Khác Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống

Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 39: Ấp Cổ Vịt


Khi ấy, các nơi hương thôn đều phải lập điếm canh nhật, dạ, để kiểm soát những người lạ mặt qua lại trong làng.

Vậy Ấp Cổ Vịt thuộc về tên Cờ lê be gần đồn Chi Ngại, tỉnh Hải Dương, cũng phải lập điếm canh.

Và nhờ thế lực tên chủ tây, bọn phu tuần ở đây lại được tên chủ đồn Chi Ngại phát cho hai khẩu súng và mấy chục viên đạn!Hồi tám giờ mới sáng ngày 20 tháng Hai, năm tên phu tuần đương ngồi chơi ở điếm chợt thấy một bọn sáu người, ăn vận lối phu mỏ, vai khoác tay thông đi tới.

Chúng liền ngăn lại hỏi thẻ.

Bốn người đứng lại đưa thẻ cho chúng coi, còn hai người thì nghiễm nhiên đi thẳng.

Chúng vừa hô hoán vừa đuổi theo.Hai người cầm bom ném lại.

Quả bom thứ ba không nổ, nhưng hai quả đầu tiên đã lộn đất trũng, bằng cái thúng.

Bọn tuần thấy thế nguy, giương súng bắn.

Hai người khách lạ trúng đạn ngã lăn ra mặt đất.

Chúng xúm lại, kẻ đâm bằng giáo, người đánh bằng gậy!

Chán tay rồi chúng mới bắt trói.

Trong khi ấy thì bốn người kia đã vừa ném bom lại, vừa tìm lối tẩu thoát.

Những bom ấy, họ đã chứa trong tay thông mà họ khoác trên vai.

Hai người mà chúng bắt được, một người tức là anh Học, một người thì là anh Sư Trạch, một nhà tu hành giỏi võ, thường đi theo hộ vệ cho anh.

Anh Học bị chúng đánh gẫy tay!

Anh Sư Trạch thì bị chúng bắn què chân(1).

Hỏi biết lỷ lịch rồi, chúng mửng rơn, tuy vậy, chúng còn nhân nghĩa, vờ:- Khổ quá!

Sao ông không nói ngay.

Nếu chúng tôi biết ông là Nguyễn Thái Học thì chúng tôi mặc ông đi tự nhiên!

Bây giờ đã trót lỡ rồi, làm thế nào cho được.Anh Học cười:- Thôi cứ việc khiêng ta nộp với Tây mà lĩnh thưởng!Ở đời những sự bắt nhẫn con con, có khi làm lỡ việc lớn.

Trong túi anh còn mang súng lục.

Nếu anh bắn lũ tuần ngay khi chúng hỏi thẻ, và ném bom ngay bấy giờ, thì chắc là đi thoát.

Bởi lòng thương người của anh quá ư cẩn thận, không muốn giết thêm mấy người đồng bào vô tội vì những đồng bào vô tội của ta đã bị hãm hại nhiều lần, nên anh chỉ muốn ném bom doạ cho chúng sợ.

Có ngờ đâu "thương người mà khốn đến thân".Chúng vội vàng báo bước người chủ Tây, khiêng hai anh lên đồn Chi Ngại.

Chúng bỏ mỗi anh vào một cái thúng mà khiêng, có người chủ Tày cưỡi ngựa vác súng đi kèm.

Suốt hôm ấy hai anh bị giải từ Chi Ngại lên Hải Dương, từ Hải Dương lên Hà Nội.

Nực cườỉ nhất là người chủ Tây tự nhận lấy làm công mình, định tranh với bọn phu tuần năm nghìn đồng bạc thưởng.

Nhưng viên Đốc lý Hải Phòng lại cố sức bênh bọn phu tuần.Anh bị giam ở Hà Nội đến ngày 2 tháng Ba thì người ta cho tất cả gia quyến vào thăm anh.Bà Bá thấy anh, cố nén lệ mà ôm lấy con.

Anh xỉn được lạy tạ bà, vì anh đã "đắc trung thất hiếu".Chú thích:1.Anh Trạch sau bị đày sang I-ny ny, và tự tử ớ đấy.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 40: Cơ Quan Hàng Bột


Tôi muốn nhắc lại chuyện Cơ quan Hàng Bột ra đây luôn luôn để đánh dấu cái tinh thần cách mệnh của phụ nữ nước nhà hồi ấy.Đó là một cơ quan của Ám sát đoàn, do anh Độ chủ trương.Anh Độ, một công nhân, đảng viên ở Hải Phòng, sau sang làm thợ bên Lào, Nghe tin Đảng sắp sửa Tổng động binh, trong túi không sẵn một đồng tiền, anh đã chứa một đãy gạo rang, rồi đi xuyên sơn mà về Bắc.

Anh đi trong rừng, nhiều chỗ không có đường lối.

Anh cứ theo ánh mặt trời, thẳng hướng Đông mà đi mãi.

Mấy ngày sau gạo hết, anh tìm ăn các trái cây, các thứ củ trong rừng.

Ăn no bụng rồi lại đi...

Đêm thì trèo lên các ngọn cây mà ngủ!

Ròng rã mười bẩy ngày như thế, anh mới về đến Hoà Bình!Khi anh về đến Bắc, thì việc Yên Bái đã thất bại rồi.

"Dậu đổ bìm leo".

Bảo vệ cho Đảng giữ vững tinh thần trong anh em, lúc bấy giờ, cần phải có một Ám sát đoàn thật mạnh.

Anh liền tình nguyện với anh em, cho xung vào Ám sát đoàn.

Được anh Học và anh trưởng đoàn công nhận rồi, anh liền tổ chức Cơ quan Hàng Bột.Chiều hôm mồng 2 tháng Ba, Mật thám đến vây cơ quan, trong cơ quan lúc ấy có 5 người, 3 người con trai và 2 người con gái.

Thấy họ ập vào, các đồng chí ném bom và bắn súng chống lại.

Hai tên thám tử Việt Nam bị chị Tâm bắn chết.

Trong khi ấy, họ cũng rút súng bắn trả.

Hai anh đồng chí đã bị giết.

Còn thì bị bắt cả.

Bao nhiêu bom, dao, súng, đạn còn lại, đều bị bắt theo.

Chị Tâm được chúng lôi ra đánh rất tàn nhẫn.

Chúng lột trần truồng chị, rồi nắm tóc mà quật vào tường, như chúng ta vật con chuột.

Chán rồi, chúng xích tay chị lại, và cùm xuống buồng giam.

Đêm ấy chị đã nuốt cái giải yến cho tắc hơi mà về dưới dạ đài.

Lúc chúng rút cái giải yếm ở mồm chị ra, thấy đọng đầy những máu.

Năm ấy chị 18 tuổi, quê quán ở Dư Hàng, cạnh Hải Phòng.

Tên ở nhà trường của chị là Lan.

Vốn là con một nhà cách mệnh bị giết về tay cường quyền, vào Đảng, chị mong đạt cả hai mục đích: trả thù nhà, đền nợ nước.Người đồng bạn của chị là Nguyễn Thị Vân, 16 tuổi, quán làng Hạ Câu, huyện An Lão, tỉnh Kiến An.

Cùng như chị Tâm, trước mới vào đoàn Học sinh, sau mới đổi sang đoàn Án sát.

Chị đã trả lời với mật thám rất cứng cỏi:Hỏi: Mày vào Đảng để làm gì?Đáp: Để lấy lại quyền Độc Lập cho tổ quốc tôi!Hỏi: Mày đã làm việc gì trong Đảng?.Đáp: Hồi trước thì may áo khâu binh phục cho các đồng chí.

Bây giờ thì tập bắn súng, học chế bom, để giết quân phản đảng mà cứu lấy đồng bào.Hỏi: Ai rủ mày vào?

Chi bộ mày có những ai?Đáp: Chị Tâm rủ tao vào.

Chi bộ tao có bốn người thì chúng mày giết chết ba rồi đấy!Hỏi xong chị Vân rồi, họ hỏi đến anh Độ.

Tha hồ đánh, anh không nói nửa lời.

Vì thế, chúng không biết tên anh là gì!

Đem anh ra đối chất với tất cả các chính trị phạm, nhưng không ai chịu nhận anh.

Bất đắc dĩ, chúng hỏi bọn tù thường.

Một tên kẻ cắp nói riêng: "Khi xưa anh này ở Hải Phòng vẫn thấy gọi là anh Độ!".

Thế rồi chúng biên tên là anh Độ.Kỳ thực thì tên thật của anh không phải là Độ... (Anh Trịnh Văn Yên, anh hãy bảo tôi biết tên thật của anh Độ để lần tái bản sau tôi sẽ thêm vào!) Anh Độ sau bị xử khổ sai chung thân.

Ở trong ngục, anh còn tỏ cho mọi người biết cái can đảm lạ thường trong việc nhịn ăn.

Có lần anh nhịn đến 22 ngày, người chỉ còn da bọc xương, các đồng chí van lậy mãi, anh mới lại ăn.

Mà quái lạ!

Khi anh ăn đã lại người rồi, thì nước da đổi hẳn, trông hồng hào và mịn mượt, như da đứa trẻ con bụ sữa!Nhưng hồi tôi ở Côn Lôn về, thì anh đương nhác bệnh "rò", tức là triệu chứng của bệnh lao xương.

Thương anh, các đồng chí vẫn thường gửi tiền, gửi thuốc cho anh.

Nhưng vài năm nay không được tin tức gì, có lẽ anh đã thành người thiên cổ.

Chị Vân, vì cớ nhỏ tuổi, được xử 10 năm trừng giới.Hai người bị bắn chết, đến nay vẫn giữ được là hai liệt sĩ vô danh!Theo lệ thường, sau khi khám bắt, họ còn cho kẻ canh nhà để rình bắt thêm người.

Cũng vì thế, sớm hôm sau họ bắt thêm được một bà già, tay cắp cặp, đậu xe xuống trước cơ quan.

Trong cặp có ba khẩu súng lục và hơn tám trăm đồng hai món quà của bà già đem tặng cho Ám sát đoàn!Bà già ấy tức là bà Chánh Toại.

Một bà mà sau đó ở tù, bọn tù đàn bà đều gọi là Mẹ!Một bà mà thân thế đã làm vẻ vang cho phụ nữ tỉnh Bắc.

Bà đã làm giàu bằng nghề buôn súng lậu.

Và từ khi có Đảng, bà đã dùng cái nghề buôn cùng cái gia tài của bà mà giúp một cách đắc lực một cách tận tâm, cho các anh em trong Ám sát đoàn.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 41: Bảng Danh Dự


Hội đồng Đề hình của quân địch họp ở Yên Bái kỳ thứ nhất vào ngày 28 tháng Ba.

Chúng khép 10 người khổ sai có hạn; 34 người khổ sai chung thân; 50 người đi đày và 40 người tử hình!Khi bắt đầu việc biện hộ, anh Học đứng lên, đòi nhận hết trách nhiệm, và toan phân trần về các lý do chính trị của việc khởi nglũa.

Nhưng tên chủ tịch ngăn lại.

Anh cười nhạt:- Nếu vậy thì cái Toà án này là chỗ để cường quyền mà đè nén công lý!

Đã thế, ta có nói làm chi nữa?

Không để cho ta cãi được!

Nhưng ta cũng không ưng cho trạng sư nào cãi hộ ta đâu!Lúc hỏi chị Bắc, chị chỉ thét:- Chúng mày về nước Pháp mà kéo đổ tượng Gian đặc (Jeanne d'Arc) đi thôi!Và anh Ngô Hải Hoàng đối đáp như một chương trên đã thuật.Có nhiều đồng chí không thèm cãỉ không thèm trả lời.

Và giữa các ghế bị cáo, tiếng cười, tiếng nỏi lao xao, không còn có vẻ tôn nghiêm của pháp viện?

Anh em, chị em đã trêu cho bọn Hội đồng mất cả can đảm; chúng trở nên cáu kỉnh, hung hăng, coi rất là đê tiện!Kể dưới đây họ, tên các bạn đã đưọc quân thù khoác lên đầu vòng hào quang hiệp liệt, rực rỡ nghìn thu:Các anh: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Nguyễn Hát Thân, Bùi Văn Chuân, Vũ Thích, Nguyễn Ân, Lê Văn Tư, Nguyễn Đình Hiên, Nguyễn Ngọc Tập, Nguyễn Tư Giật, Nguyễn Văn Tín, Hà Văn Lao, Đào Văn Nhỉt, Đặng Hữu Hiến, Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Văn Ông, Lê Văn Tự, Bùi Văn Du, Bùi Văn Tuyết, Cao Văn Chính, Mai Viết Chính, Hoàng Văn Vọng, Ngô Văn Đu, Lê Văn Khôi (Thanh Giang), Hà Cập, Nguyễn Văn Tỉnh, Nguyễn Văn Tiềm, Đỗ Văn Tư Nguyễn Văn Kiêm.

Lê Xuân Huy, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Đức Bằng, Nguyễn Văn Chu, Ngnyễn Như Thông, Nguyễn Như Liên (Ngọc Tỉnh), Vũ Xuân Kiểm, Trần Đức Tài, Hoàng Công Tiễn, Bùi Xuân Mai, Ngô Thanh Thuyết, Ngô Hải Hoàng, Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Đắc Liên.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 42: Con Số 13


Tuy anh Học bị bắt, nhưng các đồng chí của anh ở trong nước còn nhiều.

Trước hồi Yên Bái, kể cả đảng viên, đoàn viên, nguyên ở Bắc kỳ đến 7 vạn người.

Sau hồi Yên Bái, bị bắt kể đến hơn 3 nghìn.Con số 3 ngàn dẫu to, song mới chỉ là gần 1 phần 20 của tống số.

Cố nhiên trong đó có nhiều kẻ a dua, một lần thất bại thì kinh hãi nằm yên, hay chạy theo Đảng khác.

Thế nhưng đó chính là một dịp tốt để lựa lọc đồng chí.

Những anh em trong Đảng sau cuộc cải tổ hồi ấy, lại có vẻ hăng hái và bền bỉ hơn xưa.

Chứng cớ là sau khi anh Học bị bắt, Ám sát đoàn vẫn hoạt động như thường.

Và công việc lại ghê gớm, tung tích lại bí mật có phần hơn trước nữa.

Nói tóm lại, việc anh Học bị bắt đối với Đảng tuy là một vết thương, song không phải vết thương trí mạng.

Mật thám cũng biết rõ anh Học chỉ là một người trong Trung ương đảng bộ mới.

Chúng muốn dò Anh để bắt những người trong đó, nhờ thủ đoạn một tên lính Lê dương.Tên lính này, vào coi ngục, tìm cách vin chuyện với Anh.

Lại tự xưng mình là người đảng Cộng sản Ăng Lê, đối với Anh, hắn rất đem lòng ái ngại.

Rồi ngày một, ngày hai, hắn gạ đưa thư giùm cho các đồng chí bên ngoài.

Ranh mãnh, Anh thử viết thư gửi cho một vài kẻ đảng viên cũ, khi bị bắt đã nộp anh em để gỡ tội xem sao, thì chỉ mấy hôm sau, những kẻ đó đã bị bắt đem về Hoả Lò!Anh vờ đem việc đó mà trách nó, rồi nhờ nó gửi hộ một bài Anh viết, để đăng sang một tờ báo Ăng Lê nào đó xuất bản ở Nhật hay ở Tầu.

Bài báo ấy, chẳng hiểu tại sao lại đăng trên một vài tờ báo xuất bản ở bên Pháp hồi ấy.

Anh lại xin giấy bút để viết cho viên Toàn quyền Đông Dương và các nghị viên trong Hạ nghị viện bên Pháp.

Hai bức thư ấy, báo Pháp cũng có đăng.

Đến bức thư Anh gửi cho viên Hội trưởng hội "Nhân quyền", nghe nói rằng có, song tôi tìm mãi chưa thấy đâu có, những tài liệu ấy sẽ chép trong phần phụ lục.Ở Hoả Lò bấy giờ vừa Quốc Dân Đảng, vừa Cộng sản, số người chật lên.

Để huấn luyện và làm khuây khoả anh em, các bạn xuất bản một tờ báo viết tay, gọi là "Tù nhân báo".

Tôi chưa tìm được một bài nào của Anh viết, trong tờ báo quý hóa ấy!Anh bị giam hơn ba tháng trời.

Chiều ngày 16 tháng 6, anh và các đồng chí trong số án chém, tất cả 13 người bị giải đi Yên Bái.

Từ trong buồng giam kín bước ra qua trại giam ngoài, anh chào anh em nghỉ lại.

Anh vừa đi vừa nói: "Chúng tôi chắc đi chết đây!

Các anh sống lại cứ công việc ấy nhé!

Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu!

Hoa tự do phải tưới bằng máu.

Tổ quốc còn cần đến sự hy sinh của con dân nhiều nữa.

Nhiều nữa!

Rồi thế nào cách mệnh cũng có ngày thành công!Anh em chào tiễn các anh.

Và buổi sáng hôm sau, suốt cả Hoả Lò, thường phạm cũng như quốc sự phạm đều bỏ cơm không ăn, để tỏ tình liên lạc.

Anh và 12 đồng chí với đội lính khố xanh, đi chuyến tàu đêm lên Yên Bái.

Theo sau là bọn mật thám cùng hai người cha đạo.

Trên tàu, các anh vẫn cùng nhau chuyện phiếm.Anh Chính cười:- Đến Yên Bái, chúng ta sẽ được đón tiếp long trọng lắm!

Thế nào bốn anh Thinh, Hoàng, Thuần, Thuyết, chẳng đứng chực sẵn chúng ta ở sân ga!(Bốn anh này đã bị chúng giết ở Yên Bái cùng một ngày trước các anh).Anh Học thì cãi lý với Cố Ân:- Việc gì chúng tôi phải ăn năn?

Chúng tôi chỉ là kẻ thất bại, chứ đâu phải là kẻ có tội!Rồi anh đọc mấy câu thơ tiếng Pháp:"Mourir pour sa patrie,"C'est le sort le plus beau"Le plus digne... d'envie...dịch nghĩa là:Chết vì tổ quốcChết vinh quangLòng ta sung sướngTrí ta nhẹ nhàng...Khi đến Yên Bái, chúng giam các anh vào nhà pha.

Rồi bắt đầu từ 5 giờ rưỡi sáng hôm 17 tháng sáu, các anh đã lần lượt bước lên đài vinh dự.Đó là một khoảng đất ở gần trại khố xanh, chung quanh có lính ta, lính lê dương vác súng đứng vòng tròn.

Các anh, từng người một, do lính lê dương dẫn từ trong ngục thất Yên Bái bước ra.

Trước khi ra, chúng đưa rượu cho Anh uống, nhưng anh từ chối, chỉ đòi hút điếu thuốc lào.

Người chết trước nhất là Nguyễn Như Liên, đến người thứ mười một là Nguyễn Văn Chuẩn, chỉ hô được hai tiếng "Việt Nam..." thì tên lính lê dương đứng cạnh đã bịt mồm không hô ra tiếng nữa!Anh Phó Đức Chính thứ mười hai, đòi đặt anh nằm ngửa để xem lưỡi máy chém nó xuống như thế nào!

Anh hô được đủ bốn tiếng "Việt Nam vạn tuế".Anh Học lên cuối cùng, tỏ ra vẻ cực kỳ bình thản.

Anh mỉm miệng cười, đưa mắt nhìn công chúng, nhìn quân lính, nhìn máy chém, rồi cất vọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô thật lớn bốn tiếng "Việt Nam vạn tuế".Nhưng không biết trong khi nhìn quanh ấy, tia mắt anh có gặp tia mắt một người không?
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 43: Chị Giang


Một người ấy, tôi muốn nói là chị Giang, một đảng viên mà nhà đương cuộc cho là còn có công tuyên truyền cho Đảng hơn là anh Học.Anh Học lúc trẻ con, ông, bà cưới cho một chị vợ là Nguyễn Thị Cửu.

Năm 1927, khi sắp lập Đảng, anh có nói với tôi là đã ly hôn với vợ (1)(Chú thích: Chị này lấy chống ngay sau khi ly hôn, sau này đã có 4 con).Bây giờ nhiều người như thế lắm: anh Nho, anh Chính, đều từ hôn hay cho vợ về cả.

Các anh không muốn đem cuộc đời sóng gió của mình mà làm phiền luỵ đến một người đàn bà.Ấy vậy mà có một ngày Anh tuyên bố với các bạn là Anh xin phép để được kết hôn cùng có Giang.Cô Giang, người ở tỉnh Bắc Giang, nên cả ba chị em cô, có ba tên là Bắc, Giang, Tỉnh.

Cô Tỉnh khi ấy còn nhỏ.

Còn hai chị thì đều vào đảng cách mệnh của anh Song Khê.

Việt Nam Quốc Dân Đảng nguyên không thu đàn bà làm đảng viên.

Các chị em đồng chí chỉ tổ chức phụ nữ đoàn.

Vậy mà riêng tỉnh bộ Bắc Giang có mấy nữ đảng viên.Là vì đó nguyên là đảng của anh Song Khê.

Sau khi đảng ấy hợp với Việt Nam Quốc Dân Đảng rồi, đành lẽ cứ cho như cũ vậy...

Đó là một điều lệ ngoại, dành riêng cho mấy chị ở Bắc Giang.

Song chị Giang và các chị ở đó thực đã xứng đáng với các đặc điểm ấy.

Làm giao thông, làm tuyên truyền, chị tỏ ra một người đồng chí có tài và đắc lực.

Nhưng quý hơn hết là sự tận trung với Đảng.

Trừ việc Đảng chị không còn thì giờ để làm cái gì cho đời sống riêng mình.

Sau hồi 1929, chị làm việc giao thông cho chi bộ ở các nơi, luôn luôn phải gặp gỡ và cùng đi với anh Học."

Lạ chi thạnh, khí lẽ hằngMột giây, một buộc ai giằng cho ra."

Sự thương yêu nhau của một đôi đồng chí tài sắc ngang nhau trạc tuổi gần nhau đâu phải là chuyện khiến chúng ta khó hiểu.

Rồi một buổi sớm tốt lành kia, nhân đi gần đền Hùng vương, hai người đã đem nhau vào đền mà thề nguyện.

Trong buổi định tình ấy chị cố xin Anh giao cho một khẩu súng sáu, và hứa "Nếu Học chẳng may chết vì Nước, thì Giang này cũng xin lấy khí giới này mà chết theo chồng!".Từ khi anh Học bị bắt, nhớ đến lời thề sơn hải, tinh thần chị bị cơn khủng hoảng to!

Bỗng dưng cười, bỗng dưng khóc, chị trở nên gần như kẻ mất trí khôn.

Và anh em phải mất rất nhiều công bảo vệ cho chị, để chị có thể yên tâm ở Hà Nội mà gián tiếp thăm nom anh Học.Chiều hôm ấy, nghe tin anh Học bị giải lên Yên Bái, chị cũng đáp xe lửa đi theo hút.

Chị mang theo một khẩu súng, một quả bom, định vào phá pháp trường.

Nhưng bọn lính canh đã ngăn không cho chị tới gần.

Đứng đằng xa, với một sức tự trị phi thường, chị đã đem nụ cười mà đáp lại nụ cười của anh Học khi sắp bước lên máy chém.

Nấp trong đám người đứng xem, chị đã không lộ mảy may nỗi đau xót, cho người ngoài biết.

Xem chém xong, chị quay về nhà trọ mà viết hai bức thư tuyệt mạng.

Hai bức thư ấy viết trên ba trang giấy khổ hẹp, bằng nét bút chì xanh.

Rồi ra chợ chị mua mấy vuông vải trắng, làm khăn để tang chồng.

Buổi chiều, chị đi xe lửa sang Vĩnh Yên.

Và sớm hôm sau, chị về địa hạt Đồng Vệ, cạnh làng Thổ Tang, vào thăm lại cái quán giữa đồng mà đôi vợ chồng son đã có lần cùng ngồi trò chuyện.

Nghĩ đến chồng, nghĩ đến Đảng, nghĩ đến Nước, cái thiên tính muốn sống với cái ý định phải chết đã giao tranh kịch liệt!Sự giao tranh ấy đã làm cho chị bơ phờ mỏi mệt.

Cái quyết tâm đến với cái mỏi mệt ấy, bước ra ngoài quán, chị cầm súng tự bắn vào thái dương bên phải một phát, rồi ngã vật xuống, súng quăng ra một bên.Khi ấy chị đã có mang mấy tháng.

Viên Tri phủ Vĩnh Tường trình tỉnh khám qua rồi báo về Hà Nội cho mật thám đem thầy thuốc lên khám lại.

Do cái tên ký "Nguyễn Thái Học phu nhân", chúng biết là chị.

Và bởi biết là chị, nên chúng tìm cách trả thù ở cái xác chết: Sau khi lột áo quần ra khám rồi, chúng không hề mặc trả lại.

Và còn để thi hài bộc lộ ở dưới ánh nắng, dưới nước mưa, dưới sự bâu hút của ruồi, nhặng, đến hai, ba hôm, rồi mới cho mai táng!Hai bức thư của chị như sau này:Bức thư thứ nhất:Ngày 17 tháng 6 năm 1930.Thưa Thầy Mẹ,Con chết là vì hoàn cảnh đã bó buộc con, không báo được thù cho nhà, rửa được nhục cho nước!Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở đền Hùng, giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ mượn phát súng này mà kết liễu đời con!Đứa con dâu thất hiếu kính lạy.Bức thư thứ haiAnh đã là người yêu nướcKhông làm tròn được nghĩa vụ cứu nước.

Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để mà chiêu binh, rèn lính dưới suối vàng!Phải chịu đựng nhục nhã, mới có ngày mong được vẻ vang.

Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền mà cứu lấy đồng bào đau khổ!Thơ:Thân không giúp ích cho đời!Thù không trả được cho người tình chungDẫu rằng đương độ trẻ trungChết vì dân chúng thề lòng hy sinhCon đường tiến bộ mông mênh,Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao?Bây giờ hết kiếp thơ đào,Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây!Dẫu rằng chút phận thơ ngây.Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên!Chết đi dạ những buồn phiềnNhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mìnhQuốc kỳ phất phới trên thành,Tủi thân không được chết vinh dưới cờCực lòng nhỡ bước sa cơ!Chết sầu, chết thảm, có thừa xót xa!Thế ru?

Đời thế ru mà.Đời mà ai biết?

Người mà ai hay?Đọc bức thư thứ hai, đủ rõ tâm trạng chị Giang khi đó như thế nào: "Chết theo nước!

Chết theo chồng!".

Ở trong cái trí nghĩ, mê man vì đau đớn bấy giờ, các sự vật có lẽ đều biến chuyển, mê ly, không còn có giới hạn rõ ràng nữa.

Dù vậy, cho đến phủt cuối cùng lòng chị vẫn không nhãng quên cái bổn phận làm dân đối với đồng bào, làm con đối với cha mẹ!

Và vẫn kỳ vọng ở các đồng chí chết sau vì chị mà trả hộ thù nhà, rửa xong nhục nước!Tấm lòng trách nhiệm ấy là một cái đặc sắc chung của người phương Đông chúng ta, bất cứ ở địa vị nào.HẾT
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Phụ Lục


Thư của Nguyễn Thái Học viết cho Hạ nghị viện PhápCác ông Nghị viên!Tôi ký tên dưới đây là Nguyễn Thái Học, người Việt Nam, 26 tuổi, chủ tịch và sáng lập viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, hiện bị bắt và giam ở ngục Yên Bái, Bắc kỳ, Đông Dương, trân trọng bày tỏ như sau này:Theo công lý, ai cũng có quyền bênh vực tổ quốc mình khi bị các nước khác xâm lược, và theo nhân đạo ai cũng có nghĩa vụ phải cứu vãn đồng bào ở trong vòng nguy hiểm, khó khăn.

Như tôi, tôi thấy rằng tổ quốc tôi bị người Pháp các ông chiếm lĩnh hơn sáu mươi năm nay; tôi thấy rằng dưới ách chuyên chế của các ông đồng bào tôi khốn khổ vô cùng, và dân tộc tôi dần dần sẽ tiêu diệt hoàn toàn, theo luật tự nhiên đào thải.Bởi vậy, quyền lợi và nghĩa vụ đã thúc giục tôi phải tìm hết cách để bênh vực tổ quốc tôi đương bị người chiếm lĩnh, và dân tộc tôi đương ở cảnh gian nguy.

Trước hết, tôi định cùng với các người Pháp ở Đông Dương mà làm việc cho đồng bào tổ quốc và Dân tộc tôi, nhất là việc mở mang tri thức cùng kinh tế.

Về phương diện kinh tế, năm 1925, tôi đã gửi cho viên Toàn quyền Varen một bức thư, gồm có những nguyện vọng xin bênh vực che chở cho nền công, thương bản xứ, và nhất là lập một trường Cao đẳng Công nghệ ở Bắc kỳ.

Năm 1926, tôi lại gửi một bức thư nữa cho viên Toàn quyền Đông Dương, trong có một dự án giúp cho dân nghèo có thể dễ sống.

Năm 1927, tôi lại gửi cho Thống sứ Bắc kỳ một bức thư, xin ra một tập Tuần báo, mục đích là bênh vực và khuyến khích cho nền công thương bản xứ.

Về phương diện trí thức, năm 1925, tôi gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương, yêu cầu:Quyền tự do mở các trường dạy không lấy tiền cho dân hạ cấp đến học, nhất là cho thợ thuyền và nông dân.2) Quyền tự do mở các bình dân thư xã ở các làng cùng ở các tỉnh công nghệ.Khốn nỗi cái gì họ cũng cự tuyệt!Thư tôi chẳng thấy trả lời; dự án của tôi chẳng thấy thực hiện; các lời yêu cầu của tôi chẳng thấy ưng chuẩn, mà đến các bài tôi viết lên báo cũng bị kiểm duyệt xoá bỏ nốt!Cứ những chuyện cự tuyệt đó, tôi thấy rõ ràng rằng: người Pháp không hề có thực lòng với người Việt, và tôi chẳng giúp ích gì được Tổ quốc tôi, đồng bào tôi, dân tộc tôi cả, trừ phi là đuổi người Pháp ra khỏi đất nước tôi!Bởi vậy, năm 1927, tôi bắt đầu tổ chức một đảng cách mệnh, lấy tên là Việt Nam Quốc dân đảng, mục đích là đánh đổ chế độ cường quyền áp bức ra khỏi nước tôi, và lập nên Chính phủ Cộng hoà Việt Nam, gồm những người thực lòng tha thiết đến hạnh phúc của quần chúng.Đảng tôi tổ chức bí mật, và đến tháng 2 năm 1929 thì bị bọn mật thám khám phá, trong các đảng viên đảng tôi, bị bắt một số khá lớn, và bị xử cấm cố từ 2 năm đến 20 năm, tất cả 52 người.

Bị bắt nhiều, bị xử ức mặc dầu, Đảng tôi đâu có chịu hoàn toàn tiêu diệt!Dưới quyền tôi chỉ huy, Đảng vẫn hoạt động và đi tới mục đích.

Ở Bắc kỳ nổi lên một phong trào cách mệnh; nhất là ở Yên Bái, đã giết chết được mấy sĩ quan.

Tổ chức và cầm đầu cho phong trào đó, người ta buộc cho đảng tôi, lấy cớ rằng chính tôi là chủ tịch của đảng đã ra lệnh đánh.

Kỳ thực thì tôi chưa hề hạ lệnh ấy, và đã đem những chứng cớ đích xác, để chứng rõ ràng không, với Hội đồng Đề hình Yên Bái.

Vậy mà, một số đông đảng viên, hoàn toàn không biết gì đến phong trào ấy cũng bị bắt và bị buộc là có tham dự vào công việc!Chính phủ Đông Pháp đã đốt phá nhà họ.

Chính phủ Đông Pháp đã cho lính đến đóng, rồi tịch thu gạo thóc của họ mà chia phần với nhau.

Chẳng những đảng viên đảng tôi phải cam chịu nỗi bất bình, mà gọi là tàn bạo, tưởng đúng hơn!

Mà còn phần đông đồng bào tôi, hiền lành làm lụng ở nhà quê, đã sống cái đời ngựa, trâu cũng chịu hại lây nữa!

Hiện nay trong các miền Kiến An, Hải Phòng, Bắc Ninh, Sơn tây, Phú thọ, Yên Bái, có hàng vạn người đàn ông, đàn bà, ông già, con trẻ, vô tội mà bị giết!

Hoặc bởi chết đói, chết rét, vì Chính phủ Đông Pháp đã đốt mất nhà!

Vậy tôi trân trọng lấy nước mắt, nhờ các ông làm cho tỏ rõ nỗi bất bình ấy là cái nó làm cho dân tộc tôi sẽ hoàn toàn tiêu diệt, là cái nó làm cho mất hết danh dự nước Pháp, là cái nó làm cho giảm cái giá trị của loài người!Sau nữa, tôi trân trọng báo cho các ông biết: Tôi xin chịu trách nhiệm về tất cả mọi việc chính biến phát sinh trong nước tôi và chỉ huy bởi Đảng tôi, từ năm 1927 đến giờ.

Vậy chỉ cần giết một mình tôi là đủ mà đừng làm tội những người khác hiện nay đương bị giam ở các cửa ngục.

Vì chỉ có mình tôi là thủ phạm thôi, còn những người khác đều vô tội cả.

Họ vô tội, vì trong số đó thì một phần là những đảng viên, nhưng sở dĩ họ vào đảng là vì họ nghe lời tôi khuyến khích cho họ biết: thế nào là nghĩa vụ một người dân đối với Nước; thế nào là những nỗi khổ nhục của một tên vong quốc nô!Còn ngoài ra thì là những người không phải đảng viên, nhưng bị kẻ thù hay bọn mật thám đặt điều vu cáo, hay lại vu cáo bởi những bạn hữu không chịu nổi những cách tra tấn tàn nhẫn của Công an cục (Sở mật thám), và khai bừa ra cho đỡ phải đòn!Tôi nhắc lại một lần nữa để các ông biết rằng chỉ cần phải giết một mình tôi hãy còn chưa đủ hả thì chu di cả nhà tôi, nhưng xin các ông tha cho những người vô tội như trên đã nói.Sau cùng, tôi kết luận bức thư này mà nói cho các ông biết rằng: Nếu người Pháp muốn ở yên ở Đông Dương mà không phải khốn đốn vì phong trào cách mệnh thì phải thay đổi cái chương trình chính trị hung tàn và vô đạo hiện hành ở Đông Dương; phải cư xử cho ra vẻ những người bạn của giống Việt Nam, chứ đừng có lên bộ là những ông chủ bạo ngược và áp chế; phải để lòng giúp đỡ cho những nỗi đau khổ về tinh thần, về vật chất của người Việt Nam, chứ đừng có khắt khe, thâm độc nữa!Các ông Nghị!Hãy nhận lấy tấm lòng tôi trân trọng cám ơn!Thư gửi cho viên Toàn quyền Đông DươngYên Bái, ngày... tháng 3 năm 1930.Gửi ông Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội.Ông Toàn quyền,Tôi Nguyễn Thái Học ký tên dưới đây, chủ tịch đảng cách mệnh Việt Nam Quốc Dân Đảng, hiện bị giam ở ngục Yên Bái, trân trọng nói ông rõ rằng:Hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, tôi thực có trách nhiệm về tất cả mọi việc chính biến phát sinh ở trong nước, do Đảng tôi chỉ huy từ năm 1927 tới nay, vì tôi là chủ tịch của Đảng, và là người sáng lập nữa.

Vậy xin ông giết một mình tôi, chứ đừng giết các người đảng viên hay gọi là đảng viên, hiện bị giam ở các ngục, bởi vì người ta vô tội!Người ta vô tội, vì trong số đó thì một phần là những đảng viên, nhưng sở dĩ họ vào đảng là vì họ nghe lời tôi khuyến khích cho họ biết: thế nào là nghĩa vụ một người dân đối với Nước; thế nào là những nỗi khổ nhục của một người dân mất nước!Còn ngoài ra thì là những người bị vu cáo bởi bọn thù hằn, bởi lũ mật thám, bởi những bạn bè bán mình cho chính phủ Đông Dương!

Tôi nhắc lại một lần nữa để ông biết rằng chỉ cần giết một mình tôi, vì tôi mới chính là thủ phạm.

Mà nếu còn chưa đủ hả, thì xin chu đi cả nhà tôi, nhưng tôi đem nước mắt mà xin ông tha cho những người khác!Sau nữa tôi mong ông nghĩ đến danh dự nước Pháp, đến công lý, đến nhân đạo, mà thôi đừng ra lệnh ném bom hay đốt phá những làng vô tội như ông vừa mới làm.

Đó là một lệnh giết người.

Những đồng bào của tôi sẽ vì thế mà chết đói, chết rét lấy vạn mà kể!Sau cùng kết luận của bức thư tôi nói cho ông biết rằng nếu người Pháp muốn ở yên ở Đông Dương mà không phải khốn đốn vì phong trào cách mệnh thì:1) Phải thay đổi cái chương trình chính trị hung tàn và vô đạo hiện hành ở Đông Dương2) Phải cư xử cho ra vẻ những người bạn của giống Việt Nam, chứ đừng có lên bộ là những ông chủ bạo ngược và áp chế.3) Phải để lòng giúp đỡ cho những nỗi đau khổ về tinh thần, về vật chất của người Việt Nam, bằng cách trả lại các nhân quyền, như tự do du lịch, tự do học hành, tụ do hội họp, tự do ngôn luận, đừng có dung túng bọn tham quan, ô lại, và những phong tục hủ bại ở các hương thôn; mở mang nền công, thương bản xứ cho nhân dân được học tập những môn cần thiết.Ông Toàn quyền,Hãy nhận lấy tấm lòng tôi tôn kính và cảm kích, với sự nhiệt liệt tạ ơn.Kẻ thù của ôngNhà Cách mệnh Nguyễn Thái Học° °NGUYỄN THÁI HỌC lần thứ nhất in tại Hà Nội phát hành đúng vào ngày lễ kỷ niệm Nguyễn Thái Ho(c (không gửi được vào Nam).

Kỳ xuất bản lần thứ hai này in tại Saigon cũng do Việt Nam Thư Xả xuất bản và Tân Việt phát hành.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Văn Tế Nguyễn Thái Học


Sau khi ông mất, sinh viên học sinh Huế tổ chức lễ truy điệu và đọc bài Văn tế các Tiên-liệt Việt Nam Quốc Dân Đảng sau đây do cụ Phan Bội Châu trước tác.Gươm ba thước chọc trời kinh, chớp cháy, này Lâm Thao, này Yên Bái, này Vĩnh Bảo, khí phục thù hơi thở một tầng mây!Súng liên thanh vang đất thụt, non reo, nào chủ đồn, nào xếp cẩm, nào quan binh, ma hút máu người bay theo ngọn gió.Trách nông nỗi trời còn xoay tít, trước cờ binh sao quay gió cản ngăn;Tiếc sự cơ ai quá lờ mờ, dưới trướng giặc bấy nhiêu tay len lỏi.Ma cường quyền đắc thế sinh hùng uy,Thần công lý bó tay nghe tử tội.Ôi thôi, mù thảm mây sầu,Gió cuồng mưa vội;Cửa quỷ thênh thang!Đường trời vòi vọi!Nhân dân chí sĩ, sát thân vào luật dã man;Nữ kiệt anh hùng, thất thế đang hồi đen rủi. [8]Trường tuyên án chị chị anh anh cười tủm tỉm, tức nỗi xuất sư vị tiệp, [9]vai bể non gánh nặng hãy trìu trìu,Đoạn đầu đài sau sau trước bước ung dung, gớm gan thị tử như quy, [10]mặc cây cỏ máu tươi thêm chói chói.Tuy kim cổ hữu hình thì hữu hoại, sóng Bạch Đằng, mây Tam Đảo, hơi sầu cuộn cuộn bóng rồng thiêng đành ông HỌC xa xuôi,Nhưng sơn hà còn phách ắt còn linh, voi nàng Triệu, ngựa nàng Trưng, hình hạc gió, hãy cô GIANG theo đuổi.Đoàn trẻ chúng tôi nay:Tiếc nước còn đau,Nghĩ mình càng tủi!Nghĩa lớn khôn quên,Đường xa dặm mỏi!Giây nô lệ quyết rày mai cắt đứt, anh linh thời ủng hộ, mở rộng đường công nhẩy, bằng bay;Bể lao lung đua thế giới vẫy vùng, nhân đạo muốn hoàn toàn, phải gắng sức rồng dành, cọp chọi,Đông đủ người năm bộ lớn, đốt hương nồng, pha máu nóng, hồn thiên thu như sống như còn,Ước ao trong bấy nhiêu niên, rung chông bạc, múa cờ vàng, tiếng vạn tuế càng hô càng trỗi.Tình khôn xiết nói,Hồn xin chứng cho,Thượng hưởng!—Sào Nam Phan Bội Châu, (1932)
 
Back
Top Dưới