Ngôn Tình Phiến Phiến Hoa Phi

Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 20: Nghi phi


Ngày hai mươi mốt tháng mười một, Gia tần sinh ra một bé trai, là Ngũ hoàng tử của Hoàng thượng.

Ngày hai mươi ba tháng hai năm sau, huynh trưởng bên mẫu gia của Thục phi nhiều lần lập công đẩy lùi kẻ địch trong chiến dịch Tây Bắc, được phong làm Định Sóc Đại tướng quân, Thục phi nhờ vậy được tấn lên làm Thục quý phi. Cô ta càng kiêng căng ngang ngược hơn trước, có điều ta cũng chẳng để trong lòng, bởi vì cuối cùng Hoàng thượng đã có thể ngủ ngon.

Mà Gia tần có công sinh dục Ngũ hoàng tử, thêm việc chăm chỉ giúp đỡ quản lý Hậu cung, lại thường đến cung Khôn Ninh chép kinh cầu phúc cho Hoàng thái hậu nên được người tán thưởng, gia thế cũng lớn, phong Phi không coi là vượt quy củ, tháng tư được tấn làm Gia phi.

Hôm ấy trời rất đẹp, hai cây hải đường trong cung cô ấy đã ra hoa.

Ta vẫn ở cung Đường Lê của ta, an ổn làm Dao quý nhân, Hoàng thượng thỉnh thoảng có ghé thăm, lúc lại bận rộn mà vắng bóng.

Nhưng Thất tịch năm đó, ta không gặp được bệ hạ.

Ở trong cung đã lâu, chỗ đặt chân đến thêm nhiều. Ta quay lại chỗ Hoàng thượng cho ta kẹo hoa quế hồi năm thứ hai vào cung.

Giờ là cuối thu, hành lang phủ đầy lá cây rơi rụng, trước cửa lại được quét dọn nhổ cỏ sạch sẽ. Cửa cung bị khóa, ta ngẩng đầu lên nhìn, ba chữ “cung An Khánh” đập vào mắt, dù không có Ngự ấn bên cạnh, ta cũng nhận ra chữ của bệ hạ.

Ta đã đứng ở đó lâu thật lâu.

Về sau Cẩn phi nương nương kể ta nghe, cung An Khánh là nơi vị Nghi phi mất sớm kia từng sống.

Hoàng thượng và Nghi phi gặp nhau ngày Thất tịch, chia ly cũng vào ngày Thất tịch. Sau khi Nghi phi tạ thế, chức Phi bỏ trống một chỗ, cung An Khánh cũng được giữ nguyên, cứ ba ngày lại có người vào quét dọn một lần.

Dường như ta đã hiểu những ngày Thất tịch của mấy năm trước, ta đã gặp được Hoàng thượng thế nào.

Bệ hạ nói đây là duyên phận giữa ta và người, nhưng chủ yếu vẫn là tình nghĩa của bệ hạ với Nghi phi.

Bệ hạ vẫn đối xử tốt với ta, ta mỗi ngày vẫn vui vẻ chờ người đến.

Ta biết, bệ hạ đã cho ta tất cả những gì người có thể cho.

Trước đây tuổi nhỏ vô tri, nghĩ Hoàng thượng có thể ban nhiều thứ, có thể san sẻ tình cảm cho nhiều người. Bây giờ lớn khôn đã hiểu rồi, không phải bệ hạ cứ ban thứ gì cho ai là thích người đó đâu. Bệ hạ giàu vật chất nhưng tâm tư cũng nhỏ lắm thay. Trong lòng bệ hạ có hình bóng nhớ mãi không quên, trái tim lại chẳng thể chứa nhiều “nhớ mãi không quên” đến thế.

Lúc ta gặp được bệ hạ, người đã qua tuổi nhi lập mất rồi, là ta tới trễ. Đời này của bệ hạ không thể thuộc về mình ta. Thậm chí hiện tại bệ hạ cũng không thể thuộc về mình ta, vì người là vua một nước. Ngay từ đầu, ta và bệ hạ đã khác nhau nhiều lắm.

Bệ hạ yêu chiều ta như con nít, nghĩ ta bốc đồng, nhưng ta đã vào cung bốn năm rồi, không còn vô tri ngốc nghếch như trước nữa.

Ta không để ý người trong lòng bệ hạ là ai.

Ta không thấy bất công. Thế gian này, không phải cứ móc tim móc phổi yêu một người thì sẽ được đáp lại tương đương. Cũng không phải cứ cố gắng không ngừng là sẽ được toại nguyện. Giống như ta mỗi ngày đều để ý hoa quế bên ngoài, nhưng đến một ngày kia, nó vẫn sẽ lặng lẽ rụng xuống thôi.

Ta chỉ cần an ổn ở bên bệ hạ là được rồi.

Buổi tối ngày mười sáu tháng tám, bệ hạ đến chơi. Lúc người đến, Mịch Nhi đang mài mực cho ta, ta làm bài bệ giao. Bệ hạ luôn chê chữ của ta xấu, ta xấu hổ xé hết thơ văn ta viết cho người, người lại trách ta.

Ta thấy bệ hạ muốn đến xem nên giang tay che đi, quên cả thỉnh an. Bệ hạ làm như giận dữ:

- Nàng mà xé không cho trẫm đọc, tháng này cắt điểm tâm.

Ta chỉ đành thu tay lại, bệ hạ xem xong khen ta tiến bộ hơn trước nhiều lắm.

Ta nghiêng đầu nhìn bệ hạ:

- Tất nhiên rồi, hai tháng nay Hoàng thượng không đến, thần thiếp luyện tập mỗi ngày phải tiến bộ chứ.

Bệ hạ nhéo mũi ta:

- Biết ngay nàng chấp nhặt mà, trẫm khen nàng còn bị trách hai câu. Hai tháng trước trẫm bận quá, cũng chẳng vào được Hậu cung mấy lần. Hôm nay xem như đến cửa nhận lỗi, người trẫm tới trước, quà mai đến sau.

Nói xong liền làm dáng muốn ôm quyền chắp tay.

Ta phì cười, lắc đầu nói:

- Thần thiếp không mong gì cả.

Ta nhìn khóe mắt bệ hạ, đếm được mấy nếp nhăn mới, giọng mềm nhũn:

- Chỉ mong Hoàng thượng được bình an, không phải mệt mỏi như vậy.

Bên đêm đi ngủ, ta không nhịn được mà hỏi:

- Hoàng thượng có thích thần thiếp không?

Cứ luẩn quẩn nghĩ mãi trong lòng, sau cùng vẫn phải thốt ra câu.

Bệ hạ nói có chứ.

Ta nghiêng người nhìn bệ hạ, đổi giọng nghe vui tươi hơn:

- Thật ra thần thiếp thấy mình rất giống một miếng như ý cao. Như ý như ý, nghĩ là điềm lành nên dù như ý cao nhạt nhẽo cũng ráng nuốt thêm được hai miếng. Bệ hạ để ý thần thiếp không phải vì bản thân thần thiếp, mà bởi vì con chim nhỏ mang điềm lành. Thần thiếp tự thấy mình còn không bằng một con hỉ thước.

Bệ hạ sầm mặt bảo ta nói linh tinh, ta kéo chăn che mặt lùi ra phía sau, hé mắt nhìn biểu cảm của người.

Ta gọi, Hoàng thượng.

- Hử? - Bệ hạ nhắm mắt, không thèm nhìn ta nữa.

- Người có thích ăn như ý cao không?

- Sao nàng lại hỏi chuyện này?

- Thần thiếp không thích như ý cao. Thần thiếp kể người nghe, người có biết kẹo hồ lô không? Loại được bán thành từng xâu trên đường ở kinh thành ấy ạ, một lần thần thiếp có thể ăn đến ba xâu. Kẹo hồ lô ngon lắm, vỏ đường óng ánh, quả sơn tra chua ngọt. Người ăn thử một miếng chắc chắn sẽ thấy ngon hơn bánh sơn tra nhiều. Người nói xem bột sơn tra làm sao ngon bằng quả sơn tra tươi chứ…

Ta còn đang lải nhải, người vươn tay ôm lấy ta, hơi thở bên tai ta dần đều đặn.

Ta thấy hẳn bệ hạ đã mệt mỏi lắm rồi.

Lông mày người cau chặt, tay ta vuốt lên mà chẳng làm giãn ra được. Cả lúc ngủ người cũng chau mày phiền lo, ta sao mà không xót lòng.

Nhưng ta chẳng giúp được gì cho bệ hạ cả. Ta không có huynh đệ giỏi đánh trận cho người, cũng không có mẫu gia hiển hách phân ưu giúp người, chỉ có thể kể những chuyện vụn vặt thường ngày để bệ hạ được thư giãn.

Ta kéo chăn cho bệ hạ, vùi đầu vào lồng ngực người, nhắm mắt ngủ say.

Hôm sau, bữa sáng lại là món cũ hôm qua, ta không thích nên chạy đến chỗ Gia phi xin bánh tía tô, làm cô ấy buồn cười.

Về đến cung Đường Lê, lại thấy Hoàng thượng đang đứng dưới hiên nghịch tua rua trên tấm màn che lồng anh vũ.

Ta chưa kịp thỉnh an, bệ hạ đã gọi:

- Nàng đúng là Thao Thiết thành tinh mà, ba xâu kẹo này làm sao ăn hết được?

Ta chạy vào trong điện, nhìn ba xâu kẹo hồ lô vừa to vừa đỏ cắm trên gậy rơm mà nuốt niếng miếng, sau đó rút một xâu xuống.

- Hoàng thượng, đây mới một xâu thôi.

Bệ hạ nghiêm túc nói với ta:

- Trẫm muốn nàng biết, trong lòng trẫm có nàng.

Ta ăn kẹo hồ lô, gật đầu.

- Mấy lời ngốc nghếch như tối qua về sau không được nói nữa, trẫm để ý nàng không phải vì một con chim.

- Vậy thì vì sao?

- Bởi vì hôm ấy nàng là người cuối cùng, mẫu hậu bảo trẫm vẫn chưa chọn đủ người, trẫm thấy nàng ưa nhìn nhất nên mới giữ lại.

- À.

- Nhưng ai ngờ nàng càng ngày càng tham ăn, sắp biến thành heo con rồi.

- Vậy có phải Hoàng thượng hối hận rồi không?

- Thiên tử há có thể hối hận. Còn nữa, nàng có biết Tống thái tổ Triệu Khuông Dận không?

Ta gật đầu.

- Năm đó, ngài ấy nuôi hàng ngàn con heo nhỏ trong cung, bây giờ trẫm đường đường là vua một nước, quốc lực cường thịnh, nuôi một bé heo con là nàng cũng không sao.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 21: Lục hoàng tử


Tháng chín đến nhanh, hoa quế nở rộ.

Tháng mười lướt qua, hoa quế rụng tàn.

Năm nay ta chẳng còn hứng tự nhặt hoa quế đem phơi, chỉ sai Mịch Nhi dẫn theo các cung nữ rửa sạch hoa, phơi khô rồi cất đi cẩn thận. Chớp mắt đã sắp đến tết, qua tất niên ta đã mười chín tuổi, đã ở trong cung được năm năm.

Ngày mười ba tháng mười một, ta thấy không được khỏe, bảo Mịch Nhi truyền Triệu thái y đến.

Triệu thái y bảo ta sắp làm mẹ rồi.

Nghe tin xong, ta đã ngẩn ra rất lâu. Trong cung có nhiều hoàng tử công chúa, nhưng ta chưa từng nghĩ cũng sẽ đến lượt mình.

Hoàng thượng biết tin cũng cực kỳ vui mừng, vội vàng bỏ điện Cần Chính chạy tới chỗ ta. Lúc đến cũng không nói gì, chỉ ôm ta thật chặt. Ta nói Hoàng thượng làm thần thiếp khó thở quá, bệ hạ mới buông ta ra, nâng mặt ta lên nhìn tới nhìn lui, trong mắt tràn đầy mừng rỡ.

Năm nay phải dưỡng thai nên tết đến ta không ra ngoài.

Lễ chúc, đón giao thừa, đốt cành sồi, e là Hoàng thượng cũng bận chẳng đến được chỗ ta. Trừ Lương quý nhân đến một lần, cung Đường Lê vắng ngắt.

Ta lại không thấy cô đơn nữa, tự cảm thấy mình lớn tuổi hơn chút, tính tình cũng không còn ấu trĩ như xưa. Chứ ngày trước, ta sợ nhất là mấy ngày yên ắng thế này.

Nửa đêm, trong cung bắn pháo hoa, ta dặn Mịch Nhi để ý cửa nẻo rồi đi ngủ.

Gần đây giấc ngủ không sâu, lúc mơ mơ màng màng nghe thấy tiếng bước chân, chăn bị kéo ra.

Ta mở mắt, thấy Hoàng thượng đang cười với ta.

- Sao Hoàng thượng lại đến ạ? Chẳng phải hôm nay người phải đón giao thừa ở chỗ Hoàng thái hậu ư?

- Ta ngồi một lát, liền lấy cớ bận việc ở điện Cần Chính để xin lui. Năm nay một nhà ba người chúng ta cùng đón tết.

Nghe bệ hạ nói một nhà ba người, ta thấy ấm lòng lắm. Ta chưa từng đòi hỏi người phải thuộc về mình ta. Hậu cung vẫn sẽ đông đúc thôi, nhưng vào lúc này, ta thấy mình hạnh phúc.

Ta vùi mình vào lòng bệ hạ, người kể ta thật nhiều chuyện về lần đón giao thừa này, ai kể chuyện hài hước gì, ai chuẩn bị tiết mục gì hay. Hôm nay tết đến được thả lỏng, mọi người cũng không câu nệ lễ tiết, con cháu Hoàng gia cũng chỉ có ngày tết được tụ tập đông đủ.

Ta nghe lại nhớ cái tết ở quê nhà, cũng là đại gia đình quây quần đón giao thừa. Chỉ là lúc ấy ta còn nhỏ, ham ra ngoài hóng pháo hoa, bây giờ lớn rồi lại muốn ngồi cùng cha mẹ.

Bệ hạ xoa đầu ta, nói:

- Sang năm chúng ta đón giao thừa cùng nhau. Muốn ngắm pháo hoa thì cùng ngắm, muốn ngồi một chỗ thì trẫm ngồi với nàng, có được không?

Qua tết, ngày tháng lặng lẽ trôi, qua tháng hai, qua tháng ba, cơ thể dần nặng nề hơn, ta cũng lười ra ngoài.

Hoàng thượng sợ ta buồn, lúc không đến được lại sai người lúc đưa quạt, lúc đưa trâm cài sang. Hai hôm trước còn đưa một con mèo Xiêm đến, ta dù chẳng thích mèo mấy nhưng ngồi không buồn chán, có nó cũng thấy đỡ.

Đại công chúa cũng được bệ hạ nhờ cậy, thường đến chỗ ta chơi. Ta nói trước với nó rằng, bây giờ ta không thể chơi đá cầu và đánh đu với nó được. Con bé lúc thì tập viết, lúc thì đọc sách, ngẩng đầu mím môi cười nói ta phải chăm sóc bản thân, không cần để ý đến nó.

Có lúc nhìn ngắm Đại công chúa, ta lại thấy ngẩn ngơ. Không biết từ lúc nào, con bé đã cao lên nhiều, gương mặt bầu bĩnh đã thon gọn lại, lúc cười sẽ e thẹn cúi thấp đầu xuống chứ không hớn hở toe toét như xưa nữa.

Ngày mười bảy tháng sáu, Lục hoàng tử của Hoàng thượng chào đời.

Hôm ấy sáng sớm có mưa, bầu trời sầm sì. Lúc ta tỉnh dậy lại thấy có ánh nắng nghiêng nghiêng, Hoàng thượng đang ngồi bên giường chơi với Lục hoàng tử trong lòng. Thấy ta tỉnh lại, bệ hạ bế thằng bé đến cho ta nhìn.

Ta chẳng nhớ được bệ hạ đã nói những gì, chỉ hơi bần thần. Năm trước, cũng lúc này đây, ta còn đang đứng dưới ô, nói với người mấy câu không đầu không đuôi, mà bây giờ hai ta đã hạnh phúc đón chào thành viên mới như một gia đình bình thường.

Bệ hạ đặt tên cho Lục hoàng tử là “Hân Uyên”, ý là ánh sáng rọi trong đêm tối.

Ngày mồng ba tháng bảy, hạ chỉ, vì có công khai chi tán diệp cho Hoàng gia, Dao quý nhân tấn lên Dao tần, cho phép nữ quyến trong nhà vào cung thăm hỏi.

Ta chẳng để ý mình có được phong Tần hay không, nhưng cứ nghĩ đến mười ngày sau mẹ sẽ được tiến cung là mừng đến nỗi không ngủ được. Suốt năm năm nay, đây là tin đáng mừng nhất ta được nghe.

Ngày mười ba tháng bảy, ta thấp thỏm đứng chờ trước cửa cung Đường Lê từ sớm, xa xa nhìn thấy hai thái giám dẫn đường dẫn mẹ đến, miệng ta cười mà nước mắt đã giàn giụa lúc nào không hay.

Đến gần mới thấy mẹ cũng đang khóc, môi run run không nói ra lời muốn hành quốc lễ. Ta không muốn nhận cái lễ này nhưng lại sợ người ta nói ra nói vào nên chỉ đành đợi mẹ hành lễ xong thì đỡ dậy ngay, tự mình hành gia lễ. Xong rồi chúng ta mới vừa nói chuyện vừa vào cung Đường Lê.

Gặp mặt cũng chỉ ngồi với nhau được nửa ngày, nói vài chuyện nhỏ con con, mẹ dặn ta phải bảo trọng, cố gắng giữ gìn sức khỏe. Qua bữa tối là có người tới đón mẹ ra ngoài.

Ban đêm lúc ngủ, ta khóc đến nỗi đầu phát đau. Ta hỏi Mịch Nhi, rõ ràng lúc mới vào cung, ta chỉ cao đến bả vai của mẹ thôi, bây giờ sao mẹ còn thấp hơn ta thế này? Ta nhìn bức tường hoàng cung cao vợi, thật sự không dám nghĩ do ta đã lớn lên hay mẹ đã già rồi, không biết đến bao giờ mới được gặp lại lần nữa.

Bây giờ mới thấm thía câu thâm cung sâu như biển.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 22: Bé Dao bốn tuổi


Có con, cuộc sống bỗng bận rộn hơn nhiều.

Vốn nghĩ trong cung có nhiều vú nuôi, cung nữ, chẳng cần lo lắng chi cả. Nhưng đến giờ mới biết lại có nhiều chuyện lặt vặt phải lưu ý đến thế. Hồi trước thường trêu ghẹo Gia phi, cái con người năng nổ này vừa có con là không chịu ra khỏi cửa. Lúc nói chuyện thì không phải khoe chuyện hôm nay Ngũ hoàng tử biết bò, thì là hôm qua thằng bé ăn thêm được vài thìa cơm. Bây giờ phong thủy luân chuyển, đến lượt cô ấy trêu ghẹo ta.

Ta bận, Hoàng thượng cũng bận. Ta không biết có phải Hoàng đế nào cũng bận rộn như vậy, hay chỉ có bệ hạ nhà ta chẳng ngày nào được nhàn rỗi.

Bây giờ có khi mười ngày Hoàng thượng mới ghé thăm một lần, có lúc lại chẳng đến được. Ta mong người đến. Bệ hạ đến mà thần sắc tươi sáng vui vẻ, ta cũng mừng theo. Có lúc lại thấy vành mắt bệ hạ đen xì, mặt mũi nhợt nhạt, ta lại lo lắng không thôi.

Cẩn phi cũng đến chỗ ta chơi nhiều. Cẩn phi vốn là người thích trẻ con, có lúc Hân Uyên khóc mãi không thôi cũng không thấy phiền, không chịu giao cho nhũ mẫu mà tự mình từ tốn dỗ dành. Lâu dần, Hân Uyên còn thân cận với Cẩn phi nương nương hơn là mẹ đẻ ta đây.

Có lúc Gia phi đến trêu ta, rằng về sau Hân Uyên lớn lên sẽ gọi ta là Dao nương nương, gọi Cẩn phi nương nương là mẫu phi mất thôi. Cẩn phi nương nương tốt bụng như vậy, dưới gối lại không con, cũng thật đáng tiếc.

Đến tháng chín, tết Trùng cửu, Hoàng hậu nương nương thưởng lụa đỏ và bánh hoa quế cho các cung. Người còn bảo, năm nay hoa quế và hoa cúc nở rộ tươi đẹp, Cung thân vương có lòng gửi tặng bảy chậu hải đường trắng quý hiếm. Hoàng thái hậu vui mừng, mời tần phi các cung đến cung Khôn Ninh ngắm hoa.

Đây là lần đầu tiên ta gặp nhiều người như vậy. Ngoài năm người Hoàng hậu, Thục quý phi, Cẩn phi, Tuệ phi, Gia phi còn có Thuần tần, Thành tần, Cảnh tần, Thư tần, Trân tần và các Quý nhân, Thường tại khác tụ tập trong một sân, đông đủ hơn cả lúc đi thỉnh an Hoàng hậu nương nương.

Tiệc ngắm hoa cũng chẳng có gì, buổi sáng được dẫn đến điện Trường Xuân cầu phúc, nói vài câu tốt đẹp với Hoàng thái hậu, được ban rượu hoa cúc và trọng dương cao xong là giải tán.

Lúc ta hồi cung, Hoàng thượng đang ngồi trên trường kỷ đọc sách, ta hỏi vú em Lục hoàng tử nửa ngày nay thế nào, người đó đáp Lục hoàng tử chơi với Hoàng thượng suốt, vừa bú sữa xong đã đi ngủ rồi.

Hoàng thượng buông quyển sách, ra vẻ giận dỗi:

- Có con một cái là quên trẫm luôn. Trẫm mang nhiều thứ tốt cho nàng, vậy mà nàng đến thỉnh an cũng không thèm làm.

Ta hỏi:

- Hoàng thượng mang thứ gì tốt đến thế? Sao hôm kia không đến, hôm qua không đến, hôm nay lại đến? Sợ là người đi một vòng tam cung lục viện, thấy các cung đều vắng người nên mới chạy đến chỗ thần thiếp.

- Thôi, xem cái miệng nàng kia, nói nàng một câu, nàng phải đáp mười câu. Trẫm thấy buổi sáng Ngự thiện phòng dâng lên món cua rất ngon, đã để dành bảy, tám cái yếm cua cho nàng. Trẫm sợ nguội nên vẫn để trong lồng hấp, còn không mau đi nếm thử?

Ta nghe xong thì cười:

- Hoàng thượng nào có nhỏ mọn như vậy, nếu phân lệ nên được phát, sao thiếu phần thần thiếp? Nếu phân lệ không có, thần thiếp cũng chẳng thèm đâu.

- Nàng có hay không, thèm hay không trẫm quả thật không biết. Trẫm chỉ biết cua ăn rất ngon nên mới để dành cho Dao tần của trẫm. Hôm qua có cả món chè hạt sen mềm ngọt, ngon miệng. Nếu không phải sợ nàng chê khó coi, trẫm cũng bảo Tiểu Trịnh Tử mang một bát đến.

Ta nói lần sau bệ hạ hãy mang một bán đến cho thần thiếp nếm thử với, lại sai Mịch Nhi mang cua, giấm gừng, thêm bầu rượu hoa hợp hoan giải ngán đến.

Mịch Nhi gỡ cho ta hai cái yếm cua, quả thật rất ngon. Hoàng thượng vốn đang ngồi nhìn ta ăn bỗng cong môi cười, lấy khăn tay lau miệng cho ta, lại nhéo mũi ta.

- Dao tần của trẫm lớn rồi, nhưng lúc ăn trông vẫn như trẻ con.

Ta tự dưng thấy ngượng ngùng, không chịu nhìn bệ hạ, cũng không nói lời nào.

- Ý Tùy nên như vậy mới phải. Chúng ta có Hân Uyên, trẫm mừng, nhưng cũng xót nàng. Trẫm sợ nàng khổ, sợ nàng ưu sầu, trẫm ước gì nàng mãi là đứa trẻ cần trẫm chở che.

Ta đang cảm động thì bỗng người lái đề tài cái rẹt:

- Có điều xem ra trẫm lo thừa rồi, Ý Tùy nhìn thế nào cũng chỉ bốn tuổi thôi, năm ngoái là bé Dao ba tuổi, năm nay là bé Dao bốn tuổi.

Ngày mười hai tháng mười, sinh nhật của Đại công chúa, vì đã đến tuổi cập kê nên lễ cũng được làm long trọng hơn.

Ta tốn rất nhiều ngày để vẽ tranh hoa thủy tiên, lại tìm một khối dương chi bạch ngọc thượng hạng để làm thành một cặp trâm cài. Cánh hoa trắng ngọc thanh nhã, nh** h** làm bằng tơ vàng, rất hợp với khí chất cao quý nhã nhặn của Đại công chúa.

Qua một ngày ồn ào náo nhiệt, buổi tối Đại công chúa đến cung Đường Lê ngồi chơi cờ với ta rất lâu, ta thấy con bé như có tâm sự.

Đang đánh cờ, vú nuôi tới báo Hân Uyên thức giấc rồi, đang khóc um lên. Ta ẵm con dỗ dành đến khi nó nín. Đại công chúa lại gần nhìn mặt thằng bé, dùng ngón tay chọc lên má thằng bé. Hân Uyên dùng bàn tay nhỏ bé của mình nắm lấy ngón tay của Đại công chúa, đôi mắt tròn vo nhìn Đại công chúa, ê a tươi cười.

Đại công chúa ngẩng lên nhìn ta, trong mắt đầy kinh ngạc, khóe miệng cong cong.

Một lát sau, Hân Uyên lại nhắm mắt ngủ, ta đưa thằng bé cho vú nuôi ẵm xuống.

Lúc này, Đại công chúa mới kể:

- Hoàng a ma bảo lập xuân sang năm sẽ tuyển phò mã cho con.

- Vậy thì sao?

- Từ nương nương, con còn đắn đo nhiều, con luôn thấy mình còn nhỏ.

- Vẫn còn nhỏ mà. Lúc Từ nương nương bằng tuổi con đã vào cung làm Thường tại. Vào cung không được chọn phu quân, phu quân còn chẳng thuộc về mình ta. Chưa chắc đã gặp được phu quân, cũng chưa chắc phu quân có thích mình hay không. So với Từ nương nương, chẳng phải con may mắn hơn nhiều ư?

Con bé cúi đầu nghĩ ngợi:

- Mẫu phi cũng nói với con như vậy, nhưng con sợ. Từ nương nương, người nói xem, tại sao phụ nữ nhất định phải lấy chồng? Còn phải lấy người mình không quen biết. Dù con có quyền chọn, cũng là nhìn từ phía xa, chọn một người hợp mắt. Người đó có thích con không, có thương con không, con không biết được.

Lời nói của con bé làm ta bần thần không biết nên khuyên thế nào. Ngẫm trong lòng lại thấy thương cảm, dù là Đại công chúa cao quý được thiên tử yêu chiều, lẽ ra là người con gái không bị trói buộc nhất trên đời này. Ấy vậy mà chuyện kết hôn đại sự, cũng chỉ có thể chọn người gia thế phẩm hạnh tốt, sau đó hai người có thể đồng lòng hay không, ai nói trước được?

- Từ nương nương thấy Hoàng a ma đối xử với người có tốt không?

- Tất nhiên là tốt rồi.

- Con cũng thấy Hoàng a ma rất thương nương nương. Vậy người có thích Hoàng a ma không?

- Thích chứ.

- Vậy nếu một ngày kia, Hoàng a ma không thương Từ nương nương nữa thì sao?

Ta chưa bao giờ nghĩ đến một ngày Hoàng thượng không đối tối với ta nữa, ta ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:

- Hôm nay con đối xử tốt với một người, ngày mai có thể không tốt với người đó nữa. Nhưng con thích một người, thì không thể ngày mai đã không thích nữa.

Ta thấy con bé còn ngơ ngác chưa hiểu, liền nói tiếp:

- Dù vì lý do gì, khi con thích một người, thì không chỉ mong hắn tốt với con. Con thích hắn thì sẽ muốn đối xử tốt với hắn. Con vui khi cho đi, cũng sẽ mừng khi nhận lại. Về sau có ra sao, hai đứa cũng có thể nương tựa vào nhau.

Trước đây, ta vẫn là một cô gái nhỏ không sợ trời, không sợ đất, mỗi ngày chạy nhảy ồn ào. Bây giờ đã biết chiêm nghiệm về cuộc sống, cũng thật tốt.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 23: Đông cung


Tết đến, nghênh xuân có hai chuyện lớn. Một là chọn phò mã tốt cho Đại công chúa, hai là tuyển tú Hoàng thượng.

Cái đầu tiên là ngày hai mươi mốt tháng hai, cái thứ hai vào ngày mười bốn tháng ba, đều là những ngày lành do Khâm thiên giám chọn.

Buổi tối trước ngày chỉ hôn, ta bảo Mịch Nhi là phẳng bộ áo xanh gấm để đưa sang cung Đại công chúa. Chiếc áo này được làm từ tấm vải thêu Ngọc lan hồ điệp, cực kỳ tinh xảo. Hai năm trước ta mang về làm ngoại bào cho Đại công chúa, lúc ấy nhìn nó có vẻ hơi trưởng thành nên chưa đưa. Bây giờ Đại công chúa đã là thiếu nữ mười sáu tuổi, khí chất vừa tao nhã vừa hào phóng này, mặc vào rất hợp.

Hôm sau ta không đi xem được. Sau giờ ngọ có tin truyền vào, nói chọn trưởng tử của trưởng viện Hàn Lâm học sĩ, hiện đang giữ chức nội các học sĩ. Chức quan học sĩ Hàn Lâm viện tuy không cao, nhưng có tiếng gia phong nghiêm cẩn, làm người chính trực, nghe nói con trai cũng nho nhã lễ độ, hành xử đúng mực, ta thấy rất được.

Tông nhân phủ tuyên chỉ ở Càn Thanh môn, nhà ngạch phụ chọn ngày tốt, chín ngày sau nạp thái, Hoàng thượng treo lụa thiết yến ở điện Bảo Hòa, khoản đãi tộc nhân của ngạch phụ. Ngạch phụ lại tới cung Khôn Ninh, cung Cảnh Dương thỉnh an, chờ Đại công chúa xuất giá. Thời gian đã định vào ngày mồng sáu tháng ba.

Ngày mồng năm tháng ba, ta đến chỗ Thuần tần thăm Đại công chúa. Con bé không thấp thỏm như trước, trong lời nói có ý cười. Có thể thấy vị ngạch phụ này rất tốt, ta thấy yên tâm, nói chuyện phiếm thêm vài câu rồi ra về.

Chín ngày sau Đại công chúa về lại mặt, cũng là ngày tuyển tú. Có điều chuyện tuyển tú không liên quan đến ta, nên ta đến chỗ Thuần tần ngồi chơi.

Sau giờ ngọ, Tiểu Trịnh Tử đến bẩm, Hoàng thượng sẽ đến dùng bữa tối nên ta bảo nhà bếp hầm thêm canh gà.

Buổi tối bệ hạ đến, ta làm bộ e dè liếc nhìn, nói:

- Hôm nay khí sắc Hoàng thượng khác biệt, vừa nhìn là biết vừa đi ngắm mỹ nhân về. Hoàng thượng nói thử xem hôm nay chọn được mấy người?

Bệ hạ cũng làm bộ suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Mỹ nhân đương nhiên khá nhiều, tính ra chọn được hơn trăm người, có phong hào. Có Yên đáp ứng, Giai quý nhân, Hâm thường tại, Xuân thường tại, Hạ thượng tại, Thu thường tại, Đông thường tại, Vân vân thường tại…

- Có phải còn có Đông đáp ứng, Tây đáp ứng, Nam đáp ứng, Bắc đáp ứng, còn thêm một Chuyển đáp ứng không?

- Phải phải, Dao tần của trẫm thông minh nhất, không đi mà cứ như được nhìn thấy tận mắt vậy.

Ta nhìn vẻ mặt đường hoàng của bệ hạ cũng bị chọc cho phát cười.

Bệ hạ cẩn thận nhìn ta rồi nói:

- Trẫm thấy các tú nữ hôm nay, người này mặt dài hơn Dao tần một chút, tướng khổ. Người kia mắt to hơn Dao tần một tí, vô tri. Xem ra ai cũng không tốt, nhìn không giống nàng là sai cả, nên cuối cùng không chọn ai hết.

- Hoàng thượng làm thế không được, tuyển tú là chuyện lớn, hưng sư động chúng như vậy cuối cùng lại không chọn ai, sao mà được?

- Trẫm không để tâm, trẫm chỉ ngồi một lát rồi nhờ mẫu hậu theo dõi, trẫm đến thăm Đại công chúa, vừa đến thì nghe Thuần tần bảo nàng vừa về. Trẫm nghĩ nàng và Đại công chúa ngày thường bám nhau như sam, hôm nay có khi ghen chuyện tuyển tú mà về sớm khóc một mình, nên đến ăn tối cùng nàng đây.

- Ghen thì không, thần thiếp mà không có chút độ lượng này, chẳng phải nhìn tam cung lục viện của Hoàng thượng sẽ tự ghen chết ư? Thần thiếp nhớ Hân Uyên thôi.

- Nàng đừng tự dát vàng lên mặt mình nữa, không ghen không phải vì nàng rộng lượng, mà vì trẫm thương nàng nhất. Chỉ có người ta ghen với nàng, chứ làm gì có chuyện nàng ghen với người ta.

- Hoàng thượng nói thương thần thiếp nhất là thần thiếp tin à? Sau lưng không biết người nói gì với các phi tần khác đấy.

- Nàng nói câu này là cố ý làm khó. Nàng hỏi Tiểu Trịnh Tử xem, có phải ta đến chỗ nàng nhiều nhất không?

Tiểu Trịnh Tử đứng cạnh không lên tiếng, ta cũng biết Hoàng thượng nói thật, nhưng miệng còn cứng:

- Đâu phải, có khi người tham món ăn nào trong cung thần thiếp cũng nên.

- Trẫm tham món nào đâu? Trẫm chỉ tham nàng thôi.

Bệ hạ nói thêm mấy câu, mặt ta nóng bừng lên, rốt cuộc không biết nói gì nữa. Tự thấy mình xấu hổ nên bảo Mịch Nhi sai nhà bếp dọn cơm lên.

Đến tháng năm, tháng sáu, trời nóng, ta lười ra ngoài nên mỗi ngày ở trong cung luyện chữ.

Ngày hai mươi ba tháng sáu, Gia phi đến chỗ ta, nhìn thấy ta đang tập viết cũng ủ dột lấy giấy bút làm cùng.

- Bây giờ muội cũng trưởng thành rồi, trước đây đi đào măng trộm đào, bây giờ mỗi ngày lại ngồi viết chữ.

- Thì vì rảnh mà, bên ngoài trời nắng to, đi đâu đào măng với trộm đào chứ?

- Vậy muội chơi đàn hay đánh cờ cũng hay hơn viết chữ nhiều.

- Từ nhỏ muội đã không thích đánh đàn, đánh xong tay lúc nào cũng đau. Chơi cờ thì bình thường không có ai, tỷ đến rồi thì để muội bảo Mịch Nhi bày cờ.

Gia phi nhân lúc ta đang nghĩ nước cờ, nói:

- Đại công chúa xuất giá rồi, sang năm Đại hoàng tử cũng thành niên. Thời gian trôi qua nhanh thật đấy.

- Thời gian trong cung có lúc nào không nhanh đâu. Ngày qua ngày trôi qua, có khi chớp mắt một cái đã qua mấy chục năm rồi.

- Ý tỷ không phải vậy, Hân Uyên sắp được một tuổi rồi, - Cô ấy hơi khựng lại, - Muội đã bao giờ nghĩ đến chuyện sau này chưa?

- Sau đó thì sao? Thì yên ổn chờ đến khi thằng bé mười lăm tuổi, nạp phúc tấn, xuất cung kiến phủ. Muội ở lại trong cung với Hoàng thượng. Đến lúc đó tỷ và muội đều là hai bà già không có con trai bên cạnh, mỗi ngày nói chuyện cùng nhau, có gì không tốt đâu?

- Năm nay Hoàng thượng đã ba mươi sáu tuổi rồi mà vẫn chưa lập thái tử. Con trai của Thục quý phi là trưởng tử, gia thế quý phi lại tốt, có người ở tiền triều. Hoàng hậu có Nhị hoàng tử, dù sao cũng là đích tử. Tam hoàng tử nuôi ở chỗ ma ma, Hoàng thượng không để ai khác nuôi dưỡng Tam hoàng tử, sợ cũng là do nhớ Nghi phi. Tứ hoàng tử ở chỗ Tuệ phi, Tuệ phi là cháu gái bên ngoại của Hoàng thái hậu, đó cũng là con của chúng ta.

Ta hết hứng chơi cờ, cầm một quân cờ khẽ gõ lên bàn cờ:

- Tỷ nói những chuyện này làm gì, muốn đoán sau này ai làm thái tử ư? Nhưng người được chọn là ai thì liên quan gì đến chúng ta? Luận gia thế, muội và tỷ đều không so được. Luận trưởng thứ, Ngũ hoàng tử lẫn Hân Uyên đều còn nhỏ, dù sao cũng có tranh được đâu.

Ta nhìn cô ấy một cái rồi nói tiếp:

- Chẳng lẽ tỷ định thử tranh một lần?

Cô ấy không nói lời nào, nhưng ta nghĩ cũng phải, từ lúc tiến cung đến giờ, Gia phi không giống ta mà háo thắng hơn chút, không muốn đứng sau người khác. Lúc làm quý nhân thì muốn lên tần, lúc làm tần rồi thì muốn làm phi, với tính cách của cô ấy bây giờ bảo muốn dừng tay thì còn lâu ta mới tin.

Nhưng vị trí thái tử này thì khác, không phải cứ muốn là được.

Ta tự nghĩ trong đầu rằng, ta chưa bao giờ mơ tưởng đến vị trí đó. Gia thế ta thấp, tiền triều không có ai đỡ đần, vị phân không cao không thấp. Hoàng thượng có thể cho ta sủng ái như một phi tần. Nhưng lập trữ là chuyện lớn của quốc gia, phàm là một minh quân sẽ không chỉ dựa vào sủng ái với một người để quyết định.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 24: Hoàng hậu


Năm lại qua năm, bây giờ ta đã hai mươi hai tuổi.

Mùa xuân măng nhú mầm, đông sang ngày vắng lặng, còn ta vẫn an vị làm Dao tần.

Hai năm qua cũng không có gì đặc biệt.

Từ lúc Định Sóc Đại tướng quân thắng trận ở Tây Bắc, biên cảnh an ổn hơn nhiều. Hoàng thượng không phải lo lắng chuyện chiến sự lại bận rộn chuyện tiền triều, hai năm qua còn sốt ruột đốc thúc các hoàng tử học cưỡi ngựa bắn cung, binh thư võ nghệ lẫn đạo trị quốc. Thời gian nghỉ ngơi của người ít, số lần vào hậu cung cũng ít theo.

Trừ có một Phương thường tại tiến cung hai năm trước sinh được một vị công chúa, hầu hạ hai năm được thăng thành quý nhân thì sóng yên biển lặng.

Gần đến tháng tư, Hoàng hậu bỗng nhiễm bệnh thương hàn, nằm liệt giường hơn tháng, các cung tần thay phiên nhau hầu bệnh. Vì Hân Uyên còn nhỏ nên ta được miễn nhưng trong lòng nhớ thương nên vẫn đến thăm.

Ta và Hoàng hậu không thân thiết, nhưng nương nương là người rộng lượng. Lúc ta mới vào cung còn nhỏ dại, đối với Hoàng cung vừa tò mò vừa sợ hãi. Có nương nương và Cẩn phi thường an ủi ta, ta mới được vững lòng.

Lần cuối ta gặp nương nương là ngày mười bốn tháng năm.

Trời mưa, ta ở cung Đường Lê bồn chồn không yên, ăn xong bữa sáng thì muốn sang cung Cảnh Dương thăm hỏi. Bởi vì Hân Uyên vẫn nghịch, ta liền ngồi xổm xuống hỏi nó:

- Con theo mẫu phi đi thăm Hoàng nương nương được không? Hoàng nương nương bị bệnh, rất nhớ Hân Uyên.

- Có phải vị nương nương hay cười kia không ạ?

- Đúng rồi, chính là nương nương hay cho Hân Uyên nhiều điểm tâm đấy.

Mịch Nhi khuyên ta trời mưa đường trơn, không nên dẫn Hân Uyên theo. Nhưng lòng ta không yên, muốn dẫn nó đến thăm một lát.

Hôm ấy Hoàng hậu được ngày tỉnh táo, thấy ta tới liền bảo ta ngồi qua ngồi. Ta bảo Hân Uyên thỉnh an rồi mới ngồi vào chiếc ghế con kê bên giường.

Ta nói hôm nay tinh thần nương nương rất tốt.

Nương nương không đáp lại ta, chỉ nhìn Hân Uyên.

- Tháng sau là tròn bốn tuổi rồi phải không?

Ta gật đầu.

Nương nương sai ma ma bên cạnh đi lấy một chiếc vòng như ý đến, nói người đã chuẩn bị quà rồi.

Ta không biết tại sao bỗng thấy căng thẳng, cười đáp bảo nương nương không cần tặng sớm, chờ đến sinh nhật thằng bé rồi đưa cũng không muộn.

Hoàng hậu chỉ lắc đầu cười, không hiểu sao lại nói rằng:

- Có muội ở bên Hoàng thượng, ta rất yên tâm.

Nói xong thì nhắm mắt muốn nghỉ ngơi, ta ngồi thêm chốc lát rồi đứng dậy cáo từ.

Trên đường về mưa càng to hơn, nước mưa đập lên tán ô rào rào, ta hầu như không nghe thấy Mịch Nhi đang nói gì. Đột nhiên bên cung Cảnh Dương vang tiếng huyên nháo, ta ngẩn ra, vội hỏi Mịch Nhi có nghe rõ bên đó đang nói gì không.

Mịch Nhi nói, Hoàng hậu nương nương, hoăng rồi.

Đáy lòng ta lạnh buốt mà không biết tại sao. Ta và Hoàng hậu không quá thân thiết mà lòng vẫn nhói đau, ta không biết phải nói gì, chỉ thẫn thở trở về cung Đường Lê.

Hoàng cung này, quả thật không nuôi được người.

Chờ việc mai táng của Hoàng hậu được lo liệu xong xuôi đã vào tháng bảy.

Hoàng thượng mất chính thê, ta biết người đau lòng, mấy năm qua ta thấy người dường như đã già đi một chút.

Thất tịch vì chuyện của Hoàng hậu mà trong cung cấm ca múa nhạc, gia yến cũng chỉ ăn cơm xong rồi ai về nhà nấy. Đến ban đêm, ta sắp đi ngủ thì Hoàng thượng đến cung Đường Lê, ta biết người vừa từ cung An Khánh sang, hai năm qua đều biết, ta chỉ không hỏi mà thôi.

Hoàng thượng đến đúng lúc Mịch Nhi đang chải đầu cho ta, bệ hạ đứng sau lưng ta, nhận lấy cây lược.

Ta nhìn vẻ mặt của Hoàng thượng qua gương đồng, tràn đầy đau thương. Nói vậy người vừa tưởng niệm Nghi phi, lại vừa mất Hoàng hậu, trong lòng đương nhiên đau xót vô vàn.

Ta lên tinh thần nói:

- Thần thiếp đã chải xong rồi, Hoàng thượng ngồi xuống đi, để thần thiếp chải tóc cho.

Ta đang chải tóc cho Hoàng thượng, đột nhiên bệ hạ lên tiếng:

- Ý Tùy, có lẽ trẫm đã già thật rồi.

Ta đang nghĩ có phải Hoàng thượng vừa có thêm vài sợi tóc bạc không, nghe người nói vậy tay hơi run, dằn nước mắt xuống gượng cười:

- Đâu có, Hoàng thượng đang tuổi tráng niên, không phải hồi tháng hai người còn đi thả diều với Hân Uyên đấy sao?

- Nàng nghe trẫm nói. Trẫm đăng cơ được mấy năm thì Nghi phi qua đời. Trẫm và nàng ấy bằng tuổi, nàng ấy mười sáu, mười bảy tuổi đã theo trẫm. Trẫm đã buồn phiền rất lâu, trẫm là vua một nước, nhưng đó là lần đầu tiên nếm trải cảm giác không giữ được người bên cạnh.

- Mỗi năm trẫm đều đến cung An Khánh, lúc nàng ấy còn sống không phải người trẫm yêu nhất, nhưng trẫm không thể chấp nhận sự thật nàng ấy không còn nữa. Trẫm nhớ đến nàng ấy, dường như lại nhớ về tuổi trẻ của mình.

- Bây giờ Hoàng hậu đi rồi, trẫm lại không thể hùng hồn nói rằng ‘cớ sao còn trẻ như vậy đã mất cơ chứ?’, bây giờ trẫm mới thật sự nhận ra, Hoàng hậu không còn trẻ nữa, trẫm cũng vậy.

- Thậm chí đã đến mức chẳng còn tiếc nuối tuổi trẻ đã qua nữa.

- Lúc nàng tiến cung mới mười lăm tuổi, Đại công chúa của trẫm mới mười một tuổi. Hai đứa nàng đều nghịch ngơm bốc đồng, giận lên một cái là ai cũng không chịu nhường bước. Trẫm ngoài mặt không nói, trong đầu coi như đang xem hai đứa nhóc con đùa giỡn với nhau. Bây giờ nàng đã ở trong cung hơn bảy năm, có Hân Uyên, tính tình ngày càng thận trọng. Mà Đại công chúa của trẫm đã gả cho người ta, sắp làm mẹ rồi.

- Sao thời gian lại trôi nhanh như vậy nhỉ? Nghi phi đi rồi, Đoan Khang thái phi đi rồi, Hoàng hậu cũng đi rồi. Cả đời trẫm làm Hoàng đế, nhưng với sinh ly tử biệt lại bất lực.

- Ý Tùy à, thật ra trẫm không thích cảm giác nhìn từng người bên cạnh lần lượt ra đi. Trẫm cũng chỉ là người bình thường thôi.

Ta cúi xuống nắm lấy tay bệ hạ, nước mắt không nhịn được nữa tuôn rơi, thấm lên đầu gối người. Ta siết tay người thật chặt:

- Không sao đâu, Hoàng thượng. Ý Tùy sẽ ở bên người, mãi mãi ở bên người.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 25: Xu Ninh


Hoàng hậu qua đời, ngôi Hậu không thể bỏ trống.

Tháng hai năm sau, Thục quý phi được lập làm tân Hậu.

Tháng tư cùng năm, Nhị hoàng tử thành Thái tử.

Lúc Gia phi đến chỗ ta, ta lập tức rào trước:

- Tỷ đừng nghĩ đến nữa. Người ta nhanh chân đến trước, tỷ còn mơ tưởng là thành đại nghịch bất đạo rồi.

Gia phi đút thức ăn cho mèo của ta:

- Không phải, ai ngờ Hoàng thượng bảo lập Thái tử là lập ngay. Chỉ trách người mẹ như ta chưa kịp tranh thủ cái gì cho con mình. Ngũ hoàng tử mới bảy tuổi, nào đã nhìn ra được tư chất gì đâu. Có điều cũng chưa chắc, long thể Hoàng thượng khỏe mạnh, chuyện Thái tử còn xa lắm.

Ta biết tính khí cô ấy như vậy, lòng dạ cao, mồm mép thế thôi chứ chưa làm chuyện gì vượt quy củ nên cứ để cô ấy lầm bầm vài câu.

Đang nói chuyện, Hân Uyên đang chạy chơi bên ngoài bỗng vọt vào, mặt đỏ bừng, Cẩn phi theo sát phía sau cũng bước vào.

Cẩn phi nương nương vừa vào điện, Hân Uyên bèn nói:

- Cẩn phi nương nương ra ngoài chút đi đã ạ.

Ta vừa định nạt nó vô phép, nhưng Cẩn phi nương nương hiền từ chỉ cười híp mắt, lùi ra ngoài hành lang.

Bấy giờ, Hân Uyên mới cung kính vái chào Cẩn phi nương nương:

- Nhi thần thỉnh an Cẩn phi nương nương, Cẩn phi nương nương mạnh khỏe.

Xong xuôi làm dáng mời Cẩn phi nương nương vào, Cẩn phi nương nương phì cười.

Thằng bé lại quay sang chắp tay với ta:

- Thỉnh an Gia nương nương, thỉnh an mẫu phi.

Gia phi và ta liếc mắt nhìn nhau, cũng không nhịn được phì cười:

- Hân Uyên, lại đây với Gia nương nương. Nói cho Gia nương nương nghe, con chạy vội vào đây là để thỉnh an Cẩn phi nương nương đấy hả?

Thằng bé gật đầu:

- Mẫu phi dạy con, nếu có trưởng bối đến thì Hân Uyên phải thỉnh an trước rồi mới mời vào, tuyệt đối không được để trưởng bối chào hỏi trước. Nhưng lúc nãy Hân Uyên chơi trong sân, không nhìn thấy Cẩn phi nương nương đến, thật sự chạy cũng không kịp Cẩn phi nương nương.

Ta câm nín, lắc đầu thở dài, cảm giác hình như mình dạy ra một con mọt sách rồi.

Cẩn phi ngồi xuống, uống chén trà rồi mới nói:

- Đúng lúc hai muội đang ở đây, ta đi thẳng vào vấn đề vậy. Sắp đến ngày giỗ của Tiên hoàng hậu, bảy ngày sau lại đến ngày giỗ của Đoan Khang Thái phi. Vị Hoàng hậu hiện tại tính tình vô tâm, lúc trước còn có khúc mắc với Tiên hoàng hậu. Tuệ phi cáo bệnh không muốn bị quấy rầy. Hôm nay có lệnh truyền, ba người chúng ta không khỏi phải khổ cực lo liệu chuyện tế lễ.

Ta chưa kịp nói gì, Gia phi đã nhanh mồm nhanh miệng chen vào:

- Tại kỳ vị, mưu kỳ sự. Chuyện này làm tốt thì không được khen, làm hỏng lại bị mắng, không nên kéo người khác làm bia đỡ như vậy.

Cẩn phi chưa kịp răn dạy cô ấy, Hân Uyên đã nghiêm túc hỏi:

- Mẫu phi, Hân Uyên muốn hỏi, tại kỳ vị, mưu kỳ việc là gì?

Ta ngẫm nghĩ một lát rồi trả lời:

- Nghĩa là con ngồi ở đâu thì nên lo việc ở đó. Hoàng a ma của con là Thiên tử, phải trông nom con dân thiên hạ, để họ được an cư lạc nghiệp. Đại tướng quân thì phải trấn thủ biên cương, ra trận giết địch, bảo đảm quốc gia thái bình.

- Những chuyện này Hân Uyên hiểu. Nhưng Hân Uyên không hiểu, việc con phải làm là gì?

- Vậy hôm nay Hân Uyên đã luyện chữ xong chưa?

Nó ngượng ngùng cúi đầu:

- Hân Uyên thấy dưới mái hiên tây phòng có một tổ chim yến, con non kêu chiêm chiếp hình như đang đói nên ra sân đào giun cho tụi nó ăn, vẫn chưa luyện xong.

Ta nhịn cười đáp:

- Con có thể bảo các tiểu thái giám đi đào giun hộ, bây giờ con phải về luyện chữ đi.

- Vâng, Hân Uyên xin về, - Thằng bé đứng dậy lễ phép chắp tay, - Cẩn nương nương, Gia nương nương, mẫu phi ngồi chơi ạ, nhi thần cáo lui.

Thằng bé đi rồi Gia phi mới bật cười, Cẩn phi cũng bật cười, Gia phi nhấp ngụm trà cười tươi rói:

- Đúng là mẹ nào con nấy mà. Muội ngày xưa đi đào măng trộm đào, bây giờ con trai lại có lòng đi đào giun cho chim yến.

Ta thấy cô ấy cứ bám chuyện cũ không buông, liền làm bộ muốn bóp mũi cô ấy. Cẩn phi vừa cười vừa khuyên một lúc lâu mới thôi.

Trung thu năm đó, tan gia yến, Hoàng thượng đương nhiên phải đến chỗ Hoàng hậu. Tối hôm sau bệ hạ đến cung Đường Lê, ta làm bộ ghen tỵ, bệ hạ bèn nói:

- Đến muộn cũng có ưu điểm của đến muộn, nàng xem vầng trăng này, có phải ngày mười sáu tròn hơn ngày mười lăm không?

Ta vốn chỉ giả vờ hờn dỗi, cũng thôi.

Bệ hạ ôm ta từ phía sau:

- Mười lăm tháng giêng và mười lăm tháng tám trẫm đều không thể ở bên nàng, nhưng ngày mười sáu đến được. Chúng ta cùng nhau ngắm trăng, có được không?

Tháng năm sang năm, Hân Uyên có thêm một muội muội. Con bé sinh vào một ngày cảnh xuân tươi đẹp nên được Hoàng thượng đặt tên là Xu Ninh.

Hoàng thượng luôn nói trông Hân Uyên giống mình. Thằng bé từ lúc nhỏ đã có cặp mắt đen sâu thẳm, mũi cao môi mỏng, tính tình cũng điềm đạm cẩn thận giống người, chỉ nho nhã hơn một chút. Xu Ninh thì giống ta, mắt tròn tròn, mũi nhỏ xinh, rất thích cười. Bây giờ hẵng còn nhỏ, không biết tính cách sẽ giống ai.

Hân Uyên rất cưng muội muội này. Trước kia ta từng hỏi thằng bé, về sau trưởng thành muốn làm gì. Từ lúc được Thái phó dạy “Thái sư châm”, thằng bé luôn nói muốn được giống như Kê Khang, tuân theo tự nhiên, khôn ngoan đức độ, an ổn một đời là được rồi.

Mà từ lúc có thêm muội muội, nó phải bổ sung thêm một câu, muốn bảo vệ muội muội bình an cả đời.

Lại thêm hai năm trôi qua, Xu Ninh lớn hơn một chút, tay chân không còn tròn lẳn như củ sen, đôi mắt vẫn tròn vo như viên bi. Lúc rũ mắt xuống, lông mi xòe ra như cánh quạt, lúc nhìn người khác vẫn hay tươi cười, mắt long lanh như nai con.

Hân Uyên bảy tuổi dần trưởng thành, gặp người ngoài vẫn nho nhã lễ độ như ông cụ non. Có lẽ do được yêu chiều, nên tính tình của Xu Ninh hoạt bát nghịch ngợm hơn chút.

Gia phi lúc đến thăm cũng nói ước gì có một đứa con gái như Xu Ninh. Ghẹo ta là cái đồ có phúc không biết hưởng.

Hoàng thượng cưng chiều Xu Ninh đến nỗi làm người ngoài ghen tị.

Tết Nguyên tiêu năm nay, trong cung vốn không thường treo các loại hoa đăng. Xu Ninh nói muốn ngắm hoa đăng, còn bảo nghe các ma ma kể ngoài cung có rất nhiều đèn hoa đăng khác nhau, nhìn đẹp cực kỳ. Hoàng a ma của con bé lập tức sai người mời thợ thủ công bên ngoài vào làm đủ loại hoa đăng treo trong cung Đường Lê.

Ta đã mười năm chưa xuất cung, nhìn thấy những chiếc đèn lung linh này, lại nhìn Xu Ninh chạy chơi trong biển đèn bỗng hoài niệm lúc nhỏ được mẹ dắt đi ngắm hoa đăng. Nhớ lại chuyện cũ, nước mắt rơi không ngừng, ủ rũ thật là lâu.

Hoàng thượng thấy ta buồn rầu thì lặng lẽ nắm chặt lấy tay ta.

Bệ hạ hỏi ta:

- Nàng có hối hận đã vào cung không?

Ta chỉ cười đáp:

- Có Hoàng thượng, có Hân Uyên và Xu Ninh, phúc khí hiếm gặp như vậy, sao lại hối hận chứ.

Nhưng thỉnh thoảng ta lại nghĩ, có lẽ một ngày nào đó, ta có thể rời khỏi đây.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 26: Trăng có tỏ, mờ, tròn, khuyết (*)


Sau Nguyên tiêu, mùa đông dần đi qua. Đầu tháng hai, đào liễu nhú mầm xanh.

Đầu tháng ba, Xu Ninh ăn vạ muốn đi chơi ném lục lạc, ta thấy trời gió lớn nên không cho con bé đi. Bài đồng dao của trẻ con kinh thành ta cũng biết, “dương liễu xanh, ném lục lạc; dương liễu mọc, đánh con quay, dương liễu dài, đánh giát giát, dương liễu tàn, chơi đá cầu”, chỉ không biết con bé nghe được ở đâu.

Đứa bé này khác Hân Uyên. Hân Uyên ham học, Xu Ninh ham chơi.

Ngày mười bảy tháng ba, Hoàng thượng đến cung Đường Lê, cuối cùng dỗ được bệ hạ dẫn con bé đi.

Trên đường đi, Xu Ninh lại nũng nịu không muốn đi bộ, Hoàng thượng cúi xuống định ẵm con bé lên, nửa đường bỗng dừng lại.

Ta nhìn thấy, cũng thấy bệ hạ nhìn về phía ta, ta làm quay đi không thèm để ý. Sau đó người cười nói với Xu Ninh rằng, mẫu phi có đồ tốt đấy, con ra chỗ mẫu phi lấy đi, được không?

Ngày ấy trời rất xanh, là bầu trời xanh nhất ta từng thấy ở kinh thành, tựa như ngói lưu ly trên nóc cung Đường Lê.

Xu Ninh chạy phía trước, bệ hạ làm bộ đuổi theo phía sau, Hân Uyên ở bên cạnh cầm bài tập của sư phó học thuộc lòng. Ta đã quên mình ngồi nhìn hay đứng nhìn, đó là ngày đẹp nhất cuộc đời ta.

Ngày ấy trở về, bệ hạ bị ho khan, cả tháng trời không thấy đỡ. Ta dặn Tiểu Trịnh Tử pha trà hoa cúc cho bệ hạ. Lúc bệ hạ gọi ta đến điện Cần Chính dùng bữa, ta thấy trên bàn có tách trà rất đặc. Ta đang định nhắc nhở bệ hạ vài câu, người liền nói trước:

- Thôi thôi, từ hôm nay trẫm không uống loại trà đặc này nữa. Bảo Triệu thái y kê cho một đơn nước sơn tra trần bì mới được.

Ta thở dài trong lòng, ta biết bệ hạ nói vậy để ta yên tâm thôi, ngày mai chắc chắn lại dùng trà đặc để tỉnh táo đây mà.

Hai năm qua, tuy biên quan đã bình định, nhưng Hoàng hà lại gặp nạn châu chấu. Mỗi khi có thiên tai, phải mất đến hai, ba năm để xử lý. Vừa phải cứu tế nạn dân, vừa phải phòng chống mã tặc, sơn tặc, lại còn phải đẩy mạnh trồng trọt thêm lương thực, sắp xếp hệ thống thủy lợi. Bệ hạ thật sự rất bận.

Ăn cơm xong, bệ hạ đột nhiên bảo ta:

- Trẫm muốn thăng vị phân cho nàng, đã bảo Khâm thiên giám chọn ngày đẹp để phong Phi, phong hào vẫn là Dao, ý nàng thế nào?

Ta nghi hoặc hỏi lại:

- Đang yên đang lành sao đột nhiên lại muốn thăng vị ạ?

- Nàng tiến cung đã mười năm rồi, có hoàng tử công chúa, phong Phi cũng không coi là quá phận.

Tuy bệ hạ nói như vậy nhưng ta vẫn thấy không hợp quy củ. Một là gia thế của ta bình thường, kém xa các vị Phi hiện tại. Thứ hai, tính ta lười biếng, không có công quản lý hậu cung. Thứ ba nếu nói về tư lịch thì lại thua các vị chủ tủ đến từ Vương phủ.

Phong Phi thì vẫn phong, ngày được chọn là mười ba tháng sáu, ta biết dụng ý của bệ hạ khi chọn ngày đó, chỉ là ta không thấy hào hứng nổi. Luôn cảm thấy việc phong Phi này có lợi ích gì đó, các cung khác lại nhìn ta chằm chằm, thật sự không dễ chịu chút nào.

Ta kể chuyện này với Gia phi, cô ấy không để tâm lắm, bảo phong Phi là chuyện tốt. Hoàng thượng thích thì phong, người xung quanh ghen tị cũng cứ kệ đi, có Hoàng thượng ở đây, họ chẳng dám manh động đâu.

Tháng mười năm đó, phụ thân Lương quý nhân hỗ trợ thiên tai ở địa phương, sổ sách rõ ràng, nạn dân được thu xếp chu đáo, đê điều được tu sửa, lập được đại công. Ông ấy được thăng làm Tam phẩm Ty vận sứ, Lương quý nhân cũng được thăng thành Lương tần.

Ngoài ra không có chuyện gì lớn cả. Thêm chuyện sức khỏe của Hoàng thượng và hai đứa nhỏ, ta thật sự không có thời gian để ý mấy chuyện vặt vãnh.

Đến tháng chạp, trong cung nhộn nhịp hơn hẳn. Năm nay ta bận chăm sóc Xu Ninh, nên Cẩn phi và Tuệ phi phải giúp Hoàng hậu thu xếp hết mấy chuyện to nhỏ. Ta rảnh rỗi liền đốc thúc Hân Uyên đọc sách, may thêm quần áo cho Xu Ninh. Con bé mới tí tuổi đã thích ăn diện, một tháng phải thay hai bộ quần áo mới.

Tháng tư năm sau, phía Định Sóc Đại tướng quân đột nhiên cấp báo, nói khu Y Lê ở Tây Bắc xuất hiện dư nghiệt của Chuẩn Cách Nhĩ, có thể xảy ra chiến tranh bất cứ lúc nào. Xin chuyển thêm binh lương chuẩn bị.

Ảnh hưởng từ nạn châu chấu hai năm trước còn chưa qua, lần này coi như chó cắn áo rách. Hoàng thượng lại đêm đêm khó ngủ.

Ta sốt ruột cũng chỉ có thể hỏi thăm mấy câu, đưa đến vài bát tổ yến.

Đúng lúc này Xu Ninh lại mắc đậu mùa, ta vội vàng bảo các ma ma, cung nữ quét dọn phòng ốc, làm thêm quần áo, dặn nhà bếp kiêng mấy món chiên xào. Bên này phải lo cho Xu Ninh nên không chăm sóc được Hân Uyên, ta bèn đưa Hân Uyên sang chỗ Cẩn phi nương nương. Cũng may thằng bé ngoan ngoãn, mỗi ngày lại đứng ở cửa sổ hỏi thăm muội muội.

Cứ như vậy nửa tháng ròng, Xu Ninh qua cơn bệnh nặng, cung điện lại bị dọn dẹp từ trên xuống dưới một lần mới đón được Hân Uyên về.

Mà ta cũng không ngờ vì nửa tháng đó mà trong cung xuất hiện lời đồn đãi.

Một hôm, Gia phi đến thăm mới kể cho ta biết. Vì Cẩn phi nương nương không có con, tư lịch gia thế lại cao hơn ta, bây giờ Hoàng thượng long thể bất an, trong cung liền có mấy lời đồn trái tai.

Ta thắc mắc hỏi lại:

- Hoàng thượng còn khỏe mà, dù có chuyện gì đi nữa thì đã lập Nhị hoàng tử làm Thái tử đấy thôi?

Gia phi liền nói:

- Thái tử hiện tại không phải trưởng tử, mẫu thân cũng không phải Thục hoàng hậu. Bây giờ Tây Bắc lại có chiến sự, e là phải dựa vào mẫu gia của Thục hoàng hậu.

- Vậy thì họ cứ nhìn vào Hoàng hậu đi, dù sao cũng là chọn giữa Đại hoàng tử và Nhị hoàng tử, liên quan gì đến muội chứ?

- Sở dĩ Hoàng thượng chọn Nhị hoàng tử vì Đại hoàng tử tư chất bình thường, khó lòng đảm đương đại sự. Huống hồ còn có vị ngoại thích là Đại tướng quân kia? Năm ngoái Hoàng thượng đột nhiên phong muội làm phi, ai cũng nghĩ lập Nhị hoàng tử làm trữ quân chỉ là kế nghi binh, che chở cho Lục hoàng tử. Hoàng thượng đang chờ Lục hoàng tử trưởng thành.

Ta lại không thấy vậy. Ta hiểu tính Hân Uyên, nó không có dã tâm. Ta càng hiểu rõ Hoàng thượng, người sẽ không vì yêu ta mà ưu ái nó.

Gia phi chỉ ngồi chốc lát rồi đứng dậy ra về:

- Tỷ phải về cung đây, phải kèm Ngũ hoàng tử luyện chữ. Chuyện tỷ vừa nói, muội cũng để bụng đi. Muội chẳng có tâm tư gì nhưng người ngoài không biết, bây giờ bên ngoài đồn đãi khắp nơi, muội phải có đề phòng.

Hoàng thượng bận rộn, ta lại muốn tránh hiềm nghi nên không đến điện Cần Chính. Mồng bảy tháng bảy năm đó cũng cáo bệnh không ra cửa, ta đang ngồi hóng mát dưới hành lang thì Hoàng thượng đến.

Người tươi cười, tay chắp sau lưng, rảo bước đến dưới ánh trăng soi rọi. Ta đứng dậy nghênh tiếp, thấy hôm nay Hoàng thượng tươi tỉnh thì yên tâm hơn nhiều.

- Sao Hoàng thượng đến sớm thế?

- Năm ngoái phải chờ tàn tiệc mới đến, trăng đều lặn rồi. Năm nay đến sớm ngắm trăng với nàng.

Ta sai tiểu thái giám kê thêm một chiếc ghế tựa, bọn ta ngồi sóng vai nhau, khí trời oi bức, thỉnh thoảng ta lại quạt cho bệ hạ.

Mặt trăng đầu tháng bảy bị khuyết một góc như vừa bị ai cắn xuống, nhỏ bé cô đơn làm sao. Sao điểm trên bầu trời lấp lánh, nối liền nhau tựa một dòng sông dài.

- Thần thiếp thấy mặt trăng này như bị thiếu cơm ăn, thật tội nghiệp.

Hoàng thượng bật cười, đùa giỡn nhéo mũi ta:

- Chỉ có nàng lúc nàng cũng nghĩ đến chuyện ăn no hay không, cổ nhân gọi là trăng có tỏ, mờ, tròn, khuyết.

- Người có buồn, vui, ly, hợp. Trăng có tỏ, mờ, tròn, khuyết. Thần thiếp đọc ít sách nhưng vẫn biết câu này.

- Ý Tùy, nếu một ngày chúng ta cách xa nhau, nàng hãy ngẩng đầu nhìn trăng.

Bệ hạ ngẩng đầu ngắm trăng, ánh mắt vừa ưu sầu vừa dịu dàng.

- Hoàng thượng nói gì vậy, Ý Tùy đã nói, Ý Tùy sẽ ở bên người, mãi mãi ở bên người.

Bệ hạ không nói thêm gì nữa, ta tựa đầu vào lồng ngực Hoàng thượng, mãi đến lúc nửa đêm sương giáng mới tỉnh. Ta cẩn thận nhìn lên, bệ hạ nhắm mắt như đã ngủ, lông mày vẫn nhíu chặt lại. Ta vươn tay chạm vào mặt bệ hạ, vậy mà người đã tỉnh rồi.

- Giờ nào rồi?

- Đã canh tư rồi ạ.

- Vậy nàng mau về nghỉ ngơi đi.

- Còn Hoàng thượng thì sao?

- Trẫm còn tấu chương phải duyệt.

Nói xong, bệ hạ đứng dậy vội vã ra về. Đêm khuya thăm thẳm, chốc lát ta đã không thấy bóng dáng người đâu nữa.

Ta buồn bực trở vào, ngẩn ngơ tập viết một lúc lâu mới ngủ thiếp đi.

(*) Trích trong bài Thủy điệu ca đầu của Tô Thức.

Cả bài:

Minh nguyệt kỷ thời hữu?

Bả tửu vấn thanh thiên.

Bất tri thiên thượng cung khuyết,

Kim tịch thị hà niên.

Ngã dục thừa phong quy khứ,

Hựu khủng quỳnh lâu ngọc vũ,

Cao xứ bất thắng hàn.

Khởi vũ lộng thanh ảnh,

Hà tự tại nhân gian.

Chuyển chu các,

Đê ỷ hộ,

Chiếu vô miên.

Bất ưng hữu hận,

Hà sự trường hướng biệt thời viên.

Nhân hữu bi, hoan, ly, hợp,

Nguyệt hữu âm, tình, viên, khuyết,

Thử sự cổ nan toàn.

Đãn nguyện nhân trường cửu,

Thiên lý cộng thiền quyên

Bản dịch thơ của Nguyễn Chí Viễn đăng trên thi viện:

Trăng sáng bao giờ có?

Nâng chén hỏi trời cao

Chẳng hay trên đây cung khuyết

Đêm đó nhằm năm nao?

Rắp định cưỡi mây lên đến

Chỉ sợ lầu quỳnh điện ngọc

Cao ngất lạnh lùng sao?

Đứng múa vời thanh ảnh

Trần thế khác chi đâu.

Xoay gác đỏ

Luồn song lụa

Rọi tìm nhau

Chẳng nên cừu hận

Sao lại nhằm tỏ lúc xa nhau

Người có buồn, vui, ly, hợp

Trăng có tỏ, mờ, tròn, khuyết

Tự cổ vẹn toàn đâu

Chỉ nguyện người trường cửu

Ngàn dặm dưới trăng thâu.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 27: Kết thúc


Đầu tháng mười, Tây Bắc truyền tin chiến cuộc đã ổn định. Ta thấy yên tâm nhiều. Tuy không thường gặp Hoàng thượng, nhưng ta nghĩ bệ hạ hẳn cũng thấy nhẹ nhõm.

Mười một tháng chạp, Hoàng thượng đột ngột phái Đại hoàng tử đi đóng quân ở Y Lê. Hai tháng sau lập tức lên đường, không chỉ không được hồi kinh.

Thế cuộc đã bình định, nhưng đúng lúc này lại điều Đại hoàng tử đi, trong cung không khỏi bàn tán xôn xao. Tuy ta không có tâm tư gì, nhưng đã ở trong cung mười hai năm, ta lờ mờ đoán được dụng ý sau lưng lần điều chuyển này.

Nhưng ta vẫn không dám tin.

Tết đến, Hoàng thượng vẫn đến cung Đường Lê. Xu Ninh còn nhỏ không thức khuya được nên ngủ gật, đến nửa đêm đói bụng mới thức giấc. Ngủ dậy thấy Hoàng a ma của mình đến, làm nũng muốn Hoàng a ma bế.

Hoàng thượng cười tủm tỉm đặt con bé lên đầu gối, lại sai người nổi lửa nấu nướng, bên ngoài tuyết rơi, trong phòng thì ấm áp vui vầy.

Trời tối, đèn mờ, không có biết có phải do ta nhìn lầm hay không mà cứ thấy sắc mặt bệ hạ không được tốt.

Hân Uyên ăn xong thì ngồi nghiêm chỉnh, Hoàng thượng hỏi thằng bé:

- Hôm nay con đọc sách gì rồi?

- Thưa Hoàng a ma, hôm nay con đọc Thiên vận của Trang Tử.

- Đã thuộc câu nào chưa?

- Con thiên nga mỗi ngày mỗi tắm đâu mà lúc nào cũng trắng; con quạ mỗi ngày mỗi bôi đen đâu mà lúc nào cũng đen. Trắng và đen đều là màu tự nhiên, không cần phân biệt xấu đẹp. Ngưỡng mộ danh dự là tỏ rằng có óc hẹp hòi. (1)

- Hân Uyên hiểu câu này thế nào?

- Nhi thần không muốn bị chữ “danh” đè nặng, bởi vì danh tiếng không giúp mở rộng bản tâm. Nhi thần tự giác mình không đạt được đến cảnh giới “Cử thế dự chi nhi bất gia khuyến, cử thế phi chi nhi bất gia tự (2)”. Nghĩ vậy danh tiếng chẳng có gì tốt mà còn có hại, nhi thần muốn được sống tự tại.

Dường như Hoàng thượng đang suy tư gì đó, ta gắp cho người một miếng thịt hươu nướng, mỉm cười nói:

- Thằng bé lúc nào cũng thích xem mấy quyển sách như vậy, chẳng hiểu sao sư phó cũng để đứa bé như nó đọc nữa.

Bệ hạ cũng tươi cười:

- Trẫm lại thấy Hân Uyên như vậy cũng được, giống nàng lắm.

Ăn xong bữa khuya, Xu Ninh lại buồn ngủ nên ta để vú nuôi bế nó xuống rồi cũng đi nghỉ ngơi.

Sáng mồng một, bệ hạ lại dậy sớm. Ta vừa giúp người chỉnh lại cổ áo, vừa bảo Mịch Nhi mang áo choàng lông cáo mới làm hai hôm trước đến. Biết khuyên cũng bằng thừa nhưng ta vẫn lải nhải khuyên bệ hạ phải chú ý nghỉ ngơi.

Bệ hạ đứng yên nghe ta nói, vừa nhìn ta vừa cười.

Sau đó, người không thể đứng trước mặt ta như vậy nữa.

Hoàng thượng vừa lâm triều một lúc lâu, ta bỗng nghe bên ngoài náo loạn, trong lòng bất an nên bảo Mịch Nhi đi hỏi xem có chuyện gì mà không hỏi được gì cả. Ta nghĩ nếu chẳng may có gì xảy ra thì sẽ có người đến báo thôi nên cố kiên nhẫn ngồi thêm hai khắc, mà vẫn không nhận được tin tức gì cả.

Ta không nhịn nổi nữa, lật đật chạy đến điện Cần Chính.

Bệ hạ không có ở đó.

Ta hoảng hốt, ngày thường ta lúc nào cũng ước người không có ở điện Cần Chính, nhưng sao hôm nay người lại vắng mặt cơ chứ?

Ta lại chạy đến tẩm cung của bệ hạ.

Tiểu Trịnh Tử đang đứng canh bên ngoài, vẻ mặt cũng tràn đầy lo lắng, thấy ta tiến lên thì cản lại:

- Hoàng thượng cố ý dặn không được để tin tức truyền đến cung Đường Lê, sao nương nương lại đến đây?

- Đừng nói mấy lời vô nghĩa đó với ta, mau nói ta biết Hoàng thượng sao rồi?

- Thái y đang khám ạ, có lẽ Hoàng thượng mệt, lúc nãy vừa hạ triều, vừa đứng dậy thì ngất đi.

- Bây giờ đã tỉnh chưa?

- Lúc thái y đến còn chưa tỉnh, bây giờ thì chưa biết ạ.

Ta đứng bên ngoài chờ, chờ một canh giờ thì Hoàng hậu, Cẩn phi, Tuệ phi, Gia phi cũng đến. Các chủ tử khác đến lại bị Hoàng hậu xua về cả. Hoàng hậu không tỏ vẻ gì, Cẩn phi luôn bình tĩnh nay đứng không yên cứ đi tới đi lui, Tuệ phi và Gia phi càng sốt ruột.

Thái y đi ra, chúng ta vội xúm vào hỏi, thái y chỉ giải thích rằng:

- Bệ hạ mệt nhọc quá độ nên ngất đi, bây giờ đã không sao.

Ta thoáng thả lỏng đôi chút, nhưng vẫn chưa yên lòng.

Bệ hạ cũng không gặp ta, những ngày sau chỉ có từng đạo thánh chỉ được truyền đi.

Mồng bảy tháng giêng truyền chỉ, cháu gái của Hoàng hậu, Hách xá lý thị, hiền thục đoan trang, tứ hôn cho Thái tử, chọn ngày lành thành hôn.

Mười bốn tháng giêng truyền chỉ, phong Dịch Thiện, cháu trai của Cẩn phi làm Ngự tiền thị vệ.

Mồng bốn tháng hai truyền chỉ, phong trưởng nữ của Thuần tần thành Cố Luân công chúa.

Ngoài ra còn có mấy chuyện ở tiền triều, ta không để trong lòng.

Ngày hai mươi ba tháng hai, cuối cùng bệ hạ đã gọi ta đến.

Trên đường đi, ta lại bình tĩnh đến lạ kỳ.

Bệ hạ ngồi ở điện Cần Chính.

Sắc mặt trắng bệch, yếu ớt.

Lúc ta biết bệ hạ, người mới ba mươi mốt tuổi, còn hăng hái lắm. Thật ra năm nay người mới bốn mươi ba tuổi thôi, nhưng vất vả sớm khuya làm người có vẻ già hơn tuổi nhiều.

- Dao phi ngồi đi.

Ta ngồi vào chiếc ghế mới được kê lên.

Người nhìn ta thật lâu, trên mặt có chút xấu hổ:

- Trẫm nhớ mấy hôm trước là sinh nhật nàng, nhưng trẫm bận quá.

- Hoàng thượng quốc sự bận rộn, thần thiếp không thể đỡ đần gì đã xấu hổ lắm rồi… Người… có khỏe không?

Bệ hạ không trả lời ta mà hỏi:

- Những năm này, nàng thấy trẫm đối xử với nàng thế nào?

- Thần thiếp biết người dành cho thần thiếp rất nhiều sủng ái.

- Nàng lúc nào cũng nói chuyện kiểu chọc giận người khác như vậy. Nàng chỉ biết sủng ái, ban thưởng là sủng ái, phong hào cũng là sủng ái. Nhưng thứ trẫm muốn cho nàng không phải mấy thứ đó. - Bệ hạ mỉm cười, - Đầu ngã dĩ mộc đào, báo chi dĩ quỳnh dao. Câu này hẳn nàng biết, nhưng nàng có biết hai câu sau của nó là gì không?

- Đầu ngã dĩ mộc đào, báo chi dĩ quỳnh dao. Phỉ báo dã, vĩnh dĩ vi hảo dã.

- Lần đầu gặp mặt, nàng tặng trẫm một quả đào, trẫm tặng lại nàng vị trí Dao phi. Nhưng đây không phải vì báo lại nàng, mà là hứa hẹn luôn yêu thương nàng, chung lòng với nàng. Nàng đã hiểu chưa?

Cổ họng ta nghẹn lại nhưng không muốn bị bệ hạ phát hiện nên chỉ gật đầu mà không đáp.

- Nàng về đi. Sắp tới trong cung có nhiều biến cố, trẫm không gọi, nàng đừng nên tới.

Ta quỳ xuống thỉnh an rồi xoay người đi ra cửa.

- Ý Tùy.

Ta không dám quay đầu lại.

- Lại đây.

Ta khựng lại, cảm thấy mặt hơi ươn ướt, chỉ có thể vội quay đi luống cuống dùng tay áo lau nước mắt rồi mới bước nhanh đến bên người.

- Trẫm biết nàng sẽ khóc mà, - Bệ hạ có vẻ đắc ý cười cười, khẽ nắn mũi ta, - Giống đứa bé vậy, để trẫm tính xem, năm nay bé Dao mấy tuổi rồi?

Lần này ta không nhịn được, tựa lên đầu gối người khóc nức nở. Bệ hạ nhẹ nhàng vỗ lưng ta.

Ta không muốn đi.

Ta không muốn đi.

Ta không muốn đi.

Vào lúc này đây, ta không cần mẫu gia, không cần Hân Uyên, không cần Xu Ninh, không cần cả chính ta.

Ta muốn ở lại đây, chết ngay tại đây cũng được. Cầu khẩn thần tiên nào đi qua biến ta thành chiếc bút lông trên bàn cũng tốt.

Một lát sau, người khẽ nói với ta:

- Đi thôi.

Giọng của người nhỏ đến nỗi ta không nghe được, khóe miệng bệ hạ khẽ nhếch lên, hơi run run, vành mắt cũng đỏ.

Lúc ta đi ra, Nhị hoàng tử đang ở bên ngoài.

Hắn cung kính hành lễ với ta:

- Dao nương nương.

Ta cũng đáp lại.

Trên đường về lại gặp Đại hoàng tử, không biết có phải trùng hợp hay không.

Toàn bộ Hoàng cung đều trầm lặng, tựa như bầu trời đầy mây đen trước khi mưa.

Ta về cung Đường Lê, nghe lời bệ hạ, không ra khỏi cửa một bước.

Hai mươi tư tháng hai, trời trong.

Hai mươi lăm tháng hai, trời âm u.

Hai mươi sáu tháng hai, trời âm u.

Hai mươi bảy tháng hai, nổi gió.



Mười bốn tháng năm, trời trong.

Mười lăm tháng năm, trời trong.

Mười sáu tháng năm, trời âm u.

Mười bảy tháng năm, trời trong.

Mười tám tháng năm, trời âm u.

Mười chín tháng năm, trời trong.

Hai mươi tháng năm, trời trong.

Hai mươi một tháng năm, Xu Ninh hỏi ta khi nào mới gặp được Hoàng a ma.

Ta không đáp, chỉ ôm con bé thật chặt.

Hai mươi hai tháng năm truyền đến tin tức, các cung mặc đồ trắng, cấm chơi nhạc, hoàng tử cắt tóc, phụ nữ tháo trang sức, đàn ông tháo tua mũ.

Hoàng thượng băng hà.

Nghe được tin này, ta không khóc. Ban ngày theo các phi tần đi tế bái tập thể, buổi tối dỗ Hân Uyên và Xu Ninh ngủ, ban đêm lại ngồi một mình ngẩn ngơ.

Việc trong cung còn thật nhiều, lễ mai táng, rồi tân đế kế nhiệm, các phi tần chuyển cung.

Ta chuyển đến cung Thọ Khang yên tĩnh, có lúc ngồi thêu túi tiền cho Hoàng thường, trong đầu nghĩ, cung Thọ Khang hẻo lánh cách xa điện Cần Chính, cái tên còn nghe có vẻ già cỗi, không biết Hoàng thượng có chịu đến không.

Nghĩ đi nghĩ lại, rồi cúi đầu thêu tiếp. Hoàng thượng hay bị đau đầu, ta phải bỏ chút bạc hà, long não vào trong túi. Bệ hạ lại hay bỏ quên rồi làm mất, ta rất phiền lòng, nhưng cuối cùng vẫn chịu làm thêm vài cái.

Ngày hai mươi bảy tháng sáu, trời u ám, ta đang tập viết chữ người từng dạy thì có người cầu kiến.

Ta nhận ra Tiểu Trịnh Tử.

Tiểu Trịnh Tử đưa tới một hộp gỗ đỏ, bảo do Tiên hoàng để lại, nhờ hắn chuyển cho ta.

Ta mở hộp, bên trong là chiếc túi hoa mai đã mất nhiều năm trước, ta ngơ ngẩn, nước mắt bỗng lăn dài.

Bên dưới là hai tờ giấy đã ố vàng, một tờ người viết, thanh thanh tử câm, du du ngã tâm. Tờ còn lại ta viết, Ký kiến quân tử, vân hồ bất hỉ.

Dưới cùng là một phong thư, bên trên viết, Dao phi cung Đường Lê.

Ta mở phong bì, bên trong là một phong thư khác, ở trên viết, thê tử Ý Tùy. Ta mở ra.

“Ý Tùy:

Chắc hẳn, hai ngày sau sẽ tuyên chỉ để Lục hoàng tử sớm xuất cung kiến phủ, nàng và Xu Ninh cũng đi theo. Ta muốn nói rằng, không phải ta thấy con của chúng ta kém cỏi. Hân Uyên được nàng dạy dỗ thông minh ngoan ngoãn, chính trực chân thành. Xu Ninh đáng yêu giống nàng, là con gái bé bỏng của ta. Là ta có lỗi với các con, không thể theo hai đứa nó trưởng thành. Nhưng ta không thể che chở cho nàng, Hoàng cung này không còn là nơi nàng nên ở. Ta nghĩ tới nghĩ lui, cũng chỉ có cách này để đưa nàng ra ngoài.

Từ năm ngoái ta đã thấy tinh thần kém cỏi, đêm không ngủ ngon. Triệu thái y khám xong cũng không biết làm sao. Thầy thuốc chữa bệnh chứ không cứu được mạng. Ta tại vị hơn hai mươi năm, tự thấy mình thận trọng cẩn thận, chăm chỉ đêm ngày. Làm thiên tử, đời này của ta không có gì hối hận. Làm phu quân, ta có lỗi với Ý Tùy.

Nàng và ta thành phu thê tính ra đã được mười hai năm, người ngoài luôn cảm thấy Hoàng thượng sủng ái Dao phi, chỉ có mình ta biết nàng còn tốt với ta hơn ta tốt với nàng.

Năm Thái phi qua đời, các phi tần khuyên ta giữ gìn sức khỏe, các đại thần khuyên ta lấy quốc sự làm trọng, đến cả Hoàng thái hậu cũng chỉ nói với ta, Thiên tử không thể có sướng vui đau buồn. Nhưng dưới tán ô, nàng nói với ta rằng, đau lòng thì không cần nhịn, thấy ta giả vờ cứng cỏi nàng rất đau lòng. Từ khi đó ta đã biết, lòng ta ngoài nàng ra ta sẽ không có ai nữa. Mười năm nay, nàng không tranh vinh sủng, không tranh quyền thế, lúc nào cũng đặt ta lên đầu, ta biết cả.

Nhưng ta không thể cho nàng thêm gì ngoài vị phân, ban thưởng. Ta biết nàng không muốn những thứ đó. Mà nàng cũng hiểu, ta thân bất do kỷ, đời này sinh ra ở nhà đế vương đã có lỗi với nàng.

Chiếc túi hoa mai này, ta nói không nhặt được. Bởi vì nàng mỗi lần viết chữ xấu đề xé đi không cho ta xem, chiếc túi hoa mai này xấu như vậy, nàng biết nó ở chỗ ta sẽ đòi về mất. Duyên phận của nàng và ta từ nó mà ra, ta không nỡ.

Nàng cái gì cũng tốt, mỗi cái tự thấy mình không tốt là phải sửa. Chữ của nàng, túi lưới của nàng, đẹp hay xấu trong mắt ta đều là tốt nhất. Ta nàng muốn trở nên thận trọng, hiểu chuyện hơn. Nhưng ta lại nghĩ, có thể bảo vệ sự ngây thơ vô tư của nàng, cũng rất tốt.

Trước mắt ta không thể gặp nàng, một là sắp tới bận rộn, hai là không muốn nàng trở thành cái gai trong mắt mọi người. Trước mắt nàng đã phong Phi, có thể dẫn Xu Ninh theo Hân Uyên xuất cung, đứa bé này tâm tính trầm ổn, đời này cứ làm một Vương gia nhàn tản. Xu Ninh còn nhỏ, ta đã bàn giao để sau này tân hoàng tìm nơi tốt cho nó.

Ta hổ thẹn lại không đành lòng, nhưng vì hai đứa nhỏ, bé Dao bốn tuổi lớn rồi, không được khóc.

Khi nàng nhớ ta, hãy ngẩng lên nhìn mặt trăng.

Phu quân của nàng.

Ngày mồng bảy tháng hai.”

Sấm rền ngoài cửa sổ, ta thẫn thờ sờ mặt mình, mùa mưa, đến rồi.

Quả nhiên ba ngày sau, tân hoàng tuyên chỉ, Lục hoàng tử Hân Uyên ở trong cung lưu niên bất lợi (6), sớm xuất cung kiến phủ. Dao thái phi Từ ý Tùy đi theo, Ngũ công chúa còn nhỏ, theo mẫu phi ở tạm trong phủ Bối tử.

Lĩnh chỉ xong, ta sai Mịch Nhi đi thu dọn hành lý, trong cung này không có gì để ta lưu luyến nên dặn kỹ chỉ thu lại những gì cần thiết thôi.

Mịch Nhi đột nhiên hỏi:

- Nương nương, tờ giấy này có cần mang theo không.

Ta nhìn lên, là bài thơ ta viết sau khi ngắm trăng cùng Hoàng thượng hồi Thất tịch năm ngoái.

“Hận quân bất tự giang lâu nguyệt, nam bắc đông tây, nam bắc đông tây, chích hữu tương tùy vô biệt ly.”

“Hận quân khước tự giang lâu nguyệt, tạm mãn hoàn khuy, tạm mãn hoàn khuy, đãi đắc đoàn viên thị kỷ thì?” (3)

Ta ngẩn người.

- Vứt đi.

Quay đi trong lòng lại nghĩ, nếu để bệ hạ nhìn thấy, kiểu gì người cũng cầm bút son phê rằng: “chữ của nàng xấu quá”.

Nghĩ đến đây khóe miệng nhếch lên, lại không nén được nước mắt tràn mi.

Ngày xuất cung trời trong nắng ấm giống ngày ta tiến cung, chỉ là khi hỉ thước bay ngang qua đầu, ta không thắc mắc đó là chim gì nữa.

Xe ngựa chậm rãi đi qua cổng Thái Hòa, Tử Cấm Thành đã vây nhốt ta 12 năm lùi lại ngày một xa, mãi mãi không thể giam cầm ta được nữa. Nhưng ta lại nghĩ, nếu bệ hạ còn đó, ở lại cả đời cũng không sao.

Xu Ninh nhìn ta chằm chằm, đưa tay lau nước mắt cho ta, hỏi:

- Mẫu phi, sao người lại khóc, chúng ta đang đi đâu?

Ta cười xoa đầu nó, ôm nó vào lòng, nói:

- Mẫu phi dẫn con đi hái đào, mùa thu chúng ta đi nhặt hoa quế, mùa đông ném tuyết, mùa xuân đào măng, làm thật nhiều chuyện trước đây không được làm, có được không?

Xu Ninh vui mừng vỗ tay, lại nghĩ một lát rồi nói:

- Vậy tại sao chúng ta không chờ Hoàng a ma?

- Hoàng a ma của con bây giờ đang ở trên trăng theo dõi chúng ta. Buối tối con ngẩng lên ngắm trăng sẽ thấy Hoàng a ma cười với con. Hoàng a ma còn nói, Xu Ninh, con phải ăn nhiều một chút, ngủ thật ngoan, học thêm mấy bài thơ, làm một cô gái nhỏ vui vẻ hạnh phúc. Con hỏi ca ca xem có phải không.

Hân Uyên vốn đang thò đầu ra ngắm nhìn bên ngoài, nghe thấy liền quay lại cười dịu dàng với Xu Ninh.

- Vậy mẫu phi dạy con một bài thơ đi, buổi tối con sẽ đọc cho Hoàng a ma trên mặt trăng nghe.

Ta suy nghĩ một là rồi đọc.

"Đầu ngã dĩ mộc qua, báo chi dĩ quỳnh cư. Phỉ báo dã, vĩnh dĩ vi hảo dã.” (4)

“Đầu ngã dĩ mộc đào, báo chi dĩ quỳnh dao. Phỉ báo dã, vĩnh dĩ vi hảo dã.”

“Đầu ngã dĩ mộc lý, báo chi dĩ quỳnh cửu. Phỉ báo dã, vĩnh dĩ vi hảo dã." (5)

Nguyện cùng người bên nhau, đời đời kiếp kiếp.

[Xong chính văn]

(1) Trích trong Thiên Vận của Trang Tử

(2) Nguyên văn: 舉世而譽之而不加勸,舉世而非之不加沮,定乎內外乎分,辯乎榮辱乎境,斯已矣 Trích trong Tiêu dao du của Trang Tử

Dịch nghĩa: Dù cả thế gian khen ngợi, ông cũng không nỗ lực thêm; dù cả thế gian chê bai ông cũng không thối chí nản lòng; ông đã phân biệt được giữa trong và ngoài, đã xác định được ranh giới giữa vinh và nhục. Ông ta đã như thế rồi.

(3) Bài thơ Thái Tang Tử của La Bản Trung

Hận quân bất tự giang lâu nguyệt,

Nam bắc đông tây,

Nam bắc đông tây,

Chỉ hữu tương tuỳ vô biệt ly.

Hận quân khước tự giang lâu nguyệt,

Tạm mãn hoàn khuy,

Tạm mãn hoàn khuy,

Đãi đắc đoàn viên thị kỷ thì.

Bản dịch thơ của Nguyễn Thị Bích Hải trên thivien:

Hận chàng chẳng giống vầng trăng ấy,

Nam bắc đông tây,

Nam bắc đông tây,

Chỉ mãi theo nhau chẳng nỡ rời.

Hận chàng lại giống vầng trăng ấy,

Tạm đầy lại vơi,

Tạm đầy lại vơi,

Nào có đoàn viên được mấy thời.

(4) Bài Mộc Qua 1 trong Kinh thi:

Đầu ngã dĩ mộc cô (qua).

Báo chi dĩ quỳnh cư.

Phỉ báo dã,

Vĩnh dĩ vi hảo dã.

Bản dịch thơ của Tạ Quang Phát trên thivien:

Mộc qua người tặng ném sang,

Quỳnh cư ngọc đẹp ta mang đáp người.

Phải đâu báo đáp ai ơi,

Để mà giao hảo đời đời cùng nhau.

(5) Bài Mộc qua 3 trong Kinh thi:

Đầu ngã dĩ mộc lý.

Báo chi dĩ quỳnh kỳ (cửu).

Phỉ báo dã,

Vĩnh dĩ vi hảo dã.

Bản dịch thơ của Tạ Quang Phát trên thivien:

Ném sang mộc lý tặng ta,

Ngọc lành quỳnh cửu đưa qua đáp người.

Phải đâu báo đáp ai ơi,

Để mà giao hảo đời đời cùng nhau.

(6) Lưu niên bất lợi là một câu thành ngữ. Lưu niên: nghĩa là năm xưa, thời trước đoán mệnh xem tướng người ta gọi thời gian trong một năm là “vận”; lợi: cát lợi. Như vậy câu này chỉ về người nhiều năm ở trong trạng thái không may mắn, liên tục gặp xui. Gọi là thời vận không tốt.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 28: Ngoại truyện: Tú mạc phù dung nhất tiếu khai


- Con là vua một nước.

Đây là câu cuối cùng Hoàng a ma nói với trẫm trước khi tạ thế. Trẫm tại vị hai mươi năm, chưa có một ngày không sống vì câu nói này.

Lúc đăng cơ, trẫm mới hai mươi tuổi.

Khi ấy, thế lực của Chuẩn Cách Nhĩ bộ ở Tây Bắc ngày một lớn mạnh, lúc nào cũng x*m ph*m l*nh th* nước ta cướp bóc, tàn sát bách tính. Lên ngôi được hai năm, Tây Bắc lại có bạo loạn, trẫm lập tức phái Tích Lương tới A Nhĩ Thái.

Tích Lương là bạn thân từ nhỏ của trẫm, của là tướng quân dũng mãnh, thiện chiến nhất trong triều, trẫm tin tưởng cậu ấy. Năm ấy, từ tháng sáu đến tháng mười, tiền tuyến liên tục có tin chiến thắng báo về. Nhưng đến tháng mười có cấp báo, A Nhĩ Thái đột nhiên đổ tuyết lớn, lương thảo thiếu thốn. Hơn nữa, toàn quân không quen địa hình, chiến đấu trong tuyết quá khó khăn.

Chuẩn Cách Nhĩ bộ hợp quân đánh trả, nhân mã quân ta tổn thất hơn nửa, không thể phòng thủ tiếp. Tích Lương dâng tấu xin tạm thời rút quân.

Trẫm ngồi ở điện Cần Chính suy nghĩ cả buổi tối, cuối cùng vẫn viết một phong thư. Phải thủ.

Đồng thời, gửi viện binh khẩn cấp đến đến A Nhĩ Thái.

Trẫm thấp thỏm chờ tin từ tiền tuyến, nhưng suốt ba mươi mốt ngày không có một tin tức gì.

Chạng vạng ngày thứ ba mươi hai, chiến báo gửi về, là tin chiến thắng. Nhưng quân ta tổn thất khoảng tám ngàn người, tướng quân Tích Lương hi sinh.

Hai năm tại vị của trẫm, chỉ hối hận duy nhất một lần này. Trong suy nghĩ của trẫm, trẫm thậm chí mong Tích Lương kháng chỉ, thậm chí đào ngũ.

Dường như mẫu hậu đọc được suy nghĩ của trẫm, người chỉ nói một câu.

- Con là vua một nước.

Trẫm là vua một nước, nên không được hành động theo cảm tính, càng không được bước sai. Một câu nói sai của trẫm, không chỉ hại đến trăm vạn mạng người, mà còn hại đến bạn thân chí cốt.

Ý nghĩ này mỗi ngày đều nằm trong đầu trẫm. Trẫm trở nên chín chắn, kiên nhẫn, thận trọng hơn. Không chỉ mình trẫm, mà người xung quanh cũng nên như vậy.

Với các phi tần trong Hậu cung, trẫm không có thời gian để ý tính tình họ thế nào. Thâm trầm cũng được, tự phụ cũng được, chỉ cần tuân theo quy củ, ngoan ngoãn hiểu chuyện là được.

Lần đầu gặp Ý Tùy là lúc đến cung Cẩn phi. Cẩn phi sai người đi gọi Từ thường tại, nhưng cung nữ bảo nàng ấy đã đến Ngự hoa viên rồi. Trẫm bỗng nhớ tới một bóng dáng màu xanh bé nhỏ, lách mình trốn vào bụi cây phía xa.

Thất tịch, trẫm lại thấy bóng dáng bé nhỏ kia, vụng về lén lút dúi cho trẫm một quả đào, còn mang theo một cái túi hoa mai rất xấu.

Mấy chuyện tình cờ thái quá làm trẫm nghi Từ thường tại này có dụng tâm bất chính, nên bảo Cẩn phi để ý nàng ấy một chút.

Nhưng Cẩn phi lại nói, nàng ấy chỉ là một đứa trẻ mới lớn thôi.

Nhưng trẫm không tin nên không triệu hạnh nàng ấy.

Năm sau, Di tần hạ sinh Tứ hoàng tử xong thì đổ bệnh nặng. Thỉnh thoảng trẫm đến điện Y Lan, còn nàng ấy dường như mỗi ngày đều đến. Trẫm cứ tưởng nàng ấy có tâm tư gì, nhưng nàng ấy hiếm khi nói chuyện với trẫm, cũng không chủ động đến gần trẫm, chỉ thỉnh thoảng liếc nhìn, mặt đỏ bừng.

Gương mặt nàng ấy lúc đỏ lên làm trẫm nhớ tới Nghi phi.

Lần đầu gặp Nghi phi, trẫm mười sáu tuổi, cô ấy cũng mười sáu tuổi.

Hôm ấy là ngày mừng thọ của Hộ quốc công, Hộ quốc công là nguyên lão tam triều, phụ hoàng bảo trẫm lộ mặt trên thọ yến. Tuy trẫm thấy hơi mất mặt nhưng cũng hiểu được ý phụ hoàng, một là cho thấy hoàng ân, hai là hoàng tử được đại diện, cho thấy sự coi trọng.

Hôm đó vẫn chưa đến giờ gửi quà mừng, trẫm tự mình đi dạo trong hoa viên của phủ Hộ quốc công. Lúc đứng ngoài tường của nội viện, trẫm bỗng nghe thấy tiếng cười thanh thúy như chuông bạc của thiếu nữ. Trẫm bất giác đứng lại nghe mãi không muốn đi, đến tận khi có nô bộc trong phủ mời vào bàn tiệc mới thôi.

Lúc ra khỏi hoa viên, trẫm thoáng thấy một thiếu nữ mặc áo xanh biếc, tươi cười đi ra khỏi nội viện. Cô ấy chạy nhanh qua sau cây mai, trẫm sợ thất lễ nên chưa từng kể lại việc này.

Sau khi trở về, trẫm viết rất nhiều.

“Hoa thoái tàn hồng thanh hạnh tiểu,

Yến tử phi thì,

Lục thuỷ nhân gia nhiễu.

Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu,

Thiên nhai hà xứ vô phương thảo.

Tường lý thu thiên, tường ngoại đạo,

Tường ngoại hành nhân,

Tường lý giai nhân tiếu.

Tiếu tiệm bất văn thanh tiệm tiễu,

Đa tình khước bị vô tình não.(2)”

Năm đó trẫm nạp Trắc phúc tấn đầu tiên, phân phủ xuất cung trở thành Ninh thân vương.

Trắc phúc tấn này chính là con gái của Hộ quốc công, là cô gái thấy mặc áo xanh ấy.

Sau khi cô ấy qua đời rất nhiều năm, hàng năm vào Thất tịch trẫm đều đến cung An Khánh. Ai cũng nói Hoàng thượng và Nghi phi kết duyên vào Thất tịch, cũng chia ly vào Thất tịch, thổn thức biết bao. Nhưng chỉ có mình trẫm biết, duyên phận này đã nảy nở vào ngày “hoa lạt cánh hồng” ấy rồi.

Lại một năm Thất tịch, trẫm đến cung An Khánh như thường lệ, lại gặp được Ý Tùy ngồi dưới chân tường cung khóc một mình, nói rằng Di tần nguy kịch lắm rồi.

Lúc ấy trẫm giật mình ra, hóa ra nàng ấy thật sự chỉ là một cô gái ngây thơ thuần khiết, do trẫm tại vị nhiều năm, nhìn người nào cũng có mấy phần nghi ngờ.

Nhưng trẫm đã ở tuổi nhi lập, không còn nhiều tâm tư cho một cô gái nhỏ nữa. Cứu nàng ấy, hay giải vây giúp nàng ấy cũng vậy, trẫm không để ý nhiều đến thế. Cũng phải nói rằng, tính cách hoạt bát của nàng ấy có vài phần giống Nghi phi. Nhưng trẫm hiểu rất rõ, họ không phải một người, cũng coi thường việc một hình bóng khỏa lấp chỗ trống.

Mãi đến ngày nàng ấy nói với trẫm rằng, “Bệ hạ không cần nhẫn nhịn”. Trẫm đột nhiên nhận ra, hóa ra cô gái nhỏ này không phải dạng người chỉ mong được người khác chiều chuộng.

Lâu dần, trẫm phát hiện, nàng ấy có một điểm khác người bên ngoài, đến Nghi phi cũng không có. Nàng ấy thật lòng tốt với trẫm, cũng chỉ muốn như vậy.

Trẫm đã gặp nhiều cô gái, trong sự chân thành của họ luôn ẩn giấu tính toán. Trẫm không chấp nhặt, vì trong Hoàng cung rộng lớn này, họ chẳng có gì nhiều, bày mưu tính kế cũng vì sợ hãi mà thôi. Nhưng dường như nàng ấy chẳng sợ điều gì, nàng ấy yêu ai thì dồn hết tình cảm cho người đó, chẳng để tâm mình có bị phụ lòng hay không. Nàng ấy là cô gái can đảm nhất trẫm từng gặp.

Chầm chậm, nàng ấy thành Dao tần, có hoàng tử. Thật ra, giữa hai chúng ta luôn có một bức tường ngăn cách, nàng ấy sẽ tạ ân mỗi lần trẫm ban thưởng, nhưng trẫm biết đây chẳng phải thứ nàng ấy muốn.

Không biết từ khi nào, trẫm không đến cung An Khánh nữa.

Có lúc trẫm nhìn nàng ấy, muốn nói lại thôi, liền nói:

- Bây giờ có nàng là đủ rồi.

Mùa xuân năm ấy, Hoàng hậu qua đời.

Lúc Hoàng hậu sắp đi, đã dùng ánh mắt đó nhìn trẫm.

Ở trong Hậu cung đã lâu, ánh mắt này với trẫm rất quen. Có lúc vì một phong hào, có lúc vì một chút ban thưởng, vì những thứ trẫm có thể cho nhưng chưa chắc đã cho, các nàng ấy muốn cũng không dám mở miệng cầu xin.

Ý Tùy có lúc cũng nhìn ánh mắt ấy nhìn trẫm, những lúc ấy trẫm sẽ nói với nàng ấy rằng, biết rồi, trẫm sẽ chú ý nghỉ ngơi mà.

Trẫm nắm tay Hoàng hậu nói, yên tâm.

Năm sau, trẫm lập Nhị hoàng tử thành Thái tử.

Nhị hoàng tử vốn là đứa tâm tư trầm ổn, đầu óc thông minh, vị trí này thuộc về nó danh chính ngôn thuận.

Lại hai năm sau, trẫm có Xu Ninh.

Xu Ninh ba tuổi, ăn vạ muốn đi chơi đèn, trẫm thấy mắt Ý Tùy hơi sáng lên lúc nghe đến chữ hoa đăng, bèn sai người ra ngoài cung tìm thợ thủ công tốt nhất về. Mười lăm tháng giêng, trẫm thấy nàng ấy nhìn trong sân treo đầy hoa đăng, trong mắt lóe lên niềm vui ngây ngô, lại vừa có ưu sầu, bèn hỏi:

- Nàng có hối hận đã vào cung không?

Nàng ấy nói, không hối hận.

- Khi nào chúng ta xuất cung đi, được không?

Nàng ấy chỉ khẽ cười đáp:

- Hoàng thượng là vua một nước, câu này về sau không thể nói.

Nếu là nàng ấy của năm mười bảy tuổi, hẳn sẽ tròn mắt hỏi trẫm, khi nào chúng ta xuất cung? Ở trong Hoàng cung nhiều năm, cuối cùng nàng ấy đã dần quen với những thứ này. Như chuyện không được tự do, như chuyện cuộc sống phẳng lặng trong bốn bức tường cao, như chuyện không thể tiếp tục mộng mơ.

Trẫm biết, Ý Tùy cuối cùng vẫn vì trẫm mà thay đổi.

Trẫm là vua một nước, lại chẳng thể bảo vệ sự ngây thơ vô tư của nàng ấy.

Đến mùa đông, trẫm luôn thấy tinh thần kém cỏi, Triệu thái y tỏ ý rằng mình chỉ có thể kê thuốc điều dưỡng, nghỉ ngơi được nhiều chút sẽ khá lên thôi.

Trẫm biết đã đến lúc rồi.

Nhị hoàng tử trẫm rất yên tâm, nhưng nhất định phải dọn đường cho nó, nên mới lệnh Đại hoàng tử hai tháng sau phải đến Tây Bắc. Sau đó lại ban hôn cho Nhị hoàng tử với cháu gái của Thục hoàng hậu, phong con trai của Tích Lương là Dịch Thiện làm Ngự tiền thị vệ. Ngồi trên ngôi Hoàng đế này phải đề phòng người có dã tâm, cũng phải đề phòng người bị cho là có dã tâm.

Trẫm biết rõ lời đồn trong cung đang ngày một nhiều, cái loại lời đồn này không dễ ngăn chặn. Lòng người hỗn loạn, lời đồn này tựa như tiếng sấm mơ hồ vang vọng trên trời cao, chưa đến lúc sẽ không dừng.

Giao thừa trẫm đến cung Đường Lê, sáng hôm sau lúc buộc áo choàng cho trẫm, nàng ấy lại dặn dò trẫm phải nghỉ ngơi thật nhiều, lúc này trẫm không đáp lại cũng không phản bác, chỉ yên lặng nhìn nàng ấy thật lâu.

Nhìn đôi mắt tròn tròn, nhìn hàng mi dài rũ xuống như rẻ quạt, nhìn cái mũi hơi vểnh lên, nhìn khóe miệng lúc nào cũng như đang cười của nàng ấy.

Trẫm thích nhất lúc Ý Tùy cười, như vậy mới giống nàng ấy.

Ý Tùy, chúng ta sẽ không gặp rất lâu đấy.

Chờ chuyện này qua đi, nếu như có thể, trẫm dẫn nàng xuất cung.

(1) Trích trong bài thơ Hoán khê sa kỳ 1 của Lý Thanh Chiếu.

Tú mạc phù dung nhất tiếu khai,

Tà ổi bảo áp sấn hương tai,

Nhãn ba tài động bị nhân sai.

Nhất diện phong tình thâm hữu vận,

Bán tiên kiều hận ký u hoài,

Nguyệt di hoa ảnh ước trùng lai.

Bản dịch thơ của Tạ Trung Hậu đăng trên thivien:

Dưới trướng phù dung nở nụ cười

Bên lò hương lộ má hồng tươi

Vừa trao mắt liếc gây nghi ngại

Một nét phong tình khó nhạt phai

Nửa tờ thư hận ghi thương nhớ

Nguyệt rời hoa ảnh nguyện theo người

(2) Đây là bài Điệp Luyến Hoa - x**n t*nh của Tô Thức

Bản dịch của Nguyễn Chí Viễn trên thivien:

Hoa rụng tàn hồng, thanh hạnh nhỏ,

Chim yến bay về,

Nước biếc vòng quanh ngõ.

Tơ liễu trên cành bay lỗ chỗ,

Ven trời trông hút xanh liền cỏ.

Trong luỹ giá đu, ngoài luỹ lộ,

Ngoài lộ người đi,

Trong mỹ nhân cười rộ.

Tiếng cười bỗng bặt nghe không rõ,

Vô tình khiến khách đa tình khổ.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 29: Ngoại truyện: Hoán hoa khê thượng kiến khanh khanh


Ta là Thẩm Phong Cẩn, hoặc gọi với cái tên mà ai cũng biết, đó là Cẩn phi.

Nói ra thì, chính thê của Hoàng thượng là Huệ Nhân hoàng hậu, trăng sáng trong lòng là Nghi phi, người yêu dấu nhất là Dao phi.

Còn ta, là người ở bên bệ hạ lâu nhất.

Lần đầu gặp Hoàng thượng, ta mới chín tuổi thôi. Mẹ của ta là muội muội ruột của Đoan Khang thái phi, năm đó vẫn đang là Đoan phi, dưới gối không con khó tránh thấy cô đơn nên mẹ thường dẫn ta vào cung. Ngày đó Hoàng thượng nhân hậu hiền lành, chưa nhiều cố kỵ, xưa nay ta vốn chỉ vào cung thăm người thân, không ngờ một ngày bản thân cũng bị vây trong bốn bức tường cao này.

Hôm đó là tháng ba, hạnh mai trong cung nở rộ tươi sáng, mẹ và Đoan phi nương nương đang ngồi hàn huyên, ta nha hoàn bên cạnh chạy ra ngoài ngắm hoa. Lúc ta không nhịn được muốn lén bẻ một cành xuống thì, bỗng nghe một tiếng gọi từ phía xa.

- Đây là cô bé nhà ai nhỉ?

Ta nhớ câu “cô bé nhà ai” của bệ hạ rất nhiều năm. Về sau, người gọi ta là Phong Cẩn, gọi ta là Trắc phúc tấn, gọi ta là Cẩn tần, gọi ta là Cẩn phi nhưng chẳng bao giờ gọi ta là cô bé nữa.

Bệ hạ khi ấy mặc một chiếc áo choàng trắng, thong dong bước tới, đôi mắt sâu thẳm nhìn thẳng vào ta, làm trái tim ta đột nhiên đập vội, ngượng nghịu cúi đầu.

Người nói tên người là Thừa Dục, chỉ vậy thôi, như thể hai chữ “Thừa Dục” này đã đủ đại biểu rồi.

Về sau ta mới biết, hai chữ Thừa Dục thật sự đại diện cho tất thảy.

Thừa Dục, bây giờ là Thái tử, mẹ đẻ xuất thân danh gia vọng tộc, là Hoàng hậu được Hoàng thượng sủng ái nhất. Từ nhỏ, tài cưỡi ngựa bắn cung, trị quốc luận đạo của người đều vượt trên các hoàng tử khác.

Đại khái là như vậy.

Sau đó, thỉnh thoảng ta sẽ gặp được người. Bệ hạ cư xử nho nhã lễ độ mà vẫn mang theo sự kiêu ngạo khó thấy. Chúng ta gặp nhau cũng chỉ chào hỏi đôi ba câu, mãi đến năm ta mười tuổi gặp được bệ hạ trong cung của Đoan phi nương nương.

Nghe nói Hoàng hậu sinh xong đứa thứ hai, cơ thể sa sút nên bệ hạ được gửi tạm đến chỗ Đoan phi. Ta có thể thường xuyên gặp được người, trẻ con dễ thân nhau nên chẳng mấy mà hai bên thân thiết.

Quen thuộc rồi mới thấy bệ hạ không khiến người ta kính sợ mà tránh xa như trước, thỉnh thoảng chúng ta cùng chơi đùa ầm ỹ. Chúng ta ở đây là ta và huynh trưởng, Thẩm Tích Lương.

Ca ca hơn ta hai tuổi, lớn hơn Thái tử một tuổi, cha của ta Đại nội thị vệ nên ca ca từ nhỏ lớn lên trong quân doanh, không hề giống một công tử thế gia chút nào. Hai người họ chơi chung lâu ngày đã thân như tay chân, có lúc còn thấy ta phiền phức. Ta không phải không muốn chơi với bọn họ, nhưng mẹ ta luôn dạy ta phải đoan trang hiền thục, không được mất khí độ đại gia khuê tú.

Ta thường ngồi rất xa nhìn bệ hạ đọc sách, viết chữ, luyện kiếm, người luôn rất năng nổ. Ca ca thường hỏi ta sao cứ tự nhiên đỏ mặt thế, ta không chịu đáp.

Một năm lặng lẽ trôi qua, mùa hè năm ấy bệ hạ ốm nặng. Ta nóng ruột không yên, lại không biết phải làm sao, mỗi ngày lại theo Đoan phi nương nương tụng kinh cầu phúc cho Hoàng thượng ở điện Trường Xuân. Mỗi ngày đều quỳ, đến nỗi đầu gối đau không đi nổi.

Ta thề nguyện trước mặt Bồ tát rằng, chỉ cần bệ hạ tỉnh lại, dù ta phải cơ khổ một đời, thậm chí không gặp lại người nữa, ta cũng chấp nhận, tuyệt đối không oán hận.

Cuối cùng bệ hạ đã tỉnh lại.

Năm ta mười lăm tuổi, bệ hạ xuất cung kiến phủ, nạp Trắc phúc tấn, là tiểu thư nhà Hộ quốc công, về sau là Nghi phi.

Cô ấy và ta khác nhau nhiều. Cha mẹ cô ấy không gò bó cô ấy chút nào. Lần đầu nhìn thấy, cô ấy đang ngồi chơi xích đu trong Vương phủ, tiếng cười lanh lảnh như chuông bạc, vừa trong sáng vừa ngây thơ, Thừa Dục đứng bên cạnh cười đầy yêu chiều.

Năm đó ta mười sáu tuổi, vừa trở thành Trắc phúc tấn thứ hai của người.

Bệ hạ không thích ta, ta cũng biết. Lúc còn trẻ, người kiêu ngạo lại tràn đầy sức sống, người không thích mẫu phụ nữ trầm tĩnh như ta.

Bồ tát không để ta phải cô độc đến cuối đời, cũng không khiến ta và người không gặp lại nhau. Nhưng đến năm bệ hạ hai mươi tuổi, kế vị, ta dọn vào cung Đường Lê, nhiều khi ta lại thấy cô độc hơn cả một đời không gặp lại người nữa.

Ta nhìn bệ hạ dần bận rộn, nhìn từng nhóm tú nữ mới vào cung, nhìn phía đông có thêm một công chúa, phía tây có thêm một hoàng tử, nhìn bệ hạ vui vẻ với người khác, nhìn người thỉnh thoảng nhớ đến ta, thỉnh thoảng lại quên mất.

Cả đời ta có lẽ sẽ mãi mãi ở lại trong cái góc nhỏ bé này, rót trà cho người vào mấy bận được bệ hạ nhớ đến. Số mệnh của ta là ở nơi bệ hạ không nhìn thấy, lặng lẽ chờ đợi người.

Năm ta hai mươi mốt tuổi xảy ra một chuyện lớn, trong triều mất một vị tướng quân.

Tên người đó là Thẩm Tích Lương.

Lúc nghe được tin này, ta ngất đi, hai ngày sau mới tỉnh lại, bên giường có một Lưu thái y đang quỳ. Rất lâu sau, cung nữ bên cạnh nói với ta rằng, tiểu chủ, đứa bé mất rồi.

Ta không biết ta có hận bệ hạ hay không. Có những chuyện không phải ta cứ muốn là có thể thay đổi.

Bệ hạ vì chuyện này mà thay đổi. Người trở nên nghiêm khắc hơn, không chỉ với người bên cạnh, mà với chính bản thân, không nương tay chút nào. Trước tiên người là Hoàng thượng, sau đó mới là bản thân người.

Mười năm qua vẫn luôn như vậy.

Người đã thay đổi lúc nào nhỉ? Có lẽ từ lúc cô gái tên Từ Ý Tùy kia xuất hiện.

Ngày ta nói rằng, tính tình của Từ thường tại rất giống Nghi phi.

Tay đang bưng trà của người khựng lại, rồi đáp, trẫm thấy nàng ta có vẻ không an phận, nàng để ý nhiều chút.

Ta chỉ cười mà không phản bác, mẫu người bệ hạ thích là thế nào, ta hiểu rõ nhất.

Thời gian chầm chậm trôi, Từ thường tại trở thành Dao phi.

Bệ hạ luôn thấy có lỗi với nàng ấy, ta biết nhưng ta không nói gì. Thật ra, ta cũng rất muốn ra ngoài cung ngắm hoa đăng.

Ta không hận, cũng không ghen tị. Giống như ngày đó có Nghi phi, không còn Nghi phi thì có Dao phi, không có Dao phi cũng có người khác. Ta thậm chí rất biết ơn Dao phi, nàng ấy thật sự yêu bệ hạ, ở một góc độ nào đó, coi như thay ta yêu bệ hạ thật nhiều.

Lúc Hoàng thượng đổ bệnh đã gọi ta đến, bàn giao rất nhiều chuyện trong Hậu cung.

Người nói, huynh trưởng của Thục hoàng hậu là Định Sóc Đại tướng quân, người không yên tâm. Mắt Tuệ phi không chứa được ai, Gia phi quá háo thắng, Dao phi quá bộp chộp, tính tới tính lui chỉ nhờ cậy được ta.

Có lẽ bệ hạ không biết, khi nhắc đến Dao phi tính tình bộp chộp, trong mắt lại đầy dịu dàng, là ánh mắt ta xưa nay ta chưa từng thấy.

Ta lĩnh chỉ tạ ơn, ta ước ao người gọi ta một tiếng “Phong Cẩn”, nhưng người không gọi.

Câu cuối cùng bệ hạ nói là, nếu còn dư lại chút thời gian, trẫm mong có thể sống vì bản thân.

Nhiều ngày đêm sau khi bệ hạ băng hà, ta trăn trở suy nghĩ mãi. Nghĩ đi nghĩ lại, giọt nước mắt kìm nén bao năm liền tuôn ra. Trong cung này, có mấy người có thể vì bản thân mà sống? Từ phủ Ninh thân vương đến cung Đường Lê rồi đến cung Thọ Khang, có khi nào ta sống vì mình?

Có khi nào, ta sống vì bản thân?

Gia phi nói ngưỡng mộ Dao phi có thể xuất cung sớm. Chúng ta đều biết rõ đằng sau cái câu “ở trong cung lưu niên bất lợi”(2) là sự ưu ái đến nhường nào.

Nhưng ta không ngưỡng mộ, ta muốn ở lại nơi này, gìn giữ những dấu chân người in trên hành lang trong cung, gìn giữ bóng dáng người ở điện Cần Chính, gìn giữ những con chữ người từng viết ra.

Giữ lại cây hạnh mai nở rộ trong cung.

Ở nơi đó, người từng hỏi ta, đây là cô bé nhà ai nhỉ?

Cán Hoa khê thượng kiến khanh khanh,

Kiểm ba thu thuỷ minh.

Đại my khinh,

Lục vân cao oản,

Kim thốc tiểu tinh đình.

Hảo thị vấn tha lai đắc ma?

Hoà tiếu đạo:

Mạc đa tình.
 
Phiến Phiến Hoa Phi
Chương 30: Ngoại truyện: Nhạn tự về thì nguyệt mãn tây lâu


Bệ hạ từng gọi ta là bé Dao ba tuổi, tính như vậy thì năm nay ta là bé Dao mười hai tuổi.

Ta đã ở trong cung mười hai năm, năm tháng.

Ngày mồng bốn tháng bảy, Cẩn phi tiễn ta xuất cung, bây giờ nàng ấy đã là Cẩn thái phi. Thật ra ta cũng đã thành Dao thái phi, chỉ là ta vẫn thấy mình còn nhỏ dại.

Hôm đó trời đẹp, nắng chiếu nghiêng nghiêng bên cửa sổ. Nàng ấy ngồi mỉm cười nhìn ta thu chỗ này, dọn chỗ kia, Xu Ninh ngồi trên đùi nàng ấy chơi với một quả đu đủ.

- Tiên hoàng thực sự rất thích muội.

Ta không biết phải đáp lời này thế nào.

Cẩn thái phi đối xử với Hoàng thượng khác hẳn với người trong cung, ta biết rõ, có lẽ nàng ấy là người yêu bệ hạ nhất.

Thất tịch năm ấy, ta từ cung An Khánh về, nàng ấy tỉ mỉ kể lại chuyện cũ của Nghi phi cho ta nghe. Ngày ấy ta vẫn chưa hiểu chuyện tình ái, với Hoàng thượng vẫn còn mù mờ. Lúc ngẩng lên nhìn nàng ấy, lần đầu thấy mắt nàng ấy đỏ hoe.

Thật ra mười bảy, mười tám tuổi, ta không phải chuyện gì cũng không biết, chỉ là thấy bệ hạ tốt với ta, ta cũng muốn tốt với người.

Ở trong cung lâu dài, mới biết lòng người phức tạp thế nào. Ta từ từ coi bệ hạ như phu quân, lúc người ôm ta, hẳn cũng đã coi ta như thê tử. Nhưng dù sao bệ hạ vẫn là Hoàng đế.

Trung thu, giao thừa, ta nâng chén rượu kính người ta yêu cùng Hoàng hậu cầm sắt hòa minh, bọn họ ngồi ở trên cao nhìn xuống, thong dong bình thản. Lúc họ nhìn nhau cười thân thiết, ta ngơ ngác nghĩ mình chỉ là một vị khách qua đường.

Ta vẫn chưa từng nói, ở trong Hoàng cung mười hai năm trời, hai năm đầu là thời gian ta hạnh phúc nhất.

Lúc ấy ta đã gặp được rất nhiều người. Như Di tần, Gia phi, Hoàng hậu, Thục phi, họ có người thích ta, có người không thích ta.

Thật ra chuyện này rất đơn giản, thích một người thì thường đến gặp, không thích thì tránh mặt nhau ra. Ta chỉ là một Thường tại nhỏ bé không có địa vị, cũng chẳng có tham vọng gì xa xôi. Không có toan tính, cũng chẳng ai mưu tính gì ta, cũng coi như tự do tự tại.

Hai năm sau, ta sinh tình với Hoàng thượng. Bệ hạ vừa dùng ánh mắt thâm tình nói thích ta, vừa để ta lẻ loi trong cung Đường Lê thật lâu.

Trong mười năm này, ta gặp bệ hạ tổng cộng 176 lần.

176 bóng lưng của bệ hạ, đã trói buộc ta cả đời.

Cẩn phi nương nương nói với ta, yêu một người sâu đậm chưa chắc đã nhận được đáp trả tương đương. Nhưng những việc muội muốn làm vì người đó, thì cứ làm là được.

Ta không biết nàng ấy mất bao nhiêu năm mới có thể tĩnh tâm yêu một người như vậy. Nhưng ta, không làm được. Chẳng phải yêu một người, thì muốn ở bên cạnh người đó, yêu một người sẽ mong không bị ai cản trở, chẳng lẽ đây không phải nhân chi thường tình sao?

Ta từng nằm mơ. Mơ thấy ta và bệ hạ là một cặp phu thê bình thường. Có lúc ta mơ thấy bệ hạ viết chữ trên lưng ta, lúc lại đứng dưới bóng cây lựu, mỉm cười không nói.

Thức giấc, ta đã nghĩ, nếu chúng ta thực sự chỉ là một phu thê bình thường, có lẽ có thể cùng nhau đi dạo. Người sẽ mỉm cười cài trâm lên búi tóc cho ta, hoặc ta có thể rửa tay xuống bếp nấu canh cho người, mà không phải chỉ có thể đeo hộ giáp xa hoa bóc cho người vài hạt sen.

Về sau ta chẳng còn nằm mơ nữa. Bởi vì dù ở trong mơ, ta chẳng thể thật sự vẽ ra những chuyện xa vời kia.

Ta không tranh giành, vì vốn chẳng có gì để tranh.

Những người đi tranh sủng không khỏi quá tự cao, cho rằng tâm ý của Hoàng thượng là thứ có thể tranh đoạt. Thực ra Hoàng thượng không thuộc về bất cứ ai. Bệ hạ nhìn phi tử hậu cung như nhành hoa, cánh chim bay mà thôi, muốn sủng ái thì thì sủng ái người đó.

Như khi người sủng hạnh Phương quý nhân, Thục phi vẫn là Thục phi cao quý. Khi người lạnh nhạt Phương quý nhân, nếu không được sủng ái thì người vẫn không đến thôi.

Huống chi, bệ hạ đã cho ta đủ nhiều. Gia thế ta tầm thường, không thể giải quyết chuyện trong hậu cung. Ngồi ở vị trí này được người thương mến đã khiến người khác ghen tị rồi. Ta tin tưởng tấm lòng của bệ hạ, cũng chấp nhận vì đó mà ngoan ngoãn hơn, không làm người thêm phiền lòng.

Chỉ có một lần duy nhất ta ương ngạnh, là năm Hân Uyên bốn tuổi.

Năm ấy có hai chuyện lớn, một là Hoàng hậu qua đời, hai là tháng chín cha có công nên được thăng làm Tri phủ. Sang thu, ngoài cung truyền tin, mẹ bị ho mãi không khỏi, đã tìm danh y khắp nơi mà vẫn ngày một yếu đi, cơm nước không vào, chỉ nhờ thuốc duy trì. Bà sợ ta lo lắng nên mãi mới cho người tới báo.

Ta nghe xong trước mắt tối sầm, nước mắt như mưa, nghẹn ngào chạy thẳng đến điện Cần Chính, không chờ người thông báo đã vọt đến trước mặt bệ hạ, quỳ xuống cầu xin người cho ta xuất cung gặp mẹ.

Bệ hạ mặc áo choàng xanh đen đứng trước mặt ta, ta nhớ người nói rằng Hậu vị bỏ trống, là lúc ánh mắt cả Hậu cung đổ dồn vào. Cha của ta mới thăng chức, lúc này đặc cách cho ta xuất cung sẽ khiến lòng người bất ổn. Tình hình Tây Bắc còn hỗn loạn, huynh trưởng của Thục quý phi đang chiến đấu.

Ta vẫn đang quỳ, không thấy được mặt của bệ hạ, cũng không nghe rõ người đang nói gì. Ta chỉ biết cuối cùng người chậm chạp ngồi xuống, ôm lấy ta.

Người nói:

- Ý Tùy, trẫm là vua một nước.

Ta nhìn bệ hạ, vừa thấy quen thuộc, vừa xa lạ. Ta biết tính tình của người, chuyện người đã quyết sẽ không thay đổi. Ta không nói gì cả, chỉ nhìn người thật lâu, không biết bao lâu đã qua, ánh mắt người vẫn nói rằng, không thể.

Ta lau nước mắt đứng dậy, cả người lảo đảo suýt ngã sụp xuống. Ta hành lễ lui ra, bệ hạ không nói gì nữa.

Nửa tháng sau, mẹ qua đời.

Từ đây, ta trở thành đứa trẻ không mẹ.

Ta nhớ lúc mẹ vào thăm hồi mới sinh Hân Uyên. Bà ấy nhìn ta, vừa vui mừng vừa xót thương, cười nói được mấy câu là khóc, bà lại lau nước mắt, mừng rỡ nói với ta thật nhiều.

Trước khi ra về, bà đã lau nước mắt cho ta, nói:

- Ý Tùy đừng khóc, lần sau mẹ lại vào thăm con.

Nói xong là khóc, hai mẹ con ta đều nghĩ, không biết lần sau là lúc nào?

Là lúc nào chứ?

Bây giờ chỉ có kiếp sau.

Sau chuyện này, phải nửa năm ta không gặp được bệ hạ. Có lúc người sẽ gọi Hân Uyên đi nhưng không bước chân vào cung Đường lê nửa bước. Ta không biết trong sự xa cách này mấy phần do công vụ bận rộn, mấy phần do người thấy hổ thẹn.

Bệ hạ không cần hổ thẹn, việc này vốn do ta quá phận, ta biết, ta cũng không hận người.

Chỉ là sau đó, ta không còn đưa ra thỉnh cầu gì với người nữa. Có lúc bệ hạ hỏi ta, Ý Tùy có muốn ăn kẹo hồ lô không? Ta chỉ cười đáp, thần thiếp cảm thấy điểm tâm trong cung rất ngon, không thích những món ăn phố phường kia.

Gia phi cảm thán rằng, Hoàng cung có thể mài mòn tâm tính một người. Không ngờ Từ thường tại nghịch ngợm của cung Đường Lê sẽ có ngày trở thành Dao tần thận trọng điềm tĩnh.

Dao tần, Dao tần là ai? Có lúc ta soi gương, bỗng thấy chính mình sao xa lạ.

Mấy năm đó, ta có thể coi là thịnh sủng. Hoàng tử công chúa đều do bệ hạ tự đặt tên, mỗi khi có tiến cống hoặc ngày lễ tết, phủ Nội Vụ mang tới rất nhiều quà. Mười lăm bệ hạ ở bên Hoàng hậu theo quy củ, mười sáu người đều ở cung Đường Lê.

Bệ hạ nghĩ cách để ta được sống tự tại, người biết ta thích tự do, người luôn nói, nếu nàng không thích thì không cần đến chỗ đông đúc kia đâu.

Trong lòng ta cũng biết bệ hạ lấy danh nghĩa treo đèn cho công chúa chơi, thật ra vì chiều ta mà thôi.

Thậm chí người phong Phi cho ta.

Chúng ta cùng trải qua giao thừa cuối cùng, ta mơ màng cảm nhận được đầu ngón tay của người lướt qua lông mày đến gò má ta, ta nhẹ nhàng tránh đi, người cười trầm trầm.

Sau đó bệ hạ ôm ta thật chặt.

Nhiều năm qua, ta từ từ học cách yêu bệ hạ, thậm chí đã làm được như lời Cẩn phi nói. Yêu mà không cần tính toán sẽ cho người bao nhiêu, giữ lại cho mình bao nhiêu. Ngày tháng trong cung không mấy vui vẻ, nhưng ta chấp nhận vì bệ hạ mà ở lại cả đời.

Bệ hạ ra đi, ta bỗng thấy Hoàng cung này u ám, tĩnh lặng khiến người ta tuyệt vọng. Nếu có kiếp sau, mong chúng ta được làm một đôi phu thê tầm thường mà không phải bệ hạ lớn hơn ta mười sáu tuổi, lại là một Hoàng đế thân bất do kỷ.

Quân sinh ngã vị sinh

Ngã sinh quân dĩ lão

Hận sinh bất đồng thời

Nhật nhật dữ quân hảo

Ta choàng tỉnh, xe đã đi được một lúc lâu, Tử Cấm Thành ngày một lùi xa. Ta nhìn ánh nắng chiều đỏ bừng nơi chân trời, khóe miệng khẽ nhếch lên.

Đã lâu thật lâu, ta chưa được nhìn thấy bầu trời rộng lớn như vậy.

Lại qua một lát, phu xe dừng ngựa, Tiểu Trịnh Tử vén rèm xe nói rằng đã đến nơi rồi. Ta cho Hân Uyên xuống xe trước mới bế Xu Ninh nuống. Trước mặt là một phủ đệ mái lợp ngói xanh, biển viết “phủ Bối tử”.

Bốn phía là hai, ba ngõ nhỏ thông ra đường lớn, là một nơi thanh tĩnh thưa người.

Tiểu Trịnh Tử bàn giao xong với các phu xe thì dẫn chúng ta vào trong phủ. Hắn nói rằng người hầu kẻ hạ trong phủ đã được sắp xếp xong xuôi, quản gia là đồ đệ dưới tay hắn, trước đây từng hầu hạ tiên hoàng, vì chân bị thương nên rời cung, là người rất chu đáo.

Ta nói cảm ơn rồi chào hỏi quản gia, Tiểu Trịnh Tử bàn giao xong thì ra về.

Cơm tối đã được nấu xong, ăn xong ta sai hạ nhân đưa Hân Uyên và Xu Ninh đi tắm rửa thay quần áo rồi một mình đi vào nội viện.

Ta ngủ trong tiểu viện chính giữa, trong sân trồng hai cây lựu, mắc một chiếc xích đu. Ta ngỡ ngàng tưởng mình hãy còn ở cung Đường Lê.

Có lẽ do sợ chủ nhân mới đến lạc đường, nên phòng nào cũng thắp nến.

Ta tiến lên đẩy cửa bước vào, lướt qua rèm che mỏng, ta nhìn thấy một bóng người đang ngồi đọc sách. Cái bóng thon gầy, trắng xám quen thuộc.

Hai mắt ta mở to, nước mắt mịt mờ.

Người buông quyển sách, giọng nói nghẹn ngào mang ý cười.

- Ý Tùy.

[Hết ngoại truyện]

(1) Trích trong bài thơ Nhất tiễn mai của Lý Thanh Chiếu

Hồng ngẫu hương tàn ngọc điệm thu,

Khinh giải la thường,

Độc thượng lan chu.

Vân trung thuỳ ký cẩm thư lai.

Nhạn tự hồi thì,

Nguyệt mãn tây lâu.

Hoa tự phiêu linh, thủy tự lưu.

Nhất chủng tương tư,

Lưỡng xứ nhàn sầu.

Thử tình vô kế khả tiêu trừ,

Tài hạ mi đầu,

Khước thượng tâm đầu.

Bản dịch thơ sưu tầm trên forum Thi m Lầu:

Sen hồng hương lạt gối ngọc loang.

Cởi lần áo mỏng,

Bước xuống thuyền lan.

Trong mây ai gởi khăn thư tới.

Chữ nhạn về thời,

Trăng ngợp lầu tây.

Hoa kia tơi tả nước xuôi dòng,

Một giống tương tư,

Đôi ngả sầu đong.

Tình này chẳng cách vợi nỗi mong,

Vừa lọt mi cong,

Lòng dâng muôn nỗi.

(2) Được trích trong bài thơ Vô Đề, chưa rõ tên tác giả:

Quân sinh ngã vị sinh

Ngã sinh quân dĩ lão

Quân hận ngã sinh trì

Ngã hận quân sinh tảo

Quân sinh ngã vị sinh

Ngã sinh quân dĩ lão

Hận sinh bất đồng thời

Nhật nhật dữ quân hảo

Quân sinh ngã vị sinh

Ngã sinh quân dĩ lão

Ngã ly quân thiên nhai

Quân cách ngã hải giác

Quân sinh ngã vị sinh

Ngã sinh quân dĩ lão

Hóa điệp khứ tầm hoa

Dạ dạ tê phương thảo

(Bài thơ này đã được phổ nhạc, tên là Quân Khanh Từ do Âm Tần Quái Vật và Tiểu Ái Đích Mụ hát, các bạn có thể tìm trên youtube nhé).
 
Back
Top Dưới