Khác Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods bản dịch tiếng Việt)

[BOT] Wattpad

Administrator
Tham gia
25/9/25
Bài viết
110,077
Điểm tương tác
0
Điểm
0
196165622-256-k905037.jpg

Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
Tác giả: nvrmnd__xd
Thể loại: Huyền ảo
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Tác giả: Neil Gaiman
Người dịch tạm: nvrmnd__xd
Vì coi phim thấy thích nên tui dịch, còn nhiều chỗ thiếu sót.



americangods​
 
Có thể bạn cũng thích
  • (Dramione) Nơi những câu chuyện nhỏ tồn tại
  • [ Rekkyo sensen ] những câu chuyện hậu chiến tranh
  • Những Đứa Con Của Băng Và Lửa [Ma Kết - Kim Ngưu]
  • [Drop Lâu Dài]{AllSoviet} Sánh Vai Nhau Trên Những...
  • ||BTS-Linhoon|| Thế giới của những dị nhân
  • [Edit - Snarry] Hy vọng giữa những kẽ tay - [Chỉ...
  • Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Một (1)


    "Ranh giới của nước ta ư, thưa Ngài?

    Tại sao, thưa Ngài, ở phía Bắc ta được bao bọc bởi Bắc Cực Quang, ở phía Đông ta được sưởi ấm trong ánh bình minh, ở phía Nam ta được diện kiến đoàn diễu hành của các điểm phân mùa, và ở phía Tây ta phải đối mặt với Ngày Phán Xét."

    ---

    Shadow đã ở tù ba năm.

    Anh đủ to khỏe, cũng như đủ cứng cỏi đến nỗi vấn đề lớn nhất anh gặp phải trong tù là giết thời gian.

    Vì vậy, anh cố gắng giữ dáng, dạy bản thân vài mánh khóe với đồng xu, và tương tư về người vợ của mình.

    Điều tuyệt vời nhất - theo đánh giá của Shadow, có lẽ là điều tốt lành duy nhất - về việc ở trong tù là cảm giác thanh thản.

    Thứ cảm giác anh đã chìm sâu vào hết sức có thể và chạm đáy.

    Anh không còn lo lắng họ sẽ bắt được anh, vì họ đã có được anh rồi.

    Anh cũng không còn sợ ngày mai điều gì có thể tới, vì hôm qua điều đó đã tới rồi.

    Dù bạn có làm những điều bạn bị kết án hay không, điều đó không quan trọng, Shadow quả quyết.

    Theo trải nghiệm của anh, tất cả mọi người anh gặp trong tù đều bất bình về một điều gì đó: chính quyền luôn hiểu sai điều gì đó, hoặc họ tuyên bố bạn đã làm những thứ bạn không hề làm - hoặc những thứ bạn làm không giống lắm với những thứ họ nói.

    Điều quan trọng ở đây là họ đã bắt được bạn.

    Anh đã nhận ra được điều này chỉ vài ngày đầu trong tù, khi mà mọi thứ, từ tiếng lóng cho tới đồ ăn, đều mới mẻ.

    Mặc dù sự khốn khổ và nỗi kinh hoàng của việc bị giam cầm khiến anh sởn gai ốc, anh vẫn thở phào nhẹ nhõm.

    Shadow cố gắng không nói quá nhiều.

    Đâu đó khoảng giữa năm thứ hai trong tù, anh đã chia sẻ suy nghĩ này của mình với Low Key Lyesmith, bạn cùng phòng.

    Low Key, một tên lừa đảo đến từ Minnesota, cười nụ cười chua chát.

    "Ừ," hắn nói.

    "Đúng là vậy đấy.

    Điều đó còn tốt hơn nữa khi cậu bị kết án tử hình.

    Đó là khi cậu nhớ câu chuyện đùa về mấy thằng luôn đá đôi giày của mình ra khỏi chân khi dây thòng lọng bắt đầu xiết qua cổ, vì bạn bè của chúng luôn nói chúng sẽ chết với đôi giày đang còn trên chân."

    "Đó mà là trò đùa à?"

    Shadow hỏi.

    "Chuẩn con mẹ nó luôn.

    Trò đùa chết chóc đấy.

    Kiểu đùa hay nhất."

    "Lần cuối cùng người ta treo cổ ở bang này là khi nào vậy?"

    Shadow thắc mắc.

    "Tớ biết thế quái nào được?"

    Lyesmith luôn cạo mái tóc màu vàng ánh cam của mình khá sát.

    Bạn thậm chí còn có thể thấy đường sọ của hắn.

    "Mà nói cậu nghe, đất nước này bắt đầu lụi tàn khi người ta ngừng treo cổ.

    Không hiểu lầm.

    Không bàn cãi."

    Shadow nhún vai.

    Anh chẳng thấy có gì lãng mạn trong một bản án tử.

    Nếu bạn không bị kết án tử hình, vậy thì nhà tù, tệ lắm, theo Shadow, cũng chỉ là một lệnh ân xá tạm thời từ cuộc sống, vì hai lý do.

    Thứ nhất, cuộc sống luôn chực chờ đưa bạn vào tù.

    Luôn có những nơi để lún sâu hơn.

    Cuộc sống cứ thế tiếp diễn.

    Và thứ hai, nếu bạn cứ ở đây, một ngày nào đó họ cũng sẽ thả bạn ra.

    Khoảng thời gian đầu, thật khó để Shadow tập trung vào điều này.

    Sau đó, nó trở thành một tia hy vọng xa vời, và anh học được cách tự nhắc nhở bản thân "mọi chuyện rồi cũng sẽ qua thôi" khi việc đi tù trở trên tồi tệ, như cách nó vốn như vậy.

    Một ngày nào đó, cánh cửa thần kỳ sẽ mở ra và anh sẽ bước qua đó.

    Vì vậy, anh đánh dấu những ngày trôi qua trên cuốn lịch Những Loài Chim Hót của Bắc Mỹ, loại lịch duy nhất được bán ở căng-tin, và rồi mặt trời lặn, anh không thấy, mặt trời mọc, anh cũng không xem.

    Anh tập vài mánh chơi đồng xu từ một cuốn sách anh tìm thấy trong bãi đất hoang của thư viện; anh còn tập thể dục; anh lập cả danh sách trong đầu những việc mình sẽ làm khi ra tù.

    Danh sách của Shadow càng lúc càng ngắn lại.

    Sau ba năm, chỉ còn vỏn vẹn ba điều.

    Thứ nhất, anh sẽ đi ngâm bồn.

    Ngâm thật lâu, thật nghiêm túc, trong một cái bồn đầy bong bóng xà phòng.

    Có thể anh sẽ đọc báo, có thể không.

    Có những ngày anh nghĩ mình sẽ đọc báo, có những ngày không.

    Thứ hai, anh sẽ lau khô người, mặc áo choàng vào.

    Có thể mang thêm dép nữa.

    Anh thích ý tưởng mình sẽ mang dép.

    Nếu có hút thuốc, lúc này anh sẽ hút thuốc trong một cái tẩu, nhưng anh lại không biết hút thuốc.

    Anh sẽ bế vợ trên tay ("Cún con," nàng sẽ kêu ré lên trong sự hoảng sợ đùa cợt và sự thích thú thực sự, "anh đang làm gì vậy?").

    Anh sẽ bế cô vào phòng ngủ, rồi đóng cửa lại.

    Họ sẽ gọi đặt pizza nếu cả hai thấy đói.

    Thứ ba, sau khi anh và Laura cùng ra khỏi phòng ngủ, có lẽ là vài ngày sau, anh sẽ mãi nhẫn nhịn và tránh xa khỏi mọi loại rắc rối đến cuối đời.

    "Rồi cậu sẽ luôn hạnh phúc hả?"

    Low Key Lyesmith hỏi anh.

    Hôm đó họ đang làm việc trong cửa hàng của nhà tù, lắp ráp mấy cái nhà ăn cho chim, công việc này đỡ chán hơn việc dập biển số xe một chút.

    "Chẳng thể nói được ai là kẻ hạnh phúc," Shadow nói, "cho đến khi người đó chết."

    "Herodotus," Low Key khen ngợi, "Này, cậu đang nghiên cứu cuốn đó."

    "Herodotus là thằng đéo nào?"

    Người Băng vừa hỏi, vừa xếp các cạnh của một cái nhà ăn cho chim lại với nhau rồi chuyền cho Shadow, người sẽ bắt vít và vặn ốc lại cho chắc.

    "Một người Hy Lạp đã chết," Shadow đáp.

    "Bạn gái cũ của tao là người Hy Lạp," Người Băng kể.

    "Cái thứ mà gia đình nó ăn.

    Tụi bay không tin được đâu.

    Cứ như là cơm cuộn trong lá vậy.

    Khá tởm."

    Người Băng có kích thước và hình dáng hệt như chiếc máy bán nước tự động, với đôi mắt xanh và mái tóc quá vàng gần như chuyển sang màu trắng.

    Hắn đã đập cho ra bã mấy thằng đụng chạm bạn gái hắn trong quán bar nơi nàng hay nhảy còn hắn thì làm bảo kê.

    Bạn của tên kia đã gọi cảnh sát, Người Băng bị bắt và kiểm tra để rồi phát hiện ra hắn vừa hoàn thành chương trình vừa đi tù, vừa đi làm mười tám tháng trước.

    "Rồi giờ tao phải làm gì đây?"

    Người Băng hỏi một cách bất bình, sau khi kể Shadow nghe toàn bộ câu chuyện buồn.

    "Tao đã nói với hắn con nhỏ đó là bạn gái tao.

    Làm sao tao để thằng đó khinh mình như vậy được?

    Đúng không?

    Ý tao là, hắn đã sờ soạng bạn gái tao."

    Nhẫn nhịn.

    Lo việc bản thân.

    Shadow trả lời, "Cậu đã cho tụi nó thấy rồi đấy," và rồi không nói gì nữa.

    Có một điều anh đã sớm học được, lo việc của bản thân khi ở tù.

    Không quan tâm việc người khác.

    Lyesmith cho Shadow mượn một cuốn bản sao bìa mềm Lịch Sử Herodotus trông nát tươm vài tháng trước.

    "Cuốn này không chán đâu, hay lắm đấy," hắn nói, khi Shadow phản đối rằng mình không đọc sách.

    "Cứ đọc trước đi đã, rồi hẵng nói với tớ là nó hay."

    Shadow thể hiện thái độ ra mặt, nhưng anh lại bắt đầu đọc nó, để rồi nhận ra bản thân mê đắm cuốn sách trái với ý muốn của mình.

    "Mấy đứa Hy Lạp," Người Băng nói với sự kinh tởm, "Tụi nó chẳng như những gì tụi nó tự nhận.

    Tao đã thử nhét cái ấy vào mông con bạn gái, còn nó thì gần như cào rách mắt tao ra."

    Một ngày nọ, Lyesmith bị chuyển đi mà không một lời cảnh báo.

    Hắn để lại cho Shadow bản sao cuốn Herodotus của mình.

    Có một đồng nickel ẩn giữa những trang sách.

    Đồng xu là hàng lậu: bạn có thể mài cạnh nó bằng đá, rạch mặt tên nào đó trong lúc đánh nhau.

    Shadow không muốn một món vũ khí; Shadow chỉ muốn làm gì đó với đôi tay của mình.

    Shadow không hề mê tín.

    Anh không tin vào bất cứ thứ gì anh không thể thấy.

    Tuy nhiên, anh có thể cảm nhận một tai họa đang treo lơ lửng bên trên nhà tù trong những tuần cuối cùng, giống như cảm giác anh gặp vài ngày trước vụ cướp.

    Anh cảm thấy bồn chồn, lo lắng, anh đơn giản tự nhắc bản thân mình rằng đây chỉ là nỗi sợ trở lại thế giới bên ngoài.

    Nhưng anh không thể chắc được.

    Anh hoang tưởng nhiều hơn bình thường, và trong tù bình thường tức là rất nhiều, và đây cũng là một kỹ năng sinh tồn.

    Shadow trở nên im lặng hơn, tăm tối hơn bao giờ hết.

    Anh nhận thấy mình đang theo dõi ngôn ngữ cơ thể của mấy tên bảo vệ, của những tù nhân khác, tìm kiếm manh mối cho điều tồi tệ sắp xảy ra, vì anh chắc chắn rằng nó sẽ đến.

    Một tháng trước khi mãn hạn tù.

    Shadow ngồi trong một văn phòng lạnh lẽo, đối mặt với người đàn ông thấp bé với vết bớt màu rượu vang trên trán.

    Họ ngồi đối diện nhau; trước mặt người đàn ông là tập hồ sơ của Shadow, trên tay ông cầm một cây bút bi.

    Đuôi bút bị cắn nát.

    "Cậu lạnh à, Shadow?"

    "Vâng," Shadow đáp.

    "Một chút."

    Người đàn ông nhún vai.

    "Hệ thống nó vậy đấy," ông nói.

    "Lò sưởi không hoạt động cho đến ngày một tháng Mười Hai.

    Rồi nó sẽ tắt vào ngày một tháng Ba.

    Tôi không viết ra luật này."

    Ông vuốt ngón trỏ xuống trang giấy được ghim vào phía bên trái của tập hồ sơ.

    "Cậu ba mươi hai tuổi, phải không?"

    "Vâng, thưa ngài."

    "Cậu trông trẻ hơn tuổi."

    "Sống lành mạnh."

    "Trong đây ghi cậu là một tù nhân mẫu mực."

    "Tôi đã học được một bài học nhớ đời, thưa ngài."

    "Thật sao?"

    ông nhìn Shadow chăm chú, vết bớt trên trán ông hạ xuống.

    Shadow định nói với ông ta vài suy nghĩ của mình về nhà tù, nhưng cuối cùng anh không nói gì cả.

    Thay vào đó, anh gật đầu và tập trung thể hiện sự hối lỗi một cách chuẩn xác nhất.

    "Trong đây ghi cậu có một người vợ, Shadow."

    "Cô ấy tên Laura."

    "Mọi chuyện thế nào?"

    "Khá tốt.

    Cô ấy xuống ghé thăm tôi nhiều nhất có thể - quãng đường đi lại khá xa.

    Chúng tôi viết thư cho nhau và tôi gọi điện về nhà nếu được."

    "Vợ cậu làm nghề gì?"

    "Cô ấy bán vé du lịch.

    Đưa mọi người tới mọi nơi trên thế giới."

    "Cậu đã gặp cô ấy như thế nào?"

    Shadow không hiểu vì sao ông ta lại hỏi điều đó.

    Anh cân nhắc việc trả lời đó không phải việc của ông, rồi lại nói "Cô ấy là bạn thân của vợ của bạn thân nhất của tôi.

    Họ sắp xếp cho chúng tôi một buổi hẹn giấu mặt.

    Và rồi chúng tôi yêu nhau."

    "Và cậu cũng có một công việc đang chờ?"

    "Vâng, thưa ngài.

    Bạn thân của tôi, Robbie, người tôi vừa nhắc tới, sở hữu Muscle Farm, nơi tôi từng tập luyện.

    Cậu ấy nói công việc cũ vẫn đang chờ tôi."

    Một bên chân mày ông nhướn lên.

    "Thật chứ?"

    "Cậu ấy nghĩ tôi sẽ trở thành một tên to con tốt tướng.

    Chiêu mộ lại những tay kỳ cựu, tập hợp họ lại thành một nhóm bất bại, những người muốn mình càng bất bại hơn."

    Người đàn ông trông có vẻ hài lòng.

    Ông nhai nhai đuôi bút bi, rồi lật sang trang khác.

    "Cậu cảm thấy thế nào về hành vi phạm tội của mình?"

    Shadow nhún vai.

    "Tôi đã ngu ngốc," anh đáp, và thật lòng nghĩ vậy.

    Người đàn ông có vết bớt thở dài.

    Ông đánh dấu tick vào một số mục trong bản liệt kê.

    Ông lật nhanh qua các trang khác trong tệp hồ sơ của Shadow.

    "Cậu sẽ về nhà bằng cách nào?"

    ông hỏi, "Bằng xe của Greyhound?"

    "Tôi bay về nhà.

    Thật tốt khi có một người vợ làm bên đại lý du lịch."

    Người đàn ông cau mày, và vết bớt nhăn lại.

    "Cô ấy đã gửi vé máy bay cho cậu?"

    "Không cần.

    Cô ấy chỉ gửi tôi một mã xác nhận.

    Vé điện tử.

    Tất cả những gì tôi cần làm là xuất hiện tại sân bay vào tháng tới, cho họ xem căn cước, và ra khỏi đây thôi."

    Người đàn ông gật đầu, viết nghuệch ngoạc vài dòng cuối rồi đóng tập hồ sơ và đặt bút xuống.

    Hai bàn tay tái nhợt đặt trên mặt bàn xám trông như những con thú màu hồng.

    Ông đưa hai bàn tay lại gần nhau, chìa ngón trỏ ra trước và nhìn chằm chằm vào Shadow với đôi mắt hạt dẻ nhạt màu.

    "Cậu may mắn lắm," ông nói.

    "Cậu có ai đó để trở về, có một công việc đang chờ đợi.

    Cậu có thể bỏ tất cả những chuyện này lại sau lưng.

    Cậu có cơ hội thứ hai.

    Hãy tận dụng nó tối đa."

    Người đàn ông không đưa tay ra bắt tay Shadow khi anh đứng lên rời đi, mà cả Shadow cũng không kỳ vọng ông ta sẽ làm vậy.

    Tuần cuối cùng đúng là tuần tệ nhất.

    Theo những cách nào đó, nó còn tệ hơn cả ba năm đi tù cộng lại.

    Shadow tự hỏi liệu có phải do thời tiết không: trời ngột ngạt, tĩnh lặng và lạnh lẽo.

    Có cảm giác như một cơn bão đang tới, nhưng lại chẳng có cơn bão nào cả.

    Anh cảm thấy bồn chồn lo lắng, một cảm giác sâu trong thâm tâm anh biết có chuyện gì đó không đúng ở đây.

    Trong sân tập thể dục, gió giật mạnh.

    Shadow tưởng như mình có thể ngửi thấy mùi tuyết trên bầu trời.

    Anh gọi những cuộc gọi tính cước ngược cho vợ.

    Shadow biết công ty viễn thông ăn phụ phí ba đô-la cho mỗi cuộc gọi đến từ nhà tù.

    Đó là lý do vì sao tổng đài luôn vô cùng lịch sự với những người gọi điện từ nhà tù, Shadow nghĩ rằng: họ biết người đó đã trả lương cho họ.

    "Có gì đó kỳ lạ lắm," anh nói với Laura.

    Đó không phải câu đầu tiên anh nói với vợ.

    Câu đầu tiên là "Anh yêu em," vì nếu thật lòng bạn yêu người đó, đó là một điều tốt cần phải nói ra, và Shadow đã làm.

    "Chào anh," Laura nói.

    "Em cũng yêu anh.

    Cái gì kỳ lạ cơ?"

    "Anh không biết," anh đáp.

    "Có lẽ là thời tiết.

    Kiểu như trời phải mưa to gió lớn thì mọi thứ mới trở lại bình thường được."

    "Ở đây trời đẹp lắm," cô nói.

    "Những chiếc lá cuối cùng còn chưa rụng hết.

    Nếu trời không có bão, anh có thể thấy chúng khi trở về nhà."

    "Năm ngày nữa," Shadow nói.

    "Một trăm hai mươi tiếng nữa, rồi anh sẽ trở về nhà." cô nói.

    "Mọi chuyện ở nhà ổn chứ?

    Không vấn đề gì sao?"

    "Mọi thứ đều ổn.

    Tối nay em sẽ gặp Robbie.

    Tụi em đang chuẩn bị một bữa tiệc chào mừng bất ngờ cho anh."

    "Tiệc chào mừng?"

    "Dĩ nhiên.

    Anh đâu biết gì đâu, phải không?"

    "Không biết gì cả."

    "Đúng là chồng em," cô nói.

    Shadow chợt nhận ra mình đang mỉm cười.

    Anh đã ở trong tù ba năm, nhưng cô vẫn có thể khiến anh mỉm cười.

    "Yêu em, cục cưng," Shadow nói.

    "Yêu anh, Cún con," Laura nói.

    Shadow cúp máy.

    Khi kết hôn, Laura nói với Shadow rằng cô muốn một chú cún, nhưng chủ nhà không cho phép nuôi thú cưng dựa trên các điều khoản trong hợp đồng.

    "Này," Shadow đã nói, "Anh sẽ là cún con của em.

    Em muốn anh làm gì nào?

    Nhai dép?

    Tè lên sàn bếp?

    Liếm mũi em?

    Ngửi háng em?

    Anh cá là chẳng có gì con cún làm được mà anh lại không làm được cả."

    Nói rồi anh bế cô lên nhẹ bẫng như không và bắt đầu liếm mũi cô trong khi cô cười khúc khích và hét inh ỏi, rồi anh bế cô lên giường.

    Ở phòng ăn, Sam Fetisher lén qua chỗ Shadow rồi mỉm cười, nhe ra những chiếc răng mòn vẹt.

    Ông ngồi xuống ngay cạnh Shadow và bắt đầu ăn món mì ống phô mai của mình.

    "Chúng ta cần nói chuyện," Sam Fetisher nói.

    Sam Fetisher là một trong những người đàn ông đen nhất mà Shadow từng thấy.

    Có thể ông đã sáu mươi.

    Cũng có thể ông đã tám mươi.

    Nhưng anh cũng từng gặp mấy tên nghiện hút mới ba mươi nhưng trông còn già hơn Sam Fetisher.

    "Ừm?"

    Shadow nói.

    "Bão đang tới," Sam nói.

    "Trông có vẻ vậy," Shadow nói.

    "Có lẽ tuyết sẽ rơi sớm."

    "Không phải kiểu bão đó.

    Một cơn bão lớn hơn nhiều đang tới.

    Để ta nói cho cậu biết, chàng trai trẻ, tốt hơn hết cậu nên ở đây thay vì lang thang ngoài đường khi bão lớn tới."

    "Tôi hoàn thành rồi," Shadow nói.

    "Thứ năm này, tôi đi."

    Sam Fetisher nhìn Shadow chằm chằm.

    "Cậu đến từ đâu?"

    ông hỏi.

    "Eagle Point.

    Indiana."

    "Nói dối trắng trợn quá," Sam Fetisher nói.

    "Ý tôi là nguồn gốc kìa.

    Cha mẹ cậu đến từ đâu?"

    "Chicago," Shadow đáp.

    Mẹ anh đã sống ở Chicago khi còn nhỏ và bà đã chết ở đó từ nửa kiếp trước.

    "Như ta đã nói.

    Bão lớn đang tới.

    Cúi đầu thấp xuống, cậu bé Shadow à.

    Nó kiểu... người ta gọi mấy cái lục địa trôi lòng vòng là gì ấy nhỉ?

    Một dạng mảng nào đó?"

    "Mảng kiến tạo?"

    Shadow đánh bạo.

    "Chính nó.

    Mảng kiến tạo.

    Kiểu như khi nó đang di chuyển, khi mảng Bắc Mỹ trượt vào mảng Nam Mỹ, cậu không muốn ở giữa đâu.

    Cậu hiểu chứ?"

    "Không hiểu chút xíu nào."

    Một bên mắt màu nâu của ông nhắm lại tạo thành một cái nháy mắt chậm chạp.

    "Trời ạ, đừng nói ta chưa cảnh báo cậu trước đấy," Sam Fetisher nói, đút một muỗng rau câu Jell-O vị cam đang run rẩy vào miệng mình.

    "Không đâu."

    Shadow dành cả đêm gần như thức trắng, trôi vào giấc ngủ rồi lại trôi ra, nằm nghe tiếng bạn cùng phòng lầm bầm và ngáy như kéo gỗ trên chiếc giường bên dưới.

    Cách đó vài phòng, một tên đang rên rỉ, tru tréo và nức nở như một con thú, thỉnh thoảng sẽ có ai đó hét vào mặt hắn để hắn câm mồm lại.

    Shadow cố không nghe.

    Anh để những giây phút trống rỗng trôi qua, cô đơn và chậm rãi.

    Còn hai ngày nữa.

    Bốn mươi tám tiếng, bắt đầu với cháo yến mạch và cà phê tù, rồi một tên bảo vệ tên Wilson vỗ vai Shadow mạnh hơn thường lệ và nói, "Shadow?

    Đi hướng này."

    Shadow xem xét lại lương tâm của mình.

    Nó tĩnh lặng, điều mà, theo anh quan sát thấy, trong nhà tù, không có nghĩa là anh không vướng phải rắc rối.

    Hai người đàn ông đi gần như cạnh nhau, tiếng bước chân vang trên mặt sàn kim loại và bê tông.

    Shadow nếm được nỗi sợ hãi lan tỏa sâu trong cuống họng, đắng ngắt như vị cà phê cũ.

    Điều tồi tệ đang xảy ra...

    Có một giọng nói thì thầm trong đầu anh rằng họ sẽ nhét thêm một năm nữa vào bản án của anh, thả anh vào tù biệt giam, chặt tay anh đi, chặt cả đầu anh nữa.

    Anh tự nhắc bản thân rằng đừng ngu ngốc thế, nhưng tim anh đang đập thình thịch như muốn vỡ ra khỏi lồng ngực.

    "Tôi không hiểu được, Shadow," Wilson nói trong lúc họ bước đi.

    "Không hiểu gì, thưa ngài?"

    "Cậu đấy.

    Cậu quá trầm lặng.

    Quá tử tế.

    Cậu chờ đợi như mấy ông già kia vậy, nhưng cậu là gì chứ?

    Hai mươi lăm?

    Hay hai mươi tám?"

    "Ba mươi hai, thưa ngài."

    "Và cậu là gì?

    Một tên Mễ?

    Một tên Digan?"

    "Không phải những thứ tôi biết, thưa ngài.

    Có lẽ vậy."

    "Có lẽ cậu có dòng máu mọi rợ trong người.

    Cậu có dòng máu đó không, Shadow?"

    "Có thể lắm, thưa ngài."

    Shadow đứng thẳng người và ngẩng cao đầu, tập trung vào việc không để bản thân bị kích động.

    "Vậy à?

    Chà, tất cả những gì tôi biết, là cậu đã làm tôi sợ chết điếng đấy."

    Wilson có mái tóc màu vàng cát, một gương mặt màu vàng cát và một nụ cười cũng màu vàng cát nốt.

    "Cậu sẽ sớm rời xa chúng tôi."

    "Hy vọng vậy, thưa ngài."

    Họ bước qua một vài trạm kiểm soát.

    Mỗi lần vậy, Wilson đều xuất trình mã nhận diện của mình.

    Sau khi lên vài bậc thang, giờ họ đang đứng ngoài văn phòng của cai ngục.

    Tên của ông - G.

    Patterson - được dán ngoài cửa với chữ màu đen, và bên cạnh cánh cửa là một bảng đèn giao thông thu nhỏ.

    Bóng đèn đầu tiên sáng màu đỏ.

    Wilson nhấn một cái nút dưới bảng đèn.

    Họ đứng yên lặng trong vài phút.

    Shadow cố trấn tĩnh bản thân rằng mọi thứ sẽ ổn cả, rằng sáng thứ Sáu tuần này anh sẽ ngồi trên chuyến bay tới Eagle Points, nhưng anh không còn tin được bản thân mình.

    Đèn đỏ tắt và đèn xanh lá sáng lên, Wilson mở cửa.

    Họ cùng vào trong phòng.

    Shadow đã nhìn thấy cai ngục vài lần trong ba năm qua.

    Một lần, ông dẫn một chính trị gia tham quan xung quanh nhà tù.

    Một lần, trong lúc phong tỏa, cai ngục đã nói chuyện với tù nhân theo nhóm một trăm người, ông nói với họ rằng nhà tù đã quá tải, và vì nó sẽ tiếp tục quá tải, nên tốt hơn hết họ hãy quen với điều đó đi.

    Càng lại gần, Patterson trông còn tệ hơn.

    Mặt ông thuôn dài với mái tóc hoa râm được cắt sát theo kiểu quân đội.

    Ông có mùi Old Spice.

    Sau lưng ông là một kệ sách, mỗi cuốn đều có chữ "Nhà Tù" trong tựa đề; bàn làm việc của ông hoàn toàn sạch sẽ và trống trải, chỉ có một cái điện thoại bàn và một cuốn lịch xé trang vẽ kiểu Far Side.

    Ông đeo một máy trợ thính bên tai phải.

    "Mời ngồi."

    Shadow ngồi xuống.

    Wilson đứng cạnh anh.

    Cai ngục mở một ngăn kéo, lấy ra một tập hồ sơ rồi đặt nó lên bàn.

    "Ở đây ghi cậu bị tuyên án sáu năm vì tội tấn công và hành hung nghiêm trọng.

    Cậu đã ở đây được ba năm.

    Cậu đã tính được thả vào thứ Sáu tuần này."

    Đã tính?

    Shadow cảm thấy bụng mình thắt lại.

    Anh tự hỏi mình sẽ phải ở tù thêm bao lâu nữa - một năm nữa sao?

    Hai năm?

    Hay ba năm?

    Tất cả những gì anh nói được là "Vâng, thưa ngài."

    Cai ngục liếm môi.

    "Cậu nói gì cơ?"

    "Tôi nói "Vâng, thưa ngài."

    "

    "Shadow, chúng tôi sẽ thả anh vào chiều nay.

    Anh sẽ được ra tù sớm vài ngày."

    Shadow gật đầu, chờ đợi tin lành tiếp theo.

    Cai ngục nhìn vào tờ giấy trên bàn.

    "Tin này đến từ Bệnh viện Johnson Memorial ở Eagle Point...

    Vợ cậu.

    Cô ấy đã tử vong vài tiếng trước vào sáng nay.

    Trong một vụ tai nạn ô tô.

    Tôi rất lấy làm tiếc."

    Shadow lại gật đầu.

    Wilson dẫn anh quay về phòng, không nói một câu nào.

    Hắn mở cửa và để Shadow vào.

    Rồi hắn nói, "Cứ như một trò đùa nửa tốt, nửa xấu phải không?

    Nửa tốt là chúng tôi thả cậu ra sớm, còn nửa xấu là vợ cậu đã chết."

    Hắn cười lớn, như thể chuyện này thật sự hài hước.

    Shadow không nói một lời.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Một (2)


    Một cách đờ đẫn, anh thu dọn tư trang của mình, hầu hết là quẳng chúng đi.

    Anh bỏ cuốn sách Herodotus của Low Key và cuốn sách các mánh khóe với đồng xu lại, và trong một cảm xúc nhất thời, anh cũng bỏ lại những miếng kim loại trơn nhẵn anh lén lấy từ xưởng làm việc, thứ từng phục vụ anh như những đồng xu.

    Hẳn sẽ có những đồng xu, những đồng xu thật sự, ở ngoài kia.

    Anh cạo râu.

    Anh mặc thường phục.

    Anh bước qua từng lớp cửa, anh nhận thức được rằng mình sẽ không bao giờ quay lại nơi này nữa, và anh cảm thấy trống rỗng trong lòng.

    Mưa bắt đầu đổ xuống từ bầu trời xám xịt, một cơn mưa băng lạnh lẽo.

    Từng viên đá nhỏ châm chích da mặt Shadow, trong khi nước mưa thấm ướt lớp áo khoác mỏng, rồi họ đi về chiếc xe buýt trước đây dùng để chở học sinh, thứ bây giờ sẽ chở họ đến thành phố gần nhất.

    Lúc đến được xe cũng là lúc họ đã ướt đẫm.

    Tám người rời đi.

    Một ngàn năm trăm người ở lại.

    Shadow ngồi trong xe buýt, run lập cập cho đến khi máy sưởi hoạt động, tự hỏi giờ mình đang làm gì, mình sẽ đi về đâu.

    Không mời mà đến, những hình ảnh ma quái chiếm lấy tâm trí anh.

    Trong tưởng tượng, anh đang rời khỏi một nhà tù khác, cách đây cả vạn kiếp.

    Anh đã bị giam cầm trong một căn phòng thiếu ánh sáng quá lâu: râu anh mọc rậm rạp và tóc anh thì rối bời.

    Những tên lính gác dẫn anh xuống một cầu thang bằng đá xám và đưa anh ra một quảng trường đầy những thứ rực rỡ sắc màu, với nhiều người và nhiều đồ vật.

    Đó là một ngày họp chợ và anh cảm thấy choáng ngợp bởi âm thanh và màu sắc ở đó, anh nheo mắt dưới ánh sáng mặt trời đang lấp đầy quảng trường, anh ngửi thấy không khí một mùi ẩm của muối biển và tất cả những thứ hay ho trong chợ, bên tay trái anh mặt trời đang lấp lánh từ mặt nước...

    Chiếc xe lắc mạnh trước điểm dừng đèn đỏ.

    Gió hú quanh xe buýt, cần gạt nước trượt qua trượt lại nặng nề trên tấm kính chắn gió, làm thành phố nhòe đi trong ánh đèn neon đỏ vàng ẩm ướt.

    Bây giờ mới đầu buổi chiều, nhưng nhìn qua mặt kính trời như đã sang đêm.

    "Má," người đàn ông ngồi sau lưng Shadow thốt lên, dùng tay chùi hơi nước bám trên cửa sổ, nhìn chằm chằm xuống một người phụ nữ đang đi lại vội vã trên vỉa hè.

    "Có gái ở ngay đây nè."

    Shadow nuốt khan.

    Điều này chứng tỏ anh chưa khóc - mà thực tế là anh chẳng cảm thấy gì.

    Không nước mắt.

    Không buồn rầu.

    Không gì cả.

    Anh thấy mình đang tự hồi tưởng về anh chàng Johnnie Larch ở cùng phòng với anh lúc mới vào tù, người đã nói với Shadow rằng hắn đã từng thoát ra sau năm năm trong tù với một trăm đô-la và một tấm vé tới Seattle, nơi em gái hắn đang sống.

    Johnnie Larch tới sân bay, đưa vé cho nhân viên tại quầy, rồi cô ta yêu cầu bằng lái của hắn.

    Hắn đưa nó cho cô ta xem.

    Nó đã hết hạn vài năm trước.

    Cô ta bảo bằng lái này không hợp lệ để được xem là giấy tờ nhận dạng.

    Hắn nói có thể nó không hợp lệ để được xem là giấy phép lái xe, nhưng chắc chắn nó vô cùng phù hợp để nhận dạng danh tính hắn, và bà mẹ nó, cô ta nghĩ hắn là ai khác chứ, nếu hắn không phải là hắn ta?

    Cô ta nói cô ta sẽ rất biết ơn nếu hắn hạ giọng xuống.

    Hắn yêu cầu cô ta đưa cho hắn một tấm vé máy bay ngay, nếu không cô ta sẽ hối hận, và nếu cô ta không đưa, hắn sẽ cảm thấy mình không được tôn trọng.

    Bạn không để mọi người khinh thường bạn khi ở trong tù được.

    Cô ta nhấn một cái nút, một thoáng sau bảo vệ sân bay xuất hiện, và họ cố gắng thuyết phục Johnnie Larch hãy rời khỏi sân bay trong yên lặng, hắn thì không muốn rời đi, và rồi xảy ra một cuộc ẩu đả.

    Kết quả của mọi chuyện là Johnnie Larch không bao giờ tới được Seattle, hắn dành vài ngày tiếp theo vùi đầu vào các quán bar trong thị trấn, và khi một trăm đô-la được tẩu tán sạch sẽ, hắn cướp một trạm xăng bằng súng đồ chơi để tiếp tục có tiền uống rượu, cuối cùng hắn bị cảnh sát bắt vì tội tè bậy giữa đường.

    Chẳng bao lâu sau hắn quay lại nhà tù hoàn thành bản án của mình và kiếm thêm được chút đỉnh nhờ công việc trong trạm xăng.

    Bài học được rút ra trong câu chuyện này, theo Johnnie Larch, là: đừng gây sự với những người làm việc ở sân bay.

    "Cậu có chắc bài học ở đây không phải là 'Những kiểu hành vi có tác dụng trong một môi trường chuyên biệt, như nhà tù chẳng hạn, có thể không có tác dụng và trên thực tế là có thể gây hại khi sử dụng trong môi trường bên ngoài'?"

    Shadow nói, khi Johnnie Larch kể xong câu chuyện của mình.

    "Không, nghe tớ, tớ đang nói cho cậu biết đấy," Johnnie Larch nói, "đừng gây sự với mấy con khốn làm việc ở sân bay."

    Shadow mỉm cười với những ký ức đó.

    Giấy phép lái xe của anh vẫn còn vài tháng nữa mới hết hạn.

    "Tới trạm dừng!

    Mọi người ra ngoài!"

    Tòa nhà bốc mùi nước tiểu và bia chua.

    Shadow chui vào một chiếc taxi và yêu cầu tài xế chở anh đến sân bay.

    Anh nói sẽ boa thêm năm đô-la nếu bác tài có thể chở anh trong yên lặng.

    Họ tới sân bay sau hai mươi phút và bác tài đã không nói một lời.

    Sau đó, Shadow sững người khi đi qua sảnh đón khách sáng rực của sân bay.

    Shadow lo lắng về phần giao dịch vé điện tử.

    Anh biết mình có một tấm vé cho chuyến bay ngày thứ Sáu, nhưng anh không biết liệu nó có hiệu lực cho ngày hôm nay hay không.

    Bất kể thứ gì liên quan đến điện tử về cơ bản đều kỳ diệu với Shadow, và chúng cũng có khả năng biến mất bất cứ lúc nào.

    Dù vậy, anh có mang theo ví, món đồ trở lại làm tư trang của anh lần đầu tiên sau ba năm, bên trong chứa một số thẻ tín dụng đã hết hạn, một thẻ thanh toán Visa, thứ mà, anh đã vô cùng bất ngờ khi phát hiện ra, vẫn còn hạn cho đến cuối tháng Một.

    Anh có mã đặt vé điện tử.

    Và rồi, anh nhận ra, anh có cảm giác chắc chắn rằng một khi về đến nhà, mọi chuyện, theo một cách nào đó, sẽ ổn thôi.

    Laura cũng sẽ ổn trở lại.

    Có lẽ mọi chuyện chỉ là trò lừa khiến anh bất ngờ sớm vài ngày.

    Hoặc có thể đã xảy ra hiểu lầm đơn giản: cơ thể của một Laura Moon nào đó khác đã bị kéo lê từ đống đổ nát trên đường cao tốc.

    Chớp lóe tắt bên ngoài sân bay, qua những cánh cửa sổ khổng lồ.

    Shadow nhận ra mình đang nín thở, chờ đợi điều gì đó.

    Một tiếng sấm vang vọng từ xa.

    Anh thở hắt ra.

    Người phụ nữ da trắng mệt mỏi nhìn anh không chớp mắt từ sau quầy.

    "Chào cô," Shadow nói.

    Cô là người phụ nữ lạ mặt đầu tiên tôi nói chuyện, ngoài đời thực, sau ba năm.

    "Tôi có một mã vé điện tử.

    Tôi dự định sẽ bay vào thứ Sáu tuần này nhưng hôm nay tôi phải đi ngay.

    Gia đình tôi có tang."

    "Ừm.

    Tôi rất tiếc vì điều đó."

    Cô gõ lên bàn phím, chăm chú nhìn màn hình, rồi lại tiếp tục gõ.

    "Không vấn đề gì.

    Tôi sẽ xếp cho anh chuyến bay lúc ba giờ ba mươi.

    Có thể chuyến bay sẽ bị hoãn lại vì trời bão, nên anh nhớ để ý bảng thông báo.

    Anh đã đi kiểm tra hành lý chưa?"

    Anh giơ túi đeo vai lên.

    "Tôi không cần phải kiểm tra cái này, phải không?"

    "Không cần," cô ấy nói.

    "Vậy được rồi.

    Anh có ảnh xác minh danh tính nào không?"

    Shadow đưa cô giấy phép lái xe của mình.

    Đó không phải một sân bay lớn, nhưng số lượng người đi lại, chỉ là đi lại thôi, làm anh ngạc nhiên.

    Anh quan sát thấy mọi người đặt túi xuống một cách tình cờ, ví tiền được nhét vào túi sau, ví cầm tay được đặt xuống dưới ghế một cách bất cẩn.

    Đó là lúc anh nhận ra mình không còn ở trong tù.

    Ba mươi phút chờ lên máy bay.

    Shadow mua một miếng pizza và nung cháy đôi môi bằng lớp phô mai nóng hổi.

    Anh lấy mấy đồng xu lẻ rồi đi tới buồng điện thoại.

    Anh gọi Robbie ở Muscle Farm nhưng máy tự động lại trả lời.

    "Này Robbie," Shadow nói.

    "Người ta đã nói với tớ về cái chết của Laura.

    Họ thả tớ về sớm.

    Giờ tớ đang về nhà."

    Rồi sau đó, vì con người ai cũng mắc sai lầm, anh cũng đã thấy rõ điều đó, nên anh gọi về nhà, và lắng nghe giọng của Laura.

    "Xin chào," cô nói.

    "Tôi đang không có nhà hoặc không thể nghe điện thoại.

    Hãy để lại lời nhắn và tôi sẽ gọi lại cho bạn.

    Chúc một ngày tốt lành."

    Shadow không thể ngăn mình không để lại một lời nhắn.

    Anh ngồi trên chiếc ghế nhựa cạnh cổng sân bay, giữ túi chặt đến mức khiến tay mình trở nên đau đớn.

    Anh nhớ lại lần đầu tiên gặp Laura.

    Lúc đó anh còn chưa biết tên cô là gì.

    Cô là bạn của Audrey Burton.

    Anh đang ngồi với Robbie trong quán Chi-Chi thì Laura bước đi sau lưng Audrey, và Shadow nhận ra mình đang nhìn cô không chớp mắt.

    Cô có mái tóc dài màu hạt dẻ và đôi mắt xanh ngắt đến nỗi Shadow tưởng cô đang đeo kính áp tròng.

    Cô gọi một ly daiquiri dâu, nằng nặc đòi Shadow nếm thử, và cười phá lên thích thú khi anh làm vậy.

    Laura thích mọi người nếm những gì cô đã nếm.

    Anh đã hôn cô chúc ngủ ngon vào đêm đó, cô có vị như daiquiri dâu, còn anh thì không muốn hôn thêm bất kỳ ai khác nữa.

    Một người phụ nữ thông báo máy bay chuẩn bị cất cánh, và hàng của Shadow là hàng đầu tiên được gọi.

    Anh ngồi ở phía sau cùng, có một ghế trống cạnh anh.

    Mưa rơi lộp độp không ngớt vào thân máy bay: anh tưởng tượng đến những đứa trẻ đang ném đậu sấy khô xuống thành từng nắm từ trên bầu trời.

    Khi máy bay cất cánh, anh chìm vào giấc ngủ.

    Shadow đang ở một nơi tối tăm, vật thể đang nhìn anh chằm chằm đội một cái đầu trâu rậm rạp lông lá đi kèm một cặp mắt ướt khổng lồ.

    Cơ thể của nó là cơ thể một người đàn ông bóng dầu và trơn nhẫy.

    "Những thay đổi đang tới," đầu trâu nói mà không cử động đôi môi.

    "Có những quyết định chắc chắn sẽ phải được đưa ra."

    Ánh lửa bập bùng phản chiếu từ vách hang động ẩm ướt.

    "Tôi đang ở đâu đây?"

    Shadow hỏi.

    "Trong trái đất và bên dưới mặt đất," người trâu nói.

    'Ngươi đang ở nơi sự chờ đợi bị lãng quên."

    Đôi mắt nó là hai hòn bi đen trong vắt, và giọng nói của nó là tiếng ầm ầm rền vang từ bên dưới lòng đất.

    Nó có mùi như một con bò ướt.

    "Niềm tin," giọng nói vang lên.

    "Nếu ngươi muốn sống sót, ngươi phải tin."

    "Tin cái gì chứ?"

    Shadow hỏi.

    "Tôi nên tin vào cái gì?"

    Nó nhìn Shadow, tên người trâu, rồi đứng thẳng người lên trông thật khổng lồ, đôi mắt tràn ngập ánh lửa.

    Nó mở cái miệng trâu của mình đầy giận dữ, bên trong đặc một màu đỏ với ngọn lửa đang cháy phừng phực bên trong nó, dưới lòng đất.

    "Mọi thứ," người trâu gầm lên.

    Thế giới đảo điên và xoay vần, Shadow một lần nữa lại ngồi trên máy bay; nhưng sự đảo điên thì vẫn còn.

    Phía trước máy bay một người phụ nữ đang hét lên đầy miễn cưỡng.

    Chớp đánh sáng lóa quanh máy bay.

    Cơ trưởng nói qua hệ thống liên lạc nội bộ rằng anh sẽ cố gắng và giữ độ cao để thoát khỏi cơn bão.

    Máy bay rung lắc mạnh, Shadow tự hỏi, một cách lạnh lùng và ngớ ngẩn, liệu anh có chết không.

    Trông có thể lắm chứ, anh quyết vậy, nhưng không chắc.

    Anh nhìn ra ngoài cửa sổ và ngắm nhìn những tia chớp đang lóe sáng chân trời.

    Rồi anh lại ngủ gật thêm lần nữa, anh mơ thấy lúc mình đang ở trong tù, Low Key đã thì thầm vào tai anh lúc đứng chờ đồ ăn rằng có ai đó đã trả tiền để ám sát anh, nhưng Shadow không thể tìm ra được người đó là ai và tại sao lại vậy; khi anh thức giấc máy bay đã chuẩn bị hạ cánh.

    Anh loạng choạng bước ra khỏi máy bay, chớp chớp mắt cho tỉnh ngủ.

    Tất cả các sân bay, theo anh thấy, đều trông y hệt nhau.

    Không quan trọng bạn đang ở nơi đâu, khi bạn ở sân bay tức là: gạch lát, lối đi và nhà vệ sinh, quầy báo và những bóng đèn huỳnh quang.

    Cái sân bay này trông y như một cái sân bay.

    Vấn đề ở đây là, đây không phải cái sân bay anh định tới.

    Đây là một cái sân bay rộng lớn, với quá nhiều hành khách, và quá nhiều cổng ra vào.

    "Xin lỗi, thưa bà?"

    Người phụ nữ nhìn anh qua tấm bảng tạm.

    "Vâng?"

    "Đây là sân bay nào vậy?"

    Bà ta nhìn anh đầy hoang mang, cố gắng xem xét liệu anh có đang nói đùa hay không, rồi bà ta nói, "St.

    Louis."

    "Tôi tưởng đây là máy bay tới Eagle Point."

    "Đúng vậy.

    Họ đã chuyển hướng nó tới đây vì cơn bão.

    Họ không thông báo gì sao?"

    "Có lẽ là có.

    Tôi đã ngủ quên."

    "Cậu cần nói chuyện với người đàn ông bên kia, mặc áo khoác đỏ."

    Người đàn ông cao gần bằng Shadow: ông trông giống người cha trong mấy bộ phim hài thập niên bảy mươi, ông gõ gì đó vào máy tính rồi nói Shadow chạy - Chạy đi!

    - đến cánh cổng phía bên kia nhà đón khách.

    Shadow chạy băng qua sân bay, nhưng cổng đã bị đóng trước khi anh tới nơi.

    Anh nhìn chiếc máy bay di chuyển ra xa khỏi cổng qua tấm kính.

    Người phụ nữ ở bàn hỗ trợ hành khách (lùn, da nâu với một nốt ruồi trên cánh mũi) tham khảo ý kiến với một người phụ nữ khác rồi gọi điện thoại ("Không, chiếc đó bay đi rồi.

    Họ vừa hủy xong.") rồi in ra một tấm thẻ lên máy bay khác.

    "Thẻ này sẽ đưa anh tới đó," cô ấy bảo anh.

    "Chúng tôi sẽ gọi điện trước cho bên gác cổng và nói với họ rằng anh sẽ đến."

    Shadow cảm thấy mình như hạt đậu bị tráo giữa ba chiếc cốc, hoặc một lá bài bị xáo trong một bộ bài.

    Lại một lần nữa anh chạy băng qua sân bay, kết thúc ở nơi gần với nơi anh đứng lúc ban đầu.

    Một người đàn ông nhỏ bé đứng ở cổng cầm lấy thẻ lên máy bay của anh.

    "Chúng tôi đang đợi anh đấy," ông thì thầm, xé phần cuống vé, với vị trí ghế ngồi - D17 - trên đó.

    Shadow vội vàng lên máy bay, rồi họ đóng cửa lại sau lưng anh.

    Anh bước qua khoang hạng nhất - chỉ có vỏn vẹn bốn ghế ngồi, ba ghế đã bị chiếm.

    Người đàn ông râu quai nón trong bộ suit nhạt màu ngồi cạnh chiếc ghế trống ở hàng đầu tiên cười toe toét với Shadow khi anh vừa bước lên máy bay, sau đó ông giơ cổ tay lên và gõ vào mặt đồng hồ lúc Shadow bước qua.

    Vâng, vâng, tôi khiến ông bị trễ, Shadow nghĩ.

    Hãy để đó là điều tệ nhất trong những mối bận tâm của ông.

    Máy bay có vẻ khá đầy khi anh đi xuống phía sau.

    Mà thực tế, Shadow nhận ra rằng, máy bay đã hoàn toàn chật kín, và có một quý bà trung niên đang ngồi ở ghế 17D.

    Shadow cho bà ta coi cuống vé của mình, và bà ta cũng cho anh coi cái của bà ta: cả hai trùng khớp.

    "Anh có thể về chỗ ngồi của mình được không?" tiếp viên hỏi anh.

    "Không," anh nói, "tôi e rằng không thể."

    Cô tặc lưỡi và kiểm tra hai cuống vé, rồi cô dẫn anh lên lại phía trước máy bay và chỉ anh vào chiếc ghế trống ở khoang hạng nhất.

    "Có vẻ hôm nay là ngày may mắn của anh," cô nói.

    "Tôi có thể mang gì đó cho anh uống không?

    Chúng ta chỉ có thời gian trước khi máy bay cất cánh.

    Tôi chắc anh sẽ cần một ly sau đó."

    "Cho tôi một ly bia," Shadow nói.

    "Loại nào cũng được."

    Cô tiếp viên rời đi.

    Người đàn ông trong bộ suit nhạt màu ngồi cạnh anh gõ móng tay lên chiếc đồng hồ.

    Đó là một chiếc Rolex màu đen.

    "Cậu tới trễ," người đàn ông nói, cười nhăn nhở với không một chút nhiệt thành.

    "Xin lỗi?"

    "Ta nói rằng cậu tới trễ."

    Cô tiếp viên đưa Shadow một ly bia.

    Trong thoáng chốc, anh tự hỏi liệu người đàn ông kia có bị điên hay không, rồi anh nghĩ ông ta hẳn đang nói về chuyến bay, về việc chờ hành khách cuối cùng.

    "Xin lỗi nếu tôi có trì hoãn gì ông," anh nói một cách lịch sự.

    "Ông đang gấp sao?"

    Máy bay lùi ra khỏi cổng.

    Cô tiếp viên đi tới và lấy ly bia của Shadow đi.

    Người đàn ông trong bộ suit nhạt màu cười tươi với cô ta và nói, "Đừng lo, tôi sẽ cầm nó thật chắc mà," rồi cô để ông giữ ly Jack Daniel's của mình, trong khi phản đối một cách yếu đuối rằng điều đó vi phạm quy định của hãng hàng không. ("Hãy để ta là người phán xét điều đó, cô em à.")

    "Thời gian chắc chắn là điều cốt yếu," người đàn ông nói.

    "Nhưng không, ta chỉ lo rằng cậu không lên được máy bay thôi."

    "Ông thật tốt quá."

    Chiếc máy bay nằm không yên trên mặt đất, động cơ đập mạnh, khao khát được cất cánh.

    "Tốt cái đéo," người đàn ông nói.

    "Ta có một công việc cho cậu, Shadow."
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Một (3)


    Tiếng gầm rú của động cơ.

    Chiếc máy bay nhỏ bất thình lình giật về phía trước, đẩy Shadow lún sâu vào ghế.

    Sau đó, máy bay cất cánh vào tầng không khí, ánh đèn sân bay dần mờ đi bên dưới.

    Shadow quan sát người đàn ông ngồi cạnh mình.

    Tóc ông có màu xám ánh đỏ; còn râu của ông, chỉ dài hơn độ lún phún một chút, có màu đỏ hoa râm.

    Gương mặt ông vuông vức, góc cạnh với cặp mắt xám tái nhợt.

    Bộ suit ông mặc trông khá đắt tiền, có màu kem va-ni.

    Cà vạt lụa màu xám đậm, kẹp cà vạt làm bằng bạc, có hình một cái cây: đủ thân, đủ cành, và rễ cắm sâu.

    Ông giữ trên tay ly Jack Daniel's khi máy bay cất cánh mà không làm rớt một giọt.

    "Cậu không định hỏi tôi kiểu công việc gì sao?"

    ông hỏi.

    "Làm thế nào ông biết tên tôi?"

    Người đàn ông cười khúc khích.

    "Ồ, biết được mọi người gọi bản thân mình là gì là việc dễ nhất trần đời.

    Một chút tư duy, một chút ký ức, một chút may mắn.

    Hãy hỏi ta công việc kiểu gì đi."

    "Không," Shadow nói.

    Tiếp viên mang cho anh một ly bia khác, anh nhấm nháp một chút.

    "Tại sao không?"

    "Tôi đang về nhà.

    Có một công việc đang đợi.

    Tôi không muốn nhận việc khác."

    Nụ cười khô khốc của ông không hề thay đổi khi nhìn từ bên ngoài, nhưng ông trông có vẻ buồn cười thật sự.

    "Chẳng có công việc nào đang đợi cậu ở nhà cả," ông nói.

    "Chẳng có gì đợi cậu ở đó.

    Trong khi ở đây, tôi đang đề nghị cậu một công việc hoàn toàn hợp pháp - tiền lương hậu hĩnh, an ninh hạn chế, trợ cấp đáng kể.

    Trời, nếu cậu có thể sống thọ đến thế, tôi có thể cho cậu thêm trợ cấp hưu trí đấy.

    Cậu có thích điều tôi vừa nói không?"

    Shadow đáp, "Hẳn ông đã nhìn tên tôi dán trên túi xách."

    Người đàn ông không nói gì.

    "Cho dù ông có là ai," Shadow nói, "ông không thể biết được tôi sẽ đi chuyến bay này.

    Tôi còn không biết tôi sẽ đi chuyến bay này cơ mà, và nếu chuyến bay của tôi không phải chuyển hướng đến St.

    Louis, tôi sẽ chẳng ngồi đây.

    Tôi đoán ông là một tên chuyên đi chơi khăm người khác.

    Có lẽ ông đang bán thứ gì đó bất hợp pháp.

    Nhưng tôi đoán chúng ta sẽ có khoảng thời gian tốt đẹp hơn nếu cuộc nói chuyện kết thúc tại đây."

    Người đàn ông nhún vai.

    Shadow cầm cuốn tạp chí lên.

    Chiếc máy bay nhỏ giật lắc và va chạm qua bầu trời, khiến anh khó tập trung hơn.

    Những con chữ trôi qua đầu anh như bong bóng xà phòng, nó ở ngay đó khi anh đọc, nhưng thoáng sau là biến đi mất.

    Người đàn ông ngồi lặng im trên ghế cạnh anh, nhấm nháp ly Jack Daniel's.

    Mắt ông đã nhắm.

    Shadow đọc danh sách các kênh âm nhạc được phát trong các chuyến bay xuyên Đại Tây Dương, anh nhìn vào tấm bản đồ thế giới với những đường kẻ đỏ cho thấy máy bay đang ở đâu.

    Anh đọc xong cuốn tạp chí, đành buộc lòng gấp nó lại và nhét vào túi.

    Người đàn ông mở mắt.

    Có cái gì đó rất lạ về đôi mắt ông, Shadow thầm nghĩ.

    Một bên mắt có màu xám đậm hơn bên còn lại.

    Ông nhìn Shadow.

    "Nhân tiện," ông nói, "Tôi rất tiếc khi nghe tin về vợ cậu, Shadow.

    Một mất mát lớn."

    Shadow đã suýt đánh người đàn ông.

    Thay vào đó, anh hít một hơi dài. ("Như tớ đã dặn, đừng gây sự với mấy con khốn ở sân bay," Johnnie Larch lên tiếng trong tâm trí anh.

    "Nếu không họ sẽ lôi cái mông cậu về đây trước khi cậu kịp thốt lên lời nào.") Anh đếm đến năm.

    "Tôi cũng vậy," anh nói.

    Người đàn ông lắc đầu.

    "Giá như mọi chuyện có thể xảy ra theo hướng khác," ông nói, thở dài.

    "Cô ấy chết trong một tai nạn xe hơi," Shadow nói.

    "Còn nhiều cách chết khác tệ hơn nhiều."

    Người đàn ông vẫn lắc đầu chậm rãi.

    Trong một khoảnh khắc, như thể với Shadow người đàn ông bỗng trở nên hư ảo; như thể chiếc máy bay đột nhiên trở nên thật hơn, trong khi người hàng xóm của anh trở nên ít thật hơn.

    "Shadow," ông nói.

    "Đây không phải là trò đùa.

    Cũng không phải mánh khóe gì hết.

    Ta có thể trả cậu nhiều hơn bất cứ công việc nào cậu tìm được.

    Cậu là một cựu tù nhân.

    Không có nhiều người tranh giành nhận cậu vào làm đâu."

    "Thưa quý ông đéo-nào-cũng-được," Shadow nói, chỉ vừa đủ lớn để nghe qua tiếng gầm động cơ, "làm gì có đủ tiền trên thế giới này."

    Điệu cười của ông càng lớn hơn.

    Shadow thấy mình đang nhớ lại chương trình nói về loài tinh tinh trên kênh PBS.

    Họ cho rằng khi loài vượn và tinh tinh cười, thật ra chúng chỉ đang nhe răng trong một vẻ nhăn nhó của sự thù ghét, công kích hoặc kinh sợ.

    Khi một con tinh tinh cười lớn, đó là một mối nguy.

    "Hãy làm việc cho ta.

    Dĩ nhiên, có thể có chút rủi ro, nhưng nếu cậu sống sót, cậu có thể có bất cứ thứ gì mình muốn.

    Cậu có thể trở thành vị vua tiếp theo của nước Mỹ.

    Còn giờ," người đàn ông nói, "còn ai sẽ trả cậu hậu hĩnh như thế này nữa?

    Hmm?"

    "Ông là ai?"

    Shadow hỏi.

    "À, phải rồi.

    Thời đại thông tin - quý cô này, cô có thể rót tôi một ly Jack Daniel's nữa không?

    Đừng cho nhiều đá quá - không, dĩ nhiên, đã từng có thêm thời đại khác nữa.

    Thông tin và kiến thức: hai ngoại tệ không bao giờ lỗi thời."

    "Tôi hỏi, ông là ai?"

    "Xem nào.

    Ừm, theo ta thấy hôm nay chắc hẳn là ngày của ta - sao cậu không gọi ta là Thứ Tư nhỉ?

    Quý ngài Thứ Tư.

    Mặc dù nhìn thời tiết, hôm nay cũng có thể là Thứ Năm, nhỉ?"

    "Tên thật của ông là gì?"

    "Làm việc với ta đủ lâu và đủ tốt," người đàn ông trong bộ suit nhạt màu nói, "có thể ta sẽ cho cậu biết.

    Đây.

    Lời mời làm việc.

    Cứ suy nghĩ đi.

    Không ai đòi hỏi cậu phải đồng ý ngay tức khắc, chẳng biết cậu sẽ nhảy ùm xuống bể cá piranha hay chui đầu vào chuồng gấu đâu.

    Cứ thong thả."

    Ông nhắm mắt, dựa người vào ghế.

    "Tôi không nghĩ vậy."

    Shadow nói.

    "Tôi không thích ông.

    Tôi không muốn làm việc với ông."

    "Như ta nói," người đàn ông lên tiếng mà không mở mắt, "đừng vội vàng.

    Cứ thong thả."

    Máy bay đáp xuống với một cú xóc mạnh, vài vị khách bước ra ngoài.

    Shadow nhìn ra cửa sổ: đây là một sân bay nhỏ giữa chốn đồng không mông quạnh, vẫn còn hai sân bay nhỏ nữa trước khi đến được Eagle Point.

    Shadow chuyển ánh nhìn của mình qua người đàn ông trong bộ suit nhạt màu - Quý ngài Thứ Tư ư?

    Trông ông có vẻ đã ngủ say.

    Một cách bốc đồng, Shadow đứng dậy, cầm túi của mình rồi bước ra khỏi máy bay, xuống những bậc thang trơn trượt ẩm ướt, đi với tốc độ đều đều về phía ánh sáng nhà ga.

    Mưa phùn lấm tấm trên mặt anh.

    Trước khi anh bước vào trong tòa nhà sân bay, anh dừng chân, quay lại, và quan sát.

    Không một ai bước ra khỏi máy bay.

    Phi hành đoàn lăn thang đi, cửa đóng, máy bay cất cánh.

    Shadow bước vào trong, thuê một thứ, mà khi anh bước vào bãi đậu xe, mới phát hiện ra đó là một chiếc Toyota nhỏ màu đỏ.

    Shadow mở bản đồ người ta đưa cho anh.

    Anh trải nó lên ghế cạnh tài xế.

    Eagle Point còn cách đó khoảng 250 dặm (người dịch: khoảng 400km).

    Những cơn bão đã qua, nếu chúng thật sự đã đi xa như thế này.

    Trời trong lành và se lạnh.

    Mây trôi nhanh trước mặt trăng, trong một khoảnh khắc Shadow không thể xác định được là mây hay là trăng đang di chuyển.

    Anh lái xe về phía Bắc trong một tiếng rưỡi.

    Trời đã trở muộn.

    Anh đói, và khi nhận ra mình thật sự đói đến mức nào, anh tấp xe tại điểm giao cắt đường tiếp theo và lái vào thị trấn Nottamun.

    Anh đổ đầy xăng ở trạm xăng Amoco và hỏi người phụ nữ buồn chán ở quầy thu ngân anh có thể kiếm đồ ăn ở đâu.

    "Quán bar Cá Sấu của Jack," cô ta bảo anh.

    "Ở phía tây đường County Road N."

    "Quán bar Cá Sấu?"

    "Ừ.

    Jack nói họ vừa cho thêm nhân vật mới."

    Cô vẽ cho anh bản đồ đến đó trên mặt sau tấm tờ rơi màu hoa cà, trong đó quảng cáo một con gà nướng vì lợi ích của một cô gái trẻ, người đang cần một quả thận mới.

    "Cậu ấy vừa tậu được vài con cá sấu, một con rắn, một con kiểu thằn lằn cỡ lớn."

    "Cự đà?"

    "Chính nó."

    Băng qua thị trấn, đi qua cầu, thêm một vài dặm nữa, anh dừng trước một tòa nhà thấp, hình chữ nhật với bảng hiệu bia Pabst đang sáng đèn.

    Bãi đỗ xe còn trống một nửa.

    Bên trong, không khí ngột ngạt vì khói thuốc và ca khúc "Walking After Midnight" đang được phát qua máy hát tự động.

    Shadow nhìn quanh tìm mấy con cá sấu, nhưng chẳng thấy con nào.

    Anh tự hỏi liệu người phụ nữ ở trạm xăng có nói đùa với anh không.

    "Anh dùng gì?" người pha chế hỏi.

    "Bia loại thường và một cái hamburger nhân đầy đủ.

    Khoai tây chiên."

    "Thịt hầm ớt chứ?

    Ngon nhất toàn bang."

    "Nghe hay đấy," Shadow nói.

    "Nhà vệ sinh ở đâu vậy?"

    Người thanh niên chỉ vào cánh cửa trong góc quán bar.

    Có một cái đầu cá sấu nhồi bông gắn trên cửa.

    Shadow bước qua cánh cửa đó.

    Đó là một căn phòng vệ sinh sạch sẽ, sáng sủa.

    Shadow nhìn quanh phòng, theo thói quen ("Nhớ cho kỹ, Shadow, cậu không thể phản kháng trong lúc đang đi tè," Low Key hiện lại trong tâm trí anh với phong thái kín đáo như mọi khi.) Anh dùng bệ tiểu bên tay trái.

    Anh kéo khóa quần, tiểu như nhịn cả thế kỷ, cảm thấy nhẹ nhõm.

    Anh đọc bài báo ố vàng được cắt dán và đóng khung ngang tầm mắt, với tấm ảnh Jack và hai con cá sấu trong đó.

    Ngay lập tức, có tiếng lầm bầm nhã nhặn phát ra từ bên tay phải, mặc dù anh không nghe thấy tiếng ai bước vào.

    Người đàn ông trong bộ suit nhạt màu lúc đứng trông to lớn hơn lúc ông ngồi trên máy bay cạnh Shadow.

    Ông cao gần bằng Shadow, và Shadow là một thanh niên bự con.

    Ông đang nhìn thẳng về phía trước.

    Ông tiểu xong, giũ bỏ những giọt cuối cùng, rồi kéo khóa quần lên.

    Sau đó ông cười toe toét, như con cáo bị mắc mõm ở hàng rào kẽm gai.

    "Vậy," Quý ngài Thứ Tư nói, "cậu có thời gian suy nghĩ rồi, Shadow.

    Cậu có muốn đi làm không?"
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Một (4)


    ĐÂU ĐÓ TẠI HOA KỲ

    Los Angeles, 23 giờ 26 phút.

    Giữa một căn phòng màu đỏ thẫm - gần như màu gan sống - có một người phụ nữ cao ráo mặc chiếc quần đùi bằng lụa bó chẽn một cách ngớ ngẩn, bộ ngực cô được kéo lên và đẩy về phía trước bằng chiếc áo cánh màu vàng thắt lại bên dưới.

    Mái tóc đen của cô được buộc cao và búi gọn gàng trên đỉnh đầu.

    Đứng cạnh cô là một người đàn ông thấp dáng, mặc chiếc áo thun màu xanh ô-liu và chiếc quần jean xanh đắt tiền.

    Hắn ta, bên tay phải, cầm một chiếc ví và một chiếc điện thoại Nokia phối màu xanh-đỏ-trắng.

    Bên trong căn phòng đỏ có một chiếc giường, phía trên bọc giường kiểu satin màu trắng và phủ lên đó là tấm khăn trải giường màu đỏ sậm như máu bò.

    Dưới chân giường có một chiếc bàn gỗ nhỏ, bên trên có một bức tượng nhỏ bằng đá tạc một người phụ nữ với cặp hông đẫy đà, và một chân nến.

    Người phụ nữ trao cho người đàn ông một cây nến đỏ.

    "Đây," cô nói.

    "Thắp nó lên đi."

    "Tôi sao?"

    "Đúng vậy," cô nói, "Nếu anh muốn có được tôi."

    "Lẽ ra tôi nên để cô thổi kèn trong xe thôi mới phải."

    "Biết đâu được," cô nói.

    "Anh không muốn tôi sao?"

    Tay cô vuốt ve khắp cơ thể từ cặp đùi lên bộ ngực, một cử chỉ của sự phô bày, như thể cô đang giới thiệu một món hàng mới.

    Tấm khăn lụa đỏ phủ trên chiếc đèn bàn trong góc phòng khiến màu đèn hóa đỏ.

    Người đàn ông nhìn cô đầy thèm muốn, hắn lấy cây nến từ tay cô rồi nhấn nó vào chân nến.

    "Cô có bật lửa chứ?"

    Cô đưa hắn một hộp diêm.

    Hắn lấy vội một que rồi đốt bấc nến: nó chập chờn, sau đó cháy lên với ánh lửa đều đều, thứ đem lại chút ảo ảnh chuyển động cho bức tượng vô danh bên cạnh, cho cả phần hông và bộ ngực nó.

    "Đặt tiền bên dưới bức tượng đi."

    "Năm mươi đô-la."

    "Đúng vậy," cô nói.

    "Giờ, hãy đến và yêu em đi"

    Hắn cởi khóa quần jean và cởi luôn chiếc áo thun màu xanh ô-liu.

    Cô xoa nắn đôi vai trắng trẻo của hắn bằng những ngón tay màu nâu của mình; rồi cô xoay hắn lại và bắt đầu làm tình với hắn bằng bàn tay, bằng ngón tay, và bằng lưỡi.

    Với hắn, ánh đèn trong phòng có vẻ đã mờ đi, và ánh sáng duy nhất đến từ cây nến kia, thứ đang cháy ngọn lửa sáng bừng.

    "Cô tên gì?" hắn hỏi.

    "Bilquis," cô trả lời, ngẩng cao đầu.

    "Với một chữ Q."

    "Một chữ gì cơ?"

    "Thôi bỏ đi."

    Hắn giờ đang thở hổn hển.

    "Hãy để tôi đụ cô," hắn nói.

    "Tôi phải đụ cô."

    "Được thôi, cục cưng," cô nói.

    "Chúng ta sẽ làm chuyện đó.

    Nhưng anh phải làm cho em một chuyện nữa, trong lúc anh làm chuyện đó?"

    "Này," hắn nói, đột nhiên nổi giận, "Tôi trả tiền cho cô rồi mà."

    Cô dạng chân hắn ra, bằng một chuyển động uyển chuyển, thì thầm, "Em biết, cục cưng, em biết chứ, anh đã trả tiền cho em, nhưng ý em là, nhìn anh đi, em nên trả tiền cho anh mới phải, em thật may mắn..."

    Hắn mím môi, cố thể hiện rằng những lời mồi chài đó không có tác dụng với hắn, hắn không thể bị chiếm hữu; cô là một ả điếm đứng đường, vì Chúa, trong khi hắn trên thực tế là một nhà sản xuất, và hắn biết tất cả những trò lừa đảo vào phút chót của bọn gái điếm, nhưng cô không đòi tiền hắn.

    Ngược lại cô còn nói, "Cục cưng, trong khi anh cho em điều đó, trong khi anh nhấp dương vật to lớn cương cứng của anh vào trong em, anh sẽ tôn thờ em chứ?

    "Tôi sẽ gì cơ?"

    Cô di chuyển tới lui trên người hắn: đầu dương vật cương cứng của hắn đang cọ sát vào cặp môi âm hộ ẩm ướt của cô.

    "Anh sẽ gọi em là nữ thần chứ?

    Anh sẽ khấn cầu cho em chứ?

    Anh sẽ thờ phụng em với cả thể xác của mình chứ?"

    Hắn cười.

    Đó là tất cả những gì ả ta muốn sao?

    Đúng là vào cuối ngày, ai cũng đều lập dị theo cách riêng của mình.

    Cô đưa tay tới vùng giữa hai chân và nhét cái đó của hắn vào sâu trong cô.

    "Sướng lắm phải không, nữ thần?" hắn hỏi, thở gấp.

    "Tôn thờ em đi, cục cưng," Bilquis, ả điếm, nói.

    "Được," hắn nói.

    "Ta tôn thờ bộ ngực, mái tóc và âm hộ nàng.

    Ta tôn thờ cặp đùi, đôi mắt và đôi môi đỏ mọng của nàng..."

    "Đúng rồi..." cô ngâm nga khe khẽ trong lúc cưỡi trên người hắn.

    "Ta tôn thờ nhũ hoa của nàng, từ đó mà chảy ra dòng sữa cuộc đời.

    Nụ hôn của nàng là mật ngọt, cái chạm của nàng thiêu đốt như lửa nóng, và ta tôn thờ chúng."

    Lời lẽ của hắn càng lúc càng nhịp nhàng, giữ tốc độ cùng hai cơ thể đang hòa quyện vào nhau.

    "Đem cho ta ham muốn của nàng vào mỗi sáng, đem cho ta khuây khỏa và phước lành của nàng vào mỗi đêm.

    Hãy cho ta bước đi trong tăm tối mà bình yên vô sự, hãy cho ta bước đi cùng nàng thêm một lần nữa, ngủ cạnh nàng và làm tình với nàng thêm một lần nữa.

    Ta tôn thờ nàng với mọi thứ trong ta, và mọi thứ trong tâm trí ta, với mọi nơi ta đã từng tới và những giấc mơ của ta và..." hắn nghỉ giữa chừng, gắng sức lấy hơi.

    "Cô đang làm gì vậy?

    Cảm giác tuyệt vời quá.

    Rất tuyệt vời..." hắn nhìn xuống hông mình, tại nơi hai người đang hòa vào làm một, nhưng ngón trỏ cô chạm vào cằm hắn và nâng đầu hắn lên, nên hắn chỉ nhìn thấy mỗi gương mặt cô và một lần nữa là mỗi cái trần nhà.

    "Tiếp tục nói đi, cục cưng," cô nói.

    "Đừng dừng lại.

    Sướng lắm phải không?"

    "Sướng hơn bất kỳ thứ gì tôi từng biết," hắn nói, thật lòng hắn có ý như vậy.

    "Mắt nàng là những vì sao, cháy trên, má, bầu trời, và môi nàng là những cơn sóng êm dịu liếm vào bờ cát, và ta tôn thờ chúng," giờ hắn đang nhấp càng lúc càng sâu hơn trong cô: hắn thấy đầy phấn khích, như thể toàn bộ phần thân dưới của hắn đã bị kích thích tình dục: dương vật cương cứng và sung sướng.

    "Đem cho ta món quà của nàng," hắn lẩm bẩm, không còn ý thức được mình đang nói gì, "món quà đích thực duy nhất của nàng, và khiến ta luôn luôn... luôn luôn...

    Ta tôn thờ...

    Ta..."

    Và rồi cơn khoái cảm đạt đến cực đỉnh, làm nổ tung tâm trí hắn thành hư vô, đầu óc, bản thân hắn và toàn bộ mọi thứ trở nên hoàn toàn trống rỗng khi hắn nhấp sâu vào trong cô và sâu hơn nữa...

    Mắt nhắm, co thắt, hắn đắm chìm vào thực tại; và khi hắn cảm thấy tròng trành, như thể hắn đang bị treo, đầu gục xuống, mặc dù cơn khoái cảm vẫn tiếp diễn.

    Hắn mở mắt ra.

    Hắn đăm chiêu, cố níu kéo suy nghĩ và lý trí lại lần nữa, về sự khởi đầu, và tự hỏi, không một chút kinh sợ, trong khoảnh khắc của sự thông suốt hoàn mỹ sau khi làm tình, dù những gì hắn thấy cứ như một dạng ảo ảnh nào đó.

    Đây là những gì hắn thấy: Hắn đang ở trong cô tới phần ngực, và hắn đang nhìn chằm chằm vào đó với hoài nghi và băn khoăn, cô đặt hai tay mình lên vai hắn và đẩy cơ thể hắn nhẹ nhàng vào trong.

    Hắn trượt sâu hơn vào bên trong cô.

    "Cô làm điều này với tôi như thế nào?" hắn hỏi, hoặc hắn nghĩ rằng hắn hỏi, nhưng có lẽ câu hỏi đó chỉ nằm trong đầu hắn.

    "Anh làm điều đó đấy, cục cưng," cô thì thầm.

    Hắn cảm thấy hai môi âm hộ cô thắt chặt quanh ngực và lưng mình, co thắt và bao bọc hắn.

    Hắn tự hỏi người khác sẽ thấy điều này như thế nào. hắn tự hỏi vì sao mình không thấy sợ hãi.

    Và rồi hắn ngộ ra.

    "Ta thờ phụng nàng với cả thể xác mình," hắn thì thầm trong lúc cô đẩy hắn vào trong.

    Môi dưới của cô kéo trơn tru gương mặt hắn vào, và đôi mắt hắn chìm vào bóng tối.

    Cô duỗi người trên giường, trông như một con mèo lớn, và rồi cô ngáp dài.

    "Đúng vậy," cô nói.

    "Ngươi đã làm."

    Con Nokia reo lên bản "Ode to Joy" được viết lại với tông cao, điện tử.

    Cô cầm nó lên, nhấn một nhút, rồi đặt nó lên tai.

    Bụng cô phẳng, môi âm hộ cô nhỏ và khép kín.

    Một lớp mồ hôi mỏng lấm tấm trên trán và môi trên.

    "Vâng?" cô nói.

    Và rồi cô nói tiếp, "Không, cục cưng, anh ấy không có đây.

    Anh ấy biến mất rồi."

    Cô tắt điện thoại trước khi ngã xuống giường trong căn phòng đỏ thẫm, duỗi người ra thêm một lần nữa, nhắm mắt lại, rồi cô ngủ thiếp đi.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Hai (1)


    "Họ đưa nàng tới nghĩa trang

    Trong một con Cadillac cũ

    Họ đưa nàng tới nghĩa trang

    Nhưng không mang nàng quay về."

    - Một bài hát xưa

    "Ta đã tự ý," Quý ngài Thứ Tư vừa nói vừa rửa tay trong phòng vệ sinh nam của quán bar Cá Sấu của Jack, "gọi món cho mình, chuyển tới bàn của cậu.

    Chúng ta có nhiều thứ để bàn bạc đấy."

    "Tôi không nghĩ vậy đâu," Shadow nói.

    Anh lau tay mình bằng khăn giấy, vò nát nó, rồi quẳng vào thùng rác.

    "Cậu cần việc làm," ngài Thứ Tư nói.

    "Người ta không tuyển cựu tù nhân.

    Mấy cậu khiến họ thấy không thoải mái."

    "Tôi có công việc đang chờ.

    Một công việc tốt."

    "Công việc ở Muscle Farm đó hả?"

    "Chắc vậy," Shadow nói.

    "Không hề.

    Cậu không có việc gì đâu.

    Robbie Burton đã chết.

    Không có cậu ấy, Muscle Farm cũng chết theo luôn."

    "Ông là một kẻ nói dối."

    "Dĩ nhiên.

    Và cũng là một người tốt.

    Tốt nhất cậu từng gặp.

    Nhưng, ta e là, lần này ta không nói dối cậu đâu."

    Ông đưa tay vào túi, lấy ra một tờ báo gấp gọn, rồi đưa nó cho Shadow.

    "Trang số bảy," ông nói.

    "Ra quán lại đi.

    Cậu có thể đọc nó ở bàn ăn."

    Shadow đẩy cửa mở, quay lại quán bar.

    Không khí đặc một màu xanh lam với khói thuốc lá, và nhóm Dixie Cups đang hát trong máy hát tự động ca khúc "Iko Iko."

    Shadow thoáng chốc mỉm cười khi nhận ra ca khúc thiếu nhi xưa cũ.

    Người phục vụ chỉ vào chiếc bàn trong góc.

    Có một tô thịt hầm ớt và hamburger nằm ở một góc bàn, một miếng bít tết độ tái và một tô khoai tây chiên ở phía đối diện.

    Shadow vào vị trí ngồi của mình.

    Anh đặt tờ báo xuống.

    "Đây là bữa ăn đầu tiên của tôi sau khi ra tù.

    Tôi sẽ chờ cho đến khi ăn xong mới đọc trang báo số bảy của ông."

    Shadow ăn cái bánh hamburger.

    Nó ngon hơn hẳn so với mấy cái hamburger trong tù.

    Thịt hầm ớt cũng ngon nhưng, sau một vài muỗng đầy, anh cho rằng nó không hề ngon nhất toàn bang.

    Laura mới là người nấu món thịt hầm ớt ngon nhất.

    Nàng dùng thịt nạc, đậu thận sẫm màu, cà rốt cắt nhỏ, khoảng một chai bia đen, và những lát ớt tươi cay nồng.

    Nàng sẽ để ớt hầm trong một lúc, rồi mới cho rượu đỏ, nước chanh và một nhúm thì là tươivào, cuối cùng, nàng đong đếm và cho bột ớt.

    Đã nhiều lần Shadow cố vòi vĩnh cho anh xem cách nàng nấu: anh sẽ quan sát mọi thứ nàng làm, từ việc cắt hành đến việc trút nó vào dầu ô-liu ở đáy nồi.

    Anh thậm chí còn viết xuống công thức, từng nguyên liệu một, có một lần anh tự làm món thịt hầm ớt của Laura lúc nàng đi ra khỏi thị trấn.

    Nó có vị ổn - hoàn toàn ăn được, nhưng không ngon như món của Laura.

    Mục tin tức ở trang số bảy là bản tường thuật cái chết của vợ anh mà Shadow đã đọc rồi.

    Laura Moon, số tuổi được ghi trong bài báo là hai mươi bảy, và Robbie Burton, ba mươi chín, cả hai đều ở trong xe của Robbie trên đường giao bang khi họ rẽ vào làn đường dành cho xe ba mươi hai bánh.

    Chiếc xe tải lướt qua xe của Robbie và khiến nó quay tít bên lề đường.

    Đội cứu hộ kéo Robbie và Laura ra khỏi đống đổ nát.

    Cả hai đều tử vong ngay khi đến bệnh viện.

    Shadow gấp tờ báo lại lần nữa và đẩy nó trên mặt bàn, về phía ngài Thứ Tư, người đang ngấu nghiến miếng bít tết đượm máu và xanh tái như chưa từng được nấu qua lửa bếp.

    "Đây.

    Cầm lấy đi," Shadow nói.

    Robbie đang lái xe.

    Hẳn cậu ấy đã say, mặc dù bài báo không nhắc đến điều đó.

    Shadow tưởng tượng ra gương mặt Laura khi cô nhận ra Robbie đã quá say để có thể lái xe.

    Kịch bản diễn ra trong tâm trí Shadow, và chẳng có gì có thể khiến anh dừng suy nghĩ: Laura hét vào mặt Robbie - hét vào mặt cậu ấy để tấp vào lề, rồi có tiếng xe hơi đâm sầm vào xe tải, và vô-lăng chệch hướng qua...

    ... chiếc xe nằm bên lề đường, kính vỡ lấp lánh như băng tuyết và kim cương dưới ánh đèn pha, máu đổ thành vũng màu hồng ngọc trên đường cạnh họ.

    Hai cơ thể được bế ra từ chiếc xe hỏng nát, hoặc được đặt nằm ngay ngắn bên đường.

    "Vậy là?"

    Quý ngài Thư Tư hỏi.

    Ông đã ăn xong món bít tết, ngấu nghiến nó như một gã chết đói.

    Giờ ông đang nhóp nhép món khoai tây chiên, xiên nó lên bằng nĩa của mình.

    "Ông nói đúng," Shadow nói.

    "Tôi chẳng có công việc nào cả."

    Shadow lấy một đồng 25 cent ra khỏi túi, đặt mặt sấp nằm trên.

    Anh tung nó lên trời, đập nó vào ngón tay khi nó rời khỏi tay anh, cho nó chao đảo một chút như thể nó đang xoay, bắt lấy nó, dằn nó xuống mu bàn tay.

    "Đoán đi," anh nói.

    "Tại sao?"

    Ngài Thứ Tư hỏi.

    "Tôi không muốn làm việc với ai đó kém may mắn hơn tôi.

    Đoán đi"

    "Ngửa," Quý ngài Thứ Tư nói.

    "Rất tiếc," Shadow nói mà không thèm nhìn vào đồng xu.

    "Nó là mặt sấp.

    Tôi đã gian lận."

    "Mấy trò gian lận là thứ dễ thắng nhất," Ngài Thứ Tư nói, vẫy một ngón tay to bè trước Shadow.

    "Nhìn lại đi."

    Shadow liếc xuống.

    Mặt ngửa đang nằm trên.

    "Hẳn tôi đã ném vụng," anh nói đầy bối rối.

    "Cậu đã tự chơi xỏ mình," Ngài Thứ Tư nói và cười lớn.

    "Ta chỉ là một kẻ may mắn."

    Rồi ông ngước lên.

    "Chà, ta chưa bao giờ.

    Sweeney Điên.

    Uống chung với tụi này chứ?"

    "Southern Comfort và Coca, lạnh nhưng không đá," một giọng nói phía sau Shadow yêu cầu.

    "Ta sẽ đi và nói với tên pha chế," ngài Thứ Tư nói.

    Ông đứng lên, bắt đầu đi về phía quầy bar.

    "Ông không định hỏi tôi muốn uống gì sao?"

    Shadow gọi ông.

    "Ta biết sẵn cậu muốn uống gì rồi," ngài Thứ Tư nói, và giờ ông đang đứng cạnh quầy bar.

    Patsy Cline bắt đầu hát ca khúc "Walking After Midnight" trên máy hát lần nữa.

    Tên Southern Comfort và Coca ngồi xuống cạnh Shadow.

    Hắn có râu ngắn màu củ gừng (người dịch: màu nâu cam nhạt).

    Hắn mặc áo khoác denim thêu đầy huy hiệu sáng màu, và bên dưới áo khoác là một chiếc áo thun trắng ố vàng.

    Trên chiếc áo thun có in dòng chữ:

    NẾU BẠN KHÔNG THỂ ĂN NÓ, UỐNG NÓ,

    HÚT NÓ, HAY HÍT NÓ...

    VẬY THÌ

    ĐỊT BÀ NÓ!

    Hắn đội một chiếc mũ bóng chày, trên đó in dòng chữ:

    NGƯỜI PHỤ NỮ DUY NHẤT TÔI TỪNG

    YÊU LÀ VỢ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHÁC

    ...

    MẸ TÔI!

    Hắn mở một hộp Lucky Strikes bằng ngón tay cái dơ bẩn, lấy một điếu ra, mời Shadow một điếu.

    Shadow định lấy, một cách tự động - anh không hút thuốc, nhưng một điếu thuốc có thể là một món đồ đổi chác tốt - khi anh nhận ra mình không còn trong tù nữa.

    Anh lắc đầu.

    "Vậy là anh làm việc cho lão già đó?" gã râu ria hỏi.

    Hắn không tỉnh, mặc dù cũng chưa hẳn là say.

    "Trông có vẻ là vậy," Shadow nói.

    "Còn anh làm gì?"

    Gã râu ria châm lửa hút thuốc.

    "Tôi là yêu tinh," hắn nói, cười toe toét.

    Shadow không mỉm cười.

    "Thật sao?" anh hỏi.

    "Không phải anh nên uống bia Guinness sao?"

    "Những định kiến.

    Anh phải học cách nghĩ thoáng ra đi," gã râu ria nói.

    "Có nhiều thứ liên quan tới Ireland hơn bia Guinness đấy."

    "Anh đâu có chất giọng người Ireland."

    "Tôi đã ở đây lâu lắm rồi."

    "Vậy anh có nguồn gốc từ Ireland?"

    "Tôi nói với anh rồi mà.

    Tôi là yêu tinh.

    Tụi tôi không đến từ Moscow."

    "Tôi đoán là vậy."

    Ngài Thứ Tư quay lại bàn, ba ly nước được giữ dễ dàng trong bàn tay to như thú vật của ông.

    "Southern Comfort và Coca cho cậu, Sweeney Điên, chàng trai của ta, và một Jack Daniel's cho ta.

    Còn đây là của cậu, Shadow."

    "Cái gì đây?"

    "Nếm thử đi."

    Ly nước có màu vàng kim ánh nâu.

    Shadow nhấp một ngụm, nếm thấy một hỗn hợp kỳ dị giữa chua và ngọt trên lưỡi.

    Anh có thể nếm thấy vị cồn trong đó, và một hỗn hợp mùi vị xa lạ khác.

    Nó làm anh nhớ đến một chút vị rượu tự chế trong nhà tù, được ủ trong một cái túi rác từ trái cây thối, bánh mì, đường và nước, nhưng thứ nước này ngọt hơn, và kỳ lạ hơn nhiều.

    "Được rồi," Shadow nói.

    "Tôi nếm rồi đó.

    Cái gì vậy?"

    "Rượu mật," ngài Thứ Tư nói.

    "Rượu mật ong.

    Thức uống dành cho những vị anh hùng.

    Thức uống dành cho những vị thần."

    Shadow do dự nhấp thêm một ngụm nữa.

    Đúng, anh có thể nếm thấy vị mật ong.

    Một trong những mùi vị khác.

    "Có vị như nước ép dưa chua vậy," anh nói.

    "Rượu dưa chua ngọt."

    "Có vị như nước tiểu của một tên đái tháo đường say khướt vậy," ngài Thứ Tư đồng tình.

    "Ta ghét mấy thứ này."

    'Vậy sao ông đưa nó cho tôi?"

    Shadow hỏi.

    Ngài Thứ Tư nhìn Shadow chằm chằm bằng đôi mắt không cân xứng của mình.

    Một con mắt, Shadow xác định, là giả, nhưng bên còn lại thì anh không nói được.

    "Ta mang rượu mật cho cậu uống vì đó là truyền thống.

    Và ngay bây giờ chúng ta cần truyền thống hết sức có thể.

    Nó chứng thực giao kèo của chúng ta."

    "Chúng ta có giao kèo nào đâu."

    "Chắc chắn là có chứ.

    Giờ cậu làm việc cho ta.

    Cậu bảo vệ ta.

    Cậu chở ta từ nơi này đến nơi khác.

    Cậu chạy việc vặt.

    Trong trường hợp khẩn cấp, mà cũng chỉ có một trường hợp khẩn cấp thôi, cậu làm đau người cần phải bị đau.

    Trong trường hợp ta qua đời, mà điều đó khó thành sự thật lắm, cậu sẽ canh chừng ta.

    Và đổi lại, ta sẽ đảm bảo các nhu cầu của cậu được chăm lo đầy đủ."

    "Ông ta đang ép buộc anh đấy," Sweeney Điên nói trong lúc xoa xoa bộ râu màu củ gừng lởm chởm.

    "Ông ta là một tên lừa đảo."

    "Chuẩn con mẹ nó luôn ta là một tên lừa đảo," ngài Thứ Tư nói.

    "Đó là lý do vì sao ta cần ai đó trông chừng cho những lợi ích tốt nhất của ta."

    Ca khúc đang phát qua máy phát tự động kết thúc, trong phút chốc quán bar rơi vào tĩnh mịch, mọi cuộc trò chuyện tạm lắng xuống.

    "Ai đó nói tôi rằng bạn chỉ có thể chứng kiến khoảnh khắc mà mọi-người-đều-câm-mồm-lại-cùng-một-lúc vào phút thứ hai mươi hoặc phút kém hai mươi mỗi giờ," Shadow nói. (người dịch: tức là phút hai mươi hoặc phút bốn mươi mỗi giờ.)

    Sweeney chỉ vào chiếc đồng hồ phía trên quầy bar, thứ được giữ trong bộ hàm khổng lồ và hờ hững của một cái đầu cá sấu nhồi bông.

    Thời gian trên đó là 11:20.

    "Đấy," Shadow nói.

    "Mẹ kiếp, giá như tôi biết vì sao điều đó lại xảy ra."

    "Ta biết đấy," ngài Thứ Tư nói.

    "Uống ly rượu mật của cậu đi."

    Shadow nốc cạn đống rượu mật còn lại chỉ trong một hơi.

    "Có lẽ sẽ ngon hơn nếu uống kèm với đá," anh nói.

    "Hoặc có lẽ không," ngài Thứ Tư nói.

    "Thứ này dở tệ."

    "Đúng vậy đấy," Sweeney Điên đồng tình.

    "Xin lỗi các quý ông một chút, nhưng tôi nhận ra mình đang có một nhu cầu cấp thiết và cấp bách cho một bãi tè thật dài."

    Hắn đứng dậy và bỏ đi, một gã cao lớn khó tin.

    Hắn phải cao gần hai mét, Shadow cho là vậy.

    Bồi bàn lau mặt bàn và lấy mấy cái dĩa trống đi.

    Ngài Thứ Tư nói với cô ấy phục vụ những món giống lần trước cho cả ba người, nhưng lần này rượu mật của Shadow được cho thêm đá.

    "Nhân tiện," ngài Thứ Tư nói, "đó là những gì ta cần ở cậu."

    "Ông có muốn biết tôi muốn gì không?"

    Shadow hỏi.

    "Vậy thì còn gì bằng."

    Bồi bàn mang đồ uống ra.

    Shadow nhấp chút rượu mật đã thêm đá lạnh.

    Đá không giúp được gì - mà ngược lại nó còn làm đậm vị chua lên, bỏ lại dư vị trong miệng sau khi rượu mật đã được nuốt hết.

    Tuy nhiên, Shadow tự ai ủi mình, rằng rượu mật không có vị cồn nhiều lắm.

    Anh chưa sẵn sàng để say.

    Chưa phải lúc.

    Anh hít một hơi thật sâu.

    "Được rồi," Shadow nói.

    "Đời tôi, trong ba năm, đã là một chặng đường dài từ một cuộc đời hạnh phúc hơn bao giờ hết, chỉ cần một bước ngoặt dễ dàng và đột ngột đã trở thành một cuộc đời tồi tệ hơn bao giờ hết.

    Giờ có vài thứ tôi cần phải làm.

    Tôi muốn đến dự tang lễ của Laura.

    Tôi muốn nói lời từ biệt.

    Tôi nên kết thúc mọi chuyện với cô ấy.

    Nếu ông vẫn cần tôi, tôi muốn bắt đầu với giá năm trăm đô-la một tuần."

    Con số này như một vết dao cứa vào cổ ông.

    Đôi mắt ngài Thứ Tư chẳng bộc lộ điều gì.

    "Nếu chúng ta làm việc vui vẻ cùng nhau, trong sáu tháng, đó là lúc ông phải tăng lương cho tôi lên một ngàn đô một tuần."

    Anh dừng lại.

    Đây là bài phát biểu dài nhất anh từng nói trong nhiều năm qua.

    "Ông nói có thể ông cần ai đó bị thương.

    Ừ, tôi sẽ làm đau người khác nếu người đó cố gắng làm ông đau.

    Nhưng tôi không muốn làm đau người khác vì mua vui hay vì lợi nhuận.

    Tôi sẽ không quay lại nhà tù đâu.

    Một lần là quá đủ."

    "Cậu sẽ không phải quay lại đó đâu," ngài Thứ Tư nói.

    "Không," Shadow nói.

    "Tôi sẽ không quay lại đó."

    Anh nốc cạn ly rượu mật cuối cùng.

    Đột nhiên, anh tự hỏi, đâu đó trong tâm trí mình, liệu thứ rượu mật này có chịu trách nhiệm cho việc ba hoa chích chòe của anh hay không.

    Nhưng những câu từ cứ trào ra khỏi anh như nước phun ra từ vòi chữa cháy giữa mùa hè, và anh không thể ngăn chúng nếu có thử.

    "Tôi không thích ông, Quý ngài Thứ Tư, hay bất cứ cái gì là tên thật của ông.

    Chúng ta không phải bằng hữu.

    Tôi không biết làm cách nào ông bước ra khỏi cái máy bay đó mà không nhìn thấy tôi, hay làm cách nào mà ông lẽo đẽo theo tôi được tới đây.

    Nhưng giờ tôi cùng đường rồi.

    Khi chúng ta xong xuôi, tôi sẽ đi.

    Và nếu ông làm tôi khó chịu, tôi cũng sẽ đi.

    Từ giờ cho đến lúc đó, tôi sẽ làm việc cho ông."

    "Rất tốt," ngài Thứ Tư nói.

    "Vậy là chúng ta đã có một giao kèo.

    Và đôi bên đều đồng ý."

    "Cái đéo gì cơ," Shadow nói.

    Bên kia căn phòng, Sweeney Điên đang cho vài đồng xu vào máy hát tự động.

    Ngài Thứ Tư nhổ nước bọt vào lòng bàn tay rồi giơ nó ra.

    Shadow nhún vai.

    Anh nhổ nước bọt vào bàn tay mình.

    Họ đập tay vào nhau.

    Ngài Thứ Tư bắt đầu siết chặt.

    Shadow cũng siết chặt lại.

    Trong vài giây tay anh bắt đầu đau đớn.

    Ngài Thứ Tư kẹp tay anh thêm một chút nữa, rồi ông thả ra.

    "Tốt," ông nói.

    "Tốt.

    Rất tốt.

    Vậy, một ly cuối cho ác quỷ, rượu mật kinh con mẹ nó tởm để chốt giao kèo của chúng ta, và thế là xong."

    "Còn tôi một ly Southern Comfort và Coca."

    Sweeney nói, lảo đảo quay về từ chỗ máy hát.

    Máy hát bắt đầu chơi bài "Who Loves the Sun?" của nhóm Velvet Underground.

    Shadow nghĩ bài hát này rất khó để tìm được trong một cái máy hát tự động.

    Bài hát nghe rất lạ.

    Nhưng sau đó, toàn bộ đêm nay càng lúc càng kỳ lạ hơn.

    Shadow lấy đồng xu anh dùng lúc nãy trên mặt bàn, tận hưởng cảm giác của một đồng xu mới dập qua những ngón tay, sờ nó trong tay phải mình giữa ngón trỏ và ngón cái.

    Có vẻ như anh đã đưa nó qua bên tay trái bằng một động tác mượt mà, trong khi giấu nó trong mặt sau các ngón tay.

    Anh nắm bàn tay trái với đồng xu tưởng tượng bên trong.

    Rồi anh lấy ra một đồng xu thứ hai từ tay phải, giữa ngón tay và ngón cái, và, khi anh giả vờ làm rơi đồng xu đó vào tay trái, anh để đồng xu được giấu trong lòng bàn tay rơi vào tay phải mình, va vào đồng xu anh giữ ở đó lúc nãy.

    Tiếng lách cách vang lên chứng tỏ ảo giác rằng cả hai đồng xu đã nằm trong tay trái anh, trong khi chúng đang được giữ an toàn bên tay phải.

    "Mấy trò bịp với đồng xu phải không?"

    Sweeney hỏi, cằm hất lên, bộ râu quai nón của hắn lởm chởm.

    "Sao vậy, nếu đó là mấy trò bịp với đồng xu mà ta đang nói tới, vậy thì xem đây."

    Hắn lấy một cái ly thủy tinh rỗng trên bàn.

    Rồi hắn đưa tay ra và thả vào đó một đồng xu to, bằng vàng và sáng lấp lánh, từ không khí.

    Hắn quẳng nó vào chiếc ly.

    Hắn lấy một đồng vàng khác từ không khí và quẳng nó vào ly tiếp, nơi nó vang lên leng keng khi chạm vào đồng xu đầu.

    Hắn lấy một đồng từ trong ngọn lửa của cây nến treo trên tường, một đồng nữa từ bộ râu của hắn, và đồng thứ ba từ bàn tay trái trống trơn của Shadow, và thả chúng, từng viên một, vào ly thủy tinh rỗng.

    Rồi hắn cong những ngón tay trên chiếc ly, thổi mạnh, thêm nhiều đồng vàng rơi xuống ly từ tay hắn.

    Hắn đổ chiếc ly đầy đồng vàng vào túi áo khoác, và rồi vỗ vỗ chiếc túi để cho anh thấy, rõ ràng, trong đó rỗng không.

    "Đấy," hắn nói.

    "Đấy là trò bịp dành cho anh."
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Hai (2)


    Shadow, người đang theo dõi cẩn thận, nghiêng đầu sang một bên.

    "Tôi cần biết làm cách nào anh làm được điều đó."

    "Tôi đã làm điều đó," Sweeney nói, hành xử như thể đang tâm sự một bí mật vĩ đại, "với sự phô trương và kiểu cách.

    Đó là cách tôi làm đấy."

    Hắn cười vang, rồi lại im lặng, đá gót giày, nhe hàm răng lỗ chỗ.

    "Ừ," Shadow nói.

    "Đó là cách anh làm.

    Anh phải dạy tôi.

    Theo như tất cả những cách làm mánh Miser's Dream tôi từng đọc, anh hẳn đã giấu mấy đồng xu bên tay giữ ly, rồi quẳng chúng vào đó trong lúc hô biến ra rồi hô biến mất đồng xu bên tay trái." (người dịch: Miser's Dream là một mánh chơi đồng xu, ảo thuật gia biến ra đồng xu từ không khí (và những nơi khác) rồi thả chúng vào một vật chứa mà họ đang giữ, thường là một cái xô kim loại.)

    "Nghe lằng nhằng phức tạp với tôi quá," Sweeney Điên nói.

    "Sẽ dễ hơn nếu cứ lấy chúng ra từ không khí."

    Ngài Thứ Tư nói, "Rượu mật cho cậu, Shadow.

    Ta vẫn sẽ trung thành với Quý ngài Jack Daniel's, còn tên Ireland ăn bám này thì...?"

    "Một chai bia, ưu tiên loại đen," Sweeney nói.

    "Tên ăn bám, hả?"

    Hắn cầm ly rượu còn sót lại, nâng nó lên trước mặt ngài Thứ Tư.

    "Có thể cơn bão đã đi qua chúng ta, và bỏ lại chúng ta không chút hề hấn thương tật," hắn nói, nốc cạn ly rượu.

    "Lý do nâng ly hay đấy," ngài Thứ Tư nói.

    "Nhưng sẽ không vậy đâu."

    Một ly rượu mật nữa được đặt trước mặt Shadow.

    "Tôi có phải uống nữa không?"

    "Ta e rằng cậu sẽ phải uống.

    Nó chốt giao kèo của chúng ta mà.

    Quá tam ba bận, ha?"

    "Má," Shadow nói.

    Anh nuốt chửng ly rượu mật trong hai ngụm lớn.

    Vị mật ong-dưa chua ám đầy khoang miệng anh.

    "Đấy," quý ngài Thứ Tư nói.

    "Giờ, cậu là người của tôi."

    "Vậy," Sweeney nói, "anh muốn biết mánh của tôi không?"

    "Có," Shadow nói.

    "Anh trữ chúng trong tay áo à?"

    'Chúng không bao giờ nằm trong tay áo cả," Sweeney nói.

    Hắn tự cười nắc nẻ, lắc lắc và nhún nhún người như thể hắn là một ngọn núi lửa cao kều, râu ria xồm xoàm chuẩn bị phun trào với niềm vui sướng cho sự thông minh của chính hắn.

    "Đó là trò dễ nhất trần đời.

    Ta sẽ đánh nhau một trận cho mánh đó."

    Shadow lắc đầu.

    "Tôi bỏ."

    "Hay chưa kìa," Sweeney nói với mọi người trong phòng.

    "Ngài Thứ Tư già cỗi tự thuê một tay bảo vệ, thậm chí tay đấy còn quá sợ giơ nắm đấm của mình nữa."

    "Tôi sẽ không đánh nhau với anh đâu," Shadow đồng tình.

    Sweeney lắc lư cơ thể và mồ hôi túa ra.

    Hắn nghịch vành mũ bóng chày.

    Rồi hắn móc một đồng xu từ không khí và đặt nó lên bàn.

    "Vàng thật đấy, nếu anh đang thắc mắc," Sweeney nói.

    "Thắng hay thua - và chắc chắn anh sẽ thua thôi - nó cũng là của anh nếu anh đánh tôi.

    Một tên to con như anh - ai mà nghĩ được anh lại hèn nhát đến thế?"

    "Cậu ấy đã nói sẽ không đánh anh rồi," ngài Thứ Tư nói.

    "Biến đi, Sweeney Điên à.

    Cầm lấy lon bia của mình và để chúng tôi yên."

    Sweeney bước lại một bước gần hơn với ngài Thứ Tư.

    "Gọi tôi là tên ăn bám lần nữa đi, đồ sinh vật già nua xui xẻo?

    Cái thứ cây treo cổ già cỗi máu lạnh, vô cảm."

    Mặt hắn dần chuyển sang một màu đỏ giận dữ, thâm thù.

    Ngài Thứ Tư giơ tay ra, lòng bàn tay ngửa, tỏ vẻ yêu hòa bình.

    "Dại dột lắm, Sweeney.

    Cẩn trọng lời nói của cậu đấy."

    Sweeney liếc ông.

    Rồi hắn nói, với trọng lực của một kẻ đã say bí tỉ, "Ông đã thuê một tên nhát cáy.

    Hắn sẽ làm được gì nếu tôi làm ông bị thương, hả?"

    Ngài Thứ Tư quay sang Shadow.

    "Tôi chịu đủ rồi," ông nói.

    "Xử lý việc này đi."

    Shadow đứng lên và nhìn vào gương mặt của Sweeney Điên: gã này cao bao nhiêu nhỉ? anh tự hỏi.

    "Cậu đang làm phiền chúng tôi đấy," anh nói.

    "Cậu say rồi.

    Tôi nghĩ cậu nên đi về đi."

    Một nụ cười chậm chạp hiện trên gương mặt Sweeney.

    "Đây rồi," hắn nói.

    Hắn vung một nắm đấm khổng lồ vào Shadow.

    Shadow giật ngược ra sau: tay của Sweeney đấm ngay dưới mắt phải anh.

    Anh nhìn thấy lờ mờ những vệt sáng, anh cũng cảm thấy đau.

    Và từ đó, trận đấu bắt đầu.

    Sweeney đánh nhau mà chẳng có cách thức, cũng chẳng có khoa học, chẳng có gì ngoài nhiệt huyết chiến đấu: những cú đánh vòng lớn, hấp tấp, thường bị hụt khi chúng kết nối với nhau.

    Shadow đánh nhau một cách phòng thủ, cẩn thận, khóa hoặc tránh những cú đánh của Sweeney.

    Anh nhận thức rất rõ về khán giả xung quanh.

    Bàn được kéo ra khỏi đường đi với những tiếng gầm gừ phản đối, tạo ra khoảng trống cho hai người đàn ông đánh nhau.

    Shadow nhận thức mọi lúc về ánh mắt của ngài Thứ Tư dành cho mình, về điệu cười tươi không mấy vui vẻ.

    Đây là một bài kiểm tra, hiển nhiên là vậy rồi, nhưng bài kiểm tra kiểu gì đây chứ?

    Trong tù, Shadow học được rằng có hai loại đánh nhau: loại đừng gây chuyện với tao, nơi bạn đánh càng phô trương và càng ấn tượng càng tốt, và loại đánh kín, đánh nhau thật, nơi bạn phải đánh nhanh, đánh mạnh và đánh nguy hiểm, luôn luôn kết thúc trận đánh chỉ trong vài giây.

    "Này, Sweeney," Shadow nói, thở gấp, "tại sao ta lại đánh nhau?"

    "Vì niềm vui," Sweeney nói, lúc này hắn trông tỉnh táo, hoặc ít nhất, không còn độ say khướt dễ nhìn.

    "Vì niềm vui tuyệt vời chết tiệt của nó.

    Ngươicó cảm thấy niềm vui trong huyết quản của mình không, nó đang dâng trào như nhựa cây vào mùa xuân?"

    Môi hắn đang chảy máu.

    Khớp ngón tay của Shadow cũng vậy.

    "Vậy anh đã tạo ra mấy đồng xu như thế nào?"

    Shadow hỏi.

    Anh đứng nghiêng ngả và vặn vẹo cơ thể, ăn một cú đấm vào vai dù nó nhắm vào mặt.

    "Ta đã nói với ngươi từ đầu rồi," Sweeney gầm gừ.

    "Nhưng không ai mù quáng - ồ!

    Cú đánh đẹp đấy!

    - bằng những người vốn không muốn nghe."

    Shadow đấm một cú trời giáng vào Sweeney, đẩy hắn xuống bàn; ly rỗng và gạt tàn rơi rơi đổ xuống sàn.

    Giờ thì Shadow có thể kết liễu hắn ngay.

    Shadow liếc nhìn ngài Thứ Tư, người đang gật gù.

    Shadow nhìn xuống Sweeney Điên.

    "Chúng ta xong chưa?" anh hỏi.

    Sweeney Điên chần chừ, rồi gật đầu.

    Shadow thả hắn ra, lùi vài bước.

    Sweeney, thở hổn hển, đẩy mình trở lại tư thế đứng.

    "Ngươi chưa xong đâu!" hắn gào lên.

    "Mọi chuyện chưa xong cho đến khi ta nói nó xong!"

    Rồi hắn nhe răng cười ngạo nghễ, ném mình về phía trước, lắc lư trước Shadow.

    Hắn dẫm phải một viên đá lạnh nằm trên mặt đất, rồi điệu cười nhăn nhở của hắn biến thành cái thảng thốt há hốc mồm khi chân hắn trượt từ bên dưới, và hắn ngã ra sau.

    Ót của hắn đập vào sàn quán rượu với một tiếng ầm rõ to.

    Shadow đặt đầu gối mình vào ngực Sweeney Điên.

    "Lần thứ hai, chúng ta đánh xong chưa?" anh hỏi.

    "Vậy cũng được, với lại," Sweeney nói, nhấc đầu lên từ mặt sàn, "niềm vui đã tiêu biến khỏi ta rồi, như nước tiểu của thằng nhóc trong bể bơi vào một ngày nắng nóng ấy."

    Hắn nhổ máu ra khỏi miệng, nhắm mắt và bắt đầu ngáy, những tiếng ngáy trầm trầm và kỳ lạ.

    Ai đó vỗ vỗ Shadow từ sau lưng.

    Ngài Thứ Tư đặt một chai bia vào tay anh.

    Nó có vị ngon hơn rượu mật nhiều.

    ---

    Shadow thức dậy, nằm dài ở phía sau một con xe sedan.

    Mặt trời buổi sáng tỏa nắng chói chang, và đầu anh thì đau như búa bổ.

    Anh ngồi dậy một cách nặng nề, dụi mắt.

    Ngài Thứ Tư đang lái xe.

    Ông đang ngân nga một giai điệu không mấy du dương trong lúc lái.

    Ông có một cốc cà phê giấy trong chỗ giữ cốc.

    Họ đang đi dọc theo một đường cao tốc liên bang.

    Ghế hành khách còn trống.

    "Cậu thấy sao, buổi sáng tươi đẹp thế này?" ngài Thứ Tư hỏi mà không quay đầu lại.

    "Chuyện gì đã xảy ra với xe của tôi?"

    Shadow hỏi.

    "Tôi thuê nó đấy."

    "Sweeney Điên đem trả nó lại giùm anh rồi.

    Một phần của giao kèo giữa hai cậu tối qua.

    Sau trận đấu."

    Buổi nói chuyện từ đêm trước bắt đầu chen lấn một cách khó chịu trong đầu Shadow.

    "Ông có thêm miếng cà phê nào không?"

    Người đàn ông to lớn với tay xuống dưới ghế hành khách và đưa ra sau một chai nước chưa khui.

    "Đây.

    Cậu sẽ bị mất nước đấy.

    Ngay lúc này, thứ này sẽ giúp cậu tốt hơn cà phê nhiều.

    Chúng ta sẽ dừng lại ở trạm xăng kế tiếp và cho cậu ăn chút bữa sáng.

    Cậu cũng cần vệ sinh cơ thể đi.

    Nhìn cậu như thứ gì đó vừa bị con dê lôi ra vậy."

    "Con mèo lôi ra," Shadow nói.

    "Con dê," ngài Thứ Tư nói.

    "Một con dê khổng lồ thối hoắc với hàm răng lớn."

    Shadow mở nắp chai nước và uống.

    Có thứ gì đó kêu leng keng nặng nề trong túi áo khoác anh.

    Anh cho tay vào túi và lấy ra một đồng xu có kích thước bằng đồng 50 cent.

    Nó nặng trịch, và có màu vàng đậm.

    ---

    Ở trạm xăng, Shadow mua một bộ vệ sinh cá nhân, trong đó bao gồm một dao cạo râu, một túi kem cạo râu, một cái lược, và một cái bàn chải đánh răng loại dùng một lần đi kèm một tuýp kem đánh răng nhỏ xíu.

    Anh bước vào phòng vệ sinh nam và nhìn mình trong gương.

    Anh có một vết bầm dưới mắt - khi anh nhấn xuống, một cách dò xét, bằng một ngón tay, anh nhận ra nó đau dữ dội - và môi dưới anh cũng đang sưng.

    Shadow rửa mặt với dung dịch xà phòng của phòng vệ sinh, anh xoa bọt lên mặt rồi cạo râu.

    Anh đánh răng.

    Anh làm ướt tóc và chải nó ra sau.

    Anh trông vẫn còn ngầu lắm.

    Anh tự hỏi Laura sẽ nói gì khi thấy anh, nhưng rồi anh nhớ ra Laura sẽ không nói bất cứ thứ gì một lần nào nữa, rồi anh nhìn mặt mình, trong gương, run rẩy, nhưng cũng chỉ trong chốc lát.

    Anh bước ra ngoài.

    "Tôi nhìn gớm quá," Shadow nói.

    "Dĩ nhiên rồi," ngài Thứ Tư đồng tình.

    Ngài Thứ Tư lấy một phần đồ ăn vặt thập cẩm tới quầy thu ngân và trả cho món đó cũng tiền xăng, đối ý hai lần về việc ông sẽ trả bằng thẻ hay bẳng tiền mặt, đến mức làm cô gái trẻ đang nhai kẹo cao su sau quầy phát cáu.

    Shadow quan sát ngài Thứ Tư ngày càng trở nên bối rối và biết lỗi hơn.

    Cô gái trả lại tiền mặt cho ông, quẹt thẻ thanh toán, đưa ông hóa đơn thanh toán thẻ rồi lấy tiền mặt, rồi lại trả tiền mặt rồi nhận một cái thẻ khác.

    Ngài Thứ Tư rõ ràng là sắp khóc đến nơi, một ông già bất lực trước sự phát triển chất dẻo khó tránh khỏi của thế giới hiện đại.

    Họ bước ra ngoài trạm xăng ấm áp, và hơi thở của họ bốc hơi trong không khí.

    Lại một lần nữa trên đường: những cánh đồng cỏ úa chạy qua hai bên họ.

    Những cái cây trơ trụi và chết khô.

    Hai con chim đen nhìn họ chòng chọc từ một sợi dây điện.

    "Này, ngài Thứ Tư."

    "Gì cơ?"

    "Theo như tôi thấy lúc nãy, ông đã không trả tiền xăng."

    "Ồ?"

    "Theo như tôi thấy, cuối cùng cô ấy lại trả tiền cho ông vì đặc ân có ông xuất hiện trong trạm xăng của cô ấy.

    Ông nghĩ cô ấy đã phát hiện ra chưa?"

    "Cô ấy không bao giờ phát hiện ra đâu."

    "Vậy ông là gì?

    Một tên bịp sĩ ba xu?"

    Ngài Thứ Tư gật gù.

    "Phải," ông nói.

    "Chắc là vậy.

    Trong số những thứ khác nữa."

    Ông lách vào làn bên trái để vượt một chiếc xe tải.

    Bầu trời đặc một màu xám lạnh lẽo.

    "Trời sắp có tuyết," Shadow nói.

    "Ừ."

    "Gã Sweeney ấy.

    Hắn đã thật sự chỉ tôi cách hắn làm trò với mấy đồng vàng chưa?"

    "Ồ, rồi chứ."

    "Tôi không nhớ ra."

    "Sẽ nhớ ra thôi.

    Đó là một đêm dài mà."

    Những bông tuyết nhỏ chạm vào kính chắn gió, tan chảy trong phút chốc.

    'Bây giờ xác vợ cậu đang được trưng bày tại Nhà Tang Lễ Wendell," ngài Thứ Tư nói.

    "Sau bữa trưa người ta sẽ đem cô ấy từ đó sang nghĩa trang để mai táng."

    "Sao ông biết?"

    "Tôi đã gọi trước lúc cậu trong nhà vệ sinh.

    Cậu biết Nhà Tang Lễ Wendell ở đâu không?"

    Shadow gật đầu.

    Những bông hoa tuyết xoay vòng chóng mặt trước mặt họ.

    "Đây là lối ra," Shadow nói.

    Chiếc xe lướt nhẹ qua đường giao bang và đi qua cụm nhà nghỉ ở phía bắc Eagle Point.

    Ba năm đã trôi qua.

    Đúng vậy.

    Có nhiều đèn giao thông hơn, nhiều cửa hàng mặt tiền xa lạ.

    Shadow yêu cầu ngài Thứ Tư đi chậm lại lúc họ chạy qua Muscle Farm.

    ĐÓNG CỬA VÔ THỜI HẠN, trên tấm bảng viết tay ghi, DO MẤT NGƯỜI THÂN.

    Rời khỏi Đường Chính.

    Đi qua tiệm xăm mới mở và Trung Tâm Tuyển Dụng Lực Lượng Vũ Trang rồi tới tiệm Burger King, rồi đi qua hiệu thuốc của Olsen, quen thuộc và không thay đổi, cuối đường là mặt tiền lát gạch vàng của Nhà Tang Lễ Wendell.

    Một bảng hiệu đèn neon treo ở cửa sổ trước nhà ghi dòng chữ NƠI AN NGHỈ.

    Những bia mộ trống chưa khắc tên và chưa được làm phép nằm trong cửa sổ dưới bảng hiệu.

    Ngài Thứ Tư dừng xe tại chỗ đậu.

    "Cậu muốn ta vào cùng không?"

    ông hỏi.

    "Chắc là không."

    "Tốt."

    Ông cười toe toét nhưng không chứa niềm vui.

    "Có vài thứ ta cần phải làm tiếp trong lúc cậu nói lời từ biệt.

    Ta sẽ đặt phòng cho chúng ta ở Nhà nghỉ Hoa Kỳ.

    Hẹn gặp cậu ở đó khi xong chuyện."

    Shadow bước ra khỏi xe và nhìn nó chạy đi.

    Rồi anh bước vào.

    Hành lang lờ mờ ánh sáng có mùi của hoa thơm và dầu đánh bóng gỗ, kèm thêm mùi formaldehyde nồng nặc.

    Ở phía xa đầu bên kia là Nhà Nguyện An Nghỉ.(người dịch: formaldehyde thường dùng để ướp xác.)

    Shadow nhận ra anh đang nắm đồng vàng trong tay, di chuyển nó đầy tập trung từ mặt sau bàn tay lên mặt trước bàn tay bằng mánh Downs palm, một cách liên tục.

    Sức nặng của nó trong lòng bàn tay đang trấn an anh.

    Tên vợ anh ghi trên một tờ giấy cạnh cửa phía đầu kia hành lang.

    Anh bước vào Nhà Nguyện An Nghỉ.

    Shadow biết hầu hết những người trong phòng: đồng nghiệp và vài người bạn của Laura.

    Tất cả họ đều nhận ra anh.

    Anh có thể nhận thấy điều đấy trên gương mặt họ.

    Dù vậy, họ không cười, và cũng không chào.

    Ở cuối phòng là một cái bục nhỏ, trong đó, có một chiếc quan tài màu kem với vài nhành hoa trang trí xung quanh: những bông hoa màu đỏ, màu vàng, màu trắng, và màu tím sậm chết chóc.

    Anh bước lên một bước.

    Anh có thể nhìn thấy xác của Laura từ nơi anh đang đứng.

    Anh không muốn bước lên nữa; nhưng cũng không dám quay đầu lại.

    Người đàn ông trong bộ suit đen - Shadow đoán ông làm trong nhà tang lễ - hỏi, "Thưa ông?

    Ông có muốn ký tên vào sổ chia buồn và tưởng nhớ không?" rồi ông chỉ anh một cuốn sổ bìa da, nằm mở sẵn trên một bục giảng nhỏ.

    Anh viết SHADOW và ngày tháng bằng nét chữ nắn nót của mình, rồi, một cách chậm rãi, anh viết (CÚN CON) bên cạnh đó, chần chừ việc bước lại phía cuối căn phòng nơi mọi người đang ngồi, và cả chiếc hòm, và cả cái thứ nằm trong chiếc hòm màu kem, thứ không còn là Laura nữa.

    Một người phụ nữ nhỏ nhắn bước qua cánh cửa, ngập ngừng.

    Cô có tóc màu đỏ ánh nâu, trang phục cô mặc đắt tiền và toàn một màu đen.

    Trang phục dành cho góa phụ, Shadow, người biết rõ cô là ai, thầm nghĩ.

    Audrey Burton, vợ của Robbie.

    Audrey đang cầm một bó hoa violet, gốc hoa được bọc lại bằng giấy bạc.

    Bó hoa đó là thứ một đứa con nít sẽ làm vào những ngày tháng Sáu, Shadow nghĩ.

    Nhưng hoa violet đã hết mùa.

    Cô bước qua phòng, tới quan tài của Laura.

    Shadow đi theo cô.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Hai (3)


    Laura nằm nhắm mắt, hai tay khoanh trước ngực.

    Cô mặc một bộ suit cứng nhắc màu xanh anh chưa thấy bao giờ.

    Mái tóc nâu dài của cô được vén ra khỏi mắt.

    Đó là Laura của anh và cũng chẳng phải: sự thanh thản của nàng, anh chợt nhận ra, trông thật giả tạo.

    Laura luôn là một người ngủ không yên.

    Audrey đặt bó hoa violet mùa hè lên ngực Laura.

    Cô lầm bầm gì đó trong miệng một lát, rồi nhổ nước bọt, với lực rất mạnh, vào thẳng gương mặt đã chết của Laura.

    Bãi nước bọt dính lên má Laura, và bắt đầu chảy xuống phía tai.

    Lúc đó Andrey đang bước ra ngoài cửa.

    Shadow đuổi theo cô.

    "Audrey?" anh hỏi.

    "Shadow?

    Anh vượt ngục à?

    Hay họ thả anh ra?"

    Anh tự hỏi liệu cô có đang dùng thuốc an thần hay không.

    Giọng cô nghe xa xăm và lạnh lùng.

    "Người ta thả tôi hôm qua.

    Giờ tôi tự do rồi."

    Shadow nói.

    "Chuyện đó là cái quái gì vậy?"

    Cô dừng lại trong hành lang tối.

    "Mấy bông violet đó hả?

    Đó luôn là loại hoa yêu thích của ả.

    Khi còn nhỏ chúng tôi thường cùng nhau đi hái chúng."

    "Không phải chuyện mấy bông hoa."

    "Ồ, chuyện đó à," cô nói.

    Cô lau một giọt nước vô hình trên khóe miệng.

    "Ừ thì, tôi nghĩ mọi thứ rõ ràng rồi đấy."

    "Không phải với tôi, Audrey."

    "Họ chưa kể anh nghe gì sao?"

    Giọng cô bình tĩnh, vô cảm.

    "Vợ anh chết cùng với con chim của chồng tôi trong miệng, Shadow à."

    Anh quay ngược vào nhà tang lễ.

    Ai đó đã lau bãi nước bọt đi.

    ---

    Sau bữa trưa - Shadow ăn tại quán Burger King - là lễ mai táng.

    Chiếc hòm màu kem của Laura được chôn trong một nghĩa trang không tôn giáo nhỏ ngoài rìa thị trấn: không hàng rào, một đồng cỏ nhiều cây cối và đồi dốc với những bia mộ bằng đá hoa cương đen và đá cẩm thạch trắng.

    Anh được chở tới nghĩa trang trong xe mai táng Wendell, cùng với mẹ của Laura.

    Bà McCabe dường như cảm thấy rằng cái chết của Laura là do lỗi của Shadow.

    "Nếu cậu ở đây," bà nói, "chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra.

    Tôi không biết vì sao con bé lại cưới cậu.

    Tôi đã bảo nó rồi.

    Tôi cứ liên tục bảo nó.

    Nhưng đâu ai nghe lời mẹ mình đâu, phải không?"

    Bà dừng lời, nhìn kỹ vào mặt Shadow.

    "Cậu lại đánh nhau à?"

    "Vâng," anh đáp.

    "Thứ mọi rợ," bà nói, rồi im miệng, ngẩng đầu lên khiến cằm run nhẹ, và nhìn thẳng về phía trước.

    Trước sự ngạc nhiên của Shadow, Audrey Burton cũng có mặt tại tang lễ, đang đứng phía sau.

    Dịch vụ tang lễ nhanh chóng kết thúc, quan tài được hạ xuống vào đất lạnh.

    Mọi người tản đi.

    Shadow không rời khỏi đó.

    Anh đứng với hai tay nhét trong túi, run rẩy, nhìn chằm chằm vào cái lỗ trên mặt đất.

    Trên đầu bầu trời màu xám đen, trơn và nhẵng như một tấm gương.

    Tuyết tiếp tục rơi, một cách thất thường, trong những mẩu nhỏ được đổ xuống một cách ma mị.

    Còn điều gì đó anh muốn nói với Laura, và anh đã chờ cho đến khi anh biết điều đó là gì.

    Thế giới bắt đầu dần mất đi ánh sáng và màu sắc.

    Bàn chân Shadow đang tê cóng, trong khi tay và mặt anh đau đớn vì cái lạnh.

    Anh vùi tay mình trong túi cho ấm, và những ngón tay của anh đặt gần đồng vàng.

    Anh bước về phía mộ.

    "Cái này dành cho em," anh nói.

    Vài xẻng đất đã được xúc đổ vào quan tài, nhưng lỗ đất còn lâu mới lấp đầy.

    Anh ném đồng vàng xuống mộ cùng Laura, rồi anh đẩy thêm đất vào lỗ để giấu đồng tiền khỏi những tên đào một tham lam.

    Anh phủi đất khỏi tay và nói, "Chúc ngủ ngon, Laura."

    Rồi anh nói tiếp, "Anh xin lỗi."

    Anh quay mặt hướng về phía ánh sáng thị trấn, và bắt đầu đi bộ trở lại Eagle Point.

    Nhà nghỉ của anh còn cách hai dặm nữa, nhưng sau khi dành ba năm trong tù anh thấy thích thú với suy nghĩ rằng mình có thể đơn giản là đi và cứ đi, đi mãi nếu cần thiết.

    Anh có thể tiếp tục đi về phía Bắc, nhận ra mình đã ở Alaska, hoặc hướng về phương Nam, đến Mexico và xa hơn thế nữa.

    Anh có thể đi đến Patagonia, hoặc Tierra del Fuego.

    Một chiếc xe chạy tới và dừng ngay cạnh anh.

    Cửa sổ xe hạ xuống.

    "Muốn đi nhờ không, Shadow?"

    Audrey Burton hỏi.

    "Không," anh nói.

    "Và không phải từ cô."

    Anh tiếp tục bước đi.

    Audrey chạy cạnh anh với tốc độ ba dặm trên giờ.

    Hoa tuyết nhảy múa trong ánh đèn pha.

    "Tôi tưởng ả là bạn thân của mình," Audrey nói.

    "Bọn tôi nói chuyện hằng ngày.

    Khi Robbie và tôi cãi lộn, ả là người đầu tiên biết chuyện - chúng tôi sẽ ra quán Chi-Chi's để uống margarita và bàn luận về sự ngu dốt của đàn ông.

    Hóa ra từ trước đến giờ ả lén lút với hắn sau lưng tôi."

    "Làm ơn đi đi, Audrey."

    "Tôi chỉ muốn anh biết rằng tôi có lý do hợp lý cho những chuyện mình đã làm."

    Anh không nói gì.

    "Này!" cô hét lên.

    "Này!

    Tôi đang nói chuyện với anh đấy!"

    Shadow quay lại.

    "Cô muốn tôi nói với cô rằng cô đã đúng khi nhổ vào mặt Laura sao?

    Cô muốn tôi nói điều đó không đau đớn ư?

    Hay những gì cô nói với tôi khiến tôi ghét cô ấy hơn là nhớ cô ấy?

    Điều đó sẽ không xảy ra đâu, Audrey."

    Cô chạy cạnh anh thêm vài phút nữa mà không nói lời nào.

    Rồi cô hỏi, "Vậy, trong tù thế nào, Shadow?"

    "Ổn cả," Shadow đáp.

    "Cô sẽ có cảm giác như ở nhà."

    Cô đặt chân lên bàn đạp ga khiến động cơ gầm lên, và lái đi khỏi đó.

    Trong ánh đèn pha mất hút, thế giới trở nên tối lại.

    Hoàng hôn dần mờ vào màn đêm.

    Shadow hi vọng việc đi bộ sẽ giữ ấm mình, sẽ lan tỏa hơi ấm qua bàn tay và bàn chân lạnh như đá của anh.

    Điều đó đã không xảy ra.

    Hồi ở trong tù, có một lần Low Key Lyesmith từng nhắc về cái nghĩa trang nhà tù nhỏ phía sau trạm xá có tên Bone Orchard, và hình ảnh đó đã ăn sâu vào tâm trí Shadow.

    Đêm đó anh mơ thấy vườn cây dưới ánh trăng, những cái cây xương trắng, cuối cành cây là những bàn tay xương xẩu, rễ của nó cắm sâu xuống những ngôi mộ.

    Trong giấc mơ của anh, có một loại quả mọc trên những cái cây trong khu vườn xương đó, và có một thứ gì đó rất đáng lo về những loại quả này, nhưng khi thức dậy, anh không còn nhớ được những quả lạ mọc trên cây, và tại sao anh thấy chúng rất khó chịu.

    Xe cứ chạy qua anh.

    Shadow ước gì có vỉa hè đi bộ.

    Anh vấp phải thứ gì đó anh không thấy được trong bóng tối và ngã rạp xuống rãnh nước bên đường, tay phải anh chìm trong vài inch bùn lạnh.

    Anh dựng mình đứng dậy và lau tay vào quần.

    Anh đứng đó, khó hiểu.

    Anh chỉ còn đủ thời gian để nhận ra có ai đó đang đứng cạnh mình trước khi thứ gì đó ẩm ướt đè vào mũi và miệng anh, rồi anh ngửi thấy một mùi khói hóa học nồng nặc.

    Lần này con mương có vẻ ấm áp và thoải mái.

    ---

    Hai thái dương của Shadow cảm thấy như thể chúng được gắn lại với phần còn lại của hộp sọ bằng những cây đinh lợp mái.

    Tay anh bị trói lại sau lưng có cảm giác bằng một loại dây nào đó.

    Anh đang ở trong xe, ngồi trên ghế bọc da.

    Trong một khoảnh khắc anh tự hỏi liệu có điều gì đó sai sai với khả năng nhận thức chiều sâu của mình hay không và rồi anh hiểu ra rằng, không, ghế bên kia thật sự cách rất xa.

    Có ai đó đang ngồi cạnh anh, nhưng anh không thể quay qua nhìn họ được.

    Thằng nhóc con mập ú ngồi đầu kia chiếc limo lấy một lon Coca diet từ quầy cocktail và mở nó ra.

    Hắn mặc một chiếc áo khoác đen dài làm từ loại chất liệu mềm rũ nào đó, và hắn trông không quá độ tuổi dậy thì: một nốt mụn nhỏ còn vương một bên má hắn.

    Hắn cười khi thấy Shadow đã thức dậy.

    "Chào, Shadow," hắn nói.

    "Đừng giỡn mặt với tao."

    "Được thôi," Shadow nói.

    "Tôi sẽ không giỡn mặt với cậu.

    Cậu có thể thả tôi ở Nhà nghỉ Hoa Kỳ không, nằm ngay cạnh đường giao bang ấy?"

    "Đánh hắn đi," thằng nhóc nói với người bên trái Shadow.

    Một cúi đấm được chuyển vào dạ dày anh ngay hạch đám rối dương, làm anh nghẹt thở, gập người lại làm đôi.

    Anh ngồi thẳng người lên, chậm rãi.

    "Tao đã nói đừng giỡn mặt với tao.

    Lúc nãy mày đã giỡn mặt với tao.

    Trả lời ngắn và vào trọng tâm, không thì tao sẽ giết mày.

    Hoặc có lẽ tao sẽ không giết mày đâu.

    Có lẽ tao sẽ để tụi nhỏ đấm vỡ từng khúc xương trong cơ thể mày.

    Có hai trăm lẻ sáu cái.

    Nên đừng giỡn mặt với tao."

    "Đã hiểu," Shadow nói.

    Đèn trần trong xe limo đổi màu từ tím sang xanh dương, qua xanh lá rồi tới vàng.

    "Mày đang làm việc cho lão già Thứ Tư," thằng nhóc nói.

    "Phải," Shadow nói.

    "Lão đang theo đuổi cái quái gì vậy?

    Ý tao là, lão đang làm gì ở đây?

    Hẳn lão phải có kế hoạch.

    Kế hoạch đó là gì?"

    "Tôi bắt đầu làm việc cho ngài Thứ Tư vào sáng nay," Shadow nói.

    "Tôi chỉ là một tên sai vặt."

    "Ý mày nói là mày không biết?"

    "Tôi đang nói là tôi không biết."

    Thằng nhóc mở áo khoác và lấy ra một hộp thuốc lá bằng bạc từ túi áo trong.

    Hắn mở hộp ra, mời Shadow một điếu.

    "Hút không?"

    Shadow nghĩ về việc yêu cầu được gỡ trói, nhưng quyết định không nói gì.

    "Không, cảm ơn," anh nói.

    Điếu thuốc lấy ra được cuốn bằng tay, và khi thằng nhóc châm lửa, bằng một cái bật lửa Zippo đen nhám, nó có mùi hơi giống các bộ phận điện tử lúc bị đốt.

    Thằng nhóc rít một hơi sâu, rồi giữ hơi lại.

    Hắn để khói nhả ra từ miệng, rồi lại hít ngược nó vào hai cánh mũi.

    Shadow nghi hắn đã tập luyện trước gương một thời gian trước khi làm trò này ở nơi công cộng.

    "Nếu mày nói dối tao," thằng nhóc nói, như thể từ một khoảng cách xa lắm, "tao sẽ giết mày.

    Mày biết mà."

    "Như cậu đã nói."

    Thằng nhóc rít thêm một hơi dài từ điếu thuốc.

    "Mày nói mày đang ở Nhà nghỉ Hoa Kỳ hả?"

    Hắn gõ vào cửa sổ tài xế sau lưng hắn.

    Cửa sổ hạ xuống.

    "Này.

    Nhà nghỉ Hoa Kỳ, nằm ngay cạnh đường giao bang.

    Chúng ta cần thả khách xuống."

    Gã tài xế gật đầu, và tấm kính được nâng lên lại.

    Đèn sợi quang lấp lánh bên trong chiếc limo tiếp tục thay đổi, quay vòng bộ màu mờ ảo của nó.

    Shadow cảm thấy như đôi mắt thằng nhóc cũng đang lấp lánh theo, màu xanh lá của một màn hình máy tính cổ lỗ xỉ.

    "Mày nói với lão Thứ Tư điều này.

    Mày nói với lão, lão là lịch sử rồi.

    Lão đang bị quên lãng.

    Lão già khú đế rồi.

    Nói với lão rằng bọn tao là tương lai và bọn tao đéo quan tâm về lão hay về những đứa như lão.

    Lão đã bị chuyển tới bãi rác của lịch sử trong khi những người như tao lái những con limo xuống đường cao tốc của ngày mai."

    "Tôi sẽ nói với ông ấy," Shadow nói.

    Anh bắt đầu cảm thấy choáng váng.

    Anh hi vọng mình sẽ không thấy phát ốm mà nôn ra ngoài.

    "Nói với lão rằng tụi tao đã tái lập trình thực tại.

    Nói với lão rằng ngôn ngữ là một con virus, tôn giáo là một hệ điều hành và những lời cầu nguyện chỉ là đống thư rác.

    Nói với lão còn không tao sẽ giết mày," thằng nhóc nói nhẹ nhàng qua làn khói thuốc.

    "Đã hiểu," Shadow nói.

    "Cậu có thể thả tôi ở đây.

    Tôi có thể tự đi bộ đến nơi."

    Thằng nhóc gật đầu.

    "Rất vui được nói chuyện với mày," hắn nói.

    Khói thuốc đã làm hắn dịu xuống.

    "Mày nên biết nếu tụi tao giết mày thì tụi tao sẽ xóa mày luôn.

    Hiểu chứ?

    Một cú click chuột và mày sẽ bị ghi đè với những những con số không và một ngẫu nhiên.

    Hoàn tác không phải một lựa chọn."

    Hắn gõ cửa sổ sau lưng hắn.

    "Thả nó xuống đây," hắn nói.

    Rồi hắn quay lại hướng Shadow, chỉ vào điếu thuốc.

    "Da cóc tổng hợp," hắn nói.

    "Mày có biết người ta có thể tổng hợp được bufotenine chưa?"

    Xe dừng lại, và cửa mở ra.

    Shadow trèo ra ngoài một cách khó khăn.

    Dây trói bị cắt.

    Shadow quay lại.

    Bên trong chiếc xe đã trở thành một đám mây khói quằn quại, bên trong hai ánh đèn lóe lên, giờ có màu đồng, như cặp mắt một con cóc.

    "Tất cả là về mô hình chi phối, Shadow.

    Không gì quan trọng hơn.

    Mà này, rất tiếc khi nghe tin về vợ mày."

    Cánh cửa đóng lại, và chiếc limo chạy đi, lặng lẽ.

    Shadow còn cách nhà nghỉ vài trăm thước, và anh bước tới đó, hít thở không khí lạnh, đi qua những ánh đèn vàng xanh đỏ quảng cáo mọi loại thức ăn nhanh mà một người có thể tưởng tượng ra, miễn nó là một cái hamburger; rồi anh đến được Nhà nghỉ Hoa Kỳ mà không xảy ra sự cố gì.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Ba (1)


    "Mỗi giờ đều gây đả thương, nhưng giờ cuối mới hạ thủ."

    - Tục ngữ

    ---

    Có một cô gái mảnh dẻ đứng sau quầy tại Nhà nghỉ Hoa Kỳ.

    Cô nói với Shadow rằng anh đã được đặt phòng bởi người bạn của mình, và cô đưa anh chiếc chìa khóa bằng nhựa hình chữ nhật.

    Cô có mái tóc vàng nhạt và gương mặt giống loài gặm nhấm, dễ nhận thấy điều đó nhất khi cô đa nghi, và dịu đi khi cô mỉm cười.

    Cô từ chối nói với anh số phòng của ngài Thứ Tư, và khăng khăng đòi gọi điện thông báo cho ngài Thứ Tư biết vị khách của ông đã tới.

    Ngài Thứ Tư bước ra từ một căn phòng dưới sảnh, và ngoắc tay gọi Shadow.

    "Lễ tang thế nào?"

    ông hỏi.

    "Xong hết rồi," Shadow đáp.

    "Cậu có muốn nói gì về nó không?"

    "Không," Shadow nói.

    "Tốt."

    Ngài Thứ Tư cười tươi.

    "Mấy ngày nay nói nhiều quá rồi.

    Nói nói nói.

    Đất nước này sẽ hòa thuận hơn nhiều nếu mọi người học được cách chịu đựng trong im lặng."

    Ngài Thứ Tư quay trở về phòng mình, đối diện bên kia sảnh là phòng của Shadow.

    Có những tám bản đồ ở khắp phòng, đã được mở ra, trải trên giường hoặc dán trên tường.

    Ngài Thứ Tư vẽ khắp các tấm bản đồ bằng bút đánh dấu sáng màu, xanh lá phản quang, hồng chóe sáng và cam rực rỡ.

    "Tôi đã bị đánh úp bởi một thằng nhóc béo ú," Shadow nói.

    "Nó kêu tôi nói với ông rằng ông đã bị chuyển tới bãi cứt của lịch sử trong khi những người như nó lái những con limo xuống cao tốc của cuộc sống.

    Kiểu kiểu vậy."

    "Thằng nhãi ranh," ngài Thứ Tư nói.

    "Ông biết nó à?"

    Ngài Thứ Tư nhún vai.

    "Ta biết nó là ai."

    Ông ngồi xuống, nặng nhọc, trên chiếc ghế duy nhất của căn phòng.

    "Bọn nó không có manh mối nào đâu.

    Cậu cần ở thị trấn này bao lâu nữa?"

    "Tôi không biết.

    Có lẽ là tuần tới.

    Tôi nghĩ mình cần thu dọn đồ đạc của Laura.

    Chăm sóc căn hộ, tống khứ quần áo cô ấy đi, mấy chuyện như thế.

    Chuyện đấy sẽ làm mẹ cô ấy phát điên lên, nhưng bà ta xứng đáng bị như vậy."

    Ngài Thứ Tư gật cái đầu to tướng của mình.

    "Chà, cậu càng xong sớm, chúng ta càng có thể rời khỏi Eagle Point sớm.

    Chúc ngủ ngon."

    Shadow bước qua hành lang.

    Phòng anh là một bản sao của phòng ngài Thứ Tư, kể cả tấm ảnh hoàng hôn đẫm máu trên bức tường phía trên giường.

    Anh đặt một phần pizza phô mai và thịt viên, rồi đi tắm, đổ hết các chai sữa tắm nhựa bé xíu xuống nước, làm nó sủi bọt.

    Anh quá to con để có thể nằm xuống bồn tắm, nên anh ngồi trong đó và tận hưởng nhất có thể.

    Shadow tự hứa với bản thân một chầu tắm thật thư thái khi anh ra khỏi tù, và anh đã giữ lời hứa.

    Bánh pizza được đưa tới ngay khi anh ra khỏi bồn, Shadow ăn nó, nuốt trôi nó xuống cùng với một lon bia ngọt.

    Shadow nằm trên giường, suy tư.

    Đây là chiếc giường đầu tiên sau khi anh được tư do, và suy nghĩ đó khiến anh thấy ít vui vẻ hơn anh tưởng.

    Anh để rèm cửa mở, ngắm nhìn ánh đèn xe hơi và các cửa hàng thức ăn nhanh qua ô cửa kính, cảm thấy thoải mái khi biết rằng có một thế giới khác ngoài kia, một thế giới anh có thể bước tới bất cứ khi nào anh muốn.

    Đừng đến đó, Shadow nghĩ.

    Anh quyết định nghĩ về thứ khác.

    Anh nghĩ về những mánh chơi đồng xu.

    Shadow biết rằng anh không có tố chất để trở thành ảo thuật gia: anh không thể thêu dệt nên những câu chuyện cần thiết cho niềm tin, hay anh không thể làm trò với các lá bài, hoặc biến ra những bông hoa giấy.

    Nhưng anh chỉ muốn điều khiển đồng xu; anh thích kỹ thuật của nó.

    Anh bắt đầu liệt kê những đồng xu biến mất mà anh đã học được, điều nhắc anh nhớ về đồng xu anh ném vào mộ của Laura, và rồi, trong đầu anh, Audrey đang nói với anh rằng Laura đã chết với con chim của Robbie trong miệng, và một lần nữa anh cảm thấy chút đau đớn nhói tim mình.

    Mỗi giờ đều gây đả thương, nhưng giờ cuối mới hạ thủ.

    Anh đã nghe thấy điều này ở đâu nhỉ?

    Anh nghĩ về bình luận của ngài Thứ Tư và mỉm cười, một cách vô tình: Shadow đã nghe rất nhiều người nói với nhau rằng đừng kìm nén cảm xúc, hãy để cảm xúc được thể hiện, hãy để nỗi đau được rũ bỏ.

    Shadow nghĩ có rất nhiều điều để nói về việc kìm nén cảm xúc.

    Nếu ta kìm nén nó đủ lâu và đủ sâu, anh tin rằng, sớm muộn gì ta sẽ cũng không thể cảm nhận được gì nữa.

    Giấc ngủ đến với Shadow, mà anh không nhận ra.

    Anh đang bước đi...

    Anh đang bước đi qua một căn phòng lớn hơn cả một cái thành phố, mọi nơi anh thấy đều có những bức tượng, những bức phù điêu và những bức tranh gỗ thô ráp.

    Anh đang đứng cạnh một bức tượng của một người giống phụ nữ: cặp vú lõa lồ của cô treo lủng lẳng trước ngực, quanh eo là một chuỗi các bàn tay bị chặt cụt, hai tay cầm những mũi dao sắc nhọn, và, thay vì là cái đầu, thì từ cổ cô trở lên có hai con rắn sinh đôi, thân mình nó uốn éo, mặt đối mặt, sẵn sàng tấn công.

    Có điều gì đó rất đáng lo về bức tượng đó, một sự sai trái sâu sắc và dữ dội.

    Shadow bước giật lùi khỏi nó.

    Anh bắt đầu bước qua hành lang.

    Những con mắt khắc trổ của những bức tượng có mắt trông như đang theo dõi từng bước chân của anh.

    Trong giấc mơ của mình, anh nhận ra mỗi bức tượng đều có một cái tên đang cháy phừng phừng trước mặt chúng.

    Người đàn ông với mái tóc trắng, đeo vòng cổ răng người, tay cầm trống, tên là Leucotios; người phụ nữ với cặp hông nở nang và những con quái vật rơi xuống từ vết rạch khổng lồ giữa hai chân bà tên là Hubur; còn người đàn ông đầu cừu đang cầm một quả bóng vàng tên là Hershef.

    Một giọng nói trong vắt, kiểu cách và chuẩn xác, đang nói với anh, trong giấc mơ, nhưng anh không thể thấy được ai cả.

    "Đây là những vị thần bị lãng quên, và có thể giờ này họ cũng đã chết rồi.

    Họ có thể được tìm thấy trong những cuốn sách lịch sử khô khan.

    Họ đã biết mất, hoàn toàn biến mất, nhưng danh nghĩa và hình ảnh của họ vẫn ở lại với chúng ta."

    Shadow rẽ vào một góc, và nhận ra mình đang ở trong một căn phòng khác, thậm chí còn rộng hơn căn phòng đầu tiên.

    Căn phòng rộng xa hơn mắt người có thể thấy.

    Ở gần anh là hộp sọ của một con voi ma mút, có màu nâu và được đánh bóng, và một chiếc áo choàng không tay màu đất đỏ làm từ lông thú, được mặc bởi một người phụ nữ nhỏ nhắn với cánh tay trái bị biến dạng.

    Cạnh đó là ba người phụ nữ, mỗi người được tạc từ cùng một tảng đá hoa cương, nối với nhau ở thắt lưng: gương mặt họ có vẻ ngoài dang dở, nóng vội, mặc dù cặp vú và cơ quan sinh dục ngoài được tạc với sự tỉ mỉ, công phu; có một con chim không biết bay mà Shadow không nhận diện được, cao gấp đôi anh, với cái mỏ như loài chim kền kền, nhưng hai cánh tay lại giống người: vân vân, và vân vân.

    Giọng nói lại lên tiếng một lần nữa, như thể nó đang giảng giải cho một lớp học, rằng, "Đây là những vị thần đã bị mất khỏi ký ức.

    Thậm chí tên họ cũng không còn.

    Những người thờ phụng họ cũng đã bị quên lãng như chính vị thần của họ.

    Vật tổ của họ đã bị phá vỡ từ lâu và bị ném xuống đất.

    Các linh mục cuối cùng của họ đã chết mà không thể truyền lại bí mật của mình."

    "Các vị thần chết đi.

    Và khi họ thực sự chết, họ không được thương tiếc và không được công nhận.

    Ý niệm khó giết hơn con người, nhưng cuối cùng, ý niệm vẫn có thể bị giết."

    Có tiếng xì xào bắt đầu chạy xuyên hội trường, một tiếng thì thầm nho nhỏ khiến Shadow, trong mơ, trải nghiệm một nỗi sợ ớn lạnh và khó giải thích.

    Một sự hoảng loạn bao trùm lên anh, trong hội trường của những vị thần mà chính sự tồn tại của họ đã bị lãng quên - những vị thần gương mặt bạch tuộc và những vị thần là những cánh tay ướp xác hoặc đá lở hoặc cháy rừng...

    Shadow thức dậy với trái tim đang đập thình thịch trong lồng ngực, trán anh đẫm mồ hôi, anh đã hoàn toàn tỉnh táo.

    Các chữ số màu đỏ trên đồng hồ cạnh giường cho biết thời gian là 1 giờ 3 phút sáng.

    Ánh sáng của bảng hiệu Khách sạn Hoa Kỳ bên ngoài chiếu qua cửa sổ phòng ngủ của anh.

    Loạng choạng, Shadow đứng dậy và bước vào phòng tắm nhỏ xíu.

    Anh đi tiểu mà không bật đèn lên, rồi quay lại phòng ngủ.

    Giấc mơ vẫn còn rõ rệt và sống động trong tâm trí anh, nhưng anh không thể tự giải thích vì sao nó lại làm anh sợ đến vậy.

    Ánh sáng chiếu vào phòng từ bên ngoài không sáng lắm, nhưng đôi mắt của Shadow đã quen dần với bóng tối.

    Có một người phụ nữ ngồi bên giường anh.

    Anh biết cô.

    Anh sẽ luôn nhận ra cô trong đám đông cả ngàn người, hoặc cả trăm ngàn người.

    Cô vẫn đang mặc bộ suit màu xanh thủy thủ lúc người ta chôn cô.

    Giọng cô thì thầm, nhưng lại quen thuộc.

    "Em đoán là," Laura nói, "anh định hỏi em rằng em đang làm gì ở đây."

    Shadow không nói gì.

    Anh ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong phòng và, cuối cùng, anh cũng hỏi, "Là em đó sao?"

    "Vâng," cô đáp.

    "Em lạnh quá, cún con à."

    "Em đã chết rồi."

    "Đúng," cô nói.

    "Đúng, em đã chết."

    Cô vỗ vào chiếc giường cạnh mình.

    "Đến đây và ngồi cạnh em nào," cô nói.

    "Không," Shadow nói.

    "Anh nghĩ từ giờ mình sẽ ngồi đây.

    Chúng ta có vài vấn đề chưa được giải quyết."

    "Như việc em đã chết?"

    "Có thể lắm, nhưng anh đang nghĩ nhiều hơn tới cách em chết kìa.

    Em và Robbie."

    "Ồ," cô nói.

    "Là chuyện đó."

    Shadow có thể ngửi thấy - hoặc anh nghĩ, có lẽ anh chỉ đơn giản là tưởng tượng ra mình ngửi thấy - một mùi thối rữa, của hoa và của chất bảo quản.

    Vợ anh - vợ cũ của anh... không, anh tự chỉnh đốn mình, người vợ quá cố của anh - ngồi trên giường và nhìn anh chằm chằm, không chớp mắt.

    "Cún con," cô nói.

    "Anh có thể - anh có nghĩ mình có thể nào lấy cho em - một điếu thuốc được không?"

    "Anh tưởng em bỏ thuốc rồi."

    "Em bỏ rồi," cô nói.

    "Nhưng em không còn phải bận tâm về các mối nguy hại sức khỏe nữa.

    Em nghĩ thuốc lá sẽ làm dịu thần kinh của em.

    Có một cái máy bán tự động ở ngoài sảnh ấy."

    Shadow mặc quần jean và áo thun vào rồi đi, chân trần, ra ngoài sảnh.

    Nhân viên bán hàng đêm là một người đàn ông trung niên, đang đọc một cuốn sách của John Grisham.

    Shadow mua một gói Virginia Slims từ máy bán tự động.

    Anh hỏi mua nhân viên một hộp diêm.

    "Cậu ở phòng cấm hút thuốc đấy," ông nhân viên nói.

    "Ngay bây giờ, nhớ đảm bảo mở hết cửa sổ."

    Ông đưa Shadow một hộp diêm và một cái gạt tàn nhựa với logo Nhà nghỉ Hoa Kỳ trên đó.

    "Đã hiểu," Shadow nói.

    Anh quay lại phòng ngủ.

    Giờ cô đã nằm duỗi dài trên tấm đệm nhăn nhúm.

    Shadow mở cửa sổ và đưa cho cô gói thuốc cũng như hộp diêm.

    Những ngón tay cô lạnh ngắt.

    Cô đốt một que diêm và anh thấy móng tay cô, trông vẫn như lúc nguyên thủy, nhưng đã bị dập nát bét, và có chút bùn bên dưới chúng.

    Laura châm lửa cho điếu thuốc, rít một hơi, thổi diêm tắt.

    Cô rít thêm một hơi nữa.

    "Em chẳng ngửi thấy vị gì," cô nói.

    "Em không nghĩ cái này sẽ giúp được cái gì đâu."

    "Anh xin lỗi," anh nói.

    "Em cũng vậy," Laura nói.

    Khi cô rít đầu thuốc cháy đỏ, và anh có thể nhìn thấy gương mặt của cô.

    "Vậy," cô nói.

    "Họ đã thả anh ra."

    "Đúng vậy."

    Đầu thuốc ánh lên sắc cam lửa.

    "Em vẫn rất cảm kích.

    Lẽ ra em không nên để anh dính vào việc đó."

    "Ừ thì," anh nói, "anh đã đồng ý làm việc đó.

    Anh đã có thể nói không."

    Anh tự hỏi vì sao mình không thấy sợ cô: vì sao một giấc mơ về một cái viện bảo tàng có thể để lại nỗi kinh hoàng cho anh, trong khi anh có vẻ đang đương đầu với một cái xác chết biết đi mà không hề thấy sợ hãi.

    "Vâng," cô nói.

    "Anh đã có thể nói không.

    Anh chàng vụng về lớn tướng à."

    Khói thuốc bao quanh gương mặt cô.

    Cô trông đẹp tuyệt trần trong ánh đèn mờ ảo.

    "Anh muốn biết chuyện giữa em và Robbie không?"

    "Chắc là có."

    Cô dụi điếu thuốc vào gạt tàn.

    "Anh ở trong tù," cô nói.

    "Và em cần ai đó để trò chuyện.

    Em cần một bờ vai để dựa vào mà khóc.

    Anh đã không có ở đó.

    Em đã rất buồn."

    "Anh xin lỗi."

    Shadow nhận ra có gì đó khang khác trong giọng của cô, và anh cố tìm ra nó là gì.

    "Em biết.

    Nên tụi em gặp nhau đi uống cà phê.

    Nói về chuyện tụi em sẽ làm gì sau khi anh ra tù.

    Sẽ tốt thế nào nếu em gặp lại anh.

    Anh ta thật sự mến anh, anh biết đấy.

    Anh ta muốn cho anh công việc cũ."

    "Ừ."

    "Và rồi Audrey đi thăm em gái trong một tuần.

    Lúc đó là, ồ, một năm, mười ba tháng sau khi anh đi."

    Giọng cô thiếu biểu cảm; từng từ cô nói đều đều và buồn tẻ, như những viên sỏi, từng viên một, rớt xuống một cái giếng sâu.

    "Robbie ghé qua nhà em.

    Tụi em cùng uống say.

    Tụi em đã làm chuyện đó trên sàn phòng ngủ.

    Chuyện đó thật tuyệt.

    Thật sự rất tuyệt."

    "Anh không cần phải nghe điều đó đâu."

    "Không cần sao?

    Em xin lỗi.

    Khi chết rồi thì mọi thứ khó chắt lọc hơn.

    Chuyện đó như một tấm ảnh vậy, anh biết đấy.

    Nó không quan trọng lắm đâu."

    "Nó quan trọng với anh."

    Laura châm một điếu thuốc khác.

    Chuyển động của cô trơn tru và thành thạo, không khó khăn gì.

    Shadow tự hỏi, trong một khoảnh khắc, liệu cô đã chết thật chưa.

    Có lẽ đây lại là một trò lừa gạt công phu nào đó.

    "Vâng," cô nói.

    "Em hiểu.

    Ừm, tụi em đã tiếp tục chuyện tình này - mặc dù tụi em không gọi nó là vậy, tụi em không gọi nó là gì cả - trong gần như hai năm cuối."

    "Em có định bỏ anh vì hắn ta không?"

    "Tại sao em lại làm vậy?

    Anh là gấu bự của em.

    Anh là cún con của em.

    Anh đã làm những điều anh làm vì em.

    Em đã chờ anh ba năm để anh quay lại với em.

    Em yêu anh."

    Anh tự ngăn bản thân mình nói Anh cũng yêu em.

    Anh không định nói điều đó.

    Không bao giờ nữa.

    "Vậy chuyện gì đã xảy ra vào cái đêm nọ?"

    "Cái đêm em bị giết hả?"

    "Ừ."

    "Thì, Robbie và em đi ra ngoài để nói về bữa tiệc chào đón bất ngờ dành cho anh.

    Bữa tiệc đó hẳn sẽ rất vui.

    Và em nói với anh ta tụi em đã xong.

    Kết thúc.

    Bây giờ anh đã quay về và đó là cách mọi chuyện phải diễn ra."

    "Ừm.

    Cảm ơn em, bé cưng."

    "Không có gì đâu, anh yêu."

    Một nụ cười thoáng qua gương mặt cô.

    "Tụi em bắt đầu khóc lóc ủy mị.

    Điều đó thật ngọt ngào.

    Tụi em bắt đầu ngu ngốc.

    Em đã rất say.

    Anh ta thì không.

    Anh ta phải lái xe.

    Tụi em đang lái về nhà và em thông báo rằng em sẽ cho anh ta một lần thổi kèn tạm biệt cuối cùng, rồi em cởi khóa quần anh ta, và em đã làm chuyện đó."

    "Sai lầm lớn đấy."

    "Khỏi phải nói.

    Em đã đập vai mình vào cần số, Robbie cố đẩy em ra để đưa chiếc xe trở lại đúng số, rồi tụi em chệch hướng, có một tiếng kêu rắc lớn và em nhớ thế giới bắt đầu xoay vòng xoay vòng, và em nghĩ, 'Mình sắp chết rồi.' Mọi chuyện rất bình thản.

    Em nhớ rõ.

    Em không thấy sợ.

    Và rồi em không còn nhớ thêm gì nữa hết."

    Có mùi như nhựa cháy.

    Đó là từ điếu thuốc, Shadow nhận ra: nó đã cháy xuống tới đầu lọc.

    Laura trông có vẻ không để ý gì.

    "Em đang làm gì ở đây, Laura?"

    "Một người vợ không thể tới thăm chồng mình hay sao?"
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Ba (2)


    "Em chết rồi.

    Anh đã đến dự lễ tang em vào chiều nay."

    "Ừ."

    Cô ngưng nói, nhìn chằm chằm vào hư không.

    Shadow đứng dậy và bước qua cô.

    Anh lấy điếu thuốc đang cháy dở trên tay cô và ném nó ra ngoài cửa sổ.

    "Vậy?"

    Ánh mắt cô tìm kiếm đôi mắt anh.

    "Em không biết nhiều hơn gì những thứ em đã biết khi em còn sống.

    Hầu hết những thứ giờ em biết đều là những thứ em từng không biết nên em không thể nói chúng thành lời được."

    "Bình thường thì ai chết xong cũng ở yên trong mồ của họ cả," Shadow nói.

    "Vậy sao?

    Thật sự vậy sao, cún con?

    Em cũng đã từng nghĩ như vậy đấy.

    Giờ thì em không chắc nữa.

    Có lẽ vậy."

    Cô trèo ra khỏi giường và bước tới cửa sổ.

    Gương mặt cô, trong ánh sáng từ bảng hiệu nhà nghỉ, vẫn xinh đẹp như xưa.

    Gương mặt của người phụ nữ vì nó anh đã đi tù.

    Tim anh đau đớn trong lồng ngực như thể ai đó đã bóp nghẹn lấy nó.

    "Laura...?"

    Cô không nhìn anh.

    "Anh đã vướng vào vài thứ rắc rối, Shadow.

    Anh sẽ phá hoại chúng, nếu không có ai đó trông chừng anh.

    Em sẽ trông chừng anh.

    Và cảm ơn anh vì món quà nhé."

    "Món quà gì?"

    Cô cho tay vào túi áo, lấy ra đồng xu vàng anh đã ném xuống mộ cô sớm hôm nay.

    Vẫn còn một chút đất đen bám trên đó.

    "Em có thể lồng nó vào một sợi dây.

    Anh thật tốt bụng."

    "Không có gì."

    Cô quay lại và nhìn anh với cặp mắt trông như vừa nhìn anh mà vừa không nhìn anh.

    "Em nghĩ có vài khía cạnh của hôn nhân mà chúng ta sẽ phải cải thiện."

    "Cưng à," anh nói với cô.

    "Em chết rồi."

    "Rõ ràng, đó cũng là một trong các khía cạnh cần nói."

    Cô dừng lại một chút.

    "Được rồi," cô nói.

    "Em sẽ đi ngay.

    Sẽ tốt hơn nếu em đi."

    Và, một cách tự nhiên và đơn giản, cô quay người và đặt tay mình lên vai Shadow, rồi nhón những ngón chân lên để hôn tạm biệt anh, như cô luôn làm vậy trước đây.

    Một cách lúng túng anh cúi xuống hôn lên má cô, nhưng cô di chuyển môi mình khi anh làm vậy và nhấn môi mình lên môi anh.

    Hơi thở của cô, thoáng qua, có mùi như băng phiến.

    Lưỡi Laura trườn vào miệng Shadow.

    Nó lạnh, khô, có vị của thuốc lá và mật đắng.

    Nếu Shadow còn nghi ngờ nào về việc vợ anh đã chết hay chưa, những nghi ngờ đó kết thúc ngay tại đây.

    Anh đẩy mình ra.

    "Em yêu anh," cô nói, một cách đơn giản.

    "Em sẽ luôn trông chừng anh."

    Cô bước về phía cửa phòng nhà nghỉ.

    Có một mùi vị kỳ lạ trong miệng anh.

    "Ngủ chút đi, cún con," cô nói.

    "Và tránh xa mọi rắc rối."

    Cô mở cửa ra sảnh.

    Ánh đèn huỳnh quang trong hành lang không đẹp lắm: bên dưới chúng, Laura trông như đã chết, nhưng thật ra, nó khiến mọi người đều trông như vậy.

    "Anh đã có thể kêu em ở lại qua đêm," cô nói, bằng chất giọng lạnh như đá.

    "Anh không nghĩ là mình có thể đâu," Shadow nói.

    "Anh sẽ làm vậy mà, anh yêu," cô nói.

    "Trước khi tất cả những chuyện này kết thúc.

    Anh sẽ làm vậy mà."

    Cô quay đi, và bước xuống hành lang.

    Shadow nhìn ra ngoài cửa.

    Người nhân viên bán hàng đêm vẫn đang đọc cuốn tiểu thuyết John Grisham của mình, hơi đưa mắt lên nhìn khi cô bước qua ông.

    Có một lớp bùn dày từ nghĩa địa bám trên giày cô.

    Và rồi cô đi biến mất.

    Shadow thở ra, một cái thở dài chậm rãi.

    Tim anh vẫn đang đập loạn xì ngầu trong lồng ngực.

    Anh bước qua sảnh và gõ cửa phòng ngài Thứ Tư.

    Khi anh gõ cửa, anh có một ý niệm kỳ dị, rằng anh đang bị quật qua quật lại bởi một đôi cánh đen, như thể một con quạ khổng lồ đang bay qua anh, qua sảnh nhà nghỉ và ra thế giới ngoài kia.

    Ngài Thứ Tư mở cửa.

    Ông quấn khăn tắm khách sạn quanh eo, nhưng phần thân trên thì lõa lồ.

    "Cậu muốn cái quái gì vậy?"

    ông hỏi.

    "Có điều này ông nên biết," Shadow nói.

    "Có lẽ đây chỉ là một giấc mơ thôi - nhưng không phải - hoặc có lẽ tôi đã hít phải cái thứ khí da cóc tổng hợp của thằng nhóc mập ú kia, hoặc có lẽ tôi chỉ đang phát điên..."

    "Ừ, ừ.

    Nói lẹ ra đi," ngài Thứ Tư nói.

    "Tôi đang làm dở chút việc."

    Shadow liếc vào căn phòng.

    Anh có thể thấy có ai đó đang nằm trên giường, nhìn anh.

    Tấm chăn được kéo lên che bộ ngực nhỏ.

    Tóc vàng nhạt màu, gương mặt giống loài gặm nhấm.

    Anh hạ giọng xuống.

    "Tôi vừa thấy vợ mình," anh nói.

    "Cô ấy đã ở trong phòng tôi."

    "Ý cậu là một hồn ma à?

    Cậu thấy một con ma sao?"

    "Không.

    Không phải ma quỷ.

    Cô ấy là thật.

    Đúng là cô ấy.

    Đúng là cô ấy đã chết, nhưng đây không phải kiểu ma quỷ gì đâu.

    Tôi đã chạm vào cô ấy.

    Cô ấy đã hôn tôi."

    "Ta hiểu rồi."

    Ngài Thứ Tư liếc vội cô gái trên giường.

    "Quay lại ngay, bé cưng," ông nói.

    Họ bước qua sảnh để tới phòng Shadow.

    Ngài Thứ Tư mở đèn.

    Ông nhìn vào đầu lọc thuốc trong gạt tàn.

    Ông gãi ngực.

    Hai núm vú ông sậm màu, lông ngực ông hoa râm.

    Có một vết sẹo trắng dọc một bên thân mình.

    Ông hít hít không khí.

    Rồi ông nhún vai.

    "Được rồi," ông nói.

    "Vậy là cô vợ quá cố của cậu xuất hiện.

    Cậu sợ chứ?"

    "Một chút."

    "Khôn lắm.

    Cái chết luôn cho tôi những tiếng thét.

    Còn gì khác không?"

    "Tôi sẵn sàng rời khỏi Eagle Point rồi.

    Mẹ của Laura có thể sắp xếp chuyện căn hộ.

    Dù sao bà ta cũng ghét tôi.

    Tôi sẵn sàng đi khi nào ông muốn."

    Ngài Thứ Tư mỉm cười.

    "Tin tốt đấy, chàng trai.

    Chúng ta sẽ đi vào sáng mai.

    Giờ, cậu nên đi ngủ một chút đi.

    Ta có chút rượu scotch trong phòng, nếu cậu cần giúp đỡ.

    Được chứ?"

    "Không.

    Tôi sẽ ổn thôi."

    "Vậy thì đừng làm phiền ta thêm nữa.

    Ta có một đêm dài trước mắt."

    "Chúc ngủ ngon," Shadow nói.

    "Đúng rồi," ngài Thứ Tư nói, rồi ông đóng cửa lại và bước ra ngoài.

    Shadow ngồi xuống giường.

    Mùi thuốc là và chất bảo quản vẫn còn lưu hương trong không khí.

    Anh ước gì mình đang thương xót cho Laura: điều đó có vẻ hợp lý hơn là việc bị cô gây rắc rối, hoặc, việc anh thừa nhận với bản thân rằng cô đã biến mất, chỉ làm anh hơi sợ cô một chút.

    Anh tắt đèn, nằm lên giường, và nghĩ về Laura lúc anh còn ở trong tù.

    Anh nhớ cuộc hôn nhân của họ khi còn trẻ, hạnh phúc, ngu ngốc và không thể rời tay nhau.

    Đã rất lâu kể từ lần cuối Shadow khóc, lâu đến mức anh nghĩ mình đã quên mất khóc là như thế nào.

    Anh thậm chí còn không khóc khi mẹ anh qua đời.

    Nhưng bây giờ anh bắt đầu khóc, trong đau đớn, nức nở, và lần đầu tiên kể từ khi anh còn là một cậu bé, Shadow tự khóc thiếp đi.

    ---

    ĐẾN HOA KỲ

    Năm 813 sau Công Nguyên

    Họ đã dong thuyền qua biển xanh nhờ những ngôi sao và bờ biển, đến khi bờ biển chỉ còn là một ký ức và bầu trời đêm trở nên u ám, tối tăm, họ đã chèo lái nhờ đức tin, họ khẩn cầu Cha Cả (All-Father) đưa họ vào bờ an toàn một lần nữa.

    Họ đã có một chuyến hành trình tồi tệ, ngón tay tê cóng và xương xẩu rùng mình đến nỗi rượu nóng cũng không thể đốt cháy được.

    Họ sẽ thức dậy vào mỗi sáng để xem sương muối bám trên hàm râu, và, cho đến khi được mặt trời sưởi ấm, họ trông như những lão già râu trắng thời tiền sử.

    Răng lung lay và mắt trũng sâu khi họ cập bến vào một vùng đất xanh ngắt ở phía tây.

    Lũ người nói, "Chúng ta đang ở xa, xa quê nhà, xa đại dương ta biết và xa đất liền ta yêu.

    Ngay đây trên rìa thế giới chúng ta sẽ bị lãng quên bởi những vị thần."

    Thủ lĩnh của họ trèo lên đỉnh một tảng đá lớn, rồi ông chế giễu họ vì sự thiếu đức tin.

    "Cha Cả đã tạo ra thế giới," ông hét lên.

    "Ngài đã xây chúng bằng tay mình từ xương và thịt vụn của Ymir, ông của ngài.

    Ngài đặt những phần não của Ymir lên bầu trời thành những đám mây, mà máu mặn thành đại dương chúng ta băng qua.

    Nếu ngài tạo ra thế giới, các ngươi không nhận ra ngài cũng tạo ra mảnh đất này luôn sao?

    Và nếu các ngươi chết tại đây như những người đàn ông, chúng ta sẽ không được nhận vào nước trời của ngài hay sao?"

    Lũ đàn ông hò reo và cười lớn.

    Họ quyết định xây dựng một hội trường bằng bùn đất và những thân cây được chẻ đôi, bên trong một hàng rào nhỏ bằng gỗ được gọt sắc, mặc dù theo như họ biết họ là những người duy nhất ở vùng đất mới này.

    Vào ngày hội trường được hoàn thành có một cơn bão: bầu trời giữa trưa trở nên tối sầm như đêm, bị xé toạc ra bởi những xiên lửa trắng, tiếng sấm lớn đến nỗi lũ người gần như điếc cả tai, và con mèo họ mang theo cầu may mắn phải trốn dưới con thuyền ra khơi của họ.

    Con bão đủ mạnh và đủ tàn bạo khiến lũ người cười đùa và vỗ vai nhau, rồi họ nói, "Thần sấm đang ở đây với chúng ta, trên vùng đất xa xôi này," và họ cảm tạ, vui mừng, uống rượu cho đến khi chuếnh choáng.

    Trong bóng tối mờ ảo của hội trường, đêm đó, vị thi sĩ đã hát cho lũ người nghe những bài hát cũ.

    Ông hát về Odin, vị Cha Cả, người đã hi sinh vì bản thân mình một cách dũng cảm và cao thượng như những người đang hi sinh cho ông.

    Ông hát về chín ngày Cha Cả bị treo trên cây thế giới, bên thân ngài bị đâm và máu nhỏ xuống từ vết thương của mũi giáo nhọn, và ông hát cho lũ người nghe sự thống khổ của ngài: chín cái tên, chín cổ tự, và hai lần chín phép thần thông.

    Khi ông kể lũ người nghe về ngọn giáo đâm bên thân người Odin, vị thi sĩ thét lên trong đau đớn như thể Cha Cả đã kêu lên trong đau đớn, và toàn bộ lũ người run rẩy, tưởng tượng nỗi đau của ngài.

    Ngày tiếp theo họ tìm thấy một tên thổ dân, hôm đó cũng là ngày của cha cả.

    Hắn là một tên nhỏ bé, mái tóc đen dài như cánh quạ, da hắn có màu đất sét đỏ đặc.

    Hắn nói thứ ngôn ngữ không ai hiểu, kể cả vị thi sĩ, người đã từng trên một con thuyền dong buồm qua trụ của Hercules và là người có thể nói chuyện với dân buôn dọc khắp Địa Trung Hải.

    Tên khách lạ mặc đồ lông vũ và lông thú, có những chiếc xương nhỏ bện vào mái tóc dài của hắn ta.

    Lũ người dẫn hắn vào trại của họ, cho hắn ta ăn thịt nướng, cho hắn uống rượu mạnh để làm dịu cơn khát.

    Họ cười nhạo khi hắn vấp ngã và hát hò, đầu hắn lúc la lúc lắc, điều này chỉ tốn chưa tới một sừng rượu mật.

    Họ cho hắn uống thêm, và chẳng mấy chốc hắn đã nằm dưới bàn với cái đầu cuộn tròn dưới cánh tay.

    Rồi họ nhấc hắn lên, mỗi người một bên vai, mỗi người một bên chân, khiêng hắn cao ngang vai, bốn người đàn ông tạo thành một con ngựa tám chân, họ khiêng hắn ở đầu một đám rước tới một cái cây tần bì trên ngọn đồi hướng ra vịnh, nơi họ đặt dây thừng quanh cổ hắn và treo hắn cao lên trước gió, vật cống nạp của họ tới Cha Cả, vị thần của hành quyết.

    Xác của tên thổ dân lủng lẳng trước gió, mặt hắn tối sầm, lưỡi hắn thè ra, mắt hắn lồi ra, dương vật hắn đủ cương cứng để có thể treo một cái mũ bảo hộ bằng da lên, trong khi lũ người reo hò và cười vui, tự hào vì đã gửi vật cúng tế đến thiên thượng.

    Và, ngày tiếp theo, khi hai con quạ khổng lồ đậu trên xác của tên thổ dân, mỗi con một bên vai, bắt đầu mổ vào má và mắt hắn, lũ người biết lễ vật của họ đã được chấp nhận.

    Đó là một mùa đông dài, và họ đều đói, nhưng họ vẫn ăn mừng bởi suy nghĩ rằng, khi mùa xuân đến, họ sẽ được gửi thuyền trở lại vùng đất phía bắc, nó sẽ mang về những di dân, và mang cả phụ nữ.

    Khi thời tiết bắt đầu lạnh hơn, ngày bắt đầu ngắn đi, một số người đi đã tìm kiếm ngôi làng thổ dân, với hy vọng tìm thấy thức ăn và phụ nữ.

    Họ chẳng tìm thấy gì, chỉ còn những mảnh đất đã từng được nhóm lửa, nơi những khu lều nhỏ đã bị bỏ hoang.

    Một ngày giữa mùa đông, khi mặt trời xa xăm và lạnh giá như một đồng xu bạc mờ ảo, họ thấy phần còn sót lại của xác tên thổ dân đã bị gỡ ra khỏi cây tần bì.

    Chiều hôm đó tuyết bắt đầu rơi, những hạt tuyết vừa to, vừa nặng.

    Lũ người từ phương bắc đóng hết cổng trại, rút lui ra sau ra bức tường gỗ.

    Bữa tiệc chiến tranh tàn khốc của đám người thổ dân xảy ra với họ vào đêm đó: năm trăm người với ba mươi người.

    Họ trèo qua tường, và trong bảy ngày sau đó, đám thổ dân giết sạch ba mươi người kia, theo ba mươi cách khác nhau.

    Và những người thủy thủ bị quên lãng, bởi lịch sử và bởi người của họ.

    Tường bị xé, trong bữa tiệc chiến tranh kia, còn làng bị đốt.

    Con thuyền úp ngược nằm trên ván lợp mái, đám thổ dân cũng đốt, hi vọng những tên lạ mặt da xanh xao kia chỉ có một con thuyền, và nhờ việc đốt nó họ đảm bảo rằng sẽ không còn tên người Bắc nào dám tới bờ biển của họ nữa.

    Đó là hơn một trăm năm trước khi Leif Kẻ May Mắn, con trai của Erik Đỏ, tái khám phá ra mảnh đất này, và ông gọi nó là Vineland.

    Những vị thần của ông đã chờ ông sẵn khi ông tới: Tyr, thần một tay, Odin thần hành quyết, và Thor thần sấm.

    Họ đã ở đó.

    Họ đã chờ.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Bốn (1)


    "Hãy để chuyến tàu Đặc Biệt Nửa Đêm

    Chiếu ánh sáng vào tôi

    Hãy để chuyến tàu Đặc Biệt Nửa Đêm

    Soi ánh sáng hằng mến vào tôi."

    - Chuyến tàu Đặc Biệt Nửa Đêm, nhạc xưa

    ---

    Shadow và ngài Thứ Tư ăn sáng ở quán Nhà bếp Đồng quê bên kia đường đối diện nhà nghỉ của họ.

    Lúc đó là tám giờ sáng, không khí vẫn còn mờ sương và lạnh lẽo.

    "Cậu đã sẵn sàng rời khỏi Eagle Point?" ngài Thứ Tư hỏi.

    "Ta cần ghé thăm vài người, nếu cậu đã sẵn sàng.

    Hôm nay là thứ Sáu.

    Thứ Sáu là ngày nghỉ.

    Ngày của phụ nữ.

    Ngày mai là thứ Bảy.

    Có nhiều việc phải làm hơn vào thứ Bảy."

    "Tôi sẵn sàng rồi," Shadow nói.

    "Không còn gì níu giữ tôi lại đây."

    Ngài Thứ Tư chất đống đĩa ăn của mình bằng vài loại thịt ăn sáng.

    Shadow lấy vài miếng dưa tây, một cái bánh mì vòng, và một gói phô mai kem.

    Họ đến và ngồi xuống bàn.

    "Đêm qua cậu đã mơ thấy vài thứ," ngài Thứ Tư nói.

    "Ừ," Shadow nói.

    "Đúng vậy."

    Dấu chân vấy bùn của Laura vẫn còn hiện hữu trên thảm nhà nghỉ khi anh thức dậy sáng nay, dẫn từ phòng ngủ của anh đến sảnh và ra ngoài cửa.

    "Vậy," ngài Thứ Tư hỏi.

    "Tại sao người ta gọi cậu là Bóng đen?"

    Shadow nhún vai.

    "Nó là một cái tên," anh nói.

    Bên ngoài tấm kính, thế giới trong màn sương trở thành một bức vẽ chì được thực hiện bằng hàng tá màu xám khác nhau với một vệt màu đỏ tươi chỗ này hoặc một vệt màu trắng xóa chỗ nọ.

    "Còn ông mất một bên mắt thế nào vậy?"

    Ngài Thứ Tư nhét nửa tá thịt xông khói vào miệng, nhai chóp chép, lau mỡ trên môi bằng mu bàn tay.

    "Ta không làm mất," ông nói.

    "Ta vẫn biết chính xác nó đang nằm đâu."

    "Vậy kế hoạch là gì?"

    Ngài Thứ Tư nhìn suy tư.

    Ông ăn thêm vài lát giăm bông hồng tươi, nhặt một mẩu thịt dính trên râu, thả nó lại vào dĩa.

    "Kế hoạch như sau.

    Tối mai chúng ta sẽ gặp một số người xuất sắc trong các lĩnh vực tương ứng của họ, đừng để thái độ của họ đe dọa cậu.

    Chúng ta sẽ gặp họ tại một trong những địa điểm quan trọng nhất trong cả nước.

    Sau đó chúng ta sẽ uống rượu và ăn tối với họ.

    Ta cần thuyết phục họ tham gia vào kế hoạch hiện tại của ta."

    "Và cái nơi quan trọng nhất đó ở đâu?"

    "Cậu sẽ biết thôi, cậu bé.

    Ta nói là một trong những địa điểm quan trọng nhất.

    Ý kiến được chia ra một cách hợp lý.

    Ta đã đánh tiếng đến các cộng sự của ta.

    Chúng ta sẽ ghé qua Chicago trên đường đi vì ta cần lấy chút tiền.

    Niềm vui, như cách ta cần được vui, sẽ tốn nhiều hơn số tiền ta hiện có.

    Xong rồi chúng ta tới Madison."

    Ngài Thứ Tư trả tiền và họ rời đi, đi bộ qua đường đến bãi đậu xe của nhà nghỉ.

    Ngài Thứ Tư ném chìa khóa xe cho Shadow.

    Anh lái xe xuống đường cao tốc và ra khỏi thị trấn.

    "Cậu sẽ nhớ nó chứ?"

    Ngài Thứ Tư hỏi.

    Ông đang phân loại một tập bìa cứng chứa đầy các tấm bản đồ.

    "Thị trấn đó hả?"

    Không.

    Tôi không thật sự có một cuộc đời ở đó.

    Tôi chưa bao giờ ở một nơi quá lâu khi còn bé, và tôi không ở đây cho đến những năm tôi hai mươi.

    Nên thị trấn này là của Laura."

    "Hãy cùng nhau hi vọng cô ta còn sống ở đó," ngài Thứ Tư nói.

    "Chỉ là mơ thôi," Shadow nói.

    "Nhớ đấy."

    "Vậy thì tốt," ngài Thứ Tư nói.

    "Một thái độ lành mạnh cần có.

    Đêm qua cậu có chịch cô ta không?"

    Shadow hít một hơi.

    Rồi anh nói, "Đó không phải việc của ông.

    Và không."

    "Mà cậu có muốn không?"

    Shadow không nói gì cả.

    Anh lái xe lên phía bắc, hướng tới Chicago.

    Ngài Thứ Tư cười khúc khích rồi bắt đầu liếc qua đống bản đồ, mở ra rồi lại gấp vô, thỉnh thoáng ghi chú vào sổ ghi chú màu vàng bằng một cây bút bi lớn bằng bạc.

    Cuối cùng ông cũng làm xong.

    Ông cất cây bút bi đi, cất bìa hồ sơ ra băng ghế sau.

    "Điều tuyệt vời nhất về những bang chúng ta sắp tới," ngài Thứ Tư nói, "Minnesota, Wisconsin, xung quanh đó, có kiểu phụ nữ ta thích khi ta còn trẻ.

    Da trắng muốt, mắt xanh biếc, tóc nhạt màu tới mức gần như hóa trắng, môi đỏ rượu, và bộ ngực tròn đầy với gân xanh chạy qua như những miếng phô mát ngon lành."

    "Chỉ khi ông còn trẻ thôi à?"

    Shadow hỏi.

    "Hình như đêm qua ông cũng khá lắm đấy chứ."

    "Ừ."

    Ngài Thứ Tư mỉm cười.

    "Cậu có muốn biết bí mật thành công của ta không?"

    "Ông trả tiền cho họ?"

    "Không thô lỗ đến thế đâu.

    Không, bí mật là cái duyên.

    Rõ ràng và đơn giản."

    "Duyên, hả?

    Vậy thì, như người ta hay nó, một là có, hai là không."

    "Duyên cũng có thể học được mà," ngài Thứ Tư nói.

    Shadow mở đài radio chuyển đến một kênh nhạc xưa, và lắng nghe những bài hát đương thời trước cả khi anh sinh ra.

    Bob Dylan đang hát về một cơn mưa nặng hạt sắp đổ, và Shadow tự hỏi liệu trận mưa đó đã rơi hay chưa, hay đó chỉ là một điều sắp xảy ra.

    Con đường trước mắt họ trống trơn và những tinh thể băng trên nhựa đường lấp lánh như những viên kim cương dưới ánh mặt trời buổi sáng.

    ---

    Chicago xuất hiện chậm rãi, như một cơn đau nửa đầu.

    Đầu tiên họ đang lái xe qua vùng nông thôn, sau đó, bất thình lình, thị trấn biến thành một khu đô thị ngoại ô nghèo nàn, và rồi khu đô thị biến thành thành phố.

    Họ đỗ xe ngoài một căn nhà thấp bé màu đen trong khu nhà đá.

    Vỉa hè không còn tuyết.

    Họ bước tới tiền sảnh.

    Ngài Thứ Tư nhấn cái nút trên cùng của hộp hệ thống liên lạc nội bộ bằng kim loại.

    Không gì xảy ra.

    Ông nhấn lại lần nữa.

    Rồi, lò dò, ông bắt đầu nhấn những nút khác, tới những hộ gia đình khác, mà không ai phản hồi.

    "Nó hư rồi," một bà lão gầy gò, đang bước xuống cầu thang.

    "Không hoạt động đâu.

    Chúng tôi đã gọi điện cho quản lý tòa nhà, yêu cầu ông ta sửa nó trong lúc ông đang sửa cái máy sưởi, ông ta chẳng quan tâm, chạy tới Arizona cho trái tim mùa đông của ổng."

    Khẩu âm của bà nghe nặng, Shadow đoán, đến từ vùng Đông Âu.

    Ngài Thứ Tư cúi thấp.

    "Zorya thân yêu, ta có thể nói bà xinh đẹp tới nhường nào không?

    Một sinh vật rạng rỡ.

    Bà chẳng hề già đi chút nào."

    Bà lão lườm nguýt ông.

    "Ông ấy không muốn gặp ông.

    Tôi cũng không muốn gặp ông luôn.

    Ông là đồ rắc rối."

    "Nếu chuyện đó không quan trọng ta cũng chẳng đến."

    Bà lão hít hít.

    Bà mang theo một chiếc túi lưới mua đồ trống không, mặc một chiếc áo khoác cũ màu đỏ, cài khuya kín đến tận cằm.

    Bà nhìn Shadow đầy ngờ vực.

    "Anh chàng to lớn này là ai đây?" bà hỏi ngài Thứ Tư.

    "Một trong số những tên sát nhân của ông à?"

    "Bà làm tôi tổn thương sâu sắc đấy, thưa bà.

    Quý ông đây tên là Shadow.

    Cậu ấy đang làm việc cho tôi, phải, nhưng là vì các người.

    Shadow, xin được giới thiệu cậu với Quý bà Zorya Vechernyaya đáng yêu này."

    "Hân hạnh được biết bà," Shadow nói.

    Như một chú chim, bà lão nhìn anh chăm chú.

    "Shadow à," bà nói.

    "Một cái tên hay.

    Khi những cái bóng dài ra, đó là thời điểm của ta.

    Và cậu là một cái bóng dài."

    Bà nhìn anh từ trên xuống dưới, rồi mỉm cười.

    "Cậu có thể hôn tay ta," bà nói, giơ bàn tay lạnh ngắt của mình ra.

    Shadow cúi xuống và hôn lên bàn tay mảnh dẻ của bà.

    Bà đeo một chiếc nhẫn hổ phách trên ngón giữa.

    "Giỏi lắm," bà nói.

    "Tôi đang định mua vài món đồ tạp hóa.

    Ông thấy đấy, tôi là người duy nhất trong số họ mang tiền về.

    Hai người kia không thể kiếm tiền từ việc xem bói được.

    Bởi vì họ chỉ nói ra những sự thật, và sự thật thì không phải điều con người muốn nghe.

    Đó là điều xấu, và nó gây rắc rối cho con người, nên họ không quay lại.

    Nhưng tôi thì có thể nói dối họ, nói họ nghe những gì họ muốn nghe.

    Nên tôi đem tiền về nhà.

    Ông có định ở lại đây ăn tối không?"

    "Ta hi vọng là thế," ngài Thứ Tư nói.

    "Vậy tốt hơn hết là đưa tôi chút tiền mua đồ ăn đi," bà nói.

    "Tôi kiêu ngạo, nhưng tôi không ngu.

    Mấy người kia kiêu ngạo hơn tôi, và ông ấy là người kiêu ngạo nhất.

    Nên đưa tôi tiền đi và đừng nói với họ là ông đưa tôi."

    Ngài Thứ Tư mở ví, đưa tay vào.

    Ông lấy ra một tờ hai mươi đô-la.

    Zorya Vechernyaya giật nó từ tay ông, và chờ đợi.

    Ông lấy thêm một tờ hai mươi đô-la ra nữa và đưa cho bà.

    "Vậy tốt hơn không," bà nói.

    "Chúng tôi sẽ chăm hai ông như hoàng tử.

    Giờ, đi lên lầu đến tầng trên cùng.

    Zorya Utrennyaya đã thức, nhưng người em gái còn lại vẫn đang ngủ, nên đừng làm ồn quá."

    Shadow và ngài Thứ Tư leo lên những bậc thang tối tăm.

    Chiếu nghỉ hai tầng trên chứa đầy các túi rác nhựa đen và nó có mùi như rau củ thối.

    "Họ là dân digan à?"

    Shadow hỏi.

    "Zorya và gia đình của bà ấy hả?

    Không hẳn.

    Họ không phải người Rô-ma.

    Họ là người Nga.

    Dân Slav, ta nghĩ vậy."

    "Nhưng bà ấy làm nghề xem bói."

    "Nhiều người làm nghề xem bói lắm.

    Ta cũng tập tành bộ môn này mà."

    Ngài Thứ Tư thở hổn hển khi cả hai bước lên bậc thang cuối.

    "Ta mất phong độ rồi."

    Chiếu nghỉ cầu thang kết thúc bằng một cánh cửa đơn sơn đỏ, với một cái lỗ nhìn trên đó.

    Ngài Thứ Tư gõ cửa.

    Không hồi đá.p.

    Ông lại gõ, lần này lớn hơn lần trước.

    "Được rồi!

    Được rồi!

    Ta nghe!

    Ta nghe rồi!"

    Tiếng mở ổ khóa dở dang, tiếng chốt cửa được kéo ra, tiếng lách cách của xích cửa.

    Cánh cửa đỏ mở ra kêu cái rắc.

    "Ai đấy?"

    Giọng một người đàn ông, già khụ và trầm khàn vì thuốc lá vang lên.

    "Một người bạn cũ, Czernobog à.

    Đi cùng cộng sự."

    Cánh cửa mở ra ngay khi xích cửa cho phép.

    Shadow có thể nhìn thấy một gương mặt xám xịt, đứng trong bóng tối, nhìn họ chăm chú.

    "Ông muốn gì đây, Ông Thần?" (người dịch: bản gốc là Votan.)

    "Lúc đầu chỉ đơn giản là niềm vui được làm khách của ông.

    Sau đó là tôi có thông tin muốn chia sẻ.

    Người ta có thành ngữ gì ấy nhỉ?...

    À phải rồi.

    Ông có thể học được thứ gì đó có lợi cho ông."

    Cánh cửa mở rộng hết cỡ.

    Người đàn ông trong bộ áo choàng tắm dính đầy bụi có dáng người thấp, mái tóc màu xám đậm và gương mặt khắc khổ.

    Ông mặc chiếc quần kẻ sọc mảnh, bạc màu theo năm tháng, và mang một đôi dép lê.

    Ông cầm một điếu thuốc không đầu lọc bằng những ngón tay bè bè vuông vuông, mút đầu một ngón tay trong khi khum chúng lại thành nắm đấm - Shadow nghĩ, trông như một tên tù nhân, hoặc một người lính tráng.

    Ông giơ tay trái ra với ngài Thứ Tư.

    "Vậy thì chào mừng ông, Ông Thần."

    "Dạo này người ta gọi tôi là ngài Thứ Tư," ông nói, bắt tay ông lão kia.

    Một nụ cười hở lợi; thoáng thấy hàm răng vàng khè.

    "Ừ," ông nói.

    "Hài hước lắm.

    Còn đây là?"

    "Đây là cộng sự của tôi.

    Shadow, hãy gặp ông Czernobog."

    "Rất hân hạnh," Czernobog nói.

    Ông bắt tay trái Shadow bằng tay trái của mình.

    Tay ông sần sùi và chai sạn, đầu các ngón tay vàng khè như thể chúng bị nhúng vào thuốc sát trùng.

    "Ông khỏe chứ, ông Czernobog?"

    "Ta đang già.

    Ruột ta đau âm ỉ, lưng ta đau tê tái, và ta ho muốn rách lồng ngực mỗi sáng sớm."

    "Tại sao mọi người lại đứng ngoài cửa vậy?" một giọng phụ nữ hỏi.

    Shadow nhìn qua vai Czernobog, vào bà lão đang đứng sau lưng ông.

    Bà ấy nhỏ nhắn và yếu ớt hơn chị mình, nhưng tóc bà dài và vẫn còn màu vàng ánh kim.

    "Tôi là Zorya Utrennyaya," bà nói.

    "Hai người không được đứng đó trong hành lang.

    Hai người phải vào nhà, ngồi xuống.

    Tôi sẽ mang cà phê cho hai người."

    Qua ngưỡng cửa là một căn hộ có mùi như bắp cải luộc nhừ, hộp cát mèo và thuốc lá ngoại không đầu lọc, họ được dẫn qua một hành lang chật hẹp, đi qua vài cánh cửa đóng kín để tới phòng khách ở cuối hành lang, họ được ngồi trên một chiếc sô-pha nhồi lông ngựa cũ và lớn, làm phiền một con mèo xám già trong quá trình ngồi, con mèo duỗi người, đứng lên, và bước đi, một cách chậm chạp, đến chỗ xa xa của sô-pha, nơi nó nằm xuống, lần lượt nhìn chằm chằm vào từng người, rồi nhắm một bên mắt và tiếp tục ngủ.

    Czernobog ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện họ.

    Zorya Utrennyaya tìm thấy một cái gạt tàn rỗng và đặt nó bên cạnh Czernobog.

    "Hai người muốn dùng cà phê như thế nào?" bà hỏi hai vị khách.

    "Ở đây chúng tôi pha cà phê kiểu đen đặc như đêm khuya, mà ngọt ngào như tội lỗi."

    "Vậy là được rồi, thưa bà," Shadow nói.

    Anh nhìn ra ngoài cửa sổ, vào những tòa nhà đối diện bên đường.

    Zorya Utrennyaya bước ra ngoài.

    Czernobog nhìn chòng chọc vào bà lúc bà đi khỏi.

    "Đó là một người phụ nữ tốt," ông nói.

    "Không như hai người chị em của bã.

    Một người thì tham lam, còn người kia, tất cả những gì nó làm là ngủ."

    Ông đặt bàn chân mang dép lê lên mặt bàn cà phê dài và thấp, có một bàn cờ vua nằm ở giữa, những vết cháy thuốc lá và vết dơ đáy cốc bám trên bề mặt.

    "Bà ấy là vợ ông à?"

    Shadow hỏi.

    "Bà ấy chẳng là vợ ai cả."

    Ông lão ngồi trong yên lặng một chút, nhìn xuống đôi bàn tay thô ráp.

    "Không.

    Bọn ta đều là họ hàng.

    Bọn ta đến đây cùng nhau, từ rất lâu rồi."

    Từ bên túi áo choàng tắm, Czernobog lấy ra một gói thuốc lá không đầu lọc.

    Ngài Thứ Tư lấy ra chiếc bật lửa bằng vàng có hình mũi tên và châm lửa cho ông lão.

    "Đầu tiên bọn ta đến New York," Czernobog nói.

    "Dân đồng hương ai cũng tới New York cả.

    Rồi, bọn ta ra đây, tới Chicago.

    Mọi thứ trở nên vô cùng tồi tệ.

    Kể cả ở đất nước cũ, con người cũng gần như quên lãng ta cả rồi.

    Ở đây, ta chỉ là một ký ức xấu.

    Cậu biết ta làm nghề gì khi đến Chicago không?"

    "Không," Shadow nói.

    "Ta có một công việc trong ngành kinh doanh thịt.

    Ở lĩnh vực giết mổ ấy.

    Khi con bò đực lên tới dốc, ta là người gõ.

    Cậu biết vì sao người ta gọi là người gõ không?

    Bởi vì bọn ta lấy một cây búa cán dài và gõ xuống con bò bằng cây búa đấy.

    Bốp!

    Việc đấy cần nhiều lực ở cánh tay.

    Nhỉ?

    Rồi cái cùm xích con bò lại, kéo nó lên, người ta cắt cổ nó.

    Họ trút hết máu trong người con bò trước khi cắt đầu nó ra.

    Bọn ta là những người gõ khỏe nhất."

    Ông kéo tay áo chiếc áo choàng tắm lên, gồng cơ tay để thể hiện những bó cơ vẫn còn nhìn thấy được dưới lớp da lão hóa.

    "Không chỉ khỏe thôi không đâu.

    Còn có cả nghệ thuật trong đó nữa.

    Trong việc gõ đầu bò.

    Nếu không làm đúng cách, con bò chỉ sững người, hoặc tức điên lên.

    Rồi, vào thập niên năm mươi, người ta đưa bọn ta khẩu súng điện.

    Cậu đặt nó lên trán con bò, đùng!

    đùng!

    Giờ thì cậu nghĩ, ai cũng có thể giết bò.

    Không phải như vậy đâu."

    Ông giả bộ bắn một mũi xuyên qua đầu con bò.

    "Nó vẫn cần kỹ thuật."

    Ông mỉm cười với những ký ức cũ, nhe hàm răng ố màu.

    "Đừng kể họ nghe mấy câu chuyện giết bò nữa."

    Zorya Utrennyaya mang cà phê ra trong một chiếc khay gỗ đỏ, đựng trong những chiếc tách tráng men sáng bóng.

    Bà đưa mỗi người một tách, rồi ngồi xuống cạnh Czernobog.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Bốn (2)


    "Zorya Vechernyaya đang đi mua sắm," bà nói.

    "Chị ấy sẽ về sớm thôi."

    "Bọn tôi đã gặp bà ấy ở dưới lầu," Shadow nói.

    "Bà ấy nói mình biết xem bói."

    "Đúng vậy," em gái bà nói.

    "Lúc trời chạng vạng, đó là thời điểm cho những lời nói dối.

    Tôi không nói dối tốt lắm, nên tôi là một bà xem bói nghèo.

    Em gái chúng tôi, Zorya Polunochnaya, em ấy còn không thể nói dối được."

    Cà phê ngọt và đậm hơn Shadow kỳ vọng.

    Shadow xin phép sử dụng nhà tắm - một căn phòng nhỏ như cái tủ quần áo, treo vài tấm ảnh đóng khung lốm đốm nâu chụp đàn ông và phụ nữ trong những tư thế cứng nhắc thời Victoria.

    Lúc này mới đầu giờ chiều, nhưng ánh sáng ban ngày đã bắt đầu phai dần.

    Anh nghe thấy những giọng nói cất lên từ dưới sảnh.

    Anh rửa tay trong dòng nước lạnh giá bằng một mẩu xà phòng màu hồng có mùi hơi tanh.

    Czernobog đang đứng ở dưới sảnh lúc Shadow bước ra.

    "Ông toàn mang rắc rối!"

    ông đang thét lên.

    "Không gì ngoài rắc rối!

    Ta sẽ không nghe đâu!

    Ông cút ra khỏi nhà tôi ngay!"

    Ngài Thư Tư vẫn đang ngồi trên sô-pha, nhấm nháp ly cà phê, vuốt ve con mèo xám.

    Zorya Utrennyaya đứng trên tấm thảm mỏng, một tay xoắn ra xoắn vào mái tóc vàng của mình một cách lo lắng.

    "Có vấn đề gì sao?"

    Shadow hỏi.

    "Lão ta là vấn đề đấy!"

    Czernobog gào lên.

    "Chính là lão ta!

    Cậu hãy nói với lão không thứ gì sẽ khiến ta giúp lão đâu!

    Ta muốn lão đi!

    Ta muốn lão biến khỏi đây!

    Cả hai người luôn!"

    "Làm ơn," Zorya Utrennyaya nói.

    "Làm ơn giữ yên lặng, ông sẽ đánh thức Zorya Polunochnaya mất."

    "Bà cũng giống lão ta, bà muốn ta tham gia trò điên khùng của lão!"

    Czernobog vẫn hét.

    Ông trông sắp khóc đến nơi.

    Một cột tàn thuốc dài rơi từ điếu thuốc trên tay ông xuống tấm thảm lót sảnh mòn xơ cả chỉ.

    Ngài Thứ Tư đứng lên, bước tới Czernobog.

    Ông đặt tay mình lên vai Czernobog.

    "Nghe này," ông nói, một cách ôn hòa.

    "Đầu tiên, chuyện này không điên khùng.

    Đó là cách duy nhất.

    Thứ hai, mọi người đều sẽ ở đó.

    Ông sẽ không muốn bị bỏ rơi, phải không?"

    "Ông biết tôi là ai mà," Czernobog nói.

    "Ông biết bàn tay này đã làm những chuyện gì mà.

    Ông muốn anh trai tôi, không phải tôi.

    Và anh ấy thì biến mất rồi."

    Một cánh cửa trong hành lang mở ra, giọng nói phụ nữ ngái ngủ lên tiếng, "Có chuyện gì vậy?"

    "Không gì đâu, em gái à," Zorya Utrennyaya nói.

    "Ngủ tiếp đi em."

    Rồi bà quay sang Czernobog.

    "Thấy chưa?

    Thấy những gì ông làm với mấy tiếng gào thét của ông chưa.

    Quay lại kia và ngồi xuống đi.

    Ngồi xuống!"

    Czernobog nhìn như thể ông định phản kháng; và ham muốn chiến đấu của ông bỗng biến mất.

    Đột nhiên, ông trông yếu ớt: yếu ớt, và cô đơn.

    Ba người đàn ông quay lại căn phòng khách tồi tàn.

    Có một vòng nicotine màu nâu quanh căn phòng đó, cách trần nhà khoảng một bước chân, trông giống như dòng thủy triều trong một bồn tắm cũ.

    "Chuyện này không phải vì ông," ngài Thứ Tư nói với Czernobog, một cách điềm tĩnh.

    "Nếu chuyện này là vì anh ông, thì nó cũng là vì ông.

    Đó là nơi những người kiểu đối ngẫu như hai ông được mời tới thay vì chúng tôi, nhỉ?"

    Czernobog không nói gì.

    "Nhân tiện nhắc về Bielebog, ông có nghe được tin tức gì không?"

    Czernobog lắc đầu.

    Ông nhìn lên Shadow.

    "Cậu có anh trai chứ?"

    "Không," Shadow đáp.

    "Theo như tôi biết thì không."

    "Ta có một người anh.

    Người ta nói, nếu cậu đặt hai người cạnh nhau, bọn ta trông như một người, cậu biết đấy?

    Khi bọn ta còn trẻ, tóc anh ấy, nó có màu vàng rực, sáng óng, mắt anh ấy xanh ngắt, và người ta nói, anh ấy là đứa tốt.

    Còn tóc ta thì đen thui, thậm chí đen hơn cả tóc cậu, và người ta nói ta là đứa xấu, cậu hiểu không?

    Ta là kẻ xấu.

    Và giờ thời gian trôi đi, tóc ta đã bạc.

    Tóc anh ấy, ta nghĩ, cũng đã bạc.

    Và giờ cậu nhìn vào hai ta, cậu sẽ không biết ai là bóng đêm, ai là ánh sáng."

    "Hai người thân nhau không?"

    Shadow hỏi.

    "Thân?"

    Czernobog hỏi.

    "Không.

    Sao có thể chứ?

    Bọn ta quan tâm những vấn đề rõ là khác nhau."

    Có tiếng lách cách từ cuối hành lang, và Zorya Vechernyaya bước vào.

    "Bữa tối trong một tiếng nữa," bà nói.

    Rồi bà đi ra ngoài.

    Czernobog thở dài.

    "Bà ấy tưởng mình là một đầu bếp giỏi," ông nói.

    "Khi bà ấy được nuôi lớn, luôn có người hầu nấu cho ăn.

    Giờ, không còn người hầu nữa.

    Không còn gì cả."

    "Không có không gì cả," ngài Thứ Tư nói.

    "Không bao giờ có không gì cả."

    "Ông," Czernobog nói.

    "Tôi sẽ không nghe theo ông."

    Ông quay sang Shadow.

    "Cậu có biết chơi cờ đam không?"

    ông hỏi.

    "Biết," Shadow nói.

    "Tốt.

    Cậu sẽ chơi cờ đam với ta," ông nói, lấy ra một hộp các quân cờ gỗ từ kệ phía trên lò sưởi và đổ chúng ra bàn.

    "Ta chơi quân đen."

    Ngài Thứ Tư chạm cánh tay Shadow.

    "Cậu không cần phải làm việc này, cậu biết đấy," ông nói.

    "Không vấn đề gì.

    Tôi muốn chơi," Shadow nói.

    Ngài Thứ Tư nhún vai, lấy một bản sao tờ Reader's Digest cũ từ chồng tạp chí nhỏ ố vàng trên bậu cửa sổ.

    Những ngón tay màu nâu của Czernobog hoàn tất việc xếp quân lên bàn cờ, và trận đấu bắt đầu.

    ---

    Trong những ngày tiếp theo, Shadow thường thấy mình vẫn nhớ rõ ván cờ đó.

    Vài đêm anh mơ thấy nó.

    Những quân cờ tròn, dẹt của anh có màu gỗ cũ và bẩn, trên danh nghĩa là quân trắng.

    Những quân cờ của Czernobog có màu đen mờ, nhám.

    Shadow là người đi trước.

    Trong giấc mơ, không có cuộc trò chuyện nào khi họ đang chơi, chỉ có tiếng lọc cọc nặng nề khi những quân cờ được đặt xuống, hoặc tiếng rít của gỗ với gỗ khi chúng trượt đi từ ô bên này sang ô bên cạnh.

    Trong sáu nước đầu tiên mỗi người đều di chuyển quân của mình trên bàn cờ, vào phía trung tâm, để lại hàng cuối còn nguyên chưa động đến.

    Có những khoảng dừng giữa các nước cờ, những khoảng dừng dài, kiểu giống cờ vua, trong lúc hai người đàn ông theo dõi, và suy nghĩ.

    Shadow đã chơi cờ đam trong tù: nó giết thời gian.

    Anh cũng chơi cờ vua nữa, nhưng anh không thấy bản thân mình hợp với việc lên kế hoạch trước.

    Anh thích chọn nước cờ hoàn hảo nhất cho từng khoảnh khắc.

    Thỉnh thoảng, bạn có thể thắng trò cờ đam như vậy đấy.

    Một tiếng cọc vang lên khi Czernobog lấy một quân đen và đặt nó chồng lên một trong số những quân trắng của Shadow.

    Lão già nhặt quân trắng của Shadow và đặt nó trên bàn cạnh bàn cờ.

    "Ăn quân đầu.

    Cậu thua rồi," Czernobog nói.

    "Ván cờ kết thúc."

    "Không," Shadow nói.

    "Ván cờ vẫn còn lâu lắm mới xong."

    "Vậy cậu muốn cược không?

    Cá cược một chút, cho ván cờ thú vị hơn?"

    "Không," ngài Thứ Tư nói, mà không nhìn lên khỏi chuyên mục "Truyện hài trong Quân Đội."

    "Cậu ấy sẽ không cược gì cả."

    "Ta không chơi với ông, ông già.

    Ta chơi với cậu ấy.

    Vậy, cậu có muốn cá cược không, Quý ngài Shadow?"

    "Lúc nãy, hai người cãi nhau chuyện gì?"

    Shadow hỏi.

    Czernobog nhấc một bên chân mày lởm chởm.

    "Ông chủ của cậu muốn ta đi với ông ấy.

    Để giúp công việc vô lý của ổng.

    Ta thà chết ở đây còn hơn."

    "Ông muốn cược phải không?

    Được thôi.

    Nếu tôi thắng, ông phải đi với bọn tôi."

    Ông lão mím môi.

    "Có thể," ông nói.

    "Nhưng chỉ khi cậu chấp nhận hình phạt của ta, nếu cậu thua."

    "Và hình phạt đó là?"

    Không gì thay đổi trong biểu cảm của Czernobog.

    "Nếu ta thắng, ta sẽ gõ nát sọ cậu ra.

    Bằng cây búa cán dài đó.

    Đầu tiên cậu sẽ quỳ gối xuống.

    Rồi ta đập một cú vào cậu, nên cậu sẽ chẳng đứng dậy được nữa."

    Shadow nhìn vào gương mặt ông lão, cố gắng đọc ý nghĩ của ông.

    Ông không nói đùa, Shadow biết chắc chắn là vậy: trong ông có một sự thèm khát cho thứ gì đó, cho nỗi đau, cho cái chết, cho sự trừng phạt.

    Ngài Thư Tư đóng cuốn tạp chí Reader's Digest lại.

    "Chuyện này lố bịch quá," ông nói.

    "Ta đã sai khi đến đây.

    Shadow, chúng ta đi thôi."

    Con mèo xám, khó chịu, đứng dậy và bước lên bàn bên cạnh ván cờ đam.

    Nó nhìn vào mấy quân cờ, rồi nhảy xuống sàn và, đuôi dựng cao, bước đi một cách kiêu ngạo ra khỏi phòng.

    "Không," Shadow nói.

    Anh không sợ chết.

    Cuối cùng thì, không phải anh không sợ chết như thể anh không còn lẽ sống nào.

    "Ổn cả mà.

    Tôi đồng ý.

    Nếu ông thắng, ông sẽ có cơ hội gõ nát sọ tôi ra bằng một cú từ cây búa cán dài của ông," rồi anh di chuyển quân trắng tiếp theo của mình đến ô vuông bên cạnh ở mép bàn cờ.

    Không còn gì để nói thêm, nhưng ngài Thứ Tư cũng không cầm tờ Reader's Digest lên mà đọc lần nữa.

    Ông theo dõi ván cờ bằng cả bên mắt giả và bên mắt thật, với một thái độ trung kiên.

    Czernobog lấy một quân khác của Shadow.

    Shadow lấy hai quân của Czernobog.

    Từ hành lang bay ra mùi nấu thức ăn lạ.

    Mặc dù không phải mọi mùi đều mang cảm giác ngon miệng, Shadow chợt nhận ra mình đói đến mức nào.

    Hai người đàn ông đi các nước cờ, đen và trắng, lần lượt thay phiên nhau.

    Một loạt các quân cờ bị lấy đi, một sự nở rộ của các quân vua: không còn bị buộc chỉ di chuyển về phía trước trên bàn cờ, mỗi lần chỉ di chuyển sang ngang một lần, các quân vua có thể tiến lên hoặc thụt lùi, khiến chúng nguy hiểm gấp đôi.

    Chúng đã đi được đến hàng xa nhất, và có thể đi đến nơi chúng muốn.

    Czernobog có ba quân vua, Shadow có hai quân.

    Czernobog di chuyển một quân vua quanh bàn cờ, ăn hết các quân còn lại của Shadow, trong khi sử dụng hai quân vua kia ghìm chặt hai quân vua của Shadow.

    Czernobog có được quân vua thứ tư, và quay trở lại bàn cờ với hai quân vua của Shadow, rồi, không mỉm cười, lấy cả hai quân này đi.

    Thế là như vậy đấy.

    'Vậy," Czernobog nói.

    "Ta sẽ gõ nát sọ cậu ra.

    Và cậu sẽ tự nguyện quỳ xuống.

    Vậy là tốt rồi."

    Ông đưa tay ra vỗ nhẹ vào cánh tay Shadow.

    "Chúng ta vẫn còn thời gian trước khi bữa tối sẵn sàng," Shadow nói.

    "Ông muốn chơi thêm ván nữa không?

    Vẫn giao kèo cũ?"

    Czernobog đốt một điếu thuốc khác, từ hộp diêm nhà bếp.

    "Sao vẫn có thể là giao kèo đó được?

    Cậu muốn ta nên giết cậu hai lần à?"

    "Ngay bây giờ, ông có một cú gõ, hết.

    Ông bảo tôi việc đó không chỉ cần sức mạnh, mà còn cần cả kỹ thuật nữa.

    Như vậy thì, nếu ông thắng ván này, ông sẽ được gõ đầu tôi hai lần."

    Czernobog nhìn đầy tức giận.

    "Một cú gõ, chỉ cần vậy thôi, một cú duy nhất.

    Đó là nghệ thuật."

    Ông vỗ nhẹ vào phần trên cánh tay phải, chỗ có cơ bắp, bằng cánh tay trái, rải tro xám từ điếu thuốc xuống.

    "Cũng đã rất lâu rồi.

    Nếu ông mất kỹ thuật của mình, ông có thể chỉ đơn giản là làm tôi bầm tím thôi.

    Đã bao lâu kể từ lần cuối ông vung cây búa giết chóc đó trong trang trại?

    Ba mươi năm?

    Hay bốn mươi năm?"

    Czernobog không nói gì.

    Miệng ông khép chặt thành một đường xám rạch ngang khuôn mặt.

    Ông gõ ngón tay lên mặt bàn gỗ, đánh trống theo nhịp.

    Rồi ông đặt hai mươi bốn quân cờ về lại vị trí của chúng trên bàn cờ.

    "Chơi thôi," ông nói.

    "Lần nữa, cậu quân trắng.

    Ta quân đen."

    Shadow đưa quân đầu tiên của mình ra.

    Czernobog đẩy một trong những quân cờ của mình về phía trước.

    Và Shadow nhận thấy rằng Czernobog đang cố chơi lại cùng một ván cờ lần nữa, ván cờ mà ông vừa thắng, rằng đây sẽ là giới hạn của ông.

    Lần này Shadow chơi liều lĩnh hơn.

    Anh chộp lấy những cơ hội nhỏ bé, đi nước cờ không suy tính, không dừng lại để cân nhắc.

    Và lần này, trong lúc chơi, Shadow mỉm cười; và mỗi khi Czernobog đi một quân, Shadow càng cười tươi hơn nữa.

    Một lúc sau, Czernobog đang đập những quân cờ xuống khi ông đi các nước cờ, đập chúng xuống mặt bàn gỗ mạnh đến mức những quân còn lại phải run rẩy trên những ô vuông đen.

    "Đấy," Czernobog nói, lấy đi một trong những quân cờ của Shadow bằng một cú đập mạnh quân đen của mình xuống.

    "Đấy.

    Cậu nói gì nào?"

    Shadow chẳng nói gì: anh chỉ đơn giản là mỉm cười, và nhảy lên quân Czernobog vừa đặt xuống, và một quân khác, quân khác nữa, và quân thứ tư, dọn dẹp những quân đen ở trung tâm bàn cờ.

    Anh lấy một quân trắng từ đống quân bên cạnh bàn cờ và tôn nó làm vua.

    Sau đó, mọi thứ chỉ là một hành động thu dọn hiện trường: vài nước đi nữa, và ván cờ kết thúc.

    Shadow nói, "Ván thứ ba nhé?"

    Czernobog nhìn anh chằm chằm, đôi mắt xám của ông như những mũi thép.

    Và rồi ông cười xòa, vỗ vai Shadow.

    "Ta thích cậu!"

    ông thốt lên vỡ òa.

    "Cậu gan to lắm."

    Sau đó, Zorya Utrennyaya xuất hiện ở cửa để nói với họ rằng bữa tối đã sẵn sàng và họ nên dẹp ván cờ của họ đi, rồi bà trải khăn trải bàn xuống bàn.

    "Chúng tôi không có phòng ăn," bà nói, "Xin lỗi.

    Chúng tôi ăn ở đây luôn."

    Các món ăn được bày lên bàn.

    Mỗi thực khách được đưa một khay nhỏ, trên đó là một số dụng cụ ăn uống đã xỉn màu, để giữ trên đùi của mình.

    Zorya Vechernyaya lấy ra năm cái tô gỗ và đặt một củ khoai tây luộc chưa gọt vỏ vào mỗi tô, sau đó múc một phần vừa phải súp củ cải đỏ vào.

    Bà thả một muỗng đầy kem chua trắng, và chuyền tô cho từng người.

    "Tôi tưởng có sáu người tất cả," Shadow nói.

    "Zorya Polunochnaya vẫn còn đang ngủ," Zorya Vechernyaya nói.

    "Chúng tôi để phần ăn của em ấy trong tủ lạnh rồi.

    Khi nó dậy, nó sẽ ăn."

    Súp củ cải đỏ có mùi giấm chua, và có vị như củ cải muối.

    Khoai tây luộc thì bở.

    Phần tiếp theo là nồi thịt hầm trông dai nhách, kèm theo màu xanh của một số loại rau - dù chúng đã bị luộc quá lâu và quá kỹ đến mức không còn, hoàn toàn không còn, màu xanh nữa, và chúng đang dần chuyển sang màu nâu.

    Sau đó là món bắp cải cuộn thịt và cơm, lá bắp cải có độ dẻo dai đến mức chúng gần như không thể bị cắt ra mà không làm vung vãi thịt và cơm ra khắp thảm sàn.

    Shadow đẩy phần bắp cải cuộn của mình lòng vòng quanh đĩa.

    "Bọn tôi đã chơi cờ đam," Czernobog nói, cắt một miếng thịt hầm khác.

    "Chàng trai này và tôi.

    Cậu ấy thắng một ván, tôi thắng một ván.

    Vì cậu ấy thắng một ván, tôi đã đồng ý đi với cậu ấy và ngài Thứ Tư đây, và giúp kế hoạch điên khùng của họ.

    Và bởi vì tôi thắng một ván, nên sau khi mọi chuyện kết thúc, tôi sẽ giết chàng trai này, với một cú gõ bằng búa."

    Hai chị em nhà Zorya gật đầu một cách nghiêm trọng.

    "Thật đáng tiếc," Zorya Vechernyaya nói với Shadow.

    "Nếu ta xem vận cho cậu, lẽ ra ta nên nói cậu sẽ có một cuộc đời trường thọ và viên mãn, với nhiều con cháu."

    "Đó là lý do vì sao chị là một người xem bói giỏi," Zorya Utrennyaya nói.

    Bà trông buồn ngủ, như thể đây hẳn là một nỗ lực để bà có thể thức muộn như vậy.

    "Chị nói những lời nói dối tuyệt nhất."

    Cuối bữa ăn, Shadow vẫn còn thấy đói.

    Thức ăn trong tù cũng khá tệ, nhưng rõ ràng là ngon hơn thứ này.

    "Thức ăn ngon lắm," ngài Thứ Tư nói, người đã dọn sạch đĩa của mình bằng mọi dấu hiệu của sự thích thú.

    "Cảm ơn các quý bà.

    Và giờ, tôi e rằng phận sự của chúng tôi là yêu cầu bà giới thiệu cho chúng tôi một khách sạn tốt trong khu này."

    Zorya Vechernyaya trông có vẻ bị xúc phạm vì điều đó.

    "Tại sao ông phải tới khách sạn?" bà nói.

    "Chúng ta không phải bạn bè sao?"
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Bốn (3)


    "Tôi không thể khiến bà chịu thêm rắc rối..." ngài Thứ Tư nói.

    "Không rắc rối gì cả," Zorya Utrennyaya nói, một tay chơi đùa với mái tóc vàng, rồi bà ngáp dài.

    "Ông có thể ngủ trong phòng Bielebog," Zorya Vechernyaya nói, chỉ tay vào ngài Thứ Tư.

    "Phòng đó trống.

    Còn cậu, chàng trai trẻ, tôi sẽ dọn một chỗ nằm trên sô-pha.

    Cậu sẽ thấy thoải mái hơn nằm trên giường lông vũ nhiều.

    Tôi thề đấy."

    "Bà thật tốt quá," ngài Thứ Tư nói.

    "Chúng tôi đồng ý."

    "Và ông phải trả tiền cho tôi, chỉ không nhiều như ông phải trả cho khách sạn," Zorya Vechernyaya nói, với niềm hoan hỉ trên gương mặt.

    "Một trăm đô-la."

    "Ba mươi," ngài Thứ Tư nói.

    "Năm mươi."

    "Ba mươi lăm."

    "Bốn mươi lăm."

    "Bốn mươi."

    "Tốt.

    Bốn mươi lăm đô-la."

    Zorya Vechernyaya với tay qua bàn và bắt tay ngài Thứ Tư.

    Rồi bà bắt đầu dọn dẹp nồi niêu trên bàn.

    Zorya Utrennyaya ngáp to đến nỗi Shadow sợ rằng bà có thể bị trật khớp hàm, rồi bà thông báo rằng bà sẽ đi ngủ và chúc ngủ ngon tới mọi người.

    Shadow giúp Zorya Vechernyaya đem đĩa vào nhà bếp nhỏ.

    Trước sự ngạc nhiên của anh, có một cái máy rửa chén cũ bên dưới bồn rửa, và anh lấp đầy bát đĩa vào đó.

    Zorya Vechernyaya nhìn qua vai anh, tặc lưỡi, lấy những chiếc tô gỗ ra ngoài.

    "Mấy cái này bỏ vào bồn rửa," bà nói với anh.

    "Xin lỗi."

    "Không vấn đề gì.

    Giờ, ra kia đi, chúng tôi có bánh nướng," bà nói.

    Bánh nướng - một cái bánh táo nướng - được mua từ cửa hàng và hâm nóng bằng lò, có vị rất, rất ngon.

    Bốn người họ ăn bánh với kem lạnh, và rồi Zorya Vechernyaya đuổi mọi người ra khỏi phòng khách, dọn một chỗ nằm dễ thương trên sô-pha cho Shadow.

    Ngài Thứ Tư nói chuyện với Shadow lúc họ đứng ngoài hành lang.

    "Những gì cậu làm ở đó, với trò cờ đam ấy," ông nói.

    "Vâng?"

    "Giỏi lắm.

    Cậu rất, rất ngu.

    Nhưng vẫn giỏi.

    Ngủ bình an nhé."

    Shadow đánh răng và rửa mặt bằng dòng nước lạnh giá trong phòng tắm nhỏ xíu, rồi đi xuống hành lang đến phòng khách, tắt đèn, ngủ thiếp đi trước khi đầu chạm vào gối.

    ---

    Có những vụ nổ trong giấc mơ của Shadow: anh đang lái một chiếc xe tải qua một bãi mìn, và bom nổ tung hai bên anh.

    Kính chắn gió vỡ tan và anh cảm thấy máu ấm đang chảy xuống mặt.

    Ai đó đang bắn anh.

    Một viên đạn đâm thủng phổi anh, một viên đập tan xương anh, và một viên xé nát vai anh.

    Anh cảm nhận được sự tàn phá của từng viên đạn.

    Anh đổ gục xuống vô-lăng.

    Tiếng nổ cuối cùng kết thúc trong bóng tối.

    Mình hẳn đang nằm mơ, Shadow nghĩ, một mình trong bóng tối.

    Mình nghĩ mình vừa chết.

    Anh nhớ mình đã nghe và đã tin, như một đứa trẻ, rằng nếu bạn chết trong giấc mơ của mình, bạn cũng sẽ chết ngoài đời thật.

    Anh không cảm thấy mình đã chết.

    Anh mở mắt lên, một cách dò xét.

    Có một người phụ nữ trong căn phòng khách nhỏ, đứng cạnh cửa sổ, hướng lưng mình về phía anh.

    Tim anh lỡ một nhịp, và anh hỏi, "Laura?"

    Cô quay lại, bao bọc bởi ánh trăng.

    "Tôi xin lỗi," cô nói.

    "Tôi không có ý đánh thức anh."

    Cô có chất giọng Đông Âu nhẹ nhàng.

    "Tôi sẽ đi."

    "Không, ổn mà," Shadow nói.

    "Cô không đánh thức tôi.

    Tôi có một giấc mơ thôi."

    "Vâng," cô nói.

    "Anh đang khóc, và rên rỉ.

    Phần trong tôi muốn gọi anh dậy, nhưng tôi nghĩ, thôi, mình nên để anh ấy như vậy."

    Mái tóc cô nhợt nhạt và không màu trong ánh trăng mỏng manh.

    Cô mặc bộ đầm ngủ bằng vải bông màu trắng, cổ ren cao và gấu váy dài quét đất.

    Shadow ngồi dậy, hoàn toàn tỉnh táo.

    "Cô là Zorya Polu...," anh do dự.

    "Người em gái luôn ngủ say."

    "Tôi là Zorya Polunochnaya, đúng vậy.

    Còn anh là Shadow, phải không?

    Đó là những gì chị Zorya Vechernyaya bảo tôi, khi tôi thức dậy."

    "Phải.

    Cô đang nhìn gì ngoài kia vậy?"

    Cô nhìn anh, rồi ra hiệu cho anh đến cùng cô bên cửa sổ.

    Cô quay lưng lại trong lúc anh mặc quần jean vào.

    Anh bước đến cô.

    Trông có vẻ là một bước đi dài, cho một căn phòng nhỏ như vậy.

    Anh không thể đoán tuổi của cô.

    Da cô không nhăn, mắt cô tối màu, lông mi thì dài, mái tóc chạm eo và có màu bạch kim.

    Ánh trăng đã hút hết màu sắc vào bóng ma của chính nó.

    Cô cao hơn hai người chị của mình.

    Cô chỉ tay lên bầu trời đêm.

    "Tôi đang nhìn vào đó," cô nói, chỉ vào chòm sao Bắc Đẩu.

    "Thấy không?"

    "Chòm sao Đại Hùng," anh nói.

    "Gấu Lớn."

    "Đó là một cách để nhìn chúng," cô nói.

    "Nhưng không phải cách ở nơi chúng tôi.

    Tôi đang định lên mái nhà ngồi.

    Anh đi với tôi chứ?"

    Cô nhấc cửa sổ lên và trèo ra, bằng chân trần, khỏi lối thoát hiểm.

    Một cơn gió lạnh buốt thổi qua cửa sổ.

    Một thứ gì đó làm Shadow lo lắng, nhưng anh không biết nó là gì; anh ngập ngừng, rồi mặc áo len, mang vớ, mang giày và theo cô ra trèo ra cầu thang thoát hiểm rỉ sét.

    Cô đang đợi anh.

    Hơi thở của anh bốc hơi trong không khí tê lạnh.

    Anh nhìn bàn chân trần của cô bước đi nhẹ nhàng trên những bậc thang kim loại lạnh buốt, và theo cô lên mái nhà.

    Cơn gió lạnh ép sát bộ váy ngủ vào cơ thể cô, và Shadow nhận ra một cách sượng sùng rằng Zorya Polunochnaya đang không mặc gì bên trong.

    "Cô không thấy lạnh à?" anh hỏi, khi họ bước lên tới đỉnh thang thoát hiểm, và cơn gió thổi bay từ ngữ của anh đi.

    "Xin lỗi?"

    Cô cúi mặt sát vào anh.

    Hơi thở của cô thật ngọt ngào.

    "Tôi hỏi, cái lạnh không làm phiền cô à?"

    Để trả lời, cô giơ ra một ngón tay: chờ đã.

    Cô bước, nhẹ nhàng, qua bên hông tòa nhà và lên mái nhà phẳng.

    Shadow bước đi có một chút vụng về hơn, theo cô qua mái nhà, đến cái bóng của tháp nước.

    Có một chiếc ghế gỗ dài đang đợi họ ở đó, cô ngồi xuống nó, anh ngồi xuống cạnh cô.

    Tháp nước bây giờ hoạt động như một tấm kính chắn gió, điều Shadow biết ơn vô cùng.

    "Không," cô nói.

    "Cái lạnh không làm phiền tôi.

    Thời gian này là thời gian của tôi: tôi không thể cảm thấy không thoải mái chút nào trong đêm đen như cá không thể cảm thấy không thoải mái trong nước sâu."

    "Hẳn cô thích ban đêm lắm," Shadow nói, thầm ước mình đã nói điều gì đó khôn ngoan và sâu sắc hơn.

    "Hai người chị tôi là thời gian của riêng họ.

    Zorya Utrennyaya là buổi bình minh.

    Ở cố hương, chị ấy sẽ thức dậy để mở cổng, và cho cha chúng tôi lái - ừm, tôi quên mất là từ gì rồi, như kiểu xe hơi nhưng chạy bằng ngựa ấy?"

    "Chiến xa?"

    "Chiến xa của ông.

    Cha tôi sẽ lái chúng ra ngoài.

    Còn Zorya Vechernyaya, chị ấy sẽ mở cửa cho cha vào hoàng hôn, khi cha trở về với chúng tôi."

    "Còn cô?"

    Cô chợt dừng lại.

    Môi cô căng mọng, nhưng rất nhợt nhạt.

    "Tôi chưa từng thấy cha tôi.

    Tôi luôn ngủ."

    "Do tình trạng sức khỏe à?"

    Cô không trả lời.

    Cái nhún vai, nếu cô có nhún vai thật, cũng chẳng thể cảm nhận được.

    "Vậy.

    Anh muốn biết tôi đang nhìn gì."

    "Chòm Bắc Đẩu."

    Cô giơ một tay ra chỉ vào nó, và cơn gió lại ép sát bộ váy vào cơ thể cô.

    Nhũ hoa cô, mọi gai ốc quanh quầng vú, đều hiện rõ mồn một trong giây lát, có màu tối đối lập với nền vải bông trắng.

    Shadow run rẩy.

    "Xe của Odin, người ta gọi nó vậy.

    Và cả Gấu Lớn.

    Ở chỗ chúng tôi, chúng tôi tin nó là một, một vật thể, một, không phải một vị thần, nhưng giống như một vị thần, một điều xấu, bị xiềng xích trong những ngôi sao đó.

    Nếu điều đó thoát ra, nó sẽ ăn hết mọi thứ.

    Và có ba người chị em phải canh giữ bầu trời, cả ngày lẫn đêm.

    Nếu hắn thoát được, cái thứ trong mấy ngôi sao ấy, thế giới sẽ chấm dứt.

    Phù! kiểu vậy."

    "Và mọi người tin vào điều đó?"

    "Họ đã tin.

    Từ rất lâu rồi."

    "Và cô đang xem liệu mình có thể thấy con quái vật ẩn trong mấy ngôi sao kia không?"

    "Kiểu vậy.

    Vâng."

    Anh mỉm cười.

    Anh nghĩ, nếu không phải vì cái lạnh, hẳn anh đã nghĩ mình đang mơ.

    Mọi thứ giống y như một giấc mơ.

    "Tôi có thể hỏi cô bao nhiêu tuổi được không?

    Hai người chị cô trông có vẻ lớn hơn cô nhiều."

    Cô gật đầu.

    "Tôi là đứa nhỏ nhất.

    Zorya Utrennyaya được sinh ra vào buổi sáng, và Zorya Vechernyaya được sinh ra vào buổi chiều, còn tôi được sinh ra vào giữa đêm.

    Tôi là đứa em đêm: Zorya Polunochnaya.

    Anh đã kết hôn chưa?"

    "Vợ tôi mất rồi.

    Cô ấy mất tuần trước trong một tai nạn xe hơi.

    Hôm qua là lễ tang của cô ấy."

    "Tôi rất tiếc."

    "Đêm qua cô ấy đến tìm tôi."

    Điều này thật không khó nói ra, trong bóng đêm và ánh trăng; nó không khó chấp nhận như khi nói ra vào ban ngày.

    "Anh đã hỏi cô ấy muốn gì chưa?"

    "Chưa.

    Không hẳn."

    "Có lẽ là anh nên hỏi đi.

    Hỏi người chết là việc làm sáng suốt nhất.

    Thi thoảng họ sẽ nói cho anh nghe.

    Zorya Vechernyaya nói tôi rằng anh đã chơi cờ đam với Czernobog."

    "Đúng vậy.

    Ông ấy thắng nên có quyền gõ vào sọ tôi bằng một cây búa cán dài."

    "Ngày xưa, họ sẽ đưa người ta lên đỉnh núi.

    Lên những nơi cao nhất.

    Họ sẽ đập vỡ phía sau hộp sọ người đó bằng một hòn đá.

    Cho Czernobog."

    Shadow liếc nhìn quanh.

    Không, họ đang ở một mình trên mái nhà.

    Zorya Polunochnaya cười vang.

    "Ngốc quá, anh ấy không có ở đây.

    Với lại anh cũng thắng một ván mà.

    Có thể anh ấy sẽ không giáng đòn của mình cho đến khi chuyện này kết thúc.

    Anh ấy đã nói sẽ không làm vậy rồi.

    Và anh sẽ biết thôi.

    Như những con bò anh ấy giết.

    Chúng luôn biết, đầu tiên.

    Nếu không thì, mục đích ở đây là gì?

    "Tôi cảm giác," Shadow nói với cô, "như thể tôi đang ở trong một thế giới với ý thức logic của riêng nó vậy.

    Những luật lệ của riêng nó.

    Như thể khi cô đang trong một giấc mơ, và cô biết có những luật lệ cô không được phá vỡ.

    Ngay cả khi cô không biết ý nghĩa của chúng là gì.

    Tôi chỉ đang chấp nhận và làm theo chúng, cô hiểu chứ?"

    "Tôi hiểu," cô nói.

    Cô nắm lấy tay anh, bằng bàn tay lạnh như đá của mình.

    "Anh đã được ban tặng sự bảo hộ một lần.

    Anh đã được ban tặng mặt trời.

    Nhưng anh đã làm mất nó.

    Anh ném nó đi.

    Tất cả những gì tôi có thể cho anh là sự bảo hộ yếu kém hơn.

    Của người con gái, không phải người cha.

    Nhưng cả hai đều giúp anh được.

    Phải không?"

    Mái tóc bạch kim của cô bay quanh khuôn mặt trong cơn gió lạnh buốt.

    "Tôi có phải đấu với cô không?

    Hay chơi cờ đam?" anh hỏi.

    "Anh thậm chí không phải hôn tôi," cô nói với anh.

    "Chỉ cần lấy được mặt trăng từ tôi."

    "Bằng cách nào?"

    "Lấy được mặt trăng."

    "Tôi không hiểu."

    "Nhìn này," Zorya Polunochnaya nói.

    Cô giơ bàn tay trái lên và giữ nó trước mặt trăng, vì thế ngón trỏ và ngón cái cô trông như đang cầm lấy nó.

    Rồi, bằng một chuyển động mượt mà, cô giật nó ra.

    Trong một khoảnh khắc, trông như thể cô vừa lấy mặt trăng ra từ bầu trời, nhưng khi Shadow nhìn lại thì mặt trăng vẫn chiếu sáng, và Zorya Polunochnaya mở bàn tay ra cho thấy một đồng đô-la bạc hình Nữ thần Tự Do đang nằm giữa ngón trỏ và ngón cái.

    "Làm hay lắm," Shadow nói.

    "Tôi không thấy cô nắm nó.

    Và tôi cũng không biết cô làm đoạn cuối như thế nào."

    "Tôi đâu có nắm nó," cô nói.

    "Tôi lấy nó ra.

    Và giờ tôi trao nó cho anh, để giữ anh an toàn.

    Đây.

    Đừng ném đồng xu này đi."

    Cô đặt nó lên bàn tay phải anh và khép những ngón tay anh quanh nó.

    Đồng xu lạnh lẽo trong tay anh.

    Zorya Polunochnaya ngả người ra trước, khép mắt anh bằng những ngón tay mình, rồi hôn anh, nhẹ nhàng, từng bên mí mắt một.

    ---

    Shadow thức dậy trên sô-pha, quần áo chỉnh tề.

    Một tia nắng hẹp chiếu qua cửa sổ, khiến bụi mờ nhảy múa.

    Anh ra khỏi giường, bước tới cửa sổ.

    Căn phòng trông nhỏ hơn nhiều trong ánh sáng ban ngày.

    Điều khiến anh lo lắng từ đêm qua trở nên rõ ràng hơn khi anh nhìn ra ngoài, nhìn xuống, và nhìn bên kia đường.

    Không có cầu thang thoát hiểm bên ngoài cửa sổ này: không có ban công, không có những bậc thang kim loại rỉ sét.

    Nhưng, vẫn được nắm chặt trong lòng bàn tay anh, sáng lóa như ngày nó được đúc ra, là một đồng đô-la bạc hình Nữ thần Tự Do đời 1922.

    "Ồ.

    Cậu dậy rồi," ngài Thứ Tư nói, đưa đầu vào từ cửa.

    "Tốt lắm.

    Muốn uống cà phê không?

    Chúng ta chuẩn bị đi cướp ngân hàng."
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Bốn (4)


    ĐẾN HOA KỲ

    Năm 1721

    Điều quan trọng để hiểu được về lịch sử Hoa Kỳ, ngài Ibis viết, trong cuốn nhật ký bìa da của mình, là sự hư cấu, sự dễ chán, hoặc sự giản dị như bức phác thảo bằng chì than cho trẻ em.

    Đa phần, nó không được kiểm định, không được nghĩ tới, ngoài sức tưởng tượng, một đại diện của sự vật, và cũng không phải là chính nó.

    Nó là một câu chuyện hay, ông viết tiếp, dừng lại một chút để nhúng cây bút vào lọ mực và góp nhặt suy nghĩ của mình, rằng nước Mỹ được tìm thấy bởi những người hành hương, tìm kiếm sự tự do để tin tưởng như họ luôn tin tưởng, rằng họ đã đến được châu Mỹ, bành trướng, nhân giống và lấp đầy vùng đất trống này.

    Trên thực tế, các thuộc địa của Mỹ giống như một bãi rác hơn là một lối thoát, một nơi bị lãng quên.

    Vào thời bạn có thể bị treo cổ ở Luân Đôn trên cái cây ba lá ở vùng Tyburn, vì tội ăn cắp mười hai đồng xu, châu Mỹ trở thành một biểu tượng của sự khoan hồng, của cơ hội thứ hai.

    Nhưng điều kiện đày ải chỉ đến thế, đối với một số người, việc bị tước hết cơ hội và treo cổ trên cây xem ra còn dễ dàng hơn.

    Sự đày ải, được gọi là: trong năm năm, trong mười năm, trong cả đời.

    Nó chính là bản án.

    Bạn bị bán cho một thuyền trưởng, và dong buồm trên con tàu của anh ta, chật cứng như một tàu buôn nô lệ, đến các thuộc địa hoặc đến quần đảo Tây Ấn; xuống thuyền, thuyền trưởng sẽ bán bạn như một nô lệ hợp đồng cho người sẽ vắt kiệt sức lao động của bạn đến khi hợp đồng làm việc kết thúc.

    Nhưng ít nhất bạn sẽ không phải chờ đợi thời khắc xử tử trong một nhà tù Anh nào đó (vì thời đó, nhà tù là nơi bạn ở lại cho đến khi được giải thoát, bị đày ải hoặc bị treo cổ: bạn không bị kết án ở đó), và bạn được tự do làm những gì tốt nhất cho thế giới mới này.

    Bạn cũng được tự do hối lộ thuyền trường để ông ấy đưa bạn quay lại Anh Quốc trước khi những điều khoản đày ải chấm dứt.

    Mọi người đều làm vậy.

    Và nếu chính quyền phát hiện ra bạn quay lại từ nơi đày ải - hoặc nếu một kẻ thù xưa, một người bạn xưa với một món nợ phải thanh toán, nhìn thấy bạn và tố cáo bạn - thì bạn sẽ bị treo cổ trong nháy mắt.

    Tôi bỗng nhớ về, ông viết tiếp, sau một khoảng dừng ngắn, trong lúc đó ông đổ đầy lọ mực trên bàn bằng chai mực màu nâu đậm trên kệ tủ và nhúng cây phút vào đó thêm một lần nữa, cuộc đời của Essie Tregowan, cô gái đến từ một ngôi làng nhỏ cheo leo trên vách núi vùng Cornwall, phía tây nam nước Anh, nơi gia đình cô đã sống từ rất lâu.

    Cha cô là một ngư dân, và người ta đồn rằng ông là một trong những kẻ chuyên đắm tàu - những người sẽ treo đèn cao lên vách đá nguy hiểm khi gió bão nổi lên, dụ dỗ tàu vào khu đá, để lấy hàng trên tàu.

    Mẹ Essie phục vụ như một đầu bếp tại nhà địa chủ, và ở tuổi mười hai, Essie bắt đầu làm việc ở đó, trong khu rửa bát.

    Cô bé có dáng người gầy gò nhỏ bé, cặp mắt nâu to tròn và mái tóc nâu sẫm; cô không phải một người chăm chỉ nhưng lúc nào cũng lượn ra lượn vào để nghe chuyện cổ tích, nếu có ai đó kể chúng: chuyện về những nàng tiên tí hon và những người cây khổng lồ, những con hắc khuyển của đồng hoang và những nàng tiên hải cẩu của vùng Channel.

    Và, dù cả khu rửa bát đều cười nhạo những chuyện như vậy, cô bé mê chuyện dân gian luôn đặt một chiếc đĩa sứ kiểu Tàu đổ đầy sữa tươi nhất vào buổi đêm, đặt nó ra ngoài cửa nhà bếp, dành riêng cho những yêu tinh.

    Vài năm trôi qua, và Essie không còn là một cô bé gầy gò nữa: giờ cô đã đầy đặn và nở nang như những con sóng biển, đôi mắt nâu của cô đã biết cười, mái tóc hạt dẻ đã bồng bềnh và gợn xoăn.

    Đôi mắt Essie bắt gặp Bartholomew, người con trai mười tám tuổi của địa chủ, trở về nhà từ Rugby, và buổi đêm cô đến viên đá dựng đứng ở bìa rừng, đặt vài mẩu bánh mì Bartholomew đã bỏ lên viên đá, quấn một sợi tóc của mình quanh nó.

    Trong những ngày tiếp theo Bartholomew tiếp cận và trò chuyện với cô, nhìn cô đầy hài lòng bằng cặp mắt của chính mình, cặp mắt màu xanh lam nguy hiểm của bầu trời khi cơn bão tới, trong lúc cô đang dọn dẹp vỉ lò sưởi trong phòng ngủ của anh.

    Anh ấy có một cặp mắt quả là nguy hiểm, Essie Tregowan nói.

    Chẳng mấy chốc, Bartholomew tới Oxford, và, khi các dấu hiệu của Essie trở nên rõ ràng, cô đã bị đuổi.

    Nhưng đứa bé đã chết non, và như một ân huệ dành cho mẹ Essie, vốn là một đầu bếp rất giỏi, người vợ địa chủ đã thuyết phục chồng mình đưa cô hầu gái xưa trở về vị trí cũ của cô trong khu rửa bát.

    Nhưng tình yêu của Essie dành cho Bartholomew đã chuyển sang thù hận dành cho gia đình anh, và trong năm đó, cô đã có bạn trai mới, một người đàn ông từ làng lân cận, người mang tiếng xấu, có tên là Josiah Horner.

    Và trong một đêm, khi gia đình kia đã ngủ, Essie xuất hiện trong đêm và tháo chốt cửa bên hông, để người yêu cô vào.

    Hắn khoắng sạch ngôi nhà trong lúc gia đình đang ngủ say.

    Sự nghi ngờ ngay lập tức rơi vào một người nào đó trong nhà, vì rõ ràng phải có ai đó mở cửa (mà vợ địa chủ nhớ rõ ràng mình đã tự tay khóa nó), và phải có ai đó phải biết nơi địa chủ giữ những chiếc đĩa bạc của mình, biết cả ngăn kéo nơi ông giữ tiền và các hứa phiếu.

    Tuy nhiên, Essie, bằng cách kiên quyết phủ nhận tất cả mọi thứ, đã không bị kết tội cho đến khi Bậc Thầy Josiah Horner bị bắt, trong một cửa hàng bán dụng cụ tàu biển, vì chi trả một trong những hứa phiếu của địa chủ.

    Người địa chủ xác định hứa phiếu đó là của ông ta, và Horner và Essie cùng nhau ra tòa.

    Horner đã bị kết án tại địa phương, và, vì người ta hay nói thời gian rất tàn nhẫn và tình cờ, dừng lại, nhưng thẩm phán lại thương hại Essie, vì tuổi trẻ hay vì mái tóc màu hạt dẻ của cô, mà ông chỉ kết án cô tội đày ải bảy năm.

    Cô bị đày ải trên một con tàu được gọi là tàu Hải Vương, dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Clarke.

    Vì vậy, Essie đã đến vùng Carolina; và trên đường đi, cô đã cầu thân với người thuyền trưởng, thuyết phục ông ta đưa cô trở về Anh Quốc cùng ông, với tư cách là một người vợ, và đưa cô đến nhà mẹ của ông tại London, nơi không ai biết đến cô.

    Trên đường trở về, khi nô lệ đã được đổi lấy vải bông và thuốc lá, là khoảng thời gian yên bình và hạnh phúc cho thuyền trưởng và cô dâu mới của mình, hai người như đôi chim uyên ương, như đôi bướm tán tỉnh, không thể ngừng chạm vào nhau, trao nhau những món quà nhỏ và sự yêu mến.

    Khi họ đến Luân Đôn, Thuyền trưởng Clarke đã giới thiệu Essie một cách chính thức với mẹ của mình, người đã đối xử với cô bằng mọi cách với tư cách là vợ mới của con trai.

    Tám tuần sau, tàu Hải Vương lại ra khơi, và nàng dâu trẻ đẹp với mái tóc hạt dẻ vẫy tay chào tạm biệt người chồng từ bến cảng.

    Rồi cô quay lại nhà mẹ chồng, nơi, bà lão không có nhà, lén lấy một dải lụa, vài đồng vàng, và một cái bình bạc trong đó mẹ chồng giữ huy hiệu của mình, và giấu nhẹm những thứ này đi, Essie biến mất vào đường phố London.

    Trong hai năm sau đó, Essie trở thành một kẻ cắp vặt sành sõi, tùng váy rộng của cô có khả năng che giấu vô số tội lỗi, chủ yếu là những cuộn vải lụa và ren, và cô sống một cuộc đời trọn vẹn.

    Essie cảm ơn việc thoát khỏi những thăng trầm của mình nhờ vào tất cả các sinh vật mà cô đã được nghe từ khi còn nhỏ, nhờ vào những những yêu tinh (thế lực của chúng, cô chắc chắn, kéo dài đến tận London), cô sẽ đặt một bát sữa bằng gỗ trên gờ cửa sổ mỗi đêm, mặc dù bạn bè luôn cười nhạo cô; nhưng cô lại có nụ cười cuối cùng, khi những người bạn của cô bị thủy đậu hoặc hoa liễu trong khi Essie vẫn ở trên đỉnh cao của sức khỏe.

    Một năm sau sinh nhật thứ hai mươi, cô bị số phận giáng một đòn tê tái: cô ngồi trong quán Crossed Fork Inn ngoài đường Fleet, ở Bell Yard, khi ấy cô ấy nhìn thấy một chàng trai trẻ bước vào và ngồi gần lò sưởi, xuất hiện tươi tắn từ trường đại học.

    À há!

    Thời cơ đã tới, Essie tự nhủ, cô ngồi cạnh anh ta, nói với anh ta rằng anh đẹp trai như thế nào, một tay cô bắt đầu vuốt ve đầu gối của anh ta, trong khi tay kia, cẩn thận hơn, tìm kiếm đồng hồ bỏ túi của anh.

    Và rồi anh ta nhìn cô bao quát khuôn mặt, trái tim cô bỗng loạn nhịp khi đôi mắt xanh nguy hiểm của bầu trời mùa hè trước một cơn bão tới kia nhìn chằm chằm vào cô, và Master Bartholomew thốt lên tên cô.

    Cô đã bị chuyển đến Newgate và bị buộc tội trở về từ nơi đày ải.

    Bị kết tội, Essie gây sửng sốt vì được xá tội do mang thai, mặc dù các y tá trong thị trấn, người giám định những yêu sách như vậy (thường là giả mạo) đã rất ngạc nhiên khi họ buộc phải đồng ý rằng Essie thực sự có con; Mặc dù cha đứa bé là ai, Essie từ chối nói.

    Bản án tử hình của cô một lần nữa lại là đày ải, lần này là trong cả cuộc đời.

    Cô ra khơi trên con tau Trinh Nữ Đại Dương.

    Có hai trăm nô lệ trên con tàu đó, chật cứng như những con lợn béo đang trên đường ra chợ.

    Tiêu chảy và sốt cao tràn lan; chỗ ngồi còn khan hiếm, huống chi là chỗ nằm; một người phụ nữ đã chết khi sinh con ở phía sau khoang hàng, và, những người bị đẩy vào quá chặt đến mức đè lên thẳng cơ thể của cô, cả cô và trẻ sơ sinh bị buộc phải ném ra một cửa sổ nhỏ ở phía sau tàu, thẳng xuống dòng biển động.

    Essie đã mang thai được tám tháng, và thật kỳ diệu khi cô giữ đứa bé, nhưng đúng là vậy.

    Trong cuộc đời từ này về sau, cô sẽ luôn gặp ác mộng về khoảng thời gian bị giam cầm nơi này, cô sẽ thức dậy, hét lên với mùi hôi thối còn ám trong cổ họng.

    Tàu Trinh Nữ Đại Dương cập bến tại vùng Norfolk ở Virginia, và hợp đồng của Essie được mua bởi một "tay đồn điền nhỏ," một người nông dân trồng thuốc lá có tên John Richardson, vì vợ ông đã mất trong cơn sốt sản một tuần sau khi sinh đứa con gái, ông cần một vú nuôi và một người hầu gái cho mọi công việc trên tiểu điền của ông.

    Vì vậy, con trai của Essie, người mà cô gọi là Anthony, sau đó, cô nói, cha nó là người chồng quá cố của mình (ta biết rằng không có ai ở đó để tranh cãi về cô, và có lẽ cô đã biết một Anthony nào đó), bú sữa của Essie cùng với Phyllida Richardson, đứa con của ông chủ luôn được bú đầu tiên, vì vậy đứa bé lớn lên trở thành một đứa bé khỏe mạnh, cao lớn và mạnh mẽ, trong khi con trai của Essie trở nên yếu đuối và ọp ẹp trên những gì còn sót lại.

    Và cùng với dòng sữa, những đứa trẻ cũng tiêu hóa những câu chuyện cổ tích của Essie: về những người gõ cửa và những người đội mũ xanh sống dưới hầm mỏ; về Bucca, linh hồn tinh quái nhất vùng đất, nguy hiểm hơn nhiều so với những yêu tinh mũi đỏ, mũi hếch, con cá đầu tiên của người đánh cá luôn được để lại trên bờ để cho họ, một ổ bánh mì mới nướng được để lại trên cánh đồng cho họ, vào thời điểm gặt hái, để đảm bảo vụ mùa tốt tươi; cô kể chúng nghe về người cây táo - những cây táo già cỗi nói chuyện khi chúng có ý thức, và cũng là người cần được xoa dịu bằng những giọt rượu táo đầu tiên của mùa vụ, thứ được đổ lên rễ chúng vào cuối năm, để chúng cho bạn một mùa vụ sung túc vào năm sau.

    Cô kể chúng nghe, bằng chất giọng ngân dài ngọt ngào xứ Cornwall, về những cái cây mà hai đứa trẻ nên cảnh giác, bằng những vần thơ cũ:

    Cây du, cây du che chở

    Cây sồi, cây sồi căm hờn

    Nhưng cây liễu sẽ biết đi,

    Nếu bạn còn thức muộn.

    Cô kể chúng nghe tất cả những chuyện đó, và chúng tin, vì cô đã tin.

    Nông trại phát triển hưng thịnh, Essie Tregowan đặt một chiếc đĩa sứ kiểu Tàu chứa đầy sữa bên ngoài cửa sau nhà, mỗi đêm, cho những con yêu tinh.

    Và sau tám tháng John Richardson lặng lẽ bước vào cửa phòng ngủ của Essie, hỏi xin cô ân huệ của một người phụ nữ tốt bụng dành cho một người đàn ông, và Essie nói với ông rằng cô đã sửng sốt và đau đớn như thế nào, một người phụ nữ góa chồng nghèo, một người hầu bị giam cầm không hơn gì một nô lệ, bị yêu cầu làm gái điếm cho một người đàn ông mà cô rất tôn trọng - một nô lệ hợp đồng thì không thể kết hôn, vì vậy làm thế nào ông có thể nghĩ tới chuyện dày vò một cô gái nô lệ - đôi mắt nâu hạt dẻ của cô đẫm lệ, đến nỗi Richardson nhận ra mình đang xin lỗi cô, và kết quả là John Richardson thấy mình, trong hành lang đó, trong đêm mùa hè nóng nực đó, đang quỳ xuống trước Essie Tregowan và đề nghị chấm dứt hợp đồng của cô, sẵn sàng giúp đỡ cô kết hôn.

    Giờ đây, mặc dù cô đã chấp nhận ông, nhưng cô sẽ không ngủ đêm nào với ông cho đến khi mọi thứ hợp pháp, rồi cô chuyển từ căn phòng nhỏ trên gác mái sang phòng ngủ chính ở phía trước nhà; nếu vài người bạn của Richardson và vợ họ chặn anh trong lần gặp tiếp theo trong thị trấn, nhiều người trong số họ phải công nhận rằng Phu nhân Richardson mới quả thật là một người đàn bà xinh đẹp, và Johnnie Richardson đã làm rất tốt công việc của mình.

    Trong vòng một năm, cô hạ sinh một đứa trẻ khác, một bé trai, nhưng tóc vàng như tóc cha và chị em cùng cha khác mẹ của mình, và họ đặt tên nó là John, theo tên cha nó.

    Ba đứa trẻ đến nhà thờ địa phương để nghe giảng từ các nhà truyền giáo lưu động vào mỗi Chủ Nhật, đến trường để học chữ viết và con số cùng những đứa trẻ của các nhà nông nhỏ hơn; trong khi Essie đảm bảo rằng chúng phải biết hết các bí mật về yêu tinh, trong đó có một bí mật quan trọng nhất: những người đàn ông tóc đỏ, với đôi mắt và trang phục xanh như một dòng sông, mũi hếch, hay nheo mắt, vui tính, những người, nếu có ý thức, sẽ quay bạn và dẫn bạn đi lạc đường, trừ khi bạn có muối trong túi, hoặc vài mẩu bánh mì.

    Khi những đứa trẻ đến trường, mỗi đứa đều mang theo chút muối túi bên này, chút bánh mì túi bên kia, là những biểu tượng cổ của cuộc sống và trái đất, để đảm bảo chúng về nhà an toàn một lần nữa, và chúng đã luôn như vậy.

    Những đứa trẻ lớn lên trên những ngọn đồi bang Virginia tươi tốt, chúng cao lớn và khỏe mạnh (trừ Anthony, con trai đầu của cô, luôn yếu hơn, tái hơn, dễ nhiễm bệnh và dị ứng hơn) và gia đình nhà Richardson rất hạnh phúc; Essie yêu chồng mình nhiều nhất có thể.

    Họ kết hôn được một thập kỷ thì John Richardson bắt đầu bị chứng đau răng, nó tệ đến mức khiến ông gục ngã.

    Họ đưa ông đến thị trấn gần nhất, nơi răng ông được nhổ ra; nhưng mọi thứ đã quá muộn, nhiễm trùng máu đã triệt hạ ông, với gương mặt đen đúa và những tiếng rên rỉ, và người ta chôn ông dưới gốc cây liễu ông yêu thích.

    Góa phụ Richardson phải ra quản lý nông trại đến khi hai người con của Richardson đến tuổi trưởng thành: bà quản lý nô lệ và người làm, trồng mùa vụ thuốc lá, hết năm này đến năm kia; bà đổ rượu táo lên rễ các cây táo vào đêm Giao Thừa, đặt một ổ bánh mì mới nướng trên cánh đồng vào mùa gặt, và luôn để một bát sữa ở cửa sau nhà.

    Nông trại phát đạt, và góa phụ Richardson nổi tiếng là một người mặc cả khó khăn, nhưng cũng là người có những mùa vụ tươi tốt, và là người không bao giờ bán hàng thứ phẩm cho những món hàng tốt hơn.

    Vì vậy mọi chuyện diễn ra tốt đẹp trong mười năm tiếp theo; nhưng sau đó tới một năm tồi tệ, vì Anthony, con trai bà, đã giết Johnnie, người em cùng mẹ khác cha, trong một trận cãi vã kịch liệt về tương lai của nông trại và thái độ của Phyllida; vài người nói anh không cố ý giết em trai mình, vết đâm ngu ngốc đó quá sâu, nhưng một số người cũng nói khác.

    Anthony bỏ trốn, để lại Essie chôn cất đứa con trai út bên cạnh mộ cha mình.

    Lúc này, vài người nói Anthony chạy trốn đến Boston, vài người nói rằng anh đã đi về phía nam, còn mẹ anh cho rằng anh đã đi tàu tới Anh Quốc, để gia nhập quân đội của vua George và chiến đấu với quân phiến loạn của Scotland.

    Nhưng với sự biến mất của hai người con trai, nông trại trở thành một nơi trống rỗng, cộng một người luôn u buồn, Phyllida héo hon và gầy mòn như thể trái tim cô đã vỡ vụn, trong khi đó không gì mẹ kế cô có thể nói hoặc làm để khiến cô mỉm cười một lần nữa.

    Nhưng dù tan vỡ hay không, họ vẫn cần một người đàn ông cho nông trại, nên Phyllida kết hôn với Harry Soames, thợ đóng tàu lành nghề, người đã mệt mỏi với biển khơi và mơ ước về một cuộc sống trên đất liền, trên một nông trại như nông trại Lincolnshire nơi anh từng khôn lớn.

    Và mặc dù nông trại nhà Richardson không đủ rộng như thế, Harry Soames vẫn thấy cả hai đủ điểm chung khiến anh hạnh phúc.

    Năm đứa trẻ được sinh ra cho Phyllida và Harry, ba trong số chúng còn sống.

    Góa phụ Richardson nhớ hai người con trai, và nhớ cả chồng bà, mặc dù giờ đây ông chỉ còn là một ký ức nhỏ nhoi về người đàn ông công bằng, người đã đối xử tử tế với bà.

    Con của Phyllida lại tìm đến Essie vì những câu chuyện cổ tích, và bà sẽ lại kể về con Hắc Khuyển của vùng đồng hoang, Đầu Thịt Sống và Xương Đẫm Máu, Người Cây Táo, nhưng chúng không quan tâm; chúng chỉ muốn nghe chuyện về Jack - Jack và Hạt đậu thần, hoặc Jack kẻ giết người khổng lồ, hoặc Jack, con mèo và nhà vua.

    Bà yêu những đứa trẻ như thể chúng là máu mủ của mình, dù đôi khi bà vẫn gọi nhầm tên chúng thành những người đã chết từ lâu.

    Đó là tháng Năm, bà lấy ghế ra vườn sau bếp để hái đậu và phơi chúng dưới ánh nắng, vì ngay cả trong cái nóng oi bức của Virginia, cái lạnh đã xâm nhập vào xương bà như những bông tuyết chui lẻn vào tóc, và một chút ấm áp vẫn là điều tốt.

    Khi góa phụ Richardson phơi đậu bằng hai bàn tay già nua, bà chợt nghĩ sẽ tốt biết mấy nếu được đi trên cánh đồng hoang và vách núi lởm chởm ở quê nhà Cornwall một lần nữa, và bà nhớ lúc mình ngồi trên mỏm đá khi còn là một đứa trẻ, đợi con tàu của cha quay về từ mặt biển xám xịt.

    Bàn tay bà, xanh xao và vụng về, bóc từng vỏ đậu, cho những hạt đậu tròn vào cái bát bằng đất nung và thả những vỏ đậu rỗng vào tạp dề.

    Và rồi bà nhận ra mình đang nhớ, như thể bà đã không nhớ trong một khoảng thời gian dài, về những mất mát trong cuộc đời: cách bà giật những chiếc ví và ăn cắp những cuộn vải lụa bằng bàn tay khéo léo của mình; bà nhớ tên cai ngục ở Newgate nói với bà rằng sẽ còn khoảng mười hai tuần nữa trước khi vụ án của bà được đem ra xét xử, bà có thể thoát khỏi án tử nếu bà có thai, và bà trông xinh đẹp đến nhường nào - bà nhớ cách mình xoay vào tường và mạnh dạn kéo váy lên, ghét cả bản thân lẫn tên cai ngục, nhưng bà biết hắn ta nói đúng; cảm giác về một mầm sống khuấy đảo, khi đó bà biết mình có thể thoát chết thêm một thời gian nữa...

    "Essie Tregowan?" một người lạ hỏi.

    Góa phụ Richardson nhìn lên, nheo mắt dưới ánh nắng tháng Năm.

    "Tôi có biết cậu không?" bà hỏi.

    Bà đã không nghe thấy tiếng người này bước tới.

    Người thanh niên mặc toàn màu xanh lá: quần xanh bám bụi, áo khoác xanh, và áo khoác màu xanh đậm.

    Tóc anh có màu đỏ cà rốt, và anh đang cười toe toét nửa miệng với bà.

    Có thứ gì đó về người thanh niên khiến bà cảm thấy hạnh phúc khi nhìn vào, và cả thứ gì đó thì thầm sự nguy hiểm.

    "Có thể nói là bà biết tôi đấy," anh nói.

    Anh nheo mắt nhìn bà, và bà nheo lại nhìn anh, tìm kiếm trên khuôn mặt sáng như trăng rằm kia một manh mối cho danh tính của anh.

    Anh trông trẻ như một trong những đứa cháu của bà, nhưng anh lại gọi là bằng cái tên cũ, cách phát âm r trong giọng anh là thứ là biết từ thời thơ ấu, từ những mỏm đá và đồng hoang nơi quê nhà.

    "Cậu là dân Cornwall à?" bà hỏi.

    "Đúng vậy, một người thợ mỏ vùng Cornwall," người thanh niên tóc đỏ đáp.

    "Hoặc đúng hơn, là đã từng, nhưng giờ tôi ở đây, trên thế giới mới này, nơi không ai cho người đồng bào lương thiện bia hoặc sữa nữa, hoặc một ổ bánh mì khi mùa gặt tới."

    Bà lão bưng bát đậu hà lan lên đùi.

    "Nếu cậu là người ta nghĩ tới," bà nói, "thì ta sẽ không cãi với cậu nữa đâu."

    Trong nhà, bà có thể nghe thấy tiếng Phyllida đang càu nhàu với quản gia.

    "Tôi cũng vậy," người thanh niên tóc đỏ nói, một chút buồn rầu, "mặc dù bà chính là người mang tôi tới đây, bà và vài người nữa giống bà, đến mảnh đất này, nơi không có thời gian cho ma thuật và không có nơi chốn cho yêu tinh cũng như chuyện cổ tích."

    "Cậu đã trả ơn ta rất nhiều," bà nói.

    "Trả ơn và báo hại," người lạ nheo mắt nói.

    "Chúng tôi như những con gió.

    Chúng tôi thổi hai chiều."

    Essie gật đầu.

    "Bà sẽ nắm tay tôi chứ, Essie Tregowan?" rồi anh đưa tay mình ra cho bà.

    Tàn nhang là thế, và mặc dù thị lực của Essie đã yếu đi, bà vẫn có thể thấy từng sợi lông cam trên mu bàn tay anh chàng này, bừng sắc vàng trong ánh nắng ban chiều.

    Bà cắn môi.

    Rồi, một cách ngập ngừng, và đặt bàn tay xanh xao của mình vào tay anh.

    Khi người ta tìm thấy bà, da bà vẫn còn ấm, dù sự sống đã bỏ bà đi và nửa số đậu vẫn còn nằm trong vỏ.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Năm (1)


    "Quý cô Cuộc Sống là một nhành hoa nở

    Còn chàng Chết Chóc lảng vảng khắp muôn nơi:

    Nàng là người thuê căn phòng trọ,

    Chàng là gã du côn dưới chân cầu."

    W.E.

    Henley, trích bài thơ Quý cô Cuộc Sống là một nhành hoa nở

    ---

    Chỉ có Zorya Utrennyaya là còn tỉnh táo để chào tạm biệt họ, vào sáng thứ Bảy đó.

    Bà đưa ngài Thứ Tư bốn mươi lăm đô-la và nằng nặc đòi viết cho ông một biên lai bằng nét chữ tròn, to, trên mặt sau một tấm phiếu giảm giá nước ngọt đã hết hạn.

    Bà trông như búp bê dưới ánh nắng ban ngày, với gương mặt già nua được trang điểm cẩn thận và mái tóc vàng óng được búi gọn trên đỉnh đầu.

    Ngài Thứ Tư hôn tay bà.

    "Thưa bà, cảm ơn lòng hiếu khách của bà," ông nói.

    "Bà và hai người chị em dễ mến vẫn tỏa sáng như bầu trời của từng người."

    "Ông là một lão già xấu xa," bà nói, lắc một ngón tay trước mặt ông.

    Rồi bà ôm ông.

    "Đi mạnh giỏi," bà nói.

    "Tôi không muốn nghe tin ông đã biến mất vĩnh viễn đâu."

    "Điều đó cũng sẽ làm tôi đau khổ không kém, thưa bà."

    Bà bắt tay với Shadow.

    "Zorya Polunochnaya đánh giá cậu rất cao," bà nói.

    "Tôi cũng vậy."

    "Cảm ơn bà," Shadow nói.

    "Cảm ơn vì bữa tối."

    Bà nhấc một bên chân mày nhìn anh.

    "Cậu thích à?

    Cậu phải quay lại đấy."

    Ngài Thứ Tư và Shadow bước xuống cầu thang.

    Shadow cho hai tay vào túi áo khoác.

    Đồng đô-la bạc vẫn còn lành lạnh trong bàn tay anh.

    Nó to và nặng hơn bất kỳ đồng xu nào anh từng sử dụng.

    Anh làm mánh cổ điển, để tay mình buông cạnh thân người tự nhiên, rồi duỗi thẳng tay ra khi đồng xu trượt xuống tới vị trí lòng bàn tay.

    Nó mang lại cảm giác dễ chịu ở đó, được giữ giữa ngón trỏ và ngón út bằng áp lực nhỏ nhất.

    "Làm mượt lắm," ngài Thứ Tư nói.

    "Tôi chỉ đang học," Shadow nói.

    "Tôi có thể làm nhiều trò kỹ thuật.

    Phần khó nhất là khiến mọi người nhìn vào nhầm tay."

    "Vậy sao?"

    "Ừ," Shadow nói.

    "Nó được gọi là đánh lạc hướng."

    Anh trượt ngón giữa xuống dưới đồng xu, đẩy nó vào lòng bàn tay, và vụng về bắt lấy nó, chỉ còn cách một chút ít.

    Đồng xu rớt từ tay anh xuống cầu thang cái keng và rơi xuống tới nửa bậc cầu thang.

    Ngài Thứ Tư đi xuống và nhặt nó lên.

    "Cậu không thể bất cẩn với quà người khác tặng," ngài Thứ Tư nói.

    "Một thứ như thế này, cậu cần giữ nó cẩn thận.

    Đừng ném nó đi lung tung."

    Ông xem xét đồng xu, đầu tiên nhìn vào mặt chim đại bàng, sau đó nhìn vào mặt Nữ thần Tự Do.

    "À, Quý Bà Tự Do.

    Đẹp, phải không?"

    Ông ném đồng xu cho Shadow, người chụp nó từ trên không, làm một cú trượt biến mất - trông như anh thả nó vào tay trái nhưng thực ra anh vẫn giữ nó bên tay phải - và rồi anh nhét nó vào túi bằng tay trái.

    Đồng xu nằm trong lòng bàn tay phải, nơi dễ thấy.

    Nó mang lại cảm giác thoải mái ở đó.

    "Quý bà Tự Do," ngài Thứ Tư nói.

    "Cũng như rất nhiều các vị thần mà người Mỹ đang nắm giữ, là một người nước ngoài.

    Trong trường hợp này, là một phụ nữ Pháp, mặc dù, vì lòng tôn kính đến sự nhạy cảm của người Mỹ, người Pháp che đậy bộ ngực lộng lẫy của bà trên bức tượng họ tặng cho New York.

    Tự do," ông nói tiếp, chun mũi vào cái bao cao su đã qua sử dụng nằm dưới những bậc thang cuối, đá chúng qua một bên bằng sự ghê tởm - "Ai đó có thể trượt chân lên nó mất.

    Bẻ cổ hắn đi" ông lầm bầm, tự ngắt lời mình.

    "Như bóc vỏ chuối, chỉ với những điều xấu xa và sự mỉa mai."

    Ông đẩy cửa mở, và ánh nắng chiếu thẳng vào họ.

    "Tự do," ngài Thứ Tư nói oang oang, khi họ bước ra xe, "là một con khốn, người phải bị chịch trên tấm đệm đầy xác chết."

    "Hả?"

    Shadow hỏi.

    "Trích dẫn," ngài Thứ Tư nói.

    "Từ tên người Pháp nào đó.

    Đó là người họ cũng xây tượng, đặt ở bến cảng New York: một con điếm thích bị chịch trên đống rác đến từ chiếc xe chở tử.

    Cứ giơ ngọn đuốc đó cao như bà muốn đi, chuột cống vẫn sống trong váy bà và tinh trùng lạnh vẫn rỉ xuống chân."

    Ông mở khóa xe, và ra hiệu Shadow ngồi vào ghế hành khách.

    "Tôi nghĩ bà ấy rất xinh đẹp," Shadow nói, đưa đồng xu đến gần.

    Gương mặt bằng bạc của Nữ thần Tự Do gợi anh nhớ một chút đến Zorya Polunochnaya.

    "Đó," ngài Thứ Tư nói, chạy xe đi, "là sự điên dại vĩnh cữu của đàn ông.

    Để chạy theo những thứ xác thịt ngọt ngào, mà không nhận ra rằng đó chỉ đơn giản là lớp vỏ học xinh đẹp cho phần xương khô bên trong.

    Người chết.

    Vào buổi tối, cậu chà sát cơ thể mình với một người chết.

    Không có ý xúc phạm gì đâu."

    Shadow chưa từng thấy ngài Thứ Tư cởi mở như thế này.

    Sếp mới của anh, anh quyết định rằng, đang trải qua các giai đoạn hướng ngoại sau các giai đoạn yên tĩnh dữ dội.

    "Vậy ông không phải người Mỹ?"

    Shadow hỏi.

    "Không ai là người Mỹ cả," ngài Thứ Tư nói.

    "Về nguồn gốc.

    Theo tôi là vậy."

    Ông kiểm tra đồng hồ đeo tay.

    "Chúng ta vẫn còn vài giờ để giết trước khi ngân hàng đóng cửa.

    Nhân tiện, đêm qua chuyện cậu làm với Czernobog tốt lắm.

    Dù gì cuối cùng ta cũng sẽ đưa ông ấy đến, nhưng cậu đã thuyết phục ông ấy hết lòng, nhiều hơn ta có thể làm."

    "Chỉ bởi vì sau mọi chuyện ông ấy cũng sẽ giết tôi."

    "Không cần thiết.

    Như tự bản thân cậu cũng chỉ ra một cách khôn ngoan, ông ấy đã già, và cú đập chết người đó cũng chỉ đơn thuần để lại cho cậu, ừm, một đời sống thực vật.

    Một người tàn phế vô vọng.

    Vì vậy, cậu có nhiều điều để trông đợi hơn, liệu ngài Czernobog có sống sót qua những khó khăn sắp tới hay không."

    "Và còn vài câu hỏi về chuyện này?"

    Shadow nói, lặp lại cách ứng xử của ngài Thứ Tư, rồi tự ghét bản thân vì điều đó.

    "Chính con mẹ nó xác," ngài Thứ Tư.

    Ông dừng xe tại bãi đỗ của một ngân hàng.

    "Đây," ông nói, "là ngân hàng ta sẽ cướp.

    Họ chưa đóng cửa trong vài tiếng nữa.

    Cùng vào trong và gửi lời chào nào."

    Ông ra hiệu cho Shadow.

    Một cách miễn cưỡng, Shadow chui ra khỏi xe.

    Nếu ông già định làm điều gì đó ngu ngốc, Shadow không có lý do vì sao mặt anh nên xuất hiện trên camera.

    Nhưng sự tò mò kéo anh lại và rồi anh bước vào ngân hàng.

    Anh nhìn xuống sàn, xoa mũi bằng tay, làm hết sức để giấu mặt mình đi.

    "Mẫu đơn ký gửi, thưa cô?" ngài Thứ Tư nói với giao dịch viên đang ngồi một mình.

    "Ngay kia."

    "Tốt quá.

    Và nếu tôi cần phải ký gửi trong đêm...?"

    "Cùng mẫu đơn."

    Cô mỉm cười với ông.

    "Ông biết vị trí ký gửi ban đêm ở đâu chưa, thưa ông?

    Bên trái ngoài cửa chính, nó nằm trên tường ấy."

    "Cảm ơn cô."

    Ngài Thứ Tư lấy vài mẫu đơn ký gửi.

    Ông cười toe toét chào tạm biệt giao dịch viên, rồi cùng Shadow bước ra ngoài.

    Ngài Thứ Tư đứng trên vỉa hè một lúc, vuốt râu một cách điềm tĩnh.

    Rồi ông đi tới máy rút tiền và chỗ gửi tiền ban đêm, được đặt bên cạnh tường, và kiểm tra chúng.

    Ông dẫn Shadow qua đường đến chỗ siêu thị, nơi ông mua một que kem sô-cô-la Popsicle cho mình và một ly sô-cô-la nóng cho Shadow.

    Có một cái bốt điện thoại công cộng được đặt trên tường của lối vào, bên dưới một tấm bảng thông báo phòng cho thuê và chó mèo cần tìm mái nhà.

    Ngài Thứ Tư viết số điện thoại của bốt công cộng đó xuống.

    "Thứ chúng ta cần," bất chợt, ngài Thứ Tư nói, "là tuyết.

    Một trận tuyết thật to, thật mạnh, thật phiền toái.

    Nghĩ từ 'tuyết' cho tôi, được chứ?"

    "Hả?"

    "Tập trung biến những đám mây kia - đám ở ngay kia kìa, phía Tây ấy - biến chúng lớn lên và đậm màu đi.

    Hãy nghĩ đến bầu trời xám xịt và những cơn gió thổi xuống từ Bắc cực.

    Hãy nghĩ đến tuyết."

    "Tôi không nghĩ nó sẽ có tác dụng gì đâu."

    "Vô lý.

    Nếu không có tác dụng gì, ít nhất nó sẽ giữ đầu óc cậu luôn bận rộn," ngài Thứ Tư nói, mở khóa xe.

    "Giờ đến tiệm in Kinko's.

    Nhanh lên."

    Tuyết, Shadow nghĩ trong ghế hành khách, nhấp nhám cốc sô-cô-la nóng của mình.

    Những khối tuyết khổng lồ, choáng váng rơi trong không trung, những mảng trắng tương phản với bầu trời xám lạnh, tuyết chạm lưỡi bạn với cái lạnh và mùa đông, chúng hôn lên khuôn mặt bạn với cái chạm ngần ngại của mình trước khi đông cứng bạn đến chết.

    Mười hai inch kẹo bông gòn từ tuyết, tạo nên một thế giới cổ tích, biến mọi thứ trở nên xinh đẹp lạ thường...

    Ngài Thứ Tư đang nói chuyện với anh.

    "Xin lỗi?"

    Shadow nói.

    "Ta nói chúng ta tới rồi," ngài Thứ Tư nói.

    "Cậu đang nghĩ đâu đâu."

    "Tôi đang nghĩ về tuyết," Shadow nói.

    Trong tiệm in Kinko's, ngài Thứ Tư bắt đầu photocopy các mẫu đơn ký gửi từ ngân hàng.

    Ông yêu cầu nhân viên bán hàng in gấp cho ông hai bộ mười danh thiếp.

    Đầu Shadow bắt đầu đau, và có một cảm giác không thoải mái giữa hai xương bả vai; anh tự hỏi liệu mình đã ngủ sai tư thế, hay liệu cơn đau đầu này có phải hậu quả kỳ quặc của cái sofa anh ngủ đêm qua hay không.

    Ngài Thứ Tư ngồi trước máy tính, soạn thảo một lá thư, và, với sự giúp đỡ của nhân viên bán hàng, giúp ông tạo ra vài bảng hiệu kích thước lớn.

    Tuyết, Shadow nghĩ.

    Cao trên bầu khí quyển, những tinh thể tí hon, hoàn hảo tạo ra khoảng một chút bụi, mỗi một tác phẩm mỏng như tờ của nghệ thuật phân dạng.

    Và những tinh thể tuyết kết lại thành từng mảng khi chúng rơi xuống, bao phủ toàn bộ Chicago trong màu trắng của nó, từng inch một...

    "Đây," ngài Thứ Tư nói.

    Ông đưa Shadow một cốc cà phê tiệm Kinko's, một tảng bột kem đã tan một nửa trôi lững lờ trên mặt.

    "Ta nghĩ đủ rồi đấy, nhỉ?"

    "Đủ gì cơ?"

    'Đủ tuyết.

    Chúng ta không muốn làm bất động cả thành phố đâu, phải không?"

    Bầu trời đang khoác trên mình một màu xám tàu chiến.

    Tuyết sắp rơi.

    Phải.

    "Tôi đã không thật sự làm điều này?"

    Shadow hỏi.

    "Ý tôi là, tôi không làm ra điều này.

    Phải không?"

    "Uống cà phê đi," ngài Thứ Tư nói.

    "Ba cái này rất tệ, nhưng nó sẽ làm giảm cơn đau đầu."

    Rồi ông nói, "Làm tốt lắm."

    Ngài Thứ Tư trả tiền cho nhân viên của Kinko's, rồi ông cầm mấy tấm biển hiệu, thư và thiếp ra ngoài.

    Ông mở cốp xe, cho hết giấy tờ vào cái vali kim loại lớn màu đen loại được xách bởi nhân viên bảo vệ biên chế, và đóng cốp lại.

    Ông đưa Shadow một tấm danh thiếp.

    "Ai," Shadow hỏi, "là A.

    Haddock, Giám đốc An ninh, Dịch vụ bảo vệ A1?"

    "Cậu đó."

    "A.

    Haddock?"

    "Ừ."

    "Chữ A viết tắt cho cái gì?"

    "Alfredo?

    Alphonse?

    Augustine?

    Ambrose?

    Tùy vào cậu cả."

    "Ồ, tôi hiểu rồi."

    "Tôi là James O'Gorman," ngài Thứ Tư nói.

    "Với bạn bè thì là Jimmy.

    Thấy không?

    Tôi cũng có danh thiếp này."

    Họ chui vào trong xe.

    Ngài Thứ Tư nói, "Nếu cậu nghĩ về 'A.

    Haddock' cũng như cách cậu nghĩ về 'tuyết', chúng ta hẳn sẽ có kha khá tiền để ăn tối và uống rượu với mấy người bạn vào tối nay."

    "Tôi sẽ không quay lại nhà tù đâu."

    "Cậu sẽ không quay lại nhà tù."

    "Tôi tưởng chúng ta đã thống nhất rằng tôi sẽ không làm bất cứ thứ gì phạm pháp."

    "Cậu đâu làm.

    Có thể là trợ giúp và tiếp tay, một chút âm mưu để phạm pháp, tất nhiên sau đó là nhận được tiền ăn cắp, nhưng, tin tôi đi, cậu sẽ thoát khỏi chuyện này bình an vô sự."

    "Chuyện này là chuyện trước hay sau khi ông già lực điền người Slav của ông đập nát đầu tôi bằng một cú gõ?"

    "Thị lực ông ấy yếu rồi," ngài Thứ Tư nói.

    "Có thể ông ấy sẽ đánh trượt hoàn toàn.

    Giờ, chúng ta vẫn còn chút ít thời gian để giết - ngân hàng đóng cửa vào giữa trưa các thứ Bảy.

    Muốn ăn trưa không?"

    "Vâng," Shadow nói.

    "Tôi đói quá."

    "Tôi biết chỗ," ngài Thứ Tư nói.

    Ông ngâm nga trong lúc lái, vài ca khúc vui tươi Shadow không thể xác định được.

    Bông tuyết bắt đầu rơi, y hệt những gì Shadow tưởng tượng, và anh cảm thấy tự hào một cách kỳ lạ.

    Anh biết, lý ra, rằng anh chẳng làm gì được với chuyện tuyết rơi này, như khi anh biết được đồng đô-la bạc anh mang trong túi không phải và cũng không bao giờ là mặt trăng.

    Nhưng vẫn...

    Họ dừng lại bên ngoài một tòa nhà kiểu nhà kho.

    Tấm biển hiệu ghi buffet trưa mọi-thứ-Bạn-có-thể-ăn chỉ với 4 đô 99.

    "Tôi thích chỗ này lắm," ngài Thứ Tư nói.

    "Đồ ăn ngon hả?"

    Shadow hỏi.

    "Không đặc sắc mấy," ngài Thứ Tư nói.

    "Nhưng không khí nơi đây thật không thể bỏ qua."

    Thứ không khí mà ngài Thứ Tư thích, hóa ra, trong một bữa ăn trưa - Shadow ăn gà chiên, và nhâm nhi nó - là khu kinh doanh chiếm phía sau nhà kho: nó, theo lá cờ treo trên trung tâm căn phòng, là một Nhà kho Thanh Lý Hàng Tồn cho công ty phá sản và đóng cửa.

    Ngài Thứ Tư bước ra khỏi xe và lại xuất hiện với chiếc va-li nhỏ, thứ ông cho vào nhà vệ sinh nam.

    Shadow nhận ra mình đã biết đủ những gì ngài Thứ Tư định làm, dù anh có muốn hay không, nên anh tha thẩn dạo quanh mấy gian hàng thanh lý, nhìn chằm chằm vào những món đồ được bán: Hộp đựng cà phê "chỉ sử dụng trong các bộ lọc của hãng hàng không," đồ chơi Ninja Rùa và búp bê Xena: Công chúa Chiến binh, mấy con gấu bông chơi những bài ca ái quốc khi được cắm điện, lon thịt đã chế biến, giày chống thấm nước và túi bọc giày, kẹo dẻo, đồng hồ kiểu Bill Clinton đeo, cây thông Giáng Sinh nhân tạo cỡ nhỏ, lọ đựng muối tiêu hình động vật, bộ phận cơ thể người, trái cây, mấy bức tượng nữ tu, và, thứ Shadow yêu thích, một bộ làm người tuyết "chỉ cần thêm cà rốt thật" với mắt nhựa đen, một cái tẩu lõi bắp và một cái mũ nhựa.

    Shadow nghĩ về việc làm thế nào một ai đó có thể khiến mặt trăng trông như được lấy ra khỏi bầu trời và biến thành một đồng đô bạc, và điều gì khiến một người phụ nữ bước ra khỏi nấm mồ và cuốc bộ qua thị trấn để nói chuyện với bạn.

    "Nơi này thật tuyệt phải không?" ngài Thứ Tư hỏi khi ông bước ra khỏi phòng vệ sinh nam.

    Tay ông vẫn còn ướt, và ông đang lau khô nó bằng một chiếc khăn tay.

    "Họ hết khăn giấy ở đây rồi," ông nói.

    Ông đã thay đồ.

    Giờ ông đang mặc áo khoác xanh đậm, với quần đồng bộ, áo len chui cổ dày màu xanh dương, áo sơ mi trắng, và một đôi giày đen.

    Ông trông giống một nhân viên bảo vệ, và Shadow đã nói vậy.

    "Tôi có thể nói gì đây, chàng trai," ngài Thứ Tư nói, nhặt một chiếc hộp chứa đầy các con cá nhựa có thể nổi lên ("Chúng sẽ không bao giờ chết - và bạn sẽ không bao giờ phải cho chúng ăn!!"), "ngoài việc chúc mừng sự nhanh trí của cậu.

    Arthur Haddock thế nào rồi?

    Authur là một cái tên hay."

    "Tầm thường quá."

    "Chà, vậy thì nghĩ tên khác đi.

    Đây.

    Chúng ta quay lại thị trấn.

    Chúng ta nên xuất hiện trong thời điểm hoàn hảo cho vụ cướp ngân hàng, rồi tôi sẽ có một ít tiền tiêu."

    'Đa số mọi người," Shadow nói, "sẽ đơn giản là lấy tiền từ máy ATM."

    "Điều mà, thật kỳ lạ, ít nhiều chính xác với những gì ta định làm."

    Ngài Thứ Tư đỗ xe ở một bãi đỗ siêu thị bên kia đường đối diện ngân hàng.

    Từ cốp xe ngài Thứ Tư lấy ra chiếc va-li kim loại, một bảng tạm, và một cặp còng tay.

    Ông còng chiếc va-li vào cổ tay bên trái.

    Tuyết vẫn tiếp tục rơi.

    Rồi ông đội mũ lưỡi trai màu xanh lên, dán một cái huy hiệu lên túi ngực của áo khoác.

    BẢO VỆ A1 được viết trên mũ và huy hiệu.

    Ông kẹp mấy tờ đơn ký gửi vào bảng tạm.

    Rồi ông đứng buông thõng người xuống.

    Ông trông giống một cảnh sát về hưu, và bằng cách nào đó tự biến bản thân mình thành một lão già bụng phệ.
     
    Những Vị Thần Nước Mỹ (American Gods Bản Dịch Tiếng Việt)
    Shadow - Chương Năm (2)


    "Giờ", ông nói, "cậu đi mua chút đồ ở cửa hàng thực phẩm, rồi lảng vảng quanh cái bốt điện thoại đi.

    Nếu ai đó hỏi, cậu nói mình đang chờ điện thoại từ bạn gái, xe cô ấy vừa bị hư."

    "Vậy sao cô ấy lại gọi tôi ở đây?"

    "Làm thế quái nào cậu biết được?"

    Ngài Thứ Tư đeo cái chụp tai màu hồng nhạt lên.

    Ông đóng cốp xe.

    Bông tuyết vương trên chiếc mũ lưỡi trai màu xanh và cặp chụp tai của ông.

    "Trông ta thế nào?"

    ông hỏi.

    "Lố bịch," Shadow đáp.

    "Lố bịch?"

    "Hoặc có lẽ là, ngu ngốc," Shadow nói.

    "Ừm.

    Ngu ngốc và lố bịch.

    Vậy thì tốt."

    Ngài Thứ Tư mỉm cười.

    Cặp chụp tai khiến ông trông, cùng một lúc, vừa an tâm, vừa hài hước, cũng vừa đáng yêu.

    Ông bước qua đường và đi dọc theo dãy nhà đến tòa nhà ngân hàng, trong khi đó Shadow bước vào sảnh siêu thị và theo dõi.

    Ngài Thứ Tư dán một tờ thông báo đang-bị-hỏng lớn màu đỏ lên máy ATM.

    Ông đặt một dải ruy băng đỏ từ bên này sang bên kia chỗ ký gửi ban đêm, rồi ông dán một tờ thông báo đã được photocopy lên.

    Shadow đọc nó với sự thích thú.

    VÌ SỰ THUẬN TIỆN CỦA BẠN, nó ghi, CHÚNG TÔI ĐANG TIẾP TỤC CẢI THIỆN VÀ SỮA CHỮA.

    CHÚNG TÔI XIN LỖI VÌ SỰ BẤT TIỆN TẠM THỜI NÀY.

    Rồi ngài Thứ Tư quay lại đối mặt với con đường.

    Ông trông có vẻ đang bị cóng và bị ngược đãi.

    Một chiếc xe chạy tới rồi dừng lại, một người đàn ông bước ra, trên tay cầm một bao bố nhỏ màu xám và một chìa khóa.

    Shadow quan sát thấy ngài Thứ Tư xin lỗi người đàn ông, rồi đưa ông ký tên vô bảng tạm, kiểm tra phiếu ký gửi của ông ấy, cẩn thận viết cho ông một biên lai và bối rối không biết nên giữ bản sao nào, rồi, cuối cùng, mở chiếc vali kim loại lớn màu đen của mình và cho bao bố của người đàn ông vào bên trong.

    Người đàn ông run lập cập trong tuyết, giậm giậm chân, chờ đợi ông bảo vệ già hoàn thành những thủ tục hành chính vô nghĩa, để ông có thể để lại số tiền, thoát khỏi cái lạnh và tiếp tục công việc của mình, ông lấy biên lai, quay trở vào trong chiếc xe ấm áp và lái đi.

    Ngài Thứ Tư đi bộ băng qua đường xách theo chiếc va-li, mua cho mình một cốc cà phê trong siêu thị.

    "Chiều rồi, chàng trai," ông nói, với điệu cười khúc khích như một ông bác, khi bước ngang qua Shadow.

    "Đủ lạnh cho cậu chưa?"

    Ông lại băng qua đường, lấy những chiếc túi xám và phong thư từ người đến ký gửi tiền lương hoặc doanh thu vào chiều thứ Bảy, một ông bảo vệ già trong cặp chụp tai vui nhộn màu hồng.

    Shadow mua vài thứ để đọc - Săn Gà Tây, Con Người, và, vì tấm ảnh bìa của cuốn quái vật Chân To quá sức dễ thương, tờ Tin Tức Thế Giới Hàng Tuần - rồi nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ.

    "Tôi có thể giúp gì không?" người đàn ông da đen ở độ tuổi trung niên với bộ ria mép trắng hỏi anh.

    Có vẻ ông là quản lý.

    "Cảm ơn ông, nhưng không cần.

    Tôi đang đợi một cuộc điện thoại.

    Xe hơi bạn gái tôi vừa bị hư."

    "Có thể do ắc-quy xe," người đàn ông nói.

    "Người ta hay quên mấy thứ như vậy chỉ trong ba, hoặc có lẽ bốn năm cuối.

    Chúng trông không đáng giá là bao."

    "Tôi hiểu," Shadow nói.

    "Chờ ở đây nhé, chàng trai," người quản lý nói, rồi ông quay trở vào siêu thị.

    Tuyết biến quang cảnh đường phố trở thành phần bên trong một quả cầu tuyết, hoàn hảo đến từng chi tiết.

    Shadow quan sát, cảm thấy ấn tượng.

    Dù không thể nghe thấy những cuộc đối thoại phía bên kia đường, anh vẫn cảm thấy như mình đang theo dõi một bộ phim câm chất lượng, tất cả biểu cảm và hành động: một ông bảo vệ già cáu kỉnh, đứng đắn - có lẽ thêm một chút vụng về, nhưng đầy nhiệt tình.

    Tất cả những người đã đưa ông tiền đều bỏ đi với một chút niềm vui vì đã gặp được ông.

    Bỗng cảnh sát dừng xe bên ngoài ngân hàng, và tim chợt Shadow thắt lại.

    Ngài Thứ Tư ngả mũ với họ, rồi thong thả đi tới xe cảnh sát.

    Ông nói lời chào và bắt tay qua cửa số mở, gật đầu, rồi mò mẫm trong túi đến khi tìm thấy tấm danh thiếp và lá thư, đưa nó qua cửa sổ xe.

    Rồi ông nhấp cà phê trong cốc.

    Điện thoại reo.

    Shadow nhấc ống nghe lên và cố gắng hết sức để mình nghe thật nhàm chán.

    "Dịch vụ Bảo vệ A1 xin nghe," anh nói.

    "Tôi có thể nói chuyện với A.

    Haddock được không?" người cảnh sát bên đường hỏi.

    "Andy Haddock đang nói đây," Shadow nói.

    "Vâng, ông Haddock, chúng tôi là cảnh sát," người cảnh sát trong xe bên đường nói.

    "Ông có cử người tới đứng ở Ngân Hàng First Illinois tại góc Market and Second."

    "Ừ, phải.

    Đúng vậy.

    Jimmy O'Gorman.

    Có vấn đề gì vậy, sĩ quan?

    Jim cư xử thế nào?

    Ông ấy không uống rượu đấy chứ?"

    "Không vấn đề gì, thưa ông.

    Người của ông vẫn ổn.

    Tôi chỉ muốn chắc rằng mọi việc vẫn đang trong tầm kiểm soát."

    "Nhờ anh nói với Jim rằng nếu ông ấy lại bị bắt đang uống rượu lần nữa, thưa sĩ quan, ông ấy sẽ bị đuổi việc.

    Anh nghe rõ chứ?

    Mất việc luôn.

    Mất mẹ ổng luôn.

    Chúng tôi không có sự khoan nhượng tại dịch vụ Bảo vệ A1."

    "Tôi thật sự không nghĩ đây là phận sự của mình để nói điều đó với ông ấy, thưa ông.

    Ông ấy đang làm việc rất tốt.

    Chúng tôi chỉ đang lo lắng vì những việc như thế này cần phải làm bởi hai người.

    Để một bảo vệ không trang bị vũ khí giải quyết những khoản tiền lớn như thế này thì khá là nguy hiểm."

    "Tôi hiểu.

    Điều quan trọng hơn là, anh nên nói với mấy tên keo kiệt ở ngân hàng First Illinois về việc này.

    Đây là những nhân viên tôi đã mạo hiểm đánh cược, ngài sĩ quan ạ.

    Những nhân viên tốt.

    Những nhân viên như anh."

    Shadow nhận ra mình bắt đầu thích danh tính này.

    Anh có thể cảm thấy bản thân trở thành Andy Haddock, nhai mớ thuốc lá rẻ tiền trong gạt tàn, một chồng giấy tờ làm phiền buổi chiều thứ Bảy, một căn nhà ở Schaumburg và một cô tình nhân trong một căn hộ nhỏ ở Hồ Shore Drive.

    "Anh biết đấy, anh nghe có vẻ là một anh chàng trẻ tuổi sáng sủa, thưa sĩ quan, ờ..."

    "Myerson."

    "Sĩ quan Myerson.

    Nếu anh cần một công việc nhẹ vào cuối tuần, hoặc nhận ra bản thân muốn rời bỏ lực lượng cảnh sát, bất kỳ lý do gì, cứ gọi chúng tôi nhé.

    Chúng tôi luôn cần những người tốt.

    Anh đã có danh thiếp của tôi chưa?"

    "Có rồi, thưa ông."

    "Giữ kỹ đấy," Andy Haddock nói.

    "Gọi tôi nhé."

    Xe cảnh sát chạy đi, và ngài Thứ Tư lê chân quay lại màn tuyết để xử lý nốt dòng người đang chờ đưa tiền của họ cho ông.

    "Cô ấy ổn chứ?" người quản lý hỏi, đưa đầu ra từ cửa.

    "Bạn gái cậu ấy?"

    "Do ắc-quy," Shadow nói.

    "Giờ tôi chỉ phải đợi thôi."

    "Phụ nữ," người quản lý nói.

    "Tôi hi vọng người phụ nữ của cậu đáng để chờ đợi."

    Bóng tối mùa đông buông xuống, buổi chiều dần ngả xám vào màn đêm.

    Đèn đường bật sáng.

    Thêm nhiều người đưa ngài Thứ Tư tiền của họ.

    Đột nhiên, như thể trong một vài dấu hiệu Shadow không thể thấy, ngài Thứ Tư bước tới bức tường, gỡ tờ thông báo máy bị hỏng ra, lê bước qua con đường lầy lội tới bãi đỗ xe.

    Shadow chờ một chút rồi đi theo ông.

    Ngài Thứ Tư đang ngồi sau xe.

    Ông đã mở chiếc va-li kim loại, đang đặt một cách cẩn thận mọi thứ ông lấy được lên ghế sau theo từng chồng gọn gàng.

    "Lái xe đi," ông nói.

    "Chúng ta hướng tới Ngân hàng First Illinois trên đường State."

    "Diễn lại hả?"

    Shadow hỏi.

    "Không phải vậy là lạm dụng vận may của ông sao?"

    "Không hề," ngài Thứ Tư nói.

    "Chúng ta sẽ làm một chút việc ngân hàng."

    Trong lúc Shadow lái xe, ngài Thứ Tư ngồi ở ghế sau và gỡ hóa đơn từ những chiếc túi ký gửi có kích thước cỡ lòng bàn tay, để lại séc và thẻ tín dụng, lấy tiền mặt từ vài, dù không phải tất cả, các phong thư.

    Ông thả tiền vào va-li kim loại.

    Shadow đỗ xe ngoài ngân hàng, cách đó khoảng bốn mươi lăm mét, tránh tầm nhìn máy ghi hình.

    Ngài Thứ Tư bước ra khỏi xe và cho phong thư vào khu vực ký gửi ban đêm.

    Rồi ông mở két an toàn ban đêm, thả những chiếc túi xám vào.

    Ông đóng nó lại.

    Ông trèo vào ghế cạnh người lái.

    "Giờ cậu hướng tới xa lộ liên bang số 90," ngài Thứ Tư nói.

    "Đi theo mấy biển báo phía tây để tới Madison."

    Shadow bắt đầu lái xe đi.

    Ngài Thứ Tư quay lại nhìn ngân hàng khi họ rời đi.

    "Đó, chàng trai trẻ," ông nói, một cách phấn khởi, "là việc sẽ đảo tung mọi thứ.

    Giờ, để có được thật nhiều tiền, cậu cần làm chuyện này vào khoảng bốn giờ ba mươi sáng Chủ Nhật, khi các câu lạc bộ và quán bar bắt đầu giảm sút doanh thu tối thứ Bảy.

    Chọn đúng ngân hàng, chọn đúng người đang gửi tiền - họ thường chọn mấy tên to con và trung thực, thi thoảng có thêm một vài tay bảo kê hộ tống, nhưng mấy tên này không cần thiết phải thông minh - và cậu có thể ra về với hai trăm năm mươi ngàn đô-la của đêm làm việc của họ."

    "Nếu mọi chuyện dễ dàng vậy," Shadow nói, "sao tất cả mọi người không làm chuyện đó đi?"

    "Nó không phải một nghề nghiệp hoàn toàn không có rủi ro," ngài Thứ Tư nói, "đặc biệt không phải vào lúc bốn rưỡi sáng."

    "Ý ông là cảnh sát hay nghi ngờ vào bốn rưỡi sáng hơn sao?"

    "Không hề.

    Nhưng tụi bảo kê thì có đấy.

    Và rồi mọi chuyện có thể trở nên kỳ quặc lắm."

    Ông lật qua một cọc toàn tờ năm mươi đô, rồi thêm vào đó một chồng nhỏ hơn tờ hai mươi đô, ước chừng chúng trên tay, rồi đưa cho Shadow.

    "Đây," ông nói.

    "Tuần lương đầu tiên của cậu."

    Shadow bỏ tiền vào túi mà không đếm chúng.

    "Vậy, đó là những gì ông làm?" anh hỏi.

    "Để kiếm tiền?"

    "Hiếm lắm.

    Chỉ khi nào ta cần gấp một khoản tiền lớn.

    Nói chung, ta kiếm tiền từ những người không bao giờ biết là họ bị lấy tiền, và cũng không bao giờ than phiền, và họ thường sẽ xếp hàng chờ được lấy tiền khi ta quay lại lấy tiền họ lần nữa."

    "Gã Sweeney đó nói ông là một tên lừa đảo."

    "Hắn nói đúng.

    Nhưng đó chỉ là chút ít về việc ta là ai.

    Và là chút ít những gì ta cần ở cậu, Shadow."

    ---

    Tuyết xoay đều trong ánh đèn pha và đập vào kính chắn gió khi họ lái xe qua màn đêm.

    Hiệu ứng nó đem lại gần như khiến người ta bị thôi miên.

    "Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới," ngài Thứ Tư nói trong tĩnh lặng, "lo lắng về việc mình là gì."

    "Sao cơ?"

    "Các quốc gia còn lại biết chúng là gì.

    Không ai cần đi tìm trái tim của Na Uy.

    Hay sục sạo linh hồn của Mozambique.

    Chúng biết chúng là gì."

    "Và...?"

    "Ta chỉ nói lên suy nghĩ của mình thôi."

    "Vậy, ông đã từng đến nhiều quốc gia lắm hả?"

    Ngài Thứ Tư không nói gì.

    Shadow liếc qua ông.

    "Không," ngài Thứ Tư nói, với một tiếng thở dài.

    "Không.

    Ta chưa từng đi đâu cả."

    Họ dừng lại để đổ xăng, ngài Thứ Tư đi vào phòng vệ sinh trong chiếc áo khoác bảo vệ và va-li của mình, rồi bước ra với bộ suit nhạt màu phẳng phiu, giày nâu, áo khoác nâu dài ngang đầu gối trông cứ như đồ Ý.

    "Vậy khi chúng ta tới được Madison, làm gì tiếp nữa?"

    "Đi theo Quốc Lộ Mười Bốn về phía tây tới Spring Green.

    Chúng ta sẽ gặp mọi người ở một nơi được gọi là Ngôi Nhà Trên Đá.

    Cậu từng tới đó chưa?"

    "Chưa," Shadow nói.

    "Nhưng tôi có thấy mấy tấm biển hiệu."

    Biển hiệu của Ngôi Nhà Trên Đá hiện diện khắp nơi trên thế giới: những biển hiệu nghiêng ngả, mơ hồ dọc khắp Illinois, Minnesota và Wisconsin, Shadow nghi ngờ, có lẽ xa đến tận Iowa, những biển hiệu cảnh báo bạn về sự tồn tại của Ngôi Nhà Trên Đá.

    Shadow đã thấy các biển hiệu, và tự hỏi về chúng.

    Ngôi nhà có nằm thăng bằng một cách nguy hiểm trên Đá không?

    Có điều gì thú vị về hòn Đá này vậy?

    Cả về Ngôi Nhà nữa?

    Anh đã từng có những suy nghĩ thoáng qua như vậy, nhưng rồi lại quên béng chúng đi.

    Shadow không có thói quen tham quan những địa điểm thu hút khách du lịch bên đường.

    Họ rời khỏi xa lộ liên bang tại Madison, và lái xe qua mái vòm của tòa nhà quốc hội, một khung cảnh quả cầu tuyết hoàn hảo khác trong màn tuyết rơi, và rồi họ rời khỏi xa lộ liên bang và lái xuống những con đường nông thơn.

    Sau gần một tiếng lái xe xuyên qua các thị trấn với những cái tên như Quả Đất Đen, họ rẽ xuống một lối vào hẹp, đi qua vài bồn hoa khổng lồ phủ đầy tuyết trông như những con rồng giống thằn lằn.

    Bãi đỗ xe rợp bóng cây gần như trống trơn.

    "Họ sẽ tới sớm thôi," ngài Thứ Tư nói.

    "Đây là đâu vậy?"

    Shadow hỏi, khi họ đi qua bãi đỗ xe tới một tòa nhà gỗ tầm thường, thấp bé.

    "Đây là một điểm tham quan bên đường," ngài Thứ Tư nói.

    "Một trong những nơi tuyệt nhất.

    Điều đó có nghĩa đây là một nơi đầy quyền năng."

    "Nữa hả?"

    "Điều này vô cùng đơn giản," ngài Thứ Tư nói.

    "Ở những quốc gia khác, qua nhiều năm, mọi người đều nhận ra những khu vực quyền năng.

    Lúc thì nó là một cấu tạo tự nhiên, lúc thì nó chỉ là một nơi, bằng cách nào đó, đặc biệt.

    Người ta biết rằng có một cái gì đó quan trọng đã xảy ra ở đó, rằng có vài điểm tập trung, vài nguồn kênh, vài cánh cửa tới Nội Tại.

    Và vì thế họ sẽ xây các đền thờ hoặc thánh đường, hoặc dựng lên các vòng tròn đá, hoặc...

    ờ thì, cậu hiểu ý tôi rồi đó."

    "Nhưng cũng có nhiều nhà thờ dọc khắp nước Mỹ mà," Shadow nói.

    "Ở mỗi thị trấn.

    Thi thoảng ở mỗi dãy nhà.

    Và cũng quan trọng không kém, trong văn cảnh này, chúng có nhiều như các văn phòng nha sĩ vậy.

    Không, ở Hoa Kỳ, mọi người vẫn nhận được lời kêu gọi, hoặc vài người trong số họ, và họ cảm thấy bản thân được kêu gọi từ cái khoảng trống siêu việt ấy, và họ đáp lại lời kêu gọi bằng cách xây một mô hình từ những chai bia của một nơi nào đó mà họ chưa từng đến, hoặc dựng lên một tổ dơi khổng lồ ở một số vùng của đất nước, những nơi loài dơi có truyền thống từ chối đến thăm.

    Các địa điểm thu hút khách du lịch bên đường: con người cảm thấy bản thân bị kéo tới những nơi, ở những khu vực khác của thế giới, họ sẽ nhận ra rằng một phần của bản thân họ thực sự siêu việt, rồi mua một cái bánh mì kẹp thịt và đi lòng vòng, cảm thấy thỏa mãn ở một mức độ họ hoàn toàn không thể lý giải, và cảm thấy không thỏa mãn sâu sắc ở một mức độ ẩn bên dưới nó."

    "Ông có mấy cái lý thuyết điên thật," Shadow nói.

    "Không có gì lý thuyết suông về chuyện này đâu, chàng trai trẻ," ngài Thứ Tư nói.

    "Cậu nên tìm hiểu những chuyện này từ giờ là vừa."

    Chỉ có duy nhất một quầy bán vé là còn mở cửa.

    "Chúng tôi ngưng bán vé trong nửa tiếng nữa," cô gái nói.

    "Hai người thấy đấy, phải mất ít nhất hai tiếng để đi bộ quanh đây."

    Ngài Thứ Tư trả tiền vé bằng tiền mặt.

    "Hòn Đá đâu?"

    Shadow hỏi.

    "Bên dưới Ngôi Nhà."

    Ngài Thứ Tư đáp.

    "Ngôi nhà đâu?"
     
    Back
    Top Dưới