Khác Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống

Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 19: Dân Khí Năm 1929


Chẳng những tinh thần của đảng không nao núng mà thôi, dân khí ở trong nước hồi ấy cũng nổi lên bồng bột lắm, đối với những anh em trong tù, quốc dân đều đem lòng thương mến.

Một bọn nữ học sinh đã rủ nhau bỏ tiền, may quần áo, đem bánh quà, rồi nhận chằng là em gái, là vị hôn thê, để hàng tuần vào thăm những người bị bắt không có gia đình ở Hà nộì?

Trong trường Cao đẳng Y học, các sinh viên góp nhau mỗi người hai đồng để giúp cho cho anh em trong vòng xiềng xích.

Tiếc thay, giống mặt người dạ thú ở chỗ nào cũng có.

Cùng tiếng sinh viên, cũng nay may bác sĩ, mà tên Ph.

Ng.

T. lại nỡ đem việc ấy làm mồi tâng công!

Hắn tâu mọi việc đó với mật thám rồi, còn xin “nhà nước” trừng trị rất nhiều những kẻ góp tiền, để phong trào cách mệnh khỏi lan rộng trong các trường Cao đẳng!

Ôi!

Trí thức!

Ở tỉnh thành đã vậy, ở thôn ổ càng thêm náo nức!

Xưa kia các thanh niên đồng ruộng chưa hề biết có đảng.

Nay nhân việc bắt bớ đăng trên báo chương, họ vui mừng phấn khởi, rồi cứ lần mò tìm cho thấy Đảng mà xin vào, trong số đó, các tay hào trưởng cũng nhiều.

Suốt một tổng Kha Lâm ở Kiến An, các hương chức toàn là đảng viên.

Làng Cổ Am ở Hải Dương, làng Võng La ở Phú thọ, hội đồng chi bộ họp ở giữa đình làng.

Trương tuần, phó lý thì ra nhoài đường cái đi canh gác nhà chức trách!

Các cụ già, đàn bà, con trẻ, thì xúm quanh dự thính.

Cho nên nhóm thực dân đã in ra hàng vạn tấm ảnh anh Nguyễn Thái Học, anh Sơn Khê, phát đi các làng, lại treo giảì thưởng hàng năm nghìn đồng, mà không sao bắt được!

Họ bảo nhau:

- Bắt làm gì các ông ấy!

Các ông ấy cho một phát súng thì mất mạng, còn đâu mà ăn cái thưởng năm nghìn!

Nhiều làng thấy các anh đến, các huynh thứ lại góp tiền tiễn bàn!

Kẻ nào nhút nhát quá, sợ liên luỵ, thì đến nói mời các anh đi ở làng khác, chứ cũng không hề có ai đi báo mật thám.

Nói tóm lại thì đại đa số dân chúng hồi ấy đều ủng hộ cách mệnh.

Cho nên các anh dù đi trốn mà vẫn tiến hành được mọi việc dự bị về việc quân.

Sau nữa, ở đời nhiều khi cũng có những cái may mắn lạ lùng.

Một hôm không rõ ở làng nào, bọn mật thám đương khám nhà một người đồng chí, thì Anh ở đâu xách cái cặp về.

May người thư ký làng ấy đi vắng.

Khi Anh về chúng tưởng Anh là người thư ký đi vắng về nghe tin khám xét nên cắp cặp đến.

Chừng bảo Anh làm cái biên bản.

Chữ Anh vẫn xấu, lại càng ra vẻ một ông thư ký nhà quê lắm!

Thành thử ra Anh ngồi ngay trước mắt mà chúng không biết.

Sau khi bọn mật thám đi rồi, cả làng phải lấy việc đó làm quái lạ.

Cũng vì thế mà dân gian đã đồn anh có phép “tàng hình”.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 20: Một Bức Thư


Hồi tháng tư năm ây, Anh ở nhà các đồng chí tỉnh Ninh Bình.

Rồi đi lối Nho Quan lên Hoà Bình, ở trong đồn điền của ông đồng chí già Quách Vị.

Hồi tháng 5, Anh lên giám sát tỉnh Sơn Tây, rồi qua Hưng Hoá, lập thêm hai chi bộ Bảo Vệ và Võng La.

Anh vẫn luôn luôn hoạt động ở trong nước, nhưng muốn đánh lừa mật thám, cho họ đỡ chú ý, Anh cho người phao tin là anh đã trốn sang Tầu.

Nhân thể anh sai Nguyễn Văn Kinh trước làm ở Việt Nam khách sạn, lên dò xét các đồn ảỉ ở Lạng Sơn, Cao Bằng, tiện dịp liên lạc với các anh em nhà binh ở Hà Nội vừa mới bị tình nghi đầy lên các miền biên giới.

Anh liền giao cho Kinh một bức thư để thực hành cái kế phản gián ấy.

Bức thư đánh máy, viết theo lối chữ quốc ngữ mới mà anh em Việt Kiều ở ngoại quốc thường dùng.

Và giả như là của một đồng chí ở ngoài gửi tay về cho Ngọc Kinh, một người tài xế ở Móng Cáy.

Kinh phải mạo hiểm làm cái gì khả nghi để cho họ bắt.

Họ sẽ khám trong mình Kinh mà thấy bức thư ấy.

Như vậy, họ sẽ có thể tin là anh Học đã ra ngoài thật.

Vì bức thư như sau này:

“Quảng Châu ngày 25 tháng 4, năm 1929

Ngọc Kinh,

Thái Học đồng chí nghe thấy tin khác nào như sét đánh bên tai.

Mấy phen toan trèo non, vượt bể về thành sầu khổ.

Trước là mưu tìm cách giúp ích cho đồng chí.

Sau là xem mặt những lũ vô nhân, loại bán nước buôn dân.

Nhưng chưa có dịp về được iại phải đợi đến Fête de Jeanne d’Arc vậy!

Đồng chí Thái Học nay nói cho thanh niên đồng chí biết, cách hậu trình đi xuyên sơn hoặc đi thuyền không biết chừng.

Sau này xin đồng chí chớ nên nản lòng.

Xem như đồng chí Thái Học biết bao năm góc biển, chân trời, lao tâm, khổ tứ.

Ấy cũng chỉ vì trông thấy cái chế độ cường quyền áp chế đồng bào Việt Nam mình!

Nếu đồng chí nay phải ly biệt gia đình ra, cũng bởi vấn đề khôi phục giang sơn, mong có ngày hai mươi nhăm triệu đồng bào thoát khỏi vòng nô lệ.

đồng chí nghĩ sao?

Thư riêng cho Kinh và em của Trác, nhưng phải “cẩn thận”. (Xem xong đốt đi)”

Thế nhưng Nguyễn Văn Kinh chẳng phải là người đáng cho anh sai.

Khi bị bắt ở mạn ngược, giải về Hà nội, bị tên Bơ-rít doạ nạt, dỗ dành, liền thú thực hết cả câu chuyện.

Muốn tâng công, hắn còn mách cá đến những nơi Anh hiện năng đi lại.

Vì thế, ngày 13 tháng 6, Anh xuýt bị bắt ở nhà Phó lý Dương Quang (Bắc Ninh), rồi hôm 16, nhà Phó lý Quan Khê (cùng tỉnh) lại bị khám.

Khám không thấy anh ở đấy, những tay mật thám lại lộn ngay về Gia Lâm, tìm anh ở nhà chị Nguyễn Ngọc Sơn, may mà Anh và cô Giang cùng ba đồng chí nữa lại vừa ở đấy đi xong.

Nguyên anh thường vẫn đến đấy, bảo chị Sơn lấy cớ vào thăm anh Sơn mà trông tin tức với anh em trong Hoả Lò.

Một mình tên Kinh đã phá hại cả ba cơ quan trong một lúc.

Tuy ở vào cảnh nguy nan, mà Anh vẫn thản nhiên với một tinh thần mạo hiểm đến mực táo bạo!

Hồi chín giờ sáng hôm ấy, Anh lững thững đến trước mặt viên sếp ga Gia Lâm, gọi nhờ giây nói về Hà Nội, nói là có việc cần kíp lắm.

Sếp ga tưởng anh là nhân viên Mật thám, vui vẻ giúp việc.

Chiều có bọn mật thám thật tới miêu tả hình dạng Anh, Sếp ga mới ngã ngừa ra là mắc lỡm.

Nhưng mà anh đi đã xa rồi, thế là miền Bắc Ninh bị động, Anh liền lẩn sang Tuyên Quang.

Anh ở các nhà đồng chí ở Đầm Hồng, ở Sông Gầm.

Thường khi vận áo vải, quần nâu, đi tuyên truyền trong đám các anh em lao động.

Dần dà đã đến mồng 2 tháng 7.

Ngày mà chúng tôi, những kẻ không chịu thú nhận, đã phải giam kín mỗi đứa một buồng ròng rã hơn bốn tháng trời, được nhân dịp ra toà mà thở ít khí trời quang đãng.

Ngày mà Hội đồng Đề hình đã tặng hai anh chủ tịch của Đảng cái án vắng mặt cầm cố hai mươi năm!
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 21: Thị Nhu, Thị Uyển


Các bạn đọc coi đó đủ rõ hồi ấy họ truy nã anh Học gắt gao chừng nào!

Cũng vì thế mà xảy ra cái án Thị Nhu, Thị Uyển.

Hai cô này họ Trần là đôi chị em ruột, cùng một người em trai nữa, đều là người bên Hội Thanh Niên.

Cả ba bị bắt vào sở Mật thám, rồi giải sang Hội đồng Đề hình.

Muốn gỡ tội cho em, muốn gỡ tội cho mình, hai nhà nữ chí sĩ ta mới xin với Bờ-rít tha ra, để sẽ tìm bắt cho được Nguyễn Thái Học.

Sau khi ra khỏi Hoả Lò, họ liền xuống Thái Hà ấp đến thăm một người vừa là đồng chí, vừa là anh họ, là anh Mai Văn Triệu, tục gọi Cả Sâm!

Hàn huyên xong, Nhu và Uyển kể sự tình rồi nhờ Sâm chỉ cho biết chỗ ở của Nguyễn Thái Học.

Sâm hứa sẽ điều tra hộ.

Và hôm sau, 30 tháng năm 1929, nhân có Dương Hạc Đính đến thăm, Sâm liền cho Đính biết chuyện.

Đinh cười:

- Được!

Anh để mặc tôi!

Tôi sẽ liệu cho chúng nó…

Sớm ngày 31, Đính cho một người đưa hai nữ đồng chí, đi ô tô xuồng Hải Phòng lùng bắt nhà lãnh tụ Quốc Dân Đảng!

Tới nơi thì đã có người đón.

Người trước liền quay về, để người sau chỉ điểm hộ hai cô!

Ba người đi xe tay qua cầu Bonnal.

Ở đấy một người thứ ba nữa đương giắt xe đạp đứng chờ.

Người hướng đạo liền xuống ngựa người, lên ngựa sắt và bảo hai cô:

- Giờ, trời còn sớm quả, chưa chắc hắn đã ở nhà.

Bảy giờ rưỡi tối, tôi hãy đưa các chị đi.

Tôi chờ các chị ở ngã ba đầu Ngõ Nghè, rẽ sang đường Cát Cụt!

Nói rồi, phóng xe đi thẳng.

Hai nhà nữ cách mệnh ta liền đến thăm người cha, tu ở một cảnh chùa tại bến Hải Phòng.

Chuyện trò một lát, họ ra hàng dùng cơm.

Cơm nước xong, đúng giờ hẹn, tìm ra nơi hẹn.

Dưới ánh điện hoe đỏ, và lờ mờ vì cột đèn thưa quá hai cô theo người hướng dẫn bước vào Ngõ Nghè.

Vừa đi được mấy chục bước thì một bóng người từ trong xó tối nhô ra, chĩa súng lục tặng cho mỗi cô một phát!

Cô Uyển đạn trúng ngực chết tươi!

Cô Nhu què chân nằm quằn quại trên vũng máu!

Cả người bắn cùng người hướng dẫn thoắt đã biến đi đâu mất!

Người ta nhặt được ở bên mình hai cô một tờ giấy đề ngày 28 tháng 5.

Ấy là bản ản của Toà án cách mệnh, khép hai lên Việt gian vào tội tử hình.

Cũng như cái án Ba-gianh, người ta đến giờ vẫn chưa rõ chính ai là người đã bắn Thị Nhu, Thị Uyển.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 22: Những Kẻ Khốn Nạn


Nếu đồng bào ta hồi ấy phần đông ủng hộ cách mệnh thì cũng không khỏi có những kẻ khốn nạn, muốn lợi dựng cơ hội, vu hãm người khác để mong trả thù riêng!

Ví dụ như tên Đỗ Hiệp, Lý trưởng xã Đồng Duyên Thanh Liêm, Hà Nam, vu cáo cho một người làng có giao thiệp với Nhượng Tốn và thường gửi tiền cho Học.

Và tên Phụng ở làng Đông Chữ, Nam Xang, cũng cùng tỉnh ấy vu cáo cho lý trưởng có chứa chấp Học và các đồng chí ở trong nhà!

Tức cười nhất là tên Phụng lại còn vờ vịt trong tờ trình: “Tôi cũng biết làm thế này là đắc tội với tổ quốc, với đồng bào!

Nhưng sợ có sự liên luỵ đến dân làng nên buộc lòng phải đi báo!”

Rõ khéo dở trò con khỉ!

Bao giờ cho trong nước chết hết những hạng đê tiện ấy?

Mà cả hai việc đều do người trong tỉnh Hà Nam cả.

Đủ rõ phần đông dân trong tỉnh ấy hèn đớn và điêu bạc đến mực nào!
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 23: Việc Xử Tử Thừa Mai


Trên kia tôi đã kể đến chuyện Thừa Mai.

Vì tội phản Đảng, toà án của Đảng đã khép Mai vào tử hình.

Cho được thực hành bản án ấy, Đảng đã sai anh Trịnh Tam Tỉnh, một người trong Ám sát đoàn.

Bấy giờ là trung tuần tháng Bảy.

Anh trưởng đoàn đến nhà anh Tỉnh ở Cống Vọng, truyền cho biết lệnh của đảng và giao cho một khẩu súng lục đầy đạn.

Lại đưa cho một bản đồ tỉnh Thái Bình, đánh dấu nhà Thừa Mai bằng một chữ “thập” và dặn:

- Phố nó ở đã đông, mà nhà nó người cũng lại đông nữa!

Anh phải đợi khoàng năm giờ chiều, là lúc nó đi làm ở dinh Tổng đốc về thì mới dễ hạ thủ!

Giết xong, anh sẽ đi xe đạp qua bên Tân Đệ mà về.

Mới hai mươi hai tuổi đầu, anh Tỉnh tự coi mệnh lệnh của đảng đối với mình là một vinh dự.

Còn gì vinh dự cho một người cách mệnh bằng được chân tay mình xử tử một tên phản Đảng, bán nước!

Thu xếp việc nhà xong, anh liền xuồng tầu thủy mà đi Thái Bình.

Dưới tầu, anh gặp anh Phạm Đức Huân, một người bạn bên học sinh đoàn.

Anh Huân đòi anh Tỉnh cho đi theo.

Đúng hai giờ chiều hôm mồng ba tháng Tám, hai anh xuống bến Tân Đệ.

Anh Tỉnh có người quen ở Bùng, nhân về chơi qua làng Bùng để thăm người ấy.

Các anh định hôm sau mới qua Thái Bình.

Chiều hôm vô sự, hai anh đi rong trên đê Bùng.

Lúc đến quãng có lối rẽ gần làng Thanh Ban, thì vì lẽ cần tự nhiên, anh Tỉnh đưa súng cho anh Huân mà đi xuống ruộng.

Chưa xuống đến nơi thì nghe tiếng súng nổ.

Anh Huân táy máy nghịch súng vô ý đã để cho đạn bắn vào cạnh sườn.

Anh Tỉnh vội vàng chạy lên ôm lấy anh Huân, máu vấy đầy cả quần áo.

Anh Tỉnh kêu:

- Khổ quá!

Thế này người ta sẽ bảo là tôi giết anh rồi!

Anh Huân kêu đau và nói:

- Anh đem tôi lên huyện, tôi sẽ khai.

Bấy giờ độ bốn giờ chiều.

Hai người lúng túng nhìn nhau không biết làm ra thế nào!

Quãng đường thì vắng.

Một lúc sau mới thấy một bóng người đi lại.

Anh Tỉnh cho hắn hai hào để hắn đi gọi xe hộ.

Nhưng đường nhà quê nào có sẵn xe!

Trong khi chờ đợi thì bọn tuần ở trong làng đổ ra.

Họ xúm lại mà đánh trói anh Tỉnh.

Nhưng người phó lý đến nơi, ngăn bọn tuần đừng đánh, và hỏi anh Huân.

Anh Huân nói:

- Tôi vì bực mình với vợ, nên đến đây tự tử.

Còn anh này thấy tôi tự tử nên chạy lại giằng lấy súng của tôi.

Vì thế máu giây ra áo quần.

Tới chết là tự tôi, không quan hệ gì đến anh này cả!

Họ liền khiêng anh Huân và trói anh Tỉnh giải lên huyện.

Vài giờ sau thì anh Huân tắt nghỉ.

Lời anh khai, không đủ làm tin cho bọn chức trách: Tự tử gì lại bắn súng vào cạnh sườn!

Họ cho giữa anh và anh Tỉnh chắc có tình tiết gì khả nghi!

Họ liền khám mình anh Tỉnh thì bắt được bản địa đồ.

Giải về Hà Nội, tra tấn hơn hai chục ngày. anh Tỉnh vẫn khăng khăng một mực không khai, vì cho đó là một điều bí mật cần phải giữ cho Đảng.

Trong khi ấy thì có thư nặc danh, nói là anh đã vâng lệnh Đảng đi giết Toàn quyền Pasquier khi hắn qua Tân Đệ.

Vì hồi ấy hắn có về kinh lý Thái Bình, rồi kẻ ném đất giấu tay kia cũng có lý đáng tin, nên bọn mật thám càng đánh anh dữ.

Người bà con anh ở Bùng, vì anh có nói chuyện cho biết, sợ anh bị chúng đánh đến chết liền đem việc khai thực với mật thám.

Mãi khi ấy anh mới chịu nhận.

Thế nhưng khi họ hỏi Ám sát đoàn của Đảng có những ai, thì anh khai là: Anh và anh Huân chỉ là hai người trong học sinh đoàn, chớ không phải trong Ám sát đoàn.

Chỉ vì đảng hết cả người nên bất đẳc dĩ anh Học phải dùng anh!

Cố nhiên lời khai của anh là một lời khai man, có dụng ý không muốn cho chúng nhìn rõ thế lực của đảng.

Rồi, toà án đệ nhị cấp Thái Bình họp ngày 22 tháng 10 năm ấy, đã khép anh Tỉnh 10 năm; anh Học và anh Xuyến trưởng ban ám sát chung thân.

Kỳ thực thì Học với Xuyến chi là một người (1).

Chú thích: Xuyến là tên một người con gái phố Hàng Bút.

Nhan sắc của cô đã làm nhiều cậu học trò Cao Đẳng hỏng thi.

Anh Học vẫn thường đùa nhận là vợ anh.

Nên các bạn thường gọi đùa anh là anh Xuyến.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 24: Cơ Quan Thanh Giám


Sau khi báo bắt mấy chỗ ở Bắc Ninh, tên Kinh sợ anh em biết chuyện và nghi mình, nên về nhà nằm một dạo.

Nhưng mà anh Học cỏn ở ngoài thì ty mật thám chính trị ở đây còn lo ngại.

Mà muốn dò anh Học, họ thật chưa tìm được tay nào có thực đủ tư cách làm kẻ nội công.

Vì vậy, họ lại cho bắt Kinh, rồi sai đi dò Học.

Khi ấy các yếu nhân trong đảng chia ở làm hai nơi, bọn anh Học thì ở về miền Phú Thọ.

Bọn các anh Nguyễn Văn Viên, Đoàn Trần Nghiệp, thì theo anh Sơng Khê (Xứ Nhu) ở miền Bắc Ninh, trong làng Cổ Pháp.

Việc dự bị khởi nghĩa đương tiến hành gấp.

Anh Học đã thảo xong tờ hịch động binh, và anh em các nơi đâu đấy đều chú toàn lực đúc bom, rèn giáo, mác.

Kinh ở trong ngục ra, hỏi thăm các đồng chí, mới rõ anh Học mới ở Phú Thọ về nhà anh Khoá Nguyên ở Lạc Đạo.

Kinh tìm tới nơi, cũng nói rõ chuyện mình vừa bị bắt.

Khi ấy đương hồi lôi thôi, việc bắt vào, thả ra rất thường.

Chính anh Phó Đức Chính cũng bị bắt hai lần rồi lại được tha ra.

Cho nên đối với Kinh, anh Học chẳng những không nghi, mà còn khen là người sốt sắng!

Hôm ấy là 20 tháng Sáu.

Từ đó Kinh lại cùng đi làm việc với anh em...Làm việc với anh em thì ít, nhưng làm việc cho mật thám thì nhiều!Chẳng những Kinh dám nhặt những tin lặt vặt để bán lấy tiền tiêu.

Ngày 2 tháng Tám, Kinh đã dám cả gan báo bắt một cơ quan trọng yếu của anh em, đặt ở số 9 đường Thanh Giám, Hà Nội.

Đó là một cơ quan liên lạc và thông tin.

Ngoài ra, còn là một nơi để dò biết những tin tức về chính trị, về binh bị của quân địch.

Các yếu nhân trong Đảng khi về Hà Nội, thường lấy đó làm nơi bàn việc và trú chân.

Việc phá vỡ cơ quan ấy đã tai hại vô ngần.

Chúng bắt được anh Viên. anh Viển, anh Giáo Lai và anh Phó Đức Chính.

Ngoài ít giấy tờ lặt vặt ra, chúng lấy mất năm trăm đồng ở trong túi anh Lai, và trăm rưởi đồng trong bao tượng của chị Nguyễn Thị Thuyết.

Chị này không biết cơ quan đã bại lộ, nên buổi chiều hôm ấy còn lò rò tìm đến.

Đương ngơ ngác trông vào căn nhà vô chủ thì bị tên thám tử đứng gác ra bắt giải đi.

May mà anh Học, anh Song Khê, cô Giang cùng một nữ đồng chí nữa hôm trước vừa mới đi Na Sầm xong.

Chậm một ngày có thể mắc lưới cả!

Mà chỉ vì một bàn tay phản trắc!

Cũng do bàn tay ấy mà chiều ngày 16 tháng 9, có việc khám nhà anh Nguyễn Tấn Lộc ở Cổ Pháp.

Nhưng anh Lộc đã cùng anh Học xuôi buổi sớm.

Ngày 18, hai anh dã ở Phát Diệm rồi!
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 25: Việc Giết Kinh


Lần này thì Kinh không còn trốn được con mắt của anh em trong ban điều tra nữa.

Và, cho được tỏ rõ kỷ luật của Đảng, anh Song Khê bèn hạ lệnh cho xử tử Kinh.

Lệnh ấy giao cho anh Doãn, tức Ký Con, tức Đoàn Trần Nghiệp thi hành.

Muốn tập cho một đồng chí mới có tinh thần mạo hiểm, hy sinh, Doãn liền bảo Kinh về Bắc Giang tìm Trần Đức Chính.Chính năm ấy mười chín tuổi, vẫn giúp việc và thường ở nhà anh Sáu, một đồng chí rất hoạt động.Được tin Doãn gọi, Chính lật đật theo Kinh về Hà Nội.

Chờ Kinh đi khỏi, Doãn cho Chính biết Kinh là đứa phản Đảng.

Trong khi Chính dương cặp mắt ngạc nhiên hoảng hốt, thì Doãn đã đưa cho Chính một con dao nhọn mà bảo:- Chiều nay, anh bảo Kinh rằng tôi mời nó đi coi hát!

Rồi anh giắt nó ra chờ tôi ở vườn Bách thú.

Hễ tôi bắn nó lăn ra rồi, thì cầm lưỡi dao này, anh đâm vào cổ nó.

Nhớ lót giấy vào chuôi dao, đâm xong, cầm giấy đi mà để dao lại.

Làm thế, bọn chuyên môn cũng không khám ra vết tay mình in ở chuôi dao.Chính vâng lời và nhận lấy dao.

Hôm ấy là mồng năm tháng Mười.

Kinh nghe bạn rủ đi hát thì sướng mê!

Chập tối đến, theo Chính đi lên chỗ hẹn.

Trong ánh sáng lờ mờ, dưới tàn cây rợp mát, giữa bầu không khí âm thầm mà trong sạch, đôi bạn ngồi vào một chiếc ghế dài, đặt cho du khách ở vườn Bách thảo, rồi cùng nhau tán chuyện trăng hoa!Doãn sịch đến, từ phía sau, chĩa súng bắn Kinh.

Vai bị đạn, Kinh nằm vật lên trên ghế dài!

Chính cầm dao luống cuống, định đâm vào cổ, thành ra lại cắm vào sườn!

Lưỡi dao cắm sướt gan và thủng suốt dạ dầy, máu vọt lên như tia nước mạch!

Hoảng hốt, Chính ù té chạy, cũng chẳng kịp lấy lại tờ giấy lót chuôi dao nữa.

Còn Doãn, ung dung rút ví Kinh ra mà đặt vào đó một mảnh giấy.

Bản án xử tử ấy chỉ gồm có bốn chữ "Không giữ lời thề!"

Xong, trả lại ví vào trong túi và thản nhiên lên xe đạp mà đi.Kinh chết, sở Mật thám lùng Doãn và Lung rất gắp.

Vì Kinh trước đã tâu nộp hai người ấy là hai tay đắc lực trong Ám sát đoàn.

Họ bắt được anh Lung.

Hỏi đến anh ở đâu và làm gì trong đêm trước, anh lúng túng cắt nghĩa không rõ ràng Chị vợ lại khai thực là anh Doãn thường khi vẫn đến chơi nhà.

Thế là trăm miệng anh Lung cũng không thể rũ sạch cái trách nhiệm về việc giết Kinh nữa.

Họ còn nghi luôn cho anh giết Thị Uyển ở Hải Phòng.

Vì, trong bản án xử tử hai con hoạt đầu đó, dưới tuy có ký "Bắc Kỳ Ám sát đoàn", nhưng cái tên ấy là một tên chung, không hẳn là của Thanh Niên, hay của Quốc dân đảng!Vậy mà từ đó về sau, bao nhiêu cuộc ám sát, người ta chỉ thấy toàn là bàn tay của Quốc Dân Đảng mà thôi...Cái oan ngục ấy, mãi khi anh Doãn, anh Chính bị bắt, các anh mới biện bạch và chết thay cho anh Lung.Và sau khi Kinh bị giết hai ngày, anh Ngô Đức Thụ, công nhân ở Hải Phòng, đã bị bắt về tội đem giấy bạc giả ở Tầu về, giúp cho anh Học.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 26: Mỹ Điền


Ngày tháng 9 năm 1929, tại nhà anh Lương Văn Trạm, làng Mỹ Điền, tỉnh Bắc Giang chợt nghe có tiếng nổ dậy trời!Tiếng ấy từ một gian buồng kín phát ra...

Một bức tường đổ...

Một mái nhà bật tung...

Chủ nhà lật đật chạy vào, thì thấy ba đồng chí coi việc chế bom, thịt xương dập nát, mặt mũi sém đen, máu me chan hoà, cả ba đã nói không thành tiếng.Anh Trạm vội vàng vực các bạn lên phản.

Bao nhiêu quần ảo, gỉấy tờ của họ xếp cả vào một đống, châm lửa đốt.

Đốt chưa xong thì bọn tuần phiên đổ đến, bắt trói anh Trạm.

Trong phòng, nào mạt gang, nào giây đồng, nào mảnh thủy tinh, nào các hoá chất, bỏ tung bừa bãi.

Lạ nhất là dưới đất có hơn bốn chục cái lỗ, có lẽ là những lỗ để đặt bom!Họ giải Trạm lên tỉnh.

Sở Mật thám đã tra tấn anh rất tàn nhẫn, mà vẫn không sao biết được tên ba người hy sinh vì nghĩa vụ là ai.

Họ bèn cho bắt đến người anh là chánh hội Mỹ Điền, thì anh này đã trốn biệt!Các người hay lui tới nhà anh lục tục bị bắt: Phạm Công Tạo, Trần Ngọc Liên, Vũ Văn Dương, Đỗ Đức Hoạt, Cả Cai, Khoa Yển... thì đó toàn là đảng viên của Quốc Dân Đảng.

Đảng sắp động binh.

Các đảng viên ở Bắc Giang cũng như ở mọi nơi, phải địa phương nào công việc nấy!Bởi vậy nên một mặt anh em phải giao thông với quân nhân, đánh tráo lấy địa đồ quân sự; một mặt phải chế tạo khí giới ở đợi ngày tấn công trong tỉnh Bắc Giang.

Quân lính đều đã theo đảng, đồng chí mới xin vào cũng mỗi ngày một thêm đông.

Các nhà cửa cùng đường lối trong trại binh, đều đã ở trong túi anh Khoá Yển rồi.

Duy có bom là kém mọi nơi: bên Bắc Ninh, nguyên huyện Gia Bình họ cũng đúc được bốn, năm trăm quả...Việc đó sau xử ở Bắc Giang.

Vì Hội đồng Đề hình đã giải tán rồi...
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 27: Phương Lược


Việc khởi nghĩa chỉ còn là câu chuyện ngày tháng.

Và, theo ý anh em cắt cử, Anh sẽ phải phụ trách về việc đánh Hải Dương, Bắc Ninh.

Bởi vậy, Anh phải luôn luôn hoạt dộng trong hai tỉnh ấy.

Khi thì ở nhà anh Bang Lịch, làng Đập Khê, huyện Chí Lính; khi thì ở nhà anh Lý Thống làng Cao Thụ huyện Gia Bình; khi thì ở một chiếc thuyền trên sông Lai Hà, huyện Lang Tài; khi lại ở trên chùa Yên Tử, không phải để lắng kệ, nghe kinh, mà là để tính việc cứu khổ non sông, chiêu hồn chủng tộc.

Thân Anh không còn phải của Anh, mà là một món quan hệ cho Đảng, cho Nước, cho nên các anh em có cắt hơn hai chục người thân binh, lúc nào cũng đeo súng mang gươm, để Anh đi đâu thì hộ vệ.Ngày mồng một tháng 11, Anh ở một làng bên Bắc Ninh, quê cũ của Đồ Kiều cho mời Đội Dương sang bàn việc.

Khi Dương tới nơi, thấy Anh đương ký cái án xử tử một tên phản Đảng, và một đồng chí đưa trình bản địa đồ trường bay Bạch Mai.

Anh đưa cho Dương xem một trái bom, và cho biết mỗi ngày có thể chế tạo được bốn chục trái.

Anh vận lối nhà quê và để râu dài!Hôm sau Dương sang Đáp Cầu gặp anh Đội Sáp, và ngày mồng ba lại về bên anh Học.

Anh bảo Dương định phương lược đánh trường bay Bạch Mai, đề lát nữa đưa trình Toàn quốc hội nghị xét.

Hội nghị ấy sẽ gồm có uỷ viên của các tỉnh, đưa trình phương lược tiến công về từng tỉnh một.

Hội nghị xét xong, sẽ trình bộ tham mưu quyết định.

Cuối cùng Học bảo cho Dương yên dạ:- Chỉ cốt sao chúng ta chống giữ được năm, sáu hôm.

Rồi thì sẽ có các tướng ở Tầu về giữ việc chỉ huy.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 28: Phao Tân Và Nội Viên


Các khí giới chế tạo trong hồi ấy, ngoài đao kiếm ra, anh Học chú ý nhất đến bom và lựu đạn.

Hai món ấy chế xong rồi, vì cớ chưa dùng ngay, lại phải đem chôn giấu một nơi để nhà chức trách không sao khám xét nổi.

Tuy vậy, những nơi ấy nhiều khi bị bại lộ, chỉ vì một cớ ngẫu nhiên.Trên kia ta đã biết bom nổ ở Mỹ Điền.Rồi ngày 20 tháng 11, ở Phao Tân, chẳng rõ tại sao, người ta lại vớ được một chum bom trong đựng 67 quả.Và ngày 23 tháng Chạp, tại ấp Nội Viên của ông Đô Thống Thuật thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, bom của Đảng lại bị đào lên hai chum nữa!Hai chum này chôn ở một cái gò giữa đồng.

Chỉ vì vết đất mới nên bị lũ trẻ mớt tò mò bới ra, rồi quản ấp bất đắc dĩ phải đi trình huyện.

Huyện về khám, đếm cả hai chum được 84 quả!Dân ấp có vài chục nhà, phần nhiều là cách mệnh, sợ liên luỵ, vội vàng trốn sạch, thế là cái ấp bỏ không.

Khám trong ấp, họ còn bắt được mảnh gang, giây thép, những tài liệu chế bom.

Người ta đồn rằng chính anh Học hồi tháng đã về đó mấy ngày, để dạy anh em việc ấy.Nhân tiện tôi kể việc giấu bom ở Kha Lâm, một làng ởgần bể.

Bom ấy đúc trong nhà anh Phó Tổng, rồi đựng vào từng thúng một.

Hễ nhà chức trách đến khám là đồng chí gánh bom chạy.

Chúng thường khám ở những nhà đầu làng trước.

Bom chạy đi chỉ chạy cách độ vài nhà một.

Rồi quanh quẩn anh em sẽ gánh nó mà để vào những nhà họ đã vừa mới khám.

Thế mà mấy lần khác không bắt được một quả nào gọi có!

Bực mình, họ buông lửa đốt cả làng!Nhưng mấy cái nhà tây của anh Phó Tổng, là cái lò đúc bom, lại không cháy!Hôm sau, họ dùng cốt mìn mà bắn đổ tất cả một loạt.

Họ còn tham lam cho xe về sở Lục lộ tất cả những kèo, những hoành, những sàn gác bằng lim!
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 29: Tên Đội Dương Phản Đảng


Dương nguyên trước là học trò trường Thuốc.

Tốt nghiệp ra, sao chẳng xin bổ làm y sĩ mà lại đâm đầu làm lính mộ.

Chỗ đó tất có một thâm ý thế nào!Cho nên chúng tôi vẫn trọng hắn là một kẻ có chí khí lớn lao.

Khi đảng mới lập thì Dương đóng đội ở chùa Thông.

Anh Học lên tuyên truyền ở Thông, được hắn, lấy làm mừng lắm.

Qua hai năm 1928, 1929, mặc những đứa nào phi phản, hắn vẫn là một đồng chí trung thực.

Từ Thông đổi về trường bay Bạch Mai, hắn được anh em cử làm trưởng ban Binh vụ.

Và bao nhiêu binh đoàn củng chi bộ nhà binh, đều do một mình hắn trông coi.

Theo nguyên tắc, các hạ sĩ quan mới nhận làm đảng viên, còn binh lính chỉ tổ chức thành binh đoàn.

Hắn cũng thờ Đảng hết lòng, mà cổ động được rất nhiều võ trang đồng chí.

Vậy mà sao đến tháng một 1929, Dương lại thình lình phản Đảng, tôi chắc bên trong phải có một uẩn khúc thế nào Dương, hiện còn sống, có thể nói để người đời cùng biết được chăng?Tuy đã phản, Dương cũng chưa làm việc gì hiển nhiên.

Mãi đến hạ tuần tháng chạp, Dương mới bắt đầu hạ bàn tay độc ác là dẫn bắt cơ quan chế bom ở số 7 phố Vĩnh Hồ.

Anh Cao coi cơ quan ấy, may mà trốn thoát.

Hắn lại dẫn đào lên bẩy trăm quả bom ở quanh Bạch Mai, món mà Đảng dự định đánh vào trường bay!Nhưng đáng giận nhất là việc Dương dẫn người lên bắt anh em ở Võng La, thuộc Hạ Bì, Thanh Thuỷ, Phú Thọ.

Nguyên Dương không biết có làng này.

Dương sở dĩ biết là vì giáo Phú.

Phú cho Dương hay: Võng La là một làng cách mệnh, ngày đêm quanh làng có người gác.

Chỉ có lối ra bờ sông là không có.

Vậy khi lên bắt, nên theo lối ấy vào.

Ngày 25 tháng chạp, Dương đem một toán lính mật thám lên.

Theo lời Phú đi lối bờ sông vào, quả nhiên anh em không kịp đề phòng, giữa một gian nhà ngói đàng hoàng, Dương xa trông thấy đủ cả bộ ba Nhu, Học, Chính.

Tim Dương hồi hộp, chân tay Dương bủn rủn.

Khi các anh bàng hoàng chạy trốn.

Cả bọn cùng xô đuổi.

Dương, tay giắt xe, tay cầm súng, bắn theo luôn mấy phát.Các anh tuy bị thương nhưng đều chạy thoát, nặng hơn cả là vết thương của anh Chính.

Đạn xuyên ngang miền dưới vú, lặn vào thịt không sao lấy ra được Nó thành ra một cái tật sờ vào lục cục, trong suốt đời anh!Ngoài việc trên này, Dương còn báo bắt cả một món bom ở Thái Hà ấp.Và các cai, đội, quản, bấy lâu do Dương lãnh đạo, kẻ lột lon, người bị bắt, ở khắp cả Bắc kỳ, một ngày ngót bốn trăm người.

Các võ trang đồng chí nhất đán bị ông trưởng ban binh vận "xơi" hết cả rồi, việc khởi nghĩa năm 1930, sở dĩ thấl bại mau lẹ quá, chính vì ta đã mất cái lực lượng trung kiên ấy!Chính vì thế mà giáo Phú (Vũ Đình Phú, người Hải Dương) đã bị anh em xử tử ngay hồi cử sự.

Chính vì thế mà Nguyễn Huy Dương (Đội Dương) đã bị thủng hai khúc ruột vì hai viên đạn của anh em trong Ám sát đoàn.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 30: Ngả Đường Quyết Liệt


Từ hôm bị bắt hụt ở Võng La, từ hôm nghe tin các anh em nhà binh bị Đội Dương "một chài vết hết", anh Học, anh Chính, anh Song Khê đều trở nên buồn rầu, lo nghĩ.

Cái công trình tuyên truyền, tổ chức bấy lâu, già nửa đã phải cho dòng nước chảy!"

Muôn nghìn người gắng sức chưa xong,Một vài kẻ đổi lòng đủ vỡ ..."

Cái công cuộc cách mệnh là công cuộc như thế!

Nhưng: "Nào ai có liệu được đâu cơ Trời!"

Ngoảnh lại trong vòng mấy tháng Đảng đã từng gặp những điều bất lợi luôn luôn!Tháng mười, tự nhiên vỡ việc bom Mỹ Điền!Tháng một, việc bom Phao Tân!Tháng chạp, việc bom Nội Viên và Thái Hà ấpTháng giêng, việc bom Kiến An và lại Nội Viên lần nữa!Rồi thì: nào hịch in ở Lục Nam bị khám phá; nào các làng quanh Võng La bị trỉệt hạ; nào dao, nào kiếm ở Vĩnh Yên bị lủng bắt; nào những kho chứa gươm, chứa giáo, chứa lựu đạn, chứa quần áo ở Hải Phòng, ở Kiến An bị chúng tịch thu...

Thế nhưng thực chưa lần nào đau đớn bằng lần này...Chúng ta cách mệnh bằng sắt máu, bao giờ cũng phải lấy quân đội làm phần chủ lực.

Chủ lực tan rữa rồi, lấy ít bom xoàng, dao nhụt, với những đội tiện y ô hợp, liệu có cầm cự nổi được với những quân tổ chức sẵn, huấn luyện sẵn, khi giới sẵn hay không?

Người ta bảo: "Cần phải đứng trước ở chỗ không thua".

Thế nhưng mình thì "đứng trước ở chỗ thua" mất rồi!Thế nhưng liệu không đánh, liệu lại tổ chức lại rồi sẽ đánh có được không?

Không thể được!

Cuộc đời là một canh bạc!

Những canh bạc đen, người ta có thể thua hết vốn!Gặp thời thế không chìu mình, đảng có thể tiêu mòn hết lực lượng, khi lòng sợ sệt đã chen vào trong óc quần chúng, khiến họ hết hăng hái, hết tin tưởng, thì phong trào cách mệnh có thể nguội như tro!

Rồi của sẽ không tiếp!

Rồi người sẽ bị bắt dần?

Dữ kỳ đày anh em vào cái chết lạnh lùng, mòn mỏi từ các nơi buồng ngục nhà giam, thà rằng xô anh em vào cái chết oanh liệt, nồng nàn ở nơi chiến địa!

Chết đi!

Để thế giới biết đến cái tinh thần dân tộc này còn sống.

Chết đi!

Để lại cái gương hy sinh, phấn đấu cho người nơi bước!"

Không thành công, thôi thì thành nhân!"

Đó là cái ý nghĩ chua cay nhưng quả quyết của các nhà lãnh đạo hồi bấy giờ.

Nhặt nhạnh các tàn lực để làm nên cuộc khởi nghĩa năm 1930, tin ở quá khứ, tin ở tương lai, tin ở anh em sống sót sẽ nối được chí, noi được việc của mình, các anh với cặp mắt đỏ lửa, với trái tim bốc lửa, với cái hoàn cảnh lửa đốt đầu, đã quyết đem tính mệnh mà đền ơn Đảng, đền ơn Nước, đền ơn tri ngộ của Quốc dân.

Nói rút lại, các anh đã chọn lấy cái chết của một con Người.

Ấy, tinh thần trách nhiệm ở phương Đông là thế!Thế rồi các anh chia nhau công việc.

Anh Chính coi việc đánh mạn Yên Bái.

Anh Song Khê: Sơn Tây, Phú Thọ, Hưng Hoá.

Anh Học: Bắc Ninh, Hải Dương.Anh Giản: Hải Phòng, Kiến An.

Riêng Hà Nội là thủ đô thật buồn thay, không còn một lực lượng gì?

Đáng lẽ cho ít anh em trong Ám sát đoàn ném mấy chục quả bom, để thức tình đồng bào trong giây lát!Các anh định đồng thời cử sự.

Ngày ấy định là ngày 10 tháng Hai 1930.

Sau đó muốn cho đạo quân của anh Nghiệp tổ chức ở Vân Nam, Lào Cai về kịp, anh Học có đưa thư định hoãn, đến ngày rằm.

Nhưng anh Song Khê thì cho việc hoãn lại như thể có thể xảy ra những trở ngại không ngờ, nên nhất quyết cứ theo cũ (1).

Thành thử ra việc đánh ở mạn ngược và miền xuôi không đi đôi với nhau.

Đó là một điều đáng tiếc.

Đáng tiếc hơn nữa là anh Quản Cầm, đáng lẽ chỉ huy việc đánh Yên Bái, thì gần đến kỳ, bỗng mắc chứng đau tim, phải về điều trị tại Hà Nội.

Khi nghe tin việc Yên Bái thất bại, anh đã hộc máu ra mà chết ở nhà thương La nét xăng (Lanessan).Chú thích🙁1) Chiều ngày 8 tháng 2, anh Chính ở nhà anh Quản Trang làng Nam An, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây, tiếp được lệnh anh Học bảo hoãn đến rằm.

Anh sai anh Lý Sự làng La Hào sang Sơn Dương báo với anh Song Khê.

Anh Song Khê không chịu hoãn, đồng thời cô Giang đưa phái viên của anh Nghiệp về, xin đưa lên chi bộ Lào Cai bốn chục trái bom nhưng không kịp.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 31: Việc Yên Bái


Hồi trước, hình như anh em chưa hề chú ý đến địa điểm Yên Bái.Sau, vì muốn mở một lối cho các đội quân ở bên trong có thể liên lạc được với các đội quân ở Lào Cai, ở Vân Nam của anh Nghiệp, nên Đảng phải cho tuyên truyền cấp bách ở đây để tìm lấy đồng chí.

Cũng vì anh em nhà binh ở Yên Bái gia nhập muộn, nên chưa đặt dưới quyền giám sát của Đội Dương.

Cũng vì thế mà mới bảo toàn được lực lượng sau khi tên này phản Đảng.Việc tuyên truyền ấy phần nhiều là công hai chị em cô Giang, cô Bắc.

Trước khi cử sự, anh em nhà binh luôn luôn có cuộc họp ở nhà anh Quản Cầm.

Dự nghị có bốn anh cai Thinh, Nguyên, Thuyết và Ngô Hải Hoàng.

Đó là bộ tham mưu ở địa phương.

Nhưng mấy hôm trước nhật kỳ, thì anh Cầm đã vì bệnh đau tim mà về nằm Hà Nội.

Anh em liền cử anh Hoàng thay anh Cầm làm tổng chỉ huy đánh Yên Bái.Sớm ngày mồng 9 tháng hai, các đồng chí ở các nơi, toán thì đi bộ, toán thì đi xe lửa, lục tục kéo về Yên Bái, dưới quyền lãnh đạo của mấy anh Đặng Văn Hợp, Bùi Tư Toàn v.v...

Bom và dao thì do các chị em đồng chí giấu xuống dưới những mớ rau, mớ cám, mà gánh về để ở quanh trại con gái.

Các chị em này toàn người làng Xuân Lũng.

Những băng đeo, những cờ hiệu dùng trong đêm ấy, cũng là do chị em sắm sửa và tất cả các đồng chí chia nhau ra ở các nhà trọ.Chiều đến mới cùng nhau họp ở trong rừng sơn cạnh tỉnh lỵ.

Anh Phó Đức Chính, mặc binh phục, đứng ra diễn thuyết và phân phát khí giới cho các đội tiện yBảy giờ chiều, một tên gián điệp vào báo với viên đội Quy nê ô.

Tên này đưa nó vào trình Lơ ta công chỉ huy quan coi các đạo binh Yên Bái.

Lơ ta công đi tuần, dòm vào trong trại con gái, nơi lính ta ở, thấy bóng người vắng tanh, cho là họ đã họp nhau ở một chỗ nào mà đánh bạc!

Họ vốn coi khinh người mình, nên không hề có ý đề phòng.Một giờ sáng, anh em trong hai cơ binh thứ năm, thứ sáu, đóng ở dưới đồi, đã hợp sức với anh em các đội tiện y ở ngoài mà chiếm lấy trại.Các đồng chí đã dùng dao, dùng súng tay mà tấn công...Kho súng mở...

Các khí giới phân phát...

Ngọn cờ "máu đỏ da vàng" của Đảng phất phới bay cao trên trại...

Các binh sĩ cũng như các người trong đội tiện y tay đều đeo băng cách mệnh quân.

Sắp quân xong, anh em dàn súng liên thanh mà bắn lên trại đối phương đóng ở trên đồi.

Giữ thế tranh sơn, đối phương tử trên cao bắn xuống cản đường, quân cách mệnh không sao tiến nổi.

Năm giờ rưỡi sáng đối phương bắt đầu phản công kịch liệt.

Quân ta cơ hồ bị vây kín ở trong trại.

Thấy thế núng, ban chỉ huy liền đem các đồng chí xông qua vòng đạn lửa mà kéo vào rừng...Xét ra việc thất bại mau lẹ ở Yên Bái chỉ là vì tổ chức chưa được kỹ càng.

Trong bốn cơ khố đỏ ở đấy, thì phong trào cách mệnh mới chiếm được hai cơ.

Mà lại là hai cơ đóng ở dưới đồi, vừa tầm súng của hai cơ đóng ở trên đồi!

Theo địa thế, đã đủ là bất lợi.

Bên trại khố xanh, ta lại không tuyên truyền gì cả.

Trong cơn quân đối phương vây đánh quân ta, đội quân khố xanh vẫn ở trong trại không hề nhúc nhích.

Biết đâu các sĩ quan ở đấy chả có cái thâm tâm muốn ủng hộ cách mệnh.

Đáng tiếc là đảng chưa kịp huy động đến họ mà thôi.Thế nhưng có cái gì ở Yên Bái.

Sự thiếu tổ chức khuyết điểm chung trong công cuộc bấy giờ.

Có phải các tay lãnh đạo của ta không biết đến đâu.

Các anh muốn tổ chức cho chu đáo hơn.

Nhưng thời thế đã không cho các anh có thì giờ làm thời thế đã đẩy các anh vào thế không thể đợi chờ được nữa!
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 32: Việc Hưng Hoá Và Lâm Thao


Chỉ huy việc đánh Hưng Hoá, Lâm Thao là anh Song Khê, tục hiệu Xứ Nhu, phó chủ tịch ở trung ương đảng bộ hồi ấy.

Việc này, viên Đại lý coi Hưng Hoá có đề phòng trước, nên thất bại còn thảm khốc hơn.Ngày mồng 9 tháng Hai, anh Song Khê gọi người đem thuyền đến bến sông ở cạnh làng Võng La, đào lấy các hòm khí giới chôn ngầm ở đây.

Bốn giờ sáng ngày mồng 10, anh đem chừng năm chục đồng chí soi đèn bấm và mang theo gươm, dao, lựu đạn đến trước trại lính.

Anh diễn thuyết cho bọn lính nghe về chủ nghĩa và công việc của Đảng, khuyên họ bỏ trại mà đi theo quân cách mệnh.

Họ không nghe, dàn súng bắn ra.

Quân ta ném lựu đạn để đánh vào, nhưng kết quả không sao hạ được trại.

Lựu đạn hết, anh em đành phải lui ra phía bờ sông để chờ lấy thêm chiến cụ.Chiến cụ ở Xuân Lũng đã chở thêm tới nơi.

Anh đem quân đánh xuống Lâm Thao.

Viên tri phủ Đỗ Kim Ngọc bỏ trốn.

Bọn lính cơ trốn theo.

Quân ta chiếm lấy phủ, cướp lấy súng đạn, và đem cờ đảng treo ở cổng phủ đường.

Anh Song Khê vừa diễn thuyết cho dân chúng nghe xong, thì truy binh đã đến.

Anh dàn quân ra nghênh chiến, nhưng thế cô không chống nổi, anh bị thương nặng ở chân, liền đặt hai trái lựu đạn xuống đất, rồi vật mình lên trên mà tự tử!

Đạn nổ, ngực vỡ, bụng vỡ, trông thấy cả gan, ruột...

Nhưng anh không, chết!

Chúng bắt anh, băng bó lại mà khiêng đi.

Dọc đường, anh nhẩy xuống sông nhưng chúng lại vớt được.

Mãi đêm hôm mười một, trong buồng giam, tay bị cùm, chân bị xích, anh phải tự đập vỡ đầu ra mới chết được thoát thân!Các đồng chí có mười người chết ngay tại trận, còn thì đều bị bắt vào tay quân Pháp.

Trốn thoát chỉ là một số rất ít.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 33: Việc Đánh Miền Xuôi


Chỉ huy đánh các tỉnh miền xuôi, là nhiệm vụ anh Học.

Vì việc ấy, anh đã triệu tập một cuộc hội nghị địa phương ở Đông Triều để cùng bàn định phương lược.

Anh em đều cho cái hẹn mồng mười gấp quá, không sao tổ chức cho kịp đánh được.

Thế rồi quyết nghị việc hoãn lại nhật kỳ như trên ta đã biết.

Nhưng mạn trên đã không theo lệnh mà đánh trước.Sự đánh sớm ấy gây ra hai kết quả có hại.Một là việc thất bại ở Hưng Hoá, Yên Bái, Lâm Thao gieo vào lòng người sự ngờ vực lực lượng cách mệnh.Hai là nhà cầm quyền Pháp ở các địa phương biết chuyện khởi nghĩa chẳng phải là tin đồn hão, sẽ hết sức đề phòng.

Do sự đề phòng ấy mà ngày 11 tháng Hai, viên Công sứ Hải Dương đến khám làng Mỹ Xá, phủ Nam Sách, vì có tin báo anh Học ở đấy.

Trong cuộc khám ấy họ đã bắt được Vương Bình Hội, Nguyễn Khắc Thông và một mớ khí giới.

Đến ngày 12, họ lại vây làng Hưng Thăng cùng hạt.

Anh Học xuýt bị bắt, phải lội xuống ao, lủi trong bụi, sau cùng mới lên được thuyền mà trốn ra ngoài.Kỳ thực thì về miền Đông Bắc chỉ có hai điểm quan trọng là Đáp Cầu và Phả Lại.

Cả hai nơi, đảng đều tổ chức đã lâu cả hai nơi, các võ trang đồng chí đều khá nhiều.

Thế nhưng những anh em ấy đã vì sự phản bạn của tên Dương mà bị bắt cả rồi!Còn nguyên có các đảng viên thuờng.

Anh tính đem toàn lực mà đánh dồn cả vào một nơi, hoạ chăng có được nơi ấy tức là Phả Lại.

Một mặt, Anh hẹn với anh em ở Lương Tài, Bắc Ninh; một mặt Anh hẹn với anh em ở Gia Bình, Nam Sách, tất cả chia năm đạo mà đánh vào.

Hẹn đánh là ngày 12.

Nhưng đến giờ hẹn, nơi hẹn thì các bạn chẳng thấy anh đâu cả!Đồng chí kinh ngạc kéo về, hôm sau mới hay tin là anh bị chúng vây ở Hưng Thăng nên không đúng được hẹn.Việc đánh hoãn lại ngày 14.

Nhưng khi các anh em nào thuỷ, nào bộ, đã tề tựu, các chỉ huy đã họp lại một nơi để chờ nghe huấn lệnh, thì anh Học đi thuyền đến...

Ngồi trên mũi thuyền, Anh nói:- Thôi!

Anh em hãy giải tán!

Nhà cầm quyền vừa mới cho thêm ba trăm lính Lê dương đến, và canh phòng riết lắm.

Bom, dao, đòn ngắn cả, vào không lọt với súng liên thanh, họ đã đặt sẵn ở chung quanh trại rồi!Không đánh nổi các đồn lớn, Anh liền ra lệnh cho anh em được tuỳ liện đánh các phủ huyện quanh miền.

Đánh như vậy rồi kết quả ra sao?

Cái đó chỉ có trời biết!

Dù sao thì cũng làm được một việc có ích là cảnh tỉnh cho bọn tham quan, ô lại!

Cũng vì vậy, mà đêm hôn rằm, anh em ở Phụ Dực, mặc binh phục và mang bom, dao cùng ít khẩu súng dài, súng ngắn, tất cả chừng một trăm người sán vào vây huyện và chiếm lấy khí giới.

Xong đó, anh em kéo sang Vĩnh Bảo, cách đó mười lăm cây số.

Nhưng đến nơi thì các bạn ở địa phương đã chiếm được huyện rồi.Một bạn đồng chí ở Hải Dương là anh Du, gặp tôi ở Côn Lôn, có thuật tôi nghe về việc đánh Vĩnh Bảo:"Việc đánh Vĩnh Bảo là do anh Trần Quang Riệu chỉ huy.

Chiều hôm 16, anh giả vờ hốt hoảng vào báo với lão Hoàng Gia Mô, tri huyện ở đó rằng: "Bẩm quan lớn!

Tôi nghe tin bọn cách mệnh đêm nay nó định lấy huyện!".

Hoảng hốt, tên Mô gọi tài xế sắp ô tô đem treo bốn tên lính hộ thân, sang đồn Ninh Giang để cầu cứu.

Lão Đồn trả lời rằng lính đồn còn phải coi đồn, không thể giúp gì được.

Nói rồi lại giục tên Mô mau về mà coi huyện.

Thất vọng, tên Mô luống cuống, rồi nhanh trí nó bảo tên người nhà cởi bộ quần ảo nâu cho nó mặc.

Xong, chết trong lòng, đành phải lại lên ô tô mà tìm lối quay về.

Về đến đầu chiếc cầu xi măng gần huyện thì vang trời hai, ba tiếng nổ.

Ô tô bị bom đã hỏng máy, nằm quỵ bên đường!Nguyên khi nó đi sang Ninh Giang thì anh em đã vào chiếm lấy huyện.

Tôi bấy giờ bị giam trong lô cốt nghe tiếng bom hiệu ở ngoài trong lòng đã khấp khởi.

Khi được thả ra, trông bóng cờ vàng phất phới ở trong làn khói pháo của dân phố đốt mừng quân cách mệnh, thật từ thuở mẹ đẻ, tôi chưa thấy sướng như thế bao giờ!Khi thấy ô tô đã nằm bẹp, anh em cầm chắc là bắt được tên Mô!

Nhưng quái lạ. khi bấm đèn pin soi vào thì chả thấy nó đâu cả.

Hỏi tài xế thì ra, lanh trí khôn, nó đã trốn chạy vào trong bóng tối.

Anh em vội sục tìm các ngã, thì bắt được nó ở trong một nhà hãng nước, nằm ép vào xó chiếc ổ rơm.

Đem nó về giam vào lô cốt, nó van van lạy lạy: "Nào là xin thương cho mẹ nó chỉ có một mình nó!

Nào là việc bán dân, bán nước là tự ông, cha nó, chứ nó chẳng biết gì"...

Vợ nó lại đem vàng, bạc ra đút lót để xin tha cho chồng!

Nó tưởng quân cách rnệnh cũng tham tiền, thích gái như ông, cha nhà chúng nó!

Anh em khi ấy chỉ lục đốt giấy má có quan hệ đến các chính trị phạm, còn thì tiền của nó, vợ con nó, không hề xâm phạm mảy may.

Sớm mai, chúng tôi cho họp dân phố lại, rồi lập toà án cách mệnh mà xử tội tên Mô.

Nó chẳng những là đứa tàn nhẫn, đối với bọn cách mệnh, tra tấn đủ mọi cực hình; rnà còn là đứa tham ô, tìm hết cách để khoét dân hạt hạ!Vì vậy, khi anh chủ tịch hỏi ý kiến dân cả hai dẫy phố Huyện, ai nấy đều đồng thanh xin giết!

Rồi, chưa kịp đem ra hành hình, bọn phu tuần đứng quanh đã lấy giáo mà đâm vào mình nó be bét!

Máu chảy chan hoà!

Tiếng kêu thảm thiết!

"Cùng đồng bào cả!

Sao đến nỗi phải đối đãi nhau như vậy".

Tôi nghĩ vẩn vơ, bất giác phải trào nước mắt!

Bấy giờ thì không thấy nó kêu, nó giãy như trước nữa!

Chắc nó chết, chúng tôi bảo bọn tuần khiêng xác nó mà quẳng xuống sông!Nhưng mà nó đã chết đâu!Xuống sông rồi, giẫy bật giây trói ra, nó cố sức bơi sang bờ bên kia, hòng tẩu thoát!Anh Riệu nóng máu, cầm súng trường bắn luôn hai phát!Cái xác tên khốn nạn liền theo tiếng súng mà chìm.

Quay về, chúng tôi đón anh em ở Phụ Dực kéo sang.

Dân các làng chung quanh, làm cỗ, thổi cơm, gánh đến để thết quân cách mệnh!

Trong đời tôi, thật chưa được ăn bữa nào vui như thế!Nhưng đương ăn thì máy bay của quân Pháp đã vù vù đến thám thính.

Chiều hôm ấy, anh em thu lấy súng đạn rời kéo về Cổ Am!Ngày 16 tháng Hai, chúng tôi nghe tin chúng nó cho lính khố xanh đóng ở Phụ Dực, Vĩnh Bảo và sẳp sửa truy tầm đến nơi.Buổi trưa, máy bay lại đến thám thính.

Nó bay thấp quá!

Đàn bà, con trẻ trong làng đều hoảng sợ!

Chúng tôi bắn lên một loạt súng mà không trúng!

Chúng nó bay về.

Rồi một lúc kéo đến hơn chục chiếc, cũng bay thật thấp và dội born xuống làng...Chẳng những dội bom xuống làng mà thôi.

Nó còn bắt chặt hết tre, rồi buông lửa đốt cháy cả làng!

Áo, quần, thóc, gạo, gà, lợn, trâu, bò, các đồ vật, làng thì chúng cho chạy ra, làng thì chúng bắt bỏ lại để cháy cho kỳ hết!Đó là số phận những làng ủng bộ cách mệnh, như Vĩnh Bảo, Võng La, Cổ Am, Xuân Lũng, Kha Lâm, Sơn dương, Khúc Thuỷ v.v...Các đạo quân cách mệnh ấy, mấy hôm sau vì chúng truy riết, anh em chết dần và bị bắt dần!Và ngay ngày 17, tên Vi Văn Định, Tổng đốc Thái Bình, đã về Phụ Dực, khám bên bờ sông, tìm ra một mớ khí giới và bắt mười người.

Còn Vĩnh Bảo, vào tay tên Công sứ Hải Dương, thoạt đầu đã có đến hơn ba chục người bị bắt.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 34: Việc Ném Bom Ở Hà Nội


Hà Nội chẳng những là thủ phủ Bắc kỳ, mà còn là thủ phủ cả Đông Dương.

Vậy, muốn nổi cách mệnh ở xứ này, trước hết tất phải đánh Hà Nội.

Ta có thể nói rằng: Lấy được Hà Nội tức là lấy được tất cả!Cho nên ngay từ lúc mới lập Đảng, chúng tôi đã phải chú ý đặc biệt các địa điểm chiến lược, và phải cố công tuyên truyền vào đám các hạ sĩ quan ở trong thành cũ của vua Lê rồi.

Thế lực của Đảng, ở Hà Nội, nhất là ở trong quân ngũ, có thể nói là hùng hậu gấp máy chục lần ở mọi nơi.

Nguyên chi bộ Tầu Bay, do anh Bội Môn (Trần Văn Môn) làm chi bộ trưởng, vừa cai, vừa đội, có đến hai mươi hai người.

Còn ở hai trại thứ chín, thứ tư trong thành, cùng ở trại Khố Xanh, Đồn Thuỷ, không kể các binh đoàn, chỉ kể nguyên cai, đội, quản, chúng tôi đã có đến hơn hai trăm người là đồng chí.

Nhưng sau việc mưu phản của Đội Dương, thì các đồng chí ấy, nếu không bị bắt khép tù, thì cũng bóc lon, cách chức, đưa lên các đồn lẻ ở Thượng du làm lính cả!Còn các đảng viên thường như thư ký, tham tá, giáo học, giáo sư, các nhà buôn, các nhà kỹ nghệ, ít anh em thợ thuyền nữa, nếu thiếu các anh em gươm súng, thì trong một cuộc cách mệnh sắt máu, nào làm được việc gì?Cho nên, kể là lực lượng chân chính của cách mệnh sau ngày anh Học bị bắt hụt ở Võng La, sau này mấy nghìn bom ở Bạch Mai, ở Thái Hà bị móc mói.

Ở Hà Nội, Đảng chỉ còn có Ám sát đoàn là đáng kể thế thôi!

Đoàn ấy tuy chỉ huy là anh Song Khê, song lãnh đạo chính là anh Đoàn Trần Nghiệp.Anh Nghiệp năm ấy mười chín tuổi, quê quán làng Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông.

Ông thân sinh anh là Đoàn Văn Ba, bà là Đinh Thị Thuận, làm nghề hàng bạc, và nhà ngày ấy ở số 56 phố Hàng Bạc.Hồi 1928, anh làm thuê ở hiệu buôn Godar và vào học sinh đoàn của Đảng.

Giúp tôi, anh vẫn viết các sách vở tuyên truyền và in tờ bảo "Hồn cách mệnh".Khi Đảng mở Việt Nam Khách sạn thì anh về làm thư ký coi kho ở đấy.

Vì còn nhỏ nên mọi người gọi đùa là "cậu Ký Con".

Cái tên Doãn, là tên trong Đảng của anh; Anh còn cái biệt hiệu nữa là Sĩ Hiệp, đặt ra từ lúc xung vào Ám sát đoàn.

Người anh dỏng cao, da trắng xanh, miệng luôn luôn như cười và hai môi đỏ như son.

Mặt trái xoan, trán cao và hẹp, tỏ ra người thích thực hành.

Mắt sáng và nhanh, có vẻ hiền lành hơn là dữ tợn.

Trong các kỳ Hội đồng, tôi chưa từng thấy anh nói.

Con người ấy, sống bên trong nhiều hơn là sống bên ngoài.

Xin chớ ai lầm nhà hiệp sĩ của chúng ta là một kẻ "ăn thịt người không tanh".

Đó là một người ôm một ý tưởng cao siêu không chịu nổi ở đời những cái gì là nhỏ nhen, là nhơ bẩn, là đê hèn, khốn nạn!Sau khi khách sạn đóng cửa, anh bị bắt nhưng được tha ngay, vì những kẻ phản đảng không biết có anh là đồng chí.

Thả ra rồi, anh cùng anh Viễn, anh Viên, thường theo anh Học, anh Song Khê mà làm việc cho Đảng.

Trước làm giao thông, sau xung vào làm Ám sát đoàn và làm trưởng Ám sát đoàn.

Cái đoàn của anh chỉ huy kể ra nhiều lắm.

Tuy vậy, nó là một cơ quan bí mật, trừ đoàn trưởng ra chẳng những người ngoài đoàn, mà đến người trong đoàn cũng không biết ai là ai nữa.

Chúng ta chỉ có thể biết được tên các anh nghĩa hiệp ấy khi chẳng may bị bắt, và bị giết.

Nhưng trong đó đã lẩn quất biết bao nhiêu bậc chí nhân, thánh nhân như lời Trang tử dạy: "không cầu công, không cầu danh, vì không biết có mình".(1)Sau khi Tổng bộ đã định kỳ khởi sự, Doãn được lệnh đúng ngày ấy Ám sát đoàn phải cắt đứt hết các giây thép, giây nói, và ném bom vào sở Mật thám, sở Cảnh sát, sở Sen đầm.

Cơ quan của Đoàn khi ấy đặt ở 25 phố Hàng Giấy, tức là nhà ông Đào Tiến Tường.Đôi vợ chồng già này, tuy không vào Đảng, song ủng hộ Đảng rất nhiệt tâm.

Nào bom, nào súng sáu, nào dao găm, bao nhiêu những của giết người ấy.

Bà cùng các cô con gái bà vẫn giấu giếm và coi giữ hộ các anh em chiến sĩ.

Sớm ngày mùng 10 tháng Hai, vì việc ném bom, anh cho gọi tất cả năm người trong đoàn đến.

Cả năm anh đều học trò trường Bách nghệ: Nguyễn Văn Viễn, Nguyên Duy Ứng, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Quang Triệu, và Nguyễn Bá Tâm.

Lần lượt, lần lượt, anh giao cho mỗi anh bốn trái bom bọc gang, và dặn:- Mỗi anh một nơi, đúng tám giờ tối, phải ném vào sở Sen đầm, sở Mật thám, nhà viên chánh mật thám, và hai sở Cảnh sát: bóp Hàng Trống và bóp Hàng Đậu.

Ném xong, về trình diện Anh biết.Anh em vâng lời và mọi việc đã làm đủng theo mệnh lệnh.

Chín giờ, anh Doãn cùng bọn đi cắt giây nói, giây thép về đầu tiên, rồi lục tục đến các anh ném bom về trả lệnh.

Ông bà Đào Tiến Tường mừng quýnh, người lau cốc, người mở sâm banh, rót ra để khao cho các chiến sĩ và để mừng cho "Việt Nam Cách mệnh thành công".Trong khi tiếng cốc chạm, tiếng cười vang, mọi người chợt nhớ ra: "Quái lạ!

Anh Nguyễn Bá Tâm đâu không thấy?"

Anh Tâm, khi ấy 18 tuổi, quê ở Phú thọ, đã vì sự tình cờ mà bị thương và bị bắt sau anh ra Côn Lôn.

Có lần tôi gặp anh quét sân ở bên "Banh cũ" (Trại giam số một).

Anh kể tôi nghe câu chuyện của anh như sau này:"Chắc anh cũng biết, đó chỉ là một chuyện nghi binh.

Chúng tôi mong làm thế để cho dân chúng nôn nao, và may ra chúng nó sợ Hà Nội có biến, không dám đem quân đi đánh các tỉnh.

Buổi chiều hôm mồng 10 tôi còn đi học, hai quả bom gang, tôi vẫn bỏ chơi trong túi.

Tám giờ tôi mới đến trước bót Hàng Đậu, thấy một người vào gõ cửa, tôi ném luôn ngay vào chân nó, thế nào bom nổ mà nó lại chạy thoát.

Tôi định ném luôn quả nữa, thì một đứa ở đâu chạy lại.

Nó chạy mau quá thành ra dấp vào tay tôi, làm cho bom nổ trong tay.

Bàn tay tôi băng đi mất!

Tôi cố nhịn đau, chạy lên nằm ở trên cầu.

Nghĩ thế nào cũng chết, tôi rút dao ra tự tử, nhưng dao cùn quá đâm mãi cũng không thủng cổ!

Đau quá, bấy giờ tôi nằm không yên nữa, đành phải gọi xe đem tôi vào nhà thương.

Chúng nó cắt cụt tay tôi, chữa cho tôi lành.

Lành, rồi nó tra tấn cực kỳ là chó!"

Nghĩ chối mãi, nó đánh cũng chết, tôi đành nhận là thủ hạ của anh Doãn.

Nó hỏi anh Doãn ở đâu.

Tôi khai anh thường nằm ô ten (hotel), không có chỗ ở nhất định.

Nó hỏi ban ám sát có những ai, tôi khai trừ anh Doãn ra, tôi chỉ quen anh Học, anh Chính thôi, chứ chẳng biết ai, và cũng chẳng vào chi bộ nào cả.Tôi nhắc mẫu chuyện ấy ra đây, để anh em sống sót nhớ đến một người đồng chí.

Vì người đồng chí ấy là người trải mười mấy năm trường, lăn lộn mãi trong đám bùn đời mà vẫn giữ được cái bản sắc là một người trong Ám sát đoàn: năm ngoái đây, chỉ một tay, anh đã bắn chết tên tri huyện sở tại là một tên có tiếng tham tàn.

Bắn xong, Anh tươi cười để lính trói anh, và tươi cười bước lên máy chém.Những anh ném bom với anh đêm ấy, cho đến cả anh Doãn, sau đều lục tục bị bắt và hy sinh vì nghĩa trước anh.Chú thích:1.Xem "Trang Tử: Nam Hoa Kinh" Nhượng Tống dịch, Tân Việt xuất bản
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 35: Anh Chánh Tôn


Được tin các tỉnh mạn ngược đã khởi nghĩa, quân Pháp ở Hà Nội canh phòng rất nghiêm mật.

Họ đặt thêm ra một cái bót (poste) gác ở đầu cầu sông Cái để khám xét các người qua lại trên cầu.

Chưa thấy anh em mạn xuôi khởi sự, anh Lương Ngọc Tôn, tức Chánh Tôn (vì anh là chánh hội làng Hữu Ái, huyện Gia Bình) lấy làm sốt ruột, liền đi ô tô hàng để sang Bắc, định xem công việc ở hạt mình thu xếp ra sao.

Ô tô đến đầu cầu.

Tên đội Xanh dơ ni ngăn lại để khám hành khách trên xe.

Anh không thể để cho chúng khám được, vì lúc nào anh cũng mang khí giới trong mình.

Sẵn súng sáu trong tay, anh liền bắn cho tên đội này hai phát: Thằng cha ngã lăn ra.

Anh bước lên cầu cắm cổ chạy!Bọn cảnh sát hô hoán.

Bọn người trong phố Ngọc Lâm xô nhau ra đuổi!Anh vừa chạy, vừa rắc bạc giấy ra đường cho chúng nhặt để chúng khỏi chạy theo làm rắc rổi!Hồi anh chạy xuống ven sông Anh phải tỳ súng vào mang tai tên lái đò mới chịu chở.

Qua sông, anh lại bị lũ thợ làm ở lò bát Thanh Trì đón bắt.

Bực mình, anh quay lại cầm súng bắn chết luôn ba đứa!Nhưng đạn hết, anh đành phải nộp mình cho quân Pháp, vì cớ ngu si đê tiện của lũ nhà quê!
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 36: Phó Đức Chính Bị Bắt


Phó Đức Chính quê ở Đa Ngưu.

Tốt nghiệp ở công chính ra, anh được bổ sang Lào.

Năm 1929 việc Đảng tiết lộ, anh bị bắt khi ở Lào về.

Anh kém anh Học bảy tuổi, năm ấy mới vừa đúng hai mươi.Coi là trẻ con, Bờ-rít tha cho miễn nghị, được tha rồi, Anh trả hết cả những món kỷ niệm cho người vị hôn thê là cô Thắm ở Thanh Hoá.

Một tuần sau, Anh lại bị bắt ở một cơ quan với các đồng chí, nhưng rồi lại được tha.

Anh đã nói dối là ở nhà quê về Hà Nội cần thuốc, ngẫu nhiên gặp bạn cũ mới vào chơi, chứ không có chuyện gì cả.

Kỳ thực thì từ khi ở Lào về, Anh làm việc Đảng rất hăng hái.

Không mấy khi là anh không ở bên cạnh anh Học hay anh Song Khê.Chúng ta đã rõ Anh với việc khởi nghĩa Yên Bái là thế nào.

Cố nhiên những chỉ huy trong lúc đánh là mấy anh cai Nguyễn Thanh Thuyết, Ngô Hải Hoàng... là mấy anh Đồ Thuý, Giáo Liên, Nguyễn Văn Khôi... thế nhưng tất cả các những anh ấy đều thuộc dưới quyền anh tiết chế.Việc Yên Bái thất bại rồi, cái hùng tâm của anh vẫn chưa chịu chết!Anh cùng các đồng chí ở Yên Bái thoát vòng vây ra được, lập tức lại đi liên lạc các anh em, tìm tòi lấy thực lực, định hạ thành Sơn Tây.

Thế nhưng "tính việc ở người, thành việc ở trời".Ngày 13, bao nhiêu bom, dao để ở Quảng Húc đều bị quân địch khám, bắt đem đi.

Rồi chiều ngày 15 anh cùng Cai Tân, Nguyễn Văn Khôi đương bàn việc ở nhà anh Quản Tranh tại làng Nam An, tổng Cẩm Thượng thuộc huyện Tùng Thiện, thì bị chúng bao vây và bắt trói, rồi giải về Hà Nội...Khi toà án của quân địch đã khép Anh tử hình rồi, tên chủ tịch Đề hình hỏi anh có xin chống án không?Thì anh cười và đáp:- Đời con người ta làm có một việc, hỏng cả một việc, sống nữa mà làm chi?Tính ra Anh ở đời khoảng chừng hai mươi mốt nărn trời.

Thế nhưng tôi tin rằng linh hồn Anh đã hoà hợp với Quốc hồn mà cùng với non sông cùng thọ.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 37: Tấm Lòng Trách Nhiệm


Anh Song Khê tự tử rồi!Anh Phó Đức Chính bị bắt rồi!Đối phương hả lòng bắt bớ, giết chóc, tàn phá.

Nhưng một ngày Nguyễn Thái Học còn được tự do, thì một ngày họ còn bận lòng rộn trí.

Ngoài những hạng thám tử, gà nòi tung ra tứ phía; họ in hàng nghìn bức ảnh cho dân đi khắp ngả, treo cái giải thưởng năm nghìn đồng cho kẻ nào bắt hay giết được Học, và phái hai trăm lính khố xanh lập thành một đạo quân lưu động, để ngày đêm truy nã tìm tòi!Một mặt thì các đồng chí có trực tiếp dự vào các cuộc đánh phá, không mấy ai còn thoát thân!Số bị bắt ở Yên Bái, 51 người binh sĩ, 62 người thuộc đội tiện y; ở Phú Thọ, hai trăm; ở Hà Nội. anh Nho, anh Tôn, cùng 5 anh ném bom, tất cả đều thuộc về Ám sát đoàn; ở Bắc Ninh, Hải Dương 56 người trong đạo quân Phụ Dực, Vĩnh Bảo; ở Hải Phòng, Kiến An, cơ mưu bại lộ, cũng gộp vào số danh dự ngót hai chục tên.Mà còn nữa, còn nữa...

Vì tổng cộng lại vừa bị đày vừa bị giết, vừa đảng viên, vừa đoàn viên, tính đến cuối năm, có đến ngót hai nghìn!Vì các lẽ khó khăn ấy, Anh không dám ở đâu một chỗ đến luôn ba hôm.

Tung tích Anh cần phải giữ sao cho thật nghiêu khê.

Lúc thì trên một con thuyền lơ lửng mặt sông!

Lúc thì trong một phòng tăng (tente) trên sườn non Yên Tử!

Lúc thì sang sông, lai vãng trong hai hạt Chí Linh, Nam Sách.

Lúc thì về Bắc, lẩn quất trong hai huyện Lương Tài, Tiên Du...Các anh em không biểu đồng tình với anh về việc khởi nghĩa, vì họ cho là thời cơ chưa đến, các anh em về phái trang lập hồi trước biệt lập. khi ấy lại hoà hảo với anh.

Cái cớ làm cho ý kiến xung đột kia mất rồi, còn có gì có thể chia rẽ nhau được nữa.

Cho nên đối với Anh, chẳng những các đồng chí hết lòng hộ vệ mà khắp cả mọi nơi, còn đua nhau gửi tiền cho Anh nữa.

Trong số đó có ông Quách Vy gửi đến năm trăm đồng.Nói cho thực, thì trong Đảng hồi ấy, phái chủ chiến đã tan nát cả rồi, còn phái trung lập thì cho rằng Anh nên ra ngoại quốc, để tạm lánh sự rình mò của nhà đương cục.

Cái tên Anh đã vang khắp trong ngoài nước, anh ra ngoài có lợi cho việc ngoại giao nhiều lắm.

Một mặt thì quốc dân coi anh như linh hồn của đảng.

Anh ở ngoài, có thể làm cái trụ cột chắc chắn, để anh em nương tựa mà theo đuổi công việc cải tổ ở bên trong.Cái ý ấy anh Lê Hữu Cảnh, trưởng ban Ám sât sau khi anh Doãn bị bắt, thay mặt anh em là nói với Anh, một hôm Anh ở Tiên Du.

Nhưng Anh cười:- Không thể được!

Không thể được!Rồi anh Đoàn Kiểm Điểm, thay mặt các nhà cách mệnh già của ta ở Tầu, khi ấy cũng lập thành một đảng ở hải ngoại, mà cũng lấy tên là Việt Nam Quốc Dân Đảng, tử Quảng Châu về, ngỏ ý các cụ cho về mời Anh sang, nhưng Anh cũng từ chối.

Anh Điểm về mời Anh đến lượt ấy đã là hai lượt.

Lượt thứ ba thì bị bắt ở Lạng Sơn, và bị đày ra Côn Lôn.Sao anh Học lại không chịu ra ngoài?Anh cho rằng việc thất bại vừa rồi là trách nhiệm tự anh.

Tự anh mà bao nhiêu đồng chí bị giết, bị tù; bao nhiêu gia đình tan nát; bao nhiêu làng bị đốt phá, bị triệt hạ...

Anh cần phải ở lại trong nước, để cùng với các anh em cải tổ lại Đảng giữa một cơn khủng hoảng, giữa một hồi khủng bố.

Anh cần phải chịu hết mọi sự nguy hiểm khó khăn, không thể từ chối được.Nói tóm lại, một là Anh có thể phụng sự Đảng cho đến lúc thành công, để đền ơn nước, để báo thù cho các đồng chí.

Hai là Anh phải phấn đấu đến chết, để tạ lại lòng tín nhiệm, trong của các anh em, ngoài của cả Quốc Dân.

Chứ bỏ mọi người ở trong vòng gian nan, khốn khổ, rồi nhảy tót ra mà sống cái đời yên hàn chắc chắn ở nước ngoài, dù sao nữa Học cũng không thể vâng lời được.

Thực ra thì chỉ một tay lãnh tụ mới có thể bắt buộc mọi người hy sinh cho mình nhiều quá như thế!Nhưng Anh, Anh không bao giờ dám coi mình là một tay lãnh tụ cả.

Anh không có óc lãnh tụ, Anh chỉ có tấm lòng trách nhiệm mà thôi!Thế rồi, Anh lại theo đuổi các công việc thường ngày, tổ chức lại, tuyên truyền thêm, để có một ngày Đảng lại đủ thế lực mà mưu đồ việc lớn.
 
Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Chương 38: Anh Ngô Hải Hoàng


Anh Ngô Hải Hoàng, quê Nghệ An, vào đảng năm 1928, ở Chi bộ Tuyên Quang.

Từ khi đổi sang Yên Bái, anh lại treo anh em ở đấy mà làm việc, và chính anh được thay anh Quản Cầm chỉ huy anh em võ trang trong việc đảng đánh Yên Bái.

Tôi thuật lại đây lời đối đáp của anh với viên chánh Hội đồng Đề hình Yên Bái, họp ngày 28 tháng Ba.Viên chánh Hội đồng hỏi:- Sao anh lại đánh Yên Bái?Anh đáp:- Không phải tôi đánh, mà là Trung ương đảng bộ hạ lệnh sai tôi đánh.

Các ông còn lạ gì kỷ luật đảng tôi: không phục tòng mệnh lệnh, Đảng xử tử!

Đánh với các ông thua ra nữa, cũng đến xử tử là cùng!- Anh thật là người vô ơn!

Ông quan ba Dua-đanh là quan thày tử tế với anh, vậy mà đêm ấy, anh bắn chết ông ta trước nhất.- Ông Dua-đanh tử tế với tôi thật, nhưng đó là tình riêng.

Còn tôi giết ông ta là phận sự của tôi đối với Đảng, với nước.

Người Việt Nam chúng tôi thì bao giờ cũng đặt nghĩa công lên trên tình riêng.- Anh thật là hạng người tàn ác.

Một mình anh đêm ấy đã giết chết sáu người Tây.- Tôi làm gì giết được nhiều như thế?

Anh em tôi giết nữa chứ.

Thế nhưng cả Đảng chúng tôi chỉ là một người, anh em tôi giết cũng tức là tôi giết.

Tôi sẵn lòng chịu hoàn toàn trách nhiệm...Vâng!

Anh đã được cái vinh dự thay Đảng mà chịu hoàn toàn trách nhiệm, về việc đánh Yên Bái, cùng với 9 anh nữa, cùng bị chúng xử tử.Ấy là những người đã đem tính mạng mà hy sinh cho Đảng đầu tiên...
 
Back
Top Dưới