu biết được tất cả là do lỗi của cháu.”

    Khuôn mặt cô bé trắng bệch như sợi dây thắt nơ nơi cổ áo ngủ.

    Đôi mắt cô bé mở to và sáng rực như trăng non.

    “Cháu có hiểu chưa?”

    Cô bé gật đầu lia lịa, cằm rung lên.

    “Nào nào, đừng khóc.

    Quái vật nhìn thấy nước mắt sẽ chỉ càng khát máu hơn đấy.

    Cháu về giường đi, và đem theo cả Nhạc trưởng Đốm vô dụng nữa.”

    Cô bé đi giật lùi về chiếu nghỉ và bước lên cầu thang.

    Khi lên được nửa đoạn cầu thang, cô bé đánh liều liếc nhìn Kaz một cách sợ hãi.

    Anh giơ một ngón tay đi găng lên môi đáp lại.

    Khi cô bé đã khuất dạng, Wylan lách người qua khe cửa và theo chân Kaz bước xuống cầu thang.

    “Sao anh có thể nói những chuyện như thế với con bé?

    Nó chỉ là một đứa trẻ con.”

    “Tất cả chúng ta đều từng là trẻ con.”

    “Nhưng…”

    “Hoặc là thế, hoặc là bẻ cổ con bé và dàn cảnh thành giống như nó bị ngã xuống cầu thang, Wylan à.

    Tôi nghĩ mình đã nhân nhượng lắm rồi.

    Đi nào.”

    Họ len lỏi qua đàn chó vẫn đang nằm phủ phục dưới nhà.

    “Thật không thể tin nổi,” Kaz nói.

    “Bọn chúng có thể sẽ giữ nguyên tư thế đó cả đêm.”

    Anh thổi một hồi còi và đàn chó lập tức bật dậy, tai vểnh lên, sẵn sàng tuần tra quanh nhà.

    Khi Smeet về đến nơi, mọi thứ sẽ giống như thường lệ: những con chó đi lại dưới tầng trệt, văn phòng tầng hai vẫn nguyên vẹn, bà vợ ngủ ngáy ngon lành ở tầng ba, và cô con gái giả vờ làm điều tương tự.

    Kaz kiểm tra động tĩnh trên phố rồi ra hiệu cho Wylan bước ra.

    Anh chỉ dừng lại trong giây lát để khoá cửa.

    Họ nhanh chóng đi xuôi theo con phố trên lớp đá lát đường.

    Wylan ngoái đầu quan sát phía sau.

    Cậu không tin nổi họ đã thành công.

    “Đừng có nhìn quanh quất như thể cậu sợ bị ai đó bám theo,” Kaz nói.

    “Và đừng có chạy lúp xúp nữa.

    Cậu trông còn lấm lét hơn cả vai Tên trộm thứ ba trong vở hài kịch ba xu người ta diễn ở Đông Stave.

    Lần tới đi đứng bình thường nhé.

    Cố gắng tỏ ra đường hoàng.”

    “Sẽ không có lần tới đâu.”

    “Dĩ nhiên rồi.

    Dựng cổ áo lên đi.”

    Wylan không cãi nữa.

    Tới khi Inej được an toàn, tới khi họ nhận được

    số tiền đã được hứa, cậu không thể nói lời cuối cùng.

    Nhưng chuyện này phải có lúc kết thúc.

    Phải vậy chứ, đúng không?

    Matthias cất lên một tiếng hót lanh lảnh từ phía cuối đường.

    Kaz nhìn đồng hồ và luồn một tay vào mái tóc, vò mạnh nó.

    “Đúng boong.”

    Họ đi vòng qua góc đường và đâm sầm vào Cornells Smeet.

    3

    MATTHIAS

    Matthias nép mình trong bóng tối, chứng kiến màn kịch lạ lùng diễn ra.

    Cornells Smeet loạng choạng mất thăng bằng, chiếc mũ rơi ra khỏi cái đầu gần như hói trọc của ông ta.

    Kẻ đã đâm sầm vào ông ta bước tới để đỡ ông ta đứng thẳng lại.

    Kẻ đó là Kaz, nhưng lại không có điểm gì giống với Kaz cả.

    Mái tóc đen của cậu ta rối bù, điệu bộ thì lúng túng, cậu ta không để lộ đôi mắt và cúi gằm mặt như thể đang cực kì bối rối - một cậu trai trẻ biết kính trọng người lớn.

    Wylan lập cập đi phía sau Kaz và thu mình lại trong chiếc áo choàng đến độ Matthias cảm thấy cậu nhóc công tử sắp biến mất tiêu.

    “Nhìn xem mày đã làm gì này!”

    Smeet bực bội lên tiếng trong lúc đội lại chiếc mũ lên đầu.

    “Vô cùng xin lỗi ngài,” Kaz đáp, tay phủi nhẹ vai áo của Smeet.

    “Tôi vụng về quá!”

    Cậu ta cúi người sát đất.

    “À, ngài ơi, hình như ngài vừa đánh rơi ví.”

    “Đúng rồi!”

    Smeet ngạc nhiên thốt lên.

    “Cảm ơn cậu.

    Cảm ơn nhiều lắm.’’ Thế rồi, trước sự ngỡ ngàng của Matthias, Smeet mở ví và lấy ra một tờ giấy bạc năm kruge.

    “Cầm lấy đi.

    Vì sự trung thực của cậu.”

    Kaz tiếp tục cúi rạp người, nhưng làm thế nào đó vẫn lí nhí nói được lời cảm ơn Smeet.

    “Ngài tốt bụng quá.

    Giá mà Ghezen cũng hào phóng như ngài.”

    Tay luật sư bệ vệ đi tiếp, mũ vắt vẻo trên đầu, miệng huýt sáo một điệu nhạc ngắn, hoàn toàn không biết kẻ mà ông vừa mới va phải chính là người chia bài đã ngồi đối diện ông suốt hai tiếng đồng hồ tại sòng bạc Cumulus, về đến trước cửa nhà, Smeet lôi cái dây chuyền trong cổ áo sơ mi ra, rồi cuống cuồng vỗ tìm cái còi khắp nơi.

    “Cậu không gắn lại nó vào sợi dây chuyền sao?”

    Matthias thắc mắc ngay khi Kaz và Wylan nhập bọn với anh dưới vòm cửa tối.

    Anh biết trò đó hoàn toàn nằm trong khả năng của Kaz.

    “Không việc gì phải làm thế.”

    Smeet sờ lần một hồi trong áo, rồi lấy cái còi ra và mở cửa, miệng lại ngân nga hát.

    Matthias không thể nào tin nổi mắt mình.

    Anh đã quan sát rất kĩ đôi bàn tay đi găng của Kaz trong lúc cậu ta chạm vào người Smeet, và mặc dù biết cậu ta dự định trả lại cái còi, anh không thể phát hiện hành động đó.

    Anh những muốn kéo Smeet trở lại chỗ góc đường và yêu cầu Kaz trình diễn trò ảo thuật một lần nữa.

    Kaz dùng tay vuốt lại mái tóc và đưa tờ giấy bạc năm kruge cho Wylan.

    “Đừng có phung phí đấy.

    Ta đi thôi.”

    Matthias dẫn hai người tới một nhánh kênh hẹp, nơi anh neo thuyền.

    Anh quẳng cho Kaz cây gậy chống trước khi họ xuống thuyền.

    Kaz đã khôn ngoan không sử dụng gậy chống đêm nay.

    Nếu ai đó trông thấy một thằng nhóc cầm cây gậy đầu quạ lảng vảng quanh ngôi nhà của Cornells Smeet vào giờ khuya khoắt bất thường, nếu tin tức đó đến tai của Van Eck, toàn bộ công sức của họ sẽ thành công cốc.

    Để giành lại Inej, họ cần đến yếu tố bất ngờ, và Kaz không phải là loại người trông chờ vào may mắn.

    “Thế nào rồi?”

    Matthias hỏi trong lúc chiếc thuyền trôi đi trên dòng kênh đen thẫm.

    “Be bé cái mồm lại, Helvar.

    Tai vách mạch rừng đấy.

    Tỏ ra hữu ích và chèo thuyền đi.”

    Matthias phải cố lắm mới không bẻ mái chèo gãy đôi.

    Tại sao Kaz không thể ăn nói như một kẻ có văn hoá?

    Thằng nhóc cứ ra mệnh lệnh như thể tin rằng mọi người sẽ răm rắp nghe theo, và trở nên khó chịu gấp đôi kể từ khi Van Eck bắt Inej đi mất.

    Nhưng anh cũng muốn nhanh chóng quay về đảo Mạng Đen cùng Nina, nên anh chỉ im lặng và cảm nhận cơ vai gồng lên khi con thuyền đi ngược dòng nước.

    Matthias dùng đầu óc vào việc ghi nhận quang cảnh trong khi di chuyển, cố gắng nhớ tên đường phố và các cây cầu.

    Mặc dù đêm nào cũng nghiên cứu bản đồ Ketterdam, anh cảm thấy mình không thể gỡ rối mớ bòng bong các ngõ hẻm và kênh đào nơi đây.

    Anh vốn rất tự hào với năng khiếu định hướng của mình, nhưng cái thành này đã khuất phục năng khiếu đấy, và anh thường xuyên rủa thầm bàn tay điên rồ đã tự cho mình là khéo léo khi xây dựng nên một đô thị từ đầm lầy để rồi sắp đặt nó không theo một trật tự hay logic nào.

    Sau khi chui qua gầm cầu Haven, Matthias nhẹ cả người khi thấy cảnh vật xung quanh quen thuộc trở lại.

    Kaz nghiêng mái chèo, nhấn xuống lần nước tối tăm của eo Hành Khất, nơi con kênh mở rộng ra, và lái họ về phía các bãi bồi của đảo Mạng Đen.

    Họ giấu con thuyền phía sau những nhánh cây buông rủ của một cội liễu trắng trước khi len qua những ngôi mộ nằm rải rác trên sườn dốc đứng.

    Mạng Đen là một nơi đáng sợ, một đô thị thu nhỏ của những nhà mồ bằng cẩm thạch trắng, rất nhiều trong số đó được tạc thành hình dạng những con thuyền có đầu tượng bằng đá khóc than giữa mặt biển vô hình.

    Một số mang dấu Đồng xu May mắn của Ghezen, số khác chạm hình những con cá bay của Kerch, mà theo lời Nina thì chúng thuộc về những gia đình từng phục vụ trong chính phủ.

    Một số nhà mồ còn được canh chừng bởi những vị thánh Ravka trong tấm áo choàng thướt tha bằng cẩm thạch.

    Không có sự hiện diện của Djel hoặc cây tần bì của Ngài.

    Người Fjerda không muốn được yên nghỉ ở trên mặt đất, nơi họ không thể bắt rễ.

    Hầu hết các nhà mồ đều bị xuống cấp, nhiều cái trong đó chỉ còn là một đống đá đổ nát bị che phủ bởi dây leo và những cây hoa dại.

    Matthias đã rất kinh hoàng trước ý tưởng sử dụng một nghĩa địa làm nơi ẩn náu, bất luận nó bị bỏ hoang từ bao lâu chăng nữa.

    Nhưng dĩ nhiên với Kaz Brekker thì chẳng có gì là linh thiêng cả.

    “Sao họ không sử dụng nơi này nữa?”

    Matthias đã hỏi như thế khi cả nhóm chọn một nhà mồ rộng lớn ở trung tâm đảo làm chỗ trú ẩn.

    “Bệnh dịch,” Kaz đã đáp vậy.

    “Trận dịch tồi tệ đầu tiên xảy ra hơn một trăm năm trước, và Hội đồng Thương buôn đã cấm mai táng trong nội thành.

    Giờ đây các thi thể đều được hoả táng.”

    “Nếu anh có tiền thì không đâu,” Jesper nói thêm.

    “Khi đó họ sẽ đưa anh tới một nghĩa trang ở ngoại thành, nơi thân xác của anh có thể tận hưởng khí trời mát mẻ.”

    Matthias căm ghét hòn đảo, nhưng phải thừa nhận là nó rất hữu dụng với họ.

    Tin đồn hòn đảo bị ma ám khiến cho những kẻ lấn chiếm đất đai không dám bén mảng, và màn sương mù bao quanh hàng cây liễu rủ cũng như những cột buồm đá giúp che đi ánh sáng của ngọn đèn lồng thi thoảng được bật.

    Dĩ nhiên tất cả những cái đó sẽ không giúp gì được nếu như người ta nghe thấy tiếng cãi nhau ỏm tỏi của Nina và Jesper.

    Hai người đã quay về và bỏ lại chiếc thuyền gondel ở mạn bắc đảo.

    Giọng nói bực bội của Nina vang vọng trên những nấm mộ, khiến Matthias cảm thấy nhẹ nhõm hẳn.

    Anh rảo bước nhanh hơn, nóng lòng muốn trông thấy cô.

    “Tôi không nghĩ cô đang nhìn nhận công bằng đối với những gì tôi vừa trải qua,” Jesper vừa nói vừa giậm chân băng qua nghĩa địa.

    “Cậu dành cả đêm để đánh thua hết tiền của người khác trên bàn chơi bài,” Nina vặc lại.

    “Với cậu như thế có khác gì đi chơi?”

    Kaz đập cây gậy chống vào một tấm bia mộ và hai người kia lập tức im bặt, nhanh chóng thủ thế.

    Nina thả lỏng ngay khi trông thấy ba người bạn trong bóng đêm.

    “Ồ, ra là các anh.”

    “Phải, chúng tôi đây.”

    Kaz dùng gậy lùa họ về phía trung tâm đảo.

    “Và hai người đáng lẽ đã nghe thấy chúng tôi nếu không bận quát tháo nhau.

    Đừng có lóng nga lóng ngóng như thể chưa từng thấy một cô gái mặc váy, Matthias.”

    “Tôi có như thế đâu,” anh đáp trả với tất cả sự tự trọng huy động được.

    Nhưng Djel ơi, anh biết nhìn đi đâu khi mà Nina giắt những bông hoa diên vĩ ở… khắp nơi.

    “Im đi, Brekker,” Nina nói.

    “Tôi thích mỗi khi anh ấy luống cuống.”

    “Phi vụ thế nào rồi?”

    Matthias hỏi, cố gắng giữ ánh mắt mình trên khuôn mặt Nina.

    Anh dễ dàng nhận ra cô mỏi mệt đến thế nào sau lớp son phấn.

    Thậm chí Nina còn đón lấy cánh tay anh chìa ra và tựa nhẹ vào anh trong khi họ băng qua mặt đất mấp mô.

    Đêm đã khuya lắm rồi.

    Lẽ ra cô không nên lang thang giữa khu Barrel trong bộ váy lụa, cô nên nghỉ ngơi.

    Nhưng thời hạn Van Eck đưa ra đã gần kề, và Matthias biết Nina sẽ không cho phép mình nghỉ ngơi chừng nào Inej còn chưa được an toàn.

    “Đây không phải là phi vụ, mà là một nhiệm vụ,” Nina chỉnh lại.

    “Và nó đã được hoàn thành một cách xuất sắc.”

    “Phải rồi,” Jesper dài giọng.

    “Một cách xuất sắc.

    Chỉ có điều bộ súng của tôi giờ đây đang nằm gọn trong két sắt của sòng bạc Cumulus.

    Smeet không muốn mang chúng về nhà, cái lão béo ị đó.

    Nội việc hình dung các bé cưng của tôi trong đôi tay đẫm mồ hôi của lão…”

    “Ai bảo cậu đem đổi súng lấy tiền,” Kaz nói.

    “Anh đã buộc tôi làm điều đó.

    Làm thế quái nào tôi cầm chân Smeet ở bàn chơi bài được đây?”

    Kuwei ló đầu qua tấm bia mộ đồ sộ khi họ tiến đến gần.

    “Tôi đã dặn cậu thế nào hả?”

    Kaz gầm lên, chĩa thẳng cây gậy chống vào cậu nhóc.

    “Tiếng Kerch của tôi không được tốt,” Kuwei chống chế.

    “Đừng có giở trò với tôi, nhóc.

    Nó đủ tốt.

    Cậu phải ở trong nhà mồ.”

    Kuwei cúi gằm mặt, rầu rĩ lặp lại.

    “Ở trong nhà mồ.”

    Họ đi theo cậu nhóc người Shu vào bên trong.

    Matthias căm ghét nơi này.

    Tại sao lại xây nên những công trình như thế này dành cho người chết kia chứ?

    Nhà mồ mang hình dáng của một con tàu chở hàng, phần bên trong của nó là thân tàu rộng rãi bằng đá.

    Thậm chí nó còn có nhiều ô cửa sổ tròn lắp kính ghép hắt xuống sàn các dải màu cầu vồng trong những buổi chiều tà.

    Theo lời Nina, những cây cọ và con rắn chạm nổi trên tường cho biết gia chủ là nhà buôn gia vị.

    Nhưng hẳn là họ đã sa cơ lỡ vận, hoặc đơn giản là đã đưa kẻ quá cố đi nơi khác, bởi vì chỉ có một trong các hầm mộ có người an nghỉ, và lối đi hẹp hai bên thân tàu trống trải như nhau.

    Nina tháo những chiếc kẹp tóc, gỡ mái tóc vàng khỏi đầu và quẳng nó lên chiếc bàn mà họ đã kê ở giữa nhà mồ.

    Cô buông mình xuống ghế, dùng mấy ngón tay ấn day da đầu.

    “Dễ chịu hơn rồi,” cô thở dài khoan khoái.

    Nhưng Matthias không thể phớt lò vẻ xanh xao trên làn da của cô.

    Đêm nay trông Nina có vẻ tệ đi.

    Hoặc là cô gặp rắc rối với Smeet, hoặc cô đã bắt bản thân làm việc quá sức.

    Thế nhưng khi nhìn cô, Matthias vẫn cảm thấy có gì đó trong anh giãn ra.

    Ít nhất lúc này trông cô lại là Nina, với mái tóc nâu rối bù ướt đẫm và đôi mắt nhắm hờ.

    Có bình thường không khi mê đắm sự xộc xệch của một ai đó?

    “Đố mọi người biết chúng tôi chạm mặt ai trên đường rời khỏi Lid đấy,” Nina lên tiếng.

    Jesper đã bắt đầu lục đồ ăn.

    “Hai tàu chiến của người Shu neo đậu ở cảng.”

    Nina ném một cái kẹp tóc vào Jesper.

    “Tôi đang bắt họ đoán mà.”

    “Người Shu sao?”

    Kuwei hỏi lại.

    Cậu bé quay về chỗ mấy cuốn sổ đang mở rộng trên bàn.

    Nina gật đầu.

    “Đại bác giương cao, cờ đỏ phấp phới.”

    “Ban nãy tôi đã nói chuyện với Specht,” Kaz cho biết.

    “Các toà đại sứ đầy ắp quan chức ngoại giao và binh lính.

    Người Zemeni, Kaelish,

    Ravka.”

    “Anh có nghĩ họ đã hay tin về Kuwei không?”

    Jesper hỏi.

    “Tôi nghĩ họ đã hay tin về parem,” Kaz đáp.

    “Tin đồn, chí ít là thế.

    Và có nhiều đôi tai tò mò ở Lâu Đài Băng đã nghe được lời đồn đại về vụ giải thoát…

    Kuwei.”

    Kaz quay sang phía Matthias.

    “Người Fjerda cũng có mặt.

    Họ mang theo cả một đội drüskelle.”

    Kuwei thở dài não nuột.

    Jesper bèn ngồi xuống bên cạnh, huých nhẹ một cái vào vai cậu ta.

    “Bị săn lùng chẳng phải rất thú vị hay sao?”

    Matthias không nói gì.

    Anh không muốn nghĩ đến chuyện bạn bè và chỉ huy cũ của mình có thể đang ở cách nơi này chỉ vài dặm.

    Anh không ân hận sau những gì mình đã làm ở Lâu Đài Băng, nhưng điều đó không có nghĩa rằng anh đã hoà giải với họ.

    Wylan với tay lấy một trong những cái bánh quy mà Jesper để trên bàn.

    Sự hiện diện ở cùng một nơi của cậu thiếu gia và Kuwei vẫn còn làm người khác bối rối.

    Nina đã chỉnh sửa diện mạo của Wylan quá thành công, đến nỗi Matthias thường xuyên gặp khó khăn trong việc phân biệt hai người nếu họ không lên tiếng.

    Anh ước gì một trong hai người làm cho chuyện đó trở nên dễ dàng hơn bằng cách đội một cái mũ.

    “Như thế này càng tốt cho chúng ta,” Kaz đáp.

    “Người Shu và người Fjerda không biết phải bắt đầu tìm kiếm Kuwei ở đâu, và những rắc rối do các phái đoàn ngoại giao ở Toà thị chính sẽ làm Van Eck bị sao nhãng.”

    “Tình hình ở văn phòng Smeet thế nào?”

    Nina hỏi.

    “Hai người có phát hiện ra Van Eck đang giữ Inej ở đâu không?”

    “Tôi đã có một ý tưởng khá rõ ràng, chúng ta sẽ hành động ngay đêm mai.”

    “Chúng ta có đủ thời gian để chuẩn bị không vậy?”

    Wylan hỏi lại.

    “Ta chỉ có bấy nhiêu thời gian thôi.

    Không thể ngồi đợi người ta gửi thư mời được đâu.

    Vụ mọt hạt cậu làm đến đâu rồi?”

    Jesper nhướn mày.

    “Mọt hạt?”

    Wylan lôi từ trong áo ra một cái lọ nhỏ và đặt xuống bàn.

    Matthias cúi xuống quan sát cái lọ.

    Trông nó giống như một nhúm sỏi nhỏ.

    “Đây là mọt hạt sao?”

    Anh cứ tưởng đó là một loại côn trùng hay tấn công các kho ngũ cốc.

    “Không phải mọt thật đâu,” Wylan đáp.

    “Đây là mọt hoá chất.

    Nó còn chưa được đặt tên.”

    “Cậu phải đặt tên cho nó đi chứ,” Jesper nói.

    “Chứ không thì cậu sẽ gọi nó vào bàn bằng cách nào?”

    “Thôi quên chuyện đó đi,” Kaz nói.

    “Quan trọng là cái lọ này sẽ ăn sạch các tài khoản ngân hàng lẫn danh tiếng của Van Eck.”

    Wylan hắng giọng.

    “Cũng chưa chắc.

    Hoá học vốn phức tạp lắm.

    Tôi hi vọng Kuwei sẽ hỗ trợ tôi.”

    Nina nói gì đó với Kuwei bằng tiếng Shu.

    Cậu bé nhún vai và quay mặt đi, môi khẽ trề ra.

    Không rõ vì cái chết của cha hay vì bị kẹt trên một hòn đảo nghĩa địa với một băng trộm, Kuwei mấy hôm nay sưng sỉa thấy rõ.

    “Sao rồi?”

    Jesper trêu chọc.

    “Tôi có những mối quan tâm khác,” Kuwei đáp.

    Ánh mắt Kaz găm thẳng vào Kuwei như hai mũi phi tiêu.

    “Tôi yêu cầu cậu xem xét lại các mối quan tâm của mình.”

    Jesper huých nhẹ Kuwei cái nữa.

    “Đó là cách nói của Kaz để ám chỉ rằng ‘Cậu phải giúp Wylan nếu không tôi sẽ ấn cậu xuống một trong những lỗ huyệt ở đây để xem lúc đó cậu quan tâm chuyện gì nhất’ đấy.”

    Matthias không rõ cậu bé người Shu có nghe được hết hay không, nhưng rõ ràng Kuwei đã hiểu.

    Cậu ta nuốt khan và miễn cưỡng gật đầu.

    “Sức mạnh của thương thuyết,” Jesper thốt lên, rồi tọng một cái bánh

    quy vào miệng.

    “Wylan cùng với Kuwei sẽ lo vụ mọt hạt,” Kaz nói tiếp.

    “Một khi đã có Inej, chúng ta sẽ tấn công các xi-lô của Van Eck.”

    Nina đảo mắt.

    “Hoá ra tất cả chuyện này cũng chỉ vì lấy lại tiền chứ không phải vì Inej.

    Rõ ràng là thế.”

    “Nếu tiền làm cô khó chịu, Nina à, thì cô hãy gọi nó bằng cái tên khác.”

    “Kruge được không?

    Hay là vỏ hến?

    Hay là tấm chân tình của Kaz?”

    “Tự do, an toàn, sự thừa nhận.”

    “Những thứ đó không có giá.”

    “Không à?

    Tôi dám cá với Jesper thì chúng có một cái giá cụ thể đấy.

    Nông trại của bố cậu ta.”

    Jesper cụp mắt nhìn xuống chân.

    “Thế còn cậu, Wylan?”

    Kaz nói tiếp.

    “Cậu có cái giá nào cho cơ hội được rời khỏi Ketterdam và sống cuộc đời của mình hay không?

    Còn Nina, tôi nghĩ cô và anh chàng Fjerda của cô cần nhiều thứ để sinh tồn hơn là lòng yêu nước và những cái liếc mắt đưa tình.

    Inej có lẽ cũng đã có một con số trong đầu.

    Đó là cái giá của tương lai, và giờ đã đến lúc Van Eck phải trả.”

    Matthias không dễ bị loè.

    Kaz luôn nói chuyện lí lẽ, nhưng không đồng nghĩa cậu ta luôn nói thật.

    “Mạng sống của Bóng Ma có giá trị hơn thế,”

    Matthias nói.

    “Đối với tất cả chúng ta.”

    “Chúng ta sẽ giành lại Inej.

    Chúng ta sẽ lấy lại tiền.

    Đơn giản là thế.”

    “Đơn giản quá nhỉ,” Nina vặc lại.

    “Anh có biết tôi là người kế tiếp trong danh sách kế vị ngai vàng của Fjerda không?

    Họ gọi tôi là Công nương đảo Engelsberg đấy.”

    “Làm gì có công nương đảo Engelsberg,” Matthias phản bác.

    “Nó chỉ là một làng chài.”

    Nina nhún vai.

    “Nếu đã lừa dối nhau thì dối cho trót.”

    Kaz phớt lờ Nina và trải tấm bản đồ Ketterdam lên bàn.

    Matthias nghe thấy Wylan thì thào với Jesper: “Sao anh ta không nói thẳng là muốn có lại chị ấy cho nhanh nhỉ?”

    “Chúng ta có đang nói về cùng một Kaz không đấy?”

    “Nhưng Inej là một người trong nhóm chúng ta.”

    Jesper lại nhướng mày.

    “Một người trong chúng ta?

    Như vậy có đồng nghĩa cô ấy biết về cái bắt tay bí mật không?

    Có đồng nghĩa cậu sẵn sàng nhận một hình xăm không?”

    Jesper lướt nhẹ một ngón tay trên cẳng tay của Wylan, khiến cậu ta đỏ bừng mặt.

    Matthias bất giác thấy đồng cảm với cậu nhóc.

    Anh biết cảm giác ngỡ ngàng là như thế nào, và đôi khi anh tự hỏi liệu họ có thể bỏ hết kế hoạch của Kaz đi rồi để Jesper và Nina tán tỉnh toàn bộ thành Ketterdam quy phục dưới chân mình hay không.

    Wylan bất giác kéo ống tay áo xuống.

    “Inej là một phần của nhóm.”

    “Đừng có đụng tới chuyện đó.”

    “Tại sao?”

    “Bởi vì thuận tiện nhất với Kaz là rao bán Kuwei với giá cao nhất và quên phắt Inej đi.”

    “Anh ta sẽ không…”

    Wylan bỏ lửng câu nói, sự nghi ngờ bắt đầu dâng lên trong lòng.

    Không ai trong số họ thực sự biết Kaz sẽ làm gì hoặc không làm gì.

    Đôi khi Matthias tự hỏi ngay chính Kaz có chắc chắn về chuyện mình sắp làm hay không.

    “Thôi được rồi, Kaz,” Nina vừa nói vừa tháo giày và co duỗi các ngón chân, “vì đây là một kế hoạch tham vọng, sao anh không ngừng nghiền ngẫm cái bản đồ đó và cho mọi người biết mục tiêu đi.”

    “Tôi muốn mọi người tập trung vào những gì chúng ta phải làm vào đêm mai.

    Sau đó, mọi người sẽ có mọi thông tin mình muốn.”

    “Thật à?”

    Nina hỏi trong lúc chỉnh lại áo ngực.

    Phấn của một bông hoa diên vĩ rơi xuống bờ vai trần của cô.

    Matthias chỉ muốn dùng môi phủi sạch nó.

    Nó có thể có độc, anh nghiêm khắc tự nhắc mình.

    Có lẽ anh nên đi dạo một chút.

    “Van Eck đã hứa trả cho chúng ta ba mươi triệu kruge,” Kaz nói.

    “Đó chính xác là thứ chúng ta sẽ lấy.

    Cộng thêm một triệu cho phần lãi và chi phí.

    Bởi vì chúng ta có thể.”

    Wylan bẻ đôi một cái bánh quy.

    “Cha tôi không có sẵn ba mươi triệu kruge đâu.

    Cho dù có trộm hết toàn bộ của cải của ông ta, anh cũng không đạt tới con số đó được.”

    “Vậy thì cậu biến đi,” Jesper nói.

    “Chúng tôi chỉ hợp tác với những kẻ bị tước quyền thừa kế các di sản ngon lành nhất.”

    Kaz duỗi cái chân yếu, hơi cong bàn chân lại.

    “Nếu Van Eck có số tiền đó trong tay thì chúng ta đã cướp trực tiếp từ lão thay vì đột nhập Lâu Đài Băng.

    Van Eck chỉ có thể hứa khoản thưởng lớn như vậy nhờ tuyên bố rằng Hội đồng Thương buôn sẽ dùng tiền của chính phủ cho chuyện này.”

    “Thế còn cái rương đầy ắp tiền mà ông ta đã đem tới Vellgeluk?”

    Jesper hỏi.

    “Rác rưởi,” Kaz đáp với giọng ghê tởm.

    “Chắc là tiền giả chất lượng cao.”

    “Vậy chúng ta sẽ lấy tiền bằng cách nào?

    Cướp của chính phủ?

    Cướp của Hội đồng?”

    Jesper ngồi thẳng người lại, hào hứng nhịp nhịp tay trên bàn.

    “Hay là cướp mười hai kho bạc trong một đêm?”

    Wylan cựa quậy trên ghế, và Matthias có thể thấy sự bất an trong biểu hiện của cậu ta.

    Ít nhất trong băng nhóm đạo tặc này cũng còn một người nữa không muốn tiếp tục phạm tội.

    “Không,” Kaz đáp.

    “Chúng ta sẽ tiến hành như các thương nhân và để cho thị trường làm nốt công việc.”

    Nói đoạn Kaz ngả người ra sau, bàn tay đeo găng đặt trên cái đầu quạ của cây gậy chống.

    “Chúng ta sẽ cuỗm tiền của Van Eck, và cuỗm luôn danh tiếng của lão ta.

    Chúng ta sẽ khiến cho lão ta không bao giờ có thể làm ăn kinh doanh gì được tại Ketterdam hay

    Kerch nữa.”

    “Rồi chuyện gì sẽ xảy ra với Kuwei?”

    Nina hỏi.

    “Sau khi xong việc của chúng ta, Kuwei và bất kì người nào khác với cái đầu bị treo giải, từ phạm nhân vượt ngục, Grisha cho tới thiếu gia bị truất quyền thừa kế, tất cả đều có thể ẩn náu ở các Thuộc địa phương

    Nam.”

    Jesper nhíu mày.

    “Thế anh sẽ đi đâu?”

    “Không đi đâu cả.

    Tôi vẫn còn hàng đống công việc cần chú trọng tại đây.”

    Mặc dù Kaz nói dễ như không, Matthias vẫn nghe ra dự cảm đen tối trong đó.

    Anh thường tự hỏi làm thế nào người ta sống sót trong cái thành này, nhưng có lẽ Ketterdam mới là thứ không sống sót nổi nếu thiếu Kaz Brekker.

    “Khoan,” Nina nói.

    “Tôi tưởng Kuwei định đi Ravka.”

    “Sao cô lại nghĩ như vậy?”

    “Khi anh bán phần hùn trong Quạ Đen cho Pekka Rollins, anh đã nhờ ông ta gửi một thông điệp cho Ravka.

    Tất cả chúng tôi đều nghe thấy điều đó.”

    “Tôi tưởng đó là lời kêu gọi giúp đỡ,” Matthias nói, “không phải là một lời mời đấu giá.”

    Họ chưa bao giờ bàn bạc về việc giao Kuwei cho phía Ravka.

    Kaz nhìn cả nhóm với vẻ mặt thích thú.

    “Cả hai đều không.

    Hãy hi vọng rằng Rollins cũng khờ khạo như các cậu.”

    “Hoá ra là tung hoả mù,” Nina rên lên.

    “Anh chỉ muốn giữ cho Rollins bận rộn.”

    “Tôi không muốn để Pekka Rollins rảnh rang.

    Hi vọng lão sẽ cử người đi truy lùng các đầu mối liên lạc của chúng ta bên Ravka.

    Và chúng sẽ khó lòng tìm ra, vì bọn họ không hề tồn tại.”

    Kuwei hắng giọng.

    “Tôi thích đi Ravka hơn.”

    “Còn tôi thì thích một cái quần bơi có viền lông thú,” Jesper nói.

    “Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng có được thứ mình muốn.”

    Một cái nhíu mày xuất hiện trên khuôn mặt Kuwei.

    Giới hạn vốn liếng tiếng Kerch của cậu ta có lẽ đã bị vượt qua.

    “Tôi thích đi Ravka hơn,” Kuwei nhắc lại với giọng cương quyết hơn.

    Ánh mắt đen kịt của Kaz lại găm vào cậu ta và giữ ở đó.

    Kuwei lúng túng ra mặt.

    “Tại sao anh ta lại nhìn tôi như thế?”

    “Kaz đang tự hỏi liệu có nên giữ gìn mạng sống cho cậu hay không,” Jesper đáp.

    “Căng thẳng thần kinh lắm đấy.

    Tôi khuyên cậu hít thở sâu vào.

    Hay là uống chút gì đi.”

    “Jesper, thôi đi,” Wylan lên tiếng.

    “Cả hai cậu cần bình tĩnh lại.”

    Jesper vỗ nhẹ lên bàn tay của Kuwei.

    “Chúng tôi sẽ không để cho Kaz chôn sống cậu.”

    Kaz nhướng mày.

    “Đừng có hứa vội.”

    “Coi nào, Kaz.

    Chúng ta bỏ bao nhiêu công sức giải thoát Kuwei đâu phải để đem cậu ta làm mồi cho giun?”

    “Sao cậu lại muốn tới Ravka?”

    Nina hỏi Kuwei, cô không thể che giấu sự hào hứng trong giọng nói.

    “Chúng ta chưa hề nhất trí chuyện đó,” Matthias cắt ngang.

    Anh không muốn tranh cãi, nhất là với Nina.

    Họ nên để cho Kuwei sống một cuộc đời vô danh tiểu tốt ở Novyi Zem, thay vì dâng cậu ta cho kẻ thù lớn nhất của Fjerda.

    Nina nhún vai.

    “Có lẽ chúng ta nên cân nhắc lại các lựa chọn của mình.”

    Kuwei nói một cách chậm rãi, cẩn thận lựa chọn từ ngữ.

    “Ở đó an toàn hơn.

    Đối với các Grisha.

    Đối với tôi.

    Tôi không muốn lẩn trốn.

    Tôi muốn rèn luyện.”

    Cậu bé cầm mấy quyển sổ trước mặt.

    “Công trình của cha tôi có thể giúp tìm ra…”

    Kuwei ngần ngừ và nói vài từ với Nina.

    “Một loại thuốc giải cho parem.”

    Nina chắp hai tay lại với nhau, mặt sáng lên.

    Jesper ngửa người ra sau nhiều hơn trên chiếc ghế.

    “Tôi đoán Nina sắp sửa cất giọng hát không chừng.”

    Một loại thuốc giải.

    Có phải đó là những gì Kuwei đã ghi trong sổ không?

    Viễn cảnh tìm ra thứ gì đó có thể vô hiệu hoá sức mạnh của parem thật hấp dẫn, nhưng Matthias chợt cảm thấy run sợ.

    “Nếu phát hiện này rơi vào tay một quốc gia thì…’’Anh lên tiếng.

    Nhưng anh đã bị Kuwei cắt ngang.

    “Cha tôi đã sáng chế ra loại thuốc này.

    Cho dù có tôi hay không thì nó cũng sẽ được sản xuất trở lại.”

    “Ý cậu là ai đó sẽ giải được câu đố về parem?”

    Matthias hỏi lại.

    Thực sự không có hi vọng nào ngăn cản được thứ ma dược kinh khủng này hay sao?

    “Những phát minh khoa học đôi khi vẫn giống như thế,” Wylan nói.

    “Một khi người ta đã biết một hướng đi nào đó là có thể, các phát hiện mới sẽ xuất hiện thường xuyên hơn.

    Sau đó thì chẳng khác nào cố lùa một đàn ong vò vẽ vào trong tổ trở lại.”

    “Cậu có thực sự nghĩ một loại thuốc giải có thể được tạo ra hay không?”

    Nina hỏi.

    “Tôi không biết,” Kuwei đáp.

    “Cha tôi là một Sáng Chế Gia.

    Tôi chỉ là Tiết Hoả Sư.”

    “Cậu là nhà hoá học của chúng tôi, Wylan,” Nina nói với giọng khấp khởi hi vọng.

    “Cậu nghĩ sao?”

    “Có thể lắm.”

    Wylan nhún vai.

    “Nhưng không phải độc dược nào cũng có thuốc giải.”

    Jesper khịt mũi.

    “Đó là lí do chúng ta gọi cậu ta là Wylan Van Lạc

    Quan.”

    “Ở Ravka, có nhiều Sáng Chế Gia tài năng hơn,” Kuwei nói.

    “Họ có thể giúp tôi.”

    Nina gật gù hưởng ứng.

    “Đúng đấy.

    Genya Safin rành về độc dược hơn bất kì ai, và David Kostyk đã làm ra đủ loại vũ khí mới cho vua Nikolai.”

    Cô liếc nhìn Matthias.

    “Cùng với những thứ khác!

    Những thứ đẹp đẽ.

    Rất ôn hoà!”

    Matthias lắc đầu.

    “Chúng ta không nên hấp tấp trong chuyện này.”

    Kuwei dẩu môi.

    “Tôi thích đi Ravka hơn.”

    “Thấy chưa?”

    Nina nói.

    “Không, tôi chẳng thấy gì cả,” Matthias đáp.

    “Chúng ta không thể trao một chiến lợi phẩm như thế này cho phía Ravka được.”

    “Cậu ta là một con người, không phải chiến lợi phẩm, và cậu ta muốn đi.”

    “Hoá ra bây giờ mọi người chúng ta đều được làm những điều mình muốn à?”

    Jesper thốt lên.

    “Tại vì tôi đang có hẳn một danh sách đây.”

    Tiếp đó là một khoảng lặng kéo dài và căng thẳng.

    Kaz lướt ngón tay cái đeo găng trên nếp quần và lên tiếng: “Nina, cô dịch giúp tôi nhé?

    Tôi muốn bảo đảm Kuwei và tôi hiểu nhau.”

    “Kaz…”

    Nina nói với giọng cảnh cáo.

    Kaz nghiêng người tới trước và đặt hai bàn tay lên đầu gối Kuwei, giống như kiểu một người anh trai đưa ra lời khuyên chân thành cho cậu em.

    “Tôi nghĩ điều quan trọng là cậu hiểu được những thay đổi trong tình hình hiện tại.

    Van Eck thừa biết nơi đầu tiên mà cậu muốn ẩn náu là Ravka, do vậy mọi con thuyền đi tới đó sẽ đều bị lục soát từ trên xuống dưới.

    Thợ May đủ năng lực làm thay đổi diện mạo của cậu thì đều ở

    Ravka, trừ phi Nina muốn dùng một liều parem nữa.”

    Matthias lầm bầm phản dối.

    “Một khả năng rất khó xảy ra,” Kaz nhượng bộ.

    “Bây giờ thế này, hay là tôi trả cậu về Fierda hoặc Shu Han?”

    Nina vừa dịch xong thì Kuwei cũng ré lên: “Không!”

    “Vậy thì lựa chọn của cậu là Novyi Zem và các Thuộc địa phương Nam, nhưng sự hiện diện của người Kerch tại các Thuộc địa ít hơn nhiều.

    Cậu là một bức hoạ bị đánh cắp.

    Quá dễ nhận diện để có thể được bán công khai trên thị trường, nhưng quá giá trị để bị bỏ xó.

    Cậu chẳng có giá trị gì đối với tôi.”

    “Tôi sẽ không dịch câu đó,” Nina phản đối.

    “Vậy thì dịch câu này: Mối quan tâm duy nhất của tôi là giữ cho cậu ngoài tầm tay của Jan Van Eck, và nếu cậu muốn tôi tìm kiếm thêm những khả năng khác thì một viên đạn sẽ rẻ hơn rất nhiều so với việc đưa cậu lên một chuyến tàu đi tới các Thuộc địa phương Nam.”

    Nina dịch hết câu, dù miễn cưỡng.

    Kuwei đáp bằng tiếng Shu.

    Nina ngần ngừ trước khi dịch: “Cậu ấy nói anh thật tàn nhẫn.”

    “Tôi thực dụng.

    Nếu là người tàn nhẫn thì tôi đã cho cậu ta một bài điếu văn thay vì cuộc nói chuyện này.

    Thế nên, Kuwei ạ, cậu sẽ đi tới Thuộc địa phương Nam, và khi căng thẳng lắng xuống, cậu có tìm đường đến Ravka hay nhà bà nội của Matthias, tôi cũng mặc.”

    “Đừng có lôi bà tôi vào,” Matthias phản đối.

    Nina dịch lại câu nói của Kaz, và rốt cuộc Kuwei cũng gật đầu đồng ý.

    Mặc dù Matthias đã được toại nguyện, sự thất vọng trên khuôn mặt Nina vẫn để lại trong lòng anh một cảm giác hụt hẫng.

    Kaz xem đồng hồ.

    “Giờ thì chúng ta đã nhất trí, tất cả đều đã biết trách nhiệm của mình là gì.

    Nhiều thứ có thể bị làm hỏng trong khoảng thời gian từ nay đến đêm mai, do vậy hãy lật lại kế hoạch và bàn bạc một lần nữa.

    Chúng ta chỉ có một cơ hội để thực hiện nó.”

    “Van Eck sẽ thiết lập một vòng rào.

    Ông ta sẽ cử rất nhiều vệ quân để canh chừng cô ấy,” Matthias nói.

    “Đúng vậy.

    Van Eck có nhiều súng ống, vệ quân và nhiều nguồn lực hơn.

    Tất cả những gì ta có là sự bất ngờ, và chúng ta sẽ không phung phí nó.”

    Một tiếng loạt soạt bỗng vang lên từ phía bên ngoài.

    Mọi người lập tức bật dậy, kể cả Kuwei.

    Nhưng chỉ giây lát sau, Rotty và Specht đã tiến vào trong nhà mồ.

    Matthias thở phào và trả cây súng về chỗ cũ, trong tầm tay của anh.

    “Công việc thế nào?”

    Kaz hỏi.

    “Người Shu đã bày binh bố trận trong đại sứ quán của họ,” Specht đáp.

    “Tất cả mọi người ở Lid đều kháo nhau về chuyện đó.”

    “Số lượng ra sao?”

    “Bốn chục, khoảng đó,” Rotty vừa đáp vừa giũ bùn bám trên ủng.

    “Vũ trang tận răng, nhưng vẫn hành động dưới lá cờ ngoại giao.

    Không ai biết chính xác bọn họ muốn gì.”

    “Chúng ta biết,” Jesper đáp.

    “Tôi không tiếp cận quá gần Thanh Gỗ,” Rotty nói, “nhưng Per Haskell đang rất căng và bộc lộ hẳn chuyện đó ra ngoài.

    Không có cậu, công việc chồng chất lên vai ông ta.

    Hiện nay có tin đồn rằng cậu đã quay về và đang hục hặc với một thương gia.

    À, cách đây vài ngày đã xảy ra một vụ đột kích ở một bến cảng, vài thuỷ thủ bị giết chết, văn phòng cảng vụ đổ nát tan hoang, nhưng không ai nắm được chi tiết về cuộc tấn công.”

    Matthias thấy khuôn mặt Kaz sa sầm vì thiếu thông tin.

    Anh biết gã demjin này có những lí do khác để đi cứu Inej, nhưng sự thật là không có cô, khả năng dò la nghe ngóng của họ bị sứt mẻ đáng kể.

    “Được rồi,” Kaz lên tiếng.

    “Nhưng không ai liên hệ chúng ta với vụ nổi loạn ở Lâu Đài Băng hay với parem à?”

    “Theo tôi biết thì không,” Rotty đáp.

    “Không hề,” Specht đế thêm.

    Wylan tỏ ra ngạc nhiên.

    “Như vậy có nghĩa là Pekka Rollins đã giữ kín chuyện đó.”

    “Cứ chờ mà xem,” Kaz nói.

    “Lão ta biết chúng ta đang giấu Kuwei ở đâu đó.

    Lá thư gửi cho Ravka chỉ làm lão mất một chút thời gian bỏ mồi bắt bóng.”

    Jesper căng thẳng nhịp nhịp ngón tay trên đùi.

    “Có ai nhận ra nguyên cả cái thành này hoặc đang truy lùng, hoặc đang điên tiết với chúng ta, hoặc muốn giết chết chúng ta không?”

    “Thì đã sao?”

    Kaz hỏi lại.

    “Ờ, thường thì chỉ có khoảng nửa thành phố làm chuyện đó thôi.”

    Có lẽ Jesper chỉ nói đùa, nhưng Matthias tự hỏi liệu có ai trong số họ thực sự nắm được những thế lực đang chống lại họ hay không.

    Fjerda, Shu Han, Novyi Zem, Đảo Wandering, Kerch.

    Đó không phải là những băng đảng cạnh tranh hay những đối tác bất mãn.

    Đó là các quốc gia luôn sẵn sàng bảo vệ người của mình và cùng với đó là vận mệnh tương lai.

    “Còn nữa,” Specht nói.

    “Matthias, cậu đã chết.”

    “Gì cơ?”

    Anh hỏi lại.

    Tiếng Kerch của anh khá tốt, nhưng chắc có lỗ hổng nào đó ở đây.

    “Anh đã qua đời trong trạm xá của cổng Địa Ngục.”

    Không khí bỗng chùng lại.

    Jesper buông người ngồi xuống.

    “Muzzen qua đời rồi ư?”

    “Muzzen?”

    Matthias không nhớ mình đã từng nghe cái tên này ở đâu.

    “Anh ta đã thế chỗ anh ở cổng Địa Ngục,” Jesper đáp.

    “Để anh có thể tham gia phi vụ Lâu Đài Băng.”

    Matthias hồi tưởng lại trận đấu với bầy sói, hình ảnh Nina đứng trong phòng giam, và cuộc phá ngục.

    Nina đã tạo ra các vết thương giả trên cơ thể của một thành viên băng Cặn Bã rồi làm anh ta lên cơn sốt để bảo đảm anh ta bị cách li với các phạm nhân khác.

    Muzzen.

    Lẽ ra anh không nên quên một sự kiện như thế.

    “Tôi tưởng anh đã nói là anh có người trong trạm xá,” Nina thốt lên.

    “Để giữ cho Muzzen bị bệnh, chứ không phải để giữ an toàn,” khuôn mặt Kaz trở nên dữ tợn.

    “Đây là một đòn triệt hạ.”

    “Người Fjerda,” Nina nói.

    Matthias khoanh tay trước ngực.

    “Không thể nào.”

    “Tại sao không chứ?”

    Nina vặc lại.

    “Chúng ta biết các drüskelle đang ở đây.

    Nếu họ đi tìm anh và gây sự ở Toà thị chính, họ chắc đã được bảo rằng anh đang ở Cổng Địa Ngục.”

    “Không đâu,” Matthias đáp.

    “Họ không chơi bẩn như thế.

    Thuê sát thủ ư?

    Ám sát một người đang nằm trên giường bệnh ư?”

    Nhưng cho dù nói ra như vậy, Matthias cũng không mấy tin tưởng vào suy nghĩ của mình.

    Jarl Brum và các thuộc cấp của mình đã từng làm những chuyện tồi tệ hơn nhiều mà không mảy may cắn rứt.

    “Bự con, tóc vàng, và mù quáng,” Jesper thốt lên.

    “Đúng kiểu Fjerda.”

    Anh ấy đã chết thay vị trí của mình, Matthias thầm nghĩ.

    Trong khi mình thậm chí không nhận ra tên của anh ấy.

    “Muzzen có gia đình không?”

    Cuối cùng Matthias hỏi.

    “Chỉ có người trong băng Cặn Bã,” Kaz đáp.

    “Không đổ lệ” Nina thì thầm.

    “Không quan tài,” Matthias khẽ lặp lại.

    “Chết cho cảm giác như thế nào nhỉ?”

    Jesper thắc mắc.

    Sự vui vẻ đã tắt ngấm trong đôi mắt anh chàng thiện xạ.

    Matthias không có câu trả lời.

    Nhát dao đoạt mạng Muzzen đáng lẽ dành cho anh, và người Fjerda có thể là thủ phạm.

    Drüskelle.

    Những người anh em của anh.

    Họ muốn anh chết không nhắm mắt, bị sát hại trên giường bệnh.

    Đó là cái chết dành cho kẻ phản bội.

    Cái chết mà anh tự chuốc lấy.

    Giờ đây anh nợ Muzzen ơn cứu mạng, nhưng làm sao anh trả được cái ơn này?

    “Họ sẽ làm gì với thi thể của anh ấy?”

    Anh hỏi.

    “Rất có thể nó đã ra tro trên đảo Tử Thần,” Kaz đáp.

    “Còn chuyện này nữa,” Rotty cho biết.

    “Có một người đã gây chú ý khi đi tìm Jesper.”

    “Các chủ nợ của cậu ta phải chờ thôi,” Kaz nói, và Jesper nháy mắt.

    “Không đâu,” Rotty lắc đầu.

    “Một người đàn ông đã tìm đến trường đại học.

    Jesper à, ông ấy tự nhận là bố cậu.”

    4

    INEJ

    Inej trườn sấp, hai cánh tay duỗi dài trước mặt, uốn éo như một con sâu trong bóng tối.

    Mặc dù đã nhịn đói, ống thông gió vẫn rất chật hẹp với Inej.

    Cô không thể quan sát được gì, chỉ biết tiếp tục tiến tới trước nhờ lực kéo của các đầu ngón tay.

    Inej hồi tỉnh ít lâu sau trận đối đầu tại Vellgeluk, hoàn toàn không biết cô đã ngất đi được bao nhiêu thời gian, và cũng không rõ mình đang ở đâu.

    Cô nhớ mình đã rơi xuống từ trên cao khi một trong các Tiết Khí Sư của Van Eck buông tay, trước khi bị chụp lấy bởi một Tiết Khí Sư khác, với đôi tay như hai dải thép thít chặt quanh cô.

    Gió quất vào mặt cô, bầu trời xám xịt đảo lộn, và cơn đau bùng nổ trong hộp sọ cô.

    Điều tiếp theo mà Inej nhớ được là cô tỉnh lại trong bóng tối, đầu nhức như búa bổ.

    Cô bị trói chặt tay chân và có thể cảm thấy một cái băng bịt mắt thít chặt trên mặt.

    Trong một thoáng, cô lại là đứa con gái mười bốn tuổi bị quẳng lên con tàu chở nô lệ, hoảng hốt và đơn độc.

    Cô cố buộc mình hít thở.

    Bất luận đang ở chỗ nào, cô cũng không cảm thấy sự tròng trành của con thuyền, không nghe thấy tiếng kẽo kẹt của các cánh buồm.

    Mặt đất vững chãi bên dưới cô.

    Van Eck đã đưa cô đi đâu?

    Có lẽ cô đang ở trong một nhà kho, hoặc nhà của một ai đó.

    Có lẽ cô đã không còn ở Kerch nữa.

    Không sao.

    Cô là Inej Ghafa, và cô sẽ không run sợ như một con thỏ mắc bẫy.

    Dù đang ở nơi nào thì mình cũng sẽ thoát thân.

    Inej tụt được dải băng bịt mắt nhờ cạ mặt vào tường.

    Căn phòng tối đen như mực, và tất cả những gì cô nghe được trong thinh lặng chỉ là hơi thở dồn dập của chính mình khi nỗi kinh hoàng trùm lên cô một lần nữa.

    Cô trấn áp nó bằng cách kiểm soát hơi thở.

    Hít vào bằng mũi, thở ra qua miệng, và để cho tâm trí cầu nguyện trong khi các vị thánh tập hợp quanh cô.

    Inej hình dung các vị thánh kiểm tra sợi dây trói cổ tay và thổi sức sống vào đôi bàn tay của cô.

    Inej không dặn mình đừng sợ hãi.

    Lâu lắm rồi, sau một cú ngã nặng, bố của Inej đã giải thích với cô rằng chỉ có những kẻ ngu ngốc mới không sợ hãi.

    Chúng ta đối diện với nỗi sợ, ông đã nói như thế.

    Chúng ta đón vị khách không mời đó và lắng nghe những gì nó nói với mình.

    Khi nỗi sợ xuất hiện, một điều gì đó sẽ xảy ra.

    Inej chủ ý muốn điều gì đó xảy ra.

    Cô mặc kệ cơn đau trong đầu và buộc cơ thể nhích từng chút quanh phòng, ước tính kích thước của nó.

    Rồi cô tựa vào tường để đứng dậy và mò mẫm dọc theo tường, hết lê chân lại nhảy lên, tìm kiếm bất kì cánh cửa hay cửa sổ nào.

    Khi nghe thấy tiếng chân người tiến lại, cô nằm lăn ra đất, nhưng không kịp đeo lại dải băng bịt mắt.

    Kể từ đó, đám vệ quân buộc nó chặt hơn.

    Nhưng chẳng sao, vì cô đã phát hiện ra lỗ thông gió.

    Tất cả những gì cô cần là một cách thoát khỏi sợi dây trói.

    Kaz có thể làm được điều đó trong bóng tối, thậm chí ở dưới nước.

    Cô chỉ quan sát được toàn cảnh căn phòng trong các bữa ăn, khi họ đưa một ngọn đèn lồng vào.

    Khi đó cô sẽ nghe thấy tiếng những chiếc chìa xoay trong một loạt ổ khoá, cánh cửa bật mở, và một cái khay được đặt lên bàn.

    Giây lát sau, băng bịt mắt sẽ được nhẹ nhàng gỡ ra — Bajan không bao giờ làm thô bạo hoặc đột ngột.

    Bản chất anh không thô lậu như thế.

    Thật ra, Inej còn nghĩ điều đó nằm ngoài khả năng của đôi bàn tay nhạc công được chăm chút tỉ mỉ mà anh sở hữu.

    Trên khay không có dao dĩa, tất nhiên rồi.

    Van Eck đủ khôn ngoan để chỉ cung cấp cho cô một chiếc muỗng, nhưng Inej cũng tranh thủ mọi khoảnh khắc được tháo băng bịt mắt để nghiên cứu từng centimet của căn phòng trống trải, tìm những manh mối giúp cô đánh giá tình hình và lên kế hoạch trốn thoát.

    Cũng không có gì nhiều - trên mặt sàn bê tông chẳng có gì ngoài đống chăn mền họ cung cấp để cô rúc vào mỗi đêm, dọc theo các vách tường là những hàng kệ trống trơn, cái bàn và chiếc ghế nơi cô ngồi ăn.

    Trong phòng không có cửa sổ, manh mối duy nhất giúp cô biết mình vẫn đang ở gần Ketterdam là hơi muối trong không khí.

    Bajan luôn tháo sợi dây thừng ở cổ tay Inej rồi đưa hai cánh tay cô ra phía trước và trói lại để cô có thể ăn - mặc dù sau khi khám phá ra lỗ thông gió, cô chỉ ăn rất ít, đủ để duy trì sức lực.

    Tuy vậy, khi Bajan cùng các vệ quân mang khay thức ăn vào cho cô tối nay, dạ dày cô sôi réo òng ọc trước mùi xúc xích mềm và cháo yến mạch.

    Hoa mắt vì đói, trong lúc cố gắng ngồi vào bàn, Inej đã làm cái khay trượt khỏi vị trí, khiến chiếc bát sứ trắng và cái ca vỡ tan.

    Bữa tối của cô đổ ụp xuống sàn nhà, tạo thành một đống hỗn độn giữa món cháo nóng và những mảnh sứ.

    Cô ngã thịch xuống ngay bên cạnh, kịp tránh để mặt không bị dính cháo.

    Bajan lắc lắc mái tóc đen bóng.

    “Cô yếu sức vì không chịu ăn đấy.

    Ngài Van Eck đã bảo tôi phải ép cô ăn nếu cần thiết.”

    “Cứ thử mà xem,” Inej ngước mắt lên nhìn anh chàng từ dưới sàn nhà, răng nhe ra.

    “Anh sẽ không còn ngón tay nào để chơi dương cầm đầu.”

    Nhưng Bajan chỉ bật cười, khoe hàm răng trắng lấp lánh.

    Anh cùng một vệ quân giúp Inej ngồi lên ghế, trước khi gọi một khay thức ăn khác.

    Van Eck không thể chọn một quản ngục tốt hơn thế.

    Bajan là một thanh niên người Suli chỉ nhỉnh hơn Inej vài tuổi, với mái tóc đen loăn xoăn dài chấm cổ và đôi mắt lấp lánh được viền bởi hàng mi đủ dài để xua ruồi nhặng.

    Theo lời kể của Bajan thì anh là một gia sư dạy nhạc theo giao kèo cho nhà Van Eck.

    Inej tự hỏi vì sao Van Eck lại đưa một thanh niên như thế vào làm thuê trong nhà khi mà cô vợ lẽ chỉ chưa đầy một nửa số tuổi của ông ta.

    Van Eck hoặc là rất tự tin, hoặc vô cùng xuẩn ngốc.

    Ông ta đã qua mặt Kaz, cô tự nhắc mình.

    Khả năng cao là ông ta xuẩn ngốc.

    Sau khi đống hổ lốn được dọn dẹp - bởi một vệ quân, vì Bajan không hạ mình làm những công việc như thế - và một bữa ăn mới được đưa tới, anh dựa người vào tường quan sát cô ăn.

    Inej nhón lấy một cục cháo đặc, cô chỉ cho phép mình nhai trệu trạo vài miếng.

    “Cô phải ăn nhiều hơn,” Bajan quở trách.

    “Nếu cô tỏ ra ngoan ngoãn hơn và trả lời các câu hỏi của ông ta, cô sẽ thấy Van Eck là một người biết điều.”

    “Một kẻ biết dối trá, lọc lừa và bắt cóc thì có,” cô đáp, đoạn tự rủa mình vì đã đáp lại.

    Bajan không che giấu sự khoái trá của mình.

    Bữa ăn nào cũng thế, đã thành thông lệ, cô chỉ ăn rất ít trong lúc anh trò chuyện, thỉnh thoảng đưa vào vài câu hỏi về Kaz và băng Cặn Bã.

    Mỗi lần cô lên tiếng, anh coi đó là một thắng lợi.

    Xui thay, càng ăn ít cô càng yếu sức và khó giữ được sự cứng cỏi của mình.

    “Căn cứ theo những người mà cô giao du, tôi nghĩ dối trá sẽ mang lại lợi thế cho ngài Van Eck.”

    “Shevrati,” Inej đáp một cách rành rọt.

    Đồ không biết gì.

    Cô đã từng hơn một lần dùng chữ đó để nói về Kaz.

    Cô nghĩ tới Jesper đang chơi đùa với khẩu súng, nghĩ tới Nina đang kết liễu một người đàn ông chỉ bằng cú phẩy tay, tới Kaz đang phá khoá bằng đôi tay đeo găng của mình.

    Du đãng.

    Trộm cướp.

    Sát nhân.

    Nhưng tất cả bọn họ đều đáng giá hơn Jan Van Eck hàng ngàn lần.

    Vậy họ đang ở đâu?

    Câu hỏi đó khơi lại vài vết thương đã được vá víu vội vàng trong lòng cô.

    Kaz đâu rồi?

    Cô không muốn xem xét kĩ lưỡng câu hỏi đó.

    Trên hết thảy, Kaz là một người thực dụng.

    Việc gì anh phải tìm cô khi mà anh có thể bỏ đi cùng với con tin đắt giá nhất thế giới kia chứ?

    Bajan nhăn mũi.

    “Chúng ta đừng nói chuyện bằng tiếng Suli.

    Nó làm tôi mủi lòng.”

    Anh mặc một chiếc quần dài ống côn bằng lụa, cùng áo choàng có phom dáng thanh lịch.

    Cài trên ve áo là cây đàn lia bằng vàng trang trí với những chiếc lá nguyệt quế và một viên hồng ngọc nhỏ, tiết lộ cả về công việc lẫn gia chủ của anh.

    Inej biết cô không nên tiếp tục nói chuyện với Bajan, nhưng cô vẫn là một người chuyên thu thập các bí mật.

    “Anh dạy nhạc cụ gì?”

    Cô hỏi.

    “Đàn hạc à?

    Hay dương cầm?”

    “Cả sáo flute và dạy hát cho các quý cô nữa.”

    “Thế Alys Van Eck hát có hay không?”

    Bajan nở một nụ cười uể oải.

    “Hay nhất khi được tôi dạy.

    Tôi có thể dạy cô phát ra đủ loại âm thanh êm ái.”

    Inej đảo mắt.

    Anh ta cũng giống như những thằng con trai lớn lên cùng cô, với cái đầu đầy những thứ vô nghĩa và miệng đầy những lời đường mật.

    “Tôi đang bị trói và đối mặt với khả năng bị tra tấn hoặc tệ hơn thế.

    Anh đang tán tỉnh tôi thật sao?”

    Bajan chậc lưỡi.

    “Ngài Van Eck và cậu Brekker của cô sẽ đạt được một thoả thuận với nhau.

    Ngài Van Eck là một doanh nhân.

    Theo những gì tôi hiểu, ông ta chỉ đơn giản là bảo vệ những lợi ích của mình.

    Tôi không thể hình dung ông ta dùng đến nhục hình.”

    “Nếu là người bị trói chặt và bịt mắt hằng đêm, trí tưởng tượng của anh sẽ không quay lưng với anh một cách tuyệt đối như thế.”

    Và nếu Bajan biết chút gì về Kaz, anh ta sẽ không chắc chắn đến vậy về một cuộc đổi chác.

    Trong suốt những giờ phút đằng đẵng bị bỏ lại một mình, Inej cố gắng nghỉ ngơi và tập trung vào việc trốn thoát, nhưng những suy nghĩ của cô vẫn cứ quay về với Kaz cùng những người khác.

    Van Eck muốn đổi cô lấy Kuwei Yul-Bo, cậu bé người Shu mà họ đã giải thoát khỏi pháo đài đáng sợ nhất thế giới.

    Cậu ta là người duy nhất có hi vọng phục dựng công trình của cha mình xoay quanh một loại ma dược được biết đến với cái tên jurda parem, và mức tiền chuộc cậu ta có thể mang lại cho Kaz mọi thứ mà anh muốn — tất cả tiền tài và danh vọng mà anh cần để chiếm lấy một vị trí xứng đáng giữa các ông trùm của Barrel, cùng với nó là cơ hội trả thù Pekka Rollins cho cái chết của anh trai mình.

    Những dữ kiện lần lượt xếp thành hàng, cả một đạo quân những ngờ vực tập hợp chống lại mối hi họng mà cô đã cố duy trì trong lòng.

    Lộ trình của Kaz quá hiển nhiên rồi: đổi Kuwei lấy tiền chuộc, tìm cho mình một người nhện mới để leo lên những bức tường khu Barrel và đánh cắp các bí mật cho anh.

    Cô có nói với anh rằng cô định rời khỏi Ketterdam ngay khi nhận được tiền chưa nhỉ?

    Ở lại với anh đi.

    Liệu anh có nói thế không?

    Sinh mạng của cô có giá trị như thế nào so với món tiền mà Kuwei có thể mang lại?

    Nina sẽ không bao giờ để cho Kaz từ bỏ cô.

    Chị sẽ chiến đấu với tất cả những gì mình có để giải thoát cho cô, dù bản thân vẫn chưa thoát khỏi sự khống chế của parem.

    Matthias có thể ủng hộ Nina với trái tim trọng danh dự của anh.

    Và Jesper… hừm, Jesper không bao giờ làm cô đau, nhưng anh quá cần tiền, nếu không muốn cha mình mất kế sinh nhai.

    Anh sẽ cố gắng hết sức, nhưng điều đó không đồng nghĩa với một kết cục tốt nhất dành cho cô.

    Ngoài ra, không có Kaz, liệu ai trong số họ có thể là đối thủ xứng tầm với sự tàn nhẫn và nguồn lực của Van Eck?

    Mình, Inej tự nhủ.

    Có thể mình không có cái đầu tinh quái như Kaz, nhưng mình là một cô gái nguy hiểm.

    Van Eck cử Bajan đến chỗ Inej hằng ngày, và anh ta luôn tỏ ra hữu hảo dễ chịu ngay cả trong những lúc thúc ép cô khai ra những nơi an toàn mà Kaz có thể ẩn náu.

    Inej đoán Van Eck không đích thân đến đây vì biết Kaz sẽ theo dõi mọi động tĩnh của ông ta.

    Hoặc cũng có thể ông ta nghĩ cô sẽ dễ xiêu lòng trước một chàng trai Suli hơn là một lão thương gia cáo già.

    Nhưng đêm nay có điều gì đó đã thay đổi.

    Bajan thường bỏ đi sau khi Inej đã nhất quyết tỏ ra không muốn ăn thêm nữa - một nụ cười từ giã, một cái cúi người, và anh đi, hết phận sự cho tới sáng hôm sau.

    Nhưng đêm nay anh cứ nấn ná lại.

    Thay vì rút lui khi cô dùng cả hai tay đẩy đĩa thức ăn ra xa, anh chỉ nói, “Lần cuối cô gặp gia đình là khi nào?”

    Cách tiếp cận mới.

    “Van Eck đã đề nghị với anh một khoản tiền thưởng nếu moi được thông tin từ tôi à?”

    “Tôi chỉ thắc mắc thôi.”

    “Và tôi chỉ là một tù binh.

    Ông ta có đe doạ trừng phạt anh không?”

    Bajan liếc nhìn các vệ quân rồi nói khẽ, “Van Eck có thể giúp cô đoàn tụ với gia đình.

    Ông ta có thể bỏ tiền ra trả hết món nợ giữa cô và Per Haskell.

    Việc đấy hoàn toàn nằm trong tầm tay của ông ta.”

    “Đây là ý của anh hay của ông ta?”

    “Chuyện đó thì quan trọng gì?”

    Bajan hỏi lại.

    Sự gấp gáp trong giọng nói của anh khiến cô cảnh giác.

    Khi nỗi sợ xuất hiện, một điều gì đỏ sẽ xảy ra.

    Nhưng Bajan sợ Van Eck hay sợ cô?

    “Cô có thể rời bỏ băng Cặn Bã, Per Haskell và cái tay Kaz Brekker đáng sợ đó, cô sẽ được tự do.

    Van Eck có thể chi tiền cho chuyến đi của cô tới Ravka.”

    Một lời đề nghị hay một mối đe doạ?

    Van Eck có thể tìm thấy cha mẹ cô ư?

    Người Suli không dễ bị lần theo, và họ rất cảnh giác với những kẻ lạ mặt dò la tin tức.

    Nhưng nếu người của Van Eck thông báo rằng họ có tin tức về một cô bé mất tích thì sao?

    Cô bé đã biến mất vào một buổi sớm mai lạnh lẽo, như thể bị thủy triều cuốn đi ấy?

    “Van Eck đã biết được những gì về gia đình tôi?”

    Inej hỏi, sự giận dữ bùng lên trong lòng.

    “Ông ta biết cô đang xa gia đình.

    Ông ta biết các điều khoản trong giao kèo của cô với Vườn Thú.”

    “Vậy ông ta đã biết tôi là một nô lệ.

    Ông ta có tố giác với Dì Heleen không?”

    “Tôi… tôi không nghĩ…”

    “Dĩ nhiên là không rồi.

    Van Eck không quan tâm chuyện tôi bị mua đi bán lại như một súc vải.

    Ông ta chỉ đang tìm kiếm một đòn bẩy.”

    Nhưng câu hỏi tiếp theo của Bajan khiến Jnej bất ngờ.

    “Mẹ cô có làm bánh mì chảo không?”

    Cô nhíu mày.

    “Tất nhiên là có.”

    Đó là một món ăn truyền thống của người Suli.

    Inej có thể làm bánh mì chảo trong khi ngủ.

    “Với hương thảo?”

    “Thì là, khi chúng tôi kiếm được.”

    Cô biết điều Bajan đang làm, anh đang cố làm cho cô nhớ nhà.

    Nhưng cơn đói và hình ảnh trong kí ức mạnh mẽ tới nỗi làm dạ dày cô kêu òng ọc.

    Cô có thể trông thấy mẹ dập lửa và dùng những ngón tay thoăn thoắt lật trở bánh mì, ngửi thấy mùi bột nướng trên lớp tro nóng.

    “Các bạn của cô không xuất hiện nữa đâu,” Bajan nói.

    “Đến lúc nghĩ đến sự sống còn của chính mình rồi đấy.

    Cô có thể đoàn tụ với gia đình vào cuối hè.

    Van Eck sẽ giúp cô nếu cô để cho ông ta giúp.”

    Sự cảnh giác trong lòng Inej dâng lên cao độ.

    Màn kịch quá lộ liễu.

    Đằng sau sự quyến rũ, đôi mắt đen láy và những lời hứa hẹn của Bajan, là nỗi sợ hãi.

    Thế nhưng giữa tiếng khua động của mối ngờ vực, cô vẫn nghe thấy âm thanh êm tai của một cái chuông khác.

    Cái chuông của hai chữ nếu như.

    Nếu như cô để mình bị ru ngủ, dẹp bỏ sự cứng cỏi của bản thân thì sao?

    Nếu như cô để cho Van Eck đưa cô lên một con tàu để trở về nhà thì sao?

    Cô có thể nếm lại món bánh mì chảo nóng giòn, thấy lại bím tóc đen luôn được thắt ruy băng màu gỗ hồng vàng của mẹ.

    Nhưng Inej không dễ bị lừa mị.

    Cô đã học từ người giỏi nhất.

    Thà là sự thật kinh khủng còn hơn những lời dối trá ngọt ngào.

    Kaz chưa bao giờ hứa hẹn cho cô hạnh phúc, và cô không tin vào những kẻ đem nó dâng tặng mình vào lúc này.

    Sự chịu đựng của cô không hề uổng phí.

    Các thánh đã đưa cô tới Ketterdam vì một lí do - một con tàu săn đuổi bọn buôn nô lệ, một sứ mệnh để mang lại ý nghĩa cho tất cả những điều cô đã trải qua.

    Cô sẽ không phản bội mục đích đó và bạn bè của mình chỉ vì một giấc mơ trong quá khứ.

    Inej rít lên với Bajan khiến anh lúng túng lui lại.

    “Hãy nói chủ nhân của anh tôn trọng thoả thuận cũ của ông ta trước khi đưa ra những thoả thuận mới,” cô nói.

    “Giờ thì để tôi yên.”

    Bajan đã bỏ chạy như một con chuột cống ăn bận đỏm dáng, nhưng Inej biết đã đến lúc phải hành động.

    Sự năn nỉ của anh ta không phải là điềm tốt đối với cô.

    Mình phải thoát ra khỏi cái bẫy, cô nghĩ bụng, trước khi con quái vật này dụ dỗ mình bằng những hồi ức và sự cảm thông, có thể Kaz và những người khác đang tìm đến chỗ cô, nhưng Inej không muốn ngồi chờ.

    Ngay sau khi Bajan và đám vệ quân rút lui, Inej lấy mảnh sứ giấu bên trong vòng dây thừng quanh mắt cá chân và bắt tay vào việc.

    Dù yếu sức và run rẩy khi Bajan bước vào phòng cùng với tô cháo thơm khó cưỡng, cô chỉ giả vờ ngất để hất khay thức ăn xuống sàn.

    Nếu Van Eck điều tra đủ kĩ, ông ta đã cảnh báo Bajan rằng Bóng Ma không dễ té ngã.

    Chắc chắn không ngã một cách vụng về và nằm một đống trên sàn, nơi cô có thể dễ dàng nhét một mảnh sứ vỡ vào trong lớp dây trói.

    Sau khoảng thời gian dài vô tận loay hoay đến chảy máu tay vì cạnh sắc của mảnh sứ, cuối cùng Inej cũng cắt đứt được sợi dây thừng và giải phóng đôi tay, trước khi cởi dây trói chân và mò mẫm tìm tới lỗ thông gió.

    Bajan và đám vệ quân sẽ không quay lại đây trước sáng mai.

    Cô có cả đêm để thoát ra khỏi nơi này và trốn đi xa nhất có thể.

    Ống thông gió chật hẹp đến khốn khổ, không khí bên trong sực nức những thứ mùi mà Inej không thể xác định, và bóng tối dày đặc đến nỗi tưởng như cô chưa tháo băng bịt mắt.

    Đường ống có thể chỉ dài vài mét, hoặc gần cả cây số.

    Cô cần thoát ra ngoài trước buổi sáng, nếu không họ sẽ phát hiện thấy tấm lưới chắn lỗ thông gió mở toang treo lủng lẳng trên bản lề và biết cô đang ở đâu.

    Chúc may mắn lôi được tôi ra ngoài, Inej nghĩ thầm.

    Cô không tin có bất kì vệ quân nào của Van Eck chui lọt được đường ống thông gió.

    Họ sẽ phải tìm một cậu bé phụ bếp nào đó và bôi mỡ cho cậu ta từ đầu đến chân.

    Cô nhích tới trước từng chút một.

    Cô đã đi được bao xa?

    Mỗi khi hít một hơi sâu, cô lại có cảm giác như đường ống thít chặt lấy mạng sườn.

    Tất cả những gì cô biết là mình có thể đang ở trên mái của một toà nhà.

    Cô có thể sẽ ló ra ở đầu kia chỉ để phát hiện thấy đường phố Ketterdam náo nhiệt tít xa bên dưới.

    Cô có thể xoay sở với chuyện đó.

    Nhưng nếu đường ống tự dưng kết thúc thì sao?

    Nếu nó bị xây bít mất đầu kia thì sao?

    Cô sẽ phải trườn ngược lại toàn bộ chặng đường và hi vọng kịp tự trói mình để đám vệ quân không biết cô đã làm gì.

    Không thể nào.

    Đêm nay không thể có đường cùng.

    Nhanh hơn, cô tự nhủ, mồ hôi túa ra trên trán.

    Inej có cảm giác toà nhà thít lại xung quanh, những bức tường của nó bóp nghẹt buồng phổi của cô.

    Cô không thể nghĩ ra một kế hoạch thực thụ nào cho đến khi tới được đầu ra của đường ống, cho tới khi cô biết mình đã trốn thoát được đám tay chân của Van Eck bao xa.

    Thế rồi Inej cảm thấy nó, một cơn gió trần trụi thổi vào cái trán ướt đẫm của cô.

    Cô lập tức thì thào lời cảm tạ.

    Chắc chắn phía trước có một lối ra.

    Cô hít ngửi, tìm kiếm mùi khói than hoặc mùi cỏ tươi của miền quê.

    Thật thận trọng, cô uốn mình nhích tới trước, cho tới khi những ngón tay chạm vào lưới chắn lỗ thông gió.

    Không có ánh sáng lọt qua đó, như vậy càng hay.

    Căn phòng mà cô sắp vào chắc là không có người.

    Thánh thần ơi, sẽ thế nào nếu cô đang ở trong tư dinh của Van Eck?

    Sẽ thế nào nếu cô nhảy xuống và rơi trúng lão thương gia đang ngủ?

    Cô lắng nghe những âm thanh của con người - tiếng ngáy, tiếng hít thở.

    Không có gì.

    Inej ước gì mình có những con dao, có cảm giác đằm tay vì trọng lượng của chúng ngay lúc này.

    Van Eck có còn giữ chúng không?

    Hay ông ta đã bán chúng đi?

    Quăng chúng xuống biển?

    Cô thầm điểm tên của chúng - Petyr, Marya, Anastasia, Lizabeta, Thánh Vladimir, Thánh nữ Alina - và cảm nhận dũng khí tăng lên theo từng cái tên được nói ra.

    Đoạn cô lay cái lưới chắn và đẩy mạnh.

    Nó mở bung ra, nhưng thay vì treo lủng lẳng trên bản lề, nó văng ra hẳn.

    Inej cố níu tấm lưới, nhưng nó trượt ra khỏi các đầu ngón tay của cô và rơi loảng xoảng dưới sàn nhà.

    Inej chờ đợi, tim đập thình thịch.

    Một phút trôi qua trong im lặng.

    Một phút nữa.

    Không có ai xuất hiện.

    Căn phòng vắng bóng người.

    Có lẽ cả toà nhà này cũng vậy.

    Van Eck không thể để mặc cô không bị canh gác, nên người của ông ta chắc đang trực ở phía ngoài.

    Nếu thế thì việc vượt qua bọn họ chỉ là thách thức nhỏ.

    Và ít nhất bây giờ cô cũng biết sàn nhà đang ở cách mình bao xa.

    Không có cách thức duyên dáng nào để hoàn tất động thái kế tiếp.

    Inej chui đầu ra khỏi lỗ thông gió, với tay bấu lấy bức tường.

    Sau đó, khi hơn một nửa cơ thể cô đã ở ngoài lỗ thông gió và bắt đầu trượt đi, cô để cho quán tính lôi tới trước, cuộn tròn thành quả bóng rồi dùng hai tay che đầu để bảo vệ hộp sọ và cái cổ trong lúc rơi xuống.

    Cú tiếp đất gần như không đau đớn.

    Mặt sàn bằng bê tông cứng như sàn phòng giam của cô, nhưng Inej lăn tròn ngay khi chạm vào nó và dừng lại ở một nơi giống như mặt lưng của thứ gì đó cưng cứng.

    Cô đứng dậy, hai tay mò mẫm tìm hiểu xem mình đã đụng vào cái gì.

    Nó được bọc vải nhung.

    Cô sờ lần tiếp và phát hiện một thứ y hệt như thế ở sát bên cạnh.

    Ghế ngồi, cô nghĩ bụng.

    Mình đang ở trong một rạp hát.

    Có hàng đống khán phòng hoà nhạc và rạp hát ở Barrel.

    Lẽ nào cô lại ở gần nhà đến thế?

    Hay cô đang ở trong một nhà hát giao hưởng đẹp đẽ của Lid?

    Inej chậm rãi di chuyển với đôi tay giơ ra phía trước, cho tới khi đến một vách tường mà cô đoán là mặt hậu của một khán phòng.

    Cô lần mò dọc theo nó, tìm kiếm một cái cửa ra vào, cửa sổ, hoặc thậm chí là một lỗ thông gió khác.

    Cuối cùng, các ngón tay cô chạm phải một khung cửa, và cô lập tức chụp lấy tay nắm cửa.

    Nó không nhúc nhích.

    Bị khoá rồi.

    Cô lay thử cánh cửa.

    Gian phòng bỗng tràn ngập ánh sáng.

    Inej thụp người xuống bên cạnh cửa, nheo mắt trước ánh sáng đột ngột.

    “Nếu muốn đi thăm thú một vòng, cô Ghafa à, cô chỉ cần xin phép thôi,” Jan Van Eck lên tiếng.

    Lão ta đang đứng trên sân khấu của một rạp hát điêu tàn, đường hoàng trong bộ lễ phục thương gia màu đen.

    Những chiếc ghế bọc nhung xanh của rạp hát đã bị nhậy cắn lỗ chỗ.

    Phông màn sân khấu rách tả tơi.

    Không ai buồn tháo dỡ cảnh trí của vở kịch cuối cùng từng được diễn ở đây.

    Trông nó giống như hình ảnh ghê rợn của một phòng mổ, với những lưỡi cưa quá khổ và những cái búa treo lủng lẳng trên tường.

    Inej nhận ra đây là bối cảnh cho vở Gã điên và Thầy lang, một trong những vở kịch ngắn của Hài kịch Thô lỗ.

    Quanh phòng đầy các vệ quân đang đứng, và bên cạnh Van Eck là Bajan, với đôi bàn tay thanh lịch đang xoắn lấy nhau.

    Có phải tấm lưới chắn lỗ thông gió đã được mở sẵn để dụ dỗ cô không?

    Có phải Van Eck đã vờn cô suốt từ nãy đến giờ không?

    “Đưa con bé lên đây,”Van Eck ra lệnh cho một cận vệ.

    Inej không chần chừ một giây nào.

    Cô nhảy lên lưng ghế gần nhất, rồi phóng về phía sân khấu, lao qua hết hàng ghế này tới hàng ghế khác, trong lúc các vệ quân cố gắng leo qua chúng.

    Cô nhảy lên sàn diễn, ngang qua một Van Eck chưa hết bàng hoàng, rồi nắm lấy một sợi dây thừng của sân khấu và thoăn thoắt leo lên, thầm mong nó chịu được trọng lượng của mình.

    Cô có thể trốn vào những thanh xà của rạp hát và tìm lối leo lên mái.

    “Cắt dây!”

    Van Eck hô to với giọng điềm tĩnh.

    Inej nhanh chóng trèo lên mỗi lúc một cao.

    Nhưng khi chỉ còn vài giây là lên tới đích, cô bỗng trông thấy một khuôn mặt phía trước.

    Một trong những vệ quân của Van Eck, tay lăm lăm con dao.

    Hắn cắt đứt sợi dây.

    Inej rơi xuống sàn, khuỵu gối để giảm bớt chấn động.

    Trước khi cô kịp đứng thẳng người dậy thì ba vệ quân đã ùa tới, khoá chặt cô tại chỗ.

    “Thật tình, cô Ghafa à,” Van Eck trách móc.

    “Bọn ta thừa biết các năng khiếu mà cô có.

    Không lẽ cô nghĩ ta thiếu thận trọng đến vậy hay sao?”

    Ông ta không buồn đợi câu trả lời.

    “Cô sẽ không thể thoát ra khỏi nơi này mà không có sự giúp đỡ của ta, hoặc của cậu Brekker.

    Và vì cậu ta không chịu xuất hiện, nên có lẽ cô nên nghĩ đến việc đổi phe.”

    Inej không đáp.

    Van Eck chắp hai tay sau lưng.

    Thật lạ lùng khi nhìn lão ta và trông thấy bóng dáng trước kia của khuôn mặt Wylan.

    “Tin đồn về parem đã làm cả thành phố sôi sục.

    Một phái đoàn drüskelle từ Fjerda đã kéo đến khu vực đại sứ quán.

    Hôm nay, hai tàu chiến của người Shu đã cập Cảng số Ba.

    Ta đã cho Brekker thời hạn bảy ngày để thực hiện cuộc đổi chác vì sự an toàn của cô, nhưng tất cả bọn họ đều đang tìm kiếm Kuwei Yul-Bo, nên nhất định ta phải đưa được cậu ta rời khỏi Ketterdam trước khi bọn họ phát hiện.”

    Hai tàu chiến của người Shu.

    Hoá ra đó là thứ làm mọi chuyện thay đổi.

    Van Eck không còn thời gian.

    Bajan đã biết điều này, hay chỉ đơn giản là cảm nhận được sự đổi khác trong tâm trạng của chủ nhân?

    “Ta đã mong Bajan chứng tỏ mình giỏi chuyện gì khác hơn là việc trau dồi tài năng chơi dương cầm của vợ ta,” Van Eck nói tiếp.

    “Nhưng có lẽ bây giờ chúng ta phải thoả thuận với nhau rồi.

    Kaz Brekker giấu thằng bé ở đâu?”

    “Làm sao tôi biết được?”

    “Cô chắc chắn phải biết những nơi an toàn của băng Cặn Bã.

    Brekker không làm gì mà không chuẩn bị trước.

    Hắn hẳn có rất nhiều hang ổ để lẩn trốn trong thành.”

    “Nếu ông đã biết rõ như vậy thì ông thừa hiểu Kaz sẽ không bao giờ giấu Kuwei ở một nơi mà tôi có thể chỉ cho ông.”

    “Ta không tin.”

    “Ông có tin hay không tôi cũng không giúp được.

    Cậu bé khoa học gia người Shu của ông có lẽ đã cao chạy xa bay rồi.”

    “Như vậy thì tin tức đã phải báo về.

    Gián điệp của ta được cài cắm khắp nơi.”

    “Rõ ràng không phải khắp nơi rồi.”

    Môi của Bajan cong lên.

    Van Eck mệt mỏi lắc đầu.

    “Đặt con bé lên bàn.”

    Inej biết có giãy giụa cũng vô ích, nhưng cô vẫn chống cự.

    Chỉ có đấu tranh hoặc đầu hàng nỗi sợ hãi ùa tới khi các vệ quân lôi cô đến bên chiếc bàn và đè ngửa cô ra đó, giữ chặt chân tay.

    Giờ thì cô đã thấy một trong những chiếc bàn được trang bị các dụng cụ không giống như mấy cái búa hoặc cưa quá khổ gắn trên tường.

    Chúng là dụng cụ mổ xẻ thật.

    Những con dao mổ, cưa và kẹp sáng quắc đáng sợ.

    “Cô là Bóng Ma, huyền thoại của khu Barrel.

    Cô chuyên thu thập bí

    mật của các quan toà, Uỷ viên hội đồng, bọn trộm cướp và giết người.

    Ta nghĩ trong cái thành này không có gì là cô không biết.

    Cô sẽ phải tiết lộ các địa điểm ẩn náu của Kaz Brekker ngay bây giờ.”

    “Tôi không thể tiết lộ những thứ tôi không biết.”

    Van Eck thở dài.

    “Nên nhớ rằng ta đã cố cư xử với cô một cách văn minh.”

    Van Eck quay sang phía một vệ quân đậm người có cái mũi khoằm.

    “Ta không muốn chuyện này kéo dài quá lâu.

    Cứ làm những gì ngươi cho là tốt nhất.”

    Bàn tay của gã vệ quân lơ lửng một lúc trên bàn để dụng cụ, như thể đang quyết định xem nhục hình nào sẽ có hiệu quả cao nhất.

    Inej cảm thấy sự can đảm của mình chao đảo, hơi thở cô trở thành những cái hớp không khí đầy hoảng loạn.

    Khi nỗi sợ xuất hiện, một điều gì đó sẽ xảy ra.

    Bajan chồm tới phía trên đầu cô, khuôn mặt tái mét, đôi mắt đầy lo lắng.

    “Làm ơn nói cho ông ta biết đi.

    Chắc chắn Brekker không đáng để cô bị cắt xẻo hoặc mang thẹo.

    Hãy nói với ông ta những gì cô biết.”

    “Tất cả những gì tôi biết là loại đàn ông như anh không đáng được hít thở khí trời.”

    Bajan có vẻ tổn thương, “Tôi luôn tử tế với cô.

    Tôi không phải là quái vật.”

    “Không, anh là loại đàn ông chỉ ngồi yên, tự chúc mừng bản thân vì biết điều, trong lúc con quái vật ních căng bụng.

    Ít nhất một con quái vật cũng có răng và gai.”

    “Thật không công bằng!”

    Inej không thể tin vào lúc này anh ta còn đòi cô phải biết ơn cho sự dịu dàng của mình.

    “Nếu anh vẫn tin vào lẽ công bằng, thì anh đang có một cuộc sống may mắn đấy.

    Hãy tránh xa con quái vật, Bajan.

    Hãy để chuyện này kết thúc.”

    Gã vệ quân mũi khoằm bước tới với một thứ gì đó loang loáng trong tay.

    Inej tìm một điểm bất biến trong lòng, nơi đã cho phép cô cầm cự cả năm trời tại Vườn Thú, một năm với những đêm đầy đau đớn và tủi nhục, những ngày bị đánh đập hoặc tệ hơn thế.

    “Làm đi,” cô hối thúc, giọng lạnh băng.

    “Khoan đã,” Van Eck lên tiếng.

    Ông ta quan sát cô như thể đang đọc sổ cái, cố làm cho các con số ăn khớp với nhau.

    Đoạn ông ta nghiêng đầu sang một bên và nói, “Đập gãy chân nó.”

    Inej cảm thấy sự can trường trong cô vỡ vụn.

    Cô bắt đầu vùng vẫy, cố thoát ra khỏi sự khống chế của các vệ quân.

    “A,” Van Eck thốt lên.

    “Ta nghĩ đúng mà.”

    Gã vệ quân mũi khoằm chọn lấy một ống thép dài và nặng.

    “Không,” Van Eck nói tiếp.

    “Ta không muốn một cú gãy gọn.

    Dùng búa đi.

    Đập cho nát xương ra.”

    Khuôn mặt lão ta lơ lửng phía trên đầu Inej, đôi mắt xanh sáng giống như của Wylan nhưng không có một chút tử tế nào của cậu thiếu gia trong đó.

    “Sẽ không ai có thể chữa lành cho cô được nữa, cô Ghala à.

    Nhưng biết đâu cô có thể kiếm đủ tiền để mua lại sự tự do nhờ ăn xin từng đồng xu lẻ tại Đông Stave và lê lết vê Thanh Gỗ hằng đêm, nếu như Brekker vẫn cho cô một căn buồng ở đó.”

    “Đừng.”

    Inej không rõ cô đang cầu xin Van Eck hay chính mình.

    Cô không biết lúc này mình đang ghét ai hơn.

    Gã vệ quân giơ một cái búa thép lên.

    Inej vặn vẹo người trên bàn, cơ thể cô đầm đìa mồ hôi.

    Cô có thể ngửi thấy nỗi kinh hoàng của mình.

    “Đừng,” cô lặp lại.

    “Đừng mà.”

    Gã vệ quân mũi khoằm ướm thử chiếc búa trong tay.

    Van Eck gật đầu.

    Gã vung nó lên theo một đường vòng cung mềm mại.

    Inej quan sát chiếc búa đi lên cao và đạt đến đỉnh của lộ trình, ánh sáng phản chiếu trên đầu búa to bè có bề mặt phẳng lì của một vầng trăng chết chóc.

    Cô nghe thấy tiếng lửa trại reo lách tách, và nghĩ tới mái tóc thắt dây ruy băng màu gỗ vàng hồng của mẹ cô.

    “Anh ta sẽ không bao giờ đổi chác nếu ông đập gãy chân tôi!”

    Inej hét lên, những từ ngữ giằng giật thoát ra từ một nơi sâu kín trong lòng cô, giọng cô khản đặc, trần trụi.

    “Tôi sẽ trở nên vô dụng đối với anh ta!”

    Van Eck giơ tay lên.

    Chiếc búa bổ xuống.

    Inej cảm thấy đầu búa sượt qua ống quần mình khi nó làm mặt bàn vỡ tan ngay bên cạnh ống chân của cô.

    Cả một góc bàn sụm xuống dưới lực đập quá mạnh.

    Chân mình, cô nghĩ thầm, toàn thân run lên.

    Nó đã có thể là chân của mình.

    Miệng cô có vị tanh, cô đã cắn vào lưỡi.

    Các thánh hãy bảo vệ con.

    Các thánh hãy bảo vệ con.

    “Lập luận của cô hay đấy,” Van Eck nói với giọng trầm ngâm, một ngón tay đặt trên môi, ra chiều nghĩ ngợi.

    “Hãy cân nhắc về lòng trung thành của mình, cô Ghafa à.

    Đêm mai có lẽ ta sẽ không nhân nhượng đến thế đâu.”

    Inej không thể kiềm chế được cơn run rẩy.

    Ta sẽ phanh thây ngươi ra, cô thề trong lòng.

    Ta sẽ moi cái thứ chết tiệt là quả tim trong lồng ngực ngươi ra.

    Đó là một ý nghĩ tàn độc, một ý nghĩ xấu xa.

    Nhưng cô không thể ngăn mình.

    Sự tha thứ liệu có thể đến nếu cô giết chóc không phải để sinh tồn, mà bởi vì cô bị thiêu đốt bởi lửa hận ngùn ngụt sáng loà?

    Ta cóc cần biết, cô thầm nghĩ trong lúc cơ thể co cứng và đám vệ quân nhấc thân mình run rẩy của cô lên khỏi chiếc bàn.

    Ta sẽ ăn năn sám hối suốt phần đời còn lại nếu điều đó đồng nghĩa với việc ta sẽ giết được lão.

    Các vệ quân lôi cô về lại phòng giam qua hành lang của rạp hát điêu tàn và một sảnh mà giờ đây cô đã biết là một phòng trang thiết bị cũ.

    Chúng trói chặt tay chân cô một lần nữa.

    Bajan tiến lại gần để đeo dải băng bịt mắt cho Inej.

    “Tôi xin lỗi,” anh thì thầm.

    “Tôi không biết ông ta định… tôi…”

    “Kadema mehim.”

    Bajan sững người.

    “Đừng có nói như thế.”

    Suli là một tộc người gần gũi, trung thành.

    Họ phải sống trong một thế giới mà họ không có nổi một tấc đất cắm dùi, và với số dân ít ỏi.

    Hàm răng Inej vẫn còn run lập cập, nhưng cô vẫn gắng gượng nói tiếp.

    “Anh coi như bị từ mặt rồi.

    Vì anh đã quay lưng lại với tôi, họ cũng sẽ quay lưng lại với anh.”

    Đó là lời nguyền rủa tệ hại nhất của người Suli, nó cảnh báo rằng bạn sẽ không được tổ tiên chào đón ở thế giới bên kia, và linh hồn bạn sẽ lang thang vất vưởng không nơi nương tựa.

    Bajan tái mặt.

    “Tôi không tin vào mấy chuyện đó.”

    “Rồi anh sẽ tin.”

    Anh ta buộc dải băng bịt mắt quanh đầu Inej.

    Rồi cô nghe thấy tiếng cửa phòng đóng lại.

    Inej nằm nghiêng, vai và hông tì vào mặt sàn cứng ngắc, chờ cho cơn run rẩy qua đi.

    Hồi mới vào Vườn Thú, cô từng tin có người sẽ đến tìm mình.

    Gia đình sẽ tìm ra cô.

    Hoặc một người đại diện pháp luật.

    Một người hùng giống như trong những câu chuyện mẹ cô thường kể.

    Những người đàn ông vẫn đến, nhưng không phải để giải thoát cho cô, và hi vọng của cô rơi rụng dần như những chiếc lá dưới ánh mặt trời chói gắt, nhường chỗ cho những nụ chồi đắng nghét của sự nhẫn nhục.

    Kaz đã giải thoát cô khỏi tình thế tuyệt vọng đó, và cuộc sống của họ từ đó trở thành một loạt những sự giải thoát, một chuỗi nợ nần không bao giờ trả dứt khi họ cứu lẫn nhau hết lần này tới lần khác.

    Nằm trong bóng tối, Inej nhận ra với tất cả sự hoài nghi của mình, cô vẫn tin anh sẽ cứu cô một lần nữa, anh sẽ gạt qua một bên lòng tham và những thứ quỷ dữ trong anh để đến tìm cô.

    Nhưng giờ thì cô không còn chắc chắn như vậy nữa.

    Bởi vì trong câu nói khiến Van Eck dừng tay có một sự thật mà lão ta đã nhận ra được nhờ giọng điệu của cô.

    Anh ta sẽ không bao giờ đổi chác nếu ông đập gẫy chân tôi.

    Cô không thể vờ như những lời lẽ đó được dẫn dắt bởi toan tính chiến thuật, hoặc thậm chí là sự ranh ma.

    Phép màu của chúng đến từ niềm tin.

    Một niềm tin xấu xí.

    Đêm mai có lẽ ta sẽ không nhân nhượng đến thế đâu.

    Có phải đêm nay chỉ là một bài tập để làm cô sợ?

    Hay là Van Eck sẽ quay lại để hiện thực hoá những lời đe doạ của ông ta?

    Và nếu như Kaz đến thật, trong cô sẽ còn lại bao nhiêu phần người?
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Hai: Luồng Gió Sát Nhân 5-7


    5

    JESPER

    Jesper có cảm giác như quần áo anh lúc nhúc giòi bọ.

    Mỗi khi nhóm người rời đảo Mạng Đen để chui vào khu Barrel, họ đều mặc bộ trang phục của Hài kịch Thô lỗ - áo choàng, mạng che, mặt nạ, và thỉnh thoảng có cả những cặp sừng mà khách du lịch lẫn dân địa phương hay dùng để che giấu thân phận trong quá trình hưởng lạc ở đó.

    Nhưng tại đây, trên những đại lộ và kênh đào nghiêm chỉnh của quận Đại học, Ngài Đỏ thẫm và Quỷ xám sẽ thu hút rất nhiều ánh mắt tò mò, do vậy anh và Wylan đã trút bỏ bộ đồ hoá trang ngay khi rời khỏi khu Stave, và thành thực mà nói, anh không muốn đối diện với bố lần đầu tiên sau nhiều năm với cái mặt nạ mắt lồi, chiếc áo choàng lụa màu cam, hoặc là bộ dạng dân Barrel thường lệ.

    Anh ăn mặc một cách tử tế nhất có thể.

    Wylan đã cho anh mượn vài kruge để mua một chiếc áo vest vải tuýt cũ và một chiếc áo gilet màu xám xịt.

    Trông Jesper không có vẻ danh giá, nhưng dù sao thì các sinh viên cũng không có bề ngoài quá sang trọng.

    Một lần nữa anh bắt gặp tay mình lần xuống chỗ mấy khẩu súng, tìm kiếm cảm giác lạnh lẽo quen thuộc của cặp báng súng cẩn ngọc trai.

    Lão luật sư chó đẻ đó đã yêu cầu chủ sòng bài cất chúng vào két an toàn ở Cumulus.

    Kaz đã nói họ sẽ lấy lại chúng vào thời điểm thích hợp, nhưng anh không nghĩ Kaz sẽ tỏ ra bình thản và điềm nhiên như thế nếu bị ai đó tước mất cây gậy chống của mình.

    Mày chính là đứa đã đặt chúng lên bàn như một thằng u mê, Jesper tự nhắc mình.

    Anh đã làm điều đó vì Inej.

    Và thành thực mà nói, anh cũng làm điều đó vì Kaz, để chứng tỏ anh sẵn sàng làm những gì cần làm để sửa sai.

    Mặc dù chuyện đó không phải quá quan trọng.

    Thôi, anh tự an ủi, dù sao thì mình cũng không thể đeo súng trong chuyến đi này.

    Sinh viên và giáo sư không mang vũ khí đi từ lớp học này sang lớp học khác.

    Nếu họ làm thế thì buổi học sẽ thú vị hơn nhiều.

    Dẫu vậy, Jesper vẫn giấu một khẩu súng lục bèo bọt bên trong lớp áo choàng.

    Đây là Ketterdam, rất có thể anh và Wylan đang đi vào một cái bẫy.

    Chính vì thế mà Kaz và Matthias cũng bám theo họ.

    Anh không phát hiện ra hai người và coi đó là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng thầm biết ơn Wylan đã đề nghị cùng đi với mình.

    Kaz chỉ cho phép chuyện đó vì Wylan bảo cậu ta cần tìm nguyên vật liệu cho việc chế tạo mọt hạt.

    Họ đi qua các quán cà phê sinh viên, nhiều tiệm sách, những cửa sổ bày hàng kín mít giáo trình và giấy mực.

    Họ đang ở cách khu Barrel ồn ào huyên náo chưa đầy hai dặm, nhưng có cảm giác như họ đã băng qua một cây cầu và bước vào một đất nước khác.

    Thay cho những đám thuỷ thủ vừa chân ướt chân ráo xuống tàu đi tìm rắc rối, hoặc những du khách va vào bạn từ mọi hướng, ở đây người ta bước sang bên để tránh đường cho bạn và không nói to.

    Không có những người rao hàng mời chào khách lớn tiếng từ các cửa hiệu.

    Những con hẻm nhỏ quanh co đầy thợ đóng sách và dược sĩ, các góc phố không có những cô nàng hay anh chàng dạt ra từ các nhà thổ ở Tây Stave và bán thân ngoài đường.

    Jesper dừng chân dưới một mái hiên và hít một hơi dài.

    “Cái gì thế?”

    Wylan hỏi.

    “Ở đây thơm quá đi.”

    Mùi thuốc lá đắt tiền, trận mưa buổi sáng còn ướt đẫm mặt đá, những khóm dạ lan hương trong các chậu cây bên cửa sổ.

    Không có mùi khai, mùi nôn mửa, nước hoa rẻ tiền hoặc rác rưởi thối rữa.

    Ngay cả mùi khói than cũng dường như nhẹ nhàng hơn.

    “Anh đang trì hoãn đấy à?”

    Wylan hỏi.

    “Đâu có.”

    Jesper thở hắt ra và hơi chùng người xuống.

    “Cũng có thể là một chút.”

    Rooty đã gửi một lời nhắn tới khách sạn nơi người đàn ông tự xưng là bố của Jesper đang trọ, để họ có thể thu xếp thời gian và địa điểm gặp gỡ.

    Jesper muốn tự mình dàn xếp, nhưng nếu bố anh thực sự đang ở Ketterdam, có khả năng ông đang bị sử dụng làm mồi nhử.

    Tốt hơn là gặp nhau giữa thanh thiên bạch nhật, tại một vùng đất trung lập.

    Đại học có vẻ là nơi an toàn nhất, xa những hiểm nguy của khu Barrel hoặc những vùng đất dữ mà anh thường lui tới.

    Jesper không biết mình có muốn bố ngồi đợi ở trường đại học hay không nữa.

    Thà nghĩ đến việc đi đánh nhau còn hơn sự nhục nhã vì đã làm hỏng mọi thứ một cách tệ hại đến thế nào.

    Nói về chuyện đó khiến anh có cảm giác như mình đang cố bước lên đoạn đầu đài làm bằng những tấm ván mục nát.

    Thế nên anh chỉ đáp, “Tôi vẫn luôn thích khu vực này.”

    “Cha tôi cũng thích nó.

    Ông ta rất đề cao việc học.”

    “Hơn cả tiền bạc sao?”

    Wylan nhún vai, đưa mắt nhìn một tủ kính đầy những quả địa cầu vẽ tay.

    “Kiến thức không phải là dấu hiệu của ơn trên.

    Mà là sự giàu sang.”

    Jesper liếc nhanh cậu ta.

    Anh vẫn chưa quen với việc giọng nói của Wylan phát ra từ miệng Kuwei.

    Nó luôn làm anh có cảm giác ngồ ngộ, như thể với tay cầm lên cốc rượu vang và uống vào một ngụm nước.

    “Ông ba cậu thực ra có ngoan đạo như thế không, hay đó chỉ là cái cớ để trở thành một gã khốn mỗi khi dính tới chuyện kinh doanh?”

    “Mỗi khi dính tới mọi chuyện, thật đấy.”

    “Đặc biệt là bọn du côn và chuột cống khu Barrel?”

    Wylan chỉnh lại quai túi.

    “Ông ta cho rằng khu Barrel làm đàn ông sao nhãng công việc và kinh doanh, lại còn dẫn tới sự tha hoá nữa.”

    “Có lẽ ông ta nói đúng,” Jesper đáp.

    Đôi khi anh tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh chưa từng đi chơi với đám bạn mới quen đêm đó, nếu anh chưa từng đặt chân vào sòng bạc đó và lần đầu tiên chơi vòng quay may mắn.

    Lẽ ra nó chỉ là một trò tiêu khiển vô hại.

    Và đối với những người khác, nó đúng là như thế.

    Nhưng cuộc đời Jesper đã chia đôi như một súc gỗ bị cưa thành hai mảnh rạch ròi và không cân xứng: quãng thời gian trước khi anh bước vào sòng bạc, và mọi ngày kể từ đó tới nay.

    “Khu Barrel ăn tươi nuốt sống con người ta.”

    “Có thể,” Wylan ngẫm nghĩ.

    “Nhưng công việc là công việc.

    Các sòng bạc và nhà chứa sinh ra là để đáp ứng một nhu cầu.

    Chúng cũng tạo ra công ăn việc làm và nộp thuế.”

    “Cậu đúng là một thằng nhóc Barrel ngoan ngoãn.

    Bước ra từ một trong những cuốn sách của các ông trùm.”

    Cứ mỗi vài năm, một nhà cải cách lại quyết tâm dọn dẹp khu Barrel và tẩy sạch danh tiếng nhơ nhuốc của nó đối với Ketterdam.

    Đó là lúc những cuốn sách xuất hiện, cuộc chiến tranh tuyên truyền giữa một bên là chủ của các sòng bạc và nhà vui thú, bên kia là các thương gia cải cách áo đen.

    Rốt cuộc thì tiền bạc vẫn là tiếng nói quyết định.

    Việc kinh doanh của hai khu Đông và Tây Stave sinh lời rất lớn, và đám kiều dân khu Barrel là người bỏ những đồng tiền chính đáng vào trong ngân khố.

    Wylan lại chỉnh quai túi.

    Nó bị xoắn ở chỗ vai cậu.

    “Tôi không thấy nó khác biệt nhiều với việc đặt cược gia sản anh vào một chuyến tàu chở lụa hoặc jurda.

    Vận may của anh tốt hơn nhiềuq khi chơi cổ phiếu.”

    “Cậu khiến tôi hứng thú rồi đấy, thiếu gia.”

    Vận may tốt hơn luôn là thứ anh quan tâm.

    “Số tiền lớn nhất mà cha cậu bị mất khi buôn bán là bao nhiêu?”

    “Tôi không rõ lắm.

    Ông ta đã ngừng nói về những thứ đó với tôi từ lâu rồi.”

    Jesper ngập ngừng.

    Jan Van Eck ngu hết chỗ nói trong cách cư xử với con, nhưng Jesper phải thừa nhận anh thấy tò mò về “tai vạ” của Wylan.

    Anh muốn biết cậu thấy gì khi cố gắng đọc, tại sao cậu hiểu được một cách bình thường với các phép toán, hoặc giá tiền trong thực đơn, nhưng với câu chữ hoặc bảng hiệu thì không?

    “Tôi tự hỏi liệu sự gần gũi với khu Barrel có làm cho các thương gia trở nên cứng nhắc hơn hay không.

    Tất cả chỗ trang phục đen đó, rồi chế độ ăn gò bó với hai bữa thịt mỗi tuần, chỉ uống bia thay vì rượu, có thể họ đang bù đắp cho tất cả những vui thú mà chúng ta có.”

    “Để giữ cho cán cân thăng bằng?”

    “Chắc thế.

    Ý tôi là, hãy nghĩ tới mức độ trác táng mà chúng ta có thể đạt tới nếu không ai giữ cho cái thành này trong tầm kiểm soát mà xem.

    Rượu champagne thay cho bữa sáng.

    Những cuộc truy hoan tập thể tại Sàn giao dịch.”

    Wylan thốt ra một âm thanh bối rối giống như tiếng ho của chim và đưa mắt nhìn đi chỗ khác.

    Làm cậu ta lúng túng thật dễ, mặc dù Jesper phải thừa nhận rằng anh không nghĩ quận Đại học cần một chút nhơ nhuốc.

    Anh thích nó đẹp đẽ như vốn có - sạch sẽ, yên tĩnh, thơm mùi sách vở và hoa tươi.

    “Cậu không cần đi với tôi, cậu biết đấy,” Jesper lên tiếng, vì anh cảm thấy mình nên nói ra.

    “Cậu đã có các thứ cần thiết.

    Cậu có thể chờ ở ngoài này và náu mình trong một quán cà phê.”

    “Có phải anh muốn như thế không?”

    Không.

    Tôi không thể làm chuyện này một mình.

    Jesper nhún vai.

    Anh không chắc mình cảm thấy như thế nào về điều mà Wylan có thể chứng kiến tại trường đại học.

    Jesper hiếm khi thấy bố anh nổi giận, nhưng làm thế nào ông không nổi trận lôi đình cho được?

    Anh có thể giải thích ra sao với ông đây?

    Anh đã nói dối, đã đặt cả sản nghiệp mà bố anh nhọc công gây dựng vào tình thế nguy hiểm.

    Mà để đổi lấy cái gì kia chứ?

    Một đống vô nghĩa.

    Jesper không chịu nổi ý nghĩ phải một mình đối diện với bố.

    Inej chắc sẽ hiểu điều đó.

    Không phải anh xứng đáng nhận sự thông cảm của cô, mà chỉ là anh biết có gì đó kiên định trong cô sẽ nhận ra và xoa dịu những nỗi sợ hãi của anh.

    Jesper đã hi vọng Kaz đề nghị được đi cùng anh.

    Nhưng khi họ chia tay lúc đến gần trường đại học, Kaz chỉ chiếu vào anh một cái liếc mắt đen kịt.

    Thông điệp đã quá rõ ràng: Cậu đã đào cái hố này.

    Đi xuống đó mà nằm đi.

    Kaz vẫn chưa thôi trừng phạt anh vì trận mai phục trên bến cảng suýt chút nữa đã kết thúc phi vụ Lâu Đài Băng trước khi nó bắt đầu, và Jesper cần nhiều thứ hơn là hi sinh cặp súng lục để được Kaz ân xá.

    Mà Tay Nhám có ân xá ai bao giờ?

    Tim Jesper đập nhanh hơn khi họ bước qua vòm cổng đồ sộ bằng đá để vào quảng trường Boek.

    Trường đại học bao gồm nhiều toà nhà, tất cả đều được xây dựng song song với con kênh Boek và nối với nhau bởi cầu Diễn Giả, nơi người ta gặp nhau để tranh luận hoặc uống một vại bia hữu nghị, tuỳ vào ngày trong tuần.

    Tuy vậy, quảng trường Boek là trái tim của trường đại học với bốn thư viện bao quanh một khoảng sân trung tâm và đài phun nước Học Giả.

    Đã gần hai năm trôi qua kể từ khi Jesper đặt chân đến trường đại học.

    Anh chưa chính thức bỏ học.

    Nhưng anh cũng chưa thực sự quyết định theo học.

    Đơn giản là anh bắt đầu dành càng lúc càng nhiều thời gian tại khu Đông Stave, cho tới một ngày anh nhận ra Barrel đã trở thành nhà mình.

    Mặc dù vậy, trong quãng thời gian ngắn ngủi làm sinh viên, Jesper đã phải lòng quảng trường Boek.

    Anh chưa bao giờ là một người chăm đọc sách.

    Anh thích các câu chuyện, nhưng lại ghét ngồi yên, và những quyển sách do nhà trường chỉ định dường như được viết ra để cho đầu óc anh đi lang thang.

    Tại quảng trường này, mỗi khi đôi mắt anh đi rong chơi, luôn có thứ gì đó khiến chúng bận rộn: những ô cửa sổ bằng kính ghép màu, những cánh cổng sắt được uốn thành hình cuốn sách và con tàu, đài phun nước trung tâm với vị học giả có râu của nó, và hơn hết thảy là đám quỷ máng xối - lũ quỷ cánh dơi đội mũ trạng nguyên hoặc những con rồng nằm ngủ trên chồng sách.

    Anh thích nghĩ rằng người xây dựng nơi này đã biết không phải tất cả sinh viên đều thích hợp với việc im lặng tư duy.

    Tuy nhiên, khi bước vào sân, Jesper không chiêm ngưỡng các công trình điêu khắc đá hay lắng nghe tiếng róc rách của đài phun nước.

    Mọi sự chú ý của anh tập trung vào người đàn ông đang đứng gần bức tường phía đông, mắt ngước nhìn những ô cửa sổ kính ghép, tay mân mê chiếc mũ nhàu nhĩ.

    Jesper bàng hoàng nhận ra bố anh đã mặc bộ trang phục đẹp nhất của mình.

    Ông đã cẩn thận chải lật ra sau mái tóc đỏ của người Kaelish.

    Trên tóc ông giờ đây đã có những sợi bạc chưa từng tồn tại khi anh rời khỏi nhà.

    Colm Fahey trông giống như một người nông dân đang trên đường đi lễ nhà thờ.

    Hoàn toàn lạc lõng với chốn này.

    Trời ạ, Kaz hay bất kì kẻ nào ở Barrel chỉ cần liếc sơ là đã thấy rõ nơi ông một mục tiêu di động.

    Cổ họng Jesper khô khốc như giấy nhám.

    “Bố,” anh kêu lên khàn khàn.

    Bố anh quay ngoắt đầu lại, và Jesper gồng mình chờ đợi điều xảy ra tiếp theo - mọi lời xỉ vả hay lăng nhục mà bố dành cho anh đều xứng đáng.

    Nhưng anh không chuẩn bị cho nụ cười nhẹ nhõm trên khuôn mặt hao gầy của ông.

    Nó cũng giống như nhận một viên đạn thẳng vào trái tim.

    “Jes!”

    Bố anh hét lên.

    Thế là Jesper lao qua sân và đôi tay của bố ôm chầm lấy anh, siết chặt đến nỗi anh cảm thấy sườn mình hõm vào.

    “Thánh thần ơi, bố tưởng con đã chết.

    Họ bảo con không còn là sinh viên tại đây nữa, rằng con đã biến mất và bố tưởng con đã bị bọn côn đồ đánh chết hay sao đó ở cái xứ trời ơi đất hỡi này.”

    “Con còn sống mà,” Jesper thốt lên.

    “Nhưng nếu bố tiếp tục siết con như thế này thì chuyện đó sẽ không kéo dài lâu đâu.”

    Bố anh bật cười và không ghì siết nữa, ông dùng đôi bàn tay hộ pháp nắm vai anh rồi duỗi thẳng hai cánh tay ra.

    “Bố dám thề là con có cao thêm một chút.”

    Jesper thụp đầu xuống.

    “Một nửa chút thôi ạ.

    À, đây là Wylan,” anh đổi từ tiếng Novyi Zem sang tiếng Kerch.

    Ở nhà họ dùng cả hai thứ tiếng, ngôn ngữ mẹ đẻ của anh và ngôn ngữ của giao thương.

    Tiếng Kaelish của bố anh chỉ được dành cho những lần hiếm hoi ông Colm cất lời hát.

    “Rất vui khi được gặp cháu, cháu có nói được tiếng Kerch không vậy?”

    Ông Colm nói gần như hét, và Jesper nhận ra bố làm thế vì Wylan có khuôn mặt của người Shu.

    “Bố,” anh nói, rúm người lại vì xấu hổ.

    “Cậu ấy nói tốt tiếng Kerch mà.”

    “Rất vui khi được gặp bác, bác Fahey,” Wylan đáp với cung cách thương gia.

    “Bác cũng rất vui khi được gặp cháu.

    Cháu cũng là sinh viên à?”

    “Cháu… cũng từng đi học,” Wylan lúng túng đáp.

    Jesper không biết phải nói gì để lấp đầy sự im lặng tiếp nối.

    Anh không rõ mình mong đợi gì từ cuộc gặp gỡ với bố, nhưng anh không ngờ tới một sự trao đổi thân tình.

    Wylan hắng giọng.

    “Bác có đói không, bác Fahey?”

    “Đói ngấu,” bố của Jesper mừng rỡ đáp lại.

    Wylan huých cùi chỏ vào Jesper.

    “Có lẽ chúng ta nên dẫn bố anh đi ăn trưa.”

    “Ăn trưa,” Jesper lặp lại như thể mới vừa học được chữ đó.

    “Phải rồi, ăn trưa.

    Ai lại không thích ăn trưa kia chứ?”

    Bữa trưa cũng giống như một phép màu.

    Họ sẽ ăn.

    Họ sẽ trò chuyện.

    Có thể cả uống nữa.

    Làm ơn hãy để họ uống.

    “Nhưng Jesper này, có chuyện gì đã xảy ra thế?

    Bố nhận được thông báo từ ngân hàng Gemens.

    Món nợ đã đến hạn thanh toán, con đã nói với bố nó chỉ là tạm thời, còn việc học của con nữa…”

    “Bố,” Jesper thốt lên.

    “Con… vấn đề là…”

    Một tiếng súng nổ vang trên các vách tường của khoảng sân.

    Jesper đẩy bố ra sau lưng anh ngay khi một viên đạn cày xuống mặt đá dưới chân họ, làm một lớp bụi bay lên.

    Những tiếng súng khác tiếp nối, vang dội qua mặt sân.

    Âm vang khiến Jesper khó mà xác định được chúng phát ra từ đâu.

    “Cái quái quỷ gì thế n…”

    Jespe tóm lấy ống tay áo của bố, kéo ông về phía một chỗ ẩn nấp bên trong một vòm cửa.

    Anh nhìn sang trái, định nắm lấy Wylan, nhưng cậu thiếu gia đã kịp thời hành động và lom khom chạy theo bên cạnh anh.

    Không gì khiến ta học hỏi nhanh hơn là vài lần bị bắn, Jesper nghĩ bụng khi họ tới được chỗ nấp.

    Anh thò đầu ra ngoài, cố nhìn lên mái nhà, rồi lập tức rụt vào khi những phát súng khác nổ vang.

    Một loạt đạn lạch tạch vang lên từ đâu đó phía trên đầu họ, bên trái.

    Jesper thầm mong Matthias và Kaz là người bắn trả.

    “Thánh thần ơi!”

    Bố anh thốt lên.

    “Cái chốn này còn tệ hơn những gì được miêu tả trong sách hướng dẫn!”

    “Bố à, không phải tại thế đâu,” Jesper vừa đáp vừa rút khẩu súng trong áo choàng ra.

    “Bọn họ truy đuổi con.

    Hoặc chúng ta.

    Khó mà nói được.”

    “Ai truy đuổi con cơ?”

    Jesper liếc nhìn Wylan.

    Jan Van Eck chăng?

    Hay một băng đảng đối thủ tìm cách ghi điểm?

    Pekka Rollins, hoặc kẻ nào đó mà anh đã mượn tiền?

    “Có cả một danh sách dài.

    Chúng ta phải rời khỏi đây trước khi họ ra mặt.”

    “Bọn bất lương hả con?”

    Jesper biết mình có nguy cơ bị lỗ chỗ vết đạn trên người, nên anh cố gắng nén cười.

    “Cũng gần như thế.”

    Nói đoạn anh thò đầu qua mép khung cửa, bắn hai phát đạn, rồi rụt lại khi một loạt đạn khác nổ vang.

    “Wylan, hãy nói với tôi rằng cậu mang theo nhiều thứ hơn là bút, mực và nguyên liệu điều chế mọt hạt.”

    “Tôi có hai quả bom sáng và một thứ mà tôi tự chế, ồn ào hơn.”

    “Bom á?”

    Bố của Jesper hỏi lại, mắt chớp chớp như thể muốn tỉnh dậy khỏi một cơn ác mộng.

    Jesper nhún vai bất lực.

    “Bố cứ coi như đó là các thí nghiệm khoa học được không?”

    “Chúng ta đang chống lại bao nhiêu tên đây?”

    Wylan hỏi.

    “Nhìn cậu mà xem, luôn hỏi những câu đúng đắn.

    Khó mà biết được.

    Bọn chúng đang ở đâu đó trên mái nhà, và đường thoát duy nhất là trở ra ngoài qua cổng vòm.

    Chúng ta có cả một khoảng sân cần băng qua với hoả lực quân địch trên đầu.

    Ngay cả nếu như ta thành công, tôi đoán chúng đã cài sẵn nhiều người ở phía ngoài quảng trường, trừ phi Kaz và Matthias mở được đường máu bằng cách nào đó.”

    “Tôi biết một lối thoát khác,” Wylan đáp.

    “Nhưng lối đó nằm ở phía bên kia sân.”

    Cậu thiếu gia chỉ tay về phía một cánh cửa bên dưới một mái vòm chạm trổ hình một con quỷ mọc sừng đang gặm bút chì.

    “Phòng đọc sách á?”

    Jesper ước tính khoảng cách.

    “Được rồi.

    Tôi đếm đến ba, cậu chạy.

    Tôi sẽ yểm trợ.

    Đưa bố tôi vào trong đó.”

    “Jesper…”

    “Bố à, con thề con sẽ giải thích mọi chuyện, nhưng ngay lúc này tất cả những gì bố cần biết là chúng ta đang ở trong một hoàn cảnh bất lợi, và hoàn cảnh bất lợi tình cờ lại là chuyên môn của con.”

    Đó là sự thật.

    Jesper có thể cảm thấy anh trở nên hoạt bát, sự lo lắng làm đôi chân anh líu ríu từ lúc hay tin bố đến Ketterdam giờ đã tan biến.

    Anh cảm thấy tự do và nguy hiểm như sấm sét trên đồng cỏ.

    “Tin con đi, bố ơi.”

    “Được rồi, con trai.

    Được rồi.”

    Jesper gần như chắc chắn mình đã nghe bố nói thầm mấy chữ lúc này thôi.

    Anh thấy Wylan lấy can đảm.

    Những chuyện này vẫn còn mới mẻ đối với cậu thiếu gia.

    Hi vọng anh không làm cho mọi người mất mạng.

    “Một, hai…’’Anh bắt đầu khai hoả khi đếm đến ba.

    Lao ra sân, anh cuộn mình nấp sau đài phun nước.

    Anh nhắm mắt hành động bừa, nhưng cũng kịp thoáng thấy những bóng người trên mái nhà, ngắm bắn theo bản năng, cảm nhận chuyển động và bóp cò trước khi suy nghĩ.

    Anh không cần giết ai cả, chỉ cần lầm bọn họ sợ hãi để Wylan và bố anh có thêm thời gian.

    Một viên đạn trúng vào bức tượng trung tâm của đài phun nước, khiến quyển sách bằng đá trên tay học giả vỡ tan tành.

    Dù đang sử dụng loại đạn gì thì bọn chúng cũng không đùa bỡn.

    Jesper nạp đạn rồi ló đầu ra khỏi đài phun nước, nổ súng.

    “Thánh thần ơi,” anh hét lên khi cơn đau xé toang vai mình.

    Anh rất ghét bị bắn trúng.

    Anh lùi lại phía sau gờ đá.

    Anh co duỗi bàn tay, kiểm tra sự ảnh hưởng của vết thương đối với cánh tay mình.

    Chỉ là vết trầy xước, nhưng nó đau khủng khiếp, máu anh chảy thấm ướt chiếc áo vest mới.

    “Đây là lí do tại sao có cố ăn mặc lịch sự cũng vô ích,” anh lẩm bẩm.

    Trên mái nhà, anh thấy những bóng người di chuyển.

    Bất cứ lúc nào bọn chúng cũng có thể vòng sang phía bên này của đài phun nước và anh sẽ tiêu đời.

    “Jesper!”

    Giọng Wylan vang lên.

    Chết tiệt, đáng lẽ cậu ta phải biến đi rồi chứ.

    “Jesper, vị trí hai giờ của anh.”

    Jesper ngước lên và có thứ gì đó bay vèo trên bầu trời.

    Không cần suy nghĩ, anh nhắm bắn.Tiếng nổ vang vọng giữa không trung.

    “Hụp xuống nước mau!”

    Wylan hét lên.

    Jesper lao xuống đài phun nước, và chỉ giây lát sau khoảng không trên đầu anh sáng loà.

    Khi Jesper ló mái tóc ướt đẫm lên khỏi mặt nước, anh thấy tất cả những diện tích còn trong của cái sân và khu vườn đã chi chít lỗ thủng, khói bốc lên nghi ngút từ đó.

    Kẻ ở trên mái nhà đang hét lên.

    Wylan vừa quăng thứ bom gì vậy trời?

    Anh thầm mong Matthias và Kaz đã kịp tìm chỗ nấp, nhưng không có thời gian để lo cho họ.

    Anh lao tới cánh cửa bên dưới con quỷ gặm bút chì.

    Wylan và bố anh đang đợi bên trong.

    Họ đóng sầm cửa lại.

    “Giúp tôi với,” Jesper kêu lên.

    “Chúng ta cần chặn lối vào này.”

    Người đàn ông phía sau bàn giấy mặc áo thụng xám của học giả.

    Lỗ mũi ông ta nở to vì giận dữ đến độ Jesper chỉ sợ mình bị hút vào trong đó.

    “Cậu kia…”

    Jesper chĩa súng vào ngực người đàn ông.

    “Tránh ra nào.”

    “Jesper!”

    Bố anh thốt lên.

    “Bố đừng lo.

    Người ta chĩa súng vào nhau suốt ở Ketterdam này.

    Về cơ bản nó gần giống như một cái bắt tay thôi mà.”

    “Thật thế sao?”

    Bố anh hỏi lại trong lúc vị học giả miễn cưỡng tránh qua một bên, và họ chèn chiếc bàn nặng vào sau cánh cửa.

    “Hoàn toàn thật,” Wylan đáp.

    “Hoàn toàn không,” vị học giả nói.

    Jesper vẫy tay ra hiệu cho họ đi tiếp.

    “Cũng tuỳ khu vực.

    Ta đi thôi.”

    Họ lao nhanh trên lối đi chính của phòng đọc, giữa hai dãy bàn dài được chiếu sáng bằng những chiếc đèn cổ cong.

    Các sinh viên dạt ra hai vách tường hoặc chui xuống ghế, có lẽ đang nghĩ tất cả sắp chết đến nơi.

    “Không có gì phải lo lắng đâu, mọi người!”

    Jesper nói to.

    “Chỉ là tập dượt bắn bia dưới sân thôi.”

    “Lối này,” Wylan đưa ba người qua một cánh cửa được trang trí bằng những cuộn giấy tinh xảo.

    “Này, các người không được vào trong đó,” vị học giả đang đuổi theo họ thốt lên, tà áo bay lật phật.

    “Không phải phòng sách quý hiếm!”

    “Ông có muốn bắt tay lần nữa không?”

    Jesper hỏi, rồi nói thêm.

    “Tôi hứa chúng tôi sẽ không bắn những gì không cần phải bắn.”

    Anh đẩy nhẹ bố.

    “Lên cầu thang đi bố.”

    “Jesper?”

    Một giọng nói cất lên từ chiếc bàn gần nhất.

    Một cô gái tóc vàng xinh xắn đang ngẩng lên từ chỗ nấp dưới bàn.

    “Madeleine?”

    Anh hỏi lại.

    “Madeleine Michaud?”

    “Anh đã nói chúng ta sẽ ăn sáng cùng nhau!”

    “Anh bận đi Fjerda.”

    “Fjerda?”

    Jesper leo lên cầu thang phía sau Wylan, trước khi thò đầu xuống phòng đọc sách và nói tiếp.

    “Nếu anh còn sống, anh sẽ đãi em bánh waffle.”

    “Anh làm gì có đủ tiền để mua bánh cho chị ta,” Wylan làu bàu.

    “Im lặng nào.

    Chúng ta đang ở trong thư viện.”

    Jesper chưa từng có cớ để vào phòng sách quý hồi còn học trong trường.

    Ở đây im lặng đến mức có cảm giác như họ đang ở dưới nước.

    Những bản thảo viết tay kèm tranh minh hoạ được bày trong các ô kính dưới ánh đèn vàng vọt, trên tường treo những tấm bản đồ quý hiếm.

    Một Tiết Khí Sư mặc bộ kefta xanh đứng trong góc phòng, tay giơ lên, nhưng rồi rụt lại khi họ tiến vào.

    “Người Shu!”

    Anh ta hét lên khi trông thấy Wylan.

    “Ta sẽ không đi với ngươi.

    Ta thà tự kết liễu mình trước!”

    Bố của Jesper giơ tay lên như thể đang dỗ một con ngựa.

    “Ngoan nào, cháu.”

    “Chúng tôi chỉ đi ngang qua thôi,” Jesper nói và đẩy cho bố anh đi tiếp.

    “Đi theo tôi,” Wylan lên tiếng.

    “Một Tiết Khí Sư làm gì ở trong phòng sách quý hiếm này?”

    Jesper hỏi trong lúc họ chạy qua mê cung các kệ sách, ngang qua vài học giả hoặc sinh viên đang sợ hãi nép sát vào những cuốn sách.

    “Độ ẩm.

    Cậu ta giữ cho không khí khô để bảo quản các bản thảo.”

    “Công việc hay ho nhỉ.”

    Khi họ chạy tới bức tường cực tây, Wylan dừng chân trước một tấm bản đồ Ravka.

    Cậu nhìn quanh để bảo đảm không bị ai quan sát, trước khi ấn vào biểu tượng kinh đô - Os Alta.

    Đất nước Ravka tách ra làm hai theo ranh giới của Hư Hải, để lộ một khoảng trống đen ngòm chỉ vừa đủ rộng cho một người lách qua.

    “Nó dẫn tới tầng hai của một hiệu in,” Wylan nói trong lúc họ chui vào khe tường.

    “Cái này được thiết kế như lối thoát để các giáo sư có thể từ thư viện trở về nhà mà không phải đối phó với những sinh viên giận dữ.”

    “Giận dữ?”

    Bố của Jesper hỏi lại.

    “Họ có mang theo súng không?”

    “Không, nhưng ở đây có một truyền thống ẩu đả xoay quanh việc xếp loại.”

    Tấm bản đồ đóng lại, để ba người chìm trong bóng tối trong lúc họ len lỏi trên lối đi hẹp.

    “Tôi không muốn tọc mạch,” Jesper nói khẽ với Wylan, “nhưng tôi không hề biết cậu lại nắm được đường đi lối lại trong phòng sách quý hiếm đấy.”

    “Tôi từng gặp một trong các gia sư của mình tại đây, hồi mà cha tôi vẫn còn nghĩ…

    Người gia sư đó biết nhiều câu chuyện hay ho.

    Và tôi thì luôn thích các tấm bản đồ.

    Việc sờ lần theo các con chữ đôi khi lại làm cho mọi chuyện dễ dàng hơn…

    Tôi đã phát hiện ra lối đi này như thế.”

    “Cậu biết không, Wylan, một ngày nào đó tôi sẽ thôi không đánh giá thấp cậu nữa.”

    Một khoảng lặng tiếp nối, rồi từ đâu đó bên trên, Jesper nghe thấy Wylan nói, “Vậy thì anh sẽ khó bị bất ngờ hơn.”

    Jesper nhoẻn cười, nhưng không cảm thấy thoải mái.

    Từ phía sau lưng anh vọng tới những tiếng la hét trong phòng sách quý.

    Đúng là đường tơ kẽ tóc, anh bị thương ở vai, họ thoát nạn một cách ngoạn mục - anh sống vì những khoảnh khắc như thế này.

    Anh nên hào hứng vì những dư âm của cuộc đối đầu, nhưng bên cạnh đó có một cảm giác lạnh lẽo, lạ lùng dường như đang dập tắt niềm vui sướng trong anh.

    Tất cả những gì anh có thể nghĩ được là Bố có thể đã bị thương.

    Bố có thể đã bị chết.

    Jesper đã quen với việc người ta bắn vào mình, nhưng lần này thì khác.

    Bố anh tự dưng bị lôi vào cuộc đối đầu này.

    Tội lỗi duy nhất của ông là đã đặt niềm tin vào thằng con trai.

    Đó là vấn đề của Ketterdam, Jesper nghĩ thầm trong lúc loạng choạng bước đi giữa bóng tối.

    Tin lầm người có thể khiến bạn mất mạng.

    6

    NINA

    Cô không thể thôi nhìn vào Colm Fahey.

    Ông hơi thấp hơn cậu con trai, nhưng vai rộng hơn, với diện mạo đặc trưng của dân Kaelish - mái tóc hung nổi bật và làn da trắng dày đặc những vết tàn nhang do ánh mặt trời Novyi Zem gây ra.

    Và mặc dù đôi mắt ông có cùng màu xám nhạt như Jesper, chúng có chất nghiêm nghị và ấm áp khác với sự tăng động của cậu con trai.

    Nhưng không chỉ có sự thích thú khi tìm kiếm Jesper trong hình dáng của bố anh khiến cho Nina tập trung chú ý vào lão nông.

    Có một thứ gì đó rất kì lạ trong việc chứng kiến một con người chân chất như Colm Fahey đứng giữa gian phòng bằng đá của một nhà mồ bỏ không, vây quanh bởi những kẻ tồi tệ nhất Ketterdam - trong đó có chính cô.

    Nina rùng mình và quấn chặt hơn một chút cái mền ngựa cũ mà cô dùng như áo choàng.

    Cô đã bắt đầu chia cuộc đời mình thành những ngày tốt hoặc những ngày tệ, và nhờ vụ Cornells Smeet, hôm nay đang trở thành một ngày rất tệ.

    Cô không thể để nó ảnh hưởng đến mình, không phải đúng vào lúc họ đang rất gần với việc giải cứu Inej.

    Sẽ ổn cả thôi, Nina nhủ thầm, hi vọng những ý nghĩ của cô làm thế nào đó có thể xuyên qua không gian, vượt trên sóng nước ở các hải cảng Ketterdam, và đến tai người bạn của cô.

    Hãy bảo toàn tính mạng và chờ bọn chị.

    Nina không có mặt trên đảo Vellgeluk khi Van Eck bắt Inej làm con tin.

    Lúc đó cô vẫn còn đang cố thanh lọc parem ra khỏi cơ thể và bị mắc kẹt trong màn sương thống khổ bắt đầu khi họ từ Djerholm trở về Kerch.

    Cô tự nhủ rằng mình nên biết ơn những kí ức về nó, mọi phút giây run rẩy, đau đớn, nôn mửa vì nó.

    Cả sự xấu hổ vì Matthias đã chứng kiến tất cả trong lúc anh vén tóc cô ra sau, thấm mồ hôi trên trán cô, ngăn cản cô một cách nhẹ nhàng hết mức có thể trong lúc cô cãi cọ, mồi chài, gào thét vào mặt anh để có thêm parem.

    Cô buộc mình ghi nhớ mọi điều kinh khủng đã nói, mọi lạc thú hoang dại đã đề nghị, từng lời sỉ nhục hoặc buộc tội mà cô đã trút vào anh.

    Anh thích nhìn tôi khốn khổ, anh muốn tôi van xin, đúng không?

    Anh đã đợi bao lâu để thấy tôi như thế này hả?

    Đừng có trừng phạt tôi nữa mà, Matthias.

    Giúp tôi đi.

    Tử tế với tôi rồi tôi sẽ tử tế lại với anh.

    Matthias đã tiếp nhận tất cả với một sự im lặng sắt đá.

    Cô níu chặt lấy những kí ức đó.

    Cô cần chúng sống động, sáng rõ và day dứt nhiều nhất có thể, để chống lại cơn đói thuốc.

    Cô không bao giờ muốn mình như thế nữa.

    Giờ đây cô đang nhìn Matthias, mái tóc anh dày và vàng óng, đủ dài để chờm qua tai.

    Cô thích hình ảnh của anh, nhưng cũng căm ghét nó.

    Bởi vì anh sẽ không cho cô điều cô muốn.

    Bởi vì anh biết cô cần nó kinh khủng đến thế nào.

    Sau khi Kaz bố trí cho cả bọn trốn trên đảo Mạng Đen, Nina đã cầm cự được hai ngày trước khi gục ngã và phải đi tìm Kuwei để hỏi xin parem.

    Một liều nhỏ.

    Chỉ nếm chút xíu, để làm dịu nhu cầu không thể chịu nổi này.

    Cơn vật vã đổ mồ hôi lúc đó đã qua đi, trận sốt cũng vậy.

    Cô có thể bước đi và nói chuyện, hay lắng nghe Kaz bàn bạc kế hoạch cùng những người khác.

    Nhưng mỗi khi cô tự lo liệu cho bản thân, uống nước súp và món trà ngọt lừ mà Matthias đã chuẩn bị, nhu cầu vẫn ở đó, một lưỡi cưa không ngừng cắt cứa vào những sợi dây thần kinh của cô, tới rồi lui, phút này qua phút khác.

    Khi ngồi xuống bên cạnh Kuwei, cô đã có một quyết định không tỉnh táo rằng mình sẽ hỏi xin cậu.

    Cô nói chuyện với cậu một cách dịu dàng bằng tiếng Shu, lắng nghe cậu ca cẩm về sự ẩm ướt của nhà mồ.

    Thế rồi những chữ đó bật ra khỏi miệng cô: “Cậu còn không?”

    Kuwei không buồn hỏi lại.

    “Tôi đã đưa hết cho Matthias rồi.”

    “Tôi hiểu,” cô đã đáp như thế.

    “Có lẽ như vậy là tốt nhất.”

    Nina mỉm cười.

    Cậu bé cũng mỉm cười đáp lại.

    Cô chỉ muốn cào nát mặt cậu.

    Bởi vì cô không thể đi cầu xin Matthias.

    Không bao giờ.

    Theo những gì cô biết về anh thì anh hẳn đã ném hết chỗ ma dược của Kuwei xuống biển.

    Ý nghĩ đó làm cô kinh hoàng đến độ phải lao ra ngoài để nôn oẹ những thứ ít ỏi có trong dạ dày trước cổng nhà mồ đổ nát.

    Cô lấy rác lấp cái đống đó lại, rồi tìm thấy một nơi yên tĩnh dưới một thảm dây thường xuân để khóc những giọt nước mắt tuyệt vọng.

    “Mấy người chỉ là một đám khốn vô dụng,” Nina nói với những nấm mồ câm lặng.

    Chúng dường như không quan tâm.

    Thế nhưng theo cách nào đó, sự tĩnh lặng của Mạng Đen làm cô lắng dịu lại.

    Cô không hiểu vì sao nữa.

    Những nơi chết chóc chưa bao giờ mang lại sự khuây khoả cho cô trước đây.

    Cô ngồi nghỉ một lúc, thấm khô nước mắt, rồi sau khi đã chắc chắn không để lộ sự yếu đuối của mình qua khuôn mặt lấm lem và đôi mắt mọng nước, cô quay trở vào chỗ ẩn nấp.

    Mày đã sống sót sau giai đoạn tồi tệ nhất, cô tự nhủ.

    Parem đã ở ngoài tầm tay rồi, mày phải thôi nghĩ về nó đi.

    Và cô đã cầm cự được một thời gian.

    Thế rồi đêm qua, trong lúc chuẩn bị để đi mồi chài Cornells Smeet,

    Nina lại phạm sai lầm.

    Cô đã sử dụng năng lực của mình.

    Ngay cả với mái tóc giả cài hoa, bộ trang phục và áo corset, cô vẫn chưa cảm thấy đủ quyến rũ.

    Thế nên cô đã tìm một cái gương trong sòng bạc Cumulus và cố gắng sửa chữa các quầng thâm dưới mắt.

    Đó là lần đầu tiên cô thử dùng năng lực của mình kể từ khi hồi phục.

    Cô đã toát mồ hôi hột vì gắng sức, và ngay khi quầng thâm nhạt màu đi, cơn thèm parem trỗi dậy, tựa một cú đánh nhanh như trời giáng ập vào ngực.

    Cô phải gập người lại, bấm lấy bồn rửa mặt, trong đầu chỉ nghĩ đến chuyện liều lĩnh bỏ trốn, tìm một kẻ cung cấp, và làm sao để mua thuốc.

    Cô cố gắng buộc mình nghĩ tới cảnh tượng xấu hổ trên tàu, tới tương lai mà mình có thể tạo dựng cùng với Matthias, nhưng ý nghĩ khiến cô tỉnh táo trở lại chính là Inej.

    Cô mang ơn Inej cả đời, và không thể có chuyện cô bỏ mặc cô bé bị Van Eck cầm tù.

    Cô không phải là người như thế.

    Cô không chấp nhận điều đó.

    Thế rồi Nina cũng bình tâm lại được, cô vã nước lên mặt, véo má cho ửng hồng lên.

    Trông cô vẫn hốc hác, nhưng với sự quyết tâm, cô xốc lại corset và nở nụ cười tươi tắn nhất có thể.

    Cứ làm cho đúng thì Smeet sẽ chẳng thèm để ý tới sắc mặt của mày đâu, Nina tự nhủ như thế trước khi bước qua cánh cửa để tóm lấy con bồ câu.

    Nhưng một khi công việc đã xong xuôi, khi họ đã có được thông tin cần tìm, và mọi người đã đi ngủ, Nina lục lọi chỗ đồ đạc ít ỏi của Matthias, cô moi hết các túi áo túi quần, càng lúc càng tức tối hơn.

    Cô hận anh.

    Cô hận Kuwei.

    Cô hận cái thành Ketterdam ngu ngốc này.

    Kinh tởm chính bản thân mình, Nina rúc vào trong chăn.

    Matthias luôn ngủ quay lưng vào tường, một thói quen có từ hồi ở trong tù.

    Cô để bàn tay mình đi lang thang, sục sạo trong túi quần anh, cô gắng lần tìm dọc theo những đường may.

    “Nina?”

    Anh hỏi với giọng ngái ngủ.

    “Em lạnh,” cô đáp, hai bàn tay tiếp tục tìm kiếm.

    Cô đặt một nụ hôn lên cổ anh, rồi lên phần dưới tai.

    Trước đó cô chưa bao giờ hôn anh như thế.

    Cô chưa từng có cơ hội.

    Họ quá bận gỡ rối mớ bòng bong những nghi ngờ, sắc dục và sự trung thành xung quanh, và từ khi cô dùng parem thì…

    Nó là tất cả những gì cô nghĩ tới, kể cả vào lúc này.

    Cô khao khát thứ ma dược đó, chứ không phải cơ thể đang cựa mình dưới bàn tay cô.

    Nhưng cô không hôn lên môi anh.

    Cô sẽ không để parem lấy đi điều đó,

    Matthias rên lên khe khẽ.

    “Những người khác…”

    “Mọi người ngủ hết rồi.”

    Anh bèn chộp lấy bàn tay cô.

    “Dừng lại.”

    “Matthias…”

    “Anh không giữ nó.”

    Nina dịch người ra, sự xấu hổ lan ra khắp da thịt cô tựa như lưỡi lửa quét qua một vạt rừng.

    “Vậy thì ai?” cô rít lên.

    “Kaz.”

    Nina cứng người.

    “Em sẽ không mò vào giường cậu ta chứ?”

    Cô buông một tiếng thở dài ngờ vực.

    “Anh ta sẽ cắt cổ em.”

    Cô chỉ muốn hét lên vì bất lực.

    Sẽ không có chuyện mặc cả với Kaz.

    Cô không thể bắt nạt anh ta như với Wylan, hoặc nài nỉ anh ta như với Jesper được.

    Cơn mệt mỏi đột ngột kéo đến như một cú đánh vào gáy, sự kiệt sức cuối cùng cũng làm dịu đi cơn thèm thuốc của cô.

    Nina áp trán lên ngực Matthias.

    “Em ghét chuyện này,” cô nói.

    “Em cũng ghét anh chút xíu, chàng drüskelle ạ.”

    “Anh quen rồi.

    Xích vào đây.”

    Anh vòng tay qua người Nina và lắng nghe cô tâm sự về Ravka, về Inej.

    Anh làm cô khuây khoả với những câu chuyện, điểm tên những cơn gió thổi qua Fjerda, kể cho cô nghe về bữa ăn đầu tiên của mình ở doanh trại drüskelle.

    Đến một lúc, cô hẳn đã thiếp đi, vì điều tiếp theo mà cô biết là mình đang trôi qua một giấc ngủ không mộng mị thì bị đánh thức bởi tiếng cánh cửa nhà mồ bật mở.

    Matthias và Kaz từ trường đại học quay về, quần áo cháy thủng lỗ chỗ vì một loại bom nào đó mà Wylan đã chế tạo.

    Nối gót họ là Jesper và Wylan với đôi mắt mở to, người ngợm ướt sũng vì cơn mưa xuân vừa bắt đầu rơi.

    Đi khoá đuôi là một bác nông dân lực lưỡng người Kaelish.

    Nina cảm thấy như mình vừa được nhận một món quà đáng yêu từ các vị thánh.

    Một tình huống đủ điên rồ để làm cô thực sự khuây khoả.

    Mặc dù cơn đói thuốc đã dịu đi sau cơn điên cuồng đêm qua, nó vẫn còn đó, và Nina không biết làm thế nào mình vượt qua được phi vụ đêm nay.

    Quyến rũ Smeet chỉ là phần đầu trong kế hoạch của họ.

    Kaz trông đợi ở cô, Inej cũng vậy.

    Họ cần cô phát huy sức mạnh của một Tâm Y, chứ không phải một con bé nghiện ngập khốn khổ nhanh chóng kiệt quệ chỉ sau một màn thể hiện năng lực Thợ May hèn mọn.

    Nhưng Nina không thể nghĩ về những chuyện đó với ông Colm Fahey đứng đó mân mê cái mũ trong tay, và Jesper trông như thể thà ăn một đống bánh waffle rắc đầy mảnh thuỷ tinh còn hơn là đối mặt với bố.

    Còn Kaz thì… cô không biết mình chờ đợi điều gì ở Kaz.

    Một trận lôi đình, hoặc có thể tệ hơn.

    Kaz không thích bất ngờ hoặc những thứ có nguy cơ làm họ bị yếu đi, trong khi bố của Jesper lại chính là một mắt xích yếu to đùng.

    Nhưng sau khi nghe lời kể ngắt quãng vì hụt hơi và vắn tắt có chủ ý của Jesper - Nina nghĩ thế - về biến cố mà họ đã trải qua ở trường đại học, Kaz chỉ tựa người vào cây gậy chống và hỏi, “Các cậu có bị bám đuôi không?”

    “Không,” Jesper đáp với một cái lắc đầu quả quyết.

    “Wylan?”

    Ông Colm nổi cáu.

    “Cậu nghi ngờ lời nói của con trai tôi sao?”

    “Đây không phải là chuyện cá nhân đâu, bố ơi,” Jesper nói.

    “Anh ta nghi ngờ tất cả mọi người.”

    Vẻ mặt Kaz không hề suy suyển, chất giọng khàn của anh cất lên một cách dễ dàng và thoải mái đến độ làm Nina sởn hết gai ốc.

    “Vô cùng xin lỗi, thưa bác Fahey.

    Một thói quen đã hình thành tại Barrel.

    Tin nhưng vẫn phải kiểm chứng.”

    “Tức là không hề tin một chút nào,” Matthias lẩm bẩm.

    “Wylan?”

    Kaz lặp lại.

    Cậu thiếu gia đặt cái túi đeo chéo xuống bàn.

    “Nếu biết về lối đi bí mật, bọn chúng đã bám theo chúng tôi hoặc cài người phục sẵn trong hiệu in.

    Ta cắt đuôi được bọn chúng rồi.”

    “Tôi đếm được khoảng mười tên trên mái nhà,” Kaz đáp, và Matthias gật đầu xác nhận.

    “Có vẻ đúng,” Jesper nói.

    “Nhưng tôi không dám chắc.

    Tôi bị chói mắt vì mặt trời ở phía sau lưng chúng.”

    Kaz ngồi xuống, đôi mắt đen tập trung vào bố của Jesper.

    “Bác chính là chim mồi.”

    “Cái gì cơ?”

    “Ngân hàng đã liên hệ với bác vì món nợ à?”

    Ông Colm chớp chớp mắt ngạc nhiên, “Ơ, phải rồi, đúng là bọn họ đã gửi cho tôi một lá thư với lời lẽ gay gắt, thông báo rằng tôi đã trở thành một nguy cơ tín dụng đối với họ.

    Bọn họ bảo nếu tôi không trả hết nợ thì sẽ buộc phải tiến hành các biện pháp xử lí theo luật định.”

    Ông quay sang cậu con trai.

    “Bố đã viết thư cho con, Jes.”

    Giọng điệu của ông hoang mang nhiều hơn là buộc tội.

    “Con… con đã không nhận được lá thư đó.”

    Sau khi ngừng đến trường, liệu Jesper có còn xoay sở để nhận được thư từ gửi tới đó cho mình không?

    Nina tự hỏi làm thế nào anh chàng duy trì trò lừa này được lâu đến thế.

    Mọi thứ có lẽ dễ dàng hơn vì ông Colm ở cách đó cả một đại dương, và ông quá tin vào cậu con trai.

    Một mục tiêu dễ dàng, Nina buồn bã nghĩ bụng.

    Bất luận với lí do nào, Jesper cũng đã lừa gạt bố mình.

    “Jesper…”

    Ông Colm lên tiếng.

    “Con đang cố kiếm tiền mà bố.”

    “Bọn họ doạ lấy nông trại.”

    Đôi mắt Jesper nhìn dán xuống sàn.

    “Con sắp thành công rồi.

    Sắp rồi.”

    “Kiếm tiền sao?”

    Giờ thì Nina đã nghe thấy sự giận dữ trong giọng nói của ông Colm.

    “Chúng ta đang trốn chui trốn nhủi trong một nhà mồ.

    Và chúng ta vừa bị bắn vào người.”

    “Điều gì đã khiến bác lên tàu đến Ketterdam?”

    Kaz hỏi lại.

    “Sắp đến thời hạn ngân hàng siết nợ rồi!”

    Ông Colm nổi cáu.

    “Tôi không còn đủ thời gian.

    Tôi đã cố liên lạc với Jesper, nhưng vì không có hồi âm nào, nên tôi nghĩ…”

    “Bác nghĩ mình sẽ thấy cậu con trai giỏi giang trưởng thành như thế nào tại đây, trên những con phố hắc ám của Ketterdam.”

    “Tôi đã sợ điều tồi tệ nhất.

    Nơi này tai tiếng lắm.”

    “Và nó rất xứng với danh tiếng đó, cháu xin hứa với bác,” Kaz đáp.

    “Thế bác đến đây hôm nào?”

    “Tôi đã đến trường đại học để hỏi thăm.

    Họ nói thằng bé không có trong danh sách đăng kí, thế nên tôi đã đi trình báo.”

    Jesper nhăn mặt.

    “Ôi trời, bố ơi.

    Bố đi báo với thị tuần á?”

    Ông Colm bối rối vần vò chiếc mũ.

    “Thế đáng lẽ bố phải đi đâu, hả Jes?

    Con biết nơi này nguy hiểm như thế nào với… với một người như con.”

    “Bố à,” Jesper thốt lên, cuối cùng cũng chịu nhìn vào mắt ông già.

    “Bố đã không nói với họ rằng con là…

    đúng không?”

    “Dĩ nhiên là không rồi!”

    Grisha.

    Sao không ai trong hai người dám nói ra chữ đó nhỉ?

    Ông Colm ném thứ nhàu nhĩ từng là mũ đội đầu xuống sàn.

    “Bố chẳng hiểu cái quái gì cả.

    Tại sao con đưa bố tới cái nơi kinh khủng này?

    Tại sao chúng ta bị bắn?

    Chuyện học hành của con ra sao rồi?

    Con dạo này thế nào?”

    Jesper lắp bắp.

    “Bố, con… con…”

    “Là do lỗi của cháu,” Wylan thốt lên.

    Mọi cặp mắt đều quay về phía cậu ta.

    “Anh ấy… anh ấy lo lắng về khoản nợ ngân hàng nên đã gác việc học lại để đi làm ở chỗ một…”

    “Người sản xuất súng,” Nina nói nốt.

    “Nina,” Matthias cảnh cáo khẽ.

    “Cậu ta cần sự giúp đỡ của chúng ta,” cô thì thào.

    “Để dối gạt bố mình?”

    “Bịa chuyện chút thôi.

    Nó hoàn toàn khác.”

    Cô không biết Wylan định đi đến đâu với chuyện này, nhưng rõ ràng cậu ta cần được hỗ trợ.

    “Đúng rồi!”

    Wylan hào hứng thốt lên.

    “Một người sản xuất súng!

    Và rồi cháu… cháu đã nói với anh ấy về một thoả thuận…”

    “Họ đã bị lừa,” Kaz đáp.

    Giọng anh lạnh lùng và điềm tĩnh hơn bao giờ hết, nhưng cơ thể anh cứng lại giống như đang bước đi trên một mặt nền mấp mô.

    “Họ được đề nghị một cơ hội làm ăn quá hấp dẫn để có thể là sự thật.”

    Ông Colm buông người xuống một chiếc ghế.

    “Nếu nó hấp dẫn như thế thì…”

    “Nó không thể nào có thật,” Kaz đáp.

    Nina có cảm giác rất lạ lùng rằng anh đang thành thật.

    “Cậu và em trai cậu mất tất cả à?”

    Ông Colm hỏi Wylan.

    “Em cháu?”

    Wylan ngơ ngác.

    “Em song sinh của cậu ấy,” Kaz vừa đáp vừa đánh mắt về phía Kuwei, người chỉ im lặng quan sát mọi chuyện.

    “Phải, hai đứa đã mất tất cả.

    Kể từ đó em của Wylan cũng không nói năng gì nữa.”

    “Trông cậu ta không có vẻ trầm tính,” ông Colm nói.

    “Thế tất cả các cô cậu đều là… sinh viên à?”

    “Đại loại thế,” Kaz đáp.

    “Và dành thời gian rảnh rỗi của mình để ngồi chơi trong một nghĩa địa.

    Sao chúng ta không đi gặp chính quyền để báo cho họ biết về những gì đã xảy ra?

    Những kẻ lừa đảo đó có thể còn có nhiều nạn nhân khác.”

    “Dạ…”

    Wylan mở miệng, nhưng lập tức bị cái liếc mắt của Kaz làm cho im bặt.

    Một sự thinh lặng kì lạ bao trùm nhà mồ.

    Kaz ngồi xuống bên bàn.

    “Chính quyền không giúp gì được đâu,” anh nói.

    “Không phải ở Ketterdam này.”

    “Tại sao?”

    “Bởi vì lợi nhuận chính là luật lệ ở đây.

    Jesper và Wylan đã cố gắng đi đường tắt.

    Đám thị tuần sẽ không mất thời gian lau nước mắt cho họ đâu.

    Đôi khi, cách duy nhất để đòi được công lí là tự mình nắm lấy.”

    “Và đó là lúc cậu can thiệp.”

    Kaz gật đầu.

    “Chúng cháu sắp lấy được tiền cho bác.

    Bác sẽ không mất trang trại.”

    “Nhưng các cô cậu sẽ không làm gì trái pháp luật để có tiền,” ông Colm lắc đầu quầy quậy.

    “Trông cậu chỉ vừa đủ tuổi tốt nghiệp.”

    “Ketterdam là trường học của cháu, và cháu có thể khẳng định với bác như thế này: Jesper không bao giờ đến nhờ cháu giúp đỡ nếu còn có thể nhờ người khác.”

    “Cậu đâu thể tệ vậy được,” ông Colm đáp một cách cộc cằn.

    “Cậu chưa sống đủ lâu để tích luỹ nhiều tội lỗi.”

    “Cháu học rất nhanh.”

    “Tôi có nên tin cậu không?”

    “Không.”

    Ông Colm nhặt cái mũ nhàu nhĩ lên.

    “Tôi có nên tin cậu sẽ giúp Jesper vượt qua chuyện này được không?”

    “Có.”

    Ông già thở dài.

    Rồi ông nhìn khắp một lượt bọn trẻ.

    Nina cảm thấy mình đứng thẳng lưng hơn một chút.

    “Các cô các cậu làm tôi thấy mình già cả quá.”

    “Hãy ở lại Ketterdam ít lâu nữa,” Kaz đáp.

    “Bác sẽ thấy mình lụ khụ luôn ấy chứ.”

    Nói đoạn anh nghiêng đầu sang một bên, và Nina lại trông thấy vẻ mặt trầm ngâm xa xăm đó.

    “Bác có một vẻ mặt thành thật đó, bác Fahey.”

    Ông Colm ngơ ngác liếc nhìn Jesper.

    “Ờ, tôi cũng hi vọng thế, cảm ơn cậu đã ghi nhận.”

    “Đó không phải là một lời khen đâu,” Jesper nói.

    “Và tôi biết vẻ mặt ủ mưu đó của cậu, Kaz.

    Cậu lại dám bày trò nữa đi.”

    Kaz chỉ đáp lại bằng một cái chớp mắt chậm rãi.

    Bất luận âm mưu nào đang được ấp ủ trong bộ não quái quỷ của Kaz thì cũng đã quá trễ để có thể ngăn nó lại.

    “Bác trọ ở đâu?”

    “Quán Đà Điểu.”

    “Quay lại đó sẽ không an toàn.

    Chúng cháu sẽ chuyển bác sang khách sạn Geldrenner.

    Chúng cháu sẽ đăng kí phòng cho bác dưới một cái tên giả.”

    “Nhưng… tại sao?”

    Ông Colm lắp bắp.

    “Bởi vì có một số người muốn Jesper phải chết, và họ đã sử dụng bác để dụ cậu ấy ra khỏi nơi ẩn náu.

    Cháu tin chắc họ sẵn sàng bắt cóc bác, bọn cháu đang phải đối phó với quá nhiều những chuyện như thế rồi.”

    Kaz hí hoáy vài dòng chỉ dẫn cho Rotty rồi đưa cho anh ta một cọc tiền dày.

    “Bác được tự do ăn uống trong nhà ăn, nhưng cháu yêu cầu bác tránh để bị nhòm ngó và ở trong khách sạn cho tới khi bọn cháu liên lạc lại.

    Nếu có ai hỏi thì bác cứ nói là đến đây để nghỉ ngơi thư giãn.”

    Ông Colm nhìn Rotty lom lom, rồi hướng mắt vào Kaz.

    Ông thở hắt ra.

    “Không được.

    Cảm ơn cậu, nhưng đây là một sai lầm.”

    Ông quay sang phía Jesper.

    “Chúng ta sẽ tìm ra cách khác để trả nợ.

    Hoặc là bắt đầu lại ở một nơi khác.”

    “Bố sẽ không từ bỏ trang trại,” Jesper đáp, rồi hạ giọng.

    “Mẹ đang ở

    đó.

    Chúng ta không thể bỏ rơi mẹ.”

    “Jes…”

    “Con xin bố.

    Hãy để con thu xếp chuyện này.

    Con biết…”

    Jesper nuốt khan, đôi vai xương xẩu nhô lên.

    “Con biết con đã phụ lòng bố.

    Nhưng hãy cho con một cơ hội nữa.”

    Nina đoán câu nói đó không chỉ dành cho ông Colm.

    “Chúng ta không thuộc về nơi này, Jes.

    Nó quá ồn ào, quá vô pháp.

    Không có gì hợp lẽ cả.”

    “Bác Fahey,” Kaz nói khẽ.

    “Bác biết người ta nói gì về chuyện bước vào một bãi chăn bò không?”

    Jesper nhướng mày, và Nina phải cố nén một tiếng cười căng thẳng.

    Một thằng con hoang khu Barrel thì biết gì về chăn bò kia chứ?

    “Cúi đầu xuống và dè chừng bước chân,” ông Colm đáp.

    Kaz gật đầu.

    “Hãy coi Ketterdam như một bãi chăn thả bò cực lớn.”

    Một nụ cười nhẹ làm những nếp nhăn quanh miệng ông già giãn ra.

    “Hãy cho bọn cháu ba ngày để lấy lại tiền cho bác.

    Sau đó cha con bác sẽ an toàn rời khỏi Kerch.”

    “Chuyện đó có khả thi thật không?”

    “Bất kì chuyện gì cũng có thể xảy ra ở cái thành này.”

    “Suy nghĩ đó không làm tôi an lòng.”

    Ông đứng dậy, và Jesper cũng bật dậy theo.

    “Bố?”

    “Ba ngày, Jesper.

    Sau đó chúng ta sẽ về nhà.

    Có tiền hay không có tiền cũng mặc.”

    Ông đặt một bàn tay lên vai cậu con trai, “và lạy các thánh, con hãy bảo trọng nhé.

    Tất cả các con.”

    Nina bỗng cảm thấy một cục nghẹn trong cổ.

    Matthias đã mất gia đình do chiến tranh.

    Nina thì bị tách khỏi gia đình để tham gia huấn luyện từ khi còn là một bé gái.

    Wylan coi như bị cha đẻ tống cổ ra khỏi nhà.

    Kuwei đã mất cả cha lẫn quê hương.

    Thế còn Kaz?

    Cô không muốn biết Kaz đã chui ra từ cái lỗ nẻ nào.

    Nhưng Jesper có một nơi để về, một người quan tâm chăm sóc, một người luôn nói Mọi chuyện rồi sẽ ổn.

    Cô chợt hình dung trong đầu những cánh đồng vàng rực dưới bầu trời trong xanh, một ngôi nhà bằng ván được chắn gió bằng một hàng sồi đỏ.

    Chốn an toàn.

    Nina thầm ước ông Colm Fahey có thể đi thẳng tới văn phòng của Jan Van Eck và yêu cầu lão ta trao trả Inej hoặc ăn đấm.

    Cô ước gì có ai đó trong cái thành này có thể giúp họ, để họ không cô độc như thế này.

    Cô ước gì bố của Jesper có thể đưa tất cả bọn họ đi cùng ông.

    Cô chưa bao giờ đến Novyi Zem, nhưng hình ảnh những cánh đồng vàng đó khiến cô nhớ nhà quay quắt.

    Ngu ngốc, cô tự nhủ, trẻ con.

    Kaz đã đúng.

    Nếu họ muốn công lí thì phải tự mình giành lấy.

    Nhưng không vì thế mà cô cảm thấy bớt nhói đau trong tim.

    Ông Colm từ biệt Jesper rồi rời khỏi nhà mồ cùng với Rotty và Specht.

    Ông quay lại vẫy chào, và đi khuất.

    “Tôi nên đi với bố,” Jesper nói trong lúc tần ngần đứng trên ngưỡng cửa.

    “Cậu đã suýt làm ông ấy mất mạng một lần rồi,” Kaz đáp.

    “Chúng ta có biết kẻ nào đã mai phục ở đại học không?”

    Wylan hỏi.

    “Bố của Jesper đã đi trình báo với thị tuần,” Matthias đáp.

    “Tôi dám chắc rất nhiều sĩ quan đã bị mua chuộc.”

    “Phải,” Nina công nhận.

    “Nhưng việc ngân hàng liên hệ với ông ấy về món nợ không thể chỉ là trùng hợp.”

    Wylan ngồi vào bàn.

    “Nếu đám ngân hàng dây vào chuyện này thì có thể người đứng sau là cha tôi.”

    “Pekka Rollins cũng có ảnh hưởng với ngân hàng đấy,” Kaz nói, bàn tay đeo găng của anh quắp lại trên cái đầu quạ của cây gậy chống.

    “Hai người đó liệu có hợp tác với nhau không?”

    Nina thắc mắc.

    Jesper đưa hai tay lên xoa mặt.

    “Lạy các thánh, hãy hi vọng là không.”

    “Tôi sẽ không loại trừ bất cứ khả năng nào,” Kaz nói.

    “Nhưng tất cả những chuyện này không thay đổi được điều mà chúng ta sẽ tiến hành đêm nay.

    Đây.”

    Anh thò tay vào trong một khe tường.

    “Súng của tôi!”

    Jesper reo len và ghì chặt chúng vào ngực.

    “Chào các bé cưng.”

    Anh chàng thiện xạ nở nụ cười rạng rỡ.

    “Anh đã lấy lại chúng!”

    “Két an toàn ở Cumulus chỉ là chuyện vặt.”

    “Cảm ơn anh, Kaz.

    Cảm ơn anh.”

    Mọi dấu vết của sự ân cần mà Kaz dành cho bố của Jesper đã biến mất, nhanh như cơn mơ về những cánh đồng vàng.

    “Một tay thiện xạ thì làm được gì nếu không có súng chứ?”

    Kaz hỏi lại, không thèm để ý tới nụ cười tắt phụt trên môi Jesper.

    “Cậu đã nợ đầm đìa quá lâu rồi.

    Tất cả chúng ta đều thế.

    Đêm nay chúng ta sẽ bắt đầu trả các món nợ của mình.”

    ***

    Màn đêm buông xuống khi họ đang trên đường đi trả nợ.

    Mặt trăng trắng bệch nhìn xuống họ như một con mắt dò xét.

    Nina phất tay áo.

    Cái lạnh đã tan biến, nhường chỗ cho tiết trời cuối xuân.

    Hay là thứ tượng trưng cho điều đó ở Kerch - hơi ẩm, sự oi nồng giống như trong miệng một con thú, chỉ được giảm bớt bằng những cơn bão ngắn ngủi không thể dự báo.

    Matthias và Jesper đã đi trước để bảo đảm con thuyền ở đúng vị trí.

    Tất cả bọn họ đều đã tới điểm xuất phát, chỉ để lại Kuwei trên đảo Mạng Đen cùng với Rotty và Specht.

    Con thuyền yên lặng rẽ sóng.

    Phía trước, Nina có thể trông thấy ánh đèn soi đường cho họ tiến tới.

    Những khẩu súng lục đã trở lại vị trí quen thuộc nơi thắt lưng của Jesper.

    Anh chàng thiện xạ và Matthias còn khoác chéo súng trường trên lưng.

    Kaz giấu một khẩu trong áo choàng cùng với cây gậy chống, và Nina cũng thấy Wylan đặt một tay trên chiếc túi đeo chéo.

    Trong đó đựng đầy chất nổ, bom sáng và có trời mới biết là còn thứ gì nữa.

    “Tốt hơn chúng ta nên đúng về chuyện này,” Wylan thở dài.

    “Cha tôi chắc đã sẵn sàng.”

    “Tôi tin điều đó,” Kaz đáp.

    Nina lướt nhẹ ngón tay trên phần báng của khẩu súng lục giắt trong chiếc áo khoác nhẹ mà cô đang mặc.

    Trước đây cô chưa bao giờ mang súng, cô không bao giờ muốn mang súng.

    Bởi vì mình chính là một món vũ khí rồi.

    Nhưng hiện tại cô không mấy tự tin.

    Cô cảm thấy việc kiểm soát năng lực của mình không còn chắc chắn, như thể cô cứ phải với tới một thứ gì đó nằm xa hơn cô nghĩ.

    Cô cần biết liệu nó có ở đó đêm nay không.

    Cô không thể phạm sai lầm, khi mà sinh mạng của Inej phụ thuộc vào đó.

    Nina biết nếu cô có mặt trên đảo Vellgeluk thì trận chiến đã khác đi.

    Inej đáng lẽ đã không bị bắt đi mất nếu như Nina đủ khoẻ để đối đầu với đám tay chân của Van Eck.

    Thế nếu như cô dùng parem thì sao?

    Đáng lẽ không ai có thể địch được cô.

    Nina lắc đầu thật mạnh.

    Nếu mày dùng parem, chắc chắn mày đã bị nghiện hoàn toàn và đang trên đường ra đảo Tử Thần.

    Không ai nói tiếng nào trong lúc họ tiến ra mép nước rồi lên thuyền một cách nhanh chóng và khẽ khàng nhất có thể.

    Kaz ra hiệu cho mọi người vào vị trí.

    Anh sẽ tiếp cận từ phía bắc, Matthias cùng với Wylan từ phía đông.

    Nina và Jesper sẽ phụ trách đám vệ quân ở rìa phía tây của khu vực.

    Nina cong mấy ngón tay lại.

    Làm câm miệng bốn vệ quân.

    Chuyện đó lẽ ra thật dễ dàng.

    Mới vài tuần trước đây nó còn dễ dàng.

    Làm chậm nhịp tim của bọn họ.

    Đưa họ lặng lẽ vào tình trạng vô thức mà không kịp kêu lên một tiếng báo động nào.

    Nhưng lúc này cô tự hỏi là hơi ẩm hay những giọt mồ hôi căng thẳng đang dính chặt một cách khó chịu như vậy trên da cô.

    Chẳng mấy chốc cô đã thấy bóng dáng của hai vệ quân đầu tiên.

    Họ tựa người vào bức tường đá thấp, súng trường chống bên cạnh, giọng đối thoại trầm bổng như một tiếng ngâm nga uể oải.

    “Làm họ nhắm mắt đê,” Jesper nói.

    Nina tập trung vào hai vệ quân, để cho cơ thể của cô hoà nhập vào họ, tìm kiếm nhịp tim, mạch đập của họ.

    Nó giống như mò mẫm trong bóng tối.

    Đơn giản là chẳng có gì ở đó.

    Cô lờ mờ nhận thấy vóc dáng họ, một chút ý thức, nhưng chỉ có thế.

    Cô thấy được họ bằng mắt, nghe được họ bằng tai, ngoài ra chỉ có sự thinh lặng.

    Giác quan ấy trong cô, năng khiếu vốn luôn ở đó từ khi cô biết nhớ, trái tim của thứ năng lực thường trực trong cô từ lúc chỉ là một đứa trẻ, đơn giản là ngưng hoạt động.

    Tất cả những gì cô nghĩ tới là parem, sự ngây ngất dễ chịu, như thể cả vũ trụ nằm trên mười đầu ngón tay của cô.

    “Cô còn đợi cái gì nữa?”

    Jesper hỏi.

    Bị cảnh báo bởi tiếng động hoặc sự hiện diện của hai người, một trong hai vệ quân liếc mắt về phía họ, cố nhìn vào màn đêm.

    Anh ta nhấc súng trường lên và ra hiệu cho đồng đội làm theo.

    “Bọn họ đang tiến về phía chúng ta.”

    Bàn tay Jesper di chuyển tới chỗ cặp súng của anh.

    Lạy các thánh.

    Nếu Jesper buộc phải nổ súng, các vệ quân khác sẽ được cảnh báo.

    Chuông báo động sẽ réo vang, và toàn bộ phi vụ này sẽ tan tành mây khói.

    Nina tập trung bằng toàn bộ ý chí.

    Cơn đói thuốc tóm lấy cô, lồng lộn trong cơ thể cô, đào bới hộp sọ cô một cách kịch liệt.

    Nina phớt lờ nó.

    Một vệ quân loạng choạng và khuỵu xuống.

    “Gillis!”

    Vệ quân thứ hai lên tiếng.

    “Có chuyện gì vậy?”

    Nhưng anh ta không ngu đến mức hạ vũ khí xuống.

    “Đứng im!”

    Anh ta hô to về phía họ, trong lúc vẫn cố đỡ đồng đội.

    “Xưng danh mau!”

    “Nina,” Jesper thì thào một cách gấp gáp.

    “Làm gì đó đi.”

    Nina siết chặt nắm đấm, cố gắng thít cổ người vệ quân để ngăn không cho anh ta kêu gọi hỗ trợ.

    “Xưng danh mau!”

    Jesper rút súng ra.

    Không, không, không.

    Cô không thể là nguyên nhân khiến chuyện này thất bại.

    Parem đáng lẽ đã giết chết cô hoặc để cho cô yên, chứ không nhốt cô trong cái luyện ngục khốn khổ bất lực này.

    Cơn thịnh nộ tràn qua người Nina.

    Sự giận dữ đơn thuần, hoàn hảo, tập trung.

    Tâm trí cô vươn ra và đột nhiên cô nắm bắt được thứ gì đó, không phải một cơ thể, nhưng vẫn là một thứ gì đó.

    Cô bắt gặp một sự di chuyển ở rìa tầm mắt, một bóng dáng mờ nhạt hiện ra từ trong bóng tối - một đám mây bụi.

    Nó lao về phía tay vệ quân đang đứng.

    Anh ta đập vào nó như thể đang cố xua đuổi một bầy muỗi, nhưng nó bay vù vù nhanh hơn, nhanh hơn nữa, gần như trở thành vô hình.

    Người vệ quân há miệng định hét lên và đám mây biến mất.

    Anh ta hự một tiếng rồi ngã ngửa ra sau.

    Người vệ quân thứ hai vẫn đang đong đưa người trong tư thế quỳ gối.

    Nina và Jesper tiến lại gần, rồi Jesper dùng báng súng phang vào sau ót anh ta.

    Người vệ quân đổ gục xuống đất, bất tỉnh nhân sự.

    Hai người thận trọng xem xét vệ quân còn lại.

    Anh ta nằm ngửa, mắt trợn tròn nhìn thẳng lên bầu trời sao.

    Miệng và mũi anh ta bị lèn chặt cứng bởi thứ bụi mịn màu trắng.

    “Cô làm chuyện này à?”

    Jesper hỏi.

    Có lẽ nào?

    Nina có cảm giác như đang nếm thứ bụi kia trong miệng mình.

    Không thể nào.

    Một Tâm Y chỉ có thể sai khiến cơ thể người, vật chất vô cơ thì không.

    Đây là thành quả của một Sáng Chế Gia có năng lực mạnh.

    “Thế không phải là cậu làm sao?”

    “Tôi đánh giá cao sự tin tưởng của cô, nhưng đây hoàn toàn là do cô, gái xinh ạ.”

    “Tôi không định giết chết anh ta.”

    Nina đã định làm gì nhỉ?

    Khiến anh ta im lặng, có vậy thôi.

    Bụi rỉ ra từ khoé miệng của người vệ quân, tạo thành một vệt mảnh.

    “Còn hai vệ quân nữa,” Jesper nói.

    “Chúng ta đang bị muộn đấy.”

    “Sao chúng ta không đập vào đầu bọn họ nhỉ?”

    “Tinh tế phết.

    Tôi cũng thích thế.”

    Nina cảm thấy một cảm giác lạ lùng chạy suốt cơ thể, nhưng đó không phải là cơn đói thuốc.

    Tôi không định giết chết anh ta.

    Không quan trọng.

    Không thể lấn cấn chuyện đó vào lúc này.

    Hai vệ quân đã bị hạ gục và kế hoạch của họ đang được triển khai.

    “Đi thôi,” cô nói.

    “Đi cướp lại cô gái của chúng ta nào.”

    7

    INEJ

    Inej trải qua một đêm không ngủ trong bóng tối.

    Khi dạ dày cô bắt đầu sôi lên, cô đoán là trời đã sáng, nhưng không một ai xuất hiện để tháo băng bịt mắt hoặc mang khay đồ ăn tới.

    Có vẻ như Van Eck cảm thấy không cần phải chiều chuộng cô nữa.

    Lão ta đã thấy đủ rõ sự sợ hãi trong cô.

    Giờ đây đó chính là đòn bẩy của lão, chứ không phải đôi mắt và những cố gắng tỏ ra tử tế của Bajan.

    Khi cơn run rẩy trôi qua, cô khó nhọc tìm tới chỗ cái lỗ thông gió, chỉ để phát hiện ra nó đã bị đóng chặt.

    Chắc bọn họ đã làm điều đó trong lúc cô mắc kẹt tại rạp hát.

    Inej không ngạc nhiên.

    Cô ngờ rằng Van Eck đã để mở nó nhằm tạo cho cô hi vọng trước khi dập tắt.

    Sau đó, tâm trí cô bắt đầu sáng suốt lại, và trong lúc nằm im, cô vạch ra một kế hoạch.

    Cô sẽ khai, có rất nhiều nhà an toàn và nơi trú ẩn không được băng Cặn Bã sử dụng nữa do chúng đã bị lộ, hoặc không còn phù hợp.

    Cô sẽ bắt đầu với những nơi đó.

    Kế đến, có những chỗ cũng được coi là an toàn nhưng thuộc về các băng nhóm khác của khu Barrel.

    Cô biết một container ở Cảng số Ba được băng Đầu Gấu thỉnh thoảng sử dụng.

    Băng Chim Cắt thì thích trốn trong một khách sạn tồi tàn nằm cách Thanh Gỗ chỉ vài con phố.

    Bọn họ gọi nó là Bánh Tart Mứt do lớp sơn màu quả mâm xôi đã phai nhạt và có phần mái nom giống như lớp trang trí bằng đường.

    Van Eck sẽ mất kha khá thời gian để kiểm tra tất cả các phòng ốc trong đó.

    Cô sẽ dẫn lão ta và đám thuộc hạ đi tìm Kaz khắp quanh Ketterdam.

    Diễn xuất không phải là sở trường của Inej, nhưng cô đã nhiều lần buộc phải nói dối ở Vườn Thú, và cũng học được vài chiêu trò trong khoảng thời gian kết thân với Nina.

    Khi cuối cùng Bajan cũng đến và tháo băng bịt mắt cho Inej, cô nhận ra anh ta đi cùng với sáu vệ quân có vũ trang.

    Cô không rõ là bao lâu, nhưng chắc cả một ngày trời đã trôi qua.

    Khuôn mặt Bajan xám ngoét, và anh ta không dám nhìn vào mắt Inej.

    Cô mong cả đêm qua anh ta không ngủ được với câu nói của cô đè nặng trên ngực.

    Bajan cắt dây trói chân cho Inej, nhưng thay sợi dây bằng cái cùm.

    Nó kêu loảng xoảng khi đám vệ quân áp giải cô đi trên hành lang.

    Lần này, bọn họ đưa cô qua cửa hậu của rạp hát, ngang qua các phông màn cảnh trí và đạo cụ bị vứt bỏ phủ đầy bụi để tới sân khấu.

    Tấm màn nhung xanh bị nhậy cắn đã được hạ xuống để cô không nhìn thấy khán phòng rộng lớn và các ban công.

    Bị ngăn cách với phần còn lại của rạp hát, sưởi ấm nhờ nhiệt lượng toả ra từ dàn đèn sân khấu, bối cảnh tạo ra một cảm giác thân mật kì lạ.

    Nó giống với một phòng phẫu thuật thực sự nhiều hơn là một sân khấu.

    Ánh mắt Inej bắt gặp cái góc bị vỡ của chiếc bàn đêm qua và nhanh chóng quay đi.

    Van Eck đang chờ cùng với gã vệ quân mũi khoằm.

    Inej tự hứa thầm trong lòng rằng cho dù kế hoạch của cô thất bại, cho dù lão đập nát đôi chân cô, cho dù cô không bao giờ đi lại được nữa, cô cũng sẽ tìm một cách trả thù lão cho ra trò.

    Cô không biết là cách nào, nhưng cô sẽ làm được.

    Cô đã sống sót qua vô vàn biến cố không phải để cho Jan Van Eck huỷ hoại.

    “Cô đang sợ đấy à, cô Ghafa?”

    Van Eck hỏi.

    “Phải.”

    “Thành thật chưa kìa.

    Vậy cô có sẵn sàng nói cho ta biết những gì cô biết hay không?”

    Inej hít một hơi thật sâu rồi nghiêng đầu tỏ vẻ miễn cưỡng.

    “Có.”

    “Nói đi.”

    “Làm sao tôi biết được ông không hành hạ tôi sau khi đã moi được thông tin?”

    Cô hỏi lại với giọng thận trọng.

    “Nếu thông tin đó hữu ích thì cô không việc gì phải sợ, cô Ghafa à.

    Ta không phải là một kẻ thô bạo.

    Ta sử dụng những biện pháp quen thuộc đối với cô - doạ nạt, vũ lực.

    Khu Barrel đã trui rèn cô với những thứ như thế?”

    Lão ta nói năng y như Dì Heleen.

    Sao con lại khiến ta làm những chuyện này?

    Con tự chuốc lấy những đòn trừng phạt này, cô gái ạ.

    “Vậy ông sẽ giữ lời chứ?”

    Cô hỏi.

    Câu hỏi ngớ ngẩn.

    Van Eck đã cho thấy rõ rằng lời nói của lão ta có giá trị như thế nào khi phá vỡ giao kèo trên đảo Vellgeluk và tìm cách giết sạch bọn cô.

    Nhưng Van Eck đã trịnh trọng gật đầu.

    “Ta sẽ giữ lời,” lão ta nói.

    “Thoả thuận là thoả thuận.”

    “Và Kaz sẽ không bao giờ được biết…”

    “Dĩ nhiên, dĩ nhiên rồi,” Van Eck nôn nóng đáp.

    Inej hắng giọng.

    “Thiên Đường Xanh là một câu lạc bộ nằm cách Thanh Gỗ không xa.

    Trước đây Kaz sử dụng vài căn phòng phía trên gác để tàng trữ đồ ăn trộm.”

    Đó là sự thật, và có lẽ chúng vẫn đang trống rỗng.

    Kaz đã ngừng sử dụng chỗ đó sau khi phát hiện ra một trong các phục vụ quầy bar mắc nợ với bọn Kim Sư.

    Anh không muốn bị bất kì ai mách lẻo về chuyện đi về của anh.

    “Tốt lắm.

    Còn gì nữa không?”

    Inej làm môi dưới run lên.

    “Một căn hộ trên phố Kolstraat.

    Tôi không nhớ số.

    Nó nhìn ra một loạt cửa hậu của mấy phòng riêng bên Đông Stave.

    Bọn tôi từng dùng nó làm chỗ trú ẩn trước đây.”

    “Thế à?

    Tiếp tục đi.”

    “Còn một cái container tàu hàng…”

    “Cô biết gì không, cô Ghafa?”

    Van Eck tiến lại gần Inej.

    Khuôn mặt lão ta không có một chút gì là tức giận.

    Nom lão có vẻ hân hoan là đằng khác.

    “Ta không nghĩ có bất kì cái nào trong những chỗ đó là manh mối thực sự.”

    “Tôi không…”

    “Ta nghĩ cô định khiến cho ta tự đuổi theo cái đuôi của mình trong lúc chờ được giải cứu hoặc tìm cách đào thoát một lần nữa.

    Nhưng cô Ghafa à, cô không cần phải chờ đợi nữa.

    Ngay lúc này, cậu Brekker đang trên đường tới đây để giải cứu cô đó.”

    Lão ra lệnh cho một cận vệ.

    “Kéo màn lên.”

    Inej nghe thấy tiếng dây thừng kẽo kẹt, và thật chậm rãi, tấm màn tả tơi được kéo lên.

    Khán phòng đầy vệ quân đứng dọc theo các lối đi, ít nhất ba mươi người, có thể nhiều hơn, tất cả đều được vũ trang kĩ lưỡng với súng trường và dùi cui, một sự phô trương sức mạnh áp đảo.

    Không, cô thầm nghĩ, trong lúc những lời nói của Van Eck ngấm dần.

    “Phải, cô Ghafa à.

    Người hùng của cô đang đến.

    Cậu Brekker tưởng đâu mình là người thông minh nhất Ketterdam, nên ta nghĩ mình chỉ cần chiều theo và để cho cậu ta thể hiện tài trí vượt bậc.

    Ta nhận ra thay vì giấu cô, ta nên để cho cô được tìm thấy.”

    Inej nhíu mày.

    Không thể nào.

    Không thể nào.

    Lão con buôn này đã đánh lừa được Kaz thật sao?

    Lão đã sử dụng cô để làm chuyện đó sao?

    “Ta đã cử Bajan lui tới Eil Komedie mỗi ngày.

    Một gã trai Suli sẽ gây nghi ngờ nhiều nhất, và mọi động thái di chuyển tới một hòn đảo bị bỏ hoang chắc chắn sẽ bị chú ý.

    Cho tới tối nay, khi chưa chắc Brekker sẽ cắn câu, ta đã bắt đầu lo lắng.

    Nhưng cậu ta đã cắn câu.

    Đầu giờ tối nay, hai thành viên trong băng của cậu ta đã xuất hiện trên bến tàu để sửa soạn một chiếc gondel - tay Fjerda cao to và thằng nhóc người Zemeni.

    Ta đã để mặc cho bọn họ hành sự.

    Cũng giống như cô, họ chỉ là những con tốt thí, không hơn.

    Kuwei mới là giải độc đắc, và cậu Brekker của cô rốt cuộc cũng sắp trao cho ta thứ thuộc về ta.”

    “Nếu ông đối xử công bằng với chúng tôi thì giờ này ông đã có Kuwei rồi,” Inej nói.

    “Chúng tôi đã đánh liều mạng sống của mình để giải cứu cậu ta khỏi Lâu Đài Băng, chúng tôi đã đánh đổi tất cả.

    Lẽ ra ông phải giữ lời chứ.”

    “Một người yêu nước sẽ giao nộp Kuwei mà không cần bất kì phần thưởng hứa hẹn nào.”

    “Yêu nước?

    Âm mưu với jurda parem của ông sẽ làm Kerch rơi vào hỗn loạn.”

    “Thị trường dẻo dai lắm.

    Kerch sẽ vững vàng.

    Thậm chí có khi còn mạnh mẽ hơn sau những thay đổi sắp diễn ra.

    Nhưng cô và những loại như cô có lẽ sẽ không được như thế.

    Cô nghĩ bọn kí sinh trùng khu Barrel sẽ xoay sở như thế nào khi chiến tranh nổ ra?

    Khi những người đàn ông chân chính không còn đồng xu nào để tiêu phí và không còn tâm trí nào để nghĩ tới trụy lạc?”

    Inej cảm thấy môi mình cong lên.

    “Chuột cống có cách để sinh tồn, cho dù các ông cố gắng nghiền nát bọn tôi đến đâu.”

    Van Eck mỉm cười.

    “Hầu hết đám bạn bè của cô sẽ không sống sót qua đêm nay.”

    Inej nghĩ tới Jesper, Nina, Matthias, và cậu nhóc Wylan dễ thương xứng đáng với một người cha tốt hơn nhiều so với đồ rác rưởi này.

    Đối với Van Eck, đây không chỉ là vấn đề thắng thua.

    Nó mang tính chất riêng tư.

    “Ông căm thù bọn tôi.”

    “Nói thật nhé, cô chẳng đáng để ta quan tâm.

    Một vũ công, nghệ sĩ uốn dẻo hay gì gì đó trước khi trở thành con rệp tại Ketterdam này.

    Nhưng phải thừa nhận Kaz Brekker làm ta nóng mặt.

    Hèn hạ, nhẫn tâm, vô đạo đức.

    Cậu ta nuôi dưỡng sự tha hoá bằng tha hoá.

    Một đầu óc kiệt xuất như thế đáng lẽ phải được sử dụng cho mục đích cao cả hơn.

    Cậu ta có thể cai quản cái thành này, xây dựng gì đó, tạo ra lợi nhuận cho tất cả mọi người.

    Thay vào đó, cậu ta hút máu công sức của những người tốt hơn.”

    “Tốt hơn?

    Như ông sao?”

    “Chắc cô đau đớn lắm khi nghe thấy như vậy, nhưng sự thật là thế.

    Khi ta rời bỏ cõi đời này, đế chế vận tải hùng mạnh nhất từng được biết tới sẽ còn tiếp tục tồn tại, một cỗ máy làm ra của cải, một sự vinh danh Ghezen và biểu tượng cho ân sủng của ngài.

    Còn cô, cô Ghafa, ai sẽ nhớ tới một đứa con gái như cô?

    Thứ mà cô và Kaz Brekker để lại ngoài thân xác bị thiêu thành tro bụi trên đảo Tử Thần là gì?”

    Một tiếng hét bỗng vang lên phía bên ngoài rạp hát.

    Im lặng lập tức bao trùm khi mọi vệ quân quay về phía cửa ra vào.

    Van Eck xem đồng hồ.

    “Đúng nửa đêm.

    Brekker quả là có biệt tài gây kịch tính.”

    Inej nghe thấy một tiếng hét nữa vang lên, tiếp nối bằng một tràng súng ngắn ngủi.

    Sáu vệ quân lập tức vào vị trí sau lưng cô và cái cùm bập vào cổ chân cô.

    Nỗi tuyệt vọng dâng lên khiến cô nghẹt thở.

    Kaz và những người khác sắp bước vào một cái bẫy, nhưng cô không có cách nào cảnh báo họ được.

    “Ta đã nghĩ tốt nhất là không bỏ trống vòng canh gác ngoài cùng,” Van Eck nói.

    “Bọn ta không muốn làm cho mọi chuyện quá dễ dàng và để lộ bài.”

    “Anh ta sẽ không bao giờ cho ông biết Kuwei đang ở đâu.”

    Van Eck nở nụ cười nhã nhặn.

    “Ta chỉ đang tự hỏi chuyện gì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn - tra tấn cậu Brekker, hay để cậu ta xem bọn ta tra tấn cô.”

    Lão thương gia nghiêng người tới trước, nói tiếp với giọng bí hiểm.

    “Ta có thể khẳng định với cô rằng điều đầu tiên mà ta làm là lột phăng cặp găng tay đó và bẻ từng ngón tay đạo chích của cậu ta.”

    Inej nghĩ tới đôi tay khéo léo có làn da trắng tái của Kaz, vết sẹo bóng loáng chạy dọc theo các đốt ở bàn tay phải.

    Van Eck có thể bẻ gãy toàn bộ các ngón tay ngón chân của Kaz mà anh vẫn không khai nửa lời, nhưng nếu tay chân của lão ta lột đôi găng của anh thì sao?

    Inej vẫn chưa hiểu vì sao anh cần chúng, vì sao anh ngất đi trên chuyến xe chở tù nhân tới Lâu Đài Băng, nhưng cô biết anh không thể chịu đựng được sự tiếp xúc da kề da.

    Anh có thể che giấu được điểm yếu của mình tới mức nào?

    Van Eck nhận ra nó nhanh cỡ nào để khai thác nó?

    Cô không thể chịu nổi nữa.

    Cô thấy mừng vì không biết Kuwei đang ở đâu.

    Cô sẽ đầu hàng trước khi anh gục ngã.

    Tiếng giày chạy rầm rập trên hành lang.

    Những bước chân cuồng loạn.

    Inej lao tới và mở miệng định hét lên cảnh báo, nhưng một vệ quân đã bịt miệng cô thật chặt, bất chấp cô vùng vẫy trong vòng tay hắn.

    Cánh cửa bật mở.

    Ba mươi khẩu súng trường của ba mươi vệ quân đồng loạt được chĩa ra và lên đạn.

    Cậu bé đứng trên ngưỡng cửa dợm lui lại, khuôn mặt trắng bệch, mái tóc xoăn màu nâu rối bù.

    Cậu ta mặc bộ chế phục màu đỏ và vàng kim của nhà Van Eck.

    “Tôi… thưa ngài Van Eck,” cậu ta hổn hển nói, hai bàn tay giơ lên che chắn.

    “Hạ súng,” Van Eck ra lệnh cho các vệ quân.

    “Có chuyện gì?”

    Cậu bé nuốt nước bọt.

    “Thưa ngài, căn nhà bên hồ.

    Bọn họ đã tấn công căn nhà bên hồ.”

    Van Eck đứng bật dậy, làm chiếc ghế đổ kềnh.

    “Alys…”

    “Họ đã đem phu nhân đi khoảng một giờ trước.”

    Alys.

    Cô vợ xinh xẻo đang mang trong mình giọt máu của Jan Van Eck.

    Hi vọng trong Inej bùng lên, nhưng cô dìm nó xuống, chưa muốn tin.

    “Bọn họ đã giết một cận vệ và trói số còn lại ở trong bếp,” cậu bé tiếp tục nói trong hơi thở đứt quãng.

    “Trên bàn có một lá thư.”

    “Mang nó lại đây,” Van Eck gầm lên.

    Cậu bé bước nhanh trên lối đi giữa hai hàng ghế, và Van Eck giật phăng tờ giấy từ tay cậu ta.

    “Nó viết… nó viết gì vậy?”

    Bajan hỏi, giọng run run.

    Có lẽ Inej đã đúng về Alys và tay thầy giáo dạy nhạc.

    Van Eck vả cho anh ta một cái.

    “Nếu tao mà phát hiện ra mày biết chút gì về chuyện này thì…”

    “Tôi đâu có biết!”

    Bajan rú lên.

    “Tôi chẳng biết gì cả.

    Tôi đã tuân theo mệnh lệnh của ông, từng lời một!”

    Van Eck vo tròn tờ giấy trong tay, nhưng Inej cũng kịp đọc được thông điệp viết bằng kiểu chữ lộn xộn không lẫn vào đâu được của Kaz: Trưa mai.

    Cầu Thiện Nữ.

    Cùng bộ dao của cô ấy.

    “Lá thư được chặn bằng cái này.”

    Cậu bé gia nhân thò tay vào trong túi

    và rút ra một cái ghim cà vạt - một viên hồng ngọc lớn được viền quanh bằng những chiếc lá nguyệt quế.

    Kaz đã đánh cắp nó từ Van Eck trong cái ngày mà họ được thuê làm vụ Lâu Đài Băng.

    Inej đã không kịp tẩu tán nó trước khi họ rời Ketterdam.

    Bằng cách nào đó Kaz đã lấy được chiếc ghim cà vạt từ nơi cất giấu.

    “Brekker,” Van Eck gầm lên điên dại.

    Inej không thể kìm mình được.

    Cô phá lên cười.

    Van Eck tát cô một cái đau điếng.

    Lão tóm lấy áo cô và lay cô mạnh đến nỗi các khớp xương kêu răng rắc.

    “Brekker định chơi trò gì?

    Cô ấy là vợ tao.

    Cô ấy đang mang trong mình người thừa kế của tao.”

    Inej càng cười lớn hơn, tất cả những nỗi kinh hoàng của tuần lễ vừa qua giờ tuôn ra khỏi lồng ngực cô thành hàng tràng ngây ngất, cô không biết liệu mình có ngăn nó lại được không nữa.

    “Và ông đã ngu đến mức kể tất tần tật chuyện đó cho Kaz trên đảo Vellgeluk.”

    “Tao có nên ra lệnh cho Franke cầm búa lên để cho mày thấy tao nghiêm túc tới mức nào không?”

    “Ngài Van Eck,” Bajan van nài.

    Nhưng Inej không còn thấy sợ người đàn ông này nữa.

    Trước khi Van Eck kịp lấy hơi, cô đã nhào tới trước, đập trán thật mạnh vào mũi lão ta.

    Van Eck rú lên và buông cô ra, máu mũi tuôn xuống bộ trang phục thương gia đắt tiền.

    Các vệ quân lập tức can thiệp, lôi cô ra xa.

    “Con bé khốn kiếp,” Van Eck thốt lên, tay cầm chiếc khăn thêu chữ cái đầu của tên mình lên mặt.

    “Đồ đĩ rạc.

    Tao sẽ đích thân đập nát chân mày…”

    “Cứ nói tiếp đi, Van Eck, đe doạ tôi đi.

    Cứ gọi tôi bằng đủ thứ từ ngữ

    tục tĩu đi.

    Chỉ cần ông động một ngón tay vào tôi, Kaz Brekker sẽ lôi đứa bé từ trong bụng vợ ông ra và treo nó lên ban công của Sàn giao dịch.”

    Những lời cay nghiệt khiến lương tâm cô cắn rứt, nhưng Van Eck xứng đáng với viễn cảnh đó.

    Mặc dù không tin Kaz sẽ làm một chuyện như thế, cô thấy biết ơn từng hành động tàn nhẫn, hiểm ác mà Tay Nhám đã làm để tạo nên uy danh của mình - một thứ uy danh sẽ ám ảnh Van Eck từng giây từng phút cho tới khi vợ lão ta được trao trả.

    “Im ngay.”

    Van Eck hét lên, nước bọt văng ra khỏi miệng.

    “Ông nghĩ anh ta sẽ không làm thế à?”

    Inej chọc ngoáy.

    Cô có thể cảm thấy má mình nóng bừng ở chỗ bị tát, và nhìn thấy cái búa đang nằm trong tay gã vệ quân.

    Van Eck đã tặng cho cô nỗi sợ hãi, và cô rất sẵn lòng trả lại nó cho lão.

    “Hèn hạ, nhẫn tâm, vô đạo đức.

    Có phải vì vậy mà ông thuê Kaz không?

    Bởi anh ta làm những chuyện mà không ai dám làm?

    Tiếp tục đi, Van Eck.

    Đập gãy chân tôi và chống mắt mà xem chuyện gì sẽ xảy ra.

    Cứ thách thức anh ta đi.”

    Lẽ nào cô đã thực sự tin lão thương gia này thông minh hơn Kaz Brekker?

    Kaz sẽ giải thoát cho cô, và họ sẽ cho lão ta thấy chính xác lũ điếm đàng cùng bọn chuột cống làm được những gì.

    “Bình tĩnh đi nào,” cô nói trong khi Van Eck phải bấu lấy cái góc bàn nham nhở để đứng vững.

    “Cao nhân ắt có cao nhân trị.”
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Hai: Luồng Gió Sát Nhân 8-10


    8

    MATTHIAS

    Vì những sai lầm của kiếp sống này, Matthias chắc phải mang nghiệp đến tận kiếp sau, nhưng anh luôn tin rằng bất chấp những tội lỗi và thất bại của mình, vẫn có một phần ngay thẳng trong anh không bao giờ bị bẻ gãy.

    Tuy vậy anh cảm thấy gần như chắc chắn rằng nếu phải ngồi thêm một giờ nữa với Alys Van Eck, có lẽ anh sẽ giết quách chị ta cho yên thân.

    Vụ tấn công ngôi nhà bên hồ đã diễn ra với một sự chính xác khiến anh không thể không thán phục.

    Chỉ ba ngày sau khi Inej bị bắt đi, Rotty đã thông báo với Kaz về ánh đèn xuất hiện trên Eil Komedie, cùng việc thuyền bè đến rồi đi vào những giờ giấc kì lạ, thường xuyên chở theo một thanh niên người Suli.

    Danh tính của anh ta nhanh chóng được xác định là Adem Bajan, một thầy giáo dạy nhạc làm thuê cho Van Eck từ sáu tháng qua.

    Có vẻ như anh ta được nhận vào làm việc sau khi Wylan đã ra đi, nhưng cậu thiếu gia tỏ ra không mấy ngạc nhiên khi cha mình bỏ tiền thuê thầy dạy nhạc cho Alys.

    “Cô ta có năng khiếu không?”

    Jesper đã hỏi như thế.

    “Dì ấy rất đam mê,” Wylan đáp vậy sau một chút ngập ngừng.

    Không khó để phỏng đoán rằng Inej đang bị giam giữ tại Eil Komedie, và Nina chỉ muốn đi giải cứu cô bé ngay lập tức.

    “Van Eck không đưa Inej đi xa khỏi Ketterdam,” Nina đã nói như thế với đôi má lần đầu tiên ửng lên chút thần sắc kể từ khi phải vật lộn với parem.

    “Rõ ràng ông ta đang giữ cô bé ở đó.”

    Nhưng Kaz chỉ nhìn vào khoảng không với vẻ mặt ủ mưu và đáp.

    “Quá hiển nhiên.”

    “Kaz…”

    “Cô có muốn lấy một trăm kruge không?”

    “Đổi lấy cái gì?”

    “Chính xác.

    Van Eck đang làm cho nó trở nên quá dễ dàng.

    Nhưng lão ta không phải dân Barrel, và chúng ta không phải là một đám súc sinh ngu ngốc sẵn sàng nhảy bổ vào cái mồi cầu bóng bẩy đầu tiên mà lão ta quăng ra.

    Van Eck muốn chúng ta nghĩ rằng Inej đang ở trên hòn đảo đó.

    Có thể là như thế thật.

    Nhưng lão sẽ cài sẵn cả đống hoả lực ở đó chờ chúng ta, thậm chí là vài Grisha được chuốc parem đến tuý luý.”

    “Luôn tấn công vào nơi mục tiêu không để ý,” Wylan đã lẩm bẩm như thế.

    “Lạy Ghezen,” Jesper thốt lên.

    “Cậu hỏng hẳn rồi.”

    Kaz gõ cây gậy chống đầu quạ vào mặt sàn lát đá của nhà mồ.

    “Mọi người có biết vấn đề của Van Eck là gì không?”

    “Thiếu danh dự?”

    Matthias hỏi lại.

    “Kĩ năng làm cha kém cỏi?”

    Nina nói.

    “Hói trán?”

    Jesper phỏng đoán.

    “Không,” Kaz đáp.

    “Quá nhiều thứ để mất.

    Lại còn vẽ đường cho chúng ta xem thứ gì nên đánh cắp trước.”

    Kaz đứng dậy và bắt đầu vạch kế hoạch bắt cóc Alys.

    Thay vì cố gắng giải cứu Inej như Van Eck chờ đợi, họ sẽ buộc ông ta phải trao đổi cô lấy người vợ đang mang thai của mình.

    Việc đầu tiên là tìm ra chị ta.

    Van Eck không phải là thằng ngu.

    Kaz tin rằng ông ta đã đưa Alys rời khỏi Ketterdam ngay khi trở mặt với họ, và những cuộc điều tra ban đầu đã ủng hộ điều đó.

    Van Eck sẽ không giấu cô vợ trong một nhà kho hay xưởng sản xuất, chị ta cũng không có mặt tại bất kì khách sạn nào thuộc sở hữu của ông ta, cũng như điền trang ở quê và hai nông trại gần Elsmeer.

    Có khả năng Van Eck đã đưa chị ta tới một trang trại ở xa hơn hoặc thậm chí sang bên kia bờ Chân Hải, nhưng Kaz không tin ông ta sẽ để cho người phụ nữ đang mang giọt máu của mình đi một chuyến hải trình nhọc nhằn như vậy.

    “Van Eck phải có tài sản ngoài sổ sách,” Kaz đã nói như thế.

    “Cả thu nhập nữa.”

    Jesper nhíu mày.

    “Không nộp thuế có phải là… báng bổ không?

    Tôi tưởng ông ta dành cả đời phụng sự Ghezen?”

    “Ghezen và Kerch không phải là một,” Wylan đáp.

    Dĩ nhiên để khám phá các tài sản bí mật đó, họ phải đột nhập được vào văn phòng của Cornells Smeet và cần một số mánh khoé khác.

    Matthias không thích sự khuất tất của toàn bộ chuyện này, nhưng anh cũng không thể phủ nhận giá trị của các thông tin mà họ đã thu được.

    Nhờ hồ sơ giấy tờ của Smeet, Kaz đã xác định được ngôi nhà bên hồ, một điền trang xinh xắn nằm cách Ketterdam mười dặm về phía nam, dễ bảo vệ, đầy đủ tiện nghi, và được khai báo với cái tên Hendriks.

    Phải luôn tấn công vào nơi mục tiêu không để ý.

    Khôn thật, Matthias phải thừa nhận như thế.

    Tư duy quân sự, đúng vậy.

    Khi bạn bị yếu thế hơn cả về quân số lẫn hoả lực, bạn phải tìm những nơi được phòng bị kém nhất.

    Van Eck chờ đợi một nỗ lực giải cứu Inej, nên đó là nơi ông ta tập trung quân số để bảo vệ.

    Kaz càng khuyến khích chuyện đó khi bảo Matthias và Jesper hành động một cách đáng ngờ nhất có thể lúc đem một chiếc gondel tới một trong các cột neo thuyền tư nhân ở Cảng số Năm.

    Đúng mười một giờ đêm, sau khi để lại Kuwei trên đảo Mạng Đen, Rotty và Specht khoác áo choàng lùm xùm che kín mặt, lên thuyền rồi la lối om sòm để những người khác tránh ra - hầu hết trong số đó là những du khách ngơ ngác không hiểu tại sao lại bị hai người đàn ông lạ mặt này quát tháo.

    Matthias đã phải huy động mọi nỗ lực để không tranh cãi khi Kaz bắt cặp Nina với Jesper trong vụ tấn công ngôi nhà bên hồ, dù anh hiểu được ý đồ của chuyện đó.

    Họ cần loại khỏi vòng chiến đấu các cận vệ trong êm thấm để không ai có thể hoảng hốt báo động.

    Matthias đã được huấn luyện chiến đấu cho chuyện đó, năng lực của Nina cũng thừa sức làm được như vậy, nên họ phải tách nhau ra.

    Jesper và Wylan gây ồn ào nhiều hơn nên chỉ tham chiến khi không còn lựa chọn nào khác.

    Ngoài ra, anh biết nếu mình lẽo đẽo theo đuôi Nina trong mọi nhiệm vụ như một chú chó canh, cô sẽ chống hai tay lên chiếc hông mĩ miều của mình và phát huy khả năng xỉ vả bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.

    Nhưng anh có lẽ là người duy nhất ngoài Kuwei biết cô đã phải chịu đựng như thế nào sau chuyến trở về từ Lâu Đài Băng.

    Anh không đành lòng nhìn cô đi một mình.

    Họ tiếp cận từ phía bên kia hồ và nhanh chóng hạ gục vài vệ quân đứng gác ở vòng ngoài.

    Hầu hết các biệt thự nằm bên bờ hồ không có người ở, vì thời tiết vẫn chưa đủ ấm.

    Nhưng ánh đèn đã được thắp lên trên các cửa sổ ngôi biệt thự của Van Eck - hay đúng hơn là của nhà Hendriks.

    Cơ ngơi này thuộc về gia đình bên ngoại của Wylan từ nhiều thế hệ, trước khi Van Eck bước được một chân qua ngưỡng cửa.

    Matthias có cảm giác như đây không phải một cuộc đột nhập.

    Một trong các vệ quân thậm chí còn ngủ gà gật ở vọng lâu.

    Anh chỉ biết có một vệ quân thương vong khi nhẩm đếm lại số lượng, nhưng không kịp hỏi Nina và Jesper xem chuyện gì đã xảy ra.

    Cả nhóm trói số vệ quân còn lại rồi đưa họ và các gia nhân vào trong bếp, trước khi lên gác với mặt nạ cải trang của Hài kịch Thô lỗ.

    Họ dừng lại trước cửa phòng chơi nhạc, nơi Alys đang ngồi vắt vẻo trên ghế tập đàn của dương cầm.

    Họ tưởng đâu chị ta đã ngủ, nhưng hoá ra Alys vẫn đang khổ luyện một bài đàn.

    “Thánh thần ơi, tiếng ồn gì vậy?”

    Nina thì thào.

    “Tôi nghĩ nó là bài ‘Ngủ ngon, bé ong vàng’,” Wylan đáp từ bên trong chiếc mặt nạ Quỷ xám.

    “Nhưng cũng khó mà nói được.”

    Khi họ bước vào phòng chơi nhạc, con chó sục lông mượt dưới chân chị ta gầm gừ, nhưng bà bầu xinh xắn Alys chỉ ngước mắt lên khỏi tập nhạc và hỏi, “Mọi người đang tập kịch à?”

    “Phải đó, bà chị,” Jesper dịu dàng đáp, “và chị là diễn viên ngôi sao.”

    Họ khoác cho Alys một chiếc áo choàng ấm áp, rồi lùa chị ta ra khỏi nhà, lên một chiếc thuyền đang chờ sẵn.

    Alys ngoan ngoãn đến mức Nina cảm thấy lo ngại.

    “Có khi nào máu không lên đủ trên não chị ta không vậy?”

    Cô thì thầm với Matthias.

    Anh không rõ phải giải thích như thế nào cho thái độ của Alys.

    Mẹ anh từng nhầm lẫn những chuyện đơn giản nhất khi mang bầu em gái anh.

    Bà đi suốt từ nhà xuống đến tận làng trước khi nhận ra đi giày trái chân.

    Nhưng đến lúc đi được nửa đường về Ketterdam, sau khi đã bị Nina trói tay và buộc dải băng bịt mắt thật chắc vào bím tóc gọn gàng trên đầu, Alys bắt đầu nhận thức được tình hình thực tế.

    Chị ta sụt sịt rồi quẹt nước mũi vào ống tay áo vải nhung.

    Tiếng sụt sịt chuyển thành thút thít, và khi họ đưa Alys vào an tọa trong nhà mồ, thậm chí tìm thêm một cái gối để chị ta kê chân, chị ta bật ra một tiếng kêu ai oán.

    “Tôi muốn về nhààààà,” Alys nức nở.

    “Tôi muốn con chó của tôi.”

    Kể từ lúc đó, màn khóc lóc kéo dài không dứt.

    Kaz chỉ biết giơ tay chào thua và tất cả bọn họ bước ra khỏi nhà mồ trong nỗ lực tìm kiếm chút yên bình.

    “Có phải mấy bà bầu luôn xử sự như vậy không?”

    Nina rên rỉ.

    Matthias liếc mắt về phía nhà mồ.

    “Chỉ những bà bị bắt cóc thôi.”

    “Không thể nghĩ ngợi được gì nữa,” cô nói.

    “Hay là chúng ta tháo băng bịt mắt ra?”

    Wylan đề xuất.

    “Tất cả chúng ta có thể đeo mặt nạ Hài kịch Thô lỗ mà.”

    Kaz lắc đầu.

    “Không được, có khả năng chị ta sẽ nhớ được chỗ này và dẫn Van Eck tới đây.”

    “Chị ta sẽ ngã bệnh mất,” Matthias nói.

    “Chúng ta đang thực hiện một phi vụ,” Kaz đáp.

    “Có rất nhiều việc cần làm từ đây cho tới cuộc đổi chác ngày mai.

    Ai đó hãy tìm cách làm cho chị ta im đi, nếu không tôi sẽ ra tay.”

    “Alys chỉ hoảng sợ thôi mà,” Wylan can ngăn.

    “Tôi không cần cậu giải thích.”

    Nhưng Wylan cứ nói tiếp.

    “Kaz, hãy hứa với tôi là anh sẽ không…”

    “Trước khi cậu nói hết câu, tôi muốn cậu nghĩ đến cái giá phải trả cho lời hứa của tôi, và điều mà cậu sẵn sàng đánh đổi vì nó.”

    “Đó không phải là lỗi của Alys khi bị cha mẹ ép cưới cha tôi.”

    “Alys không ở đây vì lầm lỗi.

    Chị ta ở đây vì chị ta là đòn bẩy.”

    “Alys chỉ là một bà bầu…”

    “Mang bầu không phải là một năng lực gì đặc biệt.

    Hỏi mấy cô ả kém may mắn trong khu Barrel thì biết.”

    “Inej sẽ không muốn…”

    Kaz đè nghiến Wylan vào vách tường của ngôi mộ trước khi cậu ta kịp lấy hơi, và dứ cái đầu quạ của cây gậy chống dưới cằm cậu nhóc.

    “Cậu thử dạy bảo tôi một lần nữa đi.”

    Wylan nuốt nước bọt, môi hé ra.

    “Làm đi,” Kaz gằn giọng.

    “Và tôi sẽ rút lưỡi cậu ra quẳng cho con mèo hoang đầu tiên tôi nhìn thấy.”

    “Kaz…”

    Jesper thận trọng lên tiếng.

    Kaz phớt lờ cậu ta.

    Đôi môi của Wylan mím lại thành một đường thẳng bướng bỉnh.

    Rõ ràng cậu nhóc không biết thế nào là tốt cho mình.

    Matthias tự hỏi liệu anh có nên can thiệp vào hay không, nhưng Kaz đã thả Wylan ra.

    “Ai đó hãy nhét giẻ vào miệng chị ta trước khi tôi quay lại đi.”

    Và rồi cậu biến mất giữa những ngôi mộ.

    Matthias đảo mắt.

    Cái đám điên rồ này cần phải bị nhốt sáu tháng trong trại huấn luyện và ăn một trận đòn nên thân.

    “Tốt nhất là đừng có nhắc tới Inej,” Jesper nói trong lúc Wylan phủi bụi đất trên quần áo.

    “Cậu biết đấy, nếu cậu muốn tiếp tục sống.”

    Wylan lắc đầu.

    “Nhưng chẳng phải tất cả chuyện này là vì Inej hay sao?”

    “Không phải, vì kế hoạch lớn lao, nhớ chửa?”

    Nina hậm hực.

    “Cướp lại Inej từ tay Van Eck chỉ là bước đầu tiên.”

    Họ cùng quay vào trong nhà mồ.

    Dưới ánh sáng của ngọn đèn lồng, Matthias có thể thấy thần sắc của Nina khá tốt.

    Có lẽ việc chú tâm vào cuộc tấn công ngôi nhà bên hồ đã mang lại hiệu ứng tích cực, mặc dù anh không thể bỏ qua chuyện một vệ quân thiệt mạng trong khi lẽ ra họ không được gây tổn thất về người.

    Alys đã bình tâm lại và đang ngồi với đôi tay bị trói trước bụng, chị ta chỉ còn nấc lên những tiếng nho nhỏ.

    Alys uể oải tìm cách tháo băng bịt mắt, nhưng Nina đã buộc rất khéo.

    Matthias liếc nhìn Kuwei đang ngồi đối diện với chị ta bên kia bàn.

    Cậu bé người Shu chỉ nhún vai.

    Nina ngồi xuống bên cạnh Alys.

    “Chị có muốn… hừm… uống chút trà không?”

    “Có mật ong không vậy?”

    Alys hỏi.

    “Tôi…

    ờm… tôi nghĩ là bọn tôi có đường.”

    “Tôi chỉ dùng trà với mật ong và chanh.”

    Trông Nina giống như sắp cho Alys thấy cô có thể ấn mật ong và chanh vào đâu trên người chị ta, nên Matthias vội nói, “Thế chị có muốn một cái bánh quy sôcôla không?”

    “Ôi, tôi thích sôcôla.”

    Mắt Nina nheo lại.

    “Em nhớ mình đâu có nói là anh được phép cho người khác ăn bánh của em?”

    “Thôi nào, chuyện này vì mục đích tốt mà,” Matthias đấu dịu và với tay lấy hộp bánh.

    Anh đã mua nó với hi vọng thúc ép Nina ăn thêm.

    “Với lại, em gần như không đụng tới chúng.”

    “Em để dành sau này ăn,” Nina phụng phịu.

    “Và anh đừng có đem đồ ngọt ra thử lòng em.”

    Jesper gật gù.

    “Thánh đồ ngọt là đây.”

    Alys quay đầu sang trái rồi sang phải.

    “Mấy cô cậu nghe giọng còn trẻ lắm,” chị ta nói.

    “Bố mẹ các cô cậu đâu?”

    Wylan và Jesper phá lên cười.

    “Tôi nói vậy có gì đáng buồn cười à?”

    “Không,” Nina trấn an.

    “Chỉ là họ ngu ngốc thôi.”

    “Ê này,” Jesper nói ngay.

    “Bọn tôi không phải là người lấy mất chỗ bánh của cô nhé.”

    “Không phải ai tôi cũng để cho làm chuyện đó đâu,” Nina nháy mắt đáp.

    “Chắc chắn rồi,” Matthias lầu bầu, vừa mừng khi thấy Nina đã trở lại là chính mình, vừa thấy ghen tị khi Jesper là người làm cho cô mỉm cười.

    Chắc anh phải nhúng đầu vào một xô nước lạnh.

    Anh đang cư xử như một gã đần độn ngớ ngẩn.

    “Nào,” Jesper nói và quàng tay qua vai Alys.

    “Hãy kể cho chúng tôi nghe về cậu con trai của chồng chị đi.”

    “Tại sao?”

    Alys hỏi lại.

    “Các người định bắt cóc cả cậu ấy hay sao?”

    “Chắc không đâu,” Jesper chế nhạo.

    “Nghe nói cậu ta rắc rối lắm.”

    Wylan khoanh tay lại.

    “Tôi thì lại nghe nói cậu ta là đứa có tài nhưng không được nhìn nhận.”

    Alys nhíu mày.

    “Tôi hiểu cậu ấy rất rõ.

    Cậu ấy không bao giờ phàn nàn.

    Thật ra, cậu ấy nói chuyện rất giống cậu.”

    Wylan ngẩn người trong lúc Jesper cười rũ người.

    “Và đúng là cậu ấy có tài.

    Cậu ấy đang học âm nhạc ở Belendt.”

    “Nhưng cậu ta là người như thế nào?”

    Jesper hỏi lại.

    “Cậu ta có tâm sự với cô về nỗi sợ hãi thầm kín nào đó hay không?

    Có thói quen xấu nào không?

    Có mối tình bị cấm cản nào không?”

    Wylan ấn hộp bánh quy vào tay Alys.

    “Ăn nữa đi.”

    “Chị ta ăn ba cái rồi!”

    Nina phản đối.

    “Wylan luôn tử tế với những con chim của tôi.

    Tôi nhớ chúng lắm.

    Cả Rufus nữa.

    Tôi muốn về nhàààầà.”

    Nói đến đây chị ta lại khóc tu tu.

    Nina gục đầu xuống bàn bất lực.

    “Giỏi lắm.

    Tôi tưởng chúng ta rốt cuộc cũng được yên thân.

    Tôi đã hi sinh chỗ bánh quy của mình một cách vô ích.”

    “Mọi người chưa bao giờ gặp một phụ nữ bầu bí hay sao?”

    Matthias gắt lên.

    Anh còn nhớ những khó chịu và tâm trạng thất thường của mẹ mình, mặc dù anh nghĩ thái độ của Alys không liên quan gì với đứa trẻ mà chị ta mang trong bụng.

    Anh xé một mẩu vải từ một cái mền rách trong góc nhà mồ.

    “Đây,” anh nói với Jesper.

    “Nhúng nước cái này để chúng ta có thể chườm mát cho chị ta.”

    Đoạn anh khom người nói với Alys.

    “Tôi sẽ cởi giày cho chị.”

    “Tại sao?”

    “Vì chân chị đang phù lên, làm như thế chị sẽ dễ chịu hơn.”

    “Ồ, chuyện này bắt đầu thú vị rồi đây,” Nina thốt lên.

    “Đừng có nghĩ linh tinh.”

    “Quá muộn rồi,” cô đáp và ngọ nguậy mấy ngón chân.

    Matthias tuột giày khỏi đôi chân của Alys, “Chị không bị bắt cóc đâu.

    Chị chỉ bị chúng tôi giữ lại trong một thời gian ngắn thôi.

    Ngay chiều mai, chị sẽ được về nhà với chú chó và lũ chim của mình.

    Chị biết sẽ không ai làm hại chị mà, đúng không?”

    “Tôi không chắc.”

    “Vâng, chị không thể thấy tôi, nhưng tôi là người lớn nhất ở đây, và tôi xin hứa sẽ không có ai đụng đến chị.”

    Mặc dù khẳng định như vậy, Matthias cảm thấy có lẽ mình đang nói dối.

    Alys được xoa chân và đắp một miếng vải ướt lên trán giữa một cái hố chứa những con rắn độc nhất của cái thành Ketterdam man rợ này.

    “Bây giờ,” anh nói tiếp, “quan trọng là chị phải bình tâm để không ngã bệnh, có điều gì giúp chị khuây khoả được không?”

    “Tôi… tôi thích đi dạo bên hồ.”

    “Được thôi, có thể chúng ta sẽ đi dạo sau.

    Còn gì nữa?”

    “Tôi thích được tết tóc.”

    Matthias liếc nhìn Nina đầy ngụ ý.

    Cô nhăn nhó.

    “Anh nghĩ em biết tết tóc à?”

    “Vì tóc em lúc nào cũng đẹp.”

    “Nào nào,” Jesper lên tiếng.

    “Anh ấy quyến rũ chưa kìa?”

    Cậu ta liếc nhìn Matthias.

    “Ai mà biết anh ấy có thực lòng hay không?”

    “Cậu có muốn ai đó xử bộ tóc của cậu không hả?”

    Nina gằn giọng.

    “Còn gì khác không?”

    Matthias hỏi tiếp.

    “Tôi thích hát,” Alys đáp.

    Wylan lắc đầu quầy quậy, miệng lẩm bẩm ra hiệu, Không, không, không đời nào.

    “Tôi hát nhé?”

    Alys nói với giọng khấp khởi.

    “Bajan nói là tôi hát đủ hay để trình diễn trên sân khấu.”

    “Có lẽ chúng ta nên gác lại việc đó…”

    Jesper đề xuất.

    Đôi môi Alys đã bắt đầu run run như sắp khóc.

    “Hát đi,” Matthias vội nói luôn.

    “Làm ơn làm phước hát đi.”

    Và cơn ác mộng thực sự bắt đầu.

    Không phải là Alys hát quá dở, chỉ có điều chị ta hát không ngừng.

    Chị ta hát trong lúc nhai thức ăn, hát trong lúc đi loanh quanh giữa các ngôi mộ, thậm chí hát từ sau một bụi cây khi phải đi trút bầu tâm sự.

    Khi chị ta rốt cuộc cũng ngủ thiếp đi, Alys vẫn hát ư ử trong mơ.

    “Có lẽ đây chính là kế hoạch của Van Eck,” Kaz rầu rĩ thốt lên khi họ họp nhóm bên ngoài nhà mồ một lần nữa.

    “Làm cho chúng ta phát điên á?”

    Nina hỏi.

    “Kế hoạch thành công rồi đấy.”

    Jesper nhắm mắt và rên lên.

    “Quỷ tha ma bắt.”

    Kaz nhìn đồng hồ.

    “Nina và Matthias lên đường được rồi đấy.

    Nếu vào vị trí sớm, hai người có thể chợp mắt được vài giờ cho lại sức.”

    Do phải hạn chế việc di chuyển đến và đi khỏi đảo, họ không thể đợi cho tới khi trời sáng mới vào vị trí.

    “Hai người sẽ tìm thấy chỗ mặt nạ và áo choàng ở hiệu bán đồ da,” Kaz nói tiếp.

    “Hãy tìm hình con lửng vàng trên bảng hiệu.

    Tiếp cận Lid gần nhất có thể trước khi bắt đầu phân phát chúng, sau đó đi về hướng nam.

    Đừng nán lại quá lâu ở bất kì chỗ nào.

    Tôi không muốn hai người bị chú ý.”

    Kaz lần lượt nhìn vào mắt từng người.

    “Mọi người cần phải vào vị trí cuối cùng của mình trước mười hai giờ trưa.

    Wylan dưới đất.

    Matthias trên mái rạp Emporium.

    Jesper sẽ cắm chốt đối diện với anh, trên mái khách sạn Ammbers.

    Nina, cô sẽ ở dưới tầng ba của khách sạn.

    Căn phòng có một ban công trông ra cầu Thiện Nữ.

    Phải bảo đảm rằng cô không bị bất cứ thứ gì che chắn tầm nhìn.

    Tôi muốn cô theo dõi Van Eck ngay từ khoảnh khắc đầu tiên.

    Lão ta sẽ có âm mưu gì đó, và chúng ta cần phải sẵn sàng.”

    Matthias thấy Nina lén liếc nhìn Jesper, nhưng cô chỉ nói, “Không đổ lệ.”

    “Không quan tài,” cả nhóm đồng thanh đáp.

    Nina đi về phía nơi neo đậu chiếc thuyền.

    Kaz và Wylan quay vào trong nhà mồ.

    Trước khi Jesper theo chân hai người, Matthias chặn cậu ta lại.

    “Chuyện gì đã xảy ra ở ngôi nhà bên hồ?”

    “Ý anh là sao?”

    “Tôi đã thấy ánh mắt cô ấy nhìn cậu.”

    Jesper lúng túng đổi tư thế.

    “Sao anh không hỏi cô ấy?”

    “Bởi vì Nina sẽ khăng khăng cho rằng mình vẫn ổn cho tới khi không thể nói nổi.”

    Jesper chạm tay vào cặp súng của mình.

    “Tất cả những gì tôi có thể nói là anh hãy cẩn thận.

    Cô ấy… dường như không còn là chính mình nữa.”

    “Cậu nói vậy là sao?

    Chuyện gì đã xảy ra ở ngôi nhà bên hồ?”

    “Chúng tôi đã gặp rắc rối.”

    “Một người đã chết.”

    “Ở Ketterdam này người ta chết đi là chuyện bình thường.

    Nhưng anh hãy cảnh giác.

    Có thể cô ấy sẽ cần hỗ trợ.”

    Jesper bước vội qua cửa nhà mồ, trong lúc Matthias buột miệng kêu lên một tiếng bực bội.

    Anh nhanh chóng đuổi theo Nina với lời cảnh báo của Jesper quay cuồng trong đầu, nhưng không nói gì với cô khi họ lên thuyền và anh bắt đầu chèo vào một con kênh.

    Điều khôn ngoan nhất mà anh từng làm sau chuyến trở về từ Lâu Đài Băng là đưa chỗ parem còn lại cho Kaz.

    Đó không phải là một quyết định dễ dàng.

    Anh không hiểu rõ con người của Kaz, không biết giới hạn những việc cậu ta có thể làm là gì.

    Nhưng Nina không khống chế được Kaz, và khi cô mò vào giường anh sau vụ đột nhập văn phòng của luật sư Smeet, anh tin chắc mình đã quyết định đúng, bởi vì có Djel mới biết anh sẵn sàng cho cô mọi thứ như thế nào nếu cô cứ tiếp tục hôn anh.

    Nina đã lôi Matthias ra khỏi giấc mơ đeo bám anh từ sau phi vụ Lâu Đài Băng.

    Một giây trước anh còn đang lang thang ngoài trời giá lạnh, mắt không nhìn thấy gì vì tuyết, những con sói tru lên xa xa, thì ngay sau đó anh đã choàng tỉnh, với Nina sát bên cạnh, ấm áp và mềm mại.

    Anh nhớ lại những điều cô đã nói với anh trên tàu, khi bị hành hạ bởi parem.

    Anh có thể nghĩ cho bản thân được không?

    Em chỉ là một lí tưởng khác để anh theo đuổi.

    Trước kia là Jarl Brum, giờ là em.

    Em không muốn trở thành đối tượng cho lời tuyên thệ đáng nguyền rủa của anh.

    Anh không tin cô nói điều đó thực lòng, nhưng nó vẫn ám ảnh anh.

    Là một drüskelle, anh đã phụng sự một lí tưởng sai lầm.

    Giờ thì anh đã hiểu ra điều đó.

    Nhưng anh từng có một con đường, một tổ quốc.

    Anh từng biết mình là ai, và mọi người đòi hỏi điều gì ở anh.

    Giờ thì anh chẳng chắc chắn được một điều gì, ngoại trừ đức tin dành cho Djel, và lời thề nguyện dành cho Nina.

    Anh được sinh ra để bảo vệ em.

    Chỉ có cái chết mới ngăn anh thực hiện lời thề này.

    Có phải anh đã thay một lí tưởng này bằng một lí tưởng khác hay không?

    Có phải anh đã ẩn trốn trong những cảm xúc dành cho Nina bởi vì anh sợ phải chọn một tương lai cho chính mình hay không?

    Matthias tập trung vào việc chèo thuyền.

    Vận mệnh của họ chưa thể an bài đêm nay, và họ còn rất nhiều việc phải làm trước khi bình minh ló dạng.

    Ngoài ra, anh thích nhịp điệu của những con kênh ban đêm, những ánh đèn đường phản chiếu trên mặt nước, sự im lặng, cảm giác được trôi lặng lẽ qua thế giới say ngủ, thoáng thấy ánh đèn trong một ô cửa sổ, ai đó đứng lên khỏi giường để kéo màn hoặc nhìn ra ngoài.

    Họ cố gắng hạn chế di chuyển vào ban ngày, nên anh đã tìm hiểu Ketterdam theo cách này.

    Đêm hôm nọ, anh đã thấy một phụ nữ ngồi gỡ tóc trong bộ đầm dạ hội lộng lẫy.

    Một người đàn ông - chồng của chị ta, Matthias đoán thế - tiến lại phía sau lưng và tiếp tục công việc gỡ tóc, chị ta ngẩng lên nhìn chồng và mỉm cười.

    Matthias không thể gọi tên nỗi đau mà anh cảm thấy ngay lúc đó.

    Anh là một chiến binh.

    Nina cũng vậy.

    Họ không được sinh ra dành cho những cảnh tượng gia đình êm ấm như thế.

    Nhưng anh phát ghen với hai con người kia, với sự dễ chịu của họ.

    Ngôi nhà tiện nghi của họ, sự thoải mái mà họ dành cho nhau.

    Anh biết mình đã hỏi Nina nhiều lần, nhưng khi họ rời thuyền ở gần Đông Stave, Matthias vẫn không thể ngăn mình hỏi lại, “Em cảm thấy như thế nào?”

    “Cũng ổn,” cô đáp qua quýt, tay chỉnh lại tấm mạng, cô đang mặc trang phục loè loẹt màu xanh của Cô dâu thất lạc, đúng bộ mà cô đã mặc vào cái đêm cùng các thành viên băng Cặn Bã đột nhập vào xà lim của anh.

    “Nói cho em biết đi, drüskelle, anh có từng đến khu vực này của Barrel hay chưa?”

    “Anh không có nhiều cơ hội đi dạo mát lúc còn ở trong Cổng Địa Ngục,” Matthias đáp.

    “Mà dù sao thì anh cũng sẽ không bao giờ tới đây.”

    “Dĩ nhiên rồi.

    Số lượng đông đảo những con người tầm hoan tác lạc ở cùng một nơi như thế này sẽ làm một anh chàng Fjerda như anh hoảng vía.”

    “Nina,” Matthias nói khẽ trong lúc họ đi về phía hiệu đồ da.

    Anh không muốn dồn ép, nhưng anh cần được biết.

    “Khi chúng ta làm vụ Smeet, em đã đội tóc giả và trang điểm.

    Sao em không dùng năng lực để chỉnh sửa diện mạo cho mình?”

    Nina nhún vai đáp, “Đó là cách dễ dàng và nhanh chóng nhất.”

    Matthias im lặng, không biết có nên nài ép cô thêm không.

    Họ đi ngang một hiệu phô mai, và Nina thở dài.

    “Làm thế nào em có thể đi ngang một cửa hiệu đầy những bánh phô mai thơm phức mà không cảm thấy gì cả?

    Em không còn nhận ra chính mình nữa.”

    Cô ngừng lời, rồi nói tiếp, “Em đã cố chỉnh sửa dung mạo, và cảm thấy có gì đó không ổn.

    Khác lắm.

    Em chỉ xoá quầng thâm dưới mắt, vậy mà cũng phải tập trung hết sức mới làm được.”

    “Nhưng em chưa bao giờ là một Thợ May giỏi.”

    “Này gã Fjerda kia, anh nói năng cho cẩn thận.”

    “Nina”

    “Chuyện này khác.

    Không chỉ khó khăn, nó còn đau đớn nữa.

    Khó giải thích lắm.”

    “Thế còn việc kiểm soát người khác?”

    Matthias hỏi tiếp.

    “Cách mà em đã làm trong vụ Lâu Đài Băng, dưới ảnh hưởng của parem ấy?”

    “Em không nghĩ mình có thể làm điều đó được nữa.”

    “Em có thử chưa?”

    “Không hẳn.”

    “Thử với anh đi.”

    “Matthias, chúng ta còn việc phải làm.”

    “Thử đi.”

    “Em sẽ không xáo trộn mọi thứ trong người anh khi không biết được chuyện gì sẽ diễn ra.”

    “Nina à…”

    “Được thôi,” cô bực bội thốt lên.

    “Lại đây.”

    Họ đang ở rất gần Đông Stave, và những kẻ đi chơi đêm bắt đầu đông lên.

    Nina lôi Matthias vào trong một cái ngõ nhỏ nằm giữa hai toà nhà.

    Cô vén mạng che và nâng mặt nạ của anh lên, rồi từ từ áp hai bàn tay mình vào thái dương của anh.

    Những ngón tay cô luồn vào trong mái tóc Matthias, và sự tập trung của anh vỡ vụn.

    Có cảm giác như cô đang chạm vào khắp nơi trên cơ thể anh.

    Nina nhìn vào mắt anh.

    “Thế nào?”

    “Anh chẳng cảm thấy gì,” anh nói.

    Giọng anh khàn đi một cách đáng sợ.

    Cô nhướng mày.

    “Không có gì à?”

    “Em đã thử bắt anh làm gì?”

    “Bắt anh hôn em.”

    “Ngớ ngẩn quá đi.”

    “Sao lại thế?”

    “Bởi vì anh luôn muốn hôn em,” anh thú nhận.

    “Thế sao anh không bao giờ làm chuyện đó?”

    “Nina, em vừa mới trải qua một sự xáo trộn khủng khiếp…”

    “Phải, đúng là thế.

    Anh biết điều gì sẽ giúp được em không?

    Thật nhiều nụ hôn.

    Chúng ta chưa từng được ở một mình kể từ lúc ở trên con tàu Ferolind.”

    “Ý em là lúc em vật vã tưởng chết ấy hả?”

    Matthias hỏi lại.

    Một người nào đó cần phải nhớ lại tính chất nghiêm trọng của tình huống.

    “Em thích nghĩ tới những giây phút đẹp đẽ cơ.

    Giống như khi anh giữ tóc để em nôn vào một cái xô ấy.”

    “Đừng có cố chọc cười anh.”

    “Nhưng em thích anh cười.”

    “Nina, giờ không phải là lúc tán tỉnh.”

    “Em cần phải làm anh mất cảnh giác, nếu không anh sẽ quá tập trung vào việc bảo vệ em và hỏi em có ổn không.”

    “Lo lắng thì có gì sai?”

    “Không, anh sai khi đối xử với em như thể em sẽ gục ngã bất kì lúc nào.

    Em không mong manh đến mức ấy.”

    Nina ấn chiếc mặt nạ của Matthias xuống trở lại theo cách không được nhẹ nhàng cho lắm, rồi bước ra khỏi ngõ hẻm, băng qua đường, đi tới một hiệu đồ da có hình con lửng vàng trên cửa.

    Matthias bám theo cô.

    Anh biết mình đã nói không đúng, nhưng anh không biết phải nói thế nào mới phải.

    Một cái chuông nhỏ kêu leng keng khi họ bước vào trong cửa hiệu.

    “Làm thế nào chỗ này lại mở cửa vào giờ khuya khoắt như vậy?”

    Anh thì thào.

    “Ai lại muốn mua áo choàng vào giữa đêm như thế này?”

    “Du khách.”

    Quả vậy, một vài người đang chọn hàng giữa các chồng áo lông và da thuộc.

    Matthias theo chân Nina đi tới quầy.

    “Chúng tôi đến nhận hàng đã đặt trước,” Nina nói với người bán hàng.

    “Tên?”

    “Judit Coenen.”

    “À!”

    Người bán nói và giở sổ ra xem.

    “Linh miêu vàng và gấu đen, đã thanh toán.

    Chờ một chút.”

    Anh ta biến vào trong và quay trở ra một phút sau đó, loạng choạng dưới trọng lượng của hai thùng đồ to tướng được buộc bằng dây thừng.

    “Hai người có cần giúp mang ra…”

    “Không cần đâu,” Matthias bê hai thùng hàng như không.

    Người Ketterdam cần hít thở khí trời và luyện tập nhiều hơn.

    “Nhưng trời sẽ mưa đấy.

    Ít nhất hãy để tôi…”

    “Chúng tôi ổn,” Matthias gằn giọng, và người bán hàng lui lại.

    “Mặc kệ anh ta đi,” Nina nói.

    “Anh ta thiếu ngủ ấy mà.

    Cảm ơn anh đã giúp đỡ.”

    Người bán hàng mỉm cười yếu ớt trong lúc họ lên đường.

    “Anh có biết là anh rất dở chuyện này không?”

    Nina hỏi sau khi họ đã tiến vào Đông Stave.

    “Nói dối và lừa gạt hả?”

    “Tỏ ra lịch sự ấy.”

    Matthias ngẫm nghĩ.

    “Anh không cố ý tỏ ra thô lỗ.”

    “Việc giao tiếp cứ để em.”

    “Nina…”

    “Từ giờ không được gọi tên nhau trên phố.”

    Cô bực anh.

    Matthias có thể nhận ra điều đó trong giọng nói của Nina, nhưng anh không nghĩ nguyên nhân là do tay bán hàng kia.

    Họ dừng lại để Matthias có thể thay bộ đồ Gã điên bằng một trong vô số trang phục của Ngài Đỏ thẫm được gập gọn trong thùng hàng.

    Matthias không rõ tay bán hàng có biết thứ gì được cất trong lớp giấy gói màu nâu hay không, liệu số phục trang này được sản xuất ngay tại tiệm, hay Con Lửng Vàng chỉ là một điểm tập kết.

    Kaz có những đầu mối bí mật ở khắp Ketterdam, chỉ có cậu ta mới biết được chân tướng của những công việc mà họ đang làm.

    Sau khi Matthias đã tìm được một chiếc áo choàng đủ rộng và chụp cái

    mặt nạ sơn mài hai màu trắng đỏ lên mặt, Nina dúi vào tay anh một túi đầy những đồng bạc.

    Matthias tâng nhẹ cái túi trong lòng bàn tay, những đồng bạc kêu leng keng thật vui tai.

    “Chúng không phải tiền thật, đúng không?”

    “Tất nhiên.

    Nhưng không ai biết chuyện đó.

    Bởi vậy mới vui.

    Ta luyện tập nào.”

    “Luyện tập?”

    “Mẹ cha trả nợ giùm đi!”

    Nina nói với giọng ngân nga như hát.

    Matthias trố mắt nhìn cô.

    “Em bị sốt đấy à?”

    Nina vén mạng lên để anh có thể nhìn thấy ánh mắt sắc lẻm của cô.

    “Câu đó lấy từ trong Hài kịch Thô lỗ.

    Khi Ngài Đỏ thẫm bước lên sân khấu, khán giả sẽ hét lên…”

    “Mẹ cha trả nợ giùm đi,” Matthias nói nốt.

    “Chính xác.

    Khi đó anh sẽ nói, ‘Tiền vung vãi hết còn gì đâu cưng,’ và tung một nắm tiền xu vào đám đông.”

    “Tại sao?”

    “Cũng giống như khi mọi người nhiếc móc Gã điên và tung hoa vào Hoàng hậu Bọ hung.

    Truyền thống mà.

    Du khách không phải ai cũng hiểu, nhưng người Kerch thì không xa lạ gì.

    Do vậy đêm nay, khi ai đó hét lên ‘Mẹ cha trả nợ giùm đi’ thì…”

    “Tiền vung vãi hết còn gì đâu cưng,” Matthias ngân nga một cách gượng gạo và tung một nắm xu lên trời.

    “Anh phải nói với giọng nhiệt tình hơn,” Nina giục.

    “Chuyện này phải vui.”

    “Anh thấy nó thật ngớ ngẩn.”

    “Đôi khi cảm thấy ngớ ngẩn cũng hay mà, anh chàng Fjerda.”

    “Em chỉ nói thế vì em không biết xấu hổ là gì.”

    Trước sự ngạc nhiên của anh, thay vì đáp trả đích đáng, Nina chỉ im lặng và không nói gì cho tới khi họ vào vị trí trước một sòng bạc của Lid nằm cách sòng bạc Cumulus vài ngôi nhà, nhập bọn với các nhạc công và người hát rong.

    Lúc đó, dường như ai đó đã bật một công tắc bên trong Nina.

    “Lại đây, mau đến với Kiếm Đỏ nào!” cô tuyên bố.

    “Anh kia, anh gầy quá đấy.

    Anh nghĩ sao nếu được ăn uống miễn phí nào?

    Chị kia, chị có vẻ biết thưởng thức trò vui đấy…”

    Nina chiêu dụ các du khách về phía mình, từng người một, như thể cô sinh ra để làm điều đó, phân phát đồ ăn và rượu miễn phí, đưa họ những bộ trang phục và tờ rơi.

    Khi một trong số các vệ sĩ của sòng bạc tiến lại gần để xem họ đang làm trò gì, hai người di chuyển về hướng nam rồi rẽ sang phía tây, tiếp tục phân phát hai trăm bộ trang phục kèm mặt nạ mà Kaz đã đặt mua.

    Khi mọi người hỏi chuyện này là thế nào, Nina chỉ đáp rằng họ đang quảng cáo cho một sòng bạc mới mang tên Kiếm Đỏ.

    Đúng như Nina đã dự kiến, thỉnh thoảng có người lại nhận ra bộ trang phục của Matthias và ré lên, “Mẹ cha trả nợ giùm đi!”

    Theo đúng bổn phận, Matthias đáp lại, cố hết sức để tỏ ra vui vẻ.

    Nếu du khách và dân chơi có thấy màn trình diễn của anh yếu kém thì họ cũng không nói ra, có lẽ vì phân tâm bởi cơn mưa những đồng bạc.

    Khi họ tiến đến Tây Stave thì đống trang phục đã được phát hết và mặt trời đã lên cao.

    Matthias thoáng thấy tia sáng phản chiếu từ mái của khách sạn Ammbers.

    Jesper vừa ra hiệu bằng cái gương con của cậu ta.

    Matthias hộ tống Nina tới phòng khách sạn đã được đặt dưới cái tên Judit Coenen ở tầng ba của khách sạn.

    Đúng như Kaz đã nói, ban công phòng có tầm quan sát tuyệt hảo bao quát cầu Thiện Nữ cũng như dòng kênh Tây Stave, với những khách sạn và nhà chứa san sát hai bên bờ.

    “Nó có nghĩa là gì?”

    Matthias hỏi Nina.

    “Cầu Thiện Nữ á?”

    Cô hỏi lại.

    “Sao họ lại đặt tên cho nó như thế?”

    Nina tựa người vào khung cửa và đáp, “À, chuyện là khi một phụ nữ phát hiện ra chồng mình tằng tịu với một cô gái khu Tây Stave và âm mưu bỏ vợ, chị ta đã đến cây cầu này và, thay vì sống tiếp mà không có anh ta, chị ta gieo mình xuống kênh.”

    “Vì một người đàn ông thiếu danh dự như thế sao?”

    “Anh không bao giờ bị cám dỗ à?

    Tất cả những trò ong bướm mời gọi ở Tây Stave này ấy?”

    “Em có nhảy cầu vì một người đàn ông bị cám dỗ bởi chúng không?”

    “Có vì nhà vua của Ravka thì em cũng không nhảy.”

    “Đó là một câu chuyện đáng buồn,” Matthias đáp.

    “Em không nghĩ nó có thật.

    Đó là điều sẽ xảy ra khi anh để cho đám đàn ông đặt tên các cây cầu.”

    “Em nên nghỉ ngơi một chút đi,” anh nói.

    “Anh sẽ đánh thức em khi đến giờ hẹn.”

    “Em không mệt, và em không cần được dạy dỗ.”

    “Em đang tức giận kìa.”

    “Không cần anh phải nói ra cảm xúc của em.

    Vào vị trí đi, Matthias.

    Anh trông cũng tả tơi lắm đấy.”

    Giọng nói cô lạnh lùng, sống lưng cô giữ thẳng.

    Kí ức về giấc mơ ùa vào anh mạnh mẽ đến nỗi anh có thể cảm thấy cái lạnh của cơn gió, những bông tuyết quất vào má ran rát.

    Họng anh đau buốt khi anh hét gọi tên Nina.

    Anh muốn dặn cô bảo trọng.

    Anh muốn hỏi cô có chuyện gì không ổn hay không.

    “Không đổ lệ,” anh thì thầm.

    “Không quan tài,” cô đáp, ánh mắt vẫn dán vào cây cầu.

    Matthias lặng lẽ rời phòng khách sạn, xuống thang, và băng qua dòng kênh trên cây cầu Thiện Nữ rộng rãi.

    Anh ngước nhìn về phía ban công khách sạn Ammbers, nhưng không thấy bóng dáng Nina đâu cả.

    Càng hay.

    Nếu anh có thể trông thấy cô từ trên cầu thì Van Eck cũng thế.

    Mấy bậc thang bằng đá dẫn anh xuống một bến thuyền nơi một người bán hoa đang buộc con thuyền chở đầy những đoá hoa tươi thắm trong ánh nắng ban mai ửng hồng.

    Matthias trao đổi vài câu trong khi anh ta lúi húi với những bông hoa tulip và thuỷ tiên.

    Anh nhận ra vết phấn mà Wylan đã đánh dấu phía trên mực nước ở hai bên bờ kênh.

    Họ đã sẵn sàng.

    Matthias theo cầu thang đi lên mái rạp Emporium.

    Quanh anh toàn là những mặt nạ, mạng che và áo choàng lấp lánh.

    Mỗi tầng có một chủ đề khác nhau với đủ kiểu trang trí.

    Anh kinh hoàng khi trông thấy một cái giá chất đầy trang phục drüskelle.

    Nhưng đây vẫn là một nơi lí tưởng để tránh bị nhòm ngó.

    Matthias nhanh chóng lên mái nhà và ra hiệu cho Jesper bằng cái gương con.

    Họ đã vào vị trí.

    Ngay trước mười hai giờ, Wylan sẽ vào ngồi đợi ở quán cà phê bên bờ kênh, nơi luôn thu hút một đám đông ồn ào các nghệ sĩ đường phố, từ nhạc công, diễn viên kịch câm cho đến người tung hứng, những người biểu diễn để xin tiền du khách.

    Lúc này thì cậu nhóc còn đang nằm ngủ ngon lành dưới mái vòm bằng đá.

    Khẩu súng trường của Matthias được bọc trong tấm vải dầu nằm bên cạnh Wylan.

    Cậu nhóc đã gắn vào đó hàng loạt viên pháo hoa, ngòi nổ của chúng xoắn cong như đuôi chuột.

    Matthias ngả lưng vào gờ đá và nhắm mắt, chập chờn ngủ.

    Anh đã quen với lối ngủ này từ thời còn là drüskelle.

    Anh có thể thức dậy khi cần thiết.

    Nhưng giờ đây, anh đang bước trên băng với tiếng gió gào thét bên tai.

    Ngay chính người Ravka cũng đặt tên cho loại gió này, Gruzeburya.

    Cuồng phong.

    Gió sát nhân.

    Nó đến từ phương bắc và nuốt chửng mọi thứ trên đường đi.

    Binh lính bỏ mạng khi chỉ còn cách lều trại vài bước chân, lạc lối giữa không gian trắng xoá, tiếng thét cầu cứu của họ bị cái lạnh vô diện nuốt chửng.

    Nina đang ở ngoài kia.

    Anh biết điều đó, và không làm sao với tới cô được.

    Anh thét gọi tên cô hết lần này đến lần khác, những ngón chân anh tê đi trong đôi ủng, băng giá len lỏi chui qua quần áo anh.

    Matthias cố lắng nghe, nhưng trong tai anh chỉ có tiếng gió gào rít, và đâu đó, phía đằng xa, tiếng sói tru.

    Cô sẽ chết trên băng tuyết mất.

    Cô sẽ chết trong đơn độc, và do lỗi của anh.

    Matthias choàng tỉnh, miệng hớp không khí.

    Mặt trời đã lên cao.

    Wylan đang ở bên cạnh và lay anh nhè nhẹ.

    “Gần đến giờ rồi.”

    Matthias gật đầu và đứng dậy xoay vai, cảm nhận không khí ấm áp của Ketterdam quanh mình.

    Nó cho một cảm giác lạ lùng khi vào trong phổi anh.

    “Anh có ổn không vậy?”

    Wylan dò hỏi, nhưng có vẻ như sắc mặt của Matthias đã nói lên tất cả.

    “Anh ổn,” cậu thiếu gia tự trả lời và nhanh chóng leo xuống cầu thang.

    Matthias xem giờ với chiếc đồng hồ đeo tay rẻ tiền bằng đồng thau mà Kaz đã đưa cho.

    Gần mười hai giờ rồi.

    Hi vọng Nina có giấc ngủ dễ chịu hơn so với anh.

    Matthias dùng gương hắt ánh sáng về phía ban công phòng cô, và cảm thấy nhẹ cả người khi một tia sáng loé lên từ đó.

    Anh ra hiệu cho Jesper, rồi nhoài người qua mép mái nhà, chờ đợi.

    Matthias biết Kaz chọn Tây Stave vì đám đông và khả năng che giấu danh tính.

    Các cư dân của nó đã bắt đầu thức giấc sau cuộc vui đêm qua.

    Những người giúp việc nhà đang đi chợ, đón những chuyến tàu giao rượu và trái cây cho cuộc vui đêm tới.

    Đám du khách vừa đặt chân tới Ketterdam tản bộ dọc theo hai bên bờ kênh, chỉ trỏ những tấm bảng hiệu cầu kì đánh dấu từng ngôi nhà, cả cái nổi tiếng lẫn cái tai tiếng.

    Anh có thể trông thấy bông hoa hồng nhiều cánh uốn bằng sắt rèn màu trắng mạ bạc.

    Nhà Hồng Bạch.

    Nina đã làm việc ở đó gần cả năm trời.

    Anh chưa bao giờ hỏi cô về quãng thời gian đó.

    Anh không có quyền.

    Cô đã ở lại Ketterdam để giúp anh, và cô có thể làm những gì mình muốn.

    Thế nhưng anh vẫn không thể không hình dung cảnh cô tại đó, phô bày những đường cong cơ thể, đôi mắt xanh khép hờ, những cánh hoa hồng trắng ngà nổi bật trên suối tóc đen.

    Có những đêm anh hình dung cô mời gọi anh lại gần hơn, những đêm khác cô tiếp một ai khác trong bóng tối, và anh nằm thao thức, tự hỏi sự ghen tuông hay khao khát sẽ làm anh phát điên trước.

    Anh rời mắt khỏi tấm bảng hiệu và rút chiếc ống nhòm trong túi ra, buộc mình quan sát phần còn lại của khu vực.

    Vài phút trước mười hai giờ, Matthias trông thấy Kaz từ phía tây đi tới.

    Bóng dáng đen thẫm của cậu ta như vết mực di chuyển qua đám đông, cây gậy chống hoà nhịp với những bước chân khập khiễng.

    Đám đông dường như tản ra xung quanh Kaz, có lẽ cảm thấy được sự quả quyết nơi cậu ta.

    Cảnh tượng khiến Matthias nhớ tới những người dân làng thả khói lên trời để xua đuổi tà ma.

    Alys Van Eck lạch bạch đi bên cạnh Kaz.

    Chị ta đã được tháo băng bịt mắt, và qua ống nhòm anh có thể thấy đôi môi chị ta mấp máy.

    Djel lòng lành, chị ta vẫn đang hát sao?

    Căn cứ vào vẻ mặt nhăn nhó của Kaz thì đó là một khả năng rõ rệt.

    Bên kia cầu, Matthias thấy Van Eck đang đi tới.

    Ông ta căng người, lưng thẳng tưng, hai cánh tay khép sát vào thân mình, như thể sợ bầu không khí đầy tội lỗi của Barrel làm bẩn bộ trang phục.

    Kaz đã ra chỉ thị rất rõ: tiêu diệt Van Eck chỉ khi không còn cách nào khác.

    Họ không muốn giết chết một thành viên của Hội đồng Thương buôn, nhất là giữa chốn thanh thiên bạch nhật.

    “Có thể ngụy tạo được không?”

    Jesper đã hỏi như thế.

    “Một cơn đau tim?

    Viêm não?”

    Matthias thích cách giết đàng hoàng hơn, trên sàn đấu công khai.

    Nhưng ở Ketterdam này mọi chuyện không diễn ra như thế.

    “Lão ta mà chết thì dễ dàng quá,” Kaz đã nói như thế, và họ không bàn tiếp nữa.

    Thằng quỷ demjin không thích tranh cãi.

    Van Eck được vây quanh bởi các cận vệ mặc bộ chế phục hai mầu đỏ và vàng ánh kim.

    Đầu họ xoay sang trái rồi sang phải, quan sát chung quanh tìm mối nguy hiểm.

    Dựa theo nếp áo choàng của họ, Matthias đoán tất cả đều có mang vũ khí.

    Nhưng kia rồi, được vây quanh bởi ba cận vệ to lớn, là một bóng người nhỏ nhắn đội mũ trùm đầu.

    Inej.

    Matthias ngạc nhiên với niềm vui mà anh đang cảm thấy.

    Mặc dù chỉ biết cô bé người Suli được một thời gian ngắn, anh đã lập tức ngưỡng mộ sự can đảm của cô.

    Và Inej đã cứu mạng họ hết lần này tới lần khác, liều cả mạng sống của chính mình khi làm điều đó.

    Anh đã nhiều lần tự vấn về các quyết định của mình, nhưng việc giải cứu cô khỏi tay Van Eck thì không.

    Anh chỉ ước gì Inej tránh xa Kaz Brekker ra.

    Cô xứng đáng với một người tốt hơn.

    Nhưng có lẽ Nina cũng xứng đáng với một người tốt hơn anh.

    Hai bên đã tiến đến cây cầu.

    Kaz và Alys bước tới trước.

    Van Eck ra hiệu cho các cận vệ giữ Inej lại.

    Matthias ngước mắt lên.

    Từ mái nhà bên kia, Jesper đang hoảng loạn ra hiệu bằng cái gương con.

    Anh nhanh chóng quan sát xung quanh cây cầu, nhưng không thấy điều gì có thể làm cậu ta hoảng hốt đến vậy.

    Đưa ống nhòm lên mắt, anh nhìn những con phố lắt léo như mê cung toả ra từ hai bờ kênh.

    Đường rút lui của Kaz có vẻ thông thoáng.

    Nhưng khi Matthias nhìn về phía đông, sau lưng Van Eck, tim anh bỗng thắt lại.

    Những con phố nhung nhúc sắc tím, tất cả đang di chuyển về phía con kênh.

    Thị tuần.

    Đây chỉ là trùng hợp, hay là kế hoạch từ trước của Van Eck?

    Có lẽ nào ông ta muốn chính quyền phát hiện ra mưu đồ của mình?

    Có lẽ nào người Fjerda dính vào chuyện này?

    Nếu họ đến để bắt cả Van Eck lẫn Kaz thì sao?

    Matthias dùng gương ra hiệu cho Nina hai lần.

    Từ điểm quan sát của mình, cô chỉ có thể trông thấy lực lượng thị tuần khi đã quá muộn.

    Một lần nữa, anh rùng mình trước hơi lạnh của cơn gió, nghe thấy tiếng anh gọi tên cô, cảm thấy sự kinh hoàng dâng lên khi không nhận được câu trả lời.

    Cô ấy sẽ ổn thôi, anh tự nhủ.

    Cô ấy là một chiến binh.

    Nhưng lời cảnh báo của Jesper vang lên bên tai Matthias.

    Hãy cẩn thận.

    Cô ấy dường như không còn là chính mình nữa.

    Anh thầm mong Kaz đã sẵn sàng.

    Anh mong rằng Nina vững vàng hơn anh tưởng.

    Anh hi vọng kế hoạch mà họ vạch ra đủ hiệu quả, Jesper nhắm trúng đích, và những tính toán của Wylan là chính xác.

    Rắc rối đang vây bủa họ.

    Matthias vươn tay lấy khẩu súng.

    9

    KAZ

    Suy nghĩ đầu tiên của Kaz khi thấy Van Eck đi tới cầu Thiện Nữ là,

    Người này không nên chơi bài.

    Suy nghĩ thứ hai của anh là có ai đó đã đập gãy mũi lão ta.

    Nó cong lại và sưng vù, một quầng tím đã hình thành dưới một bên mắt.

    Kaz đoán một thầy lang học sĩ đã xử lí phần tồi tệ nhất của chỗ tổn thương, nhưng không có Thiện Tâm Y thì thật khó mà làm được gì hơn.

    Van Eck đang cố giữ nét mặt trung dung, nhưng lão ta dồn nhiều sức lực vào việc tỏ ra điềm tĩnh đến nỗi trán đầm đìa mồ hôi.

    Hai vai lão cứng đơ, lồng ngực nhô cao như thể bị ai đó buộc dây vào xương ức rồi kéo lên.

    Van Eck bước lên cầu một cách trịnh trọng, vây quanh bởi các cận vệ mặc chế phục màu đỏ và vàng.

    Đấy là điều làm Kaz ngạc nhiên.

    Anh tưởng lão ta sẽ muốn xuất hiện ở khu Barrel một cách ít phô trương nhất có thể.

    Anh nghiền ngẫm chi tiết này trong đầu.

    Thật nguy hiểm nếu bỏ qua các chi tiết.

    Chẳng ai thích để lộ mình cả, nhưng tất cả nỗ lực nhằm tỏ ra đường hoàng đĩnh đạc trong chuyến đi này cho thấy sự hợm hĩnh của lão ta hẳn đang bị tổn thương.

    Một thương gia luôn tự hào với trực giác kinh doanh, khả năng lập chiến lược, chi phối con người và thị trường.

    Van Eck đang tìm cách lấy lại hình ảnh đôi chút sau khi bị một thằng ranh con khu Barrel dắt mũi.

    Kaz để cho mắt mình lướt qua đám cận vệ một lượt, thật nhanh chóng, rồi tìm kiếm Inej.

    Cô đội mũ trùm đầu, gần như khuất sau đoàn hộ vệ mà Van Eck mang theo, nhưng Kaz có thể nhận ra cái dáng người mỏng như lưỡi dao của cô ở bất cứ nơi đâu.

    Có phải anh đang muốn rướn cổ để cố quan sát kĩ hơn, để chắc chắn rằng cô không bị thương?

    Anh có thể nhận ra cám dỗ đó, nhưng gạt nó qua một bên.

    Anh sẽ không mất tập trung.

    Trong một tích tắc ngắn ngủi, Kaz và Van Eck đánh giá nhau từ hai đầu cầu.

    Kaz không thể không nhớ tới lần họ đối mặt với nhau như thế này mới bảy ngày trước đây.

    Anh đã nghĩ rất nhiều về lần đó.

    Khuya hôm qua, khi các công việc trong ngày đã xong, anh nằm thao thức, nhớ lại từng chi tiết của nó.

    Anh cứ quanh đi quẩn lại với suy nghĩ về vài giây định mệnh đó, khi anh chuyển sự tập trung của mình vào Inej thay vì tiếp tục quan sát Van Eck.

    Đó là sai lầm mà anh sẽ không cho phép mình mắc phải một lần nữa.

    Thằng bé đó đã để lộ điểm yếu của mình trong nháy mắt, đã thua cả cuộc chiến chỉ vì một trận đánh, và đẩy Inej - đẩy tất cả bọn họ - vào nguy hiểm.

    Nó là một con thú bị thương cần phải kết liễu.

    Và Kaz đã làm điều đó đầy sung sướng, trừ khử nó không một chút hối tiếc.

    Thằng Kaz còn lại chỉ có một nhiệm vụ duy nhất: Giải thoát Inej.

    Bắt Van Eck trả giá.

    Những cái khác chỉ là sự ồn ào vô ích.

    Anh cũng nghĩ tới sai lầm của Van Eck trên đảo Vellgeluk.

    Lão thương gia đã ngu đến nỗi ăn mừng việc đứa con thừa tự của mình vừa tượng hình trong bụng cô vợ trẻ - bà chị Alys Van Eck với mái tóc trắng như sữa và đôi tay múp míp.

    Lão ta đã tối mắt vì tự mãn, cộng thêm sự căm ghét dành cho Wylan, khao khát muốn xoá tên con trai mình trong sổ sách như một thương vụ thất bại.

    Kaz và Van Eck khẽ gật đầu với nhau.

    Bàn tay đeo găng của Kaz vẫn đặt trên vai Alys.

    Anh không nghĩ chị ta sẽ tìm cách bỏ chạy, nhưng ai mà biết trong đầu chị ta đang có ý tưởng gì?

    Thế rồi Van Eck ra hiệu cho người của mình đưa Inej tới trước, trong lúc đó Kaz và Alys cũng bắt đầu băng qua cầu.

    Trong nháy mắt anh đã nhận ra dáng đi khác lạ của Inej, cả cái cách mà cô giữ hai tay sau lưng nữa.

    Bọn họ đã trói tay và cùm chân cô.

    Một sự cẩn trọng hợp lí, anh tự nhủ.

    Mình chắc cũng sẽ làm như vậy.

    Nhưng anh vẫn cảm thấy viên đá lửa trong mình đang chà xát vào các khoang rỗng, sẵn sàng khơi lên ngọn lửa hận thù.

    Anh lại nghĩ tới việc đoạt mạng Van Eck.

    Kiên nhẫn nào, anh tự nhắc mình.

    Anh đã luyện tập nó từ sớm và thường xuyên.

    Sự kiên nhẫn sẽ khiến mọi địch thủ của anh quỳ gối vào một thời điểm thích hợp.

    Sự kiên nhẫn, cùng với số tiền mà anh định lấy từ lão lái buôn già này.

    “Cậu có thấy ông ấy đẹp trai không?”

    Alys hỏi.

    “Cái gì?”

    Kaz hỏi lại, không chắc mình nghe đúng.

    Alys đã ngâm nga hát suốt từ lúc được tháo băng bịt mắt ở chợ, và anh đã phải cố hết sức để phớt lờ chị ta.

    “Mũi của Jan bị cái gì đó,” Alys nói.

    “Tôi đoán ông ta đã bị Bóng Ma đập cho một cú.”

    Alys nhăn cái mũi nhỏ xinh, tần ngần.

    “Tôi nghĩ Jan sẽ đẹp trai hơn nếu không già đến thế.”

    “May cho chị là chúng ta đang sống trong một thế giới mà đám đàn ông có thể bù đắp cho tuổi già bằng sự giàu có.”

    “Sẽ tốt hơn nếu ông ấy vừa giàu có lại vừa trẻ trung.”

    “Việc gì phải dừng lại ở đó?

    Sao không vừa trẻ, vừa giàu, lại vừa có dòng máu hoàng tộc?

    Sao phải hài lòng với một gã con buôn trong khi mình có thể có một hoàng tử?”

    “Cũng phải,”Alys đáp.

    “Nhưng tiền mới là thứ quan trọng.

    Tôi chưa

    bao giờ thực sự quan tâm tới các chàng hoàng tử.”

    Ôi trời, cô gái này đúng là dân Kerch chính hiệu, không thể nghi ngờ chuyện đó.

    “Alys này, tôi thấy kinh ngạc khi nhận ra chúng ta có cùng quan điểm đấy.”

    Kaz quan sát xung quanh cây cầu trong khi họ gần ra đến điểm giữa.

    Anh dè chừng các cận vệ của Van Eck, ghi nhận những cánh cửa mở trên ban công tầng ba của khách sạn Ammbers, chiếc thuyền hoa neo đậu bên dưới mặt tây của cây cầu như mọi sáng.

    Anh biết Van Eck có cài người trong các toà nhà xung quanh, giống như anh.

    Nhưng không ai được phép bắn hạ đối thủ.

    Chắc chắn Van Eck rất muốn thấy anh phơi xác dưới kênh, nhưng Kaz có thể dẫn lão ta tới chỗ Kuwei, và điều đó sẽ giúp cho anh khỏi phải nhận một phát đạn vào đầu.

    Họ dừng lại khi còn cách nhau chừng mười sải chân.

    Alys cố bước tới trước, nhưng Kaz cương quyết giữ chị ta tại chỗ.

    “Cậu nói cậu sẽ đưa tôi về với Jan mà,” chị ta phản đối.

    “Thì đây,” Kaz đáp.

    “Nhưng bây giờ chị phải đứng yên.”

    “Jan!”

    Alys ré lên lanh lảnh.

    “Em đây!”

    “Anh biết rồi, bé cưng,” Van Eck đáp với giọng điềm tĩnh, ánh mắt không rời khỏi Kaz.

    Rồi lão ta hạ giọng nói tiếp.

    “Chuyện này chưa xong đâu, Kaz Brekker.

    Ta muốn có Kuwei Yul-Bo.”

    “Chúng ta đến đây để nói lại cho rõ à?

    Ông muốn có bí mật jurda parem, còn tôi muốn tiền của mình.

    Thoả thuận là như thế.”

    “Ta không có ba mươi triệu kruge đâu.”

    “Tiếc quá, tôi chắc chắn một ai khác sẽ có số tiền đó.”

    “Cậu đã tìm được khách hàng khác rồi sao?”

    “Đừng bận tâm tới việc của tôi.

    Thị trường sẽ cung cấp khách hàng.

    Ông có muốn nhận lại vợ mình không hay là tôi chỉ phí công đưa chị ta tới đây?”

    “Khoan đã,”Van Eck nói.

    “Alys, chúng ta định đặt tên cho đứa bé là gì?”

    “Giỏi lắm,” Kaz lên tiếng.

    Bọn anh đã dùng Wylan đóng giả làm Kuwei Yul-Bo trên đảo Vellgeluk để lừa Van Eck vào tròng một cách dễ dàng.

    Bây giờ lão ta muốn xác minh xem mình có thật sự được nhận lại vợ hay một cô nàng nào đó với diện mạo và cái bụng bầu được làm giả một cách khéo léo bởi một Thợ May.

    “Xem ra chó già cũng học được trò mới.

    Ngoài chuyện lăn lộn dưới đất.”

    Van Eck phớt lờ.

    “Alys,” ông ta lặp lại, “chúng ta định đặt tên cho đứa bé là gì?”

    “Đứa bé á?”

    Chị ta ngơ ngác hỏi lại.

    “Jan nếu là con trai.

    Plumje nếu là con gái.”

    “Chúng ta đã thống nhất rằng Plumje là cái tên em đặt cho con vẹt đuôi dài mới.”

    Alys dẩu môi.

    “Em chưa bao giờ đồng ý chuyện đó.”

    “Ồ, tôi thấy Plumje cũng là một cái tên con gái dễ thương mà,” Kaz lên tiếng.

    “Hài lòng chưa, lão thương gia?”

    “Lại đây,” Van Eck giục Alys bước tới, đồng thời ra hiệu cho cận vệ thả Inej ra.

    Khi Inej đi ngang qua chỗ Van Eck, cô quay mặt về phía ông ta và thì thầm điều gì đó.

    Môi Van Eck mím lại.

    Inej loạng choạng bước tới, duyên dáng lạ lùng ngay cả với đôi tay trói chặt sau lưng và cái cùm nơi mắt cá chân.

    Mười bước.

    Năm bước.

    Van Eck ôm chầm lấy Alys trong khi chị ta tuôn ra một tràng những câu hỏi.

    Ba bước.

    Inej giữ ánh mắt kiên định nhìn thẳng về phía trước.

    Cô gầy hơn.

    Môi cô nứt nẻ.

    Sau những ngày dài bị giam cầm, ánh nắng giờ đây đã lấp lánh trên mái tóc đen nhánh bên dưới lớp mũ trùm đầu.

    Hai bước, và rồi cô đã ở trước mặt anh.

    Họ vẫn cần phải rời khỏi cây cầu.

    Van Eck sẽ không buông tha họ một cách dễ dàng như vậy.

    “Dao của cô đâu?”

    Anh hỏi.

    “Nhét trong áo.”

    Van Eck buông Alys ra, và chị ta lập tức được các vệ quân đưa đi.

    Những bộ đồng phục đỏ vàng vẫn làm Kaz thấy khó chịu, có gì đó không ổn.

    “Chúng ta rời khỏi đây thôi,” anh nói, con dao nạy vỏ hàu trong tay tìm đến sợi dây trói cô.

    “Này Brekker,” Van Eck lên tiếng.

    Kaz nhận ra sự kích động trong giọng nói của lão ta và khựng lại.

    Biết đâu lão già này giỏi giả vờ hơn lời đồn đại.

    “Cậu đã nói thì phải giữ lời chứ, Kaz!”

    Van Eck lớn tiếng với giọng trịnh trọng.

    Mọi người trong tầm nghe ở Stave đều quay đầu quan sát.

    “Cậu đã thề sẽ trao trả vợ và con ta!

    Thế thì Wylan đâu?”

    Lúc đó Kaz trông thấy họ - một cơn sóng triều màu tím di chuyển về phía cây cầu.

    Các thị tuần ùa vào khu Stave, súng trường giơ cao, dùi cui rút ra.

    Kaz nhướng mày.

    Lão thương gia rốt cuộc cũng làm cho chuyện này trở nên thú vị.

    “Phong toả cầu!”

    Một người hô to.

    Kaz liếc qua vai và thấy nhiều thị tuần đã chặn đường rút lui của mình.

    Van Eck cười nhăn nhở.

    “Giờ chúng ta chơi sòng phẳng được chưa, cậu Brekker?

    Sức mạnh của chính quyền chống lại đám lưu manh các cậu?”

    Kaz không thèm trả lời.

    Anh đẩy vai Inej và cô quay người lại, giơ cổ tay cho anh cắt dây trói.

    Anh tung con dao với niềm tin rằng cô sẽ bắt được trong lúc anh quỳ xuống để xử lí cái cùm chân bằng bộ dụng cụ phá khoá vừa trượt xuống mấy đầu ngón tay của mình.

    Kaz nghe thấy tiếng giày rầm rập tiến đến, cảm thấy Inej tựa lưng vào mình, rồi một tiếng rít xé gió vang lên, và một thân người ngã uỵch xuống đất.

    Ổ khoá bung ra dưới tay Kaz, mở cùm cho Inej.

    Anh đứng dậy, quay người, trông thấy một sĩ quan thị tuần đã nằm gục với con dao nạy vỏ hàu cắm thẳng vào giữa hai mắt, và nhiều sắc áo tím đang lao tới chỗ họ từ mọi hướng.

    Kaz giơ cây gậy chống lên để ra hiệu cho Jesper.

    “Thuyền hoa cánh trái,” anh nói với Inej.

    Cô chỉ cần có thế và nhảy phóc lên thành cầu, biến mất trong nháy mắt.

    Cụm pháo hoa đầu tiên nổ vang trên trời, tạo ra những vệt màu nhạt nhoà trong nắng trưa.

    Mọi thứ diễn ra đúng như kế hoạch.

    Kaz lôi một cuộn dây leo tường từ trong túi ra và móc một đầu vào lan can cầu.

    Anh chống đầu gậy vào thành cầu ngay cạnh đó để đẩy cơ thể mình vượt qua lan can cầu, quán tính đưa anh bay ra khoảng không bên trên mặt kênh.

    Sợi dây căng lên đưa anh lượn vòng xuống gầm cầu như một con lắc, và anh đáp lên chiếc thuyền hoa ngay bên cạnh Inej.

    Hai chiếc thuyền thị tuần đã bắt đầu di chuyển một cách nhanh chóng về phía họ, trong khi các sĩ quan khác ùa qua lan can cầu để leo xuống bờ kênh.

    Kaz không biết Van Eck định làm gì - anh không ngờ lão ta lôi kéo lực lượng thị tuần vào chuyện này - nhưng anh dám chắc lão muốn đóng chặt mọi đường thoát của họ.

    Một loạt những tiếng nổ khác vang lên, những chùm sáng màu sắc nở bừng trên bầu trời.

    Đám đông du khách ồ lên.

    Dường như họ không nhận ra hai tiếng nổ xuất phát từ dưới kênh đã làm thủng nhiều lỗ trên thân hai chiếc thuyền thị tuần, khiến cho người trên thuyền phải nhanh chóng nhảy qua mạn thuyền xuống nước trong lúc chúng chìm dần.

    Giỏi lắm, Wylan.

    Cậu ta đã cho họ thêm một chút thời gian, nhưng không làm những người qua đường hoảng hốt.

    Kaz muốn đám đông có tâm trạng thật vui vẻ.

    Anh thả một thảm hoa phong lữ dại xuống mặt kênh trong sự phản đối của người bán hoa và vớ lấy chỗ quần áo mà Matthias đã cất trên thuyền từ sáng sớm.

    Anh khoác chiếc áo choàng đỏ thắm quanh vai Inej giữa những cánh hoa rơi lả tả, trong khi cô tiếp tục đeo bộ dao vào người.

    Có vẻ như cô cũng ngỡ ngàng chẳng kém gì người bán hoa.

    “Sao thế?”

    Anh vừa hỏi vừa quăng cho cô chiếc mặt nạ Ngài Đỏ thẫm giống hệt chiếc của anh.

    “Đây là loại hoa ưa thích của mẹ tôi.”

    “Thật mừng khi Van Eck đã không làm cô trơ lì cảm xúc.”

    “Thật vui khi được quay về, Kaz.”

    “Tôi cũng rất vui khi có cô trở lại, Bóng Ma.”

    “Anh sẵn sàng chưa?”

    “Khoan,” Kaz đáp, tai căng ra nghe ngóng.

    Tiếng pháo hoa đã chấm dứt, nhưng chỉ giây lát sau, anh đã nghe thấy âm thanh mà mình đang chờ đợi.

    Tiếng leng keng vui tai của những đồng tiền xu nảy trên mặt đá, tiếp nối bằng tiếng reo hò mừng rỡ từ đám đông.

    “Đi thôi,” anh nói.

    Họ túm lấy sợi dây thừng.

    Kaz giật mạnh một cái.

    Trong tiếng rít chói tai, sợi dây thu lại, nhanh chóng lôi họ lên cao.

    Họ quay trở lên mặt cầu trong nháy mắt, nhưng cảnh tượng chờ đón họ đã khác hoàn toàn so với những gì vừa diễn ra trước đó vài phút.

    Tây Stave đã chìm trong hỗn loạn.

    Ngài Đỏ thẫm xuất hiện khắp mọi nơi: năm chục, sáu chục, bảy chục người đeo mặt nạ và áo choàng đỏ ném những đồng tiền xu lên trời trong lúc du khách và cư dân địa phương chen lấn xô đẩy, vừa la hét vừa cười vang, có người còn bò lổm ngổm dưới đất, hoàn toàn phớt lò những sĩ quan thị tuần đang chật vật tìm cách len qua.

    “Mẹ cha trả nợ giùm đi!”

    Một nhóm các cô gái đứng trên ngưỡng cửa Diên Vĩ Xanh hét toáng lên.

    “Tiền vung vãi hết còn gì đâu cưng!”

    Các Ngài Đỏ thẫm đồng thanh đáp lại và tung lên cao những nắm tiền xu, khiến đám đông rú lên vui sướng.

    “Tránh đường!”

    Trưởng đội vệ quân hô lớn.

    Một sĩ quan cố gắng lột mặt nạ của một Ngài Đỏ thẫm đang đứng cạnh cột đèn, và đám đông ồ lên chế nhạo anh ta.

    Kaz và Inej hoà vào trong dòng chảy của những chiếc áo choàng đỏ và những con người đang ra sức nhặt tiền.

    Anh nghe thấy tiếng cười của cô vang lên từ phía bên trái, đằng sau lớp mặt nạ.

    Anh chưa bao giờ nghe thấy cô cười như vậy, sảng khoái và hoang dã.

    Bỗng một tiếng nổ uỳnh như sấm dậy làm cả khu vực rung chuyển.

    Mọi người ngã lên nhau, túm lấy nhau hoặc bấu vào các vách tường, vào bất cứ thứ gì ở gần mình.

    Kaz suýt nữa hẫng chân.

    Anh phải chống gậy để giữ thăng bằng.

    Khi anh ngước nhìn lên, một màn khói dày đã bao trùm mọi thứ.

    Tai anh vẫn ù đặc.

    Những tiếng la hét sợ hãi và gào thét kinh hoàng dường như vọng đến từ xa xăm.

    Một phụ nữ chạy băng qua chỗ anh, khuôn mặt và tóc tai phủ đầy bụi thạch cao như một bóng ma trắng toát, hai tay bịt chặt lấy tai.

    Máu chảy ra từ các kẽ ngón tay của cô ta.

    Một lỗ hổng toang hoác đã xuất hiện trên mặt tiền của Nhà Hồng Bạch.

    Kaz trông thấy Inej gỡ mặt nạ và vội kéo nó sụp xuống mặt cô trở lại.

    Anh lắc đầu.

    Có gì đó không ổn.

    Anh chỉ dự tính một vụ huyên náo thân thiện, không phải một thảm kịch như thế này, và Wylan cũng không phải loại người tính toán sai trầm trọng đến vậy.

    Ai đó đã xuất hiện để gây chuyện tại Tây Stave, và không ngần ngại gây thiệt hại.

    Tất cả những gì Kaz biết là anh đã bỏ nhiều thời gian lẫn tiền bạc vào việc cướp Bóng Ma khỏi tay Van Eck.

    Nhất định anh sẽ không để mất cô một lần nữa.

    Kaz khẽ chạm vào vai Inej.

    Đó là tất cả dấu hiệu mà họ cần.

    Anh lao tới ngõ hẻm gần nhất.

    Anh không cần phải ngoái nhìn để biết cô đang ở bên cạnh - khẽ khàng, trên những bước chân quyết đoán.

    Cô có thể vượt mặt anh trong nháy mắt, nhưng họ chỉ sánh vai chạy, sải chân nhịp nhàng cùng nhau.

    10

    JESPER

    Đây đúng là kiểu hỗn loạn mà Jesper thích.

    Anh có hai nhiệm vụ phải làm, trước khi cuộc trao đổi con tin diễn ra, và sau đó.

    Trong lúc Inej còn chịu sự kiểm soát của Van Eck, Nina là biện pháp phòng vệ đầu tiên nếu đám cận vệ tìm cách đưa cô gái Suli rời khỏi cây cầu, hoặc ai đó đe doạ tính mạng của cô.

    Jesper chỉ cần giữ cho Van Eck trong tầm ngắm - không bắn chết, nhưng nếu ông ta rút súng ra, anh được phép vô hiệu hoá một cánh tay của lão ta.

    Hoặc cả hai.

    “Van Eck sẽ giở trò gì đó,” Kaz đã nói như vậy lúc còn trên đảo Mạng Đen, “và nó sẽ rối tung vì lão ta chỉ có chưa đầy mười hai tiếng đồng hồ để lên kế hoạch.”

    “Tốt,” Jesper nói.

    “Không đâu,” Kaz đáp.

    “Kế hoạch càng tinh vi, lão ta càng phải lôi nhiều người vào cuộc, và càng nhiều người bàn bạc thì nó càng có khả năng đổ vỡ.”

    “Đó là nguyên tắc của các hệ thống,” Wylan lẩm bẩm.

    “Anh tạo ra các chốt an toàn để chống sự cố, nhưng rốt cuộc chúng lại gây ra những sự cố ngoài dự kiến.”

    “Ý đồ của Van Eck không lịch thiệp đâu, nhưng nó sẽ không thể dự đoán, nên chúng ta cần chuẩn bị.”

    “Chúng ta chuẩn bị cho điều không thể dự đoán bằng cách nào?”

    Wylan hỏi.

    “Chúng ta mở rộng các lựa chọn của mình.

    Chúng ta phải giữ cho mọi lối thoát thông thoáng.

    Mái nhà, đường phố, hẻm nhỏ, đường thuỷ.

    Sẽ không có chuyện Van Eck để cho chúng ta ung dung đi khỏi cây cầu đó.”

    Jesper đã thấy rắc rối kéo đến từ xa khi anh trông thấy các nhóm thị tuần tiếp cận cây cầu.

    Có thể đây chỉ là một cuộc trấn áp.

    Nó xảy ra một, hai lần mỗi năm ở hai khu Stave, đó là cách mà Hội đồng Thương buôn cho đám con bạc, ma cô, và các nghệ sĩ đường phố thấy rằng bất kể họ có rót bao nhiêu tiền vào ngân khố thì người kiểm soát vẫn là chính quyền.

    Anh đã ra hiệu cho Matthias và chờ đợi.

    Kaz đã nói rất rõ ràng: “Van Eck sẽ không hành động cho tới khi Alys đã quay về với lão ta và ở ngoài vòng nguy hiểm.

    Đó là lúc chúng ta cần phải sắc bén.”

    Quả đúng như vậy, ngay khi Alys và Inej được trao đổi, trên cầu lập tức om sòm.

    Ngón tay bóp cò của Jesper ngứa ngáy lắm rồi, nhưng nhiệm vụ thứ hai của anh cũng rất đơn giản: chờ đợi tín hiệu của Kaz.

    Vài giây sau đó, cây gậy chống của Kaz giơ lên cao, và anh cùng với Inej lao qua thành cầu.

    Jesper đánh một que diêm.

    Một, hai, ba, rồi bốn, và năm quả pháo hoa mà Wylan đã chuẩn bị xé gió bay vút lên trời, bừng nở thành nhiều chùm ánh sáng đủ màu sắc.

    Viên pháo cuối cùng phát ra ánh sáng màu hồng lung linh.

    Muối stronti clorua, Wylan đã nói với Jesper như thế trong lúc lúi húi với đống pháo hoa, chất nổ, bom sáng, mọt hạt và những thứ cần thiết khác.

    Nó cháy đỏ rực trong bóng tối.

    Mọi thứ luôn trở nên thú vị hơn trong bóng tối, Jesper đã đáp lại như thế.

    Anh không thể kìm mình được.

    Thật vậy, nếu cậu thiếu gia định trao anh những cơ hội như thế, anh có nghĩa vụ phải đón nhận thôi.

    Chùm pháo hoa đầu tiên là tín hiệu để các Ngài Đỏ thẫm được Nina cùng Matthias tuyển mộ đêm qua hoặc sáng sớm nay bắt đầu phân phát đồ ăn và rượu cho bất kì ai đến cầu Thiện Nữ, như một màn quảng bá hoành tráng cho sòng bạc không hề tồn tại mang tên Kiếm Đỏ.

    Dự trù chỉ có một phần trong số bọn họ xuất hiện nên hơn hai trăm bộ trang phục kèm túi tiền giả đã được phân phát.

    “Chỉ cần năm mươi người là đủ rồi,” Kaz nói.

    Đừng bao giờ đánh giá thấp khao khát được nhận đồ miễn phí của công chúng.

    Jesper ước tính có ít nhất một trăm Ngài Đỏ thẫm đã kéo tới, miệng hát vang câu hát mở đầu của ông ta trong mọi vở Hài kịch Thô lỗ, tay vung tiền lên không, có khi họ cũng ném tiền thật, do vậy nhân vật này luôn được đám đông yêu thích.

    Mọi người cười nói, xô đẩy nhau, cố tóm lấy những đồng tiền, đuổi theo các Ngài Đỏ thẫm trong lúc lực lượng thị tuần nỗ lực vãn hồi trật tự một cách vô vọng.

    Mọi chuyện thật hoàn hảo.

    Jesper biết chỗ tiền là giả, nhưng anh vẫn muốn xuống dưới đó nhặt tiền cùng với mọi người.

    Anh phải án binh bất động thêm một lúc nữa.

    Nếu những quả bom mà Wylan đã cài dưới kênh không phát nổ như kế hoạch, Kaz và Inej sẽ cần được yểm trợ thêm khi rời chiếc thuyền hoa.

    Một loạt những tiếng nổ lạch tạch vang lên trên trời.

    Matthias vừa khai hoả loạt pháo hoa thứ hai.

    Đó không phải là tín hiệu, mà là một chiêu đánh lạc hướng.

    Tít phía bên dưới, Jesper trông thấy hai cột nước cao phụt lên từ lòng kênh khi Wylan cho nổ những quả mìn dưới nước.

    Đúng lúc lắm, thiếu gia.

    Đến đây thì anh cất súng trường vào bên dưới tấm áo choàng của Ngài Đỏ thẫm và leo xuống cầu thang, chỉ dừng lại để chờ Nina nhập bọn trước khi cả hai cùng chạy ra khỏi khách sạn.

    Họ đã đánh dấu chiếc mặt nạ hai màu đỏ trắng của mình bằng một giọt lệ đen to tướng để bảo đảm nhận ra nhau, nhưng giữa quang cảnh hỗn loạn, Jesper tự hỏi phải chăng họ nên chọn một thứ gì đó lộ liễu hơn.

    Trong lúc lao qua cầu, Jesper nghĩ mình đã thấy Matthias và Wylan trong bộ áo choàng đỏ đang vung tiền trên đường rời khỏi khu vực.

    Nếu bỏ chạy, họ sẽ làm cho lực lượng thị tuần chú ý.

    Jesper cố gắng nén cười.

    Đúng là Matthias và Wylan.

    Matthias đang vung tiền với một lực quá mạnh, còn Wylan thì lại quá hào hứng.

    Cách vung tay của cậu nhóc cần phải được luyện tập kĩ hơn.

    Trông cậu ta giống như đang cố làm trật khớp vai của mình.

    Từ chỗ này, họ sẽ toả đi các hướng khác nhau, mỗi người theo một ngõ hẻm hoặc một con kênh dẫn ra khỏi khu vực, vứt bỏ bộ trang phục Ngài Đỏ thẫm để thay bằng trang phục các nhân vật khác trong Hài kịch Thô lỗ.

    Họ sẽ chờ cho đến khi mặt trời lặn rồi mới quay về đảo Mạng Đen.

    Và có thừa thời gian để sa vào rắc rối.

    Jesper cảm thấy sức hút của Đông Stave.

    Anh có thể đảo qua đó, tìm một sới bạc, dành vài giờ cho món bài cào.

    Kaz sẽ không thích điều này.

    Jesper được quá nhiều người biết tới.

    Chơi bài trong một phòng riêng ở sòng bạc Cumulus vì nhiệm vụ là một chuyện.

    Chơi kiểu này là chuyện khác.

    Kaz đã biến mất với một khoản tiền thưởng khổng lồ được hứa hẹn và vài thành viên đáng giá của Cặn Bã.

    Mọi người đang đồn đoán rất nhiều, và Rotty cũng cho biết Per Haskell đang tìm kiếm cả bọn.

    Đêm nay có thể đội thị tuần sẽ kéo tới Thanh Gỗ để hỏi một loạt những câu khó nghe, ngoài ra còn một mối lo nữa là Pekka Rollins.

    Chỉ vài ván thôi, Jesper tự hứa với bản thân, đủ để đã cơn thèm.

    Sau đó mình sẽ đi thăm bố.

    Bụng dạ anh nôn nao khi nghĩ đến đó.

    Anh vẫn chưa sẵn sàng để đối

    mặt với bố, để nói cho ông biết sự thật của toàn bộ câu chuyện điên rồ này.

    Bỗng nhiên nhu cầu được chơi bài áp đảo anh.

    Vì Kaz không yêu cầu anh bắn ai cả, nên Jesper cần một cặp xúc xắc và vài lá bài để giải toả đầu óc.

    Đúng lúc đó, một tấm màn trắng xoá bao trùm lên mọi thứ.

    Tiếng nổ nghe như sấm dậy.

    Jesper bị hất ngã sõng soài trong lúc tai ong lên.

    Anh đột ngột bị chìm trong màn khói trắng quay cuồng, bụi đặc quánh trong phổi.

    Anh ho sặc sụa, nhưng những thứ hít vào khiến cổ họng anh rát buốt, như thể không khí đã biến thành vụn thuỷ tinh.

    Mi mắt anh đầy bụi đất, và anh phải cố lắm mới không đưa tay lên giụi, chỉ chớp mắt để xua chúng đi.

    Jesper chống tay và đầu gối xuống đất để nhổm dậy, miệng hớp không khí, đầu óc váng vất.

    Có một Ngài Đỏ thẫm đang nằm dưới đất bên cạnh anh, giọt lệ đen to tướng được vẽ trên cái má sơn mài đỏ rực.

    Jesper gỡ chiếc mặt nạ ra.

    Đôi mắt Nina nhắm nghiền, máu rỉ ra từ thái dương của cô.

    Anh lay vai cô.

    “Nina!”

    Anh gào lên giữa những tiếng la hét và rên rỉ xung quanh.

    Nina hấp háy mi mắt và hít một hơi, rồi bắt đầu ho sặc sụa trong lúc ngồi dậy.

    “Có chuyện gì vậy?

    Chuyện gì đã xảy ra?”

    “Tôi không biết,” Jesper đáp.

    “Nhưng có ai đó ngoài Wylan đã cài bom.

    Nhìn kìa.”

    Một cái lỗ đen ngòm mở toang hoác trên mặt tiền của Nhà Hồng Bạch.

    Họ trông thấy một chiếc giường treo lủng lẳng trên tầng hai, chực chờ rơi xuống sảnh.

    Những cây hoa hồng leo trên tường đã bốc cháy, để lại một thứ mùi nồng nặc trong không khí.

    Tiếng la hét vang lên từ đâu đó bên trong.

    “Lạy các thánh, tôi phải giúp họ,” Nina nói, và Jesper sực nhớ cô đã làm việc tại đây trong phần lớn thời gian của năm qua.

    “Matthias đâu?”

    Nina đưa mắt tìm kiếm trong đám đông.

    “Wylan đâu?

    Nếu đây là một trong những bất ngờ của Kaz thì…”

    “Tôi không nghĩ…”

    Jesper chưa kịp nói hết câu thì một tiếng uỳnh nữa làm đất đá rung chuyển.

    Hai người nằm dán mình xuống đất, tay đưa lên che đầu.

    “Lạy các thánh, chuyện quái gì đang xảy ra vậy?”

    Nina thốt lên trong sự sợ hãi và tức giận.

    Quanh họ, mọi người gào rú và bỏ chạy tán loạn, cố gắng tìm nơi trú ẩn.

    Nina đứng dậy, hướng mắt theo dòng kênh về phía nam, nơi có một cột khói bốc lên từ một nhà chứa khác.

    “Có phải Nhà Liễu Rủ không vậy?”

    “Không phải,” Nina đáp.

    Vẻ kinh hoàng xuất hiện trên gương mặt cô khi cô nhận ra một chuyện gì đó mà Jesper không biết.

    “Lò Rèn đấy.”

    Trong khi Nina đang nói, một hình thù bay vọt lên trời từ cái lỗ ở bên hông của Lò Rèn.

    Nó lao vun vút về phía họ.

    “Grisha,” Jesper thốt lên.

    “Chắc bọn họ đang dùng parem.”

    Tuy nhiên, khi cái bóng bay qua đầu hai người và họ ngửa cổ để dõi mắt theo, Jesper nhận ra anh đã nhầm.

    Hoặc đơn giản là anh đã loạn trí.

    Đó không phải là một Tiết Khí Sư đang bay.

    Đó là một người đàn ông với đôi cánh khổng lồ bằng kim loại, vỗ liên tục với tốc độ của cánh chim ruồi.

    Hắn đang giữ chặt một thằng bé trong tay.

    Thằng bé luôn miệng kêu gào gì đó bằng tiếng Ravka.

    “Cô có trông thấy không?

    Hãy cho tôi biết cô vừa thấy cái gì đi,” Jesper lắp bắp.

    “Đó là Markov,” Nina đáp với vẻ mặt pha trộn giữa giận dữ và kinh sợ.

    “Bởi vậy họ mới nhắm vào Lò Rèn.”

    “Nina!”

    Matthias kêu lên sau khi băng qua cầu với Wylan bám theo sát gót.

    Cả hai đều đã gỡ mặt nạ, nhưng các thị tuần giờ đây còn mối lo khác lớn hơn việc truy lùng bọn họ.

    “Chúng ta phải rời khỏi đây thôi.

    Nếu Van

    Eck…”

    Nhưng Nina đã níu tay anh.

    “Đó là Danil Markov.

    Cậu ấy làm việc ở Lò Rèn.”

    “Cái thằng có cánh á?”

    Jesper hỏi lại.

    “Không,” Nina lắc đầu quầy quậy.

    “Người bị bắt.

    Markov là một Tiết Hoả Sư.”

    Cô giơ tay chỉ theo hướng dòng kênh.

    “Bọn chúng tấn công vào Lò Rèn và Nhà Hồng Bạch để săn lùng các Grisha.

    Bọn chúng đang tìm kiếm tôi.”

    Đúng lúc đó, một hình thù có cánh khác xuất hiện từ bên trong Nhà Hồng Bạch.

    Một tiếng uỳnh khác vang lên, và khi vách tường tầng dưới đổ sập, một cặp đàn ông và phụ nữ cao lớn bước ra.

    Họ có mái tóc đen và làn da màu đồng, giống như người có cánh ban nãy.

    “Người Shu,” Jesper nói.

    “Họ đang làm gì ở đây?

    Mà họ bay được từ hồi nào vậy?”

    “Kéo mặt nạ xuống đi,” Matthias lên tiếng.

    “Chúng ta cần phải tới một nơi an toàn.”

    Cả bọn kéo thụp mặt nạ xuống.

    Jesper cảm thấy thích thú với sự huyên náo đang vây quanh họ, nhưng ngay lúc đó, tay người Shu bỗng hít hà cật lực.

    Jesper kinh hoàng nhìn hắn chậm rãi quay lại và chiếu ánh mắt vào họ.

    Hắn nói gì đó với ả phụ nữ đi cùng, rồi tiến về phía họ.

    “Muộn rồi,” Jesper thốt lên.

    Anh giật phăng mặt nạ và áo choàng rồi

    kê súng lên vai.

    “Nếu chúng muốn tìm kiếm vui thú, hãy cho chúng nếm mùi khoái lạc.

    Tôi phụ trách đứa có cánh!”

    Anh hoàn toàn không muốn bị quắp lên trời bởi một thằng điểu nhân vớ vẩn người Shu.

    Anh không rõ gã có cánh thứ hai đã biến đi đâu, nhưng thầm mong gã bận rộn với con mồi Tiết Hoả Sư của mình.

    Gã điểu nhân trước mắt anh đảo sang trái rồi sang phải, hết bay lên lại bổ xuống như một con ong say rượu.

    “Yên nào, đồ sâu bự,” Jesper gằn giọng, trước khi nổ liền ba phát súng.

    Đạn găm thẳng vào ngực điểu nhân, hất gã bay ngược ra sau.

    Nhưng gã lộn nhào một cách khéo léo và lao bổ vào Jesper.

    Matthias đang nã đạn vào cặp người Shu còn lại.

    Tất cả đều trúng đích, nhưng bọn chúng chỉ loạng choạng và tiếp tục tiến tới.

    “Wylan?

    Nina?”

    Jesper kêu toáng lên.

    “Còn đợi gì nữa mà không tham chiến!”

    “Tôi đang cố đây,” Nina làu bàu, hai bàn tay giơ lên và siết lại thành nắm đấm.

    “Chúng không hề hấn gì.”

    “Nằm xuống!”

    Wylan hét lớn.

    Cả bọn lập tức nằm mọp xuống mặt đá.

    Jesper nghe thấy một tiếng uỳnh và có một thứ gì đó đen đen lao thẳng vào gã điểu nhân.

    Gã tránh sang trái, nhưng thứ kia đã tách làm đôi thành hai quầng lửa tím rồi nổ tung.

    Một cái lao xuống dòng kênh, không gây thiệt hại gì.

    Cái kia trúng vào điểu nhân.

    Gã rú lên, hai tay vùng vẫy trong lúc bị những lưỡi lửa tím ngắt bao trùm cơ thể, rồi mất hướng và đâm sầm vào một bức tường.

    Đứng ở xa nhưng họ có thể nhìn thấy ngọn lửa tím vẫn ngùn ngụt cháy.

    “Chạy thôi!”

    Matthias hét lên.

    Cả bọn lao tới con hẻm gần nhất.

    Jesper và Wylan chạy trước, Nina và Matthias bám theo sau.

    Wylan quăng hú hoạ một trái bom sáng ra phía sau.

    Nó bay vào trong một cửa sổ và phát nổ thành một chùm sáng vô ích.

    “Làm thế thì cậu chỉ doạ được mấy cô lao công xui xẻo thôi,” Jesper nói.

    “Để tôi.”

    Anh giật lấy một quả bom sáng khác rồi ném thẳng về phía những kẻ truy đuổi, quay mặt đi để tránh ánh sáng của vụ nổ.

    “Đúng ra phải làm như thế.”

    “Lần tới, tôi sẽ không cứu mạng anh đâu,” Wylan hổn hển đáp trả.

    “Cậu sẽ nhớ tôi đây.

    Giống như mọi người.”

    Nina bỗng hét lên.

    Jesper quay phắt lại.

    Một tấm lưới bạc vừa trùm lên toàn bộ cơ thể Nina, và cô đang bị ả người Shu lôi ngược ra sau.

    Ả đứng dạng chân ngay giữa hẻm.

    Matthias nổ súng, nhưng ả không nhúc nhích.

    “Súng đạn không ăn thua!”

    Wylan nói.

    “Tôi đoán da thịt bọn chúng đã được bọc thép bên trong.”

    Nghe đến đây Jesper mới nhận ra ánh kim loại lấp lánh bên trong những vết đạn.

    Nhưng vậy nghĩa là sao?

    Bọn chúng là những cỗ máy à?

    Sao có thể như thế được?

    “Tấm lưới!”

    Matthias gầm lên.

    Cả bọn tóm lấy tấm lưới, cố gắng kéo Nina về phía an toàn.

    Nhưng ả người Shu tiếp tục lôi cô về phía sau, từng chút một, với thứ sức mạnh kinh người.

    “Chúng ta cần thứ gì đó để cắt dây!”

    Jesper hét lên.

    “Cắt cái gì mà cắt!”

    Nina rít lên qua kẽ răng.

    Cô chụp lấy một khẩu súng lục của Jesper.

    “Buông tay đi!”

    “Nina…”

    Matthias phản đối.

    “Làm đi.”

    Cả bọn buông tay, và Nina đột ngột bay ngược về phía sau theo quán tính.

    Ả người Shu loạng choạng lui lại một bước, rồi lại nắm lấy mép tấm lưới, lôi Nina đứng dậy.

    Nina chờ cho đến phút cuối cùng mới gằn giọng, “Để xem mày được bọc thép tới đâu!”

    Cô ấn nòng súng vào hốc mắt của ả ta và bóp cò.

    Phát súng không chỉ lấy đi nhãn cầu của ả mà cả một phần lớn hộp sọ.

    Trong một tích tắc, ả đứng nguyên tại chỗ, tay túm chặt Nina.

    Những mẩu kim loại tua tủa bọc quanh một mớ hỗn độn gồm xương, thịt và não ở vị trí từng là khuôn mặt của ả.

    Rồi ả gục xuống.

    Nina cười khẩy rồi đưa tay quờ quạng trong tấm lưới.

    “Gỡ cái này ra khỏi tôi mau, trước khi đồng bọn của mụ đến tìm chúng ta.”

    Matthias giật phăng tấm lưới khỏi Nina và cả bọn bỏ chạy, tim đập điên cuồng, đế giày khua rầm rập trên mặt đá.

    Bên tai Jesper văng vẳng câu nói đầy sợ hãi của bố.

    Những lời lẽ như một luồng gió cảnh báo bám riết theo anh qua từng góc hẻm.

    Bố thấy lo sợ cho con.

    Thế giới này có thể rất tàn nhẫn đối với những người như con.

    Bọn người Shu đã cử thứ gì đi truy lùng Nina và các Grisha tại Ketterdam vậy?

    Truy lùng anh?

    Cuộc sống của anh trước giờ vẫn là một chuỗi những pha hút chết và cận kề thảm hoạ, nhưng anh chưa bao giờ cảm thấy mình phải chạy để bảo toàn tính mạng một cách rõ ràng như lúc này.

    Phần Ba TỪNG BƯỚC MỘT
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Ba: Từng Bước Một 11-13


    11

    INEJ

    Trong lúc Inej và Kaz rời khỏi Tây Stave, sự im lặng giữa họ lan dần như một vệt dầu loang.

    Hai người đã trút bỏ áo choàng và mặt nạ trong đống rác ở phía sau một nhà chứa xập xệ mang tên Căn Phòng Nhung.

    Kaz cũng đã giấu sẵn trang phục để thay cho họ ở đó.

    Cứ như thể cả Ketterdam này đã trở thành tủ đồ của họ, và Inej không thể không nghĩ tới những ảo thuật gia có khả năng rút hàng trăm mét khăn quàng từ trong ống tay áo, hoặc làm các cô gái biến mất khỏi những cái hộp giống với cỗ quan tài một cách đáng sợ.

    Sau khi mặc lên người những chiếc áo khoác rộng thùng thình và quần vải thô của công nhân bến cảng, họ len lỏi qua những dãy nhà kho, với mũ che kín tóc, cổ áo dựng lên bất chấp thời tiết ấm áp.

    Rìa phía đông của khu vực nom giống như một thành trì nhỏ bên trong Ketterdam, với đa số dân chúng là người nhập cư phải sống trong những khách sạn, nhà trọ rẻ tiền hoặc trong những cái lán làm từ ván ép, tôn sóng.

    Họ tự phân chia thành những xóm nhỏ nghèo túng theo ngôn ngữ và quốc tịch.

    Vào thời điểm này trong ngày, hầu hết các cư dân nơi đây đều đang làm việc trong các nhà máy hoặc bến cảng, nhưng ở một vài góc phố, Inej trông thấy phụ nữ và nam giới tụ tập lại, hi vọng một cai thợ hoặc ông chủ nào đó đến thuê vài người may mắn trong số họ làm những công việc ngắn ngày.

    Sau khi thoát khỏi Vườn Thú, Inej từng lang thang qua các phố phường Ketterdam, cố gắng tìm hiểu về nó.

    Cô bị choáng ngợp trước tiếng ồn và đám đông, trong đầu luôn đinh ninh rằng Dì Heleen hoặc một trong số các tay chân của mụ rình lúc cô sơ sẩy để lôi trở lại Nhà Viễn Xứ.

    Nhưng cô biết nếu muốn trở nên hữu dụng đối với băng Cặn Bã và trả hết tiền nợ của giao kèo mới, cô không thể để mình bị lấn át bởi sự lạ lẫm của đám đông ồn ào và những viên đá lát đường.

    Chúng tôi chào đón mọi vị khách bất ngờ.

    Cô phải tìm hiểu cái thành này.

    Inej luôn thích di chuyển trên mái nhà, khuất tầm mắt và xa đám đông nhộn nhạo.

    Ở trên đó, cô cảm thấy trở lại là chính mình hơn cả - cô bé Suli của ngày trước, chưa từng biết tới sự tàn nhẫn mà thế giới này có thể mang lại.

    Cô đã thuộc lòng từ các đầu hồi nhà và bậu cửa sổ của Zelverstraat cho tới những khu vườn và đại lộ rộng rãi ở khu sứ quán.

    Cô đã đi xa về phía nam, tới nơi các công xưởng nhường chỗ cho những lò mổ tanh lòm và hố nước muối được che giấu ở khu ngoại ô, nơi rác thải có thể được tống xuống đầm lầy ở rìa Ketterdam.

    Mùi hôi thối từ đó khó có thể quấy rầy các khu dân cư khác trong nội thành.

    Ketterdam đã tiết lộ những bí mật của nó cho cô một cách rụt rè, qua những lát cắt chớp nhoáng của sự vương giả và cùng khổ.

    Giờ đây, Inej cùng Kaz bỏ lại phía sau những dãy nhà trọ và xe chở hàng để đi sâu vào khu vực kho bãi nhộn nhịp mang tên Weft.

    Tại đây, các con phố và kênh đào được mở rộng, sạch sẽ và ngăn nắp, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá.

    Hai người đi qua nhiều mẫu sân rào ngồn ngộn gỗ thô và đá xẻ, những kho vũ khí và đạn dược được canh gác cẩn mật, những kho hàng rộng lớn chất đầy bông vải, lụa, vải dầu, lông thú, và các nhà kho nơi những bó lá jurda khô đến từ Novyi Zem được cân kĩ lưỡng và xử lí trước khi đóng vào những chiếc lon có dán nhãn sặc sỡ rồi vận chuyển tới các thị trường khác.

    Inej vẫn còn nhớ mình cảm thấy choáng váng như thế nào khi trông thấy mấy chữ Của Lạ được sơn bên hông của một nhà kho.

    Dòng chữ quảng cáo được kẹp giữa hai cô gái Suli vẽ bằng sơn, tay chân để trần khoe da thịt nâu bóng, các chi tiết thêu trên bộ váy lụa cũn cỡn được nhấn nhá bằng những nét cọ mầu vàng ánh kim.

    Cô đã đứng ngây người, mắt dán vào hình ảnh quảng cáo tại một địa điểm chỉ cách chưa đầy hai dặm với nơi người ta từng mua bán và mặc cả quyền sở hữu thân xác cô.

    Tim cô đập thình thịch, nỗi kinh hoàng làm cơ bắp cô tê liệt.

    Cô không thể thôi nhìn hai cô gái đó, những cái vòng trên cổ tay, cái chuông nơi mắt cá chân của họ.

    Sau đó cô quyết tâm bỏ đi, và như thể một lời nguyền nào đó đã bị phá bỏ, cô chạy nhanh chưa từng thấy, quay trở về Thanh Gỗ, băng qua các mái nhà, phố phường xám xịt loang loáng trôi qua dưới những bước chân liều lĩnh.

    Đêm đó cô mơ thấy những cô gái vẽ kia sống dậy.

    Họ bị mắc kẹt trong bức tường gạch của nhà kho, gào thét đòi tự do, nhưng cô không tài nào giúp họ được.

    Của Lạ.

    Dòng chữ đã bị nắng làm phai màu, nhưng vẫn còn đó.

    Nó lưu giữ nguồn sức lực cho cô, khiến cơ bắp cô căng lên, hơi thở cô dồn dập.

    Nhưng có lẽ khi cô sở hữu con tàu của mình và chuộc được người nô lệ đầu tiên, lớp sơn kia sẽ bong ra khỏi những viên gạch.

    Tiếng la hét của những cô gái trong lớp vải lụa màu xanh bạc hà kia sẽ trở thành tiếng cười.

    Họ sẽ nhảy múa vì chính họ, chứ không phải để làm trò cho bất kì ai.

    Trước mặt Inej là một cái cột cao với bàn tay của Ghezen trên đỉnh và đổ bóng xuống trung tâm của sự giàu có mà Kerch sở hữu.

    Cô hình dung các vị thánh của mình tròng dây thừng quanh nó và kéo nó đổ kềnh.

    Trong lớp áo khoác lùng nhùng, Inej và Kaz không thu hút bất kì ánh mắt chú ý nào.

    Họ giống như hai thằng nhóc thiếu việc đang trên đường vào ca.

    Nhưng Inej chưa thể hít thở một cách thoải mái.

    Các thị tuần vẫn đi tuần tra đều đặn trong khu vực này, và như thể sự bảo vệ còn chưa đủ tốt, các công ty vận tải còn sử dụng đội ngũ vệ quân riêng để bảo đảm các cánh cửa được khoá kín, cũng như không một công nhân bốc xếp nào có dịp táy máy tay chân.

    Khu vực này là một trong những nơi an ninh nhất của Ketterdam, do vậy nó cũng là chỗ cuối cùng Van Eck mò đến để tìm kiếm họ.

    Hai người đi đến một kho vải lanh bỏ không.

    Những ô cửa sổ ồ tầng dưới đã bị vỡ, lớp gạch bên trên chúng đen nhẻm vì bồ hóng.

    Vụ hoả hoạn có lẽ mới xảy ra gần đây, nhưng nhà kho sẽ không thể bị bỏ không lâu được.

    Nó sẽ được dọn dẹp và sửa chữa, hoặc đơn giản là bị san bằng để nhường chỗ cho một toà nhà mới.

    Không gian là một thứ quý giá ở Ketterdam.

    Ổ khoá ở cửa hậu không phải là một thách thức lớn đối với Kaz.

    Hai người đi vào gian nhà kho ở tầng dưới, bị thiệt hại nặng nề do hoả hoạn, cầu thang nằm ở khu vực phía trước của toà nhà có vẻ còn khá nguyên vẹn.

    Họ leo lên đó.

    Inej nhẹ nhàng di chuyển trên các bậc thang bằng gỗ, trong lúc Kaz chống gậy lộp cộp theo sau.

    Khi lên đến tầng ba, Kaz dẫn Inej tới một phòng kho nơi những cuộn vải vẫn còn được xếp thành chồng cao ngất.

    Chúng gần như không bị hư hại, nhưng những cuộn ở bên dưới đã đen nhẻm bồ hóng.

    Mùi vải cháy thật khó ngửi, nhưng họ cảm thấy khá thoải mái.

    Inej tìm thấy một cái ghế đẩu bên cạnh cửa sổ và gác một chân lên một cuộn vải, tựa lưng vào cuộn khác, cô thấy sung sướng khi được ngồi xuống, nhìn ánh nắng chiều nhàn nhạt bên ngoài.

    Cũng chẳng có gì nhiều để xem, ngoài những bức tường gạch trần của các nhà kho và cụm tháp xi-lô cao vọt lên trên bến cảng.

    Kaz lấy một cái hộp thiếc ra khỏi một trong những chiếc máy khâu cũ và đưa cho Inej.

    Cô mở hộp, trông thấy chỗ hạt phỉ, bánh quy giòn bọc trong giấy sáp, và một cái chai có nút đậy.

    Hoá ra đây là một trong những nhà trú ẩn mà Van Eck rất muốn tìm ra.

    Inej mở nút chai và ngửi thử.

    “Nước đấy,” Kaz nói.

    Inej uống ừng ực rồi ăn vài cái bánh đã hơi khét dầu.

    Cô đói khủng khiếp và không chắc mình sẽ sớm được ăn một bữa nóng sốt.

    Kaz đã cảnh báo rằng họ không thể về đảo Mạng Đen trước khi trời tối, và ngay cả khi đã lên đảo, cô cũng không nghĩ họ có thể nấu nướng gì nhiều.

    Inej nhìn anh nhỏm người ngồi lên mấy cuộn vải phía đối diện và đặt cây gậy chống bên cạnh, nhưng cô cố ép mình hướng mắt ra ngoài cửa sổ, tránh xa những cử động chính xác và quai hàm sắc nét của anh.

    Việc quan sát Kaz cho Inej cảm giác nguy hiểm theo cách mà cô chưa từng cảm thấy trước đây.

    Trong đầu cô hiện lên hình ảnh chiếc búa giơ cao, sáng loé dưới ánh đèn sân khấu ở Eil Komedie.

    Anh ta sẽ không bao giờ đổi chác nếu ông đập gãy chân tôi.

    Inej thấy biết ơn cảm giác nằng nặng mà bộ dao của cô tạo ra.

    Cô chạm tay vào chúng như thể đang chào mừng những người bạn cũ, và cảm thấy sự căng thẳng trong lòng mình giảm đi một chút.

    “Cô đã nói gì với Van Eck lúc ở trên cầu?”

    Cuối cùng Kaz lên tiếng.

    “Lúc chúng ta tiến hành trao đổi ấy?”

    “Ông sẽ gặp lại tôi một lần nữa, nhưng chỉ một lần thôi.”

    “Lại là một ngạn ngữ khác của người Suli à?

    “Đó là một lời hứa với chính tôi.

    Và với cả Van Eck nữa.”

    “Cẩn thận đấy, Bóng Ma.

    Cô không phù hợp với việc báo thù.

    Tôi không chắc các vị thánh Suli của cô sẽ chấp nhận chuyện đó.”

    “Các vị thánh của tôi không thích sự ức hiếp.”

    Inej lấy ống tay áo lau cửa sổ bẩn.

    “Những vụ nổ đó,” cô nói.

    “Liệu những người khác có an toàn không?”

    “Không ai ở gần các vị trí bom nổ.

    Ít nhất là những cái mà chúng ta đã chứng kiến.

    Chúng ta sẽ biết nhiều hơn sau khi quay về Mạng Đen.”

    Inej không thích như thế.

    Sẽ thế nào nếu ai đó bị thương?

    Sẽ thế nào nếu có người không thể quay về đảo?

    Sau những ngày sợ hãi và mong ngóng, việc ngồi yên ở đây trong lúc bạn bè cô có thể đang gặp rắc rối khơi lên một cảm giác bứt rứt mới nơi Inej.

    Cô nhận ra Kaz đang quan sát mình, và hướng ánh mắt vào anh.

    Ánh nắng chiếu xiên qua cửa sổ, làm cho đôi mắt anh có màu của nước trà đậm.

    Anh ta sẽ không bao giờ đổi chác nếu ông đập gãy chân tôi.

    Cô nhớ lại câu nói của chính mình như thể việc nói ra chúng đã làm cổ họng cô bị bỏng.

    Kaz không quay đi khi nói tiếp, “Lão ta có làm cô đau không?”

    Inej vòng tay ôm quanh đầu gối.

    Sao anh lại muốn biết chuyện đó?

    Để anh có thể chắc chắn tôi không đương đầu nổi với nguy hiểm nữa?

    Để anh có thể thêm tôi vào danh sách những sai lầm mà Van Eck sẽ phải trả giá à?

    Kaz đã rất rõ ràng về thoả thuận với Inej ngay từ đầu.

    Cô là một món đầu tư, một tài sản cần bảo vệ.

    Cô từng muốn tin giữa hai người đã nảy nở một thứ gì đó nhiều hơn thế.

    Và Jan Van Eck đã phá tan ảo tưởng đó trong cô.

    Inej lành lặn và bình yên vô sự.

    Cô không bị mang thẹo, những tổn hại sau thử thách trên đảo Eil Komedie có thể dễ dàng được miếng ăn và giấc ngủ phục hồi.

    Nhưng Van Eck đã lấy đi của cô một thứ.

    Tôi sẽ trở nên vô dụng đối với anh ta.

    Những chữ đó vùng thoát ra từ một nơi sâu kín trong cô, một sự thật mà cô không thể chối bỏ.

    Như thế càng mừng.

    Thà là sự thật kinh khủng còn hơn những lời dối trá ngọt ngào.

    Inej để ngón tay tìm đến chỗ chiếc búa đã sượt qua chân mình, và khi thấy ánh mắt của Kaz dõi theo, cô khựng lại.

    Cô thu tay vào lòng, lắc đầu.

    “Không.

    Lão không làm đau tôi.”

    Kaz ngả người ra sau, đôi mắt chậm rãi bóc trần suy nghĩ của cô.

    Anh không tin cô, nhưng cô sẽ không cố gắng thuyết phục anh lần này.

    Kaz chống gậy xuống sàn để làm điểm tựa trong lúc tuột khỏi chồng vải.

    “Nghỉ ngơi đi,” anh nói.

    “Anh đi đâu vậy?”

    “Tôi có việc cần làm ở gần mấy cái tháp, và tôi muốn xem mình có thể thu lượm được thông tin gì.”

    Kaz gác cây gậy chống vào một cuộn vải.

    “Anh không mang nó theo à?”

    “Quá gây nghi ngờ, nhất là khi Van Eck đã lôi thị tuần vào cuộc.

    Nghỉ đi,” anh lặp lại.

    “Cô sẽ an toàn ở đây.”

    Inej nhắm mắt lại.

    Cô có thể tin tưởng anh về chuyện đấy.

    ***

    Khi Kaz đánh thức cô dậy, mặt trời đã bắt đầu lặn, nhuộm vàng ngọn tháp Ghezen phía xa.

    Họ rời kho vải, khoá cửa lại trước khi hoà vào các nhóm công nhân đang trên đường về nhà.

    Hai người tiếp tục đi về hướng nam rồi sang đông, tránh những phần đông đúc nhất của khu Barrel, nơi chắc chắn sẽ có thị tuần lảng vảng, và đi về phía một khu vực có nhiều nhà ở.

    Trên một con kênh hẹp, họ lên chiếc thuyền nhỏ rồi lái nó xuôi theo kênh Graf để quay trở vào trong màn sương bao phủ quanh đảo Mạng Đen.

    Inej cảm thấy sự căng thẳng tăng lên trong lúc họ len lỏi qua các ngôi mộ để đi tới trung tâm đảo.

    Cầu cho mọi người bình an, cô nhủ thầm, cầu cho tất cả đều bình an vô sự.

    Cuối cùng, cô bắt gặp một ánh sáng yếu ớt và những tiếng nói rì rầm.

    Cô guồng chân chạy, không thèm bận tâm khi chiếc mũ đội trên đầu bị rơi xuống mặt đất phủ đầy dây leo.

    Cô mở toang cánh cửa nhà mồ.

    Năm con người ở bên trong đứng bật dậy, súng và những nắm đấm giơ cao, khiến Inej khựng lại.

    Nina rú lên, “Inej!”

    Chị lao qua phòng và siết chặt Inej trong một cái ôm ghì.

    Thế rồi tất cả mọi người đều vây quanh cô, ôm ấp, vỗ vào lưng cô.

    Nina nhất định không buông cô ra.

    Jesper quàng tay quanh cả hai người và hét lớn, “Bóng Ma đã trở lại!” trong khi Matthias lùi ra xa, nghiêm túc như mọi khi, nhưng miệng mỉm cười.

    Inej nhìn từ cậu nhóc người Shu đang ngồi ở chiếc bàn giữa nhà mồ tới cậu nhóc người Shu đang lởn vởn trước mặt cô.

    “Wylan?”

    Cô hỏi cậu nhóc ở gần mình hơn.

    Cậu ta mỉm cười, nhưng nụ cười méo xệch đi khi cậu đáp, “Xin lỗi vì những gì cha tôi đã làm.”

    Inej ôm chầm lấy cậu và thì thầm, “Chúng ta không phải là cha mình.”

    Kaz gõ cây gậy chống xuống mặt sàn bằng đá.

    Anh đang đứng trên ngưỡng cửa nhà mồ.

    “Mọi người vồ vập xong chưa?

    Chúng ta còn việc phải làm.”

    “Khoan,” Jesper đáp, cánh tay vẫn đang choàng qua người Inej.

    “Chúng ta sẽ không bàn về công việc cho tới khi hiểu được chuyện gì đã xảy ra ở Stave.”

    “Là chuyện gì?”

    Inej hỏi lại.

    “Cô không biết một nửa Stave đã nổ tung à?”

    “Bọn tôi thấy quả bom ở Nhà Hồng Bạch phát nổ,” Inej đáp, “sau đó chúng tôi có nghe một tiếng nổ khác.”

    “Ở Lò Rèn,” Nina lên tiếng.

    “Sau đó thì,” Inej nói nốt, “bọn tôi bỏ chạy.”

    Jesper gật đầu vẻ thông hiểu.

    “Đó là một sai lầm lớn.

    Nếu nán lại thì cô đã có thể bị giết chết bởi một thằng người Shu có cánh.”

    “Hai,” Wylan chỉnh lại.

    Inej nhíu mày.

    “Hai cánh?”

    “Hai thằng,” Jesper đáp.

    “Có cánh sao?”

    Inej dò hỏi.

    “Như chim á?”

    Nina kéo cô lại chỗ chiếc bàn bày bừa lộn xộn, nơi một tấm bản đồ Ketterdam đã được trải rộng.

    “Không phải, giống ngài hơn, một con ngài máy chết chóc.

    Em có đói không?

    Bọn chị có bánh quy sôcôla đây.”

    “Ờ, phải rồi,” Jesper thốt lên.

    “Cô ấy thì được ăn bánh.”

    Nina ấn Inej vào một chiếc ghế và dằn hộp bánh xuống trước mặt cô.

    “Ăn đi,” chị ra lệnh.

    “Hai thằng người Shu có cánh, với cả một thằng cha và một con mụ rất… không bình thường.”

    “Năng lực của Nina không tác động được tới bọn chúng,” Wylan giải thích.

    “Hừm,” Nina ậm ừ một cách bí hiểm, miệng nhai rón rén phần rìa một chiếc bánh quy.

    Inej chưa bao giờ thấy Nina ăn uống nhỏ nhẹ bao giờ.

    Cảm giác ngon miệng rõ ràng chưa quay lại với chị, nhưng cô tự hỏi liệu còn lí do nào khác.

    Matthias nhập bọn với họ bên chiếc bàn.

    “Mụ người Shu mà chúng tôi gặp phải khoẻ hơn cả tôi, Jesper và Wylan cộng lại.”

    “Cô không nghe nhầm đâu.

    Khoẻ hơn cả Wylan,” Jesper trêu.

    “Tôi đã làm tròn phần việc của mình,” Wylan phản đối.

    “Hẳn rồi, thiếu gia ạ.

    Cái quả bom tím đó là gì vậy?”

    “Một thứ mới mẻ mà tôi đang nghiên cứu.

    Nó dựa theo một phát minh của người Ravka được gọi là lumiya, ánh lửa gần như không thể dập tắt được.

    Nhưng tôi đã thay đổi công thức để làm nó nóng hơn.”

    “Thật may mắn khi có cậu trong nhóm,” Matthias nói với một cái nghiêng mình thi lễ, làm Wylan sướng đỏ mặt.

    “Những sinh vật đó gần như không thể bị đạn xuyên thủng.”

    “Gần như thôi,” Nina làu bàu.

    “Chúng mang theo lưới.

    Chúng truy lùng và bắt cóc các Grisha.”

    Kaz tựa vai vào tường.

    “Bọn chúng có sử dụng parem không?”

    Nina lắc đầu.

    “Không.

    Tôi không nghĩ chúng là Grisha.

    Chúng không thể hiện năng lực nào, và cũng không tự làm lành vết thương.

    Có vẻ như chúng được cấy kim loại dưới da hay sao ấy.”

    Nina trao đổi nhanh với Kuwei bằng tiếng Shu.

    Kuwei rên lên.

    “Kherguud.”

    Mọi người nhìn cậu nhóc, chẳng hiểu gì cả.

    Kuwei thở dài và nói tiếp, “Khi cha tôi tạo ra parem, chính quyền đã thử nghiệm nó trên các Sáng Chế Gia.”

    Jesper ngoẹo đầu sang một bên.

    “Là tôi, hay là tiếng Kerch của cậu đã khá lên vậy?”

    “Tiếng Kerch của tôi ổn.

    Là các anh nói quá nhanh thôi.”

    “Ờ,” Jesper dài giọng.

    “Sao bọn Shu các cậu lại thử parem trên Sáng Chế Gia nhỉ?”

    Anh duỗi người trên ghế, tay đặt trên súng, nhưng lnej không tin anh hoàn toàn thả lỏng.

    “Bọn họ đã bắt nhiều Sáng Chế Gia,” Kuwei đáp.

    “Đó là những Grisha dễ bắt nhất,” Matthias xen vào, phớt lờ ánh mắt giận dữ của Nina.

    “Dạo trước, họ không được huấn luyện nhiều về kĩ năng chiến đấu, và không có parem thì năng lực của họ chẳng mấy phù hợp cho việc đánh nhau.”

    “Những người lãnh đạo của Shu Han muốn tiến hành nhiều thử nghiệm hơn,” Kuwei nói tiếp.

    “Nhưng họ không rõ có thể tìm được bao nhiêu Grisha…”

    “Giá như họ đã không giết quá nhiều chăng?”

    Nina ướm lời.

    Kuwei gật đầu, không hiểu, hoặc phớt lờ sự mỉa mai trong giọng điệu của Nina.

    “Phải.

    Chính quyền không có nhiều Grisha, và việc sử dụng parem rút ngắn tuổi thọ của họ.

    Thế nên các bác sĩ được điều động tới làm việc với các Sáng Chế Gia đã dùng parem để tạo ra một loại chiến binh mới, Kherguud.

    Tôi không biết liệu họ có thành công hay không.”

    “Tôi nghĩ mình có thể trả lời câu hỏi đó bằng một chữ CÓ to đùng,” Jesper đáp.

    “Những chiến binh được thiết kế đặc biệt,” Nina trầm ngâm nói.

    “Trước chiến tranh, tôi có nghe nói bọn họ thử làm chuyện tương tự tại Ravka.

    Củng cố bộ xương, thay đổi mật độ xương, cấy kim loại.

    Bọn họ đã thử nghiệm trên các tình nguyện viên của Thượng Quân.

    Thôi nào, đừng có nhăn mặt, Matthias.

    Các thủ lĩnh Fjerda của anh chắc cũng thử làm chuyện đó nếu có thời gian.”

    “Sáng Chế Gia điều khiển các chất rắn,” Jesper lên tiếng.

    “Kim loại, thuỷ tinh, sợi vải.

    Còn cái này giống với tác phẩm của Tâm Y hơn.”

    Vẫn nói năng như thể anh không giống như họ, Inej nghĩ bụng.

    Tất cả mọi người đều đã biết Jesper là một Sáng Chế Gia, ngay đến Kuwei cũng khám phá ra chuyện đó sau khi họ thoát khỏi Lâu Đài Băng.

    Thế nhưng Jesper gần như không bao giờ thừa nhận năng lực của mình.

    Cô đoán anh muốn giữ bí mật về nó.

    “Trường hợp các Thợ May là một sự xoá nhoà ranh giới giữa Sáng Chế Gia và Tâm Y,” Nina thừa nhận.

    “Tại Ravka, tôi từng có một giáo viên tên là Genya Safin.

    Chị ấy có thể làm một Độc Tâm Y hoặc một Sáng Chế Gia nếu muốn, nhưng lại trở thành một Thợ May lừng lẫy.

    Công việc mà cậu mô tả thật sự chỉ là một dạng may vá ở cấp độ cao.”

    Inej chưa thể chấp nhận điều đó.

    “Nhưng có phải chị nói là mình đã thấy một người đàn ông với đôi cánh được ghép vào lưng theo cách nào đó?”

    “Không, đó là một thiết bị.

    Một cái khung kim loại được căng vải bạt, có lẽ thế.

    Nhưng nó tinh vi hơn là nhét một cặp cánh vào giữa hai bả vai của ai đó.

    Em phải nối với hệ thống cơ bắp, làm rỗng các xương để giảm trọng lượng cơ thể nhưng phải bù đắp cho sự thiếu vắng của tuỷ xương, có thể là thay thế hoàn toàn bộ xương.

    Mức độ phức tạp của việc đó…”

    “Parem,” Matthias nói nốt, đôi lông mày màu vàng nhíu lại.

    “Một Sáng Chế Gia sử dụng parem có thể làm được việc đó.”

    Nina dịch người ra khỏi chiếc bàn và hỏi Kaz.

    “Chẳng lẽ Hội đồng Thương buôn không làm gì trước vụ tấn công của người Shu?

    Bọn chúng được phép đi vào Kerch và cho nổ tung các thứ, bắt cóc người ta hay sao?”

    “Tôi không nghĩ Hội đồng sẽ hành động,” anh đáp.

    “Trừ phi bọn người Shu kia mặc đồng phục, còn không thì chính phủ Shu Han nhiều khả năng sẽ phủ nhận trách nhiệm đối với vụ tấn công.”

    “Vậy là bọn chúng được tự do quay về ư?”

    “Có lẽ là không,” Kaz đáp.

    “Tôi đã dành thời gian dò hỏi một chút tại cảng hôm nay.

    Hai tàu chiến của người Shu đã bị Hội đồng Thuỷ triều làm cho mắc cạn.”

    Đôi giày của Jesper trượt khỏi mặt bàn và đập mạnh xuống sàn.

    “Gì cơ?”

    “Họ đã rút thuỷ triều ra xa.Toàn bộ.

    Và tạo thành một hòn đảo mới với hai chiếc tàu chiến nằm chơ vơ trên đó.

    Các cậu có thể trông thấy chúng nằm phơi bụng, buồm chúc xuống bùn, ngay ở bến cảng.”

    “Một sự phô trương sức mạnh,” Matthias nói.

    “Nhân danh các Grisha trong thành ư?”

    Jesper thắc mắc.

    Kaz nhún vai.

    “Ai mà biết được?

    Nhưng chuyện này có thể sẽ khiến cho người Shu thận trọng hơn trong lúc đi lùng sục trên những con phố của Ketterdam.”

    “Hội đồng Thuỷ triều có thể giúp chúng ta được không?”

    Wylan hỏi.

    “Nếu biết về parem, chắc họ sẽ lo ngại việc nó lọt vào tay kẻ xấu.”

    “Cậu tìm ra họ bằng cách nào?”

    Nina chua chát hỏi lại.

    “Không ai biết danh tính của các thành viên Hội đồng Thuỷ triều, không một ai từng nhìn thấy họ đến hoặc đi khỏi những tháp canh đó.”

    Inej bỗng thắc mắc liệu Nina có từng tìm kiếm sự giúp đỡ từ Hội đồng Thuỷ triều hồi chị mới chân ướt chân ráo đến Ketterdam, mười sáu tuổi, một Grisha bị chia cách với tổ quốc, không bạn bè thân thích hay kiến thức về nơi mình đang ở.

    “Người Shu sẽ không hèn nhát mãi đâu.

    Bọn họ tạo ra các chiến binh này vì một lí do nào đó.”

    “Rất khôn khéo, nếu chúng ta ngẫm nghĩ một chút về nó,” Kaz nói.

    “Người Shu đang gia tăng nguồn lực của họ.

    Một Grisha nghiện ngập sẽ không thể sống sót lâu dài, nên bọn họ đã tìm ra cách thức khác để khai thác năng lực đặc biệt.”

    “Các chiến binh không thể huỷ diệt, với khả năng tồn tại vượt xa những người tạo ra chúng,” Matthias lắc đầu bình phẩm.

    Jesper đưa tay xoa miệng.

    “Và có thể đi săn lùng thêm nhiều Grisha khác.

    Tôi dám thề là một trong số chúng đánh hơi thấy chúng ta và tìm đến.”

    “Có chuyện đó được sao?”

    Inej kinh hãi hỏi lại.

    “Tôi chưa bao giờ nghe nói về chuyện các Grisha toả ra mùi hương đặc biệt,” Nina đáp, “nhưng cũng dám lắm.

    Nếu thụ cảm khứu giác của bọn chúng được cải thiện thì…

    Có thể đó là một mùi mà những người bình thường không thể ngửi thấy.”

    “Tôi không nghĩ đây là vụ tấn công đầu tiên,” Jesper nói tiếp.

    “Wylan, còn nhớ người Tiết Khí Sư trong phòng sách hiếm đã tỏ ra sợ hãi đến thế nào không?

    Với cả con tàu buôn mà Rotty đã kể với chúng ta nữa?”

    Kaz gật gù.

    “Nó đã bị phá nát, một nhóm thuỷ thủ đã thiệt mạng.

    Lúc đó, họ tưởng người Tiết Khí Sư của tàu đã nổi điên và muốn tự giải phóng mình khỏi giao kèo làm việc.

    Nhưng có thể ông ta đã không làm thế.

    Có thể ông ta đã bị bắt cóc.

    Ông ta là một trong những Grisha giúp việc của

    Uỷ viên hội đồng Hoede.”

    “Emil Retvenko.”

    Nina nói.

    “Đúng vậy.

    Cô biết ông ta à?”

    “Tôi biết đến ông ta thôi.

    Hầu hết các Grisha ở Ketterdam đều biết về nhau, chúng tôi chia sẻ thông tin, cố gắng để mắt đến nhau.

    Người Shu hẳn phải có gián điệp ở đây nếu chúng biết chỗ để tìm từng người trong chúng tôi.

    Các Grisha khác…”

    Nina đứng lên, nhưng rồi phải níu lấy lưng ghế, như thể bị chóng mặt vì cử động đột ngột.

    Inej và Matthias lập tức bật dậy.

    “Chị vẫn ổn chứ?”

    Inej hỏi.

    “Cực ổn,” Nina đáp với một nụ cười gượng.

    “Nhưng nếu các Grisha khác tại Ketterdam đang gặp nguy hiểm thì…”

    “Cô sẽ làm gì?”

    Jesper hỏi luôn.

    Inej bất ngờ trước sự cứng rắn trong giọng điệu của anh.

    “Cô đã rất may mắn khi sống sót sau chuyện xảy ra hôm nay.

    Những tên chiến binh người Shu đó có thể ngửi thấy chúng ta, Nina à.”

    Anh quay sang nói với Kuwei.

    “Chính cha cậu đã hiện thực hoá điều đó.”

    “Jesper này,” Wylan lên tiếng, “anh bình tĩnh lại đi.”

    “Bình tĩnh?

    Như thể mọi chuyện chưa đủ tệ với các Grisha hay sao?

    Sẽ thế nào nếu chúng lần ra chúng ta trên đảo Mạng Đen này?

    Có đến ba người chúng tôi đang ở đây.”

    Kaz gõ ngón tay xuống bàn.

    “Wylan nói đúng đó.

    Cậu bình tĩnh lại đi.

    Ketterdam trước đây không hề an toàn, và bây giờ cũng thế.

    Do vậy chúng ta hãy kiếm đủ tiền để chuyển đi nơi khác sống.”

    Nina chống tay vào hông.

    “Chúng ta có đang nhắc đến tiền thật không đấy?”

    “Chúng ta đang nói về việc hoàn thành nhiệm vụ và bắt Van Eck trả giá.”

    Inej khoác tay Nina.

    “Tôi muốn biết chúng ta có thể làm gì để giúp các Grisha còn đang ở Ketterdam.”

    Cô nhớ lại hình ảnh chiếc búa loang loáng vung lên cao.

    “Và tôi cũng muốn biết chúng ta sẽ làm Van Eck trả giá như thế nào.”

    “Ở đây còn những vấn đề lớn hơn,” Matthias lên tiếng.

    “Với tôi thì không,” Jesper nói.

    “Tôi còn hai ngày để dàn xếp với bố.”

    Inej tưởng mình nghe lầm.

    “Bố anh á?”

    “Phải.

    Họp gia đình ngay tại Rotterdam này,” Jesper đáp.

    “Mọi người đều được mời nhé.”

    Inej không bị đánh lừa bởi giọng điệu bông lơn của Jesper.

    “Vì món nợ ư?”

    Bàn tay anh lại đặt lên mấy khẩu súng.

    “Phải.

    Thế nên tôi thật sự muốn biết chúng ta định thu xếp vụ nợ nần này như thế nào.”

    Kaz đảo người trên cây gậy chống.

    “Mọi người có ai thắc mắc tôi đã làm gì với chỗ tiền mặt được Pekka Rollins đưa không?”

    Ruột gan Inej thắt lại.

    “Anh đi mượn tiền của Pekka Rollins sao?”

    “Tôi sẽ không bao giờ để mình mắc nợ lão ta.

    Tôi đã bán cho lão phần hùn của mình ở cảng số Năm và Quạ Đen.”

    Không.

    Kaz đã xây dựng nên những nơi đó từ con số không.

    Chúng là minh chứng cho những gì anh đã làm cho băng Cặn Bã.

    “Kaz…”

    “Mọi người nghĩ số tiền đó đã đi đâu?”

    Anh lặp lại.

    “Súng đạn?”

    Jesper hỏi lại.

    “Tàu bè?”

    Inej phỏng đoán.

    “Bom mìn?”

    Wylan đề xuất.

    “Hay đút lót?”

    Nina thăm dò.

    Tất cả mọi người đều nhìn vào Matthias.

    “Đây là lúc anh nói cho bọn em biết bọn em kinh khủng thế nào đấy,” chị nói khẽ.

    Anh chàng người Fjerda nhún vai đáp.

    “Tất cả đều là những lựa chọn thực tế.”

    “Đường,” Kaz nói.

    Jesper đẩy hũ đường trên bàn tới trước mặt anh.

    Kaz đảo mắt.

    “Không phải để cho vào cà phê của tôi, ngốc ạ.

    Tôi đã dùng tiền để mua cổ phiếu đường, rồi chia chúng vào các tài khoản cá nhân cho tất cả chúng ta - với tên giả, tất nhiên rồi.”

    “Tôi không thích phán đoán,” Matthias nói.

    “Tất nhiên rồi.

    Anh thích những thứ nhìn thấy được.

    Những đống tuyết hoặc các vị thần cây nhân từ chẳng hạn.”

    “Đây rồi!”

    Inej ngả đầu lên vai Nina và tươi cười về phía Matthias.

    “Em nhớ cái trừng mắt của anh ta biết bao.”

    “Ngoài ra,” Kaz nói tiếp, “không phải là phán đoán nếu ta đã biết trước kết quả.”

    “Anh biết gì về vụ đường này à?”

    Jesper hỏi.

    “Tôi biết về nguồn cung cấp.”

    Wylan ngồi thẳng lại.

    “Xi-lô,” cậu nói.

    “Các xi-lô ở Bãi Ngọt.”

    “Giỏi lắm, thiếu gia.”

    Matthias lắc đầu.

    “Bãi Ngọt là gì vậy?”

    “Nó là một khu vực nằm ở phía nam Cảng số Sáu,” Inej đáp.

    Cô nhớ lại hình ảnh cụm xi-lô cao lừng lững bên trên khu nhà kho.

    Chúng cao như những ngọn núi nhỏ.

    “Đó là nơi người ta trữ mật đường, mía.

    Cả các nhà máy tinh luyện đường nữa.

    Hôm nay chúng ta vừa ở một nơi rất gần chỗ đó.

    Không phải là trùng hợp, đúng không?”

    “Không phải trùng hợp,” Kaz xác nhận.

    “Tôi đã muốn cô quan sát địa thế khu vực.

    Hầu hết mía đến từ Thuộc địa phương Nam và Novyi Zem, nhưng phải ba tháng nữa mới tới kì thu hoạch tiếp theo.

    Mía của vụ này thì đã được luyện thành đường và tích trữ trong các xi-lô ở Bãi Ngọt.”

    “Có ba mươi cái cả thảy,” Wylan nói.

    “Cha tôi sở hữu mười trong số đó.”

    Jesper huýt gió.

    “Van Eck kiểm soát một phần ba nguồn cung cấp đường cơ á?”

    “Van Eck sở hữu các xi-lô,” Kaz đáp, “nhưng chỉ làm chủ một lượng đường nhỏ được trữ trong đó.

    Lão ta dùng tiền túi trang trải các chi phí, thuê vệ quân canh gác, và trả tiền cho các Tiết Khí Sư để kiểm soát độ ẩm trong xi-lô sao cho các hạt đường được khô ráo.

    Các lái buôn làm chủ chỗ đường đó trả cho lão một phần hoa hồng nhỏ cho mỗi đợt bán.

    Chúng sinh lời rất nhanh.”

    “Chỗ tài sản khổng lồ đó nằm trong tầm kiểm soát của một người,” Matthias ngẫm nghĩ.

    “Nếu mấy cái xi-lô đó bị gì, giá đường sẽ…”

    “Sẽ vọt lên cao như một viên đạn,” Jesper nói nốt và đứng bật dậy, rảo bước qua lại trong nhà mồ.

    “Giá đường sẽ tăng lên không ngừng,” Kaz xác nhận.

    “Và kể từ vài ngày trước, chúng ta đã sở hữu phần hùn trong những công ty không trữ đường tại các xi-lô của Van Eck.

    Ngay lúc này, chúng chỉ có giá trị bằng với lúc chúng ta mua.

    Nhưng một khi chúng ta phá huỷ chỗ đường trong các xi-lô của Van Eck…”

    Jesper nhảy tưng tưng.

    “Chúng sẽ tăng giá gấp năm, thậm chí gấp mười lần so với hiện nay.”

    “Thêm nữa đi.”

    Jesper rú lên.

    “Hai mươi!”

    “Chúng ta có thể bán ra và thu lãi khủng,” Wylan nói.

    “Chúng ta sẽ giàu to chỉ trong một đêm.”

    Inej nghĩ đến một con thuyền hai buồm trang bị đại bác hạng nặng.

    Nó sẽ là của cô.

    “Ba mươi triệu kruge nổi không?”

    Cô hỏi.

    Phần thưởng mà Van Eck đã hứa với cả nhóm cho vụ Lâu Đài Băng, nhưng không hề có ý định trả.

    Nụ cười hé mở trên môi Kaz.

    “Khoảng đó, xê xích chừng một triệu.”

    Wylan cắn móng tay.

    “Cha tôi có thể vượt qua mất mát này.

    Nhưng các thương gia khác, những người làm chủ số đường trữ trong xi-lô của ông ta, sẽ điêu đứng nặng.”

    “Đúng vậy,” Matthias nói.

    “Và nếu chúng ta phá huỷ các xi-lô đó, thì rõ ràng đích nhắm là Van Eck.”

    “Chúng ta có thể làm cho chúng giống như một tai nạn,” Nina đề xuất.

    “Chúng sẽ là như thế,” Kaz nói.

    “Lúc đầu.

    Nhờ mọt hạt.

    Giải thích cho họ đi, Wylan.”

    Wylan chồm người tới trước như một cậu học sinh đang nôn nóng muốn chứng tỏ rằng mình biết câu trả lời.

    Cậu rút từ trong túi ra một cái lọ nhỏ.

    “Cái này sẽ phát huy tác dụng.”

    “Mọt hạt đây á?”

    Inej hỏi, mắt nhìn săm soi cái lọ.

    “Mọt hoá chất,” Jesper đáp.

    “Nhưng Wylan vẫn chưa đặt tên cho nó.

    Tôi bình chọn cái tên Mọt Wylan.”

    “Gớm quá,” Wylan nói.

    “Hay quá thì có,” Jesper nháy mắt.

    “Giống như cậu vậy.”

    Wylan đỏ bừng mặt.

    “Tôi cũng góp một tay mà,” Kuwei lên tiếng với vẻ mặt hờn dỗi.

    “Đúng vậy,” Wylan xác nhận.

    “Chúng ta sẽ làm cho cậu ấy một tấm bảng vinh danh nhé,” Kaz nói.

    “Giải thích cơ chế hoạt động của nó đi.”

    Wylan hắng giọng.

    “Ý tưởng này bắt nguồn từ bệnh cháy lá ở mía.

    Chỉ cần nhiễm một loại vi khuẩn cũng đủ làm tàn lụi cả vụ mía.

    Khi hoá chất này được cho vào các xi-lô, nó sẽ lan dần xuống, dùng đường như nhiên liệu, cho đến khi toàn bộ các hạt đường chỉ còn là một đống bầy nhầy vô dụng.”

    “Nó phản ứng với đường à?”

    Jesper hỏi lại.

    “Phải, bất kì loại đường nào.

    Dù là một lượng đường rất nhỏ, nếu có đủ độ ẩm, do vậy hãy giữ nó tránh xa mồ hôi, máu, nước bọt.”

    “Không được liếm Mọt Wylan.

    Có ai cần tôi viết ra không?”

    “Những cái xi-lô đó cao khủng khiếp,” Inej thắc mắc.

    “Chúng ta cần một lượng bao nhiêu?”

    “Một lọ cho mỗi xi-lô,” Wylan đáp.

    Inej nhìn cái lọ thuỷ tinh nhỏ xíu.

    “Thật á?”

    “Nhỏ mà có võ,” Jesper đáp, một lần nữa nháy mắt.

    “Giống như cô đấy.”

    Nina phá lên cười, và Inej không thể không đáp lại nụ cười nhăn răng của Jesper.

    Cơ thể cô đau nhức nhối, cô chỉ muốn ngủ một mạch hai ngày liên tục, nhưng cô cảm thấy một phần trong con người mình đang mở ra, giải phóng những sự kinh hoàng và giận dữ của tuần vừa qua.

    “Mọt hạt sẽ làm cho việc phá huỷ chỗ đường đó giống như một tai nạn,” Wylan nói.

    “Đúng vậy,” Kaz xác nhận, “cho đến khi các thương gia khác biết được Van Eck đã mua gom những chỗ đường không trữ trong các xi-lô của lão ta.”

    Mắt Wylan mở to.

    “Gì cơ?”

    “Tôi đã dùng phân nửa số tiền để mua cổ phiếu cho chúng ta.

    Nửa còn lại, tôi mua cổ phiếu dưới danh nghĩa Van Eck, thật ra là dưới danh nghĩa của một công ty do Alys đứng tên.

    Không thể để nó quá hiển nhiên được.

    Mọi thứ được giao dịch bằng tiền mặt, không thể truy lại nguồn gốc.

    Nhưng các văn bản xác nhận việc mua bán chúng sẽ được tìm thấy, nguyên vẹn và có đóng dấu, tại văn phòng luật sư của Van Eck.”

    “Cornelius Smeet,” Matthias ngỡ ngàng thốt lên.

    “Hết cú lừa này đến cú lừa khác.

    Cậu không chỉ tìm kiếm nơi ẩn trốn của Alys Van Eck khi đột nhập vào văn phòng của ông ta.”

    “Chỉ dùng một chiêu trò thì không thể thắng được đâu,” Kaz đáp.

    “Danh tiếng của Van Eck sẽ bị ảnh hưởng khi số đường đó mất đi.

    Nhưng khi những người đã trả tiền thuê xi-lô của Van Eck phát hiện ra lão ta hưởng lợi từ mất mát của mình thì họ sẽ kiểm tra kĩ hơn các xi-lô đó.”

    “Và tìm thấy mọt hạt,” Wylan nói nốt.

    “Phá hoại tài sản, khuynh đảo thị trường,” Inej lầm bầm.

    “Đó sẽ là dấu chấm hết đối với Van Eck.”

    Cô nhớ lại lúc Van Eck ra hiệu cho tay chân của lão giơ búa lên.

    Ta không muốn một cú gãy gọn.

    Đập cho nát xương ra.”

    Lão có bị đi tù không?”

    “Van Eck sẽ bị kết tội vi phạm hợp đồng và thao túng thị trường,” Kaz đáp.

    “Không còn tội nào nghiêm trọng hơn theo luật của Kerch.

    Hình phạt sẽ giống như tội sát nhân.

    Lão có thể bị treo cổ.”

    “Thật sao?”

    Wylan buột miệng nói khẽ.

    Cậu dùng ngón tay vạch một đường trên tấm bản đồ Ketterdam, từ Bãi Ngọt băng qua khu Barrel tới đường Geldstraat, nơi ở của cha cậu.

    Jan Van Eck đã tìm cách đoạt mạng Wylan.

    Ông ta đã tống khứ cậu đi như một đống rác.

    Nhưng Inej tự hỏi liệu Wylan có sẵn sàng đẩy cha mình vào cửa tử hay không.

    “Tôi không nghĩ lão ta sẽ bị treo lủng lẳng trên một sợi dây thừng,” Kaz đáp.

    “Tôi đoán họ sẽ áp dụng một hình phạt nhẹ nhàng hơn.

    Không một Uỷ viên hội đồng nào muốn đưa thành viên của mình lên giá treo cổ.

    Còn việc lão ta có phải vào ngồi trong tù hay không?”

    Anh nhún vai.

    “Cái đó còn tuỳ luật sư của lão ta giỏi cỡ nào.”

    “Nhưng ông ta sẽ không được kinh doanh nữa,” Wylan nói với giọng run run.

    “Cơ đồ của ông ta sẽ bị trưng thu để đền bù cho thiệt hại trong vụ huỷ hoại đường.”

    “Đó sẽ là kết thúc của đế chế Van Eck,” Kaz nói.

    “Thế còn Alys?”

    Wylan hỏi.

    Kaz một lần nữa nhún vai.

    “Sẽ không ai tin chị ta có dính líu gì với một âm mưu tài chính đâu.

    Alys sẽ đâm đơn li dị và rất có thể sẽ quay về nhà bố mẹ.

    Chị ta sẽ khóc một tuần lễ, hát hai tuần lễ nữa, rồi vượt qua cú sốc.

    Biết đâu chị ta sẽ cưới một hoàng tử.”

    “Hoặc một thầy giáo dạy nhạc,” Inej nói và nhớ lại sự hoảng hốt của Bajan khi hay tin Alys bị bắt cóc.

    “Chỉ có một vấn đề nhỏ,” Jesper lên tiếng, “khi tôi nói nhỏ có nghĩa là nó ‘to đùng, hiển nhiên, hãy quên vụ này và đi uống bia’.

    Các xi-lô.

    Tôi biết chúng ta rất giỏi đột nhập vào những nơi không thể đột nhập, nhưng làm thế nào ta chui vào trong đó được?”

    “Kaz có thể phá khoá,” Wylan đáp.

    “Không,” Kaz nói luôn.

    “Tôi không thể.”

    “Tôi không nghĩ mình từng nghe thấy câu này từ miệng anh đấy,” Nina nói.

    “Anh nói lại xem nào, chậm rãi và rõ ràng hơn.”

    Kaz phớt lờ.

    “Chúng là những ổ khoá bốn thuỳ.

    Bốn chìa khoá phải được xoay cùng một lúc trong ổ, nếu không cửa an toàn và chuông báo động sẽ được kích hoạt.

    Tôi có thể phá mọi ổ khoá, nhưng phá bốn cái một lúc thì không.”

    “Vậy chúng ta sẽ vào trong bằng cách nào?”

    Jesper thắc mắc.

    “Mấy cái xi-lô đó cũng mở được từ trên đỉnh.”

    “Chúng cao như toà nhà hai mươi tầng!

    Không lẽ Inej phải leo lên leo xuống mười cái như thế trong một đêm?”

    “Chỉ một cái thôi,” Kaz đáp.

    “Rồi sau đó thì sao?”

    Nina chống nạnh hỏi lại, đôi mắt toé lửa.

    Inej nhớ lại cụm xi-lô cao ngất và khoảng cách giữa chúng.

    “Sau đó,” cô nói, “em sẽ đi thăng bằng trên sợi dây căng từ cái này sang cái kia.”

    Nina vung tay lên trời.

    “Và hoàn toàn không có lưới an toàn, có phải thế không?”

    “Người nhà Ghafa không bao giờ biểu diễn với lưới an toàn,” Inej đáp với giọng phật ý.

    “Thế người nhà Ghafa có thường xuyên đi dây thăng bằng giữa những toà nhà hai mươi tầng, phía dưới là mặt đường lát đá, sau khi đã bị cầm tù suốt một tuần lễ hay không?”

    “Sẽ có lưới,” Kaz nói.

    “Nó đã được cất phía sau trạm gác của cụm xilô, bên dưới một chồng bao cát.”

    Im lặng tuyệt đối đột ngột bao trùm nhà mồ.

    Inej không thể tin vào tai mình.

    “Tôi không cần lưới.”

    Kaz xem đồng hồ.

    “Không hỏi han nữa.

    Chúng ta có sáu giờ để ngủ cho lại sức.

    Tôi sẽ xoáy các trang bị của đoàn xiếc Zirkoa.

    Họ dựng lều ngay phía tây ngoại vi Ketterdam.

    Inej, hãy liệt kê những thứ cô cần.

    Chúng ta sẽ tấn công cụm xi-lô sau hai mươi tư giờ nữa.”

    “Tuyệt đối không,” Nina đáp luôn.

    “Inej cần nghỉ ngơi.”

    “Phải đấy,” Jesper đồng tình.

    “Trông cô ấy gầy gò đến mức gió thổi bay được ấy.”

    “Tôi ổn,” Inej đáp.

    Jesper đảo mắt.

    “Cô luôn nói như thế.”

    “Không phải ở đây mọi thứ luôn diễn ra như vậy sao?”

    Wylan hỏi lại.

    “Chúng ta luôn nói với Kaz rằng mình ổn để rồi làm những chuyện ngu ngốc.”

    “Bọn tôi dễ đoán đến thế à?”

    Inej hỏi cậu.

    Wylan và Matthias đồng thanh đáp, “Phải.”

    “Mọi người có muốn đánh bại Van Eck không?”

    Kaz hỏi.

    Nina thở hắt ra.

    “Dĩ nhiên.”

    Đôi mắt của Kaz lướt từ khuôn mặt này sang khuôn mặt khác.

    “Có hay không?

    Mọi người có muốn tiền của mình không?

    Số tiền mà vì nó chúng ta đã phải chiến đấu, đổ máu, và suýt mất mạng?

    Hay mọi người muốn Van Eck mừng rơn vì đã chọn được một nhóm côn đồ vô danh tiểu tốt từ khu Barrel để lừa gạt?

    Bởi vì sẽ không có ai trừng trị lão cho chúng ta đâu.

    Không một ai quan tâm chuyện lão đã lừa chúng ta, hay chúng ta đã liều mạng vô ích như thế nào.

    Sẽ không có ai đứng ra chỉnh đốn chuyện này.

    Vậy nên tôi mới hỏi, mọi người có muốn dạy cho Van Eck một bài học không?”

    “Có,” Inej đáp.

    Cô muốn công lí được thực thi.

    “Tuyệt đối có,” Nina nói.

    “Và không phải một bài thổi sáo của Wylan,” Jesper đế thêm.

    Từng người một, họ lần lượt gật đầu.

    “Tình hình đã thay đổi,” Kaz nói.

    “Dựa trên sự phô trương lực lượng của Van Eck hôm nay, những cáo thị truy nã mang khuôn mặt của chúng ta có lẽ đã được dán khắp Ketterdam, và tôi đoán lão cũng hứa hẹn một khoản tiền thưởng hậu hĩnh.

    Van Eck đang dựa vào uy tín của mình, và chúng ta càng phá huỷ nó sớm chừng nào thì càng tốt chừng đó.

    Chúng ta sẽ lấy tiền của lão, danh tiếng và sự tự do của lão, tất cả chỉ trong một đêm.

    Nhưng điều đó có nghĩa chúng ta sẽ không dừng lại.

    Bất chấp sự bực tức của mình, Van Eck sẽ ăn một bữa tối thịnh soạn và ngủ một giấc không mộng mị trên chiếc giường êm ấm của mình.

    Những tay thị tuần kia sẽ tạm ngả mái đầu mệt mỏi của mình để nghỉ ngơi cho tới khi phải vào ca trực tiếp theo, trong lòng tự hỏi liệu có được trả tiền làm ngoài giờ hay không.

    Nhưng chúng ta không dừng lại.

    Đồng hồ đang điểm từng giây phút, chúng ta có thể nghỉ ngơi một khi đã giàu có.

    Đồng ý không?”

    Lại một loạt những cái gật đầu.

    “Nina, xung quanh cụm xi-lô có vệ quân đi tuần.

    Cô sẽ là người đánh lạc hướng.

    Một cô nàng Ravka khốn quẫn, chân ướt chân ráo tới Ketterdam, tìm kiếm việc làm ở khu nhà kho.

    Cô cần làm cho họ bận rộn đủ lâu để những người còn lại có thể vào trong, và Inej leo lên xi-lô đầu tiên.

    Tiếp đó…”

    “Với một điều kiện,” Nina nói luôn, tay khoanh lại.

    “Đây không phải một cuộc thương lượng.”

    “Tất cả mọi thứ đều có thể thương lượng đối với anh, Brekker.

    Có khi anh còn đổi chác cả cái cách mình chui ra khỏi bụng mẹ ấy chứ.

    Nếu tôi làm vụ này, tôi muốn chúng ta đưa các Grisha còn lại ra khỏi Ketterdam.”

    “Quên đi.

    Tôi không rảnh để đi làm từ thiện.”

    “Vậy thì tôi nghỉ.”

    “Tốt.

    Cô nghỉ vụ này.

    Cô vẫn sẽ có phần chia của mình vì vụ Lâu Đài Băng, nhưng tôi không cần cô cho vụ này.”

    “Không,” Inej nói khẽ.

    “Nhưng anh cần tôi.”

    Kaz gác cây gậy chống lên đôi chân của mình.

    “Hình như mọi người bắt đầu thành lập liên minh.”

    Inej còn nhớ nắng chiều đã làm đôi mắt anh ánh lên màu nâu như thế nào mới vài giờ trước.

    Giờ thì chúng có màu cà phê đắng nghét.

    Nhưng cô sẽ không nhượng bộ.

    “Cái đó gọi là tình bạn, Kaz à.”

    Anh hướng mắt sang phía Nina.

    “Tôi không thích bị đặt điều kiện.”

    “Còn tôi thì không thích những đôi giày làm ngón chân bị cấn, nhưng chúng ta phải chịu đựng thôi.

    Hãy coi đây là một thử thách cho bộ óc thiên tài của anh.”

    Sau khi ngừng lời một lúc, Kaz hỏi, “Số người mà chúng ta đang nói tới là bao nhiêu?”

    “Ở Ketterdam có chưa đến ba mươi Grisha tôi biết, ngoài những người trong Hội đồng Thuỷ triều.”

    “Và cô sẽ tập hợp họ lại như thế nào?

    Phát tờ rơi chỉ dẫn họ đến một cái bè lớn à?”

    “Có một tửu quán ở gần toà đại sứ Ravka.

    Chúng tôi sử dụng nó làm nơi gửi lời nhắn hoặc trao đổi thông tin.

    Tôi có thể lan truyền tin tức từ đó.

    Tiếp đến, chúng ta chỉ cần một con thuyền.

    Van Eck không thể canh chừng mọi hải cảng.”

    Inej không muốn phản bác, nhưng cô phải nêu ý kiến.

    “Em nghĩ lão ta có thể đấy.

    Van Eck có toàn bộ sự hậu thuẫn của chính quyền Ketterdam.

    Chị chưa thấy phản ứng của lão khi biết Kaz dám bắt cóc Alys đâu.”

    “Đừng có nói là lão sùi cả bọt mép nhé,” Jesper bình phẩm.

    “Cũng gần như thế.”

    Kaz khập khiễng đi tới cửa nhà mồ, hướng mắt nhìn bóng tối bên ngoài.

    “Van Eck không dễ dàng ra quyết định lôi chính quyền vào cuộc đâu.

    Nó là một nguy cơ, và lão sẽ không chấp nhận nguy cơ đó nếu không định tranh thủ nó tới cùng.

    Lão sẽ cảnh báo mọi hải cảng, mọi tháp canh, với mệnh lệnh xét hỏi bất kì ai muốn rời khỏi Ketterdam.

    Chỉ cần lão lấy cớ rằng những kẻ bắt cóc Wylan đang định đưa cậu ta ra khỏi Kerch.”

    “Cố gắng đưa mọi Grisha rời khỏi đây sẽ là một việc cực kì nguy hiểm,” Matthias lên tiếng.

    “Điều cuối cùng chúng ta cần là một nhóm trong số họ rơi vào tay Van Eck khi mà ông ta có thể vẫn còn parem.”

    Jesper gõ ngón tay trên báng súng.

    “Chúng ta cần một phép màu.

    Và có lẽ cả một chai whiskey nữa.

    Để xoa dịu cơn đau não.”

    “Không,” Kaz ôn tồn đáp.

    “Chúng ta cần một con tàu.

    Một con tàu không gây nghi ngờ mà Van Eck và các thị tuần không có lí do gì để chặn lại.

    Chúng ta cần một trong số những con tàu của lão.”

    Nina nhấp nhổm trên ghế.

    “Công ty vận tải của Van Eck chắc chắn có hàng đống thuyền bè sắp đi Ravka.”

    Matthias khoanh tay lại, ngẫm nghĩ.

    “Đưa các Grisha tị nạn ra đi trên một con tàu của Van Eck à?”

    “Chúng ta cần một danh sách giả và giấy tờ chuyên chở,” Inej nói.

    “Cô có biết họ đã đuổi cổ Specht khỏi hải quân vì lí do gì không?”

    Kaz hỏi lại.

    “Anh ta đã làm giả giấy nghỉ phép và lệnh cấp hàng.”

    Wylan trề môi.

    “Nhưng đây không chỉ là vấn đề giấy tờ.

    Cứ coi như ta có ba mươi Grisha tị nạn đi.

    Thuyền trưởng của một con tàu sẽ muốn biết vì sao ba mươi người…”

    “Ba mươi mốt,” Kuwei nói.

    “Cậu đang theo dõi câu chuyện này đấy à?”

    Jesper ngỡ ngàng hỏi lại.

    “Một chuyến tàu đi tới Ravka,” Kuwei đáp.

    “Tôi hiểu điều đó rất rõ.”

    Kaz nhún vai.

    “Nếu bọn tôi đánh cắp một con tàu, bọn tôi cũng có thể đưa cậu lên đó.”

    “Vậy thì ba mươi mốt,” Nina mỉm cười chốt lại, mặc dù khoé miệng giật giật của Matthias cho thấy anh chẳng vui mừng đến thế.

    “Được rồi,” Wylan nói, tay vuốt phẳng lại một góc bản đồ.

    “Nhưng bất kì thuyền trưởng nào cũng sẽ thắc mắc vì sao lại có ba mươi mốt con người được thêm vào danh sách của mình.”

    “Anh ta sẽ không thắc mắc nếu như nghĩ rằng mình đang làm một nhiệm vụ bí mật,” Kaz nói.

    “Van Eck sẽ viết một bức thư tay yêu cầu thuyền trưởng giữ bí mật hoàn toàn việc chuyên chở những người tị nạn có giá trị cao về chính trị này, đồng thời che giấu họ bằng mọi giá khỏi bất kì kẻ nào nghi ngờ đã bị phía Shu Han mua chuộc, kể cả các thị tuần.

    Van Eck sẽ hứa hẹn với tay thuyền trưởng một khoản tiền thưởng hậu hĩnh khi anh ta quay về, để bảo đảm anh ta không tơ tưởng đến việc đem bán các Grisha.

    Chúng ta đã có mẫu chữ viết tay của Van Eck.

    Chỉ cần niêm dấu của lão thôi.”

    “Ông ta cất nó ở đâu vậy?”

    Jesper hỏi Wylan.

    “Trong phòng làm việc.

    Ít nhất thì nó cũng từng được cất ở đó.”

    “Chúng ta sẽ phải đột nhập rồi thoát ra mà không bị lão ta nhận ra,” Inej lên tiếng.

    “Và chúng ta sẽ phải hành động thật nhanh sau chuyện đó.

    Ngay khi Van Eck phát hiện niêm dấu bị mất, lão ta có thể đoán ra điều chúng ta sắp làm.”

    “Chúng ta đã đột nhập được vào Lâu Đài Băng,” Kaz nói.

    “Tôi nghĩ chúng ta có thể xử đẹp phòng làm việc của một lão thương gia.”

    “Ờ, chúng ta đã suýt mất mạng khi đột nhập vào lâu đài đó,” Inej đáp.

    “Nhiều lần suýt mất mạng, nếu tôi nhớ không lầm,” Jesper đế thêm.

    “Inej và tôi đã từng đánh cắp bức hoạ DeKappel từ tay Van Eck.

    Chúng tôi đã biết cách bố trí trong ngôi nhà của lão.

    Ta sẽ ổn thôi.”

    Ngón tay của Wylan một lần nữa rà dọc con phố Geldstraat.

    “Lúc đó hai người đâu có phải phá két sắt của cha tôi.”

    “Van Eck cất niêm dấu trong két sắt sao?”

    Jesper bật cười hỏi lại.

    “Thế thì gần như là ông ta muốn chúng ta lấy nó rồi.

    Kaz làm bạn với các ổ khoá số giỏi hơn với con người mà.”

    “Các anh chưa từng thấy cái két sắt nào giống như cái này đâu,” Wylan nói.

    “Ông ta đã cho lắp đặt nó sau khi bức tranh của DeKappel bị đánh cắp.

    Mã mở két gồm bảy con số được ông ta thiết lập lại hằng ngày, và ổ khoá được chế tạo với các lẫy khoá giả để làm rối những kẻ phá khoá.”

    Kaz nhún vai.

    “Vậy thì chúng ta sẽ chọn cách khác.

    Tôi sẽ dùng thủ đoạn thay cho sự khéo léo.”

    Wylan lắc đầu.

    “Vách của két sắt được làm từ một hợp kim đặc biệt, có gia cố bằng thép Grisha.”

    “Hay ta làm cho nó nổ?”

    Jesper đề xuất.

    Kaz nhướng mày.

    “Van Eck sẽ phát hiện ngay.”

    “Một vụ nổ cực nhỏ thì sao?”

    Nina khịt mũi.

    “Cậu chỉ muốn cho nổ mọi thứ.”

    “Thật ra…”

    Wylan ngập ngừng.

    Cậu ngoẹo đầu sang một bên, như thể đang lắng nghe một bài hát xa xăm.

    “Vào buổi sáng thì sẽ không thể che giấu việc chúng ta đã đột nhập, nhưng nếu chúng ta có thể đưa người tị nạn rời cảng trước khi cha tôi phát hiện vụ trộm thì… tôi không chắc mình có thể xoay được nguyên liệu, nhưng nó có thể thành công…”

    “Inej,” Jesper thì thào.

    Cô nghiêng người tới trước, mắt quan sát Wylan.

    “Mặt ủ mưu đây à?”

    “Dám lắm.”

    Wylan dường như đã quay lại thực tại.

    “Không.

    Nhưng… nhưng tôi nghĩ mình có một ý tưởng.”

    “Chúng tôi đang chờ đây, thiếu gia,” Kaz đáp.

    “Mọt hạt chỉ là phiên bản bền vững hơn của axit auric.”

    “Ờ,” Jesper nói.

    “Phải rồi.

    Và axit đó là?”

    “Một chất ăn mòn.

    Nó tạo ra một nhiệt lượng nhỏ khi bắt đầu phản ứng, nhưng nó mạnh khủng khiếp và cực kì dễ bay hơi.

    Nó có thể xuyên thủng thép Grisha và gần như tất cả mọi thứ, ngoại trừ thuỷ tinh balsa.”

    “Thuỷ tinh á?”

    “Thuỷ tinh và nhựa cây balsa trung hoà sự ăn mòn.”

    “Vậy thứ đó có thể kiếm được từ đâu?”

    “Chúng ta có thể tìm thấy một trong những nguyên liệu mà tôi cần ở tiệm làm đồ sắt.

    Người ta dùng chất ăn mòn để đánh gỉ cho kim loại.

    Còn nguyên liệu kia hơi khó tìm.

    Chúng ta cần một mỏ đá có mạch quặng auris hoặc một hợp chất halogen tương tự.”

    “Mỏ đá gần nhất nằm ở olendaal,” Kaz cho biết.

    “Được đấy.

    Một khi đã có hai nguyên liệu, ta sẽ phải rất cẩn thận khi vận chuyển,” Wylan nói tiếp.

    “Còn hơn cả cẩn thận là đằng khác.

    Sau khi phản ứng hoàn tất, axit auric gần như vô hại, nhưng trong lúc nó đang diễn ra thì…

    Đó là cách dễ nhất để mất bàn tay.”

    “Tức là,” Jesper nói, “nếu chúng ta có được những nguyên liệu đó và vận chuyển chúng riêng rẽ trước khi hoạt hoá cái axit auric này, ta sẽ không sợ bị mất chi?”

    Wylan xoắn một lọn tóc.

    “Chúng ta có thể xuyên thủng cánh cửa két sắt chỉ trong vài phút.”

    “Mà không làm hư hại thứ bên trong?”

    Nina hỏi.

    “Hi vọng là thế.”

    “Hi vọng là thế,” Kaz lặp lại.

    “Tôi đã từng hành động trong hoàn cảnh tệ hơn.

    Chúng ta cần tìm ra con tàu nào sắp sửa lên đường đi Ravka đêm mai và nhờ Specht làm giả giấy tờ cũng như danh sách chuyên chở.

    Nina, một khi có được con tàu đã chọn, nhóm Grisha tị nạn của cô có thể tự tới bến cảng hay phải cần trợ giúp?”

    “Tôi không biết họ rành rẽ Ketterdam đến đâu,” Nina thừa nhận.

    Kaz gõ gõ ngón tay trên đầu cây gậy chống.

    “Wylan và tôi có thể lo vụ

    két sắt.

    Tôi có thể cử Jesper hộ tống đoàn Grisha, và Matthias đưa Kuwei tới bên cảng.

    Nhưng như vậy chỉ còn Nina để đánh lạc hướng lính gác và căng lưới cho Inej.

    Tấm lưới cần ít nhất ba người để thao tác.”

    Inej duỗi người, nhẹ nhàng xoay vai.

    Thật dễ chịu khi lại được ở cùng cả nhóm như thế này.

    Cô chỉ mới đi vài ngày, và họ đang ngồi trong một cái nhà mồ ẩm ướt, nhưng cô vẫn có cảm giác như được quay về nhà.

    “Tôi đã nói với anh rồi,” cô lên tiếng.

    “Tôi không cần lưới an toàn.”

    12

    KAZ

    Họ thức lập kế hoạch đến quá nửa đêm.

    Kaz khá thận trọng với những thay đổi trong kế hoạch cũng như viễn cảnh phải điều phối nhóm Grisha tị nạn.

    Nhưng dù không cho những người khác biết, có những yếu tố trong diễn biến mới này hấp dẫn anh.

    Có thể Van Eck đã xâu chuỗi được những gì người Shu đang làm và bản thân lão cũng đi săn lùng các Grisha còn lại.

    Đó là một thứ vũ khí mà Kaz không muốn thấy trong tay của lão thương gia.

    Nhưng họ không thể để cho chuyện này làm mình bị chậm lại.

    Với quá nhiều đối thủ và lực lượng thị tuần tham gia vào, họ không thể để điều đó xảy ra.

    Không lâu nữa, người Shu sẽ thôi không bận tâm về các tàu chiến bị mắc cạn cùng Hội đồng Thuỷ triều, và mò đến tận đảo Mạng Đen.

    Kaz muốn Kuwei rồi Ketterdam tới một nơi an toàn sớm nhất có thể.

    Cuối cùng, họ cất các danh sách và sơ đồ sang một bên.

    Tàn dư của bữa ăn qua quýt trên bàn được dọn dẹp sạch sẽ để tránh thu hút lũ chuột, và các ngọn đèn lồng được tắt đi.

    Những người khác đi ngủ, nhưng Kaz thì không.

    Anh đã nói thật suy nghĩ của mình.

    Van Eck có nhiều tiền hơn, nhiều đồng minh hơn, và có sức mạnh của chính quyền sau lưng.

    Họ không thể chỉ thông minh hơn lão ta, họ phải không nao núng.

    Và Kaz có thể thấy những gì mà người khác không thể.

    Hôm nay họ đã thắng một trận đánh, họ đã quyết tâm giành lại Inej và đã thành công.

    Nhưng lão thương gia vẫn thắng trong cuộc chiến.

    Van Eck sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi đưa lực lượng thị tuần vào cuộc và rộng hơn là Hội đồng Thương buôn, nghĩa là lão tin mình không thể bị đụng tới.

    Kaz vẫn còn giữ lá thư của Van Eck khi sắp xếp cuộc gặp trên đảo Vellgeluk, nhưng nó chỉ là bằng chứng nhạt nhoà cho những mưu đồ của lão.

    Kaz còn nhớ điều mà Pekka Rollins đã nói tại Cung Lục Ngọc, khi anh bảo rằng Hội đồng Thương buôn sẽ không bao giờ ủng hộ những hoạt động bất hợp pháp của Van Eck.

    Và ai sẽ là người báo cho họ đây?

    Một con chuột cống đến từ khu ổ chuột tồi tệ nhất Barrel chắc?

    Đừng cố tự lừa dối mình nữa, Brekker.

    Lúc trước, Kaz gần như không thể nghĩ được gì ngoài màn sương phẫn uất đỏ rực mỗi khi ở gần Rollins.

    Nó xoá đi lí trí và sự kiên nhẫn của anh.

    Ở gần Pekka, anh đánh mất hình ảnh của mình - không, anh đánh mất hình ảnh của người mà anh đã nỗ lực để trở thành.

    Anh không phải Tay Nhám, Kaz Brekker, hay phó tướng gan lì nhất băng Cặn Bã.

    Anh chỉ là một thằng nhóc bị thiêu đốt bởi ngọn lửa hận thù hừng hực, thứ đe doạ đốt cháy thành tro sự lễ độ mà anh đã dày công vun đắp.

    Nhưng giờ đây, tựa người vào cây gậy chống giữa những ngôi mộ của đảo Mạng Đen, anh phải thừa nhận sự thật trong câu nói của Pekka.

    Người ta không thể gây chiến với một thương gia có địa vị vững vàng như Van Eck nếu bản thân là một thằng trộm cướp có danh tiếng còn nhơ nhuốc hơn cả đế giày của một giám mã.

    Để chiến thắng, Kaz cần phải san bằng cách biệt đó.

    Anh sẽ cho mọi người thấy những gì mình đã biết: bất chấp đôi bàn tay mềm mại và những bộ đồ lịch lãm, Van Eck là một tên tội phạm cũng tệ hại chẳng kém gì đám đầu trộm đuôi cướp ở Barrel - còn tệ hơn thế, vì lão là một kẻ bội tín.

    Kaz không nghe thấy tiếng Inej lại gần, anh chỉ biết khi cô đã ở đó, đứng cạnh cái cột gãy của một nhà mồ bằng cẩm thạch trắng.

    Cô đã tìm thấy xà phòng ở chỗ nào đó để tắm rửa và tẩy sạch thứ mùi của xà lim tăm tối trên đảo Eil Komedie - một sự pha trộn giữa mùi cỏ khô và phấn mỡ.

    Mái tóc đen bóng phản chiếu ánh trăng của cô đã được tết gọn ghẽ thành một cái bím sau gáy, và sự im lìm tuyệt đối của cô khiến người ta có thể tưởng nhầm cô là một trong những tượng đá canh gác nhà mồ.

    “Tấm lưới là sao vậy, Kaz?”

    Ừ, tại sao phải có tấm lưới?

    Sao phải dùng một thứ làm phức tạp hoá cuộc tấn công cụm xi-lô và khiến họ dễ bị phát giác gấp bội?

    Anh không thể chịu nổi việc thấy em ngã.

    “Tôi đã trải qua nhiều rắc rối để giành lại người nhện của mình.

    Tôi không làm như thế chỉ để cô ngã gãy cổ ngay ngày hôm sau.”

    “Anh chỉ bảo vệ khoản đầu tư của mình.” cô nói với giọng gần như cam chịu.

    “Đúng vậy.”

    “Và anh sẽ rời đảo.”

    Kaz nên lo ngại nhiều hơn khi cô có thể đoán ra động thái sắp tới của anh.

    “Rotty nói ông già đang mất kiên nhẫn.

    Tôi cần đi ve vuốt ông ta.”

    Per Haskell vẫn là người cầm đầu băng Cặn Bã, và Kaz biết ông ta thích đặc quyền của vị trí đó, chứ không phải công việc kèm theo nó.

    Vì anh vắng mặt quá lâu, mọi thứ bắt đầu chệch choạc.

    Ngoài ra, khi Haskell cáu lên, ông ta hay làm chuyện ngu ngốc gì đó để nhắc cho mọi người nhớ ông ta vẫn là người lãnh đạo.

    “Chúng ta cũng nên để mắt tới ngôi nhà của Van Eck,” Inej nói.

    “Tôi sẽ lo chuyện đó.”

    “Lão ta sẽ củng cố an ninh của ngôi nhà.”

    Cô không cần phải nói thêm.

    Không thứ gì có thể vượt qua lớp phòng thủ của Van Eck tốt hơn Bóng Ma.

    Anh nên bảo cô nghỉ ngơi, để anh tự mình phụ trách việc theo dõi.

    Nhưng thay vào đó anh gật đầu và đi tìm một trong những chiếc gondel được giấu trong bụi liễu, phớt lờ cảm giác nhẹ nhõm khi cô bám theo.

    Sau vụ hỗn loạn hồi chiều, những con kênh có vẻ trầm lắng hơn bình thường, mặt nước kênh yên tĩnh đến lạ.

    “Anh có nghĩ Tây Stave sẽ hoạt động bình thường trở lại ngay tối nay không?”

    Inej khẽ hỏi.

    Cô đã học được sự thận trọng của một con chuột cống khi nó phải di chuyển qua những dòng kênh của Ketterdam.

    “Tôi không nghĩ vậy.

    Các thị tuần sẽ điều tra xét hỏi, và du khách không đến Ketterdam để đổi lấy nguy cơ bị nổ tan xác.”

    Công việc kinh doanh của nhiều nơi sẽ thất bát.

    Ngay sáng mai, Kaz đoán, bậc thềm của Toà thị chính sẽ đông lúc nhúc chủ nhân các nhà chứa và khách sạn, những người đến để tìm câu trả lời.

    Sẽ là một cảnh tượng hay ho.

    Tốt thôi.

    Cứ để cho các thành viên của Hội đồng Thương buôn bận rộn với những vấn đề không liên quan tới Jan Van Eck và cậu con trai mất tích của ông ta.

    “Van Eck hẳn đã thay đổi nhiều thứ sau khi bị chúng ta nẫng mất bức họa của

    De Kappel.”

    “Và giờ đây lão đã biết Wylan đang đi cùng chúng ta,” Inej đồng tình.

    “Chúng ta định gặp ông già ở đâu đây?”

    “Ở Đốt Ngón.”

    Họ không thể đến gặp Haskell tại Thanh Gỗ.

    Van Eck chắc đã đặt đại bản doanh của băng Cặn Bã dưới sự theo dõi, và lúc này có thể các thị tuần cũng đã kéo đến đó.

    Hình ảnh đám thị tuần lục lọi phòng riêng của anh, bới móc những món đồ ít ỏi của anh khiến Kaz điên tiết.

    Thanh Gỗ chẳng là gì hết, nhưng anh đã biến nó từ một ngôi nhà hoang dột nát thành một nơi mà người ta có thể ăn ngủ hoặc trốn tránh pháp luật mà không phải lạnh cóng ngoài trời vào mùa đông hay bị bọ chét hút máu vào mùa hè.

    Thanh Gỗ là của anh, bất luận Per Haskell nghĩ như thế nào.

    Kaz điều khiển chiếc gondel đi vào kênh Zover, ranh giới phía đông của khu Barrel.

    Per Haskell thích tiếp khách ở quán trọ Đẹp Trời vào một buổi tối cố định hằng tuần, để gặp gỡ đám bạn chí cốt, chơi bài và tán gẫu.

    Không đời nào ông ta bỏ lỡ tối nay, kể cả khi phó tướng được ông ta sủng ái - tay phó tướng mất tích được ông ta sủng ái - đụng độ với một thành viên của Hội đồng Thương buôn và mang nhiều rắc rối tới cho băng Cặn Bã.

    Không đời nào, khi ông ta không phải là trung tâm của sự chú ý.

    Không có ô cửa sổ nào trổ ra Đốt Ngón, con đường quanh co uốn lượn giữa một dãy nhà liên kế và một nhà máy sản xuất đồ lưu niệm giá rẻ.

    Nó yên tĩnh, tối mò và hẹp đến nỗi người ta có thể gọi là một cái ngõ - chỗ tuyệt hảo cho việc mai phục.

    Mặc dù không phải là lối an toàn nhất để đi từ Thanh Gỗ tới quán Đẹp Trời, nó là con đường ngắn nhất, và Per Haskell không bao giờ quay lưng với những lối tắt.

    Kaz neo thuyền gần một cái cầu dành cho người đi bộ.

    Anh và Inej vào vị trí trong bóng tối và chờ đợi, thừa hiểu mình cần giữ im lặng.

    Không đầy hai mươi phút sau, bóng dáng một người đàn ông xuất hiện ở ngọn đèn đường nằm ở đầu ngõ, với một cọng lông chim ngớ ngẩn vắt vẻo trên mũ.

    Kaz đợi cho đến khi người đó đi ngang qua chỗ mình mới bước ra.

    “Haskell.”

    Per Haskell xoay người, rút khẩu súng ngắn từ trong áo khoác ra.

    Ông

    ta có thao tác mau lẹ so với tuổi tác, nhưng Kaz biết trước ông ta sẽ mang vũ khí và đã chuẩn bị sẵn sàng.

    Anh đập đầu gậy chống vào vai Haskell, vừa đủ mạnh để làm tay ông ta tê bại.

    Haskell gầm lên và khẩu súng tuột ra khỏi tay ông ta.

    Inej chộp lấy trước khi nó chạm đất và ném cho Kaz.

    “Brekker,” Haskell giận dữ lên tiếng, cố gắng cử động cánh tay tê bại.

    “Cậu đã ở chỗ quái nào vậy?

    Có thứ tay chân nào lại đi trấn lột chính chủ tướng của mình trong ngõ tắt như thế này?”

    “Tôi không định trấn lột ông.

    Tôi chỉ không muốn ông bắn bất kì ai trước khi chúng ta có cơ hội nói chuyện.”

    Kaz đưa trả khẩup súng cho Haskell.

    Ông ta chộp lấy nó, cái cằm râu ria vênh lên đe doạ.

    “Lúc nào cũng đi quá giới hạn,” Haskell làu bàu trong lúc nhét khẩu súng vào trong túi áo khoác vải kẻ ô, vì bàn tay xuội lơ của ông ta không thể với tới bao súng.

    “Cậu biết hôm nay cậu đã gây rắc rối cho tôi như thế nào không, hả nhóc?”

    “Tôi biết.

    Chính vì vậy mà tôi đến đây.”

    “Bọn thị tuần quần nát Thanh Gỗ và Quạ Đen rồi.

    Chúng ta đã phải đóng cửa hoàn toàn hai chỗ đó, và không ai biết đến bao giờ ta mới được mở cửa trở lại.

    Cậu nghĩ cái quái gì mà đi bắt cóc con trai của một thương gia?

    Đây là phi vụ lớn đã đưa cậu rời Ketterdam đó hả?

    Phi vụ đáng lẽ phải làm cho tôi giàu nứt đố đổ vách đó hả?”

    “Tôi không bắt cóc ai hết.”

    Sự thật không hẳn là thế, nhưng Kaz nghĩ giải thích càng nhiều chỉ càng làm Haskell thêm rối.

    “Vậy nhân danh Ghezen, chuyện gì đang xảy ra vậy?”

    Per Haskell thì thào với giọng bực bội, văng cả nước bọt ra.

    “Cậu đã đem theo người nhện tốt nhất của tôi,” ông ta chỉ tay về phía Inej.

    “Thiện xạ tốt nhất của tôi, Độc Tâm Y của tôi, vệ sĩ to con nhất của tôi…”

    “Muzzen chết rồi.”

    “Chó đẻ thật,” Haskell văng tục.

    “Đầu tiên là Bolliger Bự, giờ tới lượt Muzzen.

    Cậu định moi ruột băng của tôi hả?”

    “Không hề, thưa sếp.”

    “Thưa sếp.

    Cậu đang toan tính chuyện gì vậy, nhóc?”

    “Van Eck đang ra tay rất nhanh, nhưng tôi vẫn đi trước lão ta một bước.”

    “Đó không phải là điều tôi thấy.”

    “Tốt thôi,” Kaz đáp.

    “Tốt hơn là không ai thấy bọn tôi ra tay.

    Muzzen là mất mát tôi không lường trước, nhưng hãy cho tôi vài ngày, và không chỉ luật pháp buông tha ông, mà ngân quỹ của ông cũng sẽ rủng rỉnh đến nỗi ông có thể đổ vàng đầy bồn tắm và nhảy vào bơi trong đó.”

    Đôi mắt Haskell nheo lại.

    “Số tiền mà cậu đang nói tới là bao nhiêu?”

    Biết ngay mà, Kaz thầm nghĩ khi trông thấy lòng tham loé lên trong ánh mắt của Haskell.

    Đòn bẩy đang hoạt động.

    “Bốn triệu kruge.”

    Haskell mở to đôi mắt đã bị cuộc sống chìm trong bia rượu và thử thách của khu Barrell biến thành màu trắng đục ngả vàng.

    “Cậu định loè tôi đấy à?”

    “Tôi đã nói với ông rồi, vụ này lớn.”

    “Tiền nhiều để làm gì nếu tôi phải ngồi tù.

    Tôi không thích bị pháp luật can thiệp vào chuyện làm ăn.”

    “Tôi cũng thế, thưa sếp.”

    Haskell có thể chế giễu cung cách của Kaz, nhưng anh biết ông già tin ngay mọi biểu hiện của sự tôn trọng, và lòng kiêu hãnh của anh có thể chịu được.

    Một khi đã lấy được phần tiền của mình từ tay Van Eck, anh sẽ chẳng cần phải vâng lệnh hay nịnh nọt Per Haskell nữa.

    “Tôi đã không lôi chúng ta vào vụ này nếu không chắc chắn khi xong việc chúng ta sẽ trong sạch như thiên thần và giàu có như các thánh.

    Tất cả những gì tôi cần là thêm một chút thời gian.”

    Kaz không thể không nhớ tới cuộc thương lượng giữa hai bố con Jesper, và nó làm anh bực bội.

    Per Haskell chưa bao giờ quan tâm đến ai ngoài bản thân ông ta và li bia, nhưng lại thích tự coi mình là bố già của một gia đình lớn, với xu hướng phạm pháp.

    Kaz phải thừa nhận mình quý mến ông ta.

    Haskell đã cho anh một nơi để bắt đầu, và một mái nhà - cho dù anh chính là người bảo đảm cho nó không bị dột.

    Per Haskell ngoắc ngón cái vào túi áo gilet, làm ra vẻ đang cân nhắc đề nghị của Kaz, nhưng lòng tham của ông ta còn bền bỉ hơn cả một cái đồng hồ vặn dây cót.

    Anh dám cá ông ta đã bắt đầu nghĩ đến những cách tiêu số tiền đó.

    “Được rồi, nhóc,” Haskell lên tiếng.

    “Tôi có thể cho cậu thêm một đoạn thừng để cậu tự treo mình lên.

    Nhưng nếu tôi phát hiện ra cậu đang chơi xỏ tôi thì cậu sẽ hối tiếc về chuyện đó đây.”

    Kaz thể hiện một vẻ mặt nghiêm túc tuyệt đối.

    Mối đe doạ của Haskell cũng chẳng khác nào những con tàu mô hình trống rỗng mà ông ta vẫn làm.

    “Tất nhiên rồi, thưa sếp.”

    Haskell khịt mũi.

    “Thoả thuận thế nhé,” ông ta nói.

    “Và Bóng Ma đi với tôi.”

    Kaz cảm thấy Inej cứng người lại bên cạnh anh.

    “Tôi cần cô ấy cho phi vụ này.”

    “Dùng Roeder ấy.

    Cậu ta cũng lanh lợi lắm.”

    “Nhưng không đủ cho vụ này.”

    Giờ thì Haskell xù lông nhím, ngực ưỡn ra, viên hồng ngọc giả trên chiếc ghim cài cà vạt loé lên dưới ánh sáng yếu ớt.

    “Cậu có biết Pekka Rollins đang toan tính chuyện gì không?

    Lão vừa mở một sòng bạc mới, ngay đối diện với Quạ Đen.”

    Kaz đã trông thấy nó.

    Hoàng Tử Kaelish.

    Một viên ngọc nữa trong đế chế của Rollins, một cung điện đồ sộ nổi bần bật với màu xanh lá và vàng ánh kim sặc sỡ, như một sự vinh danh nực cười quê hương của lão ta.

    “Rollins đang chen chân vào lãnh địa của chúng ta,” Haskell nói.

    “Tôi cần một người nhện, và Inej là người giỏi nhất.”

    “Việc đó có thể chờ được.”

    “Với tôi thì không.

    Cứ tạt qua ngân hàng Gemens mà xem.

    Cậu sẽ thấy tên tôi trên bản giao kèo làm việc của cô ta, và điều đó có nghĩa rằng tôi là người quyết định cô ta đi đâu, làm gì.”

    “Tôi hiểu, thưa sếp,” Kaz đáp.

    “Ngay khi tôi tìm thấy Inej, tôi sẽ báo cho cô ấy biết.”

    “Cô ta ở ngay…”

    Haskell bỏ lửng câu nói, quai hàm trễ xuống trong sự ngỡ ngàng.

    “Cô ta mới ở ngay đây mà!”

    Kaz cố nén cười.

    Trong lúc Per Haskell làm nhặng xị lên, Inej đã chui vào bóng tối và khẽ khàng leo lên tường.

    Ông ta đưa mắt tìm kiếm khắp chiều dài ngõ hẻm, rồi ngẩng đầu quan sát mái nhà, nhưng Inej đã mất dạng.

    “Cậu phải đưa cô ta về đây,” Haskell nổi đoá, “ngay lập tức.”

    Kaz nhún vai.

    “Ông nghĩ tôi biết leo tường sao?”

    “Cặn Bã là băng đảng của tôi, Brekker.

    Cô ta không thuộc về cậu.”

    “Cô ấy chẳng thuộc về ai cả,” Kaz đáp, cảm thấy sức nóng của ngọn lửa ngùn ngụt trong lòng.

    “Nhưng chúng tôi sẽ quay về Thanh Gỗ sớm thôi.”

    Thật ra, Jesper sẽ rời khỏi Ketterdam cùng bố, Nina đi tới Ravka, Inej lên con tàu do cô làm chủ, còn anh cũng đang chuẩn bị tách khỏi Haskell mãi mãi.

    Nhưng ông già sẽ có những đồng kruge làm nguồn an ủi.

    “Đồ con hoang khốn kiếp,” Haskell gằn giọng.

    “Thằng con hoang khốn kiếp sắp biến ông thành ông trùm giàu có nhất Barrel rồi.”

    “Tránh đường cho tôi.

    Tôi muộn giờ chơi bài rồi.”

    “Hi vọng các lá bài sẽ ủng hộ ông,” Kaz vừa nói vừa dịch sang bên cạnh.

    “Nhưng có lẽ ông sẽ cần cái này.”

    Anh chìa tay ra.

    Sáu viên đạn nằm gọn trong lòng bàn tay đi găng của anh.

    “Phòng khi có biến.”

    Haskell rút khẩu súng trong túi ra và mở hộp đạn.

    Nó trống rỗng.

    “Đồ…”

    Nhưng rồi ông ta bật cười ha hả và nhặt lại những viên đạn từ tay Kaz, lắc đầu.

    “Cậu đúng là đồ quỷ sứ, nhóc à.

    Đi kiếm tiền cho tôi đi.”

    “Và kiếm thật nhiều,” Kaz thì thầm, tay đưa lên chạm mũ, chân khập khiễng quay ngược trở về chỗ neo thuyền.

    ***

    Anh chỉ thả lỏng một chút khi con thuyền lướt ra khỏi khu Barrel và đi vào vùng nước êm đềm hơn của khu Tài chính.

    Ở đây đường phố gần như vắng ngắt, sự hiện diện của thị tuần cũng thưa thớt hơn.Trong lúc con thuyền trôi dưới cầu Led, anh thoáng thấy một bóng người nhảy ra từ lan can.

    Một tích tắc sau, Inej đã đáp xuống chiếc thuyền hẹp.

    Kaz chỉ muốn lái thuyền về lại Mạng Đen.

    Mấy ngày vừa qua anh gần như không chợp mắt, đôi chân anh cũng chưa hoàn toàn bình phục sau những gì anh bắt chúng trải qua ở Lâu Đài Băng.

    Cơ thể anh sắp sửa ngưng nhận mệnh lệnh.

    Tuồng như đọc được suy nghĩ trong đầu Kaz, Inej lên tiếng, “Tôi có thể phụ trách việc theo dõi.

    Tôi sẽ gặp lại anh trên đảo.”

    Còn khướt.

    Cô không thể hất cẳng anh dễ dàng như thế đâu.

    “Cô định tiếp cận ngôi nhà của Van Eck từ hướng nào?”

    “Hãy bắt đầu từ nhà thờ Barter.

    Chúng ta có thể quan sát nhà của Van Eck từ trên mái của nó.”

    Kaz không mấy vui vẻ khi nghe điều đó, nhưng anh đưa họ ngược dòng kênh Beurs, ngang qua sàn giao dịch và mặt tiền khách sạn Geldrenner, nơi bố của Jesper có lẽ đang ngáy o o trong phòng.

    Họ neo thuyền ở gần nhà thờ.

    Ánh nến hắt ra từ cửa nhà thờ lớn, vốn luôn mở để chào đón những người muốn cầu nguyện cho Ghezen.

    Inej có thể leo lên vách tường bên ngoài nhà thờ không mấy khó khăn, và Kaz cũng có thể làm được, nhưng anh không muốn thử sức mình vào thời điểm mà cái chân anh đau nhói theo từng bước đi.

    Anh cần đột nhập vào một trong các nhà nguyện.

    “Anh không cần phải trèo lên đâu,” Inej nói trong lúc họ đi quanh nhà thờ và tìm kiếm một cánh cửa nhà nguyện.

    Kaz phớt lờ câu nói đó và nhanh chóng phá khoá.

    Họ lách vào trong gian phòng tối om, rồi theo cầu thang leo lên hai tầng lầu.

    Các nhà nguyện nằm chồng lên nhau như một chiếc bánh nhiều lớp, mỗi cái được đặt làm bởi một gia đình thương gia khác nhau của Kerch.

    Thêm một ổ khoá cần phá, và họ leo lên một cầu thang đáng nguyền rủa khác.

    Nó có dạng xoắn ốc, dẫn lên một cửa lật trên mái.

    Nhà thờ Barter được xây dựng theo hình dạng bàn tay của Ghezen.

    Nhà thờ lớn nằm trong lòng bàn tay, với năm gian rộng toả ra như năm ngón tay, mỗi ngón kết thúc bằng một chồng các nhà nguyện.

    Họ đã trèo lên các nhà nguyện ở đầu ngón út, và lúc này tiến về phía mái nhà thờ lớn.

    Tiếp đó họ men theo ngón áp út, len lỏi qua một khu vực lởm chởm những đầu hồi trơn tuột và các chóp đá nhọn.

    “Tại sao thần thánh lại thích được thờ phượng ở những chỗ trên cao nhỉ?”

    Kaz lẩm bẩm.

    “Chỉ có con người mới tìm kiếm sự vĩ đại,” Inej nói trong lúc nhảy thoăn thoắt như thể lòng bàn chân đã thuộc làu địa hình.

    “Các thánh nghe được lời cầu nguyện ở bất kì nơi đâu.”

    “Và đáp lại tuỳ theo tâm trạng?”

    “Điều mà anh muốn và thế giới cần không phải lúc nào cũng tương đồng, Kaz à.

    Cầu nguyện và ao ước là hai chuyện khác nhau.”

    Nhưng đều vô ích như nhau.

    Kaz ngăn mình không đáp trả bằng câu đó.

    Anh đang tập trung để không ngã chết nên không thể dấn sâu vào một cuộc tranh cãi.

    Tại đầu ngón tay áp út, họ dừng lại và quan sát.

    Về phía tây nam, họ có thể thấy những chóp mái nhọn của nhà thờ, Sàn giao dịch, tháp đồng hồ sáng rực trên khách sạn Geldrenner, và con kênh Beurs chảy qua bên dưới cầu Zents.

    Nhưng khi nhìn sang phía đông, hình dáng đặc biệt của mái nhà cho họ một tầm quan sát trực diện phố Geldstraat, kênh Geld phía sau, và ngôi nhà uy nghiêm của Van Eck.

    Đây là một vị trí thuận lợi để quan sát những biện pháp an ninh mà Van Eck đã thiết lập quanh nhà và trên dòng kênh, nhưng nó không cho họ tất cả những thông tin cần thiết.

    “Chúng ta sẽ phải đến gần hơn,” Kaz nói.

    “Tôi biết,” Inej đáp và rút một sợi dây dài từ trong áo ra, buộc nó quanh một trong những hình chạm đầu mái.

    “Sẽ nhanh chóng và an toàn hơn nếu tôi tự mình đi thám thính ngôi nhà của Van Eck.

    Cho tôi nửa tiếng.”

    “Cô…”

    “Lúc anh quay lại chỗ chiếc thuyền thì tôi đã có mọi thông tin ta cần.”

    Anh chỉ muốn giết cô.

    “Cô lôi tôi lên đây chẳng vì cái gì cả.”

    “Lòng kiêu hãnh đưa anh lên đây.

    Đêm nay nếu Van Eck nhận thấy bất kì trục trặc nào, mọi chuyện coi như chấm dứt.

    Đây không phải là một nhiệm vụ dành cho hai người, và anh thừa biết điều đó.”

    “Inej…”

    “Tương lai của tôi cũng phụ thuộc vào chuyện này.

    Tôi không hề dạy bảo anh phải phá khoá hay lập kế hoạch như thế nào.

    Đây là việc mà tôi làm tốt nhất, nên hãy để tôi làm công việc của mình.”

    Cô kéo căng sợi dây.

    “Và hãy nghĩ tới tất cả những thời gian mà anh có để cầu nguyện hoặc im lặng chiêm bái trong khi leo xuống.”

    Cô biến mất qua phía bên kia của nhà nguyện.

    Kaz đứng đó, nhìn trừng trừng vào chỗ cô vừa đứng.

    Inej đã lừa anh.

    Bóng Ma tử tế, thành thật, ngoan đạo đã chơi xỏ anh.

    Anh quay người nhìn cả đoạn mái nhà dài dằng dặc mà mình phải băng qua nếu muốn quay lại chỗ chiếc thuyền.

    “Trời đánh cô và đám thánh thần của cô đi,” anh nói trỏng, trước khi nhận ra mình đang mỉm cười.

    ***

    Kaz ở trong một tâm trạng kém vui hơn nhiều khi anh buông mình xuống chiếc thuyền hẹp.

    Anh không giận vì bị cô lừa, anh chỉ căm ghét vì cô đã đúng.

    Anh biết thừa mình không đủ sức khoẻ để mò vào nhà Van Eck đêm nay.

    Đó không phải là một công việc dành cho hai người, và cũng không phải cách hành động của họ.

    Cô là Bóng Ma, kẻ đánh cắp bí mật giỏi nhất Barrel.

    Thu thập thông tin mà không bị phát giác là biệt tài của cô, chứ không phải của anh.

    Anh phải thừa nhận rằng mình rất biết ơn cô khi được ngồi một lúc và duỗi dài cái chân trong khi dòng nước vô nhẹ nhàng vào hai bờ kênh.

    Nhưng tại sao anh nhất định phải đi cùng cô?

    Nó là một ý tưởng nguy hiểm - chính lối suy nghĩ đó đã làm Inej bị bắt.

    Mình có thể vượt qua chuyện này, Kaz tự nhủ.

    Đến nửa đêm mai, Kuwei sẽ đang trên đường rời khỏi Ketterdam.

    Chỉ sau vài ngày, họ sẽ có số tiền thưởng của mình.

    Inej sẽ được tự do theo đuổi giấc mơ truy lùng bọn săn nô lệ, và anh sẽ được giải phóng khỏi sự sao nhãng thường trực này.

    Anh sẽ lập nên một băng đảng mới, xây dựng từ những thành viên trẻ nhất, đáng sợ nhất của Cặn Bã.

    Anh sẽ lại tập trung vào lời hứa mà anh đã nói ra trước vong linh của Jordie, và huỷ hoại cuộc đời của Pekka Rollins từng bước một.

    Thế nhưng mắt anh vẫn cứ hướng lên lối đi bên cạnh con kênh, sự bồn chồn của anh tăng dần.

    Anh đâu có tệ như thế này.

    Chờ đợi là một phần của cuộc đời tội phạm mà rất nhiều người coi thường.

    Bọn họ muốn hành động thay vì dừng lại và thu thập thông tin.

    Họ muốn biết ngay mà không phải tìm hiểu.

    Đôi khi mánh khoé để vượt qua một tình huống chỉ là chờ đợi.

    Nếu bạn không thích thời tiết xấu thì đừng lao vào tâm bão, hãy chờ tới khi nó đổi hướng.

    Bạn sẽ tìm ra cách để khỏi bị ướt.

    Xuất sắc, Kaz nghĩ thầm.

    Cô ấy đang ở chỗ quái nào vậy?

    Vài phút dài dằng dặc trôi qua, rồi cô nhẹ nhàng đáp xuống thuyền.

    “Kể cho tôi nghe đi,” anh nói trong lúc đưa họ xuôi dòng kênh.

    “Alys vẫn ở trong đúng căn phòng trên tầng hai ấy.

    Có một cận vệ đứng gác trước cửa phòng chị ta.”

    “Còn phòng làm việc?”

    “Vẫn ở nguyên vị trí cũ, ngay cuối hành lang.

    Lão ta đã cho lắp các ổ khoá Schuyler trên mọi cửa sổ mở ra bên ngoài của ngôi nhà.”

    Nghe thấy Kaz thở phì một cái, cô hỏi anh, “Nó là vấn đề à?”

    “Không.

    Một ổ khoá Schuyler sẽ không ngăn được bất kì thợ phá khoá lọc lõi nào, nhưng chúng làm mất thời gian.”

    “Tôi không phá được chúng, nên tôi đã chờ cho tới khi một người phụ bếp ra mở cửa hậu.”

    Anh đã thất bại trong việc dạy cô phá khoá.

    Khoá Schuyler lẽ ra không phải là trở ngại nếu cô chịu tập trung.

    “Họ nhận hàng,” Inej nói tiếp.

    “Theo những gì ít ỏi mà tôi nghe được, họ đang chuẩn bị cho một cuộc họp vào đêm mai với Hội đồng Thương buôn.”

    “Hợp lí thôi,” Kaz nói.

    “Lão ta sẽ sắm vai một người cha quẫn trí và khiến họ đẩy thêm nhiều thị tuần vào việc tìm kiếm.”

    “Họ có buộc phải làm điều đó không?”

    “Họ không có lí do gì để từ chối Van Eck.

    Và tất cả bọn họ sẽ nhận được những lời cảnh báo nhẹ nhàng rằng hãy che giấu các cô bồ nhí hoặc những bí mật không muốn bị khám phá cho thật kĩ.”

    “Barrel sẽ khốn đốn to.”

    “Đúng vậy,” Kaz nói trong lúc chiếc gondel trôi qua doi cát của đảo Mạng Đen để tiến vào màn sương mù.

    “Không ai muốn bị đám thương gia chõ mũi vào chuyện làm ăn của mình.

    Cô có biết khi nào thì cuộc họp sẽ diễn ra không?”

    “Các đầu bếp đang tíu tít chuẩn bị cho một bàn dạ tiệc lớn.

    Nó có thể là một sự đánh lạc hướng hoàn hảo.”

    “Chính xác.”

    Đây mới đúng là họ, với không gì ngoài công việc giữa họ, một sự cộng tác không vướng bận.

    Anh nên để nó như thế, nhưng anh cần được biết.

    “Em nói Van Eck đã không làm em đau.

    Nói thật đi.”

    Họ đã tiến vào chỗ giấu thuyền ở bụi liễu.

    Inej không rời mắt khỏi những cành liễu rủ trắng phau.

    “Lão ta không làm điều đó.”

    Họ leo ra khỏi thuyền, ngụy trang nó thật cẩn thận, rồi leo lên bờ dốc.

    Kaz theo sau Inej, chờ cho tâm trạng cô thay đổi.

    Trăng bắt đầu lặn, dát ánh sáng bàng bạc lên nét viền của những ngôi mộ.

    Bím tóc cô bị xổ xuống phía sau gáy.

    Anh hình dung mình quấn nó quanh bàn tay, dùng ngón cái mân mê kiểu tết của cái đuôi sam.

    Rồi sao nữa?

    Anh xua ý nghĩ đó đi.

    Khi chỉ còn cách nhà mồ vài chục mét, Inej dừng chân và đưa mắt nhìn màn sương bao phủ trên những nhánh cây.

    “Lão đã định đập gãy chân tôi,” cô nói.

    “Dùng búa đập nát, để chúng không bao giờ lành được.”

    Ánh trăng và làn tóc mềm tan biến trong một tiếng sét cuồng nộ.

    Kaz thấy Inej kéo ống tay áo bên trái, nơi từng có hình xăm của Vườn Thú.

    Anh không rõ cô đã phải chịu đựng những gì ở đó, nhưng anh biết cảm giác tuyệt vọng là như thế nào, và Van Eck đã thành công khi khiến cô cảm thấy nó một lần nữa.

    Anh sẽ tìm một cách trừng trị mới để dạy cho lão con buôn bảnh chọe đó.

    Jesper và Nina nói đúng.

    Inej cần nghỉ ngơi để hồi phục sau những ngày vừa qua.

    Anh biết cô cứng cỏi như thế nào, nhưng anh cũng đã biết sự giam cầm tác động đến cô ra sao.

    “Nếu em không đủ sức thực hiện nhiệm vụ…”

    “Tôi đủ sức mà,” cô đáp, tấm lưng bất động vẫn quay về phía anh.

    Im lặng giữa họ giống như một dòng nước đen kịt.

    Anh không thể vượt qua nó.

    Anh không thể vượt qua ranh giới giữa sự đứng đắn mà cô đáng được hưởng và sự mãnh liệt mà động thái này đòi hỏi.

    Nếu anh cố, nó có thể làm cho cả hai mất mạng.

    Anh chỉ có thể là chính mình – một cậu nhóc không thể mang lại niềm an ủi.

    Thế nên anh trao cô những gì có thể.

    “Tôi sẽ phanh thây lão Van Eck đó ra,” anh nói khẽ.

    “Tôi sẽ tặng cho lão một vết thương không thể khâu lại, để lão không bao giờ hồi phục được.

    Một loại vết thương không thể lành.”

    “Loại mà anh đang mang?”

    “Phải.”

    Đó là một lời hứa.

    Một lời thú nhận.

    Cô run rẩy hít một hơi.

    Câu nói tuôn ra như một tràng súng, nhanh chư chớp, như thể cô không chịu nổi việc nói ra chúng.

    “Tôi đã không biết liệu anh có tìm đến không.”

    Kaz không thể trách Van Eck vì điều đó.

    Anh đã vun đắp mối ngờ vực đó trong lòng cô bằng tất cả những lời lẽ lạnh lùng và tàn nhẫn.

    “Chúng ta là một đội, Inej.

    Chúng tôi sẽ không bỏ em một mình chịu sự định đoạt của một lão lái buôn khốn kiếp.”

    Đó không phải là câu trả lời mà anh muốn nói.

    Nó không phải là câu trả lời mà cô muốn nghe.

    Khi cô quay về phía anh, đôi mắt cô bừng bừng lửa giận.

    “Lão sẵn sàng đập gãy chân tôi,” cô nói, cằm hếch lên, giọng run run.

    “Lúc đó anh có tìm đến tôi nữa không, Kaz?

    Khi tôi không thể leo lên một bức tường, hoặc đi trên một sợi dây?

    Khi tôi không còn là Bóng Ma nữa?”

    Tay Nhám sẽ không làm điều đó.

    Kẻ có thể dẫn dắt họ qua phi vụ này, lấy lại tiền, giữ mạng sống cho họ, sẽ chỉ ban cho cô ân huệ cuối cùng để chấm dứt nỗi thống khổ, rồi quay lưng bước tiếp.

    “Tôi sẽ đến tìm em,” anh nói, và khi anh thấy ánh mắt dè chừng của cô chiếu vào mình, anh nhắc lại điều đó một lần nữa.

    “Tôi sẽ đến tìm em.

    Nếu tôi không thể bước đi, tôi sẽ bò trườn mà đến, và bất luận chúng ta tàn phế đến thế nào, chúng ta sẽ cùng nhau chiến đấu, với dao găm vào súng ngắn.

    Bởi vì đó là điều chúng ta luôn làm.

    Chúng ta không bao giờ buông xuôi.”

    Một cơn gió nổi lên.

    Những nhánh liễu phát ra một âm thanh rì rầm xảo quyệt.

    Kaz nhìn thẳng vào mắt Inej.

    Anh thấy ánh trăng phản chiếu trong đó.

    Hai vệt sáng hình lưỡi liềm giống hệt nhau.

    Cô có lí khi dè chừng.

    Kể cả với anh.

    Đặc biệt là với anh.

    Đó là điều giúp bạn sống sót.

    Cuối cùng Inej gật đầu, rất khẽ.

    Họ quay về nhà mồ trong im lặng.

    Những cây liễu vẫn rì rầm.

    13

    NINA

    Cô thức dậy trước khi mặt trời mọc khá lâu.

    Như thường lệ, suy nghĩ đầu tiên của cô là về parem, và cũng như thường lệ, cô không hề cảm thấy thèm ăn.

    Cơn đói thuốc đã gần như khiến cô phát điên đêm qua.

    Việc cố gắng sử dụng năng lực khi bị tốp Kherguud tấn công làm cô thèm parem khủng khiếp, và cô đã trải qua nhiều giờ trằn trọc lăn lộn, bấm móng tay vào lòng bàn tay đến chảy máu.

    Cô cảm thấy rất khổ sở sáng nay, nhưng một sự quyết tâm khiến cô đứng dậy khỏi giường dễ dàng hơn.

    Nhu cầu dùng parem đã làm mờ một thứ gì đó trong cô, và đôi khi Nina tự hỏi liệu tia sáng đã tắt ấy có bao giờ quay trở lại không.

    Nhưng hôm nay, bất chấp xương cốt đau nhức, làn da khô ráp và vị đắng chát trong miệng, cô cảm thấy hi vọng.

    Inej đã trở về.

    Họ có một phi vụ.

    Và cô sẽ làm một việc tốt cho các Grisha.

    Cho dù để đạt được điều đó cô đã phải ép Kaz Brekker làm người tử tế.

    Matthias đã dậy xem xét chỗ vũ khí của cả nhóm.

    Nina duỗi người, ngáp và ưỡn cong cái lưng thêm chút nữa, hài lòng khi ánh mắt anh lướt theo dáng vóc của cô trước khi xấu hổ quay về với khẩu súng trường đang nạp đạn.

    Thật khoan khoái.

    Cô đã gần như lao vào anh hôm nọ.

    Nếu Matthias không muốn tranh thủ thời cơ thì cô có thể khiến anh phải hối tiếc chuyện đó.

    Những người còn lại trong nhóm cũng đã thức và đang đi lại trong nhà mồ - ngoại trừ Jesper vẫn đang nằm ngáy ngon lành, đôi chân dài ló ra khỏi cái mền.

    Inej đang pha trà.

    Kaz ngồi phác thảo gì đó bên bàn cùng với Wylan và Kuwei.

    Hai cậu nhóc chăm chú theo dõi và thỉnh thoảng đề xuất gì đó.

    Nina xem xét hai khuôn mặt Shu sát cạnh nhau.

    Cung cách và cử chỉ của Wylan rõ là khác hẳn, nhưng khi hai cậu bé ngồi yên, cô không thể xác định được ai là ai.

    Mình đã làm chuyện này, Nina nghĩ bụng.

    Cô nhớ lại những cái đèn lồng chao lắc trong cabin nhỏ xíu trên tàu, những lọn tóc xoăn hung đỏ của Wylan biến mất dưới bàn tay cô, nhường chỗ cho mớ tóc đen dày, đôi mắt xanh to tròn vừa lo lắng vừa can đảm một cách bướng bỉnh cũng chuyển sang màu vàng và thay đổi hình dáng.

    Chuyện đó giống như phép màu, phép màu thực sự, kiểu phép màu trong những câu chuyện mà các giáo viên ở Tiểu Điện từng kể để ru ngủ bọn cô.

    Và nó hoàn toàn thuộc về cô.

    Inej tiến đến ngồi cạnh Nina với hai tách trà trong tay.

    “Sáng nay tình hình chị thế nào?”

    Inej hỏi.

    “Chị có ăn được không?”

    “Chắc là không.”

    Nina cố bắt mình nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp, “Cảm ơn em vì tối qua.

    Vì đã ủng hộ chị.”

    “Đó là điều hiển nhiên.

    Em không muốn thấy bất kì ai bị biến thành nô lệ nữa.”

    “Kể cả như thế, chị vẫn cảm ơn em.”

    “Có gì đâu.

    Chị có thể trả ơn em theo cách thông thường.”

    “Bánh waffle?”

    “Thật nhiều vào.”

    “Em cần chúng.

    Van Eck bỏ đói em đúng không?”

    “Em cũng không dễ bảo, nhưng lúc đầu lão ta có cố gắng thuyết phục.”

    “Rồi sau đó?”

    “Sau đó lão tìm cách hành hạ em.”

    Nina siết nắm đấm lại.

    “Chị sẽ treo bộ lòng của lão lên như tràng hoa trang trí.”

    Inej bật cười và ngả đầu lên vai Nina.

    “Em thích ý tưởng đó.

    Thật đấy.

    Nhưng món nợ này em sẽ là người trả.”

    Inej ngừng lời một chút.

    “Nỗi sợ là điều tồi tệ nhất trong chuyện này.

    Sau vụ Lâu Đài Băng, em tưởng mình đã vượt qua sự sợ hãi.”

    Nina gác cằm lên mái tóc mượt của Inej.

    “Zoya từng nói nỗi sợ là một con phượng hoàng.

    Ta có thể chứng kiến nó cháy rụi hàng ngàn lần mà nó vẫn quay trở lại.”

    Cơn thèm parem cũng cho cảm giác giống như vậy.

    Matthias xuất hiện trước mặt hai người.

    “Chúng ta nên đi sớm.

    Chưa đầy một giờ nữa mặt trời sẽ mọc.”

    “Anh mặc cái gì thế này?”

    Nina hỏi, tròn mắt nhìn chiếc mũ phớt và áo khoác len màu đỏ trên người Matthias.

    “Kaz đã làm giấy tờ giả cho chúng ta đề phòng trường hợp bị chặn lại ở khu Ravka.

    Chúng ta là Sven và Catrine Alfsson, hai kẻ đào ngũ người

    Fjerda tìm kiếm nơi ẩn náu tại đại sứ quán Ravka.”

    Cũng có lí.

    Nếu họ bị chặn lại, Matthias không thể nào giả vờ mình là người Ravka, nhưng Nina có thể dễ dàng nhập vai một phụ nữ Fjerda.

    “Chúng ta có phải là vợ chồng không, anh Matthias?”

    Nina chớp chớp mắt hỏi lại.

    Anh xem giấy tờ và nhíu mày.

    “Anh nghĩ chúng ta là hai anh em.”

    “Ghê quá nha,” Jesper thốt lên, tay giụi mắt.

    Nina cau mặt.

    “Sao anh lại cho chúng tôi đóng giả anh em, hả Brekker?”

    Kaz không buồn ngước lên khỏi tài liệu mình đang xem.

    “Bởi vì như thế sẽ dễ hơn cho việc làm giả giấy tờ của Specht, cùng tên cha mẹ và nơi sinh.

    Anh ta đã phải chiều theo cơn bốc đồng công lí của cô trong một thời gian ngắn kỉ lục đấy.”

    “Nhưng bọn tôi trông chẳng giống nhau chút nào.”

    “Cả hai đều cao,” Inej lên tiếng.

    “Và đều không có mang cá,” Nina nói.

    “Nhưng như thế không có nghĩa là bọn tôi giống nhau.”

    “Vậy thì chỉnh sửa anh ta đi,” Kaz lạnh lùng đáp.

    Sự thách thức trong ánh mắt của Kaz đã quá rõ ràng, vậy là anh ta biết cô đang gặp khó khăn.

    Dĩ nhiên anh ta biết.

    Tay Nhám không bao giờ bỏ lỡ điều gì.

    “Tôi không muốn bị chỉnh sửa,” Matthias nói.

    Nina biết anh nói sự thật, nhưng cô nghĩ anh cũng muốn giữ thể diện cho cô.

    “Hai người sẽ ổn thôi,” Jesper lên tiếng để xoa dịu căng thẳng.

    “Chỉ cần bớt liếc mắt đưa tình và cố gắng không sờ soạng nhau giữa chỗ đông người.”

    Hay ghê.

    “Đây,” Matthias nói và đưa cô mái tóc giả màu vàng mà cô đã đội trong vụ luật sư Smeet cùng với một mớ trang phục.

    “Tốt nhất nó nên vừa với tôi,” Nina bực bội nói.

    Cô đã định thay đồ ngay trong nhà mồ, nhưng sợ Matthias choáng ngất nên lại thôi.

    Cô chộp lấy một cái đèn lồng và bước sang một trong những hầm mộ bên cạnh.

    Tuy không có gương soi, cô có thể nói chiếc váy khá là tồi tàn, và cái áo len móc nhỏ xíu thật đúng là không còn gì để nói.

    Khi Nina xuất hiện trở lại, Jesper lăn ra cười, Kaz trố mắt, còn Inej cũng không thể giữ được bộ mặt nghiêm túc.

    “Thánh thần ơi,” Nina nhăn mặt nói.

    “Nó tệ đến thế nào?”

    Inej hắng giọng.

    “Trông chị khá là…”

    “Quyến rũ,” Matthias vuốt đuôi.

    Nina chuẩn bị vặc lại rằng cô không thích bị mỉa mai thì thấy nét mặt của anh.

    Trông anh như thể vừa bị người ta ấn vào tay một cái rổ đầy chó con.

    “Em có thể là một thiếu nữ trong ngày đầu tiên của Roennigsdjel đấy.”

    “Roennigsdjel là cái gì thế?”

    Kuwei hỏi.

    “Một lễ hội,” Nina đáp.

    “Tôi cũng chẳng nhớ nữa.

    Nhưng tôi dám chắc nó có liên quan với việc ăn thật nhiều thịt hươu.

    Ta đi thôi, anh chàng to xác.

    Mà này, tôi là em gái của anh đấy nhé, đừng có nhìn chòng chọc như thế.”

    “Như thế là như thế nào?”

    “Như thể tôi là một que kem.”

    “Anh không thích kem que.”

    “Matthias,” Nina nói, “không biết liệu chúng ta có thể tiếp tục dành thời gian cho nhau nữa không đây.”

    Nhưng cô không thể giấu được sự hài lòng trong giọng nói của mình.

    Rõ ràng cô cần phải sưu tập nhiều bộ đồ len xấu xí hơn.

    ***

    Sau khi đã rời khỏi Mạng Đen, họ theo các con kênh hướng lên phía tây bắc, hoà vào dòng thuyền bè đi chợ sáng ở gần Toà thị chính.

    Đại sứ quán

    Ravka nằm ở rìa của khu Hành chính, kẹp giữa khúc lượn của dòng kênh và một trục đường lớn.

    Nơi đây từng là một đầm lầy, nhưng đã được san lấp bởi một người có ý định sử dụng địa điểm này để xây khách sạn và công viên.

    Ông ta cạn tiền trước khi công trình được động thổ.

    Giờ thì nó là chỗ họp chợ, với vô số các sạp hàng lẫn xe đẩy xuất hiện vào buổi sáng để rồi biến mất khi trời tối và khi lực lượng thị tuần rảo qua.

    Nó là nơi người tị nạn, du khách, kiều dân cả mới lẫn cũ đến tìm những khuôn mặt và phong tục thân quen.

    Các quán cà phê ngay cạnh đó phục vụ món pelmeni và cá trích muối, trong khi những ông già ngồi bên những chiếc bàn ngoài vỉa hè nhấm nháp kvas và đọc tin tức từ những tờ báo cũ đến vài tuần lễ của Ravka.

    Lúc Nina mới dạt đến Ketterdam, cô đã nghĩ tới việc nương nhờ đại sứ quán, nhưng lại sợ sẽ bị gửi về quê hương, nơi cô phải phục vụ trong Hạ Quân.

    Làm sao cô có thể giải thích được rằng mình không thể quay về Ravka chừng nào chưa minh oan được cho một drüskelle người Fjerda bị bỏ tù do những lời tố cáo sai sự thật của cô?

    Sau đó, cô hiếm khi đặt chân đến Tiểu Ravka.

    Cô quá đau lòng khi bước trên những con phố quá đỗi thân quen nhưng lại vô cùng xa lạ.

    Tuy nhiên, khi trông thấy biểu tượng con đại bàng hai đầu Lantsov vàng kim tung bay trên lá cờ xanh lơ, tim Nina vẫn đập lồng lên như ngựa chạy.

    Khu chợ khiến cô nhớ tới Os Kervo, đô thị náo nhiệt từng là thủ phủ của Tây Ravka trước khi thống nhất - những chiếc khăn san thêu và ấm samovar sáng bóng, mùi thịt cừu tươi quay trên bếp lửa, những chiếc mũ len, và các hình tượng bằng thiếc đã mòn vẹt sáng lấp lánh trong nắng sớm.

    Nếu bỏ qua những toà nhà hẹp có đầu hồi kiểu Kerch, Nina có thể coi như cô đang ở nhà.

    Một ảo tưởng nguy hiểm.

    Những con phố này không an toàn một chút nào.

    Mặc dù rất nhớ nhà, khi Nina cùng Matthias đi ngang qua những người bán hàng rong và tiểu thương, một cái gì đó xấu hổ và nhỏ bé trong cô vẫn quặn lại trước sự tụt hậu của mọi thứ.

    Ngay cả những con người trung thành với trang phục truyền thống của Ravka trông cũng giống như tàn tích của một thời kì khác, những đồ vật bước ra từ trang truyện cổ.

    Có phải quãng thời gian một năm lưu lại Ketterdam đã làm cô thành ra như thế này?

    Có phải nó đã thay đổi cách cô nhìn nhận những người đồng hương cũng như phong tục tập quán của mình?

    Cô không muốn tin điều đó.

    Khi dứt khỏi dòng suy nghĩ, Nina nhận ra cô và Matthias đang thu hút nhiều ánh mắt không thân thiện.

    Rõ ràng người Ravka có định kiến đối với dân Fjerda, nhưng chuyện này hơi khác.

    Rồi cô ngước lên nhìn Matthias, và thở dài.

    Anh đang lúng túng ra mặt, và những khi lúng túng, trông anh rất đáng sợ.

    Vóc dáng lừng lững như chiếc xe tăng trưng bày trong Lâu Đài Băng của anh chỉ càng làm tình hình tệ thêm.

    “Matthias,” cô thì thào bằng tiếng Fjerda và huých nhẹ vào tay anh chàng, “anh có cần phải lườm mọi thứ như thế không?”

    “Anh có lườm đâu?”

    “Chúng ta là hai người Fjerda trên địa bàn của dân Ravka.

    Chúng ta đã đủ khác biệt rồi.

    Đừng có tạo cớ cho mọi người nghĩ rằng ta sắp tấn công nơi này.

    Chúng ta cần thực hiện nhiệm vụ mà không gây chú ý.

    Anh hãy xem mình như một gián điệp.”

    Trán Matthias càng nhăn tợn.

    “Cái trò đó không xứng đáng với một chiến binh chính trực.”

    “Vậy hãy vờ như anh là một diễn viên.”

    Matthias thốt lên một tiếng ghê tởm.

    “Anh chưa bao giờ được đi xem kịch à?”

    “Mùa nào họ cũng diễn kịch ở Djerholm.”

    “Để xem nào, những vở diễn nhạt thếch dài mấy tiếng đồng hồ thuật lại các anh hùng huyền thoại thời xưa chứ gì?”

    “Thật ra chúng rất hay.

    Nhưng anh chưa bao giờ thấy một diễn viên nào biết cách cầm thanh kiếm cho đúng cách.”

    Nina phì cười.

    “Gì cơ?”

    Matthias ngơ ngác hỏi lại.

    “Không có gì.

    Thật đấy.

    Không có gì.”

    Cô sẽ dạy anh cách nói giảm nói tránh vào một lúc khác.

    Hoặc là không bao giờ.

    Anh tức cười hơn khi ngẩn người ra như thế này.

    “Mấy cái kia là gì thế?”

    Matthias hỏi, tay chỉ vào một sọt hàng.

    Trong đó chất thành hàng ngay ngắn những thứ nom giống như que và đá cục.

    “Xương đấy,” Nina đáp.

    “Ngón tay, khớp đốt, cột sống, những mảnh xương cổ tay.

    Thánh tích đấy.

    Để bảo vệ bản thân.”

    Matthias thoái lui.

    “Dân Ravka thích cầm theo xương người à?”

    “Còn các anh thì nói chuyện với cây.

    Cái đó gọi là mê tín đấy.”

    “Có thật chúng là của các thánh không?”

    Nina nhún vai.

    “Đó là xương lấy từ các nghĩa địa hoặc bãi chiến trường.

    Nếu người ta muốn tin rằng mình đang cầm theo khuỷu tay của Thánh Egmond hoặc ngón chân út của Thánh nữ Alina thì…”

    “Ai quyết định phong thánh cho Alina Starkov vậy?”

    Matthias làu bàu.

    “Cô ta là một Grisha hùng mạnh, chứ có phải thánh thần đâu?”

    “Anh dám chắc vậy sao?”

    Nina hỏi lại, cảm thấy máu nóng bắt đầu bốc lên.

    Cô cảm thấy phong tục của người Ravka lạc hậu là một chuyện, việc

    Matthias chất vấn nó lại là một chuyện khác.

    “Em đã tận mắt nhìn thấy Lâu Đài Băng, Matthias.

    Theo anh, sẽ dễ tin hơn nếu nói nơi đó được thiết kế bởi bàn tay của thánh thần hay nói rằng nó được tạo ra bởi các Grisha với những năng lực mà người Fjerda các anh không thể hiểu được?”

    “Hoàn toàn không liên quan.”

    “Alina Starkov chỉ trạc tuổi chúng ta khi hi sinh vì nghĩa lớn.

    Cô ấy chỉ là một cô gái, nhưng đã hi sinh bản thân để cứu Ravka và phá huỷ Vực Tối.

    Ở đất nước anh cũng có những người tôn thờ cô ấy như một vị thánh.”

    Matthias nhíu mày.

    “Cái đó phi…”

    “Nếu anh nói ra hai chữ ‘tự nhiên’, em sẽ cắn anh đấy.”

    “Em dám làm thế thật không?”

    “Chắc chắn em có thể thử.”

    Cô đã không công bằng trong chuyện này.

    Ravka là quê hương cô, nhưng vẫn là mảnh đất quân thù đối với Matthias.

    Anh có thể tìm ra cách để chấp nhận cô, nhưng đòi hỏi anh chấp nhận cả một quốc gia cùng nền văn hoá của nó là một việc mất nhiều công sức.

    “Có lẽ em nên đi một mình.

    Anh có thể quay về thuyền ngồi đợi.”

    Matthias cứng người lại.

    “Tuyệt đối không.

    Em không biết chuyện gì đang chờ đợi phía trước.

    Người Shu có thể đã lùng ra các bạn của em.”

    Nina không muốn nghĩ tới khả năng đó.

    “Vậy thì anh phải bình tĩnh lại và cố tỏ ra thân thiện.”

    Matthias lắc lắc đôi tay và chùng người xuống.

    “Thân thiện, chứ không phải buồn ngủ.

    Chỉ cần… giả vờ như tất cả những người anh gặp gỡ là những chú mèo con mà anh đang cố không làm hoảng sợ.”

    Matthias tự ái ra mặt.

    “Động vật quý anh lắm nhé.”

    “Tốt.

    Cứ coi như họ là những đứa trẻ con.

    Những đứa trẻ nhút nhát có thể tè ra quần nếu anh không cư xử tử tế.”

    “Được đấy, anh sẽ thử.”

    Khi họ tiến đến sạp hàng kế tiếp, bà bán hàng ngước lên nhìn Matthias với cặp mắt nghi ngờ.

    Nina gật đầu khích lệ anh chàng.

    Matthias mỉm cười toét miệng và cất tiếng với giọng rổn rảng.

    “Xin chào!”

    Vẻ mặt thận trọng của bà già chuyển thành bối rối.

    Nina coi đó là một sự tiến bộ.

    “Hôm nay thế nào?”

    Matthias hỏi.

    “Tôi xin lỗi?”

    Bà già hỏi lại.

    “Không có gì ạ.”

    Nina nói bằng tiếng Ravka.

    “Anh cháu chỉ muốn nói là phụ nữ Ravka rất đẹp lão thôi ạ.”

    Bà già nở nụ cười móm mém và đưa mắt nhìn Matthias từ đầu đến chân với vẻ hài lòng.

    “Tôi luôn thích các anh chàng Fjerda.

    Hỏi xem cậu ấy có muốn chơi trò Công chúa và Kẻ mọi rợ không,” bà nói trong tiếng cười khùng khục.

    “Bà ta nói gì thế?”

    Matthias hỏi.

    Nina ho húng hắng rồi nắm tay anh dẫn ra xa.

    “Bà ta nói anh là một người tử tế, và rất đáng mặt dân Fjerda.

    Ôiii, nhìn này, bánh blini đấy!

    Đã lâu rồi em không được ăn món bánh blini tử tế như thế này.”

    “Bà ta dùng chữ babink,” anh nói.

    “Em đã từng dùng chữ đó với anh.

    Nó có nghĩa là gì?”

    Nina hướng sự chú ý vào một chồng những chiếc bánh kếp bơ mỏng như giấy.

    “Nó có nghĩa là bánh ngọt.”

    “Nina à.”

    “Mọi rợ.”

    “Anh chỉ hỏi thôi, không cần phải xỉ vả anh như thế.”

    “Không, babink tức là mọi rợ.”

    Ánh mắt của Matthias quay phắt về phía bà già kia, vẻ mặt anh hằm hằm trở lại.

    Nina nắm lấy tay anh.

    Thật chẳng khác nào nắm một cục sắt.

    “Bà ta không hề xỉ vả anh.

    Em thề!”

    “Mọi rợ không phải là chữ để xỉ vả sao?”

    Anh cất cao giọng hỏi lại.

    “Không.

    Ờ thì có.

    Nhưng không phải trong hoàn cảnh này.

    Bà ta chỉ muốn biết liệu anh có thích chơi trò Công chúa và Kẻ mọi rợ hay không.”

    “Nó là một trò chơi à?”

    “Cũng không hẳn thế.”

    “Vậy thì nó là gì?”

    Nina không thể tin nổi mình sắp giải thích chuyện này.

    Trong khi họ tiếp tục bước đi, cô nói, “Ở Ravka, có một loạt truyện rất phổ biến kể về, hừm, một chiến binh Fjerda can trường…”

    “Thật á?”

    Matthias hỏi lại.

    “Anh ta là người hùng à?”

    “Không hẳn thế.

    Anh ta bắt cóc một công chúa người Ravka…”

    “Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra.”

    “Trong truyện thì có, và…”

    Cô hắng giọng “… họ dành nhiều thời gian để tìm hiểu nhau.

    Trong hang của anh ta.”

    “Anh ta sống trong hang à?”

    “Đó là một cái hang rất đẹp.

    Lông thú, cốc chén nạm ngọc.

    Rượu ngọt.”

    “À,” anh nói với giọng hài lòng.

    “Một người tàng trữ kho báu như kiểu Ansgar Hùng mạnh chứ gì.

    Sau đó họ trở thành đồng minh, đúng không?”

    Nina nhặt một cặp găng tay thêu ở một gian hàng khác.

    “Anh có thích mấy cái này không?

    Có lẽ chúng ta có thể dụ Kaz đeo một cặp găng thêu hoa.

    Để cho sinh động.”

    “Câu chuyện kết thúc như thế nào?

    Họ có ra chiến trận không?”

    Nina quăng trả cặp găng tay vào đống hàng.

    “Họ đã tìm hiểu nhau một cách thân mật.”

    Quai hàm Matthias trễ xuống.

    “Trong hang á?”

    “Anh thấy đấy, anh ta rất thô lỗ, rất mạnh bạo,” Nina vội nói tiếp.

    “Nhưng anh ta đã phải lòng nàng công chúa Ravka, và điều đó cho phép cô ấy khai hoá anh ta…”

    “Khai hoá anh ta?”

    “Phải, nhưng phải đến cuốn thứ ba điều đó mới diễn ra.”

    “Có những ba cuốn cơ á?”

    “Matthias, anh có cần ngồi xuống không?”

    “Cái món văn hoá này kinh dị thật đấy.

    Ý tưởng rằng một cô nàng Ravka có thể khai hoá một anh chàng Fjerda…”

    “Bình tĩnh đi nào, Matthias.”

    “Chắc anh phải viết một câu chuyện về những cô nàng Ravka tham lam chỉ thích say xỉn và trút bỏ quần áo rồi làm trò lố lăng trước mặt những anh chàng Fjerda xui xẻo.”

    “Ờ, nghe cũng hay đó.”

    Matthias lắc đầu, nhưng Nina có thể thấy nụ cười mỉm trên môi anh.

    Cô quyết định đẩy mọi thứ đi xa hơn.

    “Chúng ta có thể chơi trò này,” cô thì thào, đủ khẽ để không ai quanh đó nghe thấy.

    “Chắc chắn là không.”

    “Đến một lúc, anh ta tắm cho cô ấy.”

    Matthias loạng choạng suýt ngã.

    “Sao anh ta có thể…”

    “Cô ấy bị trói, nên anh ta phải làm thế.”

    “Em im đi.”

    “Lại ra lệnh rồi.

    Như thế gọi là hành xử kiểu mọi rợ đấy.

    Hay là chúng ta có thể đảo vai.

    Em sẽ là kẻ mọi rợ, còn anh là công chúa.

    Nhưng anh sẽ phải thở dài sườn sượt rất nhiều, rồi run lẩy bẩy và cắn môi nữa.”

    “Thế nếu anh cắn môi em thì sao?”

    “Đấy, anh nắm bắt được trò chơi rồi, Helvar.”

    “Em đang cố làm anh mất tập trung.”

    “Đúng thế.

    Và nó đã thành công.

    Anh không còn lườm mắt với mọi người được hai khối phố rồi.

    Nhìn mà xem, chúng ta đến nơi rồi.”

    “Giờ thì sao?”

    Matthias hỏi và đưa mắt quan sát đám đông.

    Họ đã đến một tửu quán trông có vẻ ọp ẹp.

    Một người đàn ông đang đứng trước quán với một cái xe đẩy, bán những bức tượng nhỏ thường thấy và tượng Thánh nữ Alina theo phong cách mới - Alina với nắm đấm giơ cao, súng trường trong tay, xác những con volcra có cánh nằm dưới chân.

    Dưới đế của bức tượng ghi dòng chữ Rebe dva Volkshiya, Người con gái quốc dân.

    “Tôi giúp gì được cho cô?”

    Người đàn ông hỏi.

    “Sức khoẻ cho nhà vua Nikolai,” Nina trả lời bằng tiếng Ravka.

    “Cầu mong ngài trị vì lâu dài.”

    “Với trái tim nhẹ nhõm,” ông già đáp.

    “Và nắm đấm nặng nề,” Nina nói nốt câu mật mã.

    Ông già liếc qua vai.

    “Ngồi vào bàn thứ hai bên trái.

    Gọi món nếu thích.

    Có người sẽ đến gặp cô ngay.”

    Tửu quán vừa lạnh vừa tối so với sự rực rỡ của quảng trường bên ngoài, Nina phải chớp mắt mấy cái cho quen.

    Sàn nhà lấm tấm mạt cưa, còn tại một vài chiếc bàn nhỏ, người ta đang châu đầu nói chuyện bên li kvas và những đĩa cá trích.

    Nina và Matthias ngồi vào chiếc bàn trống.

    Cánh cửa quán đóng sập lại phía sau lưng họ.

    Ngay lập tức, những khách hàng khác lao ra khỏi bàn làm ghế đổ lỏng chỏng xuống đất, chĩa súng vào Nina và Matthias.

    Một cái bẫy.

    Không kịp suy nghĩ, Nina và Matthias bật dậy và đấu lưng vào nhau, sẵn sàng chiến đấu - Matthias với súng lục giương cao, còn Nina với hai bàn tay giơ ra phía trước.

    Từ phía nhà sau của quán, một cô gái đội mũ trùm đầu bước ra, cổ áo dựng lên che phần lớn khuôn mặt.

    “Coi nào,” cô nói, đôi mắt vàng long lanh trong ánh sáng lờ mờ.

    “Không cần chiến đấu đâu.”

    “Vậy những khẩu súng này là sao?”

    Nina hỏi để câu giờ.

    Cô gái giơ tay lên và Nina cảm thấy nhịp tim mình chậm lại.

    “Cô ta là Độc Tâm Y!”

    Cô hét lên.

    Matthias lôi thứ gì đó trong túi ra.

    Nina nghe thấy một tiếng bụp và xì, thế rồi chỉ giây lát sau một màn sương đỏ rực đã tràn ngập trong quán.

    Có phải Wylan đã chế bom khói cho Matthias?

    Đó là một kĩ thuật của các drüskelle để che chắn tầm nhìn của Độc Tâm Y.

    Trong màn sương bao phủ, Nina cong ngón tay lại, hi vọng năng lực của mình sẽ đáp ứng.

    Cô chẳng cảm thấy gì từ những cơ thể quanh mình.

    Không chút sự sống, không một động tĩnh.

    Nhưng ở đâu đó bên rìa ý thức của mình, cô cảm thấy một thứ khác lạ, một dạng nhận thức khác, một cái lạnh của lòng hồ sâu thẳm, một cú sốc khiến các tế bào của cô tỉnh dậy.

    Nó rất quen thuộc - cô đã có cảm giác tương tự khi hạ gục tay vệ quân trong cái đêm họ bắt cóc Alys.

    Nó có hình hài và lớp lang, cô cảm thấy mình lặn sâu vào trong cái lạnh, tìm kiếm sự tỉnh thức một cách mù quáng và đói khát, rồi vung cánh tay về phía trước trong một cử chỉ vừa bản năng vừa điệu nghệ.

    Những ô cửa sổ của quán rượu nổ tung vào bên trong, tạo thành một cơn mưa thuỷ tinh.

    Các mẩu xương bay qua không khí, lao vào nhóm đàn ông vũ trang như những mảnh trái phá.

    Mớ thánh tích của người bán hàng.

    Bằng cách nào đó, cô đã điều khiển được xương xẩu.

    “Chúng có viện binh!”

    Một người hét lên.

    “Khai hoả!”

    Nina gồng mình chờ đợi tác động của những viên đạn, nhưng một giây sau cô cảm thấy mình bay bổng lên.

    Mới trước đó cô còn đứng trên sàn tửu quán, tích tắc sau cô đã va người vào xà nhà, mắt nhìn xuống lớp mạt cưa tít phía dưới.

    Xung quanh cô, những người đàn ông vũ trang và Matthias cũng đang treo lơ lửng, dính chặt vào trần nhà.

    Một phụ nữ trẻ đứng trên ngưỡng cửa nhà bếp, mái tóc đen gần như xanh rực trong ánh sáng mờ tối.

    “Zoya?”

    Nina thốt lên trong lúc nhìn từ trên cao xuống, cố gắng lấy lại hơi thở.

    Zoya bước vào vùng ánh sáng trong lớp áo lụa xanh, hai ống tay và đường diềm thêu những hoa văn màu bạc.

    Hàng mi rộp của chị mở to.

    “Nina hả?”

    Sự tập trung của Zoya giảm đi, và tất cả mọi người rơi một chân xuống trước khi chị lại giơ tay lên, khiến những cái chân đập mạnh vào xà nhà.

    Zoya ngước mắt nhìn Nina, ngỡ ngàng.

    “Em còn sống,” chị nói.

    Ánh mắt chị chuyển hướng sang Matthias, người đang vùng vẫy như một con bướm to tướng bị ghim vào tờ giấy.

    “Và đã có bạn mới.”
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Ba: Từng Bước Một 14-16


    14

    WYLAN

    Wylan đã không lên một chiếc tàu đáy bằng có kích thước như thế này kể từ khi cậu cố gắng rời khỏi Ketterdam sáu tháng trước.

    Thật khó mà không nhớ tới thảm hoạ đó vào lúc này, đặc biệt là khi những suy nghĩ về cha vẫn còn tươi mới trong đầu cậu.

    Nhưng chiếc tàu lần này khá khác biệt so với chiếc mà cậu đã lên vào đêm đó.

    Nó chạy tuyến chợ hai lượt mỗi ngày.

    Ở lượt đi, nó sẽ đầy ắp rau quả, gia súc, bất cứ thứ gì mà những người nông dân mang tới các khu chợ nằm rải rác trong thành.

    Hồi còn bé, Wylan cứ nghĩ mọi thứ hàng hoá đều phát xuất từ Ketterdam, nhưng rồi cậu mau chóng nhận ra rằng, mặc dù gần như cái thành này có thể có mọi thứ, chỉ một số ít trong đó được sản xuất tại chỗ.

    Những sản vật mang tính phương xa như xoài, thanh long, dứa đến từ Thuộc địa phương Nam.

    Đối với những thứ gần gũi hơn, họ dựa vào những nông trại nằm quanh Ketterdam.

    Jesper và Wylan lên một chuyến tàu chiều về chật cứng người tị nạn vừa mới tới Ketterdam và những người lao động tìm kiếm một công việc đồng áng hơn là những công việc trong nhà máy ở nội thành.

    Đáng tiếc là hai người lên thuyền ở một bến khá xa về phía nam, nên tất cả các ghế đều đã có người ngồi.

    Mặt mũi Jesper sưng sỉa thấy rõ vì chuyện này.

    “Sao chúng tôi không được đi tuyến Belendt?”

    Anh phàn nàn như thế chỉ vài giờ trước.

    “Nó chạy qua Olendaal.

    Tàu chợ bẩn và chẳng bao giờ có ghế ngồi.”

    “Bởi vì hai cậu sẽ nổi bật quá nếu đi tuyến Belendt.

    Ở Ketterdam này, hai cậu chẳng có gì đặc biệt, trừ phi Jesper tròng lên người một trong những cái quần sáng màu của mình.

    Nhưng hãy cho tôi một lí do ngoài công việc đồng áng để một cậu nhóc người Shu và một anh chàng Zemeni đi thơ thẩn giữa miền quê.”

    Wylan đã không ý thức được với khuôn mặt mới cậu sẽ trông đáng ngờ như thế nào ở ngoại thành.

    Nhưng cậu nhẹ cả người khi Kaz không muốn cậu lên tuyến Belendt.

    Nó có thể thoải mái hơn, nhưng những kí ức sẽ trở nên quá sức chịu đựng trong một cái ngày mà cậu sẽ được nhìn thấy nơi mẹ mình yên nghỉ.

    “Jesper, giấu kín vũ khí và mở mắt cho to vào,” Kaz đã nói như thế.

    “Van Eck chắc đã cử người quan sát mọi tuyến giao thông chính, và chúng ta không có thời gian để làm giả giấy thông hành cho Wylan.

    Tôi sẽ đi lấy chất ăn mòn từ một trong những xưởng đóng tàu ở Imperjum.

    Ưu tiên hàng đầu của các cậu là tìm ra mỏ đá và lấy khoáng vật cần thiết để chế axit auric.

    Các cậu sẽ đi tới nhà thờ Thánh Hilde khi và chỉ khi có thời gian.”

    Wylan nhận thấy cằm mình hếch lên, và cảm giác bướng bỉnh ngấm ngầm dâng lên trong lòng.

    “Tôi cần làm chuyện này.

    Tôi chưa bao giờ được đi thăm mộ mẹ.

    Tôi sẽ không rời Kerch khi chưa đến chào mẹ.”

    “Tin tôi đi, cậu bận tâm chuyện đó hơn là mẹ cậu đấy.”

    “Sao anh có thể nói như thế?

    Anh có nhớ đến cha mẹ anh chút nào hay không?”

    “Mẹ tôi là Ketterdam.

    Bà đẻ tôi trên bến cảng.

    Còn cha tôi là lợi nhuận.

    Tôi vinh danh ông mỗi ngày.

    Quay về đây khi trời tối, nếu không thì đừng về nữa.

    Cả hai cậu.

    Tôi cần đồng đội, không cần những cục nợ sến súa.”

    Kaz đưa tiền lộ phí cho Wylan.

    “Hãy bảo đảm cậu là người dùng nó để mua vé.

    Tôi không muốn Jesper đảo qua sòng bạc làm vài ván đâu đấy.”

    “Cái bài ca này cũ rồi,” Jesper lẩm bẩm.

    “Vậy thì học lời mới đi.”

    Jesper chỉ lắc đầu, nhưng Wylan có thể nhận thấy câu nói của Kaz gây tác động như thế nào.

    Giờ đây, cậu đang nhìn Jesper dựa lưng vào lan can, mắt nhắm lại, mặt quay về phía ánh nắng mùa xuân yếu ớt.

    “Anh không nghĩ chúng ta nên thận trọng hơn à?”

    Wylan hỏi trong khi khuôn mặt vẫn rụt vào cổ áo khoác.

    Họ đã kịp tránh được hai thị tuần trong tích tắc lúc lên thuyền.

    “Chúng ta đã ở ngoại thành rồi.

    Thư giãn đi.”

    Wylan liếc nhìn qua vai.

    “Tôi nghĩ họ có thể lục soát con thuyền đấy.”

    Jesper mở một mắt ra và nói, “Để làm giao thông ách tắc à?

    Van Eck đã làm nhặng xị ở các hải cảng rồi.

    Nếu lão ta chặn thêm cả giao thông đường thuỷ thì mọi thứ sẽ loạn mất.”

    “Tại sao?”

    “Thử nhìn quanh mà xem.

    Các nông trại cần nông dân.

    Các nhà máy cần công nhân.

    Kerch sẽ không chấp nhận thêm phiền phức vì con trai của một lão nhà giàu, nhất là khi tiền của vẫn cần phải được làm ra.”

    Wylan cố gắng thư giãn và cởi nút chiếc áo khoác dầy sụ mà Kaz đã đưa cho.

    “Anh ta lấy đâu ra các món quần áo và đồng phục nhỉ?

    Có phải anh ta có một tủ quần áo to đùng ở đâu đó không?”

    “Lại đây.”

    Wylan thận trọng nhích lại gần hơn.

    Jesper đưa tay lên cổ áo, kéo nó ra một chút để Wylan có thể quay đầu và nhìn loáng thoáng một mẩu ruy băng màu xanh gắn ở đó.

    “Đây là cách các diễn viên đánh dấu phục trang của mình,” Jesper nói.

    “Cái này thuộc về…

    Josep Kikkert.

    Tôi từng xem anh ta diễn vở Gã điên bắt dâu.

    Không tồi.”

    “Phục trang á?”

    Jesper lật cổ áo trở lại, và khi làm động tác đó những ngón tay của anh lướt nhẹ trên gáy Wylan.

    “Phải.

    Kaz đã mở một lối đi bí mật vào kho phục trang của rạp Stadlied vài năm về trước.

    Đó là nơi anh ta có thể lấy nhiều thứ mình cần và tích trữ phần còn lại.

    Để anh ta không bao giờ bị tóm với một bộ đồng phục thị tuần hoặc chế phục gia nhân giả trong các cuộc bố ráp.”

    Wylan nghĩ đó là một sự thận trọng cần thiết.

    Cậu nhìn ánh nắng phản chiếu trên mặt nước một lúc, rồi tập trung vào lan can và nói, “Cảm ơn vì đã đi cùng tôi hôm nay.”

    “Kaz sẽ không để cậu đi một mình, với lại, tôi nợ cậu mà.

    Cậu đã đi cùng tôi đến gặp bố ở quận Đại học, và can thiệp khi ông bắt đầu chất vấn.”

    “Tôi không thích nói dối.”

    Jesper quay người lại, chống cùi chỏ lên lan can tàu và nhìn những triền cỏ mọc tràn xuống dòng kênh.

    “Vậy sao cậu lại làm như thế?”

    Wylan không rõ tại sao cậu lại bịa ra câu chuyện điên rồ về việc rủ rê Jesper tham gia vào một vụ đầu tư thất bát.

    Thậm chí cậu còn không chắc mình sẽ nói gì khi mở miệng ra.

    Cậu chỉ không thể chịu nổi khi chứng kiến Jesper vốn luôn tự tin và tươi cười lại có nét mặt đó, cũng như sự pha trộn giữa hi vọng và sợ hãi trong ánh mắt của ông Colm Fahey khi ông chờ đợi một câu trả lời từ con trai mình.

    Nó làm cậu nhớ đến ánh mắt của cha mình, hồi ông vẫn còn tin rằng cậu có thể chạy chữa được.

    Cậu không muốn nhìn thấy biểu hiện trong ánh mắt của bố Jesper chuyển từ lo lắng thành đau đớn và tức giận.

    Wylan nhún vai.

    “Tôi tập cứu anh.

    Cho quen.”

    Jesper thốt lên một tiếng kêu nhỏ, khiến Wylan vội liếc nhìn qua vai một lần nữa, sợ rằng họ đã bị ai đó chú ý.

    Nhưng trò đùa của Jesper không kéo dài.

    Anh đổi tư thế bên lan can, đưa bàn tay lên gáy nghịch nghịch vành mũ.

    Anh luôn chuyển động, tựa như một linh kiện đồng hồ dài thượt chạy bằng thứ năng lượng vô hình.

    Nhưng có điều đồng hồ rất đơn giản.

    Còn với Jesper thì cậu chỉ có thể đoán mò những chuyện anh làm.

    Cuối cùng Jesper lên tiếng, “Lẽ ra hôm nay tôi đã đi gặp bố.”

    “Vậy sao anh không đi?”

    “Tôi không biết phải nói gì với ông ấy.”

    “Anh không thể nói sự thật ư?”

    “Cứ coi như là tôi muốn né tránh nó đi.”

    Wylan lại nhìn mặt nước.

    Cậu đã bắt đầu nghĩ Jesper là người không biết sợ, nhưng có lẽ can đảm không đồng nghĩa với không sợ hãi.

    “Anh không thể chạy trốn chuyện này mãi được.”

    “Để xem.”

    Một nông trang khác trôi qua, không nhỉnh hơn một vệt trắng trong màn sương buổi sớm là bao, hoa loa kèn và tulip mọc rải rác trên cánh đồng phía trước nhà tựa như những chòm sao rời rạc.

    Jesper có thể tiếp tục chạy trốn.

    Nếu Kaz có thể tiếp tục làm nên những điều kì diệu thì Jesper cũng có thể luôn đi trước một bước.

    “Ước gì tôi đã mua hoa cho mẹ,” Wylan nói.

    “Một thứ gì đó.”

    “Chúng ta có thể mua trên đường,” Jesper nói.

    Wylan biết anh đang nắm lấy cơ hội đổi chủ đề câu chuyện bằng cả hai tay.

    “Cậu còn nhớ nhiều điều về mẹ không?”

    Wylan lắc đầu.

    “Tôi chỉ nhớ những lọn tóc xoăn của bà.

    Đó là mái tóc màu vàng hung đẹp nhất trên đời.”

    “Tóc cậu cũng thế,” Jesper nói.

    “Trước đây.”

    Wylan cảm thấy hai má tự dưng nóng ran.

    Jesper chỉ đưa ra một nhận định thôi mà.

    Cậu hắng giọng.

    “Mẹ thích nghệ thuật và âm nhạc.

    Tôi còn nhớ mình ngồi trên ghế đánh dương cầm với bà.

    Nhưng cũng có thể đó là một bảo mẫu.”

    Wylan nhún vai.

    “Rồi một hôm mẹ bị ốm và đi về vùng thôn quê dưỡng bệnh để phổi có thể hồi phục.

    Sau đó mẹ mất.”

    “Còn đám tang thì thế nào?”

    “Cha tôi nói bà đã được chôn cất tại bệnh viện, có vậy thôi.

    Chúng tôi ngừng nói chuyện về mẹ.

    Cha tôi bảo có day dứt với quá khứ cũng chẳng được gì.

    Tôi không biết nữa.

    Tôi nghĩ ông ta yêu mẹ tôi thực sự.

    Họ cãi nhau suốt, đôi khi là về tôi, nhưng tôi cũng nhớ họ cười đùa với nhau rất nhiều.”

    “Tôi thật khó mà hình dung cha cậu cười, dù chỉ là nhếch môi.

    Trừ phi ông ta xoa tay hài lòng và cười vang trước một đồng vàng.”

    “Ông ta không phải là một con quỷ.”

    “Ông ta đã cố giết cậu.”

    “Không, ông ta phá huỷ tàu của chúng ta.

    Việc giết tôi chỉ là một lợi ích đi kèm.”

    Điều đó không hoàn toàn là sự thật, tất nhiên rồi.

    Jesper không phải là người duy nhất cố đi trước những rắc rối của mình một bước.

    “Ồ, thế thì cậu hoàn toàn đúng,” Jesper nói.

    “Không quỷ quyệt chút nào.

    Tôi tin chắc ông ta cũng có lí do để không cho cậu than khóc mẹ.”

    Wylan rút một sợi vải tưa ra trên ống tay áo khoác.

    “Cũng không hoàn toàn là lỗi của ông.

    Cha tôi gần như lúc nào cũng tỏ ra âu sầu.

    Và xa cách.

    Cũng khoảng thời gian đó ông nhận ra tôi không…

    được như kì vọng.”

    “Lúc đó cậu mấy tuổi?”

    “Tám tuổi, hình như thế?

    Tôi đã che giấu chuyện đó rất giỏi.”

    “Bằng cách nào?”

    Nụ cười nhạt xuất hiện trên môi Wylan.

    “Ông ta đọc cho tôi, hoặc tôi nhờ một trong các bảo mẫu đọc, và tôi ghi nhớ tất cả.

    Tôi thậm chí biết khi nào phải ngừng và lật trang.”

    “Cậu nhớ được nhiều tới cỡ nào?”

    “Nhiều lắm.

    Tôi biến ngôn từ thành âm nhạc trong đầu mình, giống như các bài hát ấy.

    Thỉnh thoảng tôi vẫn còn làm như thế.

    Tôi chỉ việc nói rằng mình không thể giải mã được chữ viết tay của ai đó và bảo họ đọc thành tiếng, rồi tôi gắn chúng vào một giai điệu.

    Tôi có thể lưu giữ chúng trong đầu cho tới khi cần dùng.”

    “Không chừng cậu có thể áp dụng kĩ năng này cho việc ghi nhớ các lá bài.”

    “Có lẽ thế.

    Nhưng tôi sẽ không làm chuyện đó.”

    “Phí cả năng khiếu.”

    “Là anh nói vậy thôi.”

    Jesper nhăn mặt.

    “Ngắm cảnh đi.”

    Cũng không có gì nhiều để mà ngắm.

    Wylan nhận ra mình mệt mỏi đến thế nào.

    Cậu không quen với cuộc sống đầy sợ hãi với những khoảnh khắc âu lo cứ nối tiếp nhau như thế này.

    Wylan nghĩ đến việc kể cho Jesper nghe đầu đuôi mọi chuyện.

    Liệu có nhẹ lòng được không nếu như toàn bộ câu chuyện nhục nhã này được phơi bầy?

    Có thể.

    Nhưng một phần trong cậu muốn Jesper và những người khác tiếp tục tin rằng cậu đã bỏ nhà ra đi để lập thân tại khu Barrel, rằng cậu đã chọn cuộc sống này.

    Khi cậu bé Wylan lớn lên, cha cậu đã dần bộc lộ rõ ràng rằng cậu không có chỗ trong nhà của ông, nhất là sau đám cưới của ông và Alys.

    Nhưng ông dường như không biết phải làm gì với cậu.

    Ông bắt đầu dùng những lời lẽ ngày một hằn học hơn với con trai mình.

    Con không thể đi học ở trường tư vì con không biết đọc.

    Ta không thể cho con đi đâu đó học việc vì con có thể để lộ khiếm khuyết của mình.

    Con giống như đồ ăn chóng hỏng vậy.

    Ta không thể cất con vào chỗ nào đó mà không làm nó thối um lên.

    Thế rồi, sáu tháng trước, cha của Wylan cho gọi cậu tới thư phòng của mình.

    “Ta đã xin cho con một vị trí trong trường nhạc ở Belendt.

    Một thư kí riêng đã được thuê và sẽ gặp con tại trường.

    Anh ta sẽ phụ trách văn thư và những việc nằm ngoài khả năng của con.

    Đây là một sự phí phạm cả thời gian lẫn tiền bạc, nhưng với con thì ta phải chấp nhận những gì có thể chấp nhận được.”

    “Trong bao lâu ạ?”

    Wylan đã hỏi như thế.

    Cha cậu nhún vai.

    “Đủ lâu để người đời có thể quên việc ta từng có một đứa con trai.

    Ồ, đừng có nhìn ta với vẻ mặt tổn thương như thế, Wylan.

    Ta đang rất chân thành, chứ không hề tàn nhẫn.

    Đây là giải pháp tốt nhất cho hai ta.

    Con sẽ được miễn trừ một nhiệm vụ bất khả thi là đảm nhận vai trò quý tử của một thương gia, còn ta cũng tránh được cảm giác xấu hổ của việc chứng kiến con gồng mình làm chuyện đó.”

    Ta đối xử với con đâu có khắc nghiệt hơn cuộc đời này.

    Đó là điệp khúc của cha cậu.

    Còn ai thẳng thắn hơn ông kia chứ?

    Ai thương cậu đủ nhiều để nói với cậu sự thật kia chứ?

    Wylan từng có những kỉ niệm vui vẻ khi được cha đọc cho nghe những câu chuyện u ám về các khu rừng phù thuỷ, hoặc những dòng sông biết nói.

    Jan Van Eck đã làm hết khả năng để chăm sóc con trai, và nếu ông thất bại thì đó là lỗi của cậu.

    Cha cậu có thể nói năng tàn nhẫn, nhưng ông không chỉ tự bảo vệ mình hay đế chế Van Eck, mà bảo vệ cả cậu nữa.

    Và mọi thứ ông nói đều hợp lí một cách kinh khủng.

    Wylan không thể thừa kế cơ nghiệp của cha, bởi vì cậu sẽ dễ dàng bị người ta lừa gạt.

    Cậu không thể đi học đại học vì cậu sẽ trở thành mục tiêu của sự chế nhạo.

    Đây là giải pháp tốt nhất cho hai ta.

    Sự bực bội của cha cậu là một thứ không mấy dễ chịu, nhưng chính tư duy của ông khiến Wylan bị ám ảnh - cái giọng nói thực dụng, không thể bác bỏ vang lên trong đầu cậu mỗi khi cậu nghĩ tới việc thử một thứ gì mới, hoặc cố học đọc học viết một lần nữa.

    Wylan đau đớn khi bị xua ra khỏi nhà, nhưng cậu vẫn có hi vọng.

    Cuộc sống ở Belendt nghe chừng rất tuyệt diệu.

    Cậu không biết nhiều về nó, ngoại trừ việc nó là đô thị cổ thứ hai của Kerch, và nằm trên bờ sông Droombeld.

    Nhưng cậu sẽ ở xa đám bạn bè và cộng sự kinh doanh của cha cậu.

    Van Eck là một cái họ khá phổ biến, và tại một nơi cách xa Ketterdam như thế, việc mang họ Van Eck sẽ không khiến cậu bị người ta nhòm ngó.

    Cha của Wylan đã đưa cho cậu một phong thư niêm kín và ít tiền để đi đường.

    “Đây là giấy tiếp nhận của con, và chỗ tiền này đủ để con đi tới Belendt.

    Một khi đã đến đó, hãy để tay thư kí lo chuyện tiền nong.

    Một tài khoản đã được mở dưới tên con.

    Ta cũng đã thu xếp vài người đi cùng con trên chuyến tàu.”

    Đôi má Wylan đỏ ửng vì nhục nhã.

    “Con có thể tự mình đi tới Belendt.”

    “Con chưa bao giờ rời khỏi Ketterdam một mình, và đây không phải là lúc để bắt đầu làm điều đó.

    Miggson và Prior có việc cần lo liệu cho ta ở Belendt.

    Họ sẽ đưa con tới đó và giúp con ổn định chỗ ở.

    Hiểu chưa?”

    Wylan đã hiểu.

    Cậu không đủ khả năng để một mình lên tàu rời khỏi Ketterdam.

    Nhưng ở Belendt, mọi việc sẽ khác.

    Wylan đóng vào chiếc vali nhỏ vài bộ quần áo và những thứ mà cậu sẽ cần trước khi rương đồ của cậu được chuyển tới trường cùng với những tập nhạc yêu thích của cậu.

    Nếu cậu có thể đọc chữ giỏi như đọc nốt nhạc thì đã chẳng nên cớ sự.

    Khi cha của Wylan ngừng đọc sách cho cậu, âm nhạc là thứ mang đến những câu chuyện mới, chúng mở ra từ ngón tay cậu, và cậu đưa mình vào trong đó qua từng nốt nhạc được tấu lên.

    Wylan nhét cây sáo vào trong cái túi đeo chéo, phòng khi cậu muốn luyện tập một chút trên đường đi.

    Wylan chia tay Alys một cách nhanh gọn và vụng về.

    Alys là một cô gái tốt, nhưng mọi vấn đề nằm ở đó - cô chỉ hơn cậu có vài tuổi.

    Wylan không hiểu làm thế nào cha mình có thể đi trên phố bên cạnh Alys mà không cảm thấy ngượng.

    Nhưng Alys dường như không phiền lòng về chuyện đó, có lẽ vì khi ở bên cô, cha cậu trở thành người đàn ông mà cậu từng biết khi còn nhỏ - tử tế, hào phóng, kiên nhẫn.

    Ngay cả bây giờ, Wylan cũng không thể xác định thời điểm cậu biết mình đã bị cha từ bỏ.

    Mọi chuyện thay đổi một cách chậm rãi.

    Sự kiên nhẫn của Jan Van Eck đã lặng lẽ bay đi như lớp vàng lá dát trên sắt thô, và khi nó biến mất hẳn, cha cậu dường như trở thành một con người hoàn toàn khác, ít đẹp đẽ hơn nhiều.

    “Tôi muốn nói lời từ biệt và chúc sức khoẻ dì,” Wylan đã nói như thế với Alys.

    Lúc đó cô ngồi trong phòng riêng, con chó sục nằm ngủ dưới chân.

    “Cậu sẽ đi xa à?”

    Alys hỏi lại.

    Cô bắt gặp túi hành lí của Wylan khi ngước mắt lên khỏi chiếc kim khâu.

    Alys đang khâu mép rèm.

    Phụ nữ Kerch, kể cả những người khá giả, không nề hà những công việc tủn mủn như thêu thùa hay may vá.

    Việc thu vén nội trợ cho phép họ phụng sự Ghezen tốt hơn.

    “Tôi sẽ tới trường nhạc ở Belendt.”

    “Ồ, hay quá!”

    Alys reo lên.

    “Tôi nhớ thôn quê quá chừng.

    Cậu sẽ thoả thích tận hưởng không khí trong lành, và chắc chắn sẽ có nhiều bạn tốt.”

    Cô đặt kim xuống và hôn lên hai má Wylan.

    “Cậu có quay về vào các kì nghỉ không?”

    “Có thể,” Wylan nói, mặc dù biết mình sẽ không làm điều đó.

    Cha cậu muốn cậu biến mất, vậy thì cậu sẽ biến mất.

    “Lúc đó chúng ta sẽ làm bánh gừng,”Alys nói.

    “Cậu sẽ kể cho tôi nghe về những chuyến phiêu lưu của mình, và không lâu nữa chúng ta sẽ có một người bạn mới để chơi cùng.”

    Cô vỗ nhẹ lên bụng mình với một nụ cười hạnh phúc.

    Wylan mất vài giây để hiểu ý nghĩa câu nói của Alys, và cậu chỉ đứng đó, tay nắm chặt chiếc vali, đầu gật gật, miệng mỉm cười một cách máy móc trong khi Alys nói tiếp về kế hoạch cho kì nghỉ lễ.

    Cô đã có thai.

    Chính vì vậy mà cha cậu muốn đẩy cậu đi.

    Jan Van Eck sắp có một người nối dõi khác, một người nối dõi thực thụ.

    Wylan đã hết vai trò.

    Cậu sẽ biến mất khỏi Ketterdam, làm một cái nghề vặt vãnh tại đâu đó.

    Thời gian trôi qua, sẽ không ai nhướn mày thắc mắc khi đứa con của Alys được giao quyền lãnh đạo đế chế kinh doanh Van Eck.

    Đủ lâu để người đời có thể quên việc ta từng có một đứa con trai.

    Hoá ra đó không phải là một lời sỉ nhục bâng quơ.

    Miggson và Prior xuất hiện đúng tám giờ để đưa Wylan lên thuyền.

    Không ai đến chào từ biệt, và khi cậu đi ngang qua thư phòng của cha, cánh cửa vẫn đóng kín.

    Cậu từ chối việc gõ cửa và cầu xin chút tình thương như con chó của Alys mỗi khi đòi chủ vuốt ve.

    Người của cha cậu mặc đồ đen, màu ưa thích của các thương nhân.

    Họ không trao đổi nhiều với Wylan trong lúc đi tới bến tàu.

    Họ mua vé đi tuyến Belendt, và khi đã ở trên tàu, Miggson chúi mũi vào tờ báo, còn Prior ngả lưng trên ghế, mũ sụp xuống, mắt nhắm hờ.

    Wylan không biết anh ta đang ngủ hay đang nhìn mình như một con tắc kè ngái ngủ.

    Vào giờ đó trên tàu rất vắng lặng.

    Người ta ngủ trong những cabin chật chội, hoặc ăn bữa tối mang theo - những khoanh thịt xông khói và bình giữ ấm cà phê nằm vắt vẻo trên đùi họ.

    Không ngủ được, Wylan rời khỏi cabin nóng bức và bước lên mũi thuyền.

    Gió đông lạnh lẽo nồng nặc mùi tanh từ những lò mổ nằm ở ngoại vi Ketterdam.

    Nó khiến bụng cậu nôn nao, nhưng không lâu sau đó, những ánh đèn đô thị mờ dần, và họ tiến vào vùng thôn quê.

    Wylan lấy làm tiếc vì đã không đi chuyến ban ngày.

    Cậu muốn xem các cối xay gió lừng lững canh gác những cánh đồng, lũ cừu gặm cỏ trong bãi chăn.

    Cậu thở dài, rùng mình trong chiếc áo khoác, và chỉnh lại dây túi, cậu nên cố nghỉ ngơi một chút.

    Có lẽ cậu sẽ dậy sớm và ngắm mặt trời lên.

    Khi Wylan quay người, Prior và Miggson đang đứng ngay sau lưng cậu.

    “Tôi xin lỗi,” Wylan nói.

    “Tôi…”

    Đúng lúc đó đôi tay của Prior đã thít chặt cổ họng cậu.

    Wylan thở hồng hộc - hay đúng hơn là cố gắng làm điều đó.

    Âm thanh phát ra từ miệng cậu chỉ là một tiếng khò khè.

    Cậu nắm lấy cổ tay của Prior, nhưng tay hắn ta cứng như sắt, lực bóp không hề giảm đi.

    Hắn ta đủ to lớn để nhấc bổng Wylan lên và ấn cậu vào lan can thuyền.

    Nét mặt của Prior thản nhiên như không, thậm chí có phần chán chường, và Wylan chợt hiểu cậu sẽ không bao giờ tới được ngôi trường ở Belendt.

    Cha cậu chưa bao giờ thu xếp chuyện đó.

    Không có tay thư kí nào.

    Không có tài khoản nào mang tên cậu.

    Không ai chờ đón cậu.

    Mảnh giấy tiếp nhận trong túi cậu có lẽ chỉ là một mớ chữ vô nghĩa.

    Wylan thậm chí đã không tìm cách đọc nó.

    Cậu sẽ biến mất, đúng như mong muốn của cha, và ông đã thuê những người này để làm việc đó.

    Cha cậu, người từng đọc sách cho cậu ngủ, từng bưng cho cậu món trà cẩm quỳ pha mật ong khi cậu bị viêm phổi.

    Đủ lâu để người đời có thể quên việc ta từng có một đứa con trai, cha cậu sẽ gạch tên cậu khỏi sổ sách như một phép tính hỏng, một khoản bội chi có thể quên đi.

    Con số sẽ được chỉnh lại cho đúng.

    Mắt Wylan tối sầm lại.

    Tai cậu như nghe thấy tiếng nhạc.

    “Mấy người kia!

    Có chuyện gì vậy?”

    Giọng nói tưởng như vọng đến từ một khoảng cách rất xa.

    Cú siết của Prior hơi lỏng ra.

    Ngón chân Wylan chạm vào boong tàu.

    “Không có gì,” Miggson vừa nói vừa quay lại để đối mặt với người lạ.

    “Chúng tôi phát hiện thằng này đang nhòm ngó hành lí của hành khách thôi.”

    Wylan phát ra một tiếng kêu tắc nghẹn.

    “Vậy tôi… tôi đi báo thị tuần nhé?

    Có hai sĩ quan ở trong cabin.”

    “Chúng tôi đã báo thuyền trưởng rồi,” Miggson đáp.

    “Chúng tôi sẽ giải thằng này tới trạm thị tuần ở điểm dừng kế tiếp.

    “Thật mừng là các anh kịp thời đề cao cảnh giác.”

    Người đàn ông quay lưng bỏ đi.

    Con tàu hơi tròng trành một chút.

    Wylan không đợi để xem chuyện gì sẽ diễn ra tiếp theo, cậu dùng hết sức bình sinh để đẩy Prior ra, rồi trước khi kịp hoảng sợ, cậu lao mình qua mạn tàu xuống dòng kênh bùn lầy.

    Wylan bơi với toàn bộ sức lực huy động được.

    Cậu vẫn còn choáng váng, cổ họng thì đau khủng khiếp.

    Trong sự kinh hoàng của cậu, một tiếng ùm vang lên, cho biết một trong hai gã kia đã nhảy xuống nước để đuổi theo.

    Nếu Wylan xuất hiện ở đâu đó, còn sống, có lẽ Miggson và Prior sẽ không được nhận tiền công.

    Cậu thay đổi kiểu bơi, tạo ra ít tiếng động nhất có thể, và cố buộc mình động não.

    Thay vì lao thẳng vào bờ như ý muốn của cơ thể lạnh cóng, cậu lặn xuống bên dưới một con tàu chợ và trồi lên ở phía bên kia, bơi theo nó, dùng nó làm vật che chắn.

    Sức nặng của chiếc túi đeo chéo làm vai cậu trì xuống, nhưng cậu không thể từ bỏ nó.

    Tài sản của mình, cậu nghĩ vơ vẩn trong đầu.

    Cây sáo của mình.

    Wylan bơi không ngừng, kể cả khi hơi thở trở nên rát buốt và chân tay bắt đầu tê dại.

    Cậu bắt mình tiến tới, để gia tăng khoảng cách hết mức có thể giữa cậu và hai tên sát nhân của cha.

    Nhưng rồi sức lực cũng bắt đầu từ bỏ cậu, và Wylan nhận ra mình đang quẫy đạp nhiều hơn là bơi.

    Nếu không vào bờ, cậu sẽ chết đuối.

    Cậu lội tới một gầm cầu và rướn người trèo lên bờ, ướt đẫm và run rẩy trong cái lạnh băng giá.

    Cổ họng cậu nhức buốt mỗi khi nuốt, và tim cậu thắt lại mỗi khi nghe thấy tiếng sóng vỗ ì oạp, sợ rằng gã Prior kia đang đến để kết thúc công việc.

    Wylan cần lên một kế hoạch nào đó, nhưng thật khó để suy nghĩ cho thấu đáo trong tình cảnh này.

    Cậu kiểm tra các túi quần.

    Vẫn còn vài đồng kruge mà cha cậu đã đưa được cất trong chỗ an toàn.

    Tiền dù bị ướt thì vẫn tiêu được.

    Nhưng cậu nên đi đâu bây giờ?

    Cậu không có đủ tiền để rời khỏi Ketterdam, và nếu cha cậu cử người truy lùng thì cậu sẽ dễ dàng bị tìm ra.

    Cần phải tới một nơi an toàn, một nơi mà cha cậu sẽ không nghĩ tới việc tìm cậu ở đó.

    Chân tay Wylan nặng như chì, cái lạnh đã nhường chỗ cho sự mệt mỏi.

    Cậu sợ rằng nếu nhắm mắt lại, cậu sẽ không có đủ ý chí để mở mắt ra nữa.

    Cuối cùng, Wylan bắt đầu với việc đi bộ.

    Cậu đi lang thang theo hướng bắc, xuyên qua Ketterdam, tránh xa các lò mổ, ngang qua một khu dân cư yên bình nơi các tiểu thương sinh sống, và đi tiếp.

    Những đường phố trở nên cong queo và nhỏ hẹp hơn, cho tới khi nhà cửa hai bên dường như đổ nhào vào cậu.

    Bất chấp thời điểm khuya khoắt, vẫn còn những cửa hiệu sáng đèn.

    Tiếng nhạc vọng ra từ các quán cà phê xập xệ, và Wylan thoáng thấy những thân người quấn lấy nhau trong các ngõ hẻm.

    “Bị ai nhúng nước hả nhóc?”

    Một ông già rụng răng cất tiếng hỏi cậu dưới mái hiên nhà mình.

    “Qua đây, tao dìm cho!”

    Một phụ nữ ré lên từ trên cầu thang.

    Cậu đang ở trong khu Barrel.

    Wylan sống cả đời tại Ketterdam, nhưng cậu chưa bao giờ tới đây.

    Cậu không được phép, và cũng chưa bao giờ có ý định làm điều đó.

    Cha cậu gọi Barrel là “hang ổ dơ dáy của sự trụy lạc và báng bổ”, là “nỗi nhục của Ketterdam”.

    Wylan biết nó là một mạng lưới chằng chịt những đường phố tối tăm và ngõ ngách bí hiểm.

    Một nơi mà cư dân tại chỗ cải trang để làm những chuyện thiếu đứng đắn, nơi khách ngoại quốc chen chân trên những trục đường chính để tìm kiếm những trò tiêu khiển bậy bạ, nơi người ta đến rồi đi như sóng triều.

    Một nơi hoàn hảo để biến mất.

    Cho đến cái ngày mà lá thư đầu tiên của cha cậu xuất hiện.

    ***

    Wylan giật mình nhận ra Jesper đang kéo tay áo cậu.

    “Đến nơi rồi, thiếu gia.

    Tỉnh táo lên nào.”

    Wylan vội chạy theo anh.

    Họ xuống bến tầu không người tại Olendaal và đi dọc theo bờ đê đến một con đường làng vắng vẻ.

    Jesper nhìn quanh.

    “Nơi này giống ở quê tôi.

    Đồng ruộng trải hết tầm mắt, im lặng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng vù vù của những chú ong, không khí thì trong lành.”

    Anh rùng mình.

    “Ớn quá.”

    Trong lúc họ bước đi, Jesper giúp Wylan hái những bông hoa dại ven đường.

    Khi họ ra đến đường cái, cậu đã có một bó hoa nhỏ tươm tất.

    “Tôi tưởng chúng ta cần phải tìm đường đến mỏ đá?”

    Jesper hỏi.

    Wylan ho húng hắng.

    “Không, chúng ta không cần phải làm thế.

    Một hiệu tạp hoá là được rồi.”

    “Nhưng cậu đã nói với Kaz là khoáng vật đó…”

    “Nó có mặt trong mọi loại sơn và men sứ.

    Tôi chỉ muốn tìm một cái cớ để đi tới Olendaal.”

    “Wylan Van Eck, cậu đã nói dối Kaz Brekker.”

    Jesper đưa tay lên ôm ngực.

    “Và cậu không bị làm sao cả!

    Cậu dạy tôi được không?”

    Wylan cảm thấy mãn nguyện một cách kì cục - cho tới khi cậu nghĩ đến việc bị Kaz phát hiện.

    Nó gần giống như lần đầu tiên cậu uống thử rượu brandy để rồi nôn thốc nôn tháo bữa tối vào đôi giày của mình.

    Hai người tìm thấy một hiệu tạp hoá sau khi đi được nửa đoạn đường cái, và chỉ mất vài phút để mua được thứ mình cần.

    Khi Jesper và Wylan rời khỏi cửa hiệu, một ông già đang chất hàng lên xe ngựa vẫy tay với họ.

    “Hai cậu đang tìm việc làm hả?”

    Ông ta hỏi với giọng hoài nghi.

    “Trông hai cậu không có vẻ gì là phù hợp cho việc đồng áng cả.”

    “Ông sẽ bất ngờ đấy,” Jesper đáp.

    “Chúng tôi đã được nhận vào làm việc ở gần Thánh Hilde.”

    Wylan căng người chờ đợi, nhưng người đàn ông chỉ gật đầu.

    “Các cậu tu sửa nhà thương à?”

    “Vâng,” Jesper đáp gọn bâng.

    “Bạn cậu kiệm lời nhỉ,” ông ta nhận xét.

    “Người Shu mà,” Jesper nhún vai đáp.

    Ông già ậm ừ đồng tình rồi nói, “Nhảy lên đi.

    Tôi đi tới mỏ đá.

    Tôi có thể cho các cậu quá giang.

    Hoa để làm gì thế?”

    “Cậu ta có một cô bồ ở gần Thánh Hilde.”

    “Có bồ rồi cơ đấy.”

    “Vâng.

    Gu chọn bạn gái của cậu ta kinh khủng lắm.”

    Wylan chỉ muốn đẩy Jesper khỏi chiếc xe ngựa.

    Hai bên con đường bùn lầy hình như là những cánh đồng lúa mạch và lúa mì.

    Miền đất bằng phẳng thi thoảng được chấm phá bởi các kho thóc và cối xay gió.

    Chiếc xe đi rất nhanh.

    Hơi quá nhanh, Wylan thầm nghĩ khi chiếc xe chạy qua một cái rãnh trên đường và xóc mạnh, cậu xuýt xoa.

    “Mưa đấy,” ông nông dân nói.

    “Người ta chưa kịp rải cát cho đường bằng phẳng.”

    “Không sao ạ,” Jeper nháy mắt đáp khi chiếc xe một lần nữa sa vào các ổ gà trên đường.

    “Tôi cũng không cần giữ cái lá lách nguyên vẹn làm gì.”

    “Tốt thôi!”

    Ông nông dân bật cười.

    “Càng tốt cho gan!”

    Wylan bấu chặt vào thành xe, ước gì có thể đẩy Jesper khỏi xe và nhảy xuống luôn cùng anh.

    May mắn thay, sau khi chạy thêm khoảng một dặm nữa, chiếc xe giảm tốc độ rồi dừng lại trước hai cột đá đánh dấu một lối đi dài rải sỏi.

    “Tôi chỉ đi được đến chỗ này thôi,” ông nông dân nói.

    “Chẳng bán chác gì ở trong kia được.

    Quá sức chịu đựng.

    Những khi gió thổi đúng chiều, các cậu có thể nghe thấy những tràng cười và tiếng la hét của bọn họ.”

    Jesper và Wylan đưa mắt nhìn nhau.

    “Ý ông là nơi này bị ma ám hay sao?”

    Jesper hỏi.

    “Có lẽ thế.”

    Hai người cảm ơn ông già và mừng rỡ nhảy xuống xe.

    “Sau khi đã xong việc ở đây, các cậu đi theo đường cái khoảng hai dặm nữa,” ông ta nói.

    “Tôi có hai mẫu đất cần cày bừa.

    Năm kruge mỗi ngày, và buổi tối các cậu có thể ngủ trong kho thóc thay vì nằm tơ hơ ngoài đồng.”

    “Nghe có vẻ hấp dẫn,” Jesper vẫy tay đáp, nhưng ngay khi họ quay lưng đi vào trong lối đi rải sỏi, anh làu bàu với Wylan.

    “Chúng ta sẽ đi bộ về.

    Xương sườn tôi muốn gãy ra đây này.”

    Sau khi chiếc xe khuất dạng, hai người cởi bỏ áo choàng và áo khoác

    rồi nhét vào một bụi cây, phơi bày bộ trang phục màu đen mà Kaz bảo họ mặc bên trong.

    “Hãy bảo họ rằng các cậu được luật sư Cornells Smeet cử đến,” Kaz đã dặn như thế.

    “Rằng các cậu muốn bảo đảm rằng mộ phần được chăm sóc tử tế.”

    “Tại sao?”

    Wylan thắc mắc.

    “Bởi vì nếu cậu tuyên bố mình là con trai của Jan Van Eck, sẽ không có ai tin cậu.”

    Hai bên lối đi trồng cây dương, và khi họ lên đến đỉnh đồi, một toà nhà xuất hiện trước mắt họ: ba tầng xây bằng đá trắng, với những bậc thềm duyên dáng dẫn lên một vòm cửa ra vào.

    Lối đi trước nhà được trải sỏi gọn ghẽ và trang trí bằng hàng thuỷ tùng thấp ở hai bên.

    “Trông chẳng giống nhà thờ nhỉ,” Jesper nói.

    “Chắc nó từng được dùng làm tu viện hoặc trường học,” Wylan đoán.

    Cậu lắng nghe tiếng sỏi kêu lạo xạo dưới gót giày.

    “Jesper này, anh có nhớ được gì nhiều về mẹ không?”

    Wylan đã từng nhìn thấy nhiều kiểu cười của Jesper, nhưng nụ cười đang từ từ xuất hiện trên gương mặt anh lúc này rất khác, được anh giữ khư khư như một tay bài chiến thắng.

    Tất cả những gì anh nói chỉ là, “có.

    Mẹ đã dạy tôi bắn súng.”

    Có hàng trăm câu hỏi mà Wylan muốn đặt ra, nhưng càng đến gần nhà thờ cậu càng khó nắm bắt các ý nghĩ trong đầu mình.

    Phía bên trái của toà nhà, cậu trông thấy một giàn tử đằng đang trổ hoa, mùi hương ngọt ngào của những chùm hoa tím nồng đượm trong bầu không khí mùa xuân.

    Xa hơn thảm cỏ một chút, chếch về bên phải, là một cánh cổng và hàng rào bằng sắt uốn bao quanh một nghĩa trang.

    Một tượng đá được đặt chính giữa khu đất - tượng phụ nữ, Wylan đoán, có lẽ là Thánh Hilde.

    “Chắc là nghĩa trang đó,” Wylan lên tiếng, tay cậu nắm bó hoa chặt hơn.

    Mình đang làm gì ở đấy thế này?

    Lại câu hỏi đó, và bỗng nhiên cậu không có câu trả lời.

    Kaz đã nói đúng.

    Chuyện này thật ngu ngốc, sến sẩm.

    Đi xem một tấm bia mộ có tên mẹ cậu trên đó thì có gì hay ho kia chứ?

    Thậm chí cậu còn không đọc được nó.

    Nhưng họ đã đi cả quãng đường đến đây.

    “Jesper…”

    Wylan vừa mở miệng thì một phụ nữ mặc đồ màu xám đẩy một chiếc xe cút kít chở đầy đất đi vòng qua góc nhà.

    “Goed morgen,” chị ta cất tiếng chào họ.

    “Tôi có thể giúp được gì cho các cậu?”

    “Buổi sáng tốt lành,” Jesper nói một cách trơn tru.

    “Chúng tôi đến đây từ văn phòng của luật sư Cornells Smeet.”

    Người phụ nữ nhíu mày, và Wylan vội nói thêm, “Nhân danh ngài Uỷ viên hội đồng Jan Van Eck cao quý.”

    Có vẻ như người phụ nữ không nhận ra sự run rẩy trong giọng nói của cậu, vì hàng lông mày kia đã giãn ra, chị ta mỉm cười.

    Đôi má của chị thật tròn trịa và hồng hào.

    “Tất nhiên rồi.

    Nhưng nói thật là tôi bị bất ngờ đấy.

    Ngài Van Eck luôn hào phóng với chúng tôi, nhưng hiếm khi nào chúng tôi được nghe tin tức của ông ấy.

    Mọi việc vẫn ổn cả chứ?”

    “Vâng!”

    Wylan đáp.

    “Chỉ là quy trình mới thôi,” Jesper nói.

    “Thêm việc cho tất cả mọi người.”

    “Không phải mọi chuyện luôn như thế sao?”

    Người phụ nữ lại mỉm cười đáp.

    “Tôi thấy cậu mang cả hoa tươi đến.”

    Wylan nhìn xuống bó hoa của mình.

    Nom nó nhỏ nhoi và lộn xộn hơn

    cậu nghĩ.

    “Chúng tôi…

    Vâng.”

    Người phụ nữ chùi tay vào chiếc áo blouse nhàu nhĩ và nói, “Tôi sẽ đưa các cậu đến chỗ bà ấy.”

    Nhưng thay vì đi về hướng nghĩa trang, chị ta quay trở vào nhà thờ.

    Jesper nhún vai, rồi cùng Wylan đi theo người phụ nữ.

    Trong lúc bước lên những bậc thềm đá, một cảm giác lành lạnh bỗng lướt qua sông lưng Wylan.

    “Jesper,” cậu thì thào.

    “Cửa sổ có lắp chấn song.”

    “Các tu sĩ hay lo xa chăng?”

    Jesper phỏng đoán, nhưng anh không cười.

    Tiền sảnh thông suốt hai tầng nhà với mặt sàn lát gạch trắng điểm những bông hoa tulip tinh tế.

    Trông nơi này không giống với những nhà thờ mà Wylan từng thấy.

    Sự im lặng ở đây quá nặng nề, gần như khiến người ta nghẹt thở.

    Một bàn giấy lớn được đặt trong góc nhà, trên đó có một lọ hoa cắm những nhành tử đằng mà Wylan đã thấy ở phía bên ngoài.

    Cậu hít một hơi thật sâu.

    Mùi thơm thật dễ chịu.

    Người phụ nữ mở khoá một cái tủ lớn, lục tìm trong đó ít phút, rồi lôi ra một tập hồ sơ dày.

    “Đây rồi: Marya Hendriks.

    Như các cậu thấy đấy, mọi thứ đâu ra đó.

    Các cậu có thể xem qua nó trong khi chúng tôi rửa ráy cho bà ấy.

    Lần tới để tránh mất thời gian, các cậu nên báo cho chúng tôi biết trước khi đến.”

    Wylan cảm thấy mồ hôi lạnh túa ra khắp người.

    Cậu chỉ có thể gật đầu.

    Người phụ nữ lấy một chùm chìa khoá to từ trong tủ và mở một trong những cánh cửa màu xanh nhạt dẫn ra khỏi tiền sảnh.

    Wylan nghe thấy tiếng chìa khoá xoay trong ổ sau khi cánh cửa khép lại.

    Cậu đặt chỗ hoa dại xuống bàn.

    Các cuống hoa đã bị gãy hết.

    Cậu đã nắm chúng quá chặt.

    “Đây là đâu?”

    Wylan hỏi.

    “Chị ta nói vậy là sao?

    Rửa ráy cho bà ấy?”

    Tim cậu đập cuồng loạn như một chiếc máy đánh nhịp bị cài đặt sai.

    Jesper đang lật giở tập hồ sơ, mắt lướt nhanh qua các trang giấy.

    Wylan nhìn qua vai anh, một cảm giác tuyệt vọng kinh khủng dâng lên trong lòng cậu.

    Chữ nghĩa trên trang giấy nom giống như những nét vẽ nguệch ngoạc, một đống chân rết đen ngòm.

    Cậu cố gắng hít thở.

    “Jesper, làm ơn,” cậu nài nỉ, giọng lạc hẳn đi.

    “Đọc cho tôi nghe với.”

    “Tôi xin lỗi,” Jesper vội nói.

    “Tôi quên khuấy mất.

    Tôi…”

    Wylan không thể diễn giải được vẻ mặt của Jesper lúc này.

    Có sự buồn bã, hoang mang trong đó.

    “Wylan… tôi nghĩ rằng mẹ cậu còn sống.”

    “Không thể nào.”

    “Cha cậu đã yêu cầu nhốt bà ấy lại.”

    Wylan lắc đầu.

    Không thể nào.

    “Mẹ ngã bệnh.

    Chứng viêm phổi…”

    “Ông ta nêu rõ rằng bà ấy mắc chứng cuồng loạn, ảo giác, và hoang tưởng bức hại.”

    “Mẹ không thể còn sống được.

    Ông ta…

    ông ta đã tái hôn.

    Còn Alys thì sao?”

    “Tôi nghĩ ông ta đã cho tuyên bố mẹ cậu bị tâm thần để sử dụng nó làm cớ li dị.

    Đây không phải là nhà thờ, Wylan.

    Nó là nhà thương điên.”

    Thánh Hilde.

    Cha cậu gửi tiền tới đây hằng năm, nhưng không phải để từ thiện.

    Để họ chăm sóc mẹ cậu.

    Để họ im lặng.

    Căn phòng bỗng quay cuồng trước mắt cậu.

    Jesper kéo Wylan ngồi vào chiếc ghế ở phía sau bàn rồi ấn vào bả vai cậu, bắt cậu gập người tới trước.

    “Vùi đầu cậu vào giữa hai đầu gối, tập trung nhìn sàn nhà.

    Hít thở đi.”

    Wylan cố ép mình tuần tự hít vào thở ra, mắt nhìn những bông hoa tulip xanh trên các vuông gạch trắng.

    “Cho tôi biết phần còn lại đi.”

    Cậu cần phải bình tĩnh lại, nếu không họ sẽ nhận ra có chuyện không ổn.”

    “Cho tôi biết phần còn lại.”

    Jesper thở hắt ra và tiếp tục lật hồ sơ.

    “Khốn kiếp,” anh thốt lên sau đó ít phút.

    “Có một văn bản chuyển quyền sở hữu trong này.

    Bản sao.”

    Wylan tiếp tục nhìn mặt sàn lát gạch.

    “Văn bản gì?

    Thế nghĩa là sao?”

    Jesper đọc thành tiếng, “Tài liệu này, dưới sự chứng giám xuyên suốt của Ghezen và tuân theo những giao dịch dân sự trung thực nhất, được thông qua bởi toà án của Kerch và Hội đồng Thương buôn, ghi nhận việc chuyển giao toàn bộ tài sản, đất đai, và các cổ phần từ Marya Hendriks sang cho Jan Van Eck giám sát, đến khi Marya Hendriks đủ năng lực quản lí tài sản của mình trở lại.”

    “Chuyển giao toàn bộ tài sản,” Wylan lặp lại.

    Tôi đang làm gì ở đây thế này?

    Tôi đang làm gì ở đây thế này?

    Mẹ đang làm gì ở đây?

    Chìa khoá lại xoay trong ổ, cánh cửa xanh nhạt mở ra, và người phụ nữ mà bây giờ Wylan mới nhận ra là một y tá bước qua cửa, tay đưa lên vuốt phẳng lại tạp dề khoác trên người.

    “Chúng tôi đã sẵn sàng,” chị ta nói.

    “Hôm nay bà ấy khá ngoan.

    Cậu có ổn không vậy?”

    “Bạn tôi hơi bị choáng một chút.

    Dang nắng quá lâu sau nhiều giờ ru rú trong văn phòng luật sư Smeet.

    Phiền chị rót cho chúng tôi một cốc nước được không?”

    “Tất nhiên là được!”

    Người y tá đáp.

    “Này, đúng là trông cậu nhợt nhạt thật đấy.”

    Chị ta lại biến vào trong cửa sau khi thực hiện quy trình mở rồi khoá như ban nãy.

    Để bảo đảm các bệnh nhân không thể trốn ra ngoài.

    Jesper khuỵu gối trước mặt Wylan và đặt tay lên vai cậu.

    “Wylan, nghe tôi này.

    Cậu phải trấn tĩnh lại.

    Cậu có làm được không?

    Chúng ta có thể bỏ về.

    Tôi có thể nói với chị ta cậu không được khoẻ, hoặc tôi có thể vào trong đó một mình.

    Chúng ta có thể quay lại vào một dịp khác…”

    Wylan hít một hơi thật sâu qua đường mũi.

    Cậu chưa thể tiêu hoá hết những gì đang diễn ra, chưa thể hiểu hết tầm vóc của chúng.

    Vậy thì từng thứ một.

    Đây là thủ thuật mà một gia sư đã dạy cho cậu để tránh bị trang sách nhấn chìm, cậu đã không thành công, nhất là khi có cha đứng sừng sững bên cạnh, nhưng cậu cũng áp dụng được nó cho những việc khác.

    Từng thứ một.

    Đứng dậy.

    Wylan đứng lên.

    Mày ổn.

    “Tôi ổn,” cậu nói.

    “Chúng ta sẽ không bỏ về.”

    Đó là điều duy nhất mà cậu chắc chắn.

    Khi nữ y tá quay lại, cậu đón lấy cốc nước, cảm ơn chị ta, rồi uống cạn.

    Sau đó cậu và Jesper theo chị ta đi qua cánh cửa màu xanh.

    Cậu không đủ bình tĩnh để gom lại những bông hoa dại giập gãy vương vãi trên bàn.

    Từng thứ một.

    Họ đi qua một lớp cửa khoá, một phòng tập.

    Từ đâu đó, cậu nghe thấy tiếng rên rỉ.

    Tại một gian phòng khách, hai người phụ nữ đang chơi thứ giống như cờ hiệp sĩ.

    Mẹ mình đã chết rồi.

    Bà đã chết rồi.

    Nhưng không một phần nào trong cơ thể cậu tin vào điều đó nữa.

    Không hề nữa.

    Cuối cùng nữ y tá dẫn họ tới một chái nhà ở cánh tây có vách kính, cho phép đón nhận sự ấm áp của ánh nắng chiều.

    Qua lớp kính, màu xanh của thảm cỏ hiện lên rõ mồn một, cùng với nghĩa trang ở cách đó một quãng.

    Đó là một gian phòng đẹp, sàn nhà không có vết bẩn.

    Một tấm toan với những nét phác thảo phong cảnh được dựng trên giá vẽ bên cạnh vách kính.

    Kí ức bỗng quay lại trong đầu Wylan: mẹ cậu ngồi bên giá vẽ trong khu vườn phía sau ngôi nhà tại Geldstraat, mùi dầu hạt lanh, những cây cọ sạch cắm trong một cái cốc, ánh mắt chăm chú xem xét đường nét của nhà thuyền và dòng kênh cạnh đó.

    “Bà ấy vẽ,” Wylan buột miệng.

    “Suốt ngày,” nữ y tá vui vẻ nói.

    “Marya của chúng tôi yêu nghệ thuật lắm.”

    Một người phụ nữ đang ngồi trên xe lăn, đầu gục gặc như thể chống lại cơn buồn ngủ, những tấm chăn đã được phủ lên đôi vai gầy guộc.

    Khuôn mặt hằn rõ những nếp nhăn, mái tóc nâu hổ phách đã phai nhạt và điểm nhiều sợi bạc.

    Màu tóc của mình, Wylan nhận ra, nếu nó bị ánh nắng làm phai màu.

    Tự dưng cậu cảm thấy nhẹ nhõm.

    Người phụ nữ này rõ ràng quá lớn tuổi, không thể là mẹ cậu được.

    Nhưng rồi bà ngước cằm lên và mở mắt ra.

    Đôi mắt trong veo mầu nâu, không thay đổi, nguyên vẹn.

    “Bà có khách đấy, Hendriks.”

    Đôi môi của mẹ cậu mấp máy, nhưng Wylan không nghe được gì.

    Bà nhìn họ với đôi mắt tinh anh.

    Rồi nét mặt bà thay đổi, trở nên mơ hồ và thắc mắc, khi sự chắc chắn tan biến.

    “Tôi có… tôi có biết các cậu không?”

    Cổ họng Wylan đau nhói.

    Mẹ có nhận ra con nếu con vẫn mang nét mặt của con trai mẹ không?

    Cậu cố gắng lắc đầu.

    “Chúng ta gặp… gặp nhau cách đây đã lâu,” cậu đáp.

    “Hồi tôi còn là một đứa trẻ.”

    Bà ậm ừ và nhìn ra bãi cỏ.

    Wylan tuyệt vọng quay sang Jesper.

    Cậu chưa sẵn sàng cho chuyện này.

    Mẹ cậu đã được mai táng từ lâu, đã tan thành cát bụi dưới lòng đất.

    Thật nhẹ nhàng, Jesper dẫn Wylan lại gần chiếc xe lăn, đối diện với Marya.

    “Chúng ta có một tiếng đồng hồ trước khi phải quay về,” anh nói khẽ.

    “Nói chuyện với bà ấy đi.”

    “Nói chuyện gì?”

    “Còn nhớ những gì cậu đã nói với Kaz không?

    Chúng ta không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đây.

    Đây là tất cả những gì ta có.”

    Anh đứng lên và tiến lại chỗ người y tá đang xếp lại những tuýp màu vẽ.

    “Thưa cô…

    Tôi thật xấu hổ vì chưa được biết quý danh của cô.”

    Nữ y tá mỉm cười, đôi má tròn ửng đỏ như màu kẹo táo.

    “Betje.”

    “Một cái tên quyến rũ, tương xứng với chủ nhân của nó.

    Ngài Smeet đã yêu cầu tôi khảo sát điều kiện phòng ốc ở nơi này.

    Phiền cô dẫn tôi đi một vòng được không?”

    Nữ y tá ngần ngừ, mắt liếc nhìn Wylan.

    “Chúng tôi sẽ không sao đâu,” Wylan cố rặn ra một câu nói với chất giọng trầm và đục quá mức đối với tai cậu.

    “Tôi chỉ đặt vài câu hỏi theo thủ tục.

    Quy trình mới mà.”

    Nữ y tá nháy mắt với Jesper.

    “Vậy thì, tôi nghĩ chúng ta có thể đi xem nhanh một vòng.”

    Wylan quan sát mẹ, tâm trí cậu giống như một bản hoà thanh của những hợp âm lạc điệu.

    Họ đã cắt tóc ngắn cho bà.

    Cậu cố hình dung bà trẻ hơn, trong chiếc áo dài bằng chất len màu đen tinh tế của một phu nhân, cổ áo có thắt dây màu trắng, những lọn tóc xoăn dày và sống động được cô hầu gái thắt bím rồi cuộn lại thành búi.

    “Xin chào,” cậu gắng gượng cất tiếng.

    “Cậu đến đây vì tiền của tôi à?

    Tôi không còn tiền đâu.”

    “Tôi cũng không còn,” Wylan đáp một cách yếu ớt.

    Khuôn mặt bà không thân quen, nhưng có gì đó trong cái cách bà nghiêng đầu, trong dáng ngồi thẳng lưng.

    Như thể bà đang ngồi chơi dương cầm.

    “Bà có thích âm nhạc không?”

    Wylan hỏi.

    Bà gật đầu.

    “Có, nhưng ở đây ít được nghe lắm.”

    Cậu rút cây sáo trong áo ra.

    Wylan đã đi cả ngày hôm nay với cây sáo cất nơi ngực áo như một bí mật, và nó vẫn còn ấm nhờ thân nhiệt cơ thể cậu.

    Cậu đã định thổi sáo trước mộ mẹ như một thằng ngốc.

    Chắc Kaz sẽ cười cậu ghê lắm.

    Vài nốt nhạc đầu tiên khá run rẩy, nhưng rồi Wylan kiểm soát được hơi thở.

    Cậu tìm được giai điệu, một bài nhạc đơn giản, một trong những bài đầu tiên mà cậu học.

    Trong một thoáng, trông bà như thể đang cố nhớ xem mình đã từng nghe nó ở đâu.

    Rồi bà chỉ nhắm mắt lại và lắng nghe.

    Khi cậu thổi xong, bà nói, “Thổi bài nào vui vẻ đi.”

    Wylan bèn thổi một điệu dân vũ Kaelish, rồi một bài hò biển của Kerch, phù hợp với cây sáo hơn.

    Cậu thổi mọi bài nhớ được, ngoại trừ những bài buồn bã, sầu thảm.

    Bà không nói, mặc dù chốc chốc cậu lại thấy bà nhịp ngón chân theo điệu nhạc, và mấp máy môi như thể biết lời ca.

    Cuối cùng, Wylan đặt cây sáo xuống đùi.

    “Bà ở đây bao lâu rồi?”

    Mẹ cậu im lặng.

    Cậu nghiêng người tới trước, tìm kiếm một câu trả lời trong đôi mắt mông lung màu hạt phỉ.

    “Họ đã làm gì bà?”

    Bà đặt một bàn tay dịu dàng lên má cậu.

    Lòng bàn tay của bà lạnh lẽo và khô khốc.

    “Họ đã làm gì cậu?”

    Wylan không rõ đó là một sự thách thức, hay bà chỉ lặp lại câu chữ của cậu.

    Wylan cảm thấy cổ họng nghẹn ngào vì nước mắt, và cố gắng nuốt trôi chúng.

    Cánh cửa phòng bật mở.

    “Thế nào, chuyến thăm tốt đẹp chứ?”

    Nữ y tá cất tiếng trong khi bước vào phòng.

    Wylan vội nhét cây sáo trở vào trong áo.

    “Vâng,” cậu đáp.

    “Mọi thứ có vẻ ổn cả.”

    “Hai cậu có vẻ hơi bị trẻ quá đối với loại công việc này đấy,” chị ta nói và khoe lúm đồng tiền với Jesper.

    “Tôi cũng có thể nói điều tương tự với cô đấy,” anh đáp.

    “Nhưng cô thừa biết rồi mà, đám nhân viên mới toàn phải dính với những nhiệm vụ thấp kém nhất.”

    “Các cậu sẽ sớm quay lại chứ?”

    Jesper nháy mắt.

    “Ai mà biết được.”

    Anh gật đầu ra hiệu cho Wylan.

    “Chúng ta cần phải bắt kịp chuyến tàu.”

    “Bà chào đi chứ, Hendriks!”

    Nữ y tá giục.

    Đôi môi của Marya mấp máy, nhưng lần này Wylan ở đủ gần để nghe thấy bà lẩm bẩm chữ gì.

    Van Eck.

    ***

    Trên đường ra, nữ y tá tiếp tục nói chuyện liến thoắng với Jesper.

    Wylan đi phía sau hai người.

    Tim cậu nhói đau.

    Cha cậu đã làm gì mẹ cậu?

    Có phải bà thực sự hoá điên không?

    Hay ông ta đã mua chuộc để người có thẩm quyền tuyên bố điều đó?

    Ông ta có chuốc thuốc mẹ cậu hay không?

    Jesper liếc nhìn cậu một lần trong lúc nữ y tá thao thao bất tuyệt.

    Ánh mắt xám của anh đầy vẻ lo lắng.

    Khi họ sắp ra đến cánh cửa màu xanh nhạt thì chị ta thốt lên, “Các cậu có muốn xem tranh vẽ của bà ấy không?”

    Wylan khựng lại.

    Cậu gật đầu.

    “Tôi nghĩ đó sẽ là điều thú vị nhất,” Jesper đáp.

    Người phụ nữ dẫn họ quay ngược lại một đoạn rồi mở cánh cửa của một tủ đồ.

    Wylan cảm thấy đầu gối mình nhũn ra, và phải vịn vào tường để giữ thăng bằng.

    Nữ y tá không nhận ra điều đó - chị ta cứ tiếp tục nói không ngừng.

    “Màu vẽ rất đắt, tất nhiên rồi, nhưng có vẻ chúng làm bà ấy hạnh phúc.

    Đây chỉ là mớ tranh gần đây nhất thôi.

    Cứ mỗi sáu tháng chúng tôi lại phải vứt bớt đi.

    Không có đủ chỗ để cất chúng nữa.”

    Wylan chỉ muốn hét lên.

    Tủ đồ lèn chặt những bức tranh phong cảnh, những góc khác nhau của khuôn viên bệnh viện, mặt hồ với ánh nắng và bóng tối, và chủ thể xuất hiện nhiều lần trên những bức tranh chính là khuôn mặt của một cậu bé với những lọn tóc hung đỏ cùng đôi mắt xanh nhạt.

    Hẳn là Wylan đã phát ra âm thanh nào đó, vì nữ y tá quay lại nhìn cậu.

    “Ôi trời,” chị ta nói với Jesper, “bạn của cậu lại tái mét kìa.

    Có cần thuốc kích thích không?”

    “Không, không,” Jesper đáp và quàng tay quanh người Wylan.

    “Nhưng chúng tôi thật sự cần phải lên đường.

    Chuyến thăm viếng cực kì tốt đẹp.”

    Wylan không nhớ được gì trong lúc lần theo lối đi giữa hai hàng thuỷ tùng, tìm lại hai bộ áo choàng và mũ giấu sau gốc gây ở gần đường cái.

    Khi đã đi được nửa đoạn đường tối bến thuyền, cậu mới có thể cất tiếng.

    “Bà ấy biết ông ta đã làm gì với mình.

    Bà ấy biết ông ta không có quyền lấy đi tiền bạc và cuộc đời của bà.”

    Van Eck, mẹ cậu đã nói như thế.

    Bà không phải là Marya Hendriks, mà là Marya Van Eck, một người vợ, người mẹ đã bị đánh cắp tên họ và gia sản.

    “Còn nhớ khi tôi nói ông ta không phải là một con quỷ không?”

    Chân Wylan mềm nhũn ra, khiến cậu ngồi thịch xuống giữa đường, nhưng cậu không buồn quan tâm đến chuyện đó, vì những giọt nước mắt đang dâng lên, và cậu không tài nào ngăn chúng lại được.

    Chúng ùa vào lồng ngực cậu và trở thành những tiếng nức nở giật cục, xấu xí.

    Cậu không thích Jesper nhìn thấy mình khóc, nhưng không thể làm gì được với những giọt nước mắt, với tất cả chuyện này.

    Cậu vùi mặt vào hai cánh tay, ôm đầu như thể nếu ước muốn điều đó đủ mạnh, cậu sẽ có thể biến đi.

    Cậu cảm thấy Jesper lay nhẹ cánh tay mình.

    “Ổn rồi,” anh nói.

    “Không, không ổn đâu.”

    “Cậu nói đúng.

    Chuyện này thật thối tha, và tôi muốn trói cha cậu giữa một mảnh ruộng khô cằn, bỏ mặc lão ta cho bầy kền kền xử lí.”

    Wylan lắc đầu.

    “Anh không hiểu đâu.

    Là do tôi.

    Tôi đã gây ra chuyện này.

    Ông ta muốn một người vợ mới.

    Ông ta muốn một người nối dõi.

    Một người nối dõi thực sự, không phải một thằng khờ đến đánh vần cái tên mình cũng vất vả.”

    Cậu tám tuổi lúc mẹ bị đưa đi.

    Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là lúc cậu bị cha từ bỏ.

    “Này,” Jesper lay nhẹ Wylan.

    “Này.

    Cha cậu có rất nhiều lựa chọn khác khi phát hiện ra cậu không thể đọc chữ.

    Ông ta có thể tuyên bố rằng cậu bị mù hoặc có vấn đề về mắt.

    Hoặc thậm chí ông ta chỉ cần hạnh phúc với việc có một cậu con trai thiên tài.”

    “Tôi không phải thiên tài.”

    “Cậu ngốc nghếch nhiều chỗ lắm, Wylan à, nhưng cậu không đần độn.

    Và nếu như tôi nghe thấy cậu tự gọi mình là thằng khờ một lần nữa, tôi sẽ nói với Matthias rằng cậu đã tìm cách hôn Nina.

    Với lưỡi.”

    Wylan đưa ống tay áo chùi mũi.

    “Anh ta sẽ không bao giờ tin chuyện đó.”

    “Vậy thì tôi sẽ nói với Nina rằng cậu tìm cách hôn Matthias.

    Với lưỡi.”

    Anh thở dài.

    “Nghe này, Wylan.

    Người bình thường không ai nhốt vợ vào nhà thương điên như thế cả.

    Họ không tước quyền thừa kế của con trai chỉ vì chúng không được như họ mong muốn.

    Cậu nghĩ bố tôi muốn có thứ rác rưởi giống như tôi lắm sao?

    Cậu không gây ra chuyện này.

    Nó xảy ra chỉ vì cha cậu là một kẻ bệnh hoạn trong bộ đồ sang trọng.”

    Wylan ấn cạnh bàn tay vào đôi mắt sưng húp.

    “Tất cả những gì anh nói đều đúng, nhưng chúng không làm tôi cảm thấy khá hơn một chút nào.”

    Jesper lại huých nhẹ vào vai Wylan.

    “Thế chuyện này thì sao?

    Kaz sẽ phá tan tành cuộc đời của cha cậu.”

    Wylan định nói chuyện đó cũng vô ích, nhưng cậu ngần ngừ.

    Kaz Brekker là sinh vật tàn bạo nhất, hận thù nhiều nhất mà cậu từng gặp, và anh ta đã thề sẽ tiêu diệt Jan Van Eck.

    Ý nghĩ đó giống như dòng nước lạnh xối thẳng vào cảm giác vô dụng đầy nhục nhã mà cậu đã mang trong lòng từ rất lâu.

    Không gì có thể chỉnh sửa được chuyện này.

    Nhưng Kaz có thể phá nát cuộc đời của cha cậu.

    Và cậu sẽ giàu.

    Cậu sẽ có thể đưa mẹ ra khỏi chỗ này.

    Họ sẽ đi tới nơi nào đó ấm áp.

    Cậu có thể đỡ mẹ ngồi vào trước cây dương cầm, để mẹ chơi đàn, đưa mẹ tới nơi nào đó đầy những màu sắc tươi sáng và những âm thanh đẹp đẽ.

    Họ có thể đi Novyi Zem.

    Họ có thể đi bất kì đâu.

    Wylan ngẩng đầu lên và lau nước mắt.

    “Thật ra, nó giúp tôi khá nhiều đấy.”

    Jesper nhoẻn cười.

    “Biết ngay mà.

    Nhưng nếu chúng ta không lên kịp chuyến tàu quay về Ketterdam thì sẽ không có đòn trừng phạt nào dành cho ông ta đâu.”

    Wylan đứng dậy.

    Bỗng dưng cậu cảm thấy hăm hở muốn quay về, để giúp Kaz thực hiện kế hoạch, cậu đã đi tới Lâu Đài Băng một cách bất đắc dĩ.

    Cậu đã giúp Kaz một cách miễn cưỡng.

    Bởi vì từ đầu đến cuối, cậu vẫn tin rằng mình xứng đáng bị cha ruột khinh rẻ, và giờ đây cậu phải thừa nhận rằng ở đâu đó, trong một nơi sâu kín, cậu hi vọng vẫn có cách để giành lại sự chiếu cố của ông ta.

    Phải, cha cậu có thể giữ lấy nó và chống mắt lên xem nó sẽ mang lại cái gì cho ông ta khi Kaz Brekker xong việc.

    “Đi thôi,” cậu nói.

    “Chúng ta đi vét sạch tiền của cha tôi nào.”

    “Đó chẳng phải là tiền của cậu sao?”

    “Ờ, vậy thì ta hãy đi cướp lại nó nào.”

    Họ co chân chạy.

    “Tôi thích thế này,” Jesper nói.

    “Rất tốt cho gan!”

    15

    MATTHIAS

    Một đám đông đã tụ tập lại bên ngoài tửu quán, bị thu hút bởi tiếng đổ vỡ và huyên náo.

    Zoya hạ Nina và Matthias xuống sàn nhà một cách không được nhẹ tay cho lắm, rồi cả ba nhanh chóng rời khỏi quán bằng cửa hậu, hộ tống bởi một nhóm nhỏ đàn ông vũ trang.

    Những người còn lại trong quán nghĩ ra mọi lời giải thích khả dĩ cho việc các mẩu xương bay qua khu chợ và phá nát cửa sổ quán.

    Matthias không dám chắc anh hiểu được sự việc.

    Không lẽ Nina có thể điều khiển mớ thành tích giả đó?

    Hay đó là một chuyện hoàn toàn khác?

    Và tại sao họ bị tấn công?

    Anh tưởng họ sẽ chui ra một con hẻm, nhưng thay vào đó, mọi người lần theo những bậc cầu thang trông có vẻ cổ kính để đi xuống một đường hầm tối om.

    Con kênh cũ, anh nhận ra khi họ leo lên một con thuyền lướt đi êm ru trong bóng tối.

    Con kênh đã không bị lấp hoàn toàn khi người ta làm đường phía bên trên.

    Họ đang di chuyển ngay dưới trục đường chính chạy ngang qua toà đại sứ.

    Giây lát sau, Zoya đã dẫn họ leo lên một cầu thang sắt nhỏ hẹp để vào một gian phòng có trần thấp tới nỗi Matthias phải cúi gập người.

    Nina nói gì đó với Zoya bằng tiếng Ravka rồi dịch câu trả lời của Zoya cho anh nghe.

    “Đây là một bán phòng.

    Khi toà đại sứ được xây dựng, họ đã tạo ra một sàn giả nằm cách sàn nhà nguyên thuỷ một mét hai.

    Vì nó được ẩn vào phần móng nên người ta gần như không thể biết được có một căn phòng dưới chân mình.”

    “Ở đây không gian chỉ vừa nhỉnh hơn mức cần thiết để trườn bò.”

    “Đúng vậy, nhưng các toà nhà của Ketterdam không có tầng hầm, do vậy sẽ không có ai nghĩ tới việc mò xuống dưới này.”

    Có vẻ như đây là một sự cẩn trọng quá mức ở một nơi đáng lẽ mang tính trung lập.

    Nhưng có thể người Ravka buộc phải có những biện pháp để bảo vệ công dân.

    Vì những người như mình.

    Matthias từng là một thợ săn, một sát thủ, và từng tự hào vì làm tốt công việc đó.

    Ít phút sau, họ bắt gặp một nhóm người đang túm tụm ở nơi mà Matthias nghĩ là vách tường phía đông, nếu sự định hướng của anh còn chính xác.

    “Chúng ta đang ở bên dưới khu vườn của toà đại sứ,” Nina cho biết.

    Anh gật đầu.

    Đây là nơi an toàn nhất để che giấu một nhóm người nếu không muốn bị xầm xì bàn tán khắp toà đại sứ.

    Có khoảng mười lăm người, đủ mọi lứa tuổi và màu da.

    Hình như họ có rất ít điểm chung ngoại trừ nét mặt lo lắng, nhưng Matthias biết tất cả bọn họ đều là Grisha.

    Họ không cần được Nina cảnh báo để đi tìm nơi ẩn nấp.

    “Ít vậy thôi sao?”

    Matthias thắc mắc.

    Theo ước lượng của Nina thì tại Ketterdam có gần ba mươi Grisha.

    “Có thể những người khác đã tự trốn đi, hoặc đang ẩn mình đâu đó.”

    Hoặc có thể họ đã bị bắt.

    Nếu Nina không muốn nói ra khả năng đó thì Matthias cũng không.

    Zoya dẫn họ qua một vòm cửa để tới một khu vực mà Matthias có thể đứng thẳng người trong sự nhẹ nhõm.

    Căn cứ theo hình dạng tròn của gian phòng, anh đoán họ đang ở bên dưới một bể chứa nước giả hoặc một nhà hóng mát trong vườn.

    Sự nhẹ nhõm của anh tan biến khi một trong những người đàn ông vũ trang đi cùng Zoya giơ ra một cặp còng, và Zoya chỉ tay về phía anh.

    Ngay lập tức, Nina bước tới chắn trước mặt Matthias, cô và Zoya bắt đầu tranh cãi bằng những lời thì thầm quyết liệt.

    Matthias thừa biết anh đang phải đối mặt với ai.

    Zoya Nazyalensky là một trong những phù thuỷ hùng mạnh nhất ở Ravka.

    Chị là một Tiết Khí Sư huyền thoại, một chiến binh đã từng phục vụ Hắc Y, sau đó là Tiết Dương Sư, và được phong là một thành viên trong Tam Đại Grisha của vua Nikolai.

    Giờ đây, sau khi tận mắt trải nghiệm năng lực của Zoya, anh không ngạc nhiên trước sự thăng tiến nhanh chóng của chị.

    Hai người cãi cọ hoàn toàn bằng tiếng Ravka, và Matthias không hiểu một từ nào, nhưng sự khinh miệt trong giọng điệu của Zoya rất rõ ràng, cũng như những cử chỉ mạnh bạo mà chị ta dành cho anh.

    Matthias đã chuẩn bị để gầm lên rằng nếu phù thuỷ bão tố nhất quyết muốn còng tay anh thì chị ta có thể thử tự mình làm điều đó và đón nhận chuyện sẽ xảy ra, nhưng đúng lúc đó Nina giơ hai tay lên.

    “Thôi,” cô nói bằng tiếng Kerch.

    “Matthias vẫn được tự do, và chúng ta tiếp tục nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ mọi người đều hiểu được.

    Anh ấy có quyền biết chuyện gì đang diễn ra.”

    Đôi mắt Zoya nheo lại.

    Chị nhìn từ Matthias sang Nina, và rồi, với chất giọng Kerch nặng âm sắc, chị nói, “Nina Zenik, em vẫn là một binh sĩ của Hạ Quân, và tôi vẫn là chỉ huy của em.

    Em đang bất tuân thượng lệnh.”

    “Vậy thì chỉ việc xích luôn cả em.”

    “Đừng tưởng tôi không nghĩ tới khả năng đó.”

    “Nina!”

    Tiếng hét vang lên từ một cô gái tóc đỏ vừa xuất hiện trong gian phòng tròn.

    “Genya!”

    Nina thốt lên.

    Nhưng Matthias không cần phải được giới thiệu về nhân vật này.

    Khuôn mặt chị ta chằng chịt sẹo, một bên mắt được bịt bằng miếng lụa đỏ thêu hình mặt trời vàng toả ánh sáng.

    Genya Safin người Thợ May huyền thoại, giáo viên trước đây của Nina, và cũng là một thành viên khác của Tam Đại Grisha.

    Khi Matthias nhìn họ ôm nhau, anh cảm thấy không ổn.

    Anh tưởng đâu mình sẽ gặp một nhóm Grisha vô danh, những người phải tị nạn ở Ketterdam, bị bỏ rơi và gặp nguy hiểm.

    Những người như Nina - chứ không phải người thuộc hàng ngũ các Grisha cao cấp của Ravka.

    Bản năng kêu gọi anh chiến đấu hoặc bỏ chạy khỏi nơi này nhanh nhất có thể, thay vì đứng trơ ra như một anh chàng hôn phu đi gặp phụ huynh của người yêu.

    Thế mà ở đây có cả những người bạn, người thầy của Nina.

    Đó là kẻ thù, một giọng nói vang lên trong đầu anh, và anh không chắc đó là giọng của chỉ huy Brum hay của chính mình.

    Genya lùi lại, giơ tay vuốt một lọn tóc vương trên khuôn mặt Nina để quan sát cô kĩ hơn.

    “Nina, sao có thể có chuyện này được?

    Lần cuối cùng Zoya gặp em…”

    “Thì con bé đã làm mình làm mẩy,” Zoya nói, “và vùng vằng rời khỏi khu trại với sự cẩn trọng của một con tuần lộc ương ngạnh.”

    Trước sự ngạc nhiên của Matthias, Nina chỉ nhăn mặt như một đứa trẻ bị quở mắng.

    Hình như anh chưa bao giờ thấy cô xấu hổ trước đây.

    “Chúng tôi tưởng em đã chết,” Genya thốt lên.

    “Trông cũng quá bằng chết còn gì.”

    “Trông con bé ổn mà.”

    “Em đã biến mất,” Zoya rít lên với Nina.

    “Khi chúng tôi biết có người Fjerda ở gần đó, chúng tôi đã lo sợ điều tồi tệ nhất.

    “Và nó đã xảy ra,” Nina đáp.

    “Ngoài ra còn nhiều điều tồi tệ khác nữa.”

    Cô nắm lấy bàn tay của Matthias.

    Nhưng giờ bọn em đã ở đây.”

    Zoya lừ mắt nhìn hai bàn tay đang nắm của họ và khoanh tay lại.

    “Tôi hiểu rồi.”

    Genya nhướn một bên lông mày nâu đỏ.

    “Ờ, nếu cậu ta là điều tồi tệ nhất thì…”

    “Hai người làm gì ở đây?”

    Zoya tra hỏi.

    “Có phải em và gã Fjerda…

    đồng loã của em đang tìm cách rời khỏi Ketterdam?”

    “Nếu vậy thì sao?

    Tại sao mọi người lại phục kích bọn em?”

    “Những cuộc tấn công nhằm vào Grisha đang diễn ra khắp trong thành.

    Chúng tôi không biết hai người là ai, có thông đồng với bọn Shu hay không, chỉ biết hai người đã nói ra câu mật khẩu với người bán rong.

    Hiện giờ chúng tôi luôn cài sẵn lính tại tửu quán.

    Bất cứ ai đi tìm kiếm Grisha cũng là một mối đe doạ tiềm tàng.”

    Căn cứ theo những gì Matthias đã thấy nơi các chiến binh người Shu, sự lo lắng của họ là có cơ sở.

    “Chúng em đến để giúp đỡ,” Nina nói.

    “Kiểu nào?

    Em không biết thế lực nào đang hoành hành ở đây đâu, Nina.

    Người Shu đã phát triển một loại thuốc…”

    “Jurda parem.”

    “Em biết gì biết về parem?”

    Nina siết chặt bàn tay của Matthias, cô hít một hơi thật sâu.

    “Em đã thấy tác dụng của nó.

    Trên chính… bản thân em.”

    Con mắt độc nhất màu hổ phách của Genya mở to.

    “Ôi không, Nina.

    Em không làm điều đó.”

    “Dĩ nhiên con bé đã làm,” Zoya nói.

    “Luôn luôn như thế!

    Nó lao vào rắc rối như thể đó là một bồn nước ấm.

    Có phải vì thế mà trông em như xác chết biết đi không?

    Sao em có thể liều mạng như vậy, Nina?”

    “Trông em không giống như xác chết biết đi,” Nina phản đối, nhưng cô một lần nữa có vẻ mặt của một đứa trẻ bị phạt.

    Matthias không thể chịu nổi chuyện này.

    “Cô ấy đã làm thế để cứu mạng chúng tôi,” anh lên tiếng.

    “Cô ấy đã làm dù biết điều đó đồng nghĩa với đưa mình vào sự đày đoạ, thậm chí là cái chết.”

    “Khinh suất,” Zoya tuyên bố.

    “Zoya,” Genya nói.

    “Chúng ta chưa biết hoàn cảnh nào…”

    “Chúng ta biết con bé đã mất tích gần một năm ròng.”

    Chị trỏ một ngón tay buộc tội vào Nina.

    “Và giờ thì nó xuất hiện với một gã Fjerda theo sau, dềnh dàng như một chiến binh và sử dụng những kĩ thuật chiến đấu của drüskelle.”

    Zoya thò tay vào trong túi áo và rút ra một nắm xương.

    “Con bé đã tấn công người của chúng ta, bằng những mảnh xương này, Genya.

    Cô có từng nghe tới điều gì như thế này chưa?”

    Genya quan sát chỗ xương, trước khi nhìn Nina.

    “Chuyện này là thật à?”

    Nina mím môi.

    “Có lẽ thế?”

    “Có lẽ,” Zoya lặp lại.

    “Thế mà cô còn bảo chúng ta nên tin tưởng con bé?”

    Genya tỏ ra nao núng, nhưng vẫn đáp, “Tôi chỉ nói là chúng ta nên lắng nghe.”

    “Được thôi,” Zoya nói.

    “Tôi đang dỏng tai và mở lòng đợi nghe đây.

    Giải khuây cho tôi đi, Nina Zenik.”

    Matthias biết việc đối mặt với những người dẫn dắt mà mình thần tượng là như thế nào, trở lại làm một học sinh lo lắng muốn làm người khác hài lòng là như thế nào.

    Anh quay sang Nina và nói bằng tiếng Fjerda, “Đừng để họ làm em sợ.

    Em không còn là cô gái trước đây.

    Em không phải là một binh sĩ chỉ biết nghe lệnh.”

    “Vậy sao em vẫn cảm thấy như chỉ muốn chui vào một cái góc nào đó để khóc?”

    “Đây là một gian phòng tròn.

    Chẳng có cái góc nào cho em đâu.”

    “Matthias…”

    “Hãy nhớ những gì chúng ta đã trải qua.

    Hãy nhớ chúng ta tới đây vì mục đích gì.”

    “Tôi tưởng chúng ta nói với nhau bằng tiếng Kerch,” Zoya lên tiếng.

    Nina một lần nữa siết chặt bàn tay Matthias, rồi hếch cằm lên và nói, “Em đã bị các drüskelle bắt.

    Matthias đã giúp em trốn thoát.

    Nhưng anh ấy bị người Kerch bắt giữ.

    Em giúp anh ấy vượt ngục.

    Rồi em bị Jarl Brum bắt và Matthias giúp em thoát thân.”

    Matthias cảm thấy không thoải mái cho lắm trước việc cả hai người cứ thay phiên nhau bị bắt giữ.

    “Jarl Brum sao?”

    Zoya kinh hãi hỏi lại.

    Nina thở dài.

    “Năm vừa qua đúng là khổ ải.

    Em thề là em sẽ giải thích mọi chuyện với chị, và nếu chị quyết định rằng em nên bị cùm chân tay thả xuống sông Sokol thì em sẽ chấp thuận điều đó không một lời than vãn.

    Nhưng đêm nay bọn em đến đây vì em đã chứng kiến cuộc tấn công của bọn Kherguud ở Tây Stave.

    Em muốn giúp các Grisha rời khỏi Ketterdam trước khi bị người Shu tìm bắt.”

    Zoya thấp hơn Nina, nhưng vẫn có thể nghênh mặt với cô khi đáp, “Thế em định giúp bằng cách nào?”

    “Bọn em có một con tàu.”

    Chuyện đó chưa hoàn toàn là sự thật, nhưng Matthias sẽ không bác bỏ nó.

    Zoya phẩy tay.

    “Chúng tôi cũng có tàu.

    Nó bị kẹt ở ngoài khơi, cách bờ biển vài dặm.

    Hải cảng đã bị người Kerch và Hội đồng Thuỷ triều phong toả.

    Không một con tàu nước ngoài nào được ra vào cảng nếu không có sự cho phép của Hội đồng Thương buôn.”

    Vậy là Kaz đã nói đúng.

    Van Eck đã dùng toàn bộ sức ảnh hưởng của mình để bảo đảm Kaz không thể đưa được Kuwei ra khỏi Ketterdam.

    “Vâng,” Nina đáp.

    “Nhưng con tàu của bọn em thuộc về một thành viên của Hội đồng Thương buôn.”

    Zoya và Genya đưa mắt nhìn nhau.

    “Được rồi, Zenik,” Zoya lên tiếng.

    “Giờ thì tôi nghe em đây.”

    ***

    Nina cung cấp một số chi tiết cho Zoya và Genya, nhưng Matthias nhận thấy cô không nhắc tới Kaz và giữ cho Lâu Đài Băng nằm ngoài câu chuyện.

    Khi họ đi lên trên để thảo luận kế hoạch, Nina và Matthias bị bỏ lại cùng với hai lính canh có vũ trang tại lối vào của bể nước.

    Matthias thì thầm bằng tiếng Fjerda, “Nếu các gián điệp Ravka làm ăn đàng hoàng, bạn bè của em sẽ biết chúng ta là những người đã giải cứu Kuwei.”

    “Đừng có thì thào,” Nina đáp lại cùng bằng tiếng Fjerda.

    “Như thế sẽ chỉ làm lính canh nghi ngờ.

    Sau này em sẽ kể hết mọi chuyện với Zoya và Genya, nhưng anh có nhớ chúng ta đã muốn thủ tiêu cậu ta đến thế nào không?

    Em không rõ Zoya có cùng lựa chọn như vậy hay không.

    Chị ấy không cần phải biết người lên thuyền là ai cho đến khi nó cập cảng ở Os Kervo.”

    An toàn trên đất Ravka.

    Mấy chữ đó làm ruột gan Matthias quặn lại.

    Anh rất muốn đưa Nina rời khỏi Ketterdam, nhưng viễn cảnh đi tới Ravka có vẻ không an toàn đối với anh.

    Chắc Nina cũng cảm nhận được sự không thoải mái của Matthias, vì cô nói ngay, “Ravka là nơi an toàn nhất đối với Kuwei.

    Cậu ta cần sự bảo vệ của chúng em.”

    “Vậy sự bảo vệ của Zoya Nazyalensky là như thế nào?”

    “Chị ấy không tệ như vậy đâu.”

    Matthias đưa ánh mắt hoang mang nhìn Nina.

    “Thật ra, Zoya rất dữ dằn, nhưng chị ấy và chị Genya đã chứng kiến nhiều thương vong trong cuộc nội chiến.

    Em không tin họ muốn máu đổ thêm nữa.”

    Matthias thầm mong đó là sự thật, nhưng ngay cả như thế anh cũng không chắc là nó có ý nghĩa.

    “Em còn nhớ những điều đã nói với anh chứ, Nina?

    Em ước gì vua Nikolai tiến quân lên phía bắc và quét sạch mọi thứ trên đường.”

    “Lúc đó em nóng giận…”

    “Em có quyền nóng giận.

    Tất cả chúng ta đều như vậy.

    Vấn đề là ở chỗ đó.

    Brum sẽ không dừng lại.

    Các drüskelle sẽ không dừng lại.

    Họ coi sứ mạng thần thánh của mình là tận diệt bọn em.”

    Đó cũng từng là sứ mạng của anh, và anh vẫn còn cảm thấy sự hoài nghi, sự thôi thúc của lòng hận thù.

    Anh tự nguyền rủa bản thân vì điều đó.

    “Vậy thì chúng ta sẽ tìm cách làm họ thay đổi suy nghĩ.

    Tất cả bọn họ.”

    Cô nhìn anh một lúc.

    “Hôm nay anh sử dụng bom khói.

    Anh đã bảo Wylan chế tạo nó à?”

    “Đúng,” Mattthias thừa nhận.

    “Tại sao?”

    Anh biết cô sẽ không thích nghe điều này.

    “Anh không rõ parem ảnh hưởng tới năng lực của em ở mức độ nào.

    Vì anh không cho em dùng thuốc, anh cần phải đủ khả năng bảo vệ em mà không làm em đau.”

    “Và anh đã mang nó theo đề phòng trường hợp chúng ta gặp rắc rối?”

    “Phải.”

    “Với các Grisha.”

    Anh gật đầu, chờ đợi lời mắng mỏ của cô.

    Nhưng tất cả những gì cô làm chỉ là nhìn anh với vẻ mặt trầm ngâm.

    Cô tiến lại gần.

    Matthias ngượng nghịu liếc nhìn các lính canh đang đứng phía bên kia cửa.

    “Kệ họ đi,” cô nói.

    “Tại sao anh không hôn em, Matthias?”

    “Đây không phải là lúc…”

    “Có phải vì bản chất của em không?

    Có phải vì anh vẫn e sợ em không?”

    “Không.”

    Cô ngừng lại, và anh có thể thấy cô lúng túng với điều muốn nói ra.

    “Có phải vì cách cư xử của em trên tàu?

    Cách cư xử của em đêm hôm nọ… khi em cố bắt anh đưa nốt chỗ parem còn lại?”

    “Sao em lại nghĩ như thế?”

    “Anh luôn bảo em không biết xấu hổ là gì.

    Em nghĩ là… em xấu hổ.”

    Cô nhún vai.

    “Nó giống như mặc một chiếc áo không vừa với mình.”

    “Nina, anh đã thề với em.”

    “Nhưng…”

    “Kẻ thù của em cũng là kẻ thù của anh, và anh sẽ cùng em chiến đấu chống lại mọi địch thủ, kể cả thứ ma dược đó.”

    Nina lắc đầu như thể Matthias đang nói linh tinh.

    “Em không muốn anh ở bên em vì lời thề thốt đó, hoặc bởi vì anh cho rằng em cần anh bảo vệ, hoặc bởi vì anh nghĩ rằng anh nợ em một món nợ xương máu ngu ngốc nào đó.”

    “Nina à…’’Anh nói, rồi khựng lại.

    “Nina, anh ở bên em vì em cho phép anh làm điều đó.

    Không có vinh dự nào lớn hơn việc được ở bên em.”

    “Danh dự.

    Trách nhiệm.

    Em hiểu rồi.”

    Matthias có thể chịu được tính khí nóng nảy của cô, nhưng sự thất vọng thì không.

    Anh chỉ biết thứ ngôn ngữ của chiến trận.

    Anh không có vốn từ cho chuyện này.

    “Việc gặp em đúng là một thảm hoạ.”

    Cô nhướn mày.

    “Cảm ơn anh.”

    Djel ơi, anh dở chuyện này khủng khiếp.

    Anh luống cuống nói tiếp, cố gắng làm cô hiểu.

    “Nhưng anh biết ơn thảm hoạ đó mỗi ngày.

    Anh cần một biến cố để lôi anh ra khỏi cuộc sống từng có.

    Em là một cơn địa chấn, một trận lở đất.”

    “Em…”

    Cô chống nạnh và nói, “là một bông hoa mong manh.”

    “Em không phải là một bông hoa, em là tất cả những đoá hoa đồng loạt

    nở bừng trong khu rừng.

    Em là một ngọn sóng triều.

    Em là một đàn thú chạy loạn.

    Em thật choáng ngợp.”

    “Thế anh thích cái gì?”

    Cô hỏi lại, mắt long lanh, một chút run rẩy xuất hiện trong giọng nói.

    “Một cô nàng Fjerda ăn mặc kín cổng cao tường sẵn sàng trầm mình trong nước lạnh mỗi khi quá háo hức một chuyện gì đó sao?”

    “Đó không phải là ý anh muốn nói!”

    Nina nhích lại gần Matthias.

    Một lần nữa, anh liếc mắt nhìn đám lính canh.

    Họ đang quay lưng lại, nhưng Matthias biết họ vẫn lắng nghe, cho dù anh với Nina đang nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ nào.

    “Anh sợ cái gì?”

    Cô thách thức.

    “Đừng có nhìn họ, Matthias.

    Nhìn em đây này.”

    Và anh nhìn.

    Thật khó mà không nhìn cô.

    Anh thích thấy cô trong trang phục Fjerda, với chiếc áo khoác len ngắn và tà váy rộng.

    Cặp mắt màu lục của cô rực sáng, má cô ửng hồng, đôi môi hơi hé mở.

    Thật dễ dàng hình dung anh quỳ gối trước cô như một người sám hối, để bàn tay lướt nhẹ trên bắp chân trắng nõn, vén tà váy lên cao quá đầu gối, tới bắp đùi nóng ấm của cô.

    Và điều tệ hại nhất là anh biết cô sẽ cảm thấy khoan khoái như thế nào.

    Mọi tế bào của anh vẫn còn nhớ sự tiếp xúc với cơ thể cô vào cái đêm đầu tiên ở trại săn cá voi.

    “Anh…

    Không có điều gì anh thèm muốn hơn.

    Không có gì anh thèm muốn hơn là được choáng ngợp bởi em.”

    “Nhưng anh lại không muốn hôn em?”

    Anh hít vào thật chậm, cố gắng sắp xếp các suy nghĩ của mình.

    Chuyện này thật sai trái.

    “Ở Fjerda…’’Anh lên tiếng.

    “Chúng ta không phải đang ở Fjerda.”

    Anh cần phải làm cho cô hiểu.

    “Ở Fjerda, anh sẽ phải xin phép bố mẹ em để được đi chơi với em.”

    “Em không gặp bố mẹ từ hồi còn là một đứa trẻ.”

    “Chúng ta sẽ bị kèm chặt.

    Anh sẽ phải dùng bữa tối với gia đình em ít nhất ba lần trước khi chúng ta được phép ở một mình với nhau.”

    “Hiện giờ chúng ta đang ở một mình với nhau, Matthias.”

    “Anh sẽ phải tặng quà cho em.”

    Nina nghiêng đầu.

    “Anh nói tiếp đi.”

    “Những đoá hồng đông, nếu anh đủ tiền mua, một chiếc lược bạc để em chải tóc.”

    “Em không cần những cái đó.”

    “Bánh táo với lớp kem ngọt.”

    “Em tưởng drüskelle các anh không ăn đồ ngọt?”

    “Tất cả là để cho em,” Matthias đáp.

    “Em đang lắng nghe anh đây.”

    “Nụ hôn đầu tiên của chúng ta sẽ phải diễn ra trong một khu rừng tràn ngập ánh nắng, hoặc dưới một bầu trời sao sau một điệu dân vũ, chứ không thể trong một nhà mồ, hay một cái hầm có lính canh ngoài cửa.”

    “Để em diễn xuôi lại như thế này nhé.

    Anh không hôn em, bởi vì bối cảnh không đủ lãng mạn?”

    “Chuyện này không phải là vì sự lãng mạn.

    Một nụ hôn nghiêm chỉnh, một lời tỏ tình nghiêm túc.

    Những chuyện đó nên được thực hiện đúng cách.”

    “Với những tên trộm lọc lõi sao?”

    Khoé miệng xinh đẹp của cô cong lên và trong một thoáng Matthias sợ cô sẽ cười anh, nhưng cô chỉ lắc đầu và nhích lại gần hơn.

    Cơ thể cô chỉ cách anh vừa vặn một tầm hơi thở.

    Nhu cầu xoá bỏ khoảng cách mỏng manh đó thật điên rồ.

    “Ngày anh đến nhà em lần đầu để được làm cái trò tìm hiểu nghiêm túc này, em sẽ lùa anh vào góc bếp,” cô nói.

    “Nhưng anh hãy kể nhiều hơn về bọn con gái Fjerda đi.”

    “Họ nói chuyện nhỏ nhẹ lắm.

    Họ không giở giọng tán tỉnh với mọi người đàn ông mình gặp.”

    “Em còn tán cả phụ nữ ấy chứ.”

    “Anh nghĩ em sẵn sàng cưa cẩm một cây chà là nếu nó làm em chú ý.”

    “Nếu em làm thế, anh có thể đánh cược nó sẽ ưỡn thẳng và nghe lời.

    Anh ghen đấy à?”

    “Luôn luôn.”

    “Vậy cũng mừng.

    Anh đang nhìn cái gì đấy, Matthias?”

    Những âm trầm trong giọng nói của cô xuyên thẳng vào trong lòng anh.

    Anh hướng mắt lên trần nhà, khẽ thì thầm đáp, “Không gì cả.”

    “Matthias, anh đang cầu nguyện đấy à?”

    “Có lẽ.”

    “Để tự kiềm chế sao?”

    Cô ngọt ngào hỏi lại.

    “Em đúng là phù thuỷ.”

    “Em không mẫu mực.”

    “Anh biết điều đó.”

    Biết một cách khổ sở, đau đáu, mê muội.

    “Và em rất tiếc phải thông báo với anh, anh cũng chẳng chính trực gì đâu.”

    Ánh mắt anh chiếu xuống cô.

    “Anh…”

    “Anh đã phá vỡ bao nhiêu quy tắc kể từ khi gặp em rồi?

    Bao nhiêu luật lệ?

    Chúng chưa phải là cuối cùng.

    Sẽ không có gì khuôn phép nơi chúng ta,” cô nói.

    Cô đưa khuôn mặt lại gần anh.

    Gần đến nỗi họ gần như chạm nhau.

    “Trong cách chúng ta gặp nhau.

    Cuộc sống chúng ta lựa chọn, và cách chúng ta hôn nhau.”

    Cô nhón gót, và dễ dàng làm sao, miệng cô áp vào môi anh.

    Nó chẳng phải một nụ hôn ra trò - chỉ là cú chạm nhanh và bất ngờ của đôi môi.

    Trước khi cô kịp nghĩ đến việc dịch ra xa, anh đã ôm chầm lấy cô.

    Anh biết có lẽ mình đang làm sai mọi chuyện, nhưng anh không còn đầu óc nào để lo lắng điều đó, bởi vì cô đang ở trong vòng tay anh, đôi môi cô hé mở, hai bàn tay cô vít lấy gáy anh, và Djel lòng lành, lưỡi cô luồn vào trong miệng anh.

    Chẳng trách mà người Fjerda thận trọng đến thế về chuyện trai gái.

    Khi hôn Nina, cảm nhận những chiếc răng của cô ép vào môi anh, cơ thể cô nép sát vào anh, nghe tiếng rên khe khẽ mà cô phát ra trong cổ họng, anh đâu còn thiết làm điều gì khác nữa?

    Còn thiết đến ai nữa?

    “Matthias,” Nina nói trong hơi thở đứt quãng, và họ lại hôn nhau lần nữa.

    Cô ngọt ngào như cơn mưa đầu mùa, tươi tắn như những đồng cỏ mới mọc.

    Bàn tay anh ôm lấy lưng cô, lần theo thân hình đường cong sống lưng và sự nảy nở đầy đặn của cặp hông.

    “Matthias,” cô nói dứt khoát hơn và gỡ mình ra.

    Anh mở mắt, đoán chắc mình vừa phạm một sai lầm khủng khiếp nào đó.

    Nina đang cắn môi dưới - nó đỏ và sưng phồng lên.

    Nhưng cô mỉm cười, và đôi mắt cô ngời sáng.

    “Anh làm gì sai à?”

    “Không hề, chàng babink đáng yêu à, nhưng…”

    Zoya hắng giọng.

    “Mừng là hai đứa tìm được cách giết thời gian trong khi chờ đợi.”

    Sự kinh tởm lộ rõ trên khuôn mặt chị, nhưng Genya đứng ngay bên cạnh lại trông như sắp nổ tung vì vui sướng.

    “Có lẽ anh nên hạ em xuống cái đã,” Nina đề xuất.

    Thực tại ập vào đầu Matthias - những ánh mắt cảm thông của đám lính canh, Zoya và Genya trên ngưỡng cửa, và việc trong lúc anh hôn Nina với tất cả sự khao khát của cả năm trời dồn lại, anh đã nhấc bổng cô lên khỏi mặt đất.

    Cảm giác xấu hổ ngập tràn trong anh.

    Người Fjerda nào lại đi làm một chuyện như thế này kia chứ?

    Thật nhẹ nhàng, anh nới lỏng vòng tay quanh cặp đùi tuyệt mĩ của Nina và để cô tuột xuống sàn.

    “Không biết xấu hổ,” Nina thì thầm, và anh cảm thấy má mình ửng đỏ.

    Zoya đảo mắt.

    “Chúng tôi phải thương thảo với một cặp thiếu niên yêu đương thắm thiết thế này đây.”

    Matthias lại cảm thấy khuôn mặt anh nóng ran, nhưng Nina chỉ chỉnh lại bộ tóc giả và đáp, “Vậy là chị đã chấp nhận để chúng em hỗ trợ?”

    Họ mất một khoảng thời gian ngắn để bàn thảo về công tác hậu cần của đêm tới.

    Vì việc quay lại tửu quán sẽ không an toàn cho Nina, một khi cô đã có thông tin về địa điểm và thời điểm lên con tàu của Van Eck, cô sẽ phải gửi một lời nhắn đến toà đại sứ - thông qua Inej, vì Bóng Ma là người có thể đến và đi mà không bị nhìn thấy.

    Nhóm người tị nạn phải tiếp tục ẩn mình lâu nhất có thể, trước khi được Genya và Zoya đưa tới hải cảng.

    “Hãy chuẩn bị chiến đấu,” Matthias nói.

    “Người Shu sẽ canh chừng khu vực này của Ketterdam.

    Họ chưa liều lĩnh tấn công vào đại sứ quán hoặc khu chợ, nhưng đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.”

    “Chúng tôi sẽ sẵn sàng,” Zoya đáp, và trong ánh mắt chị, anh nhìn thấy ánh thép của một người chỉ huy bẩm sinh.

    Trên đường rời khỏi đại sứ quán, Nina đi tìm người Độc Tâm Y mắt vàng đã tham gia phục kích họ ở tửu quán.

    Chị ta là người Shu, với mái tóc đen cắt ngắn, hông đeo một cặp rìu bạc nhỏ.

    Nina đã cho anh biết cô là Tâm Y duy nhất trong số các Grisha tị nạn và là viên chức ngoại giao của Ravka.

    “Chị Tamar?”

    Nina dò hỏi.

    “Nếu bọn Kherguud đến, chị không được để mình bị bắt.

    Một Độc Tâm Y trong tay của người Shu và dưới ảnh hưởng của parem có thể làm cán cân nghiêng về chúng một cách chắc chắn.

    Chị không thể tưởng tượng nổi sức mạnh của loại thuốc này đâu.”

    “Sẽ không ai bắt sống được tôi,” cô gái nói, và lấy từ trong túi ra một viên thuốc nhỏ màu vàng nhạt, để nó trên những ngón tay của mình.

    “Thuốc độc ư?”

    “Do chính tay Genya chế ra đấy.

    Chết ngay lập tức.

    Tất cả chúng tôi đều có chúng.”

    Tamar đưa một viên cho Nina.

    “Cầm lấy đi.

    Phòng khi hữu sự.

    Tôi còn viên khác.”

    “Nina…”

    Matthias thốt lên.

    Nhưng Nina không hề ngần ngại.

    Cô nhét viên thuốc vào túi váy trước khi anh kịp nói lời phản đối.

    Họ rời khỏi khu sứ quán, tránh xa các sạp chợ và tửu quán, nơi lực lượng thị tuần đã kéo đến.

    Matthias dặn mình cảnh giác và tập trung vào việc đưa cả hai bình an quay về Mạng Đen, nhưng anh không thể thôi nghĩ về viên thuốc màu vàng nhạt kia.

    Việc nhìn thấy nó đã khiến cho giấc mơ của anh trở lại sống động hơn bao giờ hết.

    Băng giá phương bắc, Nina mất tích, và anh bất lực trong việc cứu cô.

    Nó đã làm tan biến niềm vui vô bờ của nụ hôn trong anh.

    Giấc mơ đã bắt đầu trên con tàu, khi Nina trải qua những cơn vật vã tồi tệ nhất vì thiếu parem.

    Cô như hoá điên vào đêm hôm đó, người quằn quại, quần áo ướt đẫm mồ hôi.

    Anh không phải là một người tốt, cô đã hét lên như thế.

    Anh là một thằng lính thiện chiến, và buồn thay anh không hề biết phân biệt hai thứ đó.

    Sau đó cô khốn khổ khóc nấc lên, vật vã vì đói và vì hối hận.

    Em xin lỗi, cô nói.

    Em không có ý nói như thế.

    Anh biết mà.

    Giây lát sau cô nói thêm, Giá như anh giúp em.

    Đôi mắt tuyệt đẹp của cô đẫm lệ, làn da xanh xao của cô dường như bị phủ một lớp sương giá.

    Làm ơn đi, Matthias, em đau quá.

    Giúp em với.

    Anh sẽ làm bất cứ điều gì, đánh đổi bất cứ thứ gì để xoa dịu nỗi thống khổ của cô.

    Nhưng anh đã thề không đưa thêm parem cho cô.

    Anh đã thề không để cô trở thành nô lệ của thứ ma dược đó, và anh sẽ giữ lời, bằng mọi giá.

    Anh không thể, em yêu à, anh đã thì thầm như thế trong lúc dấp một chiếc khăn ướt lên trán cô.

    Anh không thể đưa thêm parem cho em.

    Anh đã bảo họ khoá cửa phòng từ bên ngoài.

    Trong một thoáng khuôn mặt cô biến đổi, đôi mắt cô nheo lại.

    Vậy thì phá tan cái cửa chết tiệt kia đi, đồ vô dụng.

    Không.

    Cô đã nhổ vào mặt anh.

    Vài giờ sau, khi năng lượng đã giải phóng hết, Nina im lặng trở lại, rầu rĩ nhưng sáng suốt.

    Cô nằm nghiêng với mi mắt thâm tím, thở hổn hển đứt quãng, và nói, “Trò chuyện với em đi.”

    “Về điều gì?”

    “Về bất cứ điều gì.

    Nói cho em về isenulf đi.

    Anh không ngạc nhiên khi cô biết về isenulf, những con sói trắng được nuôi nấng để chiến đấu bên cạnh các drüskelle.

    Chúng to lớn hơn những con sói thông thường, và mặc dù được huấn luyện để tuân lệnh chủ nhân, chúng không bao giờ từ bỏ sự hoang dã không thể thuần hoá, vốn làm chúng khác với loài chó nhà, họ hàng xa của chúng.

    Thật khó khăn khi phải nghĩ về Fjerda, về quãng đời mà anh đã đoạn tuyệt, nhưng anh vẫn kể một cách hăm hở để làm cô khuây khoả.

    “Có khi sói nhiều hơn drüskelle, có khi drüskelle đông đảo hơn sói.

    Lũ sói tự quyết định khi nào bắt cặp, ít bị ảnh hưởng bởi người phối giống.

    Chúng quá bướng bỉnh cho chuyện đó.”

    Nina mỉm cười, rồi nhăn nhó vì đau.

    “Kể tiếp đi,” cô thì thào.

    “Có một gia tộc nuôi nấng isenulf qua nhiều thế hệ.

    Họ sống ở trên miền bắc xa xôi, gần Stenrink, Vòng Đá.

    Khi một lứa sói ra đời, bọn anh đi tới đó bằng xe trượt hoặc cuốc bộ, và mỗi drüskelle chọn một con sói con.

    Kể từ đó, bọn anh chịu trách nhiệm về nhau.

    Chiến đấu cạnh nhau, ngủ cùng nhau, khẩu phần của anh là khẩu phần của sói.

    Nhưng nó không phải là thú cưng của anh.

    Nó là một chiến binh như anh, một người anh em.”

    Nina rùng mình, và Matthias cảm thấy sự xấu hổ dâng lên trong lòng.

    Trong trận chiến với Grisha, isenulf có thể làm tình thế cân bằng trở lại đối với drüskelle.

    Chúng được huấn luyện để giúp sức họ và xé toạc cổ họng của kẻ tấn công.

    Sức mạnh của Độc Tâm Y dường như không tác động được tới muông thú.

    Một Grisha như Nina sẽ gần như bất lực trước sự tấn công của isenulf.

    “Nếu có chuyện gì xảy ra với con sói thì sao?”

    Nina hỏi.

    “Drüskelle có thể huấn luyện một con sói khác, nhưng đó là một mất mát khủng khiếp.”

    “Thế chuyện gì xảy ra với con sói nếu drüskelle của nó bị chết?”

    Matthias im lặng một lúc.

    Anh không muốn nghĩ tới chuyện này.

    Trass là con vật mà anh rất yêu thương.

    “Chúng được thả về với thiên nhiên, nhưng chúng sẽ không bao giờ được bầy đàn chấp nhận.”

    Mà một con sói không có bầy đàn thì làm sao được? isenulf không thể sống đơn độc.

    Các drüskelle khác tin rằng anh đã chết từ lúc nào?

    Có phải Brum là người đã đưa Trass lên miền băng giá phía bắc không?

    Hình ảnh con sói của anh bị bỏ lại một mình, hú gọi anh đến đưa nó về nhà, khiến anh đau nhói trong lồng ngực.

    Tựa hồ như có thứ gì trong đó đã vỡ và để lại một tiếng vọng.

    Tiếng rắc khô khốc của một cành cây bị tuyết đọng quá mức.

    Như thể cảm nhận được nỗi buồn của anh, Nina mở mắt ra, màu xanh lục trong đôi mắt cô giống như một chồi lá sắp bung nở, thứ màu sắc đưa anh quay về với thực tại.

    “Tên của nó là gì?”

    “Trassel.”

    Khoé miệng cô nhếch lên.

    “Chuyên gây rối.”

    “Không ai muốn nó.”

    “Nó bị còi à?”

    “Không,” Matthias đáp.

    “Ngược lại là đằng khác.”

    Phải mất hơn một tuần đi đường gian nan để tối được Vòng Đá.

    Matthias không thích thú với chuyến đi.

    Lúc đó anh mới mười hai tuổi, chân ướt chân ráo gia nhập đội ngũ drüskelle, và ngày nào cũng nghĩ tới việc bỏ về.

    Anh không ngại chuyện tập luyện.

    Những giờ chạy bộ và đấu võ giúp anh nguôi ngoai nỗi nhớ nhà.

    Anh muốn trở thành một sĩ quan.

    Anh muốn chiến đấu chống lại Grisha.

    Anh muốn có cơ hội vinh danh kí ức về bố mẹ và em gái.

    Drüskelle đã cho anh mục đích.

    Nhưng những cái khác thì sao?

    Những trò trêu chọc trong bữa ăn?

    Những lời khoa trương và tán gẫu rỗng tuếch?

    Chẳng được tích sự gì.

    Anh đã có một gia đình.

    Họ được chôn sâu dưới lòng đất, linh hồn họ đã về với Djel.

    Drüskelle chỉ là một phương tiện để đạt được mục đích.

    Brum đã cảnh báo Matthias rằng anh sẽ không bao giờ trở thành một drüskelle thực sự nếu không học cách xem những thằng con trai khác như anh em của mình, nhưng Matthias không tin chuyện đó.

    Anh là người to con nhất, khoẻ nhất, nhanh nhất.

    Anh không cần được lòng mọi người để sống sót.

    Anh đã đi chặn hậu đoàn xe trượt trong suốt hành trình, thu mình trong lớp áo lông, không nói chuyện với ai, và khi rốt cuộc họ cũng đến được Vòng Đá, anh lùi lại phía sau, ngần ngại, trong lúc các drüskelle khác chạy vào trong trang trại rộng lớn, la hét xô đẩy nhau, ai cũng muốn lao vào bầy sói con lông trắng với đôi mắt lạnh như băng đang ngoe nguẩy đuôi.

    Sự thật là anh cực kì muốn có một chú sói con, nhưng anh biết số lượng sói có thể là không đủ cho tất cả mọi người.

    Người nuôi sói sẽ quyết định con nào dành cho ai, và những ai sẽ phải về nhà tay trắng.

    Nhiều drüskelle đã kịp bắt chuyện với bà già, cố gắng thuyết phục bà.

    “Bà thấy không?

    Con này thích cháu.”

    “Nhìn này!

    Nhìn này!

    Cháu ra lệnh cho nó ngồi được rồi!”

    Matthias biết mình nên cố gắng tỏ ra dễ gần và tỏ ra nỗ lực một chút, nhưng thay vào đó, anh chỉ lui về phía mấy cái chuồng ở cuối trang trại.

    Trong chiếc chuồng lưới thép nằm ở góc, anh bắt gặp một tia sáng màu vàng - ánh sáng phản chiếu từ một cặp mắt cảnh giác.

    Anh tiến lại gần hơn và thấy một con sói, không còn nhỏ, nhưng cũng chưa hoàn toàn trưởng thành.

    Nó sủa vang khi Matthias đến gần chuồng, lông cổ dựng lên, đầu hạ thấp, răng nhe ra.

    Con sói có một vết sẹo dài vắt ngang mõm.

    Vết sẹo chạy thẳng qua mắt phải và làm cho một phần mống mắt chuyển từ màu xanh lơ sang lốm đốm nâu.

    “Đừng có dại mà chọn nó,” người nuôi sói lên tiếng.

    Matthias không biết bà ta đã đến đứng phía sau lưng anh từ lúc nào.

    “Nó có nhìn được không?”

    “Có, nhưng nó không thích con người.”

    “Tại sao vậy?”

    “Nó xổng chuồng lúc còn bé.

    Chạy được hai dặm trên băng tuyết.

    Bọn trẻ con tìm thấy và làm nó bị thương với một cái chai vỡ.

    Kể từ đó, nó không để cho bất kì ai lại gần mình, và trở nên quá lớn để có thể huấn luyện.

    Chắc phải kết liễu nó sớm thôi.”

    “Hãy để cháu nhận nó.”

    “Nó sẽ xé xác cậu thành từng mảnh ngay lập tức sau khi để cậu cho nó ăn.

    Lần sau chúng tôi sẽ có con khác cho cậu.”

    Ngay khi người phụ nữ bỏ đi, Matthias mở cửa chuồng.

    Nhanh như

    cắt, con sói lao vào cắn anh.

    Matthias muốn hét lên khi hàm răng con thú bập vào cẳng tay mình.

    Anh ngã vật xuống đất, con sói chồm lên anh, cơn đau vượt qua mọi giới hạn mà anh từng biết tới.

    Nhưng anh không phát ra âm thanh nào.

    Anh nhìn thẳng vào mắt con sói trong lúc răng nó nhấn sâu hơn vào cơ tay của anh, tiếng gầm gừ phát ra từ lồng ngực con thú.

    Matthias đoán hàm răng con thú đủ mạnh để bẻ gãy xương, nhưng anh không vật lộn, không la hét, cũng không cụp mắt xuống.

    Tao sẽ không làm đau mày, anh thề, ngay cả khi mày làm đau tao.

    Một khoảnh khắc kéo dài trôi qua.

    Lại một khoảnh khắc kéo dài nữa.

    Matthias có thể cảm thấy máu thấm qua tay áo mình.

    Anh nghĩ mình sắp ngất đến nơi.

    Thế rồi, thật chậm rãi, hàm răng của con sói nhả ra.

    Nó ngồi xuống, bộ lông trắng thấm đẫm máu Matthias, đầu nghiêng sang một bên.

    Con sói thở ra.

    “Rất vui được gặp mày,” Matthias nói.

    Anh thận trọng ngồi lên, dùng vạt áo băng cánh tay lại, sau đó anh và con sói của mình trong bộ dạng lấm máu quay trở lại chỗ những người mặc đồng phục xám khác đang chơi với bầy sói con.

    “Con này là của tôi,” anh nói khi tất cả mọi người quay lại nhìn, và bà già lắc đầu.

    Rồi anh ngất đi.

    Đêm đó, trên tàu, Matthias đã kể cho Nina nghe về Trassel, bản băng hung dữ của nó, vết sẹo của nó.

    Sau đó cô đã ngủ thiếp đi, và Matthias cũng cho phép mình chợp mắt.

    Băng tuyết đã đợi sẵn.

    Luồng gió sát nhân nhe răng ập tới, tiếng sói tru văng vẳng phía xa, và Nina hét gọi, nhưng Matthias không thể tìm thấy cô.

    Kể từ đó, giấc mơ tái xuất hiện hằng đêm.

    Thật khó mà không coi nó như một điềm gở, và khi Nina bỏ viên thuốc màu vàng kia vào túi, anh có cảm giác như đang chứng kiến cơn cuồng phong ập tới: tiếng gió rít gào đầy tai anh, hơi lạnh luồn vào tận xương, và anh đoán chắc mình sẽ mất cô.

    “Parem có thể sẽ không phát huy tác dụng với em nữa,” anh nói khi hai người quay trở lại đoạn kênh vắng vẻ nơi neo chiếc gondel.

    “Gì cơ?”

    “Năng lực của em đã biến đổi, không phải vậy sao?”

    Nina loạng choạng.

    “Đúng.”

    “Bởi vì parem?”

    Giờ thì Nina dừng hẳn lại.

    “Sao anh lại hỏi em?”

    Anh không muốn hỏi cô.

    Anh muốn hôn cô lần nữa.

    Nhưng anh chỉ đáp, “Nếu em bị bắt, biết đâu người Shu sẽ không thể dùng ma dược để khống chế em.”

    “Hoặc biết đâu nó vẫn tồi tệ như trước.”

    “Viên thuốc độc mà Tamar đưa cho em ấy…”

    Nina đặt một bàn tay lên cánh tay anh.

    “Em sẽ không bị bắt, Matthias.”

    “Nhưng nếu em bị…”

    “Em không biết parem đã làm gì em.

    Em phải tin rằng các tác động sẽ mất đi theo thời gian.”

    “Và nếu chúng không mất đi?”

    “Chúng sẽ mất đi,” Nina nhíu mày đáp.

    “Em không thể sống như thế này.

    Nó giống như… chỉ còn một nửa con người em là bình thường.

    Mặc dù…”

    “Mặc dù sao?”

    Matthias hỏi dồn.

    “Bây giờ cơn đói thuốc không còn quá tệ nữa,” cô đáp như thể tự mình nhận ra điều đó.

    “Thật ra, em gần như không nghĩ đến parem từ sau cuộc đụng độ ở tửu quán.”

    “Nhờ việc sử dụng năng lực mới à?”

    “Có lẽ thế,” Nina đáp một cách dè dặt.

    “Và…” cô lại nhíu mày.

    Matthias nghe thấy một tiếng ùng ục khe khẽ.

    “Bụng em sôi đấy à?”

    “Phải.”

    Nina toét miệng cười.

    “Matthias, em đang đói ngấu đây này.”

    Có khi nào rốt cuộc Nina cũng đã hồi phục?

    Hay là những gì cô làm ở tửu quán đã khiến sự thèm ăn quay trở lại?

    Anh không cần biết.

    Anh chỉ thấy mừng vì cô mỉm cười như thế.

    Anh nhấc bổng Nina và quay cô trong không khí.

    “Nếu cứ làm thế này thì anh sẽ bị căng cơ đấy,” cô đáp với một nụ cười rạng rỡ nữa.

    “Em nhẹ như lông hồng ấy mà.”

    “Em không muốn thấy con chim mang bộ lông hồng đó.

    Giờ thì đi mua cho em một chồng bánh waffle cao gấp đôi anh.

    Em…”

    Cô bỗng khựng lại, khuôn mặt biến sắc.

    “Thánh thần ơi!”

    Matthias ngoái đầu nhìn theo ánh mắt Nina và bắt gặp đôi mắt của chính anh.

    Một tờ cáo thị đã được dán lên bức tường, với hình vẽ phác hoạ chính xác đến phát sợ khuôn mặt của anh.

    Bên trên và bên dưới nó là một từ duy nhất, được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau: TRUY NÃ.

    Nina giật phăng tờ giấy khỏi bức tường.

    “Anh lẽ ra đã chết rồi mà.”

    “Chắc ai đó đã yêu cầu kiểm tra xác của Muzzen trước khi anh ta được

    hoả táng.”

    Có thể là người Fjerda.

    Cũng có thể là người nào đó của nhà tù.

    Matthias không đọc được những chữ tiếng Kerch được in ở phía dưới cùng của tờ cáo thị, nhưng anh có thể nhận ra tên của mình và con số.

    “Năm mươi ngàn kruge.

    Bọn họ treo thưởng cho việc bắt giữ anh.”

    “Không phải,” Nina đáp.

    Cô chỉ tay vào dòng chữ bên dưới con số và dịch, “Truy nã: Matthias Helvar.

    Sống hoặc chết.

    Họ treo thưởng cho cái đầu của anh đó.”

    16

    JESPER

    Khi Nina và Matthias bước vào nhà mồ, Jesper chỉ muốn đứng bật dậy và khiêu vũ với cả hai người.

    Anh đã mất cả giờ đồng hồ cố gắng giải thích cho Kuwei làm thế nào họ đến được đại sứ quán, và anh bắt đầu có cảm giác mơ hồ rằng cậu nhóc đang giả ngu.

    Cũng có thể cậu ta chỉ thích thú trước những động tác nực cười của anh.

    “Anh lặp lại câu cuối được không?”

    Kuwei nói và chồm người tới trước, hơi quá gần với Jesper.

    “Nina,” anh thốt lên.

    “Cô có thể giúp bôi trơn cuộc đối thoại này được không?”

    “Tạ ơn các thánh,” Inej lên tiếng, bỏ lại công việc dang dở trên bàn cùng Wylan và Kaz.

    Ba người đang lắp ráp đống dây thép và bánh răng mà Kaz đã xoáy được từ đoàn xiếc Zirkoa.

    Suốt hai tiếng vừa qua, Wylan đã thực hiện nhiều chỉnh sửa để bảo đảm an toàn cho Inej, bằng cách lắp những cái móc có từ tính giúp bám chắc vào thành kim loại của xi-lô.

    “Sao anh cứ nhìn cậu ta vậy?”

    Kuwei hỏi.

    “Tôi cũng giống hệt như cậu ta mà.

    Anh nhìn tôi đây này.”

    “Tôi đâu có nhìn cậu ta,” Jesper phản đối.

    “Tôi chỉ… giám sát công việc của họ.”

    Kuwei lên được con tàu đó sớm chừng nào tốt chừng ấy.

    Cái nhà mồ này bắt đầu cho cảm giác chật chội rồi.

    “Chị có liên lạc được với những người tị nạn không?”

    Inej vừa hỏi vừa

    vẫy Nina lại gần bàn và dọn một chỗ cho chị ngồi.

    “Mọi chuyện diễn ra rất suôn sẻ,” Nina đáp.

    “Ngoại trừ việc làm vỡ vài cái cửa sổ và suýt nữa bị ăn đạn.”

    Kaz ngước mắt lên khỏi chiếc bàn, khuôn mặt tỏ ra quan tâm.

    “Có biến ở Tiểu Ravka à?”

    Jesper hỏi.

    “Không có gì mà chúng tôi không thể xử lí được,” Nina đáp.

    “Làm ơn nói cho tôi biết ở đây có gì đó để ăn hay không.”

    “Chị đói á?”

    Inej hỏi lại.

    Mọi người tròn mắt nhìn Nina.

    Cô nghiêng mình thi lễ.

    “Phải, phải, Nina Zenik này đang đói.

    Giờ thì có ai cho tôi đồ ăn trước khi tôi buộc phải nấu một trong mấy người không?”

    “Đừng có vớ vẩn,” Jesper đáp.

    “Cô đâu có biết nấu ăn.”

    Inej lục lọi trong đống thức ăn còn lại và đặt trước mặt Nina bữa ăn nghèo nàn gồm cá tuyết muối, thịt khô cùng vài cái bánh quy đã cũ.

    “Chuyện gì đã xảy ra tại tửu quán?”

    Kaz hỏi.

    “Người tị nạn đang trốn trong đại sứ quán,” Matthias đáp.

    “Chúng tôi đã gặp…”

    “Thủ lĩnh của họ,” Nina cắt ngang.

    “Họ sẽ chờ hiệu lệnh từ chúng ta.”

    Cô tọng hai chiếc bánh quy vào miệng.

    “Mấy cái này kinh quá.”

    “Từ từ thôi,” Matthias nói.

    “Em sẽ bị nghẹn mất.”

    “Cũng đáng mà,” Nina đáp và cố gắng nuốt.

    “Mấy cái bánh quy á?”

    “Em đang vờ như chúng là bánh nướng.

    Khi nào thì tàu đi?”

    “Bọn em đã tìm được một chuyến tàu chở mật đường nhổ neo đi Os

    Kervo vào mười một giờ đêm nay,” Inej đáp.

    “Specht đang lo liệu giấy tờ.”

    “Tốt,” Nina nói, đoạn lôi một mẩu giấy từ trong túi ra và vuốt phẳng nó trên bàn.

    Phác hoạ chân dung Matthias giương mắt nhìn họ.

    “Chúng ta cần phải rời khỏi nơi này càng sớm càng tốt.”

    “Khỉ thật,” Jesper nói.

    “Kaz và Wylan vẫn đang dẫn đầu.”

    Anh giơ tay chỉ chỗ họ đã dán những tờ cáo thị truy nã còn lại: Jesper, Kaz và Inej đều hiện diện trên đó.

    Van Eck chưa dám bêu mặt Kuwei Yul-Bo trên các bức tường của Ketterdam, nhưng vẫn tiếp tục lấy cớ tìm kiếm con trai, do vậy có một cáo thị treo thưởng cho ai đưa Wylan Van Eck về nhà nguyên lành.

    Chỉ thiếu mỗi Nina.

    Cô chưa từng gặp mặt Van Eck, và mặc dù cô có liên hệ với băng Cặn Bã, có thể lão ta không biết về sự tham gia của cô.

    Matthias xem xét các cáo thị.

    “Một trăm ngàn kruge!”

    Anh trợn tròn mắt nhìn Kaz.

    “Cậu làm gì xứng với cái giá đó!”

    Một nụ cười nhạt xuất hiện trên môi Kaz.

    “Thị trường quyết định mà.”

    “Thế tôi thì sao,” Jesper nói.

    “Họ treo giá tôi có ba mươi ngàn.”

    “Mạng sống của các anh đang bị treo giá,” Wylan thốt lên.

    “Sao các anh có thể hành động như thể đây chỉ là một sự thi thố?”

    “Cậu đang ngồi trong một nấm mồ, thiếu gia à.

    Chúng ta sẽ hành động ở nơi cần hành động.”

    “Có lẽ tất cả chúng ta nên đi Ravka,” Nina nói, đoạn gõ ngón tay lên cáo thị truy nã Inej.

    “Ở lại đây em sẽ không an toàn.”

    “Một ý tưởng không tồi,” Kaz đáp.

    Inej liếc nhanh sang Kaz.

    “Anh sẽ đi Ravka sao?”

    “Không đời nào.

    Tôi sẽ ẩn mình ở đây.

    Tôi muốn tận mắt nhìn thấy sự sụp đổ của Van Eck khi mọi chuyện kết thúc.”

    “Nhưng em có thể đi,” Nina nói với Inej.

    “Còn cậu, Jesper?

    Chúng ta có thể đưa bố cậu đi cùng.”

    Jesper nghĩ tới bố lúc này đang mắc kẹt trong một căn phòng sang trọng nào đó tại Geldrenner và có lẽ đang mài mòn thảm trải sàn bằng những bước chân đi tới đi lui của ông.

    Mới có hai ngày trôi qua kể từ khi anh nhìn thấy tấm lưng rộng của bố biến mất giữa những nấm mộ khi Rotty đưa ông rời đảo Mạng Đen, vậy mà anh tưởng như đã rất lâu rồi.

    Kể từ lúc đó, anh đã suýt mất mạng vì bọn săn lùng Grisha và bị người ta treo giá cho cái đầu của mình.

    Nhưng nếu họ hoàn tất công việc đêm nay, bố anh sẽ không cần phải biết tới những chuyện ấy.

    “Không đời nào,” Jesper đáp.

    “Tôi muốn bố tôi nhận lại tiền nhanh nhất có thể và quay về Novyi Zem.

    Tôi sẽ không ngủ ngon chừng nào ông chưa về đến nông trại bình yên vô sự.

    Chúng tôi sẽ ẩn náu tại khách sạn cho tới khi Van Eck bị hạ uy tín và thị trường đường đảo lộn.

    “Còn em, Inej?”

    Nina hỏi.

    Mọi người đều nhìn sang phía Bóng Ma, ngoại trừ Jesper.

    Anh quan sát Kaz, tò mò muốn biết anh ta sẽ phản ứng như thế nào trước viễn cảnh Inej rời khỏi Ketterdam.

    Nhưng nét mặt Kaz không thể giải thích nổi, như thể anh đang chờ nghe xem bữa tối sẽ được dọn lúc nào.

    Inej lắc đầu.

    “Nếu tới Ravka thì em sẽ đi trên con thuyền của em, được lèo lái bởi thuỷ thủ đoàn của em.”

    Jesper nhướn mày.

    “Cô trở thành sói biển từ khi nào vậy?

    Người tỉnh táo ai lại muốn ăn dầm nằm dề trên một con tàu kia chứ?”

    Inej mỉm cười.

    “Tôi vẫn nghe nói Ketterdam làm người ta phát rồ.”

    Kaz rút đồng hồ trong túi ra xem.

    “Chúng ta sẽ hành động lúc tám giờ.

    Van Eck tập hợp Hội đồng Thương buôn ở nhà lão ta tối nay.”

    “Anh có nghĩ họ sẽ huy động thêm nguồn lực để tìm kiếm Wylan không?”

    Nina hỏi.

    “Có thể.

    Nhưng điều đó không còn là mối bận tâm của chúng ta nữa.

    Sự ồn ào chộn rộn của kẻ đến người đi sẽ giúp Wylan và tôi lấy trộm con dấu trong két sắt.

    Cùng lúc đó, Nina và Inej sẽ tấn công vào Bãi Ngọt, vệ quân liên tục đi tuần quanh khu tháp xi-lô, bọn họ mất khoảng mười hai phút để hoàn tất một vòng hàng rào.

    Nhưng họ luôn để lại ai đó canh cổng, thế nên mọi người hãy khôn khéo khi tìm cách tiếp cận.”

    Anh đặt một cái lọ có nút đậy lên bàn.

    “Đây là chiết xuất cà phê.

    Kuwei, Nina, Jesper, tôi muốn mọi người bôi nó lên mình thật nhiều.

    Nếu quả thực bọn Shu có thể đánh hơi được mùi của Grisha, thứ này sẽ xua chúng đi.”

    “Cà phê?”

    Kuwei hỏi lại, tay mở nút cái lọ và hít hà.

    “Giỏi,” Jesper nói.

    “Bọn tôi từng buôn lậu jurda và rải cà phê xay lên trên để qua mặt lũ chó của bọn thị tuần.

    Làm mũi chúng bị loạn mùi.”

    Nina cầm lấy cái lọ rồi bôi chiết xuất cà phê vào phía sau vành tai và cổ tay.

    “Mong rằng mũi của bọn Kherguud cũng vận hành giống như thế.”

    “Đám người tị nạn của cô tốt hơn nên chuẩn bị sẵn sàng,” Kaz đáp.

    “Họ có bao nhiêu người?”

    “Ít hơn chúng ta tưởng.

    Mười lăm và… hừm… vài người của đại sứ quán.

    Tổng cộng mười bảy người.”

    “Cộng thêm cô, Matthias, Wylan và Kuwei.

    Hai mươi mốt.

    Specht sẽ làm giả giấy tờ theo thông tin này.”

    “Tôi không đi đâu,” Wylan lên tiếng.

    Jesper quắp các ngón tay lại để chúng khỏi múa may lung tung.

    “Không

    á?”

    “Tôi sẽ không để cho cha tống khứ mình ra khỏi cái thành này một lần nữa.”

    “Sao mọi người nhất quyết ở lại cái chốn bần cùng này đến vậy nhỉ?”

    Nina lẩm bẩm.

    Jesper ngửa ghế ra sau một chút và quan sát Kaz.

    Anh ta không tỏ ra ngạc nhiên khi Wylan muốn ở lại Ketterdam.

    “Anh đã biết,” anh nói sau khi lắp ghép các chi tiết với nhau.

    “Anh đã biết mẹ của Wylan còn sống.”

    “Mẹ của Wylan còn sống sao?”

    Nina hỏi lại.

    “Thế tôi để cho hai người đi Olendaal vì lí do gì?”

    Kaz nói.

    Wylan chớp chớp mắt.

    “Vậy là anh biết tôi nói dối về vụ mỏ quặng.”

    Jesper cảm thấy cơn giận bùng lên.

    Kaz làm gì anh cũng được, nhưng Wylan không giống như những người còn lại trong nhóm.

    Mặc dù có người cha tồi tệ, cậu nhóc đã không để cho hoàn cảnh sống hay cái thành phố này làm mất đi sự tử tế trong cậu.

    Wylan vẫn còn tin rằng người ta có thể sống đúng đắn.

    Anh trỏ ngón tay vào Kaz.

    “Anh không nên để cho cậu ấy đi tới Thánh Hilde mà không hề hay biết tí gì như vậy.

    Thật tàn nhẫn.”

    “Việc đó cần thiết.”

    Wylan siết nắm đấm lại.

    “Tại sao?”

    “Bởi vì cậu vẫn chưa nhận ra bản chất thực sự của cha cậu.”

    “Anh có thể nói cho tôi nghe.”

    “Cậu giận dữ.

    Giận dữ rồi sẽ qua.

    Tôi cần cậu phẫn uất.”

    Wylan khoanh tay lại.

    “Vậy thì anh toại nguyện rồi đấy.”

    Kaz đè tay lên cây gậy chống của mình.

    “Muộn rồi, mọi người làm ơn bớt tội nghiệp Wylan đi và tập trung vào nhiệm vụ trong tay.

    Matthias, Jesper và Kuwei sẽ lên đường tới đại sứ quán vào lúc chín giờ rưỡi.

    Ba người sẽ tiếp cận từ con kênh.

    Jesper, cậu cao, da nâu, và đáng ngờ…”

    “Những thứ đồng nghĩa với ngon nghẻ.”

    “Và điều đó có nghĩa là cậu phải thận trọng gấp đôi.”

    “Đó là cái giá phải trả cho sự vĩ đại.”

    “Cố mà tiếp nhận chuyện này một cách nghiêm túc đi,” Kaz nói với giọng khàn đặc.

    Có phải đó là mối quan ngại thực sự?

    Jesper cố gắng không nghĩ vẩn vơ xem sự lo lắng đó dành cho phi vụ hay dành cho mình.

    “Di chuyển mau lẹ và đừng đưa mọi người tới bến cảng trước mười giờ.

    Điểm hẹn của chúng ta sẽ là Cảng số Ba, cầu tàu mười lăm.

    Con tàu có tên là Verrhader.

    Nó đi lại giữa Kerch và Ravka nhiều lần trong năm.”

    Kaz đứng dậy.

    “Hãy khôn khéo và khẽ khàng.

    Tất cả sẽ đổ bể nếu Van Eck biết được.”

    “Và giữ an toàn,” Inej nói thêm.

    “Tôi muốn ăn mừng với tất cả mọi người khi con tàu đó rời cảng.”

    Jesper cũng muốn điều đó.

    Anh muốn thấy mọi người bình an vô sự sau đêm nay.

    Anh giơ tay lên.

    “Sẽ có champagne chứ?”

    Nina ăn nốt cái bánh quy cuối cùng rồi mút ngón tay.

    “Tôi sẽ ở đó, và tôi sẽ quậy tưng.”

    Sau đó, mọi người không còn gì khác để làm ngoài gói ghém nốt đồ đạc.

    Không có màn chia tay lâm li nào cả.

    Jesper rảo bước tới chỗ cái bàn nơi Wylan đang cất đồ vào túi xách và vờ như tìm kiếm một thứ cần dùng giữa đống bản đồ tài liệu.

    Anh ngần ngừ, rồi nói, “Cậu có thể ở với bố con tôi.

    Nếu cậu muốn.

    Tại khách sạn.

    Nếu cậu cần một nơi ẩn náu trong khi chờ mọi chuyện qua đi.”

    “Thật sao?”

    “Thật,” Jesper đáp với một cái nhún vai gượng gạo.

    “Inej và Kaz nữa.

    Chúng ta có thể ở cùng nhau cho tới khi nhận được thứ xứng đáng với mình.”

    “Sau đó thì sao?

    Khi món nợ của bố anh được trả hết, anh sẽ quay về Novyi Zem chứ?”

    “Có lẽ thế.”

    Wylan chờ đợi.

    Jesper không có câu trả lời nào cho cậu.

    Nếu quay về nông trại, anh sẽ tránh xa những cám dỗ của Ketterdam và Barrel.

    Nhưng có thể anh sẽ tìm một rắc rối khác để đâm đầu vào.

    Và số tiền quá lớn.

    Ngay cả sau khi trả dứt nợ, vẫn còn một khoản hơn ba triệu kruge.

    Anh nhún vai đáp.

    “Kaz là người lên kế hoạch.”

    “Tất nhiên rồi,” Wylan nói, nhưng Jesper có thể nhìn thấy sự thất vọng trên khuôn mặt cậu.

    “Tôi đoán cậu đã vạch xong con đường tương lai cho mình?”

    “Không.

    Tôi chỉ biết mình sẽ đưa mẹ ra khỏi chỗ đó và tìm cách làm lại cuộc đời cho hai mẹ con.”

    Wylan hất hàm về phía mấy tờ cáo thị trên tường.

    “Đây có phải là điều anh thực sự muốn không?

    Trở thành tội phạm ấy?

    Hết cuộc thanh toán này tới màn hỗn chiến khác, những lần thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc?”

    “Nói thật nhé?”

    Jesper biết Wylan có lẽ sẽ không thích điều anh sắp nói ra.

    “Đến giờ rồi,” Kaz lên tiếng từ trên ngưỡng cửa.

    “Phải, đây là điều tôi muốn,” Jesper đáp.

    Wylan quàng túi lên vai, và Jesper bất giác đưa tay chỉnh lại chỗ xoắn trên quai đeo.

    Anh không bỏ tay ra.

    “Nhưng nó không phải là tất cả những gì tôi muốn.

    “Đi thôi,” Kaz gọi.

    “Tôi sẽ dùng chính cái gậy chống đó đập cho anh biết tay.

    Jesper buông tay.

    “Không đổ lệ.”

    “Không quan tài,” Wylan đáp khẽ.

    Rồi cậu và Kaz biến qua ngưỡng cửa.

    Tiếp theo là Nina và Inej.

    Nina đã biến vào trong một lối đi để thay bộ đồ Fjerda nực cười trước khi khoác lên người chiếc quần dài tiện lợi, áo choàng và áo thụng - toàn bộ là kiểu dáng và chất liệu của Ravka.

    Cô đã dẫn Matthias theo cùng.

    Sau đó nhiều phút cô xuất hiện trở lại với trang phục xộc xệch và khuôn mặt ửng hồng.

    “Không quên nhiệm vụ chứ hả?”

    Jesper buột miệng hỏi.

    “Tôi đang dạy Matthias thế nào là vui thú.

    Anh ấy là một học sinh tuyệt vời.

    Rất chuyên tâm vào bài học.”

    “Nina…”

    Matthias cảnh báo.

    “Nhưng thái độ còn chưa ổn.

    Vẫn còn nhiều thứ cần cải thiện.”

    Inej dứ cái lọ tinh chất cà phê về phía Jesper.

    “Đêm nay cẩn trọng nhé,

    Jes.”

    “Chuyện đó tôi cũng giỏi chẳng kém Matthias học vui thú đâu.”

    “Tôi không hề tệ nhé,” Matthias hậm hực.

    “Ờ.”

    Anh còn nhiều điều muốn nói thêm với mọi người, chủ yếu là Inej, nhưng không phải trước mặt những người còn lại.

    Có lẽ là không bao giờ.

    Anh nợ Inej một lời xin lỗi.

    Sự bất cẩn của anh đã làm họ bị phục kích tại Cảng số Năm trước khi lên đường tới Lâu Đài Băng và Inej suýt mất mạng.

    Nhưng anh phải xin lỗi cho chuyện đó như thế nào đây?

    Xin lỗi vì đã làm cô suýt bị đâm chết.

    Có ai muốn ăn bánh waffle không?

    Trước khi Jesper kịp suy nghĩ thêm thì Inej đã đặt một nụ hôn lên má anh, Nina giơ ngón tay thối về phía mấy tấm cáo thị, rồi Jesper thấy mình ngồi chờ chín hồi chuông rưỡi trong nhà mồ với Kuwei lầm lì và Matthias bồn chồn đi qua đi lại.

    Kuwei bắt đầu sắp xếp lại mấy cuốn sổ trong túi.

    Jesper ngồi vào bàn.

    “Cậu có cần toàn bộ chỗ sổ đó không?”

    “Cần chứ,” Kuwei đáp.

    “Anh có đi Ravka bao giờ chưa?”

    Thằng nhóc tội nghiệp đang sợ kìa, Jesper nghĩ thầm.

    “Chưa, nhưng cậu sẽ có Nina và Matthias đi cùng.”

    Kuwei liếc nhìn Matthias và lẩm bẩm.

    “Anh ta khó tính lắm.”

    Jesper bật cười.

    “Tôi không thể nói anh ta là người vui tính, nhưng anh ta cũng có vài phẩm chất tốt đẹp.

    “Tôi nghe được đấy, Fahey,” Matthias làu bàu.

    “Tốt.

    Tôi ghét phải hét toáng lên lắm.”

    “Cậu không thấy lo một chút nào cho những người kia sao?”

    “Tất nhiên là có chứ.

    Nhưng chúng ta lớn cả rồi, và không còn thời gian để lo lắng nữa.

    Giờ là lúc vui vẻ,” Jesper vỗ vỗ mấy khẩu súng và đáp.

    “Hành động thôi.”

    “Hoặc là chết,” Matthias lẩm bẩm.

    “Cũng như tôi, cậu thừa biết tình trạng của Nina không được tốt.”

    “Đêm nay cô ấy không cần phải có phong độ tốt nhất.

    Điều cốt yếu của kế hoạch này là tránh đánh đấm, trời ạ.”

    Matthias ngừng đi tới đi lui và ngồi vào bàn, đối diện với Jesper.

    “Chuyện gì đã xảy ra ở ngôi nhà bên hồ?”

    Jesper vuốt phẳng một góc bản đồ.

    “Tôi cũng không rõ, nhưng tôi nghĩ Nina đã làm nghẹt thở một gã bằng một đám mây bụi.”

    “Tôi không hiểu,” Matthias nói.

    “Một đám mây bụi?

    Hôm nay cô ấy đã điều khiển được những mảnh xương - điều cô ấy chưa từng làm trước khi dùng parem.

    Hình như Nina nghĩ rằng sự thay đổi đó chỉ có tính tức thời, do tác dụng tồn dư của thuốc, nhưng…”

    Anh quay sang hỏi Kuwei.

    “Theo cậu, parem có thể biến đổi được năng lực của một Grisha hay không?

    Làm nó khác đi?

    Hoặc phá huỷ nó?”

    Kuwei nghịch nghịch cái khoá của chiếc ba lô đi đường.

    “Có thể.

    Cô ấy đã vượt qua sự thiếu thuốc.

    Chuyện đó khá hiếm, và chúng tôi chưa biết nhiều về parem, cũng như về năng lực của Grisha.”

    “Chưa mổ xẻ họ đủ nhiều để hiểu hết à?”

    Câu nói bật ra khỏi miệng Jesper trước khi anh kịp cân nhắc.

    Anh biết nói như thế thật bất công.

    Chính Kuwei và cha cậu ta cũng là Grisha, và cả hai đều không ở vào vị trí có thể ngăn cản người Shu thí nghiệm trên đồng loại của họ.

    “Anh giận tôi đấy à?”

    Kuwei hỏi lại.

    Jesper mỉm cười.

    “Tôi không phải loại người nóng tính.”

    “Ồ, có chứ,” Matthias nói.

    “Nóng tính và nhát cáy.”

    Jesper gườm mắt với anh chàng Fjerda to xác.

    “Anh nói cái gì?”

    “Jesper rất can đảm,” Kuwei phản bác.

    “Cảm ơn sự ghi nhận của cậu,” Jesper duỗi dài đôi chân rồi bắt chéo chúng.

    “Anh có gì cần nói à, Matthias?”

    “Tại sao cậu không đi Ravka?”

    “Bố tôi…”

    “Bố cậu có thể đi cùng chúng tôi đêm nay.

    Và nếu cậu lo lắng cho ông ấy đến thế thì sao cậu không tới khách sạn?”

    “Tôi không thấy chuyện đó có liên quan gì với anh.”

    “Tôi thì biết cảm giác xấu hổ về con người mình, về những gì bản thân đã làm như thế nào.”

    “Có thật anh muốn khơi chuyện này lên không vậy, thợ săn phù thuỷ?

    Tôi không xấu hổ.

    Tôi thận trọng.

    Nhờ những người như anh và cái đám drüskelle bạn anh, mà thế giới này trở nên nguy hiểm đối với những người như chúng tôi.

    Nó luôn như thế, và không có vẻ gì là sẽ khá lên.”

    Kuwei vươn người nắm lấy bàn tay Jesper, khẩn khoản.

    “Hiểu mà.

    Làm ơn đi.

    Những gì bọn tôi đã làm, những gì mà cha tôi đã làm…

    Chúng tôi đã cố làm cho tình hình khá lên, cố làm ra cách để các Grisha có thể…”

    Cậu ta phác một cử chỉ như thể đang ấn thứ gì đó xuống.

    “Có thể triệt tiêu năng lực của họ?”

    Matthias ướm lời.

    “Phải.

    Chính xác là thế.

    Để ẩn mình dễ dàng hơn.

    Nếu các Grisha không sử dụng năng lực, họ sẽ trở nên ốm yếu, lão hoá, dễ mệt mỏi, mất cảm giác ngon miệng.

    Đó là một cách để người Shu xác định những Grisha đang cố che giấu thân phận.”

    “Tôi đâu có sử dụng năng lực của mình,” Jesper nói.

    “Thế nhưng…”

    Anh giơ mấy ngón tay lên để liệt kê.

    “Thứ nhất: Tôi dám chắc mình có thể ăn cả một cái máng đầy bánh waffle rưới xi rô táo và gọi thêm cái nữa sau đó ít phút.

    Thứ hai: Thiếu sức sống chưa bao giờ là vấn đề tôi gặp phải.

    Thứ ba: Tôi chưa từng đau ốm một ngày nào trong đời.”

    “Thật không?”

    Matthias hỏi lại.

    “Có nhiều kiểu bệnh tật lắm đấy.”

    Jesper đặt tay lên báng súng.

    Rõ ràng đêm nay tay Fjerda này nghĩ linh tinh hơi nhiều.

    Kuwei mở ba lô và lấy ra một lon jurda thông thường, thứ có thể được mua ở mọi cửa tiệm tạp hoá của Ketterdam.

    “Jurda là một chất kích thích, chống lại sự mệt mỏi một cách hữu hiệu.

    Cha tôi nghĩ…

    ông ấy đã nghĩ nó là giải pháp giúp đỡ cho những người giống như chúng tôi.

    Nếu ông tìm được công thức đúng, nó sẽ cho phép các Grisha duy trì sức khoẻ trong lúc che giấu năng lực của mình.”

    “Nhưng hoá ra không phải như vậy, đúng không?”

    Jesper nói.

    Hình như anh hơi giận dữ.

    “Các thử nghiệm không diễn ra theo dự tính.

    Ai đó trong nhóm nghiên cứu đã không giữ mồm giữ miệng.

    Lãnh đạo của chúng tôi đã phát hiện ra và nhìn thấy một định hướng khác cho parem.”

    Kuwei lắc đầu, chỉ tay vào túi hành lí.

    “Giờ thì tôi chỉ biết cố nhớ lại những thử nghiệm của cha.”

    “Đó là những gì cậu hí hoáy trong mấy cuốn sổ à?”

    “Tôi còn viết nhật kí nữa.”

    “Chắc là hay ho lắm.

    Ngày thứ nhất: ngồi trong nhà mồ.

    Ngày thứ hai: tiếp tục ngồi trong nhà mồ.”

    Matthias phớt lờ Jesper và hỏi, “Cậu có thu được thành công nào không?”

    Kuwei nhíu mày.

    “Một số.

    Tôi nghĩ thế.

    Với một phòng thí nghiệm và các nhà khoa học thực thụ thì kết quả sẽ tốt hơn.

    Tôi không phải là cha tôi.

    Ông ấy là một Sáng Chế Gia.

    Tôi là Tiết Hoả Sư.

    Đây không phải là việc mà tôi thành thạo.”

    “Thế cậu thành thạo chuyện gì?”

    Jesper hỏi.

    Kuwei nhìn anh với ánh mắt ngờ vực, rồi nhíu mày.

    “Tôi chưa có cơ hội tìm ra.

    Chúng tôi sống một cuộc đời rất đáng sợ tại Shu Han.

    Nó chưa bao giờ là nhà.”

    Đó chắc chắn là một điều mà Jesper có thể hiểu được.

    Anh cầm lon jurda lên và mở nắp.

    Chất lượng tốt.

    Những bông hoa khô gần như nguyên vẹn với màu cam rực rỡ toả mùi thơm ngòn ngọt.

    “Cậu nghĩ nếu có một phòng thí nghiệm cùng vài Sáng Chế Gia vây quanh thì cậu có thể làm lại các thử nghiệm của cha mình và bằng cách nào đó tìm được thuốc giải ư?”

    “Tôi hi vọng thế,” Kuwei đáp.

    “Nó sẽ hoạt động như thế nào?”

    “Nó có thanh lọc parem khỏi cơ thể không?”

    Matthias hỏi.

    “Có.

    Rút hết parem ra,” Kuwei đáp.

    “Nhưng ngay cả khi chúng ta thành công, làm sao đưa nó vào được?”

    “Cậu sẽ phải tiếp cận đủ gần để tiêm nó vào, hoặc bắt người ta nuốt nó,” Matthias nói.

    “Và tiêu tùng trong lúc làm điều đó,” Jesper đế vào.

    Anh nhón lấy một bông jurda.

    Rồi ai đó sẽ tìm được cách tự tạo ra phiên bản jurda parem cho mình, và khi họ làm điều đó, chỉ một bông hoa nhỏ này cũng sẽ đáng giá cả gia tài.

    Khi nhìn kĩ các cánh hoa, anh có thể thấy chúng phân ra thành những mảnh nhỏ hơn.

    Không hẳn là anh nhìn thấy, nó giống như cảm nhận được những phần nhỏ vật chất cấu thành khác nhau thì đúng hơn.

    Anh đặt bông hoa vào lon.

    Hồi còn bé, khi nằm trên những cánh đồng của bố, anh đã phát hiện mình có thể rút màu khỏi hoa jurda, từng cánh một.

    Vào một buổi chiều nhàm chán, anh đã tẩy trắng cỏ thành một từ bậy bạ trên bãi chăn gia súc phía tây.

    Những chữ cái in hoa.

    Bố anh bực lắm, nhưng ông cũng tỏ ra sợ hãi nữa.

    Ông rầy la anh tới khản tiếng, rồi chỉ ngồi đó, nhìn con trai trân trối, đôi bàn tay bấu chặt li trà để khỏi run rẩy.

    Lúc đầu, Jesper tưởng đâu ông giận vì cái từ bậy bạ kia, nhưng hoá ra không phải thế.

    “Jes,” cuối cùng ông nói.

    “Con không bao giờ được làm chuyện này nữa.

    Hứa với bố đi.

    Mẹ con cũng có năng lực như vậy.

    Nó chỉ làm con khổ thôi.”

    “Con hứa,” Jesper nói luôn để dàn xếp mọi chuyện, chưa hết bàng hoàng khi chứng kiến một người điềm đạm như bố mình nổi đoá như vậy.

    Nhưng tất cả những gì anh nghĩ lúc đó là, Mẹ đâu có vẻ gì khổ sở đâu.

    Thật ra, mẹ anh dường như tìm thấy niềm vui trong mọi chuyện.

    Bà là người Zemeni, với làn da nâu sẫm căng bóng, và cao đến nỗi bố anh phải ngửa đầu nếu muốn nhìn vào mắt vợ.

    Trước khi Jesper đủ lớn để phụ việc ngoài đồng cho bố, anh được ở nhà với mẹ.

    Luôn có đồ cần giặt, thức ăn cần nấu, củi cần chẻ, và Jesper rất thích giúp mẹ.

    “Đất đai của em thế nào?”

    Mẹ anh luôn hỏi như thế khi bố anh đi làm đồng về, và sau này Jesper biết trang trại đứng tên mẹ.

    Đó là món quà cưới của bố anh, người đã phải tán tỉnh Aditi Hilli gần cả năm trời mới được người đẹp mở lời.

    “Đương hoa,” bố anh vừa đáp vừa hôn lên má vợ.

    “Cũng giống như em ấy, tình yêu của anh.”

    Bố của Jesper luôn hứa chơi với anh và dạy anh đẽo gọt vào buổi tối, nhưng trăm lần như một, ông Colm ăn xong bữa tối là lăn đùng ra ngủ bên cạnh bếp lửa, đôi ủng chưa kịp tháo vẫn còn dính màu cam của hoa jurda ở đế.

    Jesper cùng mẹ tháo chúng khỏi chân bố, rồi đắp cho ông một cái chăn và làm nốt việc nhà.

    Hai mẹ con dọn dẹp bàn, gỡ quần áo khỏi dây phơi, rồi Aditi cho Jesper đi ngủ.

    Dù mẹ có bận đến đâu, dù có bao nhiêu con thú cần lột da hoặc rá rổ cần sửa lại, bà dường như vẫn có một nguồn năng lượng vô tận giống như Jesper, và luôn có thời gian để kể một câu chuyện hoặc ngân nga một bài hát trước khi anh ngủ.

    Mẹ của Jesper là người đã dạy anh cưỡi ngựa, gắn mồi câu, làm cá, vặt lông chim, đánh lửa bằng hai thanh gỗ, và pha một tách trà đúng điệu.

    Bà cũng dạy anh bắn súng, đầu tiên là với một khẩu súng hơi không khác mấy so với đồ chơi trẻ con, sau đó là súng ngắn và súng trường.

    “Ai cũng có thể bắn,” mẹ đã bảo anh như thế.

    “Nhưng không phải người nào cũng nhắm bắn được.”

    Bà dạy anh ngắm xa, cách theo dấu con thú trong bụi rậm, những hiệu ứng đánh lừa mà ánh sáng gây ra cho mắt, lầm sao để canh chỉnh theo sức gió, bắn súng khi đang chạy hoặc cưỡi ngựa.

    Chẳng có gì mà bà không thể làm được.

    Ngoài ra còn có cả những bài học bí mật nữa.

    Thỉnh thoảng, khi họ về nhà muộn và mẹ cần nấu bữa tối thật nhanh, mẹ làm nước sôi mà không cần nhóm bếp, làm bánh mì nở chỉ bằng cách nhìn vào nó.

    Jesper đã thấy bà xử lí các vết bẩn trên quần áo chỉ bằng cách vuốt nhẹ.

    Bà cũng tự làm thuốc súng bằng cách chiết xuất diêm tiêu từ một cái lòng hồ khô cạn ở gần nơi họ sống.

    “Sao lại phải trả tiền cho một thứ mà mẹ tự làm còn tốt hơn kia chứ?”

    Bà nói với Jesper như thế.

    “Nhưng con đừng có kể chuyện này với bố nhé?”

    Khi Jesper hỏi lí do, bà chỉ đáp, “Bởi vì bố đã có đủ chuyện để lo lắng, mẹ không thích mỗi khi bố lo lắng cho mẹ.”

    Nhưng bố vẫn lo, nhất là khi một trong những người bạn Zemeni của mẹ đến gõ cửa nhà họ để tìm kiếm sự giúp đỡ hoặc nhờ mẹ hàn gắn cái gì đó.

    “Em tưởng bọn săn nô lệ không tìm đến đây được à?”

    Một đêm nọ bố đã hỏi như thế trong lúc rảo bước tới lui giữa căn nhà nhỏ, còn Jesper cuộn mình trong mền giả vờ ngủ để nghe lỏm câu chuyện.

    “Nếu tin đồn lan truyền về một Grisha đang sống ở đây…”

    “Chữ đó,” bà Aditi phẩy tay duyên dáng, “đâu phải là em.

    Em không thể sống khác với bản thân, và nếu năng lực của em có thể giúp người, thì bổn phận của em là sử dụng nó.”

    “Vậy con trai của chúng ta thì sao?

    Em có nợ nó điều gì không?

    Bổn phận đầu tiên của em là sống an toàn để bố con anh không mất em.”

    Nhưng mẹ của Jesper chỉ đưa hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt ông Colm, thật dịu dàng, thật ân cần, với tất cả tình yêu lấp lánh trong mắt.

    “Em sẽ là loại mẹ gì trong mắt con nếu như em giấu nhẹm năng lực của mình và để cho sự sợ hãi dẫn lối?

    Anh đã biết em là người như thế nào khi anh ngỏ lời với em rồi đấy, Colm.

    Bây giờ anh đừng bảo em phải hạ mình xuống.”

    Và thế là sự giận dữ của bố Jesper cũng tiêu tan.

    “Anh biết.

    Anh chỉ không chịu nổi ý nghĩ bị mất em.”

    Mẹ anh bật cười rồi hôn ông.

    “Vậy thì anh hãy giữ em ở bên,” bà nói với một cái nháy mắt.

    Và cuộc tranh cãi kết thúc.

    Cho đến lần tiếp theo.

    Hoá ra bố của Jesper đã nhầm.

    Họ không mất bà Aditi vào tay bọn săn nô lệ.

    Một đêm nọ, anh bật dậy khi nghe thấy nhiều tiếng nói, và từ bên dưới tấm mền, anh thấy mẹ khoác áo choàng lên người, bên ngoài chiếc áo ngủ, đội mũ rồi đi ủng.

    Lúc đó Jesper bảy tuổi, còn khá nhỏ, nhưng đủ lớn để biết phần lớn những mẩu đối thoại hấp dẫn diễn ra sau khi mình đã lên giường.

    Một người đàn ông Zemeni đứng trên ngưỡng cửa trong bộ quần áo cưỡi ngựa bụi bặm, và ông Colm lên tiếng, “Đang đêm hôm khuya khoắt, chuyện này có thể đợi đến sáng mai mà.”

    “Nếu người đang gặp nạn là Jes thì anh có nói như vậy không?”

    Mẹ anh hỏi.

    “Aditi…”

    Mẹ hôn má bố, rồi đặt tay lên người Jesper và hỏi, “Thỏ con của mẹ thức hay ngủ?”

    “Ngủ ạ,” anh đáp.

    “Vậy là con đang nói mơ rồi.”

    Bà dém lại tấm mền, rồi hôn lên má và trán Jesper.

    “Ngủ đi nào, thỏ con, sáng mai mẹ sẽ về.”

    Nhưng ngày hôm sau mẹ anh không quay về, và khi có tiếng gõ cửa vang lên vào ngày hôm sau nữa, người gõ không phải là mẹ anh, mà là người đàn ông Zemeni nọ.

    Ông Colm ôm con trai vào lòng và bước ra cửa ngay.

    Ông đội mũ cho Jesper rồi ấn anh ngồi lên yên ngựa đằng trước mình, sau đó thúc ngựa phi nước đại.

    Người đàn ông bụi bặm cưỡi một con ngựa còn bụi bặm hơn, và họ đi theo ông ta qua nhiều dặm để tới một ngôi nhà màu trắng nằm cạnh một cánh đồng jurda.

    Nó đẹp hơn căn nhà nhỏ của họ, với hai tầng lầu và cửa sổ có lắp kính.

    Người phụ nữ đứng chờ trên ngưỡng cửa tròn trịa hơn mẹ của Jesper, nhưng cao gần bằng, với mái tóc được tết thành những bím tóc dày.

    Bà ta vẫy họ vào trong nhà và nói, “Bà ấy đang ở trên gác.”

    Trong những năm sau đó, khi Jesper xâu chuỗi lại chuyện đã xảy ra vào cái ngày khủng khiếp ấy, anh chỉ nhớ được rất ít chi tiết: ván sàn của ngôi nhà trắng được đánh bóng khiến anh có cảm giác như sờ vào lụa, đôi mắt của người phụ nữ đẫy đà, và bé gái - một đứa trẻ lớn hơn anh vài tuổi, với mái tóc tết giống hệt mẹ.

    Cô bé đã uống nước từ một cái giếng được đào quá gần một khu mỏ.

    Lẽ ra nó phải bị bít ván, nhưng thay vào đó người ta chỉ tháo cái xô đi.

    Trục tời vẫn còn đó, cùng với sợi dây thừng cũ.

    Bé gái cùng bạn bè đã dùng hộp đựng đồ ăn trưa để lấy thứ nước mát lạnh và trong vắt như sớm mai lên uống.

    Đêm đó cả ba đứa trẻ đều ngã bệnh.

    Hai đứa đã qua đời, nhưng mẹ của Jesper đã cứu được cô bé gái con của người phụ nữ đẫy đà.

    Bà Aditi đã đến bên giường cô bé, ngửi cái hộp đựng đồ ăn trưa bằng kim loại, rồi đặt tay lên làn da hâm hấp sốt của cô bé.

    Vào trưa ngày hôm sau, cơn sốt đã chấm dứt, và màu vàng nơi tròng mắt của cô bé đã biến đi.

    Tối hôm đó, cô bé đã ngồi dậy và đòi ăn.

    Bà Aditi mỉm cười được một lần với cô bé trước khi ngã quỵ.

    “Bà ấy đã thiếu cẩn trọng khi rút chất độc ra,” người đàn ông bụi bặm nói.

    “Bà ấy đã hấp thu nó quá nhiều.

    Tôi đã từng thấy điều đó trước đây với các zowa.”

    Zowa.

    Nó có nghĩa đơn giản lả “người được trời phú”.

    Đó là chữ mà mẹ của Jesper dùng thay cho Grisha.

    Chúng ta là zowa, bà đã nói như thế với Jesper khi làm một bông hoa nở bung chỉ bằng một cái búng tay.

    Con và mẹ.

    Nhưng lúc đó họ không có ai để gọi đến cứu mẹ Jesper.

    Anh không rõ vì sao.

    Nếu bà tỉnh táo, nếu bà khoẻ hơn, có lẽ bà đã có thể tự chữa lành bản thân.

    Nhưng bà đã rơi vào hôn mê, hơi thở bà trở nên càng lúc càng nặng nhọc.

    Jesper đã ngủ thiếp đi, má anh áp vào lòng bàn tay của mẹ, chắc mẩm rằng mẹ sẽ tỉnh lại bất cứ lúc nào, vuốt má anh và nói, “Con làm gì ở đây vậy, thỏ con?”

    Nhưng thay vào đó, anh tỉnh giấc trong tiếng nức nở của bố.

    Họ đưa bà Aditi về trang trại và chôn cất bà dưới một cây anh đào đã bắt đầu nở hoa.

    Đối với Jesper, nó quá đẹp cho một ngày bi thương như vậy, và ngay cả bây giờ, khi nhìn những bông hoa màu hồng phớt trong một tủ kính bày hàng hoặc được thêu trên chiếc váy lụa của một cô gái, anh vẫn còn buồn.

    Chúng làm anh nhớ đến mùi đất mới đào, cơn gió vi vu thổi qua những cánh đồng, và chất giọng trầm run rẩy của bố anh hát một khúc ca cô độc, một bài hát tiếng Kaelish mà Jesper không hiểu.

    Khi ông Colm hát xong, khi những nốt nhạc cuối cùng đã tan biến vào tán cây anh đào, Jesper hỏi bố, “Mẹ có phải là phù thuỷ không, bố?”

    Ông Colm đặt một bàn tay lốm đốm vết tàn nhang lên vai cậu con trai và kéo lại gần.

    “Bà ấy là một nữ hoàng, Jes à,” ông đáp.

    “Bà ấy là nữ hoàng của bố con mình.”

    Tối đó Jesper đã nấu bữa tối cho hai người.

    Anh làm cháy bánh quy và cho quá nhiều nước vào súp, nhưng bố anh ăn sạch sẽ.

    Rồi ông đọc cho anh nghe một quyển sách về các vị thánh của Kaelish cho đến khi ngọn lửa lụi dần, và nỗi đau trong lòng Jesper đủ dịu lại để cậu có thể ngủ thiếp đi.

    Kể từ đó cuộc sống của hai bố con diễn ra như thế.

    Họ chăm sóc nhau, làm đồng, thu hoạch và sấy hoa jurda vào mùa hè, cố gắng làm cho trang trại sinh lời.

    Tại sao như vậy lại còn chưa đủ?

    Mặc dù vậy, Jesper vẫn biết nó sẽ không bao giờ là đủ.

    Anh không bao giờ có thể quay lại cuộc sống ấy.

    Anh không được sinh ra cho nó.

    Nếu mẹ anh còn sống, chắc bà đã dạy anh cách kiềm chế sự chộn rộn của mình.

    Lẽ ra bà đã chỉ cho anh cách sử dụng năng lực của mình thay vì che giấu nó.

    Có lẽ anh đã đi Ravka để trở thành một binh sĩ hoàng gia.

    Hoặc có lẽ anh vẫn ra nông nỗi này.

    Jesper lau vết bột hoa jurda bám trên đầu ngón tay rồi đậy nắp cái lon

    lại.

    “Người Zemeni không chỉ dùng hoa,” anh nói.

    “Tôi còn nhớ mẹ tôi đã ngâm cuống hoa jurda vào sữa dê.

    Bà đã cho tôi uống nó khi tôi đi làm đồng.”

    “Để làm gì?”

    Matthias hỏi.

    “Để trung hoà hiệu ứng của việc hít phấn hoa jurda suốt cả ngày.

    Nó quá mạnh đối với cơ thể của một đứa trẻ, và không ai muốn tôi tăng động hơn vốn dĩ.”

    “Cuống hoa á?”

    Kuwei hỏi lại.

    “Hầu hết mọi người đều vứt bỏ chúng.”

    “Cuống hoa có chứa một loại nhựa thơm mà người Zemeni dùng để làm thuốc mỡ.

    Họ xoa chúng vào lợi và lỗ mũi của những đứa trẻ khi đốt jurda.”

    Jesper nhịp nhịp ngón tay trên cái lon thiếc, trong đầu bỗng nảy ra một ý nghĩ.

    Có khi nào thuốc giải cho jurda parem lại nằm chính trong cây jurda không?

    Anh không phải là một nhà hoá học, anh không tư duy giống như Wylan, và chưa bao giờ được huấn luyện để làm một Sáng Chế Gia thực thụ.

    Nhưng anh là con trai của mẹ anh.

    “Sẽ thế nào nếu một phiên bản của loại nhựa thơm đó có thể trung hoà hiệu ứng của jurda parem!

    Nhưng vẫn cần một cách để đưa nó vào…”

    Đúng lúc đó cửa sổ vỡ tan.

    Jesper rút súng trong nháy mắt, trong lúc Matthias ấn đầu Kuwei xuống và tì súng trường lên vai.

    Họ dịch dần tới bức tường và Jesper đưa mắt quan sát qua lớp kính ghép màu bị vỡ.

    Trong bóng tối của nghĩa địa, cậu thấy những ngọn đèn lồng giơ cao, soi tỏ những hình bóng hẳn là con người - rất nhiều người.

    “Trừ phi đêm nay ma quỷ sống dậy,” anh nói, “chúng ta có người bầu bạn rồi.”
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    IV♧GIANG HỒ HIỂM ÁC


    Phần Một: KHÁCH KHÔNG MỜI

    1 INEJ

    2 KAZ

    3 MATTHIAS

    4 INEJ

    5 KAZ

    6 NINA

    7 WYLAN

    Phần Hai: NHỮNG ÔNG HOÀNG BÀ CHÚA

    8 JESPER

    9 MATTHIAS

    10 KAZ

    11 INEJ

    12 JESPER

    13 NINA

    14 KAZ

    15 WYLAN

    16 INEJ

    Phần Ba: HÀNH ĐỘNG & VỌNG ÂM

    17 MATTHIAS

    18 NINA

    19 INEJ

    20 JESPER

    21 KAZ

    22 MATTHIAS

    23 NINA

    24 MATTHIAS

    25 WYLAN

    26 JESPER

    27 KAZ

    28 INEJ

    29 PEKKA
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Một: Khách Không Mời 1-7


    1

    INEJ

    Khi đêm xuống, khu vực kho bãi của Ketterdam dường như lột xác và khoác lên mình một hình hài mới.

    Những dãy nhà lụp xụp ở rìa phía đông nhộn nhịp hẳn lên, trong khi những con phố của nó lại trở thành chốn không người, chỉ được lui tới bởi các vệ quân đang canh gác và những thị tuần đi làm nhiệm vụ.

    Inej và Nina neo thuyền tại con kênh chính rộng lớn chạy ngang qua trung tâm của khu vực, trước khi đi xuôi theo bờ kè yên tĩnh, nép sát vào các dãy nhà kho và tránh xa những ngọn đèn đường nằm dọc bờ nước.

    Hai người đi ngang qua những con thuyền đầy ắp gỗ xẻ và các sà lan chở đống than đá cao ngất.

    Chốc chốc họ lại thấy những người đàn ông làm lụng dưới ánh đèn lồng, nhấc bổng những thùng rượu rum hoặc kiện bông vải.

    Người ta không thể bỏ mặc những thứ hàng hoá có giá trị như vậy suốt cả đêm.

    Khi đi đến gần Bãi Ngọt, họ thấy hai người đàn ông dỡ thứ gì đó từ một xe hàng lớn đậu bên cạnh con kênh, dưới ánh sáng xanh lét của một ngọn đèn độc nhất.

    “Đèn tử thi đấy,” Inej thì thầm, và Nina rùng mình.

    Những ngọn đèn xương được làm từ xương nghiền của những loài cá biển sâu cho ánh sáng xanh lục, còn đèn tử thi thì cháy bằng nhiên liệu khác, nó toả ra thứ ánh sáng xanh lam đáng sợ, cho phép người ta nhận ra những chiếc sà lan chở xác của các đạo tì.

    “Đạo tì làm gì ở khu Nhà kho này?”

    “Người ta không muốn thấy các thi thể trên đường phố hay dưới dòng kênh.

    Khu vực kho bãi gần như vắng bóng người vào ban đêm, do vậy đây là nơi bọn họ mang các thi hài đến.

    Sau khi mặt trời lặn, họ đi thu gom xác chết và đưa đến đây.

    Đạo tì làm việc theo ca và theo khu phố.

    Họ sẽ rời đi vào lúc trời sáng, cùng với chuyến hàng của mình.”

    Ra đảo Tử Thần để hoả thiêu.

    “Sao họ không xây một nghĩa trang tử tế?”

    Nina hỏi.

    “Hết đất rồi.

    Em nghe nói từng có bàn luận về việc mở cửa lại Mạng Đen cách đây khá lâu, nhưng tất cả đều chấm dứt khi trận dịch Thị Nữ bùng lên.

    Mọi người quá sợ bị lây bệnh.

    Nếu gia đình có điều kiện, họ sẽ đưa chị đến một nghĩa trang hoặc nghĩa địa bên ngoài Ketterdam.

    Còn nếu không thì…”

    “Không ai đổ lệ,” Nina nghiêm giọng.

    Không đổ lệ, không quan tài.

    Một cách khác để chúc may mắn.

    Nhưng nó còn mang một ý khác.

    Một cái nháy mắt rầu rĩ với viễn cảnh sẽ không có đám ma tốn kém chờ đợi những người như họ, không một tấm bia đá để ghi nhớ tên tuổi, cũng chẳng có vòng hoa tang nào dành cho họ.

    Inej đi trước khi họ tới gần Bãi Ngọt.

    Những ngọn tháp xi-lô đáng sợ to lớn như các vị thần canh gác, được trang trí bằng chiếc lá nguyệt quế đỏ của công ty Van Eck.

    Chẳng bao lâu nữa, mọi người sẽ biết biểu tượng đó mang nghĩa gì: sự hèn hạ và dối trá.

    Cụm tháp xi-lô của Van Eck được bao quanh bởi một hàng rào cao bằng sắt.

    “Dây thép gai,” Nina lưu ý.

    “Không thành vấn đề.”

    Nó được sáng chế để giữ cho gia súc ở yên trong chuồng.

    Nó sẽ không làm khó được Bóng Ma.

    Hai người nấp quan sát bên một bức tường gạch đỏ vững chắc của một nhà kho, chờ đợi để xác nhận lịch trình của các vệ quân chưa thay đổi.

    Đúng như Kaz đã nói, đám lính gác mất gần mười hai phút để đi tuần trọn một vòng rào.

    Khi bọn họ ở phía đông của khu đất, Inej sẽ có khoảng sáu phút để vượt qua hàng rào.

    Khi đi sang phía tây, các vệ quân sẽ rất dễ dàng phát hiện Inej nếu cô đang đi trên sợi dây căng giữa các xi-lô, nhưng gần như không thể phát hiện được nếu cô ở trên mái.

    Trong sáu phút đó, Inej sẽ phải xoay sở để đưa mọt hạt vào trong xi-lô, rồi tháo sợi dây.

    Nếu có mất nhiều thời gian hơn sáu phút, cô sẽ phải đợi đám lính gác đi khuất.

    Cô sẽ không thể quan sát được bọn họ, nhưng Nina có một cái đèn xương trong tay.

    Chị sẽ ra hiệu bằng một tia sáng xanh khi cô có thể băng từ tháp này sang tháp kia một cách an toàn.

    “Mười xi-lô,” Inej lên tiếng.

    “Chín lần đi dây.”

    “Nhìn gần mới thấy chúng cao hơn ta tưởng rất nhiều,” Nina nói.

    “Em có sẵn sàng làm chuyện này không?”

    Sự đáng sợ của chúng đúng là không thể chối cãi.

    “Dù núi có cao đến mấy thì việc trèo lên cũng như nhau cả thôi.”

    “Về kĩ thuật mà nói thì không hẳn thế.

    Em cần dây thừng, móc…”

    “Chị đừng có giống như anh Matthias.”

    Nina hoảng hốt đưa tay bịt miệng.

    “Chị sẽ ăn gấp đôi bánh ngọt để quên chuyện này.”

    Inej gật gù.

    “Nghe hay đấy.”

    Tốp tuần tra lại lên đường sau khi đi qua chốt gác.

    “Inej,” Nina vội nói, “em nên biết điều này, năng lực của chị không còn như trước nữa, kể từ lúc dùng parem.

    Nếu chúng ta phải chiến đấu…”

    “Đêm nay thì không.

    Chúng ta phải hành động như những bóng ma.”

    Inej siết vai Nina.

    “Và em không biết chiến binh nào quả cảm hơn chị, dù có hay không có năng lực Grisha.”

    “Nhưng…”

    “Nina, đám vệ quân.”

    Tốp tuần tra đã khuất dạng.

    Nếu không hành động ngay bây giờ, hai người sẽ phải chờ đến vòng tuần tra kế tiếp và bị chậm so với kế hoạch.

    “Làm thôi,” Nina nói và tiến về phía chốt gác.

    Chỉ trong vài bước chân đưa chị vượt qua khoảng cách giữa nhà kho và mảng sáng bao trùm chốt gác, cung cách của Nina đã thay đổi hẳn.

    Inej không biết phải giải thích như thế nào, nhưng những bước chân của chị trở nên dè dặt hơn, đôi vai chị hơi chùng xuống.

    Chị dường như co rút lại.

    Nina không còn là một Grisha được huấn luyện bài bản nữa, chị đã trở thành một cô gái tị nạn căng thẳng, mong chờ một chút lòng thương.

    “Xin lỗi anh?”

    Nina nói với chất giọng đặc sệt âm sắc Ravka.

    Người vệ quân giương súng trong tư thế sẵn sàng, nhưng có vẻ chẳng mấy bận tâm.

    “Cô không nên ở đây vào ban đêm.”

    Nina khẽ nói gì đó và ngước đôi mắt to tròn màu lục lên nhìn anh ta.

    Inej không hiểu bằng cách nào chị có thể tỏ ra ngoan hiền đến thế.

    “Chuyện gì?”

    Người vệ quân hỏi và tiến lại gần hơn.

    Inej ra tay.

    Cô châm đoạn ngòi dài của quả bom sáng cỡ nhỏ mà Wylan đã đưa cho họ, rồi chạy tới hàng rào, cẩn thận tránh xa vùng ánh sáng, và lặng lẽ trèo lên.

    Cô gần như ở ngay sau lưng, phía trên đầu người vệ quân và Nina, cô có thể nghe thấy tiếng nói của hai người trong lúc dễ dàng luồn lách qua những vòng dây thép gai.

    “Tôi đến tìm việc,” Nina nói.

    “Sản xuất đường.”

    “Chúng tôi không làm đường ở đây mà chỉ trữ nó thôi.

    Cô sẽ phải đi tới một trong những xưởng luyện đường.”

    “Nhưng tôi cần việc làm.Tôi… tôi…”

    “Ồ, coi kìa, đừng khóc.

    Nào, nào.”

    Inej cố nén tiếng cười và khẽ khàng buông mình xuống mặt đất ở phía trong vòng rào.

    Cô có thể thấy những túi cát mà Kaz đã nhắc đến.

    Chúng được chất đống dựa vào bức tường phía sau của chốt gác.

    Cô cũng trông thấy một góc của tấm lưới mà anh định để cho cô sử dụng.

    “Cả…

    ờm… bạn trai cô cũng đang tìm việc à?”

    Tay vệ quân hỏi.

    “Tôi đâu có…

    Anh nói sao nhỉ?

    Bạn trai à?”

    Cánh cổng bên cạnh chốt gác không khoá, nên Inej khẽ đẩy nó mở hờ cho Nina, trước khi nhanh chóng bước vào trong bóng tối dưới chân ngọn tháp gần nhất.

    Inej nghe thấy tiếng Nina chào rồi bỏ đi về phía ngược lại.

    Cô chờ đợi.

    Vài phút trôi qua.

    Ngay khi cô tin rằng quả bom đã bị xịt, một tiếng bụp vang lên, và một luồng sáng mạnh toả ra từ căn nhà kho mà họ nấp quan sát lúc nãy.

    Người vệ quân lại xuất hiện, giương súng lên, và bước vài bước về phía nhà kho.

    “Ai đó?”

    Anh ta hô to.

    Nina lẻn ra từ trong bóng tối phía sau lưng anh ta, chỉ trong vài giây đã lách qua cổng rào.

    Chị đóng nó lại cẩn thận, rồi tiến về phía tháp xi-lô thứ hai, biến vào trong bóng tối.

    Tại đó, chị sẽ ra hiệu cho Inej biết khi tốp vệ quân đi tuần ngang qua.

    Người vệ quân quay trở về vị trí, cẩn trọng đi giật lùi đề phòng mối nguy hiểm đến từ dãy nhà kho.

    Cuối cùng, anh ta quay người lại, lay cánh cổng để bảo đảm nó được khoá, rồi bước vào trong chốt gác.

    Theo tín hiệu của Nina, Inej thoăn thoắt leo lên những gióng thang được hàn chắc vào sườn ngọn tháp.

    Một tầng, hai tầng… mười tầng.

    Thường thì chú của Inej sẽ pha trò cho khán giả trong lúc có trèo lên.

    Màn biểu diễn sau đây chưa từng được ai làm thử, và nhất là bởi một người trẻ!

    Xin quý vị hãy chiêm ngưỡng sợi dây trên kia.

    Ngọn đèn rọi sẽ được bật lên, chiếu vào sợi dây để nó trông như một sợi chỉ mỏng manh căng ngang rạp xiếc.

    Thưa các quý ông, hãy nắm lấy tay người phụ nữ của mình.

    Hãy xem những ngón tay của họ mảnh khảnh đến thế nào.

    Giờ hãy hình dung bản thân bước đi trên một thứ cũng mỏng manh và yếu ớt như vậy!

    Ai dám làm một việc như thế?

    Ai dám thách thức tử thần nào?

    Khi đó Inej đã đứng trên đỉnh trụ và, tay chống hông, cô hô to: “Tôi!”

    Khoan đã, chuyện này không thể được, chú của cô sẽ nói như thế, một bé gái ư?

    Đó luôn là lúc đám đông cuồng nhiệt hẳn lên.

    Phụ nữ ngất đi.

    Còn đàn ông thì có người thậm chí còn tìm cách ngăn màn biểu diễn lại.

    Nhưng đêm nay không có đám đông nào cả, chỉ có gió, lớp kim loại lạnh lẽo nơi ngón tay của cô, và nửa sáng của mặt trăng.

    Inej đã lên đến đỉnh tháp xi-lô và phóng mắt quan sát đô thị bên dưới.

    Ketterdam chìm trong ánh sáng vàng, những ngọn đèn lồng chậm rãi di chuyển trên các dòng kênh, ánh nến thắp sáng những ô cửa sổ, các hiệu buôn và tửu quán sáng rực đèn đuốc để phục vụ công việc kinh doanh, cô có thể nhận ra ánh sáng lấp lánh của khu Lid, những dải đèn lồng sặc sỡ loè loẹt của Tây và Đông Stave.

    Chỉ trong vài ngày nữa, gia sản của Van Eck sẽ tiêu tan, và cô sẽ không còn bị ràng buộc bởi giao kèo với Per Haskell.

    Tự do.

    Để sống như cô mong ước.

    Để tìm kiếm sự tha thứ cho những tội lỗi của cô.

    Để theo đuổi ý nguyện của cô.

    Liệu cô có nhớ nơi này không?

    Cái đô thị hỗn tạp đông đúc mà cô đã hiểu quá rõ, và bằng cách nào đó đã trở thành nhà của cô ư?

    Chắc chắn cô sẽ nhớ.

    Thế nên đêm nay, cô sẽ trình diễn cho thành phố của mình, cho những công dân Rotterdam, ngay cả khi họ không hề vỗ tay.

    Với một chút nỗ lực, Inej quay được tay quay của cửa lật và mở nó ra.

    Rồi cô thò tay vào trong túi và lấy ra cái lọ nhỏ đựng mọt hoá chất.

    Theo chỉ dẫn của Wylan, cô lắc nó thật kĩ trước khi trút hết vào trong xi-lô.

    Một tiếng xịt vang lên, và trước sự chứng kiến của Inej, lớp đường chuyển động như thể có sinh vật gì đó sống dậy bên dưới bề mặt của nó.

    Inej rùng mình.

    Cô từng nghe nói có những người công nhân rơi vào trong xi-lô và chết khi những hạt bắp hay hạt đường dạt ra dưới chân, nuốt chửng lấy họ và làm họ nghẹt thở.

    Cô đóng cửa lại và vặn chặt tay quay.

    Tiếp đó, Inej bước xuống gióng thang đầu tiên và gắn vào đó cái móc nam châm mà Wylan đã đưa.

    Có vẻ nó bám rất chắc.

    Chỉ bằng một cái bấm nút, hai sợi dây dẫn đường nhiễm từ lập tức bung ra, gắn vào thành tháp với một tiếng keng nhẹ.

    Cô lấy chiếc nỏ cùng với cuộn dây lớn từ trong túi ra, rồi buộc một đầu dây vào cái móc nam châm, thắt nút thật chặt, và buộc hai dây dẫn đường.

    Đầu kia của sợi dây, cô buộc vào một cái móc nam châm đã gắn sẵn trên nỏ.

    Cô bắn nỏ.

    Phát đầu tiên đi chệch mục tiêu, và cô phải thu sợi dây về.

    Phát thứ hai lạc sang một gióng thang khác.

    Nhưng phát thứ ba thì trúng vào nơi cô nhắm tới trên tháp xi-lô kế tiếp.

    Inej vặn cái móc cho đến khi sợi dây đạt được độ căng phù hợp.

    Họ đã từng sử dụng thiết bị tương tự trước đây, nhưng chưa bao giờ làm trên một khoảng cách lớn và độ cao như thế này.

    Không sao.

    Khoảng cách và sự nguy hiểm sẽ được thay đổi trên dây.

    Cô cũng vậy.

    Khi đi trên dây, cô không có ai để bám víu, cô chỉ là một sinh vật không có quá khứ cũng chẳng có hiện tại, lơ lửng giữa trời và đất.

    Đến lúc rồi.

    Người ta có thể học đánh đu, nhưng với việc đi thăng bằng trên dây thì phải có thiên khiếu.

    Mẹ của Inej đã bảo cô rằng những người đi trên dây có năng khiếu bẩm sinh là hậu duệ của Người Trời, họ từng có cánh, và dưới nguồn sáng thích hợp, những đôi cánh đó vẫn có thể được nhìn thấy trên những người được gia ân.

    Sau đó Inej thường đứng trước gương, xoay tới xoay lui, lén nhìn cái bóng của mình trong sự cười cợt của các anh chị em họ, để xem liệu cô có đôi cánh nào hay không.

    Khi bố của Inej trở nên mệt mỏi vì cứ bị con gái nài nỉ mỗi ngày, ông đã cho phép cô học đi trên những sợi dây thấp, với đôi chân trần, để cô có thể cảm nhận việc bước tới bước lui và giữ cơ thể thăng bằng.

    Inej chán muốn chết, nhưng vẫn cần mẫn thực hiện các bài tập hằng ngày, kiểm tra sức lực, thử độ bám của các đôi giày da trên những sợi dây căng hơn và kém thân thiện hơn.

    Những khi bố không để ý, cô còn trồng cây chuối và vượt qua đoạn dây còn lại với tư thế đó.

    Rất mau chóng, bố đồng ý nâng sợi dây lên cao thêm vài centimet, rồi để cô thử sức với một sợi dây thép thực thụ, và ở các cấp độ, Inej đều hoàn thiện hết kĩ thuật này đến kĩ thuật khác: lộn chống tay, lộn trước, đội bình nước trên đầu.

    Cô làm quen với các cây cột trụ mỏng mảnh và dẻo dai, cho phép cô giữ thăng bằng ở những độ cao lớn hơn.

    Vào một buổi chiều nọ, chú của Inej và các em họ cô dàn dựng một tiết mục mới.

    Hanzi sẽ đẩy Asha ngồi xe cút kít trên dây.

    Trời nóng nên họ quyết định nghỉ ăn trưa rồi ra sông tắm.

    Còn một mình trong trại, Inej trèo lên giàn đỡ đã được dựng, bảo đảm lưng mình quay về phía mặt trời, để có thể quan sát sợi dây một cách rõ ràng.

    Ở trên cao, thế giới trở thành hình ảnh phản chiếu của chính nó, các hình thù bé lại, những cái bóng kéo dài ra, hình dạng vẫn quen thuộc nhưng không còn đáng tin cậy, và khi Inej đặt bàn chân đi giày lên sợi dây, cô bỗng cảm thấy nghi ngại.

    Mặc dù sợi dây vẫn có cùng một độ rộng với sợi dây mà cô dùng để luyện tập hàng tuần lễ không chút sợ sệt, lúc này nó dường như mỏng hơn, như thể trong cái thế giới phản chiếu ấy, nó tuân theo những định luật khác.

    Khi nỗi sợ xuất hiện, một điều gì đó sẽ xảy ra.

    Inej hít thở thật sâu, gồng bụng lại, rồi thực hiện bước đi đầu tiên giữa khoảng không.

    Bên dưới cô, thảm cỏ giống như một mặt biển dợn sóng, cô cảm thấy trọng lượng của mình thay đổi, dồn sang bên trái, cảm thấy sức hút của mặt đất, trọng lực rắp tâm kéo cô nhập vào cái bóng tít xa bên dưới của chính cô.

    Cơ bắp của Inej gồng lên, cô hơi chùng gối lại.

    Rồi khoảnh khắc đó qua đi, và chỉ còn cô với sợi dây.

    Cô đã đi được nửa đường thì nhận ra mình đang bị quan sát.

    Cô mở rộng tầm quan sát nhưng vẫn giữ sự tập trung.

    Inej sẽ không bao giờ quên vẻ mặt của bố khi ông cùng với mấy chú cháu từ bờ sông quay về.

    Khuôn mặt ông ngẩng lên nhìn con gái, cái miệng há tròn thành một chữ O kinh ngạc.

    Mẹ cô cũng xuất hiện từ phía sau cỗ xe và đặt một bàn tay lên ngực.

    Họ cùng đứng im phăng phắc ở đó, sợ rằng mình sẽ phá vỡ sự tập trung của cô - họ là những khán giả đầu tiên của cô, câm lặng trong nỗi kinh hoàng mà cô cảm thấy giống như sự ngưỡng mộ.

    Sau khi Inej trèo xuống, mẹ cô đã dành gần một tiếng đồng hồ để hết ôm cô vào lòng lại mắng mỏ cô không tiếc lời.

    Bố cô thì tỏ ra cứng rắn, nhưng sự tự hào của ông không qua được mắt cô, ánh mắt khâm phục của mấy đứa em họ cũng vậy.

    Khi một trong số đó kéo cô sang một bên và hỏi, “Làm thế nào chị có thể đi dây điềm nhiên như thế?”

    Inej chỉ nhún vai đáp, “Cứ thế mà đi thôi.”

    Nhưng sự thật không phải vậy.

    Nó còn hơn là một sự bước đi.

    Khi những người khác đi trên dây, họ căng mình ra chống đỡ - với gió, độ cao, khoảng cách.

    Khi Inej bước lên sợi dây, nó trở thành thế giới của cô.

    Cô có thể cảm thấy độ nghiêng và sức hút của nó.

    Nó là một hành tinh, và cô là mặt trăng của nó.

    Điều đơn giản ấy cô chưa bao giờ cảm thấy trong trò đu bay, khi cô được quán tính đưa đi.

    Cô thích sự tĩnh tại mà mình tìm thấy trên sợi dây thăng bằng, và đó là thứ mà không ai khác có thể hiểu được.

    Inej chỉ bị ngã một lần duy nhất, và cô vẫn trách tấm lưới vì điều đó.

    Họ đã căng lưới khi Hanzi đi xe đạp một bánh trong màn biểu diễn của mình.

    Lúc Inej bước lên dây, cô ngã ngay lập tức.

    Cô gần như chỉ kịp ghi nhận điều đó trước khi chạm vào tấm lưới - và văng ra khỏi nó, rơi xuống đất.

    Cô kinh ngạc khi khám phá ra mặt đất cứng đến thế nào, nó không hề mềm lại hay võng xuống để đón cô.

    Inej bị gãy hai xương sườn và nhận một cục u to bằng quả trứng ngỗng trên đầu.

    “Nó to như thế là tốt rồi,” bố cô đã lầm bầm như vậy.

    “Có nghĩa là máu không bị tụ trong não con bé.”

    Ngay khi Inej được tháo băng, cô lập tức đi trên dây trở lại.

    Kể từ đó, cô không bao giờ sử dụng lưới an toàn nữa.

    Cô biết nó sẽ làm mình khinh suất.

    Nhưng nhìn xuống dưới vào lúc này, cô phải thừa nhận có một chút bảo hiểm cũng không sao.

    Tít xa bên dưới, ánh trăng mắc kẹt trong các mặt cong của lớp đá lát đường làm cho chúng trông giống như những cái hạt màu đen của một thứ trái cây ngoại lai nào đó.

    Nhưng tấm lưới giấu sau chốt gác hoàn toàn vô dụng khi chỉ có mỗi Nina để căng nó, và bất chấp kế hoạch ban đầu của Kaz là gì, kế hoạch mới không thể có chuyện ai đó đứng tơ hơ giữ lưới.

    Do vậy Inej sẽ đi trên dây như đã từng đi, không có bất cứ thứ gì đón đỡ và chỉ được nâng bởi đôi cánh vô hình.

    Inej lấy cây gậy thăng bằng trong túi ra, và với một cú vẩy nhẹ, cô duỗi nó dài hết cỡ.

    Cô ướm thử sức nặng của cây gậy trên tay, co ngón chân trong đôi dép sục.

    Đôi dép da được xoáy từ đoàn xiếc Zirkoa theo yêu cầu của cô.

    Phần đế nhẵn của nó thiếu độ bám chắc mà đôi giày yêu thích của cô mang lại, nhưng cho phép cô cởi ra nhanh hơn.

    Cuối cùng tín hiệu của Nina cũng xuất hiện.

    Một ánh chớp xanh ngắn ngủi.

    Inej bước lên sợi dây.

    Ngay lập tức cơn gió tóm lấy cô.

    Inej thở ra, cảm nhận sức lôi kéo riết róng của nó và dùng cây gậy thăng bằng mềm dẻo để hạ thấp trọng tâm cơ thể xuống.

    Cô nhún đầu gối một cái.

    Ơn trời, sợi dây có độ căng tuyệt vời.

    Cô bước đi, cảm nhận sức ép của nó dưới gan bàn chân.Theo mỗi bước đi của Inej, sợi dây hơi võng xuống, chực chờ tuột ra khỏi những ngón chân bấu chặt.

    Cơn gió phả hơi ấm lên da Inej có mùi đường và mật mía.

    Phần mũ trùm đầu đã tuột xuống, và cô có thể cảm thấy những sợi tóc bung ra khỏi đuôi sam đang cù nhẹ khuôn mặt mình.

    Cô tập trung vào sợi dây, cảm nhận sự gần gũi thân thuộc từng trải qua hồi còn bé, như thể sợi dây cũng bám vào cô chắc như cô bám vào nó, chào đón cô vào cái thế giới trong gương ấy, một nơi bí mật chỉ có mình cô.

    Loáng cái Inej đã sang được nóc tháp xi-lô thứ hai.

    Cô bước lên đó, thu ngắn cây gậy thăng bằng lại và cất nó vào chỗ cũ.

    Cô nhấp một ngụm nước từ cái bình trong túi, tự cho phép mình duỗi người một chút.

    Sau đó, cô mở cửa lật và thả mọt hạt vào trong.

    Một lần nữa cô nghe thấy tiếng xịt đó, và mùi đường khét xộc vào mũi cô.

    Lần này nó mạnh hơn, hình thành cả một đám mây dày, ngọt gắt.

    Bỗng cô thấy mình quay trở lại Vườn Thú, với một bàn tay nần nẫn đặt trên cổ tay cô, thúc ép.

    Inej rất giỏi trong việc dự phòng trước những khi kí ức quay lại ám ảnh mình và chuẩn bị tư thế đón nhận nó, nhưng lần này cô không phòng bị.

    Kí ức ập vào cô mạnh hơn cả luồng gió lúc cô đi trên dây, khiến đầu óc cô quay cuồng.

    Mặc dù hắn nồng mùi vani, cô vẫn ngửi thấy mùi tỏi ẩn đằng sau.

    Cô cảm thấy lớp lụa trườn qua mình như thể chiếc giường là một sinh vật sống.

    Inej không nhớ hết bọn họ.

    Khi màn đêm và Vườn Thú hoà làm một, cô đã trở nên giỏi hơn trong việc làm mình tê dại, biến mất hoàn toàn để gần như không bận tâm đến những gì họ làm với cơ thể cô bỏ lại phía sau.

    Cô biết những gã đàn ông tìm đến nhà chứa không bao giờ nhìn quá kĩ, không bao giờ hỏi quá nhiều.

    Bọn họ muốn một ảo tưởng, và sẵn sàng phớt lờ bất cứ thứ gì để gìn giữ ảo tưởng đó.

    Nước mắt tất nhiên là điều bị cấm đoán.

    Cô đã khóc vào cái đêm đầu tiên.

    Dì Heleen quất cô bằng cái gậy mềm, rồi chuyển sang gậy cứng và bóp cổ cho đến khi cô ngất đi.

    Sau đó, nỗi sợ của cô đã lớn hơn nỗi buồn.

    Cô học cách mỉm cười, thì thào, ưỡn người và phát ra những âm thanh mà các khách hàng của Dì Heleen đòi hỏi.

    Cô vẫn khóc, nhưng không có giọt nước mắt nào rơi nữa.

    Chúng lấp đầy khoảng trống trong lòng cô, một cái giếng u sầu mà hằng đêm cô rơi vào như một hòn đá.

    Vườn Thú là một trong những nhà chứa đắt đỏ nhất khu Barrel, nhưng đám khách hàng thì chẳng tử tế gì hơn những kẻ lui tới những nhà trọ rẻ tiền hoặc các cô gái đứng đường.

    Theo cách nào đó, bọn họ còn tệ hơn.

    Khi một gã đàn ông trả nhiều tiền đến thế, cô gái người Kaelish tên Caera đã nói như vậy, hắn nghĩ hắn có quyền làm mọi thứ mình muốn.

    Bọn họ già có, trẻ có, đẹp trai có mà xấu xí cũng có.

    Có những gã khóc tu tu và đánh cô khi gã không làm ăn được gì.

    Lại có kẻ muốn cô giả vờ như đang trải qua đêm tân hôn và thì thầm lời yêu đương.

    Có lão răng sắc như răng mèo, cứ cắn vào bầu ngực cô cho đến khi chảy máu.

    Dì Heleen đã tính thêm tiền giặt tấm ga giường dính máu và những ngày Inej không làm việc được vào giao kèo của cô.

    Nhưng đó chưa phải là khách hàng tệ hại nhất, mà là một tay người Ravka, kẻ đã chọn cô trong phòng tiếp khách, kẻ có mùi vani.

    Chỉ khi họ đã ở trong căn buồng của cô, giữa sắc lụa tím và mùi trầm, hắn mới nói: “Cô biết không, tôi đã từng gặp cô đấy.”

    Inej đã bật cười, nghĩ rằng đó chỉ là một phần của cái trò mà hắn muốn chơi, và rót rượu cho hắn từ một cái bình vàng.

    “Chắc chắn là không.”

    “Đó là vài năm trước, tại một trong những gánh xiếc rong ở ngoại vi

    Caryeva.”

    Một chút rượu bị sánh ra khỏi miệng li.

    “Chắc anh nhầm tôi với ai đó.”

    “Không,” hắn nói, hào hứng như một cậu bé trai.

    “Tôi hoàn toàn chắc chắn.

    Tôi đã xem gia đình cô biểu diễn ở đó.

    Lúc đó tôi đang là một quân nhân nghỉ phép.

    Cô chắc chỉ mới lên mười, một con bé ốm nhách đi trên dây không chút sợ hãi.

    Cô đeo một cái băng đô gắn đầy hoa hồng.

    Rồi cô hẫng chân, và những cánh hoa hồng bung ra như một cơn mưa, rơi lả tả, lả tả.”

    Hắn vẫy vẫy những ngón tay như thể bắt chước những bông tuyết đang rơi.

    “Đám đông ồ lên, và tôi cũng thế.

    Đêm sau, tôi lại tới, và chuyện đó lại diễn ra.

    Mặc dù tôi biết nó là một phần của màn trình diễn, tôi vẫn còn cảm thấy tim mình hụt mất một nhịp khi cô giả vờ mất thăng bằng.”

    Inej cố gắng giữ yên bàn tay run rẩy của mình.

    Băng đô hoa hồng là ý tưởng của mẹ cô.

    “Con khiến cho nó có vẻ dễ dàng quá, meja, thoăn thoắt đi qua đi lại như một chú sóc chuyền cành.

    Khán giả phải tin rằng con đang gặp nguy hiểm, mặc dù đó không phải là sự thật.”

    Đó là cái đêm tồi tệ nhất của Inej tại Vườn Thú, bởi vì khi người đàn ông nồng mùi vani khởi sự hôn lên cổ và cởi áo cô, Inej không tài nào bỏ cơ thể lại phía sau.

    Bằng cách nào đó, kí ức kia đã gắn quá khứ và hiện tại của cô lại với nhau, đè chặt cô ở bên dưới hắn.

    Cô khóc, nhưng dường như hắn chẳng bận tâm.

    Inej có thể nghe thấy tiếng rít của lớp đường khi mọt hạt phát huy tác dụng.

    Cô cố bắt mình tập trung vào âm thanh đó và hít thở qua cổ họng tắc nghẹn.

    Em muốn có anh không một lớp áo giáp che chắn nào.

    Đó là câu cô đã nói với Kaz trên boong tàu Ferolind, mong ngóng một dấu hiệu nào đó cho thấy anh có thể mở lòng với cô, và họ sẽ không chỉ là hai sinh linh cảnh giác gặp nhau ở sự nghi ngờ dành cho thế giới này.

    Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu anh mở lời tối hôm ấy?

    Nếu anh đã chủ động trao cô một phần trái tim của mình?

    Sẽ thế nào nếu anh đến với cô, bỏ đôi găng tay sang một bên, rồi kéo cô lại gần, và hôn lên môi cô?

    Liệu cô có kéo anh lại sát hơn?

    Có đáp trả nụ hôn của anh không?

    Cô có còn là chính mình trong một khoảnh khắc như thế, hay sẽ vỡ vụn và biến mất, một con búp bê trong tay anh, một cô gái không bao giờ toàn vẹn?

    Không quan trọng.

    Kaz đã không mở lời, và có lẽ như vậy là tốt nhất cho cả hai.

    Họ có thể tiếp tục với lớp áo giáp nguyên vẹn.

    Cô sẽ có con tàu của cô, và anh có thành phố của anh.

    Inej vươn tay để đóng cửa lật lại, hít một hơi sâu thứ không khí nhuốm mùi than, và tống sạch mùi đường phân huỷ ra khỏi phổi.

    Bỗng cô loạng choạng khi bị một bàn tay nắm gáy xô tới trước.

    Cô cảm thấy trọng tâm cơ thể đảo lộn khi bị hút thẳng vào cái miệng toang hoác của tháp xi-lô.

    2

    KAZ

    Đột nhập vào trong ngôi nhà không khó như đáng lẽ nó phải thế, điều này khiến Kaz bực bội.

    Có phải anh đã đánh giá quá cao Van Eck không?

    Lão ta suy nghĩ như một thương gia, anh tự nhắc mình như vậy trong lúc kẹp cây gậy chống dưới nách và leo xuống theo một ống thoát nước.

    Lão ta vẫn tin rằng tiền sẽ giữ cho lão an toàn.

    Lối đột nhập dễ nhất là mấy cái cửa sổ ở tầng trên cùng, chỉ có thể tiếp cận từ mái nhà.

    Wylan không giỏi leo trèo, nên Kaz đột nhập trước rồi đưa cậu ta vào từ tầng dưới.

    “Hai chân lành lặn mà vẫn phải cần một cái thang,” Kaz lẩm bẩm, phớt lờ cú nhói ra hiệu đồng tình của cái chân mình.

    Anh chẳng ham thực hiện thêm một nhiệm vụ khác cùng với Wylan, nhưng hiểu biết của cậu ta về ngôi nhà này sẽ hữu ích nếu có điều gì bất ngờ xảy ra, ngoài ra cậu ta là người phù hợp nhất để xử lí axit auric.

    Kaz nghĩ đến Inej, vắt vẻo trên mái nhà thờ Barter, với những ánh đèn đô thị lấp lánh bên dưới.

    Đây là việc mà tôi làm tốt nhất, nên hãy để tôi làm công việc của mình.

    Tốt thôi.

    Anh sẽ để tất cả bọn họ tự làm công việc của mình.

    Nina sẽ đảm trách phần việc của cô ta, Inej có vẻ đủ tự tin vào khả năng đi thăng bằng trên dây - dù nghỉ ngơi không nhiều và không cần lưới an toàn.

    Liệu cô ấy có thổ lộ với mày nếu cô ấy lo lắng không?

    Có phải đó là điều từng khiến mày tỏ ra thương cảm không?

    Kaz xua ý nghĩ đó ra khỏi đầu.

    Nếu Inej không nghi ngờ năng lực của

    bản thân thì anh cũng không cần phải làm thế.

    Ngoài ra, nếu muốn lấy cái triện cho đám người tị nạn yêu quý của Nina thì anh phải tập trung vào vấn đề của mình.

    May thay, hệ thống an ninh của Van Eck không phải là một mối bận tâm.

    Inej đã nói với anh rằng các ổ khoá đều là loại Schuyler.

    Chúng đúng là những con quỷ nhỏ phức tạp, nhưng khi đã phá được một, ta sẽ phá được tất.

    Kaz từng chơi thân với một người thợ khoá ở Klokstraat.

    Anh ta tin sái cổ rằng Kaz là con trai của một thương gia giàu có, người rất trân quý bộ sưu tập hộp đựng thuốc hít vô giá của anh ta.

    Nhờ đó, Kaz luôn là người đầu tiên biết được một cách chính xác giới nhà giàu ở Ketterdam cất giấu của cải ra sao.

    Anh từng nghe sư phụ đạo chích Hubrecht Mohren của Pijl ngẫu hứng kể về vẻ đẹp của một ổ khoá chất lượng trong lúc say bia nâu tại Quạ Đen.

    “Ổ khoá cũng giống như đàn bà vậy,” ông ta lè nhè nói.

    “Mày phải biết cách ve vuốt để làm nó tuôn hết các bí mật ra.”

    Ông ta là một trong những chiến hữu già của Per Haskell, rất khoái trá khi được khoe khoang về những ngày tháng tươi đẹp và những phi vụ lớn, nhất là khi nó giúp ông ta trốn việc, và đó luôn là thứ thông thái nửa mùa mà những lão bợm già ấy thích tuôn ra.

    Quả thực, ổ khoá đúng là giống như một phụ nữ.

    Nhưng cũng giống như một người đàn ông hay bất kì thứ gì khác, nếu muốn hiểu nó, bạn phải tháo tung ra và xem bên trong hoạt động như thế nào.

    Nếu muốn làm chủ nó, bạn phải tìm hiểu kĩ đến mức có thể tháo ra rồi lắp lại nguyên vẹn.

    Ổ khoá cửa sổ nhượng bộ đôi bàn tay anh với một tiếng tách dễ chịu.

    Kaz đẩy khung kính trượt sang bên cạnh và leo vào trong.

    Những căn buồng nhỏ ở tầng trên cùng ngôi nhà của Van Eck được dành cho đám gia nhân, nhưng tất cả đều đang bận bịu với các khách khứa của chủ ở tầng dưới.

    Một số thành viên giàu có nhất của Hội đồng Thương buồn đang ních căng bụng ở phòng ăn tầng một, lắng nghe Van Eck than thở về việc con trai mình bị bắt cóc và ái ngại trước sự lộng hành của các băng đảng tại Barrel.

    Căn cứ theo mùi thơm, Kaz đoán trong thực đơn có món giăm bông.

    Anh mở cửa và khẽ khàng đi tới cầu thang, rồi thận trọng bước xuống tầng hai.

    Anh hiểu căn nhà của Van Eck từ lần cùng Inej đánh cắp bức tranh sơn dầu của DeKappel, và anh luôn thích quay trở lại một ngôi nhà, một công ty mà mình từng có lí do để vào trước đây.

    Không phải chỉ vì sự quen thuộc.

    Như thể bằng việc quay lại, anh đã chiếm hữu được nó.

    Chúng ta đã tường tận các bí mật của nhau, ngôi nhà dường như nói thế.

    Chào mừng cậu quay lại.

    Một vệ quân đang đứng gác ở cuối đoạn hành lang trải thảm, phía trước cửa căn phòng mà Kaz biết là của Alys.

    Kaz xem đồng hồ.

    Một tiếng bụp vang lên và ánh sáng chớp loè phía ngoài cửa sổ cuối hành lang.

    Ít nhất thì Wylan cũng chuẩn chỉ về giờ giấc.

    Tay vệ quân đi tới đó xem xét.

    Tranh thủ thời cơ, Kaz lẻn đi theo hành lang về hướng ngược lại.

    Anh chui vào trong phòng cũ của Wylan - hiện giờ rõ ràng là được dự tính dùng làm phòng trẻ con.

    Nhờ ánh đèn đường, anh có thể thấy các bức tường đã được vẽ cảnh biển cầu kì để trang trí.

    Nôi em bé mang hình dáng của một chiếc thuyền buồm nhỏ, có hẳn những lá cờ đuôi nheo và bánh lái.

    Van Eck thực sự rất nâng niu người nối dõi mới của mình.

    Kaz phá khoá cửa sổ phòng trẻ con rồi mở nó ra, buộc vào đó một cái thang dây và chờ đợi.

    Nghe thấy một tiếng uỵch, anh nhăn mặt.

    Có vẻ như Wylan đã trèo qua được hàng rào để vào vườn.

    Hi vọng cậu ta không đánh vỡ lọ axit auric và làm cháy một lỗ trên người lẫn trên khóm hoa hồng.

    Giây lát sau, Kaz nghe thấy tiếng thở hồng hộc, rồi Wylan vòng qua góc nhà, lạch bạch như một con vịt bầu.

    Khi đi đến chỗ phía dưới cửa sổ, cậu buộc chặt cái túi vào người và trèo lên thang dây, làm nó đong đưa dữ dội.

    Kaz giúp Wylan leo qua cửa sổ, sau đó rút thang và đóng cửa lại.

    Đây sẽ là lối thoát của họ.

    Wylan trố mắt nhìn quanh phòng trẻ con, rồi chỉ lắc đầu.

    Kaz thị sát hành lang.

    Tay vệ quân đã quay trở lại vị trí gác trước cửa phòng Alys.

    “Sao thế?”

    Kaz thì thào hỏi Wylan.

    “Nó có ngòi nổ cháy chậm,” cậu ta đáp.

    “Tôi canh giờ chưa chính xác.”

    Nhiều giây trôi qua.

    Cuối cùng, một tiếng bụp khác vang lên.

    Tay vệ quân lại đi đến chỗ cửa sổ, và Kaz ra hiệu cho Wylan theo mình rời khỏi phòng.

    Kaz nhanh chóng phá khoá phòng làm việc của Van Eck, và chỉ nháy mắt sau họ đã vào bên trong.

    Lúc Kaz đột nhập vào đây để đánh cắp bức tranh, anh đã khá ngạc nhiên với cách bài trí xa hoa của nó.

    Anh chờ đợi một sự giản dị thường gặp của cánh thương gia, những lớp ván sàn được trang trí đầy những vòng lá nguyệt quế, một cái ngai bọc nhung đỏ nằm chễm chệ phía sau bàn làm việc dài, bóng loáng.

    “Đằng sau bức tranh,” Wylan thì thào, tay chỉ về phía bức chân dung một vị tổ tiên của Van Eck.

    “Người đó là ai vậy?”

    “Martin Van Eck, cụ cố cố nội của tôi.

    Nguyên là thuyền trưởng, người đầu tiên đến Eames Chin và lái tàu vào dòng sông của nó.

    Cụ mang về cả một tàu gia vị và dùng lợi nhuận để mua một con tàu thứ hai.

    Là cha tôi kể như thế.

    Đó là khởi đầu cho cơ nghiệp của dòng họ Van Eck.”

    “Và chúng ta sẽ là kết thúc của nó.”

    Kaz lắc lắc cái đèn xương, khiến ánh sáng xanh lét tràn ngập căn phòng.

    “Cũng khá giống,” anh bình phẩm trong lúc liếc nhìn khuôn mặt gầy guộc, hàng lông mày cao và đôi mắt xanh nghiêm nghị.

    Wylan nhún vai.

    “Ngoại trừ mái tóc đỏ, tôi thừa hưởng mọi thứ từ cha.

    Và ông nội, cũng như tất cả những người mang họ Van Eck khác.

    Giờ thì hết rồi.”

    Hai người đứng vào hai phía của bức tranh và tháo nó xuống khỏi tường.

    “Nhìn mày kìa,” Kaz ngân nga khe khẽ khi két an toàn của Van Eck hiện ra.

    Két dường như không phải là từ chính xác ở đây.

    Nó giống với một cửa hầm kiên cố bằng thép hơn, bắt vào một bức tường cũng được gia cố bằng thép.

    Ổ khoá trên đó được làm tại Kerch, nhưng không giống với bất kì cái nào mà anh từng thấy.

    Nó bao gồm một loạt lẫy khoá có thể được cài đặt lại với các mã số mới mỗi ngày.

    Không thể phá nó trong khoảng thời gian một tiếng đồng hồ.

    Nhưng nếu cửa này không mở được thì bạn vẫn có thể trổ một cái cửa khác.

    Âm thanh của những giọng nói to tiếng vọng lên từ tầng dưới.

    Các thương gia đã tìm thấy điểm bất đồng nào đó.

    Kaz sẽ không từ chối cơ hội nghe lỏm cuộc đối thoại.

    “Làm thôi,” anh nói.

    “Thời gian không còn nhiều.”

    Wylan lấy hai cái lọ trong túi ra.

    Khi ở riêng thì chúng chẳng có gì đặc biệt, nhưng nếu cậu đúng thì một khi kết hợp với nhau, chúng sẽ tạo thành một hợp chất có khả năng xuyên thủng mọi thứ, ngoại trừ kính balsa.

    Wylan hít một hơi sâu và giơ hai cái lọ ra xa.

    “Đừng lại gần,” cậu nói, đoạn đổ chất lỏng từ lọ này vào lọ kia.

    Chẳng có gì xảy ra.

    “Sao thế?”

    Kaz hỏi.

    “Tránh ra nào.”

    Wylan dùng ống pipet bằng thuỷ tinh balsa rút một lượng nhỏ chất lỏng trong lọ, rồi cho nó chảy trên bề mặt cửa két sắt.

    Ngay lập tức, lớp kim loại bắt đầu tan chảy, làm phát ra âm thanh lụp bụp, ồn ào một cách đáng ngại trong căn phòng nhỏ.

    Mùi kim loại ngập tràn không gian.

    Cả Kaz lẫn Wylan đều lấy ống tay áo che mũi.

    “Nhỏ mà có võ,” Kaz kinh ngạc thốt lên.

    Wylan tiếp tục làm việc.

    Cậu cẩn thận đổ axit auric từ trong lọ lên lớp thép, khiến cho cái lỗ thủng mỗi lúc một lớn hơn.

    “Nhanh tay lên,” Kaz đưa mắt nhìn đồng hồ và giục.

    “Chỉ cần tôi làm vãi một giọt này thôi, nó sẽ xuyên thẳng qua sàn nhà và rơi xuống bàn tiệc của cha tôi.”

    “Vậy thì cứ từ từ đi.”

    Khi gặp kim loại, axit bùng cháy nhanh chóng rồi chậm rãi lụi đi.

    Hi vọng nó sẽ không làm thủng bức tường quá mức sau khi họ đi.

    Cái văn phòng này có đổ ập lên đầu đám khách khứa của Van Eck thì Kaz cũng chẳng màng, nhưng phải sau khi công việc đêm nay hoàn tất đã.

    Sau khoảng thời gian tưởng như dài dằng dặc, cái lỗ đã đủ lớn để thò tay qua.

    Kaz chĩa đèn xương vào bên trong và trông thấy một cuốn sổ cái, nhiều cọc tiền, cùng một cái túi nhung nhỏ.

    Anh lấy cái túi ra khỏi két, nhăn mặt khi cánh tay chạm gờ kim loại của lỗ thủng.

    Lớp thép vẫn còn khá nóng.

    Anh trút những thứ bên trong cái túi nhung ra tay: một chiếc nhẫn vàng to tướng khắc hình chiếc lá nguyệt quế màu đỏ và tên viết tắt của Van Eck.

    Kaz nhét chiếc nhẫn vào trong túi quần, rồi thò tay lấy hai cọc tiền, đưa một cọc cho Wylan.

    Anh suýt phì cười khi nhìn thấy vẻ mặt cậu ta.

    “Cậu không thích chuyện này à, thiếu gia?”

    “Tôi không thích cảm giác làm một tên trộm.”

    “Sau tất cả những chuyện ông ta đã làm?”

    “Phải.”

    “Cậu ngay thẳng quá.

    Cậu có nhận ra chúng ta đang đánh cắp tiền của chính cậu không?”

    “Jesper cũng nói y như thế, nhưng tôi tin chắc cha tôi đã gạch tên tôi khỏi di chúc ngay khi dì Alys có thai.”

    “Điều đó không đồng nghĩa rằng cậu không được quyền có nó.”

    “Tôi không muốn.

    Tôi chỉ không muốn ông ta có nó.”

    “Quay lưng với giàu sang thật là một đặc quyền khó tả.”

    Kaz nói trong lúc nhét tiền vào túi quần.

    “Tôi sẽ điều hành cả một đế chế bằng cách nào kia chứ?”

    Wylan hỏi lại và vứt ống pipet vào trong két sắt cho cháy luôn.

    “Tôi không thể đọc được sổ sách chứng từ.

    Tôi không viết nổi lệnh mua hàng.

    Cha tôi sai lầm trong nhiều chuyện, nhưng ông ta đúng về chuyện này.

    Tôi sẽ là một trò cười.”

    “Vậy thì thuê người khác đảm trách công việc đó cho cậu.”

    “Liệu anh có làm thế không?”

    Wylan hỏi lại, cằm hếch lên.

    “Tin tưởng một người biết nhiều cỡ đó, với một bí mật có thể huỷ hoại anh?”

    Có, Kaz nhủ thầm không do dự.

    Tôi có thể tin tưởng một người.

    Một người mà tôi biết sẽ không bao giờ dùng điểm yếu của tôi để chống lại tôi.

    Anh lật nhanh cuốn sổ cái và hỏi lại, “Khi người ta nhìn thấy một thằng thọt bước đi trên phố, tì vào cây gậy chống, họ cảm thấy gì?”

    Wylan quay nhìn chỗ khác.

    Mọi người luôn làm như vậy mỗi khi Kaz nhắc đến cái chân bị tật của mình, như thể anh chưa biết tình trạng của mình, hoặc chưa biết mọi người nhìn nhận anh ra sao.

    “Họ thấy thương hại.

    Thế họ nghĩ gì khi họ thấy tôi đi tới?”

    Khoé miệng Wylan nhếch lên.

    “Họ nghĩ tốt hơn nên tránh sang bên kia đường.”

    Kaz quẳng cuốn sổ vào trong két sắt.

    “Cậu không yếu đuối vì không biết chữ.

    Cậu yếu đuối vì cậu sợ người khác nhìn thấy điểm yếu của mình.

    Cậu để cho sự hổ thẹn định đoạt con người mình.

    Giúp tôi một tay nào.”

    Hai người nhấc bức chân dung lên và treo trở lại chỗ cũ che đi cái lỗ trên két sắt.

    Martin Van Eck quắc mắt nhìn xuống họ.

    “Suy nghĩ đi, Wylan,” Kaz nói tiếp trong lúc chỉnh lại khung tranh cho ngay ngắn.

    “Sự hổ thẹn là thứ lấp đầy túi tôi, sự hổ thẹn là thứ giữ cho Barrel kín mít những kẻ ngu ngốc sẵn sàng đeo một cái mặt nạ để có được điều mình muốn mà không ai biết.

    Chúng ta có thể chịu đựng đủ loại đau đớn.

    Chính sự hổ thẹn nuốt chửng con người ta.”

    “Nói hay lắm,” một giọng nói vang lên từ trong góc phòng.

    Kaz và Wylan quay lại.

    Những ngọn đèn đồng loạt bật lên, khiến cả căn phòng ngập tràn ánh sáng, và một bóng người bước ra từ cái hốc ở bức tường đối diện mà trước đó ít phút không hề hiện diện: Pekka Rollins với nụ cười nhăn nhở trên mặt, hộ tống bởi một nhóm đàn em trong băng Kim Sư, tất cả đều được vũ trang với súng, dùi cui và rìu.

    “Kaz Brekker,” Rollins chế giễu.

    “Tên trộm triết gia.”

    3

    MATTHIAS

    “Nằm yên!”

    Matthias quát bảo Kuwei.

    Cậu nhóc người Shu dán mình dưới sàn.

    Loạt đạn thứ hai làm rung chuyển không khí, phá vỡ một ô cửa sổ kính ghép khác.

    “Hoặc bọn chúng thích phí đạn, hoặc đây chỉ là những phát súng cảnh báo,” Jesper lên tiếng.

    Matthias lom khom di chuyển tới phía bên kia của nhà mồ và nhòm qua một khe đá.

    “Chúng ta bị bao vây rồi,” anh nói.

    Những kẻ đang đứng giữa các nhà mồ trên đảo Mạng Đen khác hẳn các thị tuần mà anh chờ đợi.

    Trong ánh sáng chập chờn của đèn đuốc, Matthias trông thấy những cái áo vest kẻ sọc, kẻ ô hoặc hoạ tiết paisley, và áo khoác caro.

    Trang phục của dân Barrel.

    Bọn chúng mang theo những món vũ khí cũng lôm côm chẳng kém: súng, dao dài, gậy gỗ.

    “Tôi không thể nhìn rõ hình xăm của chúng,” Jesper nói.

    “Nhưng tôi khá chắc đứa đứng đầu là Doughty.”

    Doughty.

    Matthias lục lọi trong kí ức của mình và nhớ ra người đã dẫn họ vào gặp Pekka Rollins khi cả nhóm cần tiền.

    “Bọn Kim Sư.”

    “Cả đống thằng.”

    “Chúng muốn gì?”

    Kuwei run rẩy hỏi.

    Matthias nghe thấy trên nền tiếng la lối nói cười là âm thanh trầm đầy kích động của những chiến binh biết mình đang chiếm lợi thế và đánh hơi thấy mùi đổ máu.

    Tiếng hò reo vang lên khi một thằng trong băng Kim Sư chạy đà rồi ném thứ gì đó về phía nhà mồ.

    Nó bay qua một ô cửa sổ vỡ kính và đập mạnh vào sàn nhà.

    Chất khí màu xanh tuôn ra.

    Matthias lấy một tấm mền ngựa và phủ lên quả bom khói.

    Anh ném nó trở ra ngoài qua cửa sổ trong lúc một loạt đạn khác no vang.

    Mắt anh cay xè, lệ tuôn ràn rụa trên má.

    Tiếng ồn lên đến đỉnh điểm.

    Bọn Kim Sư lao tới trước.

    Jesper nổ một phát súng và một tên trong số những thằng đang lao lên ngã xuống, ngọn đuốc tắt ngấm khi chạm nền đất ẩm ướt.

    Jesper tiếp tục nã đạn hết lần này đến lần khác, không hề run tay khi những thằng trong băng Kim Sư gục ngã.

    Hàng ngũ của chúng gãy đổ khi mạnh đứa nào đứa nấy tản ra tìm chỗ ẩn nấp.

    “Giữ hàng ngũ đi chứ, mấy đứa,” Jesper gằn giọng.

    “Ra ngoài đi!”

    Doughty hét lên từ phía sau một ngôi mộ.

    “Mày không thể bắn hết bọn tao đâu.”

    “Tao không nghe thấy gì cả.

    Lại gần hơn đi,” Jesper la lớn.

    “Bọn tao đã đập nát tàu thuyền của mày.

    Tụi mày sẽ không thể đi khỏi hòn đảo này nếu không đi cùng bọn tao.

    Thế nên im mồm đi, bằng không bọn tao sẽ cắt đầu tụi mày đem về Barrel.”

    “Coi chừng!”

    Matthias cảnh báo.

    Doughty đang làm họ phân tâm.

    Một quả bom khói khác bay qua cửa sổ, rồi một quả thứ ba.

    “Hầm mộ!”

    Matthias gào lên, và cả bọn lao tới phía bên kia của nhà mồ, chen chúc nhau chui vào lối đi trước khi đóng chặt cánh cửa đá sau lưng.

    Jesper xé áo nhét vào khe hở giữa cánh cửa và mặt sàn.

    Mọi thứ tối om.

    Trong một thoáng, chỉ có tiếng ba người bọn họ ho sặc sụa, cố gắng tống khí ra khỏi phổi.

    Rồi Jesper lắc một cái đèn xương, và khuôn mặt họ được chiếu bằng thứ ánh sáng xanh lè ma quái.

    “Làm thế quái nào bọn nó tìm được chúng ta kia chứ?

    Jesper thắc mắc.

    “Không quan trọng,” Matthias đáp.

    Họ không có thời gian để tìm hiểu vì sao đảo Mạng Đen bị đột nhập.

    Tất cả những gì anh biết là nếu Pekka Rollins cử tay sai đến đây thì Nina cũng đang gặp nguy hiểm.

    “Đạn dược của chúng ta còn những gì?

    “Wylan để lại một số quả bom tím phòng trường hợp chúng ta gặp rắc rối với bọn chiến binh người Shu, ngoài ra tôi cũng có hai quả bom sáng.

    Kuwei, cậu có gì?”

    “Tôi chẳng có gì cả.”

    “Cái túi chết tiệt của cậu,” Jesper đáp.

    “Trong đó không có gì hữu dụng à?”

    Kuwei ghì chặt túi hành lí vào ngực.

    “Mấy quyển sổ tay của tôi,” cậu nhóc sụt sịt đáp.

    “Thế những thứ mà Wylan đang làm dở thì sao?”

    Matthias hỏi.

    Không ai buồn nghĩ đến chuyện dọn sạch chúng.

    “Chỉ là một thứ gì đó mà cậu ta dùng để làm pháo hoa cho vụ cầu Thiện Nữ,” Jesper đáp.

    Một tràng những tiếng la lối từ phía bên ngoài vọng vào.

    “Chúng sẽ cho nổ tung cánh cửa nhà mồ,” Matthias nói.

    Đó là cách anh sẽ làm nếu cần tù binh hơn là thi thể, mặc dù anh tin chắc Kuwei là người duy nhất trong số họ bọn Kim Sư muốn bắt sống.

    “Ngoài kia phải có ít nhất ba chục tên sừng sỏ đang tìm cách lột da chúng ta,” Jesper nói.

    “Nhà mồ chỉ có một lối ra, và chúng ta đang kẹt trên một hòn đảo chết tiệt.

    Chúng ta tiêu rồi.”

    “Có lẽ không,” Matthias nói trong lúc đưa mắt nhìn ánh sáng xanh ma quái của chiếc đèn xương.

    Mặc dù không có đầu óc mưu mô như Kaz, anh cũng được tôi luyện trong môi trường quân ngũ.

    Sẽ có cách cho tình huống này.

    “Anh bị điên à?

    Bọn Kim Sư biết thừa quân số chúng áp đảo chúng ta như thế nào.”

    “Phải,” Matthias đáp.

    “Nhưng chúng không biết hai trong số chúng ta là Grisha.”

    Bọn chúng tưởng chỉ đang truy đuổi một nhà khoa học, không phải một Tiết Hỏa Sư, và Jesper bấy lâu nay vẫn giữ kín năng lực sáng Chế Gia của mình.

    “Phải rồi, hai Grisha hầu như chưa được luyện tập,” Jesper nói.

    Một tiếng uỳnh vang lên, khiến các bức tường rung chuyển và làm Matthias ngã dúi vào hai người còn lại.

    “Chúng đến rồi!”

    Kuwei hét lên.

    Nhưng không có tiếng bước chân nào vang lên.

    Thêm một tràng những tiếng la lối từ phía ngoài hầm mộ vọng vào.

    Chúng dùng chưa đủ thuốc nổ,” Matthias nói.

    “Chúng muốn bắt sống cậu, thế nên chúng tỏ ra thận trọng.

    Chúng ta còn một cơ hội nữa.

    Kuwei, cậu có thể tạo ra bao nhiêu nhiệt lượng từ một ngọn lửa?”

    “Tôi có thể làm cho lửa cháy mạnh hơn, nhưng duy trì thì khó đấy.”

    Matthias nhớ lại hình ảnh những lưỡi lửa màu tím ngùn ngụt cháy trên thân thể gã người Shu có cánh, không thể dập tắt.

    Wylan đã nói sức nóng của chúng cao hơn lửa thường.

    “Đưa một quả bom cho tôi,” anh nói với Jesper.

    “Tôi sẽ cho nổ vách tường phía sau của hầm mộ.”

    “Để làm gì?”

    “Để làm cho bọn chúng nghĩ chúng ta sẽ thoát ra ngoài qua lối đó,” Matthias đáp, rồi đặt quả bom ở cuối đoạn hành lang đá.

    “Anh có chắc nó không làm chúng ta tan xác không đấy?”

    “Không,” Matthias thừa nhận.

    “Nhưng trừ phi cậu có ý tưởng gì hay ho hơn…”

    “Tôi…”

    “Bắn hạ nhiều địch thủ nhất có thể trước khi chúng ta toi mạng không phải là một lựa chọn.”

    Jesper nhún vai.

    “Nếu vậy thì tiến hành thôi.”

    “Kuwei, ngay khi bom nổ, cậu hãy chạy nhanh hết sức có thể tới cửa nhà mồ.

    Lúc đó chắc khói độc đã tản bớt, nhưng tôi muốn cậu chạy.

    Tôi sẽ yểm trợ ngay phía sau cậu.

    Cậu có nhớ ngôi mộ có cột buồm lớn bị gãy không?”

    “Ở phía bên phải á?”

    “Đúng rồi.

    Hãy chạy thẳng tới đó.

    Jesper, lấy hết chỗ bột mà Wylan để lại, và chạy theo cậu ta.”

    “Tại sao?”

    Matthias châm ngòi.

    “Cậu có thể nghe theo mệnh lệnh của tôi, hoặc đi gặp bọn Kim Sư mà thắc mắc.

    Giờ thì nằm xuống.”

    Anh đẩy cả hai sát vào tường, che chắn cho họ khi một tiếng uỳnh khủng khiếp vang lên từ đầu kia của đường hầm.

    “Chạy!”

    Ba người lao qua cửa hầm mộ.

    Matthias dùng một tay giữ vai Kuwei, thúc cậu ta chạy qua đám khói xanh còn sót lại.

    “Nhớ nhé, lao thẳng tới chỗ cột buồm gãy.”

    Anh đá tung cửa nhà mồ và ném quả bom sáng lên trời.

    Nó nổ tung, tạo thành một chùm ánh sáng trắng loá.

    Anh lao vào bụi cây, dùng súng trường bắn về phía bọn Kim Sư trong lúc lom khom chạy qua các ngôi mộ.

    Bọn Kim Sư nổ súng đáp trả, và Matthias vội thụp xuống nấp sau một đống đá phủ đầy rêu phong.

    Anh trông thấy Jesper vừa lao qua cửa nhà mồ vừa nổ súng, phá vòng vây chạy về phía cột buồm gãy bằng đá.

    Matthias ném nốt quả bom sáng còn lại lên không trong lúc Jesper nhào người sang bên phải và nhiều khẩu súng đồng loạt nổ vang như sấm dậy, khi băng Kim Sư phớt lờ mọi kỉ luật hoặc phần thưởng được hứa hẹn để xả bằng hết chỗ đạn mình có.

    Chúng có thể đã được chỉ thị giữ cho Kuwei còn sống, nhưng chúng chỉ là một đám trộm cướp Barrel, nào phải những binh lính được rèn luyện.

    Dán bụng xuống đất, Matthias bò qua những ngôi mộ.

    “Mọi người có bị gì không?”

    Anh hỏi khi đến được khu lăng mộ có cột buồm đá bị gãy.

    “Hết cả hơi, nhưng vẫn còn thở được,” Jesper đáp.

    Kuwei cũng gật đầu xác nhận dù đang run lẩy bẩy.

    “Kế hoạch rất tuyệt.

    Giờ thì bị mắc kẹt ở đây có gì khá hơn bị kẹt trong nhà mồ bên kia?”

    “Cậu có mang theo chỗ bột của Wylan không?”

    “Những gì còn lại,” Jesper đáp và dốc hết các túi, lấy ra ba cái gói.

    Matthias chọn bừa một cái.

    “Cậu có thể điều khiển chúng không?”

    Jesper lúng túng đổi tư thế.

    “Có, tôi nghĩ thế.

    Tôi đã từng làm điều tương tự tại Lâu Đài Băng.

    Tại sao?”

    Tại sao.

    Tại sao.

    Nếu đang ở trong hàng ngũ drüskelle, chắc cậu ta đã bị tống giam vì bất tuân phục rồi.

    “Mạng Đen nổi tiếng là bị ma ám, đúng không?

    Chúng ta sẽ tạo ra vài con ma.”

    Matthias liếc nhìn quanh khu lăng mộ.

    “Bọn chúng đang tiến đến.

    Tôi cần cậu vâng lệnh và ngừng thắc mắc.

    Cả hai cậu.”

    “Chẳng trách anh và Kaz không hợp nhau,” Jesper lẩm bẩm.

    Cố gắng nói ngắn gọn trong chừng mực của mình, Matthias giải thích dự định của mình cho lúc này và khi họ tới mép đảo, nếu như kế hoạch của họ thành công.

    “Tôi chưa bao giờ làm chuyện này trước đây,” Kuwei nói.

    Jesper nháy mắt với cậu ta.

    “Thế nó mới hào hứng chứ.”

    “Sẵn sàng chưa?”

    Matthias hỏi.

    Anh mở cái gói.

    Jesper giơ hai bàn tay lên.

    Với một tiếng vút khẽ, chỗ bột bay lên không trung, trở thành một đám mây lơ lửng, như thể thời gian trôi chậm lại.

    Jesper dồn sự tập trung vào đó đến mức mồ hôi túa ra trên trán, rồi phóng hai tay tới trước.

    Đám mây dàn mỏng ra, quần đảo trên đầu bọn Kim Sư, và bắt lửa từ một ngọn đuốc, nổ ra ánh sáng xanh lè.

    Những kẻ đứng quanh tên cầm đuốc há hốc mồm.

    “Kuwei,” Matthias ra lệnh.

    Cậu nhóc người Shu giơ tay lên, và ngọn lửa của cây đuốc bắt đầu lan dọc theo phần cán, trườn xuống cánh tay kẻ đang cầm.

    Hắn hét lên, vứt cây đuốc đi rồi nằm lăn lộn trên mặt đất hòng dập lửa.

    “Tiếp tục đi,” Matthias nhắc.

    Kuwei cong ngón tay lại, nhưng ngọn lửa xanh tắt phụt.

    “Tôi xin lỗi!”

    Kuwei nói.

    “Thử lại đi,” Matthias yêu cầu.

    Anh không có thời gian để dỗ dành.

    Kuwei lại phóng hai bàn tay tới trước, và một chiếc đèn lồng của bọn Kim Sư nổ tung, làm bùng lên những lưỡi lửa màu vàng.

    Kuwei lui lại, như thể không dự định dùng lực mạnh như vậy.

    “Đừng để mất tập trung,” Matthias hối thúc.

    Kuwei ngoắc tay, và ngọn lửa cuồn cuộn bốc lên cao.

    “Ê, cũng không tệ đấy.”

    Jesper thốt lên, mở một cái gói khác và tung đám bột vào không trung, rồi vung tay, đẩy chúng bay tới trước, về phía ngọn lửa của Kuwei.

    Lưỡi lửa rùng rùng chuyển sang màu đỏ rực.

    “Stronti clorua,” Jesper thì thầm.

    “Thứ tôi thích nhất.”

    Kuwei ngoắc tay, và một lưỡi lửa khác nhập vào ngọn lửa đỏ, tạo thành một con mãng xà uốn lượn bên trên đảo Mạng Đen, sẵn sàng tấn công.

    “Ma!”

    Một đứa trong băng Kim Sư hét toáng lên.

    “Đừng có hâm,” đứa khác đáp.

    Quan sát con rắn lửa uốn lượn, hết thu vào lại toả ra, Matthias cảm thấy nỗi sợ trước kia dâng lên trong lòng.

    Anh đã kết thân với Kuwei, dù chính những ngọn lửa Tiết Hoả Sư này đã thiêu rụi ngôi làng của anh trong một trận đánh.

    Anh đã quên mất thứ năng lực mà thằng nhóc sở hữu.

    Hồi đó là chiến tranh, anh tự nhủ.

    Và bây giờ cũng vậy.

    Băng Kim Sư đang bị sao nhãng, nhưng chuyện này sẽ không kéo dài.

    “Thổi lửa sang mấy cái cây đi,” Matthias ra lệnh, và với một tiếng gằn, Kuwei dang rộng hai cánh tay.

    Những tán lá xanh cố gắng chống cự cuộc tấn công của lửa, nhưng rồi cũng khuất phục.

    “Chúng có Grisha,” Doughty hét lớn.

    “Lột da chúng!”

    “Chạy ra mép nước!”

    Matthias nói.

    “Ngay!”

    Họ vội lao qua những tấm

    bia mộ và tượng thánh vỡ.

    “Kuwei, sẵn sàng nhé.

    Chúng ta cần toàn bộ nội lực của cậu.”

    Họ trượt xuống bờ dốc, lao vào chỗ nước nóng.

    Matthias ném chỗ bom tím vào các thân thuyền bị đập vỡ.

    Lưỡi lửa tím lập tức nuốt chửng chúng, mượt mà một cách rùng rợn.

    Matthias đã qua lại chỗ này đủ nhiều lần để biết đây là nơi nông nhất của con kênh, doi cát dài là nơi những con thuyền dễ mắc cạn nhất, nhưng bờ đối diện của đất liền lại ở quá xa.

    “Kuwei,” anh ra lệnh, thầm mong cậu nhóc người Shu đủ mạnh mẽ để đảm đương kế hoạch mà Matthias đã vạch ra ban nãy.

    “Mở đường đi.”

    Kuwei phóng hai tay tới trước.

    Những ngọn lửa đổ xuống mặt nước, làm hơi nước bốc lên ngùn ngụt.

    Thoạt đầu, Matthias chỉ nhìn thấy một bức tường trắng xoá mờ mịt.

    Sau đó hơi nước tản ra và anh trông thấy những con cá nhảy lách tách trên mặt bùn, cua bò lổm ngổm dưới lòng kênh trơ đáy, trong lúc những lưỡi lửa tím liếm vào lớp nước ở hai bên bờ.

    “Lạy các thánh và lũ lừa họ cưỡi,” Jesper ngỡ ngàng thốt lên.

    “Kuwei, cậu làm được rồi.”

    Matthias quay người về phía đảo và nổ súng vào đám cây cối.

    “Mau lên!”

    Anh hét to.

    Họ vội lao qua con đường mà mới một phút trước chưa từng tồn tại, phóng tới bờ kênh bên kia, nơi các ngõ hẻm để ẩn nấp đang chờ đợi.

    Phi tự nhiên, một giọng nói vang lên trong đầu Matthias.

    Không, anh nghĩ thầm.

    Kì diệu.

    “Anh có nhận ra mình vừa lãnh đạo một top quân Grisha không vậy?”

    Jesper hỏi trong lúc họ nâng mình lên khỏi lòng kênh bùn lầy và chạy vội trên những con phố hướng đến Bãi Ngọt.

    Quả vậy.

    Một suy nghĩ lạ lùng.

    Thông qua Jesper và Wylan, anh đã điều khiển năng lực Grisha.

    Thế nhưng anh không cảm thấy mình bị vấy bẩn hay nhúng chàm vì chuyện đó.

    Anh còn nhớ điều mà Nina đã nói về cách thức Lâu Đài Băng được xây dựng, rằng nó chắc phải là công trình của Grisha, chứ không phải của Djel.

    Liệu sẽ thế nào nếu cả hai đều đúng?

    Sẽ thế nào nếu Djel đã ra tay thông qua những con người này?

    Phi tự nhiên.

    Chữ đó đến với anh một cách quá dễ dàng, để xua đi những thứ anh không hiểu, để hạ thấp Nina và những người như cô.

    Nhưng sẽ thế nào nếu như phía sau sự chính trực mà các drüskelle đi theo, có một điều gì đó kém trong sạch hoặc bất minh?

    Sẽ thế nào nếu nó thậm chí không phải là sự sợ hãi hay tức giận, mà chỉ đơn thuần là ghen tị?

    Có nghĩa lí gì khi dốc lòng phụng sự Djel, chỉ để thấy quyền lực của Ngài qua năng lực của người khác, chứ bạn không bao giờ có thể sở hữu những năng lực đó?

    Các drüskelle đã thề trung thành với Fjerda lẫn vị thần của họ.

    Nếu họ sinh ra để thấy những điều kì diệu mà họ từng xem là sự kinh tởm, thì còn chuyện gì xảy ra nữa?

    Tôi được sinh ra để bảo vệ Người.

    Bổn phận của anh với vị thần của mình, bổn phận của anh với Nina.

    Nếu như chính là bàn tay của Djel đã dâng nước lên trong cơn bão cuồng nộ nhấn chìm con tàu drüskelle để đưa anh và Nina đến với nhau thì sao?

    Matthias đang chạy qua những con phố của một vương quốc xa lạ, tiến đến những nguy hiểm mà anh chưa biết tới, nhưng đây là lần đầu tiên kể từ khi anh nhìn vào mắt Nina và thấy sự nhân đạo của mình phản chiếu trong đó, cơn bão lòng của anh lắng xuống.

    Chúng ta sẽ tìm cách làm họ thay đổi suy nghĩ, cô đã nói như thế.

    Tất cả bọn họ.

    Anh sẽ tìm được Nina.

    Họ sẽ sống sót qua đêm nay.

    Họ sẽ thoát khỏi cái thành Ketterdam ẩm ướt, bất lương này, và rồi…

    Phải, và rồi họ sẽ thay đổi thế giới.

    4

    INEJ

    Inej vặn người, thoát ra khỏi bàn tay đang nắm chặt gáy mình.

    Cô thụp xuống cho khỏi ngã.

    Đạp chân vào mái xi-lô, cô nhoài người ra xa cửa lật.

    Rồi cô bật dậy, dao đã kịp rút khỏi vỏ, sẵn sàng trên tay.

    Đầu óc cô không thể hiểu được thứ mà mình nhìn thấy.

    Một đứa con gái đang đứng trước mặt cô, sáng trưng như một bức tượng tạc từ ngà voi và hổ phách.

    Áo và quần dài của con nhỏ có màu kem, viền da màu ngà và thêu hoạ tiết màu vàng.

    Mai tóc nâu của nó được tết thành bím dày, kết trang sức lấp lánh.

    Con nhỏ cao gầy, lớn hơn Inej chừng một hoặc hai tuổi.

    Inej nghĩ tới nhóm chiến binh Kherguud mà Nina và những người khác chạm trán tại Tây Stave, nhưng đứa con gái này không giống người Shu.

    “Xin chào, Bóng Ma,” con nhỏ lên tiếng.

    “Chúng ta biết nhau à?”

    “Ta là Dunyasha, Bạch Kiếm, được huấn luyện bởi Hội Hiền nhân Ahmrat Jen, sát thủ tài năng nhất lứa tuổi mình.”

    “Lạ hoắc.”

    “Ta mới tới đây thôi,” đứa con gái thừa nhận, “nhưng ta biết ngươi là một huyền thoại trên những đường phố bẩn thỉu này.

    Phải thừa nhận, ta cứ tưởng ngươi phải… cao lớn hơn kìa.”

    “Có chuyện gì?”

    Inej hỏi lại bằng câu cửa miệng của người Kerch vào đầu mọi cuộc gặp, mặc dù nói ra nó ở độ cao hai mươi tầng nhà như thế này thật kì dị hết sức.

    Dunyasha mỉm cười.

    Nụ cười có vẻ như đã được tập luyện, giống các cô gái trong phòng tiếp khách thếp vàng của vườn Thú.

    “Ở cái nơi thô lỗ này mọi người chào hỏi nhau cộc cằn ghê!”

    Con nhỏ bâng quơ khoát tay về phía đường chân trời trong một cử chỉ vừa như nhìn nhận vừa phủi bỏ Ketterdam.

    “Định mệnh đã đưa ta tới đây.”

    “Thế định mệnh có trả tiền cho mày không?”

    Inej hỏi lại, đưa mắt ước lượng đối thủ.

    Cô không nghĩ con nhỏ trèo lên cao thế này chỉ để làm quen.

    Khi giao đấu, chiều cao sẽ giúp nó có tầm đánh xa hơn, nhưng cũng ảnh hưởng tới sự thăng bằng của nó.

    Có phải Van Eck đã cử nó tới đây không?

    Và nếu vậy thì ông ta có cử ai đó bám theo Nina luôn không?

    Inej liếc nhanh xuống dưới, nhưng không thấy được gì trong những cái bóng tối om của cụm tháp.

    “Mày làm việc cho ai?”

    Những con dao xuất hiện trong tay Dunyasha.

    Cạnh sắc của chúng ánh lên lấp loáng.

    “Cái chết là công việc của bọn ta,” con nhỏ nói, “và nó rất thiêng liêng.”

    Vẻ đắc chí ánh lên trong mắt Dunyasha, sự sinh động đầu tiên mà Inej nhìn thấy, ngay trước khi con nhỏ tấn công.

    Inej bị bất ngờ bởi tốc độ của địch thủ.

    Dunyasha di chuyển như một vệt màu, như thể bản thân là một lưỡi thép cắt xuyên bóng tối, với hai lưỡi dao phối hợp nhịp nhàng, hết trái lại phải.

    Inej để cho cơ thể mình đáp trả, né những đường dao theo bản năng và lùi xa địch thủ, nhưng tránh gờ mép của tháp xi-lô.

    Cô giả vờ né trái rồi vung nhát dao đầu tiên.

    Dunyasha xoay người tránh đòn một cách dễ dàng, nhẹ nhàng như một tia nắng phản chiếu trên mặt họ.

    Inej chưa bao giờ thấy ai chiến đấu như vậy, như thể con nhỏ di chuyển theo một thứ âm nhạc mà chỉ mình nó nghe thấy.

    “Ngươi e sợ rồi à, Bóng Ma?”

    Inej cảm thấy lưỡi dao của Dunyasha cắt qua ống tay áo.

    Cái nhói mà nó gây ra giống như một cú roi quất.

    Không quá sâu, cô tự nhủ.

    Trừ phi con dao có tẩm thuốc độc.

    “Ta nghĩ là có đấy.

    Người ta không thể vừa sợ cái chết vừa là phái viên thực thụ của nó được.”

    Con nhỏ này có bị chập mạch không vậy?

    Hay nó chỉ lắm lời?

    Inej lùi lại, di chuyển vòng quanh mái xi-lô.

    “Ta sinh ra đã không biết sợ,” Dunyasha nói tiếp với một cái chậc lưỡi khoái trá.

    “Ba mẹ cứ sợ ta sẽ chết đuối, vì hồi nhỏ ta bò xuống biển, vừa bò vừa cười.”

    “Có khi họ sợ mày chết vì nói nhiều ấy.”

    Dunyasha lao tới với một sự mạnh mẽ mới.

    Inej tự hỏi phải chăng con nhỏ chỉ vờn cô trong loạt đòn tấn công đầu tiên, thăm dò điểm mạnh và điểm yếu trước khi chiếm lấy ưu thế.

    Cả hai trao đổi vài đường dao, nhưng Dunyasha vẫn còn nguyên sức mạnh.

    Inej có thể cảm thấy từng vết đau, từng thương tích và những thử thách của một tháng qua trên cơ thể mình - nhát dao suýt đoạt mạng cô, màn leo ống khói lò đốt rác, những ngày cô bị cầm tù.

    “Phải thú thực là ta thất vọng đấy,” Dunyasha lên tiếng trong lúc đôi bàn chân lướt đi thoăn thoắt trên mái xi-lô.

    “Ta đã tưởng ngươi sẽ là một thách thức.

    Nhưng ta thấy gì thế này?

    Một con mọi đen Suli biết nhào lộn, đánh đấm như phường du côn mạt hạng.”

    Sự thật là vậy.

    Inej đã học lóm các ngón đòn từ bọn con trai như Kaz và Jesper trong các ngõ hẻm quanh co của Ketterdam.

    Dunyasha không chỉ có một lối tấn công.

    Con nhỏ có thể mềm dẻo như lau sậy khi cần, tấn công như một con mèo, rút lui như một làn khói.

    Inej không thể nắm bắt hay dự đoán chúng.

    Con nhỏ giỏi hơn mình.

    Sự nhìn nhận đó có vị chua lòm như thể Inej vừa cắn vào một món trái cây hấp dẫn nhưng đã hỏng.

    Khác biệt không chỉ nằm ở việc rèn luyện.

    Inej học đánh nhau vì buộc phải làm thế nếu muốn sống sót.

    Cô đã khóc nức nở vào cái đêm mình hạ sát lần đầu tiên.

    Còn con nhỏ này khoái trá với điều đó.

    Nhưng Ketterdam đã dạy cô rất kĩ.

    Nếu không thắng được vận may thì đổi trò chơi.

    Inej đợi cho đối thủ lao tới để nhảy lên sợi dây căng giữa hai xi-lô và liều mình đi trên nó.

    Cơn gió ập vào cô quyết liệt, như thể cảm thấy cơ hội của mình.

    Inej nghĩ đến việc sử dụng cây gậy thăng bằng, nhưng cô muốn đôi tay rảnh rang.

    Cô cảm thấy sợi dây võng xuống.

    Không thể nào.

    Nhưng khi Inej liếc nhìn qua vai, Dunyasha đã bắt chước cô đi trên sợi dây thăng bằng.

    Con nhỏ đang nhoẻn cười, làn da trắng sáng rực lên như thể nuốt chửng ánh trăng.

    Bàn tay của Dunyasha phóng tới, và Inej hộc lên khi bị một vật sắc nhọn đâm vào bắp chân.

    Cô nhoài người ra sau, nắm lấy sợi dây bằng hai tay, và quay lại để đối mặt với địch thủ.

    Con nhỏ lại vung tay.

    Inej cảm thấy một cú đau nhói khác, và khi nhìn xuống, cô trông thấy một cái phi tiêu đang cắm trên đùi mình.

    Từ đâu đó bên dưới, cô nghe thấy tiếng la hét và ẩu đả.

    Nina.

    Van Eck đã cử kẻ nào hay thứ gì tới tìm chị?

    Nhưng cô không thể sao nhãng, nhất là khi đang ở trên dây thăng bằng với con quỷ này.

    “Nghe nói ngươi từng làm gái cho mụ công,” Dunyasha nói trong lúc phóng một phi tiêu nữa vào Inej, tiếp nối bằng một cái thứ ba.

    Inej tránh được cả hai, nhưng nhận một cái khác vào vai phải.

    Cô chảy máu khá nhiều.

    “Ta thà giết chính mình cùng tất cả mọi người dưới mái nhà đó chứ không để bản thân bị lợi dụng như vậy.”

    “Mày đang bị lợi dụng đó,” Inej đáp.

    “Van Eck không xứng đáng với những kĩ năng của mày đâu.”

    “Nếu ngươi nhất định muốn biết, thì Pekka Rollins là người trả tiền cho ta đó,” Dunyasha đáp.

    Inej cảm thấy sợi dây dưới chân tròng trành.

    Rollins.

    “Ông ta trả tiền đi lại, ăn ở cho ta.

    Nhưng ta không đòi tiền cho những mạng sống mà mình tước đi.

    Chúng là đồ trang sức của ta.

    Là thanh danh của ta trên cõi đời này, và sẽ mang lại vinh dự cho ta ở kiếp sau.”

    Pekka Rollins.

    Liệu ông ta đã tìm thấy Kaz rồi?

    Còn những người khác?

    Sẽ thế nào nếu Nina đang nằm chết dưới kia?

    Cô phải thoát khỏi con nhỏ này.

    Lại một cái phi tiêu hình sao bay vèo tới, khiến Inej né sang trái để tránh.

    Cô giật lùi trên sợi dây thăng bằng, và thoáng thấy một vệt sáng bạc khác.

    Cơn đau xé toạc cánh tay Inej.

    Cô rít lên.

    Cái chết là công việc của bọn ta và nó rất thiêng liêng.

    Nhỏ lính đánh thuê này phụng sự thánh thần hắc ám phương nào đây?

    Inej mường tượng ra một gã khổng lồ sừng sững bên trên Ketterdam, không có cá tính và nét đặc biệt nào, làn da căng bóng nơi những cái tay cái chân mập ú, ừng ực uống máu từ các nạn nhân của đám lâu la.

    Cô có thể cảm thấy sự hiện diện của gã và lạnh toát trong cái bóng đồ sộ của gã.

    Một mũi phi tiêu cắm vào cẳng chân của Inej, mũi khác găm vào cẳng tay.

    Cô liếc nhìn qua vai.

    Chỉ còn mươi bước chân nữa thôi là cô đến được tháp xi-lô thứ nhất.

    Dunyasha có thể đánh đấm giỏi hơn Inej, nhưng con nhỏ không biết rõ Ketterdam.

    Inej sẽ nhanh chóng trèo xuống chân tháp tìm Nina.

    Họ sẽ cắt đuôi con quỷ này nhờ hệ thống đường sá kênh rạch mà Inej thuộc nằm lòng.

    Một lần nữa, cô ước lượng khoảng cách ở phía sau lưng mình.

    Chỉ vài bước nữa thôi.

    Nhưng khi cô quay lại nhìn thì Dunyasha đã không còn trên dây.

    Cô trông thấy con nhỏ cúi xuống, thò tay về phía cái móc nam châm.

    Không.

    “Xin hãy bảo vệ con,” cô thì thào với các vị thánh của mình.

    Sợi dây long ra.

    Inej rơi xuống, vặn người trong không trung như cô từng làm hồi bé, tìm kiếm đôi cánh của mình.

    5

    KAZ

    Kaz nghe thấy một tiếng rít trong tai.

    Anh luôn có cảm giác nhìn đôi lạ lùng mỗi khi quan sát Rollins, như thể vừa thức quá khuya sau một chầu nhậu tuý luý.

    Kẻ đứng trước anh là Pekka Rollins, ông vua của khu Barrel, trùm băng đảng kiêm bầu sô.

    Nhưng lão cũng là Jakob Hertzoon, thương gia liêm chính giả hiệu đã chiếm được lòng tin và cảm tình của hai anh em Kaz, trước khi cuỗm sạch tiền rồi bỏ mặc họ trên những con phố không biết nhân nhượng.

    Đêm nay, mọi dấu vết của Jakob Hertzoon đã biến mất.

    Rollins mặc một chiếc gilet sọc xanh lá cài khuy chật khít trên cái bụng chớm phệ và quần dài màu ngọc lục bảo sặc sỡ.

    Rõ ràng lão ta đã thay thế cái đồng hồ bị Kaz xoáy mất, vì lão vừa lấy ra một cái mới và đang nhìn vào nó.

    “Cái này chẳng chạy đúng giờ gì cả,” Rollins nói và lắc mạnh cái đồng hồ, chỗ tóc mai rung lên nhè nhẹ khi lão bực bội thổ hắt ra, “nhưng tôi không thể kiềm chế trước những thứ sáng bóng.

    Đừng có nói là cậu vẫn còn giữ cái đồng hồ đánh cắp của tôi nhé.”

    Kaz không nói gì.

    “Thôi,” Rollins nhún vai, đóng sập nắp đồng hồ lại và nhét nó vào túi áo gilet.

    “Ngay lúc này, thuộc hạ của tôi chắc đã bao vây nhóm của cậu cùng một con tin vô giá trên đảo Mạng Đen.”

    Wylan buột miệng kêu lên một tiếng tuyệt vọng.

    “Tôi cũng đã chuẩn bị một thứ đặc biệt dành cho Bóng Ma,” Rollins nói tiếp.

    “Một báu vật khác thường, con bé đó.

    Tôi không thích việc cậu sở hữu vũ khí siêu việt ấy, nên tôi đã tìm một người còn khác thường hơn để xử con bé.”

    Một cảm giác khó chịu cồn lên trong bụng Kaz.

    Anh nhớ lúc Inej nhún vai, vóc người nhỏ nhắn toát lên sự tự tin.

    Tôi không cần lưới an toàn.

    “Cậu thực sự nghĩ mình khó tìm đến thế à, Brekker?

    Tôi chơi cái trò này từ lâu lắm rồi.

    Tất cả những gì tôi phải làm là nghĩ xem mình sẽ làm gì nếu trẻ hơn và ngu ngốc hơn.”

    Tiếng rít trong tai Kaz lớn hơn.

    “Ông làm việc cho Van Eck.”

    Anh đã nghĩ đến khả năng này, nhưng lại phớt lờ nó.

    Anh đã nghĩ nếu mình hành động đủ nhanh thì bọn họ sẽ không kịp hình thành một liên minh.

    “Tôi làm ăn với Van Eck.

    Sau khi cậu đến gặp tôi để tìm cách kiếm tiền, tôi đã có cảm giác ông ta cần sự giúp sức của tôi.

    Lúc đầu ông ta ngần ngại, sau quả đắng với dân Barrel.

    Nhưng cái trò vặt vãnh mà cậu bày ra với cô vợ của Van Eck đã đẩy ông ta vào vòng tay âu yếm của tôi.

    Tôi đã nói với Van Eck rằng cậu sẽ luôn đi trước ông ta một bước, bởi vì ông ta không thể không suy nghĩ như một thương gia.”

    Kaz khựng lại.

    Chẳng phải anh cũng có cùng suy nghĩ như vậy sao?

    “Ông ta là một người khôn ngoan, hẳn rồi,” Rollins nói tiếp, “nhưng lại có óc tưởng tượng hạn chế.

    Trong khi cậu, Brekker, cậu suy nghĩ như một thằng ranh con độc địa.

    Cậu là tôi, với nhiều tóc hơn, và ít kiểu cách hơn hẳn.

    Van Eck chắc mẩm đã nắm gáy được cậu ở Tây Stave, thậm chí ông ta còn tự tin đến mức lôi cả thị tuần vào cuộc.

    Nhưng tôi biết cậu không dễ bị bắt như thế.

    “Và ông biết tôi sẽ đến đây?”

    Rollins chậc lưỡi.

    “Tôi biết cậu không thể cưỡng được chuyện này.

    Ồ, tôi không biết kế hoạch của cậu, nhưng tôi biết bất kể thế nào nó cũng sẽ đưa cậu tới đây.

    Cậu không thể bỏ qua cơ hội làm nhục Van Eck và lấy lại những gì mà cậu nghĩ ông ta nợ cậu.”

    “Thoả thuận là thoả thuận.”

    Rollins lắc đầu, kêu cục cục như một con gà mái mẹ.

    “Cậu cá nhân hoá vấn đề quá mức, Brekker à.

    Lẽ ra cậu nên tập trung vào công việc, nhưng cậu lại quá bận ôm một mối thù.”

    “Chỗ này thì ông sai rồi,” Kaz đáp.

    “Tôi không ôm mối thù.

    Tôi nâng niu nó.

    Tôi chiều chuộng nó.

    Tôi cho nó ăn những miếng thịt ngon lành, và đưa nó đi học ở những ngôi trường tốt nhất.

    Tôi nuôi dưỡng nó, Rollins à.”

    “Tôi mừng là cậu vẫn giữ sự hài hước của mình.

    Sau khi cậu ra tù, đấy là tôi giả dụ như Van Eck để cho cậu được sống, có lẽ tôi sẽ nhận cậu vào làm việc.

    Thật đáng tiếc nếu để phí hoài một tài năng như cậu.”

    “Tôi thà bị Van Eck quay chín trên một cái xiên còn hơn.”

    Rollins nở một nụ cười cao thượng.

    “Tôi nghĩ chuyện đó cũng có thể thu xếp được.

    Tôi đâu phải loại người hẹp hòi.”

    Cứ nói tiếp đi, Kaz âm thầm giục trong lúc luồn tay vào cái túi đeo chéo của Wylan.

    “Điều gì khiến ông nghĩ rằng Van Eck sẽ tôn trọng thoả thuận với ông hơn là những thoả thuận với chúng tôi?”

    “Bởi vì tôi rất sòng phẳng chuyện tiền nong, và những đòi hỏi của tôi rõ ràng là vừa phải hơn.

    Vài triệu kruge để loại khỏi Barrel một mối nguy mà bản thân tôi cũng muốn tống tiền ư?

    Hợp lí quá còn gì!”

    Rollins móc ngón tay cái vào áo gilet.

    “Sự thật là Van Eck và tôi hiểu nhau.

    Tôi đang bành trướng, mở rộng địa bàn, nghĩ lớn hơn.

    Hoàng Tử Kaelish là công trình đẹp đẽ nhất mà Đông Stave từng thấy, và nó chỉ mới là khởi đầu.

    Van Eck và tôi là những nhà xây dựng.

    Chúng tôi muốn tạo ra thứ gì đó trường tồn hơn bản thân.

    Rồi cậu sẽ hiểu điều đó, nhóc ạ.

    Giờ thì đưa cái triện đó đây, và đi từ tốn thôi, đồng ý chứ?”

    Kaz lôi cái triện từ trong túi ra, giơ lên cao để nó được ánh đèn đường chiếu vào, thu hút ánh mắt của Rollins.

    Anh ngần ngừ.

    “Coi nào, Brekker.

    Cậu kiên cường lắm, tôi phải công nhận điều đấy, nhưng tôi đã dồn cậu vào chân tường, và áp đảo cậu về quân số.

    Cậu không thể nhảy xuống qua cái cửa sổ kia, Van Eck đã điều thị tuần đứng đầy con phố bên dưới.

    Cậu đã xong, đã tiêu, đã vào tròng, vậy nên đừng làm bất cứ điều gì ngu xuẩn.”

    Nhưng nếu không thể mở một cánh cửa, ta chỉ việc trổ cái khác.

    Rollins thật dễ gợi chuyện.

    Thật ra, Kaz không chắc mình có thể làm lão ta ngừng nói nếu muốn.

    Anh chỉ còn việc giữ cho đôi mắt của lão không rời khỏi cái triện vàng choé trên bàn tay phải của anh trong lúc mở lọ axit auric bằng tay trái.

    “Sẵn sàng nhé,” anh thì thào.

    “Kaz…”

    Wylan phản đối.

    Nhưng Kaz đã quẳng cái triện cho Rollins đồng thời đổ phần axit còn lại xuống sàn.

    Căn phòng nóng rực lên, tấm thảm bốc khói cay xè trong tiếng rít dữ dội.

    “Bắt chúng!”

    Rollins la lớn.

    “Hẹn gặp ông ở bên kia,” Kaz nói, giáng mạnh cây gậy xuống ván sàn dưới chân.

    Chúng long ra với một tiếng ken két lạnh người.

    Kaz và Wylan rơi xuống bàn tiệc ở tầng một giữa đám khói và bụi thạch cao, khiến nó sụm xuống vì sức nặng của cả hai.

    Chân nến và bát đĩa văng tứ tung.

    Kaz bật dậy với gậy chống trong tay, nước sốt ròng ròng trên áo.

    Anh kéo Wylan đứng lên.

    Anh có một khoảnh khắc ngắn ngủi để ghi nhận vẻ sửng sốt của các vị thương gia quanh bàn.

    Miệng họ há ra kinh ngạc, những chiếc khăn ăn vẫn còn nguyên trên đùi.

    Sau đó Van Eck hét lớn, “Tóm lấy chúng!” và Kaz cùng Wylan nhảy qua một cái đùi giăm bông, ba chân bốn cẳng lao đi trên hành lang lát gạch đen trắng.

    Hai vệ quân mặc chế phục bước vào qua cánh cửa lắp kính mở ra vườn sau nhà, súng trường giương lên.

    Kaz đua nước rút rồi trượt người tới trước.

    Anh xoay ngang cây gậy chống trước ngực và lướt qua giữa hai vệ quân, để cho cây gậy đập vào cẳng chân họ, hất ngã cả hai.

    Wylan bám theo anh, luống cuống chạy xuống mấy bậc thềm dẫn ra vườn.

    Họ mau chóng tiến đến nhà thuyền, leo qua lan can rồi nhảy xuống chiếc gondel của Rotty đang nằm chờ sẵn dưới kênh.

    Một viên đạn găm vào mạn thuyền khi cơn mưa đạn trút xuống mặt nước quanh họ.

    Anh và Rotty cầm lấy mái chèo.

    “Chơi khô máu đi,” Kaz quát to, và Wylan ném toàn bộ chỗ bom sáng, pháo thăng thiên lẫn những mẫu thử cầm theo.

    Bầu trời phía trên ngôi nhà của Van Eck bùng nổ trong những luồng sáng, khói lửa và âm thanh, khiến các vệ quân nằm rạp xuống đất để nấp tránh.

    Kaz đưa con thuyền tiến vào dòng lưu thông tấp nập trên kênh Geld.

    “Đột nhập rồi thoát ra mà không gây chú ý là thế này sao?”

    Rotty hỏi.

    “Tôi đúng được vế đầu,” Kaz gằn giọng.

    “Chúng ta cần phải cảnh báo những người kia,” Wylan hổn hển nói.

    “Rollins đã nói…”

    “Pekka Rolllins ở trong đó á?”

    Rotty hỏi.

    Kaz có thể nghe thấy sự hoảng sợ trong giọng điệu của Rotty.

    Một gã giang hồ kênh rạch sẵn sàng nghênh tiếp hàng nghìn bọn côn đồ, trộm cắp lẫn thương gia, nhưng lại sợ Pekka Rollins.

    Kaz nghiêng mái chèo, lái con thuyền tránh kịp một chiếc tàu chở đầy khách du lịch.

    “Chúng ta cần phải quay lại đảo Mạng Đen.

    Những người kia…”

    “Im đi, Wylan, tôi cần suy nghĩ.”

    Jesper và Matthias đều giỏi chiến đấu.

    Người có cơ may đưa Kuwei thoát khỏi Mạng Đen chính là họ.

    Nhưng làm thế nào Pekka Rollins tìm thấy họ?

    Chắc ai đó đã bị bám theo trong lúc quay về đảo.

    Tất cả bọn họ đều đối diện nguy cơ khi rời đảo.

    Bất kì ai cũng có thể bị nhận diện và theo dõi.

    Nina và Matthias?

    Wylan và Jesper?

    Hay bản thân anh?

    Sau khi Pekka Rollins đã phát hiện ra nơi ẩn náu của cả nhóm, chắc lão chỉ cần theo dõi rồi đợi cho họ tách ra và tự làm mình yếu đi.

    Kaz gồng vai và Rotty hoà theo.

    Những nhịp chèo đưa con thuyền tiến nhanh hơn trên dòng kênh.

    Anh cần nó len lỏi giữa dòng thuyền bè và tránh xa ngôi nhà của Van Eck tối đa.

    Anh cần đến được Bãi Ngọt.

    Người của Rollins chắc hẳn đã theo chân Inej và Nina từ Mạng Đen tới đó.

    Sao anh lại để cho hai người tấn công cụm tháp một mình kia chứ?

    Nina và đám người tị nạn quý hoá của cô ta.

    Sẽ không có cuộc giải cứu vĩ đại cho các Grisha đêm nay.

    Mọi cơ hội của họ đều đã tan tành.

    Tôi cũng đã chuẩn bị một thứ đặc biệt dành cho Bóng Ma.

    Trả thù cái quái gì, mưu mô cái quái gì chứ.

    Nếu Rollins đụng tới Inej, anh sẽ sơn lại khu Đông Stave bằng máu của lão.

    Nghĩ đi.

    Khi một kế hoạch thất bại, ta vạch ra một cái mới.

    Khi bị dồn

    vào chân tường, ta trổ một cái lỗ trên mái nhà.

    Nhưng anh không thể sửa chữa thứ mà anh chưa nắm bắt được.

    Mưu đồ đã đổ vỡ.

    Anh đã không đáp ứng được kì vọng của mọi người.

    Anh đã không đáp ứng được kì vọng của Inej.

    Tất cả chỉ vì anh có một điểm mù mỗi khi Pekka Rollins xuất hiện.

    Jesper chắc đã mất mạng.

    Inej chắc đang đổ máu trên những con phố của Bãi Ngọt.

    Anh quay mái chèo lại.

    “Chúng ta sẽ đi tới khu kho bãi.”

    “Những người kia thì sao?”

    “Jesper và Matthias là hai chiến binh thiện nghệ, và Pekka Rollins sẽ không dám làm hại Kuwei.

    Chúng ta sẽ tới Bãi Ngọt.”

    “Anh đã nói chúng ta sẽ được an toàn trên đảo Mạng Đen,” Wylan phản đối.

    “Anh đã nói…”

    “Không có nơi nào an toàn cả,” Kaz nạt nộ.

    “Ở Barrel, hay ở bất kì đâu.”

    Anh dồn sức vào tay chèo.

    Không triện.

    Không tàu.

    Tiền thì mất.

    “Giờ chúng ta làm gì đây?”

    Wylan khẽ hỏi, giọng cậu gần như không nghe được giữa tiếng sóng nước ì oạp và âm thanh của những con tàu khác trên kênh.

    “Cầm lấy mái chèo và tỏ ra hữu ích đi,” Kaz đáp.

    “Hoặc tôi sẽ quẳng cái đồ trẻ con nhà cậu xuống nước và để cho cha cậu tới vớt cậu lên.”

    6

    NINA

    Nina nghe thấy trước khi nhìn thấy chúng.

    Cô đang đứng giữa tháp xi-lô thứ hai và thứ ba, nơi có thể quan sát các diễn biến của Inej và để mắt trông chừng chốt gác.

    Inej đã trèo lên tháp như một con nhện bé xíu lanh lẹ, di chuyển ở tốc độ khiến Nina chỉ nhìn thôi cũng thấy mệt.

    Góc nhìn dốc đứng khiến cô gần như không quan sát được sau khi Inej lên đến đỉnh tháp và không thể biết cô bé thao tác đến đâu với cái cửa lật.

    Nhưng Inej không khởi sự băng qua tháp thứ hai khi Nina phát tín hiệu lần đầu tiên, nên có lẽ cô bé bị chậm trễ gì đó với sợi dây hoặc với mọt hạt.

    Ở lần phát tín hiệu thứ hai, Nina trông thấy Inej bước ra ngoài không trung.

    Từ chỗ đứng của Nina, sợi dây hoàn toàn vô hình trên nền trời đêm, và trông Inej giống như đang lơ lửng, chuẩn xác và cân nhắc trong từng bước đi.

    Ồ, có một chút nghiêng ngả.

    Giờ là một hiệu chỉnh nhỏ.

    Tim Nina đập thình thịch trong lúc chứng kiến.

    Cô có cảm giác phi lí rằng nếu mất tập trung dù chỉ một giây thôi, Inej sẽ té ngã, như thể sự chú ý và niềm tin của cô là thứ giúp cho Bóng Ma ở trên dây.

    Khi Inej rốt cuộc cũng đến được tháp xi-lô thứ hai, Nina muốn reo lên, nhưng cô nén lòng lại để chỉ nhún nhảy khe khẽ.

    Sau đó, cô đợi cho tốp vệ quân xuất hiện ở phía tây của vòng rào.

    Họ dừng lại vài phút tại chốt gác trước khi đi tiếp.

    Nina sắp phát tín hiệu cho Inej thì nghe một tiếng cười lớn.

    Tốp vệ quân cũng nghe thấy và tỏ ra cảnh giác.

    Nina thấy một người trong số họ thắp ngọn đèn lồng trên nóc chốt gác để gọi viện binh - một biện pháp phòng ngừa trong trường hợp có rắc rối.

    Dạo này hay xảy ra những vụ bạo động, và với tình hình hỗn loạn ở Tây Stave ngày hôm qua, cô không mấy ngạc nhiên khi tốp vệ quân mau chóng gọi tiếp viện.

    Có vẻ như họ sẽ cần đến nó.

    Nina có thể nhận ra những gã côn đồ khu Barrel ngay khi trông thấy, và dường như nhóm này khá nguy hiểm.

    Tất cả bọn chúng đều to cao, lực lưỡng, được vũ trang đầy đủ.

    Hầu hết có súng, một dấu hiệu rõ rệt cho thấy chúng không chỉ tìm kiếm một cuộc ẩu đả.

    Tên cầm đầu mặc một chiếc áo gilet kẻ ô chật khít nơi bộ ngực vạm vỡ, tay vung vẩy sợi xích.

    Nina có thể nhìn thấy một hình xăm tròn nơi cẳng tay hắn.

    Tuy không thấy hết các chi tiết từ khoảng cách này, nhưng cô dám cá đó là một con sư tử cuộn mình tạo thành chiếc vương miện.

    Băng Kim Sư.

    Đàn em của Pekka Rollins.

    Bọn chúng làm cái quái gì ở đây?

    Nina ngước nhìn lên.

    Inej chắc đang bỏ mọt hạt vào tháp xi-lô thứ hai.

    Hi vọng cô bé nằm ngoài tầm quan sát của chúng.

    Nhưng băng của Pekka muốn gì?

    Câu trả lời đến ngay sau đó.

    “Nghe nói có một Độc Tâm Y đang ẩn nấp đâu đây,” thằng mặc gilet nói lớn tiếng, tay vẫn vung vẩy sợi xích.

    Thánh thần ơi, tiêu rồi.

    Có phải bọn Kim Sư đã bám theo Inej và cô từ đảo Mạng Đen không?

    Những người kia có gặp rắc rối không?

    Sẽ thế nào nếu Pekka Rollins và đồng bọn đã biết về những Grisha đang trốn ở đại sứ quán?

    Một vài người trong số đó đang phá vỡ giao kèo làm việc khi tìm cách rời khỏi Kerch.

    Họ có thể bị tống tiền hoặc tệ hơn.

    Pekka có thể bán họ cho người Shu.

    Bây giờ mày có rắc rối của riêng mày, một giọng nói cất lên trong đầu Nina.

    Đừng có lo đi giải cứu thế giới nữa, lo cứu cái thân mày trước đi.

    Đôi khi giọng nói trong cô tỏ ra rất khôn ngoan.

    Một người trong tốp vệ quân bảo vệ cụm tháp xi-lô bước tới trước một hành động can đảm, Nina nghĩ bụng, xét theo sự biểu dương sức mạnh của băng Kim Sư.

    Cô không nghe được hai bên nói gì.

    Một tờ giấy có dấu triện đỏ rực được đưa ra.Tay vệ quân đưa nó cho người bên cạnh đọc.

    Giây lát sau anh ta nhún vai.

    Thế rồi, trước sự kinh hoàng của Nina, tay vệ quân bước tới mở cổng.

    Chiếc đèn lồng trên nóc chốt gác lại loé lên.

    Họ đang gọi viện binh.

    Dấu triện đỏ.

    Màu của Van Eck.

    Đây là cụm xi-lô của ông ta, và không thể nào có chuyện quân lính của ông ta mở cổng nếu không được chủ nhân ra lệnh.

    Sự liên can đó khiến đầu óc cô quay cuồng.

    Có thể nào Jan Van Eck và Pekka Rollins hợp tác với nhau hay không?

    Nếu thế thì cơ hội để bọn cô rời khỏi Ketterdam đã tan tành.

    “Ra mặt đi nào, Nina bé cưng.

    Pekka có việc cho cưng đây.”

    Nina trông thấy sợi xích trên tay thằng cầm đầu có gắn một cặp còng lớn.

    Hồi cô mới tới Ketterdam, Pekka Rollins đã đề nghị nhận cô vào làm và hứa bảo vệ cô.

    Nhưng cô lại chọn theo băng Cặn Bã.

    Có vẻ như Pekka không còn quan tâm đến giao kèo hay luật giang hồ.

    Lão ta sẽ xích cổ cô lại, có lẽ để bán cho người Shu, hoặc dâng cô cho Van Eck để ông ta thuốc cô bằng parem.

    Nina được che chắn trong bóng của tháp xi-lô thứ hai, nhưng chỉ cần đi vài bước là cô sẽ để lộ mình.

    Cô nghĩ đến viên thuốc độc trong túi.

    “Đừng buộc bọn tao phải bắt mày, gái cưng à.”

    Thằng cầm đầu bọn Kim Sư ra hiệu cho những đứa còn lại tản ra.

    Nina nhận thấy cô có hai lợi thế: Đầu tiên, cặp còng kia đồng nghĩa Pekka có lẽ muốn bắt sống cô.

    Lão ta sẽ không muốn hi sinh một Độc Tâm

    Y đáng giá, nên bọn chúng sẽ không nổ súng.

    Thứ hai, bọn nhãi nhép này không biết parem đã làm năng lực của cô bị gián đoạn, cô và Inej sẽ có thêm một ít thời gian.

    Nina vén tóc, huy động toàn bộ sự can đảm của mình để bước ra chỗ sáng.

    Ngay lập tức cô nghe thấy tiếng lên cò súng.

    “Bình tĩnh nào,” cô lên tiếng, một tay chống hông.

    “Tôi sẽ chẳng có ích lợi gì cho Pekka nếu các anh khoan lỗ chi chít trên người tôi giống như nắp một cái lọ tiêu.”

    “Xin chào, cô em Grisha, có muốn chúng ta vui thú một chút không?”

    Tuỳ vào định nghĩa của chúng mày.

    “Này trai đẹp, anh tên gì?”

    Thằng nhóc băng Kim Sư nhoẻn cười, để lộ một cái răng vàng và một lúm đồng tiền quyến rũ.

    “Eamon.”

    “Tên Kaelish đẹp đấy.

    Kenye hom?”

    “Mẹ tao là người Kaelish.

    Tao không nói cái thứ tạp ngữ đó.”

    “Ồ, hay là anh bảo đồng bọn hạ súng xuống để tôi dạy anh vài từ nhé.”

    “Quên đi.

    Tao biết bọn Độc Tâm Y sử dụng năng lực như thế nào.

    Đừng hòng nắm thóp được tao.”

    “Tiếc quá,” Nina đáp.

    “Nghe này, Eamon, đêm nay chúng ta không cần gây hấn.

    Tôi chỉ muốn biết đề nghị của Pekka thôi.

    Nếu tôi phải qua mặt

    Kaz thì tôi cần biết chuyện đó đáng giá bao nhiêu…”

    “Kaz Brekker chắc đã ngoẻo rồi, cưng à.

    Và Pekka không đề xuất gì hết.

    Mày sẽ đi với bọn tao, dù tay có bị còng hay không.”

    Nina giơ hai tay lên và trông thấy đám Kim Sư cứng người lại, sẵn sàng nhả đạn bất chấp mệnh lệnh của Pekka.

    Cô biến cử chỉ của mình thành cái duỗi người.

    “Này Eamon, anh nên biết rằng trước khi bập được còng vào tay tôi thì ruột gan của một nửa trong số các anh đã bị nghiền ra bã.”

    “Mày không thể nhanh thế được.”

    “Tôi đủ nhanh để khiến anh không bao giờ…”

    Cô liếc mắt đầy ngụ ý vào bụng dưới của hắn “… chào cờ ở Tây Stave được nữa.”

    Giờ thì Eamon tái mặt.

    “Mày không thể làm được.”

    Nina bẻ ngón tay rôm rốp.

    “Tôi thử nhé?”

    Một tiếng xoảng khẽ vang lên từ đâu đó trên đầu họ, và bọn Kim Sư lập tức chĩa súng lên trời.

    Chết tiệt, Inej, đừng có gây tiếng động.

    Nhưng khi Nina ngước mắt lên, tâm trí cô đờ ra trong sự kinh hãi.

    Inej đã quay lại sợi dây, nhưng không đi một mình.

    Trong một thoáng, Nina tưởng mình bị ảo giác khi quan sát cái bóng trắng bám theo Inej trên dây.

    Nom cô ta giống như một con ma lơ lửng trên không.

    Cái bóng ném một vật gì đó, loang loáng giống như bằng kim loại.

    Nina không thấy được nó trúng vào đâu, nhưng Inej loạng choạng, trước khi chỉnh lại tư thế, hai cánh tay dang ra giữ thăng bằng.

    Phải có cách nào đó để giúp Inej.

    Nina thử dùng năng lực với bóng ma áo trắng.

    Cô cố tìm kiếm mạch đập, những thớ cơ hay bất cứ thứ gì mà mình có thể kiểm soát được của cô ta, nhưng một lần nữa lại là sự mù loà khủng khiếp, sự trống rỗng ấy.

    “Không định giúp bạn à?”

    Eamon hỏi.

    “Bạn tôi tự xoay sở được,” Nina đáp.

    Eamon cười đểu.

    “Mày hoá ra chẳng mạnh mẽ được như bọn tao nghe đồn.

    Chỉ giỏi nói thôi.”

    Hắn quay về phía đồng bọn.

    “Đứa nào tóm được nó trước tiên, tao đãi rượu đêm nay.”

    Bọn chúng không lao vào cô.

    Chúng không ngu.

    Chúng chậm rãi tiến

    lên, súng giương cao.

    Nina giơ hai tay lên.

    Đối phương khựng lại, nao núng.

    Nhưng khi không có chuyện gì xảy ra, cô thấy chúng liếc nhau, trao đổi vài cái cười khẩy, rồi tiến tới nhanh hơn, không còn sợ hãi, sẵn sàng tóm lấy phần thưởng của mình.

    Nina đánh liều liếc nhìn lên trời.

    Inej vẫn đang làm cách nào đó giữ được thăng bằng.

    Hình như Inej đang tìm cách quay trở lại tháp xi-lô đầu tiên, nhưng rõ ràng cô bé đang bị thương và bước đi không vững.

    Tấm lưới.

    Nhưng một mình Nina không thể xoay sở với nó được.

    Nếu cô dùng một chút parem, chỉ nhấm một tí thôi, cô có thể buộc những tên ngốc này giúp mình.

    Chúng sẽ tuân lệnh cô răm rắp mà không buồn suy nghĩ.

    Tâm trí Nina vươn ra, tìm bắt một thứ gì đó, bất cứ thứ gì.

    Cô sẽ không đứng đờ ra ở đây để bị tóm và nhìn Inej chết.

    Nhưng tất cả những gì cô cảm thấy là một khoảng trống tối đen.

    Không có mảnh xương nào, không có mẩu bụi nào để nắm bắt.

    Thế giới từng rất sống động với nhịp tim, hơi thở, dòng máu, giờ trống rỗng.

    Một hoang mạc đen ngòm với bầu trời không sao, mặt đất trơ trọi.

    Một tên Kim sư lao tới, thế là cả bọn xông vào Nina, níu lấy tay cô, lôi cô về phía Eamon, kẻ đang cười ngoác miệng, lúm đồng tiền biến dạng thành hình trăng lưỡi liềm.

    Nina rú lên một tiếng điên dại, vẫy vùng như một con thú hoang.

    Cô không bất lực.

    Cô từ chối chấp nhận điều đó.

    Em không biết chiến binh nào quả cảm hơn chị, dù có hay không có năng lực Grisha.

    Thế rồi cô cảm thấy nó - ở đó, giữa hoang mạc đen ngòm, một nơi lạnh đến mức làm cô phải bỏng.

    Ở đó, phía bên kia cụm xi-lô, trên bờ kênh, về phía hải cảng - con tàu gom xác, nơi những tử thi chất thành đống.

    Một sự thức tỉnh chạy xuyên qua người cô.

    Cô không cảm nhận được nhịp tim hay dòng máu, nhưng cô cảm thấy một điều gì đó khác.

    Cô nghĩ tới những mảnh xương, nhớ lại cảm giác dễ chịu của mình khi ở trên đảo Mạng Đen, giữa những nấm mồ.

    Eamon cố gắng bập còng vào cổ tay Nina.

    “Xích cả cổ nó nữa!”

    Một thằng Kim Sư khác hét lên.

    Nina cảm thấy một bàn tay luồn vào tóc mình, kéo ngửa đầu cô ra sau để phơi bày cái cổ.

    Cô biết điều mình đang nghĩ thật điên rồ, nhưng cô không còn lựa chọn tỉnh táo nào nữa.

    Bằng tất cả hơi sức còn lại, cô đá thật mạnh vào Eamon, làm hắn buông ra.

    Rồi cô vung hai cánh tay lên, tập trung toàn bộ ý thức, và cảm thấy các tử thi trên tàu nhỏm dậy.

    Cô siết nắm đấm lại.

    Đến với tôi.

    Bọn Kim Sư nắm lấy hai cổ tay Nina.

    Eamon vả vào miệng có, nhưng Nina vẫn tiếp tục siết nắm đấm, không lơi lỏng sự tập trung.

    Đây không phải là sự phấn khích mà cô cảm thấy khi dùng parem.

    Nó từng là hơi nóng, là ngọn lửa, là ánh sáng.

    Giờ đây nó là ngọn lửa lạnh, ngấm ngầm và xanh lét.

    Cô cảm thấy các tử thi đứng dậy, từng người một, đáp lại lời kêu gọi của cô.

    Những bàn tay đang tóm chặt cô, sợi xích quấn lấy cổ tay cô, nhưng cái lạnh giờ đây càng mạnh mẽ hơn, như một dòng sông mùa đông cuộn chảy với những ghềnh thác đen ngòm lởm chởm băng vỡ.

    Nina nghe thấy tiếng la hét, một loạt súng, và tiếng kim loại bị bẻ cong.

    Những bàn tay đang níu giữ cô buông ra, và sợi xích rơi xuống mặt đá với một âm thanh gần như là tiếng nhạc.

    Nina phóng hai cánh tay tới trước, thọc sâu hơn nữa vào cái lạnh của dòng sông.

    “Cái quái gì đây,” Eamon thốt lên sau khi quay người về phía chốt gác.

    “Cái quái gì đây!”

    Lúc này bọn Kim Sư đã lùi lại, quên cả nhiệm vụ, sự kinh hoàng hiện lên trên khuôn mặt, và Nina có thể hiểu được vì sao.

    Một hàng người đang đẩy hàng rào, lay nó cật lực.

    Có những người già, người trẻ, nhưng tất cả đều đẹp đẽ - những đôi má ửng hồng, đôi môi đỏ, mái tóc óng mượt bồng bềnh quanh gương mặt họ tựa như đang ở dưới nước.

    Họ vừa đáng yêu lại vừa đáng sợ, vì trong khi một số người không mang thương tích gì, một cô gái lại có chiếc váy đầy vệt máu và chất nôn, một người khác thì mang trên mình vết thương rộng hoác đã phân huỷ đen ngòm.

    Hai người trần truồng, một người có vết cắt dài ngang bụng, làn da hồng hào phanh ra.

    Những con mắt của họ ánh lên sắc đen lạnh như mặt nước mùa đông.

    Nina cảm thấy buồn nôn.

    Cô thấy lạ lẫm và hơi hổ thẹn, như thể mình đang nhòm qua một cửa sổ mà không được phép.

    Nhưng cô không có lựa chọn nào khác, và sự thật là, cô không muốn dừng lại.

    Cô cong ngón tay.

    Hàng rào đổ ập tới trước trong tiếng kim loại gãy răng rắc.

    Bọn Kim Sư nổ súng, nhưng những tử thi tiếp tục tiến tới, không chút bận tâm hay sợ sệt.

    “Là nó đó!”

    Eamon hét lên và lật đật quay người, ngã xuống rồi lồm cồm bò dậy, trong lúc đám đàn em tháo chạy vào đêm tối.

    “Chúng kéo đến vì con chó Grisha đó!”

    “Dám cá là bây giờ anh chỉ ước gì chúng ta nói chuyện đàng hoàng như lúc nãy,” Nina gằn giọng.

    Nhưng cô không còn bận tâm tới băng Kim Sư nữa.

    Cô ngước mắt nhìn lên.

    Inej vẫn còn đang ở trên sợi dây, nhưng đứa con gái đã leo vào tháp xi-lô thứ hai và đang vươn tay với tới cái móc.

    Tấm lưới, Nina ra lệnh.

    Mau.

    Các tử thi di chuyển nhanh như chớp.

    Họ lao tới, rồi thình lình dừng lại, như thể đang chờ hiệu lệnh.

    Nina tập trung mọi tư tưởng buộc họ vâng lệnh, cô dồn toàn bộ sức mạnh và sự sống của mình vào họ.

    Chỉ trong chớp nhoáng, họ đã có tấm lưới trong tay, và họ chạy, nhanh đến nỗi Nina không nhìn theo kịp.

    Sợi dây bung ra.

    Inej rơi xuống.

    Nina hét lên.

    Cơ thể Inej chạm vào tấm lưới, bật lên cao, rồi lại rơi xuống lưới.

    Nina chạy tới.

    “Inej!”

    Cô bé Suli nằm lọt thỏm giữa tấm lưới, cơ thể găm đầy những mảnh phi tiêu hình sao, máu túa ra từ các vết thương.

    Đặt cô ấy xuống, Nina ra lệnh, và các tử thi làm theo, hạ thấp tấm lưới xuống mặt đá.

    Nina lật đật quỳ xuống bên cạnh.

    “Inej,” cô gọi.

    Inej quàng tay quanh cổ Nina.

    “Đừng bao giờ, đừng bao giờ làm như vậy nữa,” Nina nức nở.

    “Một tấm lưới?”

    Một giọng hài hước cất lên.

    “Ăn gian thật.”

    Inej cứng người.

    Đứa con gái tóc trắng đã xuống đến chân xi-lô thứ hai và đang bước nhanh về phía họ.

    Nina vung tay.

    Các tử thi lập tức bước tới che chắn cho hai chị em cô.

    “Có chắc là mày muốn chiến không, hoa tuyết?”

    Đứa con gái nheo cặp mắt xinh xẻo.

    “Ta đã thắng,” nó nói với Inej.

    “Ngươi thừa biết điều đó.”

    “Đêm nay mày gặp may,” Inej đáp với giọng yếu ớt.

    Đứa con gái nhìn binh đoàn tử thi trước mặt, ước lượng cơ hội của mình.

    Rồi nó nghiêng người.

    “Chúng ta sẽ gặp lại nhau, Bóng Ma.”

    Nói đoạn nó quay về hướng mà Eamon cùng đồng bọn đã bỏ chạy, nhảy qua hàng rào đổ, và biến mất.

    “Một kẻ thích làm màu,” Nina lên tiếng.

    “Ý chị là, ai lại đi mặc đồ trắng khi cận chiến bằng dao kia chứ?”

    “Dunyasha, Bạch Kiếm hay gì đó.

    Con nhỏ rõ ràng muốn giết em.

    Không chỉ nó.”

    “Em có bước đi được không?”

    Inej gật đầu, dù da mặt tái xanh.

    “Nina, những người này… họ đã chết rồi sao?”

    “Em nói chị mới thấy, đáng sợ thật.”

    “Nhưng chị có dùng…”

    “Không.

    Chị không dùng parem.

    Chị không biết nó là cái gì.”

    “Một Grisha có thể nào…”

    “Chị không biết nữa.”

    Giờ đây, khi nỗi sợ trước cuộc phục kích và cú ngã của Inej lắng xuống, Nina cảm thấy một chút tởm lợm.

    Cô vừa mới làm gì vậy?

    Cô đã nhúng tay vào thứ gì?

    Nina còn nhớ mình từng hỏi một giáo viên ở Tiểu Điện về nguồn gốc năng lực của Grisha.

    Hồi đó cô chỉ là một đưa trẻ mới lớn, kinh ngạc trước những Grisha trưởng thành lên đường và trở về sau những sứ mạng quan trọng.

    Năng lực gắn kết chúng ta với cuộc sống theo những cách mà những người bình thường không bao giờ hiểu được, giáo viên của Nina đã nói vậy.

    Chính vì thế, việc sử dụng năng lực làm cho chúng ta mạnh lên thay vì yếu đi.

    Chúng ta gắn liền với quyền năng sáng tạo, sự tạo dựng mang tính cốt lõi của thế giới này đối với Tâm Y, sợi dây gắn kết đó càng bền chặt, bởi vì chúng ta làm việc với sự sống và cái chết.

    Người giáo viên đó đã giơ tay lên, và Nina cảm thấy mạch đập của mình chậm lại một chút.

    Các học viên khác ồ lên rồi nhìn nhau, tất cả đều cảm thấy giống như cô.

    Các em có cảm thấy không?

    Người giáo viên hỏi.

    Tất cả trái tim của chúng ta, đập cùng nhau, gắn liền với nhịp sống của thế giới này?

    Đó là cảm giác kì lạ nhất, cơ thể cô hoà tan như thể họ không còn là các học viên mài đũng quần trên ghế nhà trường, mà là một sinh vật, với một trái tim, một mục tiêu duy nhất.

    Điều đó chỉ kéo dài trong vài giây, nhưng Nina không bao giờ quên cảm giác kết nối ấy, cũng như việc nhận thức đột ngột rằng năng lực của cô đồng nghĩa với việc cô không bao giờ đơn độc.

    Nhưng năng lực mà cô sử dụng đêm nay là gì?

    Nó không hề giống như thế.

    Nó là một sản phẩm của parem, không phải sự tạo dựng mang tính cốt lõi của thế giới này.

    Nó là một sai lầm.

    Nhưng để sau hẵng hay.

    “Chúng ta rời khỏi đây thôi,” Nina nói, đỡ Inej đứng dậy và nhìn các tử thi quanh họ.

    “Thánh thần ơi, họ bốc mùi ghê quá.”

    “Nina, họ nghe thấy chị thì sao?”

    “Các người có nghe thấy tôi không?”

    Nina hỏi.

    Nhưng các tử thi không đáp, và khi cô dùng năng lực để với tới họ, cô không cảm thấy chút sự sống nào.

    Tuy vậy, có một điều gì đó ở đây, một điều gì đó đáp lại cô theo cái cách mà người sống không thể tạo ra nữa.

    Cô lại nghĩ đến dòng sông băng giá.

    Cô vẫn có thể cảm thấy nó quanh mình, quanh mọi thứ, nhưng giờ đây nó trôi lững lờ.

    “Chị sẽ làm gì với họ?”

    Inej hỏi.

    Nina nhún vai bất lực.

    “Trả họ về nơi của họ, chị nghĩ vậy.”

    Cô giơ hai tay lên.

    Đi đi, cô thầm nói với họ một cách rành rọt nhất có thể, hãy yên nghỉ.

    Các tử thi di chuyển, một sự nhộn nhịp thình lình khiến Inej lẩm nhẩm lời cầu nguyện trên môi.

    Nina nhìn họ mờ dần, chìm khuất vào trong bóng tối.

    Inej khẽ rùng mình, rồi gỡ một cái phi tiêu cắm trên vai, thả rơi nó xuống đất với một tiếng keng rợn người.

    Máu đã chảy chậm lại, nhưng rõ ràng cô bé cần được băng bó.

    “Chúng ta đi thôi, trước khi các thị tuần kéo đến,” cô nói.

    “Đi đâu?”

    Nina hỏi lại trong khi họ khỏi sự đi về phía con kênh.

    “Nếu Pekka Rollins tìm ra chúng ta thì…”

    Bước chân Inej chùng lại khi cô nhận ra thực tế.

    “Nếu Mạng Đen đã bại lộ, Kaz…

    Kaz dặn em cần đi đến một chỗ này nếu mọi chuyện xấu đi.

    Nhưng…”

    Câu nói bị bỏ lửng.

    Sự can thiệp của Pekka Rollins đồng nghĩa với điều tồi tệ hơn nhiều so với một kế hoạch đổ vỡ.

    Nếu đảo Mạng Đen bị nổ tung thì sao?

    Chuyện gì đã xảy ra với Matthias?

    Pekka Rollins có tha mạng cho anh, hay sẽ bắn anh trước rồi nhận tiền thưởng sau?

    Các Grisha.

    Sẽ thế nào nếu Pekka Rollins bám theo Jesper và Matthias tới đại sứ quán?

    Sẽ thế nào nếu họ cùng những người tị nạn đi tới hải cảng và bị bắt giữ?

    Một lần nữa cô nghĩ tới viên thuốc màu vàng trong túi.

    Cô nghĩ tới đôi mắt vàng hung tợn của Tamar, ánh mắt quyền lực của Zoya, và nụ cười trêu chọc của Genya.

    Họ đã tin tưởng cô.

    Nếu có gì xảy ra với họ, cô sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân mình.

    Trong lúc hai chị em quay ra bò kênh, nơi neo con thuyền của họ, Nina liếc nhìn chiếc tàu gom xác, nơi tử thi cuối cùng đang nằm xuống, thu xếp tư thế cho vừa chỗ.

    Lúc này trông họ khác hẳn, làn da trở lại màu xám tro và trắng bệch của cái chết.

    Nhưng có lẽ cái chết không chỉ có một diện mạo.

    “Chúng ta đi đâu đây?”

    Nina hỏi lại.

    Đúng lúc đó, họ trông thấy hai bóng người chạy tới.

    Inej lần tìm bộ dao của mình, còn Nina thì giơ hai tay lên, sẵn sàng kêu gọi các chiến binh chết chóc một lần nữa.

    Cô biết lần này sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

    Kaz và Wylan xuất hiện dưới ánh đèn đường, quần áo nhàu nhĩ, tóc tai dính đầy thạch cao và thứ gì đó giống như nước thịt.

    Kaz nặng nề tựa vào gậy chống, nhịp chạy không ngơi nghỉ, những đường nét sắc cạnh trên khuôn mặt anh toát lên sự cương quyết.

    “Chúng ta sẽ cùng nhau mở đường máu,” Inej thì thào.

    Nina đưa mắt từ Inej nhìn sang Kaz, và nhận ra khuôn mặt họ có cùng biểu hiện.

    Cô biết nét mặt này.

    Nó xuất hiện sau khi tàu đắm, khi thuỷ triều chống lại bạn và bầu trời tối sập.

    Nó là hình ảnh đầu tiên của đất liền, mang theo hi vọng về nơi trú ẩn, thậm chí là một sự cứu rỗi đang chờ đợi bạn ở một bến bờ xa xôi.

    7

    WYLAN

    Mình sắp chết và sẽ không có ai giúp mẹ.

    Không còn một ai nhớ tới Marya Hendriks.

    Wylan muốn tỏ ra can đảm, nhưng cậu bị lạnh và bầm dập, tệ hơn thế, vây quanh cậu là những con người gan dạ nhất cậu từng biết, thế mà tất cả bọn họ hình như cũng đang run rẩy.

    Họ chậm rãi đi qua các con kênh, dừng lại dưới các gầm cầu và trong những vùng bóng tối để chờ trong lúc tốp thị tuần rầm rập đi qua trên đầu hoặc trên các tuyến kênh.

    Đêm nay họ triển khai lực lượng rất đông, những chiếc thuyền của họ đi chậm rãi, đèn lồng thắp sáng rực trước mũi.

    Một điều gì đó đã thay đổi chỉ trong thời gian ngắn sau vụ chạm trán ở cầu Thiện Nữ.

    Ketterdam đã sống dậy, và nó đang giận dữ.

    “Các Grisha…”

    Nina cất tiếng.

    Nhưng Kaz nhanh chóng cắt lời chị.

    “Hoặc họ đang an toàn tại toà đại sứ, hoặc nằm ngoài khả năng cứu giúp của chúng ta.

    Họ có thể tự xoay sở được, chúng ta mới là những kẻ bị kẹt.

    Và Wylan hiểu ra họ đang gặp rắc rối đến mức nào, vì Nina không cãi nữa.

    Chị chỉ vùi mặt vào tay và im lặng.

    “Họ sẽ ổn cả thôi,” Inej lên tiếng và vòng tay qua vai Nina.

    “Anh ấy cũng thế.”

    Nhưng cử chỉ của Inej khá ngập ngừng, và Wylan có thể thấy máu trên quần áo cô.

    Sau đó không ai nói tiếng nào.

    Kaz và Rotty lâu lâu mới khua mái chèo, đưa họ vào những con kênh hẹp và yên tĩnh, thả trôi con thuyền mỗi khi có thể, cho tới khi họ đi vòng qua một khúc quanh gần Schoonstraat và Kaz nói, “Dừng lại.

    Anh và Rotty thu mái chèo, đưa con thuyền cập sát bờ kênh, rồi nấp phía sau một chiếc thuyền buôn đồ sộ.

    Không rõ chiếc thuyền kia bán gì, vì nó đã khép chặt cửa nẻo để bảo vệ hàng hoá.

    Phía trước, Wylan có thể trông thấy các thị tuần đang kéo quân qua một cây cầu, hai chiếc thuyền của họ chặn đứng lối đi qua gầm cầu.

    “Họ đang lập các chốt chặn,” Kaz bảo.

    Có nhóm bỏ lại con thuyền để lên bờ đi bộ.

    Wylan biết họ đang đến một nơi trú ẩn an toàn khác, nhưng chính Kaz đã nói: Không có nơi nào an toàn cả.

    Họ có thể trốn ở đâu đây?

    Pekka Rollins đang bắt tay với cha của Wylan.

    Hai người có thể kiểm soát cả nửa Ketterdam này.

    Cậu sẽ bị tóm cổ.

    Và rồi sao nữa?

    Sẽ không ai tin cậu là con trai của Jan Van Eck.

    Wylan Van Eck có thể bị cha đẻ coi thường, nhưng vẫn có những quyền hạn mà không một tên tội phạm người Shu nào với tới được.

    Liệu cậu có bị tống vào Cổng Địa Ngục không?

    Liệu cha cậu có tìm được cách để trừ khử cậu hay không?

    Khi họ rời xa khu vực nhà xưởng và Barrel, việc tuần tra cũng thưa thớt hẳn, và Wylan nhận ra thị tuần hẳn đang dồn lực vào những địa bàn nhiều tai tiếng nhất.

    Tuy vậy, cả nhóm vẫn thay đổi lộ trình liên tục, luồn lách qua những ngõ hẻm mà Wylan chưa từng biết tới, đôi lúc còn đi vào những cửa hiệu trống không ở tầng dưới của các toà nhà bỏ hoang để chui ra con phố kế tiếp.

    Cứ như thể Kaz có một tấm bản đồ bí mật cho thấy những địa điểm bị quên lãng của Ketterdam.

    Jesper có đang đợi ở nơi họ sắp đến không?

    Hay anh đang bị thương

    và đổ máu trên mặt sàn của nhà mồ mà không có ai tiếp cứu?

    Wylan từ chối tin vào điều đó.

    Định mệnh càng nghiệt ngã, Jesper càng kiên cường, cậu còn nhớ lời năn nỉ của anh với ông Colm.

    Con biết mình đã phụ lòng bố.

    Nhưng hãy cho con một cơ hội nữa.

    Đã bao lần Wylan nói điều tương tự như thế với cha mình và hi vọng rằng mình sẽ làm được?

    Jesper phải sống sót.

    Cả bọn phải sống.

    Wylan nhớ lại lần đầu tiên mình nhìn thấy anh chàng thiện xạ.

    Nom anh như một sinh vật đến từ thế giới khác, mặc đồ xanh chuối và vàng chanh, sải chân dài ngoẵng, như thể mỗi bước đi tuôn ra từ một cái chai thít cổ.

    Vào đêm đầu tiên tại Barrel, Wylan lang thang qua những con phố, chắc mẩm mình sắp bị cướp, răng va vào nhau lập cập vì lạnh.

    Cuối cùng, khi da cậu chuyển sang màu tím tái và những ngón tay mất hết cảm giác, cậu đã huy động toàn bộ dũng khí để hỏi một người đàn ông đứng hút tẩu trên bậc thềm nhà mình, “Ông có biết ở đâu có phòng cho thuê không ạ?”

    “Cái biển ‘còn phòng’ lù lù ngay kia,” ông ta đáp và dùng cái tẩu chỉ sang phía bên kia đường.

    “Mày bị mù à?”

    “Chắc tại cháu không để ý,” Wylan nói.

    Nhà trọ bẩn thỉu nhưng được cái rất rẻ.

    Wylan thuê một căn phòng với giá mười kruge và trả thêm tiền để tắm nước nóng.

    Cậu biết mình cần phải tằn tiện, nhưng nếu bị viêm phổi thì vấn đề cậu đối mặt sẽ không chỉ là sự túng thiếu.

    Cậu mang cái khăn tắm nhỏ xíu vào buồng tắm ở cuối hành lang và tắm gội nhanh chóng.

    Mặc dù nước đủ nóng, cậu thấy sợ khi phải lom khom ở tình trạng trần như nhộng trong một căn buồng không có chốt cửa.

    Cậu đã cố vắt khô quần áo hết mức có thể, nhưng chúng vẫn còn ẩm khi cậu khoác lên người.

    Wylan trải qua đêm đó trên một tấm nệm mỏng như giấy, mắt nhìn trân trối trần nhà, tai lắng nghe những tiếng động của nhà trọ.

    Ở kênh Geld, đêm yên tĩnh đến nỗi người ta có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ vào vách của nhà thuyền, nhưng tại đây mọi thứ tưởng như đang ở giữa trưa.

    Âm nhạc tràn vào qua ô cửa sổ cáu bẩn.

    Mọi người nói cười, đập cửa.

    Cặp đôi ở căn phòng phía trên đang cãi nhau.

    Cặp đôi ở căn phòng phía dưới rõ ràng đang làm chuyện khác.

    Wylan đưa ngón tay lên sờ những vết bầm trên cổ và nghĩ, Giá như mình có thể gọi một tách trà.

    Đó là lúc cậu bắt đầu hốt hoảng.

    Cậu có thể thảm hại tới mức nào đây?

    Cha cậu đã tìm cách giết cậu.

    Gần như không xu dính túi, cậu đang nằm trên một cái giường nồng mùi hoá chất được người ta dùng để đuổi mạt nệm.

    Cậu nên vạch ra một kế hoạch, thậm chí ủ mưu báo thù, cố gắng tập trung tâm trí và những nguồn lực của mình.

    Nhưng cậu đang làm cái gì đây?

    Ao ước gọi một tách trà.

    Có thể cậu không được hạnh phúc trong ngôi nhà của cha, nhưng cậu chưa từng phải làm việc vì bất cứ điều gì.

    Cậu có kẻ hầu người hạ, có những bữa ăn nóng sốt và quần áo sạch.

    Cho dù thứ cần có để sống sót ở Barrel là gì, Wylan biết mình không có nó.

    Trong lúc nằm đó, Wylan cố tìm một lời giải thích cho chuyện đã xảy ra.

    Nhất định Miggson và Prior là những kẻ chịu trách nhiệm, cha cậu không hề hay biết về dự định của bọn họ.

    Hoặc giả họ đã hiểu lầm về mệnh lệnh của ông.

    Đó chỉ là một sai lầm khủng khiếp.

    Wylan đứng dậy và thò tay vào trong túi áo khoác ẩm ướt.

    Giấy tiếp nhận cậu vào trường nhạc ở Belendt vẫn còn đó.

    Ngay khi lôi cái phong bì dày ra, cậu đã biết cha cậu là người chủ mưu.

    Cái phong bì đã bị ngấm nước và bốc mùi, nhưng mầu sắc vẫn còn tươi rói.

    Không có một vết mực nào thấm ra từ tài liệu bên trong.

    Wylan mở phong bì.

    Những tờ giấy ướt đã dính bết vào nhau.

    Cậu cẩn thận tách rời từng tờ.

    Toàn bộ là những tờ giấy trắng.

    Cha cậu thậm chí còn không buồn ngụy tạo tài liệu giả.

    Ông ta biết cậu sẽ không tìm cách đọc chúng, và thằng con khờ khạo của ông ta sẽ không bao giờ nghi ngờ cha mình.

    Đồ thảm hại.

    Wylan sợ hãi ở lì trong nhà trọ hai ngày.

    Nhưng vào sáng ngày thứ ba, cậu đói đến nỗi mùi khoai tây chiên bốc lên từ dưới đường đã lôi cậu ra khỏi sự an toàn của căn buồng.

    Cậu mua một túi giấy đầy khoai chiên và ăn ngấu nghiến đến nỗi bị bỏng lưỡi.

    Rồi cậu bắt mình đi dạo.

    Wylan chỉ có đủ tiền để thuê phòng trọ thêm một tuần lễ, thậm chí còn ít hơn nếu cậu dự định ăn uống, cậu cần tìm việc làm, nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu.

    Cậu không đủ to lớn và khoẻ mạnh để làm việc trong các kho hàng hoặc bến bãi.

    Những công việc nhẹ nhàng hơn thì đòi hỏi phải biết đọc.

    Có khi nào một trong số các sòng bạc hoặc nhà chứa cần nhạc công chơi nhạc trong phòng tiếp khách không nhỉ?

    Wylan vẫn còn cây sáo.

    Cậu đi tới đi lui trong khu Đông Stave và những con phố nhỏ sáng đèn của nó.

    Khi trời bắt đầu tối, cậu quay về nhà trọ, hoàn toàn chán nản.

    Người đàn ông ngậm tẩu vẫn đứng trên thềm nhà, phả khói.

    Wylan đoán ông ta không bao giờ rời khỏi đó.

    “Cháu đang tìm việc làm,” Wylan nói với ông ta.

    “Ông có biết ai đang cần thuê người không ạ?”

    Người đàn ông nhìn cậu qua làn khói thuốc.

    “Thứ công tử bột như cậu chắc sẽ kiếm được khá tiền ở Tây Stave đấy.”

    “Công việc đàng hoàng ấy ạ.”

    Người đàn ông phá lên cười cho đến khi bật ho, nhưng sau đó ông ta cũng chỉ cho cậu đi về phía nam, tới khu xưởng thuộc da.

    Wylan được trả một khoản thù lao bèo bọt cho công việc trộn màu và vệ sinh bể nhuộm.

    Các công nhân khác chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, cùng một số thằng con trai gầy gò như cậu.

    Họ quá mệt mỏi và ốm yếu vì hoá chất nên nói rất ít và chẳng động chân tay vào chuyện gì khác ngoài công việc và nhận tiền thù lao.

    Mọi người không được trang bị khẩu trang và găng tay.

    Wylan gần như chắc chắn cậu sẽ chết vì ngộ độc trước khi có dịp bận tâm về nơi mình sẽ đi với số tiền còm cõi kiếm được.

    Vào một buổi chiều nọ, Wylan nghe trưởng nhóm thợ nhuộm phàn nàn rằng họ bị hao hụt hàng lít thuốc nhuộm do bay hơi khi lò quá nóng.

    Ông ta chửi rủa về chi phí đã tiêu tốn cho hai người để lo liệu chuyện đó mà vẫn không thay đổi được gì mấy.

    Wylan ngần ngừ, rồi đề nghị thêm nước biển vào trong bồn thuốc nhuộm.

    “Việc quái gì tao phải làm thế chứ?”

    Trưởng nhóm thợ nhuộm hạch hỏi.

    “Nó sẽ làm tăng nhiệt độ sôi ạ,” Wylan đáp, tự hỏi liệu việc mình lên tiếng có phải là ý hay không.

    “Thuốc nhuộm sẽ cần nhiệt độ cao hơn để sôi, vậy nên hao hụt do bay hơi sẽ ít hơn.

    Ông phải thay đổi công thức do nước muối đặc nhanh và cần cọ rửa bồn thường xuyên hơn vì muối là chất ăn mòn.”

    Trưởng nhóm thợ nhuộm chỉ nhổ toẹt nhúm jurda trong miệng xuống sàn và phớt lờ Wylan.

    Nhưng vào tuần lễ sau đó, họ đã thử cho nước biển vào một trong các bồn thuốc nhuộm.

    Sau đó vài ngày, họ pha nước biển vào tất cả các bồn thuốc nhuộm, và ông trưởng nhóm bắt đầu tìm tới Wylan với nhiều thắc mắc hơn.

    Làm thế nào họ nhuộm màu đỏ nhưng không khiến da bị cứng?

    Làm thế nào rút ngắn thời gian nhuộm và làm khô?

    Cậu có thể chế ra một loại nhựa để giúp cho màu nhuộm không bị thôi được không?

    Sau đó một tuần, khi Wylan đang đứng ở các bể nhuộm với mái chèo gỗ, choáng váng và ràn rụa nước mắt vì thuốc nhuộm, trong đầu tự hỏi liệu cậu có nên yêu cầu tăng lương vì đã giúp đỡ trưởng nhóm không, thì một anh chàng tiến lại gần.

    Vóc dáng lêu nghêu và nước da sẫm màu của người Zemeni, trông anh chẳng ăn nhập gì với quang cảnh của xưởng nhuộm.

    Không chỉ vì anh mặc chiếc áo gilet xanh chuối và quần dài vàng chanh, mà vì ở anh toát lên sự khoan khoái, như thể anh không ở trong một cái xưởng nhuộm bần cùng hôi hám, mà là tại một bữa tiệc anh rất nóng lòng muốn gia nhập.

    Mặc dù gầy gò, cơ thể anh di chuyển với một sự linh hoạt và duyên dáng nhất định.

    Ông trưởng nhóm thợ nhuộm không thích có người lạ đi vào xưởng, nhưng lại không nói tiếng nào trước anh chàng giắt súng ngang hông ấy, mà chỉ nhấc nhẹ chiếc mũ một cách trân trọng rồi nhanh chóng bỏ đi.

    Suy nghĩ đầu tiên của Wylan là anh chàng Zemeni có đôi môi hoàn hảo nhất cậu từng thấy.

    Ý nghĩ thứ hai là cha cậu lại cử ai đó đến để giết cậu.

    Cậu ghì lấy cái mái chèo.

    Liệu anh ta có bắn cậu ngay giữa thanh thiên bạch nhật không?

    Người ta có làm như thế không?

    Nhưng anh ta chỉ nói, “Nghe bảo cậu khá rành về hoá học.”

    “Gì cơ?

    Tôi… vâng.

    Chút chút,” Wylan lắp bắp.

    “Chỉ chút chút thôi à?”

    Wylan có linh cảm câu trả lời của mình sẽ rất quan trọng.

    “Tôi có kiến thức.”

    Cậu đã từng được dạy các môn khoa học và toán, cậu học rất chuyên cần với hi vọng chúng sẽ bằng cách nào đó bù đắp cho những khiếm khuyết khác của mình.

    Anh chàng đưa cho Wylan một tờ giấy được gấp lại.

    “Vậy thì tới địa chỉ này sau giờ làm việc vào tối nay.

    Bọn tôi có thể cho cậu một công việc.”

    Anh nhìn quanh, như thể vừa để ý mấy cái bồn thuốc nhuộm và tốp thợ xanh mét đang khom người bên chúng.

    “Một công việc thực thụ.”

    Wylan trân trối nhìn tờ giấy.

    Một mớ bòng bong những chữ cái trước mắt cậu.

    “Tôi… tôi không biết chỗ này ở đâu.”

    Anh chàng thở hắt ra.

    “Cậu không phải người ở đây, đúng không?”

    Wylan gật đầu xác nhận.

    “Tốt thôi.

    Tôi sẽ đến đón cậu, bởi vì rõ ràng là tôi chẳng có chuyện gì làm để giết thời gian ngoài việc đi hái hoa quanh thành phố.

    Wylan, đúng không?”

    Wylan gật đầu.

    “Wylan gì?”

    “Wylan…

    Hendriks.”

    “Cậu biết nhiều về chất nổ chứ, Wylan Hendriks?”

    “Chất nổ á?”

    “Uỳnh, oàng, bùm.”

    Wylan không biết anh chàng kia muốn nói điều gì, nhưng cậu có cảm giác nếu thừa nhận như vậy thì sẽ là một sai lầm trầm trọng.

    “Tất nhiên,” cậu đáp với tất cả sự tự tin huy động được.

    Anh chàng nhìn cậu với ánh mắt hoài nghi.

    “Để rồi xem.

    Ra đứng trước cổng lúc sáu hồi chuông, và không mang súng đạn, trừ phi cậu muốn rắc rối.”

    “Tất nhiên là không.”

    Anh chàng kia đảo tròn đôi mắt xám rồi lẩm bẩm.

    “Hẳn là Kaz bị điên rồi.”

    Đúng sáu giờ, Jesper xuất hiện và đưa Wylan tới một cửa tiệm bán mồi câu trong khu Barrel.

    Wylan khá bối rối với bộ quần áo nhàu nhĩ của mình, nhưng đây là bộ duy nhất mà cậu có, và nỗi sợ bị rơi vào một cái bẫy do cha mình giăng ra khiến cậu không nghĩ tới nó nữa.

    Ở phòng trong của tiệm, cậu gặp Kaz và Inej.

    Họ nói là cần bom sáng và một thứ gì đó mạnh hơn.

    Wylan đã từ chối.

    Tối hôm đó, Wylan quay về nhà trọ và thấy lá thư đầu tiên.

    Những chữ duy nhất mà cậu nhận ra là tên của người gửi: Jan Van Eck.

    Cậu thức cả đêm, chắc mẩm Prior sẽ phá tung cửa xông vào và kẹp cánh tay hộ pháp quanh cổ mình bất cứ lúc nào.

    Cậu nghĩ đến chuyện chạy trốn, nhưng tiền trọ còn thiếu trước hụt sau, lấy đâu ra mà mua vé tàu xe đi khỏi Ketterdam.

    Chưa kể cậu chẳng có hi vọng gì ở thôn quê.

    Sẽ chẳng có ai thuê cậu làm công việc đồng áng.

    Sáng hôm sau, cậu đến gặp Kaz, và đêm đó, cậu chế quả bom đầu tiên cho băng Cặn Bã.

    Cậu biết việc mình làm là phi pháp, nhưng vài giờ chế bom mang lại cho cậu số tiền nhiều hơn cả tuần lễ cặm cụi trong xưởng thuộc da.

    Những lá thư từ cha cậu tiếp tục được gửi đến.

    Mỗi tuần một lần, có khi hai lần.

    Đó có phải là những lời đe doạ?

    Hay là mắng mỏ?

    Wylan cất chúng thành một chồng dưới nệm, và thỉnh thoảng trong đêm tối, cậu dường như có thể cảm thấy mực thấm qua những trang giấy, qua lớp nệm để xuyên vào tim cậu như một thứ chất độc hắc ám.

    Tuy nhiên, theo thời gian, càng làm việc cho Kaz, cậu càng cảm thấy bớt sợ hãi.

    Cậu sẽ có tiền, rời khỏi Ketterdam, và không bao giờ nói ra cái họ Van Eck lần nữa.

    Và nếu như cha cậu quyết định thủ tiêu cậu trước lúc đó thì Wylan cũng đành chịu.

    Quần áo cậu đã rách rưới hết cả.

    Cậu gầy đến mức phải đục lỗ mới trên sợi dây lưng.

    Nhưng cậu thà bán mình vào nhà chứa ở Tây Stave còn hơn là cầu xin sự thương hại của cha.

    Lúc đó Wylan không nhận ra rằng Kaz đã biết chân tướng cậu ngay từ đầu.

    Tay Nhám điều tra về bất cứ người nào đến cư ngụ ở Barrel, và anh ta đã đặt cậu vào sự bảo vệ của băng Cặn Bã, tin tưởng rằng một ngày nào đó cậu thiếu gia giàu có sẽ trở nên hữu dụng.

    Wylan không mảy may nghi ngờ về lí do Kaz tìm đến với mình, nhưng cậu cũng biết mình sẽ không sống sót lâu đến thế nếu không có sự giúp đỡ của anh ta.

    Ngoài ra, Kaz không bận tâm chuyện cậu không biết đọc.

    Anh ta và những người khác trêu chọc cậu, nhưng họ cho cậu cơ hội để chứng tỏ bản thân.

    Họ trân trọng những thứ cậu làm được, thay vì trừng trị cậu bởi những chuyện cậu không thể thực hiện.

    Wylan tin rằng Kaz có thể giúp cậu trả thù cho mẹ.

    Cậu tin rằng bất chấp sự giàu có và sức ảnh hưởng của Jan Van Eck, băng đảng này - băng đảng của cậu - có thể đối đầu với ông ta.

    Nhưng giờ đây, cha cậu đang vươn tay để trừng trị cậu một lần nữa.

    Quá nửa đêm họ mới đến được trung tâm tài chính.

    Đó là một trong những khu vực giàu có nhất của Ketterdam, nằm cách không xa sàn giao dịch và Toà thị chính.

    Ở đây sự hiện diện của cha cậu rõ rệt hơn, và Wylan tự hỏi tại sao Kaz lại đưa mọi người đến chỗ này.

    Kaz dẫn họ đi vào một ngõ hẻm nằm sau lưng một toà nhà lớn.

    Một cánh cửa mở ra tại đó, và họ tiến vào lối cầu thang bộ ôm vòng quanh buồng thang máy đồ sộ.

    Cả bọn chui vào trong thang máy.

    Rotty ở lại phía sau, chắc là để canh chừng lối vào.

    Cửa thang máy đóng lại, họ đi lên mười lăm tầng lầu để tới tầng trên cùng của toà nhà.

    Tại đó, họ bước vào một hành lang ốp gỗ bóng loáng, trần sơn màu tím nhạt.

    Chúng ta đang ở trong một khách sạn, Wylan nghĩ thầm.

    Ban nãy là cửa vào dành cho người phục vụ và thang máy của nhân viên.

    Họ gõ một cánh cửa hai tấm trắng phau.

    Ông Colm Fahey ra đón họ trong bộ đồ ngủ dài trùm thêm chiếc áo khoác.

    Họ đang ở Geldrenner.

    “Những người khác đang ở bên trong,” ông nói với giọng run run.

    Ông Colm không hỏi han gì mà chỉ cho họ đường tới phòng tắm và rót một tách trà cho bản thân, trong lúc cả bọn dây bùn ra tấm thảm tím.

    Khi Matthias trông thấy Nina, anh bật dậy khỏi chiếc sô pha màu cà tím và ôm chầm lấy chị.

    “Bọn anh không thể vượt qua các chốt chặn để đến Bãi Ngọt,” anh nói.

    “Anh đã sợ điều tồi tệ nhất.”

    Và rồi tất cả bọn họ ôm chầm lấy nhau, Wylan kinh hãi nhận ra mắt mình ngấn lệ.

    Cậu vội chớp mắt để xua chúng đi.

    Cậu không muốn Jesper chứng kiến mình khóc một lần nữa.

    Người ngợm anh chàng thiện xạ dính đầy bồ hóng và bốc mùi khét lẹt, nhưng đôi mắt anh long lanh giống như mỗi lần được chiến đấu.

    Tất cả những gì Wylan muốn lúc này là được đứng gần anh hết mức có thể, và biết anh vẫn bình an.

    Cho đến hiện tại, Wylan vẫn chưa ý thức được mọi người có ý nghĩa như thế nào đối với mình.

    Cha cậu chắc sẽ cười khẩy với đám côn đồ trộm vặt, chiến binh nửa mùa và con bạc khát nước này.

    Nhưng họ là những người bạn đầu tiên của cậu, những người bạn duy nhất, và Wylan biết cho dù có phải lựa chọn từ hàng ngàn người bạn, cậu vẫn sẽ chọn họ.

    Chỉ có Kaz đứng cách xa cả nhóm, lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ xuống những đường phố đen ngòm phía dưới.

    “Kaz,” Nina lên tiếng.

    “Có thể anh không mừng rỡ vì chúng tôi toàn mạng, nhưng chúng tôi đều mừng vì anh còn sống đấy.

    Lại đây nào!”

    “Kệ anh ấy đi,” Inej nói khẽ.

    “Thánh thần ơi, Bóng ma,” Jesper thốt lên.

    Cô bị thương rồi.

    “Chúng ta có nên gọi bác sĩ không?”

    ông Colm hỏi.

    “Không!”

    Cả nhóm đồng thanh đáp.

    “Tất nhiên là không rồi,” ông Colm nói.

    Tôi có nên gọi cà phê không?”

    “Có ạ,” Nina đáp.

    Ông gọi cà phê, bánh waffle, cùng một chai brandy, và trong lúc chờ đợi, Nina nhờ mọi người đi tìm kéo để chị cắt khăn tắm khách sạn làm băng gạc.

    Ngay khi một cây kéo được tìm thấy, chị lập tức đưa Inej vào trong phòng tắm để xem xét các vết thương.

    Tiếng gõ cửa vang lên khiến mọi người sững sờ, nhưng đó chỉ là người phục vụ.

    Ông Colm ra mở cửa và nhất quyết bảo rằng mình có thể tự xoay sở với xe đồ ăn, để chị ta không thể trông thấy những người khách lạ trong phòng.

    Ngay khi cửa phòng đóng lại, Jesper vội lao đến giúp bố bưng chiếc khay bạc chất đầy đồ ăn và một chồng đĩa sứ mỏng tang.

    Wylan đã không được ăn trên những chiếc đĩa như thế kể từ lúc rời nhà.

    Cậu nhận ra Jesper đang mặc áo của bố: nó quá rộng ở phần vai và tay áo thì lại quá ngắn.

    “Đây là đâu vậy?”

    Wylan hỏi, mắt nhìn quanh căn phòng được trang trí tuyền một màu tím.

    “Ketterdam Suite, bác nghĩ thế,” ông Colm đáp và đưa tay gãi gáy.

    “Nó đẹp hơn hẳn căn phòng trọ của bác ở quận Đại học.”

    Nina và Inej đã bước ra khỏi phòng tắm.

    Nina lấy một đĩa đầy đồ ăn và buông mình xuống ghế cạnh Matthias.

    Chị bẻ đôi cái bánh waffle rồi cắn một miếng to, ngoe nguẩy những ngón chân một cách sung sướng.

    “Xin lỗi nhé, Matthias,” chị nói lúng búng vì chỗ thức ăn đầy trong miệng.

    “Em đã quyết định ra đi với bố của Jesper.

    Em nghiện những thức ăn ngon lành của bác ấy rồi.”

    Inej đã cởi áo ngoài và chỉ mặc áo chẽn chần bóng, phơi trần hai cánh tay.

    Những dải khăn được quấn quanh vai, hai cẳng tay, đùi phải và ống chân trái của cô.

    “Chính xác thì chuyện gì đã xảy ra với cô vậy?”

    Jesper hỏi Inej trong lúc đưa cho bố một tách cà phê đặt trên chiếc đĩa lót mỏng manh.

    Inej ngồi thịch xuống một chiếc ghế bành cạnh chỗ Kuwei đang ngồi dưới sàn.

    “Gặp gỡ bạn mới.”

    Jesper buông mình xuống sô pha, Wylan cũng ngồi vào một chiếc khác với đĩa bánh đặt trên đầu gối.

    Trong phòng ăn có bàn ghế đàng hoàng, nhưng dường như không ai trong số họ quan tâm.

    Chỉ có ông Colm ngồi ở đó với tách cà phê và chai rượu bên cạnh.

    Kaz tiếp tục đứng bên cửa sổ, và Wylan tự hỏi thứ anh nhìn thấy có gì mà hấp dẫn đến vậy.

    “Rồi,” Jesper vừa nói vừa cho đường vào tách cà phê của mình.

    “Ngoài chuyện Inej có bạn mới, chuyện quái gì đã xảy ra ngoài kia vậy?”

    “Xem nào,” Nina đáp.

    “Inej đã rơi xuống từ độ cao hai mươi tầng lầu.”

    “Bọn tôi đã khoan một lỗ to tướng trên trần phòng ăn của cha tôi,” Wylan lên tiếng.

    “Nina có thể dựng dậy người chết,” Inej buột miệng.

    Chiếc tách của Matthias va vào đĩa lót.

    Trông nó thật tức cười trong bàn tay hộ pháp của anh.

    “Chị không dựng họ dậy.

    Ý chị là, họ đứng dậy, nhưng không phải là họ sống lại.

    Chị không nghĩ thế.

    Chị cũng không chắc nữa.”

    “Cô nói nghiêm túc đấy à?”

    Jesper hỏi lại.

    Inej gật đầu.

    “Tôi không thể giải thích được, nhưng tôi đã chứng kiến tận mắt.”

    Trán Matthias nhăn lại.

    “Lúc chúng ta ở trong khu sứ quán của Ravka, em cũng đã điều khiển được những mảnh xương.”

    Jesper nhấp một ngụm cà phê.

    “Cả chuyện ở ngôi nhà bên hồ nữa.

    Có phải cô đã điều khiển đám mây bụi đó không?”

    “Bụi nào cơ?”

    Inej thắc mắc.

    “Nina không đơn thuần đánh gục một vệ quân, mà làm anh ta ngạt thở bằng một đám mây bụi.”

    “Có một nghĩa trang gia đình ở cạnh ngôi nhà bên hồ đó,” Wylan nhớ đến mảnh đất kín cổng cao tường nằm cạnh hàng rào phía tây.

    “Nếu như thứ bụi đó là… xương thì sao?

    Những gì còn lại khi người ta tan rã ấy?”

    Nina đặt đĩa thức ăn xuống.

    “Thôi đi, mấy người làm tôi hết ngon miệng rồi đó.”

    Rồi chị lại cầm nó lên.

    “Gần như thôi.”

    “Chính vì vậy nên anh mới thắc mắc về chuyện parem làm biến đổi năng lực của Grisha,” Kuwei nói với Matthias.

    Nina nhìn cậu ta.

    “Nó có thể à?”

    “Tôi không biết.

    Chị mới chỉ dùng nó một lần.

    Chị đã qua được giai đoạn cai thuốc.

    Chị là một trường hợp hiếm gặp.”

    “May cho tôi ghê.”

    “Nó tệ vậy sao?”

    Matthias hỏi lại.

    Nina nhặt vài mẩu bánh trong lòng và bỏ vào trong cái đĩa của mình.

    “Theo lời của một núi cơ bắp tóc vàng nào đó, thì nó phi tự nhiên.”

    Giọng chị đã mất đi sự vui vẻ hồn hậu.

    Nina buồn bã ra mặt.

    “Chắc là thế rồi,” Matthias nói.

    “Chẳng phải các Tâm Y được biết đến như là Đội ngũ Điều khiển Sự sống và Cái chết đó sao?”

    “Đây không phải là cách hoạt động của năng lực Grisha.”

    “Nina,” Inej nhẹ nhàng lên tiếng.

    “Parem đã đưa chị tới bờ vực cái chết.

    Có lẽ chị đã mang theo thứ gì đó trở về cùng với mình.”

    “Thế thì đó là một kỉ vật đáng sợ.”

    “Hoặc là Djel đã tắt một nguồn sáng và bật một nguồn khác,” Matthias đáp.

    Nina liếc xéo anh chàng.

    “Anh bị đập vào đầu à?”

    Matthias đưa tay ra nắm lấy tay Nina.

    Tự dưng Wylan cảm thấy mình đang xâm phạm một cảnh hết sức riêng tư.

    “Anh rất mừng là em còn sống,” Matthias nói.

    “Anh rất mừng là em còn ở bên anh.

    Và đã chịu ăn uống.”

    Nina ngả đầu lên vai anh chàng.

    “Anh ngon hơn bánh waffle rồi đấy, Matthias Helvar.”

    Một nụ cười nhẹ xuất hiện trên môi anh chàng người Fjerda.

    “Đừng có nói những điều không thật lòng, tình yêu của anh.”

    Có tiếng gõ cửa nhẹ vang lên.

    Mọi người lập tức chộp lấy vũ khí.

    Ông Colm cứng người trên chiếc ghế.

    Kaz ra hiệu cho ông ngồi yên tại chỗ trong lúc anh khẽ khàng tiến ra cửa.

    Anh nhòm qua lỗ quan sát.

    “Là Specht,” anh nói.

    Cả bọn thở phào, và Kaz mở cửa.

    Họ im lặng quan sát trong lúc Kaz và Specht thì thầm trao đổi nhanh điều gì đó, rồi Specht gật đầu và đi về phía thang máy.

    “Tầng này có lối tiếp cận tháp đồng hồ không ạ?”

    Kaz hỏi ông Colm.

    “Ở cuối hành lang ấy,” ông già đáp.

    “Tôi chưa từng lên đó.

    Cầu thang dốc lắm.”

    Không nói một lời, Kaz rời phòng.

    Mọi người nhìn nhau trân trối suốt một lúc lâu trước khi đi theo anh, rồng rắn đi ngang qua chỗ ông già đang quan sát cảnh tượng với đôi mắt mệt mỏi.

    Trong lúc đi trên hành lang, Wylan nhận ra toàn bộ tầng này của khách sạn đều phục vụ cho sự xa xỉ của Ketterdam Suite.

    Nếu cậu phải chết thì đây không phải là nơi tệ hại nhất để trải qua đêm cuối cùng.

    Từng người một, họ trèo lên một cầu thang xoắn bằng thép rồi chui qua một cửa lật.

    Gian phòng trên đỉnh rộng rãi và khá lạnh, bị choán chỗ gần hết bởi cỗ máy của một cái đồng hồ cực lớn.

    Bốn mặt của nó nhìn ra Ketterdam và bầu trời xám xịt.

    Ở hướng nam, một vệt khói bốc lên từ đảo Mạng Đen.

    Nhìn về hướng đông bắc, Wylan có thể thấy con kênh Geld, tàu thuyền chữa cháy và lực lượng thị tuần đang bao quanh khu vực gần nhà cha cậu.

    Cậu còn nhớ vẻ kinh ngạc trên khuôn mặt của ông ta khi họ đáp xuống ngay giữa bàn ăn.

    Nếu không quá hoảng sợ thì cậu hẳn đã bật cười rồi.

    Sự hổ thẹn nuốt chửng con người ta.

    Giá như họ châm lửa đốt luôn phần còn lại của ngôi nhà đó.

    Tít phía đằng xa, các bến cảng ken đầy tàu xe của thị tuần.

    Ketterdam ngập chìm trong sắc tím, như thể mắc một dịch bệnh.

    “Specht nói họ đã đóng hải cảng và ngừng mọi tuyến đường thuỷ, Kaz thông báo.

    “Họ đã phong toả Ketterdam.

    Nội bất xuất, ngoại bất nhập.”

    “Ketterdam sẽ không chịu đâu,” Inej nói.

    “Mọi người sẽ nổi loạn.”

    “Họ sẽ không đổ tội cho Van Eck.”

    Wylan cảm thấy nôn nao.

    “Họ đổ tội cho chúng ta.”

    Jesper lắc đầu.

    “Ngay cả khi cài cắm thị tuần trên mọi con đường, họ cũng không đủ nhân lực để phong toả thành phố và tìm kiếm chúng ta.”

    “Vậy à?”

    Kaz hỏi.

    “Nhìn lại đi.”

    Jesper tiến đến ô cửa sổ phía tây, nơi Kaz đang đứng.

    “Lạy các thánh và bà dì Eva,” anh nói một hơi.

    “Chuyện gì vậy?”

    Wylan hỏi trong lúc hai người quan sát qua lớp kính.

    Một đám đông đang di chuyển về phía đông, từ khu Barrel băng qua quận Zelver.

    “Bạo loạn à?”

    Inej hỏi.

    “Giống một cuộc diễu hành nhiều hơn,” Kaz đáp.

    “Tại sao các thị tuần không chặn họ lại?”

    Wylan hỏi trong lúc cơn lũ người thoải mái băng qua các cây cầu, qua từng chốt chặn.

    “Sao họ lại để chúng đi qua?”

    “Rất có thể là vì cha cậu đã bảo họ làm thế,” Kaz đáp.

    Khi đám đông tiến đến gần hơn, Wylan nghe thấy tiếng reo hò và tiếng trống.

    Đúng là nghe giống như một cuộc diễu hành thật.

    Đám đông tràn qua cầu Zelver, ùa qua khách sạn trong lúc tiến về phía quảng trường phía trước Sàn giao dịch.

    Wylan nhận ra băng của Pekka Rollins dẫn đầu đoàn người.

    Kẻ đi đầu khoác một bộ da sư tử với một cái vương miện bằng vàng giả gắn trên bờm.

    “Chim Cắt kìa,” Inej nói và chỉ tay về phía sau băng Kim Sư.

    “Cả tụi Đầu Gấu nữa.”

    “Chó săn của Harley,” Jesper điểm danh, “và bọn Hắc Thủ.”

    “Tất cả bọn chúng,” Kaz nói.

    “Cái đó có nghĩa là gì vậy?”

    Kuwei hỏi.

    “Dải băng tím ấy?”

    Mỗi thành viên trong đám đông phía dưới đều có buộc một dải lụa tím ở bắp tay trái.

    “Bọn chúng được trao quyền,” Kaz đáp.

    “Specht nói tin tức đã lan truyền khắp Barrel.

    Tin tốt là bây giờ họ muốn bắt sống chúng ta - kể cả Matthias.

    Tin xấu là họ đã treo thưởng cho cả cặp song sinh người Shu đang đi cùng chúng ta, do vậy khuôn mặt của Kuwei - và của Wylan - giờ cũng đã xuất hiện trên các nẻo đường.”

    “Và Hội đồng Thương buôn chấp nhận chuyện này sao?”

    Matthias thắc mắc.

    “Nếu bọn chúng chuyển sang cướp bóc gây rối thì sao?”

    “Không đâu.

    Rollins biết chuyện mình làm.

    Nếu thị tuần tìm cách phong toả khu Barrel, các băng đảng sẽ chống lại.

    Giờ đây bọn chúng không còn ở ngoài vòng pháp luật nữa, và Van Eck có hai đoàn quân, chúng ta bị kẹp ở giữa.

    Inej thở gấp.

    “Gì vậy?”

    Wylan hỏi lại, nhưng khi nhìn xuống quảng trường bên dưới, cậu hiểu ra ngay.

    Nhóm cuối cùng của đoàn người đã xuất hiện.

    Một người đàn ông lớn tuổi đội mũ gắn lông chim dẫn đầu, và cả đám đang kêu quang quác rất to như những con quạ.

    Cặn Bã, băng đảng của Kaz.

    Họ đã quay lưng lại với anh.

    Jesper đấm tay vào kính.

    “Lũ ăn cháo đá bát.”

    Kaz không nói gì, anh chỉ quan sát đám đông ùa qua mặt tiền của khách sạn bên dưới, những băng đảng giang hồ đi thành từng cụm đủ màu sắc, vừa chửi rủa lẫn nhau vừa reo hò như thể hôm nay là một ngày hội.

    Ngay cả sau khi tất cả đã đi qua, tiếng hò reo vẫn vang vọng khắp không gian, có lẽ bọn chúng sẽ tuần hành đến tận Toà thị chính.

    “Giờ thì chuyện gì sẽ xảy ra?”

    Kuwei thắc mắc.

    “Chúng ta sẽ bị săn lùng bởi mọi gã thị tuần và mọi thằng du côn Barrel, cho tới khi bị bắt,” Kaz đáp.

    “Không có cách nào rời khỏi Ketterdam nữa.

    Nhất là khi mang theo cậu.”

    “Chúng ta có thể chờ đợi được không?”

    Kuwei hỏi.

    Ở đây, với bác Fahey?”

    “Chờ điều gì?”

    Kaz hỏi lại.

    “Chờ ai đó đến giải cứu à?”

    Jesper áp đầu vào kính.

    “Bố tôi.

    Tôi đã lôi ông ấy vào chuyện này.

    Ông ấy sẽ bị buộc tội che giấu kẻ gian.”

    “Không,” Kuwei đột ngột gào lên.

    “Không.

    Hãy giao nộp tôi cho Van

    Eck.”

    “Tuyệt đối không,” Nina nói.

    Kuwei chém tay vào không khí.

    “Mọi người đã cứu tôi từ tay người Fjerda.

    Nếu chúng ta không hành động thì trước sau gì tôi cũng bị bắt.”

    “Để rồi tất cả chuyện này đổ sông đổ biển à?”

    Wylan hỏi, ngạc nhiên với sự giận dữ của mình.

    “Sau tất cả những gì chúng ta đã liều lĩnh?

    Sau tất cả những gì chúng ta đã vượt qua ở Lâu Đài Băng?

    Cả những gì mà

    Inej và Nina đã phải chịu đựng để giải thoát chúng ta nữa?”

    “Nhưng nếu tôi nộp mạng, thì mọi người sẽ thoát,” Kuwei nhấn mạnh.

    “Mọi chuyện không dễ dàng như thế đâu,” Jesper đáp.

    “Pekka đã có cơ hội để trừ khử Kaz khi được cả khu Barrel hậu thuẫn, còn Van Eck bảo đảm sẽ không để chúng tôi nhởn nhơ trên đường phố Ketterdam.

    Chuyện này không còn gói gọn trong việc bắt cậu nữa rồi.”

    Kuwei rên lên và ngồi thụp xuống, dựa lưng vào tường.

    Cậu nhóc liếc nhìn Nina đầy trách móc.

    “Lẽ ra chị nên giết tôi luôn tại Lâu Đài Băng.”

    Nina nhún vai.

    “Nhưng như vậy thì Kaz sẽ giết tôi rồi Matthias giết Kaz, và tất cả chuyện này sẽ rối tinh rối mù.”

    “Tôi không thể tin nổi chúng ta thoát ra khỏi Lâu Đài Băng để rồi bị mắc kẹt ngay tại chính thành phố của mình,” Wylan thốt lên.

    Chuyện này thật khó tin.

    “Ờ,” Jesper nói.

    “Chúng ta tiêu tùng cả đám thật rồi.”

    Kaz vẽ một vòng tròn trên lớp kính bằng một ngón tay đi găng.

    “Không hẳn.

    Tôi có thể làm thị tuần dịu lại.”

    “Không,” Inej thốt lên.

    “Tôi sẽ ra đầu thú.”

    “Nhưng Kuwei…”

    Nina lên tiếng.

    “Thị tuần không biết về Kuwei.

    Họ nghĩ mình đang tìm kiếm Wylan.

    Tôi sẽ bảo với họ rằng Wylan đã chết.

    Tôi sẽ nói rằng chính tay tôi đã giết cậu ta.”

    “Anh có bị loạn óc không đấy?”

    Jesper hỏi lại.

    “Kaz,” Inej nói.

    “Bọn họ sẽ đưa anh lên đoạn đầu đài.”

    “Họ sẽ phải đưa tôi ra xét xử trước.”

    “Cậu sẽ thối rữa trong tù trước khi điều đó xảy ra, Matthias nói.

    “Van

    Eck sẽ không đời nào để cậu có cơ hội phát biểu trước toà.”

    “Anh thực sự nghĩ họ có buồng giam nào cầm chân được tôi sao?”

    “Van Eck thừa biết anh giỏi phá khoá như thế nào,” Inej giận dữ phản bác.

    “Anh sẽ chết trước khi tới được nhà tù.”

    “Chuyện này thật nực cười,” Jesper nhận định.

    “Anh sẽ không hi sinh vì chúng tôi.

    Không ai phải hi sinh cả.

    Chúng ta sẽ chia nhau ra.

    Chúng ta sẽ đi theo cặp, tìm cách vượt qua các chốt chặn, rồi ẩn nấp ở đâu đó dưới miền quê.”

    “Đây là thành phố của tôi,” Kaz nói.

    “Tôi sẽ không cụp đuôi mà rời bỏ nó.”

    Jesper gầm lên bực tức.

    “Nếu đây là thành phố của anh thì nó còn được bao nhiêu?

    Anh đã từ bỏ phần hùn của mình ở Quạ Đen và Cảng số Năm.

    Anh không còn băng nhóm nữa.

    Cho dù anh có đào thoát được thì Van Eck và Rollins cũng sẽ huy động thị tuần với cả nửa khu Barrel lùng sục anh.

    Anh không thể chống lại tất cả bọn họ.”

    “Để rồi xem.”

    “Khỉ thật, Kaz.

    Anh vẫn luôn nói với tôi như thế nào?

    Bài đen thì bỏ đi.”

    “Tôi đang cho mọi người một lối thoát.

    Hãy nắm lấy nó.”

    “Sao anh lại coi chúng tôi như một đám ranh con chết nhát vậy?”

    Kaz quay về phía Jesper.

    “Anh chính là đứa chỉ chực bỏ chạy, Jesper.

    Anh chỉ muốn tôi chạy cùng để khỏi cảm thấy tồi tệ về chuyện đó.

    Luôn miệng nói thích chiến đấu lắm nhưng lúc nào cũng là người đầu tiên bàn tới chuyện chạy trốn.”

    “Bởi vì tôi muốn sống.”

    “Vì cái gì chứ?”

    Kaz hỏi, mắt long lên.

    “Để anh có thể chơi bài tiếp à?

    Để anh có thể một lần nữa phụ lòng bố và khiến bạn bè thất vọng sao?

    Anh có nói cho ông ấy biết chính mình là nguyên nhân khiến ông ấy sắp mất trang trại không?

    Anh có thú nhận với Inej rằng mình chính là nguyên nhân khiến cô ấy suýt mất mạng dưới lưỡi dao của Oomen không?

    Khiến tất cả chúng ta suýt mất mạng?

    Đôi vai Jesper chùng xuống, nhưng anh không bỏ cuộc.

    “Tôi đã phạm

    sai lầm.

    Tôi đã để phần xấu lấn át phần tốt, nhưng lạy các thánh, Kaz à, anh còn bắt tôi phải cầu xin sự tha thứ đến bao giờ nữa đây?”

    “Anh nghĩ sự tha thứ của em như thế nào, hả Jordie?”

    “Jordie là thằng cha nào vậy?”

    Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, khuôn mặt Kaz đờ ra, một sự bối rối gần như hoảng sợ xuất hiện trong đôi mắt đen của anh - nó đến rồi đi nhanh tới nỗi Wylan tự hỏi liệu cậu có đang tưởng tượng.

    “Anh muốn gì ở tôi?”

    Kaz gằn giọng, vẻ mặt sắt đá và tàn nhẫn hơn bao giờ.

    “Sự tin tưởng của tôi à?

    Anh đã có và làm nó vỡ tan tành chỉ vì không thể giữ mồm giữ miệng.”

    “Đúng một lần.

    Thế bao nhiêu lần tôi đã yểm trợ cho anh?

    Bao nhiêu lần tôi đã làm tốt?

    Những cái đó không có nghĩa lí gì sao?”

    Jesper giơ hai tay lên trời.

    “Tôi không thể cãi thắng được anh.

    Không ai thắng được anh.”

    “Phải đấy.

    Anh không thể.

    Anh nghĩ mình là một tay chơi, nhưng anh chỉ là một đứa thất bại bẩm sinh.

    Đánh đấm.

    Bài bạc.

    Trai gái.

    Anh cứ lao vào cho đến khi thua cuộc, do vậy lần này, hãy biết khôn mà bỏ đi.”

    Jesper lao tới trước.

    Kaz né sang phải, và hai người quấn lấy nhau.

    Họ đâm sầm vào tường, cụng đầu nhau, buông ra rồi lại đấm đá nhau túi bụi.

    Wylan quay sang Inej, hi vọng cô sẽ phản đối, hoặc Matthias tách họ ra, bởi vì ai đó phải làm gì đó.

    Nhưng những người khác chỉ lùi lại, tạo khoảng trống.

    Duy có Kuwei tỏ ra đau đớn.

    Jesper và Kaz lăn lộn, va vào động cơ đồng hồ, rồi đứng dậy.

    Đây không phải là một trận chiến, mà là một cuộc ẩu đả xấu xí của những cái thúc chỏ và nắm đấm.

    “Ghezen lòng lành, ai đó ngăn họ lại đi!”

    Wylan tuyệt vọng lên tiếng.

    “Jesper không nổ súng,” Nina đáp.

    “Kaz cũng không dùng gậy,” Inej nhận định.

    “Hai người nghĩ họ không thể giết nhau bằng tay không được à?”

    Cả hai đều đã đổ máu - Jesper bị rách môi, còn Kaz rách trán.

    Áo của Jesper đã trùm một nửa lên đầu anh, trong khi ống tay áo của Kaz cũng tuột chỉ.

    Cánh cửa lật mở toang và ông Colm Fahey ló đầu lên.

    Đôi má hồng hào của ông đỏ au.

    “Jesper Llewellyn Fahey, đủ rồi đấy!”

    Ông quát to.

    Jesper và Kaz khựng lại, rồi trước sự kinh ngạc của Wylan, họ buông nhau ra, khuôn mặt tỏ rõ sự ăn năn.

    “Chuyện gì đang diễn ra vậy?”

    Ông Colm hỏi.

    “Bố tưởng hai đứa là bạn?”

    Jesper đưa tay lên xoa gáy, vẻ mặt trông như chỉ muốn chui tọt qua khe ván sàn.

    “Bọn con…

    ơ… bất đồng với nhau.”

    “Bố thấy rồi.

    Bố đã rất kiên nhẫn với tất cả chuyện này, Jesper, nhưng cái gì cũng có giới hạn.

    Bố muốn con xuống ngay trước khi bố đếm đến mười, nếu không bố sẽ đánh đít đến nỗi con không thể ngồi được suốt hai tuần lễ đấy.”

    Cái đầu của ông Colm biến xuống dưới cửa lật.

    Im lặng bao trùm.

    Rồi Nina bật cười khúc khích.

    “Cậu gặp rắc rối to rồi.”

    Jesper nhăn mặt.

    “Matthias, Nina đã để cho Cornells Smeet sờ mông.”

    Nina ngừng cười.

    “Tôi sẽ bẻ ngược răng cậu từ trong ra ngoài.”

    “Chuyện đó là không thể.”

    “Tôi vừa dựng dậy người chết.

    Cậu thực sự muốn cãi tôi hả?”

    Inej ngoẹo đầu sang một bên.

    “Jesper Llewellyn Fahey sao?”

    “Im đi,” Jesper nói.

    “Đó là họ của tôi.”

    Inej trịnh trọng nghiêng người.

    “Sao cũng được, Llewellyn.”

    “Kaz?”

    Jesper ướm lời.

    Nhưng Kaz đang nhìn vào khoảng không.

    Wylan nghĩ cậu biết vẻ mặt này.

    “Có phải đó là…”

    Cậu dò hỏi.

    “Mặt ủ mưu á?”

    Jesper hỏi lại.

    Matthias gật gù.

    “Hẳn rồi.”

    “Tôi đã biết phải làm như thế nào,” Kaz nói một cách chậm rãi.

    “Làm sao để giải thoát Kuwei, đưa các Grisha đi, lấy tiền của chúng ta, hạ Van

    Eck, và cho gã khốn Pekka Rollins đó tất cả những gì gã xứng đáng.”

    Nina nhướn mày.

    “Hết chưa vậy?”

    “Bằng cách nào?”

    Inej hỏi.

    “Bấy lâu nay chúng ta chỉ chơi trò của Van Eck.

    Chúng ta trốn tránh.

    Quá đủ rồi.

    Chúng ta sẽ bày ra một cuộc đấu giá.

    Giữa thanh thiên bạch nhật.”

    Anh quay lại đối diện với họ, đôi mắt anh sắc lạnh như mắt cá mập.

    “Và vì Kuwei quá nóng lòng muốn hi sinh thân mình, cậu ta sẽ là vật đấu giá.”
     
    [Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
    Phần Hai: Những Ông Hoàng Bà Chúa 8-12


    8

    JESPER

    Tại chân cầu thang sắt, Jesper cố vuốt phẳng áo và thấm máu rỉ ra từ môi, mặc dù đến nước này thì anh biết có xuất hiện trước mặt bố trong bộ đồ lót cũng chẳng còn quan trọng gì nữa.

    Bố anh không ngu, và câu chuyện nực cười mà Wylan bịa ra để bao che cho anh đã tan nhanh như bong bóng xà phòng.

    Bố anh đã thấy những vết thương của họ, ông đã nghe được về kế hoạch bị huỷ của họ.

    Ông biết họ không phải là sinh viên hay những nạn nhân của một vụ lừa đảo.

    Bây giờ phải làm sao?

    Nhắm mắt lại và hi vọng đội hành quyết nhắm trúng, anh chán chường nghĩ bụng.

    “Jesper.”

    Anh quay lại.

    Inej đang ở ngay phía sau anh.

    Anh không nghe tiếng cô tiếp cận, nhưng điều đó không có gì ngạc nhiên.

    Anh có thú nhận với Inej rằng mình chính là nguyên nhân khiến cô ấy suýt mất mạng dưới lưỡi dao của Oomen không?

    Ờ, Jesper đoán mình sẽ phải xin lỗi nhiều lần trong sáng hôm nay.

    Tốt nhất nên bắt đầu luôn.

    “Inej, tôi xin lỗi…”

    “Tôi không đi tìm một lời xin lỗi, Jesper à.

    Anh có điểm yếu.

    Tất cả chúng ta đều có điểm yếu.”

    “Thế điểm yếu của cô là gì?”

    “Những người mà tôi giao du,” Inej đáp với một nụ cười nhẹ.

    “Cô thậm chí không biết tôi đã làm gì.”

    “Vậy anh nói cho tôi nghe đi.”

    Jesper nhìn xuống đôi giầy của mình.

    Chúng mòn thê thảm.

    “Tôi nợ Pekka Rollins rất nhiều tiền.

    Đám đòi nợ thuê của lão cứ thúc ép, nên tôi… tôi đã bảo chúng rằng tôi sắp rời khỏi Ketterdam, nhưng là để làm một phi vụ cực lớn.

    Tôi không hề nói nửa lời về Lâu Đài Băng, tôi thề đấy.”

    “Nhưng như vậy là đủ để Rollins ráp nối mọi thứ với nhau và chuẩn bị mai phục.”

    Inej thở dài.

    “Và Kaz đã trừng phạt anh về chuyện đó suốt bấy lâu nay.”

    Jesper nhún vai.

    “Có lẽ tôi đáng bị như thế.”

    “Anh có biết trong tiếng Suli không có từ ‘xin lỗi’ không?”

    “Vậy cô sẽ nói gì khi giẫm lên chân người khác?”

    “Tôi không giẫm lên chân người khác.”

    “Cô biết ý tôi mà.”

    “Chúng tôi chẳng nói gì hết.

    Chúng tôi biết chuyện đó là không cố ý.

    Chúng tôi sống trong những lều trại chật ních, di chuyển cùng nhau.

    Không có thời gian để liên tục xin lỗi vì sự tồn tại của mình.

    Nhưng khi ai đó làm sai, khi chúng tôi phạm lỗi, chúng tôi không xin lỗi.

    Chúng tôi hứa sẽ sửa chữa sai lầm.”

    “Tôi hứa.”

    “Mati en sheva yelu.

    Hành động này sẽ không lặp lại.

    Nó có nghĩa là chúng tôi sẽ không lặp lại cùng lỗi lầm đó, rằng chúng tôi sẽ không tiếp tục gây hại.”

    “Tôi sẽ không làm cô bị đâm nữa.”

    “Tôi bị đâm do thiếu cảnh giác.

    Anh đã phản bội bạn bè.”

    “Tôi không cố…”

    “Thà anh cố ý phản bội chúng tôi còn hơn.

    Jesper à, tôi không muốn một lời xin lỗi cho tới khi anh có thể hứa rằng anh sẽ không lặp lại sai lầm đó.”

    Jesper khẽ đong đưa người trên gót chân.

    “Tôi không biết phải làm như thế nào.”

    “Có một vết thương trong anh, và bàn chơi, xúc xắc, cỗ bài… chúng giống như thuốc vậy.

    Chúng xoa dịu anh, làm anh ổn trong một khoảng thời gian.

    Nhưng chúng là thuốc độc, Jesper à.

    Mỗi lần chơi bài, anh lại nhấp một ngụm.

    Anh phải tìm cách khác để chữa lành phần cơ thể đó của mình.”

    Inej đặt tay lên ngực anh.

    “Đừng cư xử với nó như thể nó chỉ là tưởng tượng.

    Phải nhìn nhận vết thương đó có thật, thì anh mới có thể chữa lành nó được.”

    Một vết thương ư?

    Jesper mở miệng định bác bỏ, nhưng một thứ gì đó đã ngăn anh lại.

    Bất chấp những khó khăn tại bàn chơi bài lẫn trong việc dứt ra khỏi nó, Jesper luôn nghĩ mình may mắn.

    Vui vẻ, vô lo.

    Kiểu người mà ai cũng muốn ở bên.

    Nhưng nếu như anh chỉ giả vờ như vậy với mọi người thì sao?

    Nóng tính và nhát cáy - tay người Fjerda đã gọi anh như vậy.

    Matthias và Inej đã trông thấy điều gì mà anh không hiểu được trong con người anh?

    “Tôi… tôi sẽ cố.”

    Đó là điều tốt nhất mà Jesper có thể đưa ra vào lúc này.

    Anh cầm lấy bàn tay cô và đặt một nụ hôn lên đó.

    “Chắc phải mất một thời gian nữa tôi mới có thể nói ra.”

    Đôi môi anh nhếch lên.

    “Không chỉ vì tôi không nói được tiếng Suli.”

    “Tôi biết,” cô nói.

    “Nhưng hãy nghĩ về chuyện đó.”

    Cô liếc mắt về phía phòng khách.

    “Cứ nói với bác ấy sự thật đi, Jesper.

    Bố con anh sẽ thấy nhẹ nhõm khi biết được lập trường của đối phương.”

    “Mỗi khi nghĩ đến chuyện đó, tôi có cảm giác như sắp ném mình qua cửa sổ.”

    Anh ngập ngừng.

    “Cô có nói với bố mẹ mình sự thật không?

    Cô có nói với họ về những gì cô đã làm… về những chuyện đã xảy ra không?”

    “Tôi không biết,” Inej thừa nhận.

    “Nhưng tôi sẽ đánh đổi bất kì điều gì để có được cơ hội làm điều đó.”

    •••

    Jesper thấy bố mình đang ngồi trong phòng khách màu tím, với tách cà phê trong bàn tay hộ pháp.

    Ông đã chất lại những chiếc đĩa lên cái khay bạc.

    “Bố không cần phải dọn dẹp cho bọn con đâu.”

    “Phải có ai đó làm chứ.”

    Ông Colm nhấp một ngụm cà phê.

    “Ngồi xuống đi, Jes.”

    Jesper không muốn ngồi.

    Cơn ngứa ngáy kinh khủng đó đang lan khắp người anh.

    Tất cả những gì anh muốn là chạy thẳng tới Barrel với tốc độ nhanh nhất mà đôi chân cho phép và ném mình vào sòng bài đầu tiên tìm được.

    Nếu không nghĩ đến chuyện có thể bị bắt hoặc bị bắn khi chưa được nửa đoạn đường, chắc anh đã đi thật.

    Anh ngồi xuống.

    Inej đã để những lọ mọt hoá chất chưa sử dụng trên bàn.

    Anh cầm một lọ lên, mân mê cái nút.

    Bố anh ngả người ra sau, quan sát con trai bằng đôi mắt xám nghiêm nghị.

    Jesper có thể nhìn thấy tất cả những nếp nhăn và đốm đồi mồi trên khuôn mặt ông dưới ánh sáng ban ngày.

    “Không có vụ lừa đảo nào, đúng không?

    Thằng bé người Shu đã nói dối để bao che cho con.

    Tất cả đều bao che cho con.”

    Jesper chắp hai tay lại để chúng ở yên một chỗ.

    Bố con anh sẽ thấy nhẹ nhõm khi biết được lập trường của đối phương.

    Jesper không rõ có đúng là như thế thật không, nhưng anh không còn lựa chọn nào khác.

    “Có rất nhiều vụ lừa đảo, nhưng con thường ở phía đi lừa.

    Đánh nhau cũng rất nhiều, và con thường ở phía thắng.

    Con cũng chơi bài rất nhiều.”

    Anh nhìn xuống phần liềm móng màu trắng của những ngón tay mình.

    “Nhưng thường là con thua.”

    “Số tiền mà bố đã vay mượn để con ăn học?”

    “Con đã lậm sâu với nhầm người.

    Con càng đánh càng thua, và cứ tiếp tục mượn nợ.

    Con tưởng mình có thể tìm được cách thoát ra.”

    “Sao con không dừng lại?”

    Jesper muốn bật cười thành tiếng.

    Anh đã van xin, đã gào thét kêu gọi bản thân dừng lại.

    “Không dễ như vậy đâu bố.”

    Có một vết thương trong anh.

    “Con không làm được.

    Con không biết tại sao.”

    Bố anh nhăn mũi.

    Có thể làm lụng từ sáng sớm đến tối mịt mà không hề than vãn, nhưng giờ đây nom ông thật mệt mỏi.

    “Lẽ ra bố không được để con rời khỏi nhà.”

    “Bố à…”

    “Bố biết nông trại không phải dành cho con.

    Bố muốn con có một thứ khác tốt đẹp hơn.”

    “Vậy sao bố không đưa con tới Ravka?”

    Jesper buột miệng trước khi kịp suy nghĩ.

    Cà phê sánh ra tay bố anh.

    “Không đời nào.”

    “Tại sao?”

    “Sao bố lại đưa con trai mình tới một đất nước xa lạ để đánh nhau và bỏ mạng trong những cuộc chiến tranh của họ kia chứ?”

    Một hồi ức hiện về trong đầu Jesper, sắc bén như một cú đá.

    Người đàn ông bụi bặm đứng trên ngưỡng cửa.

    Ông ta mang theo đứa con gái, mẹ anh đã chết vì nó.

    Ông ta muốn Jesper đi cùng.

    “Leoni là một zowa.

    Con bé cũng có năng lực,” ông ta đã nói như thế.

    “Có nhiều giáo viên ở phía tây, bên kia biên giới.

    Họ có thể huấn luyện bọn trẻ.”

    “Jesper không có năng lực,” bố anh đáp.

    “Nhưng mẹ thằng bé…”

    “Nó không có năng lực.

    Anh không có quyền đến đây.”

    “Anh chắc chứ?

    Thằng bé có được kiểm tra chưa vậy?”

    “Nếu anh còn đặt chân trở lại nơi này, tôi sẽ cân nhắc việc găm một viên đạn vào giữa trán anh.

    Hãy đi đi, và mang theo đứa con gái của anh.

    Không ai ở đây có năng lực hết, và cũng không ai muốn có nó.”

    Bố anh đã đóng sập cửa trước mặt người đàn ông bụi bặm.

    Jesper còn nhớ bố anh đã đứng tại chỗ, hít thở một cách nặng nhọc.

    “Họ muốn gì vậy bố?”

    “Không gì cả.”

    “Con có phải là zowa không?”

    Jesper đã hỏi như vậy.

    “Con có phải là Grisha không?”

    “Đừng nói ra những chữ đó trong căn nhà này.

    Đừng bao giờ.”

    “Nhưng…”

    “Chính nó đã giết chết mẹ của con, con có hiểu không?

    Chính nó đã tước đoạt mẹ từ tay bố con ta.”

    Giọng của bố anh đầy quyết liệt, đôi mắt xám cứng rắn như thạch anh.

    “Bố sẽ không để nó mang cả con đi.”

    Rồi đôi vai ông chùng xuống.

    Những lời tiếp theo giống như thể ông dứt ruột nói ra, “Con có muốn đi với họ không?

    Con có thể đi.

    Nếu đó là điều con muốn.

    Bố sẽ không giận đâu.”

    Lúc đó Jesper mới lên mười.

    Anh nghĩ đến cảnh bố một mình ở nông trại, ngày ngày quay về với ngôi nhà trống trải, ngồi một mình bên bàn ăn mỗi đêm, không ai làm bánh quy cháy cho ông.

    “Không,” anh đã đáp như thế.

    “Con không muốn đi với họ.

    Con muốn ở với bố.”

    Giờ đây, Jesper đứng lên khỏi chiếc ghế vì không thể ngồi thêm một giây nào nữa, và rảo bước quanh phòng.

    Anh cảm thấy khó thở.

    Anh không thể ở đây được nữa.

    Tim anh đau nhói.

    Đầu anh nhức buốt.

    Sự ân hận, yêu thương và oán giận rối bời trong lòng anh, và anh càng cố tháo gỡ, tình hình càng tệ hơn.

    Anh xấu hổ vì những điều tệ hại mình đã gây ra, vì những rắc rối mà anh mang lại cho bố.

    Nhưng anh cũng giận điên lên được.

    Nhưng sao anh có thể giận bố mình kia chứ?

    Người thương yêu anh nhất trên đời, người làm lụng để cho anh mọi thứ, người mà anh sẵn sàng che đạn cho bất cứ lúc nào?

    Hành động này sẽ không lặp lại.

    “Con sẽ…

    Con sẽ tìm cách sửa chữa, bố ạ.

    Con muốn trở thành một người tốt hơn, một đứa con trai tốt hơn.”

    “Bố không nuôi dạy con trở thành con bạc, Jesper.

    Bố tuyệt đối không nuôi dạy con trở thành tội phạm.”

    Jesper bật ra một tiếng cười cay đắng.

    “Con yêu bố.

    Con yêu bố bằng tất cả trái tim dối lừa, trộm cắp và vô dụng này, nhưng bố ơi, sự thật không phải vậy.”

    “Sao cơ?”

    Bố anh lắp bắp.

    “Bố đã dạy con nói dối.”

    “Để con được an toàn.”

    Jesper lắc đầu.

    “Con có năng lực.

    Bố nên để con sử dụng nó.”

    Ông Colm đấm tay xuống bàn.

    “Đó không phải là năng lực.

    Đó là một lời nguyền.

    Nó sẽ kết liễu con theo cùng cách thức mà nó giết mẹ của con.”

    Như vậy là quá đủ rồi.

    Jesper tiến ra cửa.

    Nếu không rời khỏi nơi này, anh sẽ nổ tung mất.

    “Đằng nào con cũng chết, bố à.

    Con chỉ làm điều đó một cách chậm rãi mà thôi.”

    •••

    Jesper sải bước trên hành lang.

    Anh không biết phải đi đâu, phải làm gì với chính mình.

    Đi tới Barrel.

    Tránh xa khu Stave.

    Có một ván bài đang ở đâu đó, chỉ cần mày kín đáo.

    Phải rồi, một anh chàng Zemeni cao như cây sào với cái đầu được treo thưởng hậu hĩnh sẽ không bị ai chú ý.

    Anh nhớ Kuwei đã nói những Grisha không sử dụng năng lực sẽ cảm thấy mệt mỏi và ốm yếu.

    Anh không đau ốm về mặt thể xác, rõ ràng là thế.

    Nhưng nếu Matthias nói đúng thì sao, rằng anh bị một loại bệnh khác?

    Phải chăng năng lực kia trong anh chỉ muốn loanh quanh tìm một nơi để đi?

    Anh bước qua một cánh cửa mở, và thoái lui.

    Wylan đang ngồi bên cây dương cầm màu trắng bóng đặt trong góc, hờ hững dạo duy nhất một nốt nhạc.

    “Nghe hay đấy,” anh nói.

    “Rất có nhịp điệu.

    Cậu có thể nhảy theo nó.”

    Wylan ngước lên, và Jesper ung dung tiến vào phòng, hai tay vung vẩy không ngừng.

    Anh quay một vòng, quan sát mọi đồ đạc – giấy dán tường màu tím với những đàn cá bạc, chân nến bạc, một cái tủ kính bày đầy những con thuyền bằng thuỷ tinh thổi.

    “Thánh thần ơi, nơi này thật kinh hãi.”

    Wylan nhún vai và lại ấn một nốt khác.

    Jesper tựa người vào cây đàn.

    “Muốn đi khỏi đây không?”

    Wylan ngước nhìn anh với ánh mắt ngờ vực.

    Cậu ta gật đầu.

    Jesper đứng thẳng người lại một chút.

    “Thật chứ?”

    Wylan vẫn nhìn anh.

    Không khí trong phòng dường như đổi khác, như thể đột ngột trở nên dễ bắt lửa.

    Wylan đứng lên khỏi băng ghế.

    Cậu tiến một bước lại gần Jesper.

    Đôi mắt cậu có mầu vàng, trong veo và sáng rực như mật ong được ánh nắng chiếu qua.

    Jesper thấy nhớ màu xanh thẳm, hàng mi dài và những lọn tóc xoăn rối bù.

    Nhưng nếu cậu thiếu gia buộc phải ẩn mình trong một lớp vỏ bọc, thì phải thừa nhận là anh rất thích cái này.

    Mà tất cả những chuyện đó có quan trọng gì khi Wylan nhìn anh như thế này chứ - cái đầu nghiêng nghiêng, đôi môi hé cười.

    Trông cậu ta gần như là… táo tợn.

    Điều gì đã thay đổi?

    Cậu ta có sợ rằng anh sẽ không thoát được khỏi đảo Mạng Đen không?

    Hay cậu ta chỉ cảm thấy may mắn vì mình sống sót?

    Jesper không chắc mình bận tâm đến chuyện đó.

    Anh muốn một sự khuây khoả, và nó đây rồi.

    Nụ cười của Wylan mở rộng hơn.

    Lông mày cậu ta nhướn lên.

    Cái này mà không phải một lời mời gọi thì…

    “Trời ạ,” anh lẩm bẩm.

    Anh xán lại gần và đưa hai bàn tay đỡ lấy khuôn mặt Wylan.

    Anh tiến hành một cách chậm rãi, kiên quyết nhưng khẽ khàng, đôi môi chỉ chạm hờ để Wylan có thể rụt lại nếu muốn.

    Nhưng cậu ta không làm thế.

    Cậu ta nhích lại gần hơn.

    Jesper có thể cảm thấy hơi ấm từ cơ thể Wylan truyền sang cơ thể mình.

    Anh luồn tay ra sau gáy Wylan, ngửa đầu cậu nhóc ra sau để đòi hỏi nhiều hơn.

    Anh cảm thấy khao khát một điều gì đó.

    Anh đã muốn hôn Wylan từ lúc thấy cậu ta ngoáy trộn hoá chất trong cái xưởng nhuộm tởm lợm ấy những lọn tóc hung ướt đẫm mồ hôi, làn da mỏng manh đến độ tưởng như có thể trầy trụa nếu ta thở lên đó quá mạnh.

    Trông cậu nhóc như thể bị rơi vào một hoàn cảnh sai trái, một hoàng tử bị hoá thành kẻ khố rách áo ôm.

    Kể từ lúc đó, Jesper luẩn quẩn giữa ham muốn chế nhạo để cậu ta đỏ mặt lên và khao khát ve vãn cậu vào một góc kín để xem chuyện gì sẽ xảy ra.

    Nhưng một đôi lần, trong khoảng thời gian ở Lâu Đài Băng, sự tò mò đó đã thay đổi.

    Anh cảm thấy sự lôi kéo của một thứ gì khác nữa, một thứ đã sống dậy trong sự quả cảm bất ngờ của Wylan, trong cái thế giới quan ngây thơ và hào hiệp của cậu nhóc.

    Nó làm cho Jesper có cảm giác như một con diều bị cột lại, bay lên cao rồi lại lao bổ xuống, và anh thích thế.

    Vậy cảm giác đó giờ đâu mất rồi?

    Nỗi thất vọng dâng lên trong lòng anh.

    Hay là mình?

    Jesper nghĩ bụng.

    Hay là mình thiếu kinh nghiệm?

    Anh sấn sổ hơn, hôn sâu hơn, tìm kiếm cái cảm giác trồi lên thụp xuống bất cần đó, đè Wylan vào cây dương cầm.

    Anh nghe thấy những nốt nhạc va vào nhau - thứ âm nhạc nhẹ nhàng, rời rạc.

    Hợp ghê, anh thầm nghĩ.

    Rồi anh giật thót.

    Nếu mình có thể liên tưởng ẩn dụ này nọ trong những lúc như thế này, thì nhất định có chuyện không ổn rồi.

    Anh rụt người lại, bỏ tay xuống, cảm thấy vụng về khó tả.

    Người ta

    nói gì sau khi hôn nhỉ?

    Anh chưa từng có dịp thắc mắc về điều đó.

    Đúng lúc ấy, anh trông thấy Kuwei đứng trên ngưỡng cửa, miệng há ra, đôi mắt mở to bàng hoàng.

    “Gì cơ?”

    Jesper hỏi.

    “Người Shu không hôn nhau trước trưa à?”

    “Làm sao tôi biết được,” Kuwei chua chát đáp.

    Không phải Kuwei.

    “Thánh thần ơi,” Jesper rên lên.

    Không phải Kuwei đang đứng trên ngưỡng cửa.

    Mà là Wylan Van Eck, chuyên gia chất nổ tiềm năng kiêm thiếu gia cứng đầu.

    Và như vậy có nghĩa là anh vừa mới hôn…

    Cậu Kuwei thật dạo lại nốt nhạc hờ hững kia, trâng tráo ngước nhìn anh qua hàng mi rợp màu đen.

    Jesper quay người về phía cửa phòng.

    “Wylan…”

    Anh cất tiếng.

    “Kaz muốn mọi người quay lại phòng khách.”

    “Tôi…”

    Nhưng Wylan đã bỏ đi.

    Jesper nhìn trân trối khuôn cửa trống trải.

    Sao anh có thể phạm phải một sai lầm như thế kia chứ?

    Wylan cao hơn Kuwei, khuôn mặt cũng dài hơn.

    Nếu anh không quá bực bội và căng thẳng sau màn ẩu đả với Kaz và cuộc cãi cọ với bố, chắc anh sẽ không bao giờ nhầm hai người với nhau.

    Nhưng giờ thì anh đã phá hỏng mọi thứ.

    Jesper dứ một ngón tay buộc tội vào Kuwei.

    “Lẽ ra cậu nên nói gì đó!”

    Cậu nhóc nhún vai.

    “Anh đã rất can đảm trên đảo Mạng Đen.

    Vì chúng ta đằng nào cũng chết đến nơi rồi…”

    “Chết tiệt,” Jesper văng tục và rảo bước ra cửa.

    “Anh hôn rất giỏi đấy,” Kuwei nói với theo.

    Jesper quay lại.

    “Cậu thạo tiếng Kerch tới mức nào?”

    “Khá tốt.”

    “Được, vậy thì tôi hi vọng cậu hiểu chính xác hàm ý của tôi khi tôi nói rằng cậu không xứng đáng với những rắc rối mà cậu mang lại.”

    Kuwei rạng rỡ hẳn lên, cậu nhóc tỏ ra cực kì hài lòng với chính mình.

    “Có vẻ như Kaz tin rằng hiện giờ tôi xứng đáng với một cái giá cao hơn trước nhiều.”

    Jesper đảo mắt nhìn lên trần nhà.

    “Ngưu tầm ngưu mã tầm mã.”

    9

    MATTHIAS

    Một lần nữa họ lại tề tựu trong phòng khách.

    Theo yêu cầu của Nina, ông Colm đã gọi thêm một chồng bánh waffle cùng tô dâu tây chấm kem sữa.

    Có một tấm gương che phủ phần lớn bức tường ở cuối phòng, và Matthias không thể ngăn mình liếc mắt về phía đó.

    Nó giống như nhìn vào một thực tế khác vậy.

    Jesper đã tháo giày rồi ngồi xuống tấm thảm, hai tay bó lấy đầu gối, mắt len lén liếc nhìn Wylan, người đang yên vị trên sô pha và nhất quyết phớt lờ cậu ta.

    Inej vắt vẻo trên bậu cửa sổ, sự cân bằng tuyệt vời khiến cô trông như không trọng lượng, một con chim sẵn sàng cất cánh.

    Kuwei thì ngả người vào cái hõm của trường kỉ, quyển sổ tay để mở đặt bên cạnh, trong khi Kaz ngồi trên chiếc ghế tím có lưng dựa, cái chân yếu kê trên chiếc bàn thấp, cây gậy chống tựa vào đùi.

    Bằng cách nào đó cậu ta đã xử lí được ống tay áo bị rách.

    Nina thu mình trên sô pha, tựa đầu vào vai Matthias, những ngón tay dính đầy nước dâu.

    Anh cảm thấy lạ lẫm khi ngồi như thế này.

    Ở Fjerda, ngay cả vợ chồng cũng ít bày tỏ sự thân mật trước mắt mọi người.

    Họ chỉ nắm tay và cùng lắm là nhảy với nhau trong những buổi khiêu vũ tập thể.

    Nhưng anh thấy thích tư thế này của họ, và mặc dù không thể thả lỏng người, anh cũng không muốn cô dịch ra xa.

    Chính sự hiện diện của ông Colm đã thay đổi quang cảnh trong gương.

    Ông làm những con người phản chiếu trở nên ít nguy hiểm hơn, như thể họ không phải là những kẻ bất hảo đã đột nhập vào Lâu Đài Băng rồi đánh bại lực lượng quân sự Fjerda với không gì hơn ngoài nắm đấm và dũng khí, mà chỉ là một nhóm trẻ mệt nhoài sau bữa tiệc sinh nhật bạo liệt.

    “Được rồi,” Nina lên tiếng, lưỡi liếm nước dâu dính trên ngón tay theo cách thức đánh gục hoàn toàn khả năng suy nghĩ thấu đáo của Matthias.

    “Khi anh nói đến một cuộc đấu giá, anh không thực sự…”

    “Kuwei sẽ bán mình.”

    “Anh điên à?”

    “Có lẽ tôi sẽ vui hơn nếu điên thật,” Kaz đáp, một bàn tay đi găng đặt lên cây gậy chống.

    “Mọi công dân Kerch hay bất kì công dân tự do nào đi tới Kerch đều có quyền bán mình.

    Nó không chỉ là luật định, nó là thương mại, và tại Kerch thì không có gì thiêng liêng hơn thương mại.

    Kuwei YulBo có một đặc quyền thiêng liêng - như được thừa nhận bởi Ghezen, vị thánh bảo trợ công nghiệp và thương mại - là đưa cuộc đời mình lên thị trường giao dịch.

    Cậu ta có thể rao bán đấu giá việc phụng sự của mình.”

    “Anh muốn Kuwei bán mình cho người trả giá cao nhất à?”

    Inej hỏi lại với giọng ngỡ ngàng.

    “Cho người trả giá cao nhất của chúng ta.

    Chúng ta sẽ ấn định kết quả sao cho Kuwei đạt được mơ ước cháy bỏng nhất: cả cuộc đời ngồi uống trà từ ấm samovar ở Ravka.”

    “Cha tôi sẽ không bao giờ cho phép chuyện đó,” Wylan nói.

    “Van Eck sẽ bất lực trong việc ngăn chặn nó.

    Bán đấu giá bản thân là việc được bảo vệ bởi những hệ thống luật lệ cao nhất tại đây - thế luật và giáo luật.

    Một khi Kuwei tuyên bố mở giao kèo bán mình, không ai được phép ngăn chặn cuộc đấu giá trước khi nó ngã ngũ.”

    Nina lắc đầu.

    “Nếu chúng ta rao bán đấu giá, người Shu sẽ biết chính xác thời gian và địa điểm tìm được cậu ta.”

    “Đây không phải là Ravka,” Kaz đáp.

    “Mà là Kerch.

    Thương mại là thiêng liêng, được luật pháp bảo vệ.

    Hội đồng Thương buôn có trách nhiệm bảo đảm cho cuộc đấu giá diễn ra suôn sẻ và không bị can thiệp.

    Thị tuần sẽ hiện diện, và theo luật đấu giá thì Hội đồng Thuỷ triều cũng phải góp mặt.

    Hội đồng Thương buôn, thị tuần, và các thành viên Hội đồng Thuỷ triều bắt buộc phải bảo vệ Kuwei.”

    Kuwei đặt cuốn sổ xuống.

    “Người Shu có thể vẫn có parem và các

    Sáng Chế Gia.”

    “Đúng rồi,” Jesper lên tiếng.

    “Nếu điều đó là sự thật thì họ có thể tạo ra một số lượng vàng nhiều như mong muốn.

    Sẽ không có cách nào đấu giá thắng họ được.”

    “Đó là giả dụ như họ đã đưa các Sáng Chế Gia tới Ketterdam.

    Van Eck đã ưu ái phong toả hải cảng giúp chúng ta rồi.”

    “Ngay cả như vậy…”

    “Hãy để tôi lo liệu người Shu,” Kaz cắt ngang.

    “Tôi có thể kiểm soát cuộc đấu giá.

    Nhưng chúng ta cần liên hệ với phía Ravka một lần nữa.

    Họ cần biết kế hoạch của chúng ta.

    Ít nhất là một phần.”

    “Tôi có thể tiếp cận toà đại sứ,” Inej nói, “nếu Nina chịu viết thư.”

    “Các ngả đường đều đã bị chốt chặn,” Wylan phản bác.

    “Nhưng mái nhà thì không,” Inej đáp.

    “Inej,” Nina lên tiếng.

    “Em không nghĩ là mình cần nói cho mọi người biết về cô bạn mới của em à?”

    “Phải đấy,” Jesper đế vào.

    “Ai là cái thể loại bạn mới đã làm cô bị thương đến như vậy?”

    Inej liếc mắt nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Đấu trường đã xuất hiện một đối thủ mới, lính đánh thuê của Pekka Rollins.”

    “Cô đánh thua trong một trận đấu tay đôi á?”

    Matthias ngạc nhiên hỏi.

    Anh đã từng chứng kiến Bóng Ma chiến đấu.

    Thắng được cô không phải chuyện dễ dàng.

    “Lính đánh thuê là nói giảm đấy,” Nina đáp.

    “Nó đã đuổi theo Inej trên sợi dây thăng bằng và phóng dao vào con bé.”

    “Nói cho chính xác thì không phải dao,” Inej chỉnh lại.

    “Thế thì là khăn ăn bọc thép à?”

    Inej bước xuống khỏi bậu cửa sổ.

    Cô thò tay vào trong túi lấy ra một thứ nom giống như một ngôi sao bằng bạc, rồi thảy nó lên bàn.

    Kaz chồm người tới nhặt nó lên.

    “Kẻ đó là ai?”

    “Tên nó là Dunyasha,” Inej đáp.

    “Nó tự gọi mình là Bạch Kiếm hay gì đó.

    Nó rất giỏi.”

    “Giỏi cỡ nào?”

    “Giỏi hơn tôi.”

    “Tôi có nghe nói tới cô ta rồi,” Matthias lên tiếng.

    “Tên của cô ta xuất hiện trong một báo cáo mà gián điệp của drüskelle thu thập về Ravka.”

    “Ravka?”

    Inej hỏi lại.

    “Cô ta nói mình được huấn luyện ở Ahmrat Jen.”

    “Cô ta tuyên bố rằng mình có dòng máu Lantsov và ở trong danh sách những người kế vị ngai vàng Ravka.”

    Nina bật cười.

    “Anh nói nghiêm túc đấy à.”

    “Chúng tôi đã cân nhắc việc ủng hộ tuyên bố đó để làm suy yếu vương triều của Nikolai Lantsov.”

    “Thông minh đấy,” Kaz nhận định.

    “Quỷ quyệt thì có,” Nina nói.

    Matthias hắng giọng.

    “Anh ta là một vị vua mới lên ngôi, còn chưa vững mạnh.

    Cũng tồn tại một số nghi ngờ về huyết thống của anh ta.

    Nhưng báo cáo cho rằng Dunyasha bất bình thường, có thể mắc chứng hoang tưởng.

    Chúng tôi đã quyết định rằng cô ta quá khó đoán, nên không thể mạo hiểm với cô ta được.”

    “Pekka có thể đã cử cô ta bám theo chúng ta từ đảo Mạng Đen đêm qua,” Inej nói.

    “Có ai biết làm thế nào Pekka khám phá được nơi ẩn náu đó không?”

    Nina thắc mắc.

    “Tay chân của lão có lẽ đã trông thấy một người nào đó trong chúng ta,” Kaz đáp.

    “Chỉ cần thế là đủ.”

    Matthias tự hỏi liệu có tốt hơn nếu như họ không biết chắc ai là người chịu trách nhiệm.

    Như thế sẽ không ai phải mang mặc cảm hoặc bị trách cứ.

    “Dunyasha có lợi thế là sự bất ngờ,” Inej cho biết.

    “Nếu khách sạn này chưa bị lộ, tôi có thể đến toà đại sứ Ravka và quay lại trong kín đáo.”

    “Tốt,” Kaz đáp, nhưng câu nói không phát ra nhanh như Matthias tưởng.

    Cậu ta sợ cho Inej, anh nghĩ thầm, và cậu ta không thích chuyện đó.

    Lần đầu tiên trong đời anh cảm thấy đồng cảm với thằng quỷ demjin này.

    “Còn một vấn đề khác,” Nina lên tiếng.

    “Matthias, bịt tai lại.”

    “Không.”

    “Tốt thôi.

    Em sẽ phải thử thách lòng trung thành của anh vào dịp khác vậy.”

    Cô thì thầm vào tai anh, “Có một cái bồn tắm cực lớn ở phía sau phòng ngủ chính.”

    “Nina.”

    “Em chỉ quan sát vậy thôi,” Nina nhặt mấy mẩu bánh còn lại trên cái khay rồi nói tiếp, “Ravka không thắng đấu giá được đâu.

    Bọn tôi phá sản rồi.”

    “Ồ,” Matthias thốt lên.

    “Anh biết rồi.”

    “Anh không biết.”

    “Em nghĩ người Fjerda không biết ngân khố của Ravka hiện đang rỗng tuếch hay sao?”

    Nina nhíu mày.

    “Ít nhất anh cũng phải vờ ngạc nhiên chứ.”

    “Thảm trạng tài chính của Ravka có gì đâu mà bí mật.

    Ngân khố Ravka đã suy sụp qua nhiều năm tháng bởi sự quản lí yếu kém của vương triều nhà Lantsov và những cuộc chiến ở hai biên giới.

    Nội chiến càng làm tình hình tồi tệ thêm, và nhà vua mới lên ngôi phải vay tiền rất nhiều từ các ngân hàng Kerch.

    Nếu chúng ta tiến hành đấu giá, Ravka sẽ không thể cạnh tranh nổi.”

    Kaz xê dịch cái chân yếu.

    “Chính vì vậy mà Hội đồng Thương buôn sẽ rót tiền cho họ.”

    Jesper bật cười.

    “Tuyệt vời.

    Nhân tiên họ có mua cho tôi một chiếc mũ quả dưa bằng vàng khối luôn được không?”

    “Chuyện đó trái luật,” Wylan nói.

    “Hội đồng chịu trách nhiệm điều hành phiên đấu giá.

    Họ không thể can thiệp vào kết quả của nó.

    “Dĩ nhiên là không,” Kaz đáp.

    “Và họ biết điều đó.

    Kuwei cùng với

    cha cậu ta đã tiếp cận Hội đồng Thương buôn để tìm sự giúp đỡ, nhưng bọn họ quá e sợ việc đó sẽ phương hại đến tính trung lập của mình nên từ chối ra tay.

    Từ đó Van Eck nhìn thấy cơ hội và hành động sau lưng Hội đồng.”

    Kaz thụp người sâu hơn trên ghế.

    “Ban đầu Van Eck đã âm mưu những gì?

    Lão đã mua các nông trại jurda để khi bí mật về jurda parem lan ra, lão sẽ kiểm soát được nguồn cung.

    Lão sẽ thắng mà không cần đến Kuwei.

    Vậy nên hãy suy nghĩ như lão, hãy nghĩ như một con buôn.

    Khi Kuwei Yul-Bo, con trai của Bo Yul-Bayur, tuyên bố đấu giá bản thân, Hội đồng sẽ biết bí mật về parem có thể được công bố bất cứ lúc nào.

    Họ rốt cuộc sẽ được tự do hành động, và sẽ tìm cơ hội bảo đảm lợi nhuận cho mình, cũng như vị thế của Kerch trên thị trường thế giới.

    Họ không thể đích thân tham gia đấu giá, nhưng có thể bảo đảm sao cho mình kiếm được thật nhiều, bất kể kết quả ra sao.

    “Bằng cách thu mua juda,” Wylan nói nốt.

    “Đúng vậy.

    Chúng ta sẽ dựng lên một liên doanh trồng jurda, một cơ hội cho các nhà đầu tư quyết đoán kiếm chác một chút từ thảm hoạ toàn cầu.

    Chúng ta mang lại cho Hội đồng một cơ hội và để cho lòng tham của họ làm nốt phần việc còn lại.”

    Wylan gật gù, vẻ mặt hăm hở hẳn lên.

    “Tiền không hề đổ vào liên minh tài chính.

    Chúng ta chuyển hướng nó sang Ravka để họ có thể đấu giá mua Kuwei.”

    “Đại loại như thế,” Kaz đáp.

    “Và chúng ta chỉ lấy một chút hoa hồng.

    Giống như các nhà băng vẫn thường làm.”

    “Nhưng ai sẽ đứng ra làm cò mồi?”

    Jesper thắc mắc.

    Van Eck đã biết mặt toàn bộ nhóm chúng ta, ngoại trừ Nina và Specht.

    Ngay cả khi một trong số chúng ta được chỉnh sửa dung mạo hoặc ta mua chuộc một người khác, Hội đồng Thương buôn cũng sẽ không đưa tiền cho một kẻ mới toe chưa có uy tín.”

    “Thế một chủ nông trại jurda đang thuê dãy phòng đắt nhất Ketterdam thì sao?”

    Ông Colm Fahey ngẩng mặt lên khỏi tách cà phê.

    “Tôi á?

    “Không đời nào, Kaz,” Jesper nói ngay.

    “Tuyệt đối không.”

    “Bố cậu rành rẽ về jurda, biết nói tiếng Kerch và Novyi Zem, rất phù hợp cho vai trò này.”

    “Bố tôi có một khuôn mặt lương thiện,” Jesper nói với giọng cay đắng.

    “Hoá ra không phải anh cho bố tôi ở đây để an toàn, anh sử dụng ông ấy.”

    “Tôi đang vạch ra lối thoát cho chúng ta đấy.”

    “Một kế hoạch dự phòng của anh?”

    “Phải.”

    “Anh sẽ không lôi bố tôi vào chuyện này.”

    “Bác ấy đã ở trong đó rồi, Jes.

    Cậu đã lôi bố mình vào cuộc khi cậu khiến cho bác ấy cầm cố nông trại để chi trả cho tấm bằng đốt tiền của cậu.”

    “Không,” Jesper lặp lại.

    “Van Eck sẽ nhận ra mối liên hệ giữa Colm Fahey và Jesper Fahey.

    Lão ta đâu có ngu.”

    “Nhưng làm gì có Colm Fahey nào lưu trú tại Geldrenner?

    Ông ta thuê phòng ở một nhà trọ bé tí trong quận Đại học, và theo báo cáo của giám đốc cảng, ông ta đã rời Ketterdam từ nhiều ngày trước.

    Dãy phòng hạng sang này được đăng kí thuê dưới tên của Johannus Rietveld.”

    “Là ai vậy?”

    Nina thắc mắc.

    “Ông ta là nhà nông đến từ một thị trấn gần Lij.

    Gia đình ông ta đã ở

    đó nhiều năm nay.

    Ông ta có cơ sở tại Kerch và Novyi Zem.

    “Nhưng người đó thực sự là ai mới được?

    Jesper gặng hỏi.

    “Không quan trọng.

    Hãy xem ông ta như là một sản phẩm tưởng tượng của Hội đồng Thương buôn, một giấc mơ tuyệt vời trở thành hiện thực để giúp họ hưởng lợi từ thảm hoạ parem.”

    Ông Colm đặt cái tách xuống.

    “Tôi đồng ý.”

    “Bố ơi, bố không biết mình đang chấp nhận chuyện gì đâu.”

    “Bố đang chứa chấp kẻ gian rồi còn gì.

    Nếu có giúp thì cũng là tòng phạm thôi.”

    “Nếu mọi chuyện không suôn sẻ…”

    “Bố còn gì để mất hả Jes?

    Con và nông trại là cả cuộc đời bố.

    Đây là cách duy nhất cho phép bố bảo vệ được cả hai.”

    Jesper đứng bật dậy, rảo bước tới lui trước những ô cửa sổ, vừa gãi gáy vừa nói, “Chuyện này thật điên rồ.

    Bọn họ sẽ không tin đâu.”

    “Chúng ta chẳng yêu cầu nhiều nhặn gì từ bất kì ai trong số họ,” Kaz đáp.

    “Mấu chốt nằm ở đó.

    Chúng ta đặt một mức sàn thấp cho phần vốn góp, hai triệu kruge chẳng hạn.

    Rồi chúng ta để cho họ chờ đợi.

    Người Shu đang ở đây, người Fjerda và Ravka cũng vậy.

    Hội đồng sẽ bắt đầu cuống lên.

    Tôi dám cá chúng ta sẽ nhận được năm triệu từ mỗi thành viên Hội đồng khi thời hạn chấm dứt.”

    “Hội đồng có mười ba thành viên,” Jesper nhẩm tính.

    “Vị chi là sáu mươi lăm triệu kruge.”

    “Có khi hơn.”

    Matthias nhíu mày.

    “Kể cả với đội thị tuần canh gác phiên đấu giá và sự hiện diện của Hội đồng Thuỷ triều, chúng ta liệu có thực sự đảm bảo được an toàn cho Kuwei không?”

    “Trừ phi anh có một con ngựa thần để cậu ta cưỡi đi trốn, không có kịch bản nào đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Kuwei cả.”

    “Tôi cũng không tin mấy vào sự bảo vệ của Hội đồng Thuỷ triều,”

    Nina lên tiếng.

    “Họ đã bao giờ xuất hiện công khai chưa vậy?”

    “Hai mươi lăm năm về trước,” Kaz đáp.

    “Và anh tin lần này họ sẽ xuất hiện để bảo vệ Kuwei?

    Chúng ta không thể để cậu ta đến phiên đấu giá một mình được.”

    “Kuwei sẽ không đi một mình.

    Matthias và tôi sẽ đi cùng cậu ta.”

    “Mọi người đều đã biết mặt hai anh.

    Ngay cả khi cải trang thì…”

    “Không cần cải trang.

    Hội đồng Thương buôn đang cân nhắc những người đại diện.

    Nhưng Kuwei có quyền lựa chọn vệ sĩ của riêng mình cho phiên đấu giá.

    Chúng tôi sẽ lên sàn cùng với cậu ta.”

    “Sàn đấu giá?”

    “Các phiên đấu giá được tổ chức tại nhà thờ Barter, ngay phía trước bàn thờ.

    Còn gì thiêng liêng hơn?

    Rất hoàn hảo - một không gian kín với nhiều cửa vào và dễ dàng tiếp cận dòng kênh.”

    Nina lắc đầu.

    “Kaz, ngay khi Matthias bước lên sàn đấu giá đó, cả nửa phái đoàn Fjerda sẽ nhận ra anh ấy, còn anh cũng đang là người bị truy nã gắt gao nhất Ketterdam.

    Nếu ra mặt tại phiên đấu giá, cả hai sẽ bị bắt.”

    “Họ không thể đụng tới bọn tôi trước khi phiên đấu giá kết thúc.”

    “Sau đó thì sao?”

    Inej chất vấn.

    “Sau đó sẽ có một vụ sao lãng lớn.”

    “Phải có một cách khác,” Jesper nói.

    “Nếu chúng ta cố gắng thoả thuận với Rollins thì sao?”

    Wylan vuốt ve mép chiếc khăn ăn của mình.

    “Chúng ta chẳng có gì để đề nghị.”

    “Không thoả thuận gì nữa,” Kaz nói.

    “Lẽ ra từ đầu tôi không nên đi gặp Rollins.”

    Jesper nhướn mày.

    “Có thật anh đang thừa nhận mình phạm sai lầm không đấy?”

    “Chúng ta cần vốn,” Kaz đáp và liếc nhanh sang phía Inej.

    “Tôi không xin lỗi về chuyện đó, nhưng nó không phải là một nước đi đúng đắn.

    Mẹo để đánh thắng Rollins là không bao giờ ngồi vào bàn với lão ta.

    Lão là nhà cái.

    Lão có đủ nguồn lực để chơi cho tới khi vận may của ta cạn kiệt.”

    “Cũng vậy thôi,” Jesper nói, “nếu chúng ta đấu với chính quyền Kerch, các băng đảng Barrel, và người Shu…”

    “Cả người Fjerda nữa,” Mattthias bổ sung.

    “Và người Novyi Zem, người Kaelish, hay bất kì ai ra mặt khi việc đấu giá được công bố.

    Các đại sứ quán đầy ắp người, và chúng ta không biết tin đồn về parem đã lan đến đâu.”

    “Chúng ta sẽ cần sự trợ giúp,” Nina nói.

    “Tôi biết,” Kaz nói trong lúc vuốt phẳng lại tay áo.

    “Vậy nên tôi sẽ đi tới Thanh Gỗ.”

    Jesper sững người.

    Inej lắc đầu.

    Tất cả đều trố mắt.

    “Anh đang nói cái gì vậy?”

    Nina hỏi.

    “Đầu anh đang bị treo giá đó.

    Tất cả mọi người ở Barrel đều biết chuyện đó.”

    “Anh đã trông thấy Per Haskell đi cùng băng Cặn Bã dưới kia,” Jesper nói.

    “Anh nghĩ anh có thể thuyết phục ông ta nâng đỡ mình trong lúc cả cái thành này sắp đổ ụp xuống đầu anh như một núi gạch vụn hay sao?

    Anh thừa biết ông ta không đủ gan để làm chuyện đó.”

    “Tôi biết,” Kaz nói.

    “Nhưng chúng ta cần một nhóm đông hơn cho vụ này.”

    “Này demjin, cậu đang đi tìm một rủi ro không đáng đó,” Matthias thốt lên, ngạc nhiên khi anh thực lòng nghĩ như vậy.

    “Khi tất cả chuyện này qua đi, khi Van Eck đã được đặt vào đúng chỗ, khi Rollins tháo chạy và tiền được trả, những con phố này sẽ là của tôi.

    Tôi không thể sống ở một nơi mà mình không thể ngẩng cao đầu.”

    “Nếu vẫn còn cái đầu để ngẩng,” Jesper đế thêm.

    “Tôi đã nhận nhiều nhát dao, viên đạn và cú đấm, tất cả vì một mẩu nhỏ của cái thành này,” Kaz nói.

    “Vì nó mà tôi đổ máu.

    Và nếu có một điều mà Ketterdam dạy tôi, thì đó là người ta luôn có thể đổ thêm một chút máu.”

    Nina vươn tay nắm lấy tay Matthias.

    “Kaz, các Grisha vẫn đang bị mắc kẹt tại đại sứ quán.

    Tôi biết anh chẳng thèm bận tâm, nhưng chúng ta phải đưa họ rời khỏi Ketterdam.

    Cả bố của Jesper nữa.

    Tất cả chúng ta.

    Bất luận ai đấu giá thắng, Van Eck và Pekka Rolins sẽ không chỉ thu dọn đồ đạc và về nhà.

    Người Shu cũng vậy.”

    Kaz đứng dậy, tựa người vào cây gậy chống.

    “Nhưng tôi biết có một điều mà Ketterdam sợ hơn cả người Shu, người Fjerda, cùng các băng đảng Barrel cộng lại. và Nina, cô sẽ tạo ra điều đó.”

    10

    KAZ

    Tưởng như Kaz đã ngồi lại trên ghế trong hàng tiếng đồng hồ để trả lời các thắc mắc, lắp ghép các phần của kế hoạch.

    Anh đã thấy hình ảnh tổng thể cuối cùng của mưu đồ, những bước cần làm, hàng ngàn cách thức có thể khiến họ thất bại hoặc bị phát giác.

    Nó là một kế hoạch điên rồ và mạo hiểm, nhưng nó là thứ họ cần làm để thành công.

    Johannus Rietveld.

    Anh đã nói một phần sự thật.

    Johannus Rietveld chưa từng tồn tại.

    Kaz đã sử dụng tên lót của Jordie và cái họ của hai anh em để tạo ra danh tính đó từ nhiều năm về trước.

    Anh không chắc vì sao anh quyết định mua lại nông trại nơi mình đã lớn lên, cũng như vì sao anh lại tiếp tục giao dịch mua bán dưới cái tên Rietveld.

    Johannus Rietveld có phải là Jakob Hertzoon của anh không?

    Một danh tính đáng nể trọng giống như cái mà Pekka Rollins đã tạo ra nhằm đánh lừa những con bồ câu khờ khạo?

    Hay nó là cách để hồi sinh gia đình mà anh đã mất?

    Nhưng chuyện đó liệu có quan trọng gì kia chứ?

    Johannus Rietveld tồn tại trên giấy tờ và sổ sách ngân hàng, ông Colm Fahey là người hoàn hảo nhất cho vai diễn này.

    Khi cuộc họp cuối cùng cũng tan, cà phê đã nguội lạnh và trời sắp trưa.

    Bất chấp ánh sáng rực rỡ tràn qua cửa sổ, tất cả mọi người đều cố gắng nghỉ ngơi vài giờ.

    Anh thì không.

    Chúng ta không dừng lại.

    Toàn thân anh mỏi nhừ.

    Chân anh đã không còn nhói nữa, giờ nó chỉ đau thôi.

    Anh biết mình đang ngu ngốc đến thế nào, khả năng quay trở về từ Thanh Gỗ nhỏ đến thế nào.

    Cuộc đời anh là một chuỗi những luồn lách và gian dối.

    Tại sao lại đâm đầu thẳng vào một vấn đề trong khi có thể tìm cách tiếp cận khác?

    Luôn có một góc độ khác, và anh là bậc thầy trong việc tìm ra nó.

    Giờ đây anh sắp xông thẳng tới trước như một con bò kéo cày.

    Nếu may mắn thì anh sẽ bị ăn đòn, đổ máu, và bị lôi thẳng tới trước cửa nhà Pekka Rollins.

    Nhưng họ đang mắc kẹt, và nếu phải ăn cụt cánh tay để đưa mọi người thoát ra, thì anh cũng sẽ làm điều đó.

    Trước hết anh phải đi tìm Inej.

    Cô đang ở trong phòng tắm xa hoa màu trắng và vàng kim, ngồi cắt khăn mặt thành những dải băng mới bên bàn trang điểm.

    Anh đi qua chỗ cô rồi cởi áo khoác, ném nó vào cái chậu bên cạnh bồn rửa mặt.

    “Tôi cần em giúp vạch một con đường tới Thanh Gỗ.”

    “Em sẽ đi với anh.”

    “Em biết tôi phải đối mặt với bọn họ một mình,” anh nói.

    “Họ sẽ dò tìm bất kì dấu hiệu nào của sự yếu đuối.”

    Anh vặn vòi nước, và sau vài tiếng khọt khẹt, nước nóng tuôn ra từ đầu vòi.

    Có lẽ sau khi đã rủng rỉnh tiền bạc, anh sẽ cho lắp nước nóng tại Thanh Gỗ.

    “Nhưng tôi không thể theo đường bộ đi tới đó.”

    “Anh không nên đến đó bằng bất kì đường nào.”

    Kaz cởi găng, đưa đôi tay vào dưới vòi, rồi vỗ nước lên mặt, luồn những ngón tay vào trong tóc.

    “Hãy cho tôi biết con đường tốt nhất, hoặc là tôi sẽ tự tìm đường tới đó.”

    Anh thích đi bộ hơn là leo trèo.

    Được tới đó trên một cỗ xe ngựa thì càng tốt.

    Những nếu anh thử đi xuyên qua những con phố của khu Barrel để tới đó, anh sẽ bị tóm trước khi đến nơi.

    Ngoài ra, nếu muốn kế hoạch này thành công, anh cần một nơi cao.

    Kaz thò tay vào trong túi áo khoác, lấy ra tấm bản đồ du lịch Ketterdam mà anh tìm thấy trong phòng khách.

    Nó không được chi tiết như anh mong muốn, nhưng những tấm bản đồ thực thụ của họ đã bị bỏ lại đảo Mạng Đen.

    Hai người trải tấm bản đồ ra bên cạnh bồn rửa mặt và cúi xuống quan sát.

    Inej vạch một đường xuyên qua các mái nhà, chỉ ra những điểm thuận lợi nhất để vượt qua các con kênh.

    Cô gõ ngón tay vào một điểm trên bản đồ.

    “Đường này nhanh hơn, nhưng hiểm trở hơn.”

    “Tôi sẽ chọn đường dài,” Kaz đáp.

    Anh muốn tập trung đầu óc vào trận đánh phía trước và việc tránh bị phát hiện, hơn là nguy cơ ngã chết.

    Sau khi đã yên tâm rằng mình có thể lần theo đường đi trong trí nhớ, anh gạt tấm bản đồ sang một bên và lấy từ trong túi ra một tờ giấy khác.

    Nó mang dấu triện màu xanh nhạt của ngân hàng Gemens.

    Anh đưa tờ giấy cho Inej.

    “Cái gì thế này?”

    Cô hỏi, mắt lướt xem tờ giấy.

    “Không phải là…”

    Cô rà ngón tay trên những con chữ như thể mong chúng biến mất.

    “Giao kèo của em,” cô thì thầm.

    “Tôi không muốn em mang ơn Per Haskell.

    Hoặc tôi.”

    Lại một nửa sự thật khác.

    Trong đầu anh đã nghiền ngẫm hàng trăm mưu kế để trói buộc Inej với anh, để giữ cô lại Ketterdam.

    Nhưng cô đã dành một phần đời đủ lâu với những món nợ và nghĩa vụ, cô ra đi sẽ tốt hơn cho cả hai.

    “Làm thế nào?”

    Inej hỏi.

    “Số tiền…”

    “Xong xuôi rồi.”

    Anh đã thanh lí hết mọi thứ mình có, đã sử dụng đến từng xu tiết kiệm cuối cùng mà mình kiếm chác được.

    Inej ấp tờ giấy lên ngực, nơi trái tim.

    “Em không có lời nào để cảm ơn anh về chuyện này.”

    “Chắc chắn người Suli có cả ngàn ngạn ngữ cho một dịp như thế này.”

    “Ngôn từ không được phát minh cho những dịp như thế này.”

    “Nếu tôi phơi thây trên đoạn đầu đài, em có thể nói gì đó tử tế với cái xác của tôi,” anh nói.

    “Chờ cho đến sáu hồi chuông.

    Nếu tôi không quay về, hãy tìm cách đưa mọi người rời khỏi Ketterdam.”

    “Kaz…”

    “Có một viên gạch bạc màu trên bức tường hậu của Quạ Đen.

    Đằng sau nó có hai mươi ngàn kruge.

    Không nhiều, nhưng cũng đủ để đút lót vài gã thị tuần.”

    Anh biết cơ hội của họ rất mong manh, và tất cả là do lỗi của anh.

    “Em có cơ hội tốt hơn nếu đi một mình, nhất là nếu ra đi ngay bây giờ.”

    Inej nheo mắt.

    “Em sẽ coi như anh chưa nói câu đó.

    Họ là bạn bè của em.

    Em sẽ không đi đâu hết.”

    “Kể cho tôi nghe về Dunyasha đi.”

    “Cô ta có vũ khí chất lượng lắm.”

    Inej cầm lấy cây kéo trên bàn trang điểm và bắt đầu cắt một cái khăn khác.

    “Em nghĩ cô ta có thể là cái bóng của em.”

    “Một cái bóng khá rắn chắc đấy nếu cô ta biết phóng dao.”

    “Người Suli tin rằng mỗi khi ta làm gì sai, tức là ta đã trao sự sống cho cái bóng của mình.

    Mỗi lỗi lầm lại làm cho cái bóng mạnh hơn, cho đến khi nó mạnh hơn anh.”

    “Nếu thật thế thì cái bóng của tôi chắc đã nhấn chìm Ketterdam trong đêm trường tăm tối.”

    “Có thể,” Inej nói, hướng ánh mắt đen huyền của cô vào mắt anh.

    “Hoặc có thể anh là cái bóng của một người khác.”

    “Ý em là Pekka?”

    “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh không quay về từ Thanh Gỗ?

    Nếu cuộc đấu giá diễn ra như kế hoạch và chúng ta thành công?”

    “Em sẽ có được con tàu và tương lai của mình.”

    “Còn anh?”

    “Tôi sẽ phá phách cho đến khi vận may cạn kiệt.

    Tôi sẽ sử dụng mẻ lưới của chúng ta để dựng nên một đế chế.”

    “Rồi sau đó?”

    “Ai mà biết được?

    Có thể tôi sẽ đốt nó thành tro bụi.”

    “Điều đó có làm anh khác Rollins không?

    Việc không để lại gì phía sau ấy?”

    “Tôi không phải là Pekka Rollins hay cái bóng của lão ta.

    Tôi không bán các cô gái vào nhà chứa.

    Tôi không cuỗm sạch tiền của những đứa trẻ tuyệt vọng.”

    “Hãy nghĩ đến Quạ Đen đi, Kaz.”

    Giọng nói của Inej dịu dàng, kiên nhẫn.

    Sao nó lại khiến anh muốn châm lửa đốt thứ gì đó?

    “Hãy nghĩ đến mọi cuộc trác táng, bài bạc và trộm cắp mà anh từng thực hiện.

    Những con người đó có đáng nhận thứ mà họ đã nhận, hoặc đáng mất thứ mà chúng ta lấy đi từ họ hay không?”

    “Cuộc sống không phải lúc nào cũng là điều chúng ta đáng nhận, Inej.

    Nếu chúng ta…”

    “Anh trai của anh có nhận được thứ mà anh ấy đáng nhận không?”

    “Không.”

    Nhưng câu trả lời cảm giác thật vô nghĩa.

    Sao anh lại gọi Jesper bằng tên của Jordie?

    Trong quá khứ, anh nhìn anh trai mình qua đôi mắt của một cậu bé: can đảm, sáng dạ, luôn đúng đắn, một hiệp sĩ đã bị đánh bại bởi một con rồng khoác áo thương gia.

    Nhưng giờ đây, anh sẽ nhìn nhận Jordie như thế nào?

    Một con mồi?

    Một con bồ câu ngu ngốc chờ bị vặt lông?

    Anh tì tay vào bồn rửa mặt.

    Anh không còn giận dữ nữa.

    Anh chỉ cảm thấy mệt mỏi.

    “Bọn tôi thật ngu ngốc.”

    “Các anh là những đứa trẻ.

    Không ai bảo vệ các anh sao?”

    “Thế có ai bảo vệ em không?”

    “Bố em.

    Mẹ em.

    Họ sẵn sàng làm mọi thứ để người ta không bắt cóc em.”

    “Và họ sẽ bị bọn săn nô lệ hạ gục.”

    “Vậy thì em nghĩ mình may mắn khi không phải chứng kiến chuyện đó.”

    Sao Inej vẫn có thể nhìn đời theo cách ấy?

    “Bị bán vào nhà chứa từ năm mười bốn tuổi, và em vẫn cho là mình may mắn.”

    “Họ yêu em.

    Họ vẫn yêu em.

    Em tin như thế.”

    Anh thấy Inej tiến lại gần hơn qua tấm gương soi.

    Mái tóc đen của cô nổi bật trên bức tường trắng muốt.

    Cô dừng lại phía sau lưng anh.

    “Anh bảo vệ em, Kaz.”

    “Chỗ máu thấm qua lớp băng của em cho tôi thấy điều ngược lại.”

    Inej nhìn xuống.

    Một vết máu đã thấm ra ngoài lớp băng trên vai cô.

    Cô vụng về kéo nhẹ dải vải.

    “Em sẽ nhờ Nina làm chuyện này.”

    Anh không cố tình nói điều này.

    Anh muốn để cô đi mà.

    “Tôi có thể giúp em.”

    Ánh mắt cô chạm vào mắt anh qua tấm gương soi, thận trọng như thể đang dè chừng một đối thủ.

    Tôi có thể giúp anh.

    Đó là câu đầu tiên cô nói với anh, khi cô đứng trong phòng tiếp khách của Vườn Thú, trên người khoác bộ váy lụa tím, đôi mắt viền đen bằng phấn côn.

    Cô đã giúp anh.

    Và cô đã gần như huỷ diệt anh.

    Có lẽ anh nên để cô kết thúc công việc.

    Kaz có thể nghe được tiếng nước nhỏ tong tong từ vòi, đập vào bồn rửa theo một nhịp không đều đặn.

    Hãy bảo cô ấy đi ra, một giọng nói trong anh ra lệnh.

    Hãy van xin cô ấy ở lại.

    Nhưng Inej không nói gì.

    Cô chỉ cầm mớ băng vải và cây kéo đem đặt cạnh bồn rửa.

    Sau đó cô chống tay nâng mình ngồi lên đó.

    Giờ thì mắt anh và mắt cô ngang hàng với nhau.

    Anh bước lại gần hơn rồi đứng yên, không tài nào nhúc nhích được.

    Anh không thể làm chuyện này.

    Khoảng cách giữa họ dường như không tồn tại.

    Có cảm giác như nó xa vạn dặm.

    Cô vươn tay tới cây kéo, vẫn duyên dáng như mọi khi, một cô gái dưới nước, và chìa cán kéo cho anh.

    Nó thật lạnh trong tay anh, thứ kim loại cứng rắn và trấn an.

    Anh bước vào khoảng trống giữa hai đầu gối cô.

    “Chúng ta bắt đầu từ đâu đây?”

    Anh hỏi.

    Hơi nước từ bồn rửa đã làm quăn mớ tóc hai bên khuôn mặt cô.

    Anh sắp làm chuyện này thật sao?

    Anh hất đầu về phía cẳng tay phải của cô, không đủ tự tin để lên tiếng.

    Đôi găng của anh nằm ở phía bên kia chậu rửa, màu đen nổi bật trên mặt đá cẩm thạch vân vàng.

    Trông chúng như những con thú chết.

    Anh tập trung vào cây kéo, lớp kim loại lạnh lẽo trong tay anh không có gì giống với da thịt.

    Anh có thể làm điều này, nếu bàn tay anh không run rẩy.

    Mình có thể vượt qua chuyện này, anh tự nhủ.

    Nó không khác mấy so với việc rút vũ khí đe doạ người khác.

    Bạo lực thật dễ dàng.

    Anh cẩn thận luồn lưỡi kéo vào bên dưới lớp băng trên tay cô.

    Khăn vải dầy hơn băng gạc nhiều, nhưng kéo rất sắc.

    Chỉ một nhát cắt, lớp băng đã tách ra, để lộ một vết đâm sâu.

    Anh vạch lớp băng sang bên cạnh.

    Anh cầm lấy một dải băng sạch và đứng đó, tự trấn tĩnh.

    Cô nâng cánh tay lên.

    Thật cẩn thận, anh quấn dải vải quanh cẳng tay cô.

    Các đốt ngón tay anh chạm nhẹ vào da thịt cô, và những tia chớp bùng nổ khắp cơ thể anh, khiến anh tê liệt, đứng sững như trời trồng.

    Tim anh không nên gây ồn ào như thế này.

    Có lẽ anh sẽ không bao giờ đến được Thanh Gỗ.

    Có lẽ chuyện này sẽ giết chết anh luôn.

    Anh cố ép bàn tay mình di chuyển, thắt nút dải băng.

    Một lần, rồi hai lần.

    Xong rồi.

    Kaz hít một hơi.

    Anh biết mình nên tiếp tục thay băng cho vết thương trên vai Inej, nhưng anh chưa sẵn sàng cho chuyện đó.

    Anh hất đầu về phía cánh tay trái của cô.

    Lớp băng ở đây hoàn toàn sạch sẽ và ngay ngắn, nhưng cô không thắc mắc, chỉ chìa cẳng tay ra cho anh.

    Lần này thì dễ dàng hơn một chút.

    Anh cử động một cách chậm rãi, có phương pháp, cây kéo, dải băng, trầm ngâm.

    Nhưng rồi nhiệm vụ cũng xong.

    Hai người không nói gì, họ mắc kẹt trong một vực xoáy thinh lặng.

    Hai đầu gối của cô cũng không chạm vào hông anh.

    Đôi mắt Inej mở to và đen thẫm, như những hành tinh vời vợi, những mặt trăng u tối.

    Dải băng trên vai cô được quấn hai lớp và thắt nút ở gần khớp.

    Anh hơi nghiêng người tới trước, theo một góc vụng về.

    Anh không thể luồn kéo vào dưới lớp băng.

    Anh cần phải nhấc mép vải lên.

    Không.

    Căn phòng sáng quá.

    Ngực anh thắt lại như một nắm đấm.

    Dừng chuyện này lại.

    Anh chập hai ngón tay lại, rồi đưa vào bên dưới lớp băng.

    Mọi thứ trong anh xoắn lại.

    Nước ngập chân anh lạnh ngắt.

    Cơ thể anh tê dại, nhưng anh vẫn cảm thấy sự ướt át mà lớp da thối rữa của người anh trai tạo ra dưới bàn tay mình.

    Sự hổ thẹn nuốt chửng con người ta.

    Anh đang chết chìm trong nó.

    Chết chìm tại hải cảng của Ketterdam.

    Mắt anh mờ đi.

    “Chuyện này cũng không dễ dàng với em.”

    Giọng nói chậm rãi và vững vàng của cô đưa anh từ địa ngục trở về.

    “Ngay cả bây giờ, khi một chàng trai mỉm cười với em trên phố, hoặc khi được Jesper choàng tay quanh eo, em cảm thấy như mình sắp biến mất.”

    Căn phòng chao nghiêng.

    Anh bám víu vào giọng nói của cô.

    “Em sống trong nỗi sợ hãi rằng em sẽ gặp một trong những khách hàng của bà ta - của em - trên phố.

    Suốt một thời gian dài, em tưởng như nhận ra họ ở khắp mọi nơi.

    Nhưng đôi khi em nghĩ những gì họ làm với em không phải là thứ tồi tệ nhất trong chuyện này.”

    Đôi mắt Kaz nhìn rõ trở lại.

    Nước đã rút đi.

    Anh đang đứng trong phòng tắm khách sạn.

    Ngón tay anh đang chạm vào vai Inej.

    Anh có thể cảm thấy những khối cơ mảnh mai bên dưới lớp da.

    Một mạch máu đang đập điên cuồng nơi hõm cổ mềm mại của cô, ngay phía dưới quai hàm.

    Anh nhận ra cô đã nhắm mắt.

    Hàng mi đen nhánh nằm ngoan trên má cô.

    Như thể đáp ứng với sự run rẩy của anh, cô trở nên bất động.

    Anh nên nói gì đó, nhưng không thể cất nên lời.

    “Dì Heleen không phải lúc nào cũng tàn nhẫn,” Inej nói tiếp.

    “Bà ta có thể ôm em, ghì chặt em, rồi cấu em thật mạnh, làm rách da.

    Anh không bao giờ biết liệu tiếp đến là một nụ hôn hay một cái tát.

    Mới hôm trước em còn là cô gái tốt nhất của bà ta, hôm sau bà ta đã cho gọi em tới và bảo rằng sẽ bán em cho một nhóm người bà ta mới gặp trên phố.

    Bà ta khiến em phải van xin bà ta giữ em lại.”

    Inej bật ra một âm thanh khe khẽ, gần giống như tiếng cười.

    “Lần đầu tiên Nina ôm em, em đã rụt lại.”

    Đôi mắt cô mở ra.

    Anh có thể nghe tiếng nước nhỏ giọt tong tong, thay bím tóc đuôi sam lượn cong trên vai cô sau khi bị bung ra.

    “Tiếp tục đi,” cô nói khẽ, như thể đang yêu cầu anh kể tiếp một câu chuyện.

    Anh không chắc mình có thể làm được.

    Nhưng nếu cô có thể nói ra thành lời những câu đó thì trời ạ, anh cũng có thể cố gắng.

    Thật cẩn thận, anh nhấc cây kéo lên.

    Anh vén lớp băng gạc, tạo ra một khoảng hở, cảm thấy vừa luyến tiếc vừa nhẹ nhõm khi không còn tiếp xúc với da thịt cô.

    Anh cắt đứt lớp băng, cảm thấy hơi ấm của cô trên những ngón tay mình tựa như cơn sốt.

    Lớp băng rơi ra.

    Kaz cầm một dải khăn khác bằng bàn tay phải.

    Anh phải cúi người để thắt nút nó phía đằng sau cô.

    Lúc này anh đang ở rất gần.

    Tâm trí anh ghi nhận hình dáng vành tai của cô, món tóc vén phía sau, và mạch đập cuồng dại nơi cổ cô.

    Còn sống, còn sống, còn sống.

    Chuyện này cũng không dễ dàng với em.

    Anh luồn thêm một vòng băng.

    Những cú chạm rất khẽ.

    Không thể tránh khỏi.

    Vai, xương đòn.

    Đầu gối cô, một lần.

    Nước lại dâng lên quanh anh.

    Anh thắt nút dải băng.

    Lùi lại.

    Anh không lùi lại.

    Anh đứng đó, nghe thấy tiếng thở của mình, của cô, nhịp điệu của riêng họ trong căn phòng này.

    Sự bệnh hoạn vẫn ở đó, khao khát bỏ chạy, cả khao khát một thứ gì nữa.

    Kaz tưởng anh đã tường tận ngôn ngữ của nỗi đau, nhưng cái này mới.

    Thật đau đớn khi đứng ở đây như thế này, quá gần với vòng tay của cô.

    Chuyện này cũng không dễ dàng với em.

    Sau tất cả những gì cô chịu đựng, anh mới là người yếu đuối.

    Nhưng Inej sẽ không bao giờ biết anh cảm thấy điều gì khi nhìn Nina ôm cô vào lòng, chứng kiến Jesper vòng tay quanh người cô, cảm giác của anh khi đứng trên ngưỡng cửa hoặc tựa lưng vào tường và biết rằng không bao giờ có thể tiến lại gần hơn.

    Nhưng giờ thì mình đang ở đây, anh cuống cuồng nghĩ.

    Anh đã từng bế cô, chiến đấu cạnh cô, dành cả đêm nằm sấp bên cô để dùng ống nhòm quan sát một nhà kho hoặc tư dinh của một thương gia nào đó.

    Không hề giống như thế này.

    Anh phát bệnh và lo lắng, toàn thân ướt đẫm mồ hôi, nhưng anh đang ở đây.

    Anh quan sát mạch đập kia, bằng chứng cho sự tồn tại của trái tim cô, đang hoà nhịp với nỗi lo lắng của anh.

    Anh thấy đường cong ẩm ướt nơi cái cổ của cô, độ bóng của làn da nâu.

    Anh muốn…

    Anh muốn.

    Trước khi kịp nhận ra mong muốn của mình, anh hạ thấp đầu xuống.

    Cô hít vào một hơi ngắn.

    Đôi môi anh lơ lửng ngay phía trên chỗ nối giữa vai và cần cổ của cô.

    Anh chờ đợi.

    Bảo tôi dừng lại đi.

    Đẩy tôi ra đi.

    Cô thở ra.

    “Tiếp tục đi,” cô nhắc lại.

    Kết thúc câu chuyện.

    Một chuyển động rất khẽ, và đôi môi anh chạm vào làn da cô - ấm áp, mượt mà, lấm tấm mồ hôi.

    Ham muốn chảy rần rật trong anh, hàng ngàn hình ảnh tích tụ lại, gần như không để cho anh tưởng tượng - suối tóc đen bung ra từ bím tóc của cô, bàn tay anh đặt vừa vặn với chỗ hõm trên eo cô, và đôi môi cô hé mở, thì thầm tên anh.

    Tất cả những cái đó xuất hiện rồi biến mất.

    Anh đang chết chìm ở cảng.

    Tay chân cô là của một tử thi.

    Đôi mắt cô chết chóc và mở trừng trừng.

    Sự kinh tởm hoà trộn với ham muốn trong lòng anh.

    Kaz ưỡn người ra sau, cái chân yếu của anh nhói đau.

    Miệng anh như lửa bỏng.

    Căn phòng chao đảo.

    Anh tựa người vào tường, cố gắng hít thở.

    Inej đã đứng dậy, cô tiến lại chỗ anh với vẻ mặt lo lắng.

    Anh giơ một tay lên để ngăn cô lại.

    “Đừng.”

    Inej đứng ở trung tâm của mặt sàn lát đá, đóng khung trong hai màu trắng và vàng, tựa như một bức tượng mạ vàng.

    “Anh bị sao vậy Kaz?

    Chuyện gì đã xảy ra với anh trai anh?”

    “Chuyện đó không liên quan.”

    “Kể cho em nghe đi.”

    Kể cho cô ấy đi, giọng nói trong anh lên tiếng.

    Kể mọi chuyện cho cô ấy đi.

    Nhưng anh không biết phải kể như thế nào hoặc phải bắt đầu từ đâu.

    Và tại sao phải kể?

    Để cô có thể tìm được một cách giải tội cho anh ư?

    Anh không muốn sự thương hại của Inej.

    Anh không cần giải thích, anh chỉ cần tìm một cách thức để cô ra đi.

    “Em muốn biết Pekka đã làm gì với tôi à?”

    Giọng anh gắt gỏng dội lại trên mặt đá lát sàn.

    “Hay để tôi kể em nghe tôi đã làm gì khi tìm ra người đàn bà giả vờ là vợ lão ta, đứa con gái giả vờ là con lão?

    Hay để tôi kể em nghe chuyện gì xảy ra với thằng nhóc đã lừa bọn tôi với đàn chó vặn dây cót vào cái đêm đầu tiên ấy?

    Hay ho lắm.

    Tên của nó là Filip.

    Tôi tìm thấy nó đang bày trò lừa đảo ở Kelstraat.

    Tôi đã tra tấn nó trong hai ngày và bỏ mặc nó hấp hối trong một ngõ hẻm, cái chìa khoá vặn dây cót nhét trong cuống họng.”

    Kaz thấy Inej rụt lại.

    Anh phớt lờ cái nhói trong tim.

    “Đúng đấy,” anh nói tiếp.

    “Đám nhân viên ngân hàng đã tiết lộ thông tin của bọn tôi.

    Tên luật sư giả hiệu.

    Kẻ đã đãi tôi món sôcôla nóng tại văn phòng giả của Hertzoon.

    Tôi đã tiêu diệt bọn chúng, từng đứa một, từng bước một.

    Và Rollins sẽ là kẻ cuối cùng.

    Những cái đó không thể nhờ cầu nguyện mà tẩy xoá được, Bóng Ma ạ.

    Không có bình yên nào chờ đợi tôi, không có sự tha thứ nào, trong cuộc đời này, và cả trong kiếp sống tiếp theo.”

    Inej lắc đầu.

    Làm sao cô vẫn có thể nhìn vào anh với đôi mắt chan chứa sự tử tế?

    “Anh không yêu cầu sự tha thứ được đâu, Kaz.

    Anh phải đoạt lấy nó.”

    “Có phải đó là điều em định làm?

    Bằng cách truy lùng bọn săn nô lệ?”

    “Bằng cách truy lùng bọn săn nô lệ.

    Bằng cách loại trừ đám thương gia và trùm băng đảng khu Barrel kiếm chác từ chúng.

    Bằng cách trở thành một thứ gì đó khác hơn là một Pekka Rollins kế tiếp.”

    Chuyện đó là không thể.

    Ngoài ra cũng không còn gì nữa.

    Anh có thể nhìn ra sự thật kể cả khi cô không thể.

    Inej mạnh mẽ hơn anh.

    Cô giữ được đức tin và sự tử tế, ngay cả khi cuộc sống cô giật chúng khỏi cô với đôi bàn tay tham lam.

    Mắt anh dò xét khuôn mặt cô như đã từng, một cách kĩ lưỡng, háu đói, chộp lấy những chi tiết trên đó như bản chất tên trộm trong anh - sự cân đối của hai hàng lông mày, màu nâu trong đôi mắt, bờ môi hơi nhếch lên của cô.

    Anh không xứng đáng được bình yên và tha thứ, nhưng nếu chết ngay trong hôm nay, có lẽ thứ mà anh mang được sang thế giới bên kia chính là kí ức về cô - tươi sáng hơn bất cứ thứ gì anh từng có.

    Kaz đi sượt qua Inej, rồi nhặt đôi găng mà anh đã bỏ lại ở bồn rửa và đeo vào tay.

    Anh khoác áo choàng, chỉnh lại cà vạt trong gương, cắp cây gậy chống vào nách.

    Nếu có chết thì cũng phải thật phong cách.

    Lúc quay lại chỗ cô, anh đã sẵn sàng.

    “Dù có bất cứ điều gì xảy ra với

    tôi, em cũng phải sống sót.

    Hãy mua con tàu của em, hãy trả hết mọi mối thù, khắc tên em lên nắm xương tàn của chúng.

    Nhưng hãy vượt qua đống rác mà tôi đã đưa chúng ta vào.”

    “Đừng làm chuyện này,” Inej nói.

    “Nếu tôi không làm, tất cả sẽ tan tành mây khói.

    Không lối thoát.

    Không phần thưởng.

    Không còn gì cả.”

    “Không gì cả,” cô lặp lại.

    “Hãy tìm kiếm gợi điểm của Dunyasha.”

    “Gì cơ?”

    “Mọi chiến binh đều có một gợi điểm, dấu hiệu của một chấn thương cũ, bên vai hạ xuống khi chuẩn bị tung cú đấm.”

    “Em có gợi điểm không?”

    “Em so vai trước khi hành động, như thể em sắp biểu diễn và đang chờ đợi sự chú ý của khán giả.”

    Cô có vẻ hơi bực bội vì chi tiết đó.

    “Thế gợi điểm của anh là gì?”

    Kaz nhớ đến khoảnh khắc trên đảo Vellgeluk đã suýt làm anh mất tất cả.

    “Tôi bị thọt.

    Đó là gợi điểm của tôi.

    Chẳng ai đủ thông minh để tìm kiếm những cái khác.”

    “Anh đừng đi tới Thanh Gỗ.

    Chúng ta hãy tìm một giải pháp khác.”

    “Tránh ra, Bóng Ma.”

    “Kaz…”

    “Nếu em từng có chút quan tâm đến tôi, đừng đi theo tôi.”

    Anh đẩy cô ra và rời phòng.

    Anh không thể nghĩ đến những gì có thể xảy ra, những thứ có thể bị mất. và Inej đã sai ở một điểm.

    Anh biết chính xác mình muốn để lại điều gì sau khi biến mất.

    Sự điêu tàn.

    11

    INEJ

    Dù vậy cô vẫn bám theo anh.

    Nếu em từng có chút quan tâm đến tôi.

    Inej khịt mũi trong lúc nhảy qua một ống khói.

    Thật quá đáng.

    Cô đã có hàng tá cơ hội để giải phóng mình khỏi Kaz, nhưng cô chưa bao giờ tận dụng.

    Ừ thì anh không phù hợp với một cuộc sống bình thường.

    Nhưng còn cô, liệu cô có thể tìm được một người chồng tốt bụng, có con với anh ta, để rồi tối tối ngồi mài dao trong khi chồng con đang ngủ hay không?

    Làm sao cô giải thích được những cơn ác mộng dai dẳng từ thời ở trong Vườn Thú?

    Hay chỗ máu trên tay cô?

    Cô có thể cảm thấy sức ép của những ngón tay Kaz trên da thịt mình, cảm thấy cú lướt nhẹ của cái miệng anh trên cổ, trông thấy hai đồng tử nở rộng của anh.

    Hai trong số những con người đáng sợ nhất Barrel không thể chạm vào nhau mà không chao đảo.

    Nhưng họ đã thử.

    Anh đã thử.

    Biết đâu họ có thể thử lần nữa.

    Một mơ ước ngớ ngẩn, hi vọng ẩm ương của một đứa con gái chưa từng bị cướp mất những lần đầu tiên của mình, chưa từng cảm nhận ngọn roi của Dì Heleen, chưa từng thương tích đầy mình và bị bêu mặt trên cáo thị truy nã.

    Kaz sẽ cười vào sự lạc quan của cô.

    Inej nghĩ tới Dunyasha, cái bóng của cô.

    Mơ ước của con nhỏ là gì?

    Một ngai vàng, như Matthias phỏng đoán à?

    Một vật tế khác để dâng lên thánh thần?

    Cô tin chắc mình sẽ gặp lại nó.

    Cô muốn tin rằng lần này mình sẽ thắng, nhưng năng lực của Dunyasha là điều cô không thể phủ nhận.

    Biết đâu con nhỏ thực sự là một công nương, một cô gái có gốc gác quyền quý được huấn luyện nghệ thuật sát thương, được định mệnh dành cho sự vinh quang như một nữ anh hùng trong truyện?

    Thế còn cô thì sao?

    Một vật cản trên con đường của Dunyasha?

    Một chiến tích trên bảng vàng giết chóc?

    Một con mọi đen Suli biết nhào lộn, đánh đấm như phường du côn mạt hạng.

    Hay biết đâu chính các thánh của cô đã mang Dunyasha tới Ketterdam.

    Còn cô, cô Ghafa, ai sẽ nhớ tới một đứa con gái như cô?

    Có lẽ đây là sự trừng phạt dành cho cô, vì những mạng sống mà cô đã tước đoạt.

    Có lẽ thế.

    Nhưng chưa đâu.

    Cô vẫn còn những món nợ phải trả.

    Inej rít lên trong lúc tuột xuống một cái ống nước và cảm thấy lớp băng ở vai tuột ra.

    Cô sắp để lại dấu máu trên đường di chuyển.

    Họ đang đi đến gần Thanh Gỗ, nhưng cô ẩn mình trong bóng tối và giữ một khoảng cách khá xa với Kaz.

    Anh có cách cảm nhận sự hiện diện của cô mà không ai có được.

    Thỉnh thoảng anh dừng lại, không hay biết rằng mình đang bị quan sát.

    Cái chân đau gây nhiều rắc rối cho anh hơn anh thừa nhận.

    Nhưng cô sẽ không can thiệp tại Thanh Gỗ.

    Cô tôn trọng mong muốn của anh, chí ít bởi vì anh đúng trong chuyện đó: Tại Barrel, uy lực là thứ tiền tệ duy nhất có giá trị.

    Nếu Kaz không một mình đối mặt với thách thức này, anh có thể mất tất cả, không chỉ cơ hội giành được sự ủng hộ từ băng Cặn Bã, mà là mọi cơ hội đi vào khu Barrel một cách tự do.

    Cô hay ước rằng mình có thể làm sứt mẻ sự cao ngạo của anh một chút, nhưng cô không thể chịu nổi việc trông thấy anh bị tước mất lòng kiêu hãnh.

    Kaz luồn lách băng qua các mái nhà ở Groenstraat, đi theo lộ trình mà họ đã cùng vạch ra, và chẳng mấy chốc, vách tường phía sau của Thanh Gỗ đã xuất hiện trong tầm mắt - vừa hẹp vừa liêu xiêu tựa vào những ngôi nhà kế bên, đầu hồi lợp đá đen nhẻm vì bồ hóng.

    Đã bao lần cô tiếp cận Thanh Gỗ từ góc độ này?

    Với cô, nó là đường về nhà.

    Cô trông thấy cửa sổ phòng Kaz ở tầng trên cùng.

    Cô từng dành nhiều giờ ở đó, vắt vẻo trên bậu cửa sổ để cho quạ ăn và nghe anh vạch kế hoạch.

    Ngay phía dưới, hơi chếch về bên trái, là ô cửa sổ nhỏ xíu của căn buồng cô ở.

    Cô bỗng nhận ra rằng, bất luận cuộc đấu giá thành công hay thất bại, đây cũng có thể là lần cuối cô quay về Thanh Gỗ.

    Có lẽ cô sẽ không bao giờ thấy Kaz ngồi bên bàn làm việc của anh, hoặc nghe tiếng cây gậy chống của anh vang lên trên những bậc thang ọp ẹp, thông báo cho cô biết qua nhịp điệu rằng anh vừa trải qua một đêm tồi tệ hay tốt đẹp.

    Cô quan sát Kaz vụng về trèo từ gờ mái nhà xuống và phá khoá cửa sổ phòng mình.

    Sau khi anh đã khuất vào bên trong, cô tiếp tục trèo lên đầu hồi dốc đứng để ra phía mặt tiền của Thanh Gỗ.

    Cô không thể sử dụng cùng lối vào với anh nếu không muốn bị phát giác.

    Ở mặt tiền của toà nhà, ngay phía dưới đường bao mái, cô tìm thấy cái móc sắt được dùng để kéo những kiện hàng nặng lên cao.

    Cô bám vào nó, phớt lờ những tiếng gù gù bực bội của lũ bồ câu, nhăn mũi vì mùi phân chim, và dùng chân mở cửa sổ.

    Cô lách người vào bên trong, di chuyển qua các vì kèo, trước khi tìm thấy một chỗ trong bóng tối.

    Cô ngồi đợi, không rõ mình cần làm gì tiếp theo.

    Nếu có ai đó ngước lên, họ có thể trông thấy cô lơ lửng trong góc như một con nhện, nhưng ai mà nghĩ đến chuyện đó chứ?

    Phía bên dưới, lối ra vào rất nhộn nhịp.

    Có vẻ như tâm trạng phấn khích của cuộc tuần hành buổi sáng đã lan ra cả ngày.

    Mọi người ra vào, gọi nhau í ới, cười nói và hát hò liên tục.

    Vài thành viên trong băng Cặn Bã ngồi trên cầu thang gỗ ọp ẹp, chuyền tay nhau một chai whiskey.

    Seeger, một trong những vệ sĩ ưa thích của Per Haskell, cứ thổi mãi ba nốt nhạc bằng một cái còi thiếc.

    Một nhóm du côn lao qua cửa rồi loạng choạng tiến vào tiền sảnh, kêu ré lên như những thằng ngớ ngẩn, vừa đi vừa giậm chân, xô đẩy nhau như bầy cá mập háu đói.

    Chúng cầm theo những chiếc rìu có cán gắn đầy đinh gỉ, dùi cui, dao, súng, một số đứa còn vẽ những cánh quạ đen trên mắt.

    Phía sau chúng, Inej bắt gặp vài thành viên có vẻ như không hưởng ứng sự phấn khích đó - Anika với mớ tóc vàng hoe, Roeder mềm dẻo mà Per Haskell đã đề nghị Kaz sử dụng như người nhện mới, cùng hai vệ sĩ to con Keeg và Pim.

    Họ tựa vào tường, trao đổi với nhau ánh mắt bất bình trong khi những người còn lại hú hét và làm trò.

    Họ là cơ hội tốt nhất của Kaz, cô nghĩ thầm.

    Những thành viên nhỏ tuổi nhất trong băng Cặn Bã mà Kaz đã thu nhận và huấn luyện, những người chăm chỉ nhất và nhận những công việc tồi tệ nhất, chỉ vì họ là tân binh.

    Nhưng Kaz đang nghĩ gì trong đầu?

    Anh đột nhập phòng làm việc của mình là có lí do hay chỉ đơn giản vì đó là điểm dễ nhất để tiếp cận từ trên mái?

    Anh có định nói chuyện riêng với Per Haskell không?

    Từ tiền sảnh có thể quan sát toàn bộ cầu thang gỗ.

    Kaz thậm chí không thể nhìn xuống mà không làm người khác chú ý, trừ phi anh cải trang, và cô cũng không hiểu làm thế nào anh leo xuống cầu thang mà không bị mọi người nhận ra dáng đi khập khễnh đặc trưng do cái chân yếu.

    Một tiếng reo hò vọng lên từ đám người tụ tập bên dưới.

    Per Haskell vừa rời khỏi phòng làm việc, mái tóc bạc di chuyển giữa đám đông.

    Ông ta vẫn ăn vận nổi bật cho những hoạt động tưng bừng hôm nay - áo vest carô hai màu đỏ và bạc, quần hoạ tiết răng chó - như thể muốn lớn tiếng tuyên bố rằng mình là ông trùm của Cặn Bã, băng đảng mà Kaz đã gây dựng gần như từ con số không.

    Per Haskell dùng một tay vẫy chiếc mũ gắn lông chim mà mình rất yêu thích, tay kia cầm cây gậy chống.

    Ai đó đã gắn một con quạ bằng giấy bồi lên đó.

    Inej cảm thấy muốn bệnh.

    Kaz đã từng hơn cả một đứa con trai của Haskell.

    Một thằng con láu cá, tàn nhẫn, giết chóc, nhưng vẫn là con.

    “Bố già ơi, ông nghĩ chúng tôi có tóm được nó tối nay không?”

    Bastian cất tiếng hỏi, tay vỗ vỗ cái dùi cui đáng sợ vào đùi mình.

    Haskell giơ cây gậy chống lên như một thứ quyền trượng.

    “Nếu có ai nhận được khoản tiền thưởng này thì người đó phải là một trong số những thằng con của ta, có phải thế không?”

    Tất cả cùng hò reo.

    “Bố già.”

    Inej giật mình khi giọng nói khàn đục của Kaz vang lên giữa tiếng huyên náo của đám đông, khiến tất cả im phắc.

    Mọi con mắt đều ngước nhìn lên.

    Anh đang đứng ở đầu cầu thang, mắt nhìn xuống bốn đợt cầu thang bằng gỗ ọp ẹp.

    Cô nhận ra anh đã thay áo khoác mới, và nó ôm vừa vặn quanh người anh.

    Anh tựa vào cây gậy chống, mái tóc chải ngược gọn ghẽ trên vầng trán tái nhợt, một chàng trai bí hiểm với những đường nét chết người.

    Vẻ ngạc nhiên trên khuôn mặt Per Haskell nom khá tức cười.

    Rồi ông ta bắt đầu cười thành tiếng.

    “Trời ạ, Brekker, cậu là thằng khốn điên rồ nhất tôi từng gặp đó.”

    “Tôi sẽ coi đây là một lời khen.”

    “Lẽ ra cậu không nên về đây, trừ phi để nộp mạng, giống như cậu bé khôn ngoan mà tôi từng biết.”

    “Tôi chán kiếm tiền cho ông rồi.”

    Khuôn mặt Haskell nhăn nhúm lại trong cơn thịnh nộ.

    “Thằng ranh con vô ơn!”

    Ông ta gầm lên.

    “Ung dung đi vào đây cứ như Ông chủ.”

    “Mày luôn hành động như thể mày giỏi hơn tụi tao,” Seeger lớn tiếng, trên tay vẫn đang cầm cái còi thiếc, và vài thành viên khác gật đầu đồng tình.

    Per Haskell vỗ tay động viên hắn.

    Đúng là như vậy.

    Kaz luôn giữ mình xa cách mọi người.

    Họ muốn thấy tình đồng đội và tình bằng hữu, nhưng anh chưa bao giờ chấp nhận chơi theo họ, anh chỉ làm theo ý mình.

    Có lẽ nước đi này là không thể tránh khỏi.

    Inej biết Kaz không định làm phó tướng cho Per Haskell mãi mãi.

    Thắng lợi của họ tại Lâu Đài Băng lẽ ra đã làm anh trở thành ông vua của Barrel, nhưng Van Eck đã tước mất của anh điều đó.

    Băng Cặn Bã không biết những kì tích mà anh đã làm được trong mấy tuần qua, cũng như chiến lợi phẩm mà anh đã cướp được từ tay người Fjerda và hiện vẫn còn đang nắm giữ.

    Anh một mình đối mặt họ, một chàng trai không có nhiều đồng minh, một người lạ đối với phần lớn trong số họ, bất chấp tiếng tăm dữ dằn của anh.

    “Ở đây mày không có bạn bè đâu!”

    Bastian nói lớn.

    Đứng cạnh bức tường, nhóm của Anika và vài người khác tỏ ra không đồng tình.

    Pim lắc đầu, khoanh tay lại.

    Kaz khẽ nhún vai.

    “Tôi không đến đây vì những kẻ ăn bám và hèn nhát.

    Tôi đến để tìm sát thủ.

    Những người cứng rắn.

    Khao khát.

    Những người như tôi.

    Đây là băng đảng của tôi,” Kaz đáp và bắt đầu bước xuống cầu thang, cây gậy chống nện vào lớp ván gỗ, “và tôi chán làm theo mệnh lệnh rồi.”

    “Tóm lấy phần thưởng của mình đi, mấy đứa!”

    Haskell la lớn.

    Trong một khoảng lặng ngắn, Inej đã hi vọng rằng không ai nghe lời ông ta, và cả bọn sẽ nổi loạn chống lại Haskell.

    Nhưng rồi cơn lũ ập tới.

    Bastian và Seeger là những kẻ đầu tiên lao lên cầu thang, hăm hở tìm cách tóm cổ Tay Nhám.

    Nhưng Seeger bị rượu làm cho chậm lại, và lúc hai thằng đến được chỗ Kaz ở đợt cầu thang thứ ba thì cả hai đã hết hơi.

    Cây gậy chống của Kaz vung lên, đập gãy xương cánh tay của Seeger.

    Thay vì tấn công Bastian, anh lao qua chỗ hắn, lẹ làng đến lạ lùng bất chấp cái chân đau.

    Trước khi Bastian kịp quay người lại, Kaz đã chọc đầu gậy vào phần mềm nằm giữa đùi và đầu gối của hắn.

    Bastian đổ gục trong tiếng thét tắc nghẹn.

    Một tên trong đám tay sai của Haskell đã bắt đầu lao đến chỗ Kaz - tay vệ sĩ có biệt danh Ấm Trà, vì hắn chuyên rít lên qua lỗ mũi khi thở.

    Cú đập gậy của Ấm Trà sượt qua vai Kaz khi anh nhảy tránh sang trái.

    Đoạn anh vung gậy và đập cái đầu quạ vào cằm hắn bằng tất cả sức nặng của nó.

    Inej trông thấy thứ gì giống như răng bay ra từ miệng Ấm Trà.

    Kaz vẫn đang chiếm lợi thế, nhưng anh bị áp đảo về số lượng, khi mà giờ đây bọn kia ùa tới.

    Varian và Swann lao lên trước tiên, Felix Đỏ bám sát nút, Milo và Gorka theo sau.

    Inej cắn môi khi Kaz bị đánh trúng cái chân đau, anh lảo đảo và chỉ lấy lại tư thế vừa đúng lúc để né một cú vung xích của Varian.

    Sợi xích đập vào lan can cầu thang cách anh vài centimet, làm dằm gỗ bay tứ tung.

    Kaz tóm lấy sợi xích và tận dụng đà lao tới của Varian để đẩy hắn qua lan can gãy.

    Đám người lui lại khi Varian rơi chạm sàn nhà.

    Swann và Felix Đỏ lao vào Kaz từ hai phía.

    Felix Đỏ túm áo choàng của Kaz, lôi anh ngược ra sau.

    Kaz vùng ra điệu nghệ như một ảo thuật gia thoát khỏi chiếc áo trói trong một màn biểu diễn tại Đông Stave.

    Swann điên cuồng vung cây rìu cán đinh, nhưng Kaz đã kịp giáng đầu gậy chống vào mặt hắn.

    Dù nhìn ở khoảng cách xa, Inej vẫn thấy xương gò má của hắn thụt vào trong, để lại một cái hốc đẫm máu.

    Felix Đỏ rút một cái dùi cui dẻo từ trong túi ra và quật mạnh vào bàn tay phải của Kaz.

    Cú đánh không mạnh, nhưng cũng đủ làm cây gậy của Kaz rơi xuống, lăn lông lốc trên cầu thang.

    Beatle, với thân hình gầy gò và khuôn mặt hóp như một con chồn sương, vội lao lên cầu thang chộp lấy cây gậy rồi ném cho Per Haskell giữa lúc đám thuộc hạ reo hò.

    Kaz chống tay lên lan can và đạp mạnh vào ngực Felix Đỏ, làm hắn ngã ngửa xuống cầu thang.

    Không còn gậy, Kaz dang rộng hai tay.

    Inej một lần nữa nghĩ đến ảo thuật gia.

    Không có gì trong tay áo tôi.

    Ba tên Cặn Bã khác phóng qua người Felix Đỏ để lao vào anh - Milo, Gorka, và Beatle mảnh khảnh với cái mặt choắt và mái tóc bóng lộn.

    Inej chỉ chớp mắt một cái là Milo đã đẩy Kaz vào tường, đấm liên hồi vào mạng sườn và mặt anh.

    Kaz ngửa đầu ra sau rồi đập trán vào mặt Milo, tạo ra một tiếng rắc rợn người.

    Hắn loạng choạng, và Kaz lập tức tận dụng ưu thế.

    Tuy vậy, đối phương quá đông đảo, lúc này anh chỉ chiến đấu bằng nắm đấm, máu tuôn chảy ở một bên mặt, môi anh bị rách, mắt trái sưng vù.

    Chuyển động của anh bị chậm lại.

    Gorka dùng tay kẹp cổ Kaz.

    Anh thúc cùi chỏ vào bụng hắn và thoát ra.

    Anh lao tới, nhưng bị Beatle nắm vai, quật một phát dùi cui vào bụng.

    Kaz gập người lại, hộc ra máu.

    Gorka dùng một sợi xích nặng đánh vào đầu anh.

    Inej có thể thấy mắt Kaz trợn ngược.

    Anh lảo đảo, rồi gục xuống sàn.

    Đám người đứng dưới tiền sảnh reo hò.

    Inej hành động trước khi kịp suy nghĩ.

    Cô không thể đứng nhìn anh chết.

    Cô sẽ không làm thế.

    Chúng đã đánh gục được anh, hết đá lại giẫm đạp anh bằng những đôi giày nặng chịch.

    Các con dao đã nằm trong tay cô.

    Cô sẽ giết tất cả.

    Cô sẽ chất thi thể thành đống để các thị tuần dễ tìm.

    Nhưng vào khoảnh khắc ấy, qua khe hở của lan can cầu thang, cô thấy anh mở mắt ra.

    Ánh mắt anh bắt gặp mắt cô.

    Anh đã biết cô ở đây từ nãy đến giờ.

    Tất nhiên rồi.

    Anh luôn biết cách tìm cô.

    Anh khẽ lắc cái đầu máu me của mình.

    Cô muốn thét lên.

    Quỷ tha ma bắt lòng kiêu hãnh của anh, quỷ tha ma bắt cái băng Cặn Bã lẫn toàn bộ cái đô thị khốn cùng nàỵ.

    Kaz cố gượng dậy.

    Beatle đá anh ngã xuống.

    Chúng lại cười hô hố.

    Gorka nhấc chân lên, dứ dứ đế giày trên đầu Kaz để đùa cợt với đám đông.

    Inej thấy Pim quay mặt đi, trong khi Anika và Keeg kêu gọi những người khác ngăn bọn chúng lại.

    Gorka giậm chân xuống… và rồi thét lên một tiếng đinh tai nhức óc.

    Kaz đang nắm chiếc giày của Gorka, nhưng bàn chân hắn đã bị quẹo đi theo một góc đáng sợ.

    Hắn nhảy loi choi trên cái chân còn lại, cố gắng giữ thăng bằng, tiếng thét dị hợm vang lên theo nhịp nhảy.

    Milo và Beatle đá mạnh vào sườn Kaz, nhưng anh không nao núng.

    Với một sức mạnh mà Inej không tưởng tượng nổi, anh bẻ quặt chân của Gorka lên cao.

    Tên to xác thét lên khi bị trật khớp gối.

    Hắn nghiêng người loạng choạng, miệng lắp bắp, “Chân của tôi!

    Chân của tôi!”

    “Mày nên chống gậy đi là vừa,” Kaz đáp.

    Nhưng Inej chỉ nhìn thấy con dao trong tay Milo, dài và sáng loá.

    Có vẻ như nó là thứ sạch nhất trên người hắn.

    “Đừng có giết nó, thằng mập kia!”

    Haskell rống lên, hẳn vẫn đang nghĩ đến món tiền thưởng.

    Nhưng Milo đã không còn nghe nữa rồi.

    Hắn nhấc dao lên rồi đâm xuống ngực Kaz.

    Ở giây cuối cùng, Kaz kịp xoay người né tránh.

    Con dao cắm vào lớp ván gỗ với một tiếng phập lớn.

    Milo nắm cán dao để lôi ra, nhưng Kaz đã nhanh hơn.

    Inej trông thấy hai cây đinh gỉ được anh giấu giữa các ngón tay - không hiểu làm thế nào anh đã rút được chúng từ cái cán rìu gắn đinh.

    Anh vung tay từ dưới lên, cắm đinh trúng cổ Milo, ấn chúng vào khí quản của hắn.

    Milo rú lên một tiếng tắc nghẹn trước khi ngã xuống.

    Kaz bám vào lan can đứng dậy.

    Beatle giơ hai tay lên, như thể đã quên hắn vẫn còn cây dùi cui trong khi Kaz không có vũ khí.

    Kaz túm một nắm tóc của Beatle, kéo đầu hắn lùi lại, trước khi giáng mạnh nó vào lan can.

    Âm thanh vang lên nghe như tiếng súng.

    Đầu Beatle bật lại như một quả bóng cao su.

    Hắn nằm một đống.

    Kaz dùng ống tay áo lau mặt, khiến máu dây ra khắp mũi và trán, rồi nhổ nước bọt.

    Anh chỉnh lại găng tay, nhìn xuống Per Haskell lúc này đang đứng ở chiếu nghỉ tầng hai, và mỉm cười.

    Răng anh ướt đẫm máu đỏ.

    Đám đông bên dưới đông hơn hẳn so với lúc cuộc ẩu đả bắt đầu.

    Kaz nhún vai.

    “Tiếp theo là ai?”

    Anh hỏi, như thể đang có một cuộc hẹn ở đâu đó.

    “Ai nào?”

    Inej không hiểu làm thế nào anh có thể giữ cho giọng mình không run rẩy như vậy.

    “Đây là điều tôi làm hằng ngày.

    Chiến đấu.

    Lần cuối cùng các người thấy Per Haskell nhận một cú đấm hay cầm đầu một phi vụ là khi nào?

    Trời ạ, lần cuối cùng các người thấy ông ta rời giường trước mười hai giờ trưa là khi nào?”

    “Mày nghĩ bọn tao sẽ hoan hô vì mày lì đòn à?”

    Per Haskell chế nhạo.

    “Nó không bù đắp được cho tai hoạ mà mày đã gây ra.

    Kéo lực lượng thị tuần vào Barrel, bắt cóc con trai của một thương gia…”

    “Tôi đã nói rồi, tôi không liên quan trong chuyện đó,” Kaz nói.

    “Pekka Rollins lại nói khác.”

    “Hoá ra ông tin lời của băng Kim Sư hơn người của mình.

    Biết được như vậy cũng tốt.”

    Tiếng xầm xì khó chịu vang lên trong đám đông bên dưới như một cơn gió làm xôn xao đám lá cây.

    Băng nhóm là người nhà của bạn, sự gắn bó cũng mạnh mẽ như máu thịt.

    “Mày quá điên nên mới đi ngáng đường một thương gia, Brekker à.”

    “Quá điên,” Kaz công nhận.

    “Nhưng không quá ngu.”

    Giờ thì một số thành viên trong băng Cặn Bã đang lẩm bẩm trao đổi với nhau, như thể chúng đã không nghĩ đến việc Van Eck có thể dựng chuyện.

    Dĩ nhiên rồi.

    Van Eck uy tín mà.

    Việc gì một thương gia đáng kính lại phải đi vu khống một thằng ranh con kia chứ?

    Mà xét cho cùng, Kaz đã nhiều lần cho thấy anh có thể làm bất cứ chuyện gì.

    “Mày đã bị bắt gặp trên cầu Thiện Nữ cùng với vợ của lão thương gia,” Per Haskell khăng khăng.

    “Vợ, chứ không phải con trai ông ta.

    Cô vợ hiện đang an toàn ở nhà, bên cạnh đức ông chồng kẻ cắp, đan móc và trò chuyện với chim.

    Hãy suy nghĩ đi, Haskell.

    Tôi có thể dùng một thằng thiếu gia vào việc gì đây?”

    “Mua chuộc, tống tiền…”

    “Tôi ngáng đường Van Eck bởi vì ông ta ngáng đường tôi, và giờ ông ta đang huy động bọn tội phạm ở Ketterdam này, cùng với Pekka Rollins và tất cả bọn ông để san bằng tỉ số.

    Đơn giản là thế.”

    “Tao không đòi cái hoạ này, nhóc à.

    Không yêu cầu và cũng không muốn nó.

    “Ông muốn mọi thứ được tôi dâng tận cửa cho ông, Haskell.

    Ông lẽ ra vẫn đang làm những trò mánh mung vặt vãnh và uống whiskey pha loãng nếu không có tôi.

    Những bức tường này đáng lẽ đã đổ ụp lên đầu ông.

    Ông đã nhận mọi khoản tiền và vận may mà tôi mang lại.

    Ông ngoạm hết những khoản lợi nhuận của Cảng số Năm và Quạ Đen như thể có toàn quyền làm thế, nhường tôi làm những công việc bẩn thỉu và đánh đấm thay ông.”

    Ánh mắt anh chậm rãi lướt trên những tên đàn em trong băng Cặn Bã bên dưới.

    “Ông lợi dụng tất cả mọi người.

    Ông hưởng lợi từ các chiến lợi phẩm.

    Và ngay khi có cơ hội đầu tiên, ông về hùa với Pekka Rollins để đưa tôi lên giá treo cổ.”

    Tiếng xì xầm lại vang lên từ phía những kẻ chứng kiến.

    “Nhưng tôi không giận đâu.”

    Phải có đến hai mươi thành viên băng Cặn Bã đang ngước nhìn Kaz, tất cả đều có vũ khí, nhưng Inej dám thề là cô cảm nhận được sự nhẹ nhõm của họ.

    Và rồi cô hiểu ra.

    Đánh đấm chỉ là màn mở đầu.

    Ai cũng biết Kaz rất cứng cỏi.

    Họ không cần anh chứng minh điều đó.

    Đây chính là điều anh cần.

    Để kích động một cuộc lật đổ Per Haskell, anh phải đích thân gặp riêng từng người trong băng Cặn Bã, một việc mất thời gian và khiến anh có nguy cơ bị bắt giữ trên phố.

    Còn bây giờ, anh đã có một đám đông, Per Haskell lại rất khoái trá trước trò tiêu khiển - hồi kết bi thảm của Kaz Brekker, vở kịch Tay Nhám hèn mọn.

    Nhưng đây không phải một màn tấu hài rẻ tiền.

    Nó là một nghi lễ đẫm máu, và Per Haskell đã để cho mọi người tập hợp lại, không mảy may biết rằng vở diễn thực sự chưa diễn ra.

    Kaz đang đứng trên bục thuyết giảng với thương tích đầy mình, nhưng anh đã sẵn sàng để thuyết phục.

    “Tôi không tức giận,” Kaz lặp lại.

    “Về chuyện đó thì không.

    Nhưng ông có biết điều gì làm tôi điên tiết không?

    Nhìn thấy một con quạ làm theo lệnh của bọn Kim Sư.

    Nhìn các ông diễu hành phía sau Pekka Rollins như thể đó là một việc đáng tự hào.

    Một trong số những băng đảng đáng gờm nhất Barrel lại cúi rạp như bó hoa huệ mới cắt.”

    “Rollins rất mạnh, nhóc,” Per Haskell đáp.

    “Nguồn lực khắp nơi.

    Chừng nào mày tích luỹ thêm vài năm kinh nghiệm thì hẵng lên mặt dạy đời tao.

    Nhiệm vụ của tao là bảo vệ băng nhóm này, và đó là điều tao làm.

    Tao giữ cho mọi người bình an trước sự bạt mạng của mày.”

    “Ông nghĩ mình sẽ an toàn khi luồn cúi trước Pekka Rollins hả?

    Ông nghĩ lão ta sẽ vui sướng tuân thủ thoả thuận đình chiến này à?

    Ông nghĩ lão ta không hau háu trước thứ ở trong tay ông sao?

    Đó có phải Pekka

    Rollins mà mọi người biết hay không?”

    “Còn khướt,” Anika đáp.

    “Các người muốn ai đứng trên ngưỡng cửa đó khi con sư tử đói mồi?

    Một con quạ?

    Hay một con gà trống kêu quang quác và đi khệnh khạng, sẵn sàng về hùa với bọn Kim Sư và một lão thương gia đê tiện nào đó để chống lại người của mình?”

    Từ chỗ của cô, Inej có thể thấy những kẻ đứng gần Per Haskell nhất khẽ dịch người ra xa lão ta.

    Một số xem xét lão từ chiếc lông trên mũ tới hai cây gậy chống trong tay - cây gậy của Kaz mà chúng đã thấy anh sử dụng với sự chuẩn xác khủng khiếp và cây gậy nhái với cái đầu quạ giả mà Haskell đặt làm để chế nhạo anh.

    “Ở Barrel, chúng ta không bán chác sự an toàn,” Kaz nói, giọng nói trầm khàn vang vọng khắp đám đông.

    “Chỉ có sức mạnh và sự yếu đuối.

    Các cậu không yêu cầu sự tôn trọng được đâu.

    Các cậu phải đoạt lấy nó.”

    Anh không yêu cầu sự tha thứ được đâu.

    Anh phải đoạt lấy nó.

    Anh đã mượn câu nói của cô.

    Inej khẽ mỉm cười.

    “Tôi không phải là bạn của các cậu,” anh nói.

    “Tôi không phải là cha của các cậu.

    Tôi sẽ không đãi rượu hay vỗ vai và gọi các cậu là con.

    Nhưng tôi sẽ giữ cho tiền ở trong túi của các cậu.

    Rồi sẽ làm cho địch thủ e sợ đến nỗi bỏ chạy khi nhìn thấy hình xăm đó trên tay các cậu.

    Vậy các cậu muốn thấy ai trên ngưỡng cửa đó khi

    Pekka Rollins xuất hiện?”

    Sự im lặng phình ra như thể đang ních căng bụng viễn cảnh bạo lực.

    “Sao nào?”

    Per Haskell lắp bắp, ưỡn ngực ra.

    “Trả lời nó đi.

    Mấy đứa muốn một thủ lĩnh thực thụ hay một thằng thọt không thể đi thẳng hàng?”

    “Có thể tôi không đi thẳng hàng được,” Kaz đáp.

    “Nhưng ít ra tôi không bỏ chạy khi bị đánh.”

    Anh nhìn xuống cầu thang.

    Varian đã đứng dậy sau cú ngã.

    Mặc dù còn loạng choạng, hắn vẫn di chuyển về phía cầu thang, và Inej phải thán phục sự trung thành mà hắn dành cho Haskell.

    Pim rời khỏi bức tường và chặn Varian lại.

    “Mày xong rồi,” anh nói.

    “Gọi người của Rollins đi,” Per Haskell ra lệnh cho Varian.

    “Báo động đi!”

    Nhưng Anika đã rút ra một con dao dài và đứng chặn ngay cửa ra vào.

    “Ông là người của Kim Sư?”

    Cô hỏi.

    “Hay của Cặn Bã?”

    Thật từ tốn, với cái chân tập tễnh nhưng lưng thẳng băng, Kaz đi xuống đợt cầu thang cuối cùng, dựa vào hàng lan can.

    Khi anh xuống đến nơi, đám đông tản ra.

    Khuôn mặt xấu xí của Haskell đỏ au vì sợ hãi và tức giận.

    “Mày sẽ không sống sót nổi đâu, Kaz.

    Để thắng được Pekka Rollins, mày cần nhiều hơn những gì mày có.”

    Kaz giật cây gậy chống của anh từ tay lão già.

    “Ông có hai phút để cuốn gói khỏi nhà của tôi.

    Cái giá của thành phố này là máu,” Kaz nói, “và tôi rất sẵn lòng thanh toán bằng máu của ông.”

    12

    JESPER

    Jesper chưa bao giờ thấy Kaz máu me và bầm dập đến thế - mũi gãy, môi rách, một mắt sưng không mở được.

    Anh ôm mạng sườn theo kiểu khiến Jesper nghĩ ít nhất phải có một cái xương sườn đã bị gãy, và khi anh ho vào chiếc khăn tay, Jesper thấy vết máu trên nền vải trắng trước khi nó bị nhét trở vào trong túi.

    Anh đi khập khiễng hơn bao giờ, nhưng có Anika và Pim đi cùng anh.

    Dường như họ đã để lại một nhóm trụ cột có vũ trang ở Thanh Gỗ phòng trường hợp Pekka nghe được về cuộc lật đổ của Kaz và quyết định tiến chiếm lãnh địa.

    “Thánh thần ơi,” Jesper thốt lên.

    “Tôi đoán mọi chuyện đã diễn ra tốt đẹp?”

    “Cũng gần như mong đợi.”

    Matthias lắc đầu với vẻ mặt pha trộn giữa sự ngưỡng mộ và khó tin.

    “Cậu có bao nhiêu mạng vậy, demjin?”

    “Còn một mạng nữa, tôi hi vọng thế.”

    Kaz đã xoay xở cởi được áo khoác và áo sơ mi, giờ anh đang tựa vào bồn rửa trong phòng tắm.

    “Vì các thánh, hãy để tôi giúp anh,” Nina lên tiếng.

    Kaz dùng răng cắn một đầu dải băng và xé một mảnh.

    Tôi không cần sự giúp đỡ của cô.

    Tiếp tục lo cho ông Colm đi.

    “Anh ta bị sao vậy?”

    Nina lẩm bẩm trong lúc họ quay lại phòng khách

    để giúp ông Colm ôn luyện câu chuyện vỏ bọc của mình.

    “Anh ta luôn là thế,” Jesper đáp.

    “Kaz Brekker mà.”

    •••

    Hơn một tiếng đồng hồ sau, Inej vào phòng và đưa cho Kaz một mảnh giấy.

    Trời đã về chiều, các cửa sổ của dãy phòng hạng sang ngập trong ánh nắng vàng.

    “Họ có đến không?”

    Nina hỏi.

    Inej gật đầu.

    “Em đã đưa lá thư của chị cho người gác cửa, và mọi việc ổn thỏa.

    Họ dẫn em thẳng tới chỗ hai thành viên của Tam Đại Grisha.”

    “Cô đã gặp ai?”

    Kaz hỏi.

    “Genya Safin và Zoya Nazyalensky.”

    Wylan chồm người tới trước.

    “Thợ May á?

    Chị ta đang ở toà đại sứ sao?”

    Kaz nhướn mày.

    “Một tình tiết thú vị, nhưng cô lại quên đề cập đến, Nina.”

    “Thời điểm đó chưa phù hợp.”

    “Tất nhiên là có!”

    Wylan giận dữ đáp lại.

    Jesper khá bất ngờ với phản ứng của cậu thiếu gia.

    Lúc đầu Wylan dường như không thấy phiền khi mang diện mạo của Kuwei.

    Cậu có vẻ còn chào đón khoảng cách mà nó tạo ra với cha mình.

    Nhưng đó là trước khi họ đi đến Thánh Hilde.

    Và trước khi anh hôn Kuwei.

    Nina hơi nhăn mặt.

    “Wylan, tôi nghĩ cậu đằng nào cũng đi Ravka.

    Cậu sẽ được gặp Genya ngay khi chúng ta lên tàu.”

    “Giờ chúng ta đã biết lòng trung thành của Nina nằm ở đâu,” Kaz lên tiếng.

    “Tôi không hề kể về Kuwei với Tam Đại Grisha.”

    Một nụ cười nhạt xuất hiện trên môi Kaz.

    “Đúng như tôi đã nói.”

    Anh quay sang phía Inej.

    “Cô có trình bày các điều kiện của chúng ta không?”

    “Có, họ sẽ có mặt tại nhà tắm khách sạn trong vòng một giờ tới.

    Tôi đã nhắc họ bảo đảm không bị ai nhìn thấy khi đi vào.”

    “Hãy hi vọng là họ có thể làm điều đó,” Kaz nói.

    “Họ có thể điều hành một đất nước,” Nina đáp.

    “Họ có thể xoay sở vài yêu cầu vặt vãnh.”

    “Họ có an toàn khi đi ra đường không?”

    Wylan hỏi.

    “Họ có lẽ là những Grisha duy nhất được an toàn ở Ketterdam,” Kaz đáp.

    “Ngay cả nếu như bọn Shu cả gan truy lùng các Grisha trở lại, chúng cũng không bắt đầu từ hai quan chức cao cấp của Ravka.

    Nina, Genya có đủ năng lực để phục hồi diện mạo cho Wylan không?”

    “Tôi không biết,” Nina đáp.

    “Chị ấy được mệnh danh là Đệ Nhất Thợ May, và chắc chắn là người tài giỏi nhất, nhưng không có parem thì…”

    Cô không cần phải giải thích thêm.

    Parem là lí do duy nhất khiến cho Nina có thể hoàn tất sự biến đổi kì diệu từ Wylan thành Kuwei.

    Nhưng Genya Safin là một huyền thoại.

    Mọi chuyện đều có thể.

    “Kaz,” Wylan vừa nói vừa mân mê vạt áo.

    “Nếu chị ấy sẵn lòng thử…”

    Kaz gật đầu.

    “Nhưng cậu sẽ phải cẩn trọng gấp đôi cho tới buổi đấu giá.

    Cha cậu chắc chắn không muốn cậu xuất hiện và phá hỏng mưu kế mà ông ta đã dùng để lừa Hội đồng Thương buôn cũng như các thị tuần.

    Tốt hơn hết cậu nên chờ đợi…”

    “Không,” Wylan đáp.

    “Tôi chán làm người khác rồi.”

    Kaz nhún vai, nhưng Jesper có cảm giác như anh ta đã đạt được chính xác điều mình muốn.

    Chí ít trong trường hợp này thì nó cũng là điều Wylan muốn.

    “Nhà tắm khách sạn không có khách nào sao?”

    Jesper thắc mắc.

    “Tôi đã đặt trước toàn bộ chỗ đó cho ngài Rietveld,” Nina đáp.

    “Ông ấy rất e ngại việc thoát y trước mặt người khác.

    Jesper rên lên.

    “Làm ơn đừng nói tới chuyện bố tôi cởi đồ.”

    “Do cái chân có màng của ông ấy,” Nina nói tiếp.

    “Ngại lắm.”

    “Nina và Matthias sẽ ở lại đây,” Kaz nói.

    “Tôi nên có mặt ở đó,” Nina phản đối.

    “Cô là người Ravka, hay là thành viên của nhóm chúng ta?”

    “Cả hai.”

    “Đó.

    Cuộc nói chuyện này vốn đã đủ phức tạp rồi, không cần cô và Matthias ở đó để làm mọi thứ rối thêm.”

    Hai người lời qua tiếng lại một lúc rồi cuối cùng Nina cũng đồng ý ở lại nếu Inej là người đi thay cô.

    Nhưng Inej chỉ lắc đầu.

    “Em không muốn đi.”

    “Tại sao?”

    Nina hỏi lại.

    “Phải có ai đó để bắt Kaz giữ lời.”

    “Và chị nghĩ em làm được điều đó?”

    “Thì ít ra cũng phải cố chứ.”

    “Em rất quý chị, Nina, nhưng chính quyền Ravka đối xử với người Suli không mấy hữu hảo.

    Em không thích nói chuyện phiếm với những người lãnh đạo đất nước.”

    Jesper chưa bao giờ nhìn nhận câu chuyện theo góc độ đó, và dựa trên vẻ mặt kinh ngạc của Nina thì cô cũng thế.

    Inej ôm chầm lấy Nina.

    “Thôi nào,” Inej nói tiếp.

    “Em sẽ bảo bác Colm gọi cho chúng ta thứ gì đó ngon đê mê.”

    “Đó là câu trả lời của em cho mọi thứ.”

    “Chị phàn nàn à?”

    Inej hỏi.

    “Chị chỉ đang kể một trong những lí do khiến chị thích em thôi.”

    Hai người tay trong tay đi tìm ông Colm, nhưng Nina vẫn đang cắn môi dưới một cách căng thẳng.

    Cô đã quen với việc bị Matthias chỉ trích đất nước mình, nhưng Jesper đoán việc bị Inej nói ra những lời như vậy khiến cô đau hơn.

    Anh muốn nói với Nina rằng người ta có thể yêu thương thứ gì đó mà vẫn nhìn thấy những khiếm khuyết của nó.

    Ít nhất thì anh cũng hi vọng điều đó là sự thật, nếu không thì anh tiêu rồi.

    Khi họ chia nhóm để chuẩn bị cho cuộc gặp với phía Ravka, Jesper đi theo Wylan ra hành lang.

    “Này.”

    Wylan tiếp tục đi.

    Jesper chạy vượt lên và chặn đường cậu, vừa đi giật lùi vừa nói.

    “Nghe này, chuyện với Kuwei không có gì đâu.”

    Anh cố gắng nói tiếp.

    “Không có chuyện gì với Kuwei hết.”

    “Anh không cần phải giải thích.

    Tôi mới là người đã xen vào.”

    “Không, không phải!

    Lúc ấy Kuwei đang ngồi chơi dương cầm.

    Đó là một sai lầm có thể thông cảm được.”

    Wylan dừng phắt lại.

    “Anh tưởng đó là tôi?”

    “Phải!”

    Jesper nói.

    “Thấy chưa?

    Chỉ là một s…”

    Đôi mắt vàng của Wylan loé lửa.

    “Anh thực sự không thể phân biệt nổi

    bọn tôi?”

    “Tôi…

    ý tôi là, thường thì tôi có thể, nhưng…”

    “Chúng tôi đâu có giống nhau,” Wylan bực bội nói.

    “Cậu ta thậm chí còn không giỏi khoa học!

    Phân nửa cuốn sổ của cậu ta toàn những hình vẽ nguệch ngoạc.

    Chủ yếu là vẽ anh.

    Và chúng cũng chẳng đẹp đẽ gì.”

    “Thật á?

    Cậu ta vẽ tôi?”

    Wylan đảo mắt.

    “Thôi quên đi.

    Anh có thể hôn bất kì ai anh thích, Jesper ạ.”

    “Đúng.

    Và thường xuyên nhất có thể.”

    “Vậy vấn đề ở đây là gì?”

    “Không có gì, chỉ là tôi muốn đưa cậu cái này.”

    Anh đặt một mảnh vải nhỏ hình bầu dục vào tay Wylan.

    “Tôi đã lấy nó lúc chúng ta ở Thánh Hilde.

    Tôi nghĩ nó có thể hữu ích trong trường hợp

    Genya tìm cách đưa cậu trở lại với diện mạo thiếu gia trước đây.”

    Wylan nhìn trân trối mảnh vải.

    “Mẹ tôi vẽ cái này sao?”

    “Nó ở trong căn phòng chất đầy tác phẩm của bà ấy.”

    Nó là một bức vẽ nhỏ, không được đóng khung: chân dung của cậu bé Wylan ở độ tuổi lên tám.

    Wylan co ngón tay chạm vào mép bức vẽ.

    “Đây là cách mà mẹ nhớ về tôi.

    Bà chưa bao giờ được nhìn thấy tôi lớn lên.”

    Cậu nhíu mày.

    “Nó cũ lắm rồi.

    Tôi không biết nó có hữu ích hay không.”

    “Vẫn là cậu thôi mà,” Jesper nói.

    “Vẫn những lọn tóc xoăn, vẫn là nếp nhăn lo lắng giữa hai hàng lông mày.”

    “Và anh đã lấy cái này vì nghĩ nó có thể hữu ích?”

    “Tôi đã nói rồi, tôi thích khuôn mặt ngốc nghếch của cậu.

    Wylan gục đầu, nhét bức vẽ vào trong túi.

    “Cảm ơn anh.”

    “Ờ.”

    Jesper ngập ngừng.

    “Nếu cậu đi xuống nhà tắm, tôi có thể đi với cậu.

    Nếu cậu muốn.”

    Wylan lo lắng gật đầu.

    Tâm trạng vui vẻ của Jesper kéo dài suốt chặng đường đi đến chỗ thang máy, nhưng ngay khi họ nhập bọn với Kaz và đi xuống tầng ba, đầu óc anh bắt đầu căng như dây đàn.

    Họ có thể đang bước chân vào một cái bẫy, mà Kaz lại không ở trong tình trạng sức khoẻ phù hợp để chiến đấu.

    Một phần trong Jesper hi vọng phía Ravka sẽ nói không với kế hoạch điên rồ này.

    Thế là Kaz sẽ bị cản trở, và cho dù cả bọn có bị tống vào Cổng Địa Ngục hay bị treo cổ, bố anh cũng sẽ có cơ hội thoát khỏi chuyện này một cách an toàn.

    Ông Colm đã dành nhiều giờ ôn bài với Nina và Kaz, tập dượt các kịch bản khác nhau, đương đầu với những câu chất vấn bất tận lẫn châm chọc của họ mà không hề phàn nàn.

    Bố của Jesper không giỏi diễn xuất, và ông nói dối cũng tệ như anh múa ballet.

    Nhưng Nina sẽ đi cùng ông.

    Như vậy còn hơn là không có ai.

    Cửa thang máy mở ra, họ bước vào một hành lang rộng rãi ngập trong sắc tím và trắng, sau đó đi theo tiếng nước chảy đến một gian phòng có một hồ bơi tròn ở giữa, bao quanh bởi những vòm cửa.

    Qua chúng, Jesper có thể trông thấy nhiều hồ bơi và thác nước, bể nhỏ và hốc tường, tất cả các bề mặt đều được trang trí bằng gạch lam lấp lánh.

    Cái này thì anh làm quen được: những hồ nước nóng, vòi nước phun nhảy nhót tung bọt như khách khứa dự tiệc, những chồng khăn và xà phòng toả hương thơm ngọt ngào.

    Một nơi như thế này giống như thuộc về Barrel, nơi nó được tán thưởng nhiệt liệt, chứ không phải giữa khu Tài chính.

    Họ được thông báo sẽ gặp gỡ với hai trong ba vị Tam Đại Grisha, nhưng bên hồ bơi có ba người đang đứng.

    Jesper đã biết cô gái một mắt mặc áo kefta hai màu đỏ và lam là Genya Safin, như vậy cô gái tuyệt mĩ có suối tóc đen tuyền kia là Zoya Nazyalensky.

    Đi cùng họ là một người đàn ông mặt cáo ngoài hai mươi tuổi, trên người khoác áo choàng mầu xanh két, tay đi đôi găng da nâu, hông giắt một bộ súng Zemeni ấn tượng.

    Nếu Ravka toàn những người ngầu như thế này thì có lẽ Jesper sẽ cân nhắc chuyện tới thăm đất nước này.

    “Chúng tôi đã bảo các Grisha đi một mình,” Kaz nói.

    “Tôi e rằng chuyện đó là không thể,” người đàn ông đáp.

    “Mặc dù Zoya là người có quyền năng đáng gờm, năng lực ngoại hạng của Genya không phù hợp với một cuộc giao chiến.

    Tôi thì ngược lại, rất thích hợp với mọi hình thức đối đầu, đặc biệt là cận chiến.”

    Đôi mắt Kaz nheo lại.

    “Sturmhond.”

    “Cậu ta biết tôi kìa!”

    Sturmhond reo lên, và huých cùi chỏ vào Genya.

    “Tôi đã bảo cô rồi, tôi nổi tiếng mà.”

    Zoya thở hắt ra.

    “Cảm ơn.

    Giờ thì anh ta sẽ trở nên khó chịu gấp đôi.”

    “Sturmhond đã được cho phép thương lượng nhân danh vương triều của Ravka,” Genya nói.

    “Một hải tặc sao?”

    Jesper hỏi.

    “Thuyền trưởng,” Sturmhond chỉnh lại.

    “Không thể có chuyện nhà vua đích thân tham gia một cuộc đấu giá như thế này.”

    “Tại sao không?”

    “Bởi vì ngài có thể thua.

    Mà vua thua thì không hay chút nào.”

    Jesper không thể tin mình đang nói chuyện với Sturmhond lừng lẫy.

    Tay thuyền trưởng là một huyền thoại.

    Nhân danh Ravka, anh ta đã phá vô số cuộc vây hãm, và theo lời đồn thì…

    “Có thật là anh có một con tàu bay được không?”

    Jesper buột miệng hỏi.

    “Không.”

    “Ồ.”

    “Tôi có vài con tàu.”

    “Hãy đưa tôi đi với anh.”

    Kaz không hề tỏ ra ấn tượng.

    “Nhà vua của Ravka để anh bàn chuyện quốc gia đại sự thay cho ông ta sao?”

    Anh hỏi với giọng hoài nghi.

    “Thỉnh thoảng thôi,” Sturmhond đáp.

    “Nhất là khi có những nhân vật khó ưa tham gia.

    Cậu nổi tiếng lắm đó, Brekker.”

    “Anh cũng vậy.”

    “Tốt thôi.

    Vậy coi như chúng ta đều có quyền thấy tên tuổi mình được bàn tán trong những cộng đồng bất hảo nhất.

    Nhà vua sẽ không mù quáng lôi Ravka vào mưu đồ của cậu.

    Nina nhắn rằng các cậu đang có Kuwei Yul-Bo trong tay.

    Tôi muốn một sự xác nhận về điều đó, và tôi muốn biết chi tiết kế hoạch của cậu.”

    “Được thôi,” Kaz đáp.

    “Chúng ta vào trong nhà tắm nắng nói chuyện đi.

    Tôi không thích chảy mồ hôi trong bộ đồ này.”

    Khi những người khác dợm đi theo, Kaz dừng lại và liếc qua vai.

    Chỉ tôi và tay thuyền trưởng thôi.”

    Zoya hất mái tóc huyền tuyệt đẹp ra sau và nói.

    “Bọn tôi là Tam Đại Grisha.

    Bọn tôi không nhận lệnh từ một thằng đầu trộm đuôi cướp tóc xấu òm người Kerch.”

    “Tôi có thể biến nó thành một câu hỏi nếu điều đó khiến chị bớt xù lông nhím,” Kaz nói.

    “Láo toét…”

    “Zoya,” Sturmhond nói với giọng mềm mỏng.

    “Đừng làm mất lòng những người bạn mới của chúng ta trước khi họ có cơ hội phản lại chúng ta.

    Xin mời đi trước, cậu Brekker.”

    “Kaz,” Wylan lên tiếng.

    “Anh không thể…”

    “Tự xoay sở đi, thiếu gia.

    Đã đến lúc cậu học rồi.”

    Kaz biến vào trong hành lang cùng với Sturmhond.

    Khi tiếng bước chân của họ lắng xuống, im lặng ngự trị.

    Wylan hắng giọng, và âm thanh đó lồng lộng khắp gian phòng lát gạch lam như con ngựa non được thả rông trong bãi chăn.

    Genya khoái trá ra mặt.

    Zoya khoanh tay lại.

    “Thế nào?”

    “Thưa…”

    Wylan cố gắng nói.

    “Thưa chị Genya…”

    Genya mỉm cười, những vết sẹo nơi khoé miệng giật giật.

    “Ồ, cậu bé thật dễ thương.”

    “Cô lúc nào cũng mủi lòng với những đứa trời ơi đất hỡi,” Zoya châm chọc.

    “Cậu là thằng bé mà Nina đã chỉnh sửa cho giống với Kuwei,” Genya nói.

    “Và cậu muốn tôi đảo ngược chuyện đó?”

    “Vâng ạ,” Wylan nói với cả một bầu trời hi vọng.

    “Nhưng tôi không có gì để mặc cả.”

    Genya đảo tròn con mắt độc nhất màu hổ phách.

    “Sao người Kerch cứ quan trọng chuyện tiền nong thế nhỉ?”

    “Lời nhận xét của người đến từ một đất nước mạt vận,” Jesper lẩm bẩm.

    “Cậu nói cái gì?”

    Zoya vặc lại.

    “Có gì đâu,” Jesper đáp.

    “tôi chỉ nói Kerch là một đất nước mạt hạng

    về mặt đạo đức thôi mà.”

    Zoya nhìn anh từ đầu đến chân như thể đang cân nhắc chuyện quẳng anh xuống bể nước rồi luộc sống.

    “Nếu cô muốn phí thời gian và năng lực vào mấy thằng ranh này thì cứ việc.

    Tụi nó có kha khá thứ cần được dạy dỗ đấy.”

    “Zoya…”

    “Tôi sẽ đi tìm một căn phòng tối có hồ bơi đủ sâu và cố gắng gột rửa bụi bẩn của cái chốn này.”

    “Đừng có chìm lỉm nhé,” Genya gọi với theo trong khi Zoya bỏ đi, rồi nói tiếp với giọng hoài nghi.

    “Dám cô ấy sẽ làm điều ngược lại lắm.”

    Chị đưa mắt xem xét Wylan.

    “Chuyện này sẽ khó đây.

    Giá như tôi biết cậu trước khi thay đổi…”

    “Đây ạ,” Wylan hổ hởi nói.

    “Tôi có một bức chân dung.

    Nó lâu rồi, nhưng…”

    Genya cầm lấy bức vẽ nhỏ từ tay Wylan.

    “Và đây nữa,” Wylan đưa cho chị tờ cáo thị treo thưởng cho người đưa cậu về nhà an toàn.

    “Hừm, ta tìm chỗ nào sáng sủa hơn đi.”

    Họ dò dẫm đi quanh khu vực, thò đầu vào những căn phòng đầy bể tắm bùn, tắm sữa, và một căn phòng được khảm ngọc thạch toàn bộ.

    Cuối cùng họ vào trong một căn phòng mát rượi màu trắng, sát tường có một bể đựng đầy đất sét phảng phất mùi lạ, và cửa sổ trải dài suốt bức tường đối diện.

    “Kiếm một cái ghế đi,” Genya nói, “và đi lấy cho tôi hộp dụng cụ ở chỗ bể bơi chính.

    Nó khá nặng đấy.

    Cậu sẽ tìm thấy nó bên cạnh chỗ để khăn tắm.”

    “Chị mang theo cả dụng cụ cơ à?”

    Wylan hỏi lại.

    “Cô bé Suli đã đề nghị điều đó,” Genya đáp và phất tay ra hiệu cho hai cậu trai thi hành mệnh lệnh.

    “Cũng hống hách chẳng kém gì Zoya,” Jesper làu bàu trong lúc bỏ đi cùng Wylan.

    “Nhưng tai thính hơn!”

    Genya nói với theo.

    Jesper lấy hộp dụng cụ đặt cạnh bể bơi chính.

    Nó được thiết kế giống như một chiếc tủ nhỏ, với hai cánh được khoá bằng một móc gài cầu kì bằng vàng.

    Khi hai người quay trở lại phòng tắm đất sét, Genya ra hiệu cho Wylan ngồi cạnh cửa sổ, nơi có nhiều ánh sáng nhất, chị kê ngón tay dưới cằm cậu, chỉnh khuôn mặt nghiêng tới nghiêng lui.

    Jesper đặt hộp dụng cụ xuống.

    “Chị đang tìm gì vậy?”

    Anh hỏi.

    “Đường may.”

    “Đường may á?”

    “Cho dù năng lực của Thợ May tinh tế tới mức nào, cậu vẫn có thể nhìn thấy các đường may.

    Đó là nơi chi tiết này kết thúc và chi tiết khác bắt đầu.

    Tôi đang tìm kiếm các dấu vết của cấu trúc ban đầu.

    Bức chân dung có ích đấy.”

    “Không hiểu sao tôi căng thẳng quá,” Wylan nói.

    “Bởi vì chị ta có thể làm hỏng và khiến cậu trông giống như một con chồn lông xoăn à?”

    Genya nhướn một bên lông mày màu lửa.

    “Hay là chuột đồng nhỉ?

    “Không có gì đáng cười đâu,” Wylan nói.

    Cậu nhóc siết nắm đấm trên đùi chặt đến nỗi các khớp ngón tay trắng bệch ra.

    “Được rồi,” Genya nói.

    “Tôi có thể thử, nhưng tôi không hứa gì đâu.

    Năng lực của Nina gần như hoàn hảo.

    May thay, tôi cũng vậy.”

    Jesper mỉm cười.

    “Chị rất giống cô ấy.

    “Tôi nghĩ cậu phải nói rằng cô ấy giống tôi.”

    Genya bắt đầu bày dụng cụ ra.

    Nó cầu kì hơn nhiều so với bộ mà Jesper từng thấy Nina sử dụng, có những viên thuốc nhuộm và lọ bột màu, cùng nhiều hàng hộp thuỷ tinh đựng thứ trông giống như gel trong suốt.

    “Tế bào đấy,” Genya nói.

    “Với một ca như thế này, tôi cần thao tác với mô người.”

    “Kinh quá,” Jesper bình phẩm.

    “Có khi còn tệ hơn,” Genya nói.

    “ Tôi từng biết một phụ nữ chà nguyên bánh nhau thai lên mặt để được trẻ hơn.

    Đó là chưa nói tới chuyện mà chị ta làm với nước dãi khỉ.”

    “Mô người nghe hay ho phết,” Jesper chỉnh lại.

    “Tôi cũng nghĩ thế.”

    Genya xắn tay áo, và Jesper trông thấy những vết sẹo trên khuôn mặt cũng hiện diện trên bàn tay lẫn cánh tay của chị.

    Anh khong thể hình dung nổi thứ vũ khí nào đã làm da thịt chị ra nông nỗi này.

    “Cậu đang nhìn chòng chọc đấy,” Genya nói mà không buồn ngẩng lên.

    Jesper giật mình, má đỏ ửng.

    “Tôi xin lỗi.”

    “Không sao.

    Người ta thích nhìn.

    Chà, không phải lúc nào cũng vậy.

    Hồi tôi mới bị tấn công, không ai dám nhìn tôi.”

    Jesper nghe nói Genya từng bị tra tấn trong cuộc nội chiến Ravka, nhưng đó không phải là một chủ đề để tán gẫu.

    “Tôi không biết phải nhìn đi đâu,” anh thừa nhận.

    “Nhìn đâu tuỳ cậu.

    Chỉ cần yên lặng để tôi không phá hỏng cậu bé tội nghiệp này.”

    Genya bật cười trước vẻ mặt kinh hãi của Wylan.

    “Tôi đùa đấy.

    Nhưng ngồi yên nhé.

    Đây là một công việc chậm rãi, và cậu cần kiên nhẫn.”

    Chị nói đúng.

    Chuyện đó chậm đến nỗi Jesper không rõ có gì đang diễn ra hay không nữa.

    Lúc thì Genya đặt ngón tay bên dưới mắt Wylan hoặc trên mí mắt cậu, rồi lùi ra xa, kiểm tra những gì đã làm - dù theo những gì anh thấy thì chẳng có gì thay đổi cả.

    Lúc chị lại vươn tay lấy một cái hộp thuỷ tinh hoặc lọ bột màu, chấm một chút lên đầu ngón tay, rồi chạm vào khuôn mặt Wylan, và lùi lại.

    Sự chú ý của Jesper bắt đầu đi lang thang.

    Anh rảo bước quanh phòng, nhúng ngón tay xuống bể đất sét, đi tìm một cái khăn.

    Nhưng rồi khi nhìn Wylan ở một khoảng cách xa hơn, anh có thể thấy có gì đó đã thay đổi.

    “Thành công rồi!”

    Anh thốt lên.

    Genya lạnh lùng liếc anh.

    “Dĩ nhiên.”

    Thỉnh thoảng Genya dừng tay, duỗi người và đưa gương cho Wylan để cậu có thể nhìn xem mọi thứ có ổn hay không.

    Một giờ sau, tròng mắt của cậu nhóc đã chuyển từ màu vàng sang màu xanh lơ, và hình dáng con mắt cậu cũng thay đổi.

    “Cặp lông mày của cậu ấy nên sát nhau hơn một chút,” anh nhận xét trong lúc nhìn qua vai Genya.

    “Chỉ một chút thôi.

    Và lông mi dài hơn.”

    “Anh cũng để ý ghê nhỉ,” Wylan lẩm bẩm.

    Jesper nhoẻn cười.

    “Tôi có để ý mà.”

    “Ôi trời ơi, cậu ta đỏ mặt kìa,” Genya nói.

    “Tốt cho hệ tuần hoàn.”

    “Chị có dạy các Sáng Chế Gia tại Tiểu Điện không?”

    Wylan hỏi.

    Jesper nhíu mày.

    Sao cậu ấy lại khơi chuyện này ra?

    “Dĩ nhiên, có một trường học trong khuôn viên cung điện.”

    “Học viên đã lớn tuổi thì sao ạ?”

    Wylan hỏi dồn.

    “Một Grisha có thể được đào tạo ở mọi độ tuổi,” Genya đáp.

    “Alina Starkov phát hiện ra năng lực của mình khi đã mười bảy tuổi, và cô ấy… cô ấy là một trong những Grisha mạnh nhất từng tồn tại.”

    Genya ấn vào cạnh mũi bên trái của Wylan.

    “Khi cậu còn nhỏ thì dễ dàng hơn, nhưng cái gì mà chẳng như vậy.

    Trẻ con học ngoại ngữ dễ hơn.

    Chúng học toán cũng nhanh hơn.”

    “Và chúng không biết sợ,” Wylan khẽ bổ sung.

    “Những người khác sẽ dạy chúng về các giới hạn của bản thân.”

    Đôi mắt Wylan bắt gặp ánh mắt của Jesper qua vai Genya, và như thể thách thức anh lẫn bản thân, cậu nói tiếp, “tôi không biết đọc.”

    Làn da cậu nhóc lập tức đỏ ửng, nhưng giọng cậu vẫn vững vàng.

    Genya nhún vai và nói.

    “Bởi vì không ai bỏ thời gian dạy cậu.

    Nhiều nông dân ở Ravka cũng không biết đọc.”

    “Nhiều người đã bỏ thời gian dạy tôi.

    Họ cũng đã thử nhiều cách.

    Tôi đã có mọi cơ hội.

    Nhưng đó là một chuyện mà tôi không thể làm được.”

    Jesper có thể nhìn thấy sự lo ngại trên khuôn mặt cậu, sự đau đớn của việc nói ra những lời lẽ ấy.

    Nó khiến anh cảm thấy mình thật hèn.

    “Có vẻ như cậu xoay sở rất tốt với chuyện đó,” Genya nói.

    “Ngoại trừ việc giao du với hội du côn và thiện xạ.”

    Wylan nhướn mày.

    Jesper biết cậu đang thách thức anh nói ra, nhưng anh vẫn im lặng.

    Đó không phải là năng lực.

    Đó là một lời nguyền.

    Anh quay trở lại cửa sổ, tự dưng quan tâm sâu sắc đến phố phường bên dưới.

    Chính nó đã giết chết mẹ của con, con có hiểu không?

    Genya xen kẽ giữa làm việc và đưa Wylan giữ chiếc gương soi để hướng dẫn chị qua từng tinh chỉnh, từng thay đổi.

    Jesper quan sát một lúc, rồi đi lên lầu để gặp bố, lấy trà cho Genya và cà phê cho Wylan.

    Khi anh quay lại phòng tắm đất sét, anh suýt đánh rơi hai chiếc cốc.

    Wylan đang ngồi trong vạt nắng cuối chiều, Wylan thực sự, cậu chàng mà anh nhìn thấy lần đầu tiên ở xưởng nhuộm đó, cậu hoàng tử lạc lõng thức giấc giữa một câu chuyện sai trái.

    “Thế nào?”

    Genya hỏi.

    Wylan mân mê cúc áo một cách căng thẳng.

    “Chính là cậu ấy,” Jesper nói.

    “Cậu thiếu gia bỏ nhà đi bụi, thành viên mới của bọn tôi.”

    Genya duỗi người và đáp, “Tốt, bởi vì nếu tôi còn phải ngửi cái mùi đất sét này thêm một phút nữa, thì tôi sẽ phát điên lên mất.”

    Rõ ràng chị đã thấm mệt, nhưng khuôn mặt Genya ngời sáng, đôi mắt mầu hổ phách long lanh.

    Đó là biểu hiện của một Grisha khi họ sử dụng năng lực.

    “Tốt nhất là xem lại thành quả một lần nữa vào buổi sáng, nhưng tôi phải quay lại toà đại sứ.

    Và đến ngày mai thì…”

    Chị nhún vai.

    Ngày mai thì cuộc đấu giá sẽ được loan báo và mọi thứ sẽ thay đổi.

    Wylan cảm ơn Genya, và cậu cứ cảm ơn mãi cho đến khi chị đẩy hai người ra khỏi cửa để có thể đi tìm Zoya.

    Jesper và Wylan đi thang máy trở lên lầu trong im lặng.

    Jesper nhìn vào phòng ngủ chính và thấy bố đã ngủ thiếp đi trên giường, lồng ngực phập phồng theo từng tiếng ngáy vang rền.

    Một chồng giấy vương vãi trên giường, bên cạnh ông.

    Anh sắp xếp chúng lại thành chồng gọn ghẽ giá bán jurda, danh sách các trang trại ở ngoại ô của Novyi Zem.

    Bố không cần phải dọn dẹp cho bọn con đâu.

    Phải có ai đó làm chứ.

    Ngoài phòng khách, Wylan đang ngồi bên ngọn đèn.

    “Anh có đói không?”

    “Đói rã,” Jesper đáp.

    “Nhưng bố ngủ rồi.

    Tôi không chắc chúng ta có được phép gọi món hay không nữa.”

    Anh nghiêng đầu, liếc nhìn Wylan.

    “Cậu có bảo chị ấy làm mình đẹp trai hơn không vậy?”

    Wylan đỏ mặt.

    “Chắc anh đã quên mất tôi đẹp trai cỡ nào rồi.”

    Jesper nhướn mày.

    “Ờ thì, cũng có chút chút.”

    Wylan tiến đến chỗ Jesper, bên cạnh cửa sổ nhìn ra phố.

    Hoàng hôn đã buông xuống, những ngọn đèn đường lần lượt bừng sáng dọc đôi bờ của các dòng kênh.

    Họ trông thấy những tốp thị tuần vẫn đang diễu qua các con phố, và hai khu Stave lại rực rỡ sắc màu trong những âm thanh rộn ràng.

    Họ còn được an toàn ở đây bao lâu nữa?

    Jesper tự hỏi liệu bọn Kherguud có đang truy lùng các Grisha trong thành và tìm đến nhà chủ nhân của từng người hay không, có khi thậm chí đám binh lính người Shu đang bao vây toà đại sứ cũng nên.

    Hoặc là khách sạn này.

    Chúng có đánh hơi được mùi của một Grisha ở cách chúng mười lăm tầng lầu không nhỉ?

    Chốc chốc, hai người lại thấy những chùm pháo hoa trên hai con kênh Stave.

    Jesper không ngạc nhiên về chuyện đó.

    Anh rất hiểu khu Barrel.

    Nó luôn khát khao nhiều hơn - tiền bạc, hỗn loạn, bạo lực, nhục dục.

    Nó là một kẻ phàm ăn, và Pekka Rollins đã dâng bọn anh cho nó như những món sơn hào hải vị.

    “Tôi biết ý đồ của cậu lúc ở dưới đó,” Jesper lên tiếng.

    “Cậu không cần phải nói với chị ta rằng mình không biết đọc.”

    Wylan lấy bức chân dung từ trong túi ra và đặt nó lên bàn.

    Đôi mắt xanh của cậu bé Wylan nghiêm nghị nhìn họ.

    “Anh có biết Kaz là người đầu tiên tôi kể về… tình trạng của tôi không?”

    “Trong khi có bao nhiêu người để kể.”

    “Tôi biết.

    Tôi đã nghẹn lời.

    Tôi đã sợ anh ta sẽ chế nhạo mình.

    Hoặc là bật cười.

    Nhưng Kaz đã không làm cả hai điều đó.

    Việc thổ lộ với Kaz và đối đầu với cha đã giải toả thứ gì đó trong tôi.

    Và mỗi khi tôi kể với một người mới, tôi lại cảm thấy tự do hơn.”

    Jesper nhìn một con tàu chở khách khuất dạng phía sau cầu Zent.

    Nó gần như trống không.

    “Tôi không xấu hổ vì mình là Grisha.”

    Wylan lướt ngón cái trên rìa bức vẽ.

    Cậu không nói gì, nhưng Jesper biết cậu muốn lên tiếng.

    “Nói đi.

    Bất cứ điều gì cậu đang nghĩ.

    Cứ nói ra đi.”

    Wylan ngẩng lên nhìn anh.

    Trong đôi mắt cậu có màu xanh trong veo, không chút vẩn đục mà Jesper nhớ hoài - một mặt hồ trên núi, một bầu trời Novyi Zem vô tận.

    Genya đã làm rất tốt công việc của mình.

    “Tôi không tài nào hiểu nổi.

    Tôi đã dành cả đời để giấu giếm những chuyện mình không làm được.

    Tại sao lại chạy trốn những điều kì diệu mà anh có thể làm được?”

    Jesper bối rối nhún vai.

    Anh đã từng cáu giận bố mình vì điều Wylan vừa nói, nhưng giờ đây anh cảm thấy mình ở thế phòng thủ.

    Đây là lựa chọn của anh, dù đúng hay sai, và anh đã lựa chọn từ lâu.

    “Tôi biết mình là ai, giỏi điều gì, có thể và không thể làm gì.

    Tôi chỉ… là chính tôi.

    Một thiện xạ, một kẻ chơi bài dở tệ.

    Như vậy chưa đủ sao?”

    “Với tôi?

    Hay với anh?”

    “Đừng có giở giọng triết lí với tôi, thiếu gia.”

    “Jes, tôi đã nghĩ về chuyện này…”

    “Cậu đã nghĩ về tôi?

    Giữa đêm hôm khuya khoắt?

    Về thứ tôi đang mặc trên người á?”

    “Tôi đã nghĩ về năng lực của anh,” Wylan nói, đôi má càng ửng hồng hơn.

    “Có khi nào năng lực Grisha là một phần nguyên nhân khiến anh bắn giỏi đến vậy không?”

    “Wylan này, cậu dễ thương thật đấy, nhưng cậu cũng điên rồ vô cùng.”

    “Có thể.

    Nhưng tôi đã từng chứng kiến anh điều khiển kim loại.

    Tôi đã thấy anh định hướng nó.

    Nếu như anh không bắn trượt là do anh định hướng các viên đạn thì sao?”

    Jesper lắc đầu.

    Chuyện này thật ngớ ngẩn.

    Anh là một tay súng thiện xạ, vì anh lớn lên ở miền biên giới, bởi vì anh hiểu súng đạn, vì mẹ đã dạy anh giữ chắc tay, giải toả tâm trí, và không chỉ nhìn mà phải cảm nhận mục tiêu.

    Mẹ của anh.

    Một Sáng Chế Gia.

    Một Grisha, mặc dù bà không bao giờ dùng chữ đó.

    Không.

    Không thể nào.

    Nhưng nếu đúng là như thế thì sao?

    Anh lắc đầu để xua ý nghĩ đó đi và cảm thấy nhu cầu xê dịch ngùn ngụt dâng lên trong cơ thể.

    “Tại sao cậu lại nói ra những chuyện như thế?

    Tại sao cậu không để yên mọi thứ?”

    “Bởi vì chúng không dễ nằm yên như thế,” Wylan nói bằng giọng đơn giản và tự nhiên nhất.

    Không một ai ở Barrel nói năng như vậy.

    “Anh cứ giả vờ như mọi chuyện đều ổn.

    Anh tiếp tục đánh nhau, tiếp tục chơi bời.

    Điều anh đang sợ sẽ xảy ra nếu anh dừng lại hay sao?”

    Jesper lại nhún vai.

    Anh chỉnh lại cúc áo, chạm ngón cái vào mấy khẩu súng.

    Mỗi khi anh có cảm giác như hiện tại, bực bội và hoang mang, đôi bàn tay anh lại tự mình hành động.

    Toàn thân anh ngứa ngáy.

    Anh cần phải rời khỏi căn phòng này.

    Wylan đặt tay lên vai Jesper.

    “Đừng.”

    Anh không biết mình đang muốn giằng ra hay kéo cậu lại gần nữa.

    “Dừng lại,” Wylan nói.

    “Hít thở đi.”

    Ánh mắt Wylan rất kiên định.

    Jesper không thể nhìn đâu khác ngoài làn nước xanh trong ấy.

    Anh bắt mình đứng im, hít vào, thở ra.

    “Lần nữa nào,” Wylan nói, và khi Jesper mở miệng để hít một hơi nữa, Wylan tiến tới và hôn anh.

    Tâm trí anh rỗng tuếch.

    Anh không còn nghĩ đến những gì đã hoặc sắp xảy ra nữa.

    Chỉ có một hiện thực là về cái miệng của Wylan, sức ép của đôi môi cậu, cái cần cổ thanh mảnh, sự mượt mà của những lọn tóc xoăn khi anh nắm gáy cậu ghì sát lại gần.

    Đây là nụ hôn mà anh hằng chờ đợi.

    Nó là một phát súng.

    Là ngọn lửa không thể kiểm soát.

    Là cú xoay của vòng xoay may mắn.

    Jesper cảm thấy trái tim anh - hay tim Wylan nhỉ?

    - đang đập cuồng loạn trong lồng ngực, và ý nghĩ duy nhất của anh là một tiếng Ôi sung sướng, ngỡ ngàng.

    Một cách chậm rãi, miễn cưỡng, họ rời nhau ra.

    “Wylan,” Jesper nói, và nhìn vào bầu trời xanh trong mắt cậu, “tôi thực lòng mong chúng ta sẽ sống sót.”
     
    Back
    Top Bottom