Khác Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
177572929-256-k193633.jpg

Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
Tác giả: diecnguyenvichi
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Trong quá trình tìm tư liệu sáng tác mình có tìm đọc được cuốn Nguyễn Thái Học (1902-1930) do Nhượng Tống - một người đồng chí của Nguyễn Thái Học chắp bút.

Mong rằng Nhã Nam sẽ sớm tái bản hoặc mình có cơ may tìm được cuốn sách (bản xuất bản năm 1945 - NXB Tân Việt) trong một hội sách cũ nào đó.

"Không Thành Công Cũng Thành Nhân" - Khởi nghĩa Yên Bái 9/2/1930.

Reup: Wattpad © diecnguyenvichi



tiểu-thuyết-lịch-sử​
 
Có thể bạn cũng thích
  • HẬU CUNG NHƯ Ý TRUYỆN (nguyên tác)
  • nGUYÊN THỦY ĐẠI
  • Đoạn Nguyện Nhật Tinh
  • Kiếp sau, nguyện không gặp
  • [Đỗ Nhật Hoàng x Nguyễn Huy_Steven Nguyễn] Nơi ánh...
  • Trịnh-Nguyễn cơ mật
  • Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Lời Mở Đầu


    Các bạn,

    Dù sao thì ba chữ Nguyễn Thái Học tới nay cũng là một tên trên lịch sử.

    Không phải trên lịch sử của dân tộc Việt Nam bị xiềng xích, mà là trên lịch sử cúa cả nhân loại, hiện nay còn quằn quại đau thương!

    Đó không phài là ý riêng tôi, một bạn cùng thề với Anh.

    Nhưng là ý chung của hết thảy những kẻ hữu tâm ở thế gian này, chẳng hạn như những nhà văn Nhật Bản khi họ viết cuốn “An Nam Lê Minh ký” hay “Nam phương dân tộc vận động sử”.

    Trong các cuốn sách ấy, người ta đã vì công lý, vì nhân đạo mà nói nhiều về Nguyễn Thái Học.

    Vậy mà quốc dân ta, các đồng bào của Anh, đối với thân thế Anh, nhiều người mong đưọc biết qua loa mà không thể được!

    Bao nhiêu là đợi trông!

    Bao nhiêu là tủi nhục!

    Cho nên trong lúc này, là lúc có thể được, tôi cần phải viết ngay cho Anh một cuốn tiểu sử.

    Tôi tự nhận đó là một nghĩa vụ.

    Nghĩa vụ đối với quốc gia, vì thân thế Anh chính là một tấm gương phấn đấu, hy sinh, cần phải nêu ra để khích lệ tất cả mọi ngưởi trong nước.

    Nghĩa vụ đối với văn hóa, vì thân thế Anh chính là một kết tinh phẩm của hai giáo lý Phật và Khổng, nó đã cho phương Đông ta nở ra một ánh sáng riêng.

    Sau hết, nghĩa vụ đối với khoa lịch sử học, vì tôi với Anh chẳng những là ngưởi đồng thời, còn là bạn đồng chí.

    Có lẽ trong các cây bút ở đây khó có ai hiểu biết về Anh hơn tôi nữa.

    Bởi vậy, tôi đã cố lục lọi sách báo cùng trí nhớ, để viết nên cuốn sách nhỏ này.

    Tôi rất mừng rỡ đã cho xuất bản bản kịp trước ngày 17 thâng sáu…

    Ngày mà Tỉnh đảng bộ Yên Bái đã xây xong mộ Anh và lập cho Anh cùng các đồng chí hy sinh vì Đảng một đài kỷ niệm.

    Ngày mà các đồng bào đã công khai làm lễ truy điệu Anh ở khắp mọi nơi.

    Anh Học!

    Hãy đem tinh thần bất tử mà lãnh đạo cho Quốc dân trên con đường tranh đấu lấy một địa vị ở dưới ánh mặt trời!

    Các anh em!

    Hãy giúp thêm tôi về tài liệu để những lần xuất bản sau, cuốn lịch sử này có thể thêm đầy đủ.

    Ngày 28 tháng 5 năm đầu Độc lập

    Nhượng Tống
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 1: Đời Học Sinh


    Dưới chế độ thực dân, người Pháp chẳng bao giờ muổn mở mang việc học ở xứ này.

    Họ tìnt hết cách để giam hãm dân ta trong vòng ngu tối.

    Trong các cách ấy thì có một cách tàn tệ nhất là hạn tuổi học.

    Quá hạn ấy thì không được vào các trường công nữa!

    Muốn trốn thoát cái lưới đê tiện ấy, các người làm cha, mẹ thường rút tuổi cho con trong giấy chứng nhận ngày sinh.

    Cũng vì lẽ đó mà theo giấy tờ của nhà trường thì Nguyễn Thái Học sinh ngày mồng 1 tháng 12 năm 1904.

    Kỳ thực, thì anh tuổi Quý Mão (1902).

    Ngày sinh tháng đẻ hiện còn chưa hỏi được rõ. (Chú thích: ngày nay người ta biết Nguyễn Thái Học sinh ngày 1-12-1902)

    Quê anh là làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.

    Ông thân sinh là Nguyễn Văn Hách, một nhà tiểu nông (1).

    Bà là Nguyễn Thị Quỳnh, thường làm nghề buôn vải.

    Tư cơ ông, bà có mấy nếp nhà tranh và ngót ba mẫu ruộng.

    Hiện nay ông đã mất, nhưng bà còn mạnh.

    Hôm mới đây chúng tôi lên thăm thì bà còn đi chợ bán vải chưa về.

    Nói tóm lại thì đỏ là một nhà thanh bần, lúc nào cũng sống trong sự siêng năng và kiệm phác.

    Ông, bà sinh hạ được nhiều con.

    Trong số đó thì có bốn trai và anh Học là trưởng.

    Trong bốn trai ấy thì Đảng và Nước rẽ mất một nửa; anh Nho - em Anh - cũng là một liệt sĩ thực hành sự hy sinh bằng tính mệnh!

    Hai em nữa là Lâm và Nỷ, hiện nay làm ruộng ở quê nhà.

    Anh người tầm thước, cao độ một công xích sáu mươi phân.

    Trán hói; tóc thưa; đôi mắt thông minh, một nhìn đủ khiến ta đem lòng kính mến.

    Da ngăm đen, thuộc dòng huyết tính.

    Môi dày; hàm răng vổ; miệng lúc nào cũng tươi.

    Cằm nở, tỏ ra người quả quyết thực hành.

    Đặt lưng nằm là ngủ được ngay, đủ rõ trong tâm lúc nào cũng bình tĩnh.

    Ngủ bao giờ cũng nằm sấp, hai bàn chân quắp lại trên mông.

    Cách ăn vận không hề chú ý đến bao giờ.

    Một áo ngoài, một đôi giầy, hỏng mới thay bộ kthác.

    Có tiền, chúng bạn tiêu không tiếc.

    Hết tiền, xin các người thân với vẻ mặt rất tự nhiên.

    Ăn trầu, hút thuốc lào, nhưng không nghiện món nào cả, nói thường ngọng vần “l”.

    Cái lá, cày lim, không bao giờ nói đúng.

    Tư đức tốt; học hành chăm chỉ; nhưng ở nhà trường chỉ là một học sinh vào hạng trung bình.

    Ban đầu anh học chữ Hán.

    Sau ra học chữ Pháp ở thường tỉnh Vĩnh Yên.

    Tốt nghiệp rồi, ra học trường sư phạm ở Hà thành.

    Sau lại vào học trường Cao đẳng thương mại.

    Trong đời học sinh, người bạn thân nhất của anh là đồng chí Hồ Văn Mịch. (Anh này cũng là một trong những người sáng lập ra Việt Nam Quốc Dân Đảng.

    Năm 1929, bị bắt và bị đày, mất ở Côn Lôn.

    Ở đấy, anh em có dựng trên mộ một cái bia bằng xi măng, khắc mấy chữ “Hồ Văn Mịch, 1930” để làm kỷ niệm).

    Cứ lời anh Mịch nói với tôi thì anh Học là người ngoài tuy nóng nẩy nhưng trong lòng thường điềm tĩnh; đãi người thì chân thành nhưng liệu việc rất nhiều tri mưu.

    Chú thích:

    1.Trong cuốn này, lần xuất bản thứ nhất, nói Ông có làm chánh tổng, được sắc bá –hộ là lầm
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 2: Tư Tưởng Cách Mạng


    Có lần tôi hỏi anh Học:

    - Tư tưởng cách mệnh của mày nẩy ra từ hồi nào?

    Anh đáp:

    - Từ năm độ lên mười tuổi.

    Hồi ấy tao còn lọc chữ Nho ở nhà quê.

    Xong buổi học lại đi chăn trâu, và nhiều hôm chăn sang đến đầu làng bên cạnh.

    Làng ấy là quê ông Đội Cấn.

    Ông Cấn chết đi, còn để lại mẹ già.

    Bà cụ thương con quá, hoá như kẻ dở người.

    Hễ gặp chúng tao là bà cụ lại ôm choàng lấy, vừa khóc vừa nói: “Các cậu!

    Các cậu!

    Làm thế nào báo được thù cho con tôi.

    Tao còn bé, mỗi khi gặp bà cụ là lòng lại hồi hồi!

    Rồi nghĩ, chỉ có đạp đổ chế độ thực dân mới trả hộ được thù cho con bà cụ!

    Đấy, tư tưởng cách mạng nẩy ra ở trong óc tao từ đấy!

    Thì ra một bà cụ dở người đã đúc được lai đứa con anh hùng sắt máu!

    Một đứa con ruột thịt, là nhà chi huy việc đánh Thái Nguyên!

    Một đứa con tinh thần là người tạo nhân cuộc khởi nghĩa Yên Bái.

    Nhượng Tống

    Trước sau hơn mười năm, hai đứa con bà đã làm vẻ vang cho cả một dân tộc!

    Nghĩ đến bà, lòng ta cảm khái bao nhiêu!

    Tuy vậy, năm mười tuổi, anh mới được bà gieo vào óc cái hạt giống tự do đó mà thôi.

    Hạt giống ấy, còn phải vun tưới ròng rã trên mười năm nữa, bằng những máu nóng, lệ nóng của đồng bào, bằng những gió dập, mưa dồn chung quanh tổ quốc, nó mới đến lúc khai hoa, kết quả.

    Ấy là năm 1926…
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 3: Năm 1926


    Hải Phòng hồi Âu chiến trước, nhà cầm quyền Pháp dụng tâm ru ngủ tinh thần dân tộc của ta bằng câu chuyện “Pháp-Việt đề huề”.

    Nhưng… như một câu nói chua của tôi hồi bấy giờ “tay phải giơ ra nói đề huề, để tay trái luồn xuống lần lưng, móc túi!”

    ở Bắc kỳ, họ mở ra báo Nam Phong; lại lập ra hội Khai trí Tiến đức, để làm hai cơ quan cho chính sách thực dân ấy!

    Dân ta trúng kế!

    Hơn mười năm, bọn thực dân được cao gối ngủ yên trên xương máu của đồng bào ta!

    Giấc ngủ ấy, ngon lành mãi đến năm 1925, chúng mới giật mình!

    Giật mình vì tiếng bom của Liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném Toàn quyền Méc Lanh khi qua Sa Diện.

    Các bạn thứ cho tôi.

    Ở đây không phải chỗ kể đầu đuôi câu chuyện ấy.

    Chỉ biết rằng, vì việc đó mà chúng phải cố lùng bắt cho được nhà chí sĩ Phan Bội Châu ở ngoại quốc về.

    Rồi chúng phái Toàn quyền Varen sang.

    Varen là một lãnh tụ của đảng xã hội Đệ nhị Quốc tế nước Pháp.

    Ông tự xưng là tín đồ trung thành của Các Mác với Dô-rét!

    Hai cái bài kèn đề huề đã bồ tịt lít kia lại được bọn chiếm nước và bán nước phùng mang thổi lên cực kỳ náo nhiệl!

    Tin vào chủ nghĩa xã hội, tin vào các đảng Quốc tế, nhà lãnh tụ còn trẻ người non dạ của chúng ta mắc lỡm!

    Năm 1926, anh Học khi ấy còn học trong trường Cao đẳng, xin vào yết kiến và đưa một chương trình yêu cầu cải cách lên Varen.

    Khi vào tiếp kiến, quan toàn quyền sớm làm làm ra trò niềm nở ân cần!

    Nhưng khi ra, anh được tụi mật thám xúm lại khám mình và dọa nạt!

    Anh chưa thất vọng, còn gửi cho Varen một bức thư điều trần nữa.

    Lần này thì bức thư khòng được trả lời…

    Và sau một hồi vơ vét cho nặng túi, sau khi ký thêm cho dân Bảo hộ mấy đạo nghị định thắt cổ, nào là cấm bán những vị cần dùng cho thuốc Bắc; nào là rút cho thêm hẹp quyền ngôn luận; ông Varen liền cuốn gói về Tày!

    Varen cút!

    Bát ky ê sang!

    Anh còn chưa nản chì hoàn toàn!

    Hồi tháng sáu năm sau (1927). anh còn xin phép Thống sứ ra một tập tạp chí nửa tháng, lấy tên Nam Thanh.

    Mục đích tạp chí là nâng cao trình độ tri thức, thể dục cho nhân dân, khuyến khích họ bỏ lối thích danh hão, thích làm quan, mà chú trọng về nông, công, thương nghiệp.

    Một cơ quan dạy khôn nhau như thế lại chủ trương cho một tay có chí khí, có nhiệt tâm, đời nào họ cho phép!

    Thích làm quan, thích ông nọ, bà kia, chính là cái giây xích, giây thừng, để chúng xỏ vào mũi, khoác vào cổ những dân trí thức xứ này, đặng sai họ làm ngựa, làm trâu, nếu không phải làm trâu, làm chó!

    Còn nếu đồng bào ta lại biết hiệp lực nhau mà mở mang thực nghiệp, thi tụi tư bản Pháp còn hòng gì chiếm lĩnh được kinh tế, lũng loạn được lợi quyền.

    Tuy nhiên, cái thâm ý ấy khi nào chúng chịu nói ra!

    Chúng không cho anh mở báo, lấy cớ rằng anh đã gian trá trong sự đề chỗ ở.

    Trong giấy, anh đề là ở phố Hàng Quạt.

    Nhưng thực thì anh ở chung với tụi Nam đồng thư xã, một tụi có tư tưởng bài xích chế độ thực dân.

    Nhưng đâu có phải thế!

    Hồi ấy anh ở Hàng Quạt thật!

    Chẳng qua anh hay đi lại với tụi tôi, thế thôi!
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 4: Nam Đồng Thư Xã


    Nam Đồng thư xã ở Số 6 đường 96, bờ hồ Trúc Bạch, gần đối diện với chùa Châu Long.

    Đó là một nhà xuất bản do tôi và hai anh Phạm Tuấn Lâm (Dật công), Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên) lập nên, vào cuối năm 1926.

    Nguyên hồi ấy, phong trào chính trị đương bừng bốc.

    Tuy vậy, trình độ trí thức của dân mình còn thấp kém!

    Đại đa số người dân không có một chút gì là công dân giáo dục.

    Chúng tôi lập ra thư xã là mong làm việc ấy.

    Nhĩa là dạy cho người ta biết thương đồng bào, biết yêu Tổ quốc, biết thế nào là quyền lợi và nghĩa vụ của một người công dân.

    Sau nữa, giúp cho ai nấy có đôi chút thường thức về các khoa chính trị, như kinh tế học, xã hội học, các hiến pháp, các chủ nghĩa.

    Tất cả công việc ấy sẽ làm bằng cách xuất bản và phát hành các sách.

    Sách chúng tôi bán rất rẻ, chỉ mỗi cuốn một, hai hào mà thôi!

    Sách hồi ấy còn xuất bản tự do, không phải kiểm duyệt trước như các báo.

    Những bài bị xóa ở các báo, có thể đem in thành sách.

    Cố nhiên là có thể bị cấm.

    Nhưng, với cái gọi là lối "chậm trễ hành chính" của nhà cầm quyền Pháp, khi họ ra được cái nghị định cấm thì sách mình đã bán hết rồi!

    Thế nhưng "đạo cao năm thước, thì ma cao một trượng".

    Thấy sách chúng tôi vẫn cấm mà vẫn ra, bọn mật thám liền bắt buộc bọn chủ nhà in, bao nhiêu sách xuất bản phải đưa chúng xem trước, để nếu có cần thì chúng làm nghị định cấm trước?

    Vì thế, có cuốn sách sớm vừa ở nhà in lấy ra thỉ chiều đã có nghị định cấm, và có người đi thu sách, tịch biên sách!

    Rồi, luôn năm sau, Toàn quyền ra nghị định bắt buộc các sách cũng phải đưa kiểm duyệt trước như các báo!

    Thế là ô hô, đi đời cái quyền ngôn luận của dân ta!

    Anh Học khi ấy học trong trường Cao đẳng Thương mại.

    Với các anh em Cao đẳng, bọn "Nam Đồng thư xã" chúng tôi thường liên lạc để làm các việc tuyên truyền, hợp với mục đích của chúng tôi.

    Ví dụ như truy điệu cụ Phan Tây Hồ; truy điệu cụ Lương Văn Can; mở các lớp dạy cho snh em lao động học biết chữ Quốc ngữ.

    Vì thế chúng tôi quen với anh Học, và sự đi lại mỗi ngày một thêm thân.

    Đến cuối năm 1927, anh Học cùng anh Mịch lên ở hẳn với chúng tôi.

    Chúng tôi đã trở nên những người bạn "đồng xu cuối cùng", nghĩa là "còn cùng ăn, hết cùng nhịn".
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 5: Hòa Bình Cách Mệnh


    Thấy nhóm thực dân không thể nào hợp tác được rồi, chúng tôi, vào khoảng giữa năm 1927, đã quả quyết đi vào con đường cách mệnh.

    Nhưng tôi, một kẻ thư sinh, muốn cách mệnh một cách hợp pháp!

    Nguyên ở đây, việt lập các quỹ trừ súc, và các hợp tác xã không cần phải xin phép: Chỉ cần đem điều lệ trình các nhà đương cục.

    Tôi liền bảo anh Học, một người thuộc thương luật, thảo điều lệ các hội ấy và đem đi cổ động ở khắp mọi nơi.

    Những hội ấy sẽ lập lên ở giữa các bồi bếp, các công chức, các binh lính, các thợ thuyền, nói tóm lại, ở giữa những người cộng tác với người Pháp.

    Những hội ấy sẽ do những người có tâm huyết cầm đầu, và trong khi trò chuyện với anh em, sẽ tìm cách làm phổ thông những thường thức về công dân giáo dục.

    Cái chương trtnh ấy, tôi gọi là chương trình sáu năm.

    Tôi mong các hội viên buôn bán và tiết kiệm, để dành tiền trong sáu năm…

    Và sau sáu năm, sẽ đủ tiền nuôi mình, và gia đình trong sáu tháng…

    Rồi, nhân một dịp tiện lợi, chúng tôi sẽ yêu cầu người Pháp cho tự trị…

    Cố nhiên là họ không cho.

    Khi ấy, tất cả anh em sẽ Tổng bãi công trong sáu thành để làm hậu thuẫn cho chúng tôi.

    Sáu tháng bất hợp tác!

    Sáu tháng nghỉ việc của tất cả các viên chức, các sở công, sở tư!

    Tình hình chính trị và kinh tế ở xứ này rối loạn đến mức nào, khi ấy sẽ cổ động cả sự bất tuân thượng lệnh ở giữa anh em binh lính!

    Người Pháp tất phải nhượng bộ và ít nhất là cho ta được tự trị!

    Chúng tôi cổ động.

    Anh em hướng ứng.

    Những hội đầu tiên đã thành lập ở nhà giây thép Hà Nội, nhà máy sợi Nam Định.

    Thế nhưng có một hôm, cả ba anh Tài, Học, Mịch cùng xúm lại, bảo cho tôi biết: chương, trình của tôi chỉ hoàn toàn thuộc về không tưởng mà thôi!
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 6: Phải Sắt và Phải Máu


    Mày nghe mồm cái lão già Cam địa chực hòa bình cách mạng!

    Nhưng thử hỏi cái lão già ấy đã làm được việc gì cho dân tộc Ấn Độ chưa?

    Đó là lời anh Học bảo tôi.

    Rồi Tài và Mịch phụ họa thêm vào.

    Tôi đã bàn cãi với họ luôn hai đêm.

    Sau cùng, tôi nghĩ, mình còn nhỏ tuổi hơn cả, mà anh em lại đồng thanh bác cái thuyết của mình, như vậy có lẽ mình là đứa lạc lõng trong không tưởng thật!

    “Mày là đứa chỉ sống ở trong mộng và trong sách, đã biết đời là cái quái gì!

    Phải theo chúng ta!

    Nghĩa vụ một đứa em nhỏ là phải thế!”

    Anh Tài vỗ vai tôi, quyết định tôi một lần nữa.

    Chúng tôi liền định lập một đảng bí mật, theo hẳn chủ trương thiết huyết cách mạng.

    Anh Học đi rủ anh em quen biết ở Hà Nội, được hơn mười người, liền tổ chức nên đệ nhất chi bộ.

    Cái tên “đệ nhất chi bộ” là về sau anh em tặng cho, vì đó là chi bộ thành lập sớm nhất.

    Chứ hiện bấy giờ thì đảng còn chưa có tên chưa có chương trình điều lệ, chưa có gì hết!

    Những món ấy, chúng tôi mong, sự định đoạt do theo ý kiến chung của các đồng chí, không những ở Hà Nội, mà là ở khắp cả các nơi.

    Thế rồi, anh Học đem ý định của chúng tôi, tuyên truyền ở hồ khắp địa hạt Bắc kỳ.

    Đi đâu cũng được các bạn hữu tâm tán thành biểu đồng ý…

    Kỳ thực thì hồi ấy là hồi phong trào cách mệnh ở Á Đông đương bồng bột.

    Là một dân tộc chen vào giữa Ấn Độ và Trung Hoa, chúng ta không thể nhắm mắt, bưng tai về sự thức tỉnh chung của các nước bạn.

    Giá chi dĩ, sau khi Varen nặng túi ra về, nhóm thực dân ở đây cũng cóc cần đến cái bộ áo đạo đức, dùng mãi nó đã cũ nát rồi!

    Chúng áp chế ra mặt!

    Chúng đê hèn ra mặt!

    Mọi chính sách của chúng thi hành, “như nước thêm sâu, như lửa thêm nóng” như đồng mưu với hoàn cảnh bên ngoài, chúng đã xô dân ta vào con đường độc đạo là con đường cách mệnh!

    Cho nên ngoài đảng Tân Việt Cách mệnh ở Trung kỳ, ngoài hội Thanh niên Cách mệnh đồng chí gây nên ở Quảng Châu và tràn lan về đất Bắc, khắp các tỉnh, những nhóm anh em không tên, không tuổi như nhóm chúng tôi, lập nên nhan nhản.

    Ví dụ như nhóm anh Hoàng Văn Tùng ở Thanh Hóa, nhóm anh Nguyễn Thế Nghiệp ở Bắc Ninh, nhóm anh Nguyễn Khắc Nhu ở Bắc Giang.

    Các nhóm ấy khác nào như những giọt nước, gặp nhau là hợp nhau ngay!

    Ngày lễ Sinh nhật Chúa Gia tô năm 1927, chúng tôi liền họp một kỳ hội nghị ở nhà một đồng chi tại làng Thể giao trong tỉnh thành Hà Nội.

    Nhưng vì hơi có động, nên nửa chừng anh em phải giải tán, và về họp lại ở Nam đồng thư xã.

    Trong kỳ hội đảng ấy, có đủ mặt các đại biểu của các đồng chí các tỉnh.

    Việt Nam Quốc Dân Đảng đã đản sinh cùng ngày với ông Giáo chủ đạo Thiên chúa.

    Và cũng như ông Giáo chủ ấy, lãnh tụ của chúng tôi cũng đem tất cả mà hy sinh cho chủ nghĩa của mình!
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 7: Việt Nam Quốc Dân Đảng


    Trong kỳ “Toàn kỳ đại biểu hội nghị” ấy, mỗi đại biểu đều đem tỏ bầy một bản dự thảo riêng của nhóm mình về chương trình, điều lệ của Đảng.

    Chúng tôi đã phải làm việc suốt hai đêm ròng rã.

    Kết quả những ý kiến riêng đã hun đúc lại thành một kỷ cương chung.

    Trước kia, Đảng mỗi chỉ là một ý định mơ hồ.

    Đến bây giờ, mới có đủ một hình thức, một tinh thần rõ rệt.

    Đảng lấy tên là “Việt Nam Quốc Dân Đảng” theo đề nghị của anh em Hà Nội.

    Người vào đảng phải làm lễ phát thệ, theo đề nghị của anh em Thanh Hóa…

    Mục đích là liên lạc tất cả các anh em đồng chí, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dùng võ lực để lấy lại quyền độc lập cho nước Việt Nam.

    Cách tổ chức thì mỗi chi bộ gồm nhiều nhất là mười chín người.

    Vì theo pháp luật hiện hành, sự hội họp quá mười chín người phải xin phép trước.

    Mỗi chi bộ chia làm bốn ban: Tài chính, tuyên truyển, trinh thám và tổ chức.

    Rồi bầu lấy một người chi bộ trưởng và một người đại biểu lên tỉnh bộ.

    Người trong tỉnh bộ gồm có các đại biểu của chi bộ.

    Cũng chia bốn ban.

    Cũng bầu hộ trưởng.

    Và cũng một người thay mặt cho anh em để dự vào đảng bộ cấp trên.

    Cấp trên là kỳ bộ, nguyên tắc tổ chức cũng như ở dưới.

    Rồi mỗi kỳ bộ sẽ cử lên một số đại biểu để họp thành Tổng bộ.

    Tổng bộ, cơ quan tối cao của Đảng, so với các đảng bộ dưới, có thêm ra bốn ban: Ban binh vụ, ban ngoại giao, ban giám sát, và ban ám sát.

    Suốt trong thời kỳ anh Học còn, vì sự tuyên truyền chưa lan được khắp Trung, Nam, nên Tổng bộ chỉ là Kỳ bộ miền Bắc tạm quyền công việc.

    Đã một hồi, từ Sài gòn và mấy tỉnh đường trong, có lập được ít nhiều chi bộ.

    Nhưng kỳ bộ miền Nam chưa hề có cử người về Tổng bộ.

    Hai nơi chỉ là cùng nhau liên lạc mà thôi.

    Tổ chức thì thế, còn chương trình hoạt động, thì chia làm ba thời kỳ.

    Thời kỳ thứ nhất là phôi thai, làm trong vòng bí mật.

    Thời kỳ thứ hai là dự bị, làm trong vòng bí mật.

    Thời kỳ thứ ba là phá hoại, tức là đánh đổ đối phương.

    Xét ra thì cách tổ chức của Đảng lúc ban đầu hoàn toàn theo lối dân chủ đại nghị.

    Nó rất giống với cách tổ chức của đảng Tân Việt Cách mệnh.

    Kỳ trực thì cả điều lệ lẫn chương trình, phần nhiều là châm chước theo đề nghị của anh Hoàng Văn Tùng (anh bị bắt năm 1929 và chết ở Hoả Lò), đại biểu Thanh Hoá.

    Anh Tùng vốn là bạn thân của anh Tôn Quang Phiệt, người bên Tân Việt…

    Hoặc giả đề nghị của anh đã dựa theo đảng cương bên Tân Việt cũng chưa biết chừng!

    Cho cả đến lời phát thệ, anh em “đường ngoài” lúc trước cũng chưa hề nghĩ đến bao giờ:

    “Trước giang sơn, Tổ quốc, trước mặt anh em đồng chí, tên tôi là mỗ, bao nhiêu tuổi, thề xin hy sinh cho Đảng, xin giữ bí mật của Đảng, xin phục tùng mệnh lệnh của đảng, không được tự do ly Đảng.

    Nếu sai lời, xin chịu tử hình!”

    Lời thề ấy, đã làm tim tôi bao nhiêu lần hồi hộp, mỗi khi đi chứng kiến sự thành lập một chi bộ gồm có các đồng chi sáu, bẩy chục tuổi, đầu tóc bạc phơ, hay một chi bộ nhà binh, thường là các hạ sĩ quan, trên vai bông ngù vàng lấp lánh!

    Bởi vì là một đảng bí mật, nên chúng tôi hết sức tránh việc giấy tờ.

    Đảng viên không có danh sách.

    Các kỳ họp cũng không có lập biên bản.

    Chương trình nghị sự, xong buổi họp rồi liền đốt đi.

    Có ai ngờ kín đáo như vậy, mà ngay từ khi Đảng chưa thành hình, ty Mật thám đã mong manh biết.

    Kẻ tố cáo đầu tiên, than ôi, lại là một trong những thanh niên trí thức: Nguyễn Quốc Tuý tiên sinh!
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 8: Nguyễn Quốc Túy


    Như trên đã nói, hồi ấy, các sinh viên Cao đẳng thường cùng chúng tôi làm chung nhau mọi việc vận động có màu chính trị.

    Trong các anh ấy, có một bọn lấy cụ Nghè Ngô Đức Kế làm lãnh tụ.

    Trong đám đồ đệ của cụ, có ba anh tỏ ra vẻ sốt sắng nhất: Trần Tiến Vỹ, Nguyễn Quốc Tuý và Nguyễn Văn Phùng.

    Trừ Phùng ra, người ta nói bọn kia thường mượn màu ái quốc để mưu đồ cả lợi lẫn danh.

    Tuy lúc nào cũng bô bô là đi với anh em lao dộng, nhưng họ đã sống một cuộc đời thật trưởng giả!

    Đi thì ô tô!

    Ngủ thì nhà ả đào hay phòng khách sạn!

    Và ăn thường là ở cao lâu khách hay hàng cơm tây!

    Ấy là mỗi khi họ đi công cán một tỉnh nào!

    Tiền đâu mà họ ăn xài lớn vậy?

    Vì họ không phải con nhà giầu.

    Họ đã lạm dụng lòng tin, lòng tốt của mọi người.

    Họ đã ăn chơi bằng những tiền họ đi quyên.

    Lúc thi quyên giúp anh em trường Bưởi bãi khoá, lúc thì quyên giúp anh em trường Bách nghệ đình công.

    Lúc lại quyên giúp anh Phạm Tất Đắc ở tù vì tội viết và xuất bản cuốn “Chiêu Hồn Nước”.

    Nhưng người ta không ngờ đến rằng trong đó lại có kẻ hạ mình quá thấp đến địa vị trành, chó!

    Tôi còn nhớ trong hồi xảy ra vụ Bắc Ninh, Nguyễn Văn Phùng thình lình bị bắt.

    Sau khi được tha, Phùng lên thăm chúng tôi ở Nam đồng thư xã.

    Lúc ra về, Phùng buồn rầu mà nói:

    - Các anh phải coi chừng!

    Mật thám ở ngay bên mình chúng ta đó!

    Không vào trong ấy, không ai có thể tưởng tượng được mức đê tiện của giống người!

    Tôi hỏi:

    - Ai vậy?

    Phùng đáp:

    - Nói ra không tiện!

    Nhưng anh cứ yên lòng, vì không phải ở trong đám các anh.

    Lời Phùng nói làm tôi nặng một mồi ngờ.

    Cho mãi đến năm 1929, một hôm ở trong Hoả Lò, người ta đã gọi lên cho dở coi hồ sơ của mình để mà viết bài tự bênh vực, tôi mới biết rõ ý nghĩa của câu Phùng nói.

    Trong hồ sơ, tôi thấy kèm có hai tờ khai của Tuý trong năm 1927.

    Mới đầu năm với cuối năm, mà Tuý đổi khác như hai người.

    Đầu năm ấy, nhân dân đất Bắc định đón cụ Phan Bội Châu ra chơi.

    Túỵ cùng mấy anh em nữa, đưa ô tô vào mời cụ.

    Ra đến Vinh, mật thảm rước cụ quay về và giữ Túy lại hỏi.

    Đại khái Túy đáp:

    - Ông Cử Can dựng lên “Đông kinh nghĩa thục” thật, nhưng bây giờ ông ấy già rồi, vừa nhút nhát, vừa gàn dở!

    Ông Hoàng Tăng Bí thì có gì!

    Khi xưa vào nghĩa thục cũng là lôi cuốn theo phong trào!

    Còn bây giờ thì chỉ muốn yên thân.

    Lại làm thuê cho lão Nguyễn Văn Vĩnh, là người đối với Quốc dân mất hết tín nhiệm!

    Riêng cụ Ngô Đức Kế là tay cách mạng sáng suốt, lúc nào cũng cương quyết, vững bền, không dễ lấy tiền mà mua chuộc được.

    Vì vậy chúng tôi năng lui tới nhà cụ để nghe lời chi bảo.

    Còn các tay chí sĩ khác ở các miền nhà quê, thường vẫn giúp tiền chúng tôi.

    Các thanh niên đi lại với chúng tôi, đều bị liệt tên vào sổ đen.

    Thế nhưng nào có chuyện gì?

    Ngoài sự tập võ Tàu. võ Nam ra, toàn là chuyện phiếm cả.

    Tôi không thân với Cờ-lê-măng-ty, vi tôi cho hắn là kẻ muốn ìợi dựng lòng ái quốc của chúng tôi để kiếm chác!

    Còn bọn Nam Đồng thư xã cũng chẳng hơn gì…

    Hùng hồn thay!

    Trong khi đối đáp ấy, Tuý thực đã “mắt xanh chẳng để ai vào”, thực đã “mục không nhất thế”.

    Thế mà đến hồi tháng 9, khi bị trục xuất khỏi đất Bắc kỳ, vì cớ hay đưa tay vào các việc chính trị, “dúng tay trước để mút tay sau”, Tuý đã nằn nỳ với R., mật thám:

    - Xin ông cho tôi ở lại!

    Tôi sẽ xin báo ông biết những tin quan trọng lắm kia!

    R. cười khảy, đáp bằng một giọng mỉa mai:

    - Quan trọng à?

    Về qua Vinh anh sẽ khai với quan Chánh mật thám Vinh.

    Ngài cỏn nhớ anh đấy!

    Ấy thế mà khi qua Vinh, Tuý cũng khai nữa!

    Trong các điều quan trọng mà Tuý khai, tôi nhờ có câu này:

    “Hôm trước đây, người bạn đồng song của tôi là Nguyễn Thái Học, có đến rủ tôi vào một hội kín mà mục đích là dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân.

    Trong hội kín ấy có cả Nhượng Tống và Phạm Tuấn Tài…”

    Về Phùng, chắc Tuý cũng không tha cho nên Phừng mới phàn nàn với chúng tôi.

    Dưới tờ khai của Tuý, sở Mật thám có chua mấy câu: “Tên Tuý này là một tay cáo mật chuyên môn!

    Mỗi lần bị đòi ra sở Mật thám là một dịp hắn tâu nộp tâng công.

    Hôm trước bị bắt về việc Hải Phòng, Tuý đã cho chúng ta niềm tin.

    Và hứa mỗi khi biết được chuyện gì nữa sẽ có thư trình sau.

    Thư ấy sẽ không ký tên, và đánh một chữ thập làm dấu”.

    Cho hay những hạng đê bạ ở đời, dù được việc cho người ta, mà người ta vẫn coi thường, coi rẻ!

    Cái ấy, tức gọi là “thiên lý tại nhân tâm”.
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 9: Việc Hải Phòng


    Tôi vừa nói đến việc Hải Phòng.

    Vào khoảng tháng tám năm 1927, ở Hải Phòng không hiểu tại vì sao, xảy ra Việt - Hoa xung đột, người ta kéo bè đánh người Tầu ở ngoài phố, rồi đến sấn vào phá phách các cửa hàng.

    Có người cho đó là thủ đoạn của nhóm thực dân Pháp.

    Họ bỏ tiền ra thuê bọn du côn gây sự lôi thôi.

    Nếu người mình giết kiều dân Tầu ở bên này, thì chính phủ Tầu hoài hơi đâu mà giúp đỡ cho bọn cách mệnh Việt Nam ở bên ấy!

    Biết cái mưu cay độc ấy, anh em Việt Nam thanh niên cách mệnh đồng chí ở Tổng bộ đặt ở Quảng Châu, liền rải truyền đơn vào đêm 22 tháng Tám, trong truyền đơn nói rõ các tình tệ.

    Cuổi cùng khuyên người mình, người Tầu cùng giống da vàng, không nên mắc mưu mà làm những việc vô ý thức như thế!

    Trái lại, nên đồng tâm hiệp lực mà tẩy uế chế độ thực dân là mối hại chung.

    Truyền đơn ấy rải ra, người Hải Phòng bị bắt lung tung.

    Ng.

    M.

    B., một văn sĩ kiêm y sĩ, liền tâu với sở Mật thám là có lẽ do Phạm Tuấn Tài rải…

    Nguyên chúng tôi khi ấy thấy việc Việt Hoa xung đột cũng sốt ruột.

    Sợ nó lan lên đến Hà Nội, nên phải tìm phương đối phó.

    Một mặt, nhờ các anh em du côn lảng vảng cạnh các phố Khách, nhất là các hiệu ăn.

    Nếu kẻ nào đến tìm cách sinh sự với người Khách, anh em thẳng tay trừng trị ngay.

    Một mặt, đến bảo các ông Bang trưởng thông tri cho các người Tầu: “Nếu gặp người Việt Nam nào sinh sự thì đừng đối đáp lại một cách nóng nẩy quá!

    Tự nhiên sẽ có đồng bào chúng tôi đến can thiệp và hoà giải”.

    Nhưng còn muốn điều tra cho thật rõ nguyên nhân, chúng tôi liền cắt anh Học và Tài xuống Cảng xem xét tận chỗ.

    Nhân thể đi tuyên truyền hai hạt Hải Phòng, Hải Dương.

    Các anh đi hôm 24 về hôm 26, đến 28 thì mật thám đến khám Nam đồng thư xã và bắt anh Tài đem đi.

    Đó là kết quả về lời trình của B.

    Mà B. chỉ quen có Tài, nên không tâu gì về Học.

    Nếu không, Học cũng bị bắt rồi, còn chi?

    Nhưng khi giải đến Cảng hỏi, thì họ biết là truyền đơn chẳng rải từ tay Tài: Việc đã xảy ra từ ngày 22, nghĩa là là hai ngày trước khi Tài có mặt ở đây.

    Vả lại khi khám Thư xã cũng không bắt được tang vật gì khả nghi cả.

    Họ liền tha Tài về.

    Tuy vậy, từ đấy anh cũng bị chú ý nhiều hơn trước.

    Họ cho việc để anh dậy học ở trường Đỗ Hữu Vỵ, một trường tập sự của các viên giáo lập là khá bề lợi hại!

    Họ rắp tâm đổi anh đi xa hẳn đất Thăng Long.
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 10: Việc Bắc Ninh


    Ngoài việc Hải Phòng, hồi ấy còn có một việc nữa là việc Bắc Ninh.

    Muốn cho hả cái khi bất bình của cả một dân tộc đã chứa chất lại bao năm, một số anh em thảo dã anh hùng ở Bắc Ninh, mưu tính làm một việc khởi nghĩa.

    Đứng đầu việc ấy là ông Quản Trạc và giúp sức vào có cả các dư đảng của Hoàng Hoa Thám khi xưa.

    Anh em chế bom.

    Anh em rèn dũa gươm, dao.

    Anh em định lấy hai điểm: Bắc Ninh và Đáp Cầu.

    Nghe chúng tôi ở Hà Nội có ít nhiều đồng chí, anh em liền phái người sang nhờ chúng tôi giúp sức.

    Gặp nhau ở trên gác Nam Đồng, tôi bảo người sứ giả:

    - Dù cho lấy được hai nơi ấy nữa, chỉ trong ba hôm, chúng ta sẽ bị đè bẹp: gần Hà Nội quá!

    Sứ giả đáp:

    - Phần thua đã cằm chắc, nhưng ít ra nó cũng có ảnh hưởng được bằng việc Thái Nguyên.

    Tôi nói:

    - Dân ta còn yếu lắm!

    Yếu vì thiếu tổ chức.

    Hiện nay các đồng chí xa gần đương bắt đầu tổ chức.

    Đó là một hy vọng.

    Nếu việc các ông làm mà hỏng, nhóm thực dân tất hạ độc thủ với các nhóm bí mật.

    Một khi tan rữa, các nhóm ấy gây dựng bao giờ cho lại.

    Thời chưa đến.

    Việc các ông làm thấy lợi ít mà hại nhiều.

    Sứ giả cười:

    - Ông còn trẻ.

    Ông có thể đợi thời!

    Anh em chúng tôi phần nhiều đứng tuổi cả rồi, không làm ngay, sợ xương mục cũng như cây cỏ!

    Biết thế trận gay ro, tôi xoay mặt khác:

    - Thôi, cũng phải!

    Thế nhưng việc Thái Nguyên là làm ra tự ta quân đội, sẵn súng.

    Muốn làm được thế, các ông đã tuyên truyền được binh sĩ làm nội ứng chưa?

    Sứ giả đáp:

    - Ở Bắc Ninh đã được vài ông Đội.

    Ở Đáp Cầu thì phần nhiều lính tẩy với Lê dương cả.

    Nhưng anh em cũng đã có ít người.

    - Vậy phương lược tiến công, các ông định ra sao?

    - Chúng tôi định đánh ở ngoài vào.

    Nửa đêm, anh em sẽ đem bom ném vào các trại.

    Và nhân lúc chúng rối loạn không đề phòng, ta sẽ ra tay.

    Sáng ngày sẽ lấy súng đạn, đánh thẳng về Hà Nội!

    Tôi mỉm cười:

    - Tôi thì không tin như thế.

    Tôi cho rằng đồn nào nó cũng có lính gác, và có tường, có rào cẩn thận.

    Trong lúc anh em tiến vào, lính gác sẽ hô: “Muốn sống thì dừng lại!”.

    Không dừng, chúng bắn, và chúng hô thêm người bắn.

    Gươm, dao, đòn đoản, chống đòn trường sao được!

    Anh em sẽ có kẻ quăng cả dao mà chạy!

    Sáng hôm sau, các báo sẽ đãng là: “Đêm qua hai đồn lính Bắc Ninh và Đáp Cầu xuất hiện trộm!

    May lính gác không ngủ, bắn súng ra thì kẻ trộm ù chạy quăng lại mấy con dao bẩy!

    Ấy thế!

    Làm gì có tiếng tăm được bằng việc Thái Nguyên?”.

    Giọng nói hài hước ấy đã làm cho sứ giả mắt nẩy hồng quang!

    Và cũng làm cho tôi xuýt nữa mất đầu!

    Số là đến khi anh em họp bàn thì đa số quyết nghị là nên đem toàn lực ra giúp đỡ anh em bên kia sông.

    Tôi và anh Vũ Hiển viện bao nhiêu lý do ra đều vô công hiệu.

    Câu hỏi cuối cùng của tôi:

    - Cố nhiên là chúng ta không sợ chết rồi, nhưng xin hỏi các anh: chúng ta làm việc cốt được việc hay cốt lấy chết?

    Một anh trả lời tôi:

    - Chúng ta hãy làm lấy chết đã!

    Sẽ có những người tiến sau ta làm lấy được việc!

    Sau một tràng pháo tay, đến một hồi bốn tường im phắc.

    Tôi và anh Hiển thở dài cúi đầu để anh em cắt việc.

    Việc của tôi là phải thảo một tờ hịch, thảo xong giao xong, tôi nằm trên gác Nam Đồng mà chờ chết.

    Nhưng cái chết đã không tới.

    Vì cái mưu của anh em bên Bắc bị bại lộ, và khắp nơi xảy ra bằng việc khám nhà, bắt người!

    Mấy hôm sau, anh Hiển bảo tôi:

    - Anh có biết không?

    Anh em bên Bắc yêu cầu giết anh với tôi trước khi khởi sự ở Hà Nội.

    Giờ đay, anh Hiển không làm việc với chúng tôi nữa.

    Có lẽ vì thấy anh em nóng nảy quá, có thể gây cho anh cái chết chẳng đành lòng.

    Về việc nãy, một tên thám tử chơi thân với anh Học - tên nào?

    - có hót với chủ rằng: “Việc Bắc Ninh, nếu không có Học ngăn lại, thì đã xảy ra rồi!”.

    Câu ấy đã hoàn toàn không đủng với sự thực.
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 11: Tổng Bộ Đầu Tiên


    Những việc tôi vừa nhắc lại, toàn là những việc xoay ra khi Việt Nam Quốc Dân Đảng chưa ra đời mà chúng tôi mới chỉ là một nhóm anh em đồng chí.

    Trên, tôi đã nói đến cuộc hội đồng cuối năm 1927.

    Kỳ ấy, nay tôi nhớ lại, tất cả mọi người trong đệ nhất chi bộ chúng tôi đều xuất tịch.

    Trái lại, ở các nơi, mỗi tỉnh cử về có một người.

    Một cuộc hội họp ngót bốn chục người mà cơ hồ nghe rõ cả tiếng con muỗi bay.

    Chúng tôi nói nhỏ mà anh em cũng đủ nghe.

    Anh Học lãnh chủ tịch, còn anh Đạt đứng giữ trật tự.

    Vẻ im lặng tôn nghiêm làm cho người ta nghĩ đến những việc thiêng liêng, cao cả.

    Tôi tưởng đâu như hết thảy các vị anh hùng cứu quốc, đương đứng ở trên đầu trên cổ mà chửng giám chúng tôi.

    Do kỳ hội nghị ấy, bầu nên một Tổng bộ Lâm thời.

    Tổng bộ gồm có mươi lăm người: anh Học làm chủ tịch.

    Anh Nghiệp làm Phó chủ tịch.

    Ban Tuyên truyền thì tôi làm trưởng ban, anh cử nhân Lê Xuân Hy làm phó.

    Ngoại giao: anh Nguyễn Ngọc Sơn; anh Hồ Văn Mịch.

    Giám sát: anh Nguyễn Hữu Bạt, anh Hoành Trạc.

    Tài chính: anh Đặng Đình Điển, anh Đoàn Mạnh Chế.

    Ám sát: anh Hoàng Văn Tùng.

    Tổ chức: anh Phó Đức Chính, anh Lê Văn Phúc.

    Ban binh vụ bấy giờ chưa đặt.

    Còn anh Phạm Tiềm, anh Tưởng Dân Bảo, nay tôi quên không rõ thuộc ban nào.

    Anh Phạm Tuấn Tài sở dĩ không ở Tổng bộ là vì khi ấy anh đã phải dời đi dạy học ở Tuyên Quang.

    Tổng bộ đầu tiên ấy đã làm việc trong sáu tháng đầu.

    Dưới đây xin lần lượt kể công việc đã làm được trong thời kỳ ấy.
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 12: Việc Liên Lạc Nhà Binh Và Các Nơi Trong Nước


    Sau khi anh Tài đổi đi Tuyên Quang, vào khoảng đầu năm 1928, Nam Đồng thư xã đã tự đóng cửa vì không còn xuất bản được cuốn sách nào nữa.

    Ông chánh mật thám Hà Nội đã bảo tôi:

    - Anh đừng ra sách nữa.

    Ra cuốn nào, chúng tôi sẽ tịch thu cuốn ấy.

    Anh không những mất công viết, còn mất cả tiền in!

    Vậy Thư xã chỉ còn là chỗ ở của anh Học, để anh em các nơi về tạm trú hay họp hội đồng!

    Ban binh vụ khi ấy chưa đặt.

    Tuy vậy, anh Học đã bắt đầu chú ý đến anh em vũ trang, nhất là các hạ sĩ quan trẻ tuổi.

    Các chi bộ nhà binh ở Hà Nội, ở Chùa Thông.

    Ở Sơn tây, ở Hải Phòng, ở Yên Viên và ở các nơi khác, kế tiếp nhau thành lập.

    Và nhờ có các đồng chí ở trong quân đội, anh dã lấy được những địa đồ quân sự, những phương lược động binh và cấp báo của các bộ tham mưu.

    Còn các chi bộ khác thì cơ hồ khắp các tỉnh Bắc kỳ, cho đến những nơi xa lánh như Lạng Sơn, Đồng Mỏ, Lào Cai, đâu đâu cũng có anh em đồng chí cả.

    Ở Trung kỳ, từ Vinh trở vào, không hề có Quốc Dân Đảng, trừ ra có cụ Phan Bội Châu vui lòng nhận chức danh dự chủ tịch.

    Ngoài ra, người ta vào cả Tân Việt hoặc Thanh Niên.

    Việc hợp nhất với hai đảng ấy giao thiệp mãi không thành.

    Không phải vì chủ trương bay quy tắc khác nhau.

    Mà chỉ bởi: Tân Việt thì cho chúng tôi làm việc trống trải quá!

    Thanh Niên thì khăng khăng đòi đặt Tổng bộ ở ngoài nước.

    Ở Nam kỳ, sau khi anh Sơn, anh Mịch vào tuyên truyền (Hè 1928) Quốc Dân Đảng cũng thành lập được một tỉnh bộ và mấy chi bộ.

    Đảng viên ở đấy tuy ít nhưng bền vững.

    Bởi thế anh em, còn kế tục phấn đấu cho mãi đến ngày nay.

    Nhân nói đến ban binh vụ, tôi tưởng nên nhắc đến việc binh khí ở đây.

    Anh Học đi đâu thường mang súng ngắn trong người.

    Một hôm vào chỗ tôi trọ, tôi thấy anh bỏ cái cặp nặng quá, mở ra coi thì là ba khẩu súng tay!

    Anh vẫn xách cái cặp ấy đi ngang nhiên ở giữa phố ban ngày!

    Mà không phải một lần như thế.
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 13: Việc Đi Xiêm


    Các bạn đã biết chúng tôi có việc điều đình hợp nhất với anh em Thanh Niên, nghĩa là Việt Nam Thanh Niên cách mạng đồng chí hội.

    Các bạn cũng đã biết việc ấy không thành, vì cớ anh em Thanh Niên nhãt định muốn Tổng bộ ở ngoài.

    Cố nhiên như vậy thì có một cái lợi: Tổng bộ không bao giờ bị đối phương động chạm đến.

    Dù chúng tìm hết cách đàn áp nữa, lúc nào cũng có một sức trung kiên để chỉ huy công tác của anh em.

    Nhưng chúng tôi thì cho rằng như thế có nhiều việc bất tiện tôi thôi!

    Việc bất tiện nhất là sống xa dân chúng ở quê hương, các lĩnh tụ khó lòng biết cách chỉ huy cho đúng hoàn cảnh.

    Vả chăng, sự liên lạc của ngoài với trong chỉ bằng cứ vào một số rất ít các người giao thông.

    Những người ấy có thể lạm quyền, có thể bán anh em, một khi họ là những người xấu.

    Mà dù họ là những người tốt nữa, nếu họ bị bắt, bị tra tấn, cũng gây cho toàn đảng vô cùng nguy hiểm.

    Mà việc họ bị bắt là việc lúc nào cũng có thể xảy đến.

    Nói rút lại, chúng tôi thì chủ trương phải để Tổng bộ ở trong nước.

    Ý kiến đã xung đột, điều đình đã không xong, mà việc bàn luận có nhiều khi trở nên quá khích.

    Có lần, anh Lê Văn Phúc, đại biểu cho chúng tôi, trước mặt các anh em Thanh Niên, đã lớn tiếng mà thét:

    - Đã chắc gì Nguyễn Ái Quốc cách mệnh hơn Nguyễn Thái Học?

    Mà nếu không chắc, thì lấy cớ gì mà các anh bảo cái đa số bên trong lại phải nhắm mắt mà theo cái thiểu số bên ngoài?

    Trước sự tức giận của anh Phúc, đại biểu bên Thanh Niên đấu dịu ngay.

    Anh này không dám bên vực chủ trương của mình nữa, chỉ nói là mình không đủ quyền để bàn đến một vấn đề như thế.

    Muốn giải quyết chuyện ấy, anh yêu cầu chúng tôi phái người sang Xiêm, đúng ngày kỷ niệm Phạm Hồng Thái.

    Tổng bộ các anh, giữa hôm ấy cũng phái người về U đôn, để gặp nhau mà bàn việc hợp nhất.

    Vì thể mà ngày 22 tháng 5 năm 1928, Tổng bộ họp ở Nam Đồng thư xã đã quyết nghị phái ba đại biểu sang Xiêm: Nguyễn Ngọc Sơn.

    Hồ Văn Mịch và Phạm Tiềm.

    Mồng 2 tháng sáu, phái bộ đi xe lửa từ Thanh Hoá vào Đông Hà.

    Sớm hôm sau đợi ô tô qua Savannakhet rồi xuống tầu thuỷ lên Viên Chiên.

    Ở đấy, anh Tiềm có quen một người bên Thanh Niên, chủ một cửa hàng thợ may.

    Ông bạn ấy đã đón tiếp anh em, và thuê thuyền đưa các đồng chí qua sông Mekong vào một buổi trời vừa sẩm tối.

    Bên kia sông Mekong là Nòng Khay.

    Do tin đưa sang trước, phái bộ vừa lên bến đã được có người hướng dẫn, trong bóng tối dày đặc của một đêm hè về cuối tháng, người ấy đưa anh em lặng lẽ đi lên một con đường vắng.

    Rồi lại vào nằm trong một hiệu thợ may!

    Thật là gặp những may là may.

    Có ai ngờ kết quả nó lại không may chút nào…

    Sớm hôm sau, bọn anh Mịch đi U Đon.

    Ở đó ba ngày mới đến ngày mồng hai tháng năm (19 tháng sáu Dương lịch) là ngày các kiều bào kỷ niệm liệt sĩ của chúng ta ở Sa Diện.

    Thay mặt cho người trong nước ra, Phạm Tiềm đã làm Văn tế và Sơn, Mịch có lên đàn diễn thuyết.

    Các kiều bào ở Xiêm, những kẻ nhiệt tâm đều đã vào hội Thanh Niên cả.

    Phái bộ có ý đợi các đại biểu của Tổng bộ ở Quảng Đông cử về, nhưng ngày một, ngày hai, bặt không tin tức.

    Mấy ngày sau, anh em đành trở lại Viên Chiên, lấy đường về Hà Nội.

    Do việc “đi không lại về không” ấy, anh Phúc đã cự anh em Thanh Niên một trận kịch liệt.

    Chúng tôi thấy họ không thực lòng muốn hợp nhất.

    Từ đó, thôi hết thẩy mọi cuộc điều đình.

    Ngoài việc liên hiệp các đảng, chúng tôi còn gánh sức liên lạc với các nhà ái quốc trong giới trí thức như Nguyễn An Ninh ở Nam, anh em Nguyễn Thế Truyền ở Bắc.

    Nhưng không được việc gì cả.

    Họ văn nhược quá!

    Họ không biểu đồng tình với lối cách mệnh gậy gạch của chúng tôi!
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 14: Hồn Cách Mệnh Và Việt Nam Khách Sạn


    Trong năm 1928, mọi phương diện đều tiến hành một cách rất lạc quan.

    Sở dĩ được thế, cố nhiên là nhờ ở công sức của hết thảy các đồng chí xa gần.

    Nhưng phần lớn cũng là nhờ ở sự tận tâm không bờ bến của anh Học.

    Thực vậy, anh Học đã làm việc cho Đảng quên cả đêm, quên cả ngày, quên cả ăn, chỉ có không quên cái ngủ!

    Không!

    Ta có thể bắt anh nhịn đói, bắt Anh đi bộ vẹt cả gót giầy, bắt Anh đủ mọi cái thiếu thốn về vật chất, nhưng đến lúc Anh buồn ngủ thì phải để cho Anh ngủ!

    Một lần có một tin gì, nghe ra khá nguy cấp, tôi liền lên thư xã tìm Anh.

    Tới nơi thì thấy Anh đương nằm chỏng chân lên mà ngáy khò khò!

    Tôi lật ngửa Anh lại mà bảo:

    - Học!

    Học!

    Mày có biết chuyện gì không?

    Anh, mắt vẫn nhắm, miệng thì cười đáp tôi:

    - Có!

    Có!

    - Thế mà mày nằm đây được à?

    - Thì cũng phải để cho tao ngủ chứ?

    Không ngủ, chết mất mạng, còn làm sao được việc đời!

    Nói xong anh khì khì cười, rồi lại nằm sấp một lại mà ngủ.

    Sự tận tâm của Anh, các đồng chí ai cũng phải công nhận, coi Anh khác nào linh hồn của Đảng.

    Vì vậy hồi tháng 7 năm 1928, Tổng bộ hết hạn bầu lại, Anh lại được cử làm chủ tịch.

    Anh Nghiệp và tôi đều rớt ra ngoài Tổng bộ, sau cuộc tuyển cử này.

    Công việc hồi cuối năm ấy, tiến hành đều đều.

    Các thư ký, các giáo học, các nhà công thương xin vào đảng khá nhiều.

    Đáng chú ý nhất là trong quân ngũ, anh em rất tán thành chủ trương của Đảng.

    Ở Nam Kỳ chúng tôi có đến 256 võ trang đồng chí.

    Ở Bắc kỳ, cũng có đến ngót bốn trăm.

    Cho nên đến năm sau, khi việc Đảng phát lộ, nhà cầm quyền Pháp phải hoảng hồn!

    Trong lời buộc tội chúng tôi của quan Chánh Hội đồng Đề hình, có câu:

    “Các giáo viên, các binh sĩ, là hai cây cột chống đỡ mái nhà Đông Dương, Việt Nam Quốc Dân Đảng đã làm lay chuyển hai cây cột ấy.

    Nguy hiểm nữa là những kẻ được họ rủ rê, vào thì vào, không vào cũng không một ai đi tố cáo các nhà đương cục (trừ Nguyễn Quốc Túy).

    Sự im lặng đó, khác nào đồng mưu…”

    Tôi đã vui miệng kể lạc xa quá đề mục rồi!

    Tôi phải trở lại câu truyện Hồn cách mệnh đã.

    Đó là tên tên báo, cơ quan của Đảng tôi, in bằng thạch và phát hành ngầm trong các đồng chí.

    Toà báo ở đường Sơn Tây, do đoàn Học sinh mà anh Đoàn Trần Nghiệp, tục gọi Ký Con, coi việc ấn loát.

    Bài vở thì do anh Học làm chủ bút.

    Giữ theo nguyên tác, hết sức tránh các giấy tờ, tôi chẳng bao giờ biểu đồng tình với việc ấy, tuy vậy, theo mệnh lệnh Đảng, tôi cũng phải viết bài cho báo.

    Và còn viết cả cuốn sách, đề là “Cách mệnh tiên thanh” kể tội nhóm thực dân gồm mấy chục điều.

    Một cuốn sách như vậy, cố nhiên là cũng phải in lậu và phát hành trong bóng tối!

    Tôi kể lại đây kỷ niệm một đêm ở toà báo Hồn Cách mệnh.

    Tòa báo không có một ai, trừ ông chủ nhà in nó là anh Đoàn Trần Nghiệp.

    Nói là nhà in, nhưng chẳng máy móc gì cả!

    Mà không có cả đến giường, ghế, chỉ có một cái bàn, ngày là bàn viết, đêm biến thành cái bàn… nằm!

    Tôi đã nằm nó mà đọc cho anh Nghiệp viết mấy bài báo trong kỳ sắp ra!

    Rồì khuya khuya, chúng tôi thấy đói, tôi bảo anh Nghiệp:

    - Tôi còn ba hào đây!

    Anh tìm cái gì ăn!

    Anh Nghiệp cười:

    - Hướng này vắng, chẳng có hàng bán rong đâu!

    Chỉ góc đường đàng kia, có cái hàng bán thịt chó!

    Thế rồi hai chúng tôi ăn vã thịt chó chấm nước mắm!

    Mà ăn bốc, vì chúng tôi không có bát đũa gì…

    Ăn xong, chúng tôi uống mấy ngụm nước máy rồi ôm nhau mà nằm.

    Suốt đêm, anh Nghiệt không nói câu gì.

    Đó là thỏi quen của anh.

    Vì thế, tôi thường vẫn gọi là “một con người biết cười chứ không biết nói”.

    Tôi không ngờ con người ấy mà về sau đã làm nên những sự nghiệp kinh thần, khốc quỷ ở đời!

    Giờ, xin kể đến chuyện khách sạn Việt Nam.

    Việc ấy quyết định vào kỳ hội đảng Tổng bộ ngày mồng 7 tháng 8.

    Đảng dùng nó làm cơ quan kinh tế, nghĩa là buôn bán đề lấy lời giúp đảng.

    Tiền vốn thì quyên trong anh em, người cho nhiều nhất là Hoàng Trác và Đựng Đình Điền, người năm trăm, người một nghìn đồng.

    Ngày 30 tháng 9, khách sạn mở cửa, người làm từ ông chủ đến bồi bềp toàn là đảng viên.

    Những tay Mật thám nhìn chúng tôi bằng con mắt hằn học, bảo chúng tôi thường dùng đó làm nơi hành lạc và họp hội đồng.

    Kỳ thực thì ngay trong các buồng khách sạn, họ đã phái người đến ở thuê để dò dẫm chúng tôi.

    Có bao giờ chúng tôi khờ dại mà họp hội đồng ở đó.

    Ban đầu, khách ăn rất đông đúc.

    Vì cơm Tây, cơm Tầu, cơm ta ở đấy đều làm khá ngon và bán giá hạ.

    Nhưng kẻ địch đã cho người báo tin làm cho nhiều người sợ liên luỵ không dám đến đó ăn uống nữa.

    Cho nên đến khi chúng tôi bị bắt, khách sạn đã lỗ đến cơ hồ hết cả vốn!

    Nghĩ ra, việc kinh doanh ấy thật là một việc thất sách của chúng tôi.
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 15: Những Việc Tống Tiền


    Cho được có tiền làm việc nước, các văn thân ta hồi xưa, nhiều khi đã dùng đến những thủ đoạn ăn cướp hoặc gọi là tống tiền!

    Nghĩ ra, đối với với những hạng cho vay hút máu của dân chúng, những hạng làm giầu bằng mọi lối tham ô nhũng lạm, đối với họ dù có phá cái túi tham tàn, lấy đồng tiền tanh tưởi để phụng sự một duyên cớ thiêng liêng, to tát, cũng chẳng làm sao!

    Thế nhưng Đảng tôi thì cấm chỉ việc ấy.

    Chỉ nghĩ rằng: những việc ấy làm ra tất phải dùng đến tụi kẻ cướp.

    Mà tụi kẻ cướp thì có tất có những chuyện tàn bạo và lạm dụng.

    Cái đó sẽ mang tiếng lây đến Đảng.

    Một mặt thì những việc ấy tất phải có đồng chí chỉ huy.

    Nếu khi việc vỡ, thì người đồng chí ấy tất phải mất hết danh dự với con mắt quần chúng.

    Hy sinh tài sản, hy sình tính mạng được!

    Thế nhưng bắt hy sinh đến danh dự, cái đó cũng thấy cực lòng cho các anh em.

    Tuy Đảng có lệnh cấm, nhưng hình như trong vòng bí mật, anh Học vẫn làm.

    Một là làm tiền.

    Hai là để tập cho đồng chí tinh thần phấn đấu, tinh thần mạo hiểm.

    Chứng cớ là một hôm anh sai tôi phải tìm nơi giấu một đồng chí vừa mới can vào một vụ cướp ở Ninh Bình…

    Anh bảo tôi:

    - Giờ anh ra khách sạn Nam Lai, buồng số bốn, gõ cửa rồi lấy ngón tay trỏ đặt trước miệng, làm hiệu.

    Anh dặn người ấy ở yên đấy, và sớm mai đi với anh lên Hoà Bình bằng ô tô hàng, đến nơi, anh đem anh ta sang ngồi ở một cái hàng nước ở chợ Phương Lâm bên kia sông.

    Rồi anh lộn sang dinh Tuần phủ Hoà Bình, nhờ ông ta che chở hộ cho người đồng chí ấy.

    Tôi đáp:

    - Nhưng tôi không quen ông Tuần phủ ấy.

    Họ lại trói cổ cả hai đứa lại thì chết cha!

    Anh Học cười:

    - Ông ta người tốt, và biết tiếng anh qua các sách báo.

    Tôi đã cho điều tra biết ông ta rất mến anh và ao ước được biết mặt anh.

    Vì thế mà tôi phải sai anh việc này.

    Anh liệu đó mà tuỳ cơ ứng biến.

    Tôi đã làm theo lời anh, vì đó là một mệnh lệnh mà tôi phải phục tùng tuyệt đối!

    Dọc đường lên Hoà Bình, chúng tôi không nói với nhau câu gì cả.

    Tôi ngắm phong cảnh miền chung quanh: bãi cát trắng, lòng sông xanh; những hàng cây chênh chếch trên sườn núi; những túp nhà nho nhỏ chen trong các đám lá rừng; tất cả như một bức tranh Tầu dưới ngọn bút tài tình của một danh thủ…

    Khi đền truớc dinh Tuần Phủ, tôi biết nếu lễ phép với người lính canh cửa, có lẽ không được việc.

    Tôi dùng một thủ đoạn nhỏ: ngồi trên xe, tôi vênh mặt nhìn trời, và cặp cái danh thiếp vào hai ngón tay mà vẫy người lính:

    - Ấy bác!

    Cầm cái này đưa vào cụ, nói có tôi ở Hà Nội lên chơi!

    Trúng kế, người lính khúm núm, hai tay đỡ danh thiếp đưa vào.

    Ba phút sau, ông Tuần phủ Quách Vỵ hớn hở chạy ra.

    Ông kéo tôi ở trên xe xuống, khoác tay tôi giắt vào công đường.

    Tôi vội vàng nói với ông:

    - Chúng tôi có việc cần kíp, xin cho vào buồng riêng để tiện thưa chuyện.

    Vào buồng riêng rồi, ông ngơ ngác hỏi tôi:

    - Việc gì, ông cứ dạy.

    Tôi đáp:

    - Thưa cụ, chúng tôi có người anh em, hiện bị chính phủ truy nã rất gấp.

    Giờ đem lên nhờ cụ che chở hộ.

    Ông Quách Vỵ trầm ngâm rồi hỏi:

    - Thế ông bạn ở đâu?

    - Ở bên chợ Phương Lâm.

    Ông bèn gọi một người lính Mường, nói với họ một hồi tiếng Mường, rồi quay lại bảo tôi:

    - Ông sang bên Chợ, bảo ông bạn đi theo tên lính này.

    Nhưng đi cách xa nhau chừng vài trăm thước.

    Tôi đã dặn nó đứng lại chỗ ở một quãng vắng, rồi đưa ông bạn vào trong đồn điền tôi.

    Ở đây có thể yên tâm không lo ngại gì!

    Xong việc, ông về đây chơi với tôi…

    Tôi vâng lời, vội vàng quay ra.

    Rồi lại vội vàng quay về.

    Đêm hôm ấy, ông Quách đã phát thệ trước mặt tôi, vào Việt Nam Quốc Dân Đảng.

    Và năm sau, gặp nhau ở Còn đảo, tôi mới biết người đồng chí mà tôi đem gửi ông Quách, tên là Ba Phang.
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 16: Cụ Phan Bội Châu


    Có nhiều người tưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng của chúng tôi là một ngành của Việt sam Quốc Dân Đảng do cụ Phan Bội Châu lập lên khi cụ còn ở Tầu.

    Kỳ thực thì khi ở Tầu, cụ Phan mới có cái chương trình lập lên Việt Nam Quốc Dân Đảng mà thôi.

    Còn sự thành lập của đảng chúng tôi, thì như trên tôi đã kể.

    Tuy vậy, bảo Đảng chúng tôi là con đẻ tinh thần của cụ cũng chẳng có sao!

    Và bằng như thế, chúng tôi còn tặng cụ cái tên danh dự chủ tịch, và mong cụ giúp Đảng hai việc.

    Một là nhờ cụ đứng ra, đem oai quyền đạo đức mà thống nhất các đảng lại.

    Hai là nhờ cụ về phương diện ngoại giao, vì cụ có quen thân với các yếu nhân ngoại quốc: Khuyển Dưỡng Nghị, Cung Kỳ Di Tàng ở Nhật; Tưởng Giới Thạch, Uông Tinh Vệ ở Tầu.

    Vì vậy hôm mồng 2 tháng Mười 1928, Tổng bộ đã cử ông Đặng Đình Điền vào Huế, để đạo đạt ý Kiến Anh em với cụ.

    Hai ông già gặp nhau rất là vui vẻ.

    Cụ Phan xin nhận là đảng viên của Đảng và nói:

    - Tôi già yếu thật, nhưng nếu còn có thể giúp ích được việc gì cho tổ quốc, thì tôi xin hết sức phục tòng mệnh lệnh của anh em!

    Cuối cùng, cụ giao cho ông Đặng tấm danh thiếp, phía sau đề bốn chữ "khả dĩ đoạn kim", phòng khi Đảng có phái người vào cứ thì cầm thiếp ấy làm tin.

    Đến cuối năm, ngày mồng 9 tháng 12, trong kỳ hội nghị bầu Tổng bộ mới, nhân có việc định cử phái bộ ngoại giao sang Nhật và sang Tầu, Đảng liền cắt anh Học và tôi vào xin cụ viết cho mấy bức thư giới thiệu.

    Tổng bộ lần này là Tổng bộ thứ ba, tổ chức theo điều lệ mới gồm có hai uỷ viên hội: Lập pháp và chấp hành.

    Bên lập pháp, anh Nguyễn Khắc Nhu, hiệu Song Khê và tục gọi Xứ Nhu làm chủ tịch.

    Anh Học làm phó chủ tịch.

    Bên chấp hành thi anh Nguyễn Thế Nghiệp đứng đầu.

    Vì chương trình hành động, thêm ra một thời kỳ thứ tư là thời kỳ kiến thiếl: Sau khi cách mạng thành công, đảng sê tổ chức một chính phủ cộng hoà, theo chủ nghĩa dân chủ xã hội.

    Nhưng tôi hãy nói tiếp theo về việc cụ Phan Bội Châu.

    Được lệnh anh em cử, tôi hẹn với anh Học mồng bốn Tết năm Kỷ Tỵ (1929) sê gặp nhau ở Hà Nội, rồi rẽ vào Huế.

    Khi tới Hà Nội, tôi được tin tên Ba Gianh bị giết.

    Tôi đi tìm anh Học, mới biết đó là thủ đoạn của anh em trong Ám sát đoàn.

    Tôi bảo anh Học:

    - Nếu vậy thì một mình tôi đi Huế thôi.

    Mệnh lệnh Đảng, cố nhiên phải phục tòng.

    Thế nhưng một mình tôi đi cũng đủ.

    Vì rằng đi thì đi, chớ tôi chắc thế nào dọc đường cũng bị bắt.

    Thế như tôi bị bắt thì được, chứ anh bị bắt thì không được!

    Đảng cần đến anh hơn tôi!

    Anh Học cho là phải.

    Chúng tôi liền uống với nhau một bữa rượu tiễn hành.

    "Ai hay vĩnh quyết là ngày sinh ly".

    Đêm hôm ấy, hai tôi đã cùng nhau chuyện trò, cười, khóc suốt đêm.

    Và từ đấy, tôi không còn được gặp Học ở trong đời nữa!

    Khi tôi vào Huế, tìm vào đến nhà cụ Phan thì người nhà cho biết cụ ra chơi Cửa Thuận.

    Tôi vơ vẩn ở bờ sông Hương, ngóng thuyền cụ trở về.

    Ánh trăng soi sáng những bông lau, bông sậy nở dọc hai bờ sông cho tôi một cảm giác mơ bồ...

    Tôi làm một bài thơ đề là "Qua Huế, thăm cụ Phan Sào Nam, không gặp, có cảm".

    Hôm sau tôi đã đem bài thơ ấy đưa trình cụ:

    Nguyên văn bài thơ:

    Diễn âm

    Trục trặc trường đồ phú viễn chính,

    Thương tâm khiếp kiến cựu đồ thành!

    Nhân tòng tuỳ mộng trung sinh tử!

    Địa lịch tang thương kiếp biến canh!

    Bích thuỷ nạn tiêu vong quốc hận!

    Thương tùng trưởng tác bất bình minh!

    Mỹ nhân thiên mạt trí hà xứ

    Minh nguyệt, lô hoa, vô hạn tình!

    Dịch nghĩa

    Tất tả đường trường dám quản công!

    Thành xưa nhìn lại dục đau lòng!

    Sống say, chết mộng người bao kiếp

    Biển đổi, dâu thay đất mấy vòng!

    Nhục rửa sạch đâu, sông lộn sóng

    Uất còn chứa mãi gió gào thông!

    Cuối trời đâu tá con người đẹp?

    Thổn thức ngàn lau ánh nguyệt lồng!

    Cụ gặp tôi, tỏ vẻ rất vui mừng.

    Trò chuyện suốt một buổi trời, đức độ của cụ khiến lòng tôi chứa chan cảm động.

    Cảm động nhất là đến bữa ăn, trên mâm chỉ có một đĩa lòng lợn, một bát canh rau, và một phạng gạo bầu, đỏ ối!

    Tôi cùng ngồi ăn với cụ để được nhiều thì giờ mà nói chuyện.

    Nói đến chuyện chia rẽ của các đảng trong nước, tôi thở dài:

    - Khổ nhất là người ốm nằm đó mà các thày lang cố cãi nhau mãi về y án...

    Cụ khen câu nói hay mà hứa sẽ cố sức điều đình cho các đảng được mau hợp nhất.

    Về việc ngoại giao, cụ hẹn hôm sau đến cụ sẽ giao cho, những bức thư cần cụ viết.

    Tiếng cụ to, sang sảng như vàng đá...

    Và mỗi khi đắc ý, cụ lại tự xưng tên và nói một câu bằng chữ Nho...

    Trời đã muộn, tôi cáo từ lui chân.

    Cụ tặng tôi cuốn "Việt Nam sử lược" của cụ viết bằng Hán văn, và vỗ vai tôi khi ra đến cùng ngoài:

    - Thấy tỏ ra người làm được việc.

    Châu kỳ vọng ở thầy nhiều lắm!

    Cố nhiên đó là một câu nói để khuyến khích.

    Nhưng tội nghiệp!

    Tôi biết làm thế nào cho khỏi phí những tấm lòng cha, anh, thày, bạn mong chờ ở tôi!

    Hôm sau tôi không được trở lại hầu cụ nữa, vì sở Mật thám Huế đã đón tôi về Bắc rồi!

    Tôi kể thêm ra đây câu chuyện một năm sau, anh em trong đảng định đánh tháo đem cụ trốn ra ngoại quốc.

    Ấy là năm 1930.

    Anh Song Khê đã viết thư cho người đem vào trình cụ.

    Nguyên hồi xưa, cụ lả bạn thân với cụ Cử Nội duệ, thày học anh Song Khê.

    Cái chí lớn của anh đã được lòng yêu của thày và của cả bạn thày.

    Cho nên được thư là cụ nhận ra ngay.

    Cụ rất mừng và rất vui lòng lại ra ngoại quốc để giúp việc ngoại giao cho Đảng.

    Về phần Đảng, định dùng năm chiếc ô tô để đón cụ từ Huế qua Nam Quan!

    Đi đến đâu, sẽ tất người cắt đứt giây thép, giây nói, và chặt cây, xếp đá ngang các ngả đường phía sau.

    Như vậy, quân địch dù có dùng ôtô để đuổi theo cũng không kịp.

    Nhưng mưu đồ đã không thành sự thực!

    Và cụ đành ôm tấm lòng vì Đảng, vì Nước, uất ức ở dưới Suối Vàng!
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 17: Việc Ba Gianh


    Ba Gianh là một tên nhà buôn Pháp.

    Hắn buôn người mình sang làm phu bên Tân Thế giới!

    Sở mộ phu của hắn mở ở đường Chợ Hôm Hà Nội.

    Chiều tối hôm ba mươi Tết Kỷ Tỵ (tháng hai 1929), khi hắn đi ô tô về đến trước cửa sở, thì có một thanh niên, vận âu phục màu xám, đưa cho hắn một bức thư.

    Kỳ thực thì đó là một bản cáo trạng mà toà án cách mệnh kết tội hắn, và khép hắn vào tử hình.

    Trong khi hắn cầm lấy thư xem thì người ấy cầm súng sáu bắn hắn chết lăn xuống bên đường.

    Tiếng súng nổ lẫn với tiếng pháo nên chung quanh chẳng ai biết gì!

    Nhà hiệp sĩ làm việc xong, ung dung lên xe đạp phóng đi.

    Người tài xế của hắn thấy sự cơ không đẹp, phải nằm nép xuống bên xe.

    Đợi, bóng hiệp sĩ đã bay xa mới dám mở mồm hô hoán:

    Việc ấy làm cho dân các thành phổ ăn Tết mất ngon, vì bắt bớ lung lung cả!

    Các cơ quan, các đồng chí của Đảng cũng bắt đầu khám xét, bị truy nã.

    Vậy ai là người hiệp khách đã ra tay xử tử Ba-gianh?

    Cái án ấy tới nay vẫn là một cái án ngờ, mà chính tôi cũng không biết rõ.

    Cố nhiên anh Học bảo với tôi là người ở Ám sát đoàn.

    Chẳng những thế hôm tháng trước, trong một buổi họp bầu trị sự ở đệ nhất chi bộ, anh Nguyễn Văn Viên có nói với các bạn, xin thông báo hộ với Ám sát đoàn của Đảng. yêu cầu giúp cho Công nhân đoàn của anh coi, một khẩu súng lục.

    Nguyên Đảng có tổ chức những đoàn phụ nữ, học sinh, công nhân, nông dân và binh sĩ, để làm hậu thuẫn cho Đảng.

    Việc trông coi các đoàn ấy do một đảng viên phụ trách.

    Số đoàn viên hồi ấy nhiều gấp mấy đảng viên.

    Tôi hỏi về mục đích định dùng khẩu súng ấy, thì anh nói là để giết Ba-gianh.

    Anh Học có mặt ở buổi họp ấy tôi liền bảo anh Viên nói riêng với anh Học.

    Vì anh Học là chủ tịch trung ương, mà phàm công việc của Ám sát đoàn thì chỉ chủ tịch trung ương mới có quyền biết, mới có quyền chỉ huy.

    Chúng tôi chẳng những không được phép tò mò, mà cũng không được phép bàn luận nữa.

    Vậy tôi chỉ biết là anh Học, anh Viên có lo việc ấy nhưng thực không rõ người hạ thủ là ai!

    Anh Viên sau bị bắt, thắt cổ chết ở trong Hoả Lò.

    Có người trông thấy tụi ngục tốt vác xác anh mà quật mãi ở ngoài sân ngục!

    Sao mà chúng thâm thù anh như vậy?

    Họ bảo tại anh đã nhận chính mình hạ thủ, bắn Ba-gianh.

    Dù vậy nữa, lời anh nhận cũng chả đủ làm bằng!

    Thì Lê -ông Sanh hồi trước cũng đã nhận liều là chính mình giết Ba-gianh!

    Anh Viên cũng có thể nhận liều như thế, hoặc vì sự tra tấn tàn khốc; hoặc vì anh định chết thay người khác.

    Có người bảo tôi là anh Lung, lại nói thêm rằng: Ngay đêm ấy anh Lung đã về Việt Nam khách sạn, mà đốt bộ áo quần vấy máu.

    Anh Lung sau bị đày ra Côn Lôn và tha về được ít lâu thì mất.

    Còn chính anh Học thì cho tôi hay là: chính anh đã cho tiền người anh em ấy để đi một nơi thật xa vắng!

    Vậy người anh em ấy là ai?
     
    Nguyễn Thái Học (1902-1930) | Nhượng Tống
    Chương 18: Sau Ngày Bại Lộ


    Việc Ba-Gianh, các đồng chí của Đảng ở khắp các nơi bị bắt.

    Việc bắt bớ ấy khởi đầu từ ngày 17 tháng hai 1929.

    Kỳ thực thì mật thám biết có đảng đã lâu.

    Nhưng theo một câu châm ngôn của tụi chúng: “Để cho lan rộng đảng đàn áp cho hay” (laisser développer pour mieux réprimer), nên chúng cứ để ý dò xét chứ không bắt vội: Có như thế, chúng mới được công trạng lớn!

    Chứ bắt một số ít người, làm vài cái án nhẹ năm, tụi chúng còn xơ múi gì!

    Nhưng đến khi ấy thì chúng không dám để nữa, vì để nữa thì có khi chúng đàn áp không nổi nữa.

    Tuy rằng đối với các yếu nhân trong đảng tôi, chúng cho người canh cả đêm, dò từng bước, nhưng thực thì có thể nói rằng chúng chẳng biết gì cả!

    Có dở đến hồ sơ mình mà coi mới biết những tờ trình của tụi thám tử tâng công phần nhiều là bịa đặt suốt từ đầu đến cuối!

    Không có các tay nội công, không bao giờ phá nổi một đảng cách mệnh.

    Mà Đảng tôi, cho mãi đến năm 1929, quả tình không có một tay nội công nào.

    Bảo các đảng viên chúng tôi hồi ấy có lẫn nhiều mật thám, hoàn toàn là một chuyện của kẻ xấu bụng đặt điều nói láo.

    Thế nhưng sau khi bị bắt rồi, thì có nhiều kẻ hoặc mong gỡ tội, hoặc sợ đau đớn, cam tâm làm những việc phản Đảng, nghĩa là tiết lộ bí mật của đảng, trong số đó phải chia ra ba hạng.

    Một là hạng nhận cho xong chuyện.

    Họ tuy nhận song vẫn cố sức giữ gìn cho đồng chí.

    Ví dụ: chi bộ mười người thì nói có ba.

    Trong ba người thì lại khai biết rõ có một, còn hai lại không rõ tên thật và không biết chỗ ở.

    Hai là hạng nhận đúng sự thực.

    Ấy là hạng mắc mưu mật thám tưởng chúng đã biết hết cả, nên hỏi đâu nói đấy.

    Tuy vậy, họ còn có lương tâm là sẵn lòng chối những cái có thể chối được.

    Ví dụ, như Phạm Tiềm, khi chúng hỏi Nhượng Tống có chân trong đảng không, thì hắn đáp: “Tôi không biết!”.

    Kỳ thực thì có phải Tiềm không biết thật đâu!

    Khốn nạn nhất là hạng thứ ba, ấy là hạng nhận cho kỳ hết chẳng những mong cho khỏi tội, mà còn muốn tâng công!

    Hạng ấy, trong anh em bị bắt khi ấy chỉ có một đứa là Bùi Tiến Mai tức Thừa Mai.

    Ấy vậy mà chỉ một mình nó đã đủ làm hại cả Tổng bộ và toàn hạt Thái Bình, vì hắn lại đại biểu của Thái Bình cử lên Tổng bộ.

    Xét ra hễ nơi nào huấn luyện kém là nơi ấy thất bại dữ.

    Số bị bắt khi ấy hơn nghìn, cơ hồ toàn là đảng viên mấy tỉnh Ninh Bình, Thái Bình, Tuyên Quang, Bắc Ninh cả!

    Các tỉnh khác: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Hà Đông, Quảng Yên, Kiến An, Thanh Hoá, vân vân, vì các đại biểu đã cố sức chịu đòn, không chịu nhận, khai gì cả, nên chúng không lần ra mối, anh em giữ được trọn vẹn.

    Mỗi tỉnh ấy chỉ bị bắt ít người do Thừa Mai khai ra, hay ngày thường mật thám đã chú ý đến lắm mà thôi.

    Trong khi anh em bị bắt lung lung đó, thì anh Học cải trang mà trốn thoát, lúc thì Anh ăn vận lối thợ thuyền, lúc thì Anh ăn vận lối nhà quê.

    Có lúc anh đeo râu giả, dùng thẻ giả.

    Có lúc anh lại đội khăn, mặc yếm, đóng bộ tịch đàn bà.

    Nhưng anh đi trốn như vậy, không phải mong yên thân, khỏi tội đâu!

    Nếu Anh đảo qua về Hà Nội, là để nghe ngóng tin tức, sắp đặt công việc, và săn sóc anh em trong Hoả Lò.

    Nếu Anh đi các tỉnh, là để lập thêm chi bộ, thu thêm đồng chí.

    Hay triệu tập hội đồng Tổng bộ để bàn định phương châm, tiến hành công việc đảng.

    Kỳ hội đồng Tổng bộ thứ nhất sau khi bại lộ là do Anh và anh Sơn Khê triệu tập ở Lạc đạo.

    Trừ mấy tỉnh đảng viên bị bắt hết ra, còn các nơi đều phái đại biểu về họp cả.

    Trong kỳ họp ấy, đại ý Anh nói:

    - Hiện nay ở vài, ba tỉnh, đồng chí đã bị bắt bớ.

    Thế nhưng ở các tỉnh to, nhờ sự nhẫn nhục của anh em trong tù, anh em ở ngoài đều an toàn cả.

    Tinh thần của đảng thế là vững vàng.

    Gan dạ anh em, thế là tỏ rõ.

    Lúc này là lúc ta cần phải bắt đầu bước vào thời kỳ phá hoại.

    Ngay trong năm nay, ta phải đạp đổ quyền hành của thực dân.

    Ở khắp mọi nơi, các binh đoàa, các chi bộ nhà binh mỗi ngày một thêm nhiều người mới.

    Ta có đủ sức đánh!

    Và ta phải đánh gấp!

    “Binh quý thần tốc”.

    Để lâu ra, bọn tướng lĩnh chúng nó để ý đến các võ trang đồng chí của ta thì việc càng thêm khó.

    Vậy ngay từ giờ, trong nhà binh, anh em phải chú ý đến các phương pháp tấn công, các địa điểm lợi hại.

    Còn anh em ngoài, phải rèn dũa gươm, dao, sắp sửa bom, đạn, để đợi ngày khởi sự.

    Anh em nghĩ thế nào?

    Đa số đều nghĩ lời Anh là phải, và giơ tay tán thành.

    Còn thiểu số thì cho là chưa đủ lực lượng và phải đợi thời cơ.

    Phái thiểu số ấy sau này tách riêng ra gọi là phái trung lập, hay phái cải tổ.

    Mãi cho đến sau cuộc thất bại Yên Bái, sự chia rẽ ấy mới không còn nữa.

    Ngoài việc dự bị nói trên, Đảng lại bàn lại việc cử người ra ngoài để cầu cứu với Tưởng Giới Thạch, hiện cầm quyền ở Tầu, và Khuyên Dưỡng Nghị, một nhà có thế lực trong chính giới Nhật.

    Việc ấy không hề thực hiện vì không tìm được nhân tài ngoại giao.

    Tóm lại thì tuy bị đàn áp, nhưng sự sợ sệt không hề tràn tới tâm não của anh em.

    Sau ngày 17 tháng hai, một đảng viên ở Hà Nội còn nói câu này với một giọng rất tự nhiên:

    - Hoài của!

    Hôm cất đám thằng Ba-gianh, trong tay mình không có một quả bom!

    Giá sẵn có, ít nhất mình cũng ném chết được Toàn quyền với thống sứ cho chúng nó cất đám nhau nhân thể!
     
    Back
    Top Dưới