Cập nhật mới

Khác Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân

Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 58: Chớ quên ba đường khổ 3


Cậu cả Phó va vào lan can ở khúc ngoặt, nằm rạp trong góc cầu thang.

Một bà bé trên tầng có kinh nghiệm bèn cao giọng sai đám người làm dung chăn bông trong phong riêng bọc kín ngọn đuốc hình người lại, lửa nhanh chóng được dập tắt.

Vài gã hầu dưới tầng được gọi lên trên khiêng chiếc chăn bọc người xuống tầng một, khi mở ra mùi khét gay mũi xộc lên rợn người.

Mấy đứa bé nhỏ tuổi đều chỉ dám đứng nhìn từ xa xa, người lớn hơn thì xúm xít vào.

Bên ngoài hỗn loạn như kiến bò trên chảo nóng, chỉ có bảy người đàn ông Phó Đồng Văn để ở ngoài cửa không hề nhúc nhích, yên tĩnh quan sát tất cả sự việc.

Trong phòng.

Dưới tầng có người thét "Vẫn còn thở, mau đưa vào bệnh viện", lão phu nhân cuối cùng thở hắt một hơi, ngoảnh đầu nhìn đứa con trai còn lại đang dựa lưng vào ghế qua làn nước mắt, mất hồn mất vía.

Thẩm Hề quỳ bên người Phó Đồng Văn, thuốc rơi đầy mặt đất, cô quan sát tình trạng của anh, đầu óc vẫn tỉnh táo nhưng nước mắt không thể nào cầm lại được.

Bình thủy tinh nhỏ này là chai thuốc nước của cô, không thích hợp để đựng thuốc viên, nhưng sau khi cầm về anh cứ nhất quyết phải để thuốc trợ tim của mình vào.

Rõ ràng cô đã nhắc nhớ miệng bình thuốc này hơi to, chỉ cần lỡ tay thuốc sẽ bị đổ ra rất nhiều, vậy mà anh không chịu nghe.

"Anh thả lỏng nào..."

Cô giúp anh buông khẩu súng xuống.

Vì phải đọ sức nên Phó Đồng Văn cầm súng rất chặt, bớt cơn đau tim đột ngột nên phải dùng lực rất nhiều, khẩu súng như dán vào lòng bàn tay anh.

Thẩm Hề chờ anh thở chậm lại mấy hơi mới từ từ nhẹ nhàng tách từng ngón tay anh, lấy khẩu súng ra khỏi.

Vừa rồi cô muốn giữ súng, nhưng Phó Đồng Văn không chịu đưa cho cô.

Ngay lúc ấy cô đã đoán khẩu súng này không có đạn.

Quả nhiên bên trong trống rỗng, chắc chắn anh đã sắp xếp rất nhiều chuyện mà cô không biết: "Lần sau anh muốn làm gì cũng phải nghĩ cho bệnh tình trước nhé."

Cô khẽ dặn dò.

Anh dựa vào dưới chân ghế bành, môi hơi mấp máy, mỉm cười yếu ớt: "Cơ thể này của anh ba...

đúng là gánh nặng."

Khẩu súng quả thât không có đạn, chỉ dùng để phòng bất trắc.

Hôm nay những người vào được Từ Viên đều bị người của Phó Đồng Văn tước súng và dao, bao gồm cậu cả Phó.

Anh biết rất rõ tình cách của anh cả mình, nếu chết chắc chắn sẽ kéo anh chết cùng, không đời nào chịu cúi đầu, cơ hội cho anh ta tự sát gần như không có.

Huống chi Phó Đồng Văn vẫn còn nhân tính và lòng hiếu thảo, chưa từng có ý định để mẹ tận mắt nhìn cảnh con trai cả đổ máu, nếu muốn anh cả đền mạng cũng phải sau ngày hôm nay.

Vừa rồi lấy súng ra, chẳng qua là dựng lên bàn chờ chết, để mẹ thấy rõ ràng anh tuyệt đối không tha thứ cho anh cả.

Phó Đồng Văn đã bố trí xong xuôi, chỉ không biết Tô Khánh sẽ ở đây, càng không ngờ cô ấy vẫn hoài niệm chuyện xưa năm mười mấy tuổi.

Hồi nãy anh đã định gọi người vào, nhưng Tô Khánh lại bất ngờ ra tay.

Cô ấy ra tay, nên Phó Đồng Văn không thể gọi người được.

Cửa vừa mở ra, hàng trăm đôi mắt đổ dồn vào.

Tô Khánh là mợ bé xuất thân từ chốn trăng gió, cô ấy dám ra tay với con trai trưởng nhà họ Phó thì chỉ còn con đường chết.

May thay người chứng kiến trong phòng đều là người nhà, chỉ cần anh và anh hai khẳng định Tô Khánh không liên quan, lão phu nhân bị kích động, có nói cũng không ai hoàn toàn.

Phó Đồng Văn nhìn Tô Khánh vừa mới tỉnh lại.

Đêm nay, dù cậu cả Phó được cứu sống, cũng chẳng khác nào kéo dài hơi tàn, ngày đêm chịu đựng giày vò, vùng vẫy đợi chết.

Coi như là ý trời không ai đoán được.

"Anh đừng cử động."

Thẩm Hề căn dặn anh.

Cô đi sang bên cậu hai, nhắc anh ta đặt Tô Khánh nằm thẳng, kiểm tra vết thương ngoài da cho cô ấy, ngoài hai tay bị bỏng ra những chỗ khác đều chỉ bị thương nhẹ.

Quần áo Tô Khánh bị lửa bén vào, tả tơi đen thui, may mắn không bị thương vào da và tóc.

Lúc này, hôn phách của Tô Khánh dường như cũng rời khỏi thể xác theo khoảnh khắc vừa rồi, đôi mắt cô ấy trống rỗng nhìn chằm chằm góc phòng.

Nơi ấy không có gì cả.

"Tôi ra ngoài, nơi này giao cho cô."

Cậu hai Phó nói thầm.

Thẩm Hề gật đầu.

Cậu hai Phó vuốt ve gương mặt Tô Khánh, sau đó đứng dậy ra khỏi cửa.

Người của Phó Đồng Văn đóng cánh cửa gỗ vào.

"Lão nhị?"

Người già đứng bên ngoài lên tiếng hỏi: "Chuyện này là sao?"

Giọng của cậu hai trả lời: "Ngoài ý muốn ạ, ban nãy anh cả nóng tính, lúc dạy dỗ hai anh em cháu thì đá đổ lò than.

Bác thấy ngày hôm nay..."

Sau đó tiếng thở dài của cậu hai, tiếng trai đổi xa dần.

Cậu hai tin Phật, không bao giờ nói linh tinh, vậy mà đêm nay lại nói dối không chớp mắt để bảo vệ tính mạng cho Tô Khánh.

Anh ta đích thân kiểm tra cho anh cả, vẫn còn thở, nhưng da cháy đen, khuôn mặt bê bết máu, không nhìn ra dáng vẻ ban đầu.

Trước mặt các em trai đang hoảng hốt, anh ta giả bộ bình tĩnh sai người làm đưa cậu cả tới bệnh viện cấp cứu.

Kịch không cần phải diễn thêm, diễn viên đều đi tẩy trang.

Họ hàng thân thích nhà họ Phó tề tưu ở đây đều được Phó Đồng Văn sắp xếp xe hơi và xe kéo tay đưa tới, rồi lại chờ cậu hai bố trí xe đưa về biệt thự.

Cậu hai nhìn khắp khu chính sảnh, bốn phương tám hướng đều đang gọi "Đồng Thiện", "Đồng Thiện".

Diễn viên sợ hãi muốn nói chuyện với anh ta, họ hàng gần lo cho lão phu nhân trên tầng muốn hỏi han tỉ mỉ, họ hàng xa hoảng hốt muốn hỏi lúc nào có thể đi.

Cậu hai phó khéo léo xử lý ổn thỏa, chăm sóc mọi người chu đáo.

Gã hầu của anh ta cũng luôn mồm luôn miệng, bình thường bên bà hai là nơi yên tĩnh nhất, hôm nay hiếm có dịp thể hiện uy phong, luôn tay chỉ đạo đám người hầu còn lại.

"Đúng rồi, phải thưởng bạc cho mấy diễn viên đó, tránh để họ tức giận lại nói mấy lời không hay."

Dặn dò xong, cậu hai Phó vén áo dài đi lên tầng.

Đêm nay bất ngờ gặp phải biến cố, trong lòng anh ta cũng hoang mang.

Tô Khánh lấy dũng khí đâu ra để cho anh cả một nhát trí mạng?

Câu cô ấy hét anh ta không nghe rõ, nhưng anh ta biết khi còn ở ngõ Yên Chi, Phó Đồng Văn rất quan tâm Tô Khánh, mà không ngờ cô ấy lại là ngời biết lấy ơn trả ơn...

Cậu hai Phó giấu kín suy nghĩ của mình, đứng ngoài cửa phòng riêng.

Trên tầng dưới tầng đều trở về với sự yên tĩnh, người của Phó Đồng Văn đều vẫn gác ở đây.

Người đàn ông đứng đầu mở nửa cánh cửa cho anh ta.

Lúc này trong phòng, Tô Khánh đang ngồi trên ghế bành, lão phu nhân được dìu đến sập thuốc.

Cơn đau tim của Phó Đồng Văn đã dịu xuống, anh đứng bên ghế bành rì rầm trao đổi với Thẩm Hề, thấy cậu hai vào liền khẽ nói: "Anh hai, đêm nay cảm ơn anh nhiều."

Cậu hai Phó lắc đầu cười gượng, vẫn là câu nói cửa miệng ấy: "Anh em một nhà, đừng nói thế."

"Tô Khánh bị thương ở tay, mấy ngày gần đây anh đừng để cảm xúc cô ấy bị kích thích."

Thẩm Hề dặn, "Dù sao đầu cũng bị va đập mạnh."

"Được, tôi nhớ rồi."

Thẩm Hề dặn tiếp: "Vết thương ở tay phải nhanh chóng đưa tới bệnh viện chữa trị, Tây y Trung y đều được, còn về đầu, ngày mai đến bệnh viện tìm em."

Cậu hai Phó đồng ý, toan dìu Tô Khánh đứng lên.

Tay anh ta vừa chạm vào cổ Tô Khánh, cô ấy như người giật mình tỉnh lại từ cơn ác mộng, nước mắt chảy dài, vịn vai anh ta, gục khóc nức nở trên bả vai cậu hai.

Tiếng khóc của Tô Khánh làm lão phu nhân đang ngồi trên sập thuốc kích động, bà giận dữ vịn tay vào chiếc bàn lùn: "Tôi phải xử lý cô..."

Cậu hai Phó ôm Tô Khánh, sau khi gật đầu với Phó Đồng Văn thì đưa cô ấy ra ngoài.

"Mày quay lại!

Phó..."

Lão phu nhân nước mắt đầm đìa, hét to tên anh ta nhưng không có tác dụng, chí có thể trút giận bằng cách đập nắm tay xuống sập thuốc, bà biết, hết cách rồi, không thể kìm chân ai đó nữa rồi.

Bên trong lẫ bên ngoài chỉ còn lại người của Phó Đồng Văn, ngay cả cô hầu chăm sóc lão phu nhân cũng là người của anh.

Hai cô hầu đứng ở cửa, chờ Phó Đồng Văn sai bảo bất cứ lúc nào.

Trong tiếng mưa lớn ngoài cửa sổ, trong căn phòng riêng tĩnh mịch đến rợn người ở nhà hát kịch, bên lò xông vấn vít khói hương và ngọn đèn tường mờ tối, giữa làn khói trắng mỏng manh, mẹ Phó Đồng Văn xõa tung mái tóc bạc trắng, tiếng đập tay xuống sập thuốc đều đặn vang lên như hung thần đòi nợ... khung cảnh này quá âm u đáng sợ.

Thanh âm nặng nề làm Thẩm Hề cảm thấy bí bách.

Cô lặng lẽ nắm tay Phó Đồng Văn, khẽ dời mắt về phìa cửa, thầm ra hiệu cho anh đưa mẹ rời khỏi đây trước.

"Đưa lão phu nhân ra ngoài đi."

Anh lên tiếng.

Đám cô hầu cúi thấp đầu nhanh nhẹn bước vào.

"Mẹ có chuyện muốn nói...

Đồng Văn!"

Lão phu nhân vịn chặt chiếc bàn lùn trên sập thuốc, đôi mắt đỏ au nhìn anh chằm chằm.

Lão phu nhân thở hổn hển, giẫm dôi chân ba tấc đeo tất trắng chưa kịp xỏ giầy lên sàn nhà, muốn tránh khỏi đám người làm.

Hai cô hầu vây quanh bà, nhấc lão phu nhân nhỏ thó lên đưa đi.

Bóng hình màu đen của ba người đan vào nhau, rơi xuống mặt đất.

Người đi càng xa, cái bóng càng thêm dài.

Giây phút bị đưa ra ngoài, lão phu nhân gào khóc ôm chắt lấy cửa: "Đồng Văn!

Mẹ biết trong lòng con vẫn đau đáu về chuyện của nhà họ Thẩm Quảng Châu!

Không phải anh cả con làm đâu!

Là cha con làm..."

Đôi hoa tai gõ vào gò má bà và cánh cửa gỗ, sắc xanh lá cây ở nơi ấy không ngừng lắc lư.

Đám cô hầu ngầm dùng sức nâng lão phu nhân đi.

"Đồng Văn!

Con nghe mẹ nói!

Xin con cho anh cả con đường sống!

Đừng đổ hết tội lên đầu nó..."

"Anh ba..."

Nghe lầm rồi, chắc chắn cô nghe lầm rồi.

Họ Thẩm Quảng Châu?

Bà đang nói đến họ Thẩm Quảng Châu ư?

Trời đất này có mấy nhà họ Thẩm, Quảng Châu thì có mấy nhà họ Thẩm?

Trong nhà hát kịch rộng lớn vang vọng tiếng khóc gào bi thương.

Lão phu nhân vẫn đang giải thích cho cậu cả Phó, bên ngoài cửa, đầu cầu thang, dưới cầu thang....

Thậm chí cả tầng một đều vang lên tên Phó Đồng Văn và vụ thảm án diệt môn nhà họ Thẩm Quảng Châu.

Từng câu từng chữ, xa xa gần gần, chốn chân trời, ngay bên tai.

Tim Thẩm Hề đập thình thịch, nỗi hốt hoảng ập tới làm khung cảnh trước mắt cô hỗn loạn.

Máu cả người như chảy ngược lên, xông mạnh vào đại não.

Gương mặt cô thoắt cái nóng rát đỏ bừng, hoang mang bất lực tìm kiếm nơi có thể bấu víu, nhưng toàn bộ đều một màu trắng xóa.

"Đồng Văn?

Đồng Văn?"

Cô kiếm tìm khuôn mặt Phó Đồng Văn, rõ ràng người đàn ông ấy đang ngồi bên cạnh mình, đang nắm lấy tay mình, nhưng ngay cả gương mặt anh cũng không thấy đâu.

Trong tầm mắt trắng xóa có ánh đèn đỏ sậm lóe lên, là đèn tường, đèn có thể soi rõ mọi thứ, ngoại trừ không phân biệt được nổi mặt mũi anh.

"Đồng Văn, anh nói với em..."

Thẩm Hề lặp đi lặp lại tên anh, "Đồng Văn..."

Anh nói với em sự thật đi, sự thật là gì?

Khung cảnh trước mắt cô đều chuyển thành màu trắng, là màu trắng áo sơmi anh mặc.

Phó Đồng Văn ôm chặt cô trong đôi tay mình, giọng nói đè nén: "Anh nói thật hết với em, một chứ cũng không thiếu.

Đừng nghe bà ấy nói, nghe anh nói thôi!"

Anh muốn ngăn cách cô với lão phu nhân và cả thế giới ở bên ngoài, nhưng không thể làm được.

Anh dùng toàn bộ sức mà mình có ôm chặt lấy Thẩm Hề, chỉ sợ cô xúc động sẽ làm chuyện dại dột.

Vậy là thừa nhận ư?

Anh chưa từng nói dối cô...

Thẩm Hề đột nhiên chẳng còn hơi sức, mệt mỏi ngã vào lòng Phó Đồng Văn, canh càng ôm chặt, cô càng như tấm bèo trôi dạt.

Cô ngỡ rằng mình là người may mắn nhất trong nhà, được tiếp tục sống, được gặp gỡ Phó Đồng Văn.

Cô thầm nhủ mình cần quý trọng sinh mạng được sống lại lần nữa, cô cứ ngỡ mình đã tận mắt nhìn thấy kẻ ác tố cáo gia đình mình chết trong động thuốc phiện.

Ông trời có mắt, thù nhà được trả, cuộc sống mới bắt đầu, ra nước ngoài du học, học y cứu người.

Cô tưởng rằng mình giúp đời cứu người giống cha mẹ, giống các anh, nhất là anh hai.

Tuy nhà họ Thẩm không còn, nhưng cô vẫn còn, cô sẽ thay gia đình mình sống tiếp.

Nhưng những điều ấy đều là ám thị tâm lý mà cô tạo cho mình.

Nhà họ Thẩm là hồi ức không thể chạm đến, cha mẹ anh em chỉ trong một đêm đầu rơi thây vùi, từng gương mặt người nhà, cô đời đời không quên.

Nhà họ Thẩm, nhà họ Phó.

Cô ngỡ rằng nhà họ Phó là ân nhân, nhưng hiện giờ, toàn bộ sự thật đã xoay ngược lại rồi.

Mỗi câu mỗi chữ mẹ Phó Đồng Văn gào khóc đều nhắc rằng, cha anh hại chết cả nhà họ Thẩm...

Phó Đồng Văn bế bổng cô lên, đặt cô lên sập thuốc, tim anh cũng rối bời, toan chuyển chiếc bàn lùn đi, nhưng vừa chạm vào đèn thuốc vẫn chưa châm lửa, lòng bàn tay anh bỗng nhói đau.

Anh không rên một tiếng, quyết đoán lấy chiếc bàn sang một bên.

Anh chưa bao giờ nghĩ sẽ giấu cô cả đời, chờ chuyện của cha và anh cả trôi qua thì chính là cơ hội anh nói rõ sự thật.

Anh cũng không hy vọng có được kết quả viên mãn...

Thẩm Hề níu lấy tay áo sơ mi của anh như người chết đuối chỉ còn anh là tấm gỗ cứu mạng.

Phó Đồng Văn nhìn gương mặt đẫm lệ của cô, dòng nước nóng hổi nơi đáy mắt cũng chực trào, anh đưa đôi tay nâng gương mặt cô lên, van nài cô qua ánh mắt hối hận: "Là nhà họ Phó có lỗi với nhà họ Thẩm, Uyển Ương, anh không cầu xin em độ lượng đến mức nào, chỉ xin em nghe anh nói xong, anh sẽ nói hết tất cả với em..."

Nước mắt tuôn trào, Thẩm Hề nhìn anh với đôi mắt trống rỗng.

Bốn mắt nhìn nhau.

Không có tình ý đậm sâu, anh không nhìn thấy trái tim cô.

Anh sợ bản thân kích động sẽ làm bệnh tim tái phát, anh không sợ chết, chỉ sợ mình chưa kịp nói xong, để rồi trở thành nỗi ân hận suốt đời.

Phó Đồng Văn khẽ thở dài.

Sau giây phút trầm mặc ngắn ngủi, anh ngắc ngứ cất lời, hé lộ đoạn ký ức kia của cô, cũng là cho bản thân.

"Anh và cha em là người quen cũ, là bạn thâm giao, cũng là bạn vong niên."

Anh hạ thấp giọng kể lại: "Năm ấy anh từ Anh về nước, gặp gỡ cha em, Thẩm đại nhân trên tàu, đương nhiên khi đo ông đã từ quan đi buôn bán rồi."

Nhà họ Thẩm, từ đời ông nội Thẩm Hề đã đi trên con đường chống thuốc phiện.

Đáng tiếc thay, vụ tiêu hủy thuốc phiện ở Hổ Môn không thể cứu vãn nổi triều đình nhà Thanh đã mục nát.

Khi cha Thẩm Hề làm quan, bạn đồng liêu đều là "quân tử nghiện ngập", thuốc phiện trở thành công cụ xã giao thông thường, là thứ bắt buộc phải có trong những bữa tiệc quan trường.

Cha cô căm phẫn, bèn từ quan về nhà buôn bán.

(Tại Hổ Môn, một lượng lớn thuốc phiện đã bị tịch thu năm 1839).

Quảng Châu là bên cảng giao dịch buôn bán sớm nhất, các cửa hàng trong Thập Tam Hàng mọc lên như nấm, là thời kỳ tích lũy tài sản tốt nhất, nhà họ Thẩm nhanh chóng phất lên, dù tài sản không sánh bằng bốn gia tộc lớn Phan, Ngũ, Lư, Diệp, nhưng cũng là gia tộc giàu có cắm rể ở Quảng Châu, giẫm chân một cái có thể ảnh hưởng tới trong ngoài thành.

Có điều chí hướng của cha Thẩm Hề không chỉ thế.

"Trước khi ra ngước ngoài anh ủng hộ phái Duy Tân, sau khi về nước, anh muốn làm Trung Quốc thay dổi mà không muốn lật đổ chính phủ nhà Thanh.

Lúc ấy cha em đang theo phái Cách mạng, ông muốn lật đổ hoàn toàn nhà Thanh."

Những con người ôm trong mình hoài bão vào thời đại đó đều có cách nghĩ cứu nước của riêng mình, "Chính kiến của anh và cha em khác nhau, nhưng đều tán thưởng nhau."

Thậm chị vì muốn tiếp tục tranh luận với cha Thẩm Hề về tương lai của Trung Quốc, Phó Đồng Văn quyết định xuống tàu sớm ở Quảng Châu, mua một căn nhà, ở lại đó trong một tháng.

Hai con người cố chấp, một phú thương Quảng Châu gần năm mươi tuổi, một cậu ấm nhà giàu du học về mới ngoài hai mươi, không ai thuyết phục nổi ai, sau cùng đường ai nấy đi.

Nhưng thật ra khi đó, Phó Đồng Văn đã dao động rồi.

Vì từ nhỏ anh sinh ra và lớn lên ở thành Bắc Kinh, là con cháu quý tộc, công tử thế gia, không giống cha Thẩm Hề sinh ra và lớn lên ở nơi mở cửa với bên ngoài sớm nhất.

Để anh đi theo con đường lật đổ triều đình nhà Thanh còn cần nhiều thời gian và trải nghiệm hơn nữa.

"Năm Quang Tự thứ hai mươi chín, cha em bất ngờ đến kinh, hẹn gặp mặt anh.

Ông giao cho anh một danh sách, trên ấy có ba trăm bảy mươi bảy người, ông hy vọng anh giúp những người này tránh nạn, đưa ra nước ngoài, đây là những anh chị em đi theo ông làm cách mạng."

Phó Đồng Văn nhớ lại ngày đó, giọng nói rất nhỏ, như sợ có kẻ gian nghe trộm, "Ông nói rằng, ông sắp phải chét rồi, tự mình vạch trần mình, ông uốn tập trung sự chú ý của quan viên nhà Thanh đang điều tra Đảng Cach mạng lên người mình, tranh thủ thời gian đưa những người này chạy trốn.

Khi ấy bên cạnh cha em không có một ai đáng tin, ông tin rằng anh chắc chắn sẽ giúp."

Trái tim Thẩm Hề đập nặng nề.

Cha là người ít nói, chỉ khi ở bên mẹ mới như một đứa trẻ, nói không ngừng miệng, kể về những chuyện mới lạ, kể cả chuyện cười.

Lúc ấy cô còn bé, không biết cách mạng là gì.

Nhưng có lẽ dù cô đã trưởng thành, cha cũng không bao giờ tiết lộ bí mật này cho cô...

"Anh hỏi ông, trong này có con em nhà họ Thẩm không, anh có thể sắp xếp cho họ, ông trả lời không có.

Anh cảm thấy kì lạ, chẳng lẽ con cháu nhà họ Thẩm đều không tham gia vào chuyện này ?

Cha em trả lời rằng, có mười mấy người tham gia, có anh trai ruột, anh họ bên nội và bên ngoại nhà em..."

Giộn Phó Đồng Văn bắt đầu gấp gáp hơn, dù dã trải qua bao nhiêu năm, nhưng khi nhớ đến đây anh vẫn không cách nào bình tĩnh được, "Cha em nói, những người mang họ Thẩm không thể chạy trốn, chạy trốn sẽ tạo thành tiếng đồn, vì nhà họ Thẩm... nhà lớn nghiệp lớn."

Môi Thẩm Hề khẽ gấp gáp, hít thở đầy khó nhọc.

Như hít tất cả hương khói trong lương hương vào trong phổi, lồng ngực đau nhói.

Phó Đồng Văn kể tiếp: " Sau đó anh mượn đường làm ăn đưa họ đến Nhật Bản, thậm chí xa hơn nữa là Châu Âu.

Cha em và mười mấy con em nhà họ Thẩm bị giam vào đại ngục.

Đêm gặp mặt, anh và ông ấy đã đoán được kết quả xấu nhất, con cháu Thẩm gia tham gia cách mạng đều bị phán tử hình cùng ông."

"Khi đấy..."

Anh ngừng lại rất lâu mới tiếp tục, :Cha anh và anh cả phụ trách vụ này, tổ tiên nhà họ Thẩm có công, ba đời làm quan, vốn không bị xử trảm cả nhà, nhưng cha và anh cả anh muốn lập công, muốn nhân chuyện này tra xét tịch thu tài sản nhà họ Thẩm..."

Tài sản nhà họ Thẩm rất đồ sộ, họ nhân cơ hội này để tịch thu, năm đó vô số quan địa phương giàu lên nhanh chóng.

Cuối cùng vẫn là thỏi đầy thuốc phiện, mạng người và tài sản họ Thẩm hóa thành hư ảo trong cuộc sống suốt mấy ngậm sương.

Tháng Giêng năm Quang Tự thứ ba mươi, đầu của ba trăm bảy mươi mốt người nhà họ Thẩm rơi xuống đất.

Cùng năm đó, Phó Đồng Văn đưa ba trăm bảy mươi bảy thanh niên cách mạng ra nước ngoài.

Khi ấy anh biết rõ cha và anh cả hại họ Thẩm cửa nát nhà tan mà không thể nhúng tay vào vụ án ở Quảng Châu, vì chuyện người bạn cũ gửi gắm, anh phải hoàn thành, tuyệt đối không để xảy ra sai sót.
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 59: Chớ quên ba đường khổ 4


Anh trầm mặc trong ít phút mới tiếp tục: "Cuối cùng anh vẫn không đành lòng, không cam tâm, không muốn nhà họ Thẩm không còn một ai.

Trước khi soát nhà, anh nhờ Đồng Quyến tìm người đút tiền làm rõ vụ án, nhưng bị anh cả phát hiện, đành phải phó mặc cho trời."

Sau này Phó Đồng Văn nhớ lại, lý do cha nghi ngờ anh tham gia cách mạng chắc chắn có liên quan tới chuyện này.

Mẹ biết nhà họ Thẩm là khúc mắc trong lòng anh có lẽ bắt đầu từ lúc anh chạy vạy đút lót ấy.

"Cha em cũng từng nghi ngờ anh hai em tham gia cách mạng, nhưng anh hai em không thừa nhận.

Cha em nói, nếu mười mấy con cháu nhà họ Thẩm và ông đều chết, hy vọng anh có thể gặp mặt anh hai em.

Anh luôn đau đáu lười ông dặn nên trước giờ hành hình, anh sai người đi cứu anh ấy."

Anh nhớ lại tình cảnh khi đó: "Cuối cùng vẫn thất bại, may thay bọn họ không bắt đưa em về."

Không, chắc chắn không phải là bất ngờ...

Anh hai...

Bỗng nhiên Thẩm Hề vỡ lẽ ra sự thật.

Tại sao anh hai lại là người đưa cô đi, tại sao anh biết tất cả chân tướng, nhưng vẫn mỉm cười nhắn nhủ cô ơhair quên nhà họ Thẩm mới giữ được mạng.

Trong đêm hôm ấy, anh hai lặng lẽ bế cô ra khỏi phòng ngủ, lánh mặt bà vú và cô hầu, lánh mặt người trong nhà, anh muốn trao cơ hội sống duy nhất cho cô...

Dưới ánh trăng, tiếng bước chân của anh hai trong vườn hoa sau nhà vẫn văng vắng bên tai, lúc đi qua những viện ấy, phải chăn anh đã rất đau đớn vì không thể cứu tất cả các em?

Anh bước đi gấp gáp, bước chân loạng choạng, mấy lần suýt vấp ngã.

Anh hai là cậu ấm trong nhà, bình thường bảnh bao tuấn tú, có bao giờ nhếch nhác thế này đâu?

Đó là anh hai từng bế cô bé sáu tuổi vào lòng, mạnh miệng tuyên bố sẽ mua sạch nữa thành Quảng Châu tặng cô làm của hồi môn.

Anh giẫm trên con đường rải đá cuội rêu xanh, đuổi theo con đường sống cuối cùng.

Ánh trăng rực rỡ như gấm vó trai bước chân, cô vẫn nhớ, trước lúc sắp lên xe ngựa mình đã cúi đầu nhìn thấy bùn đất dính trên giày anh hai, gấu quần cũng lấm lem...

Anh hai nói với cô về nghĩa lớn, về tương lại, về con người phải trước, cô câu hiểu câu chăng, chỉ biết mình phải chạy trốn.

Giây phút sắp chia tay.

Anh muốn để lại thứ gì đó cho cô, có điều lục khắp người cũng không tìm đâu ra một miếng ngọc bội hay một chiếc nhẫn ra hồn.

Người xưa khi sinh ly tử biệt rất chú trọng những đồ vật ấy, nhưng anh không có thói quen mang theo, ngay cả cây bút máy cũng không có, bút máy giắt trên túi áo vest, anh sợ bị đám người làm nhìn thấy nên nửa đêm ra ngoài không khoác thêm áo, chỉ mặc sơ mi và quần âu.

Sau đó, có lẽ cảm thấy xấu hổ vì sự luống cuống của mình và nuối tiếc cuộc chia ly không hẹn ngày gặp lại này, anh hai nắm chặt tay cô, liên tục chà xát làm ấm đôi tay ấy: "Anh hai không có gì tặng em, Ương Ương, sau này dù ở đâu, làm gì, dù sống hay chết đều phải mang tư thế người Thẩm gia."

Chà mãi mà tay cô vẫn không ấm lên, không kịp nữa rồi, "Bắc Kinh lạnh lắm, không giống như Quảng Châu đâu."

Đó là lời cuối cùng anh hai nói với cô, nơi thành Bắc Kinh lạnh hơn Quảng Châu rất nhiều.

Nhưng anh sẽ không bao giờ biết cô em gái nhỏ của mình long đong chạy trôn mất nửa năm trời, khi đến kinh đã là tháng Sáu.

...

Nước mắt Thẩm Hề tràn mi, tiếng nức nở nghẹn ở cổ họng, cô bỗng giơ tay lên che kín đôi mắt.

Cô dần dần không thở nổi, nắm chặt vạt trước chiếc váy, hơi thở dồn dập, cổ họng và khí quản như bị thứ gì đó chặn ngang, dưỡng khí không vào được, không thể thốt nổi một từ.

Phó Đồng Văn nhận ra cả người cô đang run rẩy, anh nắm đôi tay cô, cảm thấy nóng ran: "Em khó chịu ở đâu ư?"

Thẩm Hề khàn giọng, thì thầm cầu xin: "Đừng ngừng..."

Nỗi bi ai của cô bị phóng đại vô hạn dưới ánh đèn, trước con mắt người khác.

Phó Đồng Văn nhìn Thẩm Hề suy sụp như thế, làm sao không cảm thấy đau lòng, thậm chí anh còn thấy may mắn khi cô vẫn không từ chối cái nắm tay của anh.

Với cô, anh vẫn là một người đáng tin, dù anh đã giấu chuyện của gia đình cô lâu đến vậy.

Anh đưa tay lau nước mắt cho cô: "Khi em vào kinh, Đồng Quyến vừa qua đời.

Vì chuyện Đồng Quyến dùng tiền lo lót nên cha và anh cả đã nghi ngờ anh, lúc ấy anh không thể đưa em đi, bởi vậy đành phải nuôi em trong động thuốc phiện, coi em như cô gái mình nuôi từ nhỏ, làm thế mới không có ai nghi ngờ thân phận của em."

Anh kể tiếp: "Hồi đấy nhà họ Phó đang lúc hưng thịnh nhất, anh không muốn để em biết sự thật về hận thù gia đình mình, chỉ dựa vào sức của một mình em, ngoài cái chết đang chờ sẵn thì chẳng làm được gì cả.

Nhưng chỉ cần anh còn sống, anh sẽ đảm bảo tương lai của em như gấm như hoa, sau này bình an một đời."

Thì ra câu nói của cậu ba trong xe hơi ngoài cửa động thuốc phiện không phải là suy nghĩ nông nổi.

Anh kiên định: "Tôi có thể bảo vệ cô ấy đêm nay thì có thể bảo vệ cô ấy cả đời."

Cô nghĩ sai rồi, sai hết cả rồi.

Câu nói ấy không tỏ rõ sự mạnh mẽ của anh hùng thời đại cũ, cũng không phải là lời dự đoán chắc chắn, mà là bí mật anh đè nén trong lòng bao nhiêu năm nay.

"Em sẽ sống bình an cả đời, lấy một người đàn ông bình thường giàu có rồi sinh con, anh sẽ trả hết tài sản nhà họ Thẩm cho em."

Giọng Phó Đồng Văn rất nhỏ, "Uyển Ương, trước đây anh nói với em, anh từng để tang ba năm theo lễ cha con, chính là vì cha em.

Nhà họ Thẩm không thể diệt vong, anh cũng sẽ không để nhà họ Thẩm diệt vong.

Từ lúc bắt đầu để tang cho cha em, anh đã mang họ Thẩm rồi, sau này con cháu của anh cũng theo họ Thẩm, kéo dài máu mủ Thẩm gia Quảng Châu, viết tiếp gia phả Thẩm gia Quảng Châu.

Ba năm sau mãn tang, anh mới đi điều tra thân phận tên tuổi của em, thuộc chi nào trong nhà họ Thẩm, mẹ đẻ là ai?

Thẩm Uyển Ương, Uyển tại thủy trung ương..."

Khi kể đến đây, vụ án cũ của nhà họ Thẩm Quảng Châu đã kết thúc.

Chỉ còn lại chuyện giữa Thẩm Uyển Ương và Phó Đồng Văn.

Hết ba năm để tang, anh cầm mấy bức hình đen trắng của Thẩm gia, trong đó có một tấm ở phía sau ghi: "Uyển Ương, Uyển tại thủy trung ương."

Cô bé trong tấm hình mới mười tuổi, mặc áo dài kiểu cũ, trên cổ choàng chiếc đuôi cáo nhỏ xinh, để búi tóc thiếu nữ cuối thời Thanh, trong tay cầm chiếc quạt xếp, kinh ngạc nhìn vào ống kính.

Dù nét mặt đoan trang như bông hoa mẫu đơn mới hé, nhưng ánh mắt ấy đã bán đứng cô bé.

Phó Đồng Văn đoán thợ chụp ảnh người Tây khi đốt bột huỳnh quang đã làm cô sợ, vì vậy mới có tấm hình hoảng hốt ngạc nhiên này.

Anh coi cô như em gái, không hề có ý định gặp mặt.

Anh hy vọng vĩnh viễn cô không biết đến nhà họ Phó, không quen biết người nhà họ Phó.

Nếu không có vụ án mạng trong động thuốc phiện, anh sẽ không xuất hiện và đưa cô đi.

Vì sợ có người tiết lộ thân phận cô là con gái Thẩm gia, tất cả những ai từng tiếp xúc với cô đều được anh sắp xếp ổn thỏa đưa khỏi Bắc Kinh.

Ở nhà họ Phó, anh không muốn qua lại với cô quá nhiều, sau này đưa cô tới New York vẫn nhắn rằng "không nên gặp lại".

Nhưng về sau, duyên phận lại cho chúng ta gặp nhau.

"Hai năm trước, khi để em đi, giữa anh và tiểu thư nhà họ Cô đã không còn quan hệ gì, lúc đó anh và cô ấy đã ngầm giao ước, chờ đến khi cô ấy chọn được người chồng tâm đầu ý hợp, hôn ước sẽ tự động hủy bỏ."

Anh nói, "Lúc bấy giờ thế lực của cha và anh cả như mặt trời giữa trưa, mỗi hành động của anh bị hạn hẹp gò bó, sống chết không do mình quyết định.

Cậu ba Phó khi ấy không thể, cũng không dám để em ở bên mình, nguyên nhân chính là thế.

Uyển Ương, em là huyết mạch cuối cùng mà nhà họ Thẩm để lại, Đồng Văn có thể chết, nhưng em không thể."

Sau khi anh bị giam lỏng, điều may mắn nhất là Thẩm Hề đang ở Thượng Hải, có điều không ngờ cô lại một thân một mình lên Bắc Kinh, mạo hiểm đi tìm anh.

Viên Thế Khải đăng cơ, khi cha và anh cả đắc chí nhất, từng giờ từng phút anh đều nơm nớp lo lắng nếu anh cả tàn nhẫn xuống tay thì Thẩm Hề sẽ ra sao đây?

Phó Đồng Văn quen làm việc sát phạt quyết đoán, lại có chút dao động với câu hỏi nên để cô đi hay ở, vừa không nỡ để cô đi vì sợ đời này khó gặp lại, cũng sợ cô lang thang nghèo khổ trong thời loạn lạc, không giữ được tính mạng; vừa muốn dằn lòng cắt bỏ, loạn lạc dù gì vẫn an toàn hơn nhà họ Phó, nếu anh chết, chắc chắn cô cũng chỉ còn con đường chết.

Hai chữ "cắt bỏ", nói nghe thì dễ, dễ khi vung tay "cắt", nhưng "bỏ" trong tim mới là khó."

Phó Đồng Văn không kể tiếp nữa.

Đêm dài đằng đẵng, mưa không ngừng rơi, trong Từ Viên náo nhiệt nhất bên Thượng Hải, ngoài tiếng mưa rơi rào rào không còn bất cứ thanh âm nào khác.

Làn khói trắng tỏa ra từ lò xông hương bị gió thổi tạt, bóng đen hắt trên bức tường vừa lên cao, lan tỏa rồi tan biến.

Hai người nhìn nhau chăm chú, như người trong tranh không một hơi thở, yên tĩnh như tờ.

Không biết đã qua bao lâu, có đầy tớ đứng ngoài cửa gọi, Phó Đồng Văn liền rời khỏi phòng.

Thẩm Hề loáng thoáng nghe thấy tiếng trao đổi của anh, với ông chủ Từ Viên, anh nói sức khỏe phu nhân không tốt, muốn bao trọn cả viên đến đêm mai.

Cô hầu nhanh chóng mang chăn đệm tới, dìu Thẩm Hề sang một bên, trải đệm lên sập thuốc thất bình1 làm bằng gỗ lim khảm gỗ nu, biến nó thành giường ngủ.

Phó Đồng Văn biết lúc này cô chẳng còn hơi sức nên để phòng riêng thượng hạng ở Từ Viên thành noãn các ở nhà họ Phó.

1Một kiểu giường ghế phổ biến thời Thanh, lưng ghế và tay vịn do 7 tấm vách dỗ ghép thành nên được gọi là "thất bình."

Cô kiệt sức không ngồi nổi nữa, bèn nằm lên sập thuốc.

Mưa rơi bên cửa sổ hắt vào sàn nhà, tích tụ thành một vũng nước nhỏ.

Hai cô hầu chần chừ giây lát, sợ làm ồn nên không dám đi lau.

Lo gió lạnh thổi vào sập thuốc khiến Thẩm Hề đổ bệnh, cô hầu liền tháo móc đồng của cửa sổ ra, đóng cửa lại.

Then cửa sổ chạm hoa dựng đứng, một tiếng "lách cách" khẽ vang.

Ký ức cuối cùng của Thẩm Hề khi còn tỉnh táo dừng lại ở cảnh tượng đó.

Cô cuộn tròn người trong chăn bông, mùi thuốc phiện trong phòng do khách khứa trước đây để lại xua mãi không tan.

Nước mắt tuôn rơi nửa canh giờ, ngừng nửa canh giờ, ánh sáng đo đỏ của đèn tường chiếu thẳng lên mí mắt cô.

Cô muốn gọi người tắt đèn hộ, nhưng nói không thành tiếng, cổ họng nóng như lửa đốt, cơ thể cũng không khác là bao.

Tình trước nợ cũ được lôi ra khỏi hố lửa địa ngục, thiêu đốt người cô.

Đến hơn nửa đêm, ánh sáng trong phòng không còn, cô sốt mơ màng, giây phút đèn tắt còn ngỡ rằng đã cháy xong, cô trở mình suýt nữa thì rơi xuống đất.

Trời chưa sáng, bác sĩ đã tới, hình như là người cô quen, là bác sĩ trong bệnh viện Tây y.

Có người đút cho cô uống viên thuốc hạ sốt, có người giúp cô cởi chiếc váy dài lau sơ qua chân tay, chờ cô đổ mồ hôi xong thì lại thay bộ quần áo sạch khác.

Từng lớp, từng lớp mồ hôi không ngừng tuôn ra.

Thẩm Hề rất ít khi đổ bệnh, nhưng bệnh đến thì như núi đổ, trời sáng hạ sốt, xế chiều sốt trở lại.

Trong cơn nửa mê nửa tỉnh, lời của Phó Đồng Văn đêm qua quanh quẩn trong đầu, lặp đi lặp lại.

Còn rất nhiều điều anh chưa nói, cô vẫn có thể đoán ra.

Cô vẫn nhớ rất rõ tranh chấp giữa hai cha con trong bệnh viện về tài sản nhà họ Phó trước khi cha anh qua đời, dù anh là đứa con bất hiếu, dù anh quyết định cưới con gái nhà họ Thẩm, dù Phó Đồng Văn tuyệt tình hơn nữa cũng không thể thoát khỏi ký ức trưởng thành và thân phận con cháu Phó gia đi theo anh hơn nửa đời người.

Anh sợ cô báo thù Phó lão gia, anh sợ cô sẽ giết cha mình, cũng sợ cha sẽ giết cô.

Ngay cả bản thân Thẩm Hề cũng không thể tưởng tượng nổi, nếu biết sự thật trước khi cha anh qua đời thì cô sẽ lựa chọn thế nào, sẽ giết người báo thù?

Trở thành kẻ thù giết cha của Phó Đồng Văn ư?

....

Đêm hôm sau, cô lại sốt cao, trong lúc mơ màng, cô nhìn thấy người lấy cái chết để đổi sự sống cho cô.

Trong mơ, anh hai đưa cô lên sông Châu Giang tìm thuyền bán cháo hải sản, chỉ một câu "tuyệt quá" của cô mà làm anh vui vẻ bao cháo cả ngày hôm sau cho ngư dân qua lại.

Trong mơ, trên mặt sông Châu Giang có đua thuyền rồng, anh hai bảo cô nhìn ra xa, là tàu chạy bằng hơi nước của người phương Tây, anh nói cha sắp về rồi, từ châu Ân trở về.

Trong mơ còn có bến sông "ngỗng vịt", nhóm công nhân Thẩm gia đang khuân vác hàng hóa, cô tò mò đứng nhìn, thấy trong góc bến sông, trước một sạp cạo đầu, có cậu bé mười tuổi đang cạo đầu cho người khác, anh hai là "anh Tây rởm", không còn để bím tóc từ lâu, vậy mà vẫn phải giả bộ làm khách cạo tóc một lần chỉ để làm hài lòng nguyện vọng của cô bé muốn nhìn cho rõ.

Phía sau nhà có vườn hoa, cũng có vườn cây cảnh, lối đi trong vườn như mê cung, bức tường bao quanh cao gần nửa người, trên tường đặt những chậu cây cảnh đủ kiểu dáng, anh hai và một vị tiểu thư lần đầu gặp gỡ, cô trốn phía xa lén lút đi theo họ, bị anh hai đang chắp tay sau lưng đi phát hiện, anh nhặt một viên đá cuội trong chậu cây ném tới.

Viên đá rơi xuống chân cô, cô giật mình hét lên, vị tiểu thư kia cũng hét lên, người hầu trong vườn đều xáo xác vây xung quanh hai cô tiểu thư lớn nhỏ, chỉ mình anh hai cười sảng khoái.

...

Tay Thẩm Hề trượt khỏi mép giường, làm cô choàng tỉnh giấc.

Cô mơ màng nhìn ngọn đèn chưa bật, nhớ lại mình đang ở nơi nào.

Xương cốt như bị người ta dùng dao cắt làm đôi rồi lại được nối vào, chỉ hơi cử động liền đau nhói, ngày cả tư thế nằm cũng rất kỳ lạ.

Cô muốn uống nước, trên chiếc bàn lùn trước mặt đặt một ấm trà và một tách trà lẻ loi, thoạt nhìn là biết được chuẩn bị cho cô.

Thẩm Hề khó khăn bò dậy trở người ngồi bên mép sập, mở nắp tách ra rồi bưng lên uống một hớp.

Còn ấm, vẫn chưa nguội ngắt.

Cô nâng tách trà, vẫn đắm chìm trong giấc mơ cũ.

Anh hai biết tất cả, trước khi tiễn cô đi còn dặn dò chuyện lớn chuyện nhỏ sau này, chỉ không nhắc đến kẻ thù nhà họ Thẩm là ai.

Ngay cả anh cũng không muốn cô sống vì mục đích trả thù.

Cô hoảng hốt, tựa như đang khuyên bản thân mình buông bỏ.

Đến ngày hôm nay, Phó lão gia và cậu cả Phó, một người đã qua đời, một người sống chết không rõ, những gì có thể làm anh đều đã làm.

Phó Đồng Văn đã sai ở đâu?

Sai khi anh sinh ra trong nhà họ Phó ư?

Như cậu tư, cậu năm, họ đã sai ở đâu?

Nhưng người nhà họ Thẩm thì sao, ai đã sai...

Món nợ mạng người, món nợ sống chết không buông tha cho cô.

Trong gian phòng trống trải yên tĩnh, cô ngồi lặng từ lúc trời sắp sáng đến khi mặt trời lên cao.

Vì đêm qua mưa đã tạnh, cửa sổ mở hé, ánh nắng rọi qua cửa sổ trượt xuống sàn nhà.

Trong ánh nắng hình cánh quạt có vết nước mưa đêm qua hắt vào vừa mới khô, dấu nước vẫn còn đó.

Thẩm Hề sợ cánh cửa kia mở ra, sợ anh sẽ hỏi cô nên làm thế nào đây.

Cô không biết nữa.

Dưới khe cửa có thể nhìn thấy tia nắng lọt vào.

Cô nhìn mãi nhìn mãi, khóe mắt chợt cay xè, khẽ nhắm mắt thì nghe thấy tiếng bước chân đi đi lại lại.

"Cậu ba!"

Tiếng hét sợ hãi bỗng nhiên chui vào tai.

Sau đó là tiếng bước chân gấp gáp lộn xộn.

Bệnh tim của anh tái phát ư?

Thẩm Hề hốt hoảng đứng bật dậy, bàn chân đụng phải chiếc bàn lùn làm ấm trà và tách trà ngã lăn.

Cô mặc kệ hết thảy ném cả tách trà xuống, chạy tới đẩy mạnh cánh cửa ra.

Ánh nắng bên ngoài chói chang làm mắt cô không mở nổi, đôi chân bủn rủn, cô chạy được mấy bước thì nhìn thấy bóng lưng anh, trong thoáng chốc liền lao tới: "Anh đau ư?

Thuốc đâu?

Ở đâu rồi?"

Dưới ánh mặt trời rực rỡ, Phó Đồng Văn nhìn tiều tụy hẳn đi sau một ngày hai đêm chăm sóc cô, nhưng anh vẫn đứng vững, không hề mang dáng vẻ bệnh tim tái phát, chỉ có điều ho liên tục.

Từ đêm qua anh đã bắt đầu ho, sợ làm cô tình giấc nên mới ra đầu cầu thang ngoài cửa ngồi.

Thất thần ngồi quá lâu, khi đứng dậy thì trước mắt tối sầm, suýt nữa ngã nhào xuống.

Không ngờ Thẩm Hề đã tỉnh lại, còn nghe thấy tiếng động bên ngoài.

Anh cúi đầu nhìn đôi mắt sưng húp của cô, nhìn nước mắt và sự lo lắng không hề che giấu như trước đây, bao nhiêu câu từ muốn nói bất chợt mất hết.

Sống sót sau hoạn nạn là thế nào, chính là thế này.

"Thuốc đâu?

Anh mau nói đi."

Thẩm Hề lật đật tìm hết túi áo túi quần trên người anh, hoàn toàn không còn khả năng phán đoán.

Hơi nước làm đôi mắt nhòa đi, cô không tìm thấy.

Nỗi sợ hãi khiến đôi tay không ngừng run rẩy, cho đến khi anh ôm cô vào lòng, cô vẫn đang tưởng rằng bệnh tim của anh tái phát.

Phó Đồng Văn ấn đầu cô vào ngực mình nơi vị trí trái tim, cất giọng nói trầm khàn: "Anh không sao, Ương Ương, anh ba không sao, Ương Ương..."

Cằm anh đặt lên đỉnh đầu cô, nhẹ nhàng cọ lên mái tóc cô.

Một ngày hai đêm qua, anh sợ phải đẩy cánh cửa này, càng sợ cô đẩy nó ra.

Anh sợ cô khỏi bệnh rồi, suy nghĩ kỹ càng rồi, sẽ nói rằng duyên vợ chồng của chúng ta đến đây là đứt.

Thẩm Hề khóc nghẹn ngào, nước mắt làm ướt vạt áo sơ mi của anh.

Phó Đồng Văn ôm cô, vỗ về cô, thỉnh thoảng kiềm chế ho mấy tiếng.

Anh đứng thẳng hướng Đông, anh nắng buổi sáng chói chang làm anh khó chịu.

Mái tóc đen ngắn bù xù, áo sơ mi nhắn nhúm, dưới cằm còn lún phún râu xanh, tất cả đều lộ rõ dưới ánh mặt trời.

Thấy tiếng khóc của cô yếu dần, anh cọ gương mặt mình lên mái tóc trên đỉnh đầu cô, cười bông đùa: "Cơ thể này của anh ba, thêm hai năm nữa cũng hết hạn rồi."

Tim Thẩm Hề run rẩy, cô đẩy anh ra, lườm anh đầy giận dữ.

Ngược lại anh nở nụ cười, hai tay nâng gương mặt cô lên, lau nước mắt cho cô, rồi vén những sợi tóc dính bên má ra sau tai.

Cuối cùng anh dùng lòng bàn tay lau mồ hôi trên trán cô, nhìn thẳng vào đôi mắt kia, như đang nhìn thấy tấm hình đen trắng ấy.

"Đừng đi nữa, anh ba không nỡ."

Anh rì rầm.

Ánh nắng chói chang như hút cạn nước mắt nửa đời sau, đôi mắt Thẩm Hề rưng rưng, vì khóc quá nhiều nên hai vành mắt đều khô rát.

"Sao lại khóc nữa rồi?"

Anh mỉm cười, im lặng giấy lát rồi nói tiếp: "Không nỡ thật đấy."

Chính là lời anh muốn nói sau khi châm đốt dây pháo ba trăm quả trên nền tuyết trong ngõ Yên Chi ngày xưa.
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 60: Chớ quên ba đường khổ 5


Từng tia nắng rơi trên làn da, thấm vào mạch máu, trào dâng trong lục phủ ngũ tạng của cô.

Thẩm Hề bắt chước Phó Đồng Văn gạt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán anh ra.

Cô phát hiện giữa các ngón tay mình có sợi tóc bạc, lấp ló ẩn hiện, chưa thấy bao giờ.

Thời gian giục giã thiếu niên già, tóc mai chớm bạc trong sớm hôm...

Cô thất thần nhìn sợi tóc bạc của anh, anh chưa nhận ra, vẫn đang chờ đợi câu trả lời của cô.

Bất chợt Thẩm Hề cúi đầu, nơi đây có thế nhìn thấy sảnh kịch dưới tầng, vốn định mượn cớ này để che giấu, vậy mà giọt nước mắt đã đậu xuống giày anh.

Phó Đồng Văn muốn lau nước mắt cho cô, nhưng cô ngoảnh mặt tránh.

"Em không đi..."

Vừa dứt lời lại nói tiếp: "Trước đây em nói rồi, dù anh đuổi em đi, em cũng không đi.

Lỗi lầm chồng chất cũng không phải là lỗi của anh.

Nếu như cha em còn sống..."

Nhắc đến cha, Thẩm Hề không thể nào tiếp tục được.

Lồng ngực bí bách, cô lắc đầu quầy quậy: "Nhà họ Thẩm không có kẻ khờ, anh ba, em không hồ đồ."

Chỉ là cô bị đè nặng bởi quá khứ của Thẩm gia thôi.

Phó Đồng Văn nhìn cô.

Từ lúc Thẩm Hề nhào vào lòng anh vừa khóc vừa tìm thuốc, anh biết cô sẽ không bỏ đi.

Nhưng trong lòng anh có nỗi hổ thẹn, không thể ép cô ở lại, càng không thể nài nỉ.

Hai người nhìn nhau, như mỗi lần trước đây, bốn mắt không hề né tránh.

"Có gì chúng ta về nhà hẳn nói, nếu không anh Đàm lại rầy rà."

Thẩm Hề không muốn để anh biết mình đã nhìn thấy ánh lệ trong mắt anh, cô vờ như nhìn sảnh kịch dưới tầng, bồi thêm câu: "Vạn An phiền phức lắm."

Rất lâu sau cô mới nghe thấy tiếng anh: "Được, về nhà thôi."

Chúng ta về nhà thôi.

Ngôi nhà nhỏ trong phố Lễ Hòa đường Hà Phi chính là nhà của họ.

Nơi ấy có ba người thân thiết không cùng máu mủ ruột rà đang chờ đợi họ.

Tầng hai nơi ấy là phòng ngủ của họ, cách bài trí, sắp xếp, ngay cả màn giường cũng giống y hệt noãn các trong căn nhà cũ Phó gia.

Chỉ khác là dưới mái nhà có thêm tổ chim én.

Phó Đồng Văn sai người chuẩn bị xe.

Từ Viên có quy định xe hơi không được vào, nhưng cần nhắc phu nhân cậu ba Phó vừa mới đổ bệnh nặng nên phá lệ một lần.

Từ lúc xuống tầng cho đến khi ngồi vào hàng ghế sau, xe rời khỏi Từ Viên, Thẩm Hề không hé một lời.

Xe đến đầu ngõ, Thẩm Hề vừa xuống xe liền thấy Virtue cười tươi rói rồi nhảy xuống khỏi chiếc ghế nhỏ, dùng tiếng Trung mới học bập bẹ: "Anh chị về rồi!"

Một tay cô ấy cầm cọng hành lá vẫn chưa bóc sạch, tay kia mừng rỡ vẫy vẫy Thẩm Hề, "Về nhà nào, về nhà nào."

Hóa ra trước khi đi, Phó Đồng Văn đã bảo người gọi một cú điện thoại về nhà.

Đàm Khánh Hạng lập tức chuẩn bị cơm trưa, nhiệm vụ bóc vỏ hành được giao cho Virtue.

Dù cô nhóc không biết hai ngày nay Phó Đồng Văn đi đâu, làm gì, nhưng thấy sắc mặt Đàm Khánh Hạng nặng nề, cả ngày chỉ ngồi trên ban công là biết ngay có chuyện lớn xảy ra rồi.

Bởi vậy nghe nói hai người Thẩm Hề về, Virtue còn vui vẻ hơn cả Đàm Khánh Hạng, nhấp nhổm ngồi trong nhà không xong bèn bê ghế đến đầu ngõ, vừa bóc hành vừa chờ họ.

Virtue cuốn tờ báo đựng rác lại, ôm cả ghế và hành chạy đầu tiên.

Khi Thẩm Hề và Phó Đồng Văn vào nhà, Đàm Khánh Hạng đã lau sạch tay, đích thân ra đón họ.

Anh ta có hàng trăm lời muốn nói, nhìn hai người chăm chú, cuối cùng ánh mắt rời sang khuôn mặt Thẩm Hề: "Tôi cứ sợ..."

Sợ cô đi thật.

Rồi anh ta chợt cười thoải mái: "Tốt!

Như thế này là tốt nhất, tốt nhất rồi!"

Thẩm Hề là tâm bệnh của Phó Đồng Văn, chẳng lẽ không phải là tâm bệnh của Đàm Khánh Hạng ư?

Từ lúc ở trên tàu phát hiện hai người có tình cảm, anh ta luôn nơm nớp lo sợ đến ngày này, hối ấy anh ta không hiểu Thẩm Hề, sợ cô sẽ giận cá chém thớt, sợ cô muốn báo thù mà phá hỏng sự nghiệp cách mạng và sắp xếp của Phó Đồng Văn trong nhiều năm qua.

Sau này thân thiết với Thẩm Hề hơn, trở thành bạn bè của nhau rồi, anh ta càng sợ cô biết được sự thật vì nó quá tàn nhẫn, đối mặt với kẻ thù của mình, còn là cha và anh ruột của người mình yêu, liệu phải làm thế nào để vẹn cả đôi đường?

Lúc này đây là ông trời ban phước.

Cơ hội tốt nhất, cũng gặt hái được kết quả đẹp nhất.

Đàm Khánh Hạng nở nụ cười, Virtue cười tươi rói, Vạn An cũng cười rạng rỡ.

Thẩm Hề đã khóc mấy ngày nay, giây phút nhìn thấy ba gương mặt hân hoan, phản ứng của cô cũng chậm đi ít nhiều, nhưng nhanh chóng mỉm cười đáp lại.

"Hai người lên tầng đi, mau đi tắm rửa nào."

Đàm Khánh Hạng dặn dò Vạn An, "Đừng cười nữa, chăm sóc cậu ba và mợ ba đi, còn muốn nhận lương nữa không hả?"

Trong tiếng thúc giục của Đàm Khánh Hạng, Thẩm Hề theo anh về phòng ngủ.

Sau khi đóng cửa lại, Phó Đồng Văn mở ngăn kéo thứ hai của bàn sách ra, bên trong xếp một chồng thư.

Dù ở nhà họ Phó ngày trước hay trong căn nhà này đều có thể bắt gặp những chồng thư được buộc gọn gàng ở bất cứ chỗ nào.

Thẩm Hề từng tò mò lật xem một vài bức thư trong phòng sách nhà họ Phó, tất cả đều là thư của những học sinh được anh giúp đỡ, cô cũng đã thấy những bức thư do Cô Ấu Vi viết trong căn nhà này, bởi vậy khi nhìn xấp thư cô không còn quá lạ lẫm.

Nhưng phong thư anh vừa lấy ra là...

"Đây là thư qua lại của cha em và anh."

Anh nói.

Phó Đồng Văn muốn cởi ra, nhưng dây thừng buộc trong mười mấy năm đã thành nút chết từ lâu.

Thẩm Hề nhìn đăm đăm những con chữ trên phong thư, sau mấy giây thất thần, cô cầm con dao rọc giấy đưa cho anh.

Phó Đồng Văn đón lấy con dao, cắt đứt dây buộc, mở bức thư đặt trên cùng ra, đặt bốn tấm hình bên trong lên bàn.

Tấm thứ nhất chụp cô vào ngày sinh nhật mười tuổi.

Tấm thứ hai và tấm thứ ba không có cô, trong tấm thứ tư có rất nhiều thanh niên trẻ tuổi, đều là con trai cùng một thế hệ trong nhà họ Thẩm.

Ngón tay cô trượt xuống, cô quên hết rồi, rất nhiều tên và thứ bậc không còn nhớ rõ.

Cuối cùng đầu ngón tay dừng lại ở một góc hàng thứ ba sau mọi người, tìm thấy anh hai.

Anh đút một tay vào túi quần, đang nghiêng đầu cười nói với anh cả đứng bên, dù không chụp chính diện, nhưng từ nét cười ấy, tựa hồ cô có thể nghe thấy tiếng cười của anh.

Bỗng chốc Thẩm Hề bật khóc.

Hóa ra vẫn còn.

Anh hai thấy không, ở nơi anh không biết, vẫn còn một người giữ lại chút gì đó cho em...

Phó Đồng Văn muốn giúp cô lau nước mắt, nhưng cô lắc đầu, khẽ nức nở: "Không sao, em không sao."

Nếu đã khóc rồi, vậy thì hôm nay hãy để nước mắt chảy cạn đi.

Cô nhìn anh hai và mình trong bức ảnh không rời mắt, muốn lên tiếng nói gì đó.

"Tấm ảnh đen trắng này, trong ngày sinh nhật mười tuổi của em, anh hai mời một thợ chụp ảnh người Nhật Bản đến nhà chụp."

Cô kể lại, "Anh hai em ấy mà, nếu anh gặp anh ấy, chắc chắn hai người sẽ thành tri kỷ của nhau.

Anh ấy từng học ở trường quân đội lục quân Nhật Bản, khi đi học những bạn học Trung Quốc cùng khóa luôn bị người Nhật Bản kỳ thị, đa số đều bỏ học.

Cuối cùng trong tốp người ấy chỉ có hai người tốt nghiệp, trong đó có anh hai em."

Sau khi tốt nghiệp trường quân đội, cậu hai nhà họ Thẩm không tham gia quân ngũ mà đi theo con đường kinh doanh của cha.

"Anh ấy làm cách mạng, chắc chắn thế."

Thẩm Hề cố gắng nhớ lại tất cả những chi tiết nhỏ nhất, "Anh ấy có một con dao, trên con dao đó khắc hoa, khắc cả chữ "Cộng hòa", em từng thấy nó rồi... trong lúc vô tình."

Những năm cuối triều Thanh, người theo đuổi "cộng hòa" đều thuộc Đảng Cách mạng.

Không thể lầm được.

Anh hai không thích chuyện trai gái, bởi vậy không giống những cậu ấm du học nước ngoài luôn chống đối người nhà mình về chuyện hôn nhân.

Lúc còn du học ở Nhật Bản, anh từng viết thư cho cha, tỏ ý trong chuyện này thì nghe theo sự sắp xếp của gia đình.

Sau đó anh và cô tiểu thư ấy gặp mặt lần đầu dưới sự vun vén của ba mai và người lớn trong nhà, ba lần hẹn hò ở nhà họ Thẩm, người làm hai bên đều đi theo.

Sau ba lần, hôn sự được quyết định, chỉ chờ ngày thành thân.

Cô từng lén hỏi anh hai, anh thích cô tiểu thư ấy cỡ nào, anh cười đáp: "Anh hai là người không yêu đương."

Hồi ấy cô không hiểu, bây giờ nhớ lại...

Trên con dao sắc bén khắc hoa.

Trong tim chủ nhân con dao ấy vẫn dịu dàng, chỉ có điều dịu dàng ấy dành trọn cho dân tộc.

Rèm trúc bên cửa sổ được cơn gió thu thổi qua, gõ lách cách vào bệ cửa.

Thẩm Hề nhét từng tấm ảnh vào trong bì thư màu nâu, gấp miệng thư lại rồi xé phong thư thứ hai ra.

Bức thư được lấy ra, cô lưỡng lự không dám mở.

Bàn tay nắm chặt tờ giấy rất lâu, ngón tay mơn trớn theo nếp gấp vuốt ve từng tấc giấy, cuối cùng vẫn mở ra.

Thật ra cô không quá quen với nét bút của cha, nếu Phó Đồng Văn không nói chắn chắc cô sẽ không nhận ra đây là thư ông viết.

Dù là câu cú hay cách dùng từ, cô đều cảm thấy lạ lẫm.

Cậu bạn Đồng Văn:

Việc ngày thường quấn thân, đã lâu không hỏi thăm.

Cậu viết thư đến, tôi mừng khôn xiết.

Thế cuộc hiện giờ cách biệt rất lớn, nhưng thực lực quốc gia mỏng manh, sức sống yếu ớt, tôi tiếc cái tài hoa của cậu không thể cống hiến cho cách mạng.

Giữa tôi và cậu không có giả dối...

Cô đọc bức thư, tựa như đang đứng trong phòng sách nhà họ Thẩm.

Chim họa mi đang vỗ cánh trong lồng, uống hớp nước, ăn ít thức ăn.

Người làm đang cho chim ăn, mài mực, pha trà, cha nhắc bút lên, đứng bên bàn sách, viết thư hồi âm cho người bạn xa ở Bắc Kinh.

Chuyện trao đổi trong thư là thế cục châu Á lúc bấy giờ.

Từ thư hồi âm có thể nhận ra khi ấy Phó Đồng Văn đang chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những điều mắt thấy tai nghe lúc du học ở Anh, càng thêm hy vọng Trung Quốc tương lai có thể học theo nước Anh, bảo vệ hoàng tộc, đi theo thể chế "Quân chủ lập hiến".

Nhưng cha không cho là đúng, trong thư ông thử thuyết phục Phó Đồng Văn.

Cô đọc xong, lại đọc sang bức thư tiếp theo.

Thư từ được Phó Đồng Văn cất giữ rất cẩn thận, sắp xếp theo trình tự thời gian.

Cô lấy từng bức thư ra, cẩn thận đọc từng câu từng chữ, lẳng lặng quan sát cuộc tranh luận lời qua tiếng lại giữa cha và Phó Đồng Văn.

Phó Đồng Văn thấy cô chú tâm đọc, bèn dặn Đàm Khánh Hạng đưa bữa trưa vào phòng ngủ.

Từ bữa trưa đến bữa tối cho đến khi lên đèn.

Xe điện bên ngoài cửa sổ qua lại không ngớt, nhưng cô hoàn toàn không nghe thấy tiếng leng keng.

Cô chống cằm, tựa người vào bệ cửa sổ, tì trán lên mép bàn, đặt phẳng bức thư lên đùi để đọc... thỉnh thoảng có chỗ không hiểu cũng nhờ anh giải thích đôi câu.

Ánh đèn đêm sáng ngời kỳ lạ, đèn tường nơi đầu giường không kém là bao.

Cô mới đổ bệnh nặng, đến nửa đêm eo mỏi nhừ không chịu nổi nữa, cuối cùng cầm thư lên giường đọc.

Nội dung và tình cảm trong thư cũng từ hùng hồn sôi nổi, tràn đầy tự tin lúc ban đầu dần dần chuyển thành suy tư chồng chất, âm u nặng nề.

Năm tháng đọng lại trong từng trang thư, mang theo sự lo âu nặng trĩu với đất nước, để nỗi buồn càng thêm chồng chất, dường như có thể sụp đổ ngay trước mắt bất cứ lúc nào...

Thế rồi cô nhìn thấy phong thư cuối cùng.

Trước khi mở thư ra, Thẩm Hề không thể đoán được cha đã viết bức thư tuyệt bút này thế nào.

Nhưng bất ngờ thay, bức thư rất ngắn, không thảo luận bất cứ chuyện quốc gia nào, đều là kinh nghiệm kinh doanh.

Thẩm Hề lướt mắt tới câu kết:

Ít bữa nữa vào kinh, mong gặp mặt tâm sự.

Hy vọng mượn được sức của cậu, hoàn thành chuyện tốt.

Bạn già Thẩm Anh.

Cô biết, "chuyện tốt" này chính là chuyện sau này Phó Đồng Văn đã nói.

Thẩm Hề ngồi tựa vào đầu giường, không muốn cử động, không muốn gấp thư lại... bức thư cuối cùng bình tĩnh đến nhường này, còn mang theo cả sự cầu xin, người cha hơn năm mươi tuổi đã mang tâm trạng nào để chuẩn bị lên Bắc Kinh giao phó hậu sự?

Bức thư được rút khỏi tay, cô choàng tỉnh, đôi mắt sưng đỏ, gắng gượng nở nụ cười với Phó Đồng Văn.

"Em thật sự rất hâm mộ anh... cha hiếm khi có thời gian gặp em."

Thời gian của đời người có hạn, dành cho quốc gia quá nhiều rồi, dành cho người thân sẽ ít đi.

Phó Đồng Văn giúp cô thu dọn những bức thư trên giường, tắt đèn tường, đi dép quay về bên cô, tìm kiếm gương mặt ấy trong bóng tối.

Cô không khóc.

"Người ôm nghĩa lớn sẽ tỏ ra lạnh nhạt với người nhà."

Giọng anh cất lên trong căn phòng không ánh sáng, "Đừng trách ông ấy".

Thẩm Hề lắc đầu, trả lời anh, cũng là trả lời cha.

Bờ vai tỏa hơi nóng, từ từ bàn tay anh.

Cô thuận theo sức của anh ngả đầu xuống gối, trên người đắp tấm chăn bông.

Bóng đêm lặng lẽ bao trùm lấy cô.

Trong mơ màng, cô lẩm bẩm: "Ở nhà họ Thẩm dưới quê còn có từ đường Thẩm gia... có lẽ đã bỏ hoang từ lâu rồi."

Gian từ đường ấy cô đã từng tới, được xây theo kết cấu ba sân, ba lối đi, chín phòng chính và hai sương phòng, gồm mười mấy kiến trúc lớn nhỏ, nổi tiếng bề thế trong vùng.

Mười mấy năm nay chắc hẳn đã thành đống hoang phế, hoặc đã thay tên đổi chủ.

Nếu như vẫn còn, cô muốn tự tay đặt bài vị của cha và anh lên bàn thờ trong từ đường, để được con cháu hương khói sau này.

Cha và anh không thể làm ma cô độc phiêu bạt không nơi tương tựa, làm quỷ vất vưởng không tìm thấy đường về.
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 61: Mênh mông núi sông xưa 1


Năm 1967, nhà họ Thẩm.

"

Sau này, ông nội con thay bà trùng tu lại từ đường họ Thẩm."

Trong phòng sách, lão phu nhân hơn bảy mươi tuổi buông câu kết.

Bà cầm bút máy, đeo chiếc kính gọng mảnh viền vàng, sợi dây đeo kính mảnh mai rủ bên gương mặt.

Lão phu nhân ngồi ngay ngắn với sống lưng thẳng tắp, phê chữa báo cáo hậu phẫu của sinh viên.

Cậu bé bên cạnh dùng tay chơi rối bóng trong ánh đèn hắt lên tường, khi thì hóa thành bươm bướm, lúc lại biến thành con sói.

Cậu nhóc lẩm bẩm năm Quang Tự thứ ba mươi, thứ ba mươi ba...

Bỗng nhiên cậu đặt tay lên đầu gối, nghiêm túc nhìn bà nội: "Bà vẫn chưa kể hết chuyện ngày xưa phải không ạ?"

"Vẫn chưa hết sao?"

Lão phu nhân gác bút, tháo kính xuống.

"Bà vừa nói, duyên phận giữa bà và ông bắt đầu từ năm Quang Tự thứ ba mươi ba, khi ông nội nhìn thấy tấm hình trắng đen chụp bà.

Khi ấy là từ... năm 1907 đến năm 1918, mới chỉ mười một năm mà thôi."

Cuối cùng cậu bé cũng tìm được lý do để được nghe tiếp truyền kỳ của ông bà, "Nhưng bà nói sẽ kể lại câu chuyện mười hai năm, bà nhỉ?

Vẫn còn một năm nữa, bà kể nốt một năm còn lại đi ạ."

Mười hai năm ư?

Lão phu nhân nhớ lại, đúng rồi, chuyện xưa phải có mười hai năm với trọn vẹn, chồng bà cố gắng bao nhiêu năm, dốc hơn nửa đời người, bị người ta lầm tưởng là thương nhân bán nước, thậm chí bị người mình từng giúp đỡ hiểu lầm, tất cả chỉ vì muốn Trung Quốc được tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Cuối cùng, ông cũng hoàn thành tâm nguyện.

Trung Quốc không chỉ tham gia chiến tranh, mà còn trở thành nước thắng trận.

Nhắc đến năm 1919, trong tiềm thức bà luôn lảng tránh.

Năm ấy...

Lão phu nhân khom người, đắp tấm thảm lên đùi.

"Mùa đông năm 1918, nước Đức đầu hàng, Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng kết thúc."

Lão phu nhân nhớ lại, "Quân đội mà ông nội con góp sức thành lập không kịp ra chiến trường thế giới thì đã nhận được tin tức tốt lành này.

Thời ấy, nước chúng ta vẫn luôn bị xâm lược, phải cắt đất, bồi thường vô số khoản, nội chiến liên miên.

Dân tộc chúng ta quá khát khao được một lần thắng lợi."

Bà nở nụ cười: "Khi ấy cả nước hân hoan, hoàn toàn không cần chính phủ tổ chức, toàn dân tự động ăn mừng, khắp nơi pháo nổ đì đùng, chốn chốn diễn thuyết về thời đại mới..."

***

"Đúng là chuyện vui nhất trong gần trăm năm nay."

Cậu hai Hàn tươi cười rót rượu cho Chu Lễ Tuần từ Bắc Kinh tới, "Đáng tiếc tôi về sớm quá, không kịp đến lễ mừng.

Mau nói đi, nghe nói phía trước Tử Cấm Thành náo nhiệt lắm hả?"

Đúng thế, Bộ Giáo dục còn đặc biệt cho phép học sinh nghỉ ăn mừng.

Nghĩ mà xem, cơn gió tháng Mười một ở Bắc Kinh lớn cỡ nào, cổ họng Thái tiên sinh khản đặc, nhưng ngày nào cũng diễn thuyết."

Chu Lễ Tuần nhoẻn miệng cười đón lấy cái chén, diễn tả lại buổi diễn thuyết của Thái Nguyên Bồi tiên sinh với Phó Đồng Văn đang tực người bên cửa sổ: "Hiện giờ đại chiến thế giới đã kết thúc, các nước đồng minh giành thắng lợi, tất cả chủ nghĩa hắc ám bất bình đẳng trên thế giới chắc chắn phải được bài trừ, thay thế bằng chủ nghĩa quanh minh!"

Phó Đồng Văn đang cười, những vị tiên sinh ngồi xung quanh cũng cười.

"Có điều tiếc thay, số tiền tiếp viện hàng trăm vạn của Đồng Văn coi như đổ xuống sông xuống biển cả rồi."

Chu Lễ Tuần giễu cợt anh.

"Như thế lại hay."

Anh không để trong lòng, "Chúng ta không đánh mà thắng, ít quân sĩ hy sinh hơn không tốt sao?"

Mọi người đều cười xòa.

Trong một góc, chỉ có cậu hai Phó vẫn mặc áo dài khác hẳn với mọi người, nhưng cũng cùng chung tâm trạng vui mừng.

Thật ra tối nay anh ta đến chào tạm biệt, không ngờ lại gặp Chu Lễ Tuần từ Bắc Kinh đến, trong căn nhà nhỏ của Phó Đồng Văn tụ tập các cậu ấm khắp thành Bắc Kinh, trong đó có mấy người quen biết với cậu hai Phó từ trước, đương nhiên nài ép anh ta ở lại.

Trong phòng khách tầng một, mọi người bàn tán từ buổi diễn thuyết ở Tiền Môn chuyển sang buổi đại duyệt binh trên quảng trường trước điện Thái Hòa Tử Cấm Thành vào cuối tháng này, ai cũng nhắc cậu hai Phó phải đi.

Dù sao những người trong đây phải ở lại Thượng Hải xử lý công việc và kinh doanh, chỉ có cậu hai về Bắc Kinh.

Trên tầng hai, Thẩm Hề và Tô Khánh ngồi trên sô pha chờ cuộc tụ họp dưới tấng kết thúc.

"Lạnh không?"

Thẩm Hề và Tô Khánh thật ra không có gì để nói, đành phải hỏi han, "Thêm một chậu than nữa nhé?

Tôi bảo Vạn An đi lấy."

"Tôi có thể gặp Đàm tiên sinh không?

Anh ấy có ở đây không?"

Tô Khánh chợt hỏi.

Lòng Thẩm Hề hồi hộp.

Anh ta ở đây... nhưng vì cậu hai Phó và Tô Khánh đến chào tạm biệt nên Đàm Khánh Hạng có ý lánh mặt, luôn trốn biệt trong phòng ngủ không xuất hiện.

Làm thế để tránh hiểm nghi, dù sao trong cái nhìn của cậu hai, anh ta cũng là khách cũ của Tô Khánh, nếu tránh được thì cứ tránh.

"Đàm tiên sinh... tôi có thể đi hỏi."

Thẩm Hề trả lời.

"Nhờ cô nói với anh ấy rằng, có lẽ đây là lần gặp mặt cuối cùng, cậu hai định đến Thiên Tân định cư."

Tô Khánh nói.

Thiên Tân?

Cô bất ngờ: "Không phải anh ba giao căn nhà họ Phó lại cho cậu hai sao?'

Tô Khánh cười đáp: "Cậu hai cũng có biệt thự ở Thiên Tân, anh ấy muốn đi thì cứ đi thôi, dù sao cũng không khác là bao."

Lần đầu gặp Tô Khánh, lúc đó cậu hai là khách của cô ấy, hai người dịu dàng thân mật nói chuyện với nhau, tình ý dạt dào.

Nhưng tình nghĩa của cô ấy với cậu tư, Phó Đồng Văn đã kể lại đầu đuôi cho cô nghe, hôm đấy cô ấy liều mạng trả thù cho cậu tư, hận thù trong mắt dành cho cậu cả Phó không hề giả.

Vậy đối với Đàm Khánh Hạng thì sao?

Đàm tiên sinh là người đàn ông đầu tiên của cô ấy, luôn tồn tại một thứ tình cảm đặc biệt.

Có lẽ Đàm Khánh Hạng cũng muốn gặp, coi như bạn cũ ôn lại chuyện xưa.

...

"Tôi đi rồi về."

Thẩm Hề nói.

Cô lên tầng, gõ cửa rất lâu, ngay cả Virtue cũng thò đầu ra nhìn, Đàm Khánh Hạng mới chậm rãi đi ra mở.

Phòng ngủ anh ta không bật đèn, ánh áng mạnh bên ngoài làm anh ta nheo mắt lại: "Người đi rồi à?

Cô đói à?

Hay phải dọn dẹp gì?

Đói thì gọi Virtue, cần dọn dẹp thì gọi Vạn An.

Tôi đau đầu, tối nay đừng gọi nữa."

Anh ta toan đóng cửa vào thì bị Thẩm Hề ngăn lại: "Tô Khánh muốn gặp anh."

Đàm Khánh Hạng hơi ngẩn người: "Gặp tôi làm gì?"

"Sắp đi rồi, có lẽ muốn chào tạm biệt anh.

Cô ấy nói sắp tới sẽ định cư ở Thiên Tân, anh đi theo chúng tôi, dù ở Bắc Kinh hay Thượng Hải đều rất khó gặp lại cô ấy."

Đàm Khánh Hạng lặng thinh hồi lâu.

"Đi thôi, tôi đi cùng anh."

Nói xong, cô ngẫm nghĩ, "Nếu anh thấy tôi không tiện có mặt, vậy tôi sẽ đứng ở cửa trông cho anh.

Nhưng phải chú ý một chút, đừng làm chuyện gì không hay..."

"Coi tôi là gì thế..."

Đàm Khánh Hạng trầm giọng hỏi, "Cậu hai Phó đang ở dưới tầng, tôi còn có thể làm gì?"

"Vậy anh có đi không?"

"Đi, chờ chút, tôi rửa mặt cái đã."

Trong lòng Thẩm Hề thấp thỏm, không tưởng tượng nổi khi gặp nhau hai người sẽ nói gì, sẽ xảy ra chuyện gì.

Kết quả sau khi Đàm Khánh Hạng cùng cô bước vào phòng ngủ ở tầng hai, anh ta tự ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh bàn sách, Tô Khánh thì ngồi trên sô pha, hai người hai bên im lặng, mỗi người đều ôm tâm sự riêng, lơ đãng ngồi đó.

Ngay cả nửa câu hỏi han cũng không có.

Thẩm Hề coi mình như món đồ trang trí, đứng cạnh giá sách lật sách đọc.

Nửa tiếng trôi qua, cô nghe thấy tiếng ồn ào dưới tầng to dần, có lẽ cửa phòng khách bị mở ra, mọi người đang chào tạm biệt cậu hai Phó, vậy là sắp phải đi rồi.

Cô gập sách vào, ngoảnh đầu lại nhìn, đúng lúc hai người ấy nhìn nhau lần đầu tiên trong đêm nay.

"Năm ấy..."

Giọng Tô Khánh nhẹ bẫng.

"Tại sao?"

Đàm Khánh Hạng ngắt lời cô ấy.

"Khánh Hạng, anh là người tốt nhất trên thế gian này."

Tô Khánh nhìn anh ta chân thành, "Nhưng Khánh Hạng à, em chỉ là người phụ nữ bình thường.

Không phải ai cũng có thể sống như anh và cậu ba, cậu tư.

Em không thể tưởng tượng nổi, cũng không thể chấp nhận được việc... người đàn ông của mình sẵn sàng hi sinh vì đất nước bất cứ lúc nào.

Em hoàn lương, cần một gia đình ổn định, cần một cuộc sống không lo cơm ăn áo mặc."

Trong hàng trăm triệu người, không ai giống ai.

Có người già người trẻ còn trung thành với triều đại trước vì Tiền Thanh1 mà nhảy hồ quyên sinh, có người đổ máu để lật đổ chính phủ Mãn Thanh, có người rơi đầu vì cách mạng, có người sầu khổ khi không mua được bát cháo nóng, có người bôn ba vì già trẻ trong nhà...

1Cách gọi triều Thanh sau Cách mạng Tân Hơi, thời kỳ Dân Quốc.

Tô Khánh muốn nói rằng: "Khánh Hạng, anh là người không vụ lời vì tổ quốc, còn em là người muốn có một gia đình.

Không có đúng sai, chỉ có mưu cầu khác nhau mà thôi.

"Khánh Hạng, em kính trọng các anh, em cũng biết ơn các anh, thấu hiểu các anh, nhưng em không thể trở thành người như cô Thẩm, em không thể làm được như các anh."

Đàm Khánh Hạng không nói gì.

Chẳng mấy chốc, cô hầu của Tô Khánh đến đón.

Từ đầu đến cuối, hai người chỉ nói mấy câu, khoảng cách gần nhất cũng chỉ năm bước chân mà thôi.

Cậu hai Phó sắp đi, các cậu ấm cũng giải tán.

Thẩm Hề tiễn họ ra ngoài, từ cửa nhà đến đầu ngõ, phía trước Phó Đồng Văn và anh hai mình đang giã từ nhau, cô và Tô Khánh không ai lên tiếng.

Cuối cùng, Phó Đồng Văn và anh hai dừng chân bên đường, có vẻ sắp nói chuyện xong.

Tô Khánh thò tay khỏi ống tay áo, nắm hai tay Thẩm Hề: "Nếu cô có thể nói xấu tôi trước mặt Đàm tiên sinh thì tốt biết mấy, tiếc rằng có lẽ cô Thẩm không học được cách nói xấu sau lưng người khác."

Thẩm Hề nở nụ cười với tâm trạng phức tạp.

"Tôi sinh ra trong ngõ Yên Chi, những người lớn tuổi hơn tôi từng gặp liên quân tám nước."

Cô ấy bất chợt nhắc tới ngõ Yên Chi, "Họ kể lại với tôi rằng, khi liên quân tám nước tiến vào thành Bắc Kinh, nơi đâu cũng có bóng dáng của đàn ông nước ngoài.

Họ lại ở Bắc Kinh phục vụ những cô gái trong ngõ Yên chi đều hiểu, phụ nữ không thể trông chờ vào đàn ông, phải dựa vào chính mình mới có cơ hội được sống, được ăn sung mặc sướng."

Cô ấy nói tiếp: "Nhưng tầm mắt tôi hạn hẹp, chỉ có thể giác ngộ chừng này.

Cậu hai nói, cô Thẩm là con cháu trung liệt, đương nhiên khác xa tôi."

Cô ấy thoáng ngừng lại, viền mắt không hiểu tại sao lại đỏ hoe, "Dù năm ấy là thật hay giả, cô vẫn là người vợ duy nhất trên danh nghĩa của cậu tư, hồi ấy... tôi rất đố kỵ với cô."

"Là giả, toàn bộ đều là giả."

Thẩm Hề lập tức giải thích.

"Cô Thẩm, tôi biết mà."

Cô ấy cười, "Cậu hai nói rồi."

Thẩm Hề im bặt.

"Cáo từ, bảo trọng."

Tô Khánh buông tay cô ra, đi tới bên cạnh cậu hai Phó.

Phó Đồng Văn đích thân tiễn anh hai lên xe.

Trong màn đêm, chiếc xe từ từ lăn bánh, khi không còn nhìn thấy bóng dáng chiếc xe, anh mới ôm vai cô, đi trở về: "E là đêm nay Đàm Khánh Hạng mất ngủ rồi."

"Cô ấy là chị dâu anh đấy, anh còn nói đùa được."

Phó Đồng Văn cười cười: "Chỉ là Khánh Hạng quá cố chấp mà thôi, đâu phải lén lút qua lại gì."

"Xưa kia có phải Đàm Khánh Hạng muốn lấy cô ấy?"

"Em biết rồi à?

Vừa rồi hai người ấy nói ư?"

"Không nói cụ thể, cũng đại khái."

Cô đáp.

"Cậu ta muốn lấy, Tô Khánh còn không thèm liếc mắt vơi cậu ta, sau đó cứ thế ngồi xe hoa vào nhà họ Phó."

Phó Đồng Văn bùi ngùi, "Hôm nay là lần đầu tiên họ gặp nhau sau khi Tô Khánh về làm dâu nhà anh."

Chẳng trách.

Hai người về nhà, Vạn An đang thu dọn phòng ốc.

Không thấy tăm tích Đàm Khánh Hạng và Virtue.

"Anh Đàm lại đi ngủ rồi à?"

Thẩm Hề khó hiểu thắc mắc.

Bỗng nhiên tiếng hét chói tai của cô gái từ trên tầng vọng xuống, là của Virtue.

Phó Đồng Văn chạy lên đầu tiên, Thẩm Hề và Vạn An cũng hoảng hốt chạy theo lên tầng ba, anh toan gõ cửa thì cánh cửa bị Đàm Khánh Hạng đột ngột đẩy ra.

Trong phòng, Virtue đang ngồi trên giường, mở to mắt sợ hãi nhìn người bên ngoài.

Đàm Khánh Hạng để nửa thân trần, vừa mới cài thắt lưng, trong tay vẫn cầm áo sơ mi, thoạt nhìn có vẻ đang định ra ngoài.

...

Phó Đồng Văn nhìn anh ta bằng ánh mắt không dám tin: "Cậu muốn làm gì?"

"Đàm tiên sinh... anh, anh đây là..."

Vạn An lắp bắp nói không thành câu.

Thẩm Hề không nhịn được cười.

Đàm Khánh Hạng lập tức chỉ tay vào Thẩm Hề: "Không cho phép cười, nghe tôi nói."

Anh ta ngoảnh đầu nhìn Virtue, muốn nói một câu giữ thể diện, cuối cùng vẫn bỏ cuộc, "Cô nhóc này không ý tứ gì hết, tôi cởi quần áo định đi ngủ, cô nhóc trốn trong chăn của tôi...

Tôi còn chưa kịp kêu, cô nhóc đã kêu trước rồi.

Thẩm Hề, sau này cô phải dạy dỗ đàng hoàng vào, cứ dựa vào quy củ phụ nữ Trung Quốc mà dạy, nào có ai chui vào chăn đàn ông chứ hả?

Dọa chết tôi rồi..."

Đàm Khánh Hạng càng nói càng bực bội, đẩy ba người đang chắn đường ra.

Anh ta vừa chạy xuống cầu thang vừa mặc áo sơ mi: "Có ăn cơm không?

Bánh tổ xào được không?"

Thẩm Hề nhanh chóng đóng cửa phòng anh ta lại, cô nhịn cười.

"Giả vờ gì chứ."

Vạn An lải nhải, "Tôi nhìn tỏng ra rồi, Virtue không tốt sao?"

Phó Đồng Văn mỉm cười, lắc đầu không bình luận gì.

Nhưng Thẩm Hề thoáng hiểu được ý anh, vẫn là hai chữ: Cố chấp.

Giống như anh không thể từ bỏ giấc mơ quốc gia, cô không thể quên đi trái tim cứu người.

Con người luôn có một chướng ngại vật không thể vượt qua, vì vậy bị vây hãm trong cõi trần, bằng không đã quy ẩn núi rừng, hết thảy đều là hư không từ lâu rồi.

Trong lòng Tô Khánh luôn có cậu tư cưỡi ngựa qua hàng cây.

Đàm Khánh Hạng mãi nhớ Tô Khánh năm mười bốn tuổi, Tiểu Tô Tam sống trong sương phòng phía Tây Thì Hoa Quán.
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 62: Mênh mông núi sông xưa 2


Đàm Khánh Hạng đi nấu cơm, đuổi mọi người đến phòng khách ăn cơm, còn mình anh ta ở trong phòng bếp.

Anh ta nhìn giàn nho nhà hàng xóm qua cửa kính, cắn một miếng bánh tổ xào.

Khung cảnh trong giấc mơ cũ phản chiếu lên tấm kinh như thước phim câm.

"Xin hỏi quý tiên sinh?"

"...Đàm."

"Đàm tiên sinh, chào anh, em là Tiểu Tô Tam."

"Tôi biết, tôi biết."

"Tiên sinh muốn uống rượu, nghe nhạc trước hay... cởi áo đi nghỉ?"

Khi ấy mình đã trả lời thế nào nhỉ?

Đàm Khánh Hạng cũng quên rồi.

Cô được xưng là "Tiểu Tô Tam", sống trong Thì Hoa Quán mà Tô Tam1 từng sống ngày trước, nổi tiếng với vở Ngọc Đường Xuân.

Đàm Khánh Hạng là người không am hiểu Kinh kịch, vậy mà đã nghe khúc kịch ấy hết lần này đến lần khác, kịch kể về danh kỹ thanh lâu và con cháu quyền quý từ quen biết đến thấu hiểu nhau, trải qua bao nhiêu gian khó, cuối cùng cũng về một nhà.

1Tô Tam là nhân vật chính trong vở Kinh kịch Ngọc Đường Xuân, một cô gái xinh đẹp nhưng cuộc đời phải chịu nhiều sóng gió, trong đó có cả án oan giết người.

Còn anh vốn chỉ là khách xem kịch mà thôi.

Đàm Khánh Hạng ăn thêm một miếng bánh tổ.

Trên cửa kính bỗng xuất hiện bóng dáng Chu Lễ Tuần.

Anh ta còn tưởng mình nhìn lầm, cho đến khi tiếng gõ cửa chính vang lên, anh ta mới đi mở cửa: "Sao cậu lại tới đây!

Đồng Văn đâu?"

"Trên tầng hai."

"Vậy cùng lên rồi nói."

Chu Lễ Tuần từng sống ở đây nên quen lối đi thẳng lên tầng.

Đàm Khánh Hạng theo sau: "Cậu không khách sáo tí nào nhỉ, cứ thế mà xông lên à?"

"Khách sáo làm gì?"

Chu Lễ Tuần cười quay đầu lại, "Không kịp khách sáo nữa rồi."

Nói đoạn, người đã đến tầng hai.

Đúng lúc cửa phòng ngủ mở toang.

Phó Đồng Văn vừa mới bảo Vạn An pha ấm trà, còn chưa kịp đóng cửa lại thì thấy Chu Lễ Tuần không hề e dè xông vào, đưa điện báo gốc và bản dịch trong tay cho anh: "Mau đọc đi."

Phó Đồng Văn nhận lấy, nghe Chu Lễ Tuần nói: "Các nước thắng trận sẽ tổ chức hội nghị ở Paris!

Mời Trung Quốc chúng ta tham gia!"

Kế hoạch bao nhiêu năm nay, đưa hàng loạt nhân công đến chiến trường châu Âu, thậm chí còn chuẩn bị sẵn quân đội để tham chiến, tất cả đều vì một mục đích này.

Để có quyền phát ngôn trên trường quốc tế, để có thể lấy lại Sơn Đông...

Không ngờ trong đêm nay, tin vui bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống.

Phó Đồng Văn như đang nằm mơ, sau mấy giây đờ người mới gấp gáp mở bản dịch của điện báo ra.

Số điện báo này đều được gửi trong ngày hôm nay.

Chu Lễ Tuần tự rót cho mình tách trà, ngửa đầu uống một hớp, nụ cười không tắt.

Phó Đồng Văn nhìn thời gian trên bản dịch là tháng Giêng, bèn tức khắc nói: "Chuẩn bị lúc nào khởi hành?

Hội nghị vào tháng Giêng năm sau, không đi từ bây giờ sợ không kịp."

Chu Lễ Tuần đáp: "Lập tức!

Nội trong mười ngày là chuẩn bị xong rồi, lập tức đi luôn."

"Khởi hành từ đâu?"

Anh gấp gáp hỏi: "Chuyến tàu đến châu Âu rất ít, đã suy nghĩ đến chưa?"

"Đồng Văn à, cậu yên tâm đi, yên tâm đi."

Chu Lễ Tuần cười lớn, giúp anh tìm bản dịch tờ điện báo thứ ba, "Ở đây đã sắp xếp lộ trình.

Chúng tôi không lên chuyến tàu đến thẳng châu Âu.

Để an toàn, lần này sẽ đi từ Sơn Hải Quan, qua Đông Bắc, Triều Tiên rồi đến Nhật Bản, sau đó lên thuyền ở Yokohama Nhật Bản, vượt qua Thái Bình Dương đến San Francisco, New York, băng qua Đại Tây Dương đến Paris."

Thầm Hề vạch trần ra tuyến đường trong đầu, đường vòng khá xa nhưng chắc chắn nhất.

Như Phó Đồng Văn nói, chuyến tàu đến châu Ân quá ít.

Nếu đợi đến khi có lịch đi thì sẽ làm lỡ chuyện.

Câu chuyện của Chu Lễ Tuần chuyển từ điện báo sang chuyến đi Paris.

Lần này đoán đại biểu có hơn năm mưới người, anh ta nằm trong số đó.

Còn Phó Đồng Văn cũng nhận được lời mời làm "thành viên không nằm trong đoàn đại biểu", cùng đến Paris.

"Đồng Văn, câu có hai sự lựa chọn, một là đi theo đoàn đại biểu, hai là cậu ở Thượng Hải chờ chuyến tàu đến Paris.

Lộ trình của lựa chọn đầu tiền trắc trở vòng vèo, rất cực khổ, tôi lo cho sức khỏe cậu không đến kịp ngày hội nghị bắt đầu..."

Chu Lễ Tuần đắn đo, "Vẫn do cậu quyết định thôi."

"Tôi cùng cậu lên miền Bắc, cùng đến Paris."

Anh không hề suy nghĩ thêm.

"Được, vậy tôi sẽ đi chuẩn bị, cậu cũng nhanh lên.

Chuyến tàu hỏa của tôi khởi hành vào tối mai, cậu mau chóng sắp xếp người đi mua vé cho kịp, tối mai chúng ta gặp lại!

Hẹn ở ga tàu!"

Vừa dứt lời, Chu Lễ Tuần đã lẩm bẩm chạy xuống tầng.

Đến và đi đều vội vã, quả thật không coi mình là khách.

Chu Lê Tuần đi rồi, nhưng bầu không khí trong căn nhà vẫn chưa hạ nhiệt.

Những ngọn đèn vốn đã tắt đều được bật lên, Đàm Khánh Hạng chỉ huy mọi người thu dọn hành lý.

Thời gian quá gấp, quãng đường lại xa, người đi theo cũng nhiều.

Đàm Khánh Hạng và Vạn An đều cuống quýt như lửa sắp bén đến nơi, không ngừng chạy lên chạy xuống, gào lên để nói chuyện.

Thẩm Hề vừa mới mở tủ quần áo ra thì bị Phó Đồng Văn ngăn lại.

"Ra ngoài với anh ba một lúc nhé?"

"Đi đâu ạ?"

Cô quay đầu lại, "Đi bây giờ thì không kịp về thu dọn mất."

"Đến bệnh viện." anh cười đáp, "Anh muốn gặp em năm ngay lúc này, chuyện quan trọng."

Thẩm Hề nhìn đồng hồ để sàn: "Vậy thì mau lên anh, sắp đến giờ nghỉ của phòng bệnh rồi."

Họ không chần chừ thêm một giây, chạy thẳng đến bệnh viện.

Khi đến phòng bệnh nội trú thì đã chín giờ tối, ở tầng một Thẩm Hề loáng thoáng nghe thấy tiếng cười nói cửa nhóm y tá, lúc đến khu vực phòng bệnh ở tầng hai, tiếng cười nói càng rõ ràng hơn, đúng là vọng ra từ phòng bệnh của cậu năm.

Cô nhớ đến một chuyện, bèn nói thầm với anh: "Hình như em nghe người ta nói, trong bệnh viện có một y tá rất thích Đồng Lâm."

Phó Đồng Văn không để tâm lắm: "Chỉ có một thôi ư?

Vậy thì đúng là kém xe anh và Đồng Quyến."

Cô lẩm bẩm: "Nói khoác không biết ngượng... giả phong lưu."

Vậy mà anh nhoẻn miệng cười: "Ồ?

Hóa ra anh cũng được nhận xét là "giả phong lưu", mới mẻ thật đấy."

Thẩm Hề cười trừ, mặc kệ anh.

Đến cửa phòng bệnh, cô thấy cậu năm đang ngồi trên giường, trong tay cầm quả quýt mới bóc một nửa, năm cô y tá vây quanh giường đều cầm quả quýt đã bóc xong, chỉ có cô y tá lặng lẽ đứng phía sau đám đông không cầm gì trong tay.

"Anh ba, chị dâu."

Cậu năm nhìn thấy họ, vô cùng ngạc nhiên.

"Sao lại bóc quýt?"

Thẩm Hề cười hỏi, "Lại còn bóc cho mỗi người một quả?"

"Để cảm ơn mọi người hằng ngày đã chăm sóc em."

Cậu năm giải thích, "Đều là con gái cả, đương nhiên em phải bóc rồi."

"Ra là vậy."

Thẩm Hề âm thầm tìm cô y tá nghe nói thích cậu năm.

Cô nhanh chóng nhận ra chính là người yên tĩnh nhất.

Nhóm y tá đều lễ phép chào "bác sĩ Thẩm", chột dạ lần lượt rời khỏi phòng bệnh.

Cuối cùng chỉ còn lại cô y tá ấy, do dự nhìn quả quýt vẫn chưa bóc xong trên tay cậu năm, chần chừ không theo đồng nghiệp ra ngoài.

"Chờ chút, đây là của cô."

Bỗng nhiên cậu năm kéo tay cô ấy lại, nhét quả quýt vào tay cô.

Cô gái đỏ mặt, muốn nói cảm ơn nhưng căng thẳng đến nỗi không mở nổi miệng.

Rốt cuộc vẫn luống cuống cúi người thật sâu, sau đó chạy ra ngoài.

Cậu năm không ngờ mình chỉ bóc quýt thôi mà lại nhận được lễ lớn đến vậy, bèn cười bẽn lẽn.

"Anh ba đến muộn thế này, có chuyện gấp gì ư?" cậu năm thôi không để ý đến cô gái vừa rồi, quay lại nhìn Phó Đồng Văn.

Phó Đồng Văn cởi áo khoác ngoài, vắt lên lưng ghế.

Anh nhìn Thẩm Hề khóa cửa phòng bệnh rồi mới mở miệng: "Vốn định chờ sau khi em xuất viện, chọn thời gian từ từ nói chuyện, nhưng hôm nay có thay đổi, đành phải vội vã đến đây hỏi ý em."

"Anh ba cứ hỏi, không cần chọn thời gian đâu."

Cậu năm ngồi thẳng dậy, nghiêm túc nói.

"Vậy em nghe nhé, anh ba hỏi đây."

Phó Đồng Văn dừng lời.

Thẩm Hề ngồi bên chiếc giường bệnh khác còn để trống, cũng chờ anh hỏi.

Trên đường đi cô đã nhẩm tính thời gian đến Paris, mất khoảng nửa năm không ở trong nước, vì vậy đương nhiên nghĩ rằng Phó Đồng Văn tới bệnh viện để chào tạm biệt em trai, thuận tiện sắp xếp cuộc sống nửa năm này cho cậu năm... bây giờ xem ra hình như không phải vậy.

Không chỉ Thẩm Hề, mà cậu năm cũng thấy khó hiểu.

Hai người đều đang chờ Phó Đồng Văn giải đáp thắc mắc.

Ngược lại Phó Đồng Văn vô cùng ung dung, anh mỉm cười ngắm nhìn em trai, im lặng trong giây lát mới hỏi: "Đồng Lâm, em có suy tính gì về cuộc sống sau này không?"

"

Sau này?"

Cậu năm lặp lại hai chữ này, nụ cười trên gương mặt tắt dần, "Dù trong lòng ôm hoài bão cũng đành phải cam chịu số phận mà thôi.

Anh ba, thật ra anh không hỏi, em cũng đã nghĩ đến rồi..."

Phó Đồng Văn chờ cậu năm nói.

Cậu năm cầm quả quýt cuối cùng trên bàn lên, bóc vỏ trong vô thức: "Trăm mối suy nghĩ..."

Cậu lắc đầu, "Không nên nói là chẳng có mối nào cả."

Phó Đồng Văn gật đầu: "Nếu em đã không nghĩ ra được gì thì nghe suy nghĩ của anh ba trước được không?"

"Vâng, anh ba nói đi ạ."

Anh mở miệng: "Anh muốn sắp xếp em đến Anh học ngoại giao."

"Ngoại giao?

Nhưng em thế này..."

Cậu năm nhìn chân mình.

"Nghe anh ba nói xong đã."

Phó Đồng Văn giải thích, "Với cơ thể hiện giờ của em, nếu muốn làm công sứ ngay thì rất khó, nhưng em có thể đến đại sứ quán Trung Quốc làm việc.

Đồng Lâm, em từng nhập ngũ, có lòng trung thành với đất nước, đây chính là yêu cầu chính của nghề ngoại giao.

Hơn nữa tiếng Anh của em là anh dạy, không thua kém gì những người đi du học nước ngoài, bởi vậy anh tin em có thể đảm nhiệm được công việc ở sứ quán."

Cậu năm chưa bao giờ nghĩ đến con đường này, những gì Phó Đồng Văn nói làm cậu càng thêm tin tưởng.

"Tiếng Anh của em không có vấn đề gì."

Anh đăm chiêu, "Nhưng em không biết gì về ngoại giao.

Chị Ấu Vi từng nói, ngoại giao không thể học trong một sớm một chiều, nhân tài ngoại giao không thể lập tức có ngay được."

Phó Đồng Văn cười rộ, "Em tưởng anh sẽ đưa em đến thẳng sứ quán hả?

Đương nhiên là không rồi, anh muốn đưa em đến Paris, giao em cho tiểu thư nhà họ Cô, để cô ấy bồi dưỡng em.

Về lĩnh vực ngoại giao, cô ấy có đủ kinh nghiệm để dạy em."

Anh tiếp tục: "Trong giới ngoại giao, nhà họ Cô tiếng tăm lẫy lừng, hiện giờ chồng Cô tiểu thư cũng làm ngoại giao.

Họ rất hy vọng có "người nhà" xuất thân tốt, giúp đỡ họ ở châu Âu.

Em rất phù hợp với kỳ vọng của họ."

Cuối cùng anh chốt lại: "Còn một điểm quan trọng nữa, nhà họ Cô muốn bắt tay anh, họ cần nguồn tài lực và nhân lực bên anh, cần anh ủng hộ cho sự phát triển của nhà họ Cô ở châu Âu.

Thế nên dù về tình cảm hay về lợi ích đôi bên, Cô tiểu thư và chồng cô ấy đều sẵn sàng giúp đỡ em.

Đồng Lâm, em bằng lòng không?"

Nghe chuyện, lòng Phó Đồng Lâm dậy sóng, đôi mắt sáng ngời.

"Đã động lòng chưa?"

Phó Đồng Văn cười tủm tỉm.

"Động...

động lòng rồi, nhưng em sợ phụ sự kỳ vọng của anh ba."

"Sợ gì chứ?"

Anh hỏi ngược lại, "Dám lên sa trường, còn sợ nói chuyện với người Tây ư?"

Dẫu sao cũng xuất thân từ trường quân đội, hơn nữa đã từng chết một lần trên chiến trường, ý chí chiến đấu của Phó Đồng Lâm rất dễ bị kích thích bởi những lời nói của anh trai, cậu cười lắc đầu: "Là em lỡ lời."

"Còn một chuyện nữa, trên trường ngoại giao, hôn nhân rất quan trọng."

"Nghe anh ba sắp xếp hết ạ."

Nói cho cùng cậu năm cũng xuất thân danh giá, sao có thể không hiểu muốn phát triển trong lĩnh vực này, liên hôn là điều cần thiết, "Nếu anh ba cảm thấy cần, em sẽ lấy vợ."

Phó Đồng Văn cười cảm khái: "Trong lòng em có cô nào chưa?

Nói cho anh ba nghe trước nào."

Được hỏi thế cậu năm cảm thấy khó xử, nụ nười ngượng ngùng đã lâu không thấy nở trên môi: "Em học trường quân đội, sau đó ra chiến trường, làm gì có cơ hội tiếp xúc với con gái chứ.

Em không có."

Anh gật đầu: "Được."

Anh đứng dậy: "Em nghỉ ngơi nhé, anh mai anh dặn người đến đón em."

"Ngày mai sao?"

Cậu năm ngạc nhiên.

"Bằng không thì sao?"

Anh vui vẻ, "Nửa đêm nửa hôm đến đây là vì anh và chị dâu sắp phải đi Paris, tốt nhất là đưa em đi cùng, anh mới có thể đích thân giao em cho nhà họ Cô, chúng ta cũng có thể đoàn tụ với Thanh Hóa ở Pháp."

"Đúng rồi, Paris, Thanh Hòa."

Cậu năm mừng rỡ, "Nghe anh ba nói mà em muốn đi luôn từ đêm nay rồi."

Hai anh em nhìn nhau cười.

Phó Đồng Văn là người có tách phong nhanh chóng mạnh mẽ, cậu năm cũng không phải người lề mề chậm chạp.

Hai người quyết định chuyện tới Paris trong khoảng thời gian ngắn nhất.

Trước khi họ rời khỏi bệnh viện, Thẩm Hề đến phòng trực ban tìm y tá trưởng, nhờ sắp xếp sáng mai cho Phó Đồng Lâm xuất viện.

Đúng lúc cô y tá thích cậu năm cũng ở đó, nghe thấy tìn này, trong phút chốc sắc mặt cô ấy tái xanh.

Thẩm Hề đều nhìn thấy, cũng nhìn thấy quả quýt đã bóc vỏ để trên bàn, không thiếu múi nào.

Có lẽ cô y tá ấy không nỡ ăn, để ở đó cùng mình trực ban.

Từ bệnh viện trở về nhà, Thẩm Hề dùng trọn một đêm để thu dọn.

Trước khi trời sáng, cô mệt mỏi ngã xuống sô pha, thiếp đi lúc nào không hay.

Hôm sau đến bệnh viện, cô và Phó Đồng Văn một người đi bàn giao công việc, người kia đi đón cậu năm.

Hồi mùa hè, Thẩm Hề đã nộp đơn xin từ chức, chuẩn bị sẵn sàng cùng anh về Bắc Kinh, bởi vậy không có bệnh nhân quan trọng nào ở bệnh viện, công việc cần bàn giao cũng không nhiều.

Trao đổi với đồng nghiệp xong, cô đến phòng làm việc gọi điện cho Đoàn Mạnh Hòa chính thức nói lời tạm biệt.

Không ngờ cúp điện thoại chưa được bao lâu, Đoàn Mạnh Hòa đã xuất hiện ngoài văn phòng, muốn đích thân đến tiến cô đi.

"Hợp tác nhiều năm qua, chỉ gọi một cuộc điện thoại chào tạm biệt liệu có vô tình quá không?"

Đoàn Mạnh Hòa cười hỏi, "Thật sự không định về đây nữa sao?"

""Từ Paris về ít nhất cũng mất nửa năm, tôi định đến thẳng Bắc Kinh làm việc."

Anh ta gật đầu: "Cũng tốt."

Thẩm Hề nghiêm túc nói: "Cảm ơn anh, phó viện trưởng Đoàn."

Đoàn Mạnh Hòa nhìn cô, vẫn dùng giọng điệu cười đùa để trả lời: "Vị trưởng bối đó nhà tôi bị về vườn rồi, giờ nghĩ lại mới thấy Phó Đồng Văn đúng là người tốt."

Anh ta đưa hai tờ báo trong tay cho cô, "Đến khi em về nước rồi, quang minh chính đại tổ chức hôn lễ nhé."

Thẩm Hề nhận lấy tờ báo, nhìn mấy dòng bình luận được bút máy khoanh lại, đều là về Phó Đồng Văn.

Chưa đến một năm, anh từ thương nhân độc ác, kể phản bội cách mạng bị người người lên án, trở thành thương nhân yêu nước, tấm gương bất khuất được nhà nhà khen ngợi.

Mấy lời nhận xét thế này gần đây Thẩm Hề đọc được rất nhiều, cũng đưa cho Phó Đồng Văn xem.

Ở con người anh có một điểm đáng khâm phục nhất, dù mắng anh cỡ nào, anh vẫn nở nụ cười, dù khen anh ra sao, anh cũng nở nụ cười.

Những công lao và công kích dưới ngòi bút, hết thảy đều không liên quan đến anh.

"Trước đây tầm nhìn hạn hẹp, giúp tôi xin lỗi anh ta."

Đoàn Mạnh Hòa nói câu cuối trước khi cô sắp đi.

Thẩm Hề nhận lời, khóa cửa phòng làm việc lại, đưa chìa khóa cho Đàm Mạnh Hòa: "Tạm biệt."

"Tạm biệt."

Tuy Phó Đồng Văn không để bụng, nhưng nghe người khác khen anh trước mặt mình, cô vẫn cảm thấy rất vui.

Thẩm Hề cầm hai tờ báo,tâm trạng vui vẻ chạy xuống tầng, đúng lúc gặp cậu năm và Phó Đồng Văn đang sanh vai đứng ngoài cổng lớn chờ cô.

Cậu năm mặc âu phục mới tinh, chân giả được giấu trong ống quần dài.

Ngày trước cậu đã quen mặc quân trang, hiếm khi khoác lên người âu phục nên có phần mất tự nhiên.

Cậu đút tay vào túi quần một lúc, thấy không thoải mái bèn bỏ tay ra đặt bên người, song vẫn cảm thấy gò bó.

Phó Đồng Văn thì ngược lại, anh chắp hai tay sau lưng, ung dung bình thản.

Hồi trước một mình Phó Đồng Văn tới đón cô tan làm đã trở thành cảnh đẹp của bệnh viện, hôm nay bên cạnh còn có thêm cậu năm bảnh bao, các bệnh nhân đều quên hỏi phải đăng ký lấy số thế nào, ai ai cũng ngó nhìn cánh cổng lớn màu trắng của bệnh viện.

Thẩm Hề giấu tờ báo sau lưng, bước tới gần.

"Cầm gì thế?

Sao cười vui vẻ vậy?"

Phó Đồng Văn ngó sau lưng cô, "Chi phiếu à?

Cậu ấm họ Đoàn cuối cùng cũng thừa nhận y thuật của em cao siêu, muốn mời em ở lại sao?"

Cô cười lắc đầu: "Trong mắt anh chỉ có tiền thôi."

"Anh ba là thương nhân mà, đương nhiên thích vàng thật bạc thật rồi."

Anh không hề nôn nóng, chờ cô tự nói ra, tiện thể còn châm chọc thiếu gia họ Đoàn kia: "E rằng anh ta muốn giữ em lại, dù dùng tiền hay dùng người cũng chẳng thắng được."

Thẩm Hề nhét tờ báo cho anh: "Anh ấy muốn nhờ em gửi lời xin lỗi đến anh vì ngày xưa nghĩ oan cho anh, cậu ba Phó ạ."

Anh không liếc mắt tới tờ báo đó mà trở tay đưa cho cậu năm.

"Xin lỗi thì không cần đâu."

Anh cong ngón tay gõ nhẹ lên sóng mũi cô, sau đó cười rộ, "Chịu thua là được rồi."
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 63: Mênh mông núi sông xưa 3


Họ từ bệnh viện về nhà, nghỉ ngơi một lát, bốn giờ chiều lại rời khỏi nhà.

Trong khoảng giờ này, đàn ông đi làm chưa tan ca, trẻ con đến trường vẫn chưa tan học, chỉ có phụ nữ tranh thủ lúc nắng đẹp mang chăn đệm, gối đầu và cả gạp lứt, bánh quy tích trữ trong nhà ra phơi.

Trong con ngõ yên ắng, bà Chúc đang cầm miếng giẻ lau chà cửa kéo sơn trắng của quán cơm nhỏ nhà mình.

Bà thấy bảy, tám người đàn ông chuyển từng rương hành lý ra liền liếc nhìn, nhận ra Thẩm Hề và Phó Đồng Văn.

"Cô Thẩm...

Phó phu nhân."

Bà Chúc bước tới, "Cô phải đi thật ư?"

"Vâng ạ, cháu lên miền Bắc."

Cô trả lời.

"Mấy ngày trước ông nhà tôi còn nói, định mời hai người đến quán cơm nhỏ này, tôi bảo Phó tiên sinh là nhân vật lớn, là người quan trọng trong giới thương nghiệp, sao có thể để mắt tới quán ăn bé xíu đây.

Nhưng cô cậu sắp đi... tôi hối hận rồi, đáng lẽ phải mời hai người tới ăn bữa cơm."

Bà Chúc quay người chỉ tay vào bên trong: "Có điều vẫn sẽ về nhỉ?

Khi nào về tôi làm mấy món ăn vặt cho cô cậu thử, tay nghề của tôi cũng khá lắm đấy."

Cô gật đầu: "Sẽ có cơ hội gặp lại ạ, cháu chúc bác làm ăn phát tài."

"Quán nhỏ thôi, làm ăn gì chứ, sau này Phó tiên sinh mới là làm ăn phát tài."

Phó Đồng Văn không quá quen biết với đôi vợ chồng họ Chúc này, tất cả thiện cảm có được đều từ lời miêu tả của Thẩm Hề.

Nhưng trong mấy lần gặp hiếm hoi, họ đều đối xử thân thiện với cô, đương nhiên anh cũng cảm kích.

Nhân lúc Thẩm Hề chào tạm biệt đối phương, anh gọi Vạn An tới dặn dò mấy câu.

Vạn An lập tức lấy lì xì đã chuẩn bị sẵn trong ngực áo ra đưa cho anh.

"Cháu có chúc quà mọn mừng khai trương muộn."

Phó Đồng Văn tươi cười đưa cho bà Chúc.

"Thế này sao được."

Bà Chúc từ chối, bất cẩn quệt chiếc giẻ ướt trong tay và tay Phó Đồng Văn, sự thất thố vô ý làm bà càng thêm ngượng ngập: "Không được đâu."

"Mọi người đều làm ăn cả, chỉ để lấy may thôi bác."

Phó Đồng Văn cười đáp.

Bà Chúc không còn lý do để từ chối, đành phải nhận lấy.

Sau chiếc xe hơi chờ ở đầu ngõ, họ chuyển hành lý lên xong thì chia thành hai nhóm, bước lên hai chiếc xe đầu tiên.

Thẩm Hề ngồi vào trong xe, vẫn đang nghĩ về bao lì xì kia: "Sao Vạn An còn chuẩn bị cả thứ đó vậy?"

Cậu năm ngồi ở ghế trước quay đầu hỏi ngược lại: "Chị dâu chưa bao giờ thấy sao?

Trước đây ở Bắc Kinh anh ba là thần tài phát lộc có tiếng đấy."

Cô lắc đầu, chưa từng nghe thấy.

"Chị dâu còn nhớ hôm nghe kịch đón năm mới, anh ba ném tiền từ trên tầng xuống không?"

"Em nhắc lại chị mới nhớ."

Anh đút hai tay vào túi quần âu, dựa người vào cột nhà dưới anh đèn lồng đỏ rực, cười nhìn em gái vung tiền xuống sân khấu.

Rõ ràng làm chuyện hoang đường, nhưng không ai thấy phản cảm.

"Chẳng trách..."

Làm người khác cứ lưu luyến mãi, đặc biệt là vị tiểu thư họ Cô đó.

"Được rồi."

Bỗng nhiên Phó Đồng Văn lên tiếng, "Đừng vạch trần tật xấu của anh trước mặt chị dâu."

"Đâu có tính là tật xấu."

Cậu năm cự nự.

"Chị dâu em đã nói "chẳng trách" rồi, nửa câu sau chính là ghen đấy."

Phó Đồng Văn nói: "Không tin em hỏi cô ấy xem có đúng không?"

Đương nhiên cô không chịu thừa nhận.

"Em muốn nói là... chẳng trách cậu ba Phó có thể kết giao với nhiều bạn bè đến thế, vừa hào phóng lại vừa khảng khái."

"Ồ?"

Phó Đồng Văn trả lời bằng một từ đơn.

Thẩm Hề buồn bực, không lên tiếng nữa.

Cậu năm muộn màng nhận ra có gì đó không ổn ở hàng ghế sau, bèn thức thời ngậm chặt miệng lại.

"Cậu ba, có thể đi rồi."

Lái xe xác nhận tình hình năm chiếc xe đi sau qua gương chiếu hậu.

Phó Đồng Văn lấy đồng hồ quả quýt cỡ nhỏ ngay trong ngực áo ra đặt vào trong lòng bàn tay, tiếng "tích tắc", "tích tắc" khẽ vang lên.

Hai con chim công màu xanh biếc ôm lấy mặt đồng hồ bằng sứ trắng, kim giờ và kim phút đang chỉ bốn giờ mười lăm.

Bây giờ tàu mới đến ga, thời gian vẫn còn sớm.

Anh cất đồng hồ quả quýt đi, căn dặn lái xe: "Đến công viên Hoàng Phố trước."

"Định gặp ai ư?"

Thẩm Hề thấy khó hiểu.

Anh lắc đầu: "Không gặp ai cả, đưa em đi ngắm cảnh thôi."

Cô thấy Phó Đồng Văn cương quyết nên không hỏi thêm, lấy đuôi cáo trên cổ mình xuống phủ lên đầu gối hai người.

Trong xe không ấm bằng trong nhà, không có lò than sưởi ấm, cô sợ anh không chịu nổi.

Xe của họ là chiếc đi đầu, năm chiếc xe còn lại theo sau, chạy theo hướng Bắc về phía bến cảng.

Bình thường Thẩm Hề luôn bận rộn việc trong bệnh viện, lại không quá thích mấy trò vui chơi giải trí nên chưa từng đến công viên công cộng nào ở Thượng Hải, ấn tượng về công viên Hoàng Phố cũng là từ 2 năm trước.

Khi ấy từ căn phòng trong khách sạn Hối Trung, cô phóng tầm mắt nhìn ven bờ bến cảng phía xa xa.

Công viên được xây dựng ven bờ sông, có cây bụi lẫn cây cao to, có những băng ghế dài cho người dân nghỉ ngơi và đài phun nước được đúc bằng đồng, được thiết kế theo phong cách phương Tây.

Hồi ấy phục vụ khách sạn còn giới thiệu rằng trong công viên có cả bia đá tưởng niệm tướng quân nước ngoài, do năm xưa chính phủ nhà Thanh xây để nịnh bợ người phương Tây.

Khi đó cô không có hứng thú với nó nên không để tâm lắm.

Bây giờ nhớ lại vẫn không cảm thấy phong cảnh nơi đấy có gì đặc biệt đáng để ngắm một lần trước khi rời khỏi Thượng Hải.

Xe chầm chậm dường lại ven đường.

Đến công viên rồi.

"Anh ba sẽ không xuống cùng em."

Phó Đồng Văn nói với người phía trước, "Em đến cổng lớn tìm bảng thông báo của công viên, sau đó đọc thật kỹ."

Rõ ràng anh đang úp úp mở mở.

Từ nhỏ cậu năm đã thân thiết với Phó Đồng Văn, biết rất rõ tính cách của anh, đoán anh ba đang muốn đánh đố gì mình, bởi vậy vô cùng thích thú xuống xe một mình, tay phải chống lên đùi theo thói quen, thêm sự giúp đỡ của cây gậy chống, bước chân rất vững vàng, không hề để ý đến những cái nhìn bất chợt của người qua đường.

Thẩm Hề vén tấm rèm bên trong cửa sổ lên nhìn bóng lưng của cậu năm, phát hiện cậu đang tìm kiếm bảng thông báo, chợt bị người khác gác cổng cản lại.

Hai người trao đổi gì đó, cậu năm nhanh chóng có những động tác không thoải mái.

"Sao thế nhỉ?"

Phó Đồng Văn không trả lời.

Hình như cậu năm đang thuyết phục đối phương, cậu đứng thẳng lưng trước cánh cổng sắt đọc bảng thông báo.

Thẩm Hề chờ đợi.

Một đôi vợ chồng người Đông Nam Á gốc Hoa lướt qua lưng cậu, người phụ nữ có vóc dáng nhỏ bé dắt tay cô bé có nước da bánh mật.

Cô bé tò mò nhìn cậu năm đang đứng trước cổng sắt, chạy lon ton đến sau lưng cậu, mở to mắt ngó nghiêng.

Phó Đồng Lâm bất ngờ quay người lại, suýt nữa đụng vào cô bé ấy, bèn gật đầu tỏ ý xin lỗi rồi vội vã quay về.

Cậu năm vừa lên xe không còn vẻ thích thú như lúc xuống xe, đặt ngang cây gậy chống trước người, khuôn mặt trầm tư.

"Nhìn thấy chưa?"

Phó Đồng Văn hỏi.

"Thấy rồi ạ."

Cậu đáp.

"Nhớ chưa?"

"Nhớ rồi ạ."

Thẩm Hề không hiểu gì hết, không kìm lòng được mà hỏi "Hai người đang đố nhau gì vậy?"

Cô hỏi cậu năm, "Anh ba em thích lấp la lấp lửng, hay em nói đi, đã nhìn thấy gì vậy?"

"The Gardens are reserved for the Foreign Community."

Cậu năm thì thào, "Đây là câu đầu tiên trên bảng thông báo."

Hóa ra thế...

Thẩm Hề lặng thinh.

Công viên chỉ mở cho người nước ngoài vào.

Đây là dòng chữ Phó Đồng Văn muốn cậu đọc được.

Từ nhỏ cậu đã sinh ra trong nhà họ Phó, ở Bắc Kinh cũng là cậu năm có mặt có mũi, dù sau này sống trong trường quân đội thì vẫn được hưởng chế độ của con cháu thế gia.

Sau khi lên chiến trường, cậu phải đối mặt với nội chiến của người Trung Quốc, cuộc giằng co giữa chính phủ Bắc Dương và phái Cách mạng.

Cậu chưa từng đến Tô giới, chưa từng đi du học, cũng chưa có cơ hội nói chuyện với người nước ngoài.

Khi liên quân tám nước vào Bắc Kinh, cậu vẫn còn nhỏ, khi ký hiệp ước bán nước "Hai mươi mốt điều"1, dù cậu và các bạn học trong trường quân đội vẫn hô hào "đánh mất chủ quyền, làm nhục đất nước"... nhưng hiểu biết về Tô giới, về người phương Tây cũng chỉ đến thế, như phần nổi của tảng băng trôi.

1Trong CTTG thứ I, Nhật Bản tìm cách duy trì vị thế của mình tại Trung Quốc bằng việc đưa ra 21 điều hỏi áp đặt lên Trung Quốc vào năm 1915.

Ngoài việc nói rộng tầm kiểm soát của họ lên các Tô giới của Đức ở Mãn Châu và Nội Mông, Nhật Bản còn muốn chia phần làm chủ một cơ sở chính khai thác và luyện kim ở miền Trung Trung Quốc, cấm đoán Trung Quốc nhường hay cho thuê các khu duyên hải cho cường quốc thứ ba, kiểm soát quân sự, chính trị và kinh tế.

Lục Chinh Tường là người ký hiệp ước này.

Ban nãy cậu bị chặn trước cổng.

Bị cản lại trên mảnh đất của chính người Trung Quốc, trước cảnh cổng lớn của công viên công cộng không thu phí.

"Sau khi đến Thượng Hải, anh đã đi ba công viên Hoàng Phố, Hồng Khẩu và Triệu Phong, bên ngoài cổng lớn của mỗi công viên đều treo biển giống hết thế này.

Đây chính là Thượng Hải hiện tại."

Phó Đồng Văn bình tĩnh nhìn cánh cổng lớn của công viên Hoàng Phố, "Hễ là đàn ông Trung Quốc còn tâm huyết đều nên đến đây xem."

"Anh ba..."

Cậu năm muốn nói gì anh đều hiểu.

"Đi thôi."

Phó Đồng Văn lướt mắt qua cổng công viên, mỉm cười nói: "Đến nhà ga."

Xe hơi không nán lại thêm, chạy về hướng nhà ga.

Trong yên tĩnh, cô đưa tay vuốt lớp lông đuôi cáo.

Phó Đồng Văn yên lặng nắm lấy tay cô, nhẹ nhàng xoa bóp làm ấm.

Thẩm Hề lặng lẽ nhìn vào mắt anh, bắt gặp nét cười trong đôi mắt ấy, lòng cô mới bình yên trở lại.

Dạy cậu năm điều gì không quan trọng, đáng sợ nhất là sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng đang vui của anh.

Khi xe đến nhà ga trời đã tối đen.

Bầu trời bên ngoài nhà ga bụi bặm mịt mù.

Lái xe và nhóm đàn ông xách hành lý xuống, mọi người đang bàn bạc xem phân công khuân vác thế nào.

Trước đây, mỗi lần Phó Đồng Văn ra ngoài đều bao hẳn một đoàn tàu hỏa cho toàn bộ hành trình.

Chỗ tốt của việc thuê trọn một chuyến tàu có rất nhiều, trong đó xe hơi có thể chạy thẳng vào nhà ga, đặt hành lý trên sân ga.

Nhưng hành trình ngày hôm nay đến sát giờ mới quyết định, họ không kịp thuê tàu hỏa, đành phải mua vé nửa toa thượng hạng, dù vận chuyển hành lý hay chở tàu đến đều không khác gì những hành khách bình thường.

Nói cách khác, họ chỉ có thể tự mình khiêng từng rương hành lý vào.

Mọi người đang định chia thành hai lần chuyển, Phó Đồng Văn bỗng nhấc một chiếc vali lên: "Ngoài em năm, những người còn lại mỗi người xách một cái, cùng mang vào sân ga."

Thẩm Hề lập tức xách vali đựng đầy sách của mình lên hưởng ứng theo anh.

"Cậu ba."

Vạn An đuổi theo định cướp lấy hành lý, "Sức khỏe của cậu không tốt, vẫn nên chú ý một chút thì hơn."

"Ngày trước cậu ba đi du học ngước ngoài, mang theo ba cái vali, chẳng lẽ không phải tự mình xách ư?"

Phó Đồng Văn ngoảnh đầu, hỏi Thẩm Hề cách mình nửa bước ở đằng sau: "Mợ ba cũng thế, đều đã sống cực khổ ở trời Tây nhỉ?"

"Đúng thế, cậu ba không lừa cậu đâu."

Thẩm Hề cười khoác tay Phó Đồng Văn, nói với Vạn An, "Cậu đừng tưởng những người ra nước ngoài du học đều chỉ hưởng thụ, phải trải qua khó khăn cả đấy."

Vạn An vẫn muốn cản nhưng hai người đã bước vào sân ga trước.

Lúc sáu giờ, chuyến tàu cuối cùng đến Thượng Hải đã đến ga, hành khách từ trong đi ra đã vãn từ lâu.

Bởi vậy hiện giờ, dù là người cầm sọt cắp giỏ, người dìu người già bế trẻ con, hay là những tthanh niên xách hành lý đều chen chúc về phía trước.

Thẩm Hề và Phó Đồng Văn đi theo dòng người, như bị thủy triều đẩy vào sân ga.

Bọn họ nhiều người, hành lý cũng nhiều, mười sáu cái vali lớn bé tập trung lại một chỗ, chất thành một ngọn núi nhỏ.

Ở đầu sân ga, cứ cách mười mét lại có một cột gỗ treo một ngọn đèn.

Trong bóng tối, đống hành lý phản chiếu thành một cái bóng dài, vô cùng nổi bật.

Cũng nhờ đống hành lý này mà Chu Lễ Tuần đến muộn mới dễ dàng tìm thấy họ.

Anh ta vội vàng, trán mướt mồ hôi, lấy chiếc mũ trên đầu xuống làm quạt: "Suýt nữa thì không kịp."

Đang nói thì đèn đầu tàu chiếu thẳng vào mặt anh ta.

Anh ta cười, Phó Đồng Văn và Đàm Khánh Hạng cũng bật cười.

"Nào, lên tàu thôi."

Trong làn sóng ồn ã của dòng người ùa lên tàu, Phó Đồng Văn ôm vai Thẩm Hề bước lên.

Họ là nhóm người lên tàu đầu tiên, ghế trống lựa chọn còn nhiều, Thẩm Hề nhìn bốn phía xung quanh, cuối cùng chọn sô pha gần đầu tàu.

Đây là chỗ của bốn người, bốn chiếc sô pha đơn kê xung quanh chiếc bàn lùn nhỏ.

Chiếc bàn lùn được trải khăn trắng, bên trên đặt lọ thủy tinh màu đỏ lạnh.

Khi tàu hỏa rời ga mới có người đến cắm hai bông hoa giả vào từng lọ.

Thẩm Hề lật xem thực đơn.

Cậu năm ngồi đối diện cô, sau khi lên tàu thì luôn chằm chằm cửa sổ, mới đầu nhìn sân ga, sau đó nhìn đường sá, sau nữa ngoài màn đêm dày đặc, bên ngoài không còn phong cảnh nào có thể ngắm.

Lúc này cậu mới thong thả lấy một túi giấy nhỏ ra, xé miệng túi.

Trên túi giấy dán một dòng "trần bì"1 chữ đỏ viết bằng bút lông.

1Trần bì (vỏ quýt) là vị thuốc phổ biến trong y học cổ truyền, có mùi thơm, vị cay, đắng, tính ấm, tác dụng điều hòa khí huyết, tiêu đờm, kiện tỳ.

Thường dùng chữa đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, ho có đờm, kém ăn, nôn mửa, tiêu chảy,...

"Chị dâu ăn không?"

Cậu năm đưa tới trước mặt cô.

"Mua khi nào vậy?"

Cô thắc mắc, theo lý thì cậu không có thời gian đi mua.

"Một cô y tá tặng, là một cô bé."

Cậu năm trả lời, "Anh ba ở trong phòng bệnh của em cũng được tặng một gói."

Y tá?

"Có phải là người nhìn giống học sinh, bề ngoài dịu dàng ít nói không?"

"Vâng, y tá trong bệnh viện chị đều thích nói cười, chỉ mình cô ấy kiệm lời."

Cậu năm ăn một miệng trần bì, nhận xét, "Cô ấy nói, cô ấy có một người anh trai làm lính, nhìn thấy em thì cảm thấy thân quen."

Đúng là dễ lừa được anh chàng ngốc.

Thẩm Hề liếc Phó Đồng Văn.

Anh đương nhiên đã biết tỏng suy nghĩ của cô, nhưng vẫn vờ như không hiểu, cũng lấy một gói trần bì ra: "Em năm không nói anh cũng quên mất.

Em nhìn anh làm gì?"

Anh cười tủm tỉm, để gói trần bì chưa bóc lên chiếc bàn lùn: "Muốn ăn thì tự lấy đi."

"Em chẳng thèm, để em năm ăn dần cho đỡ thèm."

Phó Đồng Văn nở nụ cười, hất cằm về phía cửa rồi đứng dậy đi tới đó.

Anh định làm gì vậy?

Thẩm Hề cũng rời chỗ.

Cô đẩy cửa kéo của toa tàu ra, Phó Đồng Văn đứng tựa người ở nơi ấy, mỉm cười nhìn cô.

Thẩm Hề trở tay đóng cửa lại.

"Người ta tặng em năm gói trần bì, sao em lại giận cá chém thớt sang anh?"

Anh vạch trần cô.

"Đâu phải giận cá chém thớt... em chỉ cảm thấy da mặt anh dày quá thôi."

Thẩm Hề bất bình thay cô y tá, "Người ta mua hai gói, chắc chắn đều tặng cả cho em năm, anh lại cướp mất một gói, có phải là cố ý gây rối không?"

Anh phân trần đâu ra đấy: "Nếu anh không nhận trước, em năm sẽ không nhận đồ của người ta đâu.

Anh ba đang làm người tốt mà, nhưng trong mắt em lại thành ra trêu đùa con nhà người ta mất rồi."

Nói đoạn, anh thở dài: "Một đôi vợ chồng son sắt, đang yên đang lành lại nghi ngờ nhau chỉ vì một gói trần bì..."

Tiếp đó, anh lại cười đùa: "Quả nhiên là thiên hạ thái bình rồi, anh cũng học được cách nói chuyện phiếm với người khác."

Thẩm Hề vừa định đáp trả lại anh thì cửa khoang hạng nhất được kéo ra, phục vụ bê đồ uống vào.

Cô ấy sững người vì không ngờ có hai vị khách nam nữ đang đứng trong góc thủ thỉ tâm sự, lập tức chuyển sang mở cánh cửa khoang thượng hạng, hai người đàn ông bảo vệ Phó Đồng Văn đứng trước cửa làm cô ấy giật thót...

Phó Đồng Văn cười cười xin lỗi, kéo tay Thẩm Hề tiến vào khoang hạng nhất.

Thẩm Hề không biết anh định đi đâu, dưới chân là đôi giày cáo gót, loạng choạng đi theo anh: "Đi đâu thế?"

"Đi ngắm phong cảnh."

Anh đáp.

Họ đi trước, bốn người đàn ông theo sau, từ khoang hạng nhất đến khoang hạng hai, lối đi càng lúc càng hẹp, hai bên không còn là ghế sô pha trang nhã hay hàng ghế ngồi xếp cạnh nhau mà là những hành khách ngồi chen chúc và những bọc chăn đệm, đòn gánh được quấn bện lại.

Phó Đồng Văn không ngờ toa phía sau lại nhiều người đến vậy, anh kéo Thẩm Hề đến trước mình, ôm cô vào lòng nhích từng bước về phía đuôi tàu.

Toa này cách đầu tàu đốt than xa nhất, không được sưởi ấm, nhưng vì người quá nhiều, ngược lại còn ấm hơn toa trước.

Ở đuôi tàu, sáu, bảy con nghiện ngồi co ro dựa vào vách toa tàu, khắp người nồng nặc mùi thuốc phiện khét lẹt trộn lẫn với mùi mồ hôi tanh tưởi.

Vì sự tồn tại của ma nghiện mà trẻ con phụ nữ đều xa lánh.

Thẩm Hề đi qua, mùi gay mũi bốc lên làm dạ dày cô nhộn nhạo.

May thay anh đẩy cửa kính ở đuôi tàu ra.

Trong làn gió đêm mát lạnh đang gào rít, Phó Đồng Văn cởi áo khoác bọc kín Thẩm Hề lại, rồi mới đưa cô ra ngoài.

Trên ban công ở đuôi tàu, một người đàn ông trung niên quấn chăn bông cầm đèn tín hiệu, dưới cánh tay kẹp lá cờ hiệu đang chuẩn bị vào trong tránh gió.

Bất ngờ gặp một đôi trai gái ra ngoài hóng gió, ông ta vô cùng ngạc nhiên.

Bên ngoài nhiệt độ gần âm độ, rét đến thấu xương.

Bốn phía còn tối đen như mực, ồn ào vô cùng.

Dù thế nào cũng không phải là nơi để hẹn hò.

Nhưng đối phương vẫn lịch sự nhường đường cho họ.

"Mưa rồi."

Gió hòa cùng với mưa rơi xuống trước giày của họ, mưa không to nhưng đủ để làm ướt giày hai người.

Máu và thân nhiệt anh đều tăng cao, với tâm trạng hiện giờ của anh, màn đêm xa xăm, làn mưa mênh mang, vùng hoang vu trong cơn gió đều là những phong cảnh làm lòng người đắm say.

Thẩm Hề không cần quay đầu cũng biết anh đang vui vẻ.

Cô đoán anh vui vì chuyến đi tới Paris.

"Lạnh không em?"

Anh hét to hỏi cô.

Trong tiếng ồn ào của đoàn tàu chạy, dù hai người mặt đối mặt thì cũng phải hét to mới nghe rõ được tiếng của đối phương.

Cô quay người lại ôm lấy eo anh, cất cao giọng: "Anh không thể ra gió được, nhiều nhất là hai phút thôi, sau hai phút bắt buộc phải vào đấy!"

"Chỉ hai phút thôi ư?"

"Đúng."

Gương mặt cô bị gió thổi đau rát, "Hai phút thôi!"

Anh mỉm cười, chân mày giãn ra một cách hiếm thấy.

Một phút trước khi Thẩm Hề định nói tiếp, anh chợt cất giọng hét to với vùng núi hoang vu và đường ray tàu không ngừng lùi về phía sau: "Uyển Ương...

Thẩm Uyển Ương..."

Gió thổi vù vù bên tai, hôm nay là lần hiếm hoi anh thỏa sức làm càn.

Tim cô đập điên cuồng, chẳng hề rào trước đón sau anh đã cúi đầu xuống cướp trọn hơi thở cô.

Trong còn gió quay cuồng, trong âm thanh chói tai khi bánh xe cọ xát với đường ray, cô bỗng ảo giác như chân mình giẫm hụt... tay bất giác ôm chặt lấy anh, vòng qua cổ anh.

Hơi ấm trên người đều bị gió dữ thổi tan, chỉ còn nhiệt độ nóng bỏng giữa môi lưỡi quấn quýt lấy nhau.

Anh trao cô nụ hôn bằng tất cả những gì mình có.

Nụ hôn ấy làm cô như chìm trong biển sâu vạn dặm.

...

"Đến chưa?"

Anh cười, cánh môi dán bên vành tai cô, bám riết không thôi, "Em nhìn đồng hồ của anh ba xem, đã đến giờ chưa?"

Không chờ cô lấy, Phó Đồng Văn đã tự cô lấy ra, "cách" một tiếng mở nắp đồng hồ.

Thẩm Hề chỉ thấy đôi chim công trên mặt đồng hồ lóe qua mắt, chưa kịp xem kim giờ kim phút chỉ vào đâu thì anh đã cất đồng hồ đi.

"Không có đen, anh ba không nhìn rõ."

Anh nói.

Thẩm Hề tức cười, kiễng chân lên ghé vào tai anh thì thầm: "Anh không muốn xem thì có."

"Em đoán trúng rồi."

Anh khẽ cười đắc thắng, hôn thêm một cái lên môi cô, "Đúng là anh ba không muốn xem."
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 64: Mênh mông non núi xưa 4


Tay Thẩm Hề lạnh như băng, được bàn tay anh bắt lấy, cô vô thức giãy mấy cái toan rút tay ra: "Tay em lạnh lắm."

"Bên anh còn lạnh hơn, anh thử xem?"

Anh siết chặt lấy tay cô.

Hai người bốn bàn tay, đều ngấm cái rét như nước đá.

"Là anh không tốt, quen thói làm liều."

Anh hà hơi vào lòng bàn tay cô, "Bàn tay của bác sĩ ngoại khoa không thể để cóng được."

Tựa như cô cảm nhận được cơn tê dại ấm áp ấy, nhưng thật ra tay cô đã đông cứng cả rồi.

Nhân lúc anh áy náy, phải ép anh quay về toa tàu mới được.

"Vào trong nhé anh?"

Thầm Hề hạ thấp giọng nài nỉ, "Em lạnh sắp chết rồi."

Phó Đồng Văn nhìn cô.

Sự tinh ranh của cô gái, nhất là những tính toán nhỏ được nghĩ ra vì anh, quả thật làm anh rất khó chối từ.

Bốn vệ sĩ đứng gác ở cửa cũng lo lắng cho sức khỏe của Phó Đồng Văn, vừa thấy Thẩm Hề ngoảnh đầu, không chờ cô đưa tay, họ đã kéo cửa toa tàu ra, hộ tống hai người ướt nhẹp trở về.

Từ toa tàu có con nghiện tụ tập trong bầu không khí nhơ nhớp đến toa tàu vang lên tiếng ngáy như sấm, trẻ con đi tới đi lui, Phó Đồng Văn đều lau nước đọng trên tóc cô.

Đến khi về tới toa tàu của họ, chiếc khan tay màu trắng bằng vải đay trên tay anh đã ướt sũng.

Vạn An đã chuẩn bị sẵn nước nóng, đưa cho hai người chiếc khăn nóng bỏng tay.

Khoang thượng hạng có phòng thay đồ, Thẩm Hề và Phó Đồng Văn thay bộ quần áo sạch sẽ thoải mái khác, Vạn An lại đưa cho mỗi người một tách trà nóng, bắt đầu lải nhải: "Cậu chủ à, tôi nói này, mấy ngày nay cậu không bị sốt nên quên mất mình bị bệnh rồi phải không?"

Phó Đồng Văn nhận lấy tách trà.

"Nóng đấy, cậu uống chậm một chút."

Phó Đồng Văn thổi lá trà trôi phía trên.

"Lần này đến Paris đường xa trắc trở, nếu ngày nào cậu cũng ra ngoài, tôi không hậu hạ cậu nổi mất.

Chi bằng cậu vứt tôi ở Bắc Kinh luôn đi, mọi người cứ đi lên phía Bắc, tôi ở lại trông nhà.

Tôi không chịu nổi nữa rồi, tim tôi cũng không khỏe lắm đâu, thấy cậu coi thường sức khỏe của mình tim tôi đau thắt lại, thở không ra hơi..."

"Được rồi."

Phó Đồng Văn không nhịn được cười, "Cậu nhóc à, còn chưa đến hai mươi tuổi mà suy nghĩ đã như người tám mươi rồi, tôi cũng không chịu nổi cậu, chiều theo, cậu để cậu ở lại Bắc Kinh."

Vạn An nghẹn lời, mắt nhìn trân trối, gương mặt đỏ bừng, nóng ruột nóng gan.

"Cậu đừng dọa trẻ nhỏ."

Đàm Khánh Hang thở dài, "Thấy chưa, sắc mặt Vạn An trắng bệch cả rồi kìa."

"Không phải trắng, mà là đỏ."

Virtue nghiêm túc sửa lời.

Mọi người đều cười rộ.

Thẩm Hề đưa tay ra hiệu im lặng.

Cậu năm đã quen giờ giấc nghỉ ngơi trong bệnh viện, lúc này đang tựa người vào cửa sổ thiếp đi.

Đầu cậu hơi cúi xuống trượt dần về bên trái.

Thẩm Hề lấy thảm lông cừu đắp lên người cậu, nhỏ giọng dặn dò Vạn An: "Cậu giúp cậu năm tháo chân giả đi, lúc ngủ không nên đeo, ngày mai sẽ bị ứ máu."

Vạn An luồn tay xuống dưới tấm thảm lông cừu, cởi thắt lưng cậu năm, tụt quần dài xuống, nhìn dây da buộc lằng nhằng mà không biết phải bắt đầu từ đâu.

"Để tôi làm, cậu nhìn nhé."

Thẩm Hề làm mẫu cho Vạn An xem, nửa chừng thì cậu năm tỉnh giấc, mơ màng nhìn quần dài của mình bị tụt qua đầu gối, giật mình nhảy dựng lên.

Thẩm Hề giữ cậu lại: "Được rồi, ngủ đi."

Cô đã che kín từ eo trở xuống cho cậu.

"Sao chị dâu lại tự tay.."

Giọng cậu khàn khàn, "Đáng lẽ nên gọi em dậy."

"Em xấu hổ gì chứ?"

Phó Đồng Văn nhấp một hớp trà, "Trước hết chị dâu em vẫn là bác sĩ, còn là bác sĩ điều trị chính của em, sau đó mới là phụ nữ."

Cậu năm lúng túng, vừa xấu hổ vừa khó xử, đành phải chọn cách tiếp tục ngủ.

Đến nửa đêm, chỉ còn lại tiếng xình xịch của tàu hỏa.

Thẩm Hề ngủ không sâu, khi tỉnh lại thì thấy bóng hình mình phản chiếu qua cửa kính tàu hỏa, cùng với Phó Đồng Văn cũng tỉnh táo giống mình.

"Anh không ngủ ư?

Hay vừa mới tỉnh giấc?"

Cô kề sát vai anh, khẽ khàng hỏi.

"Em vừa dạy thì anh cũng tỉnh theo.

Ở bên nhau lâu như thế, về mặt này chúng ta tương thông đấy."

Anh đáp.

Thật ra cũng không bao lâu, mà như đã quen nhau nửa đời người rồi.

Cõ lẽ thêm cái duyên giữa anh và nhà họ Thẩm nữa nhỉ?

Thẩm Hề khẽ xê dịch đôi chân, thấy hai gói giấy nhỏ bên cạnh chiếc bình hoa màu đỏ bèn nghĩ tới chuyện Phó Đồng Văn thẳng thắn yêu cầu cậu năm liên hôn: "Lòng dạ anh sắt đá quá, đến em trai mình cũng ép liên hôn."

"Là lòng dạ Ương Ương quá mềm yếu."

Anh cười.

Có lẽ thế.

Anh nói tiếp: "Con cái trong gia đình bình thường khi bị mất một chân, nhay cả việc vặt để sống qua ngày còn khó tìm.

Em năm chúng ta mất một chân nhưng vẫn có thể đến Pháp làm ngoại giao đã là may mắn lắm rồi."

Anh thì thào, "Đất nước chúng ta nằm ở thế yếu, ngoại giao càng thêm khó khăn.

Ngày xưa Cô Ấu Vi quay về tìm anh, không chỉ vì mình anh đâu, mà vì cô ấy còn nhắm trúng các mối quan hệ anh đã tích lũy được nữa."

Anh ngừng lại giây lát mới nói khẽ: "Anh ba muốn ăn đòn rồi mới kể chuyện về Cô tiểu thư với em."

"...

Em không nhỏ nhen thế đâu, anh cứ kể tiếp đi."

"Không nói nữa."

Tiếng cười anh rất nhỏ, "Tóm lại, trên thế giới này không có miếng bánh nào từ trên trời rơi xuống, anh có thể trải sẵn đường cho chú ấy, nhưng không thể dìu chú ấy đi đến cuối cùng, dù thế nào chú ấy vẫn phải dựa vào chính minh.

Mà em ngủ một lát đi, chuyện này có thể nói tiếp trên đường."

Cũng đúng.

Quãng đường dài đằng đẵng sau đó, chỉ có cách tán gẫu mới giết được thời gian.

"Chính phủ Bắc Kinh và chinh phủ miền Nam cùng cử đại diện tham dự cuộc họp, thanh viên nòng cốt có năm người, bộ trưởng Bộ Ngoại giao là Lục Chinh Tường, ghế đại biểu thứ hai là đại diện miền Nam Vương Chính Đình, ghế đại biểu thứ ba là công sứ tại Mỹ Cố Duy Quân, người còn lại là công sứ tại Anh Thi Triệu Cơ và công sự tại Bỉ Ngụy Thần Tổ.1" Sau khi đến Bắc Kinh, Chu Lễ Tuần đã thu được tin tức mới.

Đoàn đại biểu gồm năm đại biểu chính và hơn năm mười người đi theo chính là đoàn ngoại giao đến Paris.

Đối với hội nghị hòa bình ở Paris, dù là chính phủ Bắc Dương hay chính phủ Tôn Trung Sơn đều lựa chọn kề vai sát cánh đối mặt với quốc tế.

____________

1Lục Chinh Tường, Vương Chính Đình, Cố Duy Quân, Thi Triệu Cơ, Ngụy Thần Tố đều là những nhà ngoại giao nổi tiếng của Trung Quốc đầu thế kỷ 20.

Mấy ngày sau khi đến Bắc Kinh, Phó Đồng Văn cũng bắt đầu giao thiệp với công sứ các nước, tranh thủ lấy được nhiều sự ủng hộ hơn nữa, bận rộn gần như không thấy bóng người đâu.

Ngày rời khỏi Bắc Kinh, anh vội vã trở về, rút gọn người đi theo, không mang theo bất cứ người làm nào.

"Chúng ta sẽ cùng đi tàu hỏa với bộ trưởng Bộ Ngoại giao, người càng ít càng tốt."

Phó Đồng Văn giải thích.

"Dù không đưa Vạn An đi cùng, tôi và Thẩm Hề vẫn chăm sóc tốt được cậu."

Đàm Khánh Hạng nói.

"Không, không, phải đưa tôi theo chứ."

Vạn An phản bác, "Tôi là người bảo vệ cậu chủ bình an mà."

"Mau thu dọn đi, đừng làm lỡ chuyến tàu hỏa buổi chiều."

Đàm Khánh Hạng cười an ủi, "Coi như cậu nhường cơ hội của mình cho Virtue, coi như Đàm tiên sinh này nợ cậu một ân huệ."

Vạn An rầu rĩ nhưng không còn cách nào.

Mỗi người một việc, lục tục tản ra.

Một tháng trước, vết thương của cậu cả Phó quá nặng không qua khỏi, chết trong bệnh viện ở Thượng Hải.

Con trai cả qua đời, lão phu nhân không muốn quay lại Bắc Kinh, một mình sống trong biệt thự cũ ở Thượng Hải, không cho phép Phó Đồng Văn đến thăm.

Chi trưởng nhà họ Phó xem như tan rã, trong mắt người ngoài chính là ruột thịt tương tàn, ứng nghiệm với câu "Vải một thước có thể may, thóc một đấu có thể giã, vậy mà an hem máu mủ chẳng thể dung tha cho nhau.1"

___________

1

Hán Việt: "Nhất xích bố thượng khả phùng, nhất đấu túc thượng khả thung, huynh đệ nhị nhân bất tương dung."

Một câu trích trong Sử ký – Hoài Nam Hành Sơn Liệt truyện của Tư Mã Thiên.

Thậm chí căn nhà cũ của Phó gia vốn đứng tên Phó Đồng Văn, sau vụ việc ở Từ Viên, anh muốn tặng nó cho cậu hai, song lại bị cậu hai uyển chuyển từ chối.

Anh thoáng đoán được suy nghĩ của cậu hai.

Nhà họ Phó từng một thời thét ra lửa trong thành Bắc Kinh, vô cùng nổi trội, giờ đây sụp đổ, tiếp tục sống ở đây cũng chẳng còn cảm xúc gì, đi ra đi vào chỉ làm trò cười cho người khác.

Đối với Phó Đồng Văn, mấy chuyện trà dư tửu hậu chẳng là gì cả, không làm ảnh hưởng đến tâm trạng của anh.

Nhưng căn nhà này, sân viện này đã mang theo quá nhiều quá khứ, anh cũng không muốn giữ lại.

Ví dụ như, Đồng Quyến đã tự sát trong phòng sách này.

Trước mắt anh đều là những chiếc rương gỗ, mấy ngày nay Thẩm Hề cùng mọi người thu dọn lại.

Thẩm Hề nghe nói anh muốn bán căn nhà này bèn tranh thủ chút thời gian rảnh rỗi, sắp xếp lại đồ đạc của anh, trên mỗi chiếc giương đều dán một tờ giấy, phân loại các món đồ theo sách vở, thư từ, đồ cổ và các thứ linh tinh khác.

Anh vắt ngang cánh tay lên vách ngăn giá sách, tay trái cầm một bức thư, đứng im không nhúc nhích.

Rèm được vén lên.

Gió cuốn tro trong chậu than lên, mang theo những đốm lửa tạo thành một lốc xoáy nhỏ rồi lập tức tan biến.

"Tuyết rơi rồi, còn lớn nữa."

Thẩm Hề hỏi, "Có phải là khởi hành sớm không?"

Cô chú ý đến bức thư trong tay anh.

Phó Đồng Văn mỉm cười vẫy tay với cô, chờ cô đến gần anh gập bức thư lại: "Đoán xem là thư của ai nào?"

"...

Người trao đổi thư từ với anh nhiều lắm, làm sao em đoán ra được."

"Cố Nghĩa Nhân."

Là anh ta sao?

Chẳng trách vừa rồi vào phòng anh lại thất thần như đang suy nghĩ chuyện gì.

Cô muốn đọc, nhưng lại sợ Cố Nghĩa Nhân viết thứ gì không hay ho, nói ra lại khiến anh khó chịu.

Thẩm Hề vẫn còn do dự, anh đã đưa bức thư tới trước mặt cô, thì thầm: "Cậu ta không biết địa chỉ của anh ở Thượng Hải, vì vậy phong thư này được gửi đến nhà cũ, giống như trước đây."

Anh muốn cô đọc.

Cô nhận lấy bức thư, chậm rãi mở ra.

Bên trong trống không.

Cô ngạc nhiên kiểm tra từ trên xuống dưới, rồi lại lật mặt sau ra nhìn: "Không viết gì hết?"

Cô vẫn muốn tìm phong bì.

"Đúng."

Anh cười nói, "Không cần tìm phong bì đâu, phía trên không viết thêm con chữ thừa nào, không có gì khác thư từ trước đây gửi cho anh lúc cậu ta còn đi du học."

Thẩm Hề thấy nụ cười của anh rất chân thành, ngón tay trượt theo nếp bức thư, vuốt ve từng tấc tờ giấy, ngẫm nghĩ câu "không có gì khác" của anh.

Trong đống thư trước đây cô thu dọn cho Phó Đồng Văn, đương nhiên có thấy xấp thư của Cố Nghĩa Nhân.

Nếu nói giống hệt lúc anh ta đi du học, vậy thì trên mỗi bức thư, Cố Nghĩa Nhân đều viết: "Thân gửi cậu ba."

Một cách gọi bình thường nhưng cũng rất kính trọng.

Thẩm Hề lại mở bức thư trắng ra, phong bì vẫn dùng cách gọi kính trọng như lúc đi du học, vậy mà bức thư trống không, một khi trong lòng đã hổ thẹn thì không cách nào hạ bút được.

Đối với Phó Đồng Văn, bức thư này chắc chắn đáng giá hơn những lời khen ngợi anh trên báo.

Anh nở nụ cười nhìn cô, cũng không nói gì, như bức thư trắng tinh.

"Phong bì đâu?

Em giúp anh cất giữ."

Thẩm Hề cũng tươi cười, "Xếp cùng với những bức thư trước đây, để tránh lộn xộn."

Anh hất cằm chỉ vào giường.

Thẩm Hề nhặt phong bì lên, nhét bức thư trở lại, giúp anh cất đi.

Buổi trưa, Vạn An đến Thiên Thụy Cư đặt cơm, đều là những món Phó Đồng Văn thích an.

Gần cuối năm, Thiên Thụy Cư đã hủy dịch vụ đặt cơm từ lâu, nhưng nghe nói cậu ba Phó về kinh, muốn nếm thử những món ngon trước đây, ông chủ Thiên Thụy Cư lập tức sai đầu bếp chuẩn bị, nửa canh giờ sau từ con đường bên nhà hát kịch Quảng Hòa đưa tới nhà họ Phó.

Bốn người đưa cơm bước vào cửa lớn, thấy nhà họ Phó vốn dĩ nên kết đèn chăng hoa, chuẩn bị đón năm mới, giờ đây ngoai việc cửa lớn treo đèn lồng đỏ lấy may ra thì chinh viện bên trong đều khoa kín, không hề có bầu không khí ồn ã tươi vui, họ đều bùi ngùi trao đổi ánh mắt với nhau.

Họ bước qua chính viện, đi qua phòng nô bộc, nơi đâu cũng trống huơ trống hoắc.

Con đường hẹp tuyết phủ dày, phía trước phía sau không có ai, như lạc vào tòa nhà cổ bỏ hoang, khi đến viện của Phó Đồng Văn mới có chút sức sống.

Người đưa cơm bước qua cửa thùy hoa, thấy một người phụ nữ mặc váy dài thắt eo cao bằng nhung tơ, choang da cáo trắng tinh quay lưng về phía họ, đứng trước sáp binh kiểm kê rương hành lý.

Dưới ánh nắng, tuyết rơi trước tiền sảnh, phủ lớp bông màu trắng lên.

Hình như người phụ nữ ấy nghe thấy tiếng động, bèn ngoảnh đầu lại cười: "Là người của Thiên Thụy Cư à?"

Trong tòa nhà cổ kiểu Trung, một mỹ nhân phương Tây bước ra, nhưng nhìn kỹ lại, mới hay là người phương Đông mắt đen tóc đen.

Những người làm thuê ở Thiên Thụy Cư thường đưa cơm đến nhà hát Quảng Hòa, hay được nghe thấy những tin đồn thú vị trong kinh.

Chuyện mọi người say sưa nói nhiều nhất chính là cậu ba Phó thành hôn.

Không ngờ cậu ba Phó hủy hôn đến bốn lần lại lấy cô gái ngày xưa cưới bài vị của cậu tư.

Chưa cần nói đến xuất thân của cô gái đó, chỉ cần một câu đơn giản "duyên phận kiếp trước" thôi cũng làm mấy cậu ấm trong kinh thanh bàn luận hơn nửa năm.

Trong các cậu ấm đó, có người khá thân với Phó Đồng Văn, nhưng nhắc đến vị mợ ba này, ai cũng lập lờ lấp lửng, không dám nói thẳng.

Chẳng lẽ chính là người này?

Cũng chỉ có dung mạo vị này mới phù hợp với các tin đồn khắp đầu ngõ cuối xóm.

Nhưng gì mà cô gái bần hàn được nuôi dưỡng trong động thuốc phiện chứ?

Rõ ràng người phụ nữ ấy mang phong thai của tiểu thư thế gia.

...

Thẩm Hề thấy họ không trả lời, bèn quay đầu gọi Vạn An: "Có phải cơm cậu đặt đến rồi không?

Vạn An?"

Vạn An vừa xuất hiện, mấy người đưa cơm mới sực tỉnh, dưới sự dặn dò của Vạn An, họ đặt từng hộp cơm ngay ngắn trước sáp bình, lần lượt khom người với Thẩm Hề, một tay đặt lên bàn chân, hanh lễ theo kiểu cũ.

Thẩm Hề gật đầu, "Các anh vất vả rồi."

Những người làm thuê cười theo, lùi ra khỏi viện.

Bởi Phó Đồng Văn căn dặn từ trước, Vạn An kê bàn ăn trong phòng sách, bày cơm, hâm rượu, tiện thể kể lại với anh: "Vừa rồi người của Thiên Thụy Cư đến. nhìn mợ chủ mà mắt trợn trơn luôn."

Phó Đồng Văn nghe vậy rất thích thú: "Sai người đưa tiền thưởng, lập tức đi ngay."

"Nhìn cho cậu vui mà."

Đàm Khánh Hạng trêu trọc.

Lần này Vạn An không đặt nhiều món, cốt để ăn nhanh, sơ gọi quá nhiều, nấu nướng chậm sẽ làm lỡ chuyến đi của họ.

Chưa đến mười món, súp vây cá, cải thảo luộc, cá hoa vàng sốt, lòng rán, canh trứng cá quả, tôm biển om dầu, thịt sấy chưng, thịt thái sợi xào rau, cá xào miếng, mỗi món ăn mùi vị đều đậm đà, thơm nức mũi.

"Món cải thảo luộc này là món ăn nổi tiếng nhất ở Thiên Thụy Cư đấy."

Phó Đồng Văn gắp thức ăn cho cô.

Vạn An lập tức giải thích: "Nói là luộc, nhưng mợ chủ đừng tưởng là luộc thật, đây là canh gà.

Phải dùng gà mái đẻ, vịt mái, thịt chân giò và xương sườn, thêm sò khô đun cho tới khi sôi, nêm gia vị rồi canh lửa hầm bốn tiếng đồng hồ.

Canh gà hầm xong chắc hẳn có dầu mỡ và tạp chất đúng không?

Vậy thì phải băm nhuyễn phần ức gà, khuấy thanh sốt đặc cho vào canh để hút tạp chất, ở Thiên Thụy Cư chỉ riêng công đoạn loại bỏ tạp chất và dầu mỡ này, ít nhất phải qua ba lần mới được món canh gà trong như nước uống đun sôi thế này."

"...

Cậu nhớ rõ quá."

"Cậu chủ thích ăn món này vì ít dầu mỡ, thật ra tôi cũng biết làm nhưng rất rắc rối."

Phó Đồng Văn nhưỡn mày: "Lời cậu chủ muốn nói đều để cậu nói hết cả rồi, cậu để tôi và mợ chủ còn chuyện thường ngày nào để nói đây?"

...

Vạn An lúng túng.

Mọi người cùng cười.

Phó Đồng Văn ăn cơm nhiều năm nay vẫn như một, gắp chưa được mấy lần đã gác đũa bên bát, dùng tay không bóc hạt sen.

Anh thích ăn những loại hạt nhỏ, vì ăn cơm rất ít nên ăn hạt để lót dạ.

Mỗi lần nhìn anh ăn cơm, Thẩm Hề đều nhớ tới câu ngày trước anh nói: "Ăn không cần no, mắc không cần ấm, miệt mài cần mẫn, nhọc công suy nghĩ."

"Nhìn anh làm gì?"

Phó Đồng Văn cười, nhét một hạt sen vào miệng cô.

Cô lắc đầu, người ta nói phụ nữ thích đàn ông, đến cuối cùng phần lớn tình thương đều gắn liền với tình mẹ, có lẽ chính là nỗi lòng của cô lúc này.

Sau bữa cơm, Vạn An đi pha trà.

Uống xong tách trà này, mọi người sắp phải lên đường.

Phó Đồng Văn sai người làm cuốn tấm rèm trong phòng sách lên, một mình anh dựa bên khung cửa, uống trà, thưởng tuyết.

Thẩm Hề biết anh vẫn còn quyến luyến, nhìn đồng hồ để sàn mấy lần, thấy không thể trì hoan thêm nữa mới nhắc nhở: "Chẳng phải anh sợ gặp phải đoan tiễn đưa nên muốn đến Chính Dương Môn sớm hơn một chút sao?"

Phó Đồng Văn quay đầu bước vào phòng.

Trên giày da của anh còn đọng tuyết, tạo thành hàng dấu chân trên sàn nhà.

"Hớp trà cuối cùng để lại cho em."

Anh đặt tách trà đến bên môi cô.

"Cái này cũng phần được."

Cô uống hết hớp trà, vẫn không nghĩ ra hàm ý trong tách trà này.

Anh cười, trầm ngâm giây lát mới giải thích cho cô: "Sau đêm nay liệu còn đêm nao, cùng em chung tách trà giữa trời tuyết."
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 65: Mênh mông non núi xưa 5


Uống xong tách trà, Thẩm Hề song vai cùng Phó Đồng Văn ra khỏi viện.

Người làm trong nhà họ Phó đều đã nghỉ việc, các viện bây giờ cũng đều bỏ hoang, đương nhiên không có người quét tuyết như trước đây.

Trên con đường hẹp phủ đầy tuyết trắng ngần, giày da giẫm đến đâu, tuyết lõm xuống đến đấy, dày không thấy đất đâu.

Cách một bức tường cao, thành Bắc Kinh ngoài kia vui mừng trong ngày cuối năm , còn nơi đây lạnh lẽo sau đổ nát.

Đến ngoài cổng chính, họ chờ xe hơi.

Phó Đồng Văn rảnh rỗi không có gì làm bèn phủi tuyết trên tảng đá, vỗ về nó như đang nói:"Anh bạn già, tạm biệt nhé."

"Từ lúc Ương Ương đi theo anh, chưa bao giờ thấy lúc anh ba nở mày nở mặt."

Anh hạ thấp giọng, cởi găng tay da dê màu đen xuống, gõ nhẹ vào lòng bàn tay, "Thật đáng tiếc."

"Đáng tiếc gì cơ ạ."

Cô khẽ hỏi lại,"Đáng tiếc vì em không thấy lúc anh phong lưu nhất ư?

Tô Khánh nói với em rằng, ngày xưa anh và cậu tư là " Vương tôn cưỡi ngựa hàng cây, ham mê đắm say, thiếu niên yêu đời".

Chỉ nghe thôi cũng biết thời thiếu niên anh đắc chí thế nào rồi."

Phó Đồng Văn nở nụ cười.

"Anh cười gì chứ?

Em đọc sai à?"

Cô không tỉnh thông thơ từ ca phú, bị anh cười khó tránh khỏi hoảng hốt.

Anh lắc đầu:"Không sai, nhưng nghĩ tới một câu khác, cũng được sáng tác bởi một vị thi nhân."

"Là gì ạ?"

"Mây trôi quay gót không tung tích, ngày ấy ở đâu rồi.

" Anh thong thả đọc, "Hứng thú nguội nhạc, bạn rược tan tác, đầu còn thuở thiếu thời.1"

1Hán việt: "Quy vân nhất khứ vô tung tích, Hà xứ thị tiền kỳ?

Hiệp hứng sinh sơ, Tửu dồ tiêu tác, Bất tự thiếu niên thì."

Trích thiếu niên du (Trường An cổ đạo mã trì trì) của Liễu Vĩnh thời Bắc Tống.

Vị thi nhân ấy sáng tác hai bài từ, trùng hợp thay lại là nửa đời trước và sau của một vị vương tôn công tử.

Thế gia lụi tàn, người đi nhà trống, đâu còn giống thuở niên hoa.

Cũng chính là tâm tình của anh.

Nhà họ Phó ngày trước, quanh năm suốt tháng có ba, bốn chiếc xe kéo chờ sẵn ngoài cửa, các cậu chủ cô chú tới tấp ra ngoài còn không đủ.

Không giống bây giờ, cửa lớn vắng tanh, đến một chiếc xe cũng không thấy.

Khi xe hơi đến, một chiếc xe kéo tay cũng trùng hợp đi qua.

"Cậu ba?"

Phu xe thấy Phó Đồng Văn thì niềm nở dừng lại, "Cậu muốn ra ngoài ư?

Để tôi giúp cậu gọi thêm mấy xe nữa nhé?"

"Hôm nay đã có duyên gặp mặt, vậy tôi phải chiếu cố việc làm ăn của anh rồi.

Đi gọi thêm đi."

Anh cười đồng ý.

Đối phương lập tức gọi thêm người đến, chẳng mấy chốc, năm chiếc xe đã dừng trước cửa nhà họ Phó.

Cậu ba đang thích thú, Vạn An đành phải làm theo, phân công mọi người chuyển hành lý lên xe hơi xong, thấy họ ngồi lên xe kéo tay, cậu không yên tâm bèn rỉ tai Thẩm Hề lẩm bẩm mấy câu, đều là những việc vụn vặt về ăn, mặc, đi, ở.

Đến khi họ khởi hành, Vạn An ghen tỵ liếc nhìn Virtue, than vắn thở dài vãy tay chào tạm biệt.

Khi đến Chính Dương Môn, đội đưa tiễn đoàn đại biểu cũng vừa tới.

Phó Đồng Văn sợ ồn ào nên tránh đám người đưa tiễn, vào phòng chờ hạng nhất chờ tàu, cho đến khi đoàn đại biểu đều lên tàu hết, anh mới đưa mọi người lên toa cuối cùng.

Chuyến tàu này được chuẩn bị riêng cho đoàn đại biểu, vì vậy từ toa đầu đến toa cuối đều sửa theo toa thượng hạng, có vách ngăn tạo thành từng phòng riêng.

Trong phòng riêng của họ có một chiếc bàn gỗ dài hẹp kê ở giữa, ghế ngồi hai bên được trải long ngỗng, ngồi xuống liền cảm thấy mềm mại, thoạt nhìn là biết dung để chống lạnh.

Sáu người họ chia ra ngồi hai bên, đối mặt với nhau.

Mới đầu không cảm thấy gì, nhưng đến khi trời tối nhiệt độ trong toa đã hạ xuống âm mười độ.

Phòng riêng rất hẹp, không tiện hoạt động.

Người không được cử động, mạch máu không lưu thông, càng thấy lạnh hơn.

Thẩm Hề và Phó Đồng Văn nhỏ giọng nói chuyện, làn hơi phả ra đều thành khói trắng.

"Đến Đông Bắc, rồi lại đến Triều Tiên, có phải sắp đông cứng rồi không?"

Cô nhẹ nhàng nói đùa, đưa cho anh chiếc khăn tắm vừa mới giặt bằng nước nóng để anh lau mặt.

Có người gõ cửa.

Vì quá lạnh nên hai toa đằng trước đã đốt lò than, bộ trưởng Bộ Ngoại giao sai người mời hành khách ở hai tòa sau đến sưởi ấm.

Phó Đồng Văn vì muốn tiến cử cậu năm nên đưa họ đến thẳng toa đầu tiên gặp bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Khi họ vào, Chu Lễ Tuần cũng ở đó, có cả phu nhân người Bỉ của bộ trưởng.

"Vị này là Phó phu nhân ư?"

Bộ trưởng cười bắt tay với Phó Đồng Văn xong thì nhìn Thẩm Hề.

"Chào ông."

Cô gật đầu.

"Nào, chúng ta ngồi xuống rồi nói."

Bộ trưởng rất săn sóc, hiển nhiên quen biết với Phó Đồng Văn và Chu Lễ Tuần.

Phu nhân bộ trưởng tự tay bưng trà tới đưa cho mỗi người họ, sau đó cười tủm tỉm nhìn Virtue, hỏi thăm quốc tịch và tên tuổi cô ấy.

Virtue thật thà trả lời, sau khi nghe Đàm Khánh Hạng phiên dịch xong, phu nhân bộ trưởng lập tức cười rộ lên dùng tiếng Đức nói chuyện với anh ta:" "Tôi đến từ Bỉ, vừa hay biết nói tiếng Đức không cần anh phiên dịch nữa đâu."

Tiếp đó bà nắm tay Virtue, thân mật bắt chuyện: " Tôi cũng tên là Virtue, chúng ta thật có duyên."

Đàm Khánh Hạng khá ngạc nhiên, dịch sang tiếng Trung cho mọi người ở đây.

Ai cũng vui vẻ vì sự trùng hợp này.

"Đã trùng hợp như thế này, vậy em nói chuyện với cô bé đi."

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nói với phu nhân.

"Được, mọi người cứ bàn chính sự đi, chúng tôi ra ngoài tâm sự."

Phu nhân đồng ý, nắm tay Virtue ra khỏi toa tàu.

Đàm Khánh Hạng không yên tâm lắm với tính cách của Virtue, sợ cô ấy sẽ cãi vã với phu nhân bèn vội vàng đi theo.

Họ vừa đi, bộ trưởng ra hiệu cho mọi người ngồi xuống nói chuyện.

Thẩm Hề và cậu năm ngồi góc trong cùng, trước mặt cô là lo than, sau lung là mười mấy chiếc rương gỗ đựng văn kiện ngoại giao quan trọng.

"Hồi cậu còn nhỏ, tôi từng gặp cậu, còn nhớ không ?"

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hỏi cậu năm: "Có lẽ đã quên rồi."

Cậu năm nở nụ cười, lắc đầu: "Không nhớ ạ."

Bộ trưởng thấy cậu thanh niên có chí muốn vào ngành ngoại giao, trong lòng cảm khái, mỉm cười lên tiếng: "Năm tôi vào nghề, thầy Hứa kể lại cho tôi một câu chuyện, lien quan đến đại sứ quán đóng tại Pháp.

Lúc đó vẫn là những năm cuối triều Thanh, đại sứ Pháp chúng ta phải thuê nhà dân, khi hết hợp đồng chủ nhà đến thu nhà lại, họ vô cùng tức giận.

Vì sao ư?

Vì từ trên xuống dưới trong đại sứ quán đều là những con ma nghiện, căn nhà bị phá hoại be bét.

Sau đó chuyện này làm ầm ĩ đến nổi không thể giải quyết, chúng ta mất sạch mặt mũi ngay trên đất Pháp."

Ông cười bất đắc dĩ, kể tiếp: "Thầy Hứa kể chuyện này chính là để nhắc tôi ba yêu cầu."

Ông đưa ba ngón tay lên, "Không hút thuốc phiện, không được chạm vào cờ bạc, càng không được đến nơi trai gái.

Hôm nay tôi kể lại cho cậu, vì Đồng Văn muốn cậu đi trên con đường ngoại giao, vậy thì, tôi hy vọng cậu cũng có thể làm được những yêu cầu trên."

"Cháu sẽ làm được."

Cậu năm nghiêm nghị hứa.

Bộ trưởng chìm đắm trong ký ức xưa kia, khó mà thoát khỏi: "Ông muốn bồi dưỡng tôi, nhưng không thích tập tùng bái thầy kế nghĩa, chỉ dặn dò cấp dưới để ý tôi nhiều hơn.

Ân sư của tôi ấy à... là một người mang nghĩa lớn, đào tạo tôi vì tổ quốc, chứ không phải vì muốn học sinh của mình có mặt thắp thiên hạ."

Thời đại ấy không dung nạp được quá nhiều người.

Thầy Hứa trong lời bộ trưởng chính là một bậc bề trên mà Phó Đồng Văn quen biết, quan ngoại giao nổi tiếng cuối triều Thanh Hứa Cảnh Trừng.

Người thầy giáo từng dạy Phó Đồng Văn thời nhỏ và tiểu thư nhà họ Cô chính là ông ấy, ngay cả câu Cô Âu Vi thường nói "Ngoại giao không thể học trong một sớm một chiều, nhân tài ngoại giao không thể lập tức có ngay được" cũng bắt nguồn từ ông.

Năm Quang Tự thứ hai mươi sáu, liên quân tám nước xâm lược Trung Hoa, vì phản đối chỉ dụ của Từ Hy Thái Hậu mà ổng bị triều đình xử chết.

Năm ấy Phó Đồng Văn mới đến Anh không lâu, nghe tin dữ liên quân tám nước vào thành Bắc Kinh và thầy Hứa bị xử chết, anh đổ bệnh nặng nửa tháng.

Bộ trưởng trầm mặt trong một thóang ngắn ngủi, Phó Đồng Văn cũng yên lặng theo.

Anh đưa tay lên lò than để sưởi ấm, trong mắt bập bùng ánh lửa.

"Thế hệ công sứ già như chúng tôi, những chuyện làm được là để mất chủ quyền làm nhục đất nước, những hiệp ước kí kết đều bất bình đẳng."

Bộ trưởng nhìn cậu năm, "Hiệp ước Dân Tử ký với Nhật Bản... cũng chính là "Hiệp ước hai mươi mốt điều" mà các cậu thấy trên báo do chính tay tôi ký.

Ngay cả phu nhân tôi cũng nói, tôi ký những văn bản ấy thì cả đời này đều là tội nhân có lỗi với Tổ quốc."

Giọng nói của bộ trưởng nhẹ bẫng.

Ông nhắc lại quá khứ, nhắc về một quá khứ nặng nề.

Cậu năm không biết phải trả lời thế nào.

"Ở Paris, chúng ta sẽ rửa được nhục cũ."

Phó Đồng Văn nói thay cậu năm.

"Đúng thế."

Bộ trưởng cười an ủi.

"Cuối cùng cũng chờ được đến ngày hôm nay."

Tiến cứ xong cậu năm, Phó Đồng Văn không muốn quấy rầy đối phương them.

Khi anh đưa Thẩm Hề và cậu năm rời khỏi toa tàu, mấy người đàn ông mặc áo khoác long cừu màu sậm đã chờ ở ngoài cửa, đều là những công sứ đã từng gặp anh.

Mọi người gật đầu chào hỏi, lách người đi qua.

Qua hai toa tàu thì đến phòng riêng của họ, Virtue và Đàm Khánh Hạng đã về trước.

Thẩm Hề vừa ngồi xuống, Virtue rót cho cô cốc nước nóng, đẩy tới trước mặt cô, gương mặt rạng rỡ.

"Sao cô ấy vui vẻ vậy?"

Thẩm Hề hỏi thầm Đàm Khánh Hạng, "Xảy ra chuyện gì ư?"

"Phu nhân bộ trưởng kể lại chuyện hôn nhân của mình, một câu chuyện tình yêu rất đẹp."

Anh ta bất đắc dĩ cười cười, "Những cô bé đều thích mấy chuyện đấy mà."

Thẩm Hề chợt nổi hứng: "Thế nào vậy?

Kể cho tôi nghe đi."

"Cậu kể đi."

Đàm Khánh Hạng lười kể lại, vứt vấn đề sang cho Phó Đồng Văn.

"Tôi cũng không hiểu lắm."

Anh nói qua quýt, "Những chủ đề này đàn ông hiếm khi nói, cậu rõ hơn tôi mà."

Đàm Khánh Hạng không kiên nhẫn gì, hai, ba câu tóm gọn câu chuyện, Thẩm Hề chưa nghe đủ, vẫn quay sang gắng hỏi Phó Đồng Văn.

Không qua loa được với Thẩm Hề, anh đành tỉ mỉ kể lại cho cô và cậu năm nghe.

Năm ấy bộ trưởng Bộ Ngoại giao vừa mới vào nghề không lâu, mới hai mươi mấy tuổi, trong một buổi vũ hội ngoại giao đã kết thân với một cô gái chín chắn.

Cô gái đó lớn hơn ông mười sáu tuổi, tính cách thẳng thắn, hào phóng, là con gái của một tướng quân người Bỉ.

Sauk hi cô khiêu vũ với ông một bài, hai người chìm đắm trong biển tình.

Nhưng theo truyền thống Trung Quốc, lấy người vợ nước ngoài là làm ô nhục tổ tiên, con cái sinh ra càng không thể vước vào từ đường. không thể nhập gia phả.

Khi đó bộ trưởng đã gặp rất nhiều trắc trở, phía gia đình.

Thầy Hứa hay triều đình đều phản đối mạnh mẽ.

Nhưng bộ trưởng vẫn một lòng không đổi, nếu không phải bà thì sẽ không lấy ai.

Cuối cùng thầy giáo ông dân sớ với triều đình nhà Thanh, lấy lý do có lợi trong ngoại giao với Bỉ , để triều đình phê chuẩn hôn sự này.

"Mười sáu tuổi sao?

Lúc mười sáu tuổi mẹ đã sinh em rồi, Ở Trung Quốc tuổi tác này cách biệt vai vế đấy."

Cậu năm giật mình, "Tuổi tác chênh lệch quá nhiều, vì sao... vì sao nhất định phải cưới?"

Phó Đồng Văn cười đùa: "Báu vật thế gian là ý trung nhân1"

1

Hán Việt: "Thế gian vưu vật ý trung nhân."

Trích từ bài Thiếu niên du (Thế gian vưu vật ý trung nhân) của Liễu Vĩnh.

Đàm Khánh Hạng hùa theo: "Tình nhân trong mắt hóa Tây Thi."

Được rồi, cậu năm chưa mảnh tình vắt vai, vẫn không hiểu được.

Mọi người bắt đầu nói đến câu chuyện tình yêu truyền kì nói đến trời Nam đất Bắc, cầm cốc nước sôi trong tay để chống lại cái lạnh trong toa tàu.

Đến nửa đêm, Thẩm Hề và Virtue tìm áo dày chia cho mọi người.

Tuy lạnh, nhưng cũng phải ngủ, nếu không trong hành trình dài này, chưa đến ba ngày đã đổ bệnh.

Thẩm Hề để Virtue và cậu năm dựa vào trong góc nằm ngủ.

Chu Lễ Tuần và Đàm Khánh Hạng cầm áo khoác đến phòng bên cạnh tìm chỗ ngã lung tạm.

Mọi người đều mệt, chẳng mấy chốc đã ngủ gục.

Vì tuyết quá lớn, tàu hỏa đi rồi lại dừng.

Đến lúc trời sáng, Thẩm Hề thức dậy đầu tiên, khi cô từ phòng vệ sinh về Phó Đồng Văn cũng đã tỉnh.

Trong bóng tối , cô nhẹ nhàng quay về ngồi bên cạnh anh.

"Sắp qua cửa quan chưa anh?"

Cô hỏi.

"Đã qua cửa quan rồi" Anh khẽ đáp.

"Thật sao?"

Thẩm Hề vui mừng ngồi thẳng người nhìn ra ngoài cửa sổ.

Đây là lần đầu tiên cô ra khỏi cửa quan tới Đông Bắc, đương nhiên cảm thấy mới lạ.

Trước bình minh vẫn có ánh ảm đạm, mặt trời chưa ló dạng, nhìn không rõ khung cảnh hai bên, chỉ có một ấn tượng: Trời đen thui, đất trắng xóa.

Điều khác biệt lớn nhất với trước khi rời khỏi Bắc Kinh là bên ngoài cửa sổ đã kết thành băng dày.

Cô thấy lạ lùng, bèn nghiêng đầu định nói với anh, Phó Đòng Văn đưa tay ngăn lại.

Sao thế?

"Tàu đang giảm tốc."

Anh nói rất nhỏ.

"Có phải đến trạm tiếp tế rồi không?"

Cô đoán.

Không chỉ Phó Đồng Văn, phòng riêng bên cạnh cũng có người phát hiện.

Anh và Thẩm Hề lằng lặng đứng dậy ra khỏi phòng.

Ba người đàn ông đang đứng trên lối đi, trong đó có Chu Lễ Tuần tối qua ngủ ở phòng cách vách.

"Có chuyện gì thể?"

Phó Đồng Văn hỏi thầm Chu Lễ Tuần.

"Không rõ nữa..."

Chỉ hai, ba phút sau, tàu dừng lại hẳn.

Thẩm Hề nhìn ra ngoài qua cửa sổ đối diện phòng riêng, trên đường ray có ánh sáng nhấp nháy, bóng người màu đen nhấp nhô.

Lúc này, một người đàn ông trẻ tuổi chạy vào trong toa tàu, rì rầm vào tai Chu Lễ Tuần mấy câu.

Chu Lễ Tuần hơ sững người, gật đầu: "Biết rồi."

Anh ta xoay người nói lại với Phó Đồng Văn và hai tiên sinh kia: "Người của Bộ Ngoại vụ Nhật Bản đến, xe riêng đã chờ trên đường sắt Nam Mãn, đến đón đoàn chúng ta."
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 66: Mênh mông non núi xưa 6


"Thật không ngờ họ lại đến sớm thế.

Mọi người chuẩn bị, phải xuống tàu rồi."

Chu Lễ Tuần không kịp mặc áo khoác, vắt áo trên khuỷu tay, bước qua toa tàu lạnh lẽo âm mười mấy độ.

Thẩm Hề theo Phó Đồng Văn về phòng riêng đánh thức cậu năm và Virtue, Đàm Khánh Hạng cũng nhanh chóng quay lại phòng, mọi người chỉnh trang qua lao, theo đoàn đại biểu xuống tàu.

Trong tuyết, bầu trời sắp hửng sáng, lờ mờ nhìn thấy trăng sao.

"Lần đầu tiên em nhìn thấy đường sắt Năm Mãn đấy."

Cô khẽ cảm khái, "Tuyết ở đây dày hơn miền Nam nhiều."

"Tuyết ngoài cửa quan là đẹp nhất."

Anh cười.

Cô nhỏ giọng nói: "Tuyết đường lần này bao gồm cả Yokohama và New York, có phải vì muốn đàm phán với Nhật, Mỹ trước không?"

"Đúng thế."

Mỹ sợ Nhật Bản khuếch trương thế lực ở châu Á, Nhật Bản cũng sợ Mỹ nhúng tay vào thế sự châu Á, bởi vậy đã sắp sếp hoạt động ngoại giao cấp cao, chờ đoàn đại biểu Trung Quốc quá cảnh.

Cảm giác này không hề làm Phó Đồng Văn vui vẻ, vì dù khoản đãi nhiệt tình cỡ nào cũng không thể che dấu sự thật: Trung Quốc là cừu, đang chờ hai con sói đói định đoạt.

Anh khẽ nói, "Có điều, công sứ tại Mỹ của chúng ta đã đạt được những nhận thức chung của Wilson1, Mỹ sẽ ủng hộ Trung Quốc ở hội nghị Paris.

Bởi vậy, chúng ta phải liên quân với Mỹ đề chống Nhật."

1Tên đầy đủ là Thomas Woodrow Wilson, tổng thống thứ 28 của Mỹ trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Vậy Nhật Bản sẽ chịu để yên sao?

Thẩm Hề mơ hồ thấy lo lắng.

Dường như Phó Đồng Văn đọc được nổi lo trong lòng của cô, anh nói tiếp: "Bộ trưởng là bậc tiền bối trên trường ngoại giao, ông sẽ có cách ứng phó."

Họ đổi đi bằng xe hơi, vừa lúc trời sáng .

Trong ánh ban mai, mảnh đất gió tuyết dữ dội như cuộc giấy Tuyên không chữ mở ra trước mắt họ.

Đây là mảnh đất đám sói đang tranh cướp, đẹp xiết bao, yên tĩnh xiết bao.

Từ cửa kính xe hơi Thẩm Hề nhìn ra phương xa.

Sau chiến tranh Nhật Nga vào năm Quang Tự thứ ba mươi, Sa hoàng đã cắt một phần tuyến đường sắt do mình xây dựng ở ba tỉnh Đông Bắc2 cho Nhật Bản, đổi tên thành đường sắt Nam Mãn.

Hồi đó cô thấy bất bình về đường sắt Nam Mãn, vì trong hiệp ước "Hai mươi mốt điều" Nhật Bản đã từng nhắc đến nó.

Sau này xảy ra rất nhiều chuyện xung quanh tuyến đường sắt này, đạo quân Quan Đông của Nhật Bản, lực lượng nòng cốt xâm lược Truong Quốc ra đời; sự kiện Hoàng Cô Đồn1, sự biến mười tám tháng Chín2 và sự kiện chính phủ Ngụy Mãn Châu phục hồi3

2Bao gồm tỉnh Liêu Ninh, tỉnh Cát Lâm và tình Hắc Long Giang.

1Là vụ ám sát người đứng đầu quân phiệt Phụng hệ Trương Tác Lâm trên đường sắt gần ga Hoàng Cô Đồn diễn ra vào rạng sáng ngày 04/06/1928.

2Hay còn gọi là sự kiện Phụng Thiên, sự kiện Mãn Châu, diễn ra từ 18/09/1931 đến 18/02/1932, là một sự do quân đội Nhật Bản sắp đặt để lấy cớ xâm lược Đông Bắc Trung Quốc (tức Mãn Châu).

3Hay còn gọi là "Mãn Châu quốc", "Đại Mãn Châu đế quốc", là chính phủ bảo hộ do Đế quốc Nhật Bản lập nên, cai trị trên danh nghĩa Mãn Chaâu và phía Đông Nội Mông, do các quan chức nhà Thanh cũ tạo ra với sự giúp đỡ của Đế quốc Nhật Bản vào năm 1932.

Còn trong ngày hôm ấy, ngày bọn họ đi qua đây, tất cả đều chưa xảy ra.

Đêm hôm ấy nọ đến Phụng Thiên, tham gia tiệc chiêu đãi do Bộ Ngoại vụ Nhật Bản mời.

Sau bữa tiệc thì lập tức lên xe đi Hán Thành4.

Sau khi đến Hán Thành, booh trưởng Bộ Ngoại giao bỗng nhiên cáo bệnh, nói rằng đêm qua trên tàu hoa dính lạnh, bệnh cũ tái phát, hai chân không tiện đi đứng, không thể gặp khách khứa.

4Tên cũ của Seol, thủ đô Hàn Quốc.

Mấy ngày sau đó đoàn đại biểu diễn đến Yokohama, sống trong một gia đình Hoa kiều ở phố người Hoa.

Nơi đây là cửa ngõ đối thoại của Nhật Bản, ccũng là nơi tụ tập người nước ngoài.

Đoàn đại biểu chọn ở chỗ này vì có thể thuận tiện lên tàu đến Mỹ bất cứ lúc nào.

Sau khi đến Yokohama, bộ trưởng trốn tránh lời mời của Bộ Ngoại vụ Nhật Bản. nhật Bản sắp xếp hang loạt hoạt động ngoại gia, bao gồm tiếp kiến Nhật hoàng, trao tặng huân chương, thưởng trà...

đều bị bộ trưởng dung một câu "Thân mang bệnh, không thể ngồi lâu" đề từ chối.

Các cơ quan trong nước và đại sứ quán Trung Quốc đóng tại Nhật Bản liên tục gửi điện báo cho bộ trưởng, tranh luận không ngừng.

Báo chí hai nước Trung Nhật cũng bình luận hằng ngày, đóan già đóan non tại sao bộ trưởng Bộ Ngoại giao bỗng nhiên đổ bệnh, không gặp Nhật hoàng.

Thế giới ngoài kia tranh cãi dữ dội.

Duy chỉ có nơi họ yên tĩnh đến nổi một ngọn gió cũng không có, tuyết cũng rơi rất nhẹ nhàng.

Cậu năm cầm một tờ báo, cười đi vào: "Anh ba muốn nghe không, em đã thuộc lòng những câu phiên dịch rồi."

Phó Đồng Văn dung hai ngón tay kẹp tờ báo trong tay cậu năm, nhẹ bẫng lấy về, đọc chăm chú.

Câu từ trong tờ báo này đanh thép, chỉ trích bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc "giả bệnh", không muốn trao đổi hữu nghị với bên Nhật Bản.

Kết bài còn nói trong truyện này có nhiều nội tình, có điều không tiện công bố.

"Báo chí Nhật Bản viết tin nhảm rất nhiều, luôn cố ý dẫn dắt người dẫ."

Phó Đồng Văn đặtt tờ báo xuống, bùi ngùi: "Hy vọng báo chí trong nước không thuộc phái thân Nhật, tạo sự nghi ngờ cho người dân."

"Anh ba còn biết cả tiếng Nhật nữa à?"

Cậu năm ngạc nhiên.

Anh đặt tờ báo xuống: "Trước đây anh và anh tư em đều ủng hộ Duy Tân, đương nhiên phải đọc tiếng Nhật."

"Cũng đúng..."

Cậu năm tiếc nuối: "Hồi trước anh ba giấu em kỹ quá, một chữ cũng không dễ lọt, làm em suýt nữa thất vọng về anh."

Cô cười: "Anh ba em từng nói, nếu em thực sự ôm hoài bão thì không cần người đồng hành, cũng không cần ai chỉ đường dẫn lối."

"Chị dâu cũng biết trước rồi sao?"

Câu năm kinh ngạc không thôi.

"Dù sao cũng biết sớm hơn em."

"Chị dâu quá đáng quá, quá đáng quá."

Cậu năm dở khóc dở cười.

Thẩm Hề đưa bác thuốc cho Phó Đồng Văn.

Dù bộ trưởng Bộ Ngoại giao bệnh thật hay bệnh giả thì Phó Đồng Văn cũng bệnh thật.

Trên chuyến tàu đên từ Phụng Thiên đến Hán Thành anh đã bắt đầu sốt cảm lạnh rồi.

Trong toa tàu nhiệt độ âm hai mươi mấy độ, khi xuống tàu tham gia tiệc mời, than trong phòng đốt quá nóng, nóng như đầu hè.

Hết lạnh lại nóng, người bình thường còn chẳng chịu nổi nữa là.

Người có thể trạng thái tốt như cô chỉ cần nghỉ ngơi hai ngày là ổn, nhưng Phó Đồng Văn đành phải chờ cho đến khi phát bệnh.

Có điều tâm trạng anh tốt nên không vấn đề gì lớn.

Đàm Khánh Hạng thấy anh uống thuốc, bèn sai người làm đến bến cảng xác nhận lại lịch trình của tàu.

Đối với họ, ở lại Nhật Bản them ngày nào là lại phiền phức ngày đó, chỉ muốn đêm nay ngay lập tức được lên tàu

Thẩm Hề đắp chăn cho anh: "Anh nên ngủ trưa đi, lát nữa sẽ đổ mồ hôi."

Phó Đồng Văn ngồi trên sàn nhà cười nhìn cô, bỗng nhiền rầm rì: "Hôm qua anh sờ thấy váy ngủ của em ướt mồ hôi."

Thẩm Hề phản bác: "Anh ngủ cứ thích ôm người khác, anh đổ mồ hôi thì đã đành, còn làm em ướt như chuột luột."

Anh bật cười: "Anh ôm em ngủ lúc nào?

Anh không nhớ nữa.

Ngày nào cũng thế à?"

Cô thấy anh không nghiêm túc, không thèm trả lời lại.

"Động tác trong tiềm thức mà, không thể đổ lỗi cho anh ba được."

Anh lại cười, "Ngạc nhiên phát hiện ra, tưởng rằng nổi nhớ chẳng mấy ai biết, hóa ra bởi vì đã thấm sâu vào xương tủy rồi.1"

1Một câu trong vở Mẫu đơn đình.

...

"Chỉ mỗi tư thế ngủ thôi mà cũng có thể nói đến nhớ nhung."

Cô lẩm bẩm.

"Nếu không vì tinh thân không tốt, anh còn có thể nói cho em nghe nhiều hơn nữa kìa."

Cô cố tình nghiêm mặt chỉ vào chiếc chăn, ý bảo anh nằm xuống hãy nói tiếp.

Ngược lại anh không hề nóng vội: "Uống hớp trà rồi mới ngủ."

"Uống thuốc xong không thể uống trà được."

Anh ngước nhìn cô bằng đôi mắt long lanh.

Dù không nói ra miệng, nhưng anh luôn phải nằm trên giường dưỡng bệnh cô cũng đau lòng lắm chứ, cuối cùng vẫn đi đun nước pha trà.

Chẳng mấy chốc, hơi nước bốc lên.

Cô mở nắp ra, nóng phỏng tay, vội vàng đưa tay lên chạm vào thùy tai cho đỡ nóng.

"Đồng Văn."

Chu Lễ Tuần mặc độc chiếc áo sơ mi mỏng, dưới chân đầy tuyết chạy vào trong sân, "Xe Bộ Ngoại vụ lại đến rồi."

Anh ta đã phăng đôi giày, bước vào phòng.

"Đến làm gì?"

"Đón bộ trưởng đến Tokyo."

"Mời không được, chuyển thành cứng rắn ép đi rồi."

Anh bình luận.

"Cậu có tâm trạng nói đùa hả?"

Chu Lễ Tuần rầu rĩ.

Phó Đồng Văn cũng hết cách: "Bên đấy đã phái xe đến rồi, dù bộ trưởng bệnh thật không xuống giường cũng bị khiêng đi."

Anh lắc đầu, "Không ngăn được đâu."

Chu Lễ Tuần bực bội không lên tiếng.

Phó Đồng Văn trầm ngân giây lát rồi hỏi: "Ở Tokyo họ sắp xếp thế nào?"

"Đêm nay đừng mơ về, chúng định để bộ trưởng ở lại nhà khách Bộ Nội vụ."

Chu lễ Tuần trả lời, "Đầu tiên gặp công sứ tại Nhật của chúng ta, ngày mai gặp ngoại tướng Nhật Bản1, tối mai đến ngơ lăng Thiên hoàng Minh Trị ở Đào Sơn, Kryoto."

1Tương đương với Bộ Ngoại giao Nhật Bản.

Công sứ Trung Quốc đóng tại Nhật Bản thuộc phái thân Nhật, người ngày ngày lấy cớ từ chức để ép buộc bộ trưởng đến Tokyo chính là ông ta.

"Sắp xếp thế này, đến tối mai vẫn phải ở lại Tokyo."

Phó Đồng Văn chau mày, "Nếu này kia có thể về được thì coi như là nhanh."

"Nhưng chuyến tàu đã đặt rồi, sớm ngày kia phải rời cảng."

Chu Lễ Tuần hùa vào, "Tôi sợ nếu không kịp chuyến này thật thì phải ở lại thêm mười mấy ngày nữa, biển số trong mười mấy ngàu quá nhiều, không ai đoán trước được."

Anh không nói gì.

Thẩm Hề nhìn anh, rót trà cho hai người.

Một tiếng sau, bộ trưởng đưa hai tham tán đến Tokyo.

Bộ trưởng vừa đi, đoàn đại biểu đều bị vây trong khói mù, sợ ở Tokyo có biến dộng, sợ ở Tokyo có ám sát, sợ bị ép ở lại Tokyo, sợ bị lỡ mất chuyến tàu, làm Mỹ nghi ngờ...

Ngày hôm sau, bầu không khí trong viện nặng nề đến cực điểm.

Đền giờ ăn cơm tối, nữ chủ nhân đưa cơm đến phòng Thẩm Hề, còn âm thầm hỏi cô, tại sao từ hôm qua đến giờ tâm trạng của những người trong đoàn đại biểu lại kém đến vậy?

Bữa tối ai cũng ăn rất ít.

Thẩm Hề không tiện kể lại chuyện liên quan đến ngoại giao cho nữ chủ nhân, qua quýt giải thích rằng họ đang lo tuyết lớn làm chuyến tàu bị muộn.

Nữ chủ nhân nụ cười, nói trễ cũng tốt, ở lại thêm mười mấy ngày nữa, có thể đi dạo ở Yokohama, đặc biệt nước nóng trên núi là đẹp nhất, bà đang tiếc nuối lần này mọi người đến rồi đi quá vội vàng, không kịp tiếp đãi đồng bào mình.

Thẩm Hề gắng gượng đối phó mấy câu rồi nhận lấy thức ăn.

Sau bữa cơm, trời đã tối hoàn toàn.

Chu Lễ Tuần quyết định mua vé tàu sáng sớm ngày mai.

Nhưng ở Tokyo vẫn không có tin tức gì, ngay cả điện báo cũng không có.

Mọi người đều đoán, không lẽ bộ trưởng đã quyết định đổi ngày khởi hành?

Phó Đồng Văn thì lại cho rằng, vẫn còn một tia hy vọng mai sẽ lên tàu đúng giờ.

"Có lẽ không điện bảo về vì sợ công sứ Trung Quốc thân Nhật sẽ ngáng đường."

Anh thì thầm.

"Ừm."

Cô gật đầu.

Anh hởi mượn chủ nhà bộ cờ tướng bằng ngà voi, ngồi khoang chân dưới ánh đèn tập trung chú ý vào bàn cờ, chiếc áo vest màu sậm khoác lên vai anh, cái bóng đổ dài trên người và trên cánh tay cô.

Xấp báo trên bàn trà đều viết bằng tiếng Nhật, hai ngày nay đã bị anh lật tới lật lui không biết bao nhiêu lần.

Đây không phải là lần đầu tiên Thẩm Hề "chờ đợi" cùng anh, khi chờ tin tức của em sáu trong Từ Viên cũng như thế này.

Mong mỏi từng giây từng phút, thấp thỏm từng giây từng phút, cũng chừng ấy phút giây lo lắng cho sự an nguy của đối phương.

Cô chống tay lên cằm nhìn anh chơi cờ, rất lâu sau cổ họng khô rát.

Chân cũng tê rần.

Chiếc đồng hồ kiểu Tây đặt trên chiếc bàn lùn chỉ một giờ sáng.

"Anh..."

Cuối cùng cô cũng cất lời.

Phó Đồng Văn ngước mắt.

Vốn định khuyên anh đi ngủ, nhưng nghĩ anh có nằm cũng không ngủ được, còn không bằng tiếp tục chơi cờ, vì thế sửa lời: "Anh khát không?"

"Em không hỏi anh cũng không thấy gì."

Anh cười rất nhỏ, "Hỏi rồi liền cảm thấy hơi khát."

"Em đi tìm cố thủy tinh."

Cô đáp.

"Không phải có tách trà sao?"

Anh hất cằm về phái tách trà kiểu Nhật bày trên bàn trà.

"Đêm nay em sẽ phục vụ theo sở thích của anh."

Ngâm trà trong cốc thủy tinh to là thói quen mà anh tạo thành khi du học nước ngoài.

Cô muốn làm anh vui vẻ.

Thẩm Hề kéo cửa ra: "Trong bếp có, em thấy rồi, anh chờ em chút."

Giày để ngoài cửa, cô khom người phủi tuyết trên giày, bỗng nhiên nhìn thấy ngọn đèn nơi không xa kia đang sáng.

Là đèn trong phòng bộ trưởng.

Một tham tán trẻ tuổi cầm ô che tuyết, dưới tán ô là bộ trưởng vốn dĩ đang ở Tokyo...

"Anh ba, anh ba!"

Cô buộc miệng gọi anh.

Bộ trưởng nghe thấy, nở nụ cười, từ đằng xa nhìn về phía này.

Phó Đồng Văn chống tay lên sàn nhà, lập tức đứng dậy, nhanh chóng bước ra ngoài, hai người nhìn nhau cười.

Bộ trưởng cười mỉm gật đầu, nói với các hậu bối đang lục tục đi ra: "Thống phong đau quá1, tôi phải uống thang thuốc đã.

Đêm nay các vị cực khổ rồi, sáng mai vẫn khởi hành như đã định, đừng làm trễ nải chính sự."

1Tức bệnh gút.

Vừa dớt lời, phu nhân bộ trưởng từ phòng đi ra, khom người cởi giày cho ông, dìu ông vào trong phòng.

Tham tán đó bị đám đông vây quanh hỏi han chuyện ở Tokyo, sao lại có thể quay về Yokomaha sớm vậy?

Tham tán nhận lấy tách trà Thẩm Hề đưa, uống hớp trà nhuận họng rồi mới cười kể lại từ đầu đến cuối cho mọi người nghe.

Bộ trưởng vừa đến Tokyo đã bị công sứ Trung Quốc thân Nhật kéo vào nói chuyện, bộ trưởng cố ý mượn cớ bị bệnh, không nhắc nữa câu đến vấn đề ngoại giao, chỉ nói rằng bệnh thống phong làm mình khó chịu.

Đến ngày hôm nay gặp ngoại tướng Nhật Bản cũng chỉ ngồi hai mươi mấy phút thôi thì bệnh tái phát.

Cuối cùng, đành phải sắp xếp một tham tán thay ông đi thăm ngự lăng.

Sau khi thoát thân được, bộ trưởng không nán lại thêm giây nào, lập tức trở về ngay trong đêm, như vậy coi như kịp thời gian.

Trong phút chốc tiếng cười trong viện rộn rã, khói mù ngày mai qua dần tan, mọi người hoàn toàn không thấy buồn ngủ, thu dọn hành lý ngay trong đêm.

Trước khi trời sáng, họ sợ lại có biến nên vội vội vàng vàng đến bến cảng sớm.

Trước khi lên tàu, có người gấp gáp đưa một tờ báo tiếng Nhật đén, bộ trưởng đọc xong, suy tư chau mày.

Ông đưa tờ báo cho mọi người phía sau chuyền tay nhau đọc, cuối cùng đến tay Phó Đồng Văn.

"Xảy ra chuyện gì thế ạ?"

Trong lòng Thẩm Hề hãy còn sợ hãi, chỉ sợ không thể lên được tàu.

"Trên báo nói, tham tán Trrung Quốc trên đường đến ngự lăng Thiên hoàng Minh Trị, xe hơi bị tấn công bằng sung."

Thẩm Hề cứng người.

Bộ trưởng thở dài, khẽ nói: "Người Nhật Bản thật thật gải giả, tin nhảm trên báo cũng nhiều.Chúng ta lên tàu trước đã."

Số vụ nhân viên ngoại giao bị tấn công không hề hiếm gặp, trước đây Lý Hồng Chương ở Nhật Bản cũng bị tấn công bằng súng, đây là nguy hiểm mà người làm ngoại giao bắt buộc phải đối mặt...

Nếu như là thật, sau khi lên tàu sẽ có điện báo chứng thực, cũng có công sứ đóng tại Nhật cùng xử lý.

Dù xảy chuyện gì cũng không thể ngăn cản đoàn đại biểu lên tàu như đã định.

Trên biển cảng vàng thau lẫn lộn, người ở quốc gia nào cũng không thiếu, nếu có ám sát thì khó lòng phòng bị.

Mọi người đè nâng cao cảnh giác, vây quanh bộ trưởng bảo vệ ông lên tàu.

Vì số phóng rất ít nên Phó Đồng Văn nhường phòng ở khoang thượng hạng cho người của Bộ Ngoại giao.

Họ đặt phòng ở khoang hạng nhất.

Một giờ sau khi tàu rồi khỏi bến cảng Yokohama, trái tim Thẩm Hề dần bình tĩnh lại.

Cô mở vali xách tay bằng vải ra, lấy quần áo của anh ra trước, treo vào trong tủ quần áo.

Phó Đồng Văn mỉm cười dựa vào khung cửa: "Em cứ thu dọn đi, anh đến phòng ăn xem thế nào."

"Anh không sợ nguy hiểm ư?"

Cô ngừng tay lại.

"Anh là một thương nhân yêu nước, có nguy hiểm gì sao?"

Anh nói nhẹ bẫng như không, "Thuận tiện hỏi Chu Lễ Tuần có điện báo mới đến không."

Không chỉ anh lo lắng cho tham tán ấy, cô cũng mang tâm trạng giống vậy.

Cô đi đến bên anh, hạ thấp giọng xuống: "Vậy anh đi đi, nhớ phải về uống thuốc đấy."

"Được."

Anh đồng ý.

Phó Đồng Văn đến khoang thượng hạng, cửa cá phòng đều mở toang, tiếng cười liên tiếp vọng ra, đều là tiếng quê hương, làm anh cũng mỉm cười tùm rỉm theo.

Vào trong phòng bộ trưởng, phòng khách chất đầy rương đựng văn kiện, hoàn toàn không có chỗ để đứng.

Chu Lễ Tuần và một tham tán tựa người vào một chiếc rương nói chuyện, thấy Phó Đồng Văn vào bèn nhét điện báo cho ah: "Đang định đi tìm cậu, cậu lại đến đây rồi.

Đúng là sợ bóng sợ gió, báo chí phao tin đồn thôi."

Điện báo ngắn gọn, được vị tham tán đó đích thân gửi: Báo đăng tải Kiệt gặp chuyện ở khu Tây Ninh, Kyoto, đều là bịa đặt, xin hãy chuyển lời cho mọi người biết.

Là tin tức giả thôi.

Phó Đồng Văn mừng rỡ, cả người cuối cùng cũng nhẹ nhõm.

Bộ trưởng lấy chiếc khăn nóng mà phu nhân đưa, cười chỉ huy mọi người: "Đồng Văn đến rồi cũng tốt, giúp tôi chuyển mấy cái rương đi."

"Cậu ba là cậu ấm mà, sao dám làm phiền được."

Một tham tán trêu chọc anh.

Phó Đồng Văn lắc đầu cười, xắn tay áo sơ mi lên, tự mình chuyển đồ.

Đống rương chứa văn kiện được chuyển từ nhà họ Lục trong thành Bắc Kinh đến, vẫn luôn để bên cạnh bộ trưởng và phu nhân, đều là những văn kiện quan trọng, bên ngoài rương dán dòng chữ "Bộ Ngoại giao Trung Quốc" bằng tiếng Anh.

Phu nhân là người cẩn thận, mỗi lần vận chuyển đều phải kiểm tra, bà cầm một danh sách, kiểm tra số hiệu từng rương, từ đầu đến cuối, không nói lời nào.

Kiểm tra xong khi bên Phó Đồng Văn uống trà, bà mới lẩm bẩm: "Không thấy rương gỗ kí hiệu chữ T."

Mọi người đều sững sốt.

Bộ trưởng đang cầm trà định rót trà cho Phó Đồng Văn, nghe vậy bèn lập tức đặt ấm trà xuống.

"Sao có thể, đối chiếu lại lần nữa đi.: Bộ trưởng nhận lấy tờ danh sách: "Đè tôi tự làm."

Trong phòng ngoài tiếng bước chân của bộ trưởng, tiếng ma sát khi vận chuyển rương đồ thì không còn âm thanh nào khác.

Bộ trưởng nhanh chóng đối chiếu xong, cầm tờ danh sách đứng im không cử động, cũng không lên tiếng.

Rương gỗ ký hiệu chữ T đựng văn kiện ngoại giap bí mật liên quan đến Đông Bắc, Sơn Đông, Mông Cổ và Tây Tạng, toàn bộ đều liên quan mật thiết với Nhật Bản, cũng chỉ có bên Nhật Bản mới quan tâm những văn kiện này.

Sauk hi đi ngang qua Nhật Bản, cả rương văn kiện đã không cánh mà bay.

Ăn trộm tinh vi nhường này, mà còn không để lại dấu vết gì.

Bộ trưởng trầm lặng, kiểm tra lại số rương một lần nữa, cuối cùng đành phải chấp nhận sự thật này.

Ông tháo kính xuống, tựa người vào tường, đè tay trái lên mắt.

Một lúc lâu sau, ông lại đeo kính vào, nghiêm nghị nói: "Đoàn đại biểu đều có người của chính phủ hai bên, mối quan hệ phức tạp, chuyện này không được tiết lộ ra ngoài.

Chờ đến khi đến New York... thì nghĩ cách tiếp."
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 67: Núi xanh nguyên vẻ cũ 1


Núi xanh nguyên vẻ cũ

Chuyện rương gỗ ký hiệu chữ T bị mất tích vốn phải giữ bí mật.

Nhưng không hiểu sao tin tức lại lọt ra ngoài.

Cho đến lúc đoàn đại biểu đến Paris, chuyện văn kiện bị thất lạc đã thành tin đồn với vô số phiên bản.

Có người nói trên đường bộ trưởng đến Nhật Bản, thân tín bên cạnh bị gián điệp Nhật Bản mua chuộc, lén ăn trộm văn kiện; có người nói chuyến tàu đi được nửa đường thì gặp cướp; cũng có người nói khi bộ trưởng ở Yokohama từng có ngự y đến thăm bệnh, ý chí của bộ trưởng kém cỏi nên đã đưa văn kiện cho người Nhật... báo chí đưa tin khắp nơi, người Nhật cũng đang ép bộ trưởng cải chính tin đồn, tuyên bố rằng có người rắp tâm làm ảnh hưởng đến mối quan hệ Trung – Nhật.

Lời đồn đại phát tán nhanh chưa từng thấy, không cách nào kiểm soát được.

Cuộc chiến dư luận nổ ra, mở màn trước khi hội nghị hòa bình bắt đầu.

Lúc còn ở trên tàu, thậm chí khi đến New York rồi, Phó Đồng Văn vẫn không hề nhắc tới chuyện rương văn kiện ấy với Thẩm Hề.

Trong căn nhà thuê ở Paris, cô đọc trên báo mới biết được tin này.

Còn hiện giờ Thẩm Hề phát hiện tờ báo ra hồi trung tuần tháng Chạp năm ngoái đang nằm trên bàn của Phó Đồng Văn.

Ngoài cửa sổ, đã vào tháng Sáu đầu hạ.

Thẩm Hề cầm tờ báo đó lên, tim như chìm sâu trong nước.

Từ lúc thuê căn nhà này, bất cứ góc nào trong phòng sách đều có thể nhìn thấy báo chí, tiếng Anh, tiếng Pháp, có cả tiếng Nhật và tiếng Trung.

Phó Đồng Văn và Đàm Khánh Hạng từng nói với cô, báo chí là một mặt trận, có thể dẫn dắt dư luận, giành được lòng dân.

Cho nên vừa mới đến Paris, đoàn đại biểu điện báo về nước rằng, khoản tiền đầu tiên phải dùng cho dư luận, mua chuộc các tòa soạn lớn bé ở Paris, tranh thủ nhiều hơn nữa sự ủng hộ của dư luận với Trung Quốc.

Phó Đồng Văn cũng tốn khôn ít tiền để mua chuộc các tờ báo lớn bé trong nước và Nhật Bản, bởi vậy bưu kiện anh nhận được nhiều nhất chính là báo giấy.

Thẩm Hề dời tờ báo từ tháng Chạp ra, bên dưới là tờ báo từ tháng Năm, viết về phong trào sinh viên trong nước.

Phó Đồng Văn bước vào phòng sách, anh mặc áo sơ mi trắng và quần âu, nhưng trên vai lại khoác áo khoác dài kiểu Trung màu trắng xám.

Anh không hay mặc những bộ quần áo kiểu cũ, chiếc áo này do Thẩm Hề lén hỏi công sứ đóng Thẩm Hềại Pháp địa chỉ của thợ may Hoa kiều, đặc biệt đặt may riêng cho anh.

Âu phục quá gò bó, cũng hơi nặng, áo dài vẫn nhẹ nhàng thuận tiện hơn.

Mới đầu Phó Đồng Văn nhìn thấy chiếc áo dài này còn rất bất ngờ, tuy không quen nhưng vẫn tiếp thu ý kiến của Thẩm Hề, khoác vào chống lạnh.

Mặc quen rồi thì nhận ra điểm tốt mà Thẩm Hề nói.

"Mấy tin trên báo đều là tin cũ cả."

Anh đến gần, đưa cho cô chiếc mũ nữ hình chương có vành mũ lượn sóng đang thịnh hành ở Paris: "Em sắp muộn rồi đấy."

"Em sẽ về sớm thôi."

"Đừng gấp."

Anh nói, "Hiếm khi gặp được bạn ở Paris, chỉ cần đừng chơi đến tối là được."

"Vâng."

Thẩm Hề nhận lấy chiếc mũ cầm trên tay, nếu không phải có chuyện quan trọng thì cô chẳng muốn rời xa anh dù chỉ một giây.

Thẩm Hề không nói với anh mình đi gặp ai, chỉ nói là bạn đại học, Phó Đồng Văn cũng không gặng hỏi.

Trước lúc sắp đi cô còn dặn dò lại mấy câu với Đàm Khánh Hạng, đưa địa chỉ và số điện toại của nhà hàng mình sắp đến cho anh ta rồi mới yên tâm ra ngoài.

Đến đại lộ Saint-Michel, cô tìm thấy quán cà phê ấy.

Bên ngoài cửa đông đúc người ngồi.

Khắp nơi là những chiếc bàn tròn nhỏ, đường kính bàn chỉ khoảng hai mươi centimet, đặt mấy chiếc tách là hết diện tích.

Xung quanh bàn tròn là những chiếc ghế làm bằng mây, ghế còn to hơn cả bàn.

Mười mấy chiếc bàn được đặt không theo thứ tự nào, các quý ông tiểu thử cũng ngồi rất tùy ý, hưởng thụ cà phê.

Ghế kề sát ghế là khung cảnh thường thấy ở thành phố này, mọi người tụ tập gặp gỡ trong buổi chiều.

Các quý ông chỉ có thể để tay cầm tờ báo xuống thấp nhất để tránh góc báo chạm vào vị khách lạ ngồi bên cạnh.

Đa số mọi người đều đọc báo, Thẩm Hề không hiểu tiếng Pháp, nhưng cũng đoán được hơn nửa trong đó sẽ quan tâm đến hội nghị hòa bình.

Cô lại nhớ tới chồng báo chất thành núi trong nhà.

...

Trong một góc, hiếm hoi có một chiếc bàn tròn đặt hai tách cà phê, nhưng chỉ có một vị tiên sinh ngồi.

Thẩm Hề nhìn người đàn ông ngồi bên bàn, bước chân khựng lại, đối phương nhìn thấy bóng hình cô phản chiếu qua tấm kính, bèn ngoảnh đầu lại nhìn.

Hai người bạn học cũ không hẹn mà cùng nở nụ cười.

"Cậu vẫn như ngày xưa."

Trần Lận Quan đứng lên, muốn kéo chiếc ghế đối diện ra cho cô.

"Chỗ này nhiều người, cậu không cần giả bộ quý ông đâu."

Thẩm Hề ngăn anh ta lại.

Cô để chiếc mũ lên đùi, uống một hớp cà phê.

Trần Lận Quan chống khuỷu tay lên mép bàn, nét mặt rạng rỡ chờ cô uống xong.

Tháng Chạp năm ngoái Thẩm Hề rời New York đến Paris, trên tàu đã gửi điện báo cho anh ta, nhưng không may Trần Lận Quan vừa khởi hành đến New York để tham gia trao đổi học thuật.

Hai người đã đi lướt qua nhau trên biển.

Cho đến mấy ngày trước, Trần Lận Quan trở về Paris mới xúc tiến cuộc gặp mặt này.

Năm ấy Thẩm Hề rời khỏi New York, không kịp chào tạm biệt anh ta, những năm gần đây tuy họ khôi phục lại trao đổi thư từ nhưng vẫn chưa có duyên gặp mặt.

Đến khi gặp nhau thật sự, nhìn thấy gương mặt đối phương, cảm giác khác xa khi chỉ trao đổi qua thư.

Trần Lận Quan bất giác nhớ lại quãng thời gian học ở New York, hai người đốc thúc nhau học hành, say sưa như bị ma nhập.

Thẩm Hề là người anh ta bội phục từ tận trong lòng, cũng là người anh ta coi là bạn tốt nhất.

"Sao lại chọn đến vào hội nghị hòa bình?"

Trần Lận Quan cười hỏi, "Trong thư còn giả bộ thần bí, không muốn nói với tôi sao?"

Thẩm Hề mím môi cười, không tiện trả lời.

May mà Trần Lận Quan vẫn biết chừng mực, thấy nụ cười của cô thì thức thời không gặng hỏi thêm.

"Có một câu tôi luôn giữ trong lòng nhiều năm rồi, cậu có hối hận không?"

Hối hận?

Cô khó hiểu, "Ý cậu là gì?"

"Lúc ở New York, lĩnh vực cậu có hứng thú nhất là ngoại khoa Tim mạch, cũng có năng khiếu, có thể trở thành bác sĩ khoa Tim mạch xuất sắc nhất, hiện giờ cậu có hối hận không?

Đột ngột về nước, chôn vùi tiền đồ của mình?"

Sau khi hau người nối lại liên lạc, Trần Lận Quan không tiếc lời khuyên cô đến châu Âu học tiếp, sau khi nghe nói cô từ bỏ cơ hội đến Anh, anh ta không hề nể tình thầm chỉ trích cô tầm mắt hạn hẹp, lãng phí tài năng của mình.

Anh ta luôn canh cánh trong lòng chuyện cô năm xưa từ bỏ khoa Tim mạch, không thể tháo gỡ nổi, đến hôm nay cũng thế.

Thẩm Hề lắc đầu: "Không hối hận."

"Cậu đang giả vờ."

"Thật đấy.

Mấy năm nay tôi ở trong nước, chỉ riêng người được cứu sống đã hơn nghìn người, số ca bệnh chữu trị thành công không nhớ nổi nữa, còn..."

Cô cười rộ, "Tôi còn quyên tiền cho cho quân đội của Thái tướng quân.

Cậu thấy đấy, tôi cũng làm được không ít việc nhé."

"Cậu vốn có thể đạt được thành tựu cao hơn nữa."

Có lẽ thế.

Cô thôi tranh luận, lơ đễnh uống cà phê.

Thẩm Hề đặt tách xuống: "Tôi muốn xin cậu giúp tôi làm một chuyện."

"Tôi đã nói rồi mà, cậu là người theo chủ nghĩa vụ lợi."

Dường như Trần Lận Quan rất hiểu cô, vui vẻ mở miệng: "Khi tìm tôi luôn là có chuyện nhờ, chứ không phải chỉ ôn lại chuyện cũ."

Lần này Thẩm Hề không phản bác.

Lúc còn đi học hai người luôn nói chuyện theo cách anh một câu tôi một câu, không ai tỏ ra yếu thế.

Liên tiếp hai lần im lặng, Trần Lận Quan rất không thoải mái: "Tôi chỉ nói đùa với cậu mà thôi, không có khoản tiền giúp đỡ của cậu, tôi cũng không có được ngày hôm nay.

Chỉ cần chuyện tôi có thể giúp được, cậu cứ việc nói.

Hơn nữa, đừng bao giờ dùng từ "xin"."

"Tôi muốn... nhờ cậu đề cử một bác sĩ tim mạch."

Trần Lận Quan ngẩn người: "Cậu muốn tìm giáo sư của tôi sao?

Cho bạn cậu à?"

Cô ngập ngừng mới nói tiếp: "Cho Phó Đồng Văn, tôi muốn tìm một bác sĩ khám cho anh ấy, tim anh ấy có vấn đề.

Nửa năm nay vì bôn ba đến hội nghị hòa bình... tình trạng..."

Nét cười trong mắt Trần Lận Quan dần tan biến.

"Tôi đã nhờ rất nhiều người và bạn học tư vấn, họ đều nói giáo sư của cậu là bác sĩ lâm sàng giỏi nhất, phù hợp với bệnh tật của anh ấy nhất."

Thẩm Hề nhìn anh ta chằm chằm: "Tôi muốn khẩn cầu cậu..."

Trần Lận Quan lắc đầu, tỏ ý từ chối bằng cách dịu dàng nhất.

Cậu thiếu niên khích động bên ngoài căn nhà ở New York hồi ấy đã trưởng thành, anh ta học được cách kiểm soát cảm xúc của mình, học được cách tôn trọng bạn bè, nhưng không có nghĩa anh ta đã quên gia đình mình bị sụp đổ thế nào.

"Xin lỗi."

Thẩm Hề khẽ nói.

"Không cần xin lỗi."

Trần Lận Quan đáp, "Đậu Uyển Phong có kể lại với tôi, anh ta là anh trai của chồng cậu."

"Hiện giờ anh ấy là chồng tôi."

Trần Lận Quan ngẩn người.

Sau khi nghe tin vui Thẩm Hề kết hôn từ chỗ bạn học, anh ta còn gửi điện báo trách cô, tưởng rằng cô quên chia sẻ niềm vui này.

Hôm nay mới biết sự thật.

Thẩm Hề toan nói tiếp.

"Tôi biết cậu muốn nói gì, khi còn ở New York, cậu luôn miệng nhắc tôi phải ghi nhớ ân tình người giúp đỡ mình."

Trần Lận Quan nhìn cô, "Hiện giờ muốn tôi trả lại sao?"

"Không, lời khi ấy tôi nói, là muốn cậu khắc ghi ước nguyện ban đầu của bác sĩ, cứu thật nhiều người bệnh mới không phụ sự tài trợ mà Phó Đồng Văn dành cho chúng ta chứ không phải muốn cậu trả nợ cho anh ấy."

"Anh ta là nhà từ thiện lớn, là thương nhân yêu nước, đã giúp đỡ rất nhiều người."

Trần Lận Quan trả lời, "Nhưng Thẩm Hề à, đối với người khác anh ta là người tốt, nhưng với tôi thì không phải.

Tôi là người bình thường, không phải là thánh nhân, nếu cậu muốn giáo sư của tôi cứu anh ta, không cần thiết phải nhờ đến tôi."

"Tôi từng thử liên lạc đến giáo sư của cậu, nhưng..."

Trần Lận Quan biết cô gặp khó khăn: "Đương nhiên, giáo sư của tôi bệnh nặng từ lâu, đóng cửa từ chối tiếp khách rồi."

"Vì vậy tôi mới tìm cậu, tôi biết cậu là học trò ông ấy ưng ý nhất."

"Cậu đừng tìm cách ở chỗ tôi, cũng đừng nhắc đến lòng nhân ái của người học y với tôi, tôi là người rất ích kỷ."

Sau sự im lặng dài đằng đẵng, Thẩm Hề lặp lại lần nữa: "Xin lỗi."

Cô đã lường trước được kết quả này, nhưng vẫn muốn thử một lần.

Con đường này đã trắc trở, vậy đành phải chuẩn bị tiếp, đến Anh, gặp giáo sự trước đây của Đàm Khánh Hạng.

Ngoại khoa Tim mạch là lĩnh vực ngay cả bác sĩ ngoại khoa cũng muốn tránh, bác sĩ chuyên nghiên cứu về lĩnh vực này vốn đã ít, người có kinh nghiệm lâm sàng phong phú càng ít hơn... cô sợ đến Anh vẫn tốn công vô ích.

Thẩm Hề và Trần Lận Quan chia tay nhau trong bầu không khí không vui vẻ gì.

Cô đi dọc con dốc lát đá cuội về nhà, hai bên đường đều là những quán cà phê và quán rượu nhỏ.

Lần đầu nhìn thấy Paris là trong những bức ảnh màu Phó Đồng Văn tặng cô, khi ấy ấn tượng của cô về thành phố châu Âu này là những căn nhà bên đường giống hệt những hộp diêm xếp c hỉnh tề, bức tường với màu sắc sặc sỡ, xếp san sát vào nhau không một kẽ hở.

Sau này Phó Đồng Văn nhắc đến bộ ảnh đó, anh kể rằng lần đầu đến Paris, mình đã mất một số tiền lớn để hỏi mua từ một nhà báo.

Anh không bao giờ tiếc lời khen ngợi một đất nước phương Tây, tư tưởng phóng khoáng cũng như thành tựu công nghiệp hóa của họ.

Trong lời khen ngợi là kỳ vọng tốt đẹp, kỳ vọng Trung Quốc sẽ có ngày mở mày mở mặt với thế giới.

Mấy đứa trẻ vây xung quanh chiếc xe bán kem ly, mua nước ngọt và đồ ngọt mình thích.

Thẩm Hề thấy họ cũng bán bỏng ngô bèn mua một túi, ông lão bán hàng chỉ vào ví tiền trên tay cô để nhắc nhở.

Đúng là Paris phồn hoa, nhưng trộm cắp cũng có tiếng.

Ông lão thấy cô là người châu Á mắt đen tóc đen, tản bộ trên đường không mục đích, giống như đang dạo chơi, đoán cô gái này lần đầu tiên tới Paris, liền tốt bụng nhắc nhở.

Thẩm Hề dùng tiếng Pháp học được từ Phó Đồng Văn nói cảm ơn, sau đó nhận lấy túi giấy.

Về đến nhà, cô nhìn đồng hồ để sàn, Phó Đồng Văn vẫn đang ngủ trưa, bèn đặt túi bỏng ngô lên bàn lùn ở cửa.

Người đến đón Virtue ngồi trong phòng khách nhìn thấy Thẩm Hề, lập tức đứng dậy gọi: "Mợ chủ."

Cô nhìn rương hành lý bằng vải trước cửa: "Đàm tiên sinh đâu?"

"Đang chào tạm biệt Virtue, ở phòng bếp."

Thẩm Hề đến phòng bếp, ho khẽ mấy tiếng.

"Không cần vào đâu, chúng tôi ra ngay đây."

Đàm Khánh Hạng nói xong liền đưa Virtue ra ngoài.

Lần này anh ta đưa Virtue đến Pháp vì muốn đích thân tiễn cô ấy đến châu Âu, giao cô ấy cho lãnh sự quán Đức đóng tại Pháp.

Chưa tới mấy ngày nữa hội nghị hòa bình sẽ kết thúc, anh ta biết không thể trì hoãn thêm nữa, tuần trước đã liên hệ với lãnh sự quán Đức, quyết định tuần này đưa cô ấy đến.

Virtue không tranh cãi gì quyết định này, cô ấy có thể vượt qua tất cả khó khăn, nhưng chỉ có duy nhất một trở ngại cô ấy không vượt qua được – Đàm Khánh Hạng không yêu cô.

Thấy nước Đức sắp bị trừng phạt, cô cũng lo lắng cho ông bà nội ở quê nhà, đắn đo suy nghĩ hồi lâu, không còn cách nào khác, cô mới đồng ý sự sắp xếp này.

Tay Virtue ôm hộp cơm, là món ăn Trung Quốc cô nấy nài nỉ Đàm Khánh Hạng làm, chuẩn bị ăn trên đường.

Thẩm Hề và Đàm Khánh Hạng tiễn cô ấy đến ngoài cổng lớn căn nhà.

"Đừng viết thư đến địa chỉ này, hội nghị kết thúc sẽ trả lại căn nhà cho chủ nhà, chúng tôi cũng về nước."

Đàm Khánh Hạng dặn dò.

"Sau khi mọi người về nước thì sống ở đâu?"

Trong đôi mắt màu xám xanh của Virtue không che giấu ánh nước.

"Không rõ."

Đàm Khánh Hạng trả lời.

Virtue cúi đầu, dùng tiếng Đức mà chỉ hai người nghe hiểu, nói chuyện rất lâu.

Từ âm điệu, ngữ khí, Thẩm Hề đoán là những lời bộc bạch cuối cùng.

Suy cho cùng Đàm Khánh Hạng cũng trạc tuổi Phó Đồng Văn, trải đời nhiều, từ đầu đến cuối anh ta luôn nở nụ cười trên môi, giúp Virtue không quá xấu hổ.

Sau cùng, anh ta trao cho cô gái cái ôm chân thành, dùng tiếng Đức thì thầm mấy câu.

Virtue chớp mắt, dòng nước mắt lăn xuống gò má, rơi vào trong cổ áo.

"Tạm biệt, cô Thẩm, thay em tạm biệt cậu ba nhé."

Virtue khẽ chào Thẩm Hề, rồi ngoảnh đầu lên xe.

Xe hơi khuất bóng sau khúc ngoặt con đường.

Đàm Khánh Hạng nhẹ thở dài.

"Cô ấy nói gì thế?"

Cô hỏi thầm.

"Nếu tôi không nói, cô định làm thế nào?"

Anh ta cười.

"Sẽ thao thức mất ngủ?"

Thẩm Hề bông đùa với anh ta, "Như xem ca múa kịch ở nhà hát Moulin Rouge, nhưng chỉ có mình tôi rời đi trước khi kịch hạ màn, không biết phần kết thế nào, không dễ chịu cho lắm."

"Cô ấy nói... cùng tên là Virtue, cùng một tình yêu xuyên quốc gia, cùng yêu người đàn ông Trung Quốc, tại sao cô ấy không nhận được cái kết hạnh phúc.

Cô ấy nói, tình yêu của bộ trưởng Lục và phu nhân là "Ngụ ý của vận mệnh", nhưng tôi lại muốn làm lơ nó."

Trong tình yêu, phụ nữ đều tương thông với nhau.

Đều thích nắm chặt một chút manh mối, thuyết phục mình, huyễn hoặc cho mình kết quả tốt đẹp.

"Vậy anh thì sao?"

"Tôi?

Cô hỏi tôi đã nói gì à?"

"Ừ."

"Tôi nói.' Đàm Khánh Hạng cười đáp: "Cô bé à, tôi không yêu cô."

Gần giống như cô nghĩ.

Thẩm Hề trao đổi về kết quả của cuộc gặp gỡ buổi chiều với Đàm Khánh Hạng.

Chuyện cô gặp Trần Lận Quan, Phó Đồng Văn không biết, Đàm Khánh Hạng biết.

Từ tháng Năm tới giờ, anh ta và cô vẫn luôn bàn bạc chuyện này, ở lại Pháp hay đến Anh.

Sợ bị Phó Đồng Văn nghe thấy nên họ thì thầm chuyện trò trong phòng bếp.

Con người càng lớn tuổi càng thích nhớ lại, Đàm Khánh Hạng nói mãi thì nhắc đến chuyện năm nọ trên tàu: "Hồi đó cũng là Sơn Đông, Đồng Văn còn nói, nếu như cậu ấy thật sự không ổn, vậy hãy buộc thuốc nổ lên người cậu ấy, để cùng chết chung với người Nhật Bản."

Ở bên ngoài Thẩm Hề còn có thể giả vờ, nhưng ở trước mặt Đàm Khánh Hạng, tất cả đều sụp đổ, dòng dạ rối bời như mớ bòng bong.

Rất lâu sau cô cũng chỉ khẽ nói: "Mỗi lần tôi nhớ đến, ở Yokohama chúng ta đứng ngồi không yên, chỉ sợ làm lỡ mất thời gian đến Mỹ, làm Wilson nghi ngờ lòng thành hợp tác của chúng ta... thì cảm thấy..."

Thật nực cười

Những câu này cô không thể nói với Phó Đồng Văn, đành phải tùy tiện nói ở đây.

"Cuối cùng Mỹ chọn Nhật Bản, chúng ta thật tức cười."

Đàm Khánh Hạng nói nốt câu.

Bỗng nhiên tầng trên vọng xuống tiếng hát kịch, hai người nhìn nhau.

Anh dậy rồi.

"Tôi lên xem."

Cô nói, "Anh mau chóng liên lạc với giáo sư của anh đi, hội nghị kết thúc, chúng ta lập tức khởi hành."

"Đã bàn bạc ổn thỏa rồi."

Đàm Khánh Hạng mỉm cười an ủi cô.

Nhưng hai người đều biết, để lỡ chỗ của Trần Lận Quan là để lỡ gì...

Cô cầm túi bỏng ngô, theo âm thanh tìm đến phòng sách.

Phó Đồng Văn vẫn khoác áo dài kiểu Trung màu xám trắng, vùi người trong ghế sô pha bằng lông thiên nga đen như mực, dưới chân là đôi dép bằng da mềm.

Trong lò sưởi âm tường không có lửa, ánh sáng xuyên qua tấm kính và hơn nửa phòng sách, rơi xuống chân anh, trên ống quần tây.

Nửa dưới người anh tắm trong ánh nắng, trong căn phòng mờ tối, anh nhắm mắt, nét mặt vương nụ cười mỉm, ngón tay khẽ gõ theo điệu nhạc.

Tia nắng quá ngắn, không đủ vươn tới gương mặt anh.

Thẩm Hề hiểu rất rõ chuyến đi tới Paris này thất bại hoàn toàn, nỗi buồn bã và đau lòng của cô không bằng một góc của anh.

Anh đi theo con đường Duy Tân, Duy Tân thất bại, anh ủng hộ cách mạng, Viên Thế Khải lên ngôi xưng đế, bận rộn cả nửa đời người, mà dường như chỉ đang làm chuyện không đâu.

Đến cuối cùng chuyện ở Sơn Đông vẫn không thể hoàn thành, nỗi thất vọng ở ngay phía trước...

Còn bên cạnh anh, từng người từng người một rời đi, từng nhóm từng nhóm một ngã gục, đường tới suối vàng bạn cũ nhiều vô kể.

Cô đúng đó rất lâu, lặng người nhìn anh, trái tim đau nhói.

Phó Đồng Văn đang cúi người, khi điều chỉnh lại tư thế ngồi, anh mở choàng mắt và trông thấy cô.

Anh cười: "Anh là người nhàn rỗi, đang chờ em về nhà chơi cùng anh đây."

"Lúc em đi anh còn nói, hiếm khi em gặp được bạn ở Paris."

Thẩm Hề bước lên trước, nửa quỳ trước mặt anh, hai tay ôm túi giấy, "Bỏng ngô em nợ anh nhiều năm nay, còn nhớ không?"

Anh đón lấy túi giấy, mở ra, cầm một viên bỏng ném vào miệng: "Cinderella."

Bộ phim đầu tiên họ xem ở New York.

Phó Đồng Văn cũng đút cho cô một viên, dịu dàng nói: "Chờ anh ba về nước sẽ mở một trăm rạp chiếu phim cho Ương Ương, náo nhiệt như trong nhà hát kịch, ngày đầu tiên sẽ chiếu Cinderella."
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 68: Núi xanh nguyên vẻ cũ 2


Thuở thiếu thời, anh thường sai người dựng sân khấu kịch trong đình ở hoa viên sau nhà, trước mái hiên treo ngợp đèn lồng, dùng vải sa tanh để làm màn sân khấu... khách chưa đến, đèn chưa lên.

Khách đến, đèn đuốc sáng ngời, cảnh náo nhiệt ngày ấy, không từ nào có thể miêu tả hết.

Ban nãy chợt nhớ lại chuyện ngày xưa, bởi vậy anh chỉ kéo một nửa rèm.

Anh muốn chờ mặt trời xuống núi, chờ cô về nhà mới bật đèn lên.

Đáng tiếc Thẩm Hề về nhà quá sớm.

"Trước khi em về, kịch cũng chẳng có gì thú vị."

Anh thầm thì, chóp mũi trượt từ trán cô xuống, ngửi mùi hương trên người cô, mùi phấn nước son môi này chỉ có ở con gái Trung Quốc, "Em vừa về, anh thấy khác hẳn."

Anh hôn cô, nhấm nháp vị cà phê giữa môi răng cô.

"Ừm, là cà phê sữa."

Anh nhận xét, "Mấy hôm nay anh chỉ được uống nước, không có vị gì cả."

Phó Đồng Văn nghiêng đầu nở nụ cười, như cậu ba lạc đường đang chờ cô đốt đèn hầu hạ.

Thẩm Hề và anh nhìn nhau chăm chú.

Cô sợ mất đi anh, sợ hơn bất cứ ai, ngoài anh ra, trên thế gian này cô không còn người thân nào.

Ở cô, những tình tiết kinh điển trong các vở kịch cứ luân phiên diễn ra, người trung lương thì thường bị hại, người tốt lại hay chết sớm.

Có không muốn đến cuối cùng vẫn phải trải qua chia ly.

Non nước thái bình, sẽ chỉ là một lời gửi gắm tốt đẹp, cô không nhìn thấy con đường phía trước đang ở phương nào.

Chẳng lẽ nghĩa tình trăm năm... cũng không làm được ư?

Thẩm Hề vừa mới gặp mặt Trần Lận Quan, vẫn chưa vực đậy được tâm trạng sa sút của mình, sợ rằng cảm xúc thất thường sẽ làm ảnh hưởng đến tâm trạng của anh nên né tránh gương mặt anh, nhìn tờ báo đang mở trên bàn lùn: "Đừng đọc báo nữa, không tốt cho bệnh tình của anh đâu."

"Được."

Anh nghe lời cô gấp tờ báo vào, "Em nói không đọc thì không đọc nữa."

"Nếu em nói gì anh cũng nghe nấy..."

Thì cũng không đến ngày hôm nay.

Anh cầu hòa: "Em và bạn đi uống cà phê, anh ở nhà chờ đợi mòn mỏi.

Em vừa mới về thì cũng đừng dạy dỗ anh chứ."

Thẩm Hề trách móc nhìn anh, cầm tờ báo đi.

"Bảo Đàm Khánh Hạng chuẩn bị đi."

Phó Đồng Văn tựa lưng vào ghế sô pha, "Bộ trưởng và phu nhân tối nay đến, định ở lại ăn bữa cơm."

"Anh đã nói với anh Đàm chưa?"

"Không dám nói, gần đây em và cậu ta đều nóng tính quá mà."

Anh giễu cợt.

Còn không phải vì anh ư...

Thẩm Hề không muốn vạch trần sự thật "tủi thân" của anh, bèn ôm chồng báo ra ngoài.

"Không chỉ có hai người đâu mà ít nhất là bốn, năm người.

Còn nữa, phu nhân thích lạp xưởng hun khói và hàu sống."

Anh bổ sung.

"Không ăn đồ Trung sao?"

Cô quay đầu lại hỏi: "Em tưởng họ lâu rồi chưa về nước, sẽ thích ăn đồ Trung hơn."

"Phu nhân muốn làm mọi người vui vẻ nên lãnh sự quán luôn nấu món Trung."

Anh trả lời, "Hôm nay nên đổi khẩu vị."

Sau khi họ đến Pháp thì thuê một phụ nữ người Pháp dọn dẹp nhà cửa, thỉnh thoảng sẽ nấu cơm Tây.

Hôm nay vừa vặn có thể nhờ được.

Trời vừa tối, khách khứa đúng giờ đến nhà.

Ngoài bộ trưởng và phu nhân ra, những người khác đều là công sứ đóng ở nước ngoài có quen biết với Phó Đồng Văn.

Trong tiệc mừng hồi tháng Giêng Thẩm Hề đã được gặp họ, trên bàn cơm hôm ấy ai ai cũng mang sắc mặt vui vẻ, còn hôm nay như già đi mấy tuổi, vẫn lịch sự ga lăng mang qua đến, khách sáo ôn lại chuyện cũ với chủ nhân, nhưng sau đôi mắt đã không còn nét cười.

Bữa tối được sắp xếp trong ba tiếng đồng hồ, vậy mà chưa tới nửa tiếng, ngoài bộ trưởng và phu nhân, những người còn lại đều chào tạm biệt ra về.

Trên bàn ăn, hàu tươi óng ánh dưới ánh nến.

Không ai còn khẩu vị ăn chúng.

"Tôi đã gửi rất nhiều điện báo về nước, nhưng không có hồi âm."

Bộ trưởng nói.

Giữa các nước lớn đã nhất trí, chuyển lợi ích của Đức ở Sơn Đông cho ngườ Nhật Bản.

Trung Quốc không có tư cách thảo luận, cũng không có tư cách phản đối.

Đoàn đại biểu lập tức thông báo kết quả hội nghị cho chính phủ trong nước.

Nhưng ngày ký hiệp ước ngày một đến gần, chính phủ Bắc Dương từ đầu tới cuối luôn tỏ thái độ đùn đẩy, không có bất cứ quyết định nào.

Cho nên đoàn đại biểu trở thành đối tượng bị công kích, bị cô lập ở Paris.

Họ mang mục tiêu nửa nhục cũ, trên đường đi trải qua vô số khó khăn, sau khi đến Paris gian nan hòa giải, đàm phán đến tận hôm nay... nhưng cuối cùng vẫn bị vứt bỏ, trở thành con cờ thí.

Nếu ký tên vào bàn hiệp ước không bình đẳng ấy thì chính là trách nhiệm của đoàn đại biểu, hổ thẹn với quốc gia nhân dân; nếu như không ký, cũng là trách nhiệm của đoàn đại biểu, đắc tội với các nước lớn.

"Lần này, không thể ký được... không thể ký được nữa."

Phó Đồng Văn không phải người của Bộ Ngoại giao, anh chỉ là một thương nhân, không có quyền bình luận.

Anh dùng chiếc đĩa bạc lấy nửa miếng bánh mì trong chiếc đĩa màu trắng lên.

Thẩm Hề giả bộ lơ đãng không chú ý.

Dưới ánh nến, cô thấy bàn tay phu nhân gác bên mép bàn ăn nổi gân xanh, mạch máu nổi rõ, hằn dấu vết già nua.

Lúc này cô mới nhận ra phu nhân đã sáu mươi lăm tuổi rồi, mà vẫn bôn ba khắp nơi theo chồng...

Ngoài cửa sổ chợt vang lên tiếng ồn ào.

Thẩm Hề đặt cốc thủy tinh đựng nước xuống: "Em đi xem sao."

Cô đến phòng khách, Đàm Khánh Hạng cũng ở đó.

"Là du học sinh ở Pháp, hơn trăm người."

Đàm Khánh Hạng nói rất nhanh, "Chẳng phải họ vẫn luôn biểu tình trước lãnh sự quán Pháp ư?

Sao lại tìm đến đây rồi?"

"Xe của bộ trưởng đang đỗ trên bãi cỏ, rất dễ tìm."

Thẩm Hề giải đáp.

"Tôi ra ngoài trước xem thế nào, cô gọi điện thoại cho lãnh sự quán sắp xếp người đến đón."

Anh ta vừa dứt lời, Phó Đồng Văn và bộ trưởng, phu nhân lần lượt từ phòng ăn ra.

"Mấy ngày nay họ đều ở bên ngoài lãnh sự quán, tôi và một số người bên họ cũng như coi đã tiếp xúc với nhau."

Bộ trưởng cười gượng, "Để tôi ra trước nói mấy câu."

Phó Đồng Văn định ngăn ông lại, nhưng phu nhân lắc đầu.

Họ đành phải đi theo sau, cùng bước ra vườn hoa.

Vườn hoa bên ngoài căn nhà được thiết kế theo kiểu nửa mở, bãi cỏ kề sát với con đường, dưới ánh đèn đường, Thẩm Hề thấy rõ từng gương mặt trẻ tuổi.

Trước đây ở Thượng Hải Phó Đồng Văn từng bị tấn công, bởi vậy trong lòng cô có sự sợ hãi với phong trào sinh viên.

Nhưng may mắn thay sinh viên ở đây không hề có ý định bạo động, họ chỉ cử một sinh viên nữ trao đổi ngắn gọn với bộ trưởng.

Hình như cô sinh viên ấy cầm theo thứ gì đó, cô không nhìn rõ.

Cách đó không xa cảnh sát Pháp cũng đang nhìn chằm chằm.

"Chúng ta không cần thông báo cho lãnh sự quán thật sao?"

Cô hỏi Phó Đồng Văn.

Anh không lên tiếng.

Sau khi cuộc trò chuyện ngắn ngủi kết thúc, bộ trưởng quay đầu, giẫm lên cỏ đi về phía Phó Đồng Văn và mọi người.

Đàm Khánh Hạng lập tức đẩy mọi người vào nhà, khóa cửa lại.

Bộ trưởng nhìn đám đông qua cửa kính, nhẹ nhàng cất tiếng: "Sinh viên đại diện đó giấu một cành hoa trong ống tay giả làm súng, uy hiếp tôi không được ký hiệp ước."

Phu nhân cười khổ.

"Khi cô bé ngắt hoa, tôi nhìn thấy."

Bỗng bộ trưởng bật cười nhìn Phó Đồng Văn, "Bên ngoài trồng hoa gì thế?"

"Hoa hồng."

Anh trả lời ông, giọng điệu cố làm ra vẻ hài hước, "Một khẩu súng thật lãng mạn."

Lãnh sự quán nhanh chóng sắp xếp chiếc xe khác đến đón khách khứa rời khỏi đây.

Khi xe rời đi, cô gái dùng bông hoa giả làm khẩu súng còn tuyên bố đầy hùng hồn mạnh mẽ: "Nếu ông ta dám ký, chúng ta sẽ lấy mạng của ông ta!

Ông ta tuyệt đối không dám ký đâu!"

Trên đường, nhóm sinh viên du học Pháp sôi sục ý chí, vây xung quanh cô sinh viên đại diện ấy, vung tay hô lớn.

...

Đàm Khánh Hạng không có ý định nán lại xem cảnh tượng này, trở về phòng ăn trước, kéo đồ ăn chưa ăn xong đến trước mặt, ngồi xuống chậm rãi ăn.

Bữa cơm tối nay khá đặc biệt, ban nãy anh ta sợ mình ở lại sẽ làm mọi người không tiện bàn chính sự nên mới không xuất hiện ở phòng ăn.

Nhưng đến hôm nay, cũng không có gì để nói.

Paris như ánh sáng lướt qua mặt nước, đây là thời đại đẹp nhất nước Pháp.

Các nhà nghệ thuật trên thế giới đều tề tựu tại đây, họp mặt trong quán cà phê, chia sẻ tác phẩm của mình trong quán rượu hay bên lề đường.

Nhà hát Moulin Rouge đêm đêm nhạc ca, mô hình cối xoay gió màu đỏ, tháp Eiffel cao đến tận chân trời... một nhà văn đã trải qua thời đại bấy giờ, sau này khi miêu tả về Pháp, đã gọi Paris của ngày ấy là "một cuộc hội hè miên man"1.

Nhưng những thứ kia là huy hoàng thuộc về nước người ta.

Báo chí trong nước gọi Thượng Hải là "Paris của phương Đông", nói cho cùng cũng chỉ là cái áo mới của hoàng đế, thử hỏi ở Paris, chỗ nào có Tô giới, nơi cao cấp nào không cho phép người Pháp bước chân vào?

1Câu đầy đủ: "Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân thì dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn, bởi Paris là một cuộc hội hè miên man."

Một câu trích trong tác phẩm A Moveable Feast (Hội hè miên man) của nhà văn Hemingway (1899- 1961)

Phó Đồng Văn đến bên Đàm Khánh Hạng, kéo ghế ngồi xuống.

Nửa tháng nay anh như người chờ hoa tàn.

Biết chắc kết cục cuối cùng, nhưng chưa đến ngày ký vẫn không muốn rời đi.

Rượu vang trắng trên bàn ăn được chuẩn bị cho phu nhân, hàu sống có mùi tanh khá nồng, dùng với rượu vang trắng thì rất hợp, anh cầm chai rượu cổ hẹp lên rót đầy cho Đàm Khánh Hạng theo kiểu của người Trung Quốc.

Sau đó anh định tự rót cho mình, Đàm Khánh Hạng bèn che miệng ly thủy tinh của anh lại: "Đã là người có gia đình rồi, cậu quan tâm đến tâm trạng của Thẩm Hề chút đi."

Phó Đồng Văn cười cười: "Tôi không uống, chỉ kính rượu thôi."

Anh kéo tay anh ta ra, rót đầy rượu vào ly mình.

Anh nâng ly lên, chạm nhẹ vào ly của Đàm Khánh Hạng rõ ràng không uống, nhưng ánh mắt lại như tiệc rượu tàn người đi hết: "Hôm nay là ngày đáng để kính rượu."

"Ly đầu tiên, phải kính Thẩm gia."

Anh đổ cả ly rượu xuống đất, đăm chiêu nhìn Thẩm Hề qua ánh nến, "Nếu không có cha em, anh sẽ không đi trên con đường cách mạng."

Nhà họ Thẩm và Đàm Khánh Hạng không qua lại với nhau, anh ta chỉ nghe, không đổ rượu.

Phó Đồng Văn lại cầm chai rượu lên rót thêm ly nữa.

Ly chưa đầy chai rượu đã hết.

Anh rệu rã chống một tay lên bàn với lấy chai rượu vang đỏ chưa ai uống, rót đầy ly.

"Ly thứ hai, kính Đồng Quyến."

Anh nâng ly, "Là anh vô dụng, chú ấy đi lâu thế rồi mà không làm được chuyện gì nên hồn."

Chất lỏng đỏ dậm được anh tưới xuống đất.

Lần này, Đàm Khánh Hạng cũng kính một ly cùng anh.

Ly rỗng lại được rót đầy.

"Ly thứ ba này..."

Cho ai đây?

Không phải không còn người kính, mà do người hy sinh quá nhiều.

"Khánh Hạng, cậu không trải qua Duy Tân, đó cũng là một đám nam nhi tốt."

Phó Đồng Văn nói.

"Vung dao nhìn trời ta cười lớn, để lại gan hùng ở Côn Lôn.1" Đàm Khánh Hạng cười, "Đã ai nghe chưa?"

1

Hán Việt: "Ngã tự hoành đao hướng thiên tiếu, Khứ lưu can đảm lưỡng Côn Lôn."

Trích từ bài Ngục trung đề bích của nhà cách mạng Trung Quốc Đàm Tự Đồng (1865-1898)

"Trước đây có người khuyên tôi đừng tham gia Duy Tân."

Phó Đồng Văn nhớ lại, "Người đó là một tâm phúc trong cung, ông tặng tôi một lời khuyên, chớ có tỉnh một mình."

Thật ra Trung Quốc không có người tỉnh một mình, chỉ có quần chúng đã bừng tỉnh từ lâu.

Ngày đất Trung Quốc bị chia năm xẻ bảy, khi đồng bào ngã xuống máu chảy dài, anh giật mình tỉnh ngộ, nhận ra đã có rất nhiều người đang đứng bên cạnh mình.

"Ly cuối cùng... kính người xưa."

Phó Đồng Văn khẽ thốt lời cuối.

"Kính người xưa."

Đàm Khánh Hạng nói theo.

Kính tất cả chí sĩ, những người xưa "thân con kiến mà vòi lay cây lớn, nực cười thay không biết lượng sức mình"... dốc lòng vực dậy Hoa Hạ chúng ta, lấy lại từng tấc đất của Tổ quốc.

Hai anh em không cùng một họ, nhưng giờ phút này cùng nâng ly, dùng tất cả số rượu còn lại tưới đẫm đất.

Một buổi kính rượu thật hoang đường, người ta rót rượu xuống đất bằng chén nhỏ, còn hai người họ lại dùng chiếc ly lớn... nước chảy lênh láng, xung quanh đều là rượu, đế giày của họ đều bị ướt, của cô cũng thế.

Thẩm Hề cúi đầu nhìn dòng nước dưới chân.

Cô không muốn làm phiền họ, bèn cầm ly mình lên uống từng hớp rượu nhỏ.

Tửu lượng của cô không cao, chỉ mới hai, ba hớp mà gò má đã nóng bừng bừng, mắt cũng đong đầy nước.

Kính xong ba ly rượu, Phó Đồng Văn về ghế ngồi, anh nhìn rượu vương đầy sàn nhà, lặng thinh hồi lâu.

Cho đến khi Thẩm Hề nhận ra có gì đó không ổn, đúng lúc anh cũng đưa tay với lấy ly nước.

Khi Phó Đồng Văn uống, cô chợt trông thấy giọt nước lăn xuống gò má anh.

Từ góc độ này, Đàm Khánh Hạng không nhìn thấy.

Đàm Khánh Hạng không nhận ra, Phó Đồng Văn đang uống nước cũng vờ như không biết, nếu không phải tận mắt nhìn, cô còn ngỡ rằng chỉ là ảo giác.

...

Cổ họng Thẩm Hề nghẹn ứ, một hơi uống cạn rượu trong ly.

Cô cố làm vẻ bình tĩnh, nghiêng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ: "Hình như đều đi hết cả rồi, những du học sinh ấy."

"Chỗ chúng ta không phải lãnh sự quán."

Đàm Khánh Hạng cầm dĩa lên ăn hàu, "Muốn bao vây thì phải bao vây nơi đó.

Có điều cũng chẳng có gì để bao với chả vây."

Tối hôm ấy, Phó Đồng Văn nói khá nhiều.

Sau đó, anh nổi tính thieesy gia, ôm máy hát trong thư phòng về phòng ngủ.

Anh cười: "Lên cơn nghiện kịch rồi, đừng hòng ai cản được."

Anh lại nói: "Mãn giang hồng vẫn là hay nhất."

Anh nói tiếp: "Rồi mai đây ta thu lại giang sơn cũ, về chầu cửa khuyết.

Câu này tuyệt hay."

Thẩm Hề đun nước bưng vào phòng, giúp anh lau mặt, lau tay.

"Dạy em hát nhé?"

Anh hỏi.

Thẩm Hề xua tay: "Em không có năng khiếu đâu."

"Giống hệt Đồng Quyến."

Anh chế nhạo cô.

"Anh cứ cười đi, bọn em hát không hay mới làm nổi bật lên giọng hát hay của cậu ba chứ."

Cô tán tụng anh, cốt làm anh vui.

Chiếc khăn nóng trên tay cô trùm lên mặt, anh "ưm" một tiếng đầy thỏa mãn, còn dài giọng giả đò hát câu kịch cho cô nghe: "Ngày càng biết phép tắc rồi đấy."

Cả hai cùng bật cười, Phó Đồng Văn được khuyên đi nghỉ ngơi.

Trong đêm nay, cơn đau tim ập đến hai lần.

Gắng gượng nở nụ cười không khó, khó là phải vượt qua bóng đen trong tim.

Chưa đến hai ngày, Phó Đồng Văn lại được đưa vào bệnh viện.

Sau khi đến Pháp vào tháng Giêng, thời gian anh ở bệnh viện còn nhiều hơn thời gian ở nhà.

Bác sĩ người Pháp không nói "phiền muộn tích tụ trong lòng", nhưng cũng thường xuyên dặn dò người nhà cố gắng giữ cho bệnh nhân tâm trạng thoải mái.

Có điều nói xong, ngay cả bác sĩ cũng cảm thấy mình thừa lời.

Hằng ngày báo chí đều nhắc đến hội nghị hòa bình ở Paris, cả nước Pháp đều biết một lần nữa Trung Quốc sắp phải mất thứ gì.

Phó Đồng Văn cũng hiểu mười mươi, quãng thời gian này anh đang bước qua Quỷ Môn Quan, để đề phòng bất trắc, anh gọi Chu Lễ Tuần đến.

Khi thấy Chu Lễ Tuần vào, Thẩm Hề lập tức nhìn thấu suy nghĩ của anh, khóe mắt đỏ hỏ không kịp che giấu.

Phó Đồng Văn sợ Chu Lễ Tuần nhìn thấy lúc cô yếu đuối nhất, bèn xua tay ra ngoài: "Bao giờ gọi cậu mới được vào."

Chu Lễ Tuần cũng là cậu ấm khá nóng tính, nhưng hôm nay lại hiền lành đến lạ.

Bảo anh ta ra ngoài chờ, anh ta quay đầu đi luôn, không nói thừa một câu.

Phó Đồng Văn kéo tay Thẩm Hề, "Đang yên đang lành, lại làm sao vậy?"

"Anh gọi anh ta tới làm gì?"

Thẩm Hề thở gấp gáp.

Anh thở dài: "Thông minh quá cũng không hay, anh thấy thiệt khi thông minh từ bé rồi."

Anh kiên nhẫn giải thích cho cô: "Kinh doanh lớn, tài sản phức tạp, đều phải bàn giao ổn thỏa từ sớm.

Ví dụ như biệt thự, nhà ở khắp nơi trong nước, cả mỏ khoáng sản, tổ chức thương mại và công ty đều phải cần... thảo luận."

Nhưng thấy nước mắt cô đã đong đầy mí mắt, anh không dám nói thêm, đành phải tự kiểm điểm: "Là anh làm trễ nải em, một cô gái tốt đẹp nhường này mà phải lấy anh, sau này tái hôn cũng rắc rối."

"Phó Đồng Văn..."

Cô gườm gườm nhìn anh.

Anh kề sát bên tai cô, thủ thỉ: "Đừng làm rộn nữa, đi gọi người ta vào nào."

Về lý trí, Thẩm Hề biết chuyện này rất cần thiết, dù sao gia sản của anh cũng phức tạp, chỉ có anh mới sắp xếp hợp lý được.

Nhưng về tình cảm, dẫu là ai đi chăng nữa cũng không thể chấp nhận nổi.

Sau khi Chu Lễ Tuần vào phòng bệnh, Thẩm Hề đóng cửa cho họ, một mình ngồi trên băng ghế dài trong hành lang, đầu óc trống rỗng.

Cô nghĩ lát nữa lại vào trong kia, phải kiềm chế cảm xúc của mình, không được khóc nữa...

"Phó phu nhân."

Bác sĩ điều trị chính cho Phó Đồng Văn ở bệnh viện đứng trước mặt cô, đi theo sau là một y tá biết nói tiếng Anh.

Thẩm Hề hấp tấp đứng dậy.

Bác sĩ điều trị chính đang nói gì đó, cô rất lo lắng, có lẽ liên quan đến bệnh tình của anh nên luôn nhìn chằm chằm vào y tá phiên dịch.

"Bác sĩ hỏi rằng, bà có nhớ vị giáo sư mà ông ấy đều cử cho bà không?"

"Tôi.. nhớ."

Cô trả lời y tá bằng giọng mũi rất nặng, "Nhưng tôi không thành công, ngay cả thời gian cũng không hẹn được."

Bác sĩ điều trị chăm chú nghe y tá phiên dịch.

Nỗi thấp thỏm ngày càng lớn, Thẩm Hề cảm thấy nghẹt thở, chờ câu trả lời của bác sĩ.

Bác sĩ gật đầu, để y tá tiếp tục phiên dịch câu của mình.

Tốc độ nói của y tá rất nhanh, dùng tiếng Anh truyền đạt lại ý của bác sĩ cho cô: "Phó phu nhân, có tin tốt đây, mấy vị bác sĩ khoa Tim mạch giỏi nhất nước Pháp gọi điện cho chúng tôi, muốn thực hiện hội chẩn cho chồng bà."

Tin vui đến quá bất ngờ, như có ai kéo tấm màn đen kịt ra.

Ánh sáng chói chang làm cô không mở nổi mắt, chỉ muốn khóc thật thỏa thuê.

Nước mắt không ngừng rơi xuống, hoàn toàn không thể kiềm chế.
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương 69: Núi xanh nguyên vẻ cũ 3


Là Trần Lận Quan, chắc chắn là Trần Lận Quan.

Trung Quốc có địa vị rất thấp trên trường quốc tế, dù là người Hoa hay Hoa kiều cũng thế.

Ở nơi đất khách quê người, họ muốn liên hệ với bác sĩ khoa Tim mạch có kinh nghiệm ở Pháp là điều rất khó khăn.

Chỉ có Trần Lận Quan, theo học chuyên gia đầu ngành, được người người quan tâm mới có thể làm được điều đó trong khoảng thời gian ngắn ngủi, cũng chỉ có người đứng trên đỉnh kim tự tháp học thuật mới có thể tạm thời thoát khỏi xiềng xích của sự kỳ thị, có quyền lên tiếng thật sự.

Dù Đàm Khánh Hạng về Anh lần nữa cũng không thể làm được thế này, vì anh không có thành tựu, cũng không có quan hệ.

Vì vậy Thẩm Hề có thể nhận ra niềm vui mừng và bất ngờ ở vị bác sĩ ấy.

Cũng giống như tâm trạng của cô.

Tối hôm đó, bốn bác sĩ lần lượt tới bệnh viện.

Trần Lận Quan không xuất hiện.

Thẩm Hề chờ cuộc hội chẩn của bác sĩ kết thúc, khi tiễn họ khỏi phòng bệnh, một bác sĩ mang quốc tịch Mỹ dừng lại, mỉm cười dung tiếng Anh nói chuyện với cô: "Phó phu nhân, tôi là bạn của Trần Lận Quan."

Cô gật đầu, bắt tay với đối phương.

"Nghe nói ở Trung Quốc bà cũng là một bác sĩ ngoại khoa danh tiếng?"

"Không đâu."

Cô khiêm tốn, "Bác sĩ Tây y ở Trung Quốc vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu."

Ông ta cười, "Lát nữa chúng tôi sẽ thảo luận nội bộ, phải xem cả báo cáo kiểm tra của chồng bà, khoảng ba tiếng nữa chúng tôi sẽ đích thân thông báo cho bà kết quả thảo luận."

"Được, cảm ơn ông."

"Và..."

Đối phương trầm ngâm, "Mai là ngày kết thúc hội nghị hòa bình, cố gắng đừng đề cập đề tài này với bệnh nhân."

"Tôi hiểu."

Cô nói.

Nói là ba tiếng, nhưng hai tiếng rưỡi trôi qua cô đã đứng ngồi không yên.

Cô ra hiệu cho Đàm Khánh Hạng vào phòng bệnh, lấy cớ ra ngoài hít thở không khí, đến tầng có phòng khoa Tim mạch.

Đứng ở nơi đây, lần đầu tiên cô nhớ lại tâm trạng khi ở New York, cô đã từng say mê tim mạch...

Sau lưng, người đàn ông mặc áo vest màu sậm bỏ mũ xuống, bước tới gần cô rồi dừng lại: "Thế kỷ trước có người nói, phẫu thuật tim mạch là không tôn trọng nghệ thuật ngoại khoa.

Ai dám làm như vậy thì đó là một kẻ không còn danh dự..."

Thẩm Hề nhận ra người đang nói là ai, cô không nhịn được cười: "Nhưng đã có người bắt đầu thành công, phá vỡ tảng bang, chúng ta sẽ tìm ra con đường để đi tới trái tim."

Khi họ còn đi học, trên giảng đường vị giáo sư ở New York đã nói về triển vọng của ngoại khoa Tim mạch, vị giáo sư ấy chính là người khai sáng cho Thẩm Hề và Trần Lận Quan.

Trần Lận Quan nhìn cô chăm chú.

Anh ta là người chỉ coi trọng cảm nhận của mình, rất ít bạn bè, vì anh ta không thể cho phép bản thân phân tâm trong xã giao cá nhân, anh ta là kẻ điên cuồng với tim mạch, chỉ có Thẩm Hề ngày xưa mới hiểu được.

Cô là trỉ kỷ của anh ta, tình bạn sâu đậm, vượt trên cả anh em.

Có điều xưa kia anh ta cũng là một cậu ấm nhỏ, sau này vì cha kinh doanh thất bại bởi Phó Đồng Văn, gia cảnh sa sút, anh ta trở thành tên nghèo kiết xác...

Dù tình nghĩa với Thẩm Hề còn hơn cả mối thù với Phó Đồng Văn, nhưng con người là động vật có tình cảm, dẫu cho anh ta đã dùng tất cả sức mình, mời tất cả đồng nghiệp đến đây, suy nghĩ vẫn khó bình thản.

"Có thể cho tôi một lý do, để tôi cứu anh ta với tâm trạng thoải mái hơn được không?

Cậu biết không, sau khi cha tôi làm ăn thất bại, cả nhà đã sống rất khó khan, mỗi khi nhắc đến anh ta, mẹ tôi đều coi như là kẻ thù."

Anh ta cười bất lực, cảm thấy mình thật khó hiểu, "Cuối mỗi bức thư nhà gửi đến đều nhắc tôi phải khắc sâu mối thù với anh ta."

"Cậu muốn lý do... về quốc gia hay về cá nhân?"

"Về cá nhân, có liên quan đến cậu, tôi vì cậu mới cứu anh ta mà."

Trần Lận Quan xoay chiếc mũ trong tay.

"Anh ấy từng cứu mạng tôi, năm ấy cả nhà tôi bị chém đầu, không có anh ấy, tôi đã chết ở tuổi mười một rồi."

Trần Lận Quan sững sờ.

Anh ta vỗ vai Thẩm Hề, đi vòng qua cô vào phòng họp.

Sự tham gia của Trần Lận Quan làm cuộc họp kéo dài thêm hai tiếng.

Khi mặt trời lặn ở đằng Tây, Trần Lận Quan ngồi xuống bên cạnh cô: "Tôi nói, cậu nghe.

Tình hình của anh ta không lạc quan, chúng tôi có hai phương án, một là duy trì điều trị bằng thuốc, nhưng nói thật, tuy anh ta có tiền, có thể mua được tất cả những loại thuốc tốt nhất, song căn bệnh này vẫn chưa có thuốc đặc hiệu.

Phương án còn lại là phẫu thuật, nhưng độ nguy hiểm rất cao, cậu cũng biết tình trạng hiện nay của ngoại khoa Tim mạch mà."

"Kiến nghị của cậu là gì?"

"Kiến nghị của tôi là phẫu thuật, nguy cơ rất lớn là bệnh tình của anh ta sẽ chuyển biến xấu.

Tôi phải nói rõ với cậu rằng, giai đoạn hiện giờ không một ai có thể cứu được người bị nhồi máu cơ tim, nếu thật sự đến lúc đó, dù mời ai đến cũng không thể cứu vãn."

Cô hoảng hốt cảm thấy hình như cuộc đối thoại này đã từng diễn ra.

Cô nhìn anh ta.

Trần Lận Quan nói: "Tôi đã tìm cho cậu những bác sĩ có kinh nghiệm lâm sàng phong phú nhất ở Pháp, thậm chí là toàn châu Âu, ngoài họ ra không ai có thể đảm nhiệm được cuộc phẫu thuật này."

Vừa dứt lời, anh ta lại bổ sung: "Giáo sư của tôi không thể lên bàn mổ, nếu phải phẫu thuật, tôi sẽ là người mổ chính."

Nếu chỉ là bệnh nhân bình thường, Trần Lận Quan sẽ không đưa ra kiến nghị này.

Phẫu thuật ở vị trí tim mạch, trong số bệnh nhân anh ta đã gặp cho đến nay, chin mười phần trăm người có ý thức tỉnh táo sẽ từ chối.

Vì Thẩm Hề nên anh ta mới đề xuất như vậy.

"Đương nhiên, nếu duy trì điều trị bằng thuốc, tôi vẫn sẽ tận tâm tận lực."

Cuối cùng cô đã nhớ ra tại sao lại có cảm giác quen thuộc đến vậy.

Ngày trước cậu năm có phẫu thuật cắt chân hay không, cô cũng từng có kiến nghị y hệt với Phó Đồng Văn, ngay cả câu từ cũng giống đến giật mình.

Trần Lận Quan nói đúng, cô am hiểu ngoại khoa, cũng am hiểu lĩnh vực ngoại khoa Tim mạch.

Cô nhớ đến khi mình cưa chân cậu năm bằng cưa gỗ trong phòng phẫu thuật... khi ấy không hề sợ hãi, còn bây giờ, cô rất sợ.

Lúc đó Phó Đồng Văn chỉ mất hai phút để đồng ý với quyết định phẫu thuật.

Sau khi Trần Lận Quan nói xong, cô ngồi im mười phút, vẫn không thể nào quyết định được.

Cô đang biện giải cho mình, khi chưa đến bước sống chết cuối cùng, cô không dám liều một phen.

"Cậu để tôi suy nghĩ đã."

Cô khẽ cất tiếng.

Phó Đồng Văn thấy bữa tối cô ăn không ngon miệng, liền chủ động hứa hẹn, ba tháng tới anh sẽ không trao đổi điện báo với bất cứ ai, sẽ không đọc báo, cũng như không gặp người của đại sự quán.

Anh cũng đang tự điều chỉnh lại tâm trạng của mình.

Di chúc đã viết xong rồi, nhưng anh không muốn chết, khi thất bại quá nhiều, con người sẽ mang theo một sự kỳ vọng xa rời thực tế, luôn cảm thấy bước tiếp theo chắc chắn sẽ giành được phần thắng.

Tâm lý này không khác gì con bạc lún sâu vào vũng bùn đồng tiền.

Nhưng nói trắng ra, những người như họ, nào có ai không phải là con bạc lấy tính mạng mình ra làm tiền cược?

* * *

Ban ngày, sức khỏe anh vẫn ổn.

Đến đêm, cơn đau tim của anh lần nữa tái phát, trên chiếc giường bên kia, Thẩm Hề trở người dậy, chân mới chỉ chàm vào đôi dép, Phó Đồng Văn đã tự uống xong thuốc.

Trước khi đi ngủ, anh cố ý để bình thuốc vào khăn tay bên cạnh gối của mình.

Uống xong thuốc anh không nói gì, vẫn nở nụ cười như đứa trẻ tranh công với cô: Em thấy chưa, anh uống thuốc rất kịp thời đấy nhé.

Thẩm Hề tắt đèn, tuyên bố kết thúc: "Nịnh nọt."

Trong căn phòng không ánh sáng, cô đổi giường, tựa bên người anh, chiếm một diện tích nhỏ nhoi ở mép giường để trông chừng anh.

Tay cô gác nhẹ lên chân anh.

Lời của Trần Lận Quan cứ quanh quẩn trong đầu, nếu như có chuyển biến xấu...

Phó Đồng Văn dựa người vào đầu giường, đây là quá trình chịu đựng đau đớn dài dằng dặc.

Thẩm Hề không lên tiếng, không nhúc nhích, nhịp thở cũng ổn định, dường như đã ngủ say.

"Uyển Ương?"

Anh khẽ gọi cô.

"Vâng."

Cô đáp lại.

Cô cũng gọi anh: "Anh ba?"

Anh cũng trả lời lại.

Trầm lặng trong phút chốc.

"Em muốn sắp xếp cho anh một cuộc phẫu thuật."

Cô bàn bạc với anh.

"Em mổ chính sao?"

Anh cố ý hỏi.

Lại không nghiêm túc rồi.

"Em không có bản lĩnh ấy."

Cô nói.

"Em có năng khiếu, là anh làm dở em."

Năm cùng anh rời khỏi New York, cô đã từ bỏ điều gì anh đều biết.

Nhất là khi gặp lại Trần Lận Quan, Phó Đồng Văn càng tiếc nuối cho cô hơn.

Thẩm Hề nhẹ nhàng than phiền: "Được rồi, nằm xuống thôi."

Anh chui vào trong chăn, đầu gối lên cánh tay, nhìn cô: "Người kia, trong lòng có em phải không?"

Đã là lúc nào rồi còn nghĩ đến chuyện này...

"Không phải, anh ta thấy em chướng mắt, trong mắt anh ta chỉ có quả tim đầm đài máu tươi mà thôi."

"Được."

Anh bỗng nhiên quyết định.

"Được cái gì?"

"Làm phẫu thuật."

Phó Đồng Văn cầu thầy trị bệnh nhiều năm qua, hồi trước đã từng gặp giáo sư của Đàm Khánh Hạng ở Anh, đương nhiên biết rất rõ những nguy hiểm trong quá trình phẫu thuật, "Quyết định thế đi.

Anh thấy em hai ngày nay ăn không ngon, ngủ không yên, anh rất lo lắng.

Phẫu thuật cũng được, chúng ta phẫu thuật đi, đợi đến khi anh khỏe lại rồi có thể chăm sóc em thêm mấy năm nữa."

Anh tìm bàn tay cô trong chăn bông, lưu luyến những ngón tay mềm mại như không xương.

Thầm Hề nhích đến gần anh hơn, gương mặt kề lên áo anh, lắng nghe tiếng tim đập, cảm nhận sinh mệnh của anh.

Vì cuộc phẫu thuật, Trần Lận Quan sắp xếp cho Phó Đồng Văn chuyển viện, mời bác sĩ nội khoa khám tổng quát một lần.

Đêm trước phẫu thuật, Đàm Khánh Hạng, cậu năm và cô sáu đều đến bệnh viện, không thông báo cho Phó Đồng Văn biết, họ đều ngồi chờ trong đại sảnh chờ khám, dù Thẩm Hề khuyên thề nào cũng không chịu về ngủ.

Ngày hôm sau, họ đưa Phó Đồng Văn vào phòng phẫu thuật.

Trước khi vào phòng mổ, Trần Lận Quan trao đổi riêng với Thẩm Hề mấy phút, trấn an cảm xúc của cô.

Cửa phòng phẫu thuật đóng lại trước mắt cô.

Đồng hồ quả quýt của Phó Đồng Văn đang nằm trong tay cô, cô chỉ lấy riêng thứ này, từ trước đến nay, chiếc đồng hồ ấy vẫn luôn đi theo anh, anh kể rằng được một người bạn thân đã qua đời tặng lại.

Thẩm Hề mở nắp đồng hồ ra, nhìm chằm chằm đôi chim công màu xanh biếc ôm lấy mặt đồng hồ... bỗng dung cô nhớ đến chiếc đồng hồ để sàn kiểu Tây trong phòng khách sạn nhà họ Thẩm, con lắc nhỏ xíu trong chiếc đồng hồ quả quýt kêu tích tắc đều đặn, con lắc đồng hồ để sàn, trong ký ức cũng chưa bao giờ nghỉ ngơi.

Cha, nếu như cha trên trời có thiêng, xin hãy phù hộ cho người bạn nhỏ của cha, anh ấy còn có sự nghiệp và tâm nguyện chưa hoàn thành.

Hai tiếng đồng hồ trôi qua, những người cùng thế hệ trong nhà họ Cô ở Paris cũng đến, bao gồm Cô Ấu Vi và chồng mới cưới của cô ấy.

Cô Ấu Vi hạ thấp giọng nói chuyện với Đàm Khánh Hạng: "Cuối cùng đoàn đại biểu vẫn không ký hiệp ước."

Trong hành lang tĩnh mịch, người nhà họ Cô khi nhận được tin này đã thảo luận với nhau từ trước, còn người nhà họ Phó đang chờ phẫu thuật của Phó Đồng Văn kết thúc cũng đã đoán trước được, có điều khi nghe thấy kết quả này, ai cũng chìm trong chấn động và thổn thức sâu sắc.

Thời gian chậm chạp nhích dần.

Thẩm Hề chờ đến hoảng loạn, cô nhắm mắt lại tưởng tượng khung cảnh trong phòng phẫu thuật.

Cảnh tượng dần dần rõ hơn, như thước phim câm, hình ảnh đen trắng đang chuyển động, họ đang trao đổi, căng thẳng khâu vết mổ...

Dường như có làn gió lướt qua gương mặt cô.

Cô choàng mở mắt, cũng trong giây phút ấy, cửa phòng phẫu thuật mở ra.

Trần Lận Quan đứng trước mặt cô, anh ta mệt mỏi đặt tay lên bả vai Thẩm Hề.

Thời gian đóng bang giữa hai người, quả lắc nhỏ xíu trong chiếc đồng hồ quả quýt dường như bị hỏng, nằm im không hoạt động.

Đây là một giây dài nhất Thẩm Hề trải qua trong cuộc đời mình.

Cho đến khi anh ta gật đầu, trái tim cô cuối cùng cũng đập trở lại, đồng hồ tiếp tục kêu tích tắc đong đếm thời gian...

Hai tay Thẩm Hề nằm chặt tay anh, cô muốn nói câu cảm ơn, nhưng không thể bật ra âm thanh nào.

"Không có cậu, cũng không có tôi ngày hôm nay."

Anh ta khẽ nói, "Thẩm Hề, là cậu cứu anh ta, không phải tôi."

Anh ta không quen những người ngoài phòng bệnh, nói chuyện xong với Thẩm Hề thì một mình rời khỏi.

Tối hôm sau cô mới được gặp Phó Đồng Văn.

Cô đã nhìn Paris vào đêm trong nửa năm, vì lo lắng cho hội nghị hòa bình nên chưa lúc nào có tâm trạng ngắm kỹ.

Đêm nay, Paris sương mù dày đặc, rất khó nhìn được rõ đường nét vầng trăng.

Thẩm Hề ngồi trên chiếc ghế bên giường bệnh, nhẫn nại nhìn anh, chờ anh tỉnh lại.

Nghe nói sau phẫu thuật anh đã tỉnh mấy lần, nhưng đều không tỉnh táo lắm.

Giữa các ngón tay cô đều vương mùi thuốc khử trùng, anh còn ở giai đoạn nhiễm trùng sau phẫu thuật, không thể chủ quan.

Cô khử trùng cho mình hoàn toàn dựa theo tiêu chuẩn khử trùng của bác sĩ phẫu thuật mới dám bước vào phòng bệnh.

Cô sờ ống tay áo của anh, dịu dàng giúp anh kéo xuống, không hiểu sao cô bỗng nhớ lại đêm đầu tiên họ gặp nhau.

Trong mùi thuốc phiện thôi rữa tích tụ từ năm này qua năm khác, bên người là cái xác của kẻ gian đã tố cáo cha mình, cô bị trói ngoạt hai tay, co ro trên nền đất, trong tầm mắt chỉ ngang bằng mặt đất ấy, cô thấy một người đàn ông mặc âu phục được đám đông vây quanh, sải bước qua thềm cửa.

Cô áp sát tai xuống nền nhà, không cựa quậy nổi, bởi vậy nghe thấy rõ mồn một tiếng giày da của anh giẫm lên nền gạch...anh đi ba bước tới trước mặt cô, khuỵu gối phải xuống, nhìn thẳng vào mặt cô với tư thế nửa quỳ: "Bị đánh ư?"

Tim cô đập nhanh hơn cả lúc bị đánh, đây là... ai?

"Cậu ba."

Người bên cạnh hỏi rất nhỏ, "Vừa rồi... vừa rồi..."

"Trong Tứ Cửu Thành1 này, chưa có ai dám động vào người của tôi."

Giọng Phó Đồng Văn trầm xuống, "Cô gái này là người của ai cũng không them hỏi trước, cứ thế mà đánh à?"

1 Chi thành Bắc Kinh, có bốn cổng thành của Hoàng thành và chín cổng thành của nội thành.

Trong cơn đau lan ra cả người, anh chạm vào vết thương trên trán cô, sau đó kéo chiếc áo bị vén lên trên người cô xuống, che phần eo để lộ ra ngoài.

...

Hình như cảm nhận được sự chờ đợi của cô, mí mắt của Phó Đồng Văn khẽ động đậy.

Thẩm Hề nín thở thấy anh mở mắt.

Trong mơ hồ, mắt anh như bị ngăn cách bởi một lớp vải trắng, anh nhìn thấy vầng trăng ẩn trong đám mây mờ, cùng nhìn thấy cô đang ngồi ngay ngắn trước ánh trăng.

Bốn mắt nhìn nhau, tĩnh lặng như tờ.

Anh cố gắng nở nụ cười.

Rồi lại mệt nhọc thay bằng tiếng thở dài, nói thật chậm và nhẹ nhàng: "Đúng thật là...

đời mấy khi thấy trăng trên đầu."

Cô mỉm cười, đôi mắt ngấn nước, gật đầu lia lịa.

Anh tỉnh lại rồi.

Cậu ba nhà họ Phó thích bắt tréo chân, nghiêng đầu cười nói với người bên cạnh rằng "Vạn việc không bằng chén trên tay, đời mấy khi thấy trăng trên đầu" cuối cùng đã tỉnh lại rồi.
 
Mười Hai Năm Kịch Cố Nhân
Chương kết: Nhà họ Thẩm năm 1967


"Thế nên bà trở thành bác sĩ khoa Ngoại tim mạch sao?

Trước đây ở khoa Xương bà cũng rất nổi tiếng ạ?"

Cậu bé phát hiện ra điểm quan trọng.

Lão phu nhân mỉm cười, gật đầu.

Sau khi phẫu thuật thành công, bà đã thầm thề rằng, đã cứu được chồng một phút thì phải cứu ông ấy cả đời.

Nhờ sự tiến cử của Trần Lận Quan, bà trở thành học trò cuối cùng của vị chuyên gia đầu ngành đó.

Trong thời gian chồng ở Pháp dưỡng bệnh, bà học từ nghiên cứu sinh lên tiến sĩ, thuận lợi tốt nghiệp, trở thành "đối thủ" lớn nhất của Trần Lận Quan.

"Sau đó chưa tới mấy năm, Sơn Đông được trả về."

Lão phu nhân cũng đặt một cái kết cho câu chuyện về Sơn Đông.

Đáy mắt bà đong đầy nét cười, dường như vẫn có thể nhìn thấy cảnh tượng trong ngày lấy lai chủ quyền Sơn Đông.

"Bởi vậy nhà mình mới đến Ma Cao?

Không đến Sơn Đông nữa ạ?"

"Ông nội con cố chấp thế đấy, nhất định phải sống ở đất thuộc địa, trông coi mảnh đất của người Hoa chúng ta."

Cậu bé gật nhẹ đầu.

"Bộ trưởng và phu nhân thì sao hả bà?"

Cậu bé bắt đầu tò mò hỏi.

"Sau khi phu nhân qua đời, bộ trưởng vượt trùng dương đến Bỉ, trở thành cha xứ."

Đồng hành với ông ấy là mấy chục rương tài liệu văn kiện, đều là những tư liệu đàm phán ở hội nghị hòa bình Paris.

Ông muốn công khai chúng, chứng minh với người dân nỗi gian khổ khi đàm phán của đoàn đại biểu, con cháu sau này không hiểu tình cảnh khi ấy, ông muốn giữ lại những văn kiện này để chứng minh đoàn đại biểu đã đạt được nhiều lợi ích trong đàm phán, những sự cố gắng bị che lấp trong lịch sử cần phải được ghi nhớ.

Cậu bé lớn lên bên ông nội, thông minh từ nhỏ giống hệt ông, nghe đến đây đương nhiên im lặng trở lại.

Lão phu nhân chậm rãi nở nụ cười: "Không lâu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, sau khi quân Đức chiếm được Bỉ, thì phát hiện ra một vị cha xứ đang diễn thuyết khắp nơi, phản đối phát xít, lên án kịch liệt quân Nhật xâm lược Trung Hoa... vị cha xứ diễn thuyết đó..."

"Chính là ông ấy."

Cậu bé đoán.

Lão phu nhân gật đầu.

Cậu nhóc giả bộ ông cụ non: "Ông ấy rất hận người Nhật Bản."

"Đúng thế."

Lão phu nhân giải thích, "Cho đến chết ông ấy cũng không thoát được gong xiềng của "Hiệp ước hai mười mốt điều".

Sau khi quân Nhật đầu hàng, ông ấy gửi một bức thư đến, bảo rằng vẫn hối hận vì đã ký hiệp ước kia."

Ở nơi xa xa, có người thở dài: "Vận mệnh trêu ngươi, năm xưa công sứ ngoại giao dưới tay Viên Thế Khải không thể thắng được bất cứ cuộc đàm phán nào, mới mời thầy Lục đã từ chức về.

Tài năng của thầy Lục cũng làm ông ấy đeo đẳng nợ lòng suốt đời."

Cây ba toong màu nâu sẫm xuất hiện trong tầm mắt họ.

Theo sau là người vừa mới cất tiếng, chủ nhân của nhà họ Thẩm, Phó lão tiên sinh.

Một ông cụ hơn tám mươi tuổi chậm rãi vào phòng.

Vì ban nãy tiếp khách nên ông ăn mặc rất chỉn chu, áo sơ mi màu trắng xám và quần âu màu sậm, có điều chân không chịu nổi đôi giày da trang trọng nữa, thay bằng đôi dép da mềm.

Bà ngoảnh đầu lại, cưới với ông.

Ông ngồi xuống ghế sô pha cách bà gần nhất, gác cây ba toong sang bên canh.

"Sau đó thì sao ạ?"

Cậu nhóc vẫn chưa hết hứng thú, cuộc đời của ông nội và bà nội như quyển sách đọc mãi không hết.

Nhưng có vẻ bà nội không muốn nói thêm nữa rồi.

"Sau đó à?"

Lão phu nhân cười trả lời, "Bắc Kinh đổi tên thành Bắc Bình, sau này lại đổi về."

"Bắc Kinh nghe vẫn bùi tai hơn."

Lão tiên sinh nhận xét, dù tuổi đã cao nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời như năm xưa.

"Ý con đâu phải thế."

Cậu bé kháng nghị.

Bà lắc đầu, bắt đầu dọn dẹp bút ký của mình.

Cậu bé làm ra vẻ đáng thương nhìn lão tiên sinh: "Bà nội chỉ chịu kể mười hai năm..."

Ông nhoẻn miệng cười, "Mười hai năm mới đúng, số mười hai rất được chú trọng, nhà Phật coi trọng mười hai nhân duyên."

Cậu nhỏ rầu rĩ gật đầu, nhóc biết mình đã nhờ nhầm người rồi.

Dù bất cứ chuyện gì đến chỗ ông nội, đều có lý lẽ của ông chưa ai cãi lại được.

Sau khi vú nuôi đưa cậu bé đi, ông vãy tay gọi bà tới.

Thẩm Hề luôn chiều ông, đi đến ngồi song vai với ông: "Nói chuyên xong rồi sao?"

Bình thường đều là Phó Đồng Văn dỗ đứa cháu nhỏ nhất này, nhưng hôm nay có khách đến, đành phải để bà trông nom.

Tháng Mười hai năm ngoái, người Hoa ở Ma Cao không chịu nổi áp bức nên đã tổ chức biểu tình thị uy, tám người bị quân đội Bồ Đào Nha đánh chết, hơn hai trăm người bị thương.

Hiện giờ Bồ Đào Nha và Trung Quốc vẫn chưa thiết lập mối quan hệ ngoại giao, hai nước không có cách nào đối thoại.

Sau khi vụ án đẫm máu xảy ra, Trung Quốc thẳng thừng phái tàu chiến đi tuần tra khu vực xung quanh Ma Cao, đồng thời dỡ áo bọc pháo, nhắm thẳng vào Ma Cao để bảo vệ người Hoa.

Trong trận chiến ở Ma Cao chính phủ Bồ Đào Nha tỏ ra yếu thế, treo cờ rủ chia buồn, nhận sai với nhân dân Trung Hoa, buộc phải treo quốc kỳ Trung Quốc ở Ma Cao.

Vì sự kiên này mà ngành du lịch và kinh tế chịu tổn thất nặng nề.

Bởi vậy gần đây người tới tìm Phó Đồng Văn rất nhiều.

Vốn định để con trai, con gái xử lý, nhưng ông biết đây là chuyện lớn ở Ma Cao, bèn đích thân đi gặp khách.

Thẩm Hề không muốn ông lại bận tâm lo nghĩ những chuyện này, nhưng biết làm thế nào được, ông là Phó Đồng Văn mà.

"Hồi ấy suýt nữa thôi là Ma Cao được trả về rồi."

Ông đang nhắc đến năm Nhật Bản đầu hàng, vốn muốn ép người Nhât lui về Ma Cao, mượn cơ hội lấy lại...

Nào ngờ lũ quỷ ngoại xâm còn đầu hàng nhanh hơn tưởng tượng.

Thốt nhiên ông nói: "Sớm muộn gì cũng phải trả lại cho Trung Quốc, giống như Sơn Đông."

Đáng tiếc ông không chờ được.

Đúng là không chờ được.

"Đang yên đang lành, sao lại nhắc đến quá khứ vậy?"

Ông lại hỏi.

"Do thằng bé hỏi tôi, sao người nhà chúng ta đều mang họ Thẩm, chỉ mình ông mang họ Phó."

Hóa ra là thế, Phó Đồng Văn bật cười.

Ông với lấy cây ba toong, tay trái chống lên sô pha, nhấc người dậy đi đến bên bàn sách.

Bút máy của Thẩm Hề vẫn còn ở đó, giấy cũng sẵn có.

Ông cầm cây bút lên, tháo nắp bút ra, viết bốn dòng lên giấy.

Viết xong liền lập tức buông bút xuống, quay trở lại bên bà.

Phó Đồng Văn đưa tờ giấy đã gấp vuông vắn cho bà.

Dưới cái nhìn của ông, bà mở tờ giấy ra.

Chữ trên nếp gấp vẫn như hồi xưa.

Đây là cả cuộc đời mà ông ngẫu hứng viết lại, sóng to gió lớn, sống chết gian nan của quá khứ đều đã phai nhạt, chỉ còn gói gọn trong ba mươi hai chữ ngắn ngủi:

Vừa gặp đã thương, non mòn biển cạn.

Duyên hồng dẫn lối, thân anh trao em.

Sống chết bao lần, núi xanh không đổi.

Non nước thái bình, nghĩa tình trăm năm.

"Chờ Ma Cao được trả về, bảo thằng cả đưa chúng ta về Bắc Kinh, mang theo một nắm đất Ma Cao."

Ông thì thầm, "Ích kỷ lần này, chỉ tôi cùng bà về."

"Được."

Bà đồng ý.

Cũng đã mấy mươi năm không được thấy tuyết ở thành Bắc Kinh rồi...

Kho tuyết dày, giẫm giày da lên có thể ngập đến ống quần.

Phó Đồng Văn chợt nhớ đến sân viện trong nhà cũ Phó gia, khi đông đến, ông đứng dưới mái hiên trước cửa phòng sách, thường nhìn thấy tuyết bị gió bấc thổi tung bay.

Trong đêm có đèn, quay lưng về phía ánh sáng, ông có thể ngắm cả một đêm.

Ấy là Phó Đồng Văn của thuở niên hoa.
 
Back
Top Bottom