Cập nhật mới

Khác Nghiêu Thuấn Vũ

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
291198235-256-k594024.jpg

Nghiêu Thuấn Vũ
Tác giả: hoigia369
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Trung Quốc, hay còn gọi là vùng đất Thần Châu, theo như lời của người xưa kể lại rằng nơi ấy chính là cố hương của những vị Thần.

Bàn Cổ khai thiên lập địa, Nữ Oa tạo nên con người, Phục Hy vẽ nên bát quái, Thần Nông nếm thử hàng trăm loại cây thuốc, Thương Hiệt tạo chữ, v.v. khai sáng cho nhân loại một bức tranh lịch sử phong phú và đầy sống động...

Nguồn: Epoch Times



trung-hoa​
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P-1, kỳ 1): Hồng thủy ngút trời, Phục Hy sáng thế


Trung Quốc, hay còn gọi là vùng đất Thần Châu, theo như lời của người xưa kể lại rằng nơi ấy chính là cố hương của những vị Thần.

Bàn Cổ khai thiên lập địa, Nữ Oa tạo nên con người, Phục Hy vẽ nên bát quái, Thần Nông nếm thử hàng trăm loại cây thuốc, Thương Hiệt tạo chữ, v.v. khai sáng cho nhân loại một bức tranh lịch sử phong phú và đầy sống động...

Nhân loại buổi sơ khai

Cứ theo những truyền thuyết xa xưa thì: Từ thuở sơ khai, Sáng Thế Chủ đã sắp xếp an bài vạn vật được khai sáng một cách thứ tự trên hành tinh xanh này, từ việc tạo nên nhân loại, đến việc đặt định hoàn cảnh sinh tồn, sinh hoạt cho con người.

Để truyền cho con người biết thế nào là văn hóa, giáo dục và các hành vi đối đãi chuẩn mực, cần phải có một nền tảng tư tưởng và đạo đức căn bản, thế nên Ngài đã an bài các vị Thần Phật hạ thế, truyền Pháp độ nhân, hướng dẫn con người tu luyện, vì con người mà đặt định nên văn hóa tu luyện, và con đường "phản bổn quy chân" để con người có thể quay trở về Thiên quốc.

Những ghi chép cổ xưa còn lưu lại rằng, Sáng Thế Chủ đã khai sáng nên hết thảy vũ trụ, sinh mệnh cùng vạn sự vạn vật trong trong tam giới.

Cũng vào thời kì xa xưa ấy, Bàn Cổ tiếp nhận mệnh lệnh của Sáng Thế Chủ, sáng tạo nên hệ Ngân Hà và rất nhiều tinh cầu bên trong vũ trụ nhỏ bé này.

Tiếp đến, một vài vị Thần đã phỏng theo hình tượng của bản thân mà tạo nên hình dáng con người trên tinh cầu này.

Có ghi chép kể rằng, Nữ Oa đã dùng bùn đất và dựa theo hình tượng của mình mà tạo nên con người.

Trong kinh Thánh cũng có ghi lại, Thượng Đế đã dùng bùn đất dựa theo hình tượng mình tạo nên con người.

Dù cho các nền văn hóa có khác nhau nhưng có một điểm chung là đều nhắc đến các vị Thần đã tạo nên các chủng tộc người có màu da khác nhau.

Chính là muốn làm cho thế giới này thêm phồn vinh nên đã sáng tạo ra thiên địa vạn vật.

Đất trời vừa mới hình thành, nên thời tiết và điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt.

Mưa phải rơi như thế nào, gió tuyết phải ra sao, v.v.

Và sau một thời gian trải qua nhiều lần điều chỉnh, cuối cùng các vị Thần đã thuần hóa được thế giới tự nhiên và đặt định sự sinh tồn, hoàn cảnh sinh hoạt cho con người.

Xuân hạ thu đông, bốn mùa khác biệt kể từ đó nhân loại có thể cùng nhau sinh sống, an cư lạc nghiệp.

Con người khi mới được tạo ra, giống như một đứa trẻ sơ sinh, cái gì cũng không hiểu biết, không có kiến thức về môi trường thiên nhiên và không có khả năng đối phó trước tự nhiên và xã hội.

Trong thời kỳ này, các vị Thần trực tiếp trông chừng con người, tạo môi trường sống và sinh hoạt cho họ, trau dồi khả năng sinh tồn của họ, dần dần trong tư tưởng và nội hàm của con người ngày một phong phú, có thể tự bản thân bước đi những bước đầu tiên trong lịch sử phát triển của nhân loại.

Thần đã hướng dẫn con người dùng cây gỗ để xây dựng một nơi ở, che chở những lúc mưa gió, để con người tránh bớt thiên tai hay ốm đau.

Toại Nhân giúp con người “dùng đá đánh lửa” đã kết thúc lịch sử của loài người khi dựa vào bầu trời để lấy lửa.

Trong thần thoại Hy Lạp cổ đại có ghi chép lại, Prometheus là người đã ăn cắp ngọn lửa từ thần Zeus và trao nó cho nhân loại.

Phục Hy đã dùng thần lực to lớn của mình, nhìn lên bầu trời, nhìn xuống mặt đất mà vẽ nên bát quái, vì con người mà để lại một công cụ có thể kết nối với Thần linh.

Nói cách khác, bát quái từ khi vừa mới khai sinh đã là một loại công cụ có thần thông kỳ diệu giúp con người khai thông kết nối với thiên địa tự nhiên.

Phục Hy mở mang trời đất; Thần nông giáo hóa con người

Vào thời kì Phục Hy, đã xảy ra một trận lũ lụt lớn.

Theo Sở bạch thư ghi chép lại, sau trận đại hồng thủy khắp nơi đều hoang tàn.

Vì vậy Phục Hy bắt đầu sáng tạo nên thế giới, quy chính lại sự vận hành của trời đất, thời gian, trời trăng và các vì sao, điều hòa âm dương cân bằng.

Đến thời kỳ của Thần Nông, con người bắt đầu sinh sôi, nhu cầu lương thực ngày càng tăng.

Ông bắt đầu hướng dẫn con người cách trồng trọt, gieo hạt, canh tác ngũ cốc, chế ra cày bừa, khởi đầu cho kỷ nguyên nông nghiệp, được người đời sau tôn vinh là Thần ngũ cốc.

Ông đã nếm hàng trăm loại cây thuốc, cũng như phát triển nghề làm thuốc trị bệnh, thế nên ông còn được tôn làm Dược Vương.

Thần Nông còn mở đầu thời kì mua bán hàng hóa và trao đổi thông tin, giúp cho nhân loại có thể bù đắp và chia sẻ cho nhau những giá trị vật chất và tinh thần.

Bước vào thời kỳ Hoàng Đế mở màn cho nền văn hóa lịch sử 5000 năm huy hoàng

Hoàng Đế chính là một vị quân chủ của Liên minh các bộ lạc nổi tiếng ở lưu vực sông Hoàng Hà thời cổ đại Trung Hoa, ông đã thống nhất và hòa nhập tất cả các bộ lạc, trở thành một đất nước hùng mạnh.

Đây cũng chính là Liên minh thống nhất đầu tiên của tất cả các dân tộc, các bộ lạc và các thị tộc Trung Hoa được hợp thành.

Mở ra thời đại văn trị võ công, thể hiện qua đạo lý "Binh chinh thiên hạ, vương giả trị quốc".

Hoàng Đế sắp đặt bố trí hàng trăm quan viên, lập nên pháp lệnh, khai sáng cơ cấu xã hội nhân loại, may quần áo ngũ sắc, đóng xe thuyền, tạo nên chữ viết, nhạc cụ, y học, làm lịch, nuôi tằm dệt tơ, khai sáng nên một nền văn minh huy hoàng cho nhân loại.

Hoàng Đế là một người tu Đạo, cuối cùng Ngài đắc đạo ngồi mình rồng mà bay về trời, đặt định nền văn hóa tu luyện đắc đạo thành Thần cho nhân thế.

Ông được tôn là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa

Thương Hiệt tạo chữ viết

"Thương Hiệt tạo chữ viết" là một sự kiện huy hoàng trong nền lịch sử văn minh nhân loại.

Có bản ghi chép nói rằng, Thương Hiệt là một vị sử quan dưới thời của Hoàng Đế, "Sinh mệnh vốn đã được đặc định, mọi sự đều ẩn chứa trong "Hà đồ", "Lạc thư", xoay vần cùng thiên địa, ngẩng đầu ngắm sao Khuê (một vì sao trong nhị thập bát tú) khúc khủy, cúi đầu xem cá chim múa lượn, tay chỉ non sông, tạo nên chữ viết".

Hoài Nam Tử - Bản kinh có ghi chép lại: "Sau khi Thương Hiệt tạo ra chữ đã cảm động thần linh, khiến cho gạo từ trên trời rơi xuống, quỷ thần ban đêm cũng kinh hãi khóc rống".

Chữ Hán là văn tự tượng hình, mang rất nhiều hàm nghĩa sâu sắc, từ âm thanh đến hình dạng chữ đều đối ứng với thiên thượng, giữa trời, đất, Thần và con người đều có thể kết nối câu thông với nhau.

Hiện nay người ta đã khai quật được những bản lưu chữ giáp cốt khoảng hơn 5000 từ, là một loại chữ viết vô cùng hoàn chỉnh.

Phần nhiều là được khắc trên mai rùa, xương thú, đồ đồng, đồ gốm và ngọc bích... chủ yếu ghi chép về các quẻ bói, thiên tượng, nghi lễ phong tục tế Thần, kính Thần.

Nói cách khác, trước thời nhà Chu chữ viết thường được dùng để ghi chép lại những sự việc về Thần chứ không có ghi lưu về con người.

- Còn tiếp...
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P-1, Kỳ 2): Hồng thủy ngút trời, Phục Hy sáng thế


Trung Quốc, hay còn gọi là vùng đất Thần Châu, theo như lời của người xưa kể lại rằng nơi ấy chính là cố hương của những vị Thần.

Bàn Cổ khai thiên lập địa, Nữ Oa tạo nên con người, Phục Hy vẽ nên bát quái, Thần Nông nếm thử hàng trăm loại cây thuốc, Thương Hiệt tạo chữ,v.v. khai sáng cho nhân loại một bức tranh lịch sử phong phú và đầy sống động...

Thời kỳ các Hoàng đế Trung Hoa

Đến thời kỳ của hoàng đế Chuyên Húc, là một trong số năm vị vua thời kỳ Ngũ Đế của lịch sử Trung Hoa cổ đại đã xảy ra một sự kiện "Trời đất đoạn tuyệt", chính là đoạn tuyệt mối liên hệ giữa Thần và con người tại thế gian.

Kể từ đó, con người và Thần dần dần cách xa nhau.

Sang thời Nghiêu đế, xảy ra một trận đại hồng thủy trên toàn thế giới, chỉ có rất ít người còn sống sót.

Dưới sự an bài của Sáng Thế Chủ, ba vị thánh quân là: Nghiêu, Thuấn, Vũ nhận lãnh trách nhiệm khởi đầu một thời kỳ lịch sử mới cho hậu thế, khai sáng vũ đài lịch sử Thần Châu.

Họ chính là những người đại diện cho các nền văn minh mới sau trận đại hồng thủy, là những người sáng tạo nên một thế giới mới.

Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ chính là bước ngoặt cuối cùng hoàn thành nên vũ đài lịch sử Thần Châu.

Thống nhất chữ viết, thống nhất xã tắc, ông đã tạo dựng được một nền văn hóa ngàn năm, đặt định nên một thể chế Trung Hoa trường cửu.

Sang thời Hán Vũ đế, nhà vua bãi bỏ Bách gia, chỉnh sửa cải cách, chủ trương Nho giáo, tôn sùng Đạo giáo, đặt định ra một nền văn hóa chính thống "Thiên Nhân hợp nhất".

Kế thừa trên cơ sở thể chế của Tần triều, nó đã thiết lập một cấu trúc chính trị ổn định cho các thế hệ sau này kéo dài cho đến tận thời nhà Thanh.

Lịch sử Trung Hoa trải qua hàng ngàn năm thăng trầm cùng các triều đại Đế Vương từ khi dựng nước cho đến lúc suy vong, thay đổi sang triều đại khác.

Trình diễn một màn kịch lớn với vô số những câu chuyện hùng tráng và bi thương xúc động lòng người, là một bức tranh lịch sử được tô vẽ với nhiều gam màu sinh động, vô cùng tráng lệ: Vũ bình định Cửu Châu, Thang nối giữ nghiệp, Tần thống nhất sáu nước, Hán lên ngôi.

Tranh giành Trung nguyên, anh hùng xuất hiện, triều đại này kết thúc sẽ mở màn cho một triều đại khác lên thay.

Mục đích chính là lấy đạo đức đặt định ra nội hàm của văn hóa Trung Hoa.

5000 năm văn hóa Thần truyền chính là quá trình Thần đang tôi luyện con người, để con người trở nên hoàn chỉnh hơn, bồi dưỡng nhân loại từ khi còn là nhân loại thuở đầu sơ khai trở thành có tư duy và suy nghĩ sâu sắc thì đó chính là một công trình vô cùng vĩ đại.

Mỗi một triều đại đều có các chúng sinh trên Thiên quốc cùng hạ thế kết duyên, đều mang theo những nền văn hóa đặc thù riêng biệt, và có những chuyện tự bản thân phải hoàn thành sứ mệnh.

5000 năm văn hóa đã tích lũy khắc họa nên biết bao điều phong phú và đặc sắc, tỏa ra ánh sáng rực rỡ muôn màu.

Theo truyền thuyết, văn hóa truyền thống Trung Hoa chính là do Sáng Thế Chủ đã an bài Thần Châu trở thành vũ đài lịch sử dành cho tất cả các dân tộc.

Chương đầu tiên: Đại hồng thủy cuồn cuộn, Phục Hy mở mang trời đất

Phục Hy chính là ông tổ của nền văn minh của nhân loại.

Phục Hy thuận theo tạo hóa vũ trụ, kết hợp tự nhiên và pháp lý theo tiêu chuẩn của thiên địa mà khai sáng nên vũ trụ mới, khiến cho trời đất phân chia, bốn mùa khác biệt, các vì tinh tú đều có trật tự.

Sách Lộ sử viết: "Mẹ Phục Hy là Hoa Tư, sống ở bến sông Hoa Tư, thường thích đi dạo cùng Thúc Cơ bên sông Phần.

Một hôm thấy có dấu chân lớn, Hoa Tư tháo giày ướm thử, trong lòng xúc động, cầu vồng vây quanh, do đó có mang 12 năm.

Phục Hy sinh ra ở Cừu Di, lớn lên ở Khởi Thành".

Sách Tam Hoàng bản kỷ viết: "Thái Hạo Bào Hy họ Phong, thay Toại Nhân kế vị làm vua.

Mẫu thân là Hoa Tư, ướm chân vào vết chân người khổng lồ ở đầm Lôi Trạch, vì thế có mang sinh ra Bào Hy ở Thành Kỷ.

Ông có Thánh đức, ngửa mặt quan sát hiện tượng trên trời, cúi đầu quan sát quy luật thuận theo đất, quan sát đặc điểm chim thú và địa hình xung quanh, gần thì hiểu được những kỳ diệu của bản thân, xa thì hiểu được sự kỳ diệu của vạn vật, bắt đầu vẽ Bát quái, để thông với đức của Thần linh, để phân loại tình trạng vạn vật".

Trong Tấn thư ngũ hành chí của Lý Thuần Phong viết rằng: Phục Hy thuận theo thiên ý lên ngôi vương, tiếp nhận thiên thượng ban cho "Hà đồ", vẽ nên "Bát quái", Long Mã dâng "Hà đồ", Bạch Quy dâng "Lạc thư", triển hiện đạo lý thời kỳ đầu, "Bát quái" có thể tự nhiên mà kết nối trời đất vô cùng thần kỳ, vì nhân loại mà lưu lại phương tiện giúp con người có thể kết nối với Thần, để con người có thể được Thần chỉ dẫn và trợ giúp.

Cái gọi là "Long Mã", căn cứ theo lời miêu tả trong "Kì môn độn giáp" thì có nghĩa là: "Long Mã là tinh hoa của trời đất, nó có hình dáng, đầu rồng thân ngựa vẩy rồng, cho nên gọi là Long Mã.

Long Mã cao 8 thước 5 tấc, cổ dài, có cánh, lội nước không chìm.

Khi Thánh nhân tại vị, nó cõng hình vẽ xuất hiện ở sông Mạnh Hà".

Thời kỳ của Thần Phục Hy chứng kiến những thay đổi và biến cố địa chất lớn lao, kèm theo là sự hủy diệt của trận đại hồng thủy với quy mô toàn cầu, duy chỉ có những người sống trên núi Côn Lôn là may mắn còn sống sót.

Thời kì này có truyền thuyết cho rằng huynh muội Phục Hy cưỡi hồ lô chạy thoát thân và cũng trùng hợp với những nền văn minh trên các lục địa Mu và Atlantis bị tận diệt, chính là đều trùng khớp với nhau, diễn ra cách đây khoảng chừng 10.000 năm.

Sau trận đại hồng thủy, trời và đất trộn lẫn với nhau trong sự hỗn loạn thuở ban sơ, sau đó Phục Hy sử dụng thần thông đưa thế giới trở lại có trật tự.

Sở bạch thư ghi lại quá trình Phục Hy sáng tạo nhân gian như sau: "Thời kỳ thượng cổ có một vị Thần hình rồng to lớn, tên là Phục Hy, sinh ở Lôi Trạch, sống ở Hoài Thủy.

Lúc ấy trời đất ngày đêm chẳng còn phân biệt được, nhân gian đang trong tình trạng hỗn độn mờ mịt.

Chỉ có mưa gió và lũ lụt tràn ngập.

Thần Phục Hy kết hôn với thần Nữ Oa và sinh ra bốn người con trai.

Đây là bốn vị Thần quản lý bốn mùa và bốn phương, mùa Xuân do anh cả (lão Đại) gọi là Thanh Cán, làm chủ Đông phương; mùa Hạ do người anh thứ hai (lão Nhị) gọi là Chu Tứ Đan, làm chủ Nam phương; mùa Thu do người anh thứ 3 (lão Tam) gọi là Liêu Hoàng Nan, làm chủ Tây phương; mùa Đông do em út (lão Tứ) tên là Huề Mặc Cán làm chủ Bắc phương.

Tứ Thần mở rộng thống trị thiên địa, quản lý tinh tú, khiến trời đất biến đổi, bốn mùa và tinh tú xoay chuyển"...

Phục Hy và Nữ Oa trong bức họa thời Hán triều, một tay cầm khuôn phép, ý chỉ là người sáng tạo vũ trụ; một tay nâng nhật nguyệt, ý chỉ là chúa tể của vũ trụ.

Vũ trụ sau khi được tạo ra, lại bị mất cân bằng lần nữa.

Vì vậy các vị Thần linh đã dùng ngũ mộc là thanh mộc, xích mộc, hoàng mộc, bạch mộc, hắc mộc để chống đỡ trời đất.

“Điện tứ cực” điều chỉnh lại sự mất cân bằng của vũ trụ.

Sau đó Phục Hy, Nữ Oa tiếp tục làm cộng chủ thiên hạ.

Cộng Công không phục nên đã phát động phản loạn, Nữ Oa lệnh cho Chúc Dung chinh phạt, Cộng Công bị đánh bại, tức giận đụng phải Bất Châu Sơn, khiến núi lở, trụ trời bị gãy, đất bị nứt, trời nghiêng về hướng Tây Bắc, Mặt Trời và Mặt Trăng rời chỗ: "Tứ cực phế, cửu châu liệt, thiên bất kiêm phục, địa bất chu tái; hỏa viêm nhi bất diệt, thủy hạo dương nhi bất tức”, chính là nói trời sập đất nứt, lửa lớn cháy lan, hồng thủy tràn lan, chim tàn sát khắp nơi, thú vật hoành hành.

Trời không thể bao trùm đất, đất không thể chứa được được tất cả vạn vật, hỏa hoạn rực lửa không tắt, hồng thủy cuồn cuộn không ngớt.

Nữ Oa “luyện đá ngũ sắc để vá trời, bẻ chân ngao để chống trời, giết hắc long để tế Ký Châu, lấy tro của cây sậy để đắp đê ngăn hồng thủy”, đã quy chính được trật tự vận hành của Trời Đất, từ đó nhân loại có thể an cư lập nghiệp.

Phục Hy kế vị làm vua, đứng đầu trăm vua gọi là Hy Hoàng.

Cuối xuân Kiến Dần, ông đến Thái Sơn phong thiện (cử hành lễ tế Trời Đất), đã khai sáng ra tục phong thiện Thái Sơn.

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, đến thời kỳ vua Nghiêu, trời đất lại một lần nữa có biến đổi lớn, đại hồng thủy lại tràn lan khắp nơi hủy diệt nền văn minh của nhân loại.

Nghiêu, Thuấn, Vũ đã nhận lấy trách nhiệm, lại bắt đầu quá trình sáng chế.
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P-2, Kỳ 1): Đế Nghiêu thánh vương hạ thế, từ tâm khai sáng nhân loại


Sử ký ghi chép: cha của Đế Nghiêu là Đế Cốc, ông có bốn người phi tử là Khương Nguyên, Giản Địch, Khánh Đô và Thường Nghi...

Thánh vương hạ thế

Khương Nguyên là chính phi của Đế Khốc, Khương Nguyên ướm vào vết chân người khổng lồ, thế rồi bà thụ thai sinh được người con trai đặt tên là Khí (tức Hậu Tắc).

Ông chính là tổ tiên của triều đại nhà Chu

Giản Địch nuốt trứng sống mà sinh ra Tiết, Tiết chính là tổ tiên của triều đại nhà Thương.

Khánh Đô, họ Trần Phong sinh ra ở dưới núi Y Kỳ.

Truyền thuyết kể rằng Khánh Đô là con gái của một vị Thần Tiên.

Một ngày nọ, trời nổi sấm sét đánh vào người vị Thần Tiên đến chảy máu, máu chảy đến tảng đá lớn.

Sau đó máu này hóa thành một đứa trẻ sơ sinh chính là Khánh Đô.

Sau khi lớn lên Đô Khốc cưới nàng làm phi tử, và nàng cũng chính là mẹ của Đế Nghiêu.

Phi tử thứ tư là Thường Nghi, bà sinh ra Đế Chí, Đế Chí là con trai trưởng của Đế Cốc.

Sau này Thường Nghi còn hạ sinh một người con gái.

Theo Trúc thư kỷ niên (Biên niên sử viết trên thẻ tre) có ghi chép: Khánh Đô là mẫu thân của Nghiêu Đế, bà được sinh ra ở nơi hoang dã, khi đó thường có mây màu vàng bao phủ bên trên.

Sau khi lớn lên, bà quan sát ở ba con sông, thường có rồng đi theo.

Một ngày, rồng mang đến một bức tranh, viết rằng: "Diệc thụ thiên hữu" (Được trời ban phước).

Phía dưới còn có bảy chữ "Xích đế khởi thành thiên hạ bảo" (Xích đế hưng khởi, trở thành báu vật của thiên hạ): Lông mày 8 màu sắc, tóc mai dài bảy thước hai tấc, mặt trên hẹp dưới đầy, chân bước sao Dực Tú.

Có âm phong bốn phương hợp lại, xích long cảm thán.

Khánh Đô hoài thai mười bốn tháng sinh ra Nghiêu đế ở Đan Lăng, giống như miêu tả trong bức họa.

Hai chân có hai mươi hai nốt ruồi đỏ, tựa như chòm Dực Tú trên bầu trời vậy.

Đây có thể gọi là sự ra đời của Xích đế còn được gọi tên là "Phóng Huân".

Thụy hiệu là Nghiêu đế, theo Thụy pháp ghi chép, ông là vị đế vương lương thiện tài ba hiểu rộng và là vị vua chính nghĩa có phẩm hạnh đạo đức nên được gọi là Nghiêu.

Sau khi sinh ra, Nghiêu đế và mẹ ở cùng với ông ngoại Y Kỳ Hầu, do đó ông mang họ Y Kỳ, hoặc Y.

Nghiêu đế "Thân dài mười thước".

Theo Xuân thu nguyên mệnh bao (thời Tây Hán) viết rằng: "Lông mày Nghiêu dài tám thải, thông minh sáng sủa.

Trải qua năm tháng, tuyền cơ ngọc hành".

Chính là nói lông mày của Nghiêu đế có tám ánh sắc hào quang, ông thông hiểu tương lai, thiên tượng và lịch số, hiểu rõ sự vận hành của các vì sao.

Trong Xuân thu vĩ - Hợp thành đồ nói rằng trán ông trông giống như vầng thái dương.

Đế Chí kế vị

Lúc tuổi về già Đế Khốc chuyên tâm tìm hiểu về tu Đạo, nên ông phải cân nhắc thật kỹ lưỡng ai trong bốn người con sẽ thay ông kế thừa ngôi vị.

Ông bắt đầu so sánh bốn người con trai, xét về tài đức, thì có Nghiêu và Tiết, bàn về nhân cách những người mẹ sinh thành các con thì có Khí, nếu nói về tuổi tác thì có Chí, nhưng tài đức của Chí lại không bằng các huynh đệ của mình.

Đế Khốc quyết định dùng quẻ bói để lựa chọn, kết quả, bốn người con đều có khả năng thống trị thiên hạ.

Cuối cùng Đế Khốc quyết định so tuổi tác để chọn, vậy nên Chí là người được chọn cho ngôi quân vương.

Sau khi Đế Khốc qua đời Chí kế thừa ngôi vị, hiệu là Đế Chí.

Năm Nghiêu 13 tuổi, ông được phong ở đất Đào.

Ông là người tài giỏi hiếu học, nổi tiếng xa gần với sở trường chế tác các loại dụng cụ gốm sứ.

Nghiêu là người hiền đức và tài năng, ông quản lý chăm lo công việc của mình vô cùng tốt.

Năm Nghiêu 15 tuổi ông lại được phong ở đất Đường, làm Đường Hầu, nhận mệnh trợ giúp quản lý triều chính, ông và thị tộc của mình được gọi là "Đào Đường thị".

Đế Chí chưa đủ tài đức, thường kết thân với một số kẻ không lương thiện, cùng nhập bọn với nhóm "Tam hung".

Nhóm "Tam hung" gồm ba kẻ xấu xa, là Khổng Nhâm, Hoan Đâu, Cổn.

Khổng Nhâm là kẻ luôn nói những lời lẽ sắc bén giả dối, bề ngoài tỏ ra kính cẩn hiền hòa, nhưng trong nội tâm lại cay nghiệt ác độc, thường cảm thấy vui sướng khi người khác gặp chuyện không may, là kẻ tàn bạo chẳng còn nhân đức, bại hoại gia phong, loạn thần phản quốc.

Cổn là kẻ học rộng tài cao, giỏi về xây dựng, nên luôn tự cho mình là đúng, vô cùng bảo thủ và cố chấp.

Đế Chí phong chức cho Hoan Đâu làm Tư Đồ, quản lý chung chính sự; phong Khổng Nhâm làm Cộng Công, làm tổng quản các công trình; phong Cổn làm Tư Không, chuyên quản lý về đường thủy, đường bộ và trị thủy.

Hoan Đâu và Khổng Nhâm thường dẫn dụ Đế Chí ăn chơi rượu chè, không để ý tới triều chính, chẳng quan tâm trăm quan, không thương xót con dân trăm họ, dân chúng nhiều lần oán thán, thiên tai không ngừng, mọi người nói đây là do thiên tử vô đạo mà gây ra.

Bình định họa loạn

Đế Chí thất đức, dẫn tới một vài bộ lạc thiểu số phía Đông nhân cơ hội lần lượt nổi dậy, gây rối loạn đất nước.

Theo Hoài Nam Tử - Bản Kinh Huấn: Vào thời Nghiêu những thủ lĩnh bộ tộc như Áp Du, Tạc Xỉ, Cửu Anh, Đại Phong, Phong Hi, Tu Xà đều gây họa hại cho dân.

Theo Sơn hải kinh - Hải nội có ghi chép, lúc đó Thiên đế là Đế Tuấn, ngài thấy rằng thế gian sắp phải hứng chịu nạn lớn, liền phái Hậu Nghệ hạ thế trợ giúp nhân loại:

"Đế Tuấn ban cho Nghệ cung đỏ và mũi tên trắng, để cứu giúp quốc gia ở dưới.

Nghệ ban bắt đầu trải qua trăm nạn ở hạ giới".

Nghệ nhận mệnh cùng với Nghiêu tiến trận, Bắc trảm Tiết Thâu, Tây diệt Cửu Anh, Trung trừ Phong Hi, Nam giết Ba Xà, Đông bắn Đại Phong, sau đó giết Tạc Xỉ.

Dẹp yên họa loạn, từ đó danh tiếng của Nghiêu nổi khắp thiên hạ, khắp nơi đều quy phục.

Nghiêu thuận theo mệnh trời kế thừa đế vị

Chư hầu bốn phương thấy rằng uy đức của Nghiêu ngày càng lớn mạnh, thế nên cũng muốn biểu thị sự ủng hộ ông lên ngôi đế vị.

Đế Chí cũng cảm giác thấy mình không đủ tài đức sáng suốt như Nghiêu, vì vậy ông tại vị chín năm, sau đó hạ chiếu chỉ nhường ngôi, đem đế vị nhường lại cho Nghiêu.

Tương truyền Nghiêu gặp phải một giấc mộng kì lạ, mơ thấy mình đang dạo chơi trên núi Thái Sơn, đột nhiên xuất hiện một con thanh long, sau đó ông cưỡi rồng mà bay lên, hạ xuống đỉnh núi, ngẩng đầu nhìn lên, thấy cổng Thiên Cung mở toang, chỉ cách đỉnh đầu chưa đầy năm thước, hai tay ông nắm lấy cửa Thiên Cung, bước lên Thiên Thượng, cảm thấy ngân đài kim khuyết, ngọc vũ quỳnh lâu lộng lẫy huy hoàng.

Đế Nghiêu nối tiếp Đế Chí trở thành thiên hạ cộng chủ, định đô ở Bình Dương.

Sau khi Nghiêu đế kế thừa ngôi vị ông thường ra vào nhân gian tìm người hiền tài, trợ giúp đất nước.

Nghiêu tìm đến Xích Tương Tử Dư, Phiệt Khanh, Vu Hàm... và mời họ vào triều nhậm chức, ngoài ra còn có Bách Thành Tử Cao, Trương Quả Lão... cùng tương trợ.

Nghiêu đến núi Cô Xạ Phần Thủy Bắc Ngạn, viếng thăm bốn vị Đạo sĩ tu luyện: Phương Hồi, Thiện Quyển, Phi Y (Bồ Y) và Hứa Do.

Nghiêu dùng lễ đối đãi họ như trưởng lão, hay như học trò đến thăm hỏi thầy mà đối đãi lễ phép, khiêm tốn xin chỉ giáo.

Nghiêu còn từng là học trò của thầy Doãn Thọ Tử

Năm thứ năm thời Đế Nghiêu, có nước nam di Việt Thường phái sứ thần đến chúc mừng triều đình, cống tặng một con rùa lớn.

Sứ giả nói rằng, con rùa này chính là rùa thần, nó đã sống thọ được một ngàn năm rồi, đường kính nó dài hơn ba thước, trên lưng rùa chằng chịt vết khắc khoa đẩu văn, ghi lại lịch sử nhân loại từ khi khai thiên tịch địa cho tới nay.

Nghiêu đế hết sức vui mừng, mệnh lệnh sử quan ghi chép lại toàn bộ vào sách sử.

Đế Nghiêu đem thiên hạ chia làm chín châu (Cửu châu), định ra ngày đi tuần tra bốn phương, trưng cầu ý kiến của các chư hầu ở bốn phương, nhằm kiểm tra khả năng nắm quyền cai quản của các quan lại địa phương, lại cho người dựng "Báng Mộc" (bảng trách lỗi) thường lắng nghe nỗi lòng con dân trăm họ, hết lòng trị vì thiên hạ xã tắc.

Sử ký ghi chép rằng: Nghiêu đế "Nhân đức như Trời, trí tuệ như Thần, ở gần như thấy mặt trời, từ xa trông như đám mây".

Nghiêu đế là vị vua nhân đức có tu dưỡng, kiến thức uyên bác, trí tuệ như một vị Thần, khi đến gần ông như vầng thái dương tỏa sáng khắp nơi, nếu nhìn về nơi xa thì ông như áng mây sáng lạn rực rỡ.

Quyền quý nhưng chẳng ngạo mạn, Ông luôn tôn kính những người lương thiện đạo đức, tâm thường nghĩ đến con dân trăm họ, khiến cho cửu tộc trở nên thân thiết với nhau, trăm họ quy thuận.

Ông là vị vua nhân từ sáng suốt, nhân đức mà đảm nhận sứ mệnh trời đất giao cho, trăm quan làm việc rõ ràng minh bạch không sai phạm.

Các bộ lạc cũng đều cùng nhau sống chung hòa bình.

Theo Thuyết Uyển: Nghiêu là người có chủ tâm vì thiên hạ.

Gặp phải người đói khát, ông nói: "Là ta đã khiến ngươi sắp chết đói rồi!”; Gặp phải người đang rét lạnh, ông nói: "Là ta không cai quản tốt thiên hạ mới khiến ngươi rét lạnh"; Gặp phải kẻ phạm tội, ông nói: "Chính ta đã khiến anh ta phải đi ăn trộm".

Vua Nghiêu lấy lòng nhân từ mà gây dựng đức hạnh, dùng hiểu biết mà thay đổi mọi việc, trước chẳng tán thưởng mà khuyên người, không xử phạt mà giúp người sửa lỗi sai, đó cũng là đạo của Nghiêu đế.

Thiên hạ thái bình, có ông lão 80 tuổi vừa gõ vừa hát ca rằng: "Mặt trời mọc thì ta đi làm, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi, đào giếng mà uống, làm ruộng mà ăn, vua có sức gì giúp được ta đâu!".

Người xem than rằng: "Vĩ đại thay, đó là đức của vua Nghiêu đó".

(Còn tiếp)
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P-2, Kỳ 2): Đế Nghiêu - nhân đức sáng như sao Cảnh, trị quốc không có lòng tư


Lúc ấy nước Hoa Ấp báo rằng: Có một luồng khí đen đến từ mặt trời, vây quanh núi Thái Hoa đã mấy tuần rồi, sau đó trên núi Thái Hoa xuất hiện một vật, hình dáng giống rắn, có sáu chân, bốn cánh.

Theo truyền thuyết, nếu thật sự thấy vật có hình dáng như vậy thì đó là điềm báo thiên hạ sắp có hạn hán lớn...

Hậu Nghệ bắn chín mặt trời

Sau đó nước Trác Lộc phương Bắc báo rằng: Khi Hoàng Đế chiến đấu với Xi Vưu, Nữ Bạt (Thần nắng hạn) trợ giúp Hoàng Đế phá vỡ "Trận mưa lũ" đã di chuyển về phía Nam, tiến vào Ký Châu, thế nên ở Ký Châu trời hạn hán không đổ mưa.

Tiếp theo, trên trời xuất hiện bốn mặt trời.

Mọi người đều nói, Trời không thể có hai mặt trời, trong đó nhất định có ba cái là yêu tinh.

Vua Nghiêu mệnh lệnh Nghệ đi diệt trừ yêu tinh, trừ tai họa cứu muôn dân.

Nghệ lo lắng sự việc này không biết đúng sai thật giả thế nào, nếu như bắn hạ mặt trời thật thì chẳng phải tội lớn hay sao?

Đế Nghiêu nói: "Mặt trời thật sự thì không thể bắn hạ được".

Cuối cùng, trên bầu trời xuất hiện cùng lúc mười mặt trời.

Sau đó Nghệ lấy cung tiễn ra, đi tới giáo quân tràng, các mũi tên được bắn liên tục lên trời.

Đợi hồi lâu, nhưng chẳng thấy mặt trời nào rơi xuống.

Đế Nghiêu lo lắng bất an.

Xích Tương Tử Dư nói: "Hồng Nhai Tiên nhân có nói rằng, bệ hạ trước tiên trai giới, thành kính cầu khẩn thiên địa tổ tông.

Mặc dù Nghệ có mũi tên Thần, nhưng còn phải dựa vào Thánh chủ phải có tấm lòng chân thành".

Đế Nghiêu tắm gội trai giới trong ba ngày, cúng tế khẩn cầu thiên địa.

Sơn Hải Kinh - Đại Hoang Nam Kinh có chép: Ngoài biển Đông Nam, giữa là Cam Thủy, Đế Tuấn cùng thê tử mình là Hi Hòa sinh ra mười mặt trời.

Truyền thuyết kể rằng mười mặt trời đó chính là con của Thiên đế Đế Tuấn, tại Dương Cốc bên ngoài của vùng biển phương đông.

Mười mặt trời cùng nhau bay lên bầu trời, cỏ cây khô héo, sông nước khô cạn, đất đai một mảnh khô cằn.

Mọi người nóng đến nỗi không thể thở được.

Nghệ phụng mệnh đi tới núi Côn Lôn, ngửa mặt lên trời cầu khẩn, khuyên mặt trời hãy quay trở về, nhưng vẫn không có kết quả.

Hậu Nghệ dùng thần tiễn, lần nữa bắn từng mũi tên lên, sau đó từng mặt trời rơi xuống.

Cuối cùng, trên trời chỉ còn lại một mặt trời, thời tiết trở nên tươi sáng mát mẻ, âm dương được điều hòa.

Khai sáng lịch pháp, điều hòa bốn mùa âm dương

Thế gian thời kì thượng cổ, cần làm theo ý trời, quan sát thiên văn, thiên tượng, bốn mùa, điều hòa âm dương, cúng tế thiên địa là việc rất quan trọng, cũng là một phương cách câu thông giữa con người và Thần.

Khi Đế Nghiêu mới kế vị, bốn mùa không có, âm dương không cân bằng, thiên địa vận hành không có chu kỳ.

Thế nên, phải quy chính lại sự vận hành của thiên địa theo trật tự, đó chính là lúc khai sáng lịch pháp.

Nghiêu mệnh lệnh bốn người: Hi Trọng, Hi Thúc, Hòa Trọng, Hòa Thúc phân ra bốn phương nắm giữ các chức vụ.

Bốn người họ hợp lại quan sát đo đạc thiên văn, trông coi thời tiết mùa vụ, quan trắc trời trăng sao và vạn vật sinh linh, điều chỉnh lại chính xác thời gian bốn mùa, lập ra lịch pháp, và hướng dẫn người dân trồng trọt vào các mùa vụ.

Lệnh cho Hi Trọng ở tại Dương Cốc hướng Đông, nghênh đón mặt trời mọc, quan sát phân biệt mọi thời khắc khi mặt trời đang lên.

Thấy rằng ngày và đêm ngang bằng nhau, Điểu tinh là chòm sao phương Đông trong Nhị thập bát tú thường xuất hiện giữa lưng chừng trời vào lúc hoàng hôn, lúc này là mùa xuân giữa tháng hai, ngày nay gọi là tiết xuân phân.

Hi Thúc ở tại Giao Chỉ hướng Nam (Việt Nam ngày nay), quan sát phân biệt mọi thời khắc mặt trời mọc lên ở hướng nam.

Nhận thấy rằng ngày dài hơn đêm, sao Hỏa - một trong 7 chòm sao trong Nhị Thập Bát Tú thuộc chòm sao Thanh Long phương đông dần thăng lên trên bầu trời phương nam, lúc này là giữa mùa hạ, ngày nay gọi là hạ chí (ngày dài nhất và đêm ngắn nhất trong năm).

Hòa Trọng ở tại Muội Cốc hướng tây, quan sát mọi thời khắc mặt trời lặn.

Nhận thấy rằng thời gian ngày và đêm là bằng nhau, sao Hư - một trong 7 chòm sao trong Nhị Thập Bát Tú thuộc chòm sao Huyền Vũ phương Bắc xuất hiện ở lưng chừng trời phương nam khi hoàng hôn, lúc này vào giữa mùa thu, ngày này gọi là tiết thu phân.

Hòa Thúc ở phương bắc, quan sát sự vận hành của mặt trời ở hướng bắc.

Thấy rằng thời gian ban ngày ngắn hơn đêm, sao Mão một trong 7 chòm sao phương Tây trong Nhị Thập Bát Tú thuộc chòm Bạch Hổ xuất hiện giữa lưng chừng trời phương nam, lúc này vào giữa mùa đông, ngày này gọi là đông chí.

Căn cứ theo các quan sát đo đạc, vua Nghiêu đã định ra một năm có ba trăm sáu mươi ngày, bốn mùa xuân hạ thu đông, cứ ba năm sẽ có một tháng nhuận, dùng tháng nhuận để điều chỉnh lịch pháp cho phù hợp với thời tiết bốn mùa, và áp dụng hợp lí cho mùa vụ mỗi năm.

Thượng thư - Nghiêu điển viết: "Một năm có 366 ngày, dùng tháng nhuận để điều chỉnh đặt ra 4 mùa, thành một năm"

Theo Tống sách - Phù Thụy Chí ghi chép lại: Có một loại cây cỏ sinh trưởng trên các bậc thềm nơi sân vườn, mùng một mỗi tháng bắt đầu ra lá, mỗi ngày mọc một lá, sau nửa tháng mọc mười lăm lá.

Sang ngày thứ mười sáu thì mỗi ngày bắt đầu rơi một lá, đến cuối tháng thì rụng hết.

Nếu như vào trúng tháng trăng non, thì đến ngày cuối cùng lá cây chỉ héo tàn chứ không rơi rụng.

Đế Nghiêu cho là vô cùng hiếm thấy, nên gọi là "Minh giáp" (cỏ may mắn), hay còn gọi là "Lịch thảo".

Kết hợp Minh giáp để quan sát, và cuối cùng lấy 365 ngày làm một năm.

Quan sát thiên văn, khí hậu, mùa vụ chiểu theo chu kỳ 365 ngày, theo như tính toán gần đến tháng nhuận, có thể trông thấy trăng non lớn hay nhỏ mà quyết định làm ra lịch pháp.

Lịch pháp mới khớp với thời vụ và bốn mùa quanh năm, tiết khí được phân chia chính xác rõ ràng, cứ ba tháng được gọi là 1 quý, 12 tháng là một năm, một vòng quanh quay 365 ngày sẽ có một tháng nhuận, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày, một ngày chia thành 12 giờ, một giờ có 8 khắc, mỗi thời mỗi tiết đều có quy luật và chuẩn mực.

Đến lúc này, bốn mùa đã được sắp xếp theo thứ tự.

Ngôi sao Cảnh hiện lên điềm lành

Dân gian có bài ca dao về thời kỳ của đế Nghiêu: "Kỳ nhân như thiên, kỳ trí như thần, như nhật ôn tâm, như vân cái địa, đế đức chiêu chiêu, phổ thiên đồng khánh ⋯" (Nghiêu đế là vị vua nhân đức có tu dưỡng, kiến thức uyên bác, trí tuệ như một vị Thần, khi đến gần ông như vầng thái dương tỏa sáng khắp nơi, nếu nhìn về nơi xa thì ông như áng mây sáng lạn rực rỡ, khắp chốn mừng vui...)

Thuật dị ký ghi chép: "Nghiêu là vị quân vương nhân từ, mười ngày như một đều gặp may mắn tốt lành".

Đế Nghiêu dùng đức mà quản lý chính sự rõ ràng, thành tựu về văn hóa giáo dục, quân sự lớn mạnh, muôn dân an cư lạc nghiệp.

Đức hạnh của đế Nghiêu đã cảm động đến Trời nên Trời giáng xuống mười điềm tốt lành cho Đế Nghiêu.

Rõ ràng nhất là ngôi sao Cảnh biểu hiện điềm lành.

Trúc thư kỳ niên ghi chép: Đế Nghiêu "năm thứ 42, sao Cảnh xuất hiện gần sao Dực"; "Vua Nghiêu tại vị năm thứ 17, sao Cảnh xuất hiện gần sao Dực".

Hán thư - Thiên văn chí ghi chép: "Sao Cảnh là sao đức, hình dáng nó bất định, thường xuất hiện ở nước có Đạo".

Sách Chính nghĩa viết: "Hình dáng sao Cảnh giống nửa vầng trăng, mọc vào cuối tháng để chiếu sáng trợ giúp trăng.

Nó xuất hiện thì có nghĩa là vua có đức, là để chúc mừng bậc Thánh minh".

Tôn thị thụy ứng đồ cũng viết: "Sao Cảnh xuất hiện khi vua không có lòng tư".

Sao Cảnh là ngôi sao may mắn cát tường, khi quân chủ đức dày có đạo, không coi thiên hạ là của riêng thì sẽ cảm động Thượng Thiên, khi đó sao Cảnh mới xuất hiện.

Sao Cảnh hình dáng tuy giống nửa vầng trăng, nhưng ánh sáng của nó sáng hơn trăng.

Chòm sao Dực là một trong 28 chòm sao (nhị thập bát tú), bao gồm 22 ngôi sao, nằm ở phương Nam, màu đỏ.

Có ghi chép cho rằng, vua Nghiêu là Thần của sao Dực.

Hai lần sao Cảnh xuất hiện gần sao Dực là biểu thị vua Nghiêu là Thần đến thế gian.
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(Phần 3): Đại kiếp nạn


Vào những năm cuối thời đại vua Nghiêu đã xảy ra đại hồng thủy khắp nơi, trận đại hồng thủy Noah được ghi lại trong thánh kinh có lẽ cũng xảy ra trong thời kỳ này.

1.

Hồng thuỷ xuất hiện

Lúc đó thiên hạ phân thành 9 châu Ký Châu, Dự Châu, Duyện Châu, Thanh Châu, Từ Châu, Dương Châu, Kinh Châu, Lương Châu, Ung Châu; gọi là Cửu Châu.

Bên ngoài Cửu Châu được gọi là Tứ hải, bên ngoài Tứ hải chính là Bát hoang.

"Thuyết Uyển - Biện Vật" nói rằng Trung Quốc cổ đại "trong Bát hoang có Tứ hải, trong Tứ hải có đảo Cửu Châu"

Ký Châu cũng là châu có kinh kỳ của vua, Ký cũng như kỳ vậy, cũng chính là nơi đặt đế đô, chỉ có nó mới có thể đại biểu cho "Trung Quốc","thiên hạ".

Do đó trong "Lộ Sử" có nói: "Trong Cửu châu thì duy có Ký Châu là không nơi nào sánh bằng, đánh 8 châu và đặt ra ranh giới, do đó 8 châu khác biệt với đế đô và cùng đế đô hợp thành đại nhất thống"

Địa khu Mông Cổ ngày nay, đương thời là một biển lớn mênh mông vô biên vô tế, còn được gọi là Bắc Hải.

Phía tây của Ký Châu và Dự Châu là Ung Châu, nay là Thiểm Tây, Ninh Hạ và địa khu phía đông Cam Túc.

Từ phía tây của Ung Châu đến phía bắc của Chung Nam Sơn là Sơn Hải cổ đại.

Nước từ Lương Sơn chảy ào ra, thao thao bất tuyệt đổ vào Sơn Hải.

Phía tây Sơn Hải chính là Tây Hải, nó bao gồm một địa khu rộng lớn gồm Cam Túc, Thanh Hải, Tân Cương, Tây Tạng...

Phía Đông của Sơn Hải chính là vực sâu, tức là đầm Dương Vu, nằm ở thượng du của Hoàng Hà (đương thời gọi là Đại Hà).

Đường bờ biển của Đông Hải lúc bấy giờ (tức là Đông Hải, Hoàng Hải, Bột Hải ngày nay) vẫn nằm tại Tào Kinh, Từ Kinh ở Thượng Hải ngày nay; Đông Đài, Liên Thủy và Liên Vân Cảng ở Tô Bắc; Khu Miêu Trang, Tiểu Vương Trang ở Thiên Tân.

Vùng đất của Âu Mân ở Chiết Giang và Phúc Kiến lúc đó vẫn còn là biển.

Sau khi trận hồng thủy xảy ra, nước biển từ Tây Hải và Sơn Hải không còn đường thoát, đều chảy vào đầm Dương Vu, mà nước từ đầm Dương Vu không thể chảy ra biển lớn vì Hạ Lan Sơn và Âm Sơn chặn lại, chỉ có thể trước hết chảy từ Mạnh Môn Sơn (cách Thác Hồ Khẩu trên sông Hoàng Hà không xa), sau đó lại từ phía bắc và nam của Lữ Lương Sơn đổ xuống, làm ngập các cánh đồng màu mỡ, phá hủy nhà cửa, giết chết lượng lớn người và động vật.

Đặc biệt ở Ung Châu, vì núi cao ngăn cản nên nước bị tắc ở đó.

Vua Nghiêu trưng cầu ai có thể khống chế lũ lụt, Hoan Đâu tiến cử Cộng Công Khổng Nhậm.

Nghiêu Đế nói: "Cộng Công người này hoa ngôn xảo ngữ, kỳ thực bằng mặt mà không bằng lòng, nhìn ra có vẻ cung kính, nhưng lại trái với Đạo Trời, coi thường Thần linh, không thể dùng người này trị thủy được".

Viên quan Đại Tư Nông Tắc cũng nói hiện tại không chọn được người nào tốt hơn, nên để Khổng Nhậm thử sức xem, vua Nghiêu bất đắc dĩ giao cho Khổng Nhậm khống chế lũ lụt.

Vua Nghiêu cử Đại tư Nông Tắc đến núi Côn Luân bái Tây Vương Mẫu, Tây Vương Mẫu nói với Tắc rằng, đại hồng thủy lần này chính là Thiên ý, là có định số, kể cả người trị thủy, thời cơ trị thủy cũng đều có định số, phải chờ 20 năm sau, mới có thể phái Thần Vũ xuống trị thủy, đến lúc đó, lũ lụt mới có thể hoàn toàn bình ổn, Vương Mẫu cũng sẽ giúp đỡ trị thủy.

2.

Thảo phạt Tam Miêu

Nhân lúc lũ lụt khắp nơi, Tam Miêu ở phương nam thừa cơ làm loạn.

"Tam Miêu" thuộc về hậu duệ của Cửu Lê Xi Vưu, vào thời điểm đó, họ chủ yếu phân bố giữa hồ Động Đình và hồ Bành Lê (nay là hồ Bà Dương ở Giang Tây), tức là khu vực phía nam của trung lưu sông Trường Giang.

Họ có thế lực lớn, là phong quốc của cha con Hoan Đâu.

Hai cha con Hoan Đâu tàn bạo bất nhân, băng hoại truyền thống.

Hai cha con Hoan Đâu từ lâu đã có tâm không phục, âm mưu làm loạn từ lâu, đã nhiều lần làm loạn.

Lúc đó lợi dụng lũ lụt khắp nơi, xâm lược khắp nơi và thôn tính các nước nhỏ yếu.

Vua Nghiêu ra lệnh cho Tắc chinh phạt Tam Miêu, chiến đấu tại sông Đan Thủy, hàng phục được Tam Miêu.

Ông cũng yêu cầu Tam Miêu loại bỏ tất cả các loại chính sách bạo ngược và hình phạt tàn khốc đi, tôn sùng Đạo của các vị Thánh cổ xưa, trả lại các vùng đất đã bị thôn tính cho các quốc gia, và sau đó thả Hoan Đâu ở núi Tung Sơn.

3.

Truyền thuyết và những ghi chép liên quan đến đại hồng thủy

"Thượng Thư - Nghiêu Điển" có ghi chép: "Hồng thủy cuồn cuộn chia cắt các phương, mênh mông dâng ngập núi đồi, mênh mông tận trời".

Hồng thuỷ ngập trời, bủa vây núi lớn, xông lên đồi cao, che lấp hết bình nguyên, người dân không chốn an cư.

Sử thi "Hồng thủy ký" của dân tộc Di đã mô tả việc Thần tạo ra thiên địa và con người, con người dần dần bại hoại sa đọa rồi bị Thần dùng hồng thủy hủy diệt, lưu lại một người tốt và tái tạo nền văn minh nhân loại.

Xét về quy mô và phạm vi của trận lụt, trận lụt lớn vào thời vua Nghiêu gần như toàn cầu, và toàn bộ bắc bán cầu bị ngập lụt.

Về trận hồng thuỷ này, có 254 dân tộc trên thế giới có văn tự ghi lại hoặc những câu chuyện truyền miệng, những câu chuyện và truyền thuyết đó đều có rất nhiều điểm tương đồng.

" Kinh Thánh - Sáng Thế Ký" viết như thế này: "Chuyện này xảy ra vào ngày 17 tháng 2.

Ngày hôm đó, cửa trời mở rộng và mưa lớn trong bốn mươi ngày đêm.

Núi cao ở khắp nơi đều bị nhấn chìm".

Noah và vợ ông lái một con thuyền lớn, sau hơn 40 ngày trôi theo dòng lũ lớn, thì mắc cạn trên đỉnh núi cao, đến ngày thứ 150 thì lũ mới hoàn toàn rút hết.

Trong số các dân tộc ở Trung Quốc, dân tộc duy nhất không có truyền thuyết về hồng thủy là dân tộc Lạc Ba.

Người Lạc Ba chủ yếu sống ở Sơn Nam và Lâm Chi, với độ cao trung bình 3.000 mét.

Đại Hồng Thủy không đạt đến độ cao này.

4.

Độ cao của trận đại hồng thủy

Đại Vũ trị thủy, dựng bia trên đỉnh núi Hành Sơn, bia được dựng trên một tảng đá tự nhiên, tương truyền nơi dựng bia chính là vị trí của nước lúc bấy giờ, cũng chính là độ cao của mực nước ở Hành Sơn lúc bấy giờ.

"Thủy Kinh Chú" viết: "Nước sông chảy qua hẻm núi Hiệp Đông, qua Sáp Táo ở huyện Nghi Xương đổ xuống.

Bờ bên trái của sông là những vách đá dựng đứng mấy trăm trượng, chim không thể đậu được.

Có một vệt lửa tàn cắm giữa vách đá, trông thấy có thể dài mấy thước.

Các phụ lão truyền miệng rằng, thời hồng thủy xưa, mọi người đỗ thuyền ở vách núi, cắm những ngọn lửa tàn trên vách đá, đến nay vẫn còn tồn tại.

Thế nên truyền thừa gọi nó là Sáp Táo (cắm bếp)".

"Nghệ Văn Loại Tụ" có ghi chép: "Ở 80 dặm phía tây huyện Di Lăng, Nghi Đô có núi Cao Khuông.

Tương truyền từ thời xa xưa, nước lũ thời vua Nghiêu, núi này không bị ngập, trông như cái giỏ (khuông), do đó đặt tên như vậy".

Nghi Đô hiện nay là một thành nhỏ ở vùng lân cận Nghi Xương, Hồ Bắc.

Theo truyền thuyết của tộc người Cao Sơn ở Đài Loan, độ cao của hồng thủy đạt đến khoảng 2.000 mét.

Theo truyền thuyết của dân tộc Triều Tiên, có hai huynh muội trôi dạt đến đỉnh núi Bạch Đầu Sơn (núi Trường Bạch) mới có thể sống sót, núi Trường Bạch lấy đỉnh Tướng Quân làm đỉnh núi chính, kế bên có nhiều đỉnh núi cao chót vót trên 2000m so với mực nước biển.

Tức là nước lũ dâng lên đến từ 2000m trở xuống.

Theo truyền thuyết của Philippines, trong trận đại hồng thuỷ chỉ còn lại hai huynh muội sống sót là Wigan và Bugan.

Những ngọn núi cao dưới 2.000 mét đều bị nhấn chìm.

Trong câu chuyện thần thoại Hy Lạp Deucalion và Pyrrha, từ những tình huống trong câu chuyện mà xét thì những núi cao dưới 2000m đều bị nhấn chìm.

5.

Núi Nghiêu thần kỳ

Trong quyển 769 của "Thái Bình Ngự Lãm" có dẫn "Quận Quốc Chí" ghi chép rằng : "Tễ Châu có núi Phù Sơn.

Người xưa tương truyền rằng, thời vua Nghiêu có mưa lớn, núi này nổi trên mặt nước.

Có người neo thuyền vào các vách đá, ngày nay vẫn còn những khóa sắt bị vỡ".

Huyện Phù Sơn ở Sơn Tây nằm ở chân phía nam của núi Thái Nhạc, phía đông của bồn địa Lâm Phần, phía tây tiếp giáp Lâm Phần, Tương Phần, phía nam tiếp giáp Dực Thành, phía đông giáp An Trạch, phía đông nam giáp Thấm Thuỷ, phía bắc liền với huyện Cổ.

Thị trấn của huyện có bán kính khoảng mười km, bốn bề bao quanh bởi núi, có độ cao hơn 1.200 mét so với mực nước biển.

Dân gian ghi chép lại rằng, lúc đó, "Thiên Hà nghiêng đổ, mưa như nước trút, kéo dài không ngớt, nước chảy khỏi Mạnh Môn (huyện Cát).

Nước tràn chảy ngược dòng, sông Dương Tử và sông Hoài thông nhau".

Cũng chính là nói, lúc đó lượng mưa cực kỳ lớn, lại kéo dài rất lâu, hồng thủy từ đỉnh núi Mạnh Môn ở Lữ Lương đổ ra (cổ sử ghi lại, Mạnh Môn chưa mở, Lữ Lương chưa phát), nước sông Trường Giang và Hoàng Hà tràn lên, khắp nơi đều là biển nước mênh mông, chỉ có ở đây có một núi trôi nổi theo dòng nước cao thấp, nên gọi là Phù Sơn.

Vì Nghiêu Đế tránh lũ ở đây nên nó còn được gọi là Nghiêu Sơn.

Hồng Thuỷ ngập trời, Phù Sơn thành bờ.

Không giống như nhiều địa danh có cùng tên "Phù Sơn" khác ở Trung Quốc, vật trôi nổi trên dòng nước ở các địa phương khác là những tảng đá riêng lẻ trên núi; "Phù Sơn" ở huyện Phù Sơn không như vậy, nó là cả ngọn núi có thể trôi nổi trên dòng lũ.

Đương thời, trái đất đang hỗn độn và ngọn núi bị nước lũ bao vây tứ bề, nhưng điều kỳ lạ từ đầu chí cuối nó không gây hại đến con người sinh sống trên núi.

Nguyên do là núi có thể tuỳ theo sự lên xuống của dòng lũ dữ mà dập dềnh theo, như thể cuỡi một con thuyền tuỳ theo dòng nước mà tự do dập dềnh.

Câu chuyện cổ trong giai đoạn lịch sử này đã được ghi lại trong "Gia Khánh - Thống Chí" của triều đại nhà Thanh.

Có người cho rằng Phù Sơn có nguồn tài nguyên than đá dồi dào, vì than đá có khối lượng riêng nhẹ hơn đá nên có thể nổi trên mặt nước.

Bất luận như thế nào, trọng lượng riêng của than đá vẫn lớn nước một chút.

Có thể nói, cả ngọn núi có thể theo dòng nước mà chìm nổi, thực sự là một kỳ tích, cũng là Thần tích.

"Phù Sơn" - ngọn núi đặc biệt ở huyện Phù Sơn này, vì đối ứng với Đông Phù Sơn ở huyện Bình Định, thế nên trong một số cuốn sách, nó còn được viết là "Tây Phù Sơn".

Vào năm Vũ Đức thứ hai thời Đường Cao Tổ Lý Uyên nhà Đường (năm 619), nó được gọi là "Phù Sơn".

Chuyện kể rằng vào năm sau (năm 620), có người nhìn thấy "Thánh nhân" ở dưới núi Dương Giác nên đổi tên thành huyện "Thần Sơn".

Vào năm thứ 7 thời Đại Định triều Kim (năm 1167), lại khôi phục lại tên cũ, vẫn gọi là "huyện Phù Sơn".

Kỳ thực, theo truyền thuyết dân gian ở nơi này, cái tên "Thần Sơn" từ thời Nghiêu Đế thượng cổ đã có rồi.

Thử nghĩ xem, cả một ngọn núi có thể nổi trôi theo dòng nước, cư dân được an toàn, sớm đã hiện lộ Thần tích mười mươi như vậy, nếu trên núi không có "Thần" bảo hộ thì ai có thể làm được?

6.

Nguồn gốc của đại hồng thuỷ

Trận đại hồng thuỷ lớn bao phủ toàn cầu như thế thì từ đâu đến?

Trong "Kinh Thánh" nói: "Đức Chúa Trời thấy con người trên mặt đất tội lỗi cùng cực, nên đã cảnh báo rằng sẽ dùng hồng thuỷ để huỷ diệt các loài sinh vật trên thế gian, không ai còn sống sót."

Mưa lớn từ trên trời đã giáng xuống trong bốn mươi ngày đêm.

Theo thần thoại Hy Lạp, Thiên Đế Zeus thấy nhân loại càng lúc càng tàn nhẫn vô đạo, hoàn toàn không còn chính nghĩa và lễ tiết, nên quyết định dùng hồng thuỷ để giết chết nhân loại.

Trong cuốn sách kinh điển của thổ dân châu Mỹ người Maya "Popol Vuh" có ghi chép như thế này, vào thời khai thiên tịch địa Thần đã tạo ra loài người, sau này con người quên mất sự tồn tại của Đấng sáng tạo, không còn tôn kính Thần, nên các vị thần quyết định sẽ tạo ra một trận hồng thuỷ để huỷ diệt nhân loại.

Từ những ghi chép và truyền thuyết của các dân tộc khác nhau mà xét, thì chính vì đạo đức con người đã băng hoại, nên các vị Thần mới giáng xuống đại hồng thuỷ để trừng phạt nhân loại, chỉ còn rất ít người lương thiện mới có thể tiếp tục sống sót.

Trận đại hồng thuỷ lần này có thể là mưa lớn trút xuống và nước biển xâm lấn, những thảm họa mà nó mang lại là rất khủng khiếp, theo "Sơn Hải Kinh" ghi chép, sau khi đại hồng thuỷ xảy ra, rất nhiều địa khu cây cỏ không thể sinh sôi.

Trận đại hồng thuỷ này gần như đã phá hủy thời kỳ văn minh nhân loại đó, nền văn minh phương Tây gần như bị huỷ diệt hoàn toàn, nền văn minh Trung Hoa cũng bị tàn phá nặng nề.

Nhưng có một số nền văn minh vẫn được lưu lại, vì thế mà con người ở địa khu đó được nội hàm văn hoá thâm sâu.

Có người cho rằng trận đại hồng thuỷ vào thời vua Nghiêu là ranh giới phân chia giữa hai nền văn minh.

Thật vậy, một trong những tác phẩm kinh điển cổ nhất còn tồn tại ở Trung Quốc là "Thượng Thư" chỉ ghi chép các sự kiện lịch sử kể từ thời Nghiêu.

Chính là nói rằng, những ghi chép có hệ thống chân chính về dân tộc Trung Hoa bắt đầu từ thời đại Nghiêu-Thuấn-Vũ, tức là thời đại xảy ra đại hồng thủy.

(Còn tiếp)
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(Phần 4) Vua Nghiêu thuận thiên ý truyền ngôi cho Thuấn


Người già là bậc bề tôi trong triều thì được nuôi dưỡng ở Thượng Tường, người già là dân thường thì được nuôi dưỡng ở Hạ Tường.

Họ đều là những người trải qua sự đời, là những người rất có kinh nghiệm.

Thế nên, trẻ nhỏ được tập trung về đây, rồi mời các bậc trưởng giả ở đây truyền thụ tri thức và kinh nghiệm cho chúng.

Kể từ đó, kho gạo vừa là trường học, một công đôi việc, vừa giữ được tác dụng dưỡng lão, lại tăng cường chức năng truyền thụ tri thức, trường học chuyên môn thời cổ đại chính là được ra đời như vậy.

1.

Đế Nghiêu tìm người thừa kế

Vua Nghiêu biết rằng con trai mình là Đan Chu đức tài không đủ để kế thừa ngôi vị, ông thường chú ý tìm kiếm người kế thừa ngôi vị của mình.

"Lã Thị Xuân Thu" ghi lại rằng, vua Nghiêu đã nhường thiên hạ cho Tử Châu Chi Phụ, nhưng Tử Châu Chi Phụ đã khéo lời từ chối.

"Cao Sĩ Truyện" ghi chép rằng, vua Nghiêu nhường ngôi cho Hứa Do, nhưng ông đã thoái thác, nói mình muốn "tu thân dưỡng tính, không màng thế sự".

Vua Nghiêu muốn nhường thiên hạ cho Sào Phụ, Sào Phụ cũng không nhận.

Vua Nghiêu lại nhường ngôi vị cho Bồ Y Tử, Bồ Y Tử nói: "Ngài chớ quá lo nghĩ, hiền nhân sớm đã chuyển sinh xuống thế gian, những ngày tới là có thể có được người đó"

Vua Nghiêu hỏi Tứ Nhạc rằng ai có thể kế thừa đế vị, Tứ Nhạc tiến cử Thuấn cho vua Nghiêu.

2.

Tuổi thơ đầy mưa gió

Cách vài trăm dặm về phía tây nam của huyện Bình Dương ở Ký Châu có một ngôi làng nho nhỏ , gọi là Diêu Khư, trong đó một gia đình họ Ngu là hậu thế của Chuyên Húc.

Thuấn sinh ra ở gia đình này.

Theo "Sử ký", phụ thân của Thuấn là Cổ Tẩu, mẫu thân tên là Ác Đăng.

Thuấn, vốn tên là Trùng Hoa, truyền thuyết nói rằng mắt ông có hai đồng tử nên mới đặt tên này, Thuấn là thụy hiệu.

Sách "Thụy pháp" viết rằng: "nhân thánh thịnh minh viết Thuấn", nghĩa là: "nhân từ, thánh minh, đức thịnh và sáng suốt thì gọi là Thuấn"

Cổ Tẩu và Ác Đăng sinh được hai người con trai, Thuấn là người con thứ hai, sinh tại Diêu Khư, nên họ là Diêu.

Từ nhỏ thông minh cơ trí, là người con thứ hai, cho nên ông cũng được gọi là Trọng Hoa.

Theo "Trúc thư kỷ niên" ghi chép: "Mẹ Thuấn là Ác Đăng, thấy cầu vồng lớn trong lòng cảm ứng, rồi sinh Thuấn tại Diêu Khư.

Mắt Thuấn có hai đồng tử, nên tên là Trùng Hoa".

Ngoài ra, hình thể Thuấn còn có rất nhiều chỗ khác thường: Lòng bàn tay của ông có chữ giống như chữ "bao", trán nhô ra, xương nhô cao, đầu to mà tròn, mặt đen mà vuông, mặt hình rồng miệng to, có thể chứa được cả một nắm đấm, mặt hình rồng mà xương trán gồ lên.

Lúc Thuấn hai tuổi, mẹ đẻ qua đời, cha lấy mẹ kế.

Về sau mẹ kế sinh một trai một gái, con trai gọi là Tượng, con gái gọi Khoả Thủ.

Sau khi sinh con, mẹ kế thường xuyên đánh đập mắng chửi hai anh em Thuấn, còn kích động cha Thuấn vô duyên vô cớ trách phạt hai anh em Thuấn, hai huynh đệ thường xuyên bữa đói bữa no, anh trai Thuấn chịu không nổi sự hành hạ mà sớm qua đời.

Khi Thuấn khoảng mười tuổi, có người tu đạo gọi là Vụ Thành Tử chủ động dạy Thuấn và những đứa trẻ khác đọc sách.

Vụ Thành Tử biết, Thuấn sau khi chịu hết khổ cực thì tương lai tất thành bậc đại khí.

Mẹ kế của Thuấn không muốn để cho Thuấn đi đọc, nhờ sự sắp xếp của hàng xóm, Thuấn đi chăn trâu cho nhà hàng xóm, đồng thời theo Vụ Thành Tử học tập, đọc sách, viết chữ và các đạo lý làm người, còn cả những đạo lý về thiên văn địa lý và trị quốc bình thiên hạ.

Cứ như vậy Thuấn vừa chăn trâu vừa đi học, theo Vụ Thành Tử học hành 3 năm.

Sau đó Thuấn lại bái sư Doãn Thọ Tử.

3.

Hình mẫu về lòng nhân ái hiếu đễ

Trong lịch sử, Thuấn là hình mẫu về lòng hiếu đễ, năm hai mươi tuổi ông đã nổi danh khắp thiên hạ bởi lòng hiếu đễ.

Thuấn sống trong hoàn cảnh gia đình "cha gàn dở, mẹ gầm gào, em ngạo mạn".

Sử sách ghi lại rằng, cha Thuấn ngu đần, không phân biệt thị phi, ngoan cố, chẳng đếm xỉa đến đạo lý, hai mắt lại bị mù, nên người ta gọi là Cổ Tẩu (nghĩa là ông mù).

Mẹ kế ngu muội, thâm độc tàn nhẫn, miệng nói lời không thật thà đáng tin, người em cùng cha khác mẹ tên là Tượng thì hung bạo, ngạo nghễ, phóng túng, tính cách cuồng ngạo, cực đoan tự tư, lòng dạ nham hiểm.

Cả ba người này đều muốn tiêu diệt Thuấn.

Thuấn nỗ lực hết mình lấy lòng khoan dung, hiếu thuận, nhân ái để xử lý tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình.

Đối với cha mẹ cung kính, tận lễ, hiếu kính cung phụng, mặc dù phụ mẫu không thích ông, nhưng từ đầu chí cuối ông vẫn không hề làm trái đạo của người làm con.

Khi phụ thân của Thuấn dùng gậy nhỏ đánh ông, ông chỉ đứng bất động, khi phụ thân dùng gậy lớn đánh ông, người nhà muốn làm hại ông, ông liền kịp thời lánh đi, khi trong nhà có việc cần giúp đỡ, ông luôn luôn bên cạnh phục dịch cha mẹ.

Sống trong nghịch cảnh, nhưng Thuấn lại có thể biểu hiện ra phẩm đức phi phàm, có thể nhẫn được điều mà người thường không thể nhẫn, Thuấn thể hiện ra đạo đức cao thượng, hiếu đễ trung tín, là tấm gương chói lọi của nền văn hoá truyền thống Á Đông.

Một hôm, có một con chim ba chân màu đỏ xuất hiện ở sân trong trong nhà Thuấn.

Đạo sĩ Phương Hồi nói, chim đỏ chính là Chu điểu, là chim Thần ba chân ở mặt trời.

Hễ có người con chí hiếu thì chim ba chân đến đỗ ở trong sân.

Thuấn thờ cha mẹ chí hiếu, thế nên xuất hiện loài chim này.

4.

Dùng đức cảm hóa lòng người

Thuấn không được cha mẹ và em trai dung nạp nên phải đi xa ngoài mưu sinh.

Vì Thuấn đối xử với mọi người đều khiêm tốn, khoan dung nhẫn nhịn, nên ông đi đến đâu cũng được mọi người hoan nghênh tôn trọng.

Mỗi nơi mà ông ở, mọi người đều nguyện ý tụ tập về nơi ông sống.

Khi Thuấn ở Lịch Sơn khai khẩn trồng trọt, liền có voi xuống núi, dùng mũi cuộn cày cuốc giúp Thuấn cày đất trồng trọt, mọi người đều thấy rất thần kỳ.

Còn có cả chim bay đến giúp Thuấn trừ cỏ dại.

Mọi người nói: "Ngu Trùng Hoa kinh qua nhiều ma nạn, tất có hậu phúc.

Voi cày bừa chim làm cỏ, chính là dấu hiệu báo trước phi phàm" Tại Lịch Sơn, lúc đó thường có hiện tượng vì tranh chấp đất đai mà đánh nhau.

Thuấn chủ động lấy đất đai phì nhiều do tự mình khai khẩn đưa cho người yếu thế, rồi lại tự mình đi khai hoang trồng trọt ở những vùng đất cằn cỗi.

Bởi sự ảnh hưởng của Thuấn, người dân ở Lịch Sơn lễ nhượng đã trở thành phong tục, chung sống hoà thuận, người đến Lịch Sơn khai hoang trồng trọt càng ngày càng đông, dần dần hình thành một ngôi làng lớn.

Khi Thuấn ở Lôi Trạch đánh cá, cũng có người vì ngư trường mà tranh đấu, Thuấn liền nhường ngư trường nhiều cá cho người khác, tự mình đến nơi người khác không không muốn tới để đánh cá.

Dưới tác động của ông, người dân ở Lôi Trạch đều nhường nhịn lẫn nhau, tranh nhau đem ngư trường tốt nhường cho người khác, không còn tranh đấu nữa.

Khi Thuấn ở Hà Tân (ở phía Bắc huyện Vĩnh Tế) làm đồ gốm, đồ gốm của người Hà Tân làm ra rất thô xấu, Thuấn dụng tâm chế tạo ra đồ gốm vừa đẹp mắt lại bền, chất lượng mặt trong mặt ngoài đều như nhau.

Thợ làm gốm đều theo ông học tập, vì thế mà đồ gốm Hà Tân làm ra đều không còn thô xấu nữa mà rất tinh tế.

Ở đâu Thuấn cũng nghĩ vì người khác, khoan dung nhẫn nhịn, dùng đức cảm hoá người đời.

Sách "Thượng Thư- Đại Truyện" kể rằng: "Thuấn không trèo mà cao, không đi mà đến được nơi xa".

Rất nhiều người mộ danh mà chuyển tới nơi Thuấn ở.

Thế là, chỗ Thuẫn ở, một năm liền thành một ngôi làng nhỏ, hai năm liền thành một thị trấn nhỏ, ba năm liền thành một thành phố có rất nhiều cư dân.

5.

Được tiến cử là người thừa kế của vua Nghiêu.

Khi Thuấn 30 tuổi, vua Nghiêu tìm nhân tài khắp thiên hạ có đủ tài đức để thể truyền ngôi, Tứ Nhạc tiến cử Thuấn.

Một đêm thuấn nằm mộng, mơ thấy tóc của mình dài đến tận thiên thể, lông mày cũng dài đến tận thiên thể.

Khi ông còn chưa hiểu ý nghĩa là gì thì có người chúc mừng, nói: "Tóc mọc dài tận trời ý chỉ là vương đế đó; lông mày thấp hơn một bậc, mà lông mày dài đến tận trời, là nói thấp hơn một bậc, nhưng quyền lực với đế vương lại ngang bằng.

Không chừng vua Nghiêu muốn dùng ông!"

Thuấn nói: "Kẻ thất phu như tôi không dám vọng tưởng."

Vài ngày sau, vua Nghiêu phái người đi tìm Thuấn, sau đó vua Nghiêu triệu kiến Thuấn.

Theo sách "Tuân Tử-Nghiêu Vấn" ghi chép, vua Nghiêu hỏi Thuấn: "Ta muốn có được thiên hạ, thì phải làm thế nào?"

Thuấn trả lời rằng: "Nắm chắc Đạo thì không sai lầm, làm việc nhỏ mà không trễ nải, nghe lời trung mà không mệt không chán, thế thì thiên hạ tự đến.

Nắm chắc Đạo như trời đất, làm việc nhỏ như nhật nguyệt, trung thành ở trong nội tâm, tốt đẹp hiển hiện ra bên ngoài, hiển hiện ra tứ hải, như thế thì thiên hạ chỉ ở trong một góc của người đó.

Thế thì có gì đáng phải giành đâu".

Đại ý nói, chuyên tâm vào việc chính sự mà không có sơ suất, làm việc nhỏ cũng không giải đãi, trung thành thủ tín mà không chán nản, như thế người trong thiên hạ sẽ tự biết quy thuận, vậy đâu cần biện pháp đặc thù nào để thu hút người dân, khiến dân quy phục?

Sau đó Thuấn đưa ra quan điểm chính trị là phụng Thiên, cai quản đất đai và quan tâm bách tính.

Đế Nghiêu hết sức hài lòng, đem hai con gái gả cho ông, thông qua hai cô con gái mà quan sát phẩm đức nội tại của ông.

Còn để chín con trai của ông cùng Thuấn kết giao với nhau, để quan sát tài cán và cách xử thế của ông.

Vua Nghiêu cấp cho Thuấn một bộ y phục vải mịn, cho ông một cây đàn cầm, còn cấp cho ông trâu và dê.

Sau khi kết hôn Thuấn đưa hai con gái của vua Nghiêu đến ở tại ngôi nhà ở bờ sông Quy.

Thuấn vẫn phụng dưỡng phụ mẫu như trước, yêu thương em trai, em gái, thậm chí càng thêm kính cẩn.

Hai người con gái của vua Nghiêu cũng không có lòng kiêu ngạo, giữ trọn đạo làm vợ.

Nhìn thấy Thuấn hiển vinh như thế, phụ mẫu Thuấn lại sinh tâm tật đố, lại giận dữ.

Tượng còn muốn chiếm đoạt những tài sản đó.

Ba người bọn họ lại muốn hãm hại Thuấn.

Thế là họ nghĩ ra một kế, để Thuấn tu sửa kho lúa, sau đó từ bên dưới phóng lửa đốt kho.

Hôm đó Thuấn mang theo hai cái mũ rộng vành, khi lửa cháy, Thuấn hai tay giữ mũ bay xuống khỏi kho lúa, an toàn rời đi.

Kế này không thành lại nghĩ kế khác, họ bảo Thuấn thau rửa giếng nước, đợi khi Thuấn xuống đáy giếng, họ lập tức đổ lấp đất đá vào giếng, con gái thứ hai của vua Nghiêu đưa cho Thuấn áo bách long, Thuấn mặc áo bách long, đào một cái lỗ nằm ngang mà chui ra, thoát khỏi được nạn này.

Sau sự việc đó, Thuấn vẫn phụng dưỡng cha mẹ, yêu thương các em giống như trước.

Vì lòng hiếu thảo thành tâm của Thuấn, mà cuối cùng đã khiến cho phụ mẫu tỉnh ngộ, Tượng cũng dần dần cải tà quy chính.

6.

Trải qua khảo nghiệm chính trị

Thông qua khảo sát, vua Nghiêu thấy Thuấn sống với người nhà cũng như xử thế hết thảy đều biểu hiện là một vị hiền giả, thế rồi vua Nghiêu bổ nhiệm Thuấn nhận chức Tư đồ, khảo nghiệm năng lực xử lý đại sự trong thiên hạ của ông.

Ban hành và thực thi Ngũ điển: Vua Nghiêu giao Thuấn đảm nhiệm chức vụ Tư đồ, việc phải thực hiện đầu tiên chính là phổ biến Ngũ điển giáo hóa, cẩn thận chỉnh lý năm loại luân lý đạo đức đó là: Cha nghĩa, mẹ từ, huynh hữu, đệ cung, con hiếu.

Thuấn phổ biến ngũ điển giáo hóa, có hiệu quả rõ ràng, dân chúng đều có thể tự giác tuân thủ, thiên hạ an bình, bách tính hòa thuận.

Việc thứ hai, Nghiêu bổ nhiệm Thuấn làm Tư không, điều hành các sự vụ trọng yếu trong thiên hạ, quản lý bá quan.

Các loại sự tình phức tạp khó xử Thuấn đều xử lý rất trật tự rõ ràng, bá quan vui mừng thuận theo.

Việc thứ ba là để Thuấn tiếp đãi chư hầu bốn phương, bốn cổng thành đều trang nghiêm.

Việc này cũng được Thuấn thực thi rất trang trọng, tôn nghiêm, tuân theo lễ nghĩa.

Việc thứ tư là phái Thuấn đến các nơi tuần tra, khảo sát tình hình lũ lụt.

Ở nơi rừng hoang nước độc, sông sâu đầm lầy, khí hậu dị thường, cuồng phong bạo vũ bất chợt, một chút bất cẩn có thể mất đi phương hướng, còn có mối nguy độc xà mãnh thú tấn công.

Có hôm, Thuấn cùng một nhóm người đến khu rừng ít ai lui tới, đầu tiên họ gặp một đàn sói, ai nấy đều hoảng sợ.

Khi Thuấn bước lên trước thì cả đàn sói đều quay đầu trốn vào trong rừng.

Sau đó lại gặp ba con mãnh hổ, hổ đực trông thấy đám người liền gầm lên một tiếng khiến mọi người càng là kinh hãi, Thuấn đi về phía trước nói với mãnh hổ: "Chúng ta phụng mệnh thiên tử, tới nơi này khảo sát hồng thủy, muốn cứu nguy cho muôn dân, không ngờ lại gặp ngươi.

Ngươi hãy nhanh trở về động, không được ở đây cản trở đường đi, đe dọa người đi đường."

Hổ đực dẫn hổ cái, ngậm hổ con, quay mình rời đi.

Về sau, Vua Nghiêu nghe kể lại cảnh tượng này nói: "Đây không phải là Thiên Thần che chở, thì chính là thành tâm cảm hoá vạn vật".

Trong lúc giông bão sấm sét, Thuấn không mất đi phong thái, không lạc lối, ở trong các loại tình huống phức tạp khôn lường vẫn có thể giữ được điềm tĩnh, thong dong trấn định, xử lý thích đáng hết thảy vấn đề.

7.

Công trạng thành lập giáo dục truyền đến vạn đời sau.

Theo ghi chép, thời Nghiêu, Thuấn đã có cơ cấu giáo dục chuyên môn, có thể nói là hình thức sơ khai nhất của trường học.

Sách "Lễ ký ‧ Vương Chế" viết rằng: "Có Ngu thị (tức Ngu Thuấn) nuôi dưỡng quốc lão (quan, đại phu) tại Thượng Tường (Viện dưỡng lão thượng), nuôi dưỡng thứ lão (thường dân) tại Hạ Tường (Viện dưỡng lão hạ)".

Sách "Lễ ký ‧ Minh Đường Vị " viết: "Kho gạo, làm Tường (viện dưỡng lão) của Ngu thị".

Kho gạo chỉ kho lúa thời cổ đại.

Tường, chỉ nơi dưỡng lão.

Thời Nghiêu, Thuấn kho lúa được dùng làm nơi dưỡng lão".

Trong các bậc lão niên có người là bề tôi trong triều, có người là dân thường.

Người già là bậc bề tôi trong triều thì được nuôi dưỡng ở Thượng Tường, người già là dân thường thì được nuôi dưỡng ở Hạ Tường.

Họ đều là những người trải qua sự đời, là những người rất có kinh nghiệm.

Thế nên, trẻ nhỏ được tập trung về đây, rồi mời các bậc trưởng giả ở đây truyền thụ tri thức và kinh nghiệm cho chúng.

Kể từ đó, kho gạo vừa là trường học, một công đôi việc, vừa giữ được tác dụng dưỡng lão, lại tăng cường chức năng truyền thụ tri thức, trường học chuyên môn thời cổ đại chính là được ra đời như vậy.

Đến thời Tây Chu về cơ bản vẫn noi theo phương thức kết hợp giáo dục và dưỡng lão thời Nghiêu, Thuấn.

Thông qua phổ biến Ngũ điển giáo hóa, khởi xướng "Cửu đức", thành lập giáo dục, Thuấn đã đặt định ra văn hoá truyền thống lấy đạo đức làm trung tâm.

"Sử ký" viết: Thiên hạ sáng tỏ đức, đều từ bắt đầu từ Ngu Thuấn".

Hiếu với phụ mẫu, trung với quân chủ, làm lợi cho dân, thiên hạ là của chung, Thuấn đã dựng lên một tấm bia sáng ngời về đạo đức truyền thống cho các dân tộc Á Đông.

8.

Ngu Thuấn nhiếp chính

Trải qua tôi luyện và khảo nghiệm, vua Nghiêu cho rằng Thuấn nhân từ, có đức, có trí huệ, có tài năng, có thể truyền lại thiên hạ cho ông.

Thuấn thoái thác nói mình đức hạnh còn chưa đủ, nhất định không chịu.

Lúc bấy giờ, vua Nghiêu tuổi tác đã cao, cũng cần có người hiệp trợ ông.

Đại Tư Nông kiến nghị Thuấn tạm thời làm Thái úy nhiếp chính.

Ý tứ của từ "Uý" trong từ "Thái úy" tức là yên ổn từ trên xuống dưới, hi vọng ông có thể an định muôn dân.

9.

Xuất hiện Hà Đồ, Ngu Thuấn nhận ngôi

Theo "Trúc thư kỷ niên" ghi chép: "Vua Nghiêu tại vị bảy mươi năm, phượng hoàng xuất hiện ở sân, cỏ lạ chu thảo mọc lên, lúa lạ gia hòa trổ bông, nước cam lộ mát lành, suối rượu lễ tuyền phun, mặt trời mặt trăng cùng xuất hiện, ngũ tinh như liên châu.

Trong bếp tự có thịt, mỏng như cái quạt nan, lay động liền có gió, thức ăn lạnh mà không thối, tên gọi là "thịt quạt" ".

Vua Nghiêu cho rằng là công lao của Thuấn, sẽ truyền lại thiên hạ cho ông.

Thế rồi vua Nghiêu tắm rửa trai giới, lập đàn bên dòng sông Lạc, thành kính cầu nguyện Thượng Thiên, lựa chọn ngày tốt, dẫn Thuấn cùng lên núi Thú Sơn, để cầu được sự khai thị của Thần.

Nghiêu, Thuấn cùng nhau lên núi Thú Sơn, tại bờ sông Lạc, đoàn của vua Nghiêu trông thấy năm vị lão niên đang du ngoạn.

Các lão ông ai cũng mày to đầu lớn, y phục khác hẳn với thường nhân, thần thái cử chỉ phi phàm.

Họ rất vui mừng, vừa nhảy múa vừa ca hát.

Có một vị lão niên cao giọng hát: "Hà Đồ sẽ đến, nên đến đây báo cho vua chờ đợi".

Vị lão niên thứ hai hát tiếp: 'Hà Đồ sẽ đến, nên đến đây báo cho vua mưu tính".

Vị lão niên thứ ba lão giả hát tiếp: "Hà Đồ sẽ đến, nên đến đây báo cho vua ý đồ".

Vị lão niên thứ tư cao giọng hát tiếp: "Hà Đồ sẽ đến, nên đến đây báo cho vua phù hợp" Vị lão niên thứ năm cao giọng hát tiếp: "Long mã ngậm giáp, rùa cõng Lạc Thư, ngọc trắng làm dấu, bùn đỏ niêm phong".

Họ nói với nhau rằng: "Hà Đồ sẽ nói cho vua thời gian, người biết chúng tôi là Trùng Đồng Hoàng Diêu".

Ngũ lão hát xong, phút chốc hóa thành năm sao băng, hào quang rực rỡ, bay về phía chân trời, phương vị nằm ở cung sao Mão.

Hiện nay phía tây nam huyện Ngu Thành, thành phố Thương Khâu, tỉnh Hà Nam có núi Ngũ Lão.

Quân thần vua Nghiêu thảy đều giật mình, vua Nghiêu hỏi Thuấn: "Năm vị cao niên này nói khanh biết họ, họ rốt cuộc là Thần linh nào?"

Thuấn đáp: "Tối hôm qua thần nằm ngửa ngắm sao trời, phát hiện ngũ tinh Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ trên trời đột nhiên không còn, quả là kỳ lạ, hoá ra họ cùng nhau hạ phàm tới đây du ngoạn.

Theo thần thấy thì, năm vị lão niên này nhất định là Thần của ngũ tinh biến thành".

Vua Nghiêu nói: "Họ nói Hà Đồ sẽ tới, chắc hẳn ở sông này sẽ xảy ra điều thần kỳ".

Thế là vua Nghiêu dẫn dắt quần thần trai giới tắm rửa, lệnh cho Thái sử chọn ngày lập đàn tại bờ sông Quy xanh biếc, và chọn được thời gian hành lễ là vào ngày Tân Sửu tháng 2 trước khi trời sáng.

Đến rạng sáng ngày Tân Sửu, qua mấy ngày trai giới tắm rửa, vua Nghiêu dẫn dắt quần thần, đi lên đàn tế lễ, cảnh tượng long trọng trang nghiêm.

Vua Nghiêu đem một khối bạch ngọc thả xuống dòng sông, để làm lễ đối với thiên địa Thần linh.

Hành lễ xong, mọi người xuống đàn nghỉ ngơi một lúc, rồi lại lên đàn chờ Hà Đồ đến.

Vào thời khắc đó, bầu trời sáng lên, dõi mắt nhìn về nơi xa thấy nước sông cuồn cuộn không thôi.

Sau khi mặt trời lên cao được ba sào, chợt thấy dưới sông phát ra một quầng sáng ngũ quang thập sắc, sáng chói cả mắt.

Không lâu sau, mọi người thấy trong sông lộ ra một làn khí trong mịt mù, như khói như mây, như tơ như bông, như xa như gần, hoà lẫn cùng quầng sáng xán lạn kia, trong chớp mắt, ngập tràn khắp trời đất.

Qua một lúc sau, một làn mây trắng bao quanh trên núi dâng lên rồi bay thẳng lên bầu trời, che khuất vạn dặm trời xanh.

Tiếp đó cuồng phong nổi lên, cây cối phiêu diêu, lập tức thiên hôn địa ám.

Rồi chợt thấy nước sông cuộn trào mãnh liệt, một con rồng dài ngẩng đầu lên nhô khỏi mặt nước, mọi người tập trung nhìn vào, thì ra là một con Long mã.

Long mã trong miệng ngậm một vật màu xanh biếc, leo lên đàn tế, nhả vật nằm trong miệng xuống, rồi lập tức quay mình nhảy xuống sông, thoáng chốc gió tan mây tạnh, trời cao xanh biếc, ánh sáng đẹp tươi sáng trong lành trở về như trước.

Đế Nghiêu dẫn quần thần tiến lên quan sát, thì ra đó là một hộp ngọc, hình dạng rất giống mai rùa, lưng rộng chín thước, trên thân hộp có màu vàng kim, được buộc lại bằng dây ngọc màu xanh.

Đế Nghiêu sai người mở ra, quả nhiên là bức Hà Đồ, phía trên ghi chép rõ ràng vị trí của tinh tú nhật nguyệt trên trời, mạch lạc của núi sông ở dưới đất, đại số về thay đổi đế vương ở thế gian, cuối cùng còn viết "Khải sắc thụ đế Thuấn, Ngu đương thụ thiên mệnh" (Trao đế mệnh cho Thuấn, Ngu nhận mệnh Trời).

Theo "Thượng thư ‧ Trung hậu ác hà kỷ" ghi chép: "Vua Nghiêu tại vị bảy mươi năm, ngày Giáp tháng Hạ Trọng, đến nơi của Thần nông để tế lễ.

Tế phẩm chìm vào trong nước, lập tức, ánh sáng ngũ sắc từ sông toả ra, khí đẹp bay bốn cõi, rực rỡ lấp lánh.

Mây trắng theo gió bay dần lên, Long mã ngậm hộp vào miệng, bay vọt lên trên đàn.

Hình dạng hộp giống như mai rùa, dài rộng chín thước, trên có chữ viết là sau Nghiêu là Ngu, Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán nhận Thiên mệnh.

Nghiêu Đế ghi chép lại, cất giữ bí mật.

Ngày Trọng Tân tháng 2 năm sau, vua Nghiêu lại dẫn dắt quần thần đi đến sông Lạc, lập đàn tế Thần, thả ngọc xuống sông Lạc.

Tế lễ xong, lui xuống tế đàn, đến khi mặt trời lặn ở phía tây, bỗng nhiên trông thấy dưới sông Lạc lộ ra một tia sáng đỏ, rồi thấy một con rùa lớn mang cuốn sách đi ra, dừng ở đàn tế, nghiêng thân một bên, vật ở trên lưng rơi vào trong đàn.

Rồi con rùa lớn vẫn như cũ nhảy xuống sông Lạc mà đi.

Hoá ra đó là cuốn sách làm từ mai rùa, văn tự màu đỏ, sách đó nói cần phải nhường ngôi cho Thuấn.

Vua Nghiêu nói: "Rồng ngậm Hà Đồ, rùa mang Lạc Thư, biểu thị thiên tượng, Thiên mệnh không thể trái!"

Ý chỉ của Thần triển hiện trên Hà Đồ và Lạc Thư đều nói cần nhường ngôi lại cho Thuấn, cho nên vua Nghiêu không còn do dự nữa, quyết định chọn ngày tốt nhường ngôi cho Thuấn.

Vào ngày mồng một tháng Giêng tại miếu Văn Tổ, vua Nghiêu long trọng cử hành nghi thức nhường ngôi cho Thuấn, thay thế ông thi hành chính sách của thiên tử.

Vua Nghiêu vì để Thuấn toàn quyền hành sự, quyết sách độc lập, không phải việc gì cũng xin chỉ thị, và cũng để ông có thể rời khỏi chính sự, an dưỡng tuổi già, nên đã sai người xây dựng một cung điện tại Thành Dương ở phía bắc Đào Ấp( nay là phía đông nam huyện Bộc Dương, tỉnh Hà Nam), làm nơi tu dưỡng của Đế Nghiêu.

Thuấn sau khi tiếp nhận ngôi vị liệt ra bảy hạng mục chính sự (Thất chính) gồm: tế tự, ban thụy (ban ngọc phân thứ bậc tước phẩm), đông tuần, nam tuần, tây tuần, bắc tuần, quy cách nghệ tổ (tuần thú ngũ nhạc rồi về báo cáo với tổ tiên ở miếu Thái tổ).

10.

Minh tỏ thiên tượng để trị sửa Thất chính

"Thượng thư ‧ Thuấn điển"chép rằng: "Dựa vào tuyền cơ ngọc hành (Khí cụ quan sát thiên văn, thiên tượng) để trị sửa Thất chính".

Chính là nói vua Thuấn thông qua quan sát thiên tượng để xem xét phải chăng bảy hạng chính sự phù hợp với thiên ý. tuyền cơ ngọc hành là công cụ quan trắc thiên văn thời kỳ thượng cổ.

Vào thời Thượng cổ, đều xem việc quan trắc thiên văn, thiên tượng là chuyện quan trọng nhất, thông qua quan sát thiên tượng và sự vận hành tinh tú nhật nguyệt, mà khảo sát chấp chính đúng hay sai, có phù hợp với Thiên Đạo không.

Lấy Thiên Đạo soi xét sự việc của con người, đạt đến "Hợp đức với trời đất, hợp thứ tự với bốn mùa", khiến hành vi không lệch khỏi Thiên Đạo.

Đây chính là lý niệm "thiên nhân hợp nhất của văn hóa truyền thống Á Đông.

11.

Thái Sơn phong thiện

Thuấn sau khi tiếp nhận ngôi vị, thi hành chính sách của thiên tử, tuần sát tứ phương, việc thứ nhất cần làm chính là cúng tế thiên địa, nhật nguyệt tinh tú cùng các Thần.

Tháng hai, vua Thuấn đến phương đông tuần sát, đến Thái Sơn, sau khi trai giới tắm gội liền cử hành Thái Sơn phong thiện, tức cử hành nghi thức quy mô lớn cúng tế thiên địa, báo cáo lên Trời.

"Phong", chính là tế Trời, "Thiện", chính là tế Đất.

Nghi thức cúng tế trang nghiêm long trọng, đầu tiên là tế bái thiên địa, thành kính cảm ân Hoàng Thiên Hậu Thổ, báo cáo lên Sáng Thế Chủ rằng đã nhận mệnh Trời ban.

Sau đó cúng tế nhật nguyệt tinh tú.

Tiếp theo đốt củi lửa, ánh lửa bừng bừng chiếu sáng khắp cả trời đất, đồng thời chuông trống vang rền, có vũ công nhảy múa theo âm nhạc, ngợi ca Thiên Đế, khẩn cầu Thượng Thiên phù hộ.

Toàn bộ nghi thức cúng tế rất trang nghiêm thần thánh.

Sau đó dùng nghi thức dao tế để bái vọng cúng tế danh sơn đại xuyên các nơi.

Thái Sơn phong thiện từ xưa đến nay, Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc; Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang...

đều từng lên núi Thái Sơn hành lễ phong thiện, báo cáo lên Trời, đáp tạ ơn được "nhận mệnh Trời ban".

Tiếp theo, vua Thuấn triệu kiến các chư hầu phương đông.

Ngu Thuấn sau khi trở thành thiên tử, chế định hoàn thiện các chế độ ở các phương diện.

Quy định thụy ngọc cùng các vật phẩm khác cho 5 phẩm vị chư hầu là công, hầu, bá, tử, nam cầm theo khi yết kiến thiên tử.

Có nghĩa là 5 loại tín phù yết kiến thiên tử: tước Công cầm ngọc hoàn khuê, tước Hầu cầm ngọc thư khuê, tước Bá cầm ngọc cung khuê, tước Tử cầm ngọc cốc bích, tước Nam cầm ngọc bồ bích.

Ông còn chế định các biện pháp thưởng phạt.

Vua Thuấn còn quy định y phục quan chức theo các cấp tước vị, cấp bậc.

Tháng năm, vua Thuấn đến phương nam tuần sát, đến Hành Sơn, và cử hành nghi lễ cúng tế giống như ở núi Thái Sơn.

Tháng tám, vua Thuấn đến phương tây tuần sát, đến Hoa Sơn, nghi lễ cúng tế cũng cử hành giống như ở núi Thái Sơn.

Tháng mười một, vua Thuấn đến phương bắc tuần sát, đến Hằng Sơn, nghi lễ cúng tế cũng cử hành giống như ở núi Thái Sơn.

Về sau Ngu Thuấn cách mỗi 5 năm tuần sát cả nước một lần.

Trong bốn năm không tuần sát, các chư hầu đến hạn lại đến đế độ triều kiến, báo cáo lên triều đình các thành tích, chính sách đúng sai.

Thuấn áp dụng 3 năm khảo sát một lần, 5 năm tuần sát một lần, xác định rõ quan hệ phụ thuộc giữa triều đình và chư hầu các địa phương, đặt định cấu trúc một thiên hạ thống nhất.

12.

Thiết lập hình pháp

Thuấn để Cao Đào phụ trách tư pháp, ông cho rằng chỉ dùng đến hình phạt khi vạn bất đắc dĩ.

Trước tiên là dùng biện pháp giáo hóa, khiến mọi người biết làm điều thiện, không làm điều ác.

Rồi thay vì khiến họ sợ hãi trước hình phạt, thì tốt hơn là khiến họ xấu hổ trước hình phạt.

Hình luật chế định lúc ấy là: Vẽ hình phạt lên y phục cho các hình phạt thông thường; lưu đày thay cho 5 loại hình phạt; đánh bằng roi là hình phạt cho các quan lại; dùng thước đánh là hình phạt giáo hoá; phạt tiền là hình phạt chuộc tội.

Lấy hình phạt vẽ làm hình phạt thông thường, hình phạt vẽ chính là hình phạt thường dùng, tức là vẽ hình lên quần áo và đồ dùng để cảnh cáo, khiến họ biết xấu hổ mà sửa đổi.

Dùng hình phạt lưu đày thay thế cho năm hình phạt cắt mũi, chặt chân, xăm hình, thiến, chặt đầu, thể hiện sự khoan hồng.

Đối với người trong quan phủ phạm tội thông thường chỉ dùng roi đánh.

Đối với học trò trong học phủ không theo quản giáo chỉ dùng thước gỗ đánh.

Người không có động cơ phạm tội nhưng thực tế lại phạm tội thì thuộc về phạm tội không có chủ ý, có thể thông qua hình phạt nộp tiền vào quốc khố để chuộc tội, điều này trong pháp chế sau này vẫn được sử dụng theo.

Vào thời vua Thuấn, đã có tương đối nhiều quy định hơn về quản lý nhân sự.

Sách "Văn hiến thông khảo ‧ Chức quan khảo nhất" có viết: "Thời Đào Đường thị (tức vua Nghiêu) trở về trước, việc trị sửa của bá quan là thờ phụng Trời.

Từ thời Ngu (tức vua Thuấn) và Hạ trở về sau, việc trị sửa của bá quan là phục vụ dân.

Vua Thuấn lấy đạo đức làm căn bản giáo hóa vạn dân, khai sáng giáo dục, thiết lập hình pháp, định kỳ tuần sát tứ phương.

Hình pháp là phương thức cưỡng chế trong quản lý nhà nước, việc tăng cường hình pháp cho thấy có chức năng quản lý nhà nước trong giai đoạn này.

Thời kỳ này, hệ thống quản lý giáo dục, thưởng phạt được tăng cường.

(Còn tiếp)
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P-5): Vũ bình định thuỷ thổ, sáng tạo Thần Châu


Đại Vũ gắn liền với việc trị sửa thuỷ thổ và bình định Cửu Châu, đó cũng là công tích lớn nhất trong cuộc đời của Đại Vũ.

Hàng trăm hàng nghìn năm sau, câu chuyện Đại Vũ trị thuỷ vẫn in sâu trong lòng người, được người đời ca tụng, tinh thần xả bỏ hạnh phúc cá nhân vì đại cục càng hiển thị rõ tấm lòng rộng lớn chí công vô tư vì lê dân khắp thiên hạ của Đại Vũ.

Cộng Công Khổng Nhâm sử dụng sách lược trị thuỷ "Ngăn sông, hạ thấp chỗ cao lấp vào chỗ thấp", kéo dài nhiều năm, chỉ hao tổn nhiều tiền của mà không có hiệu quả.

Lại nữa, Khổng Nhâm "Chỉ biết ham vui, ham sắc hại thân", cuối cùng trị thuỷ thất bại, bị cách chức.

Vua Nghiêu trưng cầu ý kiến Tứ Nhạc, hỏi ai có thể khống chế lũ lụt, Tứ Nhạc tiến cử Cổn.

Vua Nghiêu nói: "Cổn là người rất tùy tiện, cứng đầu, thường không tuân theo mệnh lệnh, lại còn huỷ hoại lợi ích gia tộc, không thể đảm nhận công việc này được".

Tứ Nhạc nói: "Hiện tại không tìm được người trị thuỷ nào thích hợp hơn Cổn, nên để ông ấy thử sức xem."

Thế rồi vua Nghiêu theo ý kiến của Tứ Nhạc, giao phó cho Cổn.

Cổn rất giỏi về kiến trúc, xây thành.

Cổn dùng biện pháp xây bờ chắn nước, để kìm hãm sức nước, lúc đầu có chút hiệu quả, nhưng khi mực nước thuỷ triều dâng cao, đê không những không ngăn trở được hồng thuỷ mà còn liên tiếp đổ vỡ.

Cuối cùng đê đập sụp đổ, tử thương rất nhiều.

Cổn trị thủy chín năm, không có hiệu quả.

Thuấn đề nghị đưa Cổn lưu đày tới Vũ Sơn.

Thuấn biết rằng con trai của Cổn là Văn Mệnh (Vũ) khoan dung, nhân từ, có đức, giỏi về trị thủy, thế là tiến cử ông lên vua Nghiêu để Vũ trị thuỷ.

1.

Thần Vũ giáng thế

Vũ, họ là Tư, tên Văn Mệnh.

Cha là Cổn, là hậu duệ của thị tộc Hoàng Đế

Theo "Trúc Thư Kỷ Niên", Đế Vũ hay Hạ Hậu thị, mẫu thân gọi là Tu Kỷ, xuất hành, thấy sao Băng bay qua sao Mão, mộng thấy trong lòng cảm ứng, sau đó nuốt thần châu.

Tu Kỷ mổ lưng ra, mà sinh Vũ ở Thạch Nữu.

Vũ mũi hổ miệng lớn, hai tai có 3 lỗ, đầu mang chuông móc, ngực có ngọc đấu, chân đi giày hoa văn, nên đặt tên là Văn Mệnh.

Khi trưởng thành có Thánh đức, cao chín thước chín tấc.

Cổn kết hôn với con gái của Đế thị, tên là Nữ Hy, còn gọi là Tu Kỷ.

Đế Chí sau khi chết, Cổn không còn làm quan, mà cùng thê tử sống ở thôn Thạch Nữu của khu Quảng Nhu, Vấn Sơn, nay ở biên giới huyện Vấn Xuyên, tỉnh Tứ Xuyên.

Nữ Hy hơn ba mươi tuổi, nhưng vẫn chưa sinh con.

Một hôm khi trời sắp tối, bà đi lấy nước ở dưới núi, ở mép nước trông thấy một viên minh châu, to như trứng chim, tiện tay nhặt lên, càng ngắm càng thích thú.

Vừa định lên núi, thì chợt nghe một thanh âm vang lên giữa không trung, ngẩng đầu lên nhìn, thì nhìn thấy một ngôi sao băng to từ ngọn núi đối diện bay thẳng đến, lướt qua bên người, rồi vụt thẳng lên trời, rồi nhập vào cung sao Mão.

Nữ Hy rất kinh hãi, vội đem viên thần châu kia ngậm vào trong miệng, không ngờ viên thần châu kia vừa đưa vào miệng liền một mạch từ cổ chạy xuống bụng.

Nữ Hy đột nhiên cảm thấy một dòng khí nóng xông vào đan điền.

Đến đêm, bà mộng thấy một nam tử to lớn, mũi hổ miệng to, mắt lớn trong như sông, tiếng nói như chim hót, tới nói với Nữ Hy: "Ta là thần Kim Tinh Bạch Đế trên trời, đã từng giáng sinh xuống thế gian làm cháu đời thứ 19 của Nữ Oa, tên gọi là Thần Vũ, sống thọ đến 360 tuổi.

Sau đó đến núi Cửu Nghi học đạo, thành tiên bay đi, vẫn làm Thần Kim Tinh.

Hiện nay hồng thuỷ tràn lan khắp thiên hạ, ta thụ mệnh trị thuỷ, nên hoá thành một hòn đá, chờ đợi người có duyên với ta.

Hôm qua bị bà nuốt vào, tức là ta với bà có duyên, ta tới làm con trai của bà."

Nữ Hy sau khi tỉnh lại đem câu chuyện dưới núi ngày hôm qua và giấc mộng kể lại cho Cổn.

Cổn nói, xem ra, con chúng ta sinh ra sau này là người rất có lai lịch, nhất định là một người rất xuất chúng.

Nữ Hy mang thai được 10 tháng sau mà vẫn chưa sinh.

13 tháng trôi qua, vẫn chưa sinh, nhưng lưng của Nữ Hy dáng vẻ như muốn tách mở ra, đau đớn đến tê liệt cả người, cảm thấy sau lưng có một thứ tròn, liên tục đẩy lên.

Cổn dùng dao nhẹ nhàng vạch một cái ở sau lưng của bà, thì một thai nhi sinh ra, đó là một bé trai.

Tai Vũ có ba cái lỗ, cổ dài, miệng như mỏ chim, mũi hổ, mắt lớn trong như sông, miệng lớn, so với người Nữ Hy gặp trong mộng không khác, hai tai có ba lỗ, đầu mang chuông móc, ngực có ngọc đấu, chân đi giày hoa văn, nên đặt tên là Văn Mệnh, tự là Cao Mật.

Khi trưởng thành có Thánh đức, cao chín thước chín tấc.

Hồi nhỏ, Văn Mệnh thông minh cơ trí, cung kính hữu lễ.

Vợ chồng Cổn rất yêu thương, đích thân dạy bảo.

Cổn vốn là người học rộng tài cao, đem hết sở học của mình dạy cho Văn Mệnh.

Dù tuổi nhỏ nhưng Văn Mệnh có thể lĩnh ngộ được, đặc biệt thích nghe giảng về thuỷ lợi, địa lý.

Khi Văn Mệnh chưa được 10 tuổi, vì Khổng Nhâm trị thuỷ không được, nên Cổn nhận lệnh trị thuỷ.

Sau khi Cổn rời khỏi nhà, một hôm Văn Mệnh đi ra ngoài gặp một ông lão tóc trắng, tự xưng là Úc Hoa Tử.

Úc Hoa Tử là một người tu Đạo, thiên văn địa lý không gì không biết, có thể biết được tương lai và quá khứ.

Văn Mệnh bái Úc Hoa Tử làm thầy, Úc Hoa Tử ở lại nhà của Văn Mệnh, dạy Văn Mệnh các loại tri thức.

Úc Hoa Tử bảo với Văn Mệnh, lần lũ lụt này là lũ lụt khắp thiên hạ, nếu không có bản lĩnh thông thiên triệt địa, tài năng sai khiến quỷ Thần, thì khó mà trị thuỷ được.

Úc Hoa Tử dần dần đem các danh sơn đại xuyên trong thiên hạ, lộ trình xa gần, địa thế cao thấp rộng hẹp hiểm lành cùng các loại phương pháp trị thuỷ, hết thảy đều truyền thụ lại cho Văn Mệnh.

Điểm chính yếu trong việc trị thuỷ của ông là: "Chỉ có thể thuận theo đặc tính của nước, không thể đối kháng lại thế nước".

Văn Mệnh khắc ghi trong tâm.

Ba năm sau, Úc Hoa Tử từ biệt mẹ con Văn Mệnh.

Trước khi đi, Úc Hoa Tử tiến cử cho Văn Mệnh bốn người làm trợ thủ sau này.

Không lâu sau Úc Hoa Tử phái hai người Chân Khuy, Hoành Quách tìm đến Văn Mệnh, làm trợ thủ cho Văn Mệnh.

Hai người đưa cho Văn Mệnh một phong thư, trong thư Úc Hoa Tử tiến cử cho ông hai người là Tây Vương Quốc tiên sinh và Đại Thành Chí, kiến nghị Văn Mệnh bái hai người này làm thầy, "Hai người này đều là thầy của bậc đế vương, là bậc kỳ tài không xuất thế (ở ẩn, không ra làm quan)"

2.

Khảo sát lũ lụt, dọc đường hiển Thần tích

Sau khi mẫu thân qua đời, Văn Mệnh quyết định tìm phụ thân của mình là Cổn.

Trên đường đi ông bái kiến Tây Vương Quốc tiên sinh, cách dạy của Tây Vương Quốc tiên sinh không giống như Úc Hoa Tử, đó là Đạo chính tâm- tu thân- an bang trị quốc, Văn Mệnh thụ ích rất nhiều.

Trên đường đi, có lần Văn Mệnh nhìn thấy đập trị thuỷ lớn dài mấy trăm dặm, ông thấy rằng phương pháp này không giống với điều mà sư phụ Úc Hoa Tử giảng.

Văn Mệnh sau khi gặp được phụ thân Cổn thì ở bên cạnh ông.

Ông coi xét kỹ lưỡng khắp nơi, dần dần tích luỹ được một chút kinh nghiệm, ông nghĩ, nhiều nước thế ở bên trong dãy núi bao quanh, mở ra một đường cho nước thoát, chính là thuận theo đặc tính của nước, dẫn ra biển lớn.

Nhưng muốn tháo nước ở trong núi, thì tất phải đục phá núi, còn nước trên mặt đất thì nhất định phải đào đất nạo vét kênh.

Hai việc này đều là công trình vô cùng to lớn.

Ông để xuất ý kiến của mình với phụ thân.

Ông nói: "Chỗ cao đục mà thông, chỗ thấp đào mà thoát."

Cổn cảm thấy hai việc tạc (xẻ núi) và sơ (đào đất) đều cần rất nhiều nhân lực và vật lực, sức người không thể làm được.

Văn Mệnh dẫn theo hai tuỳ tùng đến các nơi khảo sát địa thế, thế nước cũng như đầu nguồn của nước lũ.

Ông nhận thấy rằng hồng thuỷ như thế này thì chỉ có sự giúp đỡ và bảo hộ của Thần mới có thể hoàn toàn bình ổn.

Tại lưu vực sông Hoài, ông gặp được Đại Thành Chí và bái làm thầy.

Đại Chí Thành nói với Văn Mệnh: "Trận đại hồng thuỷ này là đại biến của thiên địa", sức người không thể kháng lại, rồi đề xuất với Văn Mệnh một vài kiến nghị rất hay.

Tại núi Hoàn, Văn Mệnh gặp Thần núi Hoàn, Thần núi Hà Phùng cùng Thần núi Bão Độc, họ chỉ dẫn ông tới phương nam tìm phương pháp, khí cụ và nhân tài để trị thuỷ.

"Ngô Việt Xuân Thu" ghi chép rằng: "Ở cột Thiên Trụ phía Đông Nam núi Cửu Nghi, hiệu là Uyển ủy, được đỡ bởi ngọc hoa văn, được che bởi tảng đá lớn, viết trên thẻ vàng, ngọc xanh làm chữ, kết bằng bạc trắng, đều viết bằng chữ triện.

Vũ đi tuần phía đông, leo lên núi Hành Sơn tìm kiếm.

Một người mặc áo hoa văn thêu màu đỏ, tự xưng là sứ giả của Huyền Di Thương Thủy đến chờ Vũ, lệnh cho Vũ trai giới 3 ngày rồi lại đến tìm.

Vũ trai giới 3 ngày rồi lại leo lên núi Uyển Ủy, lấy được sách, đắc được đạo lý khơi thông nước, bèn đi khắp thiên hạ".

Họ đi về phía nam, đến lưu vực sông Hán, gặp được người đưa thư sư phụ Úc Hoa Tử phái đến giao cho, theo chỉ điểm trong thư đến núi Uyển Uỷ (tức núi Ngọc Tứ ở phía đông nam thành phố Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang), sau khi thành kính trai giới, tìm được hai miếng ngọc khuê màu xanh và đỏ, và 12 cuốn tàng thư, địa lý mạch nước - đường đi sông núi được đề cập đến trong sách hết sức tường tận.

Ngọc khuê đỏ và xanh có thể soi thấy những nơi ở rất sâu, là bảo bối rất hữu dụng trong trị thuỷ.

Khi đi ngang qua vùng gần Vu Sơn, con gái của Tây Vương Mẫu là phu nhân Vân Hoa triệu kiến Văn Mệnh, bà dạy Văn Mệnh hai bộ Thượng Thanh Bảo Văn, một bộ Triệu Thiên Thần, một bộ Triệu Địa Kỳ.

Có thể xua đuổi hổ báo trên đất, hàng phục giao long dưới nước.

Còn có thể xuất nhập thuỷ hoả, phép trường sinh, sống lâu cùng trời đất.

Bà còn phái bảy vị Thiên tướng dưới trướng của mình hạ phàm, trợ giúp Văn Mệnh trị thuỷ.

Ngoài ra phu nhân Vân Hoa còn dạy ông ba sách lược trị thuỷ.

Cuối cùng phu nhân Vân Hoa nói với Văn Mệnh, lúc cần thiết bà và Tây Vương Mẫu đều có thể trợ giúp trị thuỷ.

"Hải Sơn Kinh-Hải Nội Kinh" ghi chép rằng: "Hồng thuỷ ngập trời, Cổn đã trộm bảo bối 'Tức nhưỡng' của Thiên Đế để ngăn hồng thuỷ mà không có lệnh của Thiên Đế".

'Tức nhưỡng' là một loại đất mà không ngừng sinh sôi, chỉ cần lấy một chút quăng xuống vùng đất lớn thì lập tức sẽ sinh sôi rất nhiều, chất thành núi, đắp thành đê.

Cổn trộm "tức nhưỡng" của Thiên Đế để xây đê, làm trái ý chí của Thiên Đế, dẫn đến hậu quả khôn lường, cuối cùng đập bị vỡ, hồng thuỷ bộc phát không thể kiểm soát, bách tính tử thương rất nhiều.

Xét thấy Cổn trị thuỷ chín năm "chẳng nên tích sự gì", Thuấn kiến nghị để Cổn lưu đày đến Vũ Sơn.

Có ghi chép nói rằng, Chúc Dung phụng mệnh chém đầu Cổn tại Vũ Sơn, Cổn trầm mình xuống dòng nước.

"Sơn Hải Kinh- Hải Nội Kinh" Quách chú dẫn "Quy Tàng-Khải Thệ": "Cổn chết 3 năm vẫn không mục rữa, dùng dao sắc là Ngô đao mổ ông ta thì hoá thành rồng vàng."

3.

Vũ thụ mệnh trị thuỷ

Sau khi Cổn trị thuỷ thất bại, Thuấn tiến cử lên vua Nghiêu để Vũ trị thuỷ.

Một hôm, Văn Mệnh mộng thấy mình tắm rửa giữa dòng hồng thuỷ mênh mông, chợt thấy mặt trời đỏ trên cao chiếu xuống, giữa làn sóng nước còn có một mặt trời đỏ chìm nổi, sau khi tỉnh mộng, Văn Mệnh kiến giải giấc mộng rằng: "Mặt trời là biểu tượng của thiên tử, mặt trời đỏ từ trong nước nổi lên, rọi chiếu vào thân mình, chẳng phải là thiên tử muốn giao phó ta đi trị thuỷ sao?"

Văn Mệnh quyết định tuân theo lời dạy của mẫu thân và di mệnh của phụ thân, đến đế đô đảm nhiệm chức trách trị thuỷ.

Từ đó, Đại Vũ gắn liền với việc trị sửa thuỷ thổ và bình định Cửu Châu, đó cũng là công tích lớn nhất trong cuộc đời của Đại Vũ.

Hàng trăm hàng nghìn năm sau, câu chuyện Đại Vũ trị thuỷ vẫn in sâu trong lòng người, được người đời ca tụng, tinh thần xả bỏ hạnh phúc cá nhân vì đại cục càng hiển thị rõ tấm lòng rộng lớn chí công vô tư vì lê dân khắp thiên hạ của Đại Vũ.

Vua Nghiêu triệu kiến Văn Mệnh.

Văn Mệnh nói với vua Nghiêu rằng: "Thần cho rằng trị thuỷ ắt phải thuận theo đặc tính của nước, nước chảy đến chỗ thấp, rồi theo dòng chảy ra biển lớn, nên xẻ nơi cao mà thông, đào nơi thấp mà thoát".

Vua Nghiêu rất tán thưởng với ý kiến này.

Nói về vấn đề nhân lực và thời gian, Văn Mệnh đem chuyện gặp được kỳ tích và phu nhân Vân Hoa hứa hẹn giúp đỡ trị thuỷ kể lại.

Vua Nghiêu biết rằng lời của Tây Vương Mẫu đã ứng nghiệm, đại công khả thành, vô cùng cao hứng.

Vua Nghiêu ban cho Văn Mệnh tên gọi là "Vũ", bổ nhiệm Vũ chức Sùng Bá, trị sửa hồng thuỷ.

Từ đó, nền văn minh Trung Hoa đã bước sang một trang sử mới đầy huy hoàng.

Sau khi Vũ thụ mệnh, Thuấn ra lệnh cho Hậu Tắc và Ích làm trợ thủ cho Vũ, hiệp trợ Đại Vũ trị thuỷ.

Vì để đảm bảo tiến hành thuận lợi cho công trình trị thuỷ, Cao Đào "Lệnh dân chúng thảy đều phải tuân theo Vũ, nói không được thì dùng hình phạt".

Về mặt hành chính cũng toàn lực đảm bảo việc thực thi kế hoạch trị thuỷ, rồi dần dần triệu tập được mấy chục vạn nhân công, và hiệu triệu chư hầu bá quan ra sức hiệp trợ.

Vũ tùy theo việc nặng hay nhẹ, cấp bách hay không mà chia công trình trị thuỷ thành sáu khu vực:

Khu vực thứ nhất, toàn bộ Ký Châu và một phần của Ung Châu, Dự Châu, Duyện Châu, cũng chính là địa khu hạ du phần giữa sông Hoàng Hà.

Ký Châu không những là vùng đế đô mà người chịu tai họa cũng nhiều, cần được ưu tiên trị thuỷ.

Khu vực thứ hai, Duyện Châu và toàn bộ Thanh Châu.

Thanh Châu giáp với biển, địa thế thấp, lũ lụt cũng nghiêm trọng.

Khu vực này thuộc hạ du sông Hoàng Hà.

Khu vực thứ ba, toàn bộ Từ Châu và một phần Dự Châu.

Nước từ sông Trường Giang và sông Hoài ngập lụt đã nhiều năm, việc trị thuỷ cũng cần thực thi nhanh chóng.

Khu vực thứ tư là toàn bộ Dương Châu, Kinh Châu và Lương Châu.

Sông Trường Giang dài ngàn dặm, chảy ra Đông Hải, đất cũng thấp, phía tây là Lương Châu, về địa thế mà xét, có vẻ là một vùng riêng biệt, nhưng theo khảo sát địa hình gần đây thì đã biến đổi nhiều, cho nên cũng cần trị thuỷ với các vùng kia.

Khu vực thứ năm là vùng biên giới Cửu Châu.

Vùng thứ sáu là hải ngoại.

Vương giả không phân biệt bên ngoài, đều đối xử như nhau với người trong thiên hạ, vậy nên Trung Quốc sau khi bình ổn, vẫn cần tuần tra thị sát các nước ở hải ngoại, tuỳ thời điểm thích hợp trị thuỷ.

Khoảng chừng mười năm, có thể khiến cho thuỷ thổ tất cả bình ổn; nếu như kiểm soát thành mạng lưới để dẫn nước, chấn hưng thuỷ lợi, thì cần hai, ba năm nữa.

Đến đây, phần mở màn Vũ sáng tạo Thần Châu đã được mở ra.

Đại Vũ trị thuỷ, có được Hà Đồ, Lạc Thư để trợ giúp trị thuỷ.

Theo "Trúc Thư Kỷ Niên" ghi chép: "Vũ nhìn xuống sông, có một kẻ mặt người màu trắng và thân cá nói: 'Ta là Thần ở sông này.' Sau đó hô lên rằng: 'Văn Mệnh trị thuỷ.' Nói xong, trao cho Vũ "Hà Đồ", nói về các việc trị thuỷ, rồi lui vào vực sâu".

Đại Vũ mở Hà Đồ ra, chỉ thấy bên trong Cửu Châu là hình thế sông núi mạch lạc phân minh, ghi chép tường tận.

Hoá là tấm địa đồ trị thuỷ.

Vũ trên đường đi qua sông Lạc, một con rùa lớn trên lưng chở một bộ sách, dâng cho Đại Vũ.

Chỉ thấy ở trên viết hình thế núi sông của các châu; danh tự, sở thích, hình dạng của dã thú mãnh cầm, yêu ma quỷ quái.

Đại Vũ hướng đến Lạc Thần lạy mấy cái, rồi đem Lạc Thư và Hà Đồ đặt cùng một chỗ.

Đến gần Hồ Khẩu, Hà Bá lại mang Hà Đồ tặng Đại Vũ.

(Còn tiếp)
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P-6): Đại Vũ trị thủy Hoàng Hà


Núi Long Môn vốn là một ngọn núi lớn, nối liền với dãy núi Lữ Lương, ngăn trở dòng chảy sông Hoàng Hà, khiến cho nước sông Hoàng Hà chảy tới đây không thể chảy tiếp, buộc phải quay đầu chảy về thượng du, khiến cho núi Mạnh Môn ở vùng thượng du đều bị ngập nước.

Vũ tách núi Long Môn làm hai, như hai cánh cửa, để nước sông từ trên vách núi cheo leo mà ào chảy xuống.

4.

Trị thuỷ sông Hoàng Hà

Tên gọi Hoàng Hà được xuất hiện sớm nhất trong "Hán Thư", đương thời gọi là Hà hoặc Đại Hà.

Ở những niên đại xa xưa về trước, thượng du và hạ du sông Hoàng Hà không liên thông với nhau, "sự dịch chuyển Hoàng Hà" một triệu năm trước đã khiến thượng du sông Hoàng Hà bẻ góc Eo Tích Thạch khiến chảy vào bồn địa Lâm Hạ-Lan Châu, nối liền với vùng hạ lưu.

"Sự vận động cộng hòa" diễn ra 150.000 năm trước đã khiến thượng du sông Hoàng Hà bị xâm thực lên đầu nguồn đến Eo Long Dương, hạ du bẻ góc Eo Tam Môn khiến nước chảy về phía đông rồi đổ ra biển.

Dẫn nước ra biển

Sông Hoàng Hà là kênh chính để xả lũ ở Ung Châu, Dự Châu và Ký Châu.

Đây cũng là công trình trị thuỷ trọng yếu.

Theo kế hoạch, việc trị thuỷ bắt đầu từ Ký Châu.

Ký Châu thời kỳ Đại Vũ tương đương với toàn tỉnh Sơn Tây, phía bắc sông Hoàng Hà ở tỉnh Hà Nam, nửa phía tây tỉnh Hà Bắc, phía nam núi Âm Sơn ở Nội Mông Cổ, phía đông kéo dài đến một phần khu vực phía tây sông Liêu ở tỉnh Liêu Ninh ngày nay.

Đây là kinh kỳ của vua mà thiên "Vũ Cống" sách "Thượng Thư" nhắc đến, tức là nơi mà Thiên tử trực tiếp quản lý.

Có hai con quái vật ở Biển Hoa Đông, một con là Thiên Ngô và một con là Võng Tượng, hai con quái vật này gây trở ngại cho việc trị thuỷ và làm hại nhiều nhân công trị thuỷ.

Vũ đã thỉnh cầu Thần Đông Hải Ngu Quắc hàng phục hai con quái vật này.

Ngu Quắc lại gọi thuộc hạ của mình là Ứng Long phụ tá Vũ trị thuỷ.

Ứng Long từng giúp Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu.

Thuỷ mạch, địa mạch ông đều nắm rõ như lòng bàn tay, có thể rất dễ dàng vạch ra lộ tuyến đào kênh.

Tại các khu vực Thanh Châu và Duyện Châu, Vũ bắt đầu từ núi Vương Ốc mở đường cho sông Tễ chảy vào sông Hoàng Hà, hướng về phía đông chảy vào đầm Hà Trạch.

Sông Ung chảy đến đầm Hà Trạch rồi gặp sông Thư (Thanh Thuỷ Hà) sau đó nhập lại với đầm Lôi Hạ.

Sau đó chảy về phía đông bắc và gặp sông Vấn, rồi lại chảy về phía bắc, sau đó chuyển hướng về phía đông chảy ra biển lớn.

Nhờ sự giúp đỡ của Ứng Long, 9 kênh sông đã được đào ở khu vực Duyện Châu, Thanh Châu và Ký châu ở hạ du sông Hoàng Hà, dẫn nước chảy ra Đông Hải.

Ở đây Vũ đã đào núi Kiệt Thạch, khiến nước tích ở phía tây của núi Kiệt Thạch chảy ra biển lớn.

Ở khu vực núi Xích Thành và núi Vương Ốc, có bảy người biết thuật địa hành làm hại người.

Tiên nhân Tây Thành Vương Quân nhận uỷ thác của phu nhân Vân Hoa, thu phục được 7 địa tướng này, cùng với 7 vị Thiên tướng mà phu nhân Vân Hoa phái đến cho Vũ cùng nhau hợp thành 14 vị Thiên địa tướng, là những trợ thủ chính cho việc trị thuỷ sau này.

Trong một hang động ở núi Vương Ốc (một trong ba mươi sáu động Trời của Đạo gia), Tây Thành Vương Quân từ trong một hộp đá trời sinh lấy ra một bộ sách tu luyện tặng cho Vũ, nói rằng: "Nếu có thể chiểu theo những điều nói trong sách này chăm chỉ tu luyện, thì xuất phàm thành Thánh không phải là chuyện khó."

Và nói với Vũ rằng: Nếu tu thành đắc Đạo, thì hãy để cuốn sách này vào vị trí ban đầu của nó.

Đào núi Chỉ Trụ

"Thuỷ Kinh Chú" ghi chép: "Chỉ Trụ, cũng là tên núi.

Thời Vũ trị thuỷ, núi gò chắn nước, Vũ đào núi, phá núi để sông chảy qua, nước sông phân dòng, bao quanh núi mà chảy qua, núi đứng giữa dòng nước trông như cột trụ, nên gọi là núi Chỉ Trụ vậy."

Vũ đào kênh sông ở hai bên núi, nước sông phân dòng theo quanh núi mà chảy qua, ngọn núi này tựa như một trụ đá rất cao lớn, đứng sừng sững giữa dòng nước Hoàng Hà chảy xiết, mặc cho dòng nước chảy xiết ngày đêm xung kích vẫn sừng sững bất động.

Vũ đặt tên núi là "Chỉ Trụ Sơn."

Thành ngữ "Trung lưu chỉ trụ" (Cột đá giữa dòng) chính là bắt nguồn từ đây.

Từ đó "Trung lưu chỉ trụ" trở thành một biểu tượng tinh thần của dân tộc Trung Hoa được truyền tụng muôn đời.

Cự Linh phá Hoa Sơn

Thời viễn cổ, núi Thú Dương ở phía đông sông Hoàng Hà (nay là núi Điều ở Sơn Tây) và núi Thái Hoa ở bờ tây sông Hoàng Hà liền nhau, nước sông Hoàng Hà chảy tới đây, bị núi chắn lại.

Như vậy các vùng Hoa Âm, Đồng Quan, Triêu Ấp bị biến thành một hồ nước.

Muốn để cho nước ở đây thoát được, ắt phải tách ra thành hai núi.

Điều này hiển nhiên không phải sức người có thể làm được.

Vì vậy, Thần Tiên Vân Hoa phu nhân thỉnh mời Cự Linh Thần Tần Hồng Hải nâng Hoa Sơn, và hội họp chúng thần, Tây Vương Mẫu đích thân tọa trấn, có thể nói là cuộc đại hội tụ của các thần tiên.

Nhìn thấy thân thể của Cự Linh Thần Tần Hồng Hải dần dần biến lớn, rồi thân thể của ông biến thành không biết cao đến nhường nào, ông duỗi hai bàn tay cự đại ra, nắm chắc đỉnh núi Hoa Sơn ở phía nam, rồi dùng chân vươn hết sức đạp chân núi ở mặt phía Bắc, hai núi bị tách ra, nước sông từ khoảng không do ông đạp ra cuồn cuộn lao về phía đông.

Tay trái Cự Linh Thần ấn giữ lên núi Hoa Sơn, nên gọi là "Tiên Chưởng".

Nhưng vì dùng dùng lực quá mạnh, nên Hoa Sơn bị nứt tách ra, thành hai nửa, một cao, một thấp.

Nửa cao hơn một chút chính là núi Hoa Sơn ngày nay, còn gọi là Thái Hoa Sơn, còn nửa thấp hơn một chút chính là Thiếu Hoa Sơn.

Đại thi nhân Lý Bạch viết: "Cự Linh bào hao phách lưỡng sơn, hồng ba phún lưu xạ Đông Hải." (Cự Linh gầm thét tách hai núi, sóng lũ phun trào tận biển Đông), chính là nói về câu chuyện này.

Tương truyền Hán Vũ Đế năm đó khi trèo lên Hoa Sơn, cảm thán công đức của Cự Linh Thần nên đã xây dựng động Thần Cự Linh dưới núi Hoa Sơn.

Bài thơ "Hoa Nhạc" của Vương Duy đời Đường tán tụng rằng:

Tích văn càn khôn bế, Tạo hóa sinh Cự Linh.

Hữu túc đạp phương chỉ, tả dụng thôi tước thành.

Thiên địa hốt khai sách, đại hà chú đông minh.

Toại vi tây trì nhạc, hùng hùng trấn Tần kinh.

Tạm dịch:

Xưa nghe càn khôn đóng, Tạo hóa sinh Cự Linh.

Chân phải đạp lấy thế, tay trái đẩy tạo thành.

Trời đất bỗng phân tách, Hoàng Hà trút biển Đông.

Liền thành núi phía Tây, sừng sững trấn kinh thành.

Vũ khai Long Môn

Khai phá Long Môn, là công trình then chốt trong việc trị thuỷ sông Hoàng Hà, cũng là công trình trị thuỷ trọng yếu.

Công trình này rất lớn, bao gồm cả Hồ Khẩu, Mạnh Môn và Long Môn.

Tại đây, Hoàng Hà bị núi Lữ Lương chặn lại, làm hồng thuỷ bế tắc.

Núi Lữ Lương có một cái miệng núi, giống như miệng ấm (Hồ Khẩu), nếu đục thêm mở rộng ra, thì có thể xả nước lũ.

Vì thế, Vũ đục Hồ Khẩu.

"Thuỷ Kinh Chú" chép lại: "Vũ trị thuỷ, bắt đầu từ Hồ Khẩu."

Khoảng năm dặm về phía hạ du của Hồ Khẩu là núi Mạnh Môn được gọi là "Cửu hà chi đăng".

Nước sông chảy đến đây phân thành hai dòng, từ hai bên Cự Thạch mà chảy qua ào ạt, sau núi Mạnh Môn lại hợp dòng làm một.

Tương truyền hai đảo núi này vốn là một núi, ngăn cản dòng nước, khiến nước lũ lan tràn khắp nơi, nên Đại Vũ tách núi này ra làm hai để nước chảy thông suốt theo dòng.

Nước sau khi chảy ra khỏi Mạnh Môn, lao vút xuống, rồi chảy thẳng tới Long Môn.

Núi Long Môn vốn là một ngọn núi lớn, nối liền với dãy núi Lữ Lương, ngăn trở dòng chảy sông Hoàng Hà, khiến cho nước sông Hoàng Hà chảy tới đây không thể chảy tiếp, buộc phải quay đầu chảy về thượng du, khiến cho núi Mạnh Môn ở vùng thượng du đều bị ngập nước.

Vũ tách núi Long Môn làm hai, như hai cánh cửa, để nước sông từ trên vách núi cheo leo mà ào chảy xuống.

Người đời sau nhớ lại công đức trị thuỷ của Đại Vũ, gọi nó thành Vũ Môn.

Trong dân gian còn có truyền thuyết, Đại Vũ đục núi tới đây, đục mãi không thông, liền hoá thân thành rồng, phá đá mở núi, nên cũng gọi là "Long Môn".

Ở gần Long Môn có một cái khe, gọi là khe Lý Ngư (cá chép), cá chép ở đây bơi ngược dòng lên thượng du của Long Môn, con cá nào có bản lĩnh nhảy qua được Long Môn, thì sẽ hóa thành rồng, nên mới gọi là "cá chép vượt Long Môn."

Nơi hạ du cách Long Môn vài trăm dặm là eo Tam Môn trứ danh, Vũ phá một hòn núi cản trở kênh nước thành mấy phần, khiến nước sông phân dòng, bao quanh núi mà chảy qua, nhìn núi trông như cổng có ba lối đi, nên nơi này được gọi là Tam Môn, tức là: "Quỷ Môn" "Thần Môn" "Nhân Môn".

Vũ đục Long Môn, công đức lưu truyền thiên cổ, học giả Cố Viêm Vũ thời nhà Thanh có bài thơ "Long Môn", tán tụng công tích bất hủ đục Long Môn của Vũ:

Cắng địa Hoàng Hà xuất, khai thiên thử nhất môn.

Thiên thu bằng Đại Vũ, vạn lý hạ Côn Luân.

Tạm dịch:

Đất dài Hoàng Hà đổ, trời mở ở cửa này.

Ngàn năm công Đại Vũ, vạn dặm xuống Côn Luân.

Vũ đục Long Môn, đến một động thiên, gặp một vị Thần.

Vũ liền trò chuyện, vị Thần cho Vũ xem đồ hình bát quái, đặt trên bảng vàng, lại có tám vị Thần ở bên cạnh.

Vũ nói: "Hoa Tư sinh Thánh tử, là ngài sao?

Đáp lại: "Hoa Tư là nữ Thần của cửu hà, cũng là người sinh ra tôi".

Rồi tìm thẻ ngọc truyền cho Vũ, dài một thước hai tấc, ứng với số của 12 canh giờ, dùng để đo lường thiên địa.

Vũ liền cầm lấy thẻ này để bình định thuỷ thổ.

Thần có thân rắn, chính là Hi Hoàng.

"Thập di ký quyển hai" thuyết rằng, Vũ gặp Hi Hoàng, Phục Hi tặng Vũ thẻ ngọc, dùng cho việc đo lường đại địa, núi non sông ngòi.

Tiếp theo Vũ lại trị thuỷ núi Lương Sơn và các chi mạch.

Trị thuỷ địa khu Thái Nguyên, một mạch đến phía nam núi Thái Nhạc, lại tiếp tục trị thuỷ sông Hành và sông Chương.

Cự Linh mở núi Thái Hoa, dùng thần lực đục Long Môn, chín con sông thông suốt, lũ lụt ở Ký Châu được bình ổn.

Đến đây lũ lụt ở Ký Châu, Duyện Châu, Thanh Châu về cơ bản đã được bình ổn.

Tiêu diệt Tướng Liễu

Khổng Nhâm sau khi bị cách chức vẫn không hối cải, trái lại càng ngang ngược hơn nữa, phản kháng triều đình, lợi dụng thủ hạ là Tướng Liễu mà tác oai tác quái ở một phương.

Phong quốc của Khổng Nhâm ở phía Tây của Ung Châu, Khổng Nhâm và Tướng Liễu dựa vào nhau hành bạo, giết hại sinh linh, bạo ngược bách tính, dựa vào địa thế hiểm trở đối kháng triều đình, can nhiễu việc trị thuỷ.

Vậy nên Vũ giết Tướng Liễu, bắt giữ Khổng Nhâm áp giải đến đế đô.

Thuấn kiến nghị lên Nghiêu Đế, lưu đày Cộng Công đến U Châu.

Trị thuỷ Ung Châu

Sau khi xử lý xong Khổng Nhâm và Tướng Liễu, Vũ lại tiếp tục xử lý lũ lụt ở Ung Châu.

Ứng Thiệu nói: "Ung Châu, cũng gọi là Ủng Châu, tứ bề có núi, rất bế tắc kiên cố, âm khí cũng không thông được."

Phía Tây của Ung Châu là đầu nguồn sông Hoàng Hà, sau khi Hồ Khẩu, Long Môn được đục phá, khiến cho rất nhiều nước bế tắc ở đây được thoát ra, nhưng vì sự ngăn trở của núi Tích Thạch mà lượng nước khổng lồ ở thượng du vẫn bị bế tắc lại ở đó.

Sách "Thượng Thư - Vũ Công" ghi chép rằng: Đại Vũ "dẫn dòng từ Tích Thạch, đến Long Môn, rồi nhập vào biển lớn."

Núi Tích Thạch nằm ở miền đông nam Thanh Hải, là một nhánh của dãy núi Côn Luân, tên Tây Tạng gọi là núi A Ni Mã Khanh (Animaqin), biểu thị ý nghĩa là tổ tiên của sông Hoàng Hà.

Cao 6.282 mét so với mực nước biển.

Hoàng Hà từ "Bột Hải" chảy ra, Bột Hải cổ đại bao gồm khu vực rộng lớn ở bên trong hồ Trát Lăng.

Có thể nói rằng, sông Hoàng Hà sau khi khởi nguồn từ Tạp Nhật Khúc và Tông Liệt Khúc cổ đại, bị núi Ba Lan Nhang Mã và núi Thác Nhĩ Đóa Tắc chặn lại, hình thành nên hồ lớn bậc nhất ở thượng nguồn sông Hoàng Hà - hồ Trát Lăng.

Sông Hoàng Hà sau khi chảy quanh co trong hồ, từ phía đông nam của hồ mà tán loạn chảy ra, ở giữa lại chảy qua một hẻm núi dài khoảng 20km, rộng khoảng hơn 300 mét, rồi lại phân thành chín luồng rồi đổ vào hồ thứ hai - hồ Ngạc Lăng, rồi chảy vào núi Tích Thạch do Vũ dẫn dòng.

Sông Hoàng Hà quấn quanh núi Tích Thạch mà chảy về phía đông nam, chảy ra Thanh Hải rồi chảy vào Tứ Xuyên, bị núi Dân chặn lại, dòng nước mạnh chuyển dòng, đột ngột bẻ hướng chảy về phía đông bắc, xuyên qua huyện Mã Khúc tỉnh Cam Túc ở giữa núi Tích Thạch và núi Tây Khuynh, chảy ngược lại Thanh Hải, hình thành một khúc uốn cong rất to, đoạn kênh sông này chính là khúc cong thứ nhất trong "cửu khúc Hoàng Hà".

Nơi đây là đầu nguồn Vũ trị thủy Hoàng Hà, Vũ đục thông núi Tích Thạch, khiến cho nước tích tụ ở Ung Châu có thể thoát đi.

Vũ lại đục phá núi Tây Khuynh, núi Chu Ngữ (ở phía Tây Nam huyện Cam Cốc).

Đến lúc này, lũ lụt ở Ung Châu đã được bình ổn.

Vách đá trên hang núi Chu Ngữ vốn có di tích "Vũ điện Chu Ngữ" sát bên vách đá.

Vũ đục núi Tích Thạch thấy được một miếng huyền ngọc, sách "Thượng Thư - Tuyền Cơ Kiềm" kể rằng: Vũ khai Long Môn, thông Tích Thạch, ngọc khuê xuất hiện, có khắc chữ "Diên hỉ ngọc, thụ đức thiên tứ bội" (Ngọc niềm vui kéo dài, nhận đức Trời ban cho đeo)

"Đại Vũ trị thuỷ bắt đầu từ Tích Thạch", trong đó eo Tích Thạch là công trình trọng yếu.

Eo Tích Thạch nằm ở giao giới giữa huyện tự trị dân tộc Salar Tuần Hóa và huyện tự trị dân tộc Hồi- Thổ-Dân Hòa, toàn bộ eo dài 25 km, hai bên bờ núi cao chọc mây, vách đá sừng sững, nước Hoàng Hà cuồn cuộn trong khe núi tù phía tây chảy ào xuống, tiếng nước chảy xiết, âm thanh chấn động như sấm vang.

"Thuỷ Kinh Chú" ghi chép về núi Tích Thạch như thế này: " Hà Bắc có núi tầng tầng lớp lớp, núi non rất đẹp, trên ngọn núi có đá dựng đứng cao mấy trăm trượng, dựng cao chót vót, đua nhau vươn cao.

Phía dưới là tầng vách đá hiểm trở, vách đá không có bậc, vách dựng đứng, có nhiều thạch thất".

Eo Tích Thạch trong eo có eo.

Trong đó có một eo yết hầu, khoảng cách chiều nam-bắc chỉ có gần 6m, là miệng eo Cáo Nhảy.

Nước sông cuồn cuộn, ầm ầm như sấm động, đến gần thì không biết là đang ở nơi nào.

Trên vách đá dựng đứng của eo Tích Thạch có nhiều nơi còn lưu lại dấu vết rìu búa chặt đá thời Đại Vũ trị thủy.

Nổi tiếng nhất là "vách vết rìu", vách đá màu trắng xanh, dấu tích vết rìu chồng chất.

Tiếp đó, Vũ lại đục phá núi Điểu Thử Đồng Huyệt, núi Khiên, núi Kỳ, núi Kinh ở thượng nguồn sông Vị, để nước sông ở Quan Trung chảy vào sông Vị rồi chảy về đông, sông Vị thông suốt vô trở, chảy thẳng vào Hoàng Hà: Sông Kinh, sông Tất, sông Thư, sông Lạc từ phía Bắc chảy vào sông Vị, sông Phong từ phía Nam chảy vào sông Vị, khiến cho nước sông Hoàng Hà chảy từ phía nam đến tại Đồng Quan ở phía bắc Hoa Sơn (Hoa Âm) chảy hướng về đông, mà không tràn lan khắp nơi ở phía nam.

Dải đất bình nguyên ở vùng từ Kỳ Sơn đến sông Thiên, nước đã rút xuống, sông Nhược (phía tây bắc núi Hợp Lê) chảy về hướng tây, ở địa khu núi Tam Nguy người ở đã có thể định cư được.

Tiếp theo Vũ lại trị thuỷ sông Phần, khiến cho nước lũ tích lại ở khu vực Thái Nguyên và Hoắc Thái Sơn chảy vào sông Phần, mối nguy hại hồng thuỷ ở miền Bắc đã được triệt để giải trừ.

Như vậy, Vũ đục thông núi Tích Thạch, dẫn nước vào Hồ Khẩu, qua núi Lôi Thủ - núi Trung Điều - Eo Tam Môn - núi Đế Trụ - núi Tích Thành - núi Vương Ốc - núi Thái Hành - Hằng Sơn - núi Kiệt Thạch, khiến nước sông Hoàng Hà từ Đồng Quan thông suốt chảy về đông, chảy qua Mạnh Tân - sông Lạc nhập dòng - đến Đại Ngũ (Vũ Thiệp Cương hoặc Thành Cao, Hà Nam), hướng về đông chảy qua chỗ sông Cộng, sông Kỳ, sông Trọc Chương (sông Hàng) nhập vào sông Hoàng Hà (nằm giữa Phì Hương và Chu Khúc ở Hà Bắc ngày nay), chảy về phía bắc phân thành chín nhánh sông, cùng nhau nhận nước từ sông Hoàng Hà, rồi dẫn nước ra biển một cách thuận lợi.

Đến đây toàn bộ thuỷ thổ hệ thống sông Hoàng Hà đã được bình ổn.

Sông Hoàng Hà từ khi Đại Vũ trị thuỷ về sau, ở hạ du mặc dù có mấy lần đổi dòng, nhưng nói chung, Hoàng Hà có lợi chứ không có hại, thực sự trở thành con sông mẹ của dân tộc Trung Hoa.

(Còn tiếp)
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P- 7): Đại Vũ trị thuỷ sông Trường Giang


Vì để ca ngợi công lao trị thuỷ của Đại Vũ, Nghiêu đế đã lệnh cho Thuấn tặng Vũ một miếng ngọc bích màu đen tượng trưng cho màu của nước để tuyên bố với thiên hạ trị thuỷ thành công.

Trị thuỷ hệ thống sông miền nam.

Hệ thống sông ngòi ở miền nam dày đặc, chủ yếu có sông Trường Giang (Đại Giang), sông Hoài, và các chi lưu của sông Trường Giang cũng rất phong phú.

Theo kế hoạch trị thuỷ vùng Từ Châu, bao gồm Từ Châu, Dương Châu và một phần Dự Châu.

Phía đông của Từ Châu bắt đầu từ biển lớn, phía nam đến bờ bắc của sông Hoài, phía bắc đến núi Thái Sơn.

Sông gồm có sông Hoàng Hà, sông Hoài và sông Nghi; hệ thống núi gồm có Mông Sơn, Vũ Sơn.

Hướng đông trị thuỷ sông Tứ, sông Nghi Mông, hướng nam trị thuỷ sông Hoài, từ núi Đồng Bách bắt đầu khai thông sông Hoài, chảy về phía đông rồi gặp nhau với sông Tứ, sông Nghi rồi chảy về phía đông nhập vào biển lớn.

Ở núi Nghi Mông, núi Vũ Sơn đã có thể trồng trọt được.

Lấy vợ Đồ Sơn

Vũ năm 30 tuổi vẫn chưa lấy vợ, Vũ nói: "Nếu ta lấy vợ, ắt có một loại điềm lạ".

Vũ trước khi lên đường trị thuỷ sông Hoài thì có một con cáo trắng chín đuôi đến thăm Vũ, nói: "Nhà tôi ở nước Đồ Sơn nằm cạnh núi Đồ Sơn ở phương nam.

Quốc vương của nước Đồ Sơn đó có hai cô con gái, rất mỹ lệ, tài đức vẹn toàn, muốn đem gả cho ngài".

Vũ lấy lý do khác biệt giống loài mà cự tuyệt.

Cáo chín đuôi nói: "Giờ tôi dùng hình tượng cáo trắng chín đuôi này đến gặp ngài, là vì hôm trước ngài có nói một lời, nói ông lấy vợ thì nhất định có điềm lạ, nên tôi mới cho ngài một điềm lạ, cũng là đến cho ông một điềm lành.

Ngài muốn tôi là thân người thì có gì khó đâu?"

Vừa nói xong nó lắc mình, trong nháy mắt liền hoá thành một ông già tóc trắng, tiên phong đạo cốt, khí khái phi phàm.

Đại Vũ thấy ông già phi phàm, rất có lai lịch.

Ông nghĩ, màu trắng là y phục của mình, chín đuôi là số biểu thị Thái dương, là minh chứng cho vua.

Vì vậy, Đại Vũ đồng ý cuộc hôn nhân này, Vũ đến nước Đồ Sơn và thành thân với hai con gái Nữ Kiều và Nữ Du của vua nước Đồ Sơn.

Vào ngày thứ tư, Đại Vũ từ biệt Nữ Kiều và Nữ Du, rồi lên đường đi trị thuỷ sông Dĩnh và sông Hoài.

Sử sách chép rằng: "Vũ kết hôn với con gái vua nước Đồ Sơn, không vì tư mà ảnh hưởng việc công, nghỉ bốn ngày từ ngày Tân đến ngày Giáp, ông lại tiếp tục trị thuỷ".

Các thế hệ sau ở các vùng Cửu Giang, Đương Đồ và Giang Hoài, lấy các ngày Tân, Nhâm, Quý, Giáp thành ngày kết hôn và trở thành một phong tục.

Hàng phục Vu Chi Kỳ

Vào thời đó, ở núi Đồng Bách sông Hoài có một con thủy quái thần thông quảng đại tên là Vu Chi Kỳ, theo "Cổ nhạc độc kinh" ghi chép: "nó giống như một con vượn có mắt vàng, răng tuyết, nhanh như chớp".

Khi Đại vũ trị thuỷ sông Hoài, Vu Chi Kỳ làm điều ác và can nhiễu việc trị thuỷ, Vũ đã hàng phục nó và nhốt nó trong giếng Hoài, đây là câu chuyện "Vũ Vương nhốt thuồng luồng" nổi tiếng.

Chuyện kể rằng ngàn năm sau, vào thời nhà Đường, ở Sở Châu có một ngư dân đang câu cá trên sông Hoài, bỗng nhiên câu phải một sợi xích sắt dài vô tận.

Thứ sử Lý Dương nghe được tin này bèn triệu người đến kéo xích sắt.

Khi dây sắt kéo đến cùng, thì một con khỉ xanh bất ngờ nhảy ra khiến ai cũng kinh hãi, con khỉ xanh cầm lấy xích sắt rồi lại nhảy xuống nước.

Ba lần đi qua nhà

Vũ tiếp tục trị thuỷ sông Hoài.

Bước đầu tiên là nạo vét lòng sông Hoài; bước thứ hai là đục núi Đồ Sơn và núi Kinh Sơn ở phía bắc.

Ban đầu hai ngọn núi liên kết với nhau, sau khi đục, sông Hoài chảy qua giữa hai ngọn núi; bước thứ ba là đục núi Giáp Thạch, khiến cho sông Hoài cũng chảy qua giữa hai ngọn núi; bước thứ tư là trị thuỷ các nhánh sông.

Một ngày nọ, Đại Vũ lại theo sông Hoài mà đi lên, kiểm tra công trình ở các nơi, đi đến khu đục phá ở Đồ Sơn và Kinh Sơn.

Lúc đó, nước Đồ Sơn đã từ Giang Nam chuyển về nguyên quán.

Bất ngờ nghe tin Đại Vũ đến, cả nước hân hoan chào đón.

Đại Vũ giao lưu một hồi, nhưng ông không về thăm lại nhà, mà lập tức quay lại công trường, sau đó lại theo sông Hoài mà tiếp tục đi lên.

Đại Vũ lại đi về phía tây, sau đó trị thuỷ sông Dĩnh, sông Nhữ và sau đó là sông Nghi.

Đến lúc này, lũ lụt ở Từ châu và Dự Châu đã gần như không còn.

Sau khi trị thuỷ, nơi đây trở thành một vùng đất màu mỡ.

Một hôm, khi Đại Vũ trị thuỷ Dương Châu trên đường đi qua Đồ Sơn, đi ngang qua cửa nhà, nghe thấy bên trong có tiếng khóc oa oa của trẻ nhỏ, nhưng Đại Vũ vẫn không thể vào thăm nhà.

Lại có lần, có người từ Đồ Sơn đến nói với Đại Vũ rằng: Phu nhân nghe tin ngài trị thuỷ sẽ đi ngang qua nhà, có thể gặp nhau, đã rất vui mừng, bà ôm con trai đứng trên một tảng đá lớn ngoài cửa trông mong.

Nhưng Vũ vẫn không thể bớt được thời gian về thăm vợ con.

Ở phía đông Đồ Sơn có một hòn Vọng Phu, Nữ Kiều đã đứng trên hòn đá lớn này mong ngóng Đại Vũ trở về.

Đây là câu chuyện Đại Vũ ba lần qua nhà nhưng không vào nhà cảm động lòng người.

Đả thông con đường hẹp Hoàn Viên

Giữa núi Thái Thất và núi Thiếu Thất ở Dự Châu, có một con đường hẹp gọi là Hoàn Viên.

Nếu mở được con đường này, không những có thể xả lũ mà sau khi xả lũ xong còn có thể trở thành một đường đi thuận tiện từ kinh đô đến Tung Sơn.

Vì thế, Vũ quyết định đả thông con đường hẹp này.

Khi đục con đường hẹp này, đá trở nên rất cứng và khó đục.

Đại Vũ nói: "Ta sẽ đục!"

Ông cầm rìu phá núi trong tay, cầm theo cả trống và dặn dò mọi người: "Khi ta đục núi, không được lên núi can nhiễu.

Khi hoàn thành, nghe ta đánh trống thì có thể lên núi".

Đại Vũ nói xong, sắp đi lên núi, thì mới hay tin, hai vị phu nhân từ Đồ Sơn đến.

Đại Vũ ngạc nhiên: Tại sao sớm không đến, muộn không đến, mà vừa lúc ta sắp lên núi lại cùng nhau đến công trường?

Lúc đó Nữ Du đang mang thai,...

Đối mặt với hai vị phu nhân, Đại Vũ không có thời gian nấn ná, liên tục vẫy tay hai vị phu nhân nói: "Không còn thời gian nữa, không còn thời gian nữa, giờ ta phải lên núi, các nàng ở dưới núi đợi ta, xong việc ta sẽ trở lại".

Hai vị phu nhân hỏi: "Khi nào thì hoàn thành?"

Đại Vũ chỉ vào chiếc trống trong tay và nói: "Khi nghe tiếng trống của ta vang lên, thì là xong việc rồi."

Sau đó, ông nâng trống và rìu núi lên rồi nhanh chóng lên núi.

Hai vị phu nhân đành đợi ở dưới núi.

Gần tới buổi trưa, thì nghe thấy có tiếng trống từ trên núi, liền nói: "Công trình đã xong, chúng ta lên núi gặp chàng nhé."

Nói xong, Nữ Kiều dìu Nữ Du lên núi.

Không ngờ khi đi lên núi, thì không thấy Vũ đâu, mà chỉ thấy một con rồng vàng, toàn tâm toàn ý tạc núi ở đó.

Đằng sau có một cái trống, thỉnh thoảng đuôi của nó đập vào trống phát ra tiếng động thùng thùng.

Nữ Kiều đã nhìn thấy và kéo Nữ Vu chạy xuống núi.

Vũ biết rằng hình dạng thật đã bị họ phát hiện, liền khôi phục lại hình người, rồi vội vã xuống núi để giải thích cho hai vị phu nhân.

Nào ngờ Nữ Du đã biến thành một tảng đá lớn bên đường, Vũ nói với hóa thạch: "Nàng biến thành hòn đá, không muốn gặp ta, nhưng con trai của ta thì phải trả nó lại cho ta".

Nói chưa dứt lời, đột nhiên nghe thấy một âm thanh, hóa thạch đột nhiên vỡ ra, rồi một đứa bé trừ trong chui ra, là một bé trai.

Vũ đặt tên là "Khải" vì cậu bé do hòn đá tách ra mà sinh ra.

Có tư liệu viết rằng Vũ hóa thành gấu vàng, như đã đề cập trước đó, trên thực tế Vũ ở đây hoá thành không phải là gấu vàng, là hoàng năng, là chữ năng dưới có ba chấm, âm đọc là Long, nói một cách chính xác là Hoàng Long.

Khi đục Long Môn, cũng có thuyết rằng Vũ biến thành Hoàng Long (rồng vàng).

Đường Hoàn Viên đã được thông, lộ trình từ sông Lạc đến Tung Sơn được rút ngắn rất nhiều, sau này trở thành đại lộ bắc nam.

Trị thuỷ Dương Châu và Kinh Châu

Dương Châu nằm về phía nam của sông Hoài, phía nam kéo đến biển lớn thuộc về Dương Châu.

Đây là vùng đất trũng ẩm ướt.

Hồ Hồng Trạch, hồ Cao Bưu, Thái Hồ (Chấn Trạch), hồ Bành Lễ và vịnh Hàng Châu thảy đều nằm trong đó.

Sông gồm có sông Tùng, sông Tiền Đường, sông Phổ Dương, v.v ...

Vũ dẫn hệ thống sông này vào biển Hoàng Hải, khu vực Chấn Trạch cũng được ổn định.

Tiếp theo, trị thuỷ Kinh Châu.

Từ Cảnh Sơn ở Hồ Bắc đến phía nam Hành Sơn ở Hồ Nam đều thuộc về Kinh Châu, hệ thống sông ở đây rất dày đặc.

Từ phía tây hồ Bành Lễ, Vũ trị thuỷ hồ Động Đình và các phụ lưu của nó là 9 con sông: Nguyên(沅), Tiệm, Nguyên(元), Thần, Tự, Dậu, Lễ, Tư, Tương để chúng hội tụ ở hồ Động Đình.

Tại phía bắc sông Trường Giang dẫn núi Kinh Sơn để lưu thông sông Thư và sông Chương; giữa Chung Tường và Kinh Môn dẫn vào Phương Sơn, khơi thông sông Tiềm và sông Hán, dẫn sông Hán chảy vào sông Trường Giang; dẫn từ núi Hồng Bách đến núi Bồi Vỹ thuộc An Lục ở hạ du sông Vĩ, trị thuỷ đầm Vân Bạch, dẫn từ núi Kê Công đến núi Đại Biệt, khơi thông sông Hoàn, sông Nhiếp, sông Cử, sông Ba, sông Hy.

Rất nhiều phụ lưu của sông Hoàng Hà hầu hết đã có kênh sông dẫn nước cố định.

Vân Trạch, Mộng Trạch cũng đã được trị thuỷ, đất đai ở đây đã có thể canh tác.

Sau khi Vũ trị thuỷ Kinh Châu, ở phía bắc ông lại tiến đến Dự Châu, trị thuỷ ở trung du sông Hán.

Ở phía bắc núi Đồng Bách trị thuỷ núi Ngoại Phương và núi Hùng Nhĩ, giữa hai ngọn núi này là sông Y và sông Lạc.

Từ núi Hùng Nhĩ, bắt đầu dẫn nước sông Lạc, chảy về phía đông bắc rồi gặp sông Hà, sau đó chảy về phía đông đến Yển Sư gặp sông Y, tiếp tục chảy về phía đông qua Củng Nghĩa và nhập vào Hoàng Hà.

Vũ xẻ Tam Hiệp

Tiếp theo, trị thuỷ Lương Châu.

Lương Châu giáp Kinh Châu về phía đông và Ung Châu về phía tây bắc, bao gồm toàn bộ tỉnh Tứ Xuyên, tây Hồ Bắc, Thiểm Tây và phía nam Cam Túc, có diện tích khoảng 1,48 triệu km vuông.

Lương Châu nằm ở thượng nguồn sông Trường Giang, hệ thống sông dày đặc, tứ bề đều có núi non bao bọc, đường thủy không thông suốt, nước bị tắc nghẽn lại ở đây.

Ở đây chủ yếu là trị thuỷ sông Mẫn, sông Hắc, nạo vét sông Đà và khai thông Tam Hiệp.

Đại Vũ khoan thủng hẻm núi Hoàng Ngư và hẻm núi Ba Sơn, dẫn nước từ sông Mẫn nhập vào sông Trường Giang.

Lượng nước của sông Mẫn rất lớn, để giảm bớt thế nước của sông Mẫn, Đại Vũ đã đào một kênh sông khác ở phía đông của sông Mẫn, gọi là sông Đà.

Như thế nước sông Mẫn sẽ được dẫn vào sông Trường Giang một cách thuận lợi.

Việc đào Tam Hiệp là một dự án quan trọng trong việc trị thuỷ Lương Châu.

Vu Sơn Tam Hiệp kéo dài 700 dặm, núi kề núi, đỉnh núi san sát, đá núi cứng một cách dị thường.

Đại Vũ thỉnh cầu Vân Hoa phu nhân giúp đỡ, Vân Hoa phu nhân thi triển thần thông, dùng sấm sét đánh.

Những tảng đá cứng dần trở nên lơi lỏng, mọi người rất nhanh chóng đã đả thông Tam Hiệp Vu Sơn, nước lũ ào ào chảy ra khỏi Ba Thục và cuối cùng chảy ra biển lớn.

Trước khi Đại Vũ trị thuỷ, dòng chảy chính của sông Trường Giang không chảy qua Tam Hiệp hiện nay, mà chảy qua sông Sầm ở Nam Giang cổ đại.

Nhà địa lý học Hồ Vị thời nhà Thanh giới thiệu trong "Vũ Cống Thùy Chỉ" rằng: Trước khi Đại Vũ trị thuỷ đục thông Tam Hiệp, nước sông Ngư Phúc thuộc Tứ Xuyên từ Phùng Tiết chảy qua Nghi Đô nhập vào sông Đại Giang.

Đây là dòng chảy chính của sông Trường Giang thời cổ đại.

"Thủy Kính Chú Sớ" ghi chép: "Nước sông chảy qua, Vũ đoạn đứt Nam Giang, Hiệp Bắc có thôn Thất Cốc, giữa hai núi có nước trong và sâu, nước sâu nhưng không chảy.

Từ xa xưa cũng truyền miệng rằng trước đây vốn là một con sông lớn, đến khi Vũ trị thuỷ, sông này nhỏ không đủ để xả nước, Vũ khai mở Hiệp Khẩu ngày nay, nước chảy ào ạt và dòng sông này liền cạn, ngày nay được gọi là Đoạn Giang".

Chính là nói "Vũ Đoạn Giang" từng là dòng chảy chính của sông Trường Giang.

Khi Đại Vũ trị thuỷ, sông Nam Giang quá hẹp để đáp ứng nhu cầu thoát nước, nên Đại Vũ đã mở dòng chảy hiện tại.

Vì vậy, dòng sông trước đây có tên là "Nam Giang" đã ngừng chảy và được gọi là "Vũ Đoạn Giang", tức là "Đoạn Giang Hiệp" hay "Đoạn Giang Sơn" được nhắc đến trong "Đông Hồ Huyền Chí".

Đại Vũ khơi đào Vu Sơn, dẫn nước sông chảy về hướng đông, và cuối cùng khiến sông Trường Giang chảy về đông qua 5 hồ (hồ Động Đình, hồ Bà Dương, Thái Hồ, hồ Hồng Trạch và hồ Sào ở trung du và hạ du sông Trường Giang), nước ở Tam Hiệp từ đây được thông suốt.

Dòng chảy chính của Trường Giang chuyển sang dòng chảy như hiện nay.

Điều khiến các nhà địa chất quan tâm là sông Trường Giang cắt ngang phần trục lõi của nếp lồi Hoàng Lăng tại Tây Lăng Hiệp.

Nói cách khác, trước khi hình thành dòng chảy ở Tam Hiệp, ở đây có lẽ là có những ngọn núi nhô cao chặn dòng nước phía đông.

Truyền thuyết kể rằng Đại Vũ trị thuỷ xẻ Tam Hiệp có Thần Ngưu tương trợ.

Lúc đó Tam Hiệp không có kênh sông, chỉ có con sông nhỏ ở phía nam hiện nay gọi là "Đoạn Giang", không đủ để xả lũ nên Vũ đã xẻ Tam Hiệp.

Nữ thần Vu Sơn đã thỉnh Thổ Tinh giúp đỡ, Thổ Tinh biến thành một con trâu vàng đầu to (Hoàng Ngưu) giúp Vũ đả khai Tam Hiệp.

Để kỷ niệm Hoàng Ngưu giúp Đại Vũ khai Tam Hiệp, người ta dựng lên Hoàng Ngưu miếu dưới vách núi Hoàng Ngưu.

Vào thời Tam Quốc, Thục tướng Gia Cát Lượng đã cho trùng tu Hoàng Ngưu Miếu và dựng bia đá.

Trên bia có khắc dòng chữ "Hoàng Ngưu Miếu Ký".

Vào thời Bắc Tống, khi Âu Dương Tu nhậm chức huyện lệnh huyện Di Lăng, ông đổi tên "Hoàng Ngưu Miếu" thành "Hoàng Lăng Miếu".

Tiếp đó, Đại Vũ trị lý nước đọng ở các hồ lớn và các vùng trũng thấp, Hành Sơn Thần kiến nghị Đại Vũ cầu cúng Thiên Đế ban cho tức thổ, vậy nên Đại Vũ bái cầu Thượng Đế ban cho tức thổ để xử lý nước tù đọng ở các hồ lớn và các vùng đất trũng.

Đồng thời, đào thêm một số hồ xuôi men theo dòng Trường Giang để điều tiết nước sông Trường Giang, khi nước lên cao có thể xả và trữ nước, vào mùa nước cạn, dùng để tưới tiêu.

Những hồ nước dọc sông Trường Giang này khiến cho vùng trung du và hạ du sông Trường Giang hiếm khi xảy ra lũ lớn và chuyển dòng.

Lập bia trên đỉnh núi Cẩu Lũ

Một ngày nọ, Vũ trên đường đi qua Hành Sơn, trèo lên đỉnh núi cao nhất, chuẩn bị một con vật để cúng tế, cung kính dâng lễ.

Khoảng bảy tám công trình trong số mười công trình trị thuỷ đã được hoàn thành, việc kiểm soát lũ thành công đã ở trong tầm mắt.

Ông quyết định khắc đá lập bia để kỷ niệm.

Cuối cùng, chọn đặt tấm bia trên đỉnh núi Cẩu Lũ.

Trước đây, nó được gọi là "bia Cẩu Lũ", cũng được gọi là Bia Vũ Vương.

Đỉnh núi Cẩu Lũ là một trong 72 đỉnh của Hành Sơn, "bia Cẩu Lũ" đứng trên một tảng đá tự nhiên, tương truyền rằng nơi dựng bia chính là vị trí của mặt nước lúc bấy giờ.

Bia cao bảy thước, rộng năm thước, dày một thước, khắc lên bảy mươi bảy chữ, giống như con nòng nọc, lại giống như chữ điểu triện.

Đây được xem là bia đá cổ nhất ở Trung Quốc.

Ở nơi này, Đại Vũ nhận được thẻ vàng ngọc điệp do Luy Tổ để lại, hình dạng giống với thẻ ngọc mà Hoàng Đế cất giữ ở núi Uyển Uỷ.

Sau khi trị thuỷ thành công, chúng vẫn được lưu trữ ở đây.

Sách "Tương Trung Ký" ghi chép: "núi Cẩu Lũ có ngọc điệp, Vũ chiểu theo những gì viết ở trên đó dùng để trị thuỷ".

"Ngô Việt Xuân Thu" ghi chép: "Vũ leo lên Hành Sơn, sứ giả của sông Mộng Thương đưa tới một cuốn sách thẻ vàng chữ ngọc, Vũ đắc được điều cốt yếu của việc trị thủy, và khắc lên chỗ cao của núi đá.

Học giả hiện đại, tiên sinh Mã Hạ Sơn, sau hơn 20 năm miệt mài nghiên cứu về các ký tự thời nhà Hạ, đã giải mã được bản khắc của "Bia Cẩu Lũ", bản khắc như sau:

"Thừa đế trủng nhiên, dực phụ ung vệ. tai hàng thỉ phát, tự hoàn vãng hành.

Tam hà phi dũng.

Bắc quá ký nhi điện, tự nhược vong điểu.

Túc nhạc lộc đình, sưởng dật dậu kỳ, thủy lư phất trường, vãng cầu vĩnh định.

Hoa nhạc thái hành. sùng sở sự bầu, lao dư thần nhân, sưởng mạn cát tỷ.

Nam độc diễn xương, y tắc thực bị, vạn bang giai ninh, cương vô dạng mãng."

Giải thích "Cẩu Lũ bia":

"Thụ lệnh của hoàng đế ban cho quyền trợ giúp Thuấn đế trị lý sông Ung và sông Vệ.

Lũ lụt ập đến, phát thệ lên đường, lao đi giữa sông Hằng sông Tự.

Sông Ba bị lụt, phía Bắc đến Ký Châu để tỏ lòng thành kính với tổ tiên và Thần linh, mải miết trị thuỷ mà quên mất chim trời quê mình.

Ngoài lúc trị thuỷ thường trú ở trên núi cao, dùng rượu cúng bái thiên địa, mong nước sông đừng tràn, nước đến trước nhà thì không dâng lên nữa, mong lũ lụt được bình ổn.

Từ núi Hoa Nhạc đến núi Hằng Sơn đến núi Thái Sơn, Hành Sơn, ngưỡng mộ người tài trí có thể khai thông nước sông, từ đó lũ lụt giảm bớt, ngoài việc trị thuỷ bình thường, hương khói thờ thần linh, rượu thơm được dùng để thiết đãi các vị thần.

Thần linh tỏ rõ: chuyển dời đại cát.

Kênh mương ở phía Nam đã thông thuận, cây cối phong phú, ăn no mặc ấm, thiên hạ thái bình, từ biên cương đến Trung Nguyên sẽ không còn lũ lụt".

"Cẩu Lũ bia" ghi lại rằng Đại Vũ được lệnh của Đế Thuấn xuất phát từ Ký Châu,bôn ba bốn phương, thuận theo núi chặt cây cối, dẫn nước vào sông, đi qua nhà ba lần mà không vào.

Sau 13 năm nỗ lực, lũ cuối cùng đã được kiểm soát.

Nội dung của "Bia Cẩu Lũ" gần giống với ghi chép của "Vũ Cống", và rất phù hợp với nội dung lịch sử về việc trị thuỷ của Đại Vũ trong chương "Hạ Bản kỷ" của "Sử Ký".

Năm Hán Vũ Đế thứ 2 (127 TCN), Vũ Đế đã xây dựng điện Vũ Vương ở đây, và được hậu thế kế tục tu bổ.

Vào năm Đồng Trị thứ 9 thời nhà Thanh (1878), nó được trùng tu thành miếu, có diện tích hơn 1.000 mét vuông.

Chữ khắc trên bia Cẩu Lũ đề cập đến việc cúng tế Thiên Địa Thần linh.

Đại Vũ đến nơi nào trị thuỷ đều phải cúng tế Sơn Thần.

Các vị Thần núi khác nhau thì tế phẩm cũng khác nhau.

Điều này được trình bày chi tiết trong "Sơn Hải Kinh".

Dựng trụ sắt dưới sông Hắc

Tiếp theo trị thuỷ sông Hắc.

Sông Hắc là phụ lưu lớn nhất ở thượng du sông Mân Giang, lượng nước rất lớn, dưới nước có nhiều giao long, thế nước hung dữ.

Hóa ra dưới đáy nước có một cái huyệt đạo rất lớn dẫn thẳng ra Nam Hải, nơi giao long và nhiều loài động vật lớn khác ra vào.

Thủy triều lên xuống cũng tương thông với sông Hắc khiến tình trạng lũ lụt trên sông Hắc càng thêm trầm trọng.

Đại Vũ ra lệnh cho người dân trục xuất giao long và những quái vật khác ra Nam Hải thông qua huyệt đạo đó, vì giao long sợ sắt, nên đã dùng trăm vạn cân sắt đúc thành một cột sắt lớn và đặt ở dưới đáy sông Hắc chỗ huyệt đạo để chặn đường giao long và những con vật khác.

Sau khi trụ sắt được đặt xuống, sông Hắc đã yên ắng.

Sau khi Lương Châu được trị thuỷ, núi Vấn (Dân) và núi Ba Trủng đều có thể trồng trọt được, các con đường trên Thái Sơn và Mông Sơn đã được sửa chữa tốt đẹp.

Lúc này, công trình trị thuỷ về cơ bản đã hoàn tất, và cuối cùng sông sẽ được dẫn ra biển.

Vũ lại tuần tra tình huống thuỷ thổ ở các nước hải ngoại và có nhiều trải nghiệm kỳ lạ, trừ một số quái thú hại người, ở phương bắc tiêu trừ nữ bạt (gây ra hạn hán).

Đến đây, việc trị lý thuỷ thổ ở cả trong và ngoài nước đã hoàn tất.

Bá Ích đã ghi chép lại địa lý núi sông, thảo mộc, chim muông và dã thú, những phong tục kỳ lạ, những giai thoại mà ông trải qua khi đi theo Đại Vũ trị thuỷ, và vẽ cả tranh, trở thành tư liệu trọng yếu cho tác phẩm "Hải Sơn Kinh".

Theo "Sở Bạch Thư" ghi chép: Ngu Ly (Vũ và Khất) trị sửa Đại địa, "dĩ ti đổ nhưỡng" quy hoạch Cửu Châu, xử lý ổn thỏa hiện tượng hỗn loạn của Đại địa "núi gò không khơi thông".

"Sau đó khiến núi sông tứ hải, điều hòa trăm khí, để khai thông dòng chảy, khai mở núi gò, lấp đất những nơi đọng nước".

Đó là nói Đại Vũ dùng khí âm dương của núi sông tứ hải để mở núi dẫn nước, giữa hồng thuỷ mang mang, đắp bịt san đất, sáng tạo ra Đại địa có trật tự có thể sinh sống.

Lũ lụt bình ổn, vạn dân trong thiên hạ thảy đều có được đất đai để an cư lạc nghiệp.

"Thi Kinh" ca ngợi: "Hồng thuỷ mang mang, Vũ phô hạ thổ phương." (Hồng thủy mênh mông, Vũ trị sửa thủy thổ tứ phương)

"Tả truyện" nói: "Mỹ tai Vũ công!

Minh Đức viễn hí.

Vi Vũ, ngô kỳ ngư hồ!" (Công lao của Vũ tốt đẹp thay!

Đức tỏa sáng khắp nơi xa xôi.

Nếu không có Vũ thì ta đã là cá rồi)

Sử ký cũng nói: "Đại Vũ bình hoạt thủy thổ, công tề thiên địa". (Đại Vũ bình ổn thủy thổ, công sánh ngang Trời Đất)

Vũ có công trị thuỷ, được phong ở Hà Nam, quốc hiệu Hạ, được ban họ Tự thị.

Trị thuỷ thành công, Vũ báo cáo lên Nghiêu Đế và Thuấn Đế.

Vũ tâu lên rằng: "Thiên hạ danh sơn, kinh ngũ thiên tam bách thất thập sơn, lục vạn tứ thiên ngũ thập lục lý, cư địa dã. ngôn kỳ ngũ tang, cái kỳ dư tiểu sơn thậm chúng, bất túc ký vân.

Đại địa chi đông tây nhị vạn bát thiên lý, nam bắc nhị vạn lục thiên lý, xuất thủy chi sơn giả bát thiên lý, thụ thủy giả bát thiên lý, xuất đồng chi sơn tứ bách lục thập thất, xuất thiết chi sơn tam thiên lục bách cửu thập.

Thử thiên địa chi sở phân nhưỡng thụ cốc dã, qua mâu chi sở phát dã, đao sát chi sở khởi dã, năng giả hữu dư, chuyết giả bất túc."

Dịch: Đại Vũ tấu lên: Có tổng cộng 5.370 danh sơn khắp thiên hạ, khoảng cách đường đi là 64.056 dặm (khoảng 32.028 km).

Những danh sơn này được phân bố ở 5 vùng núi ở phía đông, tây, nam, bắc và trung.

Bởi vậy, điều tra ghi chép chỉnh lý lại, định danh là "Ngũ tạng sơn kinh".

Ngoài ra, khắp thiên hạ còn có rất nhiều ngọn núi lớn nhỏ khác nhau, không ghi chép chi tiết.

Có 5.370 danh sơn khắp thiên hạ.

Tuy nhiên, chỉ có 447 ngọn núi được ghi lại trong "Ngũ tạng sơn kinh".

Nhiều ngọn núi đã được điều tra, nhưng chúng không được ghi lại trong 26 cuốn kinh về núi.

Đại địa (vùng đất nối liền ba châu lục châu Á, châu Phi và châu Âu) chạy từ đông sang tây, khoảng cách chim bay 28.000 dặm (từ núi Vô Cao ở điểm cực đông - ngày nay là dãy núi Ou cao 1.200 mét so với mực nước biển ở phía đông nam thành phố Morioka, Nhật Bản, đến điểm cực tây - ngày nay là cao nguyên Adrar Plateau cao 600 mét so với mực nước biển ở Mauritania thuộc khu vực phía tây châu Phi, khoảng cách chim bay là khoảng 14.000 km); từ nam đến bắc, khoảng cách chim bay là 26.000 dặm (từ điểm cực nam - này là dãy núi Drakensberg cao 3000 mét so với mực nước biển ở miền nam Nam Phi, đến núi Vô Phùng ở điểm cực Bắc - nay là dãy núi Belanga, cao hơn 200 mét so với mực nước biển ở miền bắc nước Nga, khoảng cách chim bay khoảng 13.000 km).

Núi có sông suối chảy ra, khoảng cách chim bay là 8.000 dặm (khoảng 4.000 km), địa phương có sông chảy qua, khoảng cách chim bay 8.000 dặm (khoảng 4.000 km); núi có mỏ đồng có tổng cộng 467 núi, núi có mỏ sắt có tổng cộng 3.690 núi.

Đây là cơ sở cho việc trồng trọt canh tác, kiến lập quốc gia, phân chia lãnh thổ; cũng là nguyên nhân sinh ra "qua mâu" (vì tranh chấp lợi ích dẫn đến chiến tranh), cũng là căn nguyên "đao sát" (phát động chiến tranh).

Do sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và của cải vật chất không đồng đều, khiến bách tính trong thiên hạ phân hoá giàu nghèo.

Vì vậy, người có tài cán luôn giàu có dư giả, người vụng về thì nghèo nàn thiếu thốn.

Qua đoạn văn tự này có thể thấy, trước trận đại hồng thủy, khắp thiên hạ có nhiều quốc gia và mật độ dân số rất cao.

Vì đất canh tác có hạn, mỗi quốc gia đều vì lợi ích của mình mà phát động chiến tranh xâm lược để cướp đoạt lãnh thổ và tài nguyên của nước khác.

Vũ "sống ở ngoài mười ba năm", "đi qua nhà ba lần không vào", một mình làm việc vất vả, tay cầm công cụ, xung phong đi đầu, dãi gió dầm mưa, người trông tiều tuỵ, bắp đùi không còn bao nhiêu thịt, lông trên bắp chân đều sạch bóng.

Bởi vì quanh năm suốt tháng ngâm mình trong nước, móng chân đều tróc ra hết.

Đế Nghiêu rất cảm động, ban cho ông một đàn cầm khảm ngọc dao và một thanh bảo kiếm.

Đại Vũ trị thuỷ, "mở chín núi, thông chín hồ, khơi tháo chín sông, định ra chín châu", diện tích rộng lớn, công trình to lớn, trước nay chưa từng có.

Phía tây từ sông Hắc đến cửa sông Trường Giang ở phía đông; phía Bắc từ Hà Bắc và Sơn Đông, phía nam đến trung du và hạ du sông Trường Giang, gần như bao hàm đại bộ phận lãnh thổ Trung Quốc.

Từ sông Hắc đến cửa sông Trường Giang, khoảng cách đường chim bay là 2.600 km, đi bộ vẻn vẹn trong một tuần.

Điều này là không thể vào thời điểm đó nếu không có sự trợ giúp của thần linh, chưa nói đến sự can nhiễu của nhiều loại yêu ma quái thú.

Trong khi trị thuỷ nhận được sự trợ giúp của chúng Thần.

Trải qua mười ba năm nỗ lực, khiến "nước lớn đổ về đông", đổ vào biển lớn, sự hùng vĩ của công trình đã chấn động cổ kim.

Thảm họa do trận Đại hồng thủy mang đến cho nhân loại là khủng khiếp, nhưng cũng để ba nhà thánh quân Nghiêu Thuấn Vũ khai sáng kỷ nguyên mới, đem liên minh lỏng lẻo của một vạn nước san sát nhau nhưng mạnh ai nấy làm, kiến lập thành một thiên hạ thống nhất vạn quốc, vạn bang, khai sáng tân vũ, mang đến cơ hội, cuối cùng xác lập một thiên hạ thống nhất với tên gọi Cửu châu.

Khắp chốn mừng vui

Sau khi trị thuỷ thành công, Đại Vũ dự định đích thân đến Côn Luân để báo cáo lên Thiên Đế, bái tạ Tây Vương Mẫu.

Lúc này, Tây Vương Mẫu phái sứ giả tới đón tiếp Đại Vũ.

Ở núi Côn Luân, Tây Vương Mẫu phụng lệnh Thiên Đế mở tiệc chiêu đãi Đại Vũ cùng chúng thần, chúng thần từng nhiều lần tham gia hiệp trợ Đại Vũ trị thuỷ, có thể nói là quần tiên đại hội tụ, cộng đồng chúc mừng trị thuỷ thành công.

Tây Vương Mẫu nói, trị thuỷ đại thành công, là ý chỉ của Thiên Đế, bản thân cũng là phụng theo ý chỉ của Thiên Đế mà làm, là dựa vào uy lực vĩ đại của Thiên Đế.

Từ đó về sau, trời trong, đất hòa, vũ trụ trên dưới, cùng hưởng phúc thái bình.

Vì để ca ngợi công lao trị thuỷ của Đại Vũ, Nghiêu Đế đã lệnh cho Thuấn tặng Vũ một miếng ngọc bích màu đen tượng trưng cho màu của nước để tuyên bố với thiên hạ trị thuỷ thành công.

"Thượng thư - Vũ Cống" viết: "Vũ được ban ngọc khuê Nguyên, tuyên cáo thành công", Sớ viết: "Công lao trị thủy, đem lại lợi ích khắp bốn biển, đều là công của Vũ.

Nguyên là màu của trời, trời gọi là Nguyên, do đó ngọc khuê sắc nguyên là để tỏ rõ công lao của Vũ.

Thiên hạ từ đó Thái bình, yên định".

"Thần Châu" không chỉ là cách xưng hô một địa khu, mà còn có những yếu tố nội tại của nó, có nội hàm thâm hậu về hệ thống tư tưởng, văn hóa, đạo đức khác hẳn với những nơi khác.

Nơi đây được mệnh danh là quê hương của các vị Thần, do các vị Thần tạo cho con người.

Nơi đây có nền văn hóa Thần truyền; có quy phạm hành vi đạo đức Thần đặt định cho con người.

"Trung Quốc" là trung tâm của thế giới, cũng là thể hiện sự an bài của Thần.
 
Nghiêu Thuấn Vũ
(P- 8): Thuấn kế vị nhất thống thiên hạ


Hát xong, Đế Thuấn nói: "Nay trẫm đã tuổi tám mươi, lưu luyến ngai vàng, mà không tìm người kế ngôi, chính là xem thiên hạ là của riêng mình, trẫm ăn nói thế nào với các vị tiên đế?

Huống chi thiên hạ không phải là của một người, vừa rồi tất cả đã thấy chư Thần mách bảo rồi".

Chương 6 Thuấn kế vị nhất thống thiên hạ.

Thuấn được bổ nhiệm phụ trách chính sự trong hai mươi năm, vua Nghiêu để ông thay mặt Thiên tử điều hành chính sự, nhiếp chính trong tám năm.

Sau khi Nghiêu Đế băng hà, Thuấn thủ tang trong ba năm.

Thuấn để lại ngôi vị cho con trai Nghiêu Đế là Đan Chu, rồi thoái về trú ở phía nam sông Nam.

Nhưng các chư hầu trong thiên hạ đều triều kiến Thuấn, khi có việc họ tìm đến Thuấn chứ không gặp Đan Chu.

Thuấn cảm thấy đó là ý Trời, vậy nên, vào ngày mồng một tháng Giêng, Thuấn làm lễ tế ở Văn Miếu lên ngôi Thiên tử, đóng đô ở Bồ Phản, quốc hiệu Hữu Ngu, sùng chuộng màu đỏ.

Theo "Trúc thư kỷ niên": "Thuấn kế ngôi vị, cỏ minh giáp mọc lên ở bậc thềm, phượng hoàng làm tổ ở sân, ông dùng đá tấu nhạc Cửu Thiều, trăm loài thú nhảy múa theo, sao Cảnh mọc từ chòm sao Phòng, mặt đất xuất hiện Thần mã thừa hoàng" thiên hạ thái bình, muôn ngàn điềm lành đều tụ hội".

Khi Đế Thuấn mới bắt đầu kế vị, sao Cảnh mọc từ chòm sao Phòng.

Chòm sao Phòng là một trong bảy chòm sao ứng với Thanh Long ở phương Đông.

Sao Cảnh là ngôi sao báo điềm lành, hiển thị đế vương thụ Thiên mệnh, quân vương có Đạo, không có tư tâm.

1.

Tây Vương Mẫu đến triều đình

Theo "Đế Vương thế kỷ", khi Thuấn Đế đăng cơ, Tây Vương Mẫu đã đến chúc mừng, "Tây Vương Mẫu ngưỡng mộ đức của Thuấn, đến tặng vòng ngọc trắng và ngọc quyết, và tặng địa đồ rất hữu ích."

Theo "Trúc thư kỷ niên": "Năm thứ 9, Tây Vương Mẫu đã đến triều đình."

"Tặng vòng ngọc trắng và ngọc quyết"

Trước khi rời đi, Tây Vương Mẫu nói với Vua Thuấn rằng, chúng ta sau này còn gặp lại.

2.

Hoạch định phương án nhất thống

Sau khi lên ngôi, vua Thuấn bổ nhiệm người tài, hoàn thiện chế độ quản lý.

Bổ nhiệm Vũ làm chức Tư không, phụ trách bá quan; Tiết làm Tư đồ, quản lý giáo hoá, Hậu Tắc chủ quản nông nghiệp, Cao Đào quản lý tư pháp.

Lũ lụt bình ổn, Cửu Châu liên thông, việc thống nhất thiên hạ được lên chương trình nghị sự, tiếp tục hoàn thiện ngũ hình (năm hình phạt), phổ biến giáo hoá đạo đức và ngũ điển, khôi phục ngũ tín (tước Công cầm ngọc hoàn khuê, tước Hầu cầm ngọc thư khuê, tước Bá cầm ngọc cung khuê, tước Tử cầm ngọc cốc bích, tước Nam cầm ngọc bồ bích), chế định phép tắc giữa quân chủ và bề tôi, còn chế định sáu đại cương thống nhất thiên hạ, thống nhất lịch pháp và tứ thời tương ứng, thống nhất âm luật và đo lường.

3.

Dùng đức giáo hóa tộc Hữu Miêu

Trong nháy mắt, Thuấn đã ngoài tám mươi tuổi, ngoài việc chính sự bận rộn, ông còn chuyên cần tu đạo, có chí tu thành Tiên.

Nhưng vẫn còn hai việc vẫn chưa giải quyết.

Việc đầu tiên là truyền ngôi cho Vũ.

Việc thứ hai là nước Tam Miêu vẫn luôn không an định.

Trước đây, cuộc nổi loạn của Tam Miêu vào thời vua Nghiêu đã được dẹp yên, nhưng hiện nay chúng lại quay lại thực hiện chính sách ngu dân, tàn bạo với dân và chống lại triều đình.

Đế Thuấn không muốn đem một thiên hạ bất ổn như vậy giao cho Vũ, ông muốn muốn bình ổn rồi mới giao lại cho Vũ.

Trước sự nổi loạn của tộc Miêu, Vũ thỉnh cầu dẹp đánh nước này, Thuấn nói: "Ta đức không dày, mà cầm binh, thì không đúng với đạo."...

4.

Nhường ngôi cho Đại Vũ

Sau khi hàng phục Tam Miêu, việc quan trọng là nhường ngôi cho Đại Vũ.

Một hôm, Đế Thuấn thấy năm cụ già đi đi lại lại gần cửa thành, chỉ thấy họ mày râu trắng muốt, mũ áo đẹp khác thường.

Đế Thuấn nhớ lại nói: "Lần trước cùng Đế Nghiêu ở núi Thú Sơn, có năm ông lão du ngoạn bên sông nói với chúng ta rằng Hà Đồ sẽ đến, rồi bỗng nhiên biến thành sao băng bay lên cao, chẳng phải là họ sao?

Giờ họ lại tới nhân gian dạo chơi.

Ta không thể bỏ lỡ việc gặp mặt họ."

Rồi ông đi về phía họ cung kính nói: "Năm vị Tinh Quân, thật hiếm khi lại giáng lâm trần thế, được gặp mặt thật là vinh hạnh."

Năm ông lão liền nhanh chóng phủ nhận.

Đế Thuấn thấy họ không thừa nhận, cũng không biết phải làm sao, đành mời họ đến nơi dưỡng lão của học đường để phụng dưỡng.

Năm ông lão đồng ý.

Đế Thuấn bái họ làm sư lễ nghi tôn kính đối với họ, thường xuyên tới thỉnh giáo họ.

Vào năm Đế Thuấn thứ mười bốn, một hôm, khi Đế Thuấn và bá quan chơi nhạc "Thiều", đột nhiên, thời tiết thay đổi mạnh, sấm sét rung chuyển, mưa to như trút nước, cuồng phong nổi lên, cây lớn bật gốc.

Trong cung điện, nhạc cụ rơi đổ vung vãi khắp nơi.

Những nhạc công và vũ công không thể đứng vững, ngồi sụp xuống dưới đất.

Đế Thuấn vẫn điềm nhiên ung dung ngồi đó, một tay giữ giá đỡ chuông khánh sắp rơi, một tay cầm cái hoành (dụng cụ xem thiên văn xưa), ngửa mặt lên trời nói: "Đúng, đúng, Thiên hạ này quả thực không phải là của một mình ta."

Nói rồi, ông từ từ đứng lên, chỉnh lại giá đỡ chuông khánh và đặt cái hoành xuống, chỉnh đốn mũ áo, hướng lên trời cao lễ bái, trong tâm cầu mong rằng: "Trời cao cảnh tỉnh, có lẽ là vì vấn đề thiên hạ này, ta quyết không dám tư hữu, nhất định chiểu theo Đế Nghiêu, chọn người hiền tài để truyền ngôi.

Xem xét kỹ lưỡng trong quần thần, thì không có ai có công đức lớn vượt qua Vũ, nay xin kính cẩn tiến cử Vũ với Trời, cầu Trời xem xét.

Nếu như Vũ không thể gánh vác, thì Trời hãy để mưa gió càng mạnh, sấm sét càng to, để cảnh báo con tiến cử không đúng.

Còn nếu Vũ có thể gánh vác, thỉnh Trời nhanh ngưng mưa gió, giáng xuống lúa tốt, con đang rất cấp thiết chờ lệnh Trời." ("Thượng cổ Thần thoại diễn nghĩa" của Chung Dục Long.) Lời cầu chưa dứt, sấm sét thu lại, mưa ngưng gió tạnh.

Đến khi Đế Thuấn đứng dậy, thì mây đã dần dần tản, mặt trời ló ra, bầu trời xanh trở lại.

Không lâu sau, một bầu khí mịt mù, như mây mà không phải mây, như khói mà không phải khói tràn ngập khắp cung điện tản ra.

Lại một lúc sau, bầu khí kia dần dần tụ lại, bay liên thiên không, tụ thành mây ngũ sắc, khi ánh mặt trời chiếu vào, hết sức tươi sáng, mỹ lệ không thể diễn tả.

Nhìn thấy cảnh tượng này, hết thảy mọi người đều nói: "Đây là mây báo điềm lành."

Đế Thuấn lúc đó thấy thiên nhân cảm ứng nhanh như thế, thì hết sức vui mừng, liền xuất khẩu thành một bài ca: "Mây lành xán lạn, kết tụ lượn quanh.

Nhật nguyệt rực rỡ, sáng rồi lại sáng".

Sau khi hát xong, quần thần biết rằng loại điềm lành này là do công đức to lớn của Đế Thuấn, mọi người đều tiến lên dập đầu bái lạy, cùng nhau hát, lời hát rằng "Trời cao sáng tỏ, xán lạn trời sao.

Nhật nguyệt rực rỡ, chúc mừng Thánh nhân".

Đế Thuấn nghe bài hát này, biết được ý chí của quần thần là vẫn tín nhiệm mình, nên ông đã làm một bài hát khác để bày tỏ ý định thoái vị của mình, để quần thần hiểu ý mình.

Ca từ như sau: "Nhật nguyệt trường tồn, tinh tú vận chuyển.

Bốn mùa tuần hoàn, muôn dân thành tín.

Tấu nhạc hài hòa, cầu chúc Thần linh.

Nhường ngôi Thánh hiền, thiên hạ hoan hỉ.

Gióng trống khua chiêng, nói cười nhảy múa.

Tinh hoa đã hết, vén áo ra đi".

Hát xong, Đế Thuấn nói: "Nay trẫm đã tuổi tám mươi, lưu luyến ngai vàng, mà không tìm người kế ngôi, chính là xem thiên hạ là của riêng mình, trẫm ăn nói thế nào với các vị tiên đế?

Huống chi thiên hạ không phải là của một người, vừa rồi tất cả đã thấy chư Thần mách bảo rồi".

Đế Thuấn cũng giống như Đế Nghiêu năm xưa đi đến sông Lạc để cầu Thần mách bảo.

Sau khi trai giới tắm rửa, Đế Thuấn dẫn quần thần đăng đàn, mặc niệm cầu khấn.

Cầu khấn xong, cung kính đứng trên đàn chờ lệnh.

Một lúc lâu sau, chợt thấy ở ngoài đàn có một vật chuyển động, nhìn kỹ thì thấy hoá ra là một con rồng vàng rực rỡ, trên lưng mang một bức vẽ, dài chừng 32 thước, rộng khoảng 9 thước.

Con rồng này đến phía trên đàn, nghiêng lưng để bức vẽ rơi trước mặt Đế Thuấn, rồi lập tức nhảy xuống nước biến mất.

Đế Thuấn và quần thần nhìn kỹ bức vẽ kia, nẹp bằng ngọc vàng, khung bằng ngọc trắng, kết bằng dây vàng, phết bằng tử chi, ở trên là một ấn chương đóng ngay ngắn với năm chữ lớn "Thiên Hoàng Đế phù tỷ" (Con dấu ngọc tỷ của Thiên Đế).

Mở bức vẽ ra xem đại ý của văn tự viết trong đó là nên truyền thiên hạ lại cho Vũ.

Lúc này chợt thấy năm ông lão lại xuất hiện trước xe.

Năm ông lão đồng thanh cười và nói: "Giờ biết vua thoái vị đã định được người kế ngôi, từ nay xin hãy nghỉ ngơi, sau này còn gặp lại".

Dứt lời, mỗi người đều lắc mình, rồi đột nhiên biến mất, một hồi lâu sau biến thành năm vì sao lớn, xếp thành hàng chỉnh tề trên bầu trời, kết thành một chuỗi ngọc châu, thường gọi là "Ngũ tinh liên châu", là một thiên tượng rất hiếm gặp.

Năm sau, có Thanh Long xuất hiện ở ngoại thành.

Mùa đông năm Đế Thuấn thứ 42, khi tiết trời sương xuống, cỏ cây vẫn xanh thẳm như cũ, không hề khô héo, mọi người rất ngạc nhiên.

Vũ nói: "Đây là do Mộc khí quá cường."

Đế Thuấn nghe xong cười nói: "Đó là ứng với khanh đó.

Khanh đức tại Mộc.

Trước đây khi Thanh Long xuất hiện, màu xanh thuộc về Mộc, những năm sau cây cối rất tươi tốt, cũng là dấu hiệu của Mộc.

Xem ra, khanh có thể kế ngôi vị thay cho trẫm."

Một thời gian sau, lại có thần Chúc Dung giáng xuống núi Sùng Sơn.

Chúc Dung là vị Thần lửa, mọi người cho rằng chính nhờ khí Mộc thịnh mà khiến cho Hoả thịnh.

Đế Thuấn biết rằng sự xuất hiện của loạt các sự kiện như vậy là điềm báo rằng Vũ sẽ hưng thịnh.

Vua Thuấn nói với Vũ rằng: "Khanh trị thuỷ hoàn thành, có công lớn khắp thiên hạ.

Có thể cần lao với tổ quốc mà buông bỏ hạnh phúc cá nhân, không tự mãn tự đại, đức hạnh mỹ hảo.

Thượng Thiên đã giao phó sứ mệnh cho khanh"

Nhưng Vũ vẫn muốn từ chối.

Đế Thuấn nói, ý Trời như vậy, đừng từ chối nữa.

Đế Thuấn đã chọn ngày đầu tiên của tháng giêng, tại miếu Thần Tông Đế Nghiêu nhường ngôi cho Vũ, tất cả nghi lễ đều giống như lúc Đế Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn trước đây.

Đế Thuấn ân cần dặn dò Vũ rằng: "Cần đối đãi thận trọng với ngôi vị của vua, làm việc theo nguyện ý của nhân dân."

Sau khi nhiếp chính, Vũ bàn bạc để khôi phục quy chế Cửu Châu.

Khi Đại Vũ trị thuỷ, đã lên kế hoạch triều cống của Cửu Châu một cách hợp lý, nay thụ mệnh nhiếp chính, đầu tiên khôi phục quy chế Cửu Châu, tiếp tục ban hành luật triều cống được quy định trước đó cho các chư hầu.

Loại biện pháp này của Đại Vũ gần như là trung ương tập quyền.

So với việc Đế Thuấn ban hành Ngũ khuê, bích, phù, tín... thì Vũ còn tiến hơn một bước, kia vẫn là thống nhất trên danh nghĩa, giờ đây không chỉ phải thực thi triều cống trên danh nghĩa, mà trên thực tế mỗi năm phải mang một số lượng nhất định vật phẩm tới cống nạp cho triều đình.

Số lượng và chủng loại vật phẩm đều do triều đình chỉ định, không thể thoái thác.

Chư hầu nếu không phục tùng triều đình, lúc trước có thể nhìn không thấu tỏ, giả như chư hầu đó tuy rằng trên thực tế đã làm phản, nhưng không biểu hiện ra mặt, cũng chỉ đành tuỳ hắn ta thôi.

Nhưng nay mỗi năm phải cống nạp bao nhiêu vật phẩm, nếu vật phẩm không đến triều đình, thì cũng chính là phản bội.

5.

16 chữ tâm pháp "Thánh nhân tâm truyền"

Đế Thuấn truyền ngôi cho Đại Vũ, còn truyền lại cho Đại Vũ 16 chữ tâm pháp, được gọi là "Thánh nhân tâm truyền", là "nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung" (Nhân tâm nguy hiểm khó lường, Đạo tâm vi diệu khó tỏ tường, chỉ có toàn tâm toàn ý chuyên nhất, thành tâm thự hành Đạo trung chính, thì mới tu thân trị quốc được).

Đây là nguyên tắc quản lý quốc gia và tu dưỡng đạo đức cá nhân được tương truyền muôn đời của Nghiêu - Thuấn - Vũ.

"Nhân tâm duy nguy" là chỉ nhân tâm có rất nhiều chủng loại, tham sân si ái, tình cảm nam nữ, hết thảy đều là nhân tâm.

Dưới sự chi phối của sắc, danh lợi, đố kỵ; nhân tâm trở nên nguy hiểm nhất, vậy nên, nhất định phải cẩn trọng giữ vững tâm tính.

"Đạo tâm duy vi" là nói rằng tâm đạo là vô cùng vi diệu.

Đạo tâm chính là tâm tự nhiên của trời đất, cũng chính là bản tính tiên thiên.

Nhân tâm chiến thắng Đạo tâm, thì sẽ sa đọa mà thành kẻ tiểu nhân; nếu Đạo tâm chiến thắng nhân tâm, thì sẽ thăng hoa trở thành người quân tử, thậm chí xuất phàm nhập thánh.

"Duy tinh duy nhất" là nói rằng tập trung tinh thần để lĩnh ngộ tâm đạo, giữ tâm chuyên nhất, giữ vững bản tính tiên thiên (tức là đạo tâm)

"Doãn chấp quyết trung", "Doãn chấp" chính là nói rằng bình tâm tĩnh khí, tĩnh quan chấp thủ, không xa rời bản tính tự nhiên, giữ vững đạo tâm, công bằng vô tư.

Mười sáu chữ này dường như chỉ là tâm pháp an bang trị quốc, trên thực tế cũng là tâm pháp tu luyện tu thân dưỡng tính.

6.

Đế Thuấn thăng thiên

Trong những năm cuối đời, Đế Thuấn trong việc tu Đạo đã có căn cơ.

Một lần, Thuấn đến tuần sát địa khu Vũ Di, gặp hai người con trai của Bành Tổ, họ đã nói chuyện rất nhiều về việc tu Đạo.

Một lần, Đế Thuấn gặp được Chân nhân Nguyên Tú ở núi Hoa Lâm, Chân nhân Nguyên Tú giảng giải tường tận cho ông làm sao để luyện công đạo dẫn dưỡng sinh và thuật thoát thai hoán cốt.

Năm thứ năm mươi, Đế Thuấn đến được Minh Điều.

Vua Thuấn yêu thích cảnh núi non thanh tĩnh nơi đây, liền gọi người dựng mấy gian nhà, rồi từ đó ở lại đây, không trở về Bồ Phản nữa.

Đó cũng là Đế Thuấn học theo Đế Nghiêu xây cung nghỉ dưỡng, tránh xa đô thành, để cho Bá Vũ độc lập làm theo ý chí của mình.

Khi Đế Thuấn đi cùng thị vệ ở Yến Long, đi tới chân núi Thương Ngô, trên đường gặp một người, người đó tự xưng là Hà Hầu, là một ẩn sĩ.

Đế Thuấn cùng tuỳ tùng đều lấy làm kinh hãi, Đế Thuấn thất kinh hỏi: "Ngài là ẩn sĩ ở Thương Ngô.

Tôi theo học sư phụ Hứa Do, thật là thất kính, thất kính!

Làm sao ngài biết chúng tôi hôm nay sẽ đi ngang qua nơi này?"

Hà Hầu nói: "Sư phụ của tôi là Xích Tùng Tử hôm trước nói, thời điểm Thánh thiên tử thăng thiên sẽ nhanh đến thôi, vậy nên tôi tới dưới núi này nghênh đón Thánh giá".

Thế rồi Đế Thuấn cùng tuỳ tùng đi vào nhà mái lợp tranh của Hà Hầu.

Hà Hầu ghé vào bên tai Đế Thuấn khe khẽ nói điều gì đó.

Cuối cùng chỉ nghe Đế Thuấn nói: "Có thể!

được!"

Hà Hầu nói: "Ngày mai đại cát, đến ban đêm là có thể đi."

Đế Thuấn liên tục gật đầu.

Ngày hôm sau, Đế Thuấn cầm mấy thẻ tre, nhấc bút lên, viết mấy câu lên trên, rồi đặt trên bàn.

Đế Thuấn gọi tuỳ tùng chuẩn bị nước tắm, tắm rửa xong, thay bộ đồ mới.

Chờ đến khi gần khuya, Đế Thuấn gọi tuỳ tùng đến dặn bảo: "Đêm nay trẫm sẽ thăng thiên, thường hằng tu luyện cuối cùng cũng đắc chính quả.

Đợi sau khi trẫm thăng thiên, các ngươi có thể lập tức về đế đô thông báo.

Trẫm còn để lại mấy bức di thư, có thể mang đi làm bằng chứng, tất cả lời nói đều viết rõ trên đó."

Ngoài ra ông không nói gì nữa.

Tuỳ tùng đành phải đáp lại vâng vâng.

Một lúc sau thì đến hoàng hôn, trên bầu trời hiện lên những ráng mây đỏ rực rỡ, tiếng nhạc vang lên, hương thơm kỳ lạ toả ra.

Chỉ thấy những đám mây đầy màu sắc lượn lờ ở phía tây bắc, dường như có vô số Tiên nhân, mỗi người cầm một loại nhạc khí đến, phía sau còn có xe ngọc dao, càng ngọc, tinh kỳ cầu vồng, lọng lông vũ, Tiên nhân bao quanh tứ phía, từ từ hạ xuống.

Đế Thuấn và Hà Hầu cũng bước ra khỏi nhà tranh, chắp tay chào nhau.

Các vị Thần Tiên đến trên mặt đất, trong đó có một vị chắp tay về phía Đế Thuấn nói: "Ta phụng mệnh Thiên Hoàng, vì công đức của ông ở nhân gian đã tròn đầy, được thoát khỏi trần thế, nên đến để nghênh đón ông trở về thiên giới Côn Luân" Đế Thuấn lập tức lên xe.

Xe ngọc dao, càng ngọc dần dần thăng thiên, Đế Thuấn vẫy tay tuỳ tùng ra đi.

Thuấn kế Nghiêu đăng ngôi thiên tử khi 61 tuổi, hưởng thọ 110 tuổi, tại vị 50 năm.

Mộ y quan của Thuấn được chôn ở núi Cửu Nghi ở bờ nam sông Trường Giang, chính là Linh Lăng.

Đế Thuấn ở vào thời kỳ quá độ quan trọng giữa Nghiêu và Vũ, ông chủ trương lấy đức trị dân, lấy nhân thi hành chính sự, lấy lễ quản giáo con người, lấy thiện hội tụ lòng dân.

Phẩm đức cao thượng, hiếu đễ trung tín mà ông thể hiện ra được hậu thế tôn sùng.

Luân lí đạo đức mà ông khởi xướng trở thành quy phạm đạo đức và chuẩn tắc hành vi của con người.

Văn hoá truyền thống lấy đạo đức làm hạch tâm mà ông đặt định, trải qua hơn 4000 năm bãi bể nương dâu vẫn lấp lánh ánh hào quang, như vầng nhật nguyệt, đồng tồn với trời đất.
 
Nghiêu Thuấn Vũ
P-9: Khai sáng kỷ nguyên mới Hoa Hạ


Vũ trị thuỷ thổ, từ đó bình định Cửu Châu, từ đây thiên địa hợp số, vũ trụ có trật tự, kiến lập trật tự vận hành mới của thiên địa, cuối cùng hoàn tất quá trình sáng lập Thần Châu.

Vạn dân trong thiên hạ đều được sống trong thái bình, uy đức giáo hoá vương đến tận biên thuỳ xa xôi, công đức cao như nhật nguyệt

1.

Hồng phạm cửu trù

Sau khi Đế Thuấn hồi thiên, sau ba năm để tang, Vũ đã để lại đế vị cho con trai của Thuấn là Thương Quân, lui về ở ẩn ở Dương Thành.

Nhưng chư hầu trong thiên hạ đều không đến triều bái Thương Quân, mà đến triều bái Vũ.

Vũ kế vị Thiên tử, lấy quốc hiệu là Hạ.

Sau khi kế vị, đầu tiên Vũ tế tự Thiên địa Thần linh.

Đại Vũ dập đầu cầu Trời, Trời ban cho Vũ "Hồng phạm cửu trù".

Một hôm, Đại Vũ đến núi Hùng Nhĩ, là nơi đầu nguồn của sông Lạc, thì Thần Quy xuất hiện, đi thẳng đến phía trước Vũ, trên lưng có đồ hình và văn tự, Vũ dùng bút vẽ theo mẫu hình trên đồ hình.

Một bên là số, từ 1 đến 9, sắp xếp có trật tự, tính toán ngang dọc, kết quả nào cũng là con số tròn.

Một bên là văn tự, là: Ngũ hành, làm 5 việc quan trọng, thực thi 8 chính sách nông nghiệp, sử dụng phối hợp 5 phép ghi thời gian, đặt phép tắc tối cao, dùng 3 đức hạnh để cai quản, sáng suốt dùng xem bói giải nỗi nghi hoặc, nghiên cứu tỉ mỉ các dấu hiệu thời tiết dự tính tương lai, dùng ngũ phúc (5 thiện báo) cổ vũ dân chúng hướng thiện, dùng lục cực (6 ác báo) khuyên dân chúng bỏ điều ác.

Khi nhàn hạ, Vũ thường đem Lạc Thư này ra nghiên cứu, đem nó xếp lại theo trật tự, phân thành 9 loại, và giải thích thêm cho hoàn thiện, chính là "Hồng phạm cửu trù."

"Hồng phạm cửu trù", là chín trách nhiệm của Thiên tử, cũng là chín thượng sách trị vì thiên hạ.

Cụ thể: Thứ nhất là ngũ hành, thứ hai là năm điều tôn nghiêm, thứ ba là tám chính sách nông nghiệp, thứ tư là sử dụng phối hợp 5 phép ghi thời gian, thứ năm là đặt phép tắc tối cao, thứ sáu là dùng tam đức để cai trị, thứ bảy là sáng suốt dùng xem bói giải nỗi nghi hoặc, thứ tám nghiên cứu tỉ mỉ các dấu hiệu thời tiết dự tính tương lai, thứ chín là ngũ phúc (5 thiện báo) cổ vũ dân chúng hướng thiện, dùng lục cực (6 ác báo) khuyên dân chúng bỏ điều ác.

2.

Đúc Cửu đỉnh thống nhất Hoa Hạ

Sau khi Vũ lên ngôi, chư hầu trong thiên hạ tụ họp về Đồ Sơn.

Để kỷ niệm lần thịnh hội này, Đại Vũ quyết định đem đồng thanh từ các nơi cống nạp đúc thành Cửu đỉnh (9 vạc lớn).

Đồng cống nạp của châu nào, thì đem đúc thành một đỉnh của châu đó, và khắc lên bề mặt hình thế núi sông của châu đó, ngoài ra còn khắc lên đỉnh những đồ vật và cầm thú kỳ lạ gặp được lúc trị thuỷ trước đây, mỗi đỉnh biểu tượng cho một châu, Cửu đỉnh biểu tượng cho Cửu châu.

Trong đó, đỉnh của Dự châu làm đỉnh lớn ở trung tâm.

Cửu đỉnh được đặt ở đô thành triều Hạ, biểu tượng Đại Vũ chính là chủ nhân của Cửu Châu, thiên hạ từ đây thống nhất.

Sau đó Cửu đỉnh trở thành biểu tượng của "Thiên mệnh", là bảo vật trấn quốc, tượng trưng cho quyền lực do Thần ban cho Hoàng đế.

Nhà Hạ diệt vong, Cửu đỉnh chuyển cho nhà Thương, nhà Thương diệt vong, Cửu đỉnh chuyển sang nhà Chu, được truyền thừa trong ba triều đại.

Tại đại hội ở Đồ Sơn, Vũ đã giết Phòng Phong là kẻ kiêu ngạo, không chịu thần phục, khiến chư hầu bội phục.

Đại Vũ đi tuần về phía nam, đến tế sông Giang, đến giữa dòng thì có hai con rồng vàng cõng thuyền lên, mọi người trên thuyền thảy đều kinh sợ.

Vũ cười nói: "Ta nhận mệnh trời ban, dùng sức mạnh để phụng dưỡng nhân dân.

Sinh là tính, tử là mệnh.

Cớ sao lo sợ rồng vậy!"

Thế rồi rồng vẫy đuôi rồi biến mất.

3.

Hình thức quản lý thống nhất thiên hạ

Thời kỳ trước Hạ Vũ, bao gồm cả thời kỳ Nghiêu - Thuấn, thuộc vào thời kỳ liên minh các bộ lạc, là một khối thống nhất lỏng lẻo, các tù trưởng của thị tộc và bộ lạc do các thị tộc tự chọn ra, tự quyết định việc của họ.

Sau khi triều Hạ kiến lập, vì để thống nhất quản lý chính trị, ổn định trật tự xã hội, tránh xâm phạm lẫn nhau, đã đưa ra rất nhiều biện pháp.

Phân các châu để trị.

Sự vận hành của các thị tộc và bộ lạc trước đây đều là thị tộc tự quản lý, giữa các thị tộc bộ lạc không có quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo, chỉ có quan hệ thông hôn, liên minh.

Từ thời Hoàng Đế cho đến vua Nghiêu, cái gọi là "Chủ chung của Thiên hạ", không có nghĩa vụ và quan hệ lệ thuộc mạnh mẽ.

Sau khi triều Hạ thành lập, từ hình thức thị tộc biến thành hình thức địa khu.

Người đứng đầu các châu được gọi hoặc là quốc quân phong quốc, hoặc là quốc quân phương quốc, tất cả đều do Hạ Vũ đích thân bổ nhiệm, chịu sự lãnh đạo và quản lý của triều đình.

Năm quy định cống nạp phải phục tùng.

Trước đây, các vật phẩm do các thị tộc, bộ lạc cống nạp cho "Chủ chung của Liên minh" đều mang tính chất dâng biếu, báo đáp và kết nối, không có tính nghĩa vụ và pháp định.

Sau khi triều Hạ kiến lập, căn cứ vào tình huống sản vật của các châu, mà xác định số lượng và chủng loại vật phẩm cần cống nạp của mỗi châu, đến cả thời gian và tuyến đường đi cống nạp cũng đều có quy định.

Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ mà các phong quốc phải hoàn tất, là một loại quy định mang tính chất pháp luật, không thể thương lượng.

"Thượng Thư - Vũ Cống" ghi lại rằng, Vũ đưa ra luật "Ngũ phục cống phú".

Việc thu thuế, triều đình cưỡng chế...

Việc cống nạp, các chư hầu tự giác cống nạp lên triều đình.

"Vũ cống" quy định rằng 500 dặm bên ngoài quốc đô gọi là Điện Phục, tức là địa khu..., trong vòng 100 dặm gần vương thành phải nộp thuế tất cả các loại hoa màu liền thân, từ 100 dặm đến 200 dặm phải nộp thuế bông lúa, từ 200 đến 300 dặm phải nộp thuế ngũ cốc, từ 300 đến 400 dặm phải nộp thuế gạo thô, từ 400 đến 500 dặm phải nộp thuế gạo tinh.

Khu vực ngoài Điện Phục 500 dặm là Hầu Phục, tức là địa khu mà quốc gia và Thiên tử phục sai dịch.

Khu vực gần Điện Phục 100 dặm là đất của đại khanh, tiếp đó cho đến phạm vi 200 dặm là tiểu phong quốc, lại tiếp đó đến phạm vi 300 dặm là đất phong của chư hầu.

Khu vực 100 dặm gần Điện Phục nhất thế thiên tử phục sai dịch, khu vực 200 dặm đảm nhận sai dịch của quốc gia, khu vực 300 dặm đảm nhận công tác trinh sát.

Khu vực bên ngoài Hầu Phục 500 dặm là Tuỳ Phục, tức là địa khu chịu sự trấn an và phổ biến giáo hoá của Thiên tử.

Khu vực gần Hầu Phục nội trong 300 dặm cân nhắc phổ biến chuẩn mực lễ nhạc, giáo dục,vv ; tiếp đến phạm vi cách Hầu Phục 200 dặm phải tuân thủ các các điều ước của Vương pháp.

Khu vực bên ngoài Tuỳ Phục 500 dặm là Yếu Phục, tức là địa khu chịu sự ước thúc của Thiên tử, tuân lệnh Thiên tử.

Khu vực tiếp cận Tuỳ Phục 300 dặm phải tuân thủ giáo hoá, chung sống hoà bình; khu vực nội trong 200 dặm tiếp phải tuân thủ các điều ước của Vương pháp.

Khu vực bên ngoài Yếu Phục 500 dặm là Hoang Phục, tức là địa khu hoang vắng xa xôi mà Thiên tử bảo vệ.

Khu vực tiếp cận Yếu Phục trong vòng 300 dặm, duy trì quan hệ lệ thuộc; khu vực nội trong 200 dặm tiếp theo, việc tiến cống hay không có sự linh hoạt không cố định.

Thống nhất lịch pháp.

Lịch pháp bắt nguồn từ việc quan trắc thiên văn, thiên tượng, từ thời Phục Hy cho đến Nghiêu-Thuấn-Vũ, đều ưu tiên hàng đầu việc quan trắc thiên tượng, nắm vững quy luật vận hành của trời đất nhật nguyệt tinh tú, điều hoà âm dương bốn mùa.

Cách ghi ngày, tháng, năm theo can chi của truyền thống Trung Hoa đã bắt nguồn từ rất sớm, cho đến thời kỳ Nghiêu-Thuấn, lịch pháp đã được đổi mới và thống nhất Thời cổ đại mỗi một triều hưng khởi thì cần phải sửa lại ngày đầu tiên của năm, thống nhất lịch pháp.

Sau khi triều Hạ thành lập, lịch của nhà Hạ được ban hành cho tất cả các nước, chính là "Hạ Tiểu Chính".

Căn cứ theo phương vị mà chuôi sao Bắc đẩu chỉ khi xoay chuyển mà xác định tháng, lấy vị trí chuôi sao Bắc Đẩu chỉ về hướng đông nghiêng về phương bắc để đánh dấu tháng "Kiến Dần", tức tháng giêng, mỗi 12 tháng tính là một năm.

Lịch của triều Hạ dựa theo trình tự 12 tháng, mô tả riêng về tinh tượng, khí tượng, vật tượng cùng nông sự và chính sự nên làm của mỗi tháng, để thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp.

Cứ 3 năm, lại có thêm một tháng nhuận, năm đó còn gọi là năm nhuận, năm nhuận có 13 tháng, để cân đối quan hệ giữa lịch theo chu kỳ mặt trời và chu kỳ thiên văn.

Lịch của triều Hạ về cơ bản vẫn được dùng cho đến hiện nay.

Xây thành thiết hào.

Vào thời cổ đại, thành chính là quốc gia.

Thành quách thời Hạ đã có hệ thống nhất định, cổng thành, đường ngõ, phòng xá, đều có bố cục nhất định.

Chế định Vũ hình.

Theo ghi chép, hệ thống pháp luật của triều Hạ chủ yếu bao gồm hình pháp và quân pháp.

Người đời sau nghiên cứu thuật lại rằng, vào triều Hạ đã có 3000 điều hình pháp.

4.

Công thành viên mãn, Đại Vũ hồi Thiên

Đại Vũ cai trị Cửu Châu, bình ổn thuỷ thổ, sáng lập mảnh đất Thần Châu, đúc Cửu đỉnh thống nhất Hoa Hạ.

Xác lập chế độ cống nạp, kiến lập và hoàn thiện thể chế quản lý, vương đạo đầy đủ.

Đại Vũ đối với việc tu đạo cũng rất có tâm đắc, ông đã viết ba bộ sách: "Chân linh bảo yếu tập", "Thiên quan bảo thư" và "Linh bảo trường sinh pháp".

Vẫn còn một số việc chưa hoàn thành, đó là

trong quá trình trị thuỷ Vũ đã có được rất nhiều bảo vật, có cái cần trả về chỗ cũ, có cái cần phong kín cất giấu lại, không thể phân tán trên thế gian.

Cuối cùng Đại Vũ quyết định, ngoài cuốn bảo thư do Tây Thành Vương Quân năm đó tặng sẽ trả về chỗ cũ là sơn động Vương Ốc ra, thì các bảo vật khác, bao gồm cả ba bộ sách mà ông viết, tất cả đều đem đi cất giấu trong núi ở các nơi, để chờ đợi người có duyên.

Sau khi Đế Vũ kết vị làm Thiên tử, chọn Cao Đào làm người kế vị, tiến cử ông với Thượng Thiên, và truyền thụ lại việc quốc chính cho ông, nhưng Cao Đào đã là nguyên lão của ba triều đại, tuổi tác so với Vũ còn lớn hơn, chưa kịp kế vị thì đã chết, Vũ lại chọn Ích, Ích có công phò tá Vũ trị thuỷ, nhưng không có kinh nghiệm cai quản bá quan.

Sau bảy năm, Vũ Đế đến phương đông thị sát, đến Cối Kê.

Tại đó, Thượng Thiên phái một vị Thiên thần cưỡi rồng nghênh đón Đại Vũ hồi thiên.

Sau ba năm để tang, Ích cũng như Vũ và Nghiêu, muốn đem ngôi vị để lại cho con của Vũ là Khải, tự mình tới phía nam núi Ky ẩn cư.

Khải - con trai của Vũ, là người hiền đức, lòng người trong thiên hạ đều quy hướng về ông.

Tuy rằng Vũ truyền ngôi cho Ích, nhưng Ích chỉ phò tá Vũ trong thời gian ngắn, cho nên, chư hầu đều rời khỏi Ích mà đi triều bái Khải, nói rằng: "Đây là con trai của Vũ Đế, bậc quân vương của chúng tôi."

Thế nên Khải đã kế thừa ngôi vị Thiên tử, đó chính là Hạ Đế Khải.

* * *

Những điều mà ba vị Thánh quân Nghiêu - Thuấn - Vũ cùng nhau diễn dịch là cảnh tượng mỹ hảo có thể đạt được khi đạo đức cao thượng: Con người kính Thiên trọng đức, thần tích thường triển hiện ở thế gian; đế vương nhường ngôi mà kế vị, người được bổ nhiệm cần có đức, và trải quả nhiều khảo nghiệm, còn phải tiến cử với Trời, khi đạt được hồi đáp điềm lành của Thượng Thiên thì mới long trọng cử hành nghi lễ truyền ngôi kế vị.

Con người tu thân dưỡng tính, thường tìm đến các bậc cao nhân đắc đạo để xin thỉnh giáo, thậm chí có thể được các thần tiên trực tiếp chỉ đạo; con người dưới sự bang trợ và chỉ dẫn trực tiếp của thần mà vượt qua quan nạn, và đạt được những kỳ tích mà thậm chí đến ngày nay cũng khó tưởng tượng được....

Vậy nên mọi người biết được một cách xác thực rằng, đây là thời đại con người và Thần cùng tồn tại, Thần Châu thật sự là nơi thân đến và đi, văn hoá Trung Hoa là văn hoá Thần truyền cấp cho con người.

Kết luận

Nghiêu phụng thiên mệnh, lấy nhân từ bác ái gieo tấm lòng son khắp thiên hạ, dùng đức bao bọc chúng sinh trăm họ.

Dưới sự lan truyền cảm hứng và giáo hoá của ông, bách tính cửu tộc bao đời nay gắn bó với nhau, bá quan đồng lòng, thành tích trác việt, vạn bang hoà thuận, thiên hạ thái bình.

Vạn quốc vạn dân ngưng tụ thành một thể, thiên hạ đồng tâm, cùng nhau hợp thành đại liên minh các bộ lạc Trung Nguyên, đặt nền móng để thống nhất thiên hạ.

Nghiêu định ra bốn mùa, sáng lập lịch pháp, khiến cho thiên địa bốn mùa có trật tự, âm dương điều hoà.

Hậu Nghệ bắn chín mặt trời, quét sạch yêu ma, tịnh hoá hoàn cảnh sinh tồn của nhân loại.

Trời ban Hà Đồ Lạc Thư cho Nghiêu, khai thị sự hưng vong của các triều đại Ngu, Hạ, Ân, Chu, Tần, Hán.

Thánh đức cảm động Trời xanh, Trời giáng 10 điềm lành để giúp Nghiêu Đế.

Sao Cảnh hiển báo điềm lành, tỏ rõ Nghiêu chính là Thần đến thế gian, khai sáng tân vũ, sáng lập nên văn hóa thần truyền 5000 năm.

Đế Thuấn ở vào thời kỳ quá độ giữa Nghiêu và Vũ, phẩm đức cao thượng, nhân ái hiếu đễ mà ông triển hiện ra, chim hồng tước hiển điềm lành, truyền lại tấm gương cho hậu thế.

Luân lý đạo đức do ông khởi xướng và phổ biến, trời thành quy phạm đạo đức và chuẩn tắc hành vi của con người.

Văn hoá truyền thống lấy đạo đức làm hạch tâm do ông đặt định, sáng ngời như vầng nhật nguyệt, truyền phúc âm cho muôn đời sau.

Ông lập ra chế độ khảo hạch thưởng phạt quan viên, chư hầu, củng cố quan hệ phụ thuộc và liên hệ giữa triều đình và chư hầu, kiến lập một bộ thể hệ hoàn chỉnh về đạo đức, pháp luật, giáo dục, khảo hạch thưởng phạt, xác lập bố cục và cấu trúc của một thiên hạ thống nhất.

Phổ biến ngũ điển, công lao sáng lập giáo dục truyền đến vạn đời sau, thiết lập hình pháp phân thành chương mục để dễ dàng chiểu theo.

Cuối cùng tu thành chính quả, đắc đạo thăng thiên.

Vũ trị thuỷ thổ, từ đó bình định Cửu Châu, từ đây thiên địa hợp số, vũ trụ có trật tự, kiến lập trật tự vận hành mới của thiên địa, cuối cùng hoàn tất quá trình sáng lập Thần Châu.

Vạn dân trong thiên hạ đều được sống trong thái bình, uy đức giáo hoá vương đến tận biên thuỳ xa xôi, công đức cao như nhật nguyệt.

Xác lập chế độ cống nạp, kiến lập thể chế quản lý hoàn chỉnh, Đế Đạo đủ đầy.

Vũ bình định Cửu Châu công lao lớn như trời đất, đúc Cửu đỉnh trấn giữ bát phương, đạo làm đế vương hưng khởi khiến tứ hải thần phục, mở ra tân vũ thống nhất vạn bang.

Thần Vũ cuối cùng viên mãn hồi thiên.

Ba vị thánh quân Nghiêu - Thuấn - Vũ kế thừa sự nghiệp của bậc tiền nhân và khai sáng cho thế hệ sau, phụng thiên mệnh giáng xuống thế gian, khai sáng tân vũ.

Tu Đạo hợp với vũ trụ tự nhiên, quy chính thiên địa bốn mùa vận hành có trật tự.

Bình ổn thuỷ thổ, điều hoà âm dương, trừ sạch yêu ma, quét sạch hoàn vũ, khai sáng và định ra hoàn cảnh sinh tồn của nhân loại, tịnh hóa không gian sinh tồn của vạn vận, thống nhất Hoa Hạ.

Lấy Đạo để đối đãi thiên hạ, ân đức rộng khắp, lấy đại đức làm đế vương của thiên hạ; sáng tạo hệ thống văn hoá thiên địa nhân hoà hợp với tự nhiên, lấy đạo đức làm trung tâm, thiên nhân hợp nhất, cùng nhau hoàn thiện quá trình sáng lập đại vũ đài mảnh đất Thần Châu, quang diệu hoàn vũ.
 
Back
Top Bottom