Cập nhật mới

Khác Ngô Tà tư gia bút ký (Ngoại truyện Đạo mộ bút ký)

Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 22: Cây ước nguyện


Chương 22: Cây ước nguyện (Sơn Hải Kinh*)

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Người xưa đối với thần thụ luôn luôn tôn sùng, từ trong "Sơn hải kinh" thì có thể thấy được.

Gần như ở mỗi phần trong "Sơn hải kinh" luôn có thần thụ "Nhược mộc", "Phù tang" được ghi chép lại, chỉ có điều Thanh Đồng thần thụ, cho đến bây giờ mới được ghi chép lại rõ ràng, chỉ có tam tinh đôi.

Chú thích:

Sơn hải kinh*: là cổ tịch thời Tiên Tần của Trung Quốc, trong đó chủ yếu mô tả các thần thoại, địa lý, động vật, thực vật, khoáng vật, vu thuật, tông giáo, cổ sử, y dược, tập tục, dân tộc thời kỳ cổ đại.

Sơn Hải Kinh nguyên bổn có hình vẽ mô tả hẳn hoi, gọi là "Sơn Hải Đồ Kinh", nhưng bản này đến đời Ngụy Tấn thì thất truyền.

Có học giả cho rằng, Sơn Hải Kinh không chỉ đơn thuần là quyển sách ghi lại truyện thần thoại, mà là thứ sách địa lý thời cổ đại, bao quát nhiều loài chim thú khắp núi sông vùng Hoa Hạ lẫn các lãnh thổ hải ngoại.

Tác giả và thời gian hoàn thành Sơn Hải Kinh chưa được xác định, trước thì cho rằng do Bá Ích và Đại Vũ làm, nhưng hiện giờ các học giả Trung Quốc cho rằng thời gian để hoàn thành sách này trải qua nhiều kỳ, làm bỡi nhiều tác giả khác nhau, niên đại vào khoảng từ thời Chiến Quốc kéo dài cho đến đầu thời Hán.

Sách có thể là do nhiều người ở nước Sở, Sơn Đông, Ba Thục cùng người từ nhiều địa phương khác, đến thời Hán thì được tập hợp lại để làm sách dạy học.

Sơn Hải Kinh chuyển tải nhiều thần thoại cố sự mang màu sắc thần bí với hàng loạt quái thú kỳ dị.

Trong sách có rất nhiều chuyện được viết từ lời truyền khẩu, tập hợp thành nhiều bản khác nhau.

Bản sách được cho là sớm nhất được hai cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm soạn thành.

Thời Tấn có Quách Phác chú thích và khảo chứng Sơn Hải Kinh.

Thời Minh có Vương Sùng Khánh làm "Sơn Hải Kinh thích nghĩa", Dương Thận làm "Sơn Hải Kinh bổ chú", Ngô Nhâm Thần làm "Sơn Hải Kinh nghiễm chú".

Thời Thanh, Ngô Thừa CHí soạn "Sơn Hải Kinh địa lý kim thích", Tất Nguyên làm "Sơn Hải Kinh Tân Giáo Chánh", Hác Ý soạn "Sơn Hải Kinh tiên sơ".

Thời Dân quốc có lưu hành bản "Sơn Hải Kinh giáo chú" của Viên Kha rất đáng quan tâm.

Toàn bộ Sơn Hải Kinh có 18 quyển, trong đó Sơn Kinh có 5 quyển, Hải Kinh có 8 quyển, "Đại hoang kinh" có 4 quyển, "Hải nội kinh" một quyển, cộng lại khoảng 31.000 chữ.

Nó mô tả trọn 100 quốc gia (nhỏ, bên trong Trung Quốc thời xưa), 550 núi, 300 thủy đạo, cùng các phong cảnh địa lý, phong thổ, sản vật của các nước.

Trong Sơn Kinh còn có một bộ phận mô tả về vu sư, phương sĩ, và từ quan - những lớp người chuyên cầu đảo phong thuật rất thịnh hài thời xưa.

Kinh được miêu tả theo lối truyền kỳ, nhưng có có chút ít giá trị khoa học, rất đáng tham khảo cho người nghiên cứu về sử học, văn học, và ... dịch thuật.

Trong Sơn Kinh có bảo tồn nhiều nghi thức tế lễ thần thánh, có thể làm bản đối chiếu và nghiên cứu "Chu lễ" thời xưa, ví dụ như các bản mối được phát hiện thêm như "Bao sơn sở giản", "Vọng sơn sở giản", "Tân Thái sở giản".

Truyền thuyết về Nữ Oa thời cổ đại cũng là từ Sơn Hải Kinh mà ra.

Các kiệt tác trứ danh khác bao gồm: "Khoa phụ đuổi theo mặt trời", "Nữ oa vá trời", "Hậu nghệ bắn rụng chính mặt trời", "Hoàng đế đại chiến Xi Vưu", "Thần Cộng Công giận quá đập đầu vào Chu sơn dẫn đến cơn Đại hồng Thủy", "Cổn (Cha của vua Hạ Vũ/Đại Vũ) trộm Tức nhưỡng trị thủy thành công", "Thiên đế lấy lại Tức nhưỡng, giết Cổn, cho đến khi vua Đại Vũ trị thủy thành công.

Ngoài ra, Sơn Hải Kinh còn ghi lại những sự kiện kỳ quái mà hầu hết cho đến nay vẫn còn đang được tranh luận.

Sách này án theo đất đai ghi lại sự kiện, chứ không ghi theo thời gian.

Trong đó, hầu hết sự vật đều phát sinh từ hướng nam, sau đó mới dần lên hướng Tây, hướng Bắc, rồi tới trung bộ (Cửu Châu) của đại lục.

Cửu Châu được vây quang bỡi Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải, Bắc Hải.

Việc thuận theo hướng Nam - Tây - Bắc - Đông này rất khác với thuận hướng Đông Nam Tây Bắc sau này, so với các thư tịch ghi lại chuyện các đại đế thời cổ thường ngồi xoay mặt về hướng nam, rồi quan niệm "thiên nam địa bắc" ... nhất định có liên quan.

Từ thời cổ đại, Trung Quốc cứ nhất mực lấy Sơn Hải Kinh làm sách tham khảo cho các đại sử gia, ngay cả như Tư Mã Thiên cũng nhận định trong Sử Ký của mình: "Chí Vũ Bổn kỷ, Sơn Hải Kinh sở hữu quái vật, dư bất cảm ngôn chi dã"

Sơn Hải Kinh có 18 quyển, tạm thời phân ra 5 quyển phần Sơn kinh và 13 quyển Hải kinh:

Sơn Kinh

Quyển 1: Nam Sơn Kinh: Bao gồm Thước Sơn, Chiêu Diêu Sơn, Đường Đình Sơn, Viên Dực Sơn, Nữu Dương Sơn, Để Sơn, Đản Viên Sơn, Cơ Sơn, Thanh Khâu Sơn

Quyển 2: Tây Sơn Kinh

Quyển 3: Bắc Sơn Kinh

Quyển 4: Đông Sơn Kinh

Quyển 5: Trung Sơn Kinh

Hải Kinh

Quyển 1: Hải Ngoại Nam Kinh

Quyển 2: Hải Ngoại Tây Kinh

Quyển 3: Hải Ngoại Bắc Kinh

Quyển 4: Hải Ngoại Đông Kinh

Quyển 5: Hải Nội Nam Kinh

Quyển 6: Hải Nội Tây Kinh

Quyển 7: Hải Nội Bắc Kinh

Quyển 8: Hải Nội Đông Kinh

Quyển 9: Đại Hoang Đông Kinh

Quyển 10: Đại Hoang Nam Kinh

Quyển 11: Đại Hoang Tây Kinh, bao gồm: Bất Chu Sơn, Hàn Thử Tuyền, Thấp Sơn, Mạc Sơn, Vũ Công và Công Quốc Sơn, Thục Sĩ Quốc, Nữ Oa Chi Tràng, Thạch Di, Cuồng Điểu, Bạch Dân Quốc, Trường Hĩnh Quốc, Tây Chu Quốc, Thúc Quân, Xích Quốc, Song Sơn, Phương Sơn, Quỹ Cách Tùng, Tiên Dân Quốc, Bắc Địch Quốc, Mang Sơn, Quế Sơn, Dao Sơn, Thái Tử Trường Cầm, Hoàng Điểu, Loan Điểu, Phượng Điểu, Xa Tự Ngọc Môn Sơn, Linh Sơn, Thập Vu, Tây Vương Mẫu Sơn, Hải Sơn, Hác Sơn, Ốc Quốc, Thanh Điểu, Long Sơn, Tam Náo, Nữ Sửu Thi, Nữ Tử Quốc, Đào Sơn, Kiền Thổ Sơn, Trượng Phu Quốc, Yểm Châu Sơn, Minh Ô, Hiên Viên Quốc, Yểm Tư, Nhật Nguyệt Sơn (Ngô Cơ Thiên Môn Sơn), Hư, Thiên Ngu, Thường Hi, Huyền Đan Sơn, Hoàng Ngao, Mạnh Dực Công, Chuyên Húc Trì, Ao Ngao Cự Sơn, Bình Bồng, Vu Sơn, Hác Sơn, Kim Môn Sơn, Hoàng Cơ Thi, Bỉ Dực Điểu, Bạch Điểu, Thiên Khuyển, Côn Lôn Sơn, Côn Lôn Thần, Nhược Thủy, Viêm Hỏa Sơn, Tây Vương Mẫu, Thường Dương Sơn, Hàn Hoang Quốc, Nữ Tế, Thọ Ma Quốc, Hạ Canh Chi Thi, Ngô Hồi, Cái Sơn Quốc, Chu Mộc, Nhất Tí Dân, Đại Hoang Sơn, Tam Diện Nhất Tí Nhân, Hạ Khải, Hỗ Nhân Quốc, Linh Kiết, Ngư Phụ, Đại Vu Sơn, Kim Sơn...

Quyển 12: Đại Hoang Bắc Kinh O

Quyển 13: Hải Nội Kinh

Nguồn: Sơn Hải Kinh - Thiên Hạ Kỳ Thư

Còn nghe thiên hạ đồn rằng Sơn Hải Kinh giống như một tuyển tập những truyện ly kỳ mà tác giả trên đường đi đã viết lại, giống Liêu trai chí dị thêm kiến thức địa lý
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 23: Nhị Đạo Bạch Hà


Chương 23: Nhị Đạo Bạch Hà

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Lúc này tôi đang ngồi trên xe lửa đi về Nhị Đạo Bạch Hà, bên ngoài xe vun vút chạy qua cánh đồng cao lương, mọi người trong toa đã ngủ hết, dường như chỉ còn tôi vẫn đang trằn trọc.

Vào khoảng này rất lâu về trước, tôi đã từng đi qua núi Trường Bạch một lần, lúc đó tôi vẫn còn nhỏ, nên hẳn là tôi hoàn toàn không hề nghĩ rằng mình sẽ mang theo tâm trạng này, khi lại một lần nữa đi tới đây.

Cũng thật không ngờ tới có một ngày, trước khi đi ngủ tôi phải viết cái gì đó để có thể trấn tĩnh bản thân được.

Nhìn đồng ruộng hai bên đã được thu hoạch cả, cùng với tầng tuyết đọng lại vẫn còn chưa tan hết, cảnh tượng này làm cho tôi không khỏi nhớ tới cảm giác chuyến đi lần trước tới núi Trường Bạch.

Cuộc hành trình đến núi Trường Bạch năm đó, nghĩ lại, chính mình cũng cảm thấy có một chút quái dị.

Tôi nhớ mang máng lúc đó trong nhà hình như có xảy ra tranh chấp gì đó, bố tôi và ông nội cãi nhau một trận ẫm ĩ.

Cha tôi là người tính tình ôn hòa, có lẽ nói đúng hơn là ông rất giỏi chịu đựng, cha và ông nội chưa từng xảy ra mâu thuẫn gì, cho nên lần cãi nhau đó làm cho tôi có cảm giác chuyện này rất không bình thường.

Thế nhưng năm đó tôi thực sự còn quá nhỏ, nội dung cuộc cãi vã của họ một chút ấn tượng tôi cũng không có.

Sau đó, cha tôi đột nhiên quyết định đi đến núi Trường Bạch du lịch, năm đó là lần đầu tôi thấy được hình dạng thực sự của núi tuyết.

Đó là những thung lũng rộng lớn được bao phủ bởi tuyền một màu trắng nhìn không khác gì tranh vẽ.

Bây giờ ngẫm lại, cảm thấy có chút kinh ngạc, vì sao lúc đó tôi đối với cảnh tuyết trắng lại có ấn tượng sâu sắc như vậy, cho tới hiện tại chỉ cần nhìn liếc mắt là có thể đem nó liên hệ tới tranh ảnh rồi?

Kí ức của tôi về con đường đó cũng rất mơ hồ chỉ còn nhớ sơ sơ mà thôi, nhưng mà sao chỉ duy nhất ngọn núi tuyết kia tôi lại có thể nhỡ rõ như thế chứ?

Có lẽ là núi ở chỗ này có đặc thù riêng nào đó, hay là do một thứ gì khác?

Tôi thực sự nghĩ không ra, cũng không muốn nghĩ ngợi nhiều.

Lúc sáng sớm, tôi và Bàn Tử trò chuyện về vấn đề liên quan tới mấy cô gái và các món đồ bồi táng.

Tôi vẫn luôn cho rằng Bàn Tử là một người "thâm tàng bất lộ", thực tế chứng tỏ suy đoán của tôi không hề sai, cùng bàn bạc với anh ta sẽ phát hiện ngay có nhiều chuyện không phải là anh ấy không hiểu, mà chính ra là do lối tư duy dứt khoát của anh.

Người tôi quen biết không ít, đủ mọi hạng người, loại người nào cũng có và tôi biết có một hạng người mà chân lý sống của họ luôn luôn đơn giản và thiết thực nhất.

Bàn Tử chắc chắn chính là một người như thế.

Nếu như ngươi có tâm tư đi tìm tới anh ta, anh ấy có thể nói thẳng ra mà ngươi không có cách nào phản bác lại được.

Tất nhiên tôi lại không biết nguyên nhân của những cái này có phải là do sự thông minh hay là bản năng của anh ta như thế.

Có thể giải thích rằng đạo lý của kẻ ngu ngốc và thánh nhân, về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau là với đạo lý của thánh nhân dùng để làm lợi cho người khác, mà người ngu ngốc thì chỉ làm vì lợi của bản thân mình.

Đề tài mà tôi và anh ta nói với nhau, chủ yếu là về bảo vệ văn vật, trước đây tôi vẫn rất buồn bực, vì sao đội khảo cổ luôn luôn chạy theo sau lưng thổ phu tử, phần lớn các ngôi mộ đều mang tính khai quật thụ động.

Cho dù có bị trộm mộ phát hiện hay không, hầu hết những người đầu tiên phát hiện cổ mộ đều là nông dân hoặc là công nhân công trường, đều là vì vô tình mà phát hiện ra cổ mộ.

Cái này nhắc tới có chút mơ hồ, có vẻ là các đội khảo cổ không có một chút kỹ năng nào giống như của thổ phu tử.

Vấn đề này không hề có đáp án cố định, Phan Tử nói đó là do có một số kỹ năng cơ bản nhưng lại không được dạy ở đại học.

Các trường đó đâu có khả năng mời cả một nhóm đổ đấu tới làm giáo sư được, học sinh cũng chỉ học một số kỹ xảo tiêu chuẩn quan trọng trong khai quật, đâu biết tới ngửi đất là gì, cũng đâu xác định được vị trí một cách chuyên nghiệp.

Vì là những thứ này muốn học đều là phải được trải qua quá trình thực tế quan sát cẩn thận từng bước một, mà làm gì có nhiều cổ mộ như vậy để ngươi đem đi làm đồ dạy học chứ?

Bàn Tử lại lắc đầu, thở dài nói tất nhiên không phải là vì nguyên nhân này.

Hiện tại những tình huống như này đều chạy theo xu hướng khảo cổ tương đối bình thường, mà cũng không thấy có chuyển biến gì xấu.

Ở trong nghề khảo cổ phải duy trì được cái cảm giác bí ẩn, bằng không, nếu như dựa vào những cách như thử đất tìm huyệt, tầm long điểm huyệt hay tất cả kỹ xảo đều viết hết vào trong sách giáo khoa, vậy thì chả khác nào đi bố cáo với thiên hạ.

Tới lúc đó thì không quá hai năm, Trung Quốc sẽ chẳng còn lấy bất kì một ngôi mộ nào có thể đào được nữa.

Rất nhiều thứ kỳ thực cũng không có cửa mà tiếp thu, ngươi nói là muốn đổ một cái đấu thì cần gì phải tiếp thu hay không, ngươi có thể lăn lộn ở chỗ quái cũng được, chỉ cần ngươi đủ hung ác và phải có lá gan đủ lớn.

Đốt nhà phóng hỏa giết người cướp của, có cửa hay không là do người thiết trí ra, dạy cho ngươi bao nhiêu mới xem là đủ được chứ, kia toàn là những thứ đã sắp xếp sẵn rồi.

Số học, vật lý học ngươi theo học thì dễ, còn như tạo phản bạo động không lẽ cũng phải dạy ngươi sao?

Tôi nghĩ Bàn Tử nói chưa hẳn là đúng hoàn toàn, nhưng mà đúng là rất có đạo lý.

Con người đúng là động vật có tính hai mặt rất mạnh, dưới áp lực xã hội hiện nay, với một lượng hàng hoá giá trị có thể khiến cho người ta thu về được hơn trăm vạn tiền phi pháp, vậy thì ý nghĩa của nhà ở, ngôn ngữ, máy móc đã bị thủ tiêu hết rồi.

Giống như là liều lĩnh để muỗi đốt một phát và cái giá phải trả là sự lên án của đạo đức, thì sẽ có bao nhiêu người sẵn sàng chống lại được cám dỗ đó, cũng không biết sẽ còn thêm bao nhiêu ẩn số nữa.

Đây cũng là lí do vì sao người ta luôn luôn chống mắt nhìn quốc bảo bị hao mòn dần mà căm thù đến xương tuỷ, nhưng cho dù có căm thù đến thế nào thì quốc bảo cũng không phải từ trong tay của mình chảy ra ngoài.

Bàn Tử một mực cho rằng, văn hoá lịch sử đã lâu đời, tuy chúng như là tượng trưng cho niềm an ủi với dân tộc mình, cho dù cất giấu kỹ hết báu vật vô giá hoàng gia, cũng đâu thể ngăn cản được ngoại bang xâm lược.

Hình ảnh một khi bị tuồn ra ngoài thì có dùng mười chiếc xe tải chở Quỷ Cốc Tử* xuống núi đi đổi lấy kỹ thuật hàng không mẫu hạm của Mỹ* , mà chính xác thì có gì thay đổi đâu chứ?

Một thế kỷ trước, khi người Tư Thản đi tới Đôn Hoàng, Vương đạo sĩ dùng hồ vôi trắng bôi lên bức bích hoạ phi thiên vô giá này, một tác phẩm nghệ thuật mỹ lệ quý giá chưa tới vài giây đã bị vôi phá hỏng không còn gì.

Lý do chỉ đơn giản là ông ta muốn có một mặt tường trắng tinh tươm.

Cho nên dù những thứ này có chưa đựng quyền lực và tâm huyết tới độ chưa bao giờ bị người Tư Thản gạt đi, thì chúng vẫn có thể bị Vương đạo sĩ xem như là củi đốt nên đã thiêu cho lụi cả rồi.

Như vậy bức bích hoạ này không được người chỉnh sửa hình dạng nên không bị tách ra, cũng khó trốn khỏi vận rủi tẩy trắng.

Tại những năm đó, chúng tôi đã phạm sai lầm, vấn đề ở đây khác xa nhau đều không phải là để cho người Tư Thản đem văn vật đi, vấn đề nằm ở trong bản thân thế hệ mình thôi.

Chúng tôi làm sao có thể đi hy vọng xa vời rằng Vương đạo sĩ sẽ hiểu được giá trị của những văn vật này, đồng thời lại đừng vì tiền tài mà cúi đầu khoang dung.

Chúng tôi làm sao có thể đi yêu cầu một người đang chạy nạn, ngay cả cơm ăn cũng không đủ no, phải theo cách của một học giả mà làm cho chúng tôi nhiều chuyện như vậy.

Cho dù lời của chúng tôi có xuyên không được đi chăng nữa thì khi truyền đạt đến tai của ông ta, chúng tôi làm sao có thể xác nhận được ông ấy sẽ đồng ý với chúng tôi chứ?

Lời của chúng tôi có giá trị so với mấy đồng đại dương kia sao?

Chú thích:

Quỷ Cốc Tử*: (Gui Guzi-鬼谷子) là nhân vật trong lịch sử cổ đại Trung Quốc.

Họ tên không rõ ràng con người ông được người đời sau hư cấu nên mang tính huyền bí, theo sáchĐông Chu Liệt Quốc thế kỷ I TCN tên ông là Vương Hủ, người đời Tấn Bình Công Trung Quốc, là bạn thân của Tôn Tử và Mặc Địch.

Ông là một nhà tư tưởng, nhà truyền giáo, có rất nhiều học trò theo học, trong số đó có nhiều người trở nên nổi tiếng thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Bốn học trò được nổi tiếng hay được nhắc đến là Tôn Tẫn người nước Tề, Bàng Quyên và Trương Nghi người nước Ngụy, Tô Tần người Lạc Dương (kinh đô nhà Chu).

Theo các sách sử, ông là người thông thạo pháp thuật, kiến thức sâu rộng, sau khi về ở ẩn, ông sống trong một hang núi gọi là "Quỷ Cốc" (hang quỉ), bởi chỗ đó núi cao, rừng rậm, âm khí nặng nề, không phải chỗ cho người ở.

Tên "Quỷ Cốc Tử" do ông tự đặt ra cho mình.

Người đời thường gọi ông là Quỷ Cốc tiên sinh.

ông sống thọ và được coi là ông tổ của các thuật tướng số, bói toán, phong thuỷ...
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 24: Phân tích kiến trúc Vân Đỉnh Thiên Cung


Chương 24: Phân tích kiến trúc học của Vân Đỉnh Thiên Cung

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Điều làm tôi cảm thấy hứng thú nhất là việc Uông Tàng Hải đã xây dựng tầng thi băng này như thế nào, đây kỳ thực là một điểm nghịch lý trong kiến trúc học, nếu như trước đó xây dựng tầng thi băng này, như vậy không khác nào nói là tòa điện này xây trên không trung.

Bên dưới không có bất kỳ cây trụ nào, mà ở khung đính thi băng này tôi càng khó mà nghĩ ra được họ đã dùng biện pháp nào có thể tạo thành độ cong như vậy mà không khiến nó sụp xuống.

Nếu như trước tiên là kẹp những cột gỗ này lại, nhưng làm vậy có thể phát hiện chính xác là hai đầu của những cái cột gỗ này đều là dựa vào lớp băng kia mà cố định lại.

Nếu vậy thì chỉ dùng băng thôi hẳn là không có khả năng làm cho những cây cột gỗ to lớn như vậy cố định một chỗ được.

Nghĩ tới nghĩ lui, thực sự thì chỉ có một khả năng có thể thực hiện được, nơi đây vốn là một khối sông băng lớn, trước tiên Uông Tàng Hải cho công nhân đào đường ngầm ở trong sông băng, rồi đem cột gỗ cắm vào sau đó thì đổ nước vào cho đông cứng lại, rồi mới từ từ đục ra khung đính từ bên trong.

Nhìn qua cái này không chỉ cần phải tính toán chính xác, mà hơn nữa cũng phải lên kế hoạch thi công vô cùng cẩn thận, nhưng thực tế nghĩ lại sẽ phát hiện loại kĩ xảo này vô cùng tiết kiệm nhân lực, thậm chí còn có thể nói là không hề khó khăn nữa.

So với sử dụng kem gói để xây dựng thì đơn giản hơn, nhưng khi dùng phương pháp này thì người xây dựng đòi hỏi phải là công nhân đã có kinh nghiệm.
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 25 + 26


Chương 25: Tàng thi các

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Và ở trong sông băng còn phát hiện ra những thi thể giống như là được táng trong băng, những người này rất có thể là công nhân bị gom lại để tuẫn táng (chôn cùng), có lẽ vào lúc đó họ chính là công nhân xây dựng Vân Đỉnh Thiên Cung.

Chương 26: Cánh cửa Thanh Đồng

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Dùng mắt để đo có thể ước chừng là khoảng ba mươi thước cao, tôi cũng biết một chút kiến thức hóa học phổ thông, nếu như căn cứ theo độ dày của cánh cửa chừng năm thước, nếu vậy thì hai cánh của Thanh Đồng hùng vỹ này nặng tối đa khoảng một nghìn tấn, tuyệt đối sẽ không có bất kì một sức mạnh nào có thể đẩy được nó ra.

Phía sau nó là nơi nào, sau cánh cửa Thanh Đồng to lớn nằm sâu trong chân núi Trường Bạch đó đang cất giấu bí mật gì?

Hoa văn vô cùng phức tạp, tìm không ra được một chút manh mối nào hết.

Nước Đông Hạ vào lúc đó, e rằng bọn họ cũng không có cách nào giải thích được rốt cuộc tình hình nơi Vạn Nô Vương được sinh ra là cái gì.

Thực sự rất muốn vào đó xem thử.
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 27: Sách lụa Chiến Quốc


Chương 27: Sách Lụa Chiến Quốc

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Ở thời kỳ chiến quốc, có một dùng một loại sách ghi chép tài liệu được làm bằng tơ lụa được gọi là ── sách lụa, bạch là hàng dệt tơ màu trắng, đại Hán gọi chung hàng tơ dệt này là bạch hoặc tăng.

Hay cũng gọi chung là tăng bạch, cho nên sách lụa cũng được gọi là tăng thư.

Hiện nay Trung Quốc có tranh lục (tranh lụa) lâu đời nhất chính là được phát hiện ở trong một ngôi cổ mộ ở Trường Sa vào những năm 30 thế kỉ 20.

Những năm gần đây lại khai quật được một số lượng lớn thẻ tre.

Như năm 1951 phát hiện Ngũ Lý bia – Hồ Nam – Trường Sa, năm 1954 là cổ mộ hồ Ngưỡng Thiên – Trường Sa, năm 1954 cổ mộ Dương gia – Trường Sa, năm 1957 cổ mộ Tín Dương Đài – Hà Nam, năm 1975 mộ nhà Tần – Vân Mộng Thuỷ Địa, năm 1980 mộ của Hắc Gia Bình – Tứ Xuyên, khai quật được một lượng lớn thẻ tre thời Chiến quốc.

Ngoài ra vào năm 1942 khai quật được sách lụa ở trong cổ mộ nhà Sở (năm 1945 thất lạc sang Mỹ), lại còn là sách của Hầu Mã Minh – Sơn Tây.

Bất kể là viết ở thẻ tre (trúc mộc giản) hay là hàng dệt tơ thượng hạng – thư thể, tất cả đều là bút tích viết tay của thời Chiến Quốc.

Những thẻ tre này cùng với bút tích trong sách lụa, không đơn giản chỉ là những văn vật rất có giá trị, hơn nữa còn là những tư liệu lịch sử rất quan trọng đối với mảng nghiên cứu thư pháp lịch sử.

Bốn quyển sách lụa thời Sở đều được gọi là tăng thư, nội dung chung bên trong cộng lại thì có tất cả ba phần, đó chính là hiện tượng thiên văn, biến cố, thay đổi của bốn mùa và những cấm kị của thời tiết, thời vụ, nội dung bên trong vô cùng phong phú và phức tạp, không chỉ có ghi chép những truyền thuyết thần thoại được lưu truyền mà còn có phong tục của nước Sở, và bao gồm cả Âm Dương Ngũ Hành, các phương diện tư tưởng cảm xúc của con người với trời đất.

Ở xung quanh văn tự có mười hai hình vẽ về một vị thần kì lạ, bốn góc sách lụa dùng bốn màu xanh đỏ trắng đen để miêu tả cây cối.

Dựa vào nghệ thuật thư pháp trong sách lụa mà nói, thì thực sự hàng lối rất chỉnh tề đúng với nguyên tắc, khoảng cách giữa các chữ cũng tương đồng nhau, nét chữ vừa cố gắng đạt được sự chỉnh tề chuẩn mực mà vẫn thể hiện được nét phóng khoáng tự nhiên.

Thể chữ rộng nhưng mảnh, đồng đều cũng rất ổn định, cân đối và rất vừa vặn, đoan chính mà nghiêm túc, trong đó còn xen vào chữ triện đãi, bút pháp mượt mà lưu loát, nét thẳng có khúc chiết, nét cong có thế hất, bởi nét chữ tinh tế biến hoá vô cùng để lộ ra vẻ xinh đẹp thanh tú bên trong, ở giữa nét ngừng ngắt lại triển khai sự thanh khiết ôn nhu, có thể thấy tác giả đã hoàn toàn dồn hết tâm trí đem chữ viết biến hoá thành nghệ thuật rất độc đáo.

Bức hoạ ở xung quanh văn tự trong sách lụa, trước tiên là miêu tả khái quát bằng những đường nét rất mảnh, sau đó thì quét màu sắc lên trên, nhìn như rất thờ ơ tuỳ tiện mà vẽ ra, nhưng mà lại đem một vị thần vẽ ra được 12 dáng vẻ khác nhau, vô cùng sống động, dù là đứng hay nằm, chạy hay là nhún nhảy, mỗi hình đều thấy rất sống động.

Đồng thời có thể dựa vào hình ảnh thần linh này mà thấy rằng hội hoạ thời Sở có tính tả thực rất tốt, như là trên người của thần có một số vằn, được miêu tả rất tỉ mĩ rõ ràng, giống như là những vết vằn trên người hổ báo thực sự.

Đặc biệt những hình vẽ cây cối quanh sách lụa, tùy theo hình ảnh mà vẽ ra, rất nhiều cành đong đưa, y như hình dáng thật bên ngoài, cành lá tươi tốt sum sê, có thể nói người vẽ dùng bút, miêu tả chi tiết tỉ mĩ vô cùng rõ ràng.

Sách lụa thời Sở không những là một vật phẩm quý giá của nghệ thuật cổ đại Trung Quốc, mà còn là của quý của nghệ thuật cổ đại trên thế giới, rất hiếm quý.

── Được lấy ra từ bách khoa Bách Độ.
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 28: Áo Ngọc Quan Quách


Chương 28: Áo Ngọc Quan Quách

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Khi đó đang hạ đấu nên không thể chụp ảnh vì vậy mà cũng không có hình, mấy cái này đều là một số ảnh na ná giống thứ đó tìm được trên google, không khác biệt với những gì nhìn thấy cho lắm, chỉ có điều là thực tế nó dính đầy bùn đất.

Áo ngọc có tổng cộng là 230 khối ngọc phiến (ngọc thạch) các màu, dùng tơ vàng kết lại với nhau, nặng khoảng 40 cân (kg).

Những khối ngọc thạch này phẩm chất cũng không quá tốt, bản thân chúng giá trị cũng như nhau, quan trọng là đã bán ra một văn vật (đồ cổ) có giá trị lịch sử.

Vậy giá quy định là đã hơn 100 vạn.

Gần đây hàng bán ra, toàn là bị giảm xuống.
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 29: Minh Công Thương Vương Địa Thư


Chương 29: Minh Công Thương Vương Địa thư

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Tôi đem tất cả những phần mà mình đọc hiểu được của Minh Công Thương Vương địa thư ghi ra, có một số chữ không rõ mấy, và một số chữ rất ngang không có cách nào làm nó hiển thị trên máy tính được, vì thế tôi đều chuyển hết thành tiếng Trung hiện đại.

Thương Vương, Tính (họ), Huý (tên), năm hai mươi lăm tuổi, cha ông ta qua đời, vì vậy được kế thừa họ lớn là Tư Mã, dẫn dắt binh lính đi phát mộ, đoạt được rất nhiều đồ vàng bạc châu báu, đóng góp cho quân đội, để trợ giúp chinh phạt, rất có công với đất nước.

Một lần, Thương Vương phát một cổ mộ, cũng không biết nó là từ triều đại nào, khai quan để xem, thì bên trong có một con cự xà, ngẩng đầu muốn cắn ông ta.

Xưa này dũng khí của Thương Vương vốn rất lớn, liền lấy kiếm chém cự xà, lại nghĩ rằng con cự xà này nằm trong quan tài, nhất định là yêu quái, sau đó mổ bụng rắn, lấy được hộp kim tử, bên trong hướng dẫn một trăm phép thuật.

Ban đêm, có một ông cụ râu tóc bạc trắng xuất hiện trong giất mơ của ông ấy, giận dữ hỏi Thương Vương: "Vì sao lại giết ta?".

Thương Vương tính vốn thô bạo, chém giết rất nhiều, liền trả lời trả lời ông già đó: "Muốn giết thì giết!

Hỏi để làm gì!", ông già liền giận dữ, hoá thân thành con cự xà ban sáng, há mồn xông đến đớp Thương Vương.

Ông ta rút kiếm chém cự xà bị thương, đạp chân lên đầu rắn, nói: "Ta mổ bụng ngươi vẫn không chết, vậy bây giờ ta cắt đầu ngươi, để xem ngươi có thể còn sống được nữa hay không?", Cự xà thấy vậy liền cầu xin ông ta thương xót nói: "Tôi muốn lấy hai bảo vật trao đổi, để giữ lại mạng sống."

Thương Vương chấp nhận, lúc này cự xà mới nói phương pháp mở hộp tử kim, và dạy ông ta cách sử dụng bảo vật trong hộp.

Sau khi ông ta đã ghi nhớ kĩ, đột nhiên lại nghĩ chuyện này cần phải giữ bí mật, chỉ cần một người biết thôi, ngay lập tức vung kiếm chét đứt đầu rắn.

Đúng lúc đó Thương Vương tỉnh giất, thì thấy mình đang ở trong vũng máu, mới hiểu ra rằng giấc mơ này không phải là giả, ngay lập tức y liền làm theo phương pháp trong mơ, quả nhiên có thể mở được hộp kim tử, bảo vật bên trong, giống y như lời con cự xà kia đã nói.

Vì ông ta không muốn cho người khác biết chuyện này, cho nên đã tàn sát hết những tuỳ tùng mà mình đã đem theo, kể cả người nhà của họ, ngay cả đứa trẻ còn mặc tã, cũng không buông tha.

Sau khi có được hai bảo vật, hiển nhiên ông ta gặp dữ hóa lành, đi đến đâu thắng đến đó, quyền cao chức trọng đều gom hết vào mình, lại được hoàng đế tín nhiệm nhờ cậy rất nhiều.

Về sau, khi ông ta già, bị bệnh nặng, đã tìm đến rất nhiều thầy thuốc giỏi chữa trị, nhưng tất cả đều nói không có cách nào có thể chữa khỏi.

Không lâu sau, Thương Vương lại một lần nữa mơ thấy cự xà, nói: "Cuối cùng ngươi cũng đã đến lúc tận mạng.

Ta và rất nhiều người đang đợi ngươi tới đây, đều là những người mà ngươi thường ngày giết bừa, không biết là có mấy ngàn vạn người".

Ông ta tỉnh giất vô cùng sợ hãi.

Thương Vương có một người trợ tá, tên là Thiết Diện tiên sinh, tinh thông mệnh lý phong thuỷ, vào thời đó không ai có thể sánh bằng, nói cho ông ta biết: "Thần có nghe nói, thời thượng cổ có một loại áo ngọc, nếu có được bộ áo ngọc này, sẽ được trường sinh bất lão.

Đáng tiếc đã mất tích từ rất lâu, e rằng chỉ còn tồn tại ở trong cổ mộ dưới lòng đất mà thôi".

Ông ta không biết là chuyện đó là có thật hay không, nhưng đó vẫn là một tia hy vọng, nên đã lục lọi trong sách cổ ở khắp nơi, quả nhiên trong một quyển thẻ tre tàn đã thấy có ngôi mộ rất lớn, chính là một lăng mộ vào triều đại trước, hình như có dấu vết của áo ngọc.

Tiếp đó, ông ta dùng hơn ba ngàn người, phá núi cả nửa năm trời, thăm dò vị trí của hoàng lăng.

Bên trong cổ mộ có một cây đại thụ, tên là Cửu đầu xà bách, dưới tàng cây đặt giường ngọc, trên đó là một thi thể thanh niên đang ngồi thiền, mặc một bộ áo liệm bằng ngọc đen tuyền, chỉ còn da bọc xương, gần như là bộ xương khô.

Thiết Diện tiên sinh nhìn thấy vui mừng nói: "Cái này nhất định là áo ngọc rồi.

Lúc này tử thi này nhìn như chết nhưng thực chất không chết, mà chính là huyết thi.

Nhất định là khi còn sống đã tự mình hạ táng xuống đây, cứ cách một trăm năm, lại bong ra một lớp da chết, đồng thời cũng sinh ra một lớp da mới, cho nên thi thể mới có vẻ ngoài vẫn còn là thanh niên chứ không nhất định là một ông lão già khú."

Thiết Diện tiên sinh lấy kỳ thuật của mình để khắc chế huyết thi, lấy ra khỏi áo ngọc, rồi niêm phong vào thạch quan.

Thương Vương chỉ làm theo kế sách của Thiết Diện tiên sinh, uống thuốc giả chết, báo tang cho hoàng đế.

Hoàng đế nghe Thương Vương có năng lực khác thường, có thể tự nhiên đi lui tới giữa hai thế giới âm dương, trong lòng quá mức kinh sợ, đặc biệt hạ chiếu thư ưu đãi, ban danh Thương Vương, được an táng theo nghi lễ quy định, vượt hơn các chư hầu, mà có thể so với thiên tử.

Vì vậy cho tu sửa lăng mộ như hoàng lăng, bày rất nhiều nghi trận và cơ quan, rồi làm Thất tinh quan giả dạng, còn Thương Vương thực sự, thì nấp ở bên trong thân cổ thụ ngàn năm trong hoàng lăng.

Ngày lăng được xây dựng xong, toàn bộ công nhân xây dựng đều bị giết hết để tuẫn táng, an táng ở dưới sông.

Những người đi theo ông ta lúc còn sống, đều hạ lệnh cho uống thuốc độc tuẫn táng hết, chỉ giữ lại hai người một nam một nữ thân cận nhất, sau khi hoàn tất mọi chuyện, hai người cũng uống thuốc độc tự vẫn.

Còn những phần khác đọc rất khó hiểu, hoặc là nói đúng hơn là gần như đọc không hiểu được gì cả, vì khi Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn cùng với nhà Nho (đạo của Khổng Tử được gọi là đạo Nho), bởi vậy rất nhiều thứ từ thời nhà Thương Chu Xuân Thu trở về sau đều bị thất truyền.

Đặc biệt thì có rất nhiều chữ lạ hiếm gặp, cho dù có đi tới thư viện mà tra thì cũng phải mất mấy chục năm mới có thể giải hết toàn bộ được.

Khi đó tôi không có cách nào phát hiện được sự khác biệt trong đó, cho đến khi Tam thúc nói tôi mới phát hiện ra được, những phần cổ văn này đúng là thấy có một chút khác biệt so với những phần khác, chỉ có điều, thật sự mà nói thì lúc đó chỉ có bậc thầy *quốc học* (là nền học vấn cổ của quốc gia) có mặt ở đó mới có thể tránh khỏi, còn những người như chúng tôi, thực sự chỉ có thể chấp nhận bị trúng kế mà thôi.
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 30: Những loại quái vật đã gặp


Chương 30: Những loại quái vật đã gặp

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Thi miết (bọ ăn xác)

Thi miết là một loại côn trùng giáp xác, cảm giác nó rất giống một hợp thể của con rận nước và rết nước.

Nhưng nó lại rất khác với *long sắt khoa* ở chỗ, hai chân trước của chúng vô cùng sắc bén và mạnh mẽ, hơn nữa cái đầu cũng lớn hơn nhiều, chỉ sống trong bóng tối, sợ ánh sáng.

Loại côn trùng này di chuyển cực kỳ mau lẹ, mà còn là động vật lưỡng cư, thức ăn của chúng là thi thể bị thối rữa và những sinh vật nhỏ sống ở trong nước, bình thường thì luôn tập trung thành đàn bơi xung quanh thi thể, tụ tập thành nhóm, và chúng cũng ăn thịt đồng loại.

Tôi đã từng bị loại sâu này tấn công, cảm thấy chúng nó không có quá nhiều khả năng sinh ra mối đe doạ quá lớn đối với động vật có lớp da dày, nói thí dụ như tê giác xuống nước tắm sẽ không có vấn đề gì.

Nhưng đối với con người, thực sự là một sự uy hiếp rất lớn, bởi vì bọn chúng luôn theo bản năng tấn công vào vùng bụng chính là vùng yếu nhất của con người.

Nếu như không thể lên bờ đúng lúc, chúng sẽ chui vào phá bụng dẫn đến chảy máu quá nhiều mà gây chết người.

Thi miết có rất nhiều ở sông hồ sâu trong núi hoặc là ở vùng đầm lầy, có lẽ là do khi lũ quét hoặc lỡ đất, mới xuất hiện một lượng lớn như vậy.

Huyết thi:

Rất nhiều vùng có truyền thuyết nói về huyết thi.

Mộ có huyết thi thật ra cũng chỉ là một loại cơ quan để bảo vệ huyệt mộ dưới lòng đất mà thôi.

Chẳng hạn như là loại cơ quan lửa, hay là acid (axit), hoặc là chu sa, khi dùng xẻng Lạc Dương sạn thăm dò, đất sẽ xuất hiện màu đỏ.

Đặc biệt là cơ quan acid, đất sẽ có màu đỏ tươi như máu, thật ra là do bên trong có chứa một lượng chu sa rất lớn. thường những cổ mộ có cấu trúc như vậy, chứng tỏ cổ mộ đó quy cách rất cao, cho nên mới hình thành câu nói mộ có huyết thi thì bên dưới toàn là bảo bối.

Vậy thì làm sao họ có thể biết được cổ mộ bên dưới sẽ có huyết thi?

Một mặt có thể là do nghe nhầm đồn bậy, còn về phương diện khác, chu sa là một vật dùng để trừ tà, cho nên cổ mộ sử dụng tầng chu sa dưới đất, nhất định là muốn làm cản trở một thứ gì đó bên trong cổ mộ, vì sử dụng chu sa để niêm phong cổ mộ, thi thể đương nhiên sẽ có chút dị biến.

Mà trên thực tế, huyết thi cũng không hẳn là giống như tên của nó là đỏ tươi như máu, mà lại có màu đỏ tía.

Hồ ly mắt xanh:

Khối xác ướp cổ này thực rất kinh khủng và quỷ dị, rất khó để diễn tả được.

Đó đương nhiên là người thế mà có thể phát triển giống như một con hồ ly bị trụi lông, e rằng không chỉ do bị di dạng mà có khả năng trở thành như vậy được.

Tôi không thể tưởng tượng ra được khối xác ướp cổ này trước khi nó bị mục nát và khô quắc là có bộ dạng gì nữa.

Bàn Tử nói nguyên nhân ở đây là do trúng tà, nhưng theo một lượng lớn các lý thuyết đã kiểm chứng thì có thể nói, đây cũng là một loại dị dạng hiếm gặp, nếu muốn phân loại, chắc do là một chứng bệnh ở tiểu não, có thể khiến cho gương mặt phát triển đặc biệt dài.

Cũng có khả năng giống như người Inca và Ai Cập, từ nhỏ đã sử dụng một loại phiến nẹp có thể làm cho đầu và gương mặt thay đổi.

Bởi có một thần thoại sinh ra hiện tượng này, bởi vì người xưa tin rằng khi đang ở chiến trường, kẻ địch nhìn thấy một quái vật như vậy, nhất định vừa nghe thấy đã sợ mất mật.

Công dụng chủ yếu của mặt nạ chính là tượng trưng cho thần, hoặc cũng có thể nói theo cách khác, Lỗ Thương Vương là một trong số bộ phận rất ít thờ phụng vật tổ là hồ ly.

Trong lịch sử hình như chỉ có phần nhỏ dân tộc người Tây Tạng tin và thờ phụng hồ ly, chuyện này thực sự là vô cùng kỳ lạ.

Cửu đầu xà bách:

Tôi không hề tìm được bất kì tài liệu nào nói về loại thực vật này, chỉ có một ít tài liệu không chính quy, có nói về hệ thống các loại thực vật ăn thịt cỡ lớn khác, trong đó có một loại cây ăn thịt người có tên khoa học: Carnivorous trees.

Trong truyền thuyết nước ngoài, cùng loại với Cửu đầu xà bách được gọi "Chưng ngư thụ", nó có thể liên tục quấn chặt để giết chết con mồi rồi tiêu hoá nó, loại cây này thường được người địa phương gọi là "Ác ma chi thụ".

Cuối cùng trong quyển nhật ký của một nhà thám hiểm người Đức khi đang điều tra thực tế có phân tích, cách tấn công của loại thực vật này căn bản xuất phát từ bản năng của giống loài, cũng giống như bệnh tai xanh chỉ mắc phải trên da động vật có bộ lông thưa, tương tự, loại thực vật này cũng sẽ theo bản năng quấn lấy và giết chết bất kì thứ gì đến gần nó.

Tôi cho rằng, nếu loại cây trong truyền thuyết này thực sự tồn tại, rất có khả năng nó chính là Cửu đầu xà bách, đặc trưng sinh thái của nó đại khái là: Sau khi giết chết động vật, nó sẽ dựa vào mùi thối rữa thi thể mà dẫn dụ côn trùng tới, truyền bá thụ phấn.

Bọ ăn xác bị thi thể trên cây hấp dẫn, tụ tập ở chung quanh cây, hơn nữa theo kinh nghiệm của tôi thì thấy, Cửu đầu xà bách cũng không thể tự mình giết chết con mồi được, con mồi chết thường là do bọ ăn xác gây nên, đây thực sự đúng là một mối quan hệ cộng sinh xảo diệu.

Đồng thời chất thải của thi miết cũng một nguồn dinh dưỡng cực tốt, so với thi thể bị thối rữa thì thích hợp hơn cho thực vật phát triển.

Loại quan hệ cộng sinh này bên trong cũng sẽ có nhiều loại động thực vật khác giống vậy, chỉ là ở trong này, tôi cảm thấy có khả năng quan hệ cộng sinh này là do con người sắp xếp.

Giống như là nuôi cá ở trong ruộng lúa nước, đây chính là kiến thức nông nghiệp.

Cấm bà

Truyền thuyết nói về cấm bà rất phổ biến ở dân tộc thiểu số phía Nam, từ bộ tộc Miêu Dao ở Vân Nam cho đến ngư dân ở Hải Nam khi đó, cấm bà vẫn thường xuyên xuất hiện trong khái niệm trong những truyền thuyết của họ.

Vào lúc đó ngư dân ở Hải Nam cho rằng, cấm bà chính là một thứ đại diện cho tật bệnh, tai nạn, hình tượng của cấm bà là một người phụ nữ mang thai, cả người ẩm ướt, thứ này cùng với mỗi lần sóng thần đi qua, trên bãi biển liền xuất hiện rất nhiều xác chết trôi giống như vậy, mà nhiều thi thể tụ tập lại một chỗ nhất định sẽ gậy ra bệnh dịnh hoành hành.

Cho nên tôi đoán, cái được gọi là cấm bà, có thể là do ấn tượng của ngư dân về thi thể chết trôi và tai nạn mấy ngàn năm nay mà hư cấu tạo thành.

Vào thời đó mọi người không biết là người chết, tai nạn và bệnh tật là có liên quan với nhau.

Sau khi chúng tôi đi vào cổ mộ dưới đáy biển nhìn thấy quái vật cấm bà đầy tóc kia, hoàn toàn giống y như là thi thể đã bị ngâm trong nước thời gian rất dài, khiến cho tôi tới bây giờ chỉ cần nhìn thấy thấy quá nhiều tóc người thì trong lòng ngay lập tức cảm thấy sợ hãi.

Hải hầu tử:

Ở vùng ven biển vẫn thường nghe nói tới truyền thuyết nói về một sinh vật, nghe nói ở đập lọc nước Quảng Tây quả thực là đã từng phát hiện qua.

Ở Trường Sa, hải hầu tử được gọi là "Lộ thủ quỷ", ở Quế Lâm lại kêu "Thủy sư quỷ".

Loại sinh vật trong truyền thuyết này khác với những loại động vật bình thường khác, truyền thuyết nói về nó gần như ở vùng nào cũng có, cái này thực sự ý vị quá sâu xa, có lẽ nói cho đúng thì con người đối với sinh vật dưới nước này không biết là có kinh sợ hay không.

Người già mỗi lần nói đến hầu như là đều có tồn tại ở những nơi có nước, bao gồm giếng nước, thậm chí là lu nước.

Chi tiết của những truyền thuyết này không hề giống nhau, tuy nhiên vẫn có một vài điểm chung, chính là loại động vật này có hình người, ở trong nước sức mạnh vô cùng lớn.

Nhưng mà, nói thật, so với hình ảnh tôi tưởng tượng trong đầu, thì vẫn còn kém xa thứ to lớn đáng sợ kia.

Nhân diện điểu

Hầu như tất cả những nền văn mình trên thế giới, đều có nhắc đến nhân diện điểu.

Kể cả trong tôn giáo hay thần thoại đều có loại sinh vật này xuất hiện.

Đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ thì càng thêm nổi bật.

Vấn đề này cũng không phải do Trung Quốc bị Phật giáo ảnh hưởng quá sâu, chỉ cần cẩn thận quan sát sẽ phát hiện, ngay cả truyền thuyết của hoàng đế Trung Hoa, còn có xuất hiện nhân diện điểu Cửu Thiên Huyền Nữ.

Khi đó Phật giáo vào thời Lưỡng Hán mới bắt đầu được truyền vào Trung Quốc, đến triều đại Ngụy Tấn Nam Bắc, Phật giáo mới thực sự phát triển, cho nên hình mẫu đầu tiên của nhân diện điểu Cửu Thiên Huyền Nữ chắc chắn không phải là Già Lăng Tần Già trong "Diệu Âm điểu" Phật giáo. (Tuy rằng trong "Sơn hải kinh" có ghi chép rất nhiều về nhân diện điểu, thế nhưng từ những truyện ở phần sau quyển sách đều là những tác phẩm giả của đời sau viết, vì vậy tôi cũng không thể tin tưởng được.)

Hiện tại ở Trung Quốc có tượng hình nhân diện điểu lâu đời nhất, được phát hiện ở trong di tích"Hồng sơn văn hóa" nằm ở giữa vùng sa mạc Mao Não Hải Sơn thuộc vùng Nội Mông Cổ Lão Hắc Hà Bắc, thuộc thời đại đá mới.

Các chuyên gia khảo cổ cho rằng đây là một loại chim *si kiêu* cổ đại, hiện tại đã bị tuyệt chủng có ngoại hình rất giống nhân diện điểu.

Si kiêu là một giống cú tai mèo hoặc được gọi là miêu đầu ưng.

Vào thời cổ đại, vùng Nội Mông Cổ cách xa nền văn hoá của Trung Nguyên, thuộc về cùng đất phía Bắc rộng lớn, nhưng mà nằm gần sát vùng Đông Bắc, không rõ loại nhân diện điểu mà chúng tôi nhìn thấy ở núi Trường Bạch, có phải là loại si kiêu này hay không?

Ở trong phần lớn truyện thần thoại, nhân diện điểu cũng giống như trong "Giáo lý Phúc Âm" đều là một nhân vật có trách nhiệm truyền đạt, bất kể là Cửu Thiên Huyền Nữ trao tặng chiến thư cho hoàng đế, hoặc là Già Lăng Tần Già truyền đạt Phật Gia Diệu Âm, tất cả đều mang tinh thần hướng tới văn hoá trời cao mà truyền đạt rộng rãi cho người dân.

Mà tương đối kỳ quái là, Trung Quốc còn có tượng hình nhân diện điểu của người trần, chẳng hạn như thần y Biển Thước cũng chính là một nhân diện điểu.

Sau này tôi mới biết được, cái này chỉ là một quan niệm không cố định.

Trên thực tế thì Biển Thước có rất nhiều, vào thời Xuân Thu, danh y đều được gọi chung là Biển Thước.

Mà danh y Biển Thước thật sự là một nhân vật trong thần thoại vào thời đại Hiên Viên, và cũng thuộc hàng giống như hoàng đế, vì thế tôi nghi ngờ rằng nhân diện điểu thần y Biển Thước và Cửu Thiên Huyền Nữ là cùng một loại sinh vật.

Ở trong thần thoại Trung Hoa các hình tượng như vậy rất phổ biến, không khó làm cho con người sinh ra liên tưởng.

Dựa vào lo lắng hiện nay, tôi cảm thấy có thể là có một nền văn minh cổ đại nào đó mà chúng tôi vẫn chưa phát hiện ra hay không, người như thế nào mới thuần dưỡng được nhân diện điểu si kiêu, đồng thời đối với quá trình huấn luyện, ở trong chiến tranh, hay trong quá trình vận chuyển thật sự là có tác dụng vô cùng to lớn.

Trong trận chiến giữa các bộ tộc, loại si kiêu này liên tục xuất hiện, là một trong những lực lượng, có khả năng vận chuyển được một lượng lớn tin tức và thuốc men, có thể vì các bộ tộc khác không biết nó mới khiến cho họ lầm tưởng chúng là hiện thân của thần linh.

Nền văn minh thần bí cổ đại này, tuy rằng vô cùng khiêm tốn, cũng có lẽ là do họ theo chủ nghĩa thần bí, làm cho toàn bộ tư liệu được lưu lại trên đời dần dần bị mai mục.

Phía sau cánh cửa Thanh Đồng khổng lồ kia, có thể là một phần không nhiều lắm còn sót lại.

Nhân diện điểu mà bọn họ huấn luyện, cũng đã tuyệt chủng khi nền văn minh của họ suy tàn, chỉ còn lại một số ít may mắn sống sót tiếp tục ở lại trong lòng đất để bảo vệ di tích cuối cùng của chủ nhân mình.

Nghe như vậy đúng là có chút vô nghĩa, nhưng mà tôi vẫn cảm giác rất có đạo lý, hơn nữa, sử dụng si kiêu để truyền đạt tin tức, làm tôi nhớ tới hình ảnh thầy phù thuỷ ở Âu Châu vào thời Trung Cổ.

Nơi đó tất cả thầy phù thuỷ đều có một con si kiêu làm sủng vật, cái này đúng là có chút thú vị.

Chẳng lẽ phía sau cánh cửa Thanh Đồng cửa cực lớn kia, là thế giới ma pháp Hoắc Cách Ốc Tì sao?

Thiên thủ Quan Thế Âm thi:

Đây là một khối thi thể làm cho người ta phải suy nghĩ không ngừng, không riêng gì việc nó có nhiều tay giống như một con nhện.

Tuy tôi không biết đây có phải là một loại dị dạng hiếm gặp hay là một loại bệnh lý dị biến nào khác, thế nhưng nhìn qua thì các cánh tay đó vô cùng linh hoạt và mạnh mẽ, ít nhất cũng sẽ không gây trở ngại gì cho chất lượng sinh hoạt của họ.

Tất nhiên tôi không thể nghĩ ra được phải khống chế nhiều tay như vậy thì sẽ có cảm giác gì, song rất dễ nhận ra, nếu là sinh sống trong vách đá triền núi, kiểu dị dạng này ngược lại có thể khiến cho hoạt động của họ như cá gặp nước.

Đây là không phải là một sự tiến hóa, hoặc cũng là vì một sự lựa chọn?

Nói ví dụ như, ở trong thị tộc của Vạn Nô Vương, địa vị được quyết định bởi số tay sau lưng.

Chỉ hai cánh tay có vẻ thấp hơn, số lượng tay càng nhiều, đồng thời mức độ dị dạng càng nặng, ngược lại địa vị sẽ càng cao, chính vì nguyên nhân đó mọi người trong tộc luôn hy vọng đứa con của mình sẽ có thật nhiều tay, bởi vì tay càng nhiều địa vị càng cao, thê thiếp đoạt được cũng càng nhiều hơn.

Cũng như các bộ lạc ở Châu Phi, có một số bộ lạc trong vùng tôn thờ người mắc chứng bệnh bạch tạng, vì người bị bệnh bạch tạng ở trong bộ lạc sẽ được đãi ngộ giống như thần thánh, nên bọn họ luôn cố gắng để cho người bị bạch tạng thông hôn với nhau để có được làn da trắng bạch của "Thần".

Cũng vì lẽ đó, khi bọn họ nhìn một người màu trắng giống như thần xuất hiện, lập tức khuất phục ngay, hầu như cũng không dám phản kháng.

Tất cả hình ảnh đều được lấy trên google và trong truyện tranh:

 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 31: Những người tôi đã gặp


Chương 31: Những người tôi đã gặp

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Muộn Du Bình:

Tôi đụng phải một thằng cha rất là đáng ghét, từ xưa tới nay tôi chưa từng gặp phải người nào như vậy, khẳng định là tên này bị mắc chứng bệnh thèm ngủ cực kỳ nghiêm trọng!

Tôi thấy anh ta ngoại trừ lúc đi đường, thì vào những khoảng thời gian khác đều chỉ thấy ngủ, cho dù là khi đi dọc đường cũng không thèm nói một câu, bộ dạng lúc nào cũng như còn đang ngái ngủ.

Vì thế tôi đặt cho anh ta một biệt danh, là Muộn Du Bình (gốc là: "Muộn Thanh Bất Khang Tha Du Bình" ý anh Tà chửi anh Bình là thằng con ghẻ một câu cũng không nói, sau gọi tắt là Muộn Du Bình).

Tuy rằng tôi không thích mắng chửi sau lưng người khác, nhưng mà người này thật sự là quá mức đáng ghét.

Nói gì thì nói tôi cũng là một người rất giỏi về giao thiệp, thế nhưng thái độ của anh ta, hoàn toàn chính là một bộ dạng: không cần các người phải nảy sinh một mối quan hệ gì với tôi hết.

Có điều, chỉ cần có anh ta ở bên cạnh, tôi luôn luôn có một cảm giác an tâm rất đặc biệt, có thể là những người trầm mặc thường làm cho người khác bị ảo giác rằng anh ta rất lợi hại.

Tôi thực sự rất muốn biết ẩn sâu bên trong ánh mắt kia rốt cuộc là cái gì?

A Ninh:

Không thể phủ nhận, tôi đối với cô gái này có chút thiện cảm, bất kể là vì dáng người, hay là vì thái độ ấm áp của cô ấy, thế nhưng lý trí nói cho tôi biết, phải tránh xa cô ấy một chút.

Nhiệt huyết của cô gái này quá mức dư thừa thực làm cho người ta phải hâm mộ, thậm chí tôi còn có cảm giác, đem cô ấy đá xuống nước cho bơi theo thuyền thì cũng sẽ không bị chết chìm, thấy cái loại sức sống này tôi nhịn không được mà bắt đầu lo lắng không biết là có nên đem thời gian mình ngồi trên ghế ngủ gà ngủ gật mà đi rèn luyện thể lực hay không?

Chỉ là nhìn vào ánh mắt của cô ấy, tôi vẫn mơ hồ cảm thấy cô ấy có chút cô đơn.

Bàn Tử:

Người mà chúng tôi đi đón ở đảo Vĩnh Hưng đương nhiên chính là Bàn Tử.

Cũng không biết kiếp trước tôi với anh ta có "kết quá lương tử" hay không nữa.

Xem ra sau khi đi ra khỏi Lỗ Vương Cung anh ta cũng không tệ lắm, mà hình như còn mập hơn.

Vừa lên thuyền thì đã cằn nhằn mọi người trên thuyền đều là đồ lề mề rồi.

Sau khi uống xong, anh ta còn muốn giả làm vua của thế giới một chút.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi gặp anh ta, chẳng qua đến bây giờ mới có hứng thú ngồi quan sát anh ta tỉ mỉ một chút.

Đáng tiếc, thực sự mà nói thì cũng có cái quái gì đâu.
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 32: Quốc gia cổ đại ở Sơn Đông


Chương 32: Quốc gia cổ đại ở Sơn Đông

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieidieututai

(Chương này cực kỳ dài, đọc như học sử )

Đầu tiên, quốc gia của họ Cơ.

Tương truyền rằng họ Cơ là hậu duệ của hoàng đế, vùng đất Sơn Đông thuộc về quốc gia của họ Cơ, phần lớn đều là do Chu Vũ Vương (Cơ Phát - con trai thứ hai của Tây Bá Hầu Cơ Xương cũng chính là Chu Văn Vương) sau khi tiêu diệt nhà Thương đã phân đất phong hầu cho người cùng họ làm nước chư hầu ( nhà Chu thực hiện chế độ phong các nước chư hầu cho các anh em, công thần, con cháu).

Gồm có nước Lỗ, nước Tào, nước Đằng, nước Thành, nước Cáo, nước Mao, nước Dương, nước Cự, nước Hình.

Nước Lỗ - Được ban cho em trai thứ tư của Chu Vũ Vương là Chu Công Đán (Cơ Đán) có con trai trưởng là Cơ Bá Cầm (phong tước Bá).

Lập thủ đô ở Khúc Phụ (hiện nay là thành phố Khúc Phụ).

Vào những năm đầu Tây Chu là một nước chư hầu lớn nhất trong các nước chư hầu, (hiên nay mọi người vẫn dùng từ "Lỗ" ở Sơn Đông coi như là một tên gọi tắt) những sách cổ ghi chép về văn hoá rất nhiều, lễ nghi quy chế tất cả đều có.

Vào thời Xuân Thu, lại ra đời một nhà tư tưởng rất nổi tiếng, chính là nhà đạo giáo Khổng Tử, văn hoá phát triển rất cao, nhà nước lấy lễ nghi để làm gương cho hậu thế.

Lỗ quốc hướng Bắc dựa vào núi Thái Sơn, hướng Đông là Biển rộng, là một vùng rộng lớn ở phía Nam - Sơn Đông, chính là một lá chắn quan trọng nhất của triều đình Chu Vương.

Nhà Tây Chu cho tới nhưng năm đầu thời Xuân Thu thì họ chính là một cường quốc ở Đông Phương, vào lúc đó có đủ khả năng tranh hùng cùng với nước Tề cũng là một cường quốc.

Lỗ quốc có tổng cộng 26 thời đại, và 34 vị vua, triều đại kéo dài khoảng 800 năm, giữa giai đoạn Xuân Thu thực lực của đất nước dần dần suy yếu, vào khoảng năm Lỗ Khoảng Công thứ 24 (vào năm 249 trước Công Nguyên), thì bị nước Sở tiêu diệt, nước Lỗ trở thành một huyện.

Nước Tào - được ban cho em trai thứ năm là Thúc Chấn Đạt (Phong tước Bá).

Kinh đô ở Đào Khâu (hiện nay là vùng phụ cận Hà Trạch, huyện Định Đào - Tây Bắc), khi đó là nằm ở vùng Tây Nam - Sơn Đông, vào lúc đó nước Tào là một nước có thực lực yếu kém nhất trong các nước Tề, Lỗ, Tống, Vệ.

Truyền được 25 đời, tới năm 15 đời vua Tào Bá Dương (năm 487 trước công nguyên), thì bị nước Tống tiêu diệt.

Nước Đằng - Ban cho Thác Thúc Tú con trai thứ mười bốn của Chu Văn Vương (phong tước Hầu).

Nay di tích thủ đô nước Đằng nằm cách 14 dặm (1 dặm bằng ½ km) về phía Tây Nam - thành phố Đằng Châu.

Nên có quan hệ rất mật thiết với nước Lỗ, cũng phụ thuộc vào nước Tống, nước Tấn, có tham gia vào liên minh và chiến tranh của đại quốc.

Vào năm 415 trước công nguyên bị nước Việt tiêu diệt, không lâu sau thì mới phục quốc.

Cuối cùng lại bị nước Tống (có sách nói là nước Tề) tiêu diệt.

Tổng cộng truyền được 23 đời.

Nước Thành - Phong cho Thúc Vũ con trai thứ sáu của Chu Văn Vương (tước Bá).

Sách sử không có ghi đời sau của vua nước Thành.

Vào năm 1975 ở huyện Kỳ Sơn tỉnh Thiểm Tây tại thôn Đổng Gia phát hiện được một cái *Thành Bá Tôn Phụ Cách*, mới nghi ngờ đây là nền móng khi mới lập quốc của nước Thành ở vùng ngoại ô Tây Chu, đến thời Xuân Thu mới thay đổi phong cho vùng Sơn Đông.

Nay thuộc huyện Ninh Dương - Đông Bắc (có nơi nói là ở Phạm Huyền tỉnh Hà Nam).

Vào năm thứ 8 triều đại vua Lỗ Trang Công (năm 686 trước công nguyên) nước Lỗ, và nước Tề tiến đánh nước Thành, nước Thành phải đầu hàng nước Tề.

Nước Cáo - Phong tước Tử, người sáng lập là con của Chu Văn Vương (không rõ tên gì).

Lãnh thổ nằm ở phía Đông Nam huyện Thành Vũ hiện nay, cuối cùng vào khoảng những năm đầu thời Xuân Thu bị nước Trịnh tiêu diệt.

Truyền lại đời sau chỉ có một cái đỉnh lớn và cốc rượu của nước Cáo.

Nước Mao - cũng lấy Mao làm họ. người sáng lập là con trai của Chu Văn Vương (không rõ tên gì).

Nay là phía Tây Nam huyện Kim Hương - Sơn Đông.

Sau này sát nhập vào nước Chu (theo: Hậu Tự).

Nước Dương -(có nơi nói là họ Yển, cũng có nơi nói là họ Ngự), phong tước Hầu.

Thủ đô cũ hiện nay ở phía Tây Nam huyện Nghi Thuỷ - Sơn Đông.

Đến năm thứ hai triều đại của Lỗ Mẫn (năm 660 trước công nguyên), nước Tề ép họ di dân rồi chiếm đất.

Có nơi nói là ở phía Đông Nam thành phố Thanh Châu, nước Tề đã ép họ di chuyển đến đây.

nước Cự - là thuộc địa của nước Lỗ, hiện nay là Sảo Đông huyện Kim Hương.

Vào năm Lỗ Ấn thứ hai (năm 721 trước công nguyên), bị nước Lỗ chiếm giữ.

Nước Hình - Vị vua đầu tiên lập quốc là con của Chu Công Đán (tên không có ghi chép).

Thủ đô cũ hiện này là Hình Đài tỉnh Hà Bắc.

Đến năm 662 trước công nguyên, bị nước Trác tấn công, sau đó nước Tề liên minh mới nước Tống, đi giúp nước Hình, rồi đem nó dời đi Di Nghi (có nơi nói là dời đi qua Tây Nam thành phố Liêu Thành).

Vào năm 635 trước công nguyên thì bị nước Vệ tiêu diệt.

Nước của họ Nhâm.

Họ Nhâm (hoặc hiệu là Nhâm), cũng truyền ngôi hoàng đế cho con cháu.

Vào triều nhà Hạ trước đây họ sinh sống tại khu vực Nam bộ Sơn Đông.

Còn có nước Tiết, nước Thi (Âm shi), nước Chú, nước Qua.

Nước Tiết - người lập quốc là Hề Trọng ( sống ở đất Tiết và làm xa(xe) chính cho triều Hạ ) (phong tước Hầu). hiện nay đi 30 dặm về phía Nam Đằng Huyện có khu di tích văn hoá của Tiết thành.

Sau đó dời tới huyện Phi, còn gọi là Hạ Phi, hiện nay ở phía Đông Bắc huyện Phi tỉnh Tô Giang.

Không lâu sau lại chuyển lên phía trên huyện Phi, tức là phía Bắc - Sơn Tây hiện nay, khi đó Hề Trọng do phát minh được xe chuyên chở, có công giúp Hạ Vũ trị thuỷ nên được phong cho đất Tiết.

Sau khi Chu Vũ Vương tiêu diệt nhà Thương, lại tiếp phục phong cho hậu duệ của ông cai quản nước Tiết.

Về sau vào thời Xuân Thu, nước Tiết lại di chuyển đến Hạ Phi.

Nước Tiết trải qua triều nhà Hạ, nhà Thương, bốn triều đại nhà Chu, có thể kéo dài đến 64 đời.

Vào thời Chiến Quốc thì (có lẽ vào năm thứ ba vua Tề Mẫn, tức năm 298 trước công nguyên) diệt vong, gia nhập thành một huyện của nước Tề.

Những món đồ được truyền lại đời sau có Tiết hầu di, Tiết hầu đỉnh, Tiết trọng đồng phủ.

Nước Thi (邿 国)- cũng được gọi là Thi (诗), Tự (寺).

Là một nước chư hầu nhỏ của nước Lỗ, nay ở 50 dặm về phía Nam thành phố Tế Ninh.

Vào năm 13 Lỗ Tương Công (năm 560 trước công nguyên) trong nước Thi phát sinh nội loạn, bị chia ra làm ba, bị nước Lỗ thừa cơ đánh chiếm.

Truyền lại đời sau có (邿) Thi bá đỉnh, (邿) Thi khiển quỹ, Chùa Quý Đỉnh, Chùa Quý Quỹ.

Nước Chú (vừa gọi là họ Kỳ, cũng là Chúc)- phong tước Công.

Sau khi Chu Vũ Vương diệt Thương lập quốc.

Nay thuộc phía Nam huyện Phi Thành gần sông Vấn Thuỷ tỉnh Hà Bắc.

Hoặc sau cũng có thể là do nước Tề tiêu diệt.

Nước Quá (có nơi nói là họ Y) - là một đại bộ tộc thời nhà Hạ.

Nay thuộc vùng Tây Bắc duyên hải ở huyện Dịch (Lai Châu).

Cuối cùng thì bị vua nước Hạ tiêu diệt.

Ba, nước của họ Khương.

Tương truyền rằng họ Khương vào lúc đó chính là Viêm Đế.

Khu vực đất nước của họ Khương ở Sơn Đông, một phần là ban đầu được Chu Vương phân đất phong hầu, một bộ phận còn lại là của thời đại nhà Hạ, Thương lấy để lập quốc.

Còn có nước Tề, nước Kỷ, nước Châu, nước Lai, nước Chương (Zhang), nước Hướng, nước Tốn (Xun), nước Phùng.

Nước Tề (còn gọi là Khương Tề) - vào thời Xuân Thu Chiến Quốc là một cường quốc.

Bài "Chiến quốc thất hùng" đứng đầu.

Người lập quốc chính là Khương Thượng (tức là Khương Tử Nha trong《 Phong Thần diễn nghĩa 》), phong tước Hầu.

Ở nay là vùng Bắc bộ Sơn Đông, lập thủ đô ở Doanh Khâu (hiện nay là trấn Lâm Truy), thuộc quận Lâm Truy địa phận Truy Bác hiện nay.

Giai đoạn đầu thời Xuân Thu, sau đó do Tề Hi Công kế vị, và Tề Hoàn Công uỷ nhiệm cho Quản Trọng cách tân, dân giàu nước mạnh, hợp nhất chín nước chư hầu, xưng bá thiên hạ.

Vào năm Tề Linh Công thứ 15 (năm 567 trước công nguyên) tiêu diệt nước Lai, mở rộng lãnh thổ đến bán đảo Giao Đông ngày nay.

Lãnh thổ quốc gia Đông giáp với Bột Hải (vùng biển giữa bán đảo Sơn Đông và Bán đảo Liêu Đông), Tây đến sông Hoàng Hà, Nam đến núi Thái Sơn, Bắc đến Tân Châu - Vô Đệ Bắc (nay là huyện Nam núi Diêm tỉnh Hà Bắc).

Vào cuối thời Xuân Thu, quyền hành đất nước dần dần bị người họ Trần (tức họ Điền) đoạt mất.

Vào những năm đầu thời Chiến Quốc, họ Điền được chính thức xếp vào hàng chư hầu, còn vua Tề Khang Công lại bị đày ra bờ biển, sau này ông mất, Khương Tề cũng vì thế mà diệt vong.

Nước Kỷ - tước Hầu.

Được ban phong cho lập quốc vào những năm đầu thời Tây Chu, nay là thôn Kỷ Đài phía Nam huyện Thọ Quang.

Là kẻ thù truyền kiếp của họ Tề, luôn luôn bị bọn họ uy hiếp.

Vào năm thứ 8 Tề Tương Công (năm 690 trước công nguyên), cuối cùng cũng bị nước Tề tiêu diệt.

Truyền lại đời sau chỉ có cái chuông Kỷ Hầu, cái quỹ Kỹ Hầu, và Kỹ Hầu Chồn.

Nước Châu - hoặc gọi là họ Thuần Vu.

Tước Công.

Thủ đô của họ Thuần Vu (nay là Đông Bắc tỉnh An Khâu).

Giai đoạn đầu Xuân Thu bị nước Khởi chiếm đoạt, trở thành thủ đô của họ Khởi.

Nước Lai - còn được gọi là Ly.

Phong tước Tử.

Vào thời gian đó dựa vào Nhà Ân mà tồn tại.

Hiện nay phía Đông Nam thành phố Long Khẩu có thành nhỏ của nước Lai, chính là nước Lai cổ đại.

Có nơi thì nói là ở phía Đông Nam huyện Xương Ấp.

Nước Lai là láng giềng của nước Tề, thường hay có mâu thuẫn và xung đột.

Cuối cùng nước Lai bị (năm 567 trước công nguyên), Tề Linh Công tấn công tiêu diệt.

Nước Chương - là nước chư hầu của nước Kỷ.

Hoặc gọi là thị trấn Kỷ.

Thành của nước Chương cũ hiện nay ở 60 dặm về phía Đông huyện Đông Bình.

Vào năm 22 Tề Hoàn Công (năm 664 trước công nguyên), nước Chương bị ép quy hàng nước Tề.

Nước Hướng - nay thành của nước Hướng nằm ở 70 dặm về phía Nam huyện Cử, tức là huyện Thử.

Vào năm 721 trước công nguyên bị nước Cử tiêu diệt.

Nước Tốn (còn gọi là Kỳ) - tồn tại tới thời Xuân Thu nhà Ân.

Hiện nay là nằm 70 dặm về phía Đông huyện Nghi Thuỷ.

Thứ truyền lại đời sau có Tốn Công Tác Thúc Khương Di Chờ.

Nước Phùng- là chư hầu của nhà Thương.

Sau khi Chu diệt Thương, thì sát nhập vào nước Tề.

Bốn, nước của họ Phong.

Họ Phong tương truyền vào lúc đó chính là Thái Hạo.

Nghe nói Thái Hạo chính là thủ lĩnh tộc Đông Di, trung tâm hoạt động của họ là ở nước Trần (nay là huyện Hoài Dương tỉnh Hà Nam), sau đó phát triển ở hướng Bắc, rồi từ từ đã khống chế khu vực ở sông Tế Thuỷ.

Có nước Túc, nước Nhâm, nước Tu Cú, nước Chuyên Du.

Nước Túc - phong tước Nam.

Hiện nay ở 20 dặm về phía Đông Nam huyện Đông Bình.

Năm 684 trước công nguyên, nước Tống phái binh di dân của họ đi rồi đoạt đất.

Sau này nhập thành một huyện của nước Tề.

Nước Nhâm - hiện nay là thành phố Tế Ninh.

Vào thời Chiến quốc là chư hầu của nước Tồn.

Nhưng vẫn có nơi nói nước Nhâm là chư hầu của nước Hạ.

Nước Tu Cú - cũng là Tu Cù.

Phong tước Tử.

Hiện nay là Tây Bắc huyện Đông Bình, hoặc là ở Đông Nam.

Vào năm Lỗ Hi Tông thứ 21 (năm 639 trước công nguyên) bị nước Chu tiêu diệt, năm sau nước Lỗ lấy hôn nhân quốc gia với Tu Cú để chinh phạt nước Chu, sau vua Tu Cú dẫn quân trở về nước khôi phục lại địa vị, sau đó lại bị nước Chu tiêu diệt.

Vào năm Lỗ Văn Công thứ 7 (năm 620 trước công nguyên), nước Lỗ tiếp tục tiến đánh nước Chu, đoạt lại nước Tu Cú, hai nước sát nhập lại chung là nước Lỗ.

Nước Chuyên Du - là một nước chư hầu nhỏ của nước Lỗ.

Thành cỗ của nước Chuyên Du năm ở 80 dặm về phía Tây Nam huyện Phí hiện nay.

Nằm ở trong biên giới nước Lỗ, là một hạ thần của vua nước Lỗ, đã từng nhận được lệnh của vua nước Lỗ lừa gạt mà thờ cúng núi.

Năm, nước họ Kỷ.

Tương truyền rằng họ Kỷ là một ít hậu duệ còn lại của thủ lĩnh Hạo tộc Đông Di, bị Hoa Hạ tộc coi là man di (hoặc là tộc Đông Di).

Có nước Cử, nước Đàm (tan).

Nước Cử (hoặc gọi là họ Tào) - tước Tử, vị vua lập quốc đầu tiên là Tư Dư Kỳ.

Thủ đô cũ Giới Căn (Diệc Dự Kiến Cân, hiện nay ở Tây Nam thành phố Giao Châu), giai đoạn đầu thời Xuân Thu thì dời đến Cử (hiện nay là huyện Cử).

Nay có An Khâu, Chư Thành, Nghi Thủy, Cử Huyền, Nhật Đằng là huyện thành.

Vua của nước Cử không có thuỵ hiệu, lấy địa danh dùng làm xưng hiệu.

Giai đoạn Xuân Thu thì, nhiều lần bị nước Tề tiến đánh.

Đến năm 431 trước công nguyên thì bị nước Sở tiêu diệt.

Nước Đàm (họ Doanh) - tước Tử, nay thành Đàm ở huyện Bắc.

Lịch sử không có ghi chép bất kỳ danh hiệu nào của dòng dõi họ.

Vua nước Đàm có quan hệ thân thiết với triều Lỗ.

Giai đoạn đầu thời Chiến Quốc (năm 414 trước công nguyên) bị nước Việt tiêu diệt.

Có thể là hậu duệ của họ đã phục quốc.

Sáu, nước họ Tào.

Họ Tào vốn tên là Chuyên Húc, tương truyền Huyền Tôn Lục cả đời có sáu người con, người con thứ năm tên An, là người đầu tiên lấy họ Tào.

Có nước Chu, nước Tiểu Chu.

Nước Chu - cũng gọi là Chu Lâu, Trâu.

Tước Tử.

Người lập quốc là Hiệp.

Có các huyện Phí, Trâu, Đằng, Kim Hương và khu vực thành phố Tế Ninh hiện nay.

Kinh Đô là Vu Chu (nay là phía Đông Nam thôn Nam Tưu - Khúc Phụ), năm 614 trước công nguyên, Chu Văn Công đem kinh đô dời tới Dịch (nay là phía Đông Nam huyện Trâu thành phố Kỷ Vương).

Tuy nước Chu bị nước Hoa Hạ coi là một tiểu quốc man di, nhưng thực lực quốc gia rất mạnh và sử dụng chữ Nhật rất thịnh hành, ở khu vực Sơn Đông nước Chu gần với nước Tề, Lỗ, đã từng nhiều lần tham dự vào liên minh và chiến tranh của các quốc gia, và xuất binh đánh chiếm các quốc gia gần đó.

Vào thời Chiến quốc thì bị nước Sở tiêu diệt.

Nước Tiểu Chu - còn gọi là Tiểu Chu Lâu.

Tước Tử.

Vốn là được tách ra từ nước Chu.

Được phong làm chư hầu sau khi Chu Văn Vương tiêu diệt nhà Thương, vua nước Chu là người tộc Di Phụ Nhan (là con cháu đời thứ năm của vua Hiệp) cũng được phong tước Tử, phong làm nước chư hầu gọi là Chu, thủ đô là ở Nghê (nay ở phía Đông Nam huyện Đằng Châu).

Hậu duệ của ông đã từng có quan hệ gần gũi và giúp đỡ triều đình Tề Hoàn Công, nên đã phong cho ở đất Nghê, vì được tách ra từ đất Chu nên gọi là Tiểu Chu.

Và có quan hệ rất mật thiết với nước Lỗ.

Vào thời Chiến Quốc thì bị nước Sở tiêu diệt.

Bảy, nước họ Vân.

Tương truyền họ Vân là hậu duệ của Đế Cao Tân chính là Hoả Chính Chúc Dung.

Có nước Bức Dương, nước Vũ, nước Di, nước Hàn.

Nước Bức Dương - cũng là Phó Dương.

Tước Tử.

Ở phía Nam thành phố Tảo Trang.

Là nước lân cận với nước Chu, Tiểu Chu.

Chu vi khu di tích thành cổ rộng 9 dặm, nền móng to và rộng.

Vào năm thứ 10 Lỗ Tương Công (năm 563 trước công nguyên) bị Tấn Điệu Nghiệp Đoàn liên kết với nước Tống, Lỗ tấn công tiêu diệt, lãnh thổ sát nhập vào nước Tống, còn con cháu họ xa của họ phải đi tới huyện Hoắc Nhân nước Tấn sinh sống (nay là huyện Đông Giao - Phồn Trĩ - Sơn Tây).

Nước Vũ - tước Tử.

Ở phía Bắc thành phố Lâm Nghi hiện nay.

Vào năm Lỗ Chiêu Công thứ 18 (năm 524 trước công nguyên) người nước Chu tập kích vào nước Vũ, nước Vũ bị nước Chu cướp mất.

Năm sau, nước Vũ lấy hôn nhân quốc gia liên kết với nước Tống đánh Chu, làm cho nước Chu bị nước Vũ bắt giữ, sát nhập vào nước Vũ.

Cuối cùng sát nhập vào nước Lỗ.

Nước Di (sau này còn gọi là Tử) - tước Bá.

Thành cổ Tráng Vũ ở 60 dặm về phía Tây thành phố Tức Mặc.

Đồ cổ còn lại có Di Bá Quỹ.

Nước Hàn - là một đại bộ tộc của nhà Hạ.

Ở khu Hàn Đình thành phố Duy Phường.

Hàn Trác được xuất phát từ Thử.

Tám, nước họ Quỳ.

Tương truyền họ Quỳ này là hậu duệ của vua Ngu Thuấn khi đó.

Có nước Toại, nước Tề.

Nước Toại - còn gọi là nước Tuỵ, ở phía Nam thành phố Philadelphia.

Năm 681 trước công nguyên bị nước Tề tiêu diệt.

Nước Tề - lúc ấy chính là họ Điền ở nước Tề vào thời Chiến Quốc.

Năm 386 trước công nguyên họ Điền là đại thần của nước Tề và được Chu Vương phong thành chư hầu, triệt để thay thế chính quyền họ Khương, nhưng vẫn dùng tên "Tề", vẫn ở Lâm Truy.

Nước Tề là một trong bảy nước mạnh nhất thời Chiến Quốc, từng đánh bại nước Ngụy tiêu diệt nước Tống, giằng co trong thời gian với nước Tần, nhiều lần tồn tại trong tình hình thời Chiến quốc.

Vào năm 17 Tề Mân Vương (năm 284 trước công nguyên) các nước Yến, Tấn, Tần liên kết với nhau tấn công nước Tề, nước Yến đem Lạc Nghị dẫn đầu phá Truy Lâm, từ đó về sau thực lực quốc gia dần dần suy yếu.

Vào năm 45 Tề Vương Kiên (năm 221 trước cao nguyên), cuối cùng bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt.

Chín, nước họ Diêu.

Họ Diêu cũng chính là hậu duệ của vua Thuấn vào lúc đó.

Nước Mân - tức là Hôn.

Là một đại tộc quốc gia nước Hạ.

Ở nơi 25 km về phía Đông Bắc huyện Kim Hương, Hôn là tên cũ của thành Phụ. 《 tả truyện · chiêu công tứ niên 》: "Hạ kiệt vi nhưng chi hội, hữu hôn chi."

Lại trong《 chiêu công thập nhất niên 》: "Kiệt khắc hữu hôn, dĩ vong kỳ quốc."

Mười, nước họ Tự.

Tự họ là truyện tự của nhà Hạ triều đại Ngu.

Có nước Khởi, nước Tằng, nước Châm Quán, nước Châm Tầm.

Nước Khởi - tước Bá.

Nước Khởi được lập vào khoảng thời nhà Thương.

Sau khi Chu Vũ Vương diệt Thương, hậu duệ của vua Vũ nhà Hạ, phong Đông Lâu Công cho họ Khởi, nhưng được phong lại một lần nữa, cho nên vẫn gọi là Hạ.

Thủ đô ban đầu là Ung Khâu (ở huyện Khởi tỉnh Hà Nam).

Sau khi bị quân Hoài Di uy hiếp, cuối thời kì Tây Chu thì bắt đầu di lên hướng Bắc, hoặc có thể coi là thành phố Tân Thái hiện nay.

Khi Khởi Thành Công (năm 654-637 trước công nguyên) trị vì được Tề Hoàn Công giúp đỡ, dời đô đến Duyên Lăng (nay ở phía Đông Nam huyện Xương Lạc).

Khi Khởi Văn Công trị vị (năm 549-536 trước công nguyên) lại dời đô đến Thuần Vu.

Những năm đầu Khởi Giản Công trị vị (năm 445 trước công nguyên) bị Sở Huệ Vương dẫn quân tiêu diệt.

Những khí cụ truyền lại đời sau có Khởi Bác Đỉnh, Khởi Bác Đậu Đẳng.

Nước Tằng (còn gọi là Tăng) - tước Tử.

Cổ thành hiện nay ở phía Đông thành phố Tảo Trang, Sảo Bắc huyện Thương Sơn.

Có một lần đã từng là nước chư hầu của nước Lỗ.

Vào năm Lỗ Tương Công thứ 6 (năm 567 trước công nguyên), thì bị nước Cử tiêu diệt, vào năm Chiêu Công thứ 4 (năm 538 trước công nguyên) nước Lỗ đoạt được lãnh thổ của họ.

Cuối cùng lại thuộc về nước Tề.

Nước Châm Quán - là một đại bộ tộc quốc gia nhà Hạ.

Ở phía Đông Bắc huyện Thọ Quang.

Hoàng đế nước Hạ đã từng sống ở đây.

Cuối cùng bị con trai của Hàn Trạc tấn công tiêu diệt.

Nước Châm Tầm - là đại bộ tộc quốc gia nước Hạ.

Ở phía Đông Nam thành phố Duy Phường hiện nay.

Hạ Thái Khang đã từng ở chỗ này.

Cuối cùng bị Hàn Kiêu tấn công tiêu diệt.

Mười một, nước họ Tử.

Tương truyền họ Tử khi đó là Khương Tổ Khế.

Nước Đàm - còn gọi là Chương.

Tước Tử.

Nay thành Đàm cũ ở phía Tây huyện Chương Khâu, đã từng khai quật được di tích trước Kháng Chiến.

Khi mà có một lối đi ở phía Đông Tây nước Tề, năm 684 trước công nguyên bị nước Tề mượn cớ tiêu diệt.

Mười hai, nước họ Yển.

Tương truyền họ Yển vào lúc đó là Cao Đào.

Nước Hữu Cách - đại bộ lạc quốc gia nước Hạ, ở phía Bắc thành phố Đức Châu.

Thái Khang mất nước, là một đại thần quý tộc nước Hạ chạy trốn đến tận đây, tập hợp thế lực còn sót lại, viện trợ Thiểu Khang khôi phục lại quyền thống trị của Triều Hạ.

Mười ba, nước họ Doanh.

Nghe nói họ Doanh là hậu duệ của Bá Ích.

Nước Doanh - cũng gọi là Cái.

Thủ đô cũ ở phía Đông - Khúc Phụ, Bá Ích đã từng đã ở nơi này.

Sau này đã trở thành liên minh của nhà Ân.

Chu Thành Vương thì đi theo Thương Trụ Vương còn con trai của Vũ Canh phản loạn, chống lại triều nhà Chu, cuối cùng bị nhà Chu tiêu diệt, họ sát nhập vào nước Lỗ.

Mười bốn, nước họ Tất.

Tương truyền họ Tất là Phòng Phong Chi vào khi ấy.

Nước Sưu Man - Trường Địch Nhất Chi.

Nhà Tây Chu hoạt động trong biên giới phía Bắc - Sơn Đông thành phố Tế Nam từ thời Xuân Thu cho tới bây giờ, rất có thể là bộ lạc ở gần biên giới trải qua từng giai đoạn của quốc gia.

Mười lăm, nước Đông Di.

Đông Di thời xa xưa là một dân tộc xưa hoạt động ở khu vực Sơn Đông, cuối cùng họ cùng với tộc Hoa Hạ hợp nhất lại.

Có nước Giới, nước Căn Mâu.

Nước Giới - ở phía Tây Nam thành phố Giao Châu hiện nay.

Vua của bọn họ Cát Lô đã từng bái kiến Lỗ Hi Công, cũng đi theo Sư Viễn Tập ở thủ đô nước Tống.

Nước Căn Mâu - là một nước chư hầu của nước Lỗ, nay là ở phía Nam huyện Nghi Thuỷ hiện nay.

Năm Lỗ Tuyên Công thứ 9 (năm 600 trước công nguyên), thì bị nước Lỗ đánh chiếm.

Mười sáu, chưa biết rõ là quốc gia họ tổ là gì.

Nước Quách - tước Bá, mà hiện nay là ở phía Đông Bắc thành phố Liêu Thành.

Tồn tại từ thời Tây Chu cho tới gian đoạn đầu thời Xuân Thu.

Diệt vong vào khoảng triều Tề Hoàn Công trước đây.

Có rất nhiều đồ vật truyền lại đời sau.

Nước Ô Dư Khâu - hoặc Tác Dư Khâu.

Ở khu vực thành phố Nghi Lâm, cũng là ở huyện Chương Khâu.

Vào năm Lỗ Trang Công thứ hai (năm 692 trước công nguyên) đã từng bị nước Lỗ công phạt.

Nước Mâu - phong tước Tử.

Kinh đô cũ của nước Mâu ở 20 dặm về phía Đông thành phố Lai Vu.

Là một nước chư hầu của nước Lỗ, kết thông gia cùng với nước Lỗ.

Vua của bọn họ đã từng bái kiến Lỗ Hoàn Công.

Nước Chuyên - nước chư hầu của nước Lỗ.

Ở hơn 30 dặm về phía Đông Bắc thành phố Đàm Thành.

Vào năm Lỗ Thành Công thứ 6 (năm 585 trước công nguyên) bị nước Lỗ tiêu diệt.

Nước Tân.

Là một bộ lạc quốc gia của thời Hạ, Thương, ở phía Bắc huyện Tào.

Cùng với Thương Thang kết thông gia.

Y Duẫn chính là xuất phát từ nước Thử.

Nước Bồ Cô - cũng gọi là Bặc Cô, Bạc Cô.

Phía Đông Nam huyện Bác Hưng thành phố Tân Châu hiện nay.

Khi Chu Thành Vương lên ngôi, bởi vì tham gia vào cuộc phản loạn Vũ Canh và Đông Di, bị Chu Công tiêu diệt, sát nhập cùng với đất Tề.

── trích từ Lão Dao 《 Sơn Đông cảnh nội quốc gia cổ 》
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 33: Danh sách đội khảo cổ Tây Sa


Chương 33: Danh sách đội khảo cổ Tây Sa ( Bút ký Văn Cẩm )

Editor😛hượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Quyển bút ký tìm được ở trên thuyền quỷ còn phải tiếp tục nghiên cứu, Tam thúc luôn có thói quen viết bút ký, hơn nữa là bất kì chuyện tình gì cũng rất nghiêm túc, nhưng mà sau khi tôi xem nội dung trong quyển bút ký thì, đã quá mức nghiêm túc cẩn thận, quyển bút ký này có thể là trong lúc Tam thúc đang giám sát Văn Cẩm ghi lại. (npfans chú: Trong một phiên bản nhà xuất bản Đài Châu có nội dung là "Văn Cẩm luôn có thói quen viết bút ký, quyển bút ký cô ấy để lại trên thuyền quỷ, vẫn còn phải tiếp tục nghiên cứu." )

Nội dung của bút ký:

Bố trí khu vực khảo cổ dưới đáy biển

Tổng cộng có bảy khu vực, đồ gốm rải rác trong khu vực rộng khoảng 3000 mét vuông, vị trí thuyền chìm nằm cách trung tâm bãi đá ngầm 30 mét.

Ngày đầu tiên

Ở điều kiện dưới đáy biển như thế này, các biện pháp khảo cổ truyền thống hoàn toàn không thể sử dụng được, chúng tôi chỉ có thể sử dụng biện pháp nghiên cứu tự mình sáng tạo ra.

Tuy rằng hoàn cảnh của đại dương và lục địa rõ ràng là rất khác nhau, thế nhưng các biện pháp được sử dụng vẫn là *trăm sông đổ về một biển*.

Hiện tại không thể xác định được thứ bị chôn vùi dưới đáy biển kia có hình dạng và kích thước như thế nào, bước đầu tiên cần phải sử dụng xẻng Lạc Dương, để thăm dò đại khái khu vực đó rồi mới có thể khẳng định tiếp được.

Ở dưới đáy biển không giống như trên mặt đất, hiệu quả sử dụng cụ thể ra sao vẫn không được rõ ràng lắm, nhưng tôi cảm thấy vấn đề cũng không quá lớn.

Đồ gốm vớt lên được hôm trước, nhất định là vào thời kì Vĩnh Lạc, đó là một tin tức có thể khích lệ lòng người.

Vậy số đồ gốm này, dựa theo vị trí bị chìm thì thấy, chúng tôi đoán chừng là đến từ lò gốm Cảnh Đức Trấn Quan, lấy kiểu dáng Thanh Hoa chỉ vàng làm chủ, bộ phận chôn sâu ở trong cát biển, được bảo tồn rất hoàn hảo.

Dựa theo kiểu dáng của những đồ sứ này, chắc là vận chuyển đi Manila, rồi đến địa điểm cuối cùng là Mêhicô.

Nếu tôi phán đoán chính xác, vậy thì chắc chắn chiếc thuyền chìm này chủ yếu là chở hàng tơ lụa.

Chỉ tiếc là, ở trong môi trường nước biển chúng tôi vốn không có hy vọng tìm được dấu vết của hàng tơ lụa còn sót lại cho đến bây giờ.

Ngày thứ hai

Sử dụng xẻng Lạc Dương gặp một chút vấn đề, làm việc ở dưới nước cần nhiều sức lực hơn nữa, bởi vì vốn không thể sử dụng kết hợp với búa gỗ được, nên chúng tôi phải sử dụng một loại đá ở dưới biển, con hàu rất sắc bén, làm tay nhiều người bị thương.

Sử dụng xẻng Lạc Dương, ở dưới vùng nước sâu mà cũng không phải nơi đặc biệt sâu, thì có thể đề nghị kết hợp với trên thuyền làm việc, ở trên thuyền hai người, dưới nước một người, như vậy hiệu quả sẽ rất cao, còn nếu ở vùng nước sâu hơn, thì nên đề xuất với bọn họ sử dụng máy móc để làm việc.

Bởi vì với điều kiện ở dưới nước, tác dụng quan trọng nhất của xẻng Lạc Dương cũng chỉ là để đánh giá thành phần địa chất của cát dưới đáy biển, để đưa ra "Vấn đề khu vực" và xác định được ranh giới cho phép để giúp công việc khảo sát được tiến hành hiệu quả hơn, cho nên hoàn toàn có thể đổi lại sử dụng mũi khoan địa chất.

Chúng tôi chỉ cần quan sát mẫu vật mũi khoan mang về là đã có thể đánh giá sơ sơ được thành phần địa chất dưới đáy biển rồi.

Nếu như dưới đáy biển có thuyền chìm, sẽ có thành phần của gỗ bị vôi hoá hoặc là san hô hóa.

Và khác với mặt đất là, chúng tôi không cần căn cứ vào tình hình của gỗ để phán đoán niên đại của chiếc thuyền chìm này.

Ở giai đoạn hiện tại, trong nước không người nào có năng lực và của cải có thể hoàn toàn bảo vệ hoặc khai quật được di tích thuyền chìm dưới đáy biển.

Hơn nữa, điều khiến cho mọi người bất ngờ nhất chính là, sau khi thăm dò thì hoàn toàn không phải là hình thuyền, mà là đổi thành hình chữ "Thổ", vật thể ở dưới đáy biển lại đổi thành một hình chữ "Thổ" cứng rắn, kích cỡ khác thường, ở nơi này cách xa vùng duyên hải cũng sẽ không thể phát hiện một cái nền như vậy, vậy thì, vậy thứ to lớn chôn phía dưới lớp cát biển kia là cái gì chứ?

Tạm thời chúng tôi cũng chưa dám đưa ra kết luận, chẳng qua tôi có một linh cảm mơ hồ, nếu đúng như tôi dự đoán, sự tình thực sự rất thú vị.

Ngày thứ ba

Những trang bị của đội khảo cổ mang theo ở trong nước biển cơ bản hoàn toàn không thể phát huy tác dụng.

Mảnh vải bố quá rộng khi bắt đầu di chuyển dưới nước sẽ làm cho cái cọc đánh dấu được cố định ở đáy biển dấu kéo ra, cuối cùng vẫn phải sử dụng dây thừng mỏ neo trên thuyền cá.

Sau này đi khảo sát dưới biển, cần phải mang theo trang bị chuyên dụng để làm việc ở dưới nước.

Sợi dây neo vì bị thấm nước, ở dưới nước trọng lượng thực sự rất nặng, không dễ bị sóng nước kéo đi, có thể một sợi dây thường neo thuyền khác tương tự bằng chất liệu gỗ, có sơn màu sắc rõ ràng, để ở trên thuyền có thể quan sát dưới đáy nước tốt hơn.

Sau khi thông qua hình dạng sợi dây cuối cùng cũng xác định được hình dáng, tôi có thể khẳng định, đây là một tòa cổ mộ hải táng rất lớn, quy mô của nó hoàn toàn không thể đoán được, hơn nữa nằm ở một nơi cách xa vùng duyên hải như vậy, vậy thì đây là một của ai?

Ngày thứ tứ

Từ trong một mảnh gỗ mẫu vật được lấy dưới đáy biển, phát hiện được đấu vết của lưới đánh cá và tro bui lẫn lộn với đất nhão, đây là thuyền đánh cá dùng để niêm phong thân tàu và dính lại các khe hở.

Nói vậy thì, cổ mộ đã được xử lý để hoàn toàn phong kín lại rồi, thì rất có khả năng bên trong cổ mộ dưới biển kia, vẫn sẽ còn không khí.

Mà có khả năng đang có không khí nhất là nằm ở, hai điểm A và B, bởi vì hai cái phòng này tương đối nhỏ hơn, hơn nữa không gian cũng khá độc lập.

Vấn đề lớn nhất lúc này, là làm sao có thể tiếp cận được trong điều kiện dưới nước, đi vào trong cổ mộ mà không phá hỏng không gian có không khí được phong kín đây?

Muốn thực hiện được một chức năng truyền thống có tác dụng như vậy, cần phải có một khoang thuyền trống bí mật, e rằng chúng tôi phải đục một cái lỗ trên chiếc thuyền chìm này.

Vậy thì phải làm công việc của thuyền trưởng.

Ngày thứ năm

Ngày 21 tháng 7, chúng tôi chuẩn bị lần đầu tiên đi vào cổ mộ dưới đáy biển, thông đạo đi vào tôi đã tìm được, sau khi nghĩ thông suốt sau liền hiểu được, cổ mộ này thực ra cũng không quá phức tạp.

Ngày 24 tháng 7, lần đầu chúng tôi đi vào trong, phát hiện bên trong cổ mộ có hiện tượng kỳ quái, xem ra, cổ mộ này cũng không " Sạch sẽ"

Danh sách thành viên đội khảo cổ Tây Sa:

Họ tên Giới tính

Ngô Tam Tỉnh Nam

Trần Văn Cẩm Nữ

Trương Khởi Linh Nam

Giải Liên Hoàn Nam

Lý Tứ Địa Nam

Tề Vũ Nam

Hoắc Linh Nữ

Thi thể người đàn ông được đem trở về

Người không biết thứ 2 Nam

Người không biết thứ 3 Nam

Người không biết thứ 4 Nữ
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 34: Một số tài liệu khác có liên quan


Chương 34: Một số tài liệu khác có liên quan

Editor: Phượng Vỹ

Beta: tieudieututai

Thuật kì môn độn giáp

Nghỉ môn, Sinh môn, Thương môn, Đỗ môn, Cảnh môn, Tử môn, Kinh môn, Khai môn đồ

Kỳ môn độn giáp thuật lại:

"Kỳ môn độn giáp" có ý nghĩa sâu xa gì?

Chính là do "Kỳ", "Môn", "Độn giáp" ba khái niệm tạo thành."

Kỳ" là Ất, Bính, Đinh là ba Kỳ.

"Môn" là Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai gồm tám Môn.

"Độn" có nghĩa là ẩn dấu, "Giáp" là chỉ Lục Giáp, chính là Giáp Tử, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thần, Giáp Dần, "Độn Giáp" là ở giữa Thiên Can tôn quý nhất, nó ẩn mà cũng không hiện, ẩn trốn ở bên dưới Lục Nghi."

Lục nghi" chính là Mậu (ngôi thứ năm trong Thiên Can), Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Nguyên tắc của Độn chính là Giáp Tử và Lục Mậu, Giáp Tuất và Lục Kỷ, Giáp Thân và Lục Canh, Giáp Ngọ và Lục Tân, Giáp Thần và Lục Nhâm, Giáp Dần và Lục Quý.

Ngoài ra còn có phối hợp với Bồng, Nhậm, Xung, Phụ, Anh, Nhuế, Trụ, Tâm, Cầm Cửu Tinh.

Kỳ Môn Độn Giáp chiêm trắc chủ yếu chia thành Thiên, Môn, Địa Tam Bàn, Tượng Chinh Tam Tài.

Thiên Bàn Cửu Cung có chín ngôi sao, Trung Bàn Bát Cung (Trung Cung đặt ở Nhị Cung) Bố Bát Môn, địa bàn Bát Cung đại diện cho tám hướng, yên tĩnh bất động, trên địa bàn song song của Thiên Bàn, mỗi cung đều chia thành Cơ (Ất, Bính, Đinh) Nghi (Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý Lục Nghi).

Như vậy, căn cứ vào thời gian cụ thể, với Lục Nghi, Tam Cơ, Bát Môn, Cửu Tinh Bài Cục, dùng Chiêm Trắc để xem quan hệ của các sự vật, tính chất và trạng thái, hướng đi, lựa chọn để lựa chọn giờ lành cát phương, thì hợp thành một trong Môn trong văn hoá thần bí Trung Hoa — Kỳ Môn Độn Giáp. (hiểu chớt liền ớ)

Hai mặt nhân thân xà văn (phụ tương quan tranh minh hoạ)

Nhìn mấy thứ này, tôi rất hoài nghi đó có phải là người hay là đời sau của rắn hay không?

Ở trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, có một hiện tượng kỳ quái, và rắn có liên quan tới vô cùng nhiều thần linh, ở trong《 Sơn Hải Kinh 》ghi lại 454 nhân vật có 138 nhân vật có hình dạng liên quan đến rắn, trong đó những vị thần có thân rắn được nhắc tới là: Phục Hy, Nữ Oa, Hoàng Đế thậm chí cả Tây Vương Mẫu.

(Điều làm tôi đặc biệt biệt kinh ngạc nhất chính là, Tây Vương Mẫu được ghi chép lúc ban đầu trong đó, cũng là đầu người thân rắn, và có hình ảnh thuộc loại giống như Phục Hy Nữ Oa)

Dựa vào suy đoán hiện tại vậy hình tượng người đầu người thân rắn đều là do vật tổ của các bộ tộc được biến đổi mà ra, thế tức là từ hình mẫu của Tây Vương Mẫu biến đổi đầu người thân rắn đến đầu người thân báo, có phải là vì thuộc tính của bộ lạc Tây Vương Mẫu thay đổi hay không.

Có lẽ ban đầu Tây Vương Mẫu cũng là thành viên thuộc bộ tộc Phục Hy, rồi ở dưới tình hình nổi loạn tự mình lập bộ lạc nào đó, Tây Vương Mẫu đi thành lập chính quyền của riêng mình?

Cái này thì không thể nào biết được.

Rắn song thân, đại biểu cho cơ quan sinh dục của nam giới, một cái thật lớn, quả nhiên loại vật này vẫn là càng lớn càng tốt.

Có hai cái lớn như vậy thì tốt hơn.

Khả dĩ đả hồ điệp kết ngoạn nhi.

Xá Quốc

Vào thời cổ đại ở Thiểm Tây đến Hồ Bắc vào lúc đó cố một quốc gia cổ tên là " Xá Quốc ", quốc gia này tồn tại vào hai ngàn năm trước, rồi đột nhiên thì biến mất.

Rõ ràng đoạn lịch sử vào lúc đó của quốc gia này, lại xuất hiện lặt vặt trong không ít thẻ tre cổ, vào giai đoạn đầu nhà Tây Chu hình như đã từng trải qua một đoạn thời gian bỗng nhiên trở nên hưng thịnh, sau đó giai đoạn giữa nhà Tây Chu, lại đột nhiên im lặng biến mất, hình như là ở trong từ mười đến hai mươi năm, rồi lại nhanh chóng biến mất ở trong rừng rậm nguyên thuỷ.

Ở trong rất nhiều truyền thuyết đều có nhắc đến sự tồn tại của bọn họ, trong "Sơn Hải Kinh" cũng có ghi chép một lượng lớn, ngoài ra trong đó còn thường xuyên nhắc tới "Xà Quốc", chắc hẳn chính là quốc gia này, Xá chính là đồng âm của Xà (rắn), dân tộc này đem một loại người có mặt người và hai thân thể là rắn được xem như là thần linh, vì thế trên rất nhiều thứ trang sức, đều có hoa văn rắn hai thân.

Hiện nay những nhà nghiên cứu lịch sử của quốc gia người cổ đại này, phần lớn đều cho rằng, vậy "Xá Quốc" thần bí này chính là hậu duệ của "Hoa Tư cổ quốc" chia ra, đời trước của bọn họ khi đó có quan hệ mẫu hệ, quốc gia này lấy vật tổ là người mặt người hai thân rắn, chủ yếu nếu là vì "Hoa Tư cổ quốc" có truyền thuyết của "Phục Hy nhân diện xà thân".

Bởi vì những tài liệu này đều là đến từ trong sách cổ và tài liệu khai quật, cho nên quốc gia này có thực sự tồn tại hay không, giới khoa học vẫn luôn có tranh cãi.
 
Ngô Tà Tư Gia Bút Ký (Ngoại Truyện Đạo Mộ Bút Ký)
Chương 35: Nước Đông Hạ


Chương 35: Nước Đông Hạ

Editor: tongminhngoc

Beta: tieudieututai

Tư liệu:

Trong sử sách rất ít nhắc tới bộ tộc Nữ Chân tồn tại ở Đông Hạ, quốc gia đó có thật, vào thời kỳ nhà Kim suy vong, để tìm cách phục hưng bộ tộc Nữ Chân, họ đã ly khai và trở thành quốc gia tự trị, tồn tại hơn bảy mươi năm.

Lãnh thổ trải dài từ cát lâm tới một phần lớn sông hắc long gian, từng cùng với Mông Cổ chia sẻ cống phầm từ Triều Tiên, xưng bá toàn bộ khu vực Liêu Đông*.

Lấy quốc hiệu ban đầu là Đại Chân, về sau đổi Thành Đông Hạ, sách sử Triều Tiên còn gọi là Đông Chân.

Liêu Đông: Liêu Đông (Trung văn giản thể: 辽东; Trung văn phồn thể: 遼東; bính âm:Liáodōng) dùng để chỉ khu vực ở phía đông của Liêu Hà, nay thuộc vùng phía đông và phía nam của tỉnh Liêu Ninhcùng khu vực phía đông nam của tỉnh Cát Lâm.

Thứ nhất, Bồ Tiên Vạn Nô

Đầu tiên, cần phải giới thiệu qua một chút về người thành lập ra quốc gia cổ đó- Bồ Tiên Vạn Nô, trong lịch sử Đông Bắc nước ta có đề cập tới đây là một nhân vật kiệt xuất, nhưng trong "Kim sử"*, "Nguyên sử"* thì lại không có truyền lại, chỉ có thể thấy được ở một vài "ghi chép", hoặc "giai thoại" thưa thớt là đề cập tới.

Có thể là những sử gia thời kỳ này còn định kiến với ông ta, coi là "nghịch tặc", "phản thần", xa rời thực tế sửa đổi lịch sử, tài liệu về sau không được trọn vẹn, từ đó tới mấy trăm năm sau trong " tân Nguyên sử"* "Nguyên thư" mới có thể bổ khuyết vào đó.

"Kim sử"*:Kim sử là một bộ sách lịch sử trong 24 bộ sách sử của Trung Quốc (Nhị thập tứ sử), doThoát Thoát biên soạn năm 1345.

Tổng cộng có 135 quyển và viết từ sự ra đời cho đến khi diệt vong của nhà Kim.

"Nguyên sử"*:Nguyên sử (tiếng Trung: 元史, bính âm: Yuán Shǐ) là một tác phẩm doTống Liêm (1310-1381) và một số quan lại khác phụng mệnh Minh Thái TổChu Nguyên Chương biên soạn năm 1370.

Do thời gian biên soạn ngắn, nên chất lượng Nguyên sử bị đánh giá là thấp nhất trong Nhị thập tứ sử.

Đến thời sau, Trung Quốc đã phải biên soạn bộ Tân Nguyên sử để sửa những sai sót của Nguyên sử.

Chú thích: nói như vậy cũng không rõ ràng, nếu ở "Kim sử" "Nguyên sử" các tài liệu về sau đều không trọn vẹn, vậy vì sao trong mấy trăm năm sau còn có thể bổ khuyết thêm giai thoại vào đó?

Nói vậy, các sự kiện được thêm vào phải chăng là hư cấu?

Nếu thế còn không chặt chẽ bằng những ghi chép tản mạn trước đó.

Ngoài ra, thành kiến của sử gia cũng rất khó hiểu, vì sử sách làm ra cái chính là để ghi lại mặt tốt mặt xấu, nguyên nhân mà lịch sử không ghi chép lại chỉ có duy nhất một điều, chính là nhân vật này không quan trọng.

Nếu quả thực là như vậy, ngược lại viết xuống những việc xấu chẳng phải sẽ khiến ông ta lưu tiếng ác muôn đời mới đúng.

Giai đoạn lịch sử này, chẳng hay là sử gia cho rằng không quan trọng, nên không muốn để lại bất kỳ một tư liệu nào, có muốn bịa đặt ra cũng không thể.

Bồ Tiên Vạn Nô, Nguyên quán là người Liêu, trước vẫn tồn tại hai trường phái đánh giá đối với ông ta: một là phản diện, cho rằng ông ta là một người đầy dã tâm, thân làm phản loạn, trong sử sách triều nhà Kim có nội chiến phân tranh, lực lượng chống quân Mông Cổ suy yếu, hẳn là có ý phê phán.

Hai là chấp nhận, tán thưởng ông ta là "Liêu Đông quái kiệt", thậm chí tiếng tăm của ông còn "sánh ngang A Cốt Đả"*.

Bởi tư liệu lịch sử bị khuyết thiếu nên tài liệu về thời kỳ này không được bảo tồn lại, mặc dù danh tính của nó không đồng nhất, có bản viết Hoàn Nhan Vạn Nô, Phu Hợp Nột, Phú Tiên Vạn Nô, Bố Hi Vạn Nô, Ngốc Châu Đại Thạch, Vạn Gia Nô, Dã Nô, Tiêu Vạn Nô, Vạn Túc Nô Đẳng.

"Phu Hợp", "Phú Tiên", "Bố Hi" và "Bồ Tiên" là biệt hiệu, "Nột" và "Vạn Nô" là tùy vào cách đọc.

"Hoàng Nhan" có thể là được vua Kim ban cho.

A Cốt Đả*: Kim Thái Tổ (chữ Hán: 金太祖, 1 tháng 8 năm 1068 - 19 tháng 9 năm 1123) là miếu hiệu của vịhoàng đế khai quốc của nhà Kim tronglịch sử Trung Hoa, trị vì từ ngày 28 tháng 1 năm 1115 cho đến ngày 19 tháng 9 năm 1123.

Tên thật của ông là Hoàn Nhan A Cốt Đả (chữ Hán: 完顏阿骨打, bính âm:Wanyan Aguda), có tên Hán là Hoàn Nhan Mân.

Ông là người sáng lập và là vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Kimtrong lịch sử Trung Quốc.

Chú thích: nói cách khác, lịch sử hiện tại ghi lại có thể là do vô số lần phát âm nhầm tên họ mà tập hợp lại.

Đây là điển hình của sai phạm trong sử sách, hay như hai người tên giống nhau thành ra lý giải làm cùng một người.

Ông ta xuất hiện lần đầu trong sử sách, ở chương Tông Thái năm thứ sáu (1206) của Kim sử, với Thượng cứu cục sứ ( Thượng cứu cục là chức ti ngự mã điều tập mục dưỡng ky cấu (chức này hiểu đơn giản là quản lý 😀 ), thứ bậc là "đi sứ", hàng ngũ phẩm) làm cánh phải Đô thống Hoàn Nhan Tái Bất trong trận chiến với quân Tống ("Kim sử" quyển 12 "chương tông kỷ tứ"; quyển 113 "hoàn nhan tái bất truyện"), Vạn Nô thần binh, phối hợp với Hoàn Nhan Tái Bất tiến công chính diện, thành công đánh tan chủ lực của nhà Tống do Hoàng Phủ Bân cùng mấy vạn kỵ binh giành thắng lợi lớn.

Vì người cầm quân bất tài nên Mông Cổ bại trận, quân cạn khí kiệt.

Cùng năm, Gia Luật Lưu Ca khởi binh phản Kim, dân tộc Khiết Đan khởi quân hưởng ứng.

Tới năm Ninh Nguyên (1213) ông ta thảo ra bình lộ chiêu thảo sứ, đóng quân yên ổn tại hàm bình (Liêu linh khai Nguyên).

Đánh trận Địch Cát Não Nhi( Liêu Ninh cạnh Xương Đồ), đại bại, Vệ Thiệu Vương* lần thứ hai khoan nhượng tha cho ông ta, giáng chức làm Bình lộ tuyên phủ sứ.

Năm Kim Tuyên Tông Trình Hữu thứ hai (1214), nhậm chức Liêu Đông tuyên phủ sứ, trở thành đại quan của đặc khu quân sự tối cao tỉnh Liêu Đông.

Cùng năm, phái Lưu Ca lần thứ hai đánh chiến Quy Nhơn (Bình Định, Việt Nam), do khinh địch mà đại bại, thoái lui tới Đông Kinh.

Vệ Thiệu Vương*(1168?-11 tháng 9,1213), tự là Hưng Thắng, húy Hoàn Nhan Doãn Tế, sau vì kiêng húy Hoàn Nhan Doãn Cung nên cải thành Hoàn Nhan Vĩnh Tế, là hoàng đế thứ 7 của nhà Kim, tại vị trong 5 năm (29/12/1208 - 11/9/1213)

Thứ hai, dựng nước xưng vương.

Năm 1214 Kim Tuyên Tông* chạy về phía Nam Kinh (Khai Phong), Trung Đô (Bắc Kinh) định trệ, Kim triều diệt vong kết cục đã định, vì giao thông đường bộ bị cắt đứt mà Liêu Đông trở thành một quốc gia thuộc địa nước ngoài, tình cảnh càng nguy nan, "triều Kim cai quản rất nghiêm, Vạn Nô không lấy làm sợ trong lòng không yên, nên khi nghe nói đã di giá về phía đông - Biện Khai Phong ( tỉnh Hà Nam), không có thì giờ gặp mà quay đầu lại nhìn chủ, vào lúc đang ngồi suy nghĩ đã tự tiện chiếm cứ dọc đường" ("Mông Ngột Nhĩ sử ký/ Bồ Tiên Vạn Nô truyện" ) lần thứ hai bại vào tay Lưu Ca khiến cho ông ta nhận ra rằng nhà Kim đã vĩnh viễn không thể phục hưng lại được, cho nên chỉ có thể thay đổi kế hoạch khác, xây dựng một sự nghiệp mới hoàn toàn tách biệt, có thể vừa vực dậy lòng dân, lại vừa thoát khỏi những quy định của nhà Kim.

Kim Tuyên Tông* (金宣宗) là một vị hoàng đế của nhà Kim tronglịch sử Trung Hoa.

Tên thật của ông làHoàn Nhan Ngô Đổ Bổ (完顏吾睹補), sau đổi thành Hoàn Nhan Tuần (完顏珣), sau lại đổi thành Hoàn Nhan Tòng Gia (完颜從嘉), cuối cùng lại đổi thành Hoàn Nhan Tuần.

Ông là vị hoàng đế thứ 8 trong số 10 vị hoàng đế của nhà Kim.

Hoàn Nhan Tuần trị vì từ năm 1213 đến năm 1224.

Các niên hiệu trong thời kỳ trị vì của ông là Trinh Hữu (1213-1217), Hưng Định (1217-1222), Nguyên Quang (1222-1223).

Miếu hiệu của ông là Kim Tuyên Tông.

Mùa xuânnăm Kim Tuyên Tông Trịnh Hựu thứ ba (1215), Vạn Nô phát động binh biến, chia làm hai đường, một đạo yểm trợ xuôi xuống phía làm là, một đạo chủ lực chạy lên phía bắc, nhằm đánh chiếm mục tiêu chiến lược là Thượng Kinh (Bắc Kinh), cấp tốc chiếm Liễu Hàm Bình, Đông Kinh, Thẩm Dương, rừng Đằng Châu, tiếp theo lại tiến công thần tốc vào phủ, đánh qua kinh thành.

Không lâu sau Lưu Ca nhân cơ hội tập kích Đông Kinh, lập quốc lấy tên "Liêu", vợ Vạn Nô là Lý Tiên Nga có thể là bị ép gả.

Nhưng Lưu Ca lại vô ý lưu lại quá lâu, cướp bóc một phen sau mới rời đi, Vạn Nô lúc đó đã có thể thu phục Đông Kinh,

Chú thích rằng: đáng thương thay Lý Tiên Nga, ép gả là một từ ngữ ám muội, chân thực như thế nào hẳn mọi người đều biết.

(Biết cái loằng ngoằng, lịch sử có ghi tên bà này đâu??????????)

Khởi binh lần thứ nhất, mặc dù đạt được "Thẩm Dương, rừng Gia Châu, thành công mục đích khắc chế người tài phò tá", nhưng không lâu sau lại vấp phải sự cản trở, sau đó phải quy phục tân ca, công khai hoạt động ,nghiêm trọng hơn là căn cứ ở Đông Kinh đã mất, trải qua mấy tháng giáo huấn kinh nghiệm, sử Vạn Nô nhận thức được cái danh nghĩa tuyên phủ sứ Liêu Đông kia không có bao nhiêu tác dụng, phải thay đổi quy chế, xât dựng lại một quốc gia mới phất cờ xưng vương.

Nặng về tinh thần dân tộc Nữ Chân, lại có thể tạo được nhuệ khí trong lòng tướng sĩ Liêu Đông, mục đích mua chuộc lòng dân.

Năm Ất Hợi (Công Nguyên năm 1215, năm Kim Tuyên Tông Trinh Hữu thứ ba), tháng mười, ở Đông Kinh lập lên một thủ đô đặt là Thiên Vương, quốc hiệu "Đại Chân",niên hiệu Thiên Thái, mưu cầu tộc Nữ Chân được phục hưng.

Chú thích rằng: từ đây có thể thấy được, cũng không có bao nhiêu tài năng quân sự, ngược lại đây là kiểu thừa loạn lạc mà chiếm tiện nghi của kẻ tiểu nhân, tại lúc đó muốn vơ vét cũng không có khả năng, cuối cùng không thể làm gì khác hơn là đành buông tay trước tất cả những Nguyên tắc hèn mọn.

Trong cái dã tâm của kẻ kiêu hùng cũng bao hàm cả điều đó, tất nhiên đối với tôi ông ta vẫn là một anh hùng, nhưng vào cái thời thế lúc bấy giờ, hào quan đó của ông ta chắc chỉ có thể phụ trợ cho sự vĩ đại của những người khác mà thôi.

Thứ ba, lý do đầu hàng Mông Cổ

Buổi sơ khai khi Đại Chân được thành lập, tình cảnh gian nan, Mông muội, Kim, Liêu bi cục diện tam quốc vây khốn, cách trở đường bộ liên lạc với bên ngoài.

Nam Liêu Đông và Đông Kim triều trở thành địch nhân gần nhất, trong lúc bị uy hiếp quẫn bách nhất, triều đình nhà Kim liền lấy lý do ân xá cho Liêu Đông mà thi hành sách lược phân tách, mưu đồ lung lạc và tan rã tâm lý quân sĩ, phá đổ từ bên trong, lại thêm điều chỉnh Liêu Đông Bộ Thư, "chiếu dụ chư tướng Liêu Đông cùng chí hướng".

Mà nội bộ Liêu đang tự chém giết lẫn nhau, lại di dời sang địa phận Liêu Tây, Lưu Ca liền đầu hàng Mông Cổ, trở thành một nước thuộc địa.

Mặc dù bị uy hiếp nhưng địa vị đã chuyển xuống thứ yếu.

Vì thế đối với Đại Chân mà nói, địch nhân nguy hiểm nhất chính là quân tiên phong tới từ Mông Cổ.

Nếu như vẫn giữ thái độ cứng rắn thì chắc chắn sẽ bại vong, nếu giả hàng thì còn có thể bảo tồn thực lực, nằm im chờ thời.

Vì vậy,đương lúc tháng mười năm 1216 liền gửi thư xin hàng, nhận tử thiếp kha làm người cai quản.

Chú thích: quả nhiên.

Thứ tư, Đông chuyển thành Hạ

Bồ Tiên Vạn Nô mất cảnh giác với Mông Cổ, buông lỏng hoàn toàn trong phòng bị, sau một thời gian đầu hàng không lâu liền thừa cơ "đem hơn mười vạn người, trốn ra hải đảo" (" Nguyên sử, mộc hoa lê truyện"), giả vờ co quắp nằm im, thái độ vô ý quay đầu trở lại, tiến hành một cuộc di dời quân sự tầm cỡ, bảo tồn, dưỡng sức thuộc hạ.

Tháng 2 năm 1217 Liêu Đông thống soái quân Mông Mộc Hoa Lê chuyển hướng nam phạt, tiến hành âm mưu thông tính Trung Nguyên, không để lại binh lực dự phòng tương ứng.

Vạn Nô cho rằng cơ hội đã tới, lập tức khởi binh giết chết giám quân Da Luật Niết Nhi Kha, lên đường đi Đông Thiên, đại khái là hai hướng nam bắc đồng thời cũng tiến hành.

Trước vẫn là liên tục chiến đấu ở các chiến trường xung quanh hạ du Lục Giang, tháng tư công phá doanh trại đại phu, Vạn Nô dẫn theo quân chủ lực chạy lên bắc thượng tiến công phủ Long An (Cát Lâm, Nông An), Kim Liêu, quan phủ Bắc Kinh chức tuyên phủ sứ kiêm tả phó Nguyên soái bồ sát bỏ thành tháo chạy tới Biện Kinh (Khai Phong).

Lát sau quân tiến vào thủ phủ Bắc Kinh, một đường yên bình thông suốt, đốt miếu thờ vua, bắt Nguyên soái Thừa Sung, đoạt được thành Bắc Kinh, giết thủ quân đồn trú Hãn Lão Nhi, nhưng Thừa Sung khi đó vẫn cố thủ, về sau được thêm viện binh, không thành công.

Vì vậy quân rút về hạt Lại Lộ, rồi nhanh chóng tiến về giáp danh Tần Lộ.

Chủ lực vào tháng 12 năm 1218 trên cơ bản đã thành công chiếm được Đông Thiên.

Nhưng thế lực còn sót lại tiếp tục kế thừa những hoạt động ở Nam Liêu Đông trong một khoảng thời gian.

Tới năm 1217, giữa tháng bảy, lần thứ hai độc lập sửa quốc hiệu thành Đông Hạ, niên hiệu vẫn giữ là Thiên Thái, lập thủ đô Nguyên Thành (địa danh này ở nhiều bản ghi không đồng nhất.).

Cũng phải nói quốc hiệu ban đầu là Đại Hạ, mà nơi đây là ở Đông phương, tên như vậy là để phân biệt với Tây Hạ.

Sử sách Triều Tiên gọi là Đông Chân.

Chú thích: đoạn này thời gian chiến tranh chênh lệch, cũng tốt, rõ ràng là năng lực của Bồ Tiên Vạn Nô khá đầy đủ, nếu như phát triển tốt, lúc này đây có thể tạm thời nhàn hạ, lợi dụng tốt tài nguyên cấp tốc củng cố phòng thủ Thành Đô, mở rộng quân đội, tới khi các thế lực khác kịp hành động, xem chừng đã chậm, một địch nhân cường đại đã xuất hiện.

Thứ năm, uy chấn Liêu Đông

Đông Hạ lập quốc, triều đình nhà Kim chọn Bồ Sát Ngũ Cân làm thượng thư tỉnh Liêu Đông, bố trí lại Bắc Kinh, trong khi Liêu Đông cai trị vùng đất Vu gia đã ra tay tàn sát dã man, nhưng quân Kim bấy giờ không thể nhanh chóng trở lại, gian nan chống đỡ tình thế nguy hiểm, làm thế nào có thể chiến đấu với sức mạnh của nước Đông Hạ kia?

Tại thời điểm này, Mông Cổ là lực lượng quân sự của Tây Hạ, còn với nhà Kim tại Trung Nguyên, Liêu Đông quá bận rộn để phân chia lực lượng của mình cho sự phát triển và mở rộng của Đông Hạ.

Chỉ với thời gian một năm, thông qua phát triển lực lượng quân sự, đạt được thế lực tầm cỡ, so với sự biếng nhác của quân Kim, liên tiếp thay đổi và phát triển khu vực, ranh giới của phạm vi mở rộng tới vùng Bột Hải (vùng biển giữa bán đảo Sơn Đông và bán đảo Liêu Đông Trung Quốc), phía tây bắc của thành phố lan ra tận hồ Lý Cải Thành(Hắc Long Giang, Y Lan), tây tới Trương Quải Tài Linh, nam tới Triều Tiên Thanh Châu (Triều Tiên khu vực Bắc Nhất Đài), mở rộng nhất là phía nam từ phía tây kéo dài tới phía đông sát với Triều Tiên, phía bắc chạy đến hạ du Hắc Long Giang, khu vực Hắc Long Giang ở hạ lưu Y Lan, từ phía tây đến phía nam của trung tâm Cát Lâm, trong khu vực Hắc Long Giang (bao gồm cả bên trong thành Bắc Kinh), phía đông tới vùng biển Nhật Bản.

Da Luật Lưu Ca khởi binh, tất cả đều là tự lực kêu gọi, lại đầu hàng Mông Cổ, thủ hạ phản bội, một phần trong số chúng đã xâm nhập vào lãnh thổ của Triều Tiên, đe dọa nhà vua, Triều Tiên hy vọng Mông Cổ, Đông Hạ " dẫn quân đến cứu viện, quét đi lũ phản tặc" ("Triều Tiên sử").

Năm 1218 Thành Cát Tư Hãn phái Nguyên soái Hắc Chân và Trát Lạt, dẫn theo mười ngàn binh sĩ tiến quân sang tương trợ Triều Tiên, theo lời đề nghị tới thành Gian Đông, tháng giêng xuân 1219, thủ lĩnh đối phương Hảm Xá tự tử, trong khi những người còn lại ra hàng, dẹp loạn thành công.

Triều Tiên là tỏ ý cảm tạ nên hằng năm đem cống phẩm tới hai nước, hai nước cũng đã đồng ý phái đại sứ đến Triều Tiên thu lạp cống phẩm.

Kể từ đó, Mông Cổ phái người tới Triều Tiên đốc thúc và giám sát giao nộp đốc cống phẩm, cũng cho sứ thần giao thiệp qua lại với biên giới Đông Hạ, thân nhau như người một nhà.

Nguyên soái Mông Cổ Cáp Chân Tằng đã từng nói với Triều Tiên: "cùng nhau giao hảo, trước là tới lễ hoàng đế Mông Cổ, sau là tới lễ hoàng đế Vạn Nô "(" Triều Tiên sử"), điều đó chỉ ra rằng Mông Cổ đã công nhận Bồ Tiên Vạn Nô tự xưng đế .

Đông Hạ gửi phái viên bôn ba ngàn dặm tới triệu kiến Thành Cát Tư Hãn, thể hiện phép lịch sự.

Điều này đã duy trì được mối quan hệ thân thiết cho đến năm 1224, sáu năm trước.

Chú thích: thật không may, bị các chính sách dụ dỗ của Mông Cổ che mắt.

Lúc này Vạn Nô vương sợ không dám nghĩ tới mình và Mông Cổ nếu đối đầu tình hình sẽ như thế nào, mọi sự diễn ra ông ta đều chỉ muốn duy trì ở thế cân bằng.

Tuy nhiên, Triều Tiên thời điểm đó không phải là đồng minh đáng tin cậy, dưới một Mông Cổ cường hãn như vậy, Triều Tiên lập trường cũng không vững chắc, cục diện cũng trở lên tiến thoái lưỡng nan.

Thứ sáu Đông Hạ sụp đổ

Tuy nhiên, quan hệ hữu nghị giữa Đông Hạ và Mông Cổ chỉ là thiện chí trên bề mặt, thỏa hiệp chính trị tạm thời, thực tế chỉ là lừa bịp, đấu đá nội bộ, là để giành chiến thắng, áp bức Triều Tiên để cô lập đối phương.

Đối mặt với Mông Cổ cường đại, , nhưng vẫn tiếp tục gửi quân sang xâm nhập cướp bóc biên giới đối phương, dẫn đến việc hai nước thường nổ ra chiến tranh quy mô nhỏ, tiêu hao lực lượng quốc gia, nhưng không đạt được thêm điều gì.

Năm 1223 Mộc Hoa Lê* chiếm Trung Nguyên không thành, chết ở Sơn Tây.

Trong năm 1224 quan hệ Đông Hạ với Mông Cổ xuất hiện của bước ngoặt mới, chỉ trong một tháng, Đông Hạ gửi Triều Tiên hai công văn: "thứ nhất là:" Thành Cát Tư Hãn Mông Cổ , lão tướng ở nơi xa xôi, không biết có còn tại thế, Ngoa Xích Hãn tham bạo bất nhân, cắt đứt mối hữu hảo ngày trước'; thứ hai là: "bản quốc ở Thanh Châu, quý quốc ở Định Châu, đều tự có lập trường, buôn bán như trước kia" ("Triều Tiên sử").

Từ đó, sứ giả Mông Cổ không còn thông qua biên giới Đông Hạ.

Mối quan hệ song phương thù địch, Đông Hạ do tính sai tình hình nên chịu trách nhiệm chính, nhưng hoàng đế Mông Cổ Oát Xích Cân (Ngoa Xích Hãn) tàn bạo bất nhân, lại đối với Đông Hạ cướp cống phẩm bừa bãi, cũng là một trong những nguyên nhân.

Quan hệ hai nước tan vỡ, nhưng chưa vì vậy mà dẫn tới gay gắt.

Năm 1227 Thành Cát Tư Hãn chết, Oa Khoát Thai tại vị, trải qua ba trận chiến lớn, chủ lực nhà Kim diệt vong, Mông Cổ thay đổi chính sách đối ngoại mở rộng, bắt đầu từ các lực lượng quân sự lớn đông bắc, các mối quan hệ dần căng thẳng.

Trong tháng hai năm 1233, Nguyên Thái Tông "chiếu chư vua, đề nghị phạt Vạn Nô, toại mệnh hoàng tử Quý Do* (tức là: Nguyên Định Tông).

Và chư vương Án Xích Đài, dẫn cánh tả quân dẹp loạn "(" Nguyên sử ") cũng như sự tham gia của nhiều người, quan hệ như sau:

Mộc Hoa Lê* (Muqali, tên theo chữ Hán: 木華黎) (1170-1223), là một trong tứ kiệt (hay tứ dũng) của Thành Cát Tư Hãn, gồm có bốn chiến binh có sức mạnh và đồng thời là bốn vị chiến tướng anh dũng, thiện chiến trên chiến trường là Xích Lão Ôn, Bác Nhĩ Truật, Bác Nhĩ Hốtvà Mộc Hoa Lê.

Ông là một trong những vị tướng vĩ đại nhất đã theo Thành Cát Tư Hãn chinh chiến đông tây đặc biệt là ông đã phò tá cho Thành Cát Tư Hãn thống nhất đất nước, và đảm nhiệm vị trí chủ lực trong cuộc chinh phạt nhà Kim.

Ông là một người tham gia trong nhiều trận đánh ở Thành Cát Tư Hãn thống nhất vùng Trung Á vàĐông Á.

Đại hãn Quý Do*(tiếng Mông Cổ: Гүюг хаан, Güyük qaγan; chữ Hán: 貴由; 1206 - 1248) làKhả hãn thứ 3 của Đế quốc Mông Cổ, trị vì từ năm 1246 - 1248.

Sau này khi người em họ Hốt Tất Liệt thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, đã truy thụy hiệu cho Quý Do là Nguyên Định Tông.

(nhất) hoàng tử Quý Do

(1) quốc vương Tháp Tư

a, Thạch Mạt Tra Lạt

b, Thạch Mạt Bột Điệt Nhĩ

(2) Ngột Lương Hợp Thai

(nhị) chư vương Án Xích Đài (Đài Châu- Chiết Giang Trung Quốc) Di Lạt Mãi Nô (quân cánh tả)

(tam) Vương Vinh Tổ (trước "tiến quân sang Triều Tiên ", sau "tiến thảo Vạn Nô")

Đội quân Mông Cổ qua Triều Tiên, tiến vào nội quốc Đông Hạ.

Tháng 9 năm 1233 bao vây Nam Kinh, mặc dù là "thành trì cứng như sắt dựng" ("Nguyên sử"), kết quả cuối cùng đã mãnh hổ nan địch quần hồ, mất thành, Bồ Tiên Vạn Nô bị bắt (có ghi chép là đã chết ).

Quân Mông Cổ tiếp tục tiến tới, chiếm lấy "khai Nguyên ( đông Mẫu Đơn Giang, tỉnh Hắc Long Giang, ), vật phẩm tiếp tế (lưu vực sông Tuy Phân), lãnh thổ phía đông đã được san phẳng hoàn toàn" ("Nguyên sử").

Đông Hạ mất, mười chín năm lập quốc.

Chú thích: trận chiến cuối cùng được miêu tả trên bích họa ở Vân đỉnh thiên cung, Đông Hạ khi đó là một tiểu quốc, danh dự cuối cùng của cả dân tộc đó là quyết tử cho đất nước, có thể tưởng tượng rõ ràng cảnh chiến tranh giữa người Mông Cổ và người Nữ Chân thảm thiết tới mức nào.

Đoạn ký ức tanh mùi máu đầy là bi thảm đó sẽ còn lưu lại vĩnh viễn trong lòng người dân tộc Nữ Chân.

Thứ bảy, chế độ vẫn còn

Quá khứ cho rằng Đông Hạ theo Vạn Nô bị bắt chắc chắn diệt vong, nhưng hai mươi lăm năm kể từ khi triều đại của hoàng đế Khang Hy (1686) thấy rằng các con dấu chính thức khắc hình "đại đồng*" tới nay, cho thấy sự tồn tại của Đông Hạ.

Theo ghiên cứu của Vương Quốc Duy : "" Triều Tiên sử " có nhắc tới Đông Chân tức Đại Chân từng có giao thiệp qua lại với Triều Tiên, kể từ Thái Tông Quý Tị (1233) sau đó tới thế tổ các đời Nguyên Mạt (1294), có tầm hai mươi ý kiến.

Cho rằng lúc Vạn Nô bị bắt, Mông Cổ vẫn còn sử dụng ông ta để trấn an đất nước của họ, con cháu của họ được thừa hưởng các nước chư hầu, nguyên nhân còn từng gọi Đông Chân "(" Hắc Thát tóm lược sử ").

Cũng trong" Triều Tiên sử "và" Nguyên sử "trong năm 1233 sau nhiều năm ghi chép vẫn sử dụng danh hiệu "quý quốc", "Vạn Nô nước Đông Hạ".

Tháng 2 năm 1234.

", Mông Cổ để lại hơn trăm kỵ binh Đông Chân, còn lại rút sạch" ("Triều Tiên sử").

Năm 1235 thiết khai nguyên, Nam Kinh hai triệu hộ dân, người sau có thể là kế nhiệm quốc vương Đông Hạ.

Đông Hạ kế tục duy trì quản lý địa khu hành chính, tại nơi sử dụng "đại đồng" khai quật được một số các quan ấn có niên đại khác nhau, đủ để chứng minh.

Làm nước chư hầu Đông Hạ, từ đó đối với Mông Cổ vẫn một lòng quy thuận phục tùng, muống được tương trợ quân Mông trấn áp phản loạn Triều Tiên.

Chú thích: Uông Tàng Hải sống trong những năm cuối nhà Minh, rõ ràng là trong quá trình chính quyền mục nát nhà nước đó cũng không hề biến mất, mà từ một nước dần dần tiêu giảm thành một tỉnh, lại từ tỉnh tiêu giảm thành bộ tộc.

Năm 1235 Mông Cổ lần ba chinh phạt Triều Tiên, quân Đông Hạ dẫn đường, dẹp xong thị trấn Long Tân, trấn Minh Thành và các địa điểm khác ("Triều Tiên sử") .

Tháng 6 năm 1236, quân Mông tái chiếm Triều Tiên, đã gửi hàng trăm kỵ binh tiếp viện, xâm nhập đông bắc Triều Tiên, từ Diệu Đức, Tĩnh Biên tới Vĩnh Hưng đều nhanh chóng bị chiếm cứ ("Triều Tiên sử").

Đến thời kỳ Mông Cổ thống trị, lần thứ hai Mông Cổ mở đại chiến dịch tại Triều Tiên, Đông Hạ trở thành quân tiên phong cho quân Mông .

Theo "Triều Tiên sử" ghi lại, từ năm 1249 đến năm 1259, hàng năm đều có binh mã Đông Hạ nhập cảnh quấy nhiễu.

Năm 1257, châu nhập đăng có tới hơn ba nghìn kị binh, năm 1258 huyện tùng đảo bị thuyền vây chặt.

Cho đến khi Mông Cổ đứng ra can thiệp và thì mới dừng lại.

Sau khi Nguyên Thế Tổ lên ngôi, bắt đầu từng bước tăng cường khống chế Đông Hạ.

Tới năm thứ ba triều Nguyên (1266) trong tháng hai, đã thiết lập qua Đông Kinh, Khai Nguyên, Tuất Phẩm, Hợp Lại.

Tới năm hai mười triều Nguyên (1283) tháng năm, lại thêm Thiết Hải Tây Liêu Đông phủ tư pháp.

Tuất Phầm, kết hợp hai lãnh thổ của Đông Hạ, Hải Tây nhậm chức bao gồm cả khu vực trong Đông Hạ, có thể thấy được rằng đó giống như cai quản một địa hạt trong nước.

Đến năm 1287 sau, có vẻ như không còn cái tên "Đông Chân", "Đông Hạ", nước chư hầu Đông Hạ đã bị triệt tiêu.

Chú thích: đáng thương cho Triều Tiên, lúc này tàn dư của Đông Hạ đã thoái lui vào dãy Trường Bạch, bắt đầu cuộc sống ẩn dật.

Thứ tám, di tích lịch sử

1, thành phố núi Thành Tử sơn

Để đề phòng bị Mông Cổ xâm lược, dựa vào địa hình nhiều núi đặc biệt, Đông Hạ xây dựng Thành Đô chủ yếu ở trên núi, trở thành thành phố núi.

Tại ngoại vi phía đông thành Duyên Cát có biên giới qua lại với thành Đồ Môn.

Bên trong thành còn một vài di tích Bột Hải và một lượng lớn di tích thuộc quốc gia Đông Hạ.

Tường thành dựa vào thế núi để xây dựng, hình bầu dục bất quy tắc, chu vi dài khoảng 4454m.

Có 4 cửa, trong đó 3 chỗ là Ủng thành (bức thành nhỏ ở ngoài cổng thành).

Bên trong thành địa thế trống trải, chính giữa là tàn tích cung điện,hình cầu thang, có chín bậc, mỗi bậc khoảng 10 m, dài 17 m, trên đá có hàng chữ.

Xung quanh nền điện còn rải rác một vài kiến trúc bằng ngói.

Bên trong thành khai quật có trang sức đai ngọc, ngọc bội uyên ương, mã não, quan ấn Đông Hạ, gương đồng, dụng cụ bói toán, đồ đạc sứt mẻ, tượng mẫu tử tiểu đồng cùng với mấy trăm đồng xu thời Đường, Tống, Kim.

Thành Nam Kinh thuộc cai quản của nước Đông Hạ, quốc vương Đông Hạ là Bồ Tiên Vạn Nô từng ở trong thành, Công Nguyên năm 1233 Bồ Tiên Vạn Nô bị Mông Cổ quân binh bắt tù binh, Đông Hạ đi tới diệt vong.

Theo nghiên cứu về chính trị, kinh tế, văn hóa của Đông Hạ thì di sản trọng yếu nhất còn để lại, có tương đối cao giá trị lịch sử và khoa học.

2, Dục Trì sơn

Tại phía đông Duyên Cát khoảng 10 km, cách tương đối xa thành tử sơn còn một tòa núi khác.

Đỉnh núi có một cái ao hình tròn, trên núi có một phong hoả đài (nơi người ta đốt lửa ám hiệu khi thấy giặc tới).

Tương truyền rằng ao kia là nơi quốc vương nước Đông Hạ Bồ Tiên Vạn Nô tắm rửa.

3, sơn thành Khắc Lạp Tư Lặc Nhã Nhĩ

Tại vùng nam ngạn nay là ussuriysk nga gần núi khắc lạp tư nặc nhã nghĩ , chu vi khoảng 16 dặm trung quốc, trình vòng tròn, dựa vào tùy thế mà xây.

Từ chân núi tới đỉnh núi giống ba tầng tường thành, cao 5m, tường thành xung quanh còn có chiến hào cùng phương tiện phụ trợ.

Chỗ cao nhất của thành là "cấm thành", bốn phía cách một vách tường, bên trong thành có thật nhiều kiến trúc di tích cùng cung điện sang trọng.

4, Biên giới Trường Thành cổ kéo dài

Biên giới trường thành cổ kéo dài bị vây bởi tám con kênh, hai ngọn núi và Duyên Cát trên sườn núi bắc bình phong, bắt nguồn từ phía tây cùng hai con rạch trên sườn núi thôn đông sơn, uốn qua sông long thị tây thành, long môn hương, trấn long tĩnh nhỏ ở cạnh sông, đào viên, đồng phật, thành Duyên Cát, yên tập, trấn trường an giữa núi non trùng điệp, biến mất ở phía đông Duyên Cát 15 km cạnh núi mã bàn.

Trường thành phần lớn được xây bằng đất, cũng có chỗ bằng đá, toàn bộ dài chừng 150 km, phát hiện được 17 phong hoả đài.

Đoạn dài nhất là từ sông tế lân tới rạch lão đầu, ước chừng 10 km; đoạn bảo tồn tốt nhất là lão đầu thôn quan thuyền rạch lão đầu, còn giữ được độ cao chừng 3m.

Cổ trường thành không có ghi chép văn hóa.

Theo nghiên cứu cho rằng đây là trường giang của nước Đông Hạ.

Cũng có người cho rằng ban đầu được xây ở Bột Hải, nơi này và hồn xuân "biên hào" giống như là thành bảo bệ Bột Hải ở Bắc Kinh và Đông Kinh, về sau Đông Hạ cải tiến thành công trình phòng ngự.

Còn có ý kiến cho rằng đó là trường thành nhà Kim hoặc trường thành của Triều Tiên.

5, Kính Bạc biên tường

Kính Bạc tại bờ đông hồ nam, bên trong là vùng làm lâm trường tuyệt đẹp.

Xây bằng đất đá, chạy quanh hướng đông nam , thời điểm phát hiện dài khoảng 4.

5 km.

Phía tây lưỡng hồ có đắp đá, còn lại đa số xây bằng đất hoặc đất đá lẫn lộn, cách mỗi 50-80m lại có mặt tường lớn nhô ra.

Cao 2m, rộng rãi khoảng 1.

5 m, trần rộng 0.

8 m, đoạn xây bằng đá được bảo tồn tốt hơn.

Quần chúng phản ánh: thử biên tường có thể kéo dài tới cát lâm.

Điều tra sơ bộ nhận định là được để lại Đông Hạ từ cuối thời Kim, tức là tiểu trường thành nhà Kim, công trình quân sự để phòng quân Mông Cổ xuôi nam xâm lược.

Năm 1990 thông qua phê chuẩn được trở thành văn vật cấp tỉnh cần được bảo hộ.

6, Thành Phỉ Ưu

Tọa lạc tại phong cảnh tú lệ tả ngạn bờ sông đồ môn, một trong ba quê hương của dân tộc mãn thôn cổ thành nay là đông thành, là khu vực tách biệt bị ngăn cách bởi trường giang gần với Triều Tiên.

Chủ vi dài khoảng 2023 m, tường cao 3-4 m, trần rộng 9 m, đông tây nam bắc đều có một cửa, có chỏi gác, bề ngoài mang dáng dấp cổ thành Liêu Kim, đât là một tòa Liêu Kim cổ thành được bảo tồn hoàn chỉnh nhất.

Tại bên trong thành từng khai quật được mười chiếc ấn đồng, trong đó có một chiếc là ấn cuối của triều Kim, một chiếc không rõ niên hiệu và hai một chiếc có tay cầm bên ngoài, còn lại đều là ấn đồng của Bồ Tiên Vạn Nô khai quốc Đông Hạ.

ấn đồng có hai loại: một loại là ấn đồng "Thiên Thái" của nước Đông Hạ; một loại khác là ấn đồng niên hiệu "đại đồng".

Bởi vậy cho rằng, thành trì thời kỳ cuối nhà Kim là nền tảng cho quốc gia Đông Hạ.

Có người lại chứng mình, thành trì của Đông Hạ là "Đông Kinh".

──《 Đông Hạ tư liệu lịch sử 》hành trình vô tận

Ở tầng hầm ngầm cách nhĩ mộc, có thể nói là tại đây tôi bị cuốn vào câu hỏi lớn nhất từ trước tới giờ, cũng là lần đầu tôi được biết tới nhiều bí mật như vậy.

(Kèm theo bản vẽ mặt phẳng tranh minh hoạ hàng lang, gian phòng, tầng hầm ngầm trại an dưỡng)

Tôi vẫn muốn viết xuống chút gì, thế nhưng bản thân lại không dám viết.

Tôi không biết việc mình đang làm có phải chính xác không, cũng không biết có nên để cho những người khác biết không, nếu có người đọc được những văn tự này, phải bước vào vòng xoáy như vậy đối với người đó mà nói, hẳn sẽ giống như tai bay vạ gió.

Mà tôi là người khởi xướng viết lại những văn tự này, cũng sợ rằng khó thoát được phải mang danh kẻ ác.

Trong tất cả những bí ẩn lớn nhỏ được giấu kín tại đây, tôi đã xâm nhập được vào, nhưng lại đứng ngoài những bí ẩn đó, thậm chí tôi cũng không cách nào xác định được mình rốt cuộc là người trong cuộc hay là người ngoài cuộc.

Tất cả những điều này, như trong tầng tầng những cánh hoa, cuối cùng thì tôi cũng thấy hết thảy tất cả chúng phô bày ra trước mắt, tôi đã nghĩ rằng mình bước vào nội cục rồi, nhưng mà chung quy chỉ tiến không được nhiều lắm, đây hết thảy dường như là vô tận, lại dường như là một vòng luân hồi.

Không có ai biết tương lai sẽ ra sao, bản thân cũng chỉ có thể không ngừng bước tiếp.

Ngô Tà ── năm 2005 tại Cách Nhĩ Mộc

Dựa theo: đây là phần tôi viết xuống sau cùng, kế tiếp, tôi muốn một lần nữa lên đường rời khỏi sài đạt mộc, tôi không biết mình có thể trở về được không, nếu như tôi một đi không trở lại, vậy thì quyển bút ký này có thể để cho người khác biết, tôi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.

Nhớ kỹ, nếu như bạn không thể lý giải những điều do tôi viết, cũng đừng nên miệt mài theo đuổi, bởi vì đó là một vực sâu vô cùng. < toàn bộ thư hoàn >
 
Back
Top Bottom