Khác Percy Jackson và các vị thần trên đỉnh Olympus [Full]

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 1 - Chương 20: Ẩu đả với người bà con xấu tính


Tàu tuần dương đưa ba đứa lên bờ nhưng họ không hơi đâu bận tâm hơn nữa đến ba đứa trẻ nghịch dại, ăn mặc như bụi đời dám bơi ra giữa vịnh.

Cả thành phố nhốn nháo giải quyết hậu quả từ thảm họa thiên nhiên vừa qua.

Tiếng bộ đàm báo tin nguy cấp réo liên tục trên thuyền.

Quấn khăn tắm cho cả ba, cho mỗi đứa mấy chai nước, họ thả chúng tôi lên cầu tàu Santa Monica rồi rú ga phóng đi cứu người bị nạn.

Quần áo chúng tôi ướt sũng, tôi cũng không ngoại lệ.

Lúc tàu tuần dương phóng tới, tôi thầm cầu trời để quần áo tôi cũng ướt nếu không sẽ rắc rối to.

May quá, phép thần thông khiến quần áo khô ngay cả khi dưới nước tạm thời hết linh nghiệm.

Tôi đi chân đất, cho Grover mượn giày.

Đội tuần dương sẽ thắc mắc nếu thấy cặp móng guốc của nó.

Tàu cập bến, chúng tôi bước thấp bước cao nhìn thành phố bốc cháy rừng rực trong nắng sớm.

Tôi cảm giác mình như vừa từ cõi chết trở về.

Tia Chớp của Zeus đè nặng trên lưng.

Nỗi đau không cứu được mẹ đè nặng trong ngực.

Annabeth phẫn nộ nói: "Thật không thể tưởng tượng được!

Ba đứa vất vả ngược xuôi để rồi..."

"Trò gian manh này dễ sợ thật!

Qua mặt cả con gái nữ thần Athena."

Tôi trêu.

Annabeth nhăn nhó: "Coi chừng tớ đấy!"

"Cậu hiểu đầu đuôi chưa?"

"Ừ."

Annabeth ỉu xìu đáp.

Grover phàn nàn: "Nhưng tớ chưa hiểu.

Hai cậu..."

"Percy, tớ rất tiếc chuyện mẹ cậu!"

Annabeth buồn bã nói.

Tôi cắn răng im lặng.

Chỉ cần nói một câu về mẹ, tôi sẽ khóc òa như con nít.

Tôi phân trần: "Lời Sấm Truyền rất đúng.

'Ngươi sẽ đi theo hướng tây, gặp vị thần tráo trở.' Chỉ có điều đó không phải Hades.

Ông ta không muốn Bộ Tam Vĩ Đại bất hòa.

Thủ phạm là người khác rất giỏi nghề đạo chích: hắn vừa trộm Tia Chớp của Zeus, mũ tàng hình của Hades rồi đổ vấy tội lên đầu con trai thần Poseidon.

Cha tớ bị cả anh và em trai nghi ngờ.

Chiều nay, cả ba bên sẽ đánh nhau tơi bời.

Trong mắt mọi người, tớ là nguyên nhân gây hấn."

Grover lắc đầu: "Nhưng ai nham hiểm quá như vậy?

Ai thèm nhìn máu đổ nhiều như thế?"

Tôi đứng sững, nhìn ra biển: "Từ từ để tớ đoán."

Kia rồi, ông ta đang đợi chúng tôi với chiếc áo da và kính mát phủ bụi.

Ông ta vác gậy bóng chày bằng nhôm trên vai.

Sau lưng ông là chiếc mô tô nổ máy kêu bình bịch.

Đèn pha biến cát trắng thành đỏ.

Hình như thấy tôi, ông ta mừng thật sự: "Chào nhóc!

Tưởng ngươi chết lâu rồi chứ?"

"Ông cài bẫy tôi!

Chính ông lấy cắp cả Tia Chớp lẫn mũ tàng hình."

Thần Ares cười nhăn nhở: "Chớ nói thế!

Đích thân ta thì không.

Có bao giờ thần này đụng vào bảo bối của thần kia được.

Nhưng đâu phải trên đời chỉ mình ngươi làm việc vặt cho ta."

"Ông mượn tay ai?

Clarisse chắc?

Hóa ra hôm Đông chí, nó cũng lên đỉnh Olympus à?"

Thần Ares cười cợt: "Thôi bỏ đi!

Vấn đề là mày chọc gậy bánh xe, cố tình ngăn chặn chiến tranh.

Này nhé, nếu mày chết dưới Địa ngục, ông già mày sẽ thù Hades giết con.

Hades chiếm Tia Chớp.

Zeus sẽ thù Hades.

Trong lúc đó, Hades sẽ tìm cái này..."

Ông ta lấy mũ lưỡi trai trong túi móc lên tay ga của xe mô tô.

Đây là loại mũ trùm kín mặt, chỉ chừa hai mắt bọn cướp ngân hàng thường đội.

Nó lập tức biến thành mũ đồng trang trí cầu kỳ của lính Hy Lạp cổ.

Grover hốt hoảng: "Mũ tàng hình của thần Hades!"

"Phải!

Ta đang nói đến đâu rồi nhỉ?

Vì nghi hai em lấy mũ, Hades thù cả Zeus lẫn Poseidon.

Chẳng bao lâu, cuộc chiến tay ba bùng nổ.

Thiên hạ tha hồ xem."

"Nhưng họ đều là máu mủ ruột rà của ông kia mà?"

Annabeth bất bình nói.

Ares nhún vai: "Người nhà đánh nhau mới hay chứ.

Cuộc chiến huynh đệ tương tàn bao giờ cũng đẫm máu nhất.

Nhìn anh em ruột choảng nhau thích không thể tả."

"Ông đưa tôi ba lô ở Denver.

Hóa ra Tia Chớp có ở trong ba lô từ lúc ấy."

"Nói thế vừa đúng vừa không đúng.

Chuyện đời phức tạp, mày không hiểu được đâu.

Để tao gợi ý cho: ba lô là bao của Tia Chớp.

Tia Chớp luôn đi đôi với nó giống thanh kiếm luôn trở về túi áo mày."

Đúng là Thần Chiến Tranh có khác, rành mọi loại vũ khí trên đời.

"Tao đã chỉnh sửa tí chút sao cho mày xuống Địa ngục, Tia Chớp mới tìm được vỏ.

Mày thành nhân viên bưu điện mang đồ cho Hades.

Còn nếu mày chết dọc đường, tao chẳng thiệt hại gì.

Tia Chớp vẫn thuộc về ta."

"Nhưng sao ông không giữ Tia Chớp mà gửi cho Hades?"

Thần Ares nghiến răng.

Trong một thoáng hình như ông ta suy nghĩ đâu đâu: "À... phải... ta giữ vũ khí lợi hại ấy cũng được mà..."

Ông ta thẫn thờ đến hai ba giây rồi bừng tỉnh: "Ta không muốn chuốc họa vào thân.

Với lại để thiên hạ bắt quả tang mày cầm thứ đó mới vui."

"Nói dối!

Đưa Tia Chớp xuống Địa ngục không phải ý của ông!"

"Phải mà!"

Kính ông ta bốc khói, như thể sắp bốc cháy đến nơi.

"Ông không ra lệnh ăn trộm.

Người khác cử con lai xoáy cả hai thứ.

Khi Zeus phái ông đi săn kẻ trộm, ông bắt được tay đạo chích.

Nhưng ông không giao nộp hắn cho Zeus.

Không hiểu vì lẽ gì ông tha cho hắn.

Ông giữ hai bảo bối, chờ một con lai khác giao hàng theo ý ông.

Ông răm rắp nghe yêu quái dưới vực."

"Thần Chiến Tranh không làm tôi cho ai hết!

Ta cũng chẳng mộng mị như ngươi!"

"Tôi có kể chuyện gặp ác mộng cho ông đâu nhỉ?"

Tôi hỏi vặn.

Ares lúng túng, nhưng bĩu môi đánh trống lảng: "Quay lại chuyện đang bàn dở đi nào!

Mày còn sống là không ổn.

Tao không thể khoanh tay để mày đem Tia Chớp lên đỉnh Olympus được!

Mấy gã to đầu trên đó tin lời mày thì nguy.

Thế nên, tao buộc phải giết mày thôi.

Thực lòng, tao không thù hằn gì mày hết."

Hắn búng tay.

Cát dưới chân hắn nổ tung, một con lợn lòi xông tới.

Con này to hơn, xấu mã hơn con bị treo đầu trước cửa Nhà Số Bảy.

Quái thú bới cát, mắt long sòng sọc, răng nanh nhọn hoắt chĩa về phía tôi chờ lệnh chủ.

Tôi bước xuống mép nước.

"Ông không dám một chọi một với tôi ư?"

Ông ta cười nhạt, có vẻ sợ sệt: "Trong ba mươi sáu chước, mày thích chước chuồn nhất phải không?

Thấy Chimera cũng quay đầu bỏ chạy, xuống Địa ngục cũng chạy bán sống bán chết.

Sao không đương đầu giành lấy những gì thuộc về mày ấy?"

"Ông sợ chứ gì!"

"Mày đừng có mơ!"

Cặp kính sắp bị lửa sau mắt nấu chảy.

"Tuy nhiên, tao không để tay nhúng chàm!

Rất tiếc, nhưng tao không thèm đánh nhau với đồ nhãi nhép!"

Annabeth kêu thét: "Percy, chạy đi!"

Con lợn lòi xông tới.

Nhưng tôi chán phải chạy trốn lắm rồi.

Từ giờ trở đi tôi sẽ đối mặt với tất cả.

Dù là lợn lòi, là Ares, là Hades hay bất cứ ai.

Tôi rút gươm tránh đường quái thú hung dữ.

Lúc thanh gươm dài hết cỡ, tôi chém mạnh xuống.

Răng nanh con vật rơi xuống chân tôi.

Mất phương hướng, quái thú chạy thẳng ra biển.

Tôi ra lệnh: "Nổi sóng lên!"

Lập tức sóng lớn trùm lên người yêu quái, quấn lấy nó như tấm chăn.

Quái thú giãy đành đạch trước khi biến mất.

Tôi quay sang Ares: "Giờ ta đấu tay đôi hay ông quyết định núp sau mông con lợn khác?"

Ares giận tím mặt: "Ăn nói cẩn thận kẻo tao biến mày thành..."

"Thành con gián hay sâu đo, miễn sao ông không bị đét đít.

Tôi nói đúng không nào?"

Lửa nhảy múa trên kính Ares.

"Mày cầu xin tao xay mày thành cháo đấy à?"

"Nếu thua, tôi biếu ông Tia Chớp.

Ông thích biến tôi thành gì cũng được.

Nhưng nếu ông thua, cả Tia Chớp lẫn mũ tàng hình đều của tôi.

Còn ông đi đường ông, cấm làm phiền nhau nữa."

Ares gầm gừ.

Hắn vác gậy bóng chày lên vai: "Mày muốn chơi nhau kiểu cổ điển hay hiện đại?"

Tôi vung kiếm.

"Hay lắm!

Vậy cổ điển nhé!"

Gậy bóng chày biến thành gươm hai lưỡi cỡ lớn.

Chuôi kiếm bạc hình đầu lâu ngậm hồng ngọc lấp lánh.

Annabeth can: "Percy, bỏ đi!

Ta không đấu lại với thần đâu!"

"Nhưng hắn hèn lắm..."

Cô bạn tôi nuốt khan: "Vậy đeo cái này đi!

Chúc may mắn đấy!"

Annabeth gỡ dây đeo bằng da đeo vào cổ tôi.

"Cùng hợp sức nào, Poseidon và Athena sát cánh lần này!"

Tôi cười ngượng: "Cảm ơn cậu!"

"Cầm cái này nữa!"

Grover đưa tôi vỏ hộp thiếc bẹp dí.

Hình như nó mang theo từ lúc khởi hành từ Trại Con Lai.

"Mọi thần rừng đều ủng hộ cậu."

"Grover... không biết cảm ơn cậu sao cho đủ!"

Nó vỗ vai tôi.

Tôi loay hoay cất vỏ hộp vào ba lô.

Ares đến gần, vạt áo da mở phanh bay phần phật, kiếm tuốt trần bắt nắng sớm như sắp bốc lửa: "Chúng mày vĩnh biệt nhau xong chưa?

Ta bất tử, sức lực không bao giờ cạn.

Mày có tài gì nào?"

Tôi thầm nghĩ: "Tôi không ngạo mạn như ông", nhưng không nói ra.

Vẫn dầm chân dưới nước ngập đến mắt cá, tôi nhớ lời Annabeth trong quán ăn hôm nào: Ares có sức mạnh hơn người nhưng chỉ thế mà thôi.

Đôi khi sức mạnh phải thua trí thông minh.

Kiếm thần Ares chém mạnh xuống đầu tôi nhưng tôi không còn đứng chỗ cũ.

Cơ thể tôi tự tính toán mau lẹ.

Nước hất tôi lên cao còn tôi lao về phía Ares vung kiếm nhưng hắn nhanh nhẹn tránh được.

Ares vặn người khiến kiếm tôi đáng lẽ chém trúng sống lưng đối thủ thì giờ chỉ làm chệch cán kiếm của Ares.

Hắn nhăn nhở nói: "Khá lắm!"

Kiếm của hắn phạt ngang, buộc tôi phải nhảy lên bờ.

Tôi cố nhảy sang bên, trở lại mép nước nhưng hình như Ares đoán được suy nghĩ của tôi.

Hắn xông tới áp đảo, tấn công dồn dập khiến tôi cố hết sức chống đỡ và càng lúc càng xa mép nước.

Tôi chờ mãi nhưng Ares không sơ hở.

Hơn nữa, kiếm của hắn dài hơn Thủy Triều.

Tôi nhớ hồi học kiếm thuật, Luke thường bảo: "Nếu kiếm của chú ngắn hơn đối thủ, hãy tìm cách rút ngắn khoảng cách."

Tôi xấn tới, xỉa thẳng mũi kiếm.

Ares chỉ chờ có thế.

Hắn hất kiếm khỏi tay tôi, đoạn co chân đạp mạnh ngực tôi.

Tôi bay lên, cách mặt đất gần mười mét.

Nếu không rơi trúng đụn cát, có lẽ tôi đã gãy xương sống rồi.

Annabeth hét to: "Percy, cảnh sát tới!"

Nhìn một thành hai, ngực đau ê ẩm nhưng tôi gượng đứng dậy.

Nếu ngoái đầu nhìn, chắc chắn Ares xé đôi người tôi ngay.

Tôi liếc ngang thấy ngoài lộ đèn đỏ loang loáng.

Có tiếng sập cửa xe rầm rầm.

Có tiếng la lối: "Cảnh sát!

Có đánh nhau đằng kia kìa."

Giọng bực bội đáp: "Giống thằng bé trên tivi... cái gì thế này..."

Nhân viên cảnh sát đi cùng bảo: "Hắn có vũ khí.

Gọi cứu viện đi!"

Tôi lăn người.

Kiếm của Ares rạch xuống cát.

Vùng dậy chạy đến bên kiếm, tôi nhặt lên vung tay phạt ngang mặt thần Ares, nhưng bị trượt.

Hình như hắn biết đón ý trước khi tôi kịp ra tay.

Tôi lùi xuống nước, buộc hắn xuống theo.

Ares đắc thắng nói: "Thú nhận đi, bé con!

Ngươi chỉ là món đồ chơi trong tay ta.

Đừng hy vọng thoát!"

Mọi giác quan hoạt động hết tốc lực, tôi nhớ Annabeth từng nói chứng mất tập trung, hiếu động thái quá khiến tôi sung sức khi giao tranh.

Lúc này, tôi tỉnh táo lạ thường, không bỏ sót chi tiết nào.

Trước mặt tôi, Ares thật sự căng thẳng.

Tôi biết trước hắn sẽ ra đòn gì.

Đồng thời, tôi thấy Annabeth và Grover cách tôi mười thước.

Xe cảnh sát thứ hai thắng két, còi rú inh ỏi.

Dân chúng hiếu kỳ rủ nhau kéo tới, trong đó vài người tập tễnh giống thần rừng cải trang.

Thấp thoáng đâu đó bóng dáng các linh hồn như thể âm binh từ Địa ngục đến xem tận mắt cuộc giao tranh.

Tiếng roi da vun vút lướt qua trên đầu.

Lại thêm còi xe cảnh sát.

Tôi tiến xa hơn xuống nước nhưng Ares nhanh như cắt.

Mũi kiếm nhọn sắt của hắn đâm toạc tay áo, sượt qua da tôi.

Cảnh sát gí miệng vào loa: "Hai người hạ ngay vũ khí!

Thả súng xuống đất!

Nhanh lên!"

Súng nào?

Vũ khí trên tay Ares biến hình liên tục, hết thành súng ngắn lại biến thành kiếm hai lưỡi.

Dù người thường thấy gì trong tay tôi thì thứ ấy cũng không làm cho họ yêu mến tôi hơn.

Ares trừng mắt nhìn đám đông, khiến tôi có thời gian kịp trấn tĩnh.

Giờ đã có năm xe cảnh sát quây xung quanh và sĩ quan đứng thành hàng sau xe, súng ngắn chĩa thẳng vào chúng tôi.

Ares gầm lên: "Biến đi!

Cho người trong nhà giải quyết việc riêng!"

Hắn vung tay.

Lửa đỏ chạy trên dãy xe cảnh sát.

Nhóm sĩ quan chỉ kịp lao đầu tránh trước khi xe nổ như bom.

Đám đông la hét, bỏ chạy tán loạn.

Ares cười rống lên: "Nào nào, vị anh hùng bé nhỏ!

Ta sẽ cho cậu tham dự vào món thịt nướng nhé!"

Hắn xốc kiếm thẳng tới.

Tôi kịp thời chặn ngay và tiến sát, đủ ra đòn chí mạng nhưng một lần nữa, Ares tránh được.

Nước đến ngang lưng tôi, nhưng chỉ đến đùi Ares.

Hắn đang lội theo tôi.

Sóng biển vỗ nhịp nhàng, càng vào bờ sóng càng lớn.

Tôi nảy ra một ý.

Sóng nhỏ.

Nước triều đang rút.

Tôi dùng ý chí giữ sóng lại nhưng sức ép tăng mãi, như khí gas dưới nút chai nước ngọt.

Ares vừa cười đắc ý vừa sấn tới.

Tôi hạ kiếm như thể đã mệt nhoài không thể chiến đấu tiếp.

Tôi khẽ nói với biển: Ráng chờ thêm chút nữa.

Sức ép của nước nâng tôi lên dần.

Thần Ares vung kiếm.

Tôi thả sóng, nhảy lên.

Con sóng đưa tôi vút lên cao bay qua đầu thần Ares.

Bức tường nước cao gần hai mét vỗ thẳng vào mặt hắn.

Ares chửi bới, nhổ phì phì rong rêu vừa tạt vào miệng mình.

Tôi tiếp đất sau lưng hắn và làm động tác giả như lúc nãy khiến hắn tưởng tôi định chém đầu mình.

Ares xoay người giơ kiếm đỡ nhưng lần này hắn mất phương hướng vì không đoán được ý tôi.

Tôi đổi hướng, vung gươm chém xuống nước.

Mũi kiếm xuyên qua gót chân Ares.

Tiếng gầm của hắn khiến động đất trở thành chuyện nhỏ.

Con sóng khi nãy rút ra xa, để lại hố cát rộng đường kính hơn mười lăm mét.

Ichor, máu vàng của thần thánh, chảy từ gót chân bị thương thấm qua giày Thần Chiến Tranh.

Gương mặt hắn méo xẹo bởi bao cảm xúc giằng xé: uất hận, đau đớn, ngạc nhiên tột cùng vì Ares không ngờ tôi có thể đâm hắn bị thương.

Đi cà nhắc về phía tôi, Ares lầm bầm chửi bằng ngôn ngữ cổ.

Nhưng không hiểu sao hắn sững lại.

Lúc đầu tôi tưởng mây che mặt trời nhưng không phải.

Ánh sáng nhạt dần.

Âm thanh, màu sắc kém hẳn.

Có cái gì nặng nề, lạnh lẽo phủ trên bờ cát.

Thời gian như ngừng trôi, nhiệt độ tụt xuống điểm đóng băng khiến tôi tràn ngập cảm giác đời tuyệt vọng, ý chí đấu tranh bị bẻ gãy.

Bóng tối ngập tràn.

Ares sững sờ.

Quanh hai chúng tôi, xe cảnh sát cháy rừng rực.

Đám đông hiếu kỳ tan rã.

Annabeth và Grover tròn mắt nhìn nước dâng trở lại quanh chân thần Ares và nước biển pha loãng dòng máu như vàng lỏng chảy từ chân hắn.

Ares hạ kiếm.

"Nhãi con dám gây thù chuốc oán với ta.

Vậy thì đời ngươi coi như tàn rồi.

Từ nay trở đi, mỗi lần vung kiếm giao tranh, mỗi lần hy vọng chiến thắng ngươi sẽ nếm mùi lời nguyền rủa của ta.

Percy Jackson, nhớ mặt ta nhé!"

Toàn thân hắn sáng rực.

Annabeth la to: "Percy, đừng nhìn hắn!"

Tôi quay mặt đi đúng lúc thần Ares hiện nguyên hình.

Linh tính mách bảo rằng nếu tò mò nhìn, tôi sẽ biến thành tro bụi.

Ánh sáng tắt lịm.

Quay đầu lại, tôi thấy Ares biến mất.

Thủy triều rút, mũ tàng hình của Hades hiện ra.

Cúi xuống lấy mũ, tôi ra chỗ các bạn.

Trước khi đến đích, tôi nghe tiếng đập cánh.

Ba bà già đội mũ viền đăng ten, mặt mày hắc ám xách roi từ trên trời bay đến trước mặt tôi.

Nữ thần Báo Thù đứng giữa giống cô Dodds tiến đến.

Bà ta nhe nanh nhưng trông thất vọng, không hung dữ như mọi ngày.

Như thể bà ta sắp ăn sống nuốt tươi tôi nhưng hóa ra tôi làm bà ta khó tiêu, sình bụng.

Bà ta rít lên: "Ta chứng kiến từ đầu đến cuối.

Vậy... thủ phạm không phải là ngươi ư?"

Tôi ném trả mũ tàng hình.

Bà ta thẫn thờ đón lấy.

"Trả cái này cho thần Hades!

Nói thật hết mọi chuyện!

Bảo ông ta rút lại lời tuyên chiến!"

Bà ta ngần ngừ, đưa đầu lưỡi chẻ hai liếm cặp môi nhăn nheo.

"Percy Jackson, ngươi phải giỏi giang hơn người đấy!

Sống như anh hùng đích thực!

Bởi nếu không... ngươi sẽ rơi vào nanh vuốt của ta."

Bà ta cười khùng khục như thể tự tán thưởng câu nói thâm thúy vừa rồi.

Sau đó, bà ta dang cánh bay lên bầu trời mịt mờ tối và khuất dạng.

Tôi đến bên Grover và Annabeth đang ngạc nhiên đứng nhìn.

Grover tán dương: "Percy, cậu thật là..."

"Đáng sợ!"

Annabeth buột miệng.

Grover chữa lại: "Siêu đẳng chứ!"

Tôi không sợ, cũng chẳng thấy mình siêu đẳng gì.

Tôi chỉ mệt, đau khắp mình mẩy và gần như kiệt sức.

Tôi hỏi: "Các cậu có thấy chuyện vừa rồi không?"

Cả hai đều sợ sệt gật đầu.

Grover bảo: "Chắc Ares thấy ba Nữ thần Báo Thù bay đến."

Nhưng tôi không nghĩ thế.

Ares định giết tôi nhưng phải dừng tay.

Thế lực buộc hắn làm thế phải mạnh hơn Nữ thần Báo Thù rất nhiều.

Tôi nhìn Annabeth.

Hai đứa gật gù tâm đắc.

Giờ tôi đã biết thứ dưới vực, lối vào nhà ngục Tartarus, nói vọng lên là gì rồi.

Lấy lại ba lô từ tay Grover, tôi mở ra xem.

Tia Chớp vẫn còn đó.

Cục sắt nhỏ ấy suýt gây nên Đại Chiến Thế Giới Lần Thứ Ba.

"Trước khi trời tối, ta phải có mặt ở New York."

Annabeth cãi: "Không thể được, trừ phi..."

"Ta phải bay thôi."

Annabeth ngạc nhiên: "Ý cậu là đi máy bay ư?

Đừng quên ai cũng bảo cậu chớ nên di chuyển bằng đường hàng không vì thần Zeus sẽ giết cậu dễ dàng.

Còn nữa, cậu đang mang theo thứ vũ khí mạnh hơn bom nguyên tử."

"Ừ!

Chính vì thế mình mới bay.

Ta đi thôi."
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 1 - Chương 21: Tôi đã biết kiềm chế


Con người thật lạ.

Họ biết "đẽo gọt" suy nghĩ cho vừa nhận thức của mình về thực tại.

Tôi nghe bác Chiron nói thế từ ngày xửa ngày xưa nhưng cũng như bao chuyện khác, mãi sau này tôi mới thấm thía và trân trọng sự thông thái của bác.

Theo giới truyền thông Los Angeles, thủ phạm vụ nổ ở Santa Monica là tội phạm chuyên bắt cóc tống tiền điên loạn bắn xe cảnh sát.

Viên đạn tình cờ bay trúng ống dẫn xăng bị bể sau vụ động đất.

Tên bắt cóc điên loạn (ý nói thần Ares) cũng chính là người đã bắt tôi và hai thiếu niên khác ở New York, sau đó chủ mưu tổ chức hành trình xuyên nước Mỹ trong vòng mười ngày đầy ắp các sự kiện kinh hoàng.

Té ra cậu bé Percy Jackson tội nghiệp không phải tội phạm quốc tế.

Cậu ta gây nên cảnh hỗn loạn trên xe buýt ở New Jersey cốt để chạy trốn kẻ bắt cóc mất hết nhân tính. (Gần đây, một số người thề sống thề chết đã thấy gã mặc áo da trên xe buýt!

"Sao lúc trước tôi không nhớ ra nhỉ?") Gã cuồng loạn này cũng gây nên vụ nổ Gateway Arch.

Suy cho cùng, trẻ con nào gây tội tày đình ấy được?

Một nữ phục vụ bàn ở Denver chứng kiến gã bắt cóc đe dọa các em nhỏ, cô gái nhờ bạn chụp hình và báo cảnh sát.

Cuối cùng, cậu bé Percy Jackson dũng cảm lấy trộm súng của tên bắt cóc ở Los Angeles, dẫn đến vụ đấu súng trên bãi biển Santa Monica.

Cảnh sát kịp thời có mặt, nhưng do vụ nổ xe kinh hoàng, năm xe cảnh sát phát nổ và tội phạm thừa cơ trốn thoát.

Hiện chưa có con số thương vong.

Percy Jackson và hai bạn được cảnh sát bảo vệ nên tuyệt đối an toàn.

Các nhà báo bịa chuyện giùm.

Chúng tôi chỉ cần làm ra vẻ buồn tủi, mệt mỏi (trong thời điểm này đóng kịch thế không khó lắm) và đóng vai trẻ em gặp nạn trước ống kính là xong.

Tôi vờ nghẹn ngào trước máy quay: "Cháu chỉ muốn gặp lại cha dượng kính yêu!

Mỗi khi thấy dượng trên truyền hình gọi cháu là tên tội phạm cặn bã, không hiểu sao... cháu vẫn thấy... sẽ có ngày hai cha con lại quấn quýt với nhau.

Dượng tâm sự với cháu, bảo sẽ tặng mọi khách hàng đến từ thành phố Los Angeles hoa lệ ba món hàng hiện có bán trong tiệm do dượng quản lý.

Mọi chi tiết xin liên hệ số điện thoại sau."

Cảnh sát và cánh nhà báo cảm động tận đáy lòng, bèn đứng ra quyên góp tiền mua ba vé cho ba bạn nhỏ lên chuyến bay sớm nhất về New York.

Tôi biết chỉ còn mỗi cách đi máy bay.

Hy vọng thần Zeus xét hoàn cảnh khó khăn hiện tại thương tình không nỡ xuống tay.

Việc cất cánh thật là kinh khủng.

Mỗi một chuyển động của máy bay đều đáng sợ hơn một quái vật thời Hy Lạp cổ đại.

Suốt dọc đường tôi bấu chặt tay lên thành ghế.

Chỉ khi con chim sắt hạ cánh an toàn xuống sân bay LaGuardia, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Báo giới địa phương chờ sẵn ngoài cổng, nhưng Annabeth giúp chúng tôi tránh họ dễ dàng bằng cách dùng mũ tàng hình.

Cô bạn hô hoán: "Ba đứa đang ăn sữa chua trong quán đằng kia.

Đến đó đi, nhanh lên!"

Xong xuôi, cô bé đến băng chuyền lấy hành lý cùng tôi và Grover.

Chúng tôi chia tay nhau ngoài bãi xe taxi.

Tôi bảo Annabeth và Grover về Trại Con Lai trước để báo cho bác Chiron biết tình hình.

Cả hai không chịu, nói đã đi với nhau thì đi đến cùng.

Nhưng tôi biết phần cuối nhiệm vụ này tôi phải làm một mình.

Nếu kế hoạch đổ bể, nếu các thần không tin tôi... tôi muốn Annabeth và Grover sống sót trở về kể cho bác Chiron biết toàn bộ sự thật.

Tôi lên taxi đến Manhattan.

***

Ba mươi phút sau, tôi qua ngưỡng cửa tòa nhà Empire State.

Trông tôi không khác gì thằng ăn mày: quần áo tả tơi, mặt mày bầm tím, phờ phạc bởi trong vòng ít nhất hai mươi tư tiếng đồng hồ qua, tôi chưa hề chợp mắt.

Tôi đến thẳng chỗ nhân viên an ninh sau bàn bảo vệ.

"Cho lên tầng sáu trăm!"

Anh ta đang đọc quyển sách to tướng in hình phù thủy ngoài bìa.

Sách chắc phải hay lắm vì mãi sau, anh ta mới ngẩng đầu lên.

"Nhóc ơi, làm gì có tầng ấy."

"Em muốn yết kiến thần Zeus!"

Anh ta cười ngây ngô: "Gì cơ?"

"Anh nghe rồi còn hỏi."

Cho rằng anh này là người phàm, tôi định quay đầu bỏ chạy vì sợ anh ta gọi cảnh sát còng tay tôi lại.

Nhưng anh ta bảo: "Muốn yết kiến phải hẹn trước chứ.

Thần Zeus không tiếp ai cứ thích là đến xin vào gặp."

Tôi gỡ ba lô, mở khóa cho anh ta xem bên trong.

"Chắc ông sẽ công nhận em là trường hợp đặc biệt."

Thoạt nhìn, anh bảo vệ chưa nhận ra.

Giây lát sau, anh tái mặt: "Có phải..."

"Vâng, chính nó đấy!

Hay anh muốn em mang ra phố để..."

"Ấy, đừng!"

Luống cuống thẻ có mã khóa, anh trao cho tôi: "Đưa cái này qua khe khóa điện tử.

Nhớ đi thang máy một mình thôi nhé!"

Tôi răm rắp nghe lời.

Cửa thang máy vừa đóng, tôi đút thẻ vào khe.

Thẻ biến mất, bảng điều khiển hiện thêm một nút màu đỏ có chữ "Tầng 600".

Tôi nhấn nút rồi chờ mãi.

Tiếng nhạc Muzak êm dịu vang lên: Mưa sao còn rơi mãi xuống đầu tôi

BOONG!

Cửa mở, tôi bước ra và suýt ngất xỉu.

Dưới chân tôi chỉ có hòn đá nhỏ lơ lửng giữa trời.

Manhattan phía dưới cách tôi một khoảng bằng từ chiều cao của máy bay xuống mặt đất.

Trước mặt tôi, đá hoa cương xếp trên viền đám mây xốp, dẫn lên trời.

Mắt tôi lần theo từng bậc thang, đến chỗ não bộ không chịu chấp nhận.

Bộ não ra lệnh: "Nhìn lại đi!"

Hai mặt khăng khăng cãi: "Thì đang nhìn đây!

Nó kia kìa!"

Chóp đám mây bồng bềnh có quả núi cụt ngọn.

Đỉnh của nó phủ tuyết trắng xóa.

Sườn núi nhiều cung điện, mỗi cung điện một kiểu dáng và độ cao thấp khác nhau.

Đó là một thành phố toàn dinh thự.

Nhà nào cũng có cột trắng, thềm dát vàng và lò than nhảy múa hàng ngàn tia lửa sưởi ấm.

Đường xá ngoằn ngoèo rối mắt và đều chạy lên cung điện nguy nga nhất trên đỉnh nổi bật trên nền tuyết trắng.

Quanh cung điện thấp thoáng vườn tược trồng cây ô liu sum suê và hoa hồng rực nở.

Từ đây, tôi nhìn kỹ thấy khu chợ nhiều lều bạt sặc sỡ, nhà hát hình vòng trên sườn núi, rạp ca múa nhạc và một đại hý trường La Mã.

Nó là thành phố Hy Lạp cổ, chỉ có điều mọi thứ đều mới tinh khôi.

Thành phố này sạch sẽ, sống động đầy màu sắc giống thành Athens cách nay hai ngàn năm trăm năm.

Tôi không chịu tin: "Không thể như thế được!"

Chẳng lẽ nó treo lơ lửng trên thành phố New York như tiểu hành tinh nặng cả ngàn tấn?

Đỉnh Olympus đậu ngay trên nóc tòa nhà Empire State nhưng mười bốn triệu dân New York không hề thấy bao giờ?

Nhưng nó ngay trước mắt tôi.

Còn tôi đang đứng ngay trong lòng nó.

Tôi mê mẩn vào thành.

Các nữ thần cây cười khúc khích, ném quả ô liu vào người tôi.

Người bán hàng rong trông chờ mời tôi mua thức ăn nhanh của thần thánh, khiên mới và quần áo dát vàng tuyệt đẹp.

Chín Nữ thần Thơ Ca chỉnh nhạc cụ chuẩn bị cho buổi hòa nhạc sắp bắt đầu giữa công viên.

Khoảng hơn chục người xúm lại thành đám khán giả: họ gồm thần rừng, nữ thủy thần và một nhóm thiếu niên, trai khôi ngô tuấn tú, gái xinh đẹp mỹ miều.

Tôi đoán họ là con các vị thần.

Hình như không ai quan tâm đến cuộc nội chiến sắp bùng nổ.

Ngược lại, ai cũng hớn hở như đi trẩy hội.

Thấy tôi, vài ba người nhìn chằm chằm rồi quay sang rỉ tai nhau.

Tôi lên đường chính nhắm cung điện trên đỉnh núi thẳng tiến.

Cung điện này là bản sao cung điện dưới Địa ngục, chỉ có điều dưới đó xây bằng chất liệu đá đen và đồng, trên bằng đá trắng và bạc.

Chắc chắn khi xây cung điện cho mình, Hades cố tình bắt chước nơi này.

Vì không được lên đây ngoại trừ ngày Đông chí, nên Hades tự xây cung điện Olympus của mình dưới Địa ngục.

Dù lần giáp mặt nhau không có kết thúc tốt đẹp, tôi vẫn thương thay cho Hades.

Không được nơi này chào đón quả là buồn tủi.

Ai vào địa vị Hades chẳng cay đắng trong lòng.

Bậc đá dẫn lên sân chầu.

Cuối sân là phòng bày ngai.

Gọi là phòng không hẳn đúng.

So với nó, nhà ga trung tâm New York giống tủ cất chổi và giẻ lau nhà.

Cột lớn vươn tận mái vòm điểm xuyến bằng những chòm sao.

Mười hai chiếc ngai to bằng ngai của Hades xem theo hình chữ U lộn ngược, giống mười hai nhà ở Trại Con Lai.

Lò sưởi khổng lồ ở giữa cháy rừng rực.

Mọi ghế đều trống ngoại trừ hai ghế đầu hai hàng trái phải.

Không cần nói tôi cũng biết ai đang ngồi đằng kia chờ tôi tới.

Trên đường đi, hai đầu gối tôi run lập cập.

Giống Hades, hai vị thần này đều có bộ dạng giống người phàm.

Nhưng mỗi khi liếc trộm họ, người tôi giần giật như thể sắp bốc cháy.

Thần Zeus, chúa tể các vị thần mặc vest xanh sẫm, sọc nhuyễn.

Ông ta ngồi trên ngai đúc bằng bạch kim kiểu dáng đơn giản.

Râu quai nón của ông màu xám sẫm cắt tỉa cẩn thận, trông như màu mây đen.

Nét mặt ông cương nghị, đẹp và nghiêm trang đi kèm đôi mắt xám nhạt!

Càng đến gần ông, không khí quanh tôi càng khô hanh, lạnh lẽo.

Chắc chắn vị thần bên cạnh là anh thần Zeus.

Tuy nhiên, trang phục của ông ta không hợp với người cao ba mét và đầy quyền uy.

Quần áo ông giống khách nghỉ mát trên biển Key West.

Ông đi xăng đan, mặc quần soóc kaki và áo sơ mi may bằng vải in hình cây dừa và vẹt.

Ngoài nước da bánh mật, hai bàn tay ông sứt sẹo như ngư dân thuở xưa.

Tóc ông đen, giống tóc tôi.

Khuôn mặt ông trầm ngâm, mắt xanh lá cây giống mắt tôi.

Chùm chân chim quanh mắt ông mách tôi rằng chủ nhân của nó rất hay cười.

Ngai của ông giống ghế ngư ông, loại ghế xoay giản dị bọc da đen gắn sẵn vào bao da cho cần câu cá.

Chiếm chỗ cần câu là cây đinh ba bằng đồng, mấy đầu nhọn phát quang màu xanh lục.

Dù hai thần ngồi im không nói, nhưng bầu không khí rất căng thẳng như thể họ vừa cãi nhau to.

Đến gần ghế ngư ông, tôi quỳ mọp: "Con chào cha!"

Tôi không dám nhìn lên, tim đập thình thịch.

Từ hai vị thần toát ra nguồn năng lượng mạnh mẽ.

Nếu tôi ăn nói luống cuống, chắc chắn họ sẽ nghiền tôi thành bụi.

Thần Zeus bên trái tôi thắc mắc: "Chào chủ hộ trước mới phải phép chứ."

Tôi cúi gầm chờ bị quở trách.

Lát sau, thần Poseidon nói đỡ.

Giọng nói của ông nhắc tôi nhớ những kỷ niệm xa xưa nhất: vầng hào quang ấm áp xuất hiện khi tôi còn nằm nôi và cảm giác có bàn tay thần biển đặt trên trán.

"Bình tĩnh đi em!

Con kính trọng cha là điều nên làm mà."

Thần Zeus nóng nảy nói: "Anh vẫn khăng khăng đòi nhận nó à?

Anh phá vỡ lời nguyền thiêng liêng giữa anh em ta, cho ra đời thứ nghiệt chủng này, giờ còn công khai nhận nó thì còn ra thể thống gì nữa."

"Anh đã nhận lỗi rồi còn gì.

Giờ để cháu kể đầu đuôi xem thế nào."

"Lỗi ư?"

Tôi nghẹn ngào.

Hóa ra tôi chỉ là hậu quả của một vị thần trót một lần sa ngã?

Thần Zeus càu nhàu: "Này, tôi tha cho con anh một lần thôi đấy!

Dám bay vào lãnh địa của ta, to gan!

Đáng lẽ tôi đã cho nó nổ tung giữa trời, cho tiệt nọc thói hỗn xược!"

Thần Poseidon điềm đạm nói: "Em sợ mất Tia Chớp thì có.

Thôi để yên cho cháu nó kể."

Thần Zeus còn càu nhàu mãi một lúc nữa mới thôi.

Ông ta dõng dạc: "Được, ta sẽ nghe trước khi quẳng nhãi con này từ đỉnh Olympus xuống New York!"

"Percy, nhìn cha đây!"

Thần Poseidon gọi.

Tôi làm theo để rồi thất vọng.

Gương mặt ông không hề biểu lộ tình yêu thương trìu mến hay hài lòng.

Không thể nói tôi tự tin hơn trong lần đầu được ở bên cha.

Nó giống mặt biển vào những ngày lặng gió, không ai biết đại dương sẽ biến đổi ra sao.

Hầu như nó luôn bí ẩn và khó hiểu.

Lạ thay, tôi mừng vì thần Poseidon tỏ ra cách biệt.

Mọi lời xin lỗi, bày tỏ tình cảm hoặc thậm chí một nụ cười cũng bị coi là giả tạo.

Giống các ông bố người phàm hợp thức hóa chuyện bỏ bê vợ con bằng vài lý do ngớ ngẩn.

Không sao, tôi chịu được.

Suy cho cùng, tôi không hiểu lắm về con người ông.

Cha bảo tôi: "Quay sang thần Zeus và kể những gì con biết!"

Tôi kể chân thực từ đầu đến cuối cho thần Zeus nghe.

Tôi lấy thanh thép hình trụ đặt dưới chân ông.

Thấy mặt chủ nhân nó lấp lánh sáng.

Sau đó là quãng im lặng dài, chỉ có tiếng than nổ lép bép trong lò.

Thần Zeus xòe tay.

Tia Chớp bay lên bàn tay ông.

Khi tay ông nắm chặt, thanh kim loại tóe lửa biến thành quyền trượng dài sáu mét.

Điện phát ra từ đó làm tóc tôi dựng ngược.

Thần Zeus lẩm bẩm: "Có vẻ như thằng bé này nói thật.

Nhưng lần này thần Ares hành xử lạ quá... không giống tính cách bình thường của hắn chút nào."

Thần Poseidon đáp: "Ares bốc đồng và kiêu ngạo.

Con cái nhà ấy vẫn thế mà."

Tôi lên tiếng: "Cho con thưa một chuyện!"

"Chuyện gì?"

Cả hai đồng thanh.

"Thần Ares không manh động, một mình gây hấn.

Có người, hoặc yêu quái nào đó chủ mưu."

Tôi mô tả lại giấc mơ, và những gì mắt thấy tai nghe trên bãi biển: khoảnh khắc đáng sợ trong đó Trái Đất như ngừng quay khiến thần Ares đang định giết tôi cũng phải dừng tay.

"Nhiều khi cháu mơ thấy giọng nói dưới vực xúi cháu mang Tia Chớp đến Địa ngục.

Ares một lần lỡ lời, tiết lộ thần cũng gặp ác mộng tương tự.

Cháu nghĩ thần và cháu đều bị lợi dụng cho ý đồ khởi xướng chiến tranh."

"Có phải ngươi nghi cho Hades?"

Thần Zeus hỏi.

"Không ạ!

Từng yết kiến thần Hades nên cháu biết.

Cảm giác trên bờ biển không giống lúc cháu gặp thần ấy.

Nó giống lúc cháu đứng trên miệng vực, lối vào ngục Tartarus.

Bên dưới có thứ gì độc ác đang trăn trở... thứ gì ra đời trước cả thần thánh."

Hai thần nhìn nhau và căng thẳng trao đổi mấy câu bằng tiếng Hy Lạp cổ.

Tôi chỉ nghe kịp một từ: "Cha".

Thần Biển đề bạt ý kiến nhưng thần Zeus gạt đi.

Thần Poseidon cố thuyết phục nhưng thần Zeus giận dữ giơ tay tỏ ý không muốn nghe.

Thần Zeus bảo: "Ta không bàn chuyện này nữa!

Giờ ta phải đích thân tẩy uế cho Tia Chớp bằng nước từ Lemnos, xóa hết dấu vết của người phàm dính trên này."

Ông đứng lên và nhìn tôi.

Nét mặt ông dịu xuống một chút: "Cháu vừa chạy công được việc cho ta.

Hiếm anh hùng nào có khả năng làm được thế."

"Cháu được hai bạn là Grover Underwood và Annabeth Chase giúp..."

"Để trả công, ta tha mạng cho ngươi!

Perseus Jackson, ta không tin ngươi.

Nội sự có mặt của ngươi trên đời cũng ảnh hưởng xấu đến tương lai đỉnh Olympus và tất nhiên, ta không thích.

Nhưng vì muốn gia đình hòa thuận, ta cho ngươi sống."

"Dạ...

đa tạ ngài!"

"Đừng dại dột đi máy bay lần nữa!

Lát nữa ta về, đừng để ta còn thấy mặt ngươi.

Nếu trái ý, ngươi sẽ được nếm mùi lợi hại của Tia Chớp này... và đó sẽ là cảm giác cuối cùng của ngươi đấy."

Tiếng sấm làm rung chuyển cung điện.

Thần Zeus biến mất sau ánh chớp lòe.

Trong phòng chỉ còn lại mình tôi và cha.

Thần biển thở dài: "Chú con thiệt tình!

Đi thì cứ đi, gây ồn ào gì không biết.

Zeus làm thần bảo trợ cho gánh hát chắc hợp hơn."

Một thoáng im lặng ngượng ngùng.

"Thưa cha, dưới vực có gì thế?"

"Con không đoán được ư?"

"Là Kronos, chúa tể của các thần khổng lồ Titan."

Ngay cả cung điện Olympus, rất xa Tartarus, cái tên Kronos đủ khiến phòng tối sầm, lò sưởi lớn không đủ xua đi cái lạnh thấu xương.

Thần biển nắm chặt cán đinh ba: "Trong cuộc chiến tranh thứ nhất tính từ khi khai thiên lập địa, thần Zeus băm vằm cha thành ngàn mảnh, giống hệt Chúa tể Kronos từng làm thế với cha mình là Ouranos.

Thần Zeus rải những mảnh ấy xuống vực sâu nhất ở ngục Tartarus.

Các thần khổng lồ Titan chạy mọi ngả, pháo đài của họ trên núi Etna bị phá hủy, yêu quái đồng minh của họ bị đẩy đến những góc xa xôi nhất của quả đất.

Nhưng cũng như thần thánh, các thần khổng lồ Titan bất tử.

Những gì còn lại của thân xác Kronos vẫn sống dưới hình thức ghê tởm.

Chúng vật vã trong cơn đau vĩnh hằng và chưa hết thèm khát quyền lực."

"Vết thương của Kronos đang lành.

Ông ta sẽ trở về."

Thần biển lắc đầu: "Thi thoảng, Kronos có quậy phá.

Ông ta xâm nhập giấc mơ người phàm, thổi vào đó những ý tưởng độc ác.

Ông đánh thức những yêu quái không chịu khuất phục.

Nhưng khả năng ông ta trỗi dậy từ vực sâu khó xảy ra."

"Nhưng..."

Tôi im bặt.

Cãi cha là không tốt.

Tôi không muốn chọc giận vị thần duy nhất ủng hộ mình.

"Con xin nghe lời cha!"

Nụ cười phớt qua môi ông: "Con mới biết tuân phục, có phải không?"

"Vâng..."

"Tính xấu ấy một phần thừa hưởng từ cha.

Biển cả không thích bị kiềm chế."

Ông đứng lên cầm đinh ba.

Vóc dáng cao sừng sững mờ đi, nhỏ lại bằng người thường, đứng ngay trước mặt tôi.

"Con đi ngay đi!

Nhưng trước hết, nên biết mẹ con đã về."

Tôi ngạc nhiên quá đỗi: "Mẹ con sao?"

"Con sẽ gặp mẹ ở nhà.

Hades trả mẹ con về lúc nhận mũ tàng hình.

Ngay cả thần cõi âm cũng biết sòng phẳng, nhỉ?"

Tim tôi đập dồn, không tin rằng giờ phút tôi chờ đợi bấy lâu đã đến: "Thưa... cha có..."

Tôi muốn hỏi thần Poseidon có cùng tôi về thăm mẹ không, nhưng e hỏi vậy ngớ ngẩn quá.

Trên đời đã ai thấy thần biển vẫy taxi lên khu Thượng Manhattan chưa?

Nếu muốn, mười mấy năm qua ông đã tìm gặp mẹ Sally rồi.

Với lại, không thể không lường trước phản ứng của Gabe Cóc Chết.

Mắt thần Poseidon thoáng buồn: "Percy con, về đến nhà con có việc quan trọng cần quyết định ngay.

Có bưu kiện đang chờ sẵn trong phòng con đấy."

"Bưu kiện gì ạ?"

"Khi thấy con sẽ biết ngay.

Không ai chọn đường đời cho con được đâu.

Tự con phải quyết định thôi."

Dù không hiểu cha nói gì, tôi vẫn gật đầu.

Thần biển buồn rầu nói: "Mẹ con là nữ hoàng của thế giới phái đẹp dưới trần.

Cả ngàn năm qua, ta chưa từng gặp ai tuyệt vời đến thế.

Thế nhưng... ta vẫn xin lỗi vì đưa con đến thế giới này.

Vì ta, con phải mang phận anh hùng.

Số phận anh hùng không bao giờ vui vẻ hạnh phúc.

Người anh hùng luôn phải đón đợi bi kịch đến với đời mình."

Tôi cố ngăn cảm giác chua xót.

Cha tôi vừa xin lỗi vì trót sanh tôi ra đời!

"Con vui vẻ chấp nhận mà."

"Giờ thì thế, nhưng sau này con sẽ hận cha.

Có thể là sai lầm không thể tha thứ của cha."

Tôi ngượng ngập cúi chào.

"Con xin từ biệt và không bao giờ làm phiền cha nữa."

Tôi đi chừng năm bước đã nghe tiếng ông gọi lại: "Percy!"

Tôi quay lại.

Mắt ông lấp lánh niềm tự hào: "Con cha giỏi lắm!

Đừng hiểu lầm ý cha!

Từ nay trở đi, hễ làm việc gì hãy luôn nhớ ta là cha của con.

Con đích thực là con trai thần biển."

Thấy tôi bước đi trên con phố vắt ngang thành trì của các vị thần, những ai đang nói đều dừng lời.

Chín Nữ thần Thơ Ca ngừng chơi đàn.

Các tiểu thần linh, thần rừng và nữ thủy thần đều kính cẩn quay về phía tôi với thái độ biết ơn.

Tôi vừa qua trước mặt, họ đã quỳ xuống như thể tôi là người hùng của họ.

-0-

Mười lăm phút sau tôi trở lại phố phường Manhattan đông đúc, cảm giác bàng hoàng chưa tan hết.

Tôi đón taxi về nhà mẹ và nhấn chuông cửa.

Mẹ tôi xinh đẹp hiện ra.

Quần áo mẹ thơm mùi kẹo bạc hà và cam thảo.

Thấy tôi, bao lo âu mệt mỏi trên gương mặt mẹ tan biến.

"Percy!

Cảm ơn trời!

Con mẹ về đây rồi!"

Tôi ngạt thở trong vòng tay mẹ.

Hai mẹ con đứng ngoài hành lang, mẹ vừa vuốt tóc tôi vừa khóc.

Thú thật, mắt tôi cũng mờ đi.

Thấy mẹ, tôi nhẹ cả người, cảm động đến mức đứng không vững.

Mẹ kể bà mới hiện về nhà sáng nay làm Gabe Cóc Chết sợ hết hồn.

Sau vụ gặp quỷ đầu bò, mẹ không nhớ gì thêm.

Bà không tin khi nghe cha ghẻ tôi kể rằng tôi là tội phạm bị truy nã hiện đi khắp nước Mỹ phá hủy tượng đài.

Suốt ngày qua, tin thời sự làm mẹ lo cháy lòng.

Gabe Cóc Chết ép mẹ đi làm, nói rằng mẹ nợ lương cả tháng, giờ phải trả nợ.

Tôi cố nuốt giận kể đầu đuôi chuyện mình.

Cố làm các tình tiết không đến nỗi đáng sợ chẳng dễ dàng gì.

Mới kể đến trận ẩu đả với thần Ares, tôi nghe tiếng Gabe Cóc Chết từ phòng khách vọng ra: "Sally đâu?

Thịt nướng chín chưa vậy?"

Mẹ mệt mỏi nhắm mắt: "Thấy con, ông ấy tức cho xem.

Hôm nay, cửa hàng ông ấy tới tấp nhận điện thoại từ Los Angeles hỏi quà tặng miễn phí."

"Ừ nhỉ!

Chuyện đó thì..."

Mẹ gượng cười: "Đừng làm ông ấy giận thêm!

Vào nhà đi!"

Sau một tháng tôi vắng nhà, căn hộ biến thành thế giới riêng của Gabe Cóc Chết.

Rác ngập đến mắt cá chân.

Lon bia rỗng phủ kín mặt ghế sofa.

Tất và đồ lót bẩn vứt bừa lên chụp đèn.

Cha ghẻ tôi đánh bạc cùng ba chiến hữu mặt mày bặm trợn và cao lớn như gấu ngựa.

Thấy tôi, điếu xì gà từ khóe miệng hắn rớt xuống đất.

Mặt hắn đỏ lựng: "Nhãi con, tao tưởng mày không bao giờ dám vác mặt về đây.

Tưởng cảnh sát..."

Mẹ tôi ngắt lời: "Hóa ra Percy không bị truy nã hay đào tẩu gì cả.

Tốt quá rồi, phải không anh Gabe?"

Gabe Cóc Chết hết nhìn mẹ, lại nhìn tôi.

Rõ ràng, hắn không thích tôi về.

Hắn gầm lên: "Phải trả lại tiền bảo hiểm nhân thọ của cô, tôi chưa đủ mệt ư?

Cô đưa điện thoại đây!

Tôi sẽ gọi cảnh sát."

"Anh Gabe, đừng!"

Hắn nhướn lông mày: "Cô vừa cản tôi đấy à?

Cô tưởng tôi sẽ lại cắn răng chịu đựng cái thằng oắt con này sao?

Tôi còn chuyện để kiện: nó làm hỏng chiếc Camaro của tôi."

"Nhưng..."

Hắn vung tay.

Mẹ tôi co người tránh.

Tôi chợt hiểu.

Hắn từng đánh mẹ tôi.

Tôi không biết khi nào và hắn ra đòn nặng hay nhẹ, nhưng chắc chắn hắn có thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với mẹ.

Cụ thể chuyện ấy diễn ra nhiều năm rồi, những lúc tôi không có nhà.

Cơn thịnh nộ bùng phát, làm ngực tôi nhói đau.

Tôi đến bên hắn và quen tay rút cây bút trong túi áo.

Gabe Cóc Chết bật cười: "Gì thế?

Định viết thư cho tao à?

Chỉ cần đụng đến sợi lông chân của tao, mày đi tù mọt xương, con ạ."

Eddie bạn hắn can: "Kìa Gabe!

Nó chỉ là trẻ con thôi mà."

Ông ta quay lại quắc mắc, giả giọng the thé nhại: "Chỉ là trẻ con thôi mà."

Hai gã còn lại cười ồ lên ngớ ngẩn.

Gabe Cóc Chết cười mỉa, nhe hàm răng ám khói thuốc lá: "Lần này tao tha.

Cho mày năm phút lấy quần áo cuốn xéo khỏi đây.

Đến phút thứ sáu là tao gọi cảnh sát đấy."

Mẹ tôi van vỉ: "Em xin anh!"

Gabe quay sang bà: "Nó là tội phạm.

Để nó biến luôn.

Dính vào chỉ mang họa."

Tôi chỉ muốn mở nắp Thủy Triều.

Nhưng gươm không hại người thường, mà Gabe là người thường theo nghĩa hèn mọn nhất.

Mẹ kéo tay tôi: "Percy, đi với mẹ!

Ta vào phòng con, nhanh lên!"

Tôi để mặc mẹ lôi xềnh xệch, hai tay run lên vì giận.

Phòng bừa bộn đồ dùng của Gabe Cóc Chết.

Góc này là đống bình điện hỏng, góc kia có bó hoa héo quắt hắn mang về sau buổi phỏng vấn của Barbara Walters.

"Con à, dượng chỉ giận quá mất khôn thôi!

Từ từ để mẹ nói cho!

Rồi mọi chuyện sẽ ổn thỏa!"

"Mẹ!

Không bao giờ ổn cả đâu.

Còn dượng Gabe thì còn khổ mãi."

"Vậy... nghỉ hè con theo mẹ đến chỗ làm.

Đầu năm, để mẹ tìm trường nội trú..."

"Kìa mẹ!"

Bà nhìn xuống: "Mẹ đang cố!

Chỉ cần... con cho mẹ ít thời gian."

Một kiện hàng hiện trên giường tôi.

Ít nhất tôi còn tỉnh táo để thề một giây trước nó chưa có ở đó.

Hộp bìa cứng cũ nát ấy đựng vừa trái bóng rổ.

Địa chỉ người nhận bên ngoài do chính tay tôi viết:

"Gửi các thần

Đỉnh Olympus

Tầng thứ sáu trăm, tòa nhà Empire State

New York, NY

Cùng những lời chúc tốt đẹp nhất

PERCY JACKSON."

Nắp hộp có chữ bút dạ đen ghi địa chỉ nhà mẹ Sally, kèm mấy chữ: "TRẢ CHO NGƯỜI GỬI."

Tôi hiểu ngay ý cha tôi nói lúc ở Olympus.

Một bưu kiện.

Một quyết định.

"Cho dù con có làm bất cứ điều gì, hãy nhớ rằng con là con của cha.

Con là con trai của thần biển."

Tôi nhìn mẹ: "Mẹ có muốn dượng Gabe đi luôn không?"

"Không dễ đâu con.

Mẹ..."

"Chỉ cần mẹ nói một tiếng.

Gã đểu cáng ấy dám đánh mẹ.

Giờ mẹ muốn hắn đi luôn không?"

Mẹ ngần ngừ, thoáng gật đầu: "Có!

Mẹ sẽ nói chuyện thẳng thắn với dượng.

Nhưng con không làm thay mẹ được.

Để mẹ tự giải quyết!"

Tôi nhìn chiếc hộp.

Tôi muốn làm thay mẹ, đem hộp ra bàn lấy thứ bên trong ra.

Tôi sẽ có bộ tượng đẹp trang trí cho phòng khách.

Tôi nghĩ thầm: "Các anh hùng trong thần thoại Hy Lạp toàn làm thế.

Gabe Cóc Chết đáng bị xử nghiêm khắc."

Nhưng chuyện các anh hùng toàn kết thúc bi thảm.

Cha mới dạy tôi thế.

Hình ảnh Địa ngục hiện về trong tôi.

Tôi tưởng tượng cảnh hồn ma Gabe lê bước đời đời trên cánh đồng Asphodel, hoặc bị tra tấn sau hàng rào dây kẽm gai của ngục thất Trừng Phạt, hoặc chơi bài suốt đời trong vạc dầu sôi ngập đến thắt lưng đồng thời phải nghe cả nhạc Opera.

Tôi lấy quyền gì bắt người ta phải chịu khổ như vậy, ngay cả người đó là Gabe?

Nếu trước đây một tháng, tôi sẽ không chùn tay.

Nhưng giờ khác rồi.

Tôi bảo mẹ: "Con làm thay mẹ được.

Chỉ cần nhìn vào hộp này, ông ta sẽ không bao giờ làm phiền mẹ nữa."

Liếc qua kiện hàng, mẹ hiểu ngay.

Bà lùi lại: "Percy!

Con không được làm thế."

"Thần Poseidon tôn mẹ là nữ hoàng.

Cha nói người như mẹ tìm cả ngàn năm không thấy."

Mẹ tôi đỏ mặt: "Con đừng..."

"Đáng lẽ mẹ không phải khổ như vầy.

Mẹ nên đi học cho có bằng cấp.

Sau đó làm nhà văn, lấy người tốt bụng, có nhà cửa đàng hoàng.

Đừng chỉ vì bảo vệ con mà phải sống với Gabe.

Giờ con tự lo được.

Đừng thèm ông ta nữa."

Mẹ lau nước mắt.

"Khẩu khí con tôi giống cha nó y hệt.

Có lần ông còn định ngăn thủy triều lên vì mẹ.

Ông đòi xây cung điện dưới đáy biển tặng mẹ.

Cha con tưởng chỉ cần ông vẫy tay, mọi rắc rối của mẹ sẽ tan biến."

"Thế có gì sai đâu?"

Mẹ nhìn tôi đăm đăm: "Mẹ tưởng con hiểu biết hơn thế.

Nửa dòng máu mẹ chảy trong con, chắc con hiểu mẹ.

Cuộc đời mẹ chỉ có ý nghĩa nếu mẹ được quyết định cuộc sống của riêng mình.

Mẹ không thể để thần thánh, thậm chí con trai quyết định thay.

Mẹ phải có can đảm... sống độc lập.

Việc con làm vừa rồi nhắc mẹ nhớ điều đó."

Chúng tôi im lặng nghe tiếng quật bài, chửi thề và bình luận thể thao trên kênh ESPN ngoài phòng khách.

"Vậy con để hộp lại!

Nếu hắn dám bắt nạt mẹ thì..."

Mẹ tái mặt nhưng gật đầu: "Con định đi đâu?"

"Trại Con Lai."

"Chỉ nghỉ hè... hay ở luôn?"

"Tùy tình hình, mẹ ạ."

Nhìn thẳng mắt nhau, hai mẹ con cùng đồng thuận chờ đến cuối hè sẽ quyết định.

Mẹ hôn trán tôi.

"Người hùng của mẹ.

Con cừ nhất đấy!"

Nhìn quanh phòng lần cuối, tôi linh cảm sẽ không bao giờ quay lại nơi này.

Lát sau tôi theo mẹ ra cửa.

Gabe Cóc Chết nói với theo: "Chuồn lẹ hả mày?

Cút đi cho rảnh nợ!"

Tôi không cam lòng.

Chẳng lẽ tôi bỏ qua cơ hội trả thù duy nhất này ư?

Tôi lại bỏ đi, không cứu mẹ khỏi Địa ngục trần gian này ư?

Hắn quát nạt: "Sally, sao lâu thế?

Thịt nướng đâu hả?"

Mắt mẹ lóe lên tia giận dữ.

Tôi nhẹ lòng: biết đâu mẹ xử lý tốt hơn tôi.

Để tự bà quyết định vẫn hơn.

"Có thịt nướng ngay đây!

Ngon đến mức kinh ngạc!"

Mẹ nháy mắt với tôi.

Trước khi cửa khép lại, tôi kịp thấy mẹ chăm chú ngắm xới bạc như thể chọn tư thế đúng cho tượng Gabe Cóc Chết trong vườn.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 1 - Chương 22: Lời Sấm Truyền thành hiện thực


Sau Luke, Annabeth và tôi là hai con lai đầu tiên hoàn thành nhiệm vụ và còn sống trở về.

Khỏi phải nói, mọi người trầm trồ thán phục như thể hai đứa vừa thắng cuộc thi khó trên truyền hình.

Theo truyền thống của trại, chúng tôi đeo vòng nguyệt quế dự tiệc chiêu đãi để tôn vinh hai đứa.

Sau đó là lễ đốt vải liệm các bạn may sẵn trong lúc chúng tôi đi vắng.

Vải liệm của Annabeth rất đẹp may bằng lụa xám thêu cả đàn cú.

Tôi đùa, bảo nếu được liệm bằng vải ấy, Annabeth chết cũng không tiếc.

Cô bạn đấm tôi thùm thụp, bảo tôi im miệng đừng nói gở.

Con thần biển không có bạn chung phòng nên các con thần Ares tình nguyện may vải liệm cho tôi.

Họ lấy vải trải giường cũ sờn, sơn mặt cười viền quanh và viết chữ "ĐỒ THẢM HẠI" chính giữa.

Đốt xong nó, tôi mừng húm.

Trong lúc nhà thần Apollo hát nhép say mê, các bạn cùng phòng cũ nhà thần Hermes, nhà Athena của Annabeth và các bạn thần rừng của Grover vây quanh.

Họ ăn mừng Grover vừa nhận giấy chứng nhận mới toanh từ tay Hội Đồng xét duyệt.

Các thành viên Hội Đồng nhận xét trong nhiệm vụ vừa rồi, Grover "can đảm đến mức không thể hiểu nổi... cứng rắn hơn bất kỳ thần rừng nào..."

Trong buổi liên hoan, chỉ mình nhà thần Ares không vui.

Chúng gườm gườm nhìn tôi như muốn nói sẽ không bao giờ tha thứ tội làm nhục cha chúng.

Không vì thế mà tôi kém vui.

Ngay cả bài diễn văn chào mừng nhóm tôi về trại an toàn của ông quản lý Dionysus cũng không làm tôi nản chí.

"À, phải!

Gã thiếu niên hư đốn này chưa chết.

Đầu hắn lúc trước đã to, giờ còn to hơn.

Chúc mừng đầu to!

Chuyển sang tin tức khác.

Cuộc đua xuồng máy chủ nhật này phải hoãn vì..."

Dù về lại Nhà Số Ba, tôi không còn cô đơn.

Tôi gặp bạn lúc huấn luyện.

Đêm đêm nghe tiếng sóng xô bờ, tôi biết có cha tôi ở đó.

Có thể chưa hiểu hết về tôi, có thể lấy làm tiếc vì có tôi trên đời nhưng ông vẫn dõi theo từng bước tôi đi.

Cho đến giờ, cha tự hào về tôi.

Riêng phần mẹ, bà có cơ hội làm lại cuộc đời.

Một tuần sau khi về trại, tôi nhận được thư mẹ.

Thư kể Gabe Cóc Chết biến mất một cách đầy bí ẩn khỏi tinh cầu.

Dù báo cảnh sát chuyện hắn mất tích nhưng không hiểu sao bà có linh cảm họ sẽ không tìm thấy hắn.

Chuyển sang chuyện khác, mẹ bảo bà vừa bán quần thể tượng đầu tay to bằng người thật cho phòng trưng bày ở Soho.

Tác phẩm của mẹ có tên: "Xới bạc".

Tiền thù lao nhiều đến nỗi mẹ đủ tiền mua căn hộ mới và đóng tiền học năm đầu tại đại học New York.

Phòng trưng bày Soho nài nỉ mẹ tạc thêm tượng mới.

Mẹ viết cho tôi:

"Con đừng lo!

Mẹ không thích điêu khắc nữa.

Mẹ vứt hộp dụng cụ con để lại cho mẹ rồi.

Từ nay trở đi, mẹ sẽ viết văn.

Tái bút: Mẹ đã tìm được trường tư thục danh tiếng trong thành phố.

Mẹ đã ghi danh, giữ chỗ cho con.

Hãy về học lớp bảy và ở với mẹ.

Nhưng nếu con muốn ở hẳn Trại Con Lai, mẹ hoàn toàn đồng ý."

Tôi gấp thư cẩn thận, để ngay ngắn trên mặt bàn cạnh giường.

Mỗi tối trước khi đi ngủ, tôi đọc lại thư và suy ngẫm xem nên trả lời mẹ thế nào.

Lễ Quốc Khánh, cả trại tập trung ngoài bãi biển xem màn pháo hoa do Nhà Số Chín biểu diễn.

Là con thần Hephaestus, họ cho rằng nếu pháo chỉ có ba màu xanh, đỏ và trắng sẽ rất chán.

Họ chèo thuyền rồng, mang pháo to bằng tên lửa ra khơi bắn vào bờ.

Annabeth kể những năm trước, nhà Hephaestus bắn liên tục tạo hình các nhân vật hoạt hình giữa bầu trời.

Màn cuối là hai trăm chiến binh Sparta múa may giữa trời, chiến đấu anh dũng trước khi nổ tung thành muôn nghìn chấm sáng đủ màu.

Lúc Annabeth và tôi đang trải khăn ngồi cắm trại ngoài trời, Grover đến chào từ biệt.

Dù vẫn mặc quần jeans, áo thun và giày thể thao, Grover chững chạc hẳn chỉ sau vài tuần.

Chòm râu dê dày cứng hơn.

Grover béo ra.

Sừng nó mọc thêm ít nhất hai phân.

Grover không bao giờ rời mũ vải mềm giúp ngụy trang giống người phàm.

"Tớ sắp lên đường, nên qua báo hai cậu..."

Tôi cố làm mặt vui để động viên Grover.

Thần rừng được trại cho phép đi tìm thần Pan chỉ có mình nó.

Nhưng phải chia tay nó, tôi buồn vô kể.

Tuy mới quen Grover một năm, nhưng trước nó, tôi chưa chơi với ai lâu như thế.

Annabeth ôm hôn Grover, dặn nó đừng để chân giả tuột ra.

Tôi hỏi nó định tìm thần Pan ở địa điểm nào trước.

Grover ngượng ngập: "Bí mật.

Giá có hai cậu đi cùng thì vui, nhưng người với thần Pan không hợp..."

Annabeth bảo: "Chúng tớ hiểu mà.

Cậu có vỏ hộp thiết đủ dùng làm lương khô ăn chưa?"

"Rồi."

"Cầm theo sáo sậy chưa?"

Grover càu nhàu: "Rồi.

Annabeth này, cậu như mẹ dê lắm lời vậy."

Nói thế chứ thực lòng.

Grover không khó chịu.

Một tay chống gậy, khoác ba lô trên vai.

Trông nó giống người đi dã ngoại thường thấy trên mọi nẻo đường nước Mỹ.

Cậu bé còi cọc hay bị bắt nạt ở Học viện Yancy không còn nữa.

"Hai cậu chúc tớ may mắn đi!"

Sau khi ôm Annabeth lần nữa, nó vỗ vai tôi và quay lại con đường qua đụn cát.

Pháo hoa rực rỡ bầu trời: nào Heracles giết sư tử Nemean, Artemis săn lợn rừng.

Tổng thống George Washington (vốn là con nữ thần Athena) đang vượt qua sông Delawar.

Tôi gọi với: "Này Grover!"

Nó đã đến bìa rừng và ngoái đầu lại.

"Đi đâu thì đi cũng phải ráng ăn uống đầy đủ nhé!"

Nó cười, biến mất sau rặng cây.

Annabeth bảo: "Tụi mình còn gặp Grover nhiều."

Tôi cố tin và gạt đi suy nghĩ hai ngàn năm qua, chưa ai tìm thần Pan mà sống trở về.

Grover sẽ là người đầu tiên.

Chắc chắn thế.

Tháng bảy chậm chạp trôi qua.

Mấy ngày liền, tôi vạch chiến lược chơi cướp cờ cho phe đồng minh giành cờ danh dự từ tay nhà Ares.

Lần đầu tiên, tôi trèo lên nóc tường và không bị bỏng vì nham thạch.

Thi thoảng qua Nhà Lớn, tôi nhìn lên cửa sổ gác xép, nhớ Nhà Tiên Tri và muốn tin mọi chi tiết của Lời Sấm Truyền đều đã thành hiện thực.

"Ngươi sẽ đi theo hướng tây gặp vị thần tráo trở."

Phần này xong.

Tuy nhiên, thần tráo trở là Ares không phải Hades.

"Ngươi sẽ tìm được vật bị đánh cắp và trả nguyên vẹn cho khổ chủ."

Xong luôn.

Tia Chớp đã được trả cho thần Zeus.

Mũ tàng hình trở về mái đầu bóng lưỡng của thần Hades.

"Ngươi sẽ bị phản bội bởi người tự xưng là bạn."

Tôi thắc mắc câu này.

Chắc Lời Sấm Truyền ám chỉ thần Ares.

Lúc đầu ông ta vờ thân thiện, sau đó phản bội tôi.

"Cuối cùng, ngươi sẽ không cứu nổi người quan trọng nhất của đời mình."

Tôi không cứu được mẹ, nhưng tôi để bà tự quyết định và biết mình làm đúng.

Vậy còn băn khoăn nỗi gì?

Đêm chia tay cuối hè đến quá nhanh.

Các thành viên trong trại dùng bữa tối cuối cùng bên nhau.

Chúng tôi đốt thức ăn cúng các vị thần.

Sau đó, các anh chị nhân viên tư vấn trao hạt sứ, quà kỷ niệm cuối hè cho trại viên.

Tôi đeo dây da có hạt sứ kỷ niệm đầu tiên ở trại.

May có lửa đỏ, nếu không mọi người sẽ thấy mặt tôi nóng bừng.

Hình trên hạt sứ màu đen là cây đinh ba màu xanh lá cây.

Luke tuyên bố: "Hạt sứ này ghi nhớ lần đầu tiên con trai thần biển đến trại và hoàn thành nhiệm vụ đến Địa ngục, ngăn chặn chiến tranh."

Cả trại đứng dậy hò reo.

Ngay cả con thần Ares cũng miễn cưỡng đứng lên.

Nhà nữ thần Athena đẩy Annabeth đến cạnh tôi cùng nhận lời chúc tụng.

Lúc ấy, tôi không biết mình buồn hay vui.

Tôi vừa tìm được gia đình quan tâm đến mình đồng thời ủng hộ tôi làm việc tốt.

Thế nhưng sáng mai, gần hết trại viên sẽ về chuẩn bị cho năm học mới.

Sáng hôm sau, có lá thư trên bàn cạnh giường tôi.

Nhất định thần Dionysus điền mẫu thư này: ông ta cố tình viết sai tên tôi.

"Peter Jackson thân mến,

Nếu định ở trại quanh năm, bạn phải báo cáo cho Nhà Lớn trước mười hai giờ trưa nay.

Nếu không báo, chúng tôi sẽ cho rằng bạn đã rời nhà hoặc chết bi thảm.

Khi mặt trời lặn, nhóm yêu quái mình người cánh chim có nhiệm vụ dọn dẹp và sẽ bắt đầu công việc đó.

Họ có quyền ăn thịt trại viên chưa đăng ký.

Mọi vật dụng cá nhân bỏ quên sẽ bị hỏa táng ở hố nham thạch.

Chúc ngày tốt lành!

Ngài D (tức Dionysus)

Trưởng ban quản lý trại.

Thành viên thứ mười hai của Hội Đồng Olympus."

Bệnh mất tập trung, hiếu động thái quá khiến tôi toàn đợi nước đến chân mới nhảy.

Hết hè rồi, tôi vẫn chưa trả lời dứt khoát cho mẹ và trại việc đi hay ở.

Giờ tôi chỉ còn vài giờ suy nghĩ trước khi quyết định.

Đáng lẽ việc chọn giữa chín tháng huấn luyện cung kiếm với chín tháng ngồi yên trong lớp học rất dễ dàng.

Nhưng còn mẹ tôi thì sao?

Lần đầu tiên, tôi được ở bên mẹ quanh năm, không bị Gabe Cóc Chết quấy rầy.

Tôi được ở nhà mình, khi rảnh tha hồ lang thang ngoài phố.

Tôi nhớ Annabeth từng bảo: "Thế giới ngoài kia có yêu quái.

Nhờ chúng, anh hùng biết tài mình cao hay thấp."

Số phận Thalia, con gái thần Zeus làm tôi phải suy nghĩ.

Có bao nhiêu yêu quái đang chờ tôi rời Trại Con Lai?

Trong một chuyến đi từ đầu này đến đầu kia nước Mỹ, tôi suýt chết năm, sáu lần.

Nên suốt năm học, tôi chỉ ở một chỗ, không có bác Chiron và bạn bè giúp đỡ, liệu hai mẹ con tôi có sống được đến hè sau?

Đó là chưa kể mấy cuộc thi đánh vần và tập làm văn.

Có khi tôi chết trước khi yêu quái kịp tìm đến.

Tôi bèn xuống sân tập khua vài đường kiếm.

Có lẽ tập xong, tôi sẽ tỉnh táo hơn.

Sân chơi vắng hoe dưới nắng tháng tám nóng như rang.

Các trại viên, người thu dọn đồ đạc, người cầm chổi và giẻ lau nhà quét dọn đồng thời tìm đồ đạc bị mất lần cuối.

Anh Argus giúp con nữ thần Aphrodite xách đống vali Gucci và túi trang điểm lên đồi.

Xe buýt đưa chúng ra sân bay đợi ở đó.

Tôi tự nhủ: "Đừng nghĩ chuyện đi vội.

Cứ luyện tập xong đã."

Đến phòng tập kiếm, tôi thấy Luke có chung suy nghĩ với mình.

Túi đựng quần áo tập của Luke nằm trơ trọi cạnh bục.

Anh tập một mình bằng cách đấm dãy hình nộm bằng cây kiếm lạ.

Nó giống kiếm thường ở chỗ chém đứt đầu hình nộm hoặc đâm xuyên bụng nhồi rơm của chúng dễ dàng.

Áo thun màu cam trên người Luke ướt mồ hôi.

Mặt anh căng thẳng như thể gặp nguy hiểm đến tính mạng.

Tôi ngẫm và thầm thán phục anh moi ruột cả dãy bù nhìn bằng rơm, chém rời chân tay chúng, biến chúng thành đống rơm và áo giáp sắt.

Tuy nạn nhân chỉ là bù nhìn, nhưng tôi ngưỡng mộ các đường kiếm điêu luyện của Luke.

Anh đúng là chiến binh cừ.

Cũng như bao lần khác, tôi bâng quơ tự hỏi sao anh không hoàn thành nhiệm vụ lần trước.

Mãi sau thấy tôi, anh dừng tay kiếm.

"Percy đấy à?"

Ngượng quá, tôi lắp bắp: "Xin lỗi, em chỉ..."

Anh hạ kiếm: "Không sao!

Anh sắp nghỉ rồi."

Bọn bù nhìn bị hạ hết rồi.

Luke nhún vai: "Hè nào trại cũng thay bù nhìn mới."

Giờ Luke không vung kiếm loang loáng, tôi mới thấy kiếm hai lưỡi này làm bằng hai kim loại khác nhau: một lưỡi bằng đồng, lưỡi kia bằng thép.

Thấy tôi nhìn, Luke bảo: "À, đồ chơi mới ấy mà.

Anh gọi nó là Kẻ Xấu Bụng."

"Sao anh gọi thế?"

Luke lật thanh kiếm.

"Một lưỡi bằng đồng có phép thần.

Một lưỡi bằng thép cứng.

Tác dụng với cả thần thánh lẫn người phàm."

Tôi nhớ bác Chiron từng nói anh hùng không hại người phàm trừ tình huống khẩn cấp.

"Họ cũng làm loại kiếm này ư?"

"Không ai làm cả.

Kiếm như Kẻ Xấu Bụng trên đời chỉ có một."

Anh cười nụ, tra kiếm vào vỏ.

"Anh đang định tìm chú, vừa hay chú đến.

Ta vào rừng lần cuối, xem có trò vui gì không đi!"

Tự nhiên tôi ngần ngừ.

Đáng lẽ tôi nên mừng vì thái độ Luke rất vui vẻ.

Từ lúc tôi về trại đến giờ Luke toàn tránh mặt.

Tôi chỉ e anh bực mình vì giờ mọi người chú ý tôi nhiều hơn.

"Có nên không anh?

Ý em là..."

"Đi đi mà!

Anh chuẩn bị sẵn nước mời chú đấy."

Anh lục túi lấy lố sáu lon nước ngọt Coke.

Tôi ngạc nhiên, không biết anh mua thứ ấy ở đâu.

Cửa hàng của trại không bán đồ uống bên ngoài.

Không ai có hàng lậu, trừ phi nhờ thần rừng mua giùm.

Tất nhiên, ly đồ uống trên bàn ăn tối giúp trại viên thưởng thức bất cứ thứ gì họ muốn nhưng vị của chúng không giống rót từ lon thế này.

Tôi thèm đường và caffeine nên xiêu lòng ngay.

"Ừ!

Mình đi!"

Hai anh em vào rừng tìm yêu quái luyện vài đường kiếm nhưng trời nóng quá.

Yêu quái chắc ngủ trong hang mát mẻ cả rồi.

Chúng tôi chỉ thấy con hươu vàng vút qua bụi cây nhưng tốt nhất đừng đuổi nó.

Hươu trong rừng này đều là tài sản của nữ thần Artemis.

Luke kể người cuối cùng săn hươu bị chặt đầu cắm trên cây cúp bàn ở bệ lò sưởi trong Nhà Số Tám

Chúng tôi tìm tán cây cạnh suối nước, đúng chỗ tôi bẻ giáo của Clarisse hôm trước.

Hai anh em ngồi trên tảng đá to, uống nước ngọt ngắm hoàng hôn trong rừng.

Hai đứa nói chuyện phiếm về chiêu thức giành cờ danh dự và nhiều thứ linh tinh khác.

Lát sau Luke nói: "Chú thích chuyến đi vừa rồi không?"

"Thích gì nổi.

Đi chưa được ba bước đã gặp yêu quái rồi."

Luke nhướn mày.

Tôi thú nhận: "Có thích.

Còn anh?"

Mặt Luke tối sầm.

Tôi hay nghe bọn con gái khen Luke đẹp trai.

Nhưng lúc này, trông anh dữ tợn, cau có, chẳng đẹp trai tí nào.

Nắng chiều biến tóc anh từ vàng thành xám.

Vết sẹo trên mặt anh hằn sâu thêm.

Luke già hẳn đi.

"Từ lúc mười bốn tuổi đến giờ, anh sống quanh năm trong trại.

Sau vụ Thalia... chắc chú biết rồi.

Anh chỉ biết ăn và luyện tập.

Chưa bao giờ anh biết thế giới thực ra sao.

Vậy mà lần ấy họ bắt anh làm nhiệm vụ.

Lúc anh về, thái độ họ như muốn bảo: Trò vui hết rồi.

Từ nay cứ sống mòn đến hết đời."

Luke bóp bẹp lon rỗng.

Trước sự ngạc nhiên của tôi, anh ném thẳng xuống suối.

Quy tắc đầu tiên cần nhớ khi đến Trại Con Lai là: Cấm xả rác.

Nếu không nữ thủy thần và nữ thần cây sẽ trả thù.

Tối đến giường kẻ xả rác dính đầy bùn và rết bò lổm ngổm.

"Thêm vào mấy vòng nguyệt quế.

Sau này anh sẽ không thành đồ lưu niệm quẳng trên gác xếp Nhà Lớn đâu."

Nghe như anh sắp rời trại vậy.

Luke nhếch môi: "Phải!

Bởi thế tao đưa mày đến đây để từ biệt!"

Luke búng tay.

Đốm lửa nhỏ xuất hiện cạnh chân tôi.

Từ đó một con vật đen trũi, dài bằng bàn tay bò ra.

Bò cạp.

Tôi thò tay lấy bút.

Luke gằn giọng: "Nếu là mày, tao sẽ không làm thế.

Nếu thấy động, Bò cạp Địa ngục có thể nhảy cao năm mét.

Vòi nó xuyên thủng quần áo.

Mày sẽ chết chỉ sau sáu mươi giây."

"Luke, sao anh..."

Con vật leo lên tôi.

"Ngươi sẽ bị phản bội bởi người tự xưng là bạn."

Tôi phẫn uất: "Ra là mày!"

Hắn bình tĩnh đứng lên, phủi quần.

Còn bò cạp không sợ.

Nó co vòi bò lên giày tôi.

Luke nghiến răng: "Tao hiểu đời hơn mày.

Bóng tối dày thêm, quái vật mạnh hơn bao giờ.

Mày không tiếc công sức đổ sông đổ biển ư?

Anh hùng mấy cũng chỉ là tốt đen trên bàn cờ các thần.

Nếu không nhờ các con lai, họ đã bị lật đổ từ mấy ngàn năm trước rồi."

Tôi không tin vào tai mình: "Luke, họ là đấng sinh thành nên chúng ta."

Hắn cười nhạt: "Chỉ vì thế mà tao phải yêu quý họ ư?

Thứ họ coi trọng là nền Văn minh phương Tây chỉ là bệnh dịch.

Nó đang giết dần giết mòn nhân loại.

Thượng sách là thiêu rụi nó, xây dựng thứ gì mới mẻ, trung thực hơn."

"Anh điên rồ không kém thần Ares."

Mắt Luke lóe lên giận dữ: "Ares là thằng ngu!

Hắn là chó không biết chọn chủ!

Nếu mày còn thời gian, tao nói kỹ cho nghe!

Tiếc rằng, mày sắp chết!"

Bò cạp bò lên chân tôi.

Phải có cách thoát.

Chỉ cần tập trung suy nghĩ.

"Anh là tay sai Chúa tể Kronos."

Không khí chợt lạnh buốt.

Luke cảnh báo: "Chớ gọi tên bừa bãi!"

"Kronos sai anh ăn cắp Tia Chớp và mũ tàng hình.

Hắn xâm nhập vào giấc mơ của anh."

Luke nháy mắt: "Ông ấy cũng thuyết phục cả mày.

Đáng lẽ mày nên vâng lời!"

"Hắn tẩy não anh rồi!"

"Nhầm to!

Ông ấy chỉ ra rằng ta đang phí hoài tài năng của mình.

Mày có nhớ nhiệm vụ của tao hai năm trước không?

Cha tao, thần Hermes, sai tao ăn cắp táo vàng trong vườn Hesperides trả về Olympus.

Tao tập luyện ngày đêm chỉ để làm việc ấy."

"Việc ấy không dễ.

Chỉ Heracles làm được."

"Chính thế!

Lặp lại việc người khác từng làm có gì vinh quang đâu.

Các thần chỉ biết ôn lại quá khứ.

Vì không thích nhiệm vụ nên tao lơ đãng, bị con rồng canh vườn cào rách mặt.

Về đến nơi, tao chỉ nhận lòng thương hại.

Ngay lúc ấy, tao chỉ muốn phá tan tành cung điện Olympus nhưng đành nhịn nhục, chờ thời cơ chín muồi.

Tao bắt đầu mơ thấy Kronos.

Ông bảo tao ăn cắp thứ gì đáng công, thứ chưa anh hùng nào dám đụng tới.

Ngày Đông chí lên Olympus tham quan, tao lừa lúc cả đoàn ngủ say lên đến phòng thiết triều lấy Tia Chớp dưới ghế thần Zeus, cả mũ tàng hình của Hades nữa.

Dễ lắm, mày không tưởng tượng được đâu.

Cư dân Olympus quá ngạo mạn, không ngờ có kẻ lấy cắp đồ của họ.

An ninh lỏng lẻo lắm.

Lúc gần đến New Jersey, nghe bão nổi tao biết họ phát hiện mất đồ."

Bò đến đầu gối tôi, bò cạp dừng lại giương mắt nhìn.

Tôi giữ giọng bình thản: "Sao anh lại không đem bảo bối giao cho Kronos?"

Nụ cười của Luke tắt ngấm: "Tao tự tin quá!

Thần Zeus sai các con tìm Tia Chớp: Artermis, Apollo và cha ta thần Hermes.

Nhưng chỉ thần Ares bắt được ta.

Đáng lẽ hắn nằm liệt bởi tay tao, nhưng tao bất cẩn.

Ares cướp khí giới, lấy bảo bối dọa trả chúng về Olympus và thiêu sống tao.

Đúng lúc đó, giọng Kronos mớm lời cho tao.

Tao bàn với Ares ý định xúc xiểm để các vị thần đánh nhau.

Hắn chỉ cần giấu bảo bối, chờ các vị thần xâu xé lẫn nhau.

Mắt Ares sáng lên.

Tao biết hắn sập bẫy.

Ares thả tù binh.

Tao quay lại Olympus trước khi họ phát hiện ta vắng mặt.

Sau đó, Kronos trừng phạt ta bằng ác mộng.

Ta thề không làm hỏng chuyện nữa.

Trở lại Trại Con Lai, giấc mơ bảo ta sẽ có anh hùng mới đến.

Người này sẽ bị lừa mang bảo bối hộ Ares xuống tận Tartarus."

"Chính ngươi gọi chó Địa ngục đến trại?"

"Chiron phải tin rằng mày không an toàn khi ở Trại Con Lai.

Có thế hắn mới giao nhiệm vụ cho mày.

Hắn phải tin Hades tìm mày lấy mạng.

Thực tế tốt hơn cả mong đợi."

"Giày bay bị niệm chú.

Nó định lôi tao xuống Tartarus."

"Nếu mày chịu đi giày.

Nhưng mày tặng thần rừng, trái ý bọn tao, Grover làm hỏng chuyện từ đầu đến cuối!"

Luke nhìn bò cạp bò trên đùi tôi: "Đáng lẽ mày đã bỏ xác dưới vực Tartarus.

Nhưng không sao.

Anh bạn nhỏ đây sẽ thu xếp ổn thỏa cho mày."

Tôi nghiến răng: "Chị Thalia chết thay cho mày.

Giờ mày trả công thế này sao?"

Luke gào lên: "Cấm mày nhắc đến Thalia!

Các thần để mặc cô ấy chết.

Giờ họ sắp phải đền tội!"

"Mày bị lợi dụng!

Cả Ares nữa!

Đừng nghe lời Kronos!"

Luke the thé: "Tao bị lợi dụng ư?

Nhìn lại mình đi.

Ông già cho mày cái gì chưa?

Kronos sẽ hồi sinh.

Mày chỉ làm chậm kế hoạch của ông ấy thôi.

Kronos sẽ đày dân Olympus xuống Tartarus, đưa nhân loại về thời kỳ đồ đá.

Cả thiên hạ sẽ về tay nhóm mạnh nhất, những người từng trung thành với Kronos."

"Bảo con bọ tránh ra!

Nếu khỏe, sao không đấu tay đôi với tao?"

Luke cười nham hiểm: "Đừng láu cá!

Tao không giống Ares.

Đừng phỉnh phờ mất công!

Chúa tể đang đợi sẵn sàng giao việc trọng đại cho ta."

"Kìa Luke..."

"Vĩnh biệt!

Thời đại hoàng kim sắp đến.

Chỉ tiếc mày không được thấy nó."

Hắn biến mất vào màn tối.

Bò cạp quăng mình.

Tôi đập nó bằng tay trần và mở nắp kiếm.

Bò cạp nhảy lên cao nhưng bị tôi chém làm đôi.

Chưa kịp mừng, tôi nhìn xuống bàn tay sưng tấy.

Nước vàng ộc ra, bốc khói.

Bò cạp đã chích tôi rồi.

Tai ù đặc như có cối xay bên trong, mắt tôi mờ đi.

"Nước.

Lúc trước, nước chữa lành vết thương cho tôi."

Tôi lảo đảo xuống suối, nhúng tay xuống nước nhưng không tác dụng.

Nọc bò cạp quá độc.

Màn đen kéo đến che hai mắt.

Tôi cố gượng dậy.

Sáu mươi giây.

Tôi phải về trại.

Nếu gục ngã ở đây, xác tôi sẽ thành mồi ngon cho yêu quái.

Sẽ không ai biết có thảm họa này.

Hai chân nặng như chì.

Đầu nóng bừng bừng.

Trên đường lết về trại, tôi thấy nữ thần từ cây đi ra.

Tôi kêu yếu ớt: "Cứu!

Xin hãy cứu tôi..."

Hai nữ thần cây xốc nách tôi.

Tôi chỉ nhớ họ mang tôi đến bãi trống, nhân viên trại hô hoán, và nhân mã thổi tù và.

Bóng tối chụp xuống.

Tỉnh dậy, tôi thấy mình đang ngậm ống hút.

Nước này như bánh quy sô-cô-la lỏng.

Là rượu thần.

Tôi mở mắt.

Tôi nằm trên giường bệnh trong Nhà Lớn.

Tay phải băng bó như khúc củi.

Anh Argus canh góc nhà.

Annabeth ngồi cạnh, tay cầm ly rượu, tay kia cầm khăn lau miệng cho tôi.

Giống hôm đầu tiên quá.

Thấy tôi tỉnh lại, Annabeth mừng rỡ: "Cậu khờ quá đi!

Lúc tụi tớ đến nơi, cậu tím tái toàn thân rồi.

Nếu bác Chiron không cứu thì..."

Bác Chiron xoa dịu: "Thôi nào!

Khen người ốm mấy câu cho mau khỏe!"

Bác ngồi dưới chân giường tôi trong dáng vẻ người thường nên tôi chưa kịp nhận ra.

Phép màu nén phần dưới cơ thể bác vào xe lăn, nửa trên mặc comple, đeo cà vạt.

Tuy mỉm cười nhưng nét mặt ông thầy giáo môn Latinh cũ mệt mỏi, bơ phờ như vừa thức đêm chấm bài.

"Cháu thấy trong người thế nào?"

"Hình như lục phủ ngũ tạng cháu vừa mang từ tủ đông đến lò vi ba."

"À, tại nọc Bò cạp Địa ngục đấy.

Nếu thấy khỏe cháu kể đầu đuôi ta nghe."

Vừa uống rượu tiên, tôi vừa kể chi tiết.

Căn phòng im lặng rất lâu.

Annabeth vừa buồn vừa giận: "Không ngờ Luke lại...

À, tớ biết thừa!

Sau lần được giao việc, anh ấy khác hẳn.

Hình như các thần đều không ưa hắn."

Bác Chiron khẽ khàng: "Phải báo Olympus ngay!

Bác đi luôn đây!"

Tôi nhắc: "Luke đang nhởn nhơ ngoài kia.

Cháu phải đuổi theo hắn."

Bác Chiron lắc đầu: "Đừng, Percy!

Các vị thần..."

"Không cho nhắc đến Kronos chứ gì.

Thần Zeus gạt phắt, không nghe ai bàn đến."

Tôi cãi.

"Percy, bác không muốn làm khó cháu!

Nhưng cháu không được vội trả thù.

Cháu chưa sẵn sàng đâu."

Dù không muốn chấp nhận, nhưng tôi tin bác Chiron nói đúng.

Chỉ cần nhìn bàn tay, tôi biết còn lâu mới cầm kiếm được.

"Bác Chiron... có phải bác nghe Lời Sấm Truyền nhắc đến Kronos không?

Nhà Tiên Tri có nhắc đến cháu và Annabeth không?"

Bác ngập ngừng ngó trần nhà: "Percy, bác không có thẩm quyền..."

"Các thần không cho bác kể với cháu à?"

Bác nhìn tôi thông cảm, nhưng ánh mắt buồn buồn: "Cháu sẽ là anh hùng vĩ đại.

Nhiệm vụ của bác là dốc sức huấn luyện chuẩn bị cho cháu.

Nhưng nếu bác đoán đúng, đường đời cháu sau này..."

Sấm nổ vang.

Cửa sổ rung bần bật.

Bác Chiron hét to: "Biết rồi!

Khổ lắm!"

"Không phải ngẫu nhiên các thần giấu cháu.

Biết nhiều quá về tương lai không tốt đâu."

Bác thở dài.

"Nhưng bác cháu ta không thể chống mắt ngồi nhìn!"

"Tất nhiên là không!

Nhưng cháu phải dốc hết sức cẩn thận.

Kronos muốn làm cháu rối trí.

Hắn muốn phá hoại đời cháu, muốn cháu mờ mắt vì sợ và vì giận.

Đừng làm hắn thỏa mãn.

Kiên trì luyện tập.

Thời cơ sẽ đến tìm cháu."

"Chỉ sợ chưa đến ngày đó, cháu đã chết khô rồi."

Bác vỗ vỗ cổ chân tôi: "... nhưng cháu phải quyết định ở hẳn Trại Con Lai hay về học lớp bảy trường thường, chỉ về trại lúc nghỉ hè.

Suy nghĩ cho kỹ.

Bác cần câu trả lời ngay khi từ Olympus trở về."

Tôi muốn cãi và hỏi thêm nhiều điều.

Nhưng nét mặt bác cho thấy cuộc nói chuyện nên chấm dứt ở đây.

Bác chỉ có thể nói với tôi đến thế.

"Xong việc bác sẽ về ngay.

Argus đây sẽ bảo vệ cháu."

Bác nhìn Annabeth: "Với lại... khi nào cháu sẵn sàng, họ sẽ đến ngay."

"Ai đến ạ?"

Không ai trả lời.

Xe lăn của bác Chiron chạy khỏi phòng.

Tôi nghe tiếng bánh xe của bác lách cách dè dặt xuống từng bậc tam cấp.

Thấy Annabeth nhìn đăm đăm chiếc ly trong tay mình, tôi hỏi: "Cậu sao thế?"

Cô bạn mang ly ra bàn cho tôi.

"Chẳng sao!

Chỉ là tớ sắp làm theo lời cậu khuyên.

Cậu... cần tớ giúp gì không?"

"Có.

Giúp tớ đứng với.

Tớ muốn ra ngoài."

"Chưa được đâu, Percy!"

Tôi thò chân xuống giường.

Nếu Annabeth không đỡ, tôi sẽ ngã chổng kềnh.

Cơn chóng mặt làm tôi tối tăm mặt mũi.

Annabeth la rầy: "Người ta nói thì không nghe..."

Tôi khăng khăng: "Tớ không sao mà!"

Tôi không muốn nằm dài như kẻ tàn phế trong khi Luke nhởn nhơ tìm cách phá hoại thế giới.

Tôi cố lê bước, nhưng phải đu cả người vào vai Annabeth.

Anh Argus đi theo, nhưng cách một quãng.

Ra tới thềm, tôi toát mồ hôi hột, bụng quặn thắt.

Nhưng tôi vẫn cố lết ra lan can.

Trời sẩm tối.

Toàn trại vắng lặng.

Các nhà tối đèn.

Sân bóng chuyền im ắng.

Không xuồng máy rẽ nước mặt hồ.

Ngoài cánh rừng và ruộng dâu, eo biển Long Island lấp lánh nhờ ánh nắng cuối cùng.

Annabeth hỏi: "

Sau này cậu tính thế nào?"

"Tớ không biết."

Tôi tâm sự rằng tôi không muốn nghe bác Chiron ở hẳn trại cho tiện việc tập tành.

Tuy nhiên, tôi không muốn bỏ Annabeth ở lại cùng Clarisse.

Annabeth mím môi khẽ nói: "Tớ sẽ về nhà đi học."

Tôi ngạc nhiên: "Về ở với cha cậu ư?"

Cô bé chỉ lên sườn đồi.

Cạnh cây thông Thalia, ngay hàng rào trại có hai đứa bé đứng cùng với một bà và một ông rất cao tóc bạch kim.

Hình như họ đợi ai đó.

Ông tóc bạch kim cầm ba lô giống ba lô Annabeth mang từ công viên nước Denver về.

"Vừa về trại, tớ viết thư cho cha ngay.

Giống như cậu khuyên ấy.

Tớ... mong cha tha thứ.

Nếu cha còn muốn tớ về, đầu năm học tớ sẽ sống với cả nhà.

Cha hồi âm ngay.

Hai cha con quyết định... sẽ làm lại từ đầu."

"Cậu can đảm thật!"

Annabeth sắp mếu: "Chín tháng ở đây, cậu phải cẩn thận nghe chưa!

Nhớ... gửi thư cho tớ!"

Tôi cười méo xẹo: "Thường thì rắc rối tự tìm đến, tớ không cần mời."

"Hè sang năm tớ quay lại, chúng mình cùng tìm Luke hỏi tội.

Tất nhiên mình xin phép, nhưng nếu bị cấm, mình cứ lẻn ra tự đi tìm.

Đồng ý không?"

"Thế mới xứng là con nữ thần Athena chứ!"

Cô bạn chìa tay.

Tôi nắm lấy.

"Bảo trọng nhé!

Nhớ cẩn thận!"

"Cậu cũng vậy!"

Tôi trông theo Annabeth lên đồi gặp người thân.

Ngượng ngập đến bên cha, Annabeth quay lại nhìn xuống thung lũng lần cuối.

Bạn tôi vuốt nhẹ cây Thalia rồi theo gia đình dấn thân vào thế giới người phàm.

Lần đầu tiên ở trại tôi thấy cô đơn vô cùng.

Tôi ngắm eo biển Long Island, lời cha tâm sự như vang bên tai: "Biển cả không thích bị kiềm chế."

Tôi quyết định ngay lúc đó.

Nếu cha đang dõi theo, ông sẽ nghĩ sao khi biết suy nghĩ này?

Tôi hứa với cha: "Hè tới con sẽ về trại.

Con sẽ sống khỏe suốt chín tháng, cha đừng lo.

Suy cho cùng, con là con trai thần biển kia mà."

Tôi nhờ anh Argus dìu xuống Nhà Số Ba để thu xếp hành trang chuẩn bị lên đường.

HẾT QUYỂN 1
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2: Biển Quái Vật - Lời giới thiệu


Percy Jackson và Biển Quái Vật là tập thứ hai trong series bộ truyện "Percy Jackson và các vị thần trên đỉnh Olympus" của tác giả Rick Riordan.

Truyện kể về năm lớp bảy của Percy Jackson trải qua một cách khá yên tĩnh.

Không có một con quái vật nào đặt chân vào khuôn viên trường học của cậu ở New York.

Nhưng khi trận đấu bóng ném bình thường giữa Percy và những người bạn cùng lớp của mình biến thành một trận đấu sống còn để chống lại một đám khổng lồ ăn thịt người xấu xí, mọi việc trở nên... xấu đi.

Và sự xuất hiện bất ngờ của Annabeth, một người bạn của Percy, đã mang đến thêm nhiều tin xấu: vành đai phép bảo vệ Trại Con Lai đã bị đầu độc bởi một kẻ thù bí ẩn.

Nếu không tìm được phương thức cứu chữa nó, nơi ẩn náu an toàn duy nhất dành cho các á thần sẽ bị tiêu diệt.

Diễn biến câu chuyện sẽ diễn ra như thế nào?

Mời các bạn cùng theo dõi và đón đọc nhé!

Biển Quái Vật đã được bán bản quyền cho hàng chục nước.

Trong phần hai của series này, Percy và các bạn phải đi đến Biển Quái Vật để cứu lấy trại yêu quý của họ.

Nhưng trước đó, Percy sẽ khám phá ra một bí mật khá choáng váng về gia đình mình – điều đó khiến cậu phải nghi ngờ về việc thừa nhận mình là con trai thần Poseidon là một vinh dự hay đơn giản chỉ là một trò đùa độc ác.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 1: Chương 1: Bạn thân tôi đi sắm một chiếc váy cưới


Cơn ác mộng của tôi bắt đầu như thế này.

Tôi đang đứng trên một con phố vắng tanh ở một thành phố biển nhỏ bé nào đó.

Giờ là nửa đêm.

Một cơn bão đang ập đến.

Gió và mưa lao vút qua những hàng cây cọ dọc con đường dành cho người đi bộ.

Cửa sổ ở các tòa nhà màu vàng và hồng xếp ngay ngắn dọc phố đều được bịt kín bằng ván.

Cách nơi tôi đang đứng một khối nhà, phía bên kia hàng rào dâm bụt, đại dương dậy sóng.

Florida, tôi thầm nghĩ.

Mặc dù tôi không biết chắc làm thế nào tôi biết được điều đó.

Tôi chưa từng tới Florida.

Rồi tôi nghe thấy tiếng móng guốc gõ lóc cóc trên nền đường cứng.

Tôi quay lại và nhìn thấy anh bạn Grover đang chạy bán sống bán chết.

Đúng vậy, tôi nói tiếng móng guốc.

Grover là một thần rừng.

Từ nửa người trên, nom cậu ấy giống hệt một thiếu niên cao lênh khênh với chòm râu lún phún ở cằm và khuôn mặt đầy mụn trứng cá.

Cậu ấy bước đi với vẻ khập khiễng kỳ lạ.

Nhưng trừ khi bạn vô tình bắt gặp cậu ấy lúc cậu ấy không mặc quần (tôi không hề gợi ý về điều này), nếu không bạn sẽ chẳng bao giờ biết được điều gì không là con người ở cậu ấy.

Chiếc quần jeans rộng thùng thình và cặp chân giả đã che giấu sự thật rằng cậu ấy có phần thân sau lông lá và có móng guốc của động vật.

Grover là bạn thân tôi năm lớp sáu.

Cậu ấy đã làm một chuyến phiêu lưu với tôi và một bạn gái tên là Annabeth để cứu cả thế giới.

Nhưng tôi không gặp cậu ấy từ tháng bảy năm trước khi cậu ấy bắt đầu một mình đơn độc lên đường thực hiện một cuộc tìm kiếm mà trước đó không một thần rừng nào có thể quay về.

Dù sao, trong giấc mơ của tôi, Grover đang kéo lê chiếc đuôi dê, ôm đôi giày trong tay theo cách mà cậu ấy làm khi cần di chuyển nhanh hơn.

Cậu ấy gõ móng lộp cộp qua các cửa hiệu mua sắm nhỏ dành cho khách du lịch và những nơi cho thuê ván lướt sóng.

Gió uốn cong những cây cọ gần như ngã rạp xuống đất.

Grover rất sợ hãi thứ gì đó bám theo sau cậu ấy.

Cậu ấy hẳn mới đi lên từ bãi biển bởi cát ẩm ướt vẫn còn đóng lại trên bộ lông.

Cậu ấy đã trốn thoát khỏi một nơi nào đó và đang cố gắng để thoát khỏi... thứ gì đó.

Một tiếng gầm đinh tai nhức óc vang lên trong cơn bão.

Một cái bóng lù lù hiện ra ở tận khối nhà cuối cùng xa xa, sau lưng Grover.

Nó đánh dây đèn đường dạt sang một bên, khiến chúng nổ tung trong một chùm tia lửa.

Grover bị trượt chân và khóc thút thít vì sợ hãi.

Cậu ấy thì thầm với chính mình, "Phải thoát khỏi nơi đây!

Phải báo cho họ biết!"

Tôi không thể thấy được cái gì đang đuổi theo cậu ấy.

Nhưng tôi có thể nghe thấy tiếng nó cằn nhằn và nguyền rủa.

Mặt đất rung lên khi nó tiến lại gần.

Grover bị vấp khi rẽ nhánh ở góc phố.

Cậu ấy chạy vào một dãy các cửa tiệm ở góc phố cụt.

Không còn thời gian để quay trở lại nữa.

Cánh cửa gần nhất bị bão làm bật tung.

Dòng chữ phía trên cửa kính bày hàng bị bóng tối bao trùm ghi: "TIỆM ÁO CƯỚI AUGUSTINE".

Grover lao vào trong.

Cậu ấy biến mất bên dưới giá treo áo cưới.

Cái bóng của con quái vật nọ đã hằn lên phía trước cửa tiệm.

Tôi có thể ngửi thấy mùi gì đó - một sự kết hợp kinh tởm giữa lông cừu và thịt thối cùng mùi hương cơ thể ôi thiu khác thường chỉ có ở những con quái vật.

Grover run bần bật sau những chiếc váy cưới.

Bỗng con quái vật đã lướt qua.

Không gian hoàn toàn im lặng chỉ có tiếng mưa rơi rả rích.

Grover hít một hơi sâu.

Có lẽ thứ đó đã bỏ đi rồi.

Rồi một tia chớp lóe lên.

Toàn bộ phần trước cửa tiệm nổ tung, và một giọng nói gớm ghiếc rống lên: "CỦA...

TAAAAA!"

Tôi ngồi bật dậy, run rẩy trên giường.

Không có cơn bão, cũng không có con quái vật nào cả.

Những tia nắng ban mai đang rọi qua cửa phòng ngủ của tôi.

Tôi nghĩ mình đã nhìn thấy một cái bóng lập lòe trên lớp cửa kính - có hình dáng của con người.

Nhưng khi có tiếng gõ cửa phòng và tiếng mẹ tôi gọi: "Percy ơi, con sẽ bị muộn mất."

Cái bóng ở cửa sổ lập tức biến mất.

Nó hẳn là do tôi đã tưởng tượng ra.

Cửa sổ tầng năm và lối thoát hiểm ọp ẹp... chắc chắn không thể có ai ngoài đó.

Mẹ tôi gọi lần nữa: "Nhanh lên con!

Ngày cuối ở trường đấy.

Con sẽ rất vui cho mà xem.

Con gần như sắp đạt được điều con hằng ước nguyện!"

"Con đang ra đây."

Tôi đáp.

Tôi sờ tay xuống dưới gối.

Những ngón tay tôi khép kín một cách vững chắc quanh chiếc bút mà tôi luôn ngủ cùng.

Tôi lấy nó ra và nghiên cứu dòng chữ Hy Lạp cổ đại được khắc ở bên hông: Anaklusmos.

Thủy Triều.

Tôi đã nghĩ tới việc mở nắp cây bút nhưng có thứ gì đó giữ tôi lại.

Tôi đã không sử dụng cây Thủy Triều này từ lâu lắm rồi...

Hơn nữa, mẹ đã bắt tôi hứa không được dùng những vũ khí chết người trong nhà kể từ khi tôi vung vẩy ngọn lao sai hướng, làm hỏng đi cái tủ đựng cốc tách bát đĩa kiểu của mẹ.

Tôi cất cây Thủy Triều trên bàn đầu giường và lê người ra khỏi giường.

Tôi nhanh chóng mặc quần áo và cố không nghĩ đến cơn ác mộng của tôi hay lũ quái vật hoặc về cái bóng nơi cửa sổ.

"Phải thoát ra khỏi đây!

Phải báo cho họ biết!"

Grover định ám chỉ về điều gì nhỉ?

Tôi dí ba ngón tay về phía trái tim và đẩy khẽ ra phía ngoài.

Đây là cử chỉ cổ xưa mà Grover từng dạy tôi để tránh khỏi lũ ma quỷ.

Giấc mơ không thể là thật được.

Ngày cuối cùng ở trường, mẹ đã đúng, tôi nên vui vẻ.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gần như hoàn thành xong một năm mà không hề bị đuổi học.

Không có các tai nạn kỳ lạ.

Không đánh nhau trong lớp học.

Không có thầy cô biến thành quái vật và cố giết tôi bằng đồ ăn có độc hoặc đống bài tập ngồn ngộn tới phát điên.

Ngày mai, tôi sẽ lên đường tới nơi mà tôi yêu thích nhất trên thế giới - Trại Con Lai.

Chỉ còn một ngày nữa thôi.

Chắc chắn rằng mọi chuyện sẽ không bị rối tung lên đâu.

Và như thường lệ, tôi không hiểu sao mọi chuyện lại thành như thế này.

Mẹ làm món bánh quế xanh và trứng xanh cho bữa sáng.

Mẹ thật buồn cười với những thứ kiểu như vậy - luôn ăn mừng những dịp đặc biệt bằng đồ ăn màu xanh.

Tôi nghĩ đó là cách mẹ muốn nói rằng không có gì là không thể.

Percy có thể qua được lớp bảy.

Bánh quế có thể màu xanh.

Đúng là ảo thật mà.

Tôi ăn sáng tại bàn khi mẹ đang rửa chén đĩa.

Mẹ mặc đồng phục đi làm - một chiếc váy điểm những ngôi sao xanh, một chiếc áo sọc trắng và đỏ mà mẹ vẫn thường mặc khi bán kẹo ở tiệm Kẹo Ngọt Ở Mỹ.

Mái tóc dài màu nâu của mẹ buộc đuôi ngựa gọn gàng phía sau.

Bánh quế rất tuyệt, nhưng tôi đoán mình đã không chú ý đến nó nhiều như vẫn thường làm.

Mẹ nhìn tôi và cau mày.

"Percy, con không sao chứ?"

"Dạ...

ổn ạ."

Nhưng mẹ luôn luôn có thể biết được khi nào có chuyện gì làm tôi bực mình.

Mẹ lau khô tay và ngồi xuống trước mặt tôi.

"Chuyện trường học hay là..."

Mẹ không cần phải nói nốt vì tôi biết điều mẹ đang hỏi.

"Con nghĩ rằng Grover đang gặp chuyện!"

Tôi nói và kể lại cho mẹ về giấc mơ.

Mẹ mím chặt môi.

Chúng tôi không nói nhiều về phần khác trong cuộc sống của tôi.

Chúng tôi cố gắng sống càng bình thường càng tốt, nhưng mẹ tôi biết tất cả về Grover.

Mẹ nói: "Con yêu, mẹ sẽ không quá lo lắng đâu.

Grover là một thần rừng đã trưởng thành.

Nếu có vấn đề gì đó, mẹ chắc rằng chúng ta sẽ được nghe tin từ... từ trại..."

Đôi vai mẹ căng lên khi nhắc tới từ trại.

"Có chuyện gì ạ?"

Tôi hỏi.

"Không có gì!

Mẹ sẽ nói cho con sau!

Chiều nay chúng ta sẽ tổ chức ăn mừng ngày cuối cùng ở trường của con đã.

Mẹ sẽ đưa con và Tyson tới Trung tâm Rockefeller - chỗ tiệm bán ván trượt mà con vẫn thích."

Mẹ đáp.

Ôi trời ơi, điều đó thật hấp dẫn.

Chúng tôi luôn phải vật lộn với tiền bạc.

Với học phí các lớp học buổi tối của mẹ và của tôi ở trường tư, chúng tôi sẽ không bao giờ có đủ khả năng để làm những điều đặc biệt như đi mua một tấm ván trượt.

Nhưng có điều gì đó trong giọng nói của mẹ khiến tôi lo lắng.

"Khoan đã mẹ!

Con nghĩ chúng ta nên đóng đồ tới trại tối nay."

Tôi nói.

Mẹ xoắn chặt cái giẻ rửa bát: "Ồ, con yêu!

Về chuyện này... mẹ có nhận được lời nhắn của bác Chiron từ tối qua."

Lòng tôi se lại.

Bác Chiron từng là người điều hành hoạt động của Trại Con Lai.

Bác ấy sẽ không liên hệ với chúng tôi trừ phi có điều gì đó nghiêm trọng đang xảy ra.

"Bác ấy đã nói gì?"

"Bác ấy nghĩ... sẽ không an toàn cho con nếu con tới trại.

Chúng ta phải trì hoãn việc này."

"Trì hoãn ư?

Mẹ, không an toàn là thế nào?

Con là một á thần.

Trại giống như là một nơi an toàn duy nhất trên Trái Đất dành cho con vậy."

"Thông thường là vậy, cưng à.

Nhưng với vấn đề mà họ đang gặp phải thì..."

"Vấn đề gì vậy mẹ?"

"Percy...

Mẹ, mẹ xin lỗi!

Mẹ mong có thể nói cho con chuyện này vào chiều nay.

Mẹ không thể giải thích tất cả vào lúc này được.

Mẹ cũng không chắc là bác Chiron có thể giải thích.

Tất cả mọi chuyện diễn ra quá đột ngột."

Những dòng suy nghĩ của tôi quay cuồng, đan xoắn vào nhau.

Sao tôi lại không thể tới trại được?

Tôi muốn bật ra hàng triệu câu hỏi nhưng chiếc đồng hồ đã điểm chuông báo hết nửa giờ.

Nom mẹ đã bớt căng thẳng hơn: "Bảy giờ ba mươi rồi đấy, con yêu.

Con phải đi thôi!

Tyson đang đợi..."

"Nhưng..."

"Percy, chúng ta sẽ nói chuyện này vào buổi chiều nhé!

Giờ tới trường thôi!"

Đó là điều cuối cùng tôi muốn làm.

Nhưng trong mắt mẹ có thứ gì đó dễ vỡ như một kiểu cảnh báo rằng nếu tôi cứ thúc bách bà quá nhiều, bà sẽ bật khóc.

Hơn nữa, mẹ tôi nói đúng về bạn tôi - Tyson.

Tôi phải gặp cậu ấy ở ga tàu điện ngầm đúng giờ hoặc cậu ấy sẽ cảm thấy khó chịu.

Cậu ấy rất hãi phải đi một mình dưới lòng đất.

Tôi gom mọi thứ của tôi lại, nhưng ngập ngừng nơi cửa: "Mẹ... vấn đề của trại có liên quan tí nào tới giấc mơ của con về Grover không ạ?"

Mẹ tránh ánh mắt tôi: "Chúng ta sẽ nói chuyện này vào buổi chiều nhé, con yêu!

Mẹ sẽ giải thích tất cả... trong mức mẹ có thể."

Tôi miễn cưỡng chào tạm biệt mẹ rồi chạy xuống cầu thang để đuổi kịp chuyến tàu Số Hai.

Vào lúc đó tôi không biết được rằng mẹ và tôi không bao giờ có được cuộc chuyện trò vào buổi chiều như đã định.

Thực tế tôi sẽ không được về nhà trong một khoảng thời gian khá dài.

Khi bước ra ngoài, tôi liếc nhìn tòa nhà xây bằng đá màu nâu ở con phố đối diện.

Chỉ trong tích tắc, tôi nhìn thấy một bóng đen trong ánh nắng ban mai rực rỡ - một bóng người phản chiếu lên bức tường gạch, một cái bóng vô chủ.

Rồi nó khẽ lay động và biến mất.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 2: Tôi chơi bóng ném[1] với những kẻ ăn thịt người


[1] Một môn thể thao quen thuộc của đa số các trường đại học ở Mỹ hay Canada.

Trong trò chơi này, phân chia số người làm hai đội, mỗi đội sẽ cố gắng ném bóng trúng đối phương và né những quả đối phương ném trả, đội nào bị ném trúng hết cả đội sẽ thua cuộc.

Một ngày của tôi bắt đầu rất bình thường.

Ít ra nó vẫn bình thường như mọi ngày tại trường Trung học Meriwether.

Có thể thấy đó là một trường "cấp tiến" nằm trong khu thương mại Manhattan.

Điều đó có nghĩa là chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế túi[2] thay cho những chiếc ghế cứng quèo.

Chúng tôi không cần lấy điểm, thầy cô mặc đồ jeans và áo phông trong buổi biểu diễn nhạc rock khi lên lớp.

[2] Được sáng tạo bởi một nhóm nhà thiết kế người Ý: Piero Gatti (1940), Cesare Paolini (1937), và Franco Teodoro (1939) vào những năm 1968, cho công ty Zanotta, Italy.

Mẫu ghế đầu tiên có hình dáng như quả lê với chất liệu vinyl và được đổ đầy hạt nhựa (polystyrene plastic pellets).

Mẫu ghế túi đã làm một cuộc cách mạng mới trong khái niệm về các loại ghế có thiết kế cứng nhắc, không linh động.

Ngoài ra, sản phẩm này trở thành một hiện tượng của thế giới và một biểu tượng hàng đầu trong nội thất những năm 1970.

Lý do là mẫu ghế này nằm sát sàn nhà, và thích hợp với vị trí nằm ườn của con người.

Ngoài ra, các nhà thiết kế lại thích vì nó là mẫu ghế có trọng lượng nhẹ và linh động.

Các nhà trị liệu khám phá rằng loại ghế này có ích cho những trẻ gặp vấn đề về cảm giác...

Điều đó thật tuyệt với tôi.

Ý tôi là tôi mắc chứng ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý) và chứng khó đọc - giống như phần lớn những đứa con lai khác.

Thế nên tôi sẽ chẳng làm được điều gì ra hồn trong các trường bình thường ngay cả trước khi họ đuổi tôi đi.

Điều khó chịu duy nhất ở Meriwether là giáo viên luôn nhìn vào những phần sáng sủa của sự việc và lũ trẻ lại không thường...

ờ ngoan ngoãn và sáng sủa cho lắm.

Giờ học đầu tiên của tôi trong ngày hôm nay là môn tiếng Anh.

Hầu như cả trường đều phải đọc cuốn sách có tên Chúa Ruồi[3], nơi tất cả lũ trẻ bị bỏ lại trên một hòn đảo và trở nên điên loạn.

Vì vậy đối với bài kiểm tra cuối kỳ của chúng tôi, giáo viên đã cho chúng tôi ra sân chơi một tiếng đồng hồ không có sự giám sát của người lớn, để quan sát điều gì sẽ xảy ra.

Điều đã xảy ra là một trận chiến giày đế bằng rất căng thẳng giữa học sinh lớp bảy và lớp tám, hai cuộc chiến bằng đá cuội và một trò bóng rổ.

Thằng đầu bò của trường - Matt Sloan - đã dẫn đầu hầu hết các trò.

[3] Là tiểu thuyết đầu tay của tác giả William Gerald Golding (19/9/1911 - 19/6/1993) được xuất bản năm 1954 (dựng thành phim năm 1963 và 1990) kể về những cậu bé Anh bị lạc trên một hoang đảo sau khi chuyến máy bay chở chúng đi sơ tán bị bắn hạ trong một cuộc chiến tranh nguyên tử.

Trong môi trường không có người lớn, những cậu bé đã tỏ ra cứng rắn không ngờ.

Ban đầu cuốn tiểu thuyết bị hai mươi mốt nhà xuất bản từ chối, nhưng sau khi in, nó lại trở nên nổi tiếng ngay lập tức, trở thành giáo trình văn học tại Anh, Mỹ và nhiều nước châu Âu.

Đây được xem là kiệt tác của thế kỷ 20 và góp phần đưa tác giả đến với giải Nobel Văn chương năm 1983.

Sloan không hề to lớn, vạm vỡ nhưng nó luôn ra vẻ như thể nó ghê gớm lắm.

Đôi mắt nó giống mắt của chú chó chọi Pitbull[4], mái tóc đen bờm xờm.

Nó luôn mặc quần áo đắt tiền nhưng nhếch nhác như kiểu muốn tất cả mọi người chứng kiến việc nó không thèm mảy may quan tâm tới tiền của gia đình mình như thế nào.

Một chiếc răng cửa của nó bị mẻ từ cái lần nó lén đi chơi bằng chiếc Porsche của cha nó và lao thẳng vào biển báo "XIN ĐI CHẬM LẠI!

CÓ TRẺ EM".

[4] Chó chọi Pitbull được xem là "hung thần" của các loại chó chọi.

Pitbull có gốc gác từ châu Mỹ xa xôi.

Đặc điểm nổi trội của giống chó này là bảo vệ lãnh địa, bảo vệ chủ nên chúng có thể chiến đấu đến hơi thở cuối cùng khi có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa.

Chó Pitbull có rất nhiều màu lông: vàng, đen, trắng... hay màu xanh thiên thanh.

Chính vì những đặc tính đặc biệt của dòng Pitbull, phong trào nuôi chó loại này phát triển mạnh ở nhiều nước.

Sloan thuộc thể loại thích bắt nạt tất cả mọi người, cho đến khi nó mắc sai lầm khi cố thử làm điều đó với Tyson bạn tôi.

Tyson là đứa trẻ vô gia cư duy nhất ở trường Trung học Meriwether.

Cũng gần giống như mẹ và tôi nghĩ, cậu ấy bị bố mẹ ruồng bỏ từ khi còn là một đứa con nít, chắc chắn bởi cậu ấy... quá khác thường.

Tyson cao hai mét và nom giống như một Người tuyết.

Nhưng cậu ấy lại khóc rất nhiều và sợ hãi tất cả mọi thứ, bao gồm cả cái bóng phản chiếu của chính mình.

Gương mặt cậu ấy trông méo mó và có vẻ hung ác.

Tôi không thể kể ra được màu mắt của Tyson vì tôi chưa bao giờ nhìn cao hơn hàm răng vẹo vọ của cậu ấy.

Giọng cậu ấy rất trầm nhưng nói chuyện khá hài hước, giống như một đứa trẻ ít tuổi hơn rất nhiều.

Tôi đoán rằng đó là do cậu ấy chưa từng đi học trước khi tới Meriwether.

Cậu ấy mặc chiếc quần jeans rách rưới, đi đôi giày size hai mươi cáu bẩn, chiếc áo sơ mi bằng vải linen kẻ sọc với đầy lỗ thủng.

Cậu ấy có hơi thở như những ngóc ngách của thành phố New York.

Vì đó là nơi mà cậu ấy sống, trong một thùng chứa tủ lạnh bằng giấy các-tông trên Phố Bảy hai.

Trường Meriwether nhận cậu ấy như một dự án phục vụ cộng đồng để tất cả học sinh đều cảm thấy chúng may mắn.

Nhưng thật không may, phần lớn trong số chúng lại không đứng về phía Tyson.

Một lần chúng phát hiện ra rằng cậu ấy chỉ là một đứa mềm yếu to xác, bất chấp cơ thể cường tráng và cái nhìn đáng sợ của cậu ấy, chúng làm mình vui bằng cách kiếm chuyện với Tyson.

Tôi là người bạn duy nhất của Tyson.

Điều đó cũng có nghĩa cậu ấy là người bạn duy nhất của tôi.

Mẹ tôi từng phàn nàn với nhà trường hàng triệu lần rằng họ chẳng giúp được Tyson gì cả.

Bà đã gọi tới các dịch vụ xã hội nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra.

Những người hoạt động công tác xã hội đã quả quyết rằng Tyson không hề tồn tại.

Họ thề rằng đã đi suốt con hẻm mà chúng tôi miêu tả nhưng không tìm thấy cậu ấy.

Tôi không tài nào hiểu nổi rằng sao họ có thể không nhìn thấy một cậu bé to lớn sống trong một cái hộp tủ lạnh được chứ.

Matt lẻn ra sau lưng Tyson và cố tộng cho cậu ấy một chiếc giày.

Tyson đã rất hốt hoảng.

Cậu ấy hất hơi mạnh quá vào người Sloan.

Sloan bắn ra xa tới năm mét và cắm đầu vào dây đu bằng lốp của các em lớp nhỏ.

Sloan hét lên: "Thằng quái vật!

Sao không quay về cái hộp các-tông của mày đi?"

Tyson bắt đầu nức nở và ngồi mạnh xuống chỗ leo trèo dành cho trẻ em khiến các thanh cong vòng xuống, vùi đầu vào hai tay.

"Rút lại lời mày vừa nói đi, Sloan!"

Tôi hét to.

Sloan chỉ cười khinh bỉ với tôi: "Tại sao mày lại bực mình hả Jackson?

Mày sẽ có nhiều bạn bè hơn nếu mày không luôn dính tới thứ quái vật này nữa."

Tôi nắm chặt nắm đấm và hy vọng mặt mình không đỏ như tôi cảm thấy: "Cậu ấy không phải là quái vật.

Cậu ấy chỉ là..."

Tôi cố gắng suy nghĩ những điều đúng đắn để nói nhưng Sloan không nghe nữa.

Nó và mấy thằng bạn dữ tợn của nó chỉ mải cười cợt.

Tôi tự hỏi nếu đây chỉ là tưởng tượng của tôi, hay là Sloan có nhiều thằng ngu vây quanh nó hơn bình thường.

Tôi thường nhìn thấy nó đi cùng hai hoặc ba đứa gì đó, nhưng hôm nay con số đó có thể lên đến hơn mười hai đứa.

Và tôi có thể đoan chắc rằng mình chưa bao giờ gặp chúng trước đó.

Sloan kêu to: "Cứ chờ tới giờ thể dục đi, Jackson à!

Mày sẽ chết chắc!"

Khi giờ học đầu tiên kết thúc, giáo viên tiếng Anh của chúng tôi - thầy de Milo - bước ra ngoài để kiểm tra cuộc tàn sát này.

Thầy ấy phát biểu rằng chúng tôi đã hoàn toàn hiểu về tác phẩm Chúa ruồi.

Tất cả chúng tôi đều hoàn thành tốt môn học của ông và chúng tôi sẽ không bao giờ lớn lên thành những kẻ bạo lực.

Matt Sloan gật đầu đầy nhiệt tình và nhìn về phía tôi với nụ cười toe toét.

Tôi phải hứa mua cho Tyson thêm một chiếc bánh sandwich bơ lạc vào bữa trưa để cậu ấy ngưng khóc.

"Tớ... tớ là quái vật ư" Cậu ấy hỏi.

"Không!"

Tôi đáp và nghiến răng kèn kẹt: "Matt Sloan mới là đứa quái vật!"

Tyson khụt khịt: "Cậu là bạn tốt nhất của tớ.

Năm tới tớ sẽ nhớ cậu lắm nếu... nếu tớ không thể..."

Giọng cậu ấy run lên.

Tôi nhận ra rằng cậu ấy không hề hay biết gì về việc mình được mời quay lại trường vào năm tới theo dự án phục vụ cộng đồng.

Tôi tự hỏi liệu hiệu trưởng có thèm nói chuyện với cậu ấy về vấn đề này không.

Tôi ra vẻ dỗ dành: "Đừng lo lắng, chàng trai to lớn à!

Mọi thứ rồi sẽ ổn thôi."

Tyson liếc nhìn tôi đầy khoan khoái khiến tôi cảm thấy mình như một kẻ siêu cấp láo trá.

Sao tôi lại có thể hứa với một đứa trẻ như cậu ấy rằng mọi thứ rồi sẽ ổn chứ?

Buổi thi tiếp theo của chúng tôi là môn khoa học.

Cô Tesla nói với chúng tôi rằng cần phải pha hóa chất vào nhau cho tới khi chúng tôi thành công trong việc tạo nên một chất nổ gì đó.

Tyson là bạn làm chung thí nghiệm cùng tôi.

Đôi tay của cậu ấy quá lớn so với những cái ống nghiệm bé xíu mà chúng tôi được cấp để sử dụng.

Cậu ấy vô tình gạt đổ một khay hóa chất từ trên bàn xuống và tạo nên một đám mây nấm màu cam trong thùng rác.

Sau khi cô Tesla di tản mọi người ra khỏi phòng thí nghiệm và gọi đội dọn dẹp chất thải nguy hiểm tới, cô ca ngợi Tyson và tôi là những nhà khoa học bẩm sinh.

Chúng tôi là những người đầu tiên hoàn thành xuất sắc bài thi của cô dưới ba mươi giây.

Tôi rất mừng khi ấy buổi sáng trôi qua thật nhanh vì nó giữ cho tôi không nghĩ quá nhiều về những vấn đề của mình.

Tôi không thể chịu được ý tưởng rằng có điều gì đó không đúng đang diễn ra ở trại.

Thậm chí tồi tệ hơn, tôi không thể giũ sạch cơn ác mộng kinh khủng khỏi ký ức của mình.

Tôi có một cảm giác cực kỳ tệ hại rằng Grover đang gặp nguy hiểm.

Ở môn xã hội, khi chúng tôi đang vẽ những bản đồ kinh tuyến/vĩ tuyến, tôi mở sổ tay ra và nhìn chăm chú vào bức hình bên trong - Annabeth bạn tôi đang đi nghỉ ở Washington, DC.

Cô ấy mặc quần jeans, áo khoác bằng vải giả jeans bên ngoài chiếc áo phông màu cam của Trại Con Lai.

Mái tóc vàng của cô ấy được buộc gọn bằng một chiếc khăn lớn in hoa.

Cô ấy đang đứng trước Đài Tưởng niệm Lincoln với hai tay khoanh lại, với cái nhìn như rất hài lòng chính mình, như thể chính cô ấy đã thiết kế nên nơi đó.

Có thể thấy Annabeth muốn trở thành một kiến trúc sư khi lớn lên.

Vì thế cô ấy luôn đi thăm các đài kỷ niệm và những công trình nổi tiếng.

Cô ấy luôn kỳ lạ như thế.

Cô ấy gửi email cho tôi bức hình này sau kỳ nghỉ mùa xuân.

Và cứ mỗi lần nhìn nó, tôi lại tự nhắc nhở rằng cô ấy có thật và Trại Con Lai không phải là trí tưởng tượng của tôi.

Tôi ước gì Annabeth có ở đây.

Cô ấy sẽ biết căn nguyên giấc mơ của tôi.

Tôi chưa bao giờ thừa nhận điều này với cô ấy.

Nhưng cô ấy thông minh hơn tôi, ngay cả những lúc cô ấy khó chịu đi chăng nữa.

Tôi đang định đóng cuốn sổ lại thì Matt Sloan thò tay tới và xé tấm hình ra khỏi cuốn sổ.

"Này!"

Tôi phản đối.

Sloan kiểm tra tấm hình, đôi mắt nó mở to.

"Không đời nào, Jackson!

Ai thế?

Cô ấy không phải là... của mày chứ?"

"Trả lại đây!"

Tai tôi bắt đầu nóng bừng.

Sloan đưa tấm hình cho mấy thằng bạn dữ tợn của nó - những đứa đang cười khúc khích và bắt đầu xé toạc tấm hình ra thành nhiều mảnh nhỏ.

Chúng là những học sinh mới đang đi tham quan trường học vì tất cả bọn chúng vẫn đang đeo những tấm thẻ tên ngớ ngẩn của phòng tuyển sinh có dòng chữ "CHÀO!

TÊN TÔI LÀ:" Chúng hẳn phải có sự hài hước kỳ quái vì chúng đã điền vào những cái tên kỳ lạ như: MARROW SUCKER[5], SKULL EATER[6], và JOE BOB.

Không có người nào mang những cái tên như vậy cả.

[5] KẺ HÚT TỦY.

[6] KẺ ĂN ÓC.

Sloan khoe khoang như thể đang cố dọa cho tôi sợ: "Những thằng này sẽ tới đây vào năm tới.

Tao cá rằng chúng có thể trả học phí, không giống như thằng bạn chậm tiến của mày."

"Cậu ấy không chậm tiến!"

Tôi gắng hết sức để không thụi cho Sloan một quả vào mặt.

"Mày cũng là một kẻ thất bại thôi, Jackson à!

Điều tốt là tao sẽ tống khứ mày ra khỏi những bất hạnh của mày vào giờ học tiếp theo."

Đám bạn thân to tợn của nó đang nhai tấm hình của tôi.

Tôi muốn nghiền nát chúng ra, nhưng tôi phải tuân theo những quy định khắt khe của bác Chiron là không bao giờ được trút sự tức giận của mình lên những người bình thường, cho dù họ đáng ghét thế nào đi chăng nữa.

Tôi phải để dành chuyện đánh đấm cho lũ yêu quái.

Tuy nhiên một phần trong tôi lại nghĩ rằng, nếu Sloan chỉ cần biết tôi thực sự là...

Chuông reo vang.

Khi Tyson và tôi rời lớp học, một giọng con gái thì thầm: "Percy!"

Tôi nhìn quanh về khu vực để đồ nhưng không ai mảy may chú ý tới tôi.

Như thể bất cứ đứa con gái nào ở Meriwether sẽ chết khi gọi tên tôi.

Trước khi tôi có thời gian nghĩ ngợi xem điều này có phải do tôi tưởng tượng ra hay không thì một đám nhóc tì đã vội vàng đi đến phòng thể dục, cuốn theo cả Tyson và tôi.

Đây là giờ tập thể dục.

Huấn luyện viên của chúng tôi đã hứa cho chúng tôi tự do chơi môn bóng ném và Matt Sloan đã thề sẽ giết tôi.

Đồng phục tập thể thao ở Meriwether là quần soóc màu xanh da trời và áo thun có hoa văn nhuộm tie-dye[7].

May sao chúng tôi đều thực hiện phần lớn các hoạt động thể thao bên trong trường, vì thế, chúng tôi không phải chạy bộ khắp Tribeca giống như một đám nhóc hippy đi cắm trại.

[7] Phong cách Tie-dye bắt nguồn từ cách buộc nhuộm Shibori nhằm tạo hoa văn cho áo Kimono của Nhật Bản từ thế kỷ thứ VII.

Ở châu Phi, phong cách này cũng ra đời từ rất sớm và thường được coi là nguồn cảm hứng cho phong cách thời trang Hippy tại Âu Mỹ sau này.

Ngày nay, vải Tie-dye thường được dùng để may váy, áo, làm khăn quàng cổ thậm chí là túi xách, giày dép và các phụ kiện.

Đúng như tên gọi của mình, Tie-dye chính là cách tạo hoa văn, họa tiết cho vải bằng cách buộc túm và nhuộm màu tùy thích.

Sau khi thuốc nhuộm ngấm khô, mảnh vải sẽ là tổng hòa của những vệt màu loang lổ đầy ngẫu hứng.

Có các loại vải Tie-dye như Tie-dye với vòng xoắn trung tâm, Tie-dye sọc, Tie-dye vòng tròn, Tie-dye dạng tia nắng, Tie-dye hình xoắn ốc, hình chữ V hay Tie-dye tự do...

Mỗi loại vải này sẽ có hoa văn, họa tiết khác nhau tùy theo kỹ thuật cũng như ý đồ của người nhuộm.

Tại phòng thay quần áo, tôi thay trang phục với tốc độ nhanh nhất có thể vì tôi không muốn gặp mặt Sloan.

Tôi vừa định rời đi thì Tyson gọi: "Percy!"

Cậu ấy vẫn chưa thay đồ, đang đứng nơi cánh cửa phòng tập tạ, tay nắm chặt bộ đồ tập.

"Cậu sẽ..."

Tôi cố gắng không bực mình thêm về chuyện này: "Ờ, được!

Được, dĩ nhiên rồi, anh bạn ạ!"

Tyson cúi người xuống và đi vào bên trong phòng tập tạ.

Tôi đứng gác ngoài cửa trong lúc cậu ấy thay đồ.

Tôi cảm thấy lúng túng ngượng nghịu khi làm điều này, nhưng cậu ấy luôn nhờ tôi như vậy trong hầu hết các ngày.

Tôi nghĩ điều này có thể bởi người cậu ấy đầy lông và lưng cậu ấy đầy những vết sẹo kinh khủng tới mức tôi không đủ dũng cảm để hỏi về chúng.

Hơn nữa, tôi biết rõ rằng nếu ai đó chọc ghẹo Tyson lúc cậu ấy đang thay đồ, cậu ấy sẽ khó chịu và phá bung các cánh cửa tủ đựng đồ.

Khi chúng tôi bước vào phòng tập, huấn luyện viên Nunley đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ và đọc tạp chí Sports Illustrated.

Thầy Nunley nom như một triệu tuổi với cặp kính lão, móm mém và mái tóc nhờn màu xám lượn sóng.

Ông nhắc tôi nhớ tới Nhà Tiên Tri ở Trại Con Lai - vốn là một xác ướp quắt queo - ngoại trừ việc thầy Nunley di chuyển nhiều hơn và chưa bao giờ tỏa ra khói xanh.

Ừm, ít nhất cũng không phải giống như tôi quan sát.

Matt Sloan hỏi: "Thưa huấn luyện viên, em làm đội trưởng được không?"

"Hả?"

Huấn luyện viên Nunley ngước nhìn lên khỏi tờ tạp chí.

"Ừ!

Ừm, ừm!"

Ông lầm bầm.

Sloan cười toe toét và đảm đương việc chọn người.

Nó bắt tôi làm đội trưởng của một nhóm khác.

Nhưng điều đó không có nghĩa tôi cũng được lựa chọn vì tất cả các vận động viên và những đứa trẻ được ái mộ trong trường đều về phe Sloan.

Và cả nhóm học sinh tham quan trường to lớn ấy nữa.

Về phía đội của tôi, tôi chỉ có Tyson, con mọt máy tính Corey Bailer, Raj Mainali - người cực kỳ xuất sắc môn toán và hơn nửa tá con nít là những kẻ luôn bị Sloan và đám bạn nó quấy rối.

Thường thì tôi chỉ luôn hòa hợp với Tyson - mình cậu ấy đã đáng giá bằng nửa đội - nhưng nhóm học sinh tham quan trường ở đội Sloan hầu hết lại cao lớn, nhìn có vẻ mạnh mẽ như Tyson và chúng có tới sáu tên.

Matt Sloan đổ một cái lồng đầy bóng ra giữa sàn tập.

Tyson lẩm bẩm: "Sợ!

Có mùi ngồ ngộ!"

Tôi nhìn cậu ấy.

"Cái gì có mùi ngồ ngộ?"

Vì tôi không cho rằng cậu ấy đang nói về chính mình.

"Chúng!"

Tyson chỉ về những người bạn mới của Sloan.

"Có mùi ngồ ngộ!"

Nhóm học sinh tham quan trường đang bẻ các đốt ngón tay và nhìn chòng chọc vào chúng tôi như thể sắp đến thời khắc tàn sát.

Tôi không thể tự hỏi chúng đến từ đâu.

Một nơi mà họ cho bọn trẻ ăn thịt sống và đánh chúng bằng roi vọt.

Sloan thổi còi của huấn luyện viên và trận đấu bắt đầu.

Đội của Sloan chạy tới vạch trung tâm.

Phía đội tôi, Raj Mandali hét lên thứ gì đó bằng tiếng Hindi, hình như "Tớ phải đi vệ sinh!" và chạy như bay về phía cửa.

Corey Bailer cố luồn vào phía sau tấm thảm treo tường để trốn.

Phần còn lại trong đội chúng tôi đang ngồi co rúm lại sợ hãi và nom không giống như những mục tiêu tí nào.

Tôi nói: "Tyson!

Chúng ta..."

Một trái bóng đập rầm vào phần ruột tôi.

Tôi nện mông mạnh xuống giữa sàn nhà thi đấu.

Đội bên kia đang phá ra cười nắc nẻ.

Mắt tôi như mờ đi.

Tôi có cảm giác mình vừa được một con khỉ đột thực hiện kỹ thuật cấp cứu chống nghẹt thở.

Tôi không thể tin được ai đó lại có thể ném mạnh như thế.

Tyson hét lên: "Percy, cúi đầu xuống!"

Tôi lăn mình khi một quả bóng ném khác bay vụt qua tai tôi với tốc độ âm thanh.

"Whooom!"

Nó đập mạnh vào tấm thảm treo tường và Corey Bailer kêu ầm lên.

Tôi hét lớn về phía đội của Sloan: "Này!

Bọn mày có thể sẽ giết chết ai đó."

Một trong nhóm học sinh tham quan trường tên Joe Bob nhìn tôi cười cay độc.

Không hiểu sao giờ nom nó to hơn... thậm chí còn cao hơn cả Tyson.

Bắp tay nó cuồn cuộn dưới lớp áo thun.

"Tao hy vọng thế, Perseus Jackson à!

Tao hy vọng thế!"

Cái cách hắn nói tên tôi khiến tôi ớn lạnh sống lưng.

Không ai gọi tôi bằng cái tên Perseus trừ người biết rõ thân thế thực sự của tôi.

Bạn bè... và kẻ thù.

Tyson đã nói gì nhỉ?

Chúng có mùi ngồ ngộ.

Quái vật.

Vây quanh Matt Sloan.

Nhóm học sinh tham quan trường đang lớn dần lên.

Chúng không còn là những đứa trẻ nữa mà trở thành những người khổng lồ cao tới hai mét rưỡi với những đôi mắt hoang dại, hàm răng nhọn hoắt, những cánh tay lông lá xăm trổ đầy rắn, các cô gái Hawaii và những trái tim Valentine.

Matt Sloan để rơi bóng của nó: "Woa, bọn mày không ở Detroit.

Vậy bọn mày..."

Những đứa trẻ khác trong đội nó bắt đầu hét lên thất thanh và chạy lùi về phía cửa ra vào.

Nhưng gã khổng lồ có tên Kẻ Hút Tủy đã ném quả bóng một cách chính xác.

Nó bay vọt lướt qua người Raj Mandali khi nó chuẩn bị rời đi và đập mạnh vào cánh cửa, đóng sầm cửa lại như trò ma thuật.

Raj và một số đứa trẻ khác liều đập mạnh vào cánh cửa nhưng nó không thèm nhúc nhích.

"Để họ đi!"

Tôi hét lên với đám khổng lồ.

Gã Joe Bob càu nhàu với tôi.

Gã có một hình xăm trên bắp tay với dòng chữ.

JB luvs Babycakes.

"Định làm mất mấy miếng ngon của chúng ta sao?

Không đời nào, thằng con trai thần biển kia.

Anh em nhà Laistrygonian chúng ta không đùa với cái chết của ngươi đâu.

Chúng ta muốn bữa trưa cơ!"

Gã phất khẽ tay và một dãy bóng ném mới xuất hiện ở vạch trung tâm, nhưng những quả bóng này không phải được làm từ cao su đỏ.

Chúng bằng đồng, cỡ như đạn súng đại bác, khoan lỗ giống như trái Wiffle bắn tung lửa từ lỗ ra.

Chúng ắt phải cực kỳ nóng, nhưng những tên khổng lồ nhấc chúng lên bằng tay.

"Huấn luyện viên!"

Tôi gọi to.

Huấn luyện viên Nunley ngước nhìn với vẻ mặt ngái ngủ.

Nhưng nếu thầy ấy thấy được bất cứ điều gì bất thường về trận bóng ném, thầy ấy đã không giả vờ.

Đó là vấn đề của người thường.

Sức mạnh ma thuật có tên Màn Sương Mù đã che đi diện mạo thật sự của những tên quái vật và thần thánh từ cái nhìn của họ.

Vì thế người thường chỉ nhìn thấy những gì họ có thể hiểu.

Có lẽ huấn luyện viên đã nhìn thấy một nhóm học sinh lớp tám đang "giã" mấy nhóc tì như bình thường.

Có lẽ những đứa trẻ khác cũng chỉ nhìn thấy những kẻ côn đồ của Matt Sloan đang chuẩn bị ném bom xăng[8] (Đây không phải là lần đầu).

Dù sao đi nữa, tôi cũng đoan chắc rằng không một ai có thể nhận ra rằng chúng tôi đang phải đối phó với một lũ quái vật khát máu chuyên ăn thịt người chính cống.

[8] Được biết với cái tên lóng là Cocktail Molotov hay bom Molotov là một loại vũ khí gây ra cháy đơn giản có thể được sản xuất hàng loạt với chi phí thấp vì vậy loại vũ khí nào thường được những người biểu tình hoặc những lực lượng nổi dậy.

Cái tên lóng bom Molotov hay Cocktail Molotov xuất hiện lần đầu trong chiến tranh Liên Xô-Phần Lan năm 1939-1940, nó được người Phần Lan dùng để chế giễu Dân ủy Ngoại Giao Liên Xô thời ấy là Vyacheslav Mikhailovich Molotov.

Ở dạng đơn giản nhất, bom xăng là một chai thủy tinh chứa đầy xăng, dầu hỏa hay chất lỏng gây cháy nổ cùng với một tim dầu - có thể tim dầu chỉ đơn giản là một miếng giẻ buộc vào nút chai - dùng để mồi lửa.

Thường tim dầu được nhúng vào cồn hay paraffin hơn là vào xăng dầu.

Khi sử dụng, người ta đốt cháy tim dầu rồi quăng chai cháy vào mục tiêu - có thể là xe cơ giới, bộ binh hay vào công sự, chiến hào.

Khi chai cháy vỡ, đồng thời số chất lỏng này sẽ nhanh chóng bắt lửa từ tim dầu và tạo thành một quầng lửa khổng lồ bao trùm lấy những nơi mà chất lỏng gây cháy chạm tới.

Huấn luyện viên làu bàu: "Ừm ừm!

Chơi được đấy!"

Và ông quay lại với tờ tạp chí.

Một gã khổng lồ có tên Kẻ Ăn Óc ném bóng của hắn.

Tôi lao sang một bên khi một luồng sao chổi bằng đồng bốc cháy bay sượt qua vai tôi.

"Corey!"

Tôi hét lên.

Tyson kéo cậu ấy ra khỏi phía sau tấm thảm ngay khi quả bóng đập vào nó và nổ tung, biến nó thành những mảnh vụn nghi ngút khói.

Tôi nói với những thành viên khác trong đội mình: "Chạy đi!

Ra cửa thoát hiểm khác đi!"

Họ chạy về phía phòng để đồ nhưng với một cái vẩy tay khác của Joe Bob, cánh cửa đó cũng bị đóng sầm lại.

Joe Bob gầm lên: "Không ai có thể đi, trừ phi mày chết!

Và mày không thể chết cho tới khi chúng tao ăn thịt mày."

Hắn liền quăng trái bóng lửa của mình.

Các thành viên trong đội tôi chạy tán loạn khi trái bóng lửa nổ và tạo thành những miệng hố trên sàn phòng thể dục.

Tôi cố gắng tiến về phía cây bút Thủy Triều mà tôi vẫn luôn để trong túi.

Nhưng rồi tôi nhận ra mình đang mặc quần soóc thể thao.

Tôi không có túi nào cả.

Thủy Triều nằm trong quần jeans của tôi, và được đặt trong ngăn để đồ.

Cánh cửa phòng tập đã đóng kín.

Tôi hoàn toàn không có khả năng tự vệ.

Một quả bóng lửa khác đang bay nhanh về phía tôi.

Tyson đẩy mạnh tôi ra khỏi hướng bay của quả bóng lửa, nhưng vụ nổ của nó vẫn hoàn toàn thổi bay tôi.

Tôi nhận thấy mình đang nằm sõng soài trên sàn tập, choáng váng bởi khói.

Chiếc áo thun có hoa văn nhuộm tie-dyed của tôi tới tấp đầy những lỗ thủng còn đang kêu xèo xèo.

Phía bên kia vạch giữa, hai tên khổng lồ đói khát đang trừng trừng nhìn tôi.

Bọn chúng rống lên: "Thịt tươi!

Thịt tươi của anh hùng cho bữa trưa!"

Cả hai đều nhắm vào tôi.

"Percy cần giúp đỡ!"

Tyson kêu to và lao ra trước mặt tôi ngay khi chúng ném bóng tới.

"Tyson!"

Tôi gào to nhưng đã quá muộn.

Cả hai quả bóng đều ném vào người cậu ấy... nhưng không... cậu ấy đã bắt được chúng.

Không biết làm sao mà Tyson - người quá vụng về tới mức làm đánh đổ dụng cụ thí nghiệm, làm hỏng đồ ở sân chơi - nhưng lại có thể bắt được hai quả bóng kim loại bốc lửa đang lao tới cậu ấy với tốc độ hàng tỷ dặm một giờ.

Cậu ấy ném ngược lại về phía chủ nhân của chúng, những người còn đang đầy kinh ngạc.

Chúng hét lên hoảng loạn.

"Ch...ê...ết rồi!" khi những quả cầu đồng đỏ nổ tung vào ngực chúng.

Hai gã khổng lồ bị phân hủy trong hai cột lửa - một dấu hiệu chắc chắn cho thấy chúng là quái vật.

Quái vật không hề chết.

Chúng chỉ bị tan biến thành khói và bụi, những thứ giúp các anh hùng khỏi phải bận tâm việc quét dọn sau mỗi trận đấu.

"Các anh em của ta!"

Joe Bob Kẻ Ăn Thịt gào khóc.

Hắn cong cơ bắp lên và hình xăm Babycakes của hắn bị xé toạc ra.

"Mày sẽ phải trả giá về cái chết của họ!"

"Tyson!

Coi chừng!"

Tôi nói.

Một sao chổi khác lại bay rít lên lao về phía chúng tôi.

Tyson chỉ vừa kịp hất mạnh nó sang một bên.

Quả bóng bay sượt qua đầu huấn luyện viên Nunley và rơi xuống khán đài với một tiếng nổ KA-BOOM lớn.

Lũ trẻ chạy vòng vòng và gào khóc, cố tránh những miệng hố đang sôi xèo xèo trên sàn.

Những đứa trẻ khác đập mạnh vào cửa, kêu cứu.

Sloan đứng đơ ra ở giữa sân tập, hoài nghi nhìn về những quả bóng thần chết đang bay quanh mình.

Huấn luyện viên Nunley vẫn không nhìn thấy gì.

Ông gõ gõ vào dụng cụ trợ thính như thể những vụ nổ vừa rồi đã làm nhiễu chúng, nhưng ông vẫn không chịu rời mắt khỏi cuốn tạp chí.

Chắc chắn rằng cả trường có thể nghe thấy những tiếng ồn vừa rồi.

Thầy hiệu trưởng, cảnh sát, một ai đó sẽ đến giúp chúng tôi.

Joe Bob Kẻ Ăn Thịt Người gầm lên: "Chúng tao luôn là người chiến thắng!

Chúng tao sẽ nhai xương mày!"

Tôi muốn nói với hắn rằng đã quá xem trọng trò chơi bóng ném này.

Nhưng trước khi tôi kịp nói, hắn đã nhấc lên một trái bóng khác.

Ba thằng khổng lồ kia cũng bắt chước theo.

Tôi biết chúng tôi sẽ chết.

Tyson không thể làm chệch hướng tất cả các quả bóng cùng một lúc.

Tay cậu ấy đã bị bỏng rất nặng từ lần cản phá quả bóng đầu tiên.

Không có cây kiếm của tôi...

Tôi nảy ra một ý tưởng điên rồ.

Tôi chạy về phía phòng thay quần áo.

Tôi nói với các bạn trong đội mình: "Tránh ra!

Tránh xa cái cửa ra!"

Những tiếng nổ liên tiếp vang lên phía sau lưng tôi.

Tyson đã đánh bật hai trái bóng quay trở lại với chủ nhân nó và biến chúng thành tro bụi.

Chỉ còn sót lại hai tên khổng lồ.

Trái bóng thứ ba lao thẳng về phía tôi.

Tôi buộc mình phải chờ đợi - một, hai Mississippi[9] - và ngoặt sang một bên khi trái cầu đỏ rực đó phá tan cửa phòng thay quần áo.

[9] Trẻ em ở Mỹ và Canada thường đếm "Một Mississippi, hai Mississippi" trong các trò chơi thông dụng như trốn tìm, mỗi một lần đếm tương ứng với một giây.

Giờ đây, tôi đoán rằng khí gas tích tụ lại trong các phòng thay đồ của tụi con trai đủ để gây ra vụ nổ.

Bởi thế tôi không hề ngạc nhiên khi quả bóng cháy rực lại kéo tiếp theo một vụ nổ lớn nữa!

Bức tường bị thổi bay.

Cánh cửa ở các ngăn để đồ, vớ, vật dụng thể thao và vô số những đồ dùng cá nhân dơ dáy khác ồ ạt trút xuống phòng tập.

Tôi quay lại đúng lúc nhìn thấy Tyson thụi một quả vào mặt Kẻ Ăn Óc.

Gã khổng lồ sụp xuống.

Nhưng gã cuối cùng, Joe Bob, đã khôn ngoan giữ lại tránh bóng của mình và chờ đợi cơ hội.

Gã ném nó ngay khi Tyson vừa quay lại đối mặt với gã.

"Không!"

Tôi gào lên.

Trái bóng đập thẳng vào ngực Tyson.

Cậu ấy trượt dài trên sàn và đâm sầm vào bức tường phía sau, khiến nó nứt rạn và một phần của nó đổ ụp lên phía trên người cậu ấy, tạo nên một cái hốc nhắm thẳng ra Phố Nhà Thờ.

Tôi không tưởng tượng được làm thế nào mà Tyson vẫn còn sống, nhưng nom cậu ấy chỉ hơi choáng váng.

Trái bóng đồng vẫn đang nhả khói ngay chân cậu ấy.

Tyson cố để nhặt nó lên, nhưng cậu ấy ngã người vào một đống gạch đang cháy dở, bất tỉnh.

Joe Bob hể hả reo lên: "Hay lắm!

Tao là người cuối cùng đứng đây!

Tao sẽ có đủ thịt để mang cho Babycakes một túi chó con[10]!"

[10] Doggy Bag: (túi chó con) Là chiếc hộp nhỏ giúp mọi người có thể gói đồ ăn thừa và đem về nhà sau mỗi bữa ăn tại nhà hàng.

Gã nhấc thêm một quả bóng nữa và nhắm vào Tyson.

Tôi hét vang: "Dừng lại!

Tao mới là người mà mày cần!"

Tên khổng lồ cười toe toét: "Mày mong chết trước phải không, thằng anh hùng nhãi nhép kia?"

Tôi phải làm điều gì đó.

Cây Thủy Triều phải ở đâu đó quanh đây.

Rồi tôi nhận ra quần jeans trong một đống quần áo đầy khói ngay dưới chân gã khổng lồ.

Nếu tôi có thể tới đó...

Tôi biết điều này thật tuyệt vọng nhưng tôi phải tấn công gã.

Gã khổng lồ cười phá lên: "Bữa trưa của ta đã đến."

Gã đưa tay lên chuẩn bị ném.

Tôi đứng yên chờ chết.

Đột nhiên cơ thể gã khổng lồ cứng đờ.

Nét mặt gã thay đổi từ hể hả sang ngạc nhiên.

Ngay nơi cái rốn của gã, chiếc áo thun rách toạc và gã mọc ra một cái gì đó như cái sừng, không, không phải là một cái sừng, mà là đầu của một lưỡi dao sáng bóng.

Trái bóng tuột khỏi tay gã.

Tên quái vật nhìn chằm chằm vào con dao vừa đâm xuyên qua mình từ phía sau.

Gã thì thào, "Ôi" và biến mất trong một đám lửa xanh lục mà tôi đoán là sẽ làm Babycakes đau buồn lắm.

Người đang đứng trong đám khói là bạn tôi - Annabeth.

Mặt cô ấy đầy bụi và vết xước.

Cô ấy khoác một cái ba lô rách tả tơi sau lưng.

Chiếc mũ bóng chày của cô ấy vo tròn nhét vào trong túi.

Trên tay cô ấy là một con dao bằng đồng và ánh nhìn hoang dại tràn ngập trong đôi mắt màu xám của cô ấy như thể những con ma đang đuổi theo cô ấy hàng nghìn dặm.

Matt Sloan, người đã chết đứng lặng ở đó trong hầu hết thời gian, cuối cùng cũng đã minh mẫn trở lại.

Cậu ta nháy mắt với Annabeth, như thể cậu ta lờ mờ nhận ra cô ấy từ tấm hình trong cuốn sổ của tôi.

"Đó là cô gái...

Đó là cô gái.."

Annabeth đấm ngay vào mũi cậu ta làm cậu ta ngã lăn trên sàn, cô ấy nói: "Và mày!

Tránh xa bạn tao ra!"

Phòng thể dục bốc cháy.

Lũ trẻ vẫn đang chạy vòng quanh kêu gào.

Tôi nghe tiếng còi báo động vang lên và một giọng nói bị méo đi qua hệ thống liên lạc.

Qua lớp kính cửa thoát hiểm, tôi có thể nhìn thấy thầy hiệu trưởng Bonsai đang đánh vật với cái khóa.

Một đám đông các thầy cô đang nhốn nháo sau lưng ông.

Tôi lắp bắp: "Annabeth...

Làm thế nào mà cậu...

Mất bao lâu mà cậu..."

"Mất cả sáng nay đấy."

Cô ấy cất con dao kim loại đi.

"Tớ đã cố tìm thời điểm tốt để nói chuyện với cậu, nhưng cậu chẳng bao giờ ở một mình."

"Cái bóng mà mình thấy sáng nay, đó là..."

Tôi cảm thấy mặt mình nóng lên.

"Ôi Chúa ơi, cậu đã nhìn vào cửa sổ phòng ngủ của tớ sao?"

"Không có thời gian để giải thích đâu!"

Cô ấy nói một cách cáu kỉnh dù mặt cũng hơi đỏ: "Tớ chỉ không muốn..."

"Ở đây!"

Một phụ nữ thét lên.

Cánh cửa bật tung và đám người lớn ùa vào.

"Gặp tớ ở bên ngoài nhé!"

Annabeth dặn tôi.

"Và cậu ấy nữa.

Tốt nhất cậu mang theo cậu ấy đi."

Cô ấy chỉ vào Tyson - người vẫn đang choáng váng ngồi tựa lưng vào bức tường.

Annabeth nhìn cậu ấy bằng ánh mắt không thiện cảm tới mức tôi hoàn toàn không hiểu nổi.

"Cái gì?"

Cô ấy giục: "Không có thời gian đâu!

Nhanh lên!"

Cô ấy đội chiếc mũ bóng chày Yankee lên đầu - đó cũng là một món quà phép thuật do mẹ cô ấy tặng và ngay lập tức cô ấy biến mất.

Chỉ còn mình tôi đứng chơ vơ giữa phòng thể dục đang cháy khi thầy hiệu trưởng hối hả lao vào với phân nửa giáo viên của trường và một số cảnh sát.

Thầy Bonsai hỏi: "Percy Jackson?

Cái gì...

Sao lại..."

Bên kia bức tường đổ, Tyson rên rỉ và đứng trên đám gạch còn đang cháy dở: "Đầu đau."

Matt Sloan cũng đang đi đến.

Nó nhìn tôi đầy khiếp sợ: "Percy đã làm đấy, thưa thầy Bonsai.

Nó đã thiêu cháy cả khu nhà này.

Huấn luyện viên Nunley sẽ kể cho thầy nghe!

Thầy ấy đã chứng kiến tất cả."

Huấn luyện viên Nunley đang đọc cuốn tạp chí một cách thật trịnh trọng nhưng với vận may của tôi - ông lại chọn đúng thời điểm nhìn lên khi Sloan nhắc đến tên ông.

"Ờ?

Đúng vậy, ừm ừm!"

Những người lớn khác quay lại về phía tôi.

Tôi biết họ sẽ không bao giờ tin tôi, dù tôi có kể ra sự thật.

Tôi lấy cây Thủy Triều ra khỏi chiếc quần jeans đã bị cháy của tôi, nói với Tyson: "Đi thôi!"

Rồi nhảy qua lỗ hổng ở mặt bên của tòa nhà.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 3: Chúng tôi đón taxi của chị em nhà Grey


Annabeth đang đứng chờ chúng tôi trong một con hẻm ở cuối phố Nhà Thờ.

Cô ấy kéo Tyson và tôi khỏi vỉa hè khi chiếc xe cứu hỏa kêu inh ỏi lao vụt qua về phía trường Meriwether.

"Cậu ấy từ đâu ra vậy?"

Cô ấy gặng hỏi, chỉ về phía Tyson.

Giờ đây trong hoàn cảnh khác, tôi sẽ thực sự vui mừng khi gặp lại cô ấy.

Chúng tôi đã làm lành từ mùa hè năm ngoái bất chấp một thực tế rằng mẹ cô ấy là nữ thần Athena, người không hòa thuận với bố tôi cho lắm.

Tôi nhớ Annabeth nhiều hơn những gì tôi muốn thừa nhận.

Nhưng tôi vừa bị lũ khổng lồ ăn thịt người tấn công và Tyson đã cứu tôi ba hoặc bốn lần.

Và tất cả những gì Annabeth có thể làm là nhìn cậu ấy đầy giận dữ như thể cậu ấy chính là vấn đề.

"Cậu ấy là bạn tớ."

Tôi nói với Annabeth.

"Cậu ta vô gia cư phải không?"

"Việc đấy thì có vấn đề gì nào?

Cậu ấy có thể nghe thấy cậu nói đấy, cậu biết không?

Tại sao cậu không tự đi hỏi cậu ấy?"

Cô ấy nhìn đầy kinh ngạc: "Cậu ta có thể nói được sao?"

Tyson thừa nhận: "Tớ nói được.

Cậu rất xinh!"

"Ôi, khiếp quá!"

Annabeth tránh xa khỏi cậu ta.

Tôi không thể tin nổi cô ấy lại khiếm nhã như thế.

Tôi đã kiểm tra tay của Tyson vì tôi chắc rằng chúng đã bị cháy xém bởi những quả bóng ném bốc cháy kia.

Nhưng nom chúng vẫn bình thường với đầy bụi và sẹo với các đầu móng tay có kích thước khoai tây chiên hơi bẩn, nhưng chúng luôn trông như vậy cơ mà.

Tôi nói với sự hoài nghi: "Tyson!

Tay cậu thậm chí là không hề bị cháy xém."

Annabeth cằn nhằn: "Tất nhiên là không.

Tớ chỉ ngạc nhiên về việc bọn Laistrygonians căm ghét cậu đến mức tới tấn công cậu với cậu ta."

Tyson có vẻ ngưỡng mộ mái tóc vàng của Annabeth.

Cậu ta cố gắng để chạm vào nó nhưng cô ấy đã đánh và hất tay cậu ấy ra.

Tôi hỏi: "Annabeth, cậu đang nói cái gì thế?

Laistry gì cơ?"

"Laistrygonians.

Những tên quái vật trong phòng thể dục ấy.

Chúng thuộc chủng tộc ăn thịt người khổng lồ sống ở phía bắc xa xôi cơ.

Odysseus đã gặp phải chúng một lần, nhưng tớ chưa bao giờ thấy chúng ở miền nam xa xôi như New York trước đó."

"Laistry...

Tớ thậm chí không thể nói được.

Cậu gọi chúng bằng tiếng Anh là gì?"

Cô ấy suy nghĩ một lúc, cô ấy quyết định: "Canadians.

Nào đi thôi!

Chúng ta phải ra khỏi đây."

"Cảnh sát sẽ đuổi theo tớ."

Cô nói: "Đó là vấn đề nhỏ nhất của chúng ta.

Dạo này cậu có nằm mơ không?"

"Những giấc mơ về Grover ư?"

Mặt cô ấy trở nên xanh lè: "Grover hả?

Không, Grover thì sao?"

Tôi kể ra cơn ác mộng của mình.

"Tại sao?

Cậu đã nằm mơ thấy gì?"

Mặt cô ấy đầy kích động, như thể những suy nghĩ của cô ấy đang chạy đua với tốc độ một triệu dặm một giờ.

"Trại!

Có rắc rối lớn ở trại."

Rốt cuộc cô ấy cũng chịu thốt lên.

"Mẹ tớ cũng nói về điều tương tự.

Nhưng rắc rối kiểu gì?"

"Tớ không biết chính xác.

Có thứ gì đó không ổn.

Chúng ta phải tới ngay.

Bọn quái vật đeo đuổi theo tớ trên mọi nẻo đường từ Virginia, cố chặn tớ lại.

Cậu có bị tấn công nhiều không?"

Tôi lắc đầu: "Chẳng bị tí gì suốt cả năm... cho tới tận hôm nay."

"Không ư?

Nhưng bằng cách..."

Mắt cô nhìn sang phía Tyson: "Ồ."

"Ồ có nghĩa là sao?"

Tyson giơ tay lên như thể cậu ấy vẫn đang ngồi trong lớp.

"Lúc ở phòng thể dục, bọn người Canadians đã gọi Percy bằng cái tên gì đó...

Con trai thần biển?"

Annabeth và tôi nhìn nhau.

Tôi không biết phải giải thích ra sao nhưng tôi thấy Tyson đáng được biết sự thật sau khi suýt bị giết.

Tôi nói: "Anh bạn to lớn!

Cậu đã từng nghe những câu chuyện xưa về các vị thần Hy Lạp chưa?

Như thần Zeus, thần Poseidon, thần Athena..."

"Có nghe."

Tyson đáp.

"Ừ... những vị thần này vẫn đang sống.

Họ đi theo nền văn minh phương Tây khắp nơi, sinh sống ở những nước mạnh nhất.

Vì thế giờ đây họ đang ở Mỹ.

Và đôi khi họ có con với con người.

Những đứa con đó được gọi là con lai."

"Ừ."

Tyson nói, như thể vẫn đang chờ đợi tôi nói ra điểm cốt yếu.

Tôi nói: "Ừ, Annabeth và tớ đều là con lai.

Chúng tớ giống như... các-anh-hùng-đang-trong-quá-trình-huấn-luyện.

Và bất cứ khi nào bọn quái vật đánh hơi được mùi của bọn tớ, chúng sẽ tấn công.

Đó là những gã khổng lồ trong phòng thể dục.

Chúng là quái vật."

Tôi nhìn Tyson chằm chằm.

Tôi cảm thấy kinh ngạc và bối rối khi cậu ấy dường như không tỏ vẻ gì kinh ngạc hoặc bối rối về những điều tôi đang nói.

"Thế... cậu có tin tớ không?"

Tyson gật đầu: "Nhưng cậu là...

Con trai thần biển?"

"Ừ!

Bố tớ là thần Poseidon."

Tôi xác nhận.

Tyson cau mày.

Giờ nom cậu ấy rất bối rối.

"Nhưng..."

Có tiếng còi réo vang.

Một xe cảnh sát lao qua hẻm của chúng tôi.

Annabeth nói: "Chúng ta không còn thời gian đâu.

Chúng ta sẽ nói tiếp trên taxi."

"Đi taxi đến trại sao?

Cậu có biết mất bao nhiêu tiền không?"

Tôi hỏi.

"Cứ tin tớ!"

Tôi ngần ngừ: "Thế còn Tyson?"

Tôi tưởng tượng ra cảnh mình phải hộ tống anh bạn to lớn vào Trại Con Lai.

Nếu cậu ấy sợ hãi những gã du côn thông thường ở sân chơi bình thường này thì liệu cậu ấy sẽ ra sao với các á thần trong một trại huấn luyện?

Mặt khác, cảnh sát sẽ tìm kiếm chúng tôi.

Tôi quyết định: "Chúng ta không thể bỏ cậu ấy lại.

Cậu ấy cũng sẽ gặp rắc rối."

"Ừ.

Chắc chắn là chúng ta cần phải đưa cậu ấy theo.

Nào, đi thôi!"

Annabeth nhìn thật dữ tợn.

Tôi không thích cái cách cô ấy nói như vậy, như thể Tyson là một căn bệnh ghê gớm mà chúng tôi cần phải đưa cậu ấy đến bệnh viện, nhưng tôi vẫn theo cô ấy đi xuôi xuống con hẻm.

Cả ba chúng tôi lén lút đi xuyên qua các con phố nhỏ của khu thương mại trong khi một cột khói lớn từ phòng tập thể thao của trường đang dâng lên cuồn cuộn sau lưng tôi.

"Ở đây."

Annabeth ngăn chúng tôi dừng lại ở góc đường Thomas & Trimble.

Cô ấy mò mẫm trong ba lô hồi lâu.

"Tớ hy vọng vẫn còn sót một."

Nhìn cô ấy nom tệ hơn so với lúc đầu tôi nhận ra.

Cằm cô ấy có một vài vết cắt.

Các nhánh cây nhỏ và cỏ dính cả vào trong phần đuôi tóc đuôi ngựa của cô ấy, như thể cô ấy đã ngủ vài đêm ngoài trời.

Những vết rách trên đường viền của chiếc quần jeans nom rất đáng ngờ như những vuốt mèo.

"Cậu đang tìm gì thế?"

Tôi hỏi.

Còi lại hú lên quanh chúng tôi.

Tôi đoán rằng sẽ không lâu trước khi có thêm nhiều cảnh sát đi tuần tra ngang qua, tìm kiếm những tên tội phạm vị thành niên, những kẻ đánh bom phòng tập thể dục.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Matt Sloan đã khai bậy với họ.

Chắc chắn nó đã bẻ cong câu chuyện thành Tyson và tôi là những kẻ ăn thịt người khát máu.

"Tìm ra một đồng rồi.

Tạ ơn các thần!"

Annabeth lấy ra một đồng vàng mà tôi nhận ra đó là đồng Drachma, tiền của đỉnh Olympus.

Nó có hình thần Zeus ở một mặt và Tòa nhà Empire State[1] nằm ở mặt còn lại.

[1] Tòa nhà Empire State được mô phỏng từ hình dáng một chiếc bút chì, mang phong cách khá hiện đại, cao 381 mét với một trăm lẻ hai tầng, xây dựng trong một thời gian ngắn kỷ lục, chỉ mười sáu tháng.

Tên của tòa tháp được đặt theo biệt danh của thành phố New York (Empire State).

Nó được coi là tòa tháp cao nhất thế giới trong suốt bốn mươi năm, kể từ khi hoàn thành năm 1931, vượt qua kỷ lục của Chrysler Building.

Chỉ cho tới khi Trung tâm thương mại thế giới (WTC) hoàn thành năm 1972, Empire State Building mới chịu đứng vị trí thứ hai.

Thế nhưng, sau khi WTC bị đánh sập năm 2001, nó lại giữ vị trí quán quân ở New York và á quân tại Mỹ, sau Sears Tower ở Chicago.

Tòa nhà Empire State do KTS Gregory Johnson thiết kế và Công ty Kiến trúc của ông.

Shreve, Lamb and Harmon, thực hiện bản vẽ trong vòng chỉ hai tuần.

Thiết kế này lấy cảm hứng từ tòa nhà Carew Tower tại Cincinnati (bang Ohio).

Tôi nói: "Annabeth này, tài xế taxi New York không lấy tiền này đâu."

Cô ấy hét lớn bằng tiếng Hy Lạp cổ: "Anakoche, Harma epitribeios!"

Như thường lệ, khi cô ấy nói bằng thứ tiếng trên đỉnh Olympus, tôi cũng hiểu được ít nhiều.

Cô ấy nói: "Dừng lại, Cỗ xe của Sự nguyền rủa!"

Điều này không hoàn toàn khiến tôi hứng thú thực sự về kế hoạch của cô ấy.

Cô ấy ném đồng tiền ra giữa đường, nhưng thay cho việc kêu loảng xoảng trên mặt đường thì đồng tiền lại chui ngay xuống bên dưới và biến mất.

Trong giây lát vẫn chưa có gì xảy ra.

Sau đó, đúng chỗ đồng tiền vàng rơi xuống, mặt đường đen sẫm lại.

Nó biến đổi dần thành cái bể bơi hình chữ nhật giống có kích thước của một chỗ đậu xe - trong đó có chứa dung dịch đỏ như máu đang sôi sùng sục.

Một chiếc xe hơi nhô lên từ mớ sền sệt đó.

Đó là một chiếc taxi.

Đúng vậy, nhưng không giống những chiếc taxi khác ở New York, nó không có màu vàng.

Nó có màu xám khói.

Ý tôi nó trông như được tạo thành từ khói, như thể bạn có thể đi băng qua nó vậy.

Có một vài từ được in trên cánh cửa xe, kiểu như GYAR SSIRES - nhưng chứng khó đọc của tôi khiến tôi rất khó khăn khi giải mã xem nó nói gì.

Cửa sổ hành khách kéo xuống và một bà già thò đầu ra ngoài.

Bà ta có mái tóc hoa râm che phủ cả đôi mắt và nói lầm bầm rất khó nghe, như thể bà ta vừa mới được tiêm một mũi Novocain[2].

"Hành khách đâu?

Hành khách đâu?"

[2] Là loại thuốc tê thường được dùng trong các trường hợp gây tê, gây mê tại chỗ chuyên sử dụng trong ngành nha khoa.

"Ba người tới Trại Con Lai."

Annabeth đáp.

Cô ấy mở cửa ghế sau và vẫy tay gọi tôi vào, như thể đó là chuyện hoàn toàn bình thường.

Bà già thét lên: "Ấy không!

Chúng ta không chở loại này đâu!"

Bà ta chỉ một ngón tay xương xẩu vào Tyson.

Chuyện gì đang diễn ra vậy?

Ngày Trêu-chọc-những-Đứa-trẻ-To-xác-và-Xấu-xí sao?

"Sẽ trả thêm.

Thêm ba đồng vàng nữa khi đến nơi."

Annabeth hứa.

"Được!"

Bà già thét lên.

Tôi miễn cưỡng lê mình vào xe.

Tyson chen vào giữa.

Annabeth là người cuối cùng vào xe.

Nội thất trong xe cũng có màu khói xám nhưng nó mang lại cảm giác như đủ rắn chắc.

Ghế kêu răng rắc và lổn nhổn, chả khác gì phần lớn những chiếc xe taxi khác.

Không có tấm chắn bằng kính Plexiglas ngăn chúng tôi với bà già đang lái xe...

Chờ một chút.

Ở đó không chỉ có một bà già, mà có đến ba bà.

Tất cả đang chen chúc trên chiếc ghế trước.

Bà nào cũng có mớ tóc xõa che cả cặp mắt, hai bàn tay xương xẩu và mặc một chiếc áo đầm bằng vải bố có màu than chì.

Bà già đang lái xe nói: "Long Island!

Không phụ thu phí tàu điện ngầm nhe!

Haha!"

Bà ta nhấn ga, và đầu tôi đâm sầm vào cái đệm tựa lưng.

Một giọng nói đã được ghi âm từ trước vang lên:

"Xin chào, tôi là Ganymede[3], người hầu rượu của thần Zeus.

Và khi tôi ra ngoài mua rượu cho Chúa tể Bầu Trời, tôi luôn luôn thắt dây an toàn!"

[3] Ganymede là hoàng tử thành Troy, con vua Tros.

Đó là một chàng trai đẹp đến nỗi không ai có thể làm ngơ trước nhan sắc của chàng và đến ngay cả thần Zeus cũng đem lòng quý mến.

Thần Zeus đã biến thành chim đại bàng khổng lồ xuống bắt chàng lên đỉnh Olympus.

Sau đó, Ganymede được ban cho sự bất tử và trở thành người dâng nước, rượu cho các vị thần trong những buổi yến tiệc.

Ganymede cũng trở thành một chòm sao trong cung hoàng đạo mang tên Bảo Bình.

Tôi nhìn xuống và tìm thấy một dây xích đen lớn thay cho dây an toàn.

Tôi thấy mình chưa bao giờ liều lĩnh... như thế.

Chiếc taxi tăng tốc ở quanh góc đường West Broadway và người đàn bà xám ngồi giữa thét lên: "Coi chừng!

Rẽ trái!"

"Tốt thôi, nếu bà đưa tôi con mắt, Tempest à, tôi cũng có thể thấy điều đó!"

Bà lái xe phàn nàn.

Gượm đã.

Đưa bà ta con mắt là sao?

Tôi không còn thời gian để hỏi vì người lái xe bẻ lái sang hướng khác để tránh một chiếc xe giao hàng đang lao tới, chạy băng lên lề đường với một tiếng thump lớn, rồi phóng như bay đến tòa nhà tiếp đó.

Bà già thứ ba nói với bà già đang lái xe: "Wasp!

Đưa cho tôi đồng tiền của cô gái kia.

Tôi muốn cắn nó."

"Bà vừa mới cắn nó, Anger à!

Giờ đến lượt tôi!"

Bà già lái xe đáp trả.

Tên bà ấy hẳn phải là Wasp.

"Không phải thế!"

Bà già có tên Anger kêu to.

Bà ở giữa, Tempest, gào lên: "Đèn đỏ!"

"Phanh!"

Bà có tên Anger gào lên.

Thay vào đó, Wasp lại nhấn ga và lái lên phần đường bê tông, lê rít quanh một góc phố khác và húc ngã một máy bán báo tự động.

Bà ấy khiến ruột gan phèo phổi của tôi như bắn tung đâu đó trên đường Broome.

Tôi cất tiếng: "Xin lỗi!

Nhưng... bà có thể nhìn thấy không?"

"Không!"

Wasp hét ầm lên sau tay lái.

"Không!"

Tempest cũng hét lên ở giữa.

"Có!"

Anger hét lên từ phía cửa sổ.

Tôi nhìn Annabeth: "Họ bị mù sao?"

"Không hoàn toàn!

Họ vẫn còn một con mắt."

Annabeth nói.

"Một mắt ư?"

"Ừ."

"Mỗi người một mắt sao?"

"Không.

Tất cả ba người chỉ có một mắt."

Ngồi kế bên tôi, Tyson rên rỉ và túm chặt vào ghế.

"Cảm giác không tốt tí nào."

"Ôi, trời!"

Tôi nói vì thấy Tyson từng bị say xe trong các chuyến đi dã ngoại của trường và đó không phải là điều mà bạn muốn ở cùng trong mười lăm mét.

"Cố lên, anh bạn to lớn!

Có ai đó có túi nôn hay cái gì đó đại loại như thế không?"

Ba bà già quá bận rộn với việc cãi nhau ầm ĩ, không thèm mảy may chú ý tới tôi.

Tôi nhìn xéo về phía Annabeth, người đang cố bám chặt vì mạng sống quý giá của mình và tôi đã nhìn cô ấy theo kiểu tại-sao-cậu-lại-làm-điều-này-với-tớ.

Cô ấy nói: "Này!

Taxi Chị em nhà Grey là cách nhanh nhất tới trại đấy."

"Tại sao cậu không đi nó từ Virginia?"

"Nơi đó nằm ngoài vùng phục vụ của họ."

Cô ấy đáp, như thể điều ấy là hiển nhiên: "Họ chỉ phục vụ trong phạm vi trung tâm New York và những quận quanh đó thôi."

"Chúng ta có người nổi tiếng trong xe đấy!

Jason.

Bà có nhớ cậu ta không?"

Anger kêu to.

Wasp rền rĩ: "Đừng có nhắc tôi!

Và lúc đó chúng ta đâu có chiếc xe này đâu, đồ bà già gàn dở!

Việc đó xảy ra cách đây ba ngàn năm rồi!"

"Đưa cho tôi cái răng nào!"

Anger cố túm lấy miệng của Wasp nhưng Wasp đã hất tay bà ta ra.

"Chỉ khi Tempest đưa cho tôi con mắt!"

Tempest rít lên: "Không!

Bà đã có nó hôm qua rồi mà!"

"Nhưng tôi đang lái xe, đồ mụ phù thủy già."

"Xin lỗi nhé!

Rẽ!

Đó là cách bà rẽ đấy!"

Wasp thình lình quẹo sang đường Delancey, nghiền tôi ở giữa Tyson và cánh cửa.

Bà ta tăng ga và chúng tôi bắn thẳng lên cầu Williamsburg với tốc độ bảy mươi dặm một giờ.

Ba chị em này giờ đây đang cãi nhau thực sự.

Họ ra sức tát nhau khi Anger cố chộp lấy mặt Wasp và Wasp cố chộp lấy mặt Tempest.

Với mái tóc họ bay tung lên, những cái miệng há to, cùng gào thét vào mặt nhau, tôi nhận ra rằng không ai trong số chị em này có đủ răng, trừ Wasp có một chiếc răng cửa duy nhất màu vàng rêu.

Thay cho mắt, họ chỉ có mí mắt lõm và nhắm lại, trừ Anger có một con mắt xanh lục đỏ ngầu trừng trừng nhìn mọi thứ đầy đói khát, như thể nó nhìn chưa đủ vậy.

Cuối cùng, Anger - người có lợi thế về cái nhìn - đã định nhổ cái răng ra khỏi miệng bà chị Wasp của mình.

Điều này khiến Wasp phát điên tới mức bà ta thình lình rẽ ngoặt về phía gờ cầu Williamsburg và gào lên: "Ta phải có nó!

Ta phải có nó!"

Tyson rên rỉ và ôm chặt lấy bụng.

Tôi nói: "Ôi, nếu ai đó có hứng thú.

Chúng ta sắp chết đây."

"Đừng lo!

Chị em nhà Grey biết họ đang làm gì mà.

Họ rất khôn ngoan đấy."

Annabeth nói với tôi, nhưng giọng cô ấy đầy lo lắng.

Điều này chỉ đến từ con gái của nữ thần Athena, nhưng tôi không thể đoan chắc một cách chính xác.

Chúng tôi đang lướt dọc gờ cây cầu dài bốn mươi mét trên sông East River.

Anger cười toe toét trong chiếc kính chiếu hậu, lộ rõ cái răng mới giật được: "Ôi, khôn ngoan!

Chúng ta biết mọi thứ mà!"

"Các con phố ở Manhattan!

Thủ đô của Nepal!"

Wasp khoác lác, vẫn tấn công chị mình.

"Địa điểm mà ngươi tìm kiếm!"

Tempest nói thêm.

Đột nhiên hai bà kia đấm thùm thụp vào bà ta và kêu gào: "Yên lặng!

Yên lặng!

Cậu ta chưa hỏi cơ mà!"

"Cái gì?

Địa điểm gì cơ?

Tôi không tìm bất cứ thứ gì..."

Tôi cất tiếng.

Tempest đáp: "Không có gì!

Cậu nói đúng, cậu bé ạ.

Không có gì đâu."

"Nói cho tôi!"

"Không!"

Tất cả bọn họ đều đồng thanh gào lên.

"Lần trước khi bọn tôi nói ra, mọi việc thật kinh khủng!"

Tempest nói.

"Mắt đã bị quẳng xuống hồ!"

Anger đồng ý.

"Phải mất nhiều năm mới tìm lại được nó!

Và nhân tiện nói về chuyện đó - trả nó lại đây!"

Wasp rền rĩ.

"Không!"

Anger la chói lói.

"Mắt!

Đưa đây cho tôi!"

Wasp gào lên.

Bà ta giáng một cú mạnh vào lưng của bà chị Anger.

Một tiếng nổ bốp đầy ghê tởm cùng thứ gì đó bay ra từ mặt Anger.

Anger lóng ngóng với theo, cố bắt lại nó, nhưng bà ta chỉ có thể quờ quạng vào tay mình.

Một cầu mắt màu xanh lầy nhầy trượt trên vai bà ta, rơi xuống cái ghế sau và lọt thẳng vào vạt áo tôi.

Tôi nhảy bật lên, khiến đầu cụng vào trần xe và con mắt đó cũng lăn tròn.

"Tôi không thể nhìn thấy gì hết!"

Ba chị em đồng thanh hô to.

"Đưa con mắt cho tôi!"

Wasp nài nỉ.

"Đưa con mắt cho bà ta!"

Annabeth gào lên.

"Tớ không cầm nó!"

Tôi đáp.

Annabeth nói: "Kia kìa, dưới chân cậu đấy!

Đừng có dẫm lên nó!

Nhặt lên đi!"

"Tớ không nhặt nó đâu!"

Chiếc taxi đâm sầm vào lan can cầu và trượt dài với tiếng rít rợn người.

Cả chiếc xe rùng mình, xì ra làn khói xám như thể nó chuẩn bị sắp vỡ tung ra.

"Tớ sắp nôn đây!"

Tyson cảnh báo.

Tôi hét lên: "Annabeth!

Đưa cho Tyson cái ba lô của cậu!"

"Cậu điên à?

Nhặt con mắt lên!"

Wasp giật mạnh vô lăng, chiếc taxi đi lệch ra khỏi lan can.

Chúng tôi đâm chúi xuống phần cầu đi về hướng Brooklyn, lao nhanh hơn bất kỳ chiếc taxi bình thường nào.

Đám chị em nhà Grey kêu thét lên và đấm thùm thụp vào nhau, khóc lóc về con mắt.

Cuối cùng, tôi thu hết can đảm, xé toạc một mảnh áo thun trên người - chiếc áo đã rách lỗ chỗ bởi vô số vết cháy - và dùng nó để nhặt con mắt trên sàn lên.

Anger khóc như thể bà ấy biết được tôi có con mắt của bà ấy bị đánh mất: "Cậu bé ngoan lắm!

Đưa nó lại cho ta!"

"Chỉ tới khi bà giải thích đã.

Các bà đang nói về cái gì?

Địa điểm nào mà tôi cần tìm?"

Tôi nói.

Tempest khóc nức lên: "Không có thời gian đâu!

Nhanh lên!"

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ xe.

Như mong đợi, cây cối xe cộ và tất cả vùng lân cận giờ đang lướt qua trong một màn sương màu xám.

Chúng tôi đã ra khỏi Brooklyn, đang lao thẳng tới trung tâm của Long Island.

Annabeth cảnh báo: "Percy, họ không thể tìm ra điểm đến của chúng ta nếu không có con mắt.

Chúng ta vẫn sẽ đi với vận tốc như vậy cho tới khi chúng ta bị xé toạc ra hàng triệu mảnh."

Tôi nói: "Họ phải nói cho tớ trước đã!

Hoặc tớ sẽ mở cửa sổ và ném con mắt xuống chỗ giao thông sắp tới."

"Không!

Quá nguy hiểm!"

Chị em nhà Grey gào lên.

"Tôi đang hạ cửa sổ xuống đây."

Chị em nhà Grey thét lên: "Khoan đã!

Ba mươi, ba mốt, bảy lăm, mười hai!"

Họ đồng thanh gào lên như một tiền vệ đang ra hiệu trước khi trận đấu bắt đầu.

"Ý bà là gì?

Điều đó không có nghĩa!"

Tôi hỏi.

Anger rền rĩ: "Ba mươi, ba mốt, bảy lăm, mười hai!

Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể nói được với cậu.

Giờ hãy trả mắt cho chúng tôi.

Sắp tới trại rồi!"

Giờ đây chúng tôi đã ra khỏi đường cao tốc, đang lướt qua vùng quê Bắc Long Island.

Tôi có thể nhìn thấy Đồi Con Lai phía trước chúng tôi với cây thông lớn ở đỉnh - cái cây của Thalia, nơi chứa sức mạnh cuộc sống của một anh hùng đã hy sinh.

Annabeth nói bằng giọng khẩn thiết hơn: "Percy!

Đưa con mắt cho bọn họ ngay!"

Tôi quyết định không cãi cọ.

Tôi ném con mắt vào lòng Wasp.

Bà ta vồ lấy nó, ấn nó vào hốc mắt của mình như thể ai đó đang đeo kính áp tròng và nháy mắt.

"Chao ôi!"

Bà ta ấn mạnh vào cái phanh.

Chiếc taxi quay tròn bốn hoặc năm lần trong đám khói và kêu ré lên, đứng khựng lại giữa con đường đi tới trang trại ở phía chân Đồi Con Lai.

"Tốt hơn rồi."

Tyson để thoát ra một tiếng ợ lớn.

Tôi nói: "Được rồi!

Giờ nói cho tôi biết những con số đó có nghĩa gì."

"Không còn thời gian đâu!

Chúng ta phải ra khỏi đây ngay!"

Annabeth mở cửa xe.

Tôi đang định hỏi tại sao nhưng khi vừa nhìn lên Đồi Con Lai, tôi đã hiểu.

Trên đỉnh đồi là một nhóm trại viên.

Và họ đang bị tấn công.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 4: Tyson đùa với lửa


Nói theo kiểu thần thoại, nếu có thứ gì đó khiến tôi thấy ghét hơn bộ ba bà già thì đó chính là con bò đực.

Hè năm ngoái, tôi đã chiến đấu với Minotaur trên đỉnh Đồi Con Lai.

Lần này thứ tôi thấy còn tồi tệ hơn.

Đó là hai con bò đực, và không phải là loại bò thông thường - chúng là những con bò bằng đồng có kích thước của những con voi.

Nhưng thậm chí điều đó vẫn chưa đủ tồi tệ.

Dĩ nhiên chúng cũng thở ra lửa.

Ngay sau khi chúng tôi ra khỏi taxi, chị em nhà Grey hối hả quay về New York - nơi cuộc sống an toàn hơn.

Thậm chí họ không kịp chờ khoản ba đồng Drachma trả thêm.

Họ chỉ kịp để chúng tôi xuống bên lề đường, Annabeth với ba lô đeo vai cùng con dao, Tyson và tôi vẫn trong bộ đồ thể thao loang màu cháy sém.

"Ôi, trời!"

Annabeth thốt lên khi nhìn lên trận chiến đang diễn ra ác liệt trên đồi.

Điều khiến tôi lo lắng nhất lại không phải bản thân những con bò đực.

Hay mười anh hùng trong những chiếc áo giáp sắt kiên cố - những người đang đuổi theo sau những con bò.

Điều khiến tôi lo lắng là những con bò này đang càn quét khắp quả đồi, thậm chí vượt sang cả phần bên kia của cây thông.

Điều đó không thể xảy ra.

Những đường ranh giới phép thuật của trại không cho phép quái vật vượt qua cây thông của Thalia.

Nhưng những con bò kim loại này lại làm được điều đó.

Một trong những anh hùng gào to: "Đội tuần tra đường ranh giới, đi theo tôi!"

Giọng của một người con gái - cộc cằn và khá quen thuộc.

"Đội tuần tra đường ranh giới ư?

Trại chưa bao giờ có một đội tuần tra đường ranh giới nào."

Tôi nghĩ.

Annabeth nói: "Đó là Clarisse!

Chúng ta đi giúp cô ấy!"

Thông thường, đổ xô cứu viện Clarisse không nằm trong danh sách "việc phải làm" của tôi.

Cô ta là một trong những đại ca lớn nhất trong trại.

Lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, cô ta cố giới thiệu đầu tôi với cái toilet.

Cô ta cũng là con gái của thần Ares và tôi đã bất hòa nghiêm trọng với bố cô ta vào hè năm ngoái.

Vì thế vị Thần Chiến Tranh này cùng những đứa con của ông về cơ bản rất ghét lòng quả cảm của tôi.

Nhưng, cô ta đã gặp rắc rối.

Những người bạn chiến đấu của cô ta đang chạy tán loạn, đầy hốt hoảng khi bị lũ bò đực tấn công.

Đám cỏ quanh cây thông đang cháy từng vạt lớn.

Một anh hùng hét lên và vẫy vẫy hai tay khi anh ta chạy vòng tròn, chùm lông ngựa trên chiếc mũ sắt của anh ta cháy dữ dội như kiểu tóc dựng đứng đang bị đốt cháy.

Chiếc áo giáp của Clarisse bị cháy sém.

Cô ta đang đánh nhau với một ngọn giáo đã gãy phần mũi, phần còn lại được cắm chặt một cách vô dụng vào khớp kim loại một bên vai con bò.

Tôi mở nắp chiếc bút.

Nó tỏa ánh sáng lung linh và cứ dài ra, nặng hơn cho tới khi tôi nắm được thanh kiếm Thủy Triều bằng đồng nặng trịch trong tay.

"Tyson, ở yên đây nhé!

Tớ không muốn cậu liều lĩnh làm thêm bất cứ điều gì nữa."

"Không!

Chúng ta cần cậu ấy."

Annabeth phản đối.

Tôi nhìn cô ấy trừng trừng: "Cậu ấy là con người.

Cậu ấy may mắn với những quả bóng lửa nhưng cậu ấy không thể..."

"Percy, cậu có biết trên đó là những con gì không.

Những con bò Colchis, được chính Hephaestus[1] làm ra.

Chúng ta không thể đánh nhau với chúng mà thiếu kem chống nắng của Medea loại SPF 50,000.

Chúng ta sẽ bị nấu cho đến cháy khét đấy."

[1] Ông là con trai của thần Zeus và nữ thần Hera.

Ông là vị thần của kỹ nghệ, bao gồm nghề rèn, thủ công, điêu khắc, kim loại, luyện kim, và lửa.

Thần được thờ phụng trong khắp các trung tâm chế tạo và công nghiệp ở Hy Lạp, đặc biệt ở Athens.

"Cái gì của Medea?"

Annabeth lục lọi trong chiếc ba lô và càu nhàu.

"Tớ có một lọ lớn có mùi dừa nằm trên bàn ở đầu giường ở nhà.

Sao tớ lại không mang đi thế?"

Tôi đã học được một thời gian dài là không nên hỏi Annabeth quá nhiều.

Nó chỉ làm tôi thêm bối rối mà thôi.

"Nghe này, tớ không biết cậu đang nói cái gì.

Nhưng tớ sẽ không để Tyson bị nướng chín đâu."

"Percy..."

"Tyson, đứng nguyên đây nhé!

Tớ đi đây!"

Tôi nâng thanh kiếm lên.

Tyson cố phản đối nhưng tôi đã chạy lên trên đồi, hướng về Clarisse - người đang cố gào thét đội của mình, cố đưa họ vào đội hình pha lăng.

Đó là một ý tốt.

Vài người nghe được đã đứng thành hàng, vai sát vai, khóa khiên lại để hình thành một bức tường bằng đồng để trốn con bò.

Những ngọn giáo của họ dựng tua tủa như lông nhím.

Thật không may, Clarisse chỉ có thể tập hợp được sáu trại viên.

Bốn người còn lại vẫn đang chạy vòng quanh với những chiếc mũ sắt đang cháy.

Annabeth chạy về phía họ và cố gắng giúp.

Cô ấy trêu chọc một con bò để nó đuổi theo cô, rồi biến thành vô hình, khiến con quái vật kia hoàn toàn bối rối.

Một con bò khác tấn công vào phòng tuyến của Clarisse.

Tôi mới chạy được nửa đường quả đồi, không đủ gần để giúp.

Clarisse chưa nhìn thấy tôi.

Con bò lao quá nhanh với thứ nặng nề như vậy.

Làn da kim loại của nó ánh lên dưới ánh mặt trời.

Mắt nó là những viên hồng ngọc to bằng nắm tay và cặp sừng bằng thép sáng loáng.

Khi nó mở cái miệng có khớp nối của nó, một cột lửa có màu trắng và nóng được phun ra.

"Giữ lấy đội hình!"

Clarisse ra lệnh cho binh lính của mình.

Bất cứ điều gì bạn có thể nói về Clarisse, cô ta thật dũng cảm.

Đó là một cô gái vạm vỡ với cặp mắt dữ tợn như cha mình.

Cô ta như thể được sinh ra để mặc áo giáp chiến trận Hy Lạp vậy, nhưng tôi không hiểu được làm thế nào cô ấy có thể đứng đó chống trả lại các đợt tấn công của lũ bò cơ chứ.

Không may, vào lúc đó, con bò còn lại mất hứng thú trong việc tìm kiếm Annabeth.

Nó quay đầu lại, phía sau lưng Clarisse, phía cô không được bảo vệ.

Tôi hét lên: "Đằng sau kìa!

Cẩn thận!"

Lẽ ra tôi không nên nói gì vì tất cả những gì tôi làm lại khiến cô ta giật mình.

Con bò số một đâm sầm vào cái khiên của cô ta và đội hình pha lăng bị phá vỡ.

Clarisse bay ngược ra sau và đáp xuống một mảng cỏ đang cháy âm ỉ.

Nó tiếp tục tấn công sau khi thổi bay những anh hùng khác với hơi thở bằng lửa của mình.

Những chiếc khiên tan chảy ngay trên tay họ.

Họ thả rơi vũ khí và bỏ chạy khi con bò số hai tiến đến gần để giết chết Clarisse.

Tôi lao tới và túm chặt lấy Clarisse bằng chiếc đai da trên áo giáp của cô ta.

Tôi kéo cô ta ra ngay khi con bò số hai to như toa kéo hàng đang lao vút qua.

Tôi chém nó một cú tuyệt đẹp bằng thanh kiếm Thủy Triều và tạo một vết cắt dài và sâu bên sườn nó, nhưng con quái vật đó chỉ nghiến răng ken két, rên rỉ và tiếp tục lao tới.

Nó không chạm vào tôi nhưng tôi có thể cảm nhận được sức nóng từ làn da kim loại của nó.

Nhiệt độ cơ thể của nó có thể làm chín cả món burrito[2] được đông lạnh.

[2] Là món ăn truyền thống của Mexico.

Burrito có phần vỏ là bánh bột ngô Tortilla (đường kính 24.5 cm hoặc hơn) và phần nhân là thịt bò, gà hoặc heo.

Phần vỏ bánh ngô thường có màu ngà truyền thống hoặc màu xanh, vàng hay đỏ; được nướng hoặc hấp sơ cho có độ mềm và để gói phần nhân phía trong.

Clarisse đấm thùm thụp vào tay tôi.

"Thả tao ra!

Percy, tao nguyền rủa mày!"

Tôi thả cô ta xuống đống gỗ bên cạnh cây thông và quay mặt lại đối mặt với lũ bò.

Chúng tôi đang ở đoạn dốc bên trong của quả đồi và thung lũng Trại Con Lai nằm ngay dưới chúng tôi - những căn nhà, những dụng cụ tập luyện, và Nhà Lớn - tất cả đều gặp nguy hiểm nếu lũ bò này vượt qua chúng tôi.

Annabeth gào ra lệnh cho các anh hùng khác, kêu họ tản rộng ra và làm cho lũ bò mất tập trung.

Con bò số một chạy hết một vòng cung lớn, đang từ từ tiến dần về phía tôi.

Khi nó băng qua phần giữa quả đồi, nơi đường ranh giới vô hình khiến nó không thể vượt qua, nó chậm lại một chút như thể nó đang vật lộn chống lại một cơn gió mạnh.

Nhưng rồi nó phá vỡ và lao tới.

Con bò số hai quay đầu đối mặt với tôi, lửa phun phì phì từ vết chém mà tôi đã thực hiện một bên người nó.

Tôi không thể nói nó có cảm giác đau đớn ra sao, nhưng đôi mắt ruby của nó trừng trừng nhìn tôi như thể tôi đang làm chuyện gì đó trả thù cá nhân vậy.

Tôi không thể đánh với cả hai con bò cùng một lúc.

Tôi phải hạ con bò số hai trước, chém đứt đầu nó trước khi con bò số một tấn công trở lại.

Cánh tay tôi đã mệt đừ.

Tôi nhận ra đã rất lâu mình không làm việc với cây Thủy Triều và cũng rất lâu tôi không chịu tập luyện ra sao.

Tôi bất ngờ tấn công nhưng con bò số hai thổi lửa về phía tôi.

Tôi lăn người sang bên khi không khí bị đốt nóng.

Tất cả oxy như rút hết khỏi phổi tôi.

Chân tôi vướng phải thứ gì đó - có thể là rễ cây - và cơn đau ở mắt cá chân ngày càng lớn hơn.

Tuy thế, tôi vẫn thành công trong việc cắt đứt một phần mũi của con quái vật đó.

Nó lao khỏi đó với sự điên cuồng và hoàn toàn mất phương hướng.

Nhưng trước khi tôi cảm thấy thích thú vì điều đó, tôi cố gắng đứng lên, chân trái tôi đang oằn xuống bên dưới tôi.

Mắt cá chân tôi bị bong gân, có thể nó đã bị rạn.

Con bò số một tấn công thẳng về phía tôi.

Tôi không có cách nào để bò ra khỏi hướng chạy của nó.

Annabeth gào lên: "Tyson, giúp cậu ấy đi!"

Ở đâu đó rất gần phía đỉnh đồi, Tyson rên rỉ: "Không-qua-được!"

"Tôi, Annabeth Chase, cho phép cậu được vào trại!"

Tiếng sấm làm rung cả sườn đồi.

Đột nhiên Tyson đã ở đó, lao nhanh về phía tôi và hét toáng: "Percy cần giúp đỡ!"

Trước khi tôi có thể nói không với cậu ấy, cậu ấy đã ở giữa tôi và con bò ngay khi nó thổi ra một cơn bão lửa hạt nhân.

"Tyson!"

Tôi hét lớn.

Luồng hơi xoáy quanh người cậu ấy như một vòi rồng màu đỏ.

Tôi chỉ có thể nhìn thấy cái bóng màu đen của cơ thể cậu ấy.

Tôi biết chắc chắn một điều kinh khủng rằng bạn tôi vừa bị hóa thành tro.

Nhưng khi ngọn lửa tàn, Tyson vẫn đang đứng đó, hoàn toàn nguyên vẹn.

Ngay cả bộ quần áo dơ của cậu ấy cũng chỉ bị cháy sém.

Con bò ắt cũng kinh ngạc như tôi.

Vì trước khi nó kịp thổi ra luồng nhiệt thứ hai, Tyson đã nắm tay lại và đấm vào mặt nó.

"ĐỒ BÒ TỒI TỆ!"

Nắm đấm của Tyson tạo nên một cái hố ở nơi trước kia từng là cái mõm của con bò bằng đồng này.

Hai dòng lửa nhỏ đang bắn ra từ tai nó.

Tyson lại đánh nó tiếp, và khối đồng thiếc đó bị dúm dó, đổ gục dưới đôi tay của cậu ấy như thể một miếng nhôm cán mỏng.

Mặt con bò giờ đây giống hệt một con búp bê làm bằng bít tất bị rút ruột.

"Nằm xuống!"

Tyson hét lên.

Con bò loạng choạng, ngã ngửa người ra.

Bốn chân nó đung đưa run rẩy trong không khí, hơi nước phun ra từ chiếc đầu bẹp dúm của nó.

Annabeth chạy tới kiểm tra tôi.

Mắt cá chân tôi như bị ngâm với acid.

Nhưng cô ấy đã đưa cho tôi uống chút rượu từ đỉnh Olympus từ cái bi đông của mình và ngay lập tức tôi thấy khá hơn.

Tôi ngửi thấy mùi khét mà sau đó nhận ra nó đến từ cơ thể tôi.

Lông trên hai cánh tay tôi hoàn toàn cháy trụi.

"Con bò kia đâu?"

Tôi hỏi.

Annabeth chỉ xuống dưới đồi.

Clarisse đang chăm sóc con bò số hai xấu xa.

Cô ta đã đâm xuyên cẳng sau của nó bằng ngọn giáo bằng đồng có màu xanh.

Và giờ đây với cái mõm đã bị phạt mất một nửa, một vết chém sâu bên mình, nó cố gắng chạy chậm lại theo vòng tròn, như những con vật trong vòng quay ngựa gỗ.

Clarisse cởi cái mũ giáp sắt và đi về phía chúng tôi.

Một lọn tóc nâu của cô đang cháy âm ỉ nhưng dường như cô ta không chú ý.

Cô ta hét lên về phía tôi: "Mày - hủy hoại - tất cả mọi thứ!

Tao đã khống chế được nó!"

Tôi quá kinh ngạc để đốp lại.

Annabeth cằn nhằn: "Vui được gặp lại cậu đấy, Clarisse."

Clarisse gào lên: "Argh!

Đừng bao giờ, BAO GIỜ cố cứu tao lần nữa!"

Annabeth nói: "Clarisse, cậu có trại viên bị thương đấy."

Điều này khiến cô ta tỉnh lại.

Clarisse thậm chí đã chịu quan tâm tới những người lính dưới quyền chỉ huy của cô ấy.

"Tao sẽ quay lại!"

Cô ta làu bàu rồi lê bước mệt nhọc đi đánh giá những tốn thất của phía mình.

Tôi nhìn Tyson chòng chọc.

"Cậu không chết."

Tyson nhìn xuống đất như đang rất lúng túng.

"Tớ xin lỗi.

Đã tới giúp.

Đã trái ý cậu."

Annabeth giành: "Là lỗi của tớ!

Tớ không có lựa chọn nào khác.

Tớ phải để Tyson vượt qua đường ranh giới để cứu cậu.

Nếu không, cậu sẽ chết mất."

Tôi hỏi: "Để cậu ta vượt qua đường ranh giới?

Nhưng..."

"Percy, cậu đã bao giờ nhìn thật kỹ Tyson chưa?

Ý tớ là... vào mặt cậu ấy.

Đừng để ý tới Màn Sương Mù.

Hãy thực sự nhìn thẳng vào cậu ấy."

Cô ấy nói.

Màn Sương Mù khiến con người chỉ nhìn thấy điều mà não họ có thể xử lý...

Tôi biết nó có thể đánh lừa luôn cả các á thần, nhưng...

Tôi nhìn vào mặt Tyson.

Điều này không dễ dàng gì.

Tôi luôn gặp khó khăn khi nhìn vào mặt cậu ấy, mặc dù tôi chưa hoàn toàn hiểu nguyên nhân.

Tôi từng nghĩ rằng việc đó có thể do cậu ấy luôn dính bơ đậu phộng trên hàm răng lộn xộn.

Tôi buộc mình phải tập trung vào cái mũi cà chua to lớn, rồi cao hơn một chút là đôi mắt cậu ấy.

Không, không phải là đôi mắt.

Một con mắt.

Một con mắt lớn màu nâu nằm ngay giữa trán với lông mi dày, những dòng nước mắt tuôn như thác xuống ở hai bên má cậu ấy.

"Tyson!

Cậu là..."

Annabeth chêm vào: "Cyclops[3]!

Một đứa trẻ, theo vẻ bề ngoài của cậu ấy.

Chắc chắn đó là lý do khiến cậu ấy không thể vượt qua hàng rào ranh giới dễ dàng như lũ bò.

Tyson là một trong số những đứa trẻ mồ côi vô gia cư."

[3] Trong thần thoại Hy Lạp, Cyclops là một thành viên của chủng tộc người khổng lồ nguyên thủy, mỗi người có một con mắt duy nhất ở giữa trán.

"Một của những cái gì?"

Annabeth nói với vẻ mặt khó chịu: "Họ có mặt hầu hết ở tất cả các thành phố lớn.

Họ... là những sai lầm, Percy à.

Con cái của các thực thể tự nhiên và các vị thần...

Ừm, một vị thần nói chung, luôn luôn... và họ không phải lúc nào cũng lộ mặt ra đúng không.

Không ai cần chúng cả.

Chúng bị quẳng sang một bên.

Chúng lớn lên tự do trên các đường phố.

Tớ không biết làm sao người này lại tìm ra cậu.

Nhưng rõ ràng là cậu ấy thích cậu.

Chúng ta nên đưa cậu ấy tới chỗ bác Chiron, để bác ấy quyết định cần phải làm gì."

"Nhưng ngọn lửa.

Làm thế nào..."

"Cậu ấy là Cyclops mà."

Annabeth ngưng lại, như thể cô ấy đang nhớ ra một điều gì không mấy vui vẻ.

"Họ làm việc trong lò rèn của các vị thần.

Họ phải miễn dịch với lửa.

Đó là điều mà tớ đang cố gắng để nói với cậu."

Tôi hoàn toàn bị sốc.

Sao tôi lại không nhận ra Tyson là cái gì nhỉ?

Nhưng tôi không có nhiều thời gian để suy nghĩ.

Toàn bộ một bên của quả đồi đang cháy.

Các anh hùng bị thương cần được quan tâm.

Vẫn còn hai con bò đồng bị đánh ngã chờ xử lý, mà tôi không chắc rằng chúng sẽ vừa mấy cái thùng tái chế bình thường của chúng tôi.

Clarisse đã quay lại và chùi bồ hóng trên trán.

"Jackson này, nếu mày có thể đứng, thì đứng lên.

Chúng ta cần phải khiêng mấy người bị thương trở về Nhà Lớn, báo cho Tantalus biết chuyện gì đã xảy ra."

"Tantalus?"

Tôi hỏi.

"Là người điều khiển các hoạt động của trại."

Clarisse đáp với vẻ mất kiên nhẫn.

"Bác Chiron mới là người điều khiển các hoạt động của trại chứ?

Thế Argus ở đâu?

Anh ấy là trưởng ban an ninh của trại.

Anh ấy nên có ở đây."

Clarisse nhăn nhó: "Argus bị bỏng.

Hai người đã đi quá lâu rồi đấy.

Mọi thứ đang thay đổi."

"Nhưng bác Chiron... bác ấy đã huấn luyện lũ trẻ để chiến đấu với bọn quái vật hơn ba ngàn năm qua cơ mà.

Bác ấy không thể đi được.

Điều gì đã xảy ra thế?"

"Chuyện đó đã xảy ra!"

Clarisse cắt ngang.

Cô ta chỉ lên cái cây Thalia.

Tất cả các trại viên đều biết về câu chuyện phía sau cái cây này.

Sáu năm trước, Grover, Annabeth và hai á thần khác là Thalia và Luke cùng tới Trại Con Lai.

Họ bị một nhóm quái vật truy sát.

Khi họ bị dồn lên đỉnh đồi, Thalia - con gái của thần Zeus - đã tình nguyện là người cuối cùng đứng lại chiến đấu để các bạn mình có thời gian chạy tới nơi an toàn.

Khi Thalia chết, cha cô là thần Zeus đã quá thương xót con gái nên hóa kiếp cô vào một cây thông.

Linh hồn của Thalia đã tăng thêm sức mạnh cho ranh giới phép thuật của trại, bảo vệ nó trước lũ quái vật.

Cây thông từ đó cứ mạnh mẽ và vững chãi ở đó.

Nhưng giờ đây, những chiếc lá thông đã úa vàng.

Rất nhiều lá khô rơi đầy gốc cây.

Ở giữa thân cây, cách mặt đất chừng một mét là một vết thủng bằng cỡ một viên đạn, đang rỉ nhựa màu xanh.

Ngực tôi như bị một mảnh đá xuyên qua.

Giờ tôi đã hiểu tại sao trại bị nguy hiểm.

Ranh giới phép thuật đã không còn hiệu nghiệm vì cây của Thalia đang chết.

Ai đó đã đầu độc nó.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 5: Tôi có bạn cùng phòng mới


Có bao giờ bạn trở về nhà và phát hiện thấy phòng mình lộn xộn không?

Giống như có vài người có lòng tốt thích giúp đỡ nào đó (con chào mẹ) đã cố gắng "làm sạch" nó, và đột nhiên bạn không thể tìm thấy bất cứ thứ gì.

Và thậm chí nếu không mất thứ gì chăng nữa, bạn vẫn có cảm giác khó chịu như thể ai đó đã ngó nghiêng hết đống đồ cá nhân của bạn và làm sạch tất cả mọi thứ bằng dung dịch đánh bóng đồ nội thất hương chanh?

Đó là cách mà tôi cảm nhận được khi quay lại Trại Con Lai.

Nhìn bề ngoài, mọi thứ trông không có gì khác biệt, Nhà Lớn vẫn nằm ở đó với mái có đầu hồi màu xanh và mái hiên bao quanh.

Những cánh đồng dâu tây vẫn phơi mình dưới ánh nắng.

Những tòa nhà Hy Lạp có cột trắng vẫn rải rác quanh thung lũng - hý trường, đấu trường, lều ăn tối nhìn ra Long Island Sound.

Và nép mình ở giữa rừng cây và con sông nhỏ là các căn nhà giống nhau, một sự phân loại điên rồ của mười hai công trình.

Mỗi cái đại diện cho một vị thần trên đỉnh Olympus.

Nhưng bầu không khí ở đây đang rất nguy hiểm.

Bạn có thể nói rằng có điều gì đó sai.

Thay vào việc chơi bóng chuyền ở các hố cát, cố vấn và các thần dê lại đang dự trữ vũ khí trong nhà kho dụng cụ.

Các nữ thần cây được trang bị cung và tên, nói chuyện với nhau đầy lo lắng bên bìa rừng.

Rừng cây trông cằn cỗi, cỏ trên các cánh đồng ngả màu vàng nhạt, và vết lửa cháy trên Đồi Con Lai bật lên như những vết sẹo xấu xí.

Ai đó đã làm xáo trộn nơi yêu thích của tôi trên thế giới, và tôi đã không còn là... một trại viên hạnh phúc.

Khi chúng tôi trên đường tới Nhà Lớn, tôi nhận ra rất nhiều bọn nhóc từ hè năm ngoái.

Không ai dừng lại để nói chuyện.

Không ai reo lên: "Chúc mừng đã quay về!"

Một số vờ kinh ngạc khi nhìn thấy Tyson nhưng hầu hết đều bước nhanh qua và tiếp tục các công việc của mình như chuyển tin, vác kiếm đến mài trên các máy mài.

Cả trại nom như một trường học quân sự.

Và hãy tin tôi đi, tôi biết rõ mà.

Tôi đã bị tống ra khỏi đó hai lần.

Những việc đó không ảnh hưởng gì nhiều đến Tyson.

Cậu ấy hoàn toàn bị mê hoặc bởi tất cả những gì mà cậu ấy nhìn thấy.

"Cái gì thế?"

Cậu ấy hổn hển hỏi.

"Chuồng cho những con Pegasus[1], những con ngựa có cánh ấy."

Tôi đáp.

[1] Pegasus: một con ngựa có cánh như chim đại bàng, là con của Poseidon và Medusa.

Khi Medusa bị người hùng Perseus chém đầu, máu từ cổ nàng phun ra thành ngựa Pegasus.

Ngay khi vừa ra đời, Pegasus dậm chân mạnh xuống núi Helicon tạo thành dòng suối Hippocrene khởi nguồn cho thi ca.

Sau khi giúp Bellerophon giết chết quái thú Chimera đầu sư tử, mình rồng thở ra lửa đang tàn phá vùng Lycia và hất ngã Bellerophon, Pegasus được thần Zeus giữ lại, yêu chuộng và trao tặng cho Eos.

Pegasus làm công việc chuyên chở các tia sét đến cho thần Zeus và là thú cưỡi cho Thần Bình Minh Eos.

"Còn kia?"

"Ừm... chúng là nhà vệ sinh thôi."

"Còn kia?"

"Nhà cho các trại viên.

Nếu họ không biết bố mẹ cậu là vị thần nào trên đỉnh Olympus, họ sẽ để cậu ở trong nhà thần Hermes - cái màu nâu kia kìa - cho đến khi cậu được xác định rõ.

Sau đó, khi họ biết được, họ sẽ cho cậu sống trong nhà của cha hoặc mẹ cậu."

Tyson nhìn tôi đầy kính sợ: "Cậu... có một căn nhà sao?"

"Nhà Số Ba."

Tôi chỉ một cái nhà màu xám thâm thấp làm từ đá biển.

"Cậu sống với bạn bè trong nhà đó chứ?"

"Không.

Không, chỉ mình tớ thôi."

Tôi không hứng thú với việc giải thích.

Nhưng sự thật đáng xấu hổ là: Tôi là người duy nhất sống trong nhà đó vì tôi vốn không được dự kiến được sống.

"Bộ Tam Vĩ Đại" - gồm thần Zeus, thần Poseidon, thần Hades - từng có một hẹn ước với nhau rằng sau Chiến tranh Thế Giới Thứ Hai, họ sẽ không có thêm con với người thường nữa.

Chúng tôi có sức mạnh hơn so với con lai bình thường khác.

Chúng tôi là những người khó có thể đoán trước được.

Khi chúng tôi nổi cơn giận dữ, chúng tôi sẽ có khuynh hướng gây nên nhiều rắc rối... như Chiến tranh Thế Giới Thứ Hai chẳng hạn.

Hiệp ước của "Bộ Tam Vĩ Đại" chỉ bị phá vỡ hai lần: Một lần khi Zeus có Thalia, và một lần khi Poseidon có tôi.

Chẳng ai trong số hai chúng tôi được phép sinh ra.

Thalia đã nhập người mình vào một cây thông khi cô mới mười hai tuổi.

Còn tôi...

ừm, tôi đang gắng hết sức để không theo cô ấy.

Tôi có những cơn ác mộng về thứ mà thần Poseidon có thể biến tôi thành khi tôi cận kề cái chết - sinh vật phù du, biết đâu.

Hoặc là một đám tảo bẹ trôi dập dờn.

Khi chúng tôi tới Nhà Lớn, chúng tôi tìm thấy bác Chiron trong phòng riêng, vừa đắm mình trong loại nhạc Lounge[2] thập niên 1960 mà bác ấy hằng ưa thích, vừa gói ghém những cái túi yên của mình.

Tôi đoán mình nên nói rõ rằng bác Chiron là một Nhân mã.

Từ thắt lưng trở lên, bác ấy giống như một người đàn ông trung niên bình thường với mái tóc xoăn màu nâu và hàng râu lơ thơ.

Từ thắt lưng trở xuống, bác ấy là một con ngựa đực trắng.

Bác ấy có thể trở thành người bằng cách nhét nửa người còn lại vào chiếc xe lăn có phép thuật.

Và thực ra bác Chiron từng biến thành thầy giáo dạy tiếng La tinh của tôi trong suốt năm tôi học lớp sáu.

Nhưng phần lớn thời gian, nếu trần nhà đủ cao, bác ấy thích trở lại với nguyên dáng Nhân mã của mình.

[2] Lounge music, hay nhạc chơi ở Lounge là những loại nhạc thường được chơi ở các khách sảnh sang trọng, các piano bar hay các quán cà phê trầm mặc, không gian ấm áp, trải rộng từ các bản hòa tấu giai điệu du dương tới nhạc điện tử hiện đại (electronica) mang màu sắc chillout mà giọng hát thường được sử dụng như yếu tố gợi âm thanh hơn là truyền tải ca từ.

Lịch sử của lounge music, như một phong cách, một thể loại âm nhạc, có thể được truy ngược về những năm 20, 30 của thế kỷ 20, với các hình thái ban đầu được gọi là light music, hay mood music, sau đó phát triển mạnh mẽ từ những năm 50, 60.

Và tên gọi quen thuộc nhất đến ngày nay, là lounge music.

Ngay khi chúng tôi vừa nhìn thấy bác Chiron, Tyson đã đông cứng người.

"Ngựa con!"

Cậu ấy kêu lên vui sướng.

Chiron quay lại, nhìn chúng tôi bằng ánh mắt bị xúc phạm: "Xin lỗi?"

Annabeth chạy tới và ôm chặt lấy bác Chiron.

"Bác Chiron, có chuyện gì thế?

Bác không... bỏ đi chứ?"

Giọng cô ấy run rẩy.

Bác Chiron như người cha thứ hai của cô ấy vậy.

Bác Chiron vò rối mái tóc cô ấy và cười thân thiện: "Chào cháu.

Cả Percy nữa, ôi trời.

Nom cháu lớn hơn năm ngoái đấy."

Tôi nghẹn lời: "Clarisse nói rằng bác bị... bác bị..."

"Bị đuổi."

Mắt bác Chiron lấp lánh ánh đen hài hước.

"À, có ai đó phải chịu khiển trách chứ.

Thần Zeus đã cực kỳ buồn bực.

Cái cây mà ông ấy đã tạo ra từ linh hồn của con gái mình đã bị đầu độc.

Ngài D phải trừng phạt ai đó."

"Ý bác là, ngoài ông ta ra!"

Tôi làu bàu.

Chỉ vừa nghĩ tới trưởng trại - Ngài D, tôi đã thấy giận dữ.

Annabeth khóc ầm lên: "Nhưng điều này thật điên rồ!

Bác Chiron, bác chẳng được lợi gì khi đầu độc cây của Thalia!"

Bác Chiron thở dài: "Thế nhưng, giờ đây trong hoàn cảnh này, có một số thần trên đỉnh Olympus đã không còn tin ta nữa."

"Hoàn cảnh nào?"

Tôi hỏi.

Mặt bác Chiron tối sầm lại.

Bác nhét một cuốn từ điển La tinh - Anh vào chiếc túi yên trong khi tiếng nhạc của Frank Sinatra vẫn đang phát ra từ máy nghe nhạc.

Tyson vẫn đang nhìn chằm chằm vào bác Chiron với vẻ mặt đầy kinh ngạc.

Cậu ấy rên rỉ như thể rất muốn vỗ lên hông của bác Chiron nhưng lại sợ tới gần.

"Ngựa con?"

Bác Chiron khụt khịt vẻ khó chịu: "Này anh bạn trẻ Cyclops yêu quý!

Ta là một Nhân mã."

Tôi hỏi: "Bác Chiron, thế còn cái cây thì sao?

Chuyện gì đã xảy ra?"

Bác ấy lắc đầu buồn bã: "Chất độc dùng cho cây Thalia là thứ gì đó đến từ Địa ngục, Percy à.

Là loại độc dược mà ta chưa từng thấy bao giờ.

Chắc hẳn nó phải đến từ một con quái vật ở sâu bên dưới đáy vực Tartarus."

"Thế chúng ta biết được ai là người phải chịu trách nhiệm.

Kro..."

"Đừng gọi tên vị thần khổng lồ ấy ra, Percy!

Đặc biệt không được gọi ở đây, vào chính lúc này."

"Nhưng hè năm ngoái, ông ta đã cố ý gây ra một cuộc nội chiến trên đỉnh Olympus cơ mà.

Việc này chắc là ý của ông ta.

Ông ta đã bảo Luke làm chuyện đó, cái đồ phản bội đó."

Bác Chiron nói: "Có thể.

Nhưng ta sợ rằng ta phải chịu trách nhiệm vì đã không bảo vệ nó, và không thể cứu được nó.

Cái cây này chỉ còn sống được vài tuần nữa thôi, trừ phi..."

"Trừ phi cái gì?"

Annabeth hỏi.

Bác Chiron đáp: "Không!

Một suy nghĩ ngớ ngẩn.

Cả cái thung lũng này đang bị sốc bởi chất độc.

Các hàng rào phép thuật đang bị hỏng.

Trại đang chết dần.

Chỉ có một nguồn phép thuật duy nhất đủ mạnh để đẩy lùi chất độc và nó cũng đã bị thất lạc hàng thế kỷ qua."

"Đó là cái gì?

Chúng cháu sẽ đi tìm nó."

Tôi hỏi.

Bác Chiron đóng cái túi yên lại.

Bác ấy nhấn nút Tắt trên máy nghe nhạc, rồi quay người lại, đặt tay lên vai tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi: "Percy, cháu phải hứa với ta rằng, cháu sẽ không hành động vội vàng.

Bác đã nói với mẹ cháu rằng bác không muốn cháu ở đây cả mùa hè này chút nào.

Điều đó quá nguy hiểm.

Nhưng giờ nếu cháu đã ở đây, hãy cứ ở yên đây nhé!

Hãy luyện tập chăm chỉ!

Hãy học cách chiến đấu!

Nhưng đừng rời khỏi trại!"

"Tại sao?

Cháu muốn làm điều gì đó!

Cháu không thể để đường ranh giới bị hỏng.

Toàn bộ trại sẽ..."

Tôi nói.

"Bị lũ quái vật giày xéo."

Bác Chiron nói: "Đúng thế.

Bác cũng sợ điều đó.

Nhưng cháu không thể để mình bị mắc lừa bởi hành động khinh suất.

Đó có thể là cái bẫy của vị thần khổng lồ Titan đó.

Hãy nhớ về mùa hè năm ngoái.

Ông ta suýt lấy mất tính mạng cháu đấy!"

Điều đó hoàn toàn đúng, tuy nhiên, tôi lại rất muốn giúp đỡ.

Tôi cũng muốn Kronos phải trả giá.

Ý tôi là bạn nên nghĩ rằng vị thần khổng lồ Titan đó đã thấm bài học từ hàng niên kỷ trước khi ông ta bị các thần đánh bại.

Bạn nên nghĩ việc bị chặt ra hàng triệu mảnh và bị tống xuống phần tăm tối nhất của Địa ngục - nơi sẽ cung cấp cho ông ta một câu chuyện huyền ảo mà không ai muốn dính dáng tới.

Nhưng không.

Vì ông ta là bất tử, ông ta vẫn còn sống mãi ở Tartarus - đau đớn và nỗi đau vĩnh viễn, thèm khát được trở lại và trả món thù với đỉnh Olympus.

Ông ta không thể tự mình hành động, nhưng ông ta rất giỏi việc bóp méo những suy nghĩ của người thường, và thậm chí với cả các vị thần để giúp ông ta làm những việc bẩn thỉu.

Việc đầu độc chắc chắn là việc làm của ông ta.

Ai lại có thể hèn hạ khi tấn công cây của Thalia, thứ duy nhất còn sót lại của một người anh hùng đã hy sinh mạng sống để cứu lấy bạn bè mình như thế?

Annabeth đang gắng hết sức để không bật khóc.

Bác Chiron lau nước mắt trên má cô ấy, bác ấy nói: "Hãy ở lại cùng Percy, cháu gái à!

Hãy giúp cậu ấy được an toàn!

Hãy nhớ lấy - Lời Sấm Truyền!"

"Cháu, cháu nhớ."

Tôi cất tiếng: "Ừm...

Đó có phải là Lời Sấm Truyền cực kỳ nguy hiểm có dính dáng đến cháu, nhưng các thần đã cấm bác nói cho cháu phải không ạ?"

Không ai đáp cả.

"Được rồi!

Cháu chỉ hỏi thôi."

Tôi càu nhàu.

Annabeth cất tiếng: "Bác Chiron...

Bác từng nói với cháu rằng các thần cho phép bác bất tử tới lúc nào họ còn cần bác để huấn luyện các anh hùng.

Nếu giờ đây họ sa thải bác khỏi trại thì..."

"Cháu hãy thề gắng hết sức mình để giúp cho Percy vượt qua nguy hiểm đi!"

Bác Chiron khăng khăng: "Hãy thề trên dòng sông Styx!"

"Cháu, cháu xin thề trên dòng sông Styx!"

Annabeth nói.

Sấm ầm ầm bên ngoài.

"Tốt lắm!"

Bác Chiron nói.

Nom bác ấy có vẻ thoải mái hơn phần nào.

"Có lẽ tên bác sẽ được trong sạch và bác sẽ trở lại.

Nhưng từ giờ cho tới đó, bác sẽ đi thăm mấy người bà con ở Everglades.

Có thể họ biết đôi chút về phương thức cứu chữa cho cái cây bị đầu độc mà bác đã quên mất.

Dù sao bác cũng bị đày đi xa cho tới khi vấn đề được giải quyết... cách này hay cách khác."

Annabeth nghẹn ngào.

Bác Chiron lúng túng vỗ lên vai cô ấy.

"Nào, bây giờ bác phải giao phó sự an toàn của các cháu cho Ngài D và người điều khiển các hoạt động mới.

Chúng ta hy vọng... hừm, họ sẽ không phá hủy trại nhanh như bác e sợ."

Tôi nài nỉ: "Nhân tiện cho cháu hỏi gã Tantalus là ai thế?

Gã ấy từ đâu đến mà chiếm lấy việc của bác thế?"

Một tiếng tù và bằng xà cừ vang lên khắp thung lũng.

Tôi đã không nhận ra trời tối nhanh như vậy.

Đã đến giờ các trại viên tập trung ăn tối.

Bác Chiron nói: "Đi đi!

Cháu sẽ gặp ông ấy ở đình.

Bác sẽ liên lạc với mẹ cháu, Percy à, và sẽ cho bà ấy biết rằng cháu đã an toàn.

Ắt hẳn bà ấy đang lo lắng lắm.

Hãy nhớ những gì bác cảnh báo.

Cháu đang cực kỳ nguy hiểm.

Đừng bao giờ nghĩ rằng vị thần khổng lồ Titan đó không còn nhớ đến cháu!"

Rồi bác Chiron lọc cọc ra khỏi phòng và đi về phía cuối hành lang.

Tyson gọi với sau lưng bác ấy: "Ngựa con!

Đừng đi!"

Tôi nhận ra rằng mình đã quên mất không nói với bác Chiron về cơn ác mộng của tôi về Grover.

Nhưng giờ đã quá muộn.

Người thầy giáo tốt nhất mà tôi từng có đã đi rồi.

Có lẽ đó lại là điều tốt.

Tyson bắt đầu khóc lóc tương tự như Annabeth vậy.

Tôi cố gắng nói với họ rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi, nhưng tôi không tin vào điều đó.

Mặt trời đang xuống dần sau đình ăn tối khi các trại viên lục tục từ nhà tiến đến đó.

Chúng tôi đứng dưới cái bóng của một cái cột bằng đá cẩm thạch và ngắm nghía mọi người đang tụ họp.

Annabeth vẫn bị sốc nhưng cô ấy hứa sẽ nói chuyện với chúng tôi sau.

Rồi cô ấy bỏ đi để gia nhập vào đám anh chị em ruột đến từ nhà nữ thần Athena.

Đó là một tá con trai và gái đều có mái tóc vàng và đôi mắt xám giống cô ấy.

Annabeth không phải lớn nhất hội nhưng cô ấy từng ở trại nhiều mùa hè hơn bất kỳ ai.

Bạn có thể nói điều đó khi nhìn vòng cổ trại của cô ấy - mỗi hè một chuỗi vòng và Annabeth có sáu chuỗi tất cả.

Không ai nghi ngờ về quyền dẫn đầu của cô ấy.

Tiếp đó là Clarisse dẫn đầu nhà thần Ares.

Một tay cô ta treo lên, trên má còn một vết thương nom rất kinh.

Nhưng mặt khác cuộc đọ sức giữa cô ta với lũ bò đồng không có vẻ khiến cô phải bối rối.

Ai đó đã gắn một mảnh giấy có ghi "HÃY RỐNG LÊN, CÔ GÁI!" vào ngay sau lưng cô ta.

Nhưng không ai trong nhà cô ta chịu nhắc với cô ta về điều này.

Ngay sau nhà thần Ares là một đám gồm sáu đứa do Charles Beckendorf - một đứa trẻ mười lăm tuổi người Mỹ gốc Phi to lớn - dẫn đầu đến từ nhà thần Hephaestus.

Cậu ta có đôi bàn tay to bằng găng tay của người bắt bóng chày, một gương mặt nặng nề và mắt lác do nhìn vào lò rèn suốt ngày.

Cậu ta khá dễ thương khi bạn biết rõ cậu ta.

Nhưng không ai chịu gọi cậu ta là Charlie, Chuck hoặc Charles.

Hầu hết mọi người gọi cậu ta là Beckendorf.

Có tin đồn rằng cậu ta có thể làm bất cứ vật gì.

Nếu cho cậu ta một thanh kim loại, cậu ta có thể tạo ra một thanh kiếm sắc như dao cạo hoặc một con robot chiến binh, hoặc một bể nước cho chim tắm trong vườn bà ngoại bạn.

Cậu ta có thể làm bất cứ thứ gì bạn cần.

Con cái của các nhà khác như Demeter, Apollo, Aphrodite, Dionysus cũng đã tới đông đủ.

Các nữ thủy thần cũng đã đến bằng xuồng.

Các nữ thần cây đi ra từ các cây.

Từ đồng cỏ, một tá thần rừng - những người nhắc nhở tôi nỗi nhức nhối về Grover cũng đang đi đến.

Tôi luôn có cảm tình đặc biệt với các thần rừng.

Khi ở trại, họ phải làm mọi việc vặt theo yêu cầu của Ngài D - giám đốc trại.

Nhưng công việc quan trọng nhất của họ lại chính ở thế giới thực.

Họ là những người tìm kiếm của trại.

Họ phải cải trang để đi vào các trường học khắp nơi trên thế giới, tìm kiếm những người có khả năng là con lai và đưa họ về trại.

Đó là cách tôi quen Grover.

Cậu ấy là người đầu tiên nhận ra tôi là một á thần.

Sau khi các thần rừng nối đuôi nhau vào bữa tối, nhà thần Hermes làm hậu phương ngay tiếp đó.

Họ luôn là đám đông nhất.

Hè năm ngoái, hội này được dẫn đầu bởi Luke - người đã cùng Thalia và Annabeth chiến đấu trên Đồi Con Lai.

Trong một thời gian ngắn, trước khi thần Poseidon xác nhận tôi, tôi cũng ở trong khu nhà của thần Hermes.

Luke đã tỏ ra thân thiết với tôi... rồi sau đó anh ấy cố giết tôi.

Giờ đây, đội quân nhà thần Hermes được dẫn đầu bởi Travis và Connor Stoll.

Chúng không phải là một cặp song sinh nhưng lại rất giống nhau.

Tôi không thể nhận ra ai nhiều tuổi hơn.

Cả hai đều cao, gầy nhom với mái tóc nâu luôn xõa xuống mắt.

Chúng đều mặc áo phông màu da cam với hàng chữ Trại Con Lai bỏ ngoài chiếc quần short rộng thùng thình.

Chúng cũng có những nét đặc trưng tinh nghịch như tất cả lũ trẻ nhà thần Hermes.

Đó là đôi lông mày rậm, nụ cười mỉa mai, một chút lóe sáng khi chúng nhìn bạn - như thể chúng sắp bắn một tàn lửa xuống áo bạn.

Tôi luôn nghĩ rằng điều đó thật buồn cười bởi vị thần của những tên trộm lại có những đứa tên mang họ Stoll.

Nhưng đó chỉ là lần duy nhất tôi chằm chằm đầy thất thần như thể thấy điều đó không chút buồn cười.

Ngay sau khi các trại viên cuối cùng đã tề tựu đông đủ, tôi kéo Tyson vào giữa đình.

Những cuộc trò chuyện ngập ngừng.

Những cái đầu quay lại.

"Ai đã mời cái thứ kia thế?"

Ai đó ngồi ở bàn của thần Apollo kêu ca.

Tôi liếc về phía họ nhưng không thể nhận ra ai đã nói.

Từ chiếc bàn chính, một giọng nói lè nhè quen thuộc vang lên: "Ồ, ồ, nếu đó không phải là Peter Johnson.

Thời đại hoàng kim của tôi đã hoàn tất."

Tôi nghiến răng: "Percy Jackson... thưa ngài."

Ngài D hớp một ít Coke dành cho người ăn kiêng.

"Đúng vậy, tốt quá, như những người trẻ tuổi dạo này hay nói, gì cũng được."

Ông ta mặc chiếc áo Hawaii có họa tiết da báo quen thuộc, quần soóc và đôi giày tennis với tất đen.

Với bộ mặt đỏ dính bẩn, cái bụng mập ú, nom ông ta rất giống một khách du lịch Las Vegas thường xuyên ở quá muộn trong các sòng bạc.

Đằng sau ông ta là một thần rừng với vẻ mặt lo lắng, đang ra sức lột vỏ và đưa cho ông ta từng trái nho một.

Ngày D tên thật là Dionysus - Thần Rượu Nho.

Thần Zeus đã chỉ định ông ta trở thành giám đốc Trại Con Lai để cấm ông uống rượu trong một trăm năm.

Đây là một sự trừng phạt cho việc theo đuổi một số nữ thần cây.

Kế bên cạnh ông, nơi bác Chiron thường xuyên ngồi (hoặc đứng trong hình dáng Nhân mã) là một người mà tôi chưa từng gặp bao giờ.

Đó là một người đàn ông xanh nhợt, ốm yếu, nom khủng khiếp trong bộ đồ sọc tù cũ kỹ màu cam.

Con số ghi trên túi áo ông ta là 0001.

Dưới mắt ông ta là những vệt bóng màu xanh nước biển.

Móng tay bẩn thỉu và mái tóc xám cắt nham nhở, như thể nó vừa được cắt bằng máy cắt cỏ.

Ông ta nhìn tôi chằm chằm.

Ánh mắt ông ta khiến tôi hoảng sợ.

Ông ta trông như thể... bị bạc đãi.

Sự giận dữ, thất vọng và đói cùng lúc xuất hiện trong ánh nhìn của ông ta.

Dionysus nói với ông ta: "Thằng bé này, ông cần phải theo dõi.

Con trai của thần Poseidon."

"À!

Thì ra là nó."

Người tù nói.

Giọng của ông ta càng làm rõ một điều là ông ta và thần Dionysus đã tranh luận về tôi khá lâu.

Người tù nói và cười lạnh lùng: "Ta là Tantalus.

Ta sẽ có một nhiệm vụ đặc biệt ở đây cho tới khi, ừm, cho tới khi vị Chúa tể của ta - thần Dionysus - quyết định những chuyện khác.

Và ngươi, Perseus Jackson, ta mong ngươi kiềm chế không gây nên bất cứ rắc rối gì."

"Rắc rối ư?"

Tôi hỏi gặng.

Dionysus bật ngón tay tanh tách, một tờ báo xuất hiện trên bàn.

Ở ngay trang nhất tờ New York Post ngày hôm nay, là một tấm chân dung của tôi được lấy ra từ cuốn niên bạ hằng năm của trường Meriwether.

Thật khó khăn cho tôi để đọc ra tít bài nhưng tôi có thể đoán được ngay chúng được viết ra sao.

Đại loại những thứ kiểu như: "Cậu Bé Mười Ba Tuổi Mất Trí Đốt Cháy Phòng Thể Dục Của Trường."

Tantalus nói với vẻ hài lòng: "Đúng vậy, rắc rối!

Ngươi đã gây ra một lô rắc rối vào hè năm ngoái, ta hiểu."

Tôi quá bực mình để cất tiếng.

Cứ như thể đó là lỗi tại tôi khiến các vị thần suýt nữa gây nên một cuộc nội chiến vậy.

Một vị thần rừng dịch lên phía trước đầy lo lắng và đặt đĩa thịt nướng lên phía trước mặt Tantalus.

Vị quản trại mới này liếm môi.

Ông ta nhìn vào cái ly rỗng và nói: "Bia xá xị.

Loại đặc biệt của Iraq, năm 1967."

Chiếc ly tự làm đầy với bọt soda sủi tràn ra ngoài.

Tantalus ngần ngừ chìa tay ra như thể ông ta sợ cái ly quá nóng.

Dionysus giục giã, một tia nhìn rất lạ lóe lên trong mắt ông: "Cầm lấy đi, anh bạn!

Có thể giờ anh bạn sẽ dùng được nó thôi."

Tantalus vồ lấy cái ly nhưng nó đã cạn trước khi ông ta có thể chạm vào được.

Vài giọt bia bắn ra ngoài và Tantalus cố gắng dùng tay chấm vào chúng.

Nhưng chúng cứ lăn tròn như những giọt thủy ngân trước khi ông có thể chạm tay vào.

Ông ta gầm gừ và quay sang đĩa thịt.

Ông ta nhấc một cái nĩa lên và cố gắng xiên vào một miếng thịt ức.

Nhưng chiếc đĩa bay ngay xuống dưới bàn, rơi xuống đất và bay thẳng tới lò than đang chất đầy than.

"Đồ trời đánh thánh vật!"

Tantalus gầm lên.

Dionysus cất tiếng, giọng chảy dài trong niềm thương cảm giả tạo: "A, ừm!

Có lẽ phải thêm mấy ngày nữa.

Cứ tin ta đi, anh tướng à!

Làm việc ở trại này sẽ được đền đáp xứng đáng.

Ta chắc chắn rằng lời nguyền cũ của ngươi rốt cuộc cũng được phá giải thôi."

Tantalus gầm lên, nhìn chằm chằm vào lon Coke dành cho người ăn kiêng của Dionysus: "Rốt cuộc ư?

Ngài có thể hình dung được là cổ họng của người nào đó sẽ khô như thế nào sau những ba ngàn năm không?"

Tôi nói: "Thì ra ông là cái linh hồn đó trên Cánh Đồng Trừng Phạt.

Người đứng trong hồ với một cái cây đầy quả phía trên đầu nhưng ông không thể ăn hoặc uống được."

Tantalus cười nhạo tôi: "Một học giả thật sự đấy, nhóc à!"

Tôi nói với sự cảm kích: "Ông phải làm vài điều gì đó thực sự kinh khủng khi ông còn sống.

Vậy đó là cái gì?"

Đôi mắt của Tantalus như bị hẹp lại.

Phía sau ông ta, các thần rừng đang ra sức lắc đầu như cố cảnh báo tôi.

Tantalus nói: "Ta sẽ theo dõi ngươi, Percy Jackson à!

Ta không muốn có bất kỳ rắc rối nào ở trại của ta."

"Trại của ông vốn đã có rắc rối rồi..."

Dionysus thở dài: "Thôi, ngồi xuống đi, Johnson!

Ta tin chắc rằng chiếc bàn kia là của ngươi.

Đó là chiếc bàn mà chưa từng ai muốn ngồi."

Mặt tôi đỏ bừng, nhưng tôi biết tốt hơn hết là không đáp trả.

Dionysus từng là một đứa trẻ ngỗ nghịch lớn quá khổ, nhưng đó lại là một đứa trẻ bất tử với sức mạnh khủng khiếp.

Tôi giục: "Đi thôi, Tyson!"

"Không, không được!

Quái vật phải ở đây.

Chúng ta phải quyết định làm gì với nó."

Tantalus khinh miệt.

"Cậu ấy...

Tên cậu ấy là Tyson."

Tôi ngắt lời.

Người điều khiển các hoạt động của trại mới nhướn một bên mày.

Tôi khăng khăng khẳng định: "Tyson đã cứu cái trại này.

Cậu ấy đã nện cho lũ bò kim loại kia một trận.

Nếu không, chúng đã đốt trụi tất cả chỗ này."

"Đúng thế!

Và thật đáng tiếc là điều đó sẽ xảy ra."

Tantalus thở dài.

Dionysus cười khúc khích.

Tantalus ra lệnh: "Để bọn ta lại, trong khi chúng ta quyết định số phận của cái thứ này."

Tyson nhìn tôi với nỗi sợ hãi dâng đầy trong con mắt to của cậu ấy.

Nhưng tôi biết mình không thể chống lại một lệnh trực tiếp từ những người quản lý trại.

Dù sao thì cũng không nên công khai ra mặt.

"Tớ sẽ ở ngay đây thôi, anh bạn to lớn!

Đừng lo gì cả!

Chúng tớ sẽ tìm cho cậu một chỗ tốt để ngủ tối nay."

Tôi hứa.

Tyson gật đầu: "Tớ tin cậu.

Cậu là bạn tớ mà."

Điều đó làm tôi thấy mình như càng cắn rứt hơn.

Tôi mệt mỏi lê bước về bàn của thần Poseidon và ngồi sụp xuống cái ghế dài.

Một nữ thần rừng mang tới cho tôi một đĩa bánh pizza pepperoni-ô liu của đỉnh Olympus.

Nhưng tôi không thấy đói tẹo nào.

Hôm nay tôi suýt bị giết hai lần.

Tôi đã kết thúc năm học của mình bằng một thảm họa hoàn toàn.

Trại Con Lai đang gặp phải vấn đề nghiêm trọng và bác Chiron đã nói với tôi rằng không làm bất cứ điều gì cả.

Tôi không thấy biết ơn lắm nhưng vẫn cầm suất ăn tối của mình như một thói quen, tới gần lò than bằng đồng và xắt một miếng trong đó hất vào lửa.

Tôi nghĩ thầm: "Thưa thần Poseidon!

Xin hãy chấp nhận lời thỉnh cầu của con."

Và hãy gửi cho con vài sự trợ giúp khi thần ở đó, Tôi cầu nguyện trong im lặng, Xin thần đấy!

Mùi khói bốc lên từ miếng pizza nướng đã được thay vào bằng thứ gì đó thơm ngát - mùi của gió biển thanh khiết hòa trộn cùng mùi hoa dại - nhưng tôi không biết liệu việc đó có nghĩa là cha tôi đã thực sự nghe thấy lời khẩn cầu của tôi.

Tôi trở lại ghế ngồi của mình.

Tôi không nghĩ tới mọi việc có thể trở nên tồi tệ hơn.

Nhưng tiếp đó Tantalus đã ra lệnh thần rừng thổi tù và bằng ốc xà cừ để thu hút sự chú ý của chúng tôi cho các thông báo của ông ta.

Tantalus nói, ngay khi tiếng trò chuyện trong phòng ăn lắng đi: "Nào, các nhóc!

Một bữa ăn ngon khác!

Hoặc theo như những gì ta được kể lại."

Khi cất tiếng, ông ta gắng với tay lên chiếc đĩa thức ăn của ông ta đã được đầy lại, như thể có lẽ chỗ thức ăn không chú ý tới việc ông ta đang làm.

Nhưng rủi thay, chúng lại chú ý.

Cái đĩa bắn ngay về phía cuối bàn khi ông ta chỉ cách nó hai mươi xăng ti mét.

Ông ta tiếp tục: "Và đây là ngày nắm quyền đầu tiên của ta, ta rất vui khi nói rằng ở lại đây là một kiểu trừng phạt rất dễ chịu.

Và qua khóa hè này, ta hy vọng sẽ tra khảo, à, có tác động qua lại lẫn nhau với mỗi nhóc đấy.

Trông các cháu nom khá ngon lành để ăn đấy."

Dionysus vỗ tay đầy lịch sự, dẫn đầu một số thần rừng khá miễn cưỡng.

Tyson vẫn đang đứng ở chỗ bàn chính, nhìn xung quanh đầy gượng gạo.

Nhưng mỗi khi cậu cố gắng thoát khỏi ánh đèn chiếu vào mình, Tantalus lại đẩy cậu quay trở lại.

Tantalus gửi cho các trại viên một nụ cười gian xảo: "Và giờ đây, sẽ có một vài thay đổi!

Chúng ta đang thiết lập lại những cuộc đua bằng xe ngựa."

Tiếng rì rầm vang lên khắp các bàn, đầy kích động, sợ hãi và kinh ngạc.

Tantalus nói tiếp với âm giọng vang hơn: "Nào, ta biết, những cuộc đua này đã bị ngưng lại từ mấy năm trước vì...

à... do những vấn đề về kỹ thuật."

"Ba người chết và hai mươi sáu người bị thương."

Một ai đó ngồi ở bàn của thần Apollo nhắc nhở.

Tantalus đáp: "Đúng, đúng thế!

Nhưng ta biết rằng tất cả các cháu sẽ tham gia cùng ta chào đón sự trở lại của truyền thống trại này.

Những vòng nguyệt quế bằng vàng sẽ được trao cho người đánh xe ngựa thắng cuộc vào hàng tháng.

Các đội có thể đăng ký vào buổi sáng.

Cuộc đua đầu tiên sẽ được bắt đầu trong ba ngày nữa.

Ta sẽ giải thoát cho các cháu khỏi phần lớn những hoạt động thông thường khác để các cháu chuẩn bị cỗ xe và chọn ngựa.

Ồ, ta đã nói đến việc khu nhà của những người thắng cuộc sẽ không phải làm việc vặt trong suốt tháng nếu họ thắng chưa nhỉ?"

Những cuộc tranh luận đầy kích động được nổ ra - không phải phụ việc ở nhà bếp trong vòng một tháng?

Không phải dọn chuồng sao?

Ông ta có nghiêm túc không nhỉ?

Rồi người cuối cùng mà tôi hy vọng phản đối cũng đã lên tiếng.

"Nhưng thưa ngài!"

Clarisse nói.

Nom cô ta thật lo lắng nhưng cô ta đã đứng lên nói từ bàn của thần Ares.

Một số trại viên khác khúc khích cười khi nhìn thấy dòng chữ "HÃY RỐNG LÊN, CÔ GÁI!" trên lưng cô ta.

"Thế nhiệm vụ tuần tra thì sao?

Ý tôi là nếu chúng ta vứt hết mọi chuyện để chuẩn bị xe ngựa thì..."

"À, người hùng của ngày hôm nay đây mà!

Hoan hô Clarisse, người với tay không đã nện nhừ tử lũ bò đồng."

Tantalus kêu lên.

Clarisse chớp mắt rồi đỏ mặt: "Không, tôi không phải..."

Tantalus cười nhăn nhở: "Và cũng là người khiêm tốn nhất nữa.

Nhưng không sao đâu, cháu yêu quý à!

Đây là một trại hè và chúng ta ở đây để hưởng thụ, phải không nào?"

"Nhưng cái cây..."

Tantalus nói át đi trong khi một vài người cùng khu nhà của Clarisse kéo cô ngồi xuống: "Và giờ đây, trước khi chúng ta chuyển sang phần lửa trại, đồng ca và một vấn đề quản gia không đáng kể, Percy Jackson và Annabeth Chase đã quyết định, vì một số lý do, đưa nó tới đây."

Rồi Tantalus vẫy một tay về phía Tyson.

Tiếng rì rầm đầy bứt rứt lan rộng khắp các trại viên.

Rất nhiều cái nhìn tập trung về phía tôi.

Tôi chỉ muốn giết chết Tantalus.

Ông ta tiếp tục: "Giờ đây, tất nhiên là, các Cyclops có tiếng là những con quái vật khát máu với bộ óc rất nhỏ.

Trong những tình huống thông thường, ta sẽ thả con quái vật này vào rừng và để cho các cháu lùng bắt nó với đuốc và những cây gậy được vót nhọn.

Nhưng ai mà biết được?

Có thể gã Cyclops này không xấu xa như hầu hết các anh em đồng đạo của nó.

Cho đến khi nó chứng tỏ được giá trị của sự phá hủy và chúng ta cần một nơi để giữ nó.

Ta nghĩ tới những cái chuồng ngựa.

Vậy cho vào khu nhà thần Hermes thì sao, có được không?"

Sự im lặng bao trùm lên bàn thần Hermes.

Travis và Connor Stoll có hứng thú bất chợt với khăn trải bàn.

Tôi không thể trách họ.

Khu nhà thần Hermes luôn đông tới mức như sắp vỡ tung.

Họ không thể có chỗ cho một Cyclops cao hai mét cả.

Tantalus mắng mỏ: "Nào, sao đây?

Con quỷ đó có thể làm một số việc hầu hạ lặt vặt.

Ai có gợi ý gì với nơi để nhốt nó không?"

Đột nhiên tất cả mọi người đều há hốc miệng đầy kinh ngạc.

Tantalus chạy nhanh ra khỏi nơi Tyson đứng với vẻ kinh ngạc.

Tất cả những gì tôi có thể làm được là nhìn chòng chọc đầy hoài nghi vào ánh sáng xanh chói lòa, thứ đã giúp thay đổi đời tôi - một hình ảnh ba chiều sáng chói xuất hiện ngay trên đầu của Tyson.

Với cơn quặn đau trong dạ dày, tôi nhớ tới điều mà Annabeth đã nói về Cyclops.

Họ là con cái của các linh thể tự nhiên và các vị thần...

Ồ, một vị thần nói chung, thường...

Xoáy tít ở phía trên đầu Tyson là một cây đinh ba màu xanh rực sáng - một biểu tượng giống như từng xuất hiện vào ngày mà thần Poseidon thừa nhận tôi là con trai mình.

Toàn bộ khu trại im lặng đầy kính sợ.

Được thừa nhận là một sự kiện rất hiếm hoi.

Một số trại viên từng phải chờ đợi vô vọng trong suốt đời mình.

Khi tôi được thần Poseidon thừa nhận vào hè năm ngoái, tất cả mọi người đã phải quỳ gối chào.

Nhưng giờ đây họ đều làm theo Tantalus và Tantalus chỉ cười phá lên: "Ồ, ta nghĩ rằng giờ chúng ta đã biết tống nó đi đâu.

Nhờ các vị thần, ta có thể nhận ra sự giống nhau về huyết thống gia đình!"

Tất cả mọi người đều cười, trừ Annabeth và một vài người bạn khác của tôi.

Tyson không mấy chú ý.

Cậu ấy quá bối rối, cố đập mạnh vào cái đinh ba sáng rực giờ đang nhạt dần đi phía trên đầu cậu ấy.

Cậu ta quá ngây thơ để có thể hiểu được người ta đã cười cợt cậu nhiều ra sao và họ đã ác độc như thế nào.

Nhưng tôi thì hiểu được.

Giờ đây tôi đã có một người ở chung nhà.

Tôi có một người anh em cùng cha khác mẹ là một con quái vật.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 6: Cuộc tấn công của lũ bồ câu ma quái


Mấy ngày tiếp đó đúng như tra tấn, y hệt như những gì Tantalus muốn.

Đầu tiên là Tyson chuyển vào sống trong khu nhà thần Poseidon.

Cứ mười lăm giây, cậu ấy lại tự cười khúc khích và hỏi: "Percy là anh trai mình sao?"

Như thể vừa trúng xổ số vậy.

Tôi nói: "Này, Tyson!

Việc đó không đơn giản như thế đâu."

Nhưng không thể giải thích được điều này cho cậu ấy.

Cậu ấy đang ở trên thiên đường.

Và tôi... cũng nhiều như việc tôi thích chàng trai to lớn này, tôi không thể không cảm thấy ngượng ngập.

Xấu hổ.

Đấy, tôi đã nói ra rồi đó.

Cha tôi, vị thần Poseidon đầy uy quyền, đã để mắt tới vài linh thể tự nhiên và Tyson là kết quả.

Ý tôi là tôi đã đọc những chuyện thần thoại về các Cyclops.

Thậm chí tôi còn nhớ rằng họ luôn là con của thần Poseidon.

Nhưng tôi chưa thực sự nghĩ tới việc họ lại trở thành gia đình của tôi.

Mãi cho tới khi tôi có Tyson sống chung ở chiếc giường kế bên.

Và sau đó là những lời bàn tán của các trại viên khác.

Đột nhiên tôi không còn là Percy Jackson - một anh chàng tuyệt vời, người đã tìm được Tia Chớp cho thần Zeus vào hè năm ngoái.

Giờ đây, tôi chỉ là Percy Jackson - một gã đáng thương với người anh em là con quái vật xấu xí.

Tôi phản đối khi Tyson không có ở đó: "Cậu ấy không phải là anh em thực sự của mình!

Cậu ấy giống anh em cùng cha khác mẹ hơn trong sự to lớn của gia đình...

Giống... một người anh em cùng cha khác mẹ nhưng khác biệt gấp hai lần vậy đó, hoặc đại khái như thế."

Không ai chấp nhận lời giải thích của tôi.

Tôi thừa nhận - tôi rất giận cha mình.

Tôi cảm thấy việc trở thành con trai ông giờ đây như một trò cười.

Annabeth cố giúp tôi cảm thấy tốt hơn.

Cô ấy gợi ý rằng cả hai cùng nhau lập thành một đội trong cuộc đua ngựa sắp tới để giúp chúng tôi thoát khỏi suy nghĩ về các rắc rối của chúng tôi.

Đừng hiểu sai ý tôi - cả hai chúng tôi đều ghét Tantalus và lo lắng tới phát ốm về chuyện của trại - nhưng chúng tôi không biết phải làm gì.

Cho đến khi chúng tôi có thể nghĩ ra một vài kế hoạch xuất sắc để cứu cây Thalia, chúng tôi hiểu là chúng tôi sẽ phải theo đuổi cuộc đua này.

Xét cho cùng, mẹ của Annabeth là nữ thần Athena, người đã phát minh ra cỗ xe ngựa và cha tôi là người tạo ra loài ngựa.

Cùng nhau chúng tôi sẽ làm chủ đường đua đó.

***

Một buổi sáng nọ, khi Annabeth và tôi đang đứng bên bờ hồ để vẽ phác thảo cho cỗ xe ngựa đua thì đám rỗi hơi từ khu nhà thần Aphrodite đi ngang và hỏi tôi có cần mượn nhũ mắt không...

"Ôi, xin lỗi, đôi mắt."

Khi chúng bỏ đi và cười ngặt nghẽo, Annabeth cằn nhằn: "Quên bọn nó đi, Percy!

Đó không phải là lỗi tại cậu khi cậu có một người anh em là quái vật như vậy."

"Cậu ta không phải là anh em của mình!

Và cậu ấy cũng không phải là con quái vật!"

Tôi cãi lại.

Annabeth nhướng mày: "Này, đừng có cáu với tớ!

Về mặt ngữ nghĩa, cậu ta là quái vật."

"Hừm, cậu cho phép cậu ta vào trại mà."

"Vì đó là cách duy nhất để cứu sống cậu!

Ý tớ là... tớ xin lỗi, Percy.

Tớ không nghĩ rằng thần Poseidon thừa nhận cậu ấy.

Bọn người Cyclops là loại xảo trá và bội bạc nhất..."

"Cậu ấy không phải như vậy.

Mà nhân tiện, điều gì khiến cậu luôn chống đối với người Cyclops thế nhỉ?"

Tai của Annabeth chuyển thành màu hồng lựng.

Tôi cảm giác cô ấy giấu tôi điều gì đó - điều gì đó thật tệ hại.

Cô ấy nói: "Quên nó đi!

Bây giờ trục của xe ngựa..."

"Cậu đối xử với cậu ấy như thể cậu ấy là cái gì kinh khủng lắm!

Cậu ấy đã cứu sống tớ."

Tôi nói.

Annabeth ném cây bút chì xuống và đứng lên.

"Vậy có lẽ cậu nên thiết kế cái xe ngựa với cậu ấy."

"Có thể tớ sẽ làm vậy."

"Tốt thôi!"

"Ừ, tốt!"

Cô ấy đùng đùng bỏ đi, để lại tôi đứng đó với cảm giác còn tồi tệ hơn cả trước đó.

Mấy ngày sau, tôi cố gắng gạt hết suy nghĩ ra khỏi những rắc rối tôi gặp phải.

Silena Beauregard, một trong những cô gái xinh đẹp trong khu nhà nữ thần Aphrodite, đã dạy cho tôi bài cưỡi ngựa đầu tiên.

Cô ta giải thích rằng chỉ có một con ngựa có cánh bất tử duy nhất được đặt tên là Pegasus, vẫn đang thơ thẩn tự do ở đâu đó trên trời, nhưng qua nhiều thời đại, nó sinh được rất nhiều con.

Tuy chúng không chạy rất nhanh hoặc quả cảm, nhưng tất cả đều được đặt theo tên con của Pegasus đầu tiên và đều rất tuyệt.

Là con trai của thần biển, tôi chưa bao giờ thích đi trong không trung.

Cha tôi có sự tị hiềm với thần Zeus nên tôi cố gắng không xâm lấn vào lãnh địa trên trời của ông ta càng nhiều càng tốt.

Nhưng cưỡi ngựa biết bay lại cảm thấy rất khác lạ.

Nó không làm tôi lo lắng như khi ngồi trên máy bay.

Có lẽ do cha tôi đã tạo ra loài ngựa từ những bọt biển.

Vì thế những con ngựa này là một dạng... lãnh thổ trung lập.

Tôi có thể hiểu được suy nghĩ của chúng.

Tôi không ngạc nhiên khi con ngựa có cánh của mình phi nước đại băng qua các ngọn cây hoặc đuổi theo một bầy mòng biển trong đám mây.

Vấn đề ở chỗ là Tyson cũng muốn cưỡi lên lũ "gà con" này, nhưng con ngựa bay luôn lồng lên mỗi khi cậu ấy tiến đến gần nó.

Tôi đã sử dụng khả năng ngoại cảm để nói với chúng rằng Tyson không hề làm đau chúng, nhưng xem ra chúng vẫn không tin tôi.

Điều đó khiến Tyson phải bật khóc.

Người duy nhất trong trại không có vấn đề gì với Tyson là Beckendorf ở khu nhà thần Hephaestus.

Thần Thợ Rèn này luôn làm việc với Cyclops trong lò rèn nên Beckendorf dẫn Tyson xuống xưởng đúc vũ khí để dạy cho cậu ấy những công việc liên quan tới kim loại.

Cậu ta nói sẽ giúp Tyson trở thành một bậc thầy ngay lập tức trong lĩnh vực làm những đồ vật có phép thuật bằng tay.

Sau bữa trưa, tôi luyện tập thể lực trong đấu trường cùng nhà thần Apollo.

Đấu kiếm luôn là thế mạnh của tôi.

Mọi người nói rằng tôi đã giỏi hơn bất kỳ trại viên nào trong vòng một trăm năm qua, trừ Luke.

Mọi người luôn so sánh tôi với Luke.

Tôi đánh bại nhà thần Apollo thật dễ dàng.

Tôi nên tự kiểm tra mình bằng việc chiến đấu với nhà thần Ares và nữ thần Athena, vì họ có những tay kiếm cừ khôi nhất.

Nhưng tôi không ăn cánh với Clarisse và đám chị em ruột của cô ta.

Và sau vụ cãi cọ với Annabeth, tôi không muốn gặp lại cô ấy một tí nào cả.

Tôi tới lớp bắn cung mặc dù tôi rất tệ môn đó, và nó không còn như cũ khi thiếu đi sự chỉ dạy của bác Chiron.

Trong lớp mỹ thuật và thủ công, tôi bắt đầu làm tượng thần Poseidon bán thân bằng đá cẩm thạch, nhưng vì nó dần trở nên giống Sylvester Stallone nên tôi phá hỏng nó.

Tôi đặt mức động đất và trào dung nham cho bức tường leo núi.

Vào các buổi tối, tôi đi tuần tra dọc đường ranh giới.

Thậm chí dù Tantalus cứ khăng khăng ép chúng tôi phải quên việc bảo vệ trại, nhưng một số trại viên vẫn lặng lẽ thực hiện việc đó, vạch ra một lịch trình cụ thể suốt thời gian rỗi của chúng tôi.

Tôi đứng trên đỉnh Đồi Con Lai và nhìn các nữ thần cây đến rồi đi, hát với cây thông đã chết.

Các thần rừng đã mang những ống sáo và chơi những ca khúc kỳ diệu về cỏ thiên nhiên, trong giây lát những chiếc lá thông trở nên thẫm màu hơn.

Những đóa hoa trên đồi như thơm hơn và cỏ non nom xanh hơn.

Nhưng ngay khi tiếng nhạc ngừng lại, sự suy yếu lại tái hiện lại trong không khí.

Cả quả đồi như bị tấn công, mòn mỏi bởi thứ chất độc đã ngấm vào các rễ cây.

Tôi càng đứng đó lâu, nỗi giận dữ trong tôi càng tăng.

Luke đã làm điều này.

Tôi còn nhớ nụ cười quỷ quyệt và vết sẹo hình vuốt rồng chạy qua mặt anh ấy.

Anh ấy từng giả vờ là bạn tôi và trong suốt thời gian đó, anh ấy làm người hầu số một của Kronos.

Tôi giở lòng bàn tay ra.

Vết sẹo mà Luke gây ra cho tôi từ hè năm ngoái đang mờ dần.

Nhưng tôi vẫn có thể nhìn thấy nó - một vết thương hình một ngôi sao trắng nơi con Bọ cạp Địa Ngục của anh ấy đã chích tôi.

Tôi đã nghĩ tới điều mà Luke đã nói với tôi trước khi anh ấy định giết tôi: "Tạm biệt, Percy.

Một Thời Đại Vàng mới đang đến.

Ngươi không có phần trong đó."

***

Tối đến, tôi mơ nhiều hơn về Grover.

Đôi khi, tôi chỉ nghe thấy tiếng nói ngắt đoạn của cậu ấy.

Một lần, tôi nghe thấy cậu ấy nói: "Nó ở đây!

Lúc khác, lại là, Hắn ta thích cừu."

Tôi cũng định kể những giấc mơ này cho Annabeth nhưng tôi thấy chúng có phần ngu ngốc.

Ý tôi là, "Hắn ta thích cừu?"

Cô ấy sẽ nghĩ tôi điên mất.

Vào đêm trước cuộc đua, Tyson và tôi đã hoàn tất xe ngựa.

Nom nó khá chắc chắn.

Tyson đã làm các phần bằng kim loại trong lò rèn vũ khí.

Tôi đánh bóng phần gỗ và lắp phần đuôi xe vào.

Nó có màu xanh da trời và màu trắng, cùng các hình lượn sóng ở hai bên hông và hình một cây đinh ba ở phía trước.

Xét cho cùng thì nó cũng hoạt động được, nhưng chỉ có vấn đề tế nhị là, Tyson sẽ cưỡi cỗ xe cùng với tôi, mặc dù tôi biết lũ ngựa không hề thích như vậy.

Và trọng lượng quá tải của Tyson sẽ khiến chúng tôi đi chậm hơn.

Khi chúng tôi quay về giường, Tyson bỗng hỏi: "Cậu đang giận sao?"

Tôi nhận thấy mình đang cau có: "Không, tớ không sao!"

Cậu ấy nằm trên giường và im lặng trong bóng tối.

Thân hình cậu ấy quá dài so với chiếc giường.

Khi cậu ấy kéo chăn lên, chân cậu ấy luôn thò ra bên dưới.

"Tớ là một con quái vật."

"Đừng nói vậy!"

"Không sao đâu.

Tớ sẽ là một con quái vật tử tế.

Vì thế cậu sẽ không phải nổi giận nữa."

Tôi không biết phải nói gì.

Tôi nhìn chòng chọc lên trần nhà và cảm thấy mình đang chết từ từ, cùng với cái cây của Thalia.

Tôi cố giữ cho giọng mình không bị đứt quãng: "Chỉ là...

Tớ chưa từng có người anh em cùng cha khác mẹ nào trước kia cả.

Điều này hoàn toàn lạ lẫm đối với tớ.

Và tớ lo lắng về trại.

Một người bạn khác của tớ là Grover...

đang gặp rắc rối.

Tớ thấy mình cần phải làm gì đó để giúp cậu ấy, nhưng tớ không biết cụ thể là làm gì."

Tyson không nói gì.

Tôi nói với cậu ấy: "Tớ xin lỗi!

Đó không phải lỗi của cậu.

Tớ tức giận thần Poseidon.

Tớ có cảm giác ông ấy đang cố làm tớ phải xấu hổ, như thể ông ấy đang cố gắng so sánh hai chúng ta hoặc điều gì đó tương tự thế.

Và tớ không biết tại sao lại như thế."

Tôi nghe thấy một âm thanh sâu, đùng đục.

Tyson đang ngáy.

Tôi thở dài: "Ngủ ngon nhé, người anh em to lớn!"

Và tôi cũng nhắm mắt.

Trong giấc mơ của tôi.

Grover đang mặc một bộ đầm cưới.

Nom bộ đồ không vừa với cậu ấy lắm.

Chiếc đầm cưới quá dài và đường viền bị đóng lại cùng bùn khô.

Đường viền cổ trễ như rớt xuống tận vai.

Một cái mạng rách phủ lên mặt cậu ấy.

Cậu ấy đang đứng trong một cái động ẩm ướt được soi sáng bởi những bó đuốc.

Có một cái giường nhỏ nơi góc động và một khung cửi kiểu cũ nằm ở góc còn lại.

Một tấm vải trắng đang được dệt dở trên khung.

Và cậu ấy đang nhìn tôi chằm chằm như thể tôi là một chương trình truyền hình mà cậu ấy đang chờ đợi.

Cậu ấy kêu lên: "Tạ ơn các thần!

Cậu có nghe thấy mình không?"

Phiên bản chính tôi trong giấc mơ phản ứng quá chậm.

Tôi vẫn đang nhìn quanh, mơ màng nhìn lên trần nhà nhũ đá, mùi hôi thối của cừu và dê, những tiếng rên rỉ, lầm bầm và tiếng be be như dội lại từ phía sau một tảng đá có kích cỡ giống cái tủ lạnh.

Đó cũng là thứ đang bít cái cửa ra vào duy nhất của căn phòng, mặc dù đó là một cái hang rộng hơn ở xa nó.

Grover gọi vang: "Percy?

Xin cậu đấy, tớ không đủ sức để diễn đạt mọi việc được rõ ràng hơn nữa đâu!

Cậu phải nghe tớ nói đấy!"

"Tớ đang nghe cậu đây.

Grover, chuyện gì đang xảy ra thế?"

Tôi hỏi.

Từ phía sau vách đá, một tiếng nói gớm ghiếc vọng ra: "Bánh mật ong ơi!

Em đã làm xong chưa vậy?"

Grover ngần ngữ.

Cậu ấy đáp bằng giọng the thé: "Chưa xong hẳn đâu anh yêu!

Phải thêm mấy ngày nữa cơ!"

"Ối chà!

Lẽ nào hai tuần rồi mà chưa xong?"

"C-chưa đâu, anh yêu!

Chỉ mới năm ngày thôi.

Còn thêm mười hai ngày nữa mới đủ hai tuần."

Con quái vật kia im lặng, có lẽ đang cố làm các phép toán.

Nó chắc cũng học kém môn số học như tôi, vì sau đó nó đáp trả: "Được thôi, nhưng phải nhanh đấy!

Anh muốn NHI-I-Ì-I-N thấy bên dưới mạng che mặt cơ, heh-heh-heh."

Grover quay lại với tôi: "Cậu phải giúp tớ!

Không còn thời gian đâu!

Tớ bị kẹt trong cái hang này.

Ở một hòn đảo trên biển."

"Ở đâu?"

"Tớ không biết chính xác!

Tớ tới Florida và rẽ trái."

"Cái gì?

Làm thế nào cậu..."

Grover đáp: "Đó là một cái bẫy!

Đó là lý do tại sao không một thần rừng nào có thể trở về từ cuộc tìm kiếm đó.

Hắn ta là kẻ chăn cừu, Percy à!

Và hắn ta có nó.

Phép thuật tự nhiên của nó quá mạnh khiến nó có mùi giống với mùi của thần Pan[1] vĩ đại.

Các thần rừng tới đây đều nghĩ rằng mình đã tìm ra được thần Pan.

Họ đã bị mắc bẫy và bị Polyphemus ăn thịt!"

[1] Thần Pan là con trai của thần Hermes, vị thần sứ giả loan tin của các thần trên đỉnh Olympus và tiên nữ Dryope.

Khi sinh con ra, các tiên nữ thấy đứa bé có hình thù quái dị nửa người nửa dê bèn bỏ chạy.

Tuy nhiên, thần Hermes rất mừng vì có một đứa con trai, thần bế đứa bé lên Olympus nhờ các thần khác nuôi giúp.

Lớn lên, thần Pan xuống trần bảo vệ những đàn gia súc của những người mục đồng, hộ vệ những tay thợ săn.

Tuy bộ dạng khó coi nhưng tính tình của thần Pan rất vui vẻ, cởi mở.

"Poly nào cơ?"

Grover đáp, giọng đầy cáu kỉnh: "Người Cyclops ấy!

Tớ suýt trốn thoát được.

Tớ đã chạy được đến phố St.

Augustine."

"Nhưng hắn đã đuổi theo cậu, và bẫy cậu trong một tiệm đồ cưới!"

Tôi nói và nhớ lại giấc mơ đầu tiên.

Grover đáp: "Đúng vậy.

Sợi dây linh cảm đầu tiên của tớ chắc chắn đã hoạt động từ đó.

Nhìn xem, bộ đầm cô dâu này là thứ duy nhất khiến tớ sống sót.

Hắn nghĩ rằng tớ có mùi ngon lành nhưng tớ đã nói rằng đó chỉ là nước hoa có mùi dê mà thôi.

Ơn trời, hắn nhìn cũng không được tốt lắm!

Mắt hắn đã mù dở kể từ lần cuối có ai đó đã chọc vào đó.

Nhưng chẳng mấy chốc, hắn sẽ nhận ra tớ là cái gì.

Hắn chỉ cho tớ hai tuần để hoàn thành cái đuôi của chiếc áo cưới và hắn đang mất kiên nhẫn."

"Chờ một phút!

Gã Cyclops này nghĩ cậu là..."

"Đúng thế!

Hắn nghĩ rằng tớ là quý bà Cyclops và muốn cưới tớ."

Grover rên rỉ.

Trong các hoàn cảnh khác, tôi có thể sẽ cười đến vỡ bụng, nhưng giọng của Grover hoàn toàn thành thật.

Cậu ấy đang run rẩy trong sợ hãi.

"Tớ sẽ tới giải cứu cậu.

Cậu đang ở đâu?"

Tôi hứa.

"Biển Quái Vật, tất nhiên!"

"Biển gì cơ?"

"Tớ đã nói với cậu rồi mà.

Tớ không biết chính xác ở đâu!

Nghe này, Percy...

ừm, tớ thực sự xin lỗi về điều này, nhưng sợi dây linh cảm này...

ừ, tớ không có sự lựa chọn nào khác.

Cảm xúc của chúng ta giờ đây đã kết nối với nhau.

Nếu tớ chết..."

"Đừng nói là tớ cũng sẽ chết theo nhé!"

"Ồ, có lẽ là không đâu.

Cậu có thể sống trong nhiều năm với đời sống thực vật.

Nhưng, ừ, có thể sẽ tốt hơn nếu cậu đưa tớ thoát ra khỏi đây."

Con quái vật kia lại kêu rống lên: "Bánh mật ong của anh ơi!

Tới giờ ăn tối rồi!

Ngon tuyệt, thịt cừu ngon tuyệt!"

Grover thút thít: "Tớ phải đi đây.

Cậu nhanh lên nhé!"

"Gượm đã, cậu nói 'nó' đã ở đây.

'Nó' là cái gì thế?"

Nhưng giọng nói của Grover đã trở nên không rõ: "Ngủ ngon.

Đừng để tớ phải chết!"

Giấc mơ tan biến dần và tôi giật mình thức dậy.

Trời đã rạng sáng.

Tyson đang nhìn tôi chòng chọc.

Con mắt lớn màu nâu duy nhất của cậu ấy đầy lo lắng.

"Cậu ổn chứ?"

Tyson hỏi.

Giọng cậu ấy khiến tôi ớn lạnh sống lưng vì nó hầu như giống tuyệt đối giọng của con quái vật mà tôi nghe thấy trong mơ.

Buổi sáng diễn ra cuộc đua rất nóng và ẩm ướt.

Sương mù la đà trên mặt đất như thể hơi nước mát xa xông lên.

Hàng triệu con chim đang đậu trên cây.

Đó là những con bồ câu màu xám trắng và béo múp, chỉ khác mỗi giọng gù gù của chúng không giống lũ bồ câu thường.

Chúng tạo ra những tiếng rít như kim loại, nhắc nhở tôi nhớ tới sóng radar của tàu ngầm.

Đường đua được dựng ngay trên một cánh đồng cỏ nằm giữa khu vực bắn cung với khu rừng.

Đám con cái nhà thần Hephaestus dùng những con bò bằng đồng để cày một đường hình oval trong vài phút.

Đây là lũ bò đã được thuần hóa hoàn toàn kể từ khi đầu chúng bị đập mạnh.

Có những hang bậc đá cho khán giả là Tantalus, thần rừng, vài nữ thần cây và tất cả những trại viên không tham gia cuộc đua.

Ngài D vẫn chưa xuất hiện.

Ông không bao giờ thức dậy trước mười giờ.

"Được rồi!"

Tantalus loan báo khi các đội bắt đầu tập hợp.

Một nữ thủy thần mang tới cho ông ta một cái đĩa gỗ lớn đầy bánh ngọt.

Và khi Tantalus nói, cánh tay phải của ông ta vẫn đuổi theo một miếng bánh kem phủ sôcôla băng qua bàn trọng tài: "Tất cả các ngươi đều biết luật rồi đó.

Một cuộc đua một phần tư dặm.

Chạy hai vòng sẽ thắng.

Mỗi xe hai ngựa.

Mỗi đội cần giữ nguyên một người điều khiển xe và một người chiến đấu.

Được phép sử dụng vũ khí.

Chấp nhận những trò bẩn thỉu.

Nhưng không được giết người!"

Tantalus cười như thể chúng tôi là những đứa trẻ hư: "Bất kỳ việc giết chóc nào cũng sẽ bị trừng phạt khắt khe.

Sẽ không có món s'more[2] vào giờ lửa trại trong vòng một tuần!

Giờ hãy sẵn sàng cho cuộc đua!"

[2] Món ăn phổ biến được dùng trong các đêm lửa trại Mỹ và Canada.

Nó bao gồm kẹo Marshmallow và một thanh sôcôla kẹp giữa hai miếng bánh quy Graham, sau đó được nướng trên lửa.

Beckendorf dẫn đầu đội Hephaestus vào đường đua.

Họ có một cỗ xe làm từ đồng và sắt thật tuyệt – thậm chí cả ngựa của họ cũng là những cỗ máy phép thuật giống như những con bò Colchis.

Tôi không nghi ngờ việc Beckendorf đã lắp đặt tất cả các loại bẫy cơ học vào làm cho cỗ xe của họ có nhiều chức năng hơn cả một chiếc xe đua hiệu Maserati.

Cỗ xe của nhà thần Ares có màu đỏ như máu và được kéo bởi hai bộ xương ngựa nom khá rùng rợn.

Clarisse trèo lên trước với một đống lao, bóng có gai nhọn, chông sắt và một mớ đồ nguy hiểm khác.

Cỗ xe của nhà thần Apollo lại ngăn nắp, duyên dáng, và hoàn toàn được làm bằng vàng, do hai con ngựa màu vàng có bờm và đuôi màu sáng tuyệt đẹp kéo đi.

Người chiến đấu của họ được trang bị một cây cung, mặc dù anh ta đã hứa không bắn những mũi tên vót nhọn thông thường vào những đối phương.

Cỗ xe của nhà thần Hermes mang màu xanh lá cây và kiểu xe hơi cổ như thể nó chưa từng ra ngoài gara hàng năm nay.

Trông nó không hề có gì đặc biệt nhưng lại được trang bị bởi anh em nhà Stoll.

Và tôi phải rùng mình khi nghĩ tới những thủ đoạn bẩn thỉu mà họ đã lên kế hoạch.

Còn lại hai cỗ xe cuối cùng: một được lái bởi Annabeth, và một được lái bởi tôi.

Trước khi cuộc đua bắt đầu, tôi cố gắng xích lại gần Annabeth và kể cho cô ấy nghe về giấc mơ của mình.

Cô ấy rất vui khi tôi nhắc tới Grover, nhưng dường như lại có khoảng cách và nghi ngờ khi tôi kể cho cô ấy nghe những gì cậu ấy nói.

"Cậu đang cố làm tớ phân tán!"

Cô khẳng định.

"Cái gì?

Không, tớ không có!"

"Ồ, được rồi!

Xem ra Grover như mới lỡ băng qua một thứ có thể cứu được trại."

"Ý cậu là gì?"

Cô ấy đảo mắt: "Trở lại xe của mình đi, Percy!"

"Tớ không làm gì được.

Cậu ấy đang gặp rắc rối, Annabeth à!"

Cô ấy ngần ngừ.

Tôi có thể nói rằng cô ấy đang cố gắng quyết định có nên tin tôi không.

Bất chấp những cuộc cãi cọ thỉnh thoảng mới có giữa chúng tôi, chúng tôi vẫn thường ở bên nhau.

Và tôi biết rằng cô ấy không bao giờ muốn điều gì tồi tệ xảy ra với Grover.

"Percy này, sợi dây linh cảm là điều rất khó làm.

Ý tớ là, việc cậu nói có thể như cậu đang nằm mơ vậy."

"Nhà Tiên Tri.

Chúng ta có thể hỏi ý kiến của Nhà Tiên Tri."

Tôi nói.

Annabeth cau mày.

Hè năm ngoái, trước khi bắt đầu cuộc truy tìm Tia Chớp của thần Zeus, tôi đã tới thăm linh hồn kỳ lạ sống trên gác mái của Nhà Lớn.

Và linh hồn này đã cho tôi một Lời Sấm Truyền trở thành sự thật theo cách mà tôi sẽ không bao giờ nghĩ đến.

Lần trải nghiệm đó đã khiến tôi khiếp đảm mất mấy tháng trời.

Và Annabeth biết rằng tôi chưa bao giờ gợi ý quay lại đó nếu như tôi không hoàn toàn nghiêm túc.

Trước khi cô ấy có thể trả lời, tiếng tù và bằng xà cừ đã réo vang.

Tantalus gọi to: "Những người đánh xe ngựa!

Hãy tiến đến vạch xuất phát của mình đi nào!"

Annabeth nói với tôi: "Chúng ta nói sau nhé, sau khi tớ thắng."

Khi tôi quay lại cỗ xe của mình và nhận ra có thêm nhiều chim bồ câu hơn trên cây.

Chúng rít lên như phát điên, khiến cả khu rừng xào xạc.

Dường như không ai chú ý gì nhiều đến bọn chúng, nhưng chúng làm tôi lo lắng.

Những chiếc mỏ khoằm của chúng lóe sáng rất kỳ dị.

Đôi mắt chúng như chói sáng hơn lũ chim bình thường.

Tyson đang gặp rắc rối khi cố gắng khống chế lũ ngựa.

Tôi phải nói chuyện với lũ ngựa khá lâu trước khi chúng có thể ổn định lại.

"Hắn là một quái vật, thưa ông chủ!"

Lũ ngựa phàn nàn với tôi.

"Cậu ấy là con trai của thần Poseidon.

Giống như...

ừm, như ta thôi."

Tôi nói với chúng.

"Không!

Quái vật!

Kẻ ăn thịt ngựa!

Không thể tin được!"

Lũ ngựa khăng khăng.

"Ta sẽ cho các ngươi các cục đường vào cuối cuộc đua."

Tôi hứa.

"Các cục đường ư?"

"Những cục đường rất lớn.

Và cả táo nữa.

Ta đã nhắc đến táo chưa nhỉ?"

Cuối cùng lũ ngựa đồng ý để cho tôi thắng yên cương cho chúng.

Giờ đây, nếu như bạn chưa từng nhìn thấy một cỗ xe ngựa Hy Lạp nào thì cần biết rằng nó được làm nên để dành cho tốc độ, không phải cho sự an toàn hoặc thoải mái.

Về cơ bản, đó là một cái giỏ bằng gỗ, mở nắp đằng sau, được lắp vào một trục xe giữa hai hệ thống bánh xe.

Những người tài xế đứng đánh xe suốt quãng thời gian và bạn có thể cảm thấy từng cú xóc trên đường.

Phần đuôi xe được làm bằng gỗ nhẹ tới mức nếu bạn thực hiện những cú rẽ góc một trăm tám mươi độ ở khúc cuối của đường đua, chắc chắn bạn sẽ bị lật ngược và nghiền nát cả cỗ xe đua và chính bản thân bạn.

Nó thậm chí còn nguy hiểm hơn cả ván trượt.

Tôi nắm dây cương và điều khiển cỗ xe tới vạch xuất phát.

Tôi đưa cho Tyson một cây gậy dài ba mét và dặn cậu ấy rằng việc của cậu ấy là đẩy những cỗ xe khác ra xa nếu chúng tới quá gần và làm lệch hướng bất cứ thứ gì họ cố gắng ném vào chúng tôi.

"Không được dùng cây để đánh vào ngựa con."

Cậu ấy khăng khăng.

"Ừ, không đâu!

Hoặc với những người khác, nếu cậu có thể giúp được.

Chúng ta sẽ đua một cuộc đua trong sạch.

Hãy đánh bay đi những gì làm xao lãng để tớ tập trung vào việc đánh xe!"

Tôi nhất trí.

"Chúng ta sẽ thắng!"

Cậu ấy cười tươi.

Chúng ta đang sắp thua chắc đây, tôi tự nhủ, những mình phải cố gắng.

Tôi muốn chứng tỏ cho mọi người khác thấy...

ừm, tôi cũng không chắc rằng mình muốn cho mọi người thấy điều gì.

Rằng Tyson không phải là một người xấu ư?

Rằng tôi không xấu hổ khi cùng cậu ấy ở chỗ công cộng ư?

Hay có lẽ là họ không thể làm tôi bị tổn thương bởi những câu giễu cợt và việc réo tên ra mà chửi nữa?

Khi các cỗ xe đua đã sắp thành hàng, lũ bồ câu với cặp mắt sáng càng tụ tập đông hơn trong rừng.

Chúng rít quá lớn khiến các trại viên phải bắt đầu chú ý và lo lắng ngước nhìn các tán cây đang oằn mình bởi sức nặng của lũ chim.

Tantalus trông chẳng quan tâm tới những điều đó nhưng ông ta phải nói to lên để át đi âm thanh của lũ chim.

Ông ta gào to: "Các cỗ xe!

Hãy chuẩn bị sẵn sàng nào!"

Ông ta vẫy tay bắt đầu cuộc đua.

Các cỗ xe lao ầm ầm.

Những móng ngựa đạp mạnh trên đất.

Tiếng đám đông cổ vũ vang lên rợp trời.

Đột nhiên có một tiếng rắc vang lên rất lớn.

Tôi ngoái lại đúng lúc cỗ xe nhà Apollo bị lật ngửa ra.

Cỗ xe nhà Hermes đã lao sầm vào nó – có lẽ bởi sai sót gì đó, hoặc không phải.

Những người trên xe nhảy được ra ngoài không chút hề hấn, song những chú ngựa bị hoảng sợ, đã kéo lê cỗ xe vàng băng chéo khỏi đường đua.

Đội đua nhà thần Hermes, Travis và Connor Stoll, đang cười như nắc nẻ trước may mắn của chúng nhưng cũng không được bao lâu.

Những chú ngựa nhà thần Apollo đã đâm sầm vào chúng và cỗ xe Hermes cũng bị lật ngửa ra, bỏ lại một đống gỗ gãy và bốn con ngựa lồng lên trong đám bụi.

Hai cỗ xe đã bị hạ ngay trong sáu mét xuất phát đầu tiên.

Tôi thấy yêu môn thể thao này.

Tôi chuyển sự chú ý từ phía sau về phía trước.

Chúng tôi đang rất thuận lợi, đã vượt lên trước cả cỗ xe của nhà thần Ares, nhưng cỗ xe của Annabeth vẫn luôn ở phía trước chúng tôi.

Cô ấy đã sẵn sàng hoàn thành vòng một.

Gã cầm lao của cô ấy cười toe toét, vẫy tay về phía chúng tôi và hét to: "Gặp lại sau nhé!"

Cỗ xe của nhà thần Hephaestus cũng đang bắt đầu cạnh tranh với chúng tôi.

Beckendorf bấm vào một cái nút và một bên cỗ xe đua mở ra.

"Xin lỗi Percy!"

Cậu ta la lên.

Ba chùm dây xích và banh sắt bắn thẳng về phía bánh xe chúng tôi.

Chúng sẽ phá hỏng hoàn toàn cỗ xe của chúng tôi nếu Tyson không đánh chúng sang một bên với cú vụt nhanh bằng cây gậy tôi đã đưa cho cậu ấy.

Cậu ấy đẩy mạnh vào cỗ xe nhà thần Hephaestus và khiến chúng bị nghiêng hẳn sang một bên khi chúng tôi lao tới trước.

"Làm tốt lắm, Tyson!"

Tôi hét to.

"Lũ chim!"

Cậu ấy bật khóc.

"Cái gì cơ?"

Chúng tôi đang phi quá nhanh tới mức khó nghe thấy nổi bất cứ điều gì nhưng Tyson đã chỉ về phía cánh rừng và tôi nhìn thấy điều khiến cậu ấy phải lo lắng.

Lũ chim bồ câu đã bay lên khỏi các cành cây.

Chúng di chuyển theo đường xoắn ốc như một cơn lốc xoáy khổng lồ, đang lao thẳng về phía đường đua.

Tôi tự nhủ: "Không có gì đâu!

Chúng chỉ là lũ chim bồ cầu mà thôi."

Tôi cố gắng tập trung vào cuộc đua.

Chúng tôi đã hoàn tất vòng một.

Tiếng chiếc bánh xe của tôi kêu kẽo kẹt và cỗ xe có nguy cơ nghiêng sang một bên.

Nhưng giờ chúng tôi chỉ cách Annabeth có ba mét.

Nếu tôi có thể tiến tới gần hơn chút nữa, Tyson có thể dùng cây gậy của cậu ấy...

Người chiến đấu phía Annabeth đã không cười nữa.

Anh ta nhấc một ngọn lao từ đống lao của mình và nhắm về phía tôi.

Anh ta định phóng nó thì chúng tôi nghe thấy tiếng thét.

Lũ bồ câu đang di chuyển – hàng ngàn con đang bổ nhào xuống đám khán giả đang đứng xem và tấn công cả những cỗ xe đua khác.

Beckendorf đã bị tấn công.

Người chiến đấu của cậu ta cố gắng đánh đuổi lũ chim đi nhưng cậu ta không thể thấy gì.

Cỗ xe của cậu ta bị chệch hướng khỏi đường đua và cày ngang qua các ruộng dâu, những con ngựa máy của cậu ta đang bốc khói.

Trên cỗ xe của nhà thần Ares, Clarisse quát tháo ra lệnh cho người chiến đấu – người đã nhanh chóng ném một tấm chắn lưới ngụy trang qua thùng xe của họ.

Lũ chim vẫn tấn công quanh đó, mổ và cào vào hai bàn tay của người chiến đấu khi anh ta đang cố gắng giữ tấm lưới.

Clarisse chỉ biết nghiến răng kèn kẹt và tiếp tục đánh xe.

Những con ngựa chỉ còn bộ xương nên không bị lũ chim làm xao lãng.

Lũ chim mổ một cách vô vọng vào những hốc mắt trống rỗng và bay qua bay lại giữa lồng ngực chúng, nhưng những con ngựa vẫn chạy đúng đường.

Khán giả không được may mắn lắm.

Lũ chim mổ vào bất cứ phần da thịt nào được lộ ra, và khiến mọi người rơi vào hoảng loạn.

Và giờ khi lũ chim đã ở gần hơn, có thể thấy rõ chúng không phải loại bồ câu thông thường.

Mắt chúng tròn, sáng và có cái nhìn quỷ quyệt.

Mỏ chúng bằng đồng và đánh giá từ những tiếng kêu thét của các trại viên, nó phải rất sắc bén như dao cạo.

"Lũ chim Stymphalian[3]!"

Annabeth kêu váng lên.

Cô ấy đi chậm lại và điều khiển cho cỗ xe của mình song song với xe của tôi.

"Chúng sẽ róc mọi người tới tận xương mất nếu chúng ta không đuổi được chúng đi!"

[3] Chim Stymphalian: Theo thần thoại Hy Lạp, đây là loài chim ăn thịt người mỏ bằng đồng với bộ lông bằng kim loại sắc bén có thể bắn ra như các mũi tên để tấn công các nạn nhân của chúng, và là vật nuôi của Thần Chiến Tranh Ares.

Ngoài ra phân của chúng cũng là một loại chất độc.

Chúng đã di cư khỏi vùng Hồ Stymphalian ở Arcadia để trốn thoát khỏi đàn sói, sau đó nhanh chóng sinh sôi nảy nở, chiếm cứ các vùng nông thôn, phá hoại mùa màng và cây ăn trái của người dân ở đó.

"Tyson!

Chúng ta chạy quay lại thôi!"

Tôi nói.

"Đi sai đường à?"

Cậu ấy hỏi.

"Luôn luôn là vậy."

Tôi lầm bầm.

Nhưng tôi hướng cỗ xe lao về phía khán giả.

Annabeth đánh xe kế ngay bên tôi.

Cô ấy hét to: "Hỡi các anh hùng, chiến đấu đi!"

Nhưng tôi không chắc ai đó có thể nghe thấy tiếng cô ấy bởi tiếng kêu rít của lũ chim và bầu không khí hỗn loạn.

Tôi giữ dây cương bằng một tay và dự định rút cây Thủy Triều ra thì một bầy chim đâm bổ vào mặt tôi.

Những chiếc mỏ kim loại của chúng tranh nhau mổ xuống.

Tôi chém bay chúng và chúng nổ tung thành bụi và lông chim, nhưng vẫn còn hàng triệu con khác.

Một con túm chặt lấy tôi từ phía sau và tôi gần như nhảy ra khỏi cỗ xe.

Annabeth cũng không khá khẩm hơn là bao.

Khi chúng tôi càng tiến gần về phía khán giả, đàn chim càng dày đặc hơn.

Một số khán giả đang gắng gượng chống trả lũ chim.

Các trại viên nhà Athena đang kêu gào đòi khiên.

Các xạ thủ nhà Apollo đã mang cung và tên ra, sẵn sàng diệt mối hiểm họa này.

Nhưng bởi có quá nhiều trại viên bị trộn lẫn trong đám chim nên không thể an toàn nếu bắn tên.

Tôi la lên với Annabeth: "Chúng nhiều quá!

Cậu làm thế nào để loại bỏ chúng đây?"

Cô ấy đâm một con bồ câu bằng con dao của mình.

"Hercules đã dùng tiếng ồn.

Những quả chuông đồng.

Anh ta dọa chúng bay đi với âm thanh kinh khủng nhất mà anh ta có thể..."

Mắt cô ấy mở to ra: "Percy... bộ sưu tập của bác Chiron!"

Tôi hiểu ngay lập tức.

"Cậu nghĩ là nó có tác dụng à?"

Cô ấy giao cho người chiến đấu của mình giữ dây cương và nhảy từ cỗ xe của cô ấy sang cỗ xe của chúng tôi như thể đó là điều dễ nhất trên đời.

"Tới Nhà Lớn mau!

Đó là cơ hội duy nhất của chúng ta!"

Clarisse ghìm ngựa lại đối diện với đích đến, hoàn toàn không có đối thủ, và lần đầu chú ý tới mức độ nghiêm trọng do lũ chim gây ra.

Khi cô ta nhìn thấy chúng tôi đánh ngựa đi, cô ta kêu ầm lên: "Các người bỏ chạy à?

Cuộc chiến ở đây cơ mà, lũ chim nhát gan!"

Cô ta rút gươm ra và lao về phía khán đài.

Tôi giục lũ ngựa của tôi phi nước kiệu.

Cỗ xe lao ầm ầm qua cánh đồng dâu, băng qua sân bóng chuyền và lảo đảo dừng lại phía trước Nhà Lớn.

Annabeth và tôi vội vã chạy vào trong, chạy nhanh về phía cuối hành lang để đến phòng bác Chiron.

Máy nghe nhạc của bác ấy vẫn được đặt ở bàn đầu giường, cùng với những chiếc đĩa nhạc yêu thích nhất của bác.

Annabeth vồ lấy cái máy và cả hai lại chạy hối hả ra ngoài.

Ở phía dưới đường đua, các cỗ xe đua đang bốc cháy.

Các trại viên bị thương chạy tán loạn theo nhiều hướng mang theo lũ chim đang xé vụn quần áo của họ, bứt tóc họ.

Trong khi đó Tantalus lại đang đuổi theo món bánh ngọt dành cho buổi sáng khắp khán đài, cùng lúc lớn tiếng thét: "Mọi thứ đang được kiểm soát!

Đừng lo lắng!"

Chúng tôi ngừng lại ở đích đến.

Annabeth đã sẵn sàng bật cái máy nghe nhạc.

Tôi cầu mong pin của nó vẫn còn sử dụng được.

Tôi nhấn nút PLAY và bắt đầu album yêu thích của bác Chiron có tên "All-Time Greatest Hits of Dean Martin".

Đột nhiên không khí tràn ngập tiếng đàn violon và tiếng của một nhóm người đang than vãn bằng tiếng Ý.

Lũ bồ câu ma quỷ đột nhiên hóa điên.

Chúng bắt đầu bay vòng vòng, lao vào nhau như thể chúng muốn đập mạnh vào đầu nhau.

Rồi chúng cùng lúc bỏ lại đường đua và bay thẳng lên trời như một làn sóng khổng lồ màu sẫm.

Annabeth hét lớn: "Bây giờ!

Các xạ thủ!"

Với mục tiêu rõ ràng, các xạ thủ Apollo có thể bắn trúng mục tiêu một cách hoàn mỹ.

Hầu hết bọn họ có thể bắn từ năm hoặc sáu mũi tên một lúc.

Trong vòng vài phút, mặt đất đã đầy xác lũ bồ câu với cái mỏ bằng đồng.

Những con sống sót thì đang kéo theo những vệt khói dài bay về phía đường chân trời.

Trại đã được an toàn, nhưng những thứ đổ vỡ không đẹp tí nào.

Hầu hết các cỗ xe đều bị phá hỏng hoàn toàn.

Tất cả mọi người đều bị thương, bị chảy máu bởi sự tấn công của bầy chim.

Lũ trẻ đến từ nhà của nữ thần Aphrodite đang kêu gào bởi kiểu tóc của chúng bị làm hỏng và quần áo rách nát.

"Hoan hô!"

Tantalus nói nhưng ông ta không thèm nhìn tôi lẫn Annabeth.

"Chúng ta đã có người chiến thắng!"

Ông ta đi tới đích đến và trao vòng nguyệt quế bằng vàng cho một Clarisse đang sững sờ.

Rồi ông ta quay lại và cười với tôi: "Và giờ là sự trừng phạt cho những kẻ gây rối, người đã phá hỏng cuộc đua."
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 7: Tôi nhận quà từ một người lạ


Cái cách mà Tantalus hiểu về điều đã xảy ra là lũ chim Stymphalian kia đơn giản chỉ bận rộn việc của chúng trên cây và không lao vào tấn công nếu như Annabeth, Tyson và tôi không quấy rầy chúng với cỗ xe xấu xí của chúng tôi.

Điều này quá bất công.

Tôi đã nói với Tantalus đuổi theo một cái bánh donut nhưng điều này không giúp cho tâm trạng của ông ta tốt hơn được.

Ông ta phạt chúng tôi đến phụ giúp trong nhà bếp - cọ nồi, rửa chén bát vào tất cả các buổi chiều ở nhà bếp dưới mặt đất với các nữ yêu quái mình người cánh chim.

Các nữ yêu quái đó làm sạch mọi thứ với dung nham thay vì nước, nhằm mang lại sự sáng bóng cho bát đĩa và giết được 99,9% các loại vi khuẩn.

Vì thế tôi và Annabeth phải đeo găng tay và tạp dề làm bằng chất amiăng.

Tyson chẳng quan tâm tới chuyện ấy.

Cậu ấy cứ nhúng cả đôi tay to đùng vào trong và bắt đầu cọ rửa, nhưng tôi và Annabeth phải chịu đựng công việc nguy hiểm và nóng bức này suốt mấy tiếng đồng hồ, đặc biệt từ khi có thêm hàng tấn đĩa bẩn nữa.

Tantalus yêu cầu một bữa tiệc thật thịnh soạn để tổ chức ăn mừng chiến thắng trong cuộc đua xe ngựa của Clarisse - một bữa tiệc lớn với thịt chim Stymphalian tẩm bột chiên.

Điều duy nhất tốt đẹp trong vụ trừng phạt này là nó đã giúp Annabeth và tôi có một kẻ thù chung và có rất nhiều thời gian nói chuyện với nhau.

Sau khi lại nghe tôi kể về giấc mơ có Grover, nom cô ấy như bắt đầu tin tưởng tôi.

Cô ấy lẩm bẩm: "Nếu cậu ấy có thể tìm được nó, và nếu chúng ta có thể lấy được nó..."

"Khoan đã!

Cậu hành động giống như thể... thứ mà Grover tìm thấy là một thứ duy nhất trên thế giới có thể cứu được trại.

Đó là cái gì vậy?"

Tôi nói.

"Tớ sẽ cho cậu một gợi ý.

Cậu sẽ có gì khi lột da một con cừu?"

"Một đống bầy nhầy à?"

Cô ấy thở dài: "Một bộ lông.

Áo khoác của con cừu được gọi là một bộ lông.

Và nếu con cừu này lại có lông bằng vàng..."

"Bộ Lông Cừu Vàng ư?

Cậu nói thật không đấy?"

Annabeth đổ một đĩa đầy xương chim vào trong dung nham.

"Percy, có nhớ tới chị em nhà Grey không?

Họ nói rằng họ biết rõ địa điểm thứ mà cậu tìm kiếm.

Và họ đề cập tới Jason[1].

Cách đây ba ngàn năm, họ nói với ông ta cách tìm Bộ Lông Cừu Vàng như thế nào.

Hẳn cậu biết chuyện về Jason và Argonauts[2]?"

[1] Là một anh hùng theo thần thoại Hy Lạp cổ xưa, được xem là những người đứng đầu nhóm anh hùng Argonauts và cuộc tìm kiếm Bộ Lông Cừu Vàng của họ.

Ông là con trai của Aeso, một vị vua lỗi lạc của Iolcus.

Ông đã kết hôn với một phù thủy có tên Medea.

Jason xuất hiện trong một vài tác phẩm văn học khác nhau ở thế giới cổ đại của Hy Lạp và La Mã, bao gồm thiên sử thi Argonautica và vở bi kịch Medea.

Ngoài ra ông được xem là người khai phá thành phố Ljubljana, thủ đô của nước Slovenia.

[2] Là một nhóm anh hùng theo thần thoại Hy Lạp, là những người trong nhiều năm trước cuộc chiến thành Troy, đã đồng hành cùng với Jason đến Colchis (hiện là phía tây Georgia) trong cuộc tìm kiếm Bộ Lông Cừu Vàng.

Tên của họ được lấy theo tên con tàu, Argo, được đặt theo tên của người đã đóng nên nó, Argus.

Vì thế, "Argonauts" theo nghĩa đen có nghĩa là "các thủy thủ tàu Argo".

Tôi đáp: "Ừ!

Một bộ phim cổ với những bộ xương bằng đất sét."

Annabeth đảo mắt: "Ôi thánh thần ơi!

Percy!

Cậu đúng là vô vọng."

"Cái gì?"

Tôi hỏi gặng.

"Nghe này!

Câu chuyện thật về Bộ Lông Cừu Vàng nói về hai đứa con của thần Zeus là Cadmus và Europa, được chưa?

Khi họ bị loài người dùng làm vật hiến tế, họ đã khẩn cầu thần Zeus cứu mình.

Thế nên thần Zeus đã gửi con cừu biết bay với bộ lông bằng vàng tới cứu họ ở Hy Lạp và đưa họ tới Colchis ở Asia Minor.

Ừm, thực sự thì con cừu chỉ mang Cadmus đi thành công.

Europa bị ngã và bị chết dọc đường.

Nhưng điều đó không quan trọng."

"Điều đó có thể quan trọng với cô ấy."

"Điểm mấu chốt là, khi Cadmus tới được Colchis, cậu ta đã hiến tế con cừu vàng này cho các vị thần và treo Bộ Lông Cừu Vàng lên một cái cây giữa kinh thành.

Bộ Lông Cừu Vàng này mang lại sự phồn thịnh cho vùng đất đấy.

Động vật không bị ốm nữa.

Cây trồng xanh tốt hơn.

Nông dân có các vụ mùa bội thu.

Các loại dịch bệnh không bao giờ xuất hiện.

Đó là lý do tại sao Jason muốn có Bộ Lông Cừu Vàng.

Nó có thể tái sinh bất cứ mảnh đất nào mà nó được đặt xuống.

Nó chữa trị được bệnh tật, xóa ô nhiễm, làm thiên nhiên thêm khỏe khoắn..."

"Và có thể chữa được cây của Thalia."

Annabeth gật đầu: "Và nó hoàn toàn có thể tăng cường sức mạnh cho đường ranh giới của Trại Con Lai.

Nhưng Percy này, Bộ Lông Cừu Vàng đó đã mất tích hàng thế kỷ rồi.

Đã có rất nhiều anh hùng ra đi tìm kiếm nó nhưng không hề gặp may."

"Nhưng Grover đã tìm ra nó.

Cậu ấy đang tìm kiếm thần Pan và thay vào đó lại tìm ra Bộ Lông Cừu Vàng.

Vì cả hai đều có phép thuật bức xạ tự nhiên.

Việc đó thật có ý nghĩa, Annabeth.

Chúng ta có thể giải thoát cho cậu ấy và cứu trại cùng một lúc.

Thật hoàn hảo!"

Tôi nói.

Annabeth ngần ngừ: "Hơi quá hoàn hảo đấy, cậu không nghĩ vậy sao?

Nếu là một cái bẫy thì sao?"

Tôi nhớ tới hè năm ngoái, Kronos đã thao túng cuộc tìm kiếm của chúng tôi ra sao.

Ông ta gần như đã lừa được chúng tôi vào việc giúp ông ta khởi dậy một cuộc chiến tranh có thể phá hủy cả nền Văn minh phương Tây.

Tôi hỏi: "Chúng ta có lựa chọn gì cơ chứ?

Cậu có định giúp tớ giải cứu Grover hay không?"

Annabeth liếc nhìn Tyson lúc này đã không còn hứng thú với câu chuyện của chúng tôi và đang hớn hở tạo ra những con thuyền đồ chơi từ đám thìa và cốc trong dung nham.

Cô ấy nói khe khẽ: "Percy, chúng ta sẽ phải đánh nhau với một Cyclops.

Đó là Polyphemus - kẻ tồi tệ nhất trong đám Cyclops.

Và hòn đảo của hắn ta chỉ có thể ở một nơi duy nhất.

Biển Quái Vật."

"Nó ở đâu?"

Annabeth nhìn tôi chằm chằm như thể nghĩ rằng tôi đang giả ngu: "Biển Quái Vật.

Giống tên bờ biển mà Odysseus[3] từng đi ngang qua và Jason, Aeneas[4] và tất cả những người khác."

[3] Theo thần thoại Hy Lạp, Odysseus là vua của xứ Ithaca và là nhân vật anh hùng trong sử thi Odyssey của Homer.

Odysseus cũng đóng vai trò chính trong sử thi Iliad của Homer và các tác phẩm khác trong sử thi Epic Cycle.

Là vua của xứ Ithaca, chồng của Penelope, cha của Telemachus, và là con trai của Laertes và Anticlea, Odysseus Kẻ Khôn Ngoan.

Nổi tiếng nhất là mười năm với nhiều sự kiện quan trọng mà ông có được trên đường trở về nhà sau cuộc chiến thành Troy và cái bẫy "Con ngựa thành Troy" nổi tiếng của ông.

[4] Trong thần thoại Hy Lạp, Aeneas là một anh hùng của thành Troy, là con trai của Anchises và Nữ Thần Tình Yêu Aphrodite.

Cha của ông là anh em họ của vua Priam của thành Troy.

Cuộc hành trình của Aeneas từ Troy, (do Aphrodite chỉ dẫn) điều đã dẫn đến sự thành lập Roma, được đề cập đến trong sách Aeneid của Virgil.

Đồng thời Aeneas cũng là nhân vật trong truyện Iliad của Homer và trong một vở kịch Troilus and Cressida của William Shakespeare.

"Ý cậu là Địa Trung Hải?"

"Không.

Ừm, đúng vậy... nhưng không."

"Một câu trả lời thẳng thắn khác đây.

Cám ơn."

"Nghe này, Percy!

Biển Quái Vật là biển mà tất cả các anh hùng đều đi qua trong chuyến phiêu lưu của mình.

Nó từng ở Địa Trung Hải, đúng vậy.

Nhưng cũng như tất cả mọi thứ khác, nó đã di chuyển địa điểm khi trung tâm quyền lực của phương tây di chuyển."

"Giống như việc núi Olympus hiện đang ở phía trên tòa nhà Empire State và thần Hades hiện đang ở bên dưới Los Angeles."

"Đúng thế."

"Nhưng cả một biển đầy quái vật - làm sao cậu có thể che giấu được thứ như vậy chứ?

Con người không chú ý tới những điều bất thường đang xảy ra ư... như tàu bị nuốt và những điều vớ vẩn như thế?"

"Tất nhiên họ có chú ý chứ.

Họ không hiểu, nhưng họ biết có điều gì đó sai lầm về phần đại dương này.

Biển Quái Vật hiện giờ nằm cách xa bờ đông nước Mỹ, phía đông bắc Florida.

Con người thậm chí còn đặt tên cho nó."

"Tam giác Bermuda phải không?"

"Chính xác!"

Tôi hoàn toàn hiểu được điều đó.

Tôi đoán rằng nó không lạ lẫm gì hơn so với các điều tôi biết được kể từ khi tôi tới Trại Con Lai.

"Được rồi...

ít nhất chúng ta cũng biết phải tìm ở đâu."

"Đó là một khu vực rộng lớn, Percy à!

Tìm kiếm một hòn đảo nhỏ trong vùng nước lúc nhúc quái vật như thế..."

"Này, tớ là con trai thần biển đấy nhé.

Đấy là nhà tớ.

Có gì khó khăn cơ chứ?"

Annabeth cau mày: "Chúng ta sẽ phải nói chuyện với Tantalus để có sự đồng ý cho việc tìm kiếm.

Ông ta sẽ nói 'Không' cho mà xem."

"Sẽ không nếu chúng ta nói với ông ta vào tối nay trước tất cả trại viên ở cạnh lửa trại.

Cả trại này sẽ nghe thấy.

Họ sẽ gây áp lực cho ông ta.

Ông ta không thể từ chối được."

"Có lẽ vậy.

Tốt hơn là chúng ta phải xử lý xong chỗ chén dĩa này.

Đưa hộ tớ cây súng phun dung nham nào!"

Một chút hy vọng len lỏi trong giọng nói của Annabeth.

Tối đó ở lửa trại, khu nhà thần Apollo chủ trì buổi đồng ca.

Họ cố gắng khơi dậy tinh thần mọi người nhưng điều đó thật không dễ dàng sau một buổi chiều bị lũ chim tấn công.

Tất cả chúng tôi ngồi quanh những bậc đá hình bán nguyệt, miễn cưỡng hát theo và ngắm nhìn ngọn lửa đang được đốt cháy khi những cậu con trai nhà Apollo chơi guitar và kéo đàn lia.

Chúng tôi hát hết tất cả các bài hát tiêu biểu của trại: "Xuôi theo dòng Aegean", "Tôi là người ông Cố-Cụ-Kỵ của chính mình", "Đây là Đất của Minos".

Ngọn lửa như được bỏ bùa, thế nên bạn càng hát lớn, nó càng bùng lên, thay đổi màu sắc và ấm lên với tâm trạng của đám đông.

Trong những buổi tối tuyệt diệu trước kia, tôi thấy ngọn lửa phải cao tới sáu mét, màu đỏ tía và nóng tới mức khiến cả đám kẹo dẻo ở hàng phía trước bùng cháy.

Nhưng tối nay, ngọn lửa chỉ cao một mét, chỉ vừa đủ ấm và lửa có màu bạc thếch.

Dionysus bỏ đi từ sớm.

Sau khi chịu đựng vài bài hát, ông ta cằn nhằn một điều gì đó như thà chơi bài Pinoch với bác Chiron còn thú vị hơn nhiều.

Rồi ông ta liếc nhìn Tantalus đầy khó chịu và đi về phía Nhà Lớn.

Khi bài hát cuối cùng kết thúc, Tantalus reo lên: "Ôi, tuyệt quá!"

Ông ta bước ra phía trước và đưa tay lấy một que kẹo dẻo nướng và cố lấy ra khỏi que xiên.

Nhưng trước khi ông ta có thể chạm được vào nó, kẹo dẻo tự rơi ra khỏi que xiên.

Tantalus điên cuồng chụp lấy nó, nhưng đám kẹo đã tự vẫn, lao hết vào đám lửa.

Tantalus quay trở lại chỗ chúng tôi, cười lạnh lùng.

"Nào, bây giờ là một số thông báo cho lịch trình của ngày mai."

"Thưa ông!"

Tôi cất tiếng.

Mắt Tantalus co rúm lại: "Nhóc nhà bếp của chúng ta có gì muốn nói sao?"

Một số trại viên nhà thần Ares khúc khích cười.

Nhưng tôi sẽ không để cho bất kỳ ai làm tôi ngượng nghịu dẫn đến việc tôi sẽ im lặng không nói gì cả.

Tôi đứng dậy và nhìn Annabeth.

Cám ơn Chúa, cô ấy cũng đứng dậy cùng tôi.

Tôi cất tiếng: "Chúng tôi có ý tưởng này để cứu trại."

Toàn trại im lặng phăng phắc.

Nhưng tôi có thể nói rằng mọi người đều rất hứng thú vì ngọn lửa trại đã bùng lên ánh sáng vàng nhạt.

Giọng Tantalus đầy mỉa mai: "Thực vậy sao?

Tốt, nếu cậu có bất cứ điều gì để làm cùng cỗ xe..."

"Bộ Lông Cừu Vàng!

Chúng tôi biết nó ở đâu."

Tôi nói.

Ngọn lửa đã chuyển sang màu da cam.

Và trước khi Tantalus có thể kịp bắt tôi dừng lời, tôi đã kể hết giấc mơ của mình về Grover và hòn đảo của Polyphemus.

Annabeth đế theo và nhắc cho tất cả mọi người biết rằng Bộ Lông Cừu Vàng có thể làm được gì.

Những gì cô ấy nói ra đều mang tính thuyết phục cao.

Cô ấy kết luận: "Bộ Lông Cừu Vàng có thể cứu được trại!

Tớ khẳng định về điều này."

"Nói bậy!

Chúng ta không cần cứu vãn cái gì cả!"

Tantalus phá ngang.

Tất cả mọi người đều nhìn ông ta chằm chằm cho đến khi Tantalus bắt đầu thấy không thoải mái.

Ông ta nhanh chóng nói thêm: "Hơn nữa, Biển Quái Vật ư?

Đó là địa điểm hầu như không chính xác.

Ngươi thậm chí còn không biết nó ở đâu."

"Không, tôi biết!"

Tôi khẳng định.

Annabeth nghiêng đầu về phía tôi và thì thầm: "Cậu biết hả?"

Tôi gật đầu vì Annabeth đã gợi ra điều gì đó trong trí nhớ của tôi khi cô ấy nhắc tới chuyến taxi với chị em nhà Grey.

Lúc đó, những thông tin họ cho tôi tưởng như vô nghĩa.

Nhưng bây giờ thì...

"Ba mươi, ba mốt, bảy lăm, mười hai."

Tôi nói.

"Được rồi.

Cám ơn ngươi đã chia sẻ những con số vô nghĩa này."

Tantalus miễn cưỡng.

"Đó là các tọa độ đi biển.

Vĩ độ và kinh độ.

Tôi, ừm...

đã học về chúng trong các môn xã hội."

Tôi nói.

Thậm chí cả Annabeth nom cũng bị ấn tượng.

"Ba mươi độ, ba mươi mốt phút bắc, bảy mươi lăm độ, mười hai phút tây.

Cậu ấy nói đúng đấy!

Chị em nhà Grey đã cho chúng tôi những tọa độ này.

Nó ở nơi nào đó trên Đại Tây Dương, cách xa bờ biển Florida.

Biển Quái Vật!

Chúng ta cần một cuộc tìm kiếm!"

"Khoan đã!"

Tantalus kêu lên.

Nhưng các trại viên đã đứng dậy hô vang khẩu hiệu: "CHÚNG TA CẦN MỘT CUỘC TÌM KIẾM!

CHÚNG TA CẦN MỘT CUỘC TÌM KIẾM!"

Những ngọn lửa nhảy múa cao hơn.

"Điều đó không cần thiết!"

Tantalus khăng khăng.

"CHÚNG TA CẦN MỘT CUỘC TÌM KIẾM!

CHÚNG TA CẦN MỘT CUỘC TÌM KIẾM!"

"Được rồi!"

Tantalus gào lên.

Đôi mắt ông ta đầy tức giận: "Lũ bướng bỉnh các ngươi muốn ta đồng ý cho đi tìm kiếm Bộ Lông Cừu Vàng phải không?"

"ĐÚNG!"

Ông ta chấp thuận: "Được thôi!

Ta sẽ cho phép người chiến thắng thực hiện chuyến đi đầy nguy hiểm này để tìm bằng được Bộ Lông Cừu Vàng và mang nó về trại.

Nếu không người đó phải chết."

Trái tim tôi đầy xúc động.

Tôi sẽ không để Tantalus hù dọa tôi.

Đây chính là điều tôi cần làm.

Tôi sẽ cứu Grover và trại.

Không có gì có thể ngăn cản được tôi.

Tantalus công bố: "Ta sẽ cho phép người tham gia tìm kiếm thỉnh cầu ý kiến của Nhà Tiên Tri!

Và lựa chọn hai người bạn đồng hành cùng tham gia cuộc tìm kiếm này.

Ta cho rằng việc lựa chọn người chiến thắng là điều hiển nhiên."

Tantalus nhìn Annabeth và tôi như thể ông ta muốn lột da sống chúng tôi vậy: "Người được chọn phải là người được các trại viên tôn trọng, tháo vát trong cuộc đua ngựa và dũng cảm trước sự tấn công của trại.

Người nên chỉ huy cuộc tìm kiếm này...

Clarisse!"

Ngọn lửa nảy lên thành một ngàn màu sắc khác nhau.

Đám nhà thần Ares bắt đầu sung sướng reo vang: "CLARISSE!

CLARISSE!"

Clarisse đứng lên, khá sửng sốt.

Rồi cô ta nuốt nước bọt, ngực ưỡn căng đầy kiêu hãnh.

"Tôi chấp nhận cuộc tìm kiếm này!"

"Khoan đã!

Grover là bạn tôi.

Giấc mơ đó đến với tôi cơ mà."

Tôi kêu to.

"Ngồi xuống!

Cậu đã có cơ hội vào hè năm ngoái rồi!"

Một trong số các trại viên khu nhà Ares kêu lên.

"Ừ, cậu ta chỉ muốn được mọi người chú ý đến!"

Một người khác đế vào.

Clarisse liếc nhìn tôi.

Cô ta nhắc lại: "Tôi chấp nhận cuộc tìm kiếm này!

Tôi, Clarisse, con gái thần Ares, sẽ cứu trại này!"

Các trại viên nhà thần Ares cổ vũ cho Clarisse ngày càng lớn hơn.

Annabeth phản đối và các trại viên khác thuộc nhà nữ thần Athena cũng nhảy vào.

Tất cả mọi người còn lại bắt đầu chia phe - kêu thét, cãi cọ và ném kẹo dẻo vào nhau.

Tôi nghĩ rằng nó sắp chuyển thành một cuộc chiến tranh thực sự cho tới khi Tantalus hét lên: "Im lặng nào, lũ trẻ hư!"

Giọng ông ta cũng làm tôi choáng váng.

Ông ta ra lệnh: "Ngồi xuống!

Và ta sẽ kể cho các ngươi nghe một câu chuyện ma."

Tôi không biết ông ta muốn làm gì nhưng tất cả chúng tôi đều miễn cưỡng quay lại ghế ngồi.

Ánh sáng ma quái toát lên từ Tantalus mạnh như bất kỳ con quái vật nào mà tôi từng chạm trán.

"Ngày xửa ngày xưa có một vị vua của loài người được nhiều thần linh yêu quý!"

Tantalus đặt tay lên ngực mình và tôi có cảm giác như ông đang kể chuyện về chính mình.

Ông kể tiếp: "Vị vua đó, thậm chí từng được phép dự tiệc trên đỉnh Olympus.

Nhưng khi ông ta cố lấy một ít đồ ăn và rượu của thần thánh xuống Trái Đất để tìm hiểu công thức - dù chỉ là một chiếc túi đựng thức ăn thừa nhỏ xíu, xin hãy nhớ kỹ - các vị thần đã trừng phạt ông ta.

Họ cấm ông ta mãi mãi không được tham gia vào các bữa tiệc của các vị thần.

Thần dân của ông ta thì chế giễu ông ta.

Con cái ông ta trách móc cha mình.

Và, ừ, các trại viên à, ông ta có những đứa con kinh khủng.

Những đứa con - giống - như - các ngươi - vậy!"

Ông ta cong một ngón tay chỉ vào một vài người đang đứng trong đám khán giả, trong đó có cả tôi.

Tantalus dịu giọng hỏi: "Các ngươi có biết ông ta đã làm gì đối với lũ con bạc bẽo đó không?

Các ngươi có biết ông ta đã đáp trả lại sự trừng phạt tàn nhẫn của các vị thần như thế nào không?

Ông ta đã mời các vị thần trên đỉnh Olympus tới dự tiệc ở chỗ của mình, chỉ để bày tỏ rằng ông ta không hề oán hờn gì họ cả.

Không ai chú ý tới việc những đứa con của ông bị mất tích.

Và khi ông ta thết đãi bữa tối cho các vị thần, hỡi các trại viên yêu quý của ta, các ngươi có thể đoán được cái gì làm nên món thịt hầm không?"

Không ai dám trả lời.

Lửa trại bùng lên một màu xanh đậm, phản chiếu sự tà ác trên gương mặt khoằm khoằm của Tantalus.

Tantalus rền rĩ: "Và các thần đã trừng phạt ông ta dưới cõi âm.

Họ đã làm đúng như vậy.

Nhưng ông ta cũng có được sự thỏa mãn, phải không?

Lũ con ông ta không bao giờ có thể cãi lại hay nghi ngờ về uy quyền của ông ta được nữa.

Và các ngươi có biết hay không?

Có lời đồn rằng linh hồn của vị vua này giờ đây vẫn trú ngụ trong trại này, chờ cơ hội để trả thù những đứa trẻ vô ơn, bất trị.

Vì thế... có lời phàn nàn gì nữa không trước khi chúng ta gửi Clarisse đi tìm kiếm?"

Im lặng.

Tantalus gật đầu với Clarisse: "Hãy đi hỏi Nhà Tiên Tri, cháu yêu quý!

Đi đi!"

Clarisse nom không thoải mái, giống như thể thậm chí cô ta không muốn bất kỳ vầng hào quang nào nếu phải giả vờ trở thành vật cưng của Tantalus: "Thưa ông..."

"Đi đi!"

Tantalus cằn nhằn.

Cô ta lúng túng nhượng bộ và vội vã đi về phía Nhà Lớn.

Tantalus hỏi: "Còn ngươi thì sao, Percy Jackson?

Không có lời phàn nàn gì về chỗ chén dĩa ngươi đã rửa phải không?"

Tôi không nói gì nhưng không định để cho ông ta hài lòng trừng phạt tôi lần nữa.

Tantalus nói: "Tốt!

Và để ta nhắc nhở tất cả mọi người rằng - không một ai được phép rời trại mà không có sự chấp thuận của ta.

Bất kỳ ai cố tình...

ồ, nếu những người đó cố thử, họ sẽ bị đuổi ra khỏi trại mãi mãi, nhưng điều đó sẽ không xảy ra.

Các nữ yêu quái mình người cánh chim sẽ thực hiện việc giới nghiêm từ bây giờ và họ luôn luôn đói bụng!

Thôi, tạm biệt các trại viên yêu quý của ta!

Ngủ ngon nhé!"

Tantalus phẩy tay, ngọn lửa trại tắt ngúm.

Các trại viên lục tục đi về phía khu nhà đang chìm trong màn đêm của mình.

Tôi không thể giải thích mọi chuyện cho Tyson.

Cậu ấy biết tôi buồn.

Cậu ấy biết tôi muốn đi nhưng Tantalus không cho.

"Cậu sẽ đi bằng bất cứ giá nào phải không?"

Cậu ấy hỏi.

"Tớ không biết.

Điều này rất khó.

Vô cùng khó!"

Tôi thừa nhận.

"Tớ sẽ giúp."

"Không!

Tớ...

ừ.

Tớ không thể yêu cầu cậu làm điều đó được, người anh em to lớn ạ.

Quá nguy hiểm!"

Tyson nhìn xuống những mẩu kim loại mà cậu ấy đang lắp ráp trên vạt áo của mình - những chiếc lò xo, các bánh răng, và những cuộn dây bé xíu.

Beckendorf đã đưa cho cậu ấy một số dụng cụ và những linh kiện thừa.

Và giờ đây, Tyson đã dùng tất cả các buổi tối để hàn chúng lại, mặc dù tôi không rõ làm thế nào đôi tay to lớn của cậu ấy lại có thể xử lý được những mẩu thanh mảnh, bé tí tẹo đó.

Tôi hỏi: "Cậu đang làm gì thế?"

Tyson không đáp.

Thay vào đó, cậu ấy rên rỉ trong họng: "Annabeth không thích người Cyclops.

Cậu... không muốn mình đi cùng cậu phải không?"

"Không, không phải thế!

Annabeth quý cậu mà.

Thật đấy!"

Tôi đáp không thật lòng trăm phần trăm.

Tyson ứa nước mắt.

Tôi nhớ tới Grover, cũng giống như các thần rừng khác, cậu ta cũng có thể đọc được những cảm xúc của con người.

Tôi tự hỏi liệu người Cyclops có cùng khả năng tương tự như thế không.

Tyson bọc kỹ công trình tinh tế của mình trong một mảnh vải dầu.

Cậu ấy nằm ườn ra giường và ôm chặt cái bọc của mình như một chú gấu teddy.

Khi cậu ấy xoay mặt về phía tường, tôi có thể thấy những vết sẹo gớm ghiếc trên lưng cậu ấy, giống như thể ai đó cày qua người cậu ấy bằng máy cày.

Tôi tự hỏi hàng triệu lần không biết cậu ấy đã đau đớn thế nào.

Cậu ấy sụt sịt: "Cha luôn quan tâm tới... t-tớ.

Nhưng... giờ tớ nghĩ ông thật đáng xấu hổ khi có một đứa con trai là một Cyclops.

Tớ không nên được sinh ra."

"Đừng nói như vậy!

Thần Poseidon đã nhận cậu, có đúng không?

Thế nên... cha phải quan tâm tới cậu... rất nhiều..."

Giọng tôi kéo dài khi tôi nghĩ về tất cả những năm tháng Tyson sống vất vưởng trên các đường phố New York trong chiếc hộp các-tông chứa tủ lạnh.

Sao Tyson nghĩ rằng Poseidon quan tâm tới cậu ấy nhỉ?

Ông bố kiểu gì mà lại để những điều đó xảy ra với con mình, dẫu nó có là quái vật đi chăng nữa?

"Tyson này... trại sẽ là căn nhà tốt cho cậu.

Những người khác sẽ thích nghi với cậu.

Tớ hứa đấy!"

Tyson thở dài.

Tôi chờ đợi cậu ấy nói gì đó.

Nhưng ngay sau đó tôi nhận ra cậu ấy đã ngủ thiếp đi.

Tôi ngả lưng xuống giường và cố nhắm mắt nhưng không tài nào làm được.

Tôi sợ mình sẽ có một giấc mơ khác về Grover.

Và nếu sợi dây linh cảm đó là thật... nếu điều gì xảy ra với Grover... liệu tôi có còn thức dậy được không?

Trăng tròn soi rọi qua cửa sổ.

Tiếng sóng ầm ầm ở ngoài xa.

Tôi có thể ngửi thấy mùi thơm ấm áp của các ruộng dâu, nghe thấy tiếng cười của các nữ thần cây khi họ đuổi theo những con cú xuyên qua cánh rừng.

Nhưng có điều gì đó bất ổn về đêm - sự tàn tạ héo mòn của cây Thalia đã trải dài khắp thung lũng.

Liệu Clarisse có cứu được Trại Con Lai không?

Tôi nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu tôi nhận được giải "Trại viên xuất sắc nhất" từ Tantalus.

Tôi nhảy ra khỏi giường và mặc vội một bộ quần áo.

Tôi cố gắng túm lấy cái chăn và một bịch sáu lon Coke dưới giường tôi.

Dùng Coke là trái luật ở đây bởi đồ ăn vặt và đồ uống bên ngoài không được phép sử dụng trong trại.

Nhưng nếu bạn nói chuyện với đúng người trong khu nhà thần Hermes và trả vài đồng Drachma vàng, anh ta có thể lén mang vào bất cứ thứ gì từ cửa hàng tiện lợi gần nhất.

Lẻn ra ngoài sau giờ giới nghiêm cũng là trái luật.

Nếu bị bắt, tôi sẽ gặp rắc rối lớn hoặc bị các nữ yêu quái mình người cánh chim ăn thịt.

Nhưng tôi muốn nhìn thấy đại dương.

Tôi luôn cảm thấy dễ chịu hơn khi ở đó.

Những suy nghĩ của tôi rõ ràng hơn.

Tôi rời khỏi khu nhà và hướng về phía biển.

Tôi trải chiếc chăn ra gần mặt nước biển và mở một lon Coke.

Vì một lý do nào đó đường và chất caffeine luôn làm dịu bộ não hiếu động thái quá của tôi.

Tôi cố nghĩ ra cách để cứu trại nhưng chẳng có ý tưởng nào xuất hiện trong đầu tôi.

Tôi ước gì thần Poseidon có thể nói chuyện với tôi, cho tôi vài lời khuyên hoặc thứ gì đó.

Bầu trời sáng trong và đầy sao.

Tôi đang kiểm tra các chòm sao mà Annabeth đã dạy tôi - chòm sao Nhân Mã, chòm sao Hercules, chòm sao Bắc Miện - thì ai đó cất tiếng: "Chúng đẹp phải không?"

Tôi gần như phun hết nước trong miệng ra.

Đứng ngay sát bên phải tôi là một người đàn ông mặc quần soóc thể thao bằng vải nylon và áo phông chạy marathon của thành phố New York.

Ông ta thon gọn và khỏe mạnh với mái tóc muối tiêu và nụ cười ranh mãnh.

Ông ta khá quen thuộc nhưng tôi không thể giải thích tại sao.

Suy nghĩ đầu tiên của tôi là ông hẳn đang chạy bộ vào nửa đêm phía dưới bờ biển và đi lạc vào trong địa phận của trại.

Điều này không thể xảy ra.

Vì những người thường không thể vào được thung lũng.

Nhưng có thể do phép thuật của cây Thalia đã yếu nên ông ta vào được.

Nhưng vào lúc nửa đêm sao?

Ở đây chẳng có gì ngoài đất nông trại và khu bảo tồn quốc gia.

Người đàn ông chạy bộ này có thể đến từ đâu nhỉ?

Ông ta cất tiếng hỏi: "Ta có thể ngồi cùng cậu không?

Ta đã không ngồi nhiều năm rồi."

Và giờ đây tôi đã hiểu - một gã đàn ông kỳ lạ xuất hiện lúc nửa đêm.

Theo lẽ thường: tôi phải chạy ngay ra khỏi đó và kêu cứu, vâng vâng...

Nhưng ông ta cư xử rất điềm tĩnh về tất cả mọi thứ khiến tôi thấy khó lòng sợ hãi được.

Tôi đáp: "Ồ, được thôi."

Ông ta mỉm cười: "Lòng hiếu khách của cậu sẽ được đền đáp.

Ồ, cậu có Coke nữa sao.

Liệu ta có thể?"

Ông ta ngồi ở mép bên kia của tấm chăn, bật một lon Coke và uống một ngụm.

"À... thật là gãi đúng chỗ ngứa!

Thanh bình và yên tĩnh ở..."

Có tiếng chuông điện thoại vang lên trong túi của ông ta.

Người đàn ông chạy bộ thở dài, kéo chiếc điện thoại ra.

Và mắt tôi mở lớn khi thấy nó phát ra thứ ánh sáng xanh xanh.

Khi ông ta kéo ăng ten điện thoại lên, hai sinh vật bắt đầu quằn quại quanh nó - đó là lũ rắn xanh, không lớn hơn giun đất là bao.

Người chạy bộ như không hề quan tâm tới chúng.

Ông kiểm tra màn hình LCD và chửi rủa: "Ta phải nghe nó.

Chỉ một giây..."

Rồi sau đó ông ta nói điện thoại: "Xin chào!"

Ông ta nghe điện thoại.

Những con rắn bé xíu vẫn giãy giụa lên xuống chiếc ăng ten được đặt sát gần tai ông ta.

Người đi bộ đáp: "Ừ!

Nghe này, ta biết, nhưng... ta không quan tâm nếu hắn ta có bị xích vào đá và lũ kền kền đang móc gan hắn ta hay không, nếu hắn ta không có số để theo dõi, chúng ta không thể xác định được vị trí gói đồ của hắn ta...

Một món quà rất tình người, tuyệt vời...

Ông có biết có bao nhiêu món như thế mà chúng tôi phải giao không?

- Ôi, đừng bận tâm!

Nghe này, chỉ cần nói hắn ta gọi đến Eris ở phòng dịch vụ khách hàng nhé!

Ta phải đi đây!"

Ông ta cúp máy.

"Xin lỗi, việc chuyển hàng nhanh qua đêm đang tăng vọt.

Giờ thì, như lúc nãy ta đang nói..."

"Ông có lũ rắn trên điện thoại kìa."

"Cái gì?

À, chúng không phải rắn đâu.

Nói xin chào đi, George và Martha!"

"Xin chào, George và Martha đây!"

Một giọng nam bực bội vang lên trong đầu tôi.

"Đừng có nói với giọng châm chọc như thế!"

Một giọng nữ nhắc nhở.

"Tại sao lại không nhỉ?

Tôi làm tất cả trong thế giới thật."

George hỏi gặng.

"Ồ, không được làm như thế lần nữa!"

Người chạy bộ nhét điện thoại vào lại trong túi áo.

"Nào, chúng ta đang ở chỗ...

à, đúng rồi.

Thanh bình và yên tĩnh."

Ông ta vắt chéo chân và ngắm nhìn các vì sao.

"Đã rất lâu rồi ta không được thư giãn.

Kể từ khi có điện báo - cứ hối hả, hối hả, gấp gáp.

Cậu có chòm sao nào yêu thích không, Percy?"

Tôi vẫn hơi lo ngại về lũ rắn xanh nhỏ xíu mà ông ta đã nhét vào quần soóc, nhưng tôi vẫn đáp: "Ừ, tôi thích chòm sao Hercules."

"Tại sao?"

"Ừ... thì bởi vì anh ta có sự may mắn tệ hại.

Thậm chí còn tệ hại hơn của tôi.

Nó khiến tôi thấy dễ chịu hơn."

Người chạy bộ cười khúc khích, hỏi tiếp: "Chứ không phải vì cậu ta mạnh mẽ, nổi tiếng và tất cả những thứ đó sao?"

"Không."

"Cậu là một anh bạn trẻ thú vị đấy!

Và giờ thế nào đây?"

Tôi đột nhiên hiểu rõ điều ông ta đang hỏi.

Tôi định làm gì với Bộ Lông Cừu Vàng?

Trước khi tôi trả lời, tiếng nghèn nghẹt của con rắn tên Martha vọng ra từ túi của ông ta: "Demeter ở đường dây số hai."

"Không phải bây giờ!

Nói với cô ta để lại tin nhắn đi!"

Người chạy bộ nói.

"Cô ta sẽ không thích như vậy đâu.

Lần trước ngài không nghe điện thoại cô ấy, tất cả hoa đi giao đều bị héo rũ."

Người đi bộ đảo mắt: "Chỉ cần nói với cô ấy là ta đang họp!

Xin lỗi lần nữa nhé, Percy!

Cậu đang nói là..."

"Hừm, đúng ra ông là ai vậy?"

"Một đứa trẻ thông minh như cậu mà tới giờ vẫn chưa đoán được ra sao?"

"Cho cậu ta thấy đi!

Mấy tháng rồi tôi chưa được trở về đủ kích cỡ đây."

Martha nài xin.

"Đừng nghe cô ta nói!

Cô ta chỉ muốn khoe khoang thôi."

George đế vào.

Người đàn ông lại lôi điện thoại ra.

"Hãy hiện nguyên hình!"

Chiếc điện thoại lóe lên một thứ ánh sáng xanh rực rỡ.

Nó kéo dài thành một cây gậy gỗ dài tới một mét với đôi cánh bồ câu mọc trên đầu cây gậy.

George và Martha giờ đã hiện nguyên hình thành đôi rắn xanh đúng kích cỡ, cuộn nhau lại ở phần giữa cây gậy.

Đó là y hiệu, biểu tượng của khu Nhà Số Mười Một.

Cổ họng tôi thắt lại.

Tôi đã nhận ra rằng người chạy bộ nhắc nhở tôi với những đặc trưng tinh nghịch và tia nhìn láu lỉnh trong ánh mắt của hắn ta...

Tôi nói: "Ông là cha của Luke.

Thần Hermes."

Vị thần bĩu môi.

Ông cắm cây gậy gỗ vào cát như một cán dù vậy.

"Cha của Luke.

Thông thường thì đó không phải cách đầu tiên mà mọi người giới thiệu ta.

Thần Ăn Trộm, đúng thế.

Thần của người đưa thư và người du lịch, nếu họ tử tế."

"Thần Ăn Trộm là được rồi."

George đế vào.

"Ôi, đừng quan tâm đến George!

Nom cậu ta có vẻ chua cay thế vì thần Hermes thích tôi nhất."

Martha le lưỡi về phía tôi.

"Không phải vậy!"

"Có mà!"

Hermes cảnh báo: "Cư xử cho phải phép nào, cả hai đứa!

Không ta sẽ cho cả hai quay vào trong chiếc điện thoại di động và đặt ngươi ở chế độ rung.

Nào, Percy vẫn chưa trả lời ta mà.

Cháu định làm gì với cuộc tìm kiếm?"

"Cháu... cháu không được phép đi."

"Dĩ nhiên là không được.

Vậy việc đó sẽ ngăn cháu lại sao?"

"Cháu muốn đi!

Cháu phải cứu Grover!"

Hermes mỉm cười: "Ta biết một cậu nhóc đã từng...

ồ, lúc đó cậu ấy trẻ hơn cháu rất nhiều.

Thực sự nó chỉ là một nhóc tì thôi."

"Lại bắt đầu rồi.

Ông ta luôn tự nói về mình."

George nói.

"Im lặng nào!

Anh có muốn bị cài đặt ở chế độ rung không?"

Martha búng ngón tay.

Hermes phớt lờ chúng.

"Một đêm, khi mẹ đứa trẻ không chú ý lắm, đứa trẻ liền trườn ra khỏi hang và trộm một vài con gia súc của thần Apollo."

"Thế nó có bị nổ thành những mảnh nhỏ không?"

Tôi hỏi.

"Hừm... không.

Thực ra mọi việc hóa ra khá tốt.

Để bồi thường cho vụ trộm của mình, đứa trẻ liền cho thần Apollo một dụng cụ mà nó phát minh - cây đàn lia.

Thần Apollo bị thu hút bởi thứ âm nhạc đó đến nỗi quên hết giận dữ."

"Vậy bài học được rút ra là gì?"

"Bài học á?

Thánh thần ơi, cháu làm như thể nó là một câu truyện ngụ ngôn vậy.

Đó là một câu chuyện có thật.

Mà sự thực thì có bài học không nhỉ?"

"Ừm..."

"Thế: Ăn trộm không phải lúc nào cũng xấu thì sao?"

"Cháu không nghĩ rằng mẹ cháu sẽ thích bài học này."

"Lũ chuột rất ngon!"

George gợi ý.

"Việc đó có liên quan gì đến câu chuyện này?"

Martha hỏi gặng.

"Chả liên quan gì.

Nhưng tôi đói quá."

George đáp.

Thần Hermes nói: "Ta hiểu.

Người trẻ thường không làm theo những gì chúng được chỉ bảo.

Nhưng nếu họ có thể vượt qua được và làm những thứ tuyệt vời, đôi khi họ thoát khỏi sự trừng phạt.

Như thế nào?"

"Vậy ông nói là cháu nên đi, thậm chí không cần sự chấp thuận."

Thần Hermes nháy mắt: "Martha, cho ta lấy gói đồ thứ nhất nào!"

Martha liền há miệng ra... và cứ há miệng mãi như vậy cho đến khi nó rộng bằng tay tôi.

Cô ấy ợ ra một cái hộp nhỏ bằng thiếc không gỉ.

Bên trong là một chiếc bình kiểu dáng cổ với chiếc nắp bằng nhựa đen.

Hai mặt của chiếc bình được vẽ lên men với các hình ảnh thời Hy Lạp cổ đại màu đỏ và vàng - một người anh hùng giết sư tử, một vị anh hùng khác đang nhấc bổng con chó ba đầu Cerberus.

Tôi nói: "Đó là Hercules.

Nhưng làm thế nào..."

Thần Hermes quở trách: "Đừng bao giờ nghi ngờ quà tặng!

Đây là một phần của bộ sưu tập từ Hercules Busts Heads.

Mùa đầu tiên."

"Hercules Busts Heads ư?"

Thần Hermes thở dài: "Đó là một show diễn tuyệt vời.

Trở về trước khi chương trình truyền hình Hephaestus đang làm những tiết mục thực tế.

Tất nhiên, chiếc bình sẽ có giá trị hơn rất nhiều nếu ta có cả toàn bộ hộp ăn trưa..."

"Hoặc nếu nó không nằm trong mồm của Martha nữa."

George nói thêm vào.

"Ta sẽ cho ngươi biết tay!"

Martha bắt đầu đuổi theo George vòng quanh cây gậy.

Tôi nói: "Khoan đã!

Đây là một món quà ư?"

"Một trong hai món đấy.

Nào, cầm nó đi!"

Thần Hermes nói.

Suýt nữa tôi làm rơi chiếc bình vì một bên mặt nó lạnh cóng, còn bên kia lại nóng rẫy.

Điều tồi tệ là khi tôi xoay chiếc bình về phía mặt đối diện với biển cả - mặt phía bắc - lại luôn là mặt giá lạnh.

"Đây là một chiếc la bàn!"

Tôi la lên.

Thần Hermes nom đầy kinh ngạc: "Rất thông minh đấy!

Ta chưa từng nghĩ xa đến như vậy.

Nhưng giá trị sử dụng ẩn chứa trong nó còn kịch tính hơn.

Mở nắp bình, cháu sẽ thả hết gió từ bốn phương của Trái Đất để đẩy cháu đi theo hướng của cháu.

Nhưng không phải bây giờ!

Và tới thời gian thích hợp, chỉ cần nới lỏng nắp bình ra một chút.

Những cơn gió sẽ ào ạt như ta - luôn không ngừng nghỉ.

Liệu gió có thổi bốn phương cùng một lúc...

à, nhưng ta chắc chắn sẽ cẩn thận.

Và giờ là món quà thứ hai của ta.

George!"

"Cô ấy đang chạm vào tôi!"

George phàn nàn khi anh ta và Martha đang trườn quanh cái cột.

"Cô ấy luôn luôn chạm vào ngươi mà.

Các ngươi luôn quấn với nhau.

Và nếu không ngưng việc đó lại, hai ngươi sẽ lại thắt nút vào nhau đấy."

Thần Hermes nói.

Lũ rắn ngưng vật lộn với nhau.

George nhấc hàm ra và khạc ra một chiếc chai nhựa nhỏ có chứa đầy những viên vitamin.

Tôi hỏi: "Ngài đang đùa sao?

Chúng có hình đầu bò Minotaur ư?"

Thần Hermes nhấc chiếc chai lên và rung chúng.

"À, những viên chanh thì đúng vậy.

Những viên nho thì hình Nữ thần Báo Thù, ta nghĩ vậy.

Hoặc chúng đều là rắn nhiều đầu phải không?

Ở một tỷ lệ nào đó, chúng đều có sức mạnh đấy.

Đừng dùng viên nào trừ phi cháu thật sự, thật sự cần nó."

"Làm sao cháu biết được khi nào cháu thật sự thật sự cần nó?"

"Cháu sẽ biết thôi, cứ tin ta!

Chín loại vitamin, các loại chất khoáng, acid amin... tinh chất.

Ồ, tất cả những thứ cháu cần để cảm thấy lại là mình lần nữa."

Ông ta ném cái chai về phía tôi.

Tôi nói: "Ừm, cám ơn ông!

Nhưng thần Hermes, tại sao ông lại giúp cháu?"

Ông ta nở một nụ cười sầu muộn: "Có lẽ vì ta hy vọng cháu có thể cứu được nhiều người trong chuyến tìm kiếm này, Percy à.

Không chỉ riêng anh bạn Grover của cháu đâu."

Tôi nhìn ông ta chằm chằm: "Ông không có ý nói tới...

Luke chứ?"

Thần Hermes không trả lời.

Tôi nói: "Xem nào!

Thưa thần Hermes, ý cháu là, cám ơn ông về tất cả nhưng ông phải thu lại các món quà của mình thôi.

Không thể cứu Luke được đâu!

Thậm chí nếu cháu có tìm ra anh ấy... anh ấy cũng sẽ chỉ nói rằng muốn giật đổ từng ngọn núi một của đỉnh Olympus mà thôi.

Anh ấy đã phản bội những người mà anh ấy biết.

Đặc biệt là ông, anh ấy rất hận ông đấy!"

Hermes nhìn chằm chằm lên các vì sao.

"Người anh họ yêu quý của ta, nếu có một điều mà ta học được qua các thời đại này là, ta không thể từ bỏ gia đình mình, bất kể họ trêu ngươi như thế nào đi chăng nữa.

Cũng không có gì là quan trọng khi họ ghét bỏ ta, hoặc làm cho ta xấu hổ, hoặc đơn giản là không tán thành tài năng của ta trong việc phát minh ra Internet chẳng hạn..."

"Ông đã phát minh ra Internet ư?"

"Đó là ý tưởng của tôi."

Martha nói.

"Lũ chuột rất ngon!"

George nói.

Thần Hermes nói: "Đó là ý tưởng của ta!

Ý ta là Internet, không phải lũ chuột.

Nhưng đó không phải là vấn đề.

Percy, cháu có hiểu điều ta nói về gia đình không?"

"Cháu... cháu không chắc lắm."

"Sẽ có lúc cháu hiểu ra thôi."

Thần Hermes đứng dậy và phủi cát ra khỏi chân mình.

"Trong lúc chờ đợi, ta phải đi đây."

"Ngài có tới sáu mươi cuộc gọi phải trả lời đấy!"

Martha nhắc nhở.

"Và một ngàn ba mươi tám email.

Không kể đến các lời chào mời về thức ăn của thần thánh đang giảm giá trực tuyến."

George thêm vào.

Thần Hermes bảo tôi: "Và cháu, Percy!

Có một thời hạn cuối cùng ngắn hơn so với những gì cháu nhận biết để hoàn thành cuộc tìm kiếm của mình.

Các bạn cháu đang đến... ngay bây giờ."

Tôi nghe thấy tiếng Annabeth đang gọi tên tôi từ những đụn cát.

Cả tiếng Tyson đang gào to nữa.

Thần Hermes nói: "Ta hy vọng ta đã thu xếp tốt hành lý cho cháu.

Ta cũng có chút ít kinh nghiệm đi du lịch."

Ông ta búng ngón tay và ba chiếc túi du lịch xuất hiện dưới chân tôi.

"Tất nhiên là loại không thấm nước ấy.

Và nếu cháu yêu cầu tử tế, cha cháu có thể sẽ giúp cháu bắt kịp chuyến tàu."

"Tàu ư?"

Thần Hermes chỉ tay.

Đúng như vậy, một con tàu du lịch đang băng qua đảo.

Con tàu có ánh sáng màu trắng và vàng nổi bật trên nền nước màu xanh sẫm.

Tôi nói: "Đợi đã!

Cháu không hiểu gì về chuyện này.

Thậm chí cháu chưa đồng ý đi."

"Ta sẽ tập trung suy nghĩ trong năm phút tới nếu ta là cháu.

Đó là khi các nữ yêu mình người cánh chim sẽ tới ăn thịt cháu đấy.

Nào, giờ thì chúc ngủ ngon nhé, anh họ của ta và ta đã nói chưa nhỉ?

Các vị thần sẽ dõi theo cháu."

Thần Hermes khuyên.

Ông ta xòe đôi tay ra, đôi rắn nhảy luôn lên đó.

"May mắn nhé!"

Martha nói với tôi.

"Nhớ mang cho tôi một con chuột về nhé!"

George dặn.

Y hiệu biến thành chiếc điện thoại di động và thần Hermes nhét luôn nó vào túi.

Ông ta chạy bộ xuống phía bờ biển.

Chạy được chừng hai mươi bước, toàn thân ông ta tỏa sáng và tan biến dần, để lại tôi một mình với một cái bình, một cái lọ đựng vitamin có thể nhai được và năm phút để đưa ra một quyết định bất khả thi.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 8: Chúng tôi lên con tàu có tên Công chúa Andromeda


Tôi đang ngắm những con sóng nhấp nhô thì Annabeth và Tyson tìm thấy tôi.

Annabeth hỏi: "Có chuyện gì thế?

Tớ nghe thấy cậu gọi kêu cứu."

"Tớ cũng nghe thấy!

Nghe cậu kêu to: 'Có chuyện tồi tệ đang tấn công!'" Tyson nói.

"Tớ không gọi các cậu!

Tớ ổn."

Tôi đáp.

"Thế nhưng ai...

Cái gì thế...?"

Annabeth chợt nhận ra ba chiếc túi vải dùng để đi du lịch màu vàng, rồi cả cái bình và cái lọ vitamin mà tôi đang cầm.

Tôi nói: "Nghe này!

Chúng ta không có nhiều thời gian đâu."

Tôi kể cho họ về cuộc trò chuyện của tôi với thần Hermes.

Và khi tôi vừa kể xong, tôi có thể nghe thấy tiếng rít từ đằng xa – các nữ yêu quái mình người cánh chim thuộc đội tuần tra đã ngửi thấy mùi của chúng tôi.

Annabeth nói: "Percy này, chúng ta phải thực hiện cuộc tìm kiếm này!"

"Chúng ta sẽ bị trục xuất ra khỏi trại, cậu biết đấy.

Hãy tin tớ!

Tớ là một chuyên gia bị đuổi mà."

"Thì sao nào?

Nếu chúng ta thất bại cũng chẳng còn trại nào để quay về cả."

"Ừ, nhưng cậu đã hứa với bác Chiron rằng..."

"Tớ hứa sẽ giúp cậu khỏi nguy hiểm.

Tớ chỉ có thể làm được điều đó nếu đi cùng cậu.

Tyson có thể ở lại và nói với họ..."

"Tớ muốn đi!"

Tyson phản đối.

Giọng của Annabeth gần như hoảng sợ: "Không được!

Ý tớ là...

Percy, thôi nào!

Cậu biết chuyện này không thể mà."

Tôi lại tự hỏi tại sao cô ấy lại có mối hận thù đối với người Cyclops tới vậy.

Có điều gì đó cô ấy không kể cho tôi.

Cả Annabeth và Tyson đều nhìn tôi, chờ đợi câu trả lời.

Lúc này, con tàu biển đang tiến ngày càng xa hơn.

Vấn đề là, một phần trong tôi không hề muốn cho Tyson đi cùng.

Tôi đã có ba ngày qua quá gần gũi với cậu ấy, để rồi bị các trại viên chọc ghẹo và xấu hổ tới hàng triệu lần trong một ngày.

Điều này nhắc nhở tôi rằng tôi có quan hệ họ hàng với Tyson.

Tôi cần có một không gian riêng.

Hơn nữa, tôi không biết cậu ấy có thể giúp tôi đến mức nào hoặc làm thế nào để giúp cậu ấy được an toàn.

Chắc chắn rằng Tyson rất khỏe mạnh nhưng cậu ấy vẫn chỉ là một đứa con nít theo ngôn ngữ của người Cyclops, có lẽ cậu ấy chỉ như đứa trẻ bảy, tám tuổi.

Tôi có thể thấy được hình ảnh cậu ta hoảng sợ và bắt đầu òa khóc khi chúng tôi đang cố để thoát khỏi một con quái vật hay cái gì đó tương tự.

Cậu ấy sẽ làm tất cả chúng tôi bị giết mất.

Mặt khác, tiếng của các nữ yêu quái mình người cánh chim đang vọng tới ngày càng gần hơn...

Tôi quyết định: "Chúng ta không thể để cậu ấy lại.

Tantalus sẽ trừng phạt cậu ấy vì đã để chúng ta đi."

Annabeth nói, cố gắng giữ điềm tĩnh: "Percy!

Chúng ta đang tới đảo của Polyphemus.

Polyphemus là một...

S-i-k... một C-y-k..."

Cô ấy dậm chân với vẻ thất vọng.

Thông minh như Annabeth mà giờ cũng như người mắc bệnh khó đọc.

Chúng tôi không thể ở đây cả đêm để chờ cô ấy đánh vần chữ Cyclops.

"Cậu biết tớ có ý gì rồi đấy!"

"Tyson có thể đi cùng, nếu cậu ấy muốn."

Tôi khăng khăng.

Tyson vỗ tay reo lên: "Muốn đi mà!"

Annabeth liếc tôi bằng con mắt khó chịu nhưng tôi đoán rằng cô ấy có thể khẳng định rằng tôi sẽ không đổi ý.

Hoặc có thể cô ấy biết rằng chúng tôi không có thời gian để cãi nhau.

"Được thôi.

Giờ làm thế nào chúng ta lên được con tàu đó?"

Cô ấy nói.

"Thần Hermes nói rằng cha tớ sẽ giúp."

"Vậy thì Óc Tảo Biển, cậu còn chờ gì nữa?"

Tôi luôn thấy khó khăn khi gọi cha mình hoặc cầu xin ông, hoặc bất cứ thứ gì mà các bạn muốn gọi, nhưng tôi tiến thẳng vào các con sóng.

Tôi cất tiếng: "Ừm, cha ơi!

Cha khỏe không?"

"Percy!

Chúng ta vội lắm đấy!"

Annabeth thầm thì.

Tôi nói to hơn: "Chúng con cần cha giúp!

Chúng con cần lên con tàu trước khi bị ăn thịt hay thứ gì tương tự như thế, nên..."

Thoạt đầu, không có gì diễn ra.

Những con sóng vẫn vỗ bờ như bình thường.

Âm thanh từ đám nữ yêu quái mình người cánh chim vọng tới như thể họ đã ở ngay sau đụn cát.

Rồi khoảng một trăm mét trên mặt biển xuất hiện ba dòng nước trắng.

Chúng di chuyển rất nhanh về phía bờ, như thể những bộ vuốt xé rách đại dương.

Khi chúng tới gần bờ, những con sóng nổ tung và đầu của ba con ngựa trắng nhô ra khỏi những con sóng.

Tyson nín thở, thầm thì: "Ngựa cá kìa!"

Cậu ấy đã nói đúng.

Khi những sinh vật đó tiến lên bãi cát, tôi nhận thấy thân trước chúng mang hình ngựa, còn nửa thân phía sau lại là mình cá màu bạc với những chiếc vảy óng ánh và vây hình cầu vồng.

Annabeth reo lên: "Cá ngựa!

Chúng mới đẹp làm sao!"

Con gần nhất hí vang tán thưởng và dụi mõm vào Annabeth.

"Chúng ta sẽ thưởng thức chúng sau!

Giờ đi thôi!"

Tôi nói.

Một tiếng rít chói tai vang lên phía sau chúng tôi: "Chúng đây rồi!

Lũ trẻ hư trốn khỏi nhà kìa.

Tới giờ ăn điểm tâm cho các nữ yêu quái mình người cánh chim may mắn rồi!"

Năm người trong số họ vẫy cánh đầy kích động trên đỉnh những đụn cát.

Chúng là lũ phù thuỷ béo mẫm lùn dí với những gương mặt nhăn nhó, đầy móng vuốt và những đôi cánh lông vũ quá nhỏ so với thân hình.

Chúng nhắc tôi nhớ tới những quý bà trong các quán ăn tự phục vụ được thu nhỏ - những người được lai giống với lũ chim cưu.

Ơn trời, họ không được nhanh nhẹn cho lắm nhưng họ sẽ rất nguy hiểm nếu tóm được chúng tôi.

Tôi giục: "Tyson!

Cầm lấy chiếc túi đi!"

Cậu ấy vẫn đang há hốc mồm ngắm nghía không chán lũ ngựa biển.

"Tyson!"

"Gì thế?"

"Đi nào!"

Được Annabeth giúp đỡ, tôi cũng thúc cậu ấy chịu đi.

Chúng tôi nhặt các mũi tên và cưỡi lên lũ ngựa.

Thần Poseidon hẳn phải biết có Tyson đi cùng vì một con ngựa biển lớn hơn hai con kia rất nhiều – rất phù hợp để chở một Cyclops.

"Đi nào!"

Tôi hét vang.

Con ngựa của tôi xoay người lại và lao thẳng vào những con sóng.

Ngựa của Annabeth và của Tyson cũng theo ngay sau tôi.

Các nữ yêu quái mình người cánh chim nguyền rủa chúng tôi, rền rĩ kêu món điểm tâm của chúng quay trở lại.

Nhưng lũ ngựa biển đã phi băng băng trên mặt nước với tốc độ của những chiếc moto nước.

Lũ yêu quái mình người cánh chim bị bỏ lại phía sau và chẳng mấy chốc bờ biển của Trại Con Lai chỉ còn là một đường mờ tối.

Tôi tự hỏi liệu mình còn có thể nhìn thấy nơi này nữa không.

Nhưng ngay lúc này tôi lại có những vấn đề khác.

Con tàu du lịch giờ đây đang hiện ra sừng sững trước mặt chúng tôi – chuyến đi của chúng tôi về hướng Florida và Biển Quái Vật.

Cưỡi ngựa biển thậm chí còn dễ hơn cưỡi thần mã Pegasus.

Chúng tôi lao vun vút với gió sượt qua mặt, êm ái và vững vàng lướt nhanh qua những con sóng khiến tôi hầu như không cần ôm chặt lấy nó.

Khi chúng tôi tiến sát gần con tàu, tôi nhận ra nó mới to lớn làm sao.

Tôi có cảm giác như mình đang ngắm một toà nhà ở Manhattan vậy.

Thân tàu màu trắng cao ít nhất mười tầng, phía trên đó lại có tới một tá tầng khác với những chiếc ban công và ô cửa sổ được chiếu sáng.

Tên con tàu được sơn màu đen ngay trên mũi tàu và được chiếu sáng bằng các ngọn đèn pha.

Tôi phải mất vài giây mới có thể giải mã được nó:

"CÔNG CHÚA ANDROMEDA"

Đỉnh ở mũi tàu là một cột buồm khổng lồ - một phụ nữ cao ba tầng với áo mặc trong của người Hy Lạp màu trắng, được chạm trổ như thể bị xích vào phía trước con tàu.

Cô ta nom rất trẻ và đẹp với mái tóc đen rủ xuống nhưng vẻ mặt lại đầy khiếp sợ.

Tôi thật không thể hiểu tại sao người ta lại muốn một công chúa đang la hét được gắn vào phía trước con tàu nghỉ mát của họ?

Tôi nhớ lại thần thoại về Andromeda[1] và việc cô bị xích vào một tảng đá bởi bố mẹ mình như một vật hiến tế cho một con thủy quái như thế nào.

Có thể cô ta có quá nhiều điểm F trong bảng điểm, hoặc điều gì đó.

Dù thế nào đi chăng nữa thì người trùng tên với tôi, Perseus, cũng đã kịp cứu cô ta và biến thủy quái thành đá bằng đầu của Medusa.

[1] Là con gái của vua Cepheus xứ Ethiopia và hoàng hậu Cassiopeia, người có sắc đẹp khiến thần thánh phải ganh tị.

Quá kiêu hãnh về sắc đẹp của con gái mình, hoàng hậu Cassiopeia đã xem thường nhan sắc của các nữ thần biển.

Để trừng phạt, thần Poseidon đã sai thủy quái đến tàn phá đất nước Ethiopia.

Nhà vua đã cầu xin sự giúp đỡ của thần Zeus và được chỉ rằng để cứu đất nước, ông phải hiến tế cô con gái đồng trinh của mình cho thủy quái.

Thương con nhưng để cứu đất nước, ông đành nghe theo Lời Sấm Truyền, xích công chúa vào một tảng đá gần bờ biển để làm mồi cho thủy quái.

Cuối cùng cô đã được Perseus cứu thoát và trở thành vợ của người anh hùng này.

Anh chàng Perseus đó luôn chiến thắng.

Đó là lý do tại sao mẹ tôi đã đặt tên tôi giống tên anh ta, mặc dù anh ta là con trai thần Zeus và tôi là con trai thần Poseidon.

Perseus thứ thiệt là vị anh hùng duy nhất trong thần thoại Hy Lạp có cái kết có hậu.

Những người khác đều chết do bị phản bội, thương tật, bị đầu độc hoặc bị nguyền rủa bởi các vị thần.

Mẹ tôi hy vọng rằng tôi sẽ được thừa hưởng may mắn của Perseus.

Xét thấy cuộc đời mình diễn ra từ trước đến nay, tôi thật chẳng lạc quan chút nào.

"Làm thế nào lên được thuyền?"

Annabeth gào to hơn cả tiếng sóng ì ầm, nhưng lũ ngựa biển như hiểu chúng tôi cần gì.

Chúng bay sát mạn phải của con tàu, nhẹ nhàng đi xuyên qua đường rẽ nước khổng lồ của nó, và dừng lại kế bên chiếc thang được gắn cố định ở một bên thân tàu.

"Cậu lên trước đi!"

Tôi giục Annabeth.

Cô ấy đeo chiếc túi vải trên vai và chộp vội lấy thanh ngang bên dưới của chiếc thang.

Khi cô ấy đã nhấc được người lên trên cái thang, con ngựa biển mà cô ấy cưỡi đã hí vang tạm biệt và lặn xuống mặt nước.

Annabeth bắt đầu trèo.

Tôi chờ cô ấy trèo lên trên được vài bậc liền theo sát.

Cuối cùng chỉ còn Tyson đang ở dưới nước.

Con ngựa biển của cậu ấy đang thực hiện những cú xoay trên không một vòng ba trăm sáu mươi độ và cú nhảy giật lùi.

Tyson đang cười đầy vui vẻ, tiếng cười vang cả một mạng tàu.

Tôi giục giã: "Tyson, suỵt!

Đi nào, anh bạn to lớn!"

"Chúng ta không thể mang Cầu Vồng theo sao?"

Cậu ấy hỏi, nụ cười mất dần.

Tôi nhìn cậu ấy chằm chằm: "Cầu Vồng ư?"

Con ngựa biển hí vang như thể nó thích cái tên mới của mình.

"Ừm, chúng ta phải đi thôi!

Cầu Vồng...

ừm, nó không thể trèo cầu thang được."

Tôi nói.

Tyson sụt sịt.

Cậu ấy giấu mặt trong bộ bờm ngựa: "Tao sẽ nhớ mày lắm, Cầu Vồng à!"

Con ngựa biển hí lên một tiếng mà tôi có thể thề đó là tiếng khóc của nó.

"Có lẽ sau này chúng ta sẽ gặp lại nó."

Tôi gợi ý.

Tyson nói và phấn khởi ngay lập tức: "Ôi, xin cậu đấy!

Ngày mai!"

Tôi không đưa ra lời hứa hẹn gì cả nhưng cuối cùng tôi cũng thuyết phục được Tyson nói lời từ giã với con ngựa và nắm lấy cái thang.

Với một tiếng hí buồn rầu cuối cùng, con ngựa Cầu Vồng thực hiện một cú lộn ngược và lao vụt xuống mặt biển.

Cái thang dẫn tới tầng bảo dưỡng chứa đầy những chiếc thuyền cứu sinh màu vàng.

Có cửa hai cánh bị khóa mà Annabeth đang thử mở bằng con dao của mình và một số lời nguyền rủa bằng tiếng Hy Lạp cổ.

Tôi đoán chúng tôi phải lén lút đi vòng quanh, trở thành những kẻ đi lậu vé.

Nhưng sau khi kiểm tra vài hành lang và nhìn chăm chú từ một ban công vào boong tàu dạo mát khổng lồ ở khu vực trung tâm với các cửa tiệm đóng kín, tôi nhận ra rằng trên tàu không có ai để chúng tôi phải lẩn trốn.

Ý tôi là, hẳn bây giờ đang là nửa đêm và chúng tôi đi được nửa chiều dài con tàu và chẳng gặp một ai.

Chúng tôi băng qua bốn mươi hoặc năm mươi cánh cửa của các buồng trên tàu và không hề nghe thấy bất kỳ tiếng động gì đằng sau chúng.

Tôi thì thầm: "Đây là con tàu ma!"

"Không phải!

Mùi rất tệ!"

Tyson cãi và nghịch vớ vẩn với vai chiếc túi của cậu ấy.

Annabeth cau mày: "Tớ chả ngửi thấy mùi gì cả."

"Cyclops cũng như các thần rừng ấy.

Họ có thể ngửi thấy mùi quái vật.

Đúng không, Tyson?"

Tôi giải thích.

Cậu ấy gật đầu đầy lo lắng.

Bây giờ, chúng tôi đã ra khỏi Trại Con Lai và Màn Sương Mù lại bóp méo gương mặt cậu ấy.

Trừ phi tôi phải rất tập trung, nếu không thì dường như cậu ấy đã có hai mắt, thay cho một mắt.

"Được rồi.

Vậy chính xác là cậu ngửi thấy mùi gì?"

Annabeth hỏi.

"Thứ gì đó rất tệ!"

Tyson đáp.

"Tuyệt!

Nó làm sáng tỏ nhiều điều đấy!"

Annabeth cằn nhằn.

Chúng tôi ra ngoài về phía khu bể bơi.

Có rất nhiều dãy ghế xếp trống và một quán bar được đóng bởi một tấm màn làm bằng xích.

Nước trong bể rực sáng một cách kỳ lạ, chuyển động lên xuống theo chuyển động của con tàu.

Ở phía trên bọn tôi, suốt chiều con tàu là một bức tường tập leo núi trong nhà, một sân golf pitch-and-putt[2], một nhà hàng xoay nhưng nó không hề có bất cứ dấu hiệu nào của sự sống.

[2] Một sân golf thu nhỏ được thiết kế chủ yếu cho việc đánh từ đường lăn đến thảm cỏ và đánh vào lỗ.

Và giờ... tôi lại cảm nhận được điều gì đó quen thuộc.

Một điều gì đó rất nguy hiểm.

Tôi có cảm giác rằng nếu tôi không quá mệt và đã đốt cháy hết chất adrenaline trong suốt đêm dài, tôi có thể đặt tên cho mối nguy hiểm đó là gì.

Tôi nói: "Chúng ta cần một nơi để trốn.

Nơi nào đó an toàn để ngủ."

"Ngủ."

Annabeth mệt mỏi đồng ý.

Chúng tôi thăm dò thêm một vài hành lang cho tới khi tìm được một buồng trống ở tầng chín.

Cánh cửa mở sẵn khiến tôi thấy khó hiểu.

Trên bàn để sẵn một giỏ bánh kẹo sôcôla, một chai rượu táo ướp lạnh được đặt trên bàn đầu giường và một nhánh bạc hà trên gối kèm theo một tờ giấy viết tay có dòng chữ: "Hãy tận hưởng chuyến du hành của các bạn!"

Chúng tôi mở túi du lịch ra trước và nhận ra rằng thần Hermes đã thực sự suy nghĩ hết mọi việc – quần áo để thay, các vật dụng dùng khi tắm rửa, khẩu phần ăn của trại, một túi đầy tiền mặt, một bao da nhỏ đầy những đồng tiền vàng.

Thậm chí thần Hermes còn bỏ vào cho Tyson chiếc túi chứa tấm vải dầu đựng các dụng cụ và những mảnh kim loại của cậu ấy và chiếc mũ tàng hình cho Annabeth, điều đó giúp họ thấy dễ chịu hơn.

Annabeth nói: "Tớ sẽ ở ngay kế bên.

Đám các cậu đừng ăn uống bất cứ thứ gì nhé!"

"Cậu nghĩ rằng nơi này bị bỏ bùa sao?"

Cô ấy cau mày: "Tớ không biết.

Có thứ gì đó không ổn.

Chỉ là... nên cẩn thận."

Chúng tôi khóa cửa lại.

Tyson đổ sầm xuống đi-văng.

Cậu ấy ngó ngoáy một vài phút với mô hình kim loại của mình - thứ mà cậu ấy vẫn chưa muốn cho tôi xem - nhưng chẳng mấy chốc, cậu ấy đã ngáp ngắn ngáp dài.

Tyson gói túi dầu lại và ngủ say như chết.

Tôi nằm trên giường và nhìn ra ô cửa sổ.

Tôi nghĩ mình vừa nghe thấy tiếng động gì đó ở hành lang, giống như tiếng ai đó thì thầm.

Tôi biết điều này là không thể.

Chúng tôi đã đi khắp con tàu và không hề thấy ai.

Nhưng những âm thanh này khiến tôi hoàn toàn tỉnh táo.

Chúng nhắc tôi về chuyến đi xuống Âm Phủ - cách các linh hồn đã chết phát ra tiếng khi họ bị cuốn đi.

Cuối cùng cơn mệt mỏi cũng chiến thắng.

Tôi ngủ thiếp đi... và mơ một giấc mơ tồi tệ nhất chưa từng có.

Tôi đang đứng ở gờ của một chiếc hố khổng lồ trong một hang động.

Tôi biết rất rõ chỗ này.

Đường vào Tartarus.

Và tôi nhận ra tiếng cười lạnh lẽo vọng lên từ bóng tối bên dưới.

Giọng nói như một lưỡi dao bén cứa qua cứa lại trên phiến đá: "Đây chẳng phải là người anh hùng trẻ tuổi đang trên đường tới một chiến thắng vĩ đại khác sao."

Tôi muốn gào lên với Kronos rằng hãy để tôi được yên.

Tôi muốn rút cây Thủy Triều và hạ gục ông ta.

Nhưng tôi không thể nhúc nhích.

Và thậm chí tôi có thể chăng nữa, làm thế nào tôi có thể giết được thứ đã bị phá hủy – bị cắt thành nhiều mảnh và bị ném vào bóng đêm vĩnh viễn không?

Thần khổng lồ Titan nói: "Đừng để ta chặn ngươi lại!

Có thể lần này, khi ngươi bị thất bại, ngươi sẽ muốn biết liệu việc làm nô lệ cho các vị thần có đáng không.

Chính xác thì gần đây cha ngươi đã thể hiện sự cảm kích đó như thế nào?"

Tiếng cười của ông vang khắp hang, và khung cảnh biến đổi.

Đây là một cái hang khác – phòng ngủ ngục tù của Grover nằm trong hang của người Cyclops.

Grover đang ngồi chỗ khung cửi trong bộ đầm cưới dính đầy bùn đất, điên cuồng tháo gỡ những đường chỉ của phần đuôi chiếc đầm cưới chưa hoàn tất.

"Bánh mật ong của anh ơi!"

Con quái vật gào lên từ phía sau tảng đá.

Grover kêu ầm lên và bắt đầu dệt lại các đường chỉ.

Căn phòng rung dữ dội khi tảng đá được đẩy sang một bên.

Hiện ra lờ mờ trên lối ra là một Cyclops to lớn tới mức Tyson cũng chẳng bõ bèn gì.

Hắn có bộ răng vàng khè lởm chởm, đôi tay xương xẩu to bằng cả người tôi.

Hắn mặc chiếc áo phông màu đỏ tía đã bạc màu có dòng chữ "TRIỂN LÃM CỪU THẾ GIỚI 2001".

Hắn phải cao tới ít nhất năm mét.

Nhưng thứ khiến người ta phải sửng sốt lại chính là con mắt khổng lồ màu trắng đục, bị sẹo và phủ một lớp màng bên ngoài như chứng đục nhãn mắt.

Nếu hắn không hoàn toàn bị mù, ắt hẳn hắn sẽ nhìn tốt ở cự ly gần.

"Cưng đang làm gì thế?"

Con quái vật cất tiếng.

Grover đáp bằng giọng the thé: "Chả làm gì!

Như anh thấy đấy, chỉ đang dệt cái đuôi chiếc đầm cưới thôi."

Gã Cyclops thọc một tay vào căn phòng và sờ soạng tìm xung quanh cho đến khi hắn tìm được khung cửi.

Hắn mân mê chỗ vải.

"Chẳng dài hơn tí nào cả!"

"Ôi không, có chứ, anh yêu!

Có nhìn thấy không?

Em đã may thêm được ít nhất ba cen-ti-mét rồi đấy!"

"Quá nhiều sự trì hoãn!"

Con quái vật kêu rống lên.

Rồi hắn ngửi ngửi trong không khí.

"Mùi của cưng thật tuyệt!

Y như lũ dê vậy!"

"Ồ!

Anh có thích không?

Đó là loại nước hoa mùi dê đấy.

Em dùng nó chỉ vì anh thôi."

Grover gắng cười khúc khích đầy yếu ớt.

Gã Cyclops nói, phô cả hàm răng nhọn ra: "Ừm!

Đủ ngon để xơi đấy!"

"Ôi, anh thật biết đùa!"

"Không được trì hoãn nữa!"

"Nhưng cưng ơi, em vẫn chưa làm xong mà!"

"Ngày mai!"

"Không, không!

Mất thêm mười ngày nữa cơ."

"Năm ngày!"

"Ôi thôi, được rồi, bảy ngày nhé!

Nếu anh cứ khăng khăng như thế!"

"Bảy ít hơn năm phải không?"

"Tất nhiên rồi!

Đúng vậy!"

Con quái vật cằn nhằn, vẫn không chịu hài lòng với thỏa thuận của hắn.

Nhưng rồi hắn cũng chịu để Grover ở lại với đồ đang làm dở và lăn tảng đá lại chỗ cũ.

Grover nhắm chặt mắt và run run thở, cố gắng giữ cho mình được bình tĩnh.

Cậu ấy nói thầm: "Nhanh kên, Percy!

Xin cậu đấy, xin cậu đấy!

Xin cậu!"

Tôi tỉnh dậy bởi tiếng còi tàu và một giọng nói được phát ra từ hệ thống liên lạc – mấy gã nào đó với giọng Úc nghe rất hạnh phúc: "Chào buổi sáng, thưa các quý khách!

Chúng ta sẽ ở trên biển cả ngày hôm nay.

Thời tiết thật tuyệt vời cho bữa tiệc mambo cạnh bể bơi.

Đừng quên trò bingo trị giá triệu đôla trong Sảnh Kraken vào lúc một giờ.

Và đối với những vị khách đặc biệt của chúng ta, hãy thực tập trò mổ bụng ở Promenade!"

Tôi ngồi bật dậy trên giường: "Anh ta nói gì thế nhỉ?"

Tyson lầm bầm, nửa thức nửa tỉnh.

Cậu ấy úp mặt xuống đi-văng.

Chân cậu ấy dài đến nỗi được đặt trong phòng tắm.

"Người đàn ông hạnh phúc nói... thực tập chơi bowling phải không?"

Tôi hy vọng cậu ấy nói đúng.

Nhưng tiếp theo đó là tiếng gõ cửa gấp gáp từ cánh cửa nội bộ trong căn buồng lớn này.

Annabeth thò đầu vào... mái tóc vàng của cô ấy như cái ổ chuột.

"Có phải anh ta mới nói thực hành mổ bụng không?"

Sau khi ăn bận chỉnh tề, chúng tôi liều mạng đi ra ngoài và kinh ngạc khi nhìn thấy có rất nhiều người.

Một tá hành khách là những người về hưu đang tiến đến khu vực phục vụ ăn sáng.

Một ông bố đang dẫn lũ con ra bể bơi để bơi buổi sáng.

Các thủy thủ trong bộ đồng phục trắng bảnh bao đang dạo quanh boong tàu, nghiêng mũ chào hành khách.

Không ai hỏi chúng tôi là ai.

Không ai chú ý đến chúng tôi.

Nhưng có điều gì đó thực sự bất ổn.

Khi cả gia đình đi bơi đi ngang qua chúng tôi, ông bố nói với các con rằng: "Chúng ta đang ở trên tàu.

Sẽ vui lắm đấy."

"Vâng!

Chúng ta có một vụ nổ.

Chúng ta sẽ bơi trong bể."

Ba đứa con đều nhất trí, nhưng biểu hiện của chúng lại trống rỗng.

Họ thơ thẩn rời đi.

Một thủy thủ cất tiếng với chúng tôi, mắt anh ta trông thật đờ đẫn: "Chào buổi sáng!

Tất cả chúng ta đều đang tận hưởng chuyến đi này trên con tàu Công chúa Andromeda.

Chúc một ngày vui vẻ!"

Anh ta bỏ đi.

Annabeth thì thầm: "Percy này, ở đây kỳ quặc quá!

Tất cả bọn họ đều như đang bị hôn mê ấy."

Khi đi ngang qua một quán ăn tự phục vụ và nhìn thấy con quái vật đầu tiên của chúng tôi.

Đó là một con chó ngao – giống chó lớn tai cụp màu đen với những chiếc móng trước đặt trên quầy và mũi thì vùi vào món trứng bác[3].

Hẳn con chó này còn rất trẻ vì nó quá nhỏ so với con lớn nhất – không lớn hơn một con gấu xám Bắc Mỹ.

Mặc dù vậy, máu trong người tôi đông cứng.

Tôi từng suýt bị giết chết bởi một con như vậy trước đây.

[3] Trứng bác (scrambled eggs) hay còn gọi là trứng vụn, trứng chưng, trứng khuấy là một món ăn được làm từ trứng được khuấy hoặc đánh với nhau trong chảo và được làm nóng nhẹ, thường có muối, bơ và đôi khi các thành phần khác.

Điều kỳ lạ là có một đôi trung niên đang đứng xếp hàng ở quầy giải khát, ngay phía sau con chó hung ác đó, kiên nhẫn chờ đến lượt mình.

Họ dường như không hề chú ý tới bất cứ những điều khác thường khác.

Tyson lẩm bẩm: "Không đói nữa."

Trước khi Annabeth và tôi đáp lại, giọng nói của loài bò sát từ bên dưới hành lang vọng tới: "Đã có hơn s-s-sáu người nữa gia nhập ngày hôm qua."

Annabeth điên cuồng ra hiệu về phía chỗ trốn gần nhất - phòng vệ sinh nữ - và cả ba chúng tôi chui tọt vào trong đó.

Tôi đã quá sợ tới mức thậm chí không kịp nghĩ tới chuyện xấu hổ.

Có cái gì đó – hoặc nhiều hơn như thể hai thứ gì đó – trườn ngang qua cửa phòng vệ sinh, tạo nên những âm thanh như tiếng giấy nhám được chà trên thảm.

Giọng nói của loài bò sát thứ hai vang lên: "Đúng th-ê-ế.

Ông ta lôi kéo họ.

Và ch-ch-ch-ẳng mấy chốc, chúng ta sẽ trở nên m-m-mạnh hơn."

Chúng bò vào quán ăn tự phục vụ với tiếng xì xì lạnh lẽo như thể tiếng cười của loài rắn.

Annabeth nhìn tôi: "Chúng ta phải ra khỏi đây thôi!"

"Thế cậu nghĩ là tớ muốn ở phòng vệ sinh nữ lắm hay sao?"

"Ý tớ là con tàu này, Percy!

Chúng ta phải rời khỏi con tàu này thôi!"

Tyson đồng ý: "Mùi rất tệ!

Và con chó ăn tất cả các quả trứng.

Annabeth nói đúng.

Chúng ta phải ra khỏi phòng vệ sinh và rời khỏi con tàu này!"

Tôi run bắn lên.

Nếu Annabeth và Tyson thực sự nhất trí với nhau về chuyện gì đó, tôi cho rằng tốt hơn hết là tôi nên lắng nghe.

Tiếp theo tôi nghe một tiếng nói khác bên ngoài – nó làm tôi ớn lạnh hơn nhiều so với bất kỳ con quái vật nào.

"... chỉ là vấn đề thời gian thôi.

Đừng có thúc ép tao, Agrius!"

Đó là Luke, không còn nghi ngờ gì nữa.

Tôi không bao giờ quên được giọng hắn ta.

Một giọng đàn ông khác gầm gừ.

Tiếng của hắn trầm hơn và thậm chí còn giận dữ hơn cả tiếng của Luke: "Tao không hề thúc ép mày!

Tao chỉ nói là, nếu trò chơi này không thể trả thù được..."

Luke búng ngón tay: "Dĩ nhiên là được!

Chúng sẽ mắc câu.

Giờ thì đi nào, chúng ta phải tới phòng đô đốc và kiểm tra cái quan tài!"

Giọng chúng xa dần về phía cuối hành lang.

Tyson thút thít: "Đi bây giờ chưa?"

Annabeth và tôi nhìn nhau và ngầm thỏa thuận.

"Chúng ta không đi được!"

Tôi nói với Tyson.

Annabeth nhất trí với tôi: "Chúng ta phải khám phá ra Luke đang làm gì.

Và nếu có thể, chúng ta sẽ đánh anh ấy, xích anh ấy lại và lôi anh ấy lên đỉnh Olympus."
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 9: Tôi có cuộc đoàn tụ gia đình tồi tệ nhất


Annabeth tình nguyện đi một mình vì cô ấy có chiếc mũ tàng hình, nhưng tôi thuyết phục cô ấy rằng như vậy cũng quá nguy hiểm.

Hoặc là tất cả chúng tôi cùng đi, hoặc chẳng ai đi cả.

"Không ai đi cả!

Làm ơn đi!"

Tyson nhất trí.

Nhưng cuối cùng cậu ấy cũng đi theo, bồn chồn gặm những chiếc móng tay khổng lồ của mình.

Chúng tôi dừng lại trong buồng tàu đủ lâu để gói ghém đồ.

Chúng tôi tính rằng dù chuyện gì xảy ra đi nữa, chúng tôi cũng sẽ không ở đây thêm một đêm nào nữa trên con tàu du lịch đầy thây ma này.

Thậm chí dẫu họ có chơi trò bingo trị giá triệu đô đi chăng nữa.

Tôi chắc rằng thanh Thủy Triều ở trong túi áo tôi và những viên vitamin, cái chai do thần Hermes trao tặng vẫn nằm trên cùng trong chiếc túi của tôi.

Tôi không muốn Tyson mang tất cả mọi thứ nhưng cậu ấy cứ khăng khăng muốn làm điều đó, và Annabeth khuyên tôi không nên lo lắng về chuyện này.

Tyson có thể vác trên vai vài ba chiếc túi đầy một cách nhẹ nhàng như tôi đeo ba lô vậy.

Chúng tôi rón rén băng qua hành lang, theo các tấm bảng hiệu "CÁC BẠN ĐÃ Ở ĐÂY" của con tàu hướng tới phòng đô đốc.

Annabeth vô hình nên sẽ đi trước do thám.

Chúng tôi trốn mỗi khi có ai đó đi ngang qua, nhưng hầu hết những người mà chúng tôi nhìn thấy là những hành khách xác ướp với những con mắt đờ đẫn vô hồn.

Khi chúng tôi đến cầu thang để lên lầu mười ba - nơi được cho là phòng của đô đốc - Annabeth vội xuỵt.

"Trốn đi!"

Và đẩy chúng tôi vào một kho dự trữ.

Tôi nghe thấy tiếng hai người đàn ông đang đi xuống sảnh.

"Mày có nhìn thấy con rồng Aethiopian đó trong toa hàng không?"

Một đứa cất tiếng hỏi.

Gã còn lại cười phá lên: "Ừ, thật khiếp!"

Annabeth vẫn đang tàng hình nhưng cô ấy nắm chặt lấy cánh tay tôi.

Tôi có cảm giác mình khá quen với giọng nói của gã thứ hai.

Giọng nói quen thuộc này vẫn tiếp tục: "Tao nghe nói sẽ có thêm hai con nữa được đưa tới đấy.

Chúng vẫn tiếp tục được gửi đến.

Ôi trời, không tranh luận nữa!"

Tiếng trò chuyện khuất dần phía cuối hành lang.

Annabeth nhấc chiếc mũ ra và trở lại nguyên hình.

"Đó là Chris Rodriguez!

Cậu có nhớ không?

Người ở khu Nhà Số Mười Một ấy."

Tôi phần nào nhớ lại về Chris từ hè năm ngoái.

Cậu ấy là một trong số trại viên chưa được xác định thân thế - người mắc lại trong khu nhà của thần Hermes vì ông bố hoặc bà mẹ thần thánh của cậu ấy trên đỉnh Olympus chưa bao giờ chịu thừa nhận cậu.

Và giờ đây khi nghĩ lại chuyện này, tôi nhận ra chính mình chưa nhìn thấy Chris ở trại vào mùa hè này.

"Vậy một người con lai khác làm gì ở đây thế nhỉ?"

Annabeth lắc đầu, cố làm rõ ràng mọi việc.

Chúng tôi vẫn tiếp tục đi xuôi xuống hành lang.

Tôi chả cần dùng bản đồ một chút nào cũng đủ biết rằng mình đang tiến tới gần Luke.

Tôi nhận thấy có cái gì đó rất lạnh lẽo và không thoải mái - đó chính là sự có mặt của cái xấu.

Annabeth đột ngột dừng lại và nói: "Percy!

Nhìn kìa!"

Cô ấy đứng trước một bức tường kính, nhìn xuống khoảng trống nhiều tầng chạy khắp một nửa con tàu.

Ở tận cùng là Promenade - một khu trung tâm mua sắm với nhiều cửa tiệm - nhưng đó không phải là điều khiến Annabeth chú ý.

Một nhóm người quái vật tụ tập phía trước cửa hàng kẹo: hơn mười đứa khổng lồ Laistrygonian giống như bọn đã từng tấn công tôi với những quả bóng lửa, hai con chó ngao và một số sinh vật thậm chí còn lạ lùng hơn – những người phụ nữ có hình dáng như con người với những cái đuôi rắn kép được thay thế cho những đôi chân.

Annabeth thì thầm: "Scythian Dracaenae[1] đấy!

Những người phụ nữ rồng."

[1] Là người cai trị đầu tiên của vùng đất Skythia (hiện là Ukraine), với phần thân trên là hình dáng của một phụ nữ, phần dưới là hai cái đuôi rắn thay thế cho đôi chân, đôi mắt vàng, làn da vảy có màu xanh lá cây.

Khi Hercules đi ngang qua vương quốc của bà ta để đến lâu đài Geryon, bà ta đã ăn trộm một vài con vật nuôi và ngựa của người anh hùng.

Sau đó bà ta khăng khăng bắt Hercules phải ngủ với mình thì bà ta mới chịu trả chúng lại.

Những con quái vật ngồi thành hình bán nguyệt quanh một gã trai mặc áo giáp Hy Lạp – người đang chém mạnh vào bù nhìn bằng rơm.

Cổ họng tôi nghẹn tắc lại khi nhận ra hình nộm đó đang mặc chiếc áo phông màu da cam của Trại Con Lai.

Khi chúng tôi đang xem, gã mặc áo giáp đâm xuyên qua bụng con bù nhìn và xé toạc nó ra.

Rơm bay lung tung khắp nơi.

Lũ quái vật hò hét cổ vũ ầm trời.

Annabeth bước ra xa khỏi cửa sổ.

Mặt cô ấy xám ngoét.

"Đi thôi!

Chúng ta cần tìm được Luke càng sớm càng tốt."

Tôi nói với cô ấy, cố để giọng can đảm hơn tôi cảm thấy.

Tận cùng hành lang là chiếc cửa hai cánh bằng gỗ sồi, như thể chúng sẽ dẫn tới nơi nào đó quan trọng.

Khi chúng tôi chỉ còn cách chúng mười mét, Tyson dừng lại, cảnh báo: "Có tiếng bên trong."

"Cậu có thể nghe được xa thế à?"

Tôi ngạc nhiên hỏi.

Tyson nhắm mắt lại như thể đang cố gắng tập trung.

Rồi tiếp đó giọng cậu ấy thay đổi, trở nên khàn khàn giống như giọng của Luke: "...

Lời Sấm Truyền của chúng ta.

Lũ ngu đó sẽ không biết đường nào mà lần đâu."

Trước khi tôi có thể phản ứng lại, giọng của Tyson lại thay đổi lần nữa, trở nên trầm và cộc cằn hơn, giống như giọng gã đàn ông mà chúng tôi đã nghe thấy khi hắn nói với Luke bên ngoài quán ăn tự phục vụ: "Mày có thực sự nghĩ rằng lão ngựa già đó đi thì tốt hơn không?"

Tyson cười tiếng cười của Luke: "Chúng không thể tin ông ta nữa rồi.

Không phải với những bộ xương trong tủ của hắn.

Việc đầu độc cái cây là giọt nước làm tràn ly."

Annabeth rùng mình sợ hãi: "Dừng ngay lại, Tyson!

Sao cậu lại có thể làm thế được?

Thật sởn gai ốc!"

Tyson mở mắt ra và nom thật bối rối: "Tớ chỉ đang nghe thôi."

"Cứ tiếp tục đi!

Chúng còn nói gì nữa?"

Tôi bảo.

Tyson nhắm mắt lại.

Cậu ấy rít lên giận dữ bằng giọng của gã đàn ông cục cằn kia: "Yên lặng nào!"

Rồi tiếng của Luke thì thầm: "Mày chắc chứ?"

"Đúng thế!

Ngay bên ngoài!"

Tyson trả lời bằng giọng cộc cằn.

Quá muộn rồi.

Tôi đã nhận ra điều gì đang xảy ra.

Tôi chỉ có thời gian để thét lên, "Chạy!" khi cánh cửa phòng bật mở.

Và Luke với bên cạnh là hai gã khổng lồ rậm lông được trang bị vũ khí bằng những ngọn lao, chóp lao bằng đồng của chúng đã ấn đúng ngực chúng tôi.

Luke nói với nụ cười xảo quyệt: "Nào nào!

Đây không phải là hai người họ hàng yêu thích của ta sao.

Vào đây đi!"

Căn phòng rất đẹp nhưng cũng rất kinh khủng.

Phần đẹp đẽ ở chỗ: những chiếc cửa sổ lớn được uốn cong dọc theo bức tường phía sau, nhìn ra được ngoài phía đuôi tàu.

Một tấm thảm Ba Tư được trải trên sàn.

Hai chiếc ghế sofa bọc nhung choán đúng phần chính giữa căn phòng.

Một chiếc giường có màn trướng ở một góc phòng và chiếc bàn ăn bằng gỗ dái ngựa ở góc còn lại.

Trên bàn bày ê hề thức ăn: các hộp bánh pizza, các chai soda, rất nhiều bánh kẹp sandwich thịt bò nướng trên một chiếc đĩa bạc.

Phần kinh khủng là: trên một cái bục bằng nhung đặt cuối căn phòng có đặt một chiếc quan tài bằng vàng dài ba mét.

Một chiếc quách được chạm trổ các hình ảnh của các thành phố Hy Lạp cổ trong lửa và những người anh hùng giãy giụa trong cái chết rùng rợn.

Bất chấp ánh mặt trời xuyên qua các ô cửa sổ, chiếc quan tài khiến cả căn phòng thấy rất lạnh lẽo.

Luke nói, giang rộng hai tay đầy tự hào: "Nào!

Đẹp hơn khu trại Số Mười Một phải không?"

Anh ấy đã thay đổi kể từ hè năm ngoái.

Thay cho áo phông và quần soóc Bermuda, Luke mặc áo sơ mi cài nút, quần kaki và giày lưới bằng da.

Mái tóc hung của anh ấy vốn đã được cho là quá ngỗ ngược, giờ đây lại còn ngắn hơn nữa.

Nom anh ấy giống như một người mẫu nam xấu xa, phô bày cái mà các thằng nhóc tinh quái thời thượng đang mặc tới trường Harvard vào hè này.

Luke vẫn còn vết sẹo dưới mắt – một đường trắng lởm chởm từ trận chiến của anh ấy với một con rồng.

Và dựng kế cái ghế sofa là thanh kiếm phép thuật của anh ấy – Backbiter.

Nó tỏa sáng quái dị với lưỡi kiếm nửa thép, nửa đồng Celestial có thể giết được cả con người lẫn quái vật.

"Ngồi đi!"

Anh ấy nói với chúng tôi và phẩy tay một cái, ba chiếc ghế ăn đã tự bày ra giữa phòng.

Không ai trong chúng tôi chịu ngồi cả.

Những người bạn lớn của Luke vẫn chĩa những ngọn lao về phía chúng tôi.

Trông chúng như sinh đôi, nhưng không phải là người.

Chúng đứng phải cao tới hai mét rưỡi và chỉ mặc quần jeans màu xanh, chắc là do bộ ngực to lớn của chúng được phủ một lớp lông nâu dày.

Những ngón tay được thay bằng móng vuốt, bàn chân giống như chân thú.

Mũi chúng giống với mũi của động vật, răng của chúng là những chiếc răng nanh nhọn hoắt.

Luke nói bằng giọng trơn tuột: "Phép lịch sự của ta đâu rồi nhỉ?

Đây là các trợ lý của ta, Agrius và Oreius.

Có lẽ các ngươi đã nghe nói về chúng."

Tôi im lặng.

Ngoại trừ những ngọn lao chọc vào người, hai gã sinh đôi như gấu đó cũng không khiến tôi sợ hãi.

Tôi đã tưởng tượng cảnh gặp lại Luke rất nhiều lần kể từ khi anh ấy cố giết tôi vào hè năm ngoái.

Tôi đã hình dung hình ảnh chính mình dũng cảm đương đầu với anh ấy, thách thức anh ấy cùng đấu tay đôi.

Nhưng giờ đây khi mặt đối mặt, tôi chỉ có thể vừa ngăn cho tay mình không bị run rẩy.

Luke hỏi: "Các ngươi không biết câu chuyện về Agrius và Oreius sao?

Mẹ chúng...

ừm, chuyện này thực sự rất buồn.

Nữ thần Aphrodite hạ lệnh cho người phụ nữ trẻ đó phải yêu.

Cô ấy đã từ chối và chạy tới nữ thần Artemis nhờ giúp đỡ.

Nữ thần Artemis đã để cô trở thành một trong số thợ săn đồng trinh của mình.

Nhưng nữ thần Aphrodite đã trả thù bằng cách bỏ bùa mê khiến cho cô ấy yêu một con gấu.

Khi thần Artemis phát hiện ra, bà đã ruồng bỏ cô gái trong cơn phẫn nộ.

Đó là tính cách tiêu biểu của các vị thần, các ngươi sẽ nói thế phải không?

Họ chống lại nhau và những con người đáng thương bị kẹt ở giữa.

Đây là hai đứa con trai song sinh của cô ấy, Agrius và Oreius, đều không yêu quý gì đỉnh Olympus.

Chúng cũng đủ yêu quý những đứa con lai, mặc dù..."

"Cho bữa trưa."

Agrius lầm bầm.

Cái giọng cộc lốc của hắn chính là giọng tôi đã nghe khi hắn nói chuyện với Luke trước đây.

"Hehe!

Hehe!"

Người anh em song sinh của hắn là Oreius cười phá lên và liếm môi.

Hắn vẫn tiếp tục cười như thể đang mắc chứng hen suyễn cho tới khi cả Luke và Agrius đều nhìn hắn.

"Im đi, đồ ngu!

Hãy tự phạt mình đi!"

Agrius cằn nhằn.

Oreius thút thít.

Hắn chậm chạp đi về phía góc căn phòng, ngồi sụp xuống một cái ghế đẩu, đập mạnh trán xuống bàn ăn, khiến cho những chiếc đĩa bạc kêu lanh canh.

Luke phản ứng như thể đó là một cách cư xử hết sức bình thường.

Anh ấy hoàn toàn duỗi người trên ghế sofa và gác thẳng chân lên mặt bàn cà phê.

"Nào, Percy!

Chúng ta sẽ để ngươi sống sót thêm một năm nữa.

Ta hy vọng ngươi sẽ lấy làm vui mừng vì điều đó.

Mẹ ngươi sao rồi?

Trường học thế nào?"

"Anh đã đầu độc cây của Thalia phải không?"

Luke thở dài: "Ờ, đi thẳng vào vấn đề à?

Được rồi, đúng là ta đã đầu độc cái cây đó.

Vậy thì sao nào?"

"Sao anh lại làm thế?

Thalia đã cứu sống anh!

Cứu sống chúng ta.

Sao anh lại có thể làm ô danh cô ấy..."

Giọng Annabeth đầy giận dữ tới mức tôi cũng nghĩ rằng cô ấy sẽ nổ tung mất.

Luke ngắt lời cô ấy: "Anh không làm ô danh cô ấy!

Chính các vị thần mới làm điều đó, Annabeth à!

Nếu Thalia còn sống, cô ấy sẽ đứng về phía anh."

"Nói láo!"

"Nếu em biết điều gì sắp xảy ra, em sẽ hiểu..."

Cô ấy hét lên: "Em hiểu là anh muốn phá hoại trại!

Anh là một con quái vật!"

Luke lắc đầu: "Các thần đã làm em mù quáng rồi.

Em không thể tưởng tượng ra một thế giới mà không có họ sao, Annabeth?

Điều gì hay ho từ những câu chuyện lịch sử cổ xưa mà em học?

Ba ngàn năm vô tích sự.

Phương tây đã thối nát tới tận xương tủy.

Nó cần bị phá hủy.

Hãy đi theo anh!

Chúng ta có thể bắt đầu một thế giới mới.

Chúng ta có thể sử dụng trí thông minh của em, Annabeth."

"Chính vì anh không có một chút thông minh nào cả!"

Mắt anh ta nheo hết lại.

"Anh biết em mà, Annabeth.

Em xứng đáng được hưởng những thứ tốt hơn chuyện rong ruổi trong một vài cuộc tìm kiếm vô vọng để cứu trại.

Trong vòng một tháng, Trại Con Lai sẽ bị lũ quái vật tàn phá.

Những anh hùng còn sống sót sẽ không có lựa chọn mà phải gia nhập cùng bọn anh, hoặc sẽ bị săn lùng tiêu diệt bằng sạch.

Chẳng lẽ em muốn đi theo phe thua cuộc với... với lũ này sao?"

Luke chỉ vào Tyson.

"Này!"

Tôi quát lên.

Luke khiển trách: "Đi cùng với một Cyclops cơ đấy.

Lại còn nói về chuyện làm ô danh ký ức về Thalia nữa cơ đấy.

Anh lấy làm kinh ngạc về em đấy, Annabeth à!

So với tất cả mọi người, em..."

"Im ngay!"

Cô ấy hét lên.

Tôi không biết Luke đang nói về chuyện gì nhưng Annabeth đã ôm chặt đầu như sắp khóc.

Tôi nói: "Để cô ấy được yên!

Và đừng kéo Tyson vào chuyện này!"

Luke phá lên cười: "Ồ, đúng rồi.

Ta nghe nói cha cậu đã thừa nhận hắn."

Trông tôi hẳn kinh ngạc lắm vì Luke vẫn mỉm cười.

"Đúng thế, Percy.

Ta biết tất cả mọi chuyện.

Cả kế hoạch đi tìm Bộ Lông Cừu Vàng của cậu nữa.

Mấy tọa độ đó là gì nhỉ...

Ba mươi-ba mốt-bảy lăm-mười hai phải không?

Cậu thấy chưa, ta vẫn còn bạn bè ở trại thông tin cho ta."

"Ý anh là gián điệp"

Anh ấy nhún vai: "Có bao nhiêu lời sỉ nhục từ cha cậu mà cậu có thể chịu đựng được, hả Percy?

Cậu nghĩ rằng ông ấy biết ơn cậu sao?

Cậu nghĩ rằng thần Poseidon quan tâm tới cậu nhiều hơn sự quan tâm của ông ta dành cho con quái vật này không?"

Tyson siết chặt nắm đấm và bắt đầu gầm gừ trong họng.

Luke chỉ cười khúc khích: "Lũ thần đó đang quá lợi dụng cậu thôi, Percy à!

Cậu có ý tưởng gì về điều dành cho cậu trong tương lai vào thời điểm sinh nhật mười sáu tuổi của mình không?

Chiron vẫn chưa nói cho cậu về Lời Sấm Truyền sao?"

Tôi như muốn đấm vào mặt Luke và bắt anh ấy câm đi.

Nhưng như thường lệ, anh ấy biết cách làm cho tôi bối rối.

Sinh nhật mười sáu tuổi sao?

Ý tôi là, tôi biết bác Chiron đã nhận được Lời Sấm Truyền từ Nhà Tiên Tri đã nhiều năm rồi.

Tôi biết một phần của Lời Sấm Truyền là về tôi.

Nhưng nếu tôi tới sinh nhật mười sáu tuổi thì sao?

Tôi không thích cái giọng như vậy.

Tôi kiềm chế: "Tôi biết điều mà tôi cần biết.

Như kẻ thù của tôi vậy."

"Thế thì cậu là một thằng ngốc!"

Tyson đập mạnh cái ghế gần nhất thành nhiều mảnh.

"Percy không phải là thằng ngốc!"

Trước khi tôi có thể ngăn cậu ấy lại, cậu ấy đã tấn công Luke.

Nắm đấm của cậu ấy giáng xuống đầu của Luke – hai cú đấm từ trên cao hạ xuống như thế có thể sẽ làm thủng một lỗ trên một tấm titan – nhưng hai gã song sinh đã chặn đứng.

Mỗi một đứa giữ một tay của Tyson và ngăn cậu ấy lại một cách dễ dàng.

Chúng đẩy cậu ấy lùi lại và Tyson loạng choạng.

Cậu ấy té xuống tấm thảm mạnh đến nỗi cả sàn tàu rung rinh theo một cú ngã của cậu ấy.

Luke châm chọc: "Tệ quá, Cyclops à!

Có vẻ những người bạn hay khóc nhè của ta cùng bên nhau sẽ mạnh hơn sức mạnh của mày.

Có lẽ ta nên để chúng..."

"Luke!

Hãy nghe tôi!

Cha anh gửi chúng tôi tới."

Tôi cắt ngang.

Gương mặt của anh ấy chuyển sang màu đỏ ửng: "Đừng-bao giờ-nhắc đến ông ta!"

"Ông ấy bảo chúng tôi lên con tàu này.

Tôi nghĩ rằng đó chỉ là một chuyến đi, nhưng ông ấy gửi chúng tôi tới đây để tìm anh.

Ông ấy nói rằng sẽ không bỏ rơi anh, cho dù anh có giận dữ thế nào đi chăng nữa."

Luke gầm lên: "Giận dữ ư?

Bỏ rơi ta ư?

Ông ta đã ruồng bỏ ta, Percy!

Ta muốn Olympus bị phá hủy!

Từng cái ngai phải bị đập vụn.

Cậu hãy nói cho thần Hermes biết điều đó sắp diễn ra, các vị thần ở đỉnh Olympus càng yếu hơn và chúng ta càng mạnh hơn.

Ngài ấy càng mạnh hơn."

Luke chỉ vào chiếc quách vàng.

Chiếc hộp khiến tôi sợ hãi, nhưng tôi kiên quyết không để lộ điều này ra.

"Thế thì sao?

Cái gì quá đặc biệt..."

Tôi hỏi gặng.

Rồi tôi như chợt bừng tỉnh, bên trong chiếc quách này còn có thể là cái gì chứ.

Nhiệt độ trong phòng dường như sụt xuống hai mươi độ.

"Woah, ý anh không phải là...?"

Luke đáp: "Ông ấy đang tái tạo lại.

Từng chút một.

Bọn ta đang triệu hồi năng lượng cuộc sống của ông ấy ra khỏi miệng hố.

Cứ mỗi một người mới cam kết về theo phe bọn ta, mảnh nhỏ khác sẽ xuất hiện..."

"Thật ghê tởm!"

Annabeth khinh bỉ.

Luke chế nhạo cô ấy: "Mẹ em chẳng phải được sinh ra từ vết nứt trên sọ của Zeus sao, Annabeth.

Anh sẽ không nói vậy nếu là em đâu.

Ngay khi có đủ các thần khổng lồ Titan để chúng ta có thể tạo nên toàn bộ con người ông ta.

Chúng ta sẽ ghép chúng vào nhau để có một cơ thể mới cho ông ta, một công việc thích hợp cho các lò rèn của Hephaestus."

"Anh điên mất rồi!"

Annabeth la lên.

"Hãy gia nhập với bọn anh và em sẽ được thưởng công.

Bọn anh có những người bạn quyền lực, những nhà tài trợ đủ giàu để mua con tàu du lịch này và nhiều thứ khác nữa.

Percy em trai à, mẹ em sẽ không bao giờ phải làm việc nữa.

Em có thể mua cho bà một căn biệt thự.

Em có thể có quyền lực, danh tiếng – bất cứ điều gì em muốn.

Còn Annabeth, em có thể thực hiện được ước mơ trở thành một kiến trúc sư.

Em có thể xây một đài tưởng niệm tồn tại đến một ngàn năm sau.

Một ngôi đền cho các vị thần của kỷ nguyên sắp đến!"

"Cút xuống Tartarus đi!"

Annabeth nguyền rủa.

Luke thở dài: "Thật đáng tiếc!"

Anh ấy cầm lên một vật gì đó nom rất giống một chiếc điều khiển tivi lên và nhấn nút đó.

Chỉ vài giây sau, chiếc cửa phòng đô đốc liền được mở ra và hai thủy thủ mặc đồng phục tiến vào, được trang bị những chiếc gậy tuần đêm.

Họ cũng có những con mắt đờ đẫn vô hồn giống như những người thường khác mà tôi đã gặp.

Nhưng tôi có cảm giác điều đó không hề khiến chúng ít nguy hiểm hơn trong chiến đấu.

Luke tán dương: "A, tốt lắm, đội bảo vệ!

Ta e ngại rằng chúng ta có vài kẻ đi lậu vé."

"Vâng, thưa ngài!"

Họ mơ màng đáp.

Luke quay về phía Oreius: "Đã đến lúc cho rồng Aethiopian ăn rồi.

Hãy mang lũ ngu này xuống dưới và cho chúng thấy kết thúc ra sao!"

"Hehe!

Hehe!"

Oreius cười ngớ ngẩn.

"Hãy để cả ta đi cùng!

Thằng em ta vô tích sự lắm!

Cái thằng Cyclops đó..."

Agrius cằn nhằn.

"Không nguy hiểm lắm đâu.

Agrius, cứ ở lại đây.

Chúng ta còn các vấn đề quan trọng cần bàn."

Luke nói.

Anh ta liếc nhanh về phía các quách vàng như thể có chứa thứ gì đó đang khiến anh ta cảm thấy lo lắng.

"Nhưng..."

"Oreius, đừng làm ta thất vọng!

Phải ở trong hầm để đảm bảo con rồng đã được ăn no đấy!"

Oreius dùng mũi ngọn lao thúc chúng tôi đi và dồn chúng tôi ra khỏi phòng đô đốc, theo sau là hai người bảo vệ con người.

***

Khi đi về phía cuối hành lang với ngọn lao của Orieus đang chọc chọc sau lưng, tôi nghĩ về điều mà Luke đã nói – hai con gấu sinh đôi ở cùng nhau sẽ đối chọi được với sức mạnh của Tyson.

Nhưng có thể khi bị tách ra thì...

Chúng tôi đi ra từ hành lang ở phần giữa của con tàu và đi băng qua một boong tàu mở với những chiếc thuyền cứu sinh.

Tôi biết đủ rõ con tàu này để nhận ra rằng đây có thể là lần cuối cùng chúng tôi nhìn thấy ánh sáng mặt trời.

Khi chúng tôi bước sang phía bên kia, chúng tôi dùng thang máy để đi xuống hầm và điều gì đó sẽ xảy ra.

Tôi nhìn Tyson và giục: "Ngay bây giờ!"

Cám ơn trời, cậu ấy hiểu ý tôi muốn nói.

Cậu ấy quay ngoắt lại và tống vào tên Oreius một phát bắn ngược lại phải tới mười mét, rơi tõm xuống bể bơi, vào giữa một gia đình du khách thây ma.

Bọn trẻ cùng nhau hét toáng lên: "Ah!

Chúng ta không có thuốc nổ trong hồ chứ."

Một gã bảo vệ rút gậy ra nhưng Annabeth đã nhanh như gió tung cho hắn một cú đá tuyệt đẹp.

Gã còn lại cuống cuồng chạy tới chỗ chuông báo động gần nhất.

"Ngăn hắn lại!"

Annabeth kêu lên nhưng đã quá muộn.

Trước khi tôi kịp đập cả cái ghế vào đầu hắn, hắn đã nhấn chuông.

Đèn đỏ bật sáng.

Còi báo động rú vang.

"Thuyền cứu sinh!"

Tôi hét lên.

Chúng tôi chạy tới chiếc thuyền gần nhất.

Khi chúng tôi vừa lật được chiếc bạt phủ lên, lũ quái vật và rất đông bảo vệ đang chạy lên boong, đẩy ngã đám du khách và những người phục vụ với các khay đầy các loại thức uống nhiệt đới.

Cái gã mặc áo giáo Hy Lạp rút gươm ra và tấn công, nhưng hắn lại bị trượt chân vào vũng nước cocktail pina colada nhỏ.

Đám xạ thủ Laistrygonian đã tụ tập trên boong phía trên chúng tôi, tên đã lắp sẵn trong cung.

"Làm thế nào để hạ cái thuyền này xuống?"

Annabeth kêu thất thanh.

Một con chó ngao nhảy chồm về phía tôi, nhưng Tyson đã kịp thời quất nó văng sang một bên bằng bình cứu hỏa.

"Vào thuyền!"

Tôi hét lên.

Tôi mở nắp cây Thủy Triều và chém một loạt mũi tên được bắn ra đầu tiên trong không trung.

Chúng tôi có thể bị chôn vùi bằng các mũi tên bất cứ khi nào.

Chiếc thuyền cứu sinh đang được treo ngoài mạn tàu, phía trên mặt nước.

Annabeth và Tyson không kịp thả ròng rọc.

"Giữ chắc nhé!"

Tôi hét lên và cắt đứt dây thừng.

Một trận mưa tên bay vèo vèo phía trên đầu chúng tôi khi chúng tôi rơi tự do xuống biển.
 
Percy Jackson Và Các Vị Thần Trên Đỉnh Olympus [Full]
Quyển 2 - Chương 10: Chúng tôi đi nhờ tàu của quân liên minh


"Cái bình!"

Tôi thét lên khi chúng tôi lao xuống nước.

"Cái gì cơ?"

Annabeth hẳn nghĩ rằng tôi bị mất trí.

Cô ấy đang cố sống cố chết giữ chặt dây thuyền.

Tóc cô ấy dựng đứng như ngọn đuốc.

Nhưng Tyson thì hiểu.

Cậu ấy tìm cách để mở cái túi của tôi và lấy ra cái bình ma thuật của thần Hermes mà vẫn ghì chặt được chiếc túi và con thuyền.

Các mũi tên và lao vẫn phóng vun vút trên đầu chúng tôi.

Tôi chộp lấy cái bình và hy vọng mình làm đúng.

"Giữ chặt nhé!"

"Tớ đang làm đây!"

Annabeth kêu lên.

"Chặt hơn nữa!"

Tôi móc chân vào dưới cái ghế có thể thổi phồng trong thuyền và khi Tyson túm chặt phía sau áo của tôi và Annabeth, tôi xoay nắp chiếc bình góc một phần tư.

Ngay lập tức một làn gió nhẹ màu trắng bay ra khỏi cái bình và đẩy chúng tôi dạt sang một bên, rồi đưa chúng tôi trở xuống với cú hạ cánh bốn mươi lăm độ.

Tôi dường như nghe được tiếng cười của ngọn gió khi nó được bắn ra khỏi bình, như thể nó vui sướng vì được tự do.

Khi chúng tôi đáp xuống mặt biển, chúng tôi lại nảy lên một, hai lần nữa như một hòn đá.

Rồi chúng tôi lướt vèo như một con tàu cao tốc, nước biển bắn đầy mặt, chúng tôi tiếp tục lao về phía trước và không có gì ngăn cản, chỉ có nước biển phía trước.

Tôi nghe thấy những tiếng oán hận vang lên từ con tàu phía sau chúng tôi, nhưng chúng tôi đã thoát ra ngoài tầm vũ khí tấn công.

Con tàu Công chúa Andromeda dần biến thành kích cỡ của một chiếc tàu đồ chơi màu trắng và sau đó biến mất.

Khi chúng tôi phi như bay qua biển, Annabeth và tôi cố gắng gửi một thông điệp Iris cho bác Chiron.

Chúng tôi cho rằng nó rất quan trọng khi chúng tôi báo cho ai đó biết về việc Luke đang làm và chúng tôi không biết phải tin ai.

Ngọn gió từ chiếc bình làm bắn lên những hạt nước biển tuyệt đẹp, tạo nên cầu vồng trong ánh nắng – thật hoàn hảo cho một thông điệp Iris – nhưng việc kết nối của chúng tôi vẫn rất kém.

Khi Annabeth ném một đồng Drachma vàng vào sương mù và cầu nguyện Nữ thần Cầu Vồng cho chúng tôi thấy bác Chiron, khuôn mặt bác đã hiện ra ngay lập tức.

Nhưng có thứ ánh đèn lấp lóe rất kinh khủng cứ chớp phía sau và tiếng nhạc Rock ồn ã như thể bác ấy đang ở trong một câu lạc bộ khiêu vũ.

Chúng tôi kể với bác ấy về việc trốn ra khỏi trại, về Luke, về con tàu Công chúa Andromeda, về chiếc quách vàng có chứa hài cốt của Kronos.

Nhưng trong tiếng ồn ào nơi bác ấy đang đứng, tiếng gió và tiếng sóng nước ở chỗ chúng tôi, tôi không chắc bác ấy nghe được bao nhiêu.

Bác Chiron kêu lên: "Percy!

Cháu phải coi chừng..."

Tiếng bác ấy bị nhấn chìm bởi tiếng gào inh ỏi ngay sau lưng – một loạt tiếng reo hò như các chiến binh Comanche.

"Gì ạ?"

Tôi hét lên.

Bác Chiron thụp nhanh xuống để tránh một chiếc đĩa bay vào qua đầu và nó vỡ tan ở đâu đó.

"Nguyền rủa lũ họ hàng của ta!

Annabeth, cháu không nên để Percy rời trại!

Nhưng nếu cháu có được Bộ Lông Cừu Vàng..."

"Ôi, bé yêu!

Woo-hoooo!"

Ai đó kêu toáng lên phía sau lưng bác Chiron.

Tiếng nhạc được mở to hơn và tiếng phát ra từ loa siêu trầm quá lớn đến nỗi thuyền chúng tôi bị rung lên.

Bác Chiron kêu to: "...

Miami!

Ta sẽ cố dõi theo..."

Màn hình mờ mờ của chúng tôi đã bị vỡ ra như thể ai đó đứng bên cạnh đã ném một cái chai vào đó và bác Chiron biến mất.

Một giờ đồng hồ sau, chúng tôi nhìn thấy đất liền – một dãy biển trải dài được đánh dấu bởi những khách sạn cao tầng.

Mặt nước đã chật kín thuyền đánh cá và tàu chở dầu.

Một con tàu tuần tiễu bờ biển đi ngang qua bên hông con thuyền chúng tôi, rồi quay lại như muốn quan sát đôi chút.

Tôi đoán rằng không phải ngày nào họ cũng nhìn thấy một con thuyền cứu sinh màu vàng không động cơ, đi một trăm hải lý một giờ, được điều khiển bởi ba đứa nhóc.

Annabeth reo lên khi chúng tôi cập bến: "Đó là Virginia Beach!

Ôi chúa ơi, làm thế nào mà con tàu Công chúa Andromeda trong một đêm lại có thể đi xa đến thế nhỉ?

Nó giống như..."

"Năm trăm ba mươi hải lý."

Tôi tiếp lời.

Cô ấy nhìn tôi chằm chằm: "Làm thế nào mà cậu biết vậy?"

"Tớ... tớ không chắc lắm."

Annabeth suy nghĩ trong giây lát: "Percy, vậy vị trí của chúng ta là gì?"

"Ba mươi sáu độ, bốn mươi tư phút Bắc, bảy mươi sáu độ, hai phút Tây."

Tôi đáp ngay tức thì, rồi lắc đầu: "Ôi trời, mình biết được điều này như thế nào nhỉ?"

"Vì do cha cậu đấy.

Khi cậu ở biển, cậu có thể xác định rõ phương hướng một cách chuẩn xác.

Điều đó quá tuyệt!"

Annabeth gợi ý.

Tôi đã không dám chắc chắn về điều này.

Tôi không muốn trở thành một thiết bị GPS người.

Nhưng trước khi tôi có thể nói được điều gì, Tyson vỗ nhẹ vào vai tôi: "Một con thuyền khác đang tới."

Tôi quay lại nhìn.

Con tàu tuần tiễu lớn giờ dứt khoát đã bám theo đuôi con tàu chúng tôi.

Đèn của nó đang chiếu sáng và nó đang tăng tốc.

Tôi nói: "Không thể để họ tóm chúng ta được.

Họ sẽ hỏi vô số câu hỏi mất."

Annabeth giục: "Đi tiếp đến vịnh Chesapeake thôi!

Tớ biết một chỗ mà chúng ta có thể trốn."

Tôi không hỏi cô ấy nói vậy có ý gì hoặc làm thế nào mà cô ấy biết chỗ đó rành như thế.

Tôi mạo hiểm mở cái nắp bình ra thêm một chút nữa.

Và một luồng gió tươi mát đã đẩy chúng tôi lao như tên lửa về phía mũi bắc của Virginia Beach vào vịnh Chesapeake.

Con tàu tuần tiễu bị rơi lại phía sau, phía sau mãi.

Chúng tôi không hề đi chậm lại mãi cho tới khi phần đất hai bên của vịnh thu hẹp lại.

Và tôi nhận ra chúng tôi đi vào cửa sông.

Tôi có thể cảm thấy sự thay đổi từ nước biển mặn chát biến thành nước ngọt.

Đột nhiên, tôi thấy mệt mỏi và kiệt sức, như thể tôi bị tụt đường huyết vậy.

Tôi không biết mình đang ở đâu hoặc hướng đi của con thuyền.

May mà có Annabeth hướng dẫn tôi.

"Ở đó!

Qua bãi cát cửa sông ấy."

Cô nói.

Chúng tôi lái vào một khu vực đầm lầy đầy cỏ.

Tôi kéo thuyền lên bờ, ở phía dưới gốc một cây bách lớn.

Cái cây phủ đầy dây leo lù lù bên trên chúng tôi.

Lũ côn trùng kêu rỉ rả trong rừng.

Không khí rất oi bức và nóng nực, hơi nước cuồn cuộn lên khỏi mặt sông.

Về cơ bản, đây không phải là Manhattan và tôi không thích nơi này.

Annabeth giục giã: "Đi nào!

Nó chỉ xuôi xuống phía bờ sông mà thôi."

"Cái gì?"

Tôi hỏi.

Cô ấy chộp lấy chiếc túi vải.

"Chỉ cần đi theo tớ thôi.

Và tốt nhất là chúng ta phải phủ con thuyền này lại.

Chúng ta không muốn nó bị chú ý."

Sau khi che con thuyền cứu sinh bằng những cành cây, Tyson và tôi theo sau Annabeth đi dọc bờ sông.

Chân chúng tôi lún sâu trong bùn đỏ.

Một con rắn trượt qua giày tôi và mất hút trong đám cỏ.

"Không phải một nơi hay ho!"

Tyson phàn nàn.

Cậu ấy đập đôm đốp lên những con muỗi đang xếp hàng dự buffet trên cánh tay cậu ấy.

Vài phút sau, Annabeth reo lên: "Đến nơi rồi!"

Tất cả những gì tôi nhìn thấy được là một bụi gai.

Rồi Annabeth di chuyển một vòng tròn đan kết bởi những cành cây giống như một cánh cửa sang một bên.

Và tôi nhận ra rằng tôi đang nhìn vào bên trong một nơi ẩn náu đã được ngụy trang.

Bên trong lán đủ rộng cho ba người, kể cả với Tyson.

Các bức tường được đan bằng nguyên liệu thực vật như một căn lều của người da đỏ, nhưng chúng chống thấm khá tốt.

Chất ở một góc lều là tất cả những gì bạn có thể cần cho việc cắm trại: túi ngủ, chăn, thùng đá, đèn dầu.

Đây cũng là nơi cung cấp quân trang cho các á thần – các mũi lao bằng đồng, một bao đựng đầy tên, một thanh kiếm và một chiếc hộp thức ăn của thần linh.

Nơi đây có mùi mốc, như thể bị bỏ không từ rất lâu rồi.

Tôi nhìn Annabeth đầy kính sợ: "Một nơi ẩn nấp cho con lai.

Cậu đã tạo ra nơi này sao?"

"Thalia và mình đấy.

Cả Luke nữa."

Cô ấy đáp khẽ khàng,

Điều này không hề làm phiền tới tôi.

Ý tôi là, tôi biết Thalia và Luke từng chăm sóc cho Annabeth khi cô ấy còn nhỏ.

Tôi biết ba bọn họ đã chạy trốn cùng nhau.

Cùng lẩn trốn những con quái vật, tự mình sinh tồn trước khi Grover tìm ra được họ và cố gắng đưa họ về Trại Con Lai.

Nhưng mỗi lần Annabeth nhắc về thời gian mà cô đã chia sẻ cùng họ, tôi lại cảm thấy...

Tôi cũng không biết nữa.

Khó chịu à?

Không, không phải từ đó.

Từ chính xác phải là ghen tị.

Tôi cất tiếng: "Nên...

Cậu không nghĩ rằng Luke sẽ tìm ra chúng ta ở đây sao?"

Cô ấy lắc đầu: "Chúng tớ đã làm một loạt các căn lều an toàn như vậy.

Tớ không biết liệu Luke có còn nhớ vị trí của chúng không, hoặc có thèm quan tâm tới chúng không."

Cô ấy quăng mình lên đám chăn và bắt đầu dốc mọi thứ từ túi xách của cô ấy ra.

Ngôn ngữ cơ thể của cô ấy đã thể hiện rõ ràng rằng cô ấy không muốn nói nữa.

Tôi gọi: "Tyson này?

Cậu ra ngoài trinh sát một lát nhé?

Giống như tìm kiếm một cửa hàng tiện lợi rộng lớn hoặc thứ gì đó tương tự như thế được không?"

"Một cửa hàng tiện lợi ư?"

"Ừ, có bánh snack, bánh donut hoặc thứ gì đó.

Chỉ có điều đừng đi quá xa nhé!"

Tyson reo lên đầy sốt sắng: "Donut!

Tớ sẽ tìm donut ở nơi hoang dã."

Cậu ấy thò đầu ra ngoài và bắt đầu hét toáng lên: "Ta đến đây, donut!"

Ngay khi Tyson vừa đi khỏi, tôi ngồi xuống đối diện với Annabeth.

"Này, tớ xin lỗi nhé, cậu biết đấy, về việc gặp Luke..."

"Đó không phải là lỗi của cậu."

Cô ấy rút con dao ra khỏi bao và lau sạch lưỡi dao bằng một miếng giẻ.

"Anh ấy để chúng ta thoát quá dễ dàng."

Tôi nói.

Tôi hy vọng mình đang tưởng tượng ra điều đó, nhưng Annabeth đã gật đầu: "Tớ cũng đã nghĩ tới điều tương tự.

Những gì chúng ta nghe lỏm được anh ấy nói về một việc mạo hiểm, và 'chúng sẽ mắc câu'...

Tớ nghĩ rằng anh ấy đang nói về chúng ta."

"Bộ Lông Cừu Vàng là miếng mồi ư?

Hay là Grover?"

Cô ấy đang nghiên cứu kỹ cái sống dao.

"Tớ không biết, Percy à.

Có lẽ anh ấy muốn có Bộ Lông Cừu Vàng cho riêng anh ấy.

Có thể anh ấy đang hy vọng chúng ta sẽ làm phần việc khó khăn đó và sau đó anh ta có thể trộm lại nó từ chúng ta.

Tớ chỉ không thể tin được anh ấy đã đầu độc cái cây thôi."

"Anh ta có ý gì khi nói Thalia sẽ về phe anh ta?"

Tôi hỏi.

"Anh ấy đã lầm!"

"Giọng cậu có vẻ không chắc lắm."

Annabeth nhìn tôi giận dữ.

Và tôi bắt đầu ước rằng mình đừng hỏi gì trong lúc cô ấy đang cầm dao trên tay.

"Percy, cậu có biết cậu đã khiến tớ nhớ tới ai nhất không?

Là Thalia!

Các cậu quá giống nhau đến mức đáng sợ.

Ý tớ là hoặc các cậu sẽ là bạn thân của nhau hoặc tự bóp chết lẫn nhau."

"Hãy dừng lại ở đoạn 'bạn thân của nhau' là được rồi."

"Đôi khi Thalia rất giận cha cô ấy.

Cậu cũng vậy.

Nhưng cậu có quay lại chống đỉnh Olympus vì chuyện đó không?"

Tôi nhìn chằm chằm vào bó tên dựng trong góc, đáp: "Không."

"Được, tiếp nhé.

Cô ấy cũng vậy.

Luke đã sai!"

Annabeth cắm xọc lưỡi dao vào đất.

Tôi muốn hỏi cô ấy về Lời Sấm Truyền mà Luke đã đề cập tới và nó có liên quan gì đến sinh nhật mười sáu tuổi của tôi.

Nhưng tôi đoán là cô ấy sẽ không chịu nói.

Bác Chiron đã nói rõ ràng rằng tôi không được phép nghe cho tới khi các vị thần có quyết định khác.

"Thế Luke có ý gì khi nói về người Cyclops?

Anh ấy nói so với tất cả mọi người, cậu..."

Tôi hỏi.

"Tớ hiểu anh ấy nói gì.

Anh... anh ấy đang nói về lý do thực sự khiến Thalia chết."

Tôi chờ đợi, không biết phải nói những gì.

Annabeth hít một hơi run run: "Cậu không bao giờ có thể tin một Cyclops, Percy à.

Sáu năm trước đây, vào cái đêm Grover đang dẫn chúng tớ lên Đồi Con Lai..."

Cô ấy ngưng bặt khi cánh cửa lều cọt kẹt mở.

Tyson chui vào.

"Donut phủ đường đây!"

Cậu ấy lớn tiếng đầy tự hào, tay ôm một cái hộp bánh ngọt.

Annabeth nhìn cậu ấy trừng trừng: "Cậu đào được cái của này ở đâu thế?

Chúng ta đang ở giữa rừng hoang cơ mà.

Không có bất cứ thứ gì quanh đây để..."

"Cách đây mười lăm mét.

Tiệm Donut Quái Vật - ở ngay phía trên đồi."

Tyson nói.

"Điều này thật tệ!"

Annabeth lầm bầm.

***

Chúng tôi đang núp sau một cái cây, nhìn chăm chăm về tiệm bánh donut ở giữa khu rừng.

Nom nó khá mới với những hàng cửa sổ sáng sủa, chỗ đậu xe và một con đường dẫn vào rừng.

Nhưng không có gì xung quanh cả, xe hơi cũng không thấy đậu trên bãi.

Chúng tôi có thể nhìn thấy một nhân viên tiệm bánh đang đọc tạp chí phía sau quầy tính tiền.

Chính là nó.

Trên mái hiên cửa tiệm là những chữ màu đen lớn mà tôi có thể đọc được:

"BÁNH DONUT QUÁI VẬT[1]"

[1] Donut Monster là tên của một chuỗi cửa hàng bánh donut nổi tiếng với các loại bánh được làm thủ công từ những nguyên liệu chất lượng cao và hương vị độc đáo.

Chuỗi cửa hàng này có mặt tại nhiều địa điểm khác nhau, bao gồm Milwaukee, Hoa Kỳ và Hamilton, Canada

Một con yêu tinh trong phim hoạt hình đang ngoạm vào chữ A trong chữ QUÁI VẬT.

Nơi này mùi thật tuyệt, giống như mùi bánh donut phủ socola vừa mới ra lò.

Annabeth thì thầm: "Nó không thể ở đây được!

Không đúng!"

"Cái gì cơ?

Chỉ là một tiệm donut thôi mà."

Tôi hỏi.

"Suỵt!"

"Tại sao chúng ta phải thầm thì thế?

Tyson đã vào và mua một tá bánh mà.

Có chuyện gì xảy ra với cậu ấy đâu."

"Cậu ấy là quái vật."

"À, thôi nào, Annabeth!

Tiệm Donut Quái Vật không có nghĩa là trong đó có quái vật donut đâu.

Đó chỉ là một chuỗi nhà hàng.

Chúng ta đã thấy chúng đầy ở New York mà."

"Ừ, một chuỗi.

Và cậu không thấy lạ khi một tiệm đột ngột xuất hiện ngay sau khi cậu kêu Tyson đi tìm donut sao?

Tại đây, ngay giữa rừng nữa chứ?"

Tôi nghĩ về điều này.

Công nhận cũng kỳ lạ thật.

Nhưng ý tôi là, các tiệm bánh donut thật sự không nằm quá cao trong danh sách những thế lực tà ác của tôi.

"Có thể đó là một cái ổ."

Annabeth giải thích.

Tyson thút thít khóc.

Tôi e rằng cậu ấy hiểu điều mà Annabeth đang nói rõ hơn tôi, nhưng giọng điệu của cô ấy làm Tyson lo lắng.

Cậu ấy đã ăn hết một nửa số bánh donut trong hộp bánh và đường đang dính khắp mặt cậu.

"Ổ của cái gì?"

Tôi không hiểu.

"Chả lẽ cậu chưa bao giờ tự hỏi tại sao những cửa tiệm được cấp quyền kinh doanh lại phát triển nhanh tới vậy?

Mọi thứ chưa có gì trong ngày hôm nay.

Nhưng hôm sau, bùm, đã có một tiệm bánh hamburger hoặc một tiệm cà phê hoặc một cái gì đó?

Đầu tiên là một tiệm duy nhất, rồi hai, rồi bốn cái...

Chính xác là có bao nhiêu bản sao như vậy trải dài khắp đất nước?"

"Ừ, chưa, tớ chưa bao giờ nghĩ về chuyện này."

"Percy này, một số chuỗi cửa tiệm phát triển nhanh như vậy vì tất cả địa điểm của nó được nối một cách ma thuật với sức mạnh cuộc sống của một con quái vật.

Một vài người con của thần Hermes đã tìm hiểu được cách thức nó hoạt động vào những năm 1950 về trước.

Chúng đã sinh ra..."

Cô ấy đột ngột im bặt.

Tôi thắc mắc: "Cái gì?

Chúng sinh ra cái gì?"

"Không được – chuyển động – đột ngột!

Rất chậm rãi nhé, quay lại!"

Annabeth nói, như thể mạng sống của cô ấy phụ thuộc vào điều này.

Rồi tôi nghe thấy một tiếng lạo xạo, như thể một con gì đó to lớn đang kéo lê bụng mình qua những ngọn lá cây.

Tôi quay lại và nhìn thấy một thứ có kích thước của một con tê giác đang di chuyển qua bóng râm của các cây trong rừng.

Nó đang rít lên, nửa thân trước của nó vặn vẹo theo nhiều hướng khác nhau.

Đầu tiên tôi không thể hiểu cái mình đang nhìn thấy là gì.

Sau đó tôi nhận thấy vật này có nhiều cổ - ít nhất là có bảy cái, phía trên mỗi cái cổ là một cái đầu rắn đang rít lên phì phì.

Da của nó như da người và dưới mỗi cổ được đeo một cái yếm có ghi dòng chữ: "TA LÀ NHÓC TÌ QUÁI VẬT BÁNH DONUT!"

Tôi rút chiếc bút ra nhưng Annabeth đã nhìn tôi – một lời cảnh báo im lặng.

Chưa phải lúc.

Tôi hiểu.

Rất nhiều quái vật đều có thị lực rất kém.

Thế nên có thể con Hydra[2] này cũng sẽ đi ngang qua chúng tôi thôi.

Nhưng giờ nếu tôi mở nắp thanh kiếm.

Ánh sáng đồng chắc chắn sẽ khiến nó chú ý.

[2] Hydra là một quái vật trong thần thoại Hy Lạp, được mô tả là một con rắn hoặc rồng nhiều đầu, thường có hơi thở độc và khả năng tái sinh, mỗi khi bị chặt mất một cái đầu thì hai cái sẽ mọc ra thay thế.

Nó nổi tiếng nhất với tên gọi Lernaean Hydra, xuất hiện trong câu chuyện về mười hai kỳ công của Hercules.

Chúng tôi đành chờ đợi.

Con Hydra này chỉ dài hơn một mét hoặc hơn một chút.

Nó đang đánh hơi trên đất và cây như đang săn lùng thứ gì đó.

Bỗng tôi nhận ra hai trong số đám đầu của nó đang xé toạc một miếng vải bạt màu vàng – một trong số đám túi của chúng tôi.

Con vật này đã tới khu vực lều của chúng tôi.

Nó đang lần theo mùi của bọn tôi.

Tim tôi đập thình thịch.

Tôi đã từng thấy một chiến lợi phẩm – một cái đầu Hydra được nhồi bông trước đây ở trại, nhưng nó cũng chẳng giúp gì cho tôi khi đối diện với con quái vật thật này.

Mỗi cái đầu có dạng viên kim cương, giống với đầu của rắn chuông, song những cái miệng của chúng có các hàm răng lởm chởm như răng cá mập.

Tyson đang run bần bật.

Cậu ấy lùi lại và vô tình làm gãy một nhánh cây con.

Ngay lập tức, tất cả bảy cái đầu quay ngoắt lại chỗ chúng tôi và đánh hơi.

"Tản ra!"

Annabeth hô to.

Cô ấy lao về phía bên phải.

Tôi lăn về bên trái.

Một trong số những chiếc đầu Hydra phun ra một dòng chất lỏng hình vòng cung màu xanh lá cây bắn vọt qua vai tôi, vấy lên thân cây du.

Thân cây tỏa khói và rã ra.

Cả cái cây đổ sầm về phía Tyson, người vẫn đứng yên một chỗ, như hóa đá bởi con quái vật giờ đang đứng ngay trước mặt cậu ấy.

"Tyson!"

Tôi túm cậu ấy bằng tất cả sức mạnh của mình, đẩy cậu ấy sang một bên khi con Hydra nhào tới và cái cây đổ sầm xuống hai đầu của nó.

Con Hydra loạng choạng lùi lại, giật mạnh những cái đầu của nó ra khỏi cái cây và kêu thét lên trong giận dữ với cái cây đổ.

Cả bảy cái đầu đều bắn ra acid, và cây du tan chảy ra trong bể phân chuồng đầy hơi nước đang bốc lên.

"Chạy đi!"

Tôi hét lên với Tyson.

Tôi chạy sang một bên và rút thanh Thủy Triều, hy vọng sẽ khiến con quái vật chú ý.

Và tôi đã thành công.

Cái nhìn của các con quái vật đối với kim loại đồng Celestial luôn là sự chán ghét.

Ngay khi lưỡi kiếm sáng bóng của tôi xuất hiện, tất cả các đầu của con Hydra đều lao về phía nó, rít lên và nhe răng ra.

Tin tốt là: Tyson đã kịp thoát khỏi nguy hiểm trong gang tấc.

Tin xấu: Tôi sắp tan vào vũng chất nhầy đó.

Một cái đầu nó thử đớp lấy tôi.

Không cần suy nghĩ tôi vung thanh kiếm lên.

"Đừng làm thế!"

Annabeth hét lên.

Muộn rồi.

Tôi đã chém bay cái đầu của Hydra.

Nó lăn vào một bãi cỏ, để lại phần cổ đung đưa quay về, và rồi nó đột nhiên ngừng chảy máu, bắt đầu phình to như một quả bóng.

Trong khoảng một vài giây, cái cổ bị thương được tách làm hai, mỗi cái có một cái đầu to hoàn chỉnh.

Giờ đây tôi đang nhìn một con Hydra có tới tám cái đầu.

Annabeth gắt gỏng: "Percy!

Cậu vừa mới mở thêm một tiệm bánh Donut Quái Vật ở nơi nào đấy!"

Tôi tránh một luồng acid.

"Tớ thì sắp chết và cậu chỉ lo lắng về điều đó thôi sao?

Chúng ta phải giết nó bằng cách nào đây?"

Annabeth quát lên: "Lửa!

Chúng ta phải có lửa!"

Khi cô ấy vừa nói tới đó, tôi đã nhớ ra ngay.

Đầu của Hydra chỉ có thể ngừng nhân đôi nếu chúng tôi đốt phần cổ trước khi nó mọc lại.

Dù sao đó cũng là điều mà Hercules đã từng làm.

Nhưng chúng tôi không có lửa.

Tôi đi lùi lại về phía dòng sông.

Con Hydra đuổi theo.

Annabeth di chuyển về phía trái của tôi và ra sức làm rối trí một cái đầu Hydra, tránh hàm răng của nó bằng con dao của cô ấy.

Một cái đầu khác như một cái dùi cui lao tới từ hướng khác hất cô ấy ngã nhào vào một đống chất nhầy.

"Không được đánh các bạn của ta!"

Tyson lao lên tấn công, đứng chắn giữa Hydra và Annabeth.

Khi Annabeth đứng lên được, Tyson bắt đầu đấm mạnh vào những cái đầu của con quái vật với những nắm đấm nhanh tới nỗi chúng khiến tôi nhớ tới trò chơi đập chuột ở các cột máy chơi game.

Nhưng ngay cả Tyson cũng không thể chống đỡ Hydra mãi mãi.

Chúng tôi tiếp tục lùi lại sau từng chút một, tránh những dòng acid và làm lệch hướng những cái đầu đang táp xuống mà không cần phải chém đứt chúng, nhưng tôi biết chúng tôi đang trì hoãn cái chết của chính mình.

Cuối cùng chúng tôi sẽ mắc sai lầm và con vật này sẽ giết chết tất cả.

Rồi tôi nghe thấy một âm thanh lạ - là tiếng bình bịch, bình bịch, bình bịch mà thoạt đầu tôi cứ ngỡ là tiếng đập của trái tim tôi.

Tiếng bình bịch đó lớn tới mức làm cả hai bờ sông rung cả lên.

"Tiếng gì thế?"

Annabeth gào bên, mắt vẫn dán chặt vào con Hydra.

"Động cơ hơi nước."

Tyson đáp.

"Cái gì?"

Tôi cúi thụp xuống, tránh một dòng acid do Hydra phun qua đầu.

Rồi từ phía con sông đằng sau chúng tôi, một giọng nữ quen thuộc hét to: "Đây rồi, hãy chuẩn bị loại đại bác bắn đạn ba mươi hai pound!"

Tôi không dám rời mắt khỏi Hydra, nhưng nếu đó là người mà tôi nghĩ tới ở ngay phía sau, thì tôi đoán rằng giờ đây chúng tôi đã có kẻ thù từ cả hai phía.

Một giọng đàn ông lục cục đáp: "Họ ở quá gần, thưa quý cô!"

Cô gái nói: "Lũ anh hùng chết tiệt!

Tăng tốc lên nào!"

"Rõ, thưa quý cô!"

"Nhắm thẳng bắn, Thuyền trưởng!"

Annabeth hiểu ngay chuyện gì đã xảy ra chỉ một phần giây trước khi tôi kịp nhận ra.

Cô ấy hét lên, "Nằm xuống!" và chúng tôi lao ngay xuống mặt đất khi một tiếng BÙM lở đất vọng lại từ phía sông.

Đó là một thứ ánh sáng lóe lên, một cột khói cuồn cuộn và con Hydra nổ tung ngay trước mắt chúng tôi, trút lên người chúng tôi vô số chất lỏng màu xanh kinh tởm – những thứ này bốc hơi ngay khi chạm vào.

Đó là cách thức mà mỗi con quái vật biến mất sau khi bị tiêu diệt.

"Kinh quá!"

Annabeth la toáng lên.

"Tàu thủy chạy bằng hơi nước kìa!"

Tyson la lên.

Tôi đứng dậy, húng hắng ho bởi đám khói thuốc súng đang dâng lên cuồn cuộn từ phía bờ sông.

Tiếng bình bịch tiến về phía chúng tôi phía dưới con sông được phát ra từ một con tàu kỳ lạ nhất mà tôi từng gặp.

Nó lướt đi thấp bên dưới mặt nước như một tàu ngầm.

Boong tàu được bọc bằng sắt.

Ở giữa là một hầm cuốn hình thang với những chốt trục dành cho súng thần công ở hai bên.

Một lá cờ phấp phới trên đỉnh có hình một con lợn rừng và một ngọn giáo trên nền vải màu đỏ tươi.

Đứng quanh boong tàu là các thây ma trong các bộ đồng phục màu xám – những người lính đã chết với gương mặt mờ mờ chỉ choán một phần sọ của chúng, giống như những con ma cà rồng canh giữ lâu đài của thần Hades khi tôi được nhìn thấy dưới âm phủ.

Cả con tàu được bọc sắt.

Một chiến hạm của cuộc nội chiến.

Tôi có thể đọc ra được cái tên với những ký tự phủ rêu của nó dọc mũi tàu: C.S.S Birmingham.

Và đứng bên khẩu đại bác còn tỏa khói là người gần như đã suýt giết chúng tôi – Clarisse trong bộ áo giáp hoàn chỉnh dùng trong các trận chiến của người Hy Lạp.

Cô ta cười nhạo: "Đồ thua cuộc!

Nhưng tớ cho rằng tớ phải cứu các cậu.

Lên tàu đi!"
 
Back
Top Bottom