Cập nhật mới

Khác NAM QUỐC HẬU PHI - HOÀNG CÚC TIỂU TRUYỆN

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
76641707-256-k93106.jpg

Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Tác giả: minhbaofromthevault
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Sáng tác: Minh Bảo a.k.a Mingbao Chan

Thể loại: truyện ngắn cảm hứng lịch sử.

Bổi cảnh: nhà Nguyễn, triều vua Khải Định.

Nhân vật chính: Từ Cung Thái hậu Hoàng Thị Cúc.

~VĂN ÁN~

Ngày tôi rời khỏi Tử Cấm Thành, tam cung lục viện chỉ còn trong ký ức.

Tường đỏ ngói xanh đó từng giam cầm tôi suốt nửa cuộc đời, vậy mà giờ đây lại nhớ nhung đến lạ.

Câu hò xứ Bình Trị Thiên vẳng vẳng bên dòng Hương giang hiền hoà, thơ mộng, khiến người ta cảm thấy cõi lòng bùi ngùi khó tả.

"Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát

Đứng bên tê đông ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông..."

Bầu trời tươi đẹp đó, dù nhìn từ trong Đại Nội hay bên ngoài Đại Nội đều bao la như thế.

Đi hết cuộc đời, giờ đây nhìn lại, tôi vẫn là tôi của thuở nào đó thôi.



triềunguyễn​
 
Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Lời tác giả


Khác với những truyện khác trong hệ liệt "Nam quốc Hậu phi", "Hoàng Cúc tiểu truyện" thật sự là một thử thách đối với Bảo, về mọi phương diện.

Khách quan mà nói, nhân vật Từ Cung Thái hậu, thân mẫu của vua Bảo Đại có lẽ đã quá quen thuộc với nhiều người.

Hơn nữa, thời đại của bà cũng không quá xa với thời đại của chúng ta, tư liệu về bà cũng còn rất nhiều.

Nhưng chính điều đó lại tạo nên trở ngại cho thiên truyện này.

Vốn quen với việc khan hiếm tư liệu, cách viết của Bảo thiên về sáng tạo, hay nói đúng hơn là hư cấu.

Nhưng Bảo vẫn cố bám trụ vào những sự thật lịch sử hết khả năng có thể.

Về phương diện chủ quan, Bảo viết "Hoàng Cúc tiểu truyện" sau một thời gian dài gác bút, do đó bút lực và văn phong có phần lơ đễnh, chưa hay, chưa mượt, mong bạn đọc thông cảm và góp ý để Bảo phát huy thêm.

Bảo rất lo sợ bản thân sẽ bị ném đá vì truyện này.

Tên của nhân vật nữ chính và nữ thứ Bảo đã tự ý đổi so với sử sách ghi chép.

Điều này là phản ánh sai lịch sử, Bảo công nhận, nhưng đây lại là điều kiện tiên quyết của Nam quốc Hậu phi.

Hệ liệt này là một chuỗi những câu chuyện dã sử, nghĩa là nó mang chỉ hơi thở của lịch sử, chứ không phải là một tác phẩm phục dựng lại lịch sử.

Và Bảo quyết định chọn cách đẩy dụng ý tác giả lên hàng đầu, thay vì sự nghiêm túc tái hiện lịch sử, chỉ có làm vậy mới phù hợp với văn phong của Bảo mà thôi.

Chút lời phân trần cùng bạn đọc.

Cảm ơn các bạn rất nhiều khi đồng hành cùng Bảo ^^~
 
Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Tiết tử


Tự Bắc chí Nam, đâu đâu cũng in hằn dấu chân của những binh đoàn Phú Lang Sa tàn bạo như hổ đói.

Đến bầu không khí cũng vương mùi máu tanh và thuốc súng nồng nặc.

Từng cơn gió thu quét qua cung điện điêu tàn cũng không sao xua đi sự ảm đạm vây phủ đất thần kinh.

Non sông đã không còn là non sông của Nguyễn Phúc thị.

Hậu cung, ngay cả hậu cung cũng chẳng còn là hậu cung nước Nam đời đời tôn quý nữa rồi.

Lễ Từ Khương hàng năm, cũng là sinh thần của tôi, ngày càng trở nên nhạt nhẽo vô vị.

Nhớ năm xưa lúc còn là tần phi của hắn, năm nào đúng dịp sinh thần của Thánh Cung Tiên Cung hai vị lệnh bà, nữ nhân từ trên xuống dưới ở hậu cung đều tề tựu đông đủ.

Một câu thì chúc thọ, hai câu thì chúc phúc.

Lời lẽ vàng ngọc, cống phẩm trân quý hầu như đều hàm tụ tại cung Diên Thọ, xa hoa không sao kể xiết.

Kể từ khi nữ nhân không phải người An Nam đó nhập cung, tổ chế hậu cung của hoàng gia Nguyễn Phúc thị trải qua mười hai đời đế vương đã bị cô ta làm cho xáo trộn, làm cho điên đảo.

Cô ta so với tôi năm xưa có gì tốt hơn?

Luận tư dung, phàm là nữ tử chốn hậu cung có ai là không hoa nhường nguyệt thẹn, hoặc giả đã từng hoa nhường nguyệt thẹn?

Luận tài đức, cái vẻ đẹp tân thời đó dẫu có rực rỡ chói mắt đến đâu đi nữa cũng khó lòng sánh với nét duyên đoan trang mà nền nã, đôn hậu mà sang cả của nữ nhân trong cung cấm tự bao đời nay.

Cô ta có thứ gì, tôi cũng có thứ ấy.

Chỉ là, cô ta nắm giữ được trái tim của con trai tôi.

Còn tôi, từ đầu đến cuối đều là kẻ yếu đuối nhược hèn.

Trái tim của anh ấy, trái tim của tên hôn quân đó, và trái tim của con trai tôi Vĩnh Thuỵ, cả đời này tôi cũng đừng mơ đến.

Lầu son gác tía thì sao?

Quần là áo lụa thì sao?

Mão bạc trâm vàng thì sao?

Ai đã nói thân làm hậu phi thì cả đời có thể hưởng phúc...?
 
Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Phần sơ


"Ngày mai người trong cung sẽ đến đưa mày đi.

Liệu mà sống tốt.

Làm nô thì làm nô, biết đâu có thể mê hoặc vương tôn công tử, một bước lên mây, gà rừng hoá phượng hoàng." – Anh cả Trọng Khanh của tôi cười ha hả, đưa cặp mắt đờ đẫn vì men say nhìn tôi, không giấu được vẻ đắc ý hiểm độc.

Trên tay Trọng Khanh là một túi bạc rủng rỉnh, ước chừng chục lượng.

Tôi cười cay đắng.

Chục lượng vàng, tấm thân này của tôi, sinh mệnh này của tôi, chẳng qua chỉ ngót nghét chục lượng vàng.

Năm xưa đọc Đoạn trường tân thanh, tôi từng nhạo Thuý Kiều bán mình chuộc cha là ngu xuẩn, nhu nhược đến nỗi bản thân mình cũng phó mặc cho tên Mã Giám Sinh kỳ kèo ngả giá.

Bấy giờ, đến lượt tôi khinh bỉ bản thân mình bị bán lúc nào còn chẳng biết.

"Đi đi.

Được phú quý thì đừng quên chiếu cố anh trai mày." – Đó là lời cuối cùng tôi nghe được từ người anh trai đốn mạt.

Không cùng mẹ nhưng cũng cùng cha, cũng mang họ Hoàng, cớ sao hắn lại tàn nhẫn với tôi như thế.

Vì mẹ tôi đã lỡ giành mất một chút tình thương từ cha sao, vì tôi là kết quả của mối tình vụng trộm ấy sao?

...

Người đưa tôi đi là một thái giám trong cung.

Sinh ra và lớn lên trong một nhà quan lại xứ kinh kỳ, vậy mà cả danh phận kim chi ngọc diệp tôi cũng không có.

Đến khi rời khỏi nhà, lại rời đi với thân phận một cung tì sắp tiến cung.

Bầu trời xứ Huế cao xanh vời vợi, trong vắt sáng ngời, tựa như có thể nhìn thấu chín tầng mây lơ lửng.

Vậy mà, sao Cao Xanh kia không nhìn thấu cho phận cỏ hèn này một lần cơ chứ?

Tự hỏi, tôi đã làm gì sai, làm gì đắc tội để nhà họ Hoàng ấy đối xử với tôi như vậy?

"Mày không sai, là mẹ mà sai.

Nhưng mày là con gái bà ta, cũng nên gánh cái sai này giúp bà ta đi." – Trọng Khanh đã nói với tôi như vậy, mười năm về trước.

Mười năm trước, khi ấy tôi mười ba tuổi.

Người ta nói "nữ thập tam, nam thập lục".

Tôi của năm mười ba tuổi tươi xinh tựa như cỏ non biêng biếc, sức sống ngập tràn.

Tôi của năm mười ba tuổi hoàn toàn an phận thủ thường, không nói nhiều cũng không nghĩ nhiều.

Tôi của năm mười ba tuổi chẳng hề đa đoan suy tính, cũng chẳng hề thắc mắc vì sao thân là tiểu thư nhà họ Hoàng lại bị đối xử không khác gì nô bộc.

Tôi của năm mười ba tuổi đã gặp anh.

Thừa Mai!

Chẳng biết anh còn nhớ không ngày hai ta lần đầu gặp gỡ.

Ngày đó, em mặc tấm áo nâu sồng cũ kỹ, một mình bước đi giữa chợ An Cựu nhộn nhịp đông vui.

Ngày đó, anh đứng đó nhìn em giữa đám đông xô bồ đó.

Anh nhoẻn miệng cười.

Mớ tóc mai loà xoà trước trán che ngang tầm mắt, cũng không sao che được nụ cười anh rực rỡ như ánh nắng chiều.

Anh ấy tất nhiên sẽ không còn nhớ, hoặc là nhớ nhưng lại không dám nhớ.

Phải, anh nhớ làm gì, nhớ lại chỉ thấy thêm đau khổ.

Anh nhớ làm chi những ngày anh gặp tôi trên bờ hồ sen thanh tịnh.

Hương sen thơm thấm nhuần cả tâm tư, khiến cho cả hơi thở cũng phảng phất phong vị cửa thiền vô bi vô hỷ.

Tôi và anh bẽn lẽn không nói năng gì.

Tôi lén đưa cho anh gương sen tôi mới hái.

Anh nhận lấy gương sen, lòng bàn tay còn vương vít chạm vào tay tôi chốc lát, ấm đượm cả một mảng tâm hồn.

Anh cười lém lình: "Sen thì thơm thật, nhưng tôi không thích lắm."

Tôi nhíu mày khẽ hỏi: "Vậy anh thích hoa chi?"

Ánh chiều vàng vọt mơ hồ rọi trong đáy mắt anh, tôi thấy bóng mình trong đó, sâu thẳm, bị ánh nắng nhuộm đôi gò má sắc hồng nhàn nhạt.

"Tôi thích hoa cúc!"

"..."

Cúc là khuê danh của tôi.

Cha tôi là tri huyện Hoà Đa, tên là Hoàng Trọng Tích.

Cha năm xưa đỗ đến tú tài, học vấn cũng có thể nói là sâu rộng.

Con trai con gái nhà quan lại, ai ai cũng tên họ đầy đủ ba chữ, vô cùng cao quý.

Còn tôi, cũng là tiểu thư nhà tri huyện, ngoài họ Hoàng của cha, tên chỉ có mỗi một chữ Cúc.

Tôi biết cha hay chữ, tôi cũng biết rằng khuê danh chốn đài cát thường được lựa chọn rất cẩn thận.

Cái tên là nói lên gia thế, tính cách và có khi là cả số phận của con người.

Hoàng Cúc.

Cái tên này so với mấy bồ chữ Nho của cha thì tầm thường quá.

Tôi nhiều lúc cũng có phần tủi thân.

"Con thiếp thất, thân phận thấp kém, chữ đặt tên có tầm thường một chút cũng là lẽ đương nhiên."

Bấy giờ trời đang là cuối thu, gió bắt đầu se lạnh.

Mấy chậu cúc mua từ tết Trung Thu trở nên héo úa, sắc vàng sắc tím cũng nhạt đi ít nhiều, nhường chỗ cho gam màu trầm tịch mịch.

Dì tôi bứt lấy một bông cúc còn tươi, mân mê cánh hoa đã mềm đi vì thiếu nhựa sống rồi hung hăng ném nó ra giữa sân.

Bông hoa tan nát, cánh hoa rách rưới vương khắp sân nhà.

"Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chỉnh vứt ngoài bờ tre*."

Dì nhìn tôi, ánh mắt sắc lẹm.

(*) Câu tục ngữ trích trong truyện cổ tích Tấm Cám.

Ý nói con nhà quyền quý đôi khi cũng không hơn ai, nên người phận thấp bé,nghèo hèn chớ dại đem bản thân mình mà so sánh với người khác.

"Năm xưa mẹ của mày, không biết thân biết phận mà tranh lấy chồng của bà.

Chị em ruột thịt gì chứ?

Lúc ăn nằm cùng ông ấy, bà ta có nghĩ đến đứa em gái tội nghiệp đang bụng mang dạ chửa hay không?"

Dì tức giận vung tay tát vào mặt tôi, ấm trà tôi đang bưng nước văng tung toé, bỏng cả tay tôi, thấm cả vào vạt áo gấm thượng hạng của dì.

Dì tức giận nhìn tôi, giọng lạnh lẽo như nước mưa đêm thấm vào da thịt, ánh mắt lại có phần hả hê: "Sau đó, người đàn bà đó cũng biết cái gì gọi là tự trọng, âm thầm mà bỏ đi.

Chỉ tiếc là, còn để lại đứa con hoang như mày!"

"Chuyện đã mười mấy năm rồi, bà còn nhắc lại làm gì.

Trăm sai ngàn sai cũng là do tôi, bà chớ trách nó.

Dẫu sao nó cũng là con gái của tôi mà."

Mỗi lúc dì tôi nhớ lại quá khứ mà lôi tôi ra trút giận, cha liền đi đến nói giúp cho tôi.

Còn tôi lúc ấy nép sau bóng lưng to lớn của cha mà gắng kìm nước mắt, không cho người đàn bà cay nghiệt ấy biết tôi yếu đuối đến độ nào.

Chỉ tiếc, khi tôi vừa hiểu chuyện, cha đã sớm qua đời.

Cũng giống như sau đó, tôi rúc vào hõm vai của Thừa Mai bật khóc nức nở, cả người run lên vì ấm ức.

Tôi khi ấy hệt như đoá cúc cuối thu kia vậy, yếu đuối biết bao.

Vậy mà con người duy nhất tôi có thể dựa dẫm vào sớm đã không còn bên tôi nữa.

Năm tôi vừa tròn hai mươi, trong cung thiếu nhân sự, Thừa Mai bị hương làng bắt vào cung làm thị vệ.

Chỉ còn tôi trơ trọi một mình.

Hơn một năm sau đó, anh cả Trọng Khanh cờ bạc vô độ, nhà họ Hoàng từ chỗ đủ ăn đủ mặc, bấy giờ lại trở nên nghèo túng nợ nần.

Không nói không rằng, tôi liền bị bán đi làm cung nữ.

Lúc nhìn thấy tờ giấy bán thân trong tay Trọng Khanh, tâm tình tôi thật sự hỗn loạn.

Tôi lo sợ, sợ rằng sau này sẽ chẳng còn cái gọi là tự do nữa.

Nhưng trong lòng trào dâng chút cảm giác vui mừng, tựa như tạo hoá đã cố công sắp đặt.

Phải, trong chốn lầu son gác tía đó có Thừa Mai của tôi, hẳn là lúc này, anh đang canh gác ở một cung điện nào đó.

Chắc là anh cũng đang nhìn bầu trời cao qua mái ngói cung điện.

Chắc là ánh mắt anh cũng hoang mang rợn ngợp như mắt tôi lúc này.

Chắc là anh cũng đang nhớ tôi lắm, như tôi vẫn đang nhớ về anh...

Thế nhưng, cung nữ thị vệ, đến cả hơi thở còn không phải là của mình nữa.

Làm thế nào để ở bên nhau đây...?

...

Tử Cấm Thành đón tôi bằng một ngày âm u, mây xám vờn quanh khắp đền đài cung tẩm.

Bầu trời với mặt đất như sát nhập làm một.

Những áng mấy nặng trĩu cơ hồ đè nát cả đất kinh kỳ.

Không giang hoa lệ mà tột cùng hiu quạnh, tựa như thăng trầm của thời cuộc đã hút cạn lấy uy quyền dũng mãnh của cung đình.

Đất An Nam lại lấp ló bóng người mắt xanh mũi lõ, lẽ nào những vàng son ngàn năm đó vẫn còn chói loà như xưa?

Sau một ngày đến Nội Vụ phủ trình báo thân phận, tôi cùng với mấy mươi người khác được đưa đi học cung quy và được phân phó công việc mà chúng ta sẽ phải đảm đương thường ngày.

Ba tháng trôi qua, cuộc sống nơi Tử Cấm Thành chật hẹp tôi cũng có thể từ từ thích ứng.

Ngẫm lại, cung quy nói khó tuân cũng không phải.

Người ta thường nói, phàm là cung nhân thì phải chịu cảnh sống mà không có tự do.

Riêng tôi từ nhỏ vốn dĩ luôn bị người ta xem thường, tự do vốn chẳng hề có.

Mấy trăm điều cung quy nghiêm ngặt đó sao có thể làm khó được tôi?

Theo lệ thường, cung nữ nhập cung được phân phó vào Lục Thượng cục*, nơi đảm đương việc ăn mặc, lễ tiết của chủ tử trong cung.

Chỉ một số ít cung nữ có tư chất được Nội Vụ phủ đặc biệt tuyển chọn để làm ngự tiền bên cạnh Hoàng đế, hoặc hầu hạ Thái hậu, Thái phi.

Bản thân tôi vốn trầm ổn tỉ mỉ, nên từ sớm đã được chỉ thị đến Diên Thọ cung hầu hạ hai vị Thái phi.

(*) Lục Thượng: Cơ quan trong Nội Cung chuyên lo chuyện sinh hoạt cho Hoàng gia.

Lục Thượng tập hợp cung nữ trong cung phục vụ ăn uống, trang phục, trang sức, nghi trượng,... trong cung, thường do phi tần chưởng quản.

Hậu cung tranh đấu, xưa nay vốn dĩ mẹ quý nhờ con.

Hai vị đức bà trong Diên Thọ cung vốn là phi tử của vua Đồng Khánh.

Một người từng là Hoàng Quý phi Nguyễn Hữu thị, phụng thừa vụ kiêm nhiếp lục viện.

Một người từng là Hoà Tần Dương thị, mẹ ruột của Phụng Hoá công Nguyễn Phúc Bửu Đảo, hoàng tử duy nhất của tiên đế.Từ sau khi Đồng Khánh băng hà, Hoàng Quý phi Nguyễn Hữu thị và Hoà Tần Dương thị rời bỏ lục viện, sống ẩn dật tại Diên Thọ cung, nơi được gọi là "viện quả phụ" của cả Tử Cấm Thành.

Tôi khẽ thở dài.

Trong chốn cấm cung, dù là kẻ nô bộc suốt đời phụ dịch ở Lục Thượng cục hay Hoàng Quý phi cao cao tại thượng nơi cung Khôn Thái thì cũng chỉ chung một phận cá chậu chim lồng mà thôi.

Con cá này không thể vẫy vùng thì người ta đổi con cá khác, con chim nọ không thể cất tiếng oanh vàng thì một con chim mới lại được nuôi.

Cũng trong cái lồng son ấy mà thôi...

Khoan hãy nói hai vị đức bà năm xưa từng tài hoa ra sao, thông minh cơ trí đến độ nào.

Chỉ hai câu "hồng nhan chóng lụi tàn", "tre già măng mọc" đã đủ sức khiến người ta quên đi phong quang*ngày xưa.

Hậu cung của Đồng Khánh đã là quá khứ, những bóng mẫu đơn ngày đó là sao đủ sức vùi dập thược dược, đỗ quyên, hải đường của ngày hôm nay?

Phế đế Thành Thái có Huyền Phi Nguyễn Hữu thị, tài sắc đến độ nhà vua thương nhớ khôn nguôi, vội vàng soạn chiếu đón nàng từ làng Kim Long vào Tử Cấm Thành, vừa vào cung đã phong Nhất giai phi cao quý tột cùng, vinh hoa át cả Nguyễn Hoàng Quý phi.

Lại nói, đương kim Thánh thượng Duy Tân đế, hậu cung chỉ có mỗi Mai Hoàng Quý phi làm chính thất, một thứ phi nhà vua cũng không lập.

Nhất kiến chung tình, sủng ái vạn ngàn làm sao kể xiết.

(*) Phong quang: là một từ cổ, ý chỉ sự tươi đẹp, hiển hách

Chỉ là, dù là Thành Thái hay là Duy Tân, hậu cung ba ngàn giai lệ ai tài ai sắc, hai vị Thái phi cơ bản cũng chẳng thể nào can dự, bởi hoàng đế không phải là hoàng tử thân sinh của hai vị đức bà.

Bất kể là Hoàng Quý Thái phi hay Hoà Thái phi đi nữa, chẳng qua chỉ là hữu danh vô thực, không hề có chút uy quyền ảnh hưởng đến hậu cung của tân đế.

Tôi thầm nghĩ, như vậy cũng xem là rất tốt.

Hầu hạ bên cạnh người không quyền không thế, tôi có thể bình an mà sống những tháng ngày phía trước.

...

Hơn một năm trôi qua, cuộc sống của tôi xem chừng đã đâu vào đấy.

Công việc ở Diên Thọ cung nói nhiều cũng không nhiều, nói ít cũng chẳng ít.

Ngày lại qua ngày, việc này việc nọ cứ luân phiên đến tay, đến giờ nào thì làm việc gì, ở đâu, ra sao... hết thảy cứ như hạt bồ đề trên xâu chuỗi nối kết nhau, liên miên không dứt.

Buổi sáng mỗi ngày, từ giờ Mão tôi đã thức dậy, sửa soạn cung trang thật chỉnh tề, sau đó đến chái điện chuẩn bị y phục cho Hoà Thái phi.

Hoà Thái phi năm xưa tiến cung được tiên đế Đồng Khánh phong Tiệp dư, về sau có công hạ sinh Phụng Hoá công, nhận thánh chỉ gia phong thành Hoà Tần.

Hoà Tần khi ấy chỉ ở Tam giai, nhưng đãi ngộ dành cho Đoan Huy viện của bà chẳng kém gì Khôn Thái cung của Hoàng Quý phi Nguyễn Hữu thị.

Việc bà có được tiên đế sủng ái hay không thì khoan hãy bàn đến, chỉ riêng việc hạ sinh long chủng đã phần lớn củng cố địa vị của bà ở chốn hậu cung.

Chính vì thế, khi tiên đế băng hà, ngay cả tân đế kế vị cũng phải vị nể phần nào, tôn phong bà làm Hoà Thái phi, chỉ kém Hoàng Quý Thái phi đúng một bậc, tột cùng vinh hiển.

Luận về địa vị, cùng là Thái phi, tiên đế đã quy tiên, phong hiệu và ngôi vị có đáng là gì, cũng đâu thể lấy đó mà tranh sủng được nữa.

Vậy nên ai có con trai thì người đó hưởng phúc, ở Diên Thọ cung thế lực cũng áp đảo hơn cả.

Tôi không phải không biết điều đó.

Mỗi khi chuẩn bị y phục cho hai vị đức bà, đều lưu ý chuẩn bị cho Hoà Thái phi một bộ thật bắt mắt, hoa văn thêu thùa phải thật tinh tế.

Đến cả trang sức của bà cũng đều là trâm vàng nạm ngọc, quý phái hơn người.

Nhưng hiển nhiên, Hoàng Quý Thái phi thân là chính thất, đích thứ tôn ti cũng không thể đảo lộn.

Cung trang của bà lại lấy chất liệu làm quý, chỉ vàng chỉ bạc thêu tiệp màu với nền vải lụa, tuy có phần đơn giản nhưng lại sang trọng vô cùng.

Phối với trâm ngà khảm ngọc lại càng thêm phần tôn quý.

Mọi việc tôi làm đều nhất quyết không để xảy ra sơ suất.

"Chị cả.

Chị xem, đám nô tỳ năm ngoái tuyển vào thật là được việc.

Hơn một năm nay, em chưa từng có chút phàn nàn."

Hai vị Thái phi đang ngồi thưởng trà tại ngự uyển.

Hoà Thái phi vừa nhấp chén trà xanh Thái Nguyên tiến công, miệng khẽ cười rất mực đoan trang.

Tôi đứng hầu cạnh bên, thi thoảng lại bước đến châm trà, bóc vỏ trái cây giúp hai vị đức bà.

Hoàng Quý Thái phi nhìn tôi một lúc rồi khẽ cười: "Hoà Thái phi, theo ta thấy, đám cung nữ này người nào người nấy đều xinh đẹp, tuyệt đối không kém em năm xưa."

Tay tôi bất giác run run, nước trà sóng sánh đổ ra ngoài, nhuộm một vệt sậm màu trên tấm trải màu xanh nhạt thêu hoa mẫu đơn.

Hoà Thái phi xếp vạt áo sang một bên, cẩn thận ngăn không cho nước trà vấy bẩn.

"Phàm là cung nhân, xinh đẹp một chút thì có làm sao.

Làm tốt bổn phận của mình là được.

Ai cũng mơ cao, muốn gà rừng thành phượng hoàng, trong cung chẳng phải sẽ sóng gió không ngớt hay sao?" – Nói đoạn, bà cười lạnh một tiếng, ánh mắt nhìn tôi sắc lẹm.

"Phải phải.

Sống trong cung, cần nhất là an phận thủ thường làm theo quy tắc.

Thứ gì vốn không phải là của mình thì chớ nên si tâm vọng tưởng." – Hoàng Quý thái phi ôn tồn nói, ánh mắt nhìn về xa xăm.

Tôi nhìn theo ánh mắt ấy của bà, chỉ thấy bốn bề tường cao ngói biếc, tịch mịch vô cùng.

...

Mỗi đêm, thần trí lại chập chờn trong mộng mị.

Giữa những hư vô thoát ly khỏi thực tại, tôi thấy nụ cười của anh.

Nụ cười rực rỡ đó, cách biệt lâu nay vẫn không hề thay đổi.

Anh hỏi tôi, sao lại không tìm anh, lẽ nào hai năm xa cách, tôi đã quên anh rồi.

Tôi uất nghẹn không nói nên lời.

Kỷ niệm ngày đó trong sáng biết mấy, êm đềm biết mấy, tôi nào dám quên.

Chỉ là, tuy cùng dưới một vòm trời, cùng trú ngụ tại một toà thành, nhưng cứ bị bàn tay vô hình chia cắt.

Tôi thậm chí còn không biết, anh đang làm thị vệ của cung nào, cuộc sống có tốt không...

Tỉnh lại, mồ hôi trên trán rịn ra ướt đẫm, cả người lạnh toát.

Nỗi nhớ vô vọng nay đã trở thành ám ảnh đeo bám dai dẳng mãi trong tim.

Mõi lần nhớ về anh, cõi lòng chợt quặng thắt.

Chợt nhận ra, ngày ấy anh ra đi, cũng đâu ngờ tôi về sau sẽ bị bán vào trong cung kia chứ?

Rất muốn gặp lại, nhưng thời gian ngăn đường cản lối.

Dưới một tường thành, rong ruổi ngàn dặm cũng chẳng thể gặp lại nhau...

...

Đang là đầu tháng Chạp, khí trời trở nên lạnh lẽo.

Từng ngọn gió cô liêu quét qua sông Hương, mang theo chút hơi ẩm đến Tử Cấm Thành.

Mùa tàn phai, hoa lá trong ngự uyển đều héo úa, vậy mà trong không khí vẫn phảng phất mùi hương thanh tân dễ chịu.

Cung ai đốt đàn hương* giữa trời đông hiu quạnh, từng làn hương nồng đượm lọt quá khe cửa vương vít vào không khí, cứ như sợ người ta không biết chủ nhân của cung ấy tôn quý hơn người.

(*) Đàn hương: Trong cung thường dùng lư hương đốt hương liệu để khử mùi và xua lạnh.

Đàn hương là một loại hương liệu, làm từ một loại gỗ quý.

Đàn hương không chỉ có tác dụng định thần mà còn mang ý nghĩa tâm linh, thường được sử dụng làm hương (nhang) đèn đốt ở nơi thờ tự, cúng bái.

Trời bắt đầu trở lạnh, mỗi ngày phải chuẩn bị cho hai vị Thái phi thêm áo ấm.

Mới đây, Nội Vụ phủ cho người mang tới hai cái áo bành tô* của người Pháp, nghe nói mặc vào đặc biệt ấm áp.

Chỉ là Hoàng đế không thích dùng hàng Tây Dương, Mai Hoàng Quý phi cũng tuân theo thánh ý, hai cái áo này đành để hiếu kính với hai vị Thái phi ẩn dật trong Diên Thọ cung.

(*) Áo bành tô: Loại áo khoác của người phương Tây vào mùa đông, may từ da, lông hoặc vải, may rất dày nên mùa đông mặc vào rất ấm.

Phụng Hoá công Bửu Đảo, con trai của Hoà Thái phi hôm nay đến vấn an, nhìn thấy chiếc áo mà Thái phi đang mặc liền không ngớt trầm trồ: "Áo của Ả* đẹp quá.

Hẳn là giá trị liên thành."

(*)Ả: Cách gọi mẹ của tầng lớp thượng lưu xứ Huế

Trong cung ai nấy đều biết Phụng Hoá công ưa lối phục sức phương Tây, hôm nay trăm nghe không bằng một thấy.

Thường phục của bậc vương giả vốn cũng nên là áo lụa ngũ thân, còn vị này, lối ăn mặc có phần Tây hoá, cả người nửa cổ nửa kim, mười phần kỳ dị.

Thân là hoàng nam duy nhất của tiên đế Đồng Khánh, dù cho thanh thế không gì vẻ vang, cũng không khỏi có phần khoa trương thái quá.

Một hàng thị vệ hai mươi người xếp hàng ngay ngắn đứng bên ngoài chính điện, súng Tây giắt bên hông, dáng người cao to bặm trợn khiến ta khiếp sợ.

"Bửu Đảo, con cũng lớn rồi, nên biết chừng biết mực.

Không phải phủ nhận thân phận của con, nhưng đi về rình rang thế này, khó tránh người ngoài đàm tiếu, cho rằng Ả đây không biết dạy con."

- Hoà Thái phi nhìn con trai, khẽ thở dài.

Phụng Hoá công một tay vân vê huân chương bằng ngọc trước ngực áo, khoé môi đỏ như tô son khẽ nhếch lên.

Gương mặt vốn không tuấn tú lại điểm trang như nhi nữ, vô cùng khó coi.

"Ai nói thì cứ mặc kệ người ta, Ả đâu cần để tâm." – Bàn tay gầy guộc vỗ vỗ lên mu bàn tay của Thái phi, móng tay dài bóng loáng.

"Hôm nay mấy thương gia người Pháp đó đặc biệt mang đến son phấn hảo hạng của Tây Dương, con đã có thử qua một chút, cảm thấy rất tốt, liền đem vào đây hiếu kính với Ả."

Hoà Thái phi mặt cứng đờ, vẫn cố nở ra nụ cười, trông hết sức khó coi: "Ả già rồi, gần đất xa trời, phụ hoàng con cũng đi theo tổ tông từ lâu, điểm trang rực rỡ thêm nữa là để ai xem.

Trái lại, con nên giữ lại mớ son phấn này, về sau tặng cho thê thiếp vẽ mày vẽ mắt.

Phụ nữ đẹp động lòng người, đàn ông nào lại kháng cự nổi cơ chứ."

Phụng Hoá công mở miệng toan nói điều gì đó, Thái phi đã khoát tay, chậm rãi chặn lời: "Lỗi lầm năm đó Ả không trách con.

Như Tịnh xuất gia tu hành đã lâu như vậy, còn thề không về phủ Phụng Hoá công.

Con cũng nên chọn cho mình vài người mới đưa vào phủ." – Nói đoạn, bà lại thở dài: "Ngoài miệng nói là không hối thúc con, nhưng thâm tâm của Ả vẫn mong con sớm yên bề gia thất, cho Ả sớm có cháu bế bồng.

Vả lại, con cháu của con cũng có thể là người kế thừa giang sơn đại thống."

Phụng Hoá công xua xua tay: "Con muốn được tự do một thời gian nữa, chuyện thành gia lập thất Ả hãy để sau." – Nói rồi khoé miệng đỏ tươi lại nở nụ cười: "Quà con đã đưa đến tận cửa, Ả cũng nên nhận mới phải."

Hoà Thái phi ra hiệu cho tôi đến cạnh bên hắn để nhận quà.

Tôi vừa khom người hành lễ, hắn đã cất cao giọng gọi thân vệ của mình.

Âm sắc vừa trầm đục lại vừa chói tai, thật sự nghe không ra giọng của một người đàn ông đang tuổi tráng niên.

"Thừa Mai.

Mang đồ vào đây."

Thừa Mai...

Thừa Mai!

Hắn gọi Thừa Mai!

Lòng tôi một phen chấn động.

Lớp lớp sóng xô trong lòng.

Tưởng chừng những nhung nhớ trong lòng đã ngủ yên,không ngờ trong tình này cảnh này lại dấy lên mãnh liệt.

Tư thế hành lễ vẫn chưa buông, đầu gối khom khom có chút run rẫy.

Phía ngoài chính điện Diên Thọ cung là bầu trời quang đãng.

Sắc trắng chói chang đối lập hoàn toàn với vẻ âm u bên trong.

Dáng người anh tuấn từ từ điến vào, thân là thị vệ vào luồn ra cúi nhưng vẫn rất khoan thai.

Tôi đứng ngược sáng, khó có thể nhìn rõ gương mặt nhưng vẫn có thể từ từ cảm nhận tiếng bước chân ấy.

Nhịp điệu trầm ổn, bao năm vẫn không thay đổi.

Anh đến giữa điện, kính cẩn quỳ gối hành lễ với Thái phi, đôi tay vững chải bê khay vật phẩm.

Phụng Hoá công nhìn anh mỉm cười đầy ý vị, nghiêng mặt ra hiệu anh chuyền khay ấy cho tôi.

Khay gỗ khá nặng, tay anh bê chắc chắn, như chờ đợi tôi dùng đứng tư thế mà bưng.

Dưới tấm vải điều đỏ rực, đôi bàn tay chạm vào nhau.

Hơi ấm quen thuộc lướt qua đầu ngón tay, như gần như xa.

Trong một thoáng, bốn mắt nhìn nhau.

Thời gian ngưng đọng.

Tôi thấy đôi mày kiếm của anh dãn ra, hai mắt mở to đầy kinh ngạc.

Nơi nào đó của đôi mắt chớm đỏ tự lúc nào.

Sống mũi cay cay.

Tôi gượng gạo cúi người tạ lễ, chậm rãi lui về phía sau Thái phi.

Anh đứng đó một lúc lâu, cảm thấy không tự nhiên, một câu "bỉ chức cáo lui" liền lập tức rời khỏi.

Trong khoảnh khắc, anh ngoảnh mặt nhìn tôi một lần.

Ánh mắt lướt vội nhưng vẫn khiến người ta nhìn ra vẻ luyến lưu không rời.

Là kiếp hay là duyên...?

...

Lần thứ hai tôi gặp lại Thừa Mai đã là nửa tháng sau đó.

Rằm tháng chạp khí trời mỗi lúc một lạnh, cũng là thời gian cung nhân nhặt lá mai vàng trong cung uyển.

Sau khi nhặt lá cẩn thận, dựa theo khí trời mà chăm bón, mai vàng sẽ nở vào đúng dịpTết Nguyên Đán, vô cùng rực rỡ bắt mắt, mang hàm ý đại cát đại lợi.

Hai vị Thái phi sống trong Diên Thọ cung vốn nhàn nhã đã lâu, hôm nay được dịp liền sai cung nữ thái giám cả cung thay nhau nhặt hết lá mai vàng trong hoa viên.

Một nơi vốn u tịch như Diên Thọ cung, vào dịp Tết đến xuân về lại sáng bừng sức sống, vô cùng nhộn nhịp.

Tôi lay hoay với nhánh mai tít trên cao.

Cành lá vốn dĩ không cao, nhưng mấy chồi lá lại hướng thẳng lên trời xanh, vượt khỏi tầm với của tôi.

Mải mê ngước mặt tìm cách nhặt lá, ánh nắng hắt vào mắt chói loà.

Trong mơ hồ, ánh nắng kia bỗng một thoáng dịu dàng, nụ cười ai khẽ nở trên môi, cõi lòng bỗng trở nên mềm mại đôi chút.

Dáng người vốn dĩ cao gầy, vì sương gió Đại Nội mà trở nên cứng cáp vững chãi, như muốn khắc sâu vào cõi lòng những nhớ mong thầm lặng.

Anh không cần khiễng chân đã có thể dễ dàng bẻ mấy lá mai đầu cành xuống.

Đột nhiên tôi nhớ năm ấy, khi chúng tôi cùng dạo hồ sen cuối hạ, anh có hái cho tôi mất búp sen, động tác cũng dứt khoát, mạnh mẽ như thế này.

Tựa hồ, chẳng có gì thay đổi...

"Vâng lệnh Phụng Hoá công gửi thiệp mời đến Hoà Thái phi, mời đức bà đến toà Khâm Sứ đêm nguyên tiêu dự yến.

Trên đường về liền gặp em ở đây." – Anh nhìn tôi, ánh mắt tựa hồ xuyên thấu cả tâm tư, đôi gò má bừng bừng đỏ.

Rất lâu sau đó, anh mới lại cất lời.

Giọng nói trầm trầm, tựa hồ đè nén bao nhiêu tâm tình khó bày tỏ.

"Em có khoẻ không?"

"Vẫn khoẻ." – Tôi đáp.

Vẫn khoẻ, nhưng mong nhớ anh đêm ngày, tương tư thành bệnh.

Làn gió đông thổi qua bất chợt khiến đám lá mai gom lại một góc sân tung bay loạn xạ.

Trên nền xám u ám hệt như sắc trời điểm xuyết vài mảng màu xanh thẫm pha chút vàng mơ của lá.

Cảnh ngày đông tiêu điều mà ấp ủ mầm sống thầm lặng.

Nơi đáy lòng ai đó, từng cơn sóng biếc khẽ cuộn trào.

"Thật không ngờ, có thể gặp em tại Đại Nội này."

"Phải." – Giọng nói tôi có chút nghẹn ngào: " Em vẫn cứ ngỡ phải rất lâu sau này, khi em được cho rời cung, chúng ta mới có cơ hội gặp lại..."

Khoé mắt đã loang loáng, tầm như như bị lớp lớp sương mờ phủ vây.

Mọi thứ hết thảy đều là hư ảo.

Anh lấy ống tay áo dịu dàng lau nhưng giọt mặn đắng bên khoé mi của tôi.

Lòng thầm máy động, sợ rằng có người phát giác, tôi khẽ lui một bước, tỏ ý giữ khoảng cách.

Anh thấy thế liền cười khổ: "Chẳng phải bây giờ đã gặp lại nhau rồi sao?

Âu cũng là duyên phận của chúng ta."

"Gặp được nhau giữa Tử Cấm Thành là duyên, nhưng đều là phận nô tài, sao có thể mang chút lòng riêng được?"

Xa cách đã lâu, nay lại tương phùng, thử hỏi có niềm vui nào bằng?

Chỉ là gặp lại nhau giữ chốn thân bất do kỷ, bao nhiêu nhớ nhung cũng chẳng thể bày tỏ, bao nhiêu thiếu vắng cũng không thể được bù đắp.

"Dù sao đi nữa..." – Ánh mắt anh tràn ngập ý cười.

"...Nguyên Tiêu này, mong được gặp lại."

Tâm tình rối như tơ vò.

Trong mắt tôi chỉ còn nụ cười của anh đọng lại.

Tựa như dư vị ngọt ngào lẫn trong đắng chát, khiến người ta nhớ mãi không thôi.

Nhiều năm sau đó, trong những giấc mơ, tôi vẫn còn nhớ rõ gương mặt ấy, ánh mắt ấy, cùng lời anh nói với tôi tan theo cơn gió thanh hàn.

Chỉ là, mỗi khi nhớ đến, nước mắt lại chựt trào, đau thương dồn nén.

Anh đã nói: "Chúng ta rồi sẽ về bên nhau, nhất định!"

...

Tết Nguyên Đán vừa qua, tiết Nguyên Tiêu lại đến.

Trong cung vẫn giữ lối trang hoàng xa hoa lộng lẫy.

Đó đây hoa đèn kết giăng, trong ngoài nước xanh hoa thắm, cảnh sắc diễm lệ động lòng người.

Nguyên tiêu năm nay không thiết yến rình rang.

Chính sự khó khắn, Hoàng đế có chỉ, mọi thứ lễ nghi rườm rà phải nên tiết chế.

Trong cung từ trên xuống dưới hết thảy tuân mệnh, không ai dám làm trái.

Duy chỉ Phụng Hoá công yến tiệc linh đình tại toà Khâm Sứ, cũng chẳng để tâm lấy lời đàm tiếu của thiên hạ.

Trên dưới trong cung ai ai cũng biết, Phụng Hoá công qua lại với người Pháp hết sức thân thiết.

Toàn quyền Pháp có làm khó làm dễ Hoàng đế cách mấy chăng nữa, đối với vị Phụng Hoá công chỉ biết xa hoa truỵ lạc như vậy, trước sau vẫn luôn hoà hoãn.

Thiết yến linh đình là bất tuân thánh ý, nhưng yến này thiết tại toà Khâm Sứ, sau lưng có cả thế lực người Pháp bảo hộ, chút quở trách của Thánh thượng kia, đối với Phụng Hoá công có đáng là gì.

Nghe nói Phụng Hoá công ăn chơi đua đòi, xa hoa phóng đãng đã lâu, hôm nay tận mắt nhìn thấy yến Nguyên Tiêu này, tôi mới được mở mang tầm mắt.

Ngọc thực mỹ tửu đều là thứ đắt giá khó tìm thì chẳng nói làm gì, chỉ riêng cách bố trí trang hoàng theo lối Tây phương này thôi đã tiêu tốn không ít tiền của.

Bây giờ tôi mới dám chắc chuyện phu nhân Trương Như thị của hắn vì không chịu được tính xa hoa phóng đãng của chồng mà bỏ lên chùa tu hành thật không phải lời người ta tự ý đồn thổi.

Bất giác tôi cảm thấy trong lòng nhen lên nỗi niềm xót thương dành cho Trương Như thị đó.

Sống với người đàn ông như vậy thật khổ biết bao, chẳng bằng dứt gánh hồng trần.

Ngoài toà Khâm Sứ, ánh trăng xuân bàng bạc soi mình xuống Tử Cấm Thành.

Chị Hằng ngày xuân xinh đẹp biết mấy, rực rỡ biết mấy, ánh sáng trong trẻo át đi cả sao trời.

Nhìn xa xa có thể thấy chi chít những đốm sáng li ti, hẳn con gái nhà ai đang thả hoa đăng trên sông Hương cầu phúc.

Sắc xuân rợp trời.

Hoà Thái phi vốn sợ chốn đông người, từ sớm đã gọi tị nữ hầu cận dìu vào nghỉ tại một gian phóng yên tĩnh.

Cuộc vui của con trai vẫn chưa tàn, có lẽ sáng mai Thái phi mới trở lại Diên Thọ cung.

Hiện tại không phải thời gian hầu hạ đức bà, quan khách tại yến tiệc đều đã say khước, tôi tìm một chốn yên tĩnh để ngắm bầu trời đêm nơi Tử Cấm Thành.

Còn nhớ ngày trước ở quê nhà, những đêm trăng đẹp như thế, tôi thường lẻn ra cổng làng, cùng Thừa Mai tìm đến gò đất cao mà ngắm trăng.

Nơi thôn dã, bầu trời bao la hiện rõ trước mắt, như sà xuống hoà quyện cùng mặt đất, ngọn lúa trên đồng như chạm phải sao trời, trở nên lung linh kỳ lạ.

Ở nơi cung vàng điện ngọc, tường cao ngói biếc, tưởng chừng đã ở tột đỉnh vinh quang của thiên hạ, nhưng ngày ngày đứng dưới mái ngói cung điên trông lên trời xanh, đến cả áng mây trắng lửng lờ cũng xa xôi diệu vợi, chứ đừng nói đến sao trời.

Giá như có thể trở về những ngày đó, để thấy được hạnh phúc hằng mơ ước gần gũi đến độ nào.

Đâu phải như giờ khắc này, muốn hạnh phúc đây thôi, nhưng lại chẳng biết phải kiếm tìm nơi nao...!

Giọng nói trầm ấm quen thuộc cất lên từ phía sau.

Làn gió xuân đưa hơi thở nồng đượm phả vào gáy tôi nóng hổi.

"Đợi vài năm nữa em đến tuổi xuất cung, tôi cũng sẽ xin được hồi hương.

Hai chúng ta sẽ trở về những năm tháng trước đây."

"Vài năm nữa?"

Tôi có chút mơ hồ.

Ánh mắt chăm chú nhìn sắc trời u tịch.

Đêm đen mờ mịt, đèn nhà ai còn chong sáng rỡ, hệt như tia hy vọng le lói trong cõi lòng.

Bờ vai bỗng trở nên ấm áp, thì ra anh khoác cho tôi thêm chiếc áo.

Tôi mân mê vạt áo, lặng thinh không nói nên lời.

"Ngày đó sẽ không còn xa nữa đâu, phải không anh?" – Ánh sao rọi vào đáy mắt tôi vài tia mờ nhạt, nhưng cũng đủ để soi rọi cõi lòng vốn dĩ u tịch lặng thầm.

Hơi thở dài nhẹ nhàng phả vào đêm đen, có thể nghe ra tiếng lòng thổn thức.

"Em sẽ đợi."

Anh gật đầu, nụ cười hiền hậu đến vô ngần.

Nhưng, anh không hề nói anh sẽ đợi tôi...
 
Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Phần Thượng


Tiếng gà của nhà ai văng vẳng, phá tan giấc mộng của tôi.

Khi tôi tỉnh dậy, thấy mình đang ở trong một căn phòng xa lạ, bốn bề màn nhung phủ vây, rèm châu long lanh thi thoảng lại va vào nhau, tạo nên những âm thanh trong trẻo.

Không khí trong phòng tràn ngập mùi rượu Tây nồng đượm.

Một góc phòng, đồng hồ quả lắc đong đưa từng nhịp phập phồng như tiếng con tim hoảng hốt.

Người nằm bên cạnh tôi bất ngờ trở mình.

Có thể thấy rõ nụ cười quá dị hiện hữu trên đôi môi đỏ như tô son, khiến người ta không khỏi e sợ.

Là Phụng Hoá công!

Hắn...

Tôi, tôi tại sao lại ở đây...cùng hắn?

Đầu óc tôi ong ong.

Trong ký ức chỉ có đêm Nguyên Tiêu cùng Thừa Mai dưới trăng tâm tình, cùng lời hẹn ước đợi chờ.

Sau đó không lâu, có người gọi tôi giao chút việc vặt, sau đó là một hành lang tối tăm, và một cú đánh như trời giáng phía sau gáy.

Đến khi tỉnh lại, tôi bàng hoàng nhận ra quần áo trên người bị kéo xuống trễ nãi và suồng sã, tóc tai rối bù, trâm gỗ vẫn cài nguyên trên tóc.

Dưới thân tôi là một mảng máu đỏ tươi!

Tôi hốt hoảng la thất thanh.

Tức thì, một bàn tay gầy guộc che miệng tôi lại.

Trong gang tấc, có thể thấy móng tay dài nhọn được cắt tỉa kỹ càng.

Trong cơn hoảng hốt, tôi bám lây cánh tay của hắn, luôn miệng hỏi tại sao, tại sao.

Hắn đứng phắt đậy, giật cánh tay thật mạnh, thô bạo đẩy tôi té quỵ xuống giường.

Tôi chỉ biết giương mắt nhìn hắn đang trưng ra vẻ mặt khinh bỉ.

Vạt áo dài tình cờ bị cánh tay tôi đè chặt, hắn thô lỗ thu về, dùng tay phủi phủi vạt áo.

"Thật dơ bẩn." – Giọng nam cao vút, thật sự quá khó nghe.

Tôi nghiến răng: "Dơ bẩn?

Là tôi dơ bẩn hay là trò bỉ ổi của ông dơ bẩn?"

Hắn sửa lại vạt áo, quay lưng chẳng thèm ngó lấy tôi một lần.

Cánh cửa đóng sầm lại, hy vọng vụt tắt.

Ngoài trời, ánh bình mình vẫn chưa thể xua đi đêm trường ảm đạm.

...

Thừa Mai bặt vô âm tín.

Anh dường như biến mất khỏi Tử Cấm Thành oan nghiệt, bỏ lại mình tôi với định mệnh phũ phàng.

Ngày ngày mặt trời mọc rồi lại lặn, thời gian cứ thế tuần hoàn, chẳng đợi một ai.

Xuân đi hạ đến, khí trời bắt đầu oi nồng.

Mấy cây phượng ven sông Hương nở hoa rực rỡ, nhuộm cả một góc kinh kỳ sắc đỏ chói loà.

Màu đỏ ấy cứ như máu của con tim bị bóp nghẹn, nhìn vào đã thấy đau đớn, âm ỉ không dứt.

Mỗi tháng Nguyễn Phúc Bửu Đảo lại vào cung thỉnh an Thái phi một lần.

Bao giờ tôi cũng âm thâm quan sát đám thị vệ theo hầu giá, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của Thừa Mai.

Mỗi khi đem xuống cõi lòng dạy day dứt chẳng yên, rốt cuộc anh đang ở nơi nào?

Một ngày mưa cuối hạ tuôn rơi xối xả, sấm vang chớp giật như gào thét, ai oán não nề.

Công việc ở cung uyển bận rộn chất chồng, làm đến đầu tắt mặt tối vẫn chưa vơi đi được mấy phần.

Lúc đang sắp xếp lại kinh Phật của Thái phi, tôi bỗng thấy trong người mỏi mệt.

Trong dạ dày trào dâng một cơn buồn nôn dữ dội.

Nỗi lo sợ phập phồng choáng lấy cả tâm tư.

Sau đó, tôi biết mình đã có thai.

Chuyện gì đến cũng sẽ đến.

Đã định là kiếp số, con người ta muốn thoát cách mấy cũng không được, chỉ có mỗi một cách là đương đầu với vận mệnh mà thôi.

Cái thai này như cây kim trong bọc, sớm muộn gì đến ngày cũng lòi ra.

Âm mưu kín kẽ trong hậu cung còn khó qua mắt, huống chi là sinh linh đã tượng hình trong bụng tôi.

Lúc hai vị Thái phi hay tin, bât ngờ đến độ cả chén trà trong tay cũng không kiềm được mà ném vỡ, nộ khí xung thiên.

Mãi về sau, tôi vẫn còn nhớ rõ, hôm ấy, cả Diên Thọ cũng lặng ngắt như tờ, cung nữ thái giám trong cung đến nói chuyện cũng không dám.

Một bầu không khí ảm đạm bao trùm lấy nơi này, hệt như đám mây đen vần vũ trên bầu trờ kia vậy, chẳng biết khi nào thì gió giật sấm rền, chẳng biết khi nào thì mưa tuôn xối xả.

Lúc Hoà Thái phi triệu tôi đến chất vấn, không ngần ngại, tôi liền khai cái thai trong bụng là của Phụng Hoá công.

Một cái tát thẳng vào mặt, khoé miệng rướm máu.

Trên dưới trong cung đều đồn đãi, Phụng Hoá công Bửu Đảo xưa nay mắc phải chứng bất lực chuyện phòng the.

Năm xưa thành thân cùng chính thất Trương Như thị, tình cảm chăn gối cũng chẳng phải mặn nồng, chỉ lo cờ bạc rượu chè, phong lưu phóng đãng.

Kể từ khi Trương Như phu nhân chịu đựng không đặng mà xuất gia tu hành, hắn cũng chẳng thiết đón thêm phụ nữ nào khác vào phủ.

Người như vậy, định sẵn là vô hậu, đoạn tử tuyệt tôn.

Vậy mà, tôi lại có thai với hắn!

Nực cười!

Nhưng dẫu nực cười đến độ nào thì đấy cũng là sự thật không thể nào chối bỏ.

Vì đêm đó, là tôi thấy mình nằm trong phòng hắn, trên một chiếc giường.

Là tôi thấy mình y phục xốc xếch đến đáng thương, dưới thân là mảng đỏ lòm đó, về sau cũng không dám nhớ đến dù chỉ một giây một khắc.

Chỉ tiếc là hai vị Thái phi ngàn lần vạn lần cũng không hề tin lời tôi nói, một câu "dâm loạn cung nghiêm" liền mang tôi ra dụng hình, bắt tôi khai ra danh tính của cha đứa trẻ.

Hắn ngồi trên chiếc ghế bằng gỗ lim khảm xà cừ tinh xảo, tay nâng chén trà, mắt quan sát dáng vẻ thảm hại của tôi, điệu bộ thoải mái hệt như xem hát tuồng.

Từ đầu đến cuối chẳng thừa nhận việc mình đã làm, một chữ cũng không hé răng, một câu cũng chẳng mở miệng.

Mặc cho giương mắt khẩn khoản cầu xin, mặc cho tôi thê thiết kêu gào.

Hoà Thái phi sắc mặt tối sầm, tuyệt nhiên vô cùng phẫn nộ.

Hộ giáp* vàng đeo trên ngón tay cứa vào bàn gỗ, tạo ra âm thanh vô cùng khó nghe.

(*) Hộ giáp/Hộ chỉ: Trang sức hình dạng như móng tay giả, đeo vào ngón áp út và ngón út của phụ nữ quý tộc ngày xưa.

Bạn nào thường xem phim triều Thanh hẳn sẽ biết ^^

"Tiện tì Hoàng Cúc to gan, thân trâu chó lại còn đê tiện.

Chẳng những dâm loạn trong cung lại còn to gan vu khống hoàng thân quốc thích.

Phạt ngươi nằm sấp đánh ba mươi trượng, để xem ngươi có biết hối cải hay không!"

Hoàng Quý Thái phi Nguyễn Hữu thị nét mặt lạnh lùng, bình thản nói với Hoà Thái phi: "Dù gì ả ta cũng đang bụng mang dạ chửa, phạt nặng e là sẽ tổn hại đến thanh danh của hoàng thất.

Huồng chi chuyện này gây ra nhiều đả khích đến Bửu Đảo, cũng phải hỏi xem nó muốn xử lý thế nào."

Nguyễn Phúc Bửu Đảo lim dim đôi mắt, tay mân mê tấm huân chương bằng vàng đính trên ngực áo, nhìn sang hai vị Thái phi: "Hai vị mẫu phi thấy nên làm thế nào thì cứ làm như thế đó đi." – Ngập ngừng một chút, hắn lại tiếp lời: "Nhưng mà hoàng gia trước giờ vốn bao dung, mấy việc này cũng nên cho ả một con đường sống.

Thôi thì, muốn đánh thì đánh, muốn phạt thì phạt.

Nhưng mà, tốt nhất là nên đào sẵn cột cái hố nông lót vải mềm, khi ả ta nằm sấp chịu đòn thì phần bụng đặt vào đó, có thể tránh sẩy thai.

Đứa bé trong bụng ả vô tội, chúng ta không nên lạm sát."

Hoàng Quý Thái phi gật gù: "Phụng Hoá công đúng là suy nghĩ chu toàn, có điều con lo cho cái thai trong bụng của ả như vậy, có lẽ nào..."

Lời chưa nói xong đã bị Hoà Thái phi ngắt lời: "Cứ phạt đi, chuyện khác để sau hãy tính."

...

Ba mươi trượng đó, nếu là đánh cho nghiêm túc thì đến binh sĩ thân thể tráng kiện cũng không sao chịu được, đừng nói đến phụ nữ chân yếu tay mềm như tôi.

Ông trời vẫn có đức hiếu sinh, đám thị vệ đó thương cho tôi bụng mang dạ chửa, roi đòn cũng nhẹ đi chút ít, đến cuối cùng, tôi vẫn có thể sống sót mà vượt qua.

Chỉ là, phía sau người máu đã nhuộm đỏ, vô số vết bầm hằng lên da thịt nghe tê buốt.

May mắn hơn là, tôi không bị sẩy thai sau trận thụ hình đó.

Sau này mỗi khi nhớ lại cơn bỉ cực này, tôi không khỏi lạnh người mà khinh bỉ.

Tên Phụng Hoá công đó, dám làm lại không dám nhận.

Một cái hố vải cứu lấy đứa con trong bụng thì đã có thể tự ý huỷ hoại cả cuộc đời của Hoàng Cúc này hay sao?

Nhưng có những chuyện là do vận số đã an bày, vĩnh viễn cũng không thể thay đổi.

...

Lúc thân thể chịu đựng roi đòn, từng tia máu bắn ra thấm đẫm cả y phục, cơn đau trên da thịt kia cũng không là gì so với nỗi đau tái tê nơi cõi lòng.

Thân thể đã bị hắn làm cho nhơ nhớp, tôi không cách nào có thể đối diện với Thừa Mai, nếu anh có mặt ở đây, giờ khắc này.

Chỉ hận bản thân không thể gieo mình xuống sông Hương mà tự vẫn.

Nhưng nghĩ lại, tội lỗi ô uế đến nhường này, nước sông Hương thanh thuần cũng chẳng thể giúp tôi gột rửa được nữa rồi...

Thừa Mai.

Em xin lỗi.

...

Thanh danh đã ô uế, tôi không thể ở lại Diên Thọ cung được nữa, vậy là, tôi được đưa về phủ Phụng Hoá.

Mang thai với Phụng Hoá công cũng chẳng vẻ vang gì, so với lúc bị anh trai bán đi làm cung tì năm xưa, có khi còn tệ hại hơn gấp bội phần.

Hắn không cho tôi ở phòng ốc trong phủ, chỉ chuẩn bị một căn chồi ọp ẹp dựng tại một góc vườn.

Tôi cũng chẳng được làm gia nhân trong phủ, chỉ có thể đêm ngày ngụ tại căn chồi đó.

Đến giờ sẽ có kẻ đem cơm cho ăn, sắc thuốc dưỡng thai cho uống.

Hắn vẫn giúp tôi giữ lại đứa bé trong bụng, nhưng hắn không muốn tôi can thiệp vào cuộc sống của hắn.

Căn chồi nhỏ hẹp đó là nơi nương náo của tôi suốt mấy tháng cuối của thai kỳ.

Lúc đó, Huế đang vào màu thu, mưa như trút nước, căn chồi ấy cũng chẳng vững chãi là bao.

Có những thứ đáng sợ như mưa đêm, sấm chớp đùng đoàng, mưa rơi dai dẳng khiến cả người tôi đau nhứt không ngừng, suốt mấy đêm liền không tài nào chợp mắt.

Tôi nghĩ mà thương đứa bé trong bụng, giá mà nó đừng có người mẹ như tôi, thì sẽ tốt biết mấy!

Bửu Đảo thỉnh thoảng lại đến xem tôi sống chết thế nào, mỗi lần đến tôi và hắn liền khắc khẩu.

Tôi không muốn nói nhiều với hắn, mỗi lần gặp hắn chỉ hỏi thăm tung tích của Thừa Mai.

Hắn nghe thấy tên Thừa Mai liền cười cười, ánh mắt gian hùng khó tả: "Ta biết cô với hắn có giao tình sâu đậm.

Cô yên tâm, hắn ở một nơi rất tốt..."

- Hắn xoa xoa lên bụng tôi, nói tiếp: "Cô cứ mang thai cho tốt, sinh đứa bé này ra, ta sẽ nói cho cô biết hắn đang ở nơi nào."

Chỗ hắn vừa sờ trên bụng bỗng dưng lạnh toát.

...

Ngày 22 tháng 10 năm 1913, tôi hạ sinh cho hắn một đứa bé trắng trẻo khôi ngô.

Bản thân tôi còn không thể nào tin nổi, làm sao một người dung mạo xấu xí như hắn lại làm cha của một đứa trẻ đáng yêu như thế này.

Tiếng khóc của đứa trẻ vang lên khiến lòng tôi vừa ngập tràn ấm áp, lại vừa không khỏi xót xa.

Tôi là một người mẹ thân thế đã thấp hèn, danh dự bị bôi nhọ, làm sao có thể mang lại cho nó một cuộc sống tốt đẹp, một danh phận rỡ ràng?

Tôi ôm con vào lòng, cảm thấy hơi ấm từ nó, chử động của chân tay mềm mại nhưng khoẻ mạnh, lòng thầm vui mừng khôn xiết.

Thân tôi không đáng là gì nữa, chỉ tội cho đứa bé.

Nó vốn là máu thịt của Nguyễn Phúc thị, không thể cùng tôi bị người ta chà đạp coi thường.

Nguyện tiên tổ gia tộc Nguyễn Phúc thị phù hộ cho nó bình an mà trưởng thành...

...

Đứa con này của tôi đúng là được tổ tiên phù hộ.

Ngày con đầy tháng, Tân Phong công chúa có đến thăm.

Đứa con này của tôi là cháu ruột của công chúa, lại kháu khỉnh đáng yêu, công chúa vô cùng thương yêu, mang bao nhiêu là quần áo đẹp cho nó.

Công chúa tính tình vui vẻ, vốn yêu thích trẻ con, ẵm đứa bé trên tay liền ra sức mà cưng nựng.

"Chu choa.

Cô xem, cô xem.

Thằng bé này sao mà giống hoàng huynh quá chừng!

Cái mũi này, đôi mắt này là của hoàng huynh Bửu Đảo, tuyệt đối không lẫn vào đâu được."

Anh em ruột thịt, cốt nhục của nhau sao lại không nhận ra.

Lời này của Tân Phong công chúa đến tay hai vị Thái phi, mấy ngày sao phủ Phụng Hoá liền nhận được khẩu dụ từ trong cung, Tông Nhân phủ đã đưa con tôi vào tông phả của hoàng tộc.

Theo đế hệ thi* từ thời vua Minh Mạng, con trai tôi được xếp vào hàng chữ Vĩnh, tên lại chọn một chữ Thuỵ.

Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ, con trai tôi là Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ.

"Thuỵ" có nghĩa là điềm lành, là an vui.

Phải, mong sao cuộc đời nó cũng như tên ấy, vĩnh viễn an tường, đời đời hạnh phúc.

(*) Đế hệ thi (Bài thơ các đời đế vương):Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, đồng thời là luật đặt tên con cháu trong hoàng tộc triều Nguyễn.

Miên hồng ưng bửu vĩnh

Bảo quý định long tường

Hiền năng kham kế thuật

Thế ngoại quốc gia xương.

Có thể thấy, sau Minh Mạng, thế hệ đầu tiên của đế hệ thi là vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông), và kết thúc của 13 đời vua Nguyễn là ở thế hệ chữ "Vĩnh", tức vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ)

...

Hạ sinh Vĩnh Thuỵ, tôi nhớ lại lời hắn đã hứa hôm nào.

Hắn nói, chỉ cần đứa bé trong bụng tôi được sinh ra, hắn sẽ nói cho biết tung tích của Thừa Mai.

Hắn nhìn tôi một lúc lâu, liền thở dài.

Tôi nhận thấy có điều gì không ổn, liền lay lay cánh tay của hắn, khẩn khoản van nài: "Nói cho tôi biết đi, Thừa Mai đâu rồi?

Thừa Mai đâu rồi?"

"Hắn, cái tên cứng đầu đó..." – Hắn cười lạnh: "...chết rồi."

"Chết rồi?" – Lòng tôi cũng chết lặng.

Tôi lắc đầu, ngoan cố không tin vào những lời hắn nói, bàn tay níu chặt tay áo hắn.

"Tôi không tin, tôi không tin!"

Thật sự rất muốn hét lên để xua tan đi giá buốt trong lòng.

Nhưng không thể, hắn đã ngăn tôi lại.

Còn nhớ đêm Nguyên Tiêu đó, cùng ngắm trăng, cùng hẹn ước, cùng hứa sẽ chờ đợi ngày tự do.

Vậy mà sao anh lại bỏ tôi một mình đơn độc đối mặt với cả thể gian này?

Thời gian tôi mang thai Vĩnh Thuỵ, ngày ngày mỏn mỏi trông tin, rốt cuộc đổi lấy cái gì chứ, ngoài sự thật phũ phàng?

Ngày đó em có hứa sẽ đợi anh mà, tại sao...?

Không ngờ lần gặp đó lại là mảng ký ức cuối cùng giữa chúng ta...

...

"Nước mắt ngắn dài thật ghê tởm." – Hai ngón tay hắn nâng cằm tôi, ánh mắt trừng trừng nhìn thẳng vào mắt tôi, cứ như lười dao sắc bén.

"Hắn chết là do cô, là do cô hại!"

...

Lòng người trong cung vốn dĩ khó lường.

Nhiều năm sau đó cái chết không rõ ràng của Thừa Mai vẫn ám ảnh tôi không ngừng.

Hắn nói, là tôi hại chết anh.

Tôi vẫn tin là như thế, cõi lòng day dứt không thôi.

Nhưng mãi về sau, tôi mới đủ khôn ngoan để hiểu rằng, là tình cảm của tôi khiến hắn phải trừ khử anh, khiến hắn phải tìm mọi cách chia rẽ chúng tôi.

Hắn thân là con cháu hoàng gia, đánh chết một tên thị vệ vô danh có gì đáng ngại, trong cung nếu biết cũng sẽ lấp liếm cho qua.

Tôi vĩnh viễn hận hắn thấu xương, có điều, việc hắn đã làm đó là câu chuyện thuộc về hắn.

Còn câu chuyện của tôi, chẳng có gì ngoài vết thương lòng ứa máu theo năm tháng, không sao lành lặn...

...

Thừa Mai bỏ tôi sang thế giới bên kia, rồi đến Vĩnh Thuỵ cũng không thể ở bên tôi được nữa.

Ngày thôi nôi của Vĩnh Thuỵ, trong cung truyền khẩu dụ, nói Hoà Thái phi muốn đón cháu nội vào cung nuôi dưỡng.

Bửu Đảo cũng đã ưng thuận, tôi lại không có quyền lực để giữ con bên cạnh mình, đành phó mặc cho vận mệnh.

Số phận cứ như dòng nước sông Hương trôi mãi trôi mãi, để tôi dạt vào bờ bãi đìu hiu, để con tôi vượt ra biển lớn mênh mông sóng cả, mãi mãi cũng không thể tương phùng.

Những việc tôi có thể làm cho Vĩnh Thuỵ cũng chỉ là sinh nó ra, về sau nó bay cao bay xa cũng là do phúc khí của nó, người mẹ như tôi đây nào dám tranh công.

...

Siêu thuốc bắt trên lò lửa sôi sùng sục.

Tiếng bọt nước sủi tăm tí tách hệt như tiếng lòng lo sợ bất an.

Từ khi hạ sinh Vĩnh Thuỵ, cơ thể tôi dần suy kiệt, mấy căn bệnh vặt lựa lúc trái gió trở trời mà hành hạ, liên miên không dứt.

Đã là mẹ đẻ của hoàng tôn, cho dù thân phận có thấp hèn cách mấy thì cũng được hưởng vài phần ân trạch.

Cứ nửa tháng một lần lại có ngự y trong cung vâng lệnh của hai vị đức bà đến bắt mạch bình an.

Thi thoảng, Bửu Đảo cũng cho mời thầy thuốc tây y về thăm khám.

Trong căn phòng nhỏ tịch mịch nơi phủ Phụng Hoá, mùi thuốc đông tây hoà lẫn, từng lan hơi vấn vít trong không khí tựa như nỗi đau nơi đáy lòng, xua mãi cũng chẳng bay đi.

Ai cũng nói với tôi, bệnh trong người không phải loại nguy hiểm vô phương cứu chữa, chỉ là do tâm tình không tốt mới trở nên chữa mãi không khỏi.

Mỗi lần nghe mấy lời đó, tôi liền chán nản mà lắc đầu.

Phải tịnh đưỡng cho tốt, tâm bình khí hoà mới mong bệnh tật qua khỏi.

Điều này tôi không phải không biết, chỉ là, có những chuyện mãi mãi chẳng thể quên.

Có lẽ, chỉ có rời khỏi thế gian này, vạn sự giai không, cõi lòng mới được vơi đi nỗi ưu tư đè nặng.

Chén thuốc trước mặt bốc khỏi nghi ngút.

Nắng chiều xuyên qua của sổ nhạt nhoà, làn hơi hoà lẫn, có thể trông rõ từng hạt hơi nước li ti đang nhè nhẹ bay lên.

Mùi thuốc hăng nồng xộc vào mũi, chưa uống đã nghe mùi đắng chát.

Màu thuốc nâu cánh gián như mọi khi, có ai ngờ trong đó đã hoà lẫn chất độc đủ lấy mạng người.

Từ sau khi cho tôi biết về cái chết của Thừa Mai, Nguyễn Phúc Bửu Đảo lúc nào cũng trông chừng tôi vô cùng cẩn thận, đồ ăn thức uống mang đến cho tôi cũng cho người kiểm tra hết sức kỹ càng.

Tôi cười khinh bỉ, hắn sợ tôi tự vẫn đến như vậy sao?

Sợ đến nỗi thuốc tôi dùng cũng do người của hắn mang đến, nơi ở lúc nào cũng có người của hắn trông chừng, một cơ hội sơ sảy cũng không có.

Chỉ là hắn không ngờ trong phủ có hoa trúc đào.

Ăn phải một hai hoa này bất quá chỉ là ngộ độc, nhưng còn uống nhựa cây, chẳng lẽ còn đường sống hay sao?

Chén thuốc trong tay, hương trúc đào thoang thoảng, phong vị thanh tân tựa như giai nhân gặp quân tử, kịch độc lan toả hệt như duyên cùng phận tuyệt...

Xoảng...

Mảnh sứ vỡ tan trên nền gạch, mấy giọt thuốc bắn tung toé, nhuộm cả vạt áo ướt đẫm một mảng nâu âm trầm.

Cổ tay tôi bị nắm chặt, gương mặt bị nâng lên đầy thô bạo.

"Ai cho cô quyền tự sát?"

Gương mặt quỷ dị của hắn xuất hiện trước mắt tôi.

Ánh mắt thì lo âu mà khoé môi vẫn giữ nụ cười khinh miệt và xa cách.

Quai hàm bị bàn tay gầy guộc của hắn thô bạo siết lấy, tôi khó có thể mở miệng cất lời, giọng nói thều thào như người sắp chết: "Là sinh mạng của tôi, tôi có quyền làm chủ..."

Hắn hừ một tiếng, hai tay thu lại, nắm lấy vạt áo lụa lau lau tựa như vừa chạm vào thứ gì rất ghê tởm.

"Cô đã bán thân vào cung, chẳng lẽ không biết sinh mệnh của nô tì chính là tài sản của chủ tử?"

"Ông đừng nói với tôi rằng nếu tôi tự vẫn thì gia đình sẽ bị liên luỵ!"

- Tôi ôm lấy thân mình mà cười lạnh một tiếng.

"Gia đình?

Tôi còn gia đình để liên luỵ sao.

Cha tôi mất rồi, còn đám người đó, có vì tôi mà chết cũng đáng!"

- Đột nhiên nhớ lại ngày xưa bị dì đay nghiến ra sao, bị anh trai ghẻ lạnh đến độ nào, nỗi oán hận trong lòng chực trào dâng, không sao ngăn lại.

Lồng ngực bị dồn nén đến nghẹn ngào, nước mắt bất giác trào ra.

Tôi ngước mặt lên ngăn những dòng lệ nóng hổi rơi xuống, cố tình bày ra vẻ mặt cứng đờ đanh đá.

"Thừa Mai không còn nữa, nửa cuộc đời của tôi đã mất rồi.

Các người mang con trai tôi đi khi nó còn chưa hưởng đủ hơi ấm từ mẹ, tôi sống cũng không còn ý nghĩa gì nữa rồi.

Mà tôi có chết đi, cũng gây hại cho ai chứ?

Tại sao, đến cả quyền được kết liễu cuộc đời tôi cũng chẳng có?"

Hắn theo khung cửa sổ nhìn ra bụi trúc đào, ánh nắng vàng chói khiến bóng dáng hắn chỉ còn một màu thăm thẳm, không nhận ra được nét mặt là vui hay buồn, khó coi đến cỡ nào.

"Cô cũng thông minh, còn biết dùng nhựa trúc đào để tự sát.

Chỉ tiếc là ta sống trong cung một thời gian, mấy trò độc dược này không qua mắt được ta.

Mạng này của cô xem như là của ta rồi."

"Của ông?" – Tôi bật cười.

"Tôi thì có liên quan gì đến ông, tại sao phải trao tính mạng này cho ông?"

Hắn trả lời, giọng nói cao vút tưởng chừng con dao sắc nhọn: "Cô là mẹ của Vĩnh Thuỵ.

Mà Vĩnh Thuỵ là con cháu hoàng thất, ngày sinh bát tự của nó đã đực Tông Nhân phủ ghi chép vào Nguyễn Phúc tộc thế phả.

Bản thân cô sống là người của họ Nguyễn Phúc, chết cũng phải làm cô hồn dạ quỷ của họ Nguyễn Phúc, cô tuyệt nhiên không có quyền để thay đổi."

Một bước sa chân, cả đời chìm trong hang tối âm u đui mù, vĩnh viễn cũng không thể thoát ra.

Có trách, chỉ trách tôi sinh ra trót mang mệnh khổ, cố vũng vẫy bao nhiêu cũng khó lòng thoát khỏi bốn chữ "thân bất do kỷ".

Bửu Đảo nhìn tôi, nụ cười nhạt như có như không: "Cô thân là mẹ, chẳng lẽ cô đành lòng bỏ rơi con của chúng ta sao?"

Hai chữ "chúng ta" đó, hắn càng nhấn mạnh bao nhiêu thì cõi lòng tôi lại đau đớn bấy nhiêu.

Nhưng biết thế nào đây, Vĩnh Thuỵ là giọt máu của một kẻ như hắn, nhưng quan trọng hơn hết thảy, nó cũng là xương tuỷ của tôi, là sinh mạng tôi cưu mang chín tháng mười ngày.Bi phẫn thế nào, ê chề thế nào đi nữa, tôi cũng không đan tam để một mình nó trơ trọi giữa cuộc đời.

Dẫu sau này nó mang thân phận vương gia tôn quý, bị thị phi của vương quyền che mắt mà không biết đến sự tồn tại của người mẹ này, nhưng tôi lúc nào cũng mong nhìn thấy nó trưởng thành...

Tôi lặng yên không nói tiếng nào, ngầm hiểu là một lời thoả hiệp.

Hắn rốt cuộc cũng thở phào, nhanh chóng rời khỏi.

Trước khi đi còn nói mấy lời khó hiểu: "Thật ra, cô chết đi rồi ta cũng không được hạnh phúc.

Đừng vội mừng.

Không phải vì ta thương cô, mà là vì nếu cô chết đi, người đó sẽ hận ta suốt đời."

Người đó...?
 
Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Phần Trung


Vương triều có thịnh ắt có suy.

Binh biến loạn lạc, thay ngôi đổi vị đã chuyện không sao tránh khỏi.

Làm vua thời loạn cũng chỉ là phận bù nhìn, đành câm nín chứng kiến các thế lực bành trướng ra sức xâu xé giang sơn.

Ai không cam phận bù nhìn mà ngoan cố quật khởi, rốt cuộc vẫn không thoát khỏi mưu đồ của bọn xâm lăng.

Ngày đó cả Đại Nội dậy sóng, vua Duy Tân phát động khởi nghĩa cũng Việt Nam Quang Phục hội, chẳng may mưu kế này không qua mắt được chính quyền Pháp.

Vua bị lũ người Tây Dương bắt đi lưu đày tại một hòn đảo xa xôi*, tại một châu lục lạ lẫm, rất xa An Nam, rất xa Đại Nôi.

Mai Hoàng Quý phi khóc lóc xin theo.

Nhưng tình nghĩa phu thê chẳng thể nào chống lại gông xiềng giặc dữ, đôi ngã đành chia ly.

(*) Đây là đảo Réunion, một hòn đảo thuộc Ấn Độ Dương, cách đảo Madagascar 700km.

Nơi đây là thuộc chủ quyền của Pháp, là vùng lãnh thổ hải ngoại của Pháp.Đây cũng là nơi hai vị vua triều Nguyễn là Thành Thái vad Duy Tân bị lưu đày.

Hai cha con nhà đế vương Thành Thái và Duy Tân lại gặp nhau tại hòn đảo xa xôi đó, chịu đủ mọi sự giam cầm, từ nay Tử Cấm Thành đến trong mơ cũng chẳng còn thấy nữa.

Giang sơn đổi chủ, âu cũng là do mệnh trời sắp đặt.

Con cháu Nguyễn Phúc thị có nhiều chứ không ít, vậy mà người được chính quyền Mẫu quốc chọn làm tân đế lại là Phụng Hoá công Nguyễn Phúc Bửu Đảo.

Lúc tin này về đến phủ Phụng Hoá, một mình tôi trong gian phòng vắng bật cười đế lạc cả giọng, tiếng cười u buồn mà khinh bỉ.

Hay cho lũ người Pháp, giỏi cho lũ người Pháp, đúng là dụng tâm lương khổ, chọn vua bù nhìn cũng chọn thật kỹ càng.

Các ông đã sai lầm khi chọn người xuất chúng như cựu hoàng Thành Thái, Duy Tân làm vua, bây giờ tân đế Khải Định các ông chọn quả thật là vừa lòng đẹp ý.

Năm Bính Thìn 1916, Phụng Hoá công Nguyễn Phúc Bửu Đảo dưới sự uỷ thác của chính quyền Phápđăng cơ làm hoàng đế, chính thức kế thừa giang sơn đại thống, lấy hiệu là Khải Định.

Khải Định đế tôn phong đích mẫu Hoàng Quý Thái Phi Nguyễn Hữu Thị Nhàn và thân mẫu Hoà Thái Phi Dương Thị Thục làm đồng vị Hoàng Thái Phi.

Một trang sử mới mở lại mở ra trong chốn cung đình, chỉ có điều là vàng son hay tiêu điều thì ai cũng đã rõ.

Sau ngày đăng cơ, tam cung lục viện lại bắt đầu đón giai nhân mới.

Chư vị đại thần thi nhau tiến cử thiên kim nhà mình vào cung hầu vua.

Năm ấy tôi còn nhớ được ba người, Diệu Tần Nguyễn Thị Hoài, Du Tần Vũ Thị Dung và Điềm Tần Nguyễn Đình Liên.

Bọn họ xuất thân cao quý,nhưng vì mới vào cung nên chỉ ở hàng Ngũ giai.

Tôi luôn cho rằng Khải Định sẽ giữ tôi lại vẫn với thân phận cung nữ, cam phận mà chịu cảnh vào luồn ra cúi trong suốt nửa đời còn lại.

Nhưng không, đến phút cuối hắn lại hạ chỉ, vì tôi có công sinh hạ hoàng tử, phá lệ tấn phong Tam giai Tần vị, phong hiệu là một chữ "Huệ".

Huệ Tần.

Từ nay tôi là Tam gia Huệ Tần Hoàng Cúc.

Chữ "Huệ" này hắn ban cho tôi, bản thân tôi không hiểu hết được thâm ý của hắn.

"Huệ" trong "huệ chất lan tâm", ý chỉ người thông minh mẫn tiệp.

Mà tôi trước mặt hắn đến chỗ đứng còn không có, huống chi là phô diễn sự thông minh.

...

Vừa dọn đến Trinh Minh điện, hôm sau tôi phải cùng với những phi tần cùng tiến cung vấn an hai vị Hoàng Thái Phi.

Cung Diên Thọ vẫn như mấy năm trước, cảnh vật vẫn chẳng hề thay đổi.

Vẫn là tường đỏ sơn son, ngói tráng men xanh đó, vẫn là cái không khí tịch mịch hương trầm của những thân phận tần phi đã cũ.

Nhưng nay, chủ nhân của ngai và kia cả đổi, làm cho người ngồi ở phụng toạ nơi đây cũng đổi thay.

Nhiều năm về trước Hoàng Quý Thái Phi Nguyễn Hữu thị còn ở độc tôn ngồi đó, hôm nay lại phải san sẻ vị trí này cùng Hoà Thái Phi Dương thị.

Khải Định vừa muốn tôn mẹ ruột mình lên ngôi cao, lại vừa ngại đích thứ tôn ti, nên liền tôn phong hai vị đức bà ngang hàng ngang vế, xem như ổn định được đại cuộc của hậu cung.

Có điều, phận đàn bà, ai lại mong mình cùng người đàn bà khác ngang hàng ngang vế.

Chỉ là, đó là cuộc chiến của hai vị Hoàng Thái Phi, còn tôi chỉ là một con chốt thí trong ván cờ hậu cung mà thôi.

Nhưng có ngờ đâu, phận làm chốt thí nhưng tôi ngay từ đầu cũng chẳng thể an phận.

"Hôm nay các ngươi vào hậu cung, trở thành tần phi của Bệ hạ, thì phải nhất mực thuận theo thánh ý, sớm hôm hầu hạ, tuyệt đối đừng để Bệ hạ phải bận lòng." – Dương Hoàng Thái Phi uy nghiêm chất lời, trang sức trên mái đầu rực rỡ chói mắt

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị khẽ cười, vuốt ve vạt áo thêu chữ thọ cực kỳ tinh xảo, ánh mắt chăm chú hướng về tôi: "Nhất là ngươi đó Huệ Tần, thân mang phân vị cao nhất trong tam cung lục viện, càng phải ra sức chưởng quản hậu cung.

Còn nữa, có hoàng tử thì phải chăm lo cho hoàng tử thật tốt, tuyệt đối không được để xảy ra sơ suất gì."

Tôi nghe thế liền vui mừng khôn xiết.

Đức bà đã cho phép tôi được nuôi nấng Vĩnh Thuỵ.

Từ nay tôi đã có thể làm tròn trách nhiệm của một người mẹ, tôi sẽ hết lòng bù đắp cho nó, không để nó phải chịu thiệt thòi.

Lúc trước tôi còn là một Hoàng Cúc thân phận thấp hèn, không quyền lực, không địa vị.

Nhưng hôm nay đã khác, tôi đã là Huệ Tần chưởng quản hậu cung, tôi đã có thể che chở cho đứa con của mình.

Ấy vậy mà niềm vui chỉ như một cái chớp mắt.

Giọng nói của Dương Hoàng Thái Phi lạnh lùng cất lên cứ như tiếng sấm rển vang bên tai tôi, khiến mọi hạnh phúc đều trong phút chốc mà đổ vỡ.

"Vĩnh Thuỵ là hiện tại là hoàng nam độc nhất của Bệ hạ, thân phận tôn quý tột cùng.

Huệ Tần là mẹ ruột mà xuất thân lại thấp kém, làm sao có thể đảm đương trọng trách nuôi nấng Vĩnh Thuỵ cho tốt chứ?"

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị liền nhìn tôi đầy thương cảm: "Nhưng mà mẹ quý nhờ con.

Vĩnh Thuỵ cao quý thì mẹ nó cũng không còn là hạng tầm thường nữa.

Huệ Tần lại được Bệ hạ tin yêu, phá lệ cho ở Tam giai, tin chắc không có gì là không hợp lý..."

"Kìa Hoàng Thái Phi!" – Dương Hoàng Thái Phi lớn giọng ngắt lời, sau đó khoé môi cong lên tạo thành một nụ cười mỉm vô cùng quyền uy.

"Chị ở ngôi cao nhiều năm, kinh nghiệm thâm dày, em tin chắc cái gọi là đích thứ tôn ti chị là người nắm được rõ nhất, có phải không?"

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị bị giọng điệu sắc lẹm đó át mất uy phong, miễn cưỡng mà im lặng.

Dương Hoàng Thái Phi lại tiếp lời:

"Huệ Tần tuy ở Tam giai, đúng là phân vị thì cao nhất, nhưng không phải chính thất.

Nói về chính thất, Hoàng Quý Phi Trương Như Tịnh tuy đã xuất gia tu hành nhưng vẫn được tôn phong, danh nghĩa vẫn còn đó.

Phi tần của Bệ hạ sau này hẳn không thiếu, khi ấy cứ lựa chọn một người xứng đáng làm đích mẫu của hoàng tử là được."

Duyên mẫu tử này lại đành để bốn chữ "đích thứ tôn ti" mà phân ly như thế...

...

Bị quyền thế chia cắt, nhưng máu mủ vẫn là máu mủ, tôi sao có thể đành lòng nhìn đứa con do mình đẻ ra mãi mãi cũng không được ở bên mình chứ?

Nhiều đêm trong điện Trinh Minh trằn trọc mãi không ngủ được.

Rèm châu trước giường tôi gồm chín lần chín tám mươi mốt sợi, mỗi sợi xâu một trăm bốn mươi bốn hạt châu.

Mỗi khi không ngủ được, tôi lại đếm hạt châu đến khi không còn đủ tỉnh táo để mở mắt.

Có nhiều lúc không nhớ mình đã đếm đến đâu, đành làm lại từ đầu, mỗi lần như vậy cả đêm thức trắng.

Thức trắng đối với tôi cũng là rất tốt.

Mỗi khi chập chờn trong cơn mộng mị, nỗi nhớ da diết lại ùa về.

Tôi thấy Thừa Mai đứng giữ đầm sen trắng, hoa sen thơm thanh tân mà bát ngát.

Anh đứng đó, cầm đó sen trắng vẫy gọi tôi, cánh sen rơi lả tả lên mặt lá xanh như ngọc bích.

Tôi đứng trên bờ, không do dự mà lội nước, chạy ngay về phía anh.

Nhưng cung trang trên người tôi tha thướt đến vướng víu.

Châu ngọc đầy đầu, quần dài chấm đất khiên tôi bị kẹt lại bên bờ, giương mắt nhìn anh tan biến như cánh sen rơi lả tả.

Lúc tỉnh dậy nước mắt đã ước đẫm hai má gầy gò.

Phóng mắt ra phía xa đã thấy tường đỏ ngói xanh lấp ló, tôi lại buồn cho phận mình, lại nhớ Vĩnh Thuỵ.

Nước mắt bất giác lại trào mãi không thôi...

Vĩnh Thuỵ đã lên ba, không còn là đứa con đỏ hỏn trong vòng tay tôi năm đó.

Nó đã lớn lên rất nhiều, so với những đứa trẻ cùng trang lứa đã rất cao to, tuy nhỏ mà tính tình đã mười phần điềm đạm.

Thật là chính tôi cũng không tin nó là con của ông hoàng Phụng Hoá ăn chơi trác táng.

Nhiều lúc nhớ con, tôi bèn đích thân vào bếp nấu cho nó vài món, hy vọng cho nó biết được món ăn của mẹ nấu mùi vị như thế nào.

Nhưng ngay sau đó liền bị cung nữ mang trả về, thưa rằng Dương Thái Phi không cho Hoàng tử ăn thức ăn do cung khác mang đến, sợ là ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị thương cảm, cho tôi được chọn món cho Vĩnh Thuỵ ăn mỗi ngày, có điều không thể đích thân nấu cho nó.

Vì việc này mà Dương Hoàng Thái Phi không vui, nhưng cũng không thể trách phạt, vì tôi vốn được Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị khai ân.

Thân làm mẹ này cũng chỉ làm được bấy nhiêu...

Đêm nhớ tình lang, ngày nhớ con

Tấm thân mòn mỏi chốn cung son

Rèm châu lả lướt khuê phòng vắng

Thương thay một nỗi phận chửa tròn.

...

Điện Trinh Minh bốn bề tịch mịch như tờ, không có một dấu hiệu của sự sủng ái.

Tôi vốn không được lòng Khải Định, không được hắn thường xuyên lui tới tẩm cung đã đành, không ngờ ngay cả chỗ của những phi tần khác hắn cũng không đến.

Dương Thái Phi nhiều lần hỏi chuyện thị tẩm, đám người chúng tôi chỉ biết cười trừ, miệng thì bảo "Bệ hạ hẳn là bận việc nước", nhưng trong thâm tâm ai cũng biết là vì sao.

Từ sớm đã nghe thiên hạ bàn tán rằng Phụng Hoá công từ khi xưa đã bất lực chuyện phòng the, có người mồm năm miệng mười thì bảo hắn vốn không muốn gần gũi phụ nữ.

Lời đồn bay khắp hậu cung, mỗi đêm cung uyển lên đèn, tiếng xầm xì to nhỏ vang lên không ngớt.

Đến cả không khí cũng vẩn mùi thị phi đến ghê người.

Chỉ có Điềm Tần là vô cũng thản nhiên như chính phong hiệu của cô ấy.

Mỗi lần Diệu Tần và Du Tần to nhỏ với nhau, nàng ta đều ở bên cạnh tôi hầu chuyện.

Thương thay cho nàng ta, tuổi xuân tươi đẹp như thế lại rơi vào hậu cung của Khải Định, cá chậu chim lồng, một đời uổng phí.

Tôi hỏi nàng ta có lo ngại chuyện phòng the của Khải Định hay không, nàng chỉ mỉm cười vô cùng đoan chính: "Tin đồn thất thiệt em nào dám tin.

Nói Bệ hạ bất lực thì làm sao cùng lệnh bà sinh ra hoàng tử Vĩnh Thuỵ khôi ngô như vậy?

Huống hồ gì, Bệ hạ có sủng ái ai đó hay không là chuyện của Bệ hạ.

Em vốn không phải là người Bệ hạ yêu thương thì làm sao trèo cao, muốn được đem ngày hầu cận bên người?"

Mấy lời này đến tai hai vị đức bà, Dương Hoàng Thái Phi hết sức vừa lòng đẹp ý, trong ngày hôm đó lập tức truyền khẩu dụ tấn phong Điềm Tần từ Ngũ giai lên Tứ giai.

Đám người Du Tần, Diệu Tần ganh tị với nàng nhưng biết phải làm sao, ai bảo bọn họ lắm lời?

Sống trong cung thất, điều mà bất cứ nữ nhân nào cũng nên biết chính là phúc hoạ đều từ miệng mà ra.

Biết kính cẩn giữ lời, trang nghiêm đúng mực thì sợ gì tiền đồ không xán lạn.

Ngược lại, chẳng may tai vách mạch rừng, muốn sống bình an trong chốn hậu cung quả thực không phải chuyện dễ dàng.

Từ ngày nhập cung tôi luôn cẩn trọng trong từng lời nói, cử chỉ của mình.

Tôi vốn đã không được lòng Khải Định, lại không được lòng Thái Phi, nếu không biết an phận thủ thường, chẳng biết tôi còn cơ hội nào để gặp con trai mình nữa.

Những người ngồi trên bảo toạ cao cao tại thượng đó lúc nào cũng muốn chèn ép tôi, họ không hề thấu hiểu được nỗi đau phân ly, nỗi thống khổ vì thân bất do kỷ.

Nhưng sống trong chốn tường đỏ ngói xanh này có ai là không thân bất do kỷ chứ?

Hoặc giả họ vốn chịu đựng đã lâu, đau thương dồn nén, thế nên cũng muốn nhìn thấy cảnh người khác cũng đau khổ như mình,trong lòng mới hả hê.

Nhìn vào hai vị Hoàng Thái Phi chủ nhân Diên Thọ cung đó, lúc còn là tần phi của tiên đế, chẳng có công bằng nào tồn tại giữa vạn ngàn tranh đoạt.

Vậy nên lớp phi tần sau này nhưng chúng tôi lúc nào cũng phải chịu những đai nghiến của các bà, để đổi lấy sự công bằng mà các bà đã không hề có được.

Đổi lại, chúng tôi cũng mất đi sự công bằng của mình và rồi chiếm lấy nó từ lớp người sau thế hệ của chúng tôi...

Cứ như thế mà ngấm ngầm tranh đoạt, cứ như thế mà bày mưu tính kế...

Lời nguyền chốn hậu cung vĩnh viễn như một cái vòng lẩn quẩn, mà bất kỳ ai khi đã trót sa vào đều không thể thoát thân.

Trừ phi hậu cung biến mất...

Nhưng biết đến khi nào?

...

Thấm thoát cũng đã hơn một năm kể từ ngày tôi nhập cung, cuộc sống trong chốn cung vàng điện ngọc cũng chẳng phải dễ dàng.

Khải Định thỉnh thoảng lại ghé qua cung của tôi, thưởng cho chút vàng bạc.

Kỳ thực gặp mặt hắn tôi không lấy gì làm vui, nhưng mỗi lần hắn ghé qua để kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện về Vĩnh Thuỵ.

Hôm nay hắn lại ghé qua, mang theo chai rượu Tây đỏ tươi mà hắn mua từ người Pháp.

Ly rượu làm từ thuỷ tinh cực phẩm trong suốt đẹp vô ngần, chất lỏng đỏ tươi sóng sánh.

Môi hắn nhuốm rượu đỏ, khoé môi cong cong, lộ ra hàm răng trắng muốt kiểu Tây phương.

"Vĩnh Thuỵ dạo này đã cao hơn rất nhiều, trẫm cũng đã tuyển thầy dạy cho nó.

Nhất định phải cho nó học tiếng Tây..."

"Học gì không quan trọng, cần nhất là phải dạy dỗ nó nên người."

Tôi nhìn rèm trúc khẽ lung lay trên cửa sổ, thấp thoáng thấy sắc hoa ngô đồng hồng diễm lệ.

"Đừng dạy dỗ nó trở thành một tên bù nhìn, chỉ biết ăn chơi trác táng là được."

Nụ cười trên khoé miệng hắn vụt tắt.

Tay hắn run run, vào giọt rượu đỏ theo đó mà bị hất khỏi miệng ly, thấm đẫm vào hoàng bào của hắn.

Hoàng bào này lại cách tân theo kiểu Âu phục, vừa có rồng phụng lại vừa có hoa hồng nhung đỏ thẫm, trông vô cùng khoa trương.

Hắn liền lau đi mấy giọt rượu vương trên y phục, sau đó mân mê tấm huân chương Bắc Đẩu Bội tinh nằm chễm chệ trên ngực áo.

Tôi nói tiếp: "Nghe nói dạo gần đây ngài nửa đêm thường hay gặp mộng giữa đêm, phải triệu thị vệ thân cận vào tẩm cung mà trấn an tinh thần." – Nụ cười của tôi mười phần ý vị, mắt không ngần ngại mà nhìn thẳng vào Khải Định: "Để tôi sai người ở Thượng Thiện cục nấu chè hạt sen long nhãn cho ngài ngự dùng.

Chè này định thần là tốt nhất, ăn vào có thể ngủ ngon, đừng nói ai là ác mộng, ngay cả xuân mộng* còn xua đuổi được nữa là..."

(*) E hèm, cái này hẳn ai cũng biết, giấc mộng giao hoan ấy mà.

Tôi cố ý kéo dài hai chữ "xuân mộng".

Sắc mặt hắn bỗng chốc tái xanh, sau đó dần dần chuyển sang đỏ tía, ánh mắt nhìn tôi lửa giận bốc lên ngùn ngụt.

Chuyện hắn không thích gần gũi với phụ nữa không ai là không nghe, có điều trước đây hết thảy đều là tin đồn, không gì xác thực.

Ngay cả Thái Phi cũng mắt nhắm mắt mơ, xem như không hề nghe thấy, bởi lẽ hắn muốn cùng ai đó là quyền của hắn.Nhưng có ai ngờ, người mà hắn yêu thương, lại chính là thị vệ hầu cận bên cạnh hắn.

Chuyện bại hoại như vậy, đến tai văn võ bá quan và lũ người Pháp thì sao, đến tai Dương Thái Phi thì liệu bà sẽ xử trí tên thị vệ đó ra thế nào chứ?

Thật không dám tưởng tượng.

Chỉ trách hắn không may mắn.

Cảnh hắn ôm hôn tên thị vệ đó lại bị tôi bắt gặp.

"Cô, con tiện nhân!

Mi rốt cuộc muốn gì?" – Hắn hung hãn đập tay xuống bàn, những thứ đang bày biện hết thảy đều ngã đổ.

Rượu quý hắn mang đến đổ tràn xuống đất, thấm ướt gấu quần lụa trắng của tôi như thể máu tươi.

Hệt như máu của tôi trong đêm oan nghiệt đó...

"Tôi muốn gì, chẳng phải ông biết rất rõ sao?" – Ánh mắt tôi nhìn hắn chẳng khác gì lưỡi dao, chỉ cần lửa giận trong tôi bùng cháy chắc chắn sẽ đâm hắn một nhát trí mạng.

"Cái chết của Thừa Mai ông nợ tôi một lời giải thích, nhưng người cũng đã mất, chỉ có tôi đau lòng.

Tôi hiện tại chỉ cần ông giao Vĩnh Thuỵ về cho tôi nuôi dưỡng.

Chỉ cần con về với tôi, tôi sẽ giúp ông giữ bí mật này.

Bằng không..."

"Bằng không...?" – Giọng hắn đầy vẻ giễu cợt: "Cô muốn thách ta sao?"

Tôi thở một hơi dài, giọng nói cứng rắn hết mức có thể: "Tôi không muốn thách ông, tôi chỉ cần ông mang Vĩnh Thuỵ về cho tôi.

Còn chuyện bại hoại của ông và tên thị vệ đó, tôi kỳ thực không quan tâm."

"Cô cần đứa con hay là cô muốn trèo cao, muốn sau khi ta băng hà, cô sẽ ngồi trên ngôi Thái hậu?"

Tôi tức giận, tay rút cây trâm bạc đâm thẳng lên bàn gỗ: "Tình cảm mẹ con, lẽ nào ông chẳng thấy hiểu ư?"

Hắn nghe thấy lời tôi liền ôm bụng mà cười ha hả.

Đoạn, hắn đứng rước mặt tôi, ánh mắt như muốn ăn tươi nuốt sống: "Cô ngây thơ quá, lại tin trong cung có cái gọi là tình cảm sao?"

Tôi không đáp, đành im lặng trước những lời đáp trả của hắn.

"Mẫu phi ta đã nói, người muốn nuôi dưỡng Vĩnh Thuỵ phải có thân phận tôn quý.

Ta cho cô quyền được đón nó về, nhưng trừ khi cô là người quyền lực nhất tam cung lục viện."

Một lời nói ra, người cũng liền đi mất.

Tôi giương mắt nhìn bóng người vận hoàng bào thêu hồng nhung nhanh chóng bước ra khỏi thềm đá điện Trinh Minh, đáng vẻ có phần ẻo lã nhưng giấu bên trong lại là sự vô tình và bất cần không sao tả xiết.

...

Năm Đinh Tỵ 1917, tam cung lục viện lại đón thêm giai nhân mới.

Ai ai cũng không khỏi tò mò, giai nhân này rốt cuộc là thần thánh phương nào, sao lại khiến Khải Định cả năm không bước chân đến hậu cung đích thân hạ chỉ cho nhập cung.

Không chỉ như thế, giai nhân này còn được phá lệ cử hành đại hôn cũng Khải Định.

Trong cung rợp một sắc đỏ tươi hoan hỉ.

Chỉ có đám người Du Tần, Diệu Tần luôn đứng ngồi không yên, phòng không gối chiếc nay càng thêm lạnh lẽo.

Điềm Tần vẫn ung dung, ngày ngày đến chỗ tôi thưởng trà, nói mấy câu bông đùa.

Những chuyện không đến phiên bản thân định đoạt thì chớ nên quan tâm, có quan tâm thì chẳng mang lại lợi ích gì.

Nàng ta đã nói như thế.

Tôi không thể ung dung như Điềm Tần được rồi.

Người con gái đó tuổi chỉ vừa đôi chín, là thiên kim lệnh ái của Học bộ Thượng thư Hồ Đắc Trung.

Xuất thân cao quý đã đành, lại là người học thức uyên bác, từ nhỏ đã học trường Tây, nói tiếng Tây, dung mạo lại mười phần xinh đẹp.

Nhưng điều đó chẳng có gì đáng sợ, bởi tôi không hề tranh giành sủng ái với cô ta.

Đáng buồn thay, tam cung lục viện này đến cả sủng ái, điều cố hữu của chốn hậu cung mà cũng không có.

Bao nhiêu yêu thương chiều chuộng, tên bù nhìn đó đã dành hết cho tình lang của hắn rồi còn đâu?

Chỉ là, người con gái đó vào cung được đi bằng cửa chính, hưởng mọi nghi lễ nghi trượng dành cho bậc mẫu nghi thiên hạ, trong khi ngày đó chúng tôi nhập cung chỉ được đưa qua cửa Hiển Nhân, cửa ngách vào Đại Nội.

Cô ta được phân vào Trinh Minh điện, cùng tôi phân nơi ấy làm hai bên Đông Tây.

Cô ta vừa vào cung đã được tấn phong Đệ Nhất giai phi, cao cao tại thượng.

Cô ta chính là Ân Phi Hồ Lan Chỉ.
 
Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Phần hạ


Ân Phi nhập cung, trở thành phi tử quyền lực cao nhất tam cung lục viện.

Tôi chẳng qua chỉ là một Tam giai Huệ Tần nhỏ bé, làm sao có thể sánh với Đệ Nhất giai Ân Phi?

Ngày lễ sắc phong cho cô ta là do Khâm Thiên giám ấn định, là ngày hoàng đạo vô cùng đẹp.

Ân Phi đầu đội khăn vành, tóc cài trâm vàng vô cùng diễm lệ, thân vận áo Nhật Bình đẹp đến độ lay động lòng người.

Dung nhan tươi tắn, mày ngài mắt phượng, Nam Quốc hậu phi cũng chỉ có thế!

Hai vị Thái Phi ngồi trên bảo toạ rất mực vui mừng, nhất là Dương Hoàng Thái Phi cứ cười tủm tỉm không thôi.

Năm xưa lúc bà công nhận Vĩnh Thuỵ là máu mủ của mình cũng không vui mừng như thế.

Tôi mặc lễ phục, hai tay bưng kim sách kim bảo*, trịnh trọng tiến đến giao lại cho cô ta.

Cô ta chỉ vừa đôi chín, còn tôi năm nay đã hai mươi bảy, vẫn phải nhún gối gọi cô ta bốn tiếng "Ân Phi lệnh bà" một cách kính cẩn.

Cũng phải, một người đường đường là Nhất giai phi, một người chỉ là Tam giai tần.

Đồng vị mà hơn kém nhau một "giai" đã có sự khác biết, huồng chi một người là Phi, một người là Tần...

(*) Sách vàng và ấn vàng: Nếu ngọc tỷ/long ấn vật tượng trưng cho vua, người đứng đầu triều chính thì ấn vàng và sách vàng là vật của người đứng đầu hậu cung.

Đôi mắt phượng của cô ta nhìn tôi trong một thoáng rồi khoé môi đẹp tựa hoa đào mỉm cười, nụ cười ấy như có như không.

Biểu cảm trên gương mặt mười phần lạnh lùng.

Kim sách kim bảo đã về tay Ân Phi, từ nay Huệ Tần tôi đây chỉ là một thiếp thất nhỏ bé, so với đám người Du Tần, Diệu Tần cũng chẳng có gì khác biệt.

Điềm Tần lén nhìn tôi, ánh mắt đầy vẻ cảm thông.

Ngày trước hắn đã nói, Vĩnh Thuỵ sẽ được giao cho phi tần quyền lực nhất hậu cung nuôi dưỡng.

Ngày đó, cả tam cung lục viện chỉ có tôi đứng ở phân vị Tam giai.

Vậy mà hắn chẳng đoái hoài.

Hôm nay người phụ nữ ấy vừa bước chân vào cung, điện Trinh Minh phân đôi, quyền lực cũng thuộc về cô ta.

Tôi biết trách ai đây?

Là trách cô ta may mắn, trách hắn xảo quyệt, hay trách cuộc đời vốn không công bằng?

Câu cuối của đạo thánh chỉ sắc phong như một nhát dao cứa vào con tim tôi.

Đau nhói.

"...Mong Ân Phi từ nay cúc cung tận tuỵ, chưởng quản lục cung, nuôi nấng Hoàng tử..."

Vĩnh Thuỵ!

...

Tôi không muốn đứa con do mình đứt ruột đẻ ra lại rơi vào tay người phụ nữ khác.

Ân Phi đó là người thế nào tôi còn chưa rõ, chắc gì cô ta sẽ xem Vĩnh Thuỵ như con ruột, chắc gì cô ta không lợi dụng nó để củng cố quyền lực của mình?

Thân là mẹ của Vĩnh Thuỵ, để giành lại đứa con này, tôi chấp nhận cùng cô ta đối đầu.

Tôi biết Khải Định nạp Hồ Lan Chỉ vào cung, ngoài miệng thì nói muốn tìm một phi tần thông thạo tiếng Tây để phò trợ hắn mỗi khi tiếp sứ Tây Dương, nhưng chuyện này quả thật là nhất tiễn song điêu.

Một mặt có thể giúp đỡ cho hắn thân cận với người Pháp, mặt khác, lại có người lấn át tôi tại hậu cung.

Tôi biết tôi đã sai, kể từ giây phút tôi doạ sẽ nói cho Thái Phi biết bí mật về gian tình của hắn, hắn luôn coi tôi là cái gai trong mắt.

Hồ Lan Chỉ chẳng qua chỉ là một quân cờ trong tay hắn, ngầm đối phó với tôi.

Hồ Ân Phi này, dẫu là một con cờ, nhưng vẫn thật không dễ dàng đánh bại.

Không cam tâm nhìn cảnh cô ta làm mẹ của Vĩnh Thuỵ, tôi cắn răng chịu đủ ê chề quỳ trước cửa lớn Diên Thọ cung, mong hai vị Thái Phi rộng lòng thương xót.

Lúc ấy, mùa mưa đã về trên khắp phủ Thừa Thiên.

Nơi nơi đều bị vây phủ bởi một màn nước trắng xoá.

Bầu trời xám xịt át đi vẻ rực rỡ của tường đỏ ngói xanh.

Mấy cành ngô đồng mùa thu rơi lả tả xuống đất, hoa trong ngự hoa viên cũng tan tác vì gió rít gào.

Quỳ trước cửa Diên Thọ cung đã ba bốn canh giờ, đầu gối bắt đầu tê mỏi.

Thân thể bị nước mưa thấm lạnh đến độ chẳng thể cử động, tôi cứ như một bức tượng đá trơ gan trong mưa gió.

Tầm mắt bị mưa lớn làm cho vô cùng mù mịt, nước mưa xối thẳng vào da thịt nghe đau rát, tôi mơ hồ thấy một vạt áo lụa lướt qua, tiến thẳng vào Diên Thọ cung, ánh mắt nhìn tôi lạnh lùng còn hơn cả mưa thu đông xứ Huế.

Rồi sau đó cũng có người đến bên tôi, đưa cho tôi một cái ô giấy.

Tôi ngước mắt lên, thì ra là Điềm Tần.

Điềm Tần sai cung nữ cầm ô của mình rồi tự tay bật ô nhét vào tay tôi: "Mưa lạnh, xin lệnh bà bảo trọng."

Rồi Điềm Tần cũng theo sau Ân Phi tiến vào cung Diên Thọ.

Cửa cung khép lại, ánh vàng rực rỡ bên trong tôi cũng không thấy được nữa.

Tôi vẫn quỳ ở đó cho đến khi mưa tạnh.

Hạt nước cuối cùng cũng trút lên mái ngói lưu ly xanh màu ngọc bích, cửa lớn Diên Thọ cung cũng mở ra.

Hai vị Thái Phi cùng Ân Phi và Điềm Tần, dắt theo Vĩnh Thuỵ đứng trên trường lan, mọi ánh mắt hướng về phía tôi.

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị thở dài, cẩn thận kéo vạt áo bông, thương cảm nói: "Vĩnh Thuỵ dù gì cũng là do Huệ Tần đứt ruột sinh ra.

Chia rẽ mẫu tử như vậy thật sự tội cho Huệ Tần quá."

"Gia pháp Tổ tông Nguyễn Phúc thị đã định, phi tần có địa vị, có năng lực, có đức hạnh thì được nuôi nấng Hoàng tử Công chúa.

Hoàng Thái Phi, chị quên rồi sao?" – Dương Hoàng Thái Phi chậm rãi nói.

Trâm vàng trên mái tóc hoa râm tôn lên vẻ uy quyền lấn át.

Điềm Tần nhìn tôi vô cùng thương cảm, nhún gối thưa với hai vị đức bà: "Vĩnh Thuỵ đã bốn tuổi, cũng đã có suy nghĩ của nó rồi.

Vậy cuối xin hai vị Thái Phi, cuối xin Ân Phi lệnh bà cho Hoàng tử được quyền lựa chọn."

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị chậm rãi gật gù: "Điềm Tần nói phải.Chúng ta đều muốn tốt cho Vĩnh Thuỵ, nên để nó chọn lựa thì hơn."

Thái Phi vừa dứt lời, Ân Phi đã nhanh nhẹn chạy đến bế lấy Vĩnh Thuỵ, ngon ngọt dỗ dàng thằng bé: "Vĩnh Thuỵ à, con rất đáng yêu.

Ả cũng rất yêu thương con.

Từ nay Ả sẽ chăm sóc con thật tốt, cho con ăn ngon, cho con mặc đẹp, con có thích không?"

Ân Phi rất đẹp, nhưng vẻ đẹp son phấn điểm tô quá sắc sảo khiến Vĩnh Thuỵ có chút cự tuyệt.Trong vòng tay của Ân Phi cựa quậy không thôi.

Cô ta cũng không chịu được mà buông thằng bé ra.

Tôi không kiềm được, nhanh chóng nhào tới muốn ôm lấy nó, nhưng Dương Hoàng Thái Phi đã lớn tiếng ngăn cản, khiến tôi chùn bước.

"Huệ Tần thân thể dầm mưa, không sợ lây bệnh cho cháu nội của già này hay sao?"

Lời nói đó, khiến tôi khựng lại hồi lâu.

Đầu óc tôi bắt đầu ong ong, dường như không còn mưa lạnh xối xả vào mặt, tôi cũng không còn đủ tỉnh táo nữa.

Thân thể này ướt mưa rồi, danh phận này đã trót thấp kém.

Vì không tốt cho con nên không thể ôm con vào lòng.

Vĩnh Thuỵ đưa mắt nhìn tôi, ánh mắt đó của nó, tôi nhìn ra có chút mong mỏi, có chút ngóng trông.

Chỉ tiếc là, tôi bị những người yêu thương nó ngăn cản, không cho đến bên nó.

Nguyễn Hữu Thái Phi ngồi xuống bế Vĩnh Thuỵ vào lòng, ôn tồn hỏi: "Vĩnh Thuỵ của bà, con có muốn ở với mẹ Ân không, có thương mẹ Ân không?"

Vĩnh Thuỵ lắc đầu nguầy nguậy, gương mặt ngây thơ khiến người ta vô cùng thương xót.

Ân Phi lộ rõ vẻ mặt không vui, nhưng không làm gì được, đành im lặng đứng nhìn.

Thái Phi toan hỏi tiếp, nhưng Dương Thái Phi đã vội ngắt lời: "Vĩnh Thuỵ còn xa lạ với Ân Phi cho nên không muốn theo Ân Phi, vậy hai già này đành tiếp tục chăm sóc nó, trẻ con gặp người lạ chắc chắn sẽ không vui." – Nói đoạn, bà nhìn Ân Phi, vỗ vỗ lên mu bàn tay của cô ta ta, rồi thuận tay cởi chiếc vòng ngọc trên tay mình.

Ân Phi nhún gối, lễ phép mà khước từ.

Nhưng Thái Phi đã nhanh chóng đeo chiếc vòng vào cổ tay cô ta.

Bàn tay bà nhẹ nhàng nâng lấy cổ tay trắng như ngọc, bàn tay còn lại vân vê chiếc vòng ngọc ấy.

"Vòng này là khi già này vừa tiến cung thì được Nghi Thiên Chương Hoàng hậu* vì yêu mến mà ban tặng.

Nay ta giao nó lại cho con, trở thành minh chứng cho quyền lực của con.

Con dẫu có nuôi nấng Hoàng tử hay không thì vẫn là đích mẫu của nó.

Đích thứ tôn ti không thể làm trái."

(*) Đây là tôn hiệu của Thái hậu Từ Dụ

Ân Phi kính cẩn tạ ơn.

Vừa đứng lên, cô ta đã ném cho tôi cái nhìn khinh miệt.

Vòng ngọc trên tay cô ta rồi, tam cung lục viện cũng là do cô ta cai quản.

Tôi lấy quyền gì đi tranh đoạt với ta?

Trong cuộc đời tôi, nhiều thứ tốt đẹp đã tan vỡ.

Gia đình đã không tròn vẹn, Thừa Mai cũng bỏ tôi mà đi, thế gian này tôi chỉ còn Vĩnh Thuỵ.

Vậy mà quyền lực hoàng gia lại cướp đi của tôi đứa con này.

Tôi chỉ biết quỳ dưới nền đá ướt sủng, trớ mắt nhìn Thái Phi dẫn theo Vĩnh Thuỵ vào nội diện Diên Thọ cung.

Trước khi cửa cung đóng lại, tôi thấy nó xoay mặt nhìn tôi rất lâu.

Tôi chẳng làm gì được ngoài dõi mắt ngóng trông, chỉ mong sao nó cũng biết mẹ nó cũng đang hướng về nó...

Vĩnh Thuỵ!

Con có biết Ả là mẹ ruột của con?

Con có biết Ả chính là vị tần phi cứ cách vài ngày lại mang chút thức ăn đạm bạc mình tự tay làm đến cho con?

Con có biết Ả hàng ngày đều lui tới trước cửa Diên Thọ cung để được trông thấy con dù chỉ một lần?

Con có biết từng ánh mắt tiếng cười của con Ả đều nhớ đến?

Con có biết là Ả thương con nhiều lắm hay không...?

...

Mọi chuyện cứ như thế mà trôi qua.

Tôi mỗi ngày lại phải gặm nhấm cuộc sống vô cùng cô đơn và trống trãi.

Mỗi lần Khải Định ghé qua Tây Trinh Minh điện, tôi với hắn đều lời ra tiếng vào.

Hắn đã chán ghét tôi đến cực điểm.

Những lúc như thế, hắn đều không nói không rằng quay lưng rời khỏi tẩm cung của tôi, bãi giá về phía Đông, tẩm cung của Ân Phi.

Trong tam cung lục viện, ai ai cũng biết từ lúc đăng cơ cho đến nay, chưa hề có một phi tần nào được Khải Định thị tẩm.

Tiếng khóc ai oán nơi hậu cung đêm đêm vẫn không ngớt, khóc vì cô đơn, khóc vì mệnh khổ.

Thê lương nhưng vậy mà phụ nữ chốn này vẫn minh tranh ám đấu.

Cũng phải, không có sủng ái thì vẫn còn quyền lực, vẫn phú quý để tranh đoạt với nhau cơ mà.

Sóng gió hậu cung cũng chẳng bao giờ lặng, ngay cả khi quân vương chẳng tha thiết gì cung tần mỹ nữ.

Tôi không để tâm đến những việc ấy, học theo Điềm Tần bình thản mà sống nơi thâm cung.

Mỗi ngày tôi đều thắp hương niệm Phật, cầu phúc cho Vĩnh Thuỵ.

Hàng ngày lại lui tới Diên Thọ cung, một mặt là để vấn an hai vị đức bà, mặt khác là để thăm Vĩnh Thuỵ.

Thằng bé nhìn thấy tôi không hề chán ghét,nhưng nó không chịu gọi tôi là "Ả", chỉ khách sáo gọi tôi hai tiếng "mẫu phi" hoặc "mẹ Huệ".

Sao tôi có thể trách nó được.

Từ khi nó mới lọt lòng, tôi đã không làm tròn bổn phận của một người mẹ, sao dám yêu cầu nó phải thân thiết với mình?

Vĩnh Thuỵ không chịu nhận tôi là mẹ, tôi chỉ thấy nước mắt ứa ra, đau rát nơi khoé mi.

Nhưng sao cũng được,miễn là nó không xa lánh tôi, thì tôi còn cơ hội che chở và bảo bọc cho nó.

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu thị hiểu được nõi thống khổ của tôi, đôi lúc lại bày tỏ niềm thương cảm mà giải vây cho tôi trước sự chèn ép của Ân Phi.

Tôi từ đó mỗi tháng hai lần vào mồng Một và ngày rằm đều đến Diên Thọ cung hầu bà tụng kinh niệm Phật, tôi từ đó có thế lực chống lưng, không lo bị vùi dập.

Dương Hoàng Thái Phi biết chuyện thì luôn miệng bảo tôi xu nịnh, căn dặn phi tần các cung không nên không biết điều mà trèo cao như tôi.

Tôi rất buồn, nhưng cứ giả vờ là không nghe thấy.

Dù sau đi nữa, người tôi xu nịnh cũng là chính thất của phu quân bà, huồng hồ tôi cũng không làm gì đắc tội bà, cũng không sợ bị bà trừng phạt.

Có công hầu hạ Thái Phi, năm Mậu Ngọ 1918, hậu cung đại phong.

Điềm Tần từ Tứ giai thăng lên Tam giai, đám người Diệu Tần, Du Tần cũng được thăng lên Tứ giai.

Tôi được gia phong lên hàng Nhị giai phi, phong hiệu vẫn không thay đổi, vẫn là chữ "Huệ" ấy.

Từ nay mọi người gọi tôi là "Huệ Phi lệnh bà".

Trinh Minh điện chia làm hai bên Đông Tây, người ta vẫn thường ví von "Đông Ân – Tây Huệ".

Dẫu sao tôi vẫn thua Ân Phi một bậc.

Người ta từ lúc nhập cung đã là Đệ Nhất giai phi trăm ngàn vinh hiển, còn tôi trải qua bao biến cố mới có thể làm một Nhị giai phi thấp bé.

Nhưng tôi vẫn không buồn, ít ra cô ta đã đến đỉnh cao của phong quang, đến cuối đời vẫn chỉ làm Nhất giai phi đó, còn tôi thì vẫn còn cơ hội để rút ngắn khoảng cách của cô ta.

Bởi lẽ, hậu cung này chỉ còn mỗi ngôi Hoàng Quý phi đứng đầu hậu cung là vẫn còn để trống, nhưng Khải Định vốn dành phân vị này cho chính thất Trương Như thị đã quy y cửa Phật của hắn, chính thất còn tại thế, chúng tần phi có mơ cũng chẳng tài nào leo lên nổi ngôi Hoàng Quý phi.

...

Tôi và Ân Phi cứ đối trọng, cùng nhau cân bằng cục diện hậu cung, cứ như thế được bốn năm.

Năm Nhâm Tuất 1922, Khải Định xuống chiếu sắc phong Vĩnh Thuỵ làm Đông cung Thái tử.

Cuộc chiến giữa tôi và Ân Phi lại trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Vĩnh Thuỵ là Hoàng tử duy nhất của Khải Định, nay lại được phong Thái tử, xem như danh chính ngôn thuận trở thành hoàng đế tương lại của Đại Nam.

Ân Phi do đó cũng bắt đầu sốt ruột, bắt đầu tiếp cận với Vĩnh Thuỵ nhiều hơn, mang theo rất nhiều quà bánh đồ chơi, lại trổ tài Tây học hòng làm thân với thằng bé.

Cô ta được Dương Hoàng Thái Phi yêu quý chống lưng, ngày ngày đến chơi với thằng bé rất đều đặn.

Còn tôi, chỉ được mỗi tháng hai lần đến cung Diên Thọ chép kinh cho Nguyễn Hữu Thái phi sau đó lẻn sang thăm nó.

Nhưng năm nay Vĩnh Thuỵ đã chín tuổi rồi, ở tuổi này trẻ con đã suy nghĩ thấu đáo nhiều vấn đề.

Tôi tin là nó biết được ai là người yêu thương nó thật lòng.

Tôi vì chuyện Vĩnh Thuỵ được phong Thái tử ngược lại không vui.

Thân làm mẹ, tôi chỉ mong con mình bình an mà khôn lớn, tôi không mong nó chức cao quyền trọng, áo gấm phong hầu.

Nhưng Vĩnh Thuỵ định sẵn là con nhà đế vương, không thể hưởng một cuộc đời không lo không nghĩ như bao đứa trẻ khác.

Nhìn con mình mới tí tuổi đầu đã trang nghiêm như một bậc lão thần, lòng tôi quặn lại, đau xót không thôi.

Lẽ ra ánh mắt của nó phải hồn nhiên, phải vui tươi hơn bây giờ nhiều lắm.

Huống chi, phong Thái tử chỉ là một nước cờ của người Pháp mà Khải Định và Vĩnh Thuỵ chỉ là con cờ bị bọn họ sắp đặt.

Hai tháng nữa thôi, hai cha con đế vương sẽ lên đường sang Mẫu quốc dự một cuộc triển lãm.

Tôi kỳ thật vẫn luôn lo lắng cho Vĩnh Thuỵ, tôi có cảm giác lần đi này nó sẽ rời xa tôi rất lâu, rất lâu...

Khải Định phong Thái tử, triều đình được người Pháp chiếu cố đến mức phú quý rỡ ràng, quan lại đại thần cũng tranh nhau đưa con gái mình tiến cung, mong được hưởng lây phú quý.

Gió chiều nào ngả theo chiều đó, bọn hủ Nho trong triều đình có nhiều người chính là như vậy.

Để được hưởng tiếng thơm phương Tây, họ sẵn sàng bán con gái mình vào cung để cả đời bọn họ phải sống lặng thầm như những ngọn nến lập loè chốn thâm cung.

Tôi cười khinh miệt.

So với tôi năm xưa, bọn họ thật sự quá đáng thương!

Ngày mấy vị trọng thần dâng tấu tiến cử thiên kim nhà mình sung vào hậu cung, Khải Định tức giận đến tím mặt.

Hôm đó chúng phi tần đang thưởng hoa tại ngự uyển, liền bắt gặp hắn hung hăng đi từ phía điện Thái Hoà trở về, theo sau là vai viên thái giám.

Hắn thấy chúng tôi, giận lại càng thêm giận, hai tay túm gọn lấy vạt áo, nhanh chóng rời đi, không cho chúng tôi chạm vào hắn dù chỉ là vạt áo.

Vừa rời đi hắn liền hậm hực: "Trẫm không muốn bản thân dính phải mùi đàn bà."

Ai nấy nghe xong liền vô cùng thảng thốt.

Điều mà mọi người ngầm hiểu bấy lâu, hôm nay hắn rốt cuộc cũng nói ra.

Tia hy vọng của chốn hậu cung thì ra cũng chẳng hề tại, chỉ có đám phi tần quá cô đơn, tự nhủ với nhau sẽ có ngày được hoàng đế sủng hạnh.

Nhiều đêm tiệc rượu sai khước, hắn đứng trước mặt chúng phi tần, điểm mặt từng người, từng người một.

Giọng the thé mà hắn lại gầm gừ từng cơn, giống như đau thương giấu kín trong lòng tức thời bùng cháy.

"Lũ quan lại đó cứ muốn ép trẫm, được thôi!

Nội cung của trẫm là một cái chùa, ai muốn tu thì cứ vào!"

Vài giọt nước mắt lả chả rơi.

Đau thương đâu chỉ mình hắn.

"Khóc?

Các cô khóc cái gì?

Trẫm cho các cô ăn sung mặc sướng, hưởng đủ vinh hoa đã là tử tế lắm rồi?

Ai dám nói trẫm bạc đãi các cô?"

Khải Định đã lầm.

Phụ nữ đâu phải chỉ cần hưởng vinh hoa phú quý, được ăn ngon mặc đẹp là đã mãn nguyện.

Cái chúng tôi cần là hạnh phúc, là yêu thương, là quan tâm chia sẻ.

Chính hắn, và chính cái gọi là tam cung lục viện đã cướp đi tuổi xuân của bao người.

Mà đối với nữ nhân, tuổi xuân chính là cả một cuộc đời hoa mộng.

Hắn cướp đi mà lại để hoài để phí, cuộc đời nào cũng như đã chết đi.

Tôi cũng thế, Điềm Tần cũng thế, Diệu Tần, Du Tần cũng thế...

Kể cả Ân Phi.

Vào một ngày đẹp trời, tam cung lục viện lại đón thêm mấy vị tiểu chủ mới, phân vị không cao lắm,chỉ là Tiệp Dư, Mỹ Nhân, Tài Nhân mà thôi.

Hậu cung lúc này đã có mười hai vị chủ nhân, so với thời các vị tiên đế Nguyễn Phúc thị còn tại thế, thì quả thật chưa đáng là gì.

Nhưng từ sau tiên đế Đồng Khánh đến nay, nội cung lúc này là đông đảo hơn bao giờ hết.

Mười hai vị phi tần chia nhau chín phân vị từ Cửu giai đến Nhất giai, không một phân vị nào thiếu người, Thái Phi cũng rất vui lòng.

Chỉ là, như hắn đã nói, hậu cung của hắn vốn là một ngôi chùa, không hề có ân sủng nào tồn tại.

Ai đã vào, đành phải chấp nhận chôn vùi tuổi xuân.

...

Vừa sắc phong cho người mới, chớp mắt đã đến tháng 6, cũng là lúc Vĩnh Thuỵ của tôi cùng hắn lên đường sang Pháp.

Ngày rời cung lên tàu, Vĩnh Thuỵ có ngoái lại nhìn tôi một cái.

Lòng tôi bùi ngùi, nước mắt không kiềm được mà trào ra khoé mi.

Lần đi này, có thể kéo dài đến hai năm, phải hai năm sau tôi mới được gặp lại, không biết nó đã lớn đến nhường nào, dung mạo có khác bây giờ nhiều lắm không...

Tôi là chỉ là Nhị giai phi, chỉ được đứng sau hai vị Thái Phi và Ân Phi, không thể tuỳ ý đến trước mặt nó.

Đành nhìn những người chức cao quyền trọng đích thân tiễn nó ra khỏi Ngọ Môn, bản thân chỉ biết nói trong nước mắt: "Vĩnh Thuỵ, Ả đợi con trở về."

Vĩnh Thuỵ đã đi khuất, chẳng biết nó có nghe thấy lời tôi nói hay không.

Ân Phi liếc mắt nhìn tôi, lạnh lùng đến ghê rợn.

...

Hoàng đế và Thái tử lên đường sang Mẫu quốc, giao quyền cầm trịch hậu cung cho Ân Phi.

Ân Phi vốn quyền thế hiển hách nay lại như hổ thêm cánh, không ai dám động chạm đến cô ta.

Ngày cô ta vừa nhập cung, tôi nghe nói cô ta vốn là một thiếu nữ hiền dịu, lại còn là thanh mai trúc mã với Xuất đế* Duy Tân, được Xuất đế rất mực yêu quý.

Có người còn nói, cô ta suýt nữa thì trở thành Quý Phi của ngài, không hiểu sao đến cuối cùng,người ngài chọn lại là Mai Hoàng Quý phi.

Nhưng dẫu sao cũng là vận số quý nhân.

Nếu ngày đó cô ta trở thành Quý Phi của Duy Tân, kết cục định sẵn là không tươi đẹp.

Bây giờ làm Nhất giai Ân Phi của Khải Định, vinh hoa phú quý đến già hưởng cũng không hết.

(*) Vua Duy Tân vì tham gia khởi nghĩa cùng Việt Nam Quang Phục Hội mà bị người Pháp bắt đi lưu đày, xuất dương sang đảo Réunion, sử cũ gọi ngài là Xuất đế.

Hậu cung này do một mình Hồ Lan Chỉ làm chủ, tôi không muốn đối địch cùng cô ta.

Vậy mà cô ta vẫn không buông tha, cứ hết mực làm khó làm dễ.

Cô ta mỗi khi triệu tập phi tần đều cố ý gợi lại quá khứ không mấy tốt đẹp của tôi, biến tôi thành chủ đề cho đám tần phi mới nhập cung bàn tán.

Tôi chịu nhục cũng không phải lần đầu, đành ngậm bồ hòn làm ngọt mà cho qua tất cả.

Còn nhớ năm xưa chịu mấy mươi trượng để có thể sinh Vĩnh Thuỵ ra đời, chút ê chề này có đáng là gì.

Chỉ là tôi không hiểu, tôi lúc nào cũng an phận thủ thường, chưa từng có ý định lật đổ cô ta, tại sao cô ta luôn xem tôi là cái gai trong mắt?

Gúc mắc này không sao cởi bỏ, luôn khiến tôi cảm thấy bất an.

Không biết cô ta sẽ đối phó với tôi như thế nào nữa...

Ân Phi biết được suy nghĩ trong tôi, liền nở một cụ cười diễm lệ.

Đôi môi đỏ thắm như cánh phượng đầu hè khiến người ta không khỏi bị mê hoặc.

"Huệ Phi à Huệ Phi.

Số trời đã định vận mệnh chúng ta đối địch nhau.

Có cô sẽ không có tôi.

Dù có muốn hay không, chúng ta vẫn không thể cùng chung chiến tuyến."

Lời này thốt ra, mãi ba năm sau tôi mới hiểu được.

...

Sang Pháp được một năm tròn,Khải Định gửi điện về cho Lễ Bộ gấp rút soạn chiếu sắc phong hai vị Thái Phi thành Hoàng Thái hậu.

Trong suốt một năm ở Mẫu quốc, ông hoàng An Nam đã ăn chơi trác táng, khiến nhiều thân sĩ trong nước chê cười,từ tiền triều tới hậu cung không ngớt lời đàm tiếu.

Phan Châu Trinh còn viết "Thất điều trần", hạch bảy tội lớn của Khải Định.

Nghe nói nơi đất khách, có người đã viết nên câu chuyện chế nhạo chuyến vi hành của vị hoàng đế An Nam.

Đâu đâu cũng là tiếng quở trách.

Hai vị Thái Phi chỉ biết thở dài.

Năm Quý hợi 1923, đại lễ tôn phong Hoàng Thái hậu được Lễ Bộ trịnh trọng tiến hành.

Hoàng Thái Phi Nguyễn Hữu Thị Nhàn, chính thất của tiên đế Đồng Khánh, được tôn phong làm Khôn Nguyên Hoàng Thái hậu, xưng là Đức Thánh Cung.

Hoàng Thái Phi Dương Thị Thục, thân mẫu của Khải Định, được tôn phong Khôn Nghi Hoàng Thái hậu, xưng là Đức Tiên Cung.

Bản thân Đức Thánh Cung và Đức Tiên Cung đều biết, lễ tôn phong lần này xem như lời tạ tội dành cho hai vị Thái hậu.

Thật sự chuyến công du này của hắn đã làm mất thể diện hoàng gia.

...

Năm Giáp tý 1924, sau chuyến công du ở Mẫu quốc, Khải Định cùng Vĩnh Thuỵ trở về Nội cung.

Tôi vui mừng khôn xiết, con trai tôi Vĩnh Thuỵ đã trở về.

Tôi còn nhớ khi đó là một ngày đầu tháng Chín, Đại Nội nô nức đón mừng Hoàng đế và Thái tử công du trở về, đèn hoa giăng khắp bốn phía, phi tần các cung ai nấy lễ phục đoan trang, nhất tề cung nghênh thánh giá.

Vĩnh Thuỵ đã lớn hơn trong thấy, đã cao hơn rất nhiều, mặt mũi cũng khôi ngô.

Thằng bé mặt bộ Âu phục, trông rất ra dáng quý tộc người Pháp.

Trái với Phụ hoàng Khải Định của nó, y phục rất mực lố lắng, cả người đều đính châu ngọc lấp lánh, Tây chẳng ra Tây mà ta cũng chẳng phải ta.

Tôi ngắm nhìn Vĩnh Thuỵ rất lâu, rất lâu, tưởng chừng khoảnh khắc đoàn viên này sẽ kéo dài mãi mãi.

Nhưng hệt như một tia sét giữa trời xanh, khiến tôi chết lặng.

Hắn nói: "Thái tử được vợ chồng Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp nhận làm con nuôi, đã theo học tại trường ở Mẫu quốc."

Hắn còn nói: "Lần này Thái tử về Nội cung là để dự Tứ tuần Đại khánh sắp đến cuat trẫm, sau đó sẽ về lại Mẫu quốc."

Nước mắt đoàn viên chưa kịp khô đã đổ tiếp giọt lệ phân ly.

Ân Phi nhìn tôi cười ý nhị, đắc ý khôn tả.

...

Tứ tuần Đại khánh của Khải Định là vào ngày mồng Một tháng Chín, tức là ngày 8 tháng 10 theo Dương lịch.

Để mừng hắn bốn mươi tuổi, triều đình tổ chức yến tiệc vô cùng lớn.

Xe kiệu võng lọng hiên ngang đi khắp Tử Cấm Thành.

Trong Nội Cung, đèn treo hoa kết, ca vũ hí kịch thâu đêm, yến tiệc đối ẩm suốt sáng.

Tặng phẩm quà mừng từng khắp nơi đổ về Cần Chánh điện, xa hoa không sao tả xiết.

Lại nói, sinh nhật lần thứ bốn mươi này của hắn đã tiêu hao ngân khố đến cạn kiệt.

Nhiều nơi xảy ra thiên tai dịch bệnh, triều đình cũng không có cách nào để cứu tế.

Khắp nơi ai oán lầm than, dân chúng khắp nơi đều hận thấu trời xanh.

"Ai về địa phủ hỏi Gia Long

Khải Định thằng này phải cháu ông?

Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ

Trăm gia ba chục khổ nhà nông!*"

(*) Trích từ bài thơ "Hỏi Gia Long I" trong chùm thơ "Hỏi Gia Long" của Ngô Đức Kế.

Bài thơ là lời than vãn, tiếng lòng ai oán và nỗi căm phẫn tột cùng của người dân An Nam trước sự xa hoa phóng đãng của Hoàng gia cuối triều Nguyễn, mà cụ thể là vua Khải Định.

Trên dưới trong cung không phải không biết, chỉ là quân vương như vậy, ai nấy nều nhắm mắt cho qua.

Yến tiệc linh đình như thế, Vĩnh Thuỵ tham gia bái lễ với tư cách là Thái tử, ngoài ra không tham gia vào bất cứ cuộc vui nào cùng với phụ hoàng nó.

Người ngoài thì cho rằng "Thái tử còn nhỏ nên nhút nhát".

Chỉ có người làm mẹ như tôi đây hiểu rõ, nó buồn vì Phụ hoàng nó.

Vĩnh Thuỵ mang vẻ mặt u buồn ấy tận đến khi nó rời Đại Nội trở về Mẫu quốc tiếp tục việc học.

Lúc đó đã là một tháng sau Tứ tuần Đại khánh.

Hôm ấy trời xứ Huế xanh màu ước vọng.

Mùa thu đông đã về, cũng là mùa mưa tầm tạ của xứ Huế, vậy mà hôm nay bầu trời đặc biệt trong veo, có thể nhìn lên chín tầng mây thăm thẳm.

Tôi vẫn nói: "Ả chờ con trở về."

Nó giương mắt nhìn tôi, ánh mắt ngây thơ đến lạ.

Nó khẽ gật đầu.
 
Nam Quốc Hậu Phi - Hoàng Cúc Tiểu Truyện
Phần kết


Điều mà tôi không thể ngờ là tôi lại có thể gặp lại con trai nhanh đến như vậy.

Mưu sự tại nhân, hành sự tại thiên.

Người ta có vùng vẫy thế nào cũng không thoát được lưới trời đã vây bủa.

Khải Định cũng không ngoại lệ.

Từ sau Tứ tuần Đại điển đó, hắn lúc nào cũng u uất không vui.

Đức Tiên Cung nhiều lần triệu chúng phi tần đến giúp hắn giải khuây nhưng kết quả lại bị hắn đuổi về hậu cung.

Nghe ngự y trong cung nói, thời gian gần đây hắn liên tục mơ thấy ác mộng, nhiều hôm vì lo sợ mà thức trắng, sức khoẻ ngày càng suy kiệt.

Tôi chợt nhớ đến viên thị vệ mà hắn sủng ái.

Ngày xưa hắn đã hay gặp chứng mất ngủ như vậy, nhờ thị về đó đêm đêm hầu hạ, bao năm qua chưa hề nghe qua hắn gặp bệnh tình gì trầm trọng.

Chẳng biết giờ này người đó đang ở đâu.

"Cô đừng nhắc đến hắn ta nữa.

Trẫm đã đuổi cổ hắn khỏi Tử Cấm Thành rồi." – Khải Định thều thào.

Giọng nói không còn cao vút như xưa, thần sắc cũng xanh xao nhợt nhạt.

Tôi thở dài: "Chẳng phải bao nhiêu năm qua ông đã giữ hắn bên mình sao?

Ông nỡ cho hắn rời khỏi ư?"

"Không nỡ cũng phải cam tâm mà nhìn hắn ra đi." – Khải Định cười cay đắng: "Đại Nội không phải là nhà của hắn, trẫm cũng không thể ở bên hắn cả đời."

Tôi nghe mấy lời nói này bất giác giật mình.

Hắn không giống như Khải Định mà tôi biết, hắn không chút nào giống với còn người tàn nhẫn đã đẩy tôi vào cảnh đoạ đày suốt bao năm nay.

"Ông không nỡ giữ hắn ở lại, ông sợ khiến hắn đau khổ.

Vậy sao ông lại giữ tôi lại bao năm qua, còn khiến tôi sống không bằng chết?"

Hắn ngập ngừng, sau đó vẫn mạnh dạn nói ra: "Đó là vì, là vì Thừa Mai của cô."

Tôi như chết lặng đi.

Thì ra là như thế...

Cuộc đời này luôn có những chuyện bất ngờ, hệt như một cơn mưa rào mùa hạ, đến mà không báo trước, khiến người ta ướt lạnh đến run rẩy.

Thái hậu đã già, Khải Định lại đau ốm triền miên, hai vị đức bà đóng cửa Diên Thọ cung ngày ngày tụng kinh cầu phúc cho hắn, mọi sự vụ trong tam cung lục viện hết thảy giao cho Ân Phi quản lý.Tôi lại càng bị cô ta chèn ép hơn nữa.

Dạo gần đây Ân Phi luôn giành quyền thăm nom Khải Định, thuốc thang mang đến đều do đích thân cô ta làm.

Người ngoài nhìn vào xem đó là một vinh sủng cực kỳ to lớn, kỳ thực cô ta đã làm gì, chỉ có bản thân cô ta biết rõ.

Sinh nhật lần thứ bốn mươi mốt của Khải Định trôi qua trong mùi hương nồng nặc của đông dược và tây dược trộn lẫn.

Hắn bây giờ mong manh như chỉ mành treo chuông, mạng sống chẳng biết lúc nào sẽ dứt.

Nhìn hắn tôi có chút cảm thán, thì ra quả báo của con người lại công bằng đến vậy.

Hắn hại cho nước nhà tan tác, giang sơn mục rỗng, hắn hại bao cuộc đời cô đơn suốt kiếp vì hắn...

Giờ đây tấm thân hắn cũng tan tác, cũng mục rỗng, cũng cô đơn đó thôi!

Lưới trời lồng lộng, tuy thưa khó thoát.

Nhân quả công bằng, chẳng chừa một ai.

Hôm đó, Ân Phi như thường lệ mang thuốc thang đến cho hắn, lại mang theo luôn một túi gấm bên người, chẳng rõ là thứ gì bên trong đó.

Mùi thuốc nồng nặc quyện cả tẩm cung của hắn, không khí tịch mịch bao trùm.

Từ độ hắn đăng cơ, đây là lần đầu tiên nội cung lại yên tĩnh như thế.

Nếu là lúc trước, có lẽ giờ này hắn đang bày biện yến tiệc, cùng người Pháp bàn luận về những thú vui xa xỉ.

Giờ đây khi hắn không còn được như xưa, chỉ có những con người hắn ngày ngày bạc đãi đêm đêm hầu cận.

Còn lũ người mắt xanh mũi lõ kia từ sớm đã biệt tăm, chắc là đang cười nhạo, đang mưu toan lập một bù nhìn mới.

Ân Phi ở trong tẩm cung của hắn rất lâu, rất lâu.

Mãi khi người ta nghe thấy tiếng la thất thanh và tiếng ly tách vỡ loảng xoảng, mới thấy Ân Phi bị đám thái giám áp giải.

Khải Định ra chỉ cấm túc cô ta tại phía Đông Trinh Minh điện.

Nhìn thấy tà áo lụa nhàu nhĩ, trâm cài đầu bị gỡ bỏ khiến búi tóc được búi cầu kỳ tỉ mỉ rối bù cả lên, nhìn thấy cả nước mắt trên khoé mi cùng nụ cười cay đắng của Ân Phi, tôi biết được rằng cuộc chiến ngầm giữa tôi và cô ta đã kết thúc rồi.

Hôm đó Khải Định vội vã triệu tôi vào tẩm cung, tự tay lấy chìa khoá rương hòm châu báu mà hắn cất giữ cùng kim sách kim bảo của Ân Phi giao lại cho tôi.

Hắn nhìn tôi đầy vẻ thống khổ.

Trên giường bệnh, bộ hoàng bào nửa ta nửa Tây kết đầy châu ngọc được gỡ bỏ, huân chương Bắc Đẩu bội tinh cũng không còn kiêu hãnh nằm chễm chệ trên ngực áo.

Hắn vận độc một bộ áo lụa trắng thuần, đôi môi đỏ thường ngày đã nhớt nhạt đi rất nhiều, giọng nói cũng không còn cay nghiệt.

Có lẽ là khi người ta đã đến đoạn cuối của cuộc đời, tâm tư người ta bỗng chốc sẽ trở nên đơn thuần như chưa hề mưu toan tính toán.

Trong tẩm cung hoà lẫn những mảng khói trầm, khiến gương mặt của hắn dễ nhìn hơn một chút.

Hai vị Thái hậu và chúng phi tần đều tề tựu đông đủ, ai nấy giọt ngắn giọt dài.

Tôi biết, là họ khóc cho bản thân họ, tiếc cho một tuổi xuân đã bị sự tàn nhẫn của thời cuộc làm cho phí hoài.

Tiên Cung Thái hậu khóc đến ngất đi, chúng phi tần sợ hãi, ai nấy như ong vỡ tổ, chẳng biết làm thế nào.

Điềm Tần vẫn bình thản như bao năm qua, lặng lẽ dìu Thái hậu đến sập gỗ nằm nghỉ.

Tôi còn nhớ ngày nhập cung, nàng ta vẫn mặc cung trang màu ráng mỡ gà, mười năm trôi qua vẫn như thế.

Ráng mỡ gà có nhà thì giữ*.

Dáng người áo lụa màu trời trước giông bão đó, vẫn điềm tĩnh mà đứng vững trước mọi sóng gió hậu cung.

Chẳng biết nàng ta đã không hề biết đau lòng hay vì đã đau đến cực điểm rồi nên có đau thêm nữa cũng chẳng nhận biết được.

Chỉ biết nàng ta đã được Khải Định chọn đúng phong hiệu rồi, chữ "điềm" quả nhiên thích hợp.

(*) Câu tục ngữ về kinh nghiệm quan sát khí tượng của ông cha ta.

Ráng mỡ gà là dấu hiệu cho gió bão sắp đến.

Khải Định bằng cái giọng thều thào như tro than đương tắt lửa của hắn, cố gắng nói to, từng chữ rành mạch để ai ai cũng nghe rõ.

"Huệ Phi."

"..."

"Tử quý mẫu vinh!"

Tôi còn nhớ hôm ấy là ngày Hai mươi tháng Chín năm Ất Sửu, tức là ngày 6 tháng 11 năm 1925.

Khải Định băng hà, thọ bốn mươi mốt tuổi.

Câu cuối cùng hắn nói với tôi: "Hoàng Cúc, ta xin lỗi."

Chỉ có như vậy thôi mà khiến tôi ngẩn người.

Bao năm qua, Huệ Phi tôi đã quên mình họ Hoàng, tên Cúc.

...

Tôi đến thăm Ân Phi sau thất đầu của Khải Định.

Gian phía đông Trinh Minh điện giờ đây cũ nát lụi tàn, chủ nhân của nó cũng không còn phong quang như xưa nữa.

Cung nữ báo với tôi: "Ân Phi lệnh bà ngày đêm đau khóc, đồ đạc trong cung đều bị đập phá tan tành.

Cơm cũng không chịu ăn, mỗi ngày chỉ uống nước cầm hơi."

Người phụ nữ trước mặt tôi thật sự xa lạ, nếu không nhờ khí chất đó, màu áo đó, tôi không còn nhìn ra cô ta là Nhất giai Ân Phi quyền thế ngang trời một thuở nữa.

Cô ta gầy đi thấy rõ, vóc người đẫy đà giờ chỉ như cành cây khô cuối mùa.

Suối tóc huyền giờ đây chỉ là một mảng rối như tơ vò, hệt như cõi lòng người ta vậy.

Từng trâm cài, lược giắt, khăn vấn, phấn dặm, son tô, mày vẽ...

Vậy mà giờ đây dung nhan đó cứ như một bộ mặc của tượng gỗ vô hồn, một chút sinh khí cũng không có.

Ân Phi thấy tôi đến cũng không ngạc nhiên chút nào, còn cao giọng hỏi tôi: "Thái hậu tương lai vẫn nhớ bổn cung mà đến thăm, vinh hạnh vô cùng."

Tôi cười, kéo cô ta ngồi trước gương, cầm cây lược ngà đích thân chải tóc cho cô ta: "Cô ở phía Đông, tôi ở phía Tây.

Dẫu sao cũng là điện Trinh Minh, sao lại quên cô được?"

"Một người sắp thành Thái hậu, một người đã trở thành phế phi.

Ta thua rồi." – Cô ta vuốt ve cây trâm vàng nạm ngọc bích.

Đã lâu không dùng, trên những hoa văn chạm khắc đóng vết bụi nhờ nhờ, không còn sáng bóng như xưa.

Tôi thở dài, dùng cây trâm gỗ cố định mái tóc của cô ta, tay lần vào hộp trang sức chọn vài bộ dao* ưng ý ướm thử lên mái đầu cô ta.

"Cô không thua, tôi cũng không thắng.

Tôi trước giờ chưa từng có ý muốn tranh giành với cô.

Cô đừng làm khổ mình.

(*) Dao ở đây là một dạng trang sức có phần thân gần như răng lược để cài lên tóc, điểm xuyết châu ngọc vàng bạc.

Dao thường có hình chim muông hoặc hoa lá, kèm theo tua vàng tua bạc.

Cuối cùng khoé môi Ân Phi vẫn nhếch lên, cố nặn ra một nụ cười méo xệch.

"Cô không đánh mà vẫn thắng, chứ không như ta, từ đầu đến cuối đã định sẵn là kẻ bại trận."

Tấm gương thuỷ tinh đóng bụi lờ mờ phản chiếu gương mặt của cô ta.

Tôi mơ hồ thấy vài giọt lên lăn dài trên má, vậy mà gương mặt vẫn không hề biến sắc.

"Năm xưa ta không thể ở bên cạnh người mình yêu, phó mặc theo vận mệnh mà nhìn chàng ở bên người khác.

Sau đó lại cắn răng cắn lợi chấp nhận gả cho Khải Định, dù biết ở bên hắn cũng chẳng khác gì thanh tâm quả dục cả đời.

Nhưng trên vai ta còn có vinh quang của gia tộc, còn có tham vọng của cả đời ta.

Cô biết không, biết không?"

Ân Phi nắm chặt lấy cổ tay tôi lay động không ngừng.

Bộ dao trên tay tôi vô tình cứa ngang gương mặt của cô ấy, máu và nước mắt khẽ khàng rơi trên nước da trắng sứ, hệt như một đoá mẫu đơn hai màu trắng đỏ.

Tôi im lặng không đáp, để mặc cho cô ta bấu tấy tay áo, nước mắt thấm đẫm vào da thịt.

"Chỉ có thâu tóm quyền lực ở hậu cung, chỉ có giành quyền nuôi Thái tử, tôi mới có thể thành Thái hậu.

Khi Vĩnh Thuỵ trở thành tân đế kế vị, tôi mới có thể nhờ đó mà thương lượng với lũ người Pháp đó mang chàng trở về.

Tôi vốn ghét Tây phương, ghét lũ người mắt xanh mũi lõ.

Nhưng vì chàng, học trường Tây nói tiếng Tây, âm mưu tranh đoạt cũng không đáng là gì."

Tôi biết, người mà cô ta nói đến chính là Xuất đế Duy Tân đang bị lưu đày hoang đảo.

Tôi khẽ khàng lau đi những giọt nước mắt của cô ta, không ngăn được thương cảm: "Đâu phải chỉ có cô mới tình duyên không thành chứ, sao lại khiến mẹ con tôi chia lìa?"

Mắt cô ta tròn xoe kinh ngạc.

Cô ta là người âm thầm đốc thúc Khải Định giao Vĩnh Thuỵ cho người Pháp.

Cô ta không gần gũi được thằng bé, nên buộc nó phải xa tôi.

Cô ta đã tiên liệu trước rằng thằng bé sẽ không nhận cô làm mẹ.

Chỉ có cách li Vĩnh Thuỵ khỏi tôi, cô ta mới dễ dàng danh chính ngôn thuận mà được danh đích mẫu của Thái tử, trở thành Thái hậu tương lại.

Tiếc là...

"Tiếc là trăm tính ngàn tính cũng không ngăn được tình mẫu tử.

Đến bước cuối cùng, chỉ trách đại sự bất thành.

Không ngờ tên hôn quân đó vẫn còn tráng kiện, bị ta chọc giận như vậy cũng không tức chết đi."

Mặc cho ánh mắt đầy ngạc nhiên của tôi, cô ta vẫn bình thản tiếp lời: "Là ta đã bí mất bỏ thuốc, làm bệnh tình hắn ngày càng trở nặng.

Cũng là ta đã sai người thủ tiêu tên thị vệ hắn sủng ái, khiến hắn chỉ còn nửa cái mạng..."

Trâm vàng cài lên mái tóc tôi vừa mới búi cho cô ta, khăn nhung vấn tóc một màu đỏ thẫm, gương mặt ấy lại lấy lại phần nào dáng vẻ kiều diễm say người.

Ngón tay thon dài của cô ta chỉnh lại bộ dao hình phượng hoàng trên mái tóc, tao nhã hệt như thi như hoạ.

"Ta hận hắn, cũng rất đố kị với cô.

Cô cũng như ta, nhưng lại sống trọn vẹn hơn ta."

Một thời gian sau Ân Phi Hồ Lan Chỉ vì trầm uất quá độ mà thần trí nửa tỉnh nửa mê, suốt ngài nói năng cuồng loạn.

Cô ta nói muốn rời khỏi hậu cung, tôi liền chiều ý cô ta, sai anh trai cô ta đón về phủ.

Sau này Vĩnh Thuỵ hỏi tôi vì sao lại để cô ta rời khỏi hậu cung, tôi cười nói: "Hậu cung là chỗ của tần phi.

Tiên đế qua đời, mẹ Ân con không còn là tần phi nữa.

Hơn nữa bà ấy cũng không muốn ở lại đây,lòng người đã quyết, Ả không dám giữ lại."

Nghe nói sau khi rời cung, gia đình Hồ Lan Chỉ đem cô ta đi chạy chữa ở nhiều nơi nhưng bệnh tình vãn không thuyên giảm.

Ngày ngày cô ta lại làm bánh nậm, bánh bột lọc đem bán tại chợ An Cựu, miệng cứ lẩm bẩm "năm xưa bán bánh gặp chàng".

Ân Phi suốt đời luôn xem tôi như kẻ đối địch, nhưng có ngờ đâu tôi với cô ta đều là quân cờ trong tay Khải Định.

Ân Phi thì sao, Huệ Phi thì sao?

Đều chỉ là những quân cờ được hắn ban phát chút ân huệ mà thôi.

Trong tôi, Ân Phi không hề già đi cũng không hề xấu đi, vĩnh viễn ở cái tuổi ba mươi ba nhan sắc diễm lệ như lần cuối cùng tôi gặp cô ta vậy...

...

Lúc thọ tang Khải Định, Vĩnh Thuỵ có về Đại Nội một lần.

Nó đứng trước thế Miếu, nhìn bài vị Khải Định nước mắt lặng lẽ chảy dài chứ không hề nức nở.

Tôi ôm con vào lòng, căn dặn nó: "

Sau này con phải làm một ông vua tốt, đừng như Phụ hoàng con."

Năm đó, Khải Định băng hà, thi thể an táng tại Ứng Lăng, thuỵ hiệu là Hoằng Tông Tuyên Hoàng đế.

...

Năm Nhâm Thân 1932, Vĩnh Thuỵ trở về nước sau mười năm du học trên đất Pháp.

Tôi đã không còn nhận ra con trai mình nữa.

Nó đã trở thành một thanh niên khôi ngô cao lớn, một ông hoàng An Nam mang tinh thần Tây học.

Vĩnh Thuỵ trở về, chính thức trở thành hoàng đế Đại Nam, đặt hiệu là Bảo Đại.

Sau khi đăng cơ không lâu, Bảo Đại ban hành một số tuyên cáo chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Đại Nam Hoàng triều, đồng thời tiến hành cải tổ triều chính.

Tôi là thân mẫu của tân đế, được tôn phong làm Đoan Huy Hoàng Thái hậu, người trên kẻ dưới xưng tụng lad Đức Từ Cung.

Diên Thọ cung ngày ấy giờ đã trở thành tẩm cung của tôi rồi.

Hai năm sau đó, Bảo Đại nạp người vào hậu cung.

Hậu cung khi ấy đã chẳng còn là hậu cung nữa rồi, tam cung lục viện đã hoang tàn quá nửa.

Người con gái ấy vào cung đã khiến con trai tôi phá bỏ những quy tắc của tổn tông.

Hậu cung Nguyễn Phúc thị xưa nay ngoài Thừa Thiên Cao Hoàng hậu của đức Gia Long, chưa từng có người phụ nữ nào lúc còn tại vị lại được phong hậu.

Vậy mà cô gái đó, Nguyễn Hữu Thị Lan, còn chưa tiến cung đã được nhận chỉ phong hậu.

Cô ta là Nam Phương Hoàng hậu của vương triều Đại Nam, là người phụ nữ duy nhất trong số ngàn vạn giai nhân suốt mười ba đời vua Nguyễn đươc phá lệ phong Hậu.

Ngày đại hôn của Bảo Đại, nhìn con trai mình và người phụ nữ của nó cùng vận áo bào màu vàng vương quý chói lọi, lòng tôi cảm thán không thôi.

Người con gái đó xinh đẹp sắc sảo, uyên bác tinh thông, học trường Tây nói tiếng Tây lại xuất thân cao quý.

Dáng điệu ấy, thần thái ấy khiến tôi không khỏi nhớ đến Ân Phi ngày trước.

Dù cô ta rất mực giỏi giang lại khéo thu vén sự vụ nội cung, cư xử đúng mực, vốn chẳng thể chê trách được điều gì, nhưng tôi vẫn không thôi đố kỵ, không cách nào gần gũi với cô ta.

Có lẽ, tuổi trẻ của Nam Phương Hoàng hậu hơn tôi tuổi trẻ của tôi nhiều quá, phong quang vinh hiển đến tột cùng.

Dẫu sau thì thời của tôi cũng đã đi qua, dẫu hoài niệm cách mấy cũng chỉ là những hạt bụi vàng bám víu lấy tường đỏ Nội cung, tăng thêm vẻ cổ kính cho những gì cố cựu.

Cuộc đời của tôi cũng chỉ là ngày ngày thầm lặng trong thâm cung, bên cửa thiền thanh tĩnh.

...

Năm 1945, người lãnh tụ vĩ đại ấy đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quãng trường Ba Đình, Hà Nội.

Một trang sử mới lại mở ra trên non sông này.

Con trai tôi, Bảo Đại Hoàng đế trao ấn kiếm cho chính quyền Cánh Mạng, dõng dạc tuyên bố: "Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, còn hơn làm vua một nước nô lệ."

Giây phút đó, tôi lại nước mắt chảy dài.

...

Ngày tôi rời khỏi Tử Cấm Thành, tam cung lục viện chỉ còn trong ký ức.

Tường đỏ ngói xanh đó từng giam cầm tôi suốt nửa cuộc đời, vậy mà giờ đây lại nhớ nhung đến lạ.

Câu hò xứ Bình Trị Thiên vẳng vẳng bên dòng Hương giang hiền hoà, thơ mộng, khiến người ta cảm thấy cõi lòng bùi ngùi khó tả.

"Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát

Đứng bên tê đông ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông..."

Bầu trời tươi đẹp đó, dù nhìn từ trong Đại Nội hay bên ngoài Đại Nội đều bao la như thế.

Đi hết cuộc đời nhìn lại, tôi vẫn là tôi của thuở nào.

Cảm xúc vẫn tinh nguyên như lần đầu tôi gặp Thừa Mai tại chợ An Cựu.

Năm xưa tôi gặp Thừa Mai.

Sau đó đó tôi gặp Khải Định.

Sau đó sinh ra Vĩnh Thuỵ.

Sau đó lại minh tranh ám đấu với Ân Phi.

Sau đó nữa, tôi chứng kiến con mình lên ngôi, trị quốc và lập hậu.

Sau đó nữa, nước non độc lập, hoàng gia rời khỏi Tử Cấm Thành.

Sau đó nữa...

...

Sau đó nữa, con tôi có câu chuyện riêng của cuộc đời nó, còn tôi vẫn tiếp tục câu chuyện của cuộc đời mình.

Có điều, khi cánh cửa tam cung lục viện kia khép lại, Đại Nội không còn nữa tiếng khóc ai oán nỉ non, câu chuyện về một Nam quốc Hậu phi cũng đã kết thúc.

HOÀN

~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Phù =.="cuối cùng cũng đã hoàn

Hãy cho mình biết cảm nhận của bạn nhé! ^^~

Các bạn có thể thăm mình tại camthuongthiemhoa.wordpress.com
 
Back
Top Bottom