Cập nhật mới

Khác Những câu chuyện về nhà Monoslov

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
395404790-256-k786562.jpg

Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Tác giả: Luna_Shibuya
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Gia đình Monoslov là những con người tiêu biểu cho thế hệ người lính Nga trong các thời kỳ khác nhau, trải qua những mốc lịch sử quan trọng của nước Nga.

Bộ truyện kể về những câu chuyện của bốn thế hệ nhà Monoslov trải qua hơn hơn một trăm năm từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX cho đến tận hiện tại.

Mỗi phần truyện mang một mạch truyện riêng, mang một màu sắc riêng biệt, và dành riêng cho từng thế hệ của nhà Monoslov.

Tôi không khẳng định hay phủ định bất cứ tình tiết nào trong bộ truyện này là giả tưởng, giả thuyết hay là những sự kiện có thật trong chính sử.

Nhưng tôi khẳng định rằng tôi tôn trọng lịch sử và tôn trọng những gì đã xảy ra trong lịch sử thế giới nói chung và lịch sử nước Nga nói riêng từ thời điểm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho đến hiện tại.

Tôi khẳng định bản thân không lật sử và không vẽ sử, mọi tình tiết trong nội dung cuốn tiểu thuyết hoàn toàn không làm thay đổi guồng quay thời gian của lịch sử, cũng như tôn trọng mọi thể chế tồn tại xuyên suốt bề dày lịch sử.



soviet​
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Chương mở đầu: Người lính


Chiến tranh, máu và nước mắt, đó là nỗi ám ảnh của bất kỳ người lính nào đã từng trải qua những cái chết, đôi khi chỉ trong gang tấc.

Tôi luôn tự hỏi rằng thứ gì sẽ đáng sợ hơn, cái chết hay cảm giác cận kề cái chết?

Và việc sống sót qua thời chiến là một đặc ân hay là một sự trừng phạt đầy thống khổ từ bánh xe vận mệnh đã áp lên số phận của những người lính, khi mà chiến tranh đã cướp đi người thân, đồng đội và những người mà họ yêu quý, chỉ để lại họ một mình với sự cô độc và sự ám ảnh đeo bám họ đến tận lúc họ nằm xuống trong chính thời bình, sau khi đã bị hành hạ đến mức muốn buông xuôi bởi những di chứng từ hội chứng sang chấn hậu chiến tranh.

Tôi thật sự không nhớ rõ được chiến tranh là gì, nó ác liệt ra sao.

Chiến tranh đã hoàn toàn kết thúc lúc tôi vừa tròn năm tuổi.

Mọi ký ức non trẻ đã dần phai nhạt đi, theo quá trình trưởng thành của tôi.

Tôi chỉ có thể tưởng tượng ra phần nào cái ác liệt của chiến tranh từ lời kể của những người lính xa lạ.

Tôi nâng cốc cà phê vừa pha ở bàn trà bằng cả hai tay rồi đặt lên chiếc bàn tiếp khách nhỏ, thật sự thận trọng để không tỏ ra bất kính.

Người đàn ông lớn tuổi ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành trước mặt tôi rít thêm một hơi thuốc lá, làn khói mỏng thoát ra từ đốm lửa lập loè ở đầu điếu thuốc kéo theo mùi thuốc hăng hắc cứ quanh quẩn trong văn phòng làm việc của tôi.

Bàn tay run run khiến tàn thuốc rơi nhẹ lên mặt bàn, ánh mắt mờ đục vô định, đó dường như là những biểu hiện của hội chứng sang chấn hậu chiến tranh.

Thở ra thêm một làn khói trắng mỏng, ông hỏi tôi bằng chất giọng run run, trầm và đục.

- Cô gái trẻ này, cô thử đoán xem lão già này đã trải qua được bao nhiêu năm cuộc đời rồi?

- Cháu áng chừng ông năm nay đã bảy mươi ạ?

Tôi trả lời có chút kiêng dè.

Tôi vốn dĩ không hiểu quá rõ về ông.

Một bài báo là lý do duy nhất để tôi gặp ông ngày hôm nay.

Một mẩu tàn thuốc lại rơi trên mặt bàn.

Tôi cố ngăn mình không chau đôi mày lại và tỏ ra khó chịu.

Người ngồi trước mặt tôi là một người lính đã sống sót qua những năm Thế Chiến.

Tôi không thể bất kính với ông được.

Hơn nữa, tôi cần ông thật thoải mái khi kể lại câu chuyện của ông.

Tôi, một cô gái Nga vừa tròn hai mươi tuổi, là một phóng viên tập sự của tờ Pravda.

Tôi được giao nhiệm vụ viết một bài vào đầu tháng Năm này để mừng kỷ niệm mười lăm năm ngày Chiến Thắng.

Nếu bài báo được thông qua, tôi sẽ được thăng lên làm phóng viên chính thức của tờ Pravda, một mơ ước của bất cứ người con Soviet nào muốn theo đuổi ngành báo chí.

Chính vì thế, tôi đã cố gắng để có một cuộc hẹn với một người lính đã tham gia cuộc chiến từ những ngày đầu tiên, Seryozha Monoslov, để nghe ông kể về những câu chuyện thời chiến.

- Vào cái năm chiến tranh kết thúc thì ta chỉ mới bốn mươi mốt.

Trông ta già đến thế sao?

Mà cũng đúng, ai trải qua những chuyện như ta mà không trở nên già cỗi chứ.

Ta đã chứng kiến cái giây phút Sa Hoàng cuối cùng của Đế Quốc Nga hùng mạnh ngã xuống, ta đã chứng kiến sự hình thành của Liên Bang Soviet vĩ đại, và ta cũng đã chứng kiến phút giây vinh quang khi bọn Phát xít sụp đổ.

Ta có rất nhiều thứ có thể chia sẻ với cô, cô gái trẻ à.

Ông Seryozha trầm giọng mở lời, khoé mắt nhăn nheo ánh lên một tia nhìn xa xăm đầy hồi tưởng.

Tôi nhanh chóng cầm giấy bút lên.

Tôi thường dùng máy đánh chữ khi viết bản thảo.

Nhưng khi tham gia phỏng vấn, tôi thích dùng giấy bút hơn.

Như thế thì tôi có thể dễ dàng bắt kịp luồng cảm xúc của đối phương.

Ký ức là thứ cực kỳ khó lường, đối khi nó có thể ùa về nhanh như dòng thác đổ xuống vách đá cheo leo, nhưng cũng có lúc nó lại rời rạc như những mảnh kính vỡ rơi rải rác trên bãi cỏ cạnh cửa sổ.

Tôi đã từng thấy rất nhiều người thao thao bất tuyệt kể lại một câu chuyện, nhưng ngay lập tức dừng lời rồi ngập ngừng thêm thắt một chi tiết mà họ lỡ quên cho câu chuyện đã kể xong từ mười phút trước.

Thế nên, không có thứ gì tuyệt vời hơn giấy bút để ghi lại dòng ký ức của một người.

Và rồi, trong ba tiếng đồng hồ tiếp theo, người lính già Seryozha Monoslov đã đưa tôi đến với một cuộc du hành qua những tháng ngày đầy sóng gió của cậu thiếu niên Seryozha Monoslov, cùng với sự thăng trầm của nước Nga kiều diễm trong những năm tháng chiến tranh.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Chương 1: Sa Hoàng cuối cùng


Đó là một buổi tối tháng Bảy không mấy yên bình như vẻ ngoài của nó vào năm 1918.

Tối mùa hè ở Yekaterinburg thường tương đối dễ chịu so với khí hậu giá lạnh của nước Nga.

Trên tầng ngôi nhà Ipatiev nằm ở phía đông dãy Ural, một gia đình bảy người đang chơi bài giết thời gian.

Khung cảnh này dường như chỉ đơn giản là việc một gia đình thượng lưu cùng hoạt động giải trí thông thường.

Nhưng bối cảnh hiện tại lại không mấy phù hợp với hình tượng êm đẹp đó.

Các khung kính cửa sổ trên tầng ngôi nhà đều được sơn lại, như thể phối hợp với dãy hàng rào bằng gỗ cao bao quanh khuôn viên căn nhà nhằm cách ly người bên trong với thế giới rộng lớn bên ngoài.

Ở tầng dưới ngôi nhà, những người lính Bolshevik đang canh gác cẩn mật, tưởng như một con ruồi cũng khó có thể vượt qua.

Gia đình bảy người trên lầu ngôi nhà Ipatiev chính là cựu Sa Hoàng Nikolai Đệ Nhị và cựu Sa Hậu Aleksandra, cùng với năm đứa con của họ.

Vương Tộc Romanov đã trị vì nước Nga hơn ba trăm năm qua.

Họ đã tạo nên một trang sử đầy huy hoàng, khiến xứ sở mỹ miều này trở thành một cường quốc hùng mạnh và phồn vinh.

Chỉ là một sai lầm của Sa Hoàng khi quyết định góp mặt vào Thế Chiến thứ nhất đã khiến cho Đế Quốc Nga lao vào lụn bại như một chiếc xe đứt phanh.

Và rồi Sa Hoàng bị buộc phải thoái vị để nhường lại quyền hạn cho chính phủ mới.

Đến lúc đó thì đã là tháng thứ mười sáu kể từ khi Sa Hoàng thoái vị.

Trong vòng mười sáu tháng đó, gia đình ông đã bị tách ra và phải lưu lạc nhiều nơi, cho đến khi được đoàn tụ và bị giam lỏng ở ngôi nhà này.

Họ đã phải sống với một chế độ đặc biệt thiếu thốn, nhất là so với cuộc sống vương giả trước đây.

Điều đó đã làm trầm trọng hơn các vấn đề về sức khỏe của cựu Thái Tử Aleksei, vốn đã rất yếu ớt từ tấm bé.

Cuộc sống của gia đình cựu Sa Hoàng đầy bất định và tràn ngập sợ hãi.

Họ sẽ chẳng bao giờ biết được ngày cuối cùng của họ sẽ đến nhanh như thế nào.

Dưới tầng trệt của căn nhà, trong một căn phòng khác, Yakov Yurovsky đang triệu tập những thành viên Cheka vào phòng của ông ta.

Tất cả súng của binh lính canh gác bên ngoài đã bị thu lại, hiện tại đang nằm trên bàn làm việc trước mặt Yakov.

Chống hai tay lên bàn bên cạnh số súng ống đó, ông hùng hồn tuyên bố với các thành viên khác.

- Đêm nay, chúng ta sẽ hành quyết họ.

Các thành viên Cheka đồng loạt hô lên những tiếng đồng tình.

Bên ngoài căn nhà, những tiếng nổ từ xa vọng lại, báo hiệu quân Bạch Vệ đang tiến đến gần.

Họ phải hành động thật nhanh trước khi quá muộn.

Chỉ ngay sau nửa đêm một chút, gia đình Romanov bị đánh thức và được đưa xuống tầng hầm.

Ở đó, bác sĩ riêng của họ, Yevgeny Botkin, đã đợi sẵn cùng đầu bếp Ivan Kharitonov, hầu gái Anna Demidova và người hầu Aleksei Trupp.

Cả bốn người phục vụ thân tín cuối cùng của gia đình cựu Sa Hoàng cũng đang hoang mang như chính chủ nhân của họ.

Cả đám người cả chủ lẫn người hầu đứng túm tụm lại với nhau trong góc phòng khi Yakov Yurovsky bước vào

Bằng một giọng rất lịch thiệp và phong thái hoàng gia vốn có, Nikolai lên tiếng đề nghị với Yurovsky.

- Ngài có thể để Aleksandra và Aleksei ngồi xuống được không thưa chỉ huy?

Ngài biết mà, sức khỏe của họ không được tốt.

Yurovsky nhếch lên một nụ cười khó hiểu, nhưng vẫn đáp ứng lời đề nghị.

Ông ta nhận thấy rõ ràng rằng gia đình Romanov hiểu rõ được tình hình hiện tại của họ, nhưng lại cố tình tỏ ra không biết gì về số phận của mình.

"Là lòng tự tôn hoàng gia sao?".

- Yurovsky thầm nghĩ.

Nhưng ông vốn dĩ không quan tâm.

Đêm nay, ông sẽ làm điều mà ông cần phải làm.

Lấy trong túi áo ra một tờ giấy, Yurovsky nhìn lướt qua một lượt từng gương mặt cuối cùng đại diện cho thể chế quân chủ trước khi đọc to nội dung ghi trên đó.

- Chủ tịch của Soviet khu vực Ural, hoàn thành ý chí của Cách mạng, đã ra lệnh rằng cựu Sa hoàng Nikolai Romanov, đã thực hiện vô số tội ác đẫm máu đối với người dân, nên bị xử bắn.

Và rồi, một tiếng súng vang lên, khơi mào cho một vụ xả súng thảm sát mười một con người cuối cùng của Vương Triều Romanov.

Yurovsky không hề chớp mắt trước thảm kịch trước mặt.

Tiếng kêu khóc đầy đau đớn của Anastasia và Aleksei cũng rất nhanh mà tắt lịm.

Hai đứa trẻ, một đứa mười bảy, đứa còn lại mới mười ba tuổi, còn quá nhỏ, đủ để được cho là vô tội đối với những tội ác chiến tranh của Vương Triều Romanov, nhưng vẫn phải gánh lấy cái chết đầy thương tâm.

Hai tiếng sau, vụ thảm sát kết thúc.

Mười một thi thể bị vứt bỏ một cách sơ sài trong rừng Koptyaki và Porosenkov Log.

Những người Bolshevik tự tin rằng không ai có thể sống sót sau vụ xả súng.

Thứ họ quan tâm bây giờ là sự tiến công của quân Bạch Vệ.

- Chỉ vài ngày sau, quân Bạch Vệ cũng chiếm được Yekaterinburg.

Nhưng đã quá muộn để giải cứu gia đình Romanov.

Thật đáng tiếc…

Seryozha Monoslov buông lửng câu nói sau khi đã kể xong câu chuyện.

Ông lại thở ra một làn khói, trước khi dụi điếu thuốc đã hút gần hết vào gạt tàn.

Trong đó đã có sẵn ba đầu điếu thuốc khác, đều là thuốc ông hút.

Tôi cảm thấy khó hiểu về câu nói buông lửng của ông.

- Đáng tiếc sao?

Cháu tưởng bác là một người lính Hồng Quân, sao bác lại thấy tiếc khi quân Bạch Vệ không cứu được nhà Romanov?

Seryozha bật cười lần đầu tiên kể từ khi buổi phỏng vấn bắt đầu.

Nụ cười như thể bảo tôi câu hỏi của tôi quá non nớt.

- Cháu có biết Lenin đã nói gì về vụ thảm sát này không?

Ông ấy đã tuyên bố không tán thành việc Hội đồng Soviet khu vực Ural tự ý ra lệnh xử bắn gia đình nhà Romanov.

Cái chết của Nikolai Đệ Nhị có thể là một cái cớ hay ho cho các nước quân chủ khác ở châu Âu tham gia vào cuộc chiến này.

Hoàng tộc các quốc gia thường có họ hàng với nhau mà.

Hơn nữa, ông ấy cũng cho rằng cựu Sa Hoàng nên được đưa ra tòa án để xét xử công bằng như những công dân Nga khác.

Cháu thấy đấy, vụ hành quyết này được xem là một quyết định sai lầm.

Tôi chợt nhận ra những ẩn ý phía sau cuộc chiến thời điểm đó, có thể mọi thứ không hề đơn giản như những gì ta thấy.

Tôi cứ nghĩ đơn thuần rằng việc tiêu diệt kẻ thù của chế độ là điều tất nhiên, nhưng hoá ra có nhiều vấn đề cần đặt ra hơn tôi tưởng.

Tôi ghi chú thêm vài dòng về câu chuyện này, sau đó mới tiếp tục khai thác.

- Làm sao bác lại biết rõ những gì đã xảy ra trong vụ thảm sát đó?

Đôi mắt của Seryozha thoáng qua một nét buồn khi nghe câu hỏi đó.

Ông đưa ánh nhìn ra thật xa ngoài cửa sổ rồi mới trầm ngâm thốt ra vài câu nói bâng quơ.

- Năm đó ta mười ba tuổi, chỉ còn chưa đến một tháng là sẽ bước qua tuổi mười bốn.

Năm đó ta cũng mất đi gia đình của mình.

Cuộc sống sau đó thật sự rất khó khăn.

Lúc đầu, tôi cảm thấy câu nói đó hoàn toàn không ăn nhập gì với câu hỏi của tôi.

Nhưng rồi tôi chợt nhận ra có gì đó không hợp lý lắm.

Tôi ngẩng đầu lên nhìn người đàn ông trước mặt, buộc miệng nghi vấn.

- Không lẽ bác là…

- Những gì không nên nói thì ta sẽ không nói.

Biết nhiều quá cũng không tốt cho cả ta và cháu.

Cứ hiểu theo những gì lịch sử viết là được.

Ta không phủ định hay khẳng định gì thêm đâu.

Tôi hiểu ẩn ý của câu nói đó.

Có lẽ điều này nên là bí mật của riêng Seryozha Monoslov.

Tôi đặt một dấu chấm vào cuối câu chuyện đó.

Seryozha lại chậm rãi đốt thêm một điếu thuốc trước khi bắt đầu câu chuyện tiếp theo.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Chương 2: Tình


Giữa thời chiến, thứ đẹp đẽ nhất có lẽ chính là chữ tình, bất kể đó là tình người, tình bạn hay tình yêu.

Sau khi mất gia đình vào cái năm đầy biến cố và sóng gió đó, chàng thiếu niên Seryozha lưu lạc đến vùng ngoại ô bên ngoài thành phố Yekaterinburg.

Ngay trong thời điểm loạn lạc, khi cuộc nội chiến vẫn diễn ra từng giây từng phút, bất luận bạn gặp ai trên đường bạn cũng sẽ có một suy nghĩ "liệu người trước mặt mình đây ủng hộ phía Hồng Quân hay lính Bạch Vệ?".

Bạn không thể biết được người vừa bán cho bạn bó rau ngoài chợ, người hàng xóm hay chào bạn mỗi sáng có cùng một chí hướng với bạn hay không.

Sự loạn lạc khiến con người ta kiêng dè, phòng bị lẫn nhau.

Nhưng lại không thể làm mất đi tình người.

Đó cũng chính là lúc Seryozha gặp được định mệnh của cuộc đời mình và được mang họ Monoslov.

Đó đã là ngày thứ hai anh lang thang gần bìa một khu rừng thưa ở đâu đó gần bờ hồ Isetskoe, cách Yekaterinburg không quá xa.

Anh ngồi bệt dưới một gốc cây, mắt bắt đầu hoa lên vì mệt.

Từ xa xa, tiếng lộc cộc đều đều của một chiếc xe độc mã dần tiến về phía anh.

Anh gượng mình đứng dậy để tránh đường cho chiếc xe chạy qua.

Nhưng khi vừa nhổm người dậy thì mặt đất dưới chân anh bỗng chao đảo, và rồi bóng tối nhanh chóng ập đến.

Trong giấc mơ, anh nghe thấy giọng của mẹ và các chị gọi tên anh, họ khuyên anh hãy cố gắng tỉnh táo lại.

Những giọng nói đó mờ ảo như vọng lại từ thiên đường.

Anh nghe cả giọng của cha nữa, người vẫn trang nghiêm như mọi lần.

Những giọng nói cứ thế xa dần, xa dần, rồi tắt hẳn.

Mọi thứ im lặng đến đáng sợ.

Và rồi sự hoảng loạn kéo Seryozha ra khỏi giấc mơ đó.

Anh nhận ra bản thân đang nằm trên một chiếc giường phủ khăn trắng, mùi thuốc sát trùng phảng phất trong căn phòng chật hẹp.

Một chiếc rèm vải được căng quanh giường, ngăn cách anh với phần còn lại của căn phòng.

Phía bên kia căn phòng, Seryozha nghe thấy tiếng trò chuyện của hai người đàn ông:

- Cảm ơn ông vì đã nhận chữa trị và chăm sóc cho thằng bé, thưa bác sĩ Monoslov.

Tôi thật sự cũng không biết nên làm thế nào mới phải.

Đem nó về thì tôi sợ bà nhà tôi càm ràm.

Mà bỏ nó lại bìa rừng thì tôi lại không nỡ.

- Bác cứ yên tâm để thằng bé lại đây đi.

Với thương thế của nó thì tôi cũng không nghĩ bác và chị nhà có thể chăm sóc tốt được.

Tôi cho là sức khỏe của nó vốn đã không được tốt, lại thêm vết thương như thế.

Thật sự chỉ có Chúa mới biết được làm sao nó có thể sống tới giờ này.

Còn về con gái bác, cô bé Elzira, căn bệnh của con bé đang tiến triển tốt.

Cứ đều đặn mỗi tháng đưa con bé đến để tôi kiểm tra và cấp thuốc là được.

Năm phút sau, tiếng mở đóng cửa vang lên, và người đàn ông được gọi là bác sĩ Monoslov xuất hiện từ sau tấm rèm che.

Seryozha ngước mắt lên nhìn xem ai là người đã cứu mình.

Đó là một người đàn ông ngoài tứ tuần với mái tóc muối tiêu và bộ râu xoăn đồ sộ cũng đã hơi ngả sang màu bạc.

Đôi mắt xanh của ông mang đến cho Seryozha cảm giác rất yên tâm.

Ông kéo một chiếc ghế đến ngồi xuống bên cạnh giường, ôn tồn lên tiếng.

- Cháu tỉnh lại thì thật là tốt.

Ta đã thật sự thấy ngạc nhiên khi lão Eriks mang cháu đến đây.

Lão ấy bảo nhặt được cháu ở ven hồ Isetskoe.

Vết thương của cháu thật đáng lo ngại đấy.

- Cháu… cháu đang ở đâu đây thưa ngài?

Seryozha gắng sức hỏi, bằng giọng điệu đầy trang trọng mà anh đã được dạy từ lúc còn bé.

Nhưng có lẽ với bác sĩ Monoslov thì nó lại thật kỳ lạ.

Nhưng ông vẫn trả lời câu hỏi của Seryozha.

- Cháu đang ở nhà của ta tại Verkhnyaya Pyshma vùng Sverdlovsk.

Nơi này cách Yekaterinburg tầm hơn nửa dặm về phía Bắc.

Ta là bác sĩ Monoslov.

Bây giờ thì cháu nói ta biết chuyện gì đã gây ra thương tích kinh khủng của cháu vậy hả?

Có thể cháu không tin đâu nhưng ta đã rất vất vả khi xử lý mấy cái vết thương của cháu đấy.

Seryozha ngập ngừng trước câu hỏi của vị bác sĩ trước mặt.

Trông ông ta rất đáng tin, nhưng liệu anh có thể đặt hết lòng tin vào người đàn ông này hay không.

Thấy anh ngập ngừng chưa muốn nói, người đàn ông hơi ngả người ra lưng ghế, tỏ ý vẫn sẽ kiên nhẫn chờ anh trả lời.

Năm phút sau, ông nhìn lên chiếc đồng hồ trong phòng rồi ôn tồn lên tiếng.

- Ồ, đã đến giờ ăn trưa rồi.

Cháu cứ tiếp tục suy nghĩ đi, ta làm vài thứ cho bữa trưa đã.

Ta không phải là một đầu bếp tài năng, mong cháu không chê.

Ông đứng dậy rời đi.

Sau hơn nửa tiếng, ông quay trở lại với một chiếc khay có cháo yến mạch, bánh mì đen và một cốc sữa ấm.

Ông đặt khay xuống chiếc bàn nhỏ cạnh giường.

Vừa định quay trở lại bên ngoài thì Seryozha chợt lên tiếng.

- Bác sĩ Monoslov, bác có thể giữ bí mật không?

Nửa tiếng sau, bác sĩ Monoslov chậm rãi tóm tắt lại câu chuyện mình vừa được nghe.

- Vậy cháu mắc căn bệnh đó là do di truyền từ phía họ nhà ngoại của cháu?

Bảo sao lúc cầm máu cho cháu lại khó như thế.

Còn hiện tại thì cháu tính tương lai cháu thế nào?

Seryozha lắc đầu tỏ vẻ không biết.

Anh mất tất cả mọi thứ chỉ sau một đêm.

Cha mẹ, các chị, tất cả mọi người đều đã bỏ anh mà đi.

Anh chỉ còn một mình trong cuộc nội chiến loạn lạc này.

Anh không biết bản thân mình nên đi đâu và làm gì để có thể tồn tại.

Bác sĩ Monoslov nhìn cậu bé phía trước mặt có vẻ ái ngại.

Nhưng khi ông nhìn sang dĩa cháo yến mạch đã sạch nhẵn trên bàn, ông biết bản thân cần phải làm gì.

Suốt mấy chục năm qua, ông cứ sống một mình trong căn nhà nhỏ này, mỗi ngày đều đón tiếp bệnh nhân, không có ai bầu bạn, cũng chưa từng ai khen ngợi đồ ăn ông nấu.

Đành vậy.

Ông hắng giọng rồi nói.

- Nếu vẫn chưa biết đi đâu thì cháu cứ ở lại đây đi.

Căn nhà này cũng cần một người trẻ để khuấy động sự nhàm chán của nó.

Nhưng cháu sẽ phải học nhiều để thích nghi với cuộc sống nơi đây đấy.

Trước mắt ta cứ phải chữa trị cho cháu đã, rồi dần dần dạy cho cháu sau.

Nói rồi ông đứng dậy thu dọn bát dĩa.

Trước khi bước qua tấm rèm che, ông dừng bước rồi quay lại nhìn cậu thiếu niên trên giường.

- Từ lúc này con có thể gọi ta là cha không?

Và cho phép ta gọi con là Seryozha nhé?

Seryozha nhẹ gật đầu.

Anh hiểu vị bác sĩ này sẽ bảo vệ bí mật của anh.

Giữa tình thế đấy loạn lạc này, tình người vẫn có giá trị riêng của nó.

Đoạn hồi ức về thời niên thiếu vụt qua trước mắt người lính già.

Ông run run đưa ngón tay lên quệt đi một giọt lệ long lanh nơi khóe mắt.

- Ông đối xử với ta rất tốt.

Từ rất lâu rồi, ta đã xem ông giống như cha ruột của mình.

Nhờ ông mà căn bệnh bẩm sinh của ta cũng dần đỡ hơn trước rất nhiều.

Ta thật sự mang ơn ông.

Ấy vậy mà ông cũng bỏ ta mà đi sau đó ít lâu, bỏ lại ta với ngôi nhà nhỏ đó.

Tôi dừng bút khi nghe câu nói đó.

Tôi và Seryozha vẫn chưa đi hết một phần ba cuộc đời của ông, ấy vậy mà đã có quá nhiều sự mất mát được tôi ghi nhận ở đây.

Tôi đứng dậy đi pha thêm một ấm trà, chủ yếu là để Seryozha được ở một mình trong giây lát.

Khi tôi quay lại với ấm trà, Seryozha đã qua cơn xúc động.

Tôi tìm lời một lúc rồi mới tiếp tục hỏi ông.

- Vậy bác nhập ngũ năm nào, thưa bác Monoslov?

Và cuộc sống của bác ra sao sau khi nhập ngũ?

Người lính già bật một que diêm, đốt tiếp điếu thuốc thứ sáu trong buổi sáng nay.

Sau đó ông mới tiếp tục dẫn dắt tôi theo chân cuộc du hành của người thanh niên Seryozha năm ấy.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Chương 3: Nhập ngũ


Mấy năm sống với bác sĩ Monoslov là khoảng thời gian yên bình của Seryozha.

Sức khỏe của anh cũng dần cải thiện hơn.

Seryozha của hiện tại là một thiếu niên dong dỏng cao, không mấy mập mạp nhưng lại rất chắc người.

Không ai có thể liên hệ hình ảnh cậu thiếu niên hiện tại với cậu bé ốm yếu ngày nào ở nhà Ipatiev.

Nhưng vì căn bệnh máu khó đông bẩm sinh của anh hoàn toàn không thể chữa khỏi nên bác sĩ Monoslov chỉ có thể hướng dẫn cho anh cách phòng tránh bản thân mất quá nhiều máu nếu chẳng may lỡ bị thương.

Anh cũng học được vài y thuật cơ bản đơn giản, rất cần thiết cho thời thế nội chiến như thế này.

Anh cũng thường gặp lại người đàn ông đã cứu được anh ờ ven bờ hồ Isetskoe và đưa anh gửi gắm cho bác sĩ Monoslov, Eriks và đứa con gái út Elzira của ông ấy.

Elzira vốn mắc chứng hen suyễn bẩm sinh, tuy không quá nặng nhưng cô bé thường trở nên khó thở khi tiếp xúc với lông mèo và phấn hoa.

Chính vì thế, cứ mỗi tháng một lần, Eriks thường đánh chiếc xe độc mã men theo bờ hồ Isetskoe để đưa cô bé đến Verkhnyaya Pyshma để thăm khám và lấy thuốc.

Seryozha và Elzira, chỉ cách nhau chưa đến một tuổi, đã nhanh chóng trở nên thân thiết.

Elzira là một cô bé nhỏ nhắn, và rất gầy, theo cảm nhận của Seryozha.

Cô bé luôn thích tết mái tóc dài vàng óng ả của mình thành hai bím nhỏ.

Cô bé luôn có một sự trầm lặng đáng kinh ngạc so với lứa tuổi của mình.

Nhưng đó không phải là vấn đề của Seryozha.

Với sự thanh lịch được dạy dỗ từ nhỏ, anh rất biết cách lấy lòng cô gái nhỏ này.

Một buổi chiều tháng Ba, sau khi bác sĩ Monoslov đã thăm khám cho Elzira, cô bé liền được khuyên ra ngoài sân đi dạo một lúc.

Căn bệnh hen suyễn của cô bé cũng đã cải thiện được đáng kể.

Cô bé cần được tiếp xúc với không khí ngoài trời nhiều hơn là cứ ru rú ở trong nhà.

Người ta cho rằng một bệnh nhân hen suyễn nên tránh xa những nơi bị nghi ngờ là có chứa các tác nhân gây dị ứng.

Nhưng với bác sĩ Monoslov, ông luôn cho rằng việc bảo vệ quá mức càng khiến cho căn bệnh này trầm trọng hơn.

Cô bé cần ra ngoài, để tăng cường sức đề kháng, miễn là trong tầm kiểm soát.

Chiều tháng Ba ở vùng Sverdlovsk mang một màu u ám xám xịt.

Những đám mây nặng nề che phủ gần như cả bầu trời.

Elzira quanh quẩn với mấy que gỗ nhỏ phía trước sân nhà Monoslov thì Seryozha chạy về từ phía cổng rào.

Mùa hè năm nay anh sẽ được mười sáu tuổi, và đã sống cùng với bác sĩ Monoslov gần hai năm.

Chìa một cái bánh táo nhỏ ra trước mặt Elzira, anh vui vẻ lên tiếng.

- Cho em này, Elzira.

Anh nhớ là tuần sau em sẽ đủ mười lăm tuổi.

Anh định đợi tới lúc đó mới tặng cho em nhưng mà cha lại bảo hôm đấy em không có lịch đến khám.

Anh vừa mua nó ở dưới thị trấn thôi.

Mong là em thích.

Elzira vui vẻ nhận lấy cái bánh.

Cô vừa ăn bánh vừa hỏi anh.

- Dưới thị trấn có gì vui không anh?

Căn bệnh hen suyễn không cho phép cô bé dạo chơi ở thị trấn quá nhiều.

Chính vì thế, Seryozha thường đóng vai trò của một người đưa tin.

- Họ đang tuyển quân Elzira ạ.

Anh nghe bảo rằng nội chiến đang dần đi đến hồi kết.

Họ cần lực lượng để kết thúc nó.

Vẫn có thông tin là phía Bạch Vệ sẽ lại tiến công một lần nữa, dựa vào sự giúp đỡ của ngoại bang.

Elzira, anh đang có một dự định.

Elzira rời mắt khỏi nửa cái bánh táo còn lại trên tay.

Suốt gần hai năm qua, cô và Seryozha đã quá thân thiết, đủ để mối quan hệ giữa họ là một thứ tình cảm gì đó cao hơn nhiều so với tình bạn.

Cô hiểu điều Seryozha định nói.

- Anh định tham gia quân đội sao, Seryozha?

Seryozha tựa người vào bức vách gỗ sau lưng, khẽ cài một bông hoa dại lên bím tóc vàng óng ả của cô bé bên cạnh.

- Nếu em cho phép, Elzira, khi nội chiến kết thúc, anh sẽ trở về và cưới em làm vợ của anh.

Khung cảnh u ám chiều tháng ba dường như tô điểm thêm một nét hồng e thẹn trên đôi má cô thiếu nữ.

Cô khẽ gật đầu, lấy chiếc khăn tay lụa trắng trong túi tạp dề trao cho Seryozha như một lời đính ước.

Tối hôm đó, trong bữa ăn, Seryozha mới nói với bác sĩ Monoslov về ý định nhập ngũ.

Vị bác sĩ trung niên nhanh chóng phản ứng lại với ý định của người con nuôi.

- Không được, Seryozha, ta không cho phép.

Không phải là ta không muốn con phụng sự Tổ Quốc, nhưng chiến trường là nơi có rất nhiều những mối hiểm họa đối với căn bệnh máu khó đông của con.

Ta không chắc con sẽ ổn nếu để bản thân bị thương.

- Cha à, chẳng phải chính cha đã dạy cho con cách để tự chăm sóc mình sao?

- Nhưng không phải những người Bolshevik đã ra tay với gia đình con sao?

Câu hỏi của bác sĩ Monoslov khiến Seryozha khựng lại, nhưng rất nhanh anh lại nở ra một nụ cười buồn.

Không phải là anh không nhớ về nỗi bất hạnh của gia đình anh.

Chỉ là anh không nuôi lòng hận thù với những người Bolshevik.

Sống với bác sĩ Monoslov suốt thời gian qua, anh nhìn thấy không ít những hiện thực của cuộc sống.

Anh hiểu rằng chính những quyết định sai lầm của Sa Hoàng trong Thế Chiến thứ nhất đã dẫn đến sự suy thoái của Đế Quốc Nga ra sao, và sự tin tưởng của Sa Hậu đặt vào tên lang băm Rasputin đã làm mất đi uy tín của Vương Triều Romanov với thần dân như thế nào.

Những cuộc cách mạng của người Bolshevik là hoàn toàn cần thiết cho nước Nga trong thời điểm hiện tại.

Thời đại nào, dù có huy hoàng đến mấy, cũng sẽ đến lúc nên khép lại, Vương Triều Romanov cũng thế.

Ba trăm năm, ngần ấy thời gian cũng đã là quá đủ cho một dòng họ để cai trị cả một vùng đất rộng lớn đến thế.

Sự xoay chuyển thời đại là điều tất yếu.

Hiện tại, chế độ Soviet đang làm rất tốt cho lợi ích của người dân Nga, thì anh cũng không có lý do gì để đi ngược lại với họ cả.

- Con đã quyết định rồi, thưa cha.

Con mong cha ở nhà có thể tự chăm sóc mình.

Cảm ơn cha vì đã xem con là một người con mà đối xử với con tốt đến như thế.

Công ơn của cha con không thể nào quên.

Cha hãy đợi đến lúc con quay về, con sẽ lấy vợ, sinh cho cha những đứa cháu xinh đẹp, và phụng dưỡng cha, cha nhé.

Bác sĩ Monoslov hài lòng nhìn cậu thanh niên ngồi bên cạnh.

Đứa trẻ này thật sự đã được dạy dỗ rất tốt.

Anh không còn là đứa trẻ yếu ớt mà ông cứu sống gần hai năm trước.

Hiện tại bên cạnh ông là một anh thanh niên cương trực, hiểu chuyện, biết đúng sai.

Suốt gần hai năm qua, ông luôn lo sợ rằng anh nuôi mối hận thù về cái chết của gia đình anh, nhưng giờ thì ông đã yên tâm hơn.

- Được, vậy ta ủng hộ con.

Seryozha ngay sau đó đã rất nhanh nộp đơn xin gia nhập Hồng Quân.

Và thế là một chương mới lại mở ra trong cuộc đời của Seryozha Monoslov.

- Tháng Năm năm ấy, sáu vạn quân Bạch Vệ dưới trướng Wrangel lại nổi dậy, thậm chí bọn chúng còn đề ra kế hoạch tấn công vào Moskva.

Cuộc nội chiến kéo dài thêm ba năm nữa.

Đến tận sau cuộc khởi nghĩa Yakutsk, nội chiến mới được chấm dứt hoàn toàn.

Khi ấy ta mới mười tám hay mười chín gì đó.

Seryozha dứt mình ra khỏi dòng hồi tưởng.

Tôi đọc lại những câu chuyện mà ông đã kể từ lúc bắt đầu đến giờ.

Quá ác liệt, đó là thứ tôi có thể đánh giá được.

Cuộc đời của một cậu thiếu niên đã trải qua quá nhiều thăng trầm so với cái độ tuổi đó.

- Vậy, có khi nào bác thấy thật sự hạnh phúc chưa?

Tôi hỏi dò, vì tò mò nhiều hơn là vì bài báo.

Tôi muốn biết xem động lực nào đã giúp người thiếu niên tên Seryozha ngày ấy vượt qua hết mọi thương đau.

- Ồ có chứ, đó là khoảng thời gian ta có thể dành cho gia đình của minh, trong những tháng ngày bình yên sau nội chiến, cho đến khi mất mát lại đến với ta.

Tôi mừng vì chí ít ông cũng đã từng có được hạnh phúc, nhưng khi nghe đến mất mát, tôi lại thấy thương cảm cho người lính già trước mặt này.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Chương 4: Bình yên và sóng gió


Tháng Mười năm đó, người lính trẻ Seryozha lần đầu tiên được trở về thăm gia đình kể từ ngày nhập ngũ.

Ngày anh trở về Verkhnyaya Pyshma là một ngày đầu đông, trời đã bắt đầu lạnh và đổ một màn tuyết mỏng.

Từ phía xa, anh đã thấy làn khói bốc lên nhàn nhạt từ lò sưởi ngôi nhà của cha anh.

Bước qua hàng rào, anh chỉnh lại bộ quân phục cho ngay ngắn rồi mới thận trọng gõ vài cái lên cánh cửa gỗ.

Một giọng đàn ông chợt vang lên.

- Bác cứ tiếp tục công việc đi bác sĩ Monoslov, tôi sẽ mở cửa giúp bác.

Vài phút sau, ông Eriks ngạc nhiên reo lên ngoài ngưỡng cửa ngôi nhà.

- Bác…

Bác sĩ Monoslov, Elzira, hai người ra đây mà xem.

Là Seryozha, thằng bé đã về rồi.

Seryozha ngạc nhiên khi gặp cha con của Elzira ở nhà của cha anh.

Lịch khám của cô bé thường sẽ rơi vào tuần cuối cùng của tháng, anh không nghĩ họ có mặt ở đây vào thời điểm này.

Elzira chạy ra từ bếp, mặc một chiếc tạp dề trắng bên ngoài chiếc váy dài màu xanh xinh xắn.

Cô không còn là một cô bé gái mười lăm tuổi ngày nào.

Nét xuân mơn mởn vương trên mái tóc vàng óng ả được búi gọn phía sau đầu, lan xuống cả làn da trắng ngà xinh đẹp.

Cô cũng không còn tinh nghịch như trước nữa, mà chỉ mỉm cười thẹn thùng chào Seryozha.

- Seryozha, con về rồi.

Giọng nói trầm ấm thân thuộc vang lên.

Vị bác sĩ lớn tuổi chậm rãi ôm lấy người con trai của mình, vỗ nhè nhẹ lên tấm lưng rắn chắc một cách rất dịu dàng.

Trước khi có Seryozha, ông vẫn luôn cảm thấy ổn với cuộc sống đơn độc một mình.

Ấy vậy mà từ khi Seryozha nhập ngũ, vẫn là cuộc sống một mình trong căn nhà nhỏ đó, hàng ngày khám bệnh lại khiến ông cảm thấy cô đơn và trống vắng.

Ông quen với việc có Seryozha bên cạnh, quen với việc có một làn gió tươi trẻ trong căn nhà này.

Buổi tối hôm đó, trên quanh chiếc bàn ăn trong nhà bác sĩ Monoslov, một cuộc hội ngộ vui vẻ đã diễn ra.

- Vậy là gia đình bác đã chuyển về Verkhnyaya Pyshma sao, bác Eriks?

Thật cảm ơn bác vì đã bầu bạn với cha của cháu.

Cả Alzira nữa, cảm ơn em vì đã chăm sóc cho cha của anh những ngày anh vắng nhà.

Anh thật sự rất biết ơn em.

Seryozha vẫn chưa thể bỏ hẳn cách nói chuyện trang trọng mà anh đã được học thời thơ ấu.

Bữa ăn thật vui vẻ và đầm ấm.

Cuối bữa ăn, Seryozha thu dọn bát dĩa rồi đợi Elzira trước cửa bếp.

Anh nhìn thẳng vào đôi mắt xanh kiều diễm đó rồi run run lên tiếng.

- Elzira, không biết em còn nhớ lời hứa của anh trước khi nhập ngũ không?

Anh đã trở về rồi đây.

Nếu em vẫn còn đồng ý với anh về lời hứa ngày ấy, ngày mai anh sẽ thưa chuyện với cha.

Cô thiếu nữ Elzira nở một nụ cười nửa phần thẹn thùng, nửa phần hạnh phúc, e ấp như một nụ hoa táo trắng muốt.

Suốt ba năm nay, cô luôn chờ đợi người mà cô đã đem lòng yêu thích từ thời thơ ấu trở về.

Cô gật đầu, rất nhẹ, thoảng như một làn gió xuân dịu mát, tỏ ý rằng mình bằng lòng gả cho Seryozha.

Tuy nhiên, vì Seryozha vẫn phải công tác xa nhà, nên việc cử hành hôn lễ cũng không thể diễn ra quá nhanh chóng.

Vào mùa hè năm 1925, Seryozha và Elzira mới có thể kết hôn.

Họ sinh ra một người con gái tên là Vera vào ngay mùa xuân năm tiếp theo.

Cuộc sống của Seryozha dường như đã viên mãn và đầy yên bình, trước khi sóng gió một lần nữa ập đến với anh.

Elzira, vì di chứng của việc sinh khó, đã qua đời khi vừa hạ sinh đứa con thứ hai.

Khi đó Vera chỉ mới mười một tuổi.

Seryozha lâm vào tình trạng trầm tư, chỉ biết đâm đầu vào công việc để quên đi nỗi đau mất đi người mà anh yêu thương nhất.

Đứa trẻ vừa được sinh ra, Fyodor được chị gái và ông nội, bác sĩ Monoslov, chăm sóc.

- Ta luôn thấy có lỗi với hai đứa trẻ, nhất là Fyodor.

Ta yêu mẹ của chúng, yêu rất nhiều.

Thiếu bà ấy ta dường như không sống được.

Nhưng điều đó không phải là lý do để ta biện hộ về việc ta đã bỏ lỏng việc chăm sóc chúng.

Hai đứa trẻ hiểu chuyện rất sớm, chúng chưa từng oán trách ta.

Hiện tại, Vera đang nối nghiệp ông nó, là một thầy thuốc.

Còn Fyodor thì tiếp nối con đường binh nghiệp của ta.

Đôi mắt già nua của người lính già lấp lánh ánh nước.

Tôi chủ động đưa bao diêm cho Seryozha.

Điếu thứ bảy, tôi nhẩm đếm.

Có lẽ nghiện thuốc cũng là một hệ lụy của hội chứng sang chấn hậu chiến tranh.

- Tháng Bảy năm 1938, vụ xung đột hồ Khasan nổ ra, trở thành lý do cho sự bùng nổ của sự các cuộc xung đột biên giới giữa nước ta và Nhật Bản từ năm 1932, đỉnh điểm là Chiến dịch Khalkhyn Gol.

Sau đó, Thế Chiến thứ hai nổ ra.

Ta cũng phải ra trận, hai đứa trẻ cùng với ông nội cũng chỉ đành nương tựa vào nhau.

Ta thật sự không phải là một người con hay người cha tốt.

Cha của ta đã mất, chỉ một năm ngay trước khi chiến tranh kết thúc.

Ta chưa từng trả hiếu cho ông được như ta đã hứa.

Tôi không biết phải nói gì trong thời điểm này.

Lật một trang mới trong sổ tốc ký ra, tôi hí hoáy một lúc các đường nét, cố tỏ ra bận rộn để khoảng thời gian này không bị trì xuống.

Nhưng tiếng khò khè từ phía người ngồi đối diện tôi ngày càng to hơn, dần chuyển thành tiếng nức nở.

- Ta càng không phải là một người chồng tốt.

Ta đã thề là sẽ mãi mãi chỉ yêu một mình Elzira.

Nhưng ta lại một lần nữa phải lòng một người, chỉ vì cô ấy trông rất giống Elzira.

Ta gặp cô ấy giữa những ngày chiến tranh ác liệt nhất.

Suối tóc dài vàng óng và đôi mắt xanh thăm thẳm như đại dương.

Đã có lúc ta đã tưởng như Elzira đã tái sinh.

Cô ấy là Katya Pasternak, một chiến sĩ tình báo Hồng Quân.

Tôi ngẩng đầu lên khỏi mấy nét vẽ nguệch ngoạc của mình, hỏi lại một cách hơi vội vàng, điều này khiến cho tôi cảm thấy hối hận ngay sau đó.

- Vậy là một lần nữa bác lại tìm thấy được hạnh phúc?

- Ta ước là như thế.

Nhưng Katya chưa một lần để mắt đến ta.

Tình yêu của cô ấy, một thứ thật xa vời với ta, lại được ban phát cho một chỉ huy của kẻ thù.

Tình yêu hai đầu chiến tuyến sao?

Tôi lấy làm mong chờ được nghe về mối tình của người phụ nữ tên Katya Pasternak này.

Nhưng tôi không dám hỏi tiếp, sợ rằng cảm xúc dâng trào quá cao sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của vị cựu binh lớn tuổi này.

Seryozha đoán được sự tò mò của tôi.

Ông dụi đầu điếu thuốc đang hút vào gạt tàn, cất lên một chất giọng trầm trầm cố nén nỗi đau.

- Phiền cháu lấy giúp ta thêm một tách cà phê, sau đó ta sẽ kể cho cháu biết về Katya.

Tôi vội buông giấy bút đứng dậy đi rót cà phê.

Cũng phải mất một lúc vì cà phê trong ấm đã nguội đi nhiều nên tôi cần đun ấm lại.

Ngần ấy thời gian cũng đủ để Seryozha tự trấn an mình khỏi những nỗi đau trong quá khứ.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Chương 5: Ranh giới


Đó là một ngày đông năm 1941, trong lúc cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại đang bước vào thời kỳ nóng bỏng nhất.

Chiến trường Rostov rực lửa đã chứng kiến cuộc phản công của các Tập đoàn quân số 9, 12, 18 và 56 của Hồng Quân Soviet trên sông Donu để chống lại Tập đoàn quân số 17 và Tập đoàn quân xe tăng số 1 của Đức Quốc Xã.

Đó cũng là lúc Seryozha nhìn thấy bóng dáng một làn tóc vàng óng, làn da trắng ngà và đôi mắt xanh lấp lánh của Katya Pasternak trong lực lượng dự bị được chuyển đến chi viện cho khu vực Rostov.

Lần đầu tiên khi bóng hình đó lướt qua Seryozha, anh đã ngỡ như gặp lại được Elzira một lần nữa.

Đã bốn năm kể từ ngày Elzira qua đời, anh chưa từng nghĩ mình sẽ gặp một người giống bà đến thế.

Nhưng Seryozha lại một lần nữa ngần ngại.

Năm nay anh đã ba mươi bảy, cũng đã đứng tuổi, lại có hai đứa con.

Còn Katya lại quá trẻ trung xinh đẹp.

Hơn nữa cuộc chiến tranh Vệ quốc còn gian nan trước mắt, lính Đức vẫn còn ở trên lãnh thổ nước Nga, anh đâu thể vì tình riêng mà lơ là nghĩa vụ.

Thôi thì mối tình này anh đành để lại một mình anh biết.

Ngày bốn tháng Mười Một năm 1941, tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist phát động cuộc tấn công vào Rostov sớm hơn dự kiến, do hệ lụy của việc một sĩ quan tham mưu của sư đoàn xe tăng 16 Đức bị các binh sĩ của Tập đoàn quân 56 Soviet bắt được khi đang chuyển kế hoạch tác chiến đến các đơn vị và làm lộ bí mật về kế hoạch của cuộc tấn công.

Mười sáu giờ ngày hai mươi mốt tháng Mười Một, Tập đoàn quân xe tăng số 1 của Đức tiến vào thành phố Rostov.

Seryozha được phân phó để xâm nhập vào một đơn vị cơ giới thuộc Tập đoàn quân xe tăng số 4 do đại úy Aksel Schulz chỉ huy.

Vốn dĩ vẫn có dòng máu Đức từ phía họ ngoại, anh có ngoại hình hao hao người Đức và cũng rất nhanh đã có thể thông thạo tiếng Đức.

Anh thâm nhập vào doanh trại của Aksel dưới cái tên chuẩn úy Kaiser Müller, sử dụng danh tính của một lính tăng đã bị bắt giữ hai hôm trước.

Mọi sự đều suôn sẻ cho đến một ngày, khi quân đội Đức đang rút khỏi Rostov sau trận phản công của Hồng Quân sang bên kia bờ sông Mius, Seryozha đã nhìn thấy đại úy Aksel bế một bóng hình quen thuộc trong bộ váy đen vội vàng chạy vào lều quân y.

Aksel đặt cô gái mà hắn vừa phát hiện sau ụ tuyết ven đường lên một chiếc giường dã chiến.

Mái tóc óng vàng xổ tung ra, rũ rượi trên khuôn mặt đã tái đi vì lạnh của cô.

Hắn gào lên với những người lính quân y xung quanh.

- Nước nóng, lấy cho tôi một chậu nước nóng!

Lạy Chúa, các người không thấy cô ấy sắp chết cóng rồi à?

Thứ thời tiết chết tiệt ở cái nơi đáng nguyền rủa này sắp giết cô ấy rồi.

Nhanh cái tay lên!

Lấy cả vật dụng băng bó nữa!

Seryozha cố tình lướt qua cửa lều, vừa hay lọt vào tầm mắt của Aksel.

Hắn lớn giọng gọi anh vào, sau đó ném cho anh một chiếc túi da nhỏ có dính vài vệt máu nhỏ đã chuyển sang màu nâu sẫm.

- Này chuẩn úy, vào đây.

Cậu giúp tôi tìm xem cô ấy có mang theo giấy tờ gì trong túi này không.

Tôi muốn biết danh tính của cô ấy.

Seryozha lướt nhanh ánh mắt qua thân hình đang nằm trên giường, đúng là Katya Pasternak.

Anh nhanh chóng nắm bắt được tình hình hiện tại, trong khi tay dốc ngược chiếc túi ra mặt bàn bên cạnh giường.

Một cuốn sổ sĩ quan rơi ra khỏi túi cùng mấy món đồ tùy thân khác.

Anh cầm nó lên đưa cho Aksel.

- Asvoria Schäfer, cấp bậc trung sĩ, chức vụ sĩ quan lưu trữ thông tin, đơn vị hậu cần, Tập đoàn quân xe tăng số 1.

Cô ấy là người của tướng Kleist, có thể cô ấy bị bỏ lại khi bọn họ vượt sông Mius.

Aksel mở sổ ra và đọc.

Seryozha nhìn chằm chằm vào thân hình mà anh yêu thầm trong suốt thời gian qua.

Hơi thở nàng thoi thóp khó khăn, đôi mắt nàng nhắm nghiền vô định.

Bộ quân phục Wehrmacht rách tả tơi, có vài vết đạn sượt qua.

Với trí thông minh bẩm sinh và nghiệp vụ được học, Seryozha nhanh chóng hiểu được kế hoạch.

Nhưng kế hoạch này quá nguy hiểm, Katya có thể chết trước khi kịp thâm nhập vào nơi này.

Mười lăm phút sau, sĩ quan quân y mới thở phào thông báo.

- Cô ấy đã tỉnh lại.

Trước khi Seryozha kịp phản ứng, Aksel đã cúi xuống cạnh giường bệnh.

Người con gái nằm trên giường nhấp nháy mắt rồi bật dậy choàng tỉnh.

Aksel nắm lấy đôi vai của cô trấn tĩnh:

- Trung sĩ Schäfer, không sao nữa rồi, cô đã an toàn.

Đây là doanh trại của Tập đoàn quân xe tăng số 4, cô đang ở trong tầm kiểm soát của Đế Quốc Đức hùng mạnh.

Nét mặt Seryozha thoáng qua đôi chút ý coi thường.

Tuy có dòng máu Đức chảy trong huyết mạch, nhưng chưa bao giờ Seryozha hết căm thù chế độ tàn ác dưới trướng Adolf Hitler, một chế độ luôn tự phụ về sự thuần chủng và thượng đẳng của chủng tộc Aryan, một chế độ đã gây ra rất nhiều tội ác chiến tranh.

Ngay cả riêng bản thân Aksel Schulz cũng có rất nhiều tội trạng diệt chủng treo trên đầu.

Seryozha càng nghĩ, bàn tay đã siết chặt trong vô thức, anh lại càng muốn nhanh chóng hoàn thành tốt nhiệm vụ này, đuổi đám người Đức kia ra khỏi lãnh thổ nước Nga mỹ miều.

Suốt mấy tháng tiếp theo, Katya Pasternak gần như quấn lấy Aksel Schulz.

Cô gần như chiếm lấy được sự tin tưởng tuyệt đối của hắn.

Aksel Schulz là một tên máu lạnh.

Tay hắn đã dính không biết bao nhiêu là máu.

Máu của người Do Thái, máu của người Ba Lan và cả máu của người Nga, máu của rất nhiều người Nga.

Ấy vậy mà, không hiểu vì lý do gì mà hắn lại có thể dễ dàng rơi vào lưới tình như thế.

Một đêm tháng Tư năm 1942, Seryozha gặp Katya sau một cuộc hẹn từ trước.

Katya lên tiếng ngay khi gặp được Seryozha.

- Tôi nhận được thông tin Đại bản doanh của Hitler đã ra một bản huấn thị cho cuộc chiến sắp tới.

Ngày mai tên Schulz sẽ có việc phải ra ngoài.

Chín giờ tối mai, đồng chí hãy đến văn phòng của hắn, mật hiệu là ba - hai - năm.

Tôi sẽ lấy bản huấn thị từ nơi cất giữ trước, chúng ta sẽ cùng nhau biến mất khỏi đây.

Seryozha gật đầu ra hiệu đã hiểu.

Anh nhìn ra rặng cây phía xa xa, bâng quơ nêu thêm ý kiến của mình.

- Tôi có thể liên hệ để người của chúng ta chặn đường tiêu diệt tên Schulz nếu đồng chí báo với tôi sớm hơn về việc hắn rời khỏi doanh trại.

- Không, không được…

Phản ứng của Katya nằm ngoài sự mong đợi của Seryozha, làm anh không khỏi giật mình.

Vì sao Katya lại phản ứng mạnh đến thế?

Anh nhìn cô đầy ngạc nhiên.

Đôi mắt xanh lấp lánh ấy ngay lập tức lảng tránh ánh nhìn của anh.

Anh trầm giọng xuống một tông thấp nhất.

- Katya, hắn là một tên Đức Quốc Xã, là kẻ thù của chúng ta.

Chính tay hắn đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng người Nga cô có biết không?

Katya trả lời, vẫn không nhìn vào Seryozha.

- Anh nghĩ nhiều rồi Seryozha.

Chỉ là…

Chỉ là tôi không muốn đánh rắn động cỏ.

Một cái mạng của hắn không đáng để mạo hiểm đại cuộc.

Thời gian qua tôi chỉ lợi dụng tình cảm của hắn để lấy thông tin.

Ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau rời khỏi nơi này, và sẽ không bao giờ nhìn thấy hắn thêm lần nào nữa.

Seryozha thở ra một hơi dài.

Katya chưa bao giờ nói dối tệ như lần này.

Nhưng Seryozha tin đó cũng chỉ là chút tình cảm thoáng qua.

Sau khi trở về phía bên kia chiến tuyến, sẽ nhanh thôi, cô ấy sẽ không còn nhớ thứ tình cảm với tên tội phạm chiến tranh đó nữa.

Nhưng, niềm tin của Seryozha đã sai, ít nhất là trong lần này.

Chín giờ tối hôm sau, Seryozha bước đến trước cửa văn phòng của Aksel Schulz.

Ba - hai - năm, mật hiệu mà Katya đã giao hẹn.

Tiếng khóa cửa bật mở, khung cảnh bên trong làm Seryozha thoáng chốc rùng mình.

Aksel Schulz thoi thóp trên sàn nhà đầy máu, quân phục đen thấm đẫm thứ chất lỏng đỏ thẫm đó.

Bên cạnh hắn là con dao găm yêu thích, thứ hắn luôn tự hào đặt trên giá nơi bàn làm việc.

Đôi mắt hắn mờ đục vô định.

Katya mắt đẫm lệ, dường như mất đi hoàn toàn sức sống.

Seryozha không cần suy nghĩ nhiều.

Anh nắm vội lấy tay Katya.

Anh cần đưa cô rời khỏi nơi này.

Nhưng rồi, cô lại vùng tay mình ra khỏi tay anh, đưa nhanh cho anh một chiếc phong bì lớn.

- Đi đi, rời khỏi nơi này mà không có tôi.

Tôi xin lỗi, Seryozha.

Bọn họ sẽ đợi anh trong rừng, vẫn là ba - hai - năm, hãy đáp lại họ bằng bốn - tám - một.

Đi đi Seryozha, và hãy quên tôi đi.

Katya đã yếu lòng như thế.

Thứ tình cảm giả tạo đó không biết từ khi nào lại trở thành sự thật.

Cô đã yêu, yêu một kẻ thù của nước Nga, của dân tộc Nga.

Cô thật sự không thể hiểu trái tim của mình nữa rồi. thứ tình yêu ngang trái đó đang lấp lánh trong đôi mắt xanh như bầu trời của cô.

Seryozha buông thõng cái nắm tay.

Anh hiểu rồi.

Thứ tình cảm đó không hề chỉ là thoáng qua.

Katya chưa bao giờ dành tình cảm cho anh, chưa bao giờ.

Anh nhìn lại hình ảnh trước mắt, cũng là ngẫm lại trái tim anh.

Đã bao giờ anh thật sự yêu Katya Pasternak, hay đó chỉ đơn giản là hình bóng của Elzira đã ám ảnh anh, khiến anh ngộ nhận đấy là tình yêu?

Thứ suy nghĩ đó vẫn ám ảnh lấy tâm trí Seryozha, khi mà anh băng qua khoảng rừng trong đêm đen tĩnh mịch.

Phía xa xa, một ánh đèn lấp lánh chớp nháy.

Ba - hai - năm, từng nhịp, từng nhịp sáng nhập nhòe trong màn đêm.

Anh nhặt lên hai viên đá nhỏ, rồi gõ chúng vào nhau.

Bốn - tám - một.

Ba người lính Hồng Quân xuất hiện ngay lập tức.

Một thượng sĩ nghiêm mình chào Seryozha, rồi hạ thấp giọng hỏi.

- Đồng chí Seryozha Monoslov, chúng tôi y lệnh đến đón đồng chí cùng với đồng chí Katya Pasternak.

Cho tôi hỏi…?

Seryozha lấy ra chiếc phong bì được đóng dấu "tuyệt mật" và “Huấn thị số 41” phía trên, đưa cho viên thượng sĩ, rồi mới lắc đầu nói trong vô hồn.

- Cô ấy hy sinh rồi, tiêu diệt được Aksel Schulz.

Katya Pasternak là một anh hùng.

Seryozha không kiềm được lòng nữa.

Anh nở ra một nụ cười chua chát trong nước mắt, rồi dần dần biến nó thành một tràng cười điên loạn.

- Cô ấy chết rồi, cô ấy bỏ tôi mà đi, bỏ lại tôi giữa cuộc chiến ác liệt này mà đến thiên đường.

Cô ấy…

Cô ấy ra đi khi mà chưa biết tôi yêu cô ấy đến nhường nào.

Viên thượng sĩ đứng nhìn đăm đăm vào người đàn ông trước mặt.

Tình yêu thời chiến là thế.

Còn gì đau khổ hơn khi nhìn thấy những người mình yêu thương rời bỏ mình.

Hai người lính còn lại định tiến lên đỡ lấy Seryozha, nhưng viên thượng sĩ đã cản họ lại.

- Để anh ấy như thế một lúc sẽ tốt hơn.

Tôi hiểu Seryozha, anh ấy đã mất rất lâu để có thể gác lại đau buồn sau cái chết của người vợ cũ.

Không dễ dàng gì anh ấy lại phải lòng một người, ấy vậy mà…

Số phận thật ác liệt với anh ta.

Chiến tranh thật ác liệt…

Với tất cả chúng ta.

Một giọt lệ trong suốt rơi xuống, làm ướt trang sổ tốc ký của tôi.

Cuộc đời thật ác liệt với Seryozha.

Người lính già chậm rãi nhấp lấy một ngụm cà phê.

Trong gạt tàn đã có chín mẩu thuốc.

- Đầu tháng Năm năm 1945, tướng Helmuth Weidling đầu hàng vô điều kiện trước tướng Vasily Chuikov và rất nhanh sau đó, cháu thấy đấy, chúng ta có ngày Chiến Thắng.

Cuộc chiến đó đã kết thúc như thế đấy.

Nói đến đây, người lính già lại đốt thêm một điếu thuốc nữa.

Tròn mười điếu cho một buổi phỏng vấn kéo dài ba tiếng, một con số không tưởng.

Tôi đặt một dấu chấm cuối cùng cho câu chuyện vừa rồi, cũng như bài phỏng vấn của mình.

Phía ngoài cửa sổ, ánh nắng chiều tà đang dần nhạt đi.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Ngoại truyện 1: Aksel Schulz


Hắn sinh ra cuối thời kỳ của Đế Quốc Đức, lớn lên trong thời kỳ của Cộng Hòa Weimar, và rồi phục vụ cho quân đội Đức Quốc Xã.

Những thời kỳ biến đổi liên tục đầy bất ổn đó đã tạo ra hắn, đại úy Aksel Schulz máu lạnh và đầy tham vọng.

Hắn có ngại chà đạp lên sinh mạng của con người không?

Không hề.

Với hắn, chỉ có chủng tộc Aryan thuần chủng và thượng đẳng mới xứng đáng với hai chữ “con người”.

Bọn Do Thái, bọn Ba Lan, và những dòng máu lai tạp khác chỉ đơn giản là đám hạ đẳng mà thôi.

Thế giới gọi Holocaust là nạn diệt chủng, nhưng với Aksel Schulz, đó chỉ đơn giản là cuộc thanh tẩy những thứ rác rưởi bụi bặm ra khỏi sự thanh thuần của dòng máu Aryan.

Aksel Schulz là một hình mẫu điển hình của chủng tộc Aryan.

Hắn cao lớn với những bắp thịt chắc khỏe, sở hữu làn da trắng, đôi mắt xanh như ngọc bích và mái tóc bạch kim dường như có thể phát sáng.

Hắn có một vẻ đẹp lạnh lùng đến khó tả, khiến không ít người rùng mình vì ánh mắt sắc bén của hắn.

Thiếu thời, là người thừa kế duy nhất của gia tộc Schulz, một gia tộc thân tín kề cận bên cạnh hoàng gia Đức, Aksel tưởng chừng rằng đã nắm chắc một chức tước hoàng gia nào đó trong tay.

Cũng có lúc, người ta đồn đại rằng, hắn sẽ chính thức trở thành Bá Tước Aksel Schulz khi tròn hai mươi tuổi.

Thế nhưng, cuộc cách mạng tháng Mười Một nổ ra, cướp đi cái danh hiệu Bá Tước tương lai của hắn.

Cái danh hiệu đó cứ thế trôi tuột ra khỏi tầm tay hắn cùng với sự thoái vị của Hoàng Đế Wilhelm Đệ Nhị.

Hắn luôn luôn không thích chuyện này, không thích ra mặt.

Hắn thích cái cách hắn thượng trên cao, thích cái cách bọn nông dân luồn cúi trước hắn.

Hắn yêu cuộc sống quý tộc giàu có.

Song thân của hắn, Bá Tước Klaus Schulz cùng phu nhân, không đánh giá quá cao việc dành thời gian cho đứa con trai độc nhất.

Thay vào đó, họ thích những buổi hội hè với giới quý tộc thượng lưu hơn.

Chính vì thế, Aksel ngay từ nhỏ đã không mấy mặn nồng với thứ gọi là tình cảm gia đình.

Hắn chưa từng có ý định thành gia lập thất với bất cứ cô gái nào.

Cuộc sống vương giả chỉ cho hắn sự ích kỷ và tham vọng.

Aksel Schulz, sau này khi đã làm một sĩ quan Wehrmacht, đã được đánh giá là một cỗ máy chiến tranh không hề có tình người.

Chính vì thế, chế độ độc tài Đức Quốc Xã của Adolf Hitler phù hợp với hắn hơn là chế độ Cộng Hòa Weimar.

Năm 1935, hắn là một trong số những thanh niên đầu tiên gia nhập lực lượng Wehrmacht.

Đến năm 1939, hắn lúc đó đã mang quân hàm trung úy, được phân phó vào Tập đoàn quân xe tăng số 1, binh chủng Lục Quân.

Sau đó ít lâu, khi được thăng quân hàm đại úy, hắn được thuyên chuyển sang làm chỉ huy một đơn vị cơ giới thuộc Tập đoàn quân xe tăng số 4, dưới trướng tướng Erich Hoepner.

Hắn, với tính khí tham vọng từ nhỏ, đã chà đạp biết bao nhiêu mạng sống con người trong chiến dịch Barbarossa.

Hắn thề sẽ lấy mạng sống của bọn người Slav vùng phía Đông làm bàn đạp, mang vinh quang và vùng lãnh thổ rộng lớn ấy về cho Quốc Xã.

Dường như tình yêu không tồn tại trong trái tim lạnh giá của Aksel Schulz, cho đến khi Asvoria Schäfer xuất hiện, giữa cái lạnh cắt da cắt thịt cuối tháng Mười Một ở Rostov.

Đó là một ngày đông u ám lạnh thấu xương, sau khi lính Đức đã rút dần quân số ra khỏi thành phố Rostov qua bên kia tuyến sông Mius.

Đêm hôm qua đây thôi, hắn nhận được thông tin sư đoàn cơ giới SS Viking cùng các sư đoàn xe tăng số 1 và sư đoàn xe tăng số 16 đã bị đánh bại ở phòng tuyến sông Tuzlov, khiến tướng Paul von Kleist phải rút số tàn quân còn lại của Tập đoàn quân xe tăng số 1 về lại phía bên này bờ sông Mius.

Ở đó, một lần nữa họ đã đụng độ với quân du kích Soviet.

Dù đã rút được quân số khỏi bãi tập kích, nhưng Aksel muốn đích thân xem xét liệu họ còn bỏ sót thứ gì ở đó không.

Và đúng, họ đã bỏ sót một thứ.

Hiện trường sau trận đánh quá khốc liệt.

Xác người nằm la liệt, máu khô nhuộm đen tuyết trắng.

Aksel lướt nhanh qua những xác, lính Wehrmacht nằm lẫn với lính Hồng Quân thành một mớ hỗn độn.

Các khí tài có thể dùng được dường như đã bị phía Hồng Quân thu dọn sạch sẽ.

Mọi thứ yên ắng và hoang tàn đến mức đau thương.

Aksel sải những bước lớn trong lớp tuyết dày, thầm nguyền rủa thứ thời tiết khắc nghiệt và cả bọn Hồng Quân người Slav, cho đến khi, hắn nghe thấy một tiếng thở, rất nhỏ, vang lên nhè nhẹ rồi tắt ngúm như thể nó chưa từng tồn tại.

Aksel ngừng bước, toàn thân bất động, để có thể tìm ra nơi phát ra tiếng thở vừa rồi.

Và rồi, hắn thấy một chuyển động rất nhỏ nơi ngực áo bộ quân phục Wehrmacht trên thân hình đang gục bên một ụ tuyết lớn.

Một nữ hạ sĩ quan, cô ấy vẫn còn sống.

Aksel đến bên cô gái đó.

Mái tóc vàng của cô lẽ ra nên được búi gọn lại xổ tung ra, xoã lên gương mặt trắng bệch đi vì lạnh.

Đôi môi cô tái đi, khô không khốc.

Hơi thở của cô yếu ớt đến độ gần như vô hình, khi có khi không.

Nhưng cô vẫn còn sống, hoặc ít nhất là vẫn còn thoi thóp cận kề cái chết.

Không ai biết điều gì đã xảy ra trong trái tim lạnh giá của Aksel Schulz, nhưng lần đầu tiên trong đời, hắn muốn cứu sống một ai đó.

Hắn bế xốc cô lên, băng nhanh qua làn tuyết trắng dày đặc, trở về doanh trại dã chiến.

Sau khi Asvoria Schäfer, nữ hạ sĩ quan của Tập đoàn quân xe tăng số 1 mà Aksel cứu sống ngoài hiện trường chiến sự sông Mius, bình phục một chút, đơn vị của Aksel Schulz cũng cần phải di dời về đại bản doanh.

Aksel đành phải mang Asvoria theo cùng với mình.

Hắn phải công nhận là Asvoria rất "ngoan", theo đúng ý của hắn.

Ba tháng tiếp theo, Asvoria đã triệt để có được lòng tin của Aksel.

Lúc đầu, hắn cũng có ý định đánh điện cho các sĩ quan dưới trướng tướng Kleist để xác nhận về nhân dạng của cô.

Nhưng rồi do quá bận rộn, và cũng do biểu hiện của Asvoria cho thấy cô thật sự là một người Aryan đúng nghĩa, Aksel dần bỏ qua ý định đó.

Hắn buông lỏng cảnh giác với Asvoria, một phần là vì hắn nhận ra bản thân có một cảm giác rất lạ với Asvoria.

Gần bốn mươi tuổi, Aksel Schulz mới hiểu thế nào là tình yêu.

Asvoria là một làn gió mùa xuân ấm áp thổi vào trái tim băng giá của hắn.

Hắn không thể lý giải được chuyện gì đã xảy ra trong hắn.

Phần "người" của hắn đã trỗi dậy sao?

Hắn đã từng nghĩ đến việc hỏi cưới Asvoria Schäfer, rồi cả hai sẽ tránh xa chốn quân trường ám mùi thuốc súng và máu đỏ, để xây dựng một chốn bình yên cuối đời.

Asvoria đã khiến hắn ngẫm lại những tội ác chiến tranh mà chính hắn đã gây ra trong quá khứ.

Thế nhưng, tình yêu đã trừng phạt hắn, giết chết hắn như cái cách hắn đã từng làm trước đây, với mạng sống của người Nga.

Một ngày tháng Tư năm 1942, khi hắn đang dùng bữa sáng với Asvoria thì viên hạ sĩ quan thư ký của hắn đem đến một phong bì to được đóng dấu "tuyệt mật".

- Thưa đại úy, phía văn thư vừa đem thứ này đến từ đại bản doanh của Quốc Trưởng.

Aksel Schulz hất đầu ra hiệu.

Viên hạ sĩ quan hiểu ý, đặt phong bì lên bàn làm việc của hắn rồi nhanh chóng lui ra.

Aksel buông lỏng vòng tay quanh eo Asvoria rồi đứng dậy, đến bên bàn làm việc cầm phong bì lên.

Hắn liếc nhanh về phía Asvoria.

Hắn yêu cô, nhưng hắn đã biết bí mật của cô.

Hắn cũng mới vừa nhận ra đêm qua đây thôi, rằng cô không phải là người Đức.

Chính vì thế, dù có yêu cô đến mức độ nào, hắn vẫn không thể để cô nắm được bí mật của Đế Chế.

Hắn không thể hiểu nổi bản thân hắn đang lâm vào tình trạng gì, nhưng hắn hoàn toàn không muốn Asvoria rời xa hắn, mặc kệ rằng cô có thật sự yêu hắn hay không.

Asvoria nhận thấy ánh nhìn của Aksel, ngay lập tức chuyển ánh nhìn ra ngoài cửa sổ.

Hắn nhanh chóng đặt phong bì vào ngăn kéo bí mật trên bàn.

Hắn không hề hay biết rằng Asvoria đã biết vị trí cũng như cách mở ngăn kéo này từ lâu.

Sau khi chắc chắn rằng Asvoria không nhìn thấy gì lúc bản thân cất giấu phong bì tuyệt mật, hắn mới lên tiếng gọi cô

- Asvoria, con chim câu bé nhỏ của anh.

Theo chỉ thị của đại bản doanh, tối ngày mai anh cần phải ra ngoài một chuyến.

Em không cần sang chỗ anh đâu.

Asvoria gật đầu, vẫn là bộ dạng ngoan ngoãn ấy.

Nhưng Aksel Schulz đã nói dối.

Hắn chỉ muốn tìm một cái cớ để có thể ở một mình trong văn phòng và đọc tài liệu trong chiếc phong bì đó.

Giữ Asvoria tránh xa những thứ cô muốn đồng nghĩa với giữ cho cô sống và vẫn kề cận bên hắn.

Hắn chỉ không nghĩ đó là một cái cớ rất tồi và khiến mọi thứ đi đến một sai lầm nghiêm trọng.

Trăng đã lên cao, ánh đèn trong phòng nhập nhòe, Aksel Schulz đang nằm trên sàn nhà lạnh giá, bên cạnh là con dao găm bằng bạc và chiếc phong bì tuyệt mật.

Asvoria quỳ bên cạnh hắn, đôi mắt xanh đã đầy nước.

Hắn hiểu rồi, hắn đã có được câu trả lời cho bản thân hắn.

Asvoria cũng yêu hắn, chỉ là, tình yêu của cô cho mảnh đất giá lạnh rộng lớn ở phía Đông kia mãnh liệt hơn rất nhiều.

Hoá ra là người Nga vẫn có thể đẹp đến thế.

Hoá ra là người Nga vẫn có thể khiến hắn yêu đến điên cuồng như thế.

Có lẽ hắn đã sai khi đi theo tư tưởng Aryan thượng đẳng kia.

Hắn đã ngẫm ra rồi, chính thứ lý tưởng diệt chủng kia đã biến hắn thành một thứ quái thú chiến tranh.

Đến phút cuối cùng của sinh mạng, hắn mới hiểu được thế nào mới là "con người".

Hắn chưa từng xứng đáng với hai chữ "con người".

Nếu có thể quay ngược thời gian, hắn nhất định sẽ không để bản thân biến thành một thứ công cụ chiến tranh cho những mục đích độc tài của thứ Đế Chế mà hắn đã từng trung thành.

Ánh sáng đã tắt.

Sinh mệnh của hắn đã tắt.

Linh hồn của hắn rời khỏi thể xác, bước đến trước tòa án của thần chết, nơi mọi tội lỗi của hắn nơi chiến trường sẽ được đem ra phán xét.

Hắn mỉm cười một lần cuối, vì ít ra, trong những giây cuối cùng ấy, hắn đã kịp nhận ra tội lỗi của hắn.

Hắn sẽ chấp nhận mọi phán quyết, chỉ mong rằng nếu có kiếp sau, hắn sẽ tìm thấy Asvoria, cùng sống một kiếp bình an.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Ngoại truyện 2: Katya Pasternak


Nếu nói về tuổi thơ, thì tuổi thơ của Katya Pasternak là một khoảng thời gian êm đẹp nhưng cũng rất khó khăn.

Sinh ra trong một gia đình binh nghiệp, trên cô có hai người anh và dưới cô có thêm một người em trai.

Là đứa con gái duy nhất trong nhà, cô được hưởng hết sự yêu chiều của cha mẹ và các anh.

Cuộc sống của gia đình Pasternak tuy có phần thiếu thốn nhưng lại tràn ngập tiếng cười.

Katya lớn lên, trẻ trung, thông minh và xinh đẹp.

Cô có mái tóc dài vàng ươm như nắng mùa thu và đôi mắt xanh thẳm như bầu trời.

Katya là đứa trẻ sáng dạ nhất nhà Pasternak.

Cô đọc rất nhiều sách, và biết chút ít tiếng Đức cũng như tiếng Pháp.

Katya là niềm tự hào của gia đình.

Nhưng bất hạnh lại đến với gia đình Pasternak vào những năm Thế Chiến thứ hai.

Cha và hai anh trai của Katya đã ngã xuống trong trận Khalkhyn Gol năm 1939.

Điều đó thúc đẩy hai đứa con cuối cùng của nhà Pasternak gia nhập Hồng Quân.

Katya được đưa đi huấn luyện cho các nhiệm vụ đặc biệt do có một trí thông minh tuyệt vời.

Đứa con trai út nhà Pasternak thì theo đơn vị trở về phòng tuyến ở biên giới Đức sau khi Hiệp ước bất xâm phạm Nhật - Soviet được ký kết tháng Tư năm 1941, do sự dòm ngó của Đế Chế thứ ba với âm mưu xâm lược Liên Bang Soviet.

Mùa đông năm 1941, Katya được chuyển đến phòng tuyến Rostov ven sông Mius để đợi thời cơ thâm nhập vào phía lính Đức.

Đó cũng là lúc Seryozha Monoslov đã gặp và nhanh chóng rơi vào tương tư với Katya.

Tuy nhiên, đối với Katya, Seryozha chỉ như một người tiền nhiệm.

Cô quý trọng anh, nhưng đó không phải là tình yêu.

Sau trận phản công Rostov, Tập đoàn quân xe tăng số 1 của Đức bị đánh thiệt hại khá nặng nề, một số đơn vị bị tiêu diệt, rất nhiều binh sĩ Wehrmacht bị bắt làm tù binh.

Trong số tù binh có vài nữ hạ sĩ quan hậu cần, và Katya đã chọn danh tính của trung sĩ Asvoria Schäfer, một sĩ quan lưu trữ thông tin để phục vụ cho việc thâm nhập vào phía lính Đức.

Thứ cô cần là một lý do thuyết phục.

Vụ mai phục của Hồng Quân bên bờ sông Mius trên đường quân Đức rút lui khỏi Rostov là một cơ hội tốt.

Katya tự đề xuất tự biến bản thân thành một nữ sĩ quan Wehrmacht bị thương sau vụ mai phục và tìm cách để được đưa về lều quân y dã chiến của lính Đức.

Có vài người đồng chí đã phản đối phương án của Katya, nó quá nguy hiểm.

Cô có thể chết trước cả khi có cơ hội đặt chân vào doanh trại Wehrmacht.

Nhưng cô đã quyết tâm thực hiện.

Và Katya đã thành công khi đích thân đại úy Aksel Schulz tìm thấy và mang cô về doanh trại của hắn.

Thời gian đầu, Katya Pasternak chỉ đơn giản là làm nhiệm vụ của mình, theo dõi Aksel Schulz và cố gắng lấy được thông tin từ hắn.

Nhưng dần dần, mọi thứ không còn nằm trong quỹ đạo đã định sẵn nữa.

Aksel Schulz đã rơi vào lưới tình, và Katya Pasternak cũng thế.

Với tất cả những người khác, Aksel Schulz là một cỗ máy chiến tranh, một thứ quái thú máu lạnh, một loại công cụ diệt chủng của người Đức.

Nhưng chỉ riêng đối với Katya, mà đúng ra là người mà hắn gọi là Asvoria, hắn lại dịu dàng và ấm áp đến lạ thường.

Hắn chưa một lần nói yêu cô, nhưng lại đích thân tự tay chăm sóc cô.

Hắn chỉ đơn giản là giữ cô bên cạnh hắn, bảo bọc cô trong vòng tay của hắn.

Và hắn triệt để đặt lòng tin vào cô.

Về phía Katya, cô thật sự không nhận ra từ khi nào cô đã yêu Aksel Schulz.

Chỉ là cô rất thích âm thanh thình thịch vang lên mỗi khi hắn đặt đầu cô gối lên ngực hắn, càng rất thích cái cảm giác ấm áp mỗi khi hắn đặt nhẹ tay quanh eo cô.

Tình cảm chỉ là sự cố phát sinh mà Katya không mong muốn.

Thậm chí, chính bản thân cô còn không biết rằng cô đã yêu Aksel Schulz, cho đến khi Seryozha Monoslov gợi ý việc trừ khử Aksel.

Cảm giác của Katya lúc đó thật sự rất giống với khi cô nghe tin cha và các anh tử trận, một thứ cảm giác mất mát đau đến xé lòng.

Đó là lúc Katya nhận ra bản thân mình đã yêu kẻ thù của quốc gia.

Đêm hôm đó là một đêm rất dài đối với Katya.

Cô trách cứ số phận đã đẩy cô vào nghịch cảnh này.

Giá mà cô và Aksel Schulz không sinh ra trong thời chiến.

Giá mà cô và hắn không nằm ở hai bên chiến tuyến.

Lằn ranh giữa cô và hắn không chỉ là đường biên giới giữa hai quốc gia, mà là lằn ranh của chiến tranh, của thần chết.

Ngay lúc Aksel Schulz nhận ra cô đã biến mất cùng bản huấn thị mật đó, chắc chắn hắn sẽ hận cô đến tận xương tủy, sẽ thề để cô phải chết dưới tay hắn.

Ấy vậy mà, đến phút cuối, Aksel Schulz lại chết dưới tay Katya Pasternak, như một trò đùa trái ngang của định mệnh.

Màn đêm chỉ còn lại một màu tĩnh mịch.

Seryozha Monoslov đã rời đi cùng bản huấn thị.

Trong văn phòng chỉ còn một mình Katya bên cạnh cái xác vô hồn đã dần lạnh đi của Aksel Schulz.

Cô đã chọn ra đi cùng hắn, trốn chạy khỏi thực tế đầy mùi thuốc súng hăng hắc và mùi máu tanh nồng.

Khi bình minh ló dạng vào ngày hôm sau, họ tìm thấy hai thi thể đã lạnh cứng trong văn phòng đại úy Aksel Schulz.

Trung sĩ Asvoria Schäfer gục trên ngực áo của viên đại úy, một vệt lệ vẫn còn vương trên gương mặt xinh đẹp đã chuyển sang màu tái trắng.

Chuẩn úy Kaiser Müller biến mất không vết tích khỏi doanh trại.

Không ai tìm ra bản huấn thị được gửi đến mấy hôm trước, cũng không ai biết được điều gì đã xảy ra.

Trong chiến tranh, không người lính nào có thể thoát khỏi thứ tội ác giết chóc, dù là ở bất cứ phía bên nào của chiến tuyến.

Tất cả đều sẽ bị Chúa phán xét sau khi về với Người.

Tay của Aksel Schulz nhúng chàm, tay của Katya Pasternak cũng đã dính máu.

Chỉ là, liệu Chúa có thương xót cho thứ tình yêu đầy tội lỗi đó hay không?

Và liệu họ có tha thứ cho nhau ở chốn địa ngục thống khổ hay không?

Chiến tranh vào thời điểm đó vẫn còn quá ác liệt, mạng sống của con người vẫn bị tước đoạt hàng ngày, thậm chí hàng giờ.

Từng phút từng giây đều có người ngã xuống.

Tham vọng được đánh đổi trực tiếp bằng mạng người, và lòng trung thành cũng thế.

Mọi sự đều chỉ có thể trông đợi vào bánh xe vận mệnh.

Nhưng có một điều hiện hữu rõ ràng nhất, rằng đôi khi tồn tại lại là sự trừng phạt đáng sợ hơn cả cái chết, khi mà người ở lại phải chịu đựng nỗi cô độc khi chứng kiến những người họ yêu thương nhất phải ngã xuống.

Nỗi đau đó sẽ ám lấy họ cả phần đời còn lại.

Và có lẽ, được nằm xuống trước khi phải chứng kiến quá nhiều lại chính là một ân huệ từ thượng đế ban phát cho những người lính trong thời chiến.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 1 - Chương kết: Cái kết của một kiếp người


Tin tức ấy được gửi đến tôi vào một ngày đầu đông năm 1968, khi tôi vẫn đang cặm cụi bên chiếc máy đánh chữ trong văn phòng của mình.

Cũng đã tám năm sau cái ngày tôi được ngồi với Seryozha Monoslov và đi qua những thăng trầm trong cuộc đời của ông.

Tôi không còn là một cô phóng viên thực tập ngày nào nữa.

Hiện tại tôi đã trở thành một cây bút chủ lực của tờ Pravda.

Kể từ ngày ấy, tôi cũng có đôi lần đến thăm Seryozha.

Lần gần đây nhất cách đây cũng đã hai năm, ngay trước khi gia đình người con trai Fyodor đưa ông chuyển đến sống ở một thành phố khác.

Người cựu binh lúc ấy cũng đã yếu đi ít nhiều, dù theo đánh giá của tôi thì ông vẫn còn khá minh mẫn.

Seryozha Monoslov bây giờ cũng đã ngoài sáu mươi, so với tác hại từ hệ lụy của hội chứng sang chấn hậu chiến tranh, như thế cũng được tính là đã sống khá thọ.

Chính vì điều đó, tôi không mấy ngạc nhiên trước tin tức lần này.

Tôi liếc nhìn đồng hồ, có lẽ tôi sẽ phải tăng ca tối nay để có thể xin nghỉ phép vài ngày tiếp theo.

Tôi cần phải đến một nơi cách chỗ tôi rất xa, và làm một điều rất quan trọng.

Tờ mờ sáng hôm sau, tôi khởi hành sớm nhất có thể.

Từ Moskva đến Volgograd mất đến sáu trăm dặm đường và tôi thì lại không muốn chậm trễ.

Suốt cả quãng đường dài lê thê, tôi thật sự sợ rằng mình đến muộn.

Trong lòng tôi như đang có lửa đốt.

Bức điện tín được gửi đến ngày hôm qua cho tôi biết rằng Seryozha đang trong thời điểm cận kề với cái chết và ông ấy muốn tôi đến thăm.

Tôi biết mình nên đến gặp ông lần cuối.

Chiều muộn hôm đó, tôi gõ cửa căn nhà của gia đình Monoslov, Fyodor đã mở cửa cho tôi.

Chúng tôi đã gặp nhau vài lần khi gia đình họ vẫn còn ở Moskva.

Chính anh cũng là người đã đánh điện cho tôi về tình hình của Seryozha.

Trong căn phòng khách nhỏ ấm cúng, một đứa bé tầm hơn một tuổi đang nghịch vài món đồ chơi làm bằng gỗ, đôi mắt xanh hơi ngả sang màu xám tròn xoe nhìn tôi đầy nét lạ lẫm.

Fyodor bế đứa trẻ lên tay, nói với tôi bằng giọng run run.

- Tôi rất mừng vì cô đã đến.

Đây là con trai Mikhail của tôi.

Cha tôi đang ở trên lầu, để tôi dẫn cô lên.

Lần này gặp lại, Seryozha chỉ còn có thể nằm trên giường mà nhìn tôi bằng ánh mắt yếu ớt.

Thế nhưng lạ thay, ông vẫn nhận ra tôi.

Ông nắm lấy bàn tay của tôi, và nói bằng hơi thở đứt quãng khó nhọc.

- Cháu là cô phóng viên của tờ Pravda đúng không?

Thật tốt khi gặp lại cháu ở cái thời khắc cuối cùng của cuộc đời này.

Ta thật sự không muốn phiền tới cháu phải đi một quãng đường dài như thế để đến đây.

Chỉ là ta cần một nhân chứng đáng tin cậy để chứng kiến mấy lời trăn trối của ta, một người biết rõ ta là ai.

Đến thời điểm này thì chỉ có cháu mà thôi.

Ta thì cũng thấy lão thần chết đang mất dần kiên nhẫn khi đợi chờ ta rồi, nên cháu có vui lòng làm nhân chứng cho ta không?

Tôi nhanh chóng đồng ý với Seryozha.

Dù gì tôi cũng đã đến đây rồi.

Hơn nữa, cho đến tận giây phút này, ông cũng chỉ tin tưởng vào tôi, vì tôi đã tận tình cất giữ bí mật của ông suốt tám năm qua, giống như cái cách bác sĩ Monoslov đã làm khi nhận nuôi ông.

Fyodor Monoslov dường như đã rất bất ngờ khi được biết về huyết thống của mình.

Seryozha chậm rãi nhắn nhủ với người con trai.

- Fyodor, con hãy nhớ lời ta, đừng cho Mikhail biết về sự thật này cho đến tận lúc con chuẩn bị nhắm mắt xuôi tay.

Thể chế huy hoàng đó đã lụi tàn, đừng để hào quang cám dỗ thằng bé.

Nó có quyền được biết về dòng máu chảy trong huyết mạch, nhưng hãy để điều đó đến muộn nhất có thể, như cách ta đang làm với con.

Đêm hôm đấy, tôi lưu lại ngôi nhà của gia đình Monoslov.

Và cũng chính trong đêm hôm ấy, thần chết đã đón Seryozha đi, thật nhẹ nhàng trong giấc ngủ êm đềm.

Một kiếp người đã trôi qua như thế.

Trước khi rời Volgograd, tôi dành thời gian đến lễ tưởng niệm Seryozha Monoslov ở nghĩa trang trung tâm thành phố.

Đặt một đoá hồng trắng lên nấm mồ vừa mới đắp, tôi ngước nhìn bầu trời âm u đầy mây mù.

Một vài giọt mưa bắt đầu rơi trên mặt đất.

Có lẽ thượng đế cũng đang khóc thương cho một kiếp người.

Tôi vẫy chào từ biệt Fyodor Monoslov trước khi lên đường về Moskva.

Mưa càng lúc càng nặng hạt, nặng như tâm trạng tôi lúc này.

Seryozha đã được giải thoát khỏi sự trừng phạt của số phận.

Nhưng những người ở lại, Fyodor và người chị Vera, cũng như đứa trẻ tên Mikhail, sẽ vẫn phải tiếp tục bước đi trên con đường riêng của mình giữa thế giới đầy bụi trần này, vẫn phải trải qua thứ được gọi là số mệnh.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 2 - Chương mở đầu: Trở về


Tôi là một trong số quân nhân ít ỏi có thể trở về từ chiến trường Afghanistan ác liệt đầy nắng và gió.

Nước Nga đã thay đổi quá nhiều kể từ lần cuối tôi rời đi cách đây mười năm.

Lúc ra đi, tôi là một chàng thanh niên hai mươi lăm tuổi đầy hoài bão.

Khi trở về, tôi là một người đàn ông ba mươi lăm mang đầy vết tích chiến tranh.

Chiến trường Afghanistan đã tặng cho tôi một gương mặt cháy nắng già cỗi, khô khan, chằng chịt những vết sẹo chồng chéo lên những nếp nhăn của năm tháng.

Hành trang trở về của tôi chỉ vỏn vẹn có một chiếc ba lô đựng vài món đồ tùy thân, cùng với một tâm tư nặng trĩu trong lòng và một di nguyện được giao phó từ một người chỉ huy quá cố.

Tôi chần chừ trước cửa một ngôi nhà ở Volgograd, tờ giấy nhàu nát với dòng địa chỉ ghi vội vẫn còn lem chút máu đã chuyển sang màu nâu sẫm.

Tôi không dám gọi cửa.

Đúng hơn, tôi không biết phải mở lời như thế nào với người trong nhà, đứa con trai duy nhất của người chỉ huy xấu số của tôi.

Chần chừ mãi cũng không được gì, tôi đành lấy hết dũng khí để gõ vài cái lên chiếc cửa gỗ thơm nức mùi nhựa thông.

Một cậu thanh niên mở cửa cho tôi.

Đôi mắt xanh xám tinh anh và mái tóc bạch kim được chải gọn gàng khiến tôi nhớ đến thời trai trẻ tràn đầy sức sống.

Với độ tuổi này, chắc chắn lúc người chỉ huy của tôi rời khỏi nước Nga đến vùng chiến sự thì cậu trai này vẫn chỉ là một đứa trẻ.

Tôi run giọng mở lời.

- Cậu là Mikhail Monoslov, con trai của Fyodor Monoslov?

Năm phút sau, tôi đã ngồi trong phòng khách nhà Monoslov.

Trông căn phòng gọn gàng và sạch sẽ hơn là tôi tưởng tượng, dù cậu trai trẻ Mikhail hiện đang sống một mình.

Cậu đang ngồi trên chiếc ghế đối diện với tôi, bình thản đến đáng sợ.

Có những nỗi đau quá lớn khiến con người ta không còn có thể bộc lộ bất cứ cảm xúc gì.

Không gian trong căn phòng trầm lắng và tĩnh lặng, tôi chờ đợi Mikhail lên tiếng.

Cậu ấy cũng phải mất vài phút trước khi hỏi lại tôi.

- Vậy là…

Cha của cháu đã qua đời?

Tôi khẽ khàng gật đầu.

Mikhail thở ra một hơi rất dài, ngả người tựa vào lưng ghế, ngước nhìn lên trần nhà.

Cậu giống cha mình đến khó tin.

Ông cũng thường ngửa đầu nhìn lên mỗi khi ông nhắc đến đứa con trai ở nhà, để ngăn cho hàng lệ rơi xuống.

Trong thoáng chốc, tôi tưởng như Fyodor Monoslov đang ngồi trước mặt mình.

Tôi đưa cho cậu ta lá thư mà Fyodor luôn giữ kỹ và chỉ giao lại cho tôi trong những giây phút cuối đời, nhờ tôi mang về Nga trao tận tay Mikhail.

Không gian trong phòng một lần nữa rơi vào tĩnh lặng.

Không hiểu sao nhưng tôi lại sợ điều này hơn cả tiếng súng đạn.

Tôi đành lên tiếng để phá tan sự im lặng đến đáng sợ này.

- Đồng chí Fyodor đã kể cho tôi nghe rất nhiều về cậu.

Cậu luôn là niềm tự hào của ông ấy.

Giá mà ông ấy có thể thấy được sự trưởng thành của cậu, chắc hẳn ông ấy sẽ rất hạnh phúc.

Chỉ là, chiến tranh ác liệt quá, cậu trai trẻ à.

Mikhail Monoslov ngồi thẳng người dậy, tằng hắng vài tiếng để ngăn sự xúc động lại, rồi mới chậm rãi lên tiếng.

- Chú có thể kể thêm cho cháu về cha của cháu được không ạ?

Kể về Fyodor Monoslov?

Điều này thật sự là một thách thức đối với tôi.

Mặc dù tôi đã trực tiếp hoạt động dưới sự chỉ huy của ông ấy tám năm ở chiến trường Afghanistan và thêm ba năm trước đó, nhưng để mà nói bản thân hiểu rõ Fyodor Monoslov thì tôi không dám khẳng định.

Thật ra, không một ai có thể hiểu được Fyodor, ngoại trừ chính bản thân ông.

Cái tính trầm lặng khiến ông không mở lòng với ai.

Thi thoảng ông vẫn kể cho chúng tôi về Mikhail, về những câu chuyện của cuộc đời ông.

Nhưng những lúc như thế đếm ra cũng chỉ được trên đầu ngón tay.

Nhưng tôi không muốn làm phật lòng của cậu trai trẻ đối diện tôi.

Cậu có quyền được biết về cha của cậu.

Tôi chỉ đành thở dài một hơi, chỉ tay vào chiếc ba lô bên cạnh và mở lời với Mikhail.

- Tôi có thể hút vài điếu ở đây được không?

Vì câu chuyện cũng không ngắn mấy đâu.

Tôi có mấy gói thuốc cũng khá ngon, nếu cậu muốn thử.

Mikhail đứng dậy mở tủ, lấy ra một chiếc gạt tàn bằng thủy tinh trong suốt đặt lên bàn cạnh tôi, ngầm tỏ ý rằng tôi có thể hút.

Nhưng khi tôi đưa gói thuốc về phía cậu ta, thì cậu lại mỉm cười lịch sự từ chối.

Tuổi trẻ lành mạnh cũng tốt.

Tôi rít một hơi thuốc, sắp xếp lại câu chuyện trong đầu.

Có lẽ tôi biết mình nên bắt đầu từ đâu.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 2 - Chương 1: Thiếu thời của Fyodor


Fyodor Monoslov là một người đàn ông bất hạnh.

Mẹ của ông, Elzira Monoslova đã qua đời ngay sau khi sinh ông ra.

Cha của ông, Seryozha Monoslov, lâm vào sầu tư và thường xuyên đắm mình vào công việc để có thể quên đi nỗi tiếc thương người vợ quá cố, đến mức bỏ lỏng việc chăm sóc đứa trẻ vừa mới chào đời.

Fyodor chỉ nhận được sự quan tâm chăm sóc từ ông nội và chị gái Vera.

Lúc nhỏ, Fyodor là một đứa trẻ hiểu chuyện, điều này được khẳng định bởi chị gái Vera.

Dù thiếu đi sự quan tâm của người cha, nhưng Fyodor chưa bao giờ oán trách ông.

Năm 1945, một năm sau khi ông nội của Fyodor qua đời vì tuổi già, Thế Chiến thứ hai cuối cùng cũng đã kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức Quốc Xã.

Đó cũng là lần đầu tiên cha của Fyodor trở về nhà sau một thời gian dài chiến đấu biền biệt, kể từ khi vụ xung đột hồ Khasan nổ ra năm 1938.

Tối hôm đó, hai cha con đã cùng nhau ngồi bên ngoài căn nhà của họ ở Verkhnyaya Pyshma vùng Sverdlovsk, nhìn lên bầu trời xanh thẫm đầy sao.

Năm đó, Fyodor mười lăm tuổi, và dường như trưởng thành hơn tuổi rất nhiều.

Hai cha con đã tâm sự rất nhiều thứ, như hai người đàn ông với nhau.

Seryozha đặt tay lên vai con trai, ánh mắt vẫn nhìn lên khoảng không xa xăm phía trước.

- Ta xin lỗi vì đã không ở bên các con trong suốt thời gian qua.

Ta yêu mẹ con rất nhiều, và việc bà ấy qua đời là một cú sốc rất lớn với ta.

Ta cứ nghĩ đắm chìm vào công việc sẽ khiến ta nhanh chóng quên đi bà ấy.

Nhưng rồi chiến tranh cuốn ta vào vòng xoáy chiến đấu.

Ta nợ con, và cả chị của con một tuổi thơ êm đẹp, Fyodor ạ.

Fyodor hiểu điều đó.

Anh lớn lên trong chiến tranh, chứng kiến sự ác liệt của nó.

Làm sao anh lại không hiểu những thứ mất mát mà chiến tranh đã đem lại cho con người.

Anh nắm lấy bàn tay chai sạn của cha, tỏ ra rằng anh hiểu, thông cảm và tha thứ cho ông,

Cuộc sống của gia đình Monoslov sau khoảng thời gian đó dường như khá yên bình.

Sau chiến tranh, nước Nga bước vào thời kỳ tái kiến thiết.

Seryozha nhận được lời mời đến làm việc cho Bộ Tư Lệnh tại Moskva.

Gia đình nhà Monoslov cũng theo đó mà chuyển đến sinh sống ở thủ đô.

Vera, do tốt nghiệp loại giỏi ở trường y, cũng dễ dàng xin làm việc trong một bệnh viện lớn.

Năm đó, Fyodor vừa tròn mười tám tuổi.

Ở cái tuổi bắt đầu bước chân qua ngưỡng cửa cuộc đời, Fyodor bắt đầu cân nhắc những lựa chọn cho tương lai của bản thân.

Một đêm, khi đi ngang qua thư phòng của cha, anh đã nhìn thấy bộ quân phục treo ngay ngắn cạnh tủ sách.

Anh bước vào phòng, đưa tay chạm vào ngôi sao đính trên quân hàm.

Một cảm giác tự hào khó tả xuất hiện trên những đầu ngón tay của anh, lan nhanh xuống tim.

Đó là lúc anh đi đến quyết định.

Anh chọn con đường binh nghiệp.

Nhờ trí thông minh và sự chăm chỉ bẩm sinh của dòng máu chảy trong huyết mạch, Fyodor thăng tiến rất nhanh trên con đường binh nghiệp, trở thành niềm tự hào của cha.

Chẳng mấy chốc, anh đã trở thành một đại úy ở độ tuổi ba mươi.

Duy chỉ có việc Fyodor lại quá chuyên tâm làm việc, đến độ quên mất đi chuyện tình duyên.

Ở thời điểm đó, một người đàn ông quá hai mươi lăm tuổi mà vẫn chưa lấy vợ đã là sự hiếm.

Điều này đã làm cho Seryozha cảm thấy có đôi chút phiền lòng.

Có đôi lúc ông cũng định mai mối con trai mình với cô phóng viên trẻ ở tờ Pravda mà ông đã gặp vào cái hồi kỷ niệm mười lăm năm ngày Chiến Thắng.

Nhưng rồi ông lại thôi.

Ông trông có vẻ hai đứa trẻ chỉ có thể làm bạn, nên cũng chả nỡ ép uổng.

May mắn thay, Fyodor cuối cùng cũng tương tư, hẹn hò và sau đó là nhanh chóng kết hôn với một nữ nhân viên bưu chính, vốn là em gái của một thuộc cấp của anh.

Sau khi kết hôn, họ chuyển đến Volgograd và rồi sinh ra Mikhail ở thành phố bên bờ dòng Volga êm đềm.

Nhưng cuộc sống chưa bao giờ là hết sóng gió.

Không một ai có thể sống yên bình được quá lâu.

Không hiểu lời nguyền nào đã ám lấy gia đình Monoslov, nhưng có vẻ như những đứa trẻ sinh ra mang họ Monoslov lại thường thiếu đi hơi ấm của người mẹ.

Mikhail Monoslov cũng thế.

Tôi không được nghe kể nhiều về người vợ của Fyodor, tôi càng không rõ chuyện gì đã xảy ra.

Tôi chỉ được biết rằng Fyodor đã một mình nuôi lớn Mikhail.

Có lẽ Fyodor hiểu rõ việc thiếu thốn tình cảm gia đình trong những năm tháng tuổi thơ sẽ khó khăn thế nào, nên ông cố gắng giành cho Mikhail tất cả sự quan tâm của mình.

Nhưng có lẽ đó chưa phải là sự bất hạnh nhất của gia đình Monoslov.

Năm 1979, chính quyền Liên Bang Soviet quyết định can thiệp và viện trợ cho chính phủ Cộng hòa Dân chủ Afghanistan trong cuộc nội chiến với quân nổi dậy Mujahideen.

Giữa tháng Mười Hai năm 1979, quân đội Soviet bắt đầu tiến công về hướng thủ đô Kabul của Afghanistan.

Và rồi, Fyodor cũng đã rời nước Nga để đặt chân vào cuộc chiến tranh đầy sai lầm đó.

- Năm đó, cháu cũng đã mười hai tuổi.

Cháu nhớ rất rõ cái ngày cha cháu rời khỏi Volgograd.

Hôm đó trời mưa, mưa rất to.

Mikhail Monoslov cắt ngang lời kể của tôi.

Đôi mắt xám xanh giờ đã long lanh ánh nước.

Trong tâm trí tôi hiện ra hình ảnh cậu thiếu niên Mikhail đứng âm thầm trước hiên nhà, nhìn theo chiếc xe chở lính giữa làn mưa tầm tã.

Một khung cảnh xám xịt và buồn bã.

Tôi bất giác thở dài, tỏ ý tiếc nuối cho tuổi trẻ thiếu thốn của Mikhail.

- Sau đó là khoảng thời gian cháu phải tự mình lo toan cuộc sống, số tiền được gửi đến từ chính quyền cũng đủ cho cháu trang trải chi phí sinh hoạt.

Nhưng mười năm loay hoay một mình thật sự cũng không mấy dễ dàng.

Cháu đã có ý định nhập ngũ, để được sang chiến trường Afghanistan tìm cha.

Nhưng có lẽ như không kịp mất rồi.

Tôi hiểu mong muốn đó của Mikhail.

Nhưng tôi cũng hiểu bản chất của cuộc chiến vừa qua.

Đó là một sai lầm đáng xấu hổ của chính quyền Liên Bang và những nhà lãnh đạo quân đội Soviet thời bấy giờ.

Liên Bang Soviet đã ủng hộ cho Việt Nam để có thể đánh đuổi bọn người Mỹ ra khỏi lãnh thổ của họ, nhưng quân đội Liên Bang Soviet trên đất Afghanistan cũng lại phạm phải chính xác những sai lầm mà người Mỹ đã mắc phải khi ở chiến trường Việt Nam.

Tôi không hiểu, thật sự không thể hiểu là vì sao chúng ta không học được gì ở Việt Nam.

Liên Bang Soviet liệu có ngủ quên trên chiến thắng, để rồi vấp phải những sai lầm mà đối thủ đã phạm phải và thất bại trước chính những người đồng minh.

Tôi tự hỏi liệu thất bại ở Afghanistan có phải là đòn trả đũa của người Mỹ dành cho chính quyền và quân đội Soviet hay không?

Không ai có thể khẳng định điều đó.

Điều rõ ràng nhất chính là Liên Bang Soviet đã phải sa lầy ở Afghanistan, tận mười năm dài đằng đẵng.

Mười năm, gần hai vạn binh lính sau khi bước chân qua biên giới Afghanistan đã không thể quay về, trong đó có Fyodor Monoslov.

Tôi bắt đầu nghĩ lại về những việc chúng tôi đã làm ở vùng đất đầy nắng và gió đó.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 2 - Chương 2: Ngày đổ lửa


Chiến dịch Bão Táp-333 cuối tháng Mười Hai năm 1979 đã gây ra cái chết của Tổng thư ký Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan Hafizullah Amin, người được cho là đang thanh trừng những người có cảm tình với Liên Bang Soviet trong bộ máy Đảng Dân chủ Nhân dân nhằm thâu tóm quyền lực cũng như cấu kết với Pakistan và Trung Hoa.

Chiến dịch này cũng mở ra mười năm chiến đấu ở Afghanistan của những người lính Soviet.

Rạng sáng ngày hôm sau, Bộ chỉ huy quân sự Soviet đóng tại tại Termez đã thông báo trên Đài truyền thanh Kabul rằng Afghanistan đã được giải phóng khỏi ách thống trị của Amin.

Và ngay sau thông báo đó, Liên Bang Soviet đã đặt quyền bảo hộ của mình lên đất Afghanistan.

Trong suốt mười năm chiếm đóng tại Afghanistan, quân đội Liên Bang Soviet chỉ có thể kiểm soát được các đô thị lớn.

Phần lớn các vùng nông thôn vẫn nằm ngoài tầm của chính quyền Soviet.

Đó là nơi mà các lực lượng Mujahideen ẩn náu.

Và đó cũng là những vùng chiến sự rực lửa nhất.

Fyodor Monoslov ngồi bên cạnh một đống gạch đổ nát bên ngoài rìa thủ phủ tỉnh Paktia, phía Đông Afghanistan, gương mặt đầy bụi mù, thở ra một làn khói thuốc.

Ông cắn chặt răng dốc ngược chiếc bi đông nhỏ đã cạn gần tới đáy, cố gắng chắt lấy một thứ chất lỏng trong suốt đổ xuống miệng vết thương trên cánh tay trái.

Thứ chất lỏng đó không phải là nước, mà là vodka nguyên chất.

Ông lấy trong túi ra một que diêm, quẹt vào một viên gạch đã vỡ ra làm đôi.

Một đốm lửa nhỏ vụt sáng tí tách.

Fyodor hít một hơi dài lấy dũng khí rồi dúi que diêm vào vết thương.

Lửa bùng lên trên cánh tay của ông.

Đốt miệng vết thương bằng rượu, cách sơ cứu dã chiến mà những người lính nơi chiến trường buộc phải làm nếu không muốn vết thương nhiễm trùng hay tệ hơn là mất quá nhiều máu.

Ông vừa đụng độ với một nhóm phiến quân Mujahideen khi đi tuần ở ranh giới tỉnh Paktia.

Nhóm của ông có ba người, còn bọn chúng thì năm người.

Chỉ có mỗi ông còn sống sót, với một vết đạn xuyên qua cánh tay trái.

Nhắm nghiền mắt đợi cơn đau qua đi, Fyodor gắng gượng chống tay phải lên đống đổ nát để đứng dậy.

Lê từng bước nặng nề về phía hai người đồng đội nằm bất động gần đó rồi khuỵu xuống cạnh họ, ông cúi người giật lấy hai tấm thẻ bài trên người họ, miệng thì thào với hai người đã khuất.

- Nào Dominik, Yegor, chịu khó nằm lại ở cái nơi khốn kiếp này nhé, tôi sẽ mang di vật của hai cậu về với gia đình.

Chúa phù hộ cho hai cậu.

Dominik là một thiếu úy trẻ, sinh ra ở Leningrad.

Cậu ta còn có vị hôn thê đang chờ đợi ở quê nhà, một giáo viên tiểu học xinh đẹp.

Còn Yegor lại là một trung úy điển trai, có một cô con gái xinh xắn.

Lúc cậu ta lên đường đến Afghanistan thì con bé vẫn nằm trong bụng mẹ.

Hai mạng người đã ra đi, và hai gia đình đã mất đi một người con, người chồng, người cha.

Fyodor thật không thể hiểu được vì điều gì mà họ lại phải đánh đổi quá nhiều như thế.

Những cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại những năm đầu thập niên bốn mươi là để bảo vệ nước Nga khỏi sự xâm lược của Đức Quốc Xã ở mặt trận Đông Âu.

Người Nga tham gia chiến tranh là để bảo vệ lãnh thổ nước Nga được toàn vẹn.

Nhưng còn cuộc chiến này?

Không phải nó vô nghĩa lắm sao?

Bọn họ đặt chân đến một vùng đất xa lạ, đầy nắng và gió, để rồi nằm xuống, cũng chỉ vì lòng trung thành của Afghanistan với Liên Bang Soviet bị lung lay bởi sự can thiệp của Hoa Kỳ.

Điều đó có đáng không?

Nước Nga đang thực sự bị sa lầy trong cuộc chiến này.

Fyodor cắn răng chịu đau, cố gắng để trở về căn cứ dã chiến của trung đội.

Một cơn gió thổi tung đám bụi mù trên đường, vương trên gương mặt đẫm mồ hôi của ông.

Hơi thở của ông dần trở nên nặng nhọc bởi sức nóng của ánh nắng gay gắt và con đau tê dại ở cánh tay trái.

Còn một dặm đường nữa ông mới về đến lều dã chiến.

Cơn gió lúc nãy không hề làm dịu đi cái nóng khó chịu của vùng Trung Đông.

Vài hạt cát lạo xạo trong miệng của Fyodor.

Đó là những thứ phiền phức nhất ở nơi này.

Thời tiết và cát.

Cánh tay trái của Fyodor bắt đầu mất đi cảm giác.

Ông bắt đầu thấy hối hận vì đã bỏ lại lọ Aspirin trước khi đi tuần.

Hiện tại thì ông ao ước bản thân sở hữu mấy viên thuốc bé xíu nhưng lại có tác dụng thật mạnh mẽ đó biết bao.

Còn nửa dặm nữa, mắt Fyodor bắt đầu mờ đi.

Không cần phải về đến căn cứ, chỉ cần tới được vùng lãnh thổ cách lều dã chiến khoảng ba trăm thước, đó là vùng an toàn.

Bọn họ sẽ nhìn thấy ông trở về và đến đón ông, chỉ cần đến được nơi đó, ông sẽ có cơ hội sống sót.

Có đôi khi, Fyodor đã muốn bỏ cuộc, nhưng hình ảnh đứa con trai duy nhất của ông, Mikhail, lại hiện lên, trở thành động lực để ông tiếp tục bước.

Bốn trăm thước, cổ họng của Fyodor bắt đầu cảm thấy khô khốc, và da môi của ông đã bắt đầu bong ra.

Với lấy chiếc bi đông lớn hơn phía sau ba lô, nó cũng đã nhẹ hẫng đi, Fyodor ngửa đầu nốc sạch số nước còn lại.

Dòng nước mát làm dịu đi phần nào sự thiêu đốt bên trong cổ họng của ông.

Fyodor đã gần kề với ranh giới của an toàn, chỉ một chút, một chút nữa thôi.

Ông đã có thể nhìn thấy chóp lều dã chiến ở phía xa xa.

Nhưng vết thương trên cánh tay trái đang hành hạ ông từng giây một.

Dù là máu đã ngừng chảy, nhưng nó vẫn đau, đau đến tê dại.

Cuối cùng, Fyodor cũng làm được.

Ông gục ngã ngay trước vọng gác phía bên ngoài căn cứ.

Trước khi mất đi hoàn toàn ý thức, ông vẫn kịp đưa cho người lính đứng gác ở đó thẻ bài của Dominik và Yegor.

Sau đó, ông nghe thấy tiếng người lính gác gọi quân y, rồi ý thức của ông hoàn toàn tê liệt.

Đợt đó Fyodor hôn mê hơn ba ngày.

Người ta nói ông bị bất tỉnh do mất nước, say nắng và đau đớn quá độ.

Viên đạn không hề hoàn toàn đi xuyên qua cánh tay như ông đã nghĩ.

Nó đã bị vỡ, và chỉ có một phần của viên đạn là đi xuyên cánh tay ra bên ngoài.

Mảnh vỡ còn lại đã mắc kẹt gần xương cánh tay.

Đó chính là nguyên nhân gây ra sự đau đớn đến nhường đó.

Phía quân y đã cố hết sức mới có thể giữ lại cánh tay cho Fyodor.

Kể đến đây, tôi chợt thấy Mikhail đã mang một nét đượm buồn.

Tôi hiểu tâm trạng của cậu ấy.

Dù gì thì việc nghe về những nỗi đau mà người thân mình phải trải qua cũng không phải là điều dễ dàng.

Tôi muốn tìm cách an ủi cậu trai trẻ này, nhưng lại không biết nói gì cho phù hợp.

Tôi không phải là kẻ khéo ăn nói, tôi sợ bản thân sẽ lại chạm vào nỗi mất mát của Mikhail.

Cậu trai trẻ đó cũng ngập ngừng, có lẽ cậu cũng không biết nên nói gì.

Sự im lặng và khói thuốc bao trùm lấy cả căn phòng.

Ngập ngừng hồi lâu, Mikhail mới hỏi lại tôi.

- Vậy, cha cháu không mất trong lần đó?

Tôi dụi đầu điếu thuốc vào gạt tàn, làn khói thuốc mỏng dần rồi tan biến đi mất.

Tôi trầm tư rồi lắc nhẹ đầu.

Tôi không biết liệu rằng điều đó có thể an ủi cậu trai trẻ này không, bởi vì ở đoạn kết của câu chuyện mà tôi mang về từ Afghanistan, cha của cậu cũng đã qua đời.

Tôi nhìn lại chút tro tàn của điếu thuốc, đơn giản là tìm một nơi để giấu đi ánh nhìn đầy trầm mặc của mình.

Tôi không muốn Mikhail nhìn thấy ánh mắt đó.

- Chúa phù hộ Fyodor, và cả cậu nữa, Mikhail ạ.

Tôi thấy một giọt lệ khẽ lăn dưới mi mắt của cậu trai trẻ đó.

Tôi đành tiếp tục đắm mình trong im lặng, chờ đợi nỗi xúc động qua đi.

Câu chuyện về Fyodor Monoslov vẫn còn rất dài phía trước.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 2 - Chương 3: Đêm thầm lặng


Quân đội Soviet hoàn toàn bị động ở chiến trường Afghanistan với sự vô phương trong việc tái xây dựng quân đội Afghanistan cũng như lôi cuốn sự ủng hộ của người dân, khiến họ phải dùng chính lực lượng của mình trong những trận chiến với quân Mujahideen, trong tình thế hoàn toàn bất lợi về địa hình và khí hậu.

Afghanistan là một nơi đồi núi với rất nhiều cát và cái nóng cháy da cháy thịt.

Nhưng những thứ đó chưa phải thứ đáng sợ nhất.

Thứ đáng sợ nhất ở Afghanistan là màn đêm đen dày đặc.

Ban đêm ở chiến trường Afghanistan là một trải nghiệm không mấy bình yên đối với những người lính Soviet.

Trong cuộc chiến này, những người Mujahideen sử dụng cách đánh du kích, và bóng đêm là đồng minh đắt giá của họ.

Có những đêm tối trời, một vài tốp phiến quân chợt hiện ra giữa màn đêm đen, với những tà áo chùm đen của họ, cứ lúc ẩn lúc hiện như những bóng ma.

Họ bất ngờ tấn công nhằm vào các quân nhân Soviet, rồi nhanh chóng tan biến vào màn đêm, như thể chưa từng xuất hiện.

Đó là một đêm sáng trăng, so với những đêm khác thì tương đối an toàn.

Fyodor Monoslov ngồi cạnh cửa lều chỉ huy, cùng với một điếu thuốc trên tay.

Ông hồi tưởng về cha.

Ngày cha ông trở về từ Thế Chiến, ông ấy cũng hút rất nhiều thuốc.

Fyodor lúc ấy còn rất trẻ, thứ mà ông biết lúc đó chỉ đơn giản là hút thuốc rất có hại cho sức khỏe.

Ông từng tỏ ra khó chịu về chứng nghiện thuốc của cha mình.

Nhưng đến khi bước chân sang vùng đất này, ông mới hiểu được áp lực của con đường binh nghiệp.

Và rồi không biết từ khi nào, ông cũng nghiện thuốc.

Đôi lúc ông cũng tự cảm thấy khó chịu với cái thói quen tai hại này, nhưng ông thật sự không có cách nào khác để giải tỏa áp lực.

Rồi Fyodor nghĩ tới Dominik và Yegor, hai người thuộc cấp vừa mới qua đời của mình.

Nghĩa vụ của người lính là phải thượng tuân quân lệnh.

Mặc cho bản chất của cuộc chiến có ra sao, họ cũng phải lao vào, và chấp nhận rủi ro phải nằm xuống.

Ngay cả ông cũng thế.

Nếu có một ngày thần chết gọi tên ông, ông cũng phải bỏ lại tất cả mà đi theo tiếng gọi đó.

Rồi ông nghĩ đến Mikhail, đứa con trai bé bỏng đang ở nhà chờ ông về.

Thằng bé rất thông minh lanh lợi.

Mikhail mang tất cả các vẻ đẹp đặc trưng qua nhiều đời nhà Monoslov.

Thằng bé sở hữu một đôi mắt xanh ngả xám tinh anh.

Mái tóc màu bạch kim của thằng bé luôn được cắt và chải gọn.

Và nhờ ơn Chúa, căn bệnh máu khó đông của ông nội Seryozha không di truyền qua Fyodor và Mikhail, vì thế thân hình của thằng bé cũng không quá ốm yếu.

Chỉ có một điều khiến Fyodor đắn đo suy nghĩ, chính là nguồn gốc thân phận thật sự của nhà Monoslov kể từ đời của cha ông, Seryozha Monoslov.

Cha ông đã giữ kín nguồn gốc của gia đình cho tới tận ngày cuối cùng của cuộc đời ông ấy.

Và di nguyện của ông là Mikhail cũng có quyền được biết về nguồn gốc của mình.

Chỉ là Fyodor cũng không thể biết được rằng liệu ông có thể toàn mạng trở về mà nói cho Mikhail về nguồn gốc của mình hay không.

Ông sợ là một lần sơ sẩy nào đó, ông nằm lại nơi này, thì sự thật kia sẽ mãi mãi theo ông đi đến thế giới bên kia.

Nghĩ suy một lúc, Fyodor lấy ra một mảnh giấy và một cây viết.

Đành thế, ông cần phải viết lại những gì ông cần nhắn gửi đến con trai của mình, niêm phong nó lại và giữ kín bên mình.

Nếu lỡ không may ông không thể trở về, thì ông sẽ nhờ người mang lá thư này về trao lại cho Mikhail.

Màn đêm tĩnh lặng bao trùm lấy không gian xung quanh.

Ánh sáng từ chiếc đèn nhỏ leo lói toả ra mờ đục.

Các lều dành cho binh lính đã tắt đèn.

Chỉ còn những người lính đứng trên vọng gác phía ngoài xa là còn thức.

Hiện tại cũng đã gần đến nửa đêm.

Vạn vật đều mang một sự tĩnh lặng.

Dường như ta có thể nghe thấy cả tiếng đầu bút của Fyodor lướt trên mặt giấy.

Đây là lần đầu tiên ông trút hết nỗi lòng của mình vào một lá thư.

Một lá thư chỉ được gửi đi khi ông nằm xuống giữa chiến trường.

Từng dòng tâm sự được giãi bày dưới ngòi bút của Fyodor.

Sương đêm buông dần xuống, vương trên mái tóc đã lấm tấm bạc của ông.

Càng viết, cảm xúc của Fyodor càng trào dâng.

Ở những dòng thư gần cuối, đã xuất hiện vài vết nước rơi trên trang giấy, thấm mờ những con chữ.

Một lần hiếm hoi trong đòi, người lính cứng cỏi ấy cuối cùng cũng rơi lệ trong thầm lặng.

Nhắc lại khung cảnh đó, tôi cũng bất giác đưa tay lên lau đi giọt nước mắt lăn xuống má.

Đêm hôm đó, tôi vô tình tỉnh giấc khi trời đã quá nửa đêm.

Không thể ngủ lại, tôi đành ra ngoài sân doanh trại đi dạo.

Đó cũng là lúc tôi thấy Fyodor bỏ lá thư vào phong bì, niêm phong lại bằng một chút sáp nến.

Tôi lục tìm trong túi áo, thật may là cái bi đông nhỏ vẫn còn hơn phân nửa.

Tôi tiến lại ngồi xuống bên cạnh Fyodor.

Ông quay sang nhìn tôi một cái, rồi cất lá thư vào túi áo.

Tôi đưa cho ông cái bi đông rồi mở lời.

- Đồng chí viết thư về cho gia đình à?

Fyodor bật ra một tiếng cười trầm đục.

Đón lấy cái bi đông của tôi, ông hớp lấy một ngụm.

- Không hẳn.

Lá thư này chỉ được gửi đi nếu tôi nằm lại nơi này.

Có thể xem là thư tuyệt mệnh cũng được.

Tôi nhận lại cái bi đông, rồi cũng làm một hớp.

Thứ chất lỏng cay nồng đó chảy vào sâu trong cổ họng, tạo một cảm giác khoan khoái lạ thường.

- Đồng chí đừng bi quan như thế.

Rồi chúng ta sẽ trở về Nga thôi.

Hãy cứ đặt niềm tin vào Chúa.

Ngài sẽ che chở chúng ta.

Đó là một đêm tháng Hai năm 1987, tôi thật sự không thể ngờ rằng chỉ hai tháng sau, Fyodor Monoslov thật sự đã nằm lại mảnh đất Afghanistan này.

Và tôi chính là người được ông giao phó đem lá thư được viết vào đêm hôm ấy cùng với di nguyện của ông về cho người con trai duy nhất.

Tôi nhìn lá thư hiện đang nằm trên bàn trà, vẫn còn nguyên vết sáp nến niêm phong.

Fyodor căn dặn tôi rằng hãy nói với Mikhail đọc nó ở một nơi kín đáo.

Tôi chưa từng có ý tò mò xem liệu rằng lá thư viết điều gì.

Tôi tôn trọng Fyodor.

Vì thế, tôi đã bảo Mikhail hãy đọc nó sau khi tôi đã rời đi.

Đến mãi tận sau này, tôi mới được biết tóm tắt nội dung của lá thư.

Mikhail sau này đã cho tôi biết rằng lá thư đó viết về một bí mật của gia đình Monoslov, một bí mật mà những người con nhà Monoslov chỉ được biết khi thế hệ cha ông đã đi đến chặng cuối cùng của cuộc đời.

Tôi không hỏi, và Mikhail cũng không tiết lộ bí mật đó là gì.

Nhưng tôi hiểu, có lẽ sẽ tốt hơn cho gia đình nhà Monoslov khi bí mật đó mãi mãi được giữ kín.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 2 - Ngoại truyện: Lá thư


Chào con, Mikhail của ta,

Khi con nhận được lá thư này, điều đó có nghĩa là ta đã nằm lại cái nơi chết tiệt này rồi.

Ta sẽ nhờ một người đồng đội thân tín nào đó mang lá thư này về cho con, thay cho sự trở về của ta.

Ta biết con đã rất vất vả trong khoảng thời gian ta vắng mặt.

Quân lệnh là thứ con buộc phải tuân theo nếu như con chọn theo con đường binh nghiệp như ta, Mikhail ạ.

Ta luôn nhận thấy cuộc chiến này vô nghĩa biết bao.

Nhưng ta chưa từng có một sự lựa chọn nào khác.

Ta buộc phải cầm súng, đặt chân đến một nơi xa lạ, và chiến đấu với những người xa lạ.

Ta luôn tự hỏi là vì điều gì, nhưng dường như ta chưa bao giờ có câu trả lời.

Nhiệm vụ của người lính chỉ đơn giản là tuân theo mệnh lệnh.

Ta luôn mong đợi nhìn thấy con lớn lên, điển trai ra sao khi ta trở về.

Nhưng tiếc thay, lá thư này lại về với con thay cho ta.

Nhưng ta đoán rằng con sẽ là một chàng trai vạm vỡ, cứng rắn.

Lúc ta chuẩn bị lá thư này đề phòng cái ngày ta nằm xuống thì cũng đã tám năm ta rời khỏi Nga.

Thời gian dài đằng đẵng, con nhỉ?

Ta cũng không biết cuộc chiến này còn kéo dài bao lâu nữa, nhưng ta mong nó sẽ sớm chấm dứt.

Ta mong là ta, hoặc trong trường hợp xấu hơn, là lá thư này sẽ về với con sớm nhất có thể.

Ta mong là cuộc sống của con ở nhà vẫn thật bình yên.

Ta cũng mong là con đã tính đến chuyện lựa chọn con đường mà con sẽ theo đuổi.

Ta đoán chừng rằng con cũng sẽ chọn con đường binh nghiệp.

Ta luôn ủng hộ con, Mikhail à, dù ta biết rằng nó chưa bao giờ là con đường dễ dàng.

Ta mong con sẽ thành công với lựa chọn của mình.

Có một điều ta chưa từng nói với con, Mikhail của ta.

Gia đình chúng ta có một bí mật, điều mà ông nội của con, Seryozha Monoslov, cũng đã giữ kín suốt rất nhiều năm.

Cho đến khi ông sắp trút hơi thở cuối cùng, ông mới cho ta biết bí mật đó.

Và ông đã dặn ta hãy giữ kín bí mật này cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời ta rồi hẵng để con biết về nó.

Bởi vì ông luôn nghĩ một đứa con nhà Monoslov luôn có quyền được biết về gốc gác của mình, nhưng không nên bị hào quang của sự thật này cám dỗ.

Nhưng, như con đã biết, khi lá thư này được gửi đi, tức là ta đã không còn có thể trực tiếp bật mí cho con được nữa.

Thế nên, ta sẽ viết xuống đây tất cả sự thật về gốc gác của con.

Gia đình chúng ta thật ra bắt nguồn từ một gia tộc lâu đời ở Nga…



Như con đã biết, trải qua những năm lịch sử, thể chế thay đổi như một sự tất yếu của vận mệnh.

Ta mong con xem gốc gác ấy như một trách nhiệm mà con phải gánh vác, vì gia tộc chúng ta đã phụng sự nước Nga hàng trăm năm qua.

Ta hoàn toàn không mong muốn con có ý định phục hưng lại ánh hào quang đã tắt đó.

Hãy hiểu rằng bây giờ chúng ta mang họ Monoslov.

Chúng ta mang ơn vị bác sĩ hiền từ đó.

Không có ông ấy ngày ấy, không có chúng ta hôm nay.

Con hãy trân trọng cái họ mà ông ấy đã trao cho gia đình chúng ta.

Ta cũng mong là con vẫn tiếp tục giữ kín bí mật này với các đời hậu duệ sau của gia đình chúng ta, ít nhất là cho đến khi bọn chúng đủ trưởng thành để hiểu rõ được ý nghĩa của nguồn gốc không phải là để thắp sáng lại ánh hào quang đã tắt.

Ta mong là con, và các đời con cháu về sau tiếp tục phụng sự cho nước Nga, như cách mà gia tộc chúng ta chuộc lại lỗi lầm mà cha của ông nội con đã phạm phải trong Thế Chiến thứ nhất.

Nhưng hơn hết, ta mong con và các đời hậu duệ về sau có một cuộc sống yên bình, không còn tiếng súng nổ nữa.

Dù sao thì một cuộc sống bình yên cũng sẽ tốt hơn chiến tranh.

Ta xin lỗi vì đã không thể trở về với con, Mikhail của ta.

Ta mong con sẽ mãi mạnh mẽ, mau chóng vượt qua việc mất đi một người cha chưa đủ tốt như ta.

Ta yêu con, con trai của ta.

Fyodor Monoslov
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 2 - Chương 4: Nằm xuống nơi đây


Đó là một ngày tháng Tư năm 1987, chúng tôi có một cuộc đụng độ với một đạo quân đến từ Arab Saudi, một trong số những đơn vị được phía Hoa Kỳ gọi bằng cái tên “Những chiến binh tự do”.

Đó vốn là những người lính nước ngoài được tuyển mộ từ Thế giới Hồi giáo để tiến hành cuộc thánh chiến chống lại Liên Bang Soviet.

Người đứng đầu đạo quân này được cho là có liên hệ với Tình báo Arab Saudi và được huấn luyện bởi chính một biệt kích của lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ.

Đạo quân này đã thiết lập một căn cứ ở miền Đông Afghanistan từ năm ngoái, năm 1986.

Đó cũng là nơi chúng tôi đóng quân, tỉnh Paktia.

Thật ra chúng tôi đã từng đụng độ với họ vài lần trước đây, nhưng không lớn như trận lần này, thứ mà sau này được biết đến với cái tên trận Jaji.

Đó là một trận đánh ác liệt, và mặc dù số lượng thương vong của phía quân đội Soviet không lớn, nhưng rõ ràng là chúng tôi đã thất bại trong việc chiếm thị trấn Jaji của tỉnh Paktia.

Chúng tôi được lệnh tiến công đánh chiếm thị trấn Jaji vào ngày mười bảy tháng Tư, với hy vọng giải phóng một đơn vị đồn trú khác đã bị bao vây tại Ali Sher, và cắt đứt đường tiếp tế cho các phiến quân Mujahideen từ phía Pakistan.

Cuộc chiến kéo dài bảy mươi ba ngày, và đã cướp đi sinh mạng người chỉ huy đáng kính của tôi, Fyodor Monoslov, ngay từ những ngày đầu tiên của trận đánh.

Tôi đã ở cạnh Fyodor trong trận giao tranh đó.

Ông chiến đấu đến tận những giây phút cuối cùng.

Những người Mujahideen liên tục nã đạn về phía chúng tôi.

Fyodor đã trúng ba phát đạn trước khi gục xuống.

Tôi chỉ đành đánh liều lao đến lôi ông ấy vào phía sau một bức tường đổ nát, tránh đi làn mưa đạn ác liệt đó.

Tôi không nhớ rõ Fyodor đã bị bắn ở đâu.

Tôi chỉ nhớ rằng máu đã tuôn ra rất nhiều, thấm ướt cả vạt trước bộ quân phục mà ông đang mặc.

Đạn vẫn bay xối xả về phía chúng tôi, va vào bức tường khiến vụn gạch bắn ra như mưa trên đầu chúng tôi.

Tôi đỡ Fyodor trên tay mình, cố hết sức để hét lên với ông, mong là mình có thể át được tiếng súng ngoài kia.

- Đồng chí Monoslov, mở mắt ra nhìn tôi này.

Đồng chí không được phép nhắm mắt lại.

Đồng chí còn có đứa con trai đang đợi ở quê nhà.

Đồng chí phải sống sót trở về.

Đồng chí có nghe thấy tôi nói không, mở mắt ra nhìn tôi này.

Trái với tiếng hét của tôi, Fyodor Monoslov lại trầm tĩnh đến lạ thường.

Tôi không hình dung được lúc đó ông đang nghĩ gì.

Chỉ là ông quá điềm tĩnh.

Ông từ từ nói với tôi bằng một giọng đứt quãng.

- Cho… tôi… một…

điếu… thuốc…

Tôi vội tìm trong mấy cái túi áo, cuối cùng tìm ra được gói thuốc của mình.

Rút một điếu ra, tôi đưa nó cho Fyodor, tay run run bật diêm vào tường để đánh lửa.

Fyodor rít một hơi thuốc, đốm lửa nhỏ ở đầu điếu thuốc rực sáng rồi lại mờ dần đi, chỉ còn lại một đốm sáng lập lòe, mờ nhạt như mạng sống người chỉ huy của tôi hiện tại.

Tôi vẫn nỗ lực để cầm máu cho Fyodor.

Thế nhưng ông chỉ trầm giọng thì thào với tôi.

- Có lẽ tôi sẽ không… qua khỏi…

Đồng chí còn nhớ… lá thư tôi viết ngày trước… không?...

Hãy mang nó về… cho con trai của tôi…

Đó là di nguyện…

Hãy bảo thằng bé… chỉ nên mở ra ở… nơi kín đáo…

Vì lá thư… mang theo một… bí mật… về gia đình tôi…

Tôi vốn dĩ không muốn Fyodor chết, thế nên tôi vẫn tiếp tục nỗ lực của mình, mặc kệ lời trăn trối của ông.

- Đồng chí không được phép buông xuôi.

Đồng chí phải trở về Nga để đoàn tụ với thằng bé.

Đồng chí không được phép chết.

Thằng bé chỉ còn có mỗi đồng chí là người thân.

Thằng bé cần đồng chí quay trở về.

Nhưng rồi mọi nỗ lực của tôi cùng với tiếng hét cứ thế mà trôi tuột vào tuyệt vọng.

Điếu thuốc hút dở rơi khỏi tay Fyodor, rơi xuống nền đất lạnh.

Những tia lửa văng ra xa rồi vụt tắt.

Người chỉ huy trên tay tôi cứ thế lịm dần đi.

Tôi vẫn cố lay người Fyodor, dù biết điều đó là vô dụng.

Cơ người chỉ huy trên tay tôi dường như mất dần hơi ấm.

Tôi không thể cứu vãn được hiện thực tàn nhẫn này.

Đành vậy.

Tôi chấp nhận buông bỏ nỗ lực giữ lại mạng sống cho Fyodor.

Tôi luồn tay vào trong mấy chiếc túi của ông, tìm lá thư mà ông đã nhắc đến.

Sau đó, tôi giật lấy thẻ bài của ông, rồi cất gọn nó cùng với lá thư.

Nhiệm vụ của tôi bây giờ là bảo vệ chúng về được đến Nga.

Xét cho cùng, mạng người thật sự rất vô thường.

Trong thời thế này, mỗi sáng ta thức dậy, ta sẽ không thể biết được liệu đó có phải là ngày cuối cùng ta thấy được ánh mặt trời hay không.

Di nguyện này đặt lên vai tôi.

Nhưng nếu tôi chẳng may nằm xuống, nó sẽ phải chuyển giao cho một ai đó khác.

Lá thư này bắt buộc phải được trao tận tay Mikhail Monoslov.

“Các đồng chí chú ý, chúng ta sắp có đợt không kích trong vòng nửa tiếng nữa, yêu cầu rút lui bảo toàn lực lượng.”

Một mệnh lệnh truyền đến, dứt tôi ra khỏi mạch suy nghĩ.

Không kích sao?

Điều đó có nghĩa là nơi này sẽ nổ tung.

Mọi thứ trong bán kính nửa dặm sẽ bị xóa sổ.

Và cả thân thể của Fyodor nữa.

Tôi không muốn để ông lại, nhưng tôi không còn cách nào khác.

Dùng một mảnh gạch vỡ, tôi vẽ lên mặt đất cạnh thi thể Fyodor một cây thánh giá.

- Chúa đón nhận linh hồn của đồng chí.

Tôi nói lời cuối cùng với Fyodor trước khi rút đi.

Làn mưa đạn vẫn trút về phía chúng tôi, dù phía phiến quân Mujahideen chỉ còn vài chục người, chỉ hơn phân nửa so với lúc đầu.

Chúng tôi chỉ cần vừa bắn trả vừa rút lui khỏi tâm điểm cuộc chiến.

Hai mươi lăm phút sau, chúng tôi đã rút về đến bên ngoài vùng giao tranh.

Phiến quân Mujahideen không đuổi theo kịp chúng tôi.

Tôi dừng lại, quay người nhìn về phía nơi mà Fyodor nằm lại.

Một chiếc tiêm kích lướt qua trên đầu chúng tôi.

Ít phút sau, một loạt tiếng nổ rền vang không trung.

Thế là hết.

Mọi thứ đã bị xoá sổ.

Người chỉ huy của tôi đã hoàn toàn nằm lại nơi này.

Tôi chạm vào túi áo ngực, đảm bảo rằng lá thư và chiếc thẻ bài vẫn còn an toàn.

Tôi vỗ vỗ tay lên túi áo, thì thầm chỉ đủ để mình nghe thấy.

- Đi nào Fyodor Monoslov, tôi đưa đồng chí về nhà nào.

Tôi tin rằng linh hồn của Fyodor sẽ đồng hành với tôi, phù hộ để tôi có thể mang lá thư về trao lại cho Mikhail.

Phía xa xa, hoàng hôn dần buông xuống, nhuộm lấy không gian bằng một màu đỏ rực như máu.

Cuộc chiến này, đối với riêng tôi, thật sự là vô nghĩa.

Tôi chỉ mong nó mau chóng kết thúc, để tôi có thể rời khỏi nơi tang tóc đầy rẫy sự giết chóc vô nghĩa này.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 2 - Chương kết: Lễ truy điệu


Lễ truy điệu của Fyodor Monoslov được tổ chức vào một buổi chiều mưa cuối mùa hạ năm 1989 tại nghĩa trang trung tâm thành phố Volgograd.

Một nấm mộ dành cho Fyodor được đắp lên bên cạnh mộ của cha ông, Seryozha Monoslov.

Bên dưới chỉ chôn vỏn vẹn chiếc thẻ bài mà tôi mang về.

Một viên sĩ quan cấp tướng trang trọng đọc lời tưởng niệm Fyodor.

- Trung tá Fyodor Monoslov là một sĩ quan tận trung với Liên Bang cho đến những giây phút cuối đời.

Trong cuộc chiến ở Afghanistan, ông đã anh dũng chiến đấu.

Riêng bản thân ông đã tiêu diệt được hơn một trăm tên phiến quân trong vòng tám năm chiến đấu.

Thay mặt lực lượng vũ trang Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Soviet, truy phong anh hùng cho trung tá Fyodor Monoslov, truy tặng hai mươi mốt phát súng danh dự.

Ba tràng tiếng súng vang lên ngay sau đó.

Mikhail Monoslov nhận lấy lá quốc kỳ gấp gọn cùng với huân chương vinh danh thay cho cha mình.

Tôi nhìn thấy ánh mắt cậu đượm một nét buồn.

Khung cảnh thật sự rất ảm đạm.

Mưa ngày càng thêm nặng hạt.

Khi tôi đặt đoá hồng trắng lên mộ của Fyodor, cánh hoa ngay lập tức bị những hạt mưa làm cho dập nát.

Một khung cảnh nặng nề thê lương đến khó tả.

Tôi đi cùng Mikhail về ngôi nhà của gia đình Monoslov.

Mọi thứ vẫn ngăn nắp, sạch sẽ như khi tôi ghé thăm mấy hôm trước.

Mikhail chủ động lấy gạt tàn đặt lên bàn trà cho tôi.

Đây là cậu trai tinh ý nhất trong số thanh niên tôi đã từng tiếp xúc qua.

Tôi lại đốt một điếu thuốc.

Khói thuốc lại một lần nữa lan tỏa khắp phòng khách.

- Vậy là cậu vẫn quyết định nhập ngũ?

Tôi lại một lần nữa đóng vai người phá tan bầu không khí yên lặng.

Mikhail đặt ấm trà vừa pha xuống bàn, nhanh nhẹn rót ra hai cái tách.

Đẩy một tách về phía tôi, cậu nở một nụ cười buồn.

- Vâng, cháu vẫn giữ nguyên quyết định đó.

Cũng không mấy dễ dàng gì.

Nhưng cháu nghĩ cha cháu sẽ rất hạnh phúc nếu ông có thể nhìn thấy cháu mặc lên người bộ quân phục.

Tôi trầm ngâm suy nghĩ.

Tôi không phải là người hiểu rõ Fyodor.

Nhưng tôi biết ông cũng như tôi, không hề đánh giá cao cuộc chiến vừa rồi.

Mười năm sinh tồn ở Afghanistan là mười năm chiến đấu vô nghĩa nhất cuộc đời tôi.

Nên tôi thật sự không biết ông sẽ hạnh phúc khi Mikhail nối nghiệp mình, hay là sẽ cảm thấy thất vọng khi cậu ấy lại tiếp tục lao đầu vào những cuộc chiến vô nghĩa.

Nhưng đó là quyết định của Mikhail.

Và biết đâu chính quyền Liên Bang sẽ không phạm phải một sai lầm nghiêm trọng nào về quân sự nữa.

Tôi nào có biết, chỉ hai năm sau khi cuộc chiến này kết thúc, vào tháng Tám năm 1991, đã nổ ra một cuộc đảo chính đã nổ ra, dẫn tới việc giải thể Liên Bang Soviet, chấm dứt bảy mươi tư năm lịch sử của Liên Bang Soviet, mở ra một trang sử mới cho nước Nga.

Nhưng đó lại là việc của tương lai.

Còn hiện tại, cậu thanh niên Mikhail Monoslov đặt ra quyết định ở ngã rẽ cuộc đời của chính cậu.

Chí ít là Fyodor có thể tự hào rằng con trai ông là một người kiên định với lựa chọn của mình.

Tôi rời khỏi nhà Monoslov khi trời đã chuyển sang buổi tối.

Mikhail tiễn tôi tới tận cổng.

Cậu ngập ngừng hỏi tôi.

- Vậy còn chú?

Chú có dự định gì cho tương lai không?

Tôi nhìn lên bầu trời đầy sao phía trên cao, thở ra một hơi dài.

Tôi biết mình muốn gì.

- Có thể cậu sẽ chê cười tôi, Mikhail ạ, rằng tôi là một kẻ trốn chạy.

Nhưng tôi sẽ giải ngũ.

Bấy nhiêu đó năm chiến đấu là đã quá đủ với tôi rồi.

Tôi mong muốn một cuộc sống bình yên với một gia đình nhỏ.

Mikhail bật cười lần đầu tiên, kể từ khi tôi quen biết cậu.

Tôi nhận ra cậu trai trẻ này có một nụ cười rất đẹp.

Nó cũng lấp lánh như những ánh sao sáng phía trên cao kia vậy.

- Cháu không dám chê cười một người đã đối đầu với chiến tranh như thế được.

Chú đã là một người lính quả cảm.

Bây giờ chú xứng đáng được nghỉ ngơi.

Tôi vỗ vỗ lên vai Mikhail như một lời cảm ơn.

Mikhail nắm lấy tay tôi.

Tôi cảm nhận được cậu đã đặt tình cảm cậu dành cho cha mình lên tôi.

Tôi thật sự rất cảm kích vì điều này.

- Thi thoảng ghé thăm tôi nhé Mikhail.

Mong là Chúa và linh hồn của Fyodor sẽ phù hộ cho cậu.

Tôi tạm biệt Mikhail, bước ra con đường vắng.

Dãy đèn đường tỏa ra một ánh sáng vàng mờ nhạt.

Khung cảnh xung quanh lại rơi vào tĩnh lặng.

Nhưng lần này, tôi lại thấy sự yên tĩnh thật bình lặng.

Có lẽ, một nơi không có tiếng súng sẽ phù hợp với tôi hơn là chiến trường bụi mù.

Tôi mong rằng con đường mà Mikhail Monoslov sẽ bước đi cũng sẽ bình yên như con đường trải dài trước cửa nhà cậu vậy.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 3 - Chương mở đầu: Người chú


Tôi gõ cửa văn phòng của Mikhail Monoslov.

Một giọng nói trầm đục vọng ra.

- Vào đi!

Tôi đẩy cửa bước vào, đặt xấp hồ sơ lên bàn làm việc của Mikhail Monoslov.

Ông ngồi trên ghế bành, tay day day thái dương tỏ ra một vẻ mệt mỏi.

Tôi tự rót cho mình một tách cà phê, rồi ngồi xuống chiếc sofa bên cạnh.

- Đây là hồ sơ của tất cả những quân nhân được tuyển chọn cho đợt huấn luyện đặc biệt sắp tới.

Nhưng tôi nghĩ chú nên nghỉ ngơi một chút đã, trước khi chú xem qua đống hồ sơ kia.

- Aleksandr, cậu theo ta bao lâu nay rồi, chẳng lẽ lại không hiểu tính ta sao?

Để nói về chuyện có hiểu Mikhail Monoslov không, tôi tự nhận là tôi rất hiểu ông.

Nhưng chính vì hiểu ông, tôi càng cảm thấy ông tốt nhất vẫn nên nghỉ ngơi thì hơn.

Mikhail Monoslov là một người đàn ông lao lực một cách quá đà.

Ông đắm mình vào công việc, như một cách tự trừng phạt bản thân vì một lỗi lầm mà ông đã phạm phải rất rất lâu về trước.

Tôi biết ông đã day dứt rất nhiều, trong suốt hơn hai mươi năm qua, tự đổ lỗi cho bản thân về biến cố đó.

Tôi là trung úy Aleksandr Mikhailov, một quân nhân trẻ, làm việc dưới quyền chỉ huy của Mikhail Monoslov.

Tôi có thể nói bản thân khá may mắn khi được Mikhail dẫn dắt, chỉ bảo và rồi nhận làm cháu.

Chính vì thân thiết như thế, tôi được biết khá rõ về cuộc đời của ông.

Tôi thương xót ông, kính trọng ông, nhưng cũng có đôi việc tôi không thể đồng ý với cách làm của ông.

Việc ông tự đổ lỗi cho bản thân về biến cố gia đình là một ví dụ điển hình.

Tôi đã theo làm việc dưới quyền chỉ huy của Mikhail Monoslov được bốn năm, từ khi tôi vừa nhập ngũ năm mười tám tuổi.

Hiện tại Mikhail đã được ba mươi năm tuổi quân, còn nhiều hơn cả tuổi đời của tôi, và mang quân hàm thiếu tướng.

Dù chỉ mới làm việc với nhau bốn năm, và mặc cho việc chênh lệch thế hệ và tuổi tác, tôi và Mikhail dường như khá thân thiết.

Tôi được nghe về cuộc đời của ông, từ những lời đồn đoán ngoài kia, và cả từ chính ông.

Cuộc đời của Mikhail Monoslov là cả một tấn bi kịch, tôi có thể nói là thế.

Ngồi bên cạnh Mikhail, nhìn thấy nếp nhăn trên khoé mắt khi ông đọc hồ sơ, tôi không khỏi hoài tưởng đến những nỗi bất hạnh mà người đàn ông trung niên cô độc này phải gánh chịu.

Năm mươi hai tuổi, không vợ con, một thân một mình cố gắng lao lực để tự lừa dối bản thân khỏi những bất hạnh, nhưng đâu phải là Mikhail chưa từng có một gia đình hạnh phúc.

Đáng ra ông đã có một gia đình êm ấm với một người vợ xinh đẹp và một đứa con gái đáng yêu.

Nhưng tôi đã từng nghe đồn đại đâu đó rằng những đứa trẻ nhà Monoslov mắc phải một lời nguyền không thể có một tuổi thơ đủ đầy.

Nếu như biến cố năm ấy không xảy ra, thì gia đình đó vẫn sẽ là một gia đình hạnh phúc, và Mikhail Monoslov đã không tự day dứt bản thân lâu đến thế.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 3 - Chương 1: Biến cố


Mikhail Monoslov đã có một tuổi thơ cơ cực.

Cha của ông, Fyodor Monoslov, đã rời khỏi nước Nga để đặt chân đến chiến trường Afghanistan khi Mikhail chỉ mới có mười hai tuổi, và mãi mãi không bao giờ trở về.

Trong suốt thời gian đó, Mikhail vẫn cố gắng học tập và rèn luyện.

Năm Mikhail tròn hai mươi hai tuổi, chiến tranh Afghanistan kết thúc, một người lính trẻ đã mang di vật của Fyodor về trao tận tay Mikhail.

Là nạn nhân của chiến tranh tàn khốc và vô nghĩa, nhưng Mikhail hiểu được rằng nhiệm vụ của người lính là phụng sự đất nước.

Sau rất nhiều đêm suy nghĩ, cuối cùng, Mikhail vẫn quyết định đi theo con đường binh nghiệp của gia đình.

Tháng Tám năm 1991, cuộc binh biến đảo chính phản đối Đảng Cộng Sản Liên Bang Soviet xảy ra ở nhiều nơi trên lãnh thổ Liên Bang Soviet, đặc biệt là ở Moskva và thành phố Leningrad.

Tuy cuộc đảo chính thất bại, nhưng tổng thống Liên Bang Soviet lúc bấy giờ là Mikhail Sergeyevich Gorbachev phải từ chức, dẫn đến việc sụp đổ của Liên Bang Soviet và sự thành lập của Liên Bang Nga và sự độc lập của các nước Cộng Hoà lân cận.

Bảy giờ ba mươi hai phút tối ngày hai mươi lăm tháng Mười Hai năm 1991, lá quốc kỳ của Liên Bang Soviet trên nóc điện Kremlin được hạ xuống, và quốc kỳ Nga, lá cờ được dùng từ thời Đế Quốc Nga lại một lần nữa được tung bay sau bảy mươi tư năm, kể từ ngày Cách Mạng tháng Mười thành công năm 1917.

Sau sự giải thể của Liên Bang Soviet, Mikhail vẫn được Bộ Quốc Phòng Nga giữ lại và công tác với vai trò của một sĩ quan.

Ông vẫn làm việc rất nhiệt huyết và tận tâm.

Chính vì tính chăm chỉ trau dồi kiến thức cùng với rèn luyện tính độc lập từ bé, Mikhail Monoslov dần trở nên khá giả hơn.

Ngôi nhà ở Volgograd được sửa sang và mở rộng, và được coi sóc bởi một người quản gia tên Boris.

Mikhail Monoslov là một sĩ quan liêm chính, điều này khiến ông thăng tiến rất nhanh trong con đường binh nghiệp, nhưng cũng kéo đến cho ông rất nhiều kẻ ganh ghét thù oán.

Mikhail không hề để tâm đến điều đó, và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai lầm sau này của ông.

Khi Mikhail Monoslov ở lưng chừng độ tuổi hai mươi, mang quân hàm trung úy, ông được phái hộ tống một chuyến công du đến Nhật.

Ở đó, ông đã phải lòng một người phụ nữ Nhật xinh đẹp.

Đó là một mối tình rất thơ, kết thúc bằng một hôn lễ cổ tích.

Gia đình nhỏ yên ấm đó dường như càng thêm phần hạnh phúc với sự ra đời của người con gái Annya Monoslova khi Mikhail tròn ba mươi tuổi.

Vì là đứa con gái đầu tiên sau ba đời chỉ toàn sinh con trai nên Annya được xem như cô công chúa nhỏ của nhà Monoslov.

Annya Monoslova sinh ra đã là một đứa trẻ xinh xắn mang những đường nét lai giữa vẻ đẹp đặc trưng của cả phương Đông lẫn phương Tây.

Cô bé có mái tóc nâu dày, đôi mắt màu nâu hạt dẻ to tròn và chóp mũi cao.

Annya chắc chắn sẽ là một cô gái rất xinh đẹp khi trưởng thành.

Năm đó, Mikhail cũng được thăng cấp hàm thiếu tá.

Cuộc sống của ông tưởng chừng như đã viên mãn.

Thế nhưng, giống như những lời đồn đoán, lời nguyền của những đứa trẻ nhà Monoslov vẫn không buông tha cho đứa con gái mà Mikhail hết mực yêu chiều.

Đó là một đêm tháng Mười Một, khi Annya mới chỉ vừa bốn tháng tuổi.

Đêm đó, Mikhail phải trực đêm vắng nhà.

Quản gia Boris mang chút đồ đến nơi làm việc cho ông.

Người vợ gốc Nhật của ông, bà Akiko Monoslova ở nhà một mình cùng với cô con gái bé nhỏ.

Tám giờ tối, một vài tiếng lạch cạch vang lên trước cửa căn nhà của gia đình Monoslov.

Lúc đầu, phu nhân Akiko tưởng rằng đó là tiếng quản gia Boris mở cửa khi trở về.

Nhưng rồi bà hoảng hốt nhận ra sau khi cánh cửa bật mở đánh “rầm” một tiếng.

Quản gia Boris chưa bao giờ mạnh tay đến thế.

Có vài tiếng đàn ông vang lên phía tầng dưới của căn nhà.

Họ lao nhanh lên phía cầu thang.

Phu nhân Akiko ôm chặt Annya trong tay, thời gian dường như ngưng đọng.

Chín giờ tối, quản gia Boris trở về.

Từ xa, ông đã nhìn thấy những ánh đèn xanh đỏ chớp tắt liên hồi.

Ông dừng xe ở ngã tư gần ngôi nhà, tay run run lấy điện thoại ra bấm số.

Những hồi chuông kéo dài vang lên.

Ngay sau tiếng nhấc máy, Boris chỉ nói một câu rất ngắn bằng một giọng nấc nghẹn.

- Mikhail, về nhà nhanh đi, bọn họ gặp chuyện rồi.

Khi Mikhail trở về, người cảnh sát cuối cùng trong nhà đã bước ra khỏi cửa.

Ông lao nhanh về phía họ, gào lên trong đau đớn.

- Vợ con tôi đâu?

Viên cảnh sát nhìn lướt qua bộ quân phục trên người Mikhail, xác nhận ông là chủ nhân căn nhà.

Sau đó viên cảnh sát mới trầm giọng nói.

- Thiếu tá Monoslov, ông phải bình tĩnh lại đã.

Đứa trẻ vẫn ổn, chỉ bị một vết thương ở chân lông mày bên phải.

Người của chúng tôi đang chăm sóc cho đứa trẻ trên chiếc xe cấp cứu đằng kia.

Nhưng còn bà Monoslov thì…

Viên cảnh sát buông lửng câu nói, hướng mắt về một chiếc băng ca phủ vải trắng.

Mặt đất dưới chân Mikhail chao đảo.

Ông lê bước đến cạnh xác vợ, khụy xuống trong bất lực.

Trong đầu ông xuất hiện rất nhiều câu hỏi.

Đã xảy ra chuyện gì?

Ai đứng sau chuyện này?

Tại sao vợ ông phải chết?

Quản gia Boris hiểu được tâm trạng cũng như suy nghĩ của Mikhail, vì thế ông cố lấy lại bình tĩnh mà hỏi viên cảnh sát.

- Tôi là quản gia Boris của nhà Monoslov.

Tôi có thể hỏi rằng chuyện gì đã xảy ra với phu nhân nhà tôi không?

Viên cảnh sát lật cuốn sổ tay của mình, tìm lại những ghi chép về vụ việc.

- Một người hàng xóm đã báo cáo về tiếng súng nổ.

Khi nghe thấy tiếng động lớn, họ đã mở đèn trong nhà lên.

Có thể điều đó đã đánh động thủ phạm.

Ngay trong khi người hàng xóm gọi điện cho đường dây nóng, lại có thêm một phát súng nữa và sau đó là tiếng xe rời khỏi hiện trường.

Có lẽ thủ phạm đã dùng súng để đe dọa bà Monoslov để tìm chỗ để tiền.

Khi phát hiện bản thân bị lộ tung tích, họ đã giết bà Monoslov để diệt khẩu trước khi rời đi.

Chỉ có một điều hơi kỳ lạ, rằng dường như căn nhà không hề có dấu vết lục lọi.

Boris chau mày suy nghĩ sau khi nghe được điều đó.

Boris đoán được điều gì đã xảy ra.

Chỉ là ông chưa đoán được thủ phạm là ai mà thôi.

Nhìn sang Mikhail đang nhận lại đứa trẻ từ tay nhân viên y tế, Boris bất chợt thở dài.

Có lẽ Mikhail sẽ biết nên làm gì tiếp theo.

Đêm đó, Mikhail bế Annya ngồi bên lò sưởi, ngọn lửa cháy tí tách, bắn ra những đốm lửa nhỏ.

Boris ngồi trên chiếc ghế đẩu bên cạnh, trầm lặng không nói gì.

Không gian nặng nề đến khó tả.

Annya đã ngủ, đôi hàng mi cong dài khép hờ, bình yên không hề hay biết về nỗi bất hạnh của chính bản thân mình.

Mikhail lướt ngón tay lên đôi má tròn tròn của con gái.

Ông đã có quyết định, dù đó là một quyết định khó khăn.

- Boris, ngày mai cậu liên hệ với Viktor Kazansky.

Hiện tại, ông ấy là người duy nhất ngoài cậu mà tôi có thể tin tưởng.

Tôi sẽ nhờ ông ấy mang con bé về phía bên ngoại.

Ở đó con bé sẽ được an toàn.

Còn về phần chúng ta, tôi đã quyết tìm cho bằng được ai đã làm ra chuyện này.

Hành trình đó sẽ rất nguy hiểm, nếu cậu rời đi thì tôi cũng không thể trách cậu.

- Tôi sẽ ở đây với ông, Mikhail ạ.

Coi nào, ông coi tôi là gì thế?

Tôi không chỉ là quản gia của ông, tôi là một người bạn mà ông có thể tin tưởng.

Tôi chỉ hơi lo lắng cho Annya bé nhỏ.

Đó sẽ là một chuyến hành trình rất dài của con bé.

Nhưng cả Mikhail lẫn Boris đều không thể ngờ rằng Annya bé nhỏ đã không thể về đến đất Nhật được.

Viktor Kazansky, trong lúc bế Annya đến bến cảng Vladivostok để đến Nhật, cũng đã bị ám sát.

Sát thủ được cử đến đã dùng một cái đinh ghim để đầu độc Viktor giữa con đường đông đúc khi họ nghỉ lại tại một thị trấn.

Cái chết của ông trông vẻ bề ngoài chỉ giống như một cơn đột quỵ.

Những người đi đường đã phát hiện ra ngay khi Viktor gục xuống.

Chính vì thế, tên sát thủ đã không thể ra tay với Annya.

Vì Viktor không mang theo quá ít giấy tờ về nhân thân của Annya Monoslova, nên không một ai biết cách để liên hệ với Mikhail.

Và rồi Annya được gửi đến một trại trẻ mồ côi tại địa phương, và rồi bắt đầu khoảng thời gian lưu lạc của cô bé trong hai mươi hai năm tiếp theo.

Đó cũng chính là thời gian tìm kiếm đứa con gái trong vô vọng của Mikhail Monoslov.
 
Những Câu Chuyện Về Nhà Monoslov
Phần 3 - Chương 2: Manh mối


Đã qua gần một tuần lễ kể từ khi Annya Monoslova được Viktor Kazansky đưa đi, Mikhail vẫn chưa nhận được tin gì về họ.

Ông bắt đầu trở nên lo lắng.

Buổi sáng ngày thứ sáu sau cái đêm định mệnh đó, Mikhail trở về nhà sau một đêm ở doanh trại.

Ông ngồi xuống bàn bếp, tự rót cho mình một tách cà phê, chán nản ném tờ báo mới lên chồng báo cũ.

Boris từ ngoài cửa bước vào, trông thấy hành động của Mikhail đành lên tiếng.

- Dù sao ông cũng nên đọc qua tin tức chứ.

Chúng ta đặt báo là để đọc tin tức.

Mikhail thở ra một hơi dài, ngả người ra lưng ghế.

Ông đã quá mệt mỏi sau một đêm dài điều tra về cái chết của người vợ.

Mọi manh mối đều dẫn đến ngõ cụt.

Nhưng ông chắc chắn đó không phải chỉ đơn giản là một vụ trộm đơn thuần.

Chắc chắn ở phía sau vụ án này là một âm mưu nhắm vào ông, từ những kẻ thù mà chính ông đã chuốc lấy.

Ông nhắm hờ đôi mắt ra vẻ mệt mỏi.

- Tôi đã không đọc báo kể từ khi tôi thấy dòng tin tức về Akiko.

Ngoại trừ đào sâu vào nỗi đau của tôi thì mấy tờ báo này cũng không giúp ích gì hơn.

Nên tôi không đọc nữa.

Cậu giúp tôi tóm gọn tin tức đi Boris.

Chỉ những thông tin gì quan trọng thôi.

Boris ngồi xuống cạnh Mikhail, kéo chồng báo về phía mình, lấy giấy bút và rút tờ báo cũ nhất ở dưới cùng ra rồi bắt đầu tóm tắt tin tức cho Mikhail.

Một lúc sau, ngay khi Boris xem đến tờ báo của bốn hôm trước, ông chợt lên tiếng một cách hoảng hốt.

- Mikhail, tôi nghĩ ông nên xem qua tin này.

Mikhail vội vàng nhận lấy tờ báo.

Một đoạn tin tức được ghi ngay trang cuối của tờ báo, tuy rất ngắn, nhưng vẫn khiến trái tim của Mikhail nhói lên.

“Ngày 27/11/1997, một người đàn ông tên Viktor Kazansky đã qua đời trên đường phố tại thị trấn Miass của vùng Chelyabinskaya.

Ông Kazansky qua đời khi bế một bé gái sơ sinh đi trên đường.

Cô bé hoàn toàn khỏe mạnh tại thời điểm đó.

Ông Kazansky được xác nhận là có đăng ký lưu trú lại tại một khách sạn địa phương, cùng với người cháu gái tên là Annya Monoslova, chính là bé gái đã nêu trên.

Nhân viên khách sạn cho biết ông Kazansky có chia sẻ đang trên đường đưa cháu gái đến nhà người bà con ở phía Đông Nam đất nước.

Tuy nhiên, ngoài những thông tin trên, không thêm bất cứ thông tin gì về người thân của cô bé.

Cảnh sát thị trấn quyết định gửi cô bé đến trại trẻ của nhà thờ địa phương.”

Như vậy là Viktor Kazansky cũng đã qua đời, và Annya bé nhỏ đang lưu lạc ở một nơi xa lạ.

Mikhail đứng bật dậy, với lấy áo khoác rồi đi nhanh ra ngoài.

- Đi nào Boris, đến Miass.

Tôi đã sai khi để Annya rời khỏi vòng tay của tôi.

Đón con bé về nào.

Boris gật đầu, chạy vội lên thư phòng lấy giấy chứng sinh của Annya trước khi cùng Mikhail rời khỏi nhà.

Hai người đàn ông lái xe liên tục gần một ngày một đêm từ Volgograd đến Miass.

Họ đến thị trấn Miass thì cũng đã là rạng sáng ngày tiếp theo, không chần chừ, họ tìm đến nhà thờ địa phương.

Một vị sơ lớn tuổi tiếp đón họ.

Sau khi xác nhận Mikhail chính là cha ruột của đứa trẻ được cảnh sát thị trấn đem đến cách đây năm ngày, bà liền thở dài.

- Tôi rất tiếc, giá mà hai vị đây hay tin sớm một chút thì đã tốt.

Hai vị thấy đấy, đây chỉ là một nhà thờ địa phương, chúng tôi hiếm khi nào nhận được một trường hợp nhỏ tuổi đến như vậy.

Đứa nhỏ nhất chúng tôi nhận nuôi trước đây cũng đã hơn ba tuổi.

Chúng tôi không thể chăm sóc cô bé cho tử tế được.

Sữa dành cho trẻ sơ sinh trong tư trang của ông Kazansky cũng chỉ đủ dùng cho cô bé trong hai tuần.

Thế nên hôm qua, linh mục của chúng tôi đã đưa cô bé theo trong chuyến công tác của mình.

Ông ấy định đem gửi cô bé đến một nhà nguyện hoặc trại trẻ nào đó ở thành phố lớn như Moskva hay Sankt Peterburg.

Ở đó, may ra họ sẽ có điều kiện chăm sóc cô bé tốt hơn.

Boris nhanh chóng lên tiếng đáp lời vị sơ.

- Vậy sơ có biết cha ấy định gửi tiểu thư nhà tôi đến chỗ nào không ạ?

Vị nữ tu thở dài, ra vẻ rằng bà không thể giúp gì hơn.

- Tôi thật sự cũng không rõ.

Linh mục bảo rằng ông cần phải xem xét tận mắt những cơ sở đó trước khi chọn một nơi phù hợp nhất cho cô bé.

Hay là hai vị để lại phương thức liên lạc lại đây, khi nào linh mục quay lại thì tôi sẽ hỏi rõ rồi báo lại cho hai vị?

Đành vậy.

Mikhail cũng không có cách nào khác.

Để lại phương thức liên lạc cho vị sơ lớn tuổi xong, ông xin phép được lên thánh đường cầu nguyện.

Mikhail đã quỳ rất lâu trước thánh giá, cầu nguyện cho Annya được bình an.

Sự vụ này xảy ra dường như là ngày tận thế trong cuộc đời của viên thiếu tá trẻ.

Cả bầu trời của ông bỗng chốc sụp đổ.

Mikhail tự đổ lỗi cho bản thân mình.

Giá mà ông gây thù chuốc oán, Akiko đã không bị giết.

Giá mà ông không đưa ra quyết định gửi Annya về Nhật, Viktor cũng không bị ám sát, và quan trọng nhất là Annya bé nhỏ đã không bị thất lạc.

Tất cả là lỗi của ông.

Lần đầu tiên sau ngần ấy năm mạnh mẽ, người thiếu tá trẻ lại rơi lệ dưới chân Chúa.

Ông trách Chúa bất công với mình, nhưng chính Chúa là niềm hy vọng cuối cùng của ông.

Ông cầu xin Chúa hãy phù hộ cho Annya nhỏ bé.

Cho đến khi Mikhail bình tâm lại và rời khỏi nhà nguyện thì trời cũng đã gần tới trưa.

Quản gia Boris vẫn kiên nhẫn đợi chủ nhân của mình.

Mikhail ra hiệu cho Boris đi lấy xe, rồi cả hai rời khỏi nhà thờ.

Họ vẫn còn nhiều việc phải làm ở Miass.

Sau khi rời nhà thờ, Mikhail cùng Boris tìm đến khách sạn mà Kazansky đã thuê phòng trước khi qua đời.

Ông muốn biết chuyện gì đã xảy ra với người bạn của mình.

Đó là một khách sạn rất nhỏ, nằm cạnh một con phố sầm uất trong thị trấn.

Chủ khách sạn là một người đàn ông nhỏ con, kiêm luôn nhiệm vụ ở quầy bar.

Thấy hai người đàn ông bước vào, ông lên tiếng vui vẻ.

- Chào mừng, hai vị muốn thuê phòng lưu lại hay chỉ đến uống vài shot rượu?

Hôm nay chúng tôi có vodka nguyên chất hảo hạng, chính tay bà nhà tôi chưng cất đấy nhé.

Mikhail ngồi xuống chiếc ghế ở cạnh quầy bar, chào ông chủ khách sạn rồi hất đầu ra hiệu cho Boris ngồi xuống bên cạnh.

- Cho chúng tôi hai Vodka, neat và double shot nhé.

Sau khi hai ly rượu đã được đem ra, Mikhail mới trầm giọng mở lời với ông chủ khách sạn.

- Tôi là trung tá Mikhail Monoslov, tôi có một vài điều muốn hỏi ông về Viktor Kazansky, người đã thuê phòng chỗ ông và qua đời vài hôm trước đây.

Vừa nói Mikhail lấy thẻ quân nhân ra để chứng minh thân phận với ông chủ khách sạn.

Người đàn ông nhỏ thó nhìn chăm chú vào cái tên viết trên thẻ quân nhân, rồi ấp úng hỏi lại.

- Monoslov?

Ông là thân nhân của cô bé đi cùng với Viktor Kazansky?

- Đúng là thế.

Cô bé là con gái ruột của tôi.

Còn Viktor là bạn thân của tôi.

Tôi muốn biết chuyện gì đã xảy ra với ông ấy.

Người chủ khách sạn thở ra nhẹ nhõm.

Ông chỉ sợ dây dưa với pháp lý trong vụ việc của Kazansky.

Nhưng có vẻ hai vị khách này chỉ là người thân và muốn tìm hiểu về vụ việc.

Ông kéo một chiếc ghế phía sau quầy bar, ngồi xuống rồi bắt đầu trả lời những câu hỏi của Mikhail.
 
Back
Top Bottom