Cập nhật mới

Khác NGHIỆP VỤ LHHD

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
187345844-256-k560793.jpg

Nghiệp Vụ Lhhd
Tác giả: shinshinyun
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Trả lời đề



bt​
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 1 : Lịch sử hình thành , kiến trúc tổng thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám ?


® Lịch sử

 Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông (1054-1072).

Bên trong có tượng Chu Công, Khổng Tử cùng tứ phối là Nhan Tử, Tăng Tử, Tư Tử, Mạnh Tử và hình vẽ các hiền nho để thờ cúng, bốn mùa tế lễ.

Đây còn là nơi học của thái tử Lý Càn Đức và nguyên phi Ỷ Lan.

 Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây Quốc Tử Giám kề sau Văn Miếu.

Lúc đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý Đến năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận các học trò thường dân có học lực xuất sắc.

 Đến đời vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được đề cử làm quan Quốc Tử Giám tư nghiệp và cũng là thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử.

Đến năm 1370, Chu Văn An qua đời và được vua Trần Nghệ Tông cho lập ban thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.

 Sang thời Hậu Lê, nho giáo rất thịnh hành.

Vào năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ của những người đỗ đạt Tiến sĩ từ khóa thi năm 1442 trở đi.

Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa.

Hiện nay, khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám vẫn còn 82 tấm bia tiến sĩ được bảo tồn nguyên vẹn.

 Năm 1762, vua Lê Hiển Tông cho sửa lại Quốc Tử Giám làm Cơ sở giáo dục cao cấp của triều đình.

Năm 1785, Quốc Tử Giám được đổi thành nhà Thái Học.

Đến đầu thời Nguyễn 1802, vua Gia Long bãi bỏ trường, xây đền Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử và Khuê Văn Các ở phía trước Văn Miếu.

® Kiến trúc

 Văn Miếu-Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long, xưa thuộc thôn Minh Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương.

Nay thuộc thành phố Hà Nội.

Bốn mặt đều là phố, cổng chính là phố Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu.

Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54331m²

 Hiện nay quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được chia làm ba khu vực chính: 1 là Văn hồ, 2 vườn Giám và 3 là khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám đây là khu chủ thể, bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 2 : Khuê Văn Các


Khuê Văn Các là một lầu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước, do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành triều Nguyễn đương thời cho xây dựng vào năm 1805.

Gác dựng trên một nền vuông cao cân xứng có lát gạch Bát Tràng mỗi bề có chiều dài là 6,8 mét.

Để bước lên được nền vuông này phài đi qua ba bậc thang đá.

Kiểu dáng kiến trúc Khuê Văn Các rất hài hòa và độc đáo.

Tầng dưới là 4 trụ gạch vuông, mỗi cạnh của trụ có chiều dài một mét và trên các mặt trụ đều có chạm trổ các hoa văn rất tinh vi và sắc sảo.

Tầng trên là kiến trúc gỗ sơn son thếp vàng trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát có độ bền cao.

Sàn gỗ có chừa 2 khoảng trống để bắc thang lên gác.

Bốn cạnh sàn có diềm gỗ chạm trổ tinh vi.

Bốn góc sàn làm lan can con tiện cũng bằng gỗ.

Bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía.

Cửa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và những tia sáng của sao.

Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thiếp vàng 3 chữ (Khuê Văn Các).

Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi hội.

Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ thụ xanh tốt, cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong in bóng gác.

Theo quan niệm của người xưa, giếng Thiên quang hình vuông tượng trưng cho mặt đất, cửa sổ hình tròn của gác Khuê Văn tượng trưng cho bầu trời, có ý nói nơi đây là nơi tập trung mọi tinh hoa của trời đất, có ý tưởng đề cao trung tâm giáo dục văn hoá Nho học Việt Nam.

Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.

• Cửa Bi văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Thành Đức bên trái Bi văn có nghĩa là trang sức nên vẻ đẹp.

Ý nói văn chương trau chuốt sáng sủa, có sức truyền cảm thuyết phục con người.

• Cửa Súc văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Đạt Tài bên phải Súc Văn có nghĩa là văn chương hàm súc phong phú, có khả năng nuôi dưỡng vẻ đẹp của tâm hồn.

Hai cửa này cùng với gác Khuê Văn đồng thời mở đầu cho khu vực thứ hai, khu vực giếng Thiên Quang và hai vườn bia Tiến sĩ.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 3: Khu vực bia tiến sĩ ?


- Ngày 9/3/2010, trong phiên họp toàn thể thường niên lần thứ 4 Ủy ban chương trình ký ức Thế giới khu vực Châu Á- Thái Bình Dương của UNESCO (tại Macau, Trung Quốc), 82 bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê - Mạc tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được xét và ghi vào Danh mục Ký ức thế giới khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.

Ngày 25/5/2011, hệ thống bia tiến sĩ tại Văn Miếu đã chính thức được đưa vào danh sách Ký ức thế giới của UNESCO.

- 82 bia đá đặt tại khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám vinh danh tên tuổi những người đỗ trong các kỳ thi tuyển tiến sĩ triều Lê và Mạc là những di vật giá trị bậc nhất của Di tích.

82 tấm bia tương ứng với 82 khoa thi (1442- 1779), trên đó khắc tên 1307 lượt Tiến sĩ thi đỗ.

Đây là những pho “sử đá” thể hiện văn hóa giáo dục và là niềm tự hào của truyền thống hiếu học của Việt Nam.

- Bia Tiến sĩ được dựng trong khoảng gần 300 năm (1484-1780), đều được tạo bằng một loại đá xanh (thanh thạch), khai thác từ núi An Thạch, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kích thước không đều nhau cùng đặt trên lưng rùa.

Việc dựng bia được tập trung vào 3 đợt chính: đợt 1 - năm 1484, dựng 10 bia, từ khoa thi năm 1442 đến năm 1484; đợt 2 - năm 1653, dựng 25 bia, từ khoa thi năm 1554 đến năm 1652; đợt 3 - năm 1717, dựng 21 bia, từ khoa thi năm 1656 đến năm 1712.

- Trên mỗi tấm bia Tiến sĩ đều có khắc các bài văn bia (bài ký) bằng chữ Hán chứa đựng rất nhiều thông tin lịch sử.

Một bài văn bia thường gồm: Dòng tiêu đề của khoa thi (phần nối giữa trán bia và bài ký) năm tổ chức khoa thi, ca ngợi triều vua đang trị vì, tên các vị quan tham gia tổ chức khoa thi như Đề điệu, Giám thí, Độc quyển, Đằng lục..; cách thức tổ chức thi; họ tên và quê quán của những người thi đỗ; tên nhóm người tham gia dựng bia.

- 82 tấm bia Tiến sĩ với các phong cách điêu khắc, nghệ thuật trang trí khác nhau đã tạo nên một khu vườn bia mang đậm tính nhân văn và nghệ thuật.

Điều này thể hiện trên bia ở cả ba phần: trán bia, diềm bia và rùa đội bia.

Trán bia trang trí mỹ thuật, ngoài đề tài chính là “lưỡng long chầu nguyệt”, còn một số chủ đề khác rất đặc sắc và đa dạng , như: phượng, long mã - những con vật linh có trong đời sống tâm linh đã được sử dụng trang trí trên bia.

Các diềm bia như một thế giới sống động với rất nhiều hoa lá, chim muông, thậm chí có cả hình ảnh người nông dân, hình những viên quan...

được các nghệ nhân thể hiện rất có hồn.

Rùa thì không cùng một kiểu dáng.

Những bia có niên đại sớm, rồng được tạc dáng bẹt, trơn nhẵn từ các khối vuông góc cạnh, có con thì được tạc kiểu cổ rụt, đầu chếch hoặc bằng ngang mặt bẹt, mắt tròn nhỏ; những bia sau này, rùa còn có hình lục giác trên lưng, mai cong và có một gờ nhỏ chạy dọc sống lưng, vai rùa gần như vuông hẳn lại, chân tạc sơ sài.

Ngày nay, khu vườn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám, là điểm tham quan học tập thu hút rất nhiều khách tham quan trong và ngoài nước.

Du khách vô cùng thích thú và ngưỡng mộ lịch sử và văn hóa của Việt Nam đã để lại cho nhân loại hệ thống bia Tiến sĩ độc đáo và vô cùng ý nghĩa này.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 4 : Tổng quan về lịch sử hình thành Đền Ngọc Sơn , Hồ Hoàn Kiếm ?


® Đền Ngọc Sơn

Đền Ngọc Sơn được xây dựng khoảng vào thế kỷ 19.

Đây là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu ở Hà Nội.

Đền Ngọc Sơn không chỉ là một điểm du lịch tâm linh nổi tiếng mà còn là nơi mang đến cho du khách trong và ngoài nước những trải nghiệm ấn tượng.

Các sĩ tử Hà Nội cũng thường đến đây cầu nguyện để việc thi cử gặp nhiều may mắn.

Xưa kia, khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, ông đã đặt tên ngôi đền là Ngọc Tượng.

Đến thời nhà Trần, ngôi đền có tên là Ngọc Sơn.

Đền thờ này được xây dựng để thờ những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh trong kháng chiến chống Nguyên Mông.

Do lâu ngày không tu sửa nên ngôi đền sớm sụp đổ.

Đến thời nhà Lê, chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thụy Khánh trên nền đất đền Ngọc Sơn cũ.

Cuối đời nhà Lê, cung Thụy Khánh bị phá hủy.

Ông Tín Trai – một nhà từ thiện thời đó đã dùng nền cung Thụy Khánh cũ, lập ra một ngôi chùa mới, lấy tên là chùa Ngọc Sơn.

Chùa được xây quay mặt về hướng Nam, phía trước dựng một gác chuông, phong cảnh nên thơ hữu tình nên được nhiều người lui tới.

Trải qua nhiều năm tháng, ngôi chùa bị đổ nát.

Ít năm sau, con trai của ông Tín Trai nhượng lại chùa cho một hội từ thiện.

Hội tiến hành tu sửa, dỡ bỏ gác chuông chùa, cải tạo chùa thành đền thờ Văn Xương Đế Quân (Văn Xương là vị thần ở Trung Quốc, được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân).

Đền được khởi công xây dựng từ mùa Đông năm Tân Sửu đến mùa Thu năm Nhâm Dần thì hoàn thành.

Năm 1865, nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại ngôi đền.

Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh.

Ông còn cho xây thêm đình Trấn Ba, bắc một cây cầu từ bờ Đông đi vào đền, gọi là cầu Thê Húc.

Bên trái của đền ông cho dựng Đài Nghiên.

Phía Đông trên núi Ngọc Bội ông cho xây Tháp Bút, tượng trưng cho nền văn vật.

Sau khi đền được xây dựng hoàn thành, trong đền thờ thêm Lã Tổ (thần coi về thuốc chữa bệnh) và thờ Trần Hưng Đạo, một vị tướng có công với nhân dân vào đời Trần.

Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử nhưng ngày nay, đền Ngọc Sơn vẫn lộng lẫy, uy nghi giữa lòng thành phố Thủ đô.

® Hồ Hoàn Kiếm

Cách đây khoảng 6 thế kỷ, dựa theo bản đồ thời Hồng Đức thì phần lớn xung quanh kinh thành khi ấy là nước.

Hồ Hoàn Kiếm là một phân lưu sông Hồng chảy qua vị trí của các phố ngày nay như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hàng Chuối.

Tiếp đó đổ ra nhánh chính của sông Hồng .

Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành nên hồ Hoàn Kiếm hiện nay.

Thời Lê Trung hưng, khi chúa Trịnh cho chỉnh trang Hoàng thành Thăng Long để vua Lê ở đã đồng thời xây dựng phủ chúa riêng nằm ngay bên ngoài Hoàng thành và trở thành một cơ quan trung ương thời bấy giờ với những công trình kiến trúc xa hoa như lầu Ngũ Long nằm ở bờ Đông hồ Hoàn Kiếm, đình Tả Vọng trên đảo Ngọc Sơn.

Năm 1728 Trịnh Giang cho đào hầm ở vị trí phía Nam hồ để xây dựng cung điện ngầm gọi là Thưởng Trì cung.

Chúa Trịnh cho ngăn hồ lớn thành hồ Tả Vọng và Hữu Vọng.

Hồ Hữu Vọng được dùng làm nơi duyệt quân thuỷ chiến của triều đình.

Đến đời Tự Đức (1847-1883), hồ Hữu Vọng được gọi là hồ Thủy Quân, còn hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm.

Từ năm 1884, nhà nước bảo hộ Pháp cho lấp hồ Thuỷ Quân để xây dựng, mở mang Hà Nội.

Truyền thuyết kể lại rằng, khi Lê Lợi đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa chống lại quân Minh, ông tình cờ bắt được thanh gươm Thuận Thiên.

Nhờ có thanh gươm báu này mà ông thắng trận liên tiếp, lên ngôi vua đầu năm 1428.

Trong một lần cùng quần thần dạo thuyền trên hồ Lục Thủy, chợt rùa vàng nổi lên.

Khi vua tuốt gươm chỉ vào, rùa liền ngậm gươm lặn xuống đáy hồ và không nổi lên nữa.

Nghĩ rằng đó là ý trời cho mượn gươm đánh giặc mà nay thiên hạ thái bình nên sai rùa đến đòi gươm.

Từ đó, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm.

Tuy nhiên khoảng cuối thế kỉ 16, chúa Trịnh cho ngăn hồ thành hai phần tả - hữu, lấy tên là Vọng.

Sau đó đến năm 1884, hồ Hữu Vọng bị thực dân Pháp lấp đầy để mở mang thủ đô, còn hồ Tả Vọng được giữ lại chính là hồ Hoàn Kiếm (hồ Gươm) ngày nay.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 5: Tổng quan về quá trình xây dựng và kiến trúc tháp Bút và đài Nghiên trong


Kiến trúc tổng quan của đền Ngọc Sơn thể hiện khá rõ nét sự hòa hợp về tôn giáo và văn hiến qua ngàn năm lịch sử.

Đó là một điển hình về không gian và kiến trúc tuyệt tác.

Đền Ngọc Sơn được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Tam.

Bên trong đền có các câu đối, hoành phi và vật bài trí vô cùng linh thiêng.

Kiến trúc đền Ngọc Sơn thể hiện rõ nét sự hòa hợp về tôn giáo qua nhiều năm tháng lịch sử.

Cùng với Đền Ngọc Sơn, Tháp Bút – Đài Nghiên bên hồ Hoàn Kiếm trước cửa đền Ngọc Sơn cũng đều là những biểu tượng văn hóa, những công trình kiến trúc độc đáo, nổi tiếng của Thăng Long từ nhiều đời nay.

Dấu vết của ngàn năm lịch sử văn hiến dân Việt như được ghim đậm trên từng bờ tường, từng mái ngói nơi đây, cùng với chiếc cầu Thê Húc cong cong bắc ngang từ bờ đến cổng đền Ngọc Sơn khiến khu quần thể danh lam thắng này vừa cổ kính, lộng lẫy, lại vừa lạ lẫm nhưng cũng rất thân thuộc trong dáng hình Hà Nội từ những năm xưa cũ.

• Tháp bút Đền Ngọc Sơn

Trên núi Ngọc Bội, trước khi vào cổng đền, năm 1865 danh sĩ Nguyễn Văn Siêu đã cho xây một tháp đá ngoài cổng cao 9 mét, đỉnh tháp là ngọn bút lông gọi là Tháp Bút

Tháp được dựng trên ngọn núi do đá xếp, đường kính 12m, cao 4m.

Tháp vuông có năm tầng, cao 28m.

Phần thân tháp, Nguyễn Siêu tạc ba chữ “Tả Thiên Thanh” với ý nghĩa là “viết lên trời xanh” theo chiều dọc.

• Đài Nghiên Đền Ngọc Sơn

Qua Tháp Bút, đặt ngay tại khu cổng chính là một Đài Nghiên bằng đá.

Trên đỉnh Đài Nghiên có một viên đá được sử dụng để pha mực tàu viết chữ nho từ ngày xưa với hình nửa quả đào.

Phía dưới là ba con cóc được khắc nguyên tảng, liền khối với bệ gạch, ba con cóc cùng há miệng như đang cùng kề, cùng nói điều gì hân hoan sau những ngày ngậm miệng.

Mặt trước Đài Nghiên được khắc một vế đối “Kịch thiên bút thế thạch phong cao”, nghĩa là thế bút chống trời, cao như ngọn núi đá.

Câu đối chính là khí phách độc lập tự chủ, khẳng định địa thế “tri thức” của người Việt ngàn đời.

Trên Nghiên còn khắc một bài minh, nói rõ ý nghĩa việc dựng Đài Nghiên gồm 64 chữ!

Ngoài ra, ở hai bên trái và phải của Đài Nghiên, có Bảng Rồng và Bảng Hổ, tượng trưng cho hai bảng lưu danh những người đỗ đạt cao từ xa xưa.

Tháp Bút – Đài Nghiên là 2 trong 3 biểu tượng nằm trong quần thể Đền Ngọc Sơn (bao gồm cả Đình Trấn Ba) biểu trưng cho một nền văn hiến, văn chương của dân tộc.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 6: Anh chị hãy thuyết minh khái quát về Vịnh Hạ Long ( Quảng Ninh )


Dải đất hình chữ S không chỉ là quốc gia có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, tinh thần dân tộc kháng chiến mà thiên nhiên ưu ái cho nhiều cảnh quan, danh lam thắng cảnh hùng vĩ, trong đó phải nhắc đến vịnh Hạ Long nơi truyền thuyết rồng đáp xuống.

Nơi đây đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của thế giới.

Vịnh Hạ Long hòn đảo nằm ở phía Tây Vịnh Bắc Bộ, hiện nay thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Vịnh Hạ Long có gần 2000 hòn đảo lớn nhỏ, cảnh vật hùng vĩ, đẹp đẽ, cảnh sắc mê hồn.

Vẻ đẹp của vịnh Hạ Long có thể gọi là cảnh sắc thần tiên có một không hai trên đời.

Vịnh Hạ Long còn có truyền thuyết đó là Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc.

Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới.

Đàn Rồng lập tức phun ra lửa thiêu cháy thuyền giặc, một phần nhả Châu Ngọc dựng thành bức tường đá sừng sững làm cho thuyền giặc đâm phải mà vỡ tan, chặn đứng bước tiến của ngoại bang.

Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến để muôn đời bảo vệ con dân Đại Việt.

Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay, với bãi cát dài trên 15 km).

Nơi này còn có nhiều hòn đảo chủ yếu là đá vôi, thực động vật đa dạng phong phú, khu lịch sinh thái với hàng ngàn động vật dưới nước phong phú.Vịnh Hạ Long có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo thời kì lịch sử, thời Bắc thuộc được gọi là Lục Châu Lục Hải đến thời người Pháp gọi là Vịnh Hạ Long tên gọi đó được duy trì cho đến ngày nay với ý nghĩa vịnh nơi rồng đáp xuống.

Nếu nhìn bao quát từ trên trên cao, vịnh Hạ Long như một bức tranh tuyệt trần do thiên nhiên tạo ra gồm có nhiều hang động và hòn đảo liên tiếp, hình thù khác nhau.

Bên trong hang động lớn nhỏ khác nhau với nhiều hình thù là mà không có kiến trúc sư nào có thể vẽ nên, đến đây du khách có thể tham quan, ngắm cảnh ai cũng phải ngỡ ngàng không tin vào mắt mình khi cảnh vật thơ mộng, lúc ẩn lúc hiện bí ẩn và đầy vẻ quyến rũ.

Có lẽ đây là lí do nhiều du khách nước ngoài chọn Việt Nam tham quan, nghỉ dưỡng đều một lần ghé thăm vịnh Hạ Long.

Hạ Long cũng mang trong mình truyền thống hào hùng dân tộc Việt Nam, các địa danh như Vân Đồn, núi Bài Thơ, sông Bạch Đằng…đều là những địa danh nổi tiếng gắn liền với lịch sử.

Nơi này còn có hệ sinh thái đa dạng như rừng ngập mặn, san hô, rừng cây nhiệt đới…

Tập trung hàng ngàn loài động thực vật, động vật quý hiếm đã và đang phát triển, bảo tồn cho thế hệ mai sau.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 7 : Di tích lịch sử Ải Chi Lăng ( Lạng Sơn )


Ải Chi Lăng là một thung lũng hẹp hình bầu dục, xung quanh bốn bề núi cao, có sông Thương chảy qua và nhiều núi lô nhô giữa lòng thung lũng hẹp.

Ải Chi Lăng có 2 cửa: cửa phía Bắc gọi là Quỷ môn quan tức là cửa ải con quỷ vì bọn giặc phương Bắc tràn sang nước ta thường qua cửa này.

Cửa phía Nam gọi là Ngõ Thề vì ông cha ta x¬a kia đã thề xả thân giết giặc cứu nước, không cho chúng lọt qua cửa ải này.

Với địa thế hiểm yếu, qua bao nhiêu triều đại, Ải Chi Lăng là phên dậu đầu tiên trấn giữ kinh thành Thăng Long, gắn liền với lịch sử chiến tranh vệ quốc hào hùng với những chiến công vang dội của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc.

Xưa, Ải Chi Lăng là cửa ải thuộc trấn Khâu Ôn, trấn Lạng Sơn, nay thuộc các huyện Chi Lăng và Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, cách thị xã Lạng Sơn khoảng 20-40km về phía tây nam và cách thủ đô Hà Nội hơn 100km.

Trải khắp thung lũng gần đó và án ngữ ven đường cái quan còn có nhiều ngọn núi thấp như: Kỳ Lân, Mã Yên, Hàm Quỷ, Phượng Hoàng, Nà Nông, Nà Sản...

Ở hai đầu thung lũng, nơi hai dãy núi đá phía Tây và núi đất phía Đông khép lại gần nhau là lũy Ải Quỷ phía Bắc và núi Ngõ Thề phía Nam.

Những núi đó tạo ra một hùng quan dài 5km, rộng khoảng 3km, rất hiểm trở.

Những quả núi nhỏ ở Chi Lăng nương tựa vào nhau như những lớp thành cao hào sâu.

Một thung lũng hình bầu dục, dài khoảng 4km, chỗ rộng nhất khoảng gần 1km, nằm gọn ở giữa tầng tầng lớp lớp núi non đó.

Ngọn nguồn sông Thương chảy qua thung lũng, mang cái tên thơ mộng Suối Hoa Đào.

Ải Chi Lăng nằm chẹn ngang thung lũng, là cửa ải hiểm yếu bậc nhất trên con đường độc đạo ở biên giới phía Bắc.

Sử sách còn ghi, tại Ải Chi Lăng này, năm 981 Lê Hoàn đã phá quân Tống giết chết bọn tướng cầm đầu.

Năm 1076, phò mã Thân Cảnh Phúc đã chặn đánh 30 vạn quân Tống do tướng Quách Quỳ cầm đầu.

Năm 1285, Nguyễn Địa Lê đã giết chết tên Việt gian Trần Kiệm trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai.

Năm 1427 của nghĩa quân Lam Sơn chém Liễu Thăng, tóm cổ Hoàng Phúc, giết 10 vạn quân Minh, đập tan ý đồ xâm l¬ược của chúng.

Ngày nay Ải Chi Lăng là một di tích lịch sử có phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ nên du khách qua đây ai cũng phải dừng chân.

Đến thăm Ải Chi Lăng, bạn sẽ được chiêm ngưỡng được cảnh đẹp, địa thế hiểm trở với chiến lũy hình thang độc nhất trên thế giới mà còn cảm nhận được trí tuệ và lòng quả cảm của dân tộc Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Một bài học lớn từ Ải Chi Lăng và cũng là nghệ thuật quân sự của cha ông ta chính là: “Lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”.

Ngược dòng lịch sử xa xăm, con người còn để lại ở Chi Lăng những vết tích của nền văn hóa Bắc Sơn - Mai Pha nổi tiếng với những hang động đẹp như trong huyền thoại và những rìu đá, mảnh gốm... minh chứng cho những giai đoạn sơ sử, tiền sử của con người sinh sống ở nước ta.

Ải Chi Lăng từ lâu được nhiều quan khách quốc tế, các nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh, nhà sử học, khách du lịch...

đến thăm với một sự trân trọng đặc biệt.

Miền hiểm địa khi chiến tranh nhưng Chi Lăng cũng là đất cho người những sản vật ngọt thơm.

Quả na ở Chi Lăng nay đã là một thương hiệu.

Na Chi Lăng được trồng nhiều trên những sườn núi, một nguồn thu đáng kể cho người dân vùng đất này.

Khách dừng lại tham quan khu di tích và nhà trưng bày chiến thắng Chi Lăng có thể được mời ăn những quả na ngọt ngào, dày cùi, hạt nhỏ, thơm ngát.

Với địa thế của mình, được mệnh danh là “bảo tàng lịch sử ngoài trời lớn nhất” lại có vị trí thuận tiện khi cách Hà Nội chỉ 105km và cách Lạng Sơn50km, Chi Lăng sẽ thu hút du khách nhiều hơn nếu liên kết được tất cả điểm di tích này thành một tour khép kín, kết hợp tham quan các di tích lịch sử lẫn tìm hiểu văn hóa của đồng bào các dân tộc trong vùng.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 8: Giới thiệu về Động Tam Thanh (lạng Sơn )


Đến với xứ Lạng, du khách không thể bỏ qua quýt Bắc Sơn, loại quýt nổi tiếng được trồng trên các khe núi, có hình tròn và dẹt, ăn rất ngon, giá thường vào khoảng 40 – 50 k/ cân.

Na Chi Lăng, loại na ngon, dai, du khách thường mua với số lượng lớn về cho người thân, gia đình bởi nó đượu cho là loại na sạch.

Đào Mẫu Sơn, đây là loại đào có màu xanh trắng, to, ngọt, nức mũi khách đến thăm.

Loại đào này thường có vào mùa xuân, nhất là vào dịp lễ hội.

Ngoài ra còn có các món ăn như: bánh cao sằng, phở vịt quay, Nem Hữu Lũng,…

Động Tam Thanh ẩn mình trong lòng dãy núi có hình dáng như đàn voi phủ nhục trên thảm cỏ xanh mướt.

Cửa động trên lưng chừng núi về hướng đông, cao khoảng 8 m, có lối lên khoảng 30 bậc đá men theo sườn núi, xung quanh là rất nhiều cây cối mộc che khuất ánh nắng, tăng thêm vẻ kỳ bí cho nơi rừng thiêng nước độc này.

Bên phải động có khắc bài thơ của Ngô Thì Sĩ.

Động có từ năm Kỷ Hợi 1777 khi Ngô Thì SĨ còn làm đốc trấn Lạng Sơn.

Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp nơi đây: "Suối trong tuôn chảy trên hàng trăm mỏm đá như đang trò chuyện, quay lưng lại nhìn sang ngọn núi phía trước thấy hòn Vọng Phu".

Khi bước vào bên trong động, bạn sẽ bắt gặp muôn vàn nhũ đá thiên nhiên ban tặng với những hình thù đẹp mắt.

Du khách có thể tưởng tượng ra nhiều kiểu dáng hình thù khác biệt.

Đi vào sâu trong động, du khách sẽ gặp một lối Thông Thiên với ánh sáng huyền ảo và hồ Cảnh (hồ Âm Ti) có nước trong vắt cả năm không bao giờ cạn.

Linh ứng ngôi chùa Tam Thanh trong động

Nằm trong lòng động, ngôi chùa nổi tiếng với cái tên được nhiều người biết – Chùa Tam Thanh.

Ngôi chùa nằm trong động mang nét tâm linh, tín ngưỡng và là một tuyệt tác nghệ thuật cổ điển.

Tại động còn có hệ thống văn bia bằng đá rất phong phú của các văn nhân, thi sĩ qua thời kỳ khác nhau.

Chùa Tam Thanh có thờ một tượng phật A Di Đà với màu trắng và các đường nét mềm mại.

Pho tượng được tạo nổi trên vách đá theo thế đứng trong hình lá đề và có phong cách nghệ thuật thời Lê - Mạc vào thế kỷ 16, 17.

Pho tượng cao 202 cm, rộng 65 cm, mặc áo cà sa buông rủ đến gót, hai tay chỉ xuống đất trong thế ấn cam lộ.

Lễ hội chùa Tam Thanh

Lễ hội chùa Tam Thanh được tổ chức hàng năm vào ngày rằm tháng Giêng.

Có rất nhiều nghi lễ đặc sắc, nổi bật được tổ chức như: dâng hương, cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Hàng loạt các hoạt động với nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như: Hát sli, hát lượn, múa sư tử, ném còn, cờ người... trong không khí đông vui, nhộn nhịp.

Vào dịp lễ hội cũng là dịp đầu năm mới, du khách đến với động Tam Thanh đông nhất.

Người người đều mang trong mình tâm hưởng an hòa, thanh tịnh để đến chùa với niềm hoan hỉ nhất.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 9 : Tổng quan về di tích lịch sử văn hóa chùa Trấn Quốc , kiến trúc chùa và


Chùa Trấn Quốc được coi là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam và là ngôi chùa cổ nhất của Thăng Long Hà Nội với hơn 1500 năm tuổi, chùa Trấn Quốc nổi tiếng không chỉ bởi vẻ đẹp cổ kính mà còn bởi không gian thoáng mát tươi xanh đã tạo nên một tổng thể kiến trúc, lịch sử văn hóa và thiên nhiên hoàn hảo.

Nằm trên một hòn đảo phía Đông của Hồ Tây, chùa Trần Quốc luôn được xem như một trong những danh thắng bậc nhất ở kinh thành Thăng Long, nay thuộc quận Tây Hồ.

Tương truyền, chùa được xây dựng từ thời Lý Nam Đế (năm 541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng với tên gọi “Khai Quốc” (nghĩa là mở nước).

Dưới triều vua Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã nhiều lần đến chùa cùng các vị cao tăng đàm đạo.

Đến đời vua Lê Thái Tông (năm 1434-1442), nhà vua đổi tên chùa là chùa An Quốc.

Hàng năm, nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bãi sông.

Cho nên, năm 1615 đời vua Lê Kính Tông, dân làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngưu (Cá vàng), nơi vào đời Lý và đời Trần, nhiều cung điện đã được xây dựng tại đây như cung Thúy Hoa, điện Hàm Nguyên phục vụ cho việc nghỉ ngơi, thư giãn của nhà vua.

Khoảng thế kỷ thứ XVII, chúa Trịnh cho đắp đê Cố Ngự (sau gọi chệch ra thành Cổ Ngư, nay là đường Thanh Niên) nên mới có đường nối đê với đảo Cá vàng.

Đến đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1681-1705), chùa được đổi tên là Trấn Quốc.

Bức hoành phi đề chữ “Trấn Quốc Tự” treo tại gian đại bái hiện nay được làm từ thời đó.

Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa.

Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc.

Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được người dân quen gọi đến tận ngày nay.

Do nhiều lần trùng tu, sửa chữa nên kiến trúc chùa là sự tiếp biến phong cách kiến trúc của các thời kỳ như: Trong các năm 1624, 1628 và 1639 (thời Chúa Trịnh), chùa được trùng tu, mở rộng; Trải qua thời Tây Sơn, chùa bị rơi vào cảnh hoang phế, khi đó cư dân địa phương đã xin được tu sửa lại chùa.

Lần trùng tu lớn nhất là vào năm Ất Hợi, niên hiệu Gia Long 14.

Năm 2010, tu bổ để chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới lần thứ 6 tổ chức tại Việt Nam vào tháng 11/2010.

Giống như hầu hết những ngôi chùa khác ở nước ta, kết cấu và nội thất chùa Trấn Quốc có sự sắp xếp gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính là Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện theo hình chữ Công.

Tiền đường hướng về phía Tây, hai bên nhà thiêu hương và thượng điện là hai dãy hành lang.

Sau thượng điện là gác chuông.

Gác chuông chùa là một ngôi ba gian, mái chồng diêm, nằm trên trục sảnh đường chính.

Cách bài trí gác chuông sau chùa giống với kiểu bài trí tại chùa Keo (Thái Bình).

Bên phải là nhà tổ và bên trái là nhà bia.

Trong chùa hiện nay đang lưu giữ 14 tấm bia.

Tấm bia khắc năm 1815 có bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích ghi lại việc tu sửa lại chùa sau một thời gian dài đổ nát.

Công việc này bắt đầu vào năm 1813 và kết thúc vào năm 1815.

Phía sau chùa có một số mộ tháp cổ từ đời Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng (thế kỉ 18).

Khuôn viên chùa có Bảo tháp lục độ đài sen được xây dựng năm 1998.

Bảo tháp lớn gồm 11 tầng, cao 15m.

Mỗi tầng tháp có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý.

Đỉnh tháp có đài sen chín tầng (được gọi là Cửu phẩm liên hoa) cũng bằng đá quý.

Bảo tháp này được dựng đối xứng với cây bồ đề lớn do Tổng thống Ấn Độ tặng khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959.

Thượng toạ Thích Thanh Nhã, Uỷ viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trụ trì chùa Trấn Quốc, đã giải thích sự đối xứng đó là: "Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế.

Bồ đề là trí giác, trí tuệ vô thượng.

Tất cả đều hàm ý nghĩa bản thể và hiện tượng của các pháp".

Ngôi chùa cổ kính này hiện còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị như bộ tượng thờ ở thượng điện.

Đây là những pho tượng được tạo tác tỉ mỉ, trau chuốt và mang nét đẹp đặc trưng riêng.

Đáng nói nhất là pho tượng Thích Ca nhập Niết bàn được đánh giá là một trong những bức tượng Niết bàn đẹp nhất ở Việt Nam.

Bằng vào những giá trị kiến trúc, cảnh quan và lịch sử, trước kia, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã từng xếp chùa Trấn Quốc là công trình lịch sử thứ 10 trong Toàn xứ Đông Dương.

Năm 1962 chùa được công nhận xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số 313VH-VP ngày 28/4/1962.

Trong văn bia "Tái tạo Trấn Quốc tự bi" do Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi năm Cảnh Hưng thứ 40 Phạm Lập Trai soạn, đã ca ngợi: "Đứng trên cao ngắm cảnh chùa, mây lồng đáy nước, mặt hồ ánh xanh xanh khiến du khách lâng lâng.

Tiếng chuông chùa gọi ai tỉnh mộng trần tục..."

Chùa Trấn Quốc từng được du khách nước ngoài ca ngợi là một trong những công trình tôn giáo đẹp nhất thế giới, từ xa nhìn lại trông giống như đóa sen đang nở.

Nằm trong không gian cảnh quan Hồ Tây, vào mỗi mùa, đến đây du khách lại được cảm nhận những vẻ đẹp khác nhau của chốn thiền môn.

Mùa xuân, ngôi chùa là nét chấm phá trong bức tranh toàn cảnh Hồ Tây lung linh cảnh sắc tươi đẹp.

Mùa hạ, những làn gió mát tràn ngập khắp không gian khiến du khách cảm nhận rõ nét sự biến đổi không gian, như được cửa thiền tắm mát tâm can.

Mùa thu đến chùa, nắng gió hanh hao khiến tâm ta tĩnh lại, tưởng vọng, sám hối cõi trần tục.

Mùa đông, những làn sương mỏng khắp mặt hồ, bao trùm không gian cảnh quan khiến chùa trở nên thâm u, tĩnh mịch.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 10 : Tổng quan về bảo tàng dân tộc học ? Kiến trúc ngôi nhà dài của người Ê


Câu 10 : Tổng quan về bảo tàng dân tộc học ?

Kiến trúc ngôi nhà dài của người Ê Đê ?

Lễ cấp sắc của người đỏ trong bảo tàng dân tộc học VN ?

 Tổng quan về bảo tàng dân tộc học

1.

Lịch sử hình thành và quá trình hoạt động:

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được thành lập theo quyết định của thủ tướng chính phủ ngày 24 tháng 10 năm 1995.

Bảo tàng được xây dựng trong 2 năm và chính thức khánh thành ngày 12 tháng 11 năm 1997.

Bảo tàng được thiết kế bởi kiến trúc sư Hà Đức Lịnh.

Phần nội thất do bà kiến trúc sư người Pháp Véronique Dollfus thiết kế.

Bảo tàng gồm hai khu vực chính: trong nhà và ngoài trời.

Khu vực trong nhà bao gồm các khối nhà: nhà trưng bày, cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường…

Các khối nhà này liên hoàn với nhau, có các lối đi hợp lý, với tổng diện tích 2.480m2, trong đó 750 m2 dành cho kho bảo quản hiện vật.

Khu trưng bày ngoài trời đang tiếp tục được hoàn thiện.

Đây là một trong những bảo tàng có hệ thống sưu tập hiện vật phong phú, tầm cỡ khu vực và quốc tế.

Trong những năm qua, bảo tàng đã có nhiều hoạt động sưu tầm hiện vật và phổ biến các giá trị văn hóa vật thể – phi vật thể của các dân tộc Việt Nam thông qua các cuộc trưng bày, không chỉ tại bảo tàng mà còn tham gia các hoạt động trưng bày chuyên đề và trình diễn tại nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Bỉ, Áo…

2.

Đặc điểm của bảo tàng:

Hiện nay, phần trưng bày trong nhà chiếm trọn toà nhà 2 tầng có dáng mô phỏng hình trống đồng- một biểu tượng chung của nền văn minh Việt Nam cũng như nhiều nước khác trong khu vực.

Chiếc cầu đá granít dẫn vào toà nhà Bảo tàng tạo cảm giác như đang bước lên căn nhà sàn phổ biến ở nhiều vùng.

Mặt nền sảnh lớn toà nhà này được trang trí bằng đá granit với biểu trưng theo hình thể của Tổ quốc có đất liền và biển cả.

Hiện vật của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không phải chỉ là những cổ vật đắt tiền, mà chủ yếu bao gồm nhiều thứ rất bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu…

Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể và phi vật thể của cộng đồng dân cư, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo văn hoá của họ.

Trong bảo tàng này, hiện vật rất phong phú, có thể hình thành được nhiều sưu tập theo các tiêu chí khác nhau.

Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc, như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai…

Phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ…

Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác.

2.

Nội dung trưng bày trong bảo tàng:

Trưng bày trong nhà: Phần lớn diện tích trong nhà được bố trí trưng bày thường xuyên, bên cạnh đó có dành riêng một không gian để tổ chức các trưng bày nhất thời theo chuyên đề.

Hiện tại, trưng bày thường xuyên trong nhà được bố trí như sau:

Tầng 1 trưng bày 2 phần chính:

– Giới thiệu chung các dân tộc Việt Nam

– Giới thiệu các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, bao gồm: Việt (Kinh), Mường, Thổ, Chứt.

Tầng 2 chia thành các phần:

– Các dân tộc Chăm, Hoa, Khơme

– Ngữ hệ Nam Đảo ở miền núi: giới thiệu các dân tộc Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Chu Ru

– Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme ở miền núi: giới thiệu 5 dân tộc ở miền Bắc (Khơ Mú, Xinh Mun, Mảng, Kháng, Ơ Đu) và 15 dân tộc ở miền Trung – Tây Nguyên.

– Nhóm ngôn ngữ Hán – Tạng: giới thiệu các dân tộc Cống, Sán Dìu, Ngái, Lô Lô, Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Si La

– Nhóm Hmông – Dao: giới thiệu các dân tộc Hmông, Dao, Pà Thẻn.

– Nhóm Tày Thái – Kađai: giới thiệu các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay, Thái, Bố Y

Trưng bày ngoài trời

Đối với khu ngoài trời, do đất hẹp nên Bảo tàng chỉ có thể dựng 9 công trình kiến trúc dân gian cùng một số hiện vật lớn như:

– Nhà rông của người Ba Na

– Nhà sàn dài của người Ê Đê

– Nhà sàn của người Tày

– Nhà nửa sàn nửa đất của người Dao

– Nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông

– Nhà ngói của người Việt

– Nhà trệt của người Chăm

– Nhà trình tường của người Hà Nhì

– Nhà mồ của người Gia Rai.

Xen giữa các công trình kiến trúc dân gian đó là cây xanh các loại, các lối đi ngoằn ngoèo và cả con suối uốn khúc chảy suốt 4 mùa, có cầu bắc nối đôi bờ.

Những trưng bày ở phần này đang từng bước được thực hiện.

 Kiến trúc ngôi nhà dài của người Ê Đê

Nhà dài của người Ê đê là nhà sàn, làm bằng tre nứa và bằng gỗ, mặt sàn và vách tường bao quanh nhà làm bằng thân cây bương hay thân tre già đập dập, mái lợp cỏ tranh.

Nhà dài thường được lợp bằng cỏ tranh.

Tranh lợp từng cụm, ngọn thả xuôi mái, gốc bẻ gập xuống vào bên trong.

Người Ê đê thường làm nhà theo hướng Bắc- Nam.

Nhìn từ xa ngôi nhà có hình dáng một cái thuyền.

Khi nói đến chiều dài thì nói đến số lượng dầm ngang (đê) tương ứng với một đôi cột.

Nhà có bao nhiêu đê là có bấy nhiêu gian.

Không gian nhà chạy theo chiều dọc gồm hai phần rõ rệt.

Từ cửa chính đi vào là một phần rộng, chiếm 1/3 gọi là Gah, phần còn lại gọi là Ôk.

Gah là nơi tiếp khách, có bếp cho khách và là nơi sinh hoạt chung của gia đình, là nơi cúng thần, là chỗ ngủ của con trai chưa vợ, là nơi đặt nhiều đồ vật quý.

Gah và Ôk được ngăn bởi vi cột Kmeh Kpăng có khắc hình, trong đó cột phía đông là cột chủ, bên cạnh kê một bộ phản để người đứng đầu gia đình ngồi khi hội họp, trong khi đó cột phía Tây là cột trống nơi có đặt chiếc trống cái trên ghế Kpan cao 0,50m, dài từ 10 - 20m để nhạc công ngồi đánh chiêng, trống, cồng.

Gầm ghế thường là nơi để cồng chiêng.

Sát vách phía sau hàng cột phía đông là nơi để hàng ché.

Bên cạnh bếp khách còn có bếp nấu ăn khi có lễ nghi.

Chị Đàm Thị Hợp, cán bộ Phòng Bảo tàng ngoài trời, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giới thiệu về ngôi nhà dài điển hình của người Ê đê tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Đây là một ngôi nhà giàu có, giàu có ngay ở trong những hiện vật để trong phòng khách, nơi người ta gọi là Gah.

Đây là phòng khách, nơi tổ chức những lễ hội tuy ở trong phạm vi gia đình nhưng nó vẫn có tính chất cộng đồng nên khi tổ chức những lễ hội do gia đình thôi nhưng người ta mời rất đông mọi người ở xung quanh.

Ví dụ dân làng đến để tham gia cùng do vậy phòng khách này là nơi thường mang tính chất cộng đồng của người Ê đê.

Người ta bày rất nhiều đồ dùng ở đây, ví dụ như ché rượu cần, cồng chiêng, nồi đồng… là những tài sản rất có giá trị với người Ê đê.

Nếu số lượng những đồ vật này càng nhiều thì có thể hiểu rằng đây là một gia đình rất giàu có.

Trong mỗi ngôi nhà dài, người Ê đê chạm khắc rất nhiều hình con vật như voi, cua, cá...

Sự giàu có của chủ nhà được thể hiện trên những hoa văn đó.

Chị Đàm Thị Hợp cho biết thêm:Ví dụ hoa văn hình con voi phải những gia đình nào sở hữu những con voi thật thì mới có quyền chạm khắc hoa văn hình con voi ở trên đấy.

Một số hoa văn khác như là hoa văn con kỳ đà, con rồng, cua, rùa… là những con vật xuất hiện trong tín ngưỡng của người Ê đê.

Người ta khắc những con kỳ đà trên xà ngang với mong muốn sẽ mang đến cho gia đình nhà mình những điều may mắn và ngăn chặn, mang đi những rủi ro.

Đặc biệt là con rồng có vây hình con cá, râu, sừng nhô lên.

Theo các chuyên gia, đây là hoa văn nguyên thủy của người Êđê không trộn lẫn với các dân tộc khác.

Cầu thang là một điểm nhấn của nhà dài người Ê-đê gắn với hai cửa của nhà dài, cửa phía trước dành cho khách và nam giới, cửa phía sau dành cho phụ nữ.

Chị Đàm Thị Hợp khẳng định:Thường nhà người Ê đê có 2 cầu thang, cầu thang phía trước và cầu thang phía sau.

Cầu thang phía trước thường hướng về phía Bắc và được gọi là cầu thang chính.

Đối với những gia đình giàu có ngày xưa, cầu thang chính bao giờ cũng có 2 cầu thang để lên xuống, cầu thang đực và cầu thang cái.

Trên cầu thang cái bao giờ cũng có hình ảnh bầu sữa mẹ và vầng trăng khuyết, còn cầu thang đực không có hoa văn chạm khắc nhiều, thường chỉ là một cây gỗ sau đó chạm khắc những bậc để lên xuống.

Nhà dài không chỉ là không gian sống mà còn là nơi gắn kết bao thế hệ dòng tộc của người Ê đê.

Khi người con gái lấy chồng, căn nhà được nối dài để làm nơi ở cho đôi vợ chồng mới.

Rồi đến đời cháu gái, ngôi nhà lại tiếp tục nối.

Cứ như thế, nhà cứ dài ra, mãi che chở cho cuộc sống của nhiều thế hệ...

Trong không gian ấy, đêm đêm cả đại gia đình quây quần sum họp bên bếp lửa.

Ðàn bà con gái dệt vải, thêu thùa; đàn ông sửa lại cái cày, cái cuốc; người già thì kể sử thi, đọc truyện thơ cho con trẻ.

Cũng trong không gian ấy, các lễ nghi, tập tục của người Ê đê được thể hiện trọn vẹn như hồn cốt đại ngàn của dân tộc này.

 Lễ cấp sắc của người đỏ trong bảo tàng dân tộc học VN

Người Dao quan niệm rằng, người con trai phải trải qua lễ cấp sắc từ 3 đèn trở lên mới có tâm, có đức để phân biệt phải trái, mới được cộng đồng coi là người trưởng thành và mới đích thực là con cháu của Bàn Vương - tổ tiên của người Dao, khi chết hồn mới được đoàn tụ với tổ tiên.

Do vậy, bất cứ người đàn ông Dao nào cũng phải làm lễ cấp sắc.

Lễ Cấp sắc thường được tổ chức vào tháng 11, tháng 12 hoặc tháng Giêng hàng năm, vì đây là thời gian nhàn rỗi.

Ngày thụ lễ được lựa chọn rất kỹ.Lễ cấp sắc 12 đèn diễn ra với nhiều bước:

Mở đầu là lễ khai đàn để báo cáo tổ tiên biết lý do của buổi lễ, lễ dâng đèn và thủ tục thông báo tên tuổi, chức vụ của người được cấp sắc, lễ xuất binh, lễ ăn chay (từ lúc vào làm lễ cho đến khi kết thúc lễ tất cả những người được cấp sắc cũng như người đến dự đều phải ăn chay), bước học làm thầy và điệu múa rùa.

Các nghi thức trên được tiến hành tuần tự, hòa theo nhịp điệu của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn…

Sau đó, các thầy đem lễ ra ngoài sân gọi Ngọc Hoàng bằng tiếng tù và để thông báo cho Ngọc Hoàng biết bắt đầu vào lễ chính cấp sắc 12 đèn và mời Ngọc Hoàng đến chứng giám.

Tiếp đó là lễ thầy cúng truyền dạy đạo làm thầy cho các trò với yêu cầu làm thầy thì phải có tâm, có đức thì con cháu mới có phúc có lộc.

Điều đặc biệt trong lễ cấp sắc của người Dao đỏ là phải mời đủ 12 thầy cúng có uy tín làm lễ.

Trong suốt quá trình làm lễ, các thầy cúng và học trò liên tục tiến hành các nghi lễ theo đúng phong tục truyền lại.

Một vật dụng không thể thiếu trong nghi lễ cấp sắc là đèn.

Đèn dùng trong lễ cấp sắc là sự thể hiện vị trí cao thấp khác nhau của những người được cấp sắc sau khi thụ lễ.

Đèn được sử dụng với dụng ý soi sang cho tâm hồn và tẩy rửa tất cả các tội lỗi, để người được cấp sắc trong sạch.

Sau nghi thức đặt đèn các thầy cúng lần lượt đóng ấn cho người được cấp sắc.

Nghi lễ quan trọng trong lễ cấp sắc là nghi thức cấp bằng.

Bằng do thầy cúng phát cho là một bản sắc bằng chữ Nôm, trong đó ghi lai lịch cá nhân, lý do cấp sắc, những điều giáo huấn và tên tuổi những thầy cúng đã làm lễ cấp sắc cho người thụ lễ.

Đây là bằng cấp cao nhất trong cuộc đời một người đàn ông Dao Đỏ.

Sau khi thầy cúng làm xong lễ thông báo, các trò cùng vợ lần lượt quỳ dưới chân cầu thang nhận dấu ấn và văn bằng do các thầy cấp cho.

Đây là thời khắc linh thiêng và quan trọng.

Thầy cúng sẽ cấp cho người thụ lễ hai bản sắc, một bản sẽ được đốt sau khi thầy cúng đã trình báo với các thần linh, tổ tiên, còn một bản giao cho người thụ lễ.

Sau khi đã xong mọi nghi lễ, mọi người mới mở tiệc ăn mừng những người được cấp sắc.

Các thầy và những người đến dự cùng nhau ăn uống chúc mừng thành công của đại lễ cấp sắc 12 đèn.

Nghi lễ cấp sắc 12 đèn của người Dao Đỏ là di sản văn hóa phi vật thể mang đậm giá trị nhân văn sâu sắc.

Thể hiện tấm lòng thành kính với tổ tiên, đạo lý uống nước nhớ nguồn, là sự trân trọng bản sắc văn hóa dân tộc; thể hiện khát vọng của người Dao về một cuộc sống sung sướng, ấm no và hạnh phúc…

Đây là nét văn hóa độc đáo riêng có của đồng bào dân tộc Dao cần được lưu giữ, bảo tồn và phát huy trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Câu 11: Kiến trúc ngôi nhà sàn của dân tộc người Thái tại Mai Châu ( Hòa Bình )


Câu 11: Kiến trúc ngôi nhà sàn của dân tộc người Thái tại Mai Châu ( Hòa Bình ) ? trang phục truyền thống thường ngày của phụ nữ tộc người Thái tại Mai Châu (Hòa Bình ) ?

 Kiến trúc ngôi nhà sàn của dân tộc người Thái tại Mai Châu ( Hòa Bình )

Nhà sàn là một nét đẹp của văn hoá Thái, là biểu tượng của sự hài hoà giữa đất trời và thiên nhiên.

Các gian nhà và cầu thang của người Thái luôn mang số lẻ, hai đầu nhà khum khum hình mai rùa, gắn với truyền thuyết về thuở khai sinh lập địa thần Rùa dạy cho người Thái cách làm nhà theo hình rùa đứng.

"Nhà có gác, sàn có cột"

Theo truyền thống, người Thái ở nhà sàn như họ đã xác định trong thành ngữ: "Nhà có gác, sàn có cột" (Hươn mi hạn quản mí xau).

Nhà sàn của người Thái mang một nét đẹp riêng biệt, đơn sơ nhưng cũng không kém phần bề thế, sang trọng.

Trong ngôi nhà của người Thái xưa kia luôn có hai bếp lửa, một bếp dành cho người già và một bếp dành cho phụ nữ, nhưng ngày nay nhà sàn của người Thái chỉ còn lại một bếp lửa dành cho tất cả mọi người.

Cầu thang lên nhà cũng là hai, một dành cho đàn ông, một cho đàn bà.

Để trang trí nhà, người Thái khắc nhiều hoa văn họa tiết tinh xảo trên bậu cửa sổ, trên các tấm ván hình răng cưa làm chấn song cửa sổ, trên “khau cút” (hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc).

Các bản người Thái thường sống quần tụ ở dưới chân núi đồi, nơi những dòng suối uốn mình chảy qua.

Ngôi nhà sàn được cấu trúc bởi các loại cây thân gỗ và các loại cây như tre, vầu, nứa... lợp bằng cỏ gianh.

Nếu ai đó đã quen với nếp sống thủ công nghiệp mà chưa một lần được nhìn ngắm ngôi nhà của người dân tộc Thái thì khi được tận mắt ngắm nhìn sẽ không sao tránh khỏi ngạc nhiên, vì đó là một ngôi nhà sàn khá đồ sộ như nhà của các gia đình quý tộc ngày xưa mà "không phải dùng đến một mẩu sắt nhỏ nào trong thiết kế xây dựng".

Thay vào những cái đinh là cả một hệ thống dây chằng, buộc thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt, tre, giang và mây, hoặc vỏ những cây chuyên dùng như năng hu, năng xa, năng xiểu.

Khi làm nhà, để nối cái cột kèo, người Kinh thường lắp mộng thắt, còn nhà sàn người Thái sử dụng những đòn dầm xuyên suốt qua các lỗ đục của các cột.

Kiểu kiến trúc có vẻ đơn sơ nhưng lại rất chắc chắn, nó đủ lực để chống nắng, mưa, gió, bão và đặc biệt là động đất như hiện nay.

Thậm chí có những nếp nhà sàn tồn tại tới hàng trăm năm.

Chính vẻ đẹp khác biệt của ngôi nhà mang đậm nét văn hóa truyền thống ấy đã đem đến nguồn cảm hứng sáng tác cho một số thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ...

Nhà người Thái …

Bốn mặt hình vuông

Nhìn vào cấu trúc mái của nhà sàn, ta có thể phân biệt kiểu nhà của từng nhóm địa phương khác nhau:

Nhà sàn của người Thái trắng và người Thái đen có mái "vòm khum mui rùa" (tụp cống) và thường đặt ở hai đầu hồi, biểu tượng tạc bằng gỗ quét vôi trắng tựa như hai đôi sừng gọi là khâu cút.

Khâu cút có nhiều loại như: khâu cút bẻ, khâu cút méo và khâu cút pụa là một hình thức trang trí hoa văn của dân tộc Thái đen.

Nhà sàn của người Thái trắng ở Mường Lay, Phong Thổ và Mường Tè (Lai Châu) do có mặt phẳng cắt hình chữ nhật gần vuông nên có bốn mái thẳng và gấp góc (gọi là tụp lặn).

Bởi vậy, một nhà thơ người Thái đen quê ở Mai Sơn cuối thế kỷ 19, khi quan sát thấy được nét khác biệt của những nếp nhà sàn này so với nhà sàn quê mình.

Một nếp nhà sàn là một đơn vị không gian chứa đựng một tế bào của xã hội nên người Thái mới gọi là "Cộng đồng nhà" (chúa hướn).

Ðó có thể là một gia đình nhỏ gồm một cặp vợ chồng và con cái chưa đến tuổi trưởng thành để lấy vợ, lấy chồng rời ra ở riêng.

Hoặc đó cũng có thể là một gia đình lớn gồm ba, bốn thế hệ cùng chung sống hòa thuận bên nhau.

Thay đổi cấu trúc và cải tiến hơn

Hiện nay, trước sự phát triển và không ngừng đi lên của xã hội, người Thái đã áp dụng những khoa học kỹ thuật để tự cải tiến và thay đổi kiến trúc nhà ở của mình.

Sự cải tiến và thay đổi ấy phần lớn do ảnh hưởng bởi cách làm nhà của người Kinh.

Nhà sàn được kê và lắp ghép theo phương pháp nối dầm vào cột bằng mộng thắt.

Sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc đã tạo ra các kiểu nhà sàn đẹp đẽ và bề thế vô cùng.

Ngày nay, ở nhiều nơi, đặc biệt là dọc theo đường quốc lộ và ven thị trấn, thành phố, đã có nhiều nhà sàn lắp cầu phong litô lợp ngói (vì cỏ gianh ngày càng hiếm).

Mọi người đang đua nhau xây dựng nhà ngói hai, ba,... tầng hoặc các kiểu nhà có mái bằng xi-măng cốt thép.

Bởi vậy, bước tới các bản Thái, nhất là vùng dọc quốc lộ và ven thị trấn, thành phố, ta khó có thể tìm ra được một nếp nhà sàn cổ có cấu trúc theo cung cách truyền thống một cách rõ rệt.

Ngày nay người Thái đang lựa chọn nhà ở hợp với không gian văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Hy vọng trong tương lai đồng bào sẽ tạo ra những kiểu nhà sàn đẹp, nhưng không để mất đi nét đẹp truyền thống ngôi nhà sàn dân tộc mình.

 Trang phục truyền thống thường ngày của phụ nữ tộc người Thái tại Mai Châu (Hòa Bình )

Con gái Thái xinh đẹp, duyên dáng trong bộ váy áo dân tộc: Khăn chít ngang đầu, áo ba gang màu thiên thanh, váy đen chùm kín gót.

Mỗi cô quấn quanh ngực một tấm thổ cẩm làm “cạp váy” ép chặt bộ ngực tạo nên vẻ dịu dàng, kín đáo.

Không một nét phô diễn khơi gợi nhưng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bao du khách gần xa như bài thơ “Tây Tiến” từng ca ngợi “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa/ Kìa em xiêm áo tự bao giờ”.

Theo lời các cụ cao niên trong bản, từ lâu đời người Thái Mai Châu đã biết trồng bông, dệt vải, trồng dâu, nuôi tằm để tự cấp lấy vải mặc.

Người Thái nói rằng “gà đẹp nhờ bộ lông, người đẹp nhờ quần áo”.

Với sự cần cù và trí tưởng tượng phong phú, người phụ nữ Thái đã trở thành người nghệ sĩ tự tạo nên những tác phẩm nghệ thuật thể hiện nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng, lối sống của dân tộc Thái, hoa văn được thêu dệt trên trang phục là các hình thiên về thiên nhiên như hoa lá, động vật, các hình khối với nhiều màu sắc được kết hợp tinh tế thể hiện mối quan hệ bền chặt của con người với thiên nhiên.

Trang phục của người phụ nữ Thái có những nét riêng nổi bật không thể pha lẫn với các dân tộc khác.

Bộ trang phục ngày thường, áo (xứa cóm) chỉ cần 60cm vải là may đủ áo, áo ngắn có cổ tròn, viền nhỏ, xẻ thêm hai bên vai để chui đầu khi mặc.

Tay áo may chặt bó lấy cánh tay tròn.

Thân áo dài khoảng 25 - 30cm, màu áo phổ biến là màu xanh và trắng.

Thân váy dài chùm gót, màu đen chàm.

Ẩn hiện bên trong gấu váy là thanh vải đỏ nhỏ 2cm.

Cạp váy có hai phần nửa trên (lang tềnh) dệt 2 màu đen, trắng, hoa văn đơn giản.

Nửa dưới (lang tớ) gắn với thân váy dệt bằng tơ tằm xen vải nhiều màu sắc thể hiện các loại hoa văn rồng, phượng, hoa sen, hoa hồng…

Nhiều chị em thích mặc thêm áo cóm vừa có tác dụng giữ ấm lại giữ sạch váy áo đẹp bên trong.

Phụ nữ Thái Mai Châu rất thích dùng đồ trang sức như: Xà tích, vòng bạc đeo cổ, đeo tay, nhẫn bạc, khuyên tai bạc, hoặc vàng.

Tóc thường được búi cố định sau gáy, cài châm bạc hoặc xương thú.

Khi còn trẻ, chưa chồng tóc thả buộc sau lưng, buộc chỉ màu thay cặp tóc; khăn đội đầu màu trắng gấp nếp, để nhọn trước trán.

Vào các ngày lễ xên bản, xên mường, người phụ nữ Thái Mai Châu tươi tắn, xúng xính trong bộ trang phục đẹp nhất để dành cho những ngày trọng đại: Khăn trắng, áo cóm trắng, váy đen mịn màng đính cạp rồng, cạp phượng, thắt dải lưng nhiều màu sắc, cổ tay đeo hai, ba đôi vòng bạc, tai đeo khuyên nhỏ mặt ngọc óng ánh, chùm dây xà tích bạc uốn lượn bên hông.

Những nàng dâu trong nhà đ¬ược ưu tiên mặc bộ trang phục lộng lẫy hơn cả.

Áo cóm màu t¬ươi (không mặc áo trắng), chiếc váy, ngoài phần cạp đẹp nhất còn có mảnh dệt hoa rộng chừng 20cm may liền với gấu, ngoài mặc thêm áo tin dài (màu xanh, đỏ hoặc vàng).

Gấu áo nổi lên rực rỡ mảnh thêu cầu kỳ và những thanh vải màu đ¬ược chắp lại làm nền.

Cổ áo thêu dây leo, tay áo ngắn, hơi rộng lộ ra cánh tay tròn mềm mại.

Đội khăn đen chàm, cổ đeo nhiều vòng bạc.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Vạn An


1.

DU THUYỀN HOÀNG GIA

1, Mục đích

- HS được tìm hiểu thêm thông tin lịch sử Vua lê trả gươm – đề cao yêu chuộng tinh thần yêu nước, yêu chuộng hòa bình

- HS được trải nghiệm đi thuyền trên mặt hồ thăm tháp rùa, cầu Thê húc

 Bước 2: Gioi thiệu, dẫn dắt hoạt động

Chào mừng các bạn xe số 3 đã đến với hoạt động trải nghiệm Du thuyền hoàng gia của khu trải nghiệm Vạn An.

Các bạn đã được đi thuyền bao giờ chưa? …

Ở những khu vực nào thì chúng ta cần đến thuyền để làm phương tiện đi lại trên mặt nước?

Những khu vực có sông (muốn di chuyển từ bờ bên này sang bờ bên kia sông), khu vực miền trung nhiều sông nước, thuyền bè là phương tiện để ngư dân đi đánh bắt, và đặc biệt ở miền Tây Nam Bộ - miền sông nước thì thuyền bè là phương tiện đi lại chính của người dân đấy các bạn ạ (ở đó có hệ thống kênh rạch chằng chịt, người dân ở trên thuyền, bè, họp chợ trên các dòng sông, chợ nổi…), thế còn ở đồng bằng chúng ta, thuyền được sử dụng ít hơn và chủ yếu dùng cho mục đích ngắm cảnh, du ngoạn.

Ngày hôm nay đến với Vạn An, chúng ta không những được đi thuyền ngắm cảnh trên hồ mà còn được nghe và tái hiện lại một sự tích rất nổi tiếng liên quan đến vua Lê đánh giặc Minh, các bạn có biết đó là sự tích gì không?...

 Bước 3: Nội dung chính của hoạt động

Đó là sự tích Hồ Hoàn Kiếm (hay còn gọi là Hồ Gươm).

Sự tích này nói về sự kiện vua Lê trả lại gươm báu cho Rùa Vàng sau khi đánh thắng giặc Minh, ca ngợi tinh thần yêu nước, yêu hòa bình của nhân dân ta.

Sau đó, để ghi nhớ sự kiện linh thiêng này, ta đã xây dựng tháp rùa trên gò nổi giữa mặt Hồ Hoàn Kiếm mà ngày nay chúng ta vẫn được quan sát, có bạn nào chưa nhìn thấy tháp rùa không?

Ngày hôm nay, đến với Vạn An, chúng ta được nghe tái hiện lại sự tích Hồ Hoàn Kiếm, và sẽ được trải nghiệm ngồi trên chiếc thuyền hoàng gia, tận mắt quan sát mô hình Tháp Rùa, các bạn có thích không?

Ngoài ra, các bạn còn được nhìn thấy mẫu hình Rùa vàng trên Tháp nữa nhé!

Các bạn đã nhìn thấy cụ rùa ở Hồ HK bao giờ chưa?

Vậy thì hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau quan sát nhé!

 Bước 4: Phổ biến cách thức hoạt động

Các bạn sẽ được trải nghiệm du ngoạn trên mặt hồ và cùng tái hiện vòng lịch sử.

Vậy thì trước tiên, các bạn có biết để đảm bảo an toàn khi đi thuyền trên mặt nước chúng ta cần những gì không ạ?

Đầu tiên, các bạn phải mặc áo phao thật chắc chắn, điều kiện cốt yếu các bạn nhé, bạn nào không có áo phao sẽ không được lên thuyền đâu nha!

Thứ hai, Mỗi một lượt thuyền chúng ta chỉ được phép 20 bạn lên và 1 người lớn thôi các bạn nha

Thứ ba, khi lên thuyền, các bạn lần lượt từng bạn lên một, không chen lấn xô đẩy nhau và tuyệt đối nghe theo sự hướng dẫn và sắp xếp của bác lái thuyền.

Thứ tư, trong khi thuyền đang chạy, các bạn không cho tay ra ngoài nghịch nước, không đùa xô đẩy nhau trên thuyền.

Các bạn rõ chưa?

Và cuối cùng, để thể hiện chúng ta kết hợp giữa trải nghiệm và học tập, các bạn quan sát giúp cô xem, mô hình tháp rùa của chúng ta có mấy tầng các bạn nhé, xem các bạn có thấy mô hình rùa không, lát cô sẽ hỏi lại đấy nhé!

Các bạn đã nghe rõ những quy định của cô chưa?

Nhắc lại giúp cô các lưu ý nào?........

Bây giờ 2 hàng chúng ta sẽ cử ra 1 bạn để oản, hàng nào thắng sẽ tham gia trải nghiệm trước, lần lượt theo lượt cho đến hết các bạn nhé.

Chúc mừng hàng đầu tiên chúng ta sẽ đi trước, 20 bạn đầu tiên mặc áo phao và lên thuyền đi ạ…

Cả xe chúng ta trải nghiệm có thấy thích không?

Bạn nào muốn đi thêm nữa, giơ tay?

Rất nhiều bạn, tuy nhiên thời gian của chúng ta có hạn và còn rất nhiều khu khác chúng ta chưa đi nên hẹn các bạn lần sau nha.

Bây giờ, các bạn trả lời cho cô biết, mô hình Tháp rùa của chúng ta có mấy tầng?

À, Tháp Rùa có kết cấu 4 tầng rất rõ ràng đúng không.

Và các bạn có nhìn thấy mô hình rùa không?

 Bước 5: Tổng kết hoạt động

 Bước 6: Chào kết thúc hoạt động

2.

HOÀNG THÀNH ĐẤT VIỆT

Trạng Tí tập trận

Chào mừng các bạn đã đến với mảnh đất Hoàng Thành Thăng Long của Khu trải nghiệm Vạn An, chúng ta sẽ cùng nhau tham gia một trải nghiệm vô cùng thú vị mang tên “Trạng Tí tập trận”.

Trước khi ra thao trường tập trận chúng ta sẽ cùng nhau ôn lại Bản Lĩnh Thần Đồng để xem Trạng Tí đã dùng chiến thuật, mưu kế gì mà có thể đánh tân đội quân hùng mạnh của bắc triều ra khỏi kinh thành các bạn nhé

A1.

Thửa xưa, Nước Nam ta sông liền sông, núi liền núi bên người hàng xóm khổng lồ Bắc quốc.

Với tham vọng thôn tính nước ta Bắc Quốc cử hàng vạn quân tinh nhuệ cùng nhiều Đại Pháo ùn ùn kéo đến Kinh Thành.

Ngày nay cổng bắc thành vẫn còn lưu lại dấu vết đạn lớn của chúng để lại.

Chúng vô cùng hung bạo đất nước ta rơi vào thế ngàn cân treo sợi tóc.

A2.

Lúc đó Quốc công tiết chế Thần đồng Lê Tí đã dùng liên hoàn kế để phá tan âm mưu đó của Bắc Quốc.(A2.1) Đầu tiên Trạng dùng kế “Vườn Không Nhà Trống” ( biến hoàng thành Thăng Long trở thành 1 kinh thành bỏ hoang) di chuyển toàn bộ dân chúng, của cải lương thực ra khỏi kinh thành đẻ giặc chiếm được thành 1 cách dễ dàng nhưng không có lương thực để sử dụng.

Chúng buộc phaỉ đưa lương thực từ Bắc Quốc sang tiếp viện. (A2.2)Và Trạng tiếp tục dùng kế “SÚC VẬT NỔI LOẠN” – (dùng động vật thay quân sĩ đánh giặc do lúc đó binh lực của ta rất ít).

Ông cho người đeo lục lạc, gáo dừa vào cổ chó để khi chạy sẽ tạo ra tiếng động hệt như đoàn kỵ binh hùng hậu khiến giặc hoảng loạn bắn tất cả số cung tên mà chúng có.Ông lại cho người buộc bùi nhùi rơm vào đuôi trâu đốt lửa khiến đàn trâu chạy toán loạn trong quân doanh của địch hậu quả xe lương của địch bắt lửa cháy rụi không còn lương thực tiếp viện.(A2.3) Kế thứ 3 “ Súng Thần công đại chiến” – dùng đại pháo đánh cho quân tướng Bắc triều tan tành xác pháo.

A3.

Sau khi quân tướng giặc trong thành không có quân lương tiếp viện bị đói bị dịch bệnh tấn công không còn sức chiến đấu lại bị ta đánh úp không kịp trở tay nên thất bại ê chề.Chúng ta đã lấy lại được Hoàng thành Thăng Long cuộc sống lại trở về an bình nhờ công Trạng Tí.

Tướng giặc Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy thoát thân.

Chúng ta vừa được tìm hiểu rất nhiều chiến lược hay của quốc công tiết chế Lê Tí và giờ các bạn đã sẵn sàng để đến với trải nghiệm bắn đại pháo thần công chưa nhỉ?Nếu đã sẵn sàng xin mời 2 đội chia thành 4 hàng đứng trước các khẩu đại pháo và chúng ta sẽ chon ra 1 bạn làm quốc công tiết chế Lê Tí chỉ huy tập trận.

Nhiệm vụ: toàn quân Đại Việt ta là dùng đại pháo thần công bắn vào mục tiêu là trại ngựa, kho lương và doanh trại của Bắc Quốc.

Cách sử dụng súng thần công: Các bạn nạp đạn vào máng súng, kéo căng dây mồi khai hỏa, gạt cần khai hỏa kích nổ.

( Trong quá trình học sinh trải nghiệm hdv hướng dẫn và đưa ra bình luận giao lưu với hs.Kết thúc hoạt dộng hdv có thể tổng kết( hỏi về các kế sách đã kể trong bảng nội dung) chào tạm biệt đoàn giới thiệu (khơi gợi) Đoàn đến với mô hình tiếp theo)

Lưu ý:

Quản lý trang phục( 1 áo choàng cho tướng quân + mũ đỏ, áo choàng và mũ vàng cho binh sĩ).

Xếp gọn gàng trên giá sau khi trải nghiệm.

Quản lý đạn ( lưu ý học sinh trả lại đạn vào vị trí các giỏ sau khi hoàn thành nhiệm vụ)

Không để học sinh đứng trước khu vực đường bắn của súng thần công.

Không gây hỏng hóc và tiếp cận các khu vực mục tiêu.

3.

GHI DANH BẢNG VÀNG

1, Mục đích

- Học sinh hiểu được ý nghĩa của việc thi cử thời xưa

- Trải nghiệm kiệu quan trạng vè làng

2, Dụng cụ

- Quan trạng

- Kinh sách

3, Tổ chức hoạt động

Chào mừng các bạn đã đến với hoạt động Ghi Danh Bảng Vàng của Khu Thần Đồng Đất Việt.

Các bạn ơi, trước khi chúng ta bắt đầu hoạt động, các bạn hãy cùng cô đọc thật to hai câu tự sau đây nha:

“ Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Đây là hai câu thơ nổi tiếng trong bài “Đi thi tự vịnh” của tác giả Nguyễn Công Trứ, khi đọc hai câu thơ trên, chúng ta có thể hiểu là: đã được sinh ra và có mặt trong trời đất này thì ắt hẳn chúng ta phải có trí lớn, có danh tiếng để đời, giúp ích cho non sông đất nước đấy các bạn ạ.

Ngày nay, các bạn học sinh đã và đang phấn đấu học hành thật giỏi giang để sau này lớn lên giúp ích cho đất nước đúng không.

Vậy thì, thời xưa, để có danh với núi sông và công trạng với đất nước, người trai phải trải qua những kỳ thi cực kỳ khó khăn, đòi hỏi người dự thi phải có đủ đức, đủ tài và đủ kiến thức thì mới vượt qua đươc (hdv nhìn tranh giới thiệu tiếp):

Đầu tiên, khi đã nuôi trong mình chí lớn rồi, thì Tí và tất cả các bạn sẽ phải trau dồi kiến thức, đạo đức tốt vượt qua kỳ khảo hạch (khảo sát)

Sau đó là kỳ thi Hương, đỗ kỳ thi hương thì được gọi là Hương Cống

Thi Hương xong, các bạn sẽ phải vượt qua kỳ thi Hội, đỗ đạt thi Hội sẽ được gọi là Đại Khoa

Sau thi Hương, sẽ là thi Đình, từ kỳ thi đình, sẽ tuyển chọn ra 3 vị với ba cấp tương ứng, cấp đệ tam (xếp thứ ba) được gọi là thám hoa, cấp đệ nhị (xếp thứ hai) được gọi là bảng nhãn, và cấp đệ nhất (xếp đầu tiên, đứng đầu) là trạng nguyên các bạn nhé.

HDV hướng dẫn phần trải nghiệm: trạng tí đi thi

Và trạng nguyên ngày xưa thì sẽ tương ứng với học vị cao nhất thời bây giờ đó chính là tiến sĩ đó các bạn ạ.

Có bạn nào trong số chúng ta muốn trở thành trạng nguyên không?

Vậy thì ngay bây giờ chúng ta sẽ cùng với Trạng tí chuẩn bị kinh sách để vượt qua các kỳ thi các bạn nhé: các bạn nhắc lại các kỳ thi chính mà các bạn sẽ phải vượt qua nào: Khảo hạch, thi hương, thi hội, thi đình.

Chúng ta sẽ chia thành 2 đội, mỗi đội sẽ lần lượt đi chuyển qua các kỳ thi phía bên này (hdv chỉ dẫn), lưu ý các kỳ thi của chúng ta sẽ có những khó khăn nhất định tương ứng với quãng đường di chuyển không hề dễ dàng, yêu cầu các bạn phải đủ thông minh, khéo léo và kiên trì để đỗ học vị cao nhất là trạng nguyên phía trên kia (hdv chỉ dẫn) sau đó tiếp tục di chuyển trở về vị trí ban đầu để chuẩn bị rước kiệu Trạng Tí về làng.

Vừa di chuyển các bạn sẽ phải cầm theo 1 kinh sách (lưu ý kinh sách phải luôn sạch đẹp gọn gàng – nơi cất tri thức).

Các bạn hãy thật cẩn thận nhé!

HDV hướng dẫn phần rước kiệu Trạng Tí về làng

Các bạn ơi, sau khi thi đỗ Trạng nguyên, ghi danh vào bảng vàng rồi thì lúc này trở về quê hương xóm làng chúng ta có thấy vinh dự không ạ?

Vậy thì bây giờ chúng ta hãy cùng rước kiệu trạng tí về làng trong niềm hân hoan đó nhé!

Mỗi lượt đi sẽ có 2 bạn, các bạn di chuyển khéo léo tương tự như vượt qua các kỳ thi nhé!

Lần lượt từng đôi một cho đến khi hết các thành viên.

Các bạn đã rõ chưa?

Bây giờ chúng ta sẽ cùng hô khẩu hiêu “Sẵn sàng” để chúng ta cùng bắt đầu Phần đầu tiên, trạng tí đi thi…3..2..1.. bắt đầu..( quá trình học sinh cầm kinh sách đi thi, hdv có thể bình luận thêm nội dung hoạt động và những lưu ý khi di chuyển).

Sau khi học sinh hoàn thành phần đi thi, chuyển sang phần rước kiệu trạng tí về làng.

Thực hiện tương tự.

4, Tổng kết hoạt động

- Các kỳ thi học trò thời xưa phải trải qua để trở thành trạng nguyên

- Tinh thần kiên trì, vượt khó

5, chào và kết thúc hoạt động

4.

LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN

1, Mục đích

- Hs biết thêm kiến thức về trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, tấm gương hiếu thảo, chịu khó.

- Hs được trải nghiệm kỹ năng vận động thô phần thân dưới

 Bước 2: Chào hỏi, dẫn dắt hoạt động

Chào mừng các bạn đã đến với Vùng đất thần đồng Đất Việt cùng với chuỗi vận động thân dưới mang tên Băng rừng kiếm củi.

Tại vị trí khu vực đang đứng đây chúng ta sẽ cùng được tìm hiểu một trong những vị trang nguyên kỳ tài trong lịch sử khoa bảng của nước ta, đó là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.

Mạc Đĩnh Chi tuổi nhỏ vượt khó để học tập, hiểu biết tinh thông nên được mệnh danh là thần đồng Đất Việt, lớn lên ông thi đỗ trạng nguyên ở hai quốc gia và được phong làm Lưỡng quốc trạng nguyên đó các bạn ạ.

Lưỡng là hai và quốc là nước các bạn nha.

 Bước 3: Gioi thiệu nội dung hoạt động

Sau đây, mời các bạn cùng tìm hiểu tấm gương hiếu học MĐC đã vượt khó học tập như thế nào thông qua những bức tranh sinh động trên đây : (hdv nhìn tranh và giới thiệu nội dung):

A1: MĐC được sinh ra trong 1 gia đình nghèo, mồ côi cha từ bé.

Hằng ngày, MĐC vào rừng kiếm củi phụ mẹ

A2: Vì nhà nghèo, không đủ tiền đi học, MĐC ngồi ngoài cửa lớp trộm nghe thầy giảng bài

A3: Tối đến, ánh sáng không đủ, MĐC bắt đom đóm cho vào vỏ trứng làm đèn học

Bây giờ, chúng ta sẽ cùng hóa thân thành MĐC thể hiện tinh thần kiên trì, bền bỉ và vượt khó để học tập, cùng nhau làm thần đồng Đất Việt các bạn có đồng ý không???

Đó là chúng ta sẽ cùng hóa thân làm MĐC: Băng rừng già, vượt lưới nhện , đi cầu vượt lũ, leo núi và vượt thác ( hdv chỉ vào A4, A5, A6, A7).

Bật bí với các bạn, với phần hóa thân này, các bạn không những trưởng thành giống như những thần đồng Đất Việt mà các bạn còn được rèn luyện sức khỏe dẻo dai nhờ phát triển vận động thô đấy các bạn ạ.

Các bạn có biết vận động thô phần thân dưới là gì không?

Vận động thô chính là vận động cử động phần cơ lớn trên cơ thể của chúng ta: mông, chân, gối và lưng các bạn nhé.

Ở phần trải nghiệm này chúng ta được vận động phần thân dưới bao gồm: mông, gối, cẳng chân và kết hợp với cơ cánh tay và sự quan sát tinh nhanh của các bạn nữa, các bạn thấy thú vị không ạ?

Bây giờ cho cô hỏi, chúng ta đang được tìm hiểu về trạng nguyên tên là… và chúng ta được trải nghiệm vận động thô bao gồm các cơ lớn nào?...

 Bước 4: Phổ biến cách thức hoạt động

Thế nhưng, chúng mình đã biết cách thức tham gia hoạt động này chưa nhỉ?

Đầu tiên cô chia xe mình thành hai đội, 1 đội nam và 1 đội nữ, hai đội tự tin đội nào sẽ giành chiến thắng hô to lên ạ???

Tiếp theo, mỗi đội sẽ cử ra 2 đội trưởng để cùng oản, đội nào thắng sẽ có thành viên đi trước, sau đó xen kẽ thành viên của đội sau, lần lượt như thế cho đến hết.

Cách để thành viên các đội tham gia như sau: Đầu tiên Chúng ta sẽ băng qua rừng già một cách khéo léo, càng về cuối khu rừng càng khó vượt qua, chân bước chắc và tay bám chặt trên các thân cây gỗ.

Tiếp theo, các bạn phải băng qua 2 lưới nhện cực kỳ khó khăn, các bạn phải thật khéo léo và nhanh nhẹn, kinh nghiệm là chúng ta sẽ cho 2 chân qua trước sau đó trườn người qua các hình tròn, tam giác, hình vuông.

Phần thứ ba, có thể nói là khó nhất ở chuỗi thân dưới này các bạn nhé, các bạn sẽ phải đi qua cầu để vượt lũ, những chiếc cầu này rất chòng chành khó đi, tay các bạn phải bám thật chặt, chân phải bước nhanh, mỗi bước đi phải thật thận trọng.

Sau khi qua cầu vượt lũ xong, các bạn sẽ phải leo núi và vượt thác.

Cuối cùng, khi đã vượt qua rất nhiều khó khăn rồi, các bạn sẽ được săn đom đóm bằng cách các bạn bật nhảy thật cao ở phía trong.

Sau đó di chuyển ra ngoài, trở về khu tập kết, hoàn thành nhiệm vụ, Lưu ý khi di chuyển vào trong đệm bật nhún để săn đom đóm, mỗi lượt lên chỉ có 1 bạn thôi nhé.

Đội nào hoàn thành hết người chơi xong trước sẽ giành chiến thắng.

Các bạn đã rõ cách tham gia chưa ạ? ( nếu chưa mời 1 bạn đi mẫu).

Đội nào tự tin giành chiến thắng vỗ tay thật to?

Các bạn đã sẵn sàng rồi, phần thi của chúng ta bắt đầu….

 Bước 5: Tổng kết hoạt động

Tổng kết đội giành chiến thắng và nội dung hoạt động

Bước 6: Chào và hẹn gặp l

5.

TRẠNG NGUYÊN DANH DỰ

1, Mục đích

- HS hiểu biết thêm kiếm thức về trạng nguyên Nguyễn Hiền

- HS được tham gia trải nghiệm phát triển vận động thô phần thân trên

 Bước 1: Dẫn dắt vào hoạt động

.Chào mừng các bạn đến với khu Trạng nguyên danh dự trên vùng đất Thần đồng Đất Việt.

Các bạn ơi, các bạn có biết tại sao lại gọi là trạng nguyên danh dự không?

Vậy các bạn cho cô biết trạng nguyên nhỏ tuổi nhất của nước ta tên là gì không?

À, rất nhiều câu trả lời khác nhau, và đáp án chính xác: trạng nguyên đầu tiên và nhỏ tuổi nhất của nước ta đó chính là Nguyễn Hiền, ông đỗ trang nguyên năm bao nhiêu tuổi ạ? ( năm 13 tuổi các bạn nhé)?

Sau khi Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên, vì tuổi còn nhỏ nên chưa được giữ chức quan trong triều đình, ông về quê tiếp tục đọc sách và phụng dưỡng mẹ, đây là lý do ông Nguyễn Hiền được gọi là trạng nguyên danh dự các bạn ạ.

Tuổi thơ ông Nguyễn Hiền gắn liền với nhiều điển tích nổi tiếng, nên ông cũng được mệnh danh là thần đồng của Đất Việt.

Trong đó, nổi tiếng là điển tích xâu chỉ qua vỏ ốc. (HDV nhìn bảng biển để dẫn dắt nội dung)

Phần thách đố:

Có 1 lần sứ giả nước Trung Hoa sang thăm nước ta và thách đố vua quan nhà Trần như sau: Ta đố các ngươi làm thế nào để xâu chỉ qua vỏ ốc?, lúc này vua quan triều đình đưa ra rất nhiều cách để giải đố: có cách đập tan vỏ ốc, có cách bôi sáp vào chỉ nhưng đều không tìm ra cách giải đố trọn vẹn.

Phần giải đố:

Lúc này, triều đình cử người đến hỏi Nguyễn Hiền.

Ông giải đố rất nhanh bằng 4 câu thơ sau đây, các bạn hãy cùng đọc thật to nhé:

“Tích tịch tình tang

Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng

Bên thì lấy giấy mà bưng

Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang”

Nghe xong, các bạn có biết đáp án của việc xâu chỉ qua vỏ ốc như thế nào không?

À, sự việc này cho thấy trạng nguyên Nguyễn Hiền rất thông minh và tài giỏi, ông đã chỉ ra cách rất đơn giản, đó là mượn đặc tính của kiến càng hay thích mồi thơm, sau đó buộc sợi chỉ ngang lưng kiến, bôi mỡ vào vỏ ốc, kiến thấy thơm sẽ bò qua, lúc đó ta lấy giấy chắn đầu bên này lại (để tránh kiến bò lại), là ta đã có sợi chỉ xuyên qua mình ốc rồi.

Các bạn thấy có hay không ạ?

Vậy ngày hôm nay các bạn có sẵn sàng cùng với trạng nguyên Nguyễn Hiền mô phỏng hành động xâu chỉ qua vỏ ốc không?, những trải nghiệm này không những để các bạn ghi nhớ cốt lõi liên quan đến nhân vật lịch sử, mà còn giúp các bạn vận động và phát triển các phần cơ lớn của cơ thể chúng ta, đó là cánh tay, bả vai, lưng, và kết hợp với chân và mông nữa.

 Bước 3: Hướng dẫn, mô phỏng hoạt động

Trước tiên các bạn nghe cô hướng dẫn các hành động mô phỏng nhé! (hdv có thể nhìn bảng hoặc mô phỏng trực tiếp)

Đầu tiên chúng ta sẽ phải tìm bắt bạn kiến càng, các bạn sẽ chui qua các tổ kiến, nhớ là phải tìm đúng đường ra nha.

TiẾp theo, các bạn sẽ chuyền qua dây bôi mỡ bằng liên hoàn 2 dãy tay cầm phía bên phải đây, tay bám chắc vào hệ thống tay cầm, chân đi chắc trên thanh gỗ làm sao để di chuyển thật nhanh để cán đích.

Cuối cùng, các bạn sẽ mô phỏng luồn chỉ qua vỏ ốc bằng cách ngồi trên ghế chắc chắn đu di chuyển từ phía trên xuống.

Kết thúc các bạn trở về vị trí tập kết ban đầu.

Các bạn nhớ rõ chưa ạ?

Nhắc lại giúp cô, bước 1 chúng ta sẽ mô phỏng hành động gì ạ? (chui qua hang bắt kiến càng).

Bước 2: Kéo chỉ đào.

Bước 3: chuyền qua dây bôi mỡ.

Bước 4: luồn chỉ qua vỏ ốc.

Cô mời lớp trưởng lên đi mẫu nhé….

Bây giờ, Các bạn đã sẵn sàng để tham gia chưa?

 Bước 4: Tổ chức hoạt động

HDV Cho học sinh di chuyển theo sự hướng dẫn, lần lượt qua các hành động: bắt kiến, bÔi mỡ, xâu chỉ.

Đối với hoạt động xâu chỉ, hdv cs thể nhờ sự hỗ trợ từ hdv tuyến, giáo viên và phụ huynh đi cùng đoàn để tạo sự gắn kết.

Để không khí sôi nổi, hdv có thể chia nhóm tranh đấu

 Bước 5: Tổng kết hoạt động

HDV tổng kết về phần nội dung chính và chuối kỹ năng vận động thô phát triển thân trên

 Bước 6: Chào và hẹn gặp lại.

6.

SỨ GIẢ LONG VƯƠNG

1, Mục đích

- Học sinh biết nhận biệt một số loại cá thường gặp, tập tính và thức ăn của chúng

2, CSVC cần

- Các biển bảng in hình cá mè, cá trôi, cá chép… theo phân tầng nước

- Thức ăn cho cá: cám công nghiệp, cỏ, thóc, cây chuối thái…

- Fomex, hũ đựng cám

 Bước 2: Chào hỏi, dẫn dắt hoạt động

Chào mừng các bạn xe số 6 đã đến với Sứ Gỉa Long Vương của Khu trải nghiệm Vạn An.

Đến đây các bạn sẽ được tỉm hiểu rất nhiều loại cá thú vị.

Vậy Các bạn cho cô hỏi ở gia đình chúng ta có nhà bạn nào nuôi cá không?

Vậy các bạn hãy kể tên các loại cá các bạn thường gặp nào?....

Các bạn xe số 6 rất thông minh và có trí nhớ tốt, nhưng các bạn có biết tại sao chúng ta lại có thể nhận biết các loại cá đó không?

À, các bạn còn rất mơ hồ đúng không, vậy hôm nay cô sẽ cùng các bạn tìm hiểu một số loại cá sinh sống theo tầng, đặc điểm thức ăn của chúng và cùng tham gia trải nghiệm cho cá ăn nhé!

Các bạn đã sẵn sàng chưa?

 Bước 3: Hướng dẫn nội dung phân loại các tầng cá

Các bạn cùng quan sát lên bảng trên này nhé!

Chúng ta có 3 tầng nước (Tầng mặt, tầng giữa và tầng đáy), mỗi tầng sẽ có những loại cá khác nhau sinh sống.

Các bạn sẽ cùng với cô đọc bài đồng dao rất quen thuộc mà qua đó các bạn sẽ nhớ được các bạn cá tiêu biểu ở mỗi tầng nhé!

Bạn nào đọc to, đều sẽ nhận được quà:

Cá mè ăn nổi

Cá chép ăn chìm

Con tép lim dim

Trong chùm rễ cỏ

Con cua áo đỏ

Cắt cỏ trên bờ

Con cá múa cờ

Đẹp ơi là đẹp

Các bạn đọc rất tốt, bây giờ chúng ta cùng quan sát lên đây nha, qua bài đồng dao vừa rồi ta có thể biết ở tầng mặt là bạn cá mè ăn nổi, tầng đáy ăn chìm có bạn cá chép, tầng giữa là bạn cá trôi.

Vậy chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu kỹ hơn về đặc điểm của mỗi tầng nước, và thử xem xem ở mỗi tầng, ngoài các bạn cá chúng ta vừa nhắc đến, còn có những bạn cá nào nhé!

Tầng đầu tiên là tầng mặt nước, ở tầng này là nơi sống của những loài cá không có chỗ ẩn náu như cá nhám, cá trích…để tránh kẻ thù, chúng có mình dài, khúc đuôi to khỏe, bơi nhanh, và tiêu biểu đó chính là bạn cá mè .

Bây giờ, các bạn nhìn vào tầng giữa, khác với tầng mặt nước, các loài cá sống ở tầng giữa có khúc đuôi yếu và bơi châm hơn.

Loại cá tiêu biểu đó là bạn cá trôi. .

Cuối cùng là tầng đáy, các bạn ơi, nếu như ở tầng mặt đặc điểm của các loại cá là sẽ có các bộ phận vây đuôi to khỏe, bơi nhanh, tầng giữa các loại cá sẽ có vây đuôi kích cỡ trung bình và bơi chậm hơn, vậy thì theo các bạn ở tầng đáy, các bộ phận đó của các loài sẽ như thế nào ạ?

À, vây ngực, vây hông sẽ tiêu giảm đi, và lúc này, những loài sống ở tầng đáy sẽ sống chui luồn dưới đáy bùn và có mình rất dài, chúng ta quan sát như có bạn lươn, bạn trạch đúng không ạ?

Tuy nhiên, ở tầng đáy còn có những loại cá ăn động vật đáy là chính, và vẫn có thể sống ở tầng giữa và tầng mặt đó là bạn cá chép.

Đó là một số loại cá ở 3 tầng mà chúng ta được tìm hiểu, các bạn nhắc lại giúp cô tầng mặt nước là cá gì?

Tầng giữa là cá gì?

Và tầng đáy?

Các bạn đã nhớ hết đặc điểm của các bạn cá đó chưa?

 Bước 4: Hướng dẫn thông tin phân loại thức ăn cho cá

Bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu kỹ hơn thức ăn của các bạn cá nhé.

Chúng ta có thể chia thức ăn của các bạn cá theo 2 cách.

Cách thứ nhất, dựa vào đặc điểm sinh học và không gian của mỗi tầng nước, cách thứ hai, ta chia thành 2 dạng: thức ăn tự nhiên và thức ăn thức ăn bổ sung do con người cung cấp.

Với cách thứ nhất chúng ta sẽ thấy như sau:

• Tầng mặt nước: rất gần với chúng ta có nhiều oxi, ánh sáng ấm áp đây là ngôi nhà yêu thích của bạn cá phát tài, cá mè hoa.

Các bạn ấy thích ăn các loại thực vật phù du tảo

• Tầng giữa: nước lạnh hơn, trong hơn ngôi nhà yêu thích của bạn cá trôi Ấn Độ.

Bạn ấy cực yêu thích các loại bã hữu cơ (phân của các loại động vật), bèo tấm, cỏ.

• Tầng đáy: nghèo oxi, ít ánh sáng, nhiều kim loại nặng độc hại nếu nước ô nhiễm.

Đây là ngôi nhà yêu thích của bạn cá chép, cá chạch.

Các bạn ấy thích ăn các loại động vật sống dưới đấy ao hồ như giun ,ấu trùng tôm, ốc nhỏ...

Còn lại, cách thứ hai, chúng ta phân thành 2 dạng chung hơn các bạn nhé!

• Dạng 1, Thức ăn tự nhiên: là những loại thức ăn tự sản xuất trong vực nước gồm: Thực vật phù du (các loại tảo), thực vật bậc cao (các loại rong, cỏ nước), động vật phù du (thủy trần, giáp xác nhỏ) và sinh vật đáy (các loại ấu trùng muỗi,, giun, ốc, hến).

Các loại thức ăn này có chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của cá.

Mặt hạn chế là số lượng chỉ có giới hạn nhất định, nên cần tác động của con người.

• Dạng 2, Thức ăn bổ sung gồm thức ăn tinh (cám gạo, bột ngô, bột sắn, bột cá…), thức ăn hỗn hợp nhiều thành phần thức ăn viên “còn gọi là thức ăn công nghiệp”, thức ăn phối trộn nằm rải ven ao cho cá, tôm ăn “gọi là thức ăn chế biến”, thức ăn xanh (các loại cỏ cạn, rong, bèo… không đắng độc với cá), thức ăn là phế thải của nông nghiệp như (bã đậu, bã rượu, bã bia, đầu tôm, đầu cá, phế thải lò mổ…)

 Bước 5: Hướng dẫn trải nghiệm cho cá ăn

Đó là các cách chúng ta chia thức ăn cho các bạn cá, và ngày hôm nay, để dễ dàng trong việc di chuyển và cho cá ăn tại Khu trải nghiệm Vạn An, chúng ta sẽ được trải nghiệm cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp có dạng viên các bạn nhé, đây là thức ăn cho cá cho nên chúng ta lưu ý đặc biệt không được cho vào mồm nhé, lát nữa chúng ta sẽ lên rửa tay.

Trước khi bắt đầu, cô lưu ý với các bạn như sau, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu và trải nghiệm về các loại cá trên 1 chiếc cầu rất đẹp, các bạn quan sát giúp cô xem cầu dược làm bằng chất liệu gì là chủ yếu? là gỗ, tre, nứa, vậy thì khi di chuyển xuống phía dưới, các bạn tuyệt đối không được chạy nhảy, xô đẩy nhau và không tự ý với tay ra ngoài, các bạn đã nhớ chưa?

Cạnh các thành cầu cô đã bố trí thức ăn trong các gáo dừa, hàng bên phải sẽ lần lượt lấy thức ăn phía thành cầu bên phải, hàng bên trái lần lượt lấy thức ăn phía thành cầu bên trái, trong các gáo đựng thức ăn, các bạn sẽ đi qua lấy lần lượt, mỗi bạn 1 nắm và di chuyển lên phía cao của cầu, lưu ý không xô đẩy và tranh nhau nhé các bạn.

Cô sẽ chấm điểm thanh lịch cho cả 2 hàng.

Các bạn đã sẵn sàng tham gia chưa ạ?

Bây giờ, mời cả xe chúng ta di chuyển theo hàng lối cùng trải nghiệm nhé!

Bước 6: Tổng kết và hẹn gặp lại

7.

SÁNG TẠO XẾP GỖ

1, Mục đích

- HS biết tư duy sáng tạo

2, CSVC cần

- Gỗ

- Mô hình xếp mẫu

 Bước 2: Chào hỏi, giới thiệu

Các bạn xe số 8 đang có mặt tại mô hình xếp gỗ sáng tạo của khu trải nghiệm Vạn An.

Ở đây, có bạn nào đã từng được tham gia hoạt động này hoặc được tự chơi ở nhà rồi giơ tay?

Rất nhiều bạn, vậy ở nhà các bạn thường hay xếp những hình gì nào?

Đã bạn nào xây được tòa tháp chọc trời chưa?...

Hôm nay, đến với Mô hình xếp gỗ của Vạn An, các bạn sẽ được thỏa sức sáng tạo, và chủ đề dành cho các bạn đó là xây dựng các công trình kiến trúc độc đáo.

Các bạn thử kể tên cho cô các công trình kiến trúc nổi tiếng mà các bạn biết được không?

Cả trên thế giới và ở Việt Nam nhé!

À, có Kim tự tháp Ai Cập, có Vạn Lý Trường Thành – Trung Quốc, Tháp nghiêng PIZA, tháp Effien…

Còn ở Việt Nam, cụ thể ở Hà Nội nào?

À, chúng ta có Lăng bác, Chùa một cột, Tháp rùa, Tòa nhà cao vút Keangnam 72 tầng, Bảo tàng Hà Nội mới có hình Kim tự tháp ngược… và rất nhiều những công trình kiến trúc khác mà bạn nào cũng biết như Bệnh viên, bưu điện, công viên, nhà cao tầng…

Vậy theo các bạn, để xây dựng lên các công trình đó, chúng ta cần nhiều thời gian, công sức và của cải vật chất không?

Và quan trọng, để có thể thi công, chúng ta sẽ cần những ai nhỉ?...

À, kiến trúc sư, những nhà thiết kế thi công và công nhân công trường đúng không?

Vậy hôm nay chúng ta sẽ cùng thử làm những kiến trúc sư nhí, biết đâu sau hoạt động này các bạn lại có thêm ý tưởng cho nghề nghiệp trong tương lai, các bạn có thích không?

Đã sẵn sàng để chúng ta cùng tham gia chưa?

Vậy thì hãy dành 1 tràng pháo tay thật lớn để chúng ta bắt đầu nào?

 Bước 3: Phổ biến cách thức tham gia hoạt động

Các bạn ơi, cô đã bố trí cho chúng ta 1 không gian rất thoải mái để các bạn sáng tạo, nhưng để chúng ta là những nhà kiến trúc sư khoa học hơn, trí tuệ hơn thì cô sẽ lưu ý với các bạn những điều sau, các bạn chú ý lắng nghe thật kỹ nhé!

1, đó là xe của chúng ta sẽ chia thành 5 nhóm mỗi nhóm tối đa 10 bạn, vì sao các bạn biết không?

Vì bất kỳ một công trình nào cũng cần những đội nhóm đoàn kết và sáng tạo, “ một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao”.

5 nhóm này của các bạn sẽ cố định đến khi chúng ta kết thúc hoạt động này nhé.

2, mỗi nhóm sẽ nhận được 1 lượng gỗ trong khay cố định, trong quá trình tham gia, chúng ta không được tự ý tranh giành gỗ của nhóm khác, mọi sự di chuyển gỗ phải qua thương lượng giữa các trưởng nhóm với nhau và được sự cho phép của cả nhóm.

3, các nhóm sẽ thực hiện dưới sự yêu cầu của cô, cô sẽ làm trọng tài cho xe của chúng ta.

4, Chúng ta sẽ trải qua 3 phần thi.

Phần 1: Đặt tên nhóm, tìm đội trưởng, phân chia nhiệm vụ, các bạn có 3 phút để thực hiện phần này, nhóm nào xong trước là đội thắng.

Lưu ý, chúng ta chỉ tìm ra đội thắng qua mỗi vòng, còn lại sẽ là đội thua.

Phần 2: Làm quen với gỗ, cô sẽ đưa ra một hoặc hình mẫu bất kỳ trên bảng, đội nào xếp xong trước báo cô kiểm tra và thắng cuộc. (Các hình ở phần này tương đối đơn giản), thời gian tối đa là 10p.

Phần ba, phần cuối cùng, đội nào thắng sẽ là đội thắng chung cuộc.

Mỗi đội sẽ tự xây 1 công trình kiến trúc bất kỳ và phải thuyết trình về công trình đó.

Đội nào xây đẹp, thuyết trình hay sẽ chiến thắng, phần này cô sẽ mời cô giáo cn/ hdv làm ban giám khảo cùng.

 Bước 4: Tổ chức hoạt động

Các bạn đã rõ luật chưa ạ?

Đã sẵn sàng chưa?

Bây giờ chúng ta sẽ làm từng bước theo hướng dẫn của cô nhé.

Bước 1: nhanh chóng tìm cho mình đồng đội, 10 bạn 1 nhóm.

Nhanh ….. nhanh… nhanh.

Nhóm nào xong báo xong.

Các bạn có đội của mình chưa?

Bây giờ mời các bạn bỏ hết giày dép ở ngoài và ngồi lần lượt theo 5 nhóm cô chỉ: 1,2,3,4 và 5.

Nhanh chóng ổn định.

Bước 2: Cô sẽ chia gỗ cho cả 5 nhóm, các bạn để nguyên chưa chạm vào gỗ nhé, đội nào chạm trước sẽ bị tính thua luôn.

Bước 3: Chúng ta chính thức bước vào phần thi

Phần 1, các bạn có 3 phút để đặt tên nhóm và phân chia nhiệm vụ…

Các bạn đã có tên nhóm chưa?

Nhóm nào xong rồi báo cô luôn nhé!

Xin chúc mừng nhóm 2, các bạn có tên nhóm là?

Đội trưởng tên là?

Các thành viên khác đã có nhiệm vụ hết chưa ạ?

Rất nhanh, rất nguy hiểm, các nhóm khác chúng ta vẫn phải hoản thành nhiệm vụ thật nhanh nhé các bạn. …

Các bạn có tên nhóm hết chưa ạ?

Nhóm 1..3…4…5 , lần lượt báo tên nhóm đi ạ.

Bây giờ, nhóm nào tự tin mình giành chiến thắng hô to tên nhóm lên ạ?

To nữa lên?

Rất tuyệt vời cho tinh thần của các bạn xe số 8.

Đây mới chỉ là phần khởi động làm tăng tinh thần của các bạn thôi ạ.

Phần 2, Làm quen với gỗ, phần này sẽ giúp các bạn hiểu hơn về độ dài và cách xếp những thanh gỗ các bạn được giao làm tiền đề cho phần thi số 3, như sau, tất cả các bạn quan sát lên bảng trên này, chúng ta có rất nhiều hình mãu khác nhau, tuy nhiên, cả 5 nhóm sẽ xếp cho cô 3 hình: hình đồng hồ, hình con cá và hình bông hoa.

Các bạn nhớ chưa ạ?

Nhắc lại cho cô chúng ta phải hoàn thành mấy hình?

Gồm những hình nào?

Các bạn có tối đa 10p để thực hiện.

10p bắt đầu…

Bình luận: Các bạn lưu ý, chúng ta xếp làm sao để tiết kiệm diện tích nhất, đẹp nhất và nhanh nhất, chúng ta chấm cả điểm khoa học nhé, máy ảnh của chúng tôi đang chụp trực tiếp các bạn đấy ạ, có vẻ như các bạn rất thông minh và khéo léo đấy ạ.

Nhóm nào xong cả nhóm hô to tên đội.

Đội nào sẽ là đội xong đầu tiên đây?

A..

Xin chúc mừng đội…các bạn giỏi quá, các đội còn lại tiếp tục đi ạ, lát nữa chúng ta sẽ chấm xem đội nào xếp đẹp nhất nữa…

Xin chúc mừng đội…

đã giành chiến thắng trong phần 2 này.

Và các bạn ơi, các bạn thấy có thú vị không ạ?

Đã quen với kích thước các thanh gỗ chưa?

Phần 3 là phần khó nhất và quyết định đấy nhé!

Các bạn sẵn sàng chưa?

Phần 3 như sau: mỗi đội hãy tự thảo luận và đưa ra 1 công trình các bạn thích, sau đó tiến hành thi công thể hiện bằng các thanh gỗ vốn có.

Các chủ đề có thể giống nhau, nhưng tuyệt đối không được copy mô hình của nhóm khác, 2 đội xếp giống nhau sẽ bị loại luôn nhé.

Các bạn có 15p để xếp, sau đó chúng ta sẽ cử ra bạn xuất sắc nhất để thuyết trình về công trình của nhóm.

Sau đó chúng ta sẽ cùng cô giáo nhận xét và chấm điểm.

Cô cho các bạn 5p để tìm ra chủ đề.

Gợi ý, các bạn có thể xây dựng trường học, công viên, khu vui chơi, tòa nhà…

Lưu ý, mỗi công trình phải có điểm nhấn riêng nhé các bạn, sẽ đánh giá cao sự sáng tạo của các bạn….

Hết 5p, bây giờ có 15p để chúng ta thi công.

15p bắt đầu…

Wow các bạn xe số 8 cực kỳ sáng tạo, cô quan sát thấy các bạn đang làm rất tốt, trong tương lai các bạn sẽ có khả năng trở thành những nhà kiến trúc sư nổi tiếng.

Có 2 nhóm đã hoàn thiện công trình, 3 nhóm, 4 nhóm, chúng ta cùng cổ vũ để nhóm cuối cùng hoàn thành nhiệm vụ nào?

Cố lên, cố lên…

 Bước 5: Công bố kết quả cuối cùng

Như vậy, cả 5 nhóm đã hoàn thành xong, bây giờ đến phần quan trọng nhất, phần thuyết trình, trước khi chúng ta thuyết trình, mời các bạn di chuyển ra ngoài, chúng ta có 1 cuộc triển lãm 5 công trình, tới nhóm nào nhóm đấy cử đại diện lên thuyết trình.

Lưu ý, khi lên thuyết trình chúng ta phải đảm bảo đủ các yếu tố sau:

1: Tên công trình là gì?

2: Cấu trúc của công trình?

Gồm mấy phần, mấy khu?

3.

Thông điệp của cả nhóm thông qua công trình.

Các bạn nhớ rõ chưa ạ?

Bây giờ, đội nào tự tin lên trả lời trước ạ?

Đội nào lên trước sẽ được cộng thêm điểm…

Lần lượt 5 đội lên…

Cả 5 đội đều rất xuất sắc và tài giỏi, bây giờ cô sẽ mời cô giáo cn cho nhận xét và chấm điểm công bố đội thắng nhé!

Xin mời cô,….

Cảm ơn cô, và chúc mừng đội…

đã giành chiến thắng, các đội còn lại chớ vội buồn nhé, cô đánh giá rất cao những công trình và ý tưởng của các bạn.

Về nhà các bạn có thể tiếp tục phát triển ý tưởng của mình nhé!

Các công trình của các bạn rất đẹp, bây giờ từng nhóm sẽ cùng lên chụp ảnh với công trình của mình sau đó gọn gàng gỗ của nhóm mình vào giúp cô nhé!

 Bước 6: Tổng kết, Chào kết thúc hoạt động

Như vậy, chúng ta đã kết thúc hoạt động tại mô hình xếp gỗ rồi, tổng kết lại các bạn xe số 8 đã rất tài giỏi và thông minh, các bạn để lại cho cô rất nhiều ấn tượng và ý tưởng, truyền cảm hứng cho rất nhiều bạn đúng không ạ.

Hy vọng, trong tương lai xe số 8 có nhiều bạn trở thành những kiến trúc sư nổi tiếng nha.

Bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại tất cả các bạn.

Chúng ta nhanh chóng xếp hàng theo cô chú hdv để đến với các mô hình tiếp theo.

8.

PHƯỜNG RỐI DÂN GIAN

(Con rối đá bóng)

Mục đích: - Giới thiệu về các loại hình nghệ thuật rối cạn dân gian

- Học sinh biết cách thực hành điều khiển con rối.

LỜI DẪN:

Chị Trùm Phường xin được gửi lời chào mừng các bạn xe số 01 đã đến với Phường rối dân gian Hoàng Gia của khu trải nghiệm Vạn An. ( Chúng mình có biết tại sao chị lại tên là Trùm không nhỉ. (À LÀ VÌ Ở MỖI MỘT GÁNH RỐI, PHƯỜNG RỐI NGƯỜI TRƯỞNG NHÓM, DẪN DẮT VÀ HƯỚNG DẪN MỌI NGƯỜI SINH HOẠT MÚA RỐI NGƯỜI TA ĐỀU GỌI LÀ ÔNG TRÙM)

Cho chị hỏi ngày hôm nay chúng mình có sẵn sàng cùng chị khám phá một bộ môn nghệ thuật kết hợp giữa truyền thống và hiện đại chưa nhỉ?

Chúng mình thử đoán xem bộ môn nghệ thuật mà chị nhắc tới tên gọi là gì ?

À bộ môn nghệ thuật mà chị nhắc tới Đó chính là nghệ thuật múa rối cạn và các bạn sẽ có 1 trải nghiệm rất thú vị tự tay điều khiển con rối đá bóng trên sân bóng mini .

Cung cấp thông tin

Nhưng trước khi tham gia trải nghiệm chúng mình cùng khám phá với chị xem múa rối cạn có bao nhiêu hình thức biểu diển nhé.

Múa rối cạn có rất nhiều hình thức biểu diễn nhưng ngày hôm nay chị sẽ giới thiệu với các bạn 3 loại hình rối cạn phổ biến nhất đó là rối tay, rối dây, rối bóng.... ( hdv dùng các con rối thị phạm)

A1 Múa rối tay: là dạng con rối mà nghệ sĩ có thể dùng tay để biểu diễn.

Chúng ta có thể dùng ngón tay hoặc cả bàn tay để biểu diễn như thế này ( mô phỏng bằng hình ảnh thực tế)

A2 Múa rối bóng: là các con rối được nghệ sĩ điều khiển các cử động sau 1 tấm màn và khán giả chỉ nhìn thấy bóng của chúng trên tám màn chứ không thể nhìn thấy hình ảnh trực tiếp của chúng.

A3 Con rối dây: là dạng con rối nghệ sĩ dùng dây để biểu diễn, điều khiển cử động của con rối.

Ví dụ như bộ con rối Tứ hoàng leo dây các bạn đang nhìn thấy đây.

Hướng dẫn thực hành

Đối với học sinh mầm non: Con rối leo dây ( 4 nhân vật chính trong Thần đồng Đất Việt thi leo dây)

Ngay bây giờ anh (chị) sẽ mời tất cả các bạn nhỏ xe 01 sẽ cùng nhau đến với trải nghiệm Con rối leo dây.

Nhiệm vụ của các bạn là dùng 2 tay của mình cầm 2 chiếc nút gỗ và kéo luân phiên từng chiếc nút gỗ về phía mình để điều khiển các con rối leo dây lên cao.

Bạn nào có thể nhanh tay khéo léo điều khiển được con rối về đích trước thì bạn đó sẽ thắng cuộc.

Các bạn cùng nhìn anh (chị) thị phạm trước nhé!

Chúng mình có thấy đơn giản không nhỉ?

Chúng mình đã sẵn sàng bước vào cuộc đấu CON RỐI LEO CÂY chưa nào.

3.2,1 Bắt đầu.

Đối với học sinh tiểu học, cấp 2: Con rối ghi bàn (điều khiển con rối đá bóng trên sân bóng mini)

Các bạn xe số 01 cho chị hỏi chúng mình đã nhìn thấy sân bóng mini nằm trên bàn chưa nhỉ?

Giờ chị sẽ phát cho các bạn các cầu thủ rối và chúng ta sẽ đưa tay xuống dưới sân bóng khéo léo điều khiển các cầu thủ dùng chân sút bóng vào cầu môn đối thủ nhé.

Lưu ý sân bóng mini và các cầu thủ rối các nghệ nhân phải chế tạo rất tỉ mỉ, công phu nên các bạn nhớ giữ gìn cẩn thận nhé.Và bây giờ chúng ta sẽ đến với trận cầu đỉnh cao của các thần đồng nào!

321 BẮT ĐẦU!

(Sau khi học sinh trải nghiệm tầm 5-10 phút thì tổng kết hoạt động và gợi ý cho học sinh đến với trải nghiệm khác )

Thời gian trải nghiệm tại mô hình Phường rối dân gian đã hết rồi.

Xin mời các bạn xe số 01 trả lại các con rối cho chị và nhanh chóng tập hợp cùng anh HDV đến với các hoạt đọng trải nghiệm khác nào.

9.

LỚP HỌC ĐỒ KIẾT

1, Mục đích

- Hs có thêm kiến thức về truyền thống tôn sự trọng đạo, kthuc về nghề in khắc

- Được trải nghiệm thành quả của nghề in khắc – làm tranh dân gian Đông Hồ

2, CSVC cần có

- Mẫu khắc gỗ

- Biển bảng liên quan

- Đồ dân gian Đông Hồ

3, Nội dung dẫn

 Bước 2: Gioi thiệu hoạt động

Chào mừng các bạn đã có mặt tại lớp học Đồ Kiết.

Đã bạn nào được đọc tập truyện Thần Đồng Đất Việt và biết đến lớp học của thầy đồ Kiết chưa?

Ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về lớp học này, về truyền thống tôn sư trọng đạo và cùng nhau trải nghiệm in tranh để mang quà về cho người thân các bạn nhé .

Các bạn cùng nổ một tràng pháo tay thật lớn để chúng ta bắt đầu nào.

Trước tiên, khi nhắc đến lớp học, thì chúng ta sẽ nghĩ đến hai nhân vật quan trọng là thầy và trò.

Từ xưa đến nay, truyền thống tôn sư trọng đạo vẫn là truyền thống xuyên suốt của con dân Đất Việt.

Điều đó được thể hiện qua những câu văn thơ và thành ngữ nào, các bạn có biết không?

“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư (1 chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy)”, không thầy đố mày làm nên, trọng thầy mới được làm thầy…”.

Theo đó, chúng ta phải biết lễ phép, kính trọng vầ biết ơn thầy cô đúng không nào?

Giới thiệu về lớp học hà tiện và thầy đồ Kiết

Ngày hôm nay, đến với Khu trải nghiệm Vạn An, chúng ta sẽ cùng làm quen với thầy trò trong Lớp học Đồ Kiết, đây là lớp học thầy đồ Kiết dạy học trò của mình các bài học về sự tiết kiệm.

Thầy dạy những bài học tiết kiệm về ăn mặc, chi tiêu, trong đó đặc sắc nhất là bài học về ăn uống.

Đó là cách thầy mang 1 con cá gỗ ra, dạy học sinh của mình treo ngược lên trước mỗi bữa ăn, chỉ cần nhìn cá và nhuốt là sẽ thấy no và thỏa cơn thèm, thay vì cá gỗ các trò có thể treo thịt gỗ, gà gỗ…Các bạn có thấy như vậy là tiết kiệm không?

À, không những tiết kiệm mà còn rất thú vị đúng không nào?

Bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau hóa thân thành học trò của thầy đồ Kiết, tìm hiểu về nghề khắc in, về làng nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, và cùng thực hành tính tiết kiệm nhé! (hdv bắt đầu nhìn tranh và giới thiệu)

• Nguồn gốc

Các bạn ơi, nghề khắc in là nghề có mặt từ rất lâu đời rồi và vẫn còn ứng dụng đến ngày nay là các con dấu, các bản khắc gỗ dân gian các bạn nhé.

A1: Các bạn quan sát lên đây, ông tổ của nghề khắc in Việt Nam chúng ta có tên là Lương Như Hộc, ông là người quê ở Hải Dương, thông minh, tài giỏi, học rộng tài cao, từng thi đỗ đại khoa, có công học hỏi và mang kỹ thuật in về cho quê hương, cho nên, sau khi qua đời ông được tôn là ông tổ nghề in đấy các bạn ạ.

A2: Nghề in khắc là nghề rất độc đáo và những người làm ra những bản khắc sẽ được gọi là tử nhân các bạn nhé.

• Nguyên liệu sử dụng

Tiếp theo, các bạn quan sát lên đây, để làm ra bất kỳ một tác phẩm nào cũng cần rất nhiều những công đoạn và dụng cụ nguyên liệu, bí kíp khác nhau đúng không?.

Cô sẽ giới thiệu cho các bạn các nguyên liệu cơ bản để có thể làm bản khắc in, điều đặc biệt các bạn nên ghi nhớ, đó là tất cả các nguyên liệu đó đều làm từ tự nhiên các bạn nhé:

A3: Đầu tiên đó là phải lựa chọn gỗ để làm ván, loại gỗ này phải có sức bền, hút mực tốt và nhả mực tốt, không bị mối mọt.

Loại gỗ thông thường ta dùng đó là gỗ thị các bạn nhé.

Nhưng lưu ý, chọn gỗ thị phải là cây gỗ già (thường là những cây không ra quả nữa) để tránh bị khô và co ngót khi sử dụng.

Tiếp theo, đó là giấy, giấy để sử dụng in ở đây sẽ là giấy dó, giấy được làm từ thân của cây dó, giấy này dễ thấm mực và dễ dàng trong quá trình in.

Và loại mực để khắc in là mực màu đen, phương pháp dân gian sẽ là dùng lá tre đốt thành tro, sau đó ngâm vào hũ, khi dùng cho thêm một chút hồ nước hoặc nước keo để tạo chất kết dính.

Ngoài ra, các dụng cụ cần thiết để tạo nên các bản khắc đó là các mũi đục, bút để viết đó các bạn ạ.

Đó là các nguyên liệu cơ bản để tiến hành làm khắc in, các bạn nhắc lại cho cô xem, gỗ để khắc in là gỗ gì nào? ( Gỗ Thị), giấy là giấy gì ạ (giấy dó), mực làm từ? tro của lá tre.

Các bạn nhớ thật kỹ nhé.

• Uứng dụng của khắc in

A4, 5,6: Chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về ông tổ nghề Lương Như Hộc, về nguyên liệu làm khắc in, vậy các bạn có biết từ xa xưa, cho đến ngày nay người ta dùng những bản khắc in đó để phục vụ trong những việc gì không?

Ban đầu, Khắc in dùng trong việc in sử sách đó các bạn, sau đó phát triển lên thành in tranh, các dòng tranh nổi tiếng đó là: tranh Hàng trống, tranh Đông Hồ và tranh Kim Hoàng.

Cho đến ngày nay, ứng dụng khắc in còn dùng làm con dấu cho các công ty đó các bạn ạ.

Bước 3: Gioi thiệu sản phẩm của in khắc, tranh Đông Hồ

Đến với lớp học Đồ Kiết, với truyền thống tôn sư trọng đạo, chúng ta sẽ được tìm hiểu sản phẩm của khắc in, một dòng tranh ngày nay vẫn còn giữ được những khuôn cổ và nghệ nhân truyền nghề, đó là tranh dân gian Đông Hồ.

 Làng tranh dân gian Đông Hồ có nguồn gốc từ làng Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Chúng ta quan sát một số bức tranh nổi tiếng của tranh Đông Hồ như: Bức tranh Đám cưới chuột, tranh Cóc múa Kỳ Lân, tranh trai tài ôm cóc tía, gái sắc bế rùa xanh, lơn đàn âm dương….và rất nhiều bức tranh, mỗi bức lại có ý nghĩa khác nhau.

Tiêu biểu cô sẽ giới thiệu cho các bạn bức tranh cặp nổi tiếng tại lớp học Đồ Kiết của chúng ta, đó là bức tranh “Thầy đồ cóc giảng học”, các bạn quan sát: (HDV chỉ vào bức tranh và mô tả): Phía trên là thầy đồ cóc đang ngồi giảng bài, bên cạnh có học trò pha nghiên mực, học trò dâng nước, trong lớp các học trò bảo nhau học bài.

Một bức tranh sinh động về truyền thống tôn sư trọng đạo đúng không ạ.

Bây giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cách để tạo ra 1 bức tranh Đông Hồ đẹp như vậy nhé!

Trên tay cô là mộc bản, chính là sản phẩm của nghề khắc in đấy các bạn ạ.

Đối với thời xưa, sử dụng mộc bản để in chữ thì 1 tập sách có bao nhiêu trang thì sẽ có bấy nhiêu mộc bản như thế này đấy các bạn ạ, còn đối với tranh Đông Hồ khác ở chỗ, bức tranh có bao nhiêu màu thì cũng có bấy nhiêu bản.

Khi muốn in bức tranh nào đó, việc đầu tiên sẽ là tuyển chọn tranh, sau đó khắc lên gỗ thì chúng ta sẽ có những mộc bản hình tranh như thế này các bạn nhé.

Gỗ để làm mộc bản các bạn nhắc lại cho cô là gỗ gì nào?...

Tiếp theo, cô có bàn in dùng để quét mực, ang đựng mực, chổi chét thông.

Xơ mướp để chà cho mực ngấm vào giấy, mực đen làm từ tro của lá tre.

Và các loại màu dùng trong tranh dân gian Đông Hồ cũng đều lấy từ tự nhiên các bạn nhé!

Ta có màu đỏ làm từ gạch đỏ son, màu vàng từ hoa hòe, màu tím của quả mồng tơi..

Việc thực hiên in màu tốn rất nhiều thời gian, chỉ các bác nghệ nhân mới hoàn thành được nên chúng ta sẽ cùng nhau in viền màu đen của bức tranh, về nhà các bạn có thể tự tô màu sắc cho sinh động nhé.

Giay làm tranh Đông Hồ cũng là giấy dó.

Tuy nhiên, đây là loại giấy hiện tại rất quý và khó thực hiện đối với các bạn, nên hôm nay chúng ta sẽ được thực hành bằng giấy nhăn các bạn nhé!

 Bước 4: Tiến hành làm thử

Bây giờ, các bạn cùng quan sát cô làm thử, sau đó, cô sẽ mời những bạn nào trả lời được câu hỏi của cô sẽ được lên đây trải nghiệm luôn, các bạn có đồng ý không?

Đầu tiên, cô sẽ lấy mực đổ vào ang mực, dùng chổi chét thông chấm mực và quét thật đều lên bàn in, sau đó cô dùng mộc bản xoa thật đều lên mặt bàn in sao cho mực thấm đều.

Tiếp theo, cô dặt mộc bản lên giấy thiệp thật ngay ngắn và giữ thật chặt, lúc này cô dùng xơ mướp chà thật đều lên mặt của tờ giấy, lưu ý chúng ta sẽ không chà quá mạnh và quá nhẹ nhé, vì như thế bức tranh của chúng ta rất xấu.

Các bạn đếm 1…2….3.

để cùng xem bức tranh của cô nào….

Tén tén ten, có đẹp không các bạn, vậy thì hãy dành cho cô 1 tràng pháo tay thật lớn đi ạ.

Bây giờ, Bạn nào muốn trải nghiệm cùng cô nào? ….

Các bạn lưu ý, chúng ta đang học bài học về tiết kiệm, nên mỗi bạn trải nghiệm chỉ được phát 1 tờ giấy duy nhất, và khi in chúng ta sẽ dùng lượng mực vừa phải, in thật khéo léo để có bức tranh đẹp nhất nha.

 Bước 5: Học sinh trải nghiệm

Ngay sau đây, bạn nào trả lời được câu hỏi của cô sẽ được lên trên đây in và đóng dấu.

Câu đầu tiên, các bạn cho cô biết, ông tổ của nghề khắc in nước ta tên là gì?....

Lương Như Hộc…

Mời 1 bạn lên in…

Câu thứ 2, Nguyên liêu sử dụng để làm khắc in cơ bản lấy từ đâu và gồm những nguyên liệu gì? …

Từ tự nhiên, gồm gỗ thị, giấy dó, mực từ tro của lá tre….

Mời 1 bạn lên in

Câu thứ ba, Từ xa xưa, ta đã ứng dụng nghề khắc ván in để làm gì?...

Viết sách, in tranh, làm con dấu….

Mời 1 bạn lên

Câu thứ 4: Các bạn được trải nghiệm dùng sản phẩm của nghề khắc để in dòng tranh dân gian nổi tiếng có tên là?.... có nguồn gốc từ….?

Tranh Đông Hồ và có nguồn gốc ở Tỉnh Bắc Ninh….

Mời tiếp 1 bạn lên in

Câu thứ 5: Kể tên 2 bức tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng các bạn đã được nghe giới thiệu?...

Mời tiếp 1 bạn lên.

 Bước 6: Tổng kết hđ, chào kết thúc

Như vậy, cô đã tìm được 5 bạn xuất sắc nhất lên để trải nghiệm in và đóng dấu, 5 câu cô hỏi cũng là 5 nội dung cơ bản các bạn cần ghi nhớ khi đến với lớp học Đồ Kiết.

Còn bạn nào chưa nắm rõ không? ( nếu hs chưa rõ thì tóm tắt lại).

Cảm ơn các bạn, bây giờ, các bạn hãy nhanh chóng xếp hàng cùng chú hdv để tham gia những hđ tiếp theo của Khu trải nghiệm Vạn An nhé!

Hẹn gặp lại các b

10.

TRÒ CHƠI DÂN GIAN

1, Mục đích

- HS hiểu được ý nghĩa của các trò chơi dân gian trong các dịp lễ hội

- HS được trải nghiệm các trò chơi dân gian, phát huy được tính đoàn kết

2, CSVC cần

• Múa rồng: 02 con rồng

• Cà kheo: 3 đôi

• Bao bố: 06 cái

• Dây kéo co: 01

• Quần áo: 16 bộ

3, Nội dung dẫn

 Bước 1: Chào hỏi, giao lưu và dẫn dắt

Chào mừng các bạn lớp 5a trường tiểu học Đông Mỹ đã đến với khu trò chơi dân gian của Khu trải nghiệm Vạn An

Các bạn ơi, hôm nay chúng ta đã tham gia được nhiều hoạt động của Vạn An chưa?

Các bạn cùng kể tên các hoạt động nào?

À, rất nhiều hoạt động đúng không, và đó đều là những hoạt động các bạn được cung cấp kiến thức, được học tập và trải nghiệm, còn ở hoạt động hiện tại, các bạn sẽ được tham gia chơi nhiều hơn nhưng không có nghĩa là chúng ta không rút ra được bài học gì nhé.

Những trò chơi của cô sẽ cần các bạn đưa ra chiến thuật, huy động tinh thần đồng đội và tinh thần đoàn kết của cả lớp.

Lớp 5a chúng ta có tự tin để tham gia nhiệt tình, tham gia hết mình hoạt động này không ạ?

Bây giờ, 1 câu hỏi rất thú vị cho các bạn, các bạn hãy kể tên các trò chơi hiện đại ngày nay các bạn trẻ hay chơi?

Bài UNO, điện tử, các trò chơi thông minh, xếp hình, xếp lego…

Rất nhiều trò chơi khác nhau, chúng sẽ kích thích trí tò mò và tư duy của các bạn, và chúng mình chơi những trò đó vào thời điểm nào nhỉ?

À, giờ ra chơi, giờ nghỉ, ngày nghỉ đúng không.

Vậy theo các bạn, ngày xưa, ông bà chúng ta, các bác nông dân giải trí theo cách nào và vào thời điểm nào?

Điều này rất ít bạn biết nha.

Bật mí với các bạn, thời xưa, và một số khu vực cho tới bây giờ, sau mỗi vụ mùa màng, sau mỗi một năm hoặc đầu xuân, người dân Việt Nam đều tổ chức rất nhiều lễ hội, trong lễ hội sẽ thể hiện những nét đẹp văn hóa riêng như: ăn mừng ngày mùa, chào đón năm mới, cầu phúc…đặc biệt ở đó, sẽ diễn ra rất nhiều trò chơi dân gian vừa mang ý nghĩa sâu sắc vừa mang tính giải trí rất cao, các bạn có muốn biết đó là những trò chơi gì không?

 Bước 2:GIỚI thiệu các trò chơi, chia đội

Đó là múa rồng, là đi cà kheo, nhảy bao bố và kéo co.

Những trò này sẽ giúp các bạn đoàn kết, khỏe khoắn và rất nhiều tiếng cười.

Các bạn có thấy thú vị không?

Nếu có cả lớp chúng ta dành 1 tràng pháo tay thật lớn để chúng ta cùng bắt đầu hoạt động nào.

Trước tiên, cô chia lớp chúng ta thành hai đội, đội con trai và đội con gái, chúng ta có 3 phút để ngay ngắn thành đội và đặt cho đội mình 1 cái tên thật ngầu nhé! ….

Đội con trai chúng ta sẽ tên là?... còn đội con gái?

Đội nào tự tin giành chiến thắng hô to tên đội nào???

Rất tuyệt vời.

Bây giờ, các bạn sẽ nghe cô hướng dẫn, cô là trọng tài và luật như sau:

Điều 1: Trọng tài luôn đúng; Điều 2: Nếu trọng tài sai, quay lại điều 1.Các bạn nhắc lại đi ạ?

Rất tuyệt, chúng ta sẽ chơi lần lượt các trò: Múa rồng, cà kheo, bao bố, kéo co, bắt chạch trong chum.

 Bước 4: Tiến hành tổ chức lần lượt các trò chơi

• Múa rồng

Trò đầu tiên, múa rồng: Múa rồng: rồng là đại diện cho sức mạnh, dũng mãnh phát đạt và hạnh phúc.

Mỗi đội sẽ nhận 1 con rồng, đội nam rồng xanh, đội nữ rồng vàng, trong đó có 3 điểm chốt quan trọng nhất (đầu, thân, đuôi), các bạn phải phân bố làm sau các thành viên phải đứng và tất cả cùng điều khiển con rồng cho khéo léo.

Cách để hình rồng của chúng ta đẹp, uốn khúc như sau: chúng ta có các động tác chủ yếu : nâng lên, hạ xuống, nghiêng sang trái phải, uốn khúc.

Nghe theo nhịp trống, trống cành nhanh rồng càng phải chạy nhanh, lưu ý không được phá đội hình, đội nào đứt đuôi, đứt thân sẽ là đội thua.Đội nào múa đẹp hơn, chuẩn yêu cầu sẽ giành chiến thắng.

Vạch đích của chúng ta từ đầu sân bên này đến đầu sân bên kia rồi quay lại.

Kết thúc phần chơi này đội thắng giành được 100 điểm, đội thua chỉ có 50 điểm thôi.

Các bạn đã rõ luật chơi chưa?

Chuẩn bị…3…2…1 bắt đầu…

Kết thúc trò đầu tiên, đội thắng thuộc về… các bạn đội..

đừng nản nhé, chúng ta vẫn còn rất nhiều cơ hội.

• Đi cà kheo

Trò thứ hai, đi cà kheo, trò này cực kỳ khó và cần sự khéo léo của các bạn, các bạn phải giữ được thăng bằng và sức khỏe để kết hợp cả tay và chân, phần chơi này, mỗi đội chỉ cần cử ra hai bạn khỏe nhất, khéo léo nhất, mỗi đội nhận được 2 đôi cà kheo, nhiệm vụ rất đơn giản, mỗi bạn sẽ lần lượt đi cà kheo từ vạch đích sân này đến cuối của sân phía bên kia, trong vòng 10p đội nào hoàn thành xong cả 2 người chơi nhanh hơn đội đó sẽ được 100 điểm, đội về sau vẫn phải hoàn thành và nhận số điểm 50.

Lưu ý, các bạn đi tới đâu bị ngã, được phép tiếp tục di chuyển từ đó cho đến khi về đích, những thành viên còn lại của 2 đội sẽ cổ vũ thật to, cô sẽ chấm điểm đồng đội cổ vũ.

Các bạn đã hiểu rõ luật chơi chưa?

Đã sẵn sàng chưa?

3…2…1

Vâng, kết thúc trò thứ hai, cô thấy các bạn nữ khéo hơn, nhưng các bạn nam khỏe hơn, chúng ta đang giữ phong độ rất tốt, cả 2 đội cầm hòa, cô sẽ giành cho cả 2 đội mỗi đội 100 điểm, xin chúc mừng.

• Nhảy bao bố

Tiếp theo, trò nhảy bao bố, mỗi đội cử ra 4 bạn bất kỳ, hiểu nhau càng tốt, sau đó mỗi đội sẽ được nhận 2 chiếc quần bao bố , mỗi ống quần là 1 bạn, lưu ý chúng ta phải cho cả 2 chân vào nhé, các bạn nhảy làm sao thật nhịp nhàng, để tránh ngã, tránh rách quần và quan trọng sẽ về đích thật nhanh.

Cách tính điểm như sau: cũng trong vòng 10p đội nào hoàn thành xong người chơi nhanh nhất đc 100đ, đội về sau vẫn phải hoàn thành và nhận 50đ.

Lưu ý, Khi nào 2 bạn đầu tiên nhảy được 1 vòng lên đích trên kia rồi quay về vị trí xuất phát ban đầu thì 2 bạn tiếp theo mới được tiếp tục, trên đường di chuyển, ngã tới đâu tiếp tục tới đó, các bạn còn lại của 2 đội sẽ cùng cổ vũ.

Các bạn rõ luật chơi chưa ạ?

Các bạn sẽ được thảo luận trong 2p.

Phần thi thứ 3 của 2 đội bắt đầu…

• Kéo co

Chiến thắng thuộc về đội…

Các bạn ơi, chúng ta còn phần thi sẽ làm nhân đôi số điểm cộng cho cả hai đội.

Đó là phần thi kéo co.

Phần này chúng ta sẽ chỉ kéo 1 lượt duy nhất.

Đội thắng sẽ được 200đ, đội thua được 100 điểm cộng vào số điểm các bạn đang có qua 3 vòng.

Các bạn sẵn sàng chưa?

Mỗi đội đứng ở 1 bên dây đi ạ, phần này chúng ta phải có chiến thuật để kéo không mất sức mà vẫn giành chiến thắng, thật nhanh lên ạ.

3…2….1 Bắt đầu….

Chúng ta đang có 1 trận đấu ngang tài ngang sức đến từ hai đội của lớp 5a tiểu học Đông Mỹ, các bạn quá ngang tài ngang sức và khỏe mạnh siêu nhiên…

Và chiến thắng chung cuộc thuộc về đội….

 Bước 5: Công bố đội thắng cuộc

 Bước 6: Tổng kết, chào và hẹn gặp lại

11.

QỦA TRỨNG LẠC MẸ

1, Mục đích

- Học sinh biết cách phân biệt các loại trứng: gà, vịt, chim, ngỗng.

2, Nội dung dẫn

 Bước 1: Chào hỏi, Gioi thiệu hoạt động

Các bạn ơi, các bạn đã tham gia được nhiều hoạt động chưa? ….

Hiện tại, chúng ta sẽ được trải nghiệm thêm 1 hoạt động vô cùng ý nghĩa nữa, và ở hoạt động này không những chúng ta nhận được nhiều lượng kiến thức mới mà bạn nào xuất sắc sẽ nhận được quà.

Các bạn có muốn nhận được quà không? …Cả xe 08 các bạn đã sẵn sàng chưa?

Hô to nữa lên ạ,….

Tinh thần của các bạn xe 08 rất tuyệt vời, các bạn ơi chúng ta đang có mặt tại mô hình Qủa trứng lạc mẹ

Bước 2: Hướng dẫn nội dung hđ!

Đầu tiên, các bạn cho cô hỏi các bạn có biết phân biệt gia súc và gia cầm không?...

Có rất nhiều bạn bị nhầm lẫn nhé.

Gia súc là những bạn động vật có 04 chân được nuôi ở khu vực gia đình như: trâu, bò, dê, ngựa, lợn… còn gia cầm là những bạn động vật có 2 chân được nuôi ở khu vực gia đình như: gà, chim, vịt, ngan, ngỗng…

Các bạn gia súc và gia cầm thì thường được chăn nuôi trong các chuồng, trại.

Các bạn quan sát đây là mô hình chuồng của các bạn gà, vịt.

Vị trí chăn nuôi các bạn gia súc gia cầm sẽ gần khu vực vườn, ao và cách xa nơi ở gia đình.

Để cùng nhau hiểu sâu hơn nội dung vừa rồi, chúng ta sẽ cùng tham gia một trải nghiệm tiếp theo vô cùng thú vị, các bạn hãy trả lời cho cô biết gia súc và gia cầm thì loài nào đẻ trứng và loài nào đẻ con? (gia súc đẻ con, gia cầm đẻ trứng).

Đối với gia súc, khi sinh con chúng ta dễ dàng nhận biết đó là con của loài nào, nhưng với gia cầm thì khó hơn rất nhiều, vậy ở đây có bạn nào biết phân biệt trứng của các bạn gia cầm không?

 Bước 3: Hướng dẫn phân biệt trứng

Ngay bây giờ cô sẽ giúp các bạn phân biệt trứng của 4 bạn gia cầm chúng ta thường gặp, đó là trứng gà, trứng vịt, trứng chim bồ câu và trứng ngỗng.

Thứ nhất, về kích cỡ, các bạn quan sát: Trứng ngỗng là trứng to nhất trong bốn loại, trứng chim bồ câu là trứng bé nhất , trứng vịt với trứng gà kích cỡ trung bình và trứng vịt to hơn trứng gà xíu.

Các bạn nhắc lại cho cô, trứng ngỗng là trứng… trứng chim là trứng… trứng vịt với trứng gà trứng nào to hơn?

Thứ hai, về màu sắc, các bạn quan sát, trứng ngỗng và trứng chim bồ câu có màu trắng sáng, trứng gà có màu trắng hồng, trứng vịt có màu trắng xanh.

Các bạn nhắc lại cho cô,…

Từ hôm nay, các bạn đã tự tin để đi chợ chọn trứng cho gia đình chưa?

 Bước 4: Tổ chức game

Ngày hôm nay, những quả trứng đáng yêu của cô đang bị lạc mất mẹ của mình và đang nằm trong 4 khay phía trên đây, cô giao nhiệm vụ cho tất cả các bạn đó là hãy đem những quả trứng này trở về đúng với mẹ của chúng.

Để dễ dàng hơn, Chúng ta nhanh chóng chia thành 4 đội (mỗi đội phụ trách 1 loại trứng, hdv chỉ dẫn chuồng:

Đội 1, phân biệt trứng chim bồ câu - ổ trên cây

Đội 2, trứng gà – lảm ổ trong chuồng

Đội 3, trứng vịt – đẻ rơi vãi

Đội 4, trứng ngỗng – đẻ trong chuồng

Trong vòng 2 phút, mỗi đội sẽ cử lần lượt các thành viên lên lấy trứng và đặt vào đúng khu, mỗi đội phân biệt đủ 20 quả, đội nào đủ 20 quả đầu tiên sẽ báo xong, các đội còn lại vẫn tiếp tục đến khi hoàn thành, kết quả sẽ được công bố dựa vào thời gian và phân biệt đúng trứng.

Lưu ý, điểm sẽ không được tính nếu các đội không có lần lượt đủ các thành viên tham gia.

Các bạn hiểu luật chơi chưa ạ?

Cô cần 4 bạn theo dõi chéo 4 nhóm, đội nào phạm quy sẽ bị trừ điểm nhé các bạn.

Các bạn đã sẵn sàng chưa?

Đội nào tự tin chiến thắng hô thật to “có”

3…2…1 bắt đầu

‘Hdv tính giờ, cổ vũ khi các đội tham gia, công bố đội thắng cuộc”

 Cảm ơn các bạn xe số 8 rất nhiều, các bạn đã có những kiến thức trải nghiệm và những phần chơi bổ ích tại khu Qủa trứng lạc mẹ, thu nạp thêm thông tin về các loại trứng

 Bước 5: Tổng kết hđ, chào hẹn gặp lại

12.

VƯỜN CÂY NGƯỢC ĐỜI

Mục đích: - Học sinh nhận biết về khu vườn quê với nhà tranh mái lá, ao làng, giếng quê, vườn cây ăn quả, chiếc cối xay

- Trải nghiệm vui vẻ với game “ Khoai lang leo giàn – Mướp bò dưới đất ” Phân biệt được vị trí mọc của các loại rau củ quả trong vườn

Lời dẫn:

Chào mừng các bạn đã đến với mô hình Vườn cây ngược đời của Khu bếp ngự trù Vạn An.

Ngày hôm nay chúng mình sẽ cùng nhau đến với không gian quen thuộc của làng quê truyền thống và tham gia trò chơi rất đặc sắc mang tên “ Khoai lang leo gian – Mướp bò dưới đất”.

Các bạn đã sẵn sàng cùng chị Ngọ Chằn khám phá Vườn cây ngược đời chưa nhỉ?

Nếu đã sẵn sàng thì hãy hô khẩu hiểu “SẴN SÀNG” thật to và dõng dạc nào!

Trong khu vườn ngược đời của khu trải nghiệm Vạn An các bạn sẽ thấy đây là ngôi nhà liêu xiêu của anh Chí Phèo và chị Thị Nở xinh đẹp.

Đây là chiếc cối giã gạo để chị Nở nấu cháo hành.

Bên cạnh đây là chiếc giếng nước thân quen để anh Chí lấy nước tắm những trưa hè.

Xa xa là vườn cây nhỏ với Cây ăn quả lâu năm như: Mít, khế, hồng.

Cây ăn lá như: cây hẹ, rau ngót.

Lại có thêm những cây làm cảnh như cây lộc vừng, cây si...

Và đặc biệt ở đây còn có 1 trò chơi rất ngầu về các loài cây.

Đó là trò chơi : Khoai lang leo giàn- Mướp bò dưới đất.

Các bạn có muốn thử trải nghiệm trò chơi thú vị này cùng Ngọ Chằn không?

Luật chơi như sau: 2 đội xếp thành 2 hàng thật thẳng, lần lượt các thành viên sẽ di chuyển thật nhanh về phía giàn cây.

Mỗi một thành viên sẽ có nhiệm vụ vận chuyển 1 loại nông sản ( củ, quả, cây) về ví trí cây Tổ đặt đúng vị trí mọc của nó trong vườn.

Gợi ý cho chúng mình nhé!

Các loại quả sẽ mọc trên cành, cách loại dây leo sẽ cuốn trên giàn, các loài củ sẽ vùi mình trong đất.

Mỗi đội sẽ có 5 phút để cùng thực hiện thử thách.

Sau 5 phút cứ mỗi 1 loại nông sản đặt đúng vị trí đội bạn sẽ có 10 điểm và ngược lại bạn sẽ bị trừ 10 điểm nếu để nông sản mọc sai vị trí trong vườn.

Các bạn đã hiểu luật chơi chưa nhỉ?

321 BẮT ĐẦU.

( Trong quá trình học sinh trải nghiệm.

HDV LƯU Ý GIỮ GÌN CÁC DỤNG CỤ, NGUYÊN LIỆU TRONG MÔ HÌNH, KHÍCH LỆ HỌC SINH THAM GIA TRẢI NGHIỆM TÍCH CỰC VUI VẺ)

Kết thúc: Tổng chết tạm biệt đoàn – gợi ý hoạt động trải nghiệm tiếp theo.

13.

HOẠT ĐỘNG BẮT CÁ –HỌC LÀM BÁC NÔNG DÂN ĐA TÀI

1, Mục đích

- Hs có thêm kiến thức về các dụng cụ bắt cá

- Dược trải nghiệm bắt cá

2, Dụng cụ cần có

- Nơm

- Vợt

- Rổ

3, Nội dung dẫn

 Bước 2: Chào hỏi, dẫn dắt hoạt động

Chào mừng tất cả các bạn đã đến với khu học làm bác nông dân đa tài của Khu trải nghiệm Vạn An, 1 tràng pháo tay cho tất cả các bạn trai xinh gái đẹp đến từ….

ạ.

Cảm ơn các bạn.

Ngày hôm nay cô sẽ cùng với các bạn trải nghiệm một hoạt động cực kỳ hấp dẫn và vui nhộn.

Trước khi bắt đầu, cho cô hỏi, các bạn đã được tham gia những hoạt động gì của khu trải nghiệm Vạn An rồi? ….

Rất nhiều đúng không?

Kể tên cho cô 2 hoạt động liên quan đến sông nước đi ạ? (Bơi thuyền, cho cá ăn).

Cả 2 hoạt động đó có thú vị không ạ?

Nếu như 2 hoạt động đó, chúng ta mới chỉ làm quen với khu vực sông nước và mới chỉ nhìn thấy cá, thì bây giờ đến với hoạt động của cô các bạn được tiếp xúc, cầm và bắt cá, các bạn có thấy hứng khởi không?

 Bước 3: Gioi thiệu dụng cụ hoạt động

Ở đây có bạn nào đã được trải nghiệm bắt cá dưới bùn rồi giơ tay?...

Các bạn thấy bắt cá có khó không ạ?

Rất khó đúng không, vậy để cho việc bắt cá dễ dàng hơn chúng ta phải cần đến các dụng cụ bắt cá, gọi chung là ngư cụ các bạn nhé!

Ở mỗi khu vực, người nông dân lại sử dụng những loại ngư cụ khác nhau, phù hợp với địa hình cá sinh sống và để thuận tiện hơn trong việc đánh bắt cá.

Có rất nhiều loại chúng ta có thể biết như: dậm, đơm, đó, lờ…. và ngày hôm nay cô sẽ giới thiệu kỹ hơn cho các bạn một vật dụng rất quen thuộc, đó là nơm.

Các bạn quan sát trên tay cô là cái nơm, các bạn nhắc lại cho cô đây là cái gì ạ?

Nơm là ngư cụ dùng để khai thác các loài cá ở ruộng, ao, đầm.

Nơm có hình chuông nón cụt, thông hai đầu, được làm từ nhiều thanh tre (vê tròn) liên kết với nhau bằng 2-3 vành đai mây (giàng) chắc chắn; miệng trên tròn, đường kính 0,2 – 0,25m, có cạp để cố định các thanh tre, đồng thời để người đánh cá cầm và điều khiển nơm, đáy dưới thủng.

Đáy dưới có đường kính từ 0,5-0,7m, độ cao của nơm khoảng từ 0,5-0,8m.

Cách để chúng ta sử dụng nơm như sau: chúng ta lội xuống nước, tay cầm miệng nơm úp liên tục từ trên xuống, khi phát hiện có cá quẫy bên trong dùng tay bắt qua miệng nơm.

Dụng cụ tiếp theo, giúp cho các bạn bắt cá dễ hơn đó là chúng ta có thêm vợt và rổ.

Các bạn quan sát, đây là cái vợt và đây là cái rổ, cách thức dùng vợt và rổ sẽ khác hẳn với dùng nơm các bạn nhé, nhưng cũng yêu cầu sự khéo léo của tất cả các bạn.

Đó là chúng ta sẽ dựa vào đặc tính của cá bơi theo đàn và theo dòng, ta sẽ lùa cá sau đó vớt nhanh tay theo hướng lên trên, khác hẳn với dùng nơm đúng không ạ.

Các bạn đã nhớ những dụng cụ mà chúng ta tìm hiểu chưa?

Nhắc lại cho cô đó là những dụng cụ gì nào?

Rất tốt, vậy bây giờ các bạn có muốn tham gia bắt cá không?

 Bước 4: Phổ biến cách thức tham gia

Để tham gia hoạt động của cô, k hề dễ dàng các bạn nhé, muốn bắt được cá, trước là các bạn phải hiểu cách sử dụng dụng cụ, sau đó các bạn sẽ phải tuân thủ những quy định sau đây:

1 đó là chúng ta sẽ chia thành 2 đội, mỗi hàng là 1 đội.

2 khi vào trong bể bắt cá, các bạn tuyệt đối không được chạy, nhảy, xô đẩy nhau.

Đặc biệt không được té nước vào bạn của mình.

Thứ ba, để đảm bảo an toàn , khi dùng nơm, các bạn dùng khéo và nhẹ nhàng, tránh phần chân của nơm va chạm vào da của chúng ta, các bạn nhớ rõ quy định chưa ạ?

Bây giờ, để không khí chúng ta sôi động hơn, mỗi đội có 2p để đặt tên đội.

Đội nào đặt xong trước sẽ được cộng 100 điểm tiếp theo.

2P bắt đầu…

Chúng ta sẽ có đội đầu tiên là đội….

đội thứ 2 là đội…?

Đội nào tự tin giành chiến thắng hô to tên đội lên…

Các bạn có 15p, mỗi lượt vào của mỗi đội chỉ được phép 5 bạn, số còn lại sẽ đứn ngoài cổ vũ, đội nào không cổ vũ và cổ vũ hời hợt sẽ bị tính thua cuộc luôn, trong 5p đội nào hoàn thành bắt được 5 con cá trước đội đó sẽ giành chiến thắng, cả 2 đội cùng hoàn thành đủ số lượng cô sẽ cộng điểm cổ vũ.

Các bạn sẵn sàng chưa?

 Bước 5: Tổ chức hoạt động

Lượt đầu tiên, mời 5 bạn của đội,… và 5 bạn của đội…, lượt 1 các bạn có 3p, thời gian bắt đầu, phía ngoài các bạn hô to tên cổ vũ cho đội mình đi ạ.

Lượt 2…

Lượt 3…. ( làm tương tự như lượt 1)

Thời gian đã hết, trước khi công bố kết quả, các bạn nhanh chóng tập kết dụng cụ lên đây thật gọn gàng cho cô nào,

Cả 2 đội đều rất xuất sắc, tuy nhiên, tinh thần cổ vũ của đội... cao hơn rất nhiều so với đội... nên chiến thắng sẽ thuộc về đội...

Các bạn đội còn lại có quyết tâm lấy lại phong độ ở những trải nghiệm tiếp theo không?

 Bước 6: Tổng kết hoạt động

Vậy trước khi kết thúc, các bạn nhắc lại cho cô chúng ta vừa tham gia hoạt động gì?

Những dụng cụ các bạn dùng để bắt cá bao gồm?...

 Bước 7: Chào hẹn gặp lại

Các bạn rất thông minh và nhanh nhẹn, ngay bây giờ các bạn xếp hàng ngay ngắn cùng với anh chị hướng dẫn viên để tham gia các hoạt động tiếp theo nhé.

Cảm ơn và hẹn gặp lại tất cả các bạn.

14.

TRƯỜNG ĐUA ĐỘNG VẬT

Mục đích: Học sinh có thêm hiểu biết về tốc độ và tập tính di chuyển của các loài động vật.

Học sinh cuồng nhiệt với cuộc đua tốc độ trên tình thần đoàn kết, chơi đẹp.

Lời dẫn:

Chào mừng các bạn xe số 01 và 02 (hoặc chia đội nam - nữ nếu cùng 1 xe) đã đến với trường đua động vật của khu trải nghiệm Vạn An.

Ngày hôm nay anh Tí Sún sẽ mời các bạn cùng anh khám phá tốc độ của các loài thú cưng và chúng ta sẽ thử vận may để xem đội nào sẽ rinh quà thắng cuộc.

Luật chơi.

Chúng ta sẽ có 2-4 đội đua.

Mỗi đội đua sẽ có 1 đường đua riêng biệt được đánh số theo tên đội.

B1: Quay số chọn thú cưng: mỗi đội cử 1 đội trưởng lên quay vòng quay may mắn.

Kim may mắn dừng ở vị trí nào thì tương ứng với con vật mà đội sẽ sở hữu để chạy đua.

B2: Chạy đua thần tốc: Các đôiụ sẽ dùng chiến thuật và hiểu biết của mình về tập tính sinh hoạt và di chuyển thú cưng của đội mình để nhử con vật của đội tăng tốc về đích sau hiệu lệnh xuất phát.

B3: Về đích: Con vật nào vượt qua vạch đích trước đội đua đó sẽ được cộng 60 điểm.

Đội nào có tinh thành cổ vũ sung nhất, cuồng nhiệt nhất sẽ được cộng 20 điểm.

Đội có chiến thuật dụ thú cưng độc đáo nhất sẽ được cộng 20 điểm.

Và bây giờ chúng ta sẽ đến với Trường đua động vật của các bạn xe số...

( Trong lúc hoạt động diễn ra Hdv tương tác bình luận khuyến khích các đội tham gia tạo không khí cuộc đua thực sự.

Kết thúc cuộc đua phân thắng bại và chảo tạm biệt đoàn )

Lưu ý: Không để học sinh chọc phá động vật đua.

Giữ vệ sinh đường đua và chuồng động vật, bảo quản tại sản cẩn thận tránh mất mát hỏng hóc.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Thôn Cu Vai


Mưa qua, mặt trời rồi cũng tỏa nắng, xua đi những đám mây mù che phủ, bầu trời trong vắt.

Cu Vai như quả cầu lớn, lơ lửng giữa trời xanh và khoác lên mình chiếc áo đẹp nhất.

Cu Vai theo tiếng Thái là dây mây vắt ngang trời.

Phố núi Cu Vai. (Ảnh: Thu Trang)

Chúng tôi hít hà, thỏa mãn ước mơ được chiêm ngưỡng bản mới Cu Vai trong nắng vàng rực rỡ.

"Phố” trên núi là đây chứ đâu!

Không thể không gọi như vậy, bởi những nhu cầu cần và đủ của một phố thị ở đây đều có.

Qua trung tâm xã Hát Lừu, huyện Trạm Tấu, con đường đất lên bản Cu Vai sau cơn mưa đêm trước đã lầy lội, trơn trượt.

Chưa quá nửa đường, mưa rừng đổ xuống, mặt đường trơn trượt, "con ngựa sắt” của anh bạn đi cùng cũng đành "chào thân ái”.

"Đường càng đi càng xấu, mưa càng như trút, chúng tôi ướt nhoẹt.

"Nhìn thấy Cu Vai là hết mệt ngay, đẹp lắm!

Cu Vai theo tiếng Thái là dây mây vắt ngang trời đấy!”

- anh Lò Văn Say là cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cùng đi giới thiệu vậy.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi đã đến được Cu Vai.

Mưa vẫn xối xả, nhưng Cu Vai hiện ra đẹp lắm: nối giữa các ngôi nhà lịa gỗ khang trang là con đường rộng chừng 5m bằng phẳng chạy xuyên suốt bản làng; cứ 5 - 10m lại có cột đèn điện cao áp; trước mỗi ngôi nhà là những gốc đào rừng, thân sù sì đang khoác lên mình một màu xanh mướt.

Trời mưa nên nhiều phụ nữ Mông không đi nương mà ngồi thêu thùa trước hiên nhà…

Anh Mùa A Vàng và anh Mùa A Đua – những người Mông bản địa đón chúng tôi với vẻ lo lắng: "Vào nhà cởi đồ và sưởi ấm ngay, không ốm mất!”.

Bên bếp lửa, chúng tôi được ông Mùa A Vư - nguyên Chủ tịch UBND xã Xà Hồ, là bố đẻ của anh Mùa A Vàng chia sẻ: "Bản mới Cu Vai được như ngày hôm nay là nhờ sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, đặc biệt là tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau của chính đồng bào”.

Trước đây, khi chưa có bản định cư, đồng bào chủ yếu sống rải rác ven các sườn núi, gieo cấy, sản xuất manh mún; điện, đường, trường, trạm đều không có…

"Ngày đó, công tác ở xã, mỗi lần về thăm nhà nhìn cảnh đồng bào mình đói ăn, vất vả mà không biết làm gì để giúp” - ông Vư chia sẻ.

Năm 2012, sau khi được tỉnh chỉ đạo, cán bộ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã lên Cu Vai khảo sát địa bàn.

Nhận thấy hơn 50 hộ dân nơi đây phải sớm di dời đến nơi ở mới vì nguy cơ sạt lở lớn, nhất là vào mùa mưa lũ, ngành đã chủ động tham mưu, xin ý kiến chỉ đạo của tỉnh, phối hợp với Đảng ủy, chính quyền huyện Trạm Tấu, xã Xà Hồ san tạo mặt bằng, người dân thì ủng hộ ngày công lao động và tham gia vận chuyển vật liệu xây dựng từ dưới huyện lên.

Đầu năm 2013, mặt bằng đã được san gạt xong, Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể của huyện Trạm Tấu và xã Xà Hồ ngoài hỗ trợ mỗi gia đình 10 triệu đồng còn cử cán bộ đến tận nơi, chung tay giúp đồng bào làm nhà.

Cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trạm khuyến nông, thú y… giúp đồng bào cách tăng gia sản xuất, "sắp xếp” lại ruộng, nương; hướng dẫn chăn nuôi, trồng rừng…

Giữa năm 2013, Cu Vai có trên 40 hộ và đến nay con số đó đã tăng lên gần 50 hộ với 278 khẩu về định canh, định cư xây dựng cuộc sống mới.

Trẻ em ở Cu Vai. (Ảnh: Thanh Miền)

Mưa qua, mặt trời rồi cũng tỏa nắng, xua đi những đám mây mù che phủ, bầu trời trong vắt.

Cu Vai như quả cầu lớn, lơ lửng giữa trời xanh và khoác lên mình chiếc áo đẹp nhất.

Chúng tôi hít hà, thỏa mãn ước mơ được "chiêm ngưỡng” bản mới Cu Vai trong nắng vàng rực rỡ.

"Phố” trên núi là đây chứ đâu!

Không thể không gọi như vậy, bởi những nhu cầu cần và đủ của một phố thị ở đây đều có.

Nguồn điện bằng năng lượng mặt trời do Hoa hậu Đỗ Mỹ Linh với Chương trình thiện nguyện "Cõng điện lên bản” năm 2017 có tổng vốn đầu tư gần 1 tỷ đồng đã giúp cho mọi nhà có điện.

Cả "phố” sáng điện tỏa ra từ những cột đèn cao áp.

Điểm trường mầm non xây dựng khang trang với đầy đủ trang thiết bị dạy và học; học sinh tiểu học, trung học cơ sở thì được về xã, về huyện học bán trú với sự hỗ trợ toàn bộ của Nhà nước.

Người dân được sống trong những ngôi nhà rộng rãi, khang trang với hệ thống nước sạch bảo đảm; chuồng, trại chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ngăn nắp; khu vực vệ sinh, nhà tiêu sạch sẽ…

"Trước đây, đồng bào chỉ làm ruộng nương, từ khi được huyện hỗ trợ, cử cán bộ khuyến nông cùng khuyến nông viên cơ sở lên hướng dẫn khoa học kỹ thuật, thâm canh tăng vụ, người Mông đã biết tăng gia sản xuất, biết trồng ngô thay lúa nương kém hiệu quả, biết gieo cấy lúa nước, biết trồng cây ăn quả, biết chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… rồi đấy!”

- đồng chí Chớ A Páo - Bí thư Đảng ủy xã Xà Hồ cho biết.

Quan sát của chúng tôi, gần như hộ nào trong bản cũng có thóc lúa, bao lớn bao bé xếp chật chái nhà; lợn, gà nhà ít cũng tầm chục con, hộ nhiều như: Mùa A Sử, Mùa A Vừ, Mùa A Câu…

Ngoài trâu, bò thì lợn, gà… mỗi nhà cũng có đến vài chục con.

Được biết, huyện Trạm Tấu đang tiến hành khảo sát, quy hoạch để triển khai chương trình hỗ trợ đồng bào đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc và hướng cho Cu Vai thành một trong những điểm du lịch trải nghiệm đầy hấp dẫn cho du khách.

- Sao hộ nghèo vẫn còn nhiều, thưa Bí thư?

- Chỉ có 10 trong gần 50 hộ không nghèo, còn lại là nghèo theo tiêu chí đa chiều thôi chứ thực chất không nghèo đến mức không đủ ăn, đủ mặc.

Không lâu nữa, Cu Vai sẽ vươn lên mạnh mẽ và trở thành một trong những thôn, bản tiêu biểu của xã Xà Hồ đấy - Bí thư Chi bộ Mù A Vàng khẳng định chắc nịch.

Cu Vai - nắng chiều đã nhường cho những cột đèn cao áp bừng sáng.

Già trẻ, gái trai rạng rỡ, tay cầm tay múa hát mừng bản mới định cư.

Cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng với chúng tôi, "phố” núi này như viên pha lê đang tỏa sáng trên núi rừng Trạm Tấu.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Bảo Tàng Hà Nội


Bên cạnh các điểm tham quan nổi tiếng như hồ Gươm, phố cổ, Văn Miếu – Quốc Tử Giám…, có lẽ Bảo tàng Hà Nội là một nơi không nên bỏ qua đối với những du khách muốn khám phá thủ đô qua chiều dài hàng ngàn năm lịch sử.

Nằm trên đường Phạm Hùng, ngay cạnh Trung tâm hội nghị quốc gia, Bảo tàng Hà Nội – một trong những công trình quan trọng khánh thành nhân đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội – là nơi tái hiện Hà Nội xưa và nay với hàng ngàn hiện vật liên quan đến thủ đô ngàn năm văn hiến.

Bảo tàng Hà Nội

Với diện tích khuôn viên hơn 50.000m2 và gần 12.000m2 đất xây dựng công trình, đây là bảo tàng lớn và hiện đại nhất cả nước.

Nhìn từ xa, Bảo tàng Hà Nội gây ấn tượng mạnh với thiết kế kiến trúc độc đáo theo chiều kim tự tháp ngược.

Bảo tàng có sáu tầng, bao gồm bốn tầng nổi và hai tầng hầm, diện tích các tầng dần thu nhỏ lại theo thứ tự từ trên xuống dưới.

Bảo tàng tạo ấn tượng với khách tham quan bởi vẻ bề thế, thiết kế hiện đại, tiện lợi.

Du khách có thể lên các tầng khác bằng thang máy hoặc bằng cầu thang bộ được thiết kế thành một vòng xoáy tròn phía trong bảo tàng.

Ngay khi bước chân vào tầng một, khách du lịch sẽ được chiêm ngưỡng “cột rồng bách thảo” – ngọn đèn lớn chiếu sáng giữa phòng nổi bật hình rồng bay uy nghiêm.

Khu tầng một được thiết kế làm nơi trưng bày tạm thời một số đồ gốm sứ cùng cửa hàng bán đồ lưu niệm.

Tầng hai là một Hà Nội thu nhỏ với khu tự nhiên Hà Nội, khu tiền Thăng Long, mộ Phùng Nguyên, sơ đồ ba vòng thành Loa, mộ thuyền, khu văn hóa Đông Sơn cùng các tranh ảnh về Hà Nội.

Ấy là mẫu ép khô hoa, lá cây hoa sữa – loài hoa gợi về một Hà Nội nồng nàn mênh mang mỗi mùa thu, hay gợi về những câu hát thật đẹp: “Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội/ Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ… ”

Hay đó là mẫu tôm hồ Tây, mẫu cá lăng gắn liền với những món ăn đặc sản nức tiếng của Hà Nội – chả cá Lã Vọng, bánh tôm hồ Tây.

Những ký ức Hà thành đã đi vào bao tác phẩm thi ca, nhạc họa, trở thành niềm thương nhớ không nguôi trong tâm hồn không chỉ đối với người con Hà Nội mà cả với ai đã vài dịp thoáng qua nơi đây.

Đến bảo tàng Hà Nội, du khách còn có cơ hội chiêm ngưỡng những đồ cổ được thu thập từ khắp mọi miền đất nước.

Hãy cùng lên tầng ba của bảo tàng – không gian các nhà sưu tập cổ vật tỏ tấm lòng của mình với thủ đô yêu dấu, nơi trưng bày các tài liệu, hiện vật do cách tổ chức và cá nhân hiến tặng…

Và rất nhiều đồ gốm như chén bát, bình hoa… hay công cụ sản xuất, thuyền độc mộc tìm thấy ở Tiền Giang, Cà Mau… qua các cuộc khai quật khảo cổ được trưng bày trên tầng bốn bảo tàng.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Chả cá Lã Vọng


Chả cá Lã Vọng là tên của món chả cá đặc sản Hà Nội.

Đây là món chả làm từ cá (thường là cá lăng) thái miếng đem tẩm ướp, nướng trên than củi rồi rán lại trong chảo mỡ, do gia đình họ Đoàn tại số nhà 14 phố Chả Cá (trước đây là phố Hàng Sơn) trong khu phố cổ giữ bí quyết kinh doanh và đặt tên cho nó như trên.

Lịch sửSửa đổi

Vào những năm thời kỳ Pháp thuộc, ở số 14 Hàng Sơn có một gia đình họ Đoàn sinh sống, họ thường lấy nhà mình làm nơi cưu mang nghĩa quân Đề Thám.

Chủ nhà hay làm một món chả cá rất ngon đãi khách, lâu dần thành quen, những vị khách ấy đã giúp gia đình mở một quán chuyên bán món ăn ấy, vừa để nuôi sống gia đình, vừa làm nơi tụ họp.

Lâu dần, hai tiếng 'Chả Cá' được gọi thành tên phố.

Trong nhà hàng luôn bày một ông Lã Vọng - Khương Tử Nha ngồi bó gối câu cá - biểu tượng của người tài giỏi nhưng đang phải đợi thời.

Vì thế khách ăn quen gọi là Chả cá Lã Vọng, ngày nay trở thành tên nhà hàng và cũng là của món ăn.

Bí quyết làm chả cá chỉ truyền lại cho người con cả họ Đoàn.

Thực hiệnSửa đổi

Cá làm chả thường là cá lăng tươi.

Đây là loại cá ít xương, ngọt thịt và thơm.

Đặc biệt nhất và cũng vô cùng hiếm hoi là chả làm từ cá anh vũ, bắt ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ).

Thịt cá được lọc theo kiểu lạng từ hai bên sườn, thái mỏng, ướp với nước cốt riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, mắm tôm theo một phương cách bí truyền đặc biệt ít nhất 2 giờ đồng hồ, rồi kẹp vào vỉ nướng chả có quết một lớp mỡ cho đỡ dính.

Người nướng phải quạt lửa, lật giở đều tay sao cho hai mặt đều chín vàng như nhau.

Chuẩn bị ăn, người ta mới mang những kẹp chả đã nướng trút vào chảo mỡ có thêm chút mỡ chó - đây là bí kíp gia truyền của loại chả cá này[1] - trên bếp than hoa đặt giữa bàn ăn.

Khi các miếng chả sôi trong mỡ lăn tăn, vàng thơm, rau thì là và hành hoa cắt khúc được gia vào chảo đảo lẫn và nhanh chóng chia ra các bát ăn.

Thường không dùng dầu ăn để rán cá vì nhiệt độ thấp hơn và cá kém thơm ngon hơn.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
bánh chưng


Từ một phát hiện mới về lá bánh trưng thời Lang Liêu

Nguyễn Việt

Mẹ tôi mất rồi, nhưng không bao giờ tôi quên những câu chuyện cổ tích "Ngày xửa ngày xưa", mẹ kể mỗi lần trước khi đi ngủ.

Thuở đó tôi rất có ấn tượng với câu chuyện Lang Liêu, nhờ tài làm bánh Trưng bánh Dày mà được vua Hùng chọn làm người kế nghiệp.

Vốn dĩ khi xưa tôi cũng rất thích không khí gói bánh trưng những ngày xáp tết.

Ngồi cạnh mẹ, tôi cũng được tự mình gói những chiếc bánh nhỏ xíu, để khi nồi bánh chín, vớt ra, đã được nhâm nhi thưởng thức chính thành quả của mình, sau khi được mẹ tắm tất niên từ chậu nước lá mùi bốc hơi thơm nức đặt trên miệng nồi nấu bánh trưng đun bếp củi vẫn sôi ùng ục ...

Với những kỷ niệm sâu sắc về bánh Trưng tết và Lang Liêu như vậy, khi lớn lên, trở thành một nhà khảo cổ, tôi lại may mắn khai quật được những hạt lúa nếp cổ và cả những mảnh chõ đồ xôi thời Lang Liêu nữa.

Những phát hiện đó càng thôi thúc tôi tìm kiếm những chứng cứ khảo cổ học cho câu truyện cổ tích mà dường như nó chỉ biến thành sự thực trong giấc mơ của trẻ thơ, mỗi đêm nghe mẹ thủ thỉ kể chuyện.

Trống đồng Đông Sơn và mảng lúa nếp nương râu in trong lòng trống (CQK-collection)

Hai ảnh bên trái là lúa hạt dài và lúa nếp hạt tròn khai quật được ở hang Xóm Trại (Hòa Bình).

Ảnh còn lại là lúa nếp khai quật ở khu mộ táng Đông Sơn Động Xá (Hưng Yên)

Trên quan điểm khoa học, thì câu chuyện Lang Liêu làm bánh vẫn chỉ là huyền thọai.

Huyền thoại luôn như những màn khói bao trùm mỗi không gian sinh tồn tộc người.

Nhưng cũng tồn tại một nguyên lý khoa học của chuyên ngành nghiên cứu văn hóa dân gian, đó là "không có lửa thì không có khói".

Màn khói huyền thoại tuy không phải là sử liệu thật, nhưng bao giờ nó cũng bắt nguồn từ một sự thực lịch sử nào đó.

Đó chính là cái lõi "lửa" đã tạo nên màn khói huyền thọai đó.

Thế rồi, việc phát hiện từng hạt lúa nếp, mảnh chõ khảo cổ và giờ đây cả những chiếc lá dong còn khá nguyên vẹn in hình trong chiếc nồi đồng thời Đông Sơn Âu Lạc đã giúp chúng ta vén dần màn khói huyền thọai về sự tích Lang Liêu và Bánh Trưng Bánh Dày để nhận chân lịch sử dân tộc từ hai, ba ngàn năm trước.

Nói đến Bánh Trưng, Bánh Dày cũng tức là nói về việc sử dụng lúa nếp từ rất sớm của người Việt cổ.

Quả thực, muộn nhất là từ 3500 năm trước, lúa trồng (Oriza Sativa) có dạng hạt bầu (large form) giống lúa nếp dính (gloutinous rice) đã tìm thấy phổ biến ở nhiều di tích khảo cổ học Việt Nam.

Đến thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Đông Sơn, nền văn hóa đại diện cho phát triển đỉnh cao của văn minh Văn Lang - Âu Lạc gắn với các đời Hùng Vương và An Dương Vương thì lúa nếp đã trở thành một nguồn thức ăn phổ biến, đặt nền móng cho tập tục dùng lúa nếp như một loại hình thức ăn lễ nghi dành cho tổ tiên và thần thánh của người Việt và nhiều dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam hiện nay.

Ngoài dạng lúa nếp hạt bầu râu ngắn các nhà khảo cổ học còn ghi nhận dấu in lúa nếp nương râu dài trong lòng một trống đồng Đông Sơn khai quật được ở miền tây Thanh Hóa.

Trên nền tảng văn hóa khảo cổ có thực đó, sự tích Lang Liêu và Bánh Trưng đã ra đời.

Việc các nhà khảo cổ của Trung Tâm Tiền sử Đông Nam Á vừa phát hiện dấu in của một chiếc lá dong còn nguyên vẹn và tươi tắn càng làm "tươi" thêm sự thực Bánh Trưng từ trên 2000 năm nay.

Hình dưới đây là nguyên trạng phát hiện khảo cổ học thú vị nói trên.

Đó là một chiếc nồi đồng khai quật được ở Làng Vực (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) thuộc phong cách Đông Sơn Âu Lạc[1] có thể định tuổi vào khoảng thế kỷ 1-2 trước Công nguyên.

Trong lòng chiếc nồi đó in dấu rất nhiều lá dong ở tình trạng lót nồi.

Đó là những hình lá dong nằm phẳng ở tư thế nguyên chiếc bao quanh đáy và cạnh nồi.

Nhờ ô xuýt đồng từ lớp gỉ của nồi mà chiếc lá được giữ nguyên trạng, thậm chí có màu xanh như những chiếc lá còn tươi.

Phục nguyên chiếc lá còn nguyên vẹn nhất, ta thấy nó có độ dài khoảng trên 30cm rộng khoảng 15cm.

So sánh độ lớn và cấu trúc nhánh lá có thể nhận biết được lá thuộc họ dong riềng (Cannaceae).

Loài cây này được xem như một dạng cây bản địa mọc hoang dại và được ươm trồng từ nhiều ngàn năm nay ở Việt Nam và Đông Nam Á cổ đại.

Cho đến nay, cây rong riềng vẫn được coi như một loại cây cho bột, cho lá dễ trồng, năng xuất cao, có thể giúp xóa đói giảm nghèo ở nhiều vùng dân tộc miền núi nước ta.

[1]Văn hóa Đông Sơn được phân định khảo cổ từ khoảng 2800 đến 1800 năm cách ngày nay.

Tuy nhiên, nghệ thuật Đông Sơn thể hiện trên đồ đồng lễ nghi của nền văn hóa này xuất hiện chủ yếu từ 2400 - 2500 năm trở về sau.

Thời gian đó bao gồm hai giai đoạn mà ở đây chúng tôi đặt tên là Đông Sơn Âu Lạc (thế kỷ 3 trước Công nguyên đến thế kỷ 1 trước Công nguyên) và Đông Sơn Giao Chỉ (thế kỷ 1 trước Công nguyên đến khoảng thế kỷ 3 sau Công nguyên).

Vết in chiếc lá dong bên trong nồi đồng Đông Sơn (hình trên)

và nguyên trạng phóng đại của nó (hình dưới).

Việc sử dụng lá dong riềng trong các nhóm cư dân tiền sử săn bắt hái lượm ở Đông Nam Á cổ đại hẳn không có gì xa lạ.

Tuy nhiên, việc phát hiện bằng chứng thật của lá dong riềng trong khung cảnh khảo cổ học giúp khẳng định niên đại muộn nhất của việc sử dụng lá dong riềng trong đời sống bếp núc quý tộc ở Việt Nam là từ khoảng thế kỷ thứ 1-2 trước Công nguyên.

Cảm giác của tôi thật bồi hồi không sao kể xiết khi lần đầu gặp một hiện tượng khảo cổ kỳ thú đến như vậy.

Vốn là một người làm công tác khảo cổ học và nghiên cứu các văn hóa cổ truyền, sau mỗi lần đặt lại mảnh nồi đồng còn in hình lá dong trở lại tủ kính của Bảo tàng Phạm Huy Thông[1] tôi như lại thấy hình ảnh Lang Liêu đang ở rất gần.

Từ phát hiện khảo cổ về lá dong, năm nay, Chi nhánh của Bảo tàng Phạm Huy Thông đặt tại thị xã Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh) sẽ tiến hành một lễ hội cổ truyền nội bộ, nằm trong nội dung nghiên cứu về truyền thống làm bánh trưng của người Việt cổ.

Lễ hội sẽ bắt đầu từ sau lễ Ông Công - Ông Táo với việc cắt lá từ những cây dong riềng trên vùng núi cao Đồi Thung - Thượng Tiến ở Kim Bôi (Hòa Bình), chuẩn bị lúa nếp từ Mường Vang (Lạc Sơn, Hòa Bình) và Mộc Châu (Sơn La), thịt lợn Mường và nước lá mùi từ tỉnh Hòa Bình.

Một chiếc vạc đồng bốn quai đời nhà Lang ở tỉnh Hòa Bình cũng được sử dụng để nấu bánh.

Những chiếc bánh đầu tiên sẽ được dâng lên các Vua Hùng và Lang Liêu để ghi nhận công đức của người xưa.

[1]Phạm Huy Thông (1916-1988) là tên vị Giáo sư, Viện sĩ đã đặt nền móng cho nền khảo cổ học hàn lâm của nước ta.

Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Khảo cổ học Việt Nam.

Để ghi nhận đóng góp của Ông đối với khảo cổ học nước nhà Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á từ năm 2001 đã thành lập Bảo tàng Phạm Huy Thông lưu giữ và trưng bày bút tích của Ông cũng như những hiện vật, bản thảo liên quan đến Ông và ngành Khảo cổ học nước nhà.

Đây cũng là nơi lưu giữ các hiện vật khảo cổ do Trung tâm sưu tầm, nghiên cứu nhằm phục vụ công tác nghiên cứu khảo cổ học ứng dụng ở trong và ngoài nước.

Bảo tàng Phạm Huy Thông (hình trái)

và hình ảnh một phụ nữ Yên Giang đang gói bánh Lang Liêu

Ghi chú : Đúng lịch trình, sáng ngày 27 tết, vườn sau của tòa nhà Bảo tàng Phạm Huy Thông rộn tiếng của chị em phụ nữ và các em nhỏ Yên Giang quanh bàn gói bánh do chị Tuyết và chị Nhàn phụ trách.

Những chiếc lá dong rừng do anh Điện mang từ Kim Bôi về tươi tắn, xanh ngắt đã được lau rửa sẵn từ đêm hôm trước làm nổi bật màu trắng của gạo nếp và vàng xậm của đỗ xanh.

Đám đàn ông thì bận rộn nốt với việc quét sơn, dọn nhà, dựng bếp, xếp củi.

Chiếc sanh đồng bốn tai nhà Lang Mường được hai trai làng lực lưỡng khiêng ra, kèm theo là một chiếc chiêng đồng lớn dùng làm nắp đậy.

Mọi thứ đã sẵn sàng.

Chính giờ Ngọ, anh Nguyễn Hồng Kỳ, quản thủ Bảo tàng làm lễ xếp bánh, nổi lửa.

Bếp lửa chất bằng những gộc cây lớn cháy suốt 12 giờ đồng hồ.

Anh chị em cán bộ Bảo tàng chia nhau luân trực.

Giờ Tý kết thúc, 1 giờ đêm lửa, được rút ra để lại bếp than hồng.

Mọi người tắm gội nước lá mùi thơm rực.

Bắt đầu giờ Sửu, những chiếc bánh đầu tiên được một cô gái mệnh Sửu vớt khỏi nồi, nhúng và rửa nhanh qua nước lạnh cho róc ráo rồi đưa vào bàn ép.

Đám trẻ háo hức tranh phần những chiếc bánh chưng nhỏ xíu nhiều hình vuông, méo do chính tay chúng gói.

Sáng sớm ngày 28, sau khi kiểm tra bánh đã ép kiệt và nguội hắn, mọi người chọn một cặp bánh đưa lên cùng thắp hương với mảnh nồi đồng Đông Sơn còn lưu hình chiếc lá thời Lang Liêu ở bàn thờ Đất Trời - Tổ Tiên mới được xây dựng ở trước chính sảnh Bảo tàng.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Vua Mèo


Tới dinh Vua Mèo nhìu, nhưng các bạn chỉ dc nghe thuyết minh về Dinh Thự đó.

Còn tiểu sử về cuộc đời của Vua Mèo Vương Chính Đức thì ít ai dc nghe.

Thấy bài hay quá, chia sẻ cho các bạn, để có thêm những câu chuyện hay kể cho khách khi đến với Hà Giang

"Chú ý: Bài viết ko giành cho những ai lười đọc.

Ai sợ đọc dài thì tốt nhất out ra luôn nhé!"

Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

Lịch sử của người Mông Đồng Văn là lịch sử của một cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông.

Là lịch sử của vị thủ lĩnh người Mông đã đứng lên chống Pháp.

Lịch sử của vị Vua Mèo với những câu chuyện đã thành huyền thoại.

Cuộc thiên di của người Mông Đồng Văn

Nếu lên Sơn La, Điện Biên, không thể thiếu câu chuyện về vua Thái Đèo Văn Long, lên Lào Cai, không thể không nghe kể về vua Mèo Hoàng A Tưởng; lên Hà Giang, nhất định phải biết về cha con Vua Mèo Vương Chính Đức và Vương Chí Sình.

Đó là những điều mà ông Hùng Đình Quý (nguyên Chủ tịch huyện Đồng Văn – nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hà Giang) đã nói khi bắt đầu kể những câu chuyện về lịch sử của người Mông và những vị vua Mèo của người Mông ở Đồng Văn.

Hàng thế kỷ qua, những câu chuyện về cha con Vương Chính Đức và Vương Chí Sình là những câu chuyện luôn gây tò mò và thôi thúc không biết bao người đặt chân đến cao nguyên đá.

Những câu chuyên ấy là điều không thể thiếu để tạo nên hình ảnh một vùng đất huyền thoại mà bất cứ ai cũng mong muốn được khám phá.

Trong chuyến công tác Hà Giang, may mắn được gặp ông Hùng Đình Quý và nhiều lãnh đạo người Mông, tôi đã có cơ hội hình dung ra một chân dung rõ nét hơn về cuộc đời cha con Vua Mèo Vương Chính Đức – Vương Chí Sình.

Nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý là một người Mông rất am hiểu văn hóa và lịch sử của dân tộc mình và ông cũng rất yêu dân tộc mình.

Ông nói trước khi nhắc đến cha con Vua Mèo, không thể không nhắc về cuộc thiên di lịch sử của người Mông từ phương Bắc xuống phương Nam.

Cao nguyên đá Đồng Văn là vùng đất mà người Mông, người Lô Lô, người Tày..cùng sinh sống nhiều đời nay.

Theo những ghi chép của lịch sử, người Mông xuất hiện ở Đồng Văn vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, muộn hơn so với những dân tộc khác.

Nhưng người Mông là dân tộc chiếm ưu thế hơn cả, cũng là dân tộc để lại nhiều dấu ấn nhất ở vùng đất này.

Người Mông xưa kia là một đại tộc lớn sống ở vùng Kinh Châu – Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc), là một phần trong liên minh bộ lạc Miêu – Dao được hình thành với khoảng thời gian 5000 năm lịch sử.

Trong lịch sử của mình, đại tộc người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng có chung một đặc điểm với dân tộc Việt Nam: luôn bị sự đe dọa của nhà Hán từ phương Bắc uy hiếp xuống.

Thời thịnh trị nhất của nhà Hán, nhà Hán đem quân đi thống nhất Trung Quốc, khuất phục các bộ tộc lớn và xâm lược các nước lân bang.

Ở Trung Quốc, người Mông là đại tộc luôn khiến nhà Hán vừa căm ghét và khó chịu.

Dân tộc Mông thông minh, can đảm, trí dũng hơn người bị nhà Hán coi là dân tộc có thể đe dọa đến sự tồn vong của vương triều nhà Hán nên suốt bao đời vua Hán đều cử quân đi khuất phục đại tộc Mông.

Nhưng những cuộc chinh phạt của người Hán đều thất bại bởi vấp phải sự chống trả kiên cường của người Mông.

Tuy nhiên để bảo vệ được sự tồn vong của dân tộc mình, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng phải trả giá không ít.

Qua mỗi thế kỷ, những cuộc chiến tranh lại khiến dân số người Mông ít dần đi, người già, đàn bà và trẻ con ngày càng nhiều hơn đàn ông.

Cuối thế kỷ XVII, có một cuộc giao tranh quyết liệt đã xảy ra giữa đại tộc Mông và Hán triều.

Thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi đó đã hô hào đàn ông đứng lên chống lại Hán triều một lần nữa.

Đó cũng là trận chiến khiến người Mông bị tổn thất nhiều nhất và bị đánh bật về phương Nam.

Sau trận chiến này, trước những thương vong mà dân tộc mình đã phải chịu đựng, thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi ấy đã có một quyết định cuối cùng để bảo vệ giống nòi và để dân tộc mình vĩnh viễn thoát khỏi những cuộc chiến đấu tranh giành lãnh thổ.

Vị thủ lĩnh ấy kêu gọi đồng bào Mông: “Tất cả đại tộc hãy đi đến phương Nam.

Đi đến nơi những vùng đất cao nhất, xa nhất, nơi chưa từng có ai đặt chân đến thì hãy dừng lại, dựng nhà cửa, làm nương rẫy, lấy chồng lấy vợ rồi sinh con đẻ cái.

Đó sẽ là quê hương mới của người Mông”.

Sau lời kêu gọi của vị thủ lĩnh người Mông ấy, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài (thuộc tỉnh Quý Châu) đã bỏ xứ sở đi về phương Nam trong cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông.

Cuộc thiên di đó đã đưa người Mông đến với những vùng đất phía Bắc Việt Nam.

Mệnh lệnh mà thủ lĩnh người Mông năm ấy đã ban đã được đồng bào Mông thực hiện một cách nghiêm ngặt: họ chọn những vùng núi cao nhất, xa nhất, hoang vu nhất để dừng lại, lập quê hương, bản làng mới.

Đó là lý do giải thích cho thói quen sống ở trên những vùng núi cao ít người của dân tộc Mông.

Trong cuộc thiên di ấy, cao nguyên đá Đồng Văn là một trong những nơi được người Mông chọn làm quê hương mới.

Đến bây giờ, người Mông Hà Giang vẫn còn truyền tụng về lịch sử dân tộc mình qua những câu hát: “Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào Mông ta.

Vì người Mông ta đói rách, vì dân Mông ta không có chữ, thua kiện người Hán nên phải mất nương, vì người Mông ta không có chữ nên phải dời quê hương đến xứ sở này”.

Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

Cuộc thiên di của người Mông đến cao nguyên đá Đồng Văn đã đánh dấu một thời kỳ quan trọng trong lịch sử của dân tộc Mông, với sự hình thành những vị Vua Mèo với uy danh vang khắp vùng núi phía Bắc.

Đầu thế kỷ XVIII, Đồng Văn có trên dưới 10 vạn người Mông, bao gồm họ Vàng, họ Dương, họ Mã…là những dòng họ lớn nhất.

Mỗi họ có một phong tục riêng, một thói quen thờ cúng, sinh hoạt riêng, bên cạnh những tập tục đặc trưng của người Mông.

Mỗi họ cũng có một thủ lĩnh do cả họ nhất trí suy tôn lên làm người đứng đầu.

Những thủ lĩnh dòng họ này có trách nhiệm bảo vệ sự an nguy và sức sống của cả dòng họ và phần lớn đều xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có nhất trong dòng họ.

Nhưng Vua Mèo Vương Chính Đức – vị Vua Mèo đầu tiên của người Mông ở Đồng Văn lại không có xuất thân cao quý như thế.

Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, Vua Mèo Vương Chính Đức xuất thân nghèo khó.

Ông là con trai trong một gia đình người Mông nghèo thuộc họ Vàng.

Trước khi được biết đến với cái tên Vương Chính Đức, ông chào đời ở Sà Phìn – Đồng Văn với cái tên Vàng Dúng Lùng.

Vàng Dúng Lùng có một tuổi thơ vất vả.

Từ nhỏ bố đã mất, Vàng Dúng Lùng đã phải cùng mẹ và anh trai Vàng Trá Pò lao động cực khổ để tồn tại.

Nhưng người già ở Đồng Văn, đặc biệt là ở Sà Phìn – quê hương của Vương Chính Đức – Vàng Dúng Lùng nói, cha mẹ họ, ông bà họ, những người từng chứng kiến Vàng Dúng Lùng lớn lên đều đã sớm thấy khí chất đặc trưng của một người Mông thông minh, quả cảm, luôn khám phá mọi vùng đất xung quanh mình.

Từ nhỏ Vàng Dúng Lùng đã rất hiếu động, thông minh.

10 tuổi, Vàng Dúng Lùng đã biết đi bộ lang thang khắp những vùng núi cao ở Mèo Vạc.

Không một bản làng nào, Vàng Dúng Lùng chưa đi qua.

Không một người Mông nào ở Đồng Văn, Vàng Dúng Lùng chưa gặp một lần.

Vàng Dúng Lùng thường chỉ về nhà khi chợt nhận ra mình đã đi quá lâu và thường khi ông về, mẹ ông đã suýt không còn nhận ra cậu con trai mà mỗi lần đi lại thấy già dặn, từng trải thêm một chút.

Đến tuổi thanh niên, Vàng Dúng Lùng đã là một chàng trai người Mông can đảm, dũng cảm, không sợ hổ báo, không sợ thú dữ mỗi khi đi rừng và có tài khổi khèn hay nức tiếng khắp vùng núi cao Đồng Văn.

Khi người Mông bắt đầu cuộc thiên di xuống phương Nam và dừng lại ở Đồng Văn, vị thủ lĩnh người Mông được lưu truyền lại trong lịch sử người Mông đã mơ ước dân tộc Mông sẽ được sống hòa bình ở vùng đất mới, không phải chịu cảnh đổ máu, chết chóc như suốt lịch sử của mình.

Nhưng ước mơ của vị thủ lĩnh đó không thành hiện thực.

Thời Vàng Dúng Lùng sinh ra và lớn lên cũng là thời mà lịch sử phong kiến Việt Nam chứng kiến cuộc xâm lăng của thực dân phương Tây.

Sau khi khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp bắt đầu tiến lên chinh phục các bộ tộc ít người ở vùng núi phía Bắc, trong đó có Đồng Văn.

Cùng lúc đó, triều đình Mãn Thanh cũng tiến quân xuống Đồng Văn, với ý định tiêu diệt những nhóm quân nổi dậy người Mông đang hình thành ở Đồng Văn, vì lo ngại những nhóm quân khởi nghĩa này có thể làm nguy hiểm đến sự cai trị của triều Mãn Thanh ở vùng biên giới giáp Việt Nam.

Ở Đồng Văn cũng xuất hiện những nhóm quân nổi dậy từ Trung Quốc dạt sang, với âm mưu đánh chiếm Đồng Văn.

Đứng trước hiểm họa đó, người Mông ở Đồng Văn, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Vừ Phán Lùng đã đứng dậy, sẵn sàng đánh quân Thanh và đánh quân Pháp đang tiếng vào Đồng Văn.

Trong dòng họ Vàng của Vàng Dúng Lùng, cũng có một người theo Vừ Phán Lùng đánh giặc, là Vàng Dí Tủa.

Trong cuộc nổi dậy đó, Vừ Phán Lùng đã bị phản bội và giết chết, người Mông ở Đồng Văn bị những nhóm quân nổi dậy Trung Quốc dạt vào Đồng Văn khi đó giết chết dã man.

Vàng Dí Tủa được người Mông Đồng Văn bầu lên thay làm thủ lĩnh cũng chết không lâu sau đó vì bệnh tật.

Một lần nữa, cộng đồng người Mông lại họp lại.

Vàng Dúng Lùng đứng lên làm thủ lĩnh người Mông thay Vàng Dí Tủa.

Dưới sự lãnh đạo của Vàng Dúng Lùng, người Mông Đồng Văn đã đánh bạt những phiến quân ở Đồng Văn, thống nhất toàn bộ vùng Đồng Văn.

Thừa thắng xông lên, người Mông Đồng Văn lại tiếp tục sát cánh bên Vàng Dúng Lùng, cùng thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng đánh giặc Pháp.

Quân Pháp khi đưa quân lên Cao Bằng, Hà Giang và sau một thời gian củng cố lực lượng, đã bắt đầu tiến hành cuộc chinh phạt Đồng Văn trong suốt hơn 10 năm, từ đầu những năm 1900 với quyết tâm thống trị hoàn toàn vùng đất này, đặt vùng đất này dưới ách đô hộ.

Khi thực hiện cuộc chinh phạt này, người Pháp rất tự tin vào sức mạnh của mình và khả năng khuất phục một dân tộc nhỏ bé, lạc hậu, nghèo đói ở vùng núi cao.

Nhưng người Pháp không lường được những khó khăn ở Đồng Văn.

Ngay cả khi chúng đã đặt được những đồn trú ở Đồng Văn, ngay cả khi chúng đã gây cho đồng bào Mông Đồng Văn không biết bao nhiêu tổn thất xương máu, thì chúng vẫn không thể khuất phục được người Mông Đồng Văn.

Đến lúc hiểu được về tập tục và văn hóa của người Mông, người Pháp hiểu rằng chỉ có một cách để tạm cai trị người Mông là phải chấp nhận đưa một thủ lĩnh người Mông lên nắm quyền – một thủ lĩnh mà bất cứ người Mông nào cũng sẵn sàng nghe theo.

Và chúng đã chọn thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng.

Để bắt tay được với thủ lĩnh người Mông, người Pháp đã ký với Vàng Dúng Lùng một hòa ước cam kết rút hết khỏi Đồng Văn và cho người Mông được quyền tự trị với sự giám sát của một nhóm đồn trú của Pháp ở Đồng Văn và một đơn vị hành chính của triều Nguyễn.

Cùng lúc đó, nhà Nguyễn cũng phong cho Vàng Dúng Lùng chức quan Bang Cơ, cai quản vùng Đồng Văn.

Vàng Dúng Lùng cũng được cấp mũ mão, áo quan và được ăn lương của triều Nguyễn.

Kể từ đó, Vàng Dúng Lùng bắt đầu đi vào lịch sử vùng Đồng Văn với cái tên Vương Chính Đức.

Ông trở thành Vua Mèo như một lẽ tự nhiên trong tâm thức của 7 vạn dân ở Đồng Văn, là vị thủ lĩnh đã bảo vệ người Đồng Văn trước gót giày bắn phá, chems giết của thực dân Pháp.

Chính vì thế, tuy là người Mông, nhưng ông cũng được các dân tộc khác ở Đồng Văn tôn sung.

Lời phán của thầy phong thủy và bí ẩn về sức mạnh khu đất xây dinh thự Vua Mèo

Không thể phủ nhận được vai trò của Vương Chính Đức trong một gian đoạn lịch sử loạn lạc đã giúp cao nguyên Đồng Văn với 7 vạn dân có được quyền tự trị nhất định, không chịu cảnh bóc lột của thực dân như những vùng đất khác ở Đồng Văn.

Thời đó, người Mông ở Đồng Văn sống chủ yếu bằng cách trồng cây thuốc phiện.

Sau khi ký hòa ước với Pháp, Vương Chính Đức cũng đã thỏa thuận với người Pháp trong việc mua bán thuốc phiện.

Người Pháp đã buộc phải chấp nhận mua thuốc phiện của Vua Mèo Vương Chính Đức với giá gấp đôi so với giá cũ.

Nhờ thỏa thuận này, người Mông Đồng Văn đã có một quãng thời gian dài sống no ấm nhờ cây thuốc phiện.

Vương Chính Đức nhanh chóng trở nên giàu có, với dinh cơ và tài sản lớn nhất vùng cao nguyên đá.

Dinh thự của Vua Mèo hiện nay vẫn còn ở Sà Phìn (Đồng Văn) chính là dinh thự do Vương Chính Đức xây lên vào thời hùng mạnh nhất của mình.

Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, mảnh đất mà Vua Mèo Vương Chính Đức chọn để xây dinh thự theo phong thủy có thế đất rất đẹp với hình mai rùa mà dinh thư Vua Mèo đặt ngay chính giữa chop cao nhất của cái mai rùa đó.

Trong những huyền tích do người Mông Đồng Văn lưu lại về Vương Chính Đức, có không ít những câu chuyện là thật, cũng có không ít những câu chuyện được thêu dệt, thêm thắt truyền miệng qua người này đến người kia.

Nhưng có một câu chuyện mà theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý là tương đối chính xác, chính là câu chuyện về lý do vì sao Vua Mèo Vương Chính Đức lại chọn mảnh đất đó làm nơi dựng nhà.

Chuyện rằng khi Vương Chính Đức còn là một cậu bé thường xuyên lang thang khắp các xó xỉnh của vùng núi Đồng Văn, một hôm có một đoàn thương lái Trung Quốc đi qua Đồng Văn và dừng chân nghỉ lại ngay bên cảnh khu đất hình mai rùa ở Sà Phìn.

Trong đoàn thương lái đó có một người xem phong thủy rất giỏi, thấy khu đất trống đã bất chợt thốt lên: “Thế đất khu này quá đẹp.

Ai biết mà dựng nhà ở đây, sau này không làm vua chúa cũng sẽ làm quan, được người người tôn sung, thờ phụng, vinh hoa phú quý đời sau ăn không hết”.

Lúc đó Vương Chính Đức (lúc này hãy còn là cậu bé Vàng Dúng Lùng) đang ngủ trên cành cây ngay trên đầu vị thương lái có tài xem phong thủy, đã nghe lỏm được câu chuyện đó.

Cậu bé Vàng Dúng Lùng đã nghĩ sau này nhất định sẽ xây nhà trên mảnh đất đó.

Sau này khi thành thủ lĩnh người Mông trong cuộc chiến đó, Vàng Dúng Lùng nhớ lại lời các thầy phong thủy nói năm xưa đã cho người đến xây nhà trên khu đất hình mai rùa ấy.

Cũng kể từ khi dựng nhà trên khu đất đó, Vương Chính Đức đã ngày càng khẳng định được uy quyền của mình ở Đồng Văn.

Uy thế của ông cũng tăng lên sau mỗi chiến công mà ông lập được với vai trò thủ lĩnh.

Sau khi ký thỏa hiệp với người Pháp, có trong tay một gia sản lớn, Vương Chính Đức đã cho xây dựng căn nhà ở Sà Phìn thành một dinh thự lớn, xứng với vị thế của mình, cũng ngay tại mảnh đất có hình mai rùa đó.

Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, dinh thự mà Vua Mèo Vương Chính Đức đã xây dựng ở Sà Phìn khác với kiến trúc của những ngôi nhà người Mông bình thường.

Dinh thự với hình dáng đó theo quan niệm của người Mông từ xa xưa truyền lại, là ngôi nhà chỉ dành cho vua chúa, những người có uy tín nhất vùng.

Nhưng hầu như không có người Mông nào sống ở thời Vương Chính Đức được thấy kiến trúc đó.

Sau cuộc thiên di, nhiều nét văn hóa của dân tộc Mông đã bị mất đi bởi chiến tranh, trong đó có những ngôi nhà uy nghi như trong dân ca người Mông.

Và Vua Mèo Vương Chính Đức đã cho xây dựng ngôi nhà của mình theo hình dung của ông về ngôi nhà qua những câu dân ca của người Mông mà ông đã đọc được.

Đến ngày hôm nay, dinh thự Vua Mèo ở Sà Phìn vẫn là một nơi mà bất cứ người nào đặt chân lên cao nguyên đá Đồng Văn cũng không thể không đến.

Nơi đó đã chứng kiến những năm tháng hùng mạnh nhất của dòng họ Vua Mèo Đồng Văn, cho đến khi những hậu duệ của ông rời Đồng Văn, đi đến những vùng đất khác, theo những thay đổi của lịch sử.

Nguồn: Tuan Nguyen
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Cầu Quỷ


KDL Tam Đảo không xa lạ gì với chúng ta đặc biệt với những bạn làm nghề Tourguide.

Một năm ít nhất cũng vài lần chúng ta hướng dẫn khách tham quan tại điểm du lịch nằm ở độ cao trên 1000m so với mực nước biển này.

Thị trấn Tam Đảo với diện tích khá khiêm tốn chỉ rộng trên 2km² những tưởng mọi ngõ ngách, địa điểm vui chơi tham quan nghỉ dưỡng mình đều nắm rõ trong lòng bàn tay.

Nhưng quả thực không phải như vậy.

Chuyện sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như không có cô gái vô cùng xinh đẹp và dễ thương trong đoàn khách.

Hôm đó, như thường lệ với vai trò là hdv Tôi đưa đoàn đi tham quan danh thắng Thác Bạc.

Từ trung tâm TT Tam Đảo để đi đến Thác Bạc thì chúng ta phải đi cây cầu mang tên "Cầu Quỷ".

Đoàn đang rảo bước trên cầu thì bất chợt trong đoàn vang lên tiếng nói trong trẻo của một cô gái "Anh ơi!

Sao cây cầu này lại có tên là Cầu Quỷ vậy?"

Quả thực, trong quãng thời giam làm tourguide trên mười năm, Tôi đã đi qua cây cầu này biết bao lần tôi không thể nhớ nhưng lần đầu tiên bắt gặp câu hỏi về Tên của cây cầu này.

Câu hỏi khá là bất ngờ, định thần trong giây lát, lục tìm trong trí nhớ những thông tin hàng chục cuốn sách viết về KDL Tam Đảo mà tôi đã từng đọc nhưng không hề có dòng nào viết về cây cầu mang tên Quỷ.

Thấy hơi "Coóng" và đoàn cũng đã đi qua cầu nên Tôi linh hoạt chuyển sang giới thiệu về chủ đề khác.

Tuy nhiên câu hỏi đó vẫn ám ảnh Tôi suốt từ lúc đó cho đến bữa ăn tối.

Sau khi lo cho đoàn ăn xong, tôi có time rảnh và bắt đầu Seach Google để tìm kiếm câu trả lời nhưng không có kết quả.

Tôi bèn nhấc máy gọi điện cho Thầy giáo (người mà tôi vô cùng kính trọng và khâm phục bởi bộ óc uyên bác được ví như bộ Bách khoa toàn thư) nhưng vẫn không có được câu trả lời.

Sách không ghi chép, Google không có, Thầy không rõ, cuối cùng tôi quyết định làm chuyến khảo sát thực địa mà trong ngôn ngữ chuyên ngành gọi là "Điền dã".

Tôi cuốc bộ từ khách sạn ra ngồi quán nước ven cây cầu và lân la hỏi chuyện về tên gọi Cầu Quỷ.

Tôi ngồi đó đến khuya kinh qua vài quán nước và hỏi đến hàng chục người vốn được xem là cư dân bản địa có tuổi từ đôi mươi cho đến cụ già tóc bạc nhưng cũng không có thông tin gì mới.

Buồn bã tôi lê bước về phòng nghỉ để giữ sức cho ngày mai chinh phục Tháp truyền hình.

Nhưng tính Tôi là vậy, chưa có đáp án thì trong lòng cảm thấy bứt rứt khó chịu.

Quả thực suốt đêm đó trong đầu Tôi chỉ xoáy vào 2 tiếng "Cầu Quỷ".

Tôi hạ quyết tâm sẽ phải có đáp án trước khi tiếng gà rừng gáy sáng.

Tôi ngồi bật dậy và bắt đầu hồi tưởng, xâu chuỗi và liên kết tất cả những dữ liệu thông tin về KDL Tam Đảo cũng như những kiến thức về nghiên cứu và giải mã các biểu tượng văn hóa.

Sau khi tổng hợp tôi quyết định xoáy sâu vào 2 dữ liệu chính: Dòng suối Bạc và Hình tượng Phù điêu trên cầu.

Khi xưa Tam Đảo có hai dòng suối nước chảy quanh năm bao bọc thị trấn có tên suối Vàng và suối Bạc.

Qua thời gian không rõ vì sao dòng suối Vàng không còn nữa và giờ chỉ còn dòng suối Bạc mà thôi!

Dòng suối Bạc chính là nguồn sinh dưỡng còn lại gần như duy nhất trong việc cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân và góp phần tạo nên danh thắng Thác Bạc tuyệt mỹ.

Như vậy dòng suối đóng vai trò hết sức quan trọng và việc bảo vệ và duy trì nguồn nước có ý nghĩa vô cùng lớn lao.

Tôi bắt đầu liên tưởng đến Nước và thần chủ của nguồn nước trong nền văn hóa Á Đông.

Mà vị thần chủ cai quản nguồn nước đó chính là CÔNG PHÚC - Con thứ sáu của rồng, là linh vật thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè... với mong muốn Công Phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ muôn dân.

Đến lúc này tôi nhận thấy câu trả lời đang đến rất gần.

Bước đầu Tôi khẳng định đó chính là hình tượng Công Phúc - vị thần cai quản và bảo vệ nguồn nước theo quan niệm của nền Văn hóa Á Đông.

Nhưng khi quan sát kỹ bức phù điêu đó thì lại mang phong cách nghệ thuật Phương Tây.

Liệu đó có phải hình tượng Công Phúc?!

Quả thực, cây cầu cùng bức hình phù điêu đó cùng hàng loạt các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng chính là do người Pháp xây dựng hồi đầu thế kỷ XX.

Người Pháp nô dịch bóc lột đất nước chúng ta về kinh tế nhưng họ rất coi trọng và trân quý những giá trị của nền văn hóa Á Đông.

Vì lẽ đó hình tượng Công Phúc mang tính giao thoa văn hóa đã được đắp trên cầu với mong muốn Thần sẽ ban ơn và giữ cho nguồn nước mãi chảy không thôi.

Qua thời gian, khi người Pháp rút về nước dân gian chỉ thấy trên những cây cầu có hình tượng kỳ quái trông dữ tợn giống mặt Quỷ xa lạ nên gọi "Cầu Quỷ" vì lẽ đó.

Vậy là Tôi đã có câu trả lời của riêng mình về nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi "Cầu Quỷ" cũng là lúc gà gáy canh năm gọi mặt trời lên
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Đồi A1 và các tên gọi khác


Có thể bạn chưa biết!

Đồi A1 đã từng có nhiều tên gọi khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử:

👉Đồi Lạng Chượng – là tên gọi của ngọn đồi này trong thời kỳ xung đột giữa các Chúa đất vào khoảng cuối thế kỷ XI – đầu thế kỷ XII.

Lạng Chượng là con trai út của Tạo Lò (Mường Lò – Yên Bái ngày nay), đi “mở đất” bằng các cuộc đánh chiếm đất của các chúa Mường khác.

Lạng Chượng lên vùng Mường Muổi (Thuận Châu – Sơn La) nhưng không đánh bại được Chúa Mường Muổi là Ăm Poi, bèn dùng kế xin được lấy con gái Chúa Ăm Poi là nàng Ho Quảng làm vợ và ở rể Mường Muổi.

Lạng Chượng sau khi lập mưu giết chết bố vợ rồi đưa quân mở rộng vùng đất lên xứ Mường Thanh và chọn ngọn đồi có thế phòng ngự là vị trí đắc địa xây dựng dinh lũy.

Một thời gian sau, con trai của Lạng Chượng đột ngột qua đời, Lạng Chượng trong đêm khóc thương con để lộ việc sát hại bố vợ, nàng Ho Quảng biết việc chồng mình chính là kẻ giết cha đã lên kế hoạch trả thù.

Từ đó ngọn đồi này có tên là đồi Lạng Chượng.

👉Đồi Đồn Tây – là tên gọi thời kỳ Pháp chiếm nước ta lần thứ 1.

Năm 1858 Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.

Đến năm 1890 Thực dân Pháp mới đặt ách cai trị tại Lai Châu.

Năm 1909 Lai Châu thuộc đạo quan binh thứ 4 và thiết lập theo chế độ quân quản.

Toà sở của viên quan binh kiêm quan cai trị được đặt trên ngọn đồi này, từ đó nhân dân gọi là đồi Đồn Tây.

👉 Đồi Eliane II - là tên gọi mà Thực dân Pháp đặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngày 20/11/1953, Thực dân Pháp nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ và quyết định xây dựng nơi đây thành Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương bao gồm 8 cụm cứ điểm mang tên các cô gái đẹp của nước Pháp.

Eliane II là cứ điểm quan trọng bậc nhất trong dãy đồi phòng ngự phía đông của phân khu trung tâm.

Được coi là “cuống họng” và trực tiếp bảo vệ cho căn hầm của tướng De Castries.

Vì vậy quân Pháp quyết tâm bảo vệ cứ điểm Eliane II này như bảo vệ người đẹp của họ!

👉 Đồi A1 là ký hiệu mà quân đội Việt Nam đặt cho ngọn đồi này!

A và số 1 luôn luôn đứng đầu trong bảng chữ cái và số để nhấn mạnh được tầm quan trọng của ngọn đồi này với phân khu trung tâm!

Nếu như ta chiếm được toàn bộ đồi A1 thì từ đó mới chiếm được Hầm De Castries và bắt sống ông ta!

👉👉👉 Đồi Lạng Chượng, đồi Đồn Tây, đồi ElianeII hay đồi A1 đều là tên gọi của 1 quả đồi - nơi đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử: Đồi Lạng Chượng chính là câu chuyện buồn giữa 1 bên là hiếu – 1 bên là tình của chàng Lạng Chượng và nàng Ho Quảng.

Đồi Đồn Tây và Eliane II là nỗi buồn của 1 thời mất nước, chỉ từ khi mang tên đồi A1 - với tinh thần đoàn kết của quân và dân ta đã làm nên chiến thắng vĩ đại thì ngọn đồi này mới không thay đổi tên gọi!

Đồi A1 nơi ghi dấu chiến thắng hào hùng nhưng cũng vô cùng bi tráng của các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt 39 ngày đêm bão lửa!
 
Back
Top Bottom