Khác Sherlock Holmes Toàn Tập

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Sherlock Holmes Toàn Tập
NGHI THỨC GIA TỘC MUSGRAVE (The Musgrave Ritual, 1893)


Một điểm trái khoáy trong tính cách của Sherlock Holmes vẫn thường khiến tôi ngạc nhiên là mặc dù về phương pháp tư duy anh là người mạch lạc và cẩn trọng nhất trên đời, và về lối ăn mặc anh cũng ra vẻ chỉn chu nhã nhặn, thế nhưng về thói quen sinh hoạt thì anh lại thuộc vào hàng lộn xộn nhất trần đời đến nỗi người trọ chung nhà cũng phải phát bực.

Xét về phương diện đó tôi cũng chẳng phải mẫu mực gì cho cam.

Vốn tính tôi đã ưa lối sống tự do phóng khoáng, lại thêm thời kì lăn lộn gian khổ ở Afghanistan, nên tôi sinh hoạt khá buông tuồng so với nếp sống đúng chuẩn của một bác sĩ.

Dẫu sao tôi vẫn còn có khuôn khổ nhất định, nên khi thấy một người để xì gà trong thùng đựng than, nhét thuốc lá vào chiếc giày mềm đi trong nhà, lại còn dùng dao nhíp găm thư từ chưa hồi âm lên mặt lò sưởi bằng gỗ sồi, thì tôi bắt đầu tự coi mình là con người chuẩn mực.

Vả lại, xưa nay tôi vẫn quan niệm rằng tập bắn rõ ràng là một hoạt động tiêu khiển ngoài trời; thế mà mỗi khi lên cơn khó ở, Holmes lại ngồi trên ghế bành, với khẩu súng cực nhạy của anh cùng một trăm viên đạn, và tiến hành công cuộc tô điểm bức tường đối diện bằng hai chữ V.R ái quốc viết bằng những lỗ đạn, còn tôi thì có cảm nhận sâu sắc rằng việc ấy không làm cho bầu không khí và tính thẩm mĩ của căn phòng được cải thiện thêm mấy tí.

Phòng trọ của chúng tôi lúc nào cũng la liệt hóa chất và những chứng tích tội phạm mà chẳng hiểu sao lại cứ hay du ngoạn đến những vị trí bất ngờ, có khi đột nhiên hiện ra trên đĩa bơ hoặc ở những nơi còn khó chấp nhận hơn.

Nhưng giấy tờ của anh mới là vấn đề nan giải đối với tôi.

Anh rất sợ phải hủy tư liệu, nhất là những gì có liên quan đến các vụ án trước, đã thế cứ cách một, hai năm mới có một lần anh chịu dồn sức mà tổng kết và sắp xếp chúng; như tôi đã có lần nói đến trong những hồi ức rời rạc này, sau những cơn xông xáo nhiệt tình đột xuất, khi anh lập nên những kì tích xuất sắc gắn liền với tên tuổi mình, là những khoảng thời gian ù lì tiếp nối, anh chỉ nằm vạ vật với cây vĩ cầm và mấy cuốn sách, hiếm khi động đậy chân tay trừ phi phải xê dịch từ trường kỉ sang cái bàn.

Thế là hết tháng này sang tháng khác, đống giấy tờ của anh cứ tích tụ lại đến nỗi góc phòng nào cũng chất chồng hàng mớ bản ghi chép mà tuyệt đối không được đốt, cũng không được phép cất đi ngoài ý muốn của chủ nhân.

Một buổi tối mùa đông, khi chúng tôi đang ngồi bên lò sưởi, tôi mới mạo muội đề nghị rằng, anh đã dán xong các trích lục vào cuốn danh mục, vậy thì cũng nên dành ra hai giờ để dọn căn phòng chung cho dễ ở hơn một tí.

Trước yêu cầu chính đáng của tôi, anh không thể nào từ chối, thế là với bộ mặt thảm não, anh đi vào phòng ngủ rồi nhanh chóng quay ra, kéo theo một cái hòm kẽm to.

Anh đặt nó xuống giữa phòng, ngồi lên một cái ghế thấp đặt trước cái hòm và mở tung nắp ra.

Tôi có thể nhìn thấy trong hòm đã đầy một phần ba là những bó giấy được buộc lại bằng dây đỏ thành những tập khác nhau.

"Ở đây lưu trữ khối vụ án, Watson ạ", anh nói và nhìn tôi bằng đôi mắt tinh quái.

"Tôi nghĩ rằng nếu anh mà biết tôi có những gì trong cái hòm này, anh sẽ bảo tôi lấy tài liệu vài vụ ra chứ chẳng đòi cất ghi chép khác vào đâu."

"Đó là những hồ sơ các vụ án của anh hồi đầu đấy à?"

Tôi hỏi.

"Tôi vẫn thường ao ước có được những ghi chép về chúng."

"Những vụ này đều được giải quyết trước khi người viết tiểu sử của tôi xuất hiện và làm cho tôi nổi tiếng."

Anh nhẹ nhàng và trìu mến lần lượt nhấc từng bó ra.

"Không phải vụ nào cũng thành công cả, Watson ạ", anh nói tiếp.

"Mà trong số này có một vài vụ án nho nhỏ nhưng ra trò phết đấy.

Đây là hồ sơ vụ Những tên sát nhân ở Tarleton và vụ Vamberry, người buôn rượu, hay vụ Bà cụ người Nga, còn đây là vụ việc kì lạ về Cái nạng nhôm, cùng bản ghi chép trọn vẹn về anh chàng Ricoletti vẹo chân và cô vợ đáng ghê tởm của anh ta.

Và đây nữa - à, giờ thì mới đúng là thứ gì đó đáng giá một chút."

Anh thọc tay xuống đáy hòm và moi ra một cái hộp nhỏ bằng gỗ có nắp trượt trông như hộp đựng đồ chơi trẻ con.

Từ trong đó, anh lấy ra một mảnh giấy nhàu nát, một cái chìa khóa cổ bằng đồng, một cái cọc gỗ có một sợi dây quấn quanh và ba mảnh kim loại tròn rất cũ đã gỉ sét.

"Này, anh bạn của tôi, anh đoán xem những thứ này là gì?"

Anh hỏi và mỉm cười trước vẻ mặt của tôi.

"Đây là một bộ sưu tập lạ lùng."

"Rất lạ lùng, và câu chuyện xoay quanh nó còn lạ lùng hơn."

"Những món này mà cũng có lịch sử riêng à?"

"Còn hơn thế, phải nói chúng chính là lịch sử."

"Anh nói thế nghĩa là sao?"

Sherlock Holmes nhặt từng món lên và đặt chúng dọc cạnh bàn.

Sau đó anh lại ngồi xuống ghế và hài lòng nhìn ngắm chúng.

"Những thứ này đây", anh nói, "là toàn bộ những thứ tôi giữ lại để nhắc tôi nhớ đến vụ Nghi thức gia tộc Musgrave."

Tôi từng nghe anh nhắc đến vụ này vài lần, dù vậy chưa bao giờ tôi biết được cụ thể.

"Tôi rất vui", tôi nói, "nếu anh kể lại cho tôi."

"Và để đống rác này lại phải không?"

Anh reo lên một cách ranh mãnh.

"Nói cho cùng thì tính ngăn nắp của anh cũng không đến nỗi khắt khe lắm, Watson nhỉ.

Nhưng tôi sẽ rất vui nếu anh có thể đưa thêm vụ án này vào cuốn biên niên sử của anh vì có vài điểm khiến cho nó khá là độc đáo trong lịch sử tội phạm của nước ta và thậm chí là cả các nước khác.

Một bộ sưu tập về các thành tích khiêm tốn của tôi chắc chắn là sẽ kém hoàn chỉnh nếu không có vụ việc rất lạ thường này.

Có lẽ anh hãy còn nhớ vụ Con tàu Gloria Scott và cuộc trò chuyện của tôi với con người bất hạnh mà tôi đã kể anh nghe về số phận của ông ta, đó là sự kiện đầu tiên đã hướng sự chú ý của tôi vào lĩnh vực mà giờ đã trở thành sự nghiệp của đời tôi.

Hiện giờ anh thấy tôi đã khá nổi tiếng và nhìn chung đã được cả công chúng lẫn giới chức coi là tòa phúc thẩm cao nhất trong những vụ án có nghi vấn.

Ngay cả ban đầu anh mới biết tôi, vào thời điểm xảy ra vụ được anh ghi lại trong Cuộc điều tra màu đỏ, tôi cũng đã tạo lập được vị trí đáng kể dù chưa thu lợi nhiều lắm từ đó.

Vì thế, anh khó có thể hình dung được ban đầu tôi khó khăn thế nào và đã phải chờ đợi đến bao lâu mới có bước phát triển trong sự nghiệp.

Khi mới đến London lần đầu, tôi thuê phòng ở phố Montague, từ đó chỉ rẽ qua một góc đường là đến Viện Bảo tàng Anh và trong khi chờ đợi tôi đã tiêu xài thời gian vô cùng rảnh rỗi của mình bằng cách nghiên cứu tất cả các lĩnh vực khoa học có thể giúp tôi làm việc hiệu quả hơn.

Thỉnh thoảng cũng có vài vụ đến tay, chủ yếu là qua sự giới thiệu của các bạn học cũ, vì trong những năm cuối ở trường đại học họ đã bàn tán nhiều về tôi và các phương pháp của tôi.

Vụ thứ ba trong số đó là Nghi thức gia tộc Musgrave, và chính mối quan tâm dấy lên từ chuỗi sự kiện độc đáo ấy cùng những vấn đề quan trọng có liên quan đã khiến tôi đặt bước chân đầu tiên trên đường đi đến vị trí mình đang nắm giữ hiện nay.

Reginald Musgrave học cùng đại học với tôi và tôi có quen biết anh ấy đôi chút.

Trong đám sinh viên, nhìn chung anh ấy không giao du nhiều lắm, mọi người thì cho đó là tính kiêu ngạo nhưng tôi thấy chẳng qua là anh ấy cố tình che giấu bản tính cực kì tự ti.

Về ngoại hình thì anh ấy rất có dáng dấp quý tộc với mũi cao và thon, hai mắt to và cử chỉ trễ nải nhưng thanh nhã.

Quả thật anh ấy xuất thân từ một trong những dòng họ cổ xưa nhất vương quốc này, dù chỉ là chi thứ trong gia tộc và đã tách ra từ dòng họ Musgrave ở phía bắc vào thế kỉ mười sáu và tự củng cố địa vị ở phía tây Sussex, có lẽ lâu đài Hurlstone là tòa nhà xưa nhất trong hạt.

Dường như con người này đã gắn với nơi anh ấy sinh ra và cứ nhìn khuôn mặt trắng xanh, sắc nét hay mái đầu đĩnh đạc của anh ấy là tôi lại liên tưởng đến những lối đi có mái vòm màu xám, những khuôn cửa chia ô và tất cả những phế tích tôn nghiêm của một pháo đài phong kiến.

Có vài lần chúng tôi tình cờ trò chuyện với nhau và tôi còn nhớ là anh ấy đã hơn một lần bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đến những phương pháp quan sát cũng như suy luận của tôi.

Sau bốn năm không hề gặp mặt, một buổi sáng nọ anh ấy bước vào phòng tôi ở phố Montague.

Anh ấy không thay đổi mấy, ăn mặc như một chàng trai thời thượng - anh ấy luôn đôi chút ưa hình thức - và vẫn giữ cung cách trầm lặng thanh nhã từng làm anh khác biệt với chúng bạn.

'Lâu nay anh sống ra sao hở Musgrave?' Tôi hỏi sau khi cả hai thân mật bắt tay nhau.

'Có lẽ anh đã nghe nói về việc người cha đáng thương của tôi qua đời', anh đáp, 'ông đã từ trần được gần hai năm.

Kể từ đó đương nhiên là tôi phải quản lí điền trang Hurlstone và vì tôi còn là một thành viên trong hội đồng hạt nên cuộc sống của tôi rất bận rộn.

Nhưng Holmes này, theo như tôi được biết thì anh đang chuyển sang hành nghề bằng những năng lực mà ngày xưa anh vẫn thường làm chúng tôi ngạc nhiên?'

'Phải', tôi đáp, 'tôi đã bắt đầu kiếm sống bằng trí óc.'

'Tôi rất vui khi nghe anh nói thế, vì vào thời điểm này ý kiến của anh vô cùng giá trị đối với tôi.

Chúng tôi đã gặp một số chuyện rất lạ lùng ở Hurlstone và cảnh sát vẫn chưa thể làm vấn đề sáng tỏ hơn được chút nào.

Đây quả là một vụ bất thường nhất và không thể giải thích nổi.'

Anh có thể hình dung được là tôi đã háo hức đến mức nào khi nghe anh ấy nói thế, Watson ạ, vì có vẻ như tôi sắp có được cơ hội mà tôi hằng khao khát trong những tháng ăn không ngồi rồi đó.

Từ tận đáy lòng tôi luôn tin tưởng rằng mình có thể thành công ở những vụ đã đánh gục người khác và giờ tôi có cơ hội để kiểm chứng bản thân.

'Xin anh hãy vui lòng kể cặn kẽ cho tôi nghe', tôi reo lên.

Reginald Musgrave ngồi xuống trước mặt tôi và châm điếu thuốc mà tôi đẩy về phía anh.

'Anh phải biết rằng', anh ấy nói, 'dù sống độc thân, tôi vẫn phải nuôi khá nhiều người hầu ở Hurlstone vì đó là tòa nhà cổ rộng lớn và cần nhiều thời gian coi sóc.

Tôi cũng duy trì khu săn bắn và vào các tháng săn gà lôi, tôi thường tổ chức một bữa tiệc lưu khách, vì thế mà không thể thiếu người.

Có tất cả là tám hầu gái, một đầu bếp, một quản gia, hai hầu nam và một thị đồng.

Tất nhiên là khu vườn và tàu ngựa thì có người riêng.

Trong số ấy, làm việc lâu năm nhất cho gia đình chúng tôi là quản gia Brunton.

Ông ta vốn là một thầy giáo trẻ nên không phù hợp với công việc lúc mới được cha tôi nhận vào, nhưng là một người giàu nghị lực và nhiệt huyết, chẳng mấy chốc ông ta đã trở nên không thể thiếu được trong gia đình.

Đó là một người đàn ông cao lớn, điển trai với vầng trán đẹp và dù đã làm việc cho chúng tôi được hai mươi năm, đến giờ ông ta vẫn chưa quá bốn mươi tuổi.

Với những lợi thế riêng và các năng khiếu đặc biệt - vì ông ta có thể nói vài ngoại ngữ và chơi được hầu hết các loại nhạc cụ - thật đáng ngạc nhiên là ông ta vẫn vừa lòng với một vị trí như thế suốt một thời gian dài, nhưng tôi cho là ông ta cảm thấy thoải mái và không muốn thay đổi việc.

Người quản gia của Hurlstone luôn là điểm khiến cho tất cả những ai đến chỗ chúng tôi nhớ mãi.

Nhưng con người hoàn hảo ấy cũng có một khuyết điểm.

Ông ta hơi có thói trăng hoa và anh có thể hình dung được một người đàn ông như ông ta thì không khó gì để trêu hoa ghẹo nguyệt ở một vùng nông thôn tĩnh lặng.

Hồi ông ta có vợ thì mọi chuyện đều ổn thỏa nhưng từ khi góa vợ thì ông ta liên tiếp gây cho chúng tôi không biết bao nhiêu phiền toái.

Mới vài tháng trước chúng tôi đã hi vọng ông ta sẽ ổn định trở lại vì ông ta đính hôn với Rachel Howells, một hầu nữ hàng hai của chúng tôi; nhưng rồi ông ta lại bỏ rơi cô này và đi lại với Janet Tregellis, con gái người quản lí khu săn bắn.

Rachel - một cô gái rất ngoan nhưng lại có tính khí dễ kích động của dân xứ Wales - đã bị một cơn viêm não và giờ thì, hay ít ra là cho đến hôm qua cứ lang thang quanh nhà như cái bóng của cô ta thời khỏe mạnh với đôi mắt thâm quầng.

Đó là tấn kịch đầu tiên của chúng tôi ở Hurlstone, thế nhưng tấn kịch thứ nhì, mở màn là việc quản gia Hurlstone bị sa thải, đã làm chúng tôi quên bẵng nó đi.

Sự việc xảy ra thế này.

Tôi đã kể anh nghe rằng ông ta là một người thông minh và chính sự thông minh quá mức ấy lại có hại cho ông ta, vì có vẻ như nó đã đưa đến thói tọc mạch khôn tả xiết về những điều không dính dáng đến mình.

Tôi không biết ông ta đã đi quá giới hạn tự bao giờ cho đến khi tôi phát hiện ra nhờ một sự cố hết sức ngẫu nhiên.

Tôi đã nói rằng nhà của tôi là một lâu đài cổ rộng thênh thang nhưng ngoắt ngoéo.

Một ngày trong tuần trước - chính xác hơn là vào tối thứ năm - tôi thấy khó ngủ vì đã lỡ dại uống một tách cà phê đen đặc sau bữa tối.

Trằn trọc mãi đến 2 giờ sáng, tôi nhận ra rằng có cố dỗ giấc ngủ cũng vô ích vì thế tôi ngồi dậy và thắp nến lên, định đọc tiếp cuốn truyện đang xem dở.

Thế nhưng, tôi lại để quên cuốn sách trong phòng bi-a, nên tôi khoác áo choàng và đi lấy nó.

Để đến được phòng bi-a thì tôi phải xuống cầu thang rồi đi qua đầu hành lang dẫn đến thư viện và phòng treo súng.

Anh có thể tưởng tượng ra nỗi kinh ngạc của tôi khi liếc vào cái hành lang này, tôi chợt trông thấy ánh sáng lờ mờ phát ra từ cánh cửa để mở của thư viện.

Chính tay tôi đã tắt đèn và đóng cửa trước khi đi ngủ.

Đương nhiên ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu tôi là có trộm.

Khắp những bức tường các hành lang trong Hurlstone đều được trang trí bằng các chiến lợi phẩm là những binh khí cổ.

Tôi lấy từ trên đó ra một chiếc rìu chiến rồi đặt ngọn nến lại phía sau, tôi rón rén bước vào hành lang và liếc nhìn qua cánh cửa để mở.

Tay quản gia Brunton đang ở trong thư viện.

Ông ta ăn mặc nghiêm chỉnh, ngồi trong ghế bành, trên đùi đặt một tờ giấy trông như một tấm bản đồ và tựa trán lên tay đắm chìm trong suy nghĩ.

Tôi đứng lặng đi vì ngạc nhiên, chăm chú nhìn ông ta từ trong bóng tối.

Một cây nến nhỏ đặt ở cạnh bàn tỏa sáng yếu ớt đủ cho tôi thấy rằng ông ta ăn mặc đàng hoàng.

Trong khi tôi đang nhìn thì thình lình ông ta đứng dậy khỏi ghế và bước đến cái tủ đặt bên cạnh, mở khóa tủ rồi kéo một ngăn kéo ra.

Ông ta lấy ra một tờ giấy trong đó rồi quay trở lại chỗ ngồi, trải nó ra bên ngọn nến ở cạnh bàn và bắt đầu xem xét tỉ mỉ.

Vì quá phẫn nộ khi trông thấy ông ta thản nhiên xem xét giấy tờ của gia tộc mình nên tôi bước tới, Brunton ngẩng lên và trông thấy tôi đứng trong khung cửa.

Ông ta bật dậy, mặt xám đi vì sợ hãi và nhét vội vào ngực áo tờ giấy trông giống tấm bản đồ mà ông ta xem trước đó.

'Hay chưa!' Tôi lên tiếng, 'ông báo đáp niềm tin mà chúng tôi đặt vào ông như thế đấy.

Ông sẽ thôi làm ở đây ngay ngày mai.'

Ông ta khom người xuống với ánh mắt của một người khiếp sợ hoàn toàn và len lén đi qua mặt tôi mà không nói tiếng nào.

Ngọn nến hãy còn đặt trên bàn và dưới ánh sáng của nó tôi liếc nhìn xem tờ giấy mà Brunton đã lấy ra khỏi tủ là gì.

Tôi ngạc nhiên khi nhận ra nó chẳng hề quan trọng chút nào, chỉ là một bản chép lại những câu hỏi và trả lời trong một buổi lễ kì quặc cổ xưa được gọi là Nghi thức gia tộc Musgrave.

Đó là nghi lễ riêng của gia tộc chúng tôi mà các thành viên Musgrave của bao thế kỉ nay đều phải trải qua khi đến tuổi trưởng thành.

Đây là nghi lễ của riêng dòng họ, và có thể có đôi chút quan trọng đối với một nhà khảo cổ học giống như các gia huy và gia huấn của gia tộc chúng tôi, nhưng chẳng có giá trị thực tế nào.'

'Có lẽ chúng ta nên quay lại với mảnh giấy đó sau thì tốt hơn,' tôi nhắc.

'Nếu anh thấy cần như thế,' anh đáp với đôi chút lưỡng lự.

'Xin được kể tiếp câu chuyện.

Tôi khóa tủ bằng chiếc chìa Brunton để lại và khi quay bước ra, tôi ngạc nhiên thấy người quản gia quay trở lại và đang đứng trước mặt tôi.

'Thưa ông Musgrave,' ông ta kêu lên, giọng khàn đi vì xúc động.

'Tôi không thể nào chịu được sự nhục nhã, thưa ông.

Lòng tự trọng của tôi luôn cao hơn địa vị và sự nhục nhã sẽ giết tôi mất.

Và ông sẽ phải chịu trách nhiệm về cái chết của tôi - thật đấy, thưa ông - nếu ông dồn tôi vào bước đường cùng.

Nếu ông không thể giữ tôi lại sau những gì đã xảy ra thì vì Chúa, xin hãy để tôi nộp đơn xin thôi việc và rời khỏi đây sau một tháng làm như chính tôi muốn vậy.

Thế thì tôi còn có thể chịu đựng được, thưa ông Musgrave, chứ đừng đuổi việc tôi trước mặt những người tôi rất quen thân.'

'Ông không đáng được chiếu cố đến vậy đâu, Brunton,' tôi trả lời.

'Hành vi của ông thật hết sức bỉ ổi.

Tuy vậy, vì ông đã ở trong nhà tôi bao lâu nay, tôi cũng không muốn làm cho ông phải nhục nhã trước mặt mọi người.

Thế nhưng, một tháng là quá dài.

Hãy rời đây trong vòng một tuần và muốn viện lí do gì thì tùy.'

'Chỉ một tuần thôi sao, thưa ông?' Ông ta kêu lên với giọng đầy thất vọng.

'Hai tuần, ít nhất là hai tuần mới được!'

'Một tuần là một tuần,' tôi nhắc lại, 'và thế đã là chiếu cố ông lắm rồi đấy.'

Ông ta len lén bước đi, mặt cúi gằm xuống trước ngực trông giống như một người rất đau khổ, còn tôi thổi tắt nến rồi trở lại phòng mình.

Trong hai ngày sau đó, Brunton rất chú tâm vào nhiệm vụ của ông ta.

Tôi không nhắc gì đến chuyện đã xảy ra và chờ đợi với đôi chút hiếu kì xem ông ta sẽ che đậy nỗi nhục của mình như thế nào.

Thế nhưng, đến sáng hôm thứ ba thì trái với thường lệ, ông ta không hề xuất hiện sau bữa điểm tâm để nghe tôi chỉ bảo các công việc trong ngày.

Khi rời khỏi phòng ăn, tình cờ tôi gặp cô hầu Rachel Howells.

Tôi đã kể anh nghe rằng cô ta mới hồi phục sau một cơn bệnh và trông vô cùng xanh xao thảm hại khiến tôi phải lên tiếng khi trông thấy cô ta làm việc.

'Cô nên vào giường nghỉ,' tôi bảo.

'Khi nào khỏe hẵng trở lại làm việc.' Cô ta nhìn tôi với một vẻ mặt rất lạ khiến tôi bắt đầu nghĩ có lẽ đầu óc cô ta bị cơn bệnh ảnh hưởng.

'Tôi thấy mình đã khá rồi, thưa ông Musgrave,' cô ta trả lời tôi.

'Để xem bác sĩ sẽ nói thế nào,' tôi đáp.

'Cô phải ngừng tay ngay và khi đi xuống nhà thì bảo rằng tôi muốn gặp Brunton.'

'Ông quản gia biến mất rồi,' cô ta cho biết.

'Biến mất sao!

Biến đi đâu?'

'Anh ta biến rồi.

Chẳng ai nhìn thấy anh ta đâu cả.

Không có ở trong phòng.

Ôi, đúng, anh ta đã biến mất, đã biến đi rồi!'

Cô ta ngả người vào bức tường phía sau và cười ngặt nghẽo, còn tôi, vì hoảng sợ trước cơn kích động bất ngờ của cô ta nên vội vàng rung chuông gọi người đến giúp.

Cô gái được đưa về phòng, miệng vẫn còn la hét và khóc lóc, còn tôi tra hỏi tin tức về Brunton.

Không còn nghi ngờ gì về việc ông ta đã biến mất.

Giường của ông ta vẫn phẳng phiu, chẳng ai trông thấy ông ta từ khi ông ta lui về phòng vào đêm trước, thế nhưng không sao biết ông ta rời khỏi nhà bằng cách nào vì tất cả cửa sổ và cửa ra vào hãy còn cài chặt vào buổi sáng.

Quần áo, đồng hồ và thậm chí cả tiền bạc của ông ta vẫn để trong phòng, nhưng bộ y phục màu đen mà ông ta thường mặc lại biến mất.

Cả đôi giày mềm đi trong nhà cũng không thấy đâu, nhưng ghệt thì còn để lại.

Vậy thì, tay quản gia Brunton có thể đi đâu vào lúc đêm khuya khoắt và giờ ông ta ra sao?

Tất nhiên là chúng tôi đã lục soát ngôi nhà từ tầng hầm lên đến tầng áp mái nhưng chẳng hề thấy dấu vết nào của ông ta.

Như tôi đã nói, ngôi nhà cổ như một mê cung, đặc biệt là ở phần nhà gốc mà giờ thì trên thực tế chẳng còn ai ở; nhưng chúng tôi vẫn lục tung từng phòng và tầng hầm mà vẫn không tìm được một dấu vết nhỏ nào của người mất tích.

Điều tôi không tin nổi là ông ta lại có thể bỏ tất cả tài sản của mình mà ra đi và ông ta đi đâu cơ chứ?

Tôi đã cho mời cảnh sát địa phương đến nhưng chẳng có chút kết quả nào.

Trời đổ mưa đêm hôm trước và chúng tôi đã xem xét bãi cỏ cùng những lối đi xung quanh nhà nhưng vô ích.

Trong khi mọi chuyện vẫn không tiến triển, một diễn biến mới lôi kéo sự chú ý của chúng tôi ra khỏi bí ẩn ban đầu.

Rachel Howells bị ốm nặng suốt hai ngày liền, có lúc mê sảng, có khi lại lên cơn kích động khiến chúng tôi phải thuê một y tá để thức canh cô ta vào ban đêm.

Đến đêm thứ ba sau vụ Brunton mất tích, cô y tá nhận thấy bệnh nhân đã ngủ yên bèn chợp mắt một lúc trong chiếc ghế bành, và đến sáng sớm tỉnh dậy thì đã thấy trên giường trống trơn, cửa sổ mở toang và không thấy dấu vết của người bệnh đâu cả.

Tôi được gọi dậy ngay và cùng với hai người hầu, chúng tôi liền bắt đầu tìm kiếm cô gái mất tích.

Việc tìm ra hướng đi của cô ta chẳng khó khăn chút nào vì từ bên dưới cửa sổ buồng cô ta, chúng tôi dễ dàng lần theo các dấu chân của cô ta băng qua bãi cỏ đến bờ hồ, ở đó những dấu vết biến mất ngay lối đi rải sỏi mép hồ.

Cái hồ sâu đến gần tám foot và anh có thể hình dung ra cảm giác của chúng tôi lúc đó ra sao khi nhìn thấy dấu chân của cô gái loạn trí đáng thương kết thúc ở bờ hồ.

Tất nhiên là ngay lập tức chúng tôi đem các dụng cụ mò tìm đến và bắt tay vào việc tìm kiếm thi thể của cô ta, nhưng chẳng thể tìm ra chút dấu vết nào của xác chết.

Nhưng chúng tôi vớt lên được một thứ mà chẳng ai ngờ đến.

Đó là một cái túi vải lanh chứa một khối kim loại cũ kĩ đã phai màu, gỉ sét và mấy viên đá hay thủy tinh đã mờ gì đó.

Mấy thứ lạ lùng đó là tất cả những gì chúng tôi vớt lên được từ đáy hồ, ngoài ra mặc cho đã tận lực tìm kiếm và điều tra suốt cả ngày hôm qua, chúng tôi vẫn không biết gì về số phận của cả Rachel Howells lẫn Richard Brunton.

Cảnh sát hạt cũng hết cách nên tôi chỉ còn cách đến nhờ anh.'

Watson này, anh có thể hình dung ra tôi đã lắng nghe chuỗi sự kiện lạ thường này say mê, cũng như cố gắng chắp nối và tìm một sợi dây chung xâu kết chúng lại như thế nào.

Tay quản gia mất tích.

Cô người hầu cũng ra đi.

Cô ta từng yêu tay này nhưng rồi sau đó lại có lí do để căm hận hắn.

Cô ta có tính khí nóng nảy và nồng nhiệt của người xứ Wales.

Cô ta kích động dữ dội ngay sau khi anh ta biến mất.

Cô ta ném xuống hồ một cái túi chứa những vật kì lạ.

Đó là tất cả những yếu tố cần xem xét tuy nhiên chẳng điều nào trong đó là trọng tâm của vấn đề.

Vậy đâu là điểm khởi đầu của chuỗi sự kiện này?

Nó nằm ở phần đầu của sợi dây rối tung này.

'Tôi phải xem qua tờ giấy, Musgrave ạ,' tôi nói, 'tờ giấy mà quản gia nhà anh cho rằng đáng bỏ công tìm hiểu, cho dù có nguy cơ bị mất việc.'

'Cái nghi thức của dòng tộc nhà tôi khá ngớ ngẩn', anh ấy đáp.

'Nhưng ít ra thì còn được coi là cổ vật để lưu giữ.

Tôi có đem theo một bản sao những câu hỏi và trả lời đó nếu như anh muốn liếc sơ qua chúng.'

Anh ấy đưa cho tôi chính tờ giấy mà tôi đang cầm đây, Watson ạ, và nó là bản hỏi đáp lạ lùng mà mỗi thành viên nhà Musgrave phải học khi đến tuổi trưởng thành.

Tôi sẽ đọc cho anh nghe chính xác từng chữ các câu hỏi và trả lời:

'Cái này là của ai?'

'Là của người đã ra đi!

'Ai sẽ sở hữu nó?'

'Người sẽ tới đây!'

'Mặt trời ở đâu?'

'Trên ngọn cây sồi'.

'Cái bóng ở đâu?'

'Ở gốc cây du.'

'Đo bằng bước như thế nào?'

'Đi về phía bắc mười bước và mười bước, về phía đông năm bước và năm bước, về phía nam hai bước và hai bước, về phía tây một bước và một bước và ở phía dưới!'

'Chúng ta sẽ đưa những gì?'

'Tất cả những gì chúng ta sở hữu!'

'Vì sao chúng ta phải đưa?'

'Vì tin cậy!

'Bản gốc không có ghi ngày tháng nhưng xét theo lối chính tả thì có thể xác định là vào giữa thế kỉ mười bảy', Musgrave nhận xét.

'Thế nhưng tôi e rằng nó không giúp được gì nhiều cho anh trong việc làm sáng tỏ bí ẩn này.'

'Ít ra', tôi đáp, 'nó cũng cho chúng ta một bí ẩn khác và cái sau lại còn thú vị hơn cả cái trước.

Cũng có thể là lời giải đáp cho bí ẩn này sẽ giải quyết được bí ẩn kia.

Xin anh thứ lỗi, Musgrave, nếu tôi nói rằng có vẻ quản gia nhà anh rất thông minh và sáng suốt hơn cả mười thế hệ tổ tiên anh.'

'Tôi vẫn chưa hiểu anh nói gì', Musgrave đáp.

'Đối với tôi thì tờ giấy đó có vẻ chẳng có vai trò gì thiết thực.'

'Nhưng với tôi, nó lại vô cùng thiết thực và tôi cho rằng Brunton cũng nghĩ thế.

Có thể ông ta đã biết đến tờ giấy đó từ trước khi bị anh bắt gặp.'

'Rất có thể.

Chúng tôi có giấu giếm gì đâu.'

'Nhưng theo tôi thì vào cái đêm bị anh bắt gặp, ông ta đang cố ghi nhớ lại cái gì đó.

Như tôi hiểu thì ông ta đã có một loại bản đồ hay sơ đồ gì đó để so với bản gốc của tờ giấy này và đã nhét nó vào túi khi anh xuất hiện.'

'Đúng thế.

Nhưng liệu ông ta làm gì với tục lệ cổ xưa của gia tộc chúng tôi và cái bản hỏi đáp lòng vòng này có nghĩa gì?'

'Tôi nghĩ xác định điều đó không khó gì', tôi đáp, 'nếu anh đồng ý thì chúng ta sẽ đáp chuyến tàu đầu tiên đi Sussex và xem xét vấn đề kĩ lưỡng hơn ngay tại chỗ.'

Đến trưa hôm đó, cả hai chúng tôi đã tới Hurlstone.

Có thể là anh đã được xem các bức ảnh và đọc qua mô tả về tòa lâu đài cổ nổi tiếng này nên tôi sẽ nói ngắn gọn về nó.

Tòa nhà này được xây theo hình chữ L, nhánh dài xây sau, còn nhánh ngắn là phần nhà gốc.

Phía trên cánh cửa thấp có ô văng nặng nề, chính giữa phần nhà cũ đó có tấm phù điêu đề 1607, nhưng các chuyên gia đều nhất trí rằng các xà gỗ và phần xây đá còn cổ hơn rất nhiều.

Những bức tường dày thịch và những khung cửa sổ bé xíu của khu nhà cũ này đã khiến cho dòng họ phải xây phần nhà mới vào thế kỉ trước và giờ thì phần cũ chỉ thỉnh thoảng được dùng đến để làm nhà kho và hầm chứa.

Một khu vườn tuyệt đẹp với những cây cổ thụ to lớn bao xung quanh tòa nhà, còn cái hố mà thân chủ của tôi đã đề cập đến thì nằm sát con đường dẫn tới lối vào và cách nhà khoảng hai trăm yard.

Anh Watson ạ, đến lúc ấy thì tôi đã hoàn toàn tin chắc rằng đây không phải là ba vụ bí ẩn riêng rẽ mà thực chất chỉ là một, và tôi nghĩ rằng nếu như tôi hiểu được ý nghĩa của Nghi thức gia tộc Musgrave thì tôi sẽ nắm trong tay đầu mối dẫn đến sự thật có liên quan đến cả quản gia Brunton và cô hầu Howells.

Thế là tôi tập trung toàn bộ sức lực vào đó.

Vì sao mà người quản gia này lại khao khát nắm lấy bí mật của bản câu hỏi cổ xưa này?

Rõ ràng là vì ông ta đã thấy được một điều gì trong đó mà tất cả những thế hệ lãnh chúa ở đây đều không nhận ra và từ đó ông ta mong đợi một mối lợi nào đó cho cá nhân mình.

Vậy thì, điều đó là gì và nó đã tác động lên số phận của ông ta ra sao?

Khi đọc nội dung hỏi đáp của nghi thức, điều hiện lên rất rõ đối với tôi là những số đo hẳn phải có liên quan đến một vị trí nào đó mà phần còn lại của tài liệu ám chỉ và nếu có thể tìm ra được vị trí đó, chúng tôi sẽ tìm ra bí mật mà tổ tiên dòng họ Musgrave cho rằng cần thiết phải được lưu truyền bằng một cách thức kì lạ đến thế.

Để khởi đầu, chúng tôi có hai cột mốc dẫn đường là cây sồi và cây du.

Về phần cây sồi thì chẳng có vấn đề gì.

Ngay phía trước nhà, bên trái lối vào, trong đám sồi nổi bật lên một gốc sồi cổ thụ, đây là một trong những cái cây ấn tượng nhất mà tôi từng thấy.

'Khi các nghi thức của gia tộc anh được thảo ra thì cây sồi này đã có ở đây hay chưa?' Tôi hỏi khi chúng tôi đi ngang qua nó.

'Rất có thể là nó đã ở đó từ hồi người Norman xâm lược Anh quốc,' anh ấy trả lời.

'Vòng thân của nó là hai mươi ba foot.'

'Nhà anh có cây du cổ thụ nào không?' Tôi hỏi.

'Trước đây từng có một cây rất già mọc ở đằng kia, nhưng nó bị sét đánh mười năm trước và nhà tôi đốn gốc nó rồi.'

'Anh biết chỗ đó chứ?'

'Ồ, có chứ.'

'Còn cây du cổ thụ nào khác không?'

'Chẳng có cây nào cổ thụ cả, nhưng sồi thì có nhiều.'

'Tôi muốn đến xem chỗ cây đó mọc lúc trước.'

Chúng tôi lên xe ngựa và thân chủ của tôi đưa tôi đi ngay đến nơi cây du mọc trước đây trên bãi cỏ, chứ không đi vào nhà.

Vị trí đó gần như nằm giữa cây sồi và ngôi nhà.

Cuộc điều tra của tôi xem ra diễn tiến tốt đẹp.

'Chắc giờ tôi không thể biết chiều cao của cây du ấy khi nó còn xanh tốt nữa nhỉ?' Tôi hỏi.

'Tôi có thể nói cho anh biết ngay.

Nó cao sáu mươi tư foot.'

'Sao anh biết?' Tôi ngạc nhiên hỏi.

'Gia sư của tôi ngày xưa thường giao bài tập lượng giác dưới dạng đo chiều cao các vật thể.

Khi còn nhỏ, tôi đã đo hết cây cối và nhà cửa ở đây.'

Quả là một vận may bất ngờ.

Các dữ liệu đang đến với tôi nhanh hơn cả mong đợi.

'Anh hãy cho tôi biết', tôi bảo anh ấy, 'người quản gia của anh đã hỏi anh câu đó chưa?'

Reginald Musgrave ngạc nhiên nhìn tôi.

'Giờ anh nhắc đến tôi mới nhớ', anh đáp, 'cách đây vài tháng, Brunton từng hỏi tôi về chiều cao của cây này trong lần tranh luận với cậu giữ ngựa.'

Đây quả là một tin tức tuyệt vời, Watson ạ, vì nó cho tôi thấy mình đi đúng hướng.

Tôi nhìn về phía mặt trời.

Nó đang dần xuống thấp và tôi tính chưa đến một giờ nữa, mặt trời sẽ xuống đến ngọn cây sồi cổ thụ.

Vậy là một điều kiện được nhắc đến trong bản Nghi thức sắp xảy ra.

Còn về bóng cây du thì chắc chắn bản hỏi đáp muốn nói đến điểm xa nhất của bóng cây, nếu không thì thân cây đã được chọn để làm mốc.

Vậy tôi phải xác định điểm xa nhất của cái bóng nằm ở chỗ nào khi mặt trời vừa đến ngọn cây sồi."

"Điều đó hẳn là khó đấy Holmes, vì cây du không còn ở đó nữa."

"À, ít nhất tôi cũng biết nếu như Brunton có thể tìm ra thì tôi cũng làm được.

Ngoài ra, chuyện cũng không mấy khó khăn.

Tôi đi cùng Musgrave tới thư phòng của anh ấy và tự tay vót cái cọc này, rồi buộc sợi dây dài này vào đó và cứ mỗi yard lại thắt một nút.

Sau đó tôi lấy một chiếc cần câu dài sáu foot, rồi cùng với thân chủ quay lại chỗ cây du mọc trước đây.

Mặt trời đang xuống đến ngang ngọn cây sồi.

Tôi cắm cần câu xuống, đánh dấu hướng bóng đổ và đo bóng.

Chiều dài là chín foot.

Tất nhiên là đến đây thì việc tính toán rất đơn giản.

Nếu chiếc cần câu dài sáu foot có bóng dài chín foot, vậy một cái cây cao sáu mươi tư foot sẽ cho bóng dài chín mươi sáu foot và cả hai cái bóng sẽ đổ về cùng một hướng.

Tôi đo lấy khoảng cách này và nó dẫn tôi đến gần sát bức tường của tòa nhà, tôi cắm cái cọc vào vị trí đó.

Watson này, anh có thể hình dung được tôi đã mừng biết bao khi nhìn thấy một cái lỗ trên mặt đất chỉ cách cây cọc của tôi chưa đến 2 inch.

Tôi biết đó là dấu vết mà Brunton đã để lại khi đo đạc và nghĩa là tôi vẫn đang đi theo đúng hướng của anh ta.

Từ điểm xuất phát này, tôi bắt đầu đếm bước sau khi đã xác định phương hướng bằng cái la bàn bỏ túi của mình.

Tôi đi mỗi chân mười bước theo phương song song với bức tường của tòa nhà và lại đánh dấu vị trí bằng một cái cọc.

Sau đó, tôi cẩn thận đếm mười bước về phía đông và bốn bước về phía nam.

Nó dẫn tôi đến ngay trước cánh cửa cũ nọ.

Đến đó phải bước hai bước về phía tây tức là tôi phải đi hai bước theo hành lang lát đá và đó là chỗ được bản Nghi thức chỉ ra.

Chưa bao giờ tôi cảm thấy một cơn lạnh rùng mình vì thất vọng đến thế, Watson ạ.

Trong phút chốc, tôi cho rằng hẳn là đã có một sai lầm nghiêm trọng nào đó trong cách tính toán của mình.

Mặt trời đang lặn chiếu sáng nền hành lang và tôi có thể trông thấy những phiến đá xám mòn rất cũ kĩ lát kín với nhau bằng ximăng và chắc chắn là trong suốt bao nhiêu năm qua chẳng hề bị dời đi chút nào.

Brunton đã không làm gì ở đây.

Tôi gõ thử lên sàn hành lang nhưng âm thanh phát ra ở mọi chỗ đều giống hệt nhau và không hề nghe thấy dấu hiệu của vệt nứt hay khe hở nào.

Nhưng may thay, Musgrave đã bắt đầu hiểu ra cách làm của tôi và cũng đang phấn khích giống như tôi, anh ấy lấy ra bản chép tay để kiểm tra lại cách tính toán của tôi.

'Và ở phía dưới,' anh ấy reo lên.

'Anh đã bỏ sót phần và ở phía dưới rồi!'

Tôi lại nghĩ rằng thế nghĩa là ta phải đào lên, nhưng bấy giờ thì tất nhiên là tôi nhận ra rằng mình đã lầm.

'Vậy là có một tầng hầm ở bên dưới chỗ này phải không?' Tôi reo to.

'Vâng, và nó cũng xưa cũ như ngôi nhà này vậy.

Ở ngay dưới, đi vào bằng cánh cửa này!'

Chúng tôi đi xuống một cầu thang xoắn bằng đá, người bạn đồng hành của tôi đánh diêm và thắp một cái đèn to vốn nằm trên cái thùng nằm trong góc.

Ngay lập tức, tôi thấy rõ rằng cuối cùng thì mình cũng đã đến đúng nơi và mới đây không chỉ có chúng tôi lui tới chốn này.

Ngày trước, tầng hầm này được dùng để chứa củi nhưng những thanh củi lúc trước rõ ràng là la liệt khắp trên sàn thì nay được xếp thành từng đống ở các vách để lộ ra một khoảng trống chính giữa.

Ở đó có một phiến đá lát to lớn và nặng nề với một vòng sắt đã gỉ sét ở giữa cùng một chiếc khăn choàng cổ dày kẻ ô buộc vào vòng sắt đó.

'Trời ơi!' Thân chủ của tôi kêu lên.

'Đây chính là chiếc khăn choàng cổ của Brunton.

Tôi đã từng trông thấy ông ta quàng khăn này và dám thề chắc như thế.

Tên khốn ấy đã làm gì ở đây vậy?'

Theo lời đề nghị của tôi, hai cảnh sát của hạt được mời đến để chứng kiến, và tôi gắng sức nhấc phiến đá lên bằng cách kéo tấm khăn.

Tôi chỉ có thể làm cho nó di chuyển được đôi chút và phải nhờ một cảnh sát giúp sức tôi mới nhấc được nó sang một bên.

Một miệng hố đen ngòm mở ra bên dưới phiến đá và tất cả chúng tôi cùng chăm chú nhìn xuống đó trong khi Musgrave quỳ bên miệng hầm và giơ đèn xuống dưới.

Một cái hầm nhỏ sâu khoảng bảy foot và rộng hơn bốn foot mở ra trước mắt chúng tôi.

Nằm ở một bên hầm là một cái rương gỗ nhỏ có đai bằng đồng, nắp rương mở và một chiếc chìa khóa kiểu cổ kì dị hãy còn cắm trong ổ khóa.

Cái rương phủ một lớp bụi dày, hơi ẩm và mọt đã ăn vào lớp gỗ nên một mảng nấm xanh xám đã mọc lên bên trong rương.

Vài mảnh kim loại tròn có vẻ là những đồng tiền cổ giống như thứ mà tôi đang giữ đây, nằm rải rác trên đáy rương, nhưng trong rương chẳng còn thứ gì khác nữa.

Tuy vậy, lúc đó chúng tôi chẳng nghĩ gì đến cái rương cũ kĩ đó vì mắt chúng tôi đều dán chặt vào hình thù cúi khom ở bên cạnh.

Đó là hình dáng một người đàn ông mặc comlê đen, người đó quỳ gối, trán gục xuống mép rương và hai cánh tay ôm quàng lấy chiếc rương.

Tư thế đó đã làm cho toàn bộ máu ứ lại ở mặt ông ta và không ai có thể nhận ra gương mặt tím bầm biến dạng đó, nhưng khi chúng tôi dựng cái thi thể lên thì chiều cao, bộ quần áo và mái tóc của người đó đủ để thân chủ của tôi nhận ra chính là viên quản gia đã mất tích.

Ông ta đã chết được vài ngày nhưng không hề có thương tích hay vết bầm nào trên cơ thể cho thấy cái kết thê thảm đến với ông ta như thế nào.

Sau khi đưa xác ông ta ra khỏi hầm, chúng tôi vẫn còn phải đương đầu với một vấn đề cũng hóc búa gần như không thua gì vấn đề ban đầu.

Anh Watson này, tôi phải thú nhận rằng lúc đó tôi rất thất vọng về việc điều tra của mình.

Tôi đã cho là mình sẽ giải quyết được vấn đề một khi tìm ra địa điểm được ám chỉ trong bản câu hỏi Nghi thức, nhưng giờ thì tôi ở ngay chỗ đó vậy mà có vẻ như vẫn không thể nào hiểu được điều bí mật mà gia tộc này đã che giấu bằng những biện pháp đề phòng tỉ mỉ đến thế.

Quả là tôi đã làm sáng tỏ được số phận của Brunton nhưng lúc này tôi phải tìm hiểu xem ông ta đã chết như thế nào và người phụ nữ mất tích đóng vai trò gì trong sự việc này.

Tôi ngồi xuống một cái thùng nhỏ đặt trong góc tầng hầm và suy nghĩ thật kĩ lưỡng về toàn bộ vụ án.

Anh đã biết các phương pháp của tôi trong những trường hợp thế này rồi, Watson.

Tôi tự đặt mình vào vị trí của viên quản gia và sau khi đánh giá mức độ thông minh của ông ta, tôi cố gắng tưởng tượng ra là mình sẽ tiến hành công việc như thế nào trong cùng những tình huống như thế.

Trong trường hợp này thì vấn đề được đơn giản hóa bởi Brunton thuộc loại thông minh xuất sắc vì thế mà không cần phải hạ thấp xuống cho bằng ông ta.

Ông ta biết rằng có một món gì đó có giá trị đã được cất giấu.

Ông ta đã tìm ra nơi giấu, ông ta biết rằng phiến đá che chắn lối vào quá nặng nên một người thì không thể dịch chuyển nó mà không có ai giúp sức.

Thế thì tiếp theo ông ta sẽ làm gì?

Ông ta không thể nào nhờ đến sự hỗ trợ từ bên ngoài ngay cả khi ông ta có ai đó tin cậy, vì như thế sẽ phải mở cửa nẻo chưa kể đến nguy cơ bị phát hiện khá cao.

Nếu có thể tìm được trợ thủ ở ngay trong nhà thì tốt hơn.

Nhưng ông ta có thể nhờ vả ai?

Cô gái ấy từng hết lòng vì ông ta.

Cánh đàn ông nhiều khi đối xử tệ bạc với phụ nữ nhưng lại không ý thức được rằng tình yêu của người phụ nữ ấy có thể mất đi.

Brunton bèn cố gắng, bằng một chút quan tâm, làm lành với cô Howells và lôi kéo cô ta đồng lõa với mình.

Theo kế hoạch thì đêm xuống, họ sẽ cùng đi xuống tầng hầm, và hai người sẽ đủ sức nâng phiến đá.

Đến đây thì tôi có thể hình dung được hành động của họ như thể chính mắt mình trông thấy.

Nhưng đối với hai người này, mà một người lại là phụ nữ, thì việc nâng phiến đá quả là rất nặng nhọc.

Ngay cả một cảnh sát lực lưỡng của hạt Sussex và tôi cùng làm mà còn chẳng thấy nhẹ nhàng gì.

Vậy thì họ đã làm thế nào?

Có lẽ để tìm ra giải pháp thì tôi nên tự mình thực hiện.

Tôi đứng lên và xem xét tỉ mỉ các thanh củi rải rác trên sàn nhà.

Gần như ngay tức khắc tôi đã tìm ra được điều mình mong muốn.

Một thanh củi dài ba foot bị tòe ra rất rõ ở một đầu, còn mấy thanh khác bị dẹp ở mặt bên như thể đã bị một vật rất nặng đè xuống.

Rõ ràng là khi kéo phiến đá lên, họ đã chèn những khúc củi vào khe hở, cho đến khi có đủ chỗ để bò qua thì họ chống một thanh củi vào đó, khiến cho đầu dưới của nó chống vào mép phiến đá bên cạnh bị tòe đi do toàn bộ sức nặng của tảng đá đè xuống.

Đến đây thì tôi vẫn đi đúng hướng.

Và bây giờ tôi sẽ tiếp tục dựng lại tấn thảm kịch lúc nửa đêm này như thế nào đây?

Rõ ràng là chỉ một người có thể chui lọt vào cái hầm và người đó là Brunton.

Cô gái phải đợi ở bên trên.

Sau đó Brunton mở khóa rương và có lẽ là đã chuyển những thứ bên trong rương lên - vì chẳng còn thấy gì trong rương - và rồi chuyện gì đã xảy ra?

Phải chăng ngọn lửa báo thù âm ỉ bùng lên mãnh liệt trong tâm trí cô gái gốc Celt nồng nhiệt này khi thấy kẻ đã đối xử tệ bạc với mình - có lẽ còn tệ hơn mức chúng ta nghĩ - lại đang nằm trong tầm tay mình định đoạt?

Hay chỉ là tình cờ mà thanh củi bị trượt ra và phiến đá nhốt kín Brunton trong cái hầm mà sau đã thành mộ đá của ông ta?

Có phải tội của cô ta chỉ là im lặng trước cái chết đó?

Hay là một cú phang bất thần từ tay cô ta đã làm cho thanh củi bị bắn đi khiến phiến đá rơi sầm trở xuống?

Dù sao đi nữa, trước mắt tôi dường như hiện lên hình ảnh người phụ nữ đó ôm chặt lấy món báu vật vừa tìm thấy và lao lên cầu thang, tai vẫn còn nghe tiếng kêu cứu vẳng tới từ phía sau và tiếng những nắm tay tới tấp đấm vào phiến đá để rồi cuối cùng người tình không chung thủy của cô sẽ chết ngạt bên dưới đó.

Đó là nguyên do bí mật của khuôn mặt xanh tái, của cơn chấn động thần kinh, của những tràng cười ngặt nghẽo của cô ta vào buổi sáng hôm sau.

Nhưng cái rương đó chứa thứ gì?

Và cô ta đã làm gì với chúng?

Tất nhiên đó chính là khối kim loại cũ kĩ và những viên đá mà thân chủ của tôi vớt lên được từ đáy hồ.

Cô ta ném chúng xuống đó ngay khi có cơ hội để xóa đi tang chứng phạm tội cuối cùng của mình.

Tôi đã ngồi bất động mất gần hai mươi phút để suy nghĩ kĩ càng về vụ này.

Musgrave vẫn đứng yên, mặt hết sức nhợt nhạt, tay anh đong đưa chiếc đèn lồng và mắt chăm chú nhìn xuống cái hầm.

'Đây là những đồng tiền thời Charles I,' anh nói và chìa ra vài mảnh kim loại trong rương lúc trước, 'anh xem, chúng ta đã xác định đúng niên đại của bản Nghi thức.'

'Chúng ta còn có thể tìm ra vài thứ khác nữa cũng của vua Charles I,' tôi kêu lên khi ý nghĩa khả dĩ của hai câu hỏi đầu trong bản Nghi thức chợt lóe lên trong đầu tôi.

'Hãy đưa tôi xem những thứ đựng trong cái túi mà anh đã vớt được dưới hồ.'

Chúng tôi đi lên phòng làm việc của anh ta và anh lấy những thứ đó ra trước mặt tôi.

Khi thấy những món đó thì tôi hiểu được tại sao anh ấy coi nhẹ chúng vì khối kim loại thì gần như đã đen kịt còn những viên đá thì xỉn màu và mờ đục.

Thế nhưng khi tôi chà một viên lên tay áo thì nó lóe lên như một tia lửa trong lòng bàn tay khum tối lại của tôi.

Khối kim loại thì có hình vòng kép nhưng đã méo mó và xoắn lại không còn hình dạng ban đầu nữa.

'Anh phải nhớ rằng', tôi nói, 'phe bảo hoàng vẫn nắm quyền ở nước Anh ngay cả sau cái chết của vị vua này và đến khi phải bỏ chạy, có lẽ họ đã chôn giấu những thứ quý giá nhất với ý định sẽ quay lại tìm kiếm khi tình hình đã yên ổn hơn.'

'Ông tổ của tôi, hầu tước Ralph Musgrave, là một kị sĩ lỗi lạc và là cánh tay phải của vua Charles II khi ngài lưu vong', bạn tôi cho biết.

'À, thảo nào!' Tôi đáp.

'Thế là chúng ta đã tìm thấy mắt xích cuối cùng mà ta còn thiếu.

Tôi phải chúc mừng anh vì đã sở hữu một di vật rất có giá mà lại còn mang ý nghĩa lịch sử quan trọng, tuy rằng quá trình phát hiện ra nó cũng thật đáng buồn.'

'Đó là gì vậy?' Anh ấy há hốc miệng vì ngạc nhiên.

'Còn gì nữa ngoài chiếc vương miện cổ xưa của các vị vua nước Anh.'

'Vương miện sao?'

'Chính xác là thế.

Hãy xem bản Nghi thức nói gì.

Nội dung của nó ra sao?

Cái này là của ai?

Là của người đã ra đi.

Đó là sau vụ hành quyết vua Charles I.

Rồi tiếp theo là: Ai sẽ sở hữu nó?

Người sẽ tới đây.

Đó là Charles II, người được chọn để kế vị.

Tôi cho rằng không còn nghi ngờ gì nữa, chiếc vương miện méo mó và cổ xưa này từng được đặt lên đầu các vị vua triều Stuart.'

'Vậy vì sao mà nó lại nằm dưới ao?'

'À, đó là một câu hỏi mà ta cần bớt chút thời gian để trả lời.' Và tôi tóm tắt cho anh ta nghe cả chuỗi dài suy luận và bằng chứng mà tôi đã dựng lên.

Khi tôi kể xong thì ánh hoàng hôn đã tắt và mặt trăng đã chiếu sáng trên bầu trời.

'Và vì sao mà sau đó vua Charles II đã không nhận lại chiếc vương miện khi ngài quay về Anh?' Musgrave hỏi trong khi cất những di vật vào lại chiếc túi vải lanh.

'À, anh đã chạm vào một điểm mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ chúng ta có thể làm sáng tỏ.

Có thể là trước khi ngài đoạt lại ngôi thì vị quý tộc Musgrave nắm giữ bí mật này đã chết và do sơ suất nên chỉ truyền lại lời hướng dẫn cho con cháu mình mà không giải thích rõ ý nghĩa của nó.

Từ ngày ấy cho đến nay bản Nghi thức đó cứ được cha truyền con nối cho đến khi rơi vào tay một người đã lần ra được bí mật và phải chịu mất mạng trong cuộc phiêu lưu này.'

Đó là câu chuyện về Nghi thức gia tộc Musgrave, Watson ạ.

Họ đang giữ chiếc vương miện ở Hurlstone dù rằng cũng phải trải qua vài rắc rối về mặt pháp lí và phải chi ra một món tiền đáng kể mới được phép giữ nó lại.

Tôi đoán chắc rằng họ sẽ vui lòng cho anh xem chiếc vương miện nếu anh nhắc đến tên tôi.

Còn về người phụ nữ kia thì không ai nghe nói gì về cô ta.

Rất có thể là cô ta đã rời nước Anh và đem theo kỉ niệm về tội lỗi của mình đến một vùng đất nào đó ở bên kia đại dương."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
CÁC ĐIỀN CHỦ Ở REIGATE (The Reigate Puzzle, 1893)


Chuyện xảy ra vào khoảng thời gian trước khi sức khỏe của bạn tôi, Sherlock Holmes, hồi phục sau cơn kiệt lực do làm việc quá sức vào mùa xuân năm 1887.

Toàn bộ vụ việc của Công ty Nederland Sumatra và những mưu đồ của nam tước Maupertuis hãy còn nóng hổi trong trí nhớ của công chúng và có liên quan quá mật thiết với giới chính trị và tài chính nên không phù hợp cho loạt hồi ức này.

Tuy nhiên, vụ này lại gián tiếp dẫn đến một vụ án kì lạ và phức tạp mà qua đó bạn tôi có cơ hội thể hiện giá trị của một loại vũ khí mới trong số nhiều vũ khí mà anh sử dụng để chiến đấu chống tội phạm.

Khi xem lại những ghi chép của mình, tôi thấy vào ngày 14 tháng 4 có nhận được một bức điện từ Lyon báo tin rằng Holmes đang ốm liệt giường tại khách sạn Dulong.

Chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ tôi đã có mặt trong phòng bệnh của anh và yên lòng hơn khi thấy các triệu chứng không có gì nghiêm trọng.

Tuy nhiên, ngay cả thể chất rắn rỏi của anh cũng bị suy nhược dưới áp lực của một cuộc điều tra kéo dài những hơn hai tháng và trong suốt thời gian đó không ngày nào anh làm việc dưới mười lăm giờ và hơn một lần, như anh xác nhận với tôi, đã đeo đuổi công việc suốt năm ngày liên tục.

Ngay cả kết quả thắng lợi của công việc cũng không thể cứu anh khỏi hậu quả của đợt dốc sức kinh khủng đến thế và vào lúc cả Âu châu đang nhắc đến tên anh, khi phòng anh ngập điện chúc mừng đến mắt cá chân theo đúng nghĩa đen, thì tôi thấy anh đang lâm vào tình trạng suy nhược tồi tệ nhất.

Dù biết mình đã thành công trong khi cảnh sát của ba quốc gia thất bại và đã cao tay hơn kẻ lừa đảo tài ba nhất Âu châu về mọi mặt, anh cũng không đủ phấn chấn để ra khỏi cơn suy nhược thần kinh.

Ba ngày sau, chúng tôi cùng trở về phố Baker, nhưng rõ ràng là thay đổi không khí sẽ tốt hơn nhiều cho bạn tôi và ý tưởng về vùng nông thôn một tuần lễ để hưởng không khí mùa xuân cũng rất hấp dẫn đối với tôi.

Anh bạn cũ của tôi, đại tá Hayter, là người đã từng được tôi chăm sóc khi còn ở Afghanistan, giờ đã kiếm được một căn nhà gần thị trấn Reigate ở hạt Surrey, vẫn thường mời tôi đến thăm.

Lần gần đây nhất anh có nói rằng, nếu bạn tôi cùng đi thì anh ấy rất vui lòng đón tiếp.

Cũng cần đến đôi chút khéo léo trong lúc thuyết phục nhưng khi Holmes hiểu rằng chủ nhà là một người độc thân và anh sẽ được hoàn toàn tự do, anh cũng đồng ý với kế hoạch của tôi và một tuần sau khi từ Lyon trở về London, chúng tôi đã ở dưới mái nhà của đại tá Hayter.

Đại tá Hayter là một cựu quân nhân dễ mến, từng trải và chẳng mấy chốc, như tôi đã đoán, anh ấy nhận ra rằng giữa mình và Holmes có nhiều điểm chung.

Vào buổi tối hôm chúng tôi mới đến, sau khi dùng cơm, chúng tôi ngồi trong phòng treo súng của đại tá sau bữa tối, Holmes nằm dài trên chiếc trường kỉ trong khi Hayter và tôi xem xét bộ sưu tập nhỏ những thứ vũ khí phương Đông của anh ta.

"À, nhân tiện đây", bất chợt anh ta nói, "tôi nghĩ là mình sẽ đem lên lầu một trong những khẩu súng này để đề phòng trường hợp có báo động."

"Báo động à!"

Tôi hỏi.

"Phải, mới đây trong vùng này vừa xảy ra một vụ.

Ông lão Acton, một trong những người có vai vế của hạt chúng tôi đã bị trộm đột nhập vào nhà hôm thứ hai vừa rồi.

Cũng chẳng có tổn thất gì nhiều nhưng bọn trộm thì vẫn chưa bị tóm."

"Không có manh mối gì sao?"

Holmes hỏi và đưa mắt nhìn đại tá.

"Chưa có gì.

Nhưng vụ trộm này chỉ nhỏ thôi, một trong những vụ phạm tội vụn vặt ở nông thôn chúng tôi, chẳng đáng để anh quan tâm, anh Holmes ạ, sau sự kiện vĩ đại tầm cỡ quốc tế vừa rồi."

Holmes phẩy tay như muốn xua đi lời ca tụng dù nụ cười trên môi anh cho thấy nó đã làm anh hài lòng.

"Vụ trộm ấy có chi tiết nào đáng chú ý không?"

"Tôi cho là không.

Bọn trộm lục tung cả thư viện mà chỉ thu được vài thứ chẳng bõ công.

Toàn bộ căn phòng bị đảo lộn, các ngăn kéo thì bị giật tung ra và báo chí bị lục lọi, hậu quả là một tập trường ca Homer do Pope dịch, hai giá đỡ nến mạ bạc, một cái chặn giấy bằng ngà, một cái phong vũ biểu bằng gỗ sồi và một cuộn dây bện là tất cả những thứ bị mất."

"Nhặt nhạnh gì mà lạ vậy!"

Tôi buột kêu lên.

"Ồ, rõ ràng là những tên đó đã vớ lấy bất cứ thứ gì có thể lấy đi."

Holmes lẩm bẩm từ chiếc trường kỉ.

"Lẽ ra cảnh sát hạt nên tìm hiểu thêm về chuyện này", anh nói.

"À, thật rõ ràng là..."

Nhưng tôi đã giơ một ngón tay lên cảnh báo.

"Anh đến đây là để nghỉ ngơi, anh bạn thân mến.

Vì Chúa, đừng có vướng thêm vào vụ nào khi mà anh vẫn còn bị suy nhược thần kinh."

Holmes nhún vai và liếc sang đại tá với vẻ cam chịu khôi hài rồi câu chuyện chuyển sang những đề tài ít nguy hiểm hơn.

Thế nhưng số phận đã định rằng tất cả những khuyến cáo của tôi chẳng có giá trị gì vì đến sáng hôm sau thì vụ này tự tìm đến chúng tôi theo cái cách không thể làm ngơ được, và chuyến nghỉ ngơi ở vùng quê của chúng tôi đã chuyển sang một hướng mà chẳng ai trong chúng tôi có thể đoán trước.

Khi chúng tôi còn đang dùng bữa điểm tâm thì người quản gia của đại tá lao vào mà quên hết các phép tắc.

"Ông đã nghe tin gì chưa, thưa ông?"

Anh ta hổn hển nói.

"Ở nhà Cunningham, thưa ông!"

"Trộm à!"

Đại tá kêu lên, tay vẫn đang giơ tách cà phê.

"Án mạng!"

Đại tá huýt sáo.

"Trời đất!"

Anh ta kêu lên.

"Ai bị giết vậy?

Ông thẩm phán hay là cậu con trai?"

"Cả hai vẫn còn sống, thưa ông.

Nạn nhân là William, người xà ích.

Bị bắn ngay giữa tim, thưa ông.

Và chết ngay tức khắc."

"Vậy ai đã bắn anh ta?"

"Tên trộm, thưa ông.

Hắn biến đi chớp nhoáng và hoàn toàn không để lại dấu vết gì.

Hắn vừa phá cửa sổ phòng để thực phẩm thì William bước đến gần và đã bỏ mạng khi bảo vệ tài sản cho chủ."

"Lúc đó là mấy giờ?"

"Vào đêm qua, thưa ông, lúc gần nửa đêm."

"Hả, thế thì lát nữa chúng tôi sẽ sang đó", đại tá nói và điềm tĩnh quay lại bữa điểm tâm.

"Vụ này thật tồi tệ", anh ta nói thêm khi người quản gia đã đi khỏi.

"Ông lão Cunningham là nhân vật quan trọng ở vùng này, và cũng là một người rất tử tế.

Chắc ông cụ đau buồn lắm vì người xà ích đã làm việc cho ông ta nhiều năm và là một người hầu rất tốt.

Rõ ràng cũng lại cái đám bất lương đã đột nhập vào nhà Acton."

"Và lấy đi những thứ rất khác thường", Holmes lên tiếng với vẻ tư lự.

"Chính xác như vậy."

"Hừm!

Đây có thể là vụ đơn giản nhất trần đời, nhưng theo đánh giá ban đầu nó có chút kì lạ phải không?

Một băng trộm ra tay ở vùng nông thôn theo lẽ thường sẽ phải thay đổi địa bàn hoạt động chứ không cạy cửa hai nhà trong cùng một khu vực chỉ trong vòng có vài ngày.

Tối hôm qua, khi anh nói đến việc đề phòng thì tôi đã thoáng nghĩ rằng có lẽ vùng này là xứ cuối cùng trên nước Anh bị bọn trộm nhòm ngó, xem ra tôi vẫn còn phải học hỏi nhiều nữa."

"Tôi tin đây chỉ là một tên trộm trong vùng", đại tá nói.

"Nếu vậy thì tất nhiên là hắn phải mò đến nhà Acton và Cunningham vì đó đúng là những nhà lớn nhất ở đây."

"Và giàu nhất phải không?"

"À, trước đây thì thế, nhưng họ vướng vào một vụ kiện kéo dài mấy năm nay đã rút cạn tiền bạc của cả hai bên, tôi nghĩ thế.

Ông lão Acton kiện đòi một nửa đất đai nhà Cunningham, còn các luật sư thì vồ chặt lấy vụ này?"

"Nếu đó là một tên trộm trong vùng thì việc tìm bắt hắn cũng chẳng khó khăn cho lắm", Holmes vừa nói vừa ngáp.

"Thôi được rồi, Watson, tôi không định can thiệp vào vụ này đâu."

"Thanh tra Forrester đến, thưa ông", người quản gia thông báo khi mở cửa.

Viên sĩ quan bước vào phòng, anh ta hãy còn trẻ, trông mặt lanh lợi và nhiệt tình.

"Xin chào đại tá", anh ta lên tiếng, "hi vọng rằng tôi không làm phiền các vị, nhưng chúng tôi được biết là ông Holmes ở phố Baker đang ở đây."

Đại tá phất tay về phía bạn tôi và viên thanh tra cúi đầu chào.

"Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ ông sẽ sẵn sàng quá bộ sang bên đó, thưa ông Holmes."

"Số phận chống lại anh rồi, Watson ạ", anh vừa nói vừa cười.

"Chúng tôi đang tán chuyện về vụ án thì ông đến, thanh tra ạ.

Có lẽ ông có thể cho chúng tôi biết một vài chi tiết chăng."

Khi nhìn thấy anh ngả người ra trên ghế với cái tư thế quen thuộc thì tôi biết mình cũng đành bó tay.

"Chúng tôi không tìm được dấu vết nào trong vụ nhà Acton.

Nhưng vụ mới đây thì chúng tôi có nhiều thứ để tiến hành và không nghi ngờ gì nữa, cả hai vụ đều do cùng một thủ phạm gây ra.

Có người đã nhìn thấy thủ phạm."

"Ồ!"

"Vâng, thưa ông.

Nhưng hắn chuồn đi nhanh như nai sau khi nổ súng bắn hạ anh William Kirwan tội nghiệp, ông cụ Cunningham nhìn thấy hắn từ cửa sổ phòng ngủ và anh Alec Cunningham thì trông thấy hắn từ hành lang sau.

Lúc nghe thấy tiếng kêu là 11 giờ 45 phút.

Ông Cunningham vừa mới vào giường còn Alec thì đang hút tẩu và đã mặc áo ngủ.

Cả hai đều nghe thấy tiếng người xà ích William kêu cứu và anh Alec chạy xuống để xem chuyện gì xảy ra.

Cánh cửa sau đã mở và khi anh ta chạy đến chân cầu thang thì nhìn thấy hai người đàn ông đang vật lộn với nhau ở bên ngoài.

Một người nổ súng, người kia gục xuống và kẻ sát nhân băng qua vườn rồi lao qua hàng rào.

Ông lão Cunningham nhìn ra từ cửa sổ phòng ngủ của mình có trông thấy hắn chạy đến con đường nhưng rồi khuất khỏi tầm nhìn ngay lập tức.

Anh Alec thì dừng lại để xem có thể cứu chữa cho người hấp hối được không, vì thế nên tên bất lương sổng mất.

Ngoài chi tiết là hắn có vóc người tầm thước và mặc quần áo màu sẫm ra thì chúng tôi không có thêm manh mối nào khác; nhưng chúng tôi đang tiến hành điều tra rất gắt gao và nếu hắn là người lạ thì chúng tôi sẽ nhanh chóng tìm ra."

"Lúc đó William làm gì ở đấy?

Anh ta có kịp trăng trối điều gì không?"

"Không một lời nào.

Anh ta sống cùng với bà mẹ ở căn nhà phía ngoài và vì anh ta là một người làm rất trung thành nên chúng tôi cho rằng anh ta đã đi lên ngôi nhà với ý định xem thử mọi chuyện có ổn không.

Đương nhiên là vụ trộm nhà Acton đã khiến cho mọi người phải đề phòng.

Chắc chắn là tên trộm chỉ vừa mới phá cửa - ổ khóa đã bị phá - thì bị William bắt gặp."

"William có nói gì với mẹ trước khi đi không?"

"Bà cụ rất già và bị lãng tai, chúng tôi chẳng hỏi được gì từ bà ta cả.

Cú sốc đã làm cho bà ta mụ người đi nhưng tôi hiểu rằng trước đây bà ta cũng chưa bao giờ tỉnh táo cả.

Tuy nhiên, có một chi tiết rất quan trọng.

Các ông xem đây!"

Anh ta lấy ra từ một cuốn sổ ghi chép một mẩu giấy nhỏ đã bị xé và đặt nó lên trên đùi.

"Mẩu giấy này được tìm thấy giữa ngón trỏ và ngón cái của người chết.

Có vẻ như đây là một phần của một tờ giấy lớn hơn.

Các ông sẽ thấy rằng thời gian được ghi trong đó chính là thời điểm mà anh chàng xấu số gặp phải tử thần.

Các ông xem có lẽ kẻ sát nhân đã xé mất phần còn lại khỏi tay anh ta hoặc có thể là anh ta đã giật được phần này từ tay hắn.

Xem ra nội dung của mẩu giấy này giống như một cuộc hẹn."

Holmes cầm mẩu giấy lên, bản sao của nó như sau:

"Cứ tạm cho rằng đây là một cuộc hẹn", người thanh tra nói tiếp, "thì tất nhiên giả thuyết hợp lí là gã William Kirwan này - dù được tiếng là người lương thiện - có thể đã cấu kết với kẻ trộm.

Có thể hắn gặp tên trộm ở đó, thậm chí có thể đã giúp phá cửa và rồi sau đó xảy ra bất hòa giữa chúng."

"Những chữ viết này vô cùng thú vị", Holmes nói sau khi đã tập trung cao độ xem xét mẩu giấy.

"Tình hình phức tạp hơn tôi tưởng nhiều."

Anh gục đầu vào hai bàn tay, trong khi đó viên thanh tra mỉm cười trước tác động mà vụ án gây ra đối với vị chuyên gia nổi tiếng của London.

"Nhận xét cuối cùng của ông", ngay lập tức, Holmes lên tiếng, "về khả năng có sự thông đồng giữa kẻ trộm và tên người hầu, và đây là giấy hẹn của chúng, quả là một giả thuyết tài tình và hoàn toàn có thể xảy ra.

Nhưng chữ viết có thể cho ta thấy..."

Anh lại gục đầu vào lòng bàn tay và suy nghĩ rất lung trong tư thế đó suốt vài phút.

Khi anh ngẩng mặt lên thì tôi kinh ngạc khi nhìn thấy gò má anh đỏ bừng còn hai mắt sáng quắc như trước khi bị suy nhược.

Anh đứng bật dậy với tất cả nguồn năng lượng ngày trước của mình.

"Tôi đề nghị thế này", anh nói, "tôi muốn được xem xét qua các chi tiết của vụ này.

Có vài điều trong đó khiến tối hứng thú vô cùng.

Đại tá này, nếu anh đồng ý, tôi xin phép tạm rời anh và anh bạn Watson để đi một vòng cùng với ông thanh tra đây kiểm chứng một vài suy nghĩ của tôi.

Tôi sẽ quay lại với các anh trong nửa giờ nữa."

Và một tiếng rưỡi sau, người thanh tra quay lại một mình.

"Ông Holmes đang tản bộ trên cánh đồng ngoài kia", anh ta cho biết.

"Ông ấy muốn rằng cả bốn chúng ta cùng đi đến ngôi nhà đó."

"Đến nhà ông Cunningham à?"

"Vâng, thưa ông."

"Để làm gì chứ?"

Viên thanh tra nhún vai.

"Tôi cũng không hiểu rõ lắm, thưa ông.

Nói riêng thôi nhé, tôi nghĩ rằng ông Holmes vẫn chưa khỏi ốm.

Ông ấy hành động kì lạ lắm và trông ông ấy rất kích động."

"Tôi nghĩ rằng ông không cần phải lo lắng nhiều", tôi nói.

"Tôi vẫn thường thấy ẩn trong sự điên rồ là phương pháp của anh ấy."

"Nhưng người ta cũng có thể nói trong phương pháp của ông ấy có sự điên rồ", viên thanh tra lẩm bẩm.

"Nhưng vì ông ấy cứ giục như bị lửa đốt vậy, ông đại tá ạ, nên tốt nhất là ta sang đó ngay nếu như các ông đã sẵn sàng."

Chúng tôi thấy Holmes đang đi đi lại lại trên cánh đồng, cằm gục xuống và hai tay thì đút túi quần.

"Vấn đề càng lúc càng lí thú đây", anh nói.

"Watson này, chuyến đi chơi vùng nông thôn của anh thành công xuất sắc đấy.

Tôi được hưởng một buổi sáng thật thú vị."

"Theo như tôi hiểu thì anh đã đến hiện trường của vụ án", đại tá lên tiếng hỏi.

"Phải, ông thanh tra và tôi đã cùng nhau điều tra thực địa."

"Có thu được gì không?"

"À, chúng tôi thấy được vài điều rất thú vị.

Trên đường đi tôi sẽ kể cho ông nghe chúng tôi đã làm được những gì.

Trước hết là, chúng tôi đã xem thi thể của người đàn ông bất hạnh.

Chắc chắn là anh ta đã chết vì một phát đạn súng lục như trong biên bản."

"Vậy là ông đã nghi ngờ về điều đó chăng?"

"Ồ, dù sao cũng nên kiểm tra mọi thứ chứ.

Cuộc khám nghiệm của chúng tôi chẳng vô ích chút nào.

Sau đó chúng tôi đã thẩm vấn ông cụ Cunningham và con trai ông ta là những người có thể chỉ chính xác nơi mà kẻ sát nhân đã lao qua hàng rào khi hắn bỏ chạy.

Điều đó thực sự rất quan trọng."

"Tất nhiên rồi."

"Sau đó chúng tôi gặp qua bà mẹ của anh chàng tội nghiệp.

Thế nhưng chúng tôi không lấy được chút thông tin nào từ bà cụ, bà ấy đã già yếu quá rồi."

"Vậy cuộc điều tra của anh thu được kết quả ra sao?"

"Tôi tin chắc rằng tội ác trong vụ này rất đặc biệt.

Có lẽ chuyến đi này của chúng ta có thể giúp cho vụ án được sáng tỏ hơn.

Ông thanh tra này, tôi nghĩ rằng cả hai chúng ta đều đồng ý rằng mẩu giấy trong tay nạn nhân có ghi đúng cái giờ mà anh ta chết vô cùng quan trọng."

"Chắc nó sẽ cho ta manh mối gì đó, ông Holmes."

"Đúng là đã có manh mối.

Ai đã viết nó thì cũng là người đã khiến cho William Kirwan phải bước ra khỏi giường vào giờ đó.

Nhưng phần còn lại của tờ giấy ấy đâu?"

"Tôi đã khám xét mặt đất rất kĩ lưỡng với hi vọng sẽ tìm ra nó", viên thanh tra đáp.

"Nó đã bị xé ra khỏi bàn tay của người chết.

Vì sao ai đó lại lo lắng muốn lấy nó?

Bởi vì nó buộc tội hắn ta.

Và hắn sẽ làm gì với mảnh giấy đó?

Khả dĩ nhất là sẽ nhét vào túi mà không để ý một góc của tờ giấy hãy còn nằm lại trong bàn tay nắm chặt của cái xác.

Nếu chúng ta có thể tìm được phần còn lại của tờ giấy đó thì rõ ràng là ta đã có thể tiến được một bước dài trên đường giải quyết bí mật này."

"Phải, nhưng làm thế nào mà lần được đến túi kẻ tội phạm trước khi bắt được hắn?"

"Đấy, đấy, thế mới đáng để nghiền ngẫm vấn đề.

Vả lại còn một điểm khác nữa.

Tờ giấy này được gửi đến William.

Người viết ra lời nhắn đã không thể tận tay đưa nó cho anh ta, vì nếu thế đương nhiên hắn chỉ việc nói luôn nội dung lời nhắn.

Vậy thì ai đã chuyển tờ giấy này?

Hay là nó đã được gửi tới bằng đường bưu điện?"

"Tôi đã điều tra", thanh tra lên tiếng.

"Chiều qua William đã nhận được một lá thư từ bưu điện.

Phong bì do anh ta xé."

"Rất tuyệt!"

Holmes reo lên và vỗ vào lưng anh ta.

"Ông đã gặp người đưa thư.

Được làm việc với ông thật là thích.

Nào, căn nhà của người xà ích đây rồi, thưa đại tá, mời anh đi ra đây và tôi sẽ chỉ cho anh xem hiện trường của vụ án."

Chúng tôi đi qua một căn nhà xinh xắn là nơi người bị giết từng sống và bước lên một con đường rộng hai bên trồng sồi dẫn đến một tòa nhà cổ kính đẹp đẽ xây theo phong cách thời nữ hoàng Anne có khắc ngày xảy ra trận đánh Malplaquet phía trên cửa.

Holmes và người thanh tra dẫn chúng tôi đi vòng qua nhà đến cánh cửa phụ nằm bên một dải vườn có hàng rào ngăn cách với con đường.

Một viên cảnh sát đang đứng bên cánh cửa vào nhà bếp.

"Hãy mở cửa ra, anh cảnh sát", Holmes yêu cầu.

"Nào, đây là các bậc thang nơi anh Cunningham đứng và nhìn thấy hai người đàn ông đang vật lộn với nhau ở ngay chỗ chúng ta đang đứng đây.

Còn ông cụ Cunningham thì ở cái cửa sổ đằng kia - cái thứ nhì bên trái - và nhìn thấy hắn bỏ chạy ngay bên trái bụi cây đó.

Sau đó anh Alec chạy ra và quỳ xuống bên cạnh người bị thương.

Mặt đất rất cứng, như các ông thấy, và không có dấu vết nào mách bảo cho chúng ta."

Khi anh đang nói thì có hai người đàn ông đi vòng qua góc nhà và dọc theo lối đi trong vườn.

Một người lớn tuổi với gương mặt cương nghị đầy những nếp nhăn sâu và quầng mắt nặng trĩu; người kia là một chàng trai trẻ hăng hái, mặt mũi tươi tỉnh và y phục lòe loẹt trông trái ngược đến ngạc nhiên với công chuyện đã mang chúng tôi tới đây.

"Sao, hãy còn giậm chân tại chỗ à?"

Anh ta nói với Holmes.

"Tôi cứ nghĩ là người London các ông thì chẳng bao giờ lầm lẫn chứ.

Xem ra ông cũng không nhanh nhẹn cho lắm."

"À, anh phải cho chúng tôi đôi chút thời gian chứ", Holmes vui vẻ đáp.

"Ông sẽ cần đến nhiều thời gian đấy", chàng trai Alec Cunningham nói.

"Sao nào, tôi thấy ta chẳng có chút manh mối nào cả."

"Có một manh mối duy nhất", viên thanh tra đáp.

"Chúng tôi nghĩ chỉ cần tìm thấy...

Lạy Chúa, ông Holmes!

Có chuyện gì thế?"

Trên gương mặt anh bạn tội nghiệp của tôi đột nhiên có biểu hiện rất đáng sợ.

Hai mắt anh trợn ngược lên, nét mặt co thắt lại vì đau đớn và thốt ra một tiếng rên dù đã cố nén lại rồi anh ngã sấp xuống đất.

Kinh hoảng trước sự đột ngột và mức độ nghiêm trọng của cơn đau, chúng tôi khiêng anh vào bếp, để anh ngả người trên một chiếc ghế rộng và thở hổn hển đến vài phút.

Cuối cùng, anh cũng gượng dậy được và xin mọi người thứ lỗi cho sự ốm yếu của mình với vẻ mặt ngượng ngập.

"Anh Watson đây sẽ nói cho các ông biết là tôi chỉ vừa mới hồi phục sau một đợt ốm nặng", anh giải thích.

"Nên tôi dễ bị những cơn chấn động thần kinh đột ngột thế này."

"Hay là để tôi cho lấy xe ngựa đưa ông về nhà?"

Ông cụ Cunningham hỏi.

"Không sao, vì tôi cũng đã đến đây rồi nên tôi muốn xác minh rõ một điểm.

Chúng ta có thể kiểm tra điều đó rất dễ dàng."

"Điều gì vậy?"

"Tôi cảm thấy rất có thể là anh chàng William tội nghiệp xuất hiện không phải trước mà là sau khi kẻ trộm đột nhập vào nhà.

Nhưng có vẻ như các ông lại mặc định rằng kẻ trộm đã phá khóa cửa nhưng chưa vào nhà."

"Tôi nghĩ rằng điều ấy đã khá rõ rồi", ông lão Cunningham trầm giọng.

"Ấy, lúc đó Alec, con trai tôi, hãy còn chưa vào giường và chắc chắn là nó đã nghe thấy tiếng động nếu ai đó đi lại trong nhà."

"Khi đó anh Alec đang ngồi ở đâu?"

"Tôi đang hút thuốc trong phòng thay đồ."

"Cửa sổ nào là của phòng đó?"

"Cái cuối cùng ở bên trái, kế bên phòng của cha tôi."

"Hẳn là đèn trong buồng của cả hai ông hãy còn thắp sáng?"

"Chắc chắn là thế."

"Ở đây có vài điểm bất thường", Holmes mỉm cười nói.

"Chẳng phải lạ sao khi một tên trộm - và lại là một tên trộm đã có kinh nghiệm - lại ngang nhiên đột nhập vào một căn nhà mà qua ánh đèn hắn có thể thấy cả hai người trong nhà hãy còn thức?

Hắn phải là một kẻ rất to gan."

"À, tất nhiên rồi, nếu trường hợp này không kì lạ thì việc gì chúng tôi phải nhờ cậy đến ông để làm sáng tỏ", Alec lên tiếng.

"Nhưng còn việc ông cho rằng hắn đã vào trộm trong nhà trước khi bị William chặn lại thì tôi nghĩ ý đó thật là ngớ ngẩn.

Nếu vậy thì chúng tôi đã phải thấy nhà cửa bị lục tung lên và có vài món đồ bị hắn lấy rồi chứ?"

"Điều đó còn tùy thuộc vào việc những món đồ đó là gì", Holmes trả lời.

"Ông phải nhớ rằng chúng ta đang đối đầu với một tên trộm vô cùng lập dị và có vẻ như có kiểu kiếm chác riêng.

Hãy nhớ lại xem, ví dụ như một lô những thứ kì quặc mà hắn đã lấy trộm ở nhà ông Acton - có những gì nhỉ?

Một cuộn dây, một cái chặn giấy và tôi không rõ hắn còn lấy những của khỉ gì nữa."

"Thôi thì chúng tôi cứ phó thác cả cho ông, ông Holmes ạ", ông lão Cunningham xen vào.

"Chắc chắn là bất cứ điều gì mà ông hay là ông thanh tra đây yêu cầu đều sẽ được thực hiện."

"Trước tiên", Holmes nói, "tôi muốn ông treo thưởng - trích từ tiền túi của ông, vì có thể phía cảnh sát cần đôi chút thời gian trước khi họ thống nhất về khoản tiền mà trong những chuyện như thế này thì họ không quyết định nhanh chóng được.

Tôi đã thảo sẵn nội dung đây, nếu các ông đồng ý thì mời kí vào.

Tôi nghĩ chắc năm mươi bảng là đủ rồi."

"Tôi sẵn sàng thưởng năm trăm bảng luôn", ông thẩm phán nói rồi cầm lấy mảnh giấy và cây bút chì mà Holmes đưa.

"Nhưng văn bản này chưa chính xác", ông ta nói thêm trong khi đọc lướt qua tờ giấy.

"Tôi viết hơi vội."

"Ông xem này, câu đầu ông viết: 'Xét vì, vào khoảng một giờ kém mười lăm sáng thứ ba đã xảy ra một vụ đột nhập... vân... vân.' Phải là mười hai giờ kém mười lăm mới đúng thực tế."

Tôi cảm thấy đau lòng trước sự nhầm lẫn này vì tôi biết Holmes sẽ rất buồn nếu phạm phải sai lầm như thế.

Đặc tính của anh là luôn nắm chính xác các dữ kiện thực tế nhưng đợt ốm vừa xong đã tác động đến anh và sự cố nhỏ này cũng đủ cho tôi nhận thấy là còn lâu anh mới hồi phục được hoàn toàn.

Rõ ràng là anh có hơi lúng túng một chút, trong khi viên thanh tra thì nhướng mày còn Alec Cunningham bật lên cười ha hả.

Tuy nhiên, ông lão lịch sự chỉ sửa lại chỗ bị sai và trao tờ giấy lại cho Holmes.

"Hãy đưa in càng sớm càng tốt", ông ta nói.

"Tôi nghĩ rằng ý kiến của ông rất hay."

Holmes cẩn thận kẹp mảnh giấy vào trong cuốn sổ tay của mình.

"Và bây giờ", anh tiếp tục, "ta hãy cùng đi xem xét khắp nhà để chắc chắn là cuối cùng thì tên trộm có phần bất thường này đã không lấy đi thứ gì cả."

Trước khi bước vào, Holmes kiểm tra cánh cửa bị cạy phá.

Rõ ràng là đã có người ấn mạnh một cái đục hoặc một con dao cứng vào và ổ khóa đã bị cạy bật ra.

Chúng tôi có thể thấy được những dấu vết trên mặt gỗ là nơi vật đó được tì vào.

"Vậy là các ông không dùng thanh chắn cửa?"

Anh hỏi.

"Chúng tôi chẳng bao giờ cần đến thứ đó."

"Các ông không nuôi chó?"

"Có, nhưng nó bị xích ở phía bên kia nhà."

"Những người giúp việc đi ngủ vào lúc mấy giờ?"

"Khoảng 10 giờ."

"Tôi đoán rằng William cũng thường đi ngủ vào giờ ấy."

"Vâng."

"Điều lạ lùng là vào đúng đêm ấy anh ta lại thức khuya đến thế.

Nào, tôi sẽ rất hân hạnh nếu ông vui lòng dẫn đường đi xem nhà, thưa ông Cunningham."

Một lối đi lát đá, có một nhánh dẫn ra khu bếp, nối tiếp với một cầu thang gỗ dẫn thẳng đến tầng hai của ngôi nhà.

Trên hành lang, phía đối diện là chiếc cầu thang thứ nhì được trang trí nhiều hơn đi lên từ tiền sảnh.

Đầu hành lang là một phòng khách và vài phòng ngủ, trong đó có phòng của ông lão Cunningham và phòng của con trai ông.

Holmes bước chậm rãi và ghi nhớ cấu trúc của tòa nhà.

Nhìn vẻ mặt của anh, tôi có thể đoán được là anh đang lần theo một dấu vết quan trọng, tuy vậy tôi vẫn không tài nào hình dung được những suy luận đang dẫn anh theo hướng nào.

"Ông Holmes thân mến", ông cụ Cunningham nói với vẻ hơi sốt ruột, "rõ ràng là chuyện này chẳng cần thiết chút nào.

Đằng kia là phòng của tôi ở đầu cầu thang và sau đó là phòng con trai tôi.

Ông cứ tự mình mà suy xét xem có lẽ nào tên trộm lại lên đến đây mà chúng tôi không hay biết gì sao."

"Tôi nghĩ rằng ông cần phải đi một vòng ở bên ngoài và hít thở khí trời trong lành", người con trai ông cụ nói với một nụ cười ác ý.

"Tuy vậy tôi vẫn muốn các ông chiều ý mình thêm chút nữa.

Chẳng hạn như, tôi muốn xem từ cửa sổ của các phòng ngủ có thể nhìn ra phía trước nhà được bao xa.

Tôi đoán căn phòng này là phòng ngủ của con trai ông", anh đẩy cánh cửa mở ra, "và kia hẳn là phòng thay đồ mà anh ấy đã ngồi hút thuốc khi có tiếng kêu cứu.

Thế cánh cửa sổ này mở ra đâu?"

Anh bước ngang qua phòng ngủ, đẩy cửa ra và nhìn khắp gian phòng nhỏ kế cận.

"Tôi hi vọng rằng ông đã hài lòng rồi chứ?"

Ông Cunningham bẳn gắt hỏi.

"Xin cảm ơn, tôi nghĩ rằng mình đã xem hết những gì mình muốn."

"Nếu thực sự cần thì chúng ta có thể sang phòng tôi."

"Nếu ông không phiền."

Ông thẩm phán nhún vai và dẫn đường đến phòng của mình, một căn phòng được bài trí đơn giản và bình thường.

Khi chúng tôi đi ra phía cửa sổ thì Holmes bước chậm lại để chỉ còn anh và tôi tụt lại sau cùng.

Gần bên chân giường có đặt một đĩa cam và một bình nước.

Khi chúng tôi đi qua đó, trước sự ngạc nhiên đến sững sờ của tôi, Holmes nhoài người qua trước mặt tôi và cố ý hất cho tất cả đổ xuống đất.

Chiếc bình thủy tỉnh vỡ thành trăm mảnh, còn trái cây lăn vào các góc phòng.

"Anh đã gây chuyện rồi, Watson", anh thản nhiên nói.

"Anh làm bẩn cả tấm thảm đấy!"

Tôi cúi xuống vì bối rối và bắt đầu nhặt mấy quả cam, trong lòng hiểu rằng vì một lí do nào đó mà bạn tôi muốn tôi gánh hộ lỗi lầm này.

Những người khác cũng nhặt giúp và dựng chiếc bàn trở lại.

"Ái chà!"

Viên thanh tra kêu lên.

"Ông ấy đã biến đi đâu rồi?"

Holmes đã biến mất.

"Các ông cứ đợi ở đây", Alec Cunningham lên tiếng.

"Tôi thấy gã này mất trí rồi.

Cha, hãy đi với con, xem hắn biến đi đâu."

Họ bước vội ra khỏi phòng bỏ lại viên thanh tra, đại tá và tôi đứng nhìn nhau.

"Thật đấy, tôi cũng đồng ý với ông Alec", viên thanh tra nói.

"Có lẽ đó là do ảnh hưởng của bệnh, nhưng tôi thấy có vẻ như..."

Anh ta bị ngắt lời bởi một tiếng hét bất ngờ: "Cứu!

Cứu tôi với!

Có kẻ giết người!"

Tôi rùng mình khi nhận ra đó là giọng của bạn mình.

Tôi phóng như điên ra khỏi phòng để chạy ra hành lang.

Tiếng hét giờ đã chìm xuống thành một tiếng kêu khàn khàn không rõ vang lên từ căn phòng mà chúng tôi đã ghé qua đầu tiên.

Tôi xông vào và chạy đến phòng thay đồ ở mé bên kia.

Hai cha con nhà Cunningham đang khom người đè Sherlock Holmes xuống sàn, gã con trai bóp cổ anh bằng cả hai tay còn ông già hình như đang bẻ vặn cổ tay anh.

Ngay lập tức cả ba chúng tôi kéo họ ra, và Holmes loạng choạng đứng lên, mặt mũi xanh lét và rõ ràng là đã đuối sức.

"Hãy bắt hai kẻ này, ông thanh tra", anh hổn hển nói.

"Vì tội gì?"

"Tội sát hại xà ích của họ, anh William Kirwan."

Viên thanh tra bối rối nhìn chằm chặp vào anh.

"Ồ, này ông Holmes", mãi sau anh ta mới nói được, "tôi tin rằng ông không có ý..."

"Này, anh bạn, hãy nhìn mặt chúng mà xem!"

Holmes sẵng giọng kêu to.

Chắc chắn là chưa bao giờ tôi nhìn thấy sự thú tội bộc lộ rõ nét như thế trên gương mặt con người, ông lão đờ đẫn và sững sờ với vẻ ủ dột nặng nề trên khuôn mặt cương nghị.

Người con trai thì ngược lại, đã đánh rơi hết phong thái vui vẻ, hăng hái đặc trưng, chỉ còn vẻ hung hăng như thú dữ toát ra từ đôi mắt tối sầm và làm biến dạng những đường nét đẹp đẽ trên khuôn mặt hắn.

Viên thanh tra không nói gì mà bước lại cửa rồi huýt một tiếng còi.

Hai cảnh binh liền xuất hiện theo hiệu lệnh.

"Tôi không còn chọn lựa nào khác, ông Cunningham ạ" anh ta nói.

"Tôi mong rằng tật cả chỉ là nhầm lẫn, nhưng ông có thể thấy rằng...

A, anh dám?

Bỏ xuống!"

Anh ta vung tay lên và khẩu súng lục mà gã con trai đang định bóp cò rơi đánh cạch xuống sàn.

"Hãy giữ lấy nó", Holmes nói và nhẹ nhàng đặt chân lên khẩu súng, "các ông sẽ thấy khi ra trước tòa thì nó rất có ích.

Nhưng đây mới chính là thứ mà chúng ta cần."

Anh giơ lên một mảnh giấy nhỏ nhàu nát.

"Phần còn lại của tờ giấy!"

Viên thanh tra reo lên.

"Chính nó."

"Nhưng nó ở đâu vậy?"

"Tại nơi mà tôi biết chắc là phải thấy.

Tôi sẽ kể lại rõ ràng toàn bộ sự việc cho ông nghe ngay bây giờ.

Đại tá này, tôi nghĩ rằng giờ thì anh và Watson có thể quay về nhà và tôi sẽ trở lại với hai người chậm lắm là một giờ nữa thôi.

Ông thanh tra và tôi phải trao đổi vài lời với các phạm nhân, nhưng chắc chắn tôi sẽ về kịp bữa trưa."

***

Sherlock Holmes giữ đúng lời, vì khoảng 1 giờ anh đã quay lại với chúng tôi trong phòng hút thuốc của đại tá.

Anh đi cùng một người đàn ông đứng tuổi, vóc người nhỏ và giới thiệu với tôi đó là ông Acton, chủ nhân của ngôi nhà bị trộm đầu tiên.

"Tôi muốn ông Acton hiện diện ở đây trong khi tôi giải thích vụ việc nhỏ nhặt này với các anh", Holmes nói, "vì lẽ tự nhiên là ông ấy rất quan tâm tới các tình tiết này.

Đại tá thân mến, tôi e rằng anh chắc phải hối hận lắm vì đã rước con hải âu báo bão là tôi về nhà."

"Ngược lại thì có", đại tá nồng nhiệt trả lời.

"Được theo dõi các phương pháp làm việc của anh đối với tôi là một đặc ân.

Tôi phải thú nhận rằng chúng vượt quá cả kì vọng của tôi và tôi hoàn toàn không thể nào lí giải nổi kết quả mà anh đạt được.

Tôi vẫn chưa nhìn ra chút manh mối nào."

"Tôi e rằng lời giải thích của tôi có thể làm cho anh thất vọng, nhưng tôi có thói quen không che giấu các phương pháp của mình, cho dù là với anh bạn Watson của tôi hay bất kì ai quan tâm đến chúng.

Nhưng, tôi hãy còn choáng vì bị tấn công ở phòng thay đồ lúc nãy, nên tôi nghĩ rằng phải tự cho mình một chút rượu mạnh của anh, đại tá ạ.

Dạo gần đây sức lực của tôi bị thử thách hơi nhiều."

"Tôi mong rằng anh sẽ không bị cơn chấn động thần kinh nào như vừa rồi nữa."

Sherlock Holmes vui vẻ cười.

"Từ từ rồi chúng ta sẽ nói đến chuyện đó", anh nói.

"Tôi sẽ trình bày vụ án cho các anh theo trình tự, để các anh thấy những điểm khác nhau đã dẫn tôi đến quyết định.

Xin cứ cắt ngang lời tôi nếu các anh thấy có suy luận nào chưa hoàn toàn rõ.

Trong nghệ thuật điều tra thì phần quan trọng nhất là khả năng nhận biết trong một mớ dữ kiện, cái gì là cốt yếu và cái gì là phụ.

Nếu không năng lượng và sự chú ý của anh sẽ bị phung phí thay vì được tập trung vào đúng chỗ.

Đây, trong trường hợp này thì ngay từ đầu tôi đã chẳng mảy may nghi ngờ về việc chìa khóa của toàn bộ vấn đề chắc chắn phải được tìm ra từ mẩu giấy trong tay người chết.

Trước khi đi sâu vào chi tiết này, tôi xin các anh chú ý rằng: Nếu như những gì Alec Cunningham thuật lại là đúng và nếu kẻ trộm đã bỏ trốn ngay lập tức sau khi bắn chết anh William Kirwan, thì rõ ràng hắn không thể là người đã giật mảnh giấy từ tay người chết.

Mà nếu như không phải hắn thì chắc chắn phải là Alec Cunningham, vì vào lúc ông già đi xuống cầu thang thì đã có vài gia nhân tụ tập ở hiện trường.

Điểm này thì đơn giản thôi nhưng viên thanh tra lại bỏ sót vì ngay từ đầu cuộc điều tra anh ta đã mặc định rằng những nhân vật vai vế trong hạt này không dính dáng gì đến vụ này.

Đó, tôi có một nguyên tắc là đừng bao giờ có bất kì một định kiến nào và chỉ tuyệt đối đi theo sự dẫn lối của thực tế, vì thế, từ đầu cuộc điều tra tôi đã hơi nghi ngờ về vai trò của anh chàng Alec Cunningham.

Và thế là tôi xem xét thật kĩ lưỡng phần góc tờ giấy mà viên thanh tra đưa cho chúng ta xem.

Ngay tức khắc tôi đã thấy rõ rằng nó là một phần của một tài liệu rất đáng chú ý.

Đây, góc giấy ấy đây.

Giờ thì các anh có nhận thấy điều gì đáng chú ý trong đó không?"

"Trông nét chữ có vẻ không đều", đại tá nhận xét

"Ngài đại tá thân mến", Holmes kêu lên, "rõ rành rành là nó đã được hai người thay nhau viết ra từng chữ.

Xin các anh lưu ý đến nét khỏe khoắn của chữ 't' ở các từ 'at' và 'to' và so sánh với nét ẻo lả của chữ 't' ở những từ 'quarter' và 'twelve' thì các anh sẽ nhận ra vấn đề ngay tức khắc.

Chỉ cần phân tích sơ qua bốn chữ này cũng có thể tự tin khẳng định rằng chữ 'Learn' và 'maybe' do người có nét chữ khỏe hơn viết, còn chữ 'what' thì do người có nét chữ yếu hơn viết ra."

"Trời ơi, rõ như ban ngày vậy!"

Đại tá reo lên.

"Vì cái quái gì mà hai người lại cùng viết một bức thư như thế?"

"Rõ ràng là một việc xấu xa và một trong hai người đã không tin tưởng vào người kia nên đã nhất quyết rằng mỗi người đều phải dự phần như nhau cho dù có làm gì.

Đấy, trong hai người này thì rõ ràng là người đã viết chữ 'at' và 'to' chính là kẻ đầu trò."

"Làm sao mà anh biết được?"

"Chỉ riêng đặc điểm của hai nét chữ đã có thể giúp ta suy ra điều đó.

Nhưng ta vẫn còn những lí do vững chắc hơn để củng cố nhận định này.

Nếu anh chú ý kiểm tra mẩu giấy này thì anh sẽ đi đến kết luận rằng người có nét chữ khỏe hơn đã viết ra tất cả những chữ của phần mình trước và chừa chỗ trống cho người kia điền vào sau.

Những khoảng trống này không phải lúc nào cũng đủ chỗ và anh có thể thấy rằng người thứ nhì chỉ có một chỗ rất hẹp để viết chen chữ 'quarter' của hắn vào giữa chữ 'at' và chữ 'to', điều này cho thấy chữ 'to' đã được viết ra trước.

Rõ ràng là người đã viết các chữ của phần mình trước chính là kẻ chủ mưu."

"Tuyệt vời!"

Ông Acton reo lên.

"Chỉ mới sơ sơ thôi", Holmes nói.

"Nhưng giờ thì ta đi đến một điểm quan trọng.

Có thể các anh không biết rằng việc suy ra độ tuổi của một người từ nét chữ của họ đã được các chuyên gia nâng lên đến mức chính xác đáng kể.

Trong những trường hợp bình thường, ta có thể xác định được độ tuổi của một người trong khoảng chênh lệch mười năm với độ tin cậy khá cao.

Tôi nói những trường hợp bình thường là vì sức khỏe kém và nhược điểm về thể chất sinh ra những dấu hiệu của tuổi già, ngay cả khi anh ta hãy còn trẻ tuổi.

Trong trường hợp này, ta hãy nhìn vào nét chữ đậm, rắn rỏi của một người và vẻ yếu ớt ở nét chữ của người kia, những chữ 't' đã bắt đầu mất đi nét ngang nhưng vẫn đọc được, thì ta có thể nói rằng một người là đàn ông hãy còn trẻ và người kia thì nhiều tuổi nhưng vẫn chưa thực sự già yếu."

"Rất tuyệt!"

Ông Acton lại reo lên.

"Thế nhưng hãy còn một điểm khác tế nhị hơn và còn đáng chú ý hơn.

Có vài điểm tương đồng giữa hai nét chữ này, chúng do những người có cùng huyết thống viết ra.

Có lẽ rõ nhất đối với các anh là ở chữ 'ε' kiểu Hi Lạp nhưng đối với tôi thì có rất nhiều điểm nhỏ đều chỉ ra điều ấy.

Tôi đã đoán chắc là có thể nhận ra lề thói gia đình từ hai nét chữ này.

Tất nhiên là tôi chỉ đưa ra cho các anh thấy những kết quả chính của việc xem xét mẩu giấy.

Còn có đến hai mươi ba kết quả suy luận nữa có giá trị với các chuyên gia hơn là các anh.

Tất cả đều khiến cho tôi có ấn tượng rõ hơn là chính cha con nhà Cunningham đã viết ra bức thư này.

Đến đây thì tất nhiên bước kế tiếp của tôi là xem xét các chi tiết của vụ án và xem thử chúng giúp ta được đến đâu.

Tôi cùng với viên thanh tra đến ngôi nhà và đã quan sát tất cả những gì cần phải thấy.

Vết thương trên tử thi, mà tôi có thể xác định với độ tin cậy tuyệt đối, là được bắn ra từ một khẩu súng ở khoảng cách độ bốn yard.

Không thấy vết sạm đen của thuốc súng trên quần áo.

Vì thế, rõ ràng là Alec Cunningham đã nói dối khi khai là súng đã nổ khi hai người đang vật lộn.

Hơn nữa, cả hai cha con họ đều khai giống nhau về nơi mà tên trộm đã trốn thoát ra đường cái.

Thế nhưng, ở chỗ ấy ngẫu nhiên sao lại có một cái rãnh khá rộng và dưới đáy còn ướt.

Vì không thấy dấu giày nào gần cái rãnh này, tôi tuyệt đối tin chắc rằng không chỉ cha con nhà Cunningham nói dối mà chẳng hề có một người lạ nào ở hiện trường.

Và giờ thì tôi phải xem xét động cơ của hành động gây án kì lạ này.

Để hiểu được điều này, trước tiên tôi cố gắng lí giải nguyên nhân vụ trộm bất thường ở nhà ông Acton.

Từ vài điều mà đại tá đã nói với chúng ta, tôi biết rằng có một vụ kiện đang diễn ra giữa ông Acton và nhà Cunningham.

Tất nhiên là trong đầu tôi nảy ra ngay lập tức ý nghĩ rằng họ đã đột nhập vào thư viện của ông với ý đồ chiếm một tài liệu nào đó có thể là quan trọng trong vụ kiện."

"Đúng vậy", ông Acton nói.

"Không nghi ngờ gì về ý đồ của bọn họ.

Tôi có quyền sở hữu cực kì minh bạch đối với phân nửa đất đai hiện tại của họ và chỉ cần họ tìm thấy một giấy tờ thôi - may sao nó được cất trong tủ sắt của luật sư của tôi - thì hiển nhiên là họ sẽ phá được vụ kiện."

"Các ông thấy đấy", Holmes mỉm cười nói.

"Đó là một hành động nguy hiểm và liều lĩnh mà tôi có thể nhận ra ảnh hưởng của gã Alec.

Khi không tìm được gì, họ cố tình đánh lạc hướng nghi ngờ bằng cách làm cho nó có vẻ là một vụ trộm bình thường.

Vì thế mà họ vớ bừa bất cứ thứ gì.

Điều đó thì hoàn toàn rõ nhưng còn nhiều điểm hãy còn mơ hồ.

Thứ mà tôi mong muốn hơn hết là phần bị mất của mẩu giấy này.

Tôi dám chắc rằng Alec đã xé nó ra khỏi tay của người chết và gần như chắc chắn hắn phải nhét nó vào trong túi áo choàng ngủ.

Ngoài ra liệu hắn còn có thể để nó ở chỗ nào khác?

Câu hỏi duy nhất là không biết mảnh giấy có còn nằm yên đó hay không.

Cũng đáng để bỏ công tìm hiểu và vì mục đích đó mà tất cả chúng ta đều đi đến ngôi nhà của họ.

Chắc là các ông hãy còn nhớ, cha con Cunningham đã ra đón chúng ta ở bên ngoài cửa bếp.

Tất nhiên điều quan trọng nhất là không được để họ nhớ ra mảnh giấy đó vì nếu không thì dĩ nhiên là họ sẽ hủy nó ngay lập tức.

Khi viên thanh tra sắp sửa đề cập tới tầm quan trọng của mảnh giấy thì nhờ một sự ngẫu nhiên may mắn nhất trên đời, tôi lăn đùng ra vì choáng và nhờ thế mà cuộc đối thoại chuyển hướng."

"Lạy Chúa!"

Đại tá kêu lên rồi cười phá lên.

"Ý anh là chúng tôi đã lo lắng không đâu và cơn choáng ngất của anh chỉ là giả mạo thôi ư?"

"Đứng về góc độ chuyên môn mà nói thì cú xỉu đó được thực hiện rất tài tình", tôi kêu to và sửng sốt nhìn con người luôn làm tôi phải kinh ngạc với những chiêu ứng biến mới của anh.

"Đó là một ngón nghề rất hữu dụng", anh trả lời.

"Khi tỉnh lại, bằng một chút tài xoay xở, tôi đã khiến cho ông già Cunningham phải viết ra chữ 'mười hai', nhờ thế mà tôi có thể so sánh nó với chữ 'mười hai' trong tờ giấy."

"Ồ, tôi mới khờ làm sao!"

Tôi buột miệng thốt lên.

"Lúc đó tôi có thể thấy là anh rất ái ngại cho sự kém cỏi của tôi", Holmes nói rồi cười phá lên.

"Xin lỗi vì đã gây cho anh nỗi xót xa mà tôi biết là anh đã phải chịu đựng.

Sau đó chúng ta cùng đi lên lầu rồi bước vào phòng và trông thấy chiếc áo choàng ngủ được treo ở phía sau cánh cửa, tôi đã cố tình làm đổ chiếc bàn để thu hút sự chú ý của họ một lúc rồi lén quay trở lại để lục soát túi áo đó.

Tuy nhiên, tôi vừa lấy được mảnh giấy từ túi áo, như đã đoán, thì hai cha con nhà Cunningham xông vào và chắc hẳn đã giết tôi ngay tại chỗ nếu các anh không kịp thời đến cứu.

Tuy thế, đến giờ tôi hãy còn cảm thấy như cổ họng mình đang bị gã trai trẻ đó siết chặt còn cha hắn bẻ quặt cổ tay tôi để giật lấy mảnh giấy.

Họ nhận ra rằng chắc chắn là tôi đã biết hết tất cả về mảnh giấy, và như các anh thấy đấy, tình thế đột ngột thay đổi từ an toàn tuyệt đối chuyển sang hoàn toàn tuyệt vọng đã làm cho họ trở nên hết sức liều lĩnh.

Sau đó tôi có nói chuyện đôi chút với ông Cunningham về động cơ của tội ác.

Ông ấy khá hợp tác, còn gã con trai đúng là một con quỷ, và nếu hắn lấy lại được khẩu súng, chắc hắn sẵn sàng bắn vỡ sọ chính mình hoặc ai đó.

Khi ông Cunningham nhận thấy trong vụ án này mọi thứ đều chống lại mình, ông ta mất hết can đảm và thú nhận tất cả.

Có vẻ như William đã bí mật theo dõi hai ông chủ vào cái đêm họ đột nhập nhà ông Acton và do đó đã nắm được họ trong tay, rồi sau đó, anh ta đã đe dọa tiết lộ để tống tiền cha con họ.

Tuy nhiên, giở trò đó với Alec thì lại rất nguy hiểm.

Rõ ràng là hắn đã rất thông minh khi nhìn ra trong nỗi sợ hãi về vụ trộm đang làm náo động cả vùng nông thôn này một cơ hội hợp lí để loại trừ con người gây lo lắng cho hắn.

Thế là William bị giăng bẫy và bị bắn chết, và nếu họ lấy được toàn bộ mảnh giấy rồi để ý một chút đến mấy chi tiết phụ nữa thì rất có thể là chẳng bao giờ bị nghi ngờ."

"Thế còn nội dung của lá thư?"

Tôi hỏi.

Sherlock Holmes đặt trước mặt chúng tôi mảnh giấy mới được chắp thêm vào.

"Đây chính là thứ mà tôi vẫn mong đợi", anh nói.

"Tất nhiên là chúng ta vẫn chưa biết được những mối quan hệ giữa Alec Cunningham, William Kirwan và Annie Morrison là gì.

Kết quả cho thấy là cái bẫy đã được đặt mồi một cách khéo léo.

Tôi dám chắc là các anh rất vui mừng khi nhận thấy cách viết những chữ 'y' rất đặc trưng của ông Cunningham.

Những chữ 'i' bị thiếu dấu chấm trong nét chữ của ông lão cũng rất đặc trưng.

Anh Watson này, tôi nghĩ rằng kì nghỉ êm ả của chúng ta ở nông thôn đã thành công xuất sắc và chắc chắn ngày mai, tôi sẽ quay về phố Baker với thể trạng mạnh khỏe hơn."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
NGƯỜI ĐÀN ÔNG DỊ DẠNG (The Crooked Man, 1893)


Vào một tối mùa hè, vài tháng sau hôn lễ của mình, tôi ngồi bên lò sưởi hút nốt tẩu thuốc cuối cùng và gà gật ngủ khi đọc dở cuốn tiểu thuyết vì vừa trải qua một ngày làm việc cật lực.

Vợ tôi đã lên lầu và trước đó tiếng khóa cửa hành lang vang lên báo cho tôi biết những người giúp việc đã về.

Tôi nhổm dậy khỏi ghế và đang gõ chiếc tẩu để dốc tàn ra thì đột nhiên nghe thấy chuông kêu.

Tôi nhìn đồng hồ.

Đã 12 giờ kém 15.

Khách khứa thì không thể nào ghé quá muộn thế này.

Chắc chắn là một bệnh nhân và rất có thể là tôi lại phải thức suốt đêm.

Tôi nhăn nhó bước ra hành lang và mở cửa.

Tôi ngạc nhiên khi thấy Sherlock Holmes đứng ngay trước mặt mình.

"A, anh Watson", anh nói.

"Tôi hi vọng rằng mình không đến trễ quá đấy chứ."

"Xin mời vào nhà, bạn thân mến."

"Trông anh có vẻ ngạc nhiên, nhưng không thắc mắc!

Và có vẻ nhẹ nhõm nữa, tôi nghĩ thế!

Hừm!

Anh vẫn hút loại thuốc trộn Arcadia của cái thời còn độc thân!

Không thể nào nhầm được cái loại tàn mịn bám trên áo khoác của anh.

Có thể dễ dàng thấy rằng anh đã quen với việc mặc quân phục, Watson ạ.

Nếu cứ giữ thói quen nhét khăn tay trong tay áo thì anh sẽ chẳng bao giờ trở lại thành người bình thường đâu.

Anh cho tôi ở lại tối nay nhé?"

"Rất sẵn sàng."

"Đã có lần anh bảo tôi là có một phòng đơn dành cho khách trong nhà và tôi thấy rằng hiện giờ chẳng có vị khách nào cả.

Cái giá treo mũ đã chỉ rõ như thế."

"Tôi rất vui nếu anh ở lại."

"Cảm ơn anh.

Vậy thì tôi sẽ treo đồ vào đây.

Rất tiếc khi thấy nhà anh vừa có một anh thợ.

Anh ta là điềm xấu rồi.

Tôi hi vọng không phải là ống nước?"

"Không, là hệ thống khí đốt."

"A!

Anh ta đã để lại hai dấu đinh giày lên tấm trải sàn ở ngay vị trí ánh đèn rọi xuống.

Ồ, không, cảm ơn anh, tôi đã ăn tối ở ga Waterloo rồi, nhưng tôi sẵn sàng hút với anh một tẩu thuốc."

Tôi trao cho anh túi thuốc lá và anh ngồi xuống phía đối diện tôi rồi yên lặng hút thuốc một lúc.

Tôi nhận thấy rất rõ là chỉ có việc quan trọng mới đem anh đến nhà tôi vào giờ này, vì thế tôi kiên nhẫn đợi đến khi anh quay lại vấn đề.

"Tôi thấy hôm nay công việc của anh khá là bận rộn", anh vừa nói vừa liếc sang tôi với ánh nhìn sắc bén.

"Vâng, tôi vừa trải qua một ngày rất vất vả", tôi đáp.

"Hỏi câu này với anh thì có lẽ rất là ngớ ngẩn", tôi nói thêm, "nhưng thật tình tôi không biết làm thế nào mà anh lại suy ra được điều đó."

Holmes cười tủm tỉm.

"Tôi có lợi thế là biết rõ các thói quen của anh, Watson thân mến", anh trả lời.

"Khi gần thì anh sẽ đi bộ và nếu xa thì anh sẽ dùng xe ngựa.

Khi nhìn đôi giày của anh, tôi thấy anh có dùng tới nhưng chúng lại không có vết bẩn nào.

Vậy không nghi ngờ gì nữa: Lúc này anh khá bận rộn và phải sử dụng đến xe ngựa."

"Rất tuyệt!"

Tôi kêu lên.

"Chuyện ấy dễ hiểu thôi", anh đáp, "đấy là một trong những ví dụ về việc nhà suy luận có thể gây ấn tượng khá mạnh với người nghe vì người này đã bỏ qua một điểm nhỏ là nền tảng của cả chuỗi suy luận.

Bạn thân mến, mấy câu chuyện chỉ được cái khéo tô vẽ của anh cũng thế mà thôi, sở dĩ chúng gây ấn tượng được tới độc giả là do anh đã giấu đi một số yếu tố của vụ án mà độc giả không bao giờ biết.

Và hiện giờ tôi đang ở vào vị trí những độc giả ấy vì tôi nắm trong tay một số manh mối của một vụ án thuộc hàng lạ lùng nhất làm người ta phải đau đầu, tuy nhiên tôi còn thiếu một hoặc hai manh mối cần thiết để hoàn chỉnh giả thuyết của mình.

Nhưng tôi sẽ có được chúng, Watson ạ, tôi sẽ có!"

Mắt anh rực lên và hai gò má gầy hơi ửng lên.

Nhưng chỉ trong một khoảnh khắc thôi.

Khi tôi liếc nhìn lần nữa, mặt anh đã lấy lại vẻ điềm tĩnh khiến nhiều người xem anh giống một cái máy hơn là một con người.

"Vụ này có nhiều điểm rất lí thú", anh nói.

"Thậm chí tôi còn có thể nói là đặc biệt lí thú.

Tôi đã xem xét sự việc và tôi nghĩ rằng mình đã tiến gần đến lời giải.

Nếu anh có thể tham gia cùng tôi trong bước cuối cùng này thì có lẽ anh sẽ giúp được nhiều cho tôi."

"Tôi rất sẵn sàng."

"Liệu ngày mai anh có thể đi đến tận Aldershot được không?"

"Chắc chắn là Jackson sẽ lo việc hộ tôi."

"Rất tốt.

Tôi muốn khởi hành lúc 11 giờ 10 từ Waterloo."

"Thế thì tôi sẽ có đủ thì giờ để chuẩn bị."

"Vậy thì, nếu anh không cảm thấy buồn ngủ quá, tôi sẽ tóm tắt cho anh nghe việc đã xảy ra và những việc phải làm."

"Trước khi anh đến thì tôi buồn ngủ.

Giờ thì tôi đã khá tỉnh táo rồi."

"Tôi sẽ cố cô đọng câu chuyện cho thật ngắn gọn mà không để mất đi chi tiết quan trọng nào.

Có khi anh đã đọc tin tức về vụ này rồi cũng nên.

Đó là vụ đại tá Barclay, thuộc trung đoàn Royal Munsters ở Aldershot, được cho là bị sát hại mà tôi đang điều tra."

"Tôi chưa hề nghe gì về vụ này cả."

"Nó chưa khuấy động dư luận cho lắm, chỉ trừ tại địa phương.

Chuyện cũng chỉ mới xảy ra có hai ngày.

Nói ngắn gọn thì sự tình là thế này: Anh biết đấy, trung đoàn Royal Munsters là một trong những trung đoàn Ireland nổi tiếng nhất trong quân đội Vương quốc Anh.

Trung đoàn này đã lập nên những kì tích trong chiến tranh ở cả Crimea lẫn Bạo loạn Ấn Độ năm 1857 và kể từ đó đến nay luôn lập chiến công mỗi khi có cơ hội.

Cho đến ngày thứ hai vừa rồi thì người chỉ huy trung đoàn vẫn là James Barclay, một người lính dạn dày quả cảm đã khởi đầu binh nghiệp của mình từ lon binh nhì rồi vươn lên hàng ngũ sĩ quan nhờ tinh thần anh dũng trong thời kì Bạo loạn và tiếp tục thăng tiến thành chỉ huy trung đoàn nơi trước kia ông từng là lính.

Đại tá Barclay đã lập gia đình khi còn là trung sĩ và vợ ông ta, nhũ danh Nancy Devoy, là ái nữ của một cựu thượng sĩ da màu trong cùng trung đoàn.

Vì thế nên ta có thể hình dung ra sự va chạm xã hội nhỏ đã phát sinh khi đôi trẻ (vì quả thật khi đó họ hãy còn trẻ) bước vào môi trường mới.

Thế nhưng, có vẻ như họ đã nhanh chóng thích nghi và theo như tôi được biết thì bà Barclay đã hòa đồng với các bà vợ sĩ quan trong trung đoàn chẳng thua gì chồng bà ta với các anh em chỉ huy.

Tôi có thể thêm rằng bà ta là một phụ nữ tuyệt đẹp và thậm chí cho đến bây giờ sau khi đã lập gia đình hơn ba mươi năm, bà ta vẫn còn giữ được nhan sắc ấn tượng.

Cuộc sống của gia đình đại tá Barclay có vẻ cũng hạnh phúc như bao người.

Thiếu tá Murphy, người đã cung cấp cho tôi phần lớn thông tin, cam đoan với tôi rằng ông ta chưa hề nghe thấy họ bất hòa điều gì.

Ông ấy cho rằng, nhìn chung, Barclay yêu vợ nhiều hơn là bà ấy yêu chồng, ông ta vô cùng bứt rứt nếu phải xa vợ một ngày.

Ngược lại, cho dù rất tận tâm và chung thủy với chồng, thái độ của bà lại tỏ ra kém yêu thương hơn.

Nhưng trong trung đoàn thì họ được xem là hình ảnh mẫu mực của một đôi vợ chồng trung niên.

Hoàn toàn không có bất kì điều gì trong mối quan hệ vợ chồng của họ khiến mọi người ngờ đến tấn thảm kịch ta sắp nói.

Đại tá Barclay dường như có vài nét khác thường trong tính cách.

Bình thường thì ông ta là một quân nhân hăng hái và vui vẻ nhưng đôi khi ông ta lại tỏ ra hung bạo và hằn học.

Tuy nhiên, có vẻ như mặt tính cách này của ông ta không hề hướng đến vợ mình.

Một điểm khác nữa cũng gây chú ý cho thiếu tá Murphy và ba trong số năm sĩ quan khác mà tôi đã tiếp xúc, đó là thỉnh thoảng ông đại tá lại bị một dạng trầm cảm kì lạ.

Theo như ông thiếu tá tả lại thì nụ cười thường vụt tắt trên môi đại tá như bị một bàn tay vô hình nào đó xóa đi khi ông ta tham gia vào những cuộc vui bên bàn ăn.

Có khi tâm trạng ấy kéo dài nhiều ngày liên tục và ông ta chìm trong nỗi buồn chán tột cùng.

Chỉ có điều này cùng với nét gì đó có phần mê tín là những điểm bất thường trong tính cách của ông ta mà các anh em chỉ huy nhận thấy.

Mê tín ở đây có nghĩa là không thích ở một mình, đặc biệt sau khi trời tối.

Nét trẻ con này ở một người vốn đầy nam tính thường làm dấy lên những bình luận và phỏng đoán.

Tiểu đoàn 1 của trung đoàn Royal Munsters (tức là tiểu đoàn 117 trước đây) đã đóng quân ở Aldershot vài năm nay.

Các sĩ quan có gia đình sống ngoài doanh trại và trong suốt thời gian này đại tá ở trong một biệt thự tên là Lachine cách trại bắc khoảng nửa dặm.

Ngôi nhà có khuôn viên riêng nhưng phía tây nó chỉ cách đường cái chưa đến ba mươi yard.

Gia nhân gồm có một người xà ích và hai cô hầu.

Chỉ có ba người này sống cùng ông bà chủ ở biệt thự Lachine vì ông bà Barclay không có con cái và cũng ít khi có khách khứa ở lại.

Giờ thì tôi sẽ kể đến những sự kiện xảy ra ở ngôi biệt thự Lachine từ 9 đến 10 giờ tối hôm thứ hai vừa rồi.

Có vẻ như bà Barclay là một con chiên của giáo hội Công giáo, và rất quan tâm đến việc thành lập hội Thánh George vốn được nhà nguyện ở phố Watt liên kết mở ra nhằm mục đích cung cấp quần áo cũ cho người nghèo.

Tối hôm đó có một buổi họp ở hội vào lúc 8 giờ và bà Barclay vội vàng ăn tối để kịp đi họp.

Khi rời khỏi nhà, người xà ích còn nghe tiếng bà ta nói vài lời thông thường với chồng và hứa sẽ về sớm.

Sau đó bà ta ghé qua nhà cô Morrison, một phụ nữ trẻ sống ở căn biệt thự kế bên và cả hai cùng đi họp.

Buổi họp kéo dài bốn mươi phút và đến 9 giờ 15 phút thì bà Barclay trở về nhà sau khi chia tay với cô Morrison trước cửa nhà cô ta.

Ở biệt thự Lachine có một căn phòng được dùng làm phòng khách phụ.

Căn phòng này trông ra đường cái và có một cửa xếp bằng kính rộng nhìn ra bãi cỏ.

Bãi cỏ rộng xấp xỉ ba mươi yard và chỉ được ngăn cách với con đường bằng một bức tường thấp có rào sắt.

Khi trở về nhà, bà Barclay bước vào căn phòng này.

Rèm cửa không buông vì căn phòng này ít khi được dùng đến vào buổi tối nhưng bà Barclay đã tự tay thắp đèn rồi rung chuông gọi cô hầu Jane Stewart bưng lên cho bà một tách trà, điều này khá là trái ngược với thói quen hằng ngày của bà.

Đại tá đang ngồi trong phòng ăn nhưng khi nghe thấy tiếng vợ trở về thì ông qua gặp bà ta trong căn phòng khách phụ.

Người xà ích trông thấy ông ta đi qua sảnh và bước vào phòng.

Sau đó chẳng ai còn trông thấy ông ta sống sót bước ra nữa.

Tách trà mà bà chủ gọi được bưng lên mười phút sau đó, nhưng lúc bước lại gần cửa phòng thì chị người hầu ngạc nhiên khi nghe ông bà chủ đang giận dữ to tiếng với nhau.

Chị ta gõ cửa mà không nghe thấy tiếng trả lời và thậm chí còn xoay cả tay nắm cửa nhưng cửa đã được khóa từ bên trong.

Theo lẽ thường, chị ta chạy xuống nhà nói với chị bếp và hai người phụ nữ cùng với anh xà ích đi lên hành lang và lắng nghe tiếng cãi vã hãy còn rất om sòm.

Cả ba người đều nhất trí rằng họ chỉ nghe thấy có hai giọng nói của đại tá Barclay và vợ ông ta.

Giọng nói của đại tá thì bị át đi và đứt quãng cho nên họ chẳng nghe được tiếng nào.

Ngược lại, giọng bà chủ nghe gay gắt hơn hẳn và mỗi khi bà ta cao giọng thì họ nghe rõ mồn một: 'Ông là đồ hèn!

Bà ta cứ lặp đi lặp lại như thế.

'Có thể làm gì được bây giờ?

Có thể làm gì được bây giờ?

Trả lại cuộc đời cho tôi.

Tôi chẳng bao giờ muốn hít thở chung bầu không khí với ông nữa!

Đồ hèn!

Đồ hèn!' Đó là những mẩu rời rạc bà ta đã nói, cuối cùng là giọng đàn ông đột ngột thét lên đáng sợ kèm theo một tiếng va đập mạnh và tiếng thét thất thanh của người phụ nữ.

Tin chắc rằng đã có một biến cố bi thảm xảy ra, anh xà ích liền lao vào cánh cửa và cố đẩy bật nó ra, trong khi đó những tiếng thét cứ liên tiếp vọng ra từ bên trong.

Thế nhưng anh ta không thể phá được cửa và mấy chị người hầu thì sợ đến rối trí nên chẳng giúp được gì.

Đột nhiên, một ý nảy ra trong đầu và anh ta chạy ra ngoài qua cánh cửa tiền sảnh và vòng ra bãi cỏ là nơi mà chiếc cửa xếp của căn phòng khách phụ nhìn ra.

Một bên cửa hãy còn mở, theo tôi hiểu là vào mùa hè thì thường để như thế, và anh ta vào được trong phòng mà chẳng gặp khó khăn gì.

Bà chủ của anh ta đã ngừng kêu thét và đang nằm bất tỉnh trên trường kỉ, trong khi đó người quân nhân bất hạnh thì đã nằm chết trong vũng máu, hai bàn chân vắt lên thành ghế bành còn đầu thì trên nền nhà gần góc cái chắn lò sưởi.

Tất nhiên ý nghĩ đầu tiên của anh xà ích, khi thấy mình chẳng thể làm được gì hơn cho ông chủ, là mở cửa phòng ra.

Nhưng vào lúc này thì lại xuất hiện một trở ngại bất ngờ và kì lạ.

Chìa khóa không còn cắm ở phía trong cánh cửa và anh ta lục tìm khắp phòng mà chẳng thấy đâu.

Vì thế nên anh ta lại đi ra qua lối cửa xếp và khi đã gọi được một viên cảnh sát và một thầy thuốc đến giúp đỡ thì anh ta quay trở lại.

Bà chủ, tất nhiên là nhân vật bị tình nghi nhiều nhất, được đưa sang phòng riêng trong tình trạng hãy còn hôn mê.

Sau đó, thi thể của đại tá được đặt lên chiếc trường kỉ và người ta bắt đầu khám xét kĩ lưỡng hiện trường của tấn thảm kịch.

Vết thương của ông đại tá là một nhát đâm nham nhở dài độ năm phân ở phía sau đầu, rõ ràng là do một cú giáng mạnh bằng một loại hung khí cùn gây ra.

Cũng chẳng khó khăn gì trong việc xác định loại vũ khí đó.

Trên sàn nhà, nằm ngay cạnh thi thể ông ta là một cây gậy gỗ cứng được chạm khắc có cán ngà trông rất kì quặc.

Đại tá vốn sở hữu một bộ sưu tập vũ khí đa dạng được thu thập từ nhiều quốc gia, nơi ông từng chiến đấu và cảnh sát đoán rằng cây gậy này là một trong những chiến lợi phẩm của ông ta.

Các gia nhân thì lại nói rằng họ chưa hề trông thấy nó, nhưng cũng có thể vì trong nhà có vô số những vật lạ lùng nên họ không để ý đến sự tồn tại của nó.

Người ta không phát hiện được thêm điều gì đáng chú ý trong phòng, ngoại trừ việc không sao giải thích được là chiếc chìa khóa bị mất tích không có ở trên người bà Barclay lẫn thi thể của nạn nhân và cũng chẳng tìm thấy ở bất cứ chỗ nào trong phòng.

Cuối cùng người ta phải nhờ đến một người thợ sửa khóa ở Aldershot để mở cửa.

Đó là tình hình sự việc vào sáng hôm thứ ba khi tôi được thiếu tá Murphy yêu cầu đến Aldershot để trợ giúp cánh cảnh sát, Watson ạ.

Tôi nghĩ anh sẽ thừa nhận rằng vụ này rất đáng quan tâm nhưng khi quan sát chẳng mấy chốc tôi nhận ra rằng thực tế vụ án lại càng đặc biệt hơn biểu hiện ban đầu của nó.

Trước khi khám xét căn phòng tôi đã thẩm tra các gia nhân nhưng chỉ rút ra được các dữ kiện mà tôi vừa mới kể.

Có một chi tiết thú vị khác mà cô hầu Jane Stewart còn nhớ.

Anh có nhớ là khi nghe thấy tiếng cãi nhau thì cô đi xuống nhà và quay trở lại cùng với những người đầy tớ kia.

Cô ta khai rằng, lúc đầu khi chỉ có một mình thì ông bà chủ đều thấp giọng nên hầu như cô chẳng nghe được gì.

Thế nhưng, khi bị tôi gặng hỏi thì cô ta lại nhớ ra rằng có nghe bà chủ thốt ra hai lần cái tên David.

Đây là điểm vô cùng quan trọng vì nó dẫn chúng ta đến lí do của cuộc tranh cãi bất ngờ đó.

Vì như anh hãy còn nhớ, tên của đại tá là James.

Trong vụ này có một điểm gây ấn tượng sâu đậm nhất cho cả các gia nhân lẫn cảnh sát, đó là khuôn mặt rúm ró của đại tá.

Theo miêu tả của họ thì mặt ông ta còn giữ nguyên biểu cảm sợ hãi và kinh hoàng chưa từng thấy trên nét mặt con người.

Ấn tượng ấy khủng khiếp đến nỗi đã có hơn một người ngất xỉu khi vừa mới thoáng trông thấy gương mặt ấy.

Rõ ràng là ông ta đã trông thấy cái chết đang đến và nó đã gây ra nỗi khiếp sợ cực điểm.

Tất nhiên là điều này khá phù hợp với giả thuyết mà cảnh sát đặt ra là có thể đại tá đã nhìn thấy bà vợ cố tình sát hại mình.

Chi tiết về vết thương ở phía sau đầu cũng không mâu thuẫn với giả thuyết đó vì có thể ông ta đã quay lại để tránh cú đòn.

Người ta không thu được chút thông tin nào từ bà vợ vì bà hãy còn mất trí tạm thời do một cơn viêm não cấp.

Từ phía cảnh sát tôi biết được rằng cô Morrison, người đã cùng đi với bà Barclay tối hôm đó khai không biết gì về nguyên nhân khiến bà bạn bực tức khi quay về.

Watson này, sau khi đã thu thập được các thông tin trên, tôi hút vài tẩu thuốc và suy nghĩ về chúng, cố gắng tách những tình tiết cốt yếu ra khỏi những chi tiết ngẫu nhiên khác.

Không còn nghi ngờ gì về điểm đặc biệt và đáng lưu ý nhất trong vụ này chính là việc chiếc chìa khóa biến mất một cách kì lạ.

Người ta đã tìm kiếm kĩ trong phòng mà vẫn không thấy nó.

Thế nên chắc nó đã bị đem ra khỏi phòng.

Nhưng cả đại tá lẫn bà vợ đều không thể làm thế.

Điều đó hoàn toàn rõ ràng.

Vậy là phải có một người thứ ba đã vào phòng.

Và nhân vật thứ ba này chỉ có thể lọt vào qua cửa sổ.

Tôi nghĩ rằng có lẽ khám xét kĩ càng căn phòng và bãi cỏ có thể tìm thấy được vài dấu vết của nhân vật bí ẩn này.

Anh đã biết các phương pháp của tôi rồi, Watson ạ.

Tôi áp dụng tất cả chúng vào cuộc tìm kiếm.

Và kết quả là tôi đã phát hiện một số dấu vết, nhưng rất khác với những gì đã dự kiến.

Đã có một người ở trong phòng và hắn ta đã băng qua bãi cỏ từ ngoài đường.

Tôi có thể thu được năm dấu chân rất rõ của hắn: Một dấu nằm trên con đường nơi hắn đã trèo qua bức tường thấp, hai dấu trên bãi cỏ và hai dấu rất mờ nhạt nằm trên những tấm ván ngả màu gần cửa xếp nơi mà hắn đã bước vào.

Rõ ràng là hắn đã chạy vội qua bãi cỏ vì dấu mũi chân in rõ nét hơn là gót chân.

Nhưng không phải hắn khiến cho tôi ngạc nhiên mà là bạn đồng hành của hắn."

"Bạn đồng hành của hắn!"

Holmes rút từ trong túi ra một tờ giấy mỏng, rộng và thận trọng trải nó lên đùi.

"Anh nghĩ gì về thứ này?"

Anh hỏi.

Trên tờ giấy là dấu chân của một con thú nhỏ.

Có năm dấu bàn chân rất rõ ràng, với vết móng dài và cả dấu chân to gần bằng một cái thìa nhỏ.

"Đó là một con chó", tôi nói.

"Anh đã bao giờ nghe nói một con chó có thể leo lên rèm cửa chưa?

Tôi đã tìm được những dấu vết rõ ràng cho thấy con vật này đã làm thế."

"Vậy là một con khỉ chăng?"

"Nhưng đây lại không phải là dấu chân của khỉ."

"Thế nó là con gì?"

"Chẳng phải chó, không phải mèo, cũng không là khỉ hay bất cứ loài vật nào mà ta quen thuộc.

Tôi đã cố dựng lên hình dáng của nó từ các số đo.

Đây là bốn dấu chân nơi con vật đã đứng yên.

Anh xem khoảng cách từ bàn chân trước đến chân sau gần tới mười lăm inch.

Ta hãy cộng thêm vào đó chiều dài của cái cổ và đầu thì anh sẽ có một con vật có thân hình dài không dưới hai foot - có thể là còn dài hơn nữa nếu nó có đuôi.

Nhưng giờ thì hãy quan sát đến số đo này.

Vì con thú đã di chuyển và ta có được chiều dài sải chân của nó.

Mỗi lần nó chạy sải chân chỉ độ khoảng ba inch.

Anh xem, ta đã có được hình ảnh về một thú có thân hình dài mà chân rất ngắn.

Con vật đã không để lại vài sợi lông nhưng hình thể tổng quát của nó chắc chắn phải giống như tôi đã chỉ ra và nó có thể trèo lên rèm cửa, đồng thời là một động vật ăn thịt."

"Làm thế nào mà anh suy ra được?"

"Bởi vì nó leo lên tấm rèm cửa.

Có cái lồng chim hoàng yến được treo ở cửa xếp và có vẻ như mục tiêu của nó là bắt con chim."

"Vậy con thú đó là gì?"

"À, nếu tôi mà có thể biết tên nó thì có lẽ ta đã tiến được một bước dài trong việc làm sáng tỏ vụ này.

Nói chung thì có thể đó là một con vật thuộc nhóm chồn - tuy nhiên con này lớn hơn những con chồn mà tôi đã từng thấy."

"Nhưng nó đã làm gì trong vụ án này?"

"Đó cũng là điều khó hiểu.

Nhưng chúng ta đã nắm được một số điều, anh thấy chứ.

Chúng ta đã biết rằng có một người đàn ông đứng ngoài đường quan sát vụ cãi vã giữa hai vợ chồng Barclay - rèm cửa không buông và phòng sáng đèn.

Chúng ta cũng biết rằng hắn ta chạy băng qua bãi cỏ, vào trong phòng cùng với một con thú kì lạ và rằng hoặc hắn đã đâm vào đầu đại tá hoặc ông ta ngã xuống chỉ vì sợ hãi khi nhìn thấy hắn ta và va đầu vào góc của cái chắn lò sưởi, điều này cũng có khả năng xảy ra tương đương với giả thuyết trước.

Cuối cùng, ta có dữ kiện lạ lùng là kẻ đột nhập đã lấy chìa khóa khi hắn bỏ đi."

"Có vẻ như những phát hiện của anh còn làm cho sự việc trở nên khó hiểu hơn trước", tôi nói.

"Đúng thế.

Rõ ràng là chúng cho thấy sự việc còn bí ẩn hơn phỏng đoán ban đầu.

Tôi đã cân nhắc vấn đề và đi đến kết luận là phải tiếp cận vụ án từ một khía cạnh khác.

Nhưng Watson này, tôi đã bắt anh thức khuya quá rồi, để mai tôi kể hết cho anh nghe trên đường đến Aldershot cũng được."

"Cảm ơn anh, nhưng anh kể đến đó rồi thì đừng ngừng lại."

"Một điều khá chắc chắn là khi bà Barclay rời khỏi nhà lúc 7 giờ 30 thì bà ta hãy còn vui vẻ với chồng.

Bà ta chưa bao giờ bộc lộ tình cảm nồng nhiệt, tôi đã nói rồi thì phải, nhưng người xà ích có nghe tiếng bà ta nói chuyện với đại tá một cách thân thiện.

Ngoài ra, cũng khá chắc chắn rằng ngay sau khi trở về nhà bà ta đã vào căn phòng ít có khả năng gặp mặt chồng nhất, cần ngay trà như cách phản ứng của một người phụ nữ đang căng thẳng, và cuối cùng khi ông đại tá đến gặp vợ thì đã xảy ra một màn buộc tội dữ dội.

Do đó, trong khoảng thời gian từ 7 giờ 30 đến 9 giờ đã có chuyện gì đó làm thay đổi hoàn toàn thái độ của bà ta đối với chồng.

Nhưng cô Morrison đã đi cùng với bà ta trong suốt một tiếng rưỡi đó.

Vì thế, ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng cô ta phải biết gì đó về vấn đề này cho dù cô ta cứ một mực phủ nhận.

Phỏng đoán đầu tiên của tôi là, có lẽ giữa cô gái trẻ và ông đại tá có quan hệ gì đó mà cô ta vừa thú nhận với bà vợ.

Điều này có thể giải thích cho cơn giận dữ khi trở về và cả việc cô gái phủ nhận đã có chuyện xảy ra.

Giả thuyết này cũng rất phù hợp với hầu hết những điều ở trên.

Thế nhưng cái tên David được nhắc đến và cả sự trìu mến của đại tá dành cho vợ mà ai cũng biết lại mâu thuẫn với giả thuyết này, đó là chưa kể đến việc người đàn ông kia đột nhập gây hậu quả bi thảm mà tất nhiên là hoàn toàn chẳng ăn nhập với phỏng đoán kia.

Thật khó mà chọn ra hướng đi đúng nhưng nhìn chung thì tôi thiên về việc loại trừ ý kiến cho rằng có chuyện gì đó giữa đại tá và cô Morrison và hơn bao giờ hết tôi lại càng tin rằng cô gái trẻ này nắm giữ một manh mối về điều gì đã khiến cho bà Barclay trở nên căm ghét chồng mình.

Vì thế, tôi chọn hướng đi rõ ràng nhất là ghé qua nhà cô Morrison, giải thích cho cô ta biết rằng tôi biết rõ là cô ta nắm giữ một số thông tin và cũng quả quyết với cô ta rằng nếu như vấn đề không được làm rõ thì bà Barclay, bạn của cô ta, có thể sẽ phải ra tòa với một bản án tử hình.

Cô Morrison là một cô gái mảnh dẻ thanh thoát với đôi mắt rụt rè và mái tóc vàng nhưng tôi nhận thấy cô ta chẳng hề thiếu sắc sảo và lí lẽ.

Sau khi nghe tôi trình bày xong, cô ta ngồi suy nghĩ một lúc, rồi sau đó quay qua tôi với vẻ quyết đoán, cô ta đột nhiên kể lại một sự việc rất đáng chú ý mà tôi sẽ tóm tắt lại cho anh như sau:

'Tôi đã hứa với chị bạn là sẽ không nói gì về chuyện đó và hứa là hứa,' cô ta nói, 'nhưng nếu thực sự tôi có thể giúp được khi chị ấy bị buộc tội nặng nề như thế và khi cơn bệnh đã khiến cho người bạn thân mến của tôi không thể tự nói ra được thì tôi nghĩ rằng mình không còn bị ràng buộc bởi lời hứa ấy.

Tôi sẽ kể cho ông nghe chính xác những gì đã xảy ra vào buổi tối hôm thứ hai.

Chúng tôi đang trên đường trở về từ trụ sở hội ở phố Watt vào khoảng 9 giờ kém 15.

Trên đường về chúng tôi phải đi ngang qua phố Hudson, đó là một con đường rất vắng lặng.

Chỉ có một ngọn đèn trên đường, ở phía bên trái và khi chúng tôi đến gần cột đèn thì tôi thấy một người đàn ông lưng rất còng và đeo một vật gì trông như cái hộp ở một bên vai đang bước về phía chúng tôi.

Ông ta có vẻ rất dị dạng vì đầu gục xuống thấp và hai đầu gối thì cong lại khi bước đi.

Khi chúng tôi bước ngang qua, ông ta ngẩng mặt lên nhìn chúng tôi trong quầng sáng rọi ra từ ngọn đèn và khi vừa trông thấy thì ông ta dừng bước và kêu lên bằng một giọng nghe rất đáng sợ: 'Lạy Chúa, Nancy đây mà!' Mặt chị Barclay bỗng trắng bệch như xác chết và gần như ngã xuống nếu cái con người trông rất khủng khiếp ấy không đỡ kịp.

Tôi đã định gọi cảnh sát nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, chị ấy lại nói rất nhẹ nhàng với hắn.

'Em cứ nghĩ là anh đã chết từ ba mươi năm trước rồi, Henry,' chị ấy nói, giọng run run.

'Đúng là thế,' người ấy đáp và giọng nói của ông ta nghe mới thật là kinh khiếp.

Mặt ông ta đen sạm thật dễ sợ và tia nhìn từ trong mắt ông ta cứ ám ảnh tôi trong những cơn mơ.

Tóc và bộ râu quai nón của ông ta đã điểm bạc còn khuôn mặt thì nhăn nheo như một quả táo héo.

'Em đi trước một quãng đi,' chị Barclay bảo tôi, 'chị muốn nói với người này vài lời.

Chẳng có chuyện gì đâu, em đừng sợ.' Chị ấy cố gắng nói một cách quả quyết nhưng mặt hãy còn xanh mét và khó khăn lắm mới thốt ra lời vì đôi môi cứ không ngừng run.

Tôi làm theo lời chị ấy bảo và họ nói chuyện với nhau trong vài phút.

Sau đó chị ấy đi xuống phố, mắt rực lên và tôi nhìn thấy người đàn ông tàn tật khốn khổ ấy đứng bên cột đèn và vung nắm đấm lên không trung như thể đã hóa điên vì giận dữ.

Chị ấy chẳng nói một lời nào cho đến khi về đến trước cửa nhà tôi, lúc đó chị cầm tay tôi và xin tôi đừng kể cho ai nghe chuyện vừa xảy ra.

'Đó là một người quen cũ của chị đã lâm vào cảnh sa sút,' chị nói thế.

Chị ấy hôn tôi khi tôi hứa với chị rằng sẽ không nói gì cả, rồi kể từ lúc đó tôi không còn gặp lại chị ấy nữa.

Giờ thì tôi đã kể cho ông nghe toàn bộ sự thật và sở dĩ tôi từ chối không cho cảnh sát biết là vì tôi không nhận thức được tình thế nguy hiểm mà chị bạn thân mến của mình đang lâm vào.

Tôi biết rằng chỉ có thể cứu được chị khi mọi chuyện đều được làm rõ.'

Cô ta đã kể như vậy đấy, Watson ạ, và anh có thể hiểu được rằng với tôi thì nó như một tia sáng rọi giữa đêm đen.

Mọi thứ trước đây còn rời rạc thì ngay lập tức đã trở về đúng vị trí và tôi đã có cảm nhận sơ sơ về toàn bộ chuỗi sự kiện này.

Tất nhiên bước kế tiếp của tôi là đi tìm người đàn ông đã khiến bà Barclay xúc động mạnh.

Nếu ông ta hãy còn ở Aldershot thì vấn đề cũng không đến nỗi khó khăn.

Vùng này không có đông dân cư cho lắm và một người có hình thù dị dạng thì chắc chắn là sẽ thu hút sự chú ý.

Tôi bỏ ra cả ngày để tìm kiếm và đến tối - đúng tối hôm nay, Watson ạ - tôi đã tìm ra tung tích của ông ta.

Người đàn ông đó tên là Henry Wood và ông ta trọ trên cùng con phố mà hai người phụ nữ đã gặp ông ta.

Ông ta mới đến đó có năm ngày.

Trong vai một cán bộ phụ trách đăng kí cử tri tôi đã trò chuyện rất thú vị với bà chủ nhà.

Ông ta sống bằng nghề làm trò ảo thuật và diễn rong, trời tối là lại đi một vòng quanh các căng tin và ở mỗi nơi lại diễn vài trò giải trí.

Ông ta đem theo một con thú trong cái hộp đó, về điểm này thì bà chủ nhà có vẻ khá sợ vì bà ta chưa bao giờ trông thấy con thú nào như thế.

Ông ta cho nó tham gia diễn vài trò, theo lời bà ta.

Bà ta kể cho tôi nghe những chuyện đó, lại còn nói thêm nào là với mức độ biến dạng đến thế mà ông ta còn sống được thì quả là một điều kì diệu, nào là đôi khi ông ta nói bằng một thứ tiếng rất lạ rồi thì hai đêm vừa rồi bà ta nghe tiếng ông ta rên rỉ và khóc lóc trong phòng.

Về mặt tiền nong, ông ta cũng không tệ, nhưng khi đóng tiền cọc để thuê nhà thì ông ta đã đưa cho bà một đồng florin trông rất giống tiền giả.

Bà ta đưa cho tôi xem, Watson ạ, và hóa ra đó là một đồng rupi Ấn Độ.

Bạn thân mến, thế là anh đã thấy rõ chúng ta đang ở đâu và vì sao mà tôi cần đến anh.

Rõ ràng là sau khi hai người phụ nữ đi, ông ta đã bám theo họ, rồi qua cửa sổ ông ta trông thấy cảnh hai vợ chồng họ cãi nhau, ông ta lao vào và con thú mà ông ta đem theo trong cái hộp bị sổng ra.

Tất cả những điều đó là chắc chắn.

Nhưng ông ta là người duy nhất trên đời này có thể cho chúng ta biết chuyện gì đã xảy ra trong căn phòng ấy?"

"Và anh định sẽ hỏi ông ta?"

"Gần như thế, nhưng cần có một nhân chứng."

"Và tôi sẽ là người làm chứng?"

"Nếu anh đồng ý thì rất hay.

Nếu ông ta có thể làm sáng tỏ vấn đề thì quá tốt.

Còn nếu ông ta từ chối thì ta không còn cách nào khác hơn là phải xin lệnh bắt."

"Nhưng làm thế nào mà anh biết được ông ta sẽ vẫn còn ở đó khi chúng ta quay lại?"

"Anh có thể yên tâm là tôi đã đề phòng.

Tôi đã nhờ một nhóc trong đội quân ở phố Baker canh gác ông ta và thằng bé sẽ bám sát lấy ông ta như đỉa cho dù ông ta có đi đâu.

Ngày mai chúng ta sẽ gặp ông ta ở phố Hudson, Watson ạ, còn bây giờ thì chính tôi sẽ là người có tội nếu bắt anh thức lâu hơn."

***

Đến trưa ngày hôm sau, chúng tôi đã đến nơi xảy ra tấn thảm kịch và dưới sự hướng dẫn của bạn tôi, chúng tôi đi ngay đến phố Hudson.

Dù Sherlock Holmes rất giỏi che giấu cảm xúc nhưng tôi vẫn dễ dàng nhận ra anh đang cố gắng kìm nén sự phấn khích, còn bản thân tôi thì rộn lên niềm vui thích vừa có tính vận động vừa có tính trí tuệ mà tôi luôn cảm nhận được mỗi khi tham dự vào những cuộc điều tra của anh.

"Con phố đây rồi", anh thông báo khi chúng tôi rẽ vào một con đường ngắn với những dãy nhà gạch hai tầng đơn giản.

"À, Simpson đang đến báo cáo kia rồi."

"Ông ta vẫn còn ở trong đó, ông Holmes ạ", một thằng nhóc bụi đời vừa kêu to vừa chạy tới gặp chúng tôi.

"Giỏi lắm, Simpson!"

Holmes vỗ nhẹ lên đầu nó.

"Đi nào, Watson.

Căn nhà này đây."

Anh đưa vào một tấm danh thiếp có ghi lời nhắn rằng anh đến đây vì một việc quan trọng và chỉ một lúc sau chúng tôi đã đối diện với người đàn ông mình đến tìm.

Dù trời đang ấm ông ta vẫn khom người gần bên ngọn lửa và căn phòng nhỏ bé nóng như một cái lò.

Người đàn ông ngồi vặn vẹo và co quắp trên ghế với một tư thế dị dạng không sao tả xiết; nhưng gương mặt quay ra phía chúng tôi, dù đen sạm và nhàu nát, hẳn đã có thời hết sức đẹp đẽ.

Ông ta ngờ vực nhìn chúng tôi bằng cặp mắt vàng khè như người đau gan và chẳng hề mở miệng hay đứng lên, ông ta phẩy tay về phía hai chiếc ghế.

"Hẳn ông là Henry Wood, trước đây từng sống ở Ấn Độ", Holmes nhã nhặn hỏi.

"Tôi đến đây vì một vấn đề nhỏ liên quan đến cái chết của đại tá Barclay."

"Tôi thì liên quan gì tới chuyện đó?"

"Đó chính là điều mà tôi muốn xác minh.

Ông biết đấy, tôi nghĩ rằng trừ phi sự việc được làm sáng tỏ, nếu không thì bà Barclay, một người bạn cũ của ông, hoàn toàn có thể bị đưa ra xét xử vì tội sát nhân."

Người đàn ông giật nẩy mình.

"Tôi không biết ông là ai", ông ta kêu lên, "cũng chẳng hiểu vì sao ông lại biết được điều mà ông vừa nói, nhưng ông có dám thề rằng chuyện ông nói là sự thật?"

"Ồ, người ta chỉ còn đợi bà ta tỉnh lại là bắt ngay."

"Lạy Chúa!

Ông có làm việc cho cảnh sát không vậy?"

"Không."

"Vậy thì việc gì mà ông phải dính vào?"

"Thực thi công lí là nhiệm vụ của mọi người."

"Ông có thể tin vào lời tôi rằng bà ấy vô tội."

"Thế thì ông là kẻ có tội."

"Không, tôi chẳng làm gì sai cả."

"Vậy ai đã giết đại tá James Barclay?"

"Chính ý Chúa đã giết hắn.

Nhưng, ông hãy nghe đây, nếu như tôi có đập vỡ sọ hắn ra, như tôi vẫn hằng khao khát, thì cũng xứng đáng với những gì hắn nợ tôi.

Nếu sự dằn vặt trong lương tâm chưa vật hắn xuống thì rất có thể chính tôi đã ra tay.

Ông muốn nghe tôi kể lại chuyện ấy à?

Được, tôi thấy chẳng có lí do gì mà không kể vì tôi chẳng có gì phải xấu hổ cả.

Chuyện xảy ra như thế này thưa ông.

Ông thấy tôi hiện giờ lưng thì gù mà xương sườn lại vẹo, nhưng đã có thời hạ sĩ Henry Wood này là chàng trai bảnh nhất tiểu đoàn bộ binh 117.

Lúc đó chúng tôi ở Ấn Độ, đóng trong các đồn ở một vùng tên là Bhurtee.

Barclay, kẻ đã chết hôm trước, là trung sĩ cùng trung đội với tôi; còn hoa khôi của trung đoàn, phải nói là người con gái đẹp đẽ nhất trên đời, chính là Nancy Devoy, con gái ông thượng sĩ.

Có hai người đàn ông cùng si mê cô gái và một người được nàng đáp lại, nhìn cái thân xác tàn tạ rúm ró trước lò sưởi này chắc các ông sẽ phì cười khi tôi nói là chính vẻ điển trai của tôi đã khiến nàng phải lòng tôi.

Thế nhưng dù tôi chiếm được con tim nàng, cha nàng lại muốn gả nàng cho Barclay.

Tôi là một chàng trai liều lĩnh và khinh suất còn hắn lại là người có học và đã được chấm vào hàng ngũ đeo gươm và mang đai.

Nhưng nàng vẫn chung tình với tôi và có vẻ như tôi sắp sửa lấy được nàng thì cuộc bạo loạn xảy ra và cả vùng chìm trong hỗn loạn.

Chúng tôi bị vây chặt ở Bhurtee, cả trung đoàn chúng tôi cộng thêm một nửa đội pháo binh, một trung đội người Sikh cùng rất nhiều thường dân và phụ nữ.

Có đến hàng ngàn phiến quân bao vây chúng tôi hung hăng như đàn chó săn vây quanh lồng chuột.

Sang đến tuần thứ hai thì chúng tôi bắt đầu hết nước và vấn đề đặt ra là liệu chúng tôi có thể liên lạc với quân của đại tướng Neill đang di chuyển lên phía bắc không.

Đó là cơ hội duy nhất của chúng tôi vì còn có nhiều phụ nữ và trẻ em, chúng tôi không thể nào chiến đấu để mở một lối thoát, vì thế tôi xung phong vượt vòng vây và đi báo cho tướng Neill biết tình hình.

Đề nghị của tôi được chấp thuận và tôi bàn bạc với trung sĩ Barclay là người biết rõ địa hình nhất và hắn đã vạch ra một lộ trình mà tôi có thể thoát qua phòng tuyến của quân nổi loạn.

Vào 10 giờ đêm cùng ngày tôi lên đường.

Có cả ngàn tính mạng đang đợi cứu nhưng khi vượt qua bức tường đêm đó tôi chỉ nghĩ đến một người mà thôi.

Con đường tôi phải đi chạy dọc theo một con suối cạn mà chúng tôi hi vọng là sẽ che chắn tôi khỏi tầm mắt của bọn lính gác bên địch, nhưng khi tôi vừa bò qua một khúc quanh của con suối thì rơi ngay vào tay sáu tên địch đang núp trong bóng tối đợi sẵn.

Ngay lập tức tôi bị giáng cho một cú bất tỉnh rồi bị trói chặt cả chân tay.

Nhưng cú đánh thực sự giáng vào tim tôi chứ không phải vào đầu vì khi tỉnh lại tôi cố nghe chúng nói chuyện với nhau và những gì tôi hiểu được đủ cho tôi biết rằng đồng đội của mình, chính con người vạch đường cho tôi, đã phản bội tôi bằng cách sai một tên hầu bản địa báo tin cho địch.

Tôi chẳng cần phải nói nhiều về chuyện ấy.

Giờ thì các ông đã biết rằng James Barclay đã làm những gì.

Ngày hôm sau thì tướng Neill đến giải vây cho Bhurtee nhưng khi rút đi bọn phiến loạn đem tôi theo và trong suốt nhiều năm tôi chẳng hề nhìn thấy một người da trắng nào.

Tôi bị tra tấn và cố gắng bỏ trốn nhưng không thoát được và lại bị tra tấn.

Các ông chắc cũng tự hiểu được tình trạng của tôi lúc đó ra sao.

Vài tên trong bọn bỏ trốn sang Nepal và bắt tôi đi cùng chúng rồi sau đó tôi lại bị đưa lên Darjeeling.

Tộc người ở vùng núi này giết những kẻ nổi loạn đang giam giữ tôi, thế là tôi trở thành nô lệ của họ một thời gian đến khi tôi trốn thoát; nhưng thay vì đi về phía nam thì tôi ngược lên bắc mãi đến khi gặp những người Afghanistan.

Tôi lang bạt ở đó nhiều năm và cuối cùng thì quay trở lại Punjab, nơi tôi sống chủ yếu cùng người bản xứ và kiếm sống bằng những trò ảo thuật mà tôi đã học.

Trở về nước Anh hay báo tin cho những đồng đội cũ thì có ích lợi gì cho tôi, một gã què quặt khốn khổ?

Thậm chí cả ý muốn trả thù cũng không khiến tôi làm thế.

Chẳng thà để Nancy và những bạn bè ngày xưa nghĩ rằng Henry Wood đã chết với một cái lưng thẳng thớm còn hơn là trông thấy hắn sống sót và chống gậy lê lết như một con khỉ đột.

Họ chẳng nghi ngờ gì tôi đã chết và tôi thì muốn rằng họ cứ mãi như thế.

Tôi nghe nói là Barclay đã cưới Nancy và hắn đã nhanh chóng thăng tiến trong trung đoàn, nhưng ngay cả điều ấy cũng không làm cho tôi mở miệng.

Nhưng khi già đi người ta lại ao ước được trở về quê nhà.

Đã bao năm tôi vẫn thường mơ đến những cánh đồng xanh tươi và những bờ giậu của Anh quốc.

Cuối cùng, tôi quyết định phải nhìn lại những cảnh ấy trước khi chết.

Tôi đã dành dụm đủ tiền để về và rồi tôi đã đến đây nơi có những đồn lính vì tôi biết rõ tính cách của họ và cách mua vui cho họ để kiếm sống."

"Câu chuyện ông kể thật là lôi cuốn", Sherlock Holmes nhận xét.

"Tôi đã nghe về lần gặp gỡ giữa ông và bà Barclay và hai người đã nhận ra nhau.

Sau đó, theo như tôi hiểu thì ông đi theo bà ấy đến tận nhà và qua cửa sổ đã chứng kiến cuộc cãi vã của hai vợ chồng họ, trong khi cãi nhau bà ta đã xỉ vả chồng về việc ông ta đã làm với ông.

Những cảm xúc trong ông chợt bừng dậy và ông đã chạy băng qua bãi cỏ rồi xông vào cắt ngang chuyện của họ."

"Tôi có làm thế, thưa ông và khi vừa nhìn thấy tôi thì hắn có phản ứng lạ thường chưa từng thấy, rồi hắn ngã xuống va đầu vào cái chắn lò sưởi.

Nhưng trước khi ngã xuống thì hắn đã chết rồi.

Tôi nhìn thấy tử thần hiện lên trên mặt hắn rõ mồn một như hàng chữ phía trên lò sưởi kia.

Chỉ cần trông thấy tôi là hắn đã như bị một viên đạn xuyên qua trái tim tội lỗi."

"Rồi sau đó thì sao?"

"Sau đó Nancy ngất xỉu và tôi cầm lấy chiếc chìa khóa cửa trong tay nàng định bụng sẽ mở cửa ra và kêu người đến giúp.

Nhưng khi sắp mở cửa thì tôi nghĩ có lẽ cứ để như thế và bỏ đi thì tốt hơn vì tôi có thể bị tình nghi trong vụ này, vả lại bí mật của tôi cũng sẽ bị phơi bày nếu tôi bị bắt.

Trong khi gấp gáp tôi nhét bừa chiếc chìa khóa vào túi và đánh rơi cây gậy khi lo đuổi bắt Teddy đang trèo lên tấm rèm cửa.

Khi nhốt được nó vào hộp thì tôi bỏ chạy thục mạng."

"Teddy nào?"

Holmes hỏi.

Người đàn ông khom người xuống và kéo ra phía trước một thứ trông giống như cái chuồng thỏ đặt trong góc phòng.

Ngay lập tức từ trong chuồng bò ra một con vật xinh đẹp có bộ lông màu nâu đỏ, thân hình thon nhỏ và uyển chuyển, cẳng chân trông như chân loài chồn ermine, cái mũi dài nhỏ và đôi mắt màu đỏ tuyệt đẹp mà tôi chưa từng thấy ở loài vật.

"Đây là một con cầy mangut", tôi kêu lên.

'Vâng, có người gọi nó bằng cái tên đó, có người lại kêu nó là con cầy nâu", người đàn ông giải thích.

"Tôi thì gọi chúng là chồn bắt rắn, Teddy mà gặp rắn hổ mang thì lanh lẹ lắm.

Ở đây tôi có một con đã bị bẻ nanh và mỗi đêm Teddy lại bắt nó để làm trò vui cho những khách trong căng tin.

Còn điều gì cần hỏi nữa không, thưa ông?"

"Có thể chúng tôi sẽ phải gặp ông lần nữa nếu như bà Barclay gặp rắc rối nghiêm trọng."

"Trong trường hợp đó thì tất nhiên là tôi sẽ ra trình diện."

"Nếu mọi việc diễn ra êm xuôi thì không cần phải khơi lại điều tiếng không hay cho người chết, dù hắn đã làm ra chuyện rất độc ác.

Ít ra thì ông cũng được thỏa lòng chút ít khi biết rằng trong suốt ba mươi năm qua lương tâm hắn vẫn luôn cắn rứt nặng nề về hành vi xấu xa ấy.

À, thiếu tá Murphy đã đến phía bên kia đường rồi.

Xin tạm biệt, ông Wood.

Tôi cần phải xem từ hôm qua tới giờ có chuyện gì xảy ra không."

Chúng tôi ra đến nơi vừa kịp lúc để bắt kịp thiếu tá trước khi ông ta đi đến góc phố.

"À, ông Holmes", ông ta nói.

"Tôi chắc ông đã biết tin là mọi chuyện ồn ào này chẳng đi đến đâu cả."

"Chuyện là thế nào?"

"Cuộc điều tra vừa mới kết thúc.

Bằng chứng pháp y cho thấy rõ ràng nguyên nhân cái chết là do đột quỵ.

Ông xem, rốt cuộc thì đây lại là một vụ khá đơn giản."

"Ồ, đúng là đơn giản quá!"

Holmes vừa nói vừa cười.

"Đi thôi nào, Watson, tôi nghĩ rằng chẳng ai còn cần đến chúng ta ở Aldershot nữa."

"Nhưng còn một điều", tôi nói khi chúng tôi bước ra sân ga, "nếu tên của người chồng là James và người đàn ông kia tên Henry, vậy thì cái tên David nghĩa là sao?"

"Watson thân mến, nếu tôi là nhà suy luận hoàn hảo như anh thường miêu tả thì chỉ một từ ấy thôi đã đủ nói lên cả câu chuyện rồi.

Rõ ràng đó là một lời nhiếc móc."

"Nhiếc móc à?"

"Phải, anh biết đấy, vua David cũng có khi lầm đường lạc lối, và một lần ông ta cũng hành xử gần giống đại tá James Barclay.

Anh còn nhớ điển tích về Uriah và Bathsheba chứ?

Tôi e rằng kiến thức về Kinh Thánh của mình đã rơi rụng nhiều nhưng anh sẽ thấy câu chuyện đó trong sách Samuel 1 hoặc 2."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
BỆNH NHÂN NỘI TRÚ (The Resident Patient, 1893)


Khi lướt qua loạt hồi ức có phần rời rạc mà qua đó tôi đã cố gắng minh họa một vài nét trí tuệ khác thường của anh bạn Sherlock Holmes, tôi thấy khó lòng chọn được những vụ án thỏa mãn mục đích của mình về mọi mặt.

Vì trong một số vụ, tuy Holmes thể hiện xuất sắc kĩ năng suy luận, phân tích và chứng tỏ được giá trị những phương pháp điều tra khác thường của mình, song những tình tiết trong đó lại quá sơ sài hoặc chẳng có gì li kì khiến tôi cảm thấy không thỏa đáng khi trình bày cho công chúng.

Còn trong những vụ việc khác, khi các sự kiện rất đáng chú ý và gây ấn tượng mạnh, thì vai trò phá án của anh lại không rõ ràng như tôi - người viết tiểu sử của anh mong muốn.

Vụ án nho nhỏ được tôi ghi lại dưới tên gọi "Cuộc điều tra màu đỏ" và một vụ liên quan tới chuyện Con tàu Gloria Scott biến mất là những ví dụ minh họa cho tình trạng lưỡng nan mà người chép sử luôn có nguy cơ sa vào.

Chẳng hạn, trong câu chuyện mà tôi sắp viết ra đây, có lẽ vai trò của bạn tôi không được nổi bật cho lắm, tuy nhiên chuỗi tình huống trong vụ này lại cực kì hấp dẫn khiến tôi không thể bỏ qua trong loạt ghi chép.

Tôi không còn nhớ chính xác ngày tháng vì những ghi chép về vụ này của tôi phần nào đã bị thất lạc, nhưng chắc là vào độ cuối năm đầu tôi và Holmes thuê chung nhà ở phố Baker.

Đó là một ngày tháng 10 mưa gió, và cả hai chúng tôi giam mình trong phòng cả ngày, tôi thì do sợ sức khỏe chẳng chống nổi những cơn gió lạnh mùa thu, còn Holmes thì chìm đắm trong những nghiên cứu hóa học rắc rối mà anh luôn say sưa trong quá trình thực hiện.

Tuy nhiên, cho đến chiều tối, khi cái ống nghiệm bị vỡ buộc anh phải kết thúc công việc sớm hơn dự định, anh bật dậy khỏi ghế và kêu lên chán nản, vầng trán sầm lại.

"Cả ngày công cốc, Watson ạ", anh nói và sải bước ra cửa sổ.

"A!

Sao mọc rồi còn gió đã lặng.

Ta dạo một vòng London chứ?"

Tôi cũng đang chán vì cứ phải ngồi mãi trong căn phòng khách nhỏ hẹp nên vui vẻ đồng ý.

Suốt ba giờ liền chúng tôi cùng nhau tản bộ đó đây ngắm nhìn cuộc sống muôn màu không ngừng biến đổi, lúc trầm lúc thăng trên con phố Fleet và phố Strand.

Cách nói chuyện đặc trưng luôn chứa đầy các chi tiết và khả năng suy luận tinh tế của Holmes khiến tôi thích thú và bị cuốn vào.

Đến 10 giờ thì chúng tôi quay lại phố Baker.

Một cỗ xe ngựa đang đợi trước cửa nhà.

"Hừm!

Xe của một thầy thuốc, một bác sĩ đa khoa, tôi nhận thấy thế," Holmes nói.

"Cũng chưa hành nghề được bao lâu nhưng đã khá phát đạt.

Ông ta đến để nhờ chúng ta tư vấn đây, tôi đoán thế!

May là chúng ta về kịp!"

Tôi đã nắm khá rõ các phương pháp của Holmes để có thể theo được suy luận của anh và biết rằng chính chức năng và tình trạng của rất nhiều thú y cụ nằm trong cái giỏ liễu gai treo dưới ngọn đèn bên trong cỗ xe đã cung cấp cho anh những dữ kiện để đưa ra nhận xét mau lẹ ấy.

Ánh sáng rọi xuống từ cửa sổ căn hộ của chúng tôi phía bên trên cho thấy quả là vị khách đến muộn này đang mong đợi chúng tôi.

Trong lòng tò mò muốn biết vì lí do gì mà một đồng nghiệp lại đến gặp chúng tôi vào thời điểm đặc biệt thế này, tôi đi theo Holmes vào phòng làm việc.

Một người đàn ông mặt thuôn dài, hơi xanh xao, râu màu hung đỏ nhổm dậy khỏi chiếc ghế bên cạnh lò sưởi khi chúng tôi bước vào.

Tuổi của anh ta chỉ độ ba mươi ba hay ba mươi tư nhưng vẻ hốc hác và sắc mặt yếu ớt cho thấy cuộc sống đã bào mòn sức khỏe và tước đi tuổi thanh xuân của anh ta.

Cử chỉ của anh ta lo lắng và rụt rè như một người nhạy cảm và bàn tay thon nhỏ trắng mịn mà anh ta chống lên mặt lò sưởi khi đứng dậy giống bàn tay của một nghệ sĩ hơn là bác sĩ.

Anh ta mặc một bộ y phục đơn giản và sẫm màu - một chiếc áo choàng dài màu đen, quần màu tối và chỉ có cà vạt là có chút màu sắc.

"Chào bác sĩ," Holmes vui vẻ nói.

"Tôi rất mừng là ông chỉ phải đợi có vài phút."

"Hẳn là ông đã nói chuyện với người xà ích của tôi?"

"Không phải thế, chính cây nến trên bàn đã tiết lộ điều ấy.

Mời ông ngồi xuống và cho biết tôi có thể làm được gì cho ông."

"Tôi là bác sĩ Percy Trevelyan", vị khách tự giới thiệu, "tôi sống ở số 403 phố Brook."

"Ông có phải là tác giả của một chuyên khảo về các tổn thương thần kinh không rõ rệt?"

Tôi lên tiếng hỏi.

Hai gò má nhợt nhạt của anh ta hồng lên khi thấy công trình của mình được biết tới.

"Hiếm khi nghe nói đến công trình ấy nên tôi cứ nghĩ nó bị quên bẵng rồi", anh ta nói.

"Nhà xuất bản cho tôi biết số lượng sách bán được vô cùng ít ỏi.

Tôi đoán rằng ông cũng làm nghề y?"

"Bác sĩ ngoại khoa quân y đã phục viên."

"Thú vui cả đời tôi là nghiên cứu các bệnh thần kinh.

Tôi mong nó thành chuyên ngành của mình, nhưng đương nhiên ta phải chấp nhận những gì trong tầm tay trước đã.

Song, nói chuyện này thì lạc đề mất, thưa ông Holmes, mà tôi thì biết rằng thời gian đối với ông thật là quý báu.

Sự tình là gần đây một chuỗi sự kiện rất lạ lùng đã xảy ra trong căn nhà tôi đang sống ở phố Brook và đến tối nay thì mọi chuyện lên đến đỉnh điểm khiến tôi cảm thấy mình không thể đợi thêm giờ phút nào nữa nếu chưa được ông tư vấn và giúp đỡ."

Sherlock Holmes ngồi xuống và châm tẩu thuốc, "ông cứ tự nhiên", anh nói.

"Xin hãy kể thật chi tiết những việc đã làm ông lo lắng."

"Chuyện có phần nhỏ nhặt", bác sĩ Trevelyan nói, "thật tình thì tôi cảm thấy hơi xấu hổ khi đề cập đến chúng.

Nhưng sự việc quả thật không sao giải thích được và gần đây nó đã chuyển biến rất phức tạp, tôi sẽ trình bày hết cho ông nghe để ông xét đoán xem đâu là quan trọng đâu thì không.

Đầu tiên, tôi phải kể đôi điều về thời sinh viên của mình.

Tôi học ở trường Đại học London, ông biết đấy, chắc ông sẽ không nghĩ là tôi tán dương mình quá mức nếu tôi nói rằng trong thời gian học đại học các giáo sư vẫn đánh giá tôi là một sinh viên rất có triển vọng.

Sau khi tốt nghiệp tôi tiếp tục chuyên tâm nghiên cứu, giữ một vị trí nhỏ ở Bệnh viện Đại học King và tôi đã may mắn gây được sự chú ý khi nghiên cứu bệnh lí về chứng bắt thế và cuối cùng cũng giành được giải thưởng và huy chương Bruce Pinkerton với chuyên khảo về những tổn thương thần kinh mà bạn ông vừa nhắc đến.

Sẽ chẳng phải quá lời, khi tôi nói rằng nhìn chung vào thời điểm đó một sự nghiệp xuất chúng đang hiện ra phía trước.

Nhưng có một trở ngại lớn là tôi cần vốn.

Chắc các ông cũng thừa hiểu rằng một bác sĩ chuyên khoa muốn vươn lên thì buộc phải bắt đầu từ một trong mười hai con phố ở khu quảng trường Cavendish, mà tiền thuê ở những chỗ này đều cao ngất ngưởng lại còn thêm chi phí trang thiết bị.

Bên cạnh món kinh phí ban đầu này, anh ta còn phải chuẩn bị đủ tiền để duy trì trong vài năm và phải thuê một cỗ xe với một con ngựa coi được mắt nữa.

Những việc đó lại nằm ngoài khả năng của tôi và tôi chỉ có thể hi vọng là bằng cách dè sẻn suốt mười năm tôi sẽ dành dụm đủ tiền để mở phòng mạch riêng.

Thế nhưng, đột nhiên một việc tình cờ đã mở ra triển vọng mới cho tôi.

Đó là một quý ông không quen biết mang tên Blessington đã đến gặp tôi.

Ông ta đến phòng tôi vào một buổi sáng và đi ngay vào việc.

'Có phải ông là Percy Trevelyan với một sự nghiệp nổi bật và gần đây đã đoạt được một giải thưởng lớn?' Ông ta hỏi.

Tôi gật đầu.

'Hãy thẳng thắn trả lời tôi,' ông ta nói tiếp, 'vì điều đó có lợi cho ông.

Ông có đủ tài năng để trở nên một người thành đạt, ông cư xử có khéo léo không?'

Tôi không thể nhịn cười trước sự đường đột của câu hỏi.

'Tôi tin rằng cũng phần nào', tôi đáp.

'Có thói xấu nào không?

Không bị lôi kéo vào những cuộc rượu chè chứ?'

'Đúng thế, thưa ông!' Tôi kêu to.

'Rất tốt!

Thế thì tốt!

Nhưng tôi buộc phải hỏi thế.

Với tất cả những phẩm chất đó vì sao ông vẫn chưa mở phòng khám để hành nghề?'

Tôi nhún vai.

'Ấy đấy!' ông ta nói gấp.

'Chuyện quá xưa.

Chất xám có thừa nhưng bóp tiền thì rỗng, đúng không?

Ông nghĩ sao nếu tôi giúp ông bắt đầu sự nghiệp ở phố Brook?'

Tôi ngạc nhiên nhìn chằm chằm ông ta.

'Ồ, đó là vì bản thân tôi chứ không phải vì ông', ông ta kêu lên.

'Tôi sẽ hoàn toàn thẳng thắn với ông và nếu chuyện làm ăn này hợp ý ông thì nó cũng rất hợp ý tôi.

Tôi có vài ngàn bảng muốn đầu tư, ông thấy đấy, và tôi nghĩ rằng mình nên đặt chúng vào ông.'

'Nhưng tại sao?' Tôi hổn hển hỏi.

'Thì đó cũng là một khoản đầu tư mà lại còn an toàn hơn nhiều cách đầu tư khác.'

'Vậy tôi phải làm gì?'

'Để tôi nói ông nghe.

Tôi sẽ mướn nhà, trang bị đồ đạc, thuê người hầu và điều hành mọi việc.

Ông chỉ việc ngồi vào chiếc ghế ở phòng khám.

Tôi sẽ cấp cho ông một khoản tiền tiêu vặt và tất cả những nhu cầu khác.

Rồi ông nộp lại cho tôi ba phần tư số tiền ông kiếm được và giữ lại cho mình một phần tư.'

Đề nghị khác thường mà người đàn ông tên Blessington đã đặt ra với tôi là thế đấy, thưa ông Holmes.

Tôi sẽ không dài dòng miêu tả về việc chúng tôi đã mặc cả và thương lượng với nhau như thế nào.

Rốt cuộc tôi chuyển đến phòng khám mới vào ngày Lễ Truyền Tin và bắt đầu hành nghề với những điều kiện trang bị chính xác như lời đề nghị của ông ta.

Bản thân ông ta cũng dọn đến sống cùng với tôi dưới danh nghĩa là một bệnh nhân nội trú.

Có vẻ ông ta bị yếu tim và cần được bác sĩ theo dõi thường xuyên, ông ta cho sửa lại hai căn phòng đẹp nhất thành phòng khách và phòng ngủ cho bản thân.

Ông ta là một người có những thói quen kì quặc, không giao du và hiếm khi ra khỏi nhà.

Ông ta không sinh hoạt theo quy củ gì cả nhưng có một điều ông ta tuân thủ rất đều đặn.

Mỗi tối cứ đúng giờ là ông ta lại đi vào phòng khám, xem xét sổ sách và cứ mỗi đồng guinea tôi kiếm được thì ông ta để lại năm shilling và ba xu rồi cất số còn lại cho vào một cái hòm chắc chắn trong phòng mình.

Tôi có thể tự tin nói rằng ông ta sẽ chẳng bao giờ phải hối tiếc về khoản đầu tư của mình.

Ngay từ đầu công việc đã thành công.

Một vài trường hợp bệnh tiến triển thuận lợi cộng thêm danh tiếng của tôi trong bệnh viện đã khiến tôi nhanh chóng trở nên nổi tiếng và trong vòng vài năm gần đây tôi đã làm cho ông ta trở nên giàu có.

Thưa ông Holmes, nãy giờ tôi đã dài dòng về lí lịch của mình và mối quan hệ của tôi với ông Blessington.

Giờ thì tôi chỉ cần kể nốt việc đã khiến cho tôi đến đây gặp ông đêm nay.

Cách đây vài tuần, ông Blessington xuống gặp tôi và tôi thấy ông ta có vẻ rất bồn chồn, ông ta nói về một vụ trộm nào đó đã xảy ra ở khu West End và theo như tôi còn nhớ thì ông ta tỏ ra bấn loạn thái quá về việc đó, ông ta nói rằng nội trong ngày phải gắn then cài chắc chắn hơn vào các cửa sổ và cửa ra vào.

Suốt tuần ông ta cứ ở trong tình trạng lo lắng kì lạ, cứ liên tục nhòm ra ngoài cửa sổ và ngưng hẳn những chuyến đi dạo ngắn vẫn thường diễn ra trước bữa tối.

Thái độ của ông ta khiến tôi phải chú ý và nhận ra rằng ông ta đang khiếp đảm về một điều gì đó hoặc một người nào đó nhưng khi tôi hỏi thăm thì ông ta lại gắt gỏng nên tôi cũng đành thôi.

Dần dần, thời gian trôi qua, nỗi sợ đó dường như đã tan biến và khi ông ta trở lại với những thói quen trước thì một sự kiện mới xảy ra lại khiến cho ông ta lâm vào tình trạng tiều tụy khốn khổ hiện giờ.

Chuyện xảy ra như thế này.

Hai ngày trước tôi có nhận được một bức thư mà tôi sẽ đọc cho ông nghe ngay sau đây.

Bức thư không ghi địa chỉ mà cũng không có ngày gửi.

Nội dung thư như sau:

Một quý tộc Nga hiện đang sống ở Anh sẽ rất hân hạnh nếu được bác sĩ Percy Trevelyan nhận lời chăm sóc.

Đã vài năm nay ông ta thường bị chứng bắt thế hành hạ mà bác sĩ Trevelyan là một chuyên gia nổi tiếng, ông ta muốn được khám bệnh vào lúc 6 giờ 15 phút chiều mai nếu bác sĩ có thể thu xếp để có mặt ở nhà vào thời gian đó.

Bức thư này khiến tôi rất quan tâm vì khó khăn chủ yếu trong việc nghiên cứu chứng bắt thế là bệnh này rất hiếm.

Thế nên ông có thể tin rằng vào đúng giờ hẹn tôi đã có mặt tại phòng khám khi cậu bé giúp việc đưa vào một bệnh nhân.

Ông ta đã già, gầy gò, khiêm cung và bình thường - chẳng hề giống chút nào với một quý tộc Nga như ta vẫn nghĩ.

Tôi lại ngạc nhiên nhiều hơn khi thấy người đi cùng với ông ta.

Đó là một chàng trai trẻ cao ráo, rất đẹp trai, mặt ngăm đen dữ tợn và có cơ bắp vạm vỡ như Hercules.

Anh ta dìu ông già khi họ bước vào và đỡ ông ta ngồi xuống ghế một cách dịu dàng đến bất ngờ so với diện mạo như thế.

'Xin ông thứ lỗi cho sự xuất hiện của tôi, thưa bác sĩ,' anh ta nói với tôi bằng một thứ tiếng Anh có hơi đớt một chút.

'Đây là cha tôi và sức khỏe của ông là điều quan trọng hàng đầu đối với tôi.'

Tôi cảm động vì sự hiếu thảo của anh ta.

'Có thể là ông cũng muốn ngồi đây trong khi tôi khám bệnh cho ông cụ?' Tôi hỏi.

'Không được đâu', anh ta kêu to, kèm theo một cử chỉ tỏ vẻ sợ hãi.

'Tôi không thể nào tả hết nỗi đau đớn khi phải chứng kiến cha mình bị cơn bệnh khủng khiếp như thế hành hạ, chắc tôi không sống nổi.

Thần kinh của tôi hết sức nhạy cảm.

Nếu bác sĩ cho phép thì tôi sẽ ngồi ngoài phòng đợi trong khi ông khám cho cha tôi.'

Nghe anh ta nói thế tất nhiên là tôi đồng ý và chàng trai bước ra ngoài.

Sau đó, bệnh nhân và tôi bắt đầu thảo luận về bệnh tình của ông ta và tôi ghi chép lại thật kĩ lưỡng.

Ông ta không được minh mẫn cho lắm và những câu trả lời thường rất mơ hồ khó hiểu khiến tôi nghĩ rằng ông ta không đủ vốn từ tiếng Anh.

Thế rồi trong khi tôi đang mải viết thì đột nhiên ông ta ngừng trả lời hẳn và khi quay lại phía ông ta thì tôi hốt hoảng khi thấy ông ta ngồi thẳng đơ trên ghế, hai mắt trợn trừng đờ đẫn hướng về phía tôi và khuôn mặt thì cứng đơ.

Ông ta lại rơi vào tình trạng mất kiểm soát do căn bệnh kì quặc của mình.

Như tôi vừa mới kể, cảm giác đầu tiên của tôi là thương cảm và kinh hoàng.

Ý nghĩ kế tiếp của tôi lại là sự thỏa mãn về nghề nghiệp, tôi e là thế.

Tôi ghi lại mạch và thân nhiệt của bệnh nhân, kiểm tra tình trạng co cứng của cơ rồi khám phản xạ của ông ta.

Không có gì quá bất thường và điều này phù hợp với những kinh nghiệm tôi đã thu thập được từ trước.

Trong những trường hợp tương tự thì tôi đạt được kết quả tốt đẹp khi cho hít nitrite amyl và có vẻ như hiện giờ tôi đang có một cơ hội tuyệt vời để kiểm tra lại công hiệu của chất này.

Chai thuốc nằm trong phòng pha chế ở tầng dưới, do đó tôi để bệnh nhân ngồi yên trong ghế và chạy xuống lầu để lấy thuốc.

Tôi mất chút thời gian để tìm nó, khoảng năm phút và quay lên.

Ông hãy hình dung xem tôi ngạc nhiên đến mức nào khi thấy căn phòng trống trơn và người bệnh đã đi mất.

Tất nhiên, hành động đầu tiên của tôi là chạy vào phòng đợi.

Người con trai cũng không còn ở đó.

Cánh cửa hành lang đã khép lại nhưng vẫn chưa đóng kín.

Cậu giúp việc đưa bệnh nhân vào là một thiếu niên mới được nhận vào làm và chẳng lấy gì làm nhanh nhẹn.

Nhiệm vụ của cậu ta là đợi ở tầng dưới và khi nghe tôi rung chuông trong phòng khám thì chạy lên để đưa bệnh nhân ra.

Cậu ta chẳng nghe thấy gì và sự việc vẫn hoàn toàn bí ẩn.

Một lát sau thì ông Blessington về sau cuộc đi dạo nhưng tôi không hề kể lại sự tình cho ông ta nghe, vì nói thật với ông, dạo gần đây tôi đã gắng hạn chế nói chuyện với ông ta càng ít càng tốt.

Thế đấy, tôi cứ ngỡ rằng mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại bệnh nhân người Nga đó cùng với con trai của ông ta, vì thế ông có thể hiểu được là tôi ngạc nhiên biết chừng nào khi cũng vào giờ đó tối hôm nay, cả hai cùng bước vào phòng khám như lần trước.

'Tôi thấy rằng mình còn nợ một lời xin lỗi vì tối qua đã bỏ đi vội vã, thưa bác sĩ,' bệnh nhân của tôi lên tiếng.

'Tôi công nhận là đã rất ngạc nhiên về chuyện đó', tôi đáp.

'Vâng, sự tình là như thế này,' ông ta nói, 'khi tỉnh lại khỏi cơn bệnh thì đầu óc tôi lúc nào cũng mờ mịt chẳng còn nhớ chuyện gì đã xảy ra trước đó.

Trong lúc bác sĩ vắng mặt thì tôi tỉnh dậy và thấy mình đang ở trong một căn phòng lạ, thế là tôi tìm đường đi xuống phố khi hãy còn chưa tỉnh táo.'

'Còn về phần tôi', người con trai nói, 'khi nhìn thấy cha tôi bước vào qua cánh cửa phòng đợi, đương nhiên tôi nghĩ rằng ông đã được khám xong.

Chỉ đến khi về đến nhà tôi mới nhận ra tình huống là như thế nào.'

'Thôi được', tôi vừa nói vừa cười, 'chuyện cũng không có gì nghiêm trọng trừ việc hai người làm tôi bối rối kinh khủng, bây giờ anh ra phòng đợi còn tôi thì sẽ vui lòng tiếp tục cuộc chẩn đoán đã bất ngờ bị kết thúc hôm qua.'

Tôi bàn luận với ông lão về các triệu chứng bệnh của ông ta trong khoảng nửa tiếng, rồi sau khi đã ghi đơn thuốc xong, tôi nhìn ông ta vịn tay con trai mình bước ra.

Tôi đã kể ông nghe rằng ông Blessington vẫn thường chọn giờ đó để đi dạo.

Sau khi cha con bệnh nhân nọ vừa mới đi được một lúc thì ông ta bước vào và đi lên cầu thang.

Gần như liền ngay sau đó tôi đã nghe tiếng chân ông ta chạy xuống và xông vào phòng khám bệnh của tôi như một người đang điên lên vì sợ hãi.

'Ai đã vào phòng tôi?' Ông ta gào lên.

'Không ai cả,' tôi đáp.

'Nói láo!' Ông ta hét lên.

'Lên mà xem!'

Tôi không để tâm đến lời lẽ thô lỗ của ông ta vì có vẻ như hồn vía ông ta đã bay mất phân nửa vì sợ hãi.

Khi tôi cùng bước lên lầu, ông ta chỉ cho tôi thấy mấy dấu chân in trên tấm thảm sáng màu.

'Ông không định nói rằng đây là dấu chân của tôi đấy chứ?' Ông ta kêu ầm lên.

Rõ ràng là những dấu chân này lớn hơn chân của ông ta và quả thật là chúng chỉ vừa mới xuất hiện.

Hẳn là ông còn nhớ rằng chiều nay trời đổ mưa to và chỉ có các bệnh nhân của tôi đến nhà.

Vậy thì chắc chắn rằng vì một lí do nào đó chưa rõ mà người đàn ông ngồi trong phòng đợi, trong khi tôi đang bận rộn vời người kia, đã lên phòng của người bệnh nội trú của tôi.

Không có vật gì bị hắn chạm đến hay lấy đi nhưng những dấu chân còn hiển hiện đó chứng tỏ rằng việc đột nhập là một thực tế không thể chối cãi.

Có vẻ như vấn đề này làm cho ông Blessington lo lắng nhiều hơn mức tôi nghĩ dù rằng tất nhiên một sự kiện như thế khiến cho bất cứ ai cũng cảm thấy bất an.

Thậm chí ông ta còn ngồi than khóc trên ghế và tôi không thể khiến ông ta nói rõ ràng mọi chuyện.

Chính ông ta đề nghị tôi nên đến gặp ông và tất nhiên tôi cũng thấy điều ấy là hợp lí vì sự việc đó rõ ràng là rất kì lạ cho dù có vẻ như ông ta đã quá quan trọng hóa nó lên.

Nếu ông vui lòng đi xe cùng tôi đến đó thì ít nhất ông cũng có thể làm cho ông ta bớt lo lắng dù tôi không hi vọng gì mấy là ông có thể giải thích được sự kiện khác thường này."

Sherlock Holmes chăm chú lắng nghe câu chuyện dài dòng này, chứng tỏ anh hết sức quan tâm.

Mặt anh vẫn bình thản nhưng mí mắt sụp xuống và làn khói cuộn lên từ cái tẩu thì dày đặc hơn mỗi khi nghe thấy tình tiết quan trọng trong câu chuyện của bác sĩ.

Khi vị khách của chúng tôi đã kể xong, Holmes đứng bật dậy mà không nói tiếng nào, đưa cho tôi cái mũ và nhặt lấy mũ của mình từ mặt bàn rồi đi theo bác sĩ Trevelyan ra cửa.

Chỉ trong vòng mười lăm phút chúng tôi đã được thả xuống trước cửa nhà của vị bác sĩ ở phố Brook, một trong những căn nhà đơn điệu, mang màu sắc ảm đạm đặc trưng của các phòng mạch khu West End.

Một cậu nhóc giúp việc ra đón vào và ngay lập tức chúng tôi đi lên cầu thang rộng trải thảm rất dày.

Nhưng một việc đột ngột xảy ra khiến chúng tôi phải đứng sững lại.

Ánh đèn ở phía trên đầu cầu thang thình lình tắt phụt và từ trong bóng tối vọng ra một giọng nói run rẩy.

"Ta có súng đấy", giọng nói đó hét lên.

"Ta thề là sẽ nổ súng ngay nếu các người bước thêm nữa."

"Thật sự là ông hơi quá rồi đấy, ông Blessington", bác sĩ Trevelyan kêu to.

"Ồ, hóa ra là ông à, bác sĩ," giọng nói kia đáp lại với tiếng thở ra nhẹ nhõm.

"Nhưng còn những người kia, có chắc là ông biết rõ về họ không?"

Chúng tôi cảm thấy mình bị dò xét khá lâu từ trong bóng tối.

"Được rồi, mọi chuyện đều ổn", cuối cùng thì giọng nói đó lại cất lên.

"Các ông có thể đi lên và tôi xin lỗi nếu như sự đề phòng của tôi có làm các ông khó chịu."

Trong khi nói ông ta thắp lại ngọn đèn khí đốt và chúng tôi nhìn thấy trước mặt mình là một người đàn ông trông kì lạ mà vẻ ngoài cũng như giọng nói đều tỏ ra bất an.

Ông ta rất mập nhưng rõ ràng từng có lúc mập hơn vì lớp da mặt đã thõng xuống như chiếc túi dài, giống mặt một con chó săn mặt xệ.

Nước da của ông ta trông như của người bị bệnh và mái tóc thưa thớt màu đỏ hung trông như cũng dựng đứng theo cảm xúc căng thẳng của chủ nhân, ông ta cầm trong tay một khẩu súng lục nhưng đã nhét nó vào túi khi chúng tôi bước lên.

"Xin chào ông Holmes", ông ta nói "Tôi rất biết ơn vì ông đã cất công đến đây.

Thật là chẳng có ai cần đến những lời khuyên của ông bằng tôi.

Tôi đoán rằng bác sĩ Trevelyan đã kể cho ông nghe về vụ đột nhập không thể chấp nhận được vừa xảy ra."

"Đúng thế", Holmes đáp.

"Hai kẻ đó là ai vậy, ông Blessington, và vì sao họ lại muốn hại ông?"

"À, à", ông bệnh nhân nội trú trả lời với vẻ lo lắng, "tất nhiên khó mà nói gì.

Ông khó có thể hi vọng tôi nói được gì, ông Holmes ạ."

"Có phải ông muốn nói là ông không hề quen biết họ?"

"Xin mời ông vào đây.

Vui lòng vào trong này?"

Ông ta dẫn chúng tôi vào phòng ngủ của mình, đó là một căn phòng rộng đầy đủ đồ đạc, và rất tiện nghi.

"Ông xem đấy", ông ta vừa nói vừa chỉ vào một cái hòm to màu đen nằm ở phía cuối giường.

"Tôi chẳng giàu có gì lắm, thưa ông Holmes và cả đời chỉ đầu tư vào mỗi một việc mà bác sĩ Trevelyan đã kể ông nghe rồi.

Nhưng tôi không tin bọn chủ nhà băng, chẳng tin một tay nào cả, ông Holmes ạ.

Giữa chúng ta với nhau, tôi nói thật là chỉ có chút ít vốn liếng nằm cả trong cái hòm này, vì thế ông có thể hiểu được tôi lo thế nào khi có kẻ lạ xông vào nhà."

Holmes nhìn ông Blessington với vẻ nghi hoặc và lắc đầu.

"Tôi không thể tư vấn được cho ông nếu ông cứ tìm cách che giấu", anh nói.

"Nhưng tôi đã nói hết với ông."

Holmes quay gót bước đi với vẻ bất bình.

"Chúc ông ngon giấc, bác sĩ Trevelyan", anh nói.

"Vậy ông không giúp gì cho tôi sao?"

Ông Blessington kêu lên bằng giọng nói đứt quãng.

"Lời khuyên của tôi dành cho ông là hãy nói ra sự thật, thưa ông."

Một phút sau chúng tôi đã xuống phố và đi về nhà.

Chúng tôi băng qua phố Oxford và đến khi đã xuôi quá nửa phố Harley tôi mới nghe bạn mình mở lời.

"Xin lỗi vì đã đưa anh vào một vụ việc ngớ ngẩn thế này, Watson ạ", cuối cùng anh cũng lên tiếng.

"Dù sao thì ẩn đằng sau nó cũng là một vụ thú vị."

"Tôi chẳng hiểu gì cả", tôi thú nhận.

"Thế này, rõ ràng là có hai tên - có thể là nhiều hơn, nhưng ít nhất thì cũng phải là hai - vì một lí do nào đó mà chúng nhất quyết tìm đến ông Blessington.

Tôi tin chắc rằng trong cả hai lần thì chính tên còn trẻ đã đột nhập vào phòng của Blessington trong khi đồng bọn của hắn, bằng thủ đoạn khéo léo, giữ chân ông bác sĩ."

"Vậy còn chứng bắt thế?"

"Chỉ là giả bộ thôi, Watson ạ, dù tôi khó mà nói như thế với vị chuyên gia của chúng ta.

Nhưng đó là một chứng bệnh rất dễ bắt chước.

Bản thân tôi cũng đã từng làm rồi."

"Thế rồi sao?"

"Ngẫu nhiên mà trong cả hai lần Blessington đều không có nhà.

Lí do mà bọn chúng chọn thời điểm bất thường ấy đến khám bệnh rõ ràng là để đảm bảo không có bệnh nhân nào khác trong phòng đợi.

Ngẫu nhiên thế nào nó lại trùng với giờ đi dạo của Blessington, điều cho thấy bọn chúng không nắm rõ lắm những thói quen hằng ngày của ông ta.

Tất nhiên nếu chỉ nhằm đánh cắp vật gì đó thì ít nhất chúng đã đảo lộn căn phòng để tìm kiếm.

Ngoài ra, tôi có thể đọc được trong mắt Blessington rằng ông ta lo sợ cho tính mạng của mình.

Làm sao mà tin nổi một người đã gây oán cừu với hai kẻ thù hằn như thế lại không biết gì về điều đó.

Vì vậy, tôi tin chắc rằng ông ta biết rõ những tên này, và vì những lí do riêng mà ông ta giấu biệt đi.

Có thể là đến mai ông ta sẽ chịu nói nhiều hơn."

"Liệu còn có khả năng nào khác", tôi gợi ý, "cho dù rất khó xảy ra, đương nhiên, nhưng vẫn có thể hình dung được?

Biết đâu toàn bộ câu chuyện về bệnh nhân người Nga bị chứng bắt thế và con trai ông ta chỉ là một câu chuyện bịa đặt do bác sĩ Trevelyan dựng lên, vì lí do nào đó, để đột nhập vào phòng của Blessington?"

Trong ánh sáng ngọn đèn tôi nhìn thấy một nụ cười thích thú nở trên mặt Holmes trước gợi ý thông minh của tôi.

"Bạn thân mến", anh nói, "đó cũng là một trong những lời giải mà ban đầu tôi có nghĩ đến, nhưng ngay sau đó tôi có thể xác thực câu chuyện của bác sĩ.

Tên còn trẻ đã để lại dấu giày trên tấm thảm ở cầu thang rất rõ ràng khiến tôi chẳng cần phải yêu cầu được xem những dấu chân của hắn ở trong phòng.

Nếu tôi nói cho anh nghe rằng giày của hắn có mũi vuông chứ không nhọn như mũi giày của ông Blessington và dài hơn giày của bác sĩ đến khoảng một inch thì anh sẽ nhận ra ngay dấu vết đó là của hắn mà chẳng nghi ngờ gì.

Nhưng giờ thì ta hãy đi ngủ vì tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu đến sáng mai mà ta vẫn chưa nghe thấy tin tức gì mới mẻ hơn từ phố Brook."

***

Lời tiên đoán của Sherlock Holmes đã nhanh chóng trở thành sự thực một cách bi thảm.

Lúc 7 giờ 30 sáng hôm sau, trong những tia sáng lờ mờ của một ngày mới, tôi đã thấy anh mặc áo choàng ngủ đứng bên cạnh giường tôi.

"Có một cỗ xe đang đợi chúng ta đấy, Watson", anh bảo.

"Có chuyện gì vậy?"

"Về việc ở phố Brook."

"Có tin gì mới chăng?"

"Bi đát nhưng chưa rõ ràng cho lắm", anh đáp và kéo tấm rèm cửa lên.

"Xem này, đây là một mảnh giấy được xé từ một quyển sổ có hàng chữ được viết nguệch ngoạc bằng bút chì: Vì Chúa, xin hãy đến ngay - P.T.

Khi viết những chữ này thì anh bạn bác sĩ của chúng ta đang ở vào hoàn cảnh khó khăn đây.

Đi nào, bạn thân mến, vì đây là một lời kêu gọi khẩn thiết."

Trong khoảng mười lăm phút chúng tôi đã trở lại nhà của bác sĩ.

Anh ta chạy ra đón chúng tôi với vẻ mặt kinh hoàng.

"Ôi, sự việc thật đáng sợ!"

Anh ta kêu lên, tay ôm lấy đầu.

"Có chuyện gì vậy?"

"Blessington đã tự tử!"

Holmes huýt gió một tiếng.

"Vâng, ông ta đã treo cổ đêm qua."

Chúng tôi bước vào nhà và người thầy thuốc đi trước dẫn chúng tôi vào một căn phòng, chắc chính là phòng đợi của anh ta.

"Tôi cũng không biết là mình đang làm gì", anh ta kêu to.

"Cảnh sát đang ở trên lầu.

Cảnh tượng ấy làm tôi kinh hoàng cực độ."

"Ông phát hiện ra chuyện đó vào lúc nào?"

"Thường thì sáng sớm nào ông ta cũng yêu cầu đem một tách trà vào phòng.

Khi cô hầu bước vào, lúc khoảng 7 giờ, thì con người bất hạnh đó đã treo mình ở giữa phòng.

Ông ta đã cột sợi dây vào cái móc vẫn thường dùng để treo ngọn đèn nặng trịch, rồi đứng lên cái hòm hôm qua đã chỉ cho chúng ta mà nhảy xuống."

Holmes đứng lặng một lúc và suy nghĩ kĩ càng.

"Nếu ông cho phép", sau đó anh lên tiếng, "tôi muốn lên lầu và xem xét hiện trường."

Cả hai chúng tôi cùng đi lên, và bác sĩ theo sau.

Khi bước qua cánh cửa phòng ngủ, một cảnh tượng đáng sợ đập vào mắt chúng tôi.

Tôi đã nói về lớp da thịt bèo nhèo của Blessington.

Nhưng khi bị treo lủng lẳng trên cái móc thì ấn tượng đó còn rõ nét và mạnh mẽ hơn đến nỗi trông ông ta chẳng còn chút nào hình dáng con người.

Cái cổ bị kéo dài ra giống như một cái cổ gà bị nhổ sạch lông khiến cho phần còn lại của ông ta trông lại càng phì ra và quái dị hơn.

Ông ta chỉ mặc trên người có một chiếc áo ngủ dài để lộ hai mắt cá chân sưng vù và hai bàn chân xấu xí thò ra bên dưới.

Đứng bên là một viên thanh tra cảnh sát dáng vẻ sắc sảo đang ghi chép vào một cuốn sổ.

"A, ông Holmes", anh ta reo lên khi nhìn thấy bạn tôi bước vào, "tôi rất mừng khi gặp ông."

"Xin chào, Lanner", Holmes đáp lại, "tôi thấy ông không xem tôi là kẻ làm phiền, ông có biết diễn biến những việc xảy ra trước vụ này không?"

"Có, tôi đã nghe."

"Thế quan điểm của ông thế nào?"

"Theo như những gì tôi có thể thấy thì người đàn ông này vì quá sợ hãi mà quẫn trí.

Ông xem đây, cái giường này đã có người nằm ngủ.

Dấu vết thân thể ông ta hằn lên nệm hãy còn khá rõ.

Lúc đó là khoảng 5 giờ sáng, ông biết đấy, những vụ tự sát rất thường xảy ra vào giờ này.

Đó cũng là thời điểm ông ta tự treo cổ.

Dường như đây là việc làm chủ tâm."

"Xét theo các cơ đã cứng thì tôi lại cho rằng ông ta đã chết vào lúc 3 giờ", tôi nói.

"Ông có thấy điều gì bất thường trong phòng không?"

Holmes hỏi.

"Tôi tìm thấy một cái tua vít và vài con ốc vít nằm trên cái giá để chậu rửa tay.

Và có vẻ như ông ta đã hút thuốc liên tục trong đêm.

Đây là bốn đầu mẩu xì gà mà tôi đã nhặt được ở chỗ lò sưởi."

"Hừm!"

Holmes hỏi, "ông có tìm thấy cái đót hút xì gà của ông ấy không?"

"Không, tôi chẳng thấy nó đâu cả."

"Thế còn hộp đựng xì gà?"

"Có, nó nằm trong túi áo choàng của ông ta."

Holmes mở hộp ra và ngửi điếu xì gà duy nhất nằm trong hộp.

"Ồ, đây là xì gà Havana còn những mẩu xì gà kia thì lại là một loại đặc biệt do người Hà Lan nhập từ các thuộc địa Đông Ấn của họ.

Chúng thường được bọc rơm, ông biết đấy và ngắn hơn các loại xì gà khác".

Anh nhặt bốn mẩu xì gà lên và xem xét chúng bằng chiếc kính lúp bỏ túi.

"Hai trong số bốn mẩu xì gà này được hút bằng cùng một đót còn hai mẩu kia thì hút trực tiếp", anh nhận xét.

"Có hai mẩu được cắt bằng một con dao không được sắc cho lắm còn hai mẩu kia thì được cắn rời bằng một hàm răng rất sắc bén.

Đây không phải là một vụ tự sát, ông Lanner ạ.

Nó là một vụ giết người máu lạnh và được trù bị rất kĩ càng."

"Không thể nào!"

Viên thanh tra kêu lên.

"Tại sao không?"

"Sao lại có kẻ giết người bằng cách rất vụng về là treo cổ ông ta lên?"

"Đó là điều mà chúng ta cần phải xác định."

"Bọn chúng đột nhập vào bằng cách nào?"

"Qua lối cửa trước."

"Sáng nay thì cửa hãy còn gài then."

"Thế thì nó đã được cài lại sau đó."

"Làm sao ông biết được?"

"Tôi đã nhìn thấy những dấu vết của chúng.

Xin thứ lỗi một lúc và tôi sẽ cho ông thêm thông tin về điều này."

Anh đi về phía cánh cửa và xoay ổ khóa kiểm tra cẩn thận bằng phương pháp rất riêng.

Sau đó anh rút chìa khóa đang cắm trong ổ và cũng quan sát nó.

Cái giường, tấm thảm, mấy chiếc ghế, mặt lò sưởi, tử thi và sợi dây cũng lần lượt được anh xem xét cho đến khi cảm thấy hài lòng, và với sự giúp đỡ của tôi, viên thanh tra cắt rời sợi dây treo thi thể nạn nhân xuống và cẩn trọng phủ một tấm khăn trải giường lên xác chết.

"Thế còn sợi dây này?"

Anh hỏi.

"Nó được cắt ra từ đây", bác sĩ Trevelyan trả lời và kéo ra từ bên dưới giường một cuộn dây to.

"Ông ta bị ám ảnh về hỏa hoạn và lúc nào cũng giữ cuộn dây này ở bên cạnh để có thể thoát ra bằng lối cửa sổ nếu cầu thang bị cháy."

"Hẳn là nó đã giúp cho bọn chúng đỡ vất vả", Holmes trầm ngâm nói.

"Phải, các sự việc thật sự rất rõ ràng và tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu đến trưa nay mà vẫn chưa thể cho ông biết lí do của những chuyện này.

Tôi sẽ cầm tấm hình của Blessington đang ở trên lò sưởi kia vì có thể là nó sẽ giúp được tôi trong việc điều tra."

"Nhưng ông vẫn chưa cho chúng tôi biết gì cả!"

Bác sĩ kêu lên.

"Ồ, chẳng còn nghi ngờ gì nữa về chuỗi sự kiện này", Holmes nói.

"Có ba tên trong vụ này: Tên trẻ, tên già và kẻ thứ ba mà tôi vẫn chưa có manh mối nào về nhân dạng của hắn.

Về hai tên đầu thì tôi không cần phải nói đó chính là những kẻ đã giả dạng làm nhà quý tộc Nga và con trai hắn, vì thế ta có thể dễ dàng mô tả chúng đầy đủ.

Chúng đã được đưa vào bởi một đồng bọn ở ngay trong nhà.

Này ông thanh tra, nếu tôi có thể đưa ra cho ông một lời khuyên thì ông nên bắt ngay cậu giúp việc, đó là kẻ mà theo tôi biết thì chỉ vừa mới vào làm việc cho ông gần đây thôi, phải không bác sĩ."

"Tên quỷ sứ đó mất tăm rồi", bác sĩ Trevelyan trả lời, "cô hầu và người làm bếp vừa đi tìm nó."

Holmes nhún vai.

"Hắn giữ một vai trò không quan trọng cho lắm trong tấn thảm kịch này", anh nói.

"Ba tên đã rón rén lên cầu thang, tên già nhất đi trước, gã thanh niên đi kế tiếp và tên chưa xác định được thì theo sau cùng."

"Ôi trời, Holmes!"

Tôi thốt lên.

"Ồ, về chuyện các dấu chân chồng lên nhau thì không còn phải nghi ngờ.

Tôi có lợi thế là đã biết được một số thứ từ tối qua.

Sau đó chúng đi lên phòng của Blessington, chúng thấy cửa phòng đã bị khóa.

Tuy nhiên, chúng đã mở khóa bằng một sợi thép.

Thậm chí chẳng cần đến kính lúp các ông cũng nhìn thấy được điều đó dựa vào những vết xước ở phần này là nơi bị ấn vào.

Khi đã vào phòng thì việc đầu tiên chúng làm chắc chắn là phải bịt miệng Blessington lại.

Có thể là ông ta đang ngủ hoặc là đã đờ người ra vì sợ nên không thể kêu cứu.

Vả lại những bức tường này rất dày nên có thể hiểu được là nếu ông ta có kịp tri hô đi nữa thì cũng chẳng ai nghe thấy.

Tôi thấy rõ ràng là sau khi đã trói chặt ông ta, chúng họp bàn với nhau.

Cũng có thể đây là một dạng phiên tòa xét xử.

Nó hẳn phải kéo dài mất một lúc vì những điếu xì gà này đã được hút trong thời gian đó.

Tên già ngồi ở cái ghế liễu gai kia, nơi hắn hút xì gà bằng đót.

Gã thanh niên ngồi ở phía đằng kia, nơi hắn dụi tàn vào chiếc tủ con.

Tên thứ ba thì đi tới đi lui.

Còn Blessington thì tôi nghĩ rằng đã ngồi trên giường nhưng cũng không chắc cho lắm về chi tiết này.

Thế rồi, sự việc kết thúc khi chúng đem Blessington ra và treo lên.

Việc này đã được chuẩn bị từ trước rất kĩ vì tôi tin rằng chúng đã đem theo mấy thanh gỗ hay giá ròng rọc gì đó để làm giá treo cổ.

Theo như tôi hiểu thì cái tua vít và những con ốc vít kia là để cố định cái giá đó lên.

Thế nhưng khi nhìn thấy cái móc đương nhiên là chúng không cần phải nhọc công nữa.

Sau khi đã xong việc thì chúng chuồn đi và tên đồng bọn đã gài cửa lại."

Tất cả chúng tôi cùng hết sức chăm chú lắng nghe bản tóm tắt những việc xảy ra trong đêm mà Holmes đã suy ra từ những dấu vết bé nhỏ và mơ hồ đến nỗi thậm chí khi anh đã nói ra, chúng tôi vẫn chẳng theo được suy luận của anh.

Vừa nghe xong thì viên thanh tra hối hả chạy đi để tiến hành điều tra về kẻ đóng vai người giúp việc, trong khi Holmes và tôi trở về phố Baker để dùng bữa điểm tâm.

"Tôi sẽ trở về lúc 3 giờ chiều", anh nói khi chúng tôi đã ăn xong.

"Cả viên thanh tra và bác sĩ cũng gặp tôi ở đây vào giờ đó và hi vọng là đến khi đó thì tôi cũng đã làm sáng tỏ được trọn vẹn vấn đề."

Các vị khách đều đến đúng hẹn nhưng mãi đến 4 giờ kém 15 phút thì bạn tôi mới xuất hiện.

Tuy vậy, nhìn vẻ mặt của anh lúc bước vào, tôi có thể biết ngay là mọi chuyện đều tiến triển tốt đẹp.

"Có tin gì mới không, ông thanh tra?"

"Chúng tôi đã bắt được thằng giúp việc, thưa ông."

"Xuất sắc, còn tôi thì đã tóm được hai gã kia."

"Bắt được chúng rồi à!"

Cả ba chúng tôi cùng reo lên.

"Ít ra thì cũng xác định được danh tính của chúng.

Đúng như tôi dự đoán, kẻ tự xưng là Blessington và những tên sát hại hắn đều nổi tiếng tại các sở cảnh sát.

Tên của những gã đó là Biddle, Hayward và Moffat."

"Băng cướp Nhà băng Worthingdon", viên thanh tra kêu lên.

"Đúng thế," Holmes đáp.

"Vậy thì Blessington chắc chắn phải là Sutton."

"Chính xác", Holmes nói.

"Trời, chuyện đã rõ như ban ngày", viên thanh tra nói.

Nhưng Trevelyan và tôi bối rối nhìn nhau.

"Chắc chắn là các ông còn nhớ vụ tấn công nổi tiếng vào Nhà băng Worthingdon", Holmes giải thích.

"Có năm kẻ tham gia vào vụ đó - bốn tên này và một gã thứ năm tên là Cartwright.

Tobin, người bảo vệ bị chúng sát hại và bọn cướp thoát đi với bảy ngàn bảng.

Chuyện xảy ra vào năm 1875.

Cả năm tên đều bị bắt nhưng không đủ bằng chứng để kết tội.

Gã Blessington hay Sutton này, kẻ xấu xa nhất trong đám, quay lưng với đồng bọn và làm chỉ điểm cho cảnh sát.

Dựa vào lời khai của hắn mà Cartwright bị treo cổ và ba tên kia đều lĩnh án mười lăm năm.

Chúng được ra tù trước hạn vài năm và quyết định, như các ông thấy, săn lùng kẻ phản bội để rửa hận cho cái chết của đồng bọn.

Đã hai lần chúng cố tiếp cận hắn nhưng đều thất bại; và đến lần thứ ba thì đã thực hiện được, như các ông thấy.

Có còn điều gì cần phải giải thích thêm không, bác sĩ Trevelyan?"

"Tôi nghĩ rằng ông đã làm cho mọi việc trở nên cực kì rõ ràng", viên bác sĩ trả lời.

"Không còn nghi ngờ gì nữa, hôm mà hắn ta lo lắng sợ hãi chính là ngày đã đọc thấy tin đồng bọn được phóng thích đăng trên báo."

"Đúng thế.

Câu chuyện hắn kể về một vụ trộm chỉ là cái cớ."

"Nhưng tại sao hắn lại không thể kể cho ông nghe mọi chuyện?"

"Chuyện là thế này, thưa ông, vì biết đồng bọn cũ sẽ trả thù, hắn cố gắng che giấu lí lịch của mình với tất cả mọi người càng lâu càng tốt.

Bí mật của hắn cũng đáng xấu hổ và hắn không thể tự nói ra.

Thế nhưng, cho dù có xấu xa đến mấy thì hắn vẫn sống dưới sự bảo vệ của pháp luật Anh quốc và thưa ông thanh tra, tôi tin chắc ông cũng thấy rằng: Cho dù tấm khiên đã không bảo vệ được mạng sống cho hắn nhưng lưỡi gươm công lí vẫn còn đó để trả thù."

Đó là câu chuyện lạ lùng liên quan đến bệnh nhân nội trú và vị bác sĩ ở phố Brook.

Kể từ đêm đó cảnh sát không tìm thấy tung tích ba tên sát nhân đâu cả và Sở Cảnh sát London đã đoán rằng bọn chúng nằm trong số những hành khách của con tàu hơi nước xấu số Norah Creina đã bị chìm cách đây vài năm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn ở ven bờ biển Bồ Đào Nha cách cảng Oporto vài hải lí về phía bắc.

Vụ xử tên người hầu không thành vì thiếu chứng cớ và vụ Bí ẩn phố Brook, như được mệnh danh, cho đến nay vẫn chưa bao giờ được đăng tải đầy đủ trên bất cứ tờ báo nào.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
NGƯỜI THÔNG DỊCH TIẾNG HI LẠP (The Greek Interpreter, 1893)


Trong suốt thời gian dài quen thân với Sherlock Holmes tôi chưa bao giờ nghe anh đề cập đến anh em họ hàng và gần như không chút nào về thời niên thiếu.

Sự kín tiếng này khiến tôi càng có cảm giác anh có phần nào đó vô cảm, đến nỗi đôi khi tôi xem anh như một hiện tượng biệt lập, chỉ có khối óc mà không có con tim, thông minh xuất chúng bao nhiêu thì lại thiếu vắng tình người bấy nhiêu.

Mối ác cảm đối với phụ nữ và không ưa kết giao bạn bè là những nét điển hình cho bản tính lãnh đạm của anh nhưng việc anh luôn gạt đi mọi lời đề cập đến người thân của mình cũng không kém phần rõ rệt.

Tôi cứ ngỡ anh là trẻ mồ côi không người thân thích, nhưng một ngày kia, trước sự ngạc nhiên tột độ của tôi, anh bắt đầu đề cập đến anh trai mình.

Lúc đó là một buổi chiều hè sau giờ uống trà, khi cuộc chuyện trò đã bắt đầu lan man, rời rạc, hết nhảy từ các câu lạc bộ golf đến những nguyên nhân thay đổi độ nghiêng của đường hoàng đạo rồi cuối cùng xoay quanh câu hỏi về sự lại tổ và những năng khiếu di truyền.

Vấn đề đang bàn luận là năng khiếu đặc biệt ở một người có bao nhiêu phần là do thừa hưởng từ tổ tiên và bao nhiêu là do rèn luyện từ nhỏ.

"Trong trường hợp của bản thân anh", tôi nói, "từ tất cả những gì anh đã kể cho tôi nghe thì dường như tài quan sát và khả năng suy luận của anh rõ ràng là do sự rèn luyện bài bản."

"Anh nói đúng trong một chừng mực nào đó", anh trả lời với vẻ tư lự.

"Tổ tiên tôi là điền chủ ở nông thôn và dường như họ cũng sống bình thường như những điền chủ khác.

Tuy nhiên, thiên hướng này của tôi lại có sẵn trong huyết thống và có lẽ bắt nguồn từ bà nội tôi là em gái của họa sĩ người Pháp Vernet.

Năng khiếu nghệ thuật do di truyền có thể bộc lộ dưới nhiều hình thức rất kì lạ."

"Nhưng làm thế nào mà anh biết năng khiếu ấy là do di truyền?"

"Bởi Mycroft nhà tôi thừa hưởng năng khiếu đó hơn tôi rất nhiều."

Quả thật đây là điều hoàn toàn mới mẻ với tôi.

Nếu nước Anh còn một người nữa cũng có những khả năng đặc biệt như thế thì tại sao cả cảnh sát lẫn bàn dân thiên hạ chẳng ai nghe nói gì về anh ta?

Tôi nêu thắc mắc này với ngụ ý là bạn mình vì khiêm tốn nên tự nhận là kém hơn.

Holmes cười phá lên trước ý kiến của tôi.

"Anh Watson thân mến", anh đáp, "tôi không thể nào đồng ý với những ai coi khiêm tốn là đức tính.

Đối với một nhà tư duy logic thì mọi việc phải được xem xét đúng bản chất, và việc tự đánh giá thấp bản thân cũng như thổi phồng khả năng chính mình đều là bẻ cong sự thật.

Vì thế, khi tôi nói Mycroft có khả năng nhận xét tốt hơn tôi thì anh có thể hiểu là tôi đang nói một sự thật chính xác theo đúng nghĩa của nó."

"Đấy là em trai anh?"

"Anh ấy hơn tôi bảy tuổi."

"Thế thì tại sao không ai biết gì về anh ấy?"

"Ồ, anh ấy rất nổi tiếng trong giới của mình."

"Tức là ở đâu?"

"Ở Câu lạc bộ Diogenes chẳng hạn."

Tôi chưa bao giờ nghe nói đến tổ chức này và hẳn là vẻ mặt tôi thể hiện quá rõ điều đó nên Sherlock Holmes rút đồng hồ ra.

"Diogenes là câu lạc bộ lạ lùng nhất ở London và Mycroft là một trong những người kì lạ nhất.

Anh ấy luôn ở đó từ 5 giờ kém 15 đến 8 giờ kém 20.

Bây giờ là 6 giờ, vì thế nếu anh thích một cuộc đi dạo vào buổi chiều đẹp trời này thì tôi rất sẵn lòng giới thiệu anh với hai điều lạ lùng."

Năm phút sau chúng tôi đã ra ngoài đường và đi bộ tới vòng xoay Regent.

"Chắc là anh thắc mắc", bạn tôi lên tiếng, "vì sao Mycroft không sử dụng những khả năng của anh ấy vào công việc điều tra.

Anh ấy không làm được việc đó."

"Nhưng tôi tưởng anh nói là..."

"Tôi nói rằng anh ấy tài giỏi hơn tôi trong việc quan sát và suy luận.

Nếu nghệ thuật điều tra chỉ cần ngồi trên ghế bành mà lập luận từ đầu đến cuối thì anh tôi sẽ là nhà điều tra hình sự tài giỏi nhất xưa nay.

Nhưng anh ấy không có khát khao cũng như không có sức lực.

Thậm chí anh ấy còn chẳng buồn cố gắng xác minh xem lời giải của mình có đúng hay không và chẳng thà bị xem là sai lầm chứ không chịu nhọc công để chứng tỏ là mình đúng.

Đã biết bao nhiêu lần tôi đưa các vụ án tới tay anh ấy và lần nào suy luận của anh ấy cũng đúng.

Tuy nhiên anh ấy hoàn toàn không thể xử lí các chi tiết ngoài hiện trường mà đáng lẽ phải được xem xét trước khi vụ án được đưa ra trước quan tòa hay bồi thẩm đoàn."

"Vậy đó không phải là nghề nghiệp của anh ấy?"

"Hoàn toàn không.

Nếu như công việc này là kế sinh nhai của tôi thì với anh ấy nó chỉ đơn thuần là một thú vui tài tử.

Anh ấy có khả năng xử lí số liệu phi thường và anh ấy kiểm toán sổ sách cho một số ban ngành của chính phủ.

Mycroft sống ở phố Pall Mall và cứ mỗi sáng thì anh ấy đi bộ vòng đến đường Whitehall rồi đến chiều lại đi bộ trở về.

Năm này sang năm khác chẳng bao giờ anh ấy tập luyện một bài tập thể dục nào khác và cũng chẳng xuất hiện ở nơi nào khác ngoại trừ Câu lạc bộ Diogenes ở ngay đối diện nhà anh ấy."

"Tôi vẫn không tài nào nhớ ra cái tên này?"

"Khó đấy.

Anh biết không, ở London có rất nhiều người chẳng hề mong muốn kết giao bạn bè, một số là vì nhút nhát, số khác thì do chán ghét con người.

Tuy nhiên họ vẫn thích một chỗ ngồi êm ái với cuốn tạp chí vừa xuất bản.

Lúc đầu Câu lạc bộ Diogenes được lập ra nhằm đem lại sự thoải mái cho những người này và giờ thì nó là nơi quy tụ những người không giao du, không bè bạn trong thành phố.

Không thành viên nào được phép để ý đến thành viên nào dù chỉ đôi chút.

Ngoại trừ trong phòng dành cho người lạ ra, không ai được nói chuyện bất kể trong tình huống nào và nếu bị ban chấp hành phát hiện vi phạm quy định này đến lần thứ ba thì rất có thể kẻ ba hoa đó sẽ bị trục xuất.

Anh trai tôi là một trong những người sáng lập ra câu lạc bộ này và bản thân tôi cũng thấy nó đem lại một bầu không khí rất dễ chịu."

Trong khi nói chuyện chúng tôi đã đến cuối phố St.

James và từ đó chúng tôi đi xuôi theo Pall Mall.

Sherlock Holmes dừng lại trước một cánh cửa cách ngõ Carlton không xa, và sau khi yêu cầu tôi giữ im lặng, anh dẫn tôi vào sảnh.

Qua tấm vách kính tôi thoáng thấy một căn phòng rộng rãi và sang trọng, bên trong có khá nhiều người ngồi đọc báo trong các góc riêng.

Holmes dẫn tôi đến một căn phòng nhỏ trông ra phố Pall Mall và để tôi chờ ở đó, một phút sau anh quay trở lại cùng một người mà tôi biết chắc đó là anh trai của anh.

Mycroft Holmes có vóc dáng to lớn, đậm người hơn hẳn Sherlock.

Thân hình anh tuy béo phì, nhưng khuôn mặt dù to bè vẫn có nét sắc sảo, cũng là đặc điểm rất nổi bật trên mặt người em.

Đôi mắt màu xám nhạt của anh sáng một cách kì lạ và dường như luôn ẩn chứa ánh nhìn xa xăm, tư lự mà tôi chỉ bắt gặp ở Sherlock những khi anh tập trung toàn bộ năng lượng.

"Rất vui được gặp, thưa ông", anh cất tiếng chào và chìa ra bàn tay to tướng như bàn chân hải cẩu.

"Kể từ khi ông ghi chép lại những vụ án của Sherlock thì tôi nghe tên chú ấy ở mọi nơi.

Nhân tiện, Sherlock này, anh vẫn có ý đợi chú đến hỏi ý kiến anh về vụ Tòa dinh thự hồi cuối tuần.

Anh nghĩ có lẽ vụ đó hơi quá sức chú."

"Không, em đã giải quyết xong rồi", bạn tôi mỉm cười đáp.

"Hẳn nhiên là Adams."

"Phải, chính là Adarns."

"Ngay từ đầu anh đã chắc thế."

Cả hai cùng ngồi xuống bên khoang cửa sổ xây lồi ra ngoài của câu lạc bộ.

"Đây là vị trí dành cho những ai muốn nghiên cứu về con người", Mycroft nói.

"Hãy nhìn xem có biết bao nhiêu là kiểu người ấn tượng!

Chẳng hạn như hai người đàn ông đang đi về phía chúng ta."

"Người ghi điểm bi-a và người đi bên cạnh?"

"Đúng thế.

Chú biết gì về người kia?"

Hai người đàn ông dừng ngay trước khuôn cửa sổ.

Dấu hiệu duy nhất của môn bi-a mà tôi có thể nhìn thấy ở một trong hai người là mấy vệt phấn trên túi áo gilet.

Còn người kia thì rất thấp bé, da ngăm, đội mũ hất ra sau và xách vài gói đồ.

"Em nhận ra đó là một cựu binh", Sherlock nói.

"Và vừa mới xuất ngũ", người anh nhận xét.

"Phục vụ ở Ấn Độ, em thấy thế."

"Và là một hạ sĩ quan."

"Pháo binh hoàng gia, em nghĩ vậy", Sherlock nói tiếp.

"Và là một người góa vợ."

"Nhưng có một đứa con."

"Những đứa con mới đúng, chú em."

"Nào", tôi nói và cười to, "thế này thì hơi quá."

"Chắc chắn mà", Holmes đáp, "ta dễ thấy rằng người đàn ông dáng vẻ đường hoàng, oai phong, có màu da cháy nắng ấy là một binh sĩ, cấp cao hơn binh nhì và vừa trở về từ Ấn Độ."

"Còn việc ông ta chỉ vừa mới xuất ngũ không lâu được thể hiện ở chỗ vẫn còn đi giày quân dụng", Mycroft nhận xét.

"Ông ta không có sải bước của một kị binh, nhưng lại đội mũ lệch, căn cứ vào một bên trán có màu da trắng hơn.

Xét cân nặng của ông ta thì không thể là công binh được.

Vậy là pháo binh."

"Tiếp theo, bộ trang phục cho thấy một người vô cùng thân thiết với ông ta vừa mất.

Do ông ta tự đi mua sắm nên có lẽ người chết là vợ ông ta, ông ta mua những thứ cho trẻ con, ông thấy chứ.

Có một cái xúc xắc cho thấy một trong những đứa con của ông ta còn nhỏ lắm.

Có lẽ người vợ đã chết vì hậu sản.

Ông ta còn kẹp một cuốn truyện tranh dưới nách chứng tỏ ông ta còn phải lo cho một đứa trẻ nữa."

Tôi bắt đầu hiểu ra ý của bạn mình khi anh nói rằng anh trai của mình có những khả năng thậm chí còn sắc bén hơn cả anh.

Anh liếc sang tôi và mỉm cười.

Mycroft bốc ra một dúm bột thuốc lá từ chiếc hộp đồi mồi rồi dùng một chiếc khăn tay to bằng lụa đỏ phủi những bụi thuốc rơi trên áo khoác.

"Nhân tiện, Sherlock này", anh nói, "anh có thứ này rất hợp với chú, một vụ hết sức lạ lùng người ta vừa nhờ anh xem xét.

Thật sự là anh không đủ hơi sức để theo đuổi vụ này, chỉ có thể ngó qua một chút thôi, nhưng nó cũng đem lại cơ sở để anh phỏng đoán tí chút cho vui.

Nếu chú muốn nghe qua các chi tiết."

"Anh Mycroft thân mến, em rất vui lòng."

Người anh viết vội vài chữ lên một tờ giấy trong cuốn sổ tay rồi rung chuông gọi và trao tờ giấy cho người phục vụ.

"Anh vừa mời ông Melas đến đây", anh ta nói.

"Ông ta sống ở tầng trên nhà anh và bọn anh cũng có quen biết sơ nên khi gặp rắc rối ông ấy đến gặp anh.

Ông Melas là người gốc Hi Lạp, theo anh biết, và rất giỏi ngoại ngữ.

Ông ta kiếm sống một phần nhờ công việc thông dịch ở tòa án và phần khác là làm hướng dẫn viên cho những người phương Đông giàu có thường đến những khách sạn ở đại lộ Northumberland.

Anh nghĩ rằng nên để ông ta tự kể lại trải nghiệm vô cùng đặc biệt của mình theo cách của ông ta."

Chỉ vài phút sau, chúng tôi gặp một người đàn ông thấp đậm, da màu ôliu và mái tóc đen bóng như than cho thấy ông ta là người gốc phương Nam, dù giọng nói hoàn toàn là của một người Anh có học vấn.

Ông ta nồng nhiệt bắt tay Sherlock Holmes và đôi mắt đen của ông ta lấp lánh niềm vui khi biết rằng vị chuyên gia này nóng lòng muốn nghe câu chuyện của mình.

"Tôi không nghĩ cảnh sát tin lời tôi, thật thế", ông ta than thở.

"Chỉ vì họ chưa bao giờ nghe đến chuyện này nên cứ nghĩ rằng một việc như thế chẳng thể nào xảy ra.

Nhưng tôi biết chừng nào còn chưa rõ điều gì xảy ra với người đàn ông tội nghiệp bị dán băng kín mặt đó thì tôi sẽ không bao giờ yên lòng được."

"Tôi rất muốn nghe đây", Sherlock Holmes nói.

"Hôm nay là thứ tư", ông Melas nói.

"Chuyện xảy ra vào tối thứ hai, chỉ mới hai ngày trước, các ông hiểu chứ.

Tôi là một thông dịch viên, có lẽ người hàng xóm của tôi đây cũng đã cho ông biết.

Tôi thông dịch đủ mọi thứ tiếng - hay gần như tất cả - nhưng vì tôi là người gốc Hi Lạp và mang một cái tên Hi Lạp nên người ta hay mời tôi dịch thứ tiếng này nhất.

Đã bao năm nay tôi là người thông dịch tiếng Hi Lạp hàng đầu ở London và tên tôi nổi tiếng ở các khách sạn.

Không ít lần tôi được mời đi vào những giờ giấc trái khoáy cho những người nước ngoài gặp khó khăn hoặc các khách du lịch đến muộn muốn tôi thông dịch cho họ.

Vì thế mà tối thứ hai vừa rồi tôi không ngạc nhiên khi một người tên Latimer, một chàng trai trẻ ăn mặc rất đúng mốt, đến nhà và đề nghị tôi đi cùng anh ta trên cỗ xe ngựa đang đợi sẵn trước cửa.

Anh ta cho biết có một người bạn Hi Lạp đến đây để bàn công việc làm ăn nhưng vì người ấy chẳng biết thứ ngôn ngữ nào ngoài tiếng mẹ đẻ nên buộc phải có một người thông dịch.

Theo lời chàng trai ấy thì tôi hiểu rằng nhà của anh ta cũng khá xa, ở Kensington, và anh ta có vẻ rất gấp rút, cứ thúc giục tôi nhanh chóng bước vào xe khi chúng tôi xuống đường.

Tôi nói là bước vào xe nhưng tôi thấy khó mà tin nổi là mình đang ngồi trong một cỗ xe ngựa.

Chắc chắn là nó rộng rãi hơn loại xe bốn bánh xấu xí của London và nội thất trong xe, dù đã sờn cũ, đều là loại đắt tiền.

Latimer ngồi đối diện với tôi và chúng tôi bắt đầu lên đường, qua giao lộ Charing Cross và thẳng lên đại lộ Shaftesbury.

Chúng tôi đi đến đường Oxford và khi tôi vừa mới đánh liều nhận xét rằng đây không phải lối đi thẳng đến Kensington thì tôi lập tức phải im bặt bởi hành vi bất thường của người đi cùng.

Đầu tiên anh ta rút từ trong túi ra một cái dùi cui lõi chì trông rất kinh khủng và vung vẩy nó vài lần như muốn kiểm tra độ nặng và sức mạnh của nó.

Rồi anh ta đặt nó xuống ghế bên cạnh mà chẳng nói tiếng nào.

Sau hành động ấy, anh ta kéo cửa sổ cả hai bên lên và tôi ngạc nhiên khi thấy các tấm kính cửa bị che kín bằng giấy để ngăn không cho tôi nhìn thấy gì ở bên ngoài.

'Xin lỗi vì phải che đi tầm nhìn của ông, ông Melas', anh ta nói.

'Sự thật là tôi không muốn ông biết nơi mà chúng ta sắp đến.

Có khả năng tôi sẽ gặp rắc rối nếu ông có thể tìm đường quay lại đó.'

Như ông có thể hình dung, tôi hoàn toàn sửng sốt khi nghe nói thế.

Người ngồi cùng xe với tôi là một gã trai trẻ vai rộng cường tráng, chưa kể đến thứ vũ khí kia, nếu phải đối phó với hắn ta thì tôi chẳng có chút cơ hội nào.

'Cư xử thế là rất khác thường đấy ông Latimer', tôi lắp bắp.

'Ông phải nhận thấy rằng những gì mình đang làm là bất hợp pháp đấy.'

'Đúng là hơi tự tiện,' hắn ta nói, 'nhưng chúng tôi sẽ đền bù cho ông.

Tuy nhiên, tôi phải cảnh báo ông, ông Melas ạ, rằng tối nay hễ ông định báo động hoặc làm gì trái ý tôi thì ông sẽ thấy vấn đề trở nên nghiêm trọng đấy.

Tôi mong ông hãy nhớ rằng chẳng ai biết ông ở đâu và cho dù ông ở trong cỗ xe này hay tại nhà tôi thì cũng đều nằm trong tay tôi.'

Hắn nói khẽ nhưng sít răng lại khiến cho những lời lẽ này nghe đầy hăm dọa.

Tôi ngồi yên tự hỏi vì lí do gì mà hắn lại bắt cóc tôi theo kiểu lạ kì này.

Cho dù vì lí do nào đi nữa thì rõ ràng là có kháng cự cũng chẳng được và thế là tôi chỉ còn cách đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra.

Xe đi được gần hai giờ và tôi không hề có chút manh mối nào là mình đang đi đâu.

Thỉnh thoảng tiếng đá lạo xạo cho biết đó là một đoạn đường rải đá và ở những đoạn khác khi xe lướt êm thì tôi đoán đó là đường nhựa, nhưng, ngoại trừ sự thay đổi về âm thanh ra thì chẳng có dấu hiệu nhỏ nào giúp tôi đoán được là mình đang đi đến đâu.

Giấy dán ở mỗi ô cửa sổ đều là loại giấy chắn sáng và một tấm rèm màu xanh đã che kín tấm kính ở phía trước.

Chúng tôi rời Pall Mall lúc 7 giờ 15 và cuối cùng thì xe cũng dừng lại khi đồng hồ của tôi chỉ 9 giờ kém 10.

Người đi cùng xe với tôi hạ cửa sổ xuống và tôi thoáng nhìn thấy một khung cửa vòm thấp với một ngọn đèn bên trên.

Khi tôi còn đang hấp tấp xuống xe thì khung cửa ấy mở tung và tôi đã thấy mình ở trong nhà, mơ hồ nhận thấy có một bãi cỏ và cây cối mọc hai bên lúc tiến vào.

Tuy nhiên, tôi không dám chắc đó là vườn tư hay quang cảnh vùng quê.

Bên trong có một ngọn đèn khí đốt đã được vặn xuống rất nhỏ khiến tôi chẳng nhìn được mấy ngoại trừ là tiền sảnh khá rộng và có treo nhiều tranh.

Trong ánh sáng lờ mờ tôi có thể nhận thấy người ra mở cửa là một người đàn ông đứng tuổi thấp bé, có vẻ tiều tụy, dáng gù.

Khi ông ta quay qua chúng tôi, tia sáng lóe lên từ ngọn đèn cho thấy ông ta đeo kính.

'Có phải ông Melas đây không, Harold?' Ông ta lên tiếng.

'Vâng.'

'Tốt lắm, rất tốt!

Chúng tôi không có ác ý gì đâu, ông Melas, tôi mong là thế, nhưng không có ông thì chúng tôi không thể nào tiếp tục công việc được.

Nếu ông xử sự đàng hoàng với chúng tôi thì ông sẽ chẳng phải hối tiếc gì cả, nhưng nếu ông định giở trò thì chỉ có Chúa mới cứu được ông!' Ông ta nói theo cái lối căng thẳng, giật cục, xen lẫn vài tiếng cười hinh hích, thế nhưng lại khiến tôi thấy sợ hơn gã kia.

'Các ông muốn gì ở tôi?' Tôi hỏi.

'Chỉ cần ông dịch vài câu hỏi cho một người Hi Lạp đang ở chỗ chúng tôi và cho chúng tôi biết câu trả lời.

Nhưng không được nói thêm ngoài những gì cần dịch, nếu không thì...' lại thêm một tràng cười hinh hích căng thẳng, 'chẳng thà ông chưa bao giờ có mặt trên cõi đời này.'

Trong khi nói ông ta mở một cánh cửa và dẫn tôi vào một căn phòng trông có vẻ được bài trí rất sang trọng, nhưng cũng chỉ được chiếu sáng bởi một ngọn đèn duy nhất được vặn nhỏ xuống một nửa.

Căn phòng quả là rộng rãi và chân tôi lún xuống khi bước trên tấm thảm chứng tỏ nó rất dày.

Tôi thoáng thấy những chiếc ghế bọc nhung, một lò sưởi cao bằng đá cẩm thạch trắng bên cạnh là thứ gì đó trông như một bộ áo giáp Nhật.

Ngay dưới ngọn đèn là một cái ghế và người đàn ông đứng tuổi ra hiệu bảo tôi ngồi vào đó.

Gã thanh niên đã rời đi nhưng đột nhiên hắn quay trở lại qua một cánh cửa khác, dẫn theo một người trong bộ y phục giống như áo choàng rộng, di chuyển chậm chạp về phía chúng tôi.

Khi người này bước vào vầng sáng lờ mờ khiến tôi có thể nhìn thấy ông ta rõ hơn thì tôi rùng mình khiếp sợ trước bộ dạng ông ta.

Ông ta nhợt nhạt như một xác chết và tiều tụy kinh khủng, đôi mắt sáng, lồi ra cho thấy người này có tinh thần mạnh mẽ hơn thể chất.

Nhưng điều tác động lên tôi mạnh hơn tất cả mọi dấu hiệu suy yếu vì cơ thể của ông ta chính là khuôn mặt bị dán chằng chịt đầy băng dính và một dải băng rộng bịt kín miệng ông ta.

'Cậu có tấm bảng đấy không, Harold?' Người đàn ông đứng tuổi hỏi to khi người mới bước vào gần như ngã quỵ xuống một chiếc ghế.

'Đã cởi trói cho hắn chưa?

Được rồi, giờ thì đưa cho hắn cây bút chì.

Ông sẽ hỏi hắn ta vài câu hỏi, ông Melas ạ, và hắn sẽ viết câu trả lời lên bảng.

Trước tiên hỏi xem hắn đã sẵn sàng kí tên vào các loại giấy tờ chưa?'

Đôi mắt người đàn ông tóe lửa.

'Không bao giờ!' Ông ta viết như thế bằng chữ Hi Lạp lên tấm bảng.

'Bất luận hoàn cảnh nào cũng vậy ư?' Tôi hỏi ông ta theo lệnh của tên bạo chúa.

'Trừ phi tôi chính mắt chứng kiến lễ cưới của cô ấy do một linh mục Hi Lạp mà tôi biết chủ trì.'

Gã kia cười hinh hích vẻ hiểm độc.

'Thế ông có biết điều gì đang đợi ông không?'

'Tôi chẳng quan tâm tới điều gì xảy ra với mình.'

Đó là những câu hỏi và trả lời trong cuộc đối thoại lạ lùng nửa nói nửa viết giữa chúng tôi.

Tôi cứ phải hỏi đi hỏi lại xem ông ta có chịu nhượng bộ và bằng lòng kí các giấy tờ hay không.

Và lần nào tôi cũng nhận được câu trả lời đầy căm phẫn.

Nhưng tôi chợt nảy ra một ý hay ho.

Tôi thêm vào mỗi câu hỏi một câu ngắn của mình, lúc đầu thì là những câu vô hại để thử xem bọn chúng có biết gì hay không, và rồi khi thấy chẳng có phản ứng gì, tôi bắt đầu liều lĩnh hơn.

Cuộc đối thoại của chúng tôi diễn ra như sau:

'Nếu cứ ngoan cố như thế thì chẳng được gì đâu.

Ông là ai?

'Tôi không quan tâm.

Tôi mới đến London.'

'Số phận của ông là do chính ông quyết định đấy.

Ông đến đây được bao lâu rồi?'

'Mặc kệ.

Ba tuần!'

'Đằng nào tài sản cũng đâu có thuộc về ông.

Sao ông ra nông nỗi này!'

'Nó cũng không rơi vào tay bọn bất lương.

Chúng bỏ đói tôi!'

'Nếu ông chịu kí thì sẽ được tự do.

Ngôi nhà này là đâu?'

'Tôi sẽ chẳng bao giờ kí.

Tôi không biết!'

'Ông làm thế không ích gì cho cô ta đâu.

Ông tên gì?'

'Tôi muốn nghe chính miệng cô ấy nói thế.

Kratides.'

'Ông sẽ được gặp cô ta nếu bằng lòng kí.

Ông từ đâu đến?'

'Vậy thì khỏi gặp.

Athens!'

Chỉ cần thêm năm phút nữa thôi là tôi sẽ moi ra được toàn bộ sự việc ngay trước mặt bọn chúng, ông Holmes ạ.

Câu hỏi kế tiếp của tôi có thể sẽ làm sáng tỏ vấn đề, nhưng đúng lúc đó thì cánh cửa bật mở và một người phụ nữ bước vào phòng.

Tôi không thể nhìn rõ cô ta nhưng chỉ biết rằng đó là một cô gái cao ráo và duyên dáng với mái tóc đen và mặc áo dài trắng rộng.

'Harold', cô ta bập bẹ nói bằng tiếng Anh.

'Tôi không thể nào ở thêm được nữa.

Nơi này cô đơn quá, chỉ có...

Ôi, lạy Chúa, anh Paul đây mà!' Những tiếng cuối cô ta nói bằng tiếng Hi Lạp và cùng lúc đó người đàn ông với nỗ lực không ngờ đã giật được mảnh băng dính ra khỏi miệng và kêu to: 'Sophy!

Sophy!' Rồi lao vào vòng tay của cô gái.

Thế nhưng, họ chỉ kịp ôm nhau trong giây lát vì gã thanh niên đã túm lấy cô gái và đẩy cô ta ra khỏi phòng trong khi tên đứng tuổi dễ dàng chế ngự nạn nhân ốm yếu của hắn và lôi ông ta ra ngoài qua một cánh cửa khác.

Trong một lúc chỉ còn có mình tôi trong phòng và tôi đứng bật dậy thoáng nghĩ biết đâu mình có thể tìm ra được manh mối nào đó để đoán xem ngôi nhà này là đâu.

Nhưng thật may là tôi chưa kịp đi bước nào vì khi nhìn ra thì tôi thấy gã đàn ông lớn tuổi đang đứng ở khung cửa mắt dán chặt vào tôi.

'Thế là xong, ông Melas ạ,' hắn ta nói.

'Ông cũng thấy rằng chúng tôi đã tin cậy mà trao cho ông một công việc rất riêng tư.

Lẽ ra chúng tôi không nên làm phiền ông, chỉ vì người bạn nói được tiếng Hi Lạp của chúng tôi và là người tham gia từ đầu những cuộc thương lượng này buộc phải trở về phương Đông.

Do đó chúng tôi cần phải tìm một người nào đó thế chỗ ông ta và may mắn là chúng tôi được biết đến năng lực của ông.' Tôi nghiêng đầu.

'Đây là năm đồng sovereign, hắn vừa nói vừa bước lại gần tôi, 'mà tôi hi vọng là món tiền công xứng đáng, nhưng hãy nhớ,' hắn nói thêm, vỗ nhẹ vào ngực tôi và cười hinh hích, 'nếu ông hé lộ cho ai biết về chuyện này, chỉ một người thôi, thì cầu Chúa phù hộ cho tính mạng của ông!'

Tôi không thể nào tả nổi cho ông nghe sự ghê tởm và nỗi kinh hoàng của mình đối với gã đàn ông có vẻ ngoài hèn hạ này.

Lúc này tôi đã có thể nhìn hắn ta rõ hơn vì ánh đèn đang chiếu xuống hắn.

Nét mặt hắn trông ốm yếu và vàng vọt, chỏm râu nhọn của hắn mọc lởm chởm và thưa thớt.

Khi nói hắn vênh mặt ra phía trước, môi và mí mắt cứ liên tục giật như một người bị chứng múa giật.

Tôi không khỏi nghĩ rằng cái kiểu cười nho nhỏ lạ lùng của hắn chắc cũng là triệu chứng của một căn bệnh thần kinh nào đó.

Thế nhưng vẻ đáng sợ của khuôn mặt hắn lại tập trung ở đôi mắt màu xám thép và sáng lạnh lùng toát lên vẻ hiểm ác và tàn độc từ sâu bên trong.

'Nếu ông mà để lộ chuyện này thì chúng tôi sẽ biết ngay,' hắn nói.

'Chúng tôi có những biện pháp riêng để thu thập thông tin.

Giờ thì xe đang đợi ông ở bên ngoài và bạn tôi sẽ đưa ông về.'

'Tôi hối hả bước qua tiền sảnh rồi trèo vào cỗ xe, một lần nữa tôi lại thoáng trông thấy cây cối và một mảnh vườn.

Latimer theo sát phía sau và lên ngồi đối diện với tôi mà chẳng nói tiếng nào.

Một lần nữa, trong yên lặng và cửa xe được kéo lên kín mít, chúng tôi lại vượt qua đoạn đường dài dằng dặc mãi đến quá nửa đêm mới dừng lại.

'Ông sẽ xuống đây, ông Melas ạ,' người đồng hành với tôi lên tiếng.

'Rất tiếc vì phải bỏ ông ở một chỗ cách xa nhà thế này nhưng không còn lựa chọn nào khác.

Nếu ông cố sức bám theo chiếc xe thì chỉ tự chuốc lấy thương tích thôi.'

Trong khi nói thì hắn mở cửa xe và tôi chỉ vừa kịp nhảy ra thì gã đánh xe đã quất ngựa và chiếc xe lọc cọc phóng đi.

Tôi ngẩn ngơ nhìn quanh.

Tôi đang đứng trong một bãi đất rải rác thạch nam xen lẫn với từng lùm kim tước tối thẳm.

Xa xa có một dãy nhà với ánh đèn rải rác chiếu qua những khung cửa sổ trên cao.

Nhìn sang phía khác tôi thấy những đốm đỏ đèn hiệu của một tuyến đường sắt.

Chiếc xe ngựa đã khuất khỏi tầm mắt.

Tôi cứ đứng đó chăm chú nhìn quanh và tự hỏi không biết mình đang ở nơi nào thì chợt nhìn thấy từ trong bóng tối có một người đang đi về phía mình.

Khi ông ta đến gần thì tôi nhận ra đó là một người khuân vác của nhà ga.

'Xin ông vui lòng cho biết đây là đâu?' Tôi hỏi.

'Wandsworth Common', ông ta đáp.

'Từ đây có thể đón tàu vào thành phố được không?'

'Nếu ông đi khoảng một dặm nữa đến ga Clapham Junction', ông ta trả lời, 'thì vừa kịp để bắt chuyển tàu cuối cùng đi Victoria.'

Đó là đoạn kết chuyến phiêu lưu của tôi, thưa ông Holmes.

Tôi không biết là mình đã đi đến đâu, những người mình đã gặp là ai, hay bất cứ điều gì khác ngoại trừ những gì tôi đã kể ông nghe.

Nhưng tôi biết rằng có một âm mưu xấu xa đang diễn ra và tôi muốn giúp được phần nào cho người đàn ông khốn khổ kia.

Tôi đã kể toàn bộ câu chuyện cho ông Mycroft Holmes vào sáng hôm sau rồi sau đó đã trình báo với cảnh sát."

Sau khi nghe xong câu chuyện kì lạ này tất cả chúng tôi đều ngồi lặng đi một lúc.

Sau đó Sherlock nhìn sang anh trai mình.

"Anh đã làm gì chưa?"

Anh hỏi.

Mycroft cầm tờ Daily News trên bàn lên.

"Phần thưởng cho ai cung cấp thông tin cho biết một quý ông Hi Lạp tên Paul Kratides, đến từ Athens và không nói được tiếng Anh, hiện đang ở đâu.

Một phần thưởng tương đương dành cho bất kì ai biết được tin tức về một phụ nữ Hi Lạp tên Sophy.

Xin gửi về hộp thư X 2473.

Đó là tin đăng trên tất cả các nhật báo.

Chưa có hồi đáp."

"Thế còn tòa công sứ Hi Lạp?"

"Anh đã hỏi rồi.

Họ chẳng biết gì cả."

"Vậy thì một bức điện đến sở chỉ huy cảnh sát Athens, được chứ?"

"Gia đình tôi có bao nhiêu sức lực thì Sherlock thừa hưởng cả."

Mycroft quay sang tôi nói.

"Được rồi, chú cứ tiến hành vụ này bằng mọi cách và cho anh biết tin nếu có kết quả gì."

"Chắc chắn rồi", bạn tôi trả lời và đứng dậy.

"Em sẽ báo tin cho anh và cả ông Melas nữa.

Còn trong lúc này, nếu tôi ở địa vị ông, ông Melas ạ, thì tôi sẽ rất cảnh giác, vì tất nhiên là qua những mẩu tin đăng báo này bọn chúng thể nào cũng biết rằng ông đã phản bội chúng."

***

Khi chúng tôi bước về nhà, Holmes ghé vào một trạm điện báo và gửi đi vài bức điện.

"Anh thấy đấy, Watson", anh nhận xét, "buổi tối của chúng ta chẳng uổng phí chút nào.

Một số vụ án lí thú nhất đã đến tay tôi thông qua anh Mycroft như thế này.

Vụ mà ta vừa nghe dù chỉ có một cách giải thích nhưng vẫn có những nét riêng biệt."

"Anh hi vọng sẽ giải quyết được nó chứ?"

"Ồ, nếu ta đã biết đến đấy rồi mà không khám phá ra được phần còn lại thì mới là lạ.

Chắc chắn là anh cũng đã nghĩ ra giả thuyết nào đó có thể giải thích cho những dữ kiện mà ta đã nghe."

"Đúng, nhưng hãy còn mơ hồ."

"Vậy ý kiến của anh thế nào?"

"Theo như tôi thấy thì chắc chắn là cô gái Hi Lạp đã bị gã người Anh tên Harold Latimer bắt đi."

"Bắt đi từ đâu?"

"Athens, có lẽ thế."

Sherlock Holmes lắc đầu.

"Gã đó không biết một chữ Hi Lạp nào.

Cô gái thì nói được khá tiếng Anh.

Ta suy ra rằng cô ta đã ở Anh được một thời gian còn hắn thì chưa hề đến Hi Lạp."

"Vậy là cô ta đến Anh chơi và tên Harold này đã dụ được cô ta trốn theo hắn."

"Như thế thì có vẻ hợp lí hơn."

"Thế rồi người anh trai - vì tôi nghĩ rằng ông ta phải có quan hệ họ hàng với cô gái - đã từ Hi Lạp đến đây để ngăn cản.

Song do bất cẩn nên ông ta đã lọt vào tay gã thanh niên và tên đồng bọn già hơn.

Chúng bắt giam ông ta và dùng bạo lực để buộc ông ta phải kí vào một số giấy tờ để chuyển giao tài sản của cô gái - mà có thể đã được ủy thác cho ông ta - lại cho chúng.

Ông ta từ chối không chịu kí.

Để thương lượng được với ông ta, bọn chúng cần đến một thông dịch viên và chúng đã chọn ông Melas này, sau khi đã dùng người khác.

Cô gái không hề biết gì về việc anh trai mình đến đây và hoàn toàn nhờ tình cờ mà đã gặp được ông ta."

"Rất tuyệt vời, Watson!"

Holmes kêu lên.

"Tôi thật sự nghĩ rằng anh đã gần tìm ra sự thật.

Anh xem, chúng ta đã nắm được trong tay tất cả mọi lá bài và chỉ có mỗi một điều đáng sợ là chúng sẽ đột ngột sử dụng bạo lực.

Nếu chúng cho ta thêm thời gian thì chắc chắn ta sẽ tóm được bọn chúng."

"Nhưng làm thế nào có thể tìm ra được căn nhà ấy?"

"Nếu điều phỏng đoán của chúng ta là đúng và quả thật tên của cô gái là Sophy Kratides thì chúng ta sẽ tìm ra được cô ta dễ dàng.

Đó chính là niềm hi vọng chủ yếu của chúng ta vì người anh trai của cô ta mới chân ướt chân ráo đến đây.

Có thể thấy là từ khi gã Harold làm quen với cô gái đến nay đã được một khoảng thời gian, ít ra cũng là vài tuần - vì người anh trai ở Hi Lạp đã kịp hay tin và lên đường sang đây.

Nếu suốt khoảng thời gian này chúng vẫn sống trong ngôi nhà đó thì có thể là chúng ta sẽ có hồi đáp cho mẩu tin đăng báo của anh Mycroft."

Trong khi mải nói chuyện, chúng tôi đã về đến nhà ở phố Baker.

Holmes bước lên cầu thang trước và khi mở cánh cửa phòng của chúng tôi thì anh chợt giật mình ngạc nhiên.

Nhìn qua vai anh, tôi cũng kinh ngạc không kém.

Người anh trai Mycroft của anh đang ngồi trên ghế bành hút thuốc.

"Vào đi, Sherlock!

Mời vào, thưa ông", anh ta thản nhiên nói và mỉm cười trước vẻ mặt sửng sốt của chúng tôi.

"Chú không ngờ là anh lại hoạt động tích cực thế này phải không, Sherlock?

Không hiểu sao anh lại thấy vụ này rất thu hút mình."

"Anh đến đây bằng cách nào?"

"Anh đi bằng xe ngựa vượt qua hai người."

"Đã có tiến triển gì mới chưa?"

"Anh đã nhận được một thư trả lời cho mẩu tin đăng báo."

"A!"

"Phải, hai người vừa đi vài phút thì có tin."

"Và có kết quả gì không?"

Mycroft Holmes lấy ra một tờ giấy.

"Nó đây", anh ta nói, "là do một người đàn ông trung niên có thể chất yếu ớt viết bằng bút mực ngòi to trên loại giấy vàng kem.

Nội dung như sau:

THƯA ÔNG,

Để đáp lại mẩu tin của ông đăng trên số báo ra ngày hôm nay, tôi xin báo cho ông rằng tôi biết rõ người phụ nữ được đề cập đến.

Nếu ông vui lòng ghé đến chỗ tôi thì tôi sẽ cung cấp một số chi tiết về câu chuyện đau buồn của người ấy.

Cô ta hiện đang sống trong biệt thự Hoa Sim tại Beckenham.

Chân thành,

J.

DAVENPORT

"Ông ta viết từ Lower Brixton", Mycroft Holmes nói.

"Chú có nghĩ là bây giờ ta nên đánh xe đến chỗ ông ta để tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện không, Sherlock?"

"Anh Mycroft thân mến, tính mạng của người anh quan trọng hơn câu chuyện về cô em.

Em nghĩ rằng ta nên đến Sở Cảnh sát London báo cho thanh tra Gregson rồi đi thẳng đến Beckenham.

Chúng ta đều biết rằng tính mạng của ông ta đang rất nguy ngập và mỗi giờ phút đều quý báu."

"Ta cũng nên đưa ông Melas cùng đi", tôi đề nghị.

"Có thể chúng ta sẽ cần đến một người thông dịch."

"Xuất sắc", Holmes đồng ý.

"Hãy cho cậu bé giúp việc đi gọi một cỗ xe bốn bánh và chúng ta sẽ khởi hành ngay lập tức."

Anh vừa nói vừa mở ngăn kéo bàn ra và tôi để ý thấy anh nhét khẩu súng lục vào túi.

"Đúng", anh trả lời ánh mắt của tôi, "qua những gì đã nghe, tôi phải nói rằng ta đang đối mặt với một băng nhóm rất nguy hiểm."

Trời đã nhá nhem khi chúng tôi đến phố Pall Mall và gõ cửa phòng ông Melas.

Một người đàn ông vừa đến gặp ông ta và ông ta đã đi.

"Bà có thể cho tôi biết là ông ấy đi đâu không?"

Mycroft Holmes hỏi.

"Thưa ông, tôi không rõ", người phụ nữ ra mở cửa cho chúng tôi đáp, "tôi chỉ biết là ông ấy đi cùng với người kia trong xe ngựa."

"Người kia có cho biết tên không?"

"Dạ không, thưa ông."

"Có phải ông ta là một thanh niên cao, da ngăm và đẹp trai không?"

"Ồ, không phải đâu, ông ạ.

Là một người thấp bé, đeo kính, mặt hốc hác nhưng rất vui vẻ vì ông ta cứ cười suốt trong khi nói chuyện."

"Đi thôi!"

Holmes đột ngột kêu lên.

"Chuyện trở nên nghiêm trọng rồi", anh nhận xét khi chúng tôi đánh xe đến Sở Cảnh sát London.

"Bọn chúng lại bắt giữ Melas.

Ông ta không phải là người mạnh mẽ về thể chất và bọn chúng biết rõ điều ấy từ đêm trước.

Tên bất lương này có thể khủng bố ông ta ngay khi vừa đối mặt.

Rõ ràng là chúng còn cần đến chuyên môn của ông ta nhưng một khi đã dùng xong thì chúng sẵn sàng trừng phạt ông ta vì đã phản bội chúng."

Chúng tôi chỉ hi vọng là vì đi bằng xe lửa, chúng tôi sẽ tới Beckenham cùng lúc hoặc sớm hơn cỗ xe ngựa.

Thế nhưng khi đến Sở Cảnh sát London thì phải mất hơn một giờ chúng tôi mới gặp được thanh tra Gregson và hoàn tất những thủ tục pháp lý để có thể tiến vào căn nhà nọ.

Lúc 10 giờ kém 15 chúng tôi đến được cầu London và phải nửa giờ sau cả bốn chúng tôi mới đặt chân xuống sân ga Beckenham.

Rồi lại ngồi xe thêm nửa dặm nữa chúng tôi mới đến được biệt thự Hoa Sim một tòa nhà lớn tối tăm có khuôn viên riêng, tách khỏi con đường.

Đến đây chúng tôi xuống xe rồi cùng nhau đi lên lối vào.

"Tất cả mọi cửa sổ đều tối đen", viên thanh tra nhận xét.

"Căn nhà trông có vẻ như đã không còn ai."

"Con mồi của chúng ta đã vỗ cánh bay đi, chỉ còn cái tổ trống trơn", Holmes nói.

"Sao anh lại nói thế?"

"Vì trong khoảng một giờ qua đã có một cỗ xe chất đầy hành lí rời đi."

Viên thanh tra cười phá lên.

"Dưới ánh sáng từ ngọn đèn ở cổng quả là tôi có trông thấy những vết bánh xe nhưng còn hành lí thì ở đâu ra?"

"Ông có thể thấy vết bánh xe cũng của cỗ xe đó chạy vào.

Nhưng vết bánh xe đi ra hằn sâu hơn rất nhiều, nhiều đến nỗi ta có thể chắc rằng chiếc xe đó đã chở khá nặng."

"Ông quan sát hơn tôi tí chút", viên thanh tra nhún vai nói.

"Thật là không dễ gì mà phá được cánh cửa này nhưng ta sẽ thử nếu không có ai mở."

Ông ta gõ mạnh chiếc vòng sắt ở cửa rồi giật dây chuông nhưng đều vô ích.

Holmes đã lỉnh đi đâu đó và quay trở lại sau vài phút.

"Tôi đã mở được một cánh cửa sổ," anh thông báo.

"Thật may là ông đứng về phía cảnh sát chứ không phải là tội phạm, ông Holmes ạ", viên thanh tra nhận xét khi ông ta nhìn thấy bạn tôi khéo léo đẩy cái then cửa ra.

"Tốt, tôi nghĩ rằng trong tình huống này ta có thể vào mà không cần mời."

Chúng tôi lần lượt vào trong một căn phòng rộng rãi, rõ ràng là căn phòng mà ông Melas đã từng được đưa đến.

Viên thanh tra thắp đèn và nhờ vào ánh sáng của nó mà chúng tôi có thể nhìn thấy hai cửa ra vào, tấm thảm, ngọn đèn và một bộ áo giáp Nhật đúng như ông ta đã tả cho chúng tôi nghe.

Trên mặt bàn hãy còn đặt hai cái li, một chai rượu mạnh đã cạn và phần thức ăn thừa.

"Gì vậy?"

Holmes bất chợt hỏi.

Chúng tôi đều đứng lặng yên và lắng nghe.

Một tiếng rên nhỏ vọng từ đâu đó phía trên đầu chúng tôi.

Holmes chạy vội về phía cửa và lao ra tiền sảnh.

Âm thanh yếu ớt đó phát ra từ tầng trên.

Anh lao lên, viên thanh tra và tôi bám anh sát gót còn Mycroft cũng cố gắng lê thân hình to lớn theo sau.

Trên tầng hai có ba cánh cửa quay mặt ra hành lang và từ cánh cửa ở giữa vọng ra âm thanh báo điềm gở, khi thì chùng xuống thành tiếng lầm bầm khe khẽ, khi lại vút vang lên thành tiếng rên the thé.

Cánh cửa bị khóa nhưng chìa hãy còn cắm ở bên ngoài.

Holmes mở tung cửa lao vào nhưng rồi lại chạy vụt trở ra ngay, bàn tay bịt ngang cổ.

"Có khói than", anh kêu lên, "Hãy đợi một chút.

Khói sẽ tan."

Nhíu mắt nhìn vào chúng tôi có thể thấy luồng ánh sáng duy nhất trong phòng được phát ra từ ngọn lửa xanh nhạt đang lập lòe trên một cái kiềng ba chân bằng đồng đặt ở giữa phòng.

Nó rọi lên sàn nhà một quầng sáng màu xanh xám rất quái dị còn trong bóng tối ở phía sau thì hiện lờ mờ hai bóng hình đang co sát bức tường.

Từ cánh cửa mở phả ra một làn hơi độc hết sức khó chịu khiến chúng tôi phải thở hổn hển và ho sặc sụa.

Holmes chạy lên phía đầu cầu thang để hít vào một ngụm không khí trong lành rồi nhanh chóng lao vào trong phòng, anh mở toang cửa sổ và ném mạnh cái kiềng ba chân kia xuống vườn.

"Một phút sau là chúng ta có thể vào được", anh hổn hển nói trong khi phóng nhanh trở ra.

"Có ai thấy nến đâu không?

Tôi ngờ rằng với loại khí này thì ta không thể nào đánh diêm được.

Anh Mycroft, hãy rọi đèn từ cửa và bọn em sẽ đưa họ ra.

Nào!"

Chúng tôi hối hả tiến lại chỗ hai người đàn ông bị ngộ độc, kéo họ ra và đưa xuống sảnh sáng đèn.

Cả hai đều bất tỉnh và môi của họ thâm đen, mặt thì sưng phù và tụ huyết, hai mắt lồi hẳn ra.

Quả thật là nét mặt của họ bị biến dạng đến nỗi nếu không nhờ hàm râu đen và thân hình mập đậm thì chúng tôi không sao nhận ra được một trong hai người chính là người thông dịch tiếng Hi Lạp vừa mới chia tay chúng tôi vài giờ trước tại Câu lạc bộ Diogenes.

Cả tay và chân ông ta bị trói chặt vào nhau và phía trên một mắt còn hiện rõ dấu vết của một cú đánh mạnh.

Người kia, cũng bị trói cùng một kiểu, là một người cao, thân thể đã gầy mòn đến cùng kiệt, trên mặt dán mấy dải băng dính trông rất quái dị.

Khi được chúng tôi đặt xuống thì ông ta đã ngừng rên rỉ và chỉ thoáng nhìn qua tôi cũng biết là chúng tôi đã không kịp cứu ông ta.

Tuy nhiên, ông Melas hãy còn sống và chưa đến một giờ sau, với sự hỗ trợ của hơi ammoniac và rượu mạnh, tôi hài lòng khi thấy ông ta mở mắt và biết rằng mình đã kéo ông ta khỏi tay thần chết.

Câu chuyện ông Melas kể lại rất đơn giản và khẳng định những suy đoán của chúng tôi.

Vị khách của ông ta ngay sau khi bước vào nhà đã rút từ trong tay áo ra một cái gậy bọc da và ông ta vì quá sợ mình sẽ bị giết luôn tại chỗ nên lại để cho hắn bắt đi lần thứ hai.

Quả thật, gã bất lương có tiếng cười hinh hích ấy đã tác động đến người thông dịch khốn khổ như một phép thôi miên, đến nỗi khi kể về tên bắt cóc, hai tay ông ta cứ run bần bật và gò má thì trắng bệch.

Ngay sau đấy ông ta bị đưa đến Beckenham và lại đóng vai trò thông dịch trong cuộc đối thoại lần thứ nhì mà thậm chí còn nhiều kịch tính hơn lần trước vì hai gã người Anh dọa giết tù nhân ngay tức khắc nếu ông ta không chịu làm theo các yêu cầu của chúng.

Cuối cùng, khi thấy ông ta không hề bị khuất phục trước mọi sự đe dọa, bọn chúng quăng ông ta vào phòng giam và sau khi sỉ vả Melas về tội phản bội vì đã cho đăng mẩu tin trên báo, chúng dùng gậy đánh ông này bất tỉnh, sau đó ông ta không còn nhớ gì cho đến khi mở mắt ra và trông thấy chúng tôi đang cúi xuống nhìn mình.

***

Đó là vụ án kì lạ của người thông dịch tiếng Hi Lạp, lời giải vụ này nay vẫn còn có phần chưa sáng tỏ.

Khi liên lạc với người đã trả lời mẩu tin, chúng tôi biết rằng cô gái bất hạnh xuất thân từ một gia đình Hi Lạp giàu có và sang Anh để thăm vài người bạn.

Trong thời gian ở đây cô ta gặp một gã trai tên là Harold Latimer, hắn đã tạo được lòng tin nơi cô và sau đó thuyết phục cô cùng trốn đi với hắn.

Choáng váng trước sự việc này, bạn bè cô ta cho rằng chỉ cần thông báo với người anh của cô ở Athens là xong chuyện, sau đó phủi tay không can thiệp vào việc này nữa.

Người anh khi đặt chân tới Anh quốc do thiếu thận trọng đã rơi vào tay của Latimer và tên đồng bọn của hắn là Wilson Kemp - một gã có nhiều tiền án.

Vì không nói được tiếng Anh nên ông ta bất lực trong tay chúng, rồi chúng giam giữ và dùng vũ lực lẫn bỏ đói để buộc ông ta phải kí giấy giao tài sản của mình và của cô em gái cho chúng.

Chúng đã giam ông ta trong ngôi nhà đó mà cô gái chẳng hề hay biết và những dải băng dính dán khắp mặt ông ta là để nếu như cô ta có thoáng trông thấy cũng khó nhận ra anh mình.

Thế nhưng, trực giác của phụ nữ đã ngay lập tức giúp cô nhìn xuyên qua lớp ngụy trang đó và nhận ra anh mình ngay lần gặp đầu vào dịp người thông dịch đến.

Tuy nhiên, chính bản thân cô gái khốn khổ cũng chịu cảnh giam cầm vì trong căn nhà đó chẳng còn ai khác ngoài gã xà ích và vợ hắn mà cả hai kẻ đó cũng đều là công cụ trong tay của kẻ chủ mưu.

Nhận thấy bí mật của mình đã bị lộ và người tù cũng không chịu khuất phục, trong vài tiếng còn lại, hai tên bất lương đem cô gái bỏ trốn khỏi căn nhà đầy đủ tiện nghi chúng đã thuê sau khi đinh ninh rằng đã trả thù kẻ không chịu khuất phục lẫn người phản bội mình.

Nhiều tháng sau, một bài báo kì lạ được cắt ra và gửi đến chúng tôi từ Budapest.

Trong đó kể lại việc hai du khách người Anh, đi cùng với một phụ nữ, đã gặp một kết cục bi thảm.

Cả hai đều bị đâm chết và cảnh sát Hungary cho rằng có vẻ như họ đã cãi vã và gây thương tích trí mạng cho nhau.

Tuy nhiên, tôi lại cho rằng Holmes nghĩ khác và đến giờ vẫn khăng khăng là nếu tìm được cô gái Hi Lạp, ta sẽ biết những mất mát của cô và anh trai đã được rửa hận thế nào.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
BẢN HIỆP ƯỚC HẢI QUÂN (The Naval Treaty, 1893)


Tháng 7 ngay sau hôn lễ của tôi trở nên đáng nhớ nhờ ba vụ án thú vị mà tôi được vinh dự tham gia cùng Sherlock Holmes.

Trong các ghi chép của mình, tôi ghi lại chúng dưới các tựa: Vết máu thứ hai, Bản hiệp ước hải quân, và Viên thuyền trưởng mệt mỏi.

Tuy nhiên, vụ đầu tiên trong số này liên quan đến những vấn đề hết sức quan trọng và dính líu tới nhiều gia tộc hàng đầu vương quốc Anh nên trong nhiều năm tới, tôi chưa thể công bố.

Thế nhưng trong tất cả các vụ án mà Holmes đã tham gia, không vụ nào minh họa rõ giá trị các phương pháp phân tích của anh hoặc gây ấn tượng sâu sắc cho những người cộng tác với anh bằng vụ đó.

Tôi vẫn còn nhớ gần như nguyên văn bản báo cáo trong đó anh trình bày những thông tin chính xác của vụ án với ông Dubuque của Sở Cảnh sát Paris và Fritz von Waldbaum, chuyên gia nổi tiếng của thành phố Dantzig, cả hai người này đã phí hoài công sức cho những chi tiết mà sau này đã được chứng minh chỉ là ngoài lề.

Tuy nhiên, may ra phải sang thế kỉ sau mới có thể an toàn thuật lại câu chuyện đó.

Trong khi chờ đợi, tôi chuyển sang vụ án thứ nhì trong danh sách trên, vốn cũng mang tầm quan trọng quốc gia và đáng chú ý bởi một số tình tiết khiến cho nó đặc biệt.

Thời đi học tôi chơi thân với một cậu tên là Percy Phelps, học trên tôi hai lớp nhưng bằng tuổi tôi.

Đó là một nam sinh rất thông minh, luôn giành mọi giải thưởng của trường và khép lại bảng thành tích thời phổ thông khi đoạt học bổng cho phép cậu tiếp tục con đường học vấn vẻ vang của mình ở Cambridge.

Tôi vẫn còn nhớ là cậu ta có họ hàng với những người có địa vị cực cao trong xã hội, và ngay từ khi còn là những thằng nhóc chúng tôi đã biết rằng cậu ruột của Phelps là thượng nghị sĩ Holdhurst, một chính khách nổi tiếng của đảng Bảo thủ.

Ở trường học thì mối quan hệ màu mè này chẳng đem lại lợi ích gì cho cậu.

Ngược lại, chúng tôi còn thấy thích thú khi đuổi theo cậu ta trong sân và dùng gậy cricket phang vào ống quyển cậu ta.

Nhưng khi ra đời mọi chuyện lại khác hẳn.

Nghe đâu với năng lực của mình cùng với quan hệ sẵn có, cậu ta đã kiếm được một chỗ tốt ở bộ Ngoại giao và rồi tôi cũng quên bẵng cậu ta đi cho đến khi lá thư sau nhắc tôi nhớ lại:

Briarbrae, Woking

WATSON THÂN MẾN!

Tôi tin chắc rằng anh hãy còn nhớ Phelps "Nòng nọc", người bạn học đã lên lớp năm khi anh còn học lớp ba.

Có thể là anh cũng đã biết rằng nhờ vào ảnh hưởng của người cậu mà tôi có được một công việc rất tốt ở bộ Ngoại giao, ở đó tôi đã được tin tưởng và trọng vọng trước khi một tai họa kinh khủng bất thình lình giáng xuống đã hủy hoại sự nghiệp của tôi.

Viết ra đây những chi tiết cặn kẽ của sự kiện kinh hoàng ấy e là vô ích.

Nếu anh chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi, tôi sẽ đành phải kể cho anh nghe.

Tôi mới hồi phục sau cơn viêm não kéo dài chín tuần lễ và trong người hãy còn rất yếu.

Anh có thể mời ông Holmes bạn anh đến gặp tôi được không?

Tôi muốn được nghe ý kiến của ông ấy về vụ này, mặc dù các nhà chức trách đã khẳng định với tôi rằng không thể làm gì hơn được nữa.

Xin hãy cố mời ông ta xuống đây và càng sớm càng tốt.

Mỗi phút với tôi dài như cả một giờ khi phải sống trong trạng thái căng thẳng khủng khiếp này.

Xin anh hãy giải thích cho ông ấy rằng sở dĩ tôi không nhờ đến sự tư vấn của ông ấy sớm hơn chẳng phải vì tôi không đánh giá cao tài năng của ông ấy mà do tôi bị mất trí từ khi tai họa đó giáng xuống.

Giờ thì tôi đã tỉnh táo trở lại dù vẫn không dám suy nghĩ nhiều về chuyện đó vì sợ bệnh tái phát.

Tôi vẫn còn rất yếu, đến nỗi phải đọc thư này cho người khác viết hộ như anh thấy.

Xin hãy cố mời ông ta đến đây.

Bạn học cũ của anh,

PERCY PHELPS

Có điều gì đó khiến tôi mủi lòng khi đọc lá thư này, một điều gì đó rất đáng thương trong những lời nhờ vả lặp đi lặp lại rằng hãy cố mời được Holmes.

Vì quá xúc động nên dù việc có khó mấy đi nữa chắc tôi cũng gắng sức thực hiện, nhưng tất nhiên tôi biết rõ rằng Holmes rất ham mê công việc của mình nên anh luôn sẵn sàng giúp đỡ khi thân chủ cần đến.

Vợ tôi cũng nhất trí rằng nên báo cho anh biết ngay đừng để lỡ một phút giây nào.

Thế là chưa đầy một tiếng sau bữa điểm tâm, tôi đã có mặt trong căn hộ cũ ở phố Baker.

Holmes đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ, vẫn mặc áo choàng ngủ và cặm cụi với một nghiên cứu hóa học.

Một chiếc bình cổ cong to đang sôi sùng sục trên ngọn lửa xanh của đèn Bunsen và những giọt chất lỏng được chưng cất đang ngưng tụ trong cái bình đong hai lít.

Bạn tôi không nhìn lên khi tôi bước vào và nhận thấy việc nghiên cứu của anh hẳn là rất quan trọng nên tôi ngồi vào chiếc ghế bành, chờ đợi.

Anh cầm một cái ống nhỏ dung dịch bằng thủy tinh nhúng vào từng chiếc bình, hút ra từ mỗi nơi một vài giọt rồi cuối cùng đem tới bàn một cái ống nghiệm chứa dung dịch.

Bên tay phải anh cầm một mẩu giấy quỳ.

"Anh đến đúng lúc lắm, Watson", anh nói.

"Nếu mẩu giấy này vẫn giữ nguyên màu xanh thì tốt.

Còn nếu nó chuyển sang màu đỏ thì tức là đã có một mạng người mất đi."

Anh nhúng mẩu giấy đó vào trong ống nghiệm và ngay lập tức nó chuyển sang màu đỏ sẫm mờ đục.

"Hừm!

Tôi vẫn nghi thế mà!"

Anh kêu lên.

"Tôi sẽ quay lại với anh ngay, Watson ạ.

Tôi nhét thuốc lá trong chiếc giày mềm Ba Tư ấy".

Anh quay trở lại bàn làm việc và thảo vài bức điện rồi trao cho cậu bé giúp việc.

Sau đó anh buông mình xuống chiếc ghế đối diện và co hai đầu gối lại cho đến khi mấy ngón tay đan vòng lấy hai ống quyển dài khẳng khiu.

"Chỉ là một án mạng vặt vãnh thông thường", anh cho biết.

"Tôi đoán rằng anh đem đến thứ gì đó hay ho hơn.

Anh là cánh chim báo bão của những vụ án đấy, Watson ạ.

Chuyện gì thế?"

Tôi đưa cho anh bức thư và anh đọc nó với sự tập trung cao độ.

"Không cho chúng ta biết nhiều lắm nhỉ?"

Anh nhận xét khi trao lá thư lại cho tôi.

"Gần như chẳng có gì."

"Thế nhưng nét chữ lại rất đáng chú ý."

"Nhưng đó không phải là chữ viết của anh ấy."

"Đúng thế.

Là chữ của một phụ nữ."

"Của đàn ông chứ", tôi cãi lại.

"Không phải, là nét chữ của một phụ nữ, và là một phụ nữ có cá tính hiếm có.

Anh xem, khi bắt đầu điều tra thì việc biết được khách hàng của mình có quan hệ gắn bó với ai đó có cá tính khác thường, dù tốt hay xấu, cũng mang lại chút thuận lợi.

Vụ này khiến tôi hứng thú rồi.

Nếu anh đã sẵn sàng thì chúng ta sẽ khởi hành đi Woking ngay để gặp nhà ngoại giao đang gặp hoạn nạn và người phụ nữ viết thư."

Chúng tôi khá may mắn khi bắt kịp chuyến tàu sớm ở ga Waterloo và chỉ chưa đầy một giờ sau đã đứng giữa những rặng linh sam và bụi thạch nam ở Woking.

Briarbrae là một tòa nhà lớn nằm tách biệt trên một khu đất rộng chỉ cách nhà ga có vài phút đi bộ.

Sau khi đã trao danh thiếp, chúng tôi được đưa vào một phòng khách bài trí thanh lịch và chỉ vài phút sau, một người đàn ông khá to béo tiếp đón chúng tôi hết sức nồng hậu.

Trông ông ta có lẽ gần bốn mươi nhưng đôi gò má hồng hào và cặp mắt thật vui vẻ gây cho ta ấn tượng về một cậu bé bụ bẫm và tinh nghịch.

"Tôi rất mừng khi thấy các ông đã đến", ông ta nói và thân mật bắt tay chúng tôi.

"Percy liên tục hỏi về các ông suốt buổi sáng, ôi, anh chàng tội nghiệp, giờ cậu ta đành bấu víu lấy mọi phương cách có thể giúp mình!

Cha mẹ cậu ta nhờ tôi ra đón các ông vì cứ nhắc đến việc đó là họ lại đau lòng."

"Chúng tôi vẫn chưa biết gì cả", Holmes nhận xét.

"Tôi đoán rằng ông không phải là người trong gia đình."

Người chúng tôi mới gặp trông có vẻ ngạc nhiên, rồi ông ta đưa mắt nhìn xuống và bật cười.

"Chắc chắn là ông đã trông thấy hai chữ J.H trên mặt dây chuyền của tôi", ông ta nói.

"Tôi đã thoáng nghĩ rằng không biết làm sao mà ông lại đoán tài thế.

Joseph Harrison là tên tôi và vì Percy sắp cưới cô em gái Annie của tôi nên tôi cũng có chút quan hệ.

Ông sẽ gặp em gái tôi ở trong phòng cậu ta vì nó tự tay chăm sóc cậu ấy suốt hai tháng nay.

Có lẽ chúng ta nên đến đó ngay vì tôi biết rằng cậu ta sốt ruột lắm rồi."

Chúng tôi được dẫn vào căn phòng nằm cũng tầng với phòng khách.

Cách bài trí của nó nửa giống phòng khách nửa giống phòng ngủ, khắp các góc đều có hoa được bày biện trang nhã.

Một người đàn ông trẻ tuổi trông rất xanh xao và tiều tụy đang nằm trên chiếc trường kỉ đặt gần ô cửa sổ mở, từ đó thoảng vào hương thơm nồng nàn của khu vườn và bầu không khí mùa hè êm dịu.

Một cô gái đang ngồi bên cạnh anh ta và đứng dậy khi thấy chúng tôi bước vào.

"Hay là để em ra ngoài nhé, Percy?"

Cô gái hỏi.

Người đàn ông nắm lấy tay cô để giữ lại và cất tiếng chào thân mật.

"Anh khỏe chứ, Watson?

Dưới bộ ria kia thì tôi chẳng thể nào nhận ra anh và tôi chắc là anh không chuẩn bị chửi thề tôi.

Còn ông đây thì tôi đoán hẳn là người bạn lừng danh của anh, ông Sherlock Holmes?"

Tôi giới thiệu ngắn gọn rồi cả hai chúng tôi cùng ngồi xuống.

Người đàn ông to béo đã ra ngoài nhưng cô em gái của ông ta hãy còn ngồi lại, bàn tay cô đặt trong tay người bệnh.

Đó là một cô gái rất ưa nhìn, hơi thấp và có phần tròn trịa nhưng có nước da màu ôliu rất đẹp, đôi mắt to thẫm màu của người Ý và mái tóc dày đen như mun.

Những sắc màu ấy tương phản với khuôn mặt trắng xanh của người đàn ông, càng làm cho anh ta có vẻ hốc hác và mệt mỏi.

"Tôi sẽ không làm phí thì giờ của ông đâu", anh ta nói và nhổm người ngồi dậy trên trường kỉ.

"Tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề chứ không dông dài gì cả.

Ông Holmes ạ, tôi từng là một người hạnh phúc và thành công, nhưng ngay trước khi thành hôn thì một tai họa khủng khiếp đột ngột xảy ra làm sụp đổ mọi triển vọng trong đời tôi.

Có lẽ anh bạn Watson đã kể cho ông nghe, tôi làm việc trong bộ Ngoại giao và nhờ vào ảnh hưởng của cậu tôi, thượng nghị sĩ Holdhurst, tôi nhanh chóng được thăng tiến lên một vị trí quan trọng.

Khi cậu tôi được bổ nhiệm làm bộ trưởng bộ Ngoại giao của chính quyền hiện nay, ông đã tín nhiệm giao cho tôi vài nhiệm vụ cơ mật và vì tôi luôn hoàn thành tốt đẹp những nhiệm vụ ấy nên cuối cùng ông hoàn toàn tin tưởng vào năng lực và tài ứng xử của tôi.

Gần mười tuần trước - chính xác hơn là vào ngày 23 tháng 5 - ông gọi tôi vào phòng riêng và sau khi khen ngợi tôi đã hoàn thành tốt đẹp công việc được giao, ông cho biết sẽ giao cho tôi thực hiện một nhiệm vụ cơ mật mới.

'Đây', ông nói và lấy từ trên bàn một cuộn giấy màu xám, 'đây là bản gốc của hiệp ước bí mật giữa Anh và Ý mà cậu rất tiếc phải nói rằng đã có vài lời đồn đại về nó trên mặt báo.

Vấn đề cực kì hệ trọng là không được để nó bị rò rỉ thêm nữa.

Sứ quán Pháp và Nga sẵn sàng chi một món tiền khổng lồ để biết được nội dung của tài liệu này.

Nếu không nhất thiết phải sao nó ra thì không bao giờ cậu để nó rời khỏi đây.

Trong phòng làm việc của cháu có bàn viết chứ?'

'Vâng, có thưa cậu.'

'Vậy thì cháu hãy cầm lấy bản hiệp ước này, cất nó vào ngăn bàn và khóa kĩ lại.

Cậu sẽ báo cho phép cháu ở lại sau khi những người khác đã ra về để cháu có thể thong thả sao nó ra mà không sợ bị ai nhìn ngó.

Khi đã chép xong, cháu hãy cất cả bản chính lẫn bản sao vào ngăn kéo, khóa lại và nộp chúng cho cậu vào sáng mai.'

Tôi cầm lấy cuộn giấy và..."

"Xin thứ lỗi một lát", Holmes chặn lại.

"Trong lúc nói chuyện thì chỉ có hai người thôi chứ?"

"Hoàn toàn chỉ có hai cậu cháu tôi."

"Trong một căn phòng rộng?"

"Mỗi chiều ba mươi foot."

"Hai người ở ngay giữa phòng chứ?"

"Vâng, khoảng giữa phòng."

"Và hạ giọng khi nói chuyện?"

"Giọng nói của cậu tôi lúc nào cũng rất nhỏ.

Tôi thì hầu như chẳng nói gì."

"Cảm ơn ông", Holmes nói và nhắm mắt lại, "xin vui lòng kể tiếp."

"Tôi làm theo đúng những gì ông dặn và đợi cho đến khi những nhân viên khác đã ra về.

Chỉ còn lại một người trong phòng tôi, Charles Gorot, có vài việc dở dang cần phải làm cho xong nên lúc tôi ra ngoài ăn tối, chỉ còn mình anh ta ở đó.

Khi tôi quay lại, anh ta đã về.

Tôi nóng lòng muốn làm gấp cho xong việc vì tôi biết anh Joseph - tức là ông Harrison mà ông vừa mới gặp lúc nãy - cũng đang ở London và sẽ đón chuyến tàu 11 giờ để về Woking và tôi cũng muốn đi chuyến tàu ấy.

Khi xem xét bản hiệp ước thì ngay lập tức tôi nhận ra rằng nó có tầm quan trọng lớn lao mà lẽ ra cậu tôi phải nhấn mạnh hơn khi giao nhiệm vụ cho tôi.

Không cần đi sâu vào chi tiết, tôi có thể nói rằng tài liệu này xác lập vị trí của Anh đối với phe Liên minh và dự báo chính sách mà đất nước này theo đuổi trong trường hợp hạm đội Pháp khống chế hoàn toàn hạm đội Ý ở vùng Địa Trung Hải.

Bản hiệp ước này hoàn toàn chỉ đề cập đến những vấn đề thuộc về hải quân.

Ở cuối văn bản là chữ kí của những quan chức cao cấp.

Tôi liếc sơ qua rồi bắt tay vào nhiệm vụ sao chép.

Đó là một tài liệu rất dài bằng tiếng Pháp gồm có hai mươi sáu điều khoản.

Tôi cố gắng chép thật nhanh nhưng đến 9 giờ tối mới chỉ xong được chín điều và xem ra chẳng còn hi vọng bắt tàu về.

Tôi cảm thấy buồn ngủ và đầu óc mụ mẫm, một phần là do bữa tối và cũng do làm việc suốt cả ngày dài.

Một tách cà phê sẽ giúp cho đầu óc tôi tỉnh táo lại.

Đêm nào người gác cửa cũng ở lại trong căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang và vẫn thường pha cà phê bằng chiếc đèn cồn của ông ta cho các viên chức làm việc ngoài giờ.

Vì thế tôi bấm chuông gọi ông ta lên.

Tôi rất ngạc nhiên khi người bước vào lại là một phụ nữ lớn tuổi to béo, mặt thô kệch, đeo tạp dề.

Bà ta cho biết mình là vợ của người gác cửa và làm tạp vụ ở đây, tôi bảo bà ta pha một tách cà phê.

Tôi chép thêm hai điều khoản nữa và lại cảm thấy buồn ngủ hơn bao giờ hết, tôi đứng dậy và đi lại trong phòng cho dãn gân cốt.

Chưa thấy tách cà phê đâu cả, và tôi tự hỏi vì sao mà chậm trễ đến thế.

Tôi mở cửa phòng và đi ra hành lang xem thế nào.

Có một hành lang thẳng được thắp sáng lờ mờ từ phòng làm việc của tôi và cũng là lối ra duy nhất của phòng này.

Cuối hành lang ấy là một cầu thang cong đi xuống hành lang tầng dưới thông với phòng của người gác cổng.

Giữa cầu thang này là một chiếu nghỉ thông với một hành lang phụ ở bên tay phải.

Hành lang thứ nhì này thông với một cầu thang nhỏ dẫn ra cửa hông dành cho những người phục vụ và cũng là lối đi tắt mà các nhân viên vẫn hay dùng khi vào từ phía phố Charles.

Đây là sơ đồ vẽ phác nơi này!"

"Cảm ơn ông.

Tôi nghĩ là mình đã nắm được", Sherlock Holmes nói.

"Và đây là điểm quan trọng nhất mà ông cần lưu ý.

Tôi đi xuống cầu thang rồi bước theo hành lang trệt và nhìn thấy người gác cổng đang ngủ say sưa trong căn phòng nhỏ của ông ta, trong khi ấm nước đang sôi sùng sục trên đèn cồn.

Tôi nhấc ấm nước ra và thổi tắt ngọn đèn vì nước trong ấm đã trào xuống nền nhà.

Sau đó tôi đưa tay ra chuẩn bị đánh thức người gác cổng hãy còn đang ngủ li bì thì chợt cái chuông treo phía trên đầu ông ta reo inh ỏi và ông ta giật mình thức dậy.

'Ông Phelps, thưa ông!' Ông ta nói và bối rối nhìn tôi.

'Tôi xuống đây để xem cà phê của tôi đã pha xong chưa.'

'Tôi đang đun nước thì chợt ngủ thiếp đi, thưa ông.' Ông ta nhìn tôi rồi ngước lên nhìn cái chuông vẫn còn đang đung đưa với vẻ ngạc nhiên càng lúc càng hiện rõ hơn trên mặt.

'Nếu ông đứng đây vậy ai đã kéo chuông?' Ông ta hỏi.

'Chuông!' Tôi kêu lên.

'Chuông nào?'

'Đây là cái chuông của phòng ông vừa làm việc đó.'

Tưởng như có một bàn tay lạnh buốt áp vào tim tôi.

Vậy là có ai đó ở trong phòng, nơi bản hiệp ước vô cùng quan trọng còn nằm trên bàn.

Tôi phóng như điên lên cầu thang và chạy dọc theo hành lang.

Không có ai ở đó cả, ông Holmes ạ.

Cũng không có ai trong phòng.

Tất cả mọi thứ đều giống hệt như khi tôi bước ra, chỉ trừ có xấp tài liệu được giao phó cho tôi trước đó nằm trên bàn mà lúc ấy đã bị lấy đi.

Bản sao thì còn đó nhưng bản chính đã biến mất."

Holmes ngồi thẳng dậy và xoa hai tay vào nhau.

Tôi có thể thấy là vụ này đã chiếm trọn tâm trí anh.

"Xin hãy cho biết lúc đó ông làm gì?"

Anh khẽ hỏi.

"Ngay lập tức tôi nhận ra rằng kẻ trộm phải đi lên đây bằng cầu thang từ cửa hông.

Nếu không thì chắc chắn là tôi đã trông thấy hắn."

"Ông không nghĩ rằng hắn đã nấp trong phòng từ trước, hoặc trong hành lang mà như ông vừa tả là chỉ sáng lờ mờ?"

"Điều này là hoàn toàn không thể.

Đến một con chuột cũng không sao trốn được cả ở trong phòng hay ngoài hành lang.

Không có một chỗ nào để nấp hết."

"Cảm ơn ông.

Xin hãy kể tiếp."

"Thấy mặt tôi tái xanh, người gác cổng biết rằng đã có chuyện gì nghiêm trọng nên cũng theo tôi lên cầu thang.

Cả hai chúng tôi cùng chạy theo hành lang và phóng xuống cầu thang dốc dẫn ra phố Charles.

Phía cuối cầu thang là cánh cửa đã đóng nhưng không khóa.

Chúng tôi mở tung cửa và chạy ra ngoài.

Tôi còn nhớ rõ là khi đó tôi nghe thấy ba tiếng chuông đồng hồ từ một căn nhà bên cạnh.

Lúc đó là 10 giờ kém 15."

"Chi tiết này vô cùng quan trọng", Holmes nói và ghi lên cổ tay áo sơmi.

"Bầu trời đêm rất tối và đang có một cơn mưa nhẹ ấm áp.

Không có bóng người nào trên phố Charles, nhưng như thường lệ, ở phía Whitehall vẫn vô cùng đông đúc.

Chúng tôi vội vã chạy dọc theo hè phố, đầu cứ để trần như thế và khi đến góc phố phía xa thì gặp một viên cảnh sát đứng đó.

'Vừa mới xảy ra một vụ trộm', tôi hổn hển nói.

'Một tài liệu rất có giá trị đã bị đánh cắp khỏi bộ Ngoại giao.

Ông có thấy ai đi ngang qua đây không?'

'Tôi đã đứng đây được mười lăm phút, thưa ông,' anh ta đáp, 'trong khoảng thời gian đó chỉ có một người đi ngang qua - một phụ nữ cao và lớn tuổi, đầu quàng khăn hoa.'

'À, đó chính là bà nhà tôi', người gác cổng kêu lên, 'ông không còn trông thấy ai khác sao?'

'Không ai cả.'

'Thế thì chắc chắn là tên trộm đã chạy phía kia', ông ta kêu lên và kéo mạnh tay áo tôi.

Nhưng tôi không tin, và vì ông ta cố tình lôi tôi đi nên tôi lại càng nghi ngờ.

'Người phụ nữ đó đi về hướng nào?' Tôi hét lên.

'Tôi không rõ, thưa ông.

Tôi chỉ nhận thấy bà ta đi ngang qua nhưng lúc đó tôi không có lí do gì đặc biệt để quan sát bà ta.

Có vẻ như bà ta rất vội vã.'

'Đã được bao lâu rồi?'

'À, cũng không lâu lắm đâu.'

'Độ trong vòng năm phút?'

'Xem nào, có lẽ là không quá năm phút.'

'Ông đang phí phạm thời gian, thưa ông, và từng phút lúc này đều rất quý giá,' người gác cổng kêu lên, 'tôi xin thề là bà nhà tôi không có liên quan gì đến việc này và ta hãy đi đến đầu phố đằng kia.

Được, nếu ông không đi, tôi sẽ đi.'

Nói xong ông ta lao về phía kia.

Nhưng tôi đã đuổi theo ông ta ngay và nắm tay áo ông ta.

'Nhà ông ở đâu?' Tôi hỏi.

'Số 16 ngõ Ivy, Brixton,' ông ta đáp.

'Nhưng ông đừng để bị lạc hướng, ông Phelps.

Hãy đi đến cuối phố kia xem có nghe ngóng được gì không.'

Làm theo đề nghị của ông ta cũng chẳng mất gì nên cùng với người cảnh sát, chúng tôi vội vã chạy xuống cuối phố, có điều chỉ thấy xe cộ đầy đường, nhiều người qua lại nhưng ai cũng vội vã tìm chỗ trú mưa trong một đêm ướt át thế này.

Chẳng có ai nhàn rỗi để có thể cho chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra.

Sau đó chúng tôi quay trở lại văn phòng và lục soát cầu thang cùng hành lang nhưng chẳng tìm thấy gì.

Hành lang dẫn đến phòng tôi có một tấm trải sàn màu kem nên rất dễ nhìn thấy các dấu vết.

Chúng tôi kiểm tra rất kĩ nhưng không hề thấy một dấu chân nào."

"Trời mưa suốt cả tối hôm đó?"

"Từ lúc 7 giờ trở đi."

"Vậy thì làm sao người phụ nữ đó đi vào phòng lúc khoảng 9 giờ mà giày dính bùn của bà ta không để lại dấu vết?"

"Tôi mừng vì ông đã nhận ra vấn đề.

Lúc đó tôi cũng nghĩ đến điều này.

Nhưng những người tạp dịch có thói quen cởi giày ra ở phòng người gác cổng và đi dép vải vào."

"Rất rõ ràng.

Không có dấu chân dù là đêm đó trời mưa.

Chuỗi sự kiện này chắc chắn là vô cùng thú vị.

Sau đó các ông làm gì?"

"Chúng tôi đã lục soát cả căn phòng.

Không thể có một cánh cửa bí mật và các cửa sổ thì cách mặt đất đến ba mươi foot, cả hai đều được cài lại từ bên trong.

Sàn nhà có trải thảm nên loại trừ khả năng có cửa lật ở dưới, còn trần nhà thì được quét vôi màu trắng bình thường.

Tôi dám lấy mạng mình ra mà đánh cá rằng cái kẻ đã đánh cắp tài liệu của tôi chỉ có thể đi vào phòng bằng cửa chính."

"Thế ống khói thì sao?"

"Chúng tôi không dùng lò sưởi có ống khói.

Sợi dây chuông thì được treo vào sợi dây thép ngay bên phải bàn giấy của tôi.

Ai muốn giật dây chuông phải đi đến sát bàn tôi.

Nhưng tại sao tên trộm lại muốn rung chuông?

Đây quả là một bí mật không thể nào giải thích được."

"Tất nhiên là chi tiết này rất bất thường.

Thế rồi sau đó ông làm gì?

Ông kiểm tra căn phòng, tôi đoán thế, để xem kẻ đột nhập có để lại dấu vết nào không - một mẩu xì gà hay một cái bao tay bị đánh rơi, một cái cặp tóc hay một món đồ lặt vặt nào khác?"

"Không hề có bất cứ thứ gì."

"Không có mùi gì sao?"

"Chúng tôi chưa từng nghĩ đến điều này."

"À, một chút mùi khói thuốc cũng rất có giá trị đối với chúng ta trong một vụ điều tra như thế này."

"Bản thân tôi thì không bao giờ hút thuốc nên tôi nghĩ rằng nếu có mùi khói thuốc trong phòng thì tôi đã nhận ra ngay.

Hoàn toàn không có chút dấu vết nào cả.

Sự việc rõ ràng duy nhất là vợ của người gác cổng - bà Tangey - đã vội vã rời khỏi hiện trường.

Ông chồng không đưa ra được lời giải thích nào, mà chỉ nói rằng bà ta thường về nhà vào giờ đó.

Viên cảnh sát và tôi đồng ý rằng thượng sách là phải tóm ngay trước khi bà ta kịp tẩu tán mớ tài liệu, nếu như quả thật bà ta có chúng trong tay.

Lúc đó Sở Cảnh sát London cũng đã được thông báo, thám tử Forbes đã đến ngay và dốc sức điều tra.

Chúng tôi thuê một cỗ xe ngựa hai bánh và nửa giờ sau đã đến địa chỉ mà người gác cổng cung cấp.

Một cô gái trẻ nhận mình là con gái út của bà Tangey ra mở cửa.

Mẹ cô ta vẫn chưa về và chúng tôi được đưa vào phòng khách đợi.

Khoảng mười phút sau thì có tiếng gõ cửa và lúc đó chúng tôi đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng mà tôi vẫn tự trách mình.

Chúng tôi không tự ra mở cửa mà lại để cho cô gái làm việc ấy.

Chúng tôi nghe thấy cô ta nói: 'Mẹ ơi, có hai ông đang ở trong nhà đợi gặp mẹ', rồi ngay sau đó là tiếng bước chân vội vã chạy dọc hành lang.

Ông Forbes đẩy tung cửa ra và cả hai chúng tôi chạy vào phòng sau hay nhà bếp gì đó, nhưng người phụ nữ đó đã ở đấy trước chúng tôi.

Bà ấy giương mắt nhìn chúng tôi chòng chọc với vẻ thách thức và rồi, khi nhận ra tôi thì vẻ kinh ngạc tột độ hiện rõ trên mặt bà ta.

'Ủa, ông Phelps ở văn phòng đó sao!' Bà ta kêu lên.

'Sao, thế bà nghĩ chúng tôi là ai mà lại bỏ chạy như thế?' Người đi cùng với tôi hỏi.

'Tôi cứ nghĩ các ông là những người thu nợ', bà ta đáp, 'vì chúng tôi đang gặp rắc rối với một người bán hàng.'

'Nói thế không được đâu', Forbes trả lời.

'Chúng tôi có đủ lí do để tin rằng bà đã lấy đi một tài liệu quan trọng của bộ Ngoại giao và bà chạy vào đây để giấu nó.

Bà phải đi với chúng tôi đến Sở Cảnh sát London để khám xét.'

Bà ta phản đối và chống cự nhưng vô ích.

Một cỗ xe ngựa bốn bánh được điều đến và cả ba chúng tôi lên xe.

Trước đó chúng tôi đã lục soát căn bếp, đặc biệt là cái bếp lò để xem xấp giấy có bị hủy lúc bà ta chỉ có một mình trong bếp hay không.

Thế nhưng, chẳng tìm thấy chút dấu vết nào của tàn tro hay những mảnh giấy vụn.

Khi chúng tôi đến Sở Cảnh sát London thì bà ta được giao ngay cho một nhân viên nữ để khám xét.

Tôi nóng lòng hết mức chờ đợi kết quả cho đến khi cô nhân viên bước ra cùng với bản báo cáo.

Không tìm thấy dấu vết nào của tập tài liệu.

Bấy giờ, lần đầu tiên nỗi lo sợ kinh hoàng về những gì xảy ra mới ập đến cùng với toàn bộ sức nặng của nó.

Trước đấy tôi vẫn còn hành động và điều đó giúp tôi bớt suy nghĩ.

Tôi đã rất tự tin là sẽ sớm đoạt lại được bản hiệp ước và không dám nghĩ đến hậu quả sẽ ra sao nếu không tìm thấy nó.

Nhưng đến lúc ấy thì chẳng thể làm gì hơn được nữa và tôi mới có thời gian để nhận ra tình thế của mình.

Thật khủng khiếp.

Anh Watson đây có thể cho ông biết khi còn đi học tôi vốn nhút nhát và nhạy cảm.

Đó là bản tính của tôi.

Tôi nghĩ đến cậu tôi và các vị trong chính phủ, về nỗi ô nhục mà tôi sẽ đem lại cho ông, cho chính tôi và cho tất cả những người liên quan đến tôi.

Cho dù tôi là nạn nhân của một sự cố bất thường đi nữa nhưng làm sao có thể lấy lí do gặp sự cố để bao biện cho một việc có nguy cơ làm đổ bể công vụ ngoại giao.

Tôi đã mất hết, mất hết trong hổ thẹn và vô vọng.

Tôi không còn biết mình đã làm gì.

Tôi đoán hẳn là mình đã làm ầm cả lên.

Tôi nhớ lờ mờ là một nhóm cảnh sát xúm lại quanh tôi và gắng sức làm cho tôi bình tĩnh lại.

Một trong số họ đã đưa tôi ra ga Waterloo và đứng đợi cho đến khi thấy tôi lên chuyến tàu về Woking.

Chắc anh ta đã đi cùng đến tận nơi nếu như không có bác sĩ Ferrier ở gần nhà tôi cũng đi chuyến tàu ấy.

Ông bác sĩ đã rất tử tế nhận chăm sóc tôi và may mà có ông ấy vì ở ga tàu tôi đã bị một cơn co giật và trước khi về đến nhà, tôi gần như phát điên.

Ông có thể hình dung được cảnh tượng ở đây ra sao khi mọi người bị dựng dậy lúc ông bác sĩ bấm chuông và thấy tôi trong tình trạng như thế.

Annie tội nghiệp đây và mẹ tôi đều tan nát cõi lòng.

Bác sĩ Ferrier có nghe viên thanh tra nói qua lúc ở nhà ga nên cũng giải thích sơ việc đã xảy ra, song câu chuyện của ông cũng không giải quyết được vấn đề.

Mọi người đều nhận thấy rõ là tôi sẽ phải ở đây lâu dài để điều trị cho nên anh Joseph đã phải dọn khỏi căn phòng ngủ ấm cúng này và nó biến thành phòng bệnh của tôi.

Tại đây tôi đã nằm hơn chín tuần trong tình trạng mất trí và cuồng loạn vì chứng viêm não, ông Holmes ạ.

Nếu như không có sự chăm sóc của Annie và bác sĩ, hẳn là giờ này tôi không còn nói chuyện được với ông.

Nàng chăm sóc tôi ban ngày và một người y tá được thuê đến trông nom tôi vào ban đêm, vì trong những cơn điên dại tôi có thể làm bất cứ điều gì.

Dần dần trí óc của tôi cũng bình thường trở lại nhưng phải đến ba ngày vừa rồi thì trí nhớ mới phục hồi hoàn toàn.

Có những lúc tôi ước sao nó đừng phục hồi.

Việc đầu tiên tôi làm là gửi một bức điện cho ông Forbes là người thụ lí vụ này.

Ông ta đến và khẳng định với tôi rằng dù đã thực hiện đủ mọi biện pháp nhưng vẫn chưa phát hiện được dấu vết nào.

Người gác cổng và vợ ông ta đã được kiểm tra kĩ mọi mặt mà vấn đề vẫn chẳng sáng tỏ thêm chút nào.

Do đó cảnh sát dồn nghi ngờ lên anh chàng Gorot trẻ tuổi, hẳn ông còn nhớ tối hôm đó anh ta là người đã ở lại văn phòng để làm thêm giờ.

Việc ở lại trễ và cái tên gốc Pháp chính là hai điểm có thể khiến anh ta bị nghi ngờ, nhưng thực ra thì tôi đã đợi đến khi anh ta về rồi mới bắt đầu công việc và tuy có gốc Huguenotnhưng về mặt tình cảm và truyền thống, anh ta hoàn toàn Anh giống như tôi và ông vậy.

Xét bất cứ mặt nào cũng không tìm ra được một điểm gì để nghi ngờ anh ta, và vì thế mà vấn đề bị tắc ở đó, ông Holmes ạ, ông là tia hi vọng cuối cùng của tôi.

Nếu ông cũng thất bại thì danh dự và sự nghiệp của tôi sẽ tiêu tan vĩnh viễn."

Người bệnh lại ngả người xuống tấm nệm vì mệt mỏi sau khi kể lại cả câu chuyện dài, trong khi cô gái cho anh ta uống một cốc chứa thứ thuốc kích thích gì đó.

Holmes lặng lẽ ngồi yên, đầu ngả ra sau và hai mắt nhắm nghiền, thái độ của anh dễ khiến người lạ tưởng là thờ ơ nhưng tôi biết đó là dấu hiệu của sự tập trung suy nghĩ cao độ.

"Lời kể của ông rất rõ ràng", mãi sau anh mới lên tiếng, "tôi không cần phải hỏi gì nhiều nữa, nhưng có một câu cực kì quan trọng.

Ông có cho ai biết là mình thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này không?"

"Tôi chẳng cho ai biết cả."

"Chẳng hạn như cô Harrison đây, ông cũng không nói chứ?"

"Không.

Từ khi nhận được lệnh và làm việc ấy tôi chưa hề quay về Woking."

"Và không tình cờ gặp người thân nào của ông?"

"Không."

"Trong những người đó có ai biết các lối đi ở chỗ làm của ông không?"

"Ồ, có chứ, tất cả đều đã từng vào đó."

"Vậy, nếu ông không nói với bất cứ ai về bản hiệp ước thì tất nhiên những câu hỏi này quả là thừa."

"Tôi chẳng nói gì cả."

"Ông có biết gì về người gác cổng không?"

"Không, tôi chỉ biết rằng ông ta là một cựu quân nhân."

"Thuộc trung đoàn nào?"

"Ồ, tôi có nghe nói đó là trung đoàn Coldstream Guards."

"Cảm ơn ông.

Chắc chắn tôi có thể thu thập thêm chi tiết từ ông Forbes.

Các nhà chức trách rất giỏi thu thập thông tin, có điều là ít khi họ tận dụng được chúng.

Đóa hoa kia mới đáng yêu làm sao!"

Anh bước qua chỗ kê trường kỉ để đến bên cửa sổ đang mở, cầm lên một cành hoa mười giờ ngả rạp xuống và nhìn ngắm sự pha trộn hài hòa của hai màu xanh đỏ.

Đối với tôi thì đây là một nét mới mẻ trong tính cách của anh vì chưa bao giờ tôi thấy anh tỏ ra quan tâm sâu sắc đến các tạo vật thiên nhiên.

"Không có lĩnh vực nào cần sự suy luận như tôn giáo", anh nói trong khi tựa lưng vào cánh cửa chớp.

"Một nhà tư duy có thể xây dựng tôn giáo thành một loại hình khoa học chính xác.

Theo tôi thì dường như bằng chứng cao nhất về lòng tốt của Thượng Đế là những bông hoa.

Tất cả những thứ khác ta có như sức mạnh, dục vọng, thực phẩm đều thực sự cần thiết cho sự sinh tồn của con người thuở ban sơ.

Những bông mười giờ này đây lại là một phần thưởng.

Mùi hương và màu sắc của nó tô điểm cho đời, chứ không phải là điều kiện cần cho đời sống.

Chỉ có lòng tốt mới ban thưởng, cho nên tôi nhắc lại là cứ trông vào những đóa hoa thì ta còn nhiều hi vọng."

Trong khi Holmes thuyết giảng thì Percy Phelps cùng cô gái nhìn anh với vẻ ngạc nhiên và trên mặt cả hai hiện lên vẻ thất vọng rõ mồn một.

Anh đã đắm chìm vào cơn mơ màng với bông hoa mười giờ trên tay.

Cơn mơ mộng ấy kéo dài vài phút cho đến khi cô gái chen vào.

"Ông thấy có hi vọng giải được bí ẩn này không, thưa ông Holmes?"

Cô hỏi với đôi chút khó chịu.

"Ồ, bí ẩn này hả?"

Anh trả lời như vừa sực tỉnh trước hiện thực.

"Xem nào, nếu bảo rằng đây không phải là một vụ rất khó hiểu thì thật là phi lí, nhưng tôi hứa với cô là tôi sẽ điều tra và báo cho cô biết những điểm đáng chú ý."

"Thế ông đã thấy có dấu hiệu nào chưa?"

"Quý vị đã cung cấp cho tôi được bảy dấu hiệu, nhưng tất nhiên là tôi còn phải kiểm tra trước khi khẳng định giá trị của chúng."

"Ông cỏ nghi ngờ người nào đó chăng?"

"Tôi đang nghi ngờ chính mình.."

"Sao chứ?"

"Vì đã đi đến kết luận quá vội vã."

"Vậy ông hãy trở về London và kiểm tra lại các kết luận của mình đi."

"Lời khuyên của cô rất hay, thưa cô Harrison", Holmes đáp và đứng dậy.

"Watson này, tôi nghĩ rằng mình chẳng thể làm gì hơn được.

Đừng nuôi những hi vọng hão huyền, ông Phelps ạ.

Vụ này rất rối rắm."

"Chừng nào chưa gặp lại ông, tôi còn sẽ nóng ruột lắm", người viên chức ngoại giao kêu lên.

"Vâng, ngày mai tôi sẽ trở lại trên chuyến tàu cùng giờ này dù rất có thể sẽ không đem lại được cho ông tin tức tốt lành cho lắm."

"Cầu Chúa phù hộ cho ông vì đã hứa sẽ quay lại", thân chủ của chúng tôi cao giọng nói.

"Nó đem lại cho tôi nguồn sinh lực khi biết rằng điều gì đó đang được tiến hành.

Nhân tiện, tôi cho ông biết rằng tôi có nhận được một bức thư từ thượng nghị sĩ Holdhurst."

"Thế à!

Ông ta nói sao?"

"Lời thư lạnh lùng nhưng không khắc nghiệt.

Tôi dám chắc rằng đó là nhờ cơn bệnh trầm trọng của tôi mà ông nhẹ bớt đi.

Ông lặp lại là vấn đề này vô cùng quan trọng và thêm rằng sẽ không có quyết định gì về tương lai của tôi - tất nhiên điều đó hàm ý về việc tôi bị sa thải - cho đến khi sức khỏe của tôi được hồi phục và tôi có cơ hội để sửa chữa sai lầm của mình."

"Tốt, ông ấy là người biết điều và tử tế," Holmes nói.

"Đi nào, Watson, vì chúng ta hãy còn nhiều công việc phải làm cho cả ngày ở London."

Ông Joseph Harrison đưa chúng tôi ra ga và chúng tôi nhanh chóng lên chuyến tàu Portsmouth để lao về thành phố.

Holmes chìm trong suy tư và chỉ lên tiếng khi chúng tôi đi qua ga đầu mối Clapham.

"Thật là vui khi trở về London bằng tuyến đường sắt trên cao vì ta có thể nhìn xuống những ngôi nhà như thế này."

Tôi cho rằng anh đang nói đùa vì quang cảnh bên ngoài trông khá nhếch nhác, nhưng anh đã nhanh chóng giải thích câu nói của mình.

"Anh hãy nhìn những tòa nhà to lớn, tách biệt, vượt hẳn lên những mái ngói kia, chúng tựa như những hòn đảo gạch giữa một đại dương xám xịt."

"Đó là các trường nội trú."

"Là những ngọn hải đăng, bạn ạ!

Những tín hiệu của tương lai!

Những quả nang chứa đựng hàng trăm hạt giống tươi sáng bên trong, một Anh quốc của tương lai thông minh, tốt đẹp hơn sẽ vươn lên từ đó.

Tôi cho rằng ông Phelps không uống rượu chứ?"

"Tôi nghĩ là không."

"Tôi cũng nghĩ thế, nhưng ta phải xét đến mọi khả năng.

Anh chàng tội nghiệp đó đã chìm sâu quá rồi và vấn đề là liệu ta có đủ khả năng để đưa được anh ta vào bờ hay không.

Anh nghĩ sao về cô Harrison?"

"Một cô gái có cá tính mạnh mẽ."

"Phải, nhưng cô ta là một người tốt, nếu như tôi không lầm.

Cô ta và anh trai là con của một quản đốc nhà máy sản xuất đồ sắt ở đâu đó trên hạt Northumberland.

Ông Phelps phải lòng cô ta trong chuyến du lịch mùa đông vừa rồi và cô ta xuống đây để ra mắt gia đình anh ta, còn ông anh đi theo hộ tống.

Sau đó tai họa xảy ra và cô ta ở lại để chăm sóc người yêu trong khi ông anh Joseph thấy sống ở đó khá dễ chịu nên cũng ở lại.

Anh thấy đấy, tôi đã hỏi riêng được một số điều.

Mà hôm nay hẳn là một ngày để hỏi đây."

"Phòng khám của tôi..."

Tôi lên tiếng.

"Ồ, nếu anh thấy những bệnh nhân của mình thú vị hơn là việc điều tra của tôi thì...", Holmes nói, hơi có vẻ khó chịu.

"Tôi vừa định nói là phòng khám của tôi vẫn ổn trong một hoặc hai ngày tới vì lúc này đang là thời điểm vắng khách nhất trong năm."

"Tuyệt vời", anh nói và trở lại trạng thái vui vẻ.

"Thế thì ta sẽ cùng nhau điều tra vụ này.

Tôi nghĩ rằng chúng ta nên bắt đầu bằng việc đến gặp Forbes.

Có thể ông ta sẽ cho biết tất cả những chi tiết mà ta đang cần trước khi quyết định nên tiếp cận vụ này từ hướng nào."

"Sao anh bảo đã có manh mối?"

"Ừ, thì chúng ta đã có được một số nhưng chỉ có thể kiểm tra giá trị của chúng bằng những bước điều tra tiếp theo.

Vụ án khó lần theo nhất là vụ án không có động cơ.

Vụ này thì không phải như vậy.

Ai có lợi trong chuyện này?

Là ông đại sứ Pháp, là đại sứ Nga, và bất kì kẻ nào có thể bán được tài liệu đó cho một trong hai người đó, lại còn thượng nghị sĩ Holdhurst."

"Thượng nghị sĩ Holdhurst sao?"

"Cũng có khả năng một chính khách ở vào vị thế không tiếc gì khi một tài liệu như thế vô tình bị tiêu hủy."

"Nhưng làm sao có thể là một chính khách có lí lịch danh giá như thượng nghị sĩ Holdhurst chứ?"

"Đó là một khả năng và chúng ta chưa thể loại ra được.

Hôm nay chúng ta sẽ gặp ông nghị sĩ cao quý ấy xem ông ta có thể cho chúng ta biết được điều gì.

Đồng thời tôi cũng đã bắt đầu tìm kiếm thông tin."

"Đã?"

"Phải, lúc còn ở nhà ga Woking tôi đã gửi điện đến tất cả các tòa soạn báo ra buổi chiều tại London.

Bản tin này sẽ xuất hiện trên tất cả các báo."

Anh chìa ra một mảnh giấy xé từ một cuốn sổ tay.

Trên mảnh giấy có ghi nguệch ngoạc bằng bút chì như sau: Thưởng 10 bảng cho ai biết số xe của cỗ xe ngựa đã thả một người khách xuống trước hoặc gần cổng bộ Ngoại giao trên phố Charles vào lúc 10 giờ kém 15, tối 23 tháng 5.

Liên lạc số 221B, phố Baker.

"Anh tin là tên trộm đến bằng xe ngựa?"

"Không phải thế thì cũng chẳng hại gì.

Nhưng nếu ông Phelps không lầm khi nói rằng không có chỗ nấp nào ở cả trong văn phòng lẫn bên ngoài hành lang, thì kẻ ấy phải đến từ bên ngoài.

Nếu hắn đi vào từ phía ngoài trong một đêm mưa như thế mà không để lại một dấu chân ướt nào trên tấm vải sơn đã kiểm tra chỉ vài phút sau khi hắn đi qua thì có nhiều khả năng là hắn đến bằng xe ngựa.

Vâng, tôi nghĩ rằng suy luận về một cỗ xe của ta là khá chắc chắn."

"Nghe có vẻ hợp lí đấy."

"Đó là một trong những manh mối mà tôi đã nói đến.

Có thể nó sẽ cho ta biết điều gì đó.

Và tiếp theo, tất nhiên rồi, còn cái chuông nữa - đây là nét đặc biệt nhất trong vụ này.

Tại sao cái chuông lại reo lên?

Có phải tên trộm muốn tỏ ra là mình can đảm không?

Hay là có ai đó đi cùng với hắn đã rung chuông để ngăn vụ trộm?

Hay đó chỉ là sự chẳng may?

Hay là..."

Anh lại rơi vào trạng thái suy tư cao độ và trầm lặng trước đó, nhưng vì đã quen với từng tâm trạng của anh, nên tôi cảm thấy có lẽ một khả năng mới vừa chợt lóe lên trong đầu anh.

Chúng tôi đến ga cuối lúc 3 giờ 20 và sau bữa ăn trưa gấp gáp tại quầy giải khát ở ga, chúng tôi đi ngay đến Sở Cảnh sát London.

Holmes đã gửi điện cho Forbes và anh ta đang đợi chúng tôi - đó là một người thấp nhỏ, có vẻ tinh ranh và sắc sảo nhưng không hề tỏ ra hòa nhã chút nào.

Thái độ của anh ta đối với chúng tôi rất lạnh lùng, đặc biệt là khi nghe nói đến mục đích của cuộc gặp mặt.

"Tôi từng nghe nói đến các phương pháp của ông, ông Holmes ạ", anh ta nói một cách chua cay.

"Ông không ngần ngại sử dụng những thông tín mà cảnh sát cung cấp rồi sau đó cố gắng tự phá án và làm cho họ phải mất mặt."

"Ngược lại", Holmes đáp, "trong số năm mươi ba vụ vừa rồi, tên tôi chỉ xuất hiện trong bốn vụ và cảnh sát được hưởng hoàn toàn danh tiếng trong bốn mươi chín vụ kia.

Tôi không trách ông vì không biết điều đó, ông hãy còn trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm, nhưng nếu ông muốn thăng tiến trong những nhiệm vụ mới thì hãy hợp tác và đừng đối đầu với tôi."

"Tôi rất vui nếu có được một vài lời khuyên", viên thanh tra nói và thay đổi thái độ.

"Cho đến giờ tôi vẫn chưa có chút công trạng nào trong vụ này."

"Ông đã tiến hành những bước nào rồi?"

"Tôi đã theo dõi ông gác cổng Tangey.

Ông ta xuất ngũ với một nhân thân trong sạch và chúng tôi cũng không thể tìm thấy điều gì để nghi ngờ ông ta.

Thế nhưng bà vợ thì rất tệ.

Tôi cho rằng bà ta biết nhiều hơn những gì mình nói."

"Ông đã theo dõi bà ta chưa?"

"Chúng tôi đã cho một nhân viên nữ theo dõi bà ta.

Bà Tangey có thói rượu chè, người của chúng tôi đã từng ngồi với bà ta hai lần lúc bà ta đang cao hứng, nhưng cô ấy chẳng moi được chút gì từ bà ta."

"Tôi được biết là những người thu nợ đã đến nhà họ phải không?"

"Vâng, nhưng họ đã trả nợ xong hết rồi."

"Tiền đâu mà họ có?"

"Không có gì bất ổn.

Ông chồng đã đến kì nhận lương.

Không có dấu hiệu gì cho thấy họ dư dả mấy."

"Thế bà ta giải thích thế nào về việc xuất hiện khi ông Phelps rung chuông gọi cà phê?"

"Bà ta nói rằng vì ông chồng mệt quá nên muốn đỡ cho ông ta."

"À, điều này hoàn toàn phù hợp với việc một lát sau ông ta bị bắt gặp đang ngủ trên ghế.

Không có điều gì bất lợi cho họ ngoại trừ tính cách của bà vợ.

Ông có hỏi vì sao mà bà ta lại gấp rút bỏ đi vào tối hôm đó không?

Vẻ vội vàng của bà ta khiến cho viên cảnh sát phải chú ý."

"Bà ta làm muộn hơn mọi ngày và muốn về nhà ngay."

"Ông có vạch cho bà ta thấy là ông cùng với ông Phelps bắt đầu đi sau bà ta ít nhất hai mươi phút vậy mà lại đến nhà sớm hơn?"

"Bà ta giải thích là do xe ngựa công cộng và xe ngựa thuê riêng nhanh chậm khác nhau."

"Thế bà ta có nói rõ vì sao khi vừa về đến nhà là bà ta chạy ngay ra sau bếp không?"

"Bởi vì bà ta cất tiền ở đó để dành trả cho những người thu nợ."

"Ít ra thì bà ta có đủ lí lẽ để giải đáp mọi nghi vấn.

Ông có hỏi là khi rời khỏi bộ Ngoại giao bà ta có gặp người nào hoặc trông thấy ai đang lảng vảng trên phố Charles hay không?"

"Bà ta chẳng nhìn thấy ai ngoại trừ viên cảnh sát."

"Tốt, có vẻ như ông đã thẩm vấn bà ta khá kĩ lưỡng.

Ngoài ra ông còn làm gì nữa?"

"Chúng tôi theo dõi nhân viên Gorot suốt chín tuần qua nhưng chẳng có kết quả gì.

Chúng tôi không thể đưa ra chứng cứ gì để buộc tội ông ta."

"Còn gì nữa không?"

"Chúng tôi còn gì để mà tiếp tục nữa - không có bất kì bằng chứng nào."

"Ông nghĩ gì về tiếng chuông reo?"

"Thú thật là tôi chịu thua.

Cho dù kẻ đó là ai đi nữa thì hắn cũng rất bạo gan mới dám đi vào phòng và rung chuông như thế."

"Đúng thế, điều đó rất là quái lạ.

Cảm ơn ông rất nhiều vì đã cho biết các thông tin.

Nếu tôi có thể trao tên trộm đó cho ông thì ông sẽ sớm nhận được tin.

Ta đi nào, Watson."

"Giờ thì chúng ta đi đâu?"

Tôi hỏi khi đã ra khỏi văn phòng.

"Chúng ta sắp sửa phỏng vấn thượng nghị sĩ Holdhurst, bộ trưởng và thủ tướng tương lai của Anh quốc."

Chúng tôi may mắn vì thượng nghị sĩ Holdhurst hãy còn trong văn phòng của ông ta ở phố Downing và sau khi danh thiếp của Holmes được trình lên, chúng tôi được đưa vào ngay lập tức.

Vị chính khách tiếp đón chúng tôi với cung cách lịch sự cổ điển đặc trưng của mình và mời chúng tôi ngồi vào hai chiếc ghế bành sang trọng kê hai bên lò sưởi, ông đứng giữa chúng tôi, dáng người cao, thanh nhã, khuôn mặt sắc sảo và trầm tư, mái tóc quăn sớm nhuốm bạc, dường như ông là đại diện của một kiểu người hiếm gặp, một quý tộc đích thực.

"Tôi đã nghe danh ông nhiều, thưa ông Holmes", ông ta mỉm cười nói.

"Và tất nhiên là tôi không thể nào làm ra vẻ chẳng hay biết gì về mục đích của chuyến viếng thăm.

Trong tòa nhà này chỉ có một sự việc duy nhất có thể khiến ông quan tâm.

Nhưng tôi xin phép được hỏi là ông đang làm việc cho ai?"

"Cho ông Percy Phelps", Holmes đáp.

"À, đứa cháu bất hạnh của tôi!

Chắc ông cũng hiểu rằng chính vì mối quan hệ họ hàng của chúng tôi mà tôi càng không được phép che chở cho anh ta.

Tôi e là sự cố này chắc chắn sẽ gây tổn hại to lớn cho sự nghiệp của anh ta."

"Nhưng nếu tìm thấy tập tài liệu đó thì sao?"

"À, tất nhiên là sự việc sẽ khác đi."

"Tôi có một vài câu hỏi muốn được đặt ra với ngài, thưa thượng nghị sĩ Holdhurst."

"Tôi rất vui lòng cung cấp cho ông bất cứ thông tin nào trong quyền hạn của mình."

"Có phải là ngài đã ban chỉ thị sao chép lại tập tài liệu đó trong chính căn phòng này?"

"Đúng thế."

"Thế thì khó có ai có thể nghe được cuộc đối thoại đó?"

"Chắc chắn thế."

"Có bao giờ ngài đề cập với ai về ý định giao cho người nào sao chép bản hiệp ước không?"

"Không bao giờ."

"Ngài chắc chứ?"

"Tuyệt đối."

"Vâng, vì ngài không bao giờ tiết lộ và ông Phelps cũng không bao giờ nói ra, đồng thời không có một người nào khác biết gì về chuyện này, nên sự có mặt của tên trộm trong văn phòng là hoàn toàn tình cờ.

Hắn thấy cơ hội và chộp lấy."

Nhà chính khách mỉm cười nói.

"Quả là ông đã mở rộng tầm mắt cho tôi."

Holmes cân nhắc giây lát.

"Còn một điểm nữa rất quan trọng mà tôi mong được thảo luận với ngài", anh nói.

"Theo như tôi được biết, ngài lo rằng một khi bản hiệp ước bị tiết lộ thì sẽ kéo theo những hậu quả rất trầm trọng."

Khuôn mặt biểu cảm của nhà chính trị thoáng sa sẩm.

"Vô cùng nghiêm trọng, thật vậy."

"Và đã có gì xảy ra chưa?"

"Chưa."

"Nếu như bản hiệp ước ấy đã lọt vào tay, giả dụ như bộ Ngoại giao Pháp hoặc Nga, thì hẳn là ngài đã nhận được tin báo?"

"Đúng vậy", vị thượng nghị sĩ đáp, mặt nhăn nhó.

"Vì đã gần mười tuần trôi qua mà ngài vẫn chưa nghe thấy tin tức gì nên ta có thể cho rằng vì một lí do nào đó mà bản hiệp ước vẫn chưa đến tay họ."

Ông ta nhún vai.

"Chúng ta khó có thể tin rằng tên trộm đánh cắp bản hiệp ước chỉ để đóng khung và treo nó lên, ông Holmes ạ."

"Có thể là hắn đang đợi để được giá cao hơn."

"Nếu hắn đợi lâu hơn chút nữa thì sẽ chẳng được gì.

Chỉ vài tháng nữa là bản hiệp ước sẽ không còn bí mật nữa."

"Đó là điều quan trọng nhất", Holmes nói.

"Tất nhiên là ta cũng có thể đưa ra giả thuyết là tên trộm đột nhiên ngã bệnh..."

"Một cơn viêm não, chẳng hạn?"

Nhà chính khách hỏi, liếc nhanh sang Holmes.

"Tôi không định nói thế", Holmes điềm tĩnh nói.

"Giờ thì, thưa ngài thượng nghị sĩ Holdhurst, chúng tôi đã chiếm khá nhiều thì giờ quý báu của ngài rồi, chúng tôi xin chúc ngài một ngày tốt lành."

"Chúc ông thành công trong cuộc điều tra, bất kể ai là thủ phạm", nhà quý tộc đáp lại khi ông ta cúi chào chúng tôi ở cửa.

"Ông ta là người tốt", Holmes nhận xét khi chúng tôi đi ra đường Whitehall.

"Nhưng ông ta phải chật vật duy trì địa vị của mình, ông ta chẳng giàu có gì và phải tiếp đón nhiều khách khứa.

Hẳn là anh nhận thấy đôi giày của ông ta đã phải thay đế.

Giờ thì, Watson, tôi không cản trở anh quay về phòng khám nữa, tôi cũng không còn việc gì trong ngày hôm nay trừ phi nhận được hồi âm cho mẩu tin đăng báo về chiếc xe ngựa.

Nhưng tôi sẽ rất cảm kích nếu ngày mai anh chịu đi cùng tôi đến Woking, cũng cùng giờ tàu hôm nay."

Vì thế sáng hôm sau tôi gặp lại anh và chúng tôi cùng đi tàu xuống Woking.

Anh cho biết vẫn chưa nhận được tin tức nào từ mẩu tin đăng báo và vụ này cũng chưa sáng tỏ thêm chút nào.

Mỗi khi quyết tâm, anh có vẻ mặt hoàn toàn bất động như thổ dân da đỏ và từ diện mạo đó tôi không thể nào đoán được anh có hài lòng với diễn tiến của vụ án hay không.

Theo như tôi nhớ thì trong khi nói chuyện, anh có nhắc tới hệ thống nhận dạng Bertillon và anh bày tỏ sự ngưỡng mộ nhiệt thành đối với nhà nghiên cứu người Pháp này.

Khi gặp lại, thân chủ của chúng tôi đã khỏe hơn nhiều dù vẫn cần vị hôn thê tận tụy của anh chăm sóc.

Khi chúng tôi bước vào, anh ta liền đứng lên khỏi trường kỉ và đón chào chúng tôi mà không có vẻ mệt nhọc.

"Có tin gì mới không?"

Anh ta nôn nóng hỏi.

"Như đã dự đoán, bản báo cáo của tôi không có gì tích cực", Holmes nói.

"Tôi đã gặp ông Forbes, cả người cậu của ông nữa, và đã tìm kiếm thông tin theo một, hai hướng có thể đem đến một kết quả."

"Ông không nản chứ?"

"Hoàn toàn không."

"Chúa phù hộ ông vì câu nói đó!"

Cô Harrison kêu to.

"Nếu chúng ta cứ giữ được lòng can đảm và sự kiên nhẫn thì nhất định sự thật sẽ hiện ra."

"Về phía chúng tôi thì có nhiều thứ hơn để kể cho các ông nghe", Phelps cho biết và ngồi xuống trường kỉ.

"Tôi cũng nghĩ thế."

"Vâng, đêm qua nhà tôi vừa xảy ra chuyện, và đó có thể là một sự việc nghiêm trọng."

Khi nói vẻ mặt anh ta trở nên lo lắng và đôi mắt ánh lên vẻ gì đó gần như sợ hãi.

"Ông biết không", anh kể, "tôi đã bắt đầu tin rằng mình là trung tâm của một âm mưu đáng sợ mà chẳng hay biết gì và có kẻ đang nhắm đến mạng sống cũng như danh dự của tôi."

"Thế à!"

Holmes kêu lên.

"Chuyện này nghe thật khó tin vì tôi nghĩ mình chẳng có kẻ thù nào trên đời.

Tuy nhiên, từ sự kiện xảy ra đêm qua tôi không thể đưa ra kết luận nào khác."

"Xin hãy kể tôi nghe."

"Ông phải biết rằng tối hôm qua là đêm đầu tiên tôi ngủ mà không có y tá trong phòng.

Tôi đã khỏe hơn nhiều nên nghĩ rằng mình có thể ngủ một mình.

Tuy nhiên tôi có thắp một ngọn đèn ngủ.

Thế rồi, vào khoảng 2 giờ sáng khi đang mơ màng thì thình lình tôi bị đánh thức bởi một âm thanh nhỏ.

Nó giống như tiếng chuột gặm gỗ và tôi nghĩ thế nên cứ nằm lặng yên một lúc.

Thế rồi tiếng động ấy lớn dần lên và thình lình từ phía cửa sổ vang lên tiếng kim loại va vào nhau đến cách một cái.

Tôi ngạc nhiên ngồi dậy.

Không còn nghi ngờ gì nữa.

Những âm thanh lúc đầu là do ai đó đang cố lách một dụng cụ qua khe cửa kính và tiếng động thứ nhì là do cái then cửa sổ bị đẩy ra.

Không có tiếng động nào trong khoảng mười phút, tựa như kẻ đó đang đợi xem tôi có bị đánh thức hay không.

Sau đó tôi nghe thấy một tiếng cọt kẹt nhẹ khi cánh cửa sổ từ từ mở ra.

Tôi không thể chịu thêm được nữa vì thần kinh của tôi lúc này không còn được như trước.

Tôi nhảy ra khỏi giường và giật tung mấy cánh cửa chớp.

Một người đàn ông đang lom khom bên cửa sổ.

Tôi chỉ có thể thoáng thấy vì hắn chuồn đi nhanh như chớp.

Hắn mặc một loại áo choàng dài kéo cổ áo che đến ngang mặt.

Tôi chỉ dám chắc một điều là hắn có cầm trong tay một loại vũ khí nào đó trông giống như một con dao dài.

Tôi trông thấy rõ ràng nó lóe lên khi hắn quay đầu bỏ chạy."

"Cực kì đáng quan tâm", Holmes nói.

"Xin hãy kể tiếp sau đó ông làm gì?"

"Nếu mà tôi mạnh khỏe hơn thì đã lao qua cửa sổ đuổi theo hắn.

Ngay lúc ấy, tôi rung chuông và đánh thức cả nhà dậy.

Cũng phải mất một lúc vì chuông reo trong bếp còn các gia nhân thì ngủ cả trên lầu.

Thế là tôi kêu to lên và Joseph nghe thấy, chạy xuống rồi anh ấy đánh thức những người khác.

Joseph và người giữ ngựa tìm thấy những dấu chân trên luống đất bên ngoài cửa sổ nhưng thời tiết độ này quá khô ráo nên họ cũng chẳng hi vọng là sẽ lần theo được dấu vết đó qua bãi cỏ.

Tuy nhiên, họ cho tôi biết là ở phía trên hàng rào gỗ ven đường có dấu hiệu như ai đó đã trèo qua và làm cho thanh chắn hàng rào phía trên bị gãy.

Tôi vẫn chưa khai báo với cảnh sát địa phương vì nghĩ nên hỏi ý ông trước."

Có vẻ như câu chuyện do thân chủ chúng tôi kể đã có tác động đặc biệt lên Sherlock Holmes.

Anh bật dậy khỏi ghế và đi lại trong phòng với vẻ phấn khích không thể kiểm soát

"Họa vô đơn chí", Phelps mỉm cười nói, dù rõ ràng là sự kiện đó phần nào khiến anh bàng hoàng.

"Chắc chắn là ông đã gặp khá nhiều xui xẻo", Holmes nói.

"Ông có thể đi quanh nhà cùng tôi được không?"

"Ồ, được chứ, tôi cũng nên hưởng chút nắng trời.

Joseph sẽ cùng đi."

"Cả em nữa", cô Harrison lên tiếng.

"Tôi e rằng không được", Holmes lắc đầu nói.

"Tôi cho rằng mình phải yêu cầu cô ngồi yên ở đây."

Cô gái trẻ ngồi lại vào ghế với vẻ bực bội.

Anh trai cô thì nhập bọn với chúng tôi và cả bốn người cùng đi.

Chúng tôi vòng ra bãi cỏ để tới phía ngoài cửa sổ phòng Phelps, có những vết chân trên luống đất như anh ta nói, nhưng chẳng giúp được gì vì chúng rất mờ.

Holmes cúi nhìn thoáng qua rồi nhún vai.

"Tôi không nghĩ ai đó có thể phán đoán được gì từ những dấu vết này", anh nói.

"Chúng ta hãy đi quanh nhà xem thử vì sao tên trộm lại chọn đúng căn phòng này.

Tôi cứ nghĩ rằng những cửa sổ rộng ở phòng khách và phòng ăn thì dễ lọt vào nhà hơn."

"Những phòng đó dễ bị nhìn thấy từ ngoài đường hơn", ông Joseph Harrison nêu ý kiến.

"À phải, tất nhiên rồi!

Ở đây có một cánh cửa mà hắn nên cạy thử.

Cửa này dẫn đi đâu vậy?"

"Đây là lối vào bên hông nhà dành cho những người giao hàng.

Tất nhiên là ban đêm thì nó được khóa lại."

"Trước đây đã lần nào nhà ông bị trộm chưa?"

"Chưa bao giờ", thân chủ của chúng tôi cho biết.

"Trong nhà ông có đồ dùng vàng bạc hay thứ gì có thể hấp dẫn bọn trộm không?"

"Chẳng có thứ gì đáng giá."

Holmes tản bộ quanh nhà, hai tay đút túi với vẻ lơ đãng khác thường.

"Nhân tiện", anh nói với ông Joseph Harrison, "tôi được biết là ông đã tìm thấy chỗ nơi tên trộm trèo qua hàng rào.

Xin hãy đưa chúng tôi đến đó xem."

Người đàn ông phốp pháp dẫn chúng tôi đến chỗ có thanh chắn hàng rào bị gãy.

Một mảnh gỗ nhỏ hãy còn lủng lẳng.

Holmes giật nó ra và xem xét kĩ lưỡng.

"Ông có nghĩ rằng nó mới bị gãy đêm qua không?

Trông có vẻ khá cũ rồi, đúng không?"

"Vâng, có thể lắm."

"Không thấy có dấu vết của kẻ nào nhảy qua ở phía bên kia.

Thôi, tôi cho rằng ta chẳng thu thập được gì ở đây.

Ta hãy quay lại phòng ngủ và bàn về vấn đề này."

Percy Phelps bước đi rất chậm và vịn vào tay người anh vợ tương lai.

Holmes đi nhanh qua bãi cỏ, tôi và anh đến bên cửa sổ đang mở của căn phòng ngủ trước hai người kia khá lâu.

"Cô Harrison", Holmes nói với vẻ hết sức nghiêm trọng, "cô phải ở nguyên trong phòng cả ngày.

Không được rời khỏi đây vì bất cứ lí do gì.

Điều này vô cùng quan trọng."

"Chắc chắn rồi, nếu ông muốn thế, thưa ông Holmes."

Cô gái trả lời với vẻ ngạc nhiên.

"Khi nào cô đi ngủ thì khóa cửa phòng này lại từ bên ngoài và giữ chìa khóa.

Hứa với tôi nhé."

"Nhưng còn anh Percy?"

"Ông ta sẽ đi London với chúng tôi."

"Và tôi sẽ ở lại đây sao?"

"Ta làm thế là vì ông ấy.

Cô có thể giúp ông ấy.

Mau đi!

Hãy hứa với tôi!"

Cô gái gật nhanh để tỏ ý tán thành ngay khi hai người kia đi đến.

"Sao em cứ ngồi ủ rũ trong đó thế, Annie?"

Người anh trai cô kêu lên.

"Hãy ra ngoài trời đi."

"Thôi, cảm ơn anh, Joseph.

Em hơi bị nhức đầu mà trong này lại vô cùng mát mẻ và dễ chịu."

"Giờ thì ông định thế nào, hở ông Holmes?"

Thân chủ của chúng tôi hỏi.

"Thế này, trong khi điều tra vụ việc lặt vặt này chúng ta không được lơ là việc chính.

Nếu như ông có thể đi cùng với chúng tôi lên London thì tốt quá."

"Ngay bây giờ sao?"

"Ngay khi nào ông thấy thuận tiện cho mình là được.

Một giờ nữa nhé."

"Tôi thấy trong người đã khá khỏe rồi nên, nếu tôi có thể giúp được gì thì tôi xin sẵn lòng."

"Rất nhiều là khác."

"Có lẽ là ông muốn tôi ngủ lại ở đó đêm nay?"

"Tôi đang định đề nghị như thế."

"Được, nếu như người bạn đêm khuya của tôi lại đến thăm tối nay thì hắn sẽ thấy là con chim đã vỗ cánh bay mất.

Tất cả chúng tôi đều tuân theo sự chỉ đạo của ông, ông Holmes ạ và ông phải nêu thật chính xác những gì ông muốn chúng tôi thực hiện.

Có lẽ ông cũng muốn để anh Joseph đi cùng để chăm sóc tôi chứ?"

"Ồ, không đâu, anh Watson bạn tôi là bác sĩ, ông biết đấy, và anh ấy sẽ trông nom ông.

Chúng ta sẽ dùng bữa trưa tại đây, nếu ông cho phép, sau đó cả ba chúng ta sẽ khởi hành đi London."

Mọi thứ được sắp xếp như gợi ý của Holmes và cô Harrison cáo lỗi mọi người vì không rời khỏi phòng để ăn trưa, do tuân theo đúng lời dặn của anh.

Mục đích của việc đó là gì thì tôi không hiểu nổi, trừ phi là để tách cô gái này ra khỏi Phelps, trong khi đó anh này lại hào hứng vì đã khỏe mạnh trở lại và vì sắp được hành động, nên vui vẻ dùng bữa trưa với chúng tôi trong phòng ăn.

Thế nhưng, Holmes còn làm chúng tôi ngạc nhiên hơn vì sau khi đi cùng đến nhà ga và nhìn chúng tôi lên tàu, anh lại thản nhiên thông báo rằng anh không có ý định rời khỏi Woking.

"Có một vài điểm mà tôi muốn được làm rõ trước khi đi", anh nói.

"Sự vắng mặt của ông, ông Phelps ạ, về khía cạnh nào đó sẽ hỗ trợ cho tôi.

Anh Watson này, khi về đến London, xin anh cùng với ông Phelps vui lòng đi xe ngay về phố Baker và ở đó với ông ấy cho đến khi tôi gặp lại hai người.

Thật may vì hai người vốn là bạn cùng trường nên chắc là sẽ có nhiều điều để kể cho nhau nghe.

Đêm hay ông Phelps có thể nghỉ ở cái phòng ngủ trống và tôi sẽ gặp lại hai người vào bữa điểm tâm, vì có một chuyến tàu sẽ đưa tôi trở về ga Waterloo lúc 8 giờ sáng mai."

"Nhưng còn việc điều tra của chúng ta ở London thì sao?"

Phelps buồn rầu hỏi.

"Cái đó để mai.

Tôi nghĩ rằng lúc này tôi ở lại đây thì có lợi hơn."

"Ông có thể báo cho gia đình tôi ở Briarbrae biết rằng tôi hi vọng sẽ về vào tối mai", Phelps kêu to khi chúng tôi bắt đầu rời khỏi sân ga.

"Tôi không định trở lại Briarbrae", Holmes đáp và vui vẻ vẫy tay chào khi tàu chúng tôi lao nhanh khỏi nhà ga.

Trên suốt chặng đường Phelps và tôi bàn tán với nhau về chuyện này nhưng chẳng ai có thể nghĩ ra được lí do thỏa đáng cho tình tiết mới mẻ ấy.

"Tôi đoán rằng ông ta muốn tìm một vài đầu mối về vụ trộm đêm qua, nếu như đó là một tên trộm.

Riêng tôi thì tôi không tin rằng đó là một tên trộm bình thường."

"Thế ý anh thế nào?"

"Dù anh có cho là do thần kinh tôi yếu hay không thì nói thật tôi vẫn tin là có những mưu đồ chính trị sâu xa đang diễn ra quanh tôi và, vì lí do nào đó mà tôi chưa hiểu ra, những kẻ tham gia đang nhắm vào tính mạng tôi.

Dẫu nghe có vẻ hơi cường điệu và lố bịch nhưng hãy xem các sự kiện!

Tại sao tên trộm lại cố tình đột nhập vào nhà qua cửa sổ phòng ngủ mà hầu như chẳng hi vọng quơ được thứ gì, và tại sao hắn lại cầm theo một con dao dài?"

"Anh có chắc rằng đó không phải là một cái nạy cửa đấy chứ?"

"Ồ, không, đó là một con dao.

Tôi trông thấy lưỡi dao lóe sáng lên rất rõ."

"Nhưng vì cái quái gì mà anh lại bị thù oán đến thế?"

"Ấy, đó mới là vấn đề."

"Được, nếu Holmes cũng nghĩ như thế thì điều đó giải thích cho hành động của anh ấy, phải không nào?

Cứ cho rằng ý kiến của anh là đúng đi, nếu anh ấy tóm được cái gã đã đe dọa anh đêm qua thì anh ấy sẽ còn phải đi thêm một đoạn dài nữa để tìm ra ai đã lấy trộm bản hiệp ước hải quân.

Thật là vô lí nếu cho rằng anh có đến hai kẻ thù, một tên thì đánh cắp còn tên kia thì đe dọa sinh mạng của anh."

"Nhưng Holmes nói rằng ông ta không trở lại Briarbrae."

"Tôi biết anh ấy cũng khá lâu", tôi nói, "nhưng chưa bao giờ tôi thấy anh ấy làm gì mà không có nguyên nhân chính đáng."

Và cứ thế, cuộc đối thoại của chúng tôi trôi sang những đề tài khác.

***

Hôm đó là một ngày mệt mỏi đối với tôi.

Phelps hãy còn yếu sau cơn bệnh kéo dài và tai họa đã gặp khiến anh ta hay than vãn và căng thẳng.

Tôi cố gắng làm cho anh ta quan tâm đến Afghanistan, Ấn Độ và những vấn đề xã hội hay bất cứ điều gì có thể giúp anh quên bớt nhưng vô ích.

Lúc nào anh ta cũng quay trở lại chuyện bản hiệp ước bị mất, cứ băn khoăn tự hỏi rồi phỏng đoán Holmes đang làm gì, thượng nghị sĩ Holdhurst đang ứng phó ra sao và các tin tức gì chờ đợi chúng tôi sáng mai.

Đến đêm thì sự căng thẳng của anh ta đã hoàn toàn biến thành đau khổ.

"Anh hoàn toàn tin tưởng ông Holmes chứ?"

Anh ta hỏi tôi.

"Tôi từng chứng kiến anh ấy làm được một số việc xuất sắc."

"Nhưng có bao giờ ông ta làm sáng tỏ được vụ nào mờ mịt như thế này chưa?"

"Ồ, có chứ!

Tôi biết anh ấy từng giải quyết những vấn đề còn ít manh mối hơn vụ của anh."

"Nhưng không vụ nào dính líu đến đại sự như thế này phải không?"

"Tôi không rõ.

Theo như tôi được biết thì anh ấy từng thay mặt ba hoàng gia Âu châu điều tra những vụ vô cùng quan trọng."

"Nhưng anh biết rõ ông ấy, Watson ạ.

Còn với tôi, ông ấy bí hiểm đến nỗi tôi chẳng hiểu gì.

Anh có nghĩ là ông ấy có hi vọng nào không?

Anh có cho rằng ông ấy cũng tin là sẽ giải quyết thành công vụ này không?"

"Anh ấy chẳng nói gì cả."

"Thế là dấu hiệu xấu rồi."

"Ngược lại thì đúng hơn, tôi nhận thấy khi sự vụ chệch hướng, anh ấy mới thường huyên thuyên dông dài.

Còn khi đang lần theo một dấu vết và chưa hoàn toàn chắc chắn đó là hướng đi đúng thì anh ấy bao giờ cũng lầm lì nhất.

Nào, bạn thân mến, cứ tự làm mình lo lắng thế này thì cũng không thể cải thiện được tình hình, hãy để tôi đưa anh lên giường nghỉ ngơi khỏe khoắn mà đón đợi bất cứ chuyện gì xảy ra vào sáng mai."

Cuối cùng thì tôi cũng thuyết phục được anh ta nghe theo lời khuyên của mình dù tôi biết với dáng vẻ bồn chồn như thế thì cũng chẳng mấy hi vọng anh ta sẽ chợp mắt được.

Thật vậy, tâm trạng của anh ta là thứ lây nhiễm, vì chính tôi cũng trằn trọc suốt nửa đêm, nghiền ngẫm mãi về sự việc kì lạ này và nghĩ ra đến hàng trăm giả thuyết nhưng càng nghĩ lại càng vô lí.

Tại sao Holmes ở lại Woking?

Tại sao anh yêu cầu cô Harrison phải ở lại phòng bệnh suốt cả ngày?

Vì sao anh thận trọng đến mức không thông báo cho những người ở Briarbrae biết anh định ở lại gần chỗ họ?

Tôi cứ vắt óc suy nghĩ mãi đến lúc thiếp đi trong khi cố tìm ra lời giải thích thỏa đáng cho tất cả các dữ kiện này.

Khi tôi thức dậy là 7 giờ sáng.

Ngay lập tức, tôi đi thẳng sang phòng của Phelps và thấy anh ta phờ phạc sau cả đêm thức trắng.

Câu hỏi đầu tiên của anh ta là Holmes trở về chưa.

"Một khi đã hứa thì chắc chắn là anh ấy sẽ về đây", tôi đáp, "không sớm mà cũng không muộn chút nào."

Và quả đúng như lời tôi nói vì chỉ sau 8 giờ một chút, một cỗ xe ngựa hai bánh lao nhanh đến trước cửa và bạn tôi bước ra khỏi xe.

Từ cửa sổ nhìn ra, chúng tôi thấy bàn tay trái của anh quấn băng và mặt anh thì đượm vẻ u ám và xanh xao.

Anh bước vào nhà và chỉ một lúc sau đã lên cầu thang.

"Trông ông ấy giống như người bại trận", Phelps kêu lên.

Tôi buộc phải công nhận là anh ta nói đúng.

"Cuối cùng thì", tôi nói, "có lẽ manh mối của vụ việc nằm ở đây, tại thành phố này."

Phelps rên rỉ.

"Tôi không biết cái manh mối ấy trông nó ra sao", anh ta nói, "nhưng tôi đã đặt biết bao hi vọng vào chuyến trở về của ông ấy.

Chắc chắn là hôm qua bàn tay ông ấy đâu có bị băng bó thế này.

Chuyện gì đã xảy ra chứ?"

"Anh không bị thương chứ, Holmes?"

Tôi lên tiếng hỏi khi bạn mình bước vào phòng.

"Chậc, chỉ là xây xát do tôi vụng về thôi mà", anh trả lời và gật đầu chào chúng tôi.

"Vụ của ông, ông Phelps ạ, chắc chắn là một trong những vụ mờ mịt nhất tôi từng điều tra."

"Tôi e rằng nó vượt quá khả năng của ông."

"Đây quả là một kinh nghiệm đáng chú ý nhất."

"Tay anh băng bó thế kia chắc là có chuyện mạo hiểm", tôi nói.

"Sao anh không kể cho chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra?"

"Để sau bữa điểm tâm đã, Watson thân mến.

Nên nhớ rằng sáng nay tôi vừa hít không khí Surrey suốt ba mươi dặm.

Tôi cho rằng chưa có hồi âm cho mẩu tin tìm người xà ích phải không?

Được thôi, ta không thể kì vọng là lần nào cũng ghi điểm được."

Bàn ăn đã được dọn và ngay khi tôi vừa định rung chuông thì bà Hudson đã đem trà và cà phê vào.

Chỉ vài phút sau bà bưng vào ba đĩa đồ ăn đậy nắp và cả ba chúng tôi cùng bước lại bàn, Holmes bụng đói cồn cào, tôi thì tò mò còn Phelps đang vô cùng chán nản.

"Bà Hudson rất biết tận dụng cơ hội", Holmes nói khi mở nắp vung đậy đĩa gà nấu cà ri.

"Tài nấu ăn của bà còn có phần hạn chế nhưng cũng như các phụ nữ Scotland khác, bà biết một bữa điểm tâm ngon là như thế nào.

Đĩa chỗ anh là món gì vậy, Watson?"

"Giăm bông và trứng", tôi đáp.

"Ngon đấy, ông muốn dùng món gì nào, ông Phelps.

Gà nấu cà ri hay là trứng, hay là ông muốn tự lấy đồ ăn?"

"Cảm ơn ông.

Tôi không thể ăn được cái gì cả", Phelps đáp.

"Ôi, thôi nào!

Hãy dùng thử món trước mặt ông."

"Cảm ơn.

Tôi thật sự không muốn ăn."

"Được, thế thì," Holmes nói, mắt ánh lên tinh quái, "tôi nghĩ rằng ông không phản đối việc lấy giúp tôi chứ?"

Phelps nhấc cái nắp đậy trên đĩa và ngay lập tức anh ta thốt lên một tiếng kêu rồi ngồi sững ra, mặt trắng không thua gì cái đĩa mà mắt anh đang chăm chú nhìn vào.

Một cuộn giấy nhỏ màu xám xanh đang nằm ngang giữa đĩa.

Anh ta chộp lấy nó, hai mắt nhìn như muốn nuốt lấy cuộn giấy rồi nhảy múa như điên khắp phòng, sau đó anh nhét nó vào ngực và hét ầm lên vì vui sướng.

Cuối cùng, anh ta buông người rơi phịch xuống ghế, rũ rượi và kiệt sức vì xúc động khiến chúng tôi phải rót rượu mạnh vào họng để giữ cho anh ta khỏi ngất.

"Nào!

Nào!"

Holmes dỗ dành và vỗ nhẹ lên vai anh ta.

"Thật là có lỗi khi làm cho ông bất ngờ thế này, nhưng anh Watson đây sẽ cho ông biết là tôi chẳng bao giờ nhịn được thói gây kịch tính."

Phelps chộp lấy bàn tay của Holmes và hôn lên đó.

"Cầu Chúa phù hộ cho ông!"

Anh ta kêu to.

"Ông đã cứu vãn danh dự của tôi."

"Thì danh dự của tôi cũng lâm nguy, ông biết đấy", Holmes nói.

"Tôi cam đoan với ông rằng đối với tôi việc thất bại trong một vụ án cũng khó chịu không thua gì cảm giác của ông khi mắc phải sai lầm trong lúc thực thi nhiệm vụ."

Phelps nhét tập tài liệu quý giá vào tận túi trong cùng của chiếc áo choàng.

"Tôi không dám cản trở bữa điểm tâm của ông nữa, tuy nhiên tôi đang hết sức nóng lòng muốn biết làm thế nào ông đã thu hồi được bản hiệp ước và nó đã ở đâu."

Sherlock Holmes nhấp một ngụm cà phê rồi quay sang dồn sự quan tâm vào đĩa trứng giăm bông.

Sau đó anh đứng lên, châm một tẩu thuốc và thoải mái ngồi vào ghế.

"Trước tiên tôi sẽ kể ông nghe tôi đã làm gì trước và sau đó sẽ đến phần tôi lấy lại bản hiệp ước như thế nào", anh nói.

"Sau khi chia tay với ông ở sân ga, tôi làm một chuyến cuốc bộ rất thú vị băng qua vùng Surrey phong cảnh tuyệt đẹp tới một ngồi làng xinh xắn tên là Ripley, ở đó tôi uống trà trong quán rồi cẩn thận châm đầy rượu vào chiếc bình dẹt và nhét mấy miếng sandwich vào túi áo.

Tôi ở đó đến xế chiều mới quay trở lại Woking và về đến con đường cái chạy qua Briarbrae khi mặt trời vừa lặn.

Tôi đợi đến khi con đường không còn ai - mà tôi nghĩ chẳng lúc nào nó đông đúc cả - rồi trèo qua hàng rào để vào vườn."

"Chắc chắn là cổng để mở kia mà!"

Phelps thốt lên.

"Phải, nhưng trong những chuyện này thì tôi lại có sở thích kì cục.

Tôi đã chọn chỗ có ba cây linh sam và trèo qua đoạn rào phía sau để người trong nhà khó có thể nhìn thấy.

Tôi khom người chạy ra những bụi cây ở phía ngoài mấy cây linh sam rồi bò từ bụi này sang bụi khác - bằng chứng hãy còn lưu lại trên hai đầu gối quần bẩn thỉu này đây - cho đến khi tới được đám đỗ quyên ngay đối diện cửa sổ phòng ông.

Tôi ngồi xuống và chờ đợi sự việc diễn biến.

Rèm cửa trong phòng ông chưa hạ xuống và tôi có thể nhìn thấy cô Harrison đang ngồi đọc sách cạnh bàn.

Đến 10 giờ 15 thì cô ta gấp sách lại, đóng cửa chớp và lui vào.

Tôi nghe tiếng cô ấy đóng cửa phòng và cảm thấy khá chắc chắn là cô ấy đã xoay chìa khóa cửa lại."

"Chìa khóa à?"

Phelps thốt lên.

"Phải, tôi đã dặn cô Harrison về việc khóa cửa từ bên ngoài và cầm chìa khóa theo khi đi ngủ.

Cô ấy đã thực hiện các yêu cầu của tôi đúng từng chút một và nếu không có sự hợp tác của cô ấy thì chắc chắn rằng giờ này ông cũng không có được xấp giấy kia trong túi áo.

Rồi cô ấy rời đi và đèn cũng tắt theo, chỉ còn mình tôi ngồi trong bụi đỗ quyên.

Đêm qua trời đẹp nhưng thức khuya thì cũng rất mệt mỏi.

Tất nhiên trong đó cũng có sự phấn khích của một thợ săn nằm bên dòng nước đợi con mồi lớn.

Tuy nhiên, quãng thời gian đó rất dài, anh Watson ạ - dài gần bằng thời gian anh và tôi cùng đợi bên trong căn phòng chết chóc khi chúng ta điều tra vụ Dải băng lốm đốm.

Lúc ấy cứ mười lăm phút thì chuông nhà thờ Woking lại vang lên và tôi cho là phải mấy hồi mới dứt.

Thế rồi, đợi mãi đến khoảng 2 giờ sáng, tôi cũng nghe thấy một tiếng động nhỏ của một cái then bị kéo ra và tiếng lạch xạch mở khóa.

Ngay sau đó, cánh cửa lối đi dành cho gia nhân bật mở và ông Joseph Harrison bước ra ngoài ánh trăng."

"Joseph sao?"

Phelps buột miệng kêu lên.

"Hắn để đầu trần nhưng có khoác một chiếc áo choàng đen trên vai để khi có động là kịp thời che mặt.

Hắn đi rón rén bên dưới bóng bức tường và khi đến bên cửa sổ thì hắn lách con dao lưỡi dài qua khung cửa kính và đẩy then ra.

Sau đó hắn mở cánh cửa rồi lách dao vào qua khe hở của hai cánh cửa chớp phía trong, đẩy thanh cài lên và xô chúng mở ra.

Từ chỗ nấp tôi nhìn thấy rất rõ bên trong phòng và từng cử động của hắn.

Hắn thắp hai ngọn nến đặt ở phía trên mặt lò sưởi rồi bắt đầu lật góc thảm cạnh cửa ra vào lên.

Ngay sau đó hắn khom người xuống tháo ra một mảnh ván vuông vốn được để rời giúp thợ sửa chỗ nối của các ống dẫn khí đốt.

Và trên thực tế, nó che cái ống chữ T dẫn vào đường ống cung cấp khí đốt cho nhà bếp ở dưới.

Hắn lấy một cuộn giấy nhỏ ra khỏi chỗ giấu đó, ấn mảnh ván trở lại, phủ tấm thảm lên như trước, thổi tắt hai ngọn nến rồi bước thẳng vào tôi, vì tôi đã đứng sẵn ở bên ngoài cửa sổ để đón hắn.

Hắn ác độc hơn tôi tưởng, ông Joseph ấy.

Hắn cầm dao lao vào tôi và tôi phải cho hắn đo đất đến hai lần, rồi bị hắn cứa cho một nhát ở mấy đốt ngón tay trước khi khống chế được hắn.

Hắn nhìn tôi đầy sát khí bằng con mắt lành lặn còn lại sau khi kết thúc cuộc ẩu đả, nhưng rồi cũng chịu cân nhắc và bằng lòng giao tập tài liệu.

Sau khi lấy được xấp giấy, tôi bèn để cho hắn đi nhưng đã đánh điện tường thuật toàn bộ cho ông Forbes lúc sáng nay.

Nếu ông ta nhanh chân bắt kịp con chim thì cũng tốt.

Nhưng nếu như cái tổ đã trống từ trước khi ông ta đến, và tôi ngờ là như thế, thế lại càng tốt hơn cho chính phủ.

Tôi cho rằng thượng nghị sĩ Holdhurst và cả ông Percy Phelps đều mong là vụ việc này đừng bao giờ đến tay tòa vi cảnh."

"Lạy Chúa!"

Thân chủ của chúng tôi hổn hển nói.

"Ông nói rằng trong suốt mười tuần lễ đau khổ dài đằng đẵng, tập giấy bị đánh cắp vẫn nằm trong chính căn phòng đó cùng với tôi?"

"Đúng thế."

"Và anh Joseph!

Joseph là một kẻ bất lương và là một tên trộm!"

"Hừm!

Tôi e rằng bản chất của Joseph xấu xa và nham hiểm hơn vẻ bề ngoài của hắn.

Từ những gì tôi nghe hắn khai lúc sáng nay, tôi suy ra rằng hắn đã thua lỗ nặng khi chơi chứng khoán và giờ thì hắn sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì để gỡ lại chút tài sản.

Là một con người cực kì ích kỉ, khi thời cơ xuất hiện thì hắn ra tay ngay mà chẳng đếm xỉa gì đến hạnh phúc của em gái mình hay là danh dự của ông."

Percy Phelps dựa hẳn ra sau ghế.

"Đầu óc tôi quay cuồng", anh ta nói.

"Lời ông nói khiến tôi bàng hoàng."

"Khó khăn chính trong vụ của ông", Holmes nhận xét theo kiểu thuyết giảng của anh, "nằm ở chỗ nó có quá nhiều bằng chứng.

Cái trọng yếu lại bị các cái không liên quan che khuất.

Trong tất cả các dữ kiện được đưa ra, chúng ta phải chọn ra chỉ những dữ kiện nào mà chúng ta cho là quan trọng và sau đó ghép nối chúng lại theo trình tự để tái dựng lại chuỗi sự kiện rất lạ lùng này.

Tôi đã bắt đầu nghi ngờ Joseph từ chi tiết ông định về nhà với hắn ta trong đêm đó vì rất có thể là trên đường đi hắn đã ghé lại văn phòng của ông vì biết khá rõ bộ Ngoại giao.

Khi tôi nghe kể đến chỗ có kẻ nóng lòng muốn lẻn vào phòng ngủ là nơi mà ngoài Joseph ra không còn ai khác có thể cất giấu thứ gì đó - bởi ông có cho chúng tôi biết là Joseph đã phải dọn ra ngoài khi ông được ông bác sĩ đưa về nhà thì những nghi ngờ của tôi đã được khẳng định, đặc biệt khi vụ trộm được thực hiện trong đêm đầu tiên y tá vắng mặt cho thấy là kẻ đột nhập đó phải biết rõ mọi động thái trong nhà."

"Tôi mới thật mù quáng làm sao!"

"Diễn biến của vụ này mà tôi đã làm sáng tỏ như sau: Joseph Harrison đã vào văn phòng qua cửa ở phố Charles và vì đã rõ đường nên hắn ta đi thẳng vào phòng của ông ngay sau khi ông rời đi.

Không trông thấy ai trong phòng nên hắn lập tức rung chuông và ngay lúc đó tập tài liệu trên bàn đập vào mắt hắn.

Chỉ liếc sơ qua là hắn biết vận may đã đem lại cho hắn một tài liệu quốc gia vô cùng giá trị và ngay lập tức hắn đã nhét xấp giấy đó vào trong túi rồi bỏ đi.

Chắc ông hãy còn nhớ, khi người gác cổng ngái ngủ nhắc ông để ý tới cái chuông thì vài phút đã trôi qua và khoảng thời gian đó vừa đủ cho tên trộm trốn thoát.

Hắn đi về Woking bằng chuyến tàu đầu tiên, rồi sau khi xem xét món chiến lợi phẩm và chắc chắn rằng đây thực sự là một thứ hết sức giá trị, hắn bèn giấu vào một nơi mà hắn cho là rất an toàn với ý định sẽ lấy nó ra sau một vài ngày rồi đem đến đại sứ quán Pháp hoặc bất cứ nơi nào mà hắn nghĩ là sẽ bán được giá cao.

Thế rồi ông đột ngột trở về.

Không hề được báo trước, hắn phải dọn ra khỏi phòng và kể từ đó trong phòng lúc nào cũng có mặt ít nhất hai người nên việc lấy lại báu vật của hắn bị ngăn trở.

Tình huống này khiến hắn phát điên.

Nhưng cuối cùng thì hắn cũng thấy có cơ hội.

Hắn cố gắng lẻn vào phòng nhưng lại bị cản trở vì ông thức giấc.

Hẳn là ông còn nhớ đêm đó không giống như mọi lần, ông đã bỏ qua liều thuốc thường ngày."

"Tôi còn nhớ."

"Tôi cho rằng hắn đã bỏ thêm gì đó vào thuốc và việc ông mê man bất tỉnh là cơ hội của hắn.

Nhưng đương nhiên là nếu có cơ hội khác thì hắn sẽ lại tìm cách lọt vào.

Và việc ông lên London chính là dịp như thế.

Tôi dặn cô Harrison ở trong phòng suốt ngày để cho hắn không thể ra tay trước chúng ta.

Kế đến, sau khi làm cho hắn tưởng rằng hiện trường hoàn toàn trống vắng, tôi bèn đứng rình như đã nói.

Vốn đã biết là xấp tài liệu có thể được để trong phòng nhưng tôi không muốn tháo tung cả ván sàn lẫn nẹp gỗ để tìm.

Vì vậy, để tránh sự khó nhọc đó, tôi đã để cho hắn tự tay lấy xấp tài liệu ra khỏi chỗ giấu.

Có điểm nào tôi trình bày chưa được rõ ràng không?"

"Tại sao lần đầu tiên hắn ta lại phải tìm cách đột nhập vào phòng qua cửa sổ", tôi hỏi, "trong khi hắn có thể đi vào bằng cửa chính?"

"Để đến cửa chính thì hắn phải đi qua bảy phòng ngủ.

Ngoài ra, bằng lối cửa sổ hắn có thể dễ dàng thoát ra ngoài bãi cỏ.

Còn điều gì nữa không?"

"Ông có nghĩ rằng", Phelps hỏi, "hắn định giết người không?

Hay con dao chỉ là một dụng cụ thôi?"

"Cũng có thể", Holmes nhún vai trả lời.

"Tôi chỉ có thể chắc rằng Joseph Harrison là một người mà tôi không bao giờ tin có lòng nhân từ."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
VỤ ÁN CUỐI CÙNG (The Final Problem, 1893)


Lòng tôi nặng trĩu khi cầm bút viết những dòng cuối cùng này trong loạt ghi chép khắc họa tài năng khác thường rất đáng ngưỡng mộ của bạn tôi, Sherlock Holmes.

Bằng những miêu tả rời rạc và, rõ ràng là hoàn toàn chưa tương xứng, tôi đã cố gắng ghi lại phần nào những trải nghiệm lạ lùng của mình khi sát cánh cùng anh kể từ khi hai chúng tôi có dịp gặp nhau lần đầu vào thời gian xảy ra vụ Cuộc điều tra màu đỏcho đến lúc anh giải quyết vụ Bản hiệp ước hải quân giúp ngăn ngừa một rắc rối nghiêm trọng ở tầm quốc tế.

Tôi đã định sẽ ngừng ở đó và không đề cập gì đến một sự kiện đã để lại khoảng trống trong đời tôi mà suốt hai năm qua chưa hề nguôi ngoai.

Thế nhưng, lá thư vừa mới xuất hiện của đại tá James Moriarty nhằm bảo vệ hình ảnh của anh trai mình khiến tôi buộc phải cầm bút trở lại và không còn chọn lựa nào khác hơn là phải đưa sự việc ra trước công chúng một cách chính xác như nó đã xảy ra.

Chỉ mình tôi biết được toàn bộ sự thật và tôi hài lòng vì đã đến lúc có thể công bố khi chẳng còn lí do nào để giấu đi nữa.

Theo như tôi được biết thì sự việc này chỉ được đề cập ba lần trên báo chí, đó là báo Journal de Genève vào ngày 6 tháng 5 năm 1891, bản tin của Reuter trên các báo Anh ra ngày 7 tháng 5 và cuối cùng là lá thư mà tôi vừa nói đến.

Hai bản tin trên hết sức cô đọng, còn lá thư lại xuyên tạc hoàn toàn sự thật, như tôi sẽ giải thích dưới đây.

Điều đó khiến tôi có trách nhiệm lần đầu tiên viết về những gì đã thực sự xảy ra giữa giáo sư Moriarty và Sherlock Holmes.

Tôi vẫn còn nhớ, sau khi tôi kết hôn rồi bắt đầu công việc ở phòng khám tư, mối quan hệ vô cùng thân thiết giữa Holmes và tôi đã phần nào thay đổi.

Thỉnh thoảng anh vẫn đến thăm tôi khi muốn có một người bạn đồng hành trong việc điều tra, nhưng những dịp như thế cứ thưa dần cho đến năm 1890 thì chỉ có ba vụ được tôi ghi lại.

Trong suốt mùa đông năm ấy và đầu xuân năm 1891 tôi thấy báo đưa tin là anh được chính phủ Pháp mời tham gia vào một vụ vô cùng quan trọng và tôi có nhận được hai lá thư ngắn của Holmes gửi đi từ Narbone và Nimes, mà theo đó tôi đoán anh sẽ ở lại Pháp lâu.

Vì thế nên tôi hơi ngạc nhiên khi trông thấy anh bước vào phòng khám của mình vào tối ngày 24 tháng 4.

Điều gây ấn tượng đối với tôi là trông anh thậm chí còn xanh xao và gầy ốm hơn bình thường.

"Phải, tôi đã vắt kiệt sức mình hơi quá trớn", anh nhận xét như để đáp lại ánh mắt chứ không phải lời nói của tôi.

"Gần đây tôi chịu khá nhiều áp lực.

Tôi có thể đóng cửa chớp lại chứ?"

Ánh sáng duy nhất trong phòng rọi từ ngọn đèn đặt trên bàn nơi tôi đang ngồi đọc sách.

Holmes đi một vòng nép sát tường và đóng chặt những cánh cửa chớp lại rồi cài then chắc chắn.

"Anh sợ điều gì à?"

Tôi hỏi.

"Phải, tôi sợ."

"Sợ gì?"

"Súng hơi."

"Holmes thân mến, ý anh là sao?"

"Watson này, tôi cho là anh đã biết tôi khá rõ để hiểu rằng tôi không phải người nhát gan.

Tuy nhiên sẽ là ngu ngốc chứ chẳng dũng cảm gì nếu không chịu thừa nhận mối hiểm nguy đang kề cận mình.

Tôi xin một que diêm, được chứ?"

Anh rít một hơi thuốc như thể tác động dễ chịu của khói thuốc có thể khiến anh bình tâm.

"Tôi phải xin lỗi vì đến quá muộn", anh nói, "và tiếp theo tôi xin được thực hiện một việc dị thường là rời khỏi nhà anh ngay bây giờ bằng cách trèo qua bức tường sau vườn nhà anh."

"Nhưng tất cả chuyện này nghĩa là sao?"

Tôi hỏi.

Anh giơ bàn tay ra và dưới ánh sáng của ngọn đèn tôi trông thấy hai đốt ngón tay dập nát và đang chảy máu.

"Không phải chuyện đùa đâu, anh thấy đấy", anh cười và nói.

"Mà thật đến mức có thể khiến một người gãy tay.

Chị Watson có nhà không anh?"

"Vợ tôi đi chơi xa."

"Thật à!

Vậy là anh chỉ có một mình?"

"Đúng thế."

"Thế thì việc mời anh sang Âu châu cùng tôi một tuần sẽ dễ dàng hơn."

"Đi đâu?"

"Ở bất cứ nơi nào.

Với tôi thì đâu cũng thế."

Trong tất cả chuyện này có điều gì đó rất lạ lùng.

Một kì nghỉ vu vơ không phải là sở thích của Holmes, lại thêm khuôn mặt xanh xao, hốc hác cho biết anh đang căng thẳng cực độ.

Anh đọc được thắc mắc ấy trong mắt tôi nên chụm đầu ngón tay lại, chống hai khuỷu tay lên gối, rồi giải thích.

"Có lẽ anh chưa bao giờ nghe nói đến giáo sư Moriarty?"

Anh hỏi.

"Chưa bao giờ."

"Ấy, đó là một thiên tài, một kì nhân!"

Anh kêu lên.

"Con người đó thâm nhập khắp London thế mà chẳng ai nghe nói gì về hắn ta.

Chính điều này đã đưa hắn lên đỉnh cao trong các hồ sơ tội phạm.

Tôi nói với anh hết sức nghiêm túc rằng, Watson ạ, nếu như tôi có thể đánh bại được con người ấy, nếu như tôi có thể loại trừ được hắn ra khỏi cộng đồng thì sự nghiệp của tôi coi như đã đạt đến đỉnh cao và tôi sẽ chuyển sang một công việc khác bình yên hơn.

Nói riêng với anh thôi nhé, những vụ án gần đây mà tôi giúp giải quyết cho hoàng gia Scandinavia và nước Cộng hòa Pháp cho phép tôi có thể duy trì một cuộc sống lặng lẽ rất phù hợp với mình và chỉ việc tập trung đầu óc vào các nghiên cứu hóa học.

Nhưng Watson ạ, tôi không thể nghỉ ngơi, tôi không thể ngồi yên trên ghế được khi nghĩ đến việc một kẻ như giáo sư Moriarty vẫn đang thoải mái dạo bước trên đường phố London"

"Hắn đã làm gì?"

"Cuộc đời của hắn thật lạ thường.

Hắn có xuất thân tốt, được giáo dục chu đáo và có năng khiếu phi thường về toán học.

Năm hai mươi mốt tuổi hắn đã viết một luận án về định lí Nhị thức rất được tán thưởng ở Âu châu.

Nhờ thành công ấy hắn chiếm được chức giáo sư toán tại một trong những trường đại học hạng nhỏ ở nước ta và hiển nhiên là đã có cả một sự nghiệp rực rỡ phía trước.

Nhưng con người này có khuynh hướng di truyền cực kì hiểm ác.

Năng lực trí tuệ phi thường của hắn không làm giảm nhẹ máu tội phạm trong người mà còn làm cho nó càng mạnh mẽ hơn và trở nên vô cùng nguy hiểm.

Những tin đồn xấu vây quanh hắn ở khu vực có trường đại học nọ cuối cùng đã khiến cho hắn buộc phải từ nhiệm và đi lên London, tại đây hắn bắt đầu khởi nghiệp lại bằng nghề giảng dạy trong quân đội.

Có quá nhiều đồn thổi về hắn, nhưng những gì tôi đang kể cho anh nghe đây là những thông tin do tôi phát hiện được.

Watson này, như anh đã biết, không có ai nắm vững thế giới tội phạm cao cấp của London bằng tôi.

Trong suốt nhiều năm tôi liên tục nhận thấy có một thế lực nào đó ẩn sau những kẻ bất lương, một quyền lực được tổ chức sâu kín luôn cản trở pháp luật và che chở cho những kẻ phạm pháp.

Trong các loại tội phạm hết sức khác nhau - giả mạo giấy tờ, cướp bóc, sát nhân - không biết bao nhiêu lần tôi đều cảm nhận được sự hiện diện của thế lực này và tôi đã suy đoán ra rằng nó đã nhúng tay vào rất nhiều vụ án chưa được khám phá mà tôi không được mời cố vấn.

Trong nhiều năm tôi luôn mong muốn sẽ chọc thủng bức màn che phủ nó và cuối cùng thì thời cơ đã đến khi tôi chộp được manh mối và lần theo nó qua cả ngàn ngã rẽ quanh co cho đến khi nó dẫn tôi đến cựu giáo sư toán học lừng danh Moriarty.

Hắn ta là Napoléon trong giới tội phạm, Watson ạ.

Hắn là nhà tổ chức của phân nửa những vụ phạm tội và gần như tất cả những vụ chưa được phá giải trong thành phố rộng lớn này.

Hắn là một thiên tài, một nhà triết học, một nhà tư duy trừu tượng.

Hắn sở hữu một bộ óc có phẩm chất hàng đầu.

Hắn ngồi yên một chỗ, như một con nhện ở trung tâm chiếc lưới, thế nhưng tấm lưới này tỏa ra cả nghìn nhánh và hắn nắm rất vững từng rung động của mỗi nhánh ấy.

Hắn ít khi hành động mà chỉ lên kế hoạch.

Nhưng đám thủ hạ của hắn thì rất nhiều và được tổ chức vô cùng chặt chẽ.

Một tội ác cần được thực hiện, một tài liệu cần được đánh cắp, muốn cướp một ngôi nhà hay muốn bắt cóc một người - thông tin được chuyển đến tay giáo sư, việc sẽ được lên kế hoạch rồi thực hiện.

Tên thủ hạ có thể sẽ bị bắt và tiền sẽ đổ ra để bảo lãnh hoặc thuê luật sư bào chữa.

Nhưng quyền lực trung tâm sử dụng tên thủ hạ đó thì chẳng bao giờ bị tóm - cũng chẳng bao giờ bị nghi ngờ.

Đó là tổ chức mà tôi đã truy ra, Watson ạ, và tôi sẽ hiến toàn bộ sức lực để vạch trần và đập tan nó.

Nhưng tên giáo sư được che chắn bằng những cách thức xảo quyệt đến mức, tuy tôi đã cố mà dường như vẫn không thể nào tìm ra bằng chứng để buộc tội hắn trước tòa.

Watson thân mến, anh đã biết khả năng của tôi, vậy mà sau ba tháng ròng tôi buộc phải thú nhận rằng cuối cùng thì mình cũng gặp phải một đối thủ xứng tầm về trí tuệ.

Tôi ghê sợ những tội ác của hắn nhưng lại càng ngưỡng mộ tài năng của hắn.

Nhưng cuối cùng thì hắn cũng phạm phải một sai lầm - chỉ là một sai lầm rất nhỏ nhưng cũng đủ để hắn phải trả giá đắt vì tôi luôn bám theo hắn.

Tôi nắm lấy cơ hội ấy và giăng lưới vây quanh hắn và cho đến giờ thì mảnh lưới ấy đã sẵn sàng khép lại.

Trong ba ngày nữa - tức là vào thứ hai tới - thời cơ sẽ chín muồi và tên giáo sư cùng với mọi thành viên chủ chốt trong băng nhóm của hắn sẽ nằm gọn trong tay cảnh sát.

Tiếp theo sẽ là phiên tòa hình sự lớn nhất thế kỉ để làm sáng tỏ hơn bốn mươi vụ án bí ẩn và tất cả bọn chúng đều sẽ bị tròng thòng lọng vào cổ, nhưng anh phải hiểu rằng nếu chúng ta hành động quá sớm thì bọn chúng có thể lọt khỏi tay ta thậm chí vào đúng phút cuối.

Giá tôi có thể thực hiện được điều đó mà giáo sư Moriarty chẳng hay biết thì mọi việc đã diễn ra tốt đẹp.

Nhưng hắn quá sức xảo quyệt.

Mỗi bước tôi thực hiện nhằm giăng bẫy, hắn đều biết.

Không biết bao nhiêu lần hắn đã cố gắng thoát ra nhưng đều bị tôi chặn lại.

Bạn thân mến, tôi cho anh biết rằng nếu có một bản miêu tả chi tiết về cuộc đối đầu thầm lặng này được viết ra thì đó sẽ là câu chuyện xuất sắc nhất về sự so tài đấu trí trong lịch sử ngành trinh thám.

Chưa bao giờ tôi vươn đến tầm cao như thế và cũng chưa khi nào tôi phải chịu áp lực mạnh mẽ đến thế từ một đối thủ.

Tuy nhiên vỏ quýt dày có móng tay nhọn.

Cho đến sáng nay, những bước cuối cùng đã được thực hiện và chỉ cần thêm ba ngày nữa là hoàn thành nhiệm vụ.

Trong khi tôi đang ngồi trong phòng suy tính công việc thì cửa phòng bật mở và giáo sư Moriarty đứng ngay trước mặt tôi, Thần kinh của tôi cũng khá vững vàng, Watson ạ, nhưng tôi phải thú nhận là có hơi giật mình khi trông thấy con người mà đầu óc mình lúc nào cũng luôn suy nghĩ đến đang đứng ngay trên ngưỡng cửa.

Vẻ bề ngoài của hắn khá quen thuộc đối với tôi: Hắn cao lêu nghêu và rất gầy, trán hắn lồi ra, còn đôi mắt thì trũng sâu.

Râu tóc hắn nhẵn nhụi, nước da hơi tái, trông có vẻ khổ hạnh và khuôn mặt vẫn còn nét gì đó của một giáo sư.

Hắn gù lưng vì ngồi làm việc nhiều, đầu hắn thì nhô ra phía trước và cứ chầm chậm đung đưa từ bên này sang bên kia rất kì lạ như đầu của một loài bò sát.

Hắn chăm chú nhìn tôi bằng đôi mắt đầy nếp nhăn với vẻ săm soi hiếu kì.

'Trán của ông không lớn như tôi nghĩ', cuối cùng thì hắn cũng lên tiếng.

'Cái thói lần mò một khẩu súng đã nạp đạn trong túi áo choàng nguy hiểm đấy!'

Quả thật là khi hắn bước vào tôi đã ngay lập tức nhận ra tình huống cực kì nguy hiểm mà mình đang lâm phải.

Đối với hắn thì lối thoát duy nhất là phải làm cho tôi im lặng mãi mãi.

Trong một khoảnh khắc, tôi đã kịp chộp lấy khẩu súng trong ngăn kéo và nhét vào túi rồi che đi bằng lớp vải áo.

Trước nhận xét của hắn, tôi đành móc món vũ khí ra và đặt nó nằm ghếch trên bàn.

Hắn vẫn mỉm cười và nheo mắt nhưng trong đôi mắt hắn có một tia nhìn khiến tôi cảm thấy mừng vì đã có khẩu súng ở đó.

'Rõ ràng là ông không biết gì về tôi', hắn nói.

'Ngược lại', tôi đáp.

'Việc tôi biết về ông là điều khá rõ ràng.

Xin mời ngồi.

Tôi có thể dành ra năm phút để lắng nghe nếu như ông có điều gì muốn nói.'

'Tất cả những gì tôi cần phải nói thì ông đã đoán được', hắn nói.

'Vậy thì rất có thể là ông cũng đoán ra câu trả lời của tôi', tôi đáp.

'Ông vẫn không thay đổi?'

'Hoàn toàn đúng."

Hắn cho tay vào túi và tôi chộp khẩu súng từ trên bàn lên.

Nhưng hắn chỉ rút ra một cuốn sổ ghi chép trong đó có viết nguệch ngoạc vài ngày tháng.

'Ông bắt đầu xen vào việc của tôi vào ngày 4 tháng Tháng 1,' hắn nói.

'Đến ngày 23 ông quấy rầy tôi; vào giữa tháng 2, ông đã làm tôi rất khó chịu; đến cuối tháng 3, các kế hoạch của tôi hoàn toàn bị ngăn trở; và bây giờ là cuối tháng 4, sự quấy rối liên tục của ông khiến cho tôi lâm vào tình thế có nguy cơ hoàn toàn bị mất tự do.

Tình trạng này đang trở nên không thể chấp nhận được.'

'Vậy ông có ý kiến gì không?' Tôi hỏi.

'Ông phải ngừng ngay, ông Holmes ạ,' hắn nói và đung đưa đầu, 'thực sự ông phải làm thế, ông hiểu chứ.'

'Đợi đến thứ hai đã', tôi đáp.

'Chậc, chậc', hắn nói.

'Tôi chắc rằng một người thông minh như ông sẽ thấy rõ là việc này chỉ có một kết cục duy nhất, ông nên rút lui thì hơn.

Ông đã làm cho mọi chuyện diễn ra theo chiều hướng khiến cho ta chỉ còn có một cách giải quyết duy nhất.

Đối với tôi thì xem cách ông vật lộn với công việc này là một trò giải trí và tôi muốn nói thật tình rằng tôi cũng rất buồn nếu phải dùng tới bất cứ biện pháp cực đoan nào.

Ông cứ mỉm cười đi, thưa ông, nhưng tôi cam đoan với ông rằng điều đó sẽ xảy ra.'

'Nguy hiểm đã là một phần trong công việc của tôi', tôi nói.

'Đó không phải là nguy hiểm', hắn nói tiếp.

'Mà là sự diệt vong tất yếu.

Ông đang chống lại không chỉ một cá nhân mà là một tổ chức hùng mạnh mà với toàn bộ trí thông minh của mình ông cũng không thể nào nhận ra được quy mô rộng lớn của nó.

Ông phải tránh sang một bên, ông Holmes ạ, nếu không sẽ bị giẫm nát.'

'Tôi e rằng', tôi đứng lên và nói, 'nếu cứ tiếp tục cuộc đối thoại thú vị này tôi sẽ xao lãng công việc quan trọng đang đợi tôi ở một nơi khác.'

Hắn cũng đứng dậy và lặng lẽ nhìn tôi, lắc đầu buồn bã.

'Được, được', cuối cùng thì hắn cũng lên tiếng.

'Thật đáng tiếc, nhưng tôi đã làm hết những gì mình có thể.

Tôi biết rõ đường đi nước bước của ông.

Ông không thể làm gì cho đến ngày thứ hai.

Đây là cuộc đấu tay đôi giữa ông và tôi, ông Holmes ạ.

Ông hi vọng là sẽ đưa được tôi ra trước vành móng ngựa.

Tôi cho ông biết là tôi không bao giờ đứng ở vành móng ngựa, ông hi vọng là sẽ đánh bại được tôi.

Tôi cho ông biết là ông không bao giờ đánh bại được tôi.

Nếu ông đủ khôn ngoan để có thể tiêu diệt được tôi thì hãy tin rằng tôi sẽ làm thế với ông.'

'Thưa ông Moriarty, ông đã dành cho tôi nhiều lời khen ngợi', tôi nói.

'Xin hãy để tôi đáp lại những lời khen ấy rằng nếu tôi đưa được ông ra trước vành móng ngựa đầu tiên thì vì lợi ích cộng đồng, tôi bị tiêu diệt cũng chẳng sao.'

'Tôi có thể hứa với ông về vế thứ hai, chứ không phải vế thứ nhất', hắn gầm gừ và quay cái lưng không về phía tôi rồi bước ra khỏi phòng mà mắt vẫn còn nheo lại nhìn.

Đó là cuộc gặp gỡ lạ kì của tôi với giáo sư Moriarty.

Tôi phải thú nhận rằng nó đã khiến tâm trí tôi bất an.

Cách nói mềm mỏng và chính xác của hắn có sức nặng ghê gớm mà một kẻ côn đồ đơn thuần không thể nào có được.

Vậy anh sẽ nói ngay: Thế sao không báo cảnh sát để họ để mắt đến hắn?

Vấn đề là thủ hạ chứ không phải hắn sẽ ra tay.

Và tôi đã có những bằng chứng mạnh mẽ nhất về điều đó."

"Anh bị tấn công rồi à?"

"Bạn Watson thân mến, giáo sư Moriarty không phải là loại người để nước đến chân mới nhảy.

Trưa hôm nay tôi ra ngoài để giải quyết một số công việc ở phố Oxford.

Khi đi ngang qua góc phố Bentinck với phố Welbeck thì một cỗ xe song mã phóng như điên vòng qua góc phố và lao về phía tôi như một tia chớp.

Tôi nhảy vội lên hè đường và kịp cứu mạng mình trong tích tắc.

Cỗ xe vụt rẽ vào ngõ Marylebone và biến mất ngay tức khắc.

Sau đó tôi tiếp tục đi trên hè, Watson ạ, nhưng khi bước sang phố Vere thì từ trên mái của một trong những ngôi nhà ở đó một viên gạch rơi xuống và vỡ tan thành từng mảnh ngay chân tôi.

Tôi gọi cảnh sát và đề nghị kiểm tra vị trí đó.

Trên mái nhà xếp đầy ngói và gạch để chuẩn bị sửa chữa và bọn họ giải thích là một viên gạch đã bị gió xô xuống.

Đương nhiên là tôi không tin nhưng chẳng thể nào chứng minh được.

Tôi bèn gọi xe và đi đến nhà anh trai mình ở phố Pall Mall rồi ở đó suốt ngày.

Vừa rồi tôi đến chỗ anh và trên đường đi tôi lại bị một gã côn đồ dùng dùi cui tấn công.

Tôi đã hạ gục hắn và hắn đang ở đồn cảnh sát, nhưng tôi có thể cam đoan với anh rằng không thể nào tìm ra sự liên quan giữa kẻ khiến tôi dập tay này với tay cựu giáo sư mà tôi đoán chắc đang giải toán trên một tấm bảng đen cách đó mười dặm.

Watson ạ, vậy anh sẽ không ngạc nhiên khi thấy hành động đầu tiên của tôi khi vừa mới vào nhà anh là đóng ngay các cánh cửa chớp và tôi buộc phải xin phép rời khỏi nhà bằng một lối đi kín đáo hơn cửa chính."

Tôi vẫn thường khâm phục lòng dũng cảm của bạn mình nhưng chưa bao giờ như lần này, khi anh ngồi đó bình thản điểm lại một loạt những biến cố chắc chắn là có liên quan với nhau đã tạo nên một ngày kinh hoàng.

"Anh sẽ ở lại đây đêm nay chứ?"

Tôi hỏi.

"Không đâu, bạn thân mến, tôi có thể là một vị khách nguy hiểm.

Tôi đã sắp sẵn kế hoạch rồi và mọi chuyện sẽ ổn thôi.

Cho đến giờ thì sự việc đã diễn biến đến đoạn tự nó có thể phát triển đến lúc bọn chúng bị bắt, dù tôi vẫn cần có mặt tại phiên kết án.

Vì thế, rõ ràng là tôi không thể làm được gì hơn là tạm biến đi vài ngày còn lại trước khi đến lượt cảnh sát toàn quyền hành động.

Do đó, nếu anh có thể đi sang Âu châu lục địa với tôi thì thật là hay quá."

"Phòng khám của tôi lúc này cũng hơi vắng khách", tôi nói, "và anh bác sĩ kế bên cũng sẵn sàng giúp đỡ.

Tôi rất vui được đi với anh."

"Và khởi hành ngay sáng mai?"

"Nếu cần."

"Ồ, vâng, vô cùng cần thiết.

Còn sau đây là những chỉ dẫn dành cho anh, và Watson thân mến, tôi xin anh hãy thực hiện đúng từng li từng tí một, vì hiện giờ anh đang cùng tôi tham gia cuộc đấu tay đôi với tên đầu đảng khôn ngoan nhất và tập đoàn tội phạm hùng mạnh nhất Âu châu.

Anh lắng nghe nhé!

Tối nay anh sẽ gửi hành lí gồm những thứ anh định đem theo cho một người tin cẩn đem đến ga Victoria mà không đề địa chỉ trên đó.

Đến sáng anh sẽ cho gọi một cỗ xe hai bánh và dặn gia nhân không đón cả cỗ xe đến đầu tiên lẫn chiếc thứ hai.

Khi đã ngồi vào xe rồi anh hãy đi đến lối vòm Lowther ở phố Strand sau khi trao cho người xà ích địa chỉ đó được ghi sẵn trên một mảnh giấy và dặn anh ta đừng có vứt nó đi.

Hãy trả trước tiền xe và ngay khi xe dừng lại thì anh sẽ chạy qua lối vòm và căn sao cho sang phía bên kia vào lúc 9 giờ 15.

Anh sẽ thấy một cỗ xe độc mã nhỏ đang đợi sẵn ở lề đường, xà ích mặc áo choàng màu đen viền cổ màu đỏ.

Anh hãy lên xe và đến ga Victoria kịp giờ chuyến tàu tốc hành đi Âu châu lục địa."

"Tôi sẽ gặp anh ở đâu?"

"Tại nhà ga.

Khoang hạng nhất thứ hai sẽ được đặt riêng cho chúng ta."

"Vậy chúng ta sẽ gặp nhau trong khoang đúng không?"

"Vâng."

Tôi đề nghị Holmes ở lại đêm đó nhưng vô ích.

Tôi thấy rõ là anh ngại có thể sẽ đem rắc rối đến nơi anh nương náu và đó là nguyên nhân thúc đẩy anh ra đi.

Sau khi vội vàng dặn lại vài lời về kế hoạch của chúng tôi vào ngày mai, anh đứng lên và đi cùng với tôi ra vườn, trèo qua bức tường để sang phố Mortimer rồi ngay lập tức huýt sáo gọi một chiếc xe ngựa và cỗ xe đưa anh đi xa dần.

Sáng hôm sau tôi làm theo đúng từng lời dặn của Holmes.

Nhằm tránh một chiếc xe có thể rình sẵn, ngay sau bữa điểm tâm tôi gọi xe ngựa theo lời dặn dò phòng bị của anh và đi đến lối vòm Lowther rồi vội vã băng qua đó hết tốc lực.

Một cỗ xe độc mã đang đợi sẵn với người xà ích to lớn khoác áo choàng đen, tôi vừa mới bước vào là anh ta lập tức vung roi quất ngựa và cỗ xe lao đến ga Victoria.

Tôi vừa bước xuống là anh ta đã quay xe lại và phóng đi mà không buồn nhìn về phía tôi.

Cho đến lúc đó, mọi việc đều diễn ra đúng theo kế hoạch.

Hành lí của tôi đang đợi sẵn và tôi dễ dàng tìm thấy khoang tàu mà Holmes đã chỉ dẫn vì đó là khoang duy nhất trên tàu có treo bảng "Đã đặt trước".

Nỗi lo duy nhất của tôi lúc này là chẳng thấy Holmes đâu.

Đồng hồ trên ga cho thấy chỉ còn bảy phút nữa là tàu sẽ khởi hành.

Tôi cố gắng tìm hình bóng nhỏ nhoi của bạn mình trong đám đông hành khách và người đi tiễn nhưng vô ích.

Không hề thấy bóng dáng anh đâu.

Tôi bỏ ra vài phút để giúp một vị linh mục người Ý đáng kính đang gắng sức diễn đạt bằng thứ tiếng Anh sai bét cho một nhân viên xếp khách lên tàu hiểu rằng hành lí của ông ta cần được gửi đến Paris.

Sau đó, khi đã nhìn quanh quất thêm một lần nữa, tôi quay trở lại khoang của mình và thấy ông lão già yếu người Ý đã được người nhân viên nọ xếp vào ngồi trong khoang mà chẳng thèm quan tâm tới số vé.

Tôi cố giải thích với ông ta là không được ngồi ở đây nhưng vô ích vì tiếng Ý của tôi còn tệ hơn cả tiếng Anh của ông ấy, vì vậy tôi đành nhún vai cam chịu và tiếp tục tìm kiếm Holmes trong lo âu.

Tôi rùng mình khi nghĩ rằng sự vắng mặt của anh đồng nghĩa với một tai họa nào đó đã xảy ra đêm qua.

Khi cửa khoang đóng lại và tiếng còi tàu rúc lên thì...

"Watson thân mến", một giọng nói vang lên, "anh thậm chí không thèm hạ cố chào tôi một tiếng sao?"

Tôi sửng sốt quay sang.

Vị giáo sĩ già nua đang quay mặt về phía tôi.

Chỉ trong khoảnh khắc những nếp nhăn trên mặt ông ta bỗng dãn ra, cái mũi được kéo xa khỏi cằm, môi dưới thôi không trề ra và khuôn miệng thì đang lẩm bẩm gì đó, đôi mắt mờ đục đã lấy lại vẻ tinh anh, thân hình đang còng xuống cũng vươn thẳng lên.

Nhưng tiếp theo thì toàn bộ hình dáng đó lại sụm xuống và Holmes cũng biến đi nhanh chóng như khi hiện lên.

"Lạy Chúa!"

Tôi kêu lên.

"Anh làm tôi giật cả mình!"

"Mọi biện pháp đề phòng vẫn rất cần thiết", anh thì thầm.

"Tôi có đủ lí do để tin rằng bọn chúng vẫn đang theo sát chúng ta.

À, kia chính là Moriarty."

Khi Holmes nói thì con tàu vừa chuyển bánh.

Liếc nhìn ra sau tôi trông thấy một người dáng cao đang giận dữ len qua đám đông và vẫy tay như muốn dừng đoàn tàu lại.

Nhưng đã quá muộn vì con tàu đang nhanh chóng tăng tốc và ngay sau đó nhà ga đã khuất hẳn phía sau.

"Với tất cả mọi biện pháp đề phòng của chúng ta, anh cũng thấy là ta đã cắt đuôi khá tốt", Holmes vừa nói vừa cười.

Anh đứng dậy và cởi bỏ chiếc áo thầy tu màu đen và cái mũ đã giúp anh cải trang rồi cất chúng vào túi du lịch.

"Anh đã xem báo ra sáng nay chưa, Watson?"

"Chưa."

"Thế thì anh chưa biết gì về chuyện xảy ra ở phố Baker phải không?"

"Phố Baker?"

"Đêm qua chúng đã phóng hỏa căn hộ của chúng ta.

Không có thiệt hại đáng kể."

"Lạy Chúa, Holmes!

Thế thì thật là quá quắt."

"Chắc là bọn chúng đã hoàn toàn mất dấu tôi sau khi tên cầm dùi cui bị bắt.

Nếu không thì chúng không tài nào tưởng tượng ra được là tôi đã quay lại nhà mình.

Tuy nhiên, rõ ràng là chúng đã để tâm theo dõi anh nên Moriarty đã đến ga Victoria.

Khi đến đây anh đã không để xảy ra sơ suất gì chứ?"

"Tôi đã thực hiện chính xác những gì anh dặn."

"Anh có thấy cỗ xe độc mã không?"

"Có, nó đã đợi tôi."

"Anh có nhận ra người xà ích không?"

"Không."

"Người ấy là anh Mycroft.

Di chuyển một cách kín đáo bằng xe mà không sợ vớ phải bọn tay sai giả làm xà ích là một lợi thế.

Nhưng giờ thì ta phải lên kế hoạch đối phó với Moriarty."

"Nhưng đây là xe lửa tốc hành rồi tiếp sau là một chuyến tàu thủy nữa nên tôi nghĩ ta đã thực sự rũ được hắn."

"Watson thân mến, rõ ràng anh không hiểu hết ý tôi khi nói rằng con người này có lẽ cũng thông minh như tôi.

Anh nghĩ mà xem nếu tôi là kẻ săn đuổi đời nào tôi lại bị một trở ngại tầm thường như thế cản đường.

Vậy thì làm sao mà anh lại có thể đánh giá thấp hắn như vậy?"

"Hắn sẽ làm gì?"

"Làm những gì mà tôi sẽ làm."

"Vậy anh sẽ làm gì?"

"Thuê một chuyến tàu hỏa riêng."

"Nhưng nó sẽ bị chậm."

"Không chậm chút nào.

Vì đoàn tàu này sẽ nghỉ ở Canterbury cộng thêm tàu thủy luôn chậm ít nhất là mười lăm phút nên hắn sẽ bắt kịp chúng ta ở đó."

"Ta chạy trốn cứ như là tội phạm vậy.

Thế thì hãy báo cảnh sát bắt hắn ngay khi hắn vừa đến."

"Như vậy thì công sức bỏ ra suốt ba tháng trời sẽ bị tiêu tan.

Chúng ta chỉ bắt được con cá lớn nhưng đàn cá nhỏ sẽ lọt lưới.

Nếu đợi đến thứ hai này thì ta sẽ tóm được cả bọn.

Không, chuyện bắt bớ lúc này là không thể chấp nhận được."

"Vậy phải làm sao?"

"Chúng ta sẽ xuống ở Canterbury."

"Rồi sao nữa?"

"Sau đó ta sẽ làm một chuyến du ngoạn dọc đất nước xuống Newhaven rồi đi sang Dieppe, Pháp.

Còn Moriarty sẽ lại thực hiện những gì mà tôi cũng sẽ làm.

Hắn sẽ đến Paris, dính lấy hành lí của chúng ta và đợi hai ngày ở kho hàng.

Trong khi đó, chúng ta chỉ nhẹ nhàng với hai túi du lịch nhỏ, khuyến khích nền sản xuất của những đất nước mà ta sẽ đi qua và ung dung đến Thụy Sĩ qua ngả Luxembourg và Basle."

Vì vậy, chúng tôi xuống tàu ở Canterbury và được biết là còn phải đợi một giờ nữa mới có chuyến tàu đi Newhaven.

Trong lúc tôi hãy còn ủ rũ sau khi khoang chứa hành lí với toàn bộ quần áo của tôi trong đó nhanh chóng đi khuất thì Holmes kéo tay áo tôi và chỉ về đường ray.

"Đã đến rồi kìa, anh thấy chưa", anh nói.

Từ trong cánh rừng của hạt Kent ở phía xa, một làn khói mỏng bốc lên.

Rồi một phút sau đã có thể trông thấy một toa tàu và đầu máy đang lượn qua đoạn đường cong lao tới nhà ga.

Khi chúng tôi vừa kịp nấp sau một dãy hành lí thì toa tàu đó đã rầm rầm chạy ngang qua với một tiếng còi nhức óc và phả một làn hơi nóng vào mặt chúng tôi

"Hắn đi rồi", Holmes nhận xét khi chúng tôi nhìn toa xe đang lắc lư trên đường ray.

"Anh xem, trí thông minh của người bạn chúng ta cũng có hạn.

Nếu như hắn đoán được những gì tôi đã suy luận và hành động theo thì quả là kì tích."

"Nếu thay vì ta xuống ở đây mà bị hắn bắt kịp ở bến tàu thủy thì hắn sẽ làm gì?"

"Chắc chắn là hắn sẽ ra đòn trí mạng để tiêu diệt tôi.

Tuy nhiên đây là một trò chơi từ hai phía.

Vấn đề hiện giờ là ta có nên thưởng thức một bữa trưa sớm hơn bình thường ở đây hay là cứ tiếp tục nhịn đói cho đến khi tới ga Newhaven."

Đêm hôm ấy chúng tôi đi Brussels và lưu lại đó hai ngày, sang ngày thứ ba thì đến Strasbourg.

Sáng thứ hai đầu tuần, Holmes gửi một bức điện cho cảnh sát London và đến tối đã thấy có điện trả lời đang đợi chúng tôi ở khách sạn.

Holmes xé ra xem rồi ném mạnh nó vào lò sưởi kèm câu chửi thề cay đắng.

"Lẽ ra tôi phải đoán được!"

Anh rên rỉ.

"Hắn đã trốn thoát!"

"Moriarty à?"

"Họ đã tóm được cả bọn, trừ hắn.

Hắn đã lọt khỏi tay họ.

Tất nhiên là khi tôi đi khỏi thì đâu còn ai đương đầu nổi hắn.

Nhưng tôi cứ nghĩ là mình đã sắp sẵn mọi thứ cho họ rồi.

Tôi cho rằng anh nên quay về Anh thì tốt hơn, Watson ạ."

"Tại sao chứ?"

"Bởi vì bây giờ tôi đã trở thành người bạn đường nguy hiểm.

Con người đó đã mất hết sự nghiệp.

Giờ mà hắn quay về London thì cũng chẳng làm được gì.

Nếu tôi đoán không lầm thì hắn sẽ dồn hết sức để trả thù tôi.

Trong cuộc đối thoại ngắn ngủi đó hắn đã nói như vậy và tôi cho rằng hắn thực sự nghĩ thế.

Tôi thật lòng khuyên anh nên trở về với công việc của mình."

Đó là một đề nghị không thể chấp nhận được đối với một người vừa là cựu chiến binh vừa là bạn thân.

Chúng tôi mất đến nửa giờ để bàn cãi về vấn đề này khi ngồi trong phòng ăn ở Strasbourg, nhưng đến tối hôm đó thì chúng tôi lại tiếp tục hành trình tới Geneva.

Trong suốt một tuần lễ thú vị chúng tôi lang thang đến vùng châu thổ sông Rhone rồi rẽ sang Leuk, chúng tôi vượt qua đèo Gemmi hãy còn phủ đầy tuyết rồi tiếp tục qua Interlaken để đến Meiringen.

Đó là một chuyến du ngoạn dễ chịu, phía dưới là màu xanh tươi mát của mùa xuân, bên trên lại là màu trắng trinh nguyên của mùa đông, nhưng tôi thấy rõ ràng là không một phút giây nào Holmes quên được bóng đen đang lơ lửng trên đầu anh.

Dù là trong những ngôi làng đơn sơ của vùng Alpes hay trên những ngọn đèo hiu quạnh tôi đều thấy anh liên tục liếc nhanh và săm soi tỉ mỉ từng khuôn mặt lướt qua chúng tôi, rõ ràng là anh tin dù có đi đến đâu chăng nữa chúng tôi cũng không thoát khỏi mối nguy đang bám theo sát gót.

Tôi còn nhớ một lần, khi chúng tôi đang vượt qua đèo Gemmi và bước dọc theo bờ hồ Daubensee trầm mặc thì bỗng từ vách núi phía bên phải một tảng đá to lao ầm xuống hồ ngay sau lưng chúng tôi.

Ngay lập tức, Holmes lao lên và đứng trên đỉnh núi sừng sững ngó nghiêng khắp hướng.

Cho dù người hướng dẫn du lịch ra sức trấn an anh rằng ở đây đá lở là điều rất bình thường vào mùa xuân nhưng vô ích.

Anh không nói gì mà chỉ mỉm cười với tôi với điệu bộ của người chứng kiến những chuyện mình đã tiên liệu trước.

Tuy vô cùng cảnh giác nhưng anh không lo lắng.

Ngược lại, tôi nhớ là chưa bao giờ thấy anh phấn chấn đến thế.

Anh lặp đi lặp lại không biết hao nhiêu lần rằng nếu có thể đảm bảo xã hội được giải thoát khỏi giáo sư Moriarty thì anh cũng vui vẻ chấm dứt sự nghiệp của mình.

"Tôi nghĩ đến giờ thì có thể nói rằng đời mình không đến nỗi vô ích, Watson ạ", anh nhận xét.

"Nếu như sự nghiệp của tôi phải khép lại ngay tối nay thì tôi vẫn có thể nhìn lại nó một cách thanh thản.

Sự hiện diện của tôi đã làm cho bầu không khí ở London được trong lành hơn.

Tôi thấy rằng trong số hơn một ngàn vụ án tôi chưa hề sử dụng năng lực của mình một cách sai trái.

Gần đây tôi bị cuốn hút vào việc lí giải những vấn đề do tự nhiên ban tặng hơn là những vấn đề tầm thường do xã hội con người gây ra.

Anh Watson này, loạt hồi ức của anh sẽ kết thúc vào ngày mà tôi đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp đời mình bằng việc bắt giữ hoặc tiêu diệt tên tội phạm nguy hiểm và mưu mô nhất Âu châu."

Tôi sẽ nói ngắn gọn, nhưng chính xác, những gì ít ỏi còn lại.

Đây không phải là chuyện tôi muốn gợi lại, tuy nhiên tôi ý thức rằng mình có bổn phận không được bỏ sót một chi tiết nào.

Ngày 3 tháng 5 chúng tôi đến làng Meiringen, tại đây chúng tôi trú ở khách sạn Englischer Hof, bấy giờ do Peter Steiler Cha làm chủ.

Ông là một người thông minh và nói tiếng Anh rất sõi vì đã từng làm bồi bàn ba năm trong khách sạn Grosvenor ở London.

Theo lời khuyên của ông ta, trưa ngày mùng 4 chúng tôi lên đường với ý định vượt qua các ngọn đồi và qua đêm tại ngôi làng nhỏ Rosenlaui.

Tuy nhiên chúng tôi cũng được dặn là dù gì cũng đừng bỏ qua thác Reichenbach ở lưng chừng đồi mà nên đi vòng một đoạn để ngắm cảnh.

Quả đúng như vậy, đó là một nơi đáng sợ.

Dòng nước xiết này dâng cao vì tuyết tan, lao nhanh xuống một vực thẳm khủng khiếp nơi bụi nước bốc lên cuồn cuộn tựa khói từ một ngôi nhà đang cháy.

Nơi dòng sông đổ mình là một khe nứt khổng lồ, hai bên vách đá đen nhánh như than và hẹp dần xuống một cái vũng sâu hoắm tung bọt, tại đó nước tràn lên túa qua mép đá lởm chởm.

Thác nước xanh biếc không ngừng ầm ào đổ xuống và bức màn rung rinh bụi nước liên tục dội lên tiếng xì xì khiến ta quay cuồng bởi xoáy nước và tiếng ầm ầm bất tận.

Chúng tôi đứng gần bên miệng vực dõi mắt nhìn dòng nước lấp lánh tuôn xuống những tảng đá đen ở sâu bên dưới và lắng nghe âm thanh như tiếng người la hét rì rào vọng lên cùng với bụi nước tung trào lên miệng vực.

Con đường nhỏ rẽ ngang giữa chừng và vòng ra thác nước giúp ta có thể quan sát được toàn bộ quang cảnh nhưng tới đó thì nó hết đường và người ta phải trở về.

Chúng tôi vừa quay lại thì trông thấy một cậu bé Thụy Sĩ chạy đến tay cầm một bức thư.

Lá thư có mang dấu của khách sạn nơi chúng tôi vừa rời đi và do ông chủ khách sạn gửi cho tôi.

Dường như ngay lúc chúng tôi vừa đi khỏi thì có một phụ nữ Anh mắc lao giai đoạn cuối tới khách sạn.

Bà ta nghỉ đông ở Davos Platz và đang trên đường đến gặp bạn bè ở Lucerne thì thình lình bị một cơn xuất huyết.

Người ta cho rằng bà ta khó mà sống thêm được vài tiếng nữa nhưng nếu có thể gặp một bác sĩ người Anh thì thật là nguồn an ủi to lớn cho người bệnh, nên nếu như tôi chỉ cần quay lại thì...vân... vân.

Trong phần tái bút, ông Steiler tốt bụng còn nhấn mạnh rằng bản thân ông ta sẽ xem sự ưng thuận của tôi là một đặc ân vì người phụ nữ này kiên quyết từ chối gặp một bác sĩ Thụy Sĩ và ông ta không khỏi cảm thấy mình đang gánh một trách nhiệm lớn lao.

Rõ ràng không thể bỏ qua lời thỉnh cầu đó.

Không thể từ chối nguyện vọng của một phụ nữ đồng hương đang hấp hối nơi xứ người.

Tuy nhiên, tôi lưỡng lự không muốn để Holmes ở lại.

Nhưng cuối cùng chúng tôi thống nhất rằng anh sẽ giữ cậu bé đưa thư người Thụy Sĩ lại để làm người hướng dẫn và bầu bạn trong khi tôi quay lại Meiringen.

Bạn tôi sẽ nán lại một lúc ở bên thác nước, anh nói thế, và sau đó sẽ từ từ vượt qua ngọn đồi để đến Rosenlaui là nơi tôi sẽ gặp lại anh vào tối nay.

Khi quay lưng bước đi tôi còn nhìn thấy Holmes đứng tựa lưng vào một tảng đá, hai tay khoanh lại và đăm đăm nhìn dòng nước đang tuôn xuống.

Đó là lần cuối cùng tôi còn được thấy anh hiện diện trên thế gian.

Khi xuống gần đến chân dốc tôi quay đầu nhìn lại.

Từ chỗ này không còn nhìn thấy thác nước nhưng tôi có thể trông thấy con đường mòn quanh co uốn quanh sườn đồi dẫn tới đó.

Trên con đường ấy, tôi thoáng trông thấy một người đàn ông đang rảo bước.

Tôi có thể trông thấy dáng hình sẫm đen của ông ta in lên nền xanh phía sau.

Tôi để ý đến con người này vì dáng đi quả quyết, nhưng tôi nhanh chóng quên đi vì đang vội lo công chuyện của mình.

Có lẽ phải hơn một giờ sau tôi mới về đến Meiringen.

Ông lão Steiler đang đứng ở hiên khách sạn.

"Thế nào", tôi vừa nói vừa hối hả bước vào.

"Tôi hi vọng là tình hình bà ta không xấu đi chứ?"

Một thoáng ngạc nhiên hiện lên khuôn mặt ông và khi cặp lông mày của ông nhíu lại thì tim tôi chợt đông cứng.

"Ông không viết lá thư này?"

Tôi nói và lấy bức thư trong túi ra.

"Trong khách sạn không có người phụ nữ Anh nào đang bị ốm chứ."

"Chắc chắn là không!"

Ông kêu lên.

"Nhưng nó có con dấu của khách sạn này!"

"À, hẳn là cái ông người Anh dáng cao đến đây ngay sau khi các ông vừa đi đã viết nó."

Ông ta nói.

Nhưng tôi không đợi nghe thêm lời giải thích nào nữa.

Trong nỗi kinh hoàng tôi lao trên đường làng và phóng về con đường mòn mà tôi vừa mới từ đó đi xuống.

Lúc nãy tôi đã mất một giờ để đi đến đây.

Vì vậy, dù đã nỗ lực hết sức thì khi trở lại thác Reichenbach thời gian tôi rời nơi này cũng đã hơn hai tiếng.

Chiếc gậy leo núi của Holmes vẫn còn dựa bên tảng đá nơi chúng tôi chia tay nhưng bóng dáng anh thì chẳng thấy đâu.

Dù tôi ra sức gọi to nhưng vô ích.

Đáp lại chỉ là tiếng của chính tôi đang vọng về từ những vách đá xung quanh.

Chính cây gậy của anh đã khiến người tôi lạnh toát như muốn bệnh.

Vậy là anh chưa đi Rosenlaui mà vẫn ở trên con đường nhỏ chỉ rộng ba foot với vách núi dựng đứng ở một bên và miệng vực sâu hoắm ở bên kia cho đến khi kẻ thù bắt kịp.

Thằng bé người Thụy Sĩ cũng biến mất.

Có lẽ nó đã được Moriarty cho tiền và đã bỏ đi để lại hai người với nhau.

Và điều gì đã xảy ra?

Ai có thể cho ta biết diễn biến sự việc ra sao?

Tôi đứng thần người đến vài phút vì bàng hoàng trước sự việc khủng khiếp.

Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ theo phương pháp của Holmes và cố gắng vận dụng chúng vào việc tìm hiểu tấn thảm kịch này.

Than ôi, nó mới đơn giản làm sao.

Trong lúc chuyện trò chúng tôi vẫn chưa đi đến cuối con đường này và cây gậy leo núi đánh dấu nơi chúng tôi dừng lại.

Lớp đất đen trên đó lúc nào cũng mềm vì được đám bụi nước tưới ẩm liên tục và ngay cả một con chim đậu lên cũng để lại dấu vết.

Hai hàng dấu chân hiện lên rõ nét ở cuối con đường và cả hai đều xuất phát từ nơi tôi đang đứng.

Không thấy có dấu nào quay lại.

Trong khoảng vài yard cuối con đường mặt đất bị giẫm nát thành một đám bùn và cành cây cùng với đám dương xỉ mọc viền quanh miệng vực bị gãy nát lấm đầy bùn.

Tôi nằm sấp xuống và nhìn chăm chăm qua đám bụi nước đang bắn xung quanh mình.

Lúc tôi rời khỏi nơi này trời đã hơi tối và lúc này tôi chỉ có thể nhìn thấy đó đây những vệt ẩm lóng lánh đọng trên vách đá đen sẫm và xa tít dưới đáy vực là ánh sáng mờ nhạt của mặt nước đang cuộn xoáy.

Tôi gào to nhưng chỉ có tiếng thác nước rầm rì như tiếng người vọng lại.

Tuy nhiên số phận đã định rằng tôi sẽ nhận được lời chào cuối cùng từ người bạn và đồng sự của mình.

Tôi đã kể rằng chiếc gậy leo núi của anh được để tựa vào một tảng đá nằm nhô ra trên đường.

Trên tảng đá ấy có một vật gì đó tỏa sáng lấp lánh chiếu vào mắt tôi, và sau khi đưa tay thoáng che mắt, tôi nhận ra vệt sáng ấy phát ra từ cái hộp đựng thuốc lá bằng bạc mà Holmes vẫn hay mang theo người.

Khi tôi cầm nó lên thì một xếp giấy nhỏ hình vuông nằm bên dưới nhẹ rơi xuống đất.

Mở ra thì đó là ba trang giấy được xé ra từ cuốn sổ ghi chép của anh và gửi cho tôi.

Những nét đặc trưng của Holmes thể hiện rõ qua chỉ dẫn chính xác và nét chữ rắn rỏi, rõ ràng như thể được viết trong thư phòng.

Thư viết:

WATSON THÂN MẾN

Nhờ cách cư xử lịch thiệp của ông Moriarty mà tôi viết được mấy dòng này, ông ta chấp nhận đợi đến khi tôi hoàn toàn thoải mái rồi mới cùng giải quyết rốt ráo những vấn đề giữa hai chúng tôi.

Ông ta đã thuật sơ qua cho tôi về cách ông ta tránh cảnh sát Anh và làm sao để nắm được thông tin về chuyến đi của chúng ta.

Điều đó càng khẳng định tôi đã không sai khi đánh giá cao khả năng của ông ta.

Tôi rất vui với ý nghĩ là mình sẽ giúp cho xã hội khỏi chịu thêm hậu quả do con người này gây ra, dù tôi có lo rằng điều đó phải trả bằng cái giá là sự đau buồn cho những người bạn của mình và đặc biệt là anh, Watson thân mến.

Tuy nhiên, như tôi đã giải thích với anh, sự nghiệp của tôi đã lên đến đỉnh và không có kết thúc nào khiến tôi hài lòng hơn thế.

Thật vậy, nếu được phép tôi xin thú nhận với anh là tôi đã biết lá thư từ Meiringen chỉ là giả mạo và khi tôi để anh ra đi là trong lòng đã tin chắc rằng ngay sau đó sự việc sẽ diễn ra.

Xin anh hãy nói với thanh tra Patterson rằng những tài liệu mà ông ta cần để kết án băng tội phạm này được đặt trong ngăn tủ có chữ M, gói trong một phong bì màu xanh dương đề chữ "Moriarty".

Trước khi rời khỏi nước Anh tôi đã lo liệu xong giấy tờ chuyển nhượng tài sản của mình và giao nó cho anh Mycroft.

Nhờ anh chuyển lời chào đến bà Watson và hãy tin rằng tôi vẫn luôn tồn tại, bạn thân mến ạ.

Người bạn chân thành của anh,

SHERLOCK HOLMES

Chỉ vài dòng chữ này cũng đủ nói lên những gì còn chưa rõ.

Sau khi khám xét, các chuyên gia gần như không nghi ngờ gì cuộc đấu giữa hai người đã kết thúc và kết quả là cả hai đã lăn nhào xuống vực, tay khóa chặt vào nhau.

Mọi nỗ lực tìm kiếm thi thể đều vô vọng và tại đó, vùi sâu mãi mãi dưới vực nước xoáy tung bọt khủng khiếp là tên tội phạm nguy hiểm nhất và người chiến sĩ bảo vệ công lí lỗi lạc nhất của thế hệ này.

Người ta chẳng bao giờ tìm ra thằng bé người Thụy Sĩ và có thể chắc chắn rằng nó là một trong số rất nhiều thủ hạ mà Moriarty đã thu dụng.

Còn về băng tội phạm thì công chúng hãy còn nhớ rõ những bằng chứng đầy đủ mà Holmes tích lũy được đã vạch trần tổ chức của chúng ra sao cũng như cho thấy ảnh hưởng của tên giáo sư đã chết đối với chúng quan trọng đến mức nào.

Trong quá trình xét xử vụ án, thông tin về tên đầu đảng đáng sợ này được đưa ra ít ỏi và nếu giờ đây tôi buộc phải nói hết sự thật về những việc làm của hắn thì cũng là vì những kẻ mù quáng đã cố làm trong sạch hình ảnh hắn bằng cách công kích Holmes, người tôi luôn xem là sáng suốt và tốt nhất mà mình từng biết.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
CON CHÓ CỦA DÒNG HỌ BASKERVILLE (THE HOUND OF THE BASKERVILLES, 1902)


1.

Ông Sherlock Holmes

Sherlock Holmes thường ngủ dậy rất muộn trừ những lúc họa hoằn thức trắng đêm, vậy mà sáng hôm ấy anh đã ngồi ở bàn điểm tâm khi tôi bước vào phòng khách.

Tôi đứng lại trên tấm thảm và nhặt lên cây gậy mà vị khách nào đến đêm trước đã bỏ lại.

Đó là một cây gậy đẹp bằng gỗ dày, đầu trên phình tròn ra, kiểu gậy Penang.

Ngay dưới cán gậy là một dải băng rộng gần một inch bằng bạc.

Bên trên có khắc dòng chữ Tặng James Mortimer, MRCS, từ những người bạn ở CCH, cùng với số năm 1884.

Đó đúng là loại gậy mà một bác sĩ gia đình cổ hủ thường dùng - đàng hoàng, chắc chắn và đáng tin cậy.

"Watson đấy à, anh nghĩ sao về cái gậy?"

Holmes đang ngồi quay lưng với tôi, và tôi cũng không để lộ cho anh biết mình vừa làm gì.

"Làm sao anh biết tôi đang xem cái gậy?

Anh có mắt sau gáy hả?"

"Chí ít là ngay trước mặt tôi có một bình cà phê vỏ bạc bóng loáng", anh nói.

"Nhưng này, Watson, anh nghĩ gì về cái gậy của vị khách đã đến nhà ta?

Do chúng ta chẳng may không gặp được vị khách và không biết người đó đến đây vì việc gì, nên cái kỉ vật tình cờ này lại đâm ra quan trọng.

Hãy cho tôi biết sau khi xem xét cây gậy, anh đoán chủ nhân của nó là người thế nào."

Cố gắng làm theo đúng các phương pháp của bạn mình, tôi nói, "Qua mấy chữ tắt MRCS tôi biết ông Mortimer này là bác sĩ.

Một bác sĩ đứng tuổi, thành đạt, được kính trọng vì những người quen biết ông ta đã tặng cái gậy này để tỏ lòng cảm kích."

"Hay!"

Holmes nói.

"Xuất sắc!"

"Tôi cũng nghĩ có nhiều khả năng ông ta là bác sĩ ở vùng quê nên thường xuyên đi bộ đến nhà bệnh nhân."

"Tại sao chứ?"

"Vì cây gậy này, ban đầu vốn rất đẹp, nhưng lại bị va đập nhiều tới mức tôi khó mà cho rằng nó là của một bác sĩ ở thành phố.

Vỏ sắt dày bịt mũi gậy đã mòn nhẵn, nên rõ ràng là người này đã chống gậy đi bộ rất nhiều."

"Hết sức có lí!"

Holmes nói.

"Thêm nữa, còn mấy chữ 'những người bạn ở CCH!' Tôi đoán H là Hunt, chắc là một hội săn bắn địa phương nào đó, có lẽ các hội viên đã được ông bác sĩ chữa trị và vì thế họ tặng ông ta món quà nhỏ này để đền đáp."

"Quả là xuất sắc vượt bậc, Watson ơi", Holmes đẩy lùi ghế ra sau và châm một điếu thuốc.

"Tôi buộc phải nói rằng trong mọi câu chuyện mà anh đã có lòng tốt viết về những thành tích nhỏ bé của tôi, anh có thói quen đánh giá thấp năng lực của chính mình.

Có thể bản thân anh không tỏa sáng nhưng anh chính là chất truyền dẫn ánh sáng.

Có người tuy không được trời phú tài năng nhưng lại có năng lực kích thích tài năng.

Anh bạn thân mến ơi, xin thề là tôi mang nợ anh rất nhiều."

Chưa bao giờ tôi nghe Holmes nói nhiệt tình đến thế và phải thú nhận là những lời ấy khiến tôi hể hả lắm, bởi tôi vẫn hay ấm ức chuyện anh cứ dửng dưng trước sự ngưỡng mộ của tôi và những việc tôi đã dốc sức làm để quảng bá các phương pháp của anh.

Tôi cũng hãnh diện khi thấy mình đã thông thạo các phương pháp này đủ để vận dụng theo một cách nào đó khiến anh hài lòng.

Bấy giờ anh đón cây gậy từ tay tôi và xem xét bằng mắt thường mất vài phút.

Rồi với nét mặt thích thú, anh đặt điếu thuốc xuống, mang cây gậy ra phía cửa sổ và lấy thấu kính ra săm soi lần nữa.

"Đơn giản nhưng thú vị", anh nói khi quay lại chỗ ngồi ưa thích ở góc trường kỉ.

"Trên cây gậy chắc chắn có một vài dấu hiệu.

Đó là cơ sở cho chúng ta suy luận."

"Tôi có bỏ sót gì không?"

Tôi hỏi với vẻ ta đây.

"Chắc tôi không bỏ sót một chi tiết quan trọng nào đấy chứ?"

"Watson ơi, tôi e là phần lớn các kết luận của anh đều sai lầm.

Khi tôi nói anh đã kích thích tôi thì thật tình ý tôi là: Nhờ nhận ra những lập luận sai lầm của anh mà có khi tôi đi đến giả thuyết đúng.

Trong trường hợp này anh không hoàn toàn sai.

Người này chắc chắn là một bác sĩ vùng quê.

Và ông ta đi bộ rất nhiều."

"Thế thì tôi đúng."

"Tới đó thôi."

"Nhưng còn gì nữa đâu."

"Không, không, Watson ơi, đâu chỉ có thế... mà còn nhiều nữa.

Chẳng hạn, tôi có thể đưa giả thuyết rằng món quà dành cho một bác sĩ dễ thường là do người ở bệnh viện tặng chứ không phải hội săn bắn.

Nếu coi chữ H này là Hospital thì hai chữ tất CC đằng trước khiến tôi nghĩ ngay đến tên bệnh viện Charing Cross."

"Có thể là anh đúng."

"Xác suất cao thiên về hướng đó.

Và nếu chấp nhận giả thuyết này thì ta lại có cơ sở mới để bắt đầu hình dung ra vị khách không quen biết này."

"À, thì cứ cho rằng CCH là viết tắt của Charing Cross Hospital đi, ta suy luận được gì thêm nữa nào?"

"Bản thân mấy chữ đó không gợi ra điều gì sao?

Anh biết phương pháp của tôi rồi.

Thử áp dụng đi!"

"Tôi chỉ có thể nghĩ đến một kết luận hiển nhiên là người này đã hành nghề ở thành phố trước khi về vùng quê."

"Tôi nghĩ chúng ta có thể đánh bạo mà suy luận xa hơn thế một chút.

Hãy xem xét theo hướng này.

Một món quà như thế nhiều khả năng sẽ được tặng vào dịp nào?

Khi nào các bằng hữu chung tay tặng ông ta một kỉ vật chứng tỏ thiện cảm như thế?

Rõ ràng là dịp bác sĩ Mortimer dừng công tác ở bệnh viện để bắt đâu hành nghề tư.

Chúng ta biết đã có một món quà.

Chúng ta tin rằng người này đã chuyển từ một bệnh viện thành phố về vùng quê hành nghề.

Vậy nếu ta cho rằng món quà này đã được tặng nhân dịp đó thì cũng đâu phải là suy luận quá xa?"

"Đúng là rất có khả năng đó."

"Đấy, anh sẽ nhận ra ông ta không thể nào ở trong đội ngũ cốt cán của bệnh viện được, vì chỉ có ai đã đứng vững trong nghề ở London mới có thể giữ một vị trí như thế, và một người như thế thì ai lại muốn về vùng quê.

Vậy người này có vai trò gì?

Nếu đã làm việc trong bệnh viện mà không phải bác sĩ cốt cán thì chỉ có thể là bác sĩ nội trú - tức là chỉ hơn sinh viên y khoa năm cuối một chút.

Và ông ta đã rời khỏi đó cách đây năm năm, theo số khắc trên cây gậy.

Như vậy ông bác sĩ gia đình tuổi trung niên của anh biến mất tiêu, anh Watson thân mến, và hiện ra một anh chàng tuổi dưới ba mươi, dễ mến, không tham vọng, đãng trí, và có một con chó cưng mà tôi có thể mô tả đại khái là lớn hơn giống terrier và nhỏ hơn giống mastiff."

Tôi bật cười tỏ vẻ hoài nghi trong khi Sherlock Holmes ngả người ra trường kỉ và phả mấy vòng khói chập chờn lên trần nhà.

"Về phần sau thì tôi không có cách nào để kiểm chứng những gì anh bảo", tôi nói, "nhưng muốn tìm hiểu đôi điều về sự nghiệp và tuổi tác của người này thì không đến nỗi khó."

Tôi lấy cuốn Danh bạ Y khoa trên kệ sách nhỏ chứa sách chuyên môn của mình xuống và tra tìm cái tên đó.

Có vài người họ Mortimer nhưng chỉ có một người có thể là vị khách của chúng tôi.

Tôi đọc to lí lịch của anh ta:

Mortimer, James, MRCS, 1882, Grimpen, Dartmoor, Devon.

Bác sĩ ngoại khoa nội trú, từ 1882 đến 1884, ở Charing Cross Hospital.

Đạt giải thường Jackson về Bệnh lí học so sánh, với luận văn có nhan đề 'Bệnh tật có di truyền không?' Hội viên danh dự Hội Bệnh lí học Thụy Điển.

Tác giả các bài viết 'Một số biến dị có tính di truyền' (Tạp chí Lancet, 1882), 'Chúng ta có tiến bộ không?' (Chuyên san Psychology, tháng 3/1883).

Nhân viên y tế phụ trách các giáo phận Grimpen, Thorsley, và High Barrow.

"Không hề có hội săn bắn địa phương nào cả, Watson à", Holmes nói, kèm một nụ cười láu lỉnh, "nhưng có một bác sĩ vùng quê, đúng như nhận xét rất chính xác của anh.

Tôi nghĩ là những suy luận của tôi đã được chứng minh rồi đó.

Còn về các tính từ, nếu tôi nhớ không lầm thì tôi đã nói là dễ mến, không tham vọng, và đãng trí.

Theo kinh nghiệm của tôi, chỉ những người dễ mến trên đời này mới được nhận những quà tặng như thế, chỉ có người không tham vọng mới từ bỏ sự nghiệp ở London để về vùng quê, và chỉ có người đãng trí mới bỏ quên cây gậy mà không lưu lại danh thiếp của mình sau khi đã chờ đợi trong phòng người ta cả tiếng đồng hồ."

"Còn con chó?"

"Nó có thói quen mang cây gậy theo sau ông chủ.

Cây gậy này nặng nên nó phải cắn chặt ngay chính giữa, và các dấu răng của nó rất rõ.

Theo khoảng cách giữa các vết răng, tôi cho rằng nếu là giống chó săn nhỏ terrier thì hàm con chó này quá lớn, còn nếu là giống chó mastiff giữ nhà thì lại quá nhỏ.

Đây có thể là...

A, đúng rồi, đích thị là một con chó spaniel lông xoăn."

Anh đã đứng dậy và đi qua đi lại trong khi nói.

Đúng lúc ấy thì anh dừng bước bên ô cửa sổ.

Giọng anh có vẻ ăn chắc tới mức tôi phải ngạc nhiên ngước nhìn.

"Anh bạn ơi, sao anh có thể đoán chắc như vậy được?"

"Vì một lí do hết sức đơn giản là tôi nhìn thấy chính con chó đó ngay ngưỡng cửa nhà mình, và đây là tiếng nhấn chuông của người chủ.

Cứ ở đó, xin anh, Watson.

Người này là đồng nghiệp với anh, nên sự có mặt của anh biết đâu lại có ích cho tôi.

Bây giờ là khoảnh khắc kịch tính của định mệnh đó, Watson, khi anh nghe trên cầu thang có tiếng bước chân đang đi thẳng vào cuộc đời anh mà không hề biết là lành hay dữ.

Ông bác sĩ James Mortimer, con người của khoa học kia, cần gì ở chuyên gia tội phạm Sherlock Holmes này?

Xin mời vào!"

Bề ngoài của vị khách khiến tôi ngạc nhiên bởi tôi đã dự kiến sẽ gặp một bác sĩ vùng quê điển hình.

Người này gầy ốm, rất cao, mũi dài và khoằm nhô ra giữa hai con mắt xám sắc sảo, nằm sát nhau và ánh ngời lên đằng sau cặp mắt kính gọng vàng.

Anh ta ăn mặc đúng kiểu bác sĩ nhưng khá luộm thuộm vì áo măng tô trông bẩn thỉu còn quần đã sờn cũ.

Dù còn trẻ, cái lưng dài của anh ta đã khòm, khi đi anh ta chúi đầu ra phía trước và dáng điệu toát lên vẻ chăm chú hiền lành.

Vừa bước vào anh ta đã đưa mắt nhìn cây gậy trên tay Holmes và chạy ào tới, đồng thời reo lên mừng rỡ.

"May quá", anh ta nói.

"Tôi không chắc là mình đã bỏ quên nó ở đây hay ở Văn phòng Vận tải.

Không đời nào tôi chịu mất cây gậy này."

"Một tặng vật, phải không?"

Holmes nói.

"Vâng, thưa ông."

"Của bệnh viện Charing Cross?"

"Của mấy người bạn ở đó tặng nhân dịp đám cưới tôi."

"Chà, chà, thật tệ!"

Holmes vừa nói vừa lắc đầu.

"Sao lại tệ chứ?"

Bác sĩ Mortimer chớp mắt nhìn qua cặp kính, có phần sửng sốt.

"Chẳng là ông vừa đảo lộn những suy luận lặt vặt của chúng tôi ấy mà.

Ông vừa nói đám cưới, phải vậy không?"

"Vâng, thưa ông.

Tôi đã lập gia đình nên rời bệnh viện, và từ bỏ luôn mọi hi vọng hành nghề tham vấn.

Tôi cũng cần xây dựng gia đình riêng chứ."

"Không sao, không sao, chúng tôi suy luận cũng không sai gì mấy đâu", Holmes nói.

"Thế thì bác sĩ Mortimer..."

"Ồ, đừng gọi là bác sĩ, thưa ông... chỉ là MRCS thôi."

"Và là một người có tư duy chính xác, hiển nhiên rồi."

"Một kẻ học đòi khoa học, thưa ông Holmes, kẻ nhặt nhạnh những vỏ sò bên bờ đại dương bao la của những điều chưa biết tới.

Chắc là tôi đang thưa chuyện với ông Sherlock Holmes chứ không phải với..."

"Đúng rồi, còn anh bạn tôi đây là bác sĩ Watson."

"Hân hạnh được gặp ông, thưa ông.

Tôi đã nghe tên ông đi kèm với danh tiếng của bạn ông.

Thưa ông Holmes, ông quả thật đã khiến tôi hết sức chú ý.

Tôi thật không ngờ lại được thấy một cái sọ dài hay vùng trên ổ mắt nổi rõ như thế.

Ông có phản đối không nếu tôi dùng ngón tay lần theo đường khớp dọc xương đỉnh của ông?

Thưa ông, chừng nào chưa có được vật nguyên mẫu thì một mô hình đúc khuôn theo sọ của ông sẽ là niềm vinh dự cho bất kì bảo tàng nhân chủng học nào.

Tôi không có ý tỏ ra thất thố, nhưng thú thật là tôi thèm muốn cái sọ của ông."

Sherlock Holmes khoát tay về phía chiếc ghế, mời người khách lạ ngồi, "tôi thấy ông quả là người say sưa với mạch tư tưởng của mình, thưa ông, cũng giống như tôi vậy", anh nói.

"Nhìn ngón trỏ của ông là tôi biết ông thích hút thuốc vấn.

Xin cứ hút, đừng có ngại."

Người khách rút ra một mẩu giấy, ít thuốc lá sợi và cuộn thành một điếu với thao tác thuần thục đáng ngạc nhiên.

Những ngón tay dài, run run của anh ta vừa lẹ làng vừa máy động không ngừng như những sợi râu của một con côn trùng.

Holmes im lặng nhưng những cái liếc mắt rất nhanh của anh cho tôi thấy sự quan tâm dành cho vị khách hiếu kì này.

Cuối cùng anh lên tiếng, "Thưa ông, chắc ông đã quá bộ đến đây tối qua và bây giờ không chỉ vì mục đích xem xét hộp sọ của tôi đấy chứ?"

"Không đâu, thưa ông, mặc dù tôi rất vui vì đã có cơ hội làm việc đó.

Tôi đến gặp ông, ông Holmes, vì tôi tự biết mình là người thiếu thực tiễn và vì tôi bất ngờ phải đương đầu với một vấn đề hết sức dị thường và nghiêm trọng.

Khi tôi nhận ra ông là chuyên gia giỏi thứ nhì Âu châu này..."

"Không sai, thưa ông!

Cho phép tôi được biết ai hân hạnh là người giỏi nhất ạ?"

Holmes hỏi có phần khó chịu.

"Với một người có đầu óc khoa học chính xác thì công trình của Monsieur Bertillon hẳn là phải gây chú ý mạnh mẽ."

"Vậy thì nhờ ông ta tư vấn có phải tốt hơn không?"

"Thưa ông, tôi đã nói là với một người có đầu óc khoa học chính xác mà.

Nhưng về thực tiễn thì phải thừa nhận là không ai bằng ông.

Thưa ông, không lẽ tôi vừa vô ý..."

"Có chút xíu thôi", Holmes nói.

"Bác sĩ Mortimer này, tôi nghĩ tốt nhất là ông không nên rườm rà nữa mà hãy vui lòng nói thẳng vào bản chất đích xác của vấn đề mà ông cần tôi giúp đỡ."

2.

Lời nguyền dòng họ Baskerville

"Trong túi tôi đây có một văn bản", bác sĩ James Mortimer nói.

"Tôi đã để ý thấy khi ông bước vào phòng", Holmes nói.

"Đó là một bản viết tay lâu đời.

Từ đầu thế kỉ mười tám, trừ phi đó là giả mạo."

"Làm sao ông biết được, thưa ông?"

"Suốt thời gian ông nói chuyện nãy giờ, ông đã để nó thòi ra chừng một, hai inch nên tôi đã kịp xem xét.

Xem một văn bản mà không xác định được niên đại với sai số xấp xỉ mười năm thì hẳn là một chuyên gia kém cỏi.

Có thể ông đã đọc chuyên khảo của tôi về đề tài này.

Tôi ước chừng tài liệu đó có từ năm 1730."

"Năm chính xác là 1742", bác sĩ James Mortimer rút tờ giấy trong túi áo trước ngực ra.

"Ngài Charles Baskerville đã trao cho tôi giữ gìn văn bản của dòng họ này; cái chết bi thảm đột ngột của ngài cách đây chừng ba tháng đã làm xôn xao cả vùng Devonshire.

Có thể nói tôi vừa là bạn thân vừa là người chăm sóc sức khỏe của ngài.

Thưa ông, ngài Charles là người kiên quyết, khôn ngoan, thực tế, và không giàu óc tưởng tượng như tôi đây.

Thế mà ngài lại coi trọng văn bản này hết sức, và trong thâm tâm đã chuẩn bị đón nhận một kết cục đúng như những gì đã xảy đến trong thực tế."

Holmes đón lấy tờ giấy viết tay và đặt trên đầu gối, vuốt cho phẳng.

"Này Watson, anh nhìn xem cách viết chữ s dài xen kẽ với chữ s ngắn này.

Đó là một trong nhiều dấu hiệu đã giúp tôi xác định niên đại."

Qua vai anh, tôi nhìn vào tờ giấy cũ vàng và những chữ viết đã phai mờ.

Đầu trang giấy ghi: Lâu đài Baskervill, và bên dưới là mấy chữ số lớn, nguệch ngoạc: 1742.

"Trông như một văn bản xác nhận."

"Đúng, đó là văn bản xác nhận một truyền thuyết lưu truyền trong dòng họ Baskerville."

"Nhưng tôi cứ tưởng là ông cần tôi tư vấn về chuyện gì mới mẻ và thực tế hơn chứ?"

"Hết sức mới mẻ.

Một vấn đề hết sức cấp bách, thực tế, cần phải quyết định trong vòng hai mươi bốn giờ.

Nhưng văn bản này ngắn và có liên quan mật thiết với sự việc đó.

Tôi xin phép đọc cho quý vị nghe."

Holmes ngả lưng ra ghế, chụm các đầu ngón tay vào nhau, và nhắm mắt lại với vẻ nhẫn nại.

Bác sĩ Mortimer xoay tờ giấy về phía ánh sáng rồi bằng giọng sang sảng, rành mạch, anh ta đọc câu chuyện lạ lùng, xa xưa sau đây:

Chuyện về nguồn gốc con chó của dòng họ Baskerville đến nay đã có nhiều dị bản, nhưng vì ta là hậu duệ trực hệ từ đời Hugo Baskerville, và vì ta đã nghe chuyện này từ thân phụ, người lại được nghe từ đấng nghiêm đường, ta ghi thành di văn này với lòng tin hoàn toàn rằng chuyện đã xảy ra đúng như ta chấp bút ở đây.

Này các con trai, ta mong các con tin rằng Công Lí trừng phạt tội lỗi nhưng cũng có thể độ lượng khoan hồng cho tội lỗi, rằng không có lời nguyền nào nặng nề đến độ không rửa sạch được bằng nguyện cầu và ăn năn.

Hãy ghi nhớ chuyện này không phải để sợ hãi những hậu quả của quá khứ, mà là để cẩn trọng trong tương lai, để những mê cuồng tai ác đã khiến dòng họ này khổ đau khôn xiết sẽ không còn được buông thả mà hủy hoại chúng ta nữa.

Chuyện kể rằng vào thời Đại Phiến Loạn (thời này đã được Chúa công Clarendon thông thái viết thành pho sử kí mà ta mong mỏi các con sẽ quan tâm), thái ấp Baskerville này thuộc về một người cũng mang tên Hugo trong dòng họ, và đó rành rành là một kẻ ngông cuồng, vô đạo, báng bổ thần thánh.

Láng giềng của hắn có lẽ đã miễn thứ điều này vì vùng đất này chưa hề sinh ra vị thánh nào, nhưng tính khí độc ác và phóng đãng đã khiến hắn khét tiếng khắp miền Tây.

Run rủi sao tên Hugo này lại đem lòng yêu (nếu quả thực có thể gọi sự si mê đen tối dường ấy bằng một cái tên tươi sáng dường ấy) con gái một điền chủ có ruộng đất gần kề địa phận Baskerville.

Song thiếu nữ kia, vốn ý tứ và tiết hạnh, luôn né tránh vì nàng sợ hãi tai tiếng của hắn.

Thế rồi vào một ngày lễ Michaelmas, biết rõ cha và các anh của cô gái vắng nhà, gã Hugo này cùng năm, sáu bằng hữu ác ôn và lêu lổng lẻn xuống điền trang kia bắt cóc nàng đi.

Chúng đưa nàng về lâu đài và khóa chặt trong một phòng trên lầu, trong lúc Hugo và bè bạn ngồi vào bàn chè chén như thường lệ.

Lúc ấy, người thiếu nữ đáng thương trên lầu hẳn phải hãi hùng vì tiếng ca hát, hò hét và những tràng chửi thề kinh khiếp từ dưới nhà vọng lên, bởi thiên hạ bảo rằng khi rượu vào thì Hugo Baskerville buông ra toàn những lời tội vạ.

Cuối cùng trong cơn khiếp đảm, nàng đã làm điều mà ngay cả một nam tử can trường hay khỏe mạnh nhất cũng phải e dè.

Nhờ bám víu vào đám dây leo thường xuân phủ trên bức tường phía nam (mà nay vẫn còn đó), nàng leo từ mái nhà xuống đất và băng qua truông theo hướng về nhà, tức điền trang của cha nàng cách lâu đài ba dặm lí.

Một lúc sau, Hugo bỗng dưng rời bỏ khách khứa đem thức uống - có lẽ cả những điều tồi tệ hơn - lên cho tù nhân của hắn thì thấy chiếc lồng trống không, còn con chim đã bay thoát.

Thấy vậy hắn như phát cuồng liền nhào xuống cầu thang lao vào phòng, nhảy phắt lên chiếc bàn lớn, đá văng hết chai lọ, chén bát, và gào thét trước đám bạn bè rằng đêm nay nếu không đuổi bắt được cô thôn nữ này thì hắn sẽ dâng cả hồn lẫn xác cho quỷ dữ.

Và trong khi đám trác táng kia còn đang sửng sốt trước cơn thịnh nộ của hắn, một tên độc ác hơn cả, hoặc say hơn cả, bèn thét bảo mọi người nên thả đàn chó săn ra truy đuổi cô gái.

Nghe thế Hugo chạy ra khỏi nhà, quát tháo đám mã phu thắng yên cương cho ngựa của hắn và mở chuồng thả đàn chó ra.

Cho bầy chó săn đánh hơi chiếc khăn tay của cô gái xong hắn xua chúng đi, thế là cả đàn sủa vang phóng qua truông dưới ánh trăng.

Bấy giờ, đám trác táng kia đứng há hốc mồm ra một lúc, khó hiểu chuyện gì đã diễn ra gấp gáp đến vậy.

Nhưng rồi đầu óc mê muội của chúng cũng nhận ra bản chất của hành động sắp diễn ra trên truông.

Mọi thứ liền náo loạn cả lên, người đòi súng, kẻ cần ngựa, đứa khác lại muốn thêm ve rượu.

Nhưng cuối cùng khi tâm thần bấn loạn đã phần nào trấn tỉnh lại, cả bọn mười ba tên bắt đầu lên ngựa đuổi theo.

Dưới ánh trăng sáng vằng vặc, bọn chúng dàn hàng ngang quất ngựa phi nhanh, truy theo con đường người thiếu nữ ấy phải đi nếu muốn về nhà.

Chúng đi được chừng một, hai dặm thì gặp một người chăn cừu ban đêm trên truông và quát tháo hỏi xem người này có nhìn thấy đoàn săn đi trước không.

Chuyện kể lại rằng người chăn cừu sợ khiếp vía đến độ nói chẳng nên lời, nhưng rốt cuộc cũng cho biết ông ta đã thấy người thiếu nữ bất hạnh bị đàn chó săn theo dấu.

Ông ta nói: "Nhưng chưa hết, tôi còn thấy Hugo Baskerville cưỡi con hắc mã băng qua, đằng sau là một con quỷ chó của địa ngục âm thầm chạy theo, lạy Chúa phù hộ cho con dừng bao giờ bị nó bám gót."

Nghe thế đám điền chủ bét nhè kia chửi rủa người chăn cừu rồi phóng ngựa đi tiếp.

Nhưng ngay sau đó, bọn chúng cũng sởn gai ốc khi nghe tiếng vó câu phi nước đại trên truông rồi thấy một con ngựa đen, mõm sùi bọt trắng phóng qua, dây cương kéo lê còn yên ngựa thì trống.

Sau đó đám trác táng kia cưỡi ngựa nép sát vào nhau vì cả bọn đều khiếp đảm, nhưng chúng vẫn đi tiếp qua truông, giá thử chỉ có một mình thì chắc đứa nào cũng chỉ chực quay đầu ngựa trở lui.

Cứ cưỡi ngựa chầm chậm như thế, cuối cùng chúng cũng gặp bầy chó săn.

Bầy chó toàn những con thuần chủng nổi tiếng dũng mãnh, thế mà lúc này lại xúm xít rên rỉ bên một bờ dốc trũng trên truông, con thì muốn lỉnh đi, con thì xù lông căng mắt nhìn xuống đáy trũng trước mặt.

Đám người kia dừng ngựa, như các con có thể đoán biết, cả lũ đã tỉnh táo hơn lúc xuất phát.

Chẳng đứa nào chịu tiến xa thêm, ngoại trừ ba tên bạo gan nhất, hoặc có lẽ là say rượu nhất trong đám, tiếp tục cưỡi ngựa lần xuống triền đất trũng.

Nơi triền dốc mở ra thành một vạt rộng có hai tảng đá lớn, nay vẫn còn sừng sững mà cổ nhân đã dựng ở đó từ thuở nào.

Trăng soi vằng vặc trên trảng đất trống và ngay chính giữa là người thiếu nữ bất hạnh nằm im lìm nơi đã sa chân, nàng đã chết vì hãi hùng và kiệt quệ.

Song không phải xác nàng cũng không phải xác Hugo Baskerville nằm kế bên, khiến ba kẻ chè chén bạt mạng kia dựng tóc gáy, mà chính là cảnh tượng một con thú đen sì, to lớn, hình thù như con chó săn nhưng lớn hơn bất cứ con chó săn nào mà mắt phàm từng thấy, đang chỗm lên xác Hugo, mà cắn xé cuống họng hắn ta.

Bọn kia đứng nhìn con quái vật cắn đứt lìa cổ Hugo Baskerville, rồi khi thấy nó ngoảnh lại, mắt đỏ rực, hàm răng nhễu máu thì cả ba thét lên kinh hoàng phi ngựa trối chết, vừa chạy vừa gào rú vượt qua truông.

Nghe nói một tên đã chết ngay trong đêm đó vì quá kinh hãi những gì đã chứng kiến, hai tên kia suy sụp tinh thần đến hết đời.

Hỡi các con trai của ta, đó là sự tích con quỷ chó hiện hình, tương truyền đã gieo tai họa vô cùng ác nghiệt cho dòng họ này kể từ đấy.

Ta ghi lại thành di văn này bởi vì điều gì được biết rõ thì đỡ gây khiếp sợ hơn là chỉ nghe lời bóng gió hay phỏng đoán.

Không thể phủ nhận rằng nhiều người trong dòng họ này đã chết bất hạnh - cái chết đột ngột, đẫm máu và bí ẩn.

Thế nhưng chúng ta hãy trông cậy rằng ân đức vô bờ của Thượng Đế sẽ không trừng phạt mãi mãi những kẻ vô tội sau ba hay bốn thế hệ như Thánh Kinh đã răn đe.

Hỡi các con trai, bằng di văn này ta phó thác các con cho đấng Thượng Đế ấy, và ta khuyên các con hãy cẩn trọng mà đừng băng qua truông vào những giờ tăm tối khi quyền lực của quỷ dữ dâng cao.

{Hugo Baskerville chấp bút gửi các con trai Rodger và John, với huấn thị không được nói gì với em gái Elizabeth.}

Khi bác sĩ Mortimer đọc xong câu chuyện dị thường này, anh ta đẩy kính lên trán rồi chăm chú nhìn Sherlock Holmes.

Nhà thám tử ngáp dài và thảy mẩu thuốc lá còn lại vào lò sưởi.

"Rồi sao?"

Anh hỏi.

"Ông không thấy chuyện này đáng quan tâm ư?"

"Đối với người sưu tầm truyện cổ tích thì đáng đấy."

Bác sĩ Mortimer rút trong túi ra một tờ nhật báo đã gập lại.

"Vậy thì thưa ông Holmes, xin trình bày với ông một chuyện xảy ra gần đây hơn.

Đây là nhật báo Devon County Chronicle số ra ngày 14 tháng 5 năm nay.

Trong này có thuật vắn tắt những dữ kiện được suy luận từ cái chết của ngài Charles Baskerville xảy ra trước đó vài ngày."

Anh bạn tôi hơi nhỏm ra trước và nét mặt trở nên chăm chú.

Vị khách của chúng tôi chỉnh lại kính rồi bắt đầu đọc:

Sự ra đi đột ngột của ngài Charles Baskerville, thường được nhắc đến với tư cách ứng viên đảng Tự Do có nhiều khả năng đắc cử ở vùng Trung Devon trong cuộc tuyển cử tới, đã gây ra không khí đau buồn bao trùm toàn địa hạt.

Tuy ngài Charles cư ngụ ở lâu đài Baskerville chưa lâu, song tính cách hòa nhã và rộng lượng hết mực của ngài đã chiếm được cảm tình và sự kính trọng của bất cứ ai có dịp tiếp xúc.

Trong thời buổi tầng lớp giàu xổi đang lên, quả là đáng mừng khi biết một dòng họ lâu đời trong hạt đã có thời suy vi do tai ương bây giờ lại có con cháu gây dựng được sản nghiệp và quay về khôi phục lại vinh quang gia tộc.

Như mọi người đều biết, ngài Charles đã kiếm được những khoản tiền lớn nhờ đầu tư ở Nam Phi.

Không lao theo thời cơ cho đến khi vận may đảo chiều, ngài đã sáng suốt chuyển hết những khoản thu được thành hiện kim và mang về Anh quốc.

Ngài Charles mới về cư ngụ ở lâu đài Baskerville từ hai năm trước, vậy mà dư luận đã bàn tán về những kế hoạch tái thiết và cải tổ lớn lao của ngài, tuy giờ đây tất cả đã phải tạm ngưng sau khi ngài qua đời.

Vì không có con cái, sinh thời ngài Charles từng công khai ý nguyện chừng nào còn sống ngài sẽ làm cho cả vùng nông thôn này được hưởng lợi từ sản nghiệp của mình, do đó mà nhiều người còn có lí do riêng để thương tiếc nhà quý tộc đã sớm ra đi.

Những khoản quyên góp hào phóng của ngài cho các hội từ thiện trong vùng đã thường xuyên được đưa tin trên bổn báo.

Cuộc điều tra về cái chết của ngài Charles tuy chưa làm sáng tỏ hoàn toàn các sự việc có liên quan, nhưng ít nhất cũng đã xua tan những tin đồn có nguồn gốc mê tín dị đoan.

Không có lí do gì để hồ nghi trong vụ này có âm mưu tội ác, hoặc cho rằng cái chết có nguyên nhân phi tự nhiên.

Ngài Charles góa vợ, và có thể nói rằng lối suy nghĩ của ngài hơi lập dị.

Tuy giàu có, ngài vẫn sống theo sở thích riêng và gia nhân của ngài ở lâu đài Baskerville chỉ có hai vợ chồng Barrymore, người chồng làm quản gia, còn người vợ lo việc nội trợ.

Theo lời khai của họ, mà nhiều bằng hữu đã chứng thực, sức khỏe của ngài Charles gần đây đã suy yếu, và nhất là có liên quan đến bệnh tim, với những biểu hiện như sắc da thay đổi, khó thở và những đợt suy nhược thần kinh trầm trọng.

Bác sĩ James Mortimer, bạn kiêm bác sĩ của người quá cố, cũng có lời khai tương tự.

Các tình tiết trong vụ này rất đơn giản.

Hằng đêm trước khi đi ngủ, ngài Charles có lệ đi bách bộ trên con đường trồng cây thủy tùng nổi tiếng của lâu đài Baskerville.

Vợ chồng Barrymore đã làm chứng rằng đó là thói quen của ngài.

Hôm mùng 4 tháng 5, ngài Charles tuyên bố sẽ lên đường đi London vào ngày hôm sau và đã lệnh cho Barrymore chuẩn bị hành trang.

Hôm ấy ngài ra ngoài bách bộ ban đêm như thường lệ, và trong khi đi dạo ngài có thói quen hút thuốc.

Ngài không trở về.

Lúc 12 giờ, Barrymore thấy cửa vẫn còn mở nên báo động và thắp đèn đi tìm chủ.

Hôm ấy trời ẩm và dấu chân của ngài Charles hằn rõ trên lối đi.

Ở quãng giữa con đường đi dạo có một cánh cổng mở ra truông.

Có dấu hiệu cho thấy ngài Charles đã đứng đây một lúc.

Sau đó ngài đi tiếp theo con đường này, và người ta đã phát hiện thi thể ngài ở cuối đường.

Có một tình tiết đến nay vẫn chưa có lời giải thích, đó là Barrymore khai rằng các dấu chân của ông chủ đã biến đổi từ lúc đi qua cánh cổng thông với truông và từ đó trở đi hình như ngài đã nhón gót đi bằng mũi chân.

Một lái buôn ngựa người digan tên là Murphy vào lúc đó đang ở trên truông cách đó không xa, nhưng người này thú nhận là lúc đó đang say nên không đáng tin lắm.

Người này khai có nghe tiếng la hét nhưng không biết ở hướng nào.

Trên thi thể ngài Charles không có dấu hiệu bị tấn công và mặc dù theo lời khai của vị bác sĩ riêng, diện mạo của người quá cố đã biến dạng tới mức không thể tin nổi - đến nỗi lúc đầu bác sĩ Mortimer đã không tin xác chết trước mặt chính là người bạn và bệnh nhân của mình - song hiện tượng biến dạng này được giải thích là một triệu chứng không hiếm gặp trong những trường hợp nghẹt thở và chết vì trụy tim.

Cách lí giải này phù hợp với kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy người chết mắc bệnh tim mãn tính, và ban bồi thẩm pháp y đã cung cấp bản giám định theo các chứng cứ y khoa.

Kết luận này là có lợi bởi rõ ràng điều tối quan trọng là người thừa kế của ngài Charles có thể an cư tại lâu đài và tiếp tục những công việc tốt đẹp đã bị gián đoạn do hoàn cảnh bi đát này.

Giả sử kết quả giám định pháp y không dập tắt được những chuyện hoang đường mà người ta rỉ tai nhau thì e khó có ai chịu sống tại lâu đài Baskerville.

Được biết người có huyết thống gần nhất với ngài Charles Baskerville là con của em trai ngài, ông Henry Baskerville, nếu ông này còn sống.

Theo tin mới nhất, quý ông trẻ tuổi này đã sang Mỹ châu sinh sống, và người ta đang xúc tiến nhiều cuộc tìm kiếm để thông báo cho người thừa kế biết vận may của mình.

Bác sĩ Mortimer gấp tờ báo và cho vào túi.

"Đó là những tin tức đã được công bố về cái chết của ngài Charles Baskerville, thưa ông Holmes."

"Tôi phải cảm ơn ông", Sherlock Holmes nói, "vì đã khiến tôi lưu tâm đến một vụ chắc chắn có nhiều điểm đáng chú ý.

Vào lúc đó, tôi có xem một số bình luận trên nhật báo nhưng lại quá bận rộn với vụ mất bảo ngọc Vatican, và vì nóng lòng phụng mệnh Đức giáo hoàng nên tôi đành bỏ qua vài vụ đáng quan tâm ở Anh quốc.

Ông nói bài báo này gồm tất cả những chi tiết được công bố?"

"Đúng thế."

"Vậy thì hãy cho tôi biết những chi tiết chưa công bố."

Holmes lại ngả lưng ra ghế, chụm các đầu ngón tay vào nhau, và khoác lên vẻ mặt vô cảm như một quan tòa.

Bác sĩ Mortimer có vẻ vô cùng xúc động.

Anh ta nói, "Làm thế nghĩa là tôi phải nói những điều chưa giãi bày với bất kì ai.

Động cơ của tôi khi không khai báo với ban bồi thẩm pháp y là thế này: Đã là con người của khoa học thì nên tránh đặt mình vào một vị trí có vẻ như công khai bảo chứng cho một chuyện mê tín trong dân gian.

Tôi còn một động cơ nữa như tờ báo đã viết, chắc chắn sẽ không ai đến ở lâu đài Baskerville nếu có bất cứ chuyện gì làm tăng thêm tiếng tăm vốn đã kinh hoàng của nó.

Vì cả hai lí do đó, tôi thấy mình đã suy xét đúng khi không nói hết những gì mình biết, vì có nói cũng chẳng đem lại lợi ích thiết thực gì.

Nhưng với ông thì không có lí do gì mà tôi lại không hoàn toàn thành thật.

Trên truông có rất ít người cư trú, và những ai sống gần nhau thường tự họp với nhau.

Vì lí do đó tôi rất hay gặp ngài Charles Baskerville.

Không kể ông Frankland ở lâu đài Lafter, và nhà tự nhiên học Stapleton, thì trong vòng mấy dặm chẳng ai có học thức.

Ngài Charles đã về hưu nhưng tình cờ chứng bệnh của ngài là duyên cớ kéo chúng tôi lại gần nhau, và mối quan tâm chung về khoa học đã khiến chúng tôi thành bạn.

Ngài đã mang từ Nam Phi về nhiều thông tin khoa học, và rất nhiều buổi chiều lí thú chúng tôi đã cùng nhau đàm đạo về cơ thể học so sánh giữa giống người Bushman và người Hottentot.

Trong mấy tháng vừa qua, càng ngày tôi càng thấy rõ là hệ thần kinh của ngài Charles đã căng thẳng tới tột độ.

Ngài quá tin vào cái truyền thuyết mà tôi vừa đọc cho quý vị nghe; tin tới mức không gì có thể xui khiến ngài bước ra truông vào ban đêm, ngay cả trên đất đai thuộc sở hữu của mình.

Ông Holmes à, có thể ông không tin được đâu nhưng chính ngài Charles đã thực lòng tin chắc rằng có một định mệnh khủng khiếp bao trùm dòng họ của ngài, và rõ ràng là những câu chuyện lưu truyền từ các bậc tổ phụ mà ngài tìm được không đem lại chút gì tươi sáng.

Ngài cứ luôn bị ám ảnh rằng có một thế lực ma quái nào đó hiện diện quanh đây, và hơn một lần ngài đã hỏi tôi là trong những chuyến thăm bệnh đêm hôm có bao giờ tôi bắt gặp một sinh vật kì lạ hoặc nghe thấy tiếng tru của một con chó săn nào không.

Nhiều lần ngài hỏi tôi về tiếng chó tru và lúc nào, nghe giọng ngài cũng run rẩy vì kích động.

Tôi còn nhớ rõ lần đánh xe lên nhà ngài vào buổi chiều khoảng ba tuần trước sự cố định mệnh đó.

Tình cờ ngài đang đứng ngay cửa tiền sảnh.

Tôi vừa từ xe ngựa bước xuống và đứng trước mặt ngài thì thấy ngài trân trân nhìn sững qua vai tôi, vẻ mặt kinh hoàng tột độ.

Tôi quay ngoắt lại và chỉ kịp thoáng thấy một vật gì đó mà tôi cho là một con bê lớn màu đen đang chạy băng qua đầu con đường vào nhà.

Ngài hốt hoảng và kích động tới mức tôi buộc phải đi tới tận chỗ con thú xuất hiện lúc nãy và nhìn quanh tìm kiếm.

Nhưng nó đã đi mất và biến cố ấy đã gây ấn tượng hết sức tồi tệ cho tinh thần ngài Charles.

Tôi ở lại với ngài suốt buổi tối và chính vào dịp đó ngài đã giao cho tôi cất giữ bản di văn mà tôi đã đọc lúc đầu, cũng là để giải thích cho cảm xúc ngài đã bộc lộ.

Tôi kể lại câu chuyện nhỏ này vì khi xét đến cái bi kịch diễn ra về sau thì nó đâm ra quan trọng, nhưng ngay lúc ấy tôi lại cho đó chỉ là chuyện hoàn toàn vặt vãnh và sự kích động của ngài Charles là vô căn cứ.

Chính vì nghe lời khuyên của tôi mà ngài Charles định đi London.

Tôi biết ngài đã mắc bệnh tim, và nỗi lo lắng thường trực ở nơi đang sống rõ ràng có tác động nghiêm trọng đến sức khỏe của ngài, cho dù nguyên nhân có hoang đường đến đâu.

Tôi nghĩ chỉ cần về thành phố sống vài tháng với nhiều trò tiêu khiển, khi trở lại ngài sẽ biến thành con người mới.

Ông Stapleton, một người bạn chung của chúng tôi, cũng rất lo ngại cho tình trạng sức khỏe của ngài Charles và cũng có quan điểm như tôi.

Thế mà ngay phút chót thì xảy ra tai họa khủng khiếp này.

Vào cái đêm ngài Charles chết, ông quản gia Barrymore, người phát hiện ra sự việc, cho anh mã phu Perkins phi ngựa tới báo tin cho tôi, và vì tôi vốn thức khuya nên chỉ trong vòng một giờ sau khi xảy ra chuyện là tôi đã tới lâu đài Baskerville.

Tôi đã kiểm tra và làm chứng mọi chi tiết được nêu trong cuộc thẩm tra.

Tôi đã lần theo các dấu chân trên lối đi trồng cây thủy tùng, tôi đã thấy vị trí ở cái cổng thông ra truông, nơi dường như ngài Charles đã đứng chờ gì đó, tôi để ý thấy sự thay đối hình dạng của các dấu chân kể từ điểm đó, tôi nhận biết là không có dấu chân nào khác ngoại trừ dấu chân của Barrymore trên mặt đất mềm, và cuối cùng tôi cẩn thận kiểm tra xác chết, trước khi tôi đến vẫn chưa có ai đụng vào.

Ngài Charles nằm sấp, hai tay dang ra, ngón tay cắm ngập xuống đất, và mặt co rút biến dạng vì một cảm xúc dữ dội tới mức tôi không dám tin đó là diện mạo của ngài.

Chắc chắn là không hề có bất kì thương tích nào trên cơ thể.

Nhưng ở cuộc thẩm tra, có một điều Barrymore đã khai không đúng.

Ông ta bảo rằng không hề có dấu vết nào trên mặt sỏi ở quanh xác chết.

Ông ta không thấy gì cả.

Nhưng tôi thấy cách xa đó một chút, nhưng rất rõ và rất mới..."

"Dấu chân?"

"Dấu chân."

"Đàn ông hay đàn bà?"

Bác sĩ Mortimer nhìn chúng tôi giây lát với ánh mắt lạ lùng, rồi hạ giọng trả lời như thầm thì.

"Thưa ông Holmes, đó là những dấu chân của một con chó săn khổng lồ!"

3.

Nan đề

Thú thật là những lời ấy khiến tôi rợn cả người.

Giọng của vị bác sĩ bộc lộ sự hồi hộp, cho thấy chính anh ta cũng xúc động sâu sắc trước câu chuyện đã thuật lại với chúng tôi.

Holmes phấn khích nhổm tới trước và mắt ánh lên một cái nhìn sắc lạnh thường thấy khi anh tập trung chú ý.

"Ông đã nhìn thấy?"

"Rõ ràng như tôi thấy ông."

"Và ông không nói gì hết?"

"Nói thì có ích gì?"

"Sao không ai nhìn thấy cả?"

"Những dấu vết ấy cách xác chết chừng hai mươi yard và chẳng ai để ý.

Chắc tôi cũng chẳng để ý nếu như không biết truyền thuyết đó từ trước."

"Trên truông có nhiều chó chăn cừu không?"

"Chắc chắn rồi, nhưng đây không phải chó chăn cừu."

"Ông bảo nó rất to lớn?"

"Khổng lồ."

"Nhưng nó không đến gần xác chết?"

"Không."

"Đêm ấy thời tiết thế nào?"

"Ẩm và lạnh."

"Nhưng đúng là không có mưa à?"

"Không."

"Con đường đi dạo thì sao?"

"Hai bên có hàng thủy tùng lâu năm, cao chừng mười hai foot và mọc ken dày nên không thể chui qua được.

Lối đi ở ngay chính giữa, rộng khoảng tám foot."

"Thế giữa lối đi và hàng cây có gì không?"

"Có, ở hai bên đều có bờ cỏ rộng chừng sáu foot."

"Ông nói hàng cây thủy tùng ấy chỉ có một chỗ thông ra ngoài là cánh cổng?"

"Đúng, cái cổng rào nhỏ ấy thông ra truông."

"Còn chỗ nào khác đi ra không?"

"Không hề."

"Như vậy muốn tới được lối đi giữa hai hàng thủy tùng ta phải từ nhà đi ra hoặc từ cổng rào đó đi vào?"

"Còn một ngả nữa đi qua căn nhà hóng mát ở cuối con đường đó."

"Thế ngài Charles đã đi tới đó chưa?"

"Chưa, ngài nằm cách đó chừng năm mươi yard."

"Này, bác sĩ Mortimer, ông nói đi, điều này quan trọng đấy: Những dấu vết ông nhìn thấy nằm trên lối đi chứ không phải trên cỏ?"

"Không dấu vết nào in trên cỏ."

"Chúng nằm trên lối đi cùng phía với cổng rào phải không?"

"Đúng, chúng nằm bên rìa lối đi cùng phía với cánh cổng thông ra truông."

"Ông khiến tôi quan tâm hết sức.

Một điểm nữa.

Cổng rào ấy có đóng không?"

"Đóng và khóa bằng ổ khóa."

"Cổng cao chừng nào?"

"Chừng bốn foot."

"Thế thì ai cũng trèo qua được?"

"Đúng."

"Vậy bên cổng rào này ông có thấy dấu vết gì không?"

"Chẳng có gì đặc biệt."

"Trời ơi!

Không ai kiểm tra ư?"

"Có chứ, chính tôi kiểm tra mà."

"Mà chẳng thấy gì?"

"Rất là khó hiểu.

Rõ ràng là ngài Charles đã đứng ở đó chừng năm, mười phút"

"Làm sao ông biết?"

"Vì dưới đất có hai vết tàn thuốc từ điếu xì gà của ngài."

"Xuất sắc!

Watson này, đây đúng là một người cùng hội cùng thuyền rất hợp với chúng ta.

Nhưng còn dấu chân?"

"Ngài Charles lưu lại dấu chân khắp khoảnh đất rải sỏi ấy.

Tôi không nhận ra dấu nào khác."

Sherlock Holmes vò đầu gối tỏ vẻ nôn nóng.

Anh nói to, "Giá mà tôi ở đó!

Rõ ràng đây là một vụ hấp dẫn lạ thường và mở ra vô số cơ hội cho nhà điều tra có đầu óc khoa học.

Trang sách bằng sỏi mà tôi đã có thể đọc ra được rất nhiều điều bây giờ đã bị gió mưa xóa nhòa và bị đám nông dân tọc mạch giẫm đạp.

Ôi, bác sĩ Mortimer ơi là bác sĩ Mortimer, nghĩ mà coi, sao ông không gọi tôi đến sớm hơn chứ!

Ông thật là đáng trách lắm."

"Ông Holmes, làm sao tôi có thể gọi ông đến mà không tiết lộ những chuyện này cho thiên hạ biết, và tôi đã nói các lí do khiến tôi không muốn như thế rồi.

Hơn nữa, hơn nữa..."

"Sao ông ngần ngừ?"

"Có một lĩnh vực mà ngay cả những thám tử nhạy bén và giàu kinh nghiệm nhất cũng bất lực."

"Ý ông muốn nói đây là chuyện siêu nhiên?"

"Tôi không khẳng định như vậy."

"Không, nhưng hiển nhiên là ông nghĩ thế."

"Ông Holmes à, kể từ sau bi kịch đó tôi đã nghe được một số chuyện khó có thể lí giải cho hợp với trật tự đã an bài của Tự Nhiên"

"Cụ thể?"

"Tôi biết được là trước khi xảy ra biến cố khủng khiếp đó, nhiều người đã nhìn thấy trên truông một con vật giống như con quỷ của dòng họ Baskerville, và đó không thể nào là một sinh vật mà khoa học đã biết tới.

Ai cũng đồng tình bảo đó là một con vật to lớn, phát sáng, ghê rợn và ma quái.

Tôi đã kiểm chứng lời kể của một dân quê cứng vía, một thợ đóng móng ngựa, và một nông dân ở truông, người nào cũng kể về con vật ma quỷ khủng khiếp ấy giống y như tương truyền về con quỷ chó của địa ngục.

Tôi xin quả quyết rằng nỗi sợ hãi đang bao trùm cả địa hạt và không một người nào dám băng qua truông vào ban đêm."

"Thế một người được đào tạo về khoa học như ông lại tin đây là chuyện siêu nhiên sao?"

"Tôi không biết phải tin điều gì nữa."

Holmes nhún vai.

"Cho tới nay tôi chỉ điều tra trong phạm vi trần thế.

Nói một cách khiêm tốn, tôi đã từng chống lại điều ác, nhưng đối đầu với chính Ác Quỷ thì chắc tôi không kham nổi.

Thế nhưng ông phải thừa nhận rằng những dấu chân ấy là hữu hình."

"Con chó nguyên bản trong truyền thuyết cũng là hữu hình nên mới cắn đứt cổ họng người ta, nhưng nó cũng chính là ma quỷ."

"Tôi thấy ông đã ngả hẳn sang các thuyết siêu nhiên rồi đó.

Nhưng thôi, nói tôi nghe đi, bác sĩ Mortimer.

Nếu ông cứ khăng khăng quan điểm đó thì ông đến nhờ tôi tư vấn làm gì?

Ông vừa bảo là có điều tra về cái chết của ngài Charles cũng vô ích, thế mà ông lại muốn tôi làm việc đó."

"Tôi đâu có nói tôi muốn ông làm việc đó."

"Thế tôi giúp ông bằng cách nào đây?"

"Bằng cách khuyên tôi nên làm gì với ngài Henry Baskerville", bác sĩ Mortimer nhìn đồng hồ, "ngài ấy sẽ đến ga Waterloo đúng một giờ mười lăm phút nữa."

"Người thừa kế đấy ư?"

"Đúng.

Khi ngài Charles mất, chúng tôi đã tìm kiếm chàng quý tộc này và biết được ngài ấy đang lập trang trại ở Canada.

Chúng tôi nghe nói đây là người ưu tú về mọi phương diện.

Hiện tôi phát ngôn không phải với tư cách bác sĩ mà là người được ủy thác và thực thi di chúc của ngài Charles."

"Không còn người nào khác có quyền thừa hưởng, tôi chắc vậy?"

"Không.

Duy chỉ có một người thân thích khác chúng tôi dò ra được là Rodger Baskerville, em út trong ba anh em trai mà ngài Charles xấu số kia là anh cả.

Người thứ hai đã mất sớm chính là cha của ngài Henry này.

Người thứ ba, Rodger, là kẻ hư hỏng trong gia đình, ông ta có tính cách của dòng dõi Baskerville hống hách ngày xưa và người ta bảo là hiện thân của gã Hugo thời trước, ông ta từng làm náo loạn cả Anh quốc rồi bỏ trốn sang Trung Mỹ và chết bên đó năm 1876 vì bệnh sốt vàng da.

Henry là người cuối cùng của dòng họ Baskerville.

Một giờ năm phút nữa là tôi phải đón ngài ấy ở ga Waterloo.

Sáng nay tôi nhận được điện tín nói rằng ngài ấy đã đến Southampton.

Đấy, ông Holmes, ông khuyên tôi phải làm gì với ngài ấy bây giờ?"

"Sao không để ngài ấy về ngôi nhà của dòng họ?"

"Lẽ tự nhiên là thế, phải không?

Thế nhưng hãy thử nghĩ xem, ai trong nhà Baskerville về đó cũng gặp số phận ác nghiệt.

Tôi đoán chắc rằng nếu ngài Charles có thể trăng trối với tôi trước khi chết thì ngài ắt hẳn đã dặn dò tôi đừng có đưa người cuối cùng của dòng họ và là người thừa kế gia sản về cái nơi kinh khủng đó.

Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng sự thịnh vượng của cả một vùng quê bần cùng, ảm đạm kia lại trông chờ vào sự có mặt của ngài ấy.

Mọi công chuyện tốt đẹp mà ngài Charles đã làm sẽ tan thành cát bụi nếu không có người nào về sống ở lâu đài.

Tôi e là mình không được vô tư bởi chính tôi cũng có lợi ích trong chuyện này, cho nên tôi mới thuật hết mọi chuyện với ông để nhờ chỉ bảo."

Holmes tư lự một hồi lâu rồi lên tiếng, "Nói một cách dễ hiểu, vấn đề là thế này.

Theo ông thì có một thế lực ma quỷ nào đó khiến vùng Dartmoor trở thành nơi cư ngụ không an toàn cho người nhà Baskerville, phải vậy không?"

"Ít nhất thì tôi có thể đánh bạo nói rằng có vài chứng cứ khiến tôi cho là thế."

"Chính xác.

Nhưng nếu giả thuyết siêu nhiên của ông là đúng thì dẫu có ở London các ma lực vẫn có thể hãm hại chàng trai này dễ dàng như ở hạt Devonshire.

Ác quỷ mà chỉ có quyền năng giới hạn trong một địa phương nhỏ như kiểu hội đồng giáo xứ thì đúng là phi lí."

"Thưa ông Holmes, nếu ông tiếp xúc trực tiếp với những chuyện như vậy thì có lẽ ông đã không bàn về vấn đề này một cách cợt nhả như thế.

Vậy theo như tôi hiểu thì ông cho rằng người này dù có ở Devonshire hay ở London cũng vẫn an toàn.

Năm mươi phút nữa ngài ấy sẽ đến.

Ông sẽ khuyên bảo điều gì?"

"Thưa ông, tôi khuyên ông đón xe ngựa, mang con chó spaniel đang cào cửa nhà tôi đi, và tiến thẳng tới ga Waterloo đón ngài Henry Baskerville."

"Rồi sau đó?"

"Sau đó ông không được nói gì với ngài ấy cho đến khi tôi có kết luận về vấn đề này."

"Ông mất bao lâu để kết luận?"

"Hai mươi tư giờ.

Vào 10 giờ sáng mai, thưa bác sĩ Mortimer, tôi sẽ hết sức cảm ơn ông nếu ông quay lại đây gặp tôi, và nếu ông đưa ngài Henry Baskerville đi cùng thì rất có ích cho các kế hoạch tương lai của tôi."

"Tôi sẽ làm như ông bảo, thưa ông Holmes."

Vị khách ghi nguệch ngoạc luôn giờ hẹn vào măng sét rồi hấp tấp bỏ đi với điệu bộ lạ lùng, vừa lơ đãng vừa chăm chú.

Holmes ngăn anh ta lại ở đầu cầu thang.

"Xin hỏi một câu nữa, bác sĩ Mortimer.

Ông nói là trước khi ngài Charles chết, nhiều người đã trông thấy con quỷ đó trên truông?"

"Có ba người thấy."

"Sau đó có ai thấy nữa không?"

"Tôi không nghe ai nói gì nữa."

"Cảm ơn ông.

Chúc buổi sáng tốt lành."

Holmes quay lại chỗ ngồi với vẻ mãn ý ngấm ngầm chứng tỏ anh có công việc tâm đắc đang chờ đợi.

"Anh có ra ngoài không, Watson?"

"Nếu giúp được anh tôi sẽ ở lại."

"Chưa đâu, anh bạn thân mến, tới giờ phút hành động tôi mới cần anh giúp sức.

Nhưng đây là chuyện hay ho, thật sự độc đáo theo nhiều góc nhìn.

Phiền anh qua cửa hiệu của Bradley, bảo ông ấy cho mang lên đây một pound thuốc lá sợi loại nặng nhất nhé?

Cảm ơn anh.

Và tôi cũng rất cảm kích nếu anh vui lòng đi luôn tới tối hãy về.

Như vậy tôi sẽ được sung sướng nghiền ngẫm cái nan đề cực kì thú vị được giao cho chúng ta sáng nay."

Tôi biết rằng sự cô độc và biệt lập rất cần thiết cho anh bạn tôi trong những giờ phút tập trung cao độ để cân nhắc từng manh mối chứng cứ, xây dựng nhiều giả thuyết theo phương hướng khác nhau, đối chiếu các giả thuyết đó, và xác định đâu là điểm trọng yếu, đâu là tiểu tiết.

Vì thế tôi đến câu lạc bộ tiêu khiển suốt ngày, mãi đến tối mới quay về phố Baker.

Lúc tôi trở lại phòng khách thì đã gần 9 giờ.

Vừa mở cửa ra tôi tưởng có hỏa hoạn vì gian phòng mù mịt khói tới mức làm lu mờ cả ngọn đèn sáng trên bàn.

Nhưng lúc bước vào thì nỗi sợ của tôi đã được trấn an bởi mùi khói cay nồng của thuốc lá nặng xộc vào mũi làm tôi ho sặc sụa.

Qua làn khói mù, tôi lờ mờ nhận ra hình dáng Holmes mặc áo choàng ngủ đang thu mình trong ghế bành, trên môi là tẩu thuốc bằng đất nung màu đen.

Chung quanh anh vương vãi mấy cuộn giấy.

"Bị cảm à, Watson?"

"Không, tại bầu không khí độc hại ở đây thì có."

"Giờ anh nói tôi mới để ý, chắc là hơi mù mịt."

"Quá mù mịt ấy chứ.

Không thể chịu nổi."

"Vậy mở cửa sổ ra đi!

Chắc là cả ngày nay anh la cà ở câu lạc bộ."

"Holmes ơi là Holmes!"

"Tôi nói đúng không?"

"Còn phải hỏi, nhưng sao anh biết?"

Anh bật cười trước vẻ mặt ngỡ ngàng của tôi.

"Anh có cái vẻ ngô nghê đến là hay, Watson ạ, cho nên tôi rất khoái mượn anh để tập tành chút khả năng nho nhỏ của mình tuy có hơi thiệt cho anh.

Một quý ông ra ngoài trong một ngày mưa nhớp nháp nhưng buổi tối về nhà mà giày mũ vẫn còn bóng loáng.

Vậy thì suốt cả ngày anh ta phải ở một chỗ cố định nào đó.

Anh ta không có nhiều bạn bè thân thiết.

Vậy thì anh ta có thể ở chỗ nào?

Không hiển nhiên sao?"

"Chà, hiển nhiên thật đấy."

"Trên đời này đầy những chuyện hiển nhiên mà chẳng có ai buồn quan sát mảy may.

Thế theo anh thì tôi đã đi đâu?"

"Cũng ở một chỗ cố định."

"Trái lại, tôi đã đến Devonshire."

"Bằng linh hồn chắc?"

"Chính xác.

Thân xác tôi vẫn ở trên chiếc ghế bành này và tôi rất tiếc phải lưu ý rằng khi tôi vắng mặt, nó đã tiêu thụ hết hai bình cà phê lớn và một lượng thuốc lá nhiều khôn xiết.

Sau khi anh đi, tôi nhờ người ra hiệu Stamford mua tấm bản đồ Ordnance của khu vực có vùng truông ấy và linh hồn tôi đã lượn lờ ở đó cả ngày.

Tôi tự khen mình đã tìm ra đường đi lối lại."

"Một tấm bản đồ lớn, chắc là thế rồi?"

"Rất lớn."

Anh giở ra một phần và đặt tấm bản đồ trên đầu gối.

"Anh xem, đây là khu vực chúng ta quan tâm.

Ngay chính giữa là lâu đài Baskerville."

"Có khu rừng bao quanh?"

"Chính xác.

Tôi hình dung con đường thủy tùng, mặc dù không có tên ở đây, nhưng hẳn là chạy dọc theo đường này và như anh đã biết, phía bên phải con đường là truông.

Cụm nhà cửa nhỏ bé ở chỗ này là làng Grimpen, nơi bác sĩ Mortimer của chúng ta đóng bản doanh.

Anh thấy đó, trong vòng bán kính năm dặm chỉ có nhà ở thưa thớt.

Còn đây là lâu đài Lafter mà bác sĩ có nhắc tới.

Có một căn nhà đánh dấu ở đây, có thể là nơi ở của nhà tự nhiên học Stapleton, nếu tôi nhớ đúng.

Đây là hai nông trại trên truông, High Tor và Foulmire.

Rồi cách đó mười bốn dặm là nhà ngục lớn Princetown.

Ở giữa và bao quanh những điểm rải rác này là vùng truông hiu quạnh.

Vậy đây là sân khấu nơi thảm kịch đã diễn ra và là nơi chúng ta có thể góp sức dựng lại vở kịch ấy."

"Chắc nơi này phải hoang vu lắm."

"Đúng, bối cảnh ấy quả là thích hợp.

Nếu ác quỷ thật sự muốn nhúng tay vào cõi người..."

"Vậy là chính anh cũng thiên về cách lí giải siêu nhiên."

"Tay sai của ác quỷ có thể là con người bằng xương bằng thịt, phải không nào?

Có hai câu hỏi đang chờ đợi chúng ta ngay khởi điểm.

Thứ nhất, ở đây có tội ác nào không; thứ hai, tội ác đó là gì và được thực hiện ra sao?

Tất nhiên nếu bác sĩ Mortimer đoán đúng và chúng ta đang đương đầu với những quyền năng nằm ngoài các quy luật thông thường của Tự Nhiên thì coi như cuộc điều tra của chúng ta kết thúc.

Nhưng chúng ta buộc phải xét hết mọi giả thuyết khác trước khi quay lại giả thuyết này.

Tôi nghĩ ta nên đóng cửa sổ lại, nếu anh không phiền.

Kể cũng lạ, nhưng tôi thấy bầu không khí cô đặc sẽ giúp ích cho việc cô đúc ý tưởng.

Tôi chưa cực đoan tới mức chui vào hộp kín mà nghĩ, nhưng đó là kết luận hợp lí theo những gì tôi tin chắc.

Anh có nghiền ngẫm vụ này không?"

"Có, cả ngày nay tôi cứ nghĩ mãi."

"Theo anh thì sao nào?"

"Chuyện này đúng là gây hoang mang."

"Rõ ràng nó có bản sắc riêng.

Có nhiều điểm độc đáo.

Chẳng hạn, sự thay đổi ở các dấu chân.

Theo anh thì sao?"

"Mortimer nói người này đã đi nhón gót suốt quãng đường còn lại."

"Anh ta chỉ lặp lại lời thằng ngu xuẩn nào đó đã nói ở cuộc thẩm tra.

Vì cớ gì mà người ta phải đi nhón gót trên đường chứ?"

"Không phải vậy thì sao?"

"Ông ta đã chạy, Watson ạ, chạy trong tuyệt vọng, chạy thục mạng, chạy đến vỡ tim và ngã sấp mặt chết."

"Sao phải chạy?"

"Vấn đề nằm ở chỗ đó, có nhiều dấu hiệu cho thấy người này đã phát cuồng vì sợ hãi trước khi bỏ chạy?

"Làm sao anh lại cho là thế?"

"Tôi giả định nguyên nhân khiến ông ấy sợ hãi đã tiến đến từ phía truông.

Nếu như thế, và rất có khả năng như thế, thì chỉ có người sợ đến mất khôn mới chạy ra xa mà không quay về nhà.

Nếu lời khai của người digan kia là sự thật thì ngài Charles đã vừa la hét cầu cứu vừa chạy về hướng mà khó lòng có sự cứu giúp nhất.

Thêm nữa, ông ấy đã chờ đợi ai đêm hôm đó, và tại sao lại chờ đợi người đó trên con đường thủy tùng chứ không chờ trong nhà?"

"Anh nghĩ ông ấy chờ đợi ai sao?"

"Người này đã già yếu.

Chuyện ông ấy đi tản bộ buổi tối thì ta có thể hiểu được nhưng đêm đó xấu trời, đất lại ẩm ướt.

Đã thế ông ta còn đứng lại năm, mười phút, như Mortimer đã suy luận từ tàn xì gà bằng óc thực tế đột xuất của anh ta, liệu điều đó có tự nhiên không?"

"Nhưng tối nào ông ấy cũng đi dạo mà."

"Nhưng tôi nghĩ không có lí tối nào ông ấy cũng đứng chờ ở cánh cổng thông ra truông.

Trái lại, rõ ràng là ông ấy đã tránh đến gần truông.

Đêm đó ông ấy chờ ở cổng, lại đúng ngay cái đêm trước khi lên đường đi London.

Sự việc bắt đầu rõ nét đây, Watson à.

Mọi thứ đã mạch lạc hơn.

Phiền anh lấy cho tôi cây vĩ cầm, và chúng ta tạm hoãn mọi suy nghĩ về chuyện này cho đến khi có hân hạnh gặp gỡ bác sĩ Mortimer và ngài Henry Baskerville vào sáng mai."

4.

Ngài Henry Baskerville

Bàn điểm tâm của chúng tôi được thu dọn sớm và Holmes vẫn mặc áo choàng ngủ mà chờ khách.

Các thân chủ rất đúng giờ vì đồng hồ vừa đổ chuông đến hồi thứ mười thì bác sĩ Mortimer đã xuất hiện, theo sau là vị nam tước trẻ.

Đó là một người nhỏ con, nhanh nhẹn, chừng ba mươi tuổi, rất cường tráng, đôi mắt đen dưới cặp mày rậm, gương mặt cương quyết và hiếu thắng.

Anh ta mặc bộ comlê bằng vải len nhuộm màu hung và có nước da sạm nắng của một người đã sống chủ yếu ở nơi nắng gió, nhưng ánh mắt điềm tĩnh và phong thái tự tin trầm lặng lại cho thấy tính cách quý phái.

"Đây là ngài Henry Baskerville", bác sĩ Mortimer nói.

"Ồ, vâng, thưa ông Sherlock Holmes", nam tước lên tiếng, "có chuyện lạ này, nếu người bạn tôi đây không đề nghị đến gặp ông sáng nay thì có lẽ tôi cũng phải tự đến.

Tôi biết ông chuyên tháo gỡ những bí ẩn nho nhỏ và sáng nay tôi đã gặp một chuyện tương tự nằm ngoài khả năng tự tháo gỡ của mình."

"Xin mời ngồi, thưa ngài Henry.

Ý ngài muốn nói là từ khi đến London chính ngài đã kinh qua điều gì đó khác thường chăng?"

"Không có gì quan trọng lắm đâu, ông Holmes.

Rất có thể chỉ là trò bông đùa.

Chính là bức thư tôi nhận được sáng nay, nếu có thể gọi đó là một bức thư."

Anh ta đặt một phong bì trên bàn và tất cả chúng tôi đều cúi xuống xem.

Phong bì làm bằng loại giấy thường, màu xám.

Địa chỉ đề: Ngài Henry Baskerville, Khách sạn Northumberland, bằng kiểu chữ in, nét bút vụng về, dấu bưu cục đề Charing Crossvà ngày gửi là tối hôm trước.

"Có ai biết ngài sẽ đến khách sạn Northumberland không?"

Holmes hỏi, ánh mắt sắc sảo nhìn thẳng vào vị khách.

"Không ai có thể biết được.

Chúng tôi chỉ quyết định sau khi tôi gặp bác sĩ Mortimer."

"Nhưng bác sĩ Mortimer chắc chắn đã ghé tới đó trước rồi chứ?"

"Không, trước đấy tôi ở chỗ một người bạn", vị bác sĩ nói "Không có cách gì biết được là chúng tôi định về khách sạn đó."

"Hừm!

Xem ra có ai đó quan tâm rất sâu sắc đến việc đi lại của quý vị rồi."

Holmes lấy từ trong phong bì ấy ra nửa tờ giấy khổ lớn được gấp làm tư.

Anh giở ra và vuốt phẳng trên mặt bàn.

Giữa mẩu giấy là một câu duy nhất ghép bằng những từ in sẵn dán nối với nhau.

Nội dung là: Nếu xét mạng sống hay lí trí còn giá trị thì tránh xa khỏi truông.

Chỉ có từ truông là được viết bằng mực.

"Đấy, thưa ông Holmes", ngài Henry Baskerville nói, "theo ông thì cái đó có ý nghĩa gì mới được chứ, và ai mà lại quan tâm đến chuyện của tôi quá vậy?"

"Thế ông thấy chuyện này thế nào, bác sĩ Mortimer?

Ông hẳn phải thừa nhận rằng ở đây tuyệt đối không có gì là siêu nhiên chứ?"

"Đúng, thưa ông, nhưng rất có thể ai đó làm như vậy vì tin rằng vụ này là siêu nhiên."

"Vụ gì thế?"

Ngài Henry gắt hỏi.

"Dường như các quý ông đây đều biết về việc riêng của tôi nhiều hơn cả chính tôi."

"Thưa ngài Henry, chúng tôi sẽ cho ngài biết rõ mọi chuyện trước khi ngài rời khỏi đây.

Xin hứa với ngài như thế", Sherlock Holmes nói.

"Còn bây giờ xin phép ngài cho chúng tôi được tập trung vào văn bản rất thú vị này, bức thư này nhất định phải được chắp ghép và gửi đi tối hôm qua.

Anh có tờ báo Times số hôm qua không, Watson?"

"Có đây, ở góc phòng."

"Phiền anh lấy cho tôi, xin lấy trang trong, nơi đăng mấy bài xã luận đó!"

Anh đảo mắt thật nhanh qua trang báo, nhìn lướt dọc theo các cột báo.

"Bài lớn về tự do thương mại đây này.

Cho phép tôi đọc quý vị nghe một đoạn trích: Ta có thể lầm tưởng rằng ngành thương mại hay công nghiệp của ta sẽ được bảo trợ nếu còn lá bùa hộ mạng thuế quan, nhưng xét theo lí trí thì về lâu dài những chế định luật pháp như thế lại khiến sự thịnh vượng tránh xa khỏi đất nước này, làm giảm giá trị hàng nhập khẩu và hạ thấp điều kiện sống ở đảo quốc chúng ta.

Anh thấy sao, Watson?"

Holmes nói to, giọng khoái trá, hai bàn tay xoa vào nhau có vẻ hài lòng.

"Anh không thấy đó là một ý tưởng đáng phục sao?"

Bác sĩ Mortimer nhìn Holmes chăm chú như nhìn một con bệnh, còn ngài Henry Baskerville hướng đôi mắt đen bối rối sang phía tôi.

Nam tước nói, "Tôi không am hiểu mấy về thuế quan và những chuyện tương tự, nhưng có vẻ như chúng ta đã đi lạc đề trong khi đang bàn về bức thư này."

"Trái lại, thưa ngài Henry, tôi nghĩ chúng ta đã lần ra dấu vết rồi.

Anh bạn Watson đây hiểu rõ các phương pháp của tôi hơn ngài, nhưng tôi e rằng ngay cả anh ấy cũng chưa thấy được tầm quan trọng của câu tôi vừa đọc lên."

"Đúng, thú thật là tôi chẳng thấy liên quan gì."

"Watson thân mến ơi, thế nhưng mối liên quan lại hết sức mật thiết vì những chữ trong bức thư đã được tách ra từ chính câu đó: 'Hay,' 'nếu', 'còn', 'mạng', 'xét', 'lí trí,' 'thì', 'tránh xa khỏi', 'này', 'giá trị', 'sống'.

Bây giờ quý vị đã thấy những từ này lấy ở đâu ra chưa?"

"Trời đất, ông nói đúng!

Ôi, thật là tài tình!"

Ngài Henry kêu lên.

"Không thể hồ nghi gì nữa vì các từ 'tránh xa khỏi' được cắt liền thành một mảnh.

Chà chà, giờ thì đã rõ!"

"Ôi, ông Holmes, thật tình là chuyện này vượt xa sức tưởng tượng của tôi", bác sĩ Mortimer vừa nói vừa kinh ngạc nhìn anh bạn tôi.

"Ai nói mấy chữ này cắt ra từ nhật báo thì tôi còn hiểu được, nhưng ông lại chỉ đích danh tờ báo rồi lại bảo là từ bài xã luận, thì quả là điều phi thường nhất tôi từng gặp.

Sao ông biết được?"

"Bác sĩ ơi, ông phân biệt được sọ người Phi châu với sọ người Eskimo chứ?"

"Hẳn rồi."

"Nhưng bằng cách nào?"

"Vì đó là sở thích đặc biệt của tôi.

Sự khác biệt rất hiển nhiên.

Đỉnh hố mắt, góc cạnh gương mặt, đường cong hàm trên, rồi thì..."

"Còn đây là sở thích đặc biệt của tôi, và sự khác biệt cũng hiển nhiên như thế.

Trong mắt tôi, kiểu sắp chữ chỉ cỡ bourgeois của một bài báo trên tờ Times và kiểu in nhếch nhác của một tờ báo ba xu buổi chiều có sự khác biệt lớn cũng giống như hai cái sọ người Phi châu và Eskimo của ông.

Phân biệt kiểu chữ in là một trong những lĩnh vực kiến thức sơ đẳng nhất đối với một chuyên gia về hình sự, mặc dù phải thú nhận rằng khi còn trẻ tôi đã có lần nhầm lẫn giữa tờ Leeds Mercury với tờ Westem Morning News.

Nhưng kiểu sắp chữ của tờ Times thì không lẫn vào đâu được, và những từ này không thể cắt ra từ nhật báo nào khác.

Vì thông điệp được chắp ghép ngày hôm qua cho nên xác suất lớn nhất là ta sẽ tìm ra mấy từ đó trong số báo hôm qua."

"Thế thì, thưa ông Holmes", ngài Henry Baskerville nói, "theo như tôi hiểu ý ông thì ai đó đã cắt lời nhắn này ra bằng một cái kéo..."

"Kéo cắt móng tay", Holmes nói.

"Ngài có thể thấy đó là một loại kéo có lưỡi rất ngắn vì người cắt phải bập hai nhát ở mẩu chữ 'tránh xa khỏi'."

"Đúng thế thật.

Vậy có người đã cắt lời nhắn này ra bằng một cái kéo lưỡi ngắn rồi dán bằng hồ..."

"Keo", Holmes nói.

"Bằng keo vào tờ giấy này.

Nhưng tôi muốn biết tại sao từ 'truông' lại viết tay?"

"Bởi người này không tìm ra từ đó in trong tờ báo."

"À, tất nhiên rồi, vậy thì đã rõ.

Thế từ lời nhắn này ông còn suy ra điều gì nữa, ông Holmes?"

"Có một vài dấu hiệu, thế nhưng người này đã hết sức cẩn thận xóa bỏ mọi manh mối.

Ngài xem, địa chỉ được ghi bằng kiểu chữ in viết rất thô.

Nhưng tờ Times lại hiếm khi lọt vào tay những người vô học, cho nên chúng ta có thể xem như tác giả bức thư này là một người có học thức muốn giả vờ là kẻ ít học, và việc người này cố tình che giấu chữ viết cho thấy tuồng chữ đó có thể là quen thuộc, hoặc sẽ bị ngài nhận ra.

Thêm nữa, ngài sẽ thấy các từ này không được dán ngay hàng thẳng lối, mà có một số từ nhô cao hơn các từ khác.

Ví dụ từ 'sống' nằm lệch hẳn ra.

Đó có thể là do bất cẩn hoặc có thể là người cắt dán đã lo lắng và hấp tấp.

Nói chung tôi thiên về hướng thứ hai, vì vấn đề này rõ ràng là quan trọng và người tạo ra bức thư như thế không thể nào lại là kẻ bất cẩn.

Nếu người này hấp tấp thì lại một câu hỏi thú vị được đặt ra là tại sao phải hấp tấp, bởi vì thư chỉ cần gửi từ sáng sớm thì thế nào cũng đến tay ngài Henry trước khi ngài rời khách sạn.

Người soạn thư này sợ bị ngăn cản chăng, và ai ngăn cản?"

"Bây giờ chúng ta đã dấn vào phạm vi đoán mò rồi đó", bác sĩ Mortimer nói.

"Nói đúng hơn là vào phạm vi so sánh các xác suất và lựa chọn trường hợp có xác suất cao nhất.

Đây là việc vận dụng óc tưởng tượng một cách khoa học nhưng luôn có căn cứ cụ thể để làm cơ sở cho phỏng đoán.

Đó, ông sẽ bảo là đoán mò, nhưng tôi gần như chắc chắn rằng địa chỉ này được ghi ra trong một khách sạn."

"Làm sao ông nói vậy được hở trời?"

"Nếu xem xét kĩ ông sẽ thấy cả bút lẫn mực đều gây khó khăn cho người viết.

Ngòi bút đã cào vào giấy hai lần chỉ trong một từ và ba lần bút hết mực chỉ trong một dòng địa chỉ ngắn, cho thấy trong lọ còn rất ít mực.

Đó, người ta hiếm khi để bút hay lọ mực của mình rơi vào tình trạng như thế, và cùng lúc hai thứ đều có vấn đề thì lại càng hiếm.

Nhưng ông biết đấy, bút mực của khách sạn lại thường như thế.

Vâng, tôi có thể nói không chút ngần ngại rằng nếu chúng ta kiểm tra giỏ giấy vụn ở các khách sạn quanh khu Charing Cross cho đến khi nào tìm ra phần còn lại của tờ Times đã bị cắt thì có thể tóm được ngay kẻ đã gửi lời nhắn kì lạ này.

Ô là la!

Ô là la!

Gì thế này?"

Anh giơ tờ giấy có dán những từ cắt trong báo lên ngang tầm mắt, chỉ cách một, hai inch.

"Sao?"

"Không có gì", anh nói rồi hạ tờ giấy xuống.

"Đây là nửa tờ giấy trắng tinh, thậm chí không hề có một dấu in chìm nào.

Tôi nghĩ chúng ta đã khai thác hết mọi thông tin có thể biết được từ bức thư lạ lùng này, còn bây giờ, thưa ngài Henry, từ lúc đến London ngài có gặp chuyện gì khác đáng chú ý không?"

"Ồ, không, ông Holmes à.

Tôi nghĩ là không."

"Ngài không để ý thấy có ai theo dõi mình ư?"

"Dường như tôi đã bước vào giữa một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền", nam tước nói.

"Sao lại có ai muốn theo dõi tôi hở trời?"

"Rồi chúng ta sẽ nói đến lí do.

Trước khi bàn tới chuyện đó, ngài không có gì khác để thuật lại với chúng tôi sao?"

"Chà, còn tùy ông xem chuyện như thế nào mới đáng thuật lại."

"Tôi nghĩ bất cứ điều gì khác với lệ thường đều đáng thuật lại."

Ngài Henry mỉm cười.

"Tôi vẫn chưa biết gì nhiều về sinh hoạt ở Anh quốc vì gần như cả đời tôi sống ở Hoa Kì và Canada.

Nhưng tôi hi vọng chuyện mất một chiếc ghệt không phải là lệ thường ở xứ này."

"Ngài mất một chiếc ghệt ư?"

"Thưa ngài", bác sĩ Mortimer kêu lên, "nó chỉ lẫn đâu đó thôi.

Khi về khách sạn ngài sẽ tìm ra mà.

Làm phiền ông Holmes vì những điều vặt vãnh như thế liệu có ích gì chứ?"

"À, thì ông ấy hỏi tôi có chuyện gì khác với lệ thường mà."

"Chính xác", Holmes nói, "cho dù sự việc có vẻ ngớ ngẩn đến đâu đi nữa.

Ngài nói ngài bị mất một chiếc ghệt phải không?"

"Chà, chắc là để lẫn.

Đêm qua tôi để cả đôi ngoài cửa phòng thế mà tới sáng chỉ còn một chiếc.

Tôi đã hỏi thằng cha đánh giày nhưng chẳng biết được gì cả.

Điều tệ nhất là tôi vừa mua đôi ghệt ấy tối hôm qua ở phố Strand, và chưa kịp mang lần nào."

"Nếu chưa hề mang sao ngài lại đưa đi đánh giày?"

"Đó là đôi ghệt bằng da thuộc và chưa được đánh xi lần nào.

Vì thế tôi mới để ra ngoài."

"Vậy theo tôi hiểu thì khi vừa đến London ngày hôm qua ngài liền ra phố và mua một đôi ghệt?"

"Tôi mua sắm nhiều thứ.

Bác sĩ Mortimer đây đi loanh quanh cùng tôi.

Ông thấy đấy, nếu tôi phải làm điền chủ ở miệt dưới đó thì tôi phải phục sức cho đúng cách, có thể tôi đã quen thói ăn mặc hơi cẩu thả theo kiểu miền Tây bên Mỹ châu rồi.

Trong nhiều món hàng, tôi có mua đôi ghệt da nâu này, mất sáu đôla và chưa kịp xỏ chân vào thì đã bị đánh cắp mất một chiếc."

"Kể cũng lạ, lấy cắp có một chiếc thì ích gì", Sherlock Holmes nói.

"Thú thật là tôi cũng nghĩ như bác sĩ Mortimer, sẽ sớm tìm ra chiếc ghệt thất lạc thôi."

"Thế thì thưa các ông", nam tước nói bằng giọng dứt khoát, "có vẻ như tôi nói những chuyện nhỏ nhặt mà tôi biết thế là đủ rồi.

Giờ đến lúc quý vị phải giữ lời hứa cho tôi biết tường tận những gì đang chờ đợi tất cả chúng ta."

"Yêu cầu của ngài rất chính đáng", Holmes đáp lại.

"Bác sĩ Mortimer này, tôi nghĩ không có gì hay bằng ông thuật lại câu chuyện đó đúng như ông đã kể với chúng tôi."

Nghe khích lệ như thế, con người của khoa học kia rút mấy tờ giấy trong túi ra và trình bày toàn bộ sự việc giống như buổi sáng hôm trước.

Ngài Henry Baskerville lắng nghe hết sức chăm chú, thỉnh thoảng lại kêu lên ngạc nhiên.

Khi câu chuyện dài đã kết thúc, anh ta mới nói, "Chà, dường như tôi đã ngẫu nhiên thừa hưởng một mối thù.

Chuyện về con quỷ chó này, đúng là tôi đã nghe kể từ hồi còn quấn tã.

Đó là câu chuyện hay ho của dòng tộc này, mặc dù trước giờ tôi chưa hề nghĩ là phải nhìn nhận nó một cách nghiêm túc.

Nhưng về cái chết của bác tôi, ồ, mọi thứ dường như sôi sục trong đầu và tôi chưa thể nào hiểu thấu.

Hình như các ông cũng chưa kết luận được vụ này cần cảnh sát hay cần mục sư thì phải?"

"Đúng là thế."

"Giờ lại thêm chuyện bức thư gửi đến khách sạn cho tôi nữa.

Tôi chắc là chi tiết đó cũng ăn nhập với chuyện này."

"Hình như có người biết nhiều hơn chúng ta về tình hình trên truông", bác sĩ Mortimer nói.

"Thêm nữa", Holmes nói, "bức thư này cho thấy người đó không có ác ý đối với ngài, bởi vì họ đã báo cho ngài biết trước nguy hiểm."

"Hay biết đâu họ lại muốn đạt mục đích là dọa cho tôi sợ mà tránh xa."

"À, tất nhiên cũng có thể như vậy lắm.

Tôi hết sức cảm ơn ông đó, bác sĩ Mortimer, ông đã đem đến cho tôi một nan đề có vài hướng giải đáp rất hấp dẫn.

Nhưng vấn đề thiết thực mà bây giờ chúng ta phải quyết định, thưa ngài Henry, là ngài có nên tới lâu đài Baskerville hay không."

"Sao lại không chứ?"

"Có vẻ sẽ gặp nguy hiểm đó."

"Ông muốn nói tới nguy hiểm do ma quỷ của dòng họ này hay là do con người?"

"Chà, đó là điều chúng tôi phải tìm hiểu cho ra."

"Dù kết quả ra sao tôi chỉ có một câu trả lời.

Không có ma quỷ nào cả, ông Holmes ạ, và không có người nào trên đời này ngăn tôi trở về quê hương được, ông có thể xem đó là câu trả lời cuối cùng của tôi."

Cặp lông mày rậm của nam tước nhíu lại và gương mặt anh ta đỏ ửng lên khi nói.

Rõ ràng là tính khí nóng này của dòng họ Baskerville vẫn chưa mất đi trong người đại diện cuối cùng này.

"Vả lại tôi chưa có thời gian để suy nghĩ kĩ chuyện quý vị đã kể", anh ta nói tiếp.

"Thật khó khăn khi vừa phải tìm hiểu vấn đề lớn thế này vừa phải quyết định ngay một lúc.

Tôi cần một giờ yên tĩnh một mình để cân nhắc.

À, thế này nhé, ông Holmes, bây giờ là 11 giờ rưỡi rồi và tôi sẽ quay về khách sạn ngay.

Chắc là ông và bạn ông, bác sĩ Watson, có thể đến dùng bữa trưa cùng chúng tôi lúc 2 giờ.

Khi đó chắc tôi có thể trình bày suy nghĩ của mình với các ông rõ ràng hơn."

"Thế có tiện cho anh không, Watson?"

"Hẳn rồi."

"Vậy thì ngài cứ đợi chúng tôi.

Tôi gọi xe ngựa cho ngài nhé?"

"Tôi thích đi bộ hơn, vì chuyện này làm tôi khá bối rối."

"Tôi xin được hân hạnh tản bộ cùng ngài", người đồng hành của ngài Henry nói.

"Vậy chúng ta sẽ gặp lại lúc 2 giờ.

Au revoir và chúc buổi sáng tốt lành!"

Chúng tôi nghe tiếng bước chân của hai vị khách xuống lầu và tiếng cửa chính đóng sầm lại.

Trong chớp nhoáng, Holmes đã từ một kẻ mơ màng uể oải biến thành một người năng động.

"Đội mũ mang giày mau, Watson!

Không được chậm trễ!"

Anh vẫn còn mặc áo choàng ngủ khi lao vào phòng, thế mà chỉ mấy giây sau đã khoác áo măngtô quay trở ra.

Chúng tôi cùng vội vã xuống cầu thang và ào ra đường.

Mortimer và Baskerville vẫn còn trong tầm mắt, cách chưa đầy hai trăm yard, theo hướng phố Oxford.

"Có cần tôi chạy tới bảo họ dừng lại không?"

"Không đời nào, anh bạn Watson ơi.

Có anh đi cùng là tôi hài lòng rồi.

Hai người bạn của chúng ta thật sáng suốt, buổi sáng đẹp trời thế này mà đi dạo thì tuyệt."

Anh dấn bước nhanh dần cho đến khi khoảng cách giữa chúng tôi và hai vị khách chỉ còn phân nửa.

Rồi vẫn theo sau trong khoảng trăm yard, chúng tôi sang phố Oxford rồi đi tiếp đến phố Regent.

Có một lần hai vị khách kia dừng bước nhìn chăm chú vào một ô cửa bày hàng, Holmes cũng làm theo.

Liền sau đó, anh bật ra một tiếng kêu hài lòng, và theo ánh mắt hăm hở của anh, tôi thấy một cỗ xe ngựa nhỏ có một khách ngồi bên trong đang dừng bên kia đường bây giờ lại từ từ lăn bánh đi tiếp.

"Người ta cần tìm đó, Watson!

Đi theo!

Nếu không làm được gì hơn thì cũng phải nhìn hắn cho rõ."

Đúng lúc đó tôi thấy một bộ râu quai nón đen rậm và một đôi mắt soi mói ngoảnh về phía chúng tôi qua cửa sổ bên hông cỗ xe ngựa.

Cửa xe liền sập lại, có tiếng quát tháo xà ích, rồi chiếc xe ngựa phóng như điên theo phố Regent.

Holmes nôn nóng nhìn quanh tìm một xe ngựa khác nhưng không thấy chiếc nào vắng khách.

Anh bèn chạy ào đi cố đuổi theo giữa luồng xe cộ nhưng khoảng cách quá xa và cỗ xe ngựa kia đã mất dạng.

"Thế đấy!"

Holmes thốt lên chua chát khi quay lại từ dòng xe cộ, miệng thở hổn hển và mặt tái nhợt vì bực tức.

"Sao đã gặp vận rủi lại còn xoay xở kém thế này?

Watson ơi là Watson, nếu anh là người trung thực thì phải ghi lại cả chuyện này để thấy không phải lúc nào tôi cũng thành công!"

"Người đó là ai?"

"Chẳng biết được gì."

"Một kẻ do thám?"

"À, theo những gì chúng ta biết thì rõ ràng Baskerville đã bị ai đó theo dõi rất chặt từ khi anh ta đến thành phố này.

Nếu không thì làm sao lại có người biết chuyện anh ta nghỉ lại khách sạn Northumberland nhanh thế được?

Nếu họ bám theo Baskerville từ ngày đầu thì tôi cho rằng ngày thứ hai họ cũng theo dõi anh ta.

Chắc lúc nãy anh cũng để ý là có hai lần tôi đi ra phía cửa sổ trong lúc bác sĩ Mortimer kể lại truyền thuyết đó."

"Có, tôi còn nhớ."

"Lúc đó tôi tìm xem có kẻ nào tha thẩn dưới đường không nhưng chẳng thấy gì.

Chúng ta đang đương đầu với một kẻ tinh ranh đó, Watson.

Vụ này hết sức bí ẩn, tuy tôi vẫn chưa dám chắc thế lực ta đã gặp là thiện hay ác, nhưng tôi vẫn luôn thấy có sức mạnh và mưu đồ.

Khi hai ông bạn kia ra về, tôi liền đi theo ngay với hi vọng phát hiện ra kẻ giấu mặt theo dõi họ.

Hắn ta quả là quỷ quyệt nên đã không chọn cách đi bộ mà thuê riêng một chiếc xe ngựa để có thể tha thẩn theo sau hay phóng nhanh qua mặt họ mà không gây chú ý.

Cách làm của hắn còn có một lợi thế nữa là nếu hai người kia đón xe ngựa thì hắn đã có sẵn xe để bám theo.

Tuy nhiên, cách này có một bất lợi rành rành."

"Hắn ta phải tiếp xúc với người xà ích."

"Chính xác."

"Thật đáng tiếc là chúng ta không biết số xe!"

"Watson ơi, anh nghĩ thế thật đấy à?

Vừa rồi tôi có vụng về nhưng đâu đến nỗi bỏ sót chi tiết đó.

Tên do thám kia thuê xe sỗ 2704.

Nhưng lúc này chi tiết đó chẳng có ích gì."

"Làm sao anh có thể xoay xở khá hơn được nữa."

"Khi quan sát chiếc xe ngựa, lẽ ra tôi phải quay lại ngay và đi theo hướng khác.

Sau đó tôi có thể thoải mái thuê một chiếc xe thứ hai và bám theo chiếc xe đầu ở một khoảng cách thích hợp, hoặc tốt hơn nữa là đi thẳng đến khách sạn Northumberland rồi chờ ở đó.

Khi kẻ giấu mặt kia theo Baskerville về khách sạn thì chúng ta đã có cơ hội chơi trò gậy ông đập lưng ông để theo dõi xem hắn ta đi về đâu.

Nhưng thực tế thì do hăm hở lộ liễu, chúng ta đã tự làm lộ tông tích, vậy là đối phương đã tận dụng sơ hở đó một cách nhanh nhạy phi thường và chuồn mất không tăm tích."

Trong khi trò chuyện, chúng tôi cứ từ tốn tản bộ dọc phố Regent, còn Mortimer và người đồng hành đi trước đã khuất dạng từ lâu.

Holmes nói, "Giờ mà đi theo họ cũng chẳng có ích gì nữa.

Kẻ giấu mặt kia đã bỏ đi và sẽ không quay lại đâu.

Chúng ta phải xem mình còn lá bài gì trong tay và phải chơi dứt khoát.

Anh có chắc đã nhìn thấy rõ mặt người ngồi trong chiếc xe đó chứ?"

"Tôi chỉ dám chắc là nhìn thấy rõ bộ râu."

"Thì tôi cũng vậy, theo tôi đó nhất định là râu giả.

Với một kẻ khôn ranh đang làm một việc tinh vi thì bộ râu ấy chẳng có công dụng gì ngoài che giấu diện mạo.

Vào đây đi, Watson!"

Anh rẽ vào một văn phòng điện tín của khu này và được người quản lí chào đón niềm nở.

"A, Wilson, hóa ra anh vẫn chưa quên cái chuyện vặt mà tôi được may mắn giúp anh?"

"Làm sao quên được, thưa ông.

Ông đã cứu vãn danh dự cho tôi, và có lẽ cả mạng sống của tôi nữa."

"Anh lại quá lời rồi, anh bạn thân mến à.

Wilson này, tôi nhớ hình như trong số các cậu nhỏ làm công cho anh, có một chú bé tên là Cartwright đã tỏ ra được việc trong quá trình điều tra hồi đó."

"Đúng rồi, thưa ông, nó vẫn còn làm ở đây."

"Anh cho gọi nó ra đây nhé?

Cảm ơn anh!

Và tôi muốn đổi tờ năm bảng Anh này thành tiền lẻ."

Theo lệnh của người quản lí, một chú bé mười bốn tuổi, mặt mày sáng sủa, nhanh nhẹn xuất hiện, chú đứng nhìn nhà thám tử lừng danh với vẻ tôn kính hết mực.

Holmes nói, "Cho tôi mượn cuốn Danh bạ Khách sạn.

Cảm ơn!

Này, Cartwright, ở đây có tên hai mươi ba khách sạn, tất cả đều ở khu vực lân cận Charing Cross, thấy chưa?"

"Dạ thấy."

"Cháu phải lần lượt ghé từng khách sạn này."

"Dạ."

"Cứ tới đâu thì đầu tiên cháu phải cho người gác cổng bên ngoài một shilling.

Đây là hai mươi ba shilling."

"Dạ."

"Cháu phải bảo người đó là cháu cần xem qua số giấy loại của ngày hôm trước.

Cứ nói là có một điện tín quan trọng đã giao nhầm và cháu đang cần tìm lại bức điện đó.

Hiểu không?"

"Dạ hiểu."

"Nhưng thật sự cái mà cháu phải tìm là một trang giữa của tờ báo Times có nhiều chỗ thủng bị cắt bằng kéo.

Đây là tờ báo Times.

Trang đó đây này.

Cháu dễ dàng nhận ra mà, phải không?"

"Dạ phải."

"Ở mỗi nơi, người gác cổng sẽ gọi anh bồi ở đại sảnh, cháu cũng cho người này một shilling nhé.

Đây là hai mươi ba shilling nữa.

Sau đó có khả năng là cháu sẽ thấy ở hai mươi ba khách sạn thì có đến hai mươi nơi là giấy loại của ngày hôm trước đã bị đốt hay thải đi rồi.

Trong ba trường hợp còn lại cháu sẽ thấy một đống giấy và phải tìm cho ra trang báo Times này nằm trong đó.

Khả năng tìm được là rất thấp.

Ta thêm mười shilling nữa phòng hờ có chuyện cần.

Trước tối nay phải gửi điện tín về phố Baker báo lại cho ta biết.

Còn bây giờ, Watson ơi, chuyện còn lại là chúng ta phải gửi điện dò tìm tông tích người xà ích của chiếc xe ngựa số 2704, rồi ghé vào một phòng triển lãm tranh trên phố Bond cho qua thời gian chờ đến giờ hẹn ở khách sạn."

5.

Ba manh mối đứt đoạn

Sherlock Holmes có khả năng tách bạch suy nghĩ rất đáng nể.

Suốt hai giờ liền, có vẻ như anh đã quên hẳn công việc kì lạ mà chúng tôi đã can dự vào và hoàn toàn say sưa với những bức tranh của các họa sĩ bậc thầy hiện đại người Bỉ.

Từ khi chúng tôi rời phòng triển lãm cho tới lúc đặt chân tới khách sạn Northumberland, anh toàn nói chuyện mĩ thuật, lĩnh vực mà anh chỉ hiểu biết sơ sơ.

"Ngài Henry Baskerville đang chờ quý ông trên lầu", nhân viên trực nói.

"Ngài bảo tôi là nếu quý ông đến đây thì đưa lên gặp ngay."

"Phiền anh cho phép tôi xem qua sổ đăng kí lưu trú được không?"

Holmes hỏi.

"Xin cứ thoải mái."

Cuốn sổ cho thấy có hai cái tên đã được ghi thêm sau tên Baskerville.

Một là Theophilus Johnson và gia đình, tới từ Newcastle; một là bà Oldmore và người hầu gái, đến từ High Lodge, Alton.

"Nhất định đây phải là ông Johnson mà tôi quen", Holmes nói với nhân viên.

"Ông này là luật sư, tóc hoa râm và chân đi cà nhắc phải không?"

"Dạ không phải, ông Johnson này là chủ mỏ than, một quý ông rất nhanh nhẹn, trạc tuổi ông đấy ạ."

"Có chắc là anh không lầm về nghề nghiệp của ông ta đấy chứ?"

"Dạ không!

Ông ấy quen ở khách sạn này nhiều năm rồi và chúng tôi đâu có lạ gì."

"A, vậy thì rõ rồi.

Còn bà Oldmore nữa, hình như tôi nhớ cái tên này.

Xin lỗi vì tò mò, nhưng thường thì nghĩ đến người quen này lại nhớ đến người quen khác."

"Đây là một quý bà đau yếu, thưa ông.

Chồng bà ấy nguyên là thị trưởng Gloucester.

Lần nào đến đây bà ấy cũng trọ ở chỗ chúng tôi."

"Cảm ơn anh, vậy đúng là tôi không quen biết bà ta.

Watson này", anh hạ giọng nói với tôi khi cả hai cùng đi lên lầu, "với những câu hỏi đó chúng ta đã xác định được dữ kiện tối quan trọng.

Chúng ta giờ đã biết những người hết sức quan tâm đến nam tước đã không trú ngụ ở khách sạn này.

Vậy có nghĩa là dù rất sốt sắng theo dõi Baskerville, như chúng ta đã biết, họ cũng không kém phần sốt sắng muốn tránh mặt anh ta.

Đó, chi tiết này mới đúng là có nhiều ngụ ý."

"Ngụ ý gì chứ?"

"Nó ngụ ý...

ôi, anh bạn thân mến, có chuyện gì thế hở trời?"

Chúng tôi vừa mới vòng qua đầu cầu thang thì đã chạm trán ngài Henry Baskerville.

Gương mặt anh ta bừng bừng tức giận, và trên tay đang cầm một chiếc ghệt cũ, đầy bụi bặm.

Anh ta tức tối không thốt nên lời, mãi sau mới xổ ra một tràng từ ngữ rặt thổ âm miền Tây Mỹ châu, nghe nặng hơn hẳn âm điệu mà chúng tôi đã nghe ban sáng.

Anh ta to tiếng, "Coi bộ cái khách sạn này tưởng tôi là thằng ngu chắc.

Tụi bay khôn hồn thì đừng có chọn lầm người mà giỡn mặt.

Đồ khốn, thằng nhãi đó mà không tìm ra chiếc ghệt thất lạc thì cái khách sạn này sẽ biết tay tôi.

Ồ, ông Holmes, giỡn chơi chút xíu tôi còn chịu được chứ như thế này thật là quá lắm."

"Ngài vẫn còn tìm chiếc ghệt à?"

"Đúng thế, thưa ông, và phải tìm cho ra."

"Nhưng có đúng hồi sáng ngài bảo đó là chiếc ghệt mới màu nâu phải không?"

"Đúng thế, thưa ông.

Còn bây giờ lại là chiếc ghệt cũ màu đen."

"Sao?

Không phải ý ngài nói là...?"

"Ý tôi muốn nói đúng như vậy đấy.

Trên đời này tôi chỉ có ba đôi ghệt mà thôi; đôi mới màu nâu, đôi cũ màu đen, và một đôi bằng da bóng tôi đang mang đây này.

Tối hôm qua chúng nó lấy mất một chiếc ghệt nâu của tôi, hôm nay lại thó mất một chiếc ghệt đen nữa.

Này anh kia, tìm ra chưa?

Nói nghe coi, chứ đừng có đứng trố mắt ra đó!"

Một anh bồi người Đức bối rối vừa ló mặt tới, "Dạ chưa, tôi đã dò hỏi khắp khách sạn rồi nhưng không ai biết gì cả ạ."

"À, nếu đến chiều mà không tìm ra chiếc ghệt thì ta sẽ gặp người quản lí và nói thẳng là ta đi luôn khỏi khách sạn này?"

"Sẽ tìm ra mà, thưa ngài...

Nếu ngài nhẫn nại một chút, tôi xin hứa với ngài là sẽ tìm ra."

"Nhớ lấy, ta sẽ không để bị lấy mất thứ gì ở cái ổ trộm cắp này nữa đâu.

Chà, chà, ông Holmes, xin lỗi đã làm phiền ông vì chuyện vặt vãnh thế này..."

"Tôi nghĩ chuyện này rất đáng quan tâm chứ."

"Ồ, xem ra ông quả là coi trọng chuyện này."

"Thế ngài giải thích làm sao?"

"Tôi không có ý giải thích gì cả.

Đây đúng là chuyện bực mình nhất, kì quặc nhất tôi từng gặp."

"Có lẽ là kì quặc nhất."

Holmes trầm ngâm nói.

"Thế ông nghĩ sao về chuyện này?"

"À, thú thật là tôi cũng chưa hiểu được.

Chuyện của ngài rất phức tạp, ngài Henry ạ.

Khi kết nối việc này với cái chết của ngài Charles, tôi không dám nói là trong cả năm trăm vụ quan trọng tôi từng giải quyết lại có vụ nào kì bí như thế.

Nhưng chúng ta đã có trong tay nhiều manh mối, và khả năng là một manh mối nào đó sẽ dẫn ta đến sự thật.

Chúng ta có thể phí thời gian theo lầm dấu vết, nhưng sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ lần ra đúng hướng."

Chúng tôi cùng thư thả ăn bữa trưa mà không ai nói gì nhiều về công chuyện, qua đó mọi người cảm thấy gần gũi nhau hơn.

Mãi đến khi chúng tôi đã đi vào phòng khách riêng, Holmes mới hỏi nam tước về ý định của anh ta.

"Về lâu đài Baskerville."

"Khi nào?"

"Vào cuối tuần này"

"Nhìn chung quyết định của ngài là sáng suốt", Holmes nói.

"Tôi có thừa bằng chứng là ngài đang bị theo dõi ở London và trong hàng triệu người ở thành phố này thì khó lòng tìm ra những kẻ đó là ai và mục đích của chúng là gì.

Nếu có ác ý thì chúng có thể gây nguy hiểm cho ngài, và chúng tôi sẽ bất lực không ngăn chặn được.

Bác sĩ Mortimer này, ông không biết là sáng nay hai vị đã bị theo dõi khi từ nhà chúng tôi đi ra à?"

"Theo dõi!"

Bác sĩ Mortimer giật bắn người.

"Mà ai làm việc ấy?"

"Rất tiếc đó là điều tôi không thể cho ông biết.

Trong số láng giềng hay người quen biết của ông ở Dartmoor có người nào có râu quai nón đen không?"

"Không, à để xem...

À, có.

Barrymore, người quản gia của ngài Charles để râu quai nón đen."

"A!

Thế Barrymore đang ở đâu?"

"Ông ta đang lo công việc ở lâu đài."

"Tốt nhất chúng ta phải biết đích xác ông ta có thật sự ở đó không hay liệu ông ta có thể đang ở London không."

"Làm sao biết được?"

"Đưa cho tôi một đơn điện tín.

Đã sẵn sàng đón ngài Henry chưa.

Nội dung thế là đủ.

Ghi tên người nhận là ông Barrymore, lâu đài Baskerville.

Bưu cục nào gần nhất nhỉ?

Grimpen.

Rất tốt, chúng ta sẽ gửi bức điện thứ hai cho bưu cục trưởng Grimpen.

Điện tín gửi ông Barrymore phải được giao tận tay.

Nếu người nhận đi vắng, vui lòng trả lại điện tín cho ngài Henry Baskerville, khách sạn Northumberland.

Như vậy đến chiều chúng ta sẽ biết ngay Barrymore có mặt ở Devonshire hay không."

"Ra thế", Baskerville nói.

"À, bác sĩ Mortimer, tiện thể cho tôi hỏi ông Barrymore này là ai vậy?"

"Ông ta là con của người quản gia cũ đã qua đời.

Tới nay nhà họ đã bốn đời chăm lo cho lâu đài.

Theo như tôi biết, hai vợ chồng ông ta đều là người đáng kính trọng không kém bất kì ai trong địa hạt Devonshire."

"Như vậy thì cũng hiển nhiên là", Baskerville nói, "miễn sao không có ai trong gia tộc sống ở lâu đài thì họ sẽ có một dinh cơ hết sức khang trang và không phải làm lụng gì cả."

"Quả thế thật."

"Di chúc của ngài Charles có cho Barrymore thừa hưởng gì không?"

Holmes hỏi

"Hai vợ chồng ông ta mỗi người được năm trăm bảng Anh."

"À!

Họ có biết mình sẽ được nhận khoản tiền đó không?"

"Có, ngài Charles rất thích nói về những điều khoản trong di chúc của mình."

"Rất hấp dẫn."

Bác sĩ Mortimer nói, "Tôi mong là ông không ngờ vực tất cả những ai được nhận một khoản tài sản của ngài Charles, bởi vì tôi cũng được ngài để lại cho một nghìn bảng Anh."

"Thật thế ư!

Còn ai được nữa?"

"Có nhiều khoản lặt vặt để lại cho người này người kia, và một số tiền lớn cho các hội từ thiện công cộng.

Toàn bộ phần còn lại dành cho ngài Henry."

"Vậy phần còn lại là bao nhiêu?"

"Bảy trăm bốn mươi nghìn bảng Anh."

Holmes nhướng mày ngạc nhiên.

Anh nói, "Tôi không ngờ là vụ này có liên quan đến một số tiền khổng lồ như thế."

"Ngài Charles nổi tiếng giàu có nhưng chúng tôi không hề biết là giàu cỡ nào cho đến khi kiểm kê số chứng khoán của ngài.

Tổng giá trị tài sản cũng gần tới một triệu bảng."

"Trời ơi!

Đó là phần thưởng khiến người ta sẵn sàng chơi một canh bạc liều lĩnh.

Một câu hỏi nữa, bác sĩ Mortimer.

Giả sử vị nam tước trẻ đây có mệnh hệ nào, xin ngài thứ lỗi cho giả thuyết khó chịu này, thì ai sẽ thừa kế cả gia sản?"

"Vì em trai của ngài Charles là Rodger Baskerville đã chết mà không có vợ con, tài sản đó sẽ được giao cho gia đình Desmond là bà con xa.

James Desmond là một mục sư cao niên ở Westmoreland."

"Cảm ơn ông, những chi tiết này hết sức đáng chú ý.

Thế ông gặp ông James Desmond bao giờ chưa?"

"Rồi, ông ta có ghé thăm ngài Charles một lần.

Ông ta có diện mạo đáng kính và đời sống rất thánh thiện.

Tôi nhớ ông ta đã từ chối nhận phần chia gia tài của ngài Charles mặc dù chính ngài Charles cố khăng khăng nài ép."

"Nếu vậy thì con người có sở thích bình dị này sẽ thừa kế hàng ngàn bảng Anh của ngài Charles."

"Ông ta sẽ là người thừa hưởng phần đất đai theo quy định về quyền thừa kế.

Ông ta cũng sẽ thừa hưởng phần tiền bạc trừ phi người sở hữu hiện nay có di chúc muốn làm khác đi, tất nhiên là người sở hữu hiện nay có toàn quyền với gia tài ấy."

"Thế ngài đã làm di chúc chưa, ngài Henry?"

"Chưa làm, ông Holmes à.

Tôi không có thời gian vì chỉ mới hôm qua thôi tôi mới biết những việc liên quan.

Nhưng dù sao đi nữa tôi thấy rằng tiền bạc nên đi kèm tước phong và đất đai.

Đó là quan điểm của ông bác xấu số của tôi.

Làm sao chủ nhân mới có thể khôi phục vinh quang của dòng họ Baskerville nếu không có đủ tiền bạc để duy trì dinh cơ?

Nhà, đất và tiền phải đi với nhau."

"Đúng thế.

À, ngài Henry, tôi đồng tình với ngài về quyết định sáng suốt là trở về Devonshire ngay không trì hoãn.

Tôi chỉ đòi hỏi một điều kiện.

Ngài nhất định không được đi một mình."

"Bác sĩ Mortimer sẽ về cùng với tôi."

"Nhưng bác sĩ Mortimer còn có công việc phải lo toan, và nhà ông ấy cách chỗ ngài nhiều dặm.

Dù có tận tình hết mức thì vẫn có lúc ông ấy không giúp đỡ ngài được.

Không, ngài Henry, ngài phải có một người tin cẩn đi cùng, một người sẽ luôn ở bên cạnh ngài."

"Đích thân ông cùng đi được chăng, ông Holmes?"

"Nếu xảy ra chuyện cần kíp thì tôi sẽ cố gắng có mặt tại chỗ; nhưng mong ngài hiểu cho, tôi hành nghề cố vấn trên phạm vi rộng và liên tục nhận được những thỉnh cầu từ mọi nơi, tôi không thể nào vắng mặt ở London trong thời gian không xác định được.

Ngay lúc này đây, một trong những tên tuổi khả kính nhất Anh quốc đang bị một kẻ tống tiền bôi nhọ, và chỉ có tôi mới ngăn chặn nổi một vụ tai tiếng thảm họa.

Ngài thấy đấy, làm sao tôi bỏ đi Dartmoor được."

"Thế ông tiến cử ai được chăng?"

Holmes đặt bàn tay lên cánh tay tôi.

"Nếu anh bạn tôi chịu đảm nhận việc này thì không có ai đáng quý hơn có thể sát cánh với ngài trong cảnh ngặt nghèo.

Tôi xin khẳng định hết sức chắc chắn."

Đề nghị bất ngờ này khiến tôi sửng sốt nhưng tôi chưa kịp đáp lời thì Baskerville đã chộp lấy bàn tay tôi lắc thật nồng nhiệt Anh ta nói, "Ôi quý hóa quá, bác sĩ Watson.

Ông hiểu rõ hoàn cảnh của tôi và ông cũng biết về vụ này không kém gì tôi.

Ông mà về lâu đài Baskerville giúp tôi lo liệu thì tôi sẽ không bao giờ quên ơn."

Viễn cảnh phiêu lưu bao giờ cũng hấp dẫn, và tôi thêm phần hãnh diện vì những lời khen ngợi của Holmes và vì thịnh tình mà vị nam tước này dành cho tôi như một bạn đồng hành.

"Tôi xin hân hạnh tháp tùng", tôi nói.

"Tôi hiện không biết làm sao có thể tận dụng thời gian của mình hay hơn thế."

"Và anh nhớ tường trình cặn kẽ cho tôi đấy", Holmes nói.

"Khi có chuyện cần kíp, mà chắc chắn sẽ có, tôi sẽ hướng dẫn cho anh hành động.

Tôi chắc là tất cả sẽ sẵn sàng lên đường vào thứ bảy chứ?"

"Vậy có tiện không, bác sĩ Watson?"

"Hẳn rồi."

"Thế thì thứ bảy, trừ phi có thay đổi gì khác, chúng ta sẽ gặp nhau trên chuyến tàu 10 giờ 30 ở ga Paddington."

Chúng tôi vừa đứng dậy cáo từ thì Baskerville bỗng reo lên một tiếng đắc thắng rồi lao tới một góc phòng và kéo dưới gầm tủ ra một chiếc ghệt màu nâu.

"Chiếc ghệt thất lạc của tôi đây này!"

Anh ta nói to.

"Mong sao mọi khó khăn của chúng ta cũng tan biến dễ dàng như thế!"

Sherlock Holmes nói.

"Nhưng chuyện này kì lạ quá", bác sĩ Mortimer lên tiếng.

"Trước bữa trưa tôi đã lục khắp phòng này rồi."

"Tôi cũng vậy", Baskerville nói.

"Từng li không sót."

"Chắc chắn là hồi nãy đâu có chiếc ghệt nào dưới đó."

"Nếu vậy hẳn là người phục vụ đã đặt ở đó trong khi chúng ta ăn trưa."

Anh bồi người Đức được gọi tới nhưng lại thú nhận chẳng hề biết chuyện này, mà có hỏi ai cũng chẳng rõ gì hơn.

Lại thêm một bí ẩn nữa tiếp nối một chuỗi những bí ẩn nho nhỏ xảy ra liền tù tì mà bề ngoài có vẻ vu vơ.

Tạm bỏ qua toàn bộ câu chuyện kinh hoàng về cái chết của ngài Charles, chúng tôi đã gặp hàng loạt biến cố không thể giải thích được chỉ trong vòng hai ngày, bao gồm bức thư ghép từ chữ trên báo, tên do thám râu đen trong xe ngựa, mất chiếc ghệt mới màu nâu, mất chiếc ghệt cũ màu đen, và giờ tới chiếc ghệt mới màu nâu xuất hiện trở lại.

Holmes ngồi im lặng trong xe ngựa trên đường về phố Baker, nhìn đôi mày chau và nét mặt căng thẳng của anh, tôi biết trong tâm trí anh cũng như tôi, đang cố hình dung ra một giả thuyết nào đó khớp với những tình tiết kì quái và có vẻ chẳng liên quan gì tới nhau này.

Cả buổi trưa và sang buổi chiều, anh cứ ngồi đăm chiêu trong khói thuốc.

Ngay trước bữa ăn tối có hai bức điện tín được mang tới.

Bức đầu tiên là: Vừa biết tin Barrymore vẫn có mặt ở lâu đài Baskerville.

Bức thứ hai: Đã ghé hai mươi ba khách sạn như chỉ dẫn nhưng rất tiếc phải báo là không tìm ra trang nhật báo Times bị cắt thủng.

Cartwright.

"Thế là hai manh mối tiêu tùng, Watson.

Không có gì kích thích cho bằng một vụ án mà mọi thứ đều bất lợi.

Chúng ta phải dò tìm dấu vết khác thôi."

"Chúng ta vẫn còn người xà ích đánh xe cho tên do thám."

"Chính xác.

Tôi đã gửi điện hỏi tên và địa chỉ của người này ở Sở Trước bạ.

Tôi sẽ không lấy làm lạ nếu như đây là tin phúc đáp."

Tuy nhiên, tiếng chuông cửa không chỉ đem lại tin phúc đáp mà còn hơn thế, vì cảnh cửa xịch mở và một người bộ dạng thô lỗ bước vào - chính người xà ích đó chứ không ai khác.

"Tôi được tổng văn phòng báo cho biết là một quý ông ở địa chỉ này đã hỏi thông tin về xe ngựa số 2740", anh ta nói.

"Tôi đã đánh xe này suốt bảy năm rồi và chưa hề bị ai than phiền.

Tôi từ bãi xe đến thẳng đây để hỏi tận mặt xem ông ta thán gì tôi."

"Tôi chẳng có chuyện gì ta thán anh cả, anh bạn tốt ơi", Holmes đáp.

"Trái lại, tôi sẽ cho anh một đồng nửa sovereign nếu anh trả lời rõ ràng những câu hỏi của tôi."

"A, hôm nay quả là một ngày tốt số", người xà ích ngoác miệng cười.

"Thế ông muốn hỏi gì, thưa ông?"

"Trước tiên là họ tên và địa chỉ của anh, phòng khi tôi cần gặp lại."

"John Clayton, số 3 phố Turpey, khu Borough.

Xe ngựa của tôi đậu ở bãi Shipleyh Yard, gần ga Waterloo."

Sherlock Holmes ghi lại thông tin này.

"Này Clayton, anh hãy kể tôi nghe về hành khách đã đến và theo dõi ngôi nhà này lúc 10 giờ sáng nay, sau đó đi theo hai quý ông dọc phố Regent."

Người kia tỏ vẻ ngạc nhiên và hơi lúng túng.

Anh ta nói, "Chà, tôi có kể ông nghe cũng chẳng ích gì vì coi bộ ông đã biết hết những điều tôi biết.

Sự thật là quý ông đó tự xưng là thám tử và dặn tôi không được nói gì về ông ấy với bất kì ai."

"Anh bạn thân mến ơi, đây là chuyện rất quan trọng, và có thể anh sẽ lâm vào tình cảnh khó khăn nếu anh định giấu giếm tôi bất cứ chuyện gì.

Anh nói người khách đó bảo ông ta là thám tử à?"

"Dạ đúng vậy."

"Ông ta nói thế khi nào?"

"Khi ông ấy rời xe tôi."

"Ông ta có nói gì thêm nữa không?"

"Ông ấy có xưng tên."

"Ồ, có xưng tên à?"

Holmes liếc mắt nhìn tôi vẻ đắc thắng.

"Thật là khinh suất.

Thế ông ấy xưng tên gì?"

"Tên ông ấy", người xà ích nói, "...là Sherlock Holmes."

Chưa bao giờ tôi thấy vẻ mặt anh bạn tôi lại sửng sốt như khi nghe câu trả lời này của người xà ích.

Anh ngồi im ngỡ ngàng mất một lát.

Rồi anh bật cười vui vẻ nói, "Ghi điểm rồi Watson, một cú ghi điểm không thể chối cãi!

Tôi cảm nhận được một đường kiếm cũng mau lẹ và biến ảo như đường kiếm của mình.

Hắn đã đâm trúng tôi một cú đẹp mắt.

Vậy tên ông ta là Sherlock Holmes phải không?"

"Dạ vâng, đó là tên của quý ông ấy?"

"Xuất sắc!

Hãy cho tôi biết anh đón ông ta ở đâu và mọi chuyện đã xảy ra."

"Ông ấy vẫy xe tôi lúc 9 rưỡi sáng ở quảng trường Trafalgar.

Ông ấy xưng là thám tử và đề nghị cho tôi hai đồng guinea nếu nguyên một ngày tôi làm đúng những gì ông ấy muốn và không thắc mắc hỏi han gì hết.

Tôi mừng quá nên đồng ý ngay.

Đầu tiên tôi cho xe đi tới khách sạn Northumberland và chờ ở đó cho tới khi hai quý ông kia đi ra và họ đón xe ngựa từ bãi xe khách.

Chúng tôi đi theo xe của họ cho tới khi dừng lại đâu đó gần đây."

"Ngay cửa nhà này", Hohnes nói.

"Chà, tôi không chắc là thế, nhưng tôi dám nói là vị khách của tôi đã biết cả.

Chúng tôi dừng xe khoảng giữa phố này và chờ một tiếng rưỡi.

Sau đó hai quý ông nọ đi bộ qua chỗ chúng tôi và chúng tôi đi theo dọc phố Baker, và theo..."

"Tôi biết", Holmes nói.

"Cho tới khi đi được ba phần tư phố Regent.

Lúc đó vị khách của tôi kéo sập cửa sổ lại rồi quát bảo tôi phóng xe chạy hết tốc lực tới ga Waterloo ngay.

Tôi quất ngựa chạy thục mạng và chưa đầy mười phút đã đến nơi.

Ông ấy trả tôi hai đồng guinea như đã hứa rồi đi vào nhà ga.

Đến lúc đi, ông ấy mới ngoảnh lại và nói: 'Chắc anh sẽ lấy làm thích thú khi biết mình vừa được đánh xe cho ông Sherlock Holmes.' Vì thế tôi mới biết tên ông ấy."

"Ra thế.

Rồi anh không còn gặp ông ta nữa à?"

"Ông ấy vào trong ga rồi thì tôi không gặp lại nữa."

"Vậy anh mô tả nhân dạng ông Sherlock Holmes được không?"

Người xà ích gãi đầu.

"Chà, quý ông này thật không dễ mô tả chút nào.

Tôi đoán ông ấy chừng bốn mươi tuổi, chiều cao trung bình, thấp hơn ông chừng hai, ba inch gì đó, thưa ông.

Ông ấy ăn mặc có vẻ sang, râu quai nón đen, tỉa bằng phía dưới, và mặt trắng.

Tôi không chắc là có thể nói gì hơn nữa."

"Mắt ông ta màu gì?"

"Ồ, tôi không nói được."

"Anh không còn nhớ gì khác sao?"

"Dạ không, thưa ông."

"Được rồi, tiền thưởng cho anh đây.

Anh sẽ được nửa sovereign nữa nếu có thể cho biết thêm bất kì thông tin nào khác.

Xin chào nhé!"

"Xin chào, và cảm ơn ông!"

John Clayton khoái trá ra về, còn Holmes quay sang tôi nhún vai, mỉm cười thiểu não.

"Thế là đứt luôn manh mối thứ ba, và chúng ta lại quay về điểm khởi đầu", anh nói.

"Tên khốn kia láu cá thật!

Hắn biết số nhà của chúng ta, biết ngài Henry Baskerville nhờ tôi tư vấn, phát hiện ra tôi là ai trên phố Regent, đoán được tôi đã thấy số xe và sẽ tìm ra được người xà ích, nên để lại lời nhắn táo tợn này.

Watson ơi, nói thật với anh, lần này chúng ta đã có đối thủ ngang sức ngang tài rồi đó.

Tôi đã thất bại ở London.

Chỉ mong là anh may mắn hơn tôi ở Devonshire.

Nhưng tôi thật không yên tâm về chuyện này."

"Là chuyện gì chứ?"

"Chuyện cử anh đi.

Vụ này rất đáng sợ, Watson, rất nguy hiểm, và càng biết nhiều về nó thì tôi càng có linh cảm không hay.

Vâng, anh muốn cười thì cứ việc, anh bạn thân mến à, nhưng xin lấy danh dự mà nói với anh là tôi sẽ rất vui mừng khi anh bình an vô sự quay về phố Baker."

6.

Lâu đài Baskerville

Đến đúng ngày hẹn, ngài Henry Baskerville và bác sĩ Mortimer đã sẵn sàng, và chúng tôi lên đường đi Devonshire như đã thu xếp.

Sherlock Holmes tiễn tôi đến nhà ga và cho tôi những lời hướng dẫn, căn dặn cuối cùng trước lúc chia tay.

"Tôi sẽ không làm lung lạc suy nghĩ của anh bằng những giả thuyết hay mối hoài nghi bóng gió nào hết, Watson à," anh nói.

"Tôi chỉ muốn anh báo lại mọi sự việc sao cho đầy đủ nhất còn chuyện lập giả thuyết cứ để tôi lo."

"Loại sự việc nào?"

Tôi hỏi.

"Bất cứ điều gì có vẻ liên quan tới vụ này cho dù rất gián tiếp, và đặc biệt là những mối quan hệ giữa ngài Baskerville trẻ với các láng giềng, hoặc bất kì chi tiết mới nào liên quan đến cái chết của ngài Charles.

Trong mấy ngày qua, chính tôi cũng đã tìm hiểu nhưng tôi e là chưa có kết quả gì.

Chỉ có một điều chắc chắn là ông James Desmond, người thừa kế tiếp theo, là một bậc cao niên tính tình rất hòa ái cho nên những trò thâm hiểm này không thể nào phát xuất từ ông ấy.

Thật sự tôi nghĩ rằng chúng ta có thể loại trừ ông ấy khỏi những trù tính của chúng ta.

Còn lại là những người sống chung quanh ngài Henry Baskerville trên truông."

"Sa thải luôn hai vợ chồng Barrymore ngay từ đầu có phải hơn không?"

"Hoàn toàn không.

Không còn sai lầm nào nghiêm trọng hơn.

Nếu họ vô tội thì làm thế là bất công tàn nhẫn, còn nếu họ có tội thì chúng ta lại mất hết cơ hội vạch trần.

Không, không được, cứ giữ họ trong danh sách tình nghi.

Còn người mã phu ở lâu đài nữa, nếu tôi nhớ không lầm.

Rồi hai nông dân trên truông, ông bạn bác sĩ Mortimer thì tôi tin là hoàn toàn lương thiện, nhưng vợ của Mortimer thì chúng ta chưa hề biết gì cả.

Còn nhà tự nhiên học Stapleton và em gái ông ta, nghe đâu là một phụ nữ rất quyến rũ.

Ông Frankland ở lâu đài Lafter cũng là một ẩn số, rồi thêm một, hai người láng giềng nữa.

Đó là những người mà anh phải để ý thật kĩ."

"Tôi sẽ cố hết sức."

"Chắc anh có mang súng chứ?"

"Có, tôi nghĩ nên mang theo thì hơn."

"Chắc chắn rồi.

Hãy giữ khẩu súng lục cận kề anh suốt ngày đêm, và đừng bao giờ lơ là cảnh giác."

Hai ông bạn kia đã đặt riêng một toa hạng nhất và chờ sẵn ở sân ga.

"Không, chúng tôi không có tin tức gì cả", bác sĩ Mortimer trả lời câu hỏi của bạn tôi.

"Tôi có thể cam đoan là suốt hai ngày qua chúng tôi không bị theo dõi.

Hễ đi ra ngoài là chúng tôi quan sát kĩ càng và không ai có thể tránh được sự chú ý của chúng tôi."

"Chắc là hai vị luôn đi cùng nhau chứ?"

"Chỉ có chiều hôm qua thì không.

Mỗi khi lên thành phố tôi thường bỏ ra một ngày chỉ để tiêu khiển, cho nên tôi dành thời gian ở Bảo tàng Hiệp hội Bác sĩ ngoại khoa."

"Còn tôi đi nhìn ngắm dân tình ở công viên", Baskerville nói.

"Nhưng chúng tôi không hề gặp rắc rối gì hết."

"Dù sao vẫn là khinh suất", Holmes vừa nói vừa lắc đầu, nét mặt vô cùng nghiêm nghị.

"Ngài Henry ơi, tôi xin ngài đừng đi đâu một mình.

Nếu ngài làm thế rủi xảy ra chuyện dữ thì khốn.

Ngài tìm được chiếc ghệt kia chưa?"

"Chưa, thưa ông, mất luôn rồi."

"Thực vậy rồi.

Thật là hấp dẫn đấy.

Thôi, tạm biệt nhé", anh nói thêm khi đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh trên sân ga.

"Xin nhớ cho, ngài Henry, một câu trong truyền thuyết xa xưa mà bác sĩ Mortimer đã đọc cho chúng ta nghe: Đừng băng qua truông vào những giờ tăm tối khi quyền lực của quỷ dữ dâng cao."

Tôi ngoái nhìn lại khi đoàn tàu đã bỏ xa sân ga phía sau và vẫn thấy cái bóng cao gầy, khắc khổ của Holmes đứng bất động nhìn chăm chăm theo chúng tôi

Chuyến đi mau chóng và thoải mái, tôi tranh thủ thời gian đó để kết thân với hai người đồng hành và chơi với con chó của bác sĩ Mortimer.

Chỉ trong vài giờ chóng vánh, mặt đất đã chuyến màu từ nâu sang đỏ, gạch nhường chỗ cho đá hoa cương, và những con bò màu hung gặm cỏ trên những cánh đồng rào giậu bốn bề, nơi cây cỏ sum suê báo hiệu một vùng khí hậu dẫu ẩm ướt hơn nhưng lại tốt tươi hơn.

Vị nam tước trẻ háo hức nhìn ra cửa sổ và reo lên hân hoan khi nhận ra những nét quen thuộc của cảnh trí miền Devon.

Anh ta nói, "Từ khi rời chốn này tôi đã đến rất nhiều nơi trên thế giới, bác sĩ Watson ạ, nhưng tôi chưa thấy đâu sánh được nơi đây."

"Tôi chưa hề gặp người dân Devonshire nào mà không tha thiết với xứ này", tôi nhận xét.

"Điều đó không chỉ tùy thuộc vào vùng đất mà còn tùy thuộc vào dòng giống của người ta nữa", bác sĩ Mortimer nói.

"Nhìn qua người bạn của chúng ta đây thì thấy ngay kiểu đầu tròn của tộc Celt, chứa đựng trong đó nhiệt tình và tính gắn bó của người Celt.

Đầu của ngài Charles tội nghiệp thuộc loại rất hiếm thấy, mang đặc điểm nửa Gael nửa Ivemi.

Nhưng lần cuối cùng ngài nhìn thấy lâu đài Baskerville chắc là lúc còn nhỏ lắm phải không?"

"Lúc cha tôi mất tôi mới có mười mấy tuổi và chưa bao giờ nhìn thấy lâu đài, vì cha tôi sống trong một ngôi nhà nhỏ ở vùng duyên hải miền Nam.

Từ đó tôi đi thẳng sang Mỹ châu ở với một người bạn của gia đình.

Lâu đài này đối với tôi cũng mới lạ hệt như với bác sĩ Watson, và tôi hết sức nôn nóng muốn nhìn thấy vùng truông đó."

"Thật à?

Thế thì ước muốn của ngài sẽ thành hiện thực ngay, vì nhác trông đã thấy vùng truông ấy kia kìa", bác sĩ Mortimer vừa nói vừa chỉ tay ra ngoài cửa sổ toa tàu.

Sau những ô ruộng xanh tươi và một dải rừng cong dưới thấp, từ xa nhô lên một ngọn đồi xám u buồn, đỉnh đồi nham nhở lạ lùng, xa mờ và hư ảo như một cảnh tượng hoang đường trong mơ.

Baskerville ngồi lặng hồi lâu, mắt dán chặt về hướng đó, và nhìn nét mặt háo hức của nam tước tôi nhận ra hình ảnh ấy có ý nghĩa với anh ta biết bao khi lần đầu tiên anh nhìn thấy chốn lạ kì nơi dòng họ anh đã ngự trị từ lâu và để lại dấu ấn quá sâu đậm.

Baskerville ngồi trong góc một toa tàu buồn tẻ, mặc bộ comlê bằng vải tuýt và giọng đặc thổ âm Mỹ, thế nhưng càng nhìn khuôn mặt ngăm đen đầy biểu cảm của anh ta, tôi càng nhận rõ hơn bao giờ hết đây đích thực là hậu duệ của một dòng dõi quý tộc lâu đời, hiếu chiến và đầy quyền uy.

Nét kiêu hãnh, can trường và sức manh lộ rõ qua đôi mày rậm, hai cánh mũi nhạy, và đôi mắt to màu nâu nhạt của anh ta.

Nếu vùng truông đáng sợ đó đang dành sẵn cho chúng tôi một cuộc điều tra gian lao và nguy hiểm thì ít ra tôi có thể chấp nhận mạo hiểm vì người đồng đội này và tin tưởng rằng anh ta sẽ dũng cảm cùng chung mạo hiểm với tôi.

Đoàn tàu dừng ở một ga nhỏ ven đường và tất cả chúng tôi bước xuống.

Bên ngoài, phía sau hàng rào thâm thấp sơn trắng, một cỗ xe song mã không mui loại nhỏ đã chờ sẵn.

Việc chúng tôi tới đây rõ ràng là một sự kiện lớn vì ông trưởng ga và đám nhân viên đã bu tới giúp khuân vác hành lí.

Đây là một vùng quê bình dị, hiền hòa nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy đứng bên cổng ga là hai người có dáng quân nhân mặc đồng phục sẫm màu đang tì người trên hai khẩu súng trường và quan sát chăm chú khi chúng tôi đi ngang qua.

Người xà ích - một anh chàng thấp bé, người gân guốc, mặt lạnh lùng - chào đón ngài Henry Baskerville và chỉ mấy phút sau chúng tôi đã được cỗ xe đưa đi vun vút trên con đường rộng màu trắng.

Đồng cỏ trập trùng uốn lượn hai bên đường và những ngôi nhà cũ kĩ có đầu hồi lấp ló giữa những tán lá xanh um tùm, nhưng đằng sau vùng quê yên bình ngập nắng là vùng truông ảm đạm in lên nền trời một đường cong dài, đen thẫm, đây đó bị đứt quãng bởi những ngọn đồi nham nhở và hắc ám.

Xe ngựa ngoặt sang một đường rẽ và chúng tôi cứ vòng vèo lên dốc, băng qua những lối mòn đã trũng sâu sau bao thế kỉ dưới bánh xe, hai bờ đất cao hai bên bám đầy rêu đẫm ướt và những bụi dương xỉ lưỡi hươu mọng nước.

Đám dương xỉ ngả màu đồng và bụi mâm xôi lốm đốm sáng lên trong ánh chiều tà.

Xe vẫn lên dốc, chúng tôi băng qua một chiếc cầu hẹp bằng đá hoa cương và đi men theo một con suối ngầu bọt ầm ầm đổ xuống xối xả giữa những tảng đá xám.

Cả con đường lẫn dòng suối chạy vòng qua một khe núi mọc đầy những cây sồi và linh sam còi cọc.

Tới mỗi khúc quanh, Baskerville lại thốt lên một tiếng reo mừng, hăm hở nhìn quanh và hỏi vô số chuyện.

Trong mắt anh ta tất cả đều tươi đẹp, nhưng với tôi cả vùng quê này đều nhuốm vẻ u sầu, với dấu hiệu rõ rệt của một năm đang tàn.

Lá vàng phủ ngập các đường mòn và rung rinh phía trên đầu chúng tôi.

Tiếng lọc cọc của bánh xe im bặt khi lăn trên những vạt rau cải thối rữa - với tôi đó dường như là những tặng vật buồn mà Tự Nhiên đã ném ra trước cỗ xe đưa người thừa kế của dòng họ Baskerville trở về.

"Ô, kìa!"

Bác sĩ Mortimer kêu to.

"Có chuyện gì thế?"

Trước mặt chúng tôi là một triền dốc đầy bụi thạch nam, mũi đất ngoài cùng của truông.

Đứng trên đỉnh, rõ ràng và vững chắc như một pho tượng kị sĩ đặt trên bệ, là một người lính cưỡi ngựa, lạnh lùng và nghiêm nghị, súng trường gác trên tay trong tư thế sẵn sàng.

Người lính đang quan sát con đường mà chúng tôi vừa đi qua.

"Ái chà!

Cái gì thế, Perkins?"

Bác sĩ Mortimer hỏi.

"Có một tù nhân đã trốn khỏi ngục Princetown, thưa ông", người xà ích của chúng tôi quay lại nói.

"Y trốn ra được ba ngày rồi, và toán cai ngục theo dõi mọi con đường và nhà ga nhưng vẫn chưa tìm ra dấu vết.

Nông dân sống ở đây không thích chuyện này đâu, thưa ông, và đó là sự thực."

"À, theo tôi biết thì họ sẽ được thưởng năm bảng Anh nếu có thể báo tin."

"Dạ đúng, nhưng khả năng kiếm được năm bảng chẳng đáng gì so với khả năng bị cắt cổ.

Thưa ông, tên này chẳng phải tù nhân bình thường.

Hắn là kẻ dám làm mọi chuyện."

"Ai vậy?"

"Là Selden, tên sát nhân ở Notting Hill."

Tôi nhớ rõ vụ này vì đó là vụ Holmes rất chú ý do tính chất dã man lạ lùng của tội ác và sự tàn bạo vô cớ trong mọi hành động của tên sát nhân.

Dù hành vi hết sức hung ác, y vẫn thoát án tử hình và được giảm án do người ta ngờ rằng y có vấn đề về thần kinh.

Cỗ xe của chúng tôi đã lên tới đỉnh một con dốc và ngay phía trước là vùng truông trải rộng mênh mông, rải rác những mỏm và ụ đá lởm chởm, u cục.

Một luồng gió lạnh từ đó ùa tới khiến chúng tôi run lẩy bẩy.

Đâu đó quanh đây, trên truông hoang vu này, kẻ tàn ác kia đang ẩn nấp, náu mình trong hang như một con thú dữ, lòng đầy ác tâm chống lại cả giống loài đã khai trừ y.

Chỉ còn thiếu có thế là hoàn chỉnh ấn tượng hãi hùng vốn đã toát lên từ miền đất hoang cằn cỗi, luồng gió ớn lạnh, và bầu trời đang sụp tối.

Ngay cả Baskerville cũng không lên tiếng nữa và kéo áo choàng sát vào người.

Chúng tôi đã bỏ lại sau lưng miền quê phì nhiêu phía dưới kia.

Lúc này ngoái nhìn lại, chúng tôi thấy những tia nắng chếch của buổi chiều tà đang biến các dòng suối thành những dải vàng óng, sáng rực trên nền đất đỏ mới cày xới và miệt rừng ngổn ngang trải rộng.

Con đường trước mặt chúng tôi càng lúc càng ảm đạm và hoang vu hơn, băng qua những triền dốc mênh mông màu nâu đỏ, điểm xuyết những tảng đá khổng lồ.

Thỉnh thoảng chúng tôi đi ngang qua một căn nhà nhỏ trên truông, mái và vách bằng đá, không hề trồng cây leo để làm dịu bớt những đường nét thô kệch.

Rồi đột nhiên, chúng tôi nhìn xuống một thung lũng như miệng chén, mọc nham nhở những cây sồi và linh sam còi cọc, thân vặn vẹo cong oằn vì bao năm phải hứng chịu cơn thịnh nộ của bão tố.

Cao vượt lên đám cây cối ấy là hai ngọn tháp cao và hẹp.

Người xà ích trỏ cây roi về hướng đó và nói, "Lâu đài Baskerville đấy."

Vị chủ nhân đã đứng lên và đang nhìn đăm đăm về phía ấy, mắt sáng ngời, hai má đỏ bừng.

Mấy phút sau chúng tôi đã đến cổng ngoài, hai cánh cổng bằng sắt uốn trang trí hoa văn kì dị và rối rắm, hai bên là những cột trụ đã dầu dãi nắng mưa và loang lổ địa y, trên cùng là hai biểu tượng đầu heo rừng của nhà Baskerville.

Ngôi nhà gác cổng chỉ còn là một đống hoang tàn bằng đá hoa cương và những rui kèo trơ trụi, nhưng đối diện đó là một ngôi nhà mới đang xây dở, thành quả đầu tiên từ số vàng mà ngài Charles mang về từ Nam Phi.

Qua cổng, chúng tôi vào lối đi chính, bánh xe lặng lẽ lăn trên lớp lá rụng, những cây cổ thụ vươn nhánh đan thành một đường hầm âm u trên đầu chúng tôi.

Baskerville rùng mình khi nhìn theo lối đi tối tăm hun hút về phía ngôi nhà sáng lờ mờ như một bóng ma ở phía cuối đường.

"Con đường ấy đây ư?"

Nam tước hạ giọng hỏi khẽ.

"Không phải đâu, con đường dạo trồng thủy tùng ở phía bên kia."

Người thừa kế trẻ tuổi ấy nhìn quanh với nét mặt ủ ê.

"Ở một nơi như thế này, thảo nào bác tôi toàn cảm thấy chuyện bất an rình rập", anh ta nói.

"Thế này thì ai mà chẳng sợ.

Tôi sẽ cho mắc một dãy đèn điện trên này trong vòng sáu tháng tới, và các ông sẽ không còn nhận ra nơi này khi đã có một ngọn đèn Swan & Edison công suất bằng cả ngàn ngọn nến lắp ngay trước cửa đại sảnh."

Con đường mở ra thành một bãi cỏ rộng và trước mặt chúng tôi là tòa dinh thự ấy.

Trong ánh chiều lịm tắt tôi có thể nhận ra ngay chính giữa là một khối nhà đồ sộ có hiên trước nhô ra.

Những dây leo thường xuân phủ kín mặt tiền như một bức mành âm u chỉ chừa lại đôi chỗ trống cho một ô cửa sổ hay gia huy.

Phía trên khối nhà chính giữa này là một tháp đôi cổ kính, có nhiều lỗ châu mai và lỗ thông gió.

Bên phải và trái hai ngọn tháp là hai cánh lâu đài xây bằng đá hoa cương đen có vẻ tân thời hơn.

Ánh sáng tù mù rọi chiếu qua những ô cửa sổ có chấn song nặng nề, và một cột khói đen duy nhất bốc lên từ hàng ống khói vươn cao trên mái nhà dốc.

"Chào mừng, ngài Henry!

Mừng ngài đã về lâu đài Baskerville!"

Một người đàn ông cao gầy từ trong bóng tối hàng hiên bước ra mở cửa xe ngựa.

Bóng một phụ nữ in đậm trên nền ánh sáng màu vàng của đại sảnh.

Bà ta đi ra giúp người đàn ông chuyển hành lí của chúng tôi xuống.

"Tôi đi về nhà luôn, chắc ngài không phiền chứ, ngài Henry?"

Bác sĩ Mortimer nói.

"Vợ tôi đang mong."

"Ông phải ở lại dùng bữa tối đã chứ?"

"Không được, tôi phải đi.

Chắc còn nhiều việc đang chờ đợi tôi.

Tôi cũng muốn nán lại đưa ngài đi xem qua tòa nhà này nhưng Barrymore làm người hướng dẫn còn tốt hơn tôi.

Tạm biệt, và nếu cần đến tôi thì dù ngày hay đêm xin ngài cũng đừng ngần ngại."

Tiếng bánh xe nhỏ dần trên lối đi trong khi ngài Henry và tôi quay vào đại sảnh, cánh cửa nặng nề đóng sập sau lưng chúng tôi nghe vang rền.

Chúng tôi thấy mình đứng trong một gian phòng bề thế, trần cao và nhiều rui kèo làm bằng những thanh gỗ sồi lâu năm đã đen thẫm.

Trong cái lò sưởi đồ sộ kiểu cổ, sau mấy vỉ sắt cao, củi cháy reo tanh tách giòn tan.

Ngài Henry và tôi hơ tay bên lò sưởi vì cả hai đều tê cóng sau chuyến xe dài.

Rồi chúng tôi nhìn quanh xem xét ô cửa sổ hẹp, cao, gắn kính màu cũ, những tấm ván sồi ốp tường, những cái đầu hươu và gia huy treo trên vách; tất cả đều lờ mờ tối tăm trong ánh sáng âm u của ngọn đèn đặt ở giữa phòng.

"Giống y như tôi đã tưởng tượng", ngài Henry nói.

"Đích thị đây là hình ảnh mái nhà xưa của dòng họ chứ còn gì nữa?

Thử nghĩ coi, đây chính là lâu đài mà tổ tiên tôi đã sống suốt năm trăm năm qua.

Nghĩ thế bỗng thấy nơi này thật tôn nghiêm."

Gương mặt ngăm đen của nam tước sáng ngời lên vẻ hăng hái như trẻ con trong lúc nhìn ngắm chung quanh.

Ánh sáng rọi thẳng vào nơi anh ta đang đứng nhưng bóng tối lại kéo thành vệt dài trên các bức tường và giăng mắc trên đầu như một bức màn đen.

Ông Barrymore đã quay trở lại sau khi mang hành lí của chúng tôi lên phòng ngủ.

Bây giờ ông đứng trước mặt chúng tôi với phong thái điềm tĩnh của một gia nhân thạo việc, ông có dung mạo đặc biệt, cao gầy, điển trai, bộ râu quai nón đen tỉa vuông vức và nét mặt nổi bật dù nước da hơi tái.

"Ngài có muốn dùng bữa tối ngay bây giờ không, thưa ngài?"

"Có sẵn rồi ư?"

"Chỉ vài phút nữa thôi, thưa ngài.

Ở trên phòng quý ngài đã có sẵn nước nóng.

Thưa ngài Henry, vợ chồng tôi rất vui được ở lại đây cùng ngài cho đến khi nào ngài thu xếp xong, nhưng xin ngài hiểu cho trong hoàn cảnh mới, tòa nhà này sẽ cần nhiều gia nhân hơn."

"Hoàn cảnh gì chứ?"

"Thưa ngài, tôi chỉ muốn nói là ngài Charles sống rất ẩn dật và chúng tôi có thể chăm lo hết mọi việc cần thiết.

Nhưng ngài đương nhiên sẽ muốn có nhiều người bầu bạn hơn, cho nên ngài sẽ cần thay đổi gia nhân trong nhà."

"Ý ông muốn nói là hai vợ chồng ông muốn thôi việc ư?"

"Chỉ khi nào điều đó không gây bất tiện cho ngài thôi, thưa ngài."

"Nhưng gia đình ông đã gắn bó với chúng tôi nhiều đời rồi, không phải vậy sao?

Tôi sẽ lấy làm tiếc nếu như vừa về đây đã phải cắt đứt một mối quan hệ lâu đời của gia tộc."

Dường như tôi nhận ra vài dấu hiệu cảm xúc trên gương mặt của người quản gia.

"Tôi cũng nghĩ như thế, thưa ngài, và vợ tôi cũng vậy.

Nhưng thưa ngài, thú thật là cả hai chúng tôi rất quyến luyến ngài Charles và cái chết của ngài ấy đã khiến chúng tôi bàng hoàng, khiến mọi vật chung quanh đều gợi nỗi thương tâm cho chúng tôi.

Tôi e là ở lâu đài Baskerville này chúng tôi sẽ không bao giờ thấy bình tâm trở lại."

"Thế ông định làm gì?"

"Thưa ngài, tôi tin chắc là chúng tôi sẽ tự tạo dựng được việc làm ăn.

Ngài Charles hào phóng đã tạo điều kiện cho chúng tôi về mặt này.

Còn bây giờ, thưa ngài, tốt nhất là tôi nên đưa ngài đi xem qua phòng ốc."

Một cầu thang đôi dẫn lên một bao lơn hình vuông có lan can ở khoảng trên gian đại sảnh cổ xưa.

Từ tâm điểm này có hai hành lang dài vươn ra đến hết chiều dài tòa nhà, thông với cửa vào tất cả các phòng ngủ.

Phòng của tôi thuộc cùng một cánh với phòng của Baskerville và gần như liền kề.

Các phòng này trông có vẻ hiện đại hơn phần trung tâm của tòa nhà, và giấy dán tường màu sáng cùng nhiều ngọn nến đã góp phần xua tan ấn tượng u ám đã đè nặng tâm trí tôi từ khi tới đây.

Nhưng phòng ăn thông với tiền sảnh lại tối tăm ảm đạm.

Đó là một phòng dài có bậc thềm phân chia trên dưới, bục cao hơn dành cho gia đình chủ nhân còn bên dưới dành cho gia nhân.

Ở đầu phòng, trên cao là một bao lơn dành cho nhạc công.

Trên đầu chúng tôi là những thanh xà nhà đen đúa và cao hơn nữa là trần nhà ám khói.

Nếu có những hàng đuốc rực sáng và màu sắc cùng không khí vui nhộn thô phác của một yến tiệc thời xưa thì gian phòng này hẳn đã bớt u ám; nhưng lúc này đây, khi chỉ có hai người mặc đồ đen ngồi trong quầng sáng nho nhỏ hắt ra từ ngọn đèn có chóa, thì giọng nói bỗng thành ra nhỏ lại còn tinh thần thì chùng xuống.

Một hàng chân dung tổ tiên lờ mờ, mặc đủ kiểu trang phục từ hiệp sĩ thời Trung cổ cho tới công tử thời Nhiếp chính nhìn xuống và đe dọa chúng tôi bằng sự hiện diện câm lặng.

Chúng tôi trò chuyện ít, riêng tôi còn thấy vui mừng khi bữa ăn kết thúc và cả hai có thể lui vào phòng chơi bi-a hiện đại để hút một điếu thuốc.

"Nói thật là nơi này chẳng vui thú gì lắm", ngài Henry nói.

"Tôi chắc là sẽ quen dần nhưng hiện thời tôi cảm thấy hơi lạc lõng.

Thảo nào bác tôi luôn bồn chồn hoảng hốt khi sống một mình trong ngôi nhà như thế này.

Tuy vậy, nếu hợp ý ông thì tối nay chúng ta sẽ nghỉ sớm, có lẽ đến sáng mọi thứ sẽ có vẻ tươi sáng hơn."

Trước khi lên giường, tôi kéo rèm cửa sổ qua một bên và đứng nhìn ra ngoài.

Chỗ này trông ra bãi cỏ ngay trước cửa tiền sảnh.

Đằng xa, hai cái cây khô oằn mình đu đưa và rên rỉ trong cơn gió mạnh dần.

Trăng bán nguyệt chiếu xuyên qua kẽ hở giữa những đám mây đang trôi nhanh.

Trong ánh sáng lạnh lẽo ấy tôi nhìn thấy phía sau mấy bụi cây là một bờ đá nhấp nhô đứt quãng và vòng cung trải dài tít tắp của dải truông u sầu.

Tôi kéo màn lại, tự nhủ cái ấn tượng sau chót này cũng phù hợp với những gì mình đã cảm nhận.

Thế nhưng đó vẫn chưa hẳn là ấn tượng cuối cùng.

Tôi mệt rã rời nhưng vẫn thao thức, trăn trở mãi, chỉ mong giấc ngủ tới mà không được.

Xa xa văng vẳng tiếng đồng hồ đổ chuông cứ mười lăm phút một hồi, ngoài ra chỉ còn sự im lặng chết chóc bao trùm cả tòa nhà cổ xưa này.

Rồi bất chợt, ngay giữa đêm khuya vắng lặng, vọng đến tai tôi một âm thanh rõ rệt, ngân dài, và không thể nào nhầm lẫn.

Đó là tiếng khóc thổn thức của một người đàn bà, tiếng nấc nghẹn của ai đó bị giằng xé bởi một nỗi đau khổ khôn nguôi.

Tôi ngồi trên giường chăm chú lắng nghe.

Âm thanh ấy chỉ có thể ở gần đây và chắc chắn là ngay trong nhà này.

Suốt nửa giờ tôi chờ đợi trong trạng thái thần kinh căng thẳng, nhưng không còn nghe gì nữa ngoại trừ tiếng chuông đồng hồ và tiếng xào xạc của lá thường xuân bám trên tường.

7.

Anh em nhà Stapleton

Vẻ đẹp đầy sức sống của buổi sáng hôm sau đã xóa nhòa ấn tượng ảm đạm, u tối đè nặng tâm trí chúng tôi sau trải nghiệm đầu tiên ở lâu đài Baskerville.

Lúc ngài Henry và tôi ngồi dùng điểm tâm, ánh nắng tràn vào qua những ô cửa sổ cao có chấn song, hắt vào phòng những mảng ánh sáng nhuốm màu của tấm gia huy trên cửa kính.

Những tấm ván ốp tường sậm nâu ánh rực lên màu đồng dưới những tia nắng vàng, thật khó nhận ra đây chính là gian phòng mà tối hôm trước đã khiến cõi lòng hai chúng tôi u ám.

"Tôi nghĩ đó là tại chúng ta chứ không phải tòa nhà này!"

Nam tước nói.

"Chúng ta đã mệt mỏi vì chuyến tàu và lạnh cóng trên xe ngựa nên tới đây nhìn đâu cũng thấy buồn bã.

Giờ chúng ta đã khỏe khoắn rồi thì mọi thứ đều tươi vui trở lại."

"Nhưng không hẳn là hoang tưởng cả đâu", tôi đáp.

"Chẳng hạn đêm qua ngài có tình cờ nghe tiếng ai đó, hình như là phụ nữ, khóc thổn thức chăng?"

"Lạ nhỉ?

Đúng là khi đang ngủ lơ mơ tôi có nghe thấy một âm thanh đại loại như thế.

Tôi chờ một hồi nhưng không nghe thấy nữa nên tôi kết luận đó chỉ là nằm mơ."

"Tôi nghe rõ ràng, và tôi chắc chắn đó là tiếng khóc của phụ nữ."

"Ta phải hỏi ngay chuyện này."

Anh ta rung chuông gọi Barrymore và hỏi xem người quản gia có biết vì sao lại có âm thanh mà chúng tôi đã nghe.

Tôi thấy dường như gương mặt trắng của Barrymore càng tái đi khi nghe câu hỏi của chủ nhân.

"Trong nhà này chỉ có hai phụ nữ thôi, thưa ngài Henry", ông ta đáp.

"Một người là cô hầu nhà bếp, ngủ ở cánh bên kia.

Người còn lại là vợ tôi, và tôi xin đảm bảo đó không phải là tiếng khóc của bà ấy."

Nhưng người quản gia đã nói dối vì tình cờ sau bữa điểm tâm tôi gặp bà Barrymore trong hành lang khi ánh nắng chiếu thẳng vào mặt bà ta.

Bà là người phốp pháp, nét mặt thô kệch, ít biểu cảm và khóe miệng lộ rõ vẻ nghiêm nghị.

Nhưng đôi mắt đỏ liếc nhìn tôi dưới đôi mí mắt sưng húp đã tố cáo hết.

Như vậy chính bà ta đã khóc đêm qua, và nếu thế thì chồng bà phải biết.

Thế mà ông ta lại liều lĩnh bảo là không phải.

Sao lại nói dối chứ?

Và tại sao bà ta khóc nức nở như vậy?

Chưa kể việc này thì người đàn ông râu đen, điển trai, mặt trắng ấy đã có sẵn vẻ bí ẩn và mờ ám rồi.

Chính Barrymore là người đầu tiên phát hiện thi thể ngài Charles, và chúng tôi chỉ có lời khai của ông ta về hoàn cảnh dẫn đến cái chết của ông già.

Rốt cuộc, có lẽ nào kẻ chúng tôi nhìn thấy trong chiếc xe ngựa ở phố Regent lại chính là Barrymore?

Hai bộ râu trông rất giống nhau.

Theo mô tả của người xà ích thì tên do thám kia có phần thấp hơn, nhưng nhận định kiểu ấy rất dễ sai lầm.

Làm cách nào tôi có thể xác định dứt khoát điều này?

Hiển nhiên việc đầu tiên là gặp bưu cục trưởng Grimpen hỏi xem bức điện tín kiểm tra kia có được giao tận tay Barrymore không.

Dù câu trả lời là gì đi nữa thì ít ra tôi cũng có chuyện để tường trình với Sherlock Holmes.

Sau bữa điểm tâm, ngài Henry có vô số giấy tờ cần phải kiểm tra nên thời gian này rất tiện cho tôi dạo quanh.

Sau khi thư thả tản bộ bốn dặm đường men theo rìa truông, tôi tới một ngôi làng nhỏ ảm đạm chỉ có hai ngôi nhà lớn cao vượt lên so với những nhà còn lại, hóa ra đó là một lữ quán và tư gia của bác sĩ Mortimer.

Bưu cục trưởng, cũng là chủ tiệm tạp hóa trong làng, nhớ rất rõ bức điện.

"Chắc chắn mà, thưa ông", ông ta nói.

"Tôi đã cho giao bức điện ấy tới ông Barrymore đúng như chỉ dẫn."

"Thế ai giao?"

"Thằng con tôi đây này.

James, tuần trước con đã giao bức điện cho ông Barrymore ở lâu đài phải không?"

"Dạ, con giao, thưa cha."

"Có giao tận tay ông ấy không?"

Tôi hỏi.

"Dạ lúc đó ông ấy đang ở trên gác xép nên cháu không giao tận tay được, cháu đưa cho chính bà Barrymore và bà hứa sẽ chuyển ngay?"

"Thế cháu có thấy ông Barrymore không?"

"Dạ không, cháu đã nói là ông ấy ở trên gác xép mà."

"Nếu không thấy, làm sao cháu biết ông ấy ở trên gác xép?"

"Ơ hay, bà vợ nhất định phải biết ông ta ở đâu chứ", giọng ông bưu cục trưởng gắt gỏng, "ông ta không nhận được bức điện à?

Nếu có nhầm lẫn gì thì người than phiền phải là ông Barrymore mới đúng."

Có dò hỏi thêm cũng chẳng ích gì nhưng rõ ràng là tuy đã dùng đến mưu mẹo của Holmes, chúng tôi vẫn không có bằng chứng xác thực rằng Barrymore đã không ở London suốt thời gian đó.

Giả sử ông ta đã đến London, giả sử người cuối cùng đã gặp ngài Charles lúc còn sống cũng chính là kẻ đầu tiên theo dõi người thừa kế mới khi vị này vừa về Anh quốc.

Vậy thì sao?

Hắn là tay sai của người khác hay chính hắn có mưu đồ nham hiểm gì đây?

Gây đau khổ cho gia đình Baskerville thì hắn được lợi gì?

Tôi nghĩ tới lời cảnh báo kì lạ cắt ra từ bài báo trên tờ Times.

Chính hắn làm việc đó hay lẽ nào có ai khác muốn chống lại mưu đồ của hắn?

Chỉ có thể hình dung ra động cơ duy nhất như ngài Henry đã nêu là: Nếu dòng tộc này sợ hãi bỏ đi thì vợ chồng Barrymore sẽ được yên vị trong một cơ ngơi tiện nghi của lâu đài.

Nhưng chắc chắn giả thuyết đó hoàn toàn không đủ để lý giải cho những kế hoạch bí mật và tinh vi dường như đang dệt nên một tấm lưới vô hình bao quanh vị nam tước trẻ.

Chính Holmes đã nói trong hàng loạt cuộc điều tra gay cấn của anh, chưa có vụ nào phức tạp cho bằng vụ này.

Trong lúc dạo bước trên con đường vắng vẻ, u buồn này, tôi thầm mong anh bạn tôi sẽ nhanh chóng thoát khỏi những việc đang bận bịu để về đây gánh vác trách nhiệm nặng nề này thay tôi.

Đột nhiên suy nghĩ của tôi bị cắt ngang vì tiếng bước chân chạy theo và tiếng ai đó gọi tên tôi.

Quay lại, tôi tưởng sẽ gặp bác sĩ Mortimer, ngờ đâu người chạy theo tôi lại là một người xa lạ.

Người này nhỏ con, mảnh khảnh, mày râu nhẵn nhụi, mặt choắt, vẻ mặt đứng đắn, tóc vàng nhạt, tuổi áng chừng giữa ba mươi và bốn mươi, mặc bộ comlê xám và đội mũ rơm.

Vai anh ta đeo một hộp thiếc đựng mẫu sưu tầm thực vật và trên tay là chiếc vợt bắt bướm.

"Xin thứ lỗi cho tôi mạo muội đoán mò, chắc ông là bác sĩ Watson", anh ta vừa nói vừa thở hổn hển đi tới chỗ tôi.

"Trên truông này, chúng tôi là dân nhà quê và không câu nệ phép tắc giới thiệu.

Có lẽ ông đã biết tên tôi qua người bạn chung Mortimer.

Tôi là Stapleton ở điền trang Merripit."

"Nhìn cái vợt và chiếc hộp của ông là đủ biết", tôi nói, "và tôi biết ông Stapleton là nhà tự nhiên học.

Nhưng làm sao ông nhận ra tôi?"

"Tôi đã ghé nhà Mortimer và Mortimer đã chỉ cho tôi biết khi ông đi ngang cửa sổ phòng khám của anh ấy.

Vì đi cùng đường với ông nên tôi nghĩ là nên chạy theo và tự giới thiệu.

Tôi chắc là ngài Henry không hề hấn gì sau chuyến hành trình chứ?"

"Ngài ấy vẫn khỏe, cảm ơn ông."

"Chúng tôi ai cũng lo là sau cái chết bi thảm của ngài Charles thì vị tân nam tước sẽ không chịu về đây sống.

Đòi hỏi một người giàu có phải chôn chân ở một nơi như thế này thật quá đáng, nhưng tôi không nói chắc ông cũng hiểu điều đó có ý nghĩa rất lớn với vùng quê này.

Chắc ngài Henry không sợ những điều mê tín trong chuyện này chứ?"

"Tôi cho là không đâu."

"Hẳn ông phải biết truyền thuyết về con quỷ chó ám dòng họ đó chứ?"

"Tôi có nghe."

"Những nông dân quanh đây sao mà cả tin đến lạ!

Khối người sẵn sàng thề là đã thấy một con vật như thế trên truông."

Stapleton vừa nói vừa cười nhưng ánh mắt lại cho thấy dường như anh ta coi chuyện này nghiêm túc hơn thế.

"Câu chuyện đó đã in sâu vào óc tưởng tượng của ngài Charles và tôi tin chắc là nó đã đưa đến kết cục bi đát của ông già."

"Nhưng bằng cách nào?"

"Thần kinh của ngài Charles căng thẳng tới mức bất kì con chó nào xuất hiện cũng có thể tác động tai hại đến trái tim yếu ớt của ngài.

Tôi hình dung là vào đêm cuối cùng ở con đường thủy tùng, ngài Charles thực sự đã thấy cái gì đó đại loại như thế.

Chính tôi đây cũng lo sợ có thể xảy ra tai họa gì đó bởi tôi rất mến ngài ấy và tôi biết ngài bị bệnh tim."

"Làm sao ông biết?"

"Anh bạn Mortimer kể tôi nghe."

"Thế thì theo ông, một con chó nào đó đã đuổi theo ngài Charles và kết quả là ngài đã chết vì hoảng sợ?"

"Ông có cách giải thích nào hợp lí hơn chăng?"

"Tôi không có kết luận nào cả."

"Thế còn ông Sherlock Holmes?"

Câu hỏi đó khiến tôi sửng sốt một lúc nhưng nhìn gương mặt điềm tĩnh và đôi mắt chăm chú của Stapleton, tôi thấy anh ta không hề có ý gây ngạc nhiên cho tôi.

"Giả vờ như không biết ông cũng bằng thừa, thưa bác sĩ Watson", anh ta nói.

"Những ghi chép của ông về nhà thám tử đã tới tay chúng tôi ở đây, và ông không thể nào ca tụng ông Sherlock Holmes mà không khiến người khác biết tới chính mình.

Khi Mortimer cho tôi biết tên ông, anh ấy không thể phủ nhận lai lịch của ông.

Nếu ông có mặt ở đây thì tức là chính ông Sherlock Holmes cũng đang quan tâm đến vụ này, và đương nhiên tôi tò mò muốn biết ý kiến của nhà thám tử."

"E là tôi không thể trả lời câu hỏi đó."

"Xin hỏi chúng tôi có được hân hạnh đón tiếp ông ấy không?"

"Hiện thời anh ấy không thể rời khỏi thành phố.

Anh ấy còn đang quan tâm đến nhiều vụ khác."

"Tiếc quá!

Biết đâu ông ấy có thể làm sáng tỏ vụ việc quá sức bí ẩn đối với chúng tôi.

Nhưng còn những việc ông cần tìm hiểu, nếu như tôi có thể giúp gì, ông chỉ cần gọi một tiếng.

Nếu tôi được biết sơ qua những nghi ngờ của ông, hoặc cách ông muốn điều tra vụ này, biết đâu tôi cũng có thể giúp hay cung cấp tin tức cho ông ngay bây giờ."

"Cam đoan với ông là tôi chỉ xuống đây thăm nhà bạn tôi, ngài Henry, và tôi không cần giúp đỡ gì cả."

"Tuyệt thật!"

Stapleton nói.

"Ông thận trọng và dè dặt là hoàn toàn đúng.

Tôi thật đáng trách vì đã đường đột vô lí, và xin hứa với ông là tôi sẽ không nhắc đến chuyện này nữa."

Chúng tôi đã đi tới một lối mòn hẹp đầy cỏ rẽ khỏi con lộ chính và chạy ngoằn ngoèo băng qua truông.

Một ngọn đồi dốc đứng rải rác những khối đá tảng nằm ở phía bên phải, ngày xưa đã bị xẻ để khai thác đá hoa cương.

Mặt đổi hướng về phía chúng tôi là một vách đá đen, có những bụi dương xỉ và mâm xôi mọc từ các hốc đá.

Phía xa bốc lên một làn khói xám.

"Đi một quãng không xa nữa theo đường này là tới điền trang Merripit", anh ta nói.

"Xin ông dành cho một giờ để tôi được hân hạnh giới thiệu ông với em gái tôi."

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là mình nên ở bên cạnh ngài Henry.

Nhưng rồi tôi nhớ đến đống giấy tờ và biên lai bề bộn trên bàn làm việc của nam tước.

Rõ ràng là tôi không thể giúp gì cho việc đó.

Và Holmes đã dặn riêng tôi cần phải tìm hiểu những người láng giềng trên truông này.

Tôi nhận lời mời của Stapleton và cả hai cùng rẽ sang con đường nhỏ.

"Truông này là chốn kì thú", anh ta vừa nói vừa nhìn quanh, ngắm những triền cỏ nhấp nhô như những đợt sóng cuộn màu xanh lá, mà trên đỉnh sóng là những chỏm đá hoa cương lởm chởm nhô cao.

"Ông sẽ không bao giờ chán vùng truông này.

Ông không thể nào biết hết những bí mật kì diệu ẩn chứa nơi đây.

Thật bao la, thật cằn cỗi, và thật huyền bí."

"Vậy chắc ông biết rõ lắm?"

"Tôi mới sống ở đây có hai năm.

Người ở đây thường gọi tôi là dân mới.

Chúng tôi đến đây không bao lâu sau khi ngài Charles trở về.

Nhưng sở thích của tôi đã đưa tôi đi khảo sát hết mọi nơi trong vùng, và tôi nghĩ là ít ai biết rõ nơi đây hơn tôi."

"Khó biết lắm sao?"

"Rất khó.

Ví dụ nhé, ông nhìn khu đất bằng lớn về phía bắc kia kìa, chỗ có mấy ngọn đồi lạ lùng mọc lên đó.

Theo ông, ở đó có gì đáng chú ý nào?"

"Một chỗ rất hay để phi ngựa."

"Đương nhiên ông sẽ nghĩ như thế và ý nghĩ đó lâu nay đã làm vài người mất mạng rồi.

Ông có thấy những đốm xanh tươi rải rác khắp khu vực đó không?"

"Có, trông có vẻ tươi tốt hơn phần còn lại."

Stapleton cười to rồi nói, "Đó chính là bãi lầy Grimpen.

Dấn sai một bước là người hay vật đi đời như chơi.

Mới hôm qua tôi đã thấy một con ngựa lùn tha thẩn vào trong đó.

Nó không bao giờ trở ra được nữa.

Tôi nhìn thấy đầu nó trồi lên khỏi vũng sình một lúc rồi cuối cùng bị hút xuống dưới bùn.

Băng qua đó ngay cả vào mùa khô cũng đã nguy hiểm, nhưng sau những cơn mưa mùa thu như thế này thì đó là chốn kinh khủng.

Ấy thế mà tôi có thể tìm đường đi tới giữa bãi lầy và sống sót quay về.

Trời đất ơi!

Lại thêm một con ngựa khốn nạn nữa kìa!"

Một vật gì màu nâu đang ngọ nguậy, tròng trành giữa đám cói màu xanh lục.

Rồi một cần cổ dài khổ sở quằn quại bất thần ngóng lên và một tiếng kêu dễ sợ vang động khắp truông vắng.

Tôi ớn lạnh vì khiếp đảm nhưng người bạn đường dường như thần kinh vững hơn tôi, "Nó xong đời rồi!"

Stapleton nói.

"Bãi lầy đã nuốt chửng nó.

Hai ngày chết hai con ngựa, và có lẽ còn nhiều hơn nữa, vì vào mùa khô lũ ngựa đã quen tới đây và không hề nhận biết sự khác biệt cho đến khi bị sa lầy.

Nơi đó rất nguy hiểm, bãi lầy Grimpen ghê gớm."

"Vậy mà ông báo ông đi vào đó được?"

"Đúng, có một, hai lối đi nhỏ mà một người nhanh nhẹn có thể đi qua.

Tôi đã phát hiện ra mà."

"Nhưng tại sao ông lại muốn đi vào nơi kinh khủng như vậy chứ?"

"À, ông thấy mấy ngọn đồi phía bên kia không?

Thực tế đó là những hòn đảo bị cô lập bốn bề giữa bãi lầy bất khả xâm phạm đó, bãi lầy đã dần bao quanh chúng qua nhiều năm.

Đó là nơi có những loài cây cỏ và bướm rất hiếm, miễn là ông biết cách tới được."

"Có ngày tôi sẽ thử vận may xem."

Stapleton sững sờ nhìn tôi.

"Hãy vì Chúa mà từ bỏ những ý tưởng như thế đi", anh ta nói.

"Ông mà mất mạng là tôi có tội đó.

Tôi cam đoan là ông sẽ không có cơ may sống sót trở về, dù là mong manh nhất.

Tôi quay lại được là nhờ nhớ rõ những mốc chỉ đường phức tạp."

"Ô, kìa!"

Tôi kêu lên.

"Cái gì thế?"

Một tiếng rên rĩ trầm trầm, ngân dài, buồn khôn tả, vang vọng khắp truông.

Tiếng rên tràn ngập không gian thế nhưng lại không thể xác định nơi phát xuất.

Ban đầu đó chỉ là tiếng rên khe khẽ, rồi vang dần thành tiếng gầm gào, rồi lại lắng xuống thành tiếng rên khẽ từng chập thê lương như trước.

Stapleton nhìn tôi với vẻ mặt ngỡ ngàng.

"Truông này thật kì lạ!"

Anh ta nói.

"Nhưng tiếng gì thế?"

"Đám nông dân nói đó là tiếng con quỷ chó của dòng họ Baskerville đòi mồi.

Trước đây tôi có nghe thấy một hai lần, nhưng chưa bao giờ rõ như thế này?"

Lòng sợ hãi tái tê, tôi nhìn khu đất bằng bao la, loang lổ những vạt cỏ bấc xanh lục.

Không có động tĩnh gì trên khoảng mênh mông này, ngoại trừ hai con quạ kêu chao chát trên mỏm đá sau lưng chúng tôi.

"Ông là người có học mà cũng tin những chuyện vớ vẩn đó à?"

Tôi nói.

"Theo ông thì cái gì tạo ra âm thanh hết sức lạ lùng đó?"

"Bãi lầy đôi lúc cũng phát ra những tiếng động kì quặc.

Khi bùn sình lắng xuống, hay khi nước dâng lên, hay đại loại thế."

"Không, không phải, đây là tiếng của sinh vật."

"À, có lẽ thế.

Có bao giờ ông nghe tiếng vạc kêu chưa?"

"Chưa, chưa hề."

"Đó là loài chim rất hiếm, có thể coi là đã tuyệt chủng ở Anh quốc, nhưng mọi thứ đều có thể xảy ra trên truông này.

Đúng, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu phát hiện âm thanh chúng ta vừa nghe thấy chính là tiếng kêu của những con vạc bãi lầy cuối cùng."

"Đó là thứ lạ lùng, quái gở nhất tôi từng nghe trong đời."

"Vâng, chốn này nói chung cũng khá kì lạ.

Hãy nhìn phía sườn đồi đằng xa kia.

Theo ông những cái đó là gì nào?"

Khắp triền đồi dốc đứng có những tảng đá xám xếp vòng tròn, ít nhất phải tới hai chục đám.

"Cái gì thế?

Chuồng cừu ư?"

"Không, đó là những ngôi nhà của các vị tổ tiên chúng ta.

Người tiền sử từng sống khá đông đúc trên truông này, và từ bấy tới giờ không có ai sống ở đó nữa nên chúng ta thấy mọi thứ vẫn còn lại y nguyên như lúc họ bỏ chốn này.

Đó là những túp nhà không còn mái.

Thậm chí nếu tò mò đi vào trong, ông còn thấy được cả bếp lò và giường nằm của người tiền sử."

"Nhưng đây rõ ràng là cả một thành phố.

Họ sống vào thời nào?"

"Thời kì Đồ Đá Mới, không rõ niên đại."

"Thế họ sống bằng cách nào?"

"Họ cho gia súc ăn cỏ trên những triền dốc này, và học cách đào đất lấy thiếc khi gươm bằng đồng thiếc bắt đầu thay thế cho rìu đá.

Hãy nhìn cái hào lớn ở ngọn đồi đối diện kia.

Đó là vết tích của họ.

Đúng, ông sẽ tìm ra nhiều điểm lạ lùng quanh truông này đấy, bác sĩ Watson.

Ồ, xin lỗi một tí nhé!

Kia nhất định là một con Cyclopides."

Một con ngài hay con bướm gì đó vừa vỗ cánh bay ngang đường chúng tôi đi và Stapleton liền chạy đuổi theo với tốc độ và sức lực phi thường.

Tôi bắt đầu lo sợ khi nó bay thẳng về phía bãi lầy đáng sợ và người bạn mới quen không hề ngừng bước mà cứ nhảy từ đám cỏ này sang đám cỏ khác đuổi theo, chiếc vợt màu xanh lá cây phất phơ trên không.

Bộ đồ màu xám và những bước nhảy giật, không thẳng mà theo hình chữ chi của Stapleton càng khiến anh ta trông giống một loài bướm khổng lồ nào đó.

Tôi đang đứng quan sát cuộc rượt đuổi, trong lòng vừa thán phục sự nhanh nhẹn phi thường của Stapleton vừa lo sợ lỡ anh ta sa chân vào cái bãi lầy phản trắc kia, thì nghe có tiếng bước chân.

Quay lại, tôi thấy một phụ nữ đang tiến gần tới chỗ tôi trên con đường mòn.

Cô ta đi từ hướng có làn khói tức là vị trí của điền trang Merripit, nhưng vì đi qua chỗ trũng của truông nên bị che khuất, mãi đến khi cô tới thật gần tôi mới trông thấy.

Không hồ nghi gì nữa, đây chính là cô Stapleton mà tôi đã nghe nhắc đến, vì trên truông này ít có bóng dáng phụ nữ thuộc bất kì tầng lớp nào, và tôi nhớ đã nghe ai đó mô tả cô là một mĩ nhân.

Người phụ nữ đang đến gần tôi chắc chắn là người đẹp và lại đẹp hết sức lạ thường.

Hai anh em nhà này không thể nào tương phản hơn, bởi ông anh có màu da bình thường, tóc vàng, mắt xám, còn cô này lại có nước da sậm hơn mọi phụ nữ da ngăm mà tôi đã gặp ở Anh quốc - dáng người cô cao, mảnh mai, trang nhã.

Cô ta có gương mặt kiêu hãnh, thanh tú, và cân đối tới mức đâm ra lạnh lùng nếu không nhờ khóe miệng gợi cảm và đôi mắt huyền nồng nhiệt.

Với thân hình hoàn hảo và trang phục tao nhã, cô ta đúng là một bóng ma kì lạ hiện hình trên con đường vắng giữa truông này.

Khi tôi quay lại cô còn đang mải nhìn về phía người anh rồi cô rảo bước lại chỗ tôi.

Tôi đã cất mũ lên chào và định lên tiếng giải thích nhưng lời cô nói bỗng khiến toàn bộ suy nghĩ của tôi chuyển sang hướng khác.

"Đi đi!"

Cô thốt lên.

"Về London ngay đi."

Tôi chỉ biết đứng ngây người ngạc nhiên nhìn cô.

Cô quắc mắt nhìn tôi và nóng nảy giậm chân trên mặt đất.

"Sao tôi phải đi chứ?"

Tôi hỏi.

"Tôi không giải thích được", cô nói bằng giọng khe khẽ, thiết tha, nghe hơi nhịu và lạ tai.

"Nhưng vì Chúa hãy làm theo lời tôi.

Đi đi và đừng bao giờ đặt chân đến truông này nữa."

"Nhưng tôi vừa mới tới đây mà."

"Ông ơi là ông!"

Cô kêu to.

"Ông không phân biệt được đâu là lời cảnh báo có ích cho ông sao?

Về London đi!

Ngay tối nay!

Tránh xa nơi này bằng mọi giá!

Suỵt, anh tôi quay lại kìa!

Đừng nói gì về điều tôi vừa nói.

Phiền ông hái giúp tôi đóa hoa lan sau đám cỏ đuôi ngựa đằng kia, được không?

Trên truông có đủ loại lan, mặc dù ông tới đây mùa này thì đã hơi muộn, không thấy hết vẻ đẹp của nó đâu."

Stapleton đã bỏ cuộc săn đuổi và quay về chỗ chúng tôi, miệng thở hổn hển, mặt đỏ bừng vì gắng sức.

"A, Beryl!"

Anh ta lên tiếng và tôi thấy dường như giọng điệu chào hỏi này không được thân mật lắm.

"Ồ, Jack, anh ướt đẫm mồ hôi kìa."

"Ừ, anh đuổi theo một con bướm Cyclopides.

Loài này rất hiếm và ít gặp vào cuối thu.

Tiếc là anh không bắt được nó!"

Anh ta nói với giọng thờ ơ nhưng đôi mắt nhỏ sáng quắc kia không ngừng liếc từ cô em gái sang tôi.

"Tôi thấy hai người đã làm quen với nhau rồi phải không?"

"Dạ, em vừa nói với ngài Henry là mùa này đã muộn, ông ấy không thấy hết vẻ đẹp của truông được."

"Sao, cô tưởng đây là ai chứ?"

"Em nghĩ đây hẳn là ngài Henry Baskerville."

"Không, không", tôi lên tiếng.

"Tôi chỉ là một thường dân hèn mọn, bạn của ngài nam tước.

Tôi là bác sĩ Watson."

Gương mặt biểu cảm của cô ửng hồng lên vì bực bội.

Cô nói, "Hóa ra nãy giờ chúng ta nói chuyện mà không hiểu nhau."

"Ủa, hai người làm gì đã trò chuyện được mấy", người anh lại nói với ánh mắt ngờ vực như trước

"Em nói chuyện cứ như bác sĩ Watson sẽ sống ở đây chứ không phải khách ghé qua", cô gái đáp.

"Mùa hoa lan nở sớm hay muộn cũng chẳng quan trọng gì với bác sĩ đây.

Nhưng chắc là ông sẽ ghé thăm điền trang Merripit chứ?"

Chúng tôi đi bộ một quãng ngắn là đến, một ngôi nhà lạnh lẽo trên truông, đây từng là trang trại của một người nuôi gia súc vào thời thịnh vượng xa xưa, giờ đã được tu sửa thành nhà ở theo kiểu tân thời.

Quanh nhà có vườn cây ăn quả, nhưng cũng giống như mọi nơi trên truông, cây cối đều còi cọc héo hon và toàn bộ nơi này toát lên vẻ u sầu tàn tạ.

Một lão gia nhân nhăn nheo lạ lùng, áo quần thâm đen, có lẽ là người trông nom ngôi nhà này, đón chúng tôi vào.

Tuy nhiên, bên trong lại là những gian phòng lớn được bày biện tao nhã, dường như tôi nhận ra ở đó khiếu thẩm mĩ của cô em gái.

Khi từ cửa sổ nhìn ra ngoài truông lổn nhổn toàn đá hoa cương nhấp nhô bất tận đến chân trời, tôi không thể không tự hỏi điều gì đã khiến người đàn ông học thức cao và người đàn bà xinh đẹp kia đến sống ở một nơi như vậy.

"Chọn chỗ này cũng kì cục, phải không?"

Stapleton nói như thể đọc được ý nghĩ của tôi.

"Thế mà chúng tôi lại tự xoay xở được để sống khá sung sướng đấy.

Phải vậy không, Beryl?"

"Rất sung sướng", cô em nói nhưng giọng điệu chẳng thuyết phục chút nào.

"Tôi từng dạy tại một trường học ở miền bắc", Stapleton nói.

"Công việc đó đối với một người tính khi như tôi thì máy móc và nhàm chán, nhưng tôi lại rất thích cái đặc quyền được sống cùng đám trẻ, góp phần nhào nặn những đầu óc non nớt đó, và để lại dấu ấn với chúng bằng chính những lí tưởng và cá tính của mình.

Tuy vậy số phận không chiều lòng chúng tôi.

Một bệnh dịch nghiêm trọng bùng phát trong trường và có ba học sinh chết.

Nhà trường không trụ lại được sau tai họa đó và hầu hết vốn liếng của tôi mất sạch không thể cứu vãn.

Nếu không vì tiếc nuối cái tình thân thiết gắn bó với bọn trẻ thì tôi đã mừng vui vì chuyện rủi ro này rồi; do đam mê thực vật và động vật học, ở đây tôi có thể tha hồ nghiên cứu, còn em gái tôi cũng gắn bó với thiên nhiên như tôi vậy.

Bác sĩ Watson ơi, nhìn nét mặt ông khi đứng bên cửa sổ quan sát truông là tôi biết ngay ông nghĩ đến chuyện này."

"Đúng là tôi chợt nghĩ rằng chốn này có phần buồn chán, có lẽ với ông thì đỡ hơn, nhưng với em gái ông thì khác."

"Không, không, tôi chẳng bao giờ thấy buồn chán cả", cô vội nói.

"Chúng tôi có sách vở, có nhiều việc nghiên cứu, và có những láng giềng thú vị.

Bác sĩ Mortimer là người thông thái nhất trong lĩnh vực của anh ta.

Ngài Charles tội nghiệp cũng là một người bạn đáng hâm mộ.

Chúng tôi quen thân và tiếc nhớ ngài ấy không sao nói hết.

Theo ông thì liệu có đường đột chăng nếu chiều nay tôi ghé qua lâu đài làm quen với ngài Henry?"

Stapleton nói.

"Tôi chắc chắn là nam tước sẽ rất hoan hỉ."

"Vậy có lẽ nhờ ông nói trước là tôi muốn ghé thăm.

Biết đâu trong khả năng khiêm nhường của mình, chúng tôi có thể làm gì đó để giúp nam tước thấy thoải mái hơn, cho đến khi nào ngài ấy quen thuộc với môi trường mới.

Bác sĩ Watson này, ông lên lầu xem bộ sưu tập côn trùng cánh vảy của tôi nhé?

Tôi nghĩ đây là bộ sưu tập đầy đủ nhất ở vùng tây nam Anh quốc này.

Đến lúc ông xem xong thì cũng vừa kịp ăn trưa đó."

Nhưng tôi đã nóng lòng muốn quay về với trọng trách của mình.

Vẻ thê lương của truông, cái chết của con ngựa bất hạnh, âm thanh quái đản được gán cho truyền thuyết ác nghiệt của dòng họ Baskerville, tất cả khiến suy nghĩ của tôi nhuốm màu buồn thảm.

Thêm vào những ấn tượng có phần mơ hồ đó là lời cảnh báo dứt khoát và rõ ràng của cô Stapleton với cung cách khẩn thiết tới mức tôi biết chắc rằng nó ẩn chứa một nguyên do hệ trọng và sâu xa.

Dù họ hết lời nài ép tôi ở lại ăn trưa, tôi vẫn từ chối và lên đường trở về ngay, theo lối mòn cỏ mọc đã đi lúc trước.

Tuy nhiên, chắc hẳn có một đường tắt mà ai am tường địa hình ở đây mới biết, bởi lẽ tôi chưa kịp ra tới con lộ chính thì đã sửng sốt nhận ra cô Stapleton đang ngồi trên một tảng đá bên đường.

Cô chống một tay bên hông, gương mặt ửng hồng xinh đẹp vì gắng sức.

"Tôi đã chạy một mạch để đón đầu ông đó, bác sĩ Watson", cô nói.

"Thậm chí tôi không kịp đội mũ nón gì.

Tôi không được nán lại lâu kẻo anh tôi thấy vắng.

Tôi muốn nói với ông rằng tôi rất tiếc đã phạm sai lầm ngu xuẩn khi tưởng ông là ngài Henry.

Xin hãy quên những gì tôi đã nói vì nó không liên quan gì tới ông cả."

"Nhưng tôi không thể quên, thưa cô Stapleton", tôi nói.

"Tôi là bạn của ngài Henry và sự bình an của ngài ấy là mối quan tâm mật thiết của tôi.

Hãy cho tôi biết lí do cô nôn nóng muốn ngài Henry quay lại London đến thế."

"Cái thói tùy hứng của phụ nữ thôi mà, bác sĩ Watson.

Khi nào biết rõ tôi hơn, ông sẽ hiểu rằng có những thứ tôi nói hay làm mà không thể nói rõ lí do."

"Không, không phải.

Tôi còn nhớ giọng cô nói đầy xúc động.

Tôi còn nhớ ánh mắt cô.

Xin cô, xin làm ơn nói thật đi, cô Stapleton, vì từ khi tới đây tôi luôn nhận ra có nhiều điều ám muội bao quanh tôi.

Cuộc sống đã trở nên giống như bãi lầy Grimpen kia, đâu đâu cũng là những cạm bẫy màu xanh nơi người ta có thể bị sa lầy nếu không có ai chỉ đường.

Xin hãy cho tôi biết ý cô muốn nói và tôi hứa sẽ chuyển lời cảnh báo của cô đến ngài Henry."

Một thoáng do dự lướt qua gương mặt cô ta, nhưng rồi ánh mắt cô lạnh lùng trở lại khi đáp lời.

"Ông cả nghĩ quá đấy, bác sĩ Watson", cô nói.

"Anh tôi và tôi rất bàng hoàng vì cái chết của ngài Charles.

Chúng tôi rất thân thiết với ngài vì ngài thích tản bộ qua truông đến chơi nhà chúng tôi.

Ngài Charles bị lời nguyền đã đe dọa cả dòng họ ám ảnh sâu sắc, nên khi thảm kịch xảy ra tôi đương nhiên cảm thấy những nỗi sợ hãi mà ngài ấy nói ra ắt phải có cơ sở.

Cho nên tôi cũng lo lắng khi thêm một thành viên nữa trong gia tộc đó về đây sống, và tôi nghĩ nên báo trước cho người đó về nguy cơ sẽ gặp phải.

Ý tôi chỉ có vậy thôi."

"Nhưng nguy cơ gì?"

"Ông biết chuyện con chó chứ?"

"Tôi không tin chuyện vô lí như thế."

"Nhưng tôi tin.

Nếu ông có chút ảnh hưởng đối với ngài Henry thì hãy đưa ngài rời khỏi cái chốn đã luôn gây tai họa cho dòng họ của ngài ấy.

Thế giới rộng lớn mà.

Cớ gì ngài ấy lại muốn sống ở nơi nguy hiểm này chứ?"

"Bởi vì đây chính là nơi nguy hiểm.

Đó là bản tính của ngài Henry.

Tôi e rằng nếu cô không thể cho tôi biết thông tin rõ ràng hơn thì chẳng có cách gì khiến nam tước bỏ đi được đâu."

"Tôi không thể nói điều gì rõ ràng, bởi chính tôi cũng không biết điều gì rõ ràng cả."

"Tôi xin hỏi thêm một câu, thưa cô Stapleton.

Nếu như lúc nãy cô chỉ có ý như thế, thì tại sao cô lại không muốn anh cô nghe thấy?

Có gì khiến anh cô hay bất cứ ai phải phật ý đâu."

"Anh tôi rất mong có người về sống ở lâu đài vì anh ấy cho rằng thế là tốt cho đám dân nghèo trên truông.

Anh ấy sẽ rất tức giận nếu biết tôi đã nói điều gì có thể khiến ngài Henry bỏ đi.

Nhưng bây giờ tôi đã xong bổn phận của mình và sẽ không nói thêm nữa.

Tôi phải quay về kẻo anh tôi không thấy mặt lại nghi ngờ tôi đi gặp ông.

Tạm biệt!"

Cô ta quay lưng và mấy phút sau đã mất hút giữa những tảng đá ngổn ngang.

Còn tôi trong lòng chất chứa bao nỗi lo sợ mơ hồ, lại tiếp tục quãng đường trở về lâu đài Baskerville.

8.

Bản tường trình đầu tiên của bác sĩ Watson

Từ đây, tôi sẽ tường thuật diễn tiến các sự kiện bằng cách chép lại những bức thư mà chính tôi đã gửi cho Sherlock Holmes, hiện đang nằm trên bàn ngay trước mặt.

Ngoại trừ một trang đã thất lạc, còn lại tất cả vẫn còn nguyên trạng như đã viết và thể hiện cảm xúc cùng những mối ngờ vực của tôi vào thời điểm đó chính xác hơn trí nhớ, mặc dù tôi vẫn còn nhớ như in những biến cố thê thảm đã xảy ra.

Lâu đài Baskerville, ngày 13 tháng 10

HOLMES THÂN MẾN!

Những bức thư và điện tín trước của tôi đã thông báo kịp thời với anh mọi chuyện xảy ra ở cái xó xỉnh bị Chúa bỏ rơi này.

Càng ở đây lâu càng thấy thấm thía cái hồn của truông, cả sự mênh mông lẫn vẻ mê hoặc gớm ghê của nó.

Mỗi khi ra giữa truông thì mọi dấu vết của Anh quốc hiện đại đều bị bỏ lại phía sau, anh sẽ thấy khắp nơi là nhà ở và công trình của người tiền sử.

Đi đâu anh cũng thấy tứ phía toàn nhà cửa của giống người đã bị quên lãng ấy, cùng các phần mộ và khối cự thạch khổng lồ được cho là vết tích những đền đài của họ.

Nhìn những căn nhà đá xám xịt trên các triền đồi sứt sẹo là anh quên luôn thời đại của mình, giả sử anh có gặp một người lông lá trần truồng bò ra từ khung cửa thấp lè tè và lắp một mũi tên đá vào cung, thì anh sẽ thấy con người đó xuất hiện ở nơi này còn hợp lẽ tự nhiên hơn chính anh.

Điều kì lạ là họ đã sống rất đông đúc trên vùng đất bao đời nay luôn cằn cỗi vô cùng.

Không phải là nhà cổ học nhưng tôi có thể hình dung đó là một tộc người không hiếu chiến và luôn bị sách nhiễu nên buộc phải chấp nhận ngụ cư ở nơi không ai khác thèm chiếm giữ.

Tuy nhiên, những chuyện này không thuộc về nhiệm vụ mà anh đã giao cho tôi và có lẽ không đáng quan tâm đối với tư duy thực tế của anh.

Tôi vẫn còn nhớ anh hoàn toàn dửng dưng về vấn đề trái đất xoay quanh mặt trời hay mặt trời xoay quanh trái đất.

Vì thế tôi sẽ quay lại những dữ kiện liên quan đến ngài Henry Baskerville.

Mấy ngày qua anh không nhận được bản tường trình nào là vì cho tới hôm nay chẳng có chuyện gì quan trọng để báo cả.

Rồi một sự việc rất đáng ngạc nhiên đã xảy ra, chuyện này tôi sẽ thuật lại ngay đây.

Nhưng trước hết, tôi phải cho anh biết vài yếu tố khác về tình hình ở đây.

Trong đó có một yếu tố mà đến giờ tôi ít nhắc tới, chính là tên tù vượt ngục trên truông.

Bây giờ đã có lí do vững chắc để tin rằng y đã đi khỏi đây, quả là cất được gánh nặng cho những gia đình lẻ loi trong khu vực.

Nửa tháng đã trôi qua từ khi tên này đào tẩu, suốt thời gian đó chẳng ai nhìn thấy hay nghe tin tức gì.

Rõ ràng khó mà tin là y có thể cầm cự trên truông bấy lâu nay.

Tất nhiên, nếu nói đến chỗ ẩn náu thì ắt hẳn y không hề gặp khó khăn gì.

Bất kì căn nhà đá tiền sử nào cũng có thể làm nơi trú ẩn cho y.

Nhưng ở đó chẳng có gì để ăn trừ phi y bắt trộm và giết cừu ngoài đồng.

Cho nên chúng tôi nghĩ rằng y đã đi khỏi đây và những nông dân sống ở nơi hẻo lánh nhờ thế mà được an giấc.

Ở lâu đài chúng tôi có bốn người đàn ông khỏe mạnh có thể tự vệ, nhưng thú thật nhiều lúc tôi đã lo lắng khi nghĩ đến anh em nhà Stapleton.

Họ sống cách xa mọi nguồn trợ giúp nhiều dặm.

Nhà chỉ có một người hầu gái, một lão gia nhân, và anh em họ, mà anh ta không phải người khỏe mạnh lắm.

Họ sẽ không đủ sức kháng cự một kẻ cùng đường như tên tội phạm Notting Hill này nếu y toan đột nhập vào nhà.

Cả ngài Henry lẫn tôi đều ái ngại cho hoàn cảnh của họ và đã đề nghị cho anh mã phu Perkins sang ngủ bên nhà đó nhưng Stapleton không nghe.

Thật ra, người bạn của chúng ta, vị nam tước trẻ, đã bắt đầu để mắt đến giai nhân láng giềng.

Chuyện đó cũng chẳng lạ chỉ vì thời gian ở cái chốn hiu quạnh này quá thừa thãi với một người năng động như ngài Henry còn cô ta lại là một giai nhân quyến rũ.

Ở cô có nét gì đó ngoại lai và nồng nhiệt, hết sức trái ngược với người anh lạnh lùng, ít cảm xúc.

Thế nhưng người anh lại giống như một lò lửa ngấm ngầm.

Nhất định anh ta có ảnh hưởng rất mạnh đối với cô em, bởi tôi đã thấy cô không ngừng liếc nhìn anh mình mỗi khi trò chuyện cứ như đang đợi anh ta tỏ ý tán thành những gì cô nói.

Tôi tin là người anh tử tế với cô em.

Trong mắt anh ta ánh lên vẻ lãnh đạm còn đôi môi mỏng mím chặt, thường gắn với bản tính cương quyết và có thể hơi khắc nghiệt.

Anh sẽ thấy người này là một mẫu nghiên cứu thú vị.

Anh ta đến thăm Baskerville ngay ngày đầu tiên, và sáng hôm sau đưa cả hai chúng tôi đi xem chỗ được cho là cội nguồn của truyền thuyết về gã Hugo độc ác.

Đó là một chuyến du ngoạn vài dặm đường băng qua truông tới một nơi hết sức buồn thảm, có lẽ câu chuyện được gợi cảm hứng từ đó cũng nên.

Chúng tôi tới một thung lũng ngắn giữa mấy mỏm đá lởm chởm, mở ra một trảng cỏ xanh điểm xuyết những bụi cây bông trắng.

Ở giữa nhô lên hai tảng đá lớn, phần chóp đã bị bào mòn và mài nhọn, trông như hai cái răng nanh khổng lồ của một con quái thú.

Cảnh tượng hoàn toàn phù hợp với mô tả trong truyền thuyết bi thảm ấy.

Ngài Henry hết sức quan tâm và nhiều lần hỏi Stapleton xem anh ta có thực sự tin rằng liệu thế lực siêu nhiên có khả năng can thiệp vào việc của con người không.

Ngài Henry làm ra vẻ chỉ hỏi bâng quơ nhưng rõ ràng là rất tha thiết muốn biết.

Stapleton lại trả lời dè dặt, nhưng dễ thấy rằng anh ta không nói hết và không bày tỏ hết quan điểm của mình để tránh gây xúc động cho nam tước.

Stapleton kể cho chúng tôi nghe những trường hợp tương tự, trong đó nhiều dòng họ bị yêu ma ám, và anh ta khiến chúng tôi có cảm giác rằng anh ta đồng tình với cách nhìn nhận của số đông về vấn đề này.

Trên đường về chúng tôi ghé điền trang Merripit ăn trưa và tại đây ngài Henry đã làm quen với cô em Stapleton.

Ngay từ phút đầu gặp mặt, nam tước có vẻ như đã bị cô ta hớp hồn, và nếu cảm tình không xuất phát từ cả hai phía thì chắc tôi đã lầm to.

Trên đường tản bộ về nhà, ngài Henry cứ nhắc đến cô ta mãi và từ đó ngày nào chúng tôi cũng gặp hai anh em nhà Stapleton.

Họ đã ăn tối ở đây tối nay và đã bàn chuyện mời chúng tôi đến nhà họ tuần tới.

Tưởng đâu Stapleton phải rất hoan nghênh nếu họ thành đôi, thế nhưng nhiều lần tôi đã bắt gặp thái độ phản đối quyết liệt hiện trên nét mặt anh ta khi ngài Henry tỏ ra quan tâm đến cô em gái.

Stapleton gắn bó với cô em lắm, tất nhiên, và không có cô ta thì Stapleton sẽ sống rất cô đơn, nhưng nếu anh ta cản trở một cuộc hôn nhân xán lạn như thế thì có vẻ ích kỉ quá.

Dù vậy, tôi chắc chắn rằng anh ta không muốn tình thân thiết này chín muồi thành tình yêu, và nhiều lần tôi để ý thấy anh ta ra sức ngăn chặn không cho hai người này gặp gỡ riêng tư.

Tiện thể nói luôn, việc anh dặn dò tôi đừng bao giờ để ngài Henry đi ra ngoài một mình sẽ càng khó thực hiện nếu ngoài những gian nan vốn có bây giờ lại phát sinh thêm chuyện yêu đương.

Nếu tôi cứ khăng khăng làm đúng lời anh thì chẳng mấy chốc cảm tình nam tước dành cho tôi sẽ bị sứt mẻ.

Hôm kia - chính xác là thứ năm - bác sĩ Mortimer ăn trưa với chúng tôi.

Anh ta vừa khai quật một gò đất ở Long Down và tìm được một cái sọ người tiền sử khiến anh ta mừng khôn xiết.

Thật chẳng có ai say mê như anh ta!

Sau đó anh em Stapleton đến, và thể theo yêu cầu của ngài Henry, vị bác sĩ tốt tính kia dẫn tất cả ra con đường thủy tùng để cho chúng tôi hình dung chính xác chuyện đã xảy ra như thế nào trong đêm định mệnh ấy.

Đó là một lối đi tối tăm, hun hút giữa hai hàng giậu thủy tùng xén ngọn cao như hai bức tường, hai bên có bờ cỏ hẹp.

Ở đầu kia là một căn nhà hóng mát cũ đã tàn tạ.

Ở khoảng giữa con đường là cánh cổng gỗ mở ra truông, nơi ông già quý tộc để lại tàn xì gà.

Đó là một cánh cổng bằng gỗ sơn trắng có khóa.

Phía sau là truông rộng mênh mông.

Tôi còn nhớ giả thuyết của anh về chuyện này nên cố mường tượng tất cả diễn tiến.

Khi ông già đứng đây, ông đã thấy cái gì đó băng qua truông, khiến ông khiếp hãi đến mức quẫn trí và bỏ chạy, chạy đến chết chỉ vì kiệt lực và kinh hoàng.

Ông già đã chạy trốn trên con đường hun hút, tối tăm như đường hầm này đây.

Trốn cái gì?

Một con chó chăn cừu trên truông?

Hay là một con quỷ chó, đen ngòm, im lặng và kinh khiếp?

Con người có nhúng tay vào chuyện này không?

Phải chăng ông Barrymore kia đã biết nhiều chuyện mà không chịu nói hết?

Tất cả đều mông lung và mập mờ, nhưng đằng sau luôn hiện diện bóng tối âm u của tội ác.

Tôi đã gặp một người láng giềng nữa sau khi gửi anh lá thư trước.

Đó là ông Frankland ở lâu đài Lafter, cách chỗ chúng tôi chừng bốn dặm về phía nam.

Ông ta đã cao tuổi, mặt đỏ, tóc bạc, tính tình nóng nảy.

Đam mê của Frankland chính là luật pháp Anh quốc và ông ta đã tiêu cả một gia tài vào chuyện kiện tụng, ông ta tranh chấp chỉ để cho vui và sẵn sàng hầu tòa bất kể ở bên nguyên hay bên bị, cho nên không có gì ngạc nhiên là ông ta đã tiêu tốn khối tiền vào thú tiêu khiển đó.

Có khi ông ta chặn lối đi chung và thách giáo xứ khiến ông ta phải mở ra.

Có khi chính tay ông ta lại phá toang cổng nhà người khác và tuyên bố từ thời xa xưa đã có con đường qua đó, lại còn thách gia chủ kiện ông xâm phạm.

Frankland rất uyên bác về quyền lợi chung và các quyền liên quan đến thái ấp từ thuở xưa, và ông ta vận dụng kiến thức của mình lúc thì làm lợi cho dân làng Fernworthy, lúc thì gây hại cho họ, cho nên tùy thuộc vào công trạng mới nhất mà ông ta được công kênh mừng chiến thắng trên đường làng hoặc bị đốt hình nộm nguyền rủa.

Nghe đâu ông ta hiện đang phải đảm đương bảy vụ kiện, xong hết mấy vụ này hẳn số tài sản còn lại của ông ta cũng cạn sạch, hết đường khiêu khích và sẽ trở nên vô hại trong tương lai.

Ngoài chuyện kiện tụng ra, Frankland có vẻ là người nhân hậu, tử tế, và tôi nhắc đến ông ta chỉ vì anh đã căn dặn kĩ là tôi phải mô tả những người sống quanh đây.

Frankland là một nhà thiên văn nghiệp dư và có một kính viễn vọng rất tốt.

Dạo này ông ta đang bận làm một việc kì cục là nằm trên mái nhà suốt ngày, lia ống kính khắp truông, hòng phát hiện ra tên tù vượt ngục.

Nếu ông ta cứ dồn hết sức lực vào việc này thì mọi chuyện đều tốt đẹp, nhưng có tin đồn Frankland định kiện bác sĩ Mortimer vì tội đào mồ mà không có sự đồng ý của họ hàng người quá cố bởi vì ông bác sĩ đã đào được một cái sọ người từ thời Đồ Đá Mới trong gò đất ở Long Down.

Nhờ có Frankland mà cuộc sống của chúng tôi bớt đơn điệu và được chút chuyện hài hước để giải khuây mà chúng tôi rất thiếu.

Và bây giờ, sau khi đã kể cho anh các thông tin mới nhất về tên tù vượt ngục, anh em nhà Stapleton, bác sĩ Mortimer, và ông Frankland ở lâu đài Lafter, tôi sẽ kết thúc bằng chuyện quan trọng nhất để anh biết thêm về vợ chồng Barrymore và đặc biệt là diễn biến đáng ngạc nhiên tối hôm qua.

Trước tiên là chuyện bức điện tín mà anh đã gửi từ London để kiểm tra xem Barrymore có mặt ở đây không.

Tôi đã giải thích là lời xác nhận của ông bưu cục trưởng cho thấy cách kiểm tra đó vô giá trị và chúng ta không có bằng chứng nào khác liên quan.

Tôi nói với ngài Henry chuyện đó và nam tước, vốn quen kiểu bộc trực, lập tức gọi Barrymore lên hỏi xem ông ta có đích thân nhận bức điện ấy không.

Barrymore xác nhận là có.

"Thằng bé đó đưa tận tay ông à?"

Ngài Henry hỏi.

Barrymore có vẻ ngạc nhiên, rồi ngẫm nghĩ một hồi mới nói, "Dạ không.

Lúc đó tôi đang ở trong nhà kho, vợ tôi mang điện tín lên cho tôi."

"Thế chính ông trả lời điện tín à?"

"Dạ không.

Tôi bảo vợ tôi phải trả lời ra sao và bà ấy xuống nhà viết ra."

Đến tối thì chính Barrymore nhắc lại chuyện này.

"Thưa ngài Henry, tôi không hiểu rõ mục đích của việc ngài truy vấn sáng nay.

Tôi chắc những câu hỏi đó không có hàm ý là tôi đã làm điều gì khiến ngài không còn tin cậy tôi nữa, phải không ạ?"

Ngài Henry phải trấn an là không phải thế và làm cho Barrymore nguôi ngoai bằng cách cho ông ta một phần đáng kể số quần áo cũ của mình, vì tất cả những trang phục mới từ London đã được gửi đến.

Còn tôi lại chú ý nhiều tới bà Barrymore.

Bà là người nghiêm nghị, cứng cỏi, rất kín đáo, hết sức đáng trọng, và có phần hơi khắc khổ.

Ta khó lòng hình dung ra người nào ít biểu lộ cảm xúc hơn thế.

Nhưng như tôi đã thuật lại với anh, đêm đầu tiên ở đây, tôi đã nghe bà ta khóc nức nở đến là thảm thiết, từ đó tôi đã nhiều lần để ý thấy dấu nước mắt hoen trên mặt bà ta.

Một nỗi đau khổ sâu sắc nào đó đang vò xé trong lòng con người này.

Có lúc tôi tự hỏi phải chăng bà ta bị ám ảnh bởi một kí ức tội lỗi, có lúc tôi lại nghi ngờ Barrymore là một tên bạo chúa trong gia đình.

Tôi luôn cảm thấy có điều gì đó lạ thường và mờ ám trong tính cách của ông quản gia, nhưng chuyện bất ngờ đêm qua càng khiến tôi hồ nghi tột độ.

Thế nhưng chuyện này lại có vẻ nhỏ nhặt.

Anh biết tôi ngủ không say và vì phải đề cao cảnh giác trong ngôi nhà này nên tôi càng thính ngủ hơn bao giờ hết.

Đêm qua, khoảng 2 giờ sáng, tôi tỉnh giấc khi nghe có tiếng chân rón rén đi ngang phòng mình.

Tôi ra khỏi giường, mở hé cửa nhìn ra.

Một bóng đen đổ dài đang di chuyển dọc hành lang.

Đó là bóng một người đang đi nhẹ bước, tay cầm một cây nến.

Người này mặc áo sơmi và quần dài nhưng đi chân trần.

Tôi chỉ thấy được bóng dáng nhưng tầm vóc ấy cho tôi biết người này chính là Barrymore.

Ông ta đi rất chậm và dè dặt, dáng điệu toát ra vẻ gì đó tội lỗi và lén lút khôn tả.

Tôi đã cho anh biết hành lang này bị bao lơn phía trên đại sảnh chen vào giữa, nhưng nó lại kéo dài sang cánh bên kia.

Tôi chờ đến khi Barrymore khuất dạng liền đi theo.

Khi tôi đi qua bao lơn thì ông ta đã đến cuối hành lang bên kia và từ ánh sáng lờ mờ rọi qua cánh cửa mở, tôi biết ông ta đã đi vào một căn phòng nào đó.

Vì tất cả các phòng bên này đều không có đồ đạc và không có người ở cho nên hành vi của ông ta càng thêm phần bí ẩn.

Tôi lẻn vào hành lang ấy, cố hết sức không gây tiếng động và nhìn lén vào phòng.

Barrymore đang lom khom bên cửa sổ và giơ ngọn nến vào sát cửa kính.

Gương mặt trông nghiêng hơi quay về phía tôi và dường như căng thẳng vì trông đợi trong lúc ông ta nhìn đăm đăm ra vùng truông đen tối.

Suốt mấy phút ông ta cứ chăm chú quan sát như thế.

Rồi ông ta thốt lên một tiếng lẩm bẩm khe khẽ và dập tắt ánh nến với cử chỉ nôn nóng.

Lập tức tôi quay về phòng mình và liền sau đó tôi lại nghe tiếng bước chân rón rén băng qua lần nữa.

Một lúc lâu sau, khi đã lơ mơ ngủ, tôi lại nghe tiếng chìa khóa xoay trong ổ đâu đây, nhưng tôi không thể nói được nơi nó phát ra.

Tôi không biết nguyên do của những việc ấy, nhưng trong ngôi nhà u ám này nhất định có một bí mật mà sớm hay muộn chúng ta sẽ phải tìm hiểu ngọn ngành.

Tôi không quấy rầy anh với những giả thuyết của mình vì anh đã yêu cầu chỉ cung cấp dữ kiện mà thôi.

Sáng nay tôi đã nói chuyện rất lâu với ngài Henry và chúng tôi đã lập một kế hoạch hành động căn cứ vào những gì tôi theo dõi được đêm qua.

Bây giờ tôi chưa nói về kế hoạch này đâu, nhưng chắc nó sẽ làm bản tường trình kế tiếp thêm phần hấp dẫn.

9.

Ánh sáng trên đồng hoang

(Bản tường trình thứ hai của bác sĩ Watson)

Lâu đài Baskerville, ngày 15 tháng 10

HOLMES THÂN MẾN!

Nếu như tôi chưa cung cấp được nhiều thông tin trong những ngày đầu làm nhiệm vụ thì giờ đây anh hẳn phải công nhận rằng tôi đã bù đắp lại thời gian đã mất, và các sự việc ở đây đang diễn ra dồn dập, liên tiếp.

Trong bản tường trình vừa qua, tôi đã dành phần cuối để nói về tình tiết quan trọng nhất là việc Barrymore đến chỗ ô cửa sổ, còn bây giờ tôi đã có hẳn một loạt sự kiện sẽ khiến anh ngạc nhiên lắm, không thì tôi lầm to.

Mọi việc đã thay đổi theo chiều hướng mà tôi không thể ngờ.

Trong vòng bốn mươi tám giờ qua, có thể nói tình hình đã sáng tỏ hơn nhưng cũng có thể nói là phức tạp hơn.

Nhưng tôi sẽ tường thuật hết để anh tự đánh giá.

Trước bữa điểm tâm vào buổi sáng sau phát hiện tình cờ về Barrymore, tôi đi vào hành lang đó và xem xét căn phòng mà đêm trước người quản gia đã vào.

Tôi để ý thấy cửa sổ hướng tây nơi ông ta đã đứng quan sát hết sức chăm chú có một điểm khác biệt với mọi cửa sổ khác trong nhà, đó là vị trí gần nhất để nhìn ra truông.

Có một khoảng trống giữa hai cây lớn nên từ chỗ này có thể nhìn thẳng ra truông, còn nhìn qua các cửa sổ khác thì chỉ thấy lờ mờ đằng xa.

Vì thế, nhất định Barrymore phải trông chờ cái gì hoặc ai đó trên truông.

Đêm ấy trời tối đen nên tôi khó lòng hình dung ông ta đã mong ngóng ai.

Tôi đã nảy ra ý nghĩ là ắt phải có chuyện tình ái dan díu đang diễn ra.

Điều này có thể giải thích cho hành vi lén lút của ông ta cũng như trạng thái bất an của người vợ.

Barrymore là người điển trai, thừa sức chiếm đoạt trái tim của một thôn nữ, do đó giả thuyết này cũng phần nào có lí.

Tiếng mở khóa tôi đã nghe sau khi quay về phòng có thể là khi ông ta đi ra ngoài hẹn hò bí mật.

Sáng ra tôi đã thầm suy luận như vậy và không giấu gì anh hướng nghi vấn của tôi, tuy kết quả đã cho thấy tất cả đều rất xa thực tế.

Nhưng dù nguyên do đích thực trong hành tung của Barrymore là gì, tôi vẫn thấy khó lòng giữ im lặng cho tới khi lí giải được.

Sau bữa điểm tâm, tôi liền đến phòng làm việc của nam tước và kể hết những gì đã thấy.

Anh ta ít ngạc nhiên hơn tôi tưởng.

"Tôi biết chuyện Barrymore nhiều đêm đi lại trong nhà và đã định hỏi ông ta chuyện đó", ngài Henry nói.

"Tôi đã hai, ba lần nghe tiếng chân trong hành lang, đi tới rồi quay về, vào khoảng cái giờ mà ông nói đó."

"Có thể đêm nào ông ta cũng đi tới đúng cái cửa sổ đó", tôi phỏng đoán.

"Chắc là thế.

Nếu vậy, chúng ta có thể theo dõi xem ông ta đang làm gì.

Không biết ông bạn Holmes sẽ làm gì nếu có mặt ở đây?"

"Tôi chắc anh ấy cũng sẽ làm đúng như ngài đang đề nghị", tôi nói.

"Anh ấy sẽ theo dõi Barrymore xem ông ta làm gì."

"Vậy thì chúng ta sẽ cùng theo dõi."

"Nhưng thế thì ông ta nghe thấy mất."

"Ông ta khá nặng tai, và đằng nào ta cũng phải thử xem.

Đêm nay chúng ta hãy cùng thức trong phòng tôi và chờ tới khi ông ta đi ngang qua."

Ngài Henry xoa tay thích chí, rõ ràng là xem chuyện phiêu lưu này như một cách giải khuây cho cuộc sống có phần lặng lẽ ở nơi này.

Nam tước có liên lạc với kiến trúc sư đã thiết kế các đồ án cho ngài Charles và với một nhà thầu khoán ở London, cho nên chúng ta có thể trông chờ những thay đổi lớn sẽ sớm bắt đầu ở đây.

Có những hãng trấn thiết và trang trí nội thất từ tận Plymouth đã cho người đến đây, và hiển nhiên là người bạn của chúng ta có nhiều ý tưởng lớn cũng như điều kiện để khôi phục vinh quang dòng tộc mà không tiếc công sức hay tiền của.

Khi tòa nhà này đã được tu sửa và trấn thiết xong, anh ta chỉ thiếu một phu nhân nữa là trọn vẹn.

Nói riêng với anh, có nhiều dấu hiệu khá rõ ràng cho thấy vị trí ấy sẽ không còn thiếu vắng nếu như người phụ nữ ấy bằng lòng, bởi tôi hiếm khi thấy ai si mê như vị nam tước si mê người đẹp láng giềng, cô Stapleton.

Những tưởng trong hoàn cảnh này, con đường tình chân chính sẽ bằng phẳng nhưng hóa ra không phải thế.

Chẳng hạn như hôm nay, nó đã gặp phải một chướng ngại rất bất ngờ khiến người bạn của chúng ta hết sức bối rối và phật ý.

Sau cuộc trò chuyện về Barrymore mà tôi vừa kể, ngài Henry đội mũ chuẩn bị ra ngoài.

Tất nhiên tôi cũng làm theo.

"Ủa, ông cũng đi cùng sao, Watson?"

Nam tước vừa hỏi vừa nhìn tôi với ánh mắt là lạ.

"Còn tùy xem ngài có đi ra truông hay không", tôi đáp.

"Có, tôi ra đó."

"Chà, ngài biết rõ tôi đã được căn dặn thế nào rồi.

Rất tiếc tôi phải xen vào, nhưng ngài đã nghe Holmes hết sức khẩn thiết bảo tôi không được xa rời ngài, và đặc biệt là ngài không nên ra ngoài truông một mình."

Ngài Henry đặt tay lên vai tôi và cười ha hả.

"Ông bạn thân mến ơi", anh ta nói, "ông Holmes thông tuệ của chúng ta đâu có tiên liệu được một số việc đã xảy ra từ khi tôi đến truông này.

Ông có hiểu tôi không?

Tôi tin chắc không đời nào ông lại muốn làm kẻ phá bĩnh.

Tôi phải đi một mình."

Tôi bị đặt vào tình thế cực kì khó xử.

Tôi bối rối không biết phải nói gì, làm gì, và tôi chưa kịp quyết định thì anh ta đã cầm gậy đi mất.

Nhưng khi tôi suy nghĩ lại thì lương tâm cứ dằn vặt không yên vì đã để cho nam tước rời khỏi tầm mắt tôi bất luận lí do là gì.

Tôi mường tượng mình sẽ thấy sao nếu phải quay về gặp anh và thú nhận rằng rủi ro đã xảy ra do tôi bất tuân lời anh căn dặn.

Cam đoan với anh hai má tôi đã đỏ bừng xấu hổ với ý nghĩ đó.

Lúc này đuổi theo anh ta cũng còn kịp cho nên tôi lập tức lên đường theo hướng điền trang Merripit.

Tôi hấp tấp chạy hết sức trên đường mà đến tận chỗ lối mòn rẽ ra truông vẫn chẳng thấy bóng dáng ngài Henry đâu.

Đến đây, sợ đi sai hướng, tôi trèo lên một ngọn đồi để có thể nhìn bao quát xuống - chính là ngọn đồi đã bị xẻ thành mỏ đá âm u kia.

Từ vị trí này tôi nhìn thấy nam tước ngay.

Ngài Henry đang ở trên lối mòn ra truông cách chỗ tôi chừng một phần tư dặm, và bên anh ta có một bóng hồng, chỉ có thể là cô Stapleton.

Rõ ràng là giữa hai người đã có ước định từ trước và cuộc gặp này là một cuộc hẹn hò.

Họ vừa thong dong tản bộ vừa trò chuyện say sưa, tôi thấy cô ta vung tay rất nhanh như thể đang nói gì đó rất khẩn thiết, trong khi nam tước lắng nghe chăm chú, đôi lần lắc đầu tỏ vẻ bất đồng quyết liệt.

Tôi đứng giữa những tảng đá nhìn họ, rất hoang mang không biết phải làm gì.

Đi theo họ và chen ngang vào cuộc trò chuyện riêng tư này thì thô lỗ quá, thế nhưng nhiệm vụ của tôi là không được để nam tước khuất khỏi tầm mắt một lúc nào.

Phải do thám bạn mình đúng là một công việc đáng ghét.

Dù vậy, tôi không còn cách nào khác hơn là quan sát nam tước từ trên đồi và sau này sẽ xoa dịu lương tâm bằng cách thú nhận với anh ta.

Thực tình nếu có mối nguy hiểm bất ngờ đe dọa nam tước thì tôi cũng chẳng làm được gì do ở quá xa, nhưng tôi tin chắc anh sẽ đồng ý với tôi rằng tình huống này rất khó xử và tôi không thể làm khác.

Người bạn của chúng ta, ngài Henry, cùng quý cô kia đã dừng bước trên đường và đang đứng nói chuyện mải mê, thì đột nhiên tôi nhận ra mình không phải là chứng nhân duy nhất của cuộc gặp gỡ này.

Một vệt màu xanh lá cây rập rờn bỗng lọt vào mắt tôi và đưa mắt nhìn sang, tôi thấy vật đó gắn trên một cây gậy và người cầm nó đang đi trên mặt đất gồ ghề.

Chính là Stapleton với cây vợt bắt bướm của anh ta.

Stapleton ở gần hai người kia hơn tôi, và anh ta hình như đang đi về phía họ.

Ngay lúc đó ngài Henry thình lình kéo cô Stapleton sát lại gần.

Cánh tay nam tước vòng qua lưng người phụ nữ nhưng có vẻ cô ta đang cố giằng ra và ngoảnh mặt đi tránh né.

Nam tước cúi đầu áp vào mặt cô Stapleton, còn cô ta giơ cao một cánh tay như phản đối.

Liền sau đó tôi thấy hai người buông nhau ra, hấp tấp quay lại nhìn quanh.

Nguyên nhân của sự gián đoạn đó chính là Stapleton.

Anh ta đang chạy hộc tốc tới chỗ họ, cái vợt kì cục đung đưa sau lưng.

Anh ta khoa tay múa chân và cứ như đang nhảy lên vì kích động trước mặt đôi tình nhân.

Quả là một cảnh tượng tôi không sao hình dung nổi, nhưng tôi thấy Stapleton dường như đang lăng mạ ngài Henry, vị nam tước giải thích gì đó và đâm ra càng tức giận khi người kia không chịu chấp nhận.

Còn người phụ nữ chỉ đứng một bên im lặng kiêu kì.

Cuối cùng Stapleton quay gót, vẫy tay ra hiệu cho cô em một cách dứt khoát, còn cô gái chỉ do dự liếc nhìn ngài Henry rồi bỏ đi cùng anh trai.

Cử chỉ tức giận của nhà tự nhiên học cho thấy anh ta không hài lòng về cô em.

Nam tước đứng nhìn theo họ một lúc rồi từ từ đi ngược lại con đường cũ, đầu cúi gằm, trông đầy thất vọng.

Tôi không sao hiểu được chuyện vừa diễn ra nhưng tôi thấy hổ thẹn ghê gớm vì đã chứng kiến một cảnh tượng hết sức riêng tư mà bạn mình không biết.

Cho nên tôi chạy xuống và đón nam tước ở chân đồi.

Mặt anh ta còn đỏ bừng tức tối và trán nhăn lại như không còn biết phải làm gì.

"Ồ kìa, Watson!

Ông ở đâu hiện ra thế?"

Ngài Henry nói.

"Đừng nói là ông cứ bất chấp mà đi theo tôi đấy!"

Tôi nói rõ tất cả cho anh ta biết: Nào là tôi không thể ngồi ở nhà, nào là tôi đã đi theo, và tôi đã nhìn thấy chuyện vừa xảy ra.

Nam tước quắc mắt nhìn tôi hồi lâu nhưng sự thành thật của tôi đã hóa giải cơn thịnh nộ của anh ta, cuối cùng anh chàng bật ra một tiếng cười khá thiểu não.

"Cứ tưởng giữa chốn đồng cỏ này là nơi an toàn cho một người cần sự riêng tư", anh ta nói, "nhưng trời ơi, hóa ra cả xứ này đã ra đây xem tôi diễn trò ve vãn, đã thế lại còn ve vãn rất tồi!

Thế ông ngồi ở đâu xem diễn kịch vậy?"

"Tôi ở trên đỉnh đồi kia."

"Vậy là hàng ghế chót, hả?

Nhưng anh cô ấy thì ở ngay hàng ghế đầu.

Ông có thấy hắn sấn sổ tới chỗ chúng tôi không?"

"Có, có thấy."

"Có bao giờ ông nghĩ là hắn khùng không, ông anh của cô ấy đó?"

"Tôi chưa từng nghĩ thế."

"Tôi cũng không dám nghĩ thế.

Lúc nào tôi cũng thấy hắn tỉnh táo cho tới hôm nay, nhưng tôi xin đảm bảo rằng hoặc hắn hoặc tôi phải có một kẻ bị điên.

Nhưng tôi thì có vấn đề gì chứ?

Ông đã sống bên tôi mấy tuần rồi, Watson.

Cứ nói thẳng ra đi!

Có lí gì tôi lại không thể trở thành người chồng tốt đối với người phụ nữ tôi yêu?"

"Tôi thấy chẳng có vấn đề gì."

"Hắn không thể phản đối tôi vì địa vị của cải, vậy thì nhất định hắn phải oán ghét chính bản thân tôi.

Mà ghét tôi vì lẽ gì?

Trong đời tôi chưa hề làm hại ai bao giờ.

Thế mà hắn gần như không cho tôi động đến đầu ngón tay cô ấy."

"Anh ta nói thế à?"

"Thế đấy, và còn nhiều nữa.

Watson này, nói thật với ông, tôi chỉ mới quen cô ấy có mấy tuần thôi nhưng ngay từ lần gặp đầu tiên tôi đã cảm thấy cô ấy được dành cho tôi, và cả cô ấy cũng rất vui sướng khi ở bên tôi, xin thề với ông đó.

Ánh mắt người phụ nữ còn nhiều ý nghĩa hơn là lời nói.

Nhưng hắn không bao giờ cho chúng tôi gặp gỡ riêng tư và chỉ có hôm nay là lần đầu tiên tôi có cơ hội nói vài lời với riêng cô ấy.

Cô ấy sẵn lòng gặp tôi nhưng khi mở lời thì chẳng nói gì đến tình cảm, và cũng chẳng để tôi nói về chuyện ấy.

Cô ấy cứ nhắc đi nhắc lại rằng đây là chốn nguy hiểm, và tôi phải đi khỏi đây thì cô ấy mới hài lòng.

Tôi nói vì tôi đã gặp cô ấy nên tôi càng không muốn đi, và nếu quả thực cô ấy muốn tôi ra đi thì chỉ có một cách là cô ấy thu xếp đi cùng tôi.

Nói thế xong tôi bèn hết lời ngỏ ý cầu hôn nhưng cô ấy chưa kịp đáp lại thì người anh ở đâu chạy tới, bộ dạng như thằng điên.

Hắn tái mặt đi vì thịnh nộ, đôi mắt sáng màu như tóe lửa giận.

'Mi đang giờ trò gì với cô ấy?

Sao mi dám bày tỏ với cô ấy những thứ tình cảm mà cô ấy ghê tởm?

Bộ mi tưởng là nam tước rồi muốn làm gì thì làm sao?' Nếu hắn không phải là anh cô ấy thì tôi đã có cách trả lời hay hơn rồi.

Vì nể tình nên tôi nói với hắn là tình cảm tôi dành cho em gái hắn không có gì khiến tôi phải hổ thẹn, và tôi hi vọng sẽ được hân hạnh cưới cô ấy làm vợ.

Nói thế dường như càng khiến sự việc xấu thêm, thế là tôi cũng nổi nóng, và lời qua tiếng lại gay gắt với hắn, có lẽ không được phải phép lắm, vì có cô ấy đứng đó.

Kết cục là hắn bỏ đi cùng với cô em, như ông đã thấy, còn tôi bối rối không biết làm sao.

Watson, ông thử giải thích cho tôi hiểu đi, tôi sẽ mang ơn ông lắm."

Tôi thử vài cách lí giải nhưng thực tế chính tôi cũng hoàn toàn bối rối.

Tước vị, gia sản, tuổi tác, tính cách và dung mạo người bạn của chúng ta đều rất được, và tôi chẳng thấy anh ta có khiếm khuyết nào, trừ phi tính đến cái định mệnh đen tối ám ảnh dòng tộc anh ta.

Việc anh ta bị cự tuyệt thẳng thừng như thế mà không xét đến ý muốn của chính cô gái, và cô ta lại chấp nhận hoàn cảnh ấy không chút phản kháng quả là hết sức đáng kinh ngạc.

Tuy nhiên, chúng tôi khỏi phải ước đoán gì nhiều vì ngay chiều hôm đó chính Stapleton đã đến tận nơi giải thích.

Anh ta đến xin lỗi vì hành động lỗ mãng ban sáng, và sau một cuộc gặp riêng rất lâu với ngài Henry trong phòng làm việc của nam tước, bất hòa đã được hàn gắn và bằng chứng là thứ sáu tới chúng tôi sẽ ăn tối ở điền trang Merripit.

"Tôi không nói là anh ta hết điên khùng", ngài Henry nói.

"Tôi không thể quên được ánh mắt của anh ta khi chạy tới chỗ tôi sáng nay, nhưng phải thừa nhận là không ai biết cách xin lỗi hay ho hơn con người này."

"Anh ta có giải thích gì về cách cư xử ấy không?"

"Cô em gái là tất cả đối với anh ta, Stapleton nói thế.

Điều này cũng tự nhiên thôi và tôi lấy làm mừng là anh ta biết được giá trị của cô ấy.

Họ luôn ở bên nhau và theo Stapleton kể thì anh ta hết sức cô đơn, chỉ có cô em bầu bạn, cho nên ý nghĩ phải mất cô em thực tình là kinh khủng, ý nghĩ ấy khiến anh ta kinh hãi đến mức không còn biết mình đã nói gì hay làm gì.

Stapleton rất hối tiếc về chuyện đã xảy ra và nhận rằng anh ta thật ngu xuẩn và ích kỉ biết bao nên mới mơ tưởng rằng có thể giữ riết một mĩ nhân như cô em gái bên cạnh mình suốt đời.

Nếu phải để cô ấy đi lấy chồng, anh ta mong cô ấy kết hôn với láng giềng như tôi đây còn hơn là bất kì ai khác.

Dẫu sao đây vẫn là một điều bất hạnh đối với Stapleton và anh ta cần một thời gian tự chuẩn bị để đón nhận thực tế này.

Về phần anh ta, Stapleton sẽ không phản đối nếu như tôi hứa để cho chuyện này tạm lắng xuống trong vòng ba tháng và trong thời gian đó chỉ xây dựng tình bạn với cô ấy mà đừng đòi hỏi tình yêu.

Tôi đã hứa như thế và vấn đề giải quyết xong."

Vậy là một trong những bí ẩn nho nhỏ của chúng ta đã được sáng tỏ.

Trong cái bãi lầy chúng ta đang lóp ngóp may còn có chỗ chạm được tới đáy cũng là đáng kể rồi.

Giờ chúng ta đã biết tại sao Stapleton lại không tán thành người cầu hôn em gái anh ta, dẫu là một người hết sức thích hợp như ngài Henry.

Và bây giờ tôi xin chuyển sang một manh mối khác mà tôi đã tháo gỡ từ cuộn chỉ rối bời này, bí mật về tiếng khóc nức nở trong đêm, về gương mặt hoen lệ của bà Barrymore, về chuyện ông quản gia lén lút tới chỗ ô cửa sổ mắt cáo ở hướng tây.

Hãy chúc mừng tôi đi, Holmes thân mến, và hãy nói là tôi, trong vai trò đại diện, đã không phụ lòng anh và anh không uổng phí niềm tin phó thác khi phái tôi về đây.

Chỉ nhờ công một đêm hành động, tất cả những điều đó đã sáng tỏ hết.

Tôi vừa nói 'chỉ nhờ công một đêm hành động' nhưng thực tế là hai, bởi đêm đầu tiên chúng tôi không thu được kết quả gì.

Tôi thức cùng ngài Henry trong phòng anh ta cho đến 3 giờ sáng nhưng không thấy âm thanh nào như đã từng nghe, ngoại trừ tiếng chuông đồng hồ trên cầu thang.

Đó là một đêm ngồi canh buồn bã và kết cục là cả hai chúng tôi đều ngủ gục trên ghế.

May mà chúng tôi không nản lòng và quyết tâm thử lại lần nữa.

Đêm kế tiếp chúng tôi vặn nhỏ đèn và ngồi im lặng hút thuốc.

Thời giờ trôi qua chậm chạp khôn tả, nhưng chúng tôi chờ được là nhờ vào sự chủ tâm nhẫn nại giống như tâm trạng của người thợ săn khi canh chừng cái bẫy mà anh ta mong con thú sa vào.

Đồng hồ gióng một, rồi hai hồi chuông, chúng tôi đang định bỏ cuộc lần thứ hai trong vô vọng thì ngay sau đó cả hai đều bật dậy trên ghế và mọi giác quan mệt mỏi liền tỉnh táo trở lại.

Có tiếng bước chân cọt kẹt trên hành lang lát ván.

Chúng tôi nghe tiếng chân hết sức rón rén đi ngang qua phòng cho tới khi lịm tắt ngoài xa.

Sau đó nam tước nhẹ nhàng mở cửa và chúng tôi bèn bám theo.

Người kia đã đi vòng qua bên kia bao lơn và hành lang đã chìm trong bóng tối.

Chúng tôi chỉ thoáng nhìn thấy bóng người cao lớn, râu đen, vai khòng, nhón chân đi dọc hành lang.

Đoạn Barrymore vào đúng cửa phòng lần trước, ánh nến soi rõ khung cửa trong bóng tối và hắt một luồng sáng vàng vọt lẻ loi vào hành lang âm u.

Chúng tôi thận trọng lê bước tới đó, dò dẫm từng tấm ván sàn trước khi mạnh dạn đặt hết trọng lượng thân mình lên bàn chân.

Chúng tôi đã cẩn thận bỏ hết giày ghệt lại trong phòng, nhưng những tấm ván cũ kĩ vẫn cứ kẽo kẹt, răng rắc dưới bước chân chúng tôi.

Có lúc tưởng như ông ta không thể không nghe tiếng chúng tôi đang tới gần.

Tuy nhiên, may sao ông ta nặng tai và hoàn toàn chú tâm vào việc đang làm.

Khi tới cửa phòng và lén nhìn vào, chúng tôi thấy ông ta đứng khom người bên cửa sổ, cây nến trong tay, gương mặt tái chăm chú tì vào ô cửa kính, đúng như tôi thấy hai đêm trước.

Chúng tôi không bàn tính trước cách hành động nhưng nam tước là người tin rằng cách tự nhiên nhất luôn là cách trực tiếp nhất.

Ngài Henry đi thẳng vào phòng đó, thế là Barrymore vừa thảng thốt bật lên một tiếng thở mạnh vừa nhảy dựng lên khỏi cửa sổ, đứng trước mặt chúng tôi, mặt xám ngoét, người run cầm cập.

Đôi mắt đen trân trối trên gương mặt trắng như mặt nạ của Barrymore tràn đầy nỗi khiếp sợ và sửng sốt khi ông ta hết nhìn ngài Henry lại nhìn tôi.

"Ông làm gì ở đây thế, Barrymore?"

"Dạ không có gì."

Ông ta bị kích động tới mức nói không nên lời, bàn tay cầm nến run rẩy khiến những cái bóng cứ nhảy nhót đong đưa.

"Cái cửa sổ, thưa ngài.

Ban đêm tôi đi quanh xem cửa nẻo đóng chặt chưa."

"Trên tầng hai này à?"

"Vâng ạ, tất cả cửa sổ."

"Này, Barrymore," ngài Henry nghiêm giọng nói, "chúng tôi đã nhất quyết là ông phải nói hết sự thật.

Không sớm thì muộn ông cũng phải nói.

Để khỏi mất công, ông hãy nói ngay bây giờ!

Không được nói dối!

Ông đang làm gì ở cửa sổ đó?"

Người quản gia bất lực nhìn chúng tôi, hai bàn tay cứ vặn vẹo như một người trong tình cảnh khổ sở và nghi ngại cùng cực.

"Tôi không làm gì có hại, thưa ngài.

Tôi chỉ gí cây nến vào cửa sổ."

"Thế tại sao ông lại gí cây nến vào cửa sổ chứ?"

"Xin đừng hỏi, thưa ngài Henry, xin đừng hỏi!

Tôi xin thề với ngài là đây không phải bí mật của tôi, nên tôi không thể nói ra.

Nếu chuyện này không liên can tới ai ngoài chính bản thân tôi thì tôi không dám giấu ngài đâu."

Một ý tưởng bất chợt nảy ra trong trí, tôi lấy ngọn nến từ bàn tay run lẩy bẩy của người quản gia.

"Nhất định ông ta đang dùng cái này làm tín hiệu", tôi nói.

"Ta hãy thử xem có hồi đáp gì không."

Tôi đưa cây nến tới cửa sổ như ông ta đã làm và chăm chú nhìn đêm tối bên ngoài.

Tôi chỉ có thể lờ mờ nhận ra những hàng cây đen kịt bên ngoài và khoảng truông nhạt màu hơn, vì mặt trăng đã ẩn sau mây.

Rồi tôi kêu lên mừng rỡ vì một đốm sáng vàng bé tí thình lình hiện ra trong màn đêm và tỏa sáng đều đặn ở ngay chính giữa cái khoảnh vuông màu đen đóng khung trong cửa sổ.

"Kia kìa!"

Tôi kêu lên.

"Không, không, thưa ngài, chẳng có gì, chẳng có gì hết mà!"

Người quản gia nói chen vào.

"Xin cam đoan với ngài là..."

"Dịch chuyển ngọn nến ngang qua cửa sổ đi, Watson!"

Nam tước nói to.

"Kìa, ánh sáng kia cũng dịch chuyển theo!

Thế đấy, đồ ranh ma, ông còn chối là không phải tín hiệu nữa không?

Nói đi nào!

Kẻ thông đồng với ông ở ngoài kia là ai, và mưu đồ gì đang diễn ra?"

Nét mặt Barrymore bỗng lộ rõ vẻ thách thức.

"Đây là chuyện của tôi chứ không phải của ngài.

Tôi không nói đâu."

"Vậy thì ông phải thôi việc ngay lập tức."

"Rất tốt, thưa ngài.

Nếu phải thế thì đành thế."

"Và ông phải nhục nhã mà đi.

Trời ơi, thật đáng hổ thẹn cho ông.

Dòng họ nhà ông đã sống chung với chúng tôi dưới mái nhà này hơn trăm năm rồi, thế mà bây giờ không ngờ ông lại có mưu đồ ám muội phản lại tôi."

"Không đâu, thưa ngài, không ai phản lại ngài hết!"

Đó là giọng phụ nữ và bà Barrymore, mặt còn tái xanh và khiếp đảm hơn cả ông chồng, đã đứng ngay cửa phòng.

Thân hình sồ sề mặc váy và choàng khăn của bà nom đến là hài hước nếu như gương mặt không lộ vẻ xúc động mãnh liệt.

"Ta phải đi thôi, Eliza.

Thế là hết.

Bà thu xếp đồ đạc được rồi", người quản gia nói.

"Ôi, John ơi, sao tôi lại lôi ông vào chuyện này hở, John?

Lỗi tại tôi, thưa ngài Henry, do tôi cả.

Ông ấy hành động cũng chỉ vì tôi và do tôi khẩn cầu."

"Nói hết đi!

Thế là thế nào?"

"Thằng em bất hạnh của tôi đang chết đói ngoài truông.

Chúng tôi không thể để nó bỏ mạng ngay trước cổng nhà mình.

Ngọn nến này là tín hiệu cho nó biết đồ ăn đã có sẵn cho nó, còn ánh nến của nó ngoài kia cho biết vị trí để đưa đồ ăn đến."

"Thế em trai bà là..."

"Tên tù vượt ngục, thưa ngài...

Selden, tên tội phạm."

"Đó là sự thật, thưa ngài", Barrymore nói.

"Tôi đã nói chuyện này không phải bí mật của tôi nên tôi không thể nói ra.

Nhưng giờ ngài đã nghe rồi thì sẽ thấy không có mưu mô nào phản lại ngài cả."

Vậy là điều này đã lí giải được những chuyến đi lén lút ban đêm của ông ta và ngọn nến ở cửa sổ.

Ngài Henry và tôi ngỡ ngàng nhìn người đàn bà kia.

Lẽ nào con người khả kính đến mức lãnh đạm này lại có chung dòng máu với một trong những tên tội phạm khét tiếng nhất nước?

"Đúng vậy, thưa ngài, tôi là người họ Selden, và nó là em trai tôi.

Khi nó còn nhỏ chúng tôi đã cưng chiều quá mức và nó muốn gì được nấy, tới mức nó nghĩ thế giới này phải chiều chuộng nó và nó muốn làm gì thì làm.

Rồi lớn lên nó giao du với bạn bè xấu rồi đâm ra hung ác tới mức mẹ tôi đau khổ mà chết và nó lôi tuột danh dự gia đình xuống bùn nhơ.

Hết tội này tới tội khác, nó cứ chìm lún càng lúc càng sâu và chỉ có Chúa nhân từ mới cứu được nó khỏi đoạn đầu đài.

Nhưng thưa ngài, với tôi thì nó luôn là thằng nhỏ tóc xoăn mà tôi đã ẵm bồng và chơi đùa như mọi người chị trên đời.

Chính vì thế mà nó vượt ngục, thưa ngài.

Nó biết tôi sống ở đây và chúng tôi không thể không giúp đỡ nó.

Khi nó lê thân tới đây một đêm nọ, kiệt sức và đói khát trong lúc toán cai ngục đang đuổi theo sát gót, chúng tôi phải làm sao đây?

Chúng tôi cho nó vào nhà, cho nó ăn uống và chăm sóc.

Rồi ngài trở về, thưa ngài, và em tôi nghĩ chừng nào cuộc truy lùng huyên náo còn chưa chấm dứt thì ở ngoài truông sẽ an toàn hơn bất kì đâu, cho nên nó trốn ở đó.

Nhưng cứ hai đêm một lần, để biết chắc nó còn ở ngoài đó, chúng tôi đặt một ngọn nến ở cửa sổ, và nếu có tín hiệu đáp lại thì chồng tôi sẽ mang đồ ăn ra.

Ngày nào chúng tôi cũng mong nó đi khuất cho rồi nhưng nó còn ở đây thì chúng tôi đâu thể bỏ mặc được.

Đó là toàn bộ sự thật, và tôi là một người Cơ Đốc lương thiện, thưa ngài, nếu chuyện này đáng trách thì lỗi không phải do chồng tôi mà là tại tôi, ông ấy làm mọi chuyện chỉ vì tôi mà thôi."

Lời người đàn bà này thốt ra đầy khẩn thiết và có sức thuyết phục người nghe.

"Đúng vậy không, Barrymore?"

"Dạ đúng, thưa ngài Henry.

Không sai một lời nào."

"Hừm, tôi không thể trách ông vì đã tận tình giúp vợ mình.

Hãy quên những gì tôi đã nói.

Về phòng đi, cả hai người, rồi sáng mai chúng ta sẽ nói thêm về chuyện này."

Khi vợ chồng Barrymore đi rồi, chúng tôi nhìn ra cửa sổ lần nữa.

Ngài Henry đã mở toang cánh cửa và gió đêm lạnh quật vào mặt chúng tôi.

Xa xa trong không gian đen ngòm, đốm màu vàng bé tí kia vẫn leo lét sáng.

"Sao hắn gan vậy chứ", ngài Henry nói.

"Chắc chỉ có chỗ này mới nhìn thấy ánh đèn đó."

"Chắc là vậy.

Theo ông thì từ đây đến đó bao xa?"

"Tôi nghĩ là ở gần mỏm Đá xẻ."

"Chỉ một, hai dặm là cùng."

"Không đến đâu."

"À, chỗ đó không xa được vì Barrymore phải mang thức ăn tới.

Mà tên côn đồ kia thì đang chờ bên ngọn nến.

Trời ơi, Watson, tôi phải ra đó bắt tên này!"

Chính ý tưởng đó cũng nảy ra trong trí tôi.

Đâu phải vợ chồng Barrymore chủ động tiết lộ chuyện riêng của họ với chúng tôi.

Phải ép họ mới chịu nói ra bí mật.

Tên tù vượt ngục kia là mối nguy cho cộng đồng, một kẻ vô lại bất trị mà chẳng ai thương hại hay bênh vực.

Chúng tôi chỉ làm đúng nghĩa vụ của mình nếu nhân cơ hội này tống y trở lại nơi y không thể gây hại cho ai.

Với bản tính cục súc và tàn bạo của y, nếu chúng tôi không ra tay thì sẽ có người khác phải trả giá.

Chẳng hạn như anh em nhà Stapleton, láng giềng của chúng tôi, đêm nào cũng có thể bị y tấn công, và có lẽ chính vì suy nghĩ đó mà ngài Henry hết sức nhiệt huyết với cuộc mạo hiểm sắp tới.

"Tôi sẽ đi cùng", tôi nói.

"Vậy thì ông lấy súng và mang giày đi.

Chúng ta tiến hành càng sớm càng tốt vì tên kia có thể dập tắt nến bỏ đi mất."

Năm phút sau chúng tôi đã ra khỏi nhà và khởi hành.

Cả hai hấp tấp băng qua những bụi cây tối tăm trong tiếng rên xiết u hoài của gió thu và tiếng lá rơi xào xạc.

Không khí ban đêm nồng mùi lá cỏ mục nát, ẩm ướt.

Thỉnh thoảng vầng trăng hé sáng một thoáng nhưng mây đang kéo tới che kín trời và chúng tôi vừa ra tới truông thì trời bắt đầu đổ mưa.

Ánh sáng vẫn lờ mờ hiện phía trước.

"Ngài có vũ khí gì không?"

Tôi hỏi.

"Tôi có cái roi đi săn."

"Chúng ta phải áp sát hắn thật nhanh, vì nghe nói hắn liều mạng lắm.

Phải tấn công bất ngờ và khống chế hoàn toàn trước khi hắn kịp chống cự."

"Watson à," nam tước nói, "ông Holmes sẽ nói gì về chuyện này nhỉ?

Về chuyện 'những giờ tăm tối khi quyền lực của quỷ dữ dâng cao' đó?"

Như thể trả lời cho nam tước, từ truông tăm tối mênh mông thình lình vang lên một tiếng rú kì lạ mà tôi đã từng nghe ở vùng ven bãi lầy Grimpen.

Âm thanh ấy theo gió lan tỏa trong đêm tĩnh mịch, ban đầu là tiếng trầm trầm ngân dài cao dần thành tiếng tru rồi lại lắng xuống như tiếng rên bi thiết và lịm tắt.

Tràng âm thanh ấy còn vang lên mấy lần nữa, làm cả bầu không khí kinh động theo tiếng vang man rợ và đầy uy hiếp.

Nam tước tóm chặt tay áo tôi và gương mặt anh ta tái nhợt thấy rõ trong bóng tối.

"Lạy Chúa, tiếng gì thế, Watson?"

"Tôi không biết.

Đó là một âm thanh của truông này.

Tôi đã từng nghe thấy một lần rồi."

Âm thanh ấy đã tắt hẳn và im lặng tuyệt đối bao trùm chúng tôi.

Cả hai căng tai nghe ngóng nhưng không còn nghe thấy gì nữa.

Nam tước nói, "Watson, đó là tiếng tru của chó săn."

Máu trong huyết quản tôi bỗng lạnh buốt, vì tôi nghe giọng nói đứt quãng của nam tước lộ rõ nỗi kinh hoàng đột ngột vừa xâm chiếm anh ta.

"Họ gọi đó là tiếng gì thế?"

Ngài Henry hỏi.

"Ai?"

"Dân chúng vùng này."

"Ồ, họ toàn là người dốt nát mà.

Ngài bận tâm đến họ làm gì?"

"Cứ nói đi, Watson.

Họ bảo đó là tiếng gì thế?"

Tôi do dự nhưng rồi không thể tránh né câu hỏi.

"Họ nói đó là tiếng con quỷ chó của dòng họ Baskerville."

Ngài Henry rên rỉ rồi im lặng một lúc lâu mới nói, "Tôi nghĩ đó là tiếng chó săn tru, nhưng dường như cách đây nhiều dặm, phía ngoài xa kia."

"Khó xác định tiếng đó từ đâu tới."

"Nó cứ vang vọng theo làn gió.

Bãi lầy Grimpen ở hướng kia phải không?"

"Đúng rồi."

"Nó vang từ đó.

Này, Watson, ông cũng nghĩ đó là tiếng chó săn chứ gì?

Tôi không phải trẻ con.

Ông cứ nói thật đi, không e ngại gì hết."

"Khi tôi nghe thấy lần trước thì có Stapleton ở đó.

Anh ta nói đó có thể là tiếng kêu của một loài chim lạ."

"Không, không phải, tiếng chó săn đó.

Lạy Chúa, đâu là sự thật trong chuyện này?

Có lẽ nào tôi thực sự đang bị một mối hiểm nguy mờ ám đe dọa?

Ông không tin điều đó, phải vậy không, Watson?"

"Không đâu."

"Cười cợt về chuyện đó ở London thì đã đành một nhẽ, nhưng đứng ngoài truông trong bóng tối mà nghe tiếng gào rống như vừa rồi lại là chuyện khác.

Còn ông bác tôi nữa!

Chỗ bác ấy nằm chết có dấu chân của một con chó săn.

Tất cả đều ăn khớp.

Đừng nghĩ tôi nhát gan, Watson, nhưng âm thanh đó làm máu tôi đông lạnh hết đây này.

Thử sờ bàn tay tôi đi!"

Tay anh ta lạnh toát như một khối đá cẩm thạch.

"Ngày mai rồi ngài sẽ bình thường lại thôi."

"Tôi không nghĩ là sẽ quên được tiếng tru ấy.

Theo ông bây giờ chúng ta phải làm gì?"

"Quay về chăng?"

"Trời đất, không được, chúng ta ra đây để tóm tên tù kia thì phải làm cho xong.

Chúng ta truy đuối tên tù, và rất có thể là có một con quỷ chó lại đang truy đuổi chúng ta.

Đi nào!

Chúng ta sẽ xem thử bao nhiêu quỷ dữ đã xổ hết ra truông này hay chưa."

Chúng tôi chậm chạp lần mò trong bóng tối giữa bốn bề những ngọn đồi nham nhở đen ngòm, trước mặt vẫn là đốm vàng sáng lờ mờ kia.

Không có gì lừa mị cho bằng tầm xa của một nguồn sáng trong đêm tối như hũ nút, cái ánh leo lét kia có lúc dường như xa tít tận chân trời có lúc lại cứ như chỉ cách chúng tôi vài yard.

Nhưng rốt cuộc chúng tôi cũng biết được nó phát ra từ đâu và chắc chắn là đã đến rất gần.

Một ngọn nến cháy gần tàn được cắm trong một hốc đá chắn kín ba phía để tránh gió thổi tắt và không ai thấy được trừ phi nhìn từ hướng lâu đài Baskerville.

Một tảng đá hoa cương lớn che chắn trước mặt chúng tôi, cả hai chúng tôi lom khom nấp sau tảng đá, chăm chú nhìn về phía ánh sáng báo hiệu.

Thật lạ lùng khi nhìn thấy ngọn nến lẻ loi này thắp sáng giữa truông, chung quanh không hề có dấu hiệu nào của sự sống, chỉ có một đốm lửa vàng hắt ánh sáng chập chờn lên một phần hốc đá bao lấy nó,

"Giờ phải làm gì?"

Ngài Henry thì thào.

"Chờ ở đây.

Hắn phải ở gần cây nến này.

Thử nhìn quanh xem có thấy bóng dáng hắn không."

Chưa dứt lời, cả hai chúng tôi đã thấy y.

Phía trên mấy tảng đá có cái hốc đặt cây nến nhô lên một bộ mặt vàng khè hung ác, bộ mặt thú gớm ghiếc, chằng chịt sẹo và in dấu những dục vọng đê hèn.

Bộ mặt ấy lấm bẩn bùn sình, râu ria tua tủa, tóc tai dính bết lại, trông cứ như mặt người tiền sử từng sinh sống trong những hang động trên các sườn đồi này.

Ánh nến bên dưới hắt lên đôi mắt nhỏ, xảo quyệt đang chằm chằm xuyên vào bóng tối bằng cái nhìn hung tợn láo liên như một con thú xảo trá và hoang dại vừa nghe thấy bước thợ săn.

Rõ ràng đã có điều gì đó khiến y sinh nghi.

Có thể là Barrymore có tín hiệu riêng để báo động mà chúng tôi không biết, hoặc tên này thấy tình hình bất ổn vì lí do khác, nhưng trên nét mặt hung ác của y tôi thấy rõ sự sợ hãi.

Y có thể dập tắt ngọn nến và biến vào đêm đen bất cứ lúc nào.

Thế là tôi lao tới, ngài Henry cũng lao theo.

Cùng lúc đó tên phạm nhân kia hét lên một tiếng chửi rủa, một hòn đá từ tay y phóng tới nện vào tảng đá lớn che chắn chúng tôi và vỡ vụn.

Tôi thoáng thấy thân hình lực lưỡng, thấp đậm của tên tù khi y nhảy bật dậy bỏ chạy.

May sao lúc đó mặt trăng hé sáng qua khe mây soi đường.

Chúng tôi phóng qua đỉnh đồi, và phía bên kia là tên tù đang chạy thục mạng, nhảy thoăn thoắt qua những tảng đá nhanh nhẹn như một con sơn dương.

Một phát súng lục tầm xa may mắn của tôi có thể bắn què chân hắn, nhưng tôi mang súng theo chỉ để tự vệ nếu bị tấn công chứ không phải để bắn một kẻ không vũ khí đang chạy trốn.

Cả hai chúng tôi đều chạy nhanh và có thể lực khá tốt, nhưng chẳng mấy chốc chúng tôi nhận ra không thể nào đuổi kịp y.

Dưới ánh trăng chúng tôi còn trông thấy tên tù một lúc lâu cho đến khi y chỉ còn là một chấm nhỏ đang di chuyển mau lẹ giữa những tảng đá trên triền đồi ngoài kia.

Chúng tôi chạy mãi cho tới lúc hết hơi sức nhưng khoảng cách giữa chúng tôi và y càng lúc càng cách xa hơn.

Cuối cùng chúng tôi đành dừng chân, ngồi xuống hai tảng đá thở hổn hển trong lúc nhìn theo tên tù đang khuất dạng phía xa tít.

Đúng ngay lúc đó lại xảy ra một chuyện hết sức bất ngờ và kì quặc.

Chúng tôi vừa rời khỏi mấy tảng đá đang ngồi, định đi về nhà sau khi đã từ bỏ cuộc đuổi bắt vô vọng.

Trăng đã xuống thấp về phía bên phải và đỉnh nhọn lởm chởm của mỏm đá hoa cương in hình lên vành dưới của vầng trăng bạc.

Ngay chỗ đó hiện rõ như một pho tượng gỗ mun đen tuyền, trên nền sáng ấy là bóng một người đứng trên mỏm đá.

Đừng nghĩ đó là ảo ảnh, Holmes ơi.

Cam đoan với anh là trong đời chưa bao giờ tôi nhìn thấy cái gì rõ ràng hơn thế.

Theo tôi phán đoán, bóng đen đó là một người đàn ông cao gầy.

Y đứng hơi giạng chân, hai tay khoanh lại, đầu cúi xuống như đang nghiền ngẫm về sự hoang vu bao la của vùng đất than bùn và đá rắn trải dài trước mặt.

Rất có thể y chính là hồn thiêng của nơi khủng khiếp này.

Đó không phải tên tù.

Bóng người này cách rất xa nơi tên tù đã khuất dạng.

Hơn nữa, dáng người này cao hơn.

Kêu lên một tiếng kinh ngạc, tôi chỉ cho ngài Henry thấy bóng đen ấy nhưng ngay lúc tôi tóm lấy cánh tay nam tước thì cái bóng đã biến mất.

Vẫn còn đó đỉnh nhọn của mỏm đá hoa cương in lên nửa dưới vầng trăng, nhưng trên đỉnh không còn dấu vết gì của bóng người bất động, im lìm kia nữa.

Tôi muốn đi theo hướng đó và tìm kiếm ở mỏm đá nhưng khoảng cách quá xa.

Nam tước vẫn còn bị chấn động tinh thần vì tiếng tru gào gợi nhớ cái truyền thuyết ác nghiệt của dòng họ, và anh ta không còn hứng thú lao vào một cuộc mạo hiểm mới.

Anh ta không trông thấy bóng người cô độc trên mỏm đá nên không có cái cảm giác kích động mà sự xuất hiện kì lạ cùng phong thái uy nghi của người kia đã gieo vào tâm trí tôi.

"Lính cai ngục, chắc chắn rồi", ngài Henry nói.

"Truông này đầy lính cai ngục từ khi tên tù trốn thoát."

Chà, có thể nam tước nói đúng nhưng tôi muốn có thêm chứng cứ.

Hôm nay chúng tôi định báo với những người ở nhà ngục Princetown để họ biết cần tìm tên tù vượt ngục ở đâu, nhưng quả thực đáng tiếc là chúng tôi đã không lập được chiến công bắt giữ hắn để giao nộp.

Đó là những biến cố của đêm hôm qua, Holmes thân mến, và anh phải thừa nhận là tôi đã hỗ trợ anh rất đắc lực bằng bản tường trình này.

Hiển nhiên là phần lớn những gì tôi thuật lại không hoàn toàn liên quan, nhưng tôi vẫn thấy nên cho anh biết mọi chuyện để anh tự chọn lựa những thông tin hữu ích nhất có thể giúp anh tìm ra kết luận.

Hẳn là công việc của chúng ta cũng có chút tiến triển.

Xét đến chuyện vợ chồng Barrymore, chúng ta đã tìm ra động cơ trong hành vi của họ, và điều này cũng làm tình hình sáng tỏ thêm nhiều.

Nhưng với những bí ẩn và những kẻ trú ngụ kì quặc, vùng truông này vẫn không bớt phần bí hiểm.

Biết đâu trong bản tường trình kế tiếp tôi lại làm sáng tỏ được điều này.

Tốt hơn là anh nên về đây với chúng tôi.

Dù sao trong khoảng vài ngày tới anh cũng sẽ nhận được bản tường trình mới của tôi.

10.

Trích nhật kí bác sĩ Watson

Ở những chương trước, tôi có thể lấy nguyên xi các bản tường trình gửi cho Sherlock Holmes trong những ngày đầu để thuật chuyện.

Nhưng bây giờ đã tới lúc tôi buộc phải bỏ phương pháp này và quay lại trông cậy vào hồi tưởng với sự trợ giúp là sổ nhật kí tôi ghi chép trong thời gian đó.

Vài đoạn trích từ nhật kí sẽ đưa tôi quay lại những cảnh tượng đã in sâu vào kí ức của tôi.

Vì thế tôi sẽ tiếp tục từ buổi sáng sau cuộc truy bắt tên tù vượt ngục không thành và những biến cố lạ lùng khác trên vùng truông này.

Ngày 16 tháng 10

Một ngày sương mù ảm đạm với mưa phùn.

Ngôi nhà này lọt thỏm giữa bốn bề mây trập trùng, thỉnh thoảng mây tan hé lộ những đường cong nhấp nhô buồn tẻ của truông, các sườn đồi phủ màn sương mỏng, màu bạc và những tảng đã xa xa sáng lên ở những chỗ nắng chiếu rọi vào bề mặt ướt át.

Cảm giác thê lương tràn ngập.

Nam tước rơi vào tâm trạng u ám trái ngược với sự phấn khích đêm trước.

Tôi cũng thấy nặng trĩu trong lòng một cảm giác nguy hiểm cận kề - mối nguy hiểm luôn hiện hữu và càng đáng sợ hơn vì không thể xác định rõ.

Mà cảm giác đó nào phải vô cớ?

Thử nghĩ mà xem, cả chuỗi biến cố đều chỉ ra rằng có một thế lực hung hiểm nào đó đang hoạt động quanh chúng tôi.

Người chủ trước của lâu đài chết trong hoàn cảnh giống hệt như trong truyền thuyết của dòng họ, rồi lời kể của những người nông dân về một sinh vật lạ xuất hiện trên truông cũng trùng khớp với nhau.

Chính tai tôi đã hai lần nghe được cái âm thanh giống tiếng chó tru gào xa xa.

Thật phi lí, thật khó tin rằng âm thanh đó lại nằm ngoài các quy luật tự nhiên bình thường.

Làm sao tin nổi một con chó ma quái lại có dấu chân hữu hình và gầm rú vang động không gian?

Stapleton có thể tin một chuyện dị đoan như thế, Mortimer cũng vậy, nhưng nếu tôi có một phẩm chất duy nhất trên đời thì đó chính là sự tỉnh táo và không gì có thể khiến tôi cũng tin như họ.

Tin vào chuyện mê tín dị đoan tức là hạ mình xuống ngang hàng với đám nông dân thấp kém kia, những kẻ chưa chịu bằng lòng với chuyện con quỷ chó mà lại còn mô tả đó là một con thú mắt mũi tóe lửa hỏa ngục.

Holmes không đời nào nghe theo những chuyện hoang đường như thế, và tôi là người đại diện cho anh.

Nhưng sự thật là sự thật, tôi đã hai lần nghe tiếng tru ấy trên truông.

Giả sử đúng là có một con chó săn khổng lồ đang chạy rông ngoài đó thì mọi chuyện sẽ sáng tỏ ngay.

Nhưng một con vật như vậy sẽ ẩn náu ở đâu, tìm thức ăn ở đâu, tới từ đâu, và tại sao chẳng có ai trông thấy nó vào ban ngày?

Phải thừa nhận rằng những cách lí giải tự nhiên cũng đều gặp bế tắc như cách lí giải siêu nhiên.

Và ngoài con chó ra, còn có nhân tố con người đã xuất hiện ở London, kẻ do thám trong xe ngựa, và bức thư cảnh báo ngài Henry đừng trở về truông này.

Ít ra chuyện đó là thực, nhưng những hành vi đó có thể xem là của một người bạn muốn bảo vệ nam tước hay là của một kẻ thù địch đều được.

Người bạn hay kẻ thù đó giờ đang ở đâu?

Hắn ta còn ở lại London hay đã theo chúng tôi về đây?

Lẽ nào... lẽ nào đó chính là bóng người kì lạ tôi đã thấy trên mỏm đá?

Đúng là tôi chỉ thoáng nhìn thấy hắn, thế nhưng tôi sẵn sàng thề đó là sự thật.

Hắn ta chắc chắn không phải là một người tôi từng gặp ở đây, vì tôi đã gặp hết mọi láng giềng quanh đây rồi.

Dáng người ấy cao hơn Stapleton, gầy hơn ông Frankland.

Có khả năng đó là Barrymore nhưng chúng tôi đã bảo ông ta lui về phòng và tôi chắc chắn là ông ta không thể nào đi theo.

Vậy thì ở đây chúng tôi đang bị một người lạ bám sát cũng như đã bị người lạ bám sát ở London.

Chúng tôi chưa bao giờ thoát khỏi hắn.

Nếu tóm được kẻ đó thì cuối cùng chúng tôi có thể chấm dứt mọi bế tắc.

Giờ đây tôi phải dồn hết sức lực cho mục đích này thôi.

Ý định bốc đồng đầu tiên là cho ngài Henry biết mọi kế hoạch của tôi.

Ý định thứ hai khôn ngoan hơn là tôi nên thực hiện một mình và càng ít ai biết càng tốt.

Nam tước đang trong tâm trạng nặng nề, tinh thần anh ta đã bị kinh động lạ thường vì thứ âm thanh nọ.

Tôi không muốn nói gì khiến anh ta phải lo lắng thêm, nhưng tôi sẽ tự tìm cách để đạt mục đích của mình.

Sáng nay sau bữa điểm tâm chúng tôi đã gặp một chuyện nhỏ.

Barrymore xin phép gặp riêng ngài Henry và hai người rút vào phòng làm việc của nam tước nói chuyện một lúc.

Ngồi trong phòng chơi bi-a, tôi nhiều lần nghe họ cao giọng và đoán biết ngay họ đang bàn vấn đề gì.

Một lát sau, nam tước mở cửa gọi tôi vào.

"Barrymore cho là ông ấy có quyền kêu ca", ngài Henry nói.

"Ông ấy nghĩ hai chúng ta truy bắt em vợ của ông ấy là bất công vì ông ấy đã tự nguyện nói hết bí mật cho chúng ta biết."

Ông quản gia đứng trước mặt chúng tôi, tuy mặt tái xanh nhưng rất bình tĩnh.

"Có thể tôi đã nói năng quá nóng nảy, thưa ngài", Barrymore nói, "nếu thế thì tôi xin ngài thứ lỗi cho.

Tuy vậy, tôi cũng rất ngạc nhiên khi nghe tiếng hai quý ngài đi về sáng nay và biết hai ngài đã đuổi theo Selden.

Cái thằng khốn khổ đó đã phải chống chọi với quá nhiều chuyện rồi, đâu cần tôi phải báo người truy bắt nó thêm nữa."

"Nếu quả thực ông tự nguyện nói ra thì chuyện đã khác rồi", nam tước nói.

"Phải ép đến khi không còn cách nào khác ông mới cho chúng tôi biết, hay đúng hơn là vợ ông mới cho chúng tôi biết."

"Tôi không ngờ ngài lại lợi dụng chuyện đó, thưa ngài Henry, thực tình là tôi không ngờ."

"Kẻ đó là mối nguy cho mọi người.

Có nhiều nhà rải rác khắp truông này, và hắn ta không từ bất cứ chuyện gì.

Chỉ cần nhìn thấy bản mặt của hắn là đủ biết.

Ví dụ như nhà ông Stapleton đấy, nhà đó chẳng có ai bảo vệ, trừ mỗi mình ông ta.

Chừng nào tên này còn chưa vào xà lim thì không ai được an toàn cả."

"Nó sẽ không đột nhập vào bất cứ nhà nào, thưa ngài.

Tôi xin thề danh dự với ngài.

Mà nó cũng sẽ không bao giờ gây rắc rối cho bất kì ai ở nước này nữa.

Cam đoan với ngài, thưa ngài Henry, chỉ trong vài hôm nữa thôi, khi mọi chuyện cần thiết đã thu xếp xong, nó sẽ lên đường sang Nam Mỹ.

Hãy vì Chúa, thưa ngài, tôi van ngài đừng báo cho cảnh sát biết nó vẫn còn ở ngoài truông.

Họ đã không còn truy tìm ở đó nữa, và nó có thể ẩn náu chờ tới khi chuyến tàu sẵn sàng.

Ngài mà đi báo thì cả tôi lẫn vợ tôi cũng gặp rắc rối luôn.

Thưa ngài, tôi van xin ngài đừng nói gì với cảnh sát hết."

"Ý ông thế nào, Watson?"

Tôi nhún vai.

"Nếu hắn an toàn thoát khỏi nước này thì sẽ giảm được một gánh nặng cho dân đóng thuế."

"Nhưng nhỡ hắn cướp bóc của ai đó trước khi ra đi thì sao?"

"Nó sẽ không làm chuyện rồ dại vậy đâu, thưa ngài.

Chúng tôi đã tiếp tế đủ hết những gì nó muốn.

Giờ mà nó lại phạm tội thì khác gì lạy ông tôi ở bụi này."

"Đúng thế thật", ngài Henry nói.

"Này, Barrymore..."

"Chúa ban phúc cho ngài, và tôi đội ơn ngài vô cùng, thưa ngài!

Nó mà bị bắt lần nữa thì vợ tôi chỉ có chết mà thôi."

"Hình như chúng ta đang tiếp tay cho tội ác phải không, Watson?

Nhưng nghe chuyện này tôi không đành lòng khai báo với nhà chức trách nữa, cứ coi như kết thúc cho xong.

Thôi được, Barrymore, ông có thể lui."

Ấp úng mấy lời cảm ơn xong, người quản gia đã quay đi nhưng rồi lại ngần ngừ và quay lại.

"Ngài thật tốt với chúng tôi, thưa ngài, tôi chỉ mong làm hết sức để đáp đền.

Tôi có biết một chuyện, thưa ngài Henry, lẽ ra tôi nên nói từ trước nhưng rất lâu sau cuộc thẩm tra tôi mới biết chuyện này.

Tôi không hé răng với bất kì ai.

Nó có liên quan đến cái chết của ngài Charles tội nghiệp."

Cả nam tước và tôi đều đứng bật dậy.

"Ông biết nguyên do cái chết đó à?"

"Dạ không, tôi không biết."

"Thế chuyện gì?"

"Tôi biết tại sao ngài Charles đứng ở cổng vào giờ đó.

Ngài ấy đi gặp một phụ nữ."

"Gặp một phụ nữ?

Thật sao?"

"Dạ, đúng vậy."

"Người phụ nữ đó là ai?"

"Tôi không biết tên, thưa ngài, tôi chỉ biết mấy chữ tắt họ tên.

Đó là L.

L."

"Làm sao ông biết chuyện này, Barrymore?"

"Ồ, thưa ngài Henry, sáng hôm đó bác của ngài có nhận một bức thư.

Ngài Charles thường nhận rất nhiều thư vì ngài ấy là người mà ai cũng biết và nổi tiếng là từ tâm, cho nên ai gặp khó khăn cũng đều muốn giãi bày với ngài ấy.

Nhưng sáng hôm đó, tình cờ là chỉ có một bức thư cho nên tôi để ý.

Thư gửi từ Coombe Tracey và địa chỉ viết bằng nét chữ phụ nữ."

"Rồi sao?"

"Dạ, thưa ngài.

Tôi không hề nghĩ tới chuyện đó nữa và lẽ ra đã quên luôn nếu như vợ tôi không nói.

Mãi tới mấy tuần trước, khi bà ấy lau dọn phòng làm việc của ngài Charles - từ ngày ngài ấy mất không ai đụng đến phòng này - và vợ tôi thấy tàn tro của một lá thư bị đốt cháy ở phía sau vỉ lò sưởi.

Phần lớn bức thư đã cháy ra tro, chỉ còn một mẩu nhỏ xíu ở cuối trang giấy là còn chưa rã nát, vẫn còn đọc được chữ dù mực đã chuyển sang màu xám trên giấy cháy đen.

Có lẽ đó là đoạn tái bút cuối thư, viết như sau: Vì ngài là bậc trượng phu, xin vui lòng đốt lá thư này và chờ ở cổng vào khoảng 10 giờ.

Bên dưới là chữ kí tắt L.

L."

"Ông còn giữ mẩu thư đó không?"

"Dạ không, nó vụn nát hết khi chúng tôi lấy ra."

"Ngài Charles đã nhận được bức thư nào khác có tuồng chữ như vậy chưa?"

"Dạ thưa ngài, tôi không để ý đến thư từ của ngài ấy.

Chắc tôi cũng không để ý đến bức thư này nếu như hôm đó không ngẫu nhiên chỉ có một bức thư."

"Thế ông không hề biết L.

L là ai sao?"

"Dạ không.

Tôi cũng mù tịt, thưa ngài.

Nhưng tôi nghĩ nếu chúng ta tìm ra người phụ nữ đó thì sẽ biết rõ hơn về cái chết của ngài Charles."

"Này Barrymore, tôi không hiểu vì sao ông lại có thể giấu giếm một thông tin quan trọng như thế được chứ."

"Ồ, thưa ngài, lúc ấy chính chúng tôi cũng vừa gặp chuyện rắc rối.

Vả lại, thưa ngài, vợ chồng tôi đều rất quý mến ngài Charles, vì ngài ấy đối đãi với chúng tôi tốt biết bao.

Lôi chuyện này ra cũng chẳng có ích gì cho ông chủ tội nghiệp, lại liên quan đến một phụ nữ nữa thì càng phải thận trọng.

Ngay cả những người tốt nhất trong chúng ta."

"Ông cho là có thể ảnh hưởng đến thanh danh bác tôi sao?"

"À, thưa ngài, tôi cho rằng trong chuyện này chẳng có gì tốt đẹp.

Nhưng vì ngài tử tế với vợ chồng tôi và tôi thấy nếu không nói hết với ngài thì hóa ra tôi đã cư xử không phải."

"Tốt lắm, Barrymore, ông đi được rồi."

Khi người quản gia đi khỏi, ngài Henry quay sang tôi.

"Thế đấy, Watson, ông nghĩ sao về tình tiết mới này?"

"Coi bộ nó làm cho chuyện bí ẩn này càng thêm bí ẩn."

"Tôi cũng nghĩ thế.

Nhưng chỉ cần chúng ta tìm ra dấu vết của L.

L thì toàn bộ vụ này sẽ sáng tỏ.

Chúng ta đã biết tới đó.

Chúng ta biết là có người nắm được sự thật, chỉ cần chúng ta tìm ra cô ta nữa mà thôi, ông nghĩ chúng ta nên làm gì đây?"

"Báo ngay cho Holmes biết mọi chuyện.

Như vậy anh ấy sẽ có manh mối để tìm kiếm.

Tôi tin anh ấy sẽ về đây sau khi biết chuyện này."

Tôi lập tức về phòng và thảo ngay một bản tường trình về cuộc trò chuyện sáng nay để gửi cho Holmes.

Tôi thấy rõ ràng gần đây Holmes rất bận rộn vì những bức thư gửi từ phố Baker đến thường thưa thớt và vắn tắt, không hề có ý kiến gì về thông tin tôi đã cung cấp và hầu như không đề cập đến nhiệm vụ của tôi.

Chắc chắn vụ án tống tiền kia đã thu hút hết năng lực của anh.

Thế nhưng yếu tố mới mẻ này nhất định sẽ phải khiến anh lưu ý và gợi lại mối quan tâm.

Ước gì có Holmes ở đây.

Ngày 17 tháng 10

Suốt ngày hôm nay trời mưa như trút, mưa tuôn rào rào trên lớp lá thường xuân và chảy ròng ròng từ các mái đua.

Tôi nghĩ đến tên tội phạm đang ở ngoài truông lạnh lẽo, thê lương, không chốn nương thân.

Tội cho hắn!

Dù hắn có tội lỗi gì đi nữa thì khốn khổ nhường đó cũng đủ để chuộc tội rồi.

Và tôi nghĩ đến một người khác - gương mặt trong xe ngựa, bóng đen xuất hiện trong đêm trăng.

Kẻ theo dõi bí mật, người của bóng đêm, hắn có ở ngoài truông ngập mưa kia không?

Đến chiều tôi khoác áo mưa đi bộ một quãng dài trên truông sũng nước, lòng tràn ngập những tưởng tượng u ám, trong khi mưa quật vào mặt và gió hú bên tai tôi.

Cầu Chúa phù hộ những ai giờ này còn lang thang vào bãi lầy khổng lồ kia vì ngay cả khu đất rắn cao ráo này cũng đã nhão nhoét thành bãi sình.

Tôi tới mỏm đá đen nơi kẻ theo dõi cô độc kia đã đứng, và trên đỉnh cao nham nhở ấy chính tôi cũng nhìn xuống vùng truông cằn cỗi buồn thảm phía dưới.

Gió mưa quăng quật khắp mặt đất đỏ nâu, những đám mây trĩu nặng màu chì buông chùng trên cảnh vật, giăng mắc ngang những triền đồi quái dị kia như những vòng hoa tang xám ngoét ở lòng chảo xa xa bên trái, lờ mờ trong màn mưa mù là hai ngọn tháp nhỏ của lâu đài Baskerville vươn cao trên các tàng cây.

Đó là dấu hiệu duy nhất của sự sống con người mà tôi nhìn thấy, nếu không kể tới những căn nhà đá tiền sử nhan nhản trên các sườn đồi.

Không hề thấy dấu vết gì của kẻ cô độc đã đứng ngay chỗ này hai đêm trước.

Khi lội bộ về, tôi gặp bác sĩ Mortimer ngồi trong xe độc mã trên con đường mòn gập ghềnh ngoài truông chạy dài từ tận nông trại xa xôi nhất ở Foulmire tới đây.

Anh ta rất ân cần với chúng tôi và không ngày nào không ghé qua lâu đài thăm hỏi.

Vị bác sĩ khăng khăng buộc tôi phải lên xe và cho tôi quá giang về nhà.

Tôi thấy Mortimer hết sức lo lắng về chuyện con chó nhỏ giống spaniel của anh ta biến mất.

Nó đã tha thẩn trên truông và đến giờ vẫn chưa về.

Tuy hết lời an ủi Mortimer, trong lòng tôi lại nghĩ đến con ngựa lùn trên bãi lầy Grimpen và tôi không tin là anh ta sẽ còn gặp lại con chó nhỏ ấy nữa.

"À này, Mortimer", tôi nói trong lúc cỗ xe nhồi lắc trên đường gập ghềnh, "trong phạm vi đi được bằng xe ngựa này chắc ít có ai mà ông không quen biết phải không?"

"Hầu như không, chắc thế."

"Vậy ông biết người phụ nữ nào có tên viết tắt là L.

L không?"

Mortimer ngẫm nghĩ một hồi rồi nói, "Không.

Có mấy người dân digan và lao công thì tôi không biết, nhưng trong giới nông dân hay điền chủ thì không có ai có tên viết tắt như vậy đâu.

Khoan đã", sau một lúc ngừng lời anh ta nói tiếp, "có một người tên Laura Lyons, viết tắt là L.

L đó, nhưng bà ta ở tận Coombe Tracey cơ."

"Bà ấy là ai thế?"

Tôi hỏi.

"Con gái của ông già Frankland đó."

"Cái gì?

Ông già Frankland lập dị ấy à?"

"Chính xác.

Bà ta lấy chồng là một họa sĩ họ Lyons, hắn đến truông này để vẽ kí họa.

Hóa ra đó là một gã đê tiện và đã bỏ bà ta.

Theo tôi biết thì lỗi lầm không hẳn chỉ ở một phía.

Ông già Frankland đã từ con gái luôn vì lấy chồng mà không có sự đồng ý của ông và có lẽ vì vài nguyên do khác nữa.

Cho nên dù sống với cha hay với chồng, bà ta đều không lấy gì làm sung sướng cả."

"Thế bà ta sống ra sao?"

"Tôi chắc lão Frankland có cho bà ta một khoản tiền sống qua ngày, nhưng không thể dồi dào, vì những chuyện riêng của ông già cũng đã rối rắm lắm rồi.

Dẫu bà ta có đáng chê trách đi nữa thì mọi người cũng đâu thể để cho bà tuyệt vọng mà sa ngã.

Chuyện của bà ta đồn lan ra và nhiều người ở đây đã giúp đỡ chút ít để bà ta có thể kiếm sống lương thiện.

Như Stapleton này, rồi ngài Charles nữa.

Tôi đây cũng góp một khoản tiền nhỏ.

Để giúp bà ta gây dựng nghề đánh máy chữ ấy mà."

Mortimer muốn biết tôi tìm hiểu nhằm mục đích gì nhưng tôi cố thỏa mãn óc tò mò của anh ta mà không tiết lộ gì hết, vì chúng tôi không nên tin bất kì ai.

Sáng mai tôi sẽ tìm đường tới Coombe Tracey và nếu gặp được bà Laura Lyons khả nghi này thì tức là tôi đã tiến được một bước dài trong chuyện làm sáng tỏ một sự việc có liên quan đến chuỗi bí ẩn này.

Chắc chắn tôi đã tinh ranh hơn xưa, vì khi Mortimer cứ hỏi dồn thì tôi thản nhiên vờ hỏi anh ta xem cái sọ của ông Frankland thuộc loại nào, và thế là suốt chặng đường còn lại tôi chỉ toàn được nghe những chuyện chuyên môn nghiên cứu sọ người.

Tôi sống với Sherlock Holmes suốt mấy năm nay quả không đến nỗi uổng phí.

Chỉ còn một sự việc khác đáng ghi lại trong cái ngày giông tố u sầu này.

Đó là cuộc trò chuyện của tôi với Barrymore mới rồi, nhờ thế tôi đã có thêm một lá bài tẩy để đánh khi đến lúc.

Mortimer đã ở lại ăn tối và sau đó anh ta cùng nam tước chơi bài écarté.

Người quản gia mang cà phê vào thư phòng cho tôi và nhân cơ hội này tôi hỏi ông ta mấy câu.

"Này, người em yêu quý của vợ chồng ông đã đi chưa hay còn trốn ngoài kia?"

"Tôi không biết, thưa ông.

Cầu trời nó đi cho rồi vì nó chỉ toàn mang rắc rối tới đây.

Từ khi tôi mang đồ ăn ra cho nó lần cuối, cách đây ba ngày, tôi chưa thấy có tin gì của nó nữa."

"Nhưng lúc đó ông có gặp hắn không?"

"Dạ không, nhưng lần sau tôi ra thì không thấy đồ ăn đâu nữa."

"Vậy chắc chắn hắn còn ở đó?"

"Thưa ông, chắc là thế, trừ phi người kia lấy mất đồ ăn."

Cốc cà phê tôi chưa kịp đưa lên môi đã dừng sững lại, tôi ngồi ngây ra nhìn Barrymore.

"Ông bảo còn một người khác nữa sao?"

"Dạ vâng, ngoài truông còn một người nữa."

"Ông có gặp người đó không?"

"Dạ không."

"Thế làm sao ông biết là hắn ở đó chứ?"

"Selden cho tôi biết, thưa ông, khoảng tuần trước hoặc hơn.

Người đó cũng ẩn náu, nhưng theo như tôi biết thì không phải là tù nhân.

Tôi không thích chuyện này, bác sĩ Watson à, nói thật đó, thưa ông, tôi không thích đâu."

Barrymore nói, giọng đột nhiên trở nên khẩn thiết

"Nghe tôi này, Barrymore!

Tôi không hề quan tâm đến chuyện nào khác ngoại trừ chuyện của ông chủ ông.

Mục đích tôi đến đây chỉ là để giúp nam tước.

Nói thật đi nào, ông không thích chuyện gì chứ?"

Barrymore ngần ngừ một lúc như hối tiếc vì cảm xúc bột phát của mình, hoặc là ông ta thấy khó diễn đạt tâm tư.

"Chuyện đang diễn ra đó, thưa ông."

Mãi sau ông ta mới thốt nên lời, vừa nói vừa khoát tay về phía ô cửa sổ hướng ra truông đang bị mưa quất tới tấp.

"Có chuyện gì tồi tệ đâu đây, có kẻ đang ấp ủ âm mưu đen tối, tôi thề đó!

Tôi sẽ rất mừng nếu thấy ngài Henry quay trở lại London, thưa ông!"

"Nhưng điều gì khiến ông hoảng sợ chứ?"

"Cứ nghĩ tới cái chết của ngài Charles mà xem!

Dù pháp y viên có nói gì thì chuyện đó cũng rất đáng ngại.

Lại còn những âm thanh trên truông ban đêm nữa.

Không một người nào dám băng qua truông sau khi mặt trời lặn nữa, có cho tiền cũng không.

Nghĩ tới kẻ lạ mặt đang ẩn náu ngoài kia, theo dõi và chờ đợi!

Chờ đợi gì chứ?

Chuyện này có ý nghĩa gì?

Nó chẳng có ý nghĩa gì tốt đẹp cho bất kì ai mang họ Baskerville, tôi chỉ mong sao được thoát khỏi đây vào cái ngày mà các gia nhân mới của ngài Henry đến nhận việc ở lâu đài."

"Nhưng còn kẻ lạ mặt?"

Tôi nói.

"Ông có thể cho tôi biết gì về hắn không?

Selden đã nói gì?

Em vợ ông có biết kẻ đó trốn ở đâu hay đang làm gì không?"

"Nó có gặp người đó một hai lần nhưng người này rất bí ẩn và không bộc lộ gì hết.

Lúc đầu nó tưởng người này là cảnh sát nhưng sau đó nó biết người này có ý đồ riêng tư gì đó.

Theo như nó nhìn nhận thì người này thuộc tầng lớp trên, nhưng hắn ta đang làm chuyện gì thì Selden không sao đoán được."

"Thế người đó có nói là đang ở đâu không?"

"Trong những cái nhà trên sườn đồi, những căn nhà đá mà người thượng cổ từng sống."

"Thế hắn lấy gì mà ăn?"

"Selden biết được là người này có một thằng nhỏ phục vụ mang cho hắn mọi thứ cần thiết.

Tôi dám chắc là thằng nhỏ tới Coombe Tracey mua các thứ đó cho người lạ."

"Rất tốt, Barrymore.

Lúc khác chúng ta sẽ bàn thêm về chuyện này."

Khi ông quản gia đã đi rồi, tôi tới bên ô cửa sổ tối om và qua ô kính nhòe nhoẹt tôi nhìn những đám mây trôi dạt và bóng những tàng cây bị gió lay giật.

Đêm nay, ở trong nhà đã thấy mưa gió như thế thì trong căn nhà đá ngoài truông kia còn giông tố đến đâu?

Căm hờn chi mà khiến một người phải rình mò ở chốn này vào một thời điểm như vậy chứ!

Và hắn có mục đích khẩn thiết sâu xa gì mà phải cam chịu gian nan nhường ấy!

Căn nhà đá ngoài truông kia dường như chứa đựng cốt lõi của vấn đề đã khiến tôi lao tâm khổ tứ.

Tôi thề rằng nội trong ngày mai tôi phải làm tất cả những gì sức người làm được để đi tới tận tâm điểm bí mật đó.

11.

Người trên mỏm đá

Sau những trích đoạn từ nhật kí của tôi trong chương trước là đến ngày 18 tháng 10 khi những diễn biến kì lạ trong vụ này bắt đầu đẩy nhanh tốc độ tới kết cục khủng khiếp.

Các biến cố trong mấy ngày kế tiếp đã ghi khắc vào trí nhớ và tôi có thể kể mà không cần xem lại những ghi chép lúc đó.

Tôi sẽ bắt đầu từ chuyện xảy ra sau cái ngày xác định được hai dữ kiện hết sức quan trọng: Một là chuyện bà Laura Lyons ở Coombe Tracey đã viết thư cho ngài Charles Baskerville để hẹn gặp vào đúng địa điểm lẫn thời điểm vị này bỏ mạng, hai là có người thấy một kẻ ẩn náu trong những căn nhà đá trên sườn đồi ngoài truông.

Có hai dữ kiện này trong tay mà tôi còn không thể làm sáng tỏ hơn những chỗ mù mịt này thì ắt là do tôi kém trí tuệ hoặc thiếu can trường.

Tối hôm trước tôi không có cơ hội nói với ngài Henry những gì đã biết về bà Lyons vì bác sĩ Mortimer ở lại chơi bài với nam tước tới khuya.

Nhưng trong bữa điểm tâm, tôi đã báo cho ngài Henry phát hiện của mình và hỏi xem anh ta có muốn cùng đi đến Coombe Tracey không.

Thoạt tiên nam tước rất hăm hở muốn đi nhưng rồi nghĩ lại cả hai đều thấy rằng tôi đi một mình có lẽ sẽ tốt hơn.

Chuyến đi này càng long trọng thì chúng tôi càng thu thập được ít thông tin.

Cho nên dù lương tâm không khỏi day dứt, tôi cũng đành để ngài Henry ở nhà và lên xe bắt đầu cuộc truy tìm mới.

Khi đến Coombe Tracey, tôi bảo Perkins chăm lo cho mấy con ngựa còn tôi đi dò la tung tích người phụ nữ cần chất vấn.

Tôi dễ dàng tìm ra nhà bà ta ở ngay trung tâm và được bài trí đẹp.

Một người hầu gái không hề khách sáo đưa tôi vào trong, và khi tôi bước vào phòng khách, một phụ nữ đang ngồi sau chiếc máy đánh chữ Remington đứng ngay dậy, nở nụ cười chào đón.

Tuy nhiên, nét mặt bà ta sa sẩm khi thấy tôi là khách lạ, đoạn bà ta ngồi xuống hỏi tôi đến làm gì.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về bà Lyons là một nhan sắc kiều diễm.

Đôi mắt và mái tóc đều cùng một màu nâu sậm và đôi má, tuy khá nhiều tàn nhang, song lại ửng lên vẻ tươi tắn tuyệt mĩ, tựa như sắc hồng kiêu sa lẫn khuất bên trong một đóa hồng vàng.

Tôi xin nhắc lại, ấn tượng đầu tiên chính là niềm ngưỡng mộ.

Nhưng ấn tượng kế tiếp lại là sự phản tỉnh.

Có điểm gì đó không ổn trên gương mặt, một biểu cảm hơi thô, vẻ nghiệt ngã có lẽ toát lên trong ánh mắt, hay một khóe môi chùng, khiến dung nhan ấy không được hoàn mĩ.

Nhưng tất nhiên đấy là sau này nghĩ lại tôi mới thấy.

Chứ ngay lúc ấy tôi chỉ nhận ra mình đang diện kiến một giai nhân kiều diễm và bà ta đang hỏi tôi lí do đến đây.

Tới khi đó tôi mới hiểu hết nhiệm vụ của mình tế nhị đến chừng nào.

"Tôi có hân hạnh được quen biết ông thân sinh của bà", tôi nói.

Đó là một lời giới thiệu vụng về, và người phụ nữ này buộc tôi phải nhận ra điều đó.

"Giữa cha tôi với tôi chẳng có gì liên quan", bà ta nói.

"Tôi không nợ gì ông ta, và bạn của ông ta không phải là bạn của tôi.

Nếu không nhờ ngài Charles Baskerville quá cố và những người hảo tâm khác thì tôi hẳn đã chết đói vì sự chăm lo của cha tôi rồi."

"Tôi đến gặp bà chính vì chuyện của ngài Charles Baskerville quá cố."

Những đốm tàn nhang trên mặt người phụ nữ bỗng nổi bật lên.

"Tôi có thể nói gì đây?"

Bà ta hỏi, ngón tay bồn chồn mân mê các phím máy đánh chữ.

"Bà có quen biết ngài Charles phải không?"

"Tôi đã nói là tôi mang ơn lòng tốt của ngài ấy nhiều lắm.

Nếu như tôi có thể tự nuôi thân thì phần lớn là nhờ ngài ấy đã quan tâm đến hoàn cảnh bất hạnh của tôi."

"Bà đã thư từ qua lại với ngài ấy phải không?"

Người phụ nữ kia ngước nhìn lên ngay, đôi mắt nâu tóe lửa giận.

Bà hỏi gắt gỏng, "ông hỏi với mục đích gì?"

"Mục đích là tránh một vụ tai tiếng công khai.

Tốt nhất tôi nên hỏi ở đây hơn là để cho chuyện này vượt ngoài tầm kiểm soát của chúng ta."

Bà ta im lặng, mặt vẫn còn tái xanh.

Sau cùng bà nhìn lên với thái độ thách thức bất cần.

"Được, tôi sẽ trả lời", bà ta nói, "ông muốn hỏi gì?"

"Bà có thư từ qua lại với ngài Charles không?"

"Chắc chắn là tôi có viết thư một đôi lần để cảm tạ sự hào phóng và tế nhị của ngài ấy."

"Bà còn nhớ ngày tháng viết các bức thư đó không?"

"Không."

"Có bao giờ bà gặp gỡ ngài Charles không?"

"Có, một đôi lần, khi ngài ấy đến Coombe Tracey.

Ông ấy là người rất kín đáo và thích làm việc thiện mà không cho ai biết."

"Nếu như bà ít gặp gỡ và ít thư từ như vậy, làm sao ngài Charles biết rõ chuyện của bà để giúp đỡ như bà đã nói?"

Bà ta đáp trả câu hỏi bắt chẹt của tôi hết sức mau lẹ.

"Có một vài người biết chuyện buồn của tôi và đã hợp sức giúp tôi.

Một trong số đó là ông Stapleton, láng giềng và bạn thân của ngài Charles.

Ông Stapleton hết sức tử tế và thông qua ông ấy mà ngài Charles biết chuyện của tôi."

Tôi đã biết ngài Charles Baskerville từng nhờ Stapleton làm đại diện trong nhiều hoạt động từ thiện cho nên lời người phụ nữ này có vẻ đáng tin.

"Có bao giờ bà viết thư cho ngài Charles yêu cầu ngài ấy gặp bà không?"

Tôi hỏi tiếp.

Bà Lyons lại đỏ mặt tức tối.

"Đây đích thị là một câu hỏi rất lạ lùng đó, thưa ông."

"Rất tiếc, thưa bà, tôi phải lặp lại câu hỏi đó."

"Vậy thì tôi trả lời là không hề có."

"Đúng cái ngày ngài Charles tạ thế cũng không ư?"

Trước mắt tôi, gương mặt đỏ bừng kia lập tức tái nhợt như xác chết Tôi thấy hai vành môi khô phác thành một tù 'Không' mà không sao bật ra thành tiếng được.

"Chắc chắn trí nhớ đã dối gạt bà", tôi nói.

"Tôi thậm chí còn có thể trích một câu trong lá thư của bà.

Thư viết: Vì ngài là bậc trượng phu, xin vui lòng đốt lá thư này và chờ ở cổng vào khoảng 10 giờ."

Tôi tưởng bà Lyons sắp ngất xỉu nhưng bà ta đã trấn tĩnh được bằng một nỗ lực phi thường.

Bà ta thốt lên, "Lẽ nào trên đời này không có bậc trượng phu?"

"Bà nói vậy là oan cho ngài Charles rồi.

Ngài ấy quả thực đã đốt lá thư đó.

Nhưng có khi thư đã đốt mà vẫn đọc được chữ.

Bà có thừa nhận là bà viết lá thư đó không?"

"Đúng, tôi viết đấy", bà ta nói to và tuôn ra một tràng như thể trút hết cõi lòng.

"Chính tôi viết đấy.

Việc gì tôi phải chối?

Tôi không có lí do gì phải xấu hổ vì chuyện đó.

Tôi mong ngài ấy giúp.

Tôi tin là nếu gặp ngài Charles thì tôi có thể được ngài ấy giúp đỡ, cho nên tôi viết thư xin gặp."

"Sao lại gặp vào giờ ấy?"

"Vì khi đó tôi mới biết ngài Charles sẽ đi London vào hôm sau và có thể vắng mặt nhiều tháng trời.

Có nhiều lí do khiến tôi không thể đến gặp sớm hơn."

"Nhưng tại sao lại hẹn gặp ngoài vườn mà không ghé vào nhà?"

"Ông cho rằng một phụ nữ có thể đi một mình vào giờ đó đến nhà một người đàn ông độc thân sao?"

"Thế chuyện gì đã xảy ra khi bà tới đó?"

"Tôi không hề tới."

"Bà Lyons!"

"Đúng!

Xin thề với ông bằng tất cả những gì thiêng liêng nhất.

Tôi không hề tới đó.

Có chuyện ngăn trở nên tôi không đi."

"Chuyện gì thế?"

"Đó là chuyện riêng, tôi không nói được."

"Vậy bà thừa nhận là có hẹn gặp ngài Charles vào đúng cái giờ và nơi ngài ấy đã chết, nhưng bà lại khăng khăng là bà đã không đến gặp."

"Đó là sự thật"

Tôi không ngừng chất vấn bà ta nhưng không thể biết gì hơn sau chi tiết đó.

"Bà Lyons", tôi vừa nói vừa đứng lên sau cuộc chất vấn kéo dài mà chẳng đi đến đâu, "bà đang gánh trách nhiệm rất lớn và tự đặt mình vào một vị trí rất sai lầm vì không chịu nói hết những gì bà biết.

Nếu tôi phải nhờ đến cảnh sát thì bà sẽ rơi vào tình thế hết sức bất lợi.

Nếu bà thật sự vô can thì vì sao ngay từ đầu bà lại chối là không gửi thư cho ngài Charles vào đúng ngày hôm đó chứ?"

"Vì tôi sợ mình có thể bị quy kết không đúng qua chuyện đó và có thể dính líu vào một vụ tai tiếng."

"Thế tại sao bà cứ khẩn khoản muốn ngài Charles phải hủy lá thư đó đi?"

"Nếu ông đã đọc lá thư thì hẳn ông phải biết."

"Tôi không nói là tôi đã đọc trọn lá thư."

"Thì ông đã trích một đoạn đấy thôi."

"Tôi trích đoạn tái bút.

Như tôi đã nói, lá thư ấy bị đốt rồi và không thể đọc được toàn bộ.

Tôi hỏi bà một lần nữa là tại sao bà cứ khẩn khoản muốn ngài Charles phải hủy lá thư đã nhận được vào đúng ngày ngài ấy chết."

"Đó là chuyện rất riêng tư."

"Chính vì thế bà càng nên tránh một cuộc điều tra công khai."

"Vậy thì tôi nói.

Nếu như ông đã nghe qua chuyện bất hạnh của tôi thì ông sẽ biết tôi đã kết hôn thiếu suy nghĩ và có lí do để hối tiếc."

"Tôi có nghe nhiều rồi."

"Tôi bị một người chồng mà tôi ghê tởm hành hạ triền miên.

Luật pháp lại đứng về phía hắn ta nên ngày nào tôi cũng có nguy cơ bị hắn ép phải quay lại chung sống.

Vào lúc viết lá thư ấy cho ngài Charles, tôi vừa biết mình có hi vọng được tự do nếu như tôi có thể đáp ứng một khoản chi phí nhất định.

Điều này rất có ý nghĩa đối với tôi: Được yên tâm, vui sống, lòng tự trọng... tất cả.

Tôi biết ngài Charles là người rộng rãi và tôi nghĩ nếu ngài ấy nghe chuyện đó từ chính miệng tôi kể ra thì ngài ấy sẽ giúp."

"Thế sao bà lại không tới như đã hẹn?"

"Vì trước đó tôi lại nhận được sự giúp đỡ từ một nguồn khác."

"Sao bà không viết thư giải thích rõ với ngài Charles?"

"Tôi cũng định làm đúng như thế nhưng sáng hôm sau thì nhật báo đã đăng tin ngài ấy qua đời."

Câu chuyện của người phụ nữ này hết sức chặt chẽ và mọi câu hỏi của tôi đều không làm nó lung lay được.

Tôi chỉ có thể kiểm chứng bằng cách tìm hiểu xem có thực là bà ta đã xúc tiến chuyện ra tòa li dị với người chồng vào thời gian xảy ra thảm kịch ấy không.

Chắc bà ta không dám khẳng định là đã không tới lâu đài Baskerville nếu thực sự có tới, vì muốn đến đó bà ta phải đi bằng xe ngựa và không thể nào quay lại Coombe Tracey trước khi trời rạng sáng.

Không thể che giấu một chuyến đi xa như thế.

Do đó có khả năng là bà ta nói thật, hay chí ít là một phần sự thật.

Tôi ra về chán nản và hoang mang.

Một lần nữa tôi lại đâm đầu vào ngõ cụt hệt như mọi ngã đường trước đó tôi đã thử để tiến gần tới mục tiêu.

Nhưng càng nhớ lại nét mặt và thái độ của người phụ nữ ấy, tôi càng thấy bà ta vẫn đang giấu giếm điều gì đó.

Tại sao bà ta tái mét đi như vậy?

Tại sao bà ta cứ chối quanh cho đến khi bị tôi dồn ép mới chịu thừa nhận?

Tại sao bà ta dè dặt khi nhắc đến thời điểm xảy ra thảm kịch?

Nhất định lí do của chuyện này không thể nào vô tư như bà ta muốn tôi tin.

Lúc này tôi không thể tiến xa hơn theo hướng đó mà phải quay sang manh mối khác - cần phải tìm hiểu điều bí ẩn trong những căn nhà đá trên truông.

Và đó lại là hướng mông lung nhất.

Tôi nhận ra điều đó khi lên xe quay về và để ý thấy hết triền đồi này sang triền đồi khác đâu đâu cũng có dấu tích của người thượng cổ.

Chỉ dẫn duy nhất của Barrymore là kẻ lạ mặt ấy sống trong một căn nhà bỏ hoang ngoài đó, nhưng có tới hàng trăm cái như thế rải rác khắp chiều dài và chiều rộng của truông.

Nhưng tôi lại có kinh nghiệm riêng làm kim chỉ nam vì tôi đã thấy chính kẻ ấy đứng trên đỉnh mỏm đá đen.

Như vậy đó sẽ là tâm điểm cuộc tìm kiếm của tôi.

Từ đó tôi sẽ thăm dò từng căn nhà một trên truông cho tới khi nào tìm ra đúng chỗ.

Nếu gặp kẻ đó bên trong tôi sẽ buộc y phải nói ra, cùng lắm là lấy họng súng uy hiếp, để xem y là ai và tại sao lại theo dõi chúng tôi suốt bao lâu nay.

Y có thể lẩn trốn trong đám đông trên phố Regent, nhưng trên vùng truông hiu quạnh này thì y có chạy đằng trời.

Mặt khác, nếu tôi tìm ra căn nhà ẩn náu nhưng kẻ chiếm ngụ không có mặt thì tôi phải ở đó, dù có thức trắng đêm canh chừng, đến khi nào y quay lại.

Holmes đã không tóm được tên này ở London.

Nếu ở đây tôi làm được việc mà bậc thầy của mình đã thất bại thì quả là một chiến công hiển hách.

Trong cuộc truy tìm này đã bao lần vận may chối bỏ chúng tôi, nhưng rốt cuộc lần này nó lại đến với tôi.

Và sứ giả của vận may không phải ai khác mà lại là ông già Frankland, mặt đỏ hồng, tóc mai xám bạc, đang đứng ngoài cổng vườn nhà trên con đường cái tôi đang đi.

"Xin chào, bác sĩ Watson", ông già kêu to với vẻ phấn chấn hiếm thấy, "anh phải cho lũ ngựa dưỡng sức và vào đây uống một li chúc mừng tôi mới được."

Tôi chưa bao giờ có thiện cảm với già Frankland sau nhũng gì đã nghe kể về cách ông cư xử với con gái, nhưng tôi đang nóng lòng muốn tống Perkins và cỗ xe về nhà nên đây là cơ hội tốt.

Tôi xuống xe và nhắn lại với ngài Henry là tôi sẽ đi bộ về kịp giờ ăn tối.

Sau đó tôi theo Frankland vào phòng ăn nhà ông.

"Đúng là ngày trọng đại của tôi, anh ạ, một ngày huy hoàng của đời tôi", ông già vừa nói to vừa cười khúc khích.

"Tôi đã thắng một cú đúp.

Tôi muốn dạy cho dân xứ này biết rằng luật pháp là luật pháp, và ở đây có một người không sợ viện dẫn luật.

Tôi đã xác lập lối đi công cộng xuyên qua bãi cỏ của lão Middleton, cắt thẳng qua đó luôn, anh ạ, cách cửa chính nhà lão ta chưa đầy một trăm yard.

Anh thấy sao?

Chúng ta sẽ dạy cho bọn quyền thế biết là chúng không được chà đạp lên quyền lợi của thường dân, lũ chết tiệt này!

Và tôi đã chặn luôn khu rừng mà dân Fernworthy vẫn dùng làm nơi dã ngoại.

Hình như cái bọn trời đánh thánh vật đó tưởng rằng nơi ấy không hề có ai sở hữu, và chúng cứ vứt giấy rác, chai lọ bừa bãi khắp nơi.

Cả hai vụ kiện đều đã được phân xử, bác sĩ Watson ạ, và phần thắng thuộc về tôi.

Tôi chưa có ngày nào được như hôm nay kể từ hồi tôi kiện được ngài John Morland tội xâm phạm vì lão ta săn bắn trong khu đất riêng của mình."

"Nhưng sao ông làm được chứ?"

"Cứ tra tìm trong sách đi, anh ạ.

Đọc sách thì biết hết, vụ Frankland kiện Moriand ở tòa án Queen's Bench đó.

Vụ đó tôi mất đứt 200 bảng nhưng lại thắng kiện."

"Thế ông có được hưởng lợi gì không?"

"Không, anh ạ, chẳng có gì.

Tôi tự hào mà nói rằng tôi không hề có lợi lộc gì trong chuyện này.

Tôi hành động hoàn toàn vì ý thức công dân.

Chẳng hạn, tôi tin chắc đêm nay dân làng Fernworthy sẽ lôi hình nộm tôi ra đốt.

Lần trước bọn ấy cũng làm thế và tôi đã nói với cảnh sát là họ phải chấm dứt những trò diễn nhục nhã đó đi.

Sở cảnh sát địa hạt này thật đáng phỉ báng, anh ạ, tôi vẫn chưa được bảo vệ một cách xứng đáng.

Vụ Frankland kiện Nữ hoàng rồi sẽ lôi chuyện này ra trước công chúng.

Tôi đã bảo rằng họ sẽ có dịp phải hối tiếc vì đã đối xử với tôi như thế, và lời tôi nói đã thành sự thật."

"Sao lại thế?"

Tôi hỏi.

Ông già liền lộ ra vẻ ranh mãnh.

"Vì tôi có thể cho họ biết điều họ đang thèm khát, nhưng tôi không đời nào giúp bọn nhãi nhép ấy đâu."

Nãy giờ tôi vẫn tìm cớ để thoát khỏi những chuyện tầm phào của ông già, nhưng lúc này tôi lại muốn nghe nữa.

Tôi biết rõ tính khí trái khoáy của ông già nên thừa hiểu chỉ cần tôi tỏ ra quan tâm hơi lộ liễu một chút thì chắc chắn ông ta sẽ không tâm sự gì nữa.

"Chuyện săn trộm chứ gì?"

Tôi hỏi với vẻ thờ ơ.

"Ha ha, anh bạn ơi, quan trọng hơn thế nhiều!

Anh nghĩ sao nếu đó là chuyện tên tù vượt ngục trên truông?"

Tôi trố mắt.

"Ý ông nói là ông biết tên tù ở đâu à?"

Tôi hỏi.

"Có thể tôi không biết đích xác thằng đó ở đâu nhưng tôi tin chắc mình có thể giúp cảnh sát tóm được nó.

Có bao giờ anh nghĩ rằng muốn bắt thằng đó thì phải tìm xem nó lấy đồ ăn ở đâu và từ đó mà lần ra không?"

Rõ ràng là ông già đã chạm đến gần sự thật tới mức đáng ngại.

Tôi nói, "Hẳn rồi, nhưng làm sao ông biết tên tù ở ngoài truông?"

"Tôi biết vì chính mắt tôi thấy người đem thức ăn đến cho tên tù đó."

Tôi thấy lo ngại cho Barrymore.

Lọt vào tầm ngắm của lão già lắm điều, lại còn ưa hiềm thù này thì to chuyện mất rồi.

Nhưng câu kế tiếp của già Frankland đã cất đi gánh nặng trong lòng tôi.

"Anh không ngờ được đâu, người đem đồ ăn tới cho tên tù là một thằng nhóc.

Ngày nào tôi cũng nhìn thấy nó qua kính viễn vọng đặt trên mái nhà.

Nó đi cùng một đường vào cùng một giờ, nếu không phải để gặp tên tù kia thì còn ai vào đây nữa?"

Đúng là gặp may rồi!

Thế nhưng tôi vẫn cố nén để không tỏ ra chú ý.

Một đứa nhỏ!

Barrymore cũng đã nói kẻ lạ mặt kia được một đứa nhỏ tiếp tế.

Frankland đã tình cờ phát hiện ra dấu vết của thằng bé đó chứ không phải của tên tù.

Nếu có thể gợi cho ông ta nói ra hết thì tôi sẽ đỡ mất công truy tìm mệt mỏi mất thời gian.

Nhưng thái độ hồ nghi và dửng dưng là những lá bài chắc ăn nhất của tôi.

"Tôi nghĩ rất có thể đó chỉ là con trai một người chăn cừu mang bữa ăn tối ra cho cha nó ngoài truông."

Chỉ cần trái ý một chút cũng đủ khiến ông già độc đoán này nổi nóng.

Ông ta gườm gườm nhìn tôi và hàng tóc mai xám bạc hai bên dựng lên tua tủa như bộ ria của một con mèo nóng nảy.

"Anh nói mới hay chứ!"

Ông ta chỉ tay ra phía truông.

"Anh có thấy mỏm đá đen đằng kia không?

Đấy, anh có thấy phía dưới chỉ là quả đồi đầy bụi gai không?

Đó là nơi nhiều đá nhất trong cả truông này.

Chẳng lẽ dân chăn cừu lại đóng trại ở đấy chắc?

Ý kiến của anh ngớ ngẩn không gì bằng, anh à."

Tôi ngoan ngoãn đáp lại là tôi đã nói mà không biết hết mọi việc, vẻ phục tùng của tôi khiến ông ta hài lòng và càng nói nhiều hơn.

"Anh này, anh có thể tin chắc là tôi đã nói thì phải có cơ sở rất vững chắc.

Tôi đã nhiều lần thấy thằng nhỏ đó mang theo một cái gói.

Hằng ngày, có khi hai lần trong một ngày, tôi đã...

Ồ, khoan, bác sĩ Watson.

Mắt tôi nhìn lầm hay là có cái gì di chuyển trên sườn đồi kia?"

Tuy cách xa nhiều dặm, tôi vẫn nhìn thấy rõ một đốm đen nổi bật trên nền xám xanh ảm đạm.

Frankland vừa chạy lên lầu vừa kêu to, "Lên đây, anh lên đây!

Anh sẽ thấy tận mắt và tự đi mà suy xét lấy!"

Trên mái nhà lợp bằng phẳng là chiếc kính viễn vọng đặt trên giá ba chân.

Frankland nhìn vào và reo lên mừng rỡ, "Mau lên, bác sĩ Watson, kẻo nó băng qua bên kia đồi mất!"

Không thể lầm được, đúng là một thằng nhãi con với cái bọc quảy trên vai, đang chậm chạp lê bước lên đồi.

Khi nó lên tới đỉnh, tôi nhìn thấy bóng dáng nhếch nhác, rách rưới ấy in rõ trên nền trời xanh lạnh lẽo trong giây lát.

Nó nhìn quanh với vẻ lén lút vụng trộm như thể lo sợ có ai đi theo.

Sau đó nó khuất dạng về bên kia đồi.

"Đấy!

Tôi nói đúng không?"

"Hoàn toàn đúng, có một thằng nhỏ hình như đang làm chuyện gì bí mật."

"Và chuyện bí mật đó là gì thì ngay cả một tên cảnh binh địa hạt cũng có thể đoán được.

Nhưng tôi sẽ không hé răng với họ, và tôi yêu cầu anh cũng phải giữ bí mật đó, bác sĩ Watson.

Không hé răng!

Anh hiểu chứ?"

"Xin tuân theo ý ông."

"Họ đã đối xử với tôi rất đáng hổ thẹn, đáng hổ thẹn lắm.

Khi sự thật bị phơi bày trong vụ Frankland kiện Nữ hoàng, tôi dám chắc sẽ gây ra một cơn phẫn nộ chấn động cả nước này.

Không gì có thể khiến tôi giúp đỡ bọn cảnh sát đó.

Chúng nó muốn thiêu sống tôi chứ không phải chỉ bêu hình nộm của tôi trên cọc mà đốt thôi đâu.

Anh không định đi về đấy chứ!

Phải giúp tôi uống cạn bình rượu để mừng dịp trọng đại này đã!"

Nhưng tôi khước từ mọi lời nài nỉ của ông già và can ông ta bỏ ý định tiễn tôi về đến tận nhà.

Tôi cứ theo lộ chính mà đi tới khi khuất tầm mắt Frankland liền đổi hướng băng qua truông, đi thẳng tới ngọn đồi đá nơi thằng bé hồi nãy đã khuất dạng.

Tất cả đều thuận lợi, và tôi thề rằng không thể vì mệt mỏi hay nản chí mà bỏ lỡ cơ may hiếm có này.

Khi tôi lên tới đỉnh đồi mặt trời đã bắt đầu lặn, những nền dốc dài phía dưới một bên nhuốm màu lục pha ráng vàng còn một bên đã ngả bóng màu xám.

Một màn sương mù giăng la đà phía đường chân trời xa tít tắp, từ đó nhô lên hình dáng kì quái của các mỏm đá Belliver và Vixen.

Trên dải đất rộng mênh mông ấy không hề có một âm thanh hay chuyển động nào.

Một cánh chim lớn màu xám - mỏ nhát hay mòng bay vút lên bầu trời xanh.

Giữa vòm trời mênh mông và vùng đất hoang vu phía dưới dường như chỉ có hai sinh vật là nó và tôi.

Cảnh tượng cằn cỗi, cảm giác cô độc, và nhiệm vụ vừa kì bí vừa cấp bách của tôi, tất cả đều khiến cõi lòng tôi ớn lạnh.

Chẳng hề thấy bóng thằng nhỏ kia đâu.

Nhưng bên dưới, trong một khe sâu giữa những ngọn đồi có mấy căn nhà đá cổ xưa quây tròn lại, và ngay chính giữa là một căn vẫn còn lại phần mái đủ che chắn nắng mưa.

Vừa nhìn thấy nó tìm tôi đã đập rộn lên.

Nhất định đây chính là hang ổ của kẻ lạ mặt kia.

Cuối cùng tôi đã đặt chân đến ngưỡng cửa nơi trú ẩn của y - bí mật của y đang nằm trong tầm tay tôi.

Tôi đến gần căn nhà đó, chân bước thận trọng như Stapleton khi cầm vợt tiến gần một cánh bướm đang đậu, tôi tự thấy hài lòng khi nhận ra chỗ này quả thực đã được dùng làm nơi trú ngụ.

Một lối mòn lờ mờ giữa những tảng đá dẫn tới một lỗ hổng đổ nát dùng làm cửa ra vào.

Bên trong im lặng như tờ.

Kẻ lạ mặt kia có thể đang nấp ở đó hoặc đang rình mò ngoài truông.

Thần kinh tôi râm ran cảm giác mạo hiểm.

Vứt điếu thuốc lá qua một bên, tay nắm chặt khẩu súng lục, tôi đi thật nhanh tới cửa và nhìn vào: Trống trơn.

Nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy tôi đã không theo lầm dấu vết.

Chắc chắn kẻ đó đã sống ở đây.

Mấy tấm chăn cuộn tròn trong tấm áo mưa đặt ngay trên phiến đá từng là chỗ ngủ của người thời Đồ Đá Mới.

Tro bếp lửa vun thành đống trong một vỉ lò thô sơ.

Bên cạnh là mấy đồ dùng nấu ăn và một xô chứa lưng lửng nước.

Một đống rác toàn lon thiếc rỗng cho thấy nơi này đã có người cư ngụ một thời gian dài, và khi mắt đã quen với ánh sáng lốm đốm chập chờn, tôi nhận ra một cái chén nhỏ và chai rượu mạnh đã vơi một nửa đặt ở trong góc.

Ngay giữa căn nhà là một khối đá bằng phẳng dùng làm bàn, bên trên đặt một gói vải nhỏ - không nghi ngờ gì nữa, chính là cái gói trên vai thằng nhỏ tôi đã thấy qua kính viễn vọng.

Trong gói có một ổ bánh mì, một hộp thịt và hai lon mứt đào.

Khi đặt mấy món đó xuống sau khi xem xét, tim tôi đập dồn khi thấy bên dưới là một tờ giấy có chữ viết.

Tôi cầm lên và đọc dòng chữ viết tháu bằng nét bút chì nguệch ngoạc: Bác sĩ Watson đã tới Coombe Tracey.

Tôi cầm tờ giấy trong tay mà đứng lặng cả phút, suy nghĩ về ý nghĩa của thông điệp ngắn ngủn đó.

Như vậy kẻ bí hiểm này đang bám theo chính tôi chứ không phải ngài Henry.

Hắn ta không đích thân theo dõi mà sai một bộ hạ - có lẽ là thằng nhỏ kia - do thám tôi và đây là báo cáo của nó.

Rất có thể là từ khi tôi đến truông này, mọi đường đi nước bước của tôi đều bị theo dõi và báo cáo lại.

Lúc nào tôi cũng linh cảm thấy có một thế lực vô hình, một tấm lưới tinh vi được giăng ra tài tình và kín đáo, nó chỉ quây hờ lấy chúng tôi để đến đúng thời khắc cao trào chúng tôi mới nhận ra mình đã vướng vào cạm bẫy.

Nếu đã có một báo cáo thì phải có nhiều cái khác, cho nên tôi nhìn quanh nhà tìm kiếm.

Tuy nhiên không hề thấy dấu vết nào, và tôi cũng không phát hiện được gì có thể nói lên bản chất hay ý đồ của kẻ đang sống ở nơi kì dị này, chỉ biết người này hẳn phải quen sống kham khổ và chẳng bận tâm đến tiện nghi sinh hoạt.

Khi nhớ tới những trận mưa dầm và nhìn mái nhà hở hoác, tôi biết người này phải có một mục đích kiên định và mạnh mẽ lắm mới có thể trụ lại nơi khắc nghiệt này.

Hắn ta là kẻ thù ác hiểm của chúng tôi, hay ngẫu nhiên lại là đấng thiên thần hộ mệnh?

Tôi thề sẽ không rời khỏi căn nhà này chừng nào còn chưa biết rõ.

Bên ngoài mặt trời đã xuống thấp và trời tây đã chói rực ánh đỏ, ánh vàng.

Nắng chiều phản chiếu trên những vũng nước tít tắp giữa bãi lầy Grimpen hất ánh sáng lên những vạt đất đỏ nâu.

Hai ngọn tháp của lâu đài Baskerville và một làn khói mờ xa xa đánh dấu vị trí của làng Grimpen.

Ở giữa hai chỗ ấy, phía sau ngọn đồi, chính là ngôi nhà của anh em Stapleton.

Tất cả đều tươi vui và yên lành trong ánh chiều vàng, thế nhưng nhìn cảnh vật ấy lòng tôi không hòa chung sự bình an của tự nhiên mà chỉ thấy xốn xang một nỗi khiếp sợ và cảm giác mông lung về cuộc đối mặt mỗi lúc một gần kề.

Trong trạng thái thần kinh bất an nhưng mục đích thì dứt khoát, tôi ngồi trong hốc tối của căn nhà, nhẫn nại chờ kẻ chiếm ngụ quay về.

Rốt cuộc tôi cũng nghe tiếng hắn.

Từ xa vang lên tiếng gót giày nện khô đanh vào một hòn đá.

Rồi một tiếng nữa, và một tiếng nữa, càng lúc càng gần thêm.

Tôi thu mình vào góc tối nhất và lên cò khẩu súng trong túi, quyết tâm không lộ diện cho đến khi có cơ hội nhìn rõ kẻ lạ mặt kia.

Tiếng chân lặng im một lúc, cho biết kẻ đó đã ngừng bước.

Rồi tiếng chân lại tiến gần và một bóng người chắn ngang lối vào căn nhà.

"Một buổi chiều tuyệt vời, Watson thân mến", một giọng rất quen cất lời.

"Tôi nghĩ anh ra ngoài này sẽ thoải mái hơn là ở trong đó."

12.

Cái chết trên truông

Tôi ngồi yên sửng sốt hồi lâu, không thể tin vào tai mình nữa.

Rồi tôi sực tỉnh và thấy mình đã có thể lên tiếng, đồng thời cất được một gánh nặng trách nhiệm đè trĩu tâm tư.

Cái giọng điệu châm biếm, sắc sảo, lạnh lùng đó chỉ có thể là của một người duy nhất trên đời này.

"Holmes!"

Tôi kêu lên.

"Holmes!"

"Ra đi", anh nói, "và xin anh cẩn thận với khẩu súng đấy."

Tôi lom khom chui qua ngưỡng cửa thô sơ ấy và kia là Holmes đang ngồi trên một tảng đá bên ngoài, đôi mắt xám lấp lánh vẻ thích thú khi quan sát nét mặt ngỡ ngàng của tôi.

Anh gầy và hốc hác nhưng tỉnh táo và nhạy bén, gương mặt lanh lợi đã thô sạm vì nắng gió.

Khoác trên người bộ comlê bằng vải tuýt và đội mũ vải, trông Holmes như một du khách trên truông, và với thói quen sạch sẽ như mèo, Holmes vẫn cạo râu nhẵn nhụi và ăn mặc tinh tươm như đang ở phố Baker.

"Trong đời tôi chưa hề mong gặp ai đến thế", tôi vừa nói vừa siết chặt bàn tay anh.

"Và cũng chưa bao giờ ngạc nhiên đến thế chứ gì?"

"À, phải thú thật là vậy."

"Cam đoan là không chỉ có mỗi mình anh ngạc nhiên đâu.

Tôi không ngờ anh lại tìm ra chỗ trú ẩn tạm thời này của tôi, càng không nghĩ là anh đang ở trong đó, cho tới khi chỉ còn cách cửa chừng hai mươi bước."

"Chắc anh thấy dấu chân tôi?"

"Không phải, Watson, e là tôi không dám chắc sẽ nhận ra dấu chân của anh trong bao dấu chân trên đời này.

Nếu như anh thật sự có ý định đánh lừa tôi thì anh phải đổi hiệu thuốc lá khác đi, bởi khi tôi thấy mẩu đuôi thuốc lá mác Bradley, phố Oxford thì tôi biết ngay anh bạn Watson đang ở đâu đây.

Anh sẽ thấy mẩu thuốc ấy bên lối mòn này.

Chắc chắn anh đã ném xuống đó đúng lúc cao trào anh xông vào căn nhà trống trơn này."

"Chính xác."

"Tôi cũng nghĩ vậy, và bởi biết rõ tính gan lì đáng phục của anh, tôi tin chắc anh đang ngồi mai phục, vũ khí trong tay, chờ người trú ngụ ở đây quay lại.

Thế anh nghĩ tôi là tên tội phạm thật đấy à?"

"Tôi không biết người ở trong này là ai, nhưng tôi đã quyết tâm làm cho ra lẽ."

"Xuất sắc, Watson!

Nhưng làm sao anh xác định được vị trí?

Có lẽ anh đã thấy tôi vào cái đêm truy bắt tên tù đó, khi tôi khinh suất để cho mặt trăng rọi chiếu từ phía sau."

"Đúng, lần đó tôi đã thấy anh."

"Và chắc anh đã lục soát hết mọi căn nhà đá cho tới khi đến đây chứ gì?"

"Không phải, thằng nhỏ tiếp tế cho anh đã bị phát hiện và nhờ nó mà tôi biết hướng tìm kiếm."

"Vậy thì đúng là do ông già có kính viễn vọng rồi.

Lúc đầu thấy ánh sáng lóe lên từ thấu kính tôi không luận ra nổi đó là cái gì."

Anh đứng lên và nhìn vào trong nhà.

"À, tôi thấy Cartwright đã mang đồ tiếp tế tới rồi.

Tờ giấy gì thế?

Hóa ra anh đã tới Coombe Tracey rồi sao?"

"Rồi."

"Để gặp bà Laura Lyons?"

"Chính xác."

"Hay quá!

Rõ ràng chúng ta đã điều tra theo cùng một hướng, và khi gộp các kết quả lại, tôi nghĩ chúng ta sẽ biết khá đầy đủ về vụ này."

"Chà, thấy anh ở đây là tôi mừng lắm lắm bởi tôi sắp không chịu nổi trách nhiệm và sự bí ẩn nữa rồi.

Nhưng làm thế quái nào anh lại đến đây hở trời, và anh làm gì lâu nay?

Tôi cứ tưởng anh đang ở phố Baker giải quyết vụ tống tiền chứ?"

"Thì chính tôi muốn anh tưởng thế."

"Hóa ra anh sử dụng tôi mà lại không tin cậy tôi!"

Tôi nói to, giọng cay đắng.

"Tôi cứ nghĩ mình đáng được đối xử tốt hơn, Holmes à."

"Anh bạn thân mến ơi, trong vụ này anh đóng vai trò hết sức quý giá đối với tôi như trong bao vụ khác, xin anh bỏ qua cho nếu có vẻ như tôi đã lừa phỉnh anh.

Thực ra, tôi làm vậy một phần cũng vì sự an toàn của anh và chính vì lường được mối nguy hiểm mà anh sẽ gặp phải nên tôi mới đích thân xuống đây xem xét vụ này.

Nếu như tôi ở cùng một chỗ với ngài Henry và anh thì chắc chắn quan điểm của tôi cũng sẽ giống anh, và sự có mặt của tôi sẽ khiến đối thủ đáng gờm kia cảnh giác đề phòng.

Còn như thế này thì tôi có thể tự do đi lại, không bị giới hạn như là sống trong lâu đài, và trong chuyện này tôi vẫn là một ẩn số, đợi đến lúc quyết định mới phát huy hết sức mạnh."

"Nhưng sao anh không cho tôi biết?"

"Cho anh biết cũng chẳng ích gì và có thể khiến tôi bị phát hiện.

Có thể anh muốn nói với tôi chuyện gì đó, hoặc vì lòng tốt anh sẽ mang ra đây cho tôi ít vật dụng tiện nghi và sẽ gặp rủi ro không cần thiết.

Tôi đã đưa Cartwright theo, anh còn nhớ thằng nhóc ở văn phòng điện tín không?

Lâu nay nó lo liệu những nhu cầu đơn giản của tôi: Một ổ bánh mì, một chiếc cổ cồn sạch sẽ.

Tôi còn muốn gì hơn?

Có nó là có thêm một đôi mắt tinh tường và một đôi chân nhanh nhẹn, cả hai đều quý."

"Thế thì những bản tường trình của tôi đều uổng phí hết à!"

Giọng tôi run run khi nhớ lại bao công lao khó nhọc lẫn niềm tự hào khi viết ra chúng.

Holmes lấy trong túi áo ra một bó giấy tờ.

"Các bản tường trình của anh đây, anh bạn thân mến, xin cam đoan với anh là tôi đã đọc rất kĩ.

Tôi đã thu xếp rất chu đáo để những bản tường trình này được giao đến tay tôi chỉ chậm trễ một ngày thôi.

Tôi hết lời ngợi khen nhiệt huyết và trí tuệ mà anh đã chứng tỏ trong một vụ đặc biệt khó khăn như thế này."

Tôi vẫn còn khá bất bình vì bị Holmes lừa gạt nhưng những lời khen nồng nhiệt của anh đã khiến tôi nguôi giận.

Trong thâm tâm tôi cũng thấy rằng anh nói đúng và việc tôi không biết đến sự hiện diện của anh trên truông này quả thực là tốt cho mục đích chung.

"Vậy có phải hay hơn không?"

Anh nói khi thấy mặt tôi đã hết sa sẩm.

"Bây giờ hãy cho tôi biết kết quả chuyến gặp gỡ bà Laura Lyons đi, việc anh tới đó gặp bà ta rất dễ đoán vì tôi cũng đã nhận ra bà ta là người duy nhất ở Coombe Tracey có thể có ích cho chúng ta trong vụ này.

Nếu hôm nay anh không đi thì rất có thể ngày mai tôi cũng tới đó thôi."

Mặt trời đã lặn và hoàng hôn đang dần ngự trị trên truông.

Trời chuyển lạnh và hai chúng tôi rút vào trong căn nhà đá cho ấm.

Ngồi với nhau trong ánh chạng vạng, tôi kể cho Holmes nghe về cuộc đối thoại với người phụ nữ ấy.

Anh quan tâm tới mức có mấy chỗ anh đòi tôi thuật lại đến hai lần.

Khi tôi kể xong chuyện anh mới nói, "Đây là manh mối quan trọng nhất.

Nó lấp vào cái khoảng trống mà lâu nay tôi không sao khắc phục được trong vụ án cực kì phức tạp này.

Có lẽ anh cũng nhận ra mối quan hệ rất thân thiết giữa người phụ nữ này với gã Stapleton chứ?"

"Tôi đâu thấy quan hệ thân thiết nào?"

"Chuyện đó thì khỏi phải nghi ngờ.

Họ có gặp gỡ, họ có thư từ qua lại, giữa họ có sự tương thông hoàn toàn.

Đó chính là vũ khí hết sức lợi hại đang nằm trong tay ta.

Giá như tôi có thể lợi dụng nó để li gián vợ hắn thì..."

"Vợ Stapleton?"

"Giờ tôi sẽ cho anh biết vài thông tin để đáp lại những gì anh vừa cho biết.

Người phụ nữ ai cũng tưởng là em gái của Stapleton thực tế lại chính là vợ hắn đấy!"

"Trời đất ơi!

Holmes, anh có chắc không?

Làm sao Stapleton có thể cho phép ngài Henry có tình ý với vợ hắn chứ?"

"Chuyện ngài Henry có tình ý cũng chẳng gây hại cho ai ngoại trừ chính ngài Henry.

Hắn đã rất cẩn thận không để cho ngài Henry có cơ hội tỏ tình, như anh đã thấy đó.

Tôi nhắc lại người phụ nữ ấy là vợ hắn chứ không phải em gái hắn."

"Nhưng sao phải bày trò gian dối phức tạp vậy?"

"Bởi vì hắn đã tiên liệu rằng trong vai trò một phụ nữ độc thân cô ta sẽ có ích cho hắn hơn nhiều."

Những linh cảm không nói ra, những mối ngờ vực mơ hồ của tôi đột nhiên định hình và dồn cả vào nhà tự nhiên học.

Trong con người mặt lạnh da tái ấy, với chiếc mũ rơm và cây vợt bắt bướm, tôi dường như đã thấy điều gì đáng sợ - một kẻ mưu mô và kiên trì vô hạn, mang bộ mặt tươi cười và lòng dạ kẻ sát nhân.

"Vậy thì chính hắn là địch thủ của chúng ta, là kẻ theo dõi chúng ta ở London phải không?"

"Giả thuyết của tôi là thế."

"Còn bức thư cảnh báo, hẳn là vợ hắn gửi!"

"Chính xác."

Một mưu đồ đáng sợ, nửa đã hiển lộ, nửa chỉ là phỏng đoán, lờ mờ hiện ra sau bức màn tăm tối đã bao quanh tôi bấy lâu.

"Nhưng anh có chắc không, Holmes?

Làm sao anh biết người đàn bà đó là vợ hắn?"

"Bởi vì Stapleton đã sơ ý quên mất vai trò của mình và đã kể cho anh nghe một chuyện có thật về đời mình ngay lần gặp đầu tiên, và tôi dám chắc chính hắn đã không ít lần hối tiếc về chuyện đó.

Trước kia hắn đúng là hiệu trưởng một trường ở miền bắc.

Đó, không có gì dễ truy ra cho bằng tung tích một hiệu trưởng.

Có nhiều cơ quan học vụ có thể giúp ta xác định bất kì ai đã từng ở trong ngành này.

Tôi mất công điều tra một chút là tìm ra một trường tư thục đã gặp phải tai ương, và người chủ, lúc đó hắn mang tên khác, đã biến mất cùng vợ.

Các mô tả nhân dạng đều trùng khớp.

Khi tôi biết người hiệu trưởng mất tích đó rất say mê ngành côn trùng học thì việc xác minh đã hoàn tất."

Bức màn tăm tối đang vén dần nhưng nhiều điều vẫn còn chìm trong bóng tối.

Tôi hỏi, "Nếu người đàn bà đó quả thực là vợ hắn thì bà Laura Lyons kia liên quan gì?"

"Chính anh đã làm sáng tỏ vấn đề đó trong quá trình điều tra.

Cuộc tiếp xúc của anh với bà Laura Lyons đã làm sáng tỏ được mối liên quan này.

Tôi không biết chuyện bà ta có kế hoạch li dị ông chồng.

Vậy thì, nếu tưởng rằng Stapleton còn độc thân, chắc chắn bà ta hi vọng sẽ trở thành vợ hắn."

"Và khi đã biết mình bị lừa gạt?"

"A ha, đó là lúc bà Laura Lyons sẽ có ích cho chúng ta.

Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta, cả anh và tôi, là sáng mai phải đi gặp bà ta.

Watson ơi, anh không thấy là anh đã bỏ bê phận sự khá lâu rồi sao?

Vị trí của anh là phải ở lâu đài Baskerville mà."

Những vệt ráng đỏ cuối cùng đã phai nhòa ở phía tây và bóng tối đã phủ khắp truông.

Vài đốm sao mờ nhạt đang le lói trên bầu trời tím ngắt.

"Cho tôi hỏi một câu nữa thôi, Holmes", tôi vừa nói vừa đứng lên.

"Giữa anh và tôi đâu cần giữ bí mật.

Tất cả những điều này có ý nghĩa gì?

Hắn có mục đích gì cơ chứ?"

Giọng Holmes chùng xuống khi trả lời tôi, "Giết người, Watson à, giết người có chủ ý, nhẫn tâm và tinh vi.

Đừng hỏi tôi chi tiết.

Tôi đang giăng bẫy hắn, trong khi hắn giăng bẫy ngài Henry, và nhờ công anh, hắn ta hầu như đã nằm trong tay tôi.

Chỉ có một nguy cơ duy nhất đang đe dọa chúng ta thôi.

Đó là hắn có thể ra tay trước khi chúng ta sẵn sàng.

Một ngày nữa, hai ngày là cùng, tôi sẽ có đủ chứng cứ, nhưng từ giờ tới đó anh phải theo sát ngài Henry như một bà mẹ trông chừng đứa con ốm.

Hôm nay anh có nhiệm vụ chính đáng, song tôi vẫn ước giá mà anh đừng bỏ nam tước lại một mình.

Nghe kìa!"

Một tiếng rú kinh hoàng, một tiếng thét kéo dài hãi hùng và bi đát xé tan sự tĩnh mịch của truông.

Tiếng gào đáng sợ ấy khiến máu trong huyết quản tôi muốn đóng băng.

"Ôi, lạy Chúa!"

Tôi thốt lên.

"Cái gì thế?

Vậy là sao?"

Holmes đã đứng phắt dậy và tôi thấy cái bóng đen nhanh nhẹn của anh hiện trên ngưỡng cửa căn nhà đá, hai vai khom xuống, đầu nghển ra, mắt chăm chú dõi vào bóng tối.

"Suỵt!"

Anh thì thầm.

"Suỵt!"

Tiếng gào ấy vang động là vì tính chất dữ dội của nó, song nó phát ra từ đâu đó xa tít tận phía bình nguyên âm u.

Bây giờ nó như xói vào tai chúng tôi, gần hơn, vang hơn, và khẩn thiết hơn trước.

"Ở đâu vậy?"

Holmes thì thào, và qua giọng nói hồi hộp của một người sắt đá như anh, tôi biết anh cũng chấn động cả tâm can.

"Ở đâu vậy, Watson?"

"Kia kìa, tôi nghĩ vậy", tôi chỉ tay vào màn đêm.

"Không, phía kia!"

Một lần nữa tiếng gào đau đớn ấy xé tan đêm lặng, nó càng vang động và đến gần hơn bao giờ hết.

Và có một âm thanh mới hòa lẫn vào đó, một tiếng trầm rền vang ngân như tiếng nhạc nhưng đầy uy hiếp, cứ dâng lên rồi lắng xuống như tiếng sóng biển rì rầm.

"Con chó đấy!"

Holmes kêu lên.

"Đi mau, Watson, mau!

Cầu trời cho ta còn kịp!"

Anh bắt đầu chạy thoăn thoắt trên truông, và tôi theo bén gót.

Nhưng đúng lúc ấy từ đâu đó giữa mặt đất gập ghềnh ngay trước mặt chúng tôi vang lên một tiếng thét tuyệt vọng cuối cùng, tiếp đó là một tiếng uỵch nặng nề, mờ đục.

Chúng tôi dừng lại lắng nghe.

Không còn tiếng động gì khác phá vỡ sự im lìm quánh đặc của một đêm lặng gió.

Tôi thấy Holmes đưa tay lên trán như một người quẫn trí.

Anh giậm chân xuống đất.

"Hắn thắng chúng ta rồi, Watson.

Ta đã quá chậm trễ."

"Không thể, không đời nào!"

"Tôi thật ngu ngốc mới không chịu ra tay.

Còn anh, Watson, anh đã thấy hậu quả của việc bỏ bê trách nhiệm chưa!

Nhưng nếu điều tồi tệ nhất xảy ra thì xin thề là ta sẽ trả món nợ này!"

Chúng tôi cắm đầu chạy trong màn đêm âm u, phóng bừa qua các tảng đá lớn, lao qua những bụi kim tước, hộc tốc lên đồi rồi băng xuống dốc, theo hướng phát ra những âm thanh kinh khiếp ban nãy.

Trên mỗi gò đất Holmes lại nôn nóng nhìn quanh, nhưng bóng tối trên truông đã dày đặc và không có gì chuyển động trên mặt đất thê lương này.

"Anh có thấy gì không?"

"Không thấy gì."

"Nhưng nghe kìa, tiếng gì đó?"

Một tiếng rên xiết vẳng đến tai chúng tôi.

Lại là ở phía bên trái!

Bên đó có một bờ đá, tận cùng là vách đá dựng đứng phía trên một triền dốc đầy đá.

Trên bề mặt lởm chởm có một vật thể đen sì, không rõ hình thù xòe rộng.

Lúc chúng tôi chạy tới, những đường nét mơ hồ kia dần dần hiện rõ hình hài.

Đó là một người nằm sấp mặt xuống đất, cái đầu gập chúi xuống một góc đáng sợ, hai vai thu lại và thân hình gập cong như đang làm động tác nhào lộn.

Tư thế ấy kì dị tới mức khiến tôi không thể nhận ra ngay tiếng rên xiết kia là do chính kẻ ấy vừa trút ra trước khi lìa đời.

Lúc này không còn một tiếng thì thào, sột soạt nào phát ra từ cái thân hình đen ngòm mà chúng tôi đang khom người nhìn nữa.

Holmes đặt tay lên cái hình hài ấy rồi rụt phắt về kèm một tiếng kêu kinh hãi.

Ánh sáng lập lòe của que diêm anh vừa quẹt soi trên mấy ngón tay vấy máu của anh và hắt vào vũng máu ghê rợn đang chầm chậm loang ra từ cái sọ vỡ nát của nạn nhân.

Ánh diêm còn cho thấy một điều khác khiến cả hai chúng tôi thất kinh hồn vía - thi thể của ngài Henry Baskerville!

Không ai trong chúng tôi có thể quên được bộ comlê vải tuýt màu hung đặc biệt ấy - chính bộ đồ vị nam tước đã mặc trong buổi sáng đầu tiên gặp mặt ở phố Baker.

Chúng tôi cố nhìn cho rõ bộ đồ ấy một lần nữa rồi que diêm chập chờn tắt ngóm, cùng lúc ấy hi vọng cũng tan biến trong lòng chúng tôi.

Holmes thốt lên một tiếng nghẹn ngào, mặt tái nhợt thấy rõ trong bóng tối.

"Đồ súc sinh!

Đồ súc sinh!"

Tôi siết chặt hai bàn tay kêu lên.

"Ôi, Holmes ơi, tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho mình vì đã phó mặc anh ta cho số phận."

"Tôi còn đáng trách hơn anh, Watson ơi.

Để có chứng cứ đầy đủ và trọn vẹn, tôi đã thí mạng thân chủ của mình.

Đây là đòn đau nhất mà tôi gặp phải trong sự nghiệp.

Nhưng nào ngờ, tôi nào ngờ anh ta lại liều mạng một mình đi ra truông bất kể tôi đã hết lời khuyên ngăn như vậy chứ?"

"Chúng ta đã nghe thấy tiếng thét của anh ta.

Chúa ơi, tiếng thét mới kinh hoàng làm sao!

Vậy mà không thể cứu anh ta được!

Con chó hung ác đã xua anh ta tới chỗ chết đâu rồi?

Ngay bây giờ có thể nó còn ẩn nấp giữa những tảng đá này.

Còn Stapleton, hắn ở đâu?

Hắn sẽ phải chịu tội vì việc này."

"Đúng vậy.

Tôi sẽ lo chuyện đó.

Cả bác lẫn cháu đều đã bị sát hại, một người kinh hãi mà chết chỉ vì nhìn thấy con vật ông ta cho là ma quỷ, một người bị đẩy đến chỗ chết khi đang điên cuồng chạy trốn.

Nhưng bây giờ ta phải chứng minh được mối liên quan giữa tên đó với con thú này.

Ngoại trừ những gì đã nghe thấy, chúng ta không thể chứng minh sự tồn tại của con thú, bởi vì ngài Henry rõ ràng đã chết vì té ngã.

Nhưng xin thề là dù hắn ta có xảo quyệt tới đâu, nhất định tôi sẽ trị được hắn nội trong ngày mai!"

Đứng hai bên thi thể nát bấy ấy, chúng tôi đau xót ngập lòng vì thảm họa bất ngờ vô phương cứu vãn này đã khiến mọi công sức khó nhọc và kiên trì của cả hai đi tới một kết cục thảm hại.

Vừa lúc ấy, trăng mọc, chúng tôi trèo lên đầu dốc đá, nơi người bạn đáng thương kia đã ngã xuống, và từ mỏm đá này chúng tôi đảo mắt nhìn khắp truông âm u, nửa ánh bạc nửa tối tăm.

Xa xa nhiều dặm, về hướng Grimpen, một ánh đèn vàng duy nhất vẫn tỏa sáng đều đặn.

Ánh sáng ấy chỉ có thể phát ra từ ngôi nhà lẻ loi của vợ chồng Stapleton.

Tôi buông lời nguyền rủa cay đắng, vừa nhìn theo hướng đó vừa vung cao nắm đấm.

"Sao chúng ta không bắt hắn ngay đi?"

"Chứng cứ chưa đầy đủ.

Tên này cảnh giác và xảo quyệt vô cùng.

Những gì ta biết khó có thể kiểm chứng được.

Nếu đi sai một bước thì tên ác nhân ấy có thể thoát khỏi tay ta mất."

"Chúng ta làm gì được đây?"

"Ngày mai sẽ có rất nhiều việc.

Còn tối nay chúng ta chỉ có thể lo hậu sự cho người bạn tội nghiệp này."

Chúng tôi cùng nhau lần mò xuống triền dốc và lại gần thi thể, một khối đen thù lù trên nền đá sáng bạc dưới ánh trăng.

Tư thế vẹo vọ đau đớn của cái xác khiến lòng tôi quặn thắt và nước mắt tuôn trào.

"Phải gọi người giúp sức, Holmes ơi!

Chúng ta không thể khiêng anh ta suốt quãng đường về tới lâu đài...

Trời đất, anh có điên không?"

Holmes vừa rú lên một tiếng và khom xuống bên xác chết.

Rồi anh nhảy lên, cười ầm và nắm chặt tay tôi mà lắc.

Lẽ nào đây là anh bạn nghiêm nghị, cẩn trọng của tôi?

Đúng là có lửa cháy ngầm bên trong con người anh!

"Bộ râu!

Bộ râu!

Người này có râu!"

"Bộ râu?"

"Đây không phải nam tước... mà là, Ồ, là láng giềng của tôi, tên tù vượt ngục!"

Chúng tôi vội vàng lật ngửa xác chết, và bộ râu còn đang nhỏ máu kia chĩa ngược lên vầng trăng vằng vặc tỏa ánh sáng lạnh lẽo.

Nhìn cái trán dồ và đôi mắt thú tính trũng sâu kia thì không còn nghi ngờ gì nữa.

Đích thị là bộ mặt đã nhô lên trên tảng đá trừng mắt nhìn tôi trong ánh nến lần trước - bộ mặt của Selden, tên tội phạm.

Và trong phút chốc tất cả đều đã rõ.

Tôi còn nhớ nam tước có kể là đã cho Barrymore số quần áo cũ, Barrymore đã cho Selden số quần áo đó để giúp y đào tẩu.

Giày, áo, mũ - toàn là đồ của ngài Henry.

Thảm kịch này vẫn còn đầy bí ẩn nhưng ít ra người chết cũng đáng tội chết theo luật pháp nước này.

Tôi cho Holmes biết quan điểm của mình, trong lòng mừng quýnh và biết ơn khôn tả.

"Như thế chính bộ đồ đã gây họa sát thân cho kẻ đáng thương này", anh nói.

"Vậy là rõ, con chó săn đã được cho đánh hơi một món đồ nào đó của ngài Henry, chính là chiếc ghệt bị lấy trộm trong khách sạn chứ còn gì nữa, và thế là nó truy đuổi theo dấu vết tên tù.

Nhưng còn một điều rất kì lạ nữa!

Làm sao trong bóng tối Selden lại biết có con chó săn đang đuổi theo mình chứ?"

"Chắc là hắn nghe tiếng."

"Một kẻ gan lì như tên tội nhân này dù có nghe tiếng chó săn trên truông thì cũng không đến mức kinh hoàng tột độ mà gào thét kêu cứu lên như thế vì nếu thế hắn có nguy cơ bị bắt lại vào tù.

Xét theo tiếng la hét thì chắc chắn hắn đã chạy một quãng xa sau khi biết con thú đó đuổi theo mình.

Làm sao hắn biết được?"

"Với tôi, điều còn bí ẩn hơn thế là tại sao con chó săn này, giả sử mọi phỏng đoán của chúng ta đều đúng, lại..."

"Tôi không giả sử gì hết."

"Vậy thì tại sao con chó săn này được thả ra tối nay?

Tôi nghĩ không phải lúc nào nó cũng chạy rông trên truông.

Stapleton sẽ không thả chó ra trừ phi hắn có lí do để tin rằng ngài Henry sẽ ở đó."

"Trong hai điều nan giải này thì câu hỏi của tôi khó trả lời hơn nhiều, bởi vì tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ rất sớm có đáp án cho anh, còn thắc mắc của tôi có thể mãi mãi là bí ẩn.

Vấn đề bây giờ là chúng ta phải làm gì với xác của tên tù khốn khổ này đây?

Không thể để mặc ở đây cho cáo moi quạ mổ được."

"Tôi nghĩ chúng ta nên đưa tạm cái xác vào một căn nhà đá cho tới khi báo được với nhà chức trách."

"Chính xác.

Chắc chắn là anh và tôi đủ sức khiêng được tới đó...

Ô kìa, Watson, cái gì thế này?

Chính là hắn ta, thật hay ho mà cũng thật trơ tráo!

Không được nói gì để lộ mối nghi ngờ của anh, đừng nói gì, nếu không kế hoạch của tôi tan tành mất."

Một bóng người đang băng qua truông tới gần chúng tôi, và chúng tôi nhận ra ánh đỏ cháy lờ mờ của một điếu xì gà.

Trăng soi bóng hắn và tôi thấy rõ vóc dáng nhanh nhẹn và bước đi thong thả của nhà tự nhiên học.

Hắn ta dừng bước khi thấy chúng tôi, rồi lại đi tiếp.

"Kìa, bác sĩ Watson, có phải ông đấy không?

Tôi thật không thể ngờ lại gặp chính ông trên truông vào lúc đêm hôm này.

Ôi, trời đất, gì thế này?

Có ai bị thương à?

Đừng, đừng nói với tôi đó là ngài Henry, người bạn của chúng ta!"

Hắn hấp tấp đi qua mặt tôi và khom xuống nhìn người chết.

Tôi nghe tiếng hắn hít mạnh một hơi và điếu xì gà rơi khỏi mấy ngón tay hắn.

"Ai... ai thế?"

Hắn lắp bắp.

"Đó là Selden, tên tù vượt ngục Princetown."

Stapleton ngoảnh bộ mặt dễ sợ về phía chúng tôi, nhưng bằng một nỗ lực phi thường hắn đã chế ngự được cả nỗi kinh ngạc lẫn thất vọng trong lòng.

Hắn nhìn chòng chọc từ Holmes sang tôi.

"Trời ơi, kinh khủng quá!

Làm sao hắn chết?"

"Hình như tên tù gãy cổ vì ngã từ bờ đá này xuống.

Anh bạn tôi và tôi đang tản bộ trên đồng hoang thì nghe tiếng thét."

"Tôi cũng nghe tiếng thét.

Thành ra tôi mới ra đây.

Tôi thấy lo lắng cho ngài Henry."

"Sao lại liên quan gì đến ngài Henry?"

Tôi không thể không hỏi.

"Vì tôi đã đề nghị nam tước qua nhà tôi.

Khi ngài ấy không đến tôi đã lấy làm lạ, và đương nhiên tôi lo sợ cho sự an toàn của ngài ấy khi nghe tiếng thét ngoài truông.

À này", ánh mắt sác bén của hắn lại đảo nhanh từ tôi sang Holmes, "các ông có nghe gì khác ngoài tiếng thét đó không?"

"Không", Holmes lên tiếng, "còn ông?"

"Không."

"Thế thì ý ông muốn nói gì?"

"Ồ, các ông biết câu chuyện đám nông dân thường kể về một con chó săn ma quái hay đại loại như thế mà.

Họ nói ban đêm thường nghe tiếng nó tru trên truông.

Tôi đang tự hỏi tối nay không biết có âm thanh gì như thế chăng."

"Chúng tôi chẳng hề nghe tiếng gì như thế cả", tôi đáp.

"Thế ông có giả thuyết gì về cái chết của kẻ khốn khổ này?"

"Tôi tin chắc tên này đã phát cuồng vì lo sợ và dãi nắng dầm mưa.

Hắn lao ra truông trong tình trạng điên loạn và cuối cùng ngã xuống đây gãy cổ."

"Có vẻ đó là giả thuyết hợp lí nhất", Stapleton nói, rồi thở hắt ra một cái dường như là thở phào nhẹ nhõm.

"Thế còn ông nghĩ sao, ông Sherlock Holmes?"

Bạn tôi cúi đầu tỏ ý khen ngợi.

"Ông quả là tinh ý," Holmes nói.

"Chúng tôi ở quanh vùng này đều mong ngóng ông kể từ khi bác sĩ Watson về đây.

Ông đến vừa kịp lúc chứng kiến một thảm kịch."

"Đúng là thảm kịch thật.

Tôi tin cách lí giải của bạn tôi đây đã đáp ứng mọi dữ kiện.

Tôi sẽ mang theo một kí ức khó chịu về London."

"Ủa, mai ông về rồi ư?"

"Tôi định là thế."

"Tôi hi vọng chuyến đi của ông đã làm sáng tỏ được những biến cố đã khiến chúng tôi hoang mang rồi chứ?"

Holmes nhún vai.

"Đâu phải lúc nào người ta cũng thành công được như mong muốn.

Một người điều tra cần sự thật chứ đâu cần truyền thuyết hay tin đồn.

Vụ này không có chứng cứ gì thỏa đáng cả."

Bạn tôi nói với thái độ thẳng thắn và hết sức dửng dưng.

Stapleton vẫn nhìn anh chằm chằm.

Rồi hắn quay sang tôi

"Tôi đã định đề nghị khiêng kẻ khốn khổ này về nhà tôi nhưng như thế thì em gái tôi sẽ sợ khiếp vía, cho nên tôi thấy cũng không hợp lí lắm.

Tôi nghĩ nếu chúng ta tìm cái gì đậy kín mặt hắn lại thì hắn sẽ yên ổn tới sáng."

Và việc này được sắp xếp như thế.

Khước từ lời mời ghé chơi nhà của Stapleton, Holmes và tôi lên đường tới lâu đài Baskerville, để mặc nhà tự nhiên học quay về một mình.

Ngoái nhìn lại, chúng tôi thấy bóng người kia chầm chậm băng qua truông rộng lớn, sau lưng hắn là một vệt đen trên triền dốc sáng trăng ghi dấu đoạn kết kinh hoàng của kẻ đang nằm đó.

"Rốt cuộc cũng đụng độ với hắn", Holmes nói khi chúng tôi cùng băng qua truông.

"Tên này đúng là thần kinh thép!

Hắn giữ được bình tĩnh như thế đúng là quá giỏi, lẽ ra hắn phải chết điếng khi thấy mưu mô của mình đã giết lầm nạn nhân.

Ở London tôi đã nói rồi, Watson, và bây giờ tôi nhắc lại, chưa bao giờ chúng ta có một đối thủ ngang tài ngang sức như tên này."

"Tôi rất tiếc là hắn đã bắt gặp anh."

"Lúc đầu tôi cũng thấy vậy.

Nhưng không có cách gì tránh được."

"Giờ hắn đã biết anh ở đây rồi, anh nghĩ điều này có ảnh hưởng gì đến kế hoạch của hắn không?"

"Có thể hắn sẽ thận trọng hơn, hoặc cũng có thể hắn sẽ bị hối thúc phải thực hiện ngay những biện pháp cùng đường.

Giống như mọi tên tội phạm khôn ngoan, hắn có thể tự tin quá mức vào sự khôn ngoan của mình và cho rằng hắn đã lừa gạt được chúng ta."

"Sao ta không bắt giữ hắn ngay đi?"

"Watson thân mến, anh bẩm sinh là con người hành động.

Bản năng của anh luôn muốn làm chuyện gì mạnh mẽ.

Nhưng cứ cho rằng tối nay chúng ta bắt hắn, vậy thì ta được ích lợi quái gì cơ chứ?

Chúng ta không thể nào chứng minh hắn có tội.

Đó chính là chỗ lắt léo quỷ quyệt trong vụ này!

Nếu hắn giở trò thông qua nhân tố con người thì ta có thể thu được lời khai, còn nếu ta lôi con chó khổng lồ này ra ánh sáng thì cũng không thể tròng dây vào cổ chủ nhân con chó."

"Rõ ràng ta có chứng cứ."

"Chẳng có một chút gì, chỉ toàn ước đoán với giả thuyết.

Chúng ta sẽ bị cười thối mũi nếu đem một câu chuyện và chứng cứ như thế ra trước tòa."

"Còn cái chết của ngài Charles?"

"Người ta biết ông ấy chết mà trên người không hề có vết thương nào.

Anh và tôi biết ông ấy chết chỉ vì quá kinh hoàng, và chúng ta biết cái gì khiến ông ấy kinh hoàng, nhưng làm sao có thể khiến mười hai viên bồi thẩm vô cảm biết được?

Dấu hiệu nào cho biết đó là con chó?

Vết răng cắn đâu?

Tất nhiên chúng ta biết chó săn không cắn xác chết và ngài Charles đã chết trước khi con chó đuổi kịp.

Nhưng phải chứng minh được hết mọi điều ấy và chúng ta không đủ bằng cứ để làm chuyện đó."

"Vậy tối nay thì sao?"

"Tối nay cũng chẳng có bằng cứ.

Thêm nữa, không có mối liên quan trực tiếp giữa con chó săn với cái chết của tên tù vượt ngục.

Chúng ta không hề thấy con chó.

Chúng ta có nghe tiếng nó, nhưng không thể chứng minh là nó đã đuổi theo tên tù.

Hoàn toàn thiếu động cơ.

Không đâu, anh bạn thân mến, chúng ta đành chấp nhận thực tế là tạm thời chúng ta còn chưa có vụ án nào cả, và việc chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm cũng đáng để ta liều mạng."

"Thế anh định làm thế bằng cách nào?"

"Tôi hết sức hi vọng là bà Laura Lyons có thể trợ giúp đắc lực cho chúng ta khi bà ấy hiểu ra vai trò của mình trong vụ việc này.

Và tôi còn một kế hoạch nữa.

Ngày mai sẽ không thiếu chuyện hiểm ác đâu, nhưng tôi hi vọng là trong vòng ngày mai rốt cuộc ta sẽ giành được thế thượng phong."

Tôi không thể khiến anh tiết lộ gì hơn nữa và anh cứ vừa đi vừa đắm chìm trong suy nghĩ cho đến tận cổng vào lâu đài Baskerville.

"Anh vào nhà không?"

"Vào chứ, tôi thấy chẳng có lí do gì để ẩn náu nữa.

Nhưng tôi dặn anh, Watson.

Không được nói gì về con chó săn với ngài Henry cả.

Cứ để nam tước tin rằng Selden chết vì cái nguyên do Stapleton muốn chúng ta tin.

Nam tước sẽ thoải mái tinh thần hơn trước thử thách mà ngày mai anh ta sẽ phải kinh qua, khi đến hẹn ăn tối bên nhà Stapleton, nếu tôi nhớ đúng những gì anh đã thông báo."

"Tôi cũng đi mà."

"Vậy thì anh phải tìm cách thoái thác để cho nam tước đi một mình thôi.

Chuyện đó cũng dễ dàn xếp.

Còn bây giờ, nếu không kịp ăn tối thì tôi nghĩ cả hai chúng ta đều sẵn sàng ăn khuya."

13.

Giăng lưới

Gặp Sherlock Holmes, trông ngài Henry hài lòng hơn là ngạc nhiên bởi mấy ngày qua nam tước đã mong ngóng những biến cố vừa xảy ra sẽ khiến nhà thám tử rời London về đây.

Tuy nhiên, nam tước nhướng mày lấy làm lạ khi thấy anh bạn tôi không hề có hành lí gì mà cũng chẳng giải thích lí do.

Ngài Henry và tôi thay nhau cung cấp các thứ cần dùng cho Holmes, và rồi trong bữa ăn muộn màng hai chúng tôi giải thích cho nam tước hiểu những tình huống đã gặp và chỉ nói những gì muốn cho anh ta biết.

Nhưng trước đó tôi phải làm cái nhiệm vụ khó chịu là báo tin cho Barrymore cùng vợ ông ta.

Với người quản gia, tin dữ này có thể cất được gánh nặng bất an trong lòng nhưng vợ ông ta thì kéo tạp dề lên che mặt khóc nức nở.

Với cả thế giới, tên tù có thể là một kẻ súc sinh tàn bạo, độc ác, nhưng với bà Barrymore hắn vẫn luôn là cậu em nhỏ ngang ngạnh mà bà đã bế ẵm thuở nào.

Ai mà không có lấy một người phụ nữ thương tiếc cho mình thì có chăng là quỷ sứ.

"Tôi cứ ru rú trong nhà suốt cả ngày từ khi Watson ra đi lúc sáng," nam tước nói.

"Tôi nghĩ mình xứng đáng được ghi công vì đã giữ lời hứa.

Nếu tôi chẳng thề là không ra ngoài một mình thì biết đâu tôi đã có một buổi tối sôi nổi vì Stapleton đã nhắn tin mời tôi qua."

"Tôi tin chắc nếu ngài đi thì đã có một tối sôi nổi hơn nhiều", Holmes lạnh lùng nói.

"Nhân tiện xin nói thêm, chắc ngài không lấy gì làm cảm kích chuyện chúng tôi đã thương tiếc mãi vì cứ tưởng ngài ngã gãy cổ."

Ngài Henry trố mắt, "Sao lại thế?"

"Kẻ khốn khổ đó mặc áo quần của ngài.

Tôi e là gia nhân của ngài sẽ gặp rắc rối vì đã lấy áo quần của ngài đem cho tên tù đó."

"Không đâu.

Theo tôi biết thì trên đó không có dấu hiệu gì."

"Vậy thì may mắn cho ông ta, thực tế là may mắn cho tất cả quý vị vì trong chuyện này mọi người đều vi phạm luật pháp.

Ở cương vị một thám tử có lương tâm, tôi không biết bổn phận đầu tiên của mình là có nên bắt hết cả nhà này không.

Các bản tường trình của Watson là những tài liệu buộc tội hùng hồn nhất."

"Nhưng còn vụ của tôi thì sao?"

Nam tước hỏi.

"Ông đã tháo gỡ được gì từ mớ bòng bong này chưa?

Tôi thấy từ khi về đây cả Watson và tôi đều chưa hiểu thêm được gì nhiều."

"Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa tôi sẽ có đủ điều kiện để giải thích cho ngài rõ ngọn ngành.

Đây là một vụ hết sức phức tạp và vô cùng khó khăn.

Còn nhiều điểm chúng tôi chưa làm sáng tỏ được, nhưng rồi sẽ rõ hết thôi."

"Chúng tôi đã gặp một chuyện, chắc chắn là Watson kể với ông rồi.

Chúng tôi đã nghe thấy tiếng chó săn trên truông, nên tôi có thể thề rằng chuyện này không hẳn là mê tín vu vơ.

Lúc còn ở miền Tây, tôi từng có kinh nghiệm về các loài chó nên nghe tiếng là tôi biết.

Nếu như ông có thể khóa mõm con chó đó và xích nó lại thì tôi dám nói ông là nhà thám tử vĩ đại nhất xưa nay."

"Tôi nghĩ mình có thể khóa mõm và xích con chó đó nếu ngài sẵn lòng giúp đỡ."

"Ông muốn tôi làm gì tôi cũng làm."

"Rất tốt, tôi sẽ yêu cầu ngài cứ làm đúng lời tôi mà đừng thắc mắc lí do."

"Sẽ làm đúng như ông muốn."

"Nếu được như vậy thì tôi nghĩ có nhiều cơ hội là vấn đề của chúng ta sẽ được giải quyết nhanh chóng.

Tôi tin chắc là..."

Anh đột ngột im bặt và nhìn trân trối vào khoảng không bên trên đầu tôi.

Bóng đèn rọi vào mặt Holmes, anh ngồi chăm chú, bất động tới mức trông anh như một pho tượng cổ điển sắc sảo, hiện thân của sự mẫn tiệp và hi vọng.

"Chuyện gì thế?"

Ngài Henry và tôi đồng thanh hỏi.

Khi Holmes nhìn xuống, tôi nhận ra anh đang cố nén một cảm xúc nào đó trong lòng.

Nét mặt vẫn điềm tĩnh nhưng ánh mắt lại sáng lên hiềm hân hoan thích thú.

"Xin thứ lỗi cho sự hâm mộ của một người sành sỏi", anh vừa nói vừa khoát tay về phía dãy chân dung treo kín bức tường đối diện.

"Watson cứ cho là tôi chẳng biết gì về mĩ thuật nhưng chẳng qua là anh ấy ghen tị bởi quan điểm của chúng tôi về vấn đề này khác hẳn nhau.

Chà, loạt tranh chân dung này quả là rất tuyệt."

"Chà, nghe ông nói thế tôi rất vui", ngài Henry vừa nói vừa nhìn bạn tôi với vẻ hơi ngạc nhiên.

"Tôi không muốn làm ra vẻ sành sỏi mấy thứ này, và tôi đánh giá ngựa hay bò thì tốt hơn là nhận xét về tranh.

Tôi không ngờ ông lại có thời gian cho những thứ này đấy."

"Mắt tôi thấy cái gì hay là tôi biết nó hay, và bây giờ tôi thấy cái hay ở đây.

Kia là một bức của Kneller, tôi xin thề đó, cái bức vẽ giai nhân mặc áo lụa xanh đằng kia ấy, còn nhà quý tộc bệ vệ đội tóc giả này hẳn phải là một bức Reynolds.

Chắc toàn là chân dung dòng họ phải không?"

"Tất cả đấy."

"Ngài có biết hết tên từng người không?"

"Barrymore đã kèm cặp tôi, và tôi nghĩ mình đã thuộc làu bài học này."

"Thế nhà quý tộc cầm kính viễn vọng là ai?"

"Đó là thiếu tướng Baskerville, đã phục vụ dưới trướng Rodney ở vùng biển Tây Ấn.

Người mặc áo xanh cầm cuộn giấy là ngài William Baskerville, chủ tịch Hạ Nghị viện dưới thời Pitt."

"Còn người kị sĩ đối diện tôi đây, người mặc áo nhung đen có ren đó?"

"À, ông có quyền biết về người này.

Đó chính là nguyên nhân của mọi phiền lụy, là Hugo độc ác, người khởi đầu truyền thuyết con quỷ chó của dòng họ Baskerville.

Chúng ta không thể nào quên được người này."

Tôi nhìn bức chân dung ấy với vẻ chăm chú và hơi ngạc nhiên.

"Trời đất!"

Holmes kêu lên.

"Trông người này có vẻ hiền lành, trầm lặng quá, nhưng tôi dám nói trong đôi mắt này có nét hung ác lẩn khuất.

Tôi cứ hình dung ông ta phải là một người cường tráng hơn và có vẻ lưu manh cơ chứ."

"Không phải hồ nghi về tính xác thực, vì phía sau bức tranh có ghi tên và năm 1647."

Holmes hỏi thêm về vài bức khác nhưng bức chân dung của kẻ trác táng xa xưa kia dường như mê hoặc anh vì ánh mắt Holmes cứ dán chặt vào đó suốt bữa ăn.

Mãi một lúc sau, khi ngài Henry đã lui về phòng riêng, tôi mới hiểu được suy nghĩ của anh.

Tay cầm cây nến để thắp trong phòng ngủ, Holmes kéo tôi quay lại phòng ăn lớn và giơ cao nguồn sáng ấy gần bức chân dung ố màu thời gian treo trên tường.

"Anh có thấy gì không?"

Tôi nhìn chiếc mũ rộng vành gắn lông chim, những lọn tóc xoăn, cái cổ áo viền ren trắng, gương mặt thẳng đơ, hà khắc ở chính giữa.

Đó không phải là một diện mạo cục súc nhưng nghiêm nghị, lạnh lùng và dữ tợn, với đôi môi mỏng mím chặt và đôi mắt cố chấp, nhẫn tâm.

"Có giống người nào anh biết không?"

"Cái cằm có nét giống ngài Henry."

"Có lẽ chỉ hao hao thôi.

Nhưng chờ chút!"

Anh đứng lên ghế rồi tay trái cầm nến, tay phải cong lại che khuất cái mũ rộng vành và những lọn tóc xoăn dài trên bức tranh.

"Trời ơi!"

Tôi thốt lên bàng hoàng, lồ lộ trên bức tranh là bộ mặt của Stapleton.

"À, giờ thì anh thấy rồi.

Mắt tôi đã được rèn luyện để phân tích diện mạo chứ không bận tâm đến những vật trang sức đi kèm.

Tố chất đầu tiên của một nhà điều tra tội phạm là phải biết nhìn xuyên qua lớp cải trang."

"Nhưng thật kì lạ, đây chẳng khác gì chân dung của hắn."

"Đúng, đây là một trường hợp hồi tổ lí thú, cả về nhân dạng lẫn tâm tính.

Chỉ cần nghiên cứu các bức chân dung dòng họ cũng đủ khiến người ta phải tin vào thuyết đầu thai.

Tên này là người của dòng họ Baskerville, hiển nhiên rồi."

"Với mưu đồ giành của thừa kế."

"Chính xác.

Bức tranh này đã tình cờ cung cấp cho chúng ta một trong những mắt xích còn thiếu rành rành.

Tóm được hắn rồi, Watson, chúng ta tóm được rồi, tôi dám thề là trước tối mai hắn sẽ run rẩy bất lực trong mảnh lưới của chúng ta giống như những con bướm mà hắn bắt.

Một kim ghim, một nút chai, một tấm bìa ghi tên, là chúng ta có thể thêm hắn vào bộ sưu tập bướm phố Baker!"

Anh bật ra một tràng cười hiếm thấy khi bước xuống ghế.

Tôi không thường nghe anh cười thành tiếng, và những lúc như thế tiếng cười ấy luôn là điềm dữ cho ai đó.

Sáng hôm sau tôi dậy sớm nhưng Holmes còn dậy sớm hơn, tôi còn đang thay đồ thì đã thấy anh từ dưới con đường chạy xe đi lên.

"À, chúng ta sẽ bận bịu cả ngày hôm nay đấy", anh vừa nói vừa xoa tay hứng khởi vì được hành động.

"Lưới đã giăng sẵn, và sắp bắt đầu kéo lên được rồi.

Trong vòng đêm nay chúng ta sẽ biết mình có bắt được con cá măng lớn mặt choắt đó không, hay sẽ để nó lọt lưới."

"Anh đã ra truông rồi sao?"

"Tôi đã gửi tường trình về cái chết của Selden từ Grimpen tới Princetown.

Tôi có thể bảo đảm là không ai sẽ bị rắc rối vì chuyện này cả.

Tôi cũng đã liên lạc với thằng bé Cartwright trung thành, chắc chắn nó sẽ héo hon gầy mòn mà chết ngay ngưỡng cửa căn nhà đá ấy như một con chó bên mộ chủ nếu như tôi không trấn an nó rằng tôi vẫn an toàn."

"Rồi sẽ làm gì kế tiếp?"

"Gặp ngài Henry.

A, anh ta kìa!"

"Xin chào ông Holmes", nam tước nói.

"Trông ông như một tướng lĩnh đang bày trận với tham mưu trưởng vậy."

"Tình thế đúng là vậy đó.

Watson đang chờ chỉ thị."

"Tôi cũng vậy."

"Rất tốt.

Theo tôi biết thì ngài đã hẹn dùng bữa với những người bạn nhà Stapleton tối nay."

"Tôi mong có ông đi cùng.

Họ là những người rất hiếu khách và tôi tin chắc là được gặp ông họ sẽ rất mừng."

"E rằng Watson và tôi phải về London."

"Về London?"

"Vâng, tôi nghĩ ngay thời điểm này chúng tôi về đó sẽ được việc hơn."

Mặt nam tước dài thượt ra thấy rõ.

"Tôi cứ hi vọng là ông sẽ giúp tôi lo liệu cho xong việc này.

Lâu đài và truông này không phải là nơi dễ chịu khi người ta cô độc."

"Nam tước thân mến ơi, ngài phải tin tưởng tôi hoàn toàn và làm đúng những gì tôi bảo.

Ngài có thể nói với những người bạn kia là lẽ ra chúng tôi đã hoan hỉ đi cùng ngài nhưng có việc cấp bách buộc chúng tôi phải về thành phố.

Chúng tôi hi vọng sẽ sớm quay lại Devonshire.

Ngài nhớ nhắn với họ như thế nhé?"

"Nếu ông cứ khăng khăng muốn thế."

"Không có cách nào khác, tôi cam đoan với ngài."

Nhìn đôi mày chau u ám, tôi biết nam tước tổn thương sâu sắc vì anh ta xem như chúng tôi đang trốn tránh trách nhiệm.

Anh ta lạnh lùng hỏi, "Quý vị muốn đi lúc nào?"

"Ngay sau bữa điểm tâm.

Chúng tôi sẽ đi xe đến Coombe Tracey nhưng Watson sẽ để đồ lại đây làm tin để ngài biết chắc là anh ấy sẽ quay lại.

Watson, anh phải viết mấy lời cho Stapleton nói là rất tiếc không đến được."

"Tôi cũng rất muốn đi London cùng các ông", nam tước nói.

"Tại sao tôi phải ở đây một mình chứ?"

"Bởi vì đây là trạm gác của ngài.

Bởi vì ngài đã cam kết làm đúng như tôi bảo, và tôi bảo ngài ở lại đây."

"Thế thì được rồi, tôi ở lại."

"Một chỉ thị nữa!

Tôi muốn ngài đi xe đến điền trang Merripit.

Nhưng tới nơi thì cho xe quay về và bảo mọi người là ngài muốn đi bộ về nhà."

"Đi bộ qua truông?"

"Đúng."

"Nhưng ông vẫn căn dặn tôi đừng làm thế cơ mà."

"Lần này ngài làm thế cũng không hại gì.

Nếu không hoàn toàn tin cậy vào khí phách của ngài thì tôi đã chẳng đề nghị như vậy, nhưng ngài nhất thiết phải làm đúng như thế."

"Thế thì tôi làm theo."

"Và để giữ sinh mạng, ngài đừng băng qua truông theo bất kì hướng nào ngoại trừ con đường thẳng từ điền trang Merripit tới lộ chính Grimpen, tức là đường về nhà theo lệ thường của ngài."

"Tôi sẽ làm đúng như ông dặn."

"Rất tốt.

Tôi mong được lên đường càng sớm càng tốt sau bữa điểm tâm để kịp tới London vào buổi trưa."

Tôi rất sửng sốt trước chương trình này mặc dù tôi còn nhớ Holmes đã nói với Stapleton đêm trước rằng chuyến đi của anh sẽ kết thúc vào hôm sau.

Nhưng tôi không ngờ Holmes lại muốn tôi về cùng mà tôi cũng chẳng hiểu tại sao cả hai lại phải vắng mặt ngay cái thời điểm anh đã tuyên bố là có tính quyết định.

Tuy nhiên chẳng có cách gì ngoài phục tùng tuyệt đối, thế là chúng tôi chào từ biệt người bạn rầu rĩ kia và mấy giờ sau đã có mặt ở nhà ga Coombe Tracey và cho xe ngựa quay về đường cũ.

Một thằng bé đang chờ trên sân ga.

"Ông có lệnh gì không ạ?"

"Cháu sẽ đi chuyến tàu này về thành phố, Cartwright.

Đến nơi cháu lấy tên ta gửi điện tín ngay cho ngài Henry Baskerville, nói là nếu ông ấy tìm thấy cuốn sổ tay ta đã đánh rơi thì xin gửi bảo đảm về phố Baker."

"Dạ vâng."

"Bây giờ tới bưu cục nhà ga xem có điện tín gửi cho ta không."

Thằng bé quay lại với một bức điện, Holmes xem qua rồi đưa cho tôi đọc.

Nội dung là: Đã nhận điện tín.

Sẽ mang theo trát câu lưu.

Đến ga lúc 4 giờ 40.

Lestrade.

"Đây là phúc đáp bức điện tôi gửi sáng nay.

Tôi cho rằng ông ta là người giỏi nhất trong đám cảnh sát, và ta có thể cần đến sự trợ giúp của người này.

Còn bây giờ, Watson, tôi nghĩ tốt nhất là ta tranh thủ thời gian ghé thăm người quen của anh, bà Laura Lyons."

Kế hoạch hành động của anh đang dần dần rõ nét.

Holmes sẽ sử dụng nam tước để làm cho Stapleton tin rằng hai chúng tôi đã thực sự đi rồi trong khi chúng tôi sẽ quay lại đúng vào lúc cần đến sự có mặt của mình nhất.

Nếu như ngài Henry kể cho vợ chồng Stapleton nghe về bức điện gửi từ London thì ắt hẳn nó sẽ xóa tan những ngờ vực cuối cùng trong tâm trí họ.

Tôi dường như đã thấy được cái lưới đang dần quây lấy con cá măng mặt choắt đó.

Bà Laura Lyons đang ở nơi làm việc và Sherlock Holmes mở đầu cuộc gặp gỡ một cách thẳng thừng khiến bà ta kinh ngạc không ít.

"Tôi đang điều tra các tình tiết liên quan đến cái chết của ngài Charles Baskerville quá cố", anh nói.

"Anh bạn tôi đây, bác sĩ Watson, đã cho tôi biết những gì bà đã nói ra lẫn những gì bà còn giấu giếm trong sự việc này."

"Tôi giấu giếm gì chứ?"

Bà ta hỏi với vẻ thách thức.

"Bà đã thừa nhận là có yêu cầu ngài Charles có mặt ở cánh cổng đó vào lúc 10 giờ.

Chúng tôi biết đó là thời điểm và địa điểm xảy ra cái chết của ngài ấy.

Bà đã giấu giếm mối liên quan giữa hai việc này."

"Chẳng có gì liên quan hết."

"Nếu thế thì sự trùng hợp ngẫu nhiên quả rất lạ thường.

Nhưng tôi tin là cuối cùng chúng tôi cũng xác định được mối liên quan này.

Tôi muốn hoàn toàn thẳng thắn với bà, thưa bà Lyons.

Chúng tôi xem đây là vụ giết người và chứng cứ có thể liên can không chỉ đến anh bạn Stapleton của bà mà còn dính líu tới cả vợ anh ta nữa."

Người phụ nữ kia đứng phắt dậy.

"Vợ anh ta!"

Bà Lyons kêu lên.

"Điều đó không còn là bí mật nữa.

Người được cho là cô em gái thực tế lại chính là vợ anh ta."

Bà ta đã ngồi xuống chỗ cũ.

Hai bàn tay bà ghì chặt vào thành ghế và tôi thấy những móng tay hồng biến thành màu trắng vì nắm tay siết chặt.

"Vợ anh ta!"

Bà lặp lại.

"Vợ anh ta!

Anh ta đâu có vợ!"

Sherlock Holmes nhún vai.

"Chứng minh đi!

Chứng minh đi!

Nếu ông chứng minh được thì...!"

Ánh mắt bà ta lóe lên dữ dội còn bộc lộ nhiều hơn mọi lời nói.

"Tôi đã chuẩn bị khi đến đây", Holmes vừa nói vừa rút trong túi ra nhiều giấy tờ.

"Đây là ảnh chụp cặp vợ chồng này ở York bốn năm trước.

Đằng sau có ghi tên 'ông bà Vandeleur' nhưng bà sẽ dễ dàng nhận ra anh ta và cả chị ta nữa, nếu như bà đã biết mặt chị ta.

Còn đây là bản bản mô tả nhân dạng của những người làm chứng đáng tin cậy về ông bà Vandeleur, vào thời đó hai người này điều hành trường tư thục St.

Oliver.

Bà đọc đi và xem thử còn hồ nghi gì về nhân thân của họ không?"

Bà ta đọc lướt qua rồi ngước nhìn chúng tôi với vẻ mặt lầm lì, chai đá của một người đàn bà tuyệt vọng.

"Thưa ông Holmes", bà ta nói, "người đàn ông này đã cầu hôn tôi với điều kiện là tôi phải li dị chồng.

Hắn ta đã dối gạt tôi, tên khốn đó, dối gạt cả trăm phương nghìn cách.

Hắn chưa nói với tôi được một lời thành thực nào cả.

Nhưng tại sao, tại sao?

Tôi cứ tưởng tất cả đều là vì bản thân tôi.

Nhưng giờ tôi biết mình chỉ là một công cụ trong tay hắn.

Tại sao tôi phải trung thành với hắn chứ, hắn có hề trung thành với tôi đâu?

Tại sao tôi phải bảo vệ hắn khỏi những hậu quả mà hành vi ác độc của hắn đã gây ra chứ?

Giờ ông cứ hỏi tùy ý, tôi sẽ không giấu giếm bất cứ điều gì.

Chỉ có một điều tôi xin thề với ông, là khi viết lá thư ấy tôi không mảy may ngờ rằng nó sẽ phương hại gì đến quý ngài vốn là người bạn từ tâm nhất của tôi."

"Tôi tin bà hoàn toàn, thưa bà", Sherlock Holmes nói.

"Phải thuật lại những sự việc đó hẳn bà rất đau lòng, và có lẽ để cho bà thấy dễ chịu hơn tôi sẽ nói những gì đã xảy ra, bà chỉ cần nói xem tôi có sai lầm ở chỗ nào không.

Việc gửi bức thư đó là do Stapleton gợi ý cho bà chăng?"

"Hắn đọc cho tôi viết."

"Tôi chắc lí do hắn đưa ra là bà sẽ được ngài Charles giúp đỡ về khoản phí tổn pháp lí liên quan đến chuyện li dị của bà?"

"Đúng vậy."

"Và thế là sau khi bà đã gửi bức thư đó đi thì hắn lại can ngăn để bà thất hẹn."

"Hắn bảo chuyện đó làm tổn thương lòng tự trọng của hắn khi để người đàn ông khác giúp tiền cho một mục đích như vậy, và tuy nghèo nhưng hắn sẽ dâng tới đồng xu cuối cùng để phá bỏ những chướng ngại chia cắt giữa hắn và tôi."

"Hắn ta tỏ ra là một người rất chí khí.

Và rồi bà không biết gì nữa cho tới khi đọc tin tức trên báo về cái chết đó?"

"Vâng."

"Và hắn buộc bà phải thề không được nói gì hết về cái hẹn của bà với ngài Charles?"

"Đúng vậy.

Hắn bảo đó là một cái chết rất bí ẩn, và tôi chắc chắn sẽ bị tình nghi nếu sự việc lộ ra.

Hắn dọa cho tôi sợ để tôi giữ im lặng."

"Hẳn rồi.

Nhưng bà có nghi ngờ gì không?"

Bà ta do dự rồi cúi nhìn xuống.

"Tôi đã đoán biết", bà nói.

"Nhưng nếu hắn giữ lời với tôi thì tôi cũng sẽ giữ im lặng."

"Nói chung, tôi nghĩ là bà đã may mắn thoát nạn", Sherlock Holmes nói.

"Bà đã bắt thóp được hắn và hắn cũng biết, thế mà bà vẫn còn sống.

Suốt mấy tháng trời bà đã mấp mé bên rìa vực thẳm.

Chúng tôi phải chúc bà một buổi sáng tốt lành thôi, bà Lyons, và rất có thể sắp tới chúng tôi còn tìm đến bà nữa đấy."

"Chứng cứ vụ này đã gần đầy đủ, và bao khó khăn trước mặt chúng ta đang lần lượt được tháo gỡ", Holmes nói khi chúng tôi đứng chờ chuyến tàu tốc hành từ thành phố đến.

"Tôi sẽ sớm có cơ sở để xây dựng một câu chuyện liền mạch về một trong những tội ác li kì, lạ lùng nhất thời nay.

Những người nghiên cứu tội phạm học sẽ còn nhớ các tình huống tương tự ở Godno bên Tiểu Nga vào năm 1866, và tất nhiên cả những vụ sát hại nhà Anderson ở North Carolina, nhưng vụ này lại có nhiều đặc điểm hoàn toàn khác biệt.

Ngay cả lúc này đây chúng ta cũng chưa hề có chứng cứ rõ ràng để buộc tội tên xảo trá đó.

Nhưng tối nay trước khi đi ngủ mà mọi chuyện còn chưa sáng tỏ hết thì mới là lạ đấy."

Chuyến tàu tốc hành London đang gầm rú tiến vào ga, một người nhỏ con, rắn rỏi như một con chó bun nhảy ra khỏi toa hạng nhất.

Ba chúng tôi bắt tay chào nhau và trong cung cách kính nể mà Lestrade nhìn Holmes, tôi lập tức nhận ra ông ta đã học hỏi được rất nhiều kể từ những ngày đầu hai người hợp tác.

Tôi còn nhớ rõ dạo ấy con người thực tiễn này đã tỏ thái độ khinh khỉnh ra sao trước những giả thuyết của tay thám tử ưa lập luận.

"Tốt đẹp cả chứ?"

Lestrade hỏi.

"Nhiều năm rồi mới có chuyện lớn thế này", Holmes nói.

"Chúng ta còn hai tiếng đồng hồ mới tới lúc cần khởi sự.

Tôi nghĩ chúng ta có thể tranh thủ tìm chút gì ăn chiều và sau đó, Lestrade, bọn tôi sẽ tống khứ sương mù London ra khỏi cuống họng ông bằng cách cho ông hít thở khí trời trong lành ban đêm của vùng Dartmoor...

Chưa bao giờ tới đó ư?

À, được, thế thì tôi nghĩ ông sẽ không quên được chuyến thăm đầu tiên này đâu."

14.

Con chó của dòng họ Baskerville

Một trong những khuyết điểm của Sherlock Holmes, nếu quả thực có thể gọi là khuyết điểm, là anh rất ghét tiết lộ toàn bộ kế hoạch của mình với bất kì ai chừng nào mọi việc chưa hoàn thành.

Chắc chắn điều đó phần nào là do cá tính độc đoán, thích nổi trội và gây ngạc nhiên cho người chung quanh.

Mặt khác, tính cẩn trọng nghề nghiệp cũng thôi thúc anh không bao giờ phó mặc cho may rủi.

Tuy nhiên, điều này lại rất khó chịu đối với những ai giúp việc cho anh.

Tôi đã từng khổ sở vì lẽ đó nhưng chưa bao giờ khổ cho bằng chuyến xe lê thê trong bóng tối ngày hôm ấy.

Thử thách lớn lao đang ở trước mặt; rốt cuộc chúng tôi cũng sắp đến bước chốt hạ, thế mà Holmes cũng chẳng nói gì và tôi chỉ có thể đoán mò phương hướng hành động của anh thôi.

Tôi càng hồi hộp ngóng chờ khi rốt cuộc đã thấy luồng gió lạnh phả vào mặt và những khoảng trống thâm u hai bên con đường hẹp cho biết chúng tôi đã quay lại truông.

Mỗi nhịp vó câu và mỗi vòng bánh xe lại đưa chúng tôi đến gần hơn cao trào mạo hiểm tột cùng.

E ngại vì có người xà ích trên cỗ xe chạy thuê cho nên chúng tôi đành nói những chuyện vặt vãnh trong khi tinh thần căng thẳng vì xúc động và hồi hộp.

Sau cả chặng đường phải kiềm chế đến nỗi mất tự nhiên, tôi thấy nhẹ cả người khi cỗ xe chạy qua nhà ông già Frankland và tôi biết chúng tôi đang tiến gần tới lâu đài và nơi hành sự.

Chúng tôi không cho xe chạy thẳng tới cổng vào mà xuống xe gần đó.

Sau khi trả tiền cho người xà ích và bảo ông ta đánh xe về Coombe Tracey ngay, chúng tôi bắt đầu đi bộ về phía điền trang Merripit.

"Ông có mang vũ khí không, Lestrade?"

Viên thanh tra nhỏ con mỉm cười.

"Tôi mà còn mặc quần thì ắt là có túi, và đã có túi thì phải thủ sẵn cái gì trong đó chứ."

"Tốt!

Anh bạn tôi và tôi cũng đã sẵn sàng cho những tình huống khẩn cấp."

"Ông rất kín miệng về vụ này đó, ông Holmes.

Thế bây giờ làm gì đây?"

"Cứ chờ đợi."

"Nói thật là chỗ này coi bộ không thích thú mấy", Lestrade vừa nói vừa rùng mình nhìn quanh những triền đồi âm u và vùng sương mù bao la trùm lên bãi lầy Grimpen.

"Tôi thấy nhà ai sáng đèn ở đằng trước kia."

"Đó là điền trang Merripit và đích đến của chuyến đi này.

Tôi phải yêu cầu ông đi bộ thật êm và chỉ nói thầm."

Chúng tôi cẩn thận di chuyển theo đường mòn, tưởng sẽ đi thẳng đến ngôi nhà đó, nhưng khi còn cách chừng hai trăm yard thì Holmes ngăn chúng tôi lại.

"Tới đây được rồi", anh nói.

"Những tảng đá phía bên phải là chỗ nấp rất kín đáo."

"Chúng ta phải chờ ở đây sao?"

"Đúng, đây sẽ là một trận địa mai phục nho nhỏ.

Vào trong cái hốc này đi, Lestrade.

Anh đã vào nhà đó rồi phải không, Watson?

Anh có thể cho biết vị trí các phòng không?

Mấy cái cửa sổ có chấn song ở đầu này là phòng nào?"

"Tôi nghĩ đó là mấy cửa sổ nhà bếp."

"Còn đằng kia, cái cửa sổ sáng rực đó?"

"Chắc chắn đó là phòng ăn."

"Các rèm cửa đều kéo lên cả.

Anh biết rõ địa thế ở đây nhất.

Hãy kín đáo tới đó xem họ đang làm gì, nhưng vì Chúa, đừng để họ biết là ta đang theo dõi!"

Tôi rón rén đi theo đường mòn và nấp sau bức tường thấp bao quanh vườn cây còi cọc của điền trang.

Men theo bóng của bức tường, tôi lần tới một chỗ có thể nhìn thẳng vào cửa sổ không buông rèm.

Trong phòng chỉ có hai người, ngài Henry và Stapleton.

Họ ngồi hai bên chiếc bàn tròn, từ vị trí đang quan sát tôi chỉ nhìn thấy họ từ mặt bên.

Cả hai đang hút xì gà, trước mặt là cà phê và rượu vang.

Stapleton đang nói gì đó rất hăng hái nhưng nam tước trông có vẻ tái mặt và lo lắng.

Chắc hẳn ý nghĩ phải một mình đi bộ qua vùng truông báo điềm dữ này đang đè nặng trong tâm trí ngài Henry.

Trong lúc tôi quan sát, Stapleton đứng dậy rời phòng, còn ngài Henry lại rót đầy li rồi ngả lưng ra ghế hút xì gà.

Tôi nghe tiếng cửa cọt kẹt rồi tiếng giày lạo xạo trên sỏi.

Có tiếng bước chân di chuyển theo lối đi phía bên kia bức tường tôi đang nấp.

Nhìn qua tường, tôi thấy nhà tự nhiên học dừng lại trước một nhà phụ ở góc vườn.

Có tiếng chìa khóa xoay trong ổ và khi hắn ta đi vào thì từ bên trong vẳng ra tiếng gì đó giằng co rất lạ.

Stapleton chỉ ở bên trong chừng một phút rồi tôi lại nghe tiếng chìa khóa vặn một lần nữa và hắn đi qua chỗ tôi trở vào nhà.

Tôi thấy hắn quay lại ngồi với vị khách còn tôi kín đáo trở về nơi Holmes và Lestrade đang đợi nghe những gì tôi đã thấy.

"Anh nói là không có người đàn bà kia trong phòng ư, Watson?"

Holmes hỏi khi tôi báo cáo xong.

"Đúng."

"Vậy thì bà ta đâu rồi, vì mọi phòng khác đều không có ánh đèn, ngoại trừ nhà bếp?"

"Tôi không biết được bà ta ở đâu."

Tôi đã nói ở trên rằng có một màn sương trắng dày bao trùm bãi lầy Grimpen.

Màn sương ấy bây giờ đang từ từ trôi về phía chúng tôi và tích tụ dần thành một lớp mịt mù buông thấp nhưng càng lúc càng dày đặc.

Dưới ánh trăng, màn sương đục mờ ấy sáng lên như một thềm băng bao la, trên bề mặt nhô lên những tảng đá thực chất là đỉnh của những mỏm đồi xa xa.

Holmes đang quay về hướng đó và anh làu bàu sốt ruột trong lúc theo dõi màn sương lừ đừ trôi dạt tới.

"Nó đang di chuyển về hướng chúng ta, Watson."

"Có gì nghiêm trọng chứ?"

"Rất nghiêm trọng, thực sự nghiêm trọng, điều duy nhất trên đời này có thể xáo trộn kế hoạch của tôi.

Giờ thì hắn ta sắp ra tay.

Đã 10 giờ rồi.

Thành công của chúng ta và thậm chí sinh mạng của ngài Henry tùy thuộc vào việc nam tước phải đi ra trước khi sương mù bao phủ đường về."

Trời đêm trên đỉnh đầu trong trẻo và quang đãng.

Những vì sao sáng rỡ và lạnh lẽo, trong khi nửa vành trăng tắm ánh sáng dịu chập chờn lên toàn cảnh.

Trước mặt chúng tôi là khối đen thâm u của ngôi nhà, mái nhà và những ống khói tua tủa in bóng nổi bật trên nền trời dát ánh trăng bạc.

Những sọc ánh sáng vàng rực từ các khung cửa sổ bên dưới hắt xuống vườn cây và truông.

Một ánh đèn đột nhiên tắt ngóm.

Lão gia nhân đã rời nhà bếp.

Chỉ còn lại ngọn đèn trong phòng khách, nơi gã chủ nhà mưu sát và vị khách không hay biết gì vẫn còn hút xì gà tán gẫu.

Từng phút một, màn sương trắng đục đã bao trùm phân nửa truông cứ trôi dạt về phía ngôi nhà, gần thêm, gần thêm.

Những dải sa mù mỏng manh đầu tiên đang lượn lờ qua những ô cửa sổ sáng đèn vàng, phần tường bao quanh vườn cây ở đầu kia đã chìm khuất trong sương và những bóng cây nổi bật trên màn hơi nước trắng đục cuồn cuộn.

Trong lúc chúng tôi nhìn, những dải mù sương đã trườn quanh các góc ngôi nhà và từ từ cuộn thành mảng dày đặc chỉ còn thấy tầng trên và mái nhà bềnh bồng nhô lên như một con tàu kì dị trên mặt biển âm u.

Holmes cứ nóng nảy đập tay xuống tảng đá trước mặt và giậm chân sốt ruột.

"Nếu trong mười lăm phút nữa anh ta không ra thì con đường này sẽ bị sương phủ kín.

Chỉ nửa giờ nữa thôi là ta không thấy nổi bàn tay mình nữa."

"Chúng ta có nên lùi xa ra và tìm chỗ cao hơn không?"

"Đúng đó, tôi cũng nghĩ thế."

Thế là trong khi mảng sương mù kia trôi tới, chúng tôi cứ lùi lại cho tới khi cách ngôi nhà chừng nửa dặm, và biển sương trắng dày đặc dát ánh trăng bạc bên trên vẫn lan tràn chầm chậm, không ngừng.

"Chúng ta đi quá xa rồi", Holmes nói, "Không thể liều để cho nam tước bị đuổi kịp trước khi tới được chỗ chúng ta.

Bằng mọi giá ta phải trụ lại đây."

Anh quỳ mọp xuống và áp tai sát đất nghe ngóng.

"Tạ ơn Chúa, hình như tôi đã nghe tiếng chân anh ta đang tới."

Tiếng những bước chân hối hả phá tan sự tĩnh mịch của truông.

Thu mình giữa những khối đá, chúng tôi nhìn trân trân vào mảng trắng dát bạc trước mặt.

Tiếng chân lớn dần và bước ra từ trong màn sương là người chúng tôi mong chờ.

Ngài Henry ngơ ngác nhìn quanh khi thấy mình đi vào vùng trời đêm quang đãng sáng sao.

Đoạn anh ta bước nhanh theo đường mòn, đi qua rất gần nơi cả bọn ẩn náu, rồi đi tiếp lên con dốc dài sau lưng chúng tôi.

Trong lúc rảo bước, nam tước liên tục đảo mắt nhìn hai bên như một người đang hết sức lo sợ.

"Suỵt!"

Holmes thốt lên và tôi nghe tiếng lên cò súng đánh cách.

"Coi chừng!

Nó đang tới!"

Có tiếng chạy khẽ, đều đều, khô khốc vang lên, từ đâu đó trong lòng biển sương đang cuộn tới.

Màn sương chỉ còn cách chỗ chúng tôi mai phục chừng năm mươi yard và cả ba căng mắt quan sát, không biết điều khủng khiếp gì sẽ hiện ra từ giữa biển mù kia.

Tôi ở kề bên Holmes và liếc nhìn anh một thoáng.

Mặt anh tái nhợt nhưng hăm hở, ánh mắt sáng rực dưới trăng.

Nhưng thình lình đôi mắt ấy lồi ra nhìn không chớp và miệng anh há hốc sững sờ.

Cùng lúc đó Lestrade thét lên một tiếng hãi hùng và gục mặt xuống đất.

Tôi đứng phắt dậy, bàn tay từ từ siết chặt súng, đầu óc tê liệt bởi cái hình thù ghê rợn từ trong màn sương âm u lao vọt về phía chúng tôi.

Một con chó săn, một con chó săn khổng lồ đen như than, nhưng không phải loại mà mắt phàm từng thấy.

Cái mồm há hoác tóe ra lửa, hai mắt lóe sáng gườm gườm, mõm, cổ, và ức viền ánh lửa lập lòe.

Ngay cả trong cơn mê sảng, một bộ óc rối loạn cũng không tưởng nổi một cảnh tượng ghê rợn hơn, kinh khủng hơn, ma quái hơn cái hình thù hắc ám và bộ mặt khát máu đang xé màn sương lao tới.

Con vật đen ngòm to lớn kia phóng đi bằng những cú vọt dài trên đường mòn, đuổi riết theo bước chân nam tước.

Quá bàng hoàng trước bóng ma hiện hình ấy, chúng tôi để cho con thú chạy qua rồi mới kịp định thần lại.

Holmes và tôi đồng loạt nổ súng, con thú kia tru lên một tiếng kinh khiếp, chứng tỏ ít nhất một viên đạn đã trúng đích.

Nhưng nó không dừng lại mà vẫn cứ lao vọt tới.

Xa xa trên đường mòn chúng tôi thấy ngài Henry ngoái nhìn lại, mặt trắng bệch trong ánh trăng, hai tay giơ cao khiếp đảm, trố mắt bất lực nhìn con thú khủng khiếp kia đang rượt đuổi mình.

Nhưng tiếng tru đau đớn của con chó đã làm tiêu tan mọi nỗi sợ hãi của chúng tôi.

Nếu nó bị thương thì nó có thể chết, và nếu chúng tôi gây thương tích cho nó được thì chúng tôi sẽ giết nó được.

Trong đời tôi chưa từng thấy ai chạy nhanh như Holmes đêm đó.

Tôi thường được khen là chạy nhanh nhưng vẫn bị tụt lại sau Holmes một quãng trong khi viên thanh tra nhỏ con bị tụt lại sau tôi cũng bằng chừng ấy.

Khi lao theo lối mòn trước mặt, chúng tôi nghe thấy tiếng gào thét liên hồi của ngài Henry và tiếng gầm rống của con chó săn.

Tôi chạy tới chỉ vừa kịp lúc chứng kiến con thú ấy nhảy chồm lên nạn nhân, xô anh ta ngã lăn xuống đất, và nhe nanh nhằm phập vào cổ họng.

Nhưng cùng lúc đó, Holmes đã xả hết năm viên đạn súng lục vào mạng sườn con thú.

Sau một tiếng tru hấp hối cuối cùng và một cú táp hung tợn vào không khí, con thú bật ngửa ra, bốn chân giãy giụa loạn xạ rồi buông thõng sang một bên.

Tôi cúi xuống, thở hổn hển, gí khẩu súng vào cái đầu gớm ghiếc còn sáng lập lòe đó, nhưng có bóp cò cũng vô nghĩa.

Con chó săn khổng lồ đã chết.

Ngài Henry nằm bất tỉnh trên mặt đất.

Chúng tôi giật tung cổ áo nam tước ra và Holmes thốt lên một lời tạ ơn khi thấy không có vết thương nào và ngài Henry đã được giải cứu kịp thời.

Hai mí mắt nam tước đã khẽ cựa và anh ta đang gắng gượng cử động.

Lestrade nhét ve rượu nhỏ của mình vào giữa hai hàm răng ngài Henry, và hai con mắt khiếp đảm mở ra nhìn chúng tôi.

"Lạy Chúa!"

Nam tước thều thào.

"Chuyện gì thế?

Chuyện gì thế hở trời?"

"Nó chết rồi, dù nó là cái gì đi nữa", Holmes nói.

"Chúng tôi đã kết liễu vĩnh viễn con quỷ của dòng họ này."

Chỉ xét đến kích thước và sức mạnh không thôi, con vật đang nằm dài trước mặt chúng tôi đã đủ khủng khiếp rồi.

Đó không phải là một con chó săn tai cụp thuần chủng, cũng không phải giống mastiff thuần chủng, mà hình như lai giữa hai giống đó - dữ tợn, man dại và đồ sộ như một con sư tử nhỏ.

Ngay cả lúc này, khi đã nằm chết bất động, cái hàm khổng lồ của nó dường như vẫn còn nhễu ra ánh lửa xanh xanh và hai con mắt nhỏ, hung dữ, trũng sâu vẫn còn lửa viền quanh.

Tôi quệt tay lên cái mõm chó phát sáng ấy và khi đưa tay lên, mấy đầu ngón tay tôi cũng phát sáng lờ mờ trong bóng tối.

"Có chất phốt pho", tôi nói.

"Một cách pha chế tinh vi", Holmes vừa nói vừa khịt mũi ngửi cái xác con thú.

"Không có mùi gì có thể gây rối loạn khả năng đánh hơi của con chó.

Chúng tôi hết sức xin lỗi ngài, thưa ngài Henry, vì đã đặt ngài vào tình cảnh đáng sợ này.

Tôi đã dự liệu sẽ gặp một con chó nhưng đâu ngờ lại gặp một sinh vật thế này.

Vả lại sương mù đã khiến chúng tôi không có nhiều thời gian ngăn chặn nó."

"Ông đã cứu mạng tôi."

"Sau khi đã đẩy ngài vào nguy hiểm.

Ngài còn sức đứng dậy không?"

"Cho tôi thêm một ngụm rượu mạnh nữa thì tôi làm gì cũng được...

Thế!

Rồi, nhờ ông đỡ tôi ngồi dậy.

Bây giờ ông định làm gì?"

"Để ngài lại đây.

Tối nay ngài không còn sức mạo hiểm nữa đâu.

Nếu ngài chịu khó chờ, một người trong chúng tôi sẽ đi cùng ngài về lâu đài."

Ngài Henry gượng đứng lên nhưng mặt vẫn còn tái nhợt như xác chết và tay chân run lẩy bẩy.

Chúng tôi dìu nam tước đến một tảng đá và anh ta ngồi đó rùng mình, vùi mặt vào hai lòng bàn tay.

"Bây giờ chúng ta phải đi thôi", Holmes nói.

"Phải giải quyết những việc còn lại và từng giây từng phút đều quan trọng.

Chúng ta đã có bằng chứng rồi, bây giờ chỉ cần bắt thủ phạm."

"Tôi cá một ngàn ăn một là không tìm thấy hắn ở trong nhà đó đâu", ngài Henry nói khi chúng tôi quay lại đường cũ.

"Mấy phát súng đó nhất định đã báo cho hắn biết mưu đồ đã hỏng."

"Chúng ta ở khá xa, và màn sương mù có thể đã hãm bớt tiếng nổ."

"Hắn phải đi theo để gọi con chó về, các ông cứ tin chắc vậy đi.

Không, giờ này thì hắn biến rồi!

Nhưng cứ lục soát khắp nhà cho chắc ăn."

Cửa chính đã mở toang, thế là cả ba lao vào và hấp tấp đi từ phòng này sang phòng khác trước sự kinh ngạc của lão gia nhân run rẩy đã chạm trán chúng tôi trong hành lang.

Không có phòng nào sáng đèn ngoại trừ phòng ăn nhưng Holmes vớ lấy ngọn đèn và tìm kiếm khắp nhà không chừa chỗ nào.

Chẳng hề thấy bóng dáng kẻ chúng tôi đang truy lùng đâu cả.

Nhưng ở tầng trên, một trong các phòng ngủ bị khóa cửa.

"Có người ở trong", Lestrade kêu lên.

"Tôi nghe thấy tiếng xê dịch.

Mở cánh cửa này ra!"

Một tiếng rên rỉ, loạt xoạt khe khẽ từ trong vẳng ra.

Holmes co chân đạp thẳng vào cửa ngay trên ổ khóa và cánh cửa bật mở.

Súng trong tay, cả ba chúng tôi xông vào.

Nhưng bên trong không hề có dấu hiệu gì của tên hung thủ cùng đường lì lợm mà chúng tôi tưởng sẽ thấy.

Thay vào đó, chúng tôi đối mặt với một vật thể kì lạ và bất ngờ tới mức chỉ biết đứng lặng trố mắt nhìn hồi lâu.

Gian phòng này đã được bài trí lại thành một bảo tàng nho nhỏ, bốn bức tường xếp hàng dài những hộp lắp mặt kính chứa đầy các bộ sưu tập bướm đủ loại theo hệ thống vốn là thú vui của kẻ nguy hiểm và tinh vi này.

Ngay giữa phòng có một cột chống có lẽ đã được chèn thêm vào để đỡ thanh rầm bằng gỗ cũ kĩ, đã bị mọt ăn chạy suốt chiều dài mái nhà.

Có ai đó bị trói vào cây cột này, bị bịt miệng, toàn thân quấn chặt trong mấy lớp chăn kín mít tới mức không thể nhận ra ngay đó là đàn ông hay đàn bà.

Một chiếc khăn tắm quấn quanh cổ người đó và buộc chặt ra sau cột nhà.

Một chiếc khăn khác che kín phần dưới mặt chỉ để lộ ra hai con mắt đen - đôi mắt đầy đau khổ, tủi nhục và một mối hoài nghi chán nản - đang trân trối nhìn chúng tôi.

Ngay sau đó chúng tôi tháo khăn bịt miệng, gỡ hết dây trói, và bà Stapleton ngã khuỵu xuống sàn trước mắt chúng tôi.

Khi mái đầu kiều diễm của bà gục xuống ngực, tôi nhìn thấy một lằn roi quất đỏ bầm trên cổ.

"Đồ súc sinh!"

Holmes kêu lên.

"Này, Lestrade, chai rượu đâu!

Đỡ bà ta lên ghế!

Bà ta đã ngất đi vì bị ngược đãi và kiệt quệ."

Bà ta lại mở mắt ra.

"Ông ấy an toàn chứ?"

Bà ta hỏi, "ông ấy có thoát được không?"

"Hắn không thoát khỏi tay chúng tôi đâu, thưa bà."

"Không, không, tôi không hỏi về chồng tôi.

Ngài Henry đó?

Ông ấy an toàn chứ?"

"An toàn."

"Còn con chó?"

"Chết rồi."

Bà ta thở hắt ra một hơi dài toại nguyện.

"Tạ ơn Chúa!

Tạ ơn Chúa!

Ôi, tên tàn bạo đó!

Xem hắn đối xử với tôi thế này đây!"

Bà ta kéo tay áo, chìa hai cánh tay ra và chúng tôi kinh hãi khi thấy toàn những vết thâm tím.

"Nhưng không sao cả, không sao!

Hắn chỉ muốn hành hạ và áp bức tinh thần tôi thôi.

Tôi chịu đựng được hết, dù bị ngược đãi, cô độc, dù sống cả đời dối gạt, miễn là tôi có thể bấu víu vào hi vọng có được tình yêu của hắn, nhưng bây giờ thì tôi biết ngay cả trên phương diện đó, tôi cũng chỉ là kẻ bị hắn lừa bịp và lợi dụng."

Bà ta vừa nói vừa bật khóc nức nở.

"Bà không việc gì phải đối xử tốt với hắn, thưa bà", Holmes nói.

"Hãy cho tôi biết phải tìm hắn ở đâu.

Nếu như bà từng giúp hắn làm chuyện ác thì bây giờ hãy giúp chúng tôi để chuộc lỗi."

"Chỉ có một nơi duy nhất hắn có thể lẩn trốn", bà ta đáp.

"Đó là mỏ thiếc cũ trên cù lao ngay giữa bãi lầy.

Đó chính là nơi hắn nhốt con chó săn và cũng là nơi hắn đã chuẩn bị trước để làm chỗ ẩn náu khi cần.

Chắc chắn hắn phải chạy ra đó."

Màn sương mù trắng đục dâng kín ô cửa sổ.

Holmes đưa ngọn đèn lại gần.

"Nhìn đi", anh nói.

"Đêm nay không ai có thể theo dấu hắn vào bãi lầy Grimpen được đâu."

Bà ta bật cười rồi vỗ tay.

Đôi mắt và hàm răng sáng ngời lên vẻ mừng vui hoang dại.

"Hắn có thể tìm đường vào nhưng không bao giờ ra được", bà ta nói to.

"Làm sao hắn nhìn thấy được các cọc chỉ đường trong đêm nay chứ?

Hắn và tôi, chúng tôi đã cùng cắm mốc, đánh dấu cái lối nhỏ xuyên qua bãi lầy đó.

Ôi, giá như hôm nay tôi có thể nhổ hết những cái cọc ấy.

Được thế thì các ông đã nắm toàn quyền sinh sát đối với hắn rồi."

Chúng tôi thấy rõ chừng nào sương mù chưa tan thì mọi cuộc truy đuổi đều vô ích.

Tạm thời để Lestrade đóng tại ngôi nhà này, Holmes và tôi quay lại với nam tước để cùng về lâu đài Baskerville.

Chúng tôi không thể giấu ngài Henry chuyện vợ chồng Stapleton nữa, nhưng khi biết sự thật về người phụ nữ mình đã trót yêu thương, nam tước đã dũng cảm chấp nhận nghịch cảnh.

Tuy nhiên, cú sốc sau một đêm đầy mạo hiểm đã khiến ngài Henry suy nhược thần kinh và trời chưa kịp sáng thì nam tước đã nằm mê sảng trong cơn sốt cao, phải nhờ đến bác sĩ Mortimer chăm sóc.

Hai người đã trù tính sẽ cùng nhau du lịch vòng quanh thế giới cho đến khi nào ngài Henry lấy lại phong độ khỏe mạnh, sôi nổi vốn có trước khi trở thành chủ nhân của dinh cơ đen đủi này.

Tôi xin kể nhanh phần kết của câu chuyện kì lạ mà tôi đã gắng thuật lại sao cho độc giả hình dung được những nỗi sợ hãi đen tối cùng những ước đoán mông lung đã bao trùm cuộc sống của chúng tôi suốt bao lâu và kết thúc một cách vô cùng bi thảm.

Buổi sáng sau khi con chó săn đã chết, sương mù tan biến và bà Stapleton dẫn chúng tôi đến nơi vợ chồng họ đã tìm ra lối đi xuyên bãi lầy.

Nhìn thấy sự hăm hở và vui mừng của bà ta khi đưa chúng tôi lần theo dấu vết người chồng, có thể nhận ra nỗi kinh hoàng mà người đàn bà này đã phải chịu.

Chúng tôi để bà ta đứng lại trên doi đất than bùn rắn chắc đâm ra bãi lầy trải rộng.

Từ cuối doi đất, những cọc nhỏ cắm rải rác đánh dấu một lối đi ngoằn ngoèo từ bụi cây này sang bụi cây khác giữa những hố nước nổi váng bọt xanh lục và những bãi sình hôi thối ngăn bước kẻ lạ.

Lau sậy hôi tanh và những loài cây thủy sinh nhẫy nhớt, um tùm bốc mùi thối rữa nồng nặc và phả lên mặt chúng tôi một màn chướng khí nặng nề, chỉ cần một bước sảy chân là chúng tôi có thể bị lún sâu đến tận đùi trong bãi lầy tròng trành, đen đúa, khe khẽ gợn thành những đợt sóng tỏa lan ra nhiều yard quanh bàn chân chúng tôi.

Bãi lầy tóm riết lấy bàn chân chúng tôi, và khi lỡ bước ngập trong sình thì tưởng chừng như có một bàn tay hiểm độc cố ý kéo chúng tôi lún xuống lớp bùn sâu bẩn thỉu.

Chỉ có một lần chúng tôi thấy được một dấu vết cho biết trước đó đã có người đi qua con đường hiểm nghèo này.

Từ giữa một bụi cói bỗng ngoi lên trên mặt sình lầy một vật đen đen.

Bùn ngập tới hông Holmes khi anh bước tách khỏi đường đi để tóm lấy vật đó, và nếu không có chúng tôi ở lại để kéo anh lên thì có lẽ không bao giờ anh có thể đặt chân trở lại nền đất cứng được nữa.

Anh giơ lên cao một chiếc ghệt cũ kĩ màu đen.

Mặt da phía trong có in chữ: 'Meyers, Toronto'.

"Cũng đáng để tắm bùn đấy chứ", anh nói.

"Đây là chiếc ghệt thất lạc của ngài Henry."

"Stapleton đã vứt ở đây khi hắn chạy trốn."

"Chính xác.

Hắn vẫn cầm chiếc ghệt này trong tay sau khi cho con chó săn ngửi để đánh hơi theo dấu.

Hắn chạy trốn khi biết mưu đồ đã hỏng, tay vẫn còn cầm chiếc ghệt.

Và trên đường chạy trốn hắn đã quẳng nó đi ngay chỗ này.

Chúng ta biết được là ít nhất tới đây hắn vẫn an toàn."

Nhưng ngoài ra chúng tôi không biết chắc được gì hơn, tuy có thể phỏng đoán phần nhiều.

Không có cơ hội tìm ra dấu chân trên bãi lầy vì bùn sình dâng lên nhanh chóng xóa tan mọi vết tích, nhưng cuối cùng, khi chúng tôi tới được phần đất rắn chắc hơn bên kia bãi lầy thì mọi người đều hăm hở tìm kiếm.

Không hề thấy bất cứ dấu chân nào dù là mờ nhạt nhất.

Nếu mặt đất này nói lên sự thật thì Stapleton đã không tới được hòn đảo ẩn náu cho dù đêm trước hắn đã gắng sức tìm đến đó trong màn sương.

Đâu đó giữa lòng bãi lầy Grimpen, nằm sâu dưới lớp bùn sình hôi thối của bãi lầy khổng lồ, kẻ tàn ác nhẫn tâm này đã bị chôn vùi vĩnh viễn.

Trên cù lao giữa bãi lầy, chúng tôi tìm thấy nhiều vết tích nơi hắn nhốt con thú đồng lõa.

Một bánh xe động lực khổng lồ và hầm lò bị rác rưởi phủ lấp một phần cho biết vị trí của một khu mỏ hoang phế.

Cạnh đó là tàn tích đổ nát của những túp lều thợ mỏ, những người chắc chắn đã phải bỏ đi vì mùi hôi thối của bãi lầy bao quanh.

Trong một túp lều có một bộ xích cùng nhiều xương xẩu bị gặm mòn cho biết nơi nhốt con chó săn.

Nằm trong đám đổ nát ấy là một bộ xương còn dính một mảng lông rối màu nâu.

"Bộ xương chó!"

Holmes nói.

"Lạy Chúa, một con chó spaniel lông xoăn.

Tội nghiệp Mortimer sẽ không bao giờ gặp lại con chó cưng của mình nữa.

Chà, tôi không rõ nơi này còn chứa đựng bí mật gì mà chúng ta chưa tìm hiểu chăng.

Hắn có thể giấu con chó săn, nhưng hắn không thể bắt nó im tiếng, và vì thế mà ngay cả ban ngày cũng nghe được những tiếng tru dễ sợ kia.

Khi cấp bách hắn có thể nhốt con chó trong nhà phụ ở Merripit, nhưng làm thế luôn luôn rủi ro, và đúng đến cái ngày hắn quyết định sẽ hoàn tất mọi âm mưu thì hắn mới nhốt chó ở đó.

Chất bột nhão trong hộp thiếc này chắc chắn là hỗn hợp phát sáng mà hắn dùng để bôi phết lên con thú đó.

Tất nhiên là hắn nảy ra ý tưởng làm thế dựa trên truyền thuyết con quỷ chó của dòng họ, nhằm làm cho ngài Charles kinh hãi mà chết.

Thảo nào tên tù khốn nạn kia vừa chạy vừa gào thét, ngay cả ông bạn nam tước cũng vậy, và chính chúng ta đây nếu ở vào tình huống tương tự hẳn cũng như thế, khi nhìn thấy một con thú kinh khủng nhường ấy lao qua truông trong bóng tối đuổi theo mình.

Quả là một mưu kế quỷ quyệt, bởi vì ngoài khả năng đẩy nạn nhân tới chỗ chết, liệu có người nông dân nào dám liều mạng tìm hiểu khi nhìn thấy một cảnh tượng như thế giữa truông, đúng như nhiều người đã gặp?

Tôi đã nói ở London rồi, Watson, và bây giờ tôi lặp lại ở đây, rằng chưa bao giờ chúng ta góp sức truy bắt kẻ nào nguy hiểm như kẻ đang nằm dưới sâu kia."

Anh vung cánh tay dài về phía bãi lầy khổng lồ loang lổ những mảng màu xanh lục rộng tít tắp đến khi hòa lẫn vào những triền đồi nâu đỏ của truông.

15.

Hồi tưởng

Một đêm sương giá cuối tháng 11, Holmes và tôi ngồi hai bên lò sưởi cháy rực trong phòng khách ở phố Baker.

Kể từ sau kết cục bi đát của chuyến đi Devonshire, anh đã bận rộn với hai vụ hết sức quan trọng.

Trong vụ thứ nhất anh đã vạch trần hành vi đồi bại của đại tá Upwood liên quan đến chuyện bài bạc tai tiếng chấn động ở Câu lạc bộ Nonpareil.

Còn trong vụ thứ hai anh đã minh oan cho quý bà Montpensier người Pháp thoát khỏi nguy cơ bị khép tội sát nhân vì có liên quan đến cái chết của con riêng của chồng là quý cô Carere, người ta còn nhớ là sáu tháng sau đó, cô gái này được phát hiện vẫn còn sống và đã lấy chồng ở New York.

Holmes đang vô cùng phấn chấn vì đã gặt hái thành công liên tiếp trong hàng loạt vụ án khó khăn và quan trọng, cho nên tôi dễ dàng khơi gợi cho anh nói đến các chi tiết bí ẩn của vụ Baskerville.

Tôi đã nhẫn nại chờ đợi cơ hội này vì tôi hiểu anh sẽ không đời nào cho phép các vụ việc chồng chéo lên nhau, và bộ óc suy luận rạch ròi của anh không được sao nhãng công việc hiện tại để nghiền ngẫm những kí ức đã qua.

Tuy nhiên, ngài Henry và bác sĩ Mortimer đã đến London trên đường du lịch dài ngày nhằm cải thiện tình trạng suy nhược thần kinh của nam tước.

Họ vừa đến thăm chúng tôi chiều hôm đó cho nên gợi lại đề tài này âu cũng là lẽ tự nhiên.

"Từ góc nhìn của kẻ tự xưng là Stapleton, toàn bộ diễn biến vụ này vốn đơn giản và rõ ràng", Holmes nói, "nhưng đối với những người không biết được động cơ của hắn ngay từ đầu mà chỉ biết một phần sự thật, thì mọi việc đúng là hết sức phức tạp.

Tôi có thuận lợi được nói chuyện hai lần với bà Stapleton nên bây giờ vụ này sáng tỏ tới mức không còn gì bí mật đối với chúng ta nữa.

Anh sẽ thấy vài ghi chép của tôi ở mục B trong hệ thống danh mục vụ án."

"Chắc anh cũng vui lòng cho tôi biết sơ qua trình tự diễn biến theo trí nhớ chứ?"

"Hẳn rồi, nhưng tôi không bảo đảm là nhớ hết mọi chi tiết trong đầu.

Điều kì lạ là khi tập trung trí óc cao độ thì những chuyện gì đã qua đều bị xóa sạch.

Trong quá trình biện hộ, luật sư có thể tranh cãi tay đôi về một lĩnh vực nào đó với một chuyên gia nhưng chỉ một, hai tuần sau khi xét xử ở tòa là anh ta sẽ quên hết các chi tiết.

Cho nên các vụ án tôi giải quyết cứ tuần tự thay thế nhau, và vụ quý cô Carere đã xóa nhòa những hồi ức về vụ lâu đài Baskerville.

Ngày mai tôi sẽ lại tiếp nhận một vụ nho nhỏ nào đó và nó sẽ trục xuất luôn cả quý cô người Pháp lẫn tên Upwood tai tiếng ra khỏi trí nhớ.

Nhưng về vụ con chó, tôi sẽ cố trình bày với anh diễn biến chính xác hết mức có thể, và nếu như tôi có lỡ quên chi tiết nào thì anh có thể nhắc lại.

Kết quả điều tra của tôi cho thấy rõ ràng là những bức chân dung dòng họ không biết dối trá, và tên này quả đúng là người dòng tộc Baskerville.

Hắn là con của Rodger Baskerville, em trai ngài Charles, người em đã trốn sang Nam Mỹ đế tránh tiếng xấu và ai cũng cho là sống độc thân cho tới chết.

Thực ra người này đã lập gia đình và có độc một đứa con, chính là kẻ hung ác đó, và họ thật của hắn cũng chính là họ của cha mình.

Hắn đã thành hôn với cô Beryl Garcia, một kiều nữ ở Costa Rica, và sau khi đã biển thủ một khoản tiền công khố đáng kể, hắn đổi tên thành Vandeieur rồi tẩu thoát sang Anh quốc, và mở một trường tư thục ở phía đông Yorkshire.

Hắn ta thử sức trong lĩnh vực làm ăn này là vì tình cờ quen được một giáo viên mắc bệnh lao trong chuyến hải hành về quê hương, và hắn ta đã lợi dụng năng lực của người này để mở trường.

Thế nhưng Fraser, tức người giáo viên nọ, qua đời và ngôi trường tuy đã khởi đầu tốt đẹp mau chóng rơi vào tình trạng tai tiếng và cuối cùng phải đóng cửa.

Vợ chồng Vandeleur thấy tốt nhất là nên đổi tên thành Stapleton và hắn ta mang phần tài sản còn lại cùng các kế hoạch tương lai và sở thích côn trùng học về miền nam Anh quốc.

Khi tới Bảo tàng Anh quốc, tôi biết hắn là một chuyên gia được công nhận về lĩnh vực này, và cái tên Vandeleur đã mãi mãi gắn liền với một loại bướm đêm mà hắn là người đầu tiên phát hiện và mô tả thời còn ở Yorkshire.

Bây giờ chúng ta sẽ đề cập tới quãng đời của hắn đã khiến chúng ta hao tổn biết bao tâm trí.

Tên này hiển nhiên đã tìm hiểu và biết rằng chỉ có hai mạng người cản trở hắn giành món tài sản to tát kia.

Khi hắn về Devonshire, tôi cho là kế hoạch của hắn còn hết sức mù mờ, nhưng ngay từ đầu hắn đã có ý đồ xấu xa, lộ rõ qua việc hắn cho vợ giả làm em gái.

Rõ ràng hắn đã có ý định dùng vợ làm mồi nhử mặc dù lúc đó có thể hắn vẫn chưa biết chắc phải bày mưu tính kế cụ thể ra sao.

Mục đích của hắn là chiếm tài sản và hắn sẵn sàng dùng mọi công cụ hay chấp nhận mọi mạo hiểm để đạt mục đích.

Hành động đầu tiên là định cư càng gần ngôi nhà của tổ tiên càng tốt, và thứ hai là vun vén mối thân tình với ngài Charles Baskerville cùng các láng giềng.

Chính vị nam tước già ấy đã cho hắn biết truyền thuyết quỷ chó của dòng họ và thế là tự dọn sẵn đường chết cho mình.

Còn Stapleton, từ giờ tôi sẽ gọi hắn bằng cái tên đó, hắn biết ông già đau tim nặng và chỉ cần kinh hoảng cũng đủ chết.

Đa phần những điều hắn biết là qua bác sĩ Mortimer.

Hắn cũng nghe nói là ngài Charles vốn mê tín và rất coi trọng truyền thuyết ác nghiệt kia.

Đầu óc mưu mô của hắn lập tức nảy ra cách đẩy ông nam tước vào chỗ chết nhưng lại khiến người ta khó lòng truy ra kẻ sát nhân đích thực

Nghĩ ra ý tưởng đó rồi, Stapleton tiến hành với sự tinh vi đáng nể.

Một kẻ mưu mô bình thường ắt đã bằng lòng ra tay với một con chó săn man rợ.

Việc dùng phương tiện nhân tạo để biến con thú ấy thành ma quỷ là một sáng kiến thiên tài của hắn.

Stapleton mua con chó đó ở London từ hãng buôn Ross & Mangies ở đường Fulham.

Đó là con chó khỏe nhất, hung dữ nhất của mấy tay buôn này.

Hắn mang con chó theo chuyến tàu North Devon và đi bộ một quãng đường xa qua truông để trở về mà không gây chú ý.

Trong những chuyến săn côn trùng, hắn đã biết đường đi xuyên bãi lầy Grimpen và vì thế đã tìm được chỗ ẩn náu an toàn cho con thú.

Tại đó, hắn nhốt chó vào cũi rồi chờ thời cơ.

Nhưng thời cơ còn lâu mới đến.

Không thể nào dụ dỗ ông già quý tộc đó ra khỏi nhà vào ban đêm.

Nhiều lần Stapleton đã ẩn nấp quanh đó cùng con chó săn nhưng chỉ uổng công.

Chính trong những lần truy lùng thất bại ấy thì hắn, hay đúng hơn là đồng phạm của hắn, đã bị mấy nông dân bắt gặp và thế là cái truyền thuyết về con quỷ chó lại càng được củng cố.

Stapleton đã hi vọng vợ hắn có thể dụ dỗ ngài Charles vào chỗ chết nhưng bà ta đột nhiên tỏ ra bất phục tùng.

Bà ta không muốn lôi kéo ông già quý tộc kia vào chuyện luyến ái để nộp mạng ông cho kẻ thù địch kia.

Những lời đe dọa, và rất tiếc phải nói là cả những cú đấm, cũng không thể lay chuyển người vợ.

Bà ta một mực không chịu tham dự vào việc đó và suốt một thời gian dài mưu đồ của Stapleton lâm vào bế tắc.

Trong hoàn cảnh nan giải, Stapleton tình cờ tìm ra lối thoát khi ngài Charles, người đã có tình thân với hắn, nhờ hắn làm đại diện cho một việc từ thiện của ông liên quan đến người đàn bà bất hạnh Laura Lyons.

Bằng cách đóng vai một người đàn ông độc thân, Stapleton dễ dàng chi phối bà Lyons hoàn toàn và khiến bà này tin rằng nếu bà được tòa cho li dị chồng thì hắn sẽ cưới bà ta.

Những trù hoạch của Stapleton đột nhiên gặp khó khăn khi hắn biết ngài Charles sắp rời khỏi lâu đài theo lời khuyên của bác sĩ Mortimer, tuy hắn buộc phải giả vờ đồng tình.

Stapleton phải hành động tức khắc kẻo nạn nhân thoát khỏi tầm kiểm soát của hắn.

Vì thế hắn ép bà Lyons viết bức thư đó, van nài ông già cho gặp mặt vào buổi tối trước khi lên đường đi London.

Sau đó, bằng mồm mép, Stapleton đã ngăn bà ta đến chỗ hẹn để hắn có được cái cơ hội chờ đợi bấy lâu.

Từ Coombe Tracey đi xe ngựa về, hắn kịp thời đưa con chó săn ra, phết phốt pho lên mình con thú, và đưa nó đến gần cánh cổng nơi hắn dự kiến sẽ gặp ông già đang chờ đợi.

Được chủ ra hiệu, con chó nhảy vọt qua cổng rào và đuổi theo vị nam tước bất hạnh, còn ông già thì vừa chạy vừa la hét trên con đường thủy tùng.

Trên lối đi cây phủ âm u đó mà thấy một con thú khổng lồ đen ngòm, mõm rực cháy, mắt tóe lửa, lao theo nạn nhân, thì đúng là một cảnh tượng kinh khiếp.

Ông già gục chết ở cuối con đường vì đau tim và khiếp đảm.

Con chó săn chỉ chạy trên bờ cỏ trong khi nam tước chạy dưới đường nên người ta chỉ thấy dấu chân ông già.

Khi thấy ông già nằm im, con chó có lẽ đã đến gần đánh hơi nhưng thấy ông đã chết thì lại bỏ đi.

Chính lúc đó nó đã để lại dấu chân mà bác sĩ Mortimer đã nhìn thấy.

Con chó săn được chủ gọi và nhanh chóng trở về hang ổ ở bãi lầy Grimpen, để lại một bí mật làm nhà chức trách hoang mang, cả vùng quê sợ hãi, và cuối cùng đưa vụ này vào tầm ngắm của chúng ta.

Cái chết của ngài Charles Baskerville là thế đấy.

Đúng là hết sức nham hiểm vì hầu như không thể có chứng cứ buộc tội kẻ sát nhân đích thực.

Đồng phạm duy nhất của hắn là một con vật không bao giờ tố cáo hắn được, còn tính chất khó hiểu, kì dị của sự việc chỉ càng làm cho âm mưu này thêm hữu hiệu.

Chỉ có cả hai người đàn bà liên quan đến vụ này, bà Stapleton và bà Laura Lyons, nghi ngờ hắn mà thôi.

Bà Stapleton biết chồng mình có mưu đồ nhằm vào ông già và cũng biết sự tồn tại của con chó săn.

Bà Lyons chẳng hề biết mấy chuyện đó, nhưng lại nhớ rất rõ là cái chết xảy ra đúng thời điểm cuộc hẹn gặp đã bị hủy bỏ mà chỉ có Stapleton biết việc này.

Tuy nhiên, cả hai người đàn bà đều bị hắn chi phối và hắn chẳng có gì phải lo sợ về họ.

Mục đích của hắn đã thực hiện thành công một nửa, nhưng phần còn lại còn khó khăn hơn.

Có khả năng là lúc đầu Stapleton không hay biết có một người thừa kế ở Canada.

Tuy vậy, hắn nhanh chóng biết được qua người bạn là bác sĩ Mortimer, và hắn đã nghe ông bác sĩ cho biết hết mọi chi tiết về lịch trình của Henry Baskerville.

Ý tưởng đầu tiên của Stapleton là có thể cho anh chàng xa lạ từ Canada này chết luôn tại London chứ không chờ đến khi về tới Devonshire.

Stapleton không còn tin vợ mình kể từ khi bà ta không chịu giúp hắn gài bẫy ông già, và Stapleton cũng không dám để vợ lọt ra ngoài tầm mắt quá lâu vì sợ là sẽ không còn chi phối được bà ta nữa.

Chính vì thế hắn đưa vợ cùng đi London.

Tôi tìm ra chỗ hai vợ chồng đã trọ là khách sạn Mexborough trên phố Craven, thực tế đó là một trong những nơi tôi đã cho người đến tìm chứng cứ.

Tại đây Stapleton nhốt vợ trong phòng còn hắn đeo râu cải trang theo dõi bác sĩ Mortimer đến phố Baker và sau đó ra ga rồi tới khách sạn Northumberland.

Người vợ đã lờ mờ đoán được kế hoạch của chồng nhưng bà ta lại rất sợ hắn, nỗi sợ thành hình do bị ngược đãi, sợ tới mức không dám viết thư cảnh báo cho người mà bà biết là đang lâm nguy.

Nếu lá thư ấy rơi vào tay Stapleton thì cả tính mạng của bà ta cũng khó bảo toàn.

Rốt cuộc, như đã biết, bà ta dùng cách cắt những từ thích hợp trong nhật báo ra để ghép thành lời nhắn và ghi địa chỉ trên phong bì bằng nét chữ giả.

Thư đến tay ngài Henry và là lần đầu nam tước được cảnh báo về nguy cơ đang đe dọa.

Stapleton bắt buộc phải có được một món nào đó trong số trang phục của ngài Henry để trong trường hợp phải dùng đến con chó thì hắn luôn có phương tiện cho nó đánh hơi truy tìm.

Với tính nhanh nhạy và táo bạo điển hình, hắn tiến hành ngay, và ta có thể tin chắc rằng một tên bồi đánh giày hay cô hầu phòng khách sạn đã được đút lót hậu hĩnh để giúp hắn trong mưu mô này.

Nhưng tình cờ là chiếc ghệt đầu tiên lấy cắp cho Stapleton lại là chiếc mới tinh nên chẳng có ích gì cho ý đồ của hắn.

Sau đó hắn cho người trả lại chiếc ghệt đó và lấy chiếc khác, đó là tình tiết gợi ý cho tôi nhiều nhất, nó chứng minh một cách thuyết phục rằng chúng ta đang đương đầu với một con chó săn thực sự, và không một giả thuyết nào khác có thể lí giải vì sao kẻ này nôn nóng lấy chiếc ghệt cũ mà lại dửng dưng với chiếc ghệt mới như vậy.

Tình tiết càng kì quặc thì lại càng đáng xem xét kĩ, và có khi một chi tiết tưởng chừng làm vấn đề thêm rối rắm lại là mấu chốt giải thích mọi chuyện khi được cân nhắc thích đáng và xử lí một cách khoa học.

Sáng hôm sau hai ông bạn kia đến chỗ chúng ta, họ luôn luôn bị Stapleton ngồi trên xe ngựa theo dõi.

Vì Stapleton biết rõ nơi chúng ta ở và nhân dạng của tôi, và xét theo lối hành xử nói chung của hắn, tôi thiên về nhận định rằng tiền sử phạm tội của Stapleton không chỉ giới hạn trong một vụ Baskerville thôi đâu.

Hắn khiến tôi nhớ là trong vòng ba năm qua đã có bốn vụ trộm lớn ở miền tây nhưng không vụ nào bắt được tội phạm.

Vụ cuối cùng ở lữ quán Folkestone vào tháng 5 nổi tiếng vì người bồi phòng ở đó bị giết hại nhẫn tâm bằng súng lục khi thình lình bắt gặp tên đạo chích bịt mặt lẻ loi ấy.

Tôi ngờ rằng Stapleton đã bù đắp nguồn tài chính hao mòn của mình bằng cách đó, và hắn đã là một kẻ nguy hiểm liều lĩnh nhiều năm rồi.

Chúng ta đã có minh chứng cho tài ứng biến cực kì ranh ma của Stapleton vào buổi sáng mà hắn chạy thoát chúng ta rất dễ dàng, và sự táo gan của hắn khi mạo xưng danh tính của tôi với người xà ích.

Kể từ lúc đó, hắn biết tôi đã đảm trách vụ này ở London và vì thế không còn cơ hội gì cho hắn ở đây nữa.

Hắn quay về Dartmoor chờ nam tước trở về."

"Khoan đã!"

Tôi lên tiếng.

"Chắc chắn anh đã kể lại chính xác diễn biến sự việc, nhưng có một điểm anh lại không giải thích.

Còn con chó săn khi chủ nó đi London thì sao?"

"Tôi có quan tâm đến chuyện đó và tất nhiên điều này là quan trọng.

Nhất định Stapleton phải có người tin cẩn nào đó, mặc dù hắn không thể tiết lộ kế hoạch để cho người đó bắt thóp được mình, ở điền trang Merripit có một lão gia nhân tên là Anthony.

Mối quan hệ giữa lão với nhà Stapleton có thể truy ngược về trước nhiều năm, từ cái thời mở trường tư thục, do đó lão ta hẳn phải biết ông bà chủ của lão thật ra là vợ chồng.

Lão ta đã biến mất và đào tẩu khỏi Anh quốc.

Ngay tên Anthony cũng là một cái tên ít thông dụng ở xứ này, trong khi Antonio lại là cái tên phổ biến ở tất cả các nước nói tiếng Tây Ban Nha hay các nước thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ.

Người này, giống như chính bà Stapleton, nói tiếng Anh giỏi nhưng giọng hơi lơ lớ nghe rất lạ.

Chính tôi đã nhìn thấy lão ta băng qua bãi lầy Grimpen theo con đường Stapleton đã đánh dấu.

Do đó rất có khả năng là khi chủ nhân đi vắng, chính lão ta chăm lo cho con chó săn, mặc dù có thể lão chẳng hề biết mục đích nuôi con vật ấy là gì.

Sau đó vợ chồng Stapleton quay về Devonshire, rồi ngài Henry và anh cũng về.

Nhân đây cũng nói thêm về suy nghĩ của tôi lúc đó.

Chắc anh còn nhớ khi tôi xem xét tờ giấy có dòng chữ cắt dán từ nhật báo, tôi đã kiểm tra thật kĩ để tìm các dấu in chìm.

Lúc đó tôi giơ tờ giấy lên thật gần, chỉ cách mắt chừng vài inch và nhận ra mùi nước hoa phảng phất hương nhài trắng.

Có bảy mươi lăm loại mùi nước hoa và một chuyên gia tội phạm cần có khả năng phân biệt được từng mùi, và trong kinh nghiệm của tôi, đã có hơn một vụ được giải quyết nhờ việc nhận biết tức khắc các mùi này.

Mùi nước hoa cho thấy có một phụ nữ trong vụ này, và chính nó đã hướng suy nghĩ của tôi về phía vợ chồng Stapleton.

Vì thế tôi đã biết chắc về con chó săn và phán đoán được tội ác ngay cả trước khi chúng ta đi về miền tây.

Ý đồ của tôi là theo dõi Stapleton.

Tuy nhiên, tôi không thể đi cùng anh vì nếu thế hắn sẽ hết sức đề phòng.

Cho nên tôi lừa gạt hết mọi người, kể cả anh, và tôi bí mật về đó trong khi mọi người tưởng tôi còn ở London.

Tôi không đến nỗi phải chịu cực khổ như anh đã tưởng tượng đâu, vả lại không bao giờ được để những tiểu tiết ấy cản trở việc điều tra.

Phần lớn thời gian tôi trú ngụ ở Coombe Tracey và chỉ sử dụng căn nhà đá trên đồng hoang khi cần đến gần nơi hành động.

Cartwright đi cùng tôi về đó và trong cái vỏ ngụy trang dân quê, thằng bé đã trợ giúp tôi rất nhiều.

Nhờ nó mà tôi có thức ăn và áo quần sạch sẽ.

Khi tôi theo dõi Stapleton thì Cartwright theo dõi anh, do đó tôi có thể kiểm soát hết tình hình.

Tôi đã bảo anh là các bản tường trình của anh đến tay tôi rất nhanh, chúng được chuyển đi tức khắc từ phố Baker đến Coombe Tracey.

Những bản tường trình đó hết sức hữu ích và đặc biệt là chi tiết ngẫu nhiên có thật về lai lịch của Stapleton.

Nhờ đó tôi xác định được tung tích của người đàn ông và người đàn bà đó để cuối cùng biết đích xác những gì cần phải làm.

Vụ này phức tạp lên đáng kể khi phát sinh chuyện tên tù vượt ngục và quan hệ của tên này với vợ chồng Barrymore.

Việc này anh đã làm sáng tỏ một cách rất hữu hiệu, tuy rằng tôi cũng đã suy ra kết luận tương tự dựa vào những gì quan sát được.

Đến khi anh phát hiện ra tôi trên truông thì tôi đã biết đầy đủ mọi chuyện, nhưng tôi không có một bằng chứng nào để trình trước bồi thẩm đoàn.

Ngay cả mưu toan của Stapleton nhằm sát hại ngài Henry đêm đó nhưng kết cục lại là cái chết của tên tù bất hạnh cũng không có ích gì cho ta trong việc chứng minh Stapleton giết người.

Dường như không còn cách nào khác ngoại trừ bắt hắn tại trận, và muốn làm thế ta phải tạo ra mồi nhử bằng cách để cho ngài Henry đi một mình, không có ai bảo vệ.

Chúng ta đã làm đúng như thế, và phải trả giá là để cho thân chủ của mình khiếp đảm kinh hồn, chúng ta mới tìm ra đủ chứng cứ và đẩy Stapleton vào chỗ tiêu vong.

Phải thú nhận là lẽ ra trong khả năng kiểm soát của mình, tôi không nên đẩy ngài Henry vào tình thế đó, nhưng ta không thể biết trước cái cảnh tượng khủng khiếp đến sững sờ khi gặp con thú, và cũng không thể tiên liệu được màn sương mù lại giúp con chó lao tới chúng ta mau lẹ như vậy.

Chúng ta đã đạt được mục đích, còn về cái giá phải trả thì cả bác sĩ chuyên khoa lẫn bác sĩ Mortimer đều quả quyết là ngài Henry chỉ bị khủng hoảng tạm thời.

Một chuyến du lịch dài ngày sẽ giúp anh bạn của chúng ta không những hồi phục thần kinh suy nhược mà còn giải tỏa được những tổn thương tình cảm nữa.

Ngài Henry đã yêu người phụ nữ kia chân thành sâu sắc, và đối với nam tước điều đau buồn nhất trong chuyện ám muội này là chính người phụ nữ đó lại lừa dối anh ta.

Phần còn lại chỉ cần làm rõ vai trò của người phụ nữ này.

Chắc chắn Stapleton đã buộc vợ mình phải khuất phục, và bà ta cam chịu có thể do tình yêu hay do sợ hãi, mà cũng có thể là vì cả hai lí do, bởi hai cảm xúc đó không hề xung khắc.

Chí ít là nó đã phát huy hiệu quả.

Theo lệnh Stapleton, người vợ bằng lòng đóng vai trò em gái, mặc dù hắn đã nhận ra khả năng chi phối của mình là có hạn khi cố ép buộc vợ làm đồng phạm trực tiếp giúp hắn giết người.

Vợ hắn sẵn sàng báo nguy cho ngài Henry bằng những cách không gây hại cho chồng, và nhiều lần bà ta đã làm như thế.

Dường như chính Stapleton cũng biết ghen tuông và khi thấy nam tước tán tỉnh người đẹp, mặc dù chuyện đó nằm trong mưu đồ, hắn vẫn không thể không can thiệp bằng một trận lôi đình phơi bày bản chất hung hăng mà phong thái bề ngoài giỏi kiềm chế của hắn đã khéo che giấu.

Hắn khuyến khích ngài Henry kết thân để anh ta thường xuyên lui tới điền trang Merripit và không sớm thì muộn hắn sẽ có được cái cơ hội hằng mong muốn.

Thế nhưng vào ngày quyết định đó người vợ lại đột nhiên chống lại chồng.

Bà ta đã biết chuyện gì đó về cái chết của tên tù và biết con chó săn đang được giấu trong căn nhà phụ ngoài vườn đúng vào buổi tối mà ngài Henry sẽ đến dùng bữa.

Bà ta trách cứ chồng về những mưu toan tội ác, rồi một cảnh tượng thịnh nộ diễn ra và đây là lần đầu tiên Stapleton để lộ cho vợ biết bà ta có tình địch.

Lòng chung thủy của người vợ lập tức biến thành oán ghét cay đắng và Stapleton nhận ra bà ta thể nào cũng phản bội hắn.

Thế là Stapleton trói vợ lại để bà ta không có cơ hội báo động cho ngài Henry, và chắc chắn hắn đã hi vọng rằng khi cả vùng quê này gán cái chết của nam tước cho lời nguyền dòng họ thì hắn có thể thuyết phục bà ta chấp nhận việc đã rồi và tiếp tục giữ kín những gì đã biết.

Trong chuyện này tôi nghĩ rằng dù sự việc có diễn ra thế nào đi nữa thì hắn cũng đã tính sai nước cờ, và dẫu không có chúng ta ở đó thì định mệnh của hắn cũng đã được an bài.

Một người phụ nữ mang dòng máu Tây Ban Nha không dễ dàng tha thứ một sự xúc phạm như thế.

Vậy đó, Watson thân mến, không xem lại các ghi chép thì tôi không thể tường thuật vụ án kì lạ này cặn kẽ hơn.

Tôi không rõ có còn điểm nào quan trọng mà chưa được giải thích chăng?"

"Hắn ta không thể hi vọng dùng con chó săn giả ma quỷ để dọa cho ngài Henry khiếp đảm mà chết như đã làm với ông bác."

"Con thú ấy rất hung tợn và đã bị bỏ đói.

Nếu nó không khiến cho nạn nhân thất kinh mà chết thì ít nhất cũng làm tê liệt sức kháng cự của nạn nhân."

"Hẳn rồi.

Chỉ còn một điều khó hiểu thôi.

Nếu Stapleton được quyền thừa tự thì làm sao hắn giải thích được việc bấy lâu nay, một người thừa kế như hắn lại sống âm thầm dưới một tên họ khác kế bên cái di sản đó?

Làm sao hắn có thể đòi hưởng gia tài mà không gây nghi ngờ và hiếu kì chứ?"

"Điều đó quả là rất khó, e rằng anh đã đòi hỏi hơi quá khi muốn tôi giải đáp cho anh.

Quá khứ và hiện tại đều nằm trong phạm vi điều tra của tôi, nhưng hỏi tôi chuyện người ta có thể làm gì trong tương lai thì thật khó trả lời.

Bà Stapleton đã nghe chồng bàn vấn đề này nhiều lần rồi.

Có ba khả năng giải quyết.

Hắn có thể đòi quyền hưởng gia tài từ Nam Mỹ bằng cách xác nhận lai lịch với đại diện chính quyền Anh ở đó, và vì thế có thể sở hữu tài sản này mà không phải trở về nước.

Hoặc hắn có thể đội một cái lốt ngụy trang phức tạp nào đó trong khoảng thời gian ngắn mà hắn cần phải có mặt ở London để xúc tiến thủ tục thừa kế.

Cũng có thể hắn sẽ cho một kẻ đồng lõa thay mặt với đủ bằng chứng và giấy tờ để người này nhận gia tài đó và hắn sẽ được chia một phần tài sản theo tỉ lệ.

Qua những gì đã biết về hắn, ta có thể tin chắc là nếu trừ khử được ngài Henry, tên này sẽ có cách vượt qua trở ngại ấy.

Vậy đó, Watson thân mến, chúng ta đã làm việc rất gay go suốt mấy tuần nay, tôi nghĩ là riêng buổi tối nay chúng ta có thể để tâm trí vào những chuyện khác thú vị hơn.

Tôi đã đặt một lô cho vở Les Huguenots đấy.

Anh đã nghe giọng ca de Reszkechưa?

Cảm phiền anh sửa soạn trong nửa giờ nữa, rồi chúng ta sẽ ghé tiệm Marcini ăn tối trên đường đi có được không?"
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
NGÔI NHÀ HOANG (The Empty House, 1903)


Vụ ám sát công tử Ronald Adair trong hoàn cảnh vô cùng khác thường và không lí giải nổi, khiến cả London chú ý và giới thượng lưu bất an, xảy ra vào mùa xuân năm 1894.

Công chúng đã biết các tình tiết vụ án được tiết lộ trong cuộc điều tra của cảnh sát, nhưng lúc ấy nhiều điều bị ỉm đi, vì trong vụ này bên khởi tố đã có thừa chứng cứ buộc tội nên không nhất thiết phải công bố tất cả.

Mãi đến nay, sau gần mười năm, tôi mới được phép đưa ra những mắt xích còn thiếu tạo nên cả chuỗi sự kiện lạ thường này.

Bản thân vụ án đã gây chú ý, nhưng tôi thấy nó vẫn chưa là gì so với cái diễn biến kì quặc tiếp theo, cũng là sự kiện đã khiến tôi bàng hoàng kinh ngạc nhất trong cả quãng đời đầy phiêu lưu của mình.

Đến tận hôm nay, sau ngần ấy năm trôi qua, mỗi khi nghĩ đến tôi vẫn còn thấy mình bồi hồi rúng động, và những nỗi mừng vui, sững sờ và nghi hoặc lại bỗng đâu ập về xâm chiếm cả tâm tư.

Đối với những người ít nhiều quan tâm đến suy nghĩ và hành động của một nhân vật rất đỗi xuất chúng mà tôi đã đôi lần hé lộ, cho phép tôi nói rằng: Xin đừng trách tôi đã không chia sẻ những gì mình biết, bởi lẽ ra tôi đã xem đó là phận sự hàng đầu nếu không bị chính người đó cấm tiệt và mãi tới hôm mồng 3 tháng trước, anh mới rút lại lời ngăn cấm ấy.

Vì mối thâm tình với Sherlock Holmes mà tôi đã rất quan tâm đến lĩnh vực hình sự, và từ khi anh mất tích tôi vẫn không quên theo dõi sát sao các vụ án được công bố, và để thỏa ý thích riêng nhiều lần tôi còn thử đem các phương pháp của anh ra áp dụng để phá án, dù chẳng thành công là bao.

Tuy vậy, không có vụ nào khiến tôi chú ý nhiều như tấn thảm kịch của công tử Ronald Adair.

Khi đọc thấy chứng cứ tại cuộc điều tra đã đưa đến kết luận rằng đây là một vụ giết người có chủ ý mà hung thủ là một hay nhiều người chưa xác định, tôi mới nhận thức rõ hơn bao giờ hết tổn thất mà cộng đồng phải chịu vì Sherlock Holmes đã không còn.

Tôi tin chắc trong vụ án kì lạ này có những điểm mà nếu còn sống hẳn là anh sẽ đặc biệt chú ý, và khi ấy khả năng quan sát tinh tường và đầu óc nhạy bén của tay thám tử điều tra tội phạm số một Âu châu sẽ giúp đỡ đắc lực, hay đúng hơn là chỉ đường dẫn lối, cho phía cảnh sát trong quá trình phá án.

Cả ngày ngồi trên xe đi khám bệnh tôi cứ lật đi lật lại vụ án trong đầu mà vẫn chưa tìm thấy lời giải thích nào xem ra thỏa đáng.

Để chuyện khỏi nhàm vì kể đi kể lại nhiều lần, tôi xin tóm tắt lại các tình tiết đã được công bố khi cuộc điều tra khép lại.

Công tử Ronald Adair là thứ nam của bá tước vùng Maynooth, bấy giờ là toàn quyền tại một thuộc địa ở Úc.

Thân mẫu của công tử Adair đã từ Úc quay về để làm phẫu thuật đục thủy tinh thể, nên lúc bấy giờ phu nhân đang cùng con trai Ronald và con gái Hilda sống tại số 427 phố Park Lane.

Chàng trai ấy giao du với giới thượng lưu và cho đến lúc này chưa thấy có kẻ thù hay thói tật nào đáng kể.

Anh ta từng hứa hôn với tiểu thư Edith Woodley vùng Carstairs, nhưng hai bên đã bằng lòng hủy đính ước từ mấy tháng trước, và xem ra sự việc không để lại cảm xúc sâu đậm nào.

Còn lại thì cuộc sống của anh ta chỉ hạn chế trong phạm vi bó hẹp và khuôn thước, bởi anh ta có nếp sinh hoạt bình lặng và bản tính khô khan.

Ấy vậy mà cái chết cực kì lạ lùng bỗng đâu ập đến với nhà quý tộc trẻ tuổi khoan hòa này, trong khoảng thời gian từ 10 đến 11 giờ 20 phút, đêm 30 tháng 3 năm 1894.

Ronald Adair mê chơi bài và chơi liên tục, nhưng chưa bao giờ cá cược to để đến nỗi thiệt thân.

Anh ta là thành viên trong các câu lạc bộ bài Baldwin, Cavendish và Bagatelle.

Sau bữa ăn tối ngày xảy ra án mạng, anh ta chơi một chầu bài whist tại Câu lạc bộ Bagatelle.

Anh ta cũng vừa chơi ở đấy lúc chiều.

Lời khai của những người cùng chơi - ông Murray, ngài John Hardy, và đại tá Moran - cho thấy họ chơi bài whist, và được thua gần ngang nhau.

Có thể Adair đã thua năm bảng, nhưng chỉ có thế.

Anh ta có gia tài đáng kể, nên thua bấy nhiêu cũng chẳng nhằm nhò gì.

Hầu như ngày nào anh ta cũng chơi bài, không ở câu lạc bộ này thì cũng ở câu lạc bộ khác, nhưng anh ta vốn chơi thận trọng, nên cuối cùng thường là người được nhiều nhất.

Lời khai cho thấy rằng, mấy tuần trước, trong một chầu cùng phe với đại tá Moran, anh ta đã thắng được Godfrey Milner và huân tước Balmoral những bốn trăm hai mươi bảng.

Cuộc thẩm tra cho thấy hoạt động gần đây của anh ta chỉ có vậy.

Buổi tối xảy ra án mạng, anh ta từ câu lạc bộ về tới nhà đúng 10 giờ.

Mẹ và chị gái anh ta đi thăm một người bà con từ chiều vẫn chưa về.

Cô hầu khai là có nghe anh ta vào gian tiền phòng trên tầng ba mà anh ta vẫn dùng làm phòng khách.

Trước đó cô có đốt lò sưởi ở đây, và vì thấy khói nên để mở cửa sổ.

Không thấy có động tĩnh gì trong phòng cho đến 11 giờ 20, lúc phu nhân Maynooth và tiểu thư về.

Bà định vào phòng con trai để chúc ngủ ngon.

Nhưng cửa đã khóa trong, họ gọi và đập cửa mãi vẫn không nghe trả lời.

Họ bèn tìm người đến phá cửa.

Người ta phát hiện chàng trai xấu số nằm gần bên bàn.

Đầu anh ta nát bấy vì một viên đạn đum đumsúng lục, nhưng lại không tìm thấy vũ khí nào trong phòng.

Trên bàn có hai tờ tiền mười bảng và mười bảng mười bảy shilling bằng đồng vàng và bạc, xếp thành mấy khoản khác nhau.

Trên một tờ giấy có ghi mấy con số tương ứng với tên vài bạn bè của anh ta trong câu lạc bộ, từ đó có thể phỏng đoán trước lúc chết, có lẽ anh ta đang thử tính toán xem chơi bài thắng thua thế nào.

Một cuộc khám nghiệm hiện trường tỉ mỉ chỉ càng khiến vụ án rối rắm hơn.

Trước hết, không thể nêu được lí do vì sao chàng trai lại phải khóa chặt cửa từ bên trong.

Có thể hung thủ đã làm vậy rồi tẩu thoát bằng đường cửa sổ.

Song khoảng cách từ cửa sổ xuống đất cũng phải hai mươi foot là ít, bên dưới lại còn một luống hoa nghệ tây nở rộ.

Cả hoa lẫn nền đất đều không có dấu hiệu gì là bị giẫm đạp, cũng không có dấu vết nào trên bờ cỏ hẹp phân cách ngôi nhà với ngoài đường.

Vì vậy mà rõ ràng chính chàng trai đã đóng chặt cửa.

Nhưng nếu vậy thì làm sao anh ta lại chết?

Chẳng ai có thể trèo lên cửa sổ mà không để lại dấu vết.

Giả sử có người bắn qua cửa sổ thì hắn quả là một tay súng đáng nể khi gây ra một vết thương trí mạng như vậy bằng súng lục.

Hơn nữa, Park Lane là một con phố lắm người qua kẻ lại, cách nhà gần trăm yard lại có bãi đỗ xe ngựa.

Không ai nghe có tiếng súng.

Vậy mà có người chết vì một viên đạn súng lục tòe ra như cái nấm, đúng kiểu đạn đầu mềm, và gây ra vết thương dẫn đến tử vong tức thì.

Đó là các tình tiết của vụ Bí ẩn Park Lane, vụ án lại còn phức tạp hơn nữa vì hoàn toàn không thấy có động cơ gây án, vì lẽ như tôi đã nói, công tử Adair không có kẻ thù, mà cũng không thấy tiền bạc hay đồ đạc giá trị trong phòng bị đánh cắp.

Suốt ngày tôi cứ suy đi ngẫm lại mấy tình tiết đó trong đầu, cố nghĩ ra một giả thuyết nào đó khớp với toàn bộ những dữ kiện này, và tìm phương hướng thuận lợi nhất mà người bạn xấu số của tôi từng tuyên bố là khởi điểm của mọi cuộc điều tra.

Thú thật tôi không tiến được là bao.

Đến chiều tôi lững thững qua công viên, rồi đâu độ 6 giờ thì nhận ra mình đã đứng ở đầu phố Oxford giao với Park Lane.

Trên vỉa hè có một đám lông bông, người nào cũng nhìn chằm chằm lên một ô cửa sổ nọ, nhờ thế tôi biết ngay đâu là ngôi nhà tôi định đến xem.

Một gã cao gầy đeo cặp kính râm mà tôi rất nghi là cảnh sát chìm đang vạch ra một giả thuyết nào đó, còn đám người kia thì xúm lại nghe.

Tôi cố tiến lại thật gần gã, nhưng bởi thấy mấy nhận xét của gã có vẻ phi lí, tôi lại thối lui, có phần ác cảm.

Khi quay người đi, tôi va phải một ông có tuổi lưng còng đứng sau lưng tôi nãy giờ, làm rơi mấy cuốn sách ông ta đang cầm.

Tôi còn nhớ khi nhặt lên thì thấy nhan đề một cuốn là Nguồn gốc tục thờ cây, nên tôi chợt nghĩ lão này hẳn là một tay say mê sách nghèo khó chuyên thu thập những cuốn sách hiếm để bán hoặc phục vụ cho sở thích riêng.

Tôi cố xin lỗi vì sự việc đáng tiếc, nhưng rõ ràng mấy cuốn sách tôi chẳng may làm rơi lại là báu vật trong mắt chủ nhân.

Ông ta hầm hè khinh miệt quay gót, rồi tôi thấy tấm lưng còng và hàm râu quai nón bạc khuất trong đám đông.

Những gì quan sát được tại số 427 Park Lane chẳng làm vụ án tôi đang để tâm sáng tỏ được gì nhiều.

Ngôi nhà phân cách với đường bằng một bức tường và rào chắn thấp, tổng cộng cao không quá năm foot.

Vì vậy mà ai cũng có thể vào vườn hết sức dễ dàng, nhưng cửa sổ thì tuyệt không thể, bởi chẳng có ống nước hay thứ gì để vịn thì cho dẫu là người nhanh nhẹn, khỏe mạnh nhất cũng không trèo lên được.

Tôi theo đường cũ về lại Kensington mà càng rối trí.

Tôi mới ở trong thư phòng chưa được năm phút thì cô hầu bước vào báo là có người cần gặp.

Tôi kinh ngạc thấy đó chẳng phải ai mà chính là nhà sưu tầm sách cũ kì dị, với khuôn mặt nhăn nheo, góc cạnh hiện ra dưới vầng tóc bạc, còn mấy cuốn sách quý của ông ta, ít nhất cũng tới chục cuốn, thì kẹp dưới cánh tay phải.

"Gặp tôi chắc ông ngạc nhiên lắm nhỉ," ông ta nói giọng khào khào, kì lạ.

Tôi thừa nhận quả là vậy.

"Vâng, thưa ông, tôi là người có lương tâm, nên khi khập khiễng đi sau và tình cờ thấy ông vào nhà này tôi bèn tự nhủ: Mình cứ bước vào mà gặp quý ông tử tế ấy, rồi thưa với ông ấy rằng nếu mình cư xử có phần thô lỗ thì cũng chẳng phải vì ác ý gì, và mình rất biết ơn ông ấy đã nhặt sách lên giúp."

"Ông quá bận lòng vì một chuyện vặt rồi", tôi nói.

"Cho phép tôi hỏi làm sao mà ông biết tôi là ai?"

"À, thưa ông, nếu ông bỏ quá cho thì tôi là hàng xóm của ông, bởi ông sẽ thấy hiệu sách nhỏ của tôi ở đằng góc phố Church, và tôi dám chắc mình sẽ rất vui được tiếp đón ông.

Chính ông cũng sưu tầm sách thì phải, thưa ông.

Đây là Các loài chim ở Anh, rồi Catullus này, rồi Thánh chiến này - toàn món hời cả đấy.

Năm cuốn thôi là ông đã xếp kín được chỗ trống trên ngăn thứ hai kia rồi.

Trông không được ngăn nắp thì phải, thưa ông?"

Tôi ngoảnh đầu nhìn tủ sách sau lưng.

Khi tôi quay lại thì thấy Sherlock Holmes đứng bên kia bàn làm việc đang mỉm cười với mình.

Tôi đứng bật dậy, ngây người nhìn anh trong bàng hoàng tột độ mất mấy giây, thế rồi hình như tôi đã ngất đi lần đầu mà cũng là cuối trong đời.

Tôi thấy rõ ràng một làn khói xám cuộn lên trước mắt, rồi khi nó tan đi thì tôi cảm thấy cổ áo mình mở bung và dư vị rượu mạnh rần rần trên môi.

Holmes đang cúi người bên ghế dựa tôi ngồi, tay cầm chai rượu dẹt.

"Watson thân mến ơi", giọng nói tôi vẫn còn nhớ như in cất lên, "tôi nợ anh ngàn lời tạ lỗi.

Tôi nào ngờ anh lại bị chấn động đến vậy."

Tôi túm chặt cánh tay anh.

"Holmes!"

Tôi kêu lên.

"Có thật là anh đấy không?

Lẽ nào anh vẫn còn sống?

Phải chăng anh đã trèo lên khỏi cái vực thẳm đáng sợ ấy?"

"Khoan đã nào", anh nói.

"Có chắc là anh đã đủ sức khỏe để nói chuyện chưa?

Tôi đã làm anh sốc nặng vì xuất hiện trở lại một cách kịch tính thái quá."

"Tôi không sao, nhưng quả thực, Holmes này, tôi khó mà tin nổi mắt mình.

Trời ơi, làm sao tưởng tượng được, không phải ai khác mà chính là anh đang đứng trong thư phòng của tôi!"

Tôi lại túm chặt tay áo anh, rồi lần sờ cánh tay gầy guộc, gân guốc bên dưới.

"Thôi được, dù sao thì anh cũng không phải hồn ma rồi", tôi nói.

"Anh bạn thân mến ơi, thấy anh tôi mừng quá đỗi.

Ngồi xuống đi rồi kể tôi nghe làm thế nào mà anh còn sống sót ra khỏi cái vực sâu kinh khiếp ấy."

Anh ngồi xuống đối diện tôi rồi châm điếu thuốc theo cái lối thong thả như xưa.

Anh vẫn còn khoác tấm áo măng tô lôi thôi của người bán sách, nhưng phần còn lại, tức mớ tóc bạc và mấy cuốn sách cũ thì đã chất thành một chồng trên bàn.

Holmes nom còn gầy gò, sắc cạnh hơn xưa, nhưng sắc da xanh xao trên gương mặt diều hâu cho tôi biết gần đây cuộc sống của anh không được tươm tất.

"Tôi mừng được thẳng người lên đấy, Watson", anh nói.

"Một người cao mà phải còng xuống hẳn một foot suốt mấy tiếng đồng hồ liền thì chẳng phải chuyện chơi đâu.

Này anh bạn, còn về chuyện giải thích thì, e là đêm nay ta hãy còn một nhiệm vụ gian nguy, mong anh giúp một tay.

Đợi xong việc rồi tôi sẽ thuật lại anh nghe đầu đuôi sự tình."

"Tôi tò mò quá.

Tôi muốn được nghe bây giờ hơn."

"Tối nay anh có đi với tôi không?"

"Khi nào và đi đâu là tùy ý anh."

"Đúng là lại như ngày xưa.

Ta sẽ còn kịp ăn bữa tối trước khi đến giờ đi.

Thôi thì, về chuyện cái vực thẳm, tôi thoát khỏi đó cũng chẳng vất vả gì, bởi một lẽ rất đơn giản là tôi đâu có rơi xuống dưới ấy."

"Anh chưa rơi xuống vực sao?"

"Không, Watson à, tôi có rơi xuống đâu.

Lá thư tôi viết cho anh hoàn toàn là thật.

Tôi chẳng mảy may nghi ngờ gì là sự nghiệp của mình đã đến hồi kết khi thấy bóng dáng hung gở của cố giáo sư Moriarty đứng chắn trên lối mòn nhỏ hẹp dẫn đến chỗ an toàn.

Tôi đọc thấy trong cặp mắt xám của hắn một quyết tâm không thể lay chuyển.

Vì vậy tôi nói dăm câu với hắn, rồi được hắn lịch sự cho phép viết mấy chữ mà về sau anh nhận được đó.

Tôi để thư cùng với hộp thuốc lá và cây gậy lại rồi bước theo đường mòn, Moriarty vẫn theo sát gót.

Đến cuối lối đi thì tôi cùng đường.

Hắn không rút vũ khí mà nhảy xổ vào tôi và vung hai cánh tay lêu nghêu ra ghì chặt.

Hắn biết cơ đồ đã tan tành nên chỉ nóng lòng trả thù tôi.

Cả hai cùng ngả nghiêng loạng choạng bên miệng vực.

Song tôi có biết vài miếng baritsu, môn đấu vật Nhật Bản ấy đã không ít lần tỏ ra hữu dụng.

Tôi luồn một cái khỏi vòng tay ghì cứng của hắn, và thế là hắn rú lên một tiếng hãi hùng, hai chân giãy đạp điên cuồng mấy giây, còn hai tay vùng vẫy như muốn bám víu vào khoảng không.

Nhưng dù đã cố hết sức hắn vẫn không lấy lại được thăng bằng, vậy là hắn lộn nhào xuống.

Tôi cúi mặt bên bờ vực thì thấy hắn rơi cả một quãng dài.

Rồi hắn va vào một tảng đá, văng ra, rơi tõm xuống nước."

Tôi sững sờ lắng nghe Holmes giải thích giữa những làn khói thuốc.

"Vậy còn dấu chân!"

Tôi kêu lên.

"Chính mắt tôi đã thấy dấu chân hai người đi xuôi đường mòn nhưng không có dấu chân nào đi ngược trở lại."

"Sự thể xoay chuyển thế này đây.

Ông giáo sư vừa mất hút thì tôi chợt nghĩ quả là số phận đã dọn sẵn trên đường tôi đi một dịp may rất đỗi lạ thường.

Tôi biết không chỉ có Moriarty thề kết liễu tôi, ít nhất còn ba tên nữa sẽ càng nung nấu trả thù tôi sau khi tên cầm đầu đã chết.

Đó đều là những kẻ vô cùng nguy hiểm.

Không tên này thì tên kia nhất định sẽ tóm được tôi.

Trái lại, nếu trong thiên hạ ai cũng đinh ninh rằng tôi đã chết thì bọn này sẽ tự tung tự tác và chẳng mấy chốc lộ sơ hở, rồi trước sau gì tôi cũng triệt hạ được chúng.

Đến lúc ấy tôi ra mặt là vừa.

Đầu óc phản ứng mau lẹ đến mức tôi tin mình đã suy tính xong xuôi trước khi giáo sư Moriarty rơi xuống tới đáy vực Reichenbach.

Tôi đứng lên xem xét kĩ vách đá sau lưng.

Trong bản tường thuật sống động của anh, mà mấy tháng sau tôi đã đọc với niềm thích thú cao độ, anh khẳng định vách đá dựng đứng.

Không hẳn thế đâu.

Ở đó có vài hốc nhỏ để đặt chân vào, và hình như còn có một gờ đá.

Vách đá cao đến mức hiển nhiên là không trèo lên tận đỉnh được, nhưng cũng không thể men theo con đường ẩm ướt mà không để lại dăm ba dấu vết.

Đúng là tôi có thể đi giật lùi ra như vẫn làm trong vài dịp tương tự, nhưng ba loạt dấu chân đi về cùng một hướng chắc chắn sẽ gợi nghi ngờ.

Vì vậy, tính hết mọi lẽ tôi thấy tốt nhất là liều leo lên.

Chuyện đó chẳng thú vị gì đâu, Watson.

Cái vực gầm rú bên dưới.

Tôi không phải người hay mộng mị hoang tưởng, ấy vậy mà tôi cam đoan với anh là đã nghe như giọng lão Moriarty từ dưới đáy thẳm gào thét tên tôi.

Sơ sẩy một cái cũng đủ toi mạng.

Lắm lúc mấy búi cỏ trong tay bật gốc hay chân tôi trượt khỏi hốc đá trơn ướt, tôi cứ nghĩ mình tiêu rồi.

Nhưng rồi tôi gắng gượng trèo dần lên, cuối cùng cũng tới được một gờ đá thụt vào sâu mấy foot phủ rêu xanh mượt, đủ chỗ cho tôi thoải mái nằm mà không bị ai thấy.

Tôi đã nằm dài ở đó, trong lúc anh, Watson thân mến, cùng cả đoàn người đi theo điều tra hiện trường cái chết của tôi một cách đầy xót thương nhưng kém cỏi.

Cuối cùng, khi ai nấy đều đã đi đến kết luận tất yếu và hoàn toàn sai lầm, anh về khách sạn và tôi còn lại một mình.

Tôi những tưởng mình sẽ không còn phiêu lưu nữa, nào ngờ một sự việc ngoài dự liệu thình lình xảy đến cho thấy vẫn còn bất ngờ dành sẵn cho tôi.

Một tảng đá đồ sộ lao từ trên xuống, ầm ầm ngang chỗ tôi, nện trúng đường mòn rồi văng xuống vực.

Mới đầu tôi tưởng đó là sự cố ngẫu nhiên nhưng khi nhìn lên, tôi thấy đầu một người in trên nền trời đang tối dần, rồi một khối đá nữa nện xuống ngay gờ đá chỗ tôi nằm, cách đầu tôi không đầy một foot.

Lẽ đương nhiên, sự tình đã rõ.

Moriarty không chỉ có một mình.

Một tên đồng bọn - chỉ thoáng nhìn tôi cũng biết kẻ đồng lõa đó lợi hại thế nào - đã đứng canh chừng trong khi tay giáo sư tấn công tôi.

Hắn đứng từ xa nên tôi không thấy nhưng hắn đã chứng kiến cảnh đồng bọn chết còn tôi tẩu thoát.

Hắn đã chờ đến lúc ấy mới đi đường vòng lên đỉnh vách đá để gắng làm tròn ý đồ đã thất bại của đồng bọn.

Tôi không nghĩ ngợi lâu, Watson à.

Tôi lại thấy bộ mặt dữ tợn đó nhìn qua vách đá, và biết nó báo hiệu một tảng đá nữa lại sắp lao xuống.

Tôi hấp tấp trèo xuống để quay lại đường mòn.

Thật không tin nổi tôi có thể bình thản mà làm vậy.

Việc đó nguy khó hơn leo lên cả trăm lần.

Nhưng tôi nào kịp nghĩ đến hiểm nguy, bởi một khối đá nữa đã rơi ầm ầm qua khi tôi đang đánh đu nơi gờ đá.

Được nửa đường thì tôi trượt chân, nhưng nhờ trời tôi đã rơi xuống đường mòn, tuy máu me trầy trụa.

Tôi bỏ chạy trong bóng tối, vượt cả chục dặm đường núi, rồi một tuần sau thì đến Horence, tin chắc là không ai biết số phận tôi ra sao.

Tôi chỉ có một người thân tín - ông anh Mycroft.

Tôi nợ anh biết bao lời tạ lỗi, Watson thân mến ơi, nhưng điều sống còn là phải để mọi người tưởng tôi đã chết, vả lại chắc anh đã không viết được một bản tường thuật đầy sức thuyết phục đến vậy nếu chính anh không tin kết cục bất hạnh của tôi là thật.

Ba năm qua, vài lần tôi đã cầm bút lên định viết cho anh, nhưng lần nào cũng e rằng sự quan tâm trìu mến anh dành cho tôi sẽ khiến anh sơ suất mà để lộ bí mật.

Vì lẽ đó mà lúc chiều khi anh làm rơi sách, tôi đã ngoảnh mặt quay lưng với anh, vì lúc ấy tôi đang trong vòng nguy hiểm, chỉ cần anh biểu lộ sự ngạc nhiên hay xúc động cũng có thể khiến thiên hạ chú ý đến thân phận tôi, dẫn đến những hậu quả tệ hại và vô phương cứu vãn.

Còn về Mycroft thì tôi đã phải tiết lộ cho anh ấy để có khoản tiền cần thiết.

Tình hình ở London không tốt đẹp như tôi mong đợi, vì phiên tòa xử bọn Moriarty đã để sổng mất hai tên nguy hiểm nhất, cũng là những địch thủ căm hận tôi nhất.

Vì vậy mà tôi đã chu du ở Tây Tạng hai năm, đến Lhassa cho khuây khỏa và lưu lại đôi ngày với đức Đạt Lai Lạt Ma.

Có lẽ anh đã đọc những chuyện thám hiểm khác thường của một tay người Na Uy tên là Sigerson, nhưng chắc anh đâu thể ngờ rằng đó chính là tin tức về bạn mình.

Rồi tôi ghé thăm Ba Tư, tạt vào Mecca, diện kiến Hồi vương một thời gian ngắn nhưng thú vị tại Khartoum và thông tri kết quả về cho bộ Ngoại giao.

Về Pháp, tôi dành vài tháng nghiên cứu các dẫn xuất nhựa than đá tại phòng thí nghiệm ở Montpellier, miền nam nước Pháp.

Khi đã đạt kết quả như ý, và hay tin ở London chỉ còn lại một kẻ thù, tôi đã toan quay về thì đúng lúc ấy, tin tức nổi cộm về vụ Bí ẩn Park Lane đã thôi thúc tôi đi gấp, bởi vụ này không chỉ có những điểm đáng chú ý mà còn đem lại cho tôi một số cơ hội cực kì hiếm hoi để giải quyết việc riêng.

Tôi tức tốc về London, không hóa trang gì mà ghé qua nhà ở phố Baker, khiến bà Hudson được một phen cuống cuồng rối rít, và thấy anh Mycroft vẫn giữ gìn mấy căn phòng và giấy tờ nguyên vẹn như xưa.

Watson thân mến, vậy là 2 giờ chiều nay tôi lại ngồi trên chiếc ghế bành thân yêu trong căn phòng cũ, và chỉ ước gì được nhìn thấy anh bạn Watson thân mến ngồi trên chiếc ghế bên kia như ngày nào."

Buổi chiều tháng 4 ấy, tôi đã nghe kể câu chuyện lạ thường như thế đó - một chuyện mà tôi sẽ thấy hết sức hoang đường nếu không được tận mắt thấy dáng người cao gầy và gương mặt sắc sảo, nhiệt thành mà tôi đâu ngờ còn gặp lại.

Không hiểu sao anh đã biết tang sự đau buồn của tôi, và anh thể hiện sự đồng cảm qua thái độ hơn là lời nói.

"Công việc là thuốc giải sầu công hiệu nhất, Watson thân mến", anh nói, "tối nay tôi có chút việc cho cả hai ta, nếu hoàn thành tốt đẹp thì nó sẽ bảo đảm cho mạng sống của một người".

Tôi nài nỉ anh kể thêm nhưng vô hiệu.

"Đêm nay anh sẽ có khối chuyện tai nghe mắt thấy", anh đáp.

"Ta vẫn còn chuyện của ba năm qua để đàm đạo mà.

Cứ biết vậy đi đã, đến 9 giờ rưỡi ta sẽ bắt đầu cuộc phiêu lưu đáng nhớ ở ngôi nhà hoang."

Quả nhiên, đúng giờ đã định, tôi lại ngồi cạnh anh trong cỗ xe ngựa hai bánh, thủ sẵn khẩu súng lục trong túi, và lòng rộn lên niềm háo hức phiêu lưu như những ngày xưa.

Holmes thì lạnh lùng, nghiêm nghị, và trầm lặng.

Khi ánh đèn đường hắt lên nét mặt khắc khổ, tôi thấy hai mày anh nhíu lại trầm ngâm còn đôi môi mỏng mím chặt.

Tôi không biết chúng tôi sắp lùng bắt con dã thú nào trong khu rừng tội phạm âm u của London, nhưng theo dáng vẻ của tay thợ săn bậc thầy này tôi cầm chắc rằng cuộc phiêu lưu sẽ vô cùng hệ trọng, và nụ cười mai mỉa thỉnh thoảng xen ngang vẻ sa sầm khắc khổ của anh chẳng báo trước điều gì tốt đẹp cho mục tiêu chúng tôi săn lùng.

Tôi tưởng chúng tôi tiến về phố Baker, nhưng Holmes lại cho xe dừng ở góc quảng trường Cavendish.

Tôi để ý thấy khi bước ra anh liếc nhìn dò xét hai bên, rồi cứ đến mỗi góc phố sau đó anh lại cất công kiểm tra rất ngặt cho chắc là chúng tôi không bị theo dõi.

Lộ trình của chúng tôi rõ ràng là khác lạ.

Holmes rất rành rẽ những đường ngang ngõ tắt ở London, nên lúc này anh bước tự tin, thoăn thoắt qua một mê cung những khu chuồng ngựa khuất nẻo mà tôi còn không biết là chúng tồn tại trên đời.

Sau cùng chúng tôi cũng ra khỏi đó rồi đi vào một con đường nhỏ, hai bên là những căn nhà cũ kĩ, âm u, đến phố Manchester, rồi sang phố Blandford.

Đến đây anh quặt nhanh sang một lối đi hẹp, đi qua một cánh cổng gỗ vào một khoảng sân vắng, rồi mở khóa cửa sau một ngôi nhà.

Cả hai chúng tôi cùng bước vào rồi anh khép cửa lại.

Nơi này tối đen như mực, nhưng tôi vẫn biết rõ ràng đó là một ngôi nhà hoang.

Chân chúng tôi giẫm trên ván sàn trơ trụi làm phát ra những tiếng răng rắc và cót két, còn tay tôi đưa ra thì sờ thấy một bức vách mà giấy dán đã rách tua.

Mấy ngón tay Holmes gầy, lạnh ngắt nắm cổ tay tôi dẫn đi dọc một hành lang dài, cho đến khi tôi thấy mang máng ô cửa bán nguyệt tù mù phía trên cửa chính.

Đến đây bất thình lình Holmes quặt qua phải và thế là chúng tôi đứng trong một gian phòng rộng, vuông vắn, trống không, bốn góc tối om, chỉ có khoảng giữa sáng lờ mờ do ánh đèn ngoài đường hắt vào.

Gần đó không có ngọn đèn nào, cửa sổ thì đóng bụi dày nên ánh sáng chỉ vừa đủ để mỗi chúng tôi thấy lờ mờ bóng dáng bạn mình ngay bên cạnh.

Anh bạn đồng hành đặt tay lên vai tôi và kề miệng bên tai.

"Anh biết ta đang ở đâu không?"

Anh thì thào.

"Chắc hẳn kia là phố Baker," tôi trả lời, nhìn đăm đăm qua ô cửa sổ mờ đục.

"Đúng.

Ta đang ở trong tòa nhà Camden, đối diện chỗ ta ở khi xưa."

"Nhưng sao ta lại ở đây?"

"Vì từ đây nhìn sang bên kia tầm quan sát cực kì lí tưởng.

Watson này, phiền anh lại gần cửa sổ chút nữa, hết sức cẩn thận để đừng ai thấy, rồi nhìn lên phòng trọ cũ - khởi điểm cho biết bao cuộc phiêu lưu nho nhỏ của chúng ta.

Để xem sau ba năm vắng bóng tôi đã mất hết khả năng làm anh ngạc nhiên chưa."

Tôi rón rén bước tới rồi nhìn sang ô cửa sổ thân quen.

Mắt vừa nhìn thấy thì tôi đã há hốc miệng thốt lên một tiếng kinh ngạc.

Tấm rèm buông kín và trong phòng có một ngọn đèn đang tỏ.

Bóng một người đàn ông ngồi trên ghế dựa in hình đậm đen lên ô kính cửa sổ sáng rỡ.

Không làm sao lầm được cái đầu đĩnh đạc, đôi vai ngang, và nét mặt sắc cạnh.

Khuôn mặt quay sang một bên, gây ấn tượng hệt như mấy bức chân dung rọi bóng mà ông bà ta vẫn thích lồng khung.

Đó là bản sao hoàn hảo của Holmes.

Tôi kinh ngạc đến độ phải vung tay ra kiểm tra cho chắc là chính anh đang đứng cạnh mình.

Toàn thân anh rung lên bần bật vì nén tiếng cười.

"Thế nào?"

Anh hỏi.

"Ôi trời!"

Tôi kêu lên.

"Không thể tưởng tượng nổi."

"Tôi tin rằng khả năng biến hóa vô biên của tôi không đến nỗi bị tuổi tác bào mòn và sự quen thuộc khiến cho nhàm chán", anh nói, và tôi nhận ra trong giọng anh có niềm vui sướng và tự hào của người nghệ sĩ khi nói về tác phẩm của mình.

"Quả là khá giống tôi, nhỉ?"

"Tôi mà không biết thì thể nào cũng tin đó là anh."

"Phải ghi nhận công lao của ông Oscar Meunier ở Grenoble đã đúc nó mất vài ngày.

Đó là tượng bán thân bằng sáp, phần còn lại thì lúc chiều ghé phố Baker chính tôi đã lo liệu lấy."

"Nhưng sao phải vậy?"

"Anh bạn Watson ơi, vì tôi có lí do vô cùng chính đáng để mong cho một vài người tưởng tôi ở đó khi mà thực ra tôi đang ở chỗ khác."

"Vậy là anh nghĩ nhà trọ của ta đang bị theo dõi?"

"Tôi biết là thế."

"Ai theo dõi?"

"Kẻ thù của tôi ngày trước, Watson ạ.

Chính là cái hội nhóm lịch lãm mà tên cầm đầu đang nằm dưới chân thác Reichenbach ấy.

Anh nên nhớ rằng bọn chúng biết, và chỉ có chúng biết, là tôi vẫn còn sống.

Chúng tin rằng trước sau gì tôi cũng sẽ quay về nhà trọ.

Chúng theo dõi liên tục, rồi sáng nay thì thấy tôi tới."

"Làm sao anh biết?"

"Vì khi liếc nhìn ra cửa sổ tôi đã nhận mặt được tên canh gác của chúng.

Hắn là một gã khá vô hại, tên Parker, chuyên nghề siết cổ, và là một tay biểu diễn kèn Do Thái xuất sắc.

Tôi chẳng để tâm đến hắn.

Nhưng tôi rất lo kẻ ghê gớm hơn nhiều đứng đằng sau hắn, bạn nối khố của Moriarty, gã đã lăn đá xuống vách núi, tên tội phạm xảo quyệt và nham hiểm nhất London.

Đó là kẻ săn lùng tôi tối nay đấy, Watson, nhưng hắn lại hoàn toàn không hay biết là ta đang săn lùng chính hắn."

Kế hoạch của bạn tôi dần dần lộ rõ.

Từ chỗ nấp thuận tiện này, kẻ theo dõi lại bị theo dõi, và kẻ săn lùng lại bị săn lùng.

Cái bóng xương xương trên kia là mồi nhử còn chúng tôi là kẻ đi săn.

Cả hai chúng tôi đứng im trong bóng tối quan sát những bóng người hối hả đi qua đi lại.

Holmes im lìm nhưng tôi dám nói rằng anh vô cùng tỉnh táo, và hai mắt anh đang chăm chăm dõi theo dòng khách qua đường.

Đêm ấy ảm đạm và giông bão, gió rít ghê người dọc con phố dài.

Có nhiều người qua lại, hầu như ai cũng khoác áo, choàng khăn kín mít.

Một đôi lần dường như tôi thấy một bóng người đã đi qua lúc trước xuất hiện trở lại, tôi còn đặc biệt để ý tới hai người đàn ông có vẻ như đang tránh gió bên cửa một căn nhà cùng phố.

Tôi cố làm cho bạn tôi chú ý đến họ nhưng anh chỉ khẽ thốt lên một tiếng ra chiều nôn nóng rồi lại tiếp tục nhìn đăm đăm ra con phố.

Lắm lúc hai bàn chân anh nhấp nhỏm không yên, còn mấy ngón tay gõ liên hồi lên vách.

Tôi thấy rõ ràng anh đang dần sốt ruột và rằng những điều anh dự tính chưa diễn ra hoàn toàn như mong đợi.

Cuối cùng, đã gần đến nửa đêm và con đường thưa vắng dần, anh đi qua đi lại trong phòng không nén được nỗi bồn chồn lo lắng.

Vừa định nói câu gì với anh thì tôi đưa mắt nhìn lên ô cửa sáng đèn và lại kinh ngạc chẳng kém lúc nãy.

Tôi túm lấy cánh tay Holmes và chỉ lên.

"Cái bóng vừa xê dịch kìa!"

Tôi kêu lên.

Quả vậy, không phải nét mặt nhìn từ một bên nữa, mà là cái lưng, đang xoay về phía chúng tôi.

Rõ ràng ba năm đã chẳng làm những nét gai góc trong tính khí anh mềm mại đi hay làm anh nhẫn nại hơn với một đầu óc không được tinh anh bằng mình.

"Lẽ đương nhiên là nó xê dịch", anh nói.

"Watson à, tôi lại hậu đậu nực cười đến mức đi dựng một hình nộm rành rành mà mong lừa được mấy kẻ ma mãnh nhất Âu châu hay sao?

Ta ở trong phòng này được hai giờ rồi, và bà Hudson đã chỉnh hình người đó tám lần, tức là cứ mười lăm phút một lần.

Bà ấy xê dịch nó từ đằng trước để không làm lộ bóng mình.

A!"

Anh rít vào một hơi phấn khích.

Trong ánh sáng nhập nhoạng tôi thấy đầu anh vươn ra trước, toàn thân bất động vì chăm chú.

Ngoài kia, con phố đã vắng tanh.

Hai gã nọ ắt hẳn vẫn còn nấp bên cửa, nhưng tôi không còn thấy nữa.

Bốn bề tĩnh mịch và tối om, chỉ trừ ô kính sáng trưng phía trước, chính giữa có dáng người in hình đậm đen.

Một lần nữa trong cảnh lặng như tờ này, tôi nghe thấy một tiếng xuỵt khe khẽ bộc lộ niềm phấn khích cao độ phải kìm nén.

Loáng sau anh kéo tôi lùi vào góc tối nhất trong phòng, rồi tôi cảm nhận được bàn tay anh trên môi tôi cảnh báo.

Mấy ngón tay tóm lấy tôi đang run run.

Tôi chưa bao giờ thấy bạn mình xúc động hơn thế, thế nhưng con phố mịt mù vẫn trải dài vắng vẻ im lìm trước chúng tôi.

Nhưng rồi tôi chợt nhận ra cái mà nhờ giác quan nhạy bén hơn anh đã phát hiện được trước.

Một tiếng động lén lút, khe khẽ vẳng đến tai tôi, không phải từ hướng phố Baker, mà từ sau chính ngôi nhà chúng tôi đang nấp.

Có tiếng cửa mở ra rồi khép lại.

Ngay sau đó là tiếng chân rón rén xuôi hành lang - những bước chân không muốn gây tiếng động, nhưng vang vọng đến chướng tai khắp căn nhà trống.

Holmes khom xuống dựa ra sau tường nên tôi làm theo, tay để lên báng súng lục.

Nhìn xuyên qua bóng tối âm u, tôi thấy lờ mờ hình dáng một người đàn ông hơi thẫm hơn khoảng tối ở ô cửa mờ.

Hắn ta đứng lại một lát, rồi rón rén bước vào phòng, dáng người khom xuống, có vẻ đáng gờm.

Cái bóng dáng nguy hiểm ấy cách chúng tôi không quá ba yard, và tôi đã chuẩn bị tinh thần để nghênh đón nếu hắn chồm tới, nhưng rồi tôi nhận ra là hắn không hề biết chúng tôi ở trong phòng.

Hắn đi ngang qua sát bên chúng tôi, lén lút lại bên cửa sổ, rồi hết sức nhẹ nhàng kéo cửa lên độ nửa foot mà không phát ra tiếng động.

Khi hắn thụp xuống ngang tầm khoảng hở này thì ánh đèn đường không còn bị lớp kính bụi bặm chắn lại nên rọi thẳng vào mặt hắn.

Hắn có vẻ cực kì kích động.

Hai mắt sáng quắc lên còn mặt mày nhăn nhó dữ dội.

Hắn đã đứng tuổi, mũi mảnh, nhô ra, trán cao, hói, hàng ria mép rậm rì, điểm bạc.

Chiếc mũ chóp cao đội hơi lệch về phía sau, ngực áo sơmi sáng lên ở khoảng mờ của chiếc áo khoác ngoài.

Mặt hắn ngăm đen dễ sợ, vằn vện những nếp nhăn sâu hoắm, hung dữ.

Hắn cầm trong tay cái gì như cây gậy, nhưng khi để xuống sàn thì phát ra tiếng kim khí.

Đoạn hắn rút trong túi áo khoác ra một vật kềnh càng và loay hoay làm gì đó, khi xong việc nghe đánh cách một tiếng to, đanh, như thể một cái lò xo hay chốt vừa khớp vào vị trí.

Vẫn quỳ trên sàn, hắn cúi người tới rồi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể cùng sức lực lên một đòn bẩy nào đó, tạo ra một tiếng xoắn vặn, ken két kéo dài, cuối cùng là một tiếng cách âm vang nữa.

Rồi hắn thẳng người lên, và tôi thấy cái hắn cầm trong tay là một kiểu súng, báng súng có hình thù kì dị.

Hắn mở khóa nòng, nhét cái gì đó vào, rồi sập khóa nòng lại.

Thế rồi, hắn khom xuống, tì đầu nòng lên gờ cửa sổ mở, tôi thấy ria mép hắn dài chạm tới báng súng còn mắt loang loáng nhắm theo ống ngắm.

Tôi nghe thấy tiếng thở ra hài lòng khi hắn ấp báng súng vào vai, rồi ngắm cho mục tiêu là bóng người đậm đen trên nền vàng hiện rõ mồn một ở đầu ruồi.

Hắn đờ người ra bất động một lát.

Rồi ngón tay siết lại trên cò.

Có một tiếng rít âm vang, kì lạ rồi đến tiếng kính vỡ loảng xoảng, trong veo, ngân dài.

Đúng lúc đó, Holmes nhảy chồm lên lưng tay xạ thủ như một con hổ rồi lẳng hắn ngã sấp mặt xuống.

Hắn lồm cồm đứng dậy được ngay, và bằng sức mạnh kinh hồn, hắn thộp cổ họng Holmes nhưng tôi đã nện báng súng lục vào đầu hắn, thế là hắn lại đổ vật ra sàn.

Tôi đè lên người hắn, và khi tôi giữ hắn thì bạn tôi huýt một tiếng còi lảnh lót.

Có tiếng chân chạy rầm rập trên vỉa hè, thế rồi hai cảnh sát mặc đồng phục cùng một thanh tra mặc thường phục ập qua cổng trước vào phòng.

"Là ông đấy à, Lestrade?"

Holmes hỏi.

"Vâng, ông Holmes.

Chính tôi nhận vụ này.

Thật mừng khi lại thấy ông ở London, thưa ông."

"Tôi nghĩ ông đang cần lực lượng phi chính quy trợ giúp đôi chút.

Trong một năm mà có ba vụ án mạng chưa điều tra ra thì không ổn rồi, Lestrade.

Nhưng ông đã xử lí được vụ Bí ẩn Molesey khi không có sự giúp sức như mọi khi, nghĩa là ông đã giải quyết khá tốt."

Tất cả đều đứng lên, tên tội phạm bị bắt giữ thở hồng hộc và bị hai viên cảnh sát lực lưỡng kẹp giữa.

Ngoài đường dăm kẻ lông bông đã xúm lại.

Holmes bước tới, đóng cửa sổ lại, thả rèm xuống.

Lestrade rút ra hai ngọn nến còn mấy viên cảnh sát mở nắp che đèn ra.

Cuối cùng thì tôi đã được nhìn thật rõ kẻ mà chúng tôi vừa bắt.

Bộ mặt quay về phía chúng tôi cực kì rắn rỏi nhưng đằng đằng sát khí.

Với vầng trán của bậc hiền triết và quai hàm của kẻ ham dục lạc, chắc hẳn xuất phát ở điểm gã này có thể trở thành người chí thiện mà cũng có thể trở thành kẻ đại ác.

Nhưng nhìn cặp mắt xanh nghiệt ngã, mí mắt sụp, đa nghi, hay cái mũi hung hăng, dữ tợn, và vầng trán nhăn sâu, đầy đe dọa của hắn người ta không khỏi đọc thấy những tín hiệu báo nguy rõ ràng nhất của Tự Nhiên.

Hắn chẳng thèm để ý đến ai khác, ánh mắt lẫn lộn nửa căm hờn kinh ngạc cứ trân trân dán vào mặt Holmes.

"Mày là đồ quỷ sứ!"

Hắn cứ một hai lẩm bẩm.

"Đồ quỷ sứ ranh ma!"

"À, đại tá!"

Holmes vừa nói vừa sửa lại cổ áo xộc xệch.

"Trong vở kịch xưa có nói: 'Kết thúc cuộc hành trình, đôi lứa lại gặp nhau'.

Tôi nào ngờ một lần nữa có hân hạnh gặp lại ông sau cái lần được ông ưu ái quan tâm khi tôi nằm trên gờ đá bên miệng thác Reichenbach."

Viên đại tá vẫn chằm chặp nhìn bạn tôi như bị thôi miên.

"Đồ quỷ sứ ranh ma, xảo trá!"

Hắn chỉ nói được có vậy.

"Tôi vẫn chưa giới thiệu ông", Holmes nói.

"Thưa quý vị, đây là đại tá Sebastian Moran, từng phục vụ trong quân đội của Nữ hoàng ở Ấn Độ, và là tay súng săn thú lớn cừ khôi nhất mà đế chế La Mã phương Đông chúng ta từng sản sinh.

Ông đại tá này, tôi tin rằng thành tích săn hổ của ông vẫn là vô địch?"

Lão già dữ tợn chẳng nói chẳng rằng mà cứ trừng trừng nhìn bạn tôi, cặp mắt hoang dại và hàng ria mép tua tủa khiến hắn trông giống hổ lạ lùng.

"Tôi lấy làm lạ là cái kế rất ư đơn giản của mình lại đánh lừa được một tay thợ săn lão luyện như ông", Holmes nói.

"Hẳn ông phải rành trò này lắm chứ.

Ông đã chẳng trói một đứa bé vào gốc cây làm mồi nhử trong lúc chính ông nằm phục sẵn bên trên chờ con hổ mò tới là gì?

Căn nhà hoang này là cây của tôi còn ông là hổ của tôi.

Có lẽ ông còn găm thêm vài tay súng nữa phòng khi có đến vài con hổ, hay trường hợp hãn hữu là ông bắn trượt mục tiêu.

Còn đây là những tay súng dự phòng của tôi", anh chỉ những người đứng xung quanh.

"Phép so sánh hoàn toàn chính xác".

Đại tá Moran gầm lên giận dữ và chồm tới, nhưng mấy tay cảnh sát đã kéo hắn lui.

Cơn thịnh nộ trên mặt hắn trông thật khủng khiếp.

"Thú thật là ông cho tôi một bất ngờ nhỏ", Holmes nói.

"Tôi không ngờ ông lại tận dụng căn nhà hoang và ô cửa sổ trước tiện lợi này.

Tôi cứ ngỡ ông ra tay từ ngoài đường, nên ông Lestrade bạn tôi cùng những người đi theo đã chờ ông ở đó.

Không kể chuyện đó thì mọi sự đều diễn ra đúng như tôi dự liệu."

Đại tá Moran quay sang viên thanh tra.

"Chưa biết ông có lí do chính đáng để bắt tôi không", hắn ta nói, "nhưng không có lí gì tôi phải chịu để cho người này chế nhạo.

Nếu tôi đã nằm trong tay pháp luật thì cứ thực hiện mọi thứ như luật định."

"Tốt, thế là hợp lí đấy", Lestrade nói.

"Ông có cần nói gì thêm trước khi chúng tôi đi không, ông Holmes?"

Holmes đã nhặt khẩu súng hơi có sức công phá lớn dưới sàn lên và đang tìm hiểu cơ cấu.

"Một thứ vũ khí độc đáo và đáng nể", anh nói, "không phát ra tiếng nổ mà lại có sức mạnh kinh hồn.

Tôi đã biết Von Herder, tay thợ cơ khí mù người Đức đã chế tạo nó theo đơn đặt hàng của cố giáo sư Moriarty.

Tôi biết nó tồn tại từ nhiều năm trước rồi dù chưa một lần được dịp chạm vào.

Lestrade này, tôi khuyên ông đặc biệt lưu ý đến nó, và cả mấy viên đạn khớp với nó nữa."

"Ông cứ giao cho chúng tôi lo liệu việc đó, ông Holmes", Lestrade nói khi cả nhóm tiến về phía cửa.

"Cần nói gì nữa không?"

"Chỉ muốn hỏi ông định buộc tội gì?"

"Tội gì sao, thưa ông?

Ồ, dĩ nhiên là mưu sát ông Sherlock Holmes rồi."

"Đừng làm thế, Lestrade.

Tôi không định ra mặt trong chuyện này.

Công lao bắt tội phạm xuất sắc lần này thuộc về ông và chỉ mình ông thôi.

Đúng vậy, Lestrade, tôi xin chúc mừng ông.

Nhờ kết hợp tài tình sự khôn khéo và lòng quả cảm như mọi khi mà ông đã tóm được hắn."

"Tóm được hắn!

Tóm được ai, thưa ông Holmes?"

"Kẻ mà toàn bộ lực lượng bấy lâu nay kiếm tìm vô vọng - đại tá Sebastian Moran, thủ phạm đã bắn công tử Ronald Adair bằng súng hơi và đạn đum đum qua cửa sổ mở ở gian tiền phòng tầng ba nhà số 427 Park Lane, ngày 30 tháng trước.

Tội danh đấy, Lestrade.

Nào, Watson, nếu anh chịu được gió lùa qua cửa sổ vỡ thì qua thư phòng tôi độ nửa giờ hút điếu xì gà có thể giúp anh thư giãn đấy?"

***

Phòng trọ của chúng tôi ngày xưa vẫn được giữ nguyên nhờ có Mycroft Holmes để mắt và bà Hudson tự tay coi sóc.

Quả thực, khi bước vào tôi thấy một sự ngăn nắp hiếm thấy, nhưng mọi vết tích cũ thì đâu vẫn ở đấy.

Kia là góc hóa học và cái bàn mặt gỗ thông dính đầy axít.

Trên giá nọ là dãy sổ lưu tin bài và các tập danh mục tham khảo đáng gờm mà nhiều người nếu biết hẳn sẽ rất mong được đốt đi.

Mấy sơ đồ, hộp vĩ cầm, rồi cái giá để tẩu thuốc - thậm chí chiếc giày mềm Ba Tư đựng thuốc lá - tất thảy đều đập vào mắt khi tôi nhìn quanh.

Trong phòng có hai người - một là bà Hudson tươi cười với cả hai khi chúng tôi bước vào, người kia là hình nộm lạ lùng đã giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc phiêu lưu tối nay.

Đó là mô hình bằng sáp của bạn tôi, một bản sao hoàn hảo đến nặng nề.

Tượng đặt trên chiếc bàn nhỏ một chân, khoác áo choàng cũ của Holmes để tạo ảo giác tuyệt hảo khi nhìn từ ngoài đường.

"Tôi hi vọng là bà đã thực hiện đúng mọi biện pháp đề phòng chứ, bà Hudson?"

Holmes nói.

"Tôi đã bò tới chỗ người nộm, thưa ông, đúng như ông dặn."

"Tuyệt.

Bà làm tốt lắm.

Bà có thấy viên đạn đâu không?"

"Có, thưa ông.

Tôi e nó làm hỏng mất bức tượng bán thân đẹp đẽ của ông rồi, vì nó đi xuyên qua đầu và tự dẹt ra lúc bắn vào tường.

Tôi nhặt được nó dưới thảm.

Đây này!"

Holmes chìa viên đạn cho tôi xem.

"Một viên đạn đầu mềm cho súng lục, anh thấy đấy, Watson.

Tài tình thật, vì ai mà ngờ loại đạn này lại bắn được bằng súng hơi?

Được rồi, bà Hudson, tôi rất biết ơn bà đã giúp một tay.

Này, Watson, anh quay lại chỗ ngồi ngày xưa đi, tôi muốn bàn với anh mấy việc."

Anh đã cởi bỏ tấm áo măngtô xơ xác, và trở lại là Holmes như xưa với chiếc áo choàng ngủ màu lông chuột lấy từ hình nộm.

"Tay thợ săn lão luyện kia thần kinh còn vững, mà mắt cũng còn tinh lắm," anh cười to khi xem xét khoảng trán vỡ toác của bức tượng.

"Ngay chính giữa phía sau đầu rồi đâm xuyên qua não.

Hắn là tay súng cừ nhất Ấn Độ, và tôi nghĩ ở London cũng khó có ai hơn được.

Anh đã nghe tên hắn chưa?"

"Tôi chưa nghe."

"Ái chà, tiếng tăm thế đấy!

Nếu tôi nhớ không lầm, ngay đến giáo sư James Moriarty, một trong những bộ óc vĩ đại của thế kỉ, mà lúc trước anh cũng còn chẳng biết nữa là.

Anh lấy xuống giúp tôi cuốn danh mục tiểu sử trên giá đã."

Anh thong thả lật trang, ngả người ra ghế dựa và phả từng cuộn khói lớn từ điếu xì gà.

"Bộ sưu tập chữ M của tôi đáng nể lắm", anh nói.

"Một mình Moriarty đã đủ lừng lẫy rồi, còn đây là Morgan kẻ đầu độc, Merridew để lại một kỉ niệm đáng ghê tởm, rồi Mathews đã làm tôi gãy mất răng nanh bên trái trong phòng đợi tại Charing Cross, và cuối cùng là ông bạn của ta tối nay."

Anh trao lại cuốn sách, và tôi đọc: "Moran, Sebastian, đại tá.

Thất nghiệp.

Trước đây thuộc trung đoàn Tiên phong Bangalore I.

Sinh tại London, năm 1840.

Con trai ngài Augustus Moran, hiệp sĩ, từng là công sứ Anh tại Ba Tư.

Học tại Eton và Oxford.

Tham gia chiến dịch Jowaki, chiến dịch Afghanistan, Charasiab (phái viên), Sherpur, và Cabul.

Tác giả cuốn Săn thú lớn ở Tây Himalaya, 1881; Ba tháng trong rừng già, 1884.

Địa chỉ: Phố Conduit.

Câu lạc bộ: Ấn - Anh, Tankerville, Bagatelle."

Bên lề có chữ viết rõ nét của Holmes: 'Kẻ nguy hiểm đứng hàng thứ hai ở London.

"Thật đáng kinh ngạc", tôi trả lại cuốn sách.

"Gã này có sự nghiệp như của một quân nhân danh giá."

"Đúng vậy", Holmes đáp.

"Trong chừng mực nhất định thì hắn ta đã làm tốt.

Hắn luôn là người can trường, ở Ấn Độ người ta vẫn còn kể chuyện hắn bò xuống mương đuổi theo một con hổ ăn thịt người đã bị thương.

Watson ạ, có một số cây khi mọc đến độ cao nhất định thì bỗng dưng nảy ra một hình thể biến dị khó coi.

Anh sẽ thấy điều tương tự cũng thường xảy ra ở con người.

Tôi có một lí thuyết là quá trình phát triển của cá nhân phản ánh toàn thể bước tiến của các đời trước, và một bước ngoặt đột biến theo khuynh hướng thiện hay ác kiểu như vậy đại diện cho một nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ nào đó đã xâm nhập vào huyết thống của anh ta.

Và thế là người này trở thành bản toát yếu cho lịch sử dòng họ anh ta."

"Điều đó hẳn là khá phi thực tế."

"Thôi được, tôi không khăng khăng bảo vệ ý kiến đó.

Dù nguyên nhân là gì đi nữa thì đại tá Moran đã bắt đầu biến chất.

Dù hắn chưa gây tai tiếng gì ghê gớm song đất Ấn Độ không dung hắn được nữa.

Hắn giải ngũ, về London, và lại gây tai tiếng.

Đấy chính là lúc giáo sư Moriarty tìm ra hắn, rồi hắn làm sếp sòng đám thuộc hạ của Moriarty một thời gian.

Moriarty chu cấp hậu hĩ và chỉ dùng hắn trong một vài vụ rất cao cấp mà không tên tội phạm tầm thường nào đảm nhận nổi.

Có lẽ anh còn nhớ chút gì về cái chết của bà Stewart ở Lauder năm 1887.

Không ư?

Thôi được, tôi tin chắc Moran là nguyên nhân sâu xa của vụ đó nhưng không chứng minh được gì.

Tên đại tá được che đậy khôn khéo đến mức ngay cả khi bè lũ Moriarty bị triệt hạ rồi chúng ta vẫn không thể buộc tội hắn.

Anh có nhớ là hôm ấy, khi ghé nhà anh, tôi đã đóng cửa chớp vì sợ súng hơi?

Chắc chắn anh đã nghĩ tôi hoang tưởng.

Tôi biết rõ việc mình đang làm bởi vì tôi biết khẩu súng đặc biệt này tồn tại, tôi còn biết rằng đứng sau nó là một trong những tay súng cừ nhất thế giới.

Khi ta ở Thụy Sĩ thì hắn đã cùng Moriarty bám theo, và chắc chắn hắn là kẻ đã cho tôi năm phút kinh hoàng trên gờ đá ở Reichenbach.

Anh cứ tin rằng trong thời gian lưu lại Pháp tôi đã theo dõi báo chí khá chăm chú, chờ thời cơ để tóm hắn.

Chừng nào hắn còn nhởn nhơ ở London thì chừng ấy tôi sống cũng như không.

Đêm ngày cái bóng đen sẽ lơ lửng trên đầu tôi, rồi sớm muộn gì hắn cũng chớp được thời cơ.

Tôi làm gì được?

Tôi chẳng thể thấy hắn là bắn ngay, nếu vậy chính tôi sẽ phải ra trước vành móng ngựa.

Kháng cáo cũng chẳng ích gì.

Họ đâu thể thay đổi bản án căn cứ vào một nghi vấn mông lung.

Vậy nên tôi chẳng làm gì được.

Nhưng tôi theo dõi tin tức tội phạm, biết rằng chẳng chóng thì chầy mình sẽ tóm được hắn.

Thế rồi xảy ra vụ án mạng của Ronald Adair.

Cuối cùng thì cơ hội của tôi cũng đến!

Tôi đã biết đến vậy rồi, còn chưa chắc đại tá Moran làm chuyện đó hay sao?

Hắn đã chơi bài với chàng trai, hắn đã theo anh ta từ câu lạc bộ về nhà, hắn đã bắn anh ta qua cửa sổ mở.

Chẳng có gì phải nghi ngờ về điều đó.

Riêng loại đạn đó đã đủ đưa đầu hắn vào thòng lọng rồi.

Tôi tức tốc về nước.

Tôi để cho tên canh gác nhìn thấy, tôi biết thể nào hắn cũng báo cáo để tên đại tá chú ý tới tôi.

Hắn không thể không thấy việc tôi đột ngột trở về có liên quan đến việc hắn vừa phạm tội và sẽ cực kì chột dạ.

Tôi tin chắc là hắn sẽ cố loại tôi ngay lập tức, nên sẽ mang theo vũ khí giết người của hắn nhằm mục đích đó.

Tôi để lại cho hắn một đích ngắm tuyệt vời bên cửa sổ, thế rồi, sau khi báo trước cho cảnh sát.

À, mà Watson này, anh đã cực kì chính xác khi phát hiện ra họ đứng bên ô cửa đó.

Tôi chọn vị trí đắc địa để quan sát, đâu ngờ hắn cũng chọn địa điểm ấy để tấn công.

Nào, Watson thân mến, tôi có còn phải giải thích gì nữa không?"

"Còn", tôi nói.

"Anh vẫn chưa làm sáng tỏ động cơ của đại tá Moran khi ám sát công tử Ronald Adair?"

"À!

Watson thân mến, đến đây thì ta lại phải phỏng đoán mất rồi, cái này thì tư duy giỏi đến mấy cũng có thể phạm sai lầm.

Ai cũng có thể lập giả thuyết theo bằng chứng đã có, thế nên giả thuyết của anh hay của tôi cũng đều có khả năng đúng ngang nhau."

"Vậy là anh đã lập được một giả thuyết rồi?"

"Tôi cho rằng không khó giải thích các sự việc.

Lời khai của các nhân chứng cho thấy đại tá Moran và công tử Adair đã thắng một khoản tiền đáng kể khi chơi bài cùng cánh với nhau.

Lúc ấy, chắc chắn Moran chơi gian - chuyện đó thì tôi đã biết từ lâu.

Tôi tin rằng vào hôm có án mạng Adair đã phát hiện ra Moran gian lận.

Rất có thể anh ta đã nói riêng với hắn, và dọa vạch trần hắn trừ phi hắn tự nguyện từ bỏ tư cách thành viên câu lạc hộ và hứa không chơi bài nữa.

Khó có chuyện một chàng trai trẻ như Adair lại tức thì tạo một vụ tai tiếng xấu xa bằng cách vạch trần một người có tiếng tăm lớn tuổi hơn anh ta nhiều như vậy.

Có lẽ anh ta đã hành động như tôi đoán.

Đối với Moran, bị loại khỏi các câu lạc bộ có nghĩa là khánh kiệt, vì hắn sống nhờ những khoản tiền được bài bất chính.

Vì vậy mà hắn ám sát Adair, còn nạn nhân chắc lúc đó đang cố tính toán xem chính mình phải trả lại bao nhiêu, bởi lẽ anh ta không thể hưởng lợi vì bạn chơi gian lận.

Anh ta khóa trái cửa vì sợ nhỡ mẹ và chị bắt gặp lại khăng khăng muốn biết anh ta đang làm gì với mấy cái tên và chỗ tiền này.

Vậy có chấp nhận được không?"

"Tôi tin là anh đã đoán đúng."

"Chuyện đó sẽ được xác nhận hay bác bỏ tại phiên tòa.

Dẫu sao thì đại tá Moran cũng sẽ không còn quấy rầy ta được nữa.

Khẩu súng hơi trứ danh của Von Herder sẽ làm đẹp cho viện bảo tàng của Sở Cảnh sát London, còn Sherlock Holmes lại được tự do cống hiến đời mình cho công việc tìm hiểu những vụ việc lặt vặt hay ho mà đời sống phức tạp của London bày ra vô kể."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
GÃ CHỦ THẦU VÙNG NORWOOD (The Norwood Builder, 1903)


"Theo quan điểm của một chuyên gia về tội phạm", Sherlock Holmes nói, "từ khi giáo sư Moriarty qua đời, London đã trở thành một thành phố vô cùng tẻ nhạt."

"Tôi không nghĩ sẽ có nhiều công dân lương thiện đồng tình với anh", tôi trả lời.

"Phải, phải, tôi không được ích kỉ", anh cười và đẩy ghế lùi xa bàn điểm tâm.

"Chắc chắn cả cộng đồng sẽ được lợi và chẳng có ai bị thiệt thòi, ngoại trừ tay chuyên gia đáng thương đang thất nghiệp này.

Gã Moriarty đó mà còn hoành hành thì báo sáng còn hứa hẹn vô vàn những khả năng.

Watson ạ, thường thì chỉ cần một dấu vết nhỏ nhặt nhất, một dấu hiệu mờ nhạt nhất cũng đủ để tôi biết được bộ óc hết sức ma mãnh đang ở đó, giống như những máy động nhẹ nhất ngoài rìa mạng nhện cũng nhắc ta nhớ đến con nhện độc đang rình rập ở chính giữa.

Trộm cắp vặt, hành hung bừa bãi, lăng nhục vô cớ - đối với người đã nắm được đầu mối thì tất thảy đều có thể kết thành một chính thể liên kết chặt chẽ.

Đối với một người nghiên cứu giới tội phạm thượng lưu một cách khoa học thì không thủ đô nào ở Âu châu đem lại những thuận lợi mà London thời Moriaty có được.

Còn giờ thì..."

Anh nhún vai, hóm hỉnh chế nhạo tình trạng do chính mình góp công lớn tạo ra.

Thời điểm tôi kể đây là khi Holmes trở về được vài tháng, còn tôi, theo yêu cầu của anh, đã bán phòng mạch rồi về thuê chung nhà với anh tại phố Baker.

Một bác sĩ trẻ tên Verner đã mua lại phòng mạch nhỏ của tôi ở phố Kensington, và lạ một điều là anh ta chẳng ngần ngại trả giá cao nhất mà tôi dám đòi - mãi mấy năm sau sự việc này mới sáng tỏ, khi tôi phát hiện ra Verner là bà con xa của Holmes và chính bạn tôi mới là người bỏ tiền.

Mấy tháng chúng tôi làm việc cùng nhau đó thật ra không quá bình lặng như anh nói, vì khi xem qua mấy ghi chép, tôi thấy giai đoạn này có cả vụ cựu tổng thống Murillo và vụ kinh hoàng trên tàu hơi nước Friesland của Hà Lan suýt làm cả hai chúng tôi trả giá bằng tính mạng.

Tuy nhiên, với bản tính lạnh lùng và kiêu hãnh, anh chúa ghét mọi sự tán thưởng của đám đông, vì vậy anh đã dùng những lời lẽ nghiêm khắc nhất để buộc tôi không được nói thêm một lời nào nữa về bản thân anh, các phương pháp điều tra hay những thành tựu của anh - sự cấm đoán này, như tôi đã giải thích, mãi tới bây giờ mới được hủy bỏ.

Sau lời phàn nàn hóm hỉnh, Sherlock Holmes ngả người vào lưng ghế, thong thả trải tờ báo sáng ra, bỗng một tiếng chuông cửa inh tai cất lên làm chúng tôi giật mình chú ý, liền sau đó là tiếng thùm thụp khô khốc như thể có ai đó đang đấm liên hồi lên cửa ngoài.

Cửa mở, có thứ gì đó xộc vào hành lang, tiếp đến là tiếng bước chân thoăn thoắt gõ lộp cộp trên cầu thang, rồi loáng một cái, một chàng trai hớt hơ hớt hải, hổn hà hổn hển xông thẳng vào phòng, đôi mắt trợn tròn, gương mặt tái nhợt, áo quần xốc xếch.

Anh ta hết nhìn tôi rồi lại nhìn Holmes, rồi khi thấy chúng tôi ngây người nhìn lại với vẻ thắc mắc, anh ta mới nhận ra là cần có đôi lời cáo lỗi vì đã tự tiện xông vào như vậy.

"Tôi xin lỗi, ông Holmes", anh ta kêu lên.

"Ông đừng trách tôi.

Tôi sắp phát điên rồi.

Thưa ông Holmes, tôi là John Hector McFarlane bất hạnh đây!"

Anh ta thông báo như thể chỉ riêng cái tên đó đã giải thích được lí do anh ta đến đây cũng như cung cách của anh ta, nhưng nhìn vẻ mặt thản nhiên của bạn tôi, tôi biết anh cũng không xem nặng chuyện đó giống tôi.

"Hút một điếu đã, anh McFarlane", anh nói, đẩy hộp thuốc qua.

"Với các triệu chứng của anh, tôi tin chắc bác sĩ Watson bạn tôi đây sẽ kê cho anh một liều an thần.

Mấy ngày nay trời nóng quá!

Nào, nếu anh đã cảm thấy bình tĩnh hơn thì tôi xin mời anh ngồi xuống chiếc ghế kia rồi thật từ từ và điềm tĩnh cho chúng tôi biết anh là ai và anh cần gì.

Anh xưng tên như thể tôi phải nhận ra anh vậy nhưng tôi cam đoan với anh, ngoài những chi tiết rõ rành rành như anh còn độc thân, là luật sư, thành viên hội Tam Điểm và mắc bệnh hen ra thì tôi không biết gì về anh cả."

Vì đã quen với các phương pháp của bạn tôi nên tôi dễ dàng theo kịp các suy luận của anh và tự quan sát thấy bộ quần áo luộm thuộm, xấp giấy tờ pháp lí, chiếc đồng hồ quả quýt và hơi thở là những căn cứ suy luận của anh.

Song thân chủ của chúng tôi lại sững sờ.

"Phải, tất cả đều đúng, thưa ông Holmes, ngoài ra, lúc này tôi còn là kẻ bất hạnh nhất thành London.

Trời ơi, xin đừng bỏ rơi tôi, ông Holmes!

Nếu tôi chưa kể xong câu chuyện mà họ đã đến bắt tôi thì xin hãy bảo họ thong thả để tôi kể hết cho ông nghe toàn bộ sự thật.

Tôi có thể vui vẻ vào nhà lao nếu biết rằng ở ngoài này ông đang giúp tôi."

"Bắt anh ư!"

Holmes nói.

"Chuyện này quả là hết sức đáng mừ... hết sức đáng lưu tâm.

Anh nghĩ mình bị bắt vì tội gì?"

"Tội sát hại ông Jonas Oldacre, vùng Hạ Norwood."

Gương mặt biểu cảm của bạn tôi lộ vẻ cảm thông tuy tôi e là có xen lẫn sự hài lòng.

"Trời ơi", anh nói, "lúc ăn sáng vừa rồi tôi còn nói với ông bạn bác sĩ Watson rằng mấy vụ án li kì, rùng rợn trên báo đã lặn đâu mất rồi."

Người khách chìa bàn tay run run, cầm tờ Daily Telegraph vẫn còn trải trên đầu gối Holmes lên.

"Thưa ông, nếu ông đã xem tờ báo này rồi thì ông sẽ thấy ngay mục đích tôi đến tìm ông sáng nay là gì.

Tôi tưởng như cả thiên hạ đang xì xầm bàn tán về tên tuổi và sự không may của mình."

Anh ta lật tờ báo tới trang giữa.

"Đây rồi, nếu ông cho phép, tôi xin đọc cho ông nghe.

Xin hãy lắng nghe, ông Holmes.

Bài báo này có cái tít là: Bí ẩn tại vùng Hạ Norwood.

Một chủ thầu có tiếng bị mất tích.

Nghi án giết người và phóng hỏa.

Một manh mối giúp tìm ra thủ phạm.

Họ đang lần theo manh mối đó, ông Holmes, và tôi biết là thể nào nó cũng dẫn đến chỗ tôi.

Tôi bị theo dõi từ ga Cầu London và tôi tin chắc rằng họ chỉ chờ có trát là sẽ bắt tôi.

Chuyện đó sẽ làm mẹ tôi đau lòng lắm...

Bà sẽ đau lòng lắm!"

Anh ta vặn vẹo hai bàn tay vẻ cực kì lo sợ rồi cứ ngồi lắc lư trên ghế.

Tôi chăm chú nhìn người bị cáo buộc là thủ phạm của tội ác tàn bạo này.

Anh ta có mái tóc hoe và điển trai tuy có vẻ bi quan, phờ phạc, đôi mắt xanh thảng thốt, mặt mày nhẵn nhụi, khuôn miệng lộ nét yếu đuối, nhạy cảm.

Anh ta trạc hai mươi bảy, mang y phục và phong thái của một quý ông.

Nơi túi áo khoác mỏng mặc mùa hè ló ra một ít giấy tờ có chứng thực càng bộc lộ rõ nghề nghiệp của anh ta.

"Ta phải tận dụng khoảng thời gian ít ỏi", Holmes nói.

"Watson này, anh vui lòng cầm lấy tờ báo rồi đọc cho tôi nghe mẩu tin mà chúng ta đang nói đến, được không?"

Bên dưới những cái tít hùng hồn mà thân chủ của chúng tôi vừa trích dẫn, tôi đọc bài tường thuật đầy hàm ý sau:

Khuya hôm qua, hoặc rạng sáng nay, tại vùng Hạ Norwood đã xảy ra một biến cố có khả năng là một vụ gây án vô cùng nghiêm trọng, ông Jonas Oldacre là một cư dân nổi tiếng trong vùng ngoại ô này, ông hành nghề thầu xây dựng đã nhiều năm.

Ông năm mươi hai tuổi, còn độc thân, trú tại biệt thự Thung Sâu tại Sydenham, cuối con đường cùng tên.

Ông có tiếng là lập dị, kín tiếng và xa lánh mọi người.

Vài năm nay, ông gần như bỏ nghề, nghe đâu ông đã tích lũy được một khối tài sản đáng kể.

Tuy vậy, sau nhà ông vẫn còn một xưởng cưa nhỏ, và vào hồi đêm qua, khoảng 12 giờ, có tin báo là một đống gỗ ở đây bốc cháy.

Xe cứu hỏa đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường nhưng gỗ khô cháy rần rật nên không thể nào dập tắt đám cháy cho đến khi đống gỗ bị thiêu rụi.

Tính đến thời điểm đó, sự việc có vẻ là một rủi ro bình thường nhưng các dấu hiệu mới lại cho thấy đây là một tội ác nghiêm trọng.

Người ta ngạc nhiên vì không thấy ông chủ xưởng cưa có mặt tại hiện trường đám cháy, cuộc điều tra sau đó cho thấy ông ta không còn ở trong nhà.

Kết quả khám xét phòng ông ta cho thấy giường vẫn chưa có người nằm, một két sắt để mở, một số giấy tờ quan trọng vương vãi khắp phòng và cuối cùng trong phòng có những dấu hiệu của một cuộc giằng co dữ dội, mấy vết máu lờ mờ và một cây ba tong bằng gỗ sồi dính vài vết máu trên cán.

Được biết, đêm qua ông Jonas Oldacre đã tiếp một vị khách đến vào lúc khuya khoắt tại phòng ngủ, và cây gậy tìm thấy được xác định là của người này, tên là John Hector McFarlane, đồng sở hữu văn phòng luật Graham & McFarlane, tại 426 cao ốc Gresham, trung tâm London.

Cảnh sát tin rằng họ nắm trong tay chứng cứ vạch rõ động cơ phạm tội rất có sức thuyết phục, và tiếp theo chắc chắn sẽ còn những diễn biến hết sức li kì.

Tin giờ chót - khi báo sắp lên khuôn thì nghe nói ông John Hector McFarlane bị bắt vì tội sát hại ông Jonas Oldacre.

Ít ra là trát bắt giữ chắc chắn đã được ban ra.

Cuộc điều tra tại Norwood đã tiến triển theo chiều hướng đáng ngại.

Ngoài các dấu hiệu cho thấy có một cuộc giằng co trong căn phòng của người chủ thầu xấu số, đến nay cảnh sát còn phát hiện thêm là cửa kính sau phòng ngủ (ở tầng một) của nạn nhân để mở, có những dấu vết cho thấy một vật cồng kềnh đã bị kéo lê tới chỗ đống gỗ, và sau hết, người ta khẳng định đã tìm thấy phần thi thể bị cháy thành than trong đống tro củi sau đám cháy.

Cảnh sát nhận định rằng đây là một tội ác hết sức dã man, nạn nhân bị nện đến chết trong phòng ngủ của mình, giấy tờ bị lục lọi và cuỗm đi, còn xác ông ta bị kéo lê đến chỗ đống gỗ rồi bị đốt để phi tang.

Việc chỉ đạo điều tra tội phạm được giao cho thanh tra Lestrade dày dạn kinh nghiệm, thuộc Sở Cảnh sát London.

Hiện ông đang lần theo các manh mối bằng năng lực và sự sắc sảo vốn có.

Sherlock Holmes nhắm mắt và chụm các đầu ngón tay lại, lắng nghe bài báo lạ thường này.

"Rõ ràng là vụ này có vài điểm đáng chú ý", anh nói với vẻ thong dong.

"Anh McFarlane này, trước hết, cho phép tôi được hỏi làm thế nào mà anh vẫn còn được tự do, bởi xem ra đã có đủ bằng chứng để bắt anh?"

"Tôi sống cùng cha mẹ tại tòa nhà Torrington ở Blackheath, thưa ông Holmes; nhưng đêm qua, vì phải làm việc khuya với ông Jonas Oldacre nên tôi trọ lại một khách sạn ở Norwood, rồi từ đó đi thẳng đến chỗ làm.

Mãi đến khi lên tàu, đọc được bài báo ông vừa nghe thì tôi mới biết chuyện này.

Tôi thấy ngay là mình đã rơi vào tình thế vô cùng nguy hiểm nên vội vàng đến cậy nhờ ông.

Nếu tôi có mặt ở văn phòng trong khu City hoặc ở nhà thì chắc chắn giờ này đã bị bắt rồi.

Có một ông đi theo tôi từ ga Cầu London, và tôi không nghi ngờ gì...

Trời ơi, chuyện gì vậy?"

Tiếng chuông lanh lảnh vang lên, liền sau đó là tiếng chân chạy thình thịch trên cầu thang.

Lát sau thì ông bạn cũ Lestrade của chúng tôi xuất hiện ở cửa.

Qua vai ông ta, tôi thoáng thấy một, hai cảnh sát đứng bên ngoài.

"Ông John Hector McFarlane phải không?"

Lestrade hỏi.

Vị thân chủ đen đủi của chúng tôi đứng lên, mặt mày tái mét.

"Tôi bắt ông vì tội cố ý sát hại ông Jonas Oldacre ở vùng Hạ Norwood."

McFarlane quay sang chúng tôi biểu lộ một cử chỉ tuyệt vọng, anh ta ngồi phịch xuống ghế như bị ấn xuống.

"Chờ chút, Lestrade", Holmes nói.

"Với ông thì độ nửa giờ cũng chẳng nhằm nhò gì nhưng anh đây sắp sửa thuật lại cho chúng tôi một chuyện rất thú vị có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ vụ án."

"Tôi thấy làm sáng tỏ vụ án chẳng có gì khó khăn", Lestrade nói chắc nịch.

"Nhưng dù sao thì, nếu ông cho phép, tôi rất hứng thú được nghe câu chuyện của anh ta."

"Thôi được, ông Holmes, tôi khó lòng từ chối ông điều gì, vì ngày trước ông đã đôi lần giúp ích cho lực lượng cảnh sát nên Sở Cảnh sát London chúng tôi còn nợ ông một lần đáp lễ", Lestrade nói.

"Đồng thời tôi phải ở lại với phạm nhân, và buộc lòng báo trước cho ông ta biết rằng bất cứ điều gì ông ta nói đều có thể được xem là lời khai bất lợi cho ông ta."

"Tôi nào dám mong gì hơn", thân chủ của chúng tôi nói.

"Tôi chỉ mong ông lắng nghe và nhận ra đâu là sự thật."

Lestrade nhìn đồng hồ đeo tay và nói, "Tôi sẽ cho ông nửa giờ."

"Trước hết tôi cần phải thanh minh," McFarlane nói, "rằng tôi chẳng biết gì về ông Jonas Oldacre.

Tôi có biết tên ông ta vì nhiều năm trước cha mẹ tôi quen ông ta, nhưng họ đã dần xa cách.

Vì vậy mà tôi rất đỗi ngạc nhiên khi ông ta bước vào văn phòng của tôi ở khu City vào khoảng 3 giờ chiều qua.

Nhưng tôi còn sửng sốt hơn khi ông ta cho biết mục đích viếng thăm.

Trong tay ông ta có vài tờ giấy được xé ra từ một cuốn sổ tay, trên đó đầy chữ viết nguệch ngoạc.

'Chúng đây.' Rồi ông ta đặt mấy tờ giấy lên bàn tôi.

'Đây là chúc thư của tôi', ông ta nói.

'Anh McFarlane, tôi muốn anh hợp thức hóa nó.

Tôi sẽ ngồi đây chờ anh làm.'

Tôi bắt tay vào chép lại, và các ông có thể hình dung tôi kinh ngạc thế nào khi thấy rằng, trừ một ít giữ lại, ông ta để lại toàn bộ tài sản cho tôi.

Ông ta là một người loắt choắt, kì lạ, hàng mi bạc trắng, và khi ngước lên nhìn ông ta, tôi thấy đôi mắt màu xám tinh anh của ông ta nhìn tôi chằm chặp vẻ khoái trá.

Tôi hầu như không thể tin nổi vào mình khi đọc các điều khoản trong chúc thư, nhưng ông ta giải thích nào là ông ta độc thân, hầu như chẳng còn bà con thân thích nào trên đời, nào là thời trẻ ông ta có quen biết cha mẹ tôi, và luôn nghe nói tôi là một thanh niên rất đáng khen, nên an tâm rằng tiền của mình sẽ nằm trong bàn tay xứng đáng.

Tất nhiên, tôi chỉ còn biết ấp úng cảm ơn.

Tờ chúc thư đã soạn xong, được thư kí của tôi kí làm chứng theo đúng thể thức.

Nó nằm trên liên xanh đây, còn mấy tờ này, như tôi vừa giải thích, là bản nháp.

Rồi ông Jonas Oldacre cho tôi biết là có một số tài liệu - hợp đồng xây dựng, bằng khoán, văn tự thế chấp, chứng thư, vân vân - mà tôi cần xem và tìm hiểu.

Ông ta nói đến khi nào chuyện này xong xuôi thì ông ta mới yên trí được, nên cố nài tôi mang tờ chúc thư đến nhà ông ta tại Norwood vào tối hôm đó để thu xếp công việc.

'Con trai ạ, nhớ là không được nói tiếng nào với cha mẹ về việc này cho đến khi tất cả đã xong xuôi.

Chúng ta sẽ giữ kín để cho họ một bất ngờ nho nhỏ.' Ông ta rất dứt khoát về điểm này và bắt tôi hứa chắc chuyện đó.

Ông Holmes, ông có thể hình dung là tôi không muốn từ chối bất kì điều gì ông ta đòi hỏi.

Ông ta là người gia ơn cho tôi, nên tôi chỉ mong có thể thực hiện những nguyện vọng của ông ta từng li từng tí.

Vì vậy tôi đánh điện về nhà, báo rằng tôi có việc quan trọng, không biết khi nào mới xong, ông Oldacre nói muốn tôi ăn tối với ông ta lúc 9 giờ, vì có lẽ ông ta không thể về sớm hơn.

Tuy vậy, tìm nhà ông ta hơi khó nên gần 9 rưỡi tôi mới tới nơi.

Tôi thấy ông ta..."

"Khoan đã!"

Holmes nói.

"Ai ra mở cửa?"

"Một bà đứng tuổi, tôi cho là quản gia của ông ta."

"Tôi đoán chừng bà ta là người báo tên anh cho cảnh sát?"

"Đúng vậy", McFarlane nói.

"Xin hãy kể tiếp!"

McFarlane lau vầng trán lấm tấm mồ hôi rồi tiếp tục thuật lại.

"Bà này dẫn tôi vào một phòng khách đã bày sẵn một bữa tối đạm bạc.

Sau đó, ông Jonas Oldacre dẫn tôi vào phòng ngủ, trong đó có một cái két sắt nặng, ông ta mở két, lấy ra cả mớ tài liệu rồi chúng tôi cùng nhau xem xét kĩ lưỡng.

Khi chúng tôi xem xong thì đã 11, 12 giờ.

Ông ta nói chúng tôi không nên làm phiền bà quản gia.

Ông ta dẫn tôi ra ngoài qua cửa kính sau vẫn để ngỏ nãy giờ."

"Có buông rèm không?"

Holmes hỏi.

"Tôi không dám chắc, nhưng tôi tin rằng nó chỉ buông hờ.

Phải rồi, tôi nhớ ông ta đã kéo nó lên để mở toang cửa.

Tôi không thấy cây gậy của mình đâu, ông ta bèn nói: 'Không sao, con trai ạ, hi vọng từ giờ ta sẽ còn gặp con nhiều, vậy nên ta sẽ giữ cây gậy cho đến khi con quay lại lấy.' Tôi từ biệt ông ta ở đó, cái két sắt vẫn để mở, còn giấy tờ thì đã xếp thành từng gói trên bàn.

Lúc ấy khuya quá, tôi không thể về Blackheath nên đành qua đêm tại Anerley Arms, rồi tôi không biết gì nữa cho đến sáng nay mới đọc thấy báo đưa tin về vụ việc khủng khiếp này."

"Ông còn muốn hỏi thêm gì không, ông Holmes?"

Lestrade nói, ông ta đã nhướng mày đồi lần trong lúc lắng nghe những lời giải thích lạ lùng này.

"Đợi đến khi tôi tới Blackheath đã."

"Đến Norwood chứ", Lestrade nói.

"À, phải, tôi định nói vậy đấy", Holmes nói, mỉm cười bí hiểm.

Qua bao kinh nghiệm, Lestrade - tay không chịu thừa nhận tất cả - đã hiểu rằng bộ óc sắc bén đó có thể nhìn thấu thứ mà ông ta không tài nào hiểu nổi.

Tôi thấy ông ta nhìn bạn tôi với vẻ thắc mắc.

"Tôi nghĩ tôi có điều này cần nói với ông, ông Sherlock Holmes", ông ta nói.

"Nào, ông McFarlane hai cảnh sát của tôi đang đứng ở cửa và một xe bốn bánh đang chờ."

Chàng trai khốn khổ đứng lên, liếc nhìn chúng tôi lần cuối vẻ khẩn cầu rồi rời khỏi phòng.

Mấy viên cảnh sát dẫn giải anh ta ra xe, còn Lestrade thì vẫn nán lại.

Holmes nhặt mấy tờ nháp của bản chúc thư lên xem, vẻ mặt hết sức chăm chú.

"Tài liệu đó có mấy điểm đáng chú ý, phải không Lestrade?"

Anh vừa nói vừa đẩy mấy tờ giấy qua.

Viên thanh tra nhìn mấy tờ giấy, vẻ lúng túng.

"Tôi đọc được dăm dòng đầu, mấy dòng ở giữa trang thứ hai và vài dòng cuối.

Mấy dòng đó thì rõ như in", anh ta nói, "nhưng những chỗ còn lại thì viết tháu lắm, có ba chỗ tôi không đọc được gì cả."

"Ông hiểu sao về điều đó?"

Holmes nói.

"Ờ, thế ông thì sao?"

"Bức chúc thư này được viết trên tàu hỏa.

Chữ viết rõ ràng tương ứng với lúc đến ga, chỗ viết nguệch ngoạc tương ứng với lúc tàu chạy, còn chỗ viết hết sức lộn xộn tương ứng với những lúc đi qua chỗ bẻ ghi.

Một chuyên gia có phương pháp sẽ tuyên bố ngay rằng tờ chúc thư này được thảo trên một tuyến tàu ngoại ô, vì ngoài vùng phụ cận của một thành phố lớn ra, chẳng nơi nào có một loạt điểm bẻ ghi liên tiếp như vậy.

Giả sử ông ta bận thảo chúc thư trong suốt hành trình, vậy thì đó là một con tàu tốc hành, chỉ dừng một lần suốt chặng đường từ Norwood đến Cầu London."

Lestrade bật cười.

"Ông mà lôi mớ giả thuyết ra thì tôi chịu rồi, ông Holmes ạ", ông ta nói.

"Điều này thì có liên quan gì đến vụ án?"

"À, nó chứng thực lời khai của anh chàng kia ở chỗ bản chúc thư được Jonas Oldacre thảo ra trên đường đi ngày hôm qua.

Một tài liệu quan trọng như vậy mà lại được soạn một cách ẩu tả đến thế, chẳng lạ sao?

Thế nghĩa là ông ta không nghĩ nó quan trọng lắm.

Nếu một người soạn chúc thư mà không định bụng để cho nó có hiệu lực thì có thể làm như vậy?"

"Chà, cùng lúc đó ông ta cũng đã tự tạo ra án tử cho mình", Lestrade nói.

"Ồ, ông nghĩ thế ư?"

"Ông không nghĩ vậy sao?"

"À, chuyện đó thì có thể lắm chứ, nhưng tôi thấy vụ án vẫn chưa rõ ràng."

"Chưa rõ sao?

Chà, nó mà còn chưa rõ thì cái gì mới rõ đây?

Có một anh chàng bỗng dưng biết rằng, nếu một ông già nọ chết đi thì hắn sẽ được thừa kế một gia tài.

Hắn phải làm gì?

Hắn chẳng hé môi với ai mà lấy cớ tới gặp thân chủ của mình vào tối hôm đó.

Hắn chờ cho đến khi người duy nhất còn lại trong nhà đi ngủ rồi giết ông ta trong căn phòng vắng vẻ, sau đó thiêu cái xác trong đống gỗ và bỏ về một khách sạn gần đó.

Mấy vết máu trong phòng và trên cây gậy đều rất mờ nhạt.

Có lẽ hắn tưởng tội ác của mình không vấy máu, và hi vọng nếu cái xác cháy rụi thì sẽ che giấu được mọi vết tích về cách thức gây án - bởi những dấu vết ấy hẳn sẽ vạch mặt hắn vì lí do này khác.

Tất cả những điều này còn chưa rõ rành rành hay sao?"

"Ông bạn Lestrade ơi, vì nó rõ rành rành quá nên mới làm tôi phải chú ý đấy", Holmes nói.

"Ông có nhiều phẩm chất tuyệt vời nhưng lại chẳng chịu tưởng tượng gì cả.

Nếu đặt mình vào địa vị của chàng trai này thì ông có chọn ngay cái đêm sau khi lập chúc thư để gây án không?

Ông không thấy việc tạo một mối liên hệ chặt chẽ như vậy giữa hai sự việc là quá nguy hiểm sao?

Còn nữa, ông có chọn một dịp mà người ta biết ông có mặt trong căn nhà ấy, đặc biệt là khi có một người hầu mở cửa cho ông vào không?

Và cuối cùng, ông có cất công giấu cái xác nhưng lại bỏ lại cây gậy - một vật chứng cho thấy ông là thủ phạm?

Hãy thừa nhận đi, Lestrade, tất cả những điều này rất khó xảy ra."

"Ông Holmes này, về phần cây gậy thì ông cũng như tôi đều quá rõ là tội phạm thường luống cuống nên phạm sai lầm mà người điềm tĩnh sẽ tránh.

Rất có thể hắn sợ phải quay lại phòng.

Cho tôi một giả thuyết khác khớp với các tình tiết đi!"

"Tôi có thể dễ dàng cho ông tận năm, sáu giả thuyết," Holmes nói.

"Chẳng hạn, có một giả thuyết rất khả dĩ và thậm chí có thể xảy ra.

Tôi biếu không ông đây!

Ông lão đang bày ra mấy tài liệu có giá trị.

Một gã ất ơ đi ngang qua, nhìn thấy chúng qua cửa kính có rèm buông hờ.

Anh chàng luật sư đi ra.

Gã ất ơ bước vào.

Hắn ta chộp lấy cây gậy mà hắn nhìn thấy, giết Oldacre rồi bỏ đi sau khi đã thiêu cái xác."

"Sao gã ất ơ lại phải thiêu cái xác?"

"Vậy sao McFarlane phải thiêu nó?"

"Để che giấu một chứng cứ nào đó."

"Có lẽ gã ất ơ muốn giấu giếm rằng không có án mạng nào cả."

"Thế sao gã ất ơ lại chẳng lấy thứ gì?"

"Vì đó là những giấy tờ mà hắn không thể chuyển nhượng."

Lestrade lắc đầu, dù thái độ của ông ta dường như không còn quả quyết như trước nữa.

"Thôi được, ông Sherlock Holmes, ông cứ việc tìm kiếm gã ất ơ đó, trong lúc ông tìm hắn, chúng tôi sẽ giữ người vừa bắt.

Tương lai sẽ cho thấy giả thuyết nào là đúng.

Chỉ cần ông lưu ý điểm này, ông Holmes: Theo những gì chúng tôi biết, chẳng có giấy tờ nào bị lấy đi, và trên đời này chỉ có gã phạm nhân kia là không có lí do gì để lấy chúng, vì hắn ta là người thừa kế hợp pháp nên bất luận thế nào cũng sẽ được hưởng."

Bạn tôi có vẻ bất ngờ vì lời nhận xét này.

"Tôi không phủ nhận rằng về một số mặt thì chứng cứ ủng hộ rất manh mẽ cho giả thuyết của ông", anh nói.

"Tôi chỉ muốn đưa ra quan điểm là còn có những giả thuyết khả dĩ khác.

Như ông nói, tương lai sẽ phán xử.

Chào ông!

Tôi dám chắc rằng nội trong ngày hôm nay tôi sẽ ghé qua Norwood xem các ông xoay xở ra sao."

Khi viên thanh tra đi rồi, bạn tôi đứng lên, chuẩn bị cho công việc trong ngày với vẻ lanh lợi của người có một nhiệm vụ xứng hợp đang chờ.

"Watson này", anh vừa nói vừa hối hả mặc áo khoác, "như tôi đã nói, bước đi đầu tiên của tôi là tới Blackheath."

"Sao không phải là Norwood?"

"Bởi vì trong vụ này ta có một sự việc đáng chú ý đi liền sau một sự việc đáng chú ý khác.

Cảnh sát đang phạm sai lầm khi chỉ tập trung chú ý vào sự việc thứ hai, vì nó tình cờ có tính chất hình sự.

Nhưng tôi lại thấy rõ phương cách tiếp cận vụ án hợp lí là phải cố làm sáng tỏ sự việc ban đầu trước đã - tờ chúc thư kì lạ được lập ra rất thình lình và dành cho một người thừa kế không thể nào ngờ được.

Điều đó có thể làm cho sự việc tiếp theo trở nên đơn giản hơn.

Không, bạn thân ơi, tôi nghĩ là anh không giúp gì được cho tôi đâu.

Cũng chẳng có gì nguy hiểm, nếu không tôi nào dám mong ra khỏi nhà mà không có anh đi cùng.

Tôi hi vọng đến chiều tối gặp lại anh, tôi có thể thông báo rằng mình đã làm được điều gì đó cho chàng trai bất hạnh đã nhờ cậy tôi bênh vực."

***

Khi bạn tôi về thì trời đã tối, và chỉ thoáng nhìn bộ mặt phờ phạc, lo âu của anh, tôi biết những kì vọng của anh lúc sắp lên đường vẫn chưa thực hiện được.

Anh ngồi cả giờ bên chiếc vĩ cầm, cố xoa dịu tinh thần đang xáo động.

Cuối cùng anh ném cây đàn xuống rồi bắt đầu thuật lại cặn kẽ những rủi ro của mình.

"Sai cả rồi, Watson à...

Mọi chuyện sai thật rồi.

Trước mặt Lestrade, tôi cứ làm mặt tỉnh bơ, nhưng trong thâm tâm, tôi tin là lần này ông ta đang đi đúng đường còn chúng ta đã sai hướng.

Trực giác của tôi đi một đằng còn mọi bằng chứng lại theo một nẻo, và tôi sợ rằng bồi thẩm đoàn của Anh quốc chưa đủ thông minh để ưu ái các giả thuyết của tôi hơn các bằng chứng của Lestrade."

"Anh có đến Blackheath không?"

"Có, Watson à, tôi đến đấy rồi, và chẳng mấy chốc đã biết được rằng gã Oldacre quá cố là một kẻ khá đê tiện.

Người cha đang đi tìm con trai.

Bà mẹ thì ở nhà - đó là một người phụ nữ bé nhỏ, mắt xanh, da dẻ mịn màng, đang rối bời vì sợ hãi và phẫn nộ.

Tất nhiên, bà ta sẽ chẳng chịu thừa nhận khả năng anh ta có tội.

Nhưng bà ta cũng chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên hay thương tiếc cho số phận của Oldacre.

Trái lại, khi nhắc đến hắn, bà ta gay gắt đến độ vô tình củng cố đáng kể cho giả định của cảnh sát, vì lẽ tất nhiên, anh con trai mà nghe bà ta nói về Oldacre như thế thì sẽ có khuynh hướng căm thù và dùng vũ lực với ông ta.

'Hắn ta giống một con đười ươi hung ác và xảo quyệt hơn là một con người', bà ta nói, 'Hắn vẫn luôn như vậy từ thời trai trẻ.'

'Hồi ấy bà có quen ông ta?' Tôi hỏi.

'Phải, tôi biết hắn rất rõ.

Thực ra, hắn từng theo đuổi tôi.

Nhờ trời, tôi đã sáng suốt mà từ chối hắn và lấy một người tử tế hơn, dù nghèo hơn.

Tôi đã đính ước với hắn, ông Holmes ạ, thì nghe được câu chuyện kinh hoàng là hắn đã thả mèo vào chuồng chim.

Tôi quá ghê sợ sự độc ác tàn nhẫn của hắn nên không còn muốn dính dáng gì đến hắn'.

Bà ta lục lọi trong chiếc tủ thấp rồi chìa ra tấm hình chụp một người phụ nữ bị dao rạch chằng chịt.

'Hình tôi đấy', bà ta nói.

'Hắn gởi tấm hình bị rạch nát cho tôi kèm theo lời nguyền rủa vào buổi sáng tôi làm lễ cưới.'

'Vâng', tôi nói, 'nhưng ít ra bây giờ ông ta đã tha thứ cho bà, vì ông ta đã để lại toàn bộ gia sản cho con trai bà.'

'Cả tôi và con trai tôi đều không cần bất cứ thứ gì từ Jonas Oldacre, kể cả lúc hắn còn sống hay đã chết', bà ta khẳng khái thốt lên.

'Chúa ở trên trời, ông Holmes ạ, ngài đã trừng phạt con người độc ác ấy và ngài cũng sẽ chứng minh rằng bàn tay con trai tôi không vấy máu của hắn.'

Đấy, tôi đã thử lần theo vài ba manh mối nhưng chẳng tìm được gì củng cố cho giả thuyết của ta, có những điểm còn bác lại nó nữa.

Cuối cùng tôi đành chịu thua và bỏ đi Norwood.

Biệt thự Thung Sâu là một biệt thự lớn, hiện đại, tường ốp gạch nổi bật, nằm sâu trong khuôn viên, đằng trước là một bãi cỏ trồng nguyệt quế.

Xưởng cưa - hiện trường của vụ cháy thì nằm ở bên phải và cách đường đi một quãng.

Tôi có phác qua sơ đồ trong cuốn sổ tay đây.

Cửa bên trái này chính là cửa phòng Oldacre.

Đứng ở ngoài đường ta có thể nhìn được vào bên trong, anh thấy đấy.

Đó gần như là chút an ủi duy nhất của tôi trong ngày hôm nay.

Lestrade không có ở đấy nhưng tay cảnh sát chỉ huy dưới quyền anh ta đã tiếp tôi chu đáo.

Bọn họ vừa tìm được cả một kho báu.

Họ đã cào bới kĩ đám tro tàn của đống gỗ cháy suốt buổi sáng, ngoài những phần thi thể đã bị cháy thành than ra thì còn tìm được mấy miếng kim loại hình tròn không còn màu sắc gì.

Tôi đã xem xét cẩn thận và tin chắc đó là khuy quần dài.

Tôi thậm chí còn phát hiện ra một cái có tên Hyams, thợ may của Oldacre.

Tôi bèn sục sạo kĩ lưỡng khắp bãi cỏ để tìm dấu vết, nhưng trời nắng hạn đã làm cho mặt đất rắn lại như sắt.

Tôi chẳng nhìn thấy gì ngoại trừ vết tích của một cái xác hay đống gì đó bị kéo lê qua bờ giậu thủy lạp thấp nằm thẳng hàng với đống gỗ.

Lẽ đương nhiên, tất cả những thứ ấy đều khớp với giả thuyết của cảnh sát.

Tôi trườn khắp bãi cỏ trong khi nắng tháng 8 thiêu đốt trên lưng, nhưng một giờ sau, khi đứng lên, tôi vẫn không biết được gì hơn.

Thế rồi, sau thảm bại này, tôi vào phòng ngủ và xem xét ở đó.

Mấy vệt máu mờ lắm, chỉ là những vết nhòe không màu sắc, nhưng rõ ràng vẫn còn mới.

Cây gậy đã bị lấy đi, nhưng những dấu vết trên đó cũng rất mờ.

Chuyện cây gậy thuộc về thân chủ của chúng ta thì quá rõ rồi.

Anh ta đã thừa nhận điều đó.

Có thể nhìn ra dấu chân của cả hai trên thảm, nhưng không thấy dấu chân của người thứ ba.

Lại một bàn thắng cho bên kia.

Họ cứ đều đều ghi điểm còn ta thì bế tắc.

Tôi chỉ tìm thấy một tia hi vọng nhỏ nhoi, vậy mà rốt cuộc cũng chẳng đi tới đâu.

Tôi kiểm tra kĩ những thứ ở trong két sắt, hầu hết trong số đó đã được lấy ra và để trên bàn.

Giấy tờ được bỏ vào từng phong bì niêm phong, một hai cái đã được cảnh sát mở ra.

Theo tôi nhận định, giá trị của chúng không lớn, sổ sao kê tài khoản còn cho thấy ông Oldacre không dư dả lắm.

Nhưng tôi cảm thấy hình như chỗ giấy tờ đó chưa đủ.

Nghe nói còn có một số chứng thư nào đó - có giá trị hơn không chừng - nhưng tôi không tìm thấy.

Dĩ nhiên, nếu ta chứng minh được rõ ràng điều này thì lí lẽ của Lestrade sẽ bác lại giả thuyết của ông ta, vì ai lại đi đánh cắp một thứ mà chẳng bao lâu nữa mình sẽ được thừa hưởng chứ?

Cuối cùng, sau khi mở hết chỗ phong bì đựng giấy tờ mà vẫn không đánh hơi được gì, tôi thử vận may với bà quản gia.

Bà ta tên là Lexington - một người nhỏ thó, da ngăm, ít nói và có cặp mắt láo liên đầy khả nghi, tôi tin chắc rằng nếu muốn thì bà ta đã cho chúng ta biết được đôi điều.

Nhưng miệng bà ta kín như bưng.

Đúng là bà ta có mở cửa cho anh chàng McFarlane vào lúc 9 giờ rưỡi.

Bà ta nói ước gì bàn tay mình quắt queo đi trước khi làm vậy.

Bà ta đi ngủ lúc 10 giờ rưỡi.

Phòng của bà ta nằm ở đầu kia căn nhà nên bà ta không nghe thấy chuyện gì xảy ra.

Bà ta chỉ biết chắc một điều là anh McFarlane đã để lại mũ và cây gậy ở tiền sảnh.

Bà ta tỉnh dậy vì nghe thấy tiếng báo cháy, ông chủ kính mến, đáng thương của bà ta chắc chắn đã bị sát hại.

Ông ta có kẻ thù nào không?

Ôi, ai mà chẳng có kẻ thù, nhưng ông Oldacre rất ít giao du, và chỉ gặp gỡ người khác vì chuyện làm ăn.

Nhìn thấy mấy cái nút, bà ta khẳng định chắc nịch chúng chính là khuy quần áo của bộ đồ ông ta mặc tối qua.

Đống củi khô róm, vì cả tháng rồi không có lấy một giọt mưa.

Nó cháy như bùi nhùi nên khi bà ta đến nơi thì chẳng còn thấy gì ngoài lửa.

Bà ta và tất cả lính cứu hỏa đều ngửi thấy mùi da thịt khét lẹt tỏa ra từ trong đám cháy.

Bà ta không biết gì về đống giấy tờ cũng như những việc riêng của ông Oldacre.

Đấy, Watson thân mến ơi, tôi đã thuật lại cho anh nghe thất bại của tôi rồi đấy.

Thế nhưng... thế nhưng...", anh siết chặt hai bàn tay gầy vì một niềm tin chắc nịch đột ngột bùng lên, "tôi biết là sai cả rồi!

Tôi cảm thấy chắc chắn như vậy.

Vẫn còn điều gì đó chưa hé lộ mà mụ quản gia biết.

Trong mắt mụ có cái vẻ ngông nghênh, thách thức vốn chỉ có ở những người biết rõ về một hành vi sai trái nào đó.

Tuy nhiên, có nói thêm về chuyện đó cũng chẳng ích gì, Watson ạ; nhưng nếu ta không gặp may thì tôi e rằng vụ Mất tích ở Norwood sẽ không có mặt trong bản ghi chép thành tích của ta mà tôi đã thấy trước là sớm muộn gì đám công chúng kiên nhẫn cũng phải chịu đựng."

"Chắc hẳn", tôi nói, "vẻ ngoài của anh chàng này có thể gây cảm tình với bất cứ bồi thẩm đoàn nào chứ?"

"Lập luận đó nguy hiểm đấy, Watson thân mến.

Anh nhớ gã sát nhân Bert Stevens ghê gớm muốn ta gỡ tội cho hắn hồi năm 1887 không?

Đã bao giờ có chàng trai nào thanh lịch, ngoan đạo hơn chưa?"

"Đúng vậy."

"Nếu ta không lập được một giả thuyết khác, anh chàng này sẽ thua.

Anh khó lòng tìm được sơ hở nào trong vụ án mà anh ta đang bị kết tội, và mọi điều tra tiếp theo đều chỉ củng cố thêm tội trạng của anh ta mà thôi.

Mà này, đám giấy tờ đó có một điểm nhỏ kì lạ mà ta có thể dùng làm xuất phát điểm cho một cuộc điều tra.

Khi xem xét cuốn sổ sao kê tài khoản, tôi thấy tình trạng số dư thấp chủ yếu là do những tờ chi phiếu có giá trị lớn cho ông Cornelius trong suốt năm ngoái.

Thú thật là tôi rất hứng thú muốn biết ông Cornelius này là ai mà một chủ thầu về hưu lại có những giao dịch lớn với ông ta như vậy.

Không lẽ ông ta có nhúng tay vào vụ này?

Cornelius có thể là một nhà môi giới, nhưng ta chưa tìm thấy chứng thư nào tương ứng với các khoản thanh toán lớn này.

Vì không có dấu vết nào khác nên giờ đây tôi sẽ phải chuyển hướng điều tra về phía nhà băng của quý ông đã đổi mấy chi phiếu này thành tiền mặt.

Nhưng anh bạn ơi, tôi e rằng vụ án sẽ khép lại nhục nhã khi Lestrade treo cổ thân chủ của ta, điều đó đương nhiên là một đại thắng cho Sở Cảnh sát London."

Tôi không biết đêm đó Sherlock Holmes có ngủ được chút nào không, nhưng khi xuống nhà ăn điểm tâm, tôi thấy anh xanh xao, căng thẳng, đôi mắt vốn đã sáng càng sáng ngời hơn vì những quầng thâm bao quanh.

Mặt thảm quanh ghế anh ngồi vương vãi đầu mẩu thuốc lá và mấy tờ báo sáng cũ.

Một bức điện tín để mở trên bàn.

"Anh nghĩ sao về cái này, Watson?"

Anh hỏi, ném nó qua.

Bức điện từ Norwood, có nội dung như sau:

Đã có chứng cứ mới quan trọng.

Tội trạng của McFarlane được xác minh rõ ràng.

Khuyên ông từ bỏ vụ án.

LESTRADE

"Nghe có vẻ nghiêm trọng đấy", tôi nói

"Tiếng gáy huênh hoang chiến thắng của Lestrade ấy mà", Holmes đáp, mỉm cười chua chát.

"Thế nhưng có lẽ vẫn còn quá sớm để từ bỏ vụ này.

Suy cho cùng, chứng cứ mới quan trọng là một con dao hai lưỡi, nó có thể chém về một hướng rất khác so với Lestrade hình dung.

Dùng điểm tâm đi, Watson, rồi ta sẽ cùng ra ngoài để xem ta có thể làm được gì.

Tôi cảm thấy hôm nay tôi sẽ cần anh bầu bạn và ủng hộ tinh thần."

Anh bạn tôi không dùng điểm tâm, vì anh có thói quen kì quặc là vào những lúc căng thẳng, anh không cho phép mình ăn uống.

Tôi biết anh từng lạm dụng thể lực rắn rỏi của bản thân cho đến khi ngất xỉu vì đói lả.

"Vào lúc này, tôi không thể dành năng lượng và tinh thần cho việc tiêu hóa được", anh thường trả lời như vậy khi tôi quở trách anh trên phương diện y khoa.

Vì vậy, tôi không ngạc nhiên khi sáng nay anh bỏ bữa rồi cùng tôi lên đường tới Norwood.

Một đám đông hiếu kì về vụ án mạng vẫn còn xúm xít quanh biệt thự Thung Sâu, nó đúng là một tòa biệt thự ở vùng ngoại ô như tôi đã hình dung.

Lestrade đứng bên trong cổng đón chúng tôi, mặt ửng hồng vì chiến thắng, dáng vẻ hết sức đắc thắng.

"Sao, ông Holmes, ông chứng minh được là chúng tôi sai chưa?

Ông đã tìm ra gã ất ơ của ông chưa?"

Ông ta kêu lên.

"Tôi chưa có kết luận nào cả", bạn đồng hành của tôi trả lời.

"Còn chúng tôi thì có kết luận từ hôm qua rồi, và giờ thì nó đã được xác thực là đúng, vì vậy ông phải công nhận là lần này chúng tôi đã vượt ông một bước, ông Holmes."

"Nhìn bộ dạng ông như thể đã có chuyện gì đó bất thường xảy ra vậy", Holmes nói.

Lestrade cười khanh khách.

"Ông cũng không thích bị thua như bất kì ai trong chúng tôi", ông ta nói.

"Người ta đâu thể mong mọi sự lúc nào cũng theo ý mình, phải thế không bác sĩ Watson?

Vui lòng bước lối này, quý vị, tôi nghĩ mình có thể một lần dứt khoát thuyết phục các vị tin rằng chính John McFarlane đã phạm tội ác này."

Ông ta dẫn chúng tôi đi hết hành lang rồi bước vào một tiền sảnh âm u.

"Đây là nơi anh chàng McFarlane đã ra lấy mũ sau khi gây án", ông ta nói.

"Nào, nhìn đây".

Ông ta bất thần quẹt diêm rồi đưa lên soi một vết máu trên bức tường quét vôi trắng.

Khi ông ta đưa que diêm lại gần hơn, tôi thấy đó không chỉ là một vết máu.

Đó là dấu ngón tay cái in rõ nét.

"Dùng kính lúp mà xem đi, ông Holmes."

"Vâng, tôi đang làm vậy đây."

"Ông biết rằng không có hai dấu vân tay nào giống nhau chứ?"

"Tôi có nghe điều gì đó đại loại như vậy."

"À, vậy thì xin ông vui lòng đối chiếu dấu tay đó với mẫu sáp in dấu ngón tay cái trên bàn tay phải của anh chàng McFarlane này, được lấy hồi sáng nay theo lệnh của tôi."

Khi ông ta đưa mẫu sáp lại gần vết máu, chẳng cần kính lúp cũng nhận thấy hai dấu tay này chắc chắn được in ra từ một ngón tay cái.

Hiển nhiên là thân chủ đen đủi của chúng tôi thua rồi.

"Vậy là xong", Lestrade nói

"Phải, vậy là xong", tôi buột miệng phụ họa.

"Vậy là xong", Holmes nói

Nghe giọng điệu anh có gì đó khác thường nên tôi quay lại nhìn.

Biểu cảm trên mặt anh đã thay đổi đến không ngờ.

Anh phải nhăn mặt lại vì che giấu nỗi mừng rỡ ngấm ngầm.

Hai mắt anh sáng long lanh.

Tôi thấy dường như anh đang cố hết sức để không bật cười ngặt nghẻo.

"Trời ơi!

Trời ơi!"

Cuối cùng anh nói.

"Ai mà ngờ được chứ?

Vẻ ngoài đúng là dễ đánh lừa thật!

Nhìn anh ta rõ là tử tế!

Đó là một bài học cho chúng ta, đừng nên tin vào phán đoán của mình, đúng không Lestrade?"

"Phải, một số người trong chúng ta có cái thói tự phụ quá thể, ông Holmes à", Lestrade nói.

Sự xấc xược của gã này thực khiến người khác tức điên, nhưng chúng tôi không thể hậm hực được.

"Quả là may vì khi lấy mũ trên mắc anh chàng này lại ấn ngón tay cái lên tường!

Ngẫm ra thì hành động đó cũng tự nhiên thôi."

Bề ngoài Holmes rất thản nhiên nhưng khi nói, cả người anh cứ máy động vì phải kiềm chế sự phấn chấn.

"Mà này, Lestrade, phát hiện đáng chú ý này là của ai vậy?"

"Bà quản gia Lexington, bà ta đã chỉ cho viên cảnh sát trực đêm."

"Lúc ấy anh cảnh sát trực đêm đó đang ở đâu?"

"Anh ta đang trực trong căn phòng ngủ xảy ra án mạng, để canh không cho ai động đến thứ gì."

"Nhưng tại sao hôm qua cảnh sát lại không thấy dấu này?"

"À, chúng tôi không có lí do gì đặc biệt để khám xét tiền sảnh kĩ càng như thế.

Vả lại, chỗ này không dễ thấy cho lắm, ông thấy đấy."

"Phải, phải, tất nhiên là không dễ thấy, ông có chắc dấu tay này đã có ở đấy từ hôm qua?"

Lestrade nhìn Holmes như thể nghĩ anh sắp mất trí.

Thú thật là chính tôi cũng ngạc nhiên vì kiểu cách bông đùa và lời nhận xét khá vu vơ của anh.

"Tôi không biết có phải ông cho rằng giữa đêm hôm McFarlane trốn khỏi nhà lao để củng cố bằng chứng bất lợi cho mình không", Lestrade nói.

"Tôi thách bất cứ chuyên gia nào trên đời này chứng minh được đó không phải là dấu ngón tay cái của anh ta đấy!"

"Đương nhiên đó là dấu ngón tay cái của anh ta rồi."

"Đấy, vậy là đủ rồi", Lestrade nói.

"Tôi là người thực tế, ông Holmes, nên hễ có chứng cứ là tôi đi đến kết luận.

Nếu ông muốn nói thêm điều gì thì hãy tới tìm tôi ở phòng khách, tôi sẽ ngồi viết báo cáo ở đấy."

Holmes đã điềm đạm trở lại, song dường như tôi vẫn thấy đôi nét khoái trá lóe lên trên mặt anh.

"Trời ơi, diễn biến này đáng buồn quá, phải không Watson?"

Anh nói.

"Vậy nhưng trong đó lại có vài điểm kì lạ mang lại chút hi vọng cho thân chủ của ta."

"Tôi rất mừng khi nghe vậy", tôi nói thật lòng.

"Tôi cứ sợ là anh ta đã tiêu tùng rồi."

"Tôi không dám nói xa đến thế, Watson thân mến.

Thực ra, trong bằng chứng mà ông bạn của chúng ta cho là quan trọng lại có một kẽ hở nghiêm trọng."

"Thật sao, Holmes!

Là gì vậy?"

"Chỉ là, tôi biết dấu tay đó không hề có trên tường lúc tôi xem xét tiền sảnh ngày hôm qua.

Nào, Watson, ta đi dạo một vòng trong nắng đi!"

Đầu óc rối bời nhưng trái tim đã lại nhen nhóm một tia hi vọng ấm áp, tôi theo bạn đi dạo quanh vườn.

Holmes lần lượt đi tới từng mặt nhà và xem xét cực kì chăm chú.

Rồi anh bước vào trong và đi khắp tòa nhà, từ tầng hầm lên gác mái.

Đa số các phòng đều trống trơn nhưng Holmes vẫn kiểm tra thật tỉ mỉ.

Cuối cùng, ở hành lang tầng trên cùng, chạy dọc bên ngoài ba phòng ngủ bỏ không, anh lại trở nên hồ hởi.

"Quả thực vụ này có một số điểm rất lạ đời, Watson ạ", anh nói.

"Tôi nghĩ đã đến lúc tiết lộ cho ông bạn Lestrade biết rồi.

Ông ta đã cười cợt chúng ta, và ta có thể đáp lại y như thế nếu suy luận của tôi về chuyện này là đúng.

Phải, phải, tôi nghĩ tôi đã biết cách tiếp cận nó rồi."

Viên thanh tra của Sở Cảnh sát London vẫn đang ngồi viết trong phòng khách thì bị Holmes cắt ngang.

"Tôi đoán là ông đang viết tường trình về vụ này", anh nói.

"Đúng vậy."

"Ông không thấy làm vậy là hơi sớm sao?

Tôi không thể không nghĩ rằng bằng chứng của ông vẫn chưa đầy đủ."

Lestrade biết rõ bạn tôi đến mức không thể phớt lờ lời anh.

Ông ta đặt bút xuống rồi nhìn anh với vẻ tò mò.

"Ý ông là sao, ông Holmes?"

"Có một nhân chứng quan trọng mà ông chưa gặp."

"Ông có thể đưa hắn tới đây được không?"

"Tôi nghĩ là được."

"Vậy thì làm đi!"

"Tôi sẽ cố hết sức.

Ông có mấy cảnh sát?"

"Có ba người đang ở ngay đây."

"Tuyệt!"

Holmes nói.

"Cho phép tôi hỏi họ có to cao, tráng kiện và có chất giọng sang sảng không?"

"Tôi tin chắc là vậy, dù tôi chưa hiểu giọng họ thì có liên quan gì."

"Tôi có thể giúp ông hiểu được điều đó và đôi điều khác nữa không chừng", Holmes nói.

"Vui lòng triệu tập cấp dưới của ông, rồi tôi sẽ thử."

Năm phút sau, ba viên cảnh sát đã tập hợp trong tiền sảnh.

"Các anh sẽ thấy có khá nhiều rơm trong gian nhà phụ", Holmes nói.

"Tôi muốn nhờ các anh mang vào hai bó.

Tôi nghĩ nó sẽ rất có ích trong việc đưa ra nhân chứng mà tôi cần...

Cảm ơn các anh nhiều lắm.

Watson này, tôi tin chắc trong túi anh có ít diêm.

Nào, Lestrade, mời tất cả theo tôi lên cầu thang trên cùng."

Như tôi đã nói, ở đó có một hành lang rộng, dọc theo đó là ba phòng ngủ bỏ trống.

Sherlock Holmes sắp chúng tôi đứng thành hàng ở một đầu hành lang, mấy tay cảnh sát toét miệng cười còn Lestrade thì nhìn bạn tôi chòng chọc, nỗi kinh ngạc, đợi chờ và nhạo báng cứ luân phiên thoáng hiện trên mặt ông ta.

Holmes đứng trước mặt chúng tôi với dáng vẻ của một tay ảo thuật gia đang diễn trò.

"Ông vui lòng cử một người đi lấy giúp tôi hai xô nước được không?

Hãy trải rơm lên sàn ở chỗ này, tránh hai bên tường ra.

Giờ thì tôi nghĩ ta đã sẵn sàng rồi."

Mặt Lestrade đỏ gay, giận dữ.

"Tôi không biết có phải ông đang bày trò với chúng tôi không, ông Sherlock Holmes", ông ta nói.

"Nếu ông biết gì thì cứ nói ra là được, cần gì mấy trò ngớ ngẩn này!"

"Lestrade ơi, tôi cam đoan rằng tôi có lí do cực là chính đáng cho mọi việc mình làm.

Có lẽ ông còn nhớ rằng vài giờ trước ông có châm chọc tôi chút đỉnh, lúc mọi bằng chứng đều ủng hộ giả thuyết của ông, thế nên bây giờ ông đừng hậm hực với tôi vì một chút bày vẽ kiểu cọ.

Watson này, cảm phiền anh mở cánh cửa sổ đó rồi châm diêm vào mé ngoài của đụn rơm, được không?"

Tôi làm theo, và rồi, nhờ làn gió lùa, một luồng khói xám cuộn lên dọc theo hành lang, đụn rơm khô lách tách bén lửa.

"Giờ ta phải xem có tìm được nhân chứng này cho ông không, Lestrade.

Cho phép tôi yêu cầu mọi người cùng hô: 'Cháy!' nhé?

Nào, bắt đầu, một, hai, ba..."

"Cháy!

Cháy!

Cháy!"

Tất cả chúng tôi cùng la lên.

"Cảm ơn.

Tôi muốn phiền các anh lần nữa."

"Cháy!

Cháy!

Cháy!"

"Một lần nữa thôi, quý vị, và đồng thanh nhé!"

"Cháy!

Cháy!

Cháy!"

Tiếng kêu ắt hẳn đã vang vọng khắp Norwood.

Tiếng hô chưa dứt hẳn thì một chuyện lạ lùng xảy ra.

Nơi tưởng chừng là một bức tường nguyên vẹn ở cuối hành lang bất thần mở ra một cánh cửa, một người đàn ông nhỏ thó, khô đét từ trong đó lao ra ngoài, như con thỏ vọt khỏi hang.

"Tuyệt diệu!"

Holmes điềm nhiên nói.

"Watson, hắt xô nước vào đống rơm đi.

Thế được rồi!

Lestrade, cho phép tôi giới thiệu với ông nhân chứng vắng mặt quan trọng, ông Jonas Oldacre."

Tay thanh tra ngây người nhìn sững kẻ mới xuất hiện.

Người kia còn đang hấp háy mắt trước ánh sáng chói lòa ở hành lang, rồi liếc nhìn chúng tôi và ngọn lửa chỉ còn âm ỉ.

Đó là một bộ mặt gớm ghiếc, xảo trá, hằn học, hiểm ác, cặp mắt xám nhạt gian giảo, hàng mi bạc trắng.

"Vậy là sao?"

Cuối cùng Lestrade nói.

"Bấy lâu nay ông làm gì vậy hả?"

Oldacre cười ngượng nghịu lo lắng, co rúm trước bộ mặt đỏ phừng đầy phẫn nộ của tay thanh tra đang tức giận.

"Tôi nào có làm hại ai."

"Không hại ai sao?

Ông đã cố tình khiến một người vô tội bị treo cổ.

Nếu không nhờ có quý ông đây, không khéo ông đã thành công."

Lão già xấu xa bật khóc thút thít

"Thưa ông, tôi chắc chắn đây chỉ là một trò đùa thôi."

"Ồ!

Trò đùa hả?

Tôi cam đoan là ông sẽ không cười được đâu.

Giải hắn xuống và giữ hắn trong phòng khách cho đến khi tôi tới.

Ông Holmes", ông ta nói tiếp khi họ đã đi, "tôi không thể nói điều này trước mặt thuộc cấp, nhưng trước mặt bác sĩ Watson đây, tôi không ngại nói rằng đây là điều tài ba nhất ông từng làm, dù tôi vẫn chưa hiểu sao ông lại làm được như vậy.

Ông đã cứu mạng một người vô tội và ngăn chặn được một vụ tai tiếng nghiêm trọng sẽ hủy hoại thanh danh của tôi trong lực lượng."

Holmes mỉm cười, vỗ vai Lestrade.

"Thay vì bị hủy hoại, ông sẽ thấy tiếng tăm của mình nổi như cồn.

Chỉ cần sửa lại đôi chút trong bản báo cáo ông đang viết, họ sẽ hiểu được thanh tra Lestrade là người khó qua mặt đến mức nào."

"Thế ông không muốn tên mình xuất hiện sao?"

"Hoàn toàn không.

Công việc đã là phần thưởng rồi.

Có lẽ một ngày nào đó tôi cũng sẽ được vẻ vang khi tôi cho phép sử gia đầy nhiệt huyết của mình bày giấy mực ra lần nữa, phải không Watson?

Thôi, giờ ta sẽ xem bấy lâu nay con chuột này chui lủi ở đâu."

Một tấm vách ngăn bằng thạch cao chắn ngang hành lang ngăn ra một khoảng rộng chừng sáu foot hành lang, trên đó có một cánh cửa được ngụy trang khéo léo.

Bên trong được chiếu sáng nhờ mấy khe hở dưới mái đua.

Trong phòng có vài ba đồ đạc cùng lương thực dự trữ và ít sách vở, giấy tờ.

"Làm thầu xây dựng cũng có cái lợi đấy chứ", Holmes nói khi chúng tôi bước ra.

"Hắn tự bố trí được một nơi ẩn náu nho nhỏ mà không cần đồng bọn nào cả - tất nhiên là không kể mụ quản gia quý báu của hắn mà tôi phải mau chóng giao vào tay ông, Lestrade ạ."

"Tôi sẽ nghe theo lời khuyên của ông.

Nhưng làm sao mà ông biết chỗ này vậy, ông Holmes?"

"Tôi đã suy luận rằng gã này đang ẩn nấp trong nhà.

Khi tôi đi đi lại lại trên hành lang này và thấy nó ngắn hơn hành lang tương ứng bên dưới sáu foot thì gần như đã rõ hắn đang ở đâu.

Tôi nghĩ hắn chẳng có gan mà nằm im khi nghe báo cháy.

Tất nhiên là ta có thể vào mà tóm hắn, nhưng tôi thấy làm cho hắn tự lộ mặt thì thú vị hơn.

Vả chăng, tôi phải chơi khăm ông chút đỉnh, Lestrade, vì lời chế giễu lúc sáng."

"Ái chà, thưa ông, chắc chắn ông đã trả đũa được tôi chuyện đó rồi.

Nhưng làm sao mà ông biết hắn ta ở trong nhà cơ chứ?"

"Nhờ dấu ngón tay cái đấy, Lestrade.

Ông đã nói vụ này thế là xong, và đúng là vậy, nhưng theo một nghĩa khác hẳn.

Tôi biết hôm trước nó không hề có ở đấy.

Tôi luôn hết sức chú ý đến các chi tiết, ắt ông cũng đã nhận thấy, nên tôi đã xem xét kĩ tiền sảnh và chắc chắn rằng trên tường không có gì.

Do đó, dấu tay này đã được in lên hồi đêm."

"Nhưng bằng cách nào?"

"Đơn giản lắm.

Khi niêm phong mấy gói tài liệu, Jonas Oldacre đã bảo McFarlane gắn chặt một dấu niêm phong bằng cách ấn ngón tay cái lên lớp sáp mềm.

Chuyện đó được thực hiện nhanh chóng và tự nhiên đến mức tôi dám chắc chính chàng trai cũng không nhớ.

Rất có thể nó cứ diễn ra vậy thôi, nên chính Oldacre cũng không chỉ định sẽ dùng nó làm gì.

Nằm trong chỗ trốn của mình mà nghiền ngẫm vụ án, hắn chợt nhận ra mình có thể dùng dấu tay đó để tạo một bằng chứng kết tội hoàn toàn bất lợi cho McFarlane.

Việc đơn giản nhất đời đối với hắn là lấy dấu in sáp từ dấu niêm phong, thấm nó vào chỗ máu mà hắn dùng kim chích ra, rồi đêm đến ấn dấu tay lên tường, hoặc là tự tay làm hoặc là nhờ mụ quản gia.

Nếu ông lục soát trong mớ tài liệu hắn mang theo vào chỗ trú ẩn, tôi đánh cuộc là ông sẽ thấy miếng sáp có dấu ngón tay cái in trên đó."

"Tuyệt vời!"

Lestrade nói.

"Tuyệt vời!

Theo lời ông nói, mọi sự đã rõ như ban ngày.

Nhưng mục đích của sự lừa dối thâm độc này là gì, ông Holmes?"

Nhìn thái độ hống hách của tay thanh tra bỗng nhiên biến thành thái độ của đứa học trò đang hỏi thầy giáo, tôi cảm thấy thú vị vô cùng.

"À, tôi nghĩ chuyện đó không khó giải thích lắm.

Quý ông đang chờ chúng ta ở dưới nhà là một kẻ rất hằn học, ranh ma và thâm hiểm, ông có biết hắn ta từng bị mẹ của McFarlane cự tuyệt chứ?

Rõ là không biết rồi!

Tôi đã khuyên ông đi Blackheath trước rồi mới đến Norwood mà.

Chà, nỗi đau này, như hắn nghĩ, đã giày vò trong đầu óc xấu xa, mưu mô của hắn, và cả đời hắn ước ao trả thù, nhưng chưa một lần có dịp.

Trong một, hai năm qua, chuyện làm ăn của hắn - tôi chắc là đầu cơ chui - không được thuận lợi, và hắn nhận ra mình đang lâm vào tình cảnh gay go.

Hắn quyết định lừa đảo các chủ nợ.

Vì mục đích này, hắn trả những tấm chi phiếu lớn cho một ông Cornelius nào đó, tôi đoán kẻ này cũng chính là hắn.

Tôi vẫn chưa lần theo mấy tấm chi phiếu đó, nhưng tôi tin chắc chúng được gửi vào nhà băng dưới cái tên giả ấy tại một thị trấn nào đó mà Oldacre thỉnh thoảng sống cuộc đời hai mặt.

Hắn đã tính thay tên đổi họ hẳn, rút khoản tiền này và biến mất, làm lại cuộc đời ở một nơi khác."

"Vâng, chuyện đó thì khá chắc chắn rồi."

"Hắn chợt nhận ra là nếu biến mất, hắn có thể cắt đuôi mọi chủ nợ, đồng thời có thể thừa sức trả thù người yêu dấu xưa một phen tan nát, nếu như hắn tạo được ấn tượng là mình bị đứa con duy nhất của bà ta sát hại.

Đó là một kiệt tác của sự đê hèn, và hắn đã thực hiện như một nghệ sĩ bậc thầy.

Ý đồ làm chúc thư đem lại một động cơ phạm tội rõ ràng, cuộc viếng thăm bí mật mà cha mẹ anh ta không biết, việc giữ lại cây gậy, những vết máu, xác động vật và mấy cái khuy trong đống gỗ, tất thảy đều đáng khâm phục.

Đó là một tấm lưới mà vài giờ trước tôi còn thấy dường như không thể thoát ra.

Nhưng hắn lại không được trời phú cho phẩm chất quan trọng nhất của người nghệ sĩ, đó là khả năng biết được điểm dừng.

Hắn muốn hoàn thiện thứ đã toàn bích - siết dây thừng quanh cổ nạn nhân xấu số chặt hơn nữa, vì vậy mà làm hỏng bét cả.

Ta xuống nhà thôi, Lestrade.

Tôi có dăm ba câu muốn hỏi hắn."

Kẻ hiểm ác đang ngồi trong phòng khách nhà hắn, hai cảnh sát đứng hai bên.

"Chỉ là một trò đùa thôi mà, thưa ông, một trò chơi khăm, không hơn", hắn cứ lải nhải.

"Tôi cam đoan với ông, thưa ông, là tôi chỉ trốn để xem nếu mình biến mất thì sẽ có ảnh hưởng thế nào, và tôi tin chắc ông sẽ không bất công đến độ cho rằng tôi sẽ để cậu McFarlane tội nghiệp gặp chuyện gì xấu."

"Chuyện đó hãy để bồi thẩm đoàn phân xử", Lestrade nói.

"Dù sao thì chúng tôi cũng sẽ cáo buộc ông tội mưu sát, nếu không khép được ông vào tội cố sát."

"Có lẽ ông cũng sẽ thấy các chủ nợ sung công tài khoản nhà băng của ông Cornelius", Holmes nói

Gã đàn ông nhỏ thó giật mình, hướng cặp mắt hiểm ác về phía bạn tôi.

"Tôi phải cảm ơn ông nhiều lắm", hắn nói.

"Có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ trả món nợ này."

Holmes mỉm cười vẻ khoan dung.

"Tôi cho rằng trong dăm ba năm tới ông sẽ không còn thời gian rảnh rỗi đâu", anh nói.

"Mà này, ngoài cái quần dài cũ ra ông còn bỏ gì vào đống củi vậy?

Một con chó chết, mấy con thỏ hay thứ gì thế?

Ông không chịu nói ư?

Trời ơi, ông xấu bụng quá!

Thôi được, thôi được, tôi dám chắc cả máu và tro đều là của mấy con thỏ.

Watson này, nếu anh định chép lại chuyện này thì cứ tùy ý viết là thỏ nhé!"
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
NHỮNG HÌNH NHÂN NHẢY MÚA (The Dancing Men, 1903)


Holmes ngồi im lìm đã vài giờ rồi, tấm lưng dài, gầy guộc khom xuống bên lọ hóa chất mà anh đang dùng để chế một thứ sản phẩm nặng mùi khác thường.

Đầu anh cúi gằm xuống ngực, nhìn từ chỗ tôi, trông anh như một con chim lêu đêu, kì lạ có bộ lông xám xỉn và cái mào đen.

"Watson này", anh bỗng nói, "vậy là anh không định đầu tư vào chứng khoán ở Nam Phi à?"

Tôi giật mình kinh ngạc.

Dù đã quen với những khả năng kì lạ của Holmes nhưng việc anh bất ngờ xâm nhập vào những ý nghĩ sâu kín nhất này khiến tôi cảm thấy cực kì khó hiểu.

"Làm sao anh biết chuyện đó?"

Tôi hỏi.

Anh xoay người trên chiếc ghế cao, tay cầm lọ ống nghiệm bốc hơi và đôi mắt sâu ánh lên vẻ thích thú.

"Này, Watson, thú thật là anh hết sức bất ngờ đi", anh nói.

"Phải."

"Phải bắt anh kí giấy xác nhận mới được."

"Sao vậy?"

"Vì chỉ năm phút sau anh sẽ nói chuyện đó đơn giản đến khó tin."

"Tôi chắc chắn sẽ không nói vậy đâu."

"Anh thấy đấy, Watson thân mến", anh dựng ống nghiệm lên giá rồi bắt đầu thuyết giáo với phong thái của một giáo sư giảng bài, "thiết lập một chuỗi suy luận cũng không hẳn là khó, mỗi suy luận đều dựa vào cái trước đó và bản thân nó thì đơn giản.

Sau đó, ta chỉ cần gạt phăng mọi suy luận ở giữa rồi trình bày cho cử tọa khởi điểm và kết luận là có thể khiến họ phải sửng sốt, dù ấn tượng ấy có thể chỉ là giả tạo.

Thế thì, bằng cách quan sát kẽ giữa ngón trỏ và ngón cái trên bàn tay trái của anh, sẽ không khó để xác quyết rằng là anh không định đầu tư khoản vốn ít ỏi vào mấy mỏ vàng."

"Tôi chẳng thấy có mối liên hệ nào cả."

"Rất có thể là không, nhưng tôi có thể chỉ ngay cho anh thấy một mối liên hệ mật thiết.

Đây là những mắt xích còn thiếu trong một xâu chuỗi rất đơn giản: 1.

Tối qua khi anh từ câu lạc bộ về thì giữa ngón trỏ và ngón cái trên bàn tay trái của anh có dính phấn.

2.

Khi chơi bi-a, anh bôi phấn vào đó để giữ vững cây cơ.

3.

Anh không bao giờ chơi bi-a trừ phi với Thurston.

4.

Bốn tuần trước, anh kể với tôi là Thurston định mua một bất động sản nào đó ở Nam Phi, trong vòng một tháng nữa sẽ hết hạn, và anh muốn hùn vốn với anh ta.

5.

Cuốn sổ chi phiếu của anh để trong ngăn kéo của tôi, nhưng anh chưa nói tôi đưa chìa khóa.

6.

Anh không dự định đầu tư tiền theo cách này."

"Đơn giản đến khó tin!"

Tôi thốt lên.

"Ờ!"

Anh nói, hơi dỗi.

"Khi giải thích cho anh rồi thì vấn đề nào cũng thành trò con nít cả.

Còn đây là một vấn đề chưa giải thích.

Để xem anh có hiểu ra không, anh bạn Watson."

Anh thảy một tờ giấy lên bàn rồi lại quay về với phép phân tích hóa học.

Tôi nhìn sững những kí hiệu vô nghĩa trên tờ giấy.

"Sao vậy Holmes, đây là hình vẽ của trẻ con mà", tôi kêu lên.

"Ồ, ra là anh nghĩ vậy!"

"Nó còn có thể là gì nữa?"

"Đó là điều ông Hilton Cubitt tại trang viên Ridling Thorpe ở Norfolk rất nóng lòng muốn biết.

Câu đố hóc búa nho nhỏ này đến trước theo chuyến thư sớm nhất, còn ông ta sẽ đi tàu đến sau.

Có tiếng chuông cửa kìa, Watson.

Nếu đó là ông ta thì tôi không ngạc nhiên lắm đâu."

Có tiếng bước chân nặng nề trên cầu thang, lát sau, một quý ông cao lớn, hồng hào, mặt nhẵn nhụi bước vào, cặp mắt trong trẻo và hai má đỏ au của ông cho tôi biết ông sống ở một nơi cách xa màn sương mù phố Baker.

Khi bước vào, dường như ông mang theo một làn không khí khỏe khoắn, tươi mát, sảng khoái của vùng duyên hải phía đông.

Bắt tay với từng người chúng tôi xong, ông định ngồi xuống thì mắt dừng lại ở tờ giấy có những kí hiệu kì lạ mà tôi vừa xem rồi để xuống bàn.

"Sao, ông Holmes, ông hiểu thứ này thế nào?"

Ông ta kêu lên.

"Người ta nói ông thích những vụ bí ẩn lạ lùng, và tôi nghĩ ông chẳng thể tìm thấy thứ gì lạ lùng hơn vậy đâu.

Tôi gửi tờ giấy đi trước để ông có thời gian tìm hiểu trước khi tôi tới."

"Rõ ràng là một tác phẩm khá kì lạ", Holmes nói.

"Thoạt nhìn thì nó có vẻ là một trò đùa tinh nghịch của trẻ con.

Nó gồm một số hình người nhỏ xỉu vô nghĩa nhảy múa trên trang giấy.

Sao ông lại xem trọng một vật quái gở như vậy?"

"Tôi thì không, ông Holmes ạ.

Nhưng vợ tôi thì có.

Nó làm cô ấy sợ muốn chết.

Cô ấy không nói gì, nhưng tôi đọc thấy trong mắt cô ấy nỗi hoảng hốt.

Vì vậy mà tôi muốn tìm hiểu ngọn nguồn chuyện này."

Holmes giơ tờ giấy lên cho ánh nắng soi trọn lên đó.

Đó là một trang giấy xé ra từ cuốn sổ tay.

Các kí hiệu được vẽ bằng bút chì, theo kiểu thế này:

Holmes xem xét một lát, đoạn cẩn thận gấp nó lại, kẹp vào sổ tay.

"Vụ này hứa hẹn sẽ hết sức lạ thường và thú vị đây", anh nói.

"Ông Hilton Cubitt này, trong thư ông đã cho tôi biết đôi ba chi tiết, nhưng tôi sẽ rất biết ơn nếu ông vui lòng kể lại đầu đuôi cho bác sĩ Watson bạn tôi nghe."

"Tôi không giỏi kể chuyện lắm", vị khách của chúng tôi nói, hai bàn tay to khỏe bồn chồn hết nắm chặt rồi lại buông ra.

"Xin các ông cứ hỏi bất cứ điều gì tôi nói chưa được rõ.

Tôi sẽ bắt đầu từ đám cưới của tôi năm ngoái, nhưng trước hết tôi muốn nói rằng, dù tôi không phải người giàu có gì nhưng dòng họ tôi sống ở Ridling Thorpe cũng năm thế kỉ nay rồi, và ở hạt Norfolk không có gia đình nào danh giá hơn.

Năm ngoái, tôi lên London để dự lễ đại xá và ở một nhà trọ tại quảng trường Russell, vì mục sư trong giáo phận chúng tôi là Parker cũng đang lưu lại đó.

Ở đó có một cô gái người Mỹ tên là Patrick, Elsie Patrick.

Run rủi thế nào chúng tôi lại thành bạn bè, tháng trọ chưa hết thì tôi đã yêu cô ấy say đắm như bao người đàn ông có thể yêu.

Chúng tôi lặng lẽ làm lễ cưới tại phòng hộ tịch rồi quay về Norfolk trong tư cách một đôi mới cưới, ông Holmes, ông có thể nghĩ thật điên rồ khi một người đàn ông thuộc một dòng họ lâu đời, tử tế lại cưới vợ kiểu này, mà chẳng hay biết gì về quá khứ hay gia thế của cô ta; nhưng nếu ông gặp và hiểu cô ấy thì ông sẽ thông cảm được.

Elsie rất thắng thắn về điều đó.

Tôi dám nói rằng hồi đó cô ấy sẵn lòng đồng ý cho tôi cơ hội dừng mối quan hệ nếu muốn.

'Trong đời em đã có vài mối quan hệ rất khó chịu', cô ấy nói.

'Em ước gì mình quên được hết.

Em ước gì không bao giờ phải nhắc đến quá khứ, vì nó làm em đau lòng lắm.

Hilton, nếu anh cưới em, nghĩa là anh cưới một người đàn bà không có gì phải hổ thẹn về bản thân; nhưng anh sẽ phải tin lời em nói, và đừng bắt em nói gì về tất cả những chuyện xảy ra trước khi em thuộc về anh.

Nếu những điều kiện này quá khó thì hãy quay về Norfolk, cứ bỏ em lại lẻ loi như khi anh gặp em.' Mãi đến hôm trước ngày cưới, cô ấy mới nói với tôi những lời này.

Tôi nói rằng tôi bằng lòng chấp nhận điều kiện của cô ấy, và cho đến nay tôi vẫn giữ lời.

Vâng, vợ chồng tôi sống với nhau đến nay đã được một năm, chúng tôi rất hạnh phúc.

Nhưng độ một tháng trước, cuối tháng 6, tôi bắt đầu thấy những dấu hiệu bất an.

Một ngày nọ, vợ tôi nhận được một lá thư từ Mỹ.

Tôi thấy con tem Mỹ.

Cô ấy bỗng trắng bệch ra, đọc thư rồi ném vào lò sưởi.

Sau đó, cô ấy không nhắc nhở gì đến chuyện đó nên tôi cũng không hỏi han gì, vì đã hứa là làm; nhưng từ lúc ấy, vợ tôi không biết lấy một giờ bình yên.

Trên mặt cô ấy lúc nào cũng có vẻ sợ sệt - hình như cô ấy đang chờ đợi và biết trước điều gì.

Cô ấy nên tin tưởng tôi mới phải.

Cô ấy sẽ thấy rằng tôi là người bạn tốt nhất.

Nhưng chừng nào cô ấy còn chưa nói ra thì tôi không thể nói năng gì.

Xin ông nhớ kĩ cho, ông Holmes, cô ấy là người chân thật, và dù trong quãng đời quá khứ có rắc rối gì đi nữa thì cũng không phải là lỗi của cô ấy.

Tôi chỉ là một điền chủ bình dị xứ Norfolk, nhưng ở Anh quốc này, không người đàn ông nào xem trọng danh dự gia đình hơn tôi.

Cô ấy biết rõ điều đó, và cô ấy biết rõ điều đó trước khi cưới tôi.

Không bao giờ cô ấy lại đi bôi nhọ nó - tôi tin chắc như vậy.

Giờ thì tôi sẽ nói đến chỗ lạ lùng trong câu chuyện.

Khoảng một tuần trước - là thứ ba tuần rồi - tôi bắt gặp nơi bậu cửa sổ hình vẽ một số hình nhân nhảy múa thật vô nghĩa, như trên tờ giấy này.

Nó được vẽ bằng phấn.

Tôi tưởng thằng bé làm việc trong chuồng ngựa vẽ nhưng thằng nhỏ thề là không biết gì về chuyện đó.

Dẫu sao thì mấy hình người ấy đã xuất hiện trong đêm.

Tôi cho xóa đi rồi sau đó mới kể cho vợ nghe.

Tôi ngạc nhiên khi thấy cô ấy xem nặng chuyện đó và nài nỉ tôi nếu còn xuất hiện hình nào thì cho cô ấy xem.

Cả tuần không thấy có hình nào, thế rồi sáng hôm qua, tôi bắt gặp tờ giấy này trên chiếc đồng hồ mặt trời trong vườn.

Tôi đưa cho Elsie xem, cô ấy liền ngất xỉu.

Từ đó vợ tôi trông cứ như người mộng du, nửa tỉnh nửa mê, và nỗi hoảng sợ luôn lẩn khuất trong đôi mắt.

Tới lúc đó, tôi liền viết thư và gửi tờ giấy này cho ông, ông Holmes, Tôi không thể báo cảnh sát chuyện như vậy được, vì họ sẽ cười tôi mất, nhưng ông sẽ bảo cho tôi biết nên làm gì.

Tôi không giàu có gì nhưng nếu có mối nguy nào đe dọa vợ mình, tôi sẽ chi đến đồng xu cuối cùng để che chở cô ấy."

Đó là một người cao thượng, sinh ra ở một vùng đất có lịch sử lâu đời của Anh quốc - bình dị, ngay thẳng và nhã nhặn, đôi mắt to xanh, chân thành và gương mặt rộng, đứng đắn.

Nét mặt ông ngời lên tình yêu và sự tin tưởng dành cho vợ.

Holmes đã lắng nghe câu chuyện vô cùng chăm chú, lúc này anh ngồi trầm ngâm một lúc.

"Ông Cubitt này", cuối cùng anh nói, "ông không nghĩ rằng cách hay nhất là hỏi thẳng vợ ông và yêu cầu bà ấy chia sẽ bí mật với ông sao?"

Hilton Cubitt lắc cái đầu đồ sộ.

"Đã hứa là phải giữ lời, ông Holmes.

Nếu Elsie muốn cho tôi biết thì cô ấy đã nói rồi.

Bằng không, tôi không có quyền ép cô ấy thổ lộ.

Nhưng tôi có lí do chính đáng để làm theo cách của mình, và tôi sẽ làm."

"Vậy thì tôi sẽ hết lòng giúp ông.

Trước hết, ông có nghe ai nói là thấy có người lạ trong vùng không?"

"Không."

"Tôi đoán chừng nơi đó rất bình lặng.

Gương mặt mới nào xuất hiện cũng sẽ gây bàn tán?"

"Quanh đó thì đúng là vậy.

Nhưng cách chỗ chúng tôi không xa lắm có dăm quán rượu nhỏ.

Mấy chủ trại còn nhận khách trọ."

"Rõ ràng mấy kí hiệu bằng hình vẽ này có ý nghĩa.

Nếu như nó chỉ đơn thuần là một hình ngẫu nhiên thì có lẽ chúng tôi không thể nào giải được.

Trái lại, nếu nó có hệ thống, tôi tin chắc rằng chúng tôi sẽ tìm ra ngọn nguồn của nó.

Nhưng mẫu này ngắn quá, tôi chẳng thể làm gì, còn mấy chi tiết ông đem đến cho tôi thì mơ hồ quá, chúng tôi không có cơ sở để điều tra.

Tôi xin khuyên ông về Norfolk, tiếp tục canh chừng cẩn mật, và cứ chép lại y nguyên những hình nhân nhảy múa nếu chúng còn xuất hiện.

Hết sức đáng tiếc là ta không có bản sao mấy hình nhân vẽ bằng phấn trên bậu cửa sổ.

Ông cũng nên kín đáo dò la xem trong vùng có người lạ nào không.

Thu thập được chứng cứ mới nào thì lại đến gặp tôi.

Tôi chỉ có thể khuyên ông như vậy thôi, ông Hilton Cubitt.

Nếu như có diễn biến mới cấp bách nào, tôi sẽ luôn sẵn lòng xuống Norfolk để gặp ông."

***

Sau cuộc gặp gỡ Sherlock Holmes đăm chiêu vô cùng, rồi trong mấy ngày sau đó, đôi lần tôi thấy anh lấy tờ giấy trong sổ tay ra, nhìn chăm chăm hồi lâu vào mấy hình người kì lạ vẽ trên ấy.

Tuy vậy, anh không nhắc gì đến vụ này, mãi đến một buổi chiều khoảng hai tuần sau.

Tôi định ra ngoài thì anh gọi lại.

"Anh nên ở nhà, Watson."

"Sao vậy?"

"Vì sáng nay tôi nhận được điện tín của Hilton Cubitt, anh còn nhớ Hilton Cubitt vụ hình nhân nhảy múa chứ?

Theo dự kiến, ông ta sẽ tới phố Liverpool lúc 1 giờ 20 phút và có thể có mặt ở đây bất cứ lúc nào.

Theo như bức điện thì tôi phỏng đoán là đã có vài tình tiết mới quan trọng."

Chúng tôi không phải đợi lâu, vì vị điền chủ vùng Norfolk đi thẳng từ nhà ga đến đây bằng xe ngựa chạy hết tốc lực.

Nom ông ta lo âu, bạc nhược, mắt mệt mỏi và trán hằn sâu.

"Vụ này làm tôi bực rồi đây, ông Holmes", ông ta nói khi ngồi phịch xuống ghế bành, vẻ mệt mỏi.

"Cái cảm giác xung quanh có những người không rõ tên tuổi, không rõ mặt mũi đang âm mưu gì đó nhằm vào ta đã đủ tồi tệ rồi; đằng này lại còn biết chuyện đó đang giết dần giết mòn vợ ta thì quả là vượt quá sức chịu đựng.

Vì nó mà vợ tôi cứ héo hon, gầy mòn đi - tiều tụy dần ngay trước mắt tôi."

"Bà nhà đã nói gì chưa?"

"Chưa, ông Holmes, cô ấy chưa nói gì.

Có những lúc người vợ tội nghiệp của tôi toan nói, vậy mà cô ấy vẫn không thể dứt khoát.

Tôi đã cố giúp, nhưng tôi dám chắc mình vụng về nên làm cô ấy sợ không dám nói nữa.

Cô ấy nhắc đến dòng họ lâu đời của tôi, thanh danh của chúng tôi trong hạt và niềm tự hào của chúng tôi về danh dự không chút tì vết của mình, rồi tôi luôn cảm thấy câu chuyện sắp đi tới ý chính, nhưng không hiểu sao khi chúng tôi gần chạm tới thì nó cứ xoay sang hướng khác."

"Nhưng tự ông đã biết được điều gì đó chăng?"

"Nhiều lắm, ông Holmes.

Tôi có thêm mấy hình người nhảy múa cho ông xem xét đây, và, quan trọng hơn, tôi đã nhìn thấy gã đó."

"Sao, kẻ đã vẽ mấy hình ấy?"

"Phải, tôi thấy hắn đang vẽ.

Nhưng tôi sẽ kể ông nghe lần lượt mọi chuyện.

Vào buổi sáng sau hôm tôi đến gặp ông, cái tôi nhìn thấy đầu tiên là một loạt hình nhân nhảy múa nữa.

Hình vẽ bằng phấn trên cánh cửa gỗ đen của nhà kho, cạnh bãi cỏ mà có thể trông thấy rõ từ mấy cửa sổ mặt tiền.

Tôi đã sao chép lại y hệt, nó đây."

Ông ta mở một tờ giấy rồi đặt lên bàn.

Đây là bản sao các kí hiệu:

"Tuyệt!"

Holmes nói.

"Tuyệt lắm!

Xin cứ kể tiếp."

"Chép lại xong thì tôi xóa sạch mấy kí hiệu ấy, nhưng hai hôm sau lại xuất hiện một hàng kí hiệu mới.

Tôi có mang theo bản sao đây."

Holmes xoa xoa hai bàn tay và tủm tỉm cười thích thú.

"Dữ liệu của ta đang nhiều lên nhanh chóng", anh nói.

"Ba ngày sau, có một lời nhắn viết nguệch ngoạc trên giấy được chặn dưới một hòn cuội trên chiếc đồng hồ mặt trời.

Nó đây.

Ông thấy đấy, các kí hiệu hệt như cái vừa rồi.

Sau đó tôi quyết tâm rình, vậy là tôi lấy khẩu súng lục và thức đợi trong thư phòng có tầm nhìn ra bãi cỏ và khu vườn.

Khoảng 2 giờ sáng, tôi đang ngồi bên cửa sổ, bốn bề tối mịt chỉ trừ ánh trăng bên ngoài thì nghe có tiếng chân sau lưng, và rồi vợ tôi mặc áo choàng xuất hiện.

Cô ấy van nài tôi đi ngủ.

Tôi nói thật với cô ấy là muốn thấy kẻ bày trò kì quặc như vậy với chúng tôi là ai.

Vợ tôi đáp đó chỉ là một trò chơi khăm điên rồ và tôi không nên để ý làm gì.

'Nếu quả thực nó làm anh khó chịu, Hilton, vợ chồng mình có thể đi du ngoạn, vậy là tránh được cái phiền toái này.'

'Sao, phải bỏ nhà mà chạy vì một kẻ chơi khăm ư?' Tôi nói.

'Ơ kìa, ta sẽ làm cho cả hạt cười vào mặt mất.'

'Thôi được, vậy thì đi ngủ đi', vợ tôi nói, 'sáng mai ta sẽ bàn chuyện đó.'

Vợ tôi đang nói thì tôi bỗng thấy mặt cô ấy tái nhợt đi dưới ánh trăng, rồi cô ấy nắm chặt vai tôi.

Có thứ gì đó đang động đậy gần nhà kho.

Tôi nhìn thấy một bóng đen rón rén đi vòng qua góc rẽ rồi ngồi xổm trước cửa.

Khi tôi chộp lấy súng xông ra thì vợ tôi vung hai tay ghì tôi lại chặt vô cùng.

Tôi gắng hất cô ấy ra nhưng vợ tôi cố sống cố chết giữ rịt tôi.

Cuối cùng tôi cũng giằng ra được, nhưng đến khi mở cửa và tới nhà kho thì kẻ đó đã đi mất.

Tuy vậy, hắn để lại dấu vết cho thấy sự hiện diện của mình, vì trên cửa lại có những hình người nhảy múa sắp xếp hệt như hai lần trước, thế là tôi chép lại trên tờ giấy kia.

Không thấy tung tích gã này đâu nữa, dù tôi đã chạy khắp cùng điền trang.

Vậy nhưng điều đáng kinh ngạc là chắc chắn hắn ta vẫn ở đấy suốt, vì sáng ra khi tôi xem xét kĩ cánh cửa lần nữa thì thấy hắn đã vẽ vội thêm vài hình bên dưới dòng tôi đã nhìn thấy?"

"Ông có chuỗi hình vẽ mới ấy không?"

"Có, nó ngắn lắm, nhưng tôi cũng chép lại.

Đây!"

Ông ta đưa ra một tờ nữa.

Hình mới như sau:

"Cho tôi biết", Holmes nói, nhìn ánh mắt anh thì tôi biết rằng anh rất háo hức, "cái này chỉ thêm vào hình ban đầu hay có vẻ tách rời hẳn?"

"Nó ở trên một tấm ván khác."

"Tuyệt!

Đối với mục đích của ta thì cái này quan trọng hơn cả.

Nó làm tôi khấp khởi hi vọng.

Nào, ông Hilton Cubitt, xin cứ kể tiếp câu chuyện hết sức thú vị của mình."

"Tôi đã kể hết rồi, ông Holmes, trừ chuyện tối hôm ấy tôi giận vợ vì giữ tôi lại khi đáng ra tôi đã tóm được thằng khốn lén lút ấy.

Vợ tôi nói sợ tôi gặp chuyện chẳng lành.

Tôi đã thoáng nghĩ biết đâu thực ra cô ấy sợ hắn gặp chuyện chẳng lành, vì tôi không thể không nghi ngờ rằng cô ấy biết kẻ này là ai và hắn muốn nói gì qua những kí hiệu kì lạ đó.

Nhưng ông Holmes ạ, trong giọng điệu và ánh mắt của vợ tôi có gì đó khiến ta không thể hồ nghi, nên tôi tin chắc rằng quả thực cô ấy đã nghĩ đến sự an nguy của tôi.

Đầu đuôi cơ sự là vậy, còn giờ tôi muốn xin ông lời khuyên nên làm gì.

Tôi thì thiên về cách cho chừng năm, sáu gã trai ở điền trang nấp trong bụi rậm, rồi khi gã này mò đến lần nữa thì tẩn cho hắn một trận để từ đây chúng tôi được yên."

"Tôi e vụ này kì bí đến độ không thể dùng những biện pháp đơn giản như vậy," Holmes nói.

"Ông lưu lại London được bao lâu?"

"Hôm nay tôi phải về.

Tôi sẽ không để vợ ở một mình cả đêm vì bất cứ lí do gì đâu.

Cô ấy lo lắm và đã nài nỉ tôi phải quay về."

"Tôi dám chắc là ông làm đúng.

Nhưng nếu ông lưu lại được thì một, hai hôm nữa tôi có thể về cùng ông.

Từ giờ đến lúc đó, ông hãy để mấy tờ này lại cho tôi, tôi nghĩ rất có thể tôi sẽ sớm đến nhà ông và làm sáng tỏ vụ của ông đôi chút."

Sherlock Holmes giữ cung cách chuyên nghiệp điềm đạm cho đến khi vị khách cáo từ, dù tôi dễ dàng thấy là anh cực kì háo hức, vì tôi đã biết anh quá rõ.

Tấm lưng to bè của Hilton Cubitt vừa khuất sau cửa thì bạn tôi đã hấp tấp tới bên bàn, trải hết mấy trang giấy có hình người nhảy múa ra trước mặt rồi bắt đầu những tính toán chi tiết phức tạp.

Tôi quan sát anh viết kín những hình người và chữ cái ra hết trang này đến trang kia suốt hai giờ đồng hồ, mải mê đến độ rõ ràng đã quên mất là có tôi ở đó.

Khi thì anh huýt sáo và reo vui vì công việc có tiến triển, lúc lại bị xị và ngồi nhăn trán rất lâu với ánh mắt mông lung.

Cuối cùng anh bật dậy, thốt lên một tiếng hài lòng rồi đi tới đi lui trong phòng, xoa xoa hai tay vào nhau.

Đoạn anh viết một bức điện dài trên tờ mẫu điện tín.

"Nếu tôi nhận được câu trả lời như mong đợi cho vụ này, anh sẽ có một vụ rất thú vị để thêm vào bộ sưu tập đấy Watson", anh nói.

"Tôi tính rằng ngày mai ta có thể xuống Norfolk, mang cho ông bạn của ta vài tin xác thực về bí mật khiến ông ta lo lắng."

Thú thật là tôi hết sức tò mò, nhưng tôi biết Holmes thích tiết lộ đúng lúc và đúng cách, thế nên tôi đành chờ cho đến khi anh thấy thích hợp để tiết lộ với tôi.

Nhưng không có điện hồi âm ngay, hai ngày tiếp đó trôi qua đầy sốt ruột và Holmes cứ dỏng tai lên nghe mỗi lần có tiếng chuông.

Đến chiều ngày thứ hai thì có một bức thư của Hilton Cubitt.

Mọi thứ ở chỗ ông yên ắng, trừ chuyện sáng hôm đó xuất hiện một câu dài trên bệ đồng hồ mặt trời, ông gửi kèm bản sao trong thư, được phỏng lại như sau:

Holmes khom người bên hình vẻ kì quặc này ít phút rồi bỗng bật dậy, thốt lên ngạc nhiên và kinh hoàng.

Mặt anh phờ phạc đi vì lo lắng.

"Ta để vụ này đi khá xa rồi", anh nói.

"Tối nay có tàu nào đến Bắc Walsham không?"

Tôi lật tờ lịch trình lên.

Chuyến cuối vừa đi xong.

"Vậy thì mai ta sẽ ăn điểm tâm sớm rồi đón ngay chuyến đầu tiên của buổi sáng", Holmes nói.

"Ta cần có mặt ở đó gấp.

À!

Bức điện tín ta chờ đây rồi.

Chờ chút, bà Hudson; có thể có hồi âm.

Không, nó đúng như tôi nghĩ.

Lời nhắn này càng khiến ta không được bỏ phí giờ nào mà phải cho Hilton Cubitt biết ngay vụ này đã đi tới đâu, vì người điền chủ Norfolk bình dị của chúng ta đang vướng vào một cái lưới kì quặc và hiểm nguy."

***

Quả thực là vậy, và khi kể đến phần kết bi đát của câu chuyện mà ban đầu tôi đã tưởng là trò trẻ con và kì quặc này, lòng tôi lại một lần nữa tràn ngập cảm giác bất an và khiếp đảm.

Giá mà tôi có một kết cục nào đó sáng sủa hơn để kể cho độc giả, nhưng đây là chuyện có thực và tôi phải trung thành với diễn biến lạ lùng của sự việc cho đến biến cố đen tối đã khiến dư luận trên khắp nước Anh nhắc đến mấy chữ Trang viên Ridling Thorpe suốt nhiều ngày.

Chúng tôi vừa mới đặt chân tới Bắc Walsham và nhắc tên nơi mình muốn đến thì viên trưởng ga đã tất tả chạy lại.

"Tôi chắc hai ông là thám tử ở London xuống?"

Ông ta nói.

Một vẻ khó chịu thoảng qua mặt Holmes.

"Điều gì khiến ông nghĩ vậy?"

"Vì thanh tra Martin ở Norwich vừa mới đi qua đây xong.

Nhưng cũng có thể các ông là bác sĩ phẫu thuật.

Bà ấy chưa chết - ít ra theo tin tức mới nhất là thế.

Có thể các ông còn kịp cứu bà ấy - mặc dù bà ấy cũng sẽ bị treo cổ thôi."

Mặt Holmes tối sầm lại vì lo.

"Chúng tôi định đến trang viên Ridling Thorpe", anh nói, "nhưng chúng tôi chưa nghe gì về chuyện xảy ra ở đó."

"Chuyện khủng khiếp lắm", tay trưởng ga nói.

"Họ bị bắn, cả ông Hilton Cubitt lẫn bà vợ.

Bà ta bắn chồng rồi tự bắn mình - mấy người hầu nói vậy.

Ông ấy chết còn tính mạng bà ta thì như chỉ mành treo chuông.

Trời hỡi, một trong những gia đình lâu đời nhất ở hạt Norfolk, lại còn là một trong những gia đình danh giá nhất nữa chứ!"

Chẳng nói chằng rằng, Holmes tất tả lên một cỗ xe ngựa, suốt chuyến đi dài bảy dặm anh không một lần hé môi.

Hiếm khi tôi thấy anh chán nản cùng cực như vậy.

Suốt chuyến tàu từ thành phố anh đã nhấp nhổm không yên, tôi nhận thấy khi lật xem các báo sáng, anh đã chăm chú lo âu; nhưng lúc này những gì anh lo sợ nhất bỗng thành sự thật thì anh đâm bần thần, u uất.

Anh ngồi dựa lưng vào ghế, chìm trong suy đoán ủ ê.

Thế mà xung quanh có rất nhiều thứ đáng quan tâm, vì chúng tôi đang băng qua một vùng đồng quê độc đáo không kém bất kì vùng nào của nước Anh, dăm túp nhà nhỏ lác đác đại diện cho dân số ngày nay, trong khi đó ở bốn bề, những nhà thờ đồ sộ có tháp vuông vức mọc lên giữa quang cảnh bằng phẳng, xanh rì nổi lên quá khứ vẻ vang và phồn thịnh của vương quốc Đông Anglia cổ xưa.

Sau một hồi, dải nước biển Bắc ánh biếc đã hiện ra trên rìa đất duyên hải Norfolk xanh tươi.

Tay xà ích trỏ roi ngựa về phía hai cột chống bằng gạch và gỗ lâu đời vươn lên từ một cụm rừng.

"Kia là trang viên Ridling Thorpe", anh ta nói.

Khi chúng tôi tới cửa trước có mái hiên thì tôi đế ý thấy ở phía trước, bên cạnh sân cỏ quần vợt, là nhà kho âm u và chiếc đồng hồ mặt trời có bệ đỡ có dính dáng đến công việc của chúng tôi.

Một người đàn ông nhỏ nhắn, bảnh bao, cung cách nhanh nhẹn, lanh lợi và có ria mép vuốt sáp vừa bước xuống từ trên một chiếc xe ngựa hai bánh cao.

Anh ta tự giới thiệu mình là thanh tra Martin, thuộc Sở Cảnh sát Norfolk, và anh ta có vẻ khá sửng sốt khi nghe danh bạn tôi.

"Ủa, ông Holmes, vụ án mới xảy ra lúc 3 giờ sáng nay thôi.

Làm sao ở London ông hay tin mà tới nơi cùng lúc với tôi được?"

"Tôi đã dự liệu việc này rồi.

Tôi đến những mong ngăn chặn nó."

"Vậy hẳn ông đã có chứng cứ quan trọng mà chúng tôi không biết, vì người ta nói họ là một cặp vợ chồng rất hòa thuận."

"Tôi chỉ có chứng cứ là mấy hình nhân nhảy múa thôi", Holmes nói.

"Tôi sẽ giải thích chuyện đó với anh sau.

Vì đã không kịp ngăn chặn thảm kịch này, tôi thiết tha đem những gì mình biết nhằm bảo đảm công lí được thực thi.

Anh sẽ để tôi cộng tác với anh trong cuộc điều tra, hay anh thích tôi hành động riêng rẽ hơn?"

"Tôi rất hãnh diện vì ta hành động cùng nhau, thưa ông Holmes", viên thanh tra sốt sắng trả lời.

"Nếu vậy, tôi mong được nghe lời khai và xem xét nơi này ngay, không trì hoãn một giây nào nữa."

Thanh tra Martin đã sáng suốt để bạn tôi làm việc theo cách riêng, và cam lòng cẩn thận ghi chép kết quả.

Vị bác sĩ trong vùng, một người đàn ông lớn tuổi, tóc bạc, vừa từ phòng của bà Hilton Cubitt xuống, và thông báo rằng bà ấy bị thương nghiêm trọng nhưng có lẽ không dẫn đến tử vong.

Viên đạn đã sượt qua thùy trán, và có lẽ chốc nữa bà ấy mới tỉnh lại.

Về câu hỏi bà ấy bị bắn hay tự bắn mình thì ông ta không dám liều bày tỏ ý kiến dứt khoát.

Chắc chắn viên đạn đã bắn ra từ một khoảng cách rất gần.

Trong phòng chỉ tìm thấy một khẩu súng ngắn, ổ đạn trống hái viên, ông Hilton Cubitt bị bắn xuyên tim.

Cho rằng ông bắn vợ rồi tự bắn mình hoặc cô vợ là người bắn đều được, vì khẩu súng lục nằm trên sàn cách đều hai người.

"Đã đưa ông ấy đi chưa?"

Holmes hỏi.

"Ngoài người đàn bà ra chúng tôi chưa xê dịch thứ gì cả.

Chúng tôi không thể để bà ấy nằm trên sàn khi đang bị thương."

"Ông ở đây bao lâu rồi, thưa bác sĩ?"

"Từ 4 giờ."

"Còn ai khác nữa không?"

"Có, ngài cảnh sát đây."

"Và các ông chưa động vào thứ gì?"

"Chưa."

"Các ông đã hành động rất cẩn trọng.

Ai cho mời các ông?"

"Cô hầu, Saunders."

"Có phải cô ta là người báo động?"

"Cô ta và bà King, đầu bếp."

"Giờ họ đâu?"

"Tôi chắc là ở trong bếp."

"Vậy thì tôi nghĩ ta nên nghe họ trình bày ngay."

Gian đại sảnh cũ kĩ, lát gỗ sồi, có cửa sổ cao đã biến thành phòng thẩm vấn.

Holmes ngồi trên chiếc ghế lớn kiểu cổ, đôi mắt cương quyết sáng long lanh trên gương mặt phờ phạc.

Tôi đọc thấy trong mắt anh quyết tâm dồn hết sinh lực cho cuộc điều tra này để trả thù cho vị thân chủ mà anh không kịp cứu mạng.

Nhóm người lạ lùng có mặt ở cuộc thẩm vấn còn bao gồm thanh tra Martin mảnh khảnh, ông bác sĩ làng có mái tóc hoa râm, tôi và một viên cảnh sát làng lù đù.

Hai người đàn bà thuật lại câu chuyện khá rõ ràng.

Họ đang ngủ thì bị một tiếng nổ đánh thức, liền theo đó là tiếng nổ thứ hai.

Họ ngủ ở hai phòng kế nhau nên bà King cuống cuồng chạy sang phòng Saunders.

Cả hai chạy xuống cầu thang.

Cửa thư phòng mở và một ngọn nến đang cháy trên bàn.

Ông chủ họ nằm sấp ngay giữa phòng, ông đã chết hẳn.

Vợ ông thì ngã gục gần cửa sổ, đầu tựa vào tường.

Bà bị thương nặng, máu loang đỏ một bên mặt.

Bà thở khó nhọc nhưng không thể nói gì.

Hành lang, cũng như căn phòng, đầy khói và mùi thuốc súng.

Cửa sổ đóng chắc và cài chặt bên trong.

Cả hai người đều chắc chắn về điểm này.

Họ lập tức cho mời bác sĩ và cảnh sát.

Thế rồi, được người giữ ngựa và thằng bé phụ việc giúp một tay, họ đưa bà chủ bị thương vào phòng.

Trước đó cả bà và chồng đều đã lên giường rồi.

Bà mặc váy ngủ - ông thì mặc áo choàng bên ngoài quần áo ngủ.

Trong thư phòng không mất gì.

Theo như họ biết, giữa hai vợ chồng chưa hề có lời qua tiếng lại.

Họ vẫn luôn cho rằng ông bà chủ là một cặp rất hòa thuận.

Đây là những điểm chính trong lời khai của mấy người hầu.

Khi trả lời thanh tra Martin, họ chắc chắn rằng tất cả cửa nẻo đều đã cài chặt bên trong, và không ai có thể thoát khỏi nhà.

Khi trả lời Holmes thì cả hai đều nhớ đã ngửi thấy mùi thuốc súng từ lúc chạy ra khỏi phòng ở tầng trên cùng.

"Tôi khuyên anh nên lưu ý kĩ chi tiết đó", Holmes nói với đồng nghiệp.

"Còn giờ thì tôi nghĩ ta đã có thể tiến hành khám xét tỉ mỉ căn phòng."

Thư phòng chỉ là một gian phòng nhỏ, tủ sách xếp dọc cả ba vách, còn bàn viết xoay mặt về phía một cửa sổ không có gì đặc biệt nhìn ra vườn.

Đầu tiên, chúng tôi chú ý đến xác của người điền chủ xấu số, thân hình đồ sộ của ông nằm sõng soài giữa phòng.

Chiếc áo choàng xốc xếch cho thấy ông đang ngủ thì vội vàng thức dậy.

Viên đạn bắn vào ông từ đằng trước và găm lại trong người sau khi xuyên qua tim.

Chắc chắn ông đã chết tức thì và không đau đớn.

Trên áo choàng hay trên tay ông đều không có vết thuốc súng.

Theo vị bác sĩ làng thì trên mặt người đàn bà có vương thuốc súng, nhưng trên tay thì không.

"Việc không có dấu vết của thuốc súng trên tay chẳng nói lên được gì, mặc dù nếu có thì nó có thể giải thích tất cả", Holmes nói.

"Người ta có thể bắn nhiều phát mà không để lại dấu vết nào, trừ phi thuốc súng từ một viên đạn lỗi tình cờ lại phụt ra sau.

Tôi xin có ý kiến là giờ có thể đưa xác ông Cubitt đi được rồi.

Bác sĩ này, tôi nghĩ chắc ông chưa lấy viên đạn đã gây thương tích cho người vợ ra?"

"Phải phẫu thuật hẳn hoi mới lấy ra được, Nhưng trong khẩu súng lục vẫn còn bốn viên đạn.

Hai viên đã bắn và có hai vết thương, như vậy chúng ta đã biết cả hai viên đạn ở đâu ra."

"Có vẻ là vậy", Holmes nói.

"Vậy ắt ông cũng biết viên đạn rõ ràng đã bắn trúng gờ cửa sổ ở đâu ra?"

Anh thình lình xoay người lại, ngón tay dài, mảnh chỉ vào một cái lỗ xuyên qua phần khung kính dưới của cửa sổ trượt, cách mép dưới một inch.

"Trời!"

Viên thanh tra thốt lên.

"Làm sao mà ông nhìn ra vậy?"

"Vì tôi đã cố ý tìm nó mà."

"Tuyệt vời thật!"

Ông bác sĩ đồng quê nói "Chắc hẳn ông nói đúng rồi, thưa ông.

Vậy là đã có phát súng thứ ba bắn ra, vì vậy ắt phải có người thứ ba.

Nhưng đó có thể là ai và hắn ta đã tẩu thoát bằng cách nào?"

"Đó là vấn đề mà ta sắp giải đáp", Sherlock Holmes nói.

"Thanh tra Martin này, anh có nhớ lúc mấy người hầu nói rằng khi ra khỏi phòng thì họ liền ngửi thấy mùi thuốc súng rồi tôi nhận xét đó là một điểm cực kì quan trọng không?"

"Vâng, thưa ông, nhưng thú thực là tôi chưa hiểu ý ông lắm."

"Điều đó cho thấy lúc súng nổ thì cả cửa sổ lẫn cửa lớn trong phòng đều mở.

Nếu không, khói thuốc súng không thể nào tản đi khắp nhà nhanh như vậy.

Trong phòng phải có gió lùa.

Tuy nhiên, cả cửa lớn và cửa sổ đều chỉ mở trong khoảng thời gian rất ngắn."

"Làm sao ông chứng minh được?"

"Vì ngọn nến chưa chảy."

"Tuyệt diệu!"

Thanh tra kêu lên.

"Tuyệt diệu!"

"Vì cảm thấy chắc chắn rằng lúc thảm kịch xảy ra thì cửa sổ mở nên tôi nghĩ hẳn phải có người thứ ba trong vụ này, đứng bên ngoài khe hở này mà bắn vào.

Phát súng nhằm vào kẻ này có thể sẽ trúng khung kính trượt.

Tôi đã để ý tìm, và quả nhiên, vết đạn ở kia!"

"Nhưng làm sao mà cửa sổ lại đóng và cài chặt?"

"Phản ứng tự nhiên đầu tiên của người đàn bà sẽ là đóng rồi gài cửa sổ lại.

Nhưng mà...

Ồ, ồ!

Cái gì đây?"

Đó là một cái túi xách tay của phụ nữ để trên bàn làm việc - một cái túi xách nhỏ gọn bằng da cá sấu và bạc.

Holmes mở túi xách rồi đổ hết các thứ bên trong ra.

Chỉ có hai mươi tờ năm mươi bảng của Nhà băng Anh quốc, buộc bằng sợi dây thun - không còn gì khác.

"Phải bảo quản thứ này, vì nó sẽ được nhắc đến trong phiên tòa", Holmes nói và đưa cái túi xách cùng các thứ bên trong cho viên thanh tra.

"Giờ ta cần làm sáng tỏ đôi chút về viên đạn thứ ba này, theo như dấu vết trên gỗ thì rõ ràng nó được bắn ra từ trong phòng.

Tôi muốn gặp lại bà King đầu bếp...

Bà King này, bà đã nói rằng bà thức giấc vì một tiếng nổ lớn.

Khi nói vậy, phải chăng ý bà là bà cảm thấy dường như tiếng nổ thứ nhất lớn hơn tiếng thứ hai?"

"Chà, thưa ông, tôi đang ngủ thì nó làm tôi thức giấc nên khó mà phán đoán.

Nhưng quả là nó có vẻ lớn lắm."

"Bà có nghĩ rằng có thể có hai phát súng gần như cùng lúc?"

"Ôi, tôi không biết được đâu, thưa ông."

"Tôi thì tin chắc là vậy.

Thanh tra Martin này, tôi nghĩ rằng giờ ta đã bàn hết mọi điều mà căn phòng này cho chúng ta biết rồi.

Nếu anh vui lòng đi quanh với tôi, ta sẽ xem khu vườn có cung cấp chứng cứ mới nào không."

Một luống hoa trải dài đến tận cửa sổ thư phòng, khi tới gần thì ai nấy trong chúng tôi đều thốt lên.

Hoa bị giẫm bẹp xuống, còn nền đất mềm in đầy dấu chân.

Đó là bàn chân to của đàn ông, có ngón nhọn và dài lạ lùng.

Holmes lùng sục khắp đám cỏ và lá cây như con chó săn mồi đuổi theo một con chim bị thương.

Thế rồi, thốt lên một tiếng hài lòng, anh cúi xuống nhặt một vật nho nhỏ bằng đồng thau có dạng hình trụ.

"Tôi đã nghĩ vậy mà", anh nói, "khẩu súng lục có thoi đẩy, và đây là vỏ đạn thứ ba.

Thanh tra Martin này, tôi thực tình nghĩ vụ án của ta gần như đã xong xuôi rồi."

Gương mặt tay thanh tra vùng quê lộ vẻ kinh ngạc vô cùng vì tiến triển nhanh chóng và tài tình trong cuộc điều tra của Holmes.

Thoạt đầu anh ta còn tỏ chút thái độ khẳng định vị trí của mình, nhưng lúc này thì anh ta đã hoàn toàn thán phục và sẵn sàng theo sau mà không hỏi han gì bất kể Holmes dẫn đi đâu.

"Ông nghi ai?"

Anh ta hỏi.

"Tôi sẽ tìm hiểu chuyện đó sau.

Trong vụ án này có mấy điểm tôi chưa thể giải thích cho anh.

Đã đến nước này rồi, tốt nhất là tôi cứ tiếp tục đường lối riêng của mình rồi làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề một lần cho xong."

"Ông muốn sao cũng được, thưa ông Holmes, miễn sao chúng tôi tóm được thủ phạm."

"Tôi không mong tạo bí ẩn đâu, nhưng lúc đang hành động thì khó mà giải thích dài dòng, phức tạp.

Tôi đã có trong tay những sợi dây liên kết của vụ này.

Cho dù bà vợ không bao giờ tỉnh lại đi nữa thì ta vẫn tái hiện được các sự kiện đêm qua và bảo đảm công lí được thực thi.

Trước hết, tôi muốn biết trong vùng lân cận có quán trọ nào tên là 'Elrige' không?"

Mấy người hầu hỏi nhau, nhưng chưa ai từng nghe nói đến một nơi như vậy.

Cậu bé làm việc trong chuồng ngựa đã làm sáng tỏ vấn đề khi nhớ lại rằng có một chủ trại tên như thế sống cách đây mấy dặm, về hướng Đông Ruston.

"Nông trại đó có hẻo lánh không?"

"Hẻo lánh lắm, thưa ông."

"Có lẽ họ chưa nghe tin về chuyện xảy ra hồi đêm?"

"Có lẽ chưa, thưa ông."

Holmes nghĩ ngợi một lát rồi một nụ cười khó hiểu thoảng qua trên mặt anh.

"Thắng yên ngựa đi, chú bé", anh nói.

"Tôi muốn cậu cầm một lá thư đến nông trại Elrige."

Anh lấy trong túi áo một loạt tờ giấy khác nhau có những hình người nhảy múa.

Để mấy tờ giấy trước mặt, anh làm việc bên bàn một lát.

Cuối cùng, anh đưa một mẩu thư cho cậu bé, dặn dò đưa tận tay người có tên trên thư, và nhất là không được trả lời bất cứ câu hỏi nào mà người đó có thể đặt ra cho cậu ta.

Tôi thấy phần địa chỉ bên ngoài tờ thư được viết bằng những chữ lộn xộn, không đều, rất khác chữ viết rõ ràng mọi khi của Holmes Thư gửi cho ông Abe Slaney, nông trại Elrige, Đông Ruston, Norfolk.

"Thanh tra này", Holmes nói, "tôi nghĩ anh nên đánh điện yêu cầu một người hộ tống, vì nếu các tính toán của tôi là chính xác, có thể anh sẽ phải áp giải một tù nhân đặc biệt nguy hiểm đến nhà tù của hạt đấy.

Cậu bé đưa thư này chắc chắn có thể chuyển bức điện giúp anh.

Watson ơi, nếu có chuyến tàu chiều lên thành phố, tôi nghĩ ta nên đón nó thôi, vì tôi còn phải làm nốt một phân tích hóa học khá quan trọng, mà cuộc điều tra này thì đang nhanh chóng khép lại."

Khi cậu bé đã mang lá thư đi, Sherlock Holmes quay sang căn dặn mấy người hầu.

Nếu có vị khách nào đến hỏi bà Hilton Cubitt thì không được cung cấp thông tin nào về tình trạng của bà, mà lập tức dẫn hắn vào phòng khách.

Anh cực kì nghiêm túc nhấn mạnh với họ những điểm này.

Cuối cùng, anh đi trước vào phòng khách, nhận xét rằng chúng tôi còn làm gì hơn được nữa, và phải cố giết thời gian đợi đến khi có diễn biến mới.

Ông bác sĩ đã cáo từ để đi thăm bệnh, nên chỉ còn lại viên thanh tra và tôi.

"Tôi có thể giải khuây cho các anh trong một giờ một cách thú vị và hữu ích", Holmes nói, kéo ghế lại gần bàn rồi trải ra trước mặt những tờ giấy khác nhau vẽ những hình người nhảy múa khôi hài.

"Về phần anh, Watson, tôi sẽ chuộc lỗi vì mãi vẫn chưa đáp ứng bản tính hiếu kì của anh.

Còn anh, thanh tra này, vụ này có thể xem như một nghiên cứu chuyên môn hấp dẫn đấy.

Trước tiên, tôi phải cho anh biết rằng những tình tiết thú vị đều gắn liền với những lần ông Hilton Cubitt đến hỏi ý kiến tôi ở phố Baker trước đây."

Đoạn anh tóm tắt ngắn gọn các sự việc đã được ghi lại.

"Những tác phẩm lạ đời trước mặt tôi đây có thể khiến người ta cười nếu chúng không báo hiệu một thảm kịch khủng khiếp như vậy.

Tôi khá quen thuộc các dạng mật mã, bản thân tôi cũng là tác giả của một chuyên khảo nho nhỏ về đề tài này, trong đó tôi đã phân tích một trăm sáu mươi loại mật mã khác nhau; nhưng thú thật là tôi hoàn toàn không biết gì về cái này.

Dường như mục đích của những người sáng chế ra hệ thống này là nhằm che đậy để người ngoài không nhận ra những kí hiệu này truyền đạt một thông điệp, và tưởng rằng đó chỉ là những hình vẽ ngẫu nhiên của trẻ con.

Đến lúc này tôi vẫn còn gặp khó khăn đáng kể, nhưng một ý nghĩ tài tình đã giúp tôi có được vài chữ cái khác.

Tôi chợt nghĩ rằng nếu những lời kêu gọi này, như tôi ngờ trước, là từ ai đó từng thân thiết với người đàn bà này thời trẻ, thì một kết hợp gồm hai chữ E với ba chữ cái xen giữa rất có thể đại diện cho tên 'ELSIE'.

Khi xem xét thì tôi thấy rằng một kết hợp như vậy tạo nên phần kết của thông điệp lặp lại ba lần.

Nó chắc hẳn là lời kêu gọi nào đó với 'Elsie'.

Bằng cách này, tôi đã có được L, Svà I.

Nhưng lời kêu gọi có thể là gì đây?

Từ đứng trước chữ 'Elsie' chỉ có bốn chữ cái, và kết thúc bằng chữ E.

Từ đó phải là 'COME'.

Tôi đã thử tất cả các từ khác có bốn chữ cái kết thúc bằng E nhưng không tìm được chữ nào khớp với trường hợp này.

Vậy là giờ tôi có C, O và M, và đã có thể quay lại giải quyết lời nhắn đầu tiên, tách thành từng từ và đặt dấu chấm cho mỗi kí hiệu vẫn còn chưa rõ.

Làm vậy thì có kết quả như sau: .M .ERE..E SL.NE.

Giờ thì chữ cái đầu chỉ có thể là A, phát hiện này vô cùng hữu ích, vì trong câu ngắn này nó xuất hiện không dưới ba lần, và chữ còn lại trong từ thứ hai rõ ràng là H.

Giờ thì ta có: AM HERE A.E SLANE.

Hay, sau khi điền những chỗ trống rõ ràng trong tên gọi: AM HERE ABE SLANEY.

Giờ thì tôi đã có nhiều chữ cái để có thể rất tự tin đi tiếp sang lời nhắn thứ hai, có kết quả thế này: A.

ELRI.ES.

Đến đây, tôi thấy chỉ có thể gán T và G cho những chữ cái còn thiếu thì mới có nghĩa, và giả sử rằng đây là tên một ngôi nhà hay quán trọ nào đó mà người viết đang trú ngụ."

Thanh tra Martin và tôi lắng nghe cực kì chăm chú lời giải thích rõ ràng và đầy đủ của bạn tôi về cách anh suy ra kết quả để từ đó vượt qua mọi trở ngại.

"Rồi sau đó ông làm gì, thưa ông?"

Thanh tra hỏi.

"Tôi có đủ cơ sở để cho rằng gã Abe Slaney này là người Mỹ, vì Abe là một dạng tên rút gọn của Mỹ, và vì một lá thư từ Mỹ chính là khởi điểm của mọi rắc rối.

Tôi cũng có nguyên do để nghĩ rằng có một bí mật xấu xa nào đó trong vụ này.

Những lời bóng gió của người đàn bà về quá khứ của mình và chuyện cô ta không chịu thổ lộ cho chồng, cả hai đều chỉ về hướng đó.

Do vậy, tôi đánh diện cho Wilson Hargreave bạn tôi ở Cục Cảnh sát New York, người đã nhiều lần tận dụng hiểu biết của tôi về tội phạm ở London.

Tôi hỏi anh ta có biết cái tên Abe Slaney không.

Đây là hồi âm của anh ta: Kẻ lừa đảo nguy hiểm nhất Chicago.

Đúng vào buổi chiều tôi nhận được phúc đáp của anh ta thì Hilton Cubitt gửi cho tôi thông điệp sau cùng của Slaney.

Dùng những chữ cái đã biết để sắp xếp thì nó có dạng thế này: ELSIE .RE.ARE TO MEET THY GO.

Thêm hai chữ P và một chữ D vào cho trọn lời nhắn, tôi thấy rõ rằng tên lưu manh đang đi từ thuyết phục đến hăm dọa, và nhờ hiểu biết về bọn lừa đảo ở Chicago, tôi thấy trước là ắt hẳn sẽ sớm biến lời nói thành hành động.

Tôi cùng bạn và cũng là đồng nghiệp, bác sĩ Watson, tức tốc đi Norfolk, nhưng rủi thay, chỉ kịp hay tin rằng điều tồi tệ nhất đã xảy ra."

"Thật hân hạnh được cộng tác với ông trong việc phá án", thanh tra nói, vẻ nồng nhiệt.

"Song, mong ông thứ lỗi cho nếu như tôi nói thẳng.

Ông chỉ phải chịu trách nhiệm với chính mình, còn tôi thì phải chịu trách nhiệm với cấp trên.

Nếu Abe Slaney đang ở tại nông trại của Elrige đúng là hung thủ, và nếu hắn trốn thoát khi tôi đang ngồi đây, chắc chắn tôi sẽ gặp rắc rối trầm trọng."

"Anh không phải băn khoăn.

Hắn sẽ không cố trốn thoát đâu."

"Làm sao ông biết?"

"Bỏ trốn sẽ là thú tội."

"Vậy ta đi bắt hắn đi!"

"Tôi nghĩ hắn sẽ có mặt ở đây ngay thôi."

"Nhưng sao hắn lại phải đến?"

"Vì tôi đã viết thư mời hắn."

"Nhưng chuyện này khó tin quá, ông Holmes!

Sao ông mời mà hắn lại đến?

Chẳng phải một yêu cầu như vậy sẽ làm hắn sinh nghi và bỏ trốn sao?"

"Tôi nghĩ mình biết phải bịa lá thư thế nào mà", Sherlock Holmes nói "Thực ra, nếu tôi không lầm thì người này vừa đi qua cổng nhà rồi kìa."

Một người đàn ông đang sải bước trên lối đi dẫn tới cửa chính.

Hắn là một gã cao ráo, đẹp trai, ngăm đen, mặc bộ đồ vải flannel màu xám, đội mũ lá, râu quai nón đen lởm chởm, cái mũi khoằm to, hung hăng, vừa đi vừa vung gậy.

Hắn nghênh ngang trên lối đi cứ như đây là nhà hắn, và rồi chúng tôi nghe tiếng hắn rung chuông ầm ĩ thật tự tin.

"Quý vị", Holmes nói khẽ, "tôi nghĩ ta nên vào vị trí đằng sau cửa.

Khi tiếp xúc với một gã thế này thì mọi biện pháp phòng ngừa đều cần thiết.

Anh sẽ cần đến còng tay, thanh tra, phần nói chuyện thì cứ để tôi."

Chúng tôi im lặng chờ một phút, một trong những phút ta không bao giờ quên được.

Thế rồi cửa mở và người đàn ông bước vào.

Trong nháy mắt, Holmes nện súng lục vào đầu hắn còn Martin tra còng vào cổ tay hắn.

Tất cả được thực hiện chớp nhoáng và thuần thục đến mức hắn còn chưa kịp nhận biết mình bị tấn công thì đã bị không chế.

Hai mắt đen sáng rực trừng trừng nhìn chúng tôi hết người này đến người khác.

Rồi hắn phá lên cười chua chát

"Thôi được, các ông, lần này các ông thắng thế rồi.

Xem ra tôi đụng phải đối thủ cứng cựa rồi.

Nhưng tôi đến đây theo lá thư của bà Hilton Cubitt.

Đừng nói với tôi là cô ấy có nhúng tay vào vụ này?

Đừng nói với tôi là cô ấy tiếp tay giăng bẫy tôi?"

"Bà Hilton Cubitt bị thương nặng và đang cận kề cái chết."

Người này rú lên một tiếng kêu đau đớn khản đặc vang vọng khắp nhà.

"Mấy ông điên rồi!"

Hắn ta kêu lên dữ dằn.

"Hắn ta mới là người bị thương, không phải cô ấy.

Ai nỡ gây hại cho Elsie bé bỏng chứ?

Có thể tôi đã đe dọa cô ấy, Chúa tha tội cho tôi, nhưng tôi không đời nào động đến một sợi tóc trên mái đầu xinh xắn của cô ấy.

Rút lại lời đi, mấy ông!

Nói rằng cô ấy không bị thương đi!"

"Bà ấy bị thương nặng bên người chồng đã chết."

Hắn "hực" một tiếng trong cổ họng rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế dài, vùi mặt vào hai bàn tay bị còng.

Hắn im lìm cả năm phút.

Rồi hắn lại ngẩng lên và nói với vẻ điềm tĩnh lạnh lùng vì tuyệt vọng.

"Chẳng giấu gì các ông", hắn nói.

"Tôi mà có bắn người bắn tôi thì đó cũng không phải là giết người.

Nhưng nếu các ông nghĩ tôi có thể hại người đàn bà đó thì các ông không biết gì về tôi cũng như cô ấy.

Để tôi cho mấy ông biết, trên đời này không có người đàn ông nào yêu một người đàn bà như tôi yêu cô ấy.

Tôi có quyền đối với cô ấy.

Nhiều năm trước cô ấy đã hứa hôn với tôi.

Gã người Anh này là ai mà lại xen vào giữa chúng tôi?

Tôi cho các ông biết là tôi có quyền với cô ấy trước, và tôi chỉ đòi quyền của mình mà thôi."

"Khi biết được ông là người thế nào, cô ấy đã chạy trốn khỏi ảnh hưởng của ông", Holmes nói nghiêm khắc.

"Cô ấy trốn khỏi nước Mỹ để lánh mặt ông, và cô ấy đã cưới một quý ông danh giá ở Anh.

Ông bám theo sát gót rồi theo dõi và bắt cô ấy chịu khổ sở nhằm xui cô ấy bỏ người chồng mình yêu thương, kính trọng mà trốn đi với ông là người cô ấy sợ hãi, căm ghét.

Cuối cùng ông gây nên cái chết của một người cao thượng và đẩy vợ ông ấy đến chỗ tự sát.

Đó là thành tích của ông trong vụ này, ông Abe Slaney, và ông sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về điều đó."

"Elsie mà chết thì tôi cóc cần biết chuyện gì sẽ xảy ra với tôi", gã người Mỹ nói.

Hắn xòe tay ra nhìn một mẩu thư vò trong lòng bàn tay.

"Nhìn đây, thưa ông", hắn kêu lên, mắt thấp thoáng ánh ngờ vực, "ông không cố tình dọa tôi đấy chứ, đúng không?

Cô ấy mà bị thương nặng như ông nói, vậy thì ai viết mẩu thư này đây?"

Hắn ném tờ thư qua bàn.

"Tôi viết, để đưa ông tới đây."

"Ông viết?

Trên đời này ngoài Hội ra không ai biết bí mật hình nhân nhảy múa cả.

Làm sao ông viết được?"

"Cái mà người này sáng chế ra được thì người khác cũng khám phá được", Holmes nói.

"Sẽ có xe ngựa giải ông đến Norwich, ông Slaney.

Nhưng từ đây đến đó ông sẽ có thời gian mà chuộc lại đôi chút tổn hại ông đã gây ra.

Ông có biết chính bà Hilton Cubitt bị tình nghi đã giết chồng, mà nếu không nhờ tôi có mặt ở đây và ngẫu nhiên nắm được một số tình tiết thì bà ấy đã bị kết tội rồi?

Chí ít ông cũng nợ bà ấy một điều là cho cả thiên hạ thấy rõ rằng bà ấy tuyệt nhiên không có tội tình gì, dù là trực tiếp hay gián tiếp, dẫn đến cái kết cục bi thảm của người chồng."

"Tôi chẳng đòi hỏi gì hơn nữa", người Mỹ nói.

"Tôi nghĩ chính sự thật tuyệt đối, không che giấu là lời biện hộ tốt nhất cho tôi."

"Tôi có phận sự cảnh cáo ông rằng nó sẽ được dùng để gây bất lợi cho ông", thanh tra lớn tiếng phát biểu trên tinh thần công bình cao thượng của hình luật Anh quốc.

Slaney nhún vai.

"Để tôi liều xem sao", hắn nói.

"Trước hết, tôi muốn các ông hiểu rằng tôi quen người đàn bà này từ khi cô ấy còn nhỏ.

Bảy đứa chúng tôi thuộc một băng ở Chicago, và bố của Elsie là trùm của hội.

Ông già Patrick ấy là một người thông minh.

Chính ông là người sáng chế ra kiểu mật thư đó, nó sẽ bị tưởng lầm là hình trẻ con vẽ nguệch ngoạc trừ phi tình cờ ta có bí quyết để đọc ra.

Vâng, Elsie biết được đôi chút đường đi nước bước của chúng tôi; nhưng cô ấy không chịu nổi việc làm ăn đó, lại có chút tiền lương thiện riêng, vậy là cô ấy trốn chúng tôi mà bỏ đi London.

Cô ấy đã đính ước với tôi, và tôi tin cô ấy đã cưới tôi nếu như tôi làm một nghề khác; nhưng cô ấy không đời nào chấp nhận bất cứ thứ gì gian trá.

Đến khi cô ấy cưới gã người Anh này, tôi mới biết cô ấy đang ở đâu.

Tôi viết thư cho cô ấy nhưng không được hồi âm.

Sau đó tôi sang đây, và vì thư từ chẳng ích gì, tôi để lại mấy lời nhắn ở nơi cô ấy đọc được.

Vâng, tôi ở đây được một tháng nay rồi.

Tôi sống trong trang trại đó, ở một căn phòng ngầm, và đêm đêm có thể ra vào mà không ai hay biết.

Tôi đã cố hết sức thuyết phục Elsie bỏ đi.

Tôi biết cô ấy đã đọc mấy lời nhắn, vì có lần cô ấy viết trả lời bên dưới.

Thế rồi tôi cả giận mất khôn, bắt đầu dọa dẫm cô ấy.

Cô ấy bèn gửi cho tôi một lá thư, van xin tôi đi đi, và nói rằng mình sẽ đau lòng nếu có bất kì tai tiếng nào xảy đến với chồng.

Cô ấy nói 3 giờ sáng sẽ xuống khi chồng đã ngủ, rồi nói chuyện với tôi qua cửa sổ phía cuối, nếu như sau đó tôi bỏ đi và để cô ấy được yên.

Cô ấy xuống và cầm theo tiền, cố mua chuộc tôi.

Chuyện này làm tôi nổi điên nên tôi túm tay cố kéo cô ấy qua cửa sổ.

Đúng lúc đó thì gã chồng cầm khẩu súng lục chạy vội tới.

Elsie đã sụp xuống sàn nên chúng tôi mặt đối mặt.

Tôi bị theo sát gót nên giơ súng lên cho hắn sợ mà thả tôi đi.

Hắn ta nổ súng vào tôi nhưng trượt.

Tôi bóp cò gần như cùng lúc, và thế là hắn gục xuống.

Tôi bỏ trốn qua vườn, và khi đi thì nghe tiếng cửa sổ đóng lại đằng sau.

Thề có Chúa đó là sự thật, thưa các ông, từng lời từng chữ, và tôi không nghe được gì nữa cho đến khi thằng bé nọ cưỡi ngựa tới, cầm theo tờ thư đã khiến tôi bước vào đây, như một kẻ huênh hoang, và nộp mình vào tay các ông."

Trong khi gã người Mỹ nói thì một cỗ xe ngựa đã chạy đến.

Hai cảnh sát mặc đồng phục ngồi trong.

Thanh tra Martin đứng lên, chạm vào vai phạm nhân.

"Đến lúc ta phải đi rồi."

"Cho tôi gặp cô ấy đã, có được không?"

"Không, cô ấy chưa tỉnh.

Ông Sherlock Holmes, tôi chỉ mong khi nào có vụ quan trọng nữa thì sẽ được dịp may sát cánh với ông."

Chúng tôi đứng bên cửa sổ nhìn cỗ xe rời đi.

Khi quay lại, mắt tôi chợt bắt gặp mẩu giấy vo tròn mà gã phạm nhân đã ném trên bàn.

Đó là tờ thư Holmes dùng để nhử hắn.

"Xem thử anh đọc ra không, Watson", anh nói, mỉm cười.

Nó không có chữ mà chỉ là hàng người nhảy múa ngắn gọn thế này:

"Nếu anh dùng mật mã tôi vừa giải thích", Holmes nói, "anh sẽ thấy rằng nó chỉ có nghĩa là 'Đến đây ngay'.

Tôi tin chắc đó là lời mời mà hắn không thể từ chối, vì hắn không bao giờ ngờ được có ai khác ngoài người đàn bà đó có thể viết ra lời nhắn này.

Watson thân mến này, vậy là rốt cuộc ta đã dùng những hình người nhảy múa vào việc tốt tuy trước giờ chúng vẫn thường là sứ giả của cái ác, tôi nghĩ mình đã làm tròn lời hứa cho anh thứ gì đó lạ thường để chép vào sổ tay.

Chuyến tàu của ta khởi hành lúc 3 giờ 40 nên tôi nghĩ ta sẽ quay về phố Baker kịp ăn tối."

Đôi chữ vắn tắt cho lời bạt: Gã người Mỹ, Abe Slaney, bị kết án tử tại tòa đại hình mùa đông tại Norwich; nhưng hình phạt của hắn được đổi thành khổ sai vì có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, và do chắc chắn Hilton Cubitt là người nổ súng trước.

Về phần bà Hilton Cubitt thì tôi nghe nói đã bình phục hẳn, và vẫn ở vậy để dành trọn đời chăm lo cho người nghèo và trông coi điền sản của chồng.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
NGƯỜI ĐẠP XE ĐƠN ĐỘC (The Solitary Cyclist, 1903)


Từ năm 1894 đến năm 1901, Sherlock Holmes cực kì bận rộn.

Tôi dám nói rằng trong tám năm đó, anh đã cố vấn cho cảnh sát giải quyết mọi vụ án công khai mà họ gặp khó khăn, đồng thời xử lí hàng trăm vụ việc riêng do các cá nhân nhờ cậy.

Một số vụ trong đó có tính lắt léo và lạ thường vào loại bậc nhất.

Trong giai đoạn dài làm việc liên tục này, anh thu được nhiều thành công vang dội cùng dăm ba thất bại không tránh khỏi.

Vì tôi đã ghi lại rất đầy đủ tất cả các vụ này và vì bản thân tôi cũng tham gia nhiều vụ, nên việc chọn vụ nào để trình bày trước công chúng thật không dễ dàng với tôi.

Tuy nhiên, tôi sẽ giữ nguyên tắc cũ là ưu tiên những vụ án gây chú ý không phải vì tính chất tàn bạo của tội ác, mà vì cách phá án tài tình và ấn tượng.

Vì nhẽ đó, hôm nay tôi sẽ kể cho các độc giả nghe câu chuyện về cô Violet Smith, người thường phải một mình đạp xe qua quãng đường hoang vu tại Charlington, cùng đoạn tiếp kì lạ trong cuộc điều tra của chúng tôi, với đỉnh điểm là một bi kịch chẳng ai lường trước.

Tuy vụ điều tra không phải là minh chứng hùng hồn cho những khả năng lẫy lừng của bạn tôi, nhưng nó lại có một vài đặc điểm nổi bật trong số rất nhiều ghi chép mà tôi vẫn dùng để lấy tư liệu kể chuyện.

Khi xem sổ ghi chép năm 1895, tôi thấy lần đầu tiên chúng tôi biết về cô Violet Smith là vào hôm thứ bảy, ngày 23 tháng 4.

Tôi còn nhớ Holmes cực kì không vui khi cô đến, vì lúc ấy anh đang ngập trong vụ án bí hiểm và phức tạp liên quan tới việc nhà triệu phú thuốc lá nổi tiếng John Vincent Harden bị bức hại.

Vì quý sự chính xác và tập trung tư tưởng hơn hết thảy, nên bạn tôi bực tức trước bất cứ điều gì làm anh xao lãng khỏi vấn đề trước mắt.

Nhưng vì không phải người nhẫn tâm nên anh đành lắng nghe câu chuyện của cô thiếu nữ xinh đẹp, có dáng người dong dỏng và thanh tao đài các, xuất hiện tại phố Baker lúc nhập nhoạng tối, khẩn nài anh tư vấn và giúp đỡ.

Dù anh viện cớ đang bận tối mắt tối mũi, nhưng cô gái vẫn quyết kể hết câu chuyện.

Cô cũng nói rõ rằng chỉ có vũ lực mới có thể đuổi cô rời khỏi phòng trước khi cô kể ra tất cả.

Với nụ cười có phần mệt mỏi, Holmes đành mời vị khách không mời xinh đẹp ngồi và nói ra điều làm cô lo nghĩ.

"Chắc chắn cô tới không phải vì vấn đề sức khỏe", anh nói khi đôi mắt tinh tường của anh lướt nhìn cô một lượt.

"Một người thường xuyên đạp xe như cô hẳn phải có sức khỏe dồi dào."

Cô ngạc nhiên nhìn xuống chân mình, còn tôi thì nhận thấy một bên đế giày của cô hơi sần do cọ vào mép bàn đạp.

"Phải, tôi rất hay đạp xe, thưa ông Holmes, và chuyện đó liên quan đôi chút đến việc tôi gặp ông hôm nay."

Bạn tôi cầm bàn tay không deo găng của cô gái lên săm soi kĩ lưỡng nhưng với thái độ vô cảm, hệt như một nhà khoa học đang quan sát một tiêu bản.

"Mong cô thứ lỗi cho.

Nghề của tôi ấy mà", anh nói khi buông tay cô xuống.

"Tôi suýt lầm rằng cô làm nghề đánh máy.

Nhưng không phải, cô chơi nhạc mới đúng.

Watson này, anh có quan sát thấy mấy đầu ngón tay hơi bè ra, thường thấy ở cả hai công việc đó chứ?

Tuy vậy, gương mặt cô lại có nét tinh thần."

Anh nhẹ nhàng xoay mặt cô về phía ánh đèn.

"Điều này không toát lên từ người đánh máy.

Tiểu thư đây là người chơi nhạc."

"Vâng, thưa ông Holmes, tôi dạy nhạc."

"Xét theo nước da của cô, tôi phỏng chừng là ở thôn quê."

"Phải, thưa ông.

Tôi dạy ở gần thị trấn Farnham, rìa hạt Surrey."

"Một vùng xinh đẹp, gợi tôi liên tưởng tới rất nhiều điều lí thú.

Watson, anh nhớ không, chúng ta đã bắt tên làm giả giấy tờ Archie Stamford ở gần đó đấy.

Nào cô Violet, chuyện gì đã xảy ra với cô ở gần Farnham, rìa hạt Surrey?"

Thiếu nữ điềm tĩnh trình bày rành mạch câu chuyện lạ lùng.

"Cha tôi đã qua đời, thưa ông Holmes.

Tên ông là James Smith, chỉ huy dàn nhạc ở Nhà hát Hoàng gia.

Mẹ con tôi không còn người bà con thân thích nào, ngoại trừ ông chú Ralph Smith đã sang Phi châu hồi hai mươi lăm năm trước và bặt tin từ đó.

Từ ngày cha tôi khuất núi, mẹ con tôi sống trong cảnh túng quẫn.

Rồi một bữa nọ, người ta báo cho chúng tôi hay là trên tờ Times có đăng tin tìm địa chỉ của chúng tôi, ông có thể hình dung chúng tôi mừng thế nào khi nghĩ có người di chúc cho mình một gia tài.

Chúng tôi vội vã đến gặp ông luật sư có tên trên báo.

Ở đó, chúng tôi gặp hai quý ông Carruthers và Woodley vừa từ Nam Phi trở về.

Họ nói chú tôi là bạn họ và mấy tháng trước, chú đã qua đời trong cảnh túng khó ở Johannesburg.

Trước phút lâm chung, chú nhờ họ đi tìm những người bà con và lo sao cho họ không thiếu thốn gì.

Chúng tôi ngạc nhiên vì lúc sinh tiền, chú Ralph chẳng ngó ngàng gì đến hai mẹ con tôi nhưng khi chết lại chu đáo đến vậy.

Ông Carruthers giải thích rằng chú tôi mới hay tin anh mình mất, và chú cảm thấy phải có trách nhiệm với số phận của chúng tôi."

"Xin thứ lỗi", Holmes nói, "cuộc gặp đó xảy ra từ bao giờ?"

"Tháng 12 năm ngoái... cách đây bốn tháng."

"Mời cô kể tiếp."

"Woodley khiến tôi có cảm giác hắn là một kẻ hết sức ghê tởm.

Hắn cứ liếc mắt đưa tình với tôi...

Hắn còn trẻ nhưng tính tình lỗ mãng, mặt mày húp sụp, ria mép đỏ quạch, tóc ệp xuống hai bên trán.

Tôi ghét hắn vô cùng.

Tôi tin chắc anh Cyril sẽ không muốn tôi quen biết một người như vậy."

"Ồ, thế ra ý trung nhân của cô tên là Cyril!"

Holmes cười nói.

Thiếu nữ đỏ mặt và bật cười.

"Phải, thưa ông Holmes.

Anh Cyril Morton là kĩ sư điện và chúng tôi định thành hôn vào cuối hè này.

Ôi trời, sao tôi lại nói về anh ấy nhỉ?

Điều tôi muốn nói là Woodley cực kì đáng ghét, nhưng ông Carruthers đáng mến hơn.

Ông ấy lớn tuổi, da hơi tái, tóc nâu, không để râu, khá trầm tĩnh, lịch sự và có nụ cười dễ mến.

Ông Carruthers hỏi thăm về gia cảnh của chúng tôi và khi biết ra chúng tôi rất nghèo, ông ấy liền mời tôi dạy nhạc cho cô con gái duy nhất - cô bé đã lên mười.

Khi tôi nói không thích xa mẹ, ông ấy bảo tôi có thể về nhà vào cuối tuần, rồi đề nghị trả thù lao là một trăm bảng mỗi năm.

Dĩ nhiên đó là một khoản lương khá hậu.

Cuối cùng tôi nhận lời, rồi xuống trang trại Chiltern cách Farnham chừng sáu dặm.

Ông Carruthers góa vợ, nhưng có thuê bà quản gia lớn tuổi và đáng kính là bà Dixon trông nom nhà cửa.

Con gái ông ấy rất ngoan, và mọi chuyện đều tràn đầy hứa hẹn.

Ông Carruthers tốt bụng và yêu nhạc, nên hầu như tối nào chúng tôi cũng vui vẻ quây quần bên nhau.

Cứ cuối tuần tôi lại về thăm mẹ.

Nhưng rồi Woodley ria đỏ tới.

Hắn chỉ ở lại chơi một tuần mà tôi cứ ngỡ như ba tháng!

Với mọi người, hắn là một kẻ đáng sợ, một tên côn đồ, nhưng với tôi còn tệ hơn.

Hắn giở trò tỏ tình thật kinh tởm.

Hắn khoe khoang của cải, bảo rằng nếu tôi ưng lấy hắn, tôi sẽ có những viên kim cương đẹp nhất London.

Cuối cùng, khi thấy tôi không động lòng, vào một ngày nọ sau bữa tối, hắn ôm chặt tôi - hắn khỏe kinh khủng và thể chừng nào tôi còn chưa hôn hắn, hắn sẽ không buông.

Lúc đó, ông Carruthers bước vào và kéo hắn ra.

Hắn quay lại trả đòn, đánh ngã ông ấy và làm ông ấy rách mặt.

Và hẳn ông cũng hình dung được, chuyện đó đã chấm dứt cuộc viếng thăm của hắn.

Ngày hôm sau, ông Carruthers xin lỗi tôi và cam đoan sẽ không bao giờ để xảy ra chuyện tương tự.

Từ ấy, tôi không còn gặp Woodley.

Thưa ông Holmes, giờ tôi sẽ nói đến chuyện đặc biệt khiến hôm nay tôi phải tới xin ông lời khuyên.

Ông cần biết là sáng thứ bảy hằng tuần, tôi đều đạp xe đến ga Farnham đế đón chuyến tàu lúc 12 giờ 22 phút lên thành phố.

Đường từ trang trại Chiltern tới đó rất vắng vẻ, mà khúc đường dài hơn một dặm chạy giữa khu đất hoang Charlington và vườn cây bao quanh lâu đài Charlington, kéo dài tới con đường cái gần đồi Crooksbury lại đặc biệt hoang vu.

Ta chẳng thể tìm đâu ra một đoạn đường vắng vẻ hơn, họa hoằn lắm mới thấy bóng một chiếc xe bò hay một bác nông dân.

Cách đây hai tuần, khi đi qua khúc đường đó, tôi tình cờ ngoái nhìn và thấy có một người đàn ông đạp xe cách tôi tầm hai trăm yard.

Ông ta tầm trung tuổi, có bộ râu quai nón đen và ngắn.

Khi gần tới Farnham, tôi ngoái đầu nhìn, nhưng người đàn ông đã đi rồi nên tôi không nghĩ ngợi nhiều.

Nhưng ông có thể hình dung tôi ngạc nhiên thế nào khi hôm thứ hai quay về, tôi lại thấy người đàn ông nọ trên chính khúc đường kia.

Tôi càng kinh ngạc hơn khi vào thứ bảy và thứ hai sau đó, sự việc lặp lại hệt như trước.

Bao giờ ông ta cũng đi cách một quãng và không hề quấy nhiễu tôi, nhưng dù sao chuyện cũng rất kì quặc.

Tôi đem chuyện kể cho ông Carruthers, ông ấy có vẻ để tâm, rồi nói đã đặt một cỗ xe nhỏ để sau này tôi không phải một mình đi qua những nơi đồng không mông quạnh nữa.

Trong tuần đó đáng ra ngựa và xe phải được đưa tới rồi, nhưng vì một lí do nào đó mà người ta chưa giao kịp nên tôi đành đạp xe đến nhà ga.

Vào buổi sáng ấy, tôi rất để ý đường đến khu đất hoang Charlington và quả nhiên, người đàn ông kia lại xuất hiện, hệt như hai tuần trước.

Bao giờ ông ta cũng ở cách một quãng để tôi không nhìn rõ mặt, nhưng tôi chắc chắn không quen ông ta.

Ông ta mặc bộ đồ sẫm màu và đội mũ vải.

Tôi chỉ nhìn thấy mỗi bộ râu quai nón đen.

Tôi không hoảng mà còn thấy tò mò và quyết tìm hiểu cho ra ông ta là ai và muốn gì.

Tôi đạp chậm lại, nhưng ông ta cũng đạp chậm theo.

Tôi dừng, ông ta cũng dừng luôn.

Tôi bèn giăng bẫy chờ ông ta.

Đoạn đường có một chỗ ngoặt đột ngột và tôi phóng hết tốc lực qua chỗ đó rồi dừng lại chờ.

Tôi tưởng ông ta sẽ vọt qua mà không kịp dừng.

Tuy nhiên, tôi không thấy ông ta xuất hiện.

Tôi bèn đạp xe trở lại và nhìn qua chỗ ngoặt.

Tầm nhìn của tôi được một dặm đường, nhưng không thấy ông ta đâu.

Kì lạ nhất là đoạn đường này không hề có đường nhánh cho ông ta rẽ vào."

Holmes cười tủm tỉm và xoa tay vào nhau.

"Tự thân vụ này đã bộc lộ nhiều điểm đặc biệt", anh nói.

"Từ khi cô đi qua chỗ ngoặt đến khi phát hiện ra không còn ai trên đường là bao lâu?"

"Chừng hai hoặc ba phút gì đó."

"Vậy ông ta không thể đạp xe quay ngược lại mà không bị cô trông thấy.

Cô chắc rằng không có đường nhánh nào chứ?"

"Chắc chắn."

"Thế thì ông ta phải rẽ vào một đường mòn ở bên này hay bên kia đường."

"Ông ta không thể đi qua khu đất hoang mà không bị tôi nhìn thấy?"

"Vậy theo phép loại trừ, chúng ta kết luận rằng ông ta đi theo hướng lâu đài Charlington.

Theo như tôi hiểu, lâu đài này tọa lạc trong khuôn viên riêng ở một bên đường.

Còn gì khác không?"

"Không, thưa ông Holmes, trừ việc tôi rối trí đến mức không thể yên tâm khi chưa được gặp ông để xin ý kiến."

Holmes ngồi im một lát.

"Vị hôn phu của cô sống ở đâu?"

Cuối cùng anh hỏi.

"Anh ấy làm tại Công ty Điện lực Trung du ở Coventry."

"Hay anh ta bất ngờ đến thăm cô?"

"Ôi, ông Holmes!

Nếu vậy tôi phải nhận ra chứ!"

"Còn ai theo đuổi cô nữa không?"

"Trước khi tôi quen Cyril thì có vài người."

"Còn từ ấy?"

"Có gã Woodley đáng sợ kia, nếu ta có thể gọi việc hắn làm là theo đuổi."

"Không còn ai khác ư?"

Vị thân chủ xinh đẹp của chúng tôi hơi lúng túng.

"Ai vậy?"

Holmes hỏi.

"Có thể do tôi tưởng tượng nhưng đôi lúc, tôi thấy hình như ông chủ Carruthers rất quan tâm đến tôi.

Chúng tôi tình cờ ở bên nhau khá nhiều.

Chiều chiều tôi đàn cho ông ấy nghe.

Ông ấy chưa bao giờ nói gì.

Ông ấy là một quý ông lịch lãm, nhưng trực giác của phụ nữ rất nhạy cảm."

"Ha!"

Holmes trông có vẻ nghiêm túc.

"Ông ta mưu sinh bằng nghề gì?"

"Ông ấy giàu lắm."

"Vậy mà không có xe hay ngựa ư?"

"Ít ra ông ấy cũng dư dả.

Nhưng tuần nào ông ấy cũng vào khu City vài ba lần.

Ông ấy rất quan tâm đến các cổ phần mỏ vàng ở Nam Phi."

"Cô Smith, mong cô báo cho tôi nếu có diễn biến mới.

Giờ tôi rất bận, nhưng tôi sẽ cố thu xếp thời gian giúp cô điều tra.

Nhưng tạm thời, cô vui lòng đừng hành động gì mà không cho tôi biết.

Xin tạm biệt và hi vọng chúng tôi sẽ chỉ nhận được tin vui từ cô mà thôi."

***

"Một cô gái như vậy có người theo đuổi cũng là quy luật tự nhiên", Holmes trầm ngâm rít tẩu, "nhưng không phải bằng cách cưỡi xe đạp bám theo người ta trên quãng đường vắng vẻ.

Kẻ này rõ ràng thương thầm trộm nhớ cô Smith.

Nhưng vụ này có những tình tiết lạ lùng và gợi mở đấy, Watson ạ."

"Vì ông ta chỉ xuất hiện ở mỗi chỗ đó?"

"Đúng vậy.

Trước tiên ta phải tìm hiểu xem ai thuê lâu đài Charlington.

Thêm nữa, Carruthers và Woodley có vẻ là hai hạng người khác nhau, vậy giữa họ là loại quan hệ gì?

Tại sao cả hai sốt sắng tìm họ hàng của Ralph Smith?

Còn một điểm nữa.

Ménage kiểu gì mà đi trả lương gia sư gấp đôi thời giá nhưng lại chẳng nuôi lấy một con ngựa, dù sống cách nhà ga cả sáu dặm đường?

Kì quặc, Watson à, rất kì quặc!"

"Anh sẽ xuống đó chứ?"

"Không phải tôi, mà là anh.

Đây có thể chỉ là một trò vặt nên tôi không dám vì nó mà gián đoạn các công việc quan trọng khác.

Thứ hai này anh sẽ tới Farnham sớm.

Anh sẽ nấp gần khu đất hoang Charlington, tự quan sát và hành động theo phán đoán của mình.

Bao giờ dò la về mấy người cư ngụ ở lâu đài xong, anh hãy về kể cho tôi.

Thôi được rồi, Watson, đợi chừng nào có dăm ba phiến đá vững chắc để đặt chân trên đường tới đáp án, ta hẵng nói thêm về vụ này?"

Theo lời cô thiếu nữ, chúng tôi xác định được rằng thứ hai cô sẽ xuống Farnham trên chuyến tàu rời Waterloo lúc 9 giờ 50.

Vì vậy, tôi khởi hành sớm rồi đón chuyến tàu 9 giờ 13.

Tại ga Farnham, tôi dễ dàng hỏi được đường tới khu đất hoang Charlington.

Tôi nhận ra ngay con đường cô gái thường đạp xe qua, vì nó chia cách khu đất hoang ở một bên với hàng thông đỏ già nua bao quanh một khu vườn trồng nhiều loại cây đẹp đẽ ở bên kia.

Ở phía khu vườn, tôi thấy một cánh cổng đá lớn, trên hai đầu cột ở hai bên là những tượng trang trí đã vỡ nát.

Tuy nhiên, ngoài lối vào qua cái cổng đó, tôi còn thấy vài đường mòn chạy qua các khoảng trống giữa các cây thông đỏ.

Từ đường nhìn vào, tôi không thấy được lâu đài, nhưng toàn bộ khung cảnh xung quanh nó toát lên vẻ âm u mục nát.

Khu đất hoang mọc đầy những khóm kim tước đang trổ hoa vàng óng, lung linh trong nắng xuân rực rỡ.

Tôi ngồi sau một khóm hoa để có thể nhìn cả cổng lâu đài lẫn cung đường chạy dài.

Lúc trước, con đường còn vắng hoe, vậy mà giờ tôi đã thấy một người đang đạp xe từ phía ngược với hướng tôi vừa tới.

Ông ta mặc bộ đồ sẫm màu và để râu quai nón đen.

Đi đến cuối khu vườn bao quanh lâu đài Charlington, ông ta nhảy xuống rồi dắt xe qua một khe hở giữa hàng cây và khuất khỏi tầm mắt tôi.

Mười lăm phút sau, người đạp xe thứ hai xuất hiện.

Lần này là thiếu nữ từ nhà ga đi lại.

Tôi thấy cô nhìn quanh quất khi đến hàng cây bao quanh lâu đài.

Chỉ một loáng sau, người đàn ông đã từ chỗ nấp đi ra, nhảy lên xe rồi đi theo cô gái.

Giữa quang cảnh mênh mông quạnh quẽ chỉ có hai con người đang di chuyển: Cô gái duyên dáng ngồi thẳng trên xe, còn gã đàn ông đằng sau gò người trên ghi-đông, mỗi động tác của ông ta đều toát lên cái vẻ rình rập khó hiểu.

Cô ngoái nhìn ông ta rồi đạp chậm lại.

Ông ta liền giảm tốc.

Cô dừng, ông ta cũng dừng sau cô hai trăm yard.

Điều cô làm tiếp sau đó thật can đảm mà cũng thật bất ngờ.

Bất thình lình, cô quay xe rồi phóng thẳng về phía ông ta!

Tuy nhiên, ông ta cũng lẹ làng chẳng kém và cuống cuồng phóng đi.

Chẳng mấy chốc cô đã quay lại, đầu ngẩng cao kiêu hãnh, không thèm đếm xia đến kẻ âm thầm bám đuôi, ông ta cũng quay lại, vẫn đạp xe cách cô gái một quãng, nhưng rồi họ đi qua chỗ ngoặt của con đường và khuất khỏi tầm mắt tôi, Tôi vẫn ngồi yên tại chỗ nấp và may là tôi làm vậy, vì chẳng mấy chốc người đàn ông đã từ từ đạp xe trở lại.

Ông ta rẽ vào cổng lâu đài rồi xuống xe.

Tôi thấy ông ta đứng giữa đám cây cối ít phút.

Ông ta đưa hai tay lên như đang chỉnh lại cà vạt, sau đó lên xe và đi xuôi theo lối dẫn vào lâu đài.

Tôi chạy băng qua khu đất hoang rồi hé nhìn qua đám cây.

Tôi thấp thoáng thấy tòa nhà xám xịt cũ kĩ với những ống khói thời Tudor dựng đứng, nhưng vì lối đi chạy qua một vùng cây bụi mọc ken dày nên tôi không thấy người kia nữa.

Tuy vậy, tôi vẫn cảm thấy sáng nay mình làm được khá nhiều việc nên hào hứng cuốc bộ về Farnham.

Văn phòng môi giới nhà đất trong vùng không thể cho tôi biết gì về lâu đài Charlington nên giới thiệu tôi đến một hãng nổi tiếng ở Pall Mall.

Trên đường về tôi ghé vào đó và được người đại diện lịch sự tiếp đón.

Anh ta báo rằng tôi không thể thuê lâu đài Charlington trong hè này vì đến muộn quá.

Nó được một ông tên là Williamson thuê từ khoảng một tháng trước.

Đấy là một quý ông lớn tuổi đáng kính.

Tay nhân viên môi giới bảo rằng không thể nói gì thêm, vì anh ta không được phép bàn về các vấn đề riêng tư của khách hàng.

Chiều hôm ấy, Sherlock Holmes chăm chú lắng nghe bài tường trình dài của tôi, nhưng không đưa ra một lời khen cộc lốc như tôi mong mỏi và rất coi trọng.

Trái lại, vẻ mặt anh còn cau có hơn mọi ngày khi anh bình phẩm về những điều tôi đã và chưa làm.

"Watson ơi, chỗ anh nấp bậy quá.

Nếu anh nấp sau hàng cây, có phải anh đã nhìn rõ mặt nhân vật thú vị kia rồi không?

Ấy thế mà anh lại chọn chỗ xa hàng trăm yard, và kể cho tôi được ít hơn cả cô Smith.

Cô ta nghĩ mình không quen người đàn ông này, nhưng tôi tin chắc cô ta biết.

Nếu không, sao ông ta sợ cô ta đến gần và thấy mặt mình chứ?

Anh bảo ông ta khom người trên ghi-đông.

Anh thấy không, lại là trò giấu mặt đấy!

Anh làm tệ thật, ông ta vào lâu đài và anh muốn biết ông ta là ai.

Ấy thế mà anh lại đến gặp một nhân viên môi giới nhà đất ở tít tận London!"

"Vậy tôi phải làm gì nào?"

Tôi hơi nổi nóng.

"Đến quán rượu gần nhất.

Đấy là trung tâm đưa chuyện ở thôn quê.

Họ sẽ cho anh biết tên tuổi của tất tật mọi người ở đấy, từ ông chủ cho đến cô hầu nấu ăn rửa bát.

Williamson!

Nó chẳng gợi ra cái gì cả.

Nếu ông ta lớn tuổi, ông ta sẽ không còn nhanh nhẹn đến độ có thể đạp xe phăm phăm bỏ chạy khi bị cô thiếu nữ đuổi theo.

Ta thu được gì từ chuyến đi của anh nào?

Ta biết câu chuyện của cô gái là thật, nhưng tôi có hoài nghi chuyện đó đâu.

Ta biết có mối liên hệ giữa kẻ bí ẩn đi xe đạp và lâu đài, nhưng tôi cũng chẳng nghi ngờ điều ấy.

Ta biết lâu đài do Williamson thuê.

Thế được ích gì nào?

Thôi thôi, đừng ủ ê chứ, anh bạn thân mến.

Từ giờ tới thứ bảy, ta có thể điều tra thêm, và biết đâu tôi lại dò la ra gì đó."

Sáng hôm sau, chúng tôi nhận được một mẩu thư của cô Smith, thuật lại vắn tắt đúng những sự việc tôi được chứng kiến, nhưng điều khiến chúng tôi chú ý lại nằm ở dòng tái bút:

Thưa ông Holmes, tôi tin ông sẽ giữ bí mật về điều tôi sắp thổ lộ đây.

Ông chủ vừa ngỏ lời cầu hôn tôi và tôi thấy khó xử.

Tôi chắc chắn tình cảm của ông ấy dành cho tôi vô cùng sâu sắc và chân thành.

Nhưng tôi đã hứa hôn.

Tất nhiên ông ấy buồn vì tôi khước từ, nhưng vẫn đối xử với tôi rất nhã nhặn.

Nhưng ông có thể hiểu là tình hình có chút căng thẳng.

"Có vẻ cô bạn trẻ của chúng ta đang lâm vào hoàn cảnh khó xử."

Đọc xong thư, Holmes đăm chiêu nói.

"Vụ này đã bộc lộ nhiều nét đáng chú ý hơn và có vẻ lắt léo hơn lúc đầu tôi tưởng.

Nếu tôi về thôn quê hưởng một ngày yên tĩnh thì cũng chẳng hại gì nên chiều nay, tôi muốn xuống đó kiểm chứng một, hai giả thuyết."

Ngày yên tĩnh ở chốn thôn quê của Holmes kết thúc thật khác thường, vì mãi nhập nhoạng tối anh mới về phố Baker, môi rách toác và trán u lên một cục.

Ấy là chưa kể tới cái vẻ phóng đãng khiến anh trông chẳng khác gì đối tượng tình nghi của Sở Cảnh sát London.

Anh thấy cuộc phiêu lưu của mình quá vui nhộn nên cười ha hả khi thuật lại.

"Tôi ít khi được vận động nên cứ có dịp là thấy cực đã," anh nói.

"Anh cũng biết tôi thông thạo vài ngón quyền Anh rồi nhỉ?

Đôi lúc ngón đòn ấy cũng được việc lắm.

Chẳng hạn như hôm nay, nếu không có nó chắc tôi đã được một phen ê chề rồi."

Tôi nài anh kể cho nghe chuyện lúc chiều.

"Tôi tìm được quán rượu mà tôi đã khuyên anh lưu ý và ở đó, tôi kín đáo dò la.

Tôi ngôi bên quầy và được tay chủ quán ba hoa lắm lời cung cấp cho tất cả những điều cần biết.

Williamson râu bạc, sống một mình cùng dăm ba người hầu tại lâu đài.

Nghe đồn hắn đang hoặc từng là tu sĩ, nhưng cái làm tôi chú ý là trong quãng thời gian ngắn ngủi cư ngụ tại lâu đài, hắn chẳng có vẻ gì của tu sĩ cả.

Tôi đã dò hỏi ở văn phòng mục sư, và được biết đã từng có một người tên đó, nhưng lí lịch của ông ta rất xấu.

Tay chủ quán còn cho tôi biết thêm là lâu đài thường tiếp một đám người tới vào dịp cuối tuần và theo như lời ông ta thì 'đó là một đám sôi nổi'.

Đặc biệt, một người có bộ ria mép đỏ, tên Woodley, luôn ở đó.

Chúng tôi mới nói tới đây thì chính quý ông Woodley đã xen vào, thì ra nãy giờ vẫn uống bia trong quán và nghe hết cuộc chuyện trò.

Hắn hỏi một tràng lưu loát rằng tôi là ai, tôi muốn gì, tôi dò hỏi là có ý gì.

Ôi, những tính từ hắn dùng mới hùng hồn làm sao chứ!

Chửi rủa một tràng xong, hắn bất ngờ ra một đòn hiểm khiến tôi né không kịp.

Vài phút sau đó thú vị lắm nhé!

Tôi đấm một cú đấm thẳng bằng tay trái vào gã côn đồ kia.

Tôi ra khỏi quán đúng như anh đang thấy, còn gã Woodley lên xe ngựa ra về.

Chuyến đi về miền thôn quê của tôi kết thúc như vậy đấy, và tôi cũng phải thú thật rằng, dù chuyến này tôi về vùng rìa Surrey có thú vị thật nhưng cũng chẳng thu được nhiều thông tin hơn anh."

Đến hôm thứ năm, chúng tôi nhận thêm một lá thư nữa từ nữ thân chủ:

Thưa ông Holmes, có lẽ ông không hề ngạc nhiên khi biết tôi sẽ không làm ở chỗ ông Carruthers nữa.

Lương cao cũng không thể khiến tôi vơi đi cảm giác khó chịu.

Thứ bảy này tôi sẽ lên thị trấn và không định trở lại nữa.

Ông Carruthers đã mua xe ngựa, vậy nên những mối nguy, nếu có, trên con đường vắng giờ đã hết.

Còn về nguyên do đặc biệt khiến tôi ra đi, đó không đơn thuần do chuyện với ông Carruthers, mà vì gã Woodley bỉ ổi lại xuất hiện.

Hắn lúc nào cũng xấu, nhưng giờ trông còn kinh khủng hơn bao giờ hết, vì hình như hắn đã gặp tai nạn khiến gương mặt biến dạng cả.

Tôi thấy hắn ngoài cửa sổ, nhưng mừng vì không phải gặp hắn.

Hắn nói chuyện với ông Carruthers một lúc lâu, sau đó ông ấy có vẻ rất lo lắng căng thẳng.

Chắc hẳn lâu nay Woodley vẫn sống gần đây, vì hắn không hề ngủ lại, nhưng sáng nay tôi lại bắt gặp hắn lảng vảng gần mấy bụi rậm.

Tôi thà thấy lũ thú hoang hung dữ quanh quẩn nơi đây hơn là thấy hắn.

Tôi ghê tởm và sợ hắn khôn tả.

Làm sao ông Carruthers lại chịu nổi loại người như vậy lấy một phút chứ?

Tuy nhiên đến thứ bảy này mọi lo nghĩ của tôi sẽ tan biến.

"Tôi mong vậy, Watson à, tôi mong là vậy", Holmes nói nghe rất trầm trọng.

"Có một mưu đồ thâm hiểm nào đó được sắp đặt quanh người phụ nữ ấy và nhiệm vụ của ta là phải lo sao cho không ai quấy nhiễu cô ấy trên chuyến đi sau cùng đó.

Watson này, tôi thấy sáng thứ bảy này, cả hai ta phải dành thời gian xuống đó và bảo đảm cuộc điều tra kì lạ và dang dở này sẽ không kết thúc theo hướng không hay."

Thú thật rằng cho đến lúc này, tôi vẫn không nhìn nhận sự việc này nghiêm túc cho lắm.

Tôi thấy nó có vẻ quái gở và lạ lùng thì đúng hơn.

Chuyện một người đàn ông rình rập và đeo bám một cô gái xinh đẹp không phải là chuyện chưa từng có.

Hơn nữa, nếu ông ta chẳng có gan gặp cô Smith, không những thế còn bỏ chạy khi cô tới gần, ông ta không phải người nguy hiểm.

Tên Woodley côn đồ thì lại khác, nhưng trừ một lần ra, hắn không hề quấy nhiễu thân chủ của chúng tôi và trong lần gần đây nhất đến nhà Carruthers, hắn cũng không mạo phạm đến cô.

Người đi xe đạp chắc chắn là một trong những kẻ thường lui tới lâu đài trong lời kể của ông chủ quán rượu, nhưng ông ta là ai hay ông ta muốn gì thì lại càng mờ mịt.

Chính thái độ trầm trọng của Holmes và việc anh đút khẩu súng lục vào túi trước khi ra khỏi phòng mới cho tôi cái cảm tưởng rằng một tai họa nào đó đang ẩn sau loạt sự kiện lạ lùng này.

Sau một đêm mưa, bầu trời ban sáng hửng nắng, và những lùm hoa kim tước còn ướt nước mưa dường như càng xinh đẹp hơn trước những đôi mắt đã chán sắc nâu xỉn và xám xịt của London.

Holmes và tôi thả bộ dọc con đường cát, hít vào phổi thứ không khí tươi mát của buổi mai và thưởng thức tiếng chim hót cùng làn gió xuân trong lành.

Từ một chỗ dốc lên trên sườn đồi Crooksbury, chúng tôi thấy lâu đài u ám sừng sững giữa đám sồi dẫu già cỗi nhưng vẫn non trẻ hơn tòa nhà chúng bao quanh.

Holmes chỉ xuống khúc đường dài quanh co, trông như một dải màu vàng đỏ chạy giữa sắc nâu của khu đất hoang và màu xanh lộc biếc của khu vườn.

Chúng tôi có thể thấy ở xa tít, một chiếc xe như một chấm đen di chuyển về phía mình.

Holmes nóng ruột thốt lên một tiếng.

"Tôi đã đi sớm hẳn nửa giờ," anh nói.

"Nếu đó là xe ngựa của cô gái, vậy cô ấy định bắt chuyến tàu sớm hơn rồi.

Watson này, tôi e rằng ta chưa kịp đón thì cô ấy đã đi ngang Charlington rồi."

Từ lúc đi qua con dốc, chúng tôi không còn thấy chiếc xe nữa, nhưng cả hai vẫn rảo bước đi tiếp với cái tốc độ mà sau một thời gian sống nhàn hạ, tôi không còn đi nổi nữa.

Vậy nên tôi buộc phải tụt lại đằng sau.

Tuy nhiên, Holmes luôn sung sức, vì anh có nguồn sức mạnh tinh thần không bao giờ cạn.

Bước chân anh thoăn thoắt không hề chậm lại.

Đến khi vượt xa tôi độ một trăm yard, anh bất ngờ khựng lại, rồi tôi thấy anh vung bàn tay lên một cách khổ sở tuyệt vọng.

Đúng lúc đó, một con ngựa chạy nước kiệu kéo lê dây cương, không có người điều khiển, kéo một cỗ xe không người ngồi xuất hiện gần chỗ ngoặt rồi rầm rập phóng về phía chúng tôi.

"Muộn quá rồi, Watson ơi, muộn quá rồi!"

Holmes kêu lên khi tôi hổn hển chạy lại bên cạnh.

"Tôi thật ngu mới không dự liệu chuyến tàu sớm đó!

Cô gái bị bắt đi rồi, Watson.

Cô ấy bị bắt cóc, hoặc bị sát hại!

Có trời mới biết!

Chặn đường nào!

Dừng ngựa lại!

Đúng rồi.

Nào, nhảy lên, để xem tôi có cứu vãn được hậu quả của sai lầm ngớ ngẩn này không."

Chúng tôi nhảy lên chiếc xe ngựa, rồi Holmes quành ngựa lại, vụt roi và chúng tôi phóng ngược lại theo đường cỗ xe vừa đi qua.

Khi vào khúc cua, chúng tôi thấy cả cung đường giữa lâu đài và khu đất hoang trải rộng trước tầm mắt.

Tôi chụp lấy tay Holmes.

"Người đó kìa!"

Tôi há hốc miệng.

Một người đang đạp xe về phía chúng tôi ông ta cúi đầu, khòng vai, dồn toàn bộ sức lực lên bàn đạp và phóng như bay.

Bất chợt bộ mặt có râu quai nón ngẩng lên.

Thấy chúng tôi tiến đến gần, ông ta dừng xe và nhảy xuống.

Bộ râu quai nón đen như than tương phản lạ lùng với làn da tái nhợt, còn đôi mắt người đàn ông sáng rực như thể ông ta đang lên cơn sốt.

Ông ta nhìn chằm chặp vào chúng tôi và cỗ xe ngựa.

Sau đó, một nét sửng sốt thoáng qua gương mặt ông ta.

"Này!

Dừng lại!"

Ông ta kêu lên, giữ xe đạp để chặn đường chúng tôi.

"Mấy ông lấy cỗ xe ở đâu ra?

Dừng lại, trời ơi!"

Ông ta hét và rút khẩu súng ngắn trong túi bên hông ra.

"Dừng xe lại, nếu không tôi sẽ bắn ngựa của mấy ông."

Holmes quăng dây cương vào lòng tôi rồi nhảy xuống xe.

"Chúng tôi đang muốn gặp ông đây.

Cô Violet Smith đâu?"

Anh vội hỏi.

"Tôi cũng muốn hỏi các ông điều đó.

Mấy ông đang ngồi trên xe của cô ấy.

Mấy ông phải biết cô ấy ở đâu chứ!"

"Chúng tôi gặp nó trên đường.

Chẳng có ai trên xe hết.

Chúng tôi liền đánh xe quay lại để giúp cô ấy."

"Trời ơi!

Tôi phải làm gì đây?"

Người lạ bần thần tuyệt vọng kêu lên.

"Thằng Woodley hung ác và tay mục sư đê tiện bắt cô ấy rồi.

Đến đây, trời, đến đây, nếu mấy ông quả thực là bạn cô ấy.

Giúp tôi và chúng ta sẽ cứu được cô ấy, kể cả nếu tôi có phải bỏ nắm xương tàn này lại khu vườn Charlington."

Ông ta hớt hải chạy, tay cầm khẩu súng lục, tới một khoảng hở giữa hàng thông đỏ.

Holmes bám theo, còn tôi, sau khi bỏ con ngựa lại gặm cỏ bên đường, cũng chạy theo Holmes.

"Chúng đi qua lối này", ông ta nói và chỉ mấy dấu chân trên lối mòn đầy bùn đất.

"Ôi trời!

Dùng lại đã!

Ai trong bụi rậm thế này?"

Đó là một chàng trai trạc mười bảy, mặc quần nhung da và đi ghệt kiểu như người giữ ngựa.

Cậu ta nằm ngửa, đầu gối co lên và bị một vết rạch khủng khiếp trên đầu.

Cậu ta bất tỉnh, nhưng còn sống.

Nhìn qua vết thương, tôi biết nó vẫn chưa phạm vào xương.

"Đó là Peter, người giữ ngựa", người lạ kêu lên.

"Cậu ta chở cô Smith đi.

Chắc lũ súc sinh đã lôi cậu ta ra đây rồi đánh.

Cứ để cậu ta nằm đó, vì ta chẳng giúp gì được.

Nhưng chúng ta có thể cứu cô gái khỏi số phận tồi tệ nhất đối với một người phụ nữ."

Chúng tôi tất tả chạy theo lối mòn quanh co giữa đám cây cối.

Vừa tới chỗ cây cối um tùm bao quanh dinh cơ, Holmes bỗng dừng lại.

"Chúng không vào lâu đài.

Bên trái có dấu chân của chúng...

đây, bên cạnh mấy bụi nguyệt quế.

Tôi nói rồi mà!"

Anh đang nói thì có tiếng phụ nữ thét lanh lảnh, tiếng thét âm vang một nỗi kinh hoàng vẳng tới từ bụi cây xanh rậm rạp phía trước.

Tiếng thét vút lên rồi chợt lịm tắt vì nấc nghẹn.

"Lối này!

Họ đang ở sân chơi bowling", người lạ kêu to và lao qua bụi rậm.

"A, lũ chó hèn hạ!

Hai vị theo tôi!

Muộn quá rồi!

Quá muộn rồi!

Trời ơi!"

Chúng tôi bỗng bước vào một thảm cỏ đẹp đẽ.

Bên kia, một nhóm ba người đang đứng dưới bóng một cây sồi hùng vĩ.

Một là nữ thân chủ của chúng tôi đang gục xuống và bị thít khăn tay quanh miệng.

Đứng đối diện cô là một thanh niên trông có vẻ cục súc, ria mép đỏ, mặt húp sụp, chân đi ghệt và đứng khệnh khạng, một tay chống nạnh, tay kia phe phẩy roi quất ngựa.

Toàn thể dáng điệu hắn bộc lộ sự hả hê đắc thắng.

Đứng giữa họ là một người đàn ông đứng tuổi, râu bạc, mặc áo thụng ngắn bên ngoài bộ đồ vải tuýt sáng màu, rõ ràng là mới làm lễ xong cho đám cưới, vì khi chúng tôi xuất hiện, lão ta cũng vừa bỏ cuốn kinh cầu nguyện vào túi và vui vẻ vỗ lưng chúc mừng chú rể gian ác.

"Họ thành vợ chồng rồi!"

Tôi hổn hển nói.

"Đi thôi!"

Người dẫn đường của chúng tôi kêu lên.

"Đi nào!"

Ông ta chạy ào qua khu đất hoang mọc đầy cỏ, Holmes và tôi theo sát gót.

Khi chúng tôi tới gần, cô gái đang lảo đảo dựa vào thân cây để đứng vững.

Williamson, cựu thầy tu, cúi chào chúng tôi bằng sự lễ độ giả tạo, còn Woodley côn đồ vừa bước tới vừa hả hê cười sằng sặc.

"Ông lột bộ râu ra được rồi đó, Bob", hắn nói.

"Tôi biết ông khá rõ mà.

À, ông và mấy ông bạn tới đúng lúc đấy.

Để tôi giới thiệu mấy ông với bà Woodley nhé."

Phản ứng của người dẫn đường thật khác thường, ông ta giật bộ râu đen ném xuống đất, để lộ gương mặt dài, vàng vọt và nhẵn nhụi.

Đoạn, ông ta giơ khẩu súng lục lên để khống chế tên côn đồ đang tiến tới, tay vung vẩy roi ngựa, ở hắn toát ra cái vẻ cực kì nguy hiểm.

"Phải", đồng minh của chúng tôi nói, "tôi là Bob Carruthers, và tôi sẽ bênh vực người phụ nữ này dù có phải án treo cổ.

Tôi đã bảo anh rằng tôi sẽ làm gì nếu anh quấy nhiễu cô ấy rồi và, thề có Chúa, tôi sẽ giữ lời!"

"Ông muộn quá rồi.

Cô ta đã là vợ tôi!"

"Không, cô ấy là góa phụ của anh."

Tiếng súng nổ giòn, rồi tôi thấy máu phụt ra từ trước áo chẽn của Woodley.

Hắn rú lên một tiếng, lảo đảo rồi ngã vật ra đất, bộ mặt đỏ lựng gớm ghiếc bỗng tái nhợt đến đáng sợ.

Lão già, vẫn mặc áo thụng, chửi bới toàn những lời thậm tệ chưa từng thấy, rồi rút súng lục, nhưng chưa kịp giơ lên, lão đã thấy họng súng của Holmes.

"Đủ rồi", bạn tôi lạnh lùng nói.

"Vứt súng xuống!

Watson, nhặt lên đi!

Chĩa vào đầu lão.

Cảm ơn anh.

Còn ông Carruthers, đưa tôi khẩu súng đó.

Ta không dùng vũ lực nữa.

Nào, nộp đây!"

"Vậy ông là ai?"

"Tôi là Sherlock Holmes."

"Trời đất!"

"Vậy ông đã nghe danh tôi rồi.

Tôi sẽ đại diện cho cảnh sát địa phương cho đến khi họ tới.

Này, anh kia!"

Anh quát người giữ ngựa còn đang kinh hoàng vừa xuất hiện ở bìa khu đất hoang mọc đầy cỏ dại.

"Lại đây.

Cầm lá thư này rồi phóng ngựa thật nhanh đến Farnham."

Anh hí hoáy vài chữ trên một trang sổ tay.

"Đưa cho sĩ quan cảnh sát tại đồn.

Tôi phải đích thân quản thúc tất cả các ông cho đến khi cảnh sát tới."

Tính cách mạnh mẽ, uy phong của Holmes chế ngự hiện trường bi thảm, và tất cả đều biến thành con rối dưới sự điều khiển của anh.

Williamson và Carruthers khiêng Woodley bị thương vào nhà, còn tôi đưa tay cho cô gái đang trong cơn khiếp đảm vịn.

Kẻ bị thương được đặt nằm lên giường, rồi tôi khám cho hắn như Holmes yêu cầu.

Tôi đến thông báo lại khi anh đang ngồi trong phòng ăn treo tấm thảm xưa cùng hai người còn lại.

"Hắn sẽ sống", tôi nói.

"Sao!"

Carruthers kêu lên và bật dậy khỏi ghế.

"Tôi phải lên lầu kết liễu đời hắn.

Ông nói rằng là cô gái đó, thiên thần đó, sẽ bị ràng buộc với Jack Woodley phóng đãng suốt đời sao?"

"Ông không phải lo chuyện đó", Holmes nói.

"Có hai lí do rất chính đáng cho việc cô ấy sẽ không trở thành vợ hắn.

Thứ nhất, chúng ta rất có lí khi nghi ngờ quyền cử hành hôn lễ của ông Williamson."

"Tôi đã được thụ phong", lão già bất lương kêu lên.

"Và đã bị tước áo thầy tu."

"Đã là tu sĩ thì mãi sẽ là tu sĩ."

"Tôi không nghĩ như vậy.

Còn giấy đăng kí kết hôn?"

"Nó ở trong túi tôi đây."

"Vậy ông có nó bằng mánh lới.

Nhưng dù sao đi chăng nữa, hôn nhân do ép uổng không được coi là hôn nhân hợp pháp.

Đó là trọng tội.

Nếu tôi không nhầm, ông sẽ có khoảng mười năm để nghiền ngẫm về vấn đề này.

Còn ông Carruthers, lúc nãy đáng ra ông nên giữ súng ở nguyên trong túi."

"Thưa ông Holmes, tôi cũng đã nghĩ vậy.

Tuy nhiên, sau bao nhiêu việc tôi làm cho cô gái ấy - vì tôi yêu cô ấy, và đây là lần đầu tiên tôi biết tình yêu là gì - tôi chỉ muốn phát điên khi nghĩ tới chuyện cô ấy đang nằm trong tay tên côn đồ cục súc ghê gớm nhất Nam Phi.

Tên hắn là nỗi kinh hoàng khắp vùng đất từ Kimberley cho đến Johannesburg.

Ông Holmes, chắc ông thấy khó tin, nhưng từ khi cô Smith làm việc cho tôi, chưa lần nào tôi để cô ấy đi ngang cơ ngơi này, cái hang ổ của tụi bất lương kia mà không đạp xe theo trông chừng.

Tôi giữ khoảng cách với cô ấy và đeo râu giả để cô ấy không nhận ra.

Cô ấy tốt bụng và kiêu hãnh nên sẽ không ở lại làm cho tôi lâu nếu biết tôi bám theo cô ấy suốt đường làng."

"Sao ông không cho cô ấy biết cô ấy đang gặp nguy hiểm?"

"Tôi xin nhắc lại, nếu cô ấy biết, cô ấy sẽ bỏ tôi đi ngay, mà tôi không chịu nổi điều đó.

Dù cho cô ấy không yêu tôi đi nữa, nhưng tôi chỉ cần được nhìn bóng dáng yêu kiều của cô ấy trong nhà và nghe tiếng cô ấy là đủ rồi."

"Ông Carruthers", tôi nói, "ông gọi đó là tình yêu, nhưng tôi cho rằng đấy là sự ích kỉ của ông."

"Có lẽ hai thứ song hành cùng nhau.

Nói tóm lại, tôi không thể để cô ấy đi.

Vả lại, vì bọn chúng luẩn quẩn quanh đây nên phải có ai đó bên cạnh lo cho cô ấy.

Sau đó, khi bức điện tín đến, tôi biết chúng buộc phải hành động."

"Bức điện nào?"

Carruthers lấy trong túi ra, "Nó đây?

Bức điện rất ngắn gọn và súc tích: Ông già đã chết.

"Hừ!"

Holmes nói.

"Có lẽ tôi biết nguyên do trong chuyện này, và tôi hiểu vì sao lời nhắn này, khiến chúng ra tay như ông nói.

Nhưng trong khi chờ cảnh sát tới, ông cứ kể đi."

Lão già tội lỗi mặc áo tu oang oang chửi rủa một tràng, "Bob Carruthers, tao thề", lão ta nói, "nếu mi chỉ điểm bọn tao, tao sẽ xử mi như mi vừa xử Jack Woodley.

Nếu thích mi cứ tiếp tục lảm nhảm về ả kia, vì đó là chuyện của mi, nhưng nếu mi tâu hót bạn bè mi với tên thám tử chìm này, đó sẽ là việc tồi tệ nhất mà mi làm trong ngày hôm nay."

"Xin đức cha chớ kích động", Holmes nói và châm thuốc.

"Vụ án đã đủ rõ ràng để buộc tội ông, tôi hỏi chỉ để thỏa trí tò mò.

Tuy nhiên, nếu ông thấy khó kể, vậy hãy để việc đó cho tôi, và ông sẽ thấy chẳng giữ bí mật được bao lâu nữa đâu.

Trước hết, ba người các ông từ Nam Phi về để làm trò này - ông Williamson, ông Carruthers, và Woodley."

"Cái sai thứ nhất", lão già nói "Mãi đến hai tháng trước tôi mới gặp một trong hai người kia, và cả đời tôi chưa từng đặt chân sang châu Phi, vậy nên ông bỏ cái mớ suy luận đó vào tẩu mà hút được rồi đó, ông Holmes Bao Đồng ạ!"

"Ông ta nói thật", Carruthers nói.

"Thôi được, chỉ có ông và Woodley về Anh.

Còn đức cha đây trước nay vẫn sống ở đất nước này.

Hai ông quen Ralph Smith ở Nam Phi.

Các ông có lí do để tin rằng ông ta sẽ chẳng sống được bao lâu nữa.

Các ông biết rằng cô cháu gái sẽ thừa kế gia tài của ông ta.

Tôi nói có đúng không?"

Carruthers gật đầu còn Williamson chửi thề.

"Cô ấy là họ hàng thân cận nhất với Ralph Smith, các ông còn biết ông già không thể lập di chúc."

"Vì không đọc hay viết gì được nữa," Carruthers nói.

"Vậy nên hai người về tìm cô gái.

Các ông định rằng một trong hai người sẽ cưới cô ấy, còn người kia cũng được chia phần.

Vì lí do nào đó, Woodley được chọn sẽ trở thành chồng cô Smith.

Sao lại thế?"

"Trong chuyến đi về, chúng tôi chơi bài xem ai được làm chồng cô gái.

Hắn thắng."

"Tôi hiểu rồi.

Ông mời cô gái làm việc cho mình, để Woodley tán tỉnh cô ấy.

Cô ấy nhận thấy hắn là kẻ cục súc, bê tha nên tránh hắn.

Trong khi đó, ý đồ dàn xếp của các ông bị đảo lộn vì chính ông lại đem lòng yêu cô gái.

Ông không chịu nổi ý nghĩ tên côn đồ kia sẽ chiếm được cô ấy."

"Phải, trời ơi, tôi không chịu nổi!"

"Hai người tranh cãi.

Hắn điên tiết bỏ đi và bắt đầu thực hiện kế hoạch một mình mà không có ông."

"Williamson này, tôi thấy chúng ta chẳng còn gì nhiều mà ông đây chưa biết", Carruthers cười chua chát.

"Phải, chúng tôi cãi vã rồi hắn đánh ngã tôi, nhưng tôi cũng trả đũa được rồi.

Tôi không thấy hắn xuất đầu lộ diện kể từ đó.

Thì ra lúc ấy, hắn đã lân la làm quen với lão tu sĩ bị lột áo tu này.

Tôi hay tin chúng thuê chỗ này vì biết cô ấy phải đi qua đây để tới nhà ga.

Sau đó tôi trông chừng cô ấy vì biết sắp có trò tai quái gì đây.

Thỉnh thoảng tôi gặp chúng để tìm hiểu xem chúng toan tính điều gì.

Hai hôm trước, Woodley đến nhà tôi cầm theo bức điện báo tin Ralph Smith đã chết.

Hắn hỏi tôi có thực hiện thỏa thuận không.

Tôi nói không.

Hắn hỏi tôi có muốn cưới cô gái rồi chia phần cho hắn không.

Tôi trả lời rằng mình sẵn lòng, nhưng cô ấy sẽ không đồng ý.

Hắn bèn bảo, 'Tôi cứ ép cô ta kết hôn với tôi trước đã.

Biết đâu chỉ ít tuần nữa, cô ta sẽ nhìn nhận mọi chuyện khác đi đôi chút'.

Tôi nói, tôi nhất quyết không dùng vũ lực.

Hắn chửi rủa và thề rằng hắn sẽ có cô ấy bằng bất cứ giá nào.

Sau đó hắn bỏ đi.

Tôi biết đến cuối tuần, cô ấy sẽ rời nhà tôi nên đã kiếm một xe ngựa nhỏ để đưa cô ấy đến ga, nhưng vì trong lòng bất an nên tôi vẫn đạp xe theo.

Tuy nhiên, cô ấy khởi hành sớm, khi tôi tới, thấy hai ông ngồi xe cô ấy quay lại, tôi biết tai họa đã xảy ra rồi."

Holmes đứng lên ném mẩu thuốc vào lò sưởi.

"Tôi chậm hiểu quá, Watson à", anh nói.

"Đáng lẽ lúc nghe anh kể rằng thấy người đàn ông đạp xe chỉnh cà vạt trong lùm cây, tôi phải hiểu hết rồi mới phải.

Tuy vậy, ta có thể tự chúc mừng vì được tham dự vào một sự kiện kì lạ và có thể nói là có một không hai trên một vài phương diện.

Tôi thấy có ba cảnh sát đang đi vào, tôi cũng mừng khi thấy cậu coi chuồng ngựa đang sánh bước với họ.

Vậy chắc cậu ta và gã chú rể hụt sẽ không bị tàn tật suốt đời vì chuyện ban sáng.

Watson này, tôi nghĩ bằng chuyên môn của mình, anh có thể chăm sóc cho cô Smith và nói với cô ấy rằng nếu cô ấy khỏe rồi, chúng ta sẽ vui lòng đưa cô ấy về nhà mẹ.

Nếu cô ấy chưa bình phục hẳn, anh chỉ cần nói bóng gió rằng ta sắp đánh điện cho chàng kĩ sư điện, có lẽ cô ấy sẽ khỏi hẳn đấy.

Còn về phần ông, ông Carruthers, tôi thấy ông đã làm những gì có thể để chuộc lỗi rồi.

Đây là danh thiếp của tôi, thưa ông, nếu lời khai của tôi có thể giúp gì cho ông tại phiên tòa thì hãy liên lạc với tôi."

Vì chúng tôi quay cuồng trong công việc liên miên không dứt nên, như độc giả có lẽ đã nhận thấy, tôi thường khó mà kể câu chuyện tới tận những chi tiết cuối cùng mà những người hiếu kì ắt hẳn đều mong đợi.

Sự kiện này luôn là mở đầu cho sự kiện khác và khi gút thắt đã được tháo gỡ, các diễn viên sẽ rời khỏi guồng sống tất bật của chúng tôi.

Tuy vậy, tôi cũng tìm thấy một ghi chú vắn tắt ở cuối các ghi chép đề cập tới vụ này, trong đó có nhắc tới việc cô Violet Smith được thừa hưởng một gia tài lớn và kết hôn cùng Cyril Morton, cộng sự lâu năm của hãng Morton & Kennedy, nhóm thợ điện trứ danh vùng Westminster.

Williamson và Woodley lần lượt lĩnh án tù bảy năm và mười năm vì tội bắt cóc và hành hung.

Tôi không ghi chép gì về số phận của Carruthers, nhưng tôi tin chắc tòa sẽ không xem hành động tấn công của ông ta là nghiêm trọng lắm vì Woodley vốn có tiếng côn đồ và cực kì nguy hiểm, tôi thiết nghĩ ông ta chỉ phải ngồi tù vài tháng là cùng.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
VỤ BẮT CÓC TẠI TRƯỜNG PRIORY (The Priory School, 1904)


Tại sân khấu nhỏ ở phố Baker, chúng tôi đã đôi lần được thưởng thức những cảnh mở màn và hạ màn đầy kịch tính, nhưng theo tôi nhớ thì không có gì bất ngờ và kinh động hơn sự xuất hiện của vị thạc sĩ, tiến sĩ, vân vân sĩ Thorneycroft Huxtable.

Tấm danh thiếp, dường như quá nhỏ không gánh nổi sức nặng của các học vị, đến trước ông ít giây, rồi sau đó chính ông xuất hiện.

Ông to cao, đường bệ và quý phái đến độ bản thân ông chính là hiện thân của sự điềm tĩnh và vững vàng.

Ấy vậy mà cửa vừa khép sau lưng, ông đã lảo đảo dựa vào bàn, rồi trượt dần xuống.

Thế rồi con người oai vệ ấy nằm sõng soài bất tỉnh trên tấm thảm da gấu trải trước lò sưởi nhà chúng tôi.

Chúng tôi đứng bật dậy rồi trong một lát, cả hai im lặng sững sờ đăm đăm nhìn con người như con tàu lớn bị đắm sau khi hứng chịu cơn bão lớn bất đồ ập tới ở ngoài biển đời kia.

Sau đó, Holmes vội lấy gối kê đầu cho người nọ, còn tôi đổ rượu brandy vào miệng ông.

Gương mặt trắng bệch hằn nét lo âu, bọng mắt xám xịt trũng sâu bên dưới đôi mắt khép, miệng ông ta há ra, hơi trễ bên khóe, râu ria mọc lỉa chĩa chẳng được cạo, mái tóc rối bù, còn cổ áo và thân áo bám đầy bụi đường.

Một con người khốn khổ đang nằm trước mặt chúng tôi.

"Ông ta làm sao vậy, Watson?"

Holmes hỏi.

"Kiệt sức hoàn toàn... có lẽ vì đói và mệt đây mà", tôi bắt mạch, cảm nhận dòng chảy yếu ớt của sự sống trong người ông.

"Vé khứ hồi từ Mackleton, miền bắc Anh", Holmes rút nó từ túi áo vị khách.

"Giờ chưa đến 12 giờ.

Vậy chắc chắn ông ta khởi hành từ sáng sớm."

Mí mắt nhăn nheo bắt đầu hấp háy, rồi đôi mắt xám đờ đẫn ngước nhìn chúng tôi.

Lát sau, người đàn ông lồm cồm đứng dậy, mặt đỏ lựng vì xấu hổ.

"Ông Holmes, mong ông thứ lỗi cho tình trạng suy nhược của tôi, mấy hôm nay tôi hơi căng thẳng.

Cảm ơn ông và nếu có một cốc sữa với vài cái bánh quy, chắc chắn tôi sẽ đỡ hơn.

Thưa ông Holmes, tôi tự mình tới để đảm bảo ông sẽ về cùng.

Tôi e điện tín không thể khiến ông tin vào tính cấp bách của sự việc."

"Đợi ông khỏe hẳn đã..

"

"Tôi đỡ nhiều rồi.

Tôi không hiểu sao mình lại yếu thế này.

Ông Holmes, tôi mong ông cùng tôi lên chuyến tàu tiếp theo tới Mackleton."

Bạn tôi lắc đầu.

"Bác sĩ Watson, bạn đồng hành của tôi, có thể cho ông biết chúng tôi hiện rất bận.

Tôi đang kẹt trong vụ Tài liệu của gia đình Ferrer, còn vụ Án mạng vùng Abergavenny lại sắp được xét xử.

Vì vậy trong thời điểm này, chỉ vấn đề nào cực kì quan trọng mới có thể khiến tôi rời London mà thôi."

"Việc này quan trọng chứ!"

Vị khách của chúng tôi giơ tay lên trời.

"Ông chưa nghe về vụ bắt cóc con trai độc nhất của công tước Holdernesse sao?"

"Sao!

Liên quan tới ngài cựu bộ trưởng ư?"

"Đúng vậy.

Chúng tôi đã cố giấu cánh báo chí, nhưng đã có lời đồn đăng trên tờ Globe tối qua.

Tôi nghĩ tin tức có thể đã đến tai ông."

Holmes giơ cánh tay dài, gầy guộc lựa tập "H" trong bộ bách khoa thư tham khảo của anh.

"Holdernesse, công tước đời thứ sáu, hiệp sĩ dòng Garter, ủy viên Hội đồng cơ mật hoàng gia Anh, nam tước vùng Beverley, bá tước vùng Carston.

Trời đất, quá nhiều tước hiệu!

Đại sứ tại Hallamshire từ năm 1900.

Kết hôn cùng Edith, ái nữ của ngài Charles Appledore, năm 1888.

Chỉ có một con trai, người thừa tự duy nhất, huân tước Saltire.

Sở hữu khoảng hai trăm năm mươi ngàn mẫu đất cùng các mỏ khoáng sản ở Lancashire và Wales.

Các cơ ngơi: Dãy nhà Cariton tại London; lâu đài Holdernesse tại Hallamshire; lâu đài Carston tại Bangor, Wales.

Làm bộ trưởng bộ Hải quân Anh, năm 1872; bộ trưởng bộ...

Chà chà, người này nhất định là một trong những bầy tôi có thế lực nhất của Nữ hoàng!"

"Có thế lực nhất và có thể là giàu nhất nữa.

Ông Holmes, tôi biết ông làm việc rất chuyên nghiệp và ông sẵn lòng đổ công đổ sức để làm tốt công việc mà không tơ hào lợi lộc.

Song tôi có thể cho ông biết rằng, công tước có ý trao tấm chi phiếu năm ngàn bảng cho người nào báo tin con trai ngài đang ở đâu, và một ngàn nữa cho ai nêu ra danh tính thủ phạm bắt cóc cậu."

"Quả là một món hậu tạ hào phóng", Holmes nói.

"Watson này, tôi nghĩ hai ta sẽ tháp tùng tiến sĩ Huxtable về miền bắc.

Trước mắt thì, thưa tiến sĩ Huxtable, khi nào dùng sữa xong, xin ông vui lòng cho tôi biết tường tận chuyện gì đã xảy ra, xảy ra bao giờ, xảy ra thế nào, trường Priory gần Mackleton có liên quan thế nào tới vụ việc, và cuối cùng là tại sao phải đợi những ba ngày sau sự việc - nhìn râu ria trên cằm ông là tôi biết - công tước mới hỏi tới sự giúp đỡ hèn mọn của tôi."

Khách của chúng tôi đã dùng xong sữa và bánh quy.

Mắt ông đã sáng và má đã hồng trở lại khi ông rành rọt giải thích sự tình.

"Tôi phải thưa với quý vị rằng Priory là trường tiểu học dân lập do tôi sáng lập và làm hiệu trưởng.

Có thể các vị đã nghe danh tôi là tác giả cuốn Đôi điều bàn thêm về Horace.

Priory là trường dân lập tốt nhất và ưu tú nhất Anh quốc.

Huân tước Leverstoke, bá tước vùng Blackwater, lẫn ngài Cathcart Soames đều gửi gắm con trai cho tôi.

Và tôi cảm thấy danh tiếng trường mình đã đạt mức lẫy lừng khi công tước Holdernesse cử thư kí James Wilder đến cùng lời nhắn rằng huân tước Saltire mười tuổi, con trai và người thừa tự duy nhất của ngài, sắp được giao cho tôi dạy dỗ.

Tôi nào ngờ đây lại là mở đầu cho tai họa lớn nhất đời mình.

Cậu bé tới vào ngày mùng 1 tháng 5, là đầu học kì hè.

Cậu bé rất đáng yêu, và chẳng mấy chốc đã quen với nề nếp của trường.

Không phải tôi muốn hở chuyện ra nhưng lúc này mà còn giấu giếm thì thật không phải lẽ, xin nói với quý vị rằng hồi ở nhà, cậu bé không được vui cho lắm.

Chuyện riêng mà ai cũng biết là đời sống hôn nhân của công tước không được êm ấm và cuối cùng hai bên đã đồng thuận li thân, sau đó phu nhân đến sống ở miền nam nước Pháp.

Chuyện này xảy ra cách đây không lâu, mà cậu bé lại rất quấn mẹ.

Từ khi bà ấy rời lâu đài Holdernesse, cậu bé luôn ủ ê rầu rĩ và chính vì lí do này, công tước muốn gửi cậu bé đến trường tôi.

Chỉ sau nửa tháng, cậu bé đã quen trường và vui lên thấy rõ.

Lần cuối người ta thấy cậu bé là đêm ngày 13 tháng 5 - tức đêm thứ hai vừa rồi.

Phòng cậu bé ở tầng ba và muốn đến đó phải đi qua một phòng khác lớn hơn, có hai nam sinh đang ngủ.

Hai cậu bé này không nghe không thấy gì, nên chắc chắn huân tước Saltire không đi ra theo lối ấy.

Cửa sổ phòng cậu bé để mở, và ở đó có dây thường xuân rất chắc thả xuống tận sân.

Chúng tôi không thấy dấu chân bên dưới, nhưng chắc chắn đây là lối thoát khả dĩ duy nhất.

Lúc 7 giờ sáng thứ ba, chúng tôi phát hiện cậu bé vắng mặt.

Cậu bé có ngủ trong phòng nhưng đã thức dậy, mặc đầy đủ đồng phục là áo khoác Eton đen và quần vải màu xám sậm rồi mới bỏ đi.

Chúng tôi khá chắc rằng không có người vào phòng.

Nếu có gì như tiếng kêu la hay chống cự thì ắt phải có người nghe thấy, vì Caunter, nam sinh lớn hơn nằm ở phòng trong, là người thính ngủ.

Khi phát hiện huân tước Saltire mất tích, tôi lập tức điểm danh toàn trường, từ nam sinh, giáo viên đến người hầu trong trường.

Chính lúc đó, chúng tôi biết không chỉ mình huân tước Saltire vắng mặt.

Thầy Heidegger người Đức cũng không thấy đâu.

Phòng ông ta nằm tại tầng ba, ở đầu kia tòa nhà, cùng hướng với phòng của huân tước Saltire.

Ông ta cũng ngủ tại trường nhưng có vẻ đã đi mà chẳng kịp thay đồ, vì sơmi và tất của ông ta vẫn nằm trên sàn.

Chắc chắn ông ta đã tụt theo dây thường xuân xuống vì chúng tôi thấy dấu chân ông ta đặt xuống bãi cỏ.

Xe đạp của ông ta cất trong nhà kho nhỏ gần đó cũng biến mất.

Ông ta làm việc cho tôi đã hai năm, được nhận xét rất tốt.

Ông ta khá trầm lặng, ít nói và không được lòng cả cánh giáo viên lẫn học sinh.

Chúng tôi không tìm thấy chút tung tích gì của hai người mất tích, nên dù đã là sáng thứ năm nhưng chúng tôi vẫn chưa biết gì hơn hôm thứ ba.

Dĩ nhiên tôi đã tức tốc cho dò hỏi bên lâu đài Holdernesse.

Nơi đó chỉ cách trường tôi vài dặm, nên chúng tôi nghĩ biết đâu trong phút nhớ nhà, cậu bé đã về với cha.

Tuy nhiên, chúng tôi chẳng thu được tin tức gì về tung tích của cậu bé.

Công tước lo lắng vô cùng, còn về phần tôi, chính quý vị cũng thấy gánh nặng trách nhiệm và tình trạng căng thẳng chờ đợi đã khiến tôi suy nhược tới độ nào.

Ông Holmes, tôi khẩn cầu ông dốc lòng dốc sức, vì ông sẽ không bao giờ gặp một vụ nào xứng tầm hơn."

Sherlock Holmes chăm chú lắng nghe ông hiệu trưởng khốn khổ trình bày.

Hai mày nhíu lại và những vết hằn sâu ở giữa cho thấy chẳng cần được hô hào, anh cũng sẽ dồn hết tâm trí vào vụ này, không chỉ vì tầm quan trọng lớn lao, mà còn đánh trúng vào niềm say mê những vụ án phức tạp và bất thường trong anh.

Lúc này, anh rút sổ tay ra và ghi nhanh lại vài điểm cần ghi nhớ.

"Ông thật tác trách khi không đến gặp tôi sớm hơn", anh nghiêm khắc nói.

"Ông khiến tôi phải bắt đầu cuộc điều tra một cách cực kì bất lợi.

Chẳng hạn, tôi không tin dây thường xuân này rồi bãi cỏ kia lại không đem lại manh mối gì cho một người quan sát tinh ý."

"Ông không thể trách tôi, thưa ông Holmes.

Công tước hết sức mong tránh mọi điều tiếng.

Ngài sợ chuyện không hay của gia đình phơi bày trước bàn dân thiên hạ.

Ngài rất e sợ những điều như vậy."

"Nhưng đã có một cuộc điều tra chính thức rồi, phải không?"

"Đúng thưa ông, nhưng kết quả thật đáng thất vọng.

Họ mau chóng thu được manh mối có vẻ phù hợp là có người thấy một cậu bé đi cùng một thanh niên rời một ga lân cận trên chuyến tàu sớm.

Tối qua, chúng tôi mới hay tin hai người này đang bị truy nã ở Liverpool, và họ chẳng hề có liên quan gì đến vụ việc trước mắt.

Thế rồi sau một đêm trằn trọc mất ngủ vì chán chường thất vọng, tôi đón chuyến tàu sớm đi thẳng đến chỗ ông."

"Vậy chắc hiện giờ cảnh sát đang mải lùng bắt hai kẻ kia và xếp vụ này sang một bên?"

"Nó bị bỏ hẳn rồi."

"Cho nên mới phí mất ba ngày.

Vụ việc này bị xử lí tắc trách quá."

"Tôi cũng thấy vậy."

"Nhưng chúng ta phải tìm ra bằng được cậu bé.

Tôi rất vui được tìm hiểu vụ này.

Ông có dò ra mối liên hệ nào giữa cậu bé mất tích và ông thầy người Đức không?"

"Không có."

"Cậu bé có học lớp ông thầy này không?"

"Không.

Theo như tôi biết, cậu bé chưa từng nói chuyện với ông ta."

"Thế thì lạ quá.

Cậu bé có xe đạp không?"

"Không."

"Trường có thiếu mất chiếc xe đạp nào nữa không?"

"Không."

"Ông chắc chứ?"

"Rất chắc."

"Được rồi, vậy chẳng lẽ ông đoán rằng ông người Đức nửa đêm bồng cậu bé trên tay rồi đạp xe đi mất hay sao?"

"Tất nhiên là không rồi."

"Vậy ông có giả thuyết nào rồi?"

"Có thể xe đạp là một cách tung hỏa mù.

Nó có thể được giấu đâu đó rồi cả hai cùng đi bộ."

"Đúng thế.

Nhưng kiểu tung hỏa mù đó có vẻ khá vô lí, phải không?

Trong nhà kho kia còn xe đạp nào nữa không?"

"Vài chiếc."

"Nếu muốn người khác nghĩ họ bỏ đi bằng xe đạp, ông ta phải giấu hai chiếc chứ?"

"Có lẽ."

"Không phải có lẽ, mà là chắc chắn.

Chúng ta có thể loại bỏ giả thuyết ông ta dùng xe đạp để tung hỏa mù.

Nhưng chi tiết đó là một khởi đầu đáng để điều tra.

Xét cho cùng, xe đạp không phải là thứ dễ dàng đem giấu hay hủy đi.

Thêm một câu hỏi nữa.

Hôm trước ngày cậu bé mất tích, có ai đến gặp cậu bé không?"

"Không."

"Cậu bé có nhận được thư từ gì không?"

"Có một lá thư."

"Của ai?"

"Của người cha."

"Ông có mở thư của học sinh không?"

"Không."

"Làm sao ông biết đấy là thư của người cha?"

"Trên phong bì có hình gia huy, và dòng đề gửi là nét chữ cứng nhắc của công tước.

Vả lại, công tước cũng nhận là đã viết thư cho con."

"Lần trước nữa cậu bé nhận được thư là khi nào?"

"Nhiều ngày rồi không có."

"Cậu bé đã bao giờ nhận được thư từ Pháp chưa?"

"Chưa từng."

"Hẳn ông cũng hiểu tôi có chủ ý gì khi hỏi về chuyện thư từ.

Cậu bé có thể bị bắt đi hoặc tự ý bỏ đi.

Nếu là trường hợp sau, thì hẳn phải có sự thôi thúc từ bên ngoài mới khiến một cậu bé còn nhỏ tuổi hành động như thế.

Nếu cậu bé không có người đến thăm, vậy sự thôi thúc nằm ở lá thư.

Vì vậy tôi mới cố tìm hiểu xem ai đã gửi thư cho cậu bé."

"Tôi e không giúp được gì nhiều cho ông.

Theo như tôi biết, người duy nhất trao đổi thư từ với cậu bé là người cha."

"Là người viết cho cậu bé đúng vào ngày cậu bé mất tích.

Hai cha con có thân thiết không?"

"Công tước vốn thường không mấy thân thiết với ai.

Ngài toàn mải mê những vấn đề quốc gia đại sự, và gần như không cảm thông với mọi cảm xúc bình thường.

Nhưng ngài luôn chu đáo quan tâm cậu bé theo cách riêng."

"Nhưng cậu bé quấn quýt mẹ?"

"Phải."

"Cậu bé nói thế sao?"

"Không."

"Công tước bảo vậy à?"

"Ôi trời, không!"

"Vậy sao ông biết?"

"Tôi đã chuyện trò vài lần với James Wilder, thư kí của công tước.

Chính anh ta nói cho tôi hay về tình cảm của huân tước Saltire."

"Tôi hiểu rồi.

Nhân tiện, các ông có tìm thấy bức thư của công tước trong phòng cậu bé sau khi cậu bé biến mất không?"

"Không, cậu bé cầm theo, ông Holmes, tôi nghĩ đã đến lúc ta đi Euston rồi."

"Tôi sẽ gọi xe ngựa.

Trong vòng mười lăm phút nữa, chúng tôi sẽ sẵn sàng phục vụ ông.

Ông Huxtable, nếu ông đánh điện về nhà, hãy để dân trong vùng tưởng cuộc điều tra vẫn đang diễn ra ở Liverpool, hay bất kì đâu khác.

Trong lúc đó, tôi sẽ âm thầm làm chút việc tại trường ông.

Mong rằng hơi hám vẫn chưa nguội lạnh đến độ hai con chó săn lão luyện như Watson và tôi đây không đánh hơi ra được."

***

Chiều hôm ấy, chúng tôi đắm mình trong bầu không khí mát mẻ, sảng khoái của vùng đồng quê Peak, nơi ngôi trường danh tiếng của tiến sĩ Huxtable tọa lạc.

Khi chúng tôi tới nơi thì trời đã tối.

Trên bàn tại tiền sảnh có một tấm danh thiếp, người quản gia thì thầm gì đó với chủ rồi tiến sĩ Huxtable mặt mày trĩu nặng ưu tư quay sang chúng tôi.

"Công tước đang ở đây", ông nói.

"Công tước và anh Wilder đang ở trong thư phòng.

Đi nào, quý vị, rồi tôi sẽ giới thiệu quý vị."

Tất nhiên tôi vẫn thường thấy chân dung các chính khách nổi tiếng, nhưng người này lại rất khác với mô tả.

Ông ta cao to oai vệ, ăn mặc chỉnh tề, gương mặt gầy đượm nét buồn, mũi dài và khoằm kì quặc.

Nước da tái nhợt tương phản với bộ râu dài đỏ rực lưa thưa rủ xuống cái áo chẽn trắng có đồng hồ quả quýt lấp ló qua mép áo.

Một con người đạo mạo lạnh lùng quan sát chúng tôi từ chính giữa tấm thảm trải trước lò sưởi của tiến sĩ Huxtable.

Một chàng trai trẻ măng đứng cạnh ông ta.

Người này hẳn là Wilder, thư kí riêng của công tước.

Anh ta có dáng người nhỏ con, trông khá nhanh nhẹn, đôi mắt xanh nhạt ánh lên nét thông minh.

Anh ta ngay lập tức mào đầu cuộc chuyện trò bằng giọng điệu sắc sảo và quả quyết.

"Tiến sĩ Huxtable, sáng nay tôi gọi điện quá muộn, không kịp ngăn ông khởi hành tới London.

Tôi được biết ông muốn mời ông Sherlock Holmes xử lí vụ này.

Tiến sĩ Huxtable, công tước rất ngạc nhiên khi ông không hỏi ý kiến ngài."

"Khi tôi biết cảnh sát đã thất bại..."

"Công tước đâu có cho rằng cảnh sát đã thất bại."

"Nhưng anh Wilder này, chắc hẳn..."

"Tiến sĩ Huxtable, ông thừa biết rằng công tước đặc biệt mong tránh mọi điều tiếng.

Ngài muốn càng ít người biết chuyện càng tốt."

"Vấn đề này vẫn có thể dễ dàng cứu vãn mà", vị tiến sĩ bị hoạnh họe nói, "ông Sherlock Holmes đây có thể về London trên chuyến tàu sáng mai."

"Không có chuyện đó đâu, ông tiến sĩ, không có chuyện đó đâu", Holmes nói bằng giọng ôn tồn nhất.

"Không khí miền bắc thật sảng khoái dễ chịu nên tôi định lưu lại vùng đồng trũng này dăm ba ngày để đầu óc được bận bịu đôi chút, tất nhiên, tôi được nương náu dưới mái nhà của ông hay quán trọ trong làng thì tùy ông định đoạt."

Vị tiến sĩ khốn khổ đắn đo không biết phải làm sao.

Đúng lúc ấy, vị công tước râu đỏ cất giọng trầm như tiếng cồng báo giờ ăn lên, "Tiến sĩ Huxtable, tôi đồng ý với anh Wilder rằng đúng ra ông nên hỏi ý kiến tôi trước.

Nhưng bởi ông Holmes đã biết chuyện, nên quả thực sẽ vô lí nếu ta không nhờ ông ấy giúp.

Tuyệt không có chuyện đến quán trọ, ông Holmes, tôi rất sẵn lòng mời ông lưu lại lâu đài Holdernesse với tôi."

"Tôi xin cảm ơn công tước.

Nhưng vì mục đích điều tra, tôi thiết nghĩ mình nên ở lại hiện trường xảy ra vụ mất tích bí ẩn."

"Tùy ông thôi, ông Holmes.

Tất nhiên, thông tin do anh Wilder hay tôi có thể cung cấp đều để ông tùy nghi sử dụng."

"Có lẽ tôi sẽ cần gặp ngài tại lâu đài", Holmes nói.

"Thưa ngài, lúc này tôi chỉ muốn hỏi, ngài đã nghĩ ra cách giải thích nào về việc cậu con trai đột nhiên mất tích chưa?"

"Chưa, thưa ông, chưa."

"Xin thứ lỗi vì tôi sắp nhắc đến điều khiến ngài đau lòng, nhưng tôi không còn lựa chọn khác.

Ngài nghĩ công tước phu nhân có liên quan gì đến chuyện này không?"

Vị bộ trưởng cao quý ngập ngừng thấy rõ.

"Tôi không nghĩ vậy", cuối cùng ông ta nói.

"Một cách giải thích hết sức hiển nhiên nữa là đứa trẻ bị bắt cóc để đòi tiền chuộc.

Ngài vẫn chưa nhận được yêu cầu nào kiểu như vậy?"

"Chưa, thưa ông."

"Một câu hỏi nữa, thưa công tước.

Tôi nghe nói ngài có viết thư cho con trai vào hôm xảy ra sự việc."

"Không, tôi viết hôm trước đó."

"Đúng vậy.

Nhưng cậu bé nhận được vào hôm ấy?"

"Phải?"

"Trong thư ngài có viết gì khiến cậu bé rối trí hay gợi cho cậu bé ý định bỏ trốn không?"

"Tất nhiên là không."

"Ngài có đích thân gửi thư không?"

Công tước còn chưa kịp nói thì viên thư kí đã sốt sắng trả lời thay, "Công tước thường không tự gửi thư.

Bức thư này để cùng với mấy bức khác trên bàn làm việc, và chính tôi đã gửi thư."

"Anh tin chắc lá thư này nằm trong số đó?"

"Phải, chính mắt tôi thấy."

"Ngày hôm ấy công tước viết mấy lá thư?"

"Hai mươi, ba mươi gì đấy.

Tôi không nhớ chính xác.

Mà chuyện này đâu có liên quan gì nhỉ?"

"Không hẳn", Holmes nói.

"Về phần mình", công tước nói tiếp, "tôi đã khuyên cảnh sát chuyển sang điều tra tại miền nam nước Pháp.

Tuy tôi có nói mình không tin công tước phu nhân lại khuyến khích con trai hành động kì quặc như vậy, nhưng thằng bé có lúc rất bướng nên có thể nó bị gã người Đức xúi giục nên đã bỏ tới chỗ bà ấy.

Tiến sĩ Huxtable, tôi nghĩ đã tới lúc chúng tôi quay về lâu đài rồi."

Tôi thấy Holmes còn nhiều câu hỏi nữa, nhưng thái độ đường đột của nhà quý tộc cho thấy cuộc nói chuyện đã tới hồi kết.

Rõ ràng với tính cách quý tộc của ông ta thì việc thảo luận chuyện gia đình với người lạ là cực kì khó chịu, và ông ta e sợ mỗi câu hỏi mới sẽ soi rõ hơn nữa những ngóc ngách được kín đáo che đậy suốt bấy nhiêu năm.

Khi nhà quý tộc và viên thư kí đi rồi, bạn tôi lao ngay vào điều tra với sự hăm hở đặc trưng của mình.

Phòng của cậu bé được kiểm tra cẩn thận, nhưng không thu được kết quả gì, ngoại trừ xác nhận chắc chắn rằng cậu bé chỉ có thể ra ngoài qua đường cửa sổ.

Phòng của ông thầy người Đức cùng những vật dụng cá nhân của ông ta cũng không đem lại manh mối nào.

Ngoài cửa sổ, một dây thường xuân bị đứt do sức nặng của ông ta, và nhờ ánh sáng ngọn đèn bão, chúng tôi thấy nơi gót giày ông ta đặt xuống bãi cỏ.

Dấu chân in sâu xuống nền cỏ xanh lúp xúp ấy là bằng chứng hữu hình duy nhất của cuộc trốn chạy giữa đêm hôm khuya khoắt lạ thường kia.

Sherlock Holmes một mình rời trường và mãi hơn 11 giờ mới về.

Anh kiếm được một tấm bản đồ lớn vẽ khu vực này, mang vào phòng tôi, trải trên giường, để ngọn đèn ngay ngắn chính giữa và bắt đầu nhả khói thuốc mù mịt, chốc chốc lại dùng tẩu chỉ những điểm đáng chú ý.

"Tôi càng lúc càng thích vụ này rồi, Watson ạ", anh nói.

"Dứt khoát nó có một số điểm đáng chú ý.

Trong giai đoạn sơ khởi này, tôi muốn anh nhận thấy mấy đặc điểm địa lí có thể liên quan nhiều đến cuộc điều tra của ta.

Nhìn bản đồ này đi.

Hình vuông đen này là trường Priory.

Tôi sẽ đính một cái ghim vào đó để đánh dấu.

Nào, vạch này là đường cái.

Anh sẽ thấy nó chạy theo hướng đông tây đi ngang qua trường, và suốt một dặm không hề có đường nhánh.

Theo lẽ thường, họ sẽ đi bằng đường này."

"Đúng vậy."

"May mắn là tôi đã dò la ra chuyện xảy ra trên đường vào đêm xảy ra vụ mất tích.

Tại điểm này, chỗ tôi đang đặt ống tẩu đây, có một anh cảnh binh đứng trực từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng.

Như anh thấy đấy, đó là giao lộ đầu tiên ở phía đông.

Người này khai là không rời vị trí lấy một giây, và anh ta chắc chắn rằng cả cậu bé lẫn ông giáo viên đều không thể đi về hướng đó mà anh ta không trông thấy.

Tôi đã nói chuyện với viên cảnh binh này lúc tối và thấy anh ta có vẻ đáng tin.

Thế là chặn được một đầu.

Giờ ta phải giải quyết đầu kia.

Ở đây có một quán trọ tên là Bò Đỏ, tối đó bà chủ quán bị ốm.

Bà ta cho người đi Mackleton mời bác sĩ, nhưng đến sáng ông ta mới tới do vướng một ca bệnh khác.

Người trong quán thức cả đêm chờ ông ta và thay phiên ngóng ra đường cái.

Họ nói không thấy ai đi qua.

Nếu họ nói thật, ta có thể loại trừ khả năng hai kẻ mất tích đi theo hướng tây, đồng thời ta có thể nói rằng họ không hề đi đường cái."

"Vậy còn chiếc xe đạp?"

Tôi tranh luận.

"Đúng vậy.

Ta sẽ đến phần xe đạp ngay thôi.

Để tiếp tục lập luận: Nếu hai người này không đi bằng đường cái, họ sẽ phải đi lên mạn bắc hoặc nam của trường.

Ta hãy cân nhắc hai hướng xem sao.

Như anh thấy, phía nam cửa trường có một vùng đất canh tác rộng lớn, chia thành nhiều cánh đồng nhỏ có tường đá ngăn cách.

Tôi phải thừa nhận rằng không thể đạp xe ở đó.

Ta có thể loại bỏ đường này.

Ta sẽ quay sang hướng bắc.

Ở đây có một cụm rừng đánh dấu là Rừng Thưa, và xa hơn nữa là vùng đồng trũng Lower Gill nhấp nhô trải dài hơn mười dặm rồi dốc dần lên.

Đến đây thì ở một bên vùng hoang vu này là lâu đài Holdernesse, cách trường Priory mười dặm nếu đi theo đường cái, nhưng chỉ cách sáu dặm nếu băng qua vùng đồng trũng.

Khu vực này hoang vắng lạ lùng.

Ở đây có dăm chủ trang trại với mấy khoảnh đất nhỏ để chăn thả gia súc.

Ngoài ra chỉ còn chim choi choi và chim mỏ nhác cư trú trên vùng đất rộng tới tận xa lộ Chesterfield này.

Anh thấy không, ở đấy có một nhà thờ, dăm túp nhà nhỏ và một quán trọ.

Xa hơn là mấy ngọn đồi dốc đứng.

Chắc hẳn chúng ta phải tập trung tìm kiếm ở vùng phía bắc này."

"Nhưng còn chiếc xe đạp?"

Tôi vẫn lấn cấn mãi về vấn đề này.

"Được, được rồi!"

Holmes sốt ruột.

"Người đạp xe giỏi không nhất thiết phải đi trên đường cái.

Đêm đó trăng rất tròn và ánh trăng sẽ soi tỏ mọi con đường ngang dọc trên vùng đồng trũng."

Có tiếng gõ cửa dồn dập, rồi loáng sau tiến sĩ Huxtable đã có mặt trong phòng, ông cầm một chiếc mũ lưỡi trai màu xanh có huy hiệu chữ V trắng trên vành.

"Cuối cùng cũng có manh mối!"

Ông ta kêu lên.

"Ơn trời!

Cuối cùng ta cũng lần ra dấu vết cậu bé thân yêu!

Mũ của cậu bé đây."

"Ông tìm thấy ở đâu vậy?"

"Trong xe của đám dân digan tại vùng đồng trũng.

Chúng rời đi từ hôm thứ ba.

Hôm nay cảnh sát lần ra dấu chúng, lục soát đoàn xe và tìm thấy cái này."

"Đám dân digan đó giải thích sao?"

"Họ cứ lòng vòng nói dối, rằng họ tìm thấy cái mũ trên vùng đồng trũng vào sáng hôm thứ ba, Lũ bất lương ấy biết cậu bé ở đâu mà!

Tạ ơn trời là chúng bị giam cả nút rồi.

Rồi thì pháp luật hoặc túi tiền của công tước sẽ cạy được miệng chúng thôi."

"Vậy là tính đến thời điểm này, mọi suy luận của chúng ta đều chính xác", Holmes nói khi ông tiến sĩ rời phòng.

"Ít nhất câu chuyện của ông Huxtable cũng xác nhận giả thuyết chúng ta cần điều tra theo hướng vùng đồng trũng Lower Gill.

Thực tế mà nói, cảnh sát chưa điều tra gì ở vùng này ngoài việc bắt đám dân digan.

Nhìn này, Watson.

Có một dòng suối chảy qua vùng đồng trũng.

Anh sẽ thấy nó được đánh dấu trên bản đồ đây.

Tại vài chỗ, dòng suối loang rộng ra thành một bãi lầy.

Nhất là ở khu vực giữa lâu đài Holdernesse và trường.

Trong tiết trời hanh khô này, việc tìm dấu vết ở những chỗ khác đều là tốn công vô ích, nhưng may ra ở đó sẽ còn lại chút manh mối.

Sáng mai tôi sẽ gọi anh sớm, rồi chúng ta sẽ thử xem có thể làm sáng tỏ vụ này được chút gì không."

Trời vừa hửng sáng tôi đã tỉnh dậy và thấy dáng người cao gầy của Holmes bên giường.

Anh ăn mặc chỉnh tề, và hình như vừa ra ngoài về.

"Tôi đã xem xét bãi cỏ và nhà kho để xe đạp", anh nói.

"Tôi còn dạo chơi khắp vùng Rừng Thưa nữa.

Nào Watson, ở phòng bên đã sẵn cốc ca cao rồi.

Xin anh nhanh lên cho vì ta có một ngày rất thú vị trước mắt."

Mắt anh sáng lên, hai má ửng hồng niềm hồ hởi như người thợ cả thấy công trình của mình được hoàn tất.

Con người tràn trề năng lượng và lanh lợi này rất khác với một Sherlock Holmes xanh xao, hay suy tưởng trầm tư ở phố Baker.

Khi ngước nhìn anh, tôi linh cảm thấy một ngày dài vất vả đang chờ chúng tôi.

Ấy vậy mà nó mở đầu trong thất vọng và chán nản vô chừng.

Chúng tôi khấp khởi băng qua vùng đồng trũng nhớp nháp than bùn, dọc ngang chằng chịt cả ngàn vết chân cừu, tới vành đai xanh nhạt, mênh mông đánh dấu bãi lầy ở khoảng giữa chúng tôi và Holdernesse.

Đương nhiên, nếu muốn về nhà, cậu bé phải băng qua đây, và như vậy cậu không thể không để lại dấu vết.

Nhưng chúng tôi không tìm được chút manh mối gì về tung tích của cậu bé hay ông người Đức.

Bạn tôi sa sẩm mặt mày và sải bước men rìa bãi lầy, chăm chăm quan sát từng vết bùn trên bề mặt phủ rêu.

Ở đó có rất nhiều dấu chân cừu, rồi ở một chỗ cách thêm vài dặm nữa là dấu chân bò.

Chỉ có vậy.

"Kiểm xong được một thứ", Holmes nói, ủ dột nhìn qua vùng đồng trũng nhấp nhô.

"Đằng xa đó còn một đầm lầy và một dải đất hẹp ở giữa.

Ồ!

Ta có gì đây?"

Chúng tôi bước trên một lối đi nhỏ trông như dải ruy băng đen vắt ngang đầm lầy.

Ở giữa, in dấu rõ ràng trên mặt đất sũng nước, là vết xe đạp.

"Ô hô!"

Tôi reo lên.

"Ta tìm được rồi."

Nhưng Holmes lắc đầu, nét mặt tỏ rỏ sự hoang mang và chờ đợi hơn là mừng rỡ.

"Dĩ nhiên là xe đạp, nhưng không phải cái xe đạp ấy", anh nói.

"Tôi biết rõ bốn mươi hai loại dấu lốp xe.

Như anh thấy dấu này là của lốp Dunlop có một miếng vá trên vỏ ngoài.

Chiếc xe Heidegger đi dùng lốp Palmer sẽ để lại những sọc dọc.

Ông thầy Aveling dạy toán đoán chắc về chuyện này.

Vì vậy mà đây không phải dấu xe của Heidegger."

"Vậy xe của cậu bé chăng?"

"Có lẽ, nếu ta chứng minh được cậu bé có đi xe đạp.

Nhưng chuyện này thì tôi chịu không chứng minh được.

Anh thấy đấy, vết này do một chiếc xe đạp theo hướng trường tới để lại."

"Hay xe này đi tới trường?"

"Không không, Watson thân mến.

Dấu lún sâu hơn dĩ nhiên là của bánh sau vì sức nặng dồn xuống đó.

Anh sẽ nhận thấy mấy chỗ bánh sau đè lên và xóa mờ dấu cạn hơn của bánh trước.

Chắc chắn là xe từ trường tới.

Dấu vết này có thể có, hoặc có thể không liên quan tới việc tìm kiếm của ta, nhưng ta cứ lần theo nó đã."

Chúng tôi lần theo vết xe được vài trăm yard nhưng khi ra khỏi khu vực đồng lầy thì mất dấu.

Theo đường mòn đi ngược lại, chúng tôi phát hiện ra dấu xe đạp lại xuất hiện ở một vị trí khác là ở nơi có một dòng suối nhỏ chảy qua, nhưng dấu vết ở đây đã bị móng bò xóa mờ gần hết.

Sau đó, chúng tôi chẳng tìm thấy gì ngoài một lối mòn chạy thẳng vào Rừng Thưa.

Qua khu rừng này, chúng tôi sẽ trở lại trường.

Hẳn xe đạp từ cánh rừng này đi ra.

Holmes ngồi xuống một tảng đá mòn, hai tay chống cằm tư lự.

Tôi hút xong hai điếu thuốc rồi anh mới nhúc nhích.

"À", cuối cùng anh nói.

"Dĩ nhiên một kẻ láu cá có thể giở trò thay lốp xe nhằm để lại những vết lạ.

Tôi sẽ rất hãnh diện được đối đầu với một tên tội phạm có thể nghĩ ra phương pháp ấy.

Chúng ta sẽ bỏ ngỏ nghi vấn này tại đây mà quay lại đầm lầy, vì ở đó còn nhiều thứ chưa được xem xét."

Chúng tôi tiếp tục khảo sát kĩ càng khu vực ẩm ướt bên rìa vùng đồng trũng, và chẳng mấy chốc, sự kiên trì của chúng tôi đã được đền đáp thỏa đáng.

Ngay bên kia phần trũng của bãi lầy là một lối đi lầy lội.

Khi lại gần, Holmes mừng rỡ kêu lên.

Một dấu hằn trông như một bó dây thép mảnh chạy dọc chính giữa lối đi.

Đó là lốp xe Palmer.

"Chắc chắn đây là xe của ông Heidegger rồi!"

Holmes đắc chí kêu lên.

"Có vẻ như lập luận của tôi khá hợp lí, Watson ạ."

"Xin chúc mừng anh."

"Nhưng ta còn một chặng đường dài nữa phải đi.

Làm ơn đừng bước lên lối này.

Giờ ta hãy theo vết xe.

E rằng nó không dẫn đi xa lắm đâu."

Tuy vậy, khi tiến tới gần, chúng tôi nhận thấy khu vực này xen kẽ vài mảng đất mềm, và dù liên tục mất dấu bánh xe chúng tôi vẫn tìm lại được.

"Anh có thấy", Holmes nói, "rõ ràng người đạp xe đã tăng tốc khi đi qua đây không?

Không thể nghi ngờ gì rồi.

Nhìn dấu này đi, ở đây anh có hai dấu lốp xe rõ ràng, dấu này cũng sâu như dấu kia.

Vậy chỉ có thể là người đạp xe đang dồn sức nặng lên ghi-đông như khi người ta đạp nước rút.

Ôi trời!

Ông ta bị ngã."

Vết lốp xe bị nhòe mất một đoạn chừng vài yard, rồi thêm dăm dấu chân và vết lốp xe lại xuất hiện.

"Bị trượt sang bên chăng?", tôi gợi ý.

Holmes cầm lên một nhành hoa kim tước giập nát.

Tôi thất kinh nhận thấy mấy bông hoa vàng lấm tấm cả màu đỏ thẫm.

Trên lối đi và giữa đám thạch nam cũng có những vết máu khô đen sậm.

"Không hay rồi!"

Holmes nói.

"Không hay rồi!

Tránh ra nào, Watson!

Đừng bước nếu không cần thiết!

Tôi phải hiểu thế nào đây?

Ông ta ngã xuống, bị thương rồi đứng dậy, lại lên xe và đi tiếp.

Nhưng không còn vết nào khác.

Gia súc đi trên lối mòn này.

Ông ta bị bò húc ư?

Không thể nào!

Nhưng tôi không thấy dấu vết nào khác.

Ta phải đi tiếp thôi, Watson.

Tất nhiên khi ta đã có cả vết máu lẫn dấu lốp xe chỉ lối thì ông ta không thoát khỏi tay ta được đâu."

Chúng tôi không phải tìm kiếm lâu.

Vết lốp xe bắt đầu vòng vèo trên lối đi ẩm ướt loang loáng nước.

Khi nhìn phía trước, mắt tôi bất chợt bắt gặp ánh kim loại lấp lóa giữa mấy bụi kim tước um tùm.

Chúng tôi lôi từ đó ra một chiếc xe đạp dùng lốp Palmer, một bàn đạp bị cong, phần trước thì lấm lem máu khô.

Bên kia mấy bụi cây có một chiếc giày nhô lên.

Chạy vòng qua, chúng tôi thấy người đạp xe xấu số nằm đó.

Ông ta cao, râu rậm, đeo cặp kính đã văng mất một bên mắt kính, ông ta chết do một cú đánh thật lực vào đầu, nát một phần sọ.

Ông ta còn đi tiếp sau khi lãnh một thương tích như vậy chứng tỏ đây phải là một người giàu sức sống và quả cảm đến nhường nào.

Ông ta mang giày nhưng không đi tất, còn áo khoác chưa kịp cài nút để lộ áo ngủ bên trong.

Không nghi ngờ gì nữa, đây là ông thầy người Đức.

Holmes kính cẩn lật cái xác lại, cực kì chăm chú kiểm tra, rồi ngồi suy nghĩ mông lung một hồi.

Nhìn vầng trán nhăn tít của anh, tôi biết theo ý anh, phát hiện đáng sợ này vẫn chưa giúp chúng tôi tiến xa hơn trong cuộc điều tra.

"Hơi khó tính xem phải làm thế nào, Watson à", cuối cùng anh nói.

"Tôi vẫn muốn tiếp tục cuộc điều tra này vì ta đã mất nhiều thời gian, không thể để mất thêm một giờ nào nữa.

Mặt khác, ta buộc phải báo cho cảnh sát biết phát hiện này và lo liệu để xác người đàn ông tội nghiệp này được chôn cất tử tế."

"Tôi có thể cầm thư về."

"Nhưng tôi cần anh đi cùng và giúp một tay.

Chờ đã!

Đằng kia có gã đang vét than bùn.

Dẫn hắn lại đây, rồi hắn sẽ dẫn đường cho cảnh sát."

Tôi dẫn người nông dân qua, thế rồi Holmes cử anh chàng thất đảm cầm mẩu thư về gặp tiến sĩ Huxtable.

"Nào Watson", anh nói, "sáng nay ta tìm được hai manh mối.

Một là chiếc xe đạp có lốp Palmer và cũng đã thấy nó dẫn đến đâu.

Manh mối kia là xe đạp lốp Dunlop có vết vá.

Trước khi bắt đầu điều tra theo hướng cái lốp kia, ta hãy xem cho rõ ta đã biết những gì để còn tận dụng, và để tách bạch cái trọng yếu với cái ngẫu nhiên.

Trước hết, tôi muốn anh nhớ rõ cho rằng cậu bé dứt khoát đã tự ý bỏ đi.

Cậu ta trèo qua cửa sổ xuống rồi bỏ đi, một mình hoặc với ai đó.

Điều này là chắc chắn."

Tôi tán thành.

"Tốt, giờ ta quay sang ông thầy người Đức bất hạnh này.

Khi bỏ đi, cậu bé đã thay đồ chỉnh tề.

Do vậy, cậu bé đã biết mình sẽ làm gì.

Nhưng ông người Đức thì đi mà không mang tất.

Chắc chắn ông ta phải ứng phó với sự biến không lường trước."

"Chắc chắn rồi."

"Tại sao ông ta đi?

Vì, từ cửa sổ phòng ngủ, ông ta thấy cậu bé bỏ đi.

Vì ông ta muốn đuổi kịp và đưa cậu bé về.

Ông ta chộp lấy xe đạp, đuổi theo rồi mất mạng."

"Có vẻ là thế."

"Giờ tôi sẽ đến phần then chốt trong lập luận.

Khi người lớn đuổi theo trẻ con, theo lẽ thường, ông ta sẽ chạy, ông ta biết mình sẽ bắt kịp.

Nhưng ông người Đức không làm vậy.

Ông ta dùng xe đạp.

Tôi nghe nói ông ta đạp xe rất cừ.

Ông ta sẽ không dùng xe nếu không thấy cậu bé bỏ đi trên một phương tiện mau lẹ nào đó."

"Một chiếc xe đạp khác."

"Ta hãy tiếp tục tái hiện câu chuyện.

Ông ta chết cách trường năm dặm - anh nên nhớ ông ta không chết vì trúng đạn, trường hợp ấy thì còn có thể cho là một thằng nhóc cũng bắn được đi, đằng này lại là một cú đánh hung bạo, phải có cánh tay mạnh mẽ mới giáng xuống được.

Vậy là khi bỏ đi, cậu bé có kẻ đồng hành.

Cuộc trốn chạy lại rất nhanh, vì phải sau năm dặm một người đạp xe thành thục mới đuổi kịp.

Nhưng ta đã tìm hiểu kĩ mặt đất tại hiện trường xảy ra thảm kịch.

Ta tìm thấy gì nào?

Chỉ có dấu chân bò.

Tôi đã rà soát một vòng rộng nhưng trong phạm vi năm mươi yard không có một lối mòn nào.

Vậy không thể có chuyện một người đạp xe khác có liên quan tới vụ án mạng này.

Mà ở đây cũng chẳng có dấu chân người nào."

"Holmes", tôi kêu lên, "chuyện này là không thể."

"Tuyệt!"

Anh nói.

"Một nhận xét khai sáng tư duy.

Tôi công nhận diễn biến như tôi vừa nói đúng là không thể xảy ra, vậy hẳn tôi đã sai ở một khía cạnh nào đó.

Nhưng anh cũng thấy rồi.

Anh có gợi ý được sơ hở nào không?"

"Ông ta không vỡ sọ vì cú ngã được sao?"

"Trong khu vực lầy lội thế ư, Watson?"

"Vậy tôi chịu."

"Chậc chậc.

Ta từng giải được những vụ còn hóc búa hơn.

Ít nhất ta cũng đã có nhiều dữ liệu, ví thử ta biết sử dụng.

Vậy thì đi nào, vụ dấu lốp Palmer đến đây là hết, ta hãy xem lốp Dunlop bị vá có gì cho ta không."

Chúng tôi lần lại vết lốp kia rồi tiếp tục đi theo một đoạn, nhưng chẳng mấy chốc vùng đồng trũng cao dần lên thành một khúc quanh dài đầy bụi thạch nam.

Chúng tôi đã bỏ lại con suối đằng sau.

Không trông mong gì ở dấu lốp xe được nữa.

Điểm chót của dấu lốp Dunlop cho thấy chiếc xe có thể đi tới lâu đài Holdernesse ở bên trái, với những ngọn tháp uy nghi vươn lên trời cách chúng tôi vài dặm, hoặc cũng có thể tới ngôi làng xám xịt, thấp lè tè và cũng là điểm mốc đánh dấu xa lộ Chesterfield.

Khi chúng tôi tiến lại một quán trọ trông gớm giếc và dơ dáy, treo bảng hiệu hình một con gà chọi, Holmes bỗng rên rỉ rồi nắm chặt vai tôi cho khỏi ngã.

Anh bị trặc mắt cá chân nặng tới không biết xoay xở ra sao đây mà!

Anh khó nhọc lê bước đến cửa, nơi một người đàn ông có tuổi, béo lùn, da ngăm đen đang hút tẩu.

"Ông khỏe không, ông Reuben Hayes?"

Holmes nói.

"Ông là ai, và sao ông biết tên tôi?"

Cặp mắt xảo trá của gã dân quê lóe lên ánh ngờ vực.

"Thì nó in ngay trên tấm bảng hiệu kia kìa.

Vậy nên biết ai là chủ nhà cũng dễ thôi.

Không biết ông có xe ngựa không nhỉ?"

"Không có."

"Tôi không đặt chân xuống đất nổi nữa rồi!"

"Vậy thì đừng."

"Nhưng tôi không bước được"

"À, thế nhảy lò cò đi."

Thái độ của Reuben Hayes chẳng có chút nhã nhặn, nhưng đáng nể là Holmes vẫn vui vẻ như thường.

"Nghe này, ông bạn", anh nói.

"Quả thực tôi gặp tình thế gay go quá.

Tôi không biết xoay xở ra sao nữa."

"Tôi cũng vậy", ông chủ nhà lầm lì nói.

"Chuyện này hệ trọng lắm.

Tôi sẽ trả ông một đồng sovereign để được dùng xe đạp."

Gã chủ nhà dỏng tai lên, "Ông muốn đi đâu?"

"Lâu đài Holdernesse."

"Chắc ông là bạn của công tước hả?"

Chủ quán hỏi mà ánh mắt châm chọc soi mói quần áo lấm lem bùn đất của chúng tôi.

Holmes cười hiền, "Dù gì ngài ấy cũng sẽ mừng khi thấy chúng tôi."

"Vì sao?"

"Vì chúng tôi đem tin về cậu con trai mất tích đến cho ngài ấy."

Lão chủ nhà trọ giật thót, "Sao, mấy ông đang lần theo cậu bé hả?"

"Nghe đồn cậu bé đang ở Liverpool.

Họ mong tìm được nó từng giờ."

Bộ mặt xưng xỉa và xồm xoàm râu ria loáng biến đổi.

Thái độ ông ta bỗng dưng ân cần hẳn.

"Tôi chẳng việc gì phải mong điều tốt lành cho lão công tước kia sất", ông ta nói.

"Tôi từng là trưởng đội xà ích của lão, và lão đối xử với tôi rất ư thậm tệ.

Chính lão đuối tôi vì tin lời gã bán ngũ cốc xảo trá.

Nhưng tôi mừng khi được biết cậu bé đang ở Liverpool.

Tôi sẽ giúp mấy ông đưa tin đến lâu đài."

"Cảm ơn ông", Holmes nói.

"Chúng tôi cần ăn chút gì đã.

Sau đó ông hẵng đem xe đạp lại đây nhé."

"Tôi không có xe đạp."

Holmes giơ một đồng sovereign lên.

"Tôi đã nói rồi, tôi không có xe đạp.

Vậy tôi sẽ cho mấy ông thuê hai con ngựa đến tận lâu đài."

"Được được", Holmes nói, "chúng tôi ăn gì đã rồi sẽ bàn chuyện đó sau."

Khi chỉ còn chúng tôi trong căn bếp lát đá, mắt cá chân bị trặc của Holmes bất ngờ lành lại.

Đêm đã gần buông xuống mà từ sớm đến giờ chúng tôi vẫn chưa có gì bỏ bụng, nên cả hai dành chút thì giờ để ăn uống.

Holmes trầm ngâm suy nghĩ, rồi đôi lần bước tới cửa sổ và chăm chăm nhìn ra ngoài.

Từ đó, anh nhìn thấy một khoảng sân sau bẩn thỉu với một lò rèn ở góc đằng xa có một thằng bé mình mẩy cáu ghét đang làm việc, còn ở góc đẳng kia là dăm tàu ngựa.

Holmes vừa ngồi xuống sau một lần thám thính thì bỗng bật dậy kêu lên một tiếng.

"Trời ơi, Watson, tôi hiểu ra rồi!"

Anh kêu lên.

"Phải, đúng vậy rồi.

Watson, anh nhớ hôm nay có thấy dấu chân bò nào không?"

"Có rất nhiều."

"Ở đâu?"

"À, đâu cũng có.

Ở đầm lầy, trên lối mòn, rồi gần chỗ Heidegger đáng thương chết."

"Đúng lắm.

Watson này, vậy ở đằng vùng đồng trũng anh thấy có bao nhiêu con bò?"

"Hình như chẳng thấy con nào."

"Watson này, thật kì lạ là ta thấy dấu chân suốt dọc đường đi, nhưng trên cả vùng đồng trũng lại không hề thấy bóng dáng con bò nào cả.

Kì lạ quá hử, Watson?"

"Ừ, lạ thật."

"Nào Watson, hãy cố nhớ lại đi!

Anh có thấy mấy dấu ấy trên lối mòn không?"

"Có."

"Watson này, anh có nhớ mấy dấu đó khi thì thế này", anh xếp ít vụn bánh mì theo kiểu -:::::-, "rồi khi thì giống vậy" -:.:.:.:-, "có lúc lại thế này" -.......- .

"Anh nhớ vậy không?"

"Không, tôi không nhớ."

"Nhưng tôi nhớ.

Tôi dám đảm bảo.

Song lúc rỗi ta sẽ quay lại kiểm chứng sau.

Tôi đúng là quân đui mù mới không rút ra được kết luận!"

"Vậy anh kết luận thế nào?"

"Rằng đó là một con bò lạ thường biết đi thong dong, biết chạy nước kiệu và biết phi nước đại.

Watson ơi, đầu óc của một gã chủ quán trọ không thể nghĩ ra mưu ma chước quỷ như vậy đâu.

Giờ trừ thằng nhỏ trong lò rèn ra, ngoài kia xem chừng chẳng còn ai.

Ta hãy lẻn ra xem thử có thấy được gì đi."

Hai con ngựa lông lá bờm xờm, không được chải lông tắm táp đứng trong tàu ngựa xiêu vẹo.

Holmes nhấc chân sau của một con lên rồi cười khanh khách.

"Móng cũ, nhưng mới được đóng lại.

Đây này, móng cũ nhưng đinh mới.

Vụ này kinh điển đây.

Ta qua bên lò rèn nào."

Thằng nhỏ cứ làm việc không để ý đến chúng tôi Tôi thấy mắt Holmes lia một vòng giữa đống sắt với gỗ vương vãi khắp sàn.

Nhưng bất thình lình, chúng tôi nghe thấy tiếng chân vang tới từ phía sau và gã chủ nhà trọ, với đôi lông mày rậm rủ trên cặp mắt hung dữ, gương mặt sạm đen cau lại, xuất hiện.

Ông ta cầm cây gậy ngắn đầu bịt kim loại, và tiến tới với dáng vẻ đầy hăm dọa, tôi thật sự mừng khi sờ thấy khẩu súng lục trong túi.

"Lũ rình mò trời đánh thánh vật!"

Ông ta hét lên.

"Chúng bay làm gì ở đây?"

"Ơ kìa, ông Reuben Hayes", Holmes điềm tĩnh đối đáp, "thế này thì người ta lại tưởng ông sợ bọn tôi tìm thấy thứ gì mất thôi."

Người đàn ông cố sức kiềm chế, rồi cái miệng dữ tợn toét ra nụ cười giả dối, trông đáng sợ hơn cái chau mày ban nãy.

"Ông tìm thấy gì trong lò rèn của tôi thì cứ việc", ông ta nói.

"Nhưng nghe đây, tôi cóc cần lũ người tự tiện lục lọi chỗ tôi, nên mấy ông liệu trả tiền và cuốn xéo đi sớm chừng nào tôi mừng chừng ấy."

"Thôi được rồi, ông Hayes... không có ý gì xấu đâu", Holmes nói.

"Nãy giờ chúng tôi chỉ xem qua mấy con ngựa của ông, nhưng nghĩ lại thì thôi, tôi đi bộ cùng được.

Chắc từ đây tới lâu đài cũng không xa lắm."

"Không quá hai dặm là đến cổng lâu đài.

Các ông đi theo con đường bên trái ấy."

Ông ta ủ dột nhìn theo cho đến khi chúng tôi đi khỏi.

Nhưng đi không bao xa, vì Holmes đã dừng lại khi vừa đến khúc quanh khuất tầm mắt gã chủ quán.

"Chúng ta sắp lần ra rồi," anh nói.

"Càng đi xa khỏi nhà trọ đó, tôi thấy mình càng lệch khỏi mục tiêu, tôi không thể rời khỏi đó được."

"Tôi tin chắc", tôi nói, "Reuben Hayes biết hết mọi chuyện.

Tôi chưa thấy kẻ bất lương nào lộ rõ bản chất như thế."

"Ồ!

Ông ta khiến anh có ấn tượng như vậy ư?

Có ngựa này, có lò rèn này.

Phải, quán Gà Chọi thú vị đấy.

Ta phải kín đáo thăm dò nó thêm lần nữa."

Sau chúng tôi là một sườn đồi dài, thoai thoải, lác đác những tảng đá vôi xám.

Chúng tôi đi chệch khỏi đường lớn và đang lên đồi thì tôi bỗng thấy một người đạp xe thoăn thoắt từ hướng lâu đài Holdernesse tới.

"Cúi xuống, Watson!"

Holmes kêu lên và ấn mạnh vai tôi.

Chúng tôi vừa thụp xuống khuất tầm nhìn thì người kia vọt qua.

Giữa đám bụi mù, tôi thoáng thấy một gương mặt tái xanh, lo lắng - nỗi khiếp đảm bộc lộ trên từng nét mặt của người đó, miệng há ra, ánh mắt nhìn ngây dại.

Người này trông như một chân dung biếm họa lạ lùng của anh chàng James Wilder bảnh bao chúng tôi gặp tối trước.

"Tay thư kí của công tước!"

Holmes kêu lên.

"Đi thôi, Watson, ta xem hắn làm gì."

Chúng tôi chật vật nửa leo nửa bò qua đám đá tảng đến một chỗ có thể nhìn thấy cửa trước quán trọ.

Xe đạp của Wilder dựng bên hông nhà.

Không ai đi lại quanh quẩn, cũng chẳng có khuôn mặt nào lấp ló bên mấy ô cửa sổ.

Ánh hoàng hôn từ từ buông xuống khi mặt trời dần khuất sau mấy ngọn tháp cao của lâu đài Holdernesse.

Thế rồi trong bóng tối nhá nhem, chúng tôi thấy hai ngọn đèn bên hông chiếc xe ngựa lóe lên trong sân chuồng ngựa, rồi chẳng mấy chốc, tiếng vó ngựa lọc cọc vang lên khi cỗ xe lăn bánh ra đường rồi rầm rập phóng về hướng Chesterfield.

"Anh hiểu sao về chuyện này, Watson?"

Holmes thì thào.

"Trông như chạy trốn."

"Theo như tôi thấy, trong xe chỉ có một người.

Và người này dứt khoát không phải James Wilder, vì hắn đứng ở cửa kia kìa."

Một ô vuông ánh sáng đỏ vừa lóe ra từ bóng tối.

Ở giữa là bóng đen của tay thư kí, đầu nhô tới trước, ló nhìn vào màn đêm.

Rõ ràng anh ta đang chờ người.

Rồi cuối cùng cũng có tiếng bước chân trên đường và bóng người thứ hai hiện rõ dưới ánh đèn trong một thoáng rồi cửa khép lại, bốn bề lại chìm vào tăm tối như trước.

Năm phút sau, đèn trong một phòng ở tầng một bật sáng.

"Dường như quán Gà Chọi tiếp một hạng khách hàng kì lạ", Holmes nói.

"Quán rượu phía bên kia mà."

"Đúng là như thế.

Đây là khách riêng.

Anh chàng James Wilder làm quái gì trong cái ổ đó giờ này trong đêm, và ai đến gặp hắn?

Đi nào, Watson, quả là ta phải liều mà điều tra chuyện này kĩ thêm chút nữa."

Chúng tôi cùng lẻn xuống đường rồi rón rén tới cửa quán.

Chiếc xe đạp vẫn dựng bên tường.

Holmes quẹt diêm đưa tới gần bánh xe sau, rồi tôi nghe anh cười khúc khích khi ánh sáng soi tỏ một lốp xe Dunlop có miếng vá.

Trên đầu chúng tôi là ô cửa sổ sáng đèn.

"Tôi phải nhìn qua đó một cái, Watson.

Nếu anh khom lưng xuống và vịn vào tường, tôi nghĩ tôi sẽ xoay xở được."

Loáng sau, hai bàn chân anh đã đặt trên vai tôi.

Nhưng anh vừa leo lên đã xuống ngay.

"Đi thôi, anh bạn", anh nói, "ngày làm việc của ta khá dài rồi.

Ta đã thu thập được tất cả những gì có thể.

Vì còn phải cuốc bộ một quãng dài về trường, nên ta lên đường sớm chừng nào tốt chừng ấy."

Suốt quãng đường lặn lội mệt nhọc qua vùng đồng trũng, anh hầu như không nói tiếng nào, và anh cũng không vào trường mà đi thẳng đến ga Mackleton để gửi vài bức điện.

Khuya đến, tôi nghe anh an ủi tiến sĩ Huxtable đang suy sụp trước cái chết bi thảm cửa ông thầy trường mình, rồi muộn hơn nữa, anh vào phòng tôi với vẻ tỉnh táo và tràn đầy sinh lực như hồi xuất phát ban sáng, "Ổn cả rồi, bạn ơi", anh nói.

"Tôi hứa trước tối mai ta sẽ giải xong bí ẩn."

11 giờ sáng hôm sau, anh và tôi bước trên con đường rợp bóng cây thông đỏ dẫn đến lâu đài Holdernesse.

Chúng tôi được dẫn qua cánh cửa tráng lệ theo phong cách thời nữ hoàng Elizabeth để vào thư phòng của công tước.

Ở đó, chúng tôi thấy James Wilder nghiêm trang và phong nhã, nhưng chút vết tích của nỗi khiếp đảm thất thần đêm trước còn vương trong đôi mắt láo liên và mày mặt rúm ró.

"Các ông đến để gặp công tước sao?

Tôi lấy làm tiếc, nhưng công tước không được khỏe.

Ngài đang vô cùng buồn phiền vì cái tin bi thảm nọ.

Chúng tôi đã nhận được điện của tiến sĩ Huxtable hồi chiều qua về phát hiện của các ông."

"Anh Wilder này, tôi phải gặp công tước."

"Nhưng ngài đang ở phòng riêng."

"Vậy tôi sẽ vào phòng riêng gặp ngài."

"Tôi tin ngài đang nằm trên giường."

"Tôi sẽ gặp ngài ở đó."

Thái độ lạnh lùng và không lay chuyển được của Holmes làm tay thư kí hiểu có tranh cãi với anh cũng bằng thừa.

"Thôi được, ông Holmes.

Tôi sẽ báo cho ngài biết các ông đang ở đây."

Sau nửa giờ chậm trễ, nhà quý tộc đường bệ xuất hiện.

Mặt ông tái nhợt chưa từng thấy, vai buông thõng, và tôi thấy ông như già sọm đi.

Ông chào chúng tôi theo kiểu nhã nhặn trịnh trọng rồi ngồi bên bàn làm việc, chòm râu đỏ chạm bàn.

"Vâng, ông Holmes?"

Ông ta hỏi.

Nhưng mắt bạn tôi vẫn nhìn chằm chằm tay thư kí đứng bên ghế chủ.

"Thưa công tước, tôi nghĩ nếu không có mặt anh Wilder, tôi sẽ trình bày thoải mái hơn."

Người này thoáng tái mặt và ném cái nhìn thù địch về Holmes.

"Nếu công tước muốn..."

"Được rồi, anh đi đi.

Nào ông Holmes, ông cần nói gì?"

Bạn tôi chờ cho đến khi cửa khép lại sau lưng tay thư kí.

"Thưa công tước, số là thế này", anh nói, "đồng sự của tôi, bác sĩ Watson, và chính tôi đã nghe tiến sĩ Huxtable cam đoan rằng có phần thưởng cho người giúp được ngài.

Tôi muốn nghe chính ngài xác nhận."

"Quả đúng vậy đấy, ông Holmes ạ."

"Nếu như thông báo tôi được nghe là chính xác, thì ngài thưởng đến năm ngàn bảng cho bất kì ai cho biết con ngài ở đâu?"

"Đúng vậy."

"Và một ngàn nữa cho người nào có thể nêu tên kẻ hoặc những kẻ bắt cóc cậu bé?"

"Phải."

"Trong mục sau thì chắc chắn không chỉ bao gồm những kẻ bắt cóc, mà còn những kẻ âm mưu giữ cậu bé?"

"Phải, phải", công tước sốt ruột.

"Ông Sherlock Holmes, nếu ông làm tốt việc mình, ông sẽ không có lí do gì phải phàn nàn rằng tôi keo kiệt với ông."

Bạn tôi xoa xoa hai bàn tay gầy guộc, và vẻ tham lam hiển hiện trên gương mặt anh khiến tôi ngạc nhiên, vì tôi vốn biết anh không phải người trọng tiền bạc.

"Tôi thấy cuốn sổ chi phiếu của ngài trên bàn", anh nói.

"Tôi sẽ rất vui nếu ngài viết cho tôi một tờ chi phiếu sáu ngàn bảng.

Hoặc ngài cũng có thể gửi thẳng tiền tới cho tôi qua chi nhánh Oxford của Nhà băng Capital & Counties."

Công tước ngồi thật nghiêm trang và không nhúc nhích trên ghế tựa, rồi lạnh lùng nhìn bạn tôi.

"Ông đùa phải không, ông Holmes?

Đây không phải chuyện cho ông bông đùa."

"Không hề, thưa công tước.

Tôi chưa bao giờ nghiêm túc hơn."

"Vậy ý ông là sao?"

"Là tôi đã giành được tiền thưởng.

Tôi biết con trai ngài ở đâu, và tôi biết ít nhất có vài kẻ đang giữ cậu bé."

Chòm râu của công tước màu đỏ quạch hơn bao giờ hết, nổi bật trên bộ mặt tái nhợt như xác chết.

"Thằng bé ở đâu?"

Ông ta há hốc miệng.

"Cậu bé đang, hay đã ở tại quán trọ Gà Chọi đêm qua, cách cổng dinh cơ của ngài chừng hai dặm."

Công tước ngả người ra ghế dựa.

"Vậy ông tố cáo ai?"

Câu trả lời của Sherlock Holmes thật đáng kinh ngạc.

Anh thoắt bước tới chạm lên vai công tước

"Tôi tố cáo ngài", anh nói.

"Còn giờ thì, thưa công tước, phiền ngài viết cho tờ chi phiếu đó."

Tôi sẽ không bao giờ quên được vẻ mặt công tước khi ông ta bật dậy, hai tay chới với như người đang ngã xuống vực sâu.

Rồi, bằng một nỗ lực tự chủ quý phái phi thường, ông ngồi xuống ôm mặt.

Phải vài phút sau, ông ta mới cất tiếng được.

"Ông biết những gì rồi?"

Cuối cùng ông hỏi, không ngẩng đầu lên.

"Tối qua tôi đã thấy hai người với nhau."

"Ngoài ông và bạn ông, còn ai biết nữa không?"

"Tôi chưa nói với ai."

Công tước run rẩy cầm bút rồi giở cuốn sổ chi phiếu ra.

"Tôi sẽ giữ lời, ông Holmes.

Tôi sẽ viết chi phiếu cho ông, dù thông tin ông nắm được có gây khó chịu cho tôi.

Khi treo thưởng tôi không nghĩ tình hình có thể xoay chuyển theo hướng này.

Nhưng ông và bạn ông biết giữ bí mật chứ, ông Holmes?"

"Tôi chưa hiểu ý ngài."

"Nói thế này cho dễ hiểu nhé, ông Holmes.

Nếu chỉ có hai ông biết sự thể thì chẳng có lí do gì để nó lan truyền ra rộng thêm.

Vậy tôi nợ ông mười hai ngàn bảng, phải không?"

Nhưng Holmes mỉm cười lắc đầu.

"Thưa công tước, tôi e khó mà dàn xếp êm xuôi như vậy.

Còn phải tính đến cái chết của ông thầy nữa."

"Nhưng James không biết gì về chuyện đó.

Ông không thể bắt anh ta chịu trách nhiệm được.

Đó là tội của kẻ côn đồ cục súc mà anh ta chẳng may thu dụng."

"Thưa công tước, tôi quan niệm rằng khi một người nhúng tay vào một tội ác thì về mặt đạo lí, hắn phải chịu trách nhiệm cho bất kì tội ác nào khác có thể nảy sinh từ đó."

"Ông Holmes, rõ ràng ông đúng về mặt đạo lí.

Nhưng đứng về mặt luật pháp thì không.

Một người không thể bị kết tội sát nhân trong một vụ án mạng xảy ra vào lúc không có mặt anh ta, và chính anh ta cũng căm ghét và ghê tởm tội ác đó như ông vậy.

Vừa nghe chuyện, anh ta đã khiếp đảm và ăn năn khai thật toàn bộ với tôi.

Anh ta đã đoạn giao với kẻ sát nhân ngay lập tức.

Ôi, ông Holmes, ông phải cứu anh ta!

Tôi xin ông hãy cứu anh ta!"

Công tước từ bỏ cố gắng tự chủ cuối cùng, đi tới đi lui trong phòng, nét mặt co giật còn hai bàn tay nắm chặt vung lên.

Cuối cùng ông ta cũng kiềm chế được và ngồi lại bên bàn.

"Tôi cảm kích vì ông đến đây trước khi nói cho người khác biết", ông ta nói.

"Ít ra chúng tôi còn có thể hỏi xin ông tư vấn cho có cách nào để giảm nhẹ tai tiếng."

"Quả vậy", Holmes nói.

"Thưa công tước, tôi nghĩ tôi chỉ làm được vậy khi chúng ta hoàn toàn thành thật với nhau.

Tôi sẵn lòng giúp ngài đến cùng trong khả năng mình, nhưng muốn vậy, tôi phải hiểu tường tận chuyện này là thế nào.

Tôi nhận ra rằng ngài nói đúng về James Wilder, và anh ta không phải hung thủ."

"Đúng, hung thủ chạy thoát rồi!"

Sherlock Holmes mỉm cười từ tốn, "Công tước hầu như chưa nghe tiếng tăm của tôi rồi, nếu không ngài đã không nghĩ ông ta thoát khỏi tay tôi dễ dàng như vậy.

11 giờ đêm qua, theo thông tin của tôi, ông Reuben Hayes đã bị bắt tại Chesterfield.

Hồi sáng trước khi rời trường, tôi đã nhận được điện của cảnh sát trưởng địa phương."

Công tước ngả người ra ghế và sững sờ nhìn bạn tôi.

"Hình như ông có những khả năng gần như phi phàm", ông ta nói.

"Reuben Hayes bị bắt ư?

Tôi rất mừng khi nghe tin, nếu chuyện đó không gây ảnh hưởng xấu tới số phận của James."

"Thư kí của ngài?"

"Không, con trai tôi."

Đến lượt Holmes sửng sốt.

"Tôi thú thực là hoàn toàn không hay biết chuyện này, thưa công tước.

Xin ngài nói rõ hơn."

"Tôi sẽ không giấu giếm ông.

Dù khó nhưng tôi đồng ý sẽ thẳng thắn hoàn toàn, vì đó là cách tốt nhất trong tình thế tuyệt vọng do sự điên rồ và ganh ghét của James gây nên.

Ông Holmes, thời còn trẻ, tôi đã yêu say đắm và đó là thứ tình yêu chỉ đến một lần trong đời.

Tôi cầu hôn người thiếu nữ đó, nhưng nàng khước từ vì cho rằng việc không môn đăng hộ đối có thể phá hoại sự nghiệp của tôi.

Nếu nàng còn sống, chắc chắn tôi đã không bao giờ cưới ai khác.

Nàng qua đời, để lại cho tôi một mụn con, và vì nàng tôi luôn cưng quý chăm lo cho nó.

Tôi không thể thừa nhận vai trò làm cha này trước bàn dân thiên hạ, nhưng tôi cho hắn sự giáo dục tử tế nhất, rồi từ khi hắn trưởng thành, tôi giữ cận kề bên mình.

Hắn đã bắt thóp được bí mật của tôi, từ đó hắn tự cho mình có quyền đối với tôi đồng thời lợi dụng ưu thế có thể gây tai tiếng nếu việc vỡ lở, vì thừa biết tôi rất ghê sợ điều ấy.

Hắn cũng có liên quan phần nào đến cuộc hôn nhân không hạnh phúc của tôi.

Quan trọng hơn cả, từ đầu hắn đã căm hận đứa con nhỏ có quyền thừa tự hợp pháp của tôi.

Có lẽ các ông sẽ hỏi tại sao trong tình cảnh như vậy, tôi vẫn để James sống chung nhà.

Tôi xin trả lời là vì tôi nhìn thấy bóng dáng của người mẹ nơi gương mặt hắn, và tôi sẽ vì người yêu dấu mà chịu đựng nỗi khốn khổ triền miên không biết bao giờ kết thúc này.

Rồi còn biết bao phong vận đáng yêu của nàng - cái gì ở hắn cũng gợi nhớ bóng hình người thương của tôi.

Tôi không thể để hắn đi, nhưng tôi sợ hắn sẽ làm hại Arthur, tức huân tước Saltire, đến mức tôi phải gửi thằng bé đến trường của tiến sĩ Huxtable cho an toàn.

James bắt đầu móc nối với gã Hayes này vì gã này từng là người làm của tôi, còn James thường thay tôi xử lý mọi chuyện.

Từ đầu gã này đã là kẻ bất lương rồi, nhưng thật kì lạ là James lại thân thiết với gã.

Hắn có sở thích kết bạn với kẻ hạ tiện.

Khi James quyết tâm bắt cóc huân tước Saltire, hắn lợi dụng sự tiếp tay của chính gã này.

Ông cũng nhớ rằng vào hôm cuối đó, tôi có viết thư cho Arthur.

James đã bóc thư và nhét vào đó lá thư yêu cầu Arthur gặp hắn ở Rừng Thưa gần trường.

Hắn dùng tên của công tước phu nhân dụ thằng bé đến.

Hôm qua, James thú thật với tôi rằng chiều hôm ấy, hắn đạp xe tới rừng và bảo Arthur là mẹ nó mong ngóng được gặp nó, rằng bà đang chờ nó ở ngoài vùng đồng trũng, và rằng nếu nửa đêm nó vào rừng, nó sẽ thấy một người cưỡi ngựa, người này sẽ dẫn nó đến chỗ bà.

Arthur tội nghiệp mắc mưu.

Nó đến chỗ hẹn và thấy Hayes dắt một chú ngựa non.

Arthur lên ngựa, rồi họ cùng lên đường.

Hóa ra - James chỉ mới nghe được hôm qua - họ bị đuổi theo, Hayes dùng gậy nện người truy đuổi, và người đàn ông đã chết vì vết thương.

Hayes đưa Arthur tới quán Gà Chọi và giam thằng bé trong một gian phòng, để thẳng bé cho bà Hayes trông coi.

Bà này tử tế, nhưng hoàn toàn chịu sự kiểm soát của gã chồng vũ phu.

Vâng ông Holmes, đó là tình hình hai hôm trước khi tôi gặp ông lần đầu.

Tôi cũng chẳng biết gì nhiều hơn ông.

Ông sẽ hỏi tôi động cơ của James khi làm vậy.

Tôi sẽ trả lời là hắn ôm trong lòng nỗi hận thù hết sức phi lí và rồ dại đối với người thừa tự của tôi.

Theo quan điểm của hắn, hắn phải là người được thừa kế mọi điền sản, và hắn hết sức căm hận những luật lệ của xã hội ngăn trở điều đó.

Đồng thời hắn còn một động cơ rõ ràng nữa.

Hắn muốn tôi hủy quyền thừa tự của con trai tôi, và hắn cho rằng tôi có khả năng làm vậy.

Hắn định thương lượng với tôi rằng hắn sẽ trả Arthur về nếu tôi chịu hủy quyền thừa tự, và như vậy có thể để lại điền trang cho hắn bằng chúc thư.

Hắn biết rõ rằng tôi sẽ không bao giờ tình nguyện giao hắn cho cảnh sát.

Hắn định đề nghị thương lượng với tôi như vậy, nhưng thực tế hắn chưa làm, bởi các sự kiện diễn biến quá nhanh nên hắn chưa kịp thực hiện ý đồ.

Cái làm cho toàn bộ mưu đồ xấu xa của hắn tiêu tùng là các ông phát hiện ra xác của Heidegger.

James hoảng hồn khi nghe tin.

Hôm qua, lúc được tiến sĩ Huxtable đánh điện, chúng tôi đang cùng ngồi trong thư phòng này.

Nhìn James lo lắng bồn chồn, tôi tức thì xác tín mối nghi ngờ vốn đã tồn tại từ đầu, và tôi buộc tội hắn.

Hắn tự thú nhận từ đầu đến cuối.

Rồi hắn van xin tôi giữ bí mật thêm ba ngày, để đồng bọn của hắn còn cơ hội giữ mạng.

Tôi đã nhượng bộ, như xưa nay vẫn vậy, trước lời cầu xin của hắn, thế là James vội vàng đi ngay đến quán trọ Gà Chọi để đánh động Hayes và cho gã kia phương kế trốn thoát.

Tôi không thể tới đó ban ngày ban mặt mà không gây xì xào bàn tán, nhưng khi đêm vừa buông xuống, tôi đã tức tốc đến gặp Arthur thân yêu.

Tôi thấy thằng bé an toàn khỏe mạnh, nhưng kinh hoàng không tả xiết vì phải chứng kiến việc làm tàn khốc đêm nọ.

Để giữ lời hứa, tôi đành để thằng bé lại đó ba ngày cho bà Hayes chăm lo vì tôi không thể báo cho cảnh sát biết nơi ở của thằng bẻ mà không tiết lộ danh tính hung thù.

Tôi cũng không biết làm cách nào để hung thủ bị trừng phạt mà không liên lụy đến thằng James khốn khổ của tôi.

Ông đã yêu cầu phải thẳng thắn, ông Holmes, và tôi tin lời ông, vì tôi đã kể ông nghe hết mọi chuyện.

Giờ đến lượt ông phải thẳng thắn với tôi."

"Vâng", Holmes nói.

"Trước hết, thưa công tước, tôi buộc phải nói với ngài rằng ngài đã đặt mình vào một tình thế hết sức trầm trọng về mặt luật pháp.

Ngài đã làm ngơ và tiếp tay cho một kẻ sát nhân chạy trốn, vì tôi nghi rằng James Wilder đã giúp đồng bọn tẩu thoát bằng tiền từ túi ngài."

Công tước cúi đầu thừa nhận.

"Đây quả thực là một vấn đề hết sức nghiêm trọng.

Nhưng tôi thiển nghĩ, thưa công tước, đáng tội hơn nữa là thái độ của ngài đối với người con thứ.

Ngài đã để cậu bé lại sào huyệt của quân độc ác những ba ngày."

"Theo lời hứa long trọng..."

"Thề thốt có là gì đối với bọn ấy?

Ngài không có gì bảo đảm là cậu sẽ không bị bắt cóc lần nữa.

Nhằm chiều lòng đứa con cả tội lỗi, ngài đã để cậu con út ngây thơ bơ vơ trong vòng hiểm nguy kề cận mà vốn dĩ không cần thiết.

Đó là hành động không thể biện minh được."

Vị công tước Holdernesse kiêu hãnh vốn không quen bị khiển trách trong chính lâu đài của mình.

Máu dồn lên vầng trán cao, nhưng lương tri bắt ông im lặng.

"Tôi sẽ giúp ngài, nhưng với một điều kiện: Ngài hãy cho gọi người hầu và để tôi tùy ý dặn dò."

Không nói tiếng nào, công tước nhấn chuông điện.

Một người hầu bước vào.

"Anh sẽ mừng khi biết tin", Holmes nói, "đã tìm thấy cậu chủ nhỏ của anh.

Công tước muốn cho xe ngựa đến quán Gà Chọi ngay lập tức để đưa huân tước Saltire về."

"Nào", Holmes nói khi người đầy tớ mừng rỡ ra đi, "sau khi đã bảo đảm tương lai, ta có thể khoan dung hơn với quá khứ.

Tôi không ở cương vị người làm việc công, và miễn là công lí được thực hiện, tôi không có lí gì lại đi tiết lộ mọi điều mình biết.

Còn về Hayes, tôi sẽ không nói gì.

Giá treo cổ đang chờ hắn, và tôi sẽ không cứu hắn.

Tôi không dám nói hắn sẽ tiết lộ những gì, nhưng tôi tin công tước có thể làm hắn hiểu hắn nên im lặng vì quyền lợi của chính hắn.

Xét theo cách nhìn của cảnh sát, đương nhiên hắn bắt cóc cậu bé nhằm đòi tiền chuộc.

Nếu tự họ không điều tra ra, tôi thấy không lí gì mình phải khai sáng cho họ.

Tuy nhiên, tôi muốn báo trước với công tước rằng nếu anh James Wilder tiếp tục sống cùng gia đình ngài thì chỉ đem đến bất hạnh mà thôi."

"Tôi hiểu, ông Holmes.

Tôi đã thu xếp để hắn đi tìm vận may ở châu Úc và lánh xa tôi mãi mãi."

"Nếu vậy thì, thưa công tước, vì chính ngài đã nói rằng bất hạnh trong hôn nhân của ngài cũng do anh ta gây ra, nên tôi khuyên ngài bù đắp cho phu nhân trong mức có thể, và cố hàn gắn cuộc hôn nhân đã không may đứt gánh giữa đường."

"Chuyện đó cũng được lo liệu rồi, ông Holmes.

Sáng nay tôi đã viết thư cho công tước phu nhân."

"Nếu vậy thì", Holmes đứng lên, "tôi nghĩ chúng tôi có thể tự chúc mừng vì đã thu được vài thành quả hết sức đáng mừng trong chuyến du ngoạn ngắn ngủi này.

Còn một điểm nhỏ nữa tôi muốn làm sáng tỏ.

Gã Hayes này đã đóng móng ngựa bằng móng giả dấu chân bò.

Phải chăng hắn học được một chước phi thường như vậy từ anh Wilder?"

Công tước đứng nghĩ ngợi một lát, vẻ mặt ngạc nhiên vô cùng.

Rồi ông mở cánh cửa dẫn chúng tôi vào một gian phòng rộng được bày biện như viện bảo tàng, ông đi trước đến một hộp kính để trong góc, rồi chỉ dòng chú thích có nội dung như sau: Những móng này đào được từ dưới hào ở lâu đài Holdernesse, tuy là móng ngựa, nhưng mặt dưới được tạo hình móng chẻ bằng sắt để đánh lạc hướng những kẻ truy đuổi.

Người ta cho rằng loại móng này từng được một số quý tộc vùng Holdernesse thời Trung cổ sử dụng cho mục đích cướp bóc.

Holmes mở hộp, thấm nước bọt lên ngón tay rồi quẹt dọc theo cái móng.

Một lớp bùn mỏng còn mới dính lại trên da anh.

"Cảm ơn ngài", anh đậy hộp kính lại và nói.

"Đây là vật hay ho thứ hai mà tôi được thấy ở miền bắc."

"Vậy còn vật thứ nhất?"

Holmes gập tờ chi phiếu lại rồi cẩn thận kẹp vào sổ tay.

"Tôi là người nghèo mà", anh trìu mến vỗ cuốn sổ rồi đút sâu vào túi áo trong.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
PETER ĐEN (Black Peter, 1904)


Tôi chưa bao giờ thấy bạn mình sung mãn, cả về thể chất lẫn tinh thần, như hồi năm 1895.

Tiếng tăm lên cao càng đem lại nhiều công việc, và tôi sẽ thật là khinh suất nếu nói ra, dù chỉ là bóng gió, danh tính của một vài thân chủ lẫy lừng từng bước qua ngưỡng cửa hèn mọn nơi nhà chúng tôi ở phố Baker.

Tuy vậy, cũng như mọi nghệ sĩ lớn, Holmes sống vị nghệ thuật, và trừ trong vụ công tước Holdernesse, tôi hiếm khi thấy anh đòi hỏi đền đáp gì nhiều cho công lao không tính xuể của mình.

Anh quá thanh cao - hay tùy hứng - nên đã thường xuyên từ chối giúp những người giàu sang quyền thế khi vấn đề của họ không gợi được sự cảm thông nơi anh, nhưng lại sẵn sàng dành hàng tuần dồn tâm dồn trí giúp một thân chủ nghèo hèn giải quyết những việc có tính chất lạ lùng và kịch tính, cuốn hút trí tưởng tượng và thách thức trí tuệ của anh.

Trong năm 1895 đáng nhớ này, anh bị cuốn vào hàng loạt những vụ án kì lạ, từ cuộc điều tra đã khiến anh nức tiếng gần xa - vụ đột tử của hồng y giáo chủ Tosca - được Holmes tiến hành theo mong muốn minh định của Đức giáo hoàng, cho đến vụ bắt Wilson, kẻ luyện chim kim tước khét tiếng, giúp loại bỏ một tụ điểm sa đọa ở khu đông London.

Xếp ngay sau hai vụ tiếng tăm trên là thảm kịch diễn ra tại Woodman's Lee với những tình tiết bí hiểm xoay quanh cái chết của thuyền trưởng Peter Carey.

Nói đến thành tích của Sherlock Holmes mà không kể ra vụ việc vô cùng khác thường này thì quả là thiếu sót.

Cả tuần lễ đầu tháng 7, bạn tôi thường vắng nhà khá lâu nên tôi biết anh đang bận điều tra việc gì đó.

Vào những ngày ấy, có mấy người dáng vẻ thô lỗ đến tìm gặp thuyền trưởng Basil nên tôi biết Holmes đang cải trang và dùng tên giả để che giấu danh tính lẫy lừng của mình.

Anh có ít nhất năm nơi trú ẩn nho nhỏ ở khắp London để thay đổi nhân dạng.

Anh không nói gì về công việc của mình, mà tôi lại không quen căn vặn người khác.

Nhưng dấu hiệu đầu tiên về hướng điều tra mà anh cho tôi biết lại khá bất thường.

Anh ra ngoài trước bữa điểm tâm, và khi tôi vừa ngồi xuống dùng bữa thì anh sải bước vào phòng, đầu đội mũ và kẹp cây lao móc dưới nách như một chiếc dù.

"Trời ơi, Holmes!"

Tôi kêu lên.

"Anh không cầm thứ ấy đi khắp London đấy chứ?"

"Tôi vừa từ lò mổ về."

"Lò mổ ư?"

"Rồi tôi về nhà mà thấy thèm ăn quá.

Đúng là không thể nghi ngờ giá trị của việc vận động trước khi dùng bữa điểm tâm, Watson thân mến ạ.

Nhưng tôi dám cá là anh không đoán được loại hình vận động của tôi."

"Tôi không định đoán."

Anh vừa rót cà phê vừa cười tủm tỉm.

"Nếu xem xét được gian sau của lò mổ Allardyce, anh sẽ thấy một con lợn chết treo lủng lẳng ở cái móc trên trần, và một quý ông mặc áo sơmi đang hăm hở đâm nó bằng món vũ khí này.

Tôi là quý ông đó, và sau màn tập luyện khi nãy, tôi tin chắc rằng dù có vận sức thế nào, tôi cũng không thể đâm xuyên con lợn chỉ bằng một cú.

Anh muốn thử không?"

"Không đời nào.

Nhưng anh làm vậy để làm gì?"

"Vì tôi thấy nó gián tiếp liên quan đến vụ án tại trang viên Woodman's Lee.

À, Hopkins, tôi nhận được điện tín của anh tối qua nên đang trông anh đây.

Vào ăn cùng chúng tôi đi."

Vị khách của chúng tôi có phong thái nhanh nhẹn, độ tuổi tầm ba mươi, mặc bộ đồ vải tuýt giản dị nhưng vẫn giữ dáng dấp thẳng tắp của người quen mặc đồng phục.

Tôi nhận ra ngay anh ta là Stanley Hopkins, một thanh tra cảnh sát trẻ được Holmes đánh giá là có tiền đồ, còn anh ta coi Holmes như một người thầy và cực kì ngưỡng mộ các phương pháp điều tra khoa học của anh.

Lông mày Hopkins nhíu lại đượm nét ưu tư, rồi anh ta ủ rũ ngồi xuống ghế.

"Cảm ơn ông, nhưng tôi không ăn đâu.

Tôi dùng điểm tâm rồi mới đến đây.

Hôm qua tôi lên thành phố để báo cáo nên ngủ qua đêm tại đấy luôn."

"Vậy anh báo cáo thế nào?"

"Thất bại, thưa ông.

Thất bại hoàn toàn."

"Anh không điều tra được gì thêm sao?"

"Không."

"Trời đất!

Tôi phải xem qua vụ này mới được."

"Tôi chỉ mong có vậy, thưa ông Holmes.

Đó là cơ hội lớn đầu tiên của tôi, mà tôi lại đâm đầu vào ngõ cụt.

Vì Chúa, xin ông hãy giúp tôi một tay."

"Được, được, tình cờ tôi đã nghiên cứu khá kĩ mọi chứng cứ có được, kể cả biên bản điều tra.

À, mà này, anh nghĩ sao về túi thuốc lá được tìm thấy tại hiện trường?

Nó không chứa manh mối gì sao?"

Hopkins ngạc nhiên.

"Thưa ông, nó thuộc về nạn nhân.

Bên trong túi có mấy chữ viết tắt tên ông ta.

Hơn nữa, cái túi được làm bằng da hải cẩu, mà ông này từng là dân săn hải cẩu."

"Nhưng ông ta không có tẩu thuốc."

"Thưa ông, đúng là chúng tôi không hề tìm thấy tẩu thuốc.

Nói chính xác hơn, ông ta hầu như không hút thuốc.

Nhưng biết đâu ông ta cất ít thuốc lá để mời bạn bè."

"Hẳn rồi!

Tôi nhắc chuyện đó chỉ vì nếu tôi là người xử lí vụ này, tôi sẽ chọn nó làm khởi điểm điều tra.

Tuy nhiên, bác sĩ Watson bạn tôi chưa biết gì về vụ này, còn tôi thấy nghe lại diễn biến cũng không hề gì.

Anh cứ kể sơ qua đi."

Stanley Hopkins rút một mẩu giấy trong túi ra.

"Tôi có vài mốc thời gian trong sự nghiệp của người đã khuất, thuyền trưởng Peter Carey.

Ông ta sinh năm 1845, năm nay năm mươi tuổi, ông ta là người đánh bắt hải cẩu và cá voi táo gan và thành công nhất.

Năm 1883, ông ta là thuyền trưởng tàu đánh bắt hải cẩu Kì lân biển ở Dundee.

Hồi ấy ông ta có vài chuyến ra khơi thành công liên tiếp, nhưng bỏ nghề vào năm sau đó, năm 1884.

Tiếp theo, ông ta chu du vài năm rồi cuối cùng mua một miếng đất nhỏ gọi là Woodman's Lee, gần Horest Row, Sussex.

Ông ta sống ở đó đã được sáu năm và vừa chết tại đó cách đây một tuần.

Ông này có một số điểm hết sức lạ kì.

Ông ta là một tin đồ Thanh giáo lầm lì, u ám.

Ông ta sống cùng vợ, có con gái hai mươi tuổi và hai cô hầu.

Nhà này đổi người hầu liên tục, vì chẳng ai chịu nổi tính tình khó ưa của ông ta.

Cứ lâu lâu ông này lại say xỉn một lần, và lúc ấy, ông ta đúng là một con quỷ.

Ông ta từng đuổi vợ con ra khỏi nhà giữa đêm hôm và quất họ túi bụi đến nỗi tiếng kêu gào của họ đánh thức cả làng lân cận.

Có lần ông ta bị triệu tập do hành hung ông mục sư già, vì vị này đã quở trách tư cách đạo đức của ông ta.

Tóm lại, còn lâu ông mới tìm được kẻ nào nguy hiểm hơn Peter Carey, và nghe nói ông ta có cái tính ấy từ hồi làm thuyền trưởng.

Người trong nghề gọi ông ta là Peter Đen, không chỉ vì mặt mày đen sạm và bộ râu đen xồm xoàm, mà còn do tính khí là nỗi kinh hoàng cho bao người xung quanh.

Khỏi cần phải nói cũng biết, xóm giềng ai cũng căm ghét và lảng tránh ông ta, và tôi cũng chưa nghe được lấy một chữ tiếc thương nào cho kết cục thảm khốc của người này.

Ông Holmes, hẳn ông đã đọc đoạn miêu tả gian nhà phụ của nạn nhân trong biên bản điều tra, nhưng có lẽ bạn ông chưa được nghe.

Ông ta dựng cho mình một căn nhà gỗ - ông ta vẫn gọi đó là cabin - cách nhà vài trăm yard và ngủ ở đấy.

Đó là một căn nhà bé tí chỉ có một phòng, kích thước mười sáu nhân mười foot.

Ông ta giữ chìa khóa trong túi, tự dọn giường và quét tước phòng ốc, không cho một ai bước chân qua cửa.

Nhà có hai cửa sổ nhỏ luôn giăng rèm kín mít, một cửa sổ hướng ra đường cái nên đêm đêm, khi trong căn nhà nhỏ sáng đèn, thiên hạ thường chỉ trỏ thắc mắc Peter Đen đang làm gì trong ấy.

Ông Holmes, chính ô cửa sổ này đã cho chúng tôi một trong số ít lời khai có giá trị thu được tại cuộc thẩm tra.

Hai ngày trước vụ án mạng, anh thợ đá Slater đi từ Forest Row ngang qua khu đất này vào khoảng 1 giờ sáng, cố dừng lại nhìn ô cửa vẫn sáng ánh đèn giữa lùm cây.

Anh ta cam đoan đã thấy rõ bóng đầu một người đàn ông nhìn từ mặt bên in trên rèm, và cái bóng này chắc chắn không phải của Peter Carey mà anh ta biết rõ.

Người này cũng để râu, những râu ngắn và lia chia rất khác với bộ râu của thuyền trưởng.

Anh ta khai vậy nhưng trước đó, anh ta đã ngồi ngâm nghê trong quán rượu suốt hai tiếng đồng hồ, mà đường cái cách cửa sổ một quãng.

Vả lại, chuyện đó xảy ra vào thứ hai, mà án mạng xảy ra hôm thứ tư.

Hôm thứ ba, tâm trạng Peter Carey cực kì xấu.

Ông ta say đến nỗi mặt đỏ tưng bừng và dữ dằn như con thú hoang, ông ta lảng vảng quanh nhà, và vừa nghe ông ta đến là mấy người phụ nữ trong nhà liền trốn sạch.

Tối đến, ông ta quay về gian nhà phụ.

Khoảng 2 giờ sáng hôm sau, con gái ông ta để cửa sổ mở khi ngủ nên nghe một tiếng rú kinh hoàng từ hướng đó.

Tuy nhiên, chuyện ông ta uống rượu rồi quát tháo ầm ĩ cũng không có gì lạ, nên cô ta chẳng buồn để ý.

Tầm 7 giờ sáng, một cô hầu nhận thấy cửa nhà phụ để mở, nhưng ai cũng khiếp hãi ông ta lắm nên mãi tận trưa mới có người xuống đó xem ông ta ra sao.

Hé nhìn qua khe cửa, người ta thấy một cảnh tượng khiến họ mặt mày tái mét chạy vào làng.

Khoảng một giờ sau, tôi có mặt tại hiện trường và tiếp quản vụ án.

Ôi, thưa ông Holmes, hẳn ông cũng biết rằng thần kinh tôi khá vững, nhưng chính tôi cũng phải rùng mình khi thò đầu vào gian nhà phụ đó.

Tiếng ruồi nhặng kêu vo ve như tiếng phong cầm, còn sàn nhà và tường chẳng khác nào trong lò mổ.

Ông ta gọi đó là cabin, mà nó cũng giống cabin trên tàu thật.

Trong phòng có một giường tầng, một cái rương đi biển, bản đồ và biểu đồ, bức hình tàu Kì lân biển, các nhật kí hải trình xếp trên giá - tất thảy đều hệt như trong cabin thuyền trưởng.

Và ở giữa là xác nạn nhân, mặt rúm ró như tội đồ bị tra tấn dưới địa ngục, bộ râu rậm rịt dựng lên trong thời khắc đau đớn tột cùng.

Bộ ngực rộng của nạn nhân bị đâm xuyên qua, cây lao móc hung khí cắm lút vào bức tường phía sau.

Dĩ nhiên, ông ta đã chết ngay từ khoảnh khắc rú lên tiếng kêu đau đớn sau cùng đó.

Thưa ông, tôi đã biết các phương pháp điều tra của ông nên đem ra áp dụng.

Tôi khám xét cực kì kĩ lưỡng mặt đất bên ngoài, và cả sàn trong phòng rồi mới cho phép lấy thứ gì đi.

Không có dấu chân."

"Nghĩa là anh không thấy dấu vết nào?"

"Thưa ông, tôi cam đoan với ông là không có dấu nào cả."

"Hopkins ơi, tôi đã điều tra bao nhiêu vụ án rồi, nhưng chưa từng thấy vụ nào do sinh vật bay gây ra.

Miễn là tội phạm đứng trên hai chân thì thể nào cũng phải có một vết lõm, một chỗ trầy, một xê dịch nhỏ nhặt mà điều tra viên có nghề sẽ phát hiện ra.

Thật không thể tin nổi là căn phòng máu me loang lổ kia lại không có lấy một vết tích nào giúp được chúng ta.

Tuy nhiên, chiếu theo biên bản điều tra, tôi nhận thấy anh không xem xét một số đồ vật thì phải?"

Viên thanh tra trẻ nhăn mặt khi nghe những bình luận mỉa mai của bạn tôi.

"Lúc đó tôi thật ngu ngốc không mời ông đến, ông Holmes.

Nhưng giờ có hối cũng chẳng có tác dụng gì.

Đúng vậy, trong phòng có vài món đồ cần chú ý đặc biệt.

Một là cây lao móc dùng làm hung khí.

Nó được giật từ cái giá trên tường xuống.

Trên giá vẫn còn hai cây lao và trống một chỗ cho cây thứ ba.

Trên cán có khắc: 'Tàu hơi nước Kì lân biển, Dundee!

Có vẻ điều này chứng minh rằng thủ phạm ra tay trong cơn giận bột phát và chộp lấy món vũ khí hắn nhìn thấy đầu tiên.

Án mạng xảy ra lúc 2 giờ sáng, ấy vậy mà Peter Carey hãy còn ăn mặc chỉn chu, cho thấy ông ta có thể đã hẹn gặp hung thủ.

Điều này được củng cố do trên bàn có đặt một chai rượu rum và hai cái cốc."

"Phải", Holmes nói, "tôi nghĩ cả hai suy luận đều chấp nhận được.

Ngoài rượu rum ra, trong phòng còn loại rượu nào khác không?"

"Còn.

Trên rương có một két brandy và whisky.

Tuy nhiên, chúng tôi thấy tình tiết này không quan trọng, vì mấy chai đó chưa mở nắp nên có lẽ chưa bị ai động tới."

"Đành là vậy, nhưng chỉ riêng việc chúng ở đó thôi cũng đã có ý nghĩa rồi", Holmes nói.

"Tuy nhiên, anh cứ kể tiếp về mấy đồ vật anh thấy có liên quan đến vụ án đi."

"Có túi thuốc lá trên bàn."

"Chỗ nào trên bàn?"

"Giữa bàn.

Bằng da hải cẩu thô, buộc bằng dây da, mặt trong nắp túi có chữ P.C, trong có chứa nửa ounce thuốc lá loại nặng mà cánh thủy thủ hay dùng."

"Tuyệt!

Còn gì nữa không?"

Stanley Hopkins rút trong túi ra một cuốn sổ tay bìa xám xịt.

Bên ngoài đã sờn rách, còn các trang giấy bên trong đã ngả màu.

Trên trang đầu có mấy chữ viết tắt J.H.N và đề năm 1883.

Holmes đặt cuốn sổ trên bàn và xem xét tỉ mỉ, trong khi Hopkins và tôi chăm chú ngó qua hai bên vai anh.

Trên trang thứ hai có mấy chữ cái viết hoa C.P.R, rồi đến vài trang ghi số liệu.

Một vài tiêu đề nữa là Argentine, Costa Rica, rồi São Paulo, sau mỗi đề mục là nhiều trang ghi kí kiệu và các con số.

"Anh hiểu sao về những cái này?"

Holmes hỏi.

"Có vẻ như chúng là các danh sách cổ phiếu ở sở giao dịch chứng khoán London.

Tôi nghĩ J.H.N là tên viết tắt của một người môi giới, còn C.P.R có thể là khách hàng của anh ta."

"Có thể là Canadian Pacific Railway", Holmes nói.

Stanley Hopkins lầm bầm chửi thề và đập tay cái đét lên đùi.

"Tôi ngu thật!"

Anh ta kêu lên.

"Tất nhiên, đúng như ông nói.

Vậy ta chỉ còn phải giải đáp J.H.N là gì nữa thôi.

Tôi đã kiểm tra các danh sách cũ của sở giao dịch, nhưng không tìm thấy ai trong năm 1883, dù là nhân viên của sở hay trong đám môi giới bên ngoài, có tên viết tắt tương ứng.

Nhưng tôi vẫn cảm thấy đây là đầu mối quan trọng nhất mình có.

Ông Holmes, ông phải thừa nhận rằng nó có khả năng là tên viết tắt của người thứ hai có mặt tại hiện trường - nói cách khác là hung thủ chúng ta cần tìm.

Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng một tài liệu liên quan tới nhiều lượng lớn cổ phiếu có giá trị xuất hiện trong vụ này có thể gợi ý động cơ gây án."

Vẻ mặt Sherlock Holmes cho thấy anh hoàn toàn bất ngờ vì bước chuyển biến mới này.

"Tôi đồng ý cả hai ý kiến của anh", anh nói.

"Cuốn sổ này không hề được nhắc tới trong buổi thẩm tra, và tôi phải thú thật là nó làm thay đổi vài phán đoán của mình.

Tôi đã có một giả thuyết về vụ án nhưng không bao gồm yếu tố này.

Anh đã thử dò tìm cổ phiếu nào được nhắc trong đó chưa?"

"Hiện đang dò hỏi tại các sở, nhưng tôi e rằng muốn tìm hiểu cổ phiếu của các công ty ở Nam Mỹ có liên quan thì phải tra sổ ghi danh cổ đông ở bên đó nên vài tuần nữa ta mới dò ra được."

Nãy giờ Holmes vẫn dùng kính lúp xem xét kĩ bìa cuốn sổ.

"Rõ ràng ở đây bị ố màu đôi chút", anh nói.

"Phải, thưa ông, đó là vết máu.

Tôi có nói là đã nhặt cuốn sổ từ dưới sàn mà."

"Vết máu khô ở mặt trên hay mặt dưới?"

"Ở mặt áp ván sàn."

"Điều này chứng tỏ cuốn sổ bị rơi sau khi án mạng xảy ra."

"Đúng vậy, ông Holmes.

Tôi đồng ý với điểm đó, tôi còn phỏng đoán rằng hung thủ đánh rơi trong lúc vội vàng bỏ trốn.

Nó nằm gần cửa."

"Có vẻ anh không tìm thấy giấy tờ cổ phiếu nào trong số các vật sở hữu của người chết?"

"Không, thưa ông."

"Anh có lí do gì để nghi đây là một vụ cướp không?"

"Không, thưa ông.

Có vẻ hung thủ không động đến thứ gì."

"Úi chà, vụ này thú vị lắm đây.

Rồi còn một con dao nữa, phải không?"

"Một con dao găm, hãy còn tra trong vỏ.

Nó nằm dưới chân người chết.

Bà Carey xác nhận nó là của ông chồng."

Holmes trầm ngâm một lát.

"Thôi được rồi", cuối cùng anh nói, "chắc tôi phải đi xem thế nào."

Stanley Hopkins mừng rỡ reo lên.

"Cảm ơn ông.

Vậy thì tôi nhẹ cả đầu."

Holmes huơ ngón tay với viên thanh tra.

"Nếu là một tuần trước, chuyện đã dễ dàng hơn rồi", anh nói.

"Nhưng dù là bây giờ, có lẽ chuyến đi của tôi cũng không hoàn toàn vô ích.

Watson, nếu anh có thể bớt chút thời gian, tôi sẽ rất mừng khi có anh đi cùng.

Hopkins này, nếu anh gọi một cỗ xe ngựa bốn bánh thì trong vòng mười lăm phút nữa, chúng tôi sẽ sẵn sàng lên đường đi Forest Row."

***

Sau khi đặt chân tới nhà ga nhỏ bên đường, chúng tôi chạy xe vài dặm qua phần còn lại của cánh rừng rộng bạt ngàn, từng một thời ngăn bước tiến của quân xâm lược Saxon - suốt sáu mươi năm là thành lũy bất khả xâm phạm bảo vệ nước Anh.

Những vạt rộng lớn đã bị khai phá lấy đất làm trung tâm luyện kim đầu tiên của đất nước, và cây cối bị đốn hạ để nấu quặng.

Ngày nay tổ hợp công nghiệp này được chuyển tới những vùng rừng rậm rạp hơn ở miền bắc, nên ở đây, ngoài mấy cụm rừng bị tàn phá và những cái hố lớn sâu hoắm ra thì chẳng còn chút dấu vết nào của thời quá vãng ấy.

Trên một bãi quang nơi sườn đồi xanh rì là một ngôi nhà đá dài, thấp lè tè.

Sau khi đi qua một lối quanh co chạy qua mấy cánh đồng, chúng tôi tới được nơi đó.

Gần đường cái, với bụi cây bao bọc ba phía là một gian nhà phụ nho nhỏ có một cửa sổ và một cửa lớn hướng về phía chúng tôi.

Hiện trường vụ án đây rồi.

Đầu tiên Stanley Hopkins dẫn chúng tôi đến nhà chính, giới thiệu chúng tôi với vợ người đàn ông bị giết.

Đó là một người đàn bà tóc hoa râm hốc hác, gương mặt phờ phạc và hằn nếp nhăn, vẻ sợ sệt né tránh thấp thoáng trong hai mắt hoen đỏ khi bà kể về những tháng ngày đau khổ bị ngược đãi trước đây.

Cùng với bà là cô con gái, một thiếu nữ da trắng, tóc vàng, mắt sáng rực lên nhìn chúng tôi khi nói rằng cô mừng là cha đã chết, và cô cầu Chúa phù hộ cho bàn tay nào đã kết liễu đời ông ta.

Chính Peter Carey Đen đã khiến gia đình mình trở nên kinh khủng thế đấy!

Chúng tôi thấy nhẹ nhõm hẳn khi lại được ra ngoài nắng và men theo một lối nhỏ băng qua những cánh đồng.

Gian nhà phụ là chỗ ở hết sức đơn sơ với tường gỗ, mái ván ốp, một cửa sổ bên cạnh cửa chính và một ở phía tường đối diện.

Stanley Hopkins rút chìa khóa trong túi ra và khi đang lom khom bên ổ khóa, anh ta bỗng dừng lại, lộ vẻ chăm chú và ngạc nhiên.

"Có kẻ đã cố bẻ khóa," anh ta nói.

Quả vậy.

Cửa gỗ bị trầy xước ở vài chỗ, để lộ những vạch trắng còn rất mới trên lớp sơn.

Holmes kiểm tra cửa sổ.

"Hắn còn cố cạy cửa sổ, nhưng không thành công.

Hẳn đây là gã bẻ khóa non tay."

"Chuyện này kì lạ quá", viên thanh tra nói.

"Tôi xin cam đoan là chiều hôm qua không hề có mấy dấu vết này."

"Một người trong làng nổi máu tò mò chăng?"

Tôi gợi ý.

"Khó có chuyện đó lắm.

Người làng chẳng mấy ai dám đặt chân đến khu đất này, nói gì đến chuyện cố tình đột nhập, ông nghĩ sao, ông Holmes?"

"Tôi nghĩ rằng thần may mắn đang mỉm cười với chúng ta."

"Ý ông là kẻ đó sẽ quay lại?"

"Rất có thể.

Lúc trước hắn đến và tưởng cửa để mở.

Hắn dùng dao nhíp nạy cửa nhưng không thành công.

Hắn sẽ làm gì?"

"Trở lại vào đêm sau với đồ nghề tốt hơn."

"Chính xác.

Ta sẽ thật thiếu sót nếu không tiếp đón hắn.

Nhưng trước hết, hãy cho tôi xem bên trong gian nhà phụ."

Dấu vết của tấn thảm kịch đã được lau dọn sạch, nhưng bàn ghế vẫn để y nguyên như trong đêm xảy ra án mạng.

Suốt hai giờ đồng hồ, Holmes chăm chú xem xét lần lượt từng thứ một, nhưng dựa vào nét mặt của anh, tôi biết cuộc tìm kiếm không thành công.

Trong quá trình điều tra tỉ mẩn, anh chỉ dừng đúng một lần.

"Anh có lấy gì trên giá này đi không, Hopkins?"

"Không, Tôi không xê dịch gì hết."

"Có thứ bị lấy mất rồi.

Góc giá này ít bụi hơn ở chỗ khác.

Có thể là một cuốn sách đặt nằm, hoặc một cái hộp.

Thôi, tôi chẳng làm gì hơn được.

Watson này, ta dạo trong khu rừng xinh đẹp này và dành ít thời gian ngắm nghía chim muông hoa cỏ đi.

Anh Hopkins, chúng tôi sẽ gặp anh ở đây sau, rồi xem ta có giáp mặt quý ông đã đến đây đêm qua không."

Khi chúng tôi tổ chức xong cuộc mai phục nho nhỏ thì đã quá 11 giờ.

Hopkins muốn để cửa gian phòng phụ mở, nhưng Holmes lại cho rằng làm vậy sẽ khiến kẻ lạ sinh nghi.

Ổ khóa này cực kì đơn giản, nên chỉ cần một lưỡi dao mạnh là bẩy tung ra được.

Holmes còn đề nghị là chúng tôi nên đợi ở ngoài, giữa đám bụi rậm mọc gần cửa sổ đằng sau.

Bằng cách đó, chúng tôi sẽ dễ dàng quan sát đối tượng khi hắn thắp đèn, và xem hắn lén la lén lút làm gì ở đây lúc đêm hôm khuya khoắt

Chúng tôi im lặng chờ đợi rất lâu, lòng dấy lên nỗi hồi hộp của người thợ săn nằm bên hồ chờ con thú dữ khát nước mò đến.

Nhưng chúng tôi đang chờ con vật nào bước ra khỏi bóng tối đây?

Một con hổ hung tợn với nanh vuốt sắc nhọn, buộc chúng tôi phải khổ chiến mới hòng bắt được, hay một con chó rừng chuyên lẩn lút, chỉ gây nguy hiểm cho những kẻ yếu ớt và thiếu thận trọng?

Chúng tôi im lặng nấp giữa mấy bụi cây, chờ đợi bất cứ điều gì sẽ đến.

Mới đầu tiếng chân dăm ba dân làng về khuya và tiếng nói từ ngoài làng vọng vào làm đêm đỡ hiu quạnh.

Nhưng rồi những âm thanh lao xao dần im bặt, nhường chỗ cho sự tĩnh mịch bao trùm khắp chốn.

Thỉnh thoảng, tiếng chuông nhà thờ từ đằng xa vọng lại, báo thời gian.

Mưa bụi tí tách rơi xuống tán lá trên đầu chúng tôi.

Chuông điểm 2 giờ rưỡi, đêm vào hồi tối nhất.

Ba chúng tôi giật mình khi một tiếng lách cách khẽ nhưng rõ từ hướng cổng vọng lại: Có người bước vào khu đất.

Sau đó, tất cả lại chìm vào im lặng.

Tôi đang lo là mình nghe nhầm thì bỗng thấy từ bên kia gian nhà phụ vang lên tiếng chân bước rón rén và một thoáng sau là tiếng kim loại kêu lanh canh kin kít.

Có kẻ cố phá khóa!

Lần này hoặc là tay nghề của hắn đã khá hơn hoặc đồ nghề tốt hơn, vì chúng tôi đã nghe được khóa mở rồi bản lề kêu cót két.

Một que diêm xòe lửa, và một chốc sau, ánh nến đã tỏa khắp gian nhà phụ.

Chúng tôi nhìn qua tấm rèm thưa, chăm chú theo dõi động tĩnh bên trong.

Người mò tới lúc đêm hôm là một thanh niên gầy gò có hàng ria mép đen làm nổi bật gương mặt tái mét.

Cậu ta chỉ tầm hai mươi tuổi.

Tôi chưa từng thấy ai hoảng hốt đến đáng thương như vậy, vì răng cậu ta đánh lập cập thấy rõ còn tay chân thì run lẩy bẩy.

Cậu ta mặc áo khoác và quần chẽn gối, đội mũ vải nom cũng bảnh.

Chúng tôi quan sát cậu ta chăm chủ nhìn quanh bằng cặp mắt khiếp đảm.

Thế rồi cậu ta đặt nến xuống bàn và bước đến một góc khuất tầm mắt chúng tôi.

Cậu ta cầm một cuốn sổ lớn quay lại bàn - đó là một trong các nhật kí hải trình xếp trên giá.

Khom người bên bàn, cậu ta lật nhanh đến khi tìm được mục mình cần.

Sau đó, cậu ta giận dữ siết chặt tay một cái rồi đóng sập cuốn sổ lại, bỏ nó về chỗ cũ và thổi tắt nến.

Cậu ta còn chưa kịp quay người để rời khỏi gian nhà phụ thì đã bị bàn tay của Hopkins thộp lấy cổ áo, tôi nghe tiếng cậu ta thở hồng hộc thất kinh khi hiểu ra mình vừa bị bắt tại trận.

Ngọn nến lại được thắp lên, soi sáng kẻ khốn khổ đang run cầm cập và rúm ró trong tay viên thanh tra.

Cậu ta ngồi phịch xuống rương, rồi vô vọng nhìn chúng tôi hết người này đến người khác.

"Nào anh bạn", Stanley Hopkins nói, "anh là ai và anh cần gì ở đây?"

Người nọ lấy lại can đảm và cố gắng điềm tĩnh nhìn vào mặt chúng tôi.

"Chắc các ông là thanh tra?"

Anh ta nói.

"Mấy ông tưởng tôi có dính líu tới cái chết của thuyền trưởng Peter Carey.

Tôi cam đoan với mấy ông là tôi vô tội."

"Chúng tôi sẽ xét chuyện đó sau", Hopkins nói.

"Còn trước hết, anh tên gì?"

"John Hopley Neligan."

Tôi thấy Holmes và Hopkins liếc nhìn nhau một cái.

"Anh làm gì ở đây?"

"Tôi không nói được không?"

"Không được."

"Sao tôi phải nói cho mấy ông?"

"Nếu anh không trả lời, anh có thể gặp rắc rối tại tòa."

Chàng trai nhăn mặt.

"Thôi được, tôi sẽ nói.

Tại sao lại không chứ?

Nhưng thật lòng tôi không muốn làm sống dậy vụ tai tiếng năm xưa.

Các ông đã bao giờ nghe nói đến Dawson và Neligan chưa?"

Nhìn mặt Hopkins là tôi biết anh ta chưa từng nghe tới, nhưng Holmes lại cực kì hứng thú.

"Cậu muốn nói tới các chủ nhà băng vùng Tây Anh", anh nói.

"Họ vỡ nợ một triệu, khiến cho các gia đình ở phân nửa hạt Cornwall phá sản, rồi Neligan biệt tích."

"Đúng vậy.

Neligan là cha tôi."

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đã có được một tình tiết mới, vậy nhưng chuyện một chủ nhà băng bỏ trốn và vụ việc thuyền trưởng Peter Carey bị giết chết bằng chính cây lao móc của mình nghe chả mấy liên quan.

Chúng tôi cùng chăm chú lắng nghe câu chuyện của chàng trai.

"Thật ra chỉ có cha tôi liên quan tới việc nhà băng phá sản.

Dawson về hưu từ trước đó rồi.

Lúc đó tôi mới mười tuổi đầu, nhưng đã đủ lớn khôn để biết thế nào là nhục nhã và kinh hoàng.

Thiên hạ vẫn đồn rằng cha tôi cuỗm hết cổ phiếu rồi bỏ trốn.

Nhưng thực ra không phải vậy.

Cha tôi tin rằng nếu để ông thư thả bán hết số cổ phiếu đó thì mọi sự sẽ đâu vào đấy và ông sẽ có đủ tiền trang trải mọi khoản nợ.

Ông lên một chiếc thuyền nhỏ đến Na Uy ngay trước khi lệnh bắt được ban bố.

Tôi còn nhớ đêm cuối ông chào từ biệt mẹ tôi.

Ông để lại cho chúng tôi một danh sách các cổ phiếu ông cầm theo, và thề sẽ quay về rửa sạch thanh danh, và không để ai tin tưởng ông phải chịu thiệt thòi.

Thế nhưng từ hồi đó, chúng tôi không còn nghe thêm một tin tức nào về ông nữa.

Cả cha tôi lẫn con thuyền đều mất tích.

Mẹ con tôi tin rằng ông và thuyền, cùng các cổ phiếu ông mang theo đều đã chìm xuống đáy biển.

Nhưng cách đây không lâu, một thương gia là bạn lâu năm với gia đình chúng tôi đã phát hiện ra một số cổ phiếu cha tôi đem theo bỗng xuất hiện trên thị trường chứng khoán London.

Các ông cũng hình dung được mẹ con tôi sửng sốt đến mức nào.

Hàng tháng trời tôi cố lần theo chúng và rồi cuối cùng sau biết bao gian nan, tôi phát hiện ra người đầu tiên bán ra là thuyền trưởng Peter Carey, chủ nhân của gian nhà phụ này.

Theo lẽ đương nhiên, tôi có dò la đôi chút về người này.

Tôi biết ông ta từng chỉ huy một tàu săn cá voi trở về từ Bắc Băng Dương đúng vào thời điểm cha tôi vượt biển đến Na Uy.

Mùa thu năm đó thường xuyên xảy ra giông bão, và những cơn cuồng phong từ phía nam thổi tới không dứt suốt một thời gian dài.

Thuyền của cha tôi có thể bị gió đánh bạt về hướng bắc, và gặp tàu của thuyền trưởng Peter Carey ở đó.

Nếu sự tình đúng như vậy, chuyện gì đã xảy ra với cha tôi?

Bất luận thế nào, nếu tôi có thể làm Peter Carey khai ra vì sao những cổ phiếu kia xuất hiện trên thị trường, tôi sẽ chứng minh được cha tôi đã không bán chúng, và ông không hề có ý tư lợi khi mang chúng theo.

Tôi xuống Sussex định bụng gặp thuyền trưởng, nhưng lại gặp đúng thời điểm xảy ra cái chết thảm khốc của ông ta.

Tôi theo dõi cuộc điều tra thì đọc được đoạn mô tả gian nhà nhỏ, thấy nói rằng trong đó có mấy cuốn nhật kí hải trình ngày xưa của ông ta.

Tôi chợt nghĩ rằng nếu được xem chuyện gì xảy ra vào tháng 8 năm 1883 ấy, trên tàu Kì lân biển, tôi sẽ giải đáp được bí ẩn về số phận cha mình.

Đêm qua tôi định lấy mấy cuốn nhật kí hải trình này, nhưng không tài nào mở được cửa.

Tối nay tôi thử lại và thành công, nhưng mấy trang đề cập đến tháng đó đã bị xé mất.

Sau đó, tôi bị các ông bắt."

"Chỉ có vậy thôi sao?"

Hopkins hỏi.

"Phải, tất cả chỉ có thế."

Cậu ta trợn mắt.

"Anh không còn gì khác cần cho chúng tôi biết?"

Cậu ta ngập ngừng.

"Không có."

"Đêm qua là lần đầu tiên anh đến đây?"

"Đúng."

"Vậy thì anh giải thích sao về thứ này?"

Hopkins quát và giơ cuốn sổ có tên viết tắt của người kia trên trang đầu và vết máu tại bìa.

Chàng trai khốn khổ gục đầu xuống.

Cậu ta ôm mặt, cả người run bần bật.

"Ông lấy nó ở đâu vậy?"

Cậu ta rên rỉ.

"Tôi tưởng mình làm mất ở khách sạn."

"Vậy là đủ rồi", Hopkins lạnh lùng nói.

"Nếu anh còn muốn nói gì, anh sẽ phải trình bày với tòa.

Giờ mời anh theo tôi về đồn cảnh sát.

Ông Holmes, tôi vô cùng biết ơn sự giúp đỡ của ông và bạn ông.

Tuy rằng sự có mặt của ông thành ra không cần thiết và tôi có thể phá được vụ án này mà không có ông, tôi vẫn vô cùng cảm ơn.

Tôi đã đặt phòng cho các ông tại khách sạn Brambletye, nên tất cả chúng ta có thể cùng về làng."

***

"Này Watson, anh nghĩ sao về chuyện đó?"

Holmes hỏi trên đường về vào sáng hôm sau.

"Tôi thấy anh chưa hài lòng."

"Ồ, Watson thân mến, tôi hài lòng lắm chứ.

Nhưng tôi cũng không đồng tình với phương pháp của Stanley Hopkins.

Tôi thất vọng về Stanley Hopkins.

Tôi kì vọng ở anh ta nhiều hơn.

Chúng ta phải luôn tìm xem có thể có một khả năng khác không.

Đó là quy tắc cơ bản trong điều tra tội phạm."

"Vậy khả năng khác là gì?"

"Chính là hướng tôi đang điều tra.

Có thể nó không đem lại gì cho ta nhưng chí ít, tôi cũng sẽ theo tới cùng."

Ở phố Baker đã có vài lá thư đang chờ Holmes.

Anh vội cầm lấy một lá, bóc ra xem rồi bật cười đắc thắng.

"Tuyệt lắm, Watson!

Khả năng khác đang dần hé lộ.

Anh gửi bức điện này hộ tôi nhé.

Gửi: Đại lí vận tải Sumner, đại lộ Ratcliff.

Nội dung: Giới thiệu ba người, tới lúc 10 giờ sáng mai.

Kí tên: Basil.

Tôi dùng tên giả ấy mà.

À, còn một bức này nữa nhé.

Gửi: Thanh tra Stanley Hopkins, 46 phố Lord, Brixton.

Nội dung: 9 rưỡi sáng mai đến dùng điểm tâm.

Việc quan trọng.

Đánh điện nếu không đến được.

Kí tên: Sherlock Holmes.

Watson ạ, vụ án quỷ quái này ám ảnh tôi suốt mười ngày nay.

Hi vọng ngày mai tôi sẽ thoát được nó."

Đúng giờ đã định, thanh tra Stanley Hopkins xuất hiện và cùng chúng tôi thưởng thức bữa điểm tâm tuyệt vời do bà Hudson chuẩn bị.

Viên thanh tra trẻ rất cao hứng là đã thành công.

"Anh có chắc lời giải của mình là đúng chứ?"

Holmes hỏi.

"Không thể trọn vẹn hơn."

"Tôi thấy nó chưa đủ sức thuyết phục."

"Vậy ông còn đòi hỏi thế nào nữa, thưa ông Holmes?"

"Lối giải thích của anh có bao quát được mọi vấn đề không?"

"Chắc chắn rồi.

Tôi tìm hiểu được rằng anh chàng Neligan đó tới khách sạn Brambletye đúng vào hôm xảy ra án mạng.

Anh ta lấy cớ đến chơi golf.

Anh ta ở tầng một nên có thể đi ra khi nào tùy thích.

Chính vào đêm đó, anh ta tới Woodman's Lee, gặp Peter Carey tại gian nhà nhỏ.

Hai người cãi vả, rồi anh ta giết nạn nhân bằng cây lao móc.

Sau đó, khiếp đảm trước việc mình làm, anh ta chuồn khỏi gian nhà phụ, nhưng lại đánh rơi cuốn sổ mang theo để chất vấn Peter Carey về các cổ phiếu.

Có thể các ông đã nhận thấy rằng một số được đánh dấu, nhưng đại đa số thì không.

Những cổ phiếu có đánh dấu đã được tung ra thị trường London, số còn lại đoán chừng là vẫn nằm trong tay Carey.

Theo lời anh chàng Neligan, anh ta nóng lòng muốn thu hồi chúng để trả lại thanh danh cho cha mình.

Anh ta không dám bén mảng đến gian nhà phụ ngay sau khi xảy ra án mạng, nhưng cuối cùng vẫn buộc phải tới để tìm thông tin mình cần.

Thế là rõ ràng, dễ hiểu quá còn gì?"

Holmes mỉm cười lắc đầu.

"Hopkins à, tôi thấy cách giải thích của anh có một khiếm khuyết, đó là không thể có chuyện như thế được.

Anh thử đâm lao xuyên qua một tấm thân chưa?

Chưa à?

Chậc chậc, anh bạn thân mến ơi, anh phải để ý đến mấy chi tiết này mới được, ông bạn Watson của tôi có thể cho anh biết tôi đã bỏ cả buổi sáng tập làm như vậy.

Chuyện đó không hề dễ và đòi hỏi một cánh tay mạnh mẽ thành thục.

Mà trong vụ án mạng tại Woodman's Lee, cú phóng lao mạnh đến độ đầu vũ khí cắm lút vào tường.

Anh nghĩ chàng trai xanh rớt kia khỏe đến vậy sao?

Cậu ta là người chén chú chén anh với Peter Đen lúc nửa đêm ư?

Bóng gương mặt nhìn nghiêng in trên rèm hai đêm trước là của cậu ta chắc?

Không đâu, Hopkins.

Kẻ ta phải tìm ghê gớm hơn kia."

Trong khi Holmes nói, mặt viên thanh tra càng lúc càng thuỗn ra.

Mọi hi vọng và tham vọng của anh ta đều tan tành.

Nhưng anh ta chẳng chịu từ bỏ lập luận mà không phản pháo.

"Ông không thể phủ nhận rằng Neligan đã có mặt vào đêm xảy ra án mạng, ông Holmes.

Cuốn sổ đã chứng minh điều đó.

Tôi cho rằng mình có đủ bằng chứng để thuyết phục bồi thẩm đoàn, dù ông có tìm ra kẽ hở trong lập luận của tôi.

Vả chăng, ông Holmes, tôi đã tóm được hung thủ của mình rồi.

Còn gã thủ ác của ông ở đâu?"

"Tôi nghĩ hắn đang lên cầu thang", Holmes điềm nhiên nói.

"Watson này, tôi nghĩ anh nên để khẩu súng lục trong tầm với."

Anh đứng lên và đặt một tờ giấy đã viết sẵn lên cái bàn sát tường.

"Giờ thì ta sẵn sàng rồi", anh nói.

Nãy giờ bên ngoài vang lên tiếng nói chuyện bổ bã, và bà Hudson mở cửa báo có ba người muốn gặp thuyền trưởng Basil.

"Bà cho họ lần lượt vào," Holmes nói.

Bước vào đầu tiên là một người đàn ông có đôi má đỏ au và ria mép bạc rậm rạp.

Holmes đã rút trong túi ra một lá thư.

"Tên gì?"

Anh hỏi.

"James Lancaster."

"Lancaster, tôi rất tiếc, nhưng tôi đã nhận đủ người làm việc trên tàu rồi.

Tôi xin gửi ông nửa sovereign vì đã làm ông mất công vô ích.

Mời ông bước vào phòng này và chờ ít phút."

Người thứ hai cao lêu đêu, khô đét, tóc thẳng rũ xuống và má hóp.

Tên ông ta là Hugh Pattins.

Ông ta cũng bị từ chối, được nhận nửa sovereign và lệnh chờ.

Vào thứ ba là một người đàn ông có vẻ bề ngoài nổi bật.

Mớ râu tóc bờm xờm ôm lấy gương mặt bặm trợn dữ dằn như mặt chó bun.

Đôi mắt đen sậm của hắn sáng lên dưới cặp lông mày rủ rậm rạp.

Hắn chào và đứng kiểu thủy thủ, rồi vân vê cái mũ.

"Tên?"

Holmes hỏi.

"Patrick Cairns."

"Thợ phóng lao à?"

"Đúng, thưa ông.

Từng tham gia hai mươi sáu chuyến đi biển."

"Tới Dundee phải không?"

"Phải, thưa ông."

"Sẵn sàng khởi hành theo tàu thám hiểm chứ?"

"Rồi, thưa ông."

"Anh muốn được trả công thế nào?"

"Tám bảng mỗi tháng."

"Anh thạo việc rồi chứ?"

"Tôi có thể bắt tay vào làm ngay khi có đồ nghề."

"Anh có giấy tờ không?"

"Có, thưa ông."

Hắn lôi trong túi ra một xấp giấy tờ cũ sờn và lem nhem dầu mỡ.

Holmes liếc qua một lượt rồi trả lại.

"Anh đúng là người tôi cần", anh nói.

"Trên bàn bên có tờ hợp đồng.

Chỉ cần anh kí vào nữa là xong."

Tay thủy thủ bước tới và cầm bút lên.

"Tôi kí ở đây hả?"

Hắn khom người bên bàn và hỏi.

Holmes nhoài tới và thộp cổ hắn bằng cả hai tay.

"Vậy được rồi", anh nói.

Tôi nghe tiếng thép lách cách rồi một tiếng rống như tiếng bò điên.

Chỉ trong chớp mắt, Holmes và tay thủy thủ đã cùng ngã lăn ra đất.

Dù tay đã bị Holmes khéo léo dùng còng số tám khóa lại, hắn vẫn thừa sức khuất phục anh mau chóng nếu Hopkins và tôi không lao đến giải cứu.

Cuối cùng, khi bị tôi gí họng súng lục lạnh lẽo vào thái dương, hắn mới hiểu rằng chống cự cũng vô ích.

Chúng tôi lấy dây thừng trói chân hắn rồi hổn hển đứng dậy sau cuộc vật lộn.

"Hopkins, rất xin lỗi anh", Sherlock Holmes nói.

"Tôi e món trứng bác nguội mất rồi.

Tuy nhiên hẳn anh sẽ thấy bữa điểm tâm ngon hơn vì vụ án của anh đã kết thúc thắng lợi."

Stanley Hopkins sững sờ không nói nên lời.

"Tôi không biết nói sao, ông Holmes", cuối cùng anh ta đỏ mặt thốt lên.

"Tôi thấy từ đầu tới giờ, tôi đã xử sự như một thằng ngốc.

Giờ tôi đã hiểu điều mà đáng ra tôi không bao giờ được quên, rằng tôi là trò còn ông là thầy.

Dù đã thấy ông làm gì nhưng tôi vẫn chưa hiểu sao ông làm được thế, và việc đó nghĩa là thế nào."

"À", Holmes vui vẻ nói "Chúng ta đều học từ kinh nghiệm, và bài học của anh lần này là đừng bao giờ quên tìm kiếm những khả năng khác.

Anh chú tâm đến anh chàng Neligan đến mức không nghĩ gì đến Patrick Cairns, kẻ thực sự sát hại Peter Carey."

Giọng ồ ồ của tay thủy thủ cắt ngang cuộc trò chuyện.

"Nghe này ông", hắn nói, "tôi chẳng kêu ca gì khi bị đối xử thô bạo thế này, nhưng ông nói gì thì phải nói cho đúng.

Ông bảo tôi sát hại Peter Carey là không đúng.

Tôi đã giết Peter Carey thật, nhưng hai chuyện đó hoàn toàn khác nhau.

Chắc ông không tin.

Chắc ông nghĩ tôi chỉ bịa chuyện."

"Không hề", Holmes nói.

"Cứ kể chúng tôi nghe xem sao."

"Xin kể ngay đây và thề có Chúa chứng giám, từng lời từng chữ tôi nói đều là sự thật.

Tôi thừa hiểu Peter Đen nên khi lão vừa rút dao, tôi liền phóng cây lao qua người lão, vì tôi biết giữa tôi và lão, chỉ có một người được sống.

Lão chết như vậy đó.

Ông gọi vậy là sát hại cũng được.

Đằng nào tôi cũng chết, bị treo cổ hay bị dao của Peter Carey cắm vào tim cũng đều là chết cả thôi."

"Vì sao ông đến đó?"

Holmes hỏi.

"Tôi sẽ kể ông nghe từ đầu.

Dựng tôi ngồi dậy tí đã, đặng tôi nói được thoải mái.

Chuyện bắt đầu vào tháng 8 năm 1883.

Peter Carey là thuyền trưởng tàu Kì lân biển, còn tôi là thợ phóng lao móc.

Lúc bấy giờ chúng tôi đang trên đường về từ vùng biển đóng băng thì gặp phải những cơn gió ngược và bão từ phương nam kéo dài suốt một tuần, chúng tôi cứu được một con thuyền bị gió thổi bạt về phương bắc.

Trên thuyền chỉ có một người - một người không quen đi biển, và được biết thủy thủ đoàn cho rằng thuyền chính sẽ chìm nên đã lên xuồng để tới bờ biển Na Uy.

Tôi đoán chừng họ chết chìm cả.

Chúng tôi đưa người kia lên tàu, sau đó ông ta và thuyền trưởng nói chuyện rất lâu trong buồng lái.

Toàn bộ hành lí ông ta mang theo chỉ vỏn vẹn có một cái hộp thiếc.

Thủy thủ đoàn chẳng ai biết ông ta tên gì, và đến đêm thứ hai, ông ta biến mất như chưa từng tồn tại.

Người ta kháo rằng hoặc ông ta hoặc đã gieo mình hoặc bất cẩn ngã xuống biển trong tiết trời xấu lúc đó.

Chỉ có một người biết chuyện gì xảy ra với ông ta và đó là tôi.

Hai ngày trước khi chúng tôi thấy ánh đèn trên đảo Shetland, trong lúc tôi đang gác đêm, chính mắt tôi đã thấy thuyền trưởng kiễng chân ném ông ta qua lan can.

Tôi giữ kín chuyện mình biết và chờ xem sự thể thế nào.

Khi chúng tôi về tới Scotland, chuyện đó dễ dàng bị ém nhẹm đi và chẳng ai buồn hỏi han.

Nói cho cùng, đó cũng chỉ là một người lạ tử nạn thôi mà.

Không lâu sau đó, Peter Carey giã từ biển cả và phải mất nhiều năm tôi mới truy ra tung tích lão.

Tôi đoán lão giết người lạ kia vì thứ nằm trong hộp thiếc, và giờ lão đủ sức trả hậu hĩnh cho tôi vì đã biết giữ mồm giữ miệng.

Nhờ một thủy thủ từng gặp lão ở London, tôi biết được nơi lão ở và tới để tống tiền lão.

Vào đêm đầu gặp mặt, lão khá biết điều và sẵn lòng cho tôi một khoản đủ để tôi thoát đời lênh đênh sóng nước.

Chúng tôi định hai đêm sau sẽ dàn xếp mọi chuyện.

Khi đến nơi, tôi thấy lão đã ba phần say và đang cơn khó chịu.

Chúng tôi ngồi xuống uống rượu hàn huyên chuyện xưa, nhưng lão càng uống thì tôi càng không ưng thái độ của lão.

Tôi để ý thấy cây lao móc trên tường và nghĩ nếu muốn moi được tiền từ Peter, chắc tôi phải dùng tới nó.

Rồi lão bỗng nổi cơn thịnh nộ, khạc nhổ và chửi um lên, ánh mắt đằng đằng sát khí còn tay thì lăm lăm con dao.

Lão chưa kịp rút dao khỏi vỏ, tôi đã phóng lao xuyên người lão.

Trời!

Lão rú mới khiếp chứ!

Đến giờ mặt lão hãy còn lởn vởn trong giấc ngủ của tôi.

Tôi đứng đó, máu lão bắn tung tóe quanh tôi, và tôi chờ một lát, nhưng vì bốn bề vẫn im ắng nên tôi lấy lại can đảm.

Tôi nhìn quanh thì thấy cái hộp thiếc ở ngay trên giá.

Dù gì tôi cũng có quyền với nó như Peter Carey vậy, nên tôi cầm theo và rời gian nhà phụ.

Nhưng ngu ngốc làm sao, tôi lại bỏ quên túi đựng thuốc lá trên bàn.

Giờ tôi sẽ kể mấy ông nghe điểm kì quặc nhất trong toàn bộ câu chuyện.

Vừa ra ngoài, tôi nghe có tiếng chân người đi tới nên vội nấp vào bụi rậm.

Một gã lén lút bước vào gian nhà phụ, ré lên một tiếng như thấy ma, rồi ba chân bốn cẳng chạy mất dạng.

Tôi không biết hắn là ai hay muốn gì.

Còn tôi đi bộ mười dặm lên tàu tại Tunbridge Wells và tới London mà không ai hay biết.

Thế rồi khi kiểm tra cái hộp, tôi thấy trong đó không có tiền, và chẳng có gì ngoài đống chứng từ tôi không dám bán.

Peter Đen đã không còn nằm trong tầm không chế của tôi, bản thân tôi lại lạc lõng giữa London trong tình trạng không một xu dính túi.

Tôi chỉ còn lại cái nghề để nuôi thân.

Tôi thấy tin rao vặt tìm thợ phóng lao móc và trả công cao nên tìm đến đại lí vận tải và được họ giới thiệu đến đây.

Tôi chỉ biết có vậy và tôi cũng xin nhắc lại: Chính quyền phải cảm ơn tôi đã giết Peter Đen, vì tôi đã giúp họ tiết kiệm tiền mua thừng treo cổ cái lão thối thây kia."

"Lời khai rất rõ ràng", Holmes nói và đứng lên châm tẩu thuốc.

"Hopkins này, tôi nghĩ anh nên nhanh chóng tống giam hung thủ đi thôi.

Phòng này không hợp để làm xà lim và ông Patrick Cairns đây chiếm nhiều chỗ trên thảm của chúng tôi quá."

"Ông Holmes", Hopkins nói, "tôi không biết phải bày tỏ lòng biết ơn thế nào.

Đến giờ tôi vẫn chưa hiểu làm thế nào ông đạt được kết quả này?"

"Nhờ may mắn bắt được manh mối đúng ngay từ đầu ấy mà.

Nếu tôi biết về cuốn sổ tay này, rất có thể tôi sẽ phán đoán sai như anh.

Nhưng tất cả những gì tôi nghe được lại chỉ về duy nhất một hướng.

Sức mạnh phi thường, kĩ năng dùng lao móc, rượu rum và túi thuốc lá bằng da hải cẩu - tất cả những thứ này chỉ rõ sát nhân là một thủy thủ, lại là thủy thủ săn cá voi.

Tôi tin chắc mấy chữ P.C trên túi không phải viết tắt của Peter Carey mà chỉ là trùng hợp tình cờ, vì nạn nhân chẳng mấy khi hút thuốc và trong gian nhà phụ không có tẩu.

Anh còn nhớ tôi đã hỏi trong chòi có whisky và brandy không.

Anh nói có.

Đàn ông ở đất liền chẳng mấy ai uống rượu rum khi có sẵn mấy thứ rượu kia.

Chính vì vậy, tôi chắc chắn là cần tìm một thủy thủ."

"Vậy ông tìm được thủ phạm bằng cách nào?"

"Anh bạn thân mến ơi, vấn đề đã trở nên đơn giản vô cùng.

Nếu hung thủ là thủy thủ, hắn chỉ có thể là thủy thủ từng ở cùng nạn nhân trên tàu Kì lân biển.

Theo như tôi biết, nạn nhân không đi tàu nào khác.

Tôi mất ba ngày đánh điện cho Dundee để xác định tên tuổi các thủy thủ trên Kì lân biển trong năm 1883.

Khi tôi thấy Patrick Cairns trong số những thợ phóng lao, cuộc tìm kiếm của tôi đã gần như xong.

Tôi lập luận rằng có lẽ người này đang ở London, và chắc hắn muốn xa xứ một thời gian.

Vì vậy tôi bỏ ra vài ngày ở khu đông London, bịa ra một chuyến thám hiểm Bắc Cực, đưa ra mấy điều kiện hấp dẫn cho thợ phóng lao làm việc cho thuyền trường Basil - và kết quả đây!"

"Tuyệt vời!"

Hopkins kêu lên.

"Tuyệt vời!"

"Anh phải xin lệnh thả Neligan càng sớm càng tốt", Holmes nói!

"Thật lòng mà nói, tôi nghĩ anh nợ cậu ta câu xin lỗi.

Dù các cổ phiếu đã bị Peter Carey bán hết, nhưng cái hộp nên được trả về cho cậu ta.

Hopkins, xe đến rồi và anh có thể đưa thủ phạm đi.

Nếu anh muốn tôi đến làm chứng tại phiên tòa thì địa chỉ của tôi và Watson sẽ ở đâu đó bên Na Uy - tôi sẽ gửi chi tiết sau."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
CHARLES AUGUSTUS MILVERTON (Charles Augustus Milverton, 1904)


Dù chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước nhưng tôi vẫn ngại kể lại.

Suốt một thời gian dài, tôi không thể nào công bố sự việc, dù là theo cách dè dặt và kín đáo nhất.

Nhưng giờ đây, khi đương sự đã nằm ngoài tầm kiểm soát của luật pháp cõi trần, tôi nhận thấy nếu tiết chế, tôi có thể kể câu chuyện mà không phương hại đến ai.

Đây là câu chuyện về trải nghiệm độc nhất vô nhị trong sự nghiệp của cả Sherlock Holmes lẫn tôi.

Xin độc giả thứ lỗi vì tôi buộc phải che giấu ngày tháng hay bất cứ chi tiết nào giúp truy ra sự việc thực.

Một chiều đông lạnh giá, Holmes và tôi ra ngoài đi dạo rồi về nhà vào khoảng 6 giờ.

Khi Holmes vặn đèn lên, ánh sáng vừa khéo soi tỏ một tấm danh thiếp trên bàn.

Anh liếc nhìn rồi kêu lên một tiếng ghê tởm và ném nó xuống sàn.

Tôi nhặt lên đọc:

CHARLES AUGUSTUS MILVERTON

Văn phòng: APPLEDORE TOWERS, HAMPSTEAD

"Hắn là ai?"

Tôi hỏi.

"Kẻ xấu xa nhất London", Holmes ngồi duỗi chân trước lò sưởi và trả lời.

"Mặt sau tấm danh thiếp có đề gì không?"

Tôi lật tấm danh thiếp lại và đọc, "Sẽ đến lúc 6 giờ 30 - C.A.M."

"Hừ!

Hắn sắp đến rồi.

Watson này, anh có bao giờ thấy rờn rợn khi đứng trước lũ rắn trong sở thú, những sinh vật có nọc độc với thân mình trơn tuồn tuột, mắt trắng dã, mặt bèn bẹt và gớm ghiếc không?

Milverton cho tôi cái cảm giác như vậy đấy.

Từ hồi làm nghề này tới giờ, tôi đã phải tiếp xúc với năm chục tên sát nhân, nhưng ngay cả kẻ đồi bại nhất cũng chưa từng khiến tôi thấy ghê tởm như gã này.

Ấy vậy mà tôi lại phải làm việc với hắn...

Nói đúng ra, hắn đến đây theo lời mời của tôi."

"Nhưng hắn là ai?"

"Để tôi cho anh hay, Watson.

Hắn là vua tống tiền, cầu Chúa phù hộ cho người nào, mà nhất lại là phụ nữ, bị Milverton nắm được bí mật có thể làm hại đến thanh danh!

Bằng gương mặt tươi cười và trái tim vô cảm, hắn sẽ lần hồi vắt kiệt họ đến tận xương tủy.

Tên này là thiên tài theo một cách riêng, và có thể làm nên tên tuổi nếu làm một nghề nào tử tế hơn.

Phương pháp của hắn là thế này: Hắn công khai rằng sẵn lòng trả những khoản tiền lớn để mua mấy bức thư có thể làm những kẻ giàu sang hay người có danh vọng phải lao đao.

Hắn mua chúng từ đám người hầu phản trắc, hoặc từ mấy tên vô lại chỉ biết chải chuốt để chiếm được tình yêu và lòng tin của những người đàn bà nhẹ dạ.

Hắn vung tiền để có được những thứ ấy.

Tôi tình cờ được biết hắn từng trả bảy trăm bảng để mua một mẩu thư chỉ vỏn vẹn hai dòng, sau đó khiến một gia đình quý tộc phải lụn bại.

Mọi lá thư được rao bán đều đến tay Milverton, và trong cái thành phố lớn này có hàng trăm người sẽ tái mặt đi khi nghe tới tên hắn.

Không ai biết gọng kìm của hắn có thể chụp xuống ai, vì hắn quá giàu và quá xảo quyệt nên chẳng cần lo tới chuyện lao động kiếm sống.

Hắn thường thủ con bài hàng năm trời để thả ra vào lúc tiền cược lớn nhất.

Tôi vừa nói hắn là kẻ xấu xa nhất London và tôi muốn hỏi anh câu này: Sao chúng ta có thể so sánh tên côn đồ trong cơn nóng giận bột phát dùng dùi cui đánh vợ với cái kẻ thích dùng các phương pháp để giày vò tâm hồn và thần kinh người khác, chỉ để làm phình to cái hầu bao vốn đã đầy của hắn?"

Tôi hiếm khi nghe bạn mình nói với cảm xúc mãnh liệt như vậy.

"Nhưng", tôi nói, "pháp luật phải trừng trị hắn chứ?"

"Theo lí thuyết là thế, nhưng thực tế lại khác.

Chẳng hạn, một phụ nữ sẽ được gì khi tống hắn vào tù vài tháng nhưng cuộc đời cô ta lại bị hủy hoại ngay sau đó?

Nạn nhân của hắn không dám trả đòn.

Chỉ khi nào hắn tống tiền một người hoàn toàn trong sạch, chúng ta mới có thể bắt hắn, nhưng hắn gian giảo như quỷ sứ ấy!

Không, ta phải tìm cách khác để đấu với hắn."

"Vậy vì sao hắn đến đây?"

"Vì tôi nhận được ủy thác giúp một thân chủ giải quyết trường hợp đáng thương của cô.

Đó là tiểu thư Eva Blackwell, thiếu nữ xinh đẹp mới bước chân vào xã hội thượng lưu.

Nửa tháng nữa, cô ấy sẽ kết hôn cùng bá tước Dovercourt.

Con quỷ Milverton có được vài lá thư tiểu thư viết trong lúc nông nổi cho một tay điền chủ trẻ tuổi, nghèo túng sống ở một miền quê.

Watson, nội dung thư không có gì thái quá, nhưng có thể khiến đám cưới đổ bể.

Nếu tiểu thư Eva không chịu trả một khoản tiền lớn, hắn sẽ gửi những lá thư đến tay ngài bá tước.

Tôi được giao nhiệm vụ gặp mặt hắn và... cố thương lượng để mua lại với giá thấp nhất."

Đúng lúc đó, tiếng bánh xe lọc cọc từ dưới đường vọng lên.

Khi nhìn xuống, tôi thấy một cỗ xe song mã oai vệ, có hai bóng đèn lấp loáng bên hông đôi con tuấn mã lông màu hạt dẻ óng mượt.

Một người hầu mở cửa, rồi một người đàn ông thấp lùn, phốp pháp, khoác áo lông cừu bước xuống.

Ngay phút sau, hắn đã bước vào phòng.

Charles Augustus Milverton ở độ tuổi năm mươi, trông có vẻ trí thức, gương mặt tròn trịa và nhẵn nhụi, trên môi lúc nào cũng thường trực một nụ cười giả tạo, còn đôi mắt xám sắc sảo của hắn loang loáng sau cặp kính gọng vàng.

Tôi hẳn sẽ nghĩ hắn trông cũng hiền hậu nếu không thấy cái giả dối trong nụ cười thường trực và ánh nhìn chòng chọc ra từ đôi mắt láo liên soi mói kia.

Giọng hắn cũng thớ lợ hệt như sắc mặt khi hắn bước tới và chìa bàn tay nhỏ múp míp, lí nhí buông mấy lời tiếc nuối rằng lúc trước đến nhưng không gặp được chúng tôi.

Holmes không đếm xỉa đến bàn tay chìa ra kia.

Anh lạnh lùng nhìn hắn.

Nụ cười của Milverton nở rộng, sau đó hắn nhún vai, cởi áo khoác, cẩn thận choàng lên lưng ghế rồi ngồi xuống.

"Có cả ông đây sao?"

Hắn phẩy tay về hướng tôi.

"Vậy có kín đáo không?

Có ổn không?"

"Bác sĩ Watson là bạn và cộng sự của tôi."

"Tốt lắm, ông Holmes.

Tôi phản đối cũng chỉ vì quyền lợi của thân chủ ông thôi.

Vấn đề rất tế nhị..."

"Bác sĩ Watson biết chuyện rồi."

"Vậy ta vào việc thôi, ông nói ông đại diện cho tiểu thư Eva.

Cô ta trao ông quyền chấp nhận điều kiện của tôi chứ?"

"Điều kiện thế nào?"

"Bảy ngàn bảng,"

"Còn nếu chúng tôi không giao được tiền?"

"Ông thân mến ơi, tôi thật đau lòng khi phải bàn chuyện đó.

Nhưng nếu đến ngày 14 mà tiền chưa đến tay tôi, vậy cô ta đừng mơ tới cái đám cưới hôm 18 nữa."

Nụ cười vốn đã khiến chúng tôi khó chịu của hắn càng thêm phần tự mãn.

Holmes nghĩ ngợi một lát.

"Tôi thấy", cuối cùng anh nói, "hình như ông nhìn nhận mọi chuyện quá ư hiển nhiên.

Tất nhiên tôi đã rõ nội dung mấy bức thư.

Tiểu thư Blackwell sẽ nghe theo lời tư vấn của tôi.

Tôi sẽ khuyên cô ấy cho vị hôn phu của mình biết mọi chuyện rồi trông mong vào lòng bao dung của ngài ấy?"

Milverton cười tủm tỉm.

"Vậy ông chưa biết tính bá tước rồi", hắn nói

Nhìn vẻ bối rối trên mặt Holmes, tôi biết điều Milverton vừa nói là thật.

"Trong mấy lá thư có gì nguy hại?"

Anh hỏi

"Mấy lá thư sống động... sống động lắm", Milverton trả lời.

"Lời lẽ trong thư rất bay bướm quyến rũ, nhưng tôi dám cam đoan bá tước Dovercourt sẽ không thích đâu.

Song vì ông nhìn nhận theo hướng khác nên ta sẽ không bàn thêm nữa.

Đây chỉ là chuyện làm ăn thôi mà.

Nếu ông thấy thân chủ của ông nên nói cho bá tước biết về mấy lá thư, vậy ông không cần dại dột mà trả một món tiền lớn để lấy lại chúng."

Hắn đứng lên và cầm cái áo khoác lông cừu.

Holmes tím mặt vì giận và bẽ bàng.

"Chờ đã", anh nói.

"ông hấp tấp quá.

Tất nhiên chúng tôi sẽ cố hết sức để tránh tai tiếng trong một chuyện nhạy cảm thế này."

Milverton lại ngồi xuống.

"Tôi chắc chắn ông sẽ nhìn vấn đề dưới góc độ đó mà", hắn ngâm nga.

"Mặt khác", Holmes nói tiếp, "tiểu thư Eva cũng không giàu có gì.

Tôi cam đoan với ông rằng hai ngàn bảng đã vắt kiệt nguồn tài chính của tiểu thư, và cái giá ông phát ra vượt quá khả năng của cô ấy.

Vì vậy, mong ông hãy giảm đòi hỏi xuống, và trả lại thư với cái giá tôi nêu lúc trước.

Đó là số tiền lớn nhất cô ấy có thể trả."

Nụ cười của Milverton nở rộng hơn còn mắt hắn sáng lên nét hài hước.

"Tôi biết ông nói thật về nguồn lực của tiểu thư", hắn nói.

"Nhưng mặt khác, ông phải công nhận rằng đám cưới của tiểu thư là dịp thích hợp để bạn bè bà con làm gì đó cho cô ta.

Có lẽ họ chưa biết nên tặng món quà cưới nào cho tương xứng.

Tôi xin cam đoan với họ rằng mấy bức thư nho nhỏ này sẽ đem lại niềm vui lớn hơn mấy giá nến và đĩa đựng bơ ở London."

"Không thể được", Holmes nói.

"Trời, vậy thì tiếc quá!"

Milverton kêu lên, rút ra một cuốn sổ dày cộp.

"Sao các quý cô lại khờ dại không chịu cố gắng một chút nhỉ?

Nhìn cái này này!"

Hắn giơ một phong bì thư có in một dấu gia huy.

"Nó là của... mà thôi, tôi không nên nói ra cái tên trước sáng mai.

Nhưng đến lúc đó, nó đã tới tay đức ông chồng của một quý cô rồi.

Đấy cũng vì cô ta không chịu trích một khoản tiền nho nhỏ trong cái gia tài khổng lồ của mình!

Quả là đáng tiếc.

Này, ông còn nhớ chuyện hôn trước của tiểu thư Miles với đại tá Dorking bị hủy đột ngột không?

Chỉ hai ngày trước đám cưới, tờ Morning Post đã đăng một mẩu tin vắn loan tin hôn lễ bất thành.

Tại sao vậy nhỉ?

Nếu tôi nhận được hai ngàn bảng có phải mọi chuyện đều êm xuôi không?

Hôn nhân đổ bể chẳng phải đáng tiếc lắm sao?

Còn giờ tôi thấy một người hiểu lý lẽ như ông lại trù trừ về giá cả khi mà tiền đồ và danh dự của nữ thân chủ đang lung lay.

Ông làm tôi ngạc nhiên đấy, ông Holmes ạ."

"Điều tôi nói là thật", Holmes trả lời.

"Tiểu thư không thể kiếm đâu ra chỗ tiền ấy.

Chấp nhận mức giá tôi đề nghị sẽ tốt cho ông hơn.

Nếu ông hủy hoại cuộc đời cô gái ấy, ông đâu được lợi lộc gì?"

"Ấy, ông lầm rồi, ông Holmes.

Nếu vụ tai tiếng này vỡ lở, nó sẽ gián tiếp làm lợi cho tôi trong một chừng mực đáng kể.

Tôi có tám hay mười vụ tương tự sắp tới lúc thu lời.

Gương tiểu thư Eva rành rành trước mắt sẽ khiến họ biết điều hơn.

Ông hiểu rõ quan điểm của tôi rồi chứ?"

Holmes bật dậy khỏi ghế.

"Vòng ra sau lưng hắn đi, Watson!

Đừng để hắn thoát.

Thưa ông, đề nghị ông cho chúng tôi xem cuốn số đó có gì."

Milverton lùi nhanh như chuột qua đầu kia căn phòng, rồi đứng dựa lưng vào tường.

"Ông Holmes, ông Holmes ơi," hắn nói, lật vạt áo khoác để lộ báng súng lục nhô ra từ túi trong.

"Tôi tưởng sẽ thấy ông làm gì đó độc đáo hơn kia.

Thiên hạ rất hay giở trò này, nhưng họ đã bao giờ làm gì được tôi đâu.

Tôi cam đoan với ông là tôi được vũ trang đến tận răng, tôi sẵn sàng dùng vũ khí, vì luật pháp sẽ ủng hộ tôi.

Hơn nữa, ông nhầm to rồi, tôi không mang mấy bức thư đó theo đâu!

Tôi đời nào lại ngu ngốc vậy.

Còn giờ, thưa quý vị, chiều nay tôi có vài cuộc hẹn nho nhỏ, mà đường về Hampstead lại xa."

Hắn bước tới, mặc áo khoác, tay để trên súng, rồi quay ra cửa.

Tôi nhấc một chiếc ghế lên, nhưng Holmes lắc đầu nên tôi lại đặt xuống.

Cúi chào và mỉm cười, đôi mắt sáng lên niềm đắc thắng, Milverton rời phòng, ít phút sau, chúng tôi nghe thấy tiếng cửa xe ngựa đóng sầm lại và tiếng bánh xe lọc cọc lăn trên đường.

Suốt nửa giờ sau đó, Holmes ngồi bất động, im lặng và trầm tư bên lò sưởi, hai bàn tay đút sâu trong túi quần, đầu cúi gục, còn mắt đăm đăm nhìn tàn lửa.

Thế rồi, với điệu bộ của người đã đưa ra quyết định cuối cùng, anh bật dậy đi vào phòng ngủ.

Lát sau, một chàng công nhân trẻ có chòm râu dê, dáng điệu ngông nghênh và vênh váo xuất hiện.

Sau khi kê cái tẩu bằng đất nung bên ngọn đèn để châm thuốc, anh liền xuống đường.

Trước khi khuất hẳn trong bóng đêm, anh dặn tôi một câu: "Watson, lát nữa tôi về."

Tôi hiểu anh đã bắt đầu chiến dịch đánh trả Charles Augustus Milverton nhưng tôi không đoán trước được cái kết cục của nó.

Suốt mấy hôm, Holmes cứ đi cả ngày rồi trở về trong bộ dạng này, nhưng ngoài một câu nói rằng anh đang ở Hampstead và chuyện đó không uổng công, tôi chẳng biết gì về việc anh làm.

Cuối cùng, vào một buổi chiều giông bão, gió gào thét và quất rầm rập bên cửa sổ, anh trở về từ chuyến đi sau chót và sau khi thoát khỏi lớp hóa trang, anh ngồi trước lò sưởi và lẳng lặng sung sướng cười một mình.

"Anh cho rằng tôi không phải mẫu người của gia đình, phải không, Watson?"

"Đúng vậy!"

"Vậy anh sẽ rất ngạc nhiên khi biết tôi đã đính hôn."

"Ôi, bạn thân mến!

Xin chúc m..."

"Với cô hầu của Milverton."

"Trời ơi, Holmes!"

"Tôi cần thông tin, Watson à."

"Nhưng anh đi quá xa rồi thì phải?"

"Nhưng đó là một nước cờ vô cùng cần thiết.

Tôi vào vai thợ sửa ống nước rất có tiền đồ, tên Escott.

Chiều chiều tôi đi dạo rồi trò chuyện với cô ta.

Trời, mấy cuộc chuyện trò thật là...

Tuy nhiên, tôi đã có những gì mình cần.

Tôi biết rõ nhà của Milverton như lòng bàn tay."

"Nhưng còn thiếu nữ ấy, Holmes?"

Anh nhún vai.

"Chuyện đặng chẳng đừng thôi, Watson thân mến ạ.

Khi trong ván bài có một khoản tiền cược như vậy, ta phải chơi hết mình.

Nhưng tôi mừng vì có một tình địch sẵn sàng thế chỗ khi tôi quay lưng ra đi.

Tối nay thật tuyệt vời!"

"Anh thích tiết trời này sao?"

"Nó hợp ý tôi.

Watson này, tối nay tôi định đột nhập nhà Milverton."

Tôi nín thở, lạnh cả người khi nghe câu ấy được thong thả thốt ra bằng giọng điệu cương quyết.

Như ánh chớp giữa đêm trong tích tắc soi tỏ mọi đường nét trong toàn cảnh, tôi dường như cũng thoáng thấy mọi hệ lụy có thể phát sinh từ một hành động như vậy - bị phát giác, bắt bớ, sự nghiệp danh giá tan tành bởi thất bại và nhục nhã ê chề, rồi số phận của bạn tôi sẽ phụ thuộc vào lòng độ lượng của Milverton khả ố.

"Trời ơi, Holmes ơi, hãy nghĩ xem anh đang làm gì," tôi kêu lên.

"Bạn thân mến ơi, tôi đã cân nhắc rồi.

Tôi chưa hành động xốc nổi bao giờ, tôi sẽ không dùng đến phương cách mạnh bạo và quả là nguy hiểm như thế nếu còn cách nào khác.

Ta hãy nhìn vấn đề cho rõ ràng và thẳng thắn.

Tôi nghĩ anh sẽ công nhận rằng hành động này tuy phạm pháp nhưng lại chính đáng về mặt đạo đức.

Đột nhập vào nhà hắn cũng không hơn gì dùng vũ lực đoạt lấy sổ tay của hắn - việc ấy thì anh đã sẵn lòng giúp tôi"

Tôi suy đi nghĩ lại một hồi.

"Phải", tôi nói.

"Nó còn chính đáng về mặt đạo đức chừng nào mục đích của chúng ta chỉ là lấy đi thứ mà Milverton dùng vào chuyện phi pháp."

"Đúng.

Vì nó chính đáng về mặt đạo đức nên giờ tôi chỉ phải cân nhắc về mặt rủi ro cá nhân thôi.

Chắc hẳn một quý ông không nên đặt nặng vấn đề này khi có một người phụ nữ khẩn cầu anh ta giúp, đúng không?"

"Anh sẽ rơi vào một tình thế khó khăn đấy."

"À, đó là một phần của rủi ro.

Tôi chẳng còn cách nào khác để lấy lại mấy bức thư.

Tiểu thư tội nghiệp không có tiền mà cũng chẳng thể thổ lộ nỗi niềm cùng người nhà.

Mai là hạn chót rồi, nếu đêm nay tôi không lấy được mấy bức thư, kẻ bất lương kia sẽ y lời mà hủy hoại cuộc đời cô ấy.

Do vậy, một là tôi bỏ mặc số phận thân chủ mình, hai là phải hạ lá bài chót này.

Còn nói riêng giữa chúng ta thôi, Watson à, đây là cuộc quyết đấu đầy tinh thần thượng võ giữa Milverton và tôi.

Như anh thấy đó, hắn đã thắng trong trận đấu khẩu đầu tiên, tôi phải đấu tới cùng vì lòng tự trọng và thanh danh của bản thân nữa!"

"Thôi được.

Tuy tôi không thích, nhưng có lẽ phải thế thôi", tôi nói.

"Bao giờ chúng ta bắt đầu?"

"Anh sẽ không đi."

"Vậy anh cũng không được đi", tôi nói.

"Tôi dám lấy danh dự ra thề với anh - và trước nay tôi chưa từng nuốt lời - nếu anh không để tôi cùng tham gia cuộc phiêu lưu này, tôi sẽ bắt xe tới thẳng đồn cảnh sát để tố giác anh."

"Anh không giúp được tôi đâu."

"Làm sao anh biết?

Anh đâu thể lường trước chuyện sẽ xảy ra!

Anh thích nói gì thì tùy, nhưng ý tôi đã quyết.

Đâu chỉ mình anh mới có lòng tự trọng và thanh danh!"

Nãy giờ Holmes có vẻ khó chịu, nhưng giờ trán anh dãn ra, rồi anh vỗ vai tôi.

"Được rồi, bạn thân mến, vậy cũng được.

Ta đã chung phòng mấy năm rồi nên nếu được chung xà lim với nhau âu cũng là cái thú.

Anh biết không, Watson, tôi không ngại thú thật với anh rằng bấy lâu nay tôi luôn nghĩ mình có thể trở thành một tay trộm khét tiếng.

Đây là cơ hội đời cho tôi một lần để thỏa cái suy nghĩ ấy.

Nhìn này!"

Anh lấy trong ngăn kéo ra một hộp da nhỏ gọn, mở và khoe ra mấy món đồ nghề sáng loáng.

"Đây là bộ đồ nghề bẻ khóa hảo hạng, tối tân, có xà beng cỡ nhỏ mạ kền, mũi khoan kính đầu kim cương, chùm chìa khóa vạn năng, cùng nhiều thứ khác.

Đây là đèn bão của tôi.

Mọi thứ đều đâu vào đấy cả rồi.

Anh có giày êm chưa?"

"Tôi có một đôi giày mềm đế cao su."

"Tuyệt.

Còn mặt nạ?"

"Tôi lấy lụa đen làm hai cái là được."

"Anh có thiên khiếu làm công việc này đấy.

Tốt lắm, anh làm mặt nạ đi.

Ta sẽ ăn chút gì rồi mới xuất phát.

Giờ là 9 giờ 30.

Tới 11 giờ ta sẽ đi xe đến Church Row.

Từ đó, chúng ta sẽ đi bộ mười lăm phút đến cơ ngơi Appledore Towers của Milverton.

Như vậy chúng ta sẽ bắt tay vào việc trước lúc nửa đêm.

Ngày nào cũng vậy, cứ đúng 10 giờ 30, Milverton sẽ về phòng và ngủ say như chết.

Nếu may mắn, chúng ta sẽ mang mấy lá thư của tiểu thư Eva về đây lúc 2 giờ sáng."

***

Holmes và tôi mặc áo đuôi én, trông ra dáng người đi xem hát trên đường về nhà.

Tại phố Oxford, chúng tôi vẫy một cỗ xe ngựa rồi tới một địa chỉ ở Hampstead.

Tại đây, chúng tôi trả tiền xe, cài kín cổ áo choàng rộng vì trời thì rét căm căm, còn gió như muốn thổi bạt cả hai, và bắt đầu đi men vùng đất hoang.

"Ta phải xử lí thật khéo", Holmes nói.

"Mấy tài liệu này được để trong két sát tại thư phòng, mà phòng đó lại ở trước phòng ngủ của hắn.

Tuy nhiên, như mọi gã nhỏ con béo lùn phát đạt khác, hắn ngủ say lắm.

Agatha - vị hôn thê của tôi bảo đảm - gia nhân thường nói đùa rằng có sấm nổ bên tai cũng chẳng làm ông chủ tỉnh giấc được.

Hắn có một tay thư kí hết lòng lo cho hắn và cứ ngồi lì cả ngày trong thư phòng.

Chính vì vậy mà ta phải tới vào ban đêm.

Hắn còn nuôi một con chó dữ thường sục sạo trong vườn suốt đêm.

Hai ngày qua tôi gặp Agatha vào lúc tối muộn, cô ta phải nhốt nó lại để tôi an toàn chạy khỏi nhà.

Nhà ấy đây rồi, chính cái căn nhà lớn nằm trong khuôn viên riêng đấy!

Qua cổng, giờ rẽ phải đi qua đám nguyệt quế.

Ta đeo mặt nạ được rồi.

Anh thấy không, chẳng có tia sáng nào hắt qua mấy ô cửa sổ.

Mọi chuyện đang diễn ra rất tuyệt đây!"

Sau khi đeo mặt nạ bằng lụa đen, chúng tôi trở thành hai kẻ nguy hiểm nhất London.

Chúng tôi len lẻn tiến lại gần ngôi nhà tối om và im lìm.

Hàng hiên lát đá chạy dọc bên hông nhà có cửa sổ và hai cửa lớn.

"Phòng ngủ của hắn ở đây", Holmes nói khẽ.

"Cửa này mở thẳng vào thư phòng.

Đi đường này nhanh hơn, chỉ có điều cửa vừa được cài then vừa được khóa nên ta không thể đi vào mà không gây kinh động.

Lại đằng này.

Có một nhà kính mở vào phòng khách."

Chỗ này đã khóa, nhưng Holmes cắt đi một khoanh kính rồi mở khóa bên trong.

Loáng cái anh đã khép cửa lại sau lưng cả hai, và chúng tôi thành hai kẻ phạm trọng tội dưới quan điểm của luật pháp.

Không khí ấm áp, ngột ngạt trong nhà kính cùng mùi hương nồng nàn đến ngào ngạt của những loài hoa cỏ lạ xộc vào mũi chúng tôi.

Trong bóng tối, anh chụp tay tôi thoăn thoắt dẫn qua mấy luống bụi cây.

Holmes có khả năng phi thường được chuyên cần rèn luyện là nhìn tốt trong bóng tối, vẫn nắm tay tôi, anh mở một cánh cửa, và tôi lờ mờ biết chúng tôi đã bước vào một căn phòng lớn còn đậm mùi khói xì gà.

Anh dò dẫm giữa những bàn ghế, mở một cánh cửa nữa và rồi khép lại sau lưng.

Giơ tay ra tôi sờ thấy mấy áo khoác móc trên tường, nên đoán mình đang ở trong một hành lang.

Chúng tôi đi dọc theo, rồi Holmes khẽ mở một cửa bên phải.

Cái gì đó nhảy xổ vào chúng tôi khiến tôi thót cả tim, nhưng tôi muốn bật cười khi nhận ra đó là con mèo.

Trong gian phòng này có một lò sưởi đang bập bùng cháy, và không khí nơi đây cũng nồng nặc khói thuốc.

Holmes rón rén bước vào, chờ tôi theo, rồi khẽ khàng đóng cửa lại.

Chúng tôi đang ở trong thư phòng của Milverton, và một portièrè ở đầu kia che đi lối vào phòng ngủ của hắn.

Lửa trong lò sưởi soi sáng căn phòng.

Tôi thoáng thấy một cái công tắc ở gần cửa, nhưng thấy không cần thiết phải bật lên.

Một bên lò sưởi có tấm rèm nặng trịch che đi ô cửa sổ chúng tôi đã thấy từ phía ngoài.

Phía bên kia là cửa thông ra hàng hiên.

Chính giữa phòng là một cái bàn làm việc với chiếc ghế xoay bọc da đỏ bóng lừ.

Đối diện là một tủ sách lớn, trên đặt tượng bán thân nữ thần Athena bằng đá cẩm thạch.

Trong góc, giữa tủ sách và tường, có một két sắt cao màu xanh lá, ánh lửa hắt lại từ mấy núm đồng thau sáng loáng trên mặt két.

Holmes mon men lại nhìn, rồi anh rón rén tới cửa phòng ngủ, đứng nghiêng đầu nghe ngóng.

Bên trong không có lấy một tiếng động.

Trong khi đó, tôi chợt nghĩ rằng mình nên kiểm tra cái cửa dẫn ra hiên để đảm bảo đường lui.

Tôi sững sờ khi thấy cửa không khóa mà cũng chẳng cài then!

Tôi chạm vào tay Holmes, nên anh xoay đầu nhìn hướng đó.

Anh giật mình và cũng ngạc nhiên như tôi.

"Tôi chẳng thích chuyện này chút nào", anh thì thầm vào tai tôi.

"Tôi không dự trù việc này.

Nhưng dù sao đi nữa, ta cũng không được phí thời gian."

"Tôi phụ được gì không?"

"Có, anh canh cửa.

Nếu có người đến, anh hãy cài then lại, và ta có thể thoát ra qua cửa vừa đi vào.

Còn nếu như họ vào bằng lối đó, ta có thể thoát qua cửa hiên nếu đã xong việc, hoặc nấp sau rèm cửa sổ nếu chưa xong.

Anh hiểu chứ?"

Tôi gật rồi làm theo lời anh bảo.

Cảm giác sợ hãi ban đầu đã qua, lúc này tuy phạm pháp nhưng trong tôi lại bừng lên nhiệt huyết sôi nổi mà trước đây khi ở địa vị người bảo vệ luật pháp tôi chưa từng cảm thấy.

Mục tiêu cao cả trong sứ mệnh của chúng tôi, ý thức được tính cao thượng và không vụ lợi của nó, cùng sự bất lương của đối thủ, tất thảy khiến cuộc phiêu lưu đầy tinh thần thượng võ này thêm phần thú vị.

Tôi không hề thấy tội lỗi, mà còn phấn khích trước những hiểm nguy có thể chờ đón chúng tôi.

Tôi sung sướng cảm phục nhìn Holmes trải hộp đồ nghề ra rồi chọn dụng cụ với sự chính xác điềm tĩnh của một bác sĩ phẫu thuật đang thực hiện ca mổ khó.

Tôi biết mở két sắt là sở thích đặc biệt của anh, và tôi hiểu anh vui sướng thế nào khi đối đầu với con quỷ màu vàng xanh đã nuốt trọn trong bụng thanh danh của biết bao người phụ nữ tử tế này.

Vén gấu áo đuôi én lên - anh đã vắt áo choàng lên ghế - Holmes bày ra hai cái khoan, một cái xà beng nhỏ và mấy chiếc chìa khóa vạn năng.

Tôi đứng ở cửa giữa, mắt liếc sang hai cửa kia, sẵn sàng cho bất kì tình huống khẩn cấp nào.

Mặc dầu vậy, tôi vẫn chưa biết sẽ làm gì nếu chúng tôi bị xen ngang.

Trong nửa giờ, Holmes dồn toàn bộ sức lực vào công việc, đặt dụng cụ này xuống, cầm cái khác lên, sử dụng từng thứ với sức mạnh và sự khéo léo như một thợ máy lành nghề.

Cuối cùng tôi nghe một tiếng cách, cánh cửa to màu xanh lá bật mở và tôi thoáng thấy có mấy gói giấy ở bên trong, gói nào cũng được buộc chặt, niêm phong và ghi chú gì đó.

Holmes lấy một gói, nhưng vì khó mà đọc trong ánh lửa chập chờn nên anh rút cây đèn bão nhỏ ra.

Bật đèn điện quá nguy hiểm khi Milverton đang ở phòng bên.

Chợt tôi thấy anh dừng lại nghe ngóng rồi nhoáng một cái, anh đã đóng cửa két sắt lại, với lấy áo choàng, đút đồ nghề vào mấy túi áo, rồi chuồn ra sau rèm cửa sổ và ra hiệu cho tôi làm theo.

Sau khi đã tới nấp cạnh anh, tôi mới nghe thấy điều gì đã đánh động các giác quan nhạy bén của anh.

Từ đâu đó trong nhà vẳng tới một tiếng cửa đóng sầm lại, tiếp đó là tiếng lầm bầm xen lẫn tiếng bước chân thình thịch càng lúc càng rõ.

Tiếng động phát ra từ hành lang ngoài phòng này.

Cuối cùng nó dừng lại tại cửa.

Cửa mở.

Tiếng cách gọn lỏn vang lên khi đèn điện bật sáng.

Cửa lại khép, và cái mùi nồng nồng khó chịu của xì gà loại nặng xộc vào mũi chúng tôi.

Người kia tiếp tục đi tới đi lui, chỉ cách chúng tôi dăm bước.

Sau cùng, cái ghế cót két kêu lên khi người kia ngồi dựa vào, và tiếng chân cũng dừng.

Tiếp đó là tiếng chìa khóa lách cách tra vào ổ và tôi nghe thấy tiếng giấy loạt soạt.

Vừa rồi tôi chẳng dám nhìn ra, nhưng giờ tôi rón rén vén rèm để nhìn hé ra.

Cảm thấy sức nặng của một bên vai Holmes tì bên người, tôi biết anh cũng đang quan sát như tôi.

Ngay trước mặt, và gần như chỉ cách một cánh tay, là tấm lưng rộng tròn của Milverton.

Rõ là chúng tôi đã nhầm về giờ giấc sinh hoạt của hắn: Hắn chưa hề vào phòng ngủ.

Có lẽ hắn đã ở trong một phòng hút thuốc hay phòng bi-a ở cánh bên kia của tòa nhà mà chúng tôi không thấy cửa sổ.

Cái đầu to bè, mái tóc hoa râm với khoảng hói sáng lên dưới ánh đèn hiện ra ngay trước tầm mắt chúng tôi.

Hắn ngả người trên chiếc ghế bọc da đỏ và duỗi dài chân.

Điếu xì gà đen dài vểnh lên bên mép.

Hắn mặc áo khoác màu rượu vang, cổ áo viền nhung đen.

Hắn đang cầm một tài liệu pháp lí dài, và vừa uể oải đọc vừa nhả từng vòng khói thuốc.

Cứ nhìn cái dáng điệu ung dung và thoải mái kia, tôi chẳng nghĩ hắn sẽ rời đi sớm.

Tôi thấy bàn tay Holmes cầm lấy tay mình và lắc nhẹ như trấn an rằng mọi chuyện đang trong tầm kiểm soát của anh, và rằng anh vẫn bình tĩnh.

Tôi không rõ anh có thấy cái tôi nhìn thấy rành rành từ chỗ này, rằng cửa két sắt chưa đóng kín, và Milverton có thể nhận ra điều đó bất cứ lúc nào.

Tôi thầm quyết định rằng nếu gã vô lại kia nhận thấy sự khác thường đó, tôi sẽ vọt ra, chụp áo choàng lên đầu Milverton, giữ chặt hắn, rồi để phần còn lại cho Holmes.

Nhưng Milverton chẳng hề ngước lên: Hắn đang chú tâm vào tài liệu trong tay, lật tờ này sang tờ khác để đọc những biện luận của luật sư.

Tôi nghĩ chắc phải xem tài liệu và hút xì gà xong, hắn mới vào phòng ngủ.

Tuy nhiên, một biến cố bất ngờ xảy đến đã chuyển hướng ý nghĩ của chúng tôi sang một chuyện khác hẳn.

Tôi đã đế ý thấy Milverton đôi lần nhìn đồng hồ đeo tay, có lần hắn còn đứng lên rồi ngồi xuống, cho thấy hắn đang sốt ruột.

Tuy vậy, tôi không hề nghĩ hắn hẹn gặp ai vào một giờ lạ lùng thế này, cho đến khi một tiếng động nho nhỏ từ hàng hiên bên ngoài vọng tới.

Milverton bỏ giấy tờ xuống rồi ngồi thẳng trên ghế.

Tiếng động lặp lại, rồi có tiếng gõ cửa khe khẽ.

Milverton đứng lên mở cửa.

"Cô đến muộn cả nửa tiếng đồng hồ đấy."

Hắn nói cộc lốc.

Thảo nào mà cửa không khóa và Milverton thức khuya!

Có tiếng vải vóc loạt soạt khe khẽ.

Lúc trước, khi Milverton quay về phía chúng tôi, tôi đã khép rèm lại nhưng giờ lại liều hé ra lần nữa.

Hắn đã ngồi xuống, và điếu xì gà vẫn vểnh lên bên mép hắn.

Đứng trước mặt hắn, dưới ánh đèn điện sáng tỏ, là một người phụ nữ cao ráo, mảnh mai, đeo mạng che mặt và kéo cổ áo choàng cao tới tận cằm.

Cô ta thở dồn dập, và thân hình thướt tha run lên vì xúc động mãnh liệt.

"Chao ôi", Milverton nói, "cô làm tôi mất một đêm yên giấc rồi đấy.

Tôi hi vọng là bõ công.

Cô không tới lúc khác được hử?"

Người phụ nữ lắc đầu.

"Thôi được, nếu cô không thể thì có nghĩa là không thể.

Nếu bá tước phu nhân là một bà chủ khắt khe thì đấy là dịp cho cô trả thù bà ta đấy.

Cô gái tội nghiệp, cô sợ gì chứ?

Được rồi!

Bình tĩnh nào!

Ta vào việc thôi."

Hắn lấy một lá thư trong hộc bàn làm việc ra.

"Cô nói là cô có năm lá thư có thể dùng để thương lượng với bá tước phu nhân d'Albert.

Cô muốn bán.

Tôi muốn mua.

Giờ chỉ còn phải tính sao cho thuận mua vừa bán nữa thôi.

Nhưng tất nhiên, tôi muốn kiểm tra.

Nếu chúng quả là hàng tốt...

Trời, là cô sao?"

Người phụ nữ không nói không rằng, vén mạng che mặt lên và kéo vành áo che cằm xuống.

Một gương mặt ngăm ngăm, sắc sảo, mĩ miều nhìn thẳng vào mặt Milverton trên gương mặt ấy là cái mũi khoằm, cặp lông mày đen, đậm nét trên đôi mắt sáng, cứng rắn, và đôi môi mỏng đanh lại thành một nụ cười nguy hiểm.

"Là ta đây", cô ta nói, "người bị ông hủy hoại cuộc đời đây."

Milverton cười, nhưng giọng run run sợ hãi.

"Cô bướng bỉnh quá mà", hắn nói.

"Sao cô phải dồn tôi đến nước dùng những biện pháp cực đoan như thế?

Tôi xin cam đoan tôi không có ý làm hại dù chỉ một con ruồi, nhưng ai có việc nấy, và tôi phải làm gì đây?

Tôi đã nêu ra cái giá vừa khả năng của cô lắm rồi.

Ấy thế mà cô chẳng chịu trả."

"Thế nên mi gửi mấy lá thư cho chồng ta, và ông ấy - con người cao thượng nhất đời mà ta chẳng xứng buộc dây giày dưới chân - đã bắn vỡ trái tim hào hiệp của mình mà chết.

Mi nhớ rằng đêm qua khi bước qua cánh cửa kia, ta đã năn nỉ xin mi thương tình, vậy mà mi cười vào mặt ta hệt như mi đang cố cười lúc này đây, nhưng trái tim hèn nhát của mi làm sao giúp mi cười nổi chứ?

Phải, mi không ngờ sẽ gặp lại ta, nhưng chính đêm qua đã dạy ta biết làm sao để một mình đối mặt với mi.

Nào, Charles Milverton, mi còn gì để nói?"

"Đừng nghĩ cô dọa được tôi", hắn nói và đứng lên.

"Tôi chỉ cần cao giọng lên gọi gia nhân tới bắt cô là xong.

Nhưng tôi sẽ tha thứ cho cơn tức giận hoàn toàn tự nhiên này.

Hãy rời phòng như khi cô đến, và tôi sẽ không nói gì thêm."

Người đàn bà luồn tay vào ngực áo, và nụ cười chết chóc vẫn in trên đôi môi mỏng.

"Mi sẽ không còn hủy hoại cuộc đời ai được nữa.

Mi sẽ không còn bóp nát trái tim ai được nữa.

Ta sẽ cứu thế gian này khỏi một kẻ lòng lang dạ sói.

Nhận lấy này, đồ chó săn, nữa này!

Nữa này!

Nữa này!"

Cô ta rút một khẩu súng lục rồi xả hết viên đạn này đến viên đạn khác vào người Milverton, họng súng cách ngực hắn chưa đầy hai foot.

Hắn co người lại rồi đổ gục xuống bàn, ho sặc sụa và quơ cào giữa đám giấy tờ.

Đoạn hắn lảo đảo đứng lên, lại lĩnh thêm một phát đạn nữa.

Lần này hắn đổ vật xuống sàn.

"Mi giết ta rồi", hắn gào lên rồi nằm bất động.

Người phụ nữ nhìn kĩ rồi gí gót lên bộ mặt ngửa lên của hắn.

Cô ta lại nhìn, nhưng không thấy hắn nhúc nhích nữa.

Tôi nghe tiếng sột soạt và làn gió đêm lùa vào căn phòng ấm áp, và người báo thù đã đi mất.

Chúng tôi có can thiệp cũng không cứu nổi gã đàn ông khỏi số mệnh của mình.

Nhưng khi người đàn bà trút hết viên đạn này đến viên đạn khác vào Milverton, tôi toan phóng ra thì bàn tay lạnh lẽo, chắc nịch của Holmes nắm chặt cổ tay tôi.

Tôi hiểu trọn ý nghĩa của cái nắm tay cản ngăn, cương quyết đó: Rằng đây không phải chuyện của chúng tôi, rằng công lí đã có cách để bắt kẻ bất lương chịu tội, và rằng chúng tôi có nhiệm vụ cùng mục tiêu không thể lơ là.

Nhưng khi người phụ nữ vừa rời phòng, Holmes liền lặng lẽ thoăn thoắt tới cửa ra hành lang.

Anh xoay chìa trong ổ.

Cùng lúc chúng tôi nghe tiếng nói và tiếng chân hối hả vang trong nhà.

Tiếng súng đã đánh thức người nhà dậy.

Rất mực điềm tĩnh, Holmes nhanh nhẹn qua chỗ két sắt, ôm đầy tay những bó thư, rồi trút tất cả vào lò sưởi.

Phải mất mấy chuyến như thế anh mới trút sạch thư trong két.

Có người xoay nắm đấm và dộng thình thình vào cửa.

Holmes mau lẹ đưa mắt nhìn quanh.

Lá thư của sứ giả thần chết, còn lấm tấm máu của Milverton, vẫn đang ở trên bàn.

Holmes ném nó vào giữa đám giấy tờ đang cháy hừng hực.

Sau đó, anh rút chìa khóa cửa hiên, lách ra theo sau tôi, rồi khóa lại từ bên ngoài.

"Lối này, Watson", anh nói.

"Ta có thể trèo qua tường vườn ở phía này."

Tôi không thể tin nổi cuộc báo động lan nhanh đến vậy.

Ngoái lại nhìn, tôi thấy cả tòa nhà rộng lớn đã rực sáng ánh đèn.

Cửa trước mở ra, mấy bóng người chạy ra ngoài.

Cả khu vườn lố nhố người, và khi chúng tôi rời hàng hiên, một gã tri hô rồi đuổi theo sát gót.

Có vẻ Holmes rất rành cơ ngơi này nên anh len lỏi thoăn thoắt giữa những lùm cây thấp bé, tôi bám sát gót anh, còn kẻ đầu tiên truy đuổi hổn hển theo sau chúng tôi.

Một bức tường cao sáu foot chắn lối, nhưng anh vọt lên và nhảy qua.

Đang làm theo tôi bỗng cảm thấy bàn tay kẻ sau lưng chộp lấy mắt cá chân, nhưng tôi giãy ra được, rồi leo qua đầu tường mọc đầy cỏ.

Tôi ngã chúi xuống giữa đám bụi cây.

Holmes đỡ tôi dậy ngay, rồi cả hai cùng phóng qua vùng đất hoang Hampstead mênh mông.

Chắc chúng tôi phải chạy được tầm hai dặm Holmes mới dừng lại nghe ngóng.

Sau lưng chúng tôi, bốn bề tĩnh lặng.

Chúng tôi đã cắt đuôi những kẻ đuổi theo.

***

Buổi sáng sau trải nghiệm khác thường như tôi đã kể, chúng tôi vừa dùng xong điểm tâm và đang hút tẩu thì Lestrade của Sở Cảnh sát London, trong bộ trang phục lịch lãm, bước vào phòng chúng tôi.

"Xin chào, ông Holmes," ông ta nói.

"Xin chào.

Không biết ông có bận lắm không?"

"Vẫn đủ thì giờ nghe ông nói chuyện."

"Tôi nghĩ nếu ông không bận việc gì quan trọng, biết đâu ông sẽ muốn giúp chúng tôi xử lí một vụ hết sức khác thường vừa xảy ra đêm qua tại Hampstead."

"Trời đất!"

Holmes nói.

"Chuyện gì vậy?"

"Án mạng, một vụ án mạng hết sức kịch tính và khác thường.

Tôi biết ông thích những thứ như thế, tôi cũng rất biết ơn nếu ông quá bộ xuống Appledore Towers và cho chúng tôi được nhớ tới lời khuyên của ông.

Đây không phải một vụ án bình thường.

Chúng tôi đã để mắt đến Milverton lâu rồi, và nói riêng thôi nhé: Hắn là quân bất lương.

Thiên hạ biết hắn nắm giữ một số giấy tờ để tống tiền người khác.

Nhưng toàn bộ số giấy tờ này đã bị hung thủ đốt sạch.

Không có món đồ quý nào bị trộm mất, vì có lẽ bọn tội phạm là người có địa vị cao, và chúng chỉ muốn ngăn tai tiếng phơi bày trước bàn dân thiên hạ."

"'Bọn sao?"

Holmes nói.

"Phải, chúng có hai tên và suýt bị bắt tại trận.

Chúng tôi đã có dấu chân của chúng cùng đặc điểm mô tả, tôi dám cá mười ăn một là sẽ lần ra chúng thôi.

Gã thứ nhất nhanh chân quá, nhưng gã thứ hai bị người làm vườn tóm và phải vùng vẫy mới thoát được.

Gã đó tầm thước, trông khỏe mạnh, hàm vuông, cổ dày, có ria mép, đeo mặt nạ che mặt."

"Miêu tả mơ hồ quá", Sherlock Holmes nói.

"Tôi nghe có vẻ như tả Watson vậy."

"Đúng vậy", viên thanh tra rất khoái chí.

"Ta cũng có thể mô tả bác sĩ Watson như thế."

"Lestrade, tôi e là không giúp được ông rồi", Holmes nói.

"Tôi biết Milverton và tôi xem hắn là một trong những kẻ nham hiểm nhất London.

Hơn nữa, tôi cho rằng pháp luật không thể phán xét một số việc con người ta làm để báo thù.

Không, tranh luận cũng vô ích.

Ý tôi đã quyết.

Lần này tôi đồng tình với bọn tội phạm hơn là nạn nhân, và tôi sẽ không nhận vụ này."

Holmes không nói với tôi tiếng nào về án mạng chúng tôi đã chứng kiến, nhưng tôi quan sát thấy suốt buổi sáng, anh luôn đăm chiêu, và theo ánh mắt mông lung và bộ dạng lơ đãng, tôi có cảm giác anh đang cố nhớ lại điều gì.

Đang ăn dở bữa trưa, anh bỗng đứng phắt dậy.

"Trời ơi, Watson, tôi biết rồi!"

Anh kêu lên.

"Lấy mũ đi!

Đi với tôi!"

Anh hối hả chạy hết phố Baker rồi dọc theo phố Oxford, cho đến khi gần đến rạp xiếc Regent.

Ở đây, bên trái có một ô kính cửa tiệm trưng đầy chân dung những nhân vật lỗi lạc và giai nhân thời nay.

Holmes dán mắt vào một bức hình, và khi nhìn theo, tôi thấy chân dung một phu nhân mang nét đẹp vương giả, uy nghi mặc triều phục, đội vương miện nạm kim cương quý phái.

Tôi nhìn cái mũi khoằm thanh tú, đôi mày sắc sảo, đôi môi mỏng và cái cằm nhỏ ánh lên nét cứng cỏi.

Sau đó, tôi nín thở khi đọc tước vị lâu đời của nhà quý tộc và chính khách cao cấp là phu quân quá cố của mệnh phụ ấy.

Tôi và Holmes nhìn nhau, anh đưa ngón tay lên môi rồi chúng tôi quay đầu rời xa ô cửa kính.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
SÁU PHO TƯỢNG NAPOLÉON (The Six Napoleons 1904)


Chuyện thanh tra Lestrade của Sở Cảnh sát London ghé tìm chúng tôi vào tầm chiều tối không có gì là lạ, và Sherlock Holmes rất thích ông ta tới chơi nhà, vì cứ mỗi lần đến, ông ta lại đem theo tin tức về mọi việc đang diễn ra tại Sở.

Để đáp lại, Holmes bao giờ cũng sẵn lòng chăm chú lắng nghe mọi tình tiết của bất kì vụ án nào ông này tham gia, và thỉnh thoảng đưa ra một lời khuyên hay gợi ý rút từ vốn kiến thức và kinh nghiệm phong phú của mình.

Riêng tối hôm ấy, Lestrade lại nói về thời tiết và báo chí.

Sau đó, ông ta im lặng và tư lự hút xì gà.

Holmes chăm chú nhìn ông ta.

"Ông có việc gì bận lòng sao?"

Anh hỏi.

"Ồ, không, ông Holmes, không có gì đặc biệt lắm."

"Vậy kể tôi nghe đi."

Lestrade cười.

"Thôi được rồi, ông Holmes, tôi chẳng việc gì phải chối chuyện tôi đang có điều lo nghĩ.

Thế nhưng vụ này ngớ ngẩn quá nên tôi ngại không muốn làm phiền ông.

Mặt khác, dù nó rất vặt vãnh nhưng lại vô cùng kì quặc, mà tôi biết ông thích những vụ bất thường.

Tuy nhiên, tôi cho rằng nó liên quan tới chuyên môn của bác sĩ Watson hơn là của chúng ta."

"Bệnh tật à?"

Tôi hỏi.

"À, bệnh điên.

Mà điên rất kì quặc nữa kìa.

Ông sẽ không tin nổi thời nay còn có người căm hận Napoléon đệ nhất đến độ cứ thấy tượng là đập!"

Holmes ngả người ra ghế.

"Đây không phải chuyên môn của tôi rồi", anh nói.

"Chính xác.

Nhưng khi gã tâm thần kia đột nhập vào nhà người ta để đập tượng, vụ việc sẽ được bác sĩ bàn giao cho cảnh sát."

Holmes lại ngồi thẳng người lên.

"Đột nhập à!

Chuyện thú vị hơn rồi đây.

Kể chi tiết cho tôi nghe xem."

Lestrade lấy cuốn số công vụ ra, lật xem vài trang để nhớ lại.

"Vụ đầu tiên được trình báo bốn hôm trước", ông ta nói.

"Vụ việc xảy ra tại cửa hiệu bán tranh tượng của Morse Hudson ở phố Kennington.

Người bán hàng vừa rời tiệm một lát đã nghe thấy tiếng vỡ.

Khi lật đật chạy vào, anh ta thấy pho tượng bán thân Napoléon bằng thạch cao, vốn đặt cạnh vài tác phẩm nghệ thuật khác trên quầy, đã vỡ thành từng mảnh trên sàn.

Anh ta vội lao ra đường, nhưng dù vài người nói thấy có kẻ từ cửa hiệu chạy ra, anh ta không thấy ai và cũng chẳng biết làm sao để nhận mặt tên khốn nọ.

Người ta báo cho viên cảnh sát đang tuần tra khu vực rằng thủ phạm có thể là đám côn đồ thỉnh thoảng càn quấy khu vực này.

Bức tượng thạch cao chỉ đáng vài shilling nên cảnh sát thấy vụ việc quá ư vặt vãnh, không đáng để điều tra.

Vụ thứ hai nghiêm trọng và lạ đời hơn.

Nó mới xảy ra tối hôm qua.

Cũng tại phố Kennington, cách cửa hiệu của Morse Hudson vài trăm yard là nhà của bác sĩ Barnicot nổi tiếng.

Ông này mở một trong những phòng mạch lớn nhất mạn nam sông Thames.

Ngoài nhà và phòng mạch chính ở Kennington, ông ta còn có một phòng mổ và chẩn bệnh tại khu Hạ Brixton, cách đó hai dặm.

Bác sĩ Barnicot rất sùng bái Napoléon, nên nhà ông ta đầy những sách, tranh và di vật của vị hoàng đế nước Pháp.

Cách đây không lâu, ông ta mua của Morse Hudson hai pho tượng bán thân Napoléon bằng thạch cao, phỏng theo pho tượng nổi tiếng của nhà điêu khắc Devine người Pháp.

Ông ta đặt một tượng trong tiền sảnh nhà mình tại Kennington, còn bức kia trên bệ lò sưởi của phòng mổ ở Hạ Brixton.

Sáng nay khi xuống nhà, bác sĩ Barnicot sửng sốt nhận ra nhà mình bị trộm đột nhập hồi đêm, nhưng chẳng mất gì ngoài pho tượng thạch cao bán thân trong tiền sảnh.

Nó bị đem ra ngoài rồi ném vào bức tường bao quanh vườn, các mảnh vỡ được tìm thấy ngay dưới chân tường.

Holmes xoa tay.

"Chuyện này rất ư mới lạ", anh nói.

"Tôi biết nó sẽ làm ông vừa lòng mà.

Nhưng tôi vẫn chưa kể hết.

Bác sĩ Barnicot phải có mặt tại phòng mổ lúc 12 giờ, và ông có thể hình dung ông ta kinh ngạc thế nào khi phát hiện cửa sổ phòng mổ bị cạy trong đêm, còn mấy mảnh vỡ của bức tượng thứ hai vương vãi khắp phòng.

Nó bị đập tại chỗ.

Cả hai vụ đều không có dấu vết cho chúng tôi manh mối về gã tâm thần đã gây trò tai quái.

Giờ ông biết hết rồi đấy, ông Holmes."

"Thật lạ đời, nếu không muốn nói là quái gở", Holmes nói.

"Cho phép tôi hỏi, hai tượng của bác sĩ Barnicot có giống bức bị đập trong cửa hiệu của Morse Hudson không?"

"Chúng được đúc từ cùng một khuôn."

"Tình tiết này đã bác bỏ giả thuyết kẻ đập tượng bị nỗi căm hận chung chung với Napoléon tác động.

Xét vì ở London hẳn phải tồn tại hàng trăm tượng vị đại đế, nên không thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng một kẻ đập tượng bừa phứa lại tình cờ bắt đầu bằng ba tượng đúc từ cùng một khuôn."

"Tôi cũng nghĩ như ông", Lestrade nói.

"Tuy nhiên, Morse Hudson là người cung cấp tượng bán thân duy nhất trên đường Kennington, và rất có thể tại khu vực đó chỉ có độc ba pho tượng kia.

Vì vậy, một tên điên trong vùng sẽ bắt đầu từ mấy tượng đó.

Bác sĩ Watson thấy sao?"

"Chứng độc tưởng có vô vàn kiểu", tôi trả lời.

"Đây là chứng bệnh mà người Pháp gọi là idée fixe, trong đó người bệnh có thể hoàn toàn bình thường ở mặt này, nhưng lại điên rồ ở mặt khác.

Rất có thể một người nghiên cứu kĩ về Napoléon, hay có người thân phải chịu một tổn thương nào đó trong cuộc đại chiến, sẽ mắc chứng idée fixe.

Khi bị chứng bệnh này tác động, người bệnh có thể điên cuồng làm bất cứ điều gì."

"Watson thân mến, giải thích vậy không ổn", Holmes lắc đầu, "vì dù mắc chứng idée fixe nặng đến mấy, người bệnh thú vị của anh cũng không thể biết mấy tượng kia nằm ở đâu."

"Vậy anh giải thích thế nào?"

"Tôi không định giải thích.

Tôi chỉ muốn nhận xét rằng chuỗi hành động kì quặc của kẻ này vẫn có phần nhất quán.

Chẳng hạn, tượng trong tiền sảnh nhà bác sĩ Barnicot, nơi chỉ cần một tiếng động cũng đủ đánh thức gia đình dậy, được đưa ra ngoài rồi mới đập; còn tượng ở phòng mổ, nơi hắn ít có khả năng bị bắt quả tang hơn, bị đập tại chỗ.

Chi tiết này có vẻ vặt vãnh đến phi lí, vậy mà tôi dám nói chẳng có gì là nhỏ nhặt.

Một số vụ kinh điển nhất của tôi cũng có cái mở đầu ít hứa hẹn nhất.

Watson này, anh nhớ vụ án kinh khủng liên quan tới gia đình Abernetty đã khiến tôi chú ý vì độ sâu của cọng ngò tây nhúng trong bơ vào một ngày nóng nực chứ?

Do vậy, Lestrade, tôi không thể cười ba cái tượng vỡ của ông, và tôi sẽ rất cảm ơn nếu ông báo cho tôi biết khi loạt sự kiện lạ lùng này có diễn biến mới."

Cái diễn biến mà bạn tôi trông chờ xảy đến nhanh và bi thảm hơn nhiều so với những gì anh đã hình dung.

Sáng hôm sau, khi đang thay đồ trong phòng ngủ, tôi nghe thấy có tiếng gõ cửa khe khẽ, rồi sau đó Holmes bước vào với một bức điện tín cầm trên tay.

Anh đọc to, "Đến ngay!

131 phố Pitt, Kensington.

Lestrade."

"Có chuyện gì vậy nhỉ?"

Tôi hỏi.

"Không biết!

Có thể là bất cứ chuyện gì.

Nhưng tôi nghĩ là diễn biến tiếp theo trong vụ án mấy pho tượng.

Nếu vậy, anh bạn chuyên đập tượng của chúng ta đã mở rộng chiến dịch sang một khu vực khác của London rồi.

Watson này, trên bàn có cà phê đấy, còn tôi ra cửa gọi xe đây."

Nửa giờ sau, chúng tôi tới phố Pitt, một nơi yên bình nằm bên một trong những khu vực nhộn nhịp nhất London.

Địa chỉ 131 thuộc một dãy nhà cổ kính giống nhau y đúc và tất thảy đều trông cực kì tẻ nhạt.

Khi xe chạy lại gần, chúng tôi thấy đám đông hiếu kì đang xúm đen xúm đỏ trước hàng rào bao trước căn nhà.

Holmes huýt sáo.

"Úi chà!

Nhẹ cũng là mưu sát.

Nếu không cái anh chàng đưa tin hỏa tốc đã chẳng nán lại đây.

Xét theo điệu bộ hai vai thõng và cổ rướn tới của anh chàng là đủ biết có chuyện xấu rồi.

Gì đây, Watson?

Mấy bậc thềm trên cùng được giội nước, còn các bậc dưới lại khô.

Chứng tỏ có dấu vết để lại!

Chà chà, Lestrade đang đứng tại cửa sổ trước kia.

Chúng ta sẽ biết chuyện ngay thôi."

Viên cảnh sát đón chúng tôi với vẻ mặt trầm trọng rồi dẫn chúng tôi vào phòng khách, nơi một người đàn ông lớn tuổi trông lôi thôi lếch thếch và kích động, mặc áo choàng vải flannel đang đi tới đi lui.

Lestrade giới thiệu ông đây là chủ nhà, tên Horace Harker, làm việc tại Nghiệp đoàn Báo chí Trung tâm.

"Lại là vụ tượng Napoléon", Lestrade nói.

"Ông Holmes, vì tối qua ông có vẻ quan tâm, nên tôi nghĩ ông sẽ vui lòng có mặt vì sự việc đã chuyển biến nghiêm trọng hơn nhiều."

"Vậy nó chuyển biến ra sao?"

"Thành án mạng, ông Harker, xin ông vui lòng cho hai vị đây biết chính xác chuyện đã xảy ra."

Người đàn ông mặc áo choàng quay bộ mặt hết sức sầu não qua nhìn chúng tôi.

"Thật lạ đời", ông ta nói, "cả đời tôi đi thu thập tin của người khác, vậy mà khi một tin tức hẳn hoi xảy tới với tôi, tôi lại rối bời và lo lắng đến độ chẳng ráp nổi hai chữ với nhau.

Nếu tôi đến đây với tư cách phóng viên, tôi đã phỏng vấn mình và viết một bài báo chiếm hai cột trong số báo ra chiều nay.

Cứ kể đi kể lại câu chuyện cho hết người này đến người kia thật chẳng khác nào ban phát đề tài quý báu của mình, còn bản thân tôi lại chẳng tận dụng được gì.

Song tôi đã nghe danh ông, ông Sherlock Holmes, nên ông lí giải được vụ kì quặc này thì công khó nhọc tôi kể cho ông nghe cũng coi như là được bù đắp."

Holmes ngồi xuống lắng nghe.

"Dường như mọi chuyện đều xoay quanh pho tượng bán thân Napoléon tôi mua cho chính gian phòng này vào khoảng bốn tháng trước.

Tôi mua được nó ở cửa hàng Harding Brothers, cách ga phố High hai căn.

Tôi giải quyết phần lớn việc báo chí vào ban đêm, và thường viết cho đến sáng tinh mơ.

Hôm nay cũng vậy.

Tôi ngồi trong phòng riêng ở tầng trên cùng đến khoảng 3 giờ thì nghe thấy vài tiếng động dưới nhà.

Tôi lắng nghe, nhưng không thấy tiếng động lặp lại nên kết luận đấy là âm thanh từ ngoài vọng vào.

Khoảng năm phút sau, bỗng có một tiếng thét vô cùng thê thảm - đó là âm thanh hãi hùng nhất tôi từng nghe, thưa ông Holmes.

Chừng nào tôi còn sống, nó sẽ còn văng vẳng bên tai tôi.

Tôi ngồi sững người mất mấy phút.

Sau đó, tôi chộp lấy cây cời than và đi xuống nhà.

Khi vào phòng này, tôi thấy cửa sổ mở toang, và tôi nhận ra ngay rằng pho tượng không còn trên bệ lò sưởi.

Trộm bẻ khóa nào lại đi lấy một thứ như vậy thì tôi chịu không hiểu nổi, vì đó chỉ là tượng thạch cao và không mấy giá trị.

Tự ông cũng thấy là ai vào bằng ngả cửa sổ đều có thể sải một bước dài ra cửa trước.

Rõ ràng tên trộm bẻ khóa đã làm vậy, nên tôi đi vòng qua mở cửa lớn.

Khi bước ra ngoài bóng tối, tôi suýt ngã nhào lên một xác chết nằm đó.

Tôi chạy lui vào tìm đèn và sau đó thấy một kẻ xấu số bị cứa một vết lớn ở cổ họng và máu lênh láng khắp chỗ này.

Hắn nằm ngửa, đầu gối co lại, miệng ngoác ra.

Tôi sẽ nằm mơ thấy hắn mất thôi!

Sau khi thổi còi gọi cảnh sát, ắt là tôi đã ngất đi, vì tôi không còn hay biết gì cho đến khi thấy cảnh sát đứng trước mặt trong hành lang."

"Vậy người bị hại là ai?"

Holmes hỏi.

"Không có gì cho biết danh tính của hắn", Lestrade nói.

"Thi thể đã được đưa tới nhà xác, nhưng đến giờ chúng tôi vẫn chưa biết được gì.

Hắn cao dong dỏng, da rám nắng, trông khỏe khoắn và chưa quá ba mươi.

Hắn ăn vận tuềnh toàng, nhưng không có vẻ là dân lao động.

Một con dao bấm cán ngà nằm trong vũng máu bên cạnh.

Tôi không biết đó là hung khí hay đó của người chết.

Áo quần hắn không đề tên tuổi, trong túi chẳng có gì ngoài một quả táo, một sợi dây, tấm bản đồ London giá một shilling và một bức ảnh.

Đây này."

Đó là bức hình chụp một người đàn ông trông lanh lợi như khỉ, mặt mày sắc sảo, lông mày rậm và hàm dưới dô ra như mỏm khỉ đầu chó.

"Vậy pho tượng sao rồi?"

Holmes hỏi khi đã xem xét kĩ bức hình.

"Chúng tôi vừa mới được tin trước khi ông đến.

Đã tìm thấy nó bị đập tan tành tại vườn trước của một ngôi nhà hoang trên đường Campden House.

Giờ tôi định đến đó xem.

Ông đi chứ?"

"Dĩ nhiên rồi.

Đợi tôi kiểm tra một vòng đã."

Anh xem xét thảm và cửa sổ.

"Gã này hoặc phải có đôi chân dài ngoẳng hoặc phải vô cùng khéo léo", anh nói.

"Từ khoảng cách thế này mà với tới gờ cửa sổ rồi mở không hề dễ.

Trở ra thì tương đối đơn giản.

Ông có đi với chúng tôi đến chỗ tượng vỡ không, ông Harker?"

Ông nhà báo phiền muộn đã ngồi xuống bên bàn viết.

"Tôi phải tranh thủ xem có làm được gì không", ông ta nói, "dù tôi biết chắc mấy tờ báo chiều đầu tiên đã cho đăng bài viết tường tận lắm rồi.

Khổ thân tôi không kia chứ!

Các ông còn nhớ hồi gian hàng ở Doncaster sập không?

Tôi là nhà báo duy nhất đứng trong gian hàng, ấy vậy mà chỉ có mỗi tờ báo của tôi là không đả động gì tới chuyện đó, vì tôi run quá nên chẳng viết được gì.

Còn giờ tôi sẽ chậm chân trong việc tường thuật vụ án mạng xảy ra ngay tại nhà mình."

Khi ra khỏi phòng, chúng tôi nghe tiếng bút di kin kít trên giấy.

***

Nơi tìm thấy các mảnh tượng võ cách đó chỉ vài trăm yard.

Đây là lần đầu tiên mắt chúng tôi nhìn thấy bức điêu khắc vị đại đế đường như đã làm nảy sinh nỗi hận thù điên loạn và ước muốn phá hoại trong đầu kẻ bí ẩn kia.

Nó đã biến thành đống mảnh vỡ trên cỏ.

Holmes nhặt vài mảnh lên xem xét cẩn thận.

Dựa vào vẻ mặt chăm chú và cử chỉ đầy chủ ý của Holmes, tôi tin chắc anh đã tìm ra manh mối.

"Thế nào?"

Lestrade hỏi.

Holmes nhún vai.

"Ta còn phải đi một chặng dài nữa", anh nói.

"Thế nhưng, chúng ta đã có vài tình tiết gợi mở để hành động.

Trong mắt tên thủ phạm quái gở này, pho tượng bán thân tầm thường kia còn đáng giá hơn mạng người.

Đó là một điểm.

Và còn nếu như mục đích của hắn chỉ đơn thuần là đập tượng, tại sao hắn không đập ngay trong, hay ngoài cửa nhà?"

"Vì đụng đầu gã kia nên hắn rồi trí hoảng hốt.

Hắn chẳng còn biết mình đang làm gì nữa."

"Cũng có thể.

Nhưng tôi muốn ông đặc biệt lưu ý vị trí căn nhà có khu vườn được hung thủ chọn làm nơi đập tượng."

Lestrade nhìn quanh quất.

"Đây là nhà hoang, nên hắn biết hắn sẽ không bị ai cản trở trong vườn."

"Phải, nhưng đầu đường còn một căn nhà bỏ hoang khác và hắn phải đi ngang qua đó trước khi tới đây.

Sao hắn không đập ở đó vì càng mang bức tượng đi xa hắn càng dễ bị bắt gặp?"

"Tôi chịu", Lestrade nói.

Holmes chỉ cột đèn trên đầu chúng tôi.

"Ở đây hắn thấy được việc mình làm, còn ở đằng kia thì không.

Đó là lí do."

"Trời!

Đúng rồi", viên thanh tra nói.

"Giờ nghĩ lại thì tượng Napoléon của bác sĩ Barnicot bị đập không xa ngọn đèn trong nhà bao lắm.

Nào ông Holmes, ta làm gì với đầu mối này?"

"Ghi nhớ và tổng kết.

Biết đâu sau này ta sẽ bắt gặp cái gì có liên quan tới nó.

Giờ ông định làm gì, Lestrade?"

"Theo tôi, cách thiết thực nhất để tháo gỡ vụ này là xác định danh tính người chết.

Chuyện đó chẳng khó khăn gì.

Khi biết hắn là ai và có những mối quen biết nào, chúng ta sẽ có một khởi đầu thuận lợi để biết tối qua hắn làm gì ở phố Pitt, và người gặp hắn và giết hắn tại cửa nhà ông Horace Harker là ai.

Ông có nghĩ vậy không?"

"Chắc chắn rồi.

Nhưng tôi không giải quyết vụ án theo cách đó."

"Vậy ông làm gì?"

"Ồ, đừng để việc tôi chi phối ông!

Tôi đề nghị ông tiếp tục phương pháp của ông, còn tôi đi theo cách thức của tôi.

Sau đó, chúng ta có thể bàn luận, rồi người này sẽ bổ sung cho người kia."

"Được thôi", Lestrade nói.

"Nếu quay lại phố Pitt, hẳn ông sẽ gặp ông Horace Harker.

Nhắn với ông ta là tôi đã nghĩ kĩ rồi, và chắc chắn kẻ đột nhập vào nhà ông ta đêm qua là một gã sát nhân mắc bệnh tâm thần cực kì nguy hiểm, bị Napoléon ám ảnh.

Nó sẽ giúp ích cho bài báo của ông ta."

Lestrade trố mắt nhìn.

"Ông không thực bụng tin chuyện đó chứ?"

Holmes mỉm cười.

"Vâng, có lẽ tôi không tin.

Nhưng tôi đảm bảo thông tin ấy sẽ làm ông Horace Harker và độc giả của Nghiệp đoàn Báo chí Trung tâm hứng thú.

Này Watson, tôi nghĩ chúng ta có công việc khá phức tạp mất cả ngày trời đây.

Lestrade này, tôi sẽ rất vui nếu ông tới gặp chúng tôi tại phố Baker lúc 6 giờ chiều nay.

Từ giờ tới đó, tôi muốn giữ tấm hình tìm thấy trong túi người chết.

Có thể tôi sẽ phải nhờ ông đi theo giúp một tay trong cuộc phiêu lưu nho nhỏ tối nay, nếu như chuỗi suy luận của tôi là đúng.

Chúc may mắn và mong gặp lại ông đúng giờ!"

Sherlock Holmes và tôi cùng đi bộ đến phố High, ở đó chúng tôi ghé vào tiệm Harding Brothers, chỗ bán pho tượng.

Một nhân viên bán hàng trẻ tuổi cho chúng tôi biết ông Harding đi có việc phải đến quá trưa mới về, còn anh ta mới vào làm nên chẳng thể cho chúng tôi biết gì nhiều.

Holmes tỏ vẻ thất vọng và bực dọc.

"Thôi đành vậy, chúng ta đâu thể mong mọi chuyện đều theo ý mình, Watson nhỉ", anh nói.

"Nếu đã vậy, chúng ta đành quay lại vào tầm chiều.

Hẳn anh đã đoán ra tôi đang cố lần tìm xuất xứ mấy tượng này, để xem có gì đặc biệt lí giải được số phận lạ thường của chúng.

Ta hãy tới nhà ông Morse Hudson ở phố Kennington, xem ông ta có giúp chúng ta vỡ ra được gì không."

Chúng tôi đi xe mất một tiếng để tới cửa tiệm của người buôn tranh tượng.

Ông ta thấp, mập, mặt đỏ au và tỏ vẻ nóng nảy.

"Phải, thưa ông.

Ngay trên quầy của tôi," ông ta nói.

"Tôi chẳng biết mình phải đóng thuế làm gì khi mà gã du côn nào cũng có thể vào đập phá đồ của tôi.

Đúng, thưa ông, chính tôi đã bán hai pho tượng ấy cho bác sĩ Barnicot.

Thật đáng hổ thẹn, thưa ông!

Tôi đoán đây là mưu đồ của bọn Hư vô chủ nghĩa.

Chỉ có lũ vô chính phủ đó mới đi lêu lổng mà đập tượng thôi!

Tôi gọi chúng là tụi Cộng hòa đỏ.

Tôi mua mấy pho tượng của ai ư?

Chuyện đó có liên quan gì đâu nhỉ?

Mà thôi, nếu ông muốn biết, tôi xin nói.

Tôi mua của Công ty Gelder tại phố Church, Stepney.

Đó là công ty nổi tiếng với hai mươi năm hoạt động trong ngành làm tượng.

Tôi mua bao nhiêu pho à?

Ba.. hai cộng một là ba - hai của bác sĩ Barnicot, và một đặt trên quầy của tôi, bị đập giữa thanh thiên bạch nhật.

Tôi có biết người trong hình không sao?

Tôi biết, đó là Beppo.

Hắn là người Ý, từng làm khoán cho tôi và rất được việc.

Hắn biết chút nghề chạm khắc, mạ vàng, đóng khung cùng mấy việc vặt khác.

Hắn bỏ việc hồi tuần trước, và từ đó đến nay tôi không nghe tin gì về hắn.

Không, tôi không biết hắn từ đâu tới hay hắn đi đâu.

Hồi hắn còn ở đây, tôi chẳng ghét bỏ gì hắn.

Hắn đi trước khi tượng bị đập hai ngày."

"Thôi vậy, ta chỉ có thể mong đợi ở Morse Hudson bấy nhiêu thôi", Holmes nói khi chúng tôi rời cửa hàng.

"Chúng ta có gã Beppo làm nhân tố chung, xuất hiện cả ở Kennington và Kensington, nên cũng bõ công đi mười dặm đường.

Nào Watson, ta đến Công ty Gelder ở Stepney, nơi đầu tiên bán ra mấy pho tượng.

Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu chúng ta không tìm được chút manh mối gì từ đó."

Chúng tôi lần lượt phóng qua London thượng lưu, London khách sạn, London kịch nghệ, London văn học, London thương mại, và cả London hàng hải, cho đến khi tới một khu ven sông - nơi sinh sống của một trăm ngàn dân, với những tòa nhà chung cứ ngột ngạt và đầy những thành phần ngoài lề xã hội của Âu châu.

Tại đây, trong một khu phố rộng từng là nơi các thương gia giàu có ở khu City cư ngụ, chúng tôi tìm thấy các tác phẩm điêu khắc mình cần.

Bên ngoài có một khoảng sân khá rộng đặt đầy những sản phẩm điêu khắc đồ sộ.

Bên trong là một gian phòng rộng có năm mươi thợ đang đục đẽo.

Ông quản đốc, một người Đức tóc vàng to béo, lịch sự tiếp chúng tôi và trả lời rành mạch mọi câu hỏi của Holmes.

Tham khảo sổ sách của ông ta, chúng tôi nhận thấy có hàng trăm tượng đúc phỏng theo pho tượng bán thân Napoléon bằng cẩm thạch của Devine.

Ba tượng gửi đến cho Morse Hudson độ một năm trước thuộc một lô hàng sáu tượng, ba pho còn lại được chuyển tới cửa tiệm Harding Brothers ở phố Kensington.

Không lí gì chúng lại khác với những pho tượng khác.

Ông ta không nghĩ ra được nguyên nhân nào khả dĩ khiến cho có kẻ muốn hủy chúng - đúng hơn, ông ta còn cười khi nghe tới đó.

Giá bán sỉ là sáu shilling, còn giá bán lẻ là mười hai shilling hoặc hơn.

Tượng được đúc thành hai khuôn nửa mặt rồi ráp lại.

Công việc thường do các nhân công người Ý trong phòng chúng tôi đang đứng thực hiện.

Khi hoàn thành, tượng được đặt lên bàn trong hành lang cho khô, sau đó cất vào kho.

Ông ta chỉ có thể cho chúng tôi biết chừng ấy.

Nhưng khi đưa bức hình ra thì ông quản đốc lại có phản ứng đáng chú ý.

Ông người Đức mặt đỏ phừng giận dữ, hai mày chau lại trên cặp mắt xanh.

"A, thằng côn đồ!"

Ông ta kêu lên.

"Phải, tôi biết hắn rõ lắm.

Chỗ này từ xưa đến nay luôn là một cơ sở uy tín và lần duy nhất chúng tôi bị cảnh sát đến tra hỏi chính là vì gã này.

Chuyện xảy ra cách đây hơn một năm rồi.

Hắn dùng dao đâm một người Ý khác ngoài phố, rồi đến chỗ làm, cảnh sát đuổi tới rồi bắt hắn ở đây.

Tôi chỉ biết hắn tên là Beppo.

Đáng đời tôi mà.

Ai bảo tôi lại đi thuê kẻ có bộ mặt như vậy.

Nhưng hắn là thợ giỏi, một trong những người giỏi nhất."

"Hắn phải lĩnh án thế nào?"

"Người nọ còn sống nên hắn chỉ phải ngồi tù một năm.

Chắc chắn giờ hắn đã ra tù, nhưng không dám chường mặt đến đây.

Em họ của hắn làm ở đây và tôi dám chắc cậu ta có thể cho các ông biết địa chỉ của hắn."

"Không, không", Holmes kêu lên, "xin ông đừng nói gì với người em họ cả.

Việc này rất hệ trọng và càng ít người biết càng tốt.

Lúc ông xem sổ, tôi nhận thấy ông chuyển mấy pho tượng đi vào ngày 3 tháng 6 năm ngoái, ông có thể cho tôi biết Beppo bị bắt vào ngày nào không?"

"Tôi có thể cho ông biết đại khái theo sổ lương", quản đốc đáp.

"Đây rồi", ông ta nói tiếp sau khi lật được dăm trang, "hắn lĩnh lương lần cuối vào ngày 20 tháng 5."

"Cảm ơn ông", Holmes nói.

"Có lẽ tôi không nên làm tốn thời gian và lòng kiên nhẫn của ông thêm nữa."

Sau khi dặn phòng xa lần cuối rằng ông ta đừng nói gì về việc chúng tôi đến dò la, hai chúng tôi lại đi về hướng tây.

Đến tận chiều chúng tôi mới tranh thủ tạt vào quán ăn ăn vội ăn vàng.

Tờ báo đặt ở cửa vào đăng tin Vụ án ở phố Kensington - Kẻ tâm thần gây án mạng, và nội dung bài báo cho thấy bài tường thuật của ông Horace Harker đã kịp đăng.

Hai cột kể về toàn bộ sự việc theo lối viết hết sức li kì và hoa mĩ.

Holmes vừa ăn vừa đọc.

Anh tủm tỉm cười đôi ba lần.

"Watson, cái này được đây", anh nói.

"Nghe này:

Được biết trong vụ án này, ông Lestrade, một cảnh sát dày dạn kinh nghiệm, và ông Sherlock Holmes, chuyên gia cố vấn nổi tiếng, đã nhất trí đi đến kết luận rằng loạt biến cố quái gở với kết thúc bi đát này có nguyên do là mất trí, chứ không phải tội ác có chủ tâm.

Thủ phạm chỉ có thể là một kẻ mắc bệnh tâm thần.

Watson này, nếu chúng ta biết cách sử dụng báo chí, nó sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho cuộc điều tra.

Còn giờ, nếu anh đã ăn xong, chúng ta sẽ quay về Kensington xem ông chủ Harding Brothers nói sao về vụ này."

Ông chủ cửa tiệm lớn đó là một người thấp bé, ăn vận bảnh bao và nhanh nhẹn, đầu óc minh mẫn và ăn nói lưu loát

"Vâng thưa ông, tôi đã đọc bài báo đó rồi.

Ông Horace Harker là khách hàng của chúng tôi.

Chúng tôi cung cấp cho ông ấy pho tượng đó từ mấy tháng trước.

Chúng tôi đặt ba pho tượng kiểu đó từ Công ty Gelder ở Stepney và đã bán hết.

Cho ai à?

Đợi tôi mở sổ bán hàng ra xem là biết ngay thôi mà.

Phải, chúng tôi đều ghi chép lại cả.

Một cho ông Harker, như ông đã biết; một cho ông Josiah Brown ở biệt thự Laburnum, phố Laburnum Vale thuộc quận Chiswick, và một cho ông Sandeford ở phố Lower Grove tại thị trấn Reading.

Không, tôi chưa từng thấy người trong hình.

Một bộ mặt xấu xí thế này thì tôi khó lòng quên nổi!

Chúng tôi có nhân viên người Ý nào không ư?

Có, thưa ông, chúng tôi có vài người thợ và tạp vụ.

Chắc chắn nếu muốn, họ có thể xem qua mấy cuốn sổ bán hàng.

Chúng tôi chẳng có lí do nào để phải trông coi chúng.

Vâng vâng, sự việc này quá ư kì lạ, và tôi cũng mong được ông cho biết tin nếu tìm hiểu được gì."

Holmes ghi chép lại mấy điều trong lúc ông Harding nói, và tôi thấy anh hết sức hài lòng vì chiều hướng xoay chuyển của sự việc.

Tuy nhiên, anh chỉ nói nếu không nhanh chân, chúng tôi sẽ trễ hẹn với Lestrade.

Quả nhiên, khi chúng tôi về phố Baker, viên thanh tra đã ở đó và đang sốt ruột đi tới đi lui.

Vẻ mặt nghiêm trang cho thấy ngày làm việc của ông ta không uổng phí.

"Sao rồi?"

Ông ta hỏi.

"Có may mắn gì không, ông Holmes?"

"Chúng tôi đã có một ngày rất bận bịu và không hẳn là phí phạm", bạn tôi giải thích.

"Chúng tôi đã gặp cả bên bán lẻ lẫn nhà sản xuất.

Giờ tôi biết rõ tung tích từng pho tượng một."

"Mấy pho tượng!"

Lestrade kêu lên.

"Thôi được, ông Sherlock Holmes, ông có phương pháp riêng và tôi không có quyền phản đối, nhưng tôi nghĩ mình có một ngày làm việc tốt hơn ông.

Tôi đã xác định được danh tính người chết."

"Thật sao?"

"Và tìm ra động cơ gây án."

"Tuyệt vời!"

"Trong Sở có một thanh tra tên là Saffron Hill chuyên phụ trách khu người Ý.

Người chết có xăm một biểu tượng Cơ Đốc giáo tại cổ.

Chi tiết đó, kết hợp cùng với màu da của gã khiến tôi nghĩ gã là người Nam Âu.

Vừa thấy thi thể là thanh tra Hill nhận ra ngay.

Gã là Pietro Venucci, từ Naples, và là một trong những tên sát nhân khét tiếng nhất London.

Gã dính líu tới mafia.

Như ông biết, đấy là một tổ chức chính trị ngầm, sẵn sàng giết những ai không tuân theo luật lệ của chúng.

Giờ thì ông thấy vụ việc bắt đầu sáng tỏ thế nào rồi đấy.

Hung thủ chắc cũng là người Ý và thuộc mafia.

Có lẽ hắn đã vi phạm luật lệ của tổ chức.

Pietro được giao nhiệm vụ truy tìm hắn.

Có lẽ bức hình trong túi gã chụp là kẻ gã truy đuổi, để gã không đâm lầm người.

Gã bám sát kẻ kia, thấy hắn vào một căn nhà, đứng ngoài chờ rồi trong lúc ẩu đả đã lĩnh vết thương trí mạng, ông thấy sao, ông Sherlock Holmes?"

Holmes vỗ tay tán thưởng.

"Xuất sắc, Lestrade, xuất sắc!"

Anh tán thưởng.

"Nhưng hình như ông chưa giải thích gì về chuyện đập tượng."

"Lại tượng!

Ông chẳng chịu tống mấy cái tượng ấy ra khỏi đầu gì cả.

Nói cho cùng thì chuyện đó có gì đâu.

Tội ăn cắp vặt chỉ bị tù sáu tháng là cùng.

Cái chúng tôi đang tập trung điều tra là vụ án mạng, và tôi cho ông biết là tôi đã có mọi đầu mối trong tay."

"Vậy ông định làm gì tiếp đây?"

"Rất đơn giản.

Tôi cùng Hill xuống khu người Ý, tìm người trong hình rồi bắt hắn vì tội giết người, ông đi với chúng tôi chứ?"

"Tôi nghĩ là không.

Tôi cho rằng chúng tôi có thể phá xong vụ án theo cách đơn giản hơn.

Tôi không dám nói chắc vì tất cả đều tùy thuộc...

ở, vào một nhân tố hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát của chúng tôi.

Nhưng tôi rất tin tưởng - nói đúng hơn, tôi dám cá hai ăn một rằng nếu tối nay ông đi với chúng tôi, tôi có thể giúp ông tống hắn vào tù."

"Tới khu người Ý?"

"Không.

Tôi nghĩ chúng ta dễ tìm ra hắn ở Chiswick hơn.

Lestrade này, nếu tối nay ông đi với tôi đến Chiswick, tôi hứa mai sẽ cùng ông tới khu người Ý, mà chậm trễ một vài tiếng cũng đâu có sao.

Còn giờ chúng ta nên nghỉ ngơi vài tiếng, vì tôi không định đi trước 11 giờ và ắt sẽ không về trước trời sáng.

Lestrade, ông sẽ ăn tối với chúng tôi, rồi mời ông cứ tự nhiên nằm ở trường kỉ đến lúc ta phải xuất phát.

Watson này, trong lúc ấy, tôi sẽ rất vui nếu anh gọi người đưa tin hỏa tốc tới vì tôi có một lá thư cần gửi ngay."

Cả buổi chiều, Holmes lục lọi mấy tập nhật báo cũ xếp chật ních trong buồng để đồ linh tinh.

Cuối cùng khi anh từ đó đi xuống, mắt anh sáng lên vẻ đắc thắng, nhưng lại không nói với hai chúng tôi về kết quả tìm kiếm.

Về phần mình, tôi đã theo dõi từng phương pháp anh dùng để lần dò các tình tiết lắt léo trong vụ án phức tạp này, nên dù chưa hình dung ra cái đích chúng tôi sẽ đến, tôi vẫn hiểu rõ Holmes đang chờ gã thủ phạm kì quái của mình tấn công hai tượng còn lại.

Theo như tôi nhớ thì một bức ở Chiswick.

Rõ ràng mục tiêu của chúng tôi là bắt quả tang hắn tại trận, nên tôi không thể không thán phục cái khôn khéo của bạn mình khi chèn một manh mối sai lệch vào tờ báo chiều, để gã kia tưởng rằng hắn có thể tiếp tục hành động mà không bị trừng phạt.

Tôi không ngạc nhiên khi Holmes khuyên tôi đem súng theo.

Bản thân anh cũng mang theo cây súng săn ưa thích đã nạp đạn.

11 giờ, cỗ xe ngựa bốn bánh đợi ở cửa, rồi đưa chúng tôi đến một điểm bên kia cầu Hammersmith.

Người xà ích được dặn chờ ở đây.

Đi bộ một quãng ngắn, chúng tôi đã tới con đường hẻo lánh, hai bên là những ngôi nhà đẹp đẽ có khuôn viên riêng.

Dưới ánh đèn đường, chúng tôi đọc thấy Biệt thự Laburnum trên một cột cổng.

Rõ ràng người ở trong nhà đã ngủ cả, vì bốn bề tối om, trừ một ô bán nguyệt trên cửa bên sảnh hắt vòng sáng lờ mờ duy nhất lên lối đi ngoài vườn.

Hàng rào gỗ tách cơ ngơi với đường bên ngoài đổ bóng đen kịt xuống vườn, và đấy là chỗ chúng tôi nấp.

"Tôi e ta phải chờ lâu đấy", Holmes thì thầm, "ơn trời là không mưa.

Tôi nghĩ ta còn chẳng dám liều hút thuốc giết thời gian nữa.

Song, cá hai ăn một là chúng ta sẽ có được gì đó để bù đắp cho khó nhọc của mình."

Nhưng hóa ra, chúng tôi không phải chong mắt đợi lâu như Holmes dọa.

Cuộc rình đợi chấm dứt rất đột ngột và lạ lùng.

Trong tích tắc, không một tiếng động nào báo trước rằng hắn đến, cổng vườn mở toang rồi một bóng đen uyển chuyển, nhanh nhẹn và lanh lợi như khỉ chạy vội theo lối đi trong vườn.

Chúng tôi thấy hắn vụt qua ánh đèn trên cửa hắt xuống rồi lẩn vào bóng đen do ngôi nhà đổ xuống.

Suốt một lúc lâu chúng tôi nín thở chờ đợi, nhưng không nghe thấy động tĩnh gì, rồi một tiếng cót két khẽ khàng vẳng tới.

Cửa sổ đang mở.

Tiếng động dừng, rồi không gian lại chìm trong im lặng.

Hắn đã vào nhà.

Chúng tôi chợt thấy ánh đèn bão lóe sáng trong phòng.

Rõ ràng cái hắn tìm không có ở đó, vì chúng tôi lại thấy ánh sáng lóe lên qua một rèm cửa khác, rồi một rèm cửa nữa.

"Ta đến chỗ cửa sổ mở đi.

Đợi hắn trèo ra là ta thộp cổ hắn luôn," Lestrade thì thầm.

Nhưng chúng tôi còn chưa nhúc nhích, kẻ kia đã ló ra.

Khi hắn bước ra giữa vùng sáng lờ mờ, chúng tôi thấy hắn đang cắp cái gì trăng trắng dưới nách.

Hắn láo liên nhìn quanh.

Đường phố vắng lặng làm hắn yên lòng.

Lưng xoay về phía chúng tôi, hắn để vật nặng xuống rồi loáng sau, một tiếng choang vang lên, tiếp theo là tiếng lanh canh loảng xoảng.

Người đó chú tâm vào việc mình làm đến độ không nghe thấy tiếng chúng tôi bước rón rén qua bãi cỏ.

Holmes phóng một cái như hổ, chồm lên lưng hắn, rồi nháy mắt sau Lestrade và tôi đã ở hai bên tóm hai cổ tay hắn và khóa còng lại.

Khi chúng tôi xoay hắn lại, tôi thấy một bộ mặt gớm ghiếc, bủng beo, nét mặt giận dữ, uất hận trừng trừng nhìn chúng tôi, nên tôi biết đây chính là người đàn ông trong tấm hình.

Nhưng Holmes không để tâm tới tên tội phạm.

Ngồi xổm xuống trước cửa, anh bắt đầu tỉ mẩn kiểm tra thứ kẻ kia mang từ nhà ra.

Đó là tượng bán thân Napoléon giống pho chúng tôi thấy hồi ban sáng, và cũng bị đập vỡ tan tành.

Holmes cẩn thận cầm từng mảnh giơ ra trước ánh đèn, nhưng chúng cũng chẳng khác gì những mảnh thạch cao của pho tượng trước.

Anh vừa kiểm tra xong, đèn trong tiền sảnh vụt sáng, cửa mở và chủ nhà, một người tròn trịa, hoạt bát mặc sơmi với quần dài, xuất hiện.

"Ông là ông Josiah Brown?"

Holmes hỏi.

"Phải, thưa ông.

Còn ông chắc là ông Sherlock Holmes?

Tôi nhận được thư khẩn của ông nên đã làm đúng như ông dặn.

Chúng tôi khóa hết cửa bên trong rồi chờ xem diễn biến.

À, tôi rất mừng vì ông đã tóm được tên lưu manh.

Các vị, tôi mong các vị vào nhà dùng chút gì đã."

Tuy nhiên, Lestrade nóng lòng đưa phạm nhân đến nơi giam giữ, nên ít phút sau chúng tôi gọi xe và cả bốn lên đường về lại London.

Kẻ bị bắt chẳng chịu hé răng, nhưng dưới mái tóc bù xù, mắt hắn trừng trừng nhìn chúng tôi và có lần, khi bàn tay tôi có vẻ trong tầm tay hắn, hắn chộp lấy như con sói đói.

Chúng tôi nán lại tại Sở Cảnh sát một lúc, đợi họ xét người tên tội phạm xong.

Nhưng trên người hắn chẳng có gì ngoài vài đồng shilling và một con dao xếp dài, cán dao dính rất nhiều vết máu còn mới.

"Ổn cả thôi", Lestrade nói khi chúng tôi ra về.

"Hill biết rõ hạng người này, nên anh ta sẽ cố cách tìm ra danh tính của hắn.

Các ông sẽ thấy giả thiết mafia của tôi là đúng.

Nhưng tôi vô cùng biết ơn ông, ông Holmes, vì cách thức chuyên nghiệp ông thực hiện để tóm hắn.

Tôi vẫn chưa rõ chuyện đó cho lắm."

"Muộn thế này không hợp để giải thích", Holmes nói.

"Vả lại, tôi vẫn chưa hoàn thành một vài việc, mà đây lại là một trong những vụ đáng làm đến cùng.

6 giờ chiều mai nếu ông ghé lại chỗ tôi, tôi có thể cho ông thấy rằng đến tận phút này ông vẫn chưa hiểu hết vụ này đâu, vì nó bộc lộ một số nét cực kì độc đáo.

Watson, nếu có bao giờ tôi cho phép anh ghi lại thêm mấy vụ án nho nhỏ của tôi, tôi thấy trước rằng anh sẽ viết một câu chuyện sống động về vụ Sáu pho tượng Napoléon kì lạ này."

***

Chiều hôm sau gặp lại, Lestrade có thêm nhiều thông tin liên quan đến tên phạm nhân nọ.

Tên hắn là Beppo, còn họ thì không rõ.

Hắn có tiếng lười biếng và vô lại ở khu người Ý.

Hắn từng là thợ làm tượng lành nghề và sống lương thiện, nhưng rồi bị nhiễm thói hư tật xấu và đã hai lần vào tù ra tội - một lần vì ăn cắp vặt và một lần, như chúng tôi đã được nghe, vì hành hung đồng hương.

Hắn nói tiếng Anh khá sõi.

Lí do hắn đập tượng đến nay vẫn còn là ẩn số và hắn không chịu hé răng nửa lời về vấn đề này.

Tuy nhiên, cảnh sát đã phát hiện ra rất có thể chính hắn đã làm mấy pho tượng ấy, vì hồi còn làm ở Công ty Gelder, hắn là thợ làm tượng.

Holmes lịch sự chăm chú lắng nghe toàn bộ thông tin mà chúng tôi đã biết phần nhiều; nhưng vì hiểu anh quá rõ, tôi có thể thấy ngay ý nghĩ anh đang ở nơi khác, tôi còn nhận thấy nỗi bồn chồn xen lẫn chờ đợi bên dưới tấm mặt nạ anh vẫn quen mang.

Cuối cùng anh giật mình, mắt sáng lên.

Có tiếng chuông cửa.

Phút sau chúng tôi nghe có tiếng chân bước trên cầu thang, rồi một người đàn ông lớn tuổi mặt đỏ au, râu quai nón đã điểm hoa râm được dẫn vào.

Ông ta xách một túi hành lí kiểu cũ ở tay phải, rồi đặt nó trên bàn.

"Ông Sherlock Holmes có ở đây không?"

Bạn tôi khẽ cúi chào và mỉm cười.

"Ông là ông Sandeford ở Reading?"

Anh hỏi.

"Vâng, thưa ông, tôi rất xin lỗi vì đã tới hơi trễ, nhưng tàu chạy chậm quá.

Ông biên thư cho tôi về một tượng bán thân tôi có."

"Đúng vậy"

"Tôi có cầm theo lá thư của ông đây.

Ông viết: Tôi muốn có bản sao pho tượng Napoléon của Devine, và tôi sẵn lòng trả ông mười bảng cho pho tượng ông có.

Có đúng vậy không?"

"Chắc chắn rồi."

"Tôi rất ngạc nhiên khi nhận được thư của ông, vì tôi không hiểu nổi sao ông biết tôi sở hữu thứ ấy."

"Ông ngạc nhiên cũng phải thôi, nhưng lời giải thích lại rất ư đơn giản: Ông Harding ở Harding Brothers nói đã bán cho ông pho tượng cuối cùng và cho tôi địa chỉ của ông."

"Ồ, thế sao?

Ông ấy có nói tôi mua nó với giá cả thế nào không?"

"Không, ông ấy không nói."

"Vâng, tôi không giàu có lắm nhưng là người lương thiện.

Tôi mua chỉ với giá mười lăm shilling, và ông nên biết điều đó trước khi tôi nhận mười bảng của ông."

"Tôi kính trọng ông vì sự áy náy này, ông Sandeford.

Nhưng tôi đã nêu giá nên tôi vẫn trả theo mức đó."

"Vâng, ông tử tế quá, ông Holmes.

Tôi đã mang pho tượng như ông yêu cầu.

Nó đây!"

Ông ta mở túi xách và thế là cuối cùng, chúng tôi cũng được chiêm ngưỡng mẫu nguyên vẹn của bức tượng mà chúng tôi đã hơn một lần thấy các mảnh vụn.

Holmes lấy trong túi ra một tờ giấy và để mười bảng lên bàn.

"Ông Sandeford, xin ông vui lòng kí tên trước mặt mấy người làm chứng đây.

Biên bản này viết rằng ông đã chuyển mọi quyền ông có thể có với pho tượng sang cho tôi.

Xin ông hiểu cho, tôi là người kĩ tính mà ta không bao giờ biết sau này tình hình có thể xoay chuyển thế nào.

Cảm ơn ông, ông Sandeford, tiền của ông đây và tôi xin chúc ông một buổi tối tốt lành."

Khi người khách của chúng tôi đi khuất, một loạt các động tác của Sherlock Holmes khiến chúng tôi phải dán mắt theo dõi.

Đầu tiên anh lấy một tấm vải trắng sạch trong ngăn kéo và trải lên bàn.

Đoạn, anh đặt pho tượng vừa mua vào giữa.

Cuối cùng, anh cầm khẩu súng săn và phang một cú thật mạnh vào đỉnh tượng Napoléon.

Pho tượng vỡ tan và Holmes hăm hở khom mình bên mấy mảnh vỡ tan tác.

Nháy mắt sau, anh đã kêu một tiếng đắc thắng, cầm lên một mảnh vỡ bên trong dính một vật đen tròn như quả mận trong chiếc bánh pudding.

"Quý vị", anh kêu lên, "cho phép tôi giới thiệu viên ngọc trai đen lừng danh của dòng họ Borgia."

Trong chốc lát, Lestrade và tôi ngồi lặng đi, rồi bởi một thôi thúc bất chợt, cả hai bật dậy vỗ tay như trước cao trào một vở kịch được dàn dựng tài tình.

Đôi gò má xanh xao của Holmes chợt ửng hồng, rồi anh khẽ cúi chào như một nhà soạn kịch bậc thầy đón nhận sự kính trọng của khán giả.

Chính những lúc như vậy, anh không còn là cái máy suy luận, mà giống một con người thích được ngưỡng mộ và tán thưởng.

Con người kiêu hãnh nhưng dè dặt lạ kì, vẫn thường khinh khi ngoảnh mặt quay lưng với tiếng tăm ấy cũng biết xúc động vì sự thán phục và khen ngợi chân thành từ bạn bè.

"Đúng thế, quý vị", anh nói, "đây là viên ngọc trai nổi tiếng nhất hiện tồn tại trên thế giới, và nhờ một chuỗi suy luận chặt chẽ, tôi đã lần theo dấu vết của nó từ phòng ngủ của ông hoàng xứ Colonna tại khách sạn Dacre, nơi nó bị đánh cắp, đến ruột pho tượng Napoléon cuối cùng trong loạt sáu tượng do Công ty Gelder ở Stepney sản xuất.

Lestrade, ông sẽ nhớ lại dư luận đã xôn xao thế nào khi bảo vật vô giá này biến mất và cảnh sát London đã truy tìm nhưng chẳng thu được kết quả gì.

Các vị đã tham khảo ý kiến của tôi, nhưng tôi cũng không giúp được gì.

Nghi ngờ dồn lên cô hầu gái người Ý của bà hoàng.

Hóa ra, cô ta có một người anh ở London, nhưng lúc trước chúng ta không dò ra mối liên hệ giữa họ.

Tên cô hầu là Lucretia Venucci, nên tôi đoán nạn nhân Pietro bị giết hồi hai đêm trước là anh cô ả.

Tôi tìm ngày tháng trong mấy tập báo cũ có bài liên quan tới vụ việc đó và thấy rằng viên ngọc trai biến mất đúng hai ngày trước khi Beppo bị bắt vì tội hành hung, vào thời điểm Công ty Gelder đang làm lô tượng kia.

Giờ các anh đã thấy rõ trình tự vụ việc, dù dĩ nhiên theo hướng ngược lại cách chúng bày ra trước mắt tôi.

Beppo có được viên ngọc trai.

Hắn có thể đánh cắp từ chỗ Pietro hoặc là đồng phạm với gã kia, hoặc cũng có thể là người trung gian giữa Pietro và em gái.

Nhưng dù hắn đóng vai trò gì cũng đều không quan trọng.

Quan trọng là hắn đã có viên ngọc trai, và đúng lúc đang giữ nó trong người, hắn lại bị cảnh sát truy bắt.

Hắn chạy về công ty, biết mình chỉ có mấy phút để giấu của trời cho quý giá vô ngần này, nếu không cảnh sát sẽ tìm thấy nó trên người hắn khi khám xét.

Sáu tượng thạch cao Napoléon đang phơi ngoài hành lang.

Một trong đó còn mềm.

Trong tích tắc, Beppo, một công nhân lành nghề, khoét một lỗ nhỏ trong thạch cao ướt, nhét viên ngọc trai vào và miết vài cái để che lại.

Đó là một nơi cất giấu tuyệt vời mà không ai ngờ được.

Nhưng Beppo bị tù một năm và trong thời gian đó, sáu pho tượng tản mát khắp London.

Hắn không biết tượng nào chứa báu vật của mình.

Hắn chỉ còn cách đập ra.

Có lắc hắn cũng không biết, vì khi thạch cao ẩm thì có lẽ viên ngọc trai đã dính vào - quả đúng là vậy.

Beppo không nản chí, nên hắn kiên trì tìm kiếm.

Qua một người em họ làm cho Gelder, hắn biết các cửa hàng bán lẻ đã mua mấy pho tượng.

Hắn xoay xở tìm việc làm ở chỗ Morse Hudson, bằng cách ấy dò ra được chủ nhân hiện tại của ba pho tượng.

Viên ngọc trai không có ở đó.

Thế rồi, được một nhân công Ý nào đó giúp, hắn biết ba tượng còn lại đi đâu.

Tượng thứ nhất tại nhà Harker.

Hắn bị đồng bọn đón lỏng tại đó.

Kẻ này cho rằng Beppo có trách nhiệm trong chuyện viên ngọc trai biến mất, hai kẻ ẩu đả và Beppo đã giết chết người kia."

"Nếu nạn nhân là đồng bọn của hắn, vậy tại sao gã lại cầm theo tấm hình?"

Tôi hỏi.

"Như một phương tiện giúp gã hỏi dò về Beppo.

Hiển nhiên là vậy.

Sau vụ án mạng, tôi đoán có lẽ Beppo sẽ không trì hoãn, mà sẽ nhanh chóng hành động tiếp.

Hắn sợ cảnh sát đoán ra bí mật của mình nên phải nhanh chân hơn trước khi họ bắt kịp.

Dĩ nhiên lúc đó tôi không biết chắc hắn chưa tìm thấy viên ngọc trai trong tượng của Harker.

Thậm chí tôi cũng chưa kết luận được chắc chắn hắn đang tìm viên ngọc trai; nhưng tôi thấy rõ hắn đang tìm gì đó, vì hắn đem pho tượng đi qua mấy nhà kia để đập trong khu vườn có ánh đèn chiếu tới.

Vì tượng của Harker là một trong ba tượng của cửa hàng Harding Brothers, nên khả năng hai ăn một là viên ngọc trai nằm trong đó.

Còn lại hai tượng, nên đương nhiên hắn sẽ đi tìm bức ở London trước.

Tôi dặn trước người trong nhà để tránh thảm kịch thứ hai, rồi chúng ta tới đón lõng và cuối cùng bắt được tay Beppo kia.

Tất nhiên đến lúc đó, tôi đã biết chắc ta đang theo đuổi viên ngọc trai Borgia.

Tên tuổi nạn nhân đã nối sự kiện này với sự kiện kia.

Vậy là chỉ còn lại một tượng duy nhất - tượng ở Reading - nên viên ngọc trai phải ở trong đó.

Tôi mua lại nó từ chỗ chủ nhân khi có mặt các anh - và thế là nó nằm đây."

Chúng tôi ngồi im một lát.

"Thôi được", Lestrade nói, "tôi thấy ông giải quyết nhiều vụ rồi, ông Holmes, nhưng tôi chưa thấy vụ nào chuyên nghiệp hơn.

Ở Sở Cảnh sát London, chúng tôi không ganh tị với ông.

Không, thưa ông, chúng tôi rất tự hào về ông, và nếu mai ông đến, hẳn từ thanh tra già nhất đến viên cảnh sát trẻ nhất, tất cả đều sung sướng được bắt tay ông."

"Cảm ơn ông!"

Holmes nói.

"Cảm ơn!"

Khi anh quay đi, tôi thấy dường như anh suýt khóc trước tình cảm của người khác dành cho mình.

Tích tắc sau, anh lại trở về là con người suy nghĩ lạnh lùng thực tế.

"Cất viên ngọc trai vào két sắt đi, Watson", anh nói, "rồi lấy mấy tờ báo về vụ giả mạo Conk Singleton ra.

Tạm biệt, Lestrade.

Nếu ông có gặp rắc rối nho nhỏ nào, tôi sẽ sẵn lòng cho ông một đôi manh mối để giải đáp nếu có thể."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
BA CHÀNG SINH VIÊN (The Three Students, 1904)


Vào năm 1895, một loạt sự kiện mà tôi không muốn đi sâu ở đây đã khiến Sherlock Holmes và tôi phải lưu lại vài tuần tại một thành phố đại học của Anh.

Cũng chính trong thời gian này, chúng tôi đã dấn thân vào một cuộc phiêu lưu nho nhỏ nhưng cuốn hút sắp được tôi kể ra đây.

Hiển nhiên tiết lộ bất cứ chi tiết nào khiến độc giả nhận ra trường đại học hay kẻ phạm tội cũng đều là khinh suất và gây nhiều phiền phức.

Một vụ tai tiếng có thể làm ảnh hưởng tới nhiều người như vậy nên chìm trong quên lãng.

Tuy nhiên, nếu sự việc được mô tả thận trọng và đúng mực, nó sẽ làm sáng rõ một số phẩm chất nổi bật của bạn tôi.

Vì vậy trong khi trình bày, tôi sẽ cố tránh dùng những từ có thể giới hạn các sự việc vào một nơi chốn cụ thể, hay gợi ý về danh tính của những người có liên quan.

Hồi ấy, chúng tôi ngụ tại một nhà trọ tiện nghi gần thư viện mà Sherlock Holmes năng lui tới để làm một vài nghiên cứu về hiến chương Anh thời đầu (chúng đã đưa đến các thành quả nổi bật, có thể là đề tài cho những câu chuyện tôi kể sau này).

Một tối nọ, cũng chính tại căn nhà trọ đó, chúng tôi đã tiếp ông Hilton Soames, thầy phụ đạo và giảng viên của Đại học St.

Luke.

Thầy Soames cao gầy, dễ bị căng thẳng và kích động.

Xưa nay tôi vẫn biết ông hay bồn chồn, nhưng riêng dịp này, ông lại bối rối đến không kiềm chế nổi, cho thấy rõ có chuyện bất thường đã xảy ra.

"Thưa ông Holmes, tôi rất mong được ông dành cho vài giờ quý báu.

Một sự việc rất khó xử vừa xảy ra tại St.

Luke và quả thực, nếu không nhờ may mắn đưa ông tới thành phố này thì tôi chẳng biết xoay xỏa ra sao."

"Giờ tôi rất bận nên không muốn bị xao lãng", bạn tôi đáp.

"Tôi chân thành khuyên thầy nên nhờ cảnh sát thì hơn."

"Không được đâu, thưa ông, hoàn toàn không thể dùng phương cách đó.

Khi bánh xe luật pháp đã chuyển động thì không gì có thể dừng nó lại cho tới khi sự việc sáng tỏ.

Nhưng khổ nỗi, đây lại là một vụ mà vì uy tín của trường, điều cốt yếu nhất là tránh tai tiếng, ông Holmes, ông không những nổi danh vì tài phá án, mà còn vì sự kín kẽ.

Trên đời này chỉ có ông giúp được tôi thôi, ông Holmes, xin ông hãy giúp tôi."

Kể từ hồi rời khỏi môi trường quen thuộc của phố Baker, tâm trạng bạn tôi vẫn chưa khá lên mấy.

Thiếu mấy cuốn sổ ghi chú, dăm lọ hóa chất và cái bừa bộn ở nhà, anh không được thoải mái.

Anh nhún vai ra chiều miễn cưỡng chấp thuận, trong khi vị khách của chúng tôi liến thoắng kể câu chuyện của mình.

"Thưa ông Holmes, mai là ngày bắt đầu kì thi giành học bổng Fortescue.

Tôi là giám khảo môn tiếng Hi Lạp.

Tôi ra đề là một bài dịch khá dài mà chưa thí sinh nào làm qua.

Nó đã được đem đi in và vì học bổng rất có giá trị nên nếu thí sinh nào biết trước đề, người đó sẽ có lợi thế rất lớn.

Bởi lẽ đó, chúng tôi phải hết sức cẩn thận trong việc giữ kín đề thi.

Khoảng 3 giờ chiều nay, thợ in gửi bản in thử tới.

Đề gồm nửa chương bản thảo của sử gia Thucydides.

Tôi phải soát thật cẩn thận để đảm bảo đề bài tuyệt đối chính xác.

Tới 4 rưỡi, tôi vẫn chưa đọc xong, nhưng vì đã hứa đi dùng trà cùng một người bạn, tôi đành để bản in thử trên bàn làm việc và vắng mặt khoảng một tiếng đồng hồ.

Ông Holmes, ông cũng biết rằng các cửa của trường tôi là cửa kép, bên trong là cửa bọc nỉ, bên ngoài là cửa gỗ sồi.

Khi lại gần cửa ngoài, tôi kinh ngạc thấy chìa khóa cắm trong ổ.

Thoạt đầu, tôi ngỡ là khi đi mình đãng trí quên rút chìa nhưng lúc sờ vào túi, tôi thấy chìa của tôi trong đó.

Theo như tôi biết thì chỉ còn một chìa nữa do người hầu của tôi, tên là Bannister giữ.

Ông ta làm việc cho tôi đã mười năm nay và tuyệt đối ngay thẳng.

Sau khi hỏi ra, tôi biết cái chìa kia đúng là của ông ta.

Bannister đã vào phòng để hỏi tôi có muốn dùng trà không và quên rút chìa khi ra ngoài.

Chắc ông ta chỉ ở trong phòng tôi vài phút lúc tôi vắng mặt.

Trong những dịp khác, sự đểnh đoảng này cũng chẳng việc gì, nhưng vào ngày hôm nay, nó thật tai hại.

Nhìn lên bàn là tôi biết có người lục lọi giấy tờ.

Đề thi gồm ba trang.

Trước khi đi, tôi để chúng ở cùng một chỗ.

Nhưng khi ấy, tôi thấy một trang nằm trên sàn, một trang tại cái bàn kê sát cửa sổ, còn một trang vẫn ở vị trí cũ."

Holmes nhấp nhổm lần đầu tiên.

"Trang đầu ở trên sàn, trang thứ hai dưới cửa sổ còn trang thứ ba ở chỗ cũ", anh nói.

"Chính thế, thưa ông Holmes.

Ông làm tôi ngạc nhiên quá.

Làm sao ông biết?"

"Mời thầy tiếp tục câu chuyện rất thú vị của mình."

"Lúc đầu, tôi cho rằng Bannister đã tự tiện xem giấy tờ của tôi, nhưng ông ta một mực phủ nhận với thái độ cực kì thành thật, nên tôi chắc chắn ông ta không nói dối.

Nếu vậy thì phải có người đi ngang qua, để ý thấy chìa khóa cắm ở cửa, biết tôi đã ra ngoài rồi nên vào xem trộm đề thi.

Vì học bổng rất có giá trị nên một kẻ vô liêm sỉ rất có thể liều để giành lợi thế so với các thí sinh khác.

Bannister rất khổ sở về sự này.

Ông ta suýt ngất khi chúng tôi nhận thấy đề thi bị xem trộm.

Tôi cho ông ta uống chút rượu brandy, để ông ta ngồi xuống ghế còn tôi kiểm tra phòng thật kĩ lưỡng.

Tôi thấy ngay là ngoài đống giấy tờ lộn xộn, kẻ đột nhập còn để lại một vài dấu vết khác.

Trên cái bàn kê bên cửa sổ có vài mảnh vỏ bút chì được chuốt ra.

Một đầu chì gãy cũng nằm đó.

Rõ ràng là tên ma lanh kia vội vàng chép lại đề thi, làm gãy bút chì nên buộc phải chuốt lại mũi chì."

"Tuyệt lắm!"

Holmes vui vẻ lại khi sự việc càng lúc càng cuốn hút anh.

"Thầy gặp may đấy."

"Chưa hết.

Tôi có một cái bàn mới, được phủ da màu đỏ rất đẹp.

Cả tôi và Bannister đều sẵn sàng cam đoan là nó láng mịn và không có lấy một tì vết.

Ấy thế mà lúc đó tôi lại phát hiện trên bàn có một vết rách dài độ ba inch - không phải vết xước, mà là vết rách rõ ràng.

Không chỉ vậy, trên bàn còn có một mẩu bột đen hay đất sét nhỏ, lấm tấm gì đó như mùn cưa.

Tôi tin chắc những dấu vết kia là do kẻ lục lọi đề thi để lại.

Không có dấu chân và chúng cớ nào khác tiết lộ danh tính của hắn.

Tôi đang không biết làm thế nào thì chợt nhớ ra ông đang ở trong thành phố nên vội vàng đến nhờ ông.

Ông Holmes, xin hãy giúp tôi!

Ông hiểu tình thế khó xử của tôi rồi đấy.

Hoặc tôi phải tìm cho ra người này, hoặc phải hoãn kì thi đến khi chuẩn bị xong đề bài mới.

Nhưng nếu chọn hoãn kì thi tôi buộc phải đưa ra lời giải thích, mà làm thế chẳng khác nào gieo tiếng xấu cho nhà trường.

Vì vậy, tôi mong vấn đề được dàn xếp kín đáo và trong im lặng."

"Tôi sẵn lòng tìm hiểu vụ này và tư vấn cho thầy theo khả năng mình", Holmes nói, đứng lên mặc áo khoác.

"Vụ này không đến nỗi vô vị.

Có ai tới gặp thầy sau khi bản in thử được chuyển tới không?"

"Có, cậu sinh viên người Ấn, Daulat Ras, cũng sống trong ngôi nhà đó.

Cậu ta vào hỏi tôi về kì thi."

"Cậu ta tham gia kì thi?"

"Phải."

"Mà đề thi để trên bàn?"

"Tôi chắc chắn lúc đó đề thi vẫn được cuộn lại."

"Nhưng cậu ta có thể đoán ra đó là bản in thử chứ?"

"Có lẽ."

"Sau đó không còn ai vào phòng của thầy nữa?"

"Vâng."

"Có ai biết bản in thử sẽ ở chỗ thầy không?"

"Không ai, trừ thợ in."

"Bannister có biết không?"

"Không, đương nhiên là không.

Không ai biết hết"

"Hiện giờ Bannister ở đâu?"

"Tội nghiệp, ông ta đang mệt lắm.

Tôi để ông ta ngồi lại ghế rồi vội đến gặp ông."

"Thầy để cửa mở sao?"

"Tôi khóa cất đề thi rồi."

"Thầy Soames, chúng ta có thể suy luận thế này: Nếu cậu sinh viên người Ấn không nhận ra cuộn giấy trên bàn là bản in thử, vậy kẻ chúng ta cần tìm chỉ vô tình biết bản in thử ở đó."

"Có lẽ vậy."

Holmes cười bí hiểm.

"Thôi được," anh nói, "chúng ta sẽ đến phòng của thầy xem xét.

Watson thân mến, đây không phải vụ dành cho anh.

Nó cần đến óc suy luận chứ không phải kĩ năng y khoa.

Nhưng nếu anh muốn thì cứ đi.

Nào thầy Soames, tôi đã sẵn sàng phục vụ thầy!"

Phòng làm việc của thân chủ chúng tôi có cửa sổ thấp, gắn lưới sắt và nhìn ra khoảng sân rêu phong của ngôi trường cổ kính.

Cửa chính hình vòm kiểu Gothic dẫn đến cái cầu thang đá đã mòn nhẵn.

Ở tầng một là phòng của ông thầy.

Ba cậu sinh viên ở các tầng trên, mỗi người một tầng.

Khi chúng tôi tới hiện trường xảy ra vụ việc, trời đã nhập nhoạng tối.

Holmes đứng ở ngoài ngôi nhà và chăm chủ quan sát ô cửa sổ.

Sau đó, anh tiến tới lối kiễng chân nghễn cổ nhìn vào phòng.

"Hắn phải vào qua ngả cửa chính.

Cửa sổ không có khe hở nào ngoài ô kính đó", thầy Soames nói.

"Vậy sao?"

Holmes nói và nở nụ cười kì quặc khi liếc nhìn ông bạn đồng hành của chúng tôi.

"Được rồi, nếu ở đây không còn gì để tìm hiểu thêm, chúng ta vào trong thôi."

Ông giảng viên mở cửa ngoài rồi dẫn chúng tôi vào phòng.

Chúng tôi dừng ở cửa khi Holmes kiểm tra tấm thảm.

"Tôi e là ở đây không có dấu vết gì", anh nói.

"Thật khó mà trông mong tìm được thứ đó vào một ngày khô ráo thế này.

Xem ra người hầu của thầy đã khỏe lại rồi.

Thầy bảo đã để ông ta ngồi xuống ghế.

Cái ghế nào vậy?"

"Cái bên cửa sổ."

"Tôi hiểu rồi, gần cái bàn nhỏ này.

Giờ hai người vào được rồi.

Tôi đã xong với tấm thảm.

Ta hãy xem xét cái bàn nhỏ trước.

Tất nhiên, chuyện xảy ra đã rõ quá rồi.

Người này bước vào, cầm từng tờ đề thi ở bàn giữa phòng lên và đem tới bàn cạnh cửa sổ.

Hắn cho rằng từ chỗ đó, hắn sẽ thấy thầy đi qua sân để về phòng và kịp thời chuồn êm thấm."

"Nhưng hắn đã không thấy", thầy Soames nói, "vì tôi vào bằng cửa hông."

"A, vậy thì tốt!

Nhưng nói tóm lại, hắn đã tính toán vậy đấy.

Cho tôi xem ba tờ giấy nào.

Không có dấu tay.

Hắn cầm tờ này qua trước và chép lại.

Nếu viết tháu hết mức, hắn sẽ mất bao lâu nhỉ?

Ít nhất là mười lăm phút.

Rồi hắn vứt tờ đó xuống và cầm tờ kế lên.

Hắn đang chép dở thì thầy về nên hắn phải vội rút lui - rất vội, nên không kịp để đề thi về chỗ cũ.

Nhờ thế mà thầy biết có kẻ lục lọi giấy tờ.

Khi tới cửa ngoài, thầy không nghe thấy tiếng chân vội chạy trên cầu thang sao?"

"Không."

"Chà, như thầy nhận thấy, hắn viết mạnh đến mức làm gãy ngòi chì và phải chuốt lại.

Cái này đáng chú ý đấy Watson.

Đây không phải loại bút chì thường.

Nó lớn hơn cỡ thường, có ruột chì mềm, vỏ màu xanh đen, tên nhà sản xuất bằng chữ bạc và chỉ còn dài độ bốn phân.

Thầy Soames, hãy tìm cây bút chì như vậy và thầy sẽ tóm được thủ phạm.

Để thầy dễ dàng tìm ra kẻ kia hơn, tôi xin bổ sung là hắn có một con dao bản to, rất cùn."

Thầy Soames hơi choáng ngợp trước hàng loạt các thông tin vừa ập tới.

"Tôi theo kịp ông ở một sổ điểm", ông ta nói, "nhưng về chiều dài..."

Holmes chìa ra một mảnh vỏ bút chì nhỏ chỉ có vỏn vẹn mấy chữ NN.

"Thầy hiểu rồi chứ?"

"E là tới giờ, tôi cũng chưa..."

"Watson, NN có thể là gì?

Nó là hai chữ cuối của một từ.

Anh biết Johann Faber là tên nhà sản xuất bút chì phổ biến nhất.

Vậy chẳng rõ là khúc bút chì còn lại chứa từ đằng sau sao?"

Anh nghiêng cái bàn nhỏ ra trước bóng đèn điện.

"Nếu hắn viết trên giấy mỏng thì nét chữ sẽ hằn xuống mặt phẳng nhẵn bóng này.

Không, tôi không thấy gì cả.

Ở đây không còn gì để tìm hiểu thêm.

Giờ đến cái bàn giữa.

Tôi đoán chừng đây là mẩu bột đen dính mùn cưa thầy nói đến.

Theo tôi thấy thì nó có dạng gần như hình chóp và lõm vào trong.

Đúng như thầy nói, có vẻ nó dính mùn cưa.

A, cái này thú vị đây.

Một vết rách rất rõ ràng.

Nó bắt đầu bằng một vệt xước nông và kết thúc bằng cái lỗ rách xơ ra.

Thầy Soames, cảm ơn thầy đã cho tôi biết về vụ này.

Mà cánh cửa lớn đó dẫn vào đâu?"

"Vào phòng ngủ của tôi."

"Kể từ lúc xảy ra chuyện, thầy có vào phòng đó lần nào không?"

"Chưa, tôi bỏ đi tìm ông ngay."

"Tôi muốn xem qua một chút.

Phòng kiểu xưa, đẹp thật!

Có lẽ thầy sẽ vui lòng chờ tôi kiểm tra xong sàn nhà.

Không, tôi không thấy gì cả.

Vậy còn tấm rèm này?

Thầy treo quần áo ở đằng sau.

Nếu ai đó muốn trốn trong phòng này thì hắn phải nấp ở đây, vì giường quá thấp còn tủ quần áo quá hẹp.

Chắc giờ chẳng có ai trong đó đâu nhỉ?"

Nhìn điệu bộ hơi cứng nhắc và cảnh giác của Holmes khi vén rèm, tôi biết anh đã sẵn sàng đối phó với mọi sự.

Nhưng sau tấm rèm chẳng có gì ngoài vài ba bộ đồ treo trên một hàng móc áo.

Holmes quay gót rồi bất ngờ cúi xuống sàn.

"Ô la la!

Cái gì đây?"

Anh nói.

Đó là một mẩu nhỏ màu đen dạng hình chóp, giống hệt mẩu trên bàn ngoài phòng làm việc.

Holmes cầm lên tay và soi dưới ánh đèn điện.

"Thầy Soames này, xem ra vị khách của thầy để lại dấu vết cả trong phòng ngủ lẫn phòng khách."

"Hắn vào đây làm gì?"

"Mục đích của hắn đã quá rõ.

Thầy trở về theo hướng hắn không liệu trước và mãi khi thầy tới cửa ngoài, hắn mới nhận ra.

Hắn còn làm gì được đây?

Hắn quơ lấy mọi thứ có thể tiết lộ danh tính của hắn và trốn vào phòng ngủ."

"Trời ơi, ông Holmes, ý ông là suốt thời gian tôi nói chuyện với Bannister ở phòng làm việc, chúng tôi đã giam hắn trong này mà không biết?"

"Đúng vậy?"

"Thưa ông Holmes, liệu còn khả năng nào khác không?

Ông đã quan sát cửa sổ phòng ngủ của tôi chưa?"

"Ô cửa mắt cáo, khung chì, ba ô kính riêng biệt, một ô có thể mở ra và đủ rộng cho một người chui vừa."

"Đúng vậy.

Nó dẫn ra một góc vườn khá khuất.

Gã này có thể đột nhập qua đấy, đi qua phòng ngủ và để lại dấu vết, rồi cuối cùng thoát ra ngoài qua cửa chính để ngỏ."

Holmes lắc đầu sốt ruột

"Thôi giờ chúng ta bắt đầu điều tra nào," anh nói.

"Thầy nói có ba sinh viên ở trong nhà này và thường đi qua cửa phòng làm việc của thầy?"

"Đúng vậy."

"Và cả ba đều dự thi?"

"Phải."

"Thấy có nghi ngờ ai trong số họ không?"

Soames ngần ngừ.

"Đây là một vấn đề rất tế nhị", ông ta nói.

"Tôi không muốn nghi ngờ ai khi chưa có bằng chứng."

"Cứ nói cho tôi nghi ngờ.

Tôi sẽ tìm bằng chứng."

"Vậy thì để tôi cho ông biết vắn tắt về ba người họ.

Sống ở tầng hai là Gilchrist, một sinh viên và vận động viên giỏi.

Cậu ta chơi trong đội bóng bầu dục và đội cricket của trường, đồng thời là quán quân chạy vượt rào và nhảy xa.

Cậu ta là người tử tế.

Cha cậu ta là ngài Jabez Gilchrist, một quý tộc vì cá độ đua ngựa mà tán gia bại sản rồi qua đời, để lại anh sinh viên của tôi sống trong cảnh nghèo túng.

Nhưng cậu ta chăm chỉ và cần cù nên sẽ có ngày khấm khá.

Daulat Ras người Ấn ngụ ở tầng ba.

Cậu ta trầm tính và sống khép kín như dân Ấn đa phần vẫn vậy.

Cậu ta học tốt nhưng yếu ở môn tiếng Hi Lạp.

Cậu ta chăm học và sống ngăn nắp.

Sống ở tầng trên cùng là Miles McLaren.

Cậu ta rất sáng dạ, có khi phải nhất trường, nhưng lại lười học, ương ngạnh, ăn chơi trác táng và vô kỉ luật.

Cậu ta suýt bị đuổi học ngay trong năm nhất vì dính vào một vụ bài bạc.

Cả học kì này, cậu ta toàn rong chơi nên hẳn sẽ khiếp đảm trước kì thi này."

"Vậy thầy nghi ngờ người thứ ba?"

"Tôi không nói vậy.

Nhưng trong ba người, cậu McLaren dám làm chuyện kia nhất."

"Quả vậy.

Thầy Soames này, tôi muốn gặp người hầu Bannister của thầy."

Đó là một người đàn ông nhỏ thó, mặt trắng bệch, mày râu nhẵn nhụi, tóc hoa râm, độ năm mươi tuổi.

Ông ta hãy còn buồn bã trước biến cố vừa rồi.

Gương mặt đầy đặn nhăn lại vì lo lắng, còn mấy ngón tay không làm sao yên được.

"Bannister, chúng tôi đang điều tra vụ không vui kia", chủ của ông ta nói.

"Vâng, thưa ông."

"Hẳn ông đã bỏ quên chìa trên ổ khóa?"

Holmes hỏi.

"Phải, thưa ông."

"Việc ông quên chìa khóa vào đúng ngày có đề thi trong phòng không phải quá bất thường chứ?"

"Tôi rất lấy làm tiếc về chuyện đó, thưa ông.

Nhưng thỉnh thoảng tôi cũng đãng trí như vậy."

"Ông vào phòng khi nào?"

"Khoảng 4 giờ rưỡi.

Thầy Soames thường dùng trà vào giờ đó."

"Ông ở lại trong bao lâu?"

"Khi thấy ông chủ không có ở đây, tôi liền ra ngay."

"Ông có xem đề thi này trên bàn không?"

"Không, thưa ông, dĩ nhiên là không."

"Sao ông quên chìa khóa ở cửa?"

"Tay tôi bận bưng khay trà.

Tôi tự nhủ sẽ quay lại lấy rồi quên khuấy mất."

"Cửa ngoài có chốt lẩy không?"

"Không, thưa ông."

"Vậy là cửa mở suốt thời gian đó?"

"Phải, thưa ông."

"Ai trong phòng cũng ra được?"

"Đúng, thưa ông."

"Khi thầy Soames về và cho gọi ông, ông thấy rất khổ tâm?"

"Phải, thưa ông.

Suốt bao năm tôi ở đây, chuyện như vậy chưa từng xảy ra.

Tôi đã suýt ngất, thưa ông."

"Tôi hiểu, ông đã ngồi đâu khi bắt đầu thấy choáng váng?"

"Tôi ở đâu ấy ạ?

Tất nhiên là trong phòng này, ở ghế gần cửa."

"Ông ngồi ở chỗ đó kể ra cũng lạ.

Sao ông không ngồi ở những cái ghế khác?"

"Tôi cũng không rõ nữa, thưa ông.

Tôi thấy ngồi đâu cũng được."

"Ông Holmes, tôi thật lòng nghĩ ông ta không để ý xem mình ngồi ở đâu đâu.

Lúc ấy trông ông ta tệ lắm, mặt mũi cứ tái xanh tái mét cả."

"Ông vẫn ngồi đây khi ông chủ rời đi?"

"Chỉ độ vài phút thôi.

Sau đó tôi khóa cửa và về phòng mình."

"Ông nghi ngờ ai?"

"Tôi không nghi một ai, thưa ông.

Tôi không tin có ai trong trường này lại có thể trục lợi bằng cách kia."

"Cảm ơn ông, vậy là đủ rồi", Holmes nói.

"À, còn một chuyện nữa.

Ông chưa nói cho ai trong ba sinh viên kia biết chuyện chứ?"

"Chưa, thưa ông.

Tôi chưa nói một tiếng nào."

"Ông chưa gặp ai sao?"

"Chưa, thưa ông."

"Tốt lắm.

Thầy Soames này, nếu thầy bằng lòng thì chúng ta sẽ đi dạo trong sân một lát."

Từ sân nhìn lên, chúng tôi thấy ánh đèn điện vàng vọt hắt ra từ cả ba ô cửa sổ.

"Ba chú chim đều ở trong ổ", Holmes nói.

"Ồ!

Cái gì kia?

Một người có vẻ đang bồn chồn."

Đó là cậu người Ấn đang đi tới đi lui trong phòng và cái bóng của cậu ta in lên rèm.

"Tôi muốn ngó qua từng người một", Holmes nói.

"Vậy có được không nhỉ?"

"Dễ thôi", Soames trả lời.

"Dãy phòng này thuộc loại cổ nhất trong trường, vì vậy chuyện có khách tới tham quan cũng không hề lạ.

Mời các ông đi theo tôi, tôi sẽ dẫn đường."

"Ông nhớ đừng gọi tên chúng tôi đấy nhé!"

Holmes nói khi chúng tôi gõ cửa phòng Gilchrist.

Một thanh niên cao gầy, tóc hoe vàng ra mở cửa rồi niềm nở mời chúng tôi vào khi biết mục đích chuyến viếng thăm.

Phòng vẫn còn lại vài bức phù điêu đẹp đẽ thời Trung cổ.

Holmes mê mẩn một bức đến độ đòi vẽ nó vào cuốn sổ tay cho kì được.

Anh làm gãy bút chì nên đành hỏi mượn một cái của chủ nhân căn phòng, rồi sau đó mượn thêm dao để chuốt.

Vận xui kì lạ đó tiếp tục bám theo anh tại phòng cậu người Ấn.

Đó là một gã trầm lặng, nhỏ thó, mũi khoằm, cứ gườm gườm nhìn chúng tôi suốt và mừng ra mặt khi Holmes nghiên cứu xong mấy bức phù điêu.

Tuy nhiên tại cả hai phòng, tôi đều không thấy Holmes bắt được manh mối cần tìm.

Đến phòng thứ ba, mánh của Holmes thất bại từ trong trứng nước.

Chúng tôi gõ cửa nhưng chủ nhân căn phòng không chịu mở, đã thế còn tặng chúng tôi một tràng chửi rủa.

"Tôi cóc cần biết mấy người là ai.

Mấy người đi phứt cho nhờ!"

Giọng giận dữ gầm lên.

"Tôi bận ôn thi, các người nghe rõ chưa?"

"Một gã thô lỗ", người dẫn đường của chúng tôi nói, đỏ mặt giận dữ khi chúng tôi xuống nhà.

"Tất nhiên cậu ta không biết tôi là người gõ cửa.

Nhưng kể cả vậy thì cậu ta cũng quả là bất lịch sự và lối cư xử đó thật đáng ngờ trong hoàn cảnh này."

Phản ứng của Holmes khá kì lạ.

"Ông có thể cho tôi biết chiều cao chính xác của cậu này không?"

Anh hỏi.

"Ông Holmes, tôi quả thật không biết chắc cậu ta cao hơn cậu người Ấn nhưng thấp hơn Gilchrist.

Chắc tầm năm foot sáu."

"Chuyện đó rất quan trọng", Holmes nói.

"Còn giờ xin chúc thầy Soames ngủ ngon."

Người dẫn đường của chúng tôi kêu lên tỏ ý kinh ngạc và thất vọng, "Ôi, ông Holmes, ông không định bỏ tôi đường đột thế này chứ?

Hình như ông chưa nhận ra tình thế.

Mai là thi rồi.

Tối nay tôi buộc phải đưa ra quyết định dứt khoát.

Tôi không thể để kì thi diễn ra khi đề thi bị lộ.

Tôi phải làm gì đó."

"Ông cứ để nguyên vậy đi.

Sớm mai tôi sẽ ghé rồi bàn về việc này, có thể lúc đó tôi đã nắm được những tình tiết mới giúp ông thoát khỏi tình cảnh này.

Còn từ giờ tới đó, ông đừng thay đổi gì cả."

"Đành vậy."

"Ông yên tâm.

Nhất định chúng tôi sẽ tìm được cách giúp ông thoát khỏi rắc rối.

Tôi sẽ đem hai mẩu đất đen và mảnh vỏ bút chì về.

Xin chào ông!"

Bước ra khoảng sân tối om, chúng tôi ngước nhìn ngôi nhà một lần nữa.

Cậu người Ấn vẫn đi tới đi lui trong phòng, nhưng chúng tôi không thấy bóng dáng hai người kia đâu.

"Watson này, anh nghĩ sao?"

Holmes hỏi khi chúng tôi tiến ra đường lớn.

"Tôi thấy chúng ta như đang chơi trò loại trừ vậy.

Anh có ba người.

Thủ phạm phải là một trong số họ.

Anh chọn đi.

Anh chọn ai nào?"

"Gã ăn nói lỗ mãng ở tầng trên cùng.

Hắn là kẻ 'có tiếng' nhất.

Nhưng gã người Ấn có vẻ ranh ma.

Và sao cậu ta cứ đi lại trong phòng suốt vậy?"

"Cũng không có gì đâu.

Nhiều người thường làm vậy khi học thuộc lòng."

"Cách cậu ta nhìn chúng ta rất đáng ngờ."

"Anh cũng sẽ như vậy nếu bị một toán người lạ làm phiền trong khi ngày mai anh có một kì thi quan trọng và mọi phút chuẩn bị đều đáng quý.

Không, những chi tiết đó cùng với bút chì và dao, tất thảy đều thỏa đáng.

Nhưng gã đó lại khiến tôi rối trí."

"Ai?"

"Gã người hầu Bannister chứ ai, ông ta đang toan tính gì đây?"

"Tôi thấy ông ta là người trung hậu."

"Tôi cũng thấy vậy.

Đó chính là chỗ khó hiểu.

Sao một con người trung hậu như vậy lại...

À, có một tiệm văn phòng phẩm lớn này.

Ta sẽ bắt đầu tìm hiểu từ đấy."

Trong thành phố chỉ có bốn tiệm bán văn phòng phẩm chính và tại mỗi tiệm, Holmes đều đưa mấy mảnh vỏ bút chì ra và đồng ý trả nhiều tiền để mua cái bút giống vậy.

Nhưng mọi tiệm đều trả lời đây là loại bút chì có kích thước lạ và thường không có sẵn, tuy nhiên bạn tôi có thể đặt mua.

Bạn tôi không có vẻ chán nản vì thất bại, anh chỉ vui vẻ nhún vai chấp nhận.

"Không được rồi, Watson thân mến.

Manh mối rõ ràng và duy nhất này sẽ chẳng dẫn chúng ta tới đâu.

Nhưng tôi nghĩ chúng ta vẫn có thể làm rõ sự việc mà không cần đến nó.

Ôi trời, anh bạn ơi, bà chủ nhà đã dặn chúng ta về ăn tối lúc 7 rưỡi mà giờ đã là gần 9 giờ rồi Watson, với thói hút thuốc liên tu bất tận, lại còn ăn uống không đúng giờ đúng giấc, tôi thấy trước là anh và tôi sẽ sớm bị tống cổ đi thôi.

Nhưng trước hết, chúng ta phải giải quyết xong vấn đề của ông thầy đang lo sốt vó, gã người hầu bất cẩn và ba chàng sinh viên đang mong giành học bổng kia đã."

Trong vài tiếng còn lại của ngày hôm ấy, Holmes không nói gì thêm về sự việc dù anh ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi một lúc lâu sau bữa tối muộn.

8 giờ sáng hôm sau, anh vào phòng tôi vừa đúng lúc tôi sửa soạn xong.

"Nào, Watson," anh nói, "đến lúc chúng ta phải xuống St.

Luke rồi.

Anh có thể bỏ bữa điểm tâm chứ?"

"Được."

"Chừng nào chúng ta còn chưa báo cho thầy Soames một tin khả quan, ông ta hẳn sẽ còn đứng ngồi không yên."

"Anh có tin khả quan cho ông ta chưa?"

"Tôi nghĩ là rồi."

"Anh có kết luận rồi ư?"

"Đúng thế đấy, Watson thân mến.

Tôi giải được bí ẩn rồi."

"Nhưng anh đã có chứng cớ mới nào đâu?"

"À há!

Chẳng phải tự dưng mà tôi rời giường từ 6 giờ sáng, khi trời còn sớm bảnh ra.

Tôi đi bộ suốt hai giờ trên đoạn đường chí ít cũng phải năm dặm và cuối cùng cũng thu được gì đó.

Nhìn này!"

Anh xòe tay ra.

Trong lòng bàn tay anh là ba mẩu đất sét hình chóp màu đen.

"Ơ này, Holmes, hôm qua anh có hai mẩu thôi mà!"

"Rồi sáng nay có thêm một mẩu nữa.

Tôi lấy mẩu thứ ba ở nơi xuất phát của hai mẩu đầu tiên.

Sao thế, Watson?

Thôi, cùng tôi đi giải thoát ông bạn Soames khỏi nỗi phiền muộn nào."

Khi chúng tôi tới nơi, ông thầy khốn khổ đang đứng ngồi không yên.

Chỉ vài giờ nữa là kì thi bắt đầu, ấy vậy mà ông ta chưa biết nên công bố sự việc hay mặc thây cho kẻ gian trá tranh học bổng đáng giá.

Đầu óc căng như dây đàn khiến ông ta không ngồi yên nổi, vậy nên vừa thấy Holmes, ông ta đã chạy ào ra và dang tay đón mừng.

"Ơn trời ông đến rồi!

Tôi chỉ sợ ông cũng bó tay.

Tôi phải làm gì đây?

Kì thi có tiếp tục không?"

"Có.

Bất luận thế nào cũng phải để nó diễn ra."

"Nhưng còn tên vô lại kia?"

"Hắn sẽ không thi."

"Ông biết hắn là ai rồi sao?"

"Tôi nghĩ vậy.

Vì chuyện này phải được giữ kín nên chúng ta sẽ tự lập ra một tòa án binh nho nhỏ vậy.

Thầy Soames, mời thầy ngồi đằng kia!

Watson, anh ngồi đây!

Tôi sẽ ngồi ở ghế bành chính giữa.

Chúng ta đã đủ oai nghiêm để làm thủ phạm phải hoảng hốt rồi đấy.

Xin thầy vui lòng rung chuông!"

Bannister vào, ông ta suýt té ngửa vì ngạc nhiên và hốt hoảng trước phong thái pháp đình của chúng tôi.

"Ông vui lòng đóng cửa cho", Holmes nói.

"Giờ thì Bannister, ông vui lòng khai thật cho chúng tôi biết sự việc hôm qua chứ?"

Ông này tái mét tới tận chân tóc.

"Thưa ông, tôi đã thưa cả rồi."

"Không còn gì để kể thêm sao?"

"Không, thưa ông."

"Nếu vậy, tôi đành gợi ý cho ông vài điều.

Hôm qua khi ngồi xuống chiếc ghế đó, phải chăng ông có chủ đích che giấu một vật có thể tiết lộ danh tính kẻ đột nhập?"

Bannister tái mặt.

"Không, thưa ông.

Không hề."

"Chỉ là gợi ý thôi mà", Holmes khéo léo nói.

"Thú thật là tôi không thể chứng minh điều đó.

Nhưng chuyện đó xem ra rất có thể, vì thầy Soames vừa rời nhà là ông liền thả kẻ nấp trong phòng ngủ đi mất."

Bannister liếm đôi môi khô nẻ.

"Tôi không thả ai, thưa ông."

"A, đáng tiếc thật, Bannister à.

Có thể lúc trước ông nói thật, nhưng giờ tôi biết ông đang nói dối."

Người đàn ông tỏ vẻ sưng sỉa bất chấp.

"Không có ai cả, thưa ông."

"Thôi nào, Bannister!"

"Không, thưa ông.

Không có ai cả."

"Vậy là ông không thể cho chúng tôi thêm thông tin rồi.

Ông vui lòng ở lại trong phòng nhé?

Mời ông đứng gần cửa phòng ngủ.

Thầy Soames, thầy vui lòng lên phòng cậu Gilchrist và bảo cậu ta xuống đây."

Một loáng sau, ông thầy đã trở lại và dẫn theo chàng sinh viên nọ.

Cậu ta có dáng dấp đẹp đẽ, cao ráo, uyển chuyển và nhanh nhẹn, bước đi thoăn thoắt và gương mặt cởi mở, dễ gần.

Đôi mắt xanh tràn ngập lo âu nhìn từng người trong chúng tôi, rồi cuối cùng bàng hoàng dừng lại ở Bannister đang đứng trong góc đằng xa.

"Đóng cửa lại đã", Holmes nói.

"Này cậu Gilchrist, ở đây chỉ có chúng ta và không ai ngoài kia biết một chữ nào về chuyện này.

Chúng ta hoàn toàn có thể thẳng thắn nói chuyện với nhau.

Cậu Gilchrist, chúng tôi muốn biết làm sao mà một con người trọng danh dự như cậu lại làm cái chuyện như hôm qua chứ?"

Chàng trai khốn khổ loạng choạng bước lui và ném về Bannister một cái nhìn hoảng sợ pha lẫn trách móc.

"Không, không phải tôi đâu, thưa cậu Gilchrist.

Tôi không hề nói một chữ nào - không hé răng một chữ nào hết!"

Ông người hầu kêu lên.

"Phải, nhưng ông vừa nói đấy thôi", Holmes cất tiếng.

"Còn cậu, hẳn cậu thấy rằng sau lời nói vừa rồi của Bannister, cậu đã rơi vào tình thế vô vọng và cậu chỉ còn một cơ may duy nhất nếu thành khẩn khai thật."

Gilchrist giơ một bàn tay lên và cố kiềm nén vẻ uất ức hiện lên gương mặt trong chốc lát.

Sau đó, cậu ta quỳ thụp xuống cạnh bàn, hai tay ôm mặt và bật khóc.

"Nào, nào", Holmes nhẹ nhàng nói, "đời chẳng có ai là không phạm sai lầm và ít ra không ai có thể quy kết rằng cậu đã phạm tội ác tày trời.

Có lẽ sẽ đỡ hơn cho cậu nếu tôi kể lại sự vụ và nếu tôi sai ở chỗ nào thì cậu cứ đính chính.

Vậy được chứ?

Thôi, cậu không cần trả lời đâu.

Hãy nghe và cậu sẽ thấy tôi không hề nói oan cho cậu.

Thầy Soames, từ lúc thầy nói rằng không có ai, kể cả Bannister, biết đề thi ở trong phòng thầy, vụ này đã bắt đầu tựu hình rõ rệt trong đầu tôi.

Chúng ta có thể gạt thợ in ra khỏi diện nghi vấn.

Nếu muốn, anh ta có thể chép lại đề thi ngay trong nhà mình.

Tôi cũng không nghi ngờ cậu người Ấn, vì bản in thử được cuộn lại nên cậu ta không thể biết đó là gì.

Mặt khác, tôi không tin có người tình cờ bước vào và vô tình thấy đề thi.

Người vào phải biết đề thi có ở đó.

Nhưng làm sao hắn ta biết?

Trước khi vào nhà, tôi có kiểm tra cửa sổ phòng làm việc của thầy.

Thầy ngạc nhiên vì cho rằng tôi đang cân nhắc khả năng có người giữa ban ngày ban mặt, dưới con mắt của bao nhiêu người sống đối diện ngôi nhà này, lại cố chui qua ngả đó.

Như vậy vô lí quá.

Lúc ấy, tôi đang ước lượng xem người này phải cao chừng nào mới có thể thấy giấy tờ để trên bàn giữa phòng là gì khi đi ngang qua.

Tôi cao sáu foot, ấy vậy mà cũng phải cố lắm tôi mới nhìn ra được.

Vậy nên kẻ kia phải cao tầm tôi hoặc hơn.

Giờ hẳn thầy đã rõ vì sao trong ba cậu sinh viên, tôi lại nghi ngờ cậu Gilchrist nhất.

Tôi vào nhà và nói cho thầy nghe các suy đoán của tôi về cái bàn kê gần cửa sổ.

Tôi không rút ra kết luận gì về cái bàn giữa phòng cho đến khi thầy nói Gilchrist là vận động viên nhảy xa.

Bấy giờ, toàn bộ sự việc ngay tức khắc hiện lên trong đầu tôi và việc tôi cần làm chỉ còn là tìm ra vài bằng chứng chứng thực.

Chẳng mấy chốc tôi đã có được chúng.

Chuyện xảy ra như thế này: Cả buổi chiều chàng trai kia ở ngoài sân vận động để luyện nhảy xa.

Cậu ta đi đôi giày nhảy về, mà như thầy biết đấy, đây là loại giày đinh.

Lúc đi ngang cửa sổ phòng thầy, nhờ lợi thế chiều cao nên cậu ta thấy mấy bản in thử trên bàn và đoán ra chúng là gì.

Chuyện xấu đã chẳng xảy ra nếu khi đi qua cửa phòng thầy, cậu ta không thấy cái chìa khóa người hầu sơ suất để quên.

Cậu ta bị thôi thúc phải vào xem cái cậu ta thấy có phải đề thi ngày mai không.

Hành động đó không hề mạo hiểm vì nếu bị bắt gặp, cậu ta có thể nói mình có chuyện cần hỏi thầy.

Khi thấy đó đúng là đề thi, cậu ta đã đầu hàng sự cám dỗ.

Cậu ta đặt giày lên bàn.

Cậu để gì bên ghế gần cửa sổ vậy?"

"Đôi găng tay", chàng trai nói.

Holmes đắc thắng nhìn Bannister.

"Cậu ta để găng tay trên ghế rồi lấy từng tờ đề thi để chép lại.

Cậu ta tưởng thầy sẽ về qua cửa chính nên ngồi bên bàn cạnh cửa sổ để trông chừng.

Như chúng ta đã biết, thầy vào bằng cửa hông.

Cậu ta rất bất ngờ khi nghe tiếng thầy mở cửa ngoài.

Cậu ta không còn đường thoát.

Cậu ta chộp lấy đôi giày và chạy ào vào phòng ngủ nhưng để quên đôi găng tay.

Thầy quan sát thấy rằng vết rách khá nông ở một bên, nhưng lại hằn rõ theo hướng của phòng ngủ.

Chỉ riêng điều ấy cũng đủ cho ta thấy chiếc giày bị kéo về hướng đó và thủ phạm trốn trong phòng ngủ.

Đất bám quanh một đinh giày vương lên bàn và mẩu đất thứ hai rã ra và rơi xuống sàn phòng ngủ.

Xin được nói thêm, sáng nay tôi đã ra sân vận động, thấy rằng loại đất sét đen cứng này được đổ trong hố nhảy cùng một ít vỏ cây mịn hay mùn cưa rải lên trên để vận động viên không bị trượt ngã.

Tôi nói đúng chứ, cậu Gilchrist?"

Anh sinh viên đứng thẳng dậy.

"Vâng, ông nói đúng", cậu ta nói.

"Chao ôi, cậu không còn gì để nói nữa ư?"

Thầy Soames kêu lên.

"Có, thưa thầy, tôi còn có điều muốn nói, nhưng nỗi kinh hoàng bị vạch trần nhục nhã này làm tôi rối trí.

Thầy Soames, hồi sớm nay sau một đêm thao thức, tôi đã viết một lá thư gửi thầy.

Tôi viết trước khi biết tội lỗi của mình bị vạch trần.

Nó đây ạ.

Trong thư tôi có viết: Tôi quyết định không dự thi.

Tôi được nhận vào làm ở Sở Cảnh sát Rhodes nên sẽ đi Nam Phi ngay."

"Tôi thật lòng rất vui khi biết cậu không định lợi dụng sơ sót của tôi", thầy Soames nói.

"Nhưng sao cậu lại đổi ý?"

Gilchrist chỉ Bannister.

"Chính người này đã đưa tôi vào đường ngay", cậu ta nói.

"Giờ nói đi, Bannister", Holmes nói.

"Sau điều tôi vừa giải thích, hẳn ông đã thấy rõ chỉ có ông mới có thể cho chàng trai này ra khỏi phòng, vì sau lúc thầy Soames đi, chỉ còn lại mình ông trong phòng và ông hẳn đã khóa cửa khi ra.

Tôi không tin cậu ta thoát ra ngoài qua đường cửa sổ phòng ngủ.

Ông có thể làm sảng tỏ điểm cuối cùng trong bí ẩn này và cho chúng tôi biết lý do ông hành động như vậy chứ?"

"Nếu ông biết về tôi, ông sẽ thấy lí do rất đơn giản, nhưng tuy thông minh là thế ông không thể biết chuyện.

Thưa ông, khi xưa tôi làm quản gia cho ông Jabez Gilchrist, cha của cậu đây.

Khi ông ấy khánh kiệt thì tôi đến trường làm, nhưng tôi không bao giờ quên ông chủ quá cố.

Tôi chăm lo cho con trai ông ấy để trả ơn.

Vâng thưa ông, hôm qua khi thầy Soames gọi tôi vào phòng, cái tôi thấy trước tiên là đôi găng tay màu nâu của cậu Gilchrist trên cái ghế đó.

Tôi biết rõ đôi găng nên hiểu ra ngay.

Nếu thầy Soames thấy chúng, tất cả sẽ hỏng bét.

Tôi vội ngồi xuống ghế đó và không nhúc nhích cho đến khi thầy Soames chạy đi tìm ông.

Sau đó cậu chủ tội nghiệp, người từng ngồi trong lòng tôi, bước ra và thú nhận tất cả.

Thưa ông, lẽ tự nhiên tôi phải cứu cậu ấy chứ?

Và cũng là lẽ tự nhiên tôi phải nói phải quấy với cậu Gilchrist như người cha quá cố của cậu ấy, để cậu ấy hiểu mình không thể trục lợi bằng cách đó, đúng không?

Ông có chê trách tôi không, thưa ông Holmes?"

"Đúng, tôi không thể chê trách ông", Holmes nói rất thành thực và đứng dậy.

"Thầy Soames, tôi nghĩ chúng tôi đã làm sáng tỏ vấn đề nho nhỏ của ông và bữa điểm tâm đang chờ chúng tôi ở nhà.

Đi nào, Watson!

Còn về phần cậu, tôi mong một tiền đồ xán lạn đang chờ cậu ở Rhodes.

Cậu đã vấp ngã một lần và tôi mong cậu có thể vươn cao trong tương lai."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
KÍNH KẸP MŨI GỌNG VÀNG (The Golden Pince-Nez, 1904)


Khi nhìn ba tập bản thảo đồ sộ lưu trữ công việc của chúng tôi trong năm 1894 thì thú thật là từ một tư liệu dồi dào như vậy, tôi thấy rất khó lòng chọn ra những vụ đáng chú ý nhất nhưng đồng thời cũng có thể phô bày rõ ràng nhất những khả năng đặc biệt phi thường của bạn tôi.

Khi lật xem tôi thấy trong đó có ghi chép câu chuyện gớm ghiếc về con đỉa màu đỏ và cái chết thảm khốc của chủ nhà băng Crosby.

Ngoài ra tôi còn tìm thấy bài tường thuật về thảm kịch Addleton và những thứ kì quái trong nấm mồ Anh cổ.

Vụ thừa kế Smith Mortimer nổi tiếng xảy ra trong giai đoạn này, và việc lùng bắt Huret, kẻ giết người ở Boulevard - một kì tích đem lại cho Holmes lá thư cảm ơn do chính tổng thống Pháp chấp bút và một tấm huân chương Bắc Đẩu bội tinh.

Mỗi vụ trong đây đều có thể trở thành nguồn cảm hứng cho một câu chuyện, nhưng nhìn chung tôi nghĩ không có vụ nào tập hợp được nhiều điểm đặc biệt đáng chú ý như vụ án xảy ra tại biệt trang Yoxley, trong đó không chỉ có cái chết thương tâm của anh chàng Willoughby Smith trẻ tuổi, mà những diễn biến tiếp theo còn hắt một ánh sáng kì lạ lên các nguyên nhân phạm tội.

Đó là một đêm mưa gió bão bùng cuối tháng 11.

Cả buổi tối Holmes và tôi ngồi lặng lẽ bên nhau, anh dùng một chiếc kính lúp có độ phóng đại cực cao say sưa giải mã phần còn lại của bản viết gốc trên một tấm da cừu đã cạo, còn tôi thì miệt mài bên một khảo luận mới về giải phẫu.

Bên ngoài, gió hú xuôi phố Baker, mưa quất dữ dội vào cửa sổ.

Thật kì lạ, ngay giữa lòng thành phố, hai bên là các công trình do bàn tay con người làm ra kéo dài suốt mười dặm, vậy mà ta vẫn cảm thấy sự kiềm tỏa mạnh mẽ của thiên nhiên và ý thức được rằng trước những lực lượng tự nhiên to lớn thì cả London không hơn gì mấy ụ đất chuột chũi đùn lên lỗ chỗ ngoài đồng.

Tôi bước tới cửa sổ, nhìn ra con đường không một bóng người.

Thỉnh thoảng, một ngọn đèn lấp lóa chiếu xuống khoảng đường lầy lội và vỉa hè loang loáng.

Một cỗ xe ngựa đơn độc vừa chạy vừa làm nước bắn tóe lên từ đầu phố Oxford.

"Watson này, thật may là tối nay ta không phải ra ngoài", Holmes nói, đặt kính lúp qua một bên rồi cuộn tờ giấy da lại.

"Nghiên cứu chừng đó là đủ rồi.

Việc này mỏi mắt lắm.

Theo những gì tôi đọc ra được thì nó chỉ rặt những câu chuyện của một tu viện có từ nửa sau thế kỉ mười lăm.

Ồ!

Gì thế kia?"

Giữa tiếng gió gào thét, có tiếng vó ngựa nện và tiếng bánh xe nghiến lạo xạo bên lề đường.

Cỗ xe ngựa mà tôi vừa nhìn thấy đỗ lại bên cửa nhà chúng tôi.

"Anh ta cần gì nhỉ?"

Tôi thốt lên khi một người đàn ông từ trong xe bước ra.

"Cần gì à?

Anh ta cần chúng ta.

Còn ta, Watson tội nghiệp của tôi ơi, ta cần áo khoác, cà vạt và ủng cao su, cùng mọi phương tiện trợ giúp mà con người từng phát minh ra để chống chọi cái thời tiết này.

Nhưng chờ chút đã!

Xe lại đi rồi!

Vẫn còn hi vọng.

Nếu muốn ta đi cùng thì đáng ra anh ta phải giữ xe lại chứ!

Chạy xuống mở cửa đi anh bạn, vì những người đoan chính đã đi ngủ từ lâu rồi."

Khi ánh đèn hành lang chiếu xuống người khách đến lúc nửa đêm của chúng tôi thì tôi dễ dàng nhận ra anh ta.

Đó là anh chàng Stanley Hopkins, một thanh tra đầy triển vọng mà Holmes đã vài lần tỏ mối quan tâm rất thiết thực đến sự nghiệp của anh ta.

"Anh ta vào chưa?"

Anh hỏi với vẻ hăm hở.

"Lên đây, anh bạn", giọng Holmes vọng xuống từ bên trên.

"Tôi hi vọng anh không có mưu đồ ám hại chúng tôi vào một đêm thế này."

Tay thanh tra lên cầu thang, và ngọn đèn trong phòng chúng tôi lấp lánh chiếu lên chiếc áo mưa loang loáng của anh ta.

Tôi giúp anh ta cởi áo mưa trong khi Holmes khơi lửa từ mấy khúc gỗ trong lò sưởi.

"Nào, Hopkins thân mến, lại gần đây hơ ngón chân đi", anh nói.

"Xì gà đây, và bác sĩ đây có một phương thuốc gồm nước nóng và chanh, rất tốt cho một đêm như đêm nay.

Hẳn có chuyện quan trọng anh mới phải ra đường lúc giông bão thế này?

"Đúng vậy, ông Holmes.

Tôi cam đoan với ông là tôi đã tất bật cả buổi chiều, ông đã xem gì về vụ Yoxley trong mấy số báo mới nhất chưa?"

"Hôm nay tôi chẳng xem gì từ sau thế kỉ mười lăm cả."

"Ôi dào, chỉ có một đoạn thôi, mà lại còn sai bét nữa, vậy nên ông chưa bỏ lỡ gì đâu.

Tôi không để nước tới chân mới nhảy.

Chuyện xảy ra ở dưới Kent, cách Chatham bảy dặm và cách tuyến đường xe lửa ba dặm.

Tôi nhận được điện lúc 3 giờ 15, tới biệt trang Yoxley lúc 5 giờ, chỉ đạo điều tra, đón chuyến tàu cuối về Charing Cross rồi bắt xe ngựa tới thẳng chỗ ông."

"Vậy nghĩa là anh vẫn chưa rõ lắm vụ của mình?"

"Nghĩa là tôi chưa hiểu đầu cua tai nheo gì cả.

Đến lúc này, nó vẫn rối rắm chẳng kém vụ nào tôi từng xử lí, vậy mà thoạt tiên nó có vẻ đơn giản đến nỗi không thể sai vào đâu được.

Không có động cơ, ông Holmes.

Đó là điều khiến tôi băn khoăn - tôi chưa mò ra động cơ.

Có một người chết - không thể phủ nhận điều đó - nhưng, theo như tôi thấy, chẳng có lí do quái gì để ai đó muốn hại anh ta."

Holmes châm điếu thuốc rồi ngả người ra ghế dựa.

"Kể chúng tôi nghe đi", anh nói.

"Tôi đã nắm khá rõ các tình tiết", Stanley Hopkins nói.

"Giờ tôi chỉ muốn biết tất cả những tình tiết ấy nghĩa là sao thôi.

Theo như tôi hiểu thì câu chuyện là thế này.

Vài năm trước, biệt trang Yoxley được một người đàn ông lớn tuổi thuê, xưng là giáo sư Coram.

Ông ta bị bệnh, nằm liệt giường hết nửa thời gian, nửa còn lại thì chống gậy tập tễnh quanh nhà hay ngồi xe lăn cho người làm vườn đẩy quanh khuôn viên.

Ông ta được vài người hàng xóm quý mến và thường tới thăm; trong vùng, ông ta có tiếng là rất uyên bác.

Hồi trước, trong nhà ông ta chỉ có một bà quản gia lớn tuổi, bà Marker, và một cô hầu, Susan Tarlton.

Cả hai người này ở cùng ông ta từ khi ông ta tới, và họ dường như là những người phụ nữ có nhân cách tuyệt vời.

Giáo sư đang viết một cuốn sách uyên thâm nên khoảng một năm trước ông ta thấy cần phải thuê một thư kí.

Hai người đầu đến thử việc đều không đạt, nhưng người thứ ba, Willoughby Smith, một thanh niên trẻ măng mới tốt nghiệp đại học, có vẻ đúng là người mà ông chủ cần.

Công việc của anh ta là chép lại những gì giáo sư đọc cả buổi sáng, rồi buổi chiều thì thường tra cứu các tài liệu tham khảo và văn bản có liên quan đến công việc của ngày hôm sau.

Anh chàng Willoughby Smith này không bị ai thù ghét, dù là với tư cách nam sinh ở Uppingham hay một thanh niên tại Cambridge.

Tôi đã xem giấy tờ chứng nhận của anh ta, và anh ta vẫn luôn là người đàng hoàng, trầm lặng, làm việc chăm chỉ, không hề có khuyết điểm.

Ấy vậy mà chính chàng trai này đã phải đón nhận cái chết vào sáng nay tại thư phòng của giáo sư, mà hoàn cảnh cho thấy đây chỉ có thể là một vụ giết người."

Gió gào thét bên ngoài cửa sổ.

Holmes và tôi dịch lại gần lò sưởi hơn trong khi viên thanh tra trẻ thong thả thuật lại từng điểm một trong câu chuyện lạ lùng này.

"Dù ông có tìm kiếm khắp nước Anh", anh ta nói, "tôi chắc ông cũng không thể tìm đâu ra một gia đình khép kín hay biệt lập với ảnh hưởng từ bên ngoài hơn.

Hàng tuần liền trôi qua cũng không ai đi đâu quá cổng vườn.

Giáo sư vùi đầu trong công việc và không tồn tại vì thứ gì khác nữa.

Anh chàng Smith không quen ai trong lối xóm, và sống rất giống với ông chủ.

Hai người đàn bà chẳng có việc gì phải ra khỏi nhà.

Mortimer, người làm vườn và đẩy xe lăn, là quân nhân về hưu - một ông lão người xứ Crimea có tính cách tuyệt vời.

Ông ta không sống trong tòa nhà chính, mà ở trong túp nhà nhỏ có ba phòng ở đầu kia khu vườn.

Trong khuôn viên biệt trang Yoxley ta chỉ có thể bắt gặp từng ấy con người.

Còn cổng vườn cách đường chính từ London đi Chatham một trăm yard.

Cổng chỉ cài then, và ai vào cũng không có gì ngăn trở.

Giờ tôi sẽ cung cấp cho ông lời khai của Susan Tarlton, người duy nhất nói được điều gì đó xác thực về vụ việc này.

Lúc đó là gần trưa, trong khoảng thời gian từ 11 đến 12 giờ, cô ta đang bận treo mấy tấm rèm ở phòng ngủ phía trước trên lầu.

Giáo sư Coram vẫn còn ngủ, vì khi tiết trời xấu hiếm khi ông ta dậy trước buổi trưa.

Bà quản gia bận bịu gì đó ở nhà sau.

Willoughby Smith thì ở trong phòng ngủ mà anh ta dùng làm phòng khách, nhưng lúc đó cô hầu nghe thấy anh ta đi dọc hành lang rồi xuống thư phòng ngay dưới phòng cô.

Cô không thấy anh ta, nhưng nói rằng cô không thể nhầm tiếng bước chân nhanh nhẹn, chắc nịch của anh ta.

Cô không nghe thấy cửa thư phòng khép lại, và khoảng một phút sau thì có tiếng thét hãi hùng trong căn phòng bên dưới.

Đó là tiếng thét dữ dội, khản đặc, kì lạ và quái dị đến nỗi nó có thể là của đàn ông hoặc đàn bà.

Cũng đúng lúc ấy có một tiếng thịch nặng nề làm rung chuyển ngôi nhà cũ, thế rồi bốn bề im lặng.

Cô hầu đứng chết trân một lát, và rồi, lấy lại can đảm, cô chạy xuống lầu.

Cửa thư phòng khép nên cô mở ra.

Bên trong, chàng trai trẻ Willoughby Smith nằm sóng soài trên sàn.

Mới đầu cô không thấy thương tích, nhưng khi cố nâng anh ta lên thì cô thấy máu từ bên dưới cổ trào ra.

Ở đó có một vết thương rất mảnh nhưng rất sâu, đã cắt đứt động mạch chủ.

Công cụ gây thương tích nằm trên thảm cạnh anh ta.

Đó là con dao nhỏ để cạy sáp niêm phong thư thường thấy trên các bàn viết thời xưa, có cán ngà và lưỡi dao cứng.

Nó là một trong những vật dụng trên bàn của giáo sư.

Mới đầu cô hầu tưởng anh chàng Smith đã chết, nhưng khi rưới chút nước trong bình lên trán anh ta thì anh ta mở mắt trong giây lát.

'Giáo sư,' anh ta thều thào, 'là bà ta'.

Cô hầu sẵn sàng cam đoan đúng là mấy chữ ấy.

Anh ta cố hết sức nói gì đó nữa, và đưa bàn tay phải lên.

Rồi anh ta vật ra chết.

Trong lúc đó thì bà quản gia cũng đã tới hiện trường, nhưng bà ta tới quá muộn, không kịp nghe mấy lời trăng trối của chàng trai.

Bỏ Susan lại với cái xác, bà ta tất tả tới phòng giáo sư.

Ông ta đang ngồi trên giường, cực kì lo lắng, vì chỉ nghe ngóng ông ta cũng đủ biết chắc rằng đã có chuyện gì khủng khiếp xảy ra.

Bà Marker sẵn sàng cam đoan là giáo sư vẫn còn mặc đồ ngủ, và, quả thực, ông ta không thể thay đồ mà không có Mortimer giúp, mà ông này thì được lệnh đến lúc 12 giờ.

Giáo sư khai rằng ông ta nghe thấy tiếng hét phía xa xa nhưng không biết gì thêm, ông ta không giải thích được lời trăng trối của chàng trai: 'Giáo sư - là bà ta,' nhưng nghĩ đó là hậu quả của cơn mê sảng, ông ta tin rằng Willoughby Smith không có kẻ thù nào trên đời, nhưng cũng không đưa ra được lý do dẫn đến vụ án mạng.

Phản ứng đầu tiên của ông ta là cử bác làm vườn Mortimer đi mời cảnh sát sở tại.

Lát sau thì cảnh sát trưởng cho tìm tôi.

Trước khi tôi tới nơi không có gì bị xê dịch, và đã có lệnh nghiêm ngặt cấm bất kì ai được lên các lối đi dẫn vào nhà.

Đây là một dịp tuyệt vời để áp dụng lí thuyết của ông vào thực hành, ông Sherlock Holmes.

Thực sự không còn thiếu gì nữa."

"Trừ ông Sherlock Holmes", bạn tôi nói, cười có chút chua chát.

"Nào, hãy kể chúng tôi nghe.

Anh đã làm được những gì?"

"Trước tiên tôi phải yêu cầu ông, ông Holmes, xem qua sơ đồ phác này, nó sẽ cho ông biết chung chung về vị trí thư phòng của ông giáo sư và vài vị trí khác trong vụ án.

Nó sẽ giúp ông theo dõi quá trình điều tra của tôi."

Anh ta mở tờ sơ đồ nháp mà tôi vẽ lại đây, rồi đặt lên đầu gối Holmes.

Tôi đứng lên và tới đứng sau lưng Holmes, ngó qua vai anh để xem xét.

"Nó rất sơ sài, tất nhiên, và chỉ đề cập đến những điểm mà tôi thấy có vẻ chủ chốt.

Mọi thứ còn lại ông sẽ tự xem sau.

Giờ thì, trước hết, giả dụ hung thủ vào nhà, ông ta hay bà ta vào bằng cách nào?

Rõ ràng là bằng lối vườn và cửa sau, từ đó có lối đi thẳng đến thư phòng.

Bất cứ cách nào khác đều hết sức phức tạp.

Tẩu thoát hẳn cũng phải thực hiện theo cách ấy, vì trong hai lối ra khỏi phòng còn lại thì một cái bị Susan chắn khi cô ta chạy xuống lầu, còn lối kia dẫn thẳng đến phòng ngủ của giáo sư.

Do vậy, tôi lập tức quay sang chú ý đến lối đi ngoài vườn, nó ướt sũng vì trận mưa vừa rồi nên chắc chắn sẽ lưu lại dấu chân nếu có kẻ đi qua.

Sau khi khám xét tôi thấy rằng mình đang đối đầu với một tên tội phạm cẩn trọng và lão luyện.

Không tìm thấy dấu chân trên lối đi.

Tuy vậy, chắc chắn có kẻ đã đi dọc bờ cỏ chạy men lối đi, và hắn làm vậy nhằm tránh để lại dấu chân.

Tôi không tìm thấy bất cứ dấu in hằn rõ rệt nào, nhưng cỏ bị giẫm lên nên chắc chắn đã có người đi qua.

Đó chỉ có thể là hung thủ, vì sáng hôm ấy người làm vườn hay ai khác đều không ở đó mà trời chỉ mới đổ mưa hồi đêm."

"Khoan", Holmes nói.

"Lối đi này dẫn đến đâu?"

"Ra đường."

"Nó dài bao nhiêu?"

"Độ một trăm yard."

"Tại chỗ lối đi chạy qua cổng hẳn anh phải tìm được mấy dấu chân?"

"Rủi là lối đi ở chỗ đó lại lát đá."

"Thôi được, còn trên đường?"

"Không thấy, cả con đường đã bị biến thành vũng bùn."

"Chậc, chậc!

Thôi được rồi, nếu vậy mấy dấu chân trên cỏ này là đến hay đi?"

"Chịu, không biết được.

Không có hình dáng nào cả."

"Bàn chân nhỏ hay lớn?"

"Ta không phân biệt được."

Holmes thốt lên một tiếng sốt ruột.

"Từ lúc ấy đến giờ mưa vẫn như trút và cuồng phong vẫn ào ào thổi", anh nói.

"Giờ thì sẽ còn khó tìm hiểu sự việc này hơn cả đọc tờ giấy da cạo đó nữa.

Chà, chà, không ích gì rồi.

Hopkins này, anh làm gì sau khi biết chắc rằng anh chưa biết chắc được gì cả?"

"Tôi nghĩ mình đã biết chắc được nhiều thứ, ông Holmes.

Tôi biết có kẻ từ bên ngoài đã thận trọng vào nhà.

Tiếp đến tôi kiểm tra hành lang.

Ở đó có trải thảm xơ dừa và không in dấu vết nào cả.

Hành lang này dẫn tôi vào chính thư phòng.

Đó là một căn phòng bày biện sơ sài.

Đồ đạc chính là một bàn viết rộng có kèm tủ.

Tủ này gồm hai cột ngăn kéo, ở giữa là một khoang tủ cánh nhỏ.

Mấy ngăn kéo mở, còn tủ cánh thì khóa.

Hình như mấy ngăn kéo luôn mở, và trong đó không có gì quý giá.

Có ít giấy tờ quan trọng trong tủ cánh, nhưng không có dấu hiệu bị lục lọi, và giáo sư cam đoan với tôi rằng không mất gì cả.

Chắc chắn là không có hành vi trộm cắp nào.

Rồi tôi đến chỗ xác chàng trai.

Cái xác được tìm thấy gần tủ, ngay bên trái, như được đánh dấu trên sơ đồ.

Nhát đâm ở bên phải cổ và từ đằng sau tới, nên gần như không thể là do nạn nhân tự gây thương tích."

"Trừ phi anh ta ngã trúng con dao", Holmes nói.

"Đúng.

Tôi đã thoáng có ý này.

Nhưng chúng tôi tìm thấy con dao cách cái xác vài foot, nên chuyện đó xem ra là không thể.

Rồi còn cả những lời trăng trối của chính người này.

Và, cuối cùng, còn một chứng cứ rất quan trọng mà người chết nắm chặt trong tay phải."

Stanley Hopkins rút trong túi ra một gói giấy nhỏ.

Anh ta mở ra, để lộ một cái kính kẹp mũi gọng vàng có hai đầu dây lụa đen bị đứt lòng thòng.

"Willoughby Smith có thị lực rất tốt", anh ta nói thêm.

"Chắc chắn cái này được giật xuống từ trên mặt hay người của hung thủ."

Sherlock Holmes cầm lấy cái kính rồi xem xét với về cực kì chăm chú và thích thú.

Anh đeo nó lên mũi, cố nhìn qua mà đọc, rồi đi lại cửa sổ và nhìn ra đường qua cặp kính, xem xét cực kì tỉ mỉ dưới ánh đèn sáng rỡ, cuối cùng, anh cười tủm tỉm, ngồi xuống bên bàn và viết vài dòng lên một tờ giấy rồi ném cho Stanley Hopkins.

"Tôi chỉ có thể giúp anh đến vậy thôi", anh nói.

"Nó có thể hữu ích đôi chút."

Tay thanh tra kinh ngạc đọc to tờ giấy.

Nội dung như sau:

"Truy nã, một phụ nữ có tác phong thanh lịch, ăn mặc lịch sự.

Mũi dày khác thường, vị trí mắt sát hai bên sống mũi.

Trán nhăn, vẻ mặt soi mói và có lẽ dáng gù.

Có những dấu hiệu cho thấy trong mấy tháng vừa qua bà ta đã phải tìm đến tiệm bán mắt kính ít nhất hai lần.

Vì mắt kính của bà ta rất nặng và những tiệm bán mắt kính không nhiều lắm nên truy tìm bà ta sẽ chẳng khó khăn gì."

Holmes mỉm cười trước vẻ sững sờ của Hopkins mà hẳn cũng phản chiếu trên nét mặt tôi.

"Các suy luận của tôi đơn giản thôi", anh nói.

"Khó mà nêu ra nổi vật dụng nào cung cấp được phạm vi để suy luận tốt hơn là cặp kính mắt, nhất là một cặp kính rất khác thường như thế này.

Tôi suy luận nó là của phụ nữ do nét thanh tú của nó, và tất nhiên, còn từ lời trăng trối của người đang hấp hối nữa.

Còn về chuyện bà ta là một người tao nhã và ăn mặc lịch sự thì, như các anh nhận thấy, viền kính được làm bằng vàng ròng đẹp đẽ nên không thể tin nổi là ai mang kính như vậy lại lôi thôi, nhếch nhác ở những khía cạnh khác.

Các anh sẽ thấy rằng hai cái kẹp quá rộng không vừa mũi mình, cho thấy mũi của quý bà đây rất bè.

Kiểu mũi này thường ngắn và thô, nhưng có khá nhiều ngoại lệ nên tôi không dám võ đoán hay nhất định đưa điểm này vào bản mô tả.

Mặt tôi hẹp, vậy mà tôi thấy không sao chỉnh cho mắt mình vào giữa, hay gần giữa, cặp kính này.

Do vậy, mắt bà này nằm rất sát hai bên sống mũi.

Watson, anh sẽ thấy là kính lõm và nặng khác thường.

Một bà cả đời có thị lực kém như thế thì chắc chắn những đặc điểm thể chất khác cũng phải tương ứng, có thể thấy ở trán, mí mắt và dáng dấp."

"Phải", tôi nói, "tôi có thể theo kịp từng lập luận của anh.

Song thú thật là tôi không thể hiểu sao anh biết được chuyện bà ta đến chỗ tiệm bán kính mắt hai lần."

Holmes cầm cặp kính trong tay.

"Anh sẽ thấy", anh nói, "rằng hai bên đệm mũi được viền những sợi bần mảnh để giảm sức ép lên mũi.

Một trong hai cái đã bạc màu và mòn đi đôi chút, còn cái kia thì mới.

Rõ ràng một cái đã rơi ra và được thay.

Tôi xem xét thấy cái cũ hơn mới có không quá vài tháng.

Chúng rất tương xứng với nhau, vì vậy tôi suy ra được rằng quý bà đây đã quay lại tiệm lần trước để thay cái thứ hai."

"Trời ơi, tuyệt vời quá!"

Hopkins kêu lên, ngất ngây thán phục.

"Ai ngờ được tôi đã có mọi chứng cứ trong tay mà lại không hề biết!

Tuy nhiên, tôi cũng đã tính đi một vòng khắp các tiệm bán mắt kính ở London."

"Tất nhiên anh sẽ làm vậy.

Trong khi đó thì anh còn gì để kể cho chúng tôi về vụ án nữa không?"

"Không còn gì nữa, ông Holmes.

Tôi nghĩ rằng giờ ông đã biết nhiều như tôi rồi - có lẽ còn nhiều hơn.

Chúng tôi đã tiến hành dò hỏi xem có ai thấy người lạ nào trên đường làng hay tại ga xe lửa không.

Chúng tôi chưa nghe tin gì.

Cái làm tôi thấy khó hiểu là trong vụ án này hoàn toàn không có mục đích gì.

Không ai nghĩ ra được một động cơ nào cả."

"À!

Điều đó thì tôi không đủ tư cách giúp anh rồi.

Nhưng tôi nghĩ chắc anh muốn mai chúng tôi đến đó?"

"Nếu như vậy không phải là đòi hỏi gì nhiều quá, ông Holmes.

Có chuyến tàu từ Charing Cross đi Chatham lúc 6 giờ sáng, rồi ta sẽ có mặt tại biệt trang Yoxley trong khoảng thời gian từ 8 đến 9 giờ."

"Vậy ta sẽ đi chuyến đó.

Vụ án của anh có mấy điểm hết sức đáng chú ý nên tôi rất hứng thú được tìm hiểu.

Thôi, đã gần 1 giờ rồi, ta nên ngủ vài tiếng.

Tôi dám chắc anh tạm hài lòng với chiếc trường kỉ trước lò sưởi.

Tôi sẽ thắp cây đèn cồn và cho anh một tách cà phê trước khi ta xuất phát."

Hôm sau cơn bão đã tan, nhưng sáng hôm ấy, khi chúng tôi khởi hành thì trời rét buốt.

Chúng tôi thấy vầng mặt trời mùa đông lạnh lẽo nhô lên trên những đầm lầy ảm đạm của sông Thames và những khúc sông dài, buồn thảm mà tôi sẽ mãi liên tưởng tới cuộc truy đuổi tên thổ dân quần đảo Andaman vào những ngày đầu trong sự nghiệp của chúng tôi.

Sau một hành trình dài và mệt nhọc, chúng tôi xuống một nhà ga nhỏ cách Chatham vài dặm.

Trong khi con ngựa đang được đóng vào cỗ xe hai bánh tại một lữ quán trong vùng, chúng tôi tranh thủ ăn vội bữa điểm tâm, và thế là tất cả chúng tôi đã sẵn sàng cho công việc khi tới biệt trang Yoxley.

Một cảnh sát đón chúng tôi tại cổng vườn.

"Sao rồi, Wilson, có gì mới không?"

"Không, thưa sếp, chẳng có gì cả."

"Không nghe ai báo có nhìn thấy người lạ nào à?"

"Không, thưa sếp.

Dưới nhà ga họ chắc chắn là hôm qua không có người lạ nào đến hay đi."

"Anh đã cho dò hỏi tại các quán trọ và nhà nghỉ chưa?"

"Rồi, thưa sếp, không có ai mà ta không nắm rõ hành tung."

"Ờ, từ đây chỉ cần một cuốc đi bộ vừa phải là đến Chatham thôi.

Ai cũng có thể ở lại đó, hay đón tàu đi mà không bị quan sát.

Đây là lối đi trong vườn mà tôi nói, ông Holmes.

Tôi cam đoan rằng hôm qua trên đó không có dấu vết gì."

"Mấy dấu vết trên cỏ ở phía nào?"

"Bên này, thưa ông.

Bờ cỏ hẹp giữa lối đi và luống hoa này.

Giờ tôi không thấy mấy dấu vết đó, nhưng lúc ấy thì tôi thấy rõ ràng lắm."

"Phải, phải, đã có người đi qua", Holmes nói, khom người bên bờ cỏ.

"Quý bà của chúng ta hẳn đã bước rất cẩn thận, vì nếu không, một mặt bà ta sẽ để lại dấu chân trên lối đi, mặt khác còn để lại dấu vết rõ hơn nữa trên luống cỏ mềm này."

"Đúng, thưa ông, bà ta hẳn là một người điềm tĩnh."

Tôi thấy vẻ chăm chú thoáng hiện trên mặt Holmes.

"Anh nói hẳn bà ta đã quay lại lối này?"

"Vâng, thưa ông, không còn lối nào khác."

"Trên dải cỏ này?"

"Đương nhiên rồi, ông Holmes."

"Hừm!

Làm được vậy là rất xuất sắc - rất xuất sắc.

Thôi được, tôi nghĩ ta đã xem xét hết lối đi rồi.

Đi tiếp nào.

Tôi chắc cửa vườn này thường để mở?

Vậy thì người khách này chỉ việc bước vào thôi.

Bà ta không định giết người, nếu không bà ta đã cầm sẵn một loại vũ khí nào đó rồi, chứ đâu phải nhặt con dao này ở bàn viết.

Bà ta đi dọc theo hành lang này, không để lại dấu vết nào trên tấm thảm xơ dừa.

Rồi bà ta nhận ra mình đang ở trong thư phòng này.

Bà ta ở đó bao lâu?

Ta không có cách nào để phán đoán."

"Không quá vài phút, thưa ông.

Tôi quên kể cho ông là bà quản gia Marker, trước đó không lâu đã dọn dẹp ngăn nắp ở đó - khoảng mười lăm phút, bà ấy nói vậy."

"À, chuyện đó cho ta một giới hạn.

Quý bà của ta bước vào phòng này rồi làm gì?

Bà ta tới chỗ bàn viết để làm gì?

Không vì thứ gì trong mấy ngăn kéo.

Nếu có gì đáng để bà ta lấy thì chắc hẳn nó đã được khóa kĩ.

Không, là vì cái gì đó trong tủ cánh kia.

Ồ!

Vết trầy trên mặt tủ kia là gì vậy?

Soi diêm giùm tôi, Watson.

Sao anh không cho tôi biết chuyện này, Hopkins?"

Dấu vết anh đang xem xét bắt đầu từ chỗ viền bằng đồng thau ở bên phải lỗ khóa, rồi kéo dài khoảng bốn inch, làm trầy lớp vécni trên mặt tủ.

"Tôi đã lưu ý điểm đó, ông Holmes.

Nhưng bao giờ ta chẳng thấy vết trầy quanh lỗ khóa."

"Cái này thì mới đây, khá là mới.

Xem chỗ bị xước trên mặt đồng sáng lên kìa.

Một vết trầy cũ thì sẽ tiệp màu với bề mặt.

Xem bằng kính lúp của tôi này.

Lại còn vécni nữa chứ, trông sủi lên như đất hai bên luống cày.

Bà Marker có đó không?"

Một bà lớn tuổi, mặt mày buồn bã bước vào phòng,

"Có phải sáng hôm qua bà quét bụi cái tủ này không?"

"Phải, thưa ông."

"Bà có thấy vết trầy này không?"

"Không, thưa ông, tôi không thấy."

"Tôi tin chắc là bà không thấy, vì khi quét bụi bặm người ta sẽ phủi đi cả những vảy vécni này.

Ai có chìa khóa tủ này?"

"Giáo sư đeo nó vào dây đồng hồ quả quýt."

"Nó có phải là một chìa khóa đơn giản không?"

"Không thưa ông, đó là chìa khóa Chubb."

"Tốt lắm, bà Marker, bà đi được rồi.

Giờ ta đã tiến được một chút.

Quý bà của chúng ta vào phòng, tiến tới tủ, rồi hoặc mở nó hoặc cố làm vậy Trong khi đó thì anh chàng Willoughby Smith bước vào phòng.

Trong lúc vội vàng rút chìa khóa, bà ta đã tạo ra vết xước này trên cửa tủ.

Anh ta túm lấy bà ta, và bà ta chộp lấy vật gần nhất, tình cờ lại là con dao này, đâm anh ta để anh ta buông tay ra.

Đó là một cú trí mạng.

Anh ta ngã xuống còn bà ta bỏ trốn, hoặc có hoặc không có vật mà vì nó bà ta tìm đến.

Cô hầu Susan có đó không?

Sau khi cô nghe thấy tiếng kêu thì có ai thoát ra cửa đó được không, Susan?"

"Không, thưa ông, không thể nào.

Trước khi xuống cầu thang tôi không thấy ai trong hành lang.

Vả lại, cửa không hề mở, nếu không tôi đã nghe thấy."

"Vậy là đã loại trừ được lối ra này.

Thế thì không nghi ngờ gì là quý bà ấy đã đi ra bằng lối bà ta đi vào.

Tôi đoán rằng hành lang còn lại chỉ dẫn đến phòng giáo sư thôi.

Hướng đó không có lối ra sao?"

"Không, thưa ông."

"Ta sẽ đi qua đó đến chào hỏi giáo sư.

Ồ, Hopkins!

Chuyện này rất quan trọng, quả là rất quan trọng.

Hành lang của giáo sư cũng lót thảm xơ dừa."

"Vâng, thưa ông, chuyện đó thì sao?"

"Anh không thấy nó liên quan gì đến vụ án sao?

Chà, chà, không nhất định là thế.

Chắc tôi nhầm.

Vậy mà tôi thấy hình như nó rất có ý nghĩa.

Đi với tôi rồi giới thiệu tôi nào."

Chúng tôi đi xuôi hành lang, cũng dài bằng hành lang dẫn ra vườn.

Cuối hành lang có một đoạn cầu thang ngắn dừng lại ở một cánh cửa.

Người dẫn đường của chúng tôi gõ cửa rồi đưa chúng tôi vào phòng ngủ của giáo sư.

Đó là một căn phòng thênh thang, bày cơ man là sách, sách tràn ngập trên giá và xếp thành từng chồng trong các góc hay dưới chân mấy kệ sách.

Chiếc giường ở chính giữa phòng, và trên đó, là vị chủ nhà đang tựa vào mấy chiếc gối.

Hiếm khi tôi thấy người nào trông đáng chú ý hơn.

Quay về phía chúng tôi là một khuôn mặt gầy gò, quăm quắm, hai mắt đen sắc, ẩn trong hai hốc sâu dưới cặp lông mày tua tủa rũ xuống.

Râu tóc ông ta bạc trắng, trừ chỗ râu quanh miệng nhuốm vàng kì lạ.

Đầu một điếu thuốc cháy sáng lên giữa mớ râu tóc bờm xờm, và không khí trong phòng ám mùi khói thuốc lá hôi hám.

Khi ông ta chìa tay ra cho Holmes, tôi nhận thấy nó cũng nhuộm vàng nicotine.

"Ông hút thuốc phải không, ông Holmes?"

Ông ta nói thứ tiếng Anh tinh tuyển, giọng có chút nhấn nhá kì lạ.

"Xin cứ lấy một điếu.

Còn ông, thưa ông?

Tôi xin tiến cử loại thuốc này với các ông, vì nó có xuất xứ từ Alexandria do tôi đặt riêng của hãng Ionides.

Mỗi đợt hãng gửi cho tôi cả ngàn điếu, và tôi lấy làm buồn phải nói rằng, cứ mỗi nửa tháng tôi lại phải thu xếp một đợt cung ứng mới.

Tôi biết, thưa ông, hút thuốc tệ, rất tệ, nhưng lão già này chẳng có mấy thú vui.

Thuốc lá và công việc - tôi chỉ còn lại có chừng ấy."

Holmes châm một điếu rồi chốc chốc đảo mắt thật nhanh khắp phòng.

"Thuốc lá và công việc, nhưng giờ thì chỉ còn thuốc lá", ông già thốt lên.

"Hỡi ơi!

Thật là một sự gián đoạn tai hại!

Ai mà thấy trước được một tai họa khủng khiếp như vậy chứ?

Một thanh niên rất ư đáng quý!

Tôi cam đoan với ông rằng sau vài tháng rèn luyện anh ta đã là một trợ lí đáng nể.

Ông nghĩ sao về chuyện này, ông Holmes?"

"Tôi vẫn chưa quyết ý."

"Quả thực tôi sẽ đội ơn ông nếu ông có thể soi sáng nơi mà chúng tôi thấy chỉ toàn là bóng tối.

Với một con mọt sách tội nghiệp và tàn phế như tôi thì một đòn như thế làm tôi tê liệt.

Tôi dường như đã mất khả năng suy nghĩ.

Nhưng ông là người năng động - là người của công việc.

Đó là một phần công việc hằng ngày trong đời ông.

Ông giữ được bình tĩnh trong mọi tình huống khẩn cấp.

Chúng tôi quả thật may mắn khi có ông bên cạnh."

Holmes cứ đi tới đi lui ở một bên phòng trong lúc ông giáo sư già nói.

Tôi quan sát thấy anh hút nhanh khác thường.

Rõ ràng anh cũng ưa hút thuốc lá tươi vùng Alexandria như chủ nhà.

"Phải, thưa ông, quả là một đòn nặng nề", ông già nói.

"Đó là Magnum opuscủa tôi - mớ giấy tờ trên cái bàn sát tường đằng kia.

Tôi phân tích các tài liệu tìm thấy ở các tu viện Cơ Đốc Ai Cập tại Syria và Ai Cập, một công việc có thể mổ xẻ tận nền tảng của tôn giáo thiên khải.

Vì sức khỏe kém đi nên tôi không biết mình có hoàn thành được không khi giờ đây đã mất đi trợ lí.

Ôi trời, ông Holmes, sao vậy, ông hút còn nhanh hơn tôi nữa."

Holmes mỉm cười.

"Tôi là người sành hút mà", anh nói, lấy một điếu nữa trong hộp - điếu thứ tư - và châm nó bằng mẩu thuốc anh vừa hút xong.

"Tôi sẽ không làm phiền ông bằng việc thẩm tra dài dòng, giáo sư Coram, vì tôi suy ra được là lúc vụ án xảy ra ông đang ngủ nên không thể biết gì về nó.

Tôi chỉ muốn hỏi một điều.

Ông nghĩ chàng trai tội nghiệp này muốn nói gì khi trăng trối mấy lời: 'Giáo sư - là bà ta'?"

Giáo sư lắc đầu.

"Susan là gái quê", ông ta nói, "mà ông biết sự ngu ngốc không thể tin nổi của tầng lớp đó rồi đấy.

Tôi cho rằng anh chàng tội nghiệp thều thào mấy chữ rời rạc lúc mê sảng, và cô ta biến nó thành câu thông điệp vô nghĩa này."

"Tôi hiểu rồi.

Bản thân ông không có cách giải thích nào cho thảm kịch sao?"

"Có lẽ là tai nạn, có lẽ - tôi chỉ hé lộ riêng với các ông thôi - là tự tử.

Thanh niên họ có những nỗi phiền muộn sâu kín riêng, một chuyện tình cảm nào đó, có lẽ vậy mà chúng ta không hề hay biết.

Giả định đó khả dĩ hơn là bị sát hại."

"Nhưng còn cặp kính?"

"À!

Tôi chỉ là dân nghiên cứu, một người mơ mộng.

Tôi không thể lí giải những chuyện thực tế của đời sống.

Thế nhưng, ông bạn ơi, chúng ta biết rằng vật làm tin của tình yêu có thể mang những khuôn dạng lạ lùng.

Dù sao thì cũng cứ lấy một điếu nữa đi.

Thật hân hạnh khi thấy có người thích nó như vậy.

Một chiếc quạt, một chiếc găng tay, một cặp kính - ai mà biết thứ gì có thể được đem theo như một kỉ vật hay được nâng niu như báu vật khi người ta tự kết liễu đời mình chứ?

Ông đây có nói về mấy dấu chân trên cỏ; nhưng suy cho cùng, ta dễ bị lầm về một điểm như vậy.

Còn về con dao, nó có thể bị văng xa khỏi nạn nhân khi anh ta ngã xuống.

Có thể tôi nói thế này là ấu trĩ, nhưng tôi thấy hình như Willoughby Smith đã tự chuốc lấy cái chết."

Có vẻ như Holmes thấy ấn tượng trước giả thuyết vừa được đưa ra, rồi anh tiếp tục bước tới bước lui một lát, trầm ngâm suy nghĩ và hút hết điếu này đến điếu khác.

"Giáo sư Coram này", cuối cùng anh nói, "cho tôi biết có cái gì trong tủ cánh gắn với bàn làm việc vậy?"

"Chẳng có gì ích lợi cho trộm cả.

Giấy tờ gia đình, thư của bà vợ tội nghiệp của tôi, các tấm bằng đại học mà tôi lấy làm tự hào.

Chìa khóa đây, ông có thể tự xem lấy."

Holmes cầm lấy chìa khóa, nhìn thoáng qua rồi trả lại.

"Không, tôi không nghĩ nó sẽ giúp ích gì cho tôi", anh nói.

"Tôi thích yên tĩnh xuống vườn và lật đi lật lại toàn bộ vấn đề trong đầu hơn.

Giả thuyết tự tử ông vừa nêu vẫn còn đôi điều phải bàn.

Chúng tôi phải xin lỗi vì đã làm phiền ông, giáo sư Coram, và tôi hứa là cho đến sau bữa trưa chúng tôi sẽ không quấy rầy ông nữa.

Lúc 2 giờ chúng tôi sẽ quay lại và tường thuật cho ông bất cứ việc gì có thể xảy ra trong khoảng thời gian từ bây giờ cho đến lúc đó."

Holmes lơ đãng lạ lùng, và chúng tôi im lặng bước tới bước lui trên lối đi trong vườn một lát.

"Anh có được manh mối nào chưa?"

Cuối cùng tôi hỏi.

"Nó tùy thuộc vào mấy điếu thuốc tôi hút ấy", anh nói.

"Có thể tôi lầm to.

Mấy điếu thuốc sẽ cho tôi biết."

"Holmes thân mến ơi", tôi kêu lên, "làm thế quái nào..."

"Thôi, thôi, anh cứ tự xem xét lấy.

Nếu không cũng chẳng hề gì.

Tất nhiên, ta vẫn còn manh mối là tiệm bán kính, nhưng tôi sẽ đi đường tắt nếu có.

À, bà Marker tốt bụng đây rồi!

Ta dành năm phút trò chuyện bổ ích với bà ta đi."

Có lẽ tôi đã từng nhận xét rằng khi nào muốn, Holmes sẽ có cách riêng để thu hút cảm tình của phụ nữ, và anh dễ dàng thiết lập mối giao hảo với họ.

Mới được nửa thời gian nêu ra anh đã chiếm được thiện cảm của bà quản gia, và đang hàn huyên như thể đã quen bà nhiều năm rồi.

"Phải, ông Holmes, quả là như ông nói, thưa ông.

Ông ấy hút dữ lắm.

Cả ngày và đôi khi suốt đêm nữa, thưa ông.

Một buổi sáng tôi đã thấy căn phòng ấy - vâng, thưa ông, ta sẽ tưởng là nó chìm trong sương mù London.

Cậu Smith tội nghiệp, cậu ta cũng hút, nhưng không khủng khiếp như giáo sư.

Sức khỏe của ông ấy - vâng, tôi không biết nó tốt hơn hay xấu hơn vì hút thuốc."

"Ừ!"

Holmes nói, "đã thế nó còn làm ta mất cảm giác ngon miệng."

"Chà, điều đó thì tôi không biết, thưa ông."

"Tôi chắc giáo sư hầu như chẳng ăn gì?"

"Ồ, tôi thấy ông ấy khi này khi khác."

"Sau bấy nhiêu điếu tôi thấy ông ấy hút thì tôi dám chắc sáng nay ông ấy không dùng điểm tâm, và không cả ngó ngàng đến bữa trưa nữa."

"Ồ, thưa ông, ông đoán lầm rồi, vì sáng nay ông ấy dùng điểm tâm khá nhiều.

Tôi không biết đã bao giờ thấy ông ấy ăn nhiều hơn vậy chưa, ông ấy còn dặn làm một đĩa sườn thật lớn cho bữa trưa.

Chính tôi cũng ngạc nhiên, vì từ lúc vào căn phòng đó ngày hôm qua và thấy cậu Smith nằm trên sàn thì thấy đồ ăn thôi tôi còn không chịu nổi nữa là.

Vâng, trăm người trăm tính mà, nên giáo sư không mất cảm giác ngon miệng vì chuyện ấy."

Chúng tôi đi tha thẩn trong vườn cho hết buổi sáng.

Stanley Hopkins đã xuống làng để tìm hiểu tin đồn về một phụ nữ lạ mặt mà sáng hôm trước bọn trẻ nhìn thấy trên đường Chatham.

Còn về bạn tôi, sự năng nổ ngày thường của anh dường như biến đi đâu mất.

Tôi chưa từng thấy anh giải quyết vụ nào với vẻ miễn cưỡng như vậy.

Ngay cả Hopkins báo tin tìm được mấy đứa nhỏ đã thấy một bà giống hệt với mô tả của Holmes, còn đeo kính nữa, cũng không khiến anh sốt sắng chút nào.

Anh để tâm hơn khi Susan, người phục vụ bữa trưa cho chúng tôi, tự tiết lộ rằng sáng hôm qua anh Smith có ra ngoài đi dạo, và anh ta về mới được nửa giờ thì thảm kịch xảy ra.

Tôi không nhìn ra tính liên quan của sự việc này, nhưng tôi thấy rõ Holmes đang kết nó vào cái sơ đồ tổng thể mà anh đã thiết lập trong óc.

Chợt anh bật dậy khỏi ghế và liếc nhìn đồng hồ.

"2 giờ rồi, quý vị", anh nói.

"Ta phải lên nói phải trái với ông bạn giáo sư thôi."

Ông già vừa dùng xong bữa trưa, và tất nhiên cái đĩa trống trơn làm chứng cho sự ngon miệng mà bà quản gia đã khẳng định.

Ông ta trông thật kì dị khi bờm tóc bạc trắng và cặp mắt sáng rực quay về phía chúng tôi.

Điếu thuốc thường trực cháy âm ỉ trên miệng, ông ta đã thay đồ và đang ngồi trên chiếc ghế bành cạnh lò sưởi.

"Nào, ông Holmes, ông đã giải được bí ẩn này chưa?"

Ông ta đẩy hộp thiếc lớn đựng thuốc lá để trên bàn bên cạnh về phía bạn tôi.

Đúng lúc đó Holmes cũng chìa tay ra, và thế là cả hai làm cái hộp đổ nghiêng qua mép bàn.

Trong vài phút chúng tôi bò xuống mà tìm mấy điếu thuốc rơi vãi khắp nơi kể cả những chỗ khó lăn vào nhất.

Khi chúng tôi đứng lên thì tôi để ý thấy mắt Holmes sáng long lanh còn má thì bừng lên.

Chỉ khi vào cao trào tôi mới thấy đôi mắt như tín hiệu lâm trận ấy sáng lên.

"Rồi", anh nói, "tôi giải được rồi."

Stanley Hopkins và tôi kinh ngạc ngây người nhìn.

Dường như có một nét cười nhạo vờn qua gương mặt hốc hác của ông giáo sư già.

"Thực vậy ư?

Trong vườn à?"

"Không, ở đây."

"Ở đây ư?

Hồi nào?"

"Ngay lúc này."

"Chắc ông đang đùa, ông Sherlock Holmes.

Ông buộc tôi phải nói với ông rằng vấn đề này quá nghiêm trọng, không thể đùa như vậy được."

"Tôi đã củng cố và kiểm tra từng mắt xích trong chuỗi suy luận của mình, giáo sư Coram, và tôi tin là nó vững chắc rồi.

Các động cơ của ông hay chính xác ông đóng vai trò gì trong vụ việc kì lạ này thì tôi vẫn chưa thể nói.

Trong vài phút nữa có lẽ tôi sẽ được nghe từ chính miệng ông.

Trong khi đó tôi sẽ vì ông mà tái hiện chuyện đã xảy ra, để ông biết thông tin nào tôi vẫn còn cần.

Hôm qua có một bà đã vào thư phòng ông.

Bà ấy đến với ý định lấy một số tài liệu trong tủ của ông.

Bà ấy có chìa khóa riêng.

Tôi đã được dịp kiểm tra chìa của ông, nhưng tôi không thấy chỗ bợt màu mà vết xước trên lớp vécni sẽ tạo ra.

Vì vậy, ông không phải đồng phạm, và theo như tôi hiểu thông qua việc xem xét chứng cứ, bà ấy đến mà không để ông biết là nhằm lén lút lấy đồ của ông."

Miệng giáo sư nhả khói mù mịt.

"Ông chỉ giáo hay quá, hết sức thú vị và hữu ích đấy", ông ta nói.

"Sao ông không nói gì thêm?

Đã lần dò được đến thế, chắc ông cũng biết bà ta ra sao rồi."

"Tôi sẽ cố làm vậy.

Đầu tiên, bà ấy bị viên thư kí của ông tóm nên đã đâm cậu ta để thoát thân.

Tôi thiên về ý nghĩ tai họa này là một sự việc rủi ro, vì tôi tin chắc rằng bà ấy không định gây ra một vết thương trầm trọng như vậy.

Một kẻ sát nhân sẽ không đến mà không có vũ khí.

Thất kinh vì việc mình vừa làm, bà ấy cuống cuồng bỏ chạy khỏi hiện trường thảm kịch.

Không may cho bà ấy là trong lúc giằng co, bà ấy đã bị mất kính, và vì cận nặng nên quả thực thiếu kính thì bà ấy không còn làm gì được.

Bà ấy chạy xuôi một hành lang mà bà ấy tưởng là chỗ lúc trước mình vừa đi qua - cả hai đều trải thảm xơ dừa - và chỉ khi đã quá muộn mới vỡ lẽ là mình đi nhầm và đường rút bị cắt đứt sau lưng.

Bà ấy phải làm sao?

Bà ấy không thể lui.

Bà ấy cũng không thể ở lại đó.

Bà ấy phải đi tiếp.

Thế nên bà ấy đi tiếp.

Bà ấy bước lên mấy bậc thang, đẩy mở một cánh cửa, thì thấy là mình đang ở trong phòng ông."

Ông già ngồi há hốc miệng, trân trối nhìn Holmes.

Nỗi kinh ngạc và sợ hãi in dấu trên vẻ mặt đầy biểu cảm.

Lúc này, ông ta khó khăn lắm mới có thể nhún vai và bật cười giả trá.

"Tất thảy đều rất hay, ông Holmes", ông ta nói.

"Nhưng trong giả thuyết hay ho của ông có một thiếu sót nho nhỏ.

Tôi đang ở trong phòng mình, mà suốt ngày hôm qua tôi không hề rời khỏi phòng."

"Tôi biết điều đó, giáo sư Coram."

"Nhưng ông muốn nói tôi nằm trên giường mà lại không biết có một bà vào phòng mình ư?"

"Tôi không hề nói vậy.

Ông có biết chuyện đó.

Ông đã nói chuyện với bà ấy.

Ông nhận ra bà ấy.

Ông giúp bà ấy trốn thoát."

Một lần nữa, ông giáo sư bật cười khanh khách.

Ông ta đã đứng lên và mắt hừng hực như than hồng.

"Ông điên rồi!"

Ông ta kêu lên.

"Ông đang nói quàng nói xiên.

Tôi giúp bà ta trốn thoát ư?

Giờ bà ta đâu?"

"Bà ấy ở kia", Holmes nói, rồi chỉ về phía chiếc tủ sách cao trong góc phòng.

Tôi thấy ông già vung hai tay lên, một vẻ chấn động khủng khiếp thoáng qua bộ mặt nham hiểm, rồi ông ta lại ngã người ra ghế.

Cùng lúc đó, tủ sách mà Holmes đang chỉ xoay mở, rồi một người đàn bà chạy nhào ra phòng.

"Ông nói đúng!"

Bà ta kêu lên, giọng nước ngoài là lạ.

"Ông nói đúng!

Tôi đây?"

Mình mẩy bà nhuốm nâu vì bụi và phủ mạng nhện từ bức tường chỗ bà nấp.

Mặt bà cũng vằn vện cáu ghét, nhưng ngay cả lúc tươm tất nhất bà cũng không thể được coi là đẹp, vì bà có đúng những đặc điểm như Holmes đã đoán, lại còn thêm cái cằm dài bướng bỉnh.

Vì với thị lực kém bẩm sinh, và cũng vì từ nơi tối chạy ra chỗ sáng, bà đứng như người bị choáng, chớp chớp mắt nhìn quanh xem chúng tôi là ai và đang đứng ở đâu.

Vậy mà, dù có mọi điểm bất lợi, từ dáng điệu của người đàn bà này vẫn toát lên một sự quý phái - lòng dũng cảm nơi cái cằm ngang ngạnh và cái đầu ngẩng cao buộc người khác phải tôn trọng và cảm phục ở một mức độ nào đó.

Stanley Hopkins đặt tay lên cánh tay bà và khẳng định bà là tù nhân của mình, nhưng bà nhẹ nhàng gạt anh ta ra, thái độ vẫn đường hoàng, trịch thượng vô cùng, buộc người khác phải tuân phục.

Ông già tựa vào lưng ghế, mặt nhăn nhúm, cặp mắt đăm chiêu chằm chằm nhìn bà.

"Phải, thưa ông, tôi là tù nhân của ông", bà nói.

"Từ chỗ đứng vừa nãy tôi đã nghe cả rồi, và tôi biết rằng ông đã biết được sự thật.

Tôi thú nhận tất cả những điều đó.

Chính tôi là người giết chàng trai.

Nhưng ông nói đúng, đó là một rủi ro.

Tôi còn không biết cái mình cầm trong tay là con dao, vì trong lúc tuyệt vọng tôi chộp lấy bất cứ thứ gì trên bàn mà đánh anh ta để anh ta buông tôi ra.

Điều tôi nói là sự thật."

"Thưa bà", Holmes nói, "tôi tin chắc đó là sự thật.

Tôi e bà không được khỏe cho lắm."

Sắc mặt bà trở nên đáng sợ, càng khủng khiếp hơn dưới những vệt bụi đen trên mặt.

Bà ngồi xuống mép giường rồi nói tiếp.

"Tôi chẳng còn mấy thời gian nơi trần thế", bà nói, "nhưng tôi muốn ông biết toàn bộ sự thật.

Tôi là vợ của lão này.

Lão không phải người Anh.

Lão là người Nga.

Tôi sẽ không nói tên lão đâu."

Lần đầu tiên ông già cựa quậy.

"Chúa phù hộ cho bà, Anna!"

Ông ta kêu lên.

"Chúa phù hộ cho bà!"

Bà ném cái nhìn cực kì khinh miệt về phía ông ta.

"Sao ông cứ bám riết lấy cuộc đời khốn khổ của mình vậy, Sergius?"

Bà nói.

"Nó làm hại nhiều người mà chẳng làm lợi cho một ai - ngay cả cho chính ông.

Tuy vậy, tôi không có quyền làm đứt sợi chỉ mong manh ấy trước giờ của Chúa.

Từ khi bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà đáng nguyền rủa này lòng tôi đã chịu đủ lắm rồi.

Nhưng tôi phải nói, nếu không thì sẽ quá muộn.

Tôi vừa nói, thưa quý vị, rằng tôi là vợ của lão này.

Ngày chúng tôi cưới nhau thì lão ta năm mươi còn tôi là đứa con gái hai mươi khờ dại.

Chuyện đó xảy ra ở một thành phố của nước Nga, trong một trường đại học - tôi sẽ không nói tên nơi ấy."

"Chúa phù hộ cho bà, Anna!"

Ông già lại lí nhí.

"Chúng tôi là những nhà cải cách, nhà cách mạng Hư vô chủ nghĩa, các ông hiểu cho.

Lão ta và tôi cùng nhiều người nữa.

Thế rồi đến một giai đoạn nhiễu nhương, một cảnh sát bị giết, nhiều người bị bắt, cần có bằng chứng.

Để giữ mạng mình và giành một phần thưởng lớn, chồng tôi đã bán đứng chính vợ mình và các đồng chí.

Phải, tất cả chúng tôi đều bị bắt vì lời khai của lão ta.

Một số trong chúng tôi phải lên đường tới giá treo cổ còn số khác thì bị đày đi Siberia.

Tôi nằm trong nhóm sau cùng, nhưng hạn tù của tôi không phải chung thân.

Chồng tôi mang theo của cải phi nghĩa đến Anh và sống âm thầm từ đó, biết rõ rằng nếu Tổ chức mà biết lão ta ở đâu thì chưa đầy một tuần sau công lí sẽ được thực thi."

Ông già chìa bàn tay run run ra lấy một điếu thuốc.

"Tôi nằm trong tay bà, Anna", ông ta nói.

"Bao giờ bà cũng tốt với tôi."

"Tôi còn chưa kể cho các ông nghe đỉnh điểm sự đê hèn của lão", bà nói.

"Trong số các đồng chí trong Tổ chức, tôi có một người bạn tâm giao.

Anh ấy cao thượng, trìu mến, không nghĩ đến lợi ích của bản thân - tất cả những đặc điểm mà chồng tôi không có.

Anh ấy căm ghét bạo lực.

Chúng tôi ai cũng có tội - nếu mà đó là tội - nhưng anh ấy thì không.

Anh ấy luôn viết thư khuyên can chúng tôi đừng theo đường lối như vậy.

Mấy lá thư này có thể cứu anh ấy.

Cuốn nhật kí của tôi cũng vậy, trong đó, ngày này qua ngày khác, tôi ghi lại những tình cảm của mình đối với anh ấy và quan điểm của mỗi người chúng tôi.

Chồng tôi phát hiện và giữ cả nhật kí lẫn thư từ.

Lão ta cất giấu chúng, và cố hết sức nguyền rủa cho người thanh niên này chết đi.

Trong chuyện này lão đã thất bại, nhưng Alexis bị kết án đày đi Siberia, nơi mà giờ phút này, anh ấy đang lao dịch trong mỏ muối.

Hãy nghĩ đến điều đó, đồ hung ác, đồ hung ác; lúc này, lúc này, ngay lúc này, Alexis, một người mà ông chẳng xứng nhắc đến tên, đang làm việc và sống như một nô lệ, còn tôi nắm mạng sống ông trong tay mà lại tha cho ông."

"Bà vẫn luôn cao thượng mà, Anna", ông già nói, bập bập điếu thuốc.

Bà đã đứng lên nhưng lại ngồi phịch xuống, khẽ kêu một tiếng đau đớn.

"Tôi phải nói cho xong", bà nói.

"Khi mãn hạn tù, tôi bắt tay vào việc đi lấy nhật kí và thư từ mà nếu gửi đến chính phủ Nga thì sẽ xin được lệnh phóng thích cho bạn tôi.

Tôi biết rằng chồng tôi đã đến Anh.

Sau bao tháng kiếm tìm, tôi đã phát hiện ra nơi lão ta sống.

Tôi biết lão vẫn giữ cuốn nhật kí, vì ngày còn ở Siberia, có lần tôi nhận được một lá thư của lão trách móc tôi và trích dẫn vài đoạn trong mấy trang.

Nhưng tôi tin chắc rằng với bản tính hay thù hằn, lão sẽ không bao giờ tự nguyện đưa tôi.

Tôi phải tự đi lấy.

Vì mục đích này, tôi thuê thám tử ở một hãng thám tử tư vào nhà chồng tôi làm thư kí - đó là thư kí thứ hai của ông, Sergius, người đã bỏ ông đi vội vã.

Anh ta biết được rằng giấy tờ cất trong tủ cánh, và đã sao được chìa khóa.

Anh ta không chịu làm gì thêm.

Anh ta đưa cho tôi sơ đồ nhà, và cho tôi biết trước buổi trưa thư phòng lúc nào cũng vắng, vì thư kí được thuê làm việc ở trên đấy.

Thế là cuối cùng tôi cũng thu hết can đảm để tới đây nhằm tự tay lấy giấy tờ.

Tôi đã làm được, nhưng với một cái giá mới đắt làm sao!

Tôi vừa lấy được giấy tờ và đang khóa tủ thì chàng trai ấy tóm lấy tôi.

Sáng hôm ấy tôi đã gặp anh ta.

Anh ta gặp tôi ngoài đường và tôi đã nhờ anh ta chỉ giúp nhà giáo sư Coram mà không biết rằng anh ta là thư kí của lão."

"Đúng!

Đúng!"

Holmes nói.

"Tay thư kí đã về thưa lại với ông chủ về người đàn bà anh ta gặp.

Thế nên trong lúc hấp hối, anh ta đã cố nhắn nhủ rằng đó là bà ta - người mà anh ta vừa thưa chuyện với ông chủ."

"Ông phải để tôi nói", người đàn bà nói, giọng ra lệnh, và nhăn mặt như thể đang đau đớn.

"Khi anh ta ngã xuống thì tôi chạy vội ra khỏi phòng, nhưng lại chọn nhầm cửa nên vào đúng phòng của lão này.

Lão ta tính chuyện đem nộp tôi.

Tôi cho lão ta thấy rằng nếu lão làm vậy thì tính mạng lão sẽ nằm trong tay tôi.

Nếu lão giao nộp tôi cho luật pháp thì tôi có thể nộp lão cho Tổ chức.

Nào phải tôi mong sống cho bản thân, tôi chỉ muốn hoàn thành được mục đích của mình.

Lão biết tôi sẽ làm như đã nói - số phận lão mắc mưu với số phận của tôi.

Vì điều đó chứ không vì lí do nào khác, lão đã che chở cho tôi.

Lão nhét tôi vào chỗ nấp tối tăm đó, một thứ đồ đạc của thời xưa, chỉ mình lão biết tôi ở đó.

Lão dùng bữa trong phòng, nhờ vậy có thể san bớt phần ăn cho tôi.

Đã thỏa thuận là khi cảnh sát rời khỏi nhà thì đêm đến tôi sẽ lẻn đi mà không quay lại nữa.

Nhưng không hiểu sao ông lại đoán được toan tính của chúng tôi."

Bà gỡ từ giữa ngực áo ra một gói nhỏ.

"Đây là lời trăng trối của tôi", bà nói, "đây là cái gói sẽ cứu được Alexis.

Tôi phó thác nó cho danh dự và tình yêu công lí của ông.

Hãy cầm lấy!

Ông sẽ nộp nó tại đại sứ quán Nga.

Giờ tôi đã làm xong phận sự của mình, và..."

"Ngăn bà ấy lại!"

Holmes kêu lên.

Anh đã băng qua phòng và giật lấy một lọ nhỏ từ tay bà.

"Muộn quá rồi!"

Bà nói, ngã sụp xuống giường.

"Muộn quá rồi!

Tôi đã uống thuốc độc trước khi rời chỗ nấp.

Đầu óc tôi đang lâng lâng!

Tôi đi đây!

Tôi yêu cầu ông, thưa ông, hãy nhớ lấy cái gói."

***

"Một vụ đơn giản, vậy mà, về nhiều mặt, nó lại cho ta nhiều bài học", Holmes nhận xét khi chúng tôi về lại thành phố.

"Ngay từ đầu nó đã xoay quanh cái kính kẹp mũi.

Nhưng nếu không nhờ cơ may là người chết chộp được vật này thì tôi không chắc có bao giờ ta đi đến kết luận được không.

Tôi thấy rõ, theo độ nặng của kính, là nếu mất kính thì người đeo hẳn sẽ không thấy đường và không xoay xở được gì.

Khi anh muốn tôi tin rằng bà ấy đi men theo một bờ cỏ hẹp mà không một lần bước trật thì tôi đã nhận xét, chắc anh cũng vẫn còn nhớ, rằng đó là một việc làm xuất sắc.

Trong óc tôi đã đánh giá là bà ấy không thể làm được điều đó, trừ trường hợp khó xảy ra là bà ấy có cặp kính thứ hai.

Do vậy, tôi buộc phải nghiêm túc xem xét giả thuyết rằng bà ấy vẫn còn ở trong nhà.

Khi nhận thấy hai hành lang tương tự nhau thì tôi thấy rõ là bà ấy rất dễ nhầm lẫn, trong trường hợp đó thì hiển nhiên bà ấy đã phải vào phòng ông giáo sư.

Vì vậy, tôi hết sức chú ý tới những gì xác nhận giả định này, nên tôi xem xét căn phòng từng li từng tí hòng tìm bất cứ thứ gì có dạng như một chỗ nấp.

Tấm thảm có vẻ liền mảnh và đóng chắc xuống, nên tôi bỏ qua ý nghĩ có cửa lật.

Rất có thể có một cái hốc phía sau những cuốn sách.

Như các anh biết, mấy chước như vậy thường có trong mấy thư viện xưa.

Tôi quan sát thấy sách chất đống trên sàn ở mọi chỗ khác, nhưng riêng cái tủ sách đó thì lại để trống.

Vậy thì, đó có thể là cánh cửa.

Tôi không thấy dấu hiệu nào dẫn lối, nhưng tấm thảm có màu nâu xám, thích hợp để kiểm tra.

Do vậy, tôi hút thật nhiều loại thuốc hào hạng đó rồi vẩy tàn thuốc khắp chỗ trống trước tủ sách khả nghi.

Đó là một mẹo đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả.

Rồi tôi xuống lầu, và khẳng định, khi có mặt anh, Watson, mà anh không nhận ra ẩn ý trong lời nhận xét của tôi, rằng giáo sư Coram đã dùng nhiều thức ăn hơn - vậy người ta có thể đoán rằng ông ta cần san sẽ cho một người nữa.

Rồi chúng ta lại lên phòng, khi đó, bằng cách làm đổ hộp thuốc lá tôi đã có cơ hội soi xét kĩ sàn nhà, và có thể thấy khá rõ, theo dấu vết trên lớp tàn thuốc, rằng khi chúng ta vắng mặt thì thủ phạm đã ra khỏi chỗ nấp.

Thôi, Hopkins, ta tới Charing Cross rồi đây, và tôi chúc mừng anh vì đã kết thúc thành công vụ án.

Chắc chắn là anh định đến trụ sở rồi.

Watson này, tôi nghĩ bây giờ anh và tôi sẽ cùng đi xe đến đại sứ quán Nga."
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
HẬU VỆ CÁNH MẤT TÍCH (The Missing Three Quarter, 1904)


Tại phố Baker, chúng tôi đã khá quen với việc nhận được những bức điện kì quặc, nhưng tôi đặc biệt nhớ một bức tới tay chúng tôi vào một buổi sáng tháng 2 âm u khoảng bảy, tám năm về trước và khiến Sherlock Holmes lúng túng cả mười lăm phút.

Bức điện gửi cho anh, viết như thế này: Vui lòng chờ tôi.

Bất hạnh khủng khiếp.

Hậu vệ cánh phải mất tích, tuyệt đối không thể thiếu được vào ngày mai.

Overton.

"Dấu bưu điện ở Strand, gửi đi lúc 10 giờ 36 phút", Holmes nói, đọc đi đọc lại.

"Rõ ràng khi gửi ông Overton khá kích động nên kết quả là bức điện có phần thiếu mạch lạc.

Được, được, tôi dám chắc khi tôi xem xong tờ Times thì ông ta sẽ có mặt ở đây, bấy giờ ta sẽ biết cả thôi.

Trong những ngày trì trệ thế này thì việc vô nghĩa nhất cũng sẽ được hoan nghênh."

Dạo này tình hình công việc của chúng tôi quả là rất trì trệ, và tôi cũng đã biết sợ những giai đoạn nhàn hạ như vậy, vì theo kinh nghiệm, tôi biết đầu óc bạn tôi quá giàu hoạt năng đến mức nếu không có dữ liệu cho nó làm việc thì thật nguy hiểm.

Suốt nhiều năm tôi đã dần dà giúp anh cai được thói nghiện thuốc phiện có lần đã đe dọa cản trở sự nghiệp phi thường của anh.

Giờ tôi biết trong điều kiện bình thường anh không còn thèm cái thứ kích thích giả tạo ấy nữa, nhưng tôi cũng hiểu rõ rằng con quỷ vẫn chưa chết, mà chỉ đang ngủ im; tôi cũng biết nó chỉ ngủ lim dim và sắp sửa thức giấc khi mà trong những giai đoạn nhàn rỗi, tôi thấy được cái vẻ rầu rầu trên gương mặt khắc khổ cùng vẻ trầm ngâm nơi đôi mắt sâu hoắm và bí hiểm của Holmes.

Do vậy, tôi cầu Chúa phù hộ cho ông Overton này, dù ông ta có là ai đi nữa, vì đã xuất hiện cùng lời nhắn kì bí, phá tan sự bình lặng nguy hiểm đe dọa đem đến nhiều hiểm họa hơn mọi bão tố trong cuộc đời sôi nổi của bạn tôi.

Đúng như chúng tôi nghĩ, người gửi đến sau bức điện không lâu, và theo sau tấm danh thiếp của ông Cyril Overton, Cao đẳng Trinity, Cambridge, là một thanh niên lực lưỡng, một khối xương và cơ bắp chắc nịch nặng dễ đến cả trăm kí, đôi vai to bè choán hết cả chiều rộng cửa ra vào, rồi anh ta nhìn chúng tôi từ người này qua người kia, gương mặt cân đối phờ phạc vì lo lắng.

"Ông Sherlock Holmes phải không?"

Bạn tôi khẽ cúi đầu chào.

"Tôi đã xuống Sở Cảnh sát London, thưa ông Holmes.

Tôi đã gặp thanh tra Stanley Hopkins.

Ông ấy khuyên tôi đến tìm ông, ông ấy nói vụ này, theo như ông ấy thấy, thuộc chuyên môn của ông hơn là của cảnh sát chính quy."

"Xin cứ ngồi xuống và cho tôi biết có chuyện gì."

"Khủng khiếp lắm, ông Holmes, cực kì khủng khiếp!

Tôi lấy làm lạ sao tóc mình còn chưa bạc.

Godfrey Staunton - tất nhiên ông đã nghe tên anh ta rồi nhỉ?

Anh ta là cái bản lề mà cả đội xoay quanh.

Tôi thà để đội thi đấu thiếu hai cầu thủ mà có Godfrey cho hàng hậu vệ còn hơn là vắng anh ta.

Dù là chuyền bóng, chặn bóng hay rê bóng thì cũng không ai sánh kịp anh ta; hơn nữa, anh ta là cầu thủ chủ chốt và có thể giúp đội bóng của chúng tôi đoàn kết lại.

Tôi phải làm sao đây?

Đó là điều tôi hỏi ông, ông Holmes.

Chúng tôi có Moorhouse là cầu thủ dự bị số một, nhưng anh ta được huấn luyện làm tiền vệ và anh ta cứ len lỏi vào giành bóng thay vì bám ở đường biên.

Anh ta phát bóng tốt, điều đó đúng, nhưng anh ta không biết phán đoán và không thể chạy bứt tốc.

Ôi, Morton hay Johnson, mấy cầu thủ chạy bứt tốc của đội Oxford, có thể vượt anh ta dễ dàng.

Stevenson cũng nhanh đấy, nhưng anh ta không ném từ vạch hai lăm yard được, và một hậu vệ chỉ có tốc độ mà không đá cũng chẳng thể ném thì không xứng với vị trí ấy.

Không được rồi, ông Holmes, chúng tôi sẽ tiêu tùng nếu ông không giúp tôi tìm ra Godfrey Staunton."

Bạn tôi ngạc nhiên và thích thú lắng nghe bài phát biểu tràng giang đại hải, được tuôn ra hăng hái và sôi nổi lạ thường, thỉnh thoảng bàn tay chắc khỏe của người nói lại vỗ một cái vào đầu gối để nhấn mạnh từng điểm.

Khi người khách của chúng tôi đã dừng lời, Holmes mới với tay lấy quyển danh mục và tra phần S.

Nhưng chỉ có lần này là anh không đào bới được gì trong cái mỏ thông tin đa dạng đó.

"Có Arthur H.

Staunton, kẻ giả mạo giấy tờ trẻ tuổi đang phất", anh nói, "rồi Henry Staunton, kẻ mà tôi góp phần đưa đến giá treo cổ, nhưng cái tên Godfrey Staunton thì tôi chưa nghe nói bao giờ."

Đến lượt người khách của chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.

"Ủa, ông Holmes, tôi cứ nghĩ ông biết tuốt", anh ta nói.

"Nếu chưa từng nghe tên Godfrey Staunton thì tôi chắc ông cũng không biết gì về Cyril Overton?"

Holmes vui vẻ lắc đầu.

"Trời đất!"

Anh chàng vận động viên kêu lên.

"Ô hay, tôi từng là cầu thủ dự bị số một của tuyển Anh trong trận đấu với tuyển xứ Wales, và tôi làm thủ quân cho đội tuyển của trường đại học cả năm trời nay.

Nhưng chuyện đó thì có là gì!

Tôi nghĩ ở Anh không ai là không biết Godfrey Staunton, hậu vệ cừ khôi, từng tham dự giải Cambridge, Blackheath, cùng năm trận đấu quốc tế.

Trời đất!

Ông Holmes, lâu nay ông sống ở đâu vậy?"

Holmes cười trước vẻ sửng sốt ngây ngô của chàng hộ pháp trẻ.

"Anh sống trong một thế giới khác với thế giới của tôi, anh Overton, một thế giới trong sáng và lành mạnh hơn.

Công việc của tôi vươn nhánh đến nhiều lĩnh vực trong xã hội, nhưng tôi mừng mà nói là nó chưa từng chạm tới thể thao nghiệp dư, vốn là thứ tuyệt vời nhất và trong lành nhất nước Anh.

Tuy vậy, việc anh bất ngờ đến sáng nay cho tôi thấy rằng ngay cả cái thế giới trong lành và chơi đẹp đó cũng có thể có việc cho tôi làm; thế nên, anh bạn ơi, xin anh hãy ngồi xuống rồi điềm tĩnh và thong thả kể tôi nghe chính xác chuyện gì đã xảy ra, và anh muốn tôi phải giúp anh thế nào."

Gương mặt anh chàng Overton trẻ tuổi có cái vẻ khổ sở của người quen dùng cơ bắp hơn là đầu óc; nhưng dần dà, sau nhiều câu lặp đi lặp lại và cách diễn đạt tối nghĩa trong lời kể mà tôi xin lược bỏ, anh ta cũng trình bày được câu chuyện kì lạ của mình.

"Chuyện là thế này, ông Holmes.

Như tôi đã nói, tôi là thủ quân của đội bóng bầu dục trường đại học Cambridge, còn Godfrey Staunton là cầu thủ giỏi nhất trong đội tôi.

Ngày mai chúng tôi thi đấu với đội Oxford.

Hôm qua tất cả chúng tôi lên trọ tại khách sạn tư Bentley.

Lúc 10 giờ tôi đi kiểm tra thì thấy các đồng đội đã ngủ cả, vì tôi tin một chương trình tập luyện nghiêm ngặt và ngủ nhiều sẽ giúp cả đội sung sức.

Tôi nói dăm câu với Godfrey trước khi anh ta đi ngủ.

Tôi thấy anh ta có vẻ xanh xao, phiền muộn.

Tôi hỏi anh ta có chuyện gì vậy.

Anh ta nói là ổn - chỉ hơi nhức đầu.

Tôi chúc anh ta ngủ ngon rồi đi.

Nửa giờ sau, người gác cổng báo với tôi là có một kẻ trông lôi thôi lếch thếch, để râu, mang một lá thư đến tìm Godfrey.

Vì Godfrey chưa đi ngủ nên bức thư được đem lên phòng cho anh ta.

Godfrey đọc xong thì ngã ngửa ra ghế như thể rụng rời tay chân.

Người gác cổng hoảng đến mức định đi gọi tôi, nhưng Godfrey ngăn cản anh ta, uống một cốc nước rồi trấn tĩnh lại.

Đoạn Godfrey xuống lầu, nói đôi câu với người đang chờ trong tiền sảnh, rồi sau đó cả hai cùng bỏ đi.

Hình ảnh cuối cùng mà người gác cổng nhìn thấy là họ đi như chạy về hướng Strand.

Sáng nay phòng Godfrey không có ai, giường vẫn chưa nằm, còn đồ đạc thì thảy đều y như tôi thấy đêm hôm trước.

Anh ta đã bỏ đi ngay với người lạ nọ, và từ đó không còn nghe gì về anh ta nữa.

Tôi không tin anh ta sẽ còn trở lại.

Godfrey ấy, anh ta là dân thể thao, từ tận trong xương tủy, nên sẽ không thể nào bỏ tập và lừa thủ quân nếu không vì một nguyên nhân nào đó quá nghiêm trọng với anh ta.

Không, tôi có cảm tưởng như anh ta biến mất luôn rồi, và chúng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại anh ta nữa."

Sherlock Holmes hết sức chăm chú lắng nghe câu chuyện lạ thường này.

"Anh đã làm gì rồi?"

Anh hỏi.

"Tôi đánh điện cho Cambridge để hỏi xem ở đó có nghe gì về anh ta không.

Tôi vừa nhận được hồi âm.

Không ai thấy anh ta cả."

"Anh ta có thể về lại Cambridge sao?"

"Phải, có một chuyến tàu khuya - lúc 11 giờ 15."

"Nhưng, theo như anh khẳng định thì anh ta không đi chuyến đó?"

"Không, không thấy anh ta."

"Tiếp đó anh làm gì?"

"Tôi đánh điện cho huân tước Mount James."

"Sao lại đánh điện cho huân tước Mount James?"

"Godfrey mồ côi cả cha lẫn mẹ, và huân tước Mount James là người bà con gần nhất của anh ta - một người cậu, tôi nghĩ vậy."

"Thực vậy ư!

Chuyện này đã soi sáng vấn đề ở một góc độ mới.

Huân tước Mount James là một trong những người giàu nhất Anh quốc."

"Tôi có nghe Godfrey nói vậy."

"Và bạn anh có quan hệ mật thiết với ông ta?"

"Phải, anh ta là người thừa kế của lão, mà lão thì gần tám mươi rồi, lại còn bị thống phong đầy mình.

Người ta nói lão dùng khớp ngón tay mà bôi phấn cho cơ bi-a cũng được nữa.

Cả đời lão chưa bao giờ cho Godfrey lấy một shilling, vì lão cực kì keo kiệt, nhưng rồi tất cả cũng sẽ về tay anh ta thôi."

"Anh đã nghe tin gì từ huân tước Mount James chưa?"

"Vẫn chưa."

"Nếu là đến chỗ huân tước Mount James thì bạn anh có thể có động cơ gì?"

"À, đêm trước có điều gì đó khiến anh ta lo lắng, mà nếu liên quan đến tiền nong thì có thể anh ta sẽ đến chỗ người bà con thân cận lắm tiền, mặc dù theo như tất cả những gì tôi nghe nói thì anh ta chẳng có nhiều cơ may lấy được.

Godfrey không ưa ông già.

Nếu không phải là chuyện chẳng đặng đừng thì anh ta sẽ không đi đâu."

"Thôi được, ta sẽ sớm xác minh được chuyện đó.

Nếu bạn anh định đến chỗ bà con, huân tước Mount James, vậy thì anh sẽ giải thích thế nào về chuyện gã có bề ngoài lôi thôi đến gặp lúc khuya khoắt như vậy, và tâm trạng lo âu của bạn anh do gã đó đến mà có?"

Cyril Overton đưa tay bóp trán.

"Tôi chẳng hiểu gì cả", anh ta nói.

"Được, được, tôi có một ngày rảnh rỗi, vậy nên tôi sẽ vui lòng tìm hiểu vấn đề này", Holmes nói.

"Tôi đặc biệt khuyên anh nên chuẩn bị cho trận đấu mà coi như không có mặt chàng trai đó.

Theo như anh nói, hẳn là do hoàn cảnh bất khả kháng anh ta mới bỏ đi như vậy, nên rất có khả năng là chính hoàn cảnh ấy cũng sẽ giữ chân anh ta.

Ta hãy cùng đến khách sạn, rồi xem người gác cổng có thể làm sáng tỏ thêm vấn đề này không."

Sherlock Holmes là bậc thầy trong nghệ thuật làm cho nhân chứng thuộc diện binh dân cảm thấy thoải mái, nên chẳng mấy chốc, khi được ở riêng tư trong căn phòng vắng của Godfrey Staunton, anh đã rút tỉa được tất cả những gì người gác cổng có thể nói.

Người khách đêm trước không thuộc tầng lớp nhàn nhã, cũng không phải dân lao động chân tay.

Theo người gác cổng mô tả, kẻ này chỉ là 'một gã thường thường bậc trung' trạc năm mươi, râu điểm bạc, mặt mày xanh xao, ăn mặc giản dị.

Dường như bản thân ông ta cũng đang bồn chồn.

Người gác cổng đã để ý thấy tay ông ta run run khi chìa lá thư ra.

Godfrey Staunton đã nhét mẩu giấy vào túi.

Staunton không bắt tay ông này trong tiền sảnh.

Họ nói với nhau đôi câu mà người gác cổng chỉ nghe ra được hai chữ 'thời gian'.

Rồi họ vội vã bỏ đi đúng như Holmes được nghe kể.

Theo như đồng hồ treo ở tiền sảnh thì lúc đó mới 10 giờ rưỡi.

"Để tôi nghĩ xem", Holmes nói và ngồi xuống giường của Staunton.

"Anh làm ca ngày, đúng không?"

"Phải, thưa ông, tôi hết ca trực lúc 11 giờ."

"Tôi đoán người gác cổng ca đêm không thấy gì?"

"Không, thưa ông.

Có một đoàn hát đến muộn.

Không còn ai khác."

"Hôm qua anh trực cả ngày sao?"

"Vâng, thưa ông."

"Anh có đem thư gì đến cho anh Staunton không?"

"Có, thưa ông, một bức điện."

"A!

Thú vị đấy.

Lúc đó là mấy giờ?"

"Khoảng 6 giờ."

"Khi nhận thư thì anh Staunton đang ở đâu?"

"Ở đây, trong phòng anh ấy."

"Anh có mặt khi anh ta mở thư không?"

"Có, thưa ông, tôi chờ xem anh ấy có phúc đáp không."

"Sao, có không?"

"Có, thưa ông.

Anh ấy có viết phúc đáp."

"Anh có cầm đi không?"

"Không, anh ấy tự tay cầm đi."

"Nhưng anh ta viết khi có mặt anh?"

"Phải, thưa ông.

Tôi đứng bên cửa, còn anh ấy ngồi bên chiếc bàn đó, quay lưng lại với tôi.

Viết xong thì anh ấy nói: Được rồi, anh gác cổng, tự tôi sẽ cầm đi."

"Anh ta viết bằng gì?"

"Bút mực, thưa ông."

"Đơn điện tín là một trong mấy tờ trên bàn đây phải không?"

"Phải, thưa ông, nó nằm trên cùng đấy."

Holmes đứng lên.

Anh lấy mấy tờ đơn điện tín đi lại cửa sổ và cẩn thận kiểm tra tờ trên cùng.

"Thật tiếc là anh ta không viết bằng bút chì", anh nói, nhún vai vẻ thất vọng, ném chúng trở lại.

"Watson này, chắc chắn anh vẫn hay nhận thấy, nét chữ thường lằn xuống - chỉ vì thế mà nhiều cuộc hôn nhân êm ấm đã tan vỡ.

Song ở đây tôi không tìm thấy dấu vết gì.

Tuy vậy, tôi vui mừng khi nhận thấy anh ta viết bằng bút lông ngỗng ngòi to, nên tôi hầu như không nghi ngờ gì chuyện ta sẽ tìm thấy một dấu in nào đó trên tờ giấy thấm này.

À, đúng vậy, chắc hẳn nó đây rồi!"

Anh xé một mảnh giấy thấm và quay nó về phía chúng tôi để chúng tôi nhìn thấy dòng kí tự:

Cyril Overton vô cùng phấn chấn.

"Giơ nó lên trước gương đi!"

Anh ta kêu lên.

"Không cần đâu", Holmes nói.

"Tờ giấy mỏng, nên mặt trái sẽ cho ta biết thông tin.

Đây rồi."

Anh lật nó qua và chúng tôi đọc:

"Vậy đó chính là khúc cuối của bức điện Godfrey Staunton gửi đi trong vòng vài giờ trước khi mất tích.

Ta bị thiếu ít nhất sáu chữ trong lời nhắn, nhưng những chữ còn lại: 'Vì Chúa hãy ở bên chúng tôi!' chứng tỏ rằng chàng trai này đã thấy một mối nguy khủng khiếp đang đến gần mà ai đó có thể che chở cho anh ta.

'Chúng tôi', xin nhớ kĩ cho!

Còn một đương sự nữa.

Đó có thể là ai ngoài cái ông có râu, mặt mày xanh xao, cũng có vẻ đang trong tình trạng căng thẳng như vậy?

Nếu vậy thì mối liên hệ giữa Godfrey Staunton và người đàn ông có râu ấy là như thế nào?

Và người thứ ba mà hai kẻ kia đều mong chờ sự giúp đỡ nhằm đối phó lại mối nguy cấp bách là ai?

Phạm vi điều tra của chúng ta đã thu hẹp đến đấy."

"Ta chỉ còn phải tìm hiểu xem bức điện gửi cho ai thôi", tôi gợi ý.

"Đúng, Watson thân mến.

Suy nghĩ của anh, dù sâu sắc, nhưng cũng đã thoáng qua óc tôi.

Nhưng tôi dám nói hẳn anh cũng biết là nếu bước vào bưu điện yêu cầu xem cuống lời nhắn của người khác thì nhân viên bưu điện sẽ chẳng mấy mặn mà giúp đỡ.

Trong mấy chuyện này người ta quan liêu lắm!

Tuy nhiên, tôi không nghi ngờ gì là nếu khéo léo và ý nhị một chút thì vẫn có thể đạt được mục đích.

Tạm thời thì nhân lúc có mặt anh, anh Overton, tôi muốn được xem qua mấy giấy tờ để lại trên bàn này."

Có một số thư từ, hóa đơn và sổ tay mà Holmes lật lên xem xét bằng mấy ngón tay thoăn thoắt, căng thẳng và ánh mắt dò xét, lanh lợi.

"Ở đây không có gì", cuối cùng anh nói.

"Nhân tiện, tôi chắc là bạn anh trẻ trung, khỏe mạnh - anh ta không có gì bất ổn chứ?"

"Tuyệt đối ngon lành."

"Có bao giờ anh thấy anh ta đau ốm gì không?"

"Không một ngày nào.

Anh ta từng nằm liệt giường vì bị đá vào ống quyển, có lần bị trật xương bánh chè, nhưng những chuyện đó chẳng là gì cả."

"Có lẽ anh ta không khỏe mạnh như anh tưởng.

Tôi nghĩ có thể anh ta đang âm thầm chịu đựng một căn bệnh nào đó.

Nếu anh ưng thuận thì tôi sẽ bỏ túi một vài tờ trong số này, phòng khi chúng có liên quan đến việc điều tra của chúng tôi sau này."

"Khoan, khoan!"

Một giọng cáu kỉnh vang lên, và khi chúng tôi ngước lên thì thấy một lão già nhỏ thó, dị hợm, cắn cảu và nhăn nhó xuất hiện ở cửa.

Lão ta mặc đồ đen bạc phếch, đội cái mũ chóp cao có vành rất rộng và đeo chiếc cà vạt trắng lòng thòng - nhìn tổng thể trông lão như một mục sư cực kì quê mùa hay một kẻ khóc mướn của dịch vụ tang lễ.

Vậy mà, mặc dù bề ngoài lôi thôi và thậm chí kì cục, giọng lão lại có vẻ đanh thép còn cử chỉ vô cùng nhanh nhẹn buộc ta phải chú ý.

"Ông là ai, thưa ông, và ông có quyền gì mà động vào giấy tờ của quý ông này?"

Lão già hỏi.

"Tôi là thám tử tư, và tôi đang cố lí giải việc anh ta mất tích."

"Ồ, thế hả, thế hả?

Vậy ai chỉ thị cho ông, hả?"

"Anh này, bạn anh Staunton, do bên Sở Cảnh sát London giới thiệu đến chỗ tôi."

"Còn anh là ai?"

"Tôi là Cyril Overton."

"Vậy thì anh chính là người đánh điện cho tôi.

Tôi là huân tước Mount James.

Tôi đã tức tốc bắt xe ở Bayswater đến đây ngay.

Vậy là anh đã thuê thám tử?"

"Phải, thưa ngài."

"Và anh sẵn sàng thanh toán phí tổn?"

"Thưa ngài, tôi tin chắc rằng khi chúng tôi tìm thấy anh Godfrey bạn tôi, anh ấy sẽ sẵn lòng chi trả."

"Nhưng nếu không bao giờ tìm thấy anh ta, hử?

Trả lời đi!"

"Trong trường hợp đó, chắc chắn người nhà anh ta..."

"Làm gì có chuyện đó!"

Lão già nhỏ thó ré lên.

"Đừng có mà trông mong ở tôi một xu nào, không một xu nào hết!

Mong ông hiểu điều đó, ông thám tử!

Tôi là người thân duy nhất của chàng trai kia, và tôi cho các vị biết là tôi không chịu trách nhiệm đâu.

Nếu anh ta có chút tiền đồ nào thì đó là nhờ tôi chưa hề phung phí tiền, mà giờ tôi cũng không định làm vậy.

Còn về mớ giấy tờ mà ông đang rất tự tiện đụng vào, tôi có thể cho ông biết là nếu ở đó có gì giá trị thì ông sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm giải thích cho những gì ông làm với chúng."

"Được lắm, thưa ngài", Sherlock Holmes nói.

"Trong khi đó thì cho phép tôi hỏi bản thân ngài có giả thuyết nào giải thích chuyện chàng trai này mất tích không?"

"Không, thưa ông, tôi không có.

Nó to con và già đầu đủ để tự lo thân, còn nếu nó ngu ngốc đến mức mất tích thì tôi hoàn toàn không lĩnh trách nhiệm đi tìm nó."

"Tôi rất hiểu lập trường của ngài", Holmes nói, mắt ánh lên vẻ tinh quái.

"Có lẽ ngài chưa hiểu hết lập trường của tôi.

Bấy lâu nay Godfrey Staunton có vẻ là người nghèo.

Nếu anh ta bị bắt cóc thì cũng không phải vì bất cứ thứ gì mà anh ta sở hữu.

Tiếng tăm về sự giàu có của ngài đã lan truyền ra nước ngoài, thưa huân tước Mount James, nên rất có thể là một băng trộm đã bắt cóc cháu ngài để moi ở anh ta chút thông tin về nhà cửa, các thói quen và kho của cải của ngài."

Mặt vị khách loắt choắt khó ưa của chúng tôi trắng bệch ra như chiếc cà vạt lão đang đeo.

"Trời đất, ông ơi, sao ông nghĩ thế!

Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bất lương như thế!

Sao trên đời lại có những thằng đều giả, vô nhân tính như vậy!

Nhưng Godfrey là đứa tử tế, một thằng tin được.

Không gì xui nó bán đứng cậu nó được đâu.

Chiều nay tôi sẽ cho đem hết đồ bạc tới nhà băng.

Trong khi đó thì đừng tiếc công, ông thám tử!

Tôi xin ông làm mọi cách để đem nó về an toàn.

Còn về tiền nong thì, thôi được, trong chừng mực năm bảng, hay kể cả là mười bảng đi nữa, nếu ông cần thì cứ tìm đến tôi."

Ngay cả khi đã được uốn nắn lối suy nghĩ, kẻ keo kiệt mang danh quý tộc này cũng không cung cấp được thông tin gì có ích cho chúng tôi, vì lão không biết gì mấy về đời tư của cháu trai.

Đầu mối duy nhất chúng tôi có được nằm trong bức điện hụt đầu hụt đuôi, và Holmes mang bản sao ấy lên đường đi tìm mắt xích thứ hai trong chuỗi suy luận của mình.

Chúng tôi đã tống tiễn huân tước Mount James, còn Overton thì đã đi hội ý với mấy thành viên khác trong đội về vận rủi đã xảy ra với họ.

Cách đó không xa có một bưu điện.

Chúng tôi dừng lại bên ngoài.

"Đáng thử lắm, Watson", Holmes nói.

"Tất nhiên, có trát thì ta có thể yêu cầu xem cuống, nhưng vẫn chưa đến mức đó.

Tôi đoán chừng ở một nơi nhộn nhịp thế này chắc họ không nhớ mặt khách.

Cứ liều thử xem."

"Tôi rất tiếc phải làm phiền cô", anh nói, kiểu ôn tồn nhất, với cô gái đằng sau lưới sắt, "trong bức điện tôi gửi hôm qua có chút sai sót nhỏ.

Tôi vẫn chưa nhận được hồi âm, nên rất lo mình đã quên đề tên.

Cô có thể cho tôi biết có đúng như vậy không?"

Cô gái lật một xấp cuống đơn.

"Lúc đó mấy giờ?"

Cô hỏi.

"Hơn 6 giờ một chút."

"Gửi cho ai?"

Holmes đặt ngón tay lên môi rồi liếc nhìn tôi.

"Mấy chữ cuối cùng là 'hãy ở bên chúng tôi'," anh thì thầm, vẻ bí mật, "Tôi rất lo vì chưa nhận được hồi âm."

Cô gái tách riêng một tờ đơn ra.

"Nó đây.

Không ghi tên", cô nói, đẩy ra trên quầy.

"Thảo nào, chính vì thế mà tôi chưa nhận được hồi âm", Holmes nói.

"Trời ơi, đúng là tôi ngu quá!

Xin chào, thưa cô, và xin đa tạ vì đã giúp tôi nhẹ đầu."

Anh tủm tỉm và xoa xoa hai bàn tay khi chúng tôi lại ra đến ngoài đường.

"Sao?"

Tôi hỏi.

"Có tiến triển rồi, Watson thân mến, có tiến triển rồi.

Tôi đã chuẩn bị sẵn bảy kế khác nhau để được liếc nhìn bức điện đó, nhưng tôi không ngờ lại thành công ngay từ lần đầu."

"Vậy anh có được gì rồi?"

"Một khởi điểm để ta điều tra."

Anh vẫy một cỗ xe ngựa.

"Nhà ga King's Cross", anh nói.

"Vậy ta sẽ đi một chuyến sao?"

"Phải, tôi nghĩ ta phải cùng xuống Cambridge thôi.

Tôi thấy dường như mọi dấu hiệu đều chỉ về hướng đó."

"Anh nói đi", tôi hỏi khi chúng tôi đi xe ngựa trên đường Gray's Inn, "anh đã nghi ngờ nguyên nhân mất tích nào chưa?

Trong tất cả các vụ của ta, tôi chưa thấy vụ nào có động cơ khó hiểu hơn.

Chắc anh không thực bụng nghĩ anh ta có thể bị bắt cóc để cung cấp thông tin hại ông cậu giàu có?"

"Watson thân mến, thú thật tôi thấy chuyện đó không phải là cách giải thích khả dĩ cho lắm.

Tuy vậy, lúc ấy tôi nghĩ chỉ có nói thế mới khiến lão già cực kì khó ưa nọ phải chú ý."

"Rõ ràng anh đã đạt được mục đích.

Nhưng còn các khả năng khác thì sao?"

"Tôi có thể nêu ra dăm ba cái.

Anh phải thừa nhận rằng thật kì lạ và đáng ngờ khi sự việc xảy ra vào đêm trước trận đấu quan trọng này, lại còn liên quan đến người duy nhất mà sự có mặt có vẻ tối quan trọng đối với thành công của đội bóng.

Tất nhiên, đó có thể là một sự trùng hợp tình cờ, nhưng thú vị.

Thể thao nghiệp dư không có cá độ, nhưng nhiều vụ cá cược bên ngoài vẫn diễn ra trong công chúng, nên có thể nó đáng để ai đó mua chuộc một cầu thủ như bọn bất lương ở trường đua mua chuộc nài ngựa.

Đó là một cách giải thích.

Cách giải thích hiển nhiên thứ hai là chàng trai này quả thực là người thừa kế một tài sản kếch sù, dù hiện nay tiền bạc của anh ta có ít ỏi thế nào nên không phải là không thể có chuyện bày mưu bắt giữ anh ta để đòi tiền chuộc."

"Mấy giả thuyết này không tính đến bức điện."

"Đúng thế, Watson.

Bức điện vẫn là thứ chắc chắn duy nhất mà ta phải giải quyết, và ta không được quên mất nó.

Chính vì muốn làm sáng tỏ mục đích của bức điện này mà giờ ta đi Cambridge.

Con đường điều tra của ta lúc này đang mù mịt, nhưng trước tối nay mà ta chưa giải được nó hay có tiến triển nào đáng kể thì mới là lạ đấy."

Khi chúng tôi tới thành phố đại học lâu đời thì trời đã tối.

Holmes bắt một cỗ xe ngựa tại nhà ga rồi dặn tay xà ích chở tới nhà bác sĩ Leslie Armstrong.

Ít phút sau chúng tôi đã dừng lại tại một tòa nhà lớn trong khu phố sầm uất nhất.

Sau khi được dẫn vào, chờ đợi một hồi cuối cùng chúng tôi cũng được mời vào phòng khám, ở đây chúng tôi thấy ông bác sĩ đang ngồi sau bàn.

Việc tôi không biết đến cái tên Leslie Armstrong cho thấy tôi đã xa rời nghề nghiệp đến mức độ nào.

Giờ tôi mới biết ông ta không chỉ là một trong những người đứng đầu khoa y của trường đại học, mà còn là nhà tư tưởng tiếng tăm của Âu châu trong nhiều ngành khoa học.

Nhưng dù không biết thành tích lẫy lừng ấy thì người ta cũng không thể không thấy ấn tượng khi thoạt nhìn người đàn ông này: Mặt to bè, vuông vức, đôi mắt trầm tư dưới cặp lông mày chổi xể, và quai hàm cứng như đúc bằng đá hoa cương.

Một người có tính cách sâu sắc, trí tuệ mẫn tiệp, nghiêm nghị, khắc khổ, độc lập, đáng nể - tôi hiểu bác sĩ Leslie Armstrong như vậy.

Ông ta cầm danh thiếp của bạn tôi trong tay, rồi ngước lên với thái độ không mấy hài lòng biểu lộ trên nét mặt thiếu thân thiện.

"Tôi đã được nghe danh ông, ông Sherlock Holmes, tôi cũng biết nghề của ông, một nghề mà tôi hoàn toàn không đồng tình."

"Thưa bác sĩ, thế thì chẳng khác nào ông đồng tình với mọi tên tội phạm trong nước", bạn tôi điềm nhiên nói.

"Nếu những nỗ lực của ông là nhằm ngăn chặn tội ác, thưa ông, thì mọi thành viên hiểu biết trong cộng đồng đều ủng hộ, dù tôi không thể nghi ngờ là bộ máy chính quy đã đủ đông đảo cho mục đích này.

Nghề nghiệp của ông đáng bị chỉ trích là ở chỗ ông rình mò bí mật cá nhân, ông đào bới những chuyện gia đình đáng ra phải che đậy, và khi ông vô tình làm mất thời gian của những người bận rộn hơn ông.

Chẳng hạn như lúc này đây, tôi nên viết một khảo luận thay vì trò chuyện với ông."

"Tôi không phủ nhận, thưa bác sĩ; ấy thế mà cuộc chuyện trò này chưa biết chừng lại quan trọng hơn khảo luận đấy.

Nhân tiện tôi có thể cho ông biết rằng việc chúng tôi đang làm trái ngược hoàn toàn với những gì mà ông vừa trách cứ rất đúng, và chúng tôi đang cố ngăn chặn để những sự việc riêng tư không bị phơi bày công khai, bởi điều đó sẽ là không tránh khỏi một khi vụ án đến tay cảnh sát.

Ông có thể xem tôi như một người tiên phong không chính quy đi trước các lực lượng chính quy ở đất nước này.

Tôi đến để hỏi ông về Godfrey Staunton."

"Hỏi gì về anh ta?"

"Ông biết anh ta, phải không?"

"Anh ta là một người bạn thân của tôi."

"Ông biết anh ta đã mất tích chứ?"

"À, ra thế!"

Vẻ mặt nghiêm khắc của giáo sư vẫn không biến đổi.

"Đêm qua anh ta đã rời khỏi khách sạn.

Đến giờ vẫn chưa nghe tin gì."

"Chắc chắn anh ta sẽ trở lại."

"Mai là trận bóng giữa các trường đại học diễn ra rồi."

"Tôi không ủng hộ mấy trò trẻ con này.

Tôi chỉ quan tâm sâu sắc đến số phận của chàng trai, vì tôi biết anh ta và mến anh ta.

Trận bóng thì không hề thuộc phạm vi hiểu biết của tôi."

"Vậy thì tôi xin ông ủng hộ tôi điều tra số phận của anh Staunton.

Ông có biết anh ta ở đâu không?"

"Đương nhiên là không."

"Từ hôm qua ông không gặp anh ta sao?"

"Không, tôi không gặp."

"Anh Staunton có phải người khỏe mạnh không?"

"Hoàn toàn."

"Có bao giờ ông thấy anh ta đau ốm gì không?"

"Không bao giờ."

Holmes bỗng xòe một tờ giấy ra trước mặt bác sĩ.

"Vậy thì ông sẽ giải thích thế nào về tờ hóa đơn đã đóng dấu thực trả mười lăm guinea mà tháng trước Godfrey Staunton thanh toán cho bác sĩ Leslie Armstrong ở Cambridge?

Tôi lấy nó trong mớ giấy tờ trên bàn của anh ta."

Bác sĩ đỏ mặt giận dữ.

"Tôi thấy không có lí do gì phải giải thích với ông, ông Holmes."

Holmes cất lại tờ hóa đơn vào sổ tay.

"Nếu ông muốn giải thích trước bàn dân thiên hạ hơn là nói với tôi thì sớm muộn gì cũng đến lúc ấy thôi", anh nói.

"Tôi đã nói là tôi có thể giữ kín cái mà người khác buộc phải công bố, nên ông thổ lộ hết với tôi thì khôn ngoan hơn đấy!"

"Tôi không biết gì về chuyện đó cả."

"Ông có nhận được tin gì của anh Staunton ở London không?"

"Tất nhiên là không."

"Ôi trời, ôi trời, lại là bưu điện!"

Holmes thở dài ngao ngán, "Lúc 6 giờ 15 chiều qua ở London, Godfrey Staunton có gửi cho ông một bức điện cực kì cấp bách - bức điện chắc chắn có liên quan đến việc anh ta mất tích - vậy mà ông vẫn chưa nhận được.

Tắc trách quá.

Nhất định tôi sẽ xuống bưu điện ở đây khiếu nại."

Bác sĩ Leslie Armstrong bật dậy khỏi ghế, khuôn mặt ngăm đen đỏ bừng vì thịnh nộ.

"Phiền ông bước ra khỏi nhà tôi, thưa ông", ông ta nói.

"Ông cứ nói với ông chủ của ông, huân tước Mount James, rằng tôi không muốn dính dáng gì đến ông ta hay mấy tay thám tử của ông ta.

Không, thưa ông, không nói thêm gì nữa!"

Ông ta giận dữ rung chuông.

"John, đưa quý ông này ra!"

Một tay hầu vênh vang nghiêm khắc dẫn chúng tôi ra cửa, và thế là chúng tôi lại ở ngoài đường.

Holmes phá ra cười.

"Bác sĩ Leslie Armstrong dứt khoát là người đầy nghị lực và cá tính", anh nói.

"Tôi chưa thấy ai là ứng cử viên sáng giá để lấp chỗ trống mà Moriarty trứ danh để lại hơn ông ta, nếu ông ta dồn tài năng theo hướng ấy.

Thôi được rồi, Watson ơi, chúng ta đang lạc lõng và chẳng có bạn bè trong thành phố không hiếu khách này, mà ta lại chưa thể đi nếu không muốn từ bỏ vụ án của mình.

Nhà trọ nhỏ ngay trước nhà Armstrong kia đặc biệt thích hợp cho các nhu cầu của ta đây.

Anh thuê một căn phòng ở mặt trước và mua các thứ cần thiết cho đêm nay đi, để tôi được rảnh tay mà dò la đôi chút."

Việc mà Holmes gọi là dò la đôi chút hóa ra lại kéo dài hơn anh tưởng, vì gần 9 giờ anh mới về quán trọ.

Nom anh xanh xao và chán nản, mình mẩy bụi bặm, kiệt sức vì đói và mệt.

Một bữa ăn tối nguội lạnh đã bày sẵn trên bàn, sau khi ăn uống no say và châm tẩu thuốc, anh lại trở về với cái nhìn phần nào hài hước và hoàn toàn triết lí như thường lệ mỗi khi công việc không như ý.

Tiếng bánh xe ngựa khiến anh đứng lên liếc nhìn ra cửa sổ.

Một cỗ xe có đôi ngựa xám đang đậu trước cửa nhà bác sĩ dưới ngọn đèn đường sáng rực.

"Nó ra ngoài ba tiếng đồng hồ", Holmes nói, "khởi hành lúc 6 rưỡi, và giờ mới về.

Vậy là bán kính tầm mười, mười hai dặm mà ngày nào ông ta cũng đi như vậy một lần, có khi hai lần."

"Đối với một bác sĩ đang hành nghề thì việc đó đâu có gì lạ."

"Nhưng Armstrong không hẳn là bác sĩ đang hành nghề.

Ông ta là giảng viên và bác sĩ tham vấn, nhưng ông ta không màng đến chuyện hành nghề, vì nó sẽ làm ông ta xao lãng công việc học thuật.

Vậy thì tại sao ông ta lại phải đi xa như thế, mà lúc đi đường hẳn là hết sức tẻ nhạt và ông ta đến gặp ai vậy?"

"Tay xà ích của ông ta..."

"Watson thân mến, làm sao tôi có thể không hỏi đến hắn ngay từ đầu?

Chẳng biết vì xấu tính hay do ông chủ xúi mà hắn ta lỗ mãng đến mức thả chó ra đuổi tôi.

Song cả chó lẫn chủ đều không thích cây gậy của tôi, và thế là hắn chẳng làm gì được.

Sau đó thì tình hình trở nên căng thẳng, nên không có chuyện dò hỏi thêm nữa.

Tất cả những gì tôi biết được đều là do khai thác từ một người địa phương thân thiện trong sân quán trọ của ta.

Chính ông ấy đã cho tôi biết các thói quen và lộ trình hằng ngày của bác sĩ.

Đúng lúc đó thì xe ngựa dừng lại ở cửa như để chứng minh cho lời vừa nói."

"Anh không đuổi kịp nó sao?"

"Tuyệt, Watson!

Tối nay anh thật sáng trí.

Ý đó quả đã thoáng qua óc tôi.

Hẳn anh cũng đã để ý thấy, kế bên nhà trọ của ta có một tiệm xe đạp.

Tôi chạy nhào vào đó, thuê chiếc xe đạp, nên có thể xuất phát khi xe ngựa còn chưa khuất hẳn tầm mắt.

Chẳng mấy chốc tôi cũng đuổi kịp, thế rồi, kín đáo đi cách xa chừng trăm yard, tôi lần theo mấy ngọn đèn trên xe cho đến khi chúng tôi ra khỏi thành phố.

Chúng tôi vừa ra giữa đường làng thì một sự việc có phần bẽ mặt xảy ra.

Xe ngựa dừng lại, bác sĩ bước xuống, thoăn thoắt đi tới chỗ tôi lúc ấy cũng đã dừng, rồi nói với tôi bằng cái giọng mỉa mai vô cùng rằng ông ta e là đường chật rồi, và ông ta hi vọng xe ngựa không cản lối xe đạp của tôi.

Không gì đáng khâm phục hơn cách ông ta diễn đạt câu đó.

Tôi liền đạp qua xe ngựa, rồi cứ theo đường cái, đi thêm vài dặm nữa, đoạn dừng lại một chỗ thuận tiện để xem xe ngựa có đi qua không.

Song không thấy bóng dáng xe đâu, nên hẳn là nó đã rẽ vào một trong nhiều đường nhánh mà tôi đã quan sát thấy.

Tôi đạp xe quay lại, nhưng vẫn không thấy xe ngựa đâu, rồi giờ thì, anh thấy đấy, nó quay về sau tôi.

Tất nhiên, ban đầu tôi không có lí do gì cụ thể để cho là những chuyến đi này liên quan đến việc Godfrey Staunton mất tích, mà chỉ thiên về điều tra trên cơ sở chung chung là lúc này, tất cả những gì liên quan đến bác sĩ Armstrong đều thuộc phạm vi cần quan tâm; nhưng thấy ông ta cứ lăm le đề phòng người khác đi theo nên tôi thấy việc này có vẻ quan trọng hơn, và chừng nào làm sáng tỏ được việc này thì tôi mới vừa lòng."

"Mai ta có thể theo dõi ông ta."

"Được không?

Chẳng dễ như anh nghĩ đâu.

Anh không quen thuộc cảnh quan vùng Cambridgeshire, đúng không?

Ở đây không có chỗ phù hợp để ẩn nấp.

Cả vùng đồng quê tôi đi qua tối nay đều bằng phẳng và trống trải như lòng bàn tay, người mà ta theo dõi lại không phải kẻ ngốc - tối nay ông ta đã chứng tỏ quá rõ.

Tôi đã đánh điện dặn Overton cho chúng ta biết bất kì diễn biến mới nào ở London theo địa chỉ này, nên tạm thời lúc này ta chỉ có thể tập trung chú ý đến bác sĩ Armstrong, cái tên mà nhờ cô gái nhiệt tình ở bưu điện, tôi đã đọc trên cuống đơn phát điện khẩn của Staunton.

Ông ta biết chàng trai này ở đâu - tôi cam đoan là thế - và nếu ông ta biết mà ta không có cách nào để tìm cho ra nhẽ thì đó là lỗi của chúng ta.

Phải thú nhận rằng lúc này ông ta đang nắm quân bài chủ, nhưng, như anh biết đấy Watson, tôi không quen để ván bài giữ nguyên tình thế ấy."

Vậy mà hôm sau chúng tôi vẫn chưa có tiến triển gì trong việc giải bí ẩn ấy.

Sau bữa điểm tâm có một lá thư được đưa đến, Holmes mỉm cười đẩy qua bàn cho tôi.

THƯA ÔNG,

Tôi có thể cam đoan với ông rằng ông đang lãng phí thời gian khi bám sát nhất cử nhất động của tôi.

Như tối qua ông đã nhận ra, sau cỗ xe song mã của tôi có một ô cửa, nên nếu ông muốn đạp xe hai mươi dặm để về lại đúng nơi xuất phát thì cứ việc đi theo.

Tiện thể, xin báo cho ông biết rằng rình mò tôi cũng không giúp được gì cho anh Godfrey Staunton, nên để giúp anh ta thì tốt nhất là ông hãy lập tức về London mà báo lại với người thuê ông rằng ông không tìm được anh ta.

Ông lưu lại Cambridge cũng chỉ phí thời gian thôi.

Kính chào,

LESLIE ARMSTRONG

"Ông bác sĩ này là một đối thủ thẳng thắn, trung thực", Holmes nói.

"Ôi, ôi, ông ta làm tôi thấy tò mò, nên quả thực trước khi chia tay ông ta tôi phải biết cho bằng được."

"Lúc này xe ngựa đang dừng trước cửa nhà ông ta", tôi nói.

"Ông ta đang lên xe kìa.

Tôi thấy khi bước vào ông ta liếc lên cửa sổ phòng ta.

Hay là tôi dùng xe đạp mà thử vận may?"

"Không, không, Watson thân mến!

Dù rất tôn trọng sự nhạy bén bẩm sinh của anh nhưng tôi không nghĩ anh là đối thủ ngang sức với vị bác sĩ đáng kính kia đâu.

Tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ đạt được mục đích của ta bằng vài chuyến thám hiểm riêng.

E là phải để anh ở lại, vì hai người lạ xuất hiện ở một vùng đồng quê im lìm lại còn hỏi han này nọ có thể khiến dân tình bàn tán.

Thành phố cổ kính này thiếu gì cảnh đẹp cho anh đi tham quan, tôi cũng hi vọng trước buổi tối sẽ đem về cho anh tin tức khả quan hơn."

Song một lần nữa bạn tôi đành phải thất vọng.

Tối đến anh quay về mệt mỏi và thất bại.

"Hôm nay lại công toi, Watson à.

Khi đã biết được hướng đi chung chung của bác sĩ, tôi dành cả ngày đi hết mấy ngôi làng ở mạn bên ấy của Cambridge, chuyện trò với các chủ quán rượu và các thông tấn xã địa phương khác.

Tôi đã đi được vài nơi, Chesterton, Histon, Waterbeach và Oakington đều đã lần lượt được thăm dò và chỗ nào cũng đáng thất vọng.

Ở cái thung lũng Im Lìm này thì một cỗ xe song mã ngày nào cũng xuất hiện khó mà lọt qua mắt người ta được.

Bác sĩ lại ghi điểm nữa rồi.

Có bức điện nào cho tôi không?"

"Có, tôi mở xem rồi.

Đây: Hỏi mượn Pompey ở chỗ Jeremy Dixon, Cao đẳng Trinity.

Tôi không hiểu gì cả."

"Ồ, thế là rõ rồi mà.

Đây là bức điện của anh bạn Overton, trả lời cho câu hỏi của tôi.

Chỉ cần gửi một lá thư cho ông Jeremy Dixon, tôi tin chắc là vận may của ta sẽ trở lại.

Mà này, có tin gì về trận đấu không?"

"Có, tờ báo địa phương số mới nhất có một bài tường thuật xuất sắc.

Oxford thắng cách biệt một cú ăn bàn và hai cú chạm vạch.

Đoạn kết bài tường thuật như sau: Thất hại của đội Cambridge có thể quy cho sự vắng mặt đáng tiếc của cầu thủ cừ khôi từng thi đấu giải quốc tế, Godfrey Staunton.

Người ta cảm nhận được sự vắng mặt của anh trong mọi khoảnh khắc của trận đấu.

Sự thiếu phối hợp của hàng hậu vệ và sự yếu kém của họ cả trong tấn công lẫn phòng ngự đã triệt tiêu toàn bộ nỗ lực của một đội mạnh và luôn luyện tập chăm chỉ.

"Vậy thì tiên đoán của anh bạn Overton là xác đáng", Holmes nói.

"Cá nhân tôi thì đồng tình với bác sĩ Armstrong, và bóng bầu dục không thuộc phạm vi hiểu biết của tôi.

Tối nay đi ngủ sớm thôi, Watson, vì tôi dự đoán mai có thể là một ngày sôi động đấy."

Sáng hôm sau, tôi thất kinh khi thoáng thấy Holmes, vì anh đang ngồi bên lò sưởi, cầm cái ống tiêm dưới da bé xíu.

Đối với tôi dụng cụ đó gắn liền với khiếm khuyết duy nhất trong bản tính của anh, nên thấy nó loang loáng trong tay anh là tôi đã lo sợ điều tồi tệ nhất.

Anh cười trước vẻ mặt kinh hãi của tôi và để nó lên bàn.

"Không, không, anh bạn, không việc gì phải hoảng.

Lần này nó không còn là một dụng cụ xấu xa, mà sẽ là chìa khóa mở ra bí ẩn của ta.

Tôi đặt mọi hi vọng vào ống tiêm này đấy.

Tôi vừa làm một chuyến thám thính nho nhỏ và mọi thứ đều thuận lợi cả.

Ăn sáng cho no đi, Watson, vì tôi định hôm nay sẽ theo dấu bác sĩ Armstrong, mà đã lên đường thì tôi sẽ không thể dừng lại nghỉ ngơi ăn uống gì được cho đến chừng nào đuổi tới tận sào huyệt của ông ta."

"Nếu vậy", tôi nói, "ta nên mang bữa sáng theo, vì ông ta sẽ khởi hành ngay thôi Xe của ông ta đã ở bên cửa rồi."

"Đừng lo.

Cứ để ông ta đi.

Ông ta có thông minh đến mấy cũng chẳng chạy tới nơi nào mà tôi không theo được.

Ăn xong thì anh xuống lầu với tôi, rồi tôi sẽ giới thiệu anh với một thám tử là chuyên gia rất sáng giá trong công việc trước mắt."

Khi xuống nhà, tôi theo Holmes vào sân chuồng ngựa, anh mở một cửa chuồng, dắt ra một con chó to bè, tai cụp, lông có hai màu nâu trắng, trông như lai giữa chó săn thỏ và chó săn cáo.

"Để tôi giới thiệu anh với Pompey", anh nói.

"Pompey là niềm kiêu hãnh của chó săn trong vùng - không chạy nhanh lắm, như hình dạng nó cho thấy, nhưng là một chú chó săn đáng tin cậy về khả năng đánh hơi.

Nào Pompey, có thể chú mày không nhanh, nhưng tao nghĩ so với hai quý ông London trung niên thì chú mày lại quá lanh lẹ, nên tao sẽ mạn phép buộc chiếc dây da này vào cổ chú mày.

Nào, anh bạn, đi nào, rồi chứng tỏ xem chú mày làm được gì."

Anh dẫn con chó băng qua đường đến cửa nhà bác sĩ.

Con chó đánh hơi xung quanh một lát, đoạn nó rít lên hăm hở, rồi chạy dọc con đường, cố giật sợi dây để chạy nhanh hơn.

Trong nửa giờ chúng tôi đã ra khỏi thành phố và rảo bước theo một đường làng.

"Anh đã làm gì vậy, Holmes?"

Tôi hỏi.

"Một phương sách cũ rích và cổ lỗ, nhưng trong dịp này thì hữu ích.

Khi sáng tôi vào sân nhà bác sĩ, phun một xi lanh tinh dầu hoa hồi lên bánh xe sau.

Con chó săn có thể theo mùi hoa hồi từ đây đến tận John O' Groat's đấy, nên ông bạn Armstrong sẽ phải chạy khắp Cambridge mới cắt đuôi được Pompey.

Ồ, lão khốn trí trá!

Ra là đêm nọ lão thoát được tôi bằng cách này."

Con chó chợt rẽ khỏi đường cái vào một đường làng cỏ mọc.

Sau nửa dặm thì đường thông sang một con đường rộng khác, rồi dấu vết quành gấp về bên phải, quay lại hướng thành phố mà chúng tôi vừa đi.

Con đường lượn về phía nam thành phố và tiếp tục theo hướng ngược lại hướng chúng tôi xuất phát.

"Vậy ra đường vòng này hoàn toàn là vì chúng ta sao?"

Holmes nói.

"Thảo nào tôi dò hỏi khắp mấy ngôi làng đó mà chẳng đi tới đâu.

Bác sĩ nhất định là đã chơi hết mình, nhưng sao lại phải dùng mẹo lừa tinh vi như vậy.

Bên tay phải ta là làng Trumpington.

Mà, trời ơi!

Xe song mã đang vòng ở góc đường kìa.

Nhanh lên, Watson, nhanh lên, không thì ta tiêu mất!"

Anh phóng qua cổng vào một khoảng sân, kéo Pompey đang tỏ vẻ miễn cưỡng theo.

Chúng tôi vừa tới được chỗ nấp bên hàng rào thì xe ngựa đã lạch cạch chạy ngang.

Tôi thoáng thấy bác sĩ Armstrong ngồi trong, vai thõng xuống, hai tay ôm đầu, biểu hiện nỗi đau đớn.

Thấy mặt bạn tôi sầm xuống tôi dám chắc anh cũng đã nhìn thấy.

"Tôi e cuộc tìm kiếm của ta sẽ có một kết cục bi đát", anh nói.

"Ta sẽ sớm biết được thôi.

Đi nào, Pompey!

À, đó là túp nhà nhỏ ngoài đồng!"

Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã tới đích.

Pompey chạy lăng xăng và rít lên hăm hở bên ngoài cổng, ở đó vẫn còn thấy được mấy vết bánh xe song mã.

Một lối mòn chạy băng qua túp nhà quạnh quẽ.

Holmes cột con chó vào hàng rào, rồi chúng tôi nhanh chân bước tới.

Bạn tôi gõ cánh cửa nhỏ thô mộc, rồi lại gõ tiếng nữa, song không thấy ai đáp.

Nhưng không phải trong túp nhà nhỏ không có ai, bởi một âm thanh khẽ vẳng tới tai chúng tôi - một kiểu than vãn vì khốn khổ và tuyệt vọng, u uất không thể tả nổi.

Holmes ngập ngừng chưa quyết, đoạn anh liếc về phía con đường chúng tôi vừa đi qua.

Một cỗ xe song mã đang chạy tới, và rõ ràng mấy con ngựa xám kia rồi.

"Trời ơi, bác sĩ quay lại!"

Holmes kêu lên.

"Phải vậy thôi.

Ta buộc phải hiểu cho ra chuyện này là thế nào trước khi ông ta đến."

Anh mở cửa và chúng tôi bước vào gian chính.

Tiếng thổn thức lớn dần bên tai chúng tôi cho đến khi thành một tiếng khóc than đau đớn trầm đục, kéo dài.

Tiếng ấy vọng xuống từ trên gác.

Holmes phóng lên còn tôi theo sau.

Anh mở cánh cửa khép hờ, cả hai chúng tôi đứng thất kinh vì cảnh tượng trước mặt.

Một phụ nữ trẻ, đẹp, đã chết nằm trên giường.

Mặt cô tái nhợt, thanh thản, hai mắt xanh mở to, đục lờ, nhìn lên từ giữa một vầng tóc vàng óng.

Dưới chân giường, trong tư thế nửa ngồi, nửa quỳ, mặt áp vào vải trang phục, là một chàng trai, tấm thân rung lên vì nức nở.

Anh ta chìm trong nỗi đau sâu sắc đến mức không hề ngẩng lên cho đến khi Holmes đặt tay lên vai anh ta.

"Anh là Godfrey Staunton phải không?"

"Phải, phải, tôi đây.

Nhưng ông muộn quá rồi.

Cô ấy chết rồi."

Người này ngây dại đến mức không làm sao cho anh ta hiểu được chúng tôi không phải là bác sĩ được cử đến giúp.

Holmes đang định nói đôi câu chia buồn và giải thích nỗi hốt hoảng mà sự biến mất đột ngột của anh ta đã gây ra cho các bạn anh ta thì có tiếng chân bước trên câu thang, rồi bộ mặt nặng nề, nghiêm nghị, dò hỏi của giáo sư Armstrong đã hiện ra ở cửa.

"Quý vị", ông ta nói, "vậy là quý vị đạt được mục đích rồi và tất nhiên đã chọn một khoảnh khắc đặc biệt tế nhị để xâm nhập.

Tôi sẽ không lời qua tiếng lại ồn ào trước người đã khuất, nhưng tôi có thể cam đoan với các ông rằng nếu tôi trẻ hơn thì hành vi xấu xa của các ông sẽ không tránh được sự trừng phạt."

"Xin thứ lỗi cho tôi, bác sĩ Armstrong, tôi nghĩ chúng ta có chút hiểu lầm nhau", bạn tôi nói nghiêm trang.

"Nếu ông có thể xuống lầu với chúng tôi thì đôi bên có thể giải thích cho nhau rõ câu chuyện thương tâm này."

Phút sau, ông bác sĩ nghiêm khắc và chúng tôi đã ở phòng khách bên dưới.

"Sao, thưa ông?"

Ông ta nói.

"Trước hết, tôi mong ông hiểu rằng tôi không được huân tước Mount James thuê, và trong việc này tôi không đồng tình với quý ông đó.

Khi một người mất tích thì phận sự của tôi là xác định số phận của anh ta, nhưng sau khi xong việc thì vai trò của tôi, dừng lại ở đó và miễn là không có gì phạm pháp thì tôi rất mong muốn giữ kín những tai tiếng riêng tư hơn là đem công bố.

Tôi thiển nghĩ, nếu không có gì phạm pháp trong việc này, ông có thể tuyệt đối tin tưởng ở sự kín đáo và hợp tác của tôi để đảm bảo việc này không lên báo."

Bác sĩ Armstrong bước nhanh tới và siết chặt tay Holmes.

"Ông là người tốt", ông ta nói.

"Tôi đã đánh giá sai về ông.

Tôi cảm ơn trời vì nỗi ăn năn khi để Staunton tội nghiệp lại một mình trong cảnh ngộ này đã khiến tôi quành xe lại, nhờ vậy mà được làm quen với ông.

Vì ông đã biết nhiều rồi nên rất dễ giải thích tình cảnh này.

Một năm trước, Godfrey Staunton trọ ở London một thời gian, rồi trở nên gắn bó tha thiết với con gái bà chủ nhà, sau đó anh ta cưới cô ấy.

Cô ấy vừa tử tế, xinh đẹp lại vừa thông minh, tốt bụng.

Không người đàn ông nào phải xấu hổ về một người vợ như vậy.

Nhưng Godfrey là người thừa kế của lão quý tộc bẳn tính kia nên chắc chắn là tin tức về đám cưới của anh ta sẽ chấm dứt quyền thừa kế.

Tôi biết anh chàng rất rõ, và tôi quý anh ta vì nhiều phẩm chất ưu tú.

Tôi làm tất cả những gì có thể để giúp anh ta phân biệt phải trái.

Chúng tôi làm hết sức mình để giấu kín chuyện với tất cả mọi người, vì một lời đồn đại như vậy mà loan ra thì chẳng mấy chốc ai ai cũng biết.

Nhờ căn nhà nhỏ này và tính kín đáo, cho đến nay Godfrey đã giấu giếm được.

Không ai biết bí mật của họ trừ tôi và một người hầu đáng tin, lúc này đã đi Trumpington tìm sự trợ giúp.

Nhưng một tai họa khủng khiếp đã giáng xuống khi vợ anh ta mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo, đó là bệnh lao phổi thuộc dạng cực hiếm.

Anh chàng tội nghiệp như hóa điên vì đau buồn, nhưng phải đi London để chơi trận đấu này, vì anh ta không thể bỏ thi đấu mà không giải thích bằng cách phơi bày bí mật của mình.

Tôi đã đánh điện để cố động viên anh ta, rồi anh ta hồi âm, khẩn nài tôi làm tất cả những gì có thể.

Đó chính là bức điện mà không hiểu sao ông đã thấy.

Tôi không cho anh ta biết mối nguy cấp bách ra sao, vì tôi biết anh ta sẽ không giúp gì được ở đây, nhưng tôi có đánh điện báo cho cha cô gái biết sự thật, và ông này đã rất thiếu cân nhắc khi báo cho Godfrey.

Kết quả là anh ta đến ngay trong tình trạng gần như điên loạn, và vẫn còn quỳ dưới chân giường trong tình trạng đó, cho đến sáng nay khi cái chết chấm dứt những nỗi đau khổ cho cô ấy.

Tất cả là vậy, ông Holmes, và tôi tin có thể trông cậy vào sự kín đáo của ông và bạn ông."

Holmes siết chặt tay bác sĩ.

"Đi thôi, Watson", anh nói, và thế là chúng tôi bước ra khỏi căn nhà đau buồn đó dưới ánh mặt trời nhợt nhạt ngày đông.
 
Sherlock Holmes Toàn Tập
TRANG VIÊN ABBEY (The Abbey Grange, 1904)


Một buổi sáng mùa đông băng giá và rét căm căm năm 1897, tôi thức giấc vì bị lay mạnh bên vai.

Đó là Holmes.

Ngọn nến trong tay anh soi chiếu gương mặt hăm hở đang cúi xuống, và chỉ nhìn thoáng qua tôi đã biết có gì không ổn.

"Đi nào, Watson, đi!"

Anh kêu lên.

"Cuộc chơi bắt đầu rồi.

Đừng nói gì cả!

Mặc đồ vào rồi đi!"

Mười phút sau, cả hai chúng tôi đã ngồi trong xe ngựa phóng qua những con phố im lìm trên đường đến ga Charing Cross.

Bình mình mùa đông mờ nhạt bắt đầu ló dạng, thỉnh thoảng chúng tôi thấy lờ mờ bóng dáng một công nhân đi làm sớm lướt ngang qua, nhập nhòa không rõ trong màn sương mù dày đặc màu trắng sữa của London.

Holmes im lặng co ro trong chiếc áo choàng dày sụ, tôi cũng vậy, vì trời rét buốt vô cùng mà cả hai chúng tôi chưa ai ăn sáng.

Mãi đến khi đã dùng xong chút trà nóng tại nhà ga và yên vị trên chuyến tàu đi Kent chúng tôi mới đỡ cóng, rồi anh nói còn tôi nghe.

Holmes rút trong túi ra một lá thư và đọc to lên:

Trang viên Abbey, Marsham, Kent, 3 giờ 30 phút sáng

ÔNG HOLMES THÂN MẾN!

Tôi rất mong được ông giúp đỡ khẩn cấp trong một vụ án hứa hẹn là cực kì khác thường và rất hợp với sở trường của ông.

Ngoài chuyện thả phu nhân ra thì tôi sẽ trông chừng để giữ nguyên mọi thứ như khi tôi nhìn thấy, nhưng tôi xin ông đừng bỏ phí một giây nào, vì thật khó mà để ngài Eustace lại đó.

Trân trọng,

STANLEY HOPKINS

"Hopkins đã nhờ đến tôi bảy lần, và dịp nào cũng hoàn toàn chính đáng", Holmes nói.

"Tôi cho rằng tất cả các vụ anh ta đảm trách đều đã được lưu vào bộ sưu tập của anh rồi, Watson, mà tôi cũng phải thừa nhận rằng anh có chút khiếu chọn lọc, bù lại cho khối thứ tôi lấy làm tiếc trong những bài tường thuật của anh.

Thói quen tai hại của anh khi nhìn mọi sự từ góc độ một câu chuyện chứ không phải một công việc mang tính khoa học đã làm hỏng mất một loạt ví dụ bổ ích và thậm chí kinh điển.

Anh bỏ qua những gì tinh tế và khéo léo tột bậc để bám vào những chi tiết li kì, gay cấn tuy lôi cuốn đấy, nhưng không cung cấp được kiến thức cho người đọc."

"Sao anh không tự viết lấy đi?"

Tôi nói, có hơi chua chát.

"Tôi sẽ viết, Watson thân mến, tôi sẽ viết.

Như anh biết đấy, lúc này tôi khá bận, nhưng tôi dự định sẽ dành những năm về già để soạn một giáo khoa thư tập trung toàn bộ nghệ thuật trinh thám chỉ trong một cuốn.

Cuộc điều tra trước mắt ta có vẻ là một vụ án mạng."

"Vậy là anh nghĩ ngài Eustace này đã chết?"

"Tôi có thể khẳng định như vậy.

Cách viết của Hopkins cho thấy sự kích động đáng kể, mà anh ta không phải là người dễ xúc động.

Phải, tôi suy ra là đã có xung đột, và cái xác được để lại cho ta điều tra.

Một vụ tự sát đơn thuần sẽ không khiến anh ta cho mời tôi.

Còn về việc thả phu nhân, có vẻ như bà ta đã bị nhốt trong phòng trong lúc thảm kịch xảy ra.

Chúng ta sắp tiếp xúc với giới thượng lưu, Watson ạ - giấy có vân, chữ 'E.B' lồng nhau, gia huy, địa chỉ sang trọng.

Tôi nghĩ rằng anh bạn Hopkins sẽ xứng với tiếng tăm của mình và ta sẽ có một buổi sáng lí thú.

Tội ác đã được thực hiện trước 12 giờ đêm qua."

"Làm sao anh biết?"

"Bằng cách kiểm tra lịch tàu chạy và tính toán thời gian.

Cảnh sát sở tại phải được mời đến hiện trường, lực lượng này phải liên lạc với Sở Cảnh sát London, Hopkins phải đi, rồi đến lượt anh ta cho mời tôi.

Tất cả những việc đó cũng mất cả đêm.

Thôi, ta đến ga Chislehurst rồi đây, và ta sẽ sớm dẹp được những mối băn khoăn."

Chuyến xe vài dặm qua những con đường làng nhỏ hẹp đưa chúng tôi tới một cổng vườn, một người gác cổng già mở cửa cho chúng tôi, vẻ mặt hốc hác của ông ta phản ánh một thảm họa ghê gớm đã xảy ra.

Con đường có hàng du cổ thụ trồng hai bên chạy qua một khu vườn sang trọng, dừng lại trước một ngôi nhà thấp, rộng, mặt tiền có hàng cột theo phong cách Palladio.

Phần chính giữa rõ ràng rất lâu đời và bị thường xuân leo kín, nhưng mấy khung cửa sổ lớn lại cho thấy gần đây chúng mới được sửa sang lại, và một gian nhà có vẻ mới hoàn toàn.

Thanh tra Stanley Hopkins, dáng người trẻ trung và gương mặt lanh lợi, nhiệt tình ra tận cửa đón chúng tôi.

"Tôi rất mừng là ông đã đến, ông Holmes.

Cả ông nữa, bác sĩ Watson!

Nhưng, quả thực, nếu thời gian quay trở lại thì tôi sẽ không làm phiền các ông, vì từ khi phu nhân tỉnh lại, bà đã tường thuật vụ việc rõ ràng nên chúng tôi chẳng còn gì nhiều mà làm.

Ông còn nhớ băng trộm bẻ khóa ở Lewisham không?"

"Sao, ba gã nhà Randall à?"

"Đúng, người cha và hai thằng con trai.

Vụ này là do chúng gây ra đấy.

Tôi không nghi ngờ gì.

Nửa tháng trước chúng làm một vụ tại Sydenham, đã bị người ta nhìn thấy và mô tả nhân dạng.

Làm tiếp một vụ khác sớm và gần như thế này thì khá là máu lạnh, nhưng thủ phạm chính là chúng, chẳng nghi ngờ gì nữa.

Lần này thì chúng chỉ có nước lên giá treo cổ thôi."

"Vậy là ngài Eustace đã chết?"

"Phải, ông ta bị đánh vào đầu bằng chính que cời lửa nhà mình."

"Tay xà ích cho tôi biết nạn nhân là ngài Eustace Brackenstall."

"Đúng, một trong những người giàu có nhất ở Kent.

Phu nhân Brackenstall đang ở trong phòng khách.

Tội nghiệp phu nhân, bà ấy vừa trải qua một chuyện hết sức hãi hùng.

Lúc mới gặp tôi thấy bà ấy như chết ngất.

Tôi nghĩ ông nên gặp phu nhân trước và nghe bà ấy thuật lại mọi chuyện.

Rồi ta sẽ cùng khám xét phòng ăn."

Phu nhân Brackenstall không phải là người bình thường.

Hiếm khi tôi thấy một vóc người duyên dáng, một phong thái nữ tính và một khuôn mặt xinh đẹp như vậy.

Cô có mái tóc vàng óng ả, mắt xanh, và làn da tuyệt đẹp mà chắc hẳn là rất tươi tắn nếu không có trải nghiệm vừa rồi làm cô đau buồn và phờ phạc.

Cô đã chịu đựng cả về thể xác lẫn tinh thần, vì trên một bên mắt nổi lên một vết sưng màu mận xấu xí, mà bà hầu, một phụ nữ cao ráo, khắc khổ, đang cần mẫn chườm bằng giấm pha nước.

Phu nhân kiệt sức lả người trên trường kỉ, nhưng ánh mắt linh lẹ, tinh tường khi chúng tôi bước vào phòng và vẻ lanh lợi trên khuôn mặt đẹp đẽ chứng tỏ cô không hề mất can đảm hay lí trí trước biến cố khủng khiếp vừa rồi.

Cô quấn mình trong chiếc áo choàng rộng màu xanh dương và bạc, nhưng có một chiếc váy dạ hội vảy cá đen vắt trên chiếc ghế bành, ngay bên cạnh.

"Tôi đã nói với ông những gì xảy ra rồi, ông Hopkins", cô nói, mệt mỏi, "ông không thể thuật lại câu chuyện giúp tôi sao?

Thôi được, nếu ông thấy cần, tôi sẽ kể cho quý vị đây chuyện xảy ra.

Họ đã vào phòng ăn chưa?"

"Tôi nghĩ họ nên nghe câu chuyện của phu nhân trước."

"Tôi sẽ rất mừng nếu ông thu xếp được mọi chuyện.

Tôi thấy thật khủng khiếp khi nghĩ ông ấy vẫn còn nằm đó."

Cô rùng mình và ôm mặt.

Khi cô làm vậy thì tay áo choàng rộng tuột xuống.

Holmes buột miệng kêu lên, "Bà còn những vết thương khác nữa, thưa bà!

Cái gì đây?"

Hai vết đỏ sẫm nổi bật trên một cánh tay tròn, trắng muốt.

Cô vội vàng che lại.

"Không có gì đâu.

Nó không liên quan gì đến sự việc ghê sợ tối qua.

Nếu ông và bạn ông ngồi xuống, tôi sẽ kể hết cho các ông nghe những gì có thể.

Tôi là vợ ngài Eustace Brackenstall.

Tôi lấy chồng được khoảng một năm.

Cuộc hôn nhân của chúng tôi không được hạnh phúc, tôi nghĩ cố giấu chuyện này cũng chẳng ích gì.

E rằng tất cả hàng xóm của chúng tôi sẽ nói thế, dù cho tôi có cố phủ nhận.

Có lẽ phần nào do lỗi của tôi.

Tôi được nuôi dạy trong bầu không khí tự do hơn, ít khuôn sáo hơn tại miền nam nước Úc, còn lối sống Anh quốc với những khuôn phép và tính câu nệ này không hợp với tôi.

Nhưng lí do chính nằm ở một thực tế mà ai cũng biết, đó là ngài Eustace là người nghiện rượu kinh niên.

Ở bên một người như vậy chừng một giờ đã là khó chịu lắm rồi.

Ông có hình dung được một phụ nữ nhạy cảm và nồng nhiệt phải gắn bó với ông ấy cả ngày lẫn đêm nghĩa là thế nào không?

Đúng là báng bổ, là tội ác, là bất lương khi nhất mực ràng buộc một cuộc hôn nhân như vậy.

Tôi dám nói những luật lệ độc địa của các ông sẽ giáng lời nguyền lên xứ sở này, Chúa sẽ không để sự tàn ác như vậy còn tồn tại mãi."

Cô ngồi thẳng dậy trong một thoáng, hai má ửng hồng, đôi mắt hừng hực từ dưới vết sưng khủng khiếp trên trán.

Rồi bàn tay mạnh mẽ, dỗ dành của bà hầu khắc khổ lại kéo đầu cô xuống gối, thế là cơn giận điên cuồng dịu lại thành tiếng thổn thức da diết.

Cuối cùng cô nói tiếp.

"Để tôi kể các ông nghe chuyện đêm qua.

Có lẽ các ông cũng biết rằng trong nhà này gia nhân ngủ cả ở gian nhà mới.

Khu giữa này gồm mấy phòng ở, bếp nằm đằng sau còn phòng ngủ của chúng tôi ở bên trên.

Bà hầu Theresa của tôi ngủ bên trên phòng tôi.

Không còn ai khác, và không âm thanh nào có thể đánh động cho những người ở gian nhà xa hơn.

Bọn trộm hẳn biết rõ điều này, nếu không chúng đã chẳng hành động như đêm qua.

Khoảng 10 giờ rưỡi, ngài Eustace lui về nghỉ.

Đám gia nhân thì đã về phòng mình.

Chỉ có bà hầu của tôi còn thức, và bà ấy vẫn ở trong phòng riêng tại tầng trên cùng cho đến khi tôi cần bà ấy giúp.

Tôi ngồi trong phòng này mải mê đọc sách cho đến sau 11 giờ.

Sau đó tôi đi quanh để xem mọi thứ đã đâu vào đấy chưa rồi mới lên lầu.

Tôi có lệ tự làm việc này vì, như tôi vừa giải thích, không phải lúc nào cũng trông cậy vào ngài Eustace được.

Tôi vào bếp, phòng trữ thức ăn, phòng để súng, phòng bi-a, phòng khách, và cuối cùng là phòng ăn.

Khi tới gần khung cửa sổ phủ rèm dày, tôi chợt cảm thấy gió phả vào mặt nên nhận ra là cửa đang mở.

Tôi vén rèm qua một bên thì thấy mình đang đối mặt với một người đàn ông lớn tuổi có đôi vai rộng, vừa bước vào phòng.

Cửa sổ là kiểu cửa kính dài sát mặt đất, tạo thành một ô cửa lớn dẫn ra bãi cỏ.

Tôi đang cầm trong tay cây nến lấy từ phòng ngủ của mình đã được thắp sáng, và, nhờ ánh sáng đó, tôi thấy hai người nữa sau lưng kẻ đi đầu, tất cả đều đang định tiến vào.

Tôi bước lùi lại, nhưng trong nháy mắt gã đó đã xông vào tôi.

Hắn chộp lấy cổ tay và rồi cổ họng tôi.

Tôi mở miệng để kêu lên, nhưng hắn ta vung nắm tay thoi cho tôi một cú trời giáng vào bên trên mắt, rồi đẩy tôi ngã ra đất.

Chắc tôi ngất đi vài phút, vì khi tỉnh lại tôi thấy chúng đã giật đứt dây chuông để trói chặt tôi vào chiếc ghế dựa bằng gỗ sồi ở đầu bàn ăn.

Tôi bị cột chặt đến không cựa nổi, và một chiếc khăn tay bịt miệng khiến tôi không thốt lên được tiếng nào.

Đúng lúc đó, người chồng xấu số của tôi bước vào phòng.

Rõ ràng ông ấy đã nghe thấy vài tiếng động khả nghi, nên đã sẵn sàng cho cảnh tượng mà ông ấy trông thấy, ông ấy mặc sơmi và quần dài, tay lăm lăm cây gậy mận gai ưa thích, ông ấy xông vào một trong mấy tên trộm, nhưng một tên khác - là tên lớn tuổi - khom người, nhặt cây cời lửa trong lò sưởi ra, đánh ông ấy một cú trời giáng khi ông ấy vừa chạy qua hắn.

Ông ấy ngã xuống không kịp rên lấy một tiếng và không còn động đậy nữa.

Tôi lại ngất đi, nhưng chắc cũng chỉ bất tỉnh vài phút.

Khi mở mắt, tôi thấy chúng đã vơ vét đồ bạc trong tủ li, và cũng đã khui một chai rượu để ở đó.

Mỗi đứa cầm một li trong tay.

Tôi đã kể với các ông rồi, phải không, rằng một tên thì lớn tuổi, có râu, còn mấy tên kia là thanh niên trẻ, không để râu.

Có thể chúng là cha con.

Chúng nhỏ to nói chuyện với nhau.

Rồi chúng tới kiểm tra cho chắc là tôi vẫn còn bị trói chặt.

Cuối cùng chúng rút đi, đóng cửa sổ lại sau lưng.

Mất cả mười lăm phút đồng hồ tôi mới bỏ được khăn buộc miệng ra.

Khi đó tôi mới thét gọi được bà hầu đến giúp.

Mấy gia nhân khác chẳng mấy chốc cũng được báo động, rồi chúng tôi cho mời cảnh sát sở tại, họ tức thì liên lạc với London.

Quả tình đó là tất cả những gì tôi có thể cho các ông biết, thưa quý ông, và tôi mong rằng sẽ không phải kể lại câu chuyện đau lòng này thêm lần nào nữa."

"Ông có hỏi gì không, ông Holmes?"

Hopkins hỏi.

"Tôi sẽ không đòi hỏi lòng kiên nhẫn và thời gian của phu nhân Brackenstall thêm nữa", Holmes nói.

"Trước khi vào phòng ăn, tôi muốn nghe câu chuyện của bà."

Anh nhìn bà hầu.

"Tôi thấy mấy người đàn ông đó trước cả khi họ vào nhà", bà hầu nói.

"Khi tôi ngồi bên cửa sổ phòng ngủ thì thấy dưới ánh trăng có ba người đàn ông ở cổng nhà trọ bên kia, nhưng lúc ấy tôi không nghĩ ngợi gì.

Phải hơn một giờ sau tôi mới nghe cô chủ thét lên, tôi bèn chạy xuống và thấy cô chủ yếu đuối tội nghiệp đang ở trong tình trạng đúng như cô nói, còn ông chủ thì nằm trên sàn, máu me văng khắp phòng.

Chỉ cần bị trói ở đó, trên váy lấm tấm máu là đã đủ để làm cho một người đàn bà hoảng sợ rồi, nhưng cô chủ không hề thiếu khí phách, khi còn là cô Mary Fraser vùng Adelaide cũng thế mà nay là phu nhân Brackenstall ở trang viên Abbey cũng vậy.

Các ông đã tra hỏi cô đủ lâu rồi đấy, giờ cô sẽ về phòng riêng, chỉ với Theresa già cả của cô thôi, cô đang rất cần được nghỉ ngơi."

Người phụ nữ gầy gò dịu dàng như người mẹ choàng tay qua người cô chủ và dẫn cô ra khỏi phòng.

"Bà ta đã ở bên phu nhân cả đời", Hopkins nói.

"Chăm sóc cô ta khi còn bé, và theo cô ta đến Anh khi họ rời nước Úc mười tám tháng trước.

Theresa Wright là tên bà ta, đó là kiểu người hầu mà thời nay ta không tìm thấy đâu.

Xin vui lòng đi lối này, ông Holmes!"

Vẻ hứng thú nhiệt tình đã biến mất khỏi khuôn mặt đầy biểu cảm của Holmes, nên tôi biết mọi sức hút của vụ án đã ra đi cùng bí ẩn này.

Vẫn còn phải tiến hành bắt giữ, nhưng mấy tên vô lại tầm thường này có là gì mà anh phải lấm tay?

Một chuyên gia lão luyện và thâm sâu thấy mình được mời đến vì một vụ không đâu sẽ cảm thấy có chút bực bội như tôi đọc thấy trong mắt bạn mình.

Vậy nhưng cảnh tượng trong phòng ăn ở trang viên Abbey thì lại hết sức lạ lùng, đủ khiến anh chú ý và làm sống dậy niềm hứng thú.

Đó là một gian phòng cao rộng thênh thang, trần gỗ sồi chạm khắc, sàn cũng bằng gỗ sồi, quanh mấy bức tường treo một dãy đầu nai và vũ khí cổ xưa tinh xảo.

Đối diện cửa lớn là ô cửa sổ sát mặt đất mà chúng tôi đã được nghe nói đến.

Ba cửa sổ nhỏ hơn ở bên phải khiến căn phòng tràn ngập ánh nắng mùa đông lạnh lẽo.

Bên trái là một lò sưởi rộng và sâu có bệ bằng gỗ sồi nhô ra.

Bên cạnh lò sưởi là chiếc ghế dựa bằng gỗ sồi nặng trịch có tay vịn và các thanh ngang dưới chân.

Một sợi dây thừng màu đỏ thẫm đan ngoằn ngoèo khắp những khe hở của phần hoa văn chạm trổ trên ghế, hai đầu cột vào thanh ngang bên dưới.

Khi cởi trói cho phu nhân, sợi dây đã tuột khỏi người, nhưng mấy gút thắt vẫn còn.

Mãi sau đó mấy chi tiết này mới làm chúng tôi chú ý, vì lúc này ý nghĩ của chúng tôi hoàn toàn bị hút theo đối tượng ghê rợn đang nằm trên tấm thảm da hổ trước lò sưởi.

Đó là xác một người đàn ông cao ráo, cân đối, trạc bốn mươi, ông ta nằm ngửa, mặt hướng lên, hàng răng trắng nhe ra giữa hàm râu đen ngắn.

Hai bàn tay nắm chặt giơ lên trên đầu, một cây gậy mận gai nặng trịch nằm vắt ngang qua đó.

Nét mặt diều hâu, ngăm ngăm, đẹp đẽ co rúm lại thành một nỗi căm hận, khiến bộ mặt chết chóc hằn một vẻ dữ dằn ghê rợn.

Rõ ràng khi nghe thấy tiếng động thì ông ta đang ngủ, vì ông ta mặc một chiếc áo ngủ thêu diêm dúa, và hai bàn chân trần thò ra dưới chiếc quần dài.

Đầu ông ta nát bấy, và cả căn phòng làm chứng cho cú đánh dã man, tàn khốc đã quật ông ta ngã vật ra.

Nằm cạnh ông ta là cây cời nặng trịch, cong lại vì lực tác động.

Holmes xem xét kĩ cả cây cời lẫn nạn nhân thê thảm khôn tả xiết.

"Cha Randall này hẳn là người khỏe lắm đây", anh nhận xét.

"Đúng", Hopkins nói.

"Tôi có hồ sơ về gã này, và hắn là một gã lỗ mãng."

"Anh sẽ không khó bắt hắn đâu."

"Chẳng khó chút nào.

Chúng tôi đã theo dõi hắn, nghe đâu hắn đã cao chạy xa bay qua Mỹ.

Giờ chúng tôi biết băng này đang ở đây rồi thì tôi nghĩ chúng đừng hòng thoát được.

Chúng tôi đã thông báo ở khắp các hải cảng, trước chiều tối sẽ treo thưởng.

Điều tôi thấy khó hiểu là sao chúng lại làm một chuyện điên rồ như vậy khi biết rằng phu nhân có thể mô tả chúng, và chúng tôi không thể nào không nhận ra chúng qua lời mô tả?"

"Đúng thế.

Người ta cũng có thể còn nghĩ rằng đáng lẽ chúng phải bịt miệng cả phu nhân Brackenstall nữa."

"Có lẽ chúng không nhận ra", tôi gợi ý, "rằng cô ấy đã tỉnh lại."

"Chuyện đó cũng có thể lắm chứ.

Nếu cô ấy có vẻ như đang bất tỉnh thì chúng sẽ không lấy mạng cô ấy.

Còn gã tội nghiệp này thì sao, Hopkins?

Hình như tôi đã nghe vài câu chuyện kì quặc về ông ta."

"Khi tỉnh táo thì ông ta là một người tử tế, nhưng hoàn toàn là một con quỷ mỗi khi say, hay đúng hơn là lúc ngà ngà say, vì chẳng mấy khi ông ta thực sự say mèm.

Những lúc như thế thì dường như quỷ đã nhập vào ông ta, rồi thì không có gì mà ông ta không làm.

Theo những gì tôi nghe được thì dù cao sang quyền quý là vậy, ông ta cũng đôi lần suýt phải đến trình diện chúng tôi.

Từng xảy ra một vụ bê bối là ông ta tẩm xăng vào con chó rồi châm lửa đốt - đã thế đó lại là con chó của phu nhân nữa chứ.

Phải khó lắm mới ém nhẹm được chuyện đó.

Rồi có lần ông ta còn ném bình nước vào bà người hầu Theresa Wright - đó cũng là một vụ rắc rối.

Mà nói riêng với các ông thôi nhé, nhìn chung không có ông ta thì ngôi nhà sẽ sáng sủa hơn.

Ông đang nhìn gì đấy?"

Holmes đang quỳ, cực kì chăm chú kiểm tra mấy cái gút trên sợi dây thừng đỏ đã trói phu nhân.

Rồi anh cẩn thận xem xét kĩ đầu bị đứt và xơ ra khi tên trộm giật sợi dây chuông xuống.

"Khi kéo cái này xuống thì chuông trong nhà bếp hẳn phải kêu ầm ĩ," anh nhận xét.

"Không ai nghe thấy đâu.

Bếp nằm tít đằng sau nhà."

"Làm thế nào mà tên trộm biết là sẽ không ai nghe thấy?

Làm sao hắn dám khinh suất giật dây chuông như vậy?"

"Đúng vậy, ông Holmes, đúng vậy.

Ông đặt ra câu hỏi mà chính tôi cũng đã tự vấn nhiều lần.

Rõ ràng gã này phải hiểu rõ về căn nhà và các thói quen của những người sống ở đây.

Hẳn là hắn phải hiểu rất rõ rằng tất cả gia nhân đều sẽ đi ngủ vào cái giờ sớm sủa đó, và không ai nghe thấy chuông reo trong bếp được.

Vì vậy hẳn là hắn phải toa rập chặt chẽ với một người hầu.

Rõ ràng điều đó đã hiển nhiên.

Nhưng có tới tám người hầu, mà ai cũng có tư cách tốt."

"Khi mọi thứ khác đều ngang nhau", Holmes nói, "người ta sẽ nghi ngờ kẻ bị ông chủ ném bình nước vào đầu.

Thế nhưng điều đó lại bao hàm cả việc phản bội lại cô chủ mà người đàn bà này có vẻ rất hết lòng.

Thôi được, thôi được, điểm này chẳng quan trọng, và khi tóm được Randall thì chắc anh sẽ dễ dàng tìm được đồng bọn của hắn.

Tất nhiên câu chuyện của phu nhân dường như đã được mọi chi tiết ta thấy trước mặt đây chứng thực rồi, nếu như nó cần được chứng thực."

Anh bước đến ô cửa sổ sát mặt đất rồi mở toang.

"Ở đây không có dấu vết gì, nhưng mặt đất cứng như đá nên chẳng thể trông mong gì được.

Tôi thấy rằng mấy ngọn nến trên bệ lò sưởi này đã được thắp."

"Phải, nhờ ánh nến này và ánh nến trong phòng ngủ của phu nhân mà bọn trộm mới thấy đường."

"Thế chúng đã lấy đi những gì?"

"À, chúng chẳng lấy gì nhiều - chỉ năm, sáu món đồ bạc trong tủ li.

Phu nhân Brackenstall cho rằng chính chúng cũng hoảng vì ngài Eustace chết nên không cướp bóc ngôi nhà như đáng lẽ đã làm."

"Điều đó thì chắc chắn là đúng rồi.

Nhưng tôi thấy chúng có uống chút rượu."

"Để tĩnh trí lại."

"Đúng.

Tôi chắc chưa ai động đến ba cái cốc trên tủ li này?"

"Vâng, còn cái chai thì vẫn ở nguyên chỗ chúng để lại."

"Ta xem thử nào.

Ồ!

Cái gì đây?"

Ba cái cốc chụm lại với nhau, tất cả đều nhuốm màu rượu, và một trong ba cốc có chứa ít cặn rượu.

Chai rượu để gần đó, còn hai phần ba, bên cạnh có một nút bần dài, thấm rượu một khúc sâu, vẻ ngoài và lớp bụi trên chai cho biết loại rượu mà bọn sát nhân được thưởng thức chẳng phải loại thông thường.

Điệu bộ Holmes đã khác hẳn.

Anh không còn vẻ thẫn thờ nữa, và tôi lại thấy một tia lanh lợi, hứng thú trong đôi mắt sâu, sắc sảo của anh.

Anh giơ nút bần lên xem xét kĩ lưỡng.

"Chúng mở bằng cách nào?"

Anh hỏi.

Hopkins chỉ vào một ngăn kéo mở hờ.

Trong đó có ít khăn trải bàn và một cái khui nút chai lớn.

"Phu nhân Brackenstall có nói cái khui nút chai đó đã được dùng không?"

"Không, ông hãy nhớ rằng bà bị bất tỉnh lúc chúng mở chai rượu."

"Đúng vậy.

Đương nhiên cái khui nút chai đó không được dùng đến.

Chai rượu này được mở bằng một cái khui bỏ túi, có lẽ nằm trong một con dao, và dài không quá bốn phân.

Nếu xem kĩ đầu nút bần anh sẽ thấy rằng cái khui xoắn xuống ba lần rồi mới rút được cái nút.

Nó không hề bị chọc thủng.

Cái khui dài này thì chỉ cần chọc xuống và rút lên một lần.

Khi tóm được tên này, anh sẽ thấy hắn có một con dao xếp đa năng."

"Tuyệt quá!"

Hopkins nói.

"Nhưng thú thực là mấy chiếc cốc này làm tôi thấy khó hiểu.

Phu nhân Brackenstall quả đã thấy ba người đàn ông đang uống rượu chứ?"

"Phải, bà ấy rất chắc chắn chuyện đó."

"Vậy là xong rồi.

Còn gì để nói nữa đây?

Vậy, nhưng Hopkins này, anh phải công nhận rằng ba chiếc cốc rất đáng chú ý.

Sao, anh thấy không có gì đáng chú ý ư?

Thôi, thôi, cho qua.

Người có kiến thức đặc biệt và khả năng đặc biệt như tôi thường lại bị thôi thúc tìm kiếm một cách giải thích phức tạp khi đã có trong tay lời giải đơn giản hơn.

Tất nhiên, mấy chiếc cốc hẳn chỉ là sự tình cờ.

Thôi, chào Hopkins.

Tôi thấy mình chẳng giúp được gì cho anh cả, và xem ra vụ của anh đã rõ quá rồi.

Khi nào Randall bị bắt và có diễn biến nào nữa xảy ra thì hãy cho tôi biết.

Tôi mong sẽ sớm được chúc mừng anh vì đã kết thúc thành công.

Đi thôi, Watson, tôi nghĩ ở nhà ta còn được việc hơn."

***

Trong suốt hành trình trở về, nhìn mặt Holmes tôi biết là anh rất băn khoăn vì cái gì đó đã quan sát thấy.

Thỉnh thoảng, phải cố lắm anh mới xua được cái ấn tượng đó và nói chuyện như thể vấn đề đã rõ, nhưng rồi những mối hồ nghi lại đọng lại trong anh, còn đôi mày nhíu lại và hai mắt lơ đãng cho tôi biết rằng tâm tưởng của anh lại quay về căn phòng ăn sang trọng của trang viên Abbey, nơi đã diễn ra tấn thảm kịch nửa đêm này.

Cuối cùng, vì một thôi thúc bất chợt, khi tàu vừa chuyển bánh ra khỏi một nhà ga ngoại ô thì anh liền nhảy vọt xuống sân ga và kéo tôi xuống theo.

"Thứ lỗi cho tôi, bạn thân mến", anh nói khi chúng tôi nhìn mấy toa cuối của chiếc xe lửa khuất dạng ở một khúc quanh.

"Tôi xin lỗi vì đã biến anh thành nạn nhân của một ý nghĩ bất chợt đơn thuần, nhưng tôi lấy tính mạng ra mà thề, Watson, đúng là tôi không thể bỏ vụ đó trong hoàn cảnh này được.

Mọi bản năng của tôi đều phản đối.

Sai rồi - sai hoàn toàn - tôi dám cam đoan là nó sai.

Thế nhưng câu chuyện phu nhân kể rất đầy đủ, lời bà hầu gái chứng thực cũng thỏa đáng, các chi tiết thì khá chính xác.

Tôi có gì để phản bác lại điều đó đây?

Ba cốc rượu, chỉ có vậy.

Nhưng nếu tôi không coi mọi chuyện là đương nhiên như thế, nếu tôi xem xét mọi thứ bằng sự cẩn trọng như thể ta tiếp cận vụ án de novo và không bị câu chuyện đã rõ rành rành làm thiên lệch suy nghĩ, biết đâu chừng tôi lại chẳng tìm được chứng cứ rõ ràng hơn để tiếp tục?

Tất nhiên là thế rồi.

Ngồi xuống băng ghế này đi, Watson, hãy đợi tàu đi Chislehurst, và cho phép tôi trình bày bằng chứng với anh, nhưng trước hết xin anh đừng mặc định rằng bà hầu hay cô chủ nói gì cũng nhất thiết phải là thật.

Không được để cho tính cách thu hút của phu nhân làm lệch lạc nhận định của ta.

Rõ ràng trong câu chuyện của cô ấy có những chi tiết mà, nếu nhìn nhận tỉnh táo, ta sẽ sinh nghi.

Hai tuần trước bọn trộm này đã làm một mẻ ra trò tại Sydenham.

Trên báo đã tường thuật đôi chút và mô tả nhân dạng của chúng, nên lẽ tự nhiên là điều đó sẽ chợt nảy ra trong óc người nào muốn bịa một câu chuyện mà mấy tên trộm tưởng tượng đóng một vai trong đó.

Đương nhiên, bọn trộm vừa làm xong một cú ngon lành thì theo lệ sẽ sung sướng mà yên lặng hưởng chiến lợi phẩm chứ chẳng đời nào lại lao vào một phi vụ mạo hiểm khác.

Hơn nữa, thật không bình thường khi bọn trộm đêm lại ra tay vào một giờ sớm sủa như vậy; lại còn đánh một người đàn bà để ngăn bà ta la lối, vì ai cũng sẽ hình dung được rằng cách đó chắc chắn sẽ làm cho bà ta kêu toáng lên; cũng không bình thường khi chúng ra tay sát hại một người trong khi với từng ấy người chúng thừa sức không chế ông ta; càng không bình thường khi chúng bằng lòng với một món chiến lợi phẩm ít ỏi khi mà trong tầm tay chúng còn biết bao thứ; và cuối cùng, tôi khẳng định rằng bọn người ấy mà chừa lại hơn nửa chai rượu là rất bất thường.

Anh nghĩ sao về tất cả những cái bất bình thường này, Watson?"

"Tất cả những chi tiết ấy gộp lại kể cũng đáng chú ý đấy, nhưng xét riêng từng điều một thì cũng không phải là không thể xảy ra.

Tôi thì thấy hình như điều bất thường nhất là chúng phải trói phu nhân vào ghế."

"À, tôi vẫn chưa rõ lắm về chuyện đó, Watson à, vì hiển nhiên chúng phải giết cô ấy hoặc phải trói thế nào để cô ấy không thể tức thì thông báo chuyện chúng tẩu thoát.

Nhưng bất luận ra sao, tôi cũng đã cho anh thấy có một chi tiết bất hợp lí nào đó trong câu chuyện của phu nhân, có phải không?

Đã vậy lại còn tình tiết mấy cốc rượu nữa chứ!"

"Mấy cốc rượu thế nào?"

"Anh mường tượng lại được không?"

"Tôi thấy rất rõ."

"Ta nghe nói là ba người đàn ông đã uống bằng mấy cốc đó.

Anh thấy có thể nào có chuyện đó không?"

"Sao lại không?

Cốc nào cũng có rượu mà."

"Đúng, nhưng chỉ một cốc có cặn.

Hẳn anh đã để ý thấy chi tiết ấy.

Chuyện đó làm anh nảy ra điều gì?"

"Cốc được rót sau cùng sẽ dễ có cặn nhất."

"Không hề.

Cả chai đầy cặn rượu, nên không thể nào nghĩ rằng hai cốc đầu sạch còn cốc thứ ba đầy cặn.

Có hai và chỉ hai lối giải thích chấp nhận được.

Một là sau khi rót cốc thứ hai thì chai bị lắc mạnh, nên cốc thứ ba hứng cặn.

Chuyện đó có vẻ khó có thể xảy ra.

Không, không, tôi tin chắc mình đúng rồi."

"Vậy thì anh giả định thế nào?"

"Chỉ có hai cốc được dùng, và cặn rượu trong cả hai cốc được rót vào cốc thứ ba, để tạo ấn tượng sai lạc là đã có ba người ở đấy.

Nếu thế thì tất cả cặn sẽ nằm trong cốc cuối cùng, phải không nào?

Phải, tôi tin rằng đúng là vậy rồi.

Nhưng nếu tôi đã tìm được lối giải thích đúng cho sự việc kì lạ này, vậy thì vụ án từ bình thường đã lập tức nâng lên thành hết sức đáng chú ý, vì nó chỉ có thể có nghĩa là phu nhân Brackenstall và bà hầu gái đã cố ý nói dối ta, và rằng ta không nên tin một lời nào trong câu chuyện của họ, rằng họ có một lí do rất chính đáng nào đó để bao che cho hung thủ thực sự, và rằng ta phải tự dựng lại vụ án mà không có sự giúp đỡ nào từ phía họ.

Đó là nhiệm vụ đang nằm trước mặt ta, mà này, Watson này, tàu Chislehurst đây rồi."

***

Người nhà trang viên Abbey rất đỗi ngạc nhiên khi thấy chúng tôi quay lại, nhưng thấy Stanley Hopkins đã bỏ đi để báo cáo với Sở Cảnh sát, Sherlock Holmes bèn chiếm hữu phòng ăn, khóa trái cửa ở bên trong, rồi suốt hai giờ liền chuyên chú vào cuộc điều tra cặn kẽ, tỉ mỉ là nền móng vững chắc để dựng nên những công trình suy luận nguy nga.

Ngồi trong góc như một sinh viên hứng thú theo dõi giáo sư giảng giải, tôi theo sát từng bước buổi nghiên cứu đặc biệt này.

Cửa sổ, rèm, thảm, ghế, sợi dây thừng - từng vật được lần lượt kiểm tra kĩ càng và cân nhắc đúng mực.

Xác của ông nam tước bất hạnh đã được đưa đi, còn mọi thứ khác đều như chúng tôi thấy ban sáng.

Thế rồi tôi sửng sốt khi thấy Holmes trèo lên bệ lò sưởi rộng thênh thang.

Cao cao trên đầu anh thòng xuống một tấc dây thừng đỏ vẫn còn buộc vào khung thép.

Anh ngước nhìn chăm chăm hồi lâu, rồi vì cố với tới gần hơn nên anh kê đầu gối lên một công-xon bằng gỗ trên vách.

Nhờ vậy bàn tay anh chỉ còn cách đầu sợi dây đứt độ vài inch, nhưng dường như không phải cái này mà chính ra là cái công-xon mới làm anh chú ý.

Cuối cùng anh nhảy tót xuống, kêu lên hài lòng.

"Tốt rồi, Watson", anh nói.

"Ta nắm được vụ án rồi, một trong những vụ đáng kể nhất trong bộ sưu tập của ta.

Nhưng, trời ơi, sao tôi u mê quá, suýt nữa tôi đã suýt mắc phải một sai lầm ngớ ngẩn trong đời!

Giờ thì, tôi nghĩ còn thiếu vài mắt xích nữa thôi, xâu chuỗi của tôi đã gần hoàn chỉnh rồi."

"Anh đã nắm được mấy gã hung thủ rồi sao?"

"Một người, Watson ạ, một người, Chỉ một người thôi, nhưng là một kẻ rất ghê gớm.

Khỏe như sư tử - cứ coi cú đánh làm cong cả que cời đó thì biết!

Cao sáu foot ba, nhanh nhẹn như sóc, ngón tay khéo léo; lại còn nhanh trí khác thường, vì toàn bộ câu chuyện tài tình này là do hắn dựng lên.

Phải, Watson, đây là tác phẩm của một cá nhân rất xuất sắc.

Vậy nhưng trên sợi dây chuông đó hắn đã cho ta một manh mối rõ ràng đến không còn hồ nghi gì được nữa."

"Manh mối đâu?"

"À, Watson này, nếu anh phải giật dây chuông xuống, anh nghĩ nó sẽ đứt ở đâu?

Đương nhiên là ở chỗ nối vào dây điện.

Sao sợi dây này lại đứt ở chỗ cách đầu trên ba inch?"

"Vì nó bị sờn ở đó?"

"Đúng.

Đầu dây ta xem xét được này bị sờn.

Hắn ta đủ trí trá để dùng dao làm việc đó.

Nhưng đầu kia thì không bị tua ra.

Từ chỗ này anh không quan sát được điều đó, nhưng nếu đứng trên bệ lò sưởi anh sẽ thấy nó bị cắt phăng mà không hề có dấu vết tua ra.

Anh có thể tái hiện chuyện đã xảy ra.

Người này cần sợi dây.

Hắn sẽ không giật nó xuống vì sợ làm rung chuông báo động.

Hắn đã làm gì?

Hắn nhảy lên bệ lò sưởi, không với tới được, hắn liền kê đầu gối lên công-xon - anh sẽ thấy dấu vết ấy trên lớp bụi - và dùng dao cứa mạnh vào sợi thừng.

Tôi còn cách ít nhất ba inch mới với tới chỗ đó, từ đó tôi suy ra rằng hắn ta to cao hơn tôi ít nhất cũng ba inch.

Nhìn cái vết trên mặt ghế gỗ sồi kìa!

Gì thế?"

"Máu."

"Chắc chắn là máu rồi.

Chỉ riêng vết máu này thôi cũng đủ làm cho câu chuyện của phu nhân trở nên vô căn cứ.

Nếu khi án mạng xảy ra cô ta ngồi vào vết đó?

Không, không, cô ta được đặt ngồi vào ghế sau khi ông chồng chết.

Tôi dám cá trên chiếc váy dài màu đen sẽ có một vết tương ứng với vết này.

Vẫn chưa đến Waterloo đâu, Watson à, đây mới là Marengo của ta thôi, vì nó mở đầu bằng thất bại nhưng kết thúc trong chiến thắng.

Giờ tôi muốn có vài lời với bà nhũ mẫu Theresa.

Tạm thời ta phải thận trọng, nếu muốn có được thông tin ta cần."

Bà nhũ mẫu người Úc lạnh lùng này là một người thú vị.

Lầm lì, khả nghi, khó chịu, phải mất một lúc thì thái độ dễ mến và việc Holmes thành thật chấp nhận tất cả những gì bà ta nói mới làm bà ta bớt lạnh lùng và có sự hòa nhã tương xứng.

Bà ta không che giấu nỗi căm hận đối với ông chủ quá cố.

"Phải, thưa ông, đúng là ông ta ném bình nước vào tôi.

Tôi nghe ông ta chửi mắng cô chủ của tôi, nên tôi nói là ông ta sẽ không dám thế nếu có anh của cô ở đây.

Thế rồi ông ta ném nó vào tôi.

Nếu muốn thì ông ta cứ ném cả chục lần cũng được, nhưng phải để con chim xinh xắn của tôi được yên.

Ông ta cứ bạc đãi cô mãi, mà cô thì quá ư kiêu hãnh nên chẳng kêu ca.

Cô còn không chịu kể hết với tôi những gì ông ta đã làm với mình.

Cô chưa hề nói tôi nghe về mấy vết trên cánh tay mà sáng nay ông thấy, nhưng tôi biết rất rõ là do bị ghim cài mũ đâm.

Con quỷ ma mãnh - Chúa tha tội cho tôi vì nói về người đã khuất như vậy, nhưng ông ta đúng là con quỷ, nếu trên đời có quỷ thật.

Hồi mới quen, ông ta hết sức dễ mến - mới chỉ mười tám tháng trước mà cả hai chúng tôi tưởng như đã mười tám năm rồi.

Cô chủ vừa đặt chân đến London.

Phải, đó là chuyến đi đầu tiên của cô - trước kia cô chưa hề xa nhà.

Ông ta chinh phục được cô bằng tước vị, bạc tiền và những cung cách London giả tạo.

Nếu cô có sai lầm thì cũng đã trả giá rồi.

Chúng tôi gặp ông ta vào tháng nào ư?

À, tôi sẽ nói với ông là chỉ ngay sau khi chúng tôi tới.

Chúng tôi tới vào tháng 6, và gặp ông ta vào tháng 7.

Họ cưới nhau vào tháng 1 năm ngoái.

À, phải rồi, cô lại xuống phòng khách rồi đấy, và tôi tin chắc cô sẽ tiếp các ông, nhưng ông không được hỏi cô nhiều quá, vì cô đã phải trải qua hết những nông nỗi mà người trần mắt thịt chịu đựng rồi."

Phu nhân Brackenstall đang nằm dựa trên chiếc trường kỉ lúc trước, nhưng trông đã tươi tỉnh hơn.

Bà hầu gái vào với chúng tôi, và lại bắt đầu chườm nóng vết bầm trên trán cô.

"Tôi hi vọng", phu nhân nói, "rằng các ông không đến để thẩm vấn tôi lần nữa?"

"Không", Holmes đáp bằng giọng ôn tồn nhất, "tôi sẽ không làm phiền bà một cách không cần thiết, thưa phu nhân Brackenstall, và toàn bộ mong muốn của tôi là làm cho mọi chuyện dễ dàng với bà, vì tôi tin rằng bà đã chịu đựng nhiều rồi.

Nếu bà xem tôi như một người bạn và tin cậy tôi, bà có thể thấy rằng tôi sẽ không phụ lòng tin của bà."

"Ông muốn tôi làm gì?"

"Nói tôi nghe sự thật."

"Ông Hohnes!"

"Không, không, phu nhân Brackenstall, vô ích thôi.

Có lẽ bà đã được nghe chút danh tiếng của tôi.

Tôi dám đánh cược rằng câu chuyện của bà hoàn toàn là bịa đặt."

Cả bà chủ và người hầu đều tái mét mặt và kinh hoảng chằm chằm nhìn Holmes.

"Ông là đồ láo xược!"

Theresa kêu lên.

"Ông muốn nói cô chủ tôi khai man ư?"

Holmes đứng lên khỏi ghế.

"Bà không có gì để nói với tôi sao?"

"Tôi đã kể cho ông nghe mọi chuyện rồi."

"Nghĩ lại đi, phu nhân Brackenstall.

Thành khẩn chẳng tốt hơn sao?"

Gương mặt đẹp đẽ thoáng chút lưỡng lự.

Rồi một ý nghĩ quyết liệt nào đó khiến nó đanh lại như mặt nạ.

"Tôi đã kể hết với ông những gì tôi biết."

Holmes cầm mũ rồi nhún vai.

"Tôi lấy làm tiếc", anh nói, rồi không nói thêm lời nào nữa, chúng tôi rời phòng ra khỏi nhà.

Trong vườn có một hồ nước nhỏ, và bạn tôi đi trước đến đấy.

Hồ đã đóng băng kín, nhưng vẫn còn một cái hố vừa vặn cho một con thiên nga lẻ loi.

Holmes nhìn đăm đăm rồi đi tiếp đến cổng gác.

Ở đó anh hí hoáy viết một mẩu thư ngắn cho Stanley Hopkins rồi để lại chỗ người gác cổng.

"Có thể trúng cũng có thể trật, nhưng ta buộc phải làm gì đó cho anh bạn Hopkins, cho bõ công lần đến thứ hai này", anh nói.

"Tôi vẫn chưa thể tiết lộ cho anh ta nghe.

Tôi nghĩ địa điểm hoạt động kế tiếp của ta là văn phòng vận tải hãng Adelaide Southampton, ở cuối phố Pall Mall, nếu tôi nhớ không lầm.

Còn một hãng tàu hơi nước thứ hai chuyên tuyến Úc-Anh, nhưng ta sẽ thử phương án khả dĩ hơn trước."

Danh thiếp của Holmes đưa vào cho viên quản lí liền được quan tâm tức thì, và anh không mất nhiều thời gian để có được mọi thông tin anh cần: Vào tháng 6 năm 1895, chỉ một con tàu của họ tới cảng nhà.

Đó là Rock of Gibraltar, con tàu tốt nhất và lớn nhất của họ.

Tra cứu danh sách hành khách cho thấy cô Fraser, ở Adelaide, cùng người hầu, đã đi trên con tàu này.

Hiện nay tàu đang trên đường đến Úc, ở đâu đó về phía nam kênh đào Suez.

Các sĩ quan của tàu vẫn y như năm 1895, chỉ trừ một ngoại lệ.

Thuyền phó, anh Jack Crocker, đã được chỉ định làm thuyền trưởng nên phải chỉ huy tàu mới của họ, Bass Rock, hai ngày nữa sẽ dong buồm đi Southampton.

Anh ta sống tại Sydenham, nhưng rất có thể sáng hôm đó sẽ có mặt để nhận chỉ thị, nếu chúng tôi muốn chờ.

Không, ông Holmes không muốn chờ anh ta, nhưng sẽ vui lòng được biết thêm về lí lịch, và tính cách của anh ta.

Lí lịch hành nghề của anh ta thật ấn tượng.

Trong đội tàu không có chỉ huy nào sánh kịp anh ta.

Còn về tính cách, anh ta đáng tin cậy khi đang làm nhiệm vụ, nhưng khi không còn ở trên tàu thì dữ dằn, liều lĩnh, bộp chộp, dễ bị kích động, nhưng tận tụy, trung thực và tốt bụng.

Đó là chút thông tin Holmes mang theo khi rời văn phòng công ty Adelaide Southampton.

Từ đó anh chạy xe đến Sở Cảnh sát London, nhưng thay vì vào đó anh lại ngồi trong xe, đôi lông mày trĩu xuống, chìm trong suy ngẫm.

Cuối cùng anh chạy xe vòng đến bưu điện Charing Cross, gửi đi một bức điện, và rồi, cuối cùng, chúng tôi lại lên đường về phố Baker.

"Không, tôi không thể làm chuyện đó, Watson", anh nói, khi chúng tôi về đến nhà.

"Một khi trát đó ban ra thì trên đời này chẳng có gì cứu được anh ta.

Trong nghề, tôi đã đôi lần cảm thấy thật ra việc mình phát hiện ra kẻ phạm tội còn tai hại hơn việc hắn ta gây ra tội ác.

Giờ tôi đã học được cách thận trọng rồi, và tôi thà lừa dối luật pháp Anh quốc còn hơn là có lỗi với lương tri mình.

Ta tìm hiểu thêm chút nữa đã rồi mới hành động."

Gần tối, thanh tra Stanley Hopkins đến chỗ chúng tôi.

Tình hình không suôn sẽ lắm đối với anh ta.

"Tôi nghĩ ông đúng là phù thủy, ông Holmes.

Đôi lần tôi thực tình nghĩ ông có những khả năng phi thường.

Này, làm thế quái nào mà ông biết đồ bạc bị đánh cắp nằm dưới đáy hồ đó?"

"Tôi đâu biết chuyện đó."

"Ông dặn tôi lục soát cơ mà."

"Vậy là anh tìm được rồi?"

"Phải, tôi tìm thấy rồi."

"Tôi rất mừng nếu đã giúp được anh."

"Nhưng ông đâu có giúp tôi.

Ông làm cho vụ việc khó khăn hơn nhiều.

Chúng là trộm kiểu gì mà lại ăn cắp đồ bạc rồi ném xuống hồ nước gần nhất vậy?"

"Đó rõ ràng là hành vi khá lập dị.

Tôi chỉ dựa vào ý nghĩ là nếu đồ bạc bị những người không cần chúng lấy đi chỉ để che mắt, có thể nói như vậy, thì đương nhiên là họ sẽ nóng lòng muốn tống khứ chúng đi."

"Nhưng sao ông lại nảy ra ý nghĩ ấy?"

"À, tôi chỉ nghĩ chuyện đó có thể xảy ra.

Khi chúng bước ra qua cửa sổ sát mặt đất thì thấy cái hồ đóng băng có một lỗ hổng nho nhỏ mời gọi ngay trước mũi.

Còn chỗ giấu nào hay hơn được nữa?"

"A, một chỗ giấu - vậy thì đúng hơn!"

Stanley Hopkins kêu lên.

"Phải, phải, giờ tôi hiểu cả rồi!

Lúc đó hãy còn sớm, trên đường có người, chúng sợ bị nhìn thấy cầm đồ bạc nên mới ném xuống hồ, định bụng khi đã an toàn rồi thì quay lại lấy.

Tuyệt, ông Holmes - vậy hay hơn cái ý tưởng che mắt của ông đấy."

"Đúng vậy, anh đã có được một giả thuyết đáng nể.

Không nghi ngờ gì là ý kiến của tôi khá hồ đồ, nhưng anh phải thừa nhận rằng nhờ vậy mới phát hiện ra đồ bạc."

"Đúng, thưa ông, đúng.

Do công của ông cả.

Nhưng tôi vừa gặp một trở ngại."

"Một trở ngại sao?"

"Phải, ông Holmes.

Băng Randall đã bị bắt ở New York hồi sáng nay."

"Trời ơi, Hopkins!

Điều đó rõ ràng đi ngược lại với giả thuyết của anh rằng đêm qua chúng gây án ở Kent."

"Tai hại, ông Holmes, hết sức tai hại.

Thế nhưng, ngoài bọn Randall ra vẫn còn những bộ ba khác, cũng có thể là một băng mới nào đó cảnh sát chưa từng nghe đến."

"Đúng vậy, chuyện đó có thể lắm chứ.

Sao, anh đi à?"

"Phải, ông Holmes.

Tôi không thư thả được chừng nào còn chưa tìm hiểu rõ ngọn nguồn vụ này.

Tôi chắc rằng ông không có gợi ý nào cho tôi?"

"Tôi đã cho anh một gợi ý rồi."

"Gợi ý nào?"

"Đấy, tôi đã gợi ý việc che mắt đấy."

"Nhưng sao lại thế, ông Holmes, vì sao?"

"À, tất nhiên đó mới là vấn đề.

Nhưng tôi nêu ý đó để anh suy nghĩ.

Có lẽ anh sẽ thấy rằng ở đấy có cái gì đó.

Anh không ở lại ăn tối sao?

Thôi được, tạm biệt, và hãy cho chúng tôi biết anh tìm hiểu tới đâu rồi."

Ăn tối xong và dọn bàn rồi Holmes mới nhắc lại vụ này.

Anh đã châm tẩu thuốc và giơ hai bàn chân mang dép tới gần ánh lửa reo vui bên lò sưởi.

Chợt anh nhìn đồng hồ bỏ túi.

"Tôi đang chờ xem diễn biến, Watson."

"Bao giờ?"

"Bây giờ, trong vòng vài phút nữa.

Tôi dám chắc anh nghĩ khi nãy tôi đã đối xử khá tệ với Stanley Hopkins?"

"Tôi tin vào phán đoán của anh."

"Một câu trả lời rất biết điều đấy, Watson.

Anh phải nhìn nhận chuyện đó thế này: Cái tôi biết là không chính thức; cái anh ta biết là chính thức.

Tôi có quyền có phán đoán riêng, nhưng anh ta thì không.

Anh ta phải tiết lộ tất cả, nếu không anh ta sẽ phản bội lại phận sự của mình.

Trong một vụ còn nghi vấn thì tôi không muốn đưa anh ta vào tình thế đau lòng như vậy đâu, thế nên tôi để dành thông tin cho đến khi đầu óc mình đã thông suốt vấn đề."

"Nhưng khi đó là bao giờ?"

"Chính lúc này đây.

Giờ anh sẽ có mặt trong cảnh cuối của một vở kịch khác thường."

Có tiếng động trên cầu thang, rồi cửa phòng chúng tôi mở ra, bước vào là một hình mẫu nam nhi đẹp chưa từng thấy.

Anh ta là một thanh niên dong dỏng cao, ria mép vàng óng, mắt xanh, làn da rám nắng nhiệt đới, và bước đi thoăn thoắt chứng tỏ thân hình to lớn vừa nhanh nhẹn vừa mạnh mẽ.

Anh ta khép cửa lại sau lưng rồi đứng đó, hai tay nắm chặt và ngực phập phồng, kìm nén một cảm xúc choáng ngợp nào đó.

"Ngồi xuống đi, thuyền trưởng Crocker.

Anh nhận được điện của tôi rồi?"

Người khách của chúng tôi ngồi thụp xuống chiếc ghế bành rồi nhìn chúng tôi từ người này qua người kia bằng cặp mắt dò hỏi.

"Tôi nhận được điện của ông nên đến vào giờ ông dặn.

Tôi nghe là ông đã xuống văn phòng.

Chẳng chạy trốn ông được.

Ta nghe chuyện tồi tệ nhất đi thôi, ông định làm gì tôi?

Bắt tôi?

Nói ra đi, ông!

Ông đừng ngồi đó mà vờn tôi như mèo vờn chuột."

"Mời anh ta điếu xì gà đi," Holmes nói.

"Dùng xì gà đi, thuyền trưởng Crocker, và đừng để mất bình tĩnh.

Tôi sẽ không ngồi đây hút thuốc với anh nếu nghĩ anh là tội phạm bình thường, anh có thể tin chắc điều đó.

Hãy thành thật với tôi, rồi chúng tôi có thể giúp ích đôi chút.

Giở trò với tôi thì tôi sẽ triệt hạ anh."

"Ông muốn tôi làm gì?"

"Thuật lại cho tôi nghe chính xác những gì đã xảy ra đêm qua tại trang viên Abbey - thuật lại chính xác, xin nhớ kĩ cho, không thêm bớt gì cả.

Tôi đã biết nhiều đến mức nếu anh đi chệch một li thì tôi sẽ tới bên cửa sổ mà thổi còi báo cảnh sát, đến lúc ấy vụ này sẽ không còn nằm trong quyền hạn của tôi nữa."

Thuyền trưởng nghĩ ngợi một lát.

Rồi bàn tay to rám nắng vỗ đùi.

"Tôi sẽ liều", anh ta kêu lên.

"Tôi tin ông là người biết giữ lời và trung thực nên tôi sẽ kể ông nghe đầu đuôi câu chuyện.

Nhưng có một điều tôi sẽ nói trước.

Về phần tôi thì tôi không hối tiếc và không sợ gì cả, nếu có phải làm lại tôi cũng sẵn sàng và lấy làm tự hào về việc đó.

Tên súc sinh khốn kiếp, hắn mà có chín mạng thì tôi cũng lấy mạng hắn cả chín lần!

Nhưng về phần quý cô Mary - Mary Fraser - tôi sẽ không đời nào gọi cô ấy bằng cái tên đáng nguyền rủa kia đâu.

Khi tôi nghĩ đã gây rắc rối cho người yêu dấu mà tôi dám dâng cả mạng sống chỉ để đổi lấy một nụ cười của cô ấy, lòng tôi tan nát.

Vậy nhưng... vậy nhưng... tôi đâu thể nhẹ tay hơn được?

Tôi sẽ kể các ông nghe câu chuyện của mình, thưa ông, sau đó, giữa đàn ông với nhau, xin hỏi ông tôi có thể làm gì khác.

Tôi phải kể rõ ngọn nguồn một chút.

Dường như các ông đã biết mọi chuyện, nên tôi nghĩ các ông biết tôi gặp cô ấy khi cô ấy là hành khách còn tôi là thuyền phó trên tàu Rock of Gibraltar.

Ngay từ ngày đầu gặp gỡ, với tôi, cô ấy đã là người đàn bà duy nhất.

Mỗi ngày trong chuyến hành trình đó tôi lại càng yêu cô ấy, và từ đó biết bao lần tôi đã quỳ trong bóng đêm để nhìn và hôn boong tàu, nơi bàn chân yêu dấu ấy đã bước lên.

Cô ấy chưa hề hẹn ước với tôi.

Cô ấy đối xử với tôi hết mực tử tế trong giới hạn giữa một người nữ với một người nam.

Tôi không kêu ca gì.

Đó hoàn toàn chỉ là tình yêu từ phía tôi, còn từ phía cô ấy đơn thuần là tình bạn.

Khi chúng tôi chia tay thì cô ấy là một phụ nữ tự do, nhưng tôi không bao giờ còn là một người đàn ông tự do nữa.

Lần sau đó, tôi từ khơi xa về thì được tin cô ấy đã lấy chồng.

Ồ, sao cô ấy lại không thể cưới người mình thích?

Tước vị và tiền bạc - còn ai xứng với chúng hơn cô ấy?

Cô ấy sinh ra là để hưởng tất cả những gì đẹp đẽ kiêu sa.

Tôi không buồn khổ vì cô ấy lấy chồng.

Tôi không phải là con chó săn ích kỉ đến vậy.

Tôi chỉ mừng là may mắn đã đến với cô ấy, và cô ấy đã không uổng phí đời mình vì một tay thủy thủ nghèo kiết xác.

Tôi yêu Mary Fraser đến nhường ấy.

Thế rồi, tôi chưa hề nghĩ còn gặp lại cô ấy; nhưng chuyến hành trình cuối cùng tôi được thăng cấp, mà chiếc tàu mới vẫn chưa hạ thủy, nên tôi cùng đoàn phải chờ vài tháng tại Sydenham.

Một hôm, giữa đường làng, tôi gặp Theresa Wright, bà nhũ mẫu tốt bụng của cô ấy.

Bà kể tôi nghe về cô ấy, về hắn, về mọi chuyện.

Nói thực, thưa ông, chuyện đó làm tôi phát điên.

Con chó say xỉn này, hắn dám thượng cẳng chân hạ cẳng tay với người mà hắn còn không xứng liếm giày sao!

Tôi lại gặp Theresa.

Rồi tôi gặp chính Mary, rồi lại gặp lần nữa.

Thế rồi cô ấy không chịu gặp tôi nữa.

Nhưng hôm nọ tôi nhận được thông báo trong vòng một tuần nữa sẽ phải khởi hành, nên tôi quyết tâm gặp cô ấy một lần trước khi đi.

Theresa luôn là bạn tôi, vì bà cũng yêu quý Mary và căm ghét tên vô lại như tôi vậy.

Từ bà mà tôi biết được thói quen sinh hoạt trong nhà.

Mary thường thức khuya đọc sách trong phòng riêng nhỏ dưới lầu.

Đêm qua tôi rón rén tới đó và khều cửa sổ.

Ban đầu cô ấy không chịu mở cho tôi, nhưng tôi biết bây giờ trong lòng cô ấy đã yêu tôi, nên không thể nào để tôi đứng ngoài màn đêm rét mướt.

Cô ấy thì thầm bảo tôi đi vòng ra cửa sổ lớn đằng trước, thế là tôi thấy cửa mở cho tôi bước vào phòng ăn.

Lần nữa tôi nghe từ chính miệng cô ấy những điều làm tôi sôi máu, và lần nữa tôi nguyền rủa tên cục súc đã hành hạ người đàn bà tôi yêu.

Vâng, quý vị, tôi đang đứng với cô ấy ngay bên trong cửa sổ, hoàn toàn trong sáng, bởi Chúa là quan tòa của tôi, thì hắn như kẻ điên xộc vào phòng, gọi cô ấy bằng cái từ xấu xa nhất mà một người đàn ông có thể nói với một người phụ nữ, rồi dùng cây gậy cầm trong tay vụt lên mặt cô ấy.

Tôi nhào tới lấy cây cời lò, tiếp đó là một trận đấu cân sức giữa chúng tôi.

Nhìn cú vụt đầu tiên của hắn trúng vào cánh tay tôi đây.

Rồi đến lượt tôi, và thế là tôi đập hắn như thể hắn là quả bí thối.

Các ông nghĩ tôi hối hận sao?

Không đâu!

Hoặc hắn sống hoặc tôi sống, nhưng còn hơn thế nhiều, đó là đời hắn hay đời cô ấy, vì làm sao tôi có thể bỏ mặc cô ấy trong tay kẻ điên này?

Tôi giết hắn như vậy đó.

Tôi có sai không?

Thôi được, nếu vậy thì hai ông sẽ làm gì nếu ở vào địa vị của tôi?

Cô ấy thét lên khi bị hắn đánh, khiến Theresa tốt bụng từ phòng trên chạy xuống.

Trên tủ li có một chai rượu nên tôi mở ra, đổ một chút vào giữa hai môi Mary, bởi cô ấy đã bất tỉnh vì sốc.

Rồi tôi cũng nhấp một ngụm.

Theresa lạnh như tiền, và bà đã cùng tôi lập ra kế hoạch này.

Chúng tôi phải làm ra vẻ như trộm đã gây ra chuyện này.

Theresa cứ nhắc đi nhắc lại câu chuyện của chúng tôi cho cô chủ, trong khi tôi trèo lên cắt đứt sợi dây chuông.

Rồi tôi cột cô ấy vào ghế, và làm xơ đầu dây cho có vẻ tự nhiên, nếu không họ sẽ thắc mắc làm sao mà trộm lại lên đó cắt dây được.

Sau đó tôi gom ít đĩa và bình bạc, để giả đó như có một vụ trộm, rồi tôi bỏ họ lại đó, dặn rằng đợi tôi đi được mười lăm phút hẵng báo động.

Tôi thả đồ bạc xuống hồ rồi đi Sydenham, cảm thấy lần đầu tiên trong đời mình đã làm một việc thực sự hữu ích.

Ông Holmes ạ, đó là sự thật không sai chệch một li, cho dù tôi có phải trả giá bằng cái mạng của mình."

Holmes im lìm hút thuốc một lát.

Rồi anh bước qua bên kia phòng, bắt tay vị khách của chúng tôi

"Tôi cũng nghĩ vậy", anh nói.

"Tôi biết rằng mỗi lời mỗi chữ đều đúng, vì hầu như không có chữ nào anh nói mà tôi chưa biết.

Ngoài một diễn viên nhào lộn hay một thủy thủ ra, không ai có thể với tới sợi dây chuông đó từ công-xon, và chỉ có thủy thủ mới có thể gút mấy nút thắt ở sợi dây cột vào ghế.

Vị phu nhân này chỉ có mỗi một lần tiếp xúc với thủy thủ, đó là trong chuyến đi của cô, và đó là người thuộc tầng lớp xã hội của cô, vì cô đã cố hết sức che chở cho hắn nên điều đó chứng tỏ là cô yêu hắn.

Anh thấy đấy, khi đã xuất phát đúng hướng thì tôi dễ dàng tóm được anh."

"Tôi cứ tưởng cảnh sát không bao giờ nhìn thấu mưu mẹo của chúng tôi."

"Cảnh sát chưa nhìn ra, cũng sẽ không nhìn ra, tôi tin chắc như vậy.

Giờ thì nghe này, thuyền trưởng Crocker, chuyện này rất nghiêm trọng, dù tôi sẵn lòng thừa nhận anh đã hành động trong lúc bị khiêu khích cao độ và ai cũng có thể gặp phải điều tương tự.

Tôi không chắc việc anh tự vệ vì mạng sống của mình có được tuyên bố là chính đáng hay không, Chuyện đó chỉ có bồi thẩm đoàn phân định.

Song tôi hết sức thông cảm với anh nên nếu anh biến mất trong vòng hai mươi bốn giờ tới thì tôi hứa sẽ không ai ngăn trở anh."

"Và rồi tất cả sẽ được phơi bày?"

"Chắc chắn nó sẽ được phơi bày."

Viên thuyền trưởng đỏ mặt giận dữ.

"Ông đề nghị kiểu gì vậy?

Tôi biết luật đủ để hiểu rằng Mary sẽ bị khép vào tội đồng lõa.

Ông nghĩ tôi sẽ để cô ấy lại một mình gánh chịu hậu quả còn tôi thì chuồn sao?

Không, thưa ông, cứ để họ trừng phạt tôi nặng đến đâu cũng được, nhưng vì Chúa, ông Holmes, hãy tìm cách nào để Mary tội nghiệp của tôi có thể tránh xa pháp đình."

Lần thứ hai, Holmes chìa tay ra với anh chàng thuyền trưởng.

"Tôi chỉ đang thử anh thôi, và lần nào cũng thấy anh thành thật.

Thôi được, tôi đã tự chuốc lấy gánh nặng, nhưng tôi đã cho Hopkins một gợi ý tuyệt vời và nếu anh ta không biết tận dụng thì tôi chẳng còn biết làm sao hơn.

Nghe đây, thuyền trưởng Crocker, ta sẽ làm chuyện này theo đúng thể thức pháp luật.

Anh là bị cáo.

Watson, anh là thành viên ban hội thẩm, tôi chưa gặp ai phù hợp với vai trò đó hơn anh.

Tôi là quan tòa.

Giờ thì, thưa ngài hội thẩm, ngài đã nghe lời khai.

Ngài xét thấy tù nhân có tội hay vô tội?"

"Vô tội, thưa ngài chánh án", tôi đáp.

"Vox populi, vox Dei.

Anh được tha bổng, thuyền trưởng Crocker.

Chừng nào luật pháp không tìm thấy một nạn nhân nào khác thì anh sẽ không bị tôi gây khó dễ.

Một năm nữa hãy trở lại với quý cô này, và mong sao tương lai của anh và cô ấy sẽ biện hộ cho phán quyết của chúng tôi đêm nay!"
 
Back
Top Dưới