Tiên Hiệp Ngộ Phật

Ngộ Phật
Chương 160: 160: Thất Bại


Đồng hành ba tháng, Chước Chước và Thanh Minh đụng độ không ít yêu quái, song Thanh Minh chưa từng ra tay.

Đâu phải chàng không muốn, là do trước khi chàng kịp làm gì, Chước Chước đã giải quyết hết mấy con yêu quái mon men đến gần rồi.

Cần thì sẽ giết, không đến nỗi nào thì cản lại ngoài xa, phòng chặt nữ yêu.
Thanh Minh chẳng lấy làm phật ý với hành vi giành việc của Chước Chước, chàng ngoan ngoãn hoá mình thành tấm phản quang đầu trọc bên nàng.

Song thỉnh thoảng Chước Chước sẽ lén đi mua mấy món lặt vặt, không thể kè kè bên Thanh Minh được, hôm nọ vừa khéo là một ngày như thế, Chước Chước đi mua đồ, một mình Thanh Minh nán lại giữa thôn hoang dưới chân núi.
Trên đường về, Chước Chước đã phát hiện yêu khí cuồn cuộn từ xa, lao sang thì thấy Thanh Minh đứng đưa lưng về phía mình, chậm rãi đeo tràng hạt về lại cổ tay.

Trước mặt chàng có khoảng bảy tám con yêu quái đã bị đánh về nguyên hình.

Tại sao lại bảo là “khoảng”, bởi lướt mắt nhìn sơ thì xác chúng nát bét, không thể xác định được là bảy hay tám con, ngọn cỏ xanh bên hè nhớp nháp máu.
Chước Chước chưa thấy Thanh Minh ra tay bao giờ, ai ngờ lần đầu tiên lại tanh tưởi như vậy.

Nếu trao tác phẩm này vào tay ai đó khác, Chước Chước sẽ chẳng thèm chớp mắt lấy một cái, nàng “cao tuổi” thế rồi, sớm đã trải nghiệm tất cả những điều cần thiết, chỉ mỗi Thanh Đăng mới đối xử với nàng như một đứa bé thôi.
Chước Chước biết sát khí trên người Thanh Minh rất nặng, nàng cũng hiểu chàng phải trải qua việc này trên con đường khử ác dục, song khi tận mắt chứng kiến một mặt khác hoàn toàn với con người trước kia của chàng, Chước Chước vẫn hơi khó chấp nhận.
Chước Chước ở bên Thanh Đăng hằng bao năm tháng, hiếm khi thấy chàng đánh đấm, dẫu có ra tay cũng hiền hoà ung dung như tính cách của chàng, thường sẽ chừa đường sống cho người ta, từ bi khắc vào từng động tác.

Song Thanh Minh… Chước Chước đứng đấy, nhìn Thanh Minh chầm chậm xoay lại, trông thấy nàng, gương mặt thản nhiên kia nhoẻn cười.
Không phải nụ cười thoảng hoặc thường trực của Thanh Đăng, Thanh Minh quá ư bình thản, không hợp với tuổi đời lịch kiếp của chàng.

Chàng không thích cười, Chước Chước chỉ trông thấy chàng cười vài lần.

Lần nàng sơ sẩy rớt khỏi chạc cây đang nằm, lần nàng lén nấp sau bụi cỏ nhồm nhoàm gà nướng, lần nàng than hàng kẹo trên trấn chẳng ngọt tý nào… Cơ mà tóm lại, Thanh Minh hễ cười là như gió xuân hoá mưa phùn, bỗng chốc hoa đào nở rộ.
Nhưng nay, nụ cười nhoẻn lúc chàng ngoảnh lại giữa bãi xác yêu quái ấy kỳ dị và tà ác khó tả.

Song cảm giác nọ biến mất ngay lập tức, nhìn kỹ thì chàng vẫn là Thanh Minh.
Thanh Đăng xuống trần lịch kiếp cơ mà, Chước Chước thở dài, bởi phiên bản khác của Thanh Đăng quá ư thú vị khiến nàng vui vẻ mỗi ngày, gần như quên mất chuyện này.
Chàng phải lịch kiếp thiện ác, và cả… tình kiếp.
Sau đó Chước Chước cũng chẳng nhắc lại vụ việc ấy, nàng vẫn điềm nhiên bám đuôi Thanh Minh, thay đổi duy nhất chắc là nàng không che chở cho Thanh Minh mỗi bận đụng độ yêu quái nữa.

Nàng cứ thế đi theo canh chừng Thanh Minh chu du giết chóc, lịch luyện bốn phương gần mười năm.
Hành động của Thanh Minh khơi dậy làn sóng bất mãn trong lòng một số con yêu quái, chúng mặc định gã hoà thượng dẫu chỉ ra tay với bọn yêu quái tàn độc này không đội trời chung với tất cả yêu quái trên đời, bởi thế chàng bị vây công đánh úp miết.
Lần tiêu diệt kẻ khác loài này có sự góp mặt của bọn yêu quái ác độc chuyên hại người và cả đám yêu quái không nằm trong phạm vi săn đuổi của Thanh Minh.

Bị bao nhiêu yêu quái vây ráp thế mà Thanh Minh vẫn giữ nguyên tắc chỉ giết những con từng hại người, bỏ qua lũ lành tính, thành ra về sau thê thảm khôn nguôi.

Chẳng nhờ Chước Chước hết kềm chế nổi mà nhúng tay vào trận đánh bất chấp lời can ngăn của chàng, chưa chắc Thanh Minh đã còn mạng.
Thanh Minh thương tích khắp người ngồi nhóm lửa nướng thức ăn, mặt mày già dặn hơn hồi Chước Chước gặp chàng mấy năm trước.

Cổ tay bị thương, chàng tuốt tràng hạt lên cao một chút, bỗng nhìn sang Chước Chước chẳng rõ cớ gì lại dỗi phía đối diện, hỏi: “Em là yêu quái gì?”
Chước Chước theo chàng đã vài năm, đây là lần đầu tiên được hỏi câu này.

Rồi hừ lạnh hoá về bổn thể luôn, chẳng chần chừ chi.
Một gốc cây ngọc đẹp đến độ không nên cắm rễ cõi trần thình lình hiện ra, sóng hoa rợp cành như trong suốt dưới ánh trăng.
“Đào.” Thanh Minh cất tiếng, chàng ngước lên nhìn tán cây, chợt thấy ngực mình ấm áp khôn tả, không khỏi đưa tay dằn trái tim mình, rồi chầm chậm buông lơi.
“Đẹp nhờ?” Chước Chước hoá lại hình người, đắc ý hỏi.

Thanh Minh gật đầu.
“Có muốn biết chốn nào mới khiến gốc đào đẹp thế này đành đoạn cắm rễ không?” Chước Chước hỏi tiếp.
Thanh Minh: “Chốn nào?”
Chước Chước: “Trên tán cây bồ đề.”
Hồi lâu Thanh Minh mới hỏi: “Mẹ em là bồ đề yêu?”
Chước Chước nghe mà nghẹn họng, thật chả biết phải đối đáp ra sao, nàng vừa buồn cười vừa bực mình, nhào sang nắm cổ chàng lắc một trận, sau rốt đẩy chàng ngã xuống đất.
Thanh Minh nằm dưới đất, Chước Chước ngồi trên người chàng, bỗng chốc im lặng, chầm chậm buông tay khỏi cổ chàng.
Thanh Minh bảo: “Ta nên về chùa rồi.”
Chước Chước véo má chàng, chẳng lấy làm điều: “Chàng muốn thì cứ về, chàng nghĩ mình sẽ phát hiện ra nếu em lén đi theo chắc? Em bảo rồi, nửa đêm em có vô phòng thêu rùa trên áo thì chàng cũng chả biết được đâu, nguyên cái miếu hoà thượng của chàng cũng đừng hòng mà phát hiện!”
Thanh Minh hỏi: “Em không có nhà để về à?”
Chước Chước khựng lại, bỗng bật cười: “Chàng không về thì em về làm gì.”
Thanh Minh: “Nay ta nên về, em cũng vậy.”
Chước Chước chỉ cười không nói.

Thanh Minh về chùa, Chước Chước theo sau, nhưng nàng ẩn thân sau khi bước qua cổng ngôi chùa có tên Tùng Sơn này.

Nhìn hai hoà thượng đưa Thanh Minh vào một toà tháp, Chước Chước mới hiểu tại sao trước đó chàng lại bảo mình về nhà.

Bởi chàng sẽ bị nhốt khi trở lại ngôi chùa này.
Thuở còn thơ ấu, cả gia đình Thanh Minh bị yêu quái giết sạch, chỉ để lại mình chàng, sát khí trên người chàng bẩm sinh đã nặng nên được gửi vào chùa Tùng Sơn, trụ trì nhận chàng làm đệ tử, muốn hướng dẫn tu tập nhưng sát khí mãi không thuyên giảm, cứ hễ ra ngoài lịch luyện là chàng lại tạo sát nghiệp.

Trụ trì giao hẹn mười năm với Thanh Minh, đến hạn mà chàng khử hết sát khí thì sẽ được làm đệ tử bình thường, không thì sẽ bị nhốt vào tháp sau khi về chùa hòng ngăn chàng tự giày vò mình hay phòng khi tự dưng sát khí tăng vụt, gây hại cho đời.
Chước Chước vắt vẻo trên cánh cửa sổ duy nhất của toà tháp, thò đầu vào nhìn Thanh Minh ngồi bên trong.

Chàng đang chép kinh bên chiếc bàn gỗ đã châm đèn.

Trong tháp chả bày biện gì nhiều, bóng Thanh Minh đổ dài giữa cảnh nền trống hoác, cao lớn như tôn Phật an toạ đài sen.
Chước Chước vặt hạt thông đầy túi, ném thẳng vào đầu Thanh Minh.

Bốp, Thanh Minh vẫn không dừng tay, hạt thông lăn lông lốc xuống gầm bàn.
Chước Chước vãi đầy dưới đất, Thanh Minh chép xong kinh, buông bút liếc thoáng, Chước Chước đã nằm dài nhắm mắt trên chiếc giường gỗ đơn ọp ẹp trong tháp.

Chắc chắn nàng chưa ngủ đâu, song Thanh Minh không gọi nàng dậy, chàng nhặt hết hạt thông lên, đoạn ngồi vào bàn, lấy giấy chép kinh tiếp.
Thanh Minh chừng như chẳng màng việc mình đang ở đâu hay cuộc sống của mình thế nào.

Gió đưa hoa rơi, dần dà cuốn lá đỏ rồi thốc tuyết trắng vào chiếc cửa sổ duy nhất trên tháp, gã chép kinh vẫn luôn ngồi nơi ấy.

Chước Chước trông mà sốt ruột, nàng không biết Thanh Minh phải làm thế nào mới khử được ác dục, cứ nhìn suông như vậy cực kỳ khó chịu, nàng dứt khoát dạo sang biển Bắc hỏi bạn xem nên độ kiếp ra sao.
Biết Chước Chước sang tìm mình, Long Thú vui hết sức, tiếc rằng hắn cũng không rõ, ông già Bắc Hải Long Thần Quân nhà hắn từng độ kiếp rồi, ngặt nỗi không phải là Thần Phật nên cách thức cũng khác, chẳng chút giá trị tham khảo.

Với cả Long Thần bảo kiếp số của Thần Phật rất kỳ bí, chẳng ai ngoài chính họ biết phải độ thế nào, có đoán cũng không ra.
Chước Chước sang biển Bắc một chuyến tốn trọn ba tháng mà không nên tích sự gì, về đến chùa Tùng Sơn lại chả thấy bóng Thanh Minh trong toà tháp kia nữa.

Định thần tìm thử mới biết chàng hãy ở trong chùa, có điều đang quét dọn khắp các toà tháp chứ không còn bị nhốt nữa.
“Sao chàng lại ra ngoài rồi?!” Chước Chước đứng nơi tán cây trên đầu Thanh Minh, cố ý nhún mạnh để lá phủ xuống khắp người Thanh Minh đang cầm chổi.
Chàng sững lại, ngước mái đầu vương vài chiếc lá kia lên nhìn.
“Em không về à?” Thanh Minh hỏi lại câu mà mình từng hỏi năm ngoái.
“Chàng không về thì sao em về được.” Chước Chước cũng trả lời y như năm ngoái.
Lần này Thanh Minh như đã ngộ ra đôi điều, chàng bèn hỏi: “Ta nên về đâu?”
Chước Chước không biết nên đáp thế nào.
Sau đó Chước Chước thắc mắc sao Thanh Minh lại ra ngoài được, chàng bình thản trả lời rằng sát khí đã tan, Chước Chước hoang mang hỏi chàng đã làm gì, Thanh Minh chỉ cười không nói.

Rồi Thanh Minh cũng được rời chùa, song lần này chàng không giết sạch đám yêu quái đã gây ác nghiệp như thuở trước, chàng… hiền hoà hơn nhiều.

Chước Chước đi theo cho đến khi chàng qua đời.
Thanh Đăng Chân Phật núi Linh không quy vị được, kiếp thứ nhất chàng đã thất bại.

Chước Chước về cõi Trời, đến chỗ Ti Mệnh Thần Quân, biết được một tin thế này.

Trong kiếp đầu tiên, Thanh Đăng đã độ thành công kiếp thiện ác, song thất bại vì không qua được tình kiếp.
“Không qua được tình kiếp, chàng vốn chẳng yêu ai thì làm sao mà độ được.” Chước Chước thở dài.
“Giả như đã yêu ai đó song không muốn cắt đứt duyên tình đặng thoát khỏi bể yêu, cũng được xem là độ kiếp thất bại.” Ti Mệnh Thần Quân đáp.
“Cơ mà,” Chước Chước cau mày, “tôi đã đuổi sạch mấy cô v* v*n quanh chàng, sao chàng thương mến ai nổi.”
Đối diện với ánh mắt ẩn chứa ý cười của Ti Mệnh Thần Quân, Chước Chước ngây ra một chốc, ngờ vực: “Ý ngài là, tôi?”
Ti Mệnh hớp ngụm rượu Chước Chước biếu, lắc đầu bảo: “Ta không rõ, Chước Chước phải tự hỏi mình.”
Chước Chước mím môi, đứng dậy lẩn xuống trần.
Nàng tìm thấy kiếp thứ hai của Thanh Đăng lúc chàng mới lên chín.
Hoắc Châu lũ lớn, chàng hoá con côi, lẫn giữa nhóm lưu dân chạy nạn sang vùng khác, vì còn quá nhỏ nên không theo kịp, suýt thì chết đói dọc đường, được một hoà thượng già đi ngang cưu mang vào chùa, lấy tên Thanh Vô.
Ngôi miếu đó nhỏ xó tồi tàn, nhang đèn heo hút, cả năm chẳng được bao khách hành hương, cả chùa chỉ có một đại điện và hai gian phòng nhỏ đằng sau.

Ngoài cụ hoà thượng đã cao tuổi kia thì chỉ còn mỗi chú tiểu gầy gò Thanh Vô thôi.
Gió đầu xuân hun đỏ hai tai, chú tiểu bê chậu nước đến đại điện lau bàn thờ, nhác thấy vạt áo trắng thòng xuống tán hoè cạnh giếng.
Ngẩng lên xem thử, chú tiểu trông thấy một cô gái váy trắng ngồi vắt vẻo trên cành, đang mỉm cười nhìn mình, cất giọng nhẹ nhàng thong thả: “Chú tiểu tên gì thế?”
Chú ta bưng chậu nước, xoay lưng chạy biến.
Chước Chước: “Gượm đã!” Nàng nhảy từ trên cây xuống, lướt đến bên chú tiểu, chọt mái đầu tròn lẳn của chú ta, “Chú tiểu à, ta đang nói chuyện với chú đấy, chú không nghe thấy hả?”
Thanh Vô ngoẹo đầu tránh tay nàng, đứng đắn mà rằng: “Không được nói chuyện với tinh quái trên núi, không được nói tên mình ra, bằng không sẽ bị câu mất linh hồn.”
Chước Chước: “… Ta không phải tinh quái, ta là nữ yêu quái.”
Thanh Vô: “Nữ yêu quái? Tôi chưa lớn, không có dương khí cho cô, A Di Đà Phật, chi bằng cô xuống núi ấy, dưới đó đông người.”
Chước Chước nghiến răng trèo trẹo, thằng nhóc này học đâu ra mấy cái chuyện này, nàng đưa tay véo tai chú tiểu, bảo: “Chờ một tẹo cũng chẳng hề gì, ta cứ ở đây đợi chú lớn khôn đấy!”
 
Ngộ Phật
Chương 161: 161: Thanh Vô


LA LẢ LÀ LA CHÚ TIỂU ƠI.
“Chú tiểu ơi?”
“…”
“Chú tiểu?”
“…”
“Chú mà im lặng nữa thì ta xốc chăn lên ăn thịt chú đấy!”
Sau câu nói này, chú tiểu cuộn tròn trên giường rốt cũng đã chịu hé một góc chăn, thò đôi mắt đen láy ra.
Chước Chước ngồi xổm đầu giường chống cằm cười, chọc ngón tay trắng nõn gần như toả sáng giữa đêm lên đầu chú tiểu, “Chú sợ ta tới vậy luôn đó hả? Đi theo cả ngày mà chú chả chịu nói chuyện với ta gì hết.”
Chú tiểu đắp chăn ngang mũi lặng thinh một chốc, bỗng im lìm duỗi cánh tay gầy còm từ trong chăn ra trước mặt Chước Chước, bảo: “Cho cô cắn một miếng, nhỡ không ngon thì đừng theo tôi nữa nhé, A Di Đà Phật.”
Chước Chước: “…”
Nàng thẳng thừng tóm cổ tay chú ta, hãy đang mỉm cười, “Chú tiểu nghe cho rõ đây, ta không ăn thịt người.”
“Thế cô theo tôi làm gì?” Chú tiểu lấy làm khó hiểu.
Chước Chước cười khì: “Thấy chú mới bây lớn đã đẹp nhường này, lớn khôn rồi hẳn sẽ tuấn tú lắm, chờ chú trưởng thành rồi hút dương khí chứ sao!”
Chú tiểu nhìn nàng, bỗng hắt xì hơi.

Chước Chước không đùa với chú ta nữa, kéo tấm chăn mỏng lên, đút cánh tay gầy còm kia vào chăn, “Con nít phải chăm ngủ, thức khuya không lớn nổi đâu, chú không lớn thì ta biết phải làm thế nào.”
“Chậc, chăn chú mỏng quá, ngủ không đủ ấm chắc luôn.” Chước Chước nói, chợt giở chăn lên luồn vào, cười khì ôm chú tiểu vào lòng, “Như này ấm hơn.”
Tự dưng bị người ta lôi ra siết lấy, chú tiểu sửng sốt, ngửa cổ định lùi lại.

Song nữ yêu kỳ lạ đang ôm chú như chẳng hề hay biết, nàng nhẹ nhàng vỗ gáy xoa lưng chú, kéo chú vào lòng lần nữa.
Chú tiểu Thanh Vô nhủ thầm: Chuyến này gay go thật, nữ yêu chê gầy định vỗ béo mình rồi thịt đây mà.
Chú tiểu chưa từng được ôm ngủ như thế, tuy ấm áp hơn tấm chăn lạnh lẽo kia nhiều, song chú dám chắc rằng mình không chợp mắt nổi nữa.

Nhưng có lẽ nữ yêu đã giở pháp thuật gì khiến chú nhanh chóng thiếp đi, say sưa vô cùng, lại còn chiêm bao.
Trong mơ có có rất nhiều hoa đào, một hoà thượng không rõ mặt ngồi dưới tàng cây, ôm một bé gái đang ngủ trong lòng.

Cô bé nọ vùi mặt vào áo hoà thượng, níu chặt tay áo chàng ta, miệng khe khẽ nói mớ, chân giãy lung tung.

Hoà thượng kia tay bồng tay nắm chân cô bé, chừng khi cô bé yên hơn mới chuyển sang nhè nhẹ xoa lưng.
Đánh một giấc dài đằng đẵng, tận khi hoa đào tàn, cành đâm chồi lộc non, cô bé mới choàng tỉnh giấc.

Cô bé dậy rồi dụi mắt, nương tay hoà thượng bò lên người, vùi đầu vào cổ chàng rồi dừng lại.

Hoà thượng bế cô bé đứng dậy, đi vào sâu trong tán lá xanh kia.

Có vài lời thoang thoảng vọng lại, chừng như bị ngăn tách bởi thứ gì, không tài nào nghe rõ được.
Chú tiểu Thanh Vô thức giấc rồi vẫn ngửi thấy hương đào nơi mộng cảnh, xua mãi không tan… Đập vào mắt chú tiểu là một quả đào được phóng to, rồi lại trông thấy gương mặt rạng rỡ nụ cười phía sau quả đào ấy.
“Chú tiểu có muốn ăn đào không?” Nữ yêu huơ quả đào trong tay, “Thơm một cái ta cho chú ăn nhé? Ta còn nhiều quả lắm, cho chú hết cũng được ~”
Chú tiểu chớp chớp mắt, vòng qua nàng trèo xuống giường, giũ tấm chăn mỏng chất thành đống rồi xếp ngay ngắn, đoạn bê chậu ra ngoài múc nước rửa mặt.
Tinh mơ trên núi đầy sương lạnh thấu, chú tiểu ngồi xổm bên giếng gánh nước, nước múc ra lại chẳng lạnh mà âm ấm, dễ chịu vô cùng.

Chước Chước theo chú ra đây, đưa đào lên cắn một miếng, lượn lờ trước mặt Thanh Vô.
“Trước khi ăn phải rửa đào đi đã.” Thanh Vô bảo.
Chước Chước vừa ngoạm thêm một miếng đào: “…” Đây là đào tiên nàng dùng phép ép mọc đấy nhớ! Nước dưới trần còn chả sạch bằng quả đào này đâu, rửa cái gì mà rửa!
Thanh Vô lại đưa khăn đã nhúng nước trong chậu gỗ sang cho nàng.
Chước Chước: “Hở? Sao vậy, muốn ta rửa mặt hộ chú à? Lớn tướng thế rồi phải tự học cách rửa mặt đi chứ.”
Thanh Vô làm thinh lắc đầu, chõ nàng, “Dẫu có là yêu quái thì ngủ một giấc dậy cũng nên rửa mặt, chẳng nhẽ yêu quái không làm thế bao giờ?”
Chước Chước: Bị người ta nghi ngờ thần cách rồi kìa.
Chú tiểu Thanh Vô cũng có đôi nét khác với Thanh Minh dạo trước.

Chú lớn khôn nơi miếu nhỏ gần như lánh đời này, lúc chú lên mười, cụ hoà thượng nhặt chú về đây đã qua đời, ở đây chỉ còn mỗi chú.

Có vẻ chú chẳng muốn xuống trấn tìm kế sinh nhai gì khác, cứ chắt chiu yên bình sống trên quả núi này.
Chú chín chắn điềm nhiên hơn tuổi, không thoát tục kiểu khách qua đường tựa Thanh Đăng, song lại ưa cười hơn Thanh Minh một chút, thỉnh thoảng còn đứng đắn buông câu nói đùa với Chước Chước, bình thản hiền hoà chứ chẳng hung tàn như kiếp trước.
Thấm thoát mấy năm trôi qua, chú tiểu đã hoá thành chàng hoà thượng tuấn tú.
Ngủ sớm dậy sớm hằng ngày, ngoài việc tham thiền và tụng niệm, chàng sẽ xắn áo xắn quần ra mảnh ruộng mình xới sau miếu chăm lo đống rau dưa tự trồng.
Chàng đội nón rộng vành, khom lưng nhổ cỏ dại, Chước Chước vắt vẻo trên giàn đậu chàng mắc, nhón ngọn cỏ đuôi chó chọc cái gáy lộ ra khi cúi đầu của chàng.

Trời hãy còn ấm, tầng không xanh ngọc như được ai gột rửa, vầng dương rạng rỡ treo cao, rót đầy ánh nắng xuống mẻ rau giữa ruộng, ve kêu ra rả trên các tán cây trong rừng.

Nóng nực thế mà Thanh Vô vẫn ra nhổ cỏ, mồ hôi trên má xuôi cằm chàng nhỏ xuống đất.
Lưng áo cũng ướt cả mảng, thấy cổ ngưa ngứa là biết Chước Chước lại táy máy nghịch ngợm, chàng chẳng thèm ngoảnh đầu mà sang thửa ruộng khác nhổ cỏ luôn.
Chước Chước nhìn con châu chấu đang yên vị trên phiến lá gần đấy, híp mắt nhẹ nhàng nhón nó lên, khéo léo thả vào cổ áo hé mở của Thanh Vô.

Châu chấu đáng thương bị ném một phát, búng mãi không khỏi tấm áo đang trùm trên người mình.

Thanh Vô thò tay ra sau, nhặt chấu ta ra ngoài.
Chàng rốt cũng ban cho Chước Chước cái liếc mắt, nhấc tay áo lên lau mồ hôi trên mặt.
Chước Chước đong đưa chân, đưa mũi chân huých cánh tay chàng, “Chói chang thế này, sao chàng không nghỉ tý hẵng? Đen nhẻm rồi kìa.”
Thanh Vô lại sang bóng râm mà nghỉ thật, gió mát luồn qua, sảng khoái vô cùng.

Chừng khi nắng dịu bớt, Thanh Vô tiếp tục vặt cỏ dại đến khi thái dương xuống núi, chim về tổ, chân trời gợn ráng chiều đỏ lửa.

Thanh Vô dọn đồ, đi đến cái ao bên núi tắm táp.
Chàng tắm dưới ao, Chước Chước ngồi trên cây ném lá xuống chỗ chàng, tán cây trên đầu sắp trụi sau nhiều lần bị nàng phá hoại.

Thanh Vô tắm xong lần nào là mặt ao lại đầy lá Chước Chước vứt lần ấy, ngay cả người chàng cũng nồng đượm mùi lá xanh.
Từ đầu Thanh Vô vốn không chịu để người ta quấy quả lúc tắm, song Chước Chước lại là một nữ yêu chả biết “không chịu” là như nào.

Thanh Vô bảo không muốn có ai nhìn trộm, nàng gật gù tỏ vẻ đã hiểu, ngày hôm sau đã chui ra nhìn thẳng thừng luôn.
Giống y như lần Thanh Vô không chịu ngủ cùng giường với nữ yêu, nàng vờ ta đây hiểu lắm, sau đó cả hai… chỉ còn nước nằm trơn dưới đất, chẳng còn giường để mà ngủ nữa.
Kiếp này, hoà thượng Thanh Vô đến cả yêu quái cũng chả thèm ngó ngàng lại càng thua chiêu Chước Chước, đành để nàng bắt nạt, đáng thương hết sức.
Thanh Vô thỉnh thoảng cũng sẽ xuống trấn mua gạo mua mì.

Chước Chước đi theo nhưng ẩn thân không cho ai thấy, chốc chốc sấn lại trêu chàng, chơi đến là vui vẻ.
Con gái nhà bán đậu phụ trong trấn xinh xắn đáng yêu, hễ gặp chàng hoà thượng tuấn tú trên núi xuống sẽ lại đi tới hàn huyên dăm câu, tâm tình thiếu nữ tơ vương lồ lộ.

Cô gái trẻ ngăn bước Thanh Vô, hỏi rằng hôm kia mình mơ ác mộng, có cần lên núi lễ Phật không.

Chước Chước quơ cổ Thanh Vô, chua lè lua lét thầm thì bên tai chàng: “Chú tiểu nhà chàng không giữ thanh quy giới luật, chỉ biết xuống núi hại thiếu nữ nhà lành.”
Thanh Vô thờ ơ đáp cô gái trẻ trước mặt mình: “Không cần.” Đoạn xoay người sải bước đi ngay.
Chước Chước hừ lạnh, lặng lẽ véo tai chàng, Thanh Vô nghiêng đầu tránh mãi không được, nhoẻn cười bất đắc dĩ, khẽ bảo: “Đừng véo nữa.”
Chước Chước buông tay, “Chàng tưởng cứ nhận lỗi đơn giản vậy là xong hả!”
Vụ này chưa xong thì lại có bà chủ goá chồng mở khách đ**m phía đông trấn nhảy ra, trông thấy Thanh Vô thì sáng rỡ ánh mắt, mân mê đoá châu hoa bên tóc, uốn éo thân hình đẫy đà, “Ôi chao, tiểu sư phụ Thanh Vô đây mà ~ Dạo này chị cứ tức ngực mãi, chẳng nhẽ lại bị thứ gì ô uế trong nhà đeo bám ~ Tiểu sư phụ rảnh thì ghé xem hộ nhé ~”
Chước Chước lại thò tay véo tai Thanh Vô, nụ cười mỉm trên mặt chàng đã bặt tăm, chàng giương bản mặt rắn đanh đáp lời bà ta, “Thứ quấn lấy bà là một con lệ quỷ ngập tràn oán khí chết oan, hoà thượng tôi chỉ biết tụng kinh, không biết bắt quỷ, không giúp gì được, nếu muốn yên ổn thì mau mau đi tìm tu sĩ nào tu vi cao cao ấy, bấy mới cứu nổi bà.”
Chàng nghiêm trang ôn tồn buông tiếng, xong chuyện đi ngay, để bà chủ tím tái mặt mày đứng sững ra đấy.
Chước Chước ngoảnh lại nhìn, thấy bà ta tự dưng hốt hoảng chột dạ thì tăm tia thật kỹ, chợt bảo: “Uầy, thì ra người chồng mở khách đ**m kia chết dưới tay mụ ta và gã tình nhân, hèn chi nghe chàng nói xong lại kinh hoàng như thế, ha ha, có điều trên người mụ ta làm gì có lệ quỷ, chàng chỉ bịa chuyện doạ mụ thôi!”
“Đồ hoà thượng xấu xa!”
“Đừng véo nữa.” Thanh Vô lại thở dài.
“Hì hì ~” Chước Chước tựa vào vai chàng, không chịu thả tay.
Ngôi miếu nhỏ lâu năm không sửa, tượng Phật Tổ thờ trong điện đã phai sắc nhạt nhoà, lại còn rớt tay sau một đêm mưa.

Thanh Vô sáng dậy thấy thế xắn áo quyết định tự sắm vai thợ mộc, bắt tay vào tu chỉnh một phen.
Chước Chước theo sát chàng, thường thì chỉ đứng ngó chứ chả động chạm gì, dằn lòng hơn dạo ở bên Thanh Minh nhiều.

Thanh Vô tự học cách đẽo gỗ, chuẩn bị sửa tượng Bồ Tát các loại trong miếu, chàng vần võ một mình, thế mà lại đâu ra đấy.
Ba năm sau, Thanh Vô tự lực cánh sinh, thành công thay da đổi thịt cho ngôi miếu nhỏ thật.
Chước Chước có dịp trông thấy một tượng gỗ Thanh Vô khắc để trong tủ đựng đồ nghề, vật nọ mang dáng dấp của nàng.

Nàng siết chặt lấy tượng, như cười như không, thoáng trông tựa khóc.
“Thanh Vô, em cứ mãi thắc mắc, phàm trần là gì trong mắt chàng vậy?”
Thanh Vô nghe đoạn, chõ tay ra ngọn núi xa kia: “Đấy là non.” Rồi chỉ cái ao gần đấy, “Đây là nước.”
Non là non, nước là nước.
“Thế em thì sao?” Chước Chước hỏi.
Lần này Thanh Vô khựng lại đôi chút, nhẹ nhàng đáp: “Là hoa.” Giọng nói vấn vương ý cười.
Hoa? Nước non chính là non nước, thế thì một gốc đào như nàng, bảo là hoa cũng chẳng sai.

Song Thanh Vô đâu biết nguyên hình của nàng là gì, sao lại trả lời như thế? Chước Chước không hiểu lắm.
Thanh Vô kiếp này mất sớm, chết bệnh.

Dịch bệnh đột phát, chết rất nhiều người, ngôi chùa của Thanh Vô đã cứu chữa cho vô số người, song chính chàng lại bị nhiễm.
Trước khi chết, chàng nằm đấy nhìn Chước Chước đang lặng thinh mà ngồi, cười bảo: “Để em chờ bao nhiêu năm như thế, rốt lại bõ công rồi… Lần sau, đừng làm những chuyện thiệt thòi như vậy nữa.”
Chước Chước không dùng thần lực để cứu chàng, cũng không thể cứu chàng.
Lần này về chỗ Ti Mệnh Thần Quân, Chước Chước không bất ngờ khi biết Thanh Đăng vẫn chưa vượt nổi tình kiếp.
“Chước Chước đã xác định được nguyên nhân chưa?” Ti Mệnh hỏi nàng.
Chước Chước không đáp mà hỏi lại: “Ti Mệnh Thần Quân, tôi có điều chưa rõ.

‘Hoa’ là gì?”
“Hoa?” Ti Mệnh đăm chiêu rồi đáp: “Chắc là một thứ gì đó xinh đẹp, khiến người ta ngưỡng vọng, muốn bảo vệ chở che nhỉ.”
Chước Chước chợt ngẩn ngơ rồi cười.

“Vâng, tôi biết rồi.”
Nàng sang điện Ti Duyên, “Ti Duyên Thần Quân, tôi biết tơ hồng ngài cho dạo trước không phải loại thường, Thanh Đăng vốn không cần phải độ tình kiếp, chàng vốn sẽ không yêu ai, tất cả mọi chuyện đều là do tôi.

Tôi phải làm sao để mọi thứ quay về như ban đầu, để Thanh Đăng… không yêu mình nữa?”

Trước khi rời điện Ti Duyên, Chước Chước bảo y: “Đa tạ, tôi đã quyết làm vậy rồi.

Nhưng phải hoàn thành một việc trước đã.”
Nàng muốn một kiếp của Thanh Đăng.

Trong kiếp ấy, nàng nguyện lòng yêu chàng, bên chàng đến khi tóc bạc da mồi, làm một đôi vợ chồng phàm nhân.
***
“Nghe nói Liễu Thanh Hoan – cậu út nhà họ Liễu không qua nổi tháng này?”
“Ừ đấy, bà Liễu mời bao nhiêu thầy thuốc mà đã ai chữa được đâu, chẳng mấy chốc phải phát tang thôi!”
“Ê nè, nghe chừng hôm qua bà cụ đến chùa Hộ Quốc xin Tung Nguyên đại sư nhận cháu bà làm đệ tử, long mạch Hộ Quốc còn đấy, có khi lại giữ được mạng cho cậu ta.”
“Hầy, vào chùa Hộ Quốc là thành hoà thượng còn gì, thế thì còn chi là đời, chẳng thà chết ngay bây giờ.”
“Bậy, Tung Nguyên đại sư là quốc sư đó, biết bao nhiêu kẻ xin được làm đệ tử ông ấy kia kìa.”
“Nhà họ Liễu cũng chả phải hạng dân đen như mình, với cái gia thế đó thì cần gì bợ đỡ chùa Hộ Quốc…”
Dưới gốc hoè đầu ngõ là mười mấy thiếu phụ của các nhà chung xóm đang rôm rả thêu thùa tán chuyện, đề tài chẳng gì khác ngoài nhà họ Liễu đương trong cảnh khó khăn dạo này.
Bấy giờ, gia đình đang được bà con quan tâm hết sức kia lại đang đón tiếp một cô gái áo trắng tự xưng là thần y, cô gái này trông chỉ mười sáu xuân thì, khí chất lại xuất chúng vô song, nàng đứng cười giữa sảnh, thưa chuyện với bà Liễu: “Tôi có thể cứu được thiếu gia nhà này, song tôi có một yêu cầu.”
“Tôi chữa khỏi cho Liễu Thanh Hoan, chàng phải cưới tôi làm vợ.”
 
Ngộ Phật
Chương 162: 162: Cả Đời Vui Vẻ


CÁI KÉN.
“Thiếu gia nhà họ Liễu mới mười ba tuổi đã phải lấy vợ rồi?”
“Ờ, nghe đâu đấy là yêu cầu của nữ thần y chữa khỏi bệnh cho cậu ta, cũng chả biết nữ thần y ấy có lai lịch ra sao, thế mà lại cứu được cậu Liễu đã đặt một chân vào quan tài kia.”
“Nhẽ nào Liễu thiếu gia ngậm thìa vàng mà lớn lại phải lấy một cô gái không rõ lai lịch với cả lớn tuổi hơn mình làm vợ? Cụ Liễu mà chịu ư?”
“Nghe nói nữ thần y cũng chỉ hơn cậu Liễu ba tuổi thôi à, nghe câu nữ lớn hơn ba ra vàng đống chưa, bà thím sát vách nhà tôi rước nàng dâu lớn hơn con trai bà ta ba tuổi về, mọi sự trong nhà hanh thông cả, đâu có tệ tàn gì.

Với lại ban đầu bà cụ đã đồng ý mà, nói rồi chẳng nhẽ nuốt lời? Hầy, cụ Liễu mà giở quẻ, có khi nữ thần y kia lại thuốc hỏng cậu Liễu không chừng, bà cụ hãy còn phải cầu cạnh người ta đấy nhé.”
“Thế vụ này chắc như đinh đóng cột rồi ~”
“Tôi chỉ muốn biết chừng nào thết tiệc mừng thôi, nhớ hồi cậu cả nhà ấy lấy vợ, cả thành ăn cưới hẳn bảy ngày, món nào món nấy ngon tuyệt, kỳ này cậu út thành thân chắc cũng làm cỗ dài hơi chứ nhờ? Phải ghé ăn mới được.”
***
Họ Liễu là tộc lớn ở Thông Châu, tổ tiên nhiều đời làm tể tướng, đến thời ông Liễu thì là tâm phúc của Tiên hoàng, từng làm quan nhất phẩm, chỉ tiếc ông mất sớm, phu nhân cũng đi theo vì quá đau lòng, chỉ để lại ba đứa con trai ruột.

Cụ Liễu dắt ba đứa cháu trai từ trong kinh về nhà cũ ở Thông Châu, nuôi nấng nên người.
Cậu cả là con trưởng, lúc cha mẹ mất đã lớn rồi, gánh vác gia tộc cùng bà nội.

Trước kia cậu là thị đồng của Thái tử, sau này Thái tử lên ngôi, muốn triệu cậu vào triều làm quan, song cậu cả không đành để bà và hai đứa em thơ lại, bèn từ chối khéo, ở lại quê nhà chấp chưởng dòng tộc, mấy năm trước đã lấy con gái đích của Thứ sử Thông Châu, hai vợ chồng vô cùng yêu thương nhau, có điều đến nay vẫn chưa có con.
Cậu hai thông minh từ nhỏ, khéo ăn hay nói, ba năm trước đã đậu Tam Nguyên rồi lên triều làm quan, được Hoàng đế khâm điểm vào Thượng thư Đài, là cận thần theo chầu Thiên tử, ai nấy bảo về sau thể nào cũng lên tể tướng.
Còn cậu út Liễu Thanh Hoan bệnh tật liên miên, từ nhỏ đến lớn tắm mình trong vại thuốc, hằng năm đều có thầy lang phán rằng cậu không sống nổi đâu, song cậu vẫn cứ tiếp tục lay lắt kéo hơi đến giờ, ly kỳ lắm.

Bởi tuổi còn nhỏ, sức khoẻ thì kém, bà nội và hai anh trai thương yêu cậu vô cùng.

Có điều tính tình cậu út lạnh nhạt, chẳng những không hảo nói năng, chẳng màng người khác mà còn ưa thanh tịnh, thích ở một mình từ tấm bé, sau dạo được cụ Liễu dắt đi viếng chùa, về nhà cậu lại bắt đầu thích mày mò kinh Phật.
Dân chúng Thông Châu cứ bàn tán mãi về cậu thiếu gia mới chừng đấy tuổi mà có “mùi” xuất gia tương lai này.
Song giờ thì tốt rồi, cậu út muốn cạo đầu đi tu nay phải lấy vợ, không làm hoà thượng nổi nữa.
Liễu Thanh Hoan choàng tỉnh khỏi cơn hôn mê kéo dài, nhận ra mình chưa chết, chẳng những thế mà còn có thêm một cô vợ.

Hừm, vợ chưa cưới.
Bà nội trước giường gạt nước mắt sung sướng, thở than kể chuyện cậu đã từng trải qua cơn nguy kịch thế nào, suýt thì không sống nổi ra sao.

Liễu Thanh Hoan nằm trên giường, cảm thấy cơ thể mình chưa từng nhẹ nhàng đến vậy, cứ như căn bệnh mãn tính bao năm đã biến mất tăm, bà nội mà không ép nằm rịt trên giường, có khi cậu lại bật dậy dạo quanh cả căn phủ rộng bao la này một vòng được ấy chứ.
Nhưng… “Vợ?” Liễu Thanh Hoan hỏi.
Cụ Liễu lau nước mắt, vui mừng bảo: “Ừ, may mà có Chước Chước, nếu không nhờ con bé, giờ bà đã không còn được gặp cháu yêu nữa rồi.

Chước Chước là một cô bé tốt, con bé chữa khỏi cho cháu, về sau cháu phải yêu thương con bé, biết chưa?”
Liễu Thanh Hoan: “Nhưng cháu cứ thấy về sau mình nên xuất gia mới phải.”
Cụ Liễu: “Đừng có nói bừa, cháu nghiên cứu kinh Phật nhiều quá hoá nghiện đấy, sau này không cho phép đọc nữa, thôi thôi cháu mới dậy, bà không nhiều lời kẻo cháu lại mệt, nào, nghỉ cho khoẻ.”
Liễu Thanh Hoan: “Cô gái mà bà bảo, tại sao phải lấy cháu?”
Cụ Liễu: “Chuyện này… bà cũng không rõ, cơ mà sau này cháu còn nhiều thời gian bên Chước Chước, tự tìm dịp hỏi con bé đi, gấp gáp làm gì.”
Liễu Thanh Hoan: “Thế nàng ấy đâu?”
Cụ Liễu: “À, Chước Chước thích món cá nướng phủ mình, con bé đang ăn, cháu muốn gặp thì chờ tý, lát nó sang.”
“Hầy, cháu trai lớn khôn biết nhớ vợ rồi, bà còn kịp nhìn thằng út lấy vợ cơ đấy, đúng là, đúng là mừng quá.” Bà cụ lại lầm bầm gạt nước mắt.
Liễu Thanh Hoan: “…” Hình như bà nội hết quan tâm lời cậu nói rồi hay sao ấy.
Liễu Thanh Hoan nằm trên giường vẫn mặt mày nhạt thết, ánh mắt mơ màng.
Cụ Liễu đi rồi, sân viện của Liễu Thanh Hoan yên ắng hẳn, tôi tớ ở cả bên ngoài, cúi đầu lo phận sự riêng, không ai lên tiếng.

Ai nấy đều biết cậu út ưa an tịnh, sân viện của cậu là nơi tĩnh mịch nhất cả toà phủ này.
Liễu Thanh Hoan nằm trên giường, đắp chiếc chăn gấm mỏng.

Cậu nghiêng đầu nhìn cửa sổ nửa mở, trông thấy góc vườn xanh mướt.

Trước lúc cậu hôn mê, vạt hải đường ấy đương độ trổ hoa, nay đã tàn cả.

Hoa úa hẳn đã được tôi tớ quét sạch, chỉ còn biêng biếc một màu.
Thình lình khung cửa sổ gỗ mở hé có nhánh đào chìa vào, cánh hoa hồng nhạt chi chít đầy cành, tràn trề sức sống, tựa ngày xuân hãy chưa phai.
Mùa này còn đào ư? Liễu Thanh Hoan nhủ thầm, nghe tiếng cót két, cánh cửa sổ hờ bị ai đấy mở toang, để lộ bàn tay cầm nhánh đào và lọn tóc đen.
“Cậu tỉnh rồi à?”
Cửa sổ rộng mở, ánh nắng ngoài vườn cũng theo đấy tràn vào, người buông lời đứng tựa nơi ấy, cầm nhánh đào cười với cậu, thân thuộc tự nhiên.
Liễu Thanh Hoan biết mình chưa từng gặp nàng, song cậu lại nghĩ mình phải nên gặp nàng rồi mới đúng.
“Tôi là Chước Chước, người cứu cậu, một tháng sau, tôi sẽ trở thành vợ cậu.” Chước Chước tựa khung cửa sổ, cười tít nhìn thiếu niên mặt mày tái trắng kia, ánh mắt cậu lạnh nhạt trông chẳng giống người bệnh tý nào, ai nhìn vào sẽ thấy đôi mắt ấy quá sáng quá tỏ tường, khiến người ta khó chịu.

Nhưng nàng chỉ thấy Thanh Đăng kiếp sau ngơ hơn kiếp trước.
Nếu cứ để chàng đầu thai mãi như thế, về sau sẽ ngày càng yếu đi, có khi lại ngu luôn không chừng.

Nên thôi cứ xong ở kiếp này là đẹp, kiếp này nên duyên vợ chồng với chàng, lấy lại sợi tơ tình không nên nảy sinh kia rồi chàng sẽ quy vị Thần Phật, tiếp tục làm Thanh Đăng Chân Phật, không phải phiền lòng những chuyện này nữa.
Liễu Thanh Hoan chòng chọc ngó người đang cười khì ngoài cửa sổ, chợt xoay vào vách, không nhìn nàng nữa.
Chước Chước: “…” Chàng tưởng việc phô ra tư thế động lòng người khi cầm nhánh hoa đào dễ lắm đấy à?! Cái ngoảnh mặt đầy ghét bỏ ấy là sao!

Chước Chước nhấc tay ném cành đào vào lọ hoa trên bàn, vịn khung cửa sổ khéo léo nhảy vào phòng, lao thẳng đến bên giường Liễu Thanh Hoan.
“Nè, chồng nhỏ, tôi nghe nói cậu muốn làm hoà thượng?” Chước Chước ngồi quỳ bên mép giường, tay thì giữ, tay thì lật người vừa trở mình vào tường im thin thít kia lại.
Liễu Thanh Hoan: “…” Khoẻ ghê, đau vai quá.
Liễu Thanh Hoan: “… Từ nhỏ ta đã nghĩ mình nên làm hoà thượng.”
Chước Chước bỗng thơm lên mặt cậu, “Muốn làm hoà thượng? Kiếp sau đi.

Kiếp này cậu chỉ có thể ngoan ngoãn làm phu quân tôi thôi.”
Liễu Thanh Hoan bỗng đưa tay kéo tay nàng ra, nghiêm túc bảo: “Cô né xa ta ra được không?”
Chước Chước sượng mặt, nghe cậu nói tiếp: “Bởi ta chưa khỏi bệnh, từ nãy tim đã đập nhanh lắm rồi, lồng ngực nghẹn cứng không thở được, ta cần nghỉ ngơi, cô né xa ta một chút.”
Chước Chước: “… Tôi đã chữa khỏi hẳn bệnh cho cậu rồi, bây giờ cậu khoẻ mạnh lắm.”
Liễu Thanh Hoan: “Thế tình trạng bây giờ của ta là sao?”
Chước Chước không khỏi nhếch mép lên, “À, là cậu thích tôi đấy.”
Liễu Thanh Hoan: “…”
Chước Chước chớp mắt, “Cậu không tin hả? Được thôi, chúng ta thử xem.” Dứt lời bèn lùi ra sau, ngồi lên chiếc bàn ngoài kia, hồi lâu sau mới hỏi: “Nè, giờ cậu có hít thở bình thường được chưa? Tim cũng hết đập nhanh rồi chứ?”
Liễu Thanh Hoan đáp: “Đúng vậy.”
Chước Chước lại bước tới bên giường, nắm lấy tay cậu, mười ngón đan nhau, cúi xuống hôn lên môi ai.
“Cậu xem, giờ lại đập nhanh rồi đấy.” Chước Chước đặt tay lên ngực Liễu Thanh Hoan, cười khì.
Liễu Thanh Hoan mới đầu ngờ vực, sau thì như đã ngộ ra, đoạn bình tĩnh hơn, “Quả nhiên bệnh chưa chữa khỏi hẳn, yên tâm, ta không mách bà nội đâu.”
Chước Chước đặt tay lên trán cậu.
Một tháng sau, đại hôn của cậu Liễu, Tung Nguyên đại sư của chùa Hộ Quốc đến ăn tiệc mừng, gặp Liễu Thanh Hoan rồi thì biến sắc: “Cậu này là đệ tử Phật gia trời sinh, ta mà gặp cậu sớm hơn chút nữa, ắt đã nhận làm đệ tử rồi!”
Mọi người thoáng cái sững sờ, tân nương bấy đang làm lễ tuốt phắt khăn trùm, lạnh nhạt lườm Tung Nguyên đại sư đức cao vọng trọng, thế mà khiến ông ta tuôn mồ hôi lạnh, cúi đầu tránh ánh mắt nàng rồi vội vã đi về, không bao giờ dám đến phủ họ Liễu nữa.

Tân nương xinh xắn cười lạnh, tuyên bố thẳng chùa miếu nào dám nhận phu quân mình vào làm hoà thượng thì nàng sẽ đến dỡ hết chúng ra.
Ngay cả Tung Nguyên đại sư của chùa Hộ Quốc cũng phải sợ nàng thì còn ai dám nhắc đến, khách khứa nhủ thầm trong dạ, chẳng hay vị này có lai lịch thế nào, song cụ Liễu và vợ chồng cậu cả ngồi ghế trên lại mừng vui ra mặt.
Tân lang Liễu Thanh Hoan – nhân vật chính còn lại thì nhặt chiếc khăn trùm của tân nương lên choàng lại cho nàng, sau đó ra dấu bảo người chủ trì tiếp tục làm lễ, điềm nhiên vô cùng.
Mọi người thấy thế lại nghĩ câu chuyện cậu út nhà này muốn làm hoà thượng xôn xao dạo trước chỉ là tin đồn nhảm, cậu ta như này đâu có vẻ gì là định quy y cửa Phật đâu, ban nãy Tung Nguyên đại sư tới, cậu còn chả thèm ngước mắt lên kia mà.
Chước Chước rất vừa lòng với hành động của cậu, nàng vuốt gương mặt niên thiếu kia, khe khẽ thì thầm: “Tốt lắm, phải ngoan em mới không đánh gãy chân chàng.”
Liễu Thanh Hoan: “… Ừm.”
Cậu út nhà họ Liễu đánh không lại tân nương trông thì yếu đuối cần được chở che kia, đường nhiên cậu cũng chưa từng muốn ra tay với vợ mình, dẫu nàng cứ đụng chuyện là sẽ véo mặt véo tai cậu.
Từ lần gặp mặt đầu tiên, Liễu tiểu thiếu gia đã mất sạch cái uy làm chồng rồi.
Trong mắt tôi tớ Liễu gia, cậu út là một người chồng tốt rất mực thương yêu vợ, phu nhân nói một cậu không dám cãi hai, phu nhân đi ngủ cậu vào làm gối, phu nhân xơi hạt khô thì cậu ngồi tách vỏ.

Trong mắt phụ huynh Liễu gia, cậu út không thích gần gũi họ thực sự rất yêu thương vợ, cả hai thắm thiết vô cùng, ngày ngày như hình với bóng, không lấy làm phiền.

Trong mắt dân chúng Thông Châu, cuộc sống giữa vợ chồng cậu út nhà họ Liễu hoà thuận ấm êm, cùng đi cùng đứng, là một đôi quyến lữ uyên ương.
Hôm nay, cậu út được mọi người tán tụng là người chồng tốt bị vợ đẩy ngã chỉ bằng một ngón tay.
Liễu Thanh Hoan từ dưới đất lồm cồm bò dậy, nhìn vợ mình.

Nàng vênh mặt trong khiêm nhường, giở vẻ cao thâm, ngồi yên chỗ cũ, vừa gặm dưa vừa nhận xét: “Khá hơn hai tháng trước rồi, không tồi, tiếp tục cố gắng, mấy năm nữa chắc chắn sẽ thành cao thủ võ lâm.”
Song Liễu Thanh Hoan nào đâu muốn làm cao thủ võ lâm, chàng chỉ muốn yên tĩnh đọc kinh Phật thôi.
“Muốn đọc kinh hả? Được chứ.” Chước Chước hiền hoà cười, huơ tay đánh soạt, khoe ra mười mấy quyển kinh Phật, “Thắng em là được.”
Thực ra Liễu Thanh Hoan không cần phải xem, bởi vài năm trước chàng đã có thể tụng vanh vách tất cả những quyển kinh mà mình từng đọc, giờ muốn sờ vào là vì quen tay thôi.

Song chàng không thể nói ra, bởi nói rồi vợ sẽ giận, vợ giận sẽ đẩy chàng ngã chúi nhũi, chàng ngã rồi sẽ hít thở không thông…
“Hôm nay đẹp trời như thế, mình không ra ngoài chơi hả?” Chước Chước bỗng xoa tay bảo.
Liễu Thanh Hoan rất muốn từ chối, song bây giờ cả hai đã được anh cả và chị dâu cười tiễn ra cổng, chị còn nắm tay vợ chàng, hiền hoà dặn rằng đi chơi phải chăm chàng cho tốt, không được để lạc.
Vợ chồng thiếu gia nhà khác ra ngoài chơi chắc toàn lên núi Tượng gần đấy xem hoa ngắm cảnh, bát phố dạo hàng mua trang sức tranh ảnh, vào quán uống trà dùng bữa, đại loại thế.

Song Liễu Thanh Hoan và vợ mình mà ra ngoài là sẽ đến… Long cung ở biển Bắc.
Ờ, Long cung biển Bắc đấy.
Liễu Thanh Hoan cũng không ngờ rằng mình lại chẳng ngạc nhiên khi biết vợ không phải là người phàm.

Nhưng chàng thực sự chả bất ngờ tẹo nào.
“Ha ha ha ta lấy chồng rồi, Long Thú nhớ gửi quà mừng đấy nhé!” Chước Chước kéo phu quân mặt mày thản nhiên nhà mình sang biển Bắc tìm bạn.
Long Thú buồn bã tặng một con rồng nhỏ lành tính cho cặp vợ chồng thắm thiết tới tận biển Bắc này.

“Đây là rồng linh mà long tộc bọn đệ ưa dùng để canh báu vật, không hoá hình được nhưng rất trung thành.”
“Ấy, con rồng cái màu trắng này xinh đấy ~” Chước Chước xoa đầu con rồng trắng vừa cuộn tròn quanh tay làm vòng cho mình, rồng ta ngoan ngoãn vẫy đuôi.
Lúc về, Chước Chước nói với Long Thú ra tiễn họ: “Đệ xem ta đã chờ được rồi này, nên rồng béo à, đừng đợi nữa.”
Long Thú cười khổ, phất tay song chẳng nói gì, hắn bay lên trời, hoá về nguyên hình là một con rồng bạc, lượn vòng giữa mây rồi biến đi đâu mất.
Chước Chước lắc đầu, bỗng thấy Liễu Thanh Hoan chắp tay sau lưng nhìn mình.
Chước Chước: “Nhìn em thế làm gì… Khụ khụ, em không có thích đệ ấy, em chỉ thích chàng thôi.”
Liễu Thanh Hoan bình thản đáp: “Thế ư.” Gió biển luồn vào chéo áo chàng, gương mặt điềm nhiên quen thuộc, trong một khoảnh khắc nào đó, Chước Chước chừng đã về lại những ngày xa xưa.
Thanh Đăng luôn nhìn nàng bằng vẻ thấu suốt tất cả như thế.
Nàng bỗng bước đến nắm tay Liễu Thanh Hoan, vùi đầu vào ngực chàng, khe khẽ thì thầm: “Thật đấy, số em chỉ thương mến duy nhất một người là chàng, trọn kiếp chẳng màng ai khác nữa, em muốn bên chàng đến ngày tóc bạc da mồi, đời này không ai chia cắt được chúng ta.”
Cảm nhận ai đấy nắm ngược lại tay mình, Chước Chước mỉm cười nhắm mắt.
Kiếp vợ chồng này mấy mươi năm, đem so với sinh mạng đằng đẵng vạn năm của thần tiên thì chỉ ngắn ngủi tựa cái chớp mắt.

Nhưng như thế đã đủ với nàng rồi, điều vốn chẳng thể ước ao, thình lình đạt được sẽ khiến người ta bàng hoàng thảng thốt, song một khi đã biết tất cả có kỳ hạn thì đáy lòng lại bình tĩnh hơn nhiều, hạnh phúc đến rồi, cứ thản nhiên mà đón nhận thôi.

Đêm Liễu Thanh Hoan làm lễ đội mũ, hải đường ngoài sân bị gió cuốn rơi đầy bên hiên, nến đỏ trong phòng cả đêm không tắt, trướng ấm thơm tho, chập chờn sóng lượn.
Vợ chồng cậu cả có con đầu lòng, Chước Chước và Liễu Thanh Hoan đến thăm, đứa bé nhỏ xíu chưa mở mắt, bọc tã nằm ngủ thật say.
Chước Chước ngồi xổm bên nôi trêu bé con, mợ cả cười bảo: “Chước Chước định khi nào sẽ cho cậu út một đứa đây?”
Tối ấy về phòng, Chước Chước nằm nhoài lên người Liễu Thanh Hoan, chọc cằm chàng, “Chàng muốn có con không?”
Liễu Thanh Hoan: “Em không phải người phàm mà cũng sinh con được à?”
Chước Chước: “… Không được.”
Liễu Thanh Hoan: “Ừ, vậy thì không cần.”
Chước Chước sờ cằm: “Thật ra… Nếu chàng muốn có con thì ta cũng sinh được á.”
Liễu Thanh Hoan lắc đầu, “Không cần.”
Chước Chước: “Đừng bảo chàng ghét con nít nhé?”
Liễu Thanh Hoan: “Không phải.” Chàng mân mê lọn tóc rũ xuống ngực mình.
Chước Chước đăm chiêu, chợt hỏi: “Đừng bảo chàng nghĩ em không phải là người phàm, cho nên sinh con là việc làm trái mệnh trời, hao tổn cực nhiều tu vi và pháp lực rồi nguy hiểm nọ nguy hiểm kia nên mới không nỡ đó nhé?”
Liễu Thanh Hoan: “…”
Chước Chước giữ mặt không cho chàng xoay đi: “… Chàng nghĩ thế thật hả… Chàng lén em đọc bao nhiêu quyển thoại bản lạ lùng vậy?”
Thực ra muốn có con cũng được, nhưng nàng là hoa cỏ linh, chẳng cần đàn ông vẫn tự lực cánh sinh tốt, cơ mà “đứa bé” chào đời là một cái cây chứ không phải là người, khi ấy đâu phải chăm trẻ nữa mà thành bón cây rồi, lại còn phải bón rất lâu, khụ khụ, thôi không cần phải nói chồng nghe chuyện này.
Trêu Liễu Thanh Hoan một chập, Chước Chước thong thả bảo: “Mình mà có con thì đứa bé ấy chắc chắn sẽ rất phiền, hai ta lành tính thế này, con ắt phải quậy lắm.” Nàng nhớ lại mình lúc nhỏ, chêm thêm: “Ừm, sẽ là một con quỷ nghịch ngợm ưa leo lên người rồi vẽ rùa lên mặt chàng ấy!”
Kiếp này họ không có con, đôi lứa bên nhau từ thời tóc xanh đến buổi hoa râm da mồi.
Cả đời bình an suông sẻ, không bệnh tật gì, thọ hết người đi.
Đêm ấy trăng tròn, Liễu Thanh Hoan đã hoá cụ ông bỗng bảo muốn ra vườn ngắm trăng, hai ông bà lững thững dìu nhau qua cửa, ngồi trong vườn.
“Mình còn nhớ dáng vẻ em lần đầu gặp mặt chăng?” Cụ bà trắng cả mái đầu hỏi.
“Nhớ.” Liễu Thanh Hoan chớp mắt mỉm cười.
Ánh trăng chẳng rõ đã mông lung tự khi nào, cụ bà giữa vườn bỗng sáng rỡ lấp lánh, chầm chậm hoá thành một thiếu nữ xinh xắn chỉ mới mười sáu xuân thì.

Nàng ôm người đã không còn hơi thở vào lòng, rũ đầu thật thấp, tóc đen tản mác, vấn vít cùng mái đầu hoa râm.
“Kiếp này ngắn quá Thanh Đăng à.”
Thần lực gợn sóng, tơ hồng óng ánh được kéo ra khỏi cơ thể Liễu Thanh Hoan, dần dà cuộn thành một cái kén trước mặt Chước Chước.

Nàng phụt ra ngụm máu, tưới lên kén đỏ, mặt mũi tái xanh.
Nâng niu cái kén trong lòng bàn tay, Chước Chước hoá thành luồng sáng bạc, ngoảnh lại nhìn lần cuối rồi tan biến trong vườn.
Dạo trên sông ngân, ánh sao lấp lánh, Chước Chước chọc chiếc vòng ngọc trắng nơi cổ tay, vòng ngọc cựa mình, hoá thành một con rồng trắng oai phong, Chước Chước giao kén đỏ cho nó.
“Chỉ e sau này ta không chăm ngươi được nữa, đây là thứ rất quan trọng với ta, giao cho ngươi nhé.” Chước Chước nhoẻn cười, phất tay đón gió mà bước, “Cơ mà chắc ta không còn cơ hội đi lấy nó đâu, ngươi giấu nó hộ ta, ở đâu cũng được.”
Ngọc Hoa Thần Quân Chước Chước chưởng quản bốn mùa, điều khiển thời tiết bởi quấy nhiễu Thần Phật lịch kiếp, nhìn lén mệnh trời mà bị tước tư cách Thần Quân, phạt phải xuống trần lịch kiếp.
Thần Quân mười vạn năm lịch kiếp một lần, Chước Chước mới thăng vị chưa đến vạn năm, gần như không thể thành công, huống hồ kiếp số nàng phải độ lại là kiếp cứu thế mà chưa ai từng thử qua.

Dùng sức một người cứu cả thế giới, là kiếp buộc phải chết.
Không ủ ê lo lắng như Thiên Tử và Hổ Đồ, Chước Chước lạc quan vô cùng, nàng chẳng nói lời nào, mỉm cười không ngoảnh đầu lại.
Chước Chước đi được mười năm, Thanh Đăng Chân Phật núi Linh lịch kiếp trở về.
 
Ngộ Phật
Chương 163: 163: Trăm Năm Ấy


CHẲNG HAY NGƯỜI NƠI ĐÂU.
Đã trăm năm trôi qua kể từ ngày kiếp nạn gần như huỷ diệt thế giới ấy xảy ra.
Hơn trăm năm, người phàm đã trải hai kiếp, mấy bận đổi thay, cõi tu chân rốt đã sóng êm biển lặng, lại phồn hoa sầm uất tựa thuở nào.
Ngày ấy tử giới xâm thực, Ma chủ tiền nhiệm Đàm Lưu suýt đã giết sạch đệ tử các tông môn lớn để mở cửa Vạn Ma, tuy không thành công nhưng hậu quả để lại vẫn khiến cõi tu chân sứt đầu mẻ trán.
Cửa Vạn Ma không được mở ra, song đám “ma” được triệu đến thế giới này bằng huyết tế cũng chẳng quay về.

Mới đầu chỉ có bọn ma quỷ cấp thấp không có trí khôn, chỉ biết giết chóc, sau này bọn ma cấp trung và cấp cao có thể hoá thành người cũng tới cả đây.

Cõi tu chân lại nhiều thêm một loài sinh vật mới, được gọi là ma.
Khác với “ma” đối địch với “thần” được miêu tả trong các quyển sách cổ, ma vật giống yêu quái hơn.

Có điều ma vật khát máu hơn yêu quái nhiều, khi đến với cõi tu chân đang trên bờ nguy cấp, chủng loài mới này đã giáng không ít đòn vào cư dân nơi đây.
Về sau, bằng sự nỗ lực không ngừng, đệ tử lứa sau của cõi tu chân đã đẩy lùi được cả thảy ma vật mưu đồ đánh chiếm vùng đất này, bấy giờ thế giới mới có thời gian nghỉ ngơi hồi sức.

Bọn ma vật này phân rất rõ cấp bậc, ma vật cấp cao có thể điều khiển ma vật cấp thấp, song bọn cấp cao lại chẳng ai chịu ai, ít khi nào bắt tay hợp tác.

Bởi thế, cõi tu chân mới thoát khỏi sự xâu xé của chúng.
Vì phải cùng kháng địch, cõi tu chân gần như lâm vào khủng hoảng năm xưa mới đoàn kết lại được, ép bọn ma vật lui vào bốn vùng tử giới, song phương vạch rõ lãnh thổ.
Sau kiếp nạn kia, tử giới khắp nơi dần dà tiêu biến, cuối cùng còn thừa bốn mảng với diện tích khổng lồ.

Chẳng những không biến mất, chúng còn là ổ của rất nhiều loài sinh vật kỳ lạ không thuộc về thế giới này, đậm đặc ma khí, bất ngờ thay lại cực hợp với ma vật, trở thành địa bàn của chúng.
Bao nhiêu năm trôi qua, sau khi gây chiến mấy mươi trận đủ khắp các quy mô, bè lũ ma tu ở Ma Vực khiêm tốn hơn nhiều.

Thuở ấy không chỉ tu sĩ cõi tu chân phải hy sinh, bọn ma tu cũng đã lìa đời vô số, qua hồi đại nạn, Ma Vực chừng như bị quét sạch phân nửa.

Ma chủ đương nhiệm Ngỗi Hư lại khử bớt một phần, giết gần toàn bộ các con cờ mà Đàm Lưu để lại nhân lúc y mất tích.
Ma Vực được thay máu, an bình hơn nhiều, Ma chủ trẻ Ngỗi Hư tuy không xảo quyệt bằng nhưng thủ đoạn lại tàn nhẫn chẳng kém gì Đàm Lưu, dần dà khống chế được Ma Vực đang tổn thương nguyên khí.

Lần xử lý toàn diện này khiến Ma Vực yên ắng hẳn, trong khi tu sĩ chính đạo đại chiến ma vật thì ma tu im hơi lặng tiếng, chuyên tâm xây dựng lại Ma Vực.
Cuối cùng hình thành cục diện ma vật và tu sĩ chính đạo kềm chế lẫn nhau, ma tu giữ thế cân bằng kỳ lạ này.
Về phần tu sĩ chính đạo, cục diện một chùa một đạo quán đứng đầu, năm môn phái lớn bằng vai gánh gồng cả cõi tu chân năm ấy đã không còn.
Thuở nọ Thượng Vân tự và Vô Cực đạo quán chỉ thiệt hại số ít đệ tử, thậm chí chẳng bằng lượng nhân thủ đã hy sinh trong các cuộc đại chiến kéo dài với bọn ma vật sau này, cho nên uy tín chẳng những không giảm mà còn hơn xưa.
Song Ngũ đại môn phái thì khác.

Xuất Trần diệt môn sớm nhất, cũng gọn ghẽ nhất.

Mảng tử giới trên đất Xuất Trần không biến mất mà còn bành trướng thêm, xoá sạch vết tích của tông môn này, nay đã trở thành một trong bốn hang ổ của bọn ma vật.
Vạn Thành sơn môn là môn phái gặp nạn thứ hai, số người chết cũng khá nhiều, bị sát nhập vào một môn phái hạng ưu nhưng kém vai vế hơn, không còn huy hoàng như xưa.
Phất Kiếm và Phủ Hoa tông không tổn thất là bao, song lại mất khá nhiều đệ tử trong trận chiến với ma vật, sau cùng hợp thành một môn phái mới, đặt tên là Phất Hoa Kiếm tông.
Dung Trần sơn phái hẳn là tông môn duy nhất còn giữ được cái danh Ngũ đại tông môn của mình.
Năm tông môn lớn nay chỉ sót bốn.

Lần lượt là Phất Hoa Kiếm tông, Dung Trần sơn phái, Vạn Thương môn – tông môn từng là bầy tôi của Vạn Thành, đã sát nhập đệ tử sót lại của Vạn Thành vào môn phái mình, cuối cùng là Bích Khê đảo – tông môn nổi lên trong vòng trăm năm nay, dạo trước cũng chẳng kém cạnh Ngũ đại tông môn là bao.
Dưới họ là vô vàn các tông môn lớn nhỏ chuyển dời thay đổi, khó mà kể hết được.

Nghe rồi chỉ biết than rằng thời gian như nước xuôi dòng, sự suy thịnh của tông môn tựa cỏ cây tàn rồi lại mọc, không ngừng giao thoa.
Dung Trần là tông môn thiệt hại ít nhất năm ấy, thuở trước đã trở thành cái đích chỉ trích của hằng hà sa số người.

Bởi Ma chủ tiền nhiệm Đàm Lưu – kẻ đã gây nên cái chết của vô vàn tu sĩ, triệu hồi ma vật đến cõi tu chân đã đội lốt Tạ Xuân Hoài – đệ tử dãy Bạch Linh thuộc môn phái này.

Những tu sĩ đã mất đi người thân bạn bè dẫu biết chuyện không can hệ gì đến đệ tử Dung Trần, song về mặt cảm tính vẫn không dằn được cơn trách móc.
Con người là giống loài bầy đàn, gã đầu sỏ Đàm Lưu chưa rõ sống chết nay đang mất tích, quần chúng cần xả giận ắt phải nhằm vào Dung Trần – tông môn trông có vẻ may mắn nhất trong số xui xẻo.
Khoảng thời gian ấy, Dung Trần sơn phái, nhất là dãy Bạch Linh cực kỳ loạn lạc, thất thoát đệ tử, kẻ chết người đi, suýt thì tuyệt diệt.

Mạch chủ Bạch Nhiễm Đông qua đời, đại đồ đệ Bạch Linh mất tích.

Nhị đồ đệ Yến Phù Tô về một chuyến bái biệt tông môn rồi đi đâu không rõ, tiểu đồ đệ Giang Trừng bỏ mạng, đệ tử trực hệ Mạch chủ chỉ còn mỗi tam đệ tử Trình Dao.
Tất cả đệ tử núi Thanh Minh của Tạ Xuân Hoài khăn gói rời môn phái sớm hơn cả, không ai dám dính dáng gì đến ông ta, chỉ mỗi Hứa Thanh Sương lê tấm thân đầy thương tích về đấy ít lâu, trầm tính hơn nhiều.

Người cuối cùng có thể đứng ra nắm quyền là đại sư bá Liên Vị Hành và Chu Uyển, ba chị em họ Chân – bốn đệ tử của ông.
Sau rốt vẫn nhờ tin tức mà các lão tổ mang về mới dần dà dẹp được điều tiếng ồn ào kia.

Nghe bảo năm ấy cột chống trời đã đổ, thế giới sắp tàn, cuối cùng chính Giang tu sĩ của Dung Trần sơn phái đã đem mình làm giá đỡ, gánh cả cõi này, tất cả mới có đường sống.
Nghe đồn vị Giang tu sĩ hoá thân thành cột chống trời ấy là Thần Quân cõi Trời xuống trần lịch kiếp.

Chính bởi sự kính sợ dành cho thần linh này, Dung Trần sơn phái mới thoát khỏi bờ vực bị mọi người mắng chửi.
Lại nhờ có cái uy của Vô Cực Tử Hạc Kinh Hàn của Vô Cực đạo quán – tu sĩ đầu tiên của cõi này đạt được thành tựu huy hoàng qua đại chiến ma vật, mọi người đều biết cháu gái Giang Thiền của vị kiếm tu lạnh lùng vô tình, chúa bao che ấy là đệ tử của sơn phái Dung Trần, ai dám làm khó Giang Thiền thì cứ chờ bị hắn đâm phát chết tươi đi.
Vì là máu mủ ruột rà với người cậu Hạc Kinh Hàn của mình, Giang Thiền cũng ưa bao che người thân như hắn, nàng là người đầu tiên sẽ nhảy ra tính sổ kẻ dám động chạm đến sư huynh sư tỷ sư thúc sư bá của mình.
Thêm cả Phong Hữu Chỉ – người tình của Cung chủ Thế Ngoại Tiên Cung từng là đồ đệ của Giang tu sĩ nữa, sau lưng hắn là cả cái Thế Ngoại Tiên Cung trên lý thuyết thì không nhúng tay vào việc của cõi tu chân, song Cung chủ Thế Ngoại Tiên Cung lại là “hôn quân” chẳng thiết giang sơn chỉ yêu mỹ nhơn, thuở ấy từng vì một câu nói của người tình mà can dự cả vào kiếp nạn diệt thế, là một ngọn núi dựa khá chắc chắn.

Xa có Thế Ngoại Tiên Cung uy h**p, gần có Hạc Kinh Hàn của Vô Cực đạo quán lom lom quan sát, lại cả lão tổ Xích Hàn Y – yêu tu điên có tiếng của đảo Ngân Hoàn quản lý dãy Bạch Linh cùng nhị đệ tử Giang Nguyệt của Giang Trừng nữa, dần dà chẳng ai còn dám gây sự.
Về phần Giang Thiền ngày càng nổi danh trong vòng trăm năm trăm nay, thân phận của nàng cũng gây xôn xao vô cùng.

Là con gái của Thần Quân lịch kiếp hoá cột chống trời, nàng có thân phận cực kỳ đặc biệt.

Lời đồn đình đám nhất trong hằng hà sa số các phiên bản khác nhau chính là Giang Thiền là con gái của Giang Trừng và Thượng Vân Phật Tử Thanh Đăng đại sư năm ấy.
Thuở ấy không rõ vì sao cửa Vạn Ma chẳng những không mở ra mà từ từ tiêu biến, đầu sỏ Đàm Lưu mất tích, biến mất cùng ông ta còn có hai người là Thượng Vân Phật Tử Thanh Đăng đại sư và Giang Trừng.

Không ai rõ chuyện gì đã xảy ra, chỉ biết Thanh Đăng đại sư và Giang Trừng đã hy sinh.
Hãy còn một nguyên nhân khiến mọi người phỏng đoán Thanh Đăng đại sư chính là cha đẻ của Giang Thiền.

Đấy chính là việc đồ đệ Thù Vọng của Thanh Đăng đại sư hằng năm sẽ đến Dung Trần thăm nàng.
Trong khi ai nấy cho rằng Thù Vọng – đồ đệ duy nhất của Thanh Đăng đại sư sẽ trở thành Thượng Vân Phật Tử đời tiếp theo, y lại lặng lẽ rời chùa, không rõ tung tích, sau này vẫn chỉ hoạt động trong âm thầm, chính vì y đến thăm Giang Thiền hằng năm mà mọi người mới nhớ có nhân vật này tồn tại
Càng khỏi kể đến các tin đồn lẻ tẻ, ví như trụ trì Thượng Vân tự hãy còn gửi quà thành niên cho Giang Thiền.

Không thân thuộc thì tặng quà làm gì? Trụ trì Thù Ấn chưa từng tặng quà cho ai đâu.
Cuộc sống ngày càng êm đềm, người ta ngày càng ưa hóng chuyện, thói đời mưa thuận gió hoà, tu sĩ hay người phàm đều sẽ đàn đúm bạn bè, bàn tán các câu chuyện mình biết giết thời gian.

Năm tháng đằng đẵng máu tanh và loạn lạc ấy đã xa xưa lắm rồi.
Cõi tu chân phồn thịnh, cuộc sống của người phàm cũng dần dà yên ổn, lớp các ông các bà từng chứng kiến tai kiếp thuở ấy đã qua đời cả, dẫu được truyền miệng qua lời kể của cha anh, giới trẻ ngày nay vẫn không mường tượng được cái cảm giác khốn cùng tuyệt vọng khi ấy.
Như quyển sách sang trang, gió xuân đã cuốn phăng đi mọi đau thương ngày nào, dành chỗ cho mầm non đâm chồi, không còn lá cành héo úa năm cũ.
Trần thế nay đã đổi khác hoàn toàn.

Như cánh bướm phá kén mà ra, trước khi kiếp nạn ập tới, cõi tu chân đã dần suy tàn, linh khí đất trời ngày ít, tu sĩ tu luyện kham khổ hơn, sau hồi tai ương suýt thì diệt thế ấy, đất lành phân tách, linh khí từ từ tích tụ ngập tràn, nhiều miền đất lành dồi dào linh khí xuất hiện.
Đa số đã gác lại quá khứ đầy đau thương ấy, song có một vài người không tài nào quên được.
Dòng sông máu trăm năm trước đã được đệ tử Thượng Vân tạm thời phong ấn lại, đất Táng vốn nổi danh xúi quẩy, nay lại càng không ai dám đến gần.

Đồn rằng dưới dòng sông ấy có vô số oan hồn, đến gần sẽ nghe tiếng quỷ khóc than, sơ sẩy tý chút thôi sẽ bị chúng đoạt mất thần trí.
Sông máu bao năm chẳng ai ghé, nhưng cứ cách một khoảng thời gian sẽ lại đón tiếp một người.

Người này đứng trên bờ sỏi đã bị máu nhuộm thành màu đỏ thẫm dõi về phía sông, liền một ngày đêm như thế.
Người này xinh đẹp vô ngần, tóc đen như thác, dáng vóc yêu kiều, mặt mày lạnh lùng cao ngạo, không thiết gần ai, hàng mày sắc sảo điểm tô thêm vài phần đĩnh đạc, đôi mắt vốn dịu dàng nay lại rét căm, khoanh tay mà đứng, vừa trông đã biết tính tình ác liệt.

Bên eo giắt hai thanh kiếm đen đơn giản một ngắn một dài, mặc áo đen, đeo chiếc vòng hình rồng sống động nơi cổ tay.
Người này là Giang Thiền, là cô bé vẫn luôn xị mặt trong lòng Giang Trừng năm ấy.
“Hạch Đào Nhỏ.”
Người đứng bên bờ sông máu nghe tiếng ngoảnh lại, thấy người đến là ai, khuôn miệng nhoẻn cười: “Cậu.”
Người đàn ông mặc đạo bào hai màu đen trắng, lưng đeo hai thanh kiếm trắng đen, tướng mạo vẫn như ngày trước, khí thế càng thêm oai hùng.

Song dáng vẻ ấy là dành cho người ngoài, đến gặp cháu yêu, Hạc Kinh Hàn luôn dịu dàng hơn chút đỉnh.
“Con lại đến đây rồi.”
“Vâng, từ Ma Vực về ngang qua đất Táng, bèn sang xem thử.” Giang Thiền lại nhìn sông máu, rồi ngước mắt lên tầng mây nặng nề lửng lơ trên trời.
Hạc Kinh Hàn xoa đầu Giang Thiền, “Có người bảo gặp nhị sư bá Yến Phù Tô của con ở Vân Châu.”
“Vân Châu?” Giang Thiền đăm chiêu, “Vừa khéo hay tin có ma vật cấp trung đang làm loạn ở Vân Châu, con đi một chuyến vậy, tiện đường xử lý ma vật luôn.”
Hạc Kinh Hàn: “Ta đi cùng con.”
Giang Thiền: “Không cần đâu ạ, con đã đến hậu kỳ Nguyên Anh rồi, cậu lo lắng chi nữa.”
Hạc Kinh Hàn làm thinh, Giang Thiền gãi đầu, thở dài: “Thôi được, con biết rồi.

Thù Vọng ca ca có việc ở Ma Vực, phải ở lại đấy xử lý, không đi theo con đâu, cậu yên tâm, đừng quản nghiêm như vậy.”
Hạc Kinh Hàn hừ lạnh.
Hai cậu cháu vừa nói vừa rời khỏi đấy.

Dòng sông máu cuồn cuộn sau lưng chừng như nổi gió.
 
Ngộ Phật
Chương 164: 164: Chương Cuối


ÉN VỀ TỔ, NGƯỜI XƯA TRỞ LẠI.
Giang Trừng choàng tỉnh, thấy mình đang vắt vẻo trên chạc cây ngọc cao to, gốc đào chẳng giống đào gì cả này chính là bổn thể của cô.
Khi ý thức được điều đó, cô đồng thời nhớ lại được kiếp làm thần đằng đẵng so với sinh mạng người phàm song lại ngắn ngủi nếu cân đong với các vị Thần Quân khác của mình.

Và nhớ lại cả mối nhân duyên đan cài có lẽ đã bắt đầu từ lúc hoá linh giữa mình và Thanh Đăng đại sư.
Sau khi nhớ lại mọi thứ, cô nghe thấy giọng ai vang lên dưới tán lá: “Em tỉnh rồi.”
Giọng nói điềm nhiên bình thản, quen thuộc như khắc sâu vào tâm khảm.

Giang Trừng nhìn xuống, thấy ngay người mình đang suy nghĩ về.

Là Thanh Đăng đại sư – Thanh Đăng Chân Phật, cũng như cô là Giang Trừng, và cũng là Chước Chước.
Biết Thanh Đăng đứng dưới tàng cây, Giang Trừng buông lơi, thả mình từ trên xuống.

Cô giang tay, lao vào lòng Thanh Đăng.
“Thanh Đăng, sao chàng lại ở đây?” Giang Trừng hỏi.
Cô xuống trần lịch kiếp buộc phải chết, Thanh Đăng hẳn nên về núi Linh tiếp tục làm Thanh Đăng Chân Phật rồi chứ, sao lại về đây thế này.

Đại sư hãy còn giúp cô hoá cột chống trời nữa kia.

Trước đó ắt chàng đâu đã biết gì, giờ cô nhớ lại, Thanh Đăng chắc cũng thấu tỏ cả rồi.
Mà cô phải đang là cột chống trời mới đúng, và tại sao Thanh Đăng lại xuất hiện dưới chân cột bằng dáng vẻ này?
Giang Trừng lòng đầy câu hỏi, vẫn ôm riết lấy người kia.

Thanh Đăng với tay ra trước như đang vén mây, để lộ cõi tu chân phồn hoa bên dưới, trăm năm trôi qua, nào đâu tan tác hiểm nguy thuở nào.
“Đây là mộng, ta gặp em trong mộng.” Thanh Đăng bảo.
Giang Trừng buông chàng ra, lặng thinh hồi lâu mới bất đắc dĩ gãi đầu, “Đừng bảo chàng vẫn chưa độ xong tình kiếp đấy nhé?”
Ánh mắt Thanh Đăng phiêm phiếm ý cười, rồi dằng dặc xa xôi, chàng bảo: “Kiếp số của ta nào phải bắt đầu từ khi em vô ý buộc tơ hồng, mà là trước lúc em ra đời kia.”
“Ta cảm nhận được kiếp số của mình mới rời núi Linh, hoá bổn thể tu luyện trên đỉnh tiên chạm mây, em thì nên duyên rơi xuống, được ta ươm mầm linh trí, từ đấy, kiếp số của ta bắt đầu.”

“Ồ, ý là có kéo tơ tình ra hay không cũng vậy?!” Giang Trừng hỏi.
Thanh Đăng: “Thần Phật núi Linh nào có tơ tình, song lòng đầy yêu thương, tơ tình khắc tự đâm chồi.

Tơ tình thực sự khác với tơ hồng của Ti Duyên Thần Quân, tước không nổi đâu.”
Giang Trừng: Rốt cuộc tinh thần hy sinh vì tình sục sôi bi tráng năm ấy của mình chẳng nên tích sự gì hết, lòng hơi chát mà vẫn phải cười.
“Thế bây giờ như nào?” Giang Trừng gục đầu vào vai Thanh Đăng, lừ đừ hỏi.
Thanh Đăng vẫn điềm nhiên như thường, “Ta vẫn chưa độ xong kiếp số của mình.

Từ kiếp này, ý nguyện không đổi, lòng này vẫn thế, Phật tâm hãy còn, trăm kiếp sau mới được quy vị Chân Phật.”
“Và kiếp số của em gắn liền với ta, cũng phải trăm kiếp mới quy vị Thần Quân được.”
Giang Trừng đập đầu bôm bốp vào vai chàng, phỉ phui sao hoà thượng lúc nào cũng thích giảng mấy câu tối nghĩa hết, “Nói cái gì để em nghe mà hiểu được ấy? Ví như rốt cuộc chàng có được phép thương em không?”
Thanh Đăng: “Ừ, được.”
“Cái gì!” Giang Trừng tiện mồm hỏi chơi ngẩng phắt đầu dậy, khó tin nhìn chàng, “Sao mà được? Chàng là hoà thượng mà? Phật Tổ của chàng thì sao? Ngài ấy đâu thể để chàng yêu đương như vậy, nói bậy không à.”
Thanh Đăng đón lấy đoá hoa đào lìa cành, mỉm cười thấu suốt: “Phật, vốn chưa từng vô tình.

Trong lòng có yêu thương mới được thăng hàng Chân Phật, đây chính là kiếp số mà ta phải độ.”
Năm ấy Chước Chước xuống trần lịch kiếp, chàng về núi Linh, Phật Tổ hỏi chàng kiếp ấy đã qua chưa, chàng đáp chưa.

Phật cười, bảo chàng đi tìm “bản ngã”.

Chàng bèn xuống trần.
Tình ý của Phật gửi nơi non nước, trao cho trần thế, thấm nhuần vào từng nhành cây ngọn cỏ cánh hoa, như bốn mùa đông qua xuân tới, hạ đến thu về.

Em là “bản ngã” của ta, biết ta, ắt không chối ta, thế cần chi quên tình.
Giang Trừng chửi thầm trong dạ: Chàng ngắt câu giỏi đấy, có vần có nhịp luôn, nhưng em vẫn không hiểu.
Thanh Đăng bỗng bảo: “Em sinh ra nơi trái tim ta, là lòng ta, sao phải quên em.” Non nước đáy mắt chàng như sống động hẳn, câu chữ êm tai như thế, chất giọng lại bình thản lắm thay.
Giang Trừng ngẩn ngơ, chốc sau lại ôm mặt xoay đi.

Cây đào bổn thể hoá cột chống trời sau lưng cô bỗng chốc nở hoa, cánh hoa lả lướt phủ đầy mái đầu và bờ vai Thanh Đăng.
Giang Trừng: “Xin chàng dặn trước mỗi khi tung lời có cánh, đột ngột thế này em không biết phải ứng đối thế nào.” Giọng lí nhí như muỗi kêu, song Thanh Đăng vẫn nghe thấy.
“Ừ.” Chàng đáp, giọng vương ý cười.
“Đến lúc rồi, ta đang chờ em.” Dứt lời, Thanh Đăng hoá gió tan đi giữa màn hoa rơi.
“Vâng, em tới ngay.”
***
Giang Thiền, biệt danh Hạch Đào Nhỏ, được cõi tu chân gán danh Sương Hoa Kiếm, một chiêu thức hoá ngàn dặm hoa sương, con người cũng như hoa như sương, lạnh lùng kiều diễm.

Căn cứ theo số liệu thống kê của làng buôn dưa cõi tu chân, số người muốn được gả cho Giang Thiền chia làm hai nửa nam nữ đều nhau, đông hơn lực lượng theo đuổi Hạc Kinh Hàn – cậu của nàng nhiều, là một trong số các tu sĩ quyến rũ nhất, tiềm năng nhất, có chỗ dựa vững chắc nhất thế hệ mới.
Người ta thường rất thích các cô gái “cun ngầu”, ngón nghề phóng điện mà bản thân không hề hay biết của Giang Thiền hôm nay cao thâm hơn mẹ mình năm xưa nhiều, nàng hoàn toàn không có ý gạ gẫm tán tỉnh ai, chỉ thò mặt ra, rút kiếm khỏi eo thôi đã được vô số nam nữ tôn sùng ngưỡng mộ.
Tiếc rằng Giang Thiền không phân biệt nổi ai trong số họ, ngoài cậu, đồng môn quen thân và bạn bè của mình ra thì mọi người còn lại đều là kẻ qua đường, nàng thực sự khó mà nặn ra biểu cảm gì khác trước những khuôn mặt giống nhau như đúc này.
Bàn về nhan sắc ấy à, tạm không nhắc đến người cậu là nam thần số một, sau khi đại sư huynh Phong Hữu Chỉ lấy lại được gương mặt mỹ nhân đệ nhất Vân Vô Kỳ xưa kia của huynh ấy, Giang Thiền cảm thấy mình chẳng còn trông đợi gì ở gương mặt của bất kỳ ai nữa, dù sao cũng chả đẹp được bằng anh cả.
Vả lại nàng còn đang theo đuổi thanh mai trúc mã của mình, đương nhiên sẽ lờ đi mọi sự tán tỉnh khác rồi.
Ngoài việc tu luyện và đấu kiếm, cuộc sống của Giang Thiền hãy còn tiết mục rút đao chém ma mỗi khi gặp chuyện bất bình.

Và đi tìm đại sư bá Bạch Linh, nhị sư bá Yến Phù Tô năm xưa cưng chiều nàng nhất, thường cho nàng rất nhiều viên kẹo thuốc hảo hạng, tiếc rằng bấy lâu vẫn bặt vô âm tín.
Về phần các sư bá còn lại, vài năm trước, tam sư bá Trịnh Dao rốt đã nên vợ nên chồng cùng Hứa Lam Kiều – gia chủ nhà họ Hứa, về chung nhà với Thanh Sương sư bá, thuở ấy Thanh Sương sư bá trọng thương về lại Hứa gia, hiếm khi ra ngoài.

Mạch chủ hiện thời của dãy Bạch Linh là Chân sư bá.

Ba chị em xinh đẹp như hoa, giống nhau như đúc ấy trưởng thành nhanh cực, sau rốt cùng lên làm Mạch chủ, làm việc chín chắn thành thục, đưa tiếng tăm dãy Bạch Linh lên một tầm cao mới.
Giờ đây mọi người đều có lý tưởng riêng, không có gì là xấu, song Giang Thiền vẫn thường chiêm bao về ngày mình còn thơ dại.
Trí nhớ của Giang Thiền cực tốt, nàng nhớ rất rõ thời hạnh phúc đã qua, mà ký ức dẫu có mơ màng thì vẫn sẽ lại khắc sâu sau vô số lần chiêm bao.
Dạo ấy mọi người hãy còn ở đây, tụ tập tiệc tùng bên dòng suối nhỏ ở núi Thanh Minh vào một ngày hè không quá nóng, ai nấy tươi cười, ba vị sư bá họ Chân hãy còn là thiếu nữ, chẳng già dặn như bây giờ, tiếng cười lanh lảnh, réo rắt tựa chuông bạc.

Vòng ôm quen thuộc vẫn chưa biến mất, đôi tay dịu dàng che chắn thật kỹ, cầm thìa mớm thức ăn cho nàng, đút mãi đút hoài lại thành người nọ tự mình ăn, chừng khi bị nàng vỗ tay nhắc, người nọ mới cười ha hả tỉnh ra.

Rồi thơm má nịnh nọt, thân thiết gọi nàng là Hạch Đào Nhỏ.
Sư tổ Bạch Nhiễm Đông ngồi kế đại sư bá Bạch Linh, xa xăm nâng chén uống rượu với các đệ tử, kháo nhau vài tin đồn, chống đầu cười khì chỉ điểm những điều còn thiếu sót của học trò, rồi như chẳng chịu nổi không khí êm đềm, sư tổ say tuý luý cất giọng ngân nga, đưa đũa chấm rượu chọc nàng.
Chừng sư tổ bí tỉ rồi Bạch Linh đại sư bá sẽ bồng sư tổ về.

Yến nhị sư bá không thích tiệc tùng nhưng vẫn sẽ đến dự, hễ đến là sẽ mang rất nhiều đan dược hảo hạng mới luyện xong cho các sư đệ sư muội.

Ra ngoài lịch luyện, thuốc của nhị sư bá khá hữu dụng, mà phần của nàng thì đa dạng đủ loại, Yến nhị sư bá lạnh lùng thế mà lại rất dịu dàng với nàng khi ấy.
Khác với vẻ ngoài giá băng của mình, Yến nhị sư bá là một người rất dễ mềm lòng.
Khi mọi người đã say sưa, Chu Uyển sư bá mặt mũi bình thường nhất song lại cực kỳ có trách nhiệm sẽ luôn ân cần chăm sóc tất cả.
Và còn người đàn ông có tên là Tạ Xuân Hoài kia, ông ta từng là một trong số những người mà Giang Thiền thương mến nhất, từng câu nói dịu dàng, từng lời dặn dò tỉ mỉ, sự quan tâm yêu chiều ngập tràn, hành động đích thân nấu canh giải rượu, các món bánh ngọt tinh tế, đều đã trở thành ký ức phức tạp không thể phai nhoà trong lòng Giang Thiền và mọi người.
Ngoài ông ta ra, các sư bá khác cũng cưng chiều nàng quá lắm, là đứa bé nhỏ tuổi nhất của dãy Bạch Linh, không ngoa khi bảo nàng lớn lên giữa vô vàn yêu thương chăm sóc.

Song hạnh phúc chẳng tày gang.
Biến cố đột ngột sau đó chính là cơn ác mộng mà nàng năm ấy không tài nào thoát ra được, dẫu có trưởng thành sớm đến đâu đi chăng nữa, nàng vẫn chẳng thể chấp nhận sự thật rằng mình đã mất quá nhiều người thân chỉ sau một đêm.

May mà vẫn còn cậu, Trịnh Dao sư bá, Chu Uyển sư bá, Chân sư bá và… Thù Vọng.

Chính lúc nàng đau khổ nhất, Thù Vọng luôn sẽ bầu bạn cạnh bên.
Nàng có thể trở thành một Giang Thiền kiên cường như bây giờ, đều nhờ vào sự yêu thương chăm sóc của họ.
Với Giang Thiền thì Dung Trần sơn phái là căn nhà nơi nàng lớn khôn, và người thân của nàng vì quá đau lòng mới rời khỏi đây, song dẫu có lưu lạc bốn phương, nàng vẫn sẽ tìm ra họ, bảo với họ rằng, khi không còn buồn khổ nữa, khi muốn trở về rồi, dãy Bạch Linh của Dung Trần sơn phái sẽ mãi là nơi họ có thể dừng chân.
Nàng mong hôm nào đó, mọi người sẽ sum vầy tại đây, đến bên bờ suối xanh, tuý luý say sưa một trận.
Giang Thiền góp nhặt từng chút tin tức về người thân của mình với tâm tình như thế.

Lần này nàng đến Vân Châu, bởi cậu bảo rằng có người trông thấy Yến nhị sư bá ở đây.
Chuẩn bị sẵn tâm lý có thể vẫn chẳng tìm được nhị sư bá đâu, Giang Thiền điềm nhiên sải bước trên con đường dẫn đến Vân Châu.
Giữa đường, nàng gặp một chuyện thế này.
Có hai người phàm thân thủ mau lẹ đang đuổi giết một chú tiểu tầm mười hai mười ba tuổi.

Ân oán tình thù giữa người phàm chẳng có gì đáng để chú ý đến, điều khiến Giang Thiền bận tâm chính là chú tiểu trông rất giống cha mình, dù mặt mũi còn non.
Không, nào chỉ rất giống thôi, với tướng mạo này thì vài năm sau hoá cha nàng luôn còn gì! Giang Thiền gặp cha dọc đường chẳng biết phải diễn tả tâm tình thế nào, bèn rối rắm rút kiếm giải quyết luôn hai kẻ đuổi giết “cha” mình.
Đang định phất áo mà đi, làm việc tốt không để tiếng thơm, Giang Thiền thình lình bị đóng đinh tại chỗ bởi câu nói của chú tiểu vừa lồm cồm bò dậy.

Chú tiểu nọ buông lời: “Hạch Đào Nhỏ?”

Giang Thiền: “!!!” Sao người này lại biết biệt danh mà chỉ người thân mới rõ của nàng?
Chú tiểu nọ cười, phủi vạt áo, “Ta là Thanh Đăng, ừm, chắc con không còn nhớ ta nữa rồi, lúc đó con hãy còn bé.”
Giang Thiền: … Cha tui?
Giang Thiền cứ thế nhặt được cha mình dọc đường, còn về việc người cha hẳn đã hy sinh của mình trở lại cuộc đời này bằng cách nào, thì ông ấy bảo cứ chết một chuyến lại về một lần thôi.
Nếu Giang Thiền vẫn còn có thể bình tĩnh đón nhận chuyện này, thì việc sau khi họ đi được một đoạn lại gặp một cô bé tầm bảy tám tuổi, mặt mày đầy máu bị ai đó vứt trong bụi cỏ, vừa tỉnh lại đã mừng rỡ gọi nàng là Hạch Đào Nhỏ, rồi tự nhận mình là mẹ nàng… đã vượt khỏi giới hạn chịu đựng của Giang Thiền.
Cha mẹ chết hơn trăm năm đột ngột quay về, nàng nên làm gì đây? Giang Thiền gửi thư ngay cho Hạc Kinh Hàn, gọi cậu nhanh chân sang chịu trận cùng mình.
Mẹ ruột xử lý xong máu trên mặt đã điềm nhiên nắm lấy tay của chú tiểu tự xưng là cha mình, ngồi xuống trước mặt Giang Thiền, chăm chú ngắm nàng bằng vẻ dịu dàng yêu thương.
“Hạch Đào Nhỏ đã lớn thế này rồi á ~ Hạch Đào nhà mẹ ngầu quá đi ~” Cô bé chống cằm cất giọng non nớt, vừa mừng vui vừa rầu rĩ.

“Uầy, mẹ không được chứng kiến, tiếc quá.”
Chắc do quá đột ngột, chẳng hiểu sao Giang Thiền lại chẳng vui vẻ tẹo nào, chỉ nghĩ sáng ngày ra sao mình lại chiêm bao giấc mơ kỳ dị như thế.

À mà không, nàng nên tự hỏi mình đã bắt đầu mơ giấc mơ này từ khi nào.

Cơ mà dẫu là mộng thì tình tiết cũng lạ lùng quá thể.
Tận khi người cậu vẫn luôn lạnh lùng của nàng lẹ làng xuất hiện, đáp đất chưa cất kiếm đã kéo nàng ngó ngang ngó dọc, dồn dập hỏi người đâu, cuối cùng được mẹ ruột mới bảy tuổi nhào sang ôm đùi.
“Tiểu Tầm! Chị về rồi nè!”
Hạc Kinh Hàn đối diện với cô bé đang ôm đùi mình, kiếm trong tay rơi “keng” xuống đất.
Nam thần giá băng Hạc Kinh Hàn, ông vua trai thẳng nghe đồn sẽ lấy kiếm làm vợ, bầu bạn bên kiếm suốt đời đã sẩy tay đánh rơi “vợ” trong lần thứ hai gặp người chị chết rồi sống lại của mình.
***
Cha mẹ ruột chết rồi sống lại, Giang Thiền chỉ thực sự ý thức được điều này khi đang trên đường dắt cha mười hai tuổi, bồng mẹ bảy tuổi sang Ma Vực thăm Thù Vọng.
“Thù Vọng.”
Ma chủ Ma Vực Ngỗi Hư từng dùng cái tên Thù Vọng, người đàn ông cũng rất ra dáng trùm ấy sẩy tay kéo hỏng mái tóc giả khi nghe thấy giọng vị sư phụ đã chết của mình.
***
“Cục cưng, khổ cho con quá, kiếp này mẹ sẽ ở bên con mãi, để con chăm mẹ lớn khôn, yên tâm đi.” Cô bé ôm cổ an ủi con gái mình, nắm tay chú tiểu đang im lặng.
Từ hôm nay, Giang Thiền – nữ thần nổi tiếng thời đại mới bắt đầu rầu rĩ, phải chăm cha mẹ thế nào để họ lành lặn lớn khôn đây?
Tuy tạm thời vẫn chưa tìm được hai vị sư bá, song dãy Bạch Linh thuộc sơn phái Dung Trần đã bắt đầu ồn ã hơn rồi.
Ngày xuân năm nay, cõi tu chân vẫn êm đềm như thế.

Én về tổ, người xưa trở lại.
[HOÀN CHÍNH VĂN]
 
Ngộ Phật
Chương 165: 165: Phiên Ngoại - Thanh Đăng Cả Gia Đình


Thời gian nhanh chóng lùi lại từ khoảnh khắc người buông mình nơi tán đào ngọc chống trời xuống lòng chàng.
***
Khi cõi Trời núi Linh hãy còn chưa có cô bé Chước Chước ấy, Thanh Đăng Chân Phật vẫn là tôn Thần Phật vạn năm đắm chìm giữa sự huyền diệu của Phật pháp, hiếm khi rời ngọn Tiểu Linh, y như các tôn Thần Phật khác.
Một hôm chẳng có gì đặc biệt, Thanh Đăng Chân Phật cảm nhận kiếp số của mình sắp đến.

Kiếp số của Thần Phật thường sẽ gian nan hơn kiếp số của Thần Quân, song chúng lại chưa từng là nguồn cơn phiền muộn của Thần Phật.

Thanh Đăng chưa bao giờ mang tâm tình phải lịch kiếp khi rời núi Linh, chàng chỉ bình thản như mọi ngày.
Song khi chàng thức giấc trên đỉnh núi tiên, trông thấy gốc đào chớm hoá linh kia, cõi lòng điềm nhiên ấy rốt đã rung động.

Như gió chực ùa về, như nghe tiếng hoa đào nở rộ.

Từ lần đầu gặp mặt, Thanh Đăng Chân Phật biết kiếp số của mình đến rồi.
Sau đó, giúp nàng hoá linh thành tiên, đưa nàng về Tiểu Linh, yêu thương dạy dỗ.
Thanh Đăng chưa từng tra xét rốt ráo xem tâm tình ấy là sao, nhưng chàng biết sinh linh này là sự tồn tại gần gũi nhất trên đời.

Bởi do kiếp số của chàng mà nàng mới xuất hiện.
Chước Chước khác với vạn vật trên thế gian, sự đặc biệt ấy bắt nguồn từ cõi lòng chàng.

Thần Phật không có tơ tình, song lòng chàng đã yêu, tơ tình mới bén rễ.

Thanh Đăng đương nhiên thấu tỏ tình ý Chước Chước dành cho mình, vừa nhìn đã thấy, dẫu nàng không nói, đôi mắt quán triệt tất thảy của chàng vẫn trông rõ mười mươi.
Cuộc đời đằng đẵng của Thần Phật khiến mọi thứ đều trở nên chậm rãi, thời gian dai dẳng dằng dặc chỉ như ngày hôm qua đối với Thanh Đăng.

Chước Chước của hôm qua hãy còn là cô bé trườn trên đầu gối chàng nghịch rùa, ưa vặt lá bổn thể của chàng mà chơi, hôm nay đã trở thành một cô gái dũng cảm, có trách nhiệm rồi.
Trong khoảnh khắc, mây trên núi Linh hãy chưa trôi trọn một vòng, cô bé Chước Chước phải ngước nhìn mới nắm được tay chàng đã lớn khôn đến độ vùi được đầu mình vào ngực chàng.
Nhanh tựa hoa cỏ dưới trần, nở bừng sau đêm, mùa hoa ngắn ngủi.

Những điều tuyệt đẹp khiến người ta lưu luyến thường sẽ trôi đi rất nhanh, không kịp theo đuổi, thậm chí khiến lòng chúng ta bàng hoàng bối rối.
Tâm cảnh của Thần Phật luôn dừng ở mức bình tĩnh nhất, bởi trên đời không còn thứ gì khiến lòng họ dao động được nữa.

Song chẳng biết tự khi nào, Thanh Đăng nhận ra mình đã thay đổi.

Thần Phật cõi Trời, cũng phải thoả hiệp với chữ “tình”.
Ví như sự ghen tuông, vui mừng, có được hoặc mất đi, hoan hỉ hay bi thương thường thấy của chữ tình này, chừng khi ý thức được, đã tự mình nếm trải.

Thanh Đăng Chân Phật chưa từng do dự chần chừ hay suy tính hơn thiệt, với Chước Chước, lòng chàng chỉ một chữ “buông không đặng” mà thôi.

Khi khát vọng nảy nở trong lòng, Thần Phật phải xuống trần lịch bảy kiếp tình, kiếp thiện ác, như vòng tuần hoàn gạt bỏ những thứ dư thừa.

Với chàng, Chước Chước là kiếp bản tâm, mà bản tâm lại là kiếp số lớn nhất.

So với nó, tất cả các kiếp số còn lại nhỏ nhoi vô cùng, đây cũng là sự khác biệt giữa việc lịch kiếp của Thần Phật và Thần Quân.

Kiếp số của Thần Phật muôn hình vạn trạng, cũng chỉ có đem thân ra chiêm nghiệm mới biết đâu là kiếp số của mình.
Chước Chước đâu hay những điều này, thế mới ngu ngơ theo xuống trần giúp chàng lịch kiếp.

Tuy lúc lịch kiếp Thanh Đăng không nhớ nổi nàng, song vẫn vô thức quan tâm đến nàng.
Buông không đặng, dẫu đã quên, vẫn không đành xuôi tay.

Cho nên sau này, về núi Linh rồi, chàng vẫn đi tìm nàng.
Vẫn câu nói ấy, nơi ký ức không tồn tại hình bóng kia nhưng trong lòng mãi luôn có nàng.

Thay tên, đổi tướng, mất trí nhớ, Thanh Đăng vẫn không chối từ nổi.
Giúp Chước Chước lịch kiếp, chính Thanh Đăng cũng đang lịch kiếp bản tâm.

Kiếp số trước vẫn chưa kết thúc, tất cả gói gọn vào đời này.
Chưa vượt tình kiếp, tơ tình bất động, mọi tình nghĩa trước kia tạm bị phong ấn lại.
Chưa qua kiếp thiện ác, ác niệm trong lòng chưa tan, bèn hoá thành một “bản ngã” khác.
Chưa xong kiếp bản tâm, nên mới gặp Giang Trừng.
Ban sơ buông không đặng, đưa cô về Thượng Vân tự, khử sát khí, nâng tư chất, tìm nơi ở cho cô, đưa cô đến Xuất Trần sơn phái, nhờ người ta chăm sóc hộ.
Sau này buông không đặng, sang thăm lúc bế quan, đi cứu khi gặp nạn.
Duyên trời run rủi, nuốt đoá hoa kết bằng tơ tình bị tước ra nơi ba kiếp trước, ký ức và nỗi nhớ nhung còn đọng của ba kiếp ấy họp lại thành một “bản ngã” khác.

Đoá hoa tình kết bằng tơ hồng dần dà thức tỉnh tơ tình đã đang phong ấn.
Từ đấy nước chảy về đông, xuôi dòng thành biển.
Năm ấy Giang Trừng hoài thai, Thanh Đăng hãy còn một mình dấn bước nơi bão tuyết đất Bắc, ngước lên nhìn sông ngân nhạt nhoà, chỉ lấp lánh hai ngôi sao Mẫu Tử, bên tai chừng vang vọng giọng ai xưa cũ.
“Mình mà có con thì đứa bé ấy chắc chắn sẽ rất phiền… Một con quỷ nghịch ngợm sẽ vẽ rùa lên mặt chàng ấy!”
Thanh Đăng đơn độc giữa chốn mênh mang, chợt cảm thấy gió tuyết khoác lên người mình dịu dàng ấm áp.

Chàng rẽ ngược về Dung Trần sơn phái dưới nam, vừa đi vừa xin gạo nghìn nhà, nguyện cho con mình được bình an hạnh phúc, theo một tập tục xưa.
Người nọ buông lơi mái tóc, gương mặt mơ màng hơi khác trước, cong cong ánh mắt ngồi tựa nghiêng vào tấm chăn xếp cao, nhón chiếc chuông nhỏ trêu đứa bé trên giường.
Đứa bé kia mày sắc mắt lạnh, hất văng chuông đi.

Xem chừng khó tính thật.

“Ôi chao, khó tính à nha ~” Thanh Đăng nghe Giang Trừng nói thế, giọng đầy vui vẻ, lòng ngập yêu thương.
Sau đó, chàng thỉnh thoảng sẽ sang thăm, có điều Giang Trừng không biết.

Khi thì gặp cảnh một lớn một bé châu đầu gà gật, lúc lại chứng kiến đứa lớn buộc dây dắt đứa bé đi dạo quanh các ngọn núi.
Trong khi chàng đôn đáo khắp nơi vì thiên kiếp sắp tới, hai mẹ con lại thảnh thơi qua ngày như thế.
Giang Trừng không bỏ bê tu luyện bao giờ, song khác với mọi người, cô không dành hết thời gian cho việc tu luyện, cô tự biết cách sắp xếp giờ giấc, sống rất tự do.
Yêu thương một người, biết người đó sống thoải mái an nhàn, chẳng còn gì tốt đẹp hơn thế nữa.
Giang Trừng đưa con đến thăm chàng, Thanh Đăng ngạc nhiên, song vô cùng vui vẻ.
Đứa bé ấy không vẽ rùa lên mặt chàng, mà là vẽ những thứ khác.

Thanh Đăng thất thần lan man nhớ lại, chẳng hay mình đã nghe câu nói này lúc nào, rồi lại bị tràng cười bất chợt cắt ngang, Giang Trừng vừa hỉ hả vừa đập đầu vào tường, Thanh Đăng nhìn mà buồn cười.
Chàng cười thật, gọi cả tên Giang Trừng nữa.
Chẳng hiểu sao Giang Trừng bỗng dưng lại ngừng, giả vờ điềm nhiên.

Chắc cô sợ, cơ mà thực ra chàng đâu có ý cấm cản gì.

Thanh Đăng đồ rằng cô lại biên ra chuyện chi đấy rồi tự doạ mình, bèn chẳng phân bua.
Giang Trừng giống y như Hạch Đào Nhỏ vậy, đều còn bé quá.

Bé thì sức sống tràn trề, tốt mà.
Khi người ta không đành buông ai đấy, lòng sẽ hoài nhớ nhung.

Thanh Đăng không tương tư quá nhiều, chỉ nhớ cô sau mỗi buổi kinh vãn chiều hôm.
Cuối cùng, thiên kiếp đến, không thoát nổi.

Giữa nghiệp hoả vô biên, Thanh Đăng đón lấy cái nhìn trước khi chết của Giang Trừng, chàng hẳn không trông thấy rõ, song ánh mắt ấy giống hệt ánh mắt Chước Chước dõi về ngọn Tiểu Linh trước khi xuống trần lịch kiếp, ý nghĩa chan chứa như nhau, thành ra chàng cảm nhận được.
Chính nỗi niềm buông không đặng sau chót khiến chàng hoá thành Phật quang phổ độ, giúp người ấy vượt kiếp cứu thế này.
Mất đi thân xác, ký ức thuộc về Thanh Đăng Chân Phật lại được giở ra, sáng trong như cũ.
Không gì có thể ngăn cản kiếp bản tâm luân hồi trăm kiếp nữa.
***
Năm chàng quay về thế giới này, Hạch Đào Nhỏ từng vẽ mày thô trên mặt chàng đã lớn, cao hơn cơ thể hiện thời của chàng những nửa cái đầu.

Con ngơ ngác bế Giang Trừng bảy tuổi, đôi tay cầm kiếm vững vàng nay đang run bần bật.

Giang Trừng ngồi trong lòng con bụm miệng cười rúc rích, sau rốt lại nện đấm lên vai con, bị con xốc thẳng lên lưng mà cõng.
“Cha có cần con cõng không?” Con gái lớn rồi lạnh băng từ trên ngó xuống chàng, giọng hơi sượng.

“Không cần đâu.” Thanh Đăng ngước lên nhìn con gái, đáp.
Giang Trừng đong đưa chân sau lưng con, chẳng lạ lẫm gì sau trăm năm không gặp, điềm nhiên mà rằng: “Thanh Đăng, chàng cũng lên đây đi ~ Hạch Đào Nhỏ khoẻ lắm ~ Có con gái lớn sướng thật ~ Mình dưỡng già được rồi ~”
Thanh Đăng nhìn thẳng.

Hạch Đào Nhỏ miết chuôi kiếm.

Cả hai cùng giữ im lặng.
Gia đình ba người lại dạo một lượt Dung Trần sơn phái, Thượng Vân tự, Ma Vực và Vô Cực đạo quán.
“Năm ấy mẹ với cha con ngang đây đụng độ một con chuột tinh lừa bịp, đố con rốt cuộc như nào? Cha con xối cho người ta mấy vò rượu gạo liền, nhét họ vào vại tụng quá trời kinh cho nghe luôn há há há ~” Giang Trừng vừa dứt lời, họ đã chạm mặt ông chủ quán rượu ven hè ngáp dài ra cổng, lão khụt khịt cái mũi phớt đỏ, chòm râu bên mép giống hệt râu chuột.
Ông chủ quán rượu… là một con chuột yêu, lại còn quen mắt lắm.
Giang Trừng ngậm miệng ngay luôn, vỗ vai con gái ý bảo chuồn cho lẹ.

Thế mà gặp người xưa năm ấy thật, nhỡ đâu lão lại chưa dứt mộng bái đại sư làm thầy.

Có điều với tướng mạo bây giờ, chuột yêu chắc không nhận ra họ đâu?
“Đạo hữu trước mặt ơi, khoan đi đã!”
Ông chủ quán rượu bỗng cao giọng gọi.

Thanh Đăng nhìn Giang Trừng chặc lưỡi, con gái cười khì.
“Ha ha ha là thế này, chẳng hiểu sao tôi lại thấy mến mọi người, rượu tôi cất ngon lắm, tặng mọi người hai vò nhé.” Chủ quán chuột yêu cười bảo.
Hai vò gạo nếp rốt lại trôi tuốt xuống bụng vợ con, Thanh Đăng ngồi bên ngóng suông.
Cả ba đến chùa Thượng Vân, hoà thượng canh cổng ưỡn bụng ngồi bên tường gà gật.

Thanh Đăng nhìn đoá sen đá quen thuộc kia, bước tới vỗ khẽ vào bụng hoà thượng gác cổng.
Hoà thượng nọ hé mắt, chưa nhìn kỹ người trước mặt đã phất tay bảo: “Sáng ngày ra ai lại phiền mộng… Ớ?” Gã nuốt luôn chữ cuối cùng vào khi đã trông rõ ràng khách đến, ợ một tiếng thoang thoảng mùi rượu.
Thanh Đăng bảo: “Thù Chỉ, trò lại uống rượu rồi.”
Hoà thượng chừng như gặp ma, “Sư… Sư thúc? Sáng ngày ra sao người lại hiện hồn… Ý không, người chết một phát trông trẻ hơn nhiều đấy nhé.”
Thanh Đăng: “…”
Họ vào chùa, Thanh Đăng đến rừng tháp bái kiến các sư tổ, sang thăm trụ trì Thù Ấn và mèo cưng Bạch Tuyết của y.

Gặp lại sư thúc trăm năm vắng bóng, trụ trì Thù Ấn bình tĩnh hơn sư đệ Thù Chỉ nhiều, đôi mắt luôn híp chỉ trợn to một thoáng rồi thôi.
Giang Trừng dắt con đến chốn thân quen với cô nhất trong ngôi chùa này, nhà ăn lớn! Phương Tuần đại sư vẫn đang hấp màn thầu, người cũ hương xưa.
“Cho hai lồng màn thầu, hai vò linh lộ!”
Nghe tràng gọi món chẳng hề khách sáo gì, Phương Tuần đại sư suýt buột miệng chửi đổng, rồi bỗng thấy lạ, ngoảnh lại thì thấy đứng sau lưng mình là một cô gái áo đen mặt mày lạnh tanh, người vừa cất tiếng là cô bé đang được nàng ta bế, chất giọng non nớt nhưng điệu bộ thì như đã từng gặp đâu đó rồi.
“Ê! Phương Tuần đại sư! Là tôi đây mà!”
Phương Tuần đại sư lặng thinh một chốc, lạnh lùng rút bốn lồng màn thầu nặn rất khéo tay ra, rót đầy hai vò linh lộ lớn, đặt “cạch” xuống bàn, bảo: “Ăn đi.” Rồi xoay người đi mất.
Chả biết có vui hay không.
Hai mẹ con dạo ngang Thiền Tư viện, trông thấy gốc ngân hạnh chọc trời kia, Giang Trừng hớn hở bảo con, “Hồi đó mẹ ở đây mấy tháng, mỗi ngày bị cha treo lên cây không thả, sau rốt toàn là tiểu Thù Vọng đưa mẹ xuống thôi.”
Hạch Đào Nhỏ: “Ồ?”
Giang Trừng: “… Con gái à, sao tự dưng lại hết lơ mẹ vậy?”
Hạch Đào Nhỏ không nhìn mẹ, chỉ hỏi: “Sao mẹ lại bị treo lên cây?”
Giang Trừng: “Ha ha, chắc tại mẹ muốn dê cha con á, cha con không chịu.”
Chùa Thượng Vân chẳng thay đổi gì nhiều, vẫn còn đấy tất cả những điều cần thiết, chỉ vắng mỗi tiểu Thù Vọng mắt mù song đi đường cực vững dạo ấy thôi.

Thầy trò Thanh Đăng rời khỏi đây, Phật Tử đời sau của Thượng Vân là Minh Uế – đồ đệ duy nhất của Thù Chỉ.

Nhắc đến Minh Uế, Giang Trừng lại nhớ chuyện năm xưa mình ngâm mình nơi suối Vô Cấu, bắt gặp ba chú tiểu Minh Hoa Minh Phi Minh Trọng dắt cậu béo Minh Uế ba tuổi đến nhìn trộm vị khách Thanh Đăng sư tổ dẫn về chùa.

Rồi vỡ lỡ ra, mấy đứa nhóc bị tiểu Thù Vọng khẽ bằng roi tre.
Cục bột nhỏ Minh Uế hảo ngọt thuở nào nay đã là chàng hoà thượng tuấn tú có nụ cười dịu dàng như kẹo rồi, lại còn sắp trở thành Phật Tử đời tiếp theo.
Rời chùa Thượng Vân, đến đạo quán Vô Cực.

Trăng khuyết treo lưng chừng trời nơi đây vẫn kỳ vĩ như thế, song hùng hồn nhất là màn đón khách đến chơi, mấy trăm kiếm tu phừng phừng sát khí cưỡi kiếm họp đội mà bay, ai không rõ còn tưởng họ đang truy lùng kẻ thù cơ.
Hạc Kinh Hàn đi đầu, gặp chị và cháu gái rồi thì dịu hẳn nét mặt lạnh lùng, chúng đệ tử chỉ thấy gió xuân pha phả, cảm động vô ngần.
Thanh Đăng đại sư bị nhấn chìm hoàn toàn dưới ánh sáng chói lọi của hai mẹ con.
Cho đến khi…
Giang Trừng: “Tiểu Tầm sang đây chào anh rể đi, giờ được phép gọi rồi.”
Hạc Kinh Hàn: “…”
Giang Trừng thở dài, “Tiểu Tầm, chị về rồi em không vui hả?”
Hạc Kinh Hàn lạnh nhạt buông lời: “Anh rể.”
Thanh Đăng ngồi đấy khe khẽ gật đầu.
Hạch Đào Nhỏ ngoảnh mặt đi: “Phụt.” Rồi bình thản quay lại.
Sau đạo quán là Ma Vực, chuyến này là để thăm Thù Vọng.

Đến Ma cung, Hạch Đào Nhỏ như về nhà mình, quen đường thuộc lối gọi người vào thông báo, thu xếp mọi thứ, tôi tớ trong Ma cung cũng điềm nhiên nghe lời.

Rồi Hạch Đào Nhỏ đặt mẹ xuống bên cha.
“Con vào gọi Thù Vọng ra, hai người chờ tý.”
Đợi con đi khuất, Giang Trừng kéo áo Thanh Đăng, “Vậy là sao?!”
Thanh Đăng: “Như em nghĩ đấy.”
“Mệt tim ghê.” Giang Trừng nói rồi ngả người ra sau, được Thanh Đăng thuận tay ôm gọn vào lòng.
“Thời gian trôi vội thật, Hạch Đào Nhỏ khôn lớn quá nhanh thì phải?” Giang Trừng phật ý.
Thanh Đăng: “Hồi đó chăm em, ta cũng thấy nhanh lắm.”
Giang Trừng: “Con gái lớn tướng thế rồi, chàng đừng trưng cái bản mặt cha già kia ra để mà nhìn em nữa.”
Thanh Đăng: “Ờ.”
Giang Trừng giơ tay chọc Thanh Đăng, giữa chừng bị chàng ngăn lại.
Thù Vọng trông hơi khác, song với Giang Trừng thì đấy vẫn là chú tiểu khoác áo dệt ánh trăng năm ấy.

Tán gẫu một phen, dăm câu chuyện vãn, đủ để xoá nhoà cảm giác xa lạ do thời gian đem lại.
Cuối cùng, họ về Dung Trần.

Có ai choàng áo trắng tinh tươm, người thoảng mùi đàn hương, gương mặt đẹp chừng phi giới tính đứng đấy, nghe tiếng xoay lại nhìn.
“Hay tin muội về, tưởng đâu chỉ là đồn đãi, ai ngờ thật thế.” Người nọ cất tiếng.
Giang Trừng cười: “Yến nhị sư huynh, huynh cũng về rồi.”
Yến Phù Tô: “Nên về rồi.”
“Mọi người còn lại, ngày nào đó cũng sẽ về thôi.”
 
Back
Top Dưới