Đam Mỹ Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 20: Chương 20


Năm cuối cùng ở Oxford của Harry Prudence diễn ra một cách nhàm chán.

Những thứ khiến cậu cảm thấy thú vị vào lúc đầu - tuần lễ chèo thuyền, tiếng chuông vào những buổi sương sớm, những sinh viên mặc áo choàng đen truyền thống - đều đã dần trở nên quen thuộc.

Phần lớn sinh viên đều đã có hướng đi trong tương lai cho riêng mình: Whitehall, tòa án, Westminster, MI6, sản nghiệp gia tộc.

Những người còn lại, chẳng hạn như Harry, thì đi khắp nơi thử vận may với lá thư đề cử.
Tháng sáu năm 1955, cậu và Alex khởi hành từ Cornwall rồi bắt tàu đến St.

Malo để dành một kỳ nghỉ lạnh lẽo khó chịu.

Tâm trí Harry đặt trọn trong công việc ở "Bưu báo", thấp thỏm lo lắng.

Chủ bút nói rằng cuối tháng tám hoặc đầu tháng chín sẽ báo cho Harry biết quyết định của họ, không có thứ gì hơn một câu trả lời mập mờ có thể phá hủy một mùa hè.

Bởi vì trời mưa, hai người dành phần lớn thời gian ở trong phòng, đó là một căn phòng nằm trên tầng thượng, những tấm ván gỗ kêu gào dữ dội mỗi khi bị mưa gió quất xuống.

Ngoài cửa sổ, chim hải âu tụ tập trên mái nhà nghiêng, chúng đập cánh đe dọa lẫn nhau, tranh đoạt từng chỗ trống khan hiếm để đậu chân, ồn ào không chịu nổi.

Hai tuần sau, khi cuối cùng cũng đã có thể bắt tàu rời khỏi đảo Brittany, Harry không kiềm được thở phào nhẹ nhõm.
Chưa tới tháng chín nhưng "Bưu báo" đã đưa ra quyết định - nhận Harry vào làm, họ phân cho cậu một cái bàn trong một căn phòng làm việc thật lớn tràn ngập khói bụi, thế nhưng Harry cũng không ở lại đó quá lâu, ba tháng sau, cậu đã xin vào tờ "Góc nhìn" sau sự tiến cử của viện trưởng, nhờ có việc viết được một bài báo tâng bốc về một loại thủy tiên mới trong mục làm vườn, cậu nhanh chóng chuyển sang theo đuổi những tin tức địa phương, thường xuyên dẫn theo thợ chụp hình để truy đuổi cảnh sát ở khắp nơi, tìm kiếm những vụn bánh mì còn sót lại của các vụ trộm và vụ án mạng.
Alex và cậu vẫn sống chung trong căn hộ nhỏ ở số 55 đường Juniper, bây giờ Alex đã biến căn phòng ngủ dư thừa kia thành thư phòng, hắn mang máy đánh chữ và một chồng sách vào trong đó, ru rú trong phòng cả ngày, hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, đến rạng sáng mới mò đến giường.

Harry cũng thường hay không ngủ, cậu phải viết xong bản thảo cho ngày mai dưới ánh đèn bàn, Alex bước tới hôn tai cậu, trộm nhìn báo cáo của Harry qua bả vai cậu.
"Nếu tớ nhớ không lầm, cậu tan làm lúc năm giờ."
"Theo lý thuyết là năm giờ." Harry lơ đãng trả lời, gõ một dấu phẩy vào kế bên: "Nhưng ông Baker này lại quyết định dùng mảnh chai rượu để đâm chết chủ nợ của mình vào lúc mười một giờ tối, đây không phải là việc mà tớ có thể khống chế."
"Cậu Prudence đáng thương có muốn uống trà không?"
"Muốn, cảm ơn."
Alex đi đến phòng bếp, Harry nghe thấy tiếng nước sôi, sau đó là tiếng vang của đồ sứ nhẹ nhàng chạm vào nhau, Alex rón rén trở lại, hắn đóng cửa, đặt tách trà vào trong tay Harry, bản thân mình thì ngồi lên bàn, thuận tay cầm lấy tập bản thảo rồi xem.

"Tớ không hiểu sự hăng hái của cậu dành cho công việc này."
"Thử tưởng tượng nó thành công việc phiên dịch ấy." Harry rút tờ giấy đã đánh đầy chữ ra, thay một tờ trắng: "Chẳng qua thứ cậu xử lý không phải là ngôn ngữ mà là hành động của con người, có cả tốt nhất và xấu nhất, trên thực tế, báo chí kiểm soát cảm giác của cậu đối với thế giới này, mà phóng viên lại kiểm soát báo chí, nói như vậy đã có thể thuyết phục cậu chưa?"
"Mấy tên đầu sỏ trong các tập đoàn lớn mới là người kiểm soát báo chí, hơn nữa báo chí còn chẳng có chỗ cho trí sáng tạo."

"Chúng ta đều biết ai mới là người có sức sáng tạo nhất trong hai chúng ta mà."
"Kỹ năng nịnh nọt của cậu vẫn không tốt hơn tí nào, cậu Prudence."
"Nhưng rất hữu hiệu?"
"Nhưng rất hữu hiệu."
Harry nhìn bàn phím của chiếc máy đánh chữ, mỉm cười: "Đi ngủ đi, Alex."
Nếu chịu để ý suy nghĩ một chút, mọi người rất có thể sẽ nói, nếu không phải do người phóng viên thường trú của tờ "Góc nhìn" bị té chấn thương sau khi trượt tuyết ở Grenoble, sau đó còn lâm bệnh nặng đến suốt đời và nếu không phải do ông Phó Tổng biên tập tinh thông tiếng Đức có một người vợ bầu tám tháng, câu chuyện về quãng đời còn lại của Harry có lẽ sẽ không đi lệch khỏi số 55 đường Juniper, sẽ không phải mua một chai rượu vang trên đường về nhà và sẽ không phải vô cùng phấn khởi báo cho Alex rằng mình phải đến châu Âu.
"Phản ứng của ngài Loiseau là như thế nào vậy ạ?" Người phóng viên hỏi.
"Cậu ấy cũng rất vui, ít nhất là trông như vậy.

Cậu ấy hỏi tôi ở đó lâu dài hay tạm thời, cần phải đi bao lâu, tôi nói tôi không biết, đó là sự thật, lúc ấy tôi quả thật không biết gì cả.

Cậu ấy trả lời rằng, đi đi, chàng thủy thủ, tớ sẽ chờ ở đây.

Tôi còn nhớ rõ ngày tôi lên đường, ngày 23 tháng 1 năm 1957, tôi không đi bằng máy bay mà là bằng tàu thủy, từ London đến Calais rồi bắt tàu lửa ở đó, trên đường đi có dừng lại một lần do phải thông qua chốt kiểm tra, sau đó tôi lại đổi xe thêm một lần nữa, bấy giờ mới chật vật đến được Bonn.

Tôi không có nơi ở cố định ở châu Âu, bị dắt mũi chạy khắp nơi bởi những bức thư của chủ bút, thư của Alex chỉ có thể gửi đến chi nhánh của tòa soạn ở Bonn rồi chất đống ở đó."
Prudence rút một bức thư được dùng máy đánh chữ để đánh địa chỉ ra, người nhận là "Ngài H.

Prudence", mỗi chữ trong đó đều được viết hoa, có lẽ do người viết thư lười đổi sang chữ thường, nội dung thư thì được viết tay, dùng màu mực xanh đậm.
"Harry,
Đây là tháng thứ năm cậu bị châu Âu cắn nuốt, có lẽ cậu đang đơn thương độc mã ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, sau khi hoàn thành mới có thể viết thư giải thích cho việc tại sao cậu không hồi âm được.

Tớ rất khỏe, cảm ơn, mặc dù cậu không hỏi.
Tớ đã đọc bài xã luận của cậu vào ngày 20 tháng 6 trên tờ "Góc nhìn", cái bài có liên quan đến chính sách NATO và Hiệp ước Warszawa ấy, bài viết vừa nghiêm túc lại vừa cương quyết, trông rất giống cậu, lại không hề giống cậu tí nào.

Tớ tự nhủ rằng, đây chính là ngài Prudence mà mọi người vẫn thấy chứ không phải là Harry của tớ.

Tiếc là cậu lại đang vướng phải một cuộc tranh chấp giấy tờ cùng với ông Levine đáng ghét của tập san Ngoại giao, ông Levine là một con nghiện chiến tranh chính hiệu, việc hai người lịch sự hòa nhã giải quyết với nhau trong một tháng qua đúng là đã giúp tớ cảm thấy thật giải trí.
Về phần tớ, tớ cố gắng thức dậy trước mười một giờ, ăn đủ thức ăn để duy trì sự sống, tránh xa rượu bia mặc dù không thành công lắm.

Ngồi vào bàn viết, tớ phải đối phó với những cuộc đối thoại ồn ào không chịu nổi cùng với những đoạn văn lộn xộn ở trong đầu.

Trong nhà quá yên tĩnh, vì vậy mấy ngày trước tớ đã quyết định thay đổi, đến Puffins and Tridents để làm việc, hữu hiệu lắm đấy, sự náo nhiệt trong quán rượu đã cân bằng lại những giọng nói của mấy chục nhân vật trong đầu tớ, bọn họ chẳng bao giờ chịu im miệng cả.

Ông chủ quán rượu đã đồng ý sẽ chừa lại chiếc bàn gần cửa sổ cho tớ, tất nhiên, điều kiện là phải trả số tiền ít nhất bằng giá của hai ly bia đen.

Cậu có còn nhớ chỗ đó không? Bước vào cửa ra vào rồi rẽ phải, nằm ở dưới cầu thang, tớ có thể nghe tiếng người khác nói chuyện nhưng trừ khi quan sát cẩn thận, bọn họ rất khó có thể nhìn thấy tớ, khung cửa sổ lớn bằng một bàn tay ở đó có thể nhìn ra vườn hoa trống vắng bên ngoài.

Harry, một nhóm sinh viên trẻ tuổi khác lại tụ tập ở đây, trông họ như những con chim sẻ đáng yêu, câu chuyện về con ma ở lầu hai vẫn dọa sợ bọn chúng, không kẻ nào dám bén mảng đến gần cầu thang cả.
Tối qua tớ mơ thấy Mercury, không biết sao lại có tiếng chuông của Carfax ở vùng hoang vu đó nữa, chúng ta đang trên đường đi đến bãi biển nhưng đến khi tỉnh dậy, chúng ta vẫn chưa đến.
Còn chuyện gì đáng để nói cho cậu biết không nhỉ, đương nhiên, Con diều của Agnes đã được tái bản lại gần đây với nhiều hình vẽ hơn, toàn bộ hình đều do cô D.

Simmons tài năng vẽ nên cả, cô ấy hoàn toàn hiểu sự u ám trong câu chuyện này, tớ vô cùng cảm kích vì chuyện ấy.

Ngoài ra, tớ
Harry,
Xin lỗi vì bức thư này không được mạch lạc nhé, lúc tớ viết được một nửa thì phải hoãn lại.

Hôm nay tớ còn có chuyện khác, chỉ sợ đó không phải là tin tốt.

Trạng thái của George không quá ổn định, cha đã nói sơ sơ về mọi việc cho tớ biết ở trên điện thoại, dựa vào những tin tức có hạn trước mắt, George đã vô cớ nổ súng trong căn hộ ở London của anh ấy vào tối qua, may mà không bắn trúng ai hoặc vật gì khác, thế nhưng vợ của anh ấy và hàng xóm xung quanh đều bị dọa sợ, hàng xóm đã báo cảnh sát.

Cha vẫn còn ở Cornwall, Leila thì ở Brighton, người có thể đến thăm anh ấy chỉ có mình tớ mà thôi.

Tớ đi đây.
Của cậu,
A.
6.

20.

1957."
Người phóng viên gấp bức thư lại rồi cẩn thận bỏ vào trong phong thư, anh nhận lấy một bức thư khác Prudence đưa tới, ngày tháng là vào bốn ngày sau, ngày 24 tháng 6 năm 1957, thư được gửi từ London, được dán tem cấp tốc.
"Harry thân mến,
Vốn định gửi điện báo nhưng tớ không muốn gửi nó cho các tờ báo vì không muốn gây sự chú ý.

Hỡi Thượng đế trên cao, rốt cuộc bây giờ cậu đang ở đâu vậy?
Tớ đã gặp George, anh ấy khó ưa, ngoan cố và cao ngạo hơn bình thường, hở tí là nổi giận.

Anh ấy khăng khăng rằng tối hôm đó đã trông thấy trộm nhưng cảnh sát vốn chẳng phát hiện ra bất cứ dấu vết gì, khóa cửa bình thường, cửa sổ được đóng, trên bệ cửa sổ cũng không có dấu vết của việc leo vào.

Anh ấy không cho bất cứ ai lấy súng của mình nên tớ chỉ có thể lén tháo băng đạn ra, có lẽ anh ấy sẽ nhanh chóng phát hiện, đến lúc đó lại nghĩ cách khác vậy.
Bác sĩ bảo rằng đây là di chứng hậu chiến tranh, sốc vỏ đạn, cậu có biết hàng trăm binh lính trở về từ châu Âu đều sẽ mắc bệnh này không? Bác sĩ nói với tớ rằng ông ấy đã gặp một bệnh nhân, người đó đáng thương đến mức sẽ sợ hãi gào khóc mỗi khi nghe thấy tiếng nước sôi trong ấm đun nước.

George đương nhiên không thể chấp nhận kết luận này, suýt chút nữa đã vặn gãy đầu bác sĩ, được rồi, tớ đã nói quá một chút nhưng tình hình thực tế cũng không khác là bao.

Bác sĩ khuyên rằng anh ấy nên về nghỉ ngơi ở nông thôn, chúng tớ cố thuyết phục anh ấy hãy quay về Cornwall mấy tháng, cuối cùng anh ấy miễn cưỡng đồng ý, cảm ơn Thượng đế.
Nếu cậu nhận được bức thư này, đừng gửi thư hồi âm đến địa chỉ ở London, ngày mai tớ sẽ lên đường đưa George về Cornwall.

Nếu cậu muốn gửi điện báo hoặc gọi điện thoại thì hãy gửi đến sào huyệt cũ của chúng ta, số điện thoại vẫn không thay đổi.
A.
6.

24.

1957 ở London."
Một tuần sau, một bức thư khác lại được gửi đến để thuật lại diễn biến tiếp theo của câu chuyện:
"Harry,
Chuyện nổ súng lại xảy ra thêm một lần nữa, suýt chút nữa đã hù Martha đáng thương chết mất, bây giờ Martha đang ở trong một căn phòng trên lầu một, bà ấy đã 61 tuổi rồi, không thể đi lên đi xuống cầu thang nữa nên đứng trong phòng bà ấy là có thể nghe rõ tiếng súng nhất.

George bảo rằng anh ấy đã trông thấy một kẻ đáng ngờ đột nhập vào vườn hoa, nghi ngờ kẻ đó chính là gián điệp của nước Đức.

George đáng thương, có lẽ trong bộ não vẫn luôn bị hành hạ của anh ấy, chiến tranh chưa từng kết thúc.
Bây giờ chúng tớ đã giấu khẩu súng của anh ấy vào chỗ khác, khẩu Browning của cha cũng bị giấu đi nốt.

Mọi người đều vô cùng hoảng loạn, không dám chắc anh ấy còn có thể chuyển biến tốt hay không.
A.
Ở Cornwall."
Sau đó lại là một bức thư được đặt trong phong thư màu xanh tinh xảo, trên con dấu dán thư có in hình một con dao nhỏ và một con chim cổ đỏ.
"Chàng thủy thủ thân mến,
Tớ đã nhận được điện báo, tớ rất vui khi biết cậu sẽ quay về đây ngay lập tức, sau khi mua vé tàu hãy báo cho tớ, tớ sẽ đến bến tàu để đón cậu, đừng từ chối, tớ nhất quyết làm vậy đấy.

Cha và George đều gửi lời chào đến cậu, chúng tớ vẫn ổn, cảm ơn, cuộc sống ở vùng nông thôn quả thật đã giúp đỡ George (cũng đã giúp đỡ tớ nữa, thành thật mà nói), cuối cùng anh ấy cũng không còn cầm súng đi lang thang trong phòng vào lúc nửa đêm.

Tớ không đến bưu điện này lâu rồi, cô Carlston vẫn ở đây, bây giờ đã trở thành bà Mills.

Bức thư này được viết vội vã ở trên quầy, tớ phải về Oxford ngay đây.
Alex của cậu."
Prudence nhẹ nhàng vu0t ve phong thư, ông nhìn lò sưởi sát tường, gỗ trong lò đã cháy sạch, để lộ những hòn than cháy đỏ ở phía dưới.
"Kỳ nghỉ của tôi chỉ kéo dài hai tuần, trừ đi khoảng thời gian đi đường thì chỉ còn một tuần hơn.

Tôi mang tất cả thư và điện báo nhận được quay về để tránh làm mất.

Mới đầu Alex rất hưng phấn, nhưng rồi cũng như lần George về nhà từ tiền tuyến vào nhiều năm trước, cậu ấy dần trở nên ảm đạm.

Tôi không hề tức giận vì việc đó, cậu ấy vẫn luôn như vậy, đây là cơ chế tự bảo vệ bản thân của Alex, cậu ấy không giỏi nói lời từ biệt.

Chúng tôi đã thảo luận về công việc của tôi - Thảo luận là một cách nói khéo.

Đến khi tôi chuẩn bị rời đi, chúng tôi đã không còn nói chuyện với đối phương nữa."
Cậu bây giờ chẳng khác gì đám Barry cả.

Alex nói, lạnh như băng, trông như một cái xác biết đi tự cho mình là đúng.
Còn cậu thì nên học cách trưởng thành đi.

Harry phản bác, định làm một đứa trẻ ba tuổi vô lo vô nghĩ suốt đời sao?
Prudence thở dài, ánh mắt rời khỏi lò sưởi: "Sau đó tôi đã viết một lá thư rất dài để nói xin lỗi, xem như đang quỳ phủ phục dưới chân cậu ấy để cầu xin sự tha thứ nhưng tôi không nhận được bức thư hồi âm nào.

Sau khi trở lại Bonn không lâu, tôi và phóng viên của Bưu báo đi theo đoàn ngoại giao của liên hiệp Anh - Mỹ để đến Budapest, nơi chúng tôi đã ở suốt một tuần.

Đây là lần đầu tiên tôi đi đến phía bên kia của bức màn sắt*, tôi không có quyền sử dụng bất cứ đường dây ngoại giao nào, tất cả thông tin truyền tới đều bị cắt đứt.

Vì vậy, một tháng sau tôi mới nhận được bức thư này."
*bức màn sắt: là một biên giới vật lý lẫn tư tưởng mang tính biểu tượng chia cắt châu Âu thành hai khu vực riêng rẽ từ cuối Thế chiến II vào năm 1945 đến cuối cuộc Chiến tranh lạnh vào năm 1991.
Ông đưa một lá thư cũ kỹ ra, người phóng viên nín thở, cẩn thận nhận lấy.
"Harry,
Tớ không biết tại sao tớ vẫn viết thư cho cậu, có lẽ cậu cũng chẳng nhận được.
George đã chết, tự sát.

Tang lễ đã diễn ra vào ngày hôm qua."
Cuối thư không đề chữ ký và ngày tháng..
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 21: Chương 21


"Tôi tạm ngưng tất cả mọi việc để có thể trở về nước Anh." Prudence nói: "Sau khi vị chủ bút giàu có của tôi nghe nói rằng đây là chuyện khẩn cấp, ông đã đồng tình giúp tôi đặt máy bay, tôi cũng rất may mắn, chiều hôm đó có một chiếc máy bay n3m bom B52 đang muốn cất cánh từ Berlin, sẵn tiện cũng chở theo vài vị đại sứ của Mỹ đến London, tôi quá giang chiếc máy bay khổng lồ ấy, đáp xuống London cũng trong đêm hôm đó rồi bắt chuyến tàu lửa cuối cùng đến Oxford.

Căn hộ số 55 trên đường Juniper không có ai, Alex không để lại bất cứ thứ gì cho tôi dù chỉ là một tờ giấy.

Tôi gọi điện đến nhà Loiseau cũng không ai bắt máy.

Tôi định đi thẳng đến Cornwall nhưng lúc ấy đã quá muộn, không còn chuyến tàu nào, cửa hàng cho thuê xe cũng đã đóng cửa, tôi lo lắng chờ trong căn hộ suốt một đêm, sáng sớm hôm sau đã chạy tới trạm xe lửa."
"Tôi đến nơi vào buổi chiều, khó mà hình dung được bầu không khí trong nhà ngột ngạt đến cỡ nào.

Trong nhà không có ai, rèm cửa thì bị kéo lại, trông giống hệt bối cảnh trong những bộ phim kinh dị.

Alex đã nói về chuyện Martha hiện đang ở lầu một nhưng không nói là bà ở phòng nào, vì vậy tôi đành phải tìm bà trong mỗi một căn phòng, cuối cùng tìm thấy bà trong phòng khiêu vũ đã lâu không sử dụng."
"Ý nghĩ đầu tiên của tôi chính là bà ấy già thật rồi, không chỉ về vẻ bề ngoài.

Bà mang một tấm lụa đen giống như một người mẹ đến chia buồn.

Lúc tôi ôm bà cũng phải rất dè dặt cẩn thận, tôi sợ bà sẽ hòa tan hoặc vỡ vụn mất.

Tôi hỏi bà Alex đang ở đâu, bà không biết, nói rằng Alex đã rời đi không lâu sau tang lễ, cậu ấy không nói cho bà ấy biết rằng cậu đã đi đâu, hoặc là nói, bà không nhớ, sự chú ý của bà vốn không đặt trong chuyện này.

Martha cầm một con gấu búp bê trong tay, phần lông xung quanh bụng và lỗ mũi của chú gấu đã bị rụng sạch, trông như bị vảy nến.

Lúc nói chuyện, bà vẫn luôn sờ vào lớp lông không còn lại bao nhiêu của chú gấu.

Đó là món đồ chơi mà George thích nhất khi còn bé, phu nhân của Nam tước đã đặt làm món đồ này tại một xưởng đồ chơi ở Nga cùng với một bộ âu phục nhỏ của George và một bộ đồ đi săn.

Sau này, chuyện đó đã trở thành truyền thống của gia đình, khi Leila và Alex ra đời, phu nhân của Nam tước đều đặt làm một con mới.

Hai chú gấu còn lại đã không thể tìm được, chỉ còn lại một mình chú gấu ấy nằm lẻ loi trên cái giá trong phòng chứa đầy đồ lặt vặt."
"George sẽ nói chuyện với con gấu này, đặt nó nằm trên gối.

Cậu nghĩ nó sẽ nói những gì? Martha nói với tôi, bà đặt con gấu nằm trên đầu gối, cột chặt lại chiếc nơ nhỏ đã phai màu."
"Bà kiên quyết muốn dẫn tôi đi xem bia mộ của George, nó nằm phía sau nhà nguyện, cách không xa nơi đã cử hành hôn lễ của anh ấy vào năm năm trước.

Hai bên đường dẫn đến nhà nguyện trồng đầy cây thông, bây giờ nó đã lớn đến nỗi biến con đường ấy thành một đường hầm gió thổi không lọt, trước đó, những cây thông ấy rất nhỏ, chúng được bao quanh bằng giá đỡ như những nét vẽ nguệch ngoạc của trẻ con.

Trước khi chúng tôi đến đó thì trời đã đổ mưa, trên đường rất trơn trượt, cành cây nhỏ cùng lá cây rơi đầy mặt đường, Martha đi không nhanh, tôi để bà dựa vào cánh tay tôi.

Gió luôn thổi những giọt nước từ ngọn cây xuống nhưng chúng tôi cũng không ngại."
"Nhà Loiseau có một khu mộ gia đình với mái vòm thấp bằng đá, tuy nhiên George không ở trong đó, có lẽ bởi vì anh ấy đã tự sát, mặc dù trong ấn tượng của tôi, một nhà Nam tước cũng không đáng kính là bao.

Martha nói rằng đó là vào một buổi sáng, khi George chết, tất cả mọi người đều nghe thấy tiếng súng nhưng người đầu tiên tìm thấy anh ấy chính là vợ anh ấy.

Súng được giấu trong một chiếc hộp gỗ bị khóa trong, đặt ở chỗ cao trên kệ sách.

Không ai biết George tìm được khẩu súng ấy thế nào, có lẽ anh ấy đã lén tìm từ lâu rồi.

Bác sĩ nhanh chóng được gọi tới, sau đó là cảnh sát, mặc dù mỗi người đều biết rằng gọi đến cũng chẳng có ích gì.

Tang lễ được tổ chức một cách khiêm tốn, tính luôn cả Martha thì cũng chỉ có vỏn vẹn bảy người.

Nam tước không cho mời những chiến hữu của George, bọn họ đến vào mấy ngày sau, mang theo hoa và kỷ vật.

Lúc tôi đến mộ, những bó hoa khô héo đã bị dọn đi, chỉ còn lại một dải lụa ướt cùng với một ít đồ trang sức nhỏ, có người để lại một chiếc huy chương bằng đồng được ép vào tấm bìa cứng, trên đó ghi: Gửi đến George, mãi mãi là đội trưởng của chúng tôi."
"Tại sao chuyện này lại xảy ra vậy cậu Prudence? Martha hỏi tôi."
"Tôi không biết.

Martha đương nhiên cũng không mong đợi câu trả lời của tôi.

Thật ra tôi cũng chẳng có tâm trạng để tiếp tục chuyện này, trong đầu tôi chỉ toàn là Alex.

Tôi an ủi bà mấy câu rồi rời khỏi nhà chính, bây giờ ở đó đã trở thành một nghĩa địa."
"Không ai biết Alex đã đi đâu, tôi hỏi tất cả những người mà tôi có thể nghĩ ra, bọn họ đều kinh ngạc trả lời tôi rằng họ không biết.

Tôi đi đến tất cả những nơi mà chúng tôi đã từng đi qua trước kia, nhà ăn, tiệm sách, tiệm làm tóc, câu lạc bộ cách đây bốn mươi phút đi xe, ngoài ra còn có một cửa hàng đồ chơi thủ công làm bằng gỗ, sau đó tôi trở về căn hộ trên đường Juniper đợi suốt một ngày, thậm chí còn bất chợt gọi đến khách sạn nhỏ ở St.

Malo, không, ngài Loiseau không có ở đây."
"Alex không mang theo máy đánh chữ và bản thảo của cậu ấy, tôi đợi ở nhà, tìm đọc từng câu chuyện của cậu ấy, tất cả những câu chuyện ấy đều bị bỏ ngỏ, toàn là những cuộc hội thoại không đầu không đuôi cũng không có nội dung, một đứa bé trai chạy dọc theo bờ sông thật nhanh, cậu đạp phải một chiếc lưỡi câu đã rỉ sét bị chôn trong đống bùn, trang kế tiếp lại là một chiếc pháo hạm của Hà Lan tiến hành khai hỏa tại một cảng nước sâu dưới sự quản lý của thực dân Anh, một cô gái mặc bộ đồ rách rưới chạy xuyên qua những ngọn lửa cháy hừng hực trên đường phố để tìm chiếc lưỡi câu đã đánh mất.

Vào một khoảnh khắc nào đó, tôi chợt nhìn thấy cha mẹ cậu ấy, George, Martha, Lyle mất tích đã lâu cùng với tôi thoáng hiện lên trong những mẩu chuyện ấy.

Giống như cách cậu ấy đã tự đối xử với chính mình, cậu ấy đập vỡ chúng tôi rồi lại tạo thành hình, sáng tạo nên một quy luật mới giữa thế giới hỗn loạn mất trật tự này.

Đây chính là cách Alex nhìn nhận thế giới."
"Trên bàn đánh máy đặt một quyển Con diều của Agnes đã được tái bản, giấy gói hàng đã bị xé đi một nửa, tôi tháo nốt phần còn lại rồi lấy quyển sách ra.

Trong hình vẽ của cô Simmons có một con quạ đen cùng với bộ xương cao gầy, trông rất buồn bã nằm ở góc, giờ thì tôi đã đoán được tại sao Alex lại thích những hình minh họa ấy.

Phía dưới bưu kiện còn có một xấp bản thảo khác, không dày, chỉ khoảng mười trang nhưng được đóng gáy đàng hoàng, ở lề sách có chữ viết của Alex, đây chắc chắn là câu chuyện mà cậu ấy coi trọng nhất hiện tại, bởi vì chỉ có như vậy, cậu ấy mới sắp xếp tập bản thảo ấy gọn gàng đến thế.

Đúng vậy, cậu Rivers, cậu đoán đúng rồi, đó chính là bản thảo của Mùa hè bất tận, chẳng qua lúc đó nó chưa có cái tên ấy, đề mục chỉ đơn giản là Mùa hè.

Tôi nhìn thấy tên của mình, câu mở đầu chính là Sinh mạng của Harry Prudence bắt đầu từ một viên đá vụn trên con đường hệt như không có điểm cuối.

Tay tôi bắt đầu run, tôi không thể không ngồi xuống mới có thể đọc hết mười mấy trang vẫn chưa viết xong ấy.

Sau đó, tôi đặt bản thảo lại chỗ cũ, vào phòng tắm rửa mặt."
Prudence thở dài.
"Tôi không thể ở lại Oxford mãi, chủ bút rất có kiên nhẫn nhưng sự kiên nhẫn ấy cũng có hạn.

Tôi không thể chậm trễ hơn nữa, phải trở về Bonn.

Ôm một tia hy vọng mong manh, cuối cùng tôi đi đến Puffins and Tridents, chủ quán bảo rằng Alex đã không đến đây khoảng hai tháng.

Tôi hỏi ông ấy rằng tôi có thể đến ngồi tại bàn mà Alex vẫn thường hay ngồi một chút được không, ông ấy nói cứ tự nhiên.

Tôi gọi một ly bia đen, đi vòng qua cầu thang, ngồi xuống chiếc bàn đặt cạnh cửa sổ hướng ra vườn hoa nhỏ.

Lúc ấy là hơn mười một giờ sáng, sinh viên vẫn chưa tới đây, trong quán rượu rất yên tĩnh, tôi không thể tin lần đầu tiên tôi đến đây đã là chuyện của năm năm trước, thế mà cảm giác vẫn như mới ngày hôm qua."
"Tôi gửi cho chủ quán một lá thư và trả cho ông năm bảng Anh, nói rằng nếu nhìn thấy Alex thì phiền ông gửi lá thư này cho cậu ấy, bên trong là địa chỉ khách sạn của tôi ở Bonn, Paris và Geneva, ngoài ra còn có số điện thoại riêng của chủ bút, Alex có thể tìm được tôi thông qua ông ấy, đây là cách nhanh nhất.

Vì lý do an toàn, tôi cũng để lại một lá thư được dán kín với nội dung y hệt trong căn hộ số 55 đường Juniper, tôi còn gửi nhờ một lá ở bàn tiếp tân của câu lạc bộ, Martha cũng chép lại một phần địa chỉ, bất kể Alex đang ở đâu, cậu ấy cũng có thể nhận được phương thức liên lạc với tôi."
"Nhưng từ đầu đến cuối, cậu ấy không hề tìm tôi.

Hoàn toàn im lặng."
"Tôi quay về Bonn, nơi ở của tôi ở đó là một căn phòng nhỏ trống vắng chỉ khoảng mười chín mét vuông, bên trong chỉ có một chiếc giường đơn, một bộ bàn ghế và một cái bồn rửa tay.

Tuy nhiên tôi rất ít khi ở trong căn phòng ấy, chỉ cần có thể, tôi sẽ ở lại tòa soạn, ở đó có người có ánh đèn, có tiếng chuông điện thoại cùng với tiếng máy đánh chữ có thể khiến tôi thấy dễ chịu hơn một chút."
"Tôi quyết định giữ lại căn hộ trên đường Juniper, chủ nhà nói với tôi rằng Nam tước đã không còn chi trả cho tiền thuê phòng nữa, vì vậy tôi phải tự mình trả, đó là năm 1957, cậu Rivers ạ, lương của một người phóng viên không hề dư dả.

Tôi trở về London vào dịp lễ Giáng sinh vào một năm nọ, phát hiện Alex đã mang quần áo, máy đánh chữ và bản thảo đi mất, những món đồ thuộc về tôi cũng được đóng gói cẩn thận rồi gửi cho người gác cổng.

Người gác cổng rất vui khi trông thấy tôi, ông trả lại hành lý và mấy tháng tiền thuê nhà cho tôi, nói rằng cậu Loiseau đã rời đi vào tháng mười, cậu ấy bảo với chủ nhà rằng không cần nhận tiền của tôi nữa.

Tôi kéo hành lý ra ngoài, đứng ven đường ngây ngốc hồi lâu, không biết nên đi đâu.

Đêm hôm đó tôi ở lại khách sạn, sáng sớm hôm sau thì ngồi xe lửa đến London để gửi lại hành lý của tôi tại nhà người cha đã lâu không gặp, sau đó tôi mua vé tàu đi qua eo biển Manche để về Bonn.

Có một khoảng thời gian, tôi đã cảm thấy tức giận và rất muốn trả thù như Alex đang nợ tôi một cơ hội giải thích, thế nhưng cuối cùng cơn giận dữ ấy cũng dần biến mất, chỉ còn lại sự trống rỗng như một hố bom."
Prudence và người phóng viên cùng nhìn lò sưởi, yên lặng một hồi.
"Tôi cứ ngỡ rằng đây chính là hồi kết.

Thế nhưng không phải, đây chỉ là một khoảng nghỉ, câu chuyện giữa tôi và Alex còn xa lắm mới kết thúc."
Hết phần thứ hai..
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 22: Chương 22


Part III - Crépuscule*.
Mùa đông năm 1960, Paris.
Harry đã bị trễ, lúc cậu đi ra khỏi tòa soạn đã trễ hơn mười phút so với dự đoán, bởi vì quên mang theo quà, cậu không thể không quay về đó.

Lúc nãy có một trận tuyết rơi, sau khi bị người đi đường đạp thành bùn thì lại kết tinh thành một tầng băng mỏng dơ bẩn, phản chiếu ánh đèn đường mờ vàng.

Xe chạy đông đúc ngoài đường, Harry đã tới đây ba tháng nhưng vẫn chưa thể làm quen được với thói quen chạy xe như điên của người Paris.

Cậu đi xuống trạm xe lửa, từng cơn gió lạnh thổi qua con đường hầm dài, mang theo cái mùi pha lẫn giữa mùi nấm mốc, mùi nước đọng, mùi nước tiểu và mùi dầu máy.
Quán rượu nhỏ mà cậu phải đến nằm trong một con hẻm ở gần đường Saint-Honoré, quán được cải tạo từ một hầm rượu với những vách tường được bo góc và trần nhà có hình vòng cung đáng yêu, trông hệt như một cái mũ bằng gạch đỏ đang lộn ngược lại.

Cầu thang được trang trí bằng cây nhựa ruồi cùng với những dải ruy băng màu bạc dẫn xuống một cánh cửa sắt với đầy những tấm kính vuông rực rỡ sắc màu, Harry đứng bên ngoài một hai phút, nghe âm thanh ồn ào náo nhiệt bên trong, cậu hít sâu một hơi, nhẹ nhàng nắm tay nắm cửa.
Cậu vốn định lén chạy vào rồi thừa dịp hòa vào đám người nhưng cô Mignet - người phụ trách việc phiên dịch - đã trông thấy cậu, lớn tiếng thông báo cậu đã đến.

Tầm mắt của tất cả mọi người đều đặt lên người cậu, các phóng viên đã ngà ngà say đồng thanh hô to "Prudence!", một chiếc ly đế cao bị nhét vào tay cậu, đám người cuốn cậu đi như gió bão trên biển, rượu rơi khỏi ly, thấm ướt tay áo Harry khiến nó nồng nặc đầy mùi gừng và nước đường.
Bữa tiệc này được tổ chức cho ngài Galois, ông là chủ bút ở trụ sở của "Góc nhìn" ở Paris, hôm nay về hưu.

Trong ba năm làm việc chung với ngài Galois, đây là lần đầu tiên Harry nhìn thấy ông mặc âu phục, trước đây ông vẫn luôn mặc những chiếc áo sơ mi nhạt màu rộng thùng thình, tay áo bị dính mực rửa không sạch nên luôn bị ông xắn lên đến cùi chỏ.

Ông đeo một chiếc mắt kính được cột bằng một sợi dây đen quanh cổ, cộng thêm một chiếc bụng phình to và cái đầu trọc ấn tượng, trông chủ bút Galois như một nhân vật truyện tranh.

Sau khi ông nghỉ việc, ngài Schmidt - người vốn phụ trách công việc ở Đông Âu - sẽ thay thế vị trí của chủ bút, còn Harry sẽ thay thế cho vị trí công việc của ngài Schmidt, từ sáng ngày mai là cậu đã có thể chuyển từ một văn phòng rộng lớn ồn ào sang một văn phòng tư nhân khác ở cuối hành lang, căn phòng ấy không lớn lắm, chỉ có mỗi một cái tủ treo quần áo nhưng ít ra cũng có một cánh cửa có thể khóa lại, một khung cửa sổ mờ ảo nhìn xuống đại lộ Haussmann, một chiếc tủ đựng hồ sơ không chắc chắn và một chậu cây héo úa màu xanh lá.
Harry vẫn không thích tiệc tùng, cậu đã tạo ra cách để đối phó trong những trường hợp ấy: Đảm bảo việc cậu đã chào hỏi với tất cả người cậu quen biết, đợi trong đám người một hồi, sau đó từ từ lùi ra ngoài tường, dịch ra ngoài cửa, cuối cùng - có lẽ là đã một tiếng rưỡi đến hai tiếng sau - lẳng lặng rời đi.

Giờ phút này, cậu vẫn đang bắt tay thực hiện kế hoạch ấy, cậu đưa món quà đã được gói giấy gói màu tím cho ngài Galois, đón nhận cái ôm nồng nhiệt của đối phương rồi nói vài câu khách sáo nhảm nhí, sau đó lấy rượu vang làm cái cớ, cậu dần dần tách ra khỏi đám người, đi tới cạnh bàn thức ăn đã nguội lạnh.

"Tôi có thể thấy là anh lại đang chuẩn bị chạy trốn."
Harry cười một tiếng, đưa một ly rượu vang cho cô gái đang đi tới bên cạnh cậu: "Tại sao cô lại nghĩ như vậy, cô Mignet?"
"Kinh nghiệm."
"Đôi khi kinh nghiệm cũng lừa chúng ta."
"Khi đối tượng quan sát quá dễ đoán thì không." Cô Mignet nghiêng đầu, đôi hoa tai lấp lánh dưới ánh đèn.

Cô vẫn thường dùng tiếng Pháp để trò chuyện với người trong tòa soạn nhưng khi nói với Harry, cô sẽ nói tiếng Anh với một chất giọng khó có thể phân biệt được, cha của cô là người Lyon, mẹ cô là người Nga đã chạy trốn đến Paris vào những năm 1910, vì vậy cô phóng viên này không chỉ là một phiên dịch viên tiếng Nga mà còn là cầu nối giữa tòa soạn và cộng đồng người Slav ở địa phương: "Tối nay có kế hoạch thú vị nào không, anh Prudence?"
"Sợ rằng kế hoạch thú vị nhất chính là bữa tiệc này rồi."
Mignet nhún vai, nhấp một ngụm rượu vang, cô dựa vào bàn thức ăn như Harry, nhìn những người phóng viên nhún nhảy dưới cái mũ bằng gạch đỏ chật hẹp, cái đài phát thanh nằm lẻ loi trên bàn phát ra những bài hát lớn tiếng, bởi vì tín hiệu không ổn định, nó thỉnh thoảng lại phát ra tiếng ồn chói tai nhưng có lẽ cũng chẳng ai để ý đến chuyện này.
"Này." Phiên dịch viên tiếng Nga nhìn ly rượu vang nói: "Tối mai tôi và mấy người bạn chuẩn bị ăn cơm chung với nhau ở nhà tôi, tôi sẽ chuẩn bị món thịt hầm và rượu, nếu anh có thể đến, chúng tôi sẽ rất vui."
So với tiệc tùng, Harry càng yếu kém hơn trong mảng đối phó với những lời mời, nhất là những lời mời bóng gió thế này.

Cậu nhấp một ngụm rượu, tranh thủ mấy giây suy nghĩ.
"Cảm ơn cô Mignet." Cậu mở miệng: "Tiếc là tối mai không được, tôi có việc rồi."
Đối phương mỉm cười với cậu rồi lắc đầu, giống như cô đã sớm đoán được câu trả lời này: "Hy vọng lần sau anh không còn có việc rồi nữa, anh Prudence." Cô hôn lên gò má Harry, đặt ly rượu xuống, bỏ lại cậu bên cạnh bàn ăn, cô trở vào đám người.
Khoảng một giờ bốn mươi phút sau, Harry lặng lẽ chạy ra khỏi những ô cửa thủy tinh rực rỡ sắc màu, trở lại đầu đường lạnh buốt, cậu kéo cổ áo lên, đi về phía trạm xe lửa.
Đèn đường là nguồn sáng duy nhất ở đây, nhà cửa ở hai bên đường tối đen, cửa hàng đối diện đường cái cũng đã đóng cửa vào bảy giờ trước.

Harry vấp phải thứ gì đó, thở hổn hển.

Một con chuột chạy nhanh qua những bức tường dưới ánh sáng của đèn đường, nó chui xuống cống thoát nước rồi biến mất tiêu.

Một tiếng nhạc như có như không truyền tới từ cách đây không xa hệt như một ảo giác.

Harry không kiềm được dừng bước, cậu cẩn thận lắng nghe, đúng là tiếng nhạc, nó phát ra từ một chiếc dương cầm, sau đó là tiếng cười nhẹ nhàng từ rất nhiều người khác nhau.

Cậu rẽ vào một con hẻm nhỏ men theo tiếng nhạc, nó đến từ một tiệm sách vẫn còn mở cửa, ánh đèn bên trong tràn ra khỏi những ô cửa sổ cùng cửa chính như một ngọn đèn to lớn đang soi sáng cả con đường ướt nhẹp.

Bây giờ Harry đã có thể nghe rõ tiếng nói chuyện, chiếc dương cầm lại tấu lên một khúc nhạc ngắn dồn dập khác.

Vì tò mò, hoặc giả là khát vọng bản năng đối với ánh sáng và sự ấm áp, Harry đi sang bên đó.
Tiệm sách có tên là soulignage, có nghĩa là gạch dưới.

Trong tiệm sách nhỏ hẹp đặt đầy những chiếc ghế với chiều cao khác nhau, đối diện đó là một cái sân khấu tạm thời được tạo thành từ những cái hộp gỗ trải khăn trải bàn, người ngồi đầy chỗ, không ít người đứng.

Lúc Harry đi vào, không ai chú ý đến cậu cũng như không ai quay đầu lại liếc nhìn cậu.

Chiếc dương cầm đặt ở phía sau bên trái "sân khấu", đứng bên cạnh là một người đàn ông mặc áo khoác lông màu nâu đang nói linh tinh gì đó, tiếng Pháp của Harry vẫn chưa quá thành thạo nên cậu chỉ có thể nghe được mấy chữ đơn lẻ như "Bán đảo Sinai", "Kênh đào" và "Israel", có lẽ người kia đang nói về cuộc khủng hoảng kênh đào Suez*.

Lúc Harry bước vào đã là hồi kết của buổi diễn thuyết, chưa tới mấy phút sau, người diễn thuyết đã tuyên bố đây là toàn bộ nội dung mà ông ta muốn chia sẻ vào tối nay, ông hỏi những người nghe có câu hỏi gì hay không.

Một cuộc tranh luận nhỏ nổi lên, một chàng trai tóc đỏ trông giống sinh viên đứng cạnh Harry trở nên vô cùng kích động, cậu ta thảo luận với người diễn thuyết mặc áo khoác lông màu nâu suốt năm phút đồng hồ, có lần còn lấy bản đồ thế giới ở trên giá sách xuống, chỉ vào hình Ai Cập được tô màu xanh để định thuyết phục đối phương.
*Cuộc khủng hoảng kênh đào Suez: là một cuộc chiến tranh giữa một bên là liên quân giữa Vương quốc Anh, Pháp, Israel và một bên là Ai Cập bắt đầu từ ngày 29 tháng 10 năm 1956.
Người đánh đàn nhấn mạnh vào phím đàn hai lần để cắt đứt cuộc tranh luận, thu hút sự chú ý của tất cả mọi người.

Những người ngồi hàng trước giật mình, họ chừa ra một vị trí để người đàn ông mặc áo khoác lông màu nâu ngồi xuống.

Harry liếc nhìn đồng hồ đeo tay, vốn định rời đi vào lúc này thì một người khác lại đứng lên giữa những người nghe, bước lên "sân khấu".
"Cậu Alex Loiseau." Người đánh đàn giới thiệu, đánh lên một nốt cao ngắn ngủi.
Cậu Loiseau có lẽ là khách quen ở đây, rất nhiều người nghe vỗ tay cho hắn.

Harry đứng đờ người ở chỗ cũ, không nghe thấy gì ngoài tiếng tim mình đập.

Người đó đúng là Alex nhưng lại trông không giống Alex, mái tóc vàng của hắn đã dài hơn một chút, hắn mặc một chiếc sơ mi trắng đơn giản, chỗ cổ áo để lộ một chiếc khăn quàng màu xanh đen.

Alex bắt tay với người đánh đàn rồi nói cảm ơn, hắn chỉnh sửa lại tờ giấy cầm trong tay, đứng ở nơi sáng nhất dưới ánh đèn.

Có người gọi tên hắn, Alex trừng mắt nhìn người kia.
"Ngài Dignus hẳn là rất vui khi nhìn thấy tôi, bởi vì ngài ấy lại có cơ hội để chê bai tác phẩm của tôi." Mọi người cười phá lên, Alex để lộ má lúm đồng tiền, hắn quét mắt qua những người nghe đứng chen chúc trong tiệm sách, tầm mắt hắn lướt qua Harry rồi lại quay lại trên người cậu, nhìn cậu thật lâu.
Thời gian lẳng lặng trôi qua, mọi người bắt đầu trố mắt nhìn nhau, người đánh đàn ho khan một tiếng.

Alex lấy lại tinh thần, thu hồi ánh mắt, hắn nhìn bản thảo, dùng chất giọng có vẻ giống người Pháp của hắn để nói: "Nếu các vị có đến đây vào thứ năm tuần trước thì sẽ biết chúng ta đang thảo luận về mối quan hệ giữa tác giả và những nhân vật, tối nay chúng ta sẽ tiếp tục đề tài ấy."
Hắn không nhìn Harry nữa nhưng Harry vẫn luôn nhìn hắn từ đầu đến cuối.

Alex luôn quen thuộc với sự chú ý và tiếng vỗ tay của người khác, trước nay vẫn vậy.

Harry nhận ra bây giờ hắn đã làm quen được với những lời chỉ trích ác ý và cũng đã học được cách đáp lại những lời chỉ trích ấy một cách sắc bén y hệt.

Hắn nói khoảng ba mươi phút, cuộc thảo luận kéo dài mười lăm phút, sau đó người đánh đàn lịch sự cắt ngang, mời hắn nhường chỗ cho một nhà thơ chuẩn bị ngâm thơ của mình.

Alex trêu đùa một chút rồi rời khỏi "sân khấu" được dựng lên tạm thời, hắn không quay về chỗ ngồi mà chỉ cầm lấy áo choàng dài được khoác trên tay vịn ghế rồi đi thẳng tới chỗ Harry.
"Bên ngoài yên tĩnh hơn một chút." Hắn nói, mặc áo choàng dài vào.
Harry không nói nên lời, cậu chỉ có thể gật đầu rồi đi theo Alex ra ngoài.
Chưa tới ba mươi phút nữa là nửa đêm, gió càng lạnh hơn, sương đêm ẩm ướt bao phủ khắp nơi.

Bọn họ sóng vai nhau đi qua hai con phố, không ai nói gì.

Harry lẫn lựa rất nhiều lời để nói nhưng không một câu nào có vẻ thích hợp.

Cuối cùng, Alex dừng bước, xoay người, hắn nhìn cậu dưới ánh đèn đường.
"Trông cậu rất tốt."
Tớ rất nhớ cậu, Harry nuốt những lời này xuống: "Cậu cũng vậy."
"Tòa soạn thế nào rồi?"
"Vẫn ổn, tớ đang công tác ở phòng làm việc của họ ở Paris, có lẽ sẽ ở lại đây một khoảng thời gian rất dài."
"Chúc mừng."
"Cảm ơn."
Một khoảng dừng ngắn ngủi.

Gió rét thổi tung vạt áo choàng dài của họ, Harry không thể ngừng nhớ lại bãi biển ở Cornwall vào mùa hè, mùi hương ngọt ngào của những quả dâu tây và rượu trộn lẫn vào mùi mặn mà của tảo biển.

Từng đàn hải âu tìm kiếm sò hến dưới những tảng đá, lúc sóng biển ập tới liền đập cánh bay đi.
Harry hắng giọng: "Bây giờ cậu đang ở đây à? Ở Paris ấy?"
"Cứ coi là vậy đi." Alex nhún vai, không nói chi tiết: "Lần đầu tới Gạch dưới à?"
"Trùng hợp mà thôi."
"Tớ phải về đây, lát nữa còn có một buổi tụ họp nhỏ, tớ biết là tớ nên mời cậu nhưng tớ nhớ trước kia cậu ghét những buổi tụ họp vô bổ này biết bao."
"Bây giờ cũng không quá thích chúng."
"Tớ rất vui khi được gặp lại cậu, Harry."
"Tớ cũng vậy."
Hai người chần chừ đứng nhìn nhau một hồi, không biết có nên ôm nhau hay không.

Cuối cùng Alex đưa tay ra, Harry bắt tay với hắn, tay của đối phương lạnh như tay cậu.

Alex hơi mỉm cười với cậu rồi đi về phía tiệm sách, không nói câu hẹn gặp lại.

Harry đứng lặng người thật lâu trên con phố như đã quên mất mình đang ở đâu, cho đến khi phía xa xa truyền tới tiếng chuông báo nửa đêm, cậu mới rùng mình, vội vàng đi về phía trạm xe lửa.
- --
*Crépuscule: chạng vạng..
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 23: Chương 23


Kể từ hôm đó, Harry đến tiệm sách "Gạch dưới" nhiều hơn, sau một tuần lễ, cậu phát hiện không phải ngày nào cũng có những buổi thảo luận, chỉ có tối thứ năm và tối thứ bảy mới được tổ chức.

Vì vậy vào hai ngày này mỗi tuần, Harry đều chạy tới đây sau khi tan làm, cậu lơ đễnh đứng xem những cuộc tranh luận kịch liệt, những bài diễn thuyết thú vị hoặc khô khan, thỉnh thoảng còn phải ráng nghe những khúc ngâm thơ tệ hại nhưng Alex chưa từng xuất hiện thêm một lần nào nữa.

Đến nửa đêm khi Harry về nhà, cậu luôn thuyết phục bản thân hãy dừng việc làm vô ích này lại nhưng vào thứ năm hoặc thứ bảy tiếp theo, cậu lại không nhịn được mà ôm hy vọng quay lại tiệm sách.
Harry dần trở nên quen thuộc với người đánh đàn, quý ông đầu tóc bạc trắng ấy thật ra là chủ nhân của tiệm sách, tuy chỉ mới năm mươi mốt tuổi nhưng lại trông như chín mươi mốt, cách sinh hoạt cũng vậy.

Ông đã từng là một thành viên trong quân đội Pháp nhưng sau đó phải rút lui từ Lille để đến Cherbourg rồi lại từ Cherbourg đến Dunkirk, cuối cùng ông may mắn lên được một chiếc tàu khu trục của Anh rồi từ đó lui về Dover.

Trên chiếc dương cầm đặt một khung ảnh nhưng bên trong không có hình mà chỉ có một nửa cái xích bạc, trông giống như một loại côn trùng nào đó đã hóa đá từ thời tiền sử.

Sợi dây xích ấy vốn được đính chung với một cái mề đay dây chuyền, bên trong là tóc của vợ ông ấy nhưng trong lúc hỗn loạn, chiếc mề đay dây chuyền đã bị đánh rơi mất nên trong tay ông chỉ còn lại một mình sợi dây xích.

Năm 1947, ông trở về Paris nhưng vẫn không thể tìm lại được người vợ và người con trai duy nhất của họ - Francois.
"Bị bắn bởi một khẩu súng máy ở bãi biển Omaha." Ông nói, kéo ống quần lên, bấy giờ Harry mới phát hiện từ đầu gối bên chân phải của ông trở xuống là một cái chân giả bằng gỗ: "Người Mỹ nói với chúng tôi rằng: Coi chừng trên trời, kết quả những chiếc máy b4y ném b0m Stuka không phải là mối nguy của chúng tôi, mấy tay súng máy mới là thứ chính.

May là không bắn trúng ngón tay, nếu không thì tôi không thể đánh đàn được nữa mất."
"Ông đàn rất hay."
"Cảm ơn, bà nội của tôi dạy cho tôi đấy."
Harry hỏi ông tiệm sách này đã mở lâu chưa.
"Bốn tháng nữa là mười năm.

Vợ tôi muốn có một tiệm sách, tôi thì không hứng thú lắm.

Chúng tôi vừa mua được một chỗ thích hợp thì chiến tranh nổ ra."
"Tôi rất lấy làm tiếc."
Đối phương nhún vai, ông vỗ vào chiếc dương cầm như đang xem nó là một chú thú cưng ngoan ngoãn: "Tôi dùng mười mấy năm để hoàn thành tâm nguyện của bà ấy.

Tôi nghĩ bà ấy sẽ thích biến nơi đây thành một nơi để người ta trao đổi ý kiến với nhau."
"Tôi tin chắc là bà ấy cũng nghĩ như vậy.

Cậu Loiseau có đến đây thường xuyên không ạ?"
"Tùy xem cậu hiểu chữ thường xuyên như thế nào, có lúc cậu ấy đến đây mấy ngày liền, có lúc lại không xuất hiện suốt một khoảng thời gian, không ai biết cậu ấy đi đâu.

Nếu cậu ấy đến London thì khi về sẽ mang cho tôi mấy quyển sách.

Tuy nhiên Loiseau chưa từng biết mất khỏi đây hơn một tháng, bởi vì thư của cậu ấy cũng được gửi đến đây.

Thư gửi cho cậu ấy rất nhiều."
"Có thể tưởng tượng." Harry phụ họa: "Nếu muốn tìm gặp cậu Loiseau thì cách nhanh nhất là gì?"
"Tối thứ năm đến đây thử vận may."
"Liệu cậu Loiseau có đến đây vào thứ năm tuần này không?"
"Không, nhưng cậu có thể để ý xem cậu Mana có đến đây hay không, cậu ta có dáng người cao, tóc nâu, ăn mặc như một vị cha xứ nổi loạn.

Cậu ta đã giúp cậu Loiseau dịch quyển Con diều của Agnes, có lẽ cậu ta sẽ có địa chỉ hoặc số điện thoại của cậu ấy, tôi không dám chắc là cậu ta có nhưng cậu có thể thử hỏi cậu ta."
Sự thật là cậu Mana cũng không biết.

Harry đã ngăn vị phiên dịch viên ấy lại sau buổi đọc văn xuôi vào tối thứ năm, hình dung của chủ tiệm sách rất chính xác, cậu Mana mặc một cái áo sơ mi bảo thủ màu đen, nút áo trên cùng cũng được gài lại, thế nhưng bên ngoài chiếc áo sơ mi, cậu ta lại choàng thêm một cái khăn choàng dài có màu xanh dương xen lẫn với xanh lá, trông giống như một loài chim nhiệt đới sặc sỡ nào đó.

Mana có một mái tóc dài màu nâu bù xù, trên đó còn được cột thêm vài món đồ trang sức nhỏ lấp lánh.

Lúc cậu ta nói chuyện, Harry có thể ngửi được mùi thuốc lá gay gắt từ hơi thở của cậu ta.
"Tại sao anh lại muốn tìm cậu ấy?"
"Trước kia chúng tôi từng quen biết nhau."
"Trước kia à!" Mana bắt lấy cụm từ ấy: "Tại sao lại là Trước kia? Những người có mâu thuẫn với nhau mới nói Trước kia, bạn thân yêu à, kể chuyện của hai người cho tôi biết đi, có lẽ tôi có thể viết cho hai người một bài hát, anh cũng biết tôi rất giỏi việc dung hòa âm nhạc và thơ ca mà.

Chẳng phải anh nên biết chơi đàn guitar sao, anh Prudence? Trông anh rất giống một nghệ sĩ guitar đàn cho cậu ấy."
"Đời này tôi chưa từng chạm vào cây đàn guitar.

Alex và tôi không có chuyện gì cả, tôi chỉ muốn nói với cậu ấy đôi lời."
Một trận ồn ào cắt ngang cuộc nói chuyện của hai người, hai người trông giống sinh viên bỗng đánh nhau, đá lăn cả ghế ngồi, mọi người vội né tránh hoặc vội cản họ lại.

Trên mặt Mana nở nụ cười ngây ngô, cậu ta hăng hái nhìn đám người, hồi lâu sau mới quay đầu lại: "Nói chuyện gì?"
"Sách của cậu ấy."
"Bạn thân yêu à, trông anh không giống một nhà xuất bản."
"Cứ coi tôi như một độc giả trung thành đi."
"Anh không tìm được Alex đâu." Mana lắc đầu, những món đồ cột trên tóc va vào nhau phát ra tiếng leng keng: "Cậu ấy là một chú chim rất thần bí, chỉ có cậu ấy tới tìm anh chứ anh không thể tìm được cậu ấy, chờ đến khi anh quay đầu lại thì cậu ấy đã biến mất tiêu rồi.

Lần nào chúng tôi cũng hẹn gặp nhau ở đây giống như gián điệp đang gặp nhau vậy.

Chỉ có duy nhất một lần ngoại lệ là hẹn ở một nhà hàng ở Montmartre, cậu ấy đã mua cho tôi một chai rượu có hương hồi, chúa phù hộ cậu ấy."
"Nhà hàng ấy tên gì?"
"Cậu ấy nợ tiền anh, đúng không? Không thể tin được mấy tên có cái mác quý tộc được đâu, anh không biết bọn họ có phải hàng thật hay không, có lúc anh cho rằng mình đang quen biết với một nhân vật lớn, kết quả tên kia mua rượu còn phải thiếu nợ."
"Không phải.

Nói cho tôi biết tên của nhà hàng đi, anh Mana, sau đó tôi sẽ không làm phiền anh nữa."
Đối phương giang tay, vẻ mặt bất lực không thể làm gì khác hơn nói tên cho Harry.
Chỗ kia vừa nghe tên là đã biết đó là một nơi mà Harry sẽ không muốn đến, chỗ đó có tên là "Siren", ban ngày thì đó là một nhà hàng phục vụ những món bánh kẹp đầy dầu mỡ, sau khi trời tối thì thay đổi thành một diện mạo hoàn toàn khác.

Nếu bạn chịu trả thêm bốn mươi phần trăm phí, bạn sẽ có thể bước vào một phòng khiêu vũ mập mờ ánh đèn.

Harry hối hận khi đã không hỏi vị phiên dịch viên khoác lông chim sặc sỡ kia rằng Alex đến đây vào buổi tối hay buổi sáng.

Trong nền nhạc đinh tai nhức óc, những người vũ công mặc bộ váy bù xù bằng lông chim cởi áo ngực ra rồi ném xuống cho người xem từ trên sân khấu, khiêu khích nên một trận ồn ào lớn hơn.

Harry không thể không cao giọng gào thét mới có thể khiến chủ quán nghe rõ cậu muốn tìm ai.

Chủ quán lắc đầu, ông nói rằng thanh niên người Anh đến đây nhiều lắm, ông không có thời gian để nhớ mặt từng người một.
Lúc Harry rời khỏi phòng khiêu vũ, lỗ tai cậu lùng bùng, áo khoác thì dính đầy mùi thuốc lá rẻ tiền và mùi nước hoa.

Tàu điện ngầm đã ngừng chạy, nếu vẫn chưa ngừng, cậu cũng chẳng hơi đâu mà tiếp xúc với những thứ mờ tối bẩn thỉu dưới đường hầm.

Tòa soạn đã sắp xếp cho cậu một căn hộ nằm trong con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo phía sau nhà hát múa rối ở đại lộ Grands, cho dù trời có trong lành thì ở đó vẫn rất âm u, đừng nói chi là vào buổi rạng sáng.

Harry khóa cửa lại, lúc cậu nằm vật xuống ghế salon, kim chỉ giờ trong đồng hồ đeo tay vừa nhích một chút.
Cậu ngủ luôn trên ghế salon, ngay cả áo choàng dài cũng không cởi ra.

Lúc ánh mặt trời đánh thức cậu thì đã gần qua buổi trưa, tuy hôm nay là thứ bảy nhưng phóng viên không có ngày nghỉ.

Điện thoại không vang lên, ít nhất chứng minh chiến tranh hạt nhân vẫn chưa xảy ra.

Harry cau mày nhìn đồng hồ đeo tay, cậu trở mình trên ghế salon, nằm trên chiếc ghế được lót vải sần sùi màu xám đen, cậu thở dài rồi ngồi dậy, vội vàng đi vào nhà tắm để rửa mặt chải đầu, thay một bộ quần áo khác rồi ra ngoài.
Tòa soạn báo của "Góc nhìn" nằm ở phía tây đại lộ Haussmann, đi về hướng của Lafayette là sẽ bị kẹp giữa "Người xem" và "Báo tường", cách đối thủ cạnh tranh chủ yếu - "Nhà ngoại giao" chỉ một con đường và thêm hai cây ngô đồng yếu ớt.

Cho dù đang là cuối tuần, phòng làm việc vẫn bận rộn như bình thường.

Cô Mignet ngẩng đầu khỏi chiếc máy đánh chữ, trừng mắt nhìn cậu, Harry nở một nụ cười mỉm khách sáo với cô, cậu đi thẳng qua những chiếc bàn làm việc bằng gỗ đặt san sát nhau để về văn phòng của mình, chặn lại tiếng chuông điện thoại không ngừng reo vang ở bên ngoài.
Thực tập sinh để lại trên bàn cậu không dưới hai mươi tờ giấy ghi chú, tổng hợp tất cả các cuộc gọi, câu hỏi, thông báo và tiếng la hét của chủ bút ("Harry, tôi muốn cậu lên bài bình luận về việc cắt giảm quân bị kia ngay bây giờ, ngay lập tức") từ sáu giờ chiều hôm qua đến mười giờ sáng nay.

Harry sắp xếp những tờ giấy ghi chú theo thứ tự ưu tiên rồi cầm lấy điện thoại.
Tiếng gõ cửa vang lên hai lần, không đợi cậu đáp lại, thực tập sinh đã thò đầu vào xem thử: "Anh Prudence, có người tìm anh."
Harry che ống nghe, nói: "Bảo người đó chờ một chút."
"Em đã nói như vậy rồi nhưng anh ta vẫn tiến vào thưa anh, anh ta nói tên của anh ta là Loiseau."
Harry hơi há miệng, trong lúc nhất thời cậu không nghĩ ra mình nên nói gì.

Nhân viên tổng đài không ngừng hỏi "Xin chào? Anh muốn gọi đến đâu? Xin chào?" trong điện thoại, Harry lập tức cúp máy.

"Bảo cậu ấy vào đi."
Thực tập sinh gật đầu rồi đi mất, không đóng cửa lại.

Harry đứng lên rồi lại ngồi xuống, cậu suy nghĩ một chút, cuối cùng vẫn đứng dậy để kéo thẳng chiếc áo sơ mi với đầy nếp nhăn, chậu cây nửa sống nửa chết trên bàn trông quá xấu nhưng bây giờ đã không còn cách nào để cứu vãn.

Alex gõ một cái vào cánh cửa khép hờ, hắn đi vào, nhẹ nhàng đóng cửa lại.
"Chào buổi chiều."
"Văn phòng đẹp đấy."
Bọn họ đồng thời mở miệng nói, cũng đồng thời rơi vào yên lặng.

Harry chỉ vào cái ghế nhằm mời Alex ngồi xuống nhưng người nọ lại không làm như vậy, hắn thong thả đi đến trước mặt kệ sách, ngắm nhìn những tập hồ sơ thật dày được đánh dấu bằng số năm rồi lấy một tập từ năm ngoái ra để lật xem, sau đó lại đặt về chỗ cũ, phủi đi lớp bụi dính vào tay.
"Đây là nơi ở thường nhật của cậu à." Alex bình luận, hắn kéo cửa sổ rèm cuốn ra một chút, trông ra đường phố bên ngoài cửa sổ: "Không ngờ đây là lần đầu tiên tớ nhìn thấy nơi làm việc của cậu."
"Mới vừa dọn vào nên không thường nhật lắm đâu."
"Harry."
"Alex."
"Gần đây tớ có nghe nói một chuyện rất thú vị."
"Kể tớ nghe xem."
"Có người phóng viên tìm tớ khắp nơi, không chỉ chờ đợi trong tiệm sách mà còn chạy đến một phòng khiêu vũ giả nhà hàng, cậu có biết người đó là ai không?"
"Có lẽ người phóng viên ấy chỉ muốn nói gì đó."
Alex dựa vào tường rồi ôm lấy hai tay, nhìn Harry.

Hôm nay hắn không choàng khăn choàng, trên cổ áo được thắt một chiếc cà vạt chấm bi màu xanh thẫm lỏng lẻo, không biết là cố ý làm như vậy hay là quên.
"Có thể là chỉ nói mấy chuyện vô bổ, cậu có nghĩ vậy không?" Alex hỏi.
"Vậy sao cậu lại tới đây?"
"Tới để vẽ một dấu chấm hết."
"Hay giả như cậu muốn gặp tớ, giống như tớ cũng muốn gặp cậu vậy."
Alex cười một tiếng rồi lắc đầu, hắn xoa xoa sống mũi như đang cảm thấy nhức đầu: "Trời ạ, Harry."
"Để tớ mời cậu một tách cà phê." Harry thấp giọng nói, tựa như cậu sợ mình sẽ dọa chú chim vô hình đang đậu trên cửa sổ bay đi mất: "Cậu có thể quyết định xem cậu muốn vẽ một dấu chấm hết hay dấu phẩy, hoặc là tạt cà phê vào mặt tớ."
"Tớ không có thói quen tấn công người khác bằng thức uống nóng."
"Rất vui khi nghe thấy câu này."
"Cậu không bận sao?"
"Không." Harry chợt thốt lên, sau đó lại nhìn xuống mặt bàn phủ đầy giấy ghi chú: "Không bận chút nào.".
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 24: Chương 24


Các phóng viên thường hay đến hai loại quán cà phê, một là quán để đi ăn trưa một mình, thời gian dừng lại thường không quá mười phút khi họ sẽ vội vã rời đi với một miếng bánh mì kẹp được gói trong giấy bạc, nếu tay áo hoặc vạt áo trước dính mù tạt hoặc có vết mayonaise thì đa phần đều là bị dính ở đây.

Loại còn lại chính là quán để đưa khách đi cùng, những quán này thường là những quán vừa yên tĩnh vừa đắt tiền, chúng được trang trí bằng những chiếc đèn trần để giả vờ khoa trương và những chiếc gương không rõ để làm gì, áo sơ mi của những người bồi bàn thì luôn sạch sẽ tinh tươm không một vết bụi như sàn nhà bằng đá cẩm thạch.

Thời gian phục vụ thường kéo dài từ một đến một tiếng rưỡi, những món dọn lên bàn đa phần đều là những cây măng tây đã héo được sốt đầy nước sốt và được đặt trong một cái đĩa to lớn trông vừa nhỏ bé vừa nhạt nhẽo.
Quán Harry chọn đến chính là loại đầu tiên.
Giờ ăn trưa cao điểm đã qua được nửa tiếng, đa số bàn ăn vẫn chưa được dọn dẹp nên trên bàn vương vãi đầy vụn thức ăn, trong gạt tàn thuốc thì chất đầy tàn thuốc chưa tàn.

Bàn ghế không được đặt trong quán ăn mờ tối mà đặt tràn ra ngoài vỉa hè, bọn họ chọn một chỗ không quá nghiêng ngả rồi ngồi xuống.

Alex nhìn thực đơn được viết trên một tấm bảng đen nhỏ, chữ viết bằng phấn ở trên bảng đã mờ mờ không rõ nhưng khách quen ở quán ăn này hẳn là cũng chẳng cần đến tấm bảng đen đó, không thì còn gì là khách quen.
"Đừng gọi bất cứ thứ gì trừ cà phê và bánh mì kẹp thịt xông khói." Harry đề nghị: "Tớ khá chắc rằng món salad cá hồi ở đây sẽ tiễn thông tín viên ở Geneva của bọn tớ vào phòng cấp cứu mất."
"Thế mà các cậu vẫn chọn ăn ở đây đấy thôi."
"Quá muộn rồi, nơi này đã hình thành một mối quan hệ cộng sinh với những phóng viên ở đại lộ Haussmann."
Bồi bàn núp trong quán ăn tối đen như một con lươn lười biếng, hồi lâu sau mới chịu đi ra.

Hai người đều gọi cà phê mà không gọi thức ăn.

Alex châm một điếu thuốc, hắn hơi ngẩng đầu để nhả khói.

Harry để ý thấy trên cổ tay hắn có một vết thương nhỏ dài đã lành lại từ lâu, Alex phát hiện ánh mắt của cậu nên kéo tay áo xuống, che mất vết sẹo.
"Làm vỡ ly thủy tinh." Hắn hời hợt giải thích, rũ tàn thuốc vào đĩa đựng tách trà.
"Những chuyện xui xẻo như vậy thỉnh thoảng vẫn xảy ra."
"Thật vậy."

Cà phê được dọn lên như vừa được lấy ra từ một cái hố chứa đầy nhựa đường, vừa đậm đặc vừa nóng hổi.

Không ai đụng vào mà chỉ nhìn nó từ từ nguội đi trên đĩa đựng tách.

Harry nhìn chăm chú vào mặt nước trơn bóng, những cành cây cao gầy trên đỉnh đầu phản chiếu trên đó như những vết nứt của một tấm kính.
Alex lại nhả một làn khói: "Cha của cậu có khỏe không?"
Harry ngẩng đầu nhìn hắn, hồi lâu sau mới mở miệng: "Chúng ta đã đến mức này rồi sao? Khách sáo với nhau?"
"Chúng ta." Alex nói một chữ rồi thay đổi ý định, hắn rũ mắt nhìn ảnh phản chiếu của những bóng cây trên bàn: "Đã qua ba năm rồi, Harry."
"Tớ đã tìm cậu ở khắp nơi."
"Tớ biết."
"Vậy mà cậu vẫn không viết cho tớ dù chỉ là một lá thư sao?"
"Thư ư?" Alex hỏi ngược lại rồi cười rộ, đó là một nụ cười nhạt nhẽo, khô khốc chứa đầy gai: "Thư tớ viết vẫn chưa đủ nhiều sao?"
"Cậu cũng biết là tớ không cố tình không hồi âm mà, tớ..."
"Công việc của cậu, tớ biết rồi." Alex cắt ngang lời Harry, đặt điếu thuốc lên đĩa đựng tách: "Chẳng có ai biết rõ chuyện này hơn tớ cả, chàng thủy thủ ạ."
Cách gọi ấy khiến Harry đau nhói, nó mang lại một cảm giác khó chịu đến chân thực, cậu không kiềm được run rẩy như vừa chạm phải một tấc sắt được nung đỏ.

Vì sự yên lặng kéo dài, Harry nhấp một ngụm cà phê vẫn còn âm ấm, mùi vị vẫn tệ hại như trước, không chỉ đắng mà còn trộn lẫn với mùi tro gỗ.

Bên kia đường phố, một cô bảo mẫu trẻ tuổi với mái tóc được búi lên mở toang khung cửa sổ trên lầu hai, cô dời một chậu cây với những chiếc lá rộng lớn đến một chỗ trên bệ cửa sổ được chiếu đầy ánh mặt trời.

Căn hộ nhỏ ở số 55 đường Juniper của bọn họ cũng từng có một khung cửa sổ với mành che bằng gỗ như vậy, Harry không nhớ rõ vào mùa hè ba năm trước, cánh cửa sổ ấy được mở hay đóng, có lẽ là mở, bởi vì mùa hè ấy ẩm ướt oi bức đến dị thường.

Vị cảnh sát đã về hưu thích xen vào việc của người khác sống ở tầng trên có lẽ đã nghe rõ từng lời họ nói, huống chi giữa hai người bọn họ, chẳng có ai chịu hạ thấp giọng của mình cả.
"Cậu không thể làm việc ở Oxford như trước sao?" Alex hỏi, hắn không nhìn Harry mà chỉ chăm chú vào chiếc máy đánh chữ, một tay hắn đặt trên bàn phím dù cho ở phía trên không hề được đặt một tờ giấy trắng.
Bọn họ đã tranh cãi về vấn đề này suốt hai ngày, cuối cùng vẫn không tránh khỏi.

Harry ném áo sơ mi đang ôm trong ngực vào hành lý, nói bằng giọng nửa đùa giỡn: "Ở lại đây để tiếp tục viết về những vụ trộm xe đạp và cẩm nang trồng trọt rau củ sao? Không nhé, cảm ơn."
"Nếu tớ nhớ không lầm, trước kia cậu thích viết mấy cái này lắm mà."
"Đó là trước kia." Harry đi vào trong phòng ngủ rồi mang chiếc máy đánh chữ cầm tay ra, tìm cho nó một vị trí thích hợp trong rương hành lý đã đầy một nửa.

Alex thấp giọng trả lời nhưng Harry không nghe rõ, cậu tiện tay cuộn hai bộ áo sơ mi lại rồi lấp đầy khe hở giữa máy đánh chữ và rương hành lý, sau đó ngẩng đầu, hỏi Alex vừa nói cái gì.
"Tớ đang viết một câu chuyện cổ tích mới."
Harry thở dài: "Vậy thì tốt, chúc mừng, tớ dám chắc cậu sẽ viết rất tốt."
"Cậu chỉ khen tớ cho có mà thôi."
Giọng điệu chỉ trích của đối phương khiến trong lòng Harry hơi không nhịn được mà nổi lửa: "Thứ cho tớ không thể chơi trò chơi trẻ con với cậu như trước nữa, cậu không thấy tớ đang bận việc sao?"
"Trò chơi trẻ con là sao?"
Harry nặng nề đóng rương hành lý lại: "Được rồi, coi như tớ chưa nói gì đi."
"Harry Prudence, mau giải thích Trò chơi trẻ con cho tớ."
"Lạy Chúa, Alex, những câu chuyện của cậu đấy! Cậu cứ mãi sống trong bong bóng tưởng tượng của cậu, không chịu đi ra.

Không phải ai cũng may mắn như vậy, không phải ai cũng có thể ăn nằm rảnh rỗi trên những ngân quỹ ủy thác, nhốt thế giới hiện thật bên ngoài cửa sổ."
"Vậy thì cậu mới ở Góc nhìn có mấy tháng là đã cảm thấy cậu hiểu rõ Thế giới hiện thật rồi sao?"
"Tớ không hiểu tại sao cậu cứ luôn xem thường công việc của tớ."
"Tới bây giờ tớ chưa từng...!Cậu biết tớ không có ý đó mà."
"Tớ thấy cậu có ý đó thật đấy."
"Cậu bây giờ cứ lải nhải chẳng khác gì đám người ở Harrow, tự cho mình là một cái xác biết đi lõi đời."
"Chẳng có lõi đời gì ở đây cả, Alex, là do cậu không chịu lớn lên, cậu định làm một đứa trẻ ba tuổi vô lo vô nghĩ suốt đời sao?"
Alex trợn mắt nhìn cậu, hồi lâu sau vẫn không trả lời, cuối cùng hắn đứng dậy, đi thẳng vào phòng ngủ, nặng nề đóng sầm cửa lại.

Harry đứng trong phòng khách hỗn độn một hồi, sau đó mới đờ người ngồi xuống ghế salon đơn, mệt mỏi xoa mũi.
Một người đàn ông trung niên đội một chiếc mũ nồi màu xám tro đạp xe ngang qua, trong túi áo ông đựng đầy những tờ báo đã được cuộn lại, ông bóp còi với một người phụ nữ đang dắt chó qua đường, chú chó con sủa gâu gâu.

Bên khung cửa sổ trên lầu hai, cô bảo mẫu búi tóc đã biến mất sau khi lau xong cánh cửa kính, trên bệ cửa chỉ còn lại chậu cây, lá cây tham lam duỗi về phía ánh sáng.

Harry nhìn Alex, cậu muốn biết đối phương có nhớ lại mùa hè năm ấy, có hoài niệm những mùa hè vui vẻ trước kia, có dùng những ký ức ấy để lấp đầy vết thương trong lòng như Harry vẫn thường làm hay không.

Thế nhưng cậu không dám hỏi, cậu đã mất đi cái quyền ấy.
"Sau đó tớ đã nghĩ lại, cậu nói rất đúng." Alex châm điếu thuốc thứ hai: "Cậu và thế giới hiện thật của cậu, tớ và những câu chuyện cổ tích của tớ, không người nào sai nhưng tốt nhất chúng ta không nên tiếp xúc với nhau nữa."
"Không." Harry lắc đầu: "Tớ không nên nói như vậy, tớ sai rồi."
Ánh mắt của Alex lại rơi lên người cậu, hắn quan sát cậu, khó nhìn ra cậu đang có tâm trạng gì, Harry cảm thấy chính mình đang đối mặt với một bức tường đá cao vút vững chãi, cậu không biết phải gõ vào đâu, phải hét lớn đến thế nào mới được hồi đáp lại.

Trong trí nhớ của cậu, Alex chưa bao giờ là một người ít cười, bởi vì có đôi má lúm đồng tiền mà hắn luôn có vẻ trẻ con đáng yêu.

Thế nhưng giờ đây, người ngồi ở phía đối diện lại khiến Harry có cảm giác đã từng quen thật xa cách, cậu bỗng nhiên hiểu được câu nói mà Alex đã nói trong phòng hứng nắng vào hai mươi năm trước: "Giống như anh ấy không có ở đây vậy".

Điều này khiến Harry cảm thấy lo lắng, cậu muốn nắm lấy bàn tay Alex đang đặt trên bàn nhưng cuối cùng vẫn không dám làm vậy.
"Tớ không còn viết thêm câu chuyện nào nữa, cậu biết không?" Khói thuốc bay lơ lửng giữa bọn họ bị ánh mặt trời đục ngầu chiếu xuyên qua, Alex chơi đùa với chiếc bật lửa, tay khẽ run: "Tất cả câu chuyện của tớ đều là viết cho cậu, có lẽ tớ nên nói những lời này sớm hơn."
Đúng là nên nói những lời này sớm hơn, Harry nghĩ, nhưng có lẽ cũng chẳng khác gì mấy.

Cậu cố gắng không nghĩ đến những buổi chiều nhàn rỗi ở Oxford, Alex tựa vào vai cậu, nhỏ giọng đọc những đoạn văn vẫn chưa viết xong, chúng có thể liên quan tới mưu sát, liên quan tới tình yêu thầm kín không thể nói ra, liên quan đến những bầu trời và bãi biển xa lạ, liên quan tới những bộ xương và cuộc mạo hiểm bất tận của một đứa trẻ sáu tuổi.

Mỗi một từ ngữ đều là viết cho cậu.
Tớ cũng yêu cậu, Harry nghĩ, cuối cùng vẫn không nói ra.
Alex cười với cậu một tiếng, ném điếu thuốc vẫn chưa hút hết vào tách cà phê rồi đứng dậy, chìa tay với cậu, rõ ràng là muốn tạm biệt.
"Tớ còn có thể..." Harry hắng giọng: "Tớ còn có thể gặp lại cậu mà, đúng không? Giống như những người bạn vậy?"
"Có lẽ là không." Alex nhẹ nhàng bắt tay cậu rồi buông ra: "Tạm biệt, Harry."
- --
"Cậu ấy đi về phía nam, có lẽ là đi về phía bên kia sông hoặc bắt một chuyến tàu điện ngầm đến Marais." Prudence nói, nhẹ nhàng gõ ngón tay lên tay ghế vịn như thói quen ông vẫn hay làm: "Tôi trở về tòa soạn, vô tri vô giác trải qua buổi chiều ấy, về đến nhà, tôi uống say, đến hôm sau thì đi làm với bộ dạng say xỉn, trừ cô Mignet ra, không có ai dám hỏi tôi chuyện gì đã xảy ra, cũng có thể là trừ cô ấy, không có ai để ý xem tôi có gì không đúng.

Cô ấy đúng là rất quan tâm tôi, thế nhưng tôi đã không còn gì có thể trao cho cô ấy.

Năm 1961 rất bận rộn, cậu Rivers ạ, chúng ta có cuộc Chiến tranh giành độc lập Algérie, Kennedy, Congo và Liên hợp quốc, có máy bay vũ trụ có thể chở người và vệ tinh mà lúc bấy giờ chưa từng nghe qua bao giờ, ngoài ra còn có vụ Không quân Pháp suýt chút nữa đã bắn trúng Brezhnev ở Guinea.

Con người chỉ giỏi nhất trong việc chế tạo ra những thứ ồn ào và tạo ra hỗn loạn mà thôi."
"Để phục vụ cho việc viết một chuyên mục mới, tôi đã bay đến Geneva trước lễ Phục sinh để phỏng vấn một nhà ngoại giao Mỹ.

Sau khi quay về Paris thì cũng vừa lúc có một kỳ nghỉ để suy nghĩ xem nên viết bản thảo như thế nào.

Tôi là một người thích làm việc ở nhà, không thích đến mấy quán cà phê, thật ra là không thích đến nơi nhiều người.

Vào ngày nghỉ, tôi thường có thói quen thức dậy vào chín giờ rồi pha trà, mở thư, trả lời những bức cần được hồi âm, sau đó sẽ ngồi vào máy đánh chữ."
"Khoảng bốn giờ chiều, điện thoại reo lên.

Tôi tưởng đó là chủ bút Schmidt muốn hỏi tôi tiến độ như thế nào rồi, ông ấy vẫn thường hay như vậy, không hề có khái niệm ngày nghỉ gì cả.

Tôi cầm lấy điện thoại, chuẩn bị nói cho ông ấy rằng tôi đã viết xong đoạn kết, vào ngày mai là có thể mang đến tòa soạn để ông ấy xem."
"Thế nhưng đầu dây bên kia điện thoại không phải là chủ bút Schmidt."
"Người đó có chất giọng nặng vùng Marseille, cộng thêm việc tiếng Pháp của tôi vốn không tốt lắm, thế nên tôi tốn ít nhất năm phút mới hiểu rõ người đó muốn nói cái gì.

Đó là cuộc gọi đến từ bệnh viện, một người có tên là Loiseau đã nhập viện vào ngày hôm qua bởi vì trúng rượu hoặc là thuốc gì đó, người đó nói chung chung lắm.

Không ai biết làm sao để liên lạc với người thân của bệnh nhân ấy, một ông cụ cụt chân đưa cậu ấy đến đã để lại số điện thoại của tòa soạn, tòa soạn đưa cho họ số điện thoại riêng của tôi, thế là họ khó khăn tìm đến tôi.

Bệnh viện hỏi tôi có muốn đến đây một chuyến hay không, nếu như đồng ý thì tôi sẽ đến vào lúc nào."
"Bây giờ. Tôi nói với người hộ lý: Tôi lập tức tới ngay.".
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 25: Chương 25


Người phóng viên không thể không thay pin cho chiếc bút ghi âm thêm một lần nữa, Prudence chờ, ông khép hờ đôi mắt như đang rơi vào dòng suy nghĩ tĩnh lặng.

Ấm trà được quấn trong đồ giữ nhiệt bằng len đã hết trà nhưng người hộ lý không đến đây nữa, không biết cậu ta còn đến nữa hay không.

Ngoài cửa sổ, mặt trời vào mùa đông đã bắt đầu ngả chiều tà, nó lõm sâu dưới những tầng mây đỏ như máu, chậm rãi trượt xuống mặt biển.

Đợi đến khi đèn chỉ thị trên bút ghi âm sáng lên, người phóng viên mới lật quyển sổ tay sang một trang mới, Prudence vẫn tiếp tục nói nhưng ông không mở mắt ra, trông ông như đang thuật lại một giấc mơ đã lâu.
"Alex luôn dây dưa với rượu bia, tôi biết rõ chuyện này.

Hồi còn ở Oxford, cậu ấy đã luôn như vậy.

Chạy đến phòng tôi vào lúc nửa đêm, kéo tôi ra khỏi những chuyện tôi đang vội làm.

Mỗi khi uống quá nhiều, cậu ấy sẽ nhanh chóng ngủ mất, nếu số rượu uống vào vẫn chưa đủ để đánh gục cậu ấy, cậu ấy sẽ trở nên hưng phấn hơn bình thường, bắt tôi nói chuyện không ngừng, không cho tôi đi đâu, kể cả là đi lấy một ly nước cũng không được.

Cậu đã từng trông thấy những con vật mới sinh cố gắng dùng móng vuốt của chúng để liều mạng bắt lấy những thứ ấm áp chưa, cậu Rivers? Alex cũng giống như vậy đấy."
"Tôi không dò hỏi được chuyện gì hữu dụng từ người hộ lý nên đã quyết định gọi cho tiệm sách từ điện thoại công cộng ở bệnh viện.

Lần đầu tiên không có người nghe lại còn có tiếng gào khóc của một đứa trẻ sơ sinh trong hành lang, quá ồn ào nên tôi đã xuống lầu để đổi một bốt khác, lần này chủ tiệm sách đã nhận cuộc gọi."
"Ông ấy phát hiện ra Alex khi đi đến tiệm sách vào buổi sáng, bởi vì gọi mãi mà cậu ấy vẫn không tỉnh, ông ấy quyết định gọi xe cứu thương, không ai biết cậu ấy đã nằm ở đó bao lâu, rất có thể là cả đêm, từ hai giờ sáng đến hơn bảy giờ sáng, hai giờ là thời gian đóng cửa của quán rượu gần đó.

Tôi hỏi chủ tiệm sách trước đây đã từng xảy ra chuyện như thế này chưa, đối phương nói rằng không có, tuy nhiên ông ấy cũng không lấy làm lạ, Alex còn sống có lẽ là vì nhờ vào rượu.

Tôi nói cảm ơn rồi cúp điện thoại.

Sau đó bỏ tiền thêm một lần nữa để gọi cho Góc nhìn, Schmidt vẫn còn ở trong phòng làm việc đúng như dự đoán, tôi nói với ông ấy rằng tôi đã viết xong chuyên mục mới, ngày mai sẽ đem cho ông ấy, sau đó tôi nói dối lấy cớ rằng cha bị bệnh để xin nghỉ mấy ngày, cuối cùng mới quay về phòng bệnh ở trên lầu."
Alex vẫn ngủ say, Harry rón rén đóng cửa lại rồi ngồi xuống chiếc ghế bên giường bệnh, nhìn chăm chú vào người bạn của mình.

Gương mặt của Alex trông như một bức tranh in thiếu mực, những đường cong trên đó tái nhợt yếu ớt, trông không giống chính hắn mà giống một hình chiếu mơ hồ hơn, nếu người họa sĩ bạo dạn hơn nữa, có lẽ bức tranh này sẽ trở thành một bức tranh nửa trong suốt giúp cậu có thể nhìn xuyên thấy vỏ gối màu xanh với những sọc trắng ở bên dưới.

Tay phải bị trầy lúc Alex ngã xuống cũng đã được băng lại.

Harry cẩn thận lật cổ tay hắn lại để nhìn thật kỹ những vết sẹo nhỏ dài kia, chúng chồng chất lên nhau, nông sâu khác biệt, kéo dài từ lòng bàn tay đến tận cùi chỏ, chỉ đập bể ly thủy tinh thông thường thì không thể nào tạo thành vết thương như vậy.
Bên ngoài phòng bệnh bỗng truyền tới tiếng bước chân đang từ từ tới đây, Harry chợt có một loại ảo giác thoáng qua rồi biến mất, cậu nghĩ rằng đó là tiếng bước chân của người gác cổng đang lo lắng xách đèn pin, đi kiểm tra từng dãy hành lang giữa đêm hôm khuya khoắt, còn Alex vốn uống say tại một bữa tiệc nào đó đang chiếm mất giường đơn của cậu, cho đến khi tiếng bánh xe lăn trên đường vang lên, ảo giác ấy mới bị phá vỡ.

Trong phòng bệnh chứa đầy mùi nước khử trùng và mùi bông gòn, có lẽ Alex đang nằm mơ, hắn cau mày, phát ra những âm thanh thoang thoảng nhỏ xíu.

Harry cúi người hôn trán hắn, nhẹ nhàng cầm lấy cánh tay không bị quấn băng của hắn.
Gần tối, Harry cũng nằm ngủ ở mép giường, bởi vì động tĩnh của Alex mà cậu giật mình dậy, người nọ nhìn chằm chằm vào Harry hồi lâu rồi nhíu mày lại, tựa như không nhận ra cậu là ai.

Harry dùng sức cầm tay hắn, hỏi hắn thấy thế nào rồi.

"Lạnh." Alex trả lời, quay đầu nhìn bầu trời màu xanh ngoài khung cửa sổ: "Trời sáng rồi."
"Trời còn tối." Harry chỉnh lại, dùng tay sửa sang lại mái tóc rối bời của hắn: "Bây giờ là năm giờ rưỡi, cậu đã ngủ suốt một ngày."
Alex rút bàn tay bị Harry nắm trong tay về, không trả lời.

Harry rót một ly nước rồi đưa cho hắn, Alex lắc đầu, không nhận.
"Tớ đã nói chuyện với bác sĩ." Harry đặt ly nước lên tủ đầu giường: "Bọn họ nói rằng cậu suýt chút nữa đã chết vì chìm trong rượu whiskey, sớm nhất thì cũng phải ngày mai mới có thể rời đi được.

Không được uống rượu, cũng không được uống thuốc ngủ.

Nếu có khả năng thì đến vùng thôn quê trong một thời gian ngắn cũng sẽ giúp ích."
"Bọn họ không nên gọi điện thoại cho cậu."
"Tớ rất vui vì bọn họ đã tìm đến tớ, bác sĩ nói rằng cậu cần được chăm sóc."
"Không, tớ không cần."
"Alex, để tớ chăm sóc cậu một khoảng thời gian thôi."
"Một khoảng thời gian là bao lâu?"

"Tớ không biết, hai hay ba tháng gì đó?"
"Sau đó thì sao?"
"Tớ không biết, hoặc là chúng ta, chỉ trong khoảng thời gian này thôi, ý tớ là vậy." Rốt cuộc Harry cũng nhận ra lời nói của mình không được mạch lạc cho lắm, cậu im lặng, sau đó mới cân nhắc lựa lời: "Sau này chúng ta lại bàn về chuyện này.

Bây giờ cậu có cần gì không? Tớ nên mang cho cậu một bộ quần áo sạch nhưng tớ không biết cậu đang ở đâu, nếu cậu không ngại, tớ có thể mang cho cậu một bộ của tớ."
Alex lắc đầu rồi trở người, nằm co lại dưới tấm chăn trắng tinh.
"Ngày mai tớ sẽ đến đón cậu." Harry đề nghị.
Không trả lời.

Alex trông như đã ngủ, hô hấp đều đặn.

Harry tắt đèn, đứng dậy rời khỏi phòng bệnh, cậu đợi ở cửa một hồi, hy vọng Alex sẽ nói gì đó hoặc bảo cậu ở lại, thế nhưng ngoại trừ sự tĩnh lặng, không còn một tiếng động nào nữa.
Sáng sớm hôm sau, Harry đến tòa soạn để dặn dò thực tập sinh chuyển bản thảo cho chủ bút Schmidt, sau đó cậu vội vàng chạy tới bệnh viện, xách theo một chiếc túi xách đựng áo sơ mi và quần mà cậu cho là thích hợp với Alex.

Kích thước của quần dài vẫn ổn, áo sơ mi thì hơi lớn, Alex xắn tay áo lên, ngồi ở mép giường, nhìn Harry thu dọn những vật tư, ví tiền, chìa khóa và quần áo dơ đã dính máu mà y tá vừa trả lại một giờ trước, Harry xếp quần áo lại, bỏ vào trong túi xách.

Trong một đống tiền xu có ba bốn tấm vé nhàu nát, Harry vuốt thẳng chúng lại rồi cẩn thận cất đi.
Alex đã nói địa chỉ cho cậu, ở quận 7, nằm ở phía tây cuối đường St.

Dominic, đối diện là một tiệm bán hoa nhỏ.

Nhà trọ ở lầu hai, trong nhà rất rộng rãi bởi vì không có nhiều đồ dùng, thậm chí có thể nói là vắng vẻ.

Phòng khách với sàn bằng gỗ thông không hề có một chiếc ghế, trong phòng được trải một tấm thảm thật to được nhuộm thành màu nâu đậm của một chiếc bánh mì bị nướng khét, trông tấm thảm như một cánh đồng lúa mạch vừa được thu hoạch xong, bên trên đặt bốn năm cái gối ôm theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ.

Nằm sát với tường là một bộ bàn gỗ hết sức thô kệch, máy đánh chữ thì bị chôn dưới khoảng trống giữa những tờ giấy trắng và sách báo đã phủ đầy bụi.

Một chiếc đồng hồ treo tường bị bỏ quên nằm đơn độc ở góc tường, kim chỉ giờ không còn di chuyển nữa.

Harry đặt túi xách xuống, kéo mở màn vải dày nặng đã che mất cả khung cửa sổ sát đất ra, ánh mặt trời chiếu vào làm xuất hiện một cơn lở tuyết của bụi bặm, Harry hắt hơi một cái rồi đẩy cửa sổ ra, để mùi không khí mới mẻ tràn ngập hương vị của cây cỏ giữa tháng tư tràn vào phòng.
Trong phòng bếp cũng trống rỗng giống như nơi này đã không có ai ở từ lâu, nồi chảo được móc trên tường, không có dấu vết đã sử dụng.

Trong tủ chỉ có súp nấm đóng hộp, trừ cái đó ra thì chính là rượu mạnh, Harry quyết định trong hôm nay phải vứt bỏ những thứ nguy hiểm ấy.

Cậu tìm được đường cát, muốn hỏi xem trà để ở đâu nhưng Alex đang ở trong phòng tắm nên không nghe thấy.

Harry kéo tất cả ngăn kéo ra - phần lớn đều trống không - cuối cùng, cậu tìm thấy hộp trà trong một ngăn chứa đầy dao kéo.
Thế nhưng số trà ấy đã bị lãng phí, Alex bước ra khỏi phòng tắm, mặc một bộ áo ngủ mềm mại màu xanh da trời rồi đi thẳng vào phòng ngủ, để lại một chuỗi dấu chân ướt nhẹp trên sàn nhà.

Harry thở dài, đi vào phòng theo hắn: "Cậu có biết trong phòng bếp của cậu không có cái gì hết không?"
"Tớ biết, đây là nhà tớ."
"Cậu phải ăn cái gì đó."
"Harry, tớ không phải con nít."
"Vậy mà hành động của cậu lại giống lắm đó."
"Tớ không mời cậu đến đây để dạy dỗ tớ."
"Tớ đang giúp cậu."
Alex vùi mình vào gối và chăn, không nói gì nữa.

Trong phòng ngủ mờ tối, Harry chỉ có thể miễn cưỡng nhìn thấy một đường ranh giữa giường và quần áo.

Cậu gọi tên Alex, đối phương không thèm để ý tới.

Harry đứng tại chỗ một hồi, cảm thấy mình có chút ngu ngốc.
"Ngày mai tớ sẽ trở lại." Cậu nói, chuẩn bị đóng cửa phòng ngủ lại.
"Harry."
Cậu dừng bước, nín thở chờ đợi.
"Cậu có thể ở đây thêm một lát nữa không? Năm phút đồng hồ thôi?"
Harry trở lại mép giường, Alex hơi giật mình nhưng vẫn nhường cho cậu một chỗ, để cậu nằm xuống.

Harry ôm lấy cả hắn và chăn, bàn tay cậu đặt sau cổ hắn, nhẹ nhàng vu0t ve mái tóc vàng vẫn chưa khô của hắn, khoảnh khắc này hệt như lúc hai người còn ở số 55 đường Juniper.

Alex có mùi như gỗ thông đã bị ướt nước mưa, Harry lắng nghe tiếng hít thở của hắn đến tận khi chính cậu cũng từ từ rơi vào sự mềm mại trong bóng tối.
- ---
Nhà trọ của Alex ở xa tòa soạn hơn một chút, trừ khi tăng ca đến nửa đêm, không thì Harry sẽ luôn đến đây sau khi tan làm, cậu luôn mang theo thức ăn, mang theo một bó hoa lan được gói trong giấy báo, mang theo tạp chí và những tập thơ mới, vì để tiện cho việc nấu ăn, không lâu sau đó cậu còn mang đến đĩa, bình và tách trà.

Alex ngầm cho phép tất cả những thứ ấy, hắn chưa từng mời Harry ở lại nhưng cũng không còn có ý đuổi cậu đi, vì vậy Harry cũng mang gối và chăn đến đây, ngủ trên tấm thảm lúa mạch thật dày trong phòng khách.
Thời tiết dần trở nên ấm áp, những ngọn gió đẫm mùi hoa chanh châm lửa cho tất cả hàng cây bên đường, thúc đẩy chúng bùng lên ngọn lửa hừng hực màu xanh nhạt.

Ngày dài chầm chậm không trôi, có lúc bọn họ sẽ nhàn rỗi đi dạo quanh bờ sông, dừng chân xem một nghệ sĩ kịch câm gõ vào tấm thủy tinh không tồn tại nhưng có thể chọc cho đám trẻ con cười ha ha.

Alex luôn bỏ vào chiếc hộp rách nát của người nghệ sĩ mấy đồng franc rồi mới đi tiếp, cho tới nay, Harry vẫn luôn đóng vai một cái bóng trung thành của hắn, vẫn luôn đi theo phía sau với một khoảng cách không gần cũng không xa.
Ngày cuối cùng của tháng năm, trời trút cơn mưa lớn như thác đổ, lúc ấy Alex đang ở trong tiệm sách "Gạch dưới", Harry không thể không đợi dưới mái hiên không ngừng nhỏ nước suốt hai giờ, tối hôm đó, Alex đã đưa chìa khóa dự phòng cho cậu, hai người không nói gì hơn.
Harry dọn dẹp lại bàn đọc sách rộng lớn bằng gỗ sồi từng chút một, cậu nhặt từng tờ giấy nằm rải rác, đẩy những quyển sách vào lại sát tường.

Máy đánh chữ của Alex đã không thể dùng được nữa, không biết là bị hư hỏng ở đâu, Harry mang chiếc máy này đi sửa, sau đó mang chiếc máy đánh chữ cầm tay Remington còn dư lại của mình tới.

Alex bảo rằng cậu không cần phải làm như vậy, hắn đã không viết cái gì từ lâu rồi.

Harry trả lời rằng cậu mang đến để tiện dùng cho những ngày cần gấp nhưng trên thực tế, chuyện này chưa từng xảy ra.

Vào một chiều tối thứ bảy không lâu sau đó, lúc Harry đang ôm một túi bánh mì trở về, Alex đang đánh máy thì bị tiếng mở cửa làm cho hết hồn, hắn lập tức lấy tờ giấy ra khỏi trục, tuyên bố rằng mình chỉ đang kiểm tra chiếc máy đánh chữ mà thôi.

Harry cười một tiếng chứ không nói gì rồi đi thẳng vào phòng bếp, cậu đặt túi bánh mì lên quầy bếp, bắt tay làm bữa tối.

Mấy phút sau, trong phòng khách lại vang lên tiếng "cộc cộc" của chiếc máy đánh chữ.
Bọn họ cùng nhau dùng bữa tối trước cửa sổ sát đất rộng mở, đĩa và ấm trà được đặt thẳng lên thảm, những cơn gió ấm áp dịu nhẹ khiến người ta có cảm giác như đang đi dã ngoại.

Từng tán cây rậm rạp cắn xé những vệt nắng chiều, để lại những lốm đốm đỏ như máu trên sân thượng chật hẹp.

Alex vô thức nhìn lên bầu trời màu hồng nhạt cho đến khi Harry cúi người về trước để hôn gò má hắn, sau đó là môi.

Gió nổi lên thổi bay tấm màn, che mất họ trong lớp bóng mờ trong suốt..
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 26: Chương 26


Bọn họ dành toàn bộ mùa hè ở Paris.

Tiệm hoa đối diện đã đóng cửa, bên ngoài dán một tờ giấy ghi "Nghỉ phép, tháng tám mở bán lại".

Ngoài đường phố yên tĩnh, những cửa hàng khác cũng lần lượt đóng cửa, trạm xe lửa trông hệt như một miếng bọt biển to lớn khi cứ hút vào những người Paris đang muốn vội vàng lẩn trốn và thả ra từng nhóm du khách khác nhau.

Harry không thể không đi dạo quanh đường nhiều hơn mười phút mới có thể tìm được một tiệm bán thịt còn mở.

Tiệm sách cũng đã đóng cửa, ông lão đã mang theo nửa sợi xích bạc của ông đến Le Mans, nghe nói ở đó có một người thân thích của ông còn sống.
Harry vẫn còn giữ căn phòng nhỏ sau nhà hát múa rối ở đại lộ Grand nhưng bây giờ, máy đánh chữ, một phần ba sách và phần lớn quần áo của cậu đều đang ở tại căn nhà trọ trên đường St.

Dominic, áo choàng dài dễ bị nhăn thì được treo trong tủ quần áo trong phòng ngủ còn những bộ quần áo còn lại thì được xếp trong rương hành lý đặt trong phòng khách.

Bọn họ không hề ngủ chung một chỗ, dù sao Harry cũng chỉ đến đây trên danh nghĩa là "Chỉ tới đây giúp một lúc thôi rồi đi ngay mà".
Chữ "ngay" ấy đã kéo dài từ tháng sáu đến tháng bảy, đương nhiên cũng sẽ kéo luôn đến tháng tám.

Vào khoảng thời gian nóng nhất của mùa hè, Harry đúng lúc có được một kỳ nghỉ hai tuần nên đã dùng thời gian đó để di dời và thay thế đồ dùng trong nhà.

Hai người mua một cái ghế salon mới 90% tại một phiên chợ đồ cũ, cuối cùng trong phòng khách cũng đã có một chỗ để có thể nghỉ chân, chiếc giường tạm thời của Harry cũng được dời từ thảm lên ghế salon.

Vì để tiện cho việc đọc sách, họ còn mua thêm một chiếc bàn uống trà nho nhỏ rồi đặt một chiếc đèn bàn mới tinh lên đó.

Harry cũng sắm thêm rất nhiều đồ cho phòng bếp, một bộ nồi bằng gang mới, một bộ chén đĩa nĩa muỗng với những họa tiết xinh đẹp màu vàng trên tay cầm, cà phê và lá trà, ngoài ra còn có một bình đựng cây xô thơm trông tràn trề sức sống.

Những hộp súp đóng hộp đã được thay thế bằng gia vị nướng thịt, bột lúa mạch, mayonaise, soda, men và bột nở, rốt cuộc chiếc lò nướng đã bỏ hoang lâu năm cũng đã có ích.

Harry đã hỏi cô Mignet công thức làm bánh socola nên muốn thử làm một cái.

Thời gian nướng viết trong công thức là ba giờ nhưng năm giờ sau, hai người lại đứng trong một căn phòng bừa bãi, trên tay, mặt và tóc toàn là bột mì, họ nhìn chằm chằm vào hiện vật mềm mềm màu nâu đậm nằm trong khay, tuyên bố thất bại.
"Xin đừng đụng vào lò nướng của tớ nữa." Alex nói.
Harry lau siro bị dính trên mu bàn tay lên quần: "Tớ thề là tớ không đụng đến nữa."
Vào đa số buổi chiều, bọn họ sẽ ngồi trên ghế salon đọc sách, nói đúng hơn là Alex nằm dựa lên bụng Harry để lật xem bản dịch tiếng Anh của một tập thơ Ả Rập, Harry thì hay cầm tạm một quyển tiểu thuyết không bao giờ đọc xong cho có, cậu không ngừng ngủ gà ngủ gật, cũng không ngừng bị Alex đánh thức để nghe hắn đọc một đoạn trong tập thơ.

Cửa sổ mở nhưng lại không hề có gió, mặc dù hàng xóm ở con phố đối diện đã đi nghỉ phép nhưng vì lý do an toàn, màn cửa vẫn được kéo lại, nằm bất động trên sàn nhà.

Một chú ong mật bay vào nhà thông qua khe màn, tiếng vo ve của chú nhỏ xíu, chú bay thẳng đến lọ hoa bằng thủy tinh đang cắm hoa hồng, hài lòng chui vào nhụy ho4.
"George đã từng đọc cho tớ nghe đoạn này, khi đó anh ấy còn là sinh viên năm hai ở Harrow, đây là bài tập môn văn của anh ấy.

Những người khác đều chọn tiếng Pháp, chỉ có mình anh ấy là muốn khiêu chiến với tiếng Ả Rập, cuối cùng thất bại.

Học kỳ kế tiếp, anh ấy phải chọn lại tiếng Pháp."
Đây là lần đầu tiên hắn nhắc tới George, không hề báo trước.

Harry đóng quyển sách lại rồi đặt sang một bên, bàn tay cậu nhẹ nhàng đặt lên bàn tay Alex, không nói gì.

Chú ong mật bò ra khỏi nhụy ho4 nhưng lại bị lạc mất phương hướng, chú chóng mặt bay vòng vòng quanh phòng, sau đó đụng phải một tấm kính rồi lùi về sau, chú lại xông lên trần nhà, phát hiện ở đây không có đường để đi, chú lại đặt chân lên rèm cửa sổ, leo lên dọc theo nếp nhăn.

Hai người nhìn chằm chằm vào chú ong nhỏ ấy cho đến khi nó tìm được khe hở từ tấm màn rồi bay vào trong ánh mặt trời như một kỳ tích.
"Tớ thường xuyên tưởng tượng rằng trong đầu George có một địa ngục dành riêng cho anh ấy khiến anh ấy nghĩ rằng viên đạn ấy chính là sự giải thoát." Alex đóng tập thơ lại rồi nắm chặt như đang coi nó thành một tấm ván sau vụ đắm tàu: "Cha nghĩ rằng anh ấy thật yếu ớt nhưng tớ lại cảm thấy sự thật hoàn toàn trái ngược như vậy.

Không ai biết George đã ở trong địa ngục của anh ấy bao lâu, không một ai trong chúng ta có thể giúp anh ấy."
"George là người dũng cảm nhất trong số những người tớ biết."
"Tớ rất nhớ anh ấy."
"Tớ biết." Harry cân nhắc một chút: "Tớ hy vọng lúc ấy tớ đã có thể trở về."
Alex cười một tiếng, giơ tay v**t v* gò má Harry, Harry nghiêng đầu hôn cổ tay hắn, hỏi hắn những vết sẹo kia là vì chuyện gì.
"Trong giấc mơ của tớ." Alex dời ánh mắt đi: "Vào một chạng vạng tối mùa đông, tớ về đến nhà từ vườn hoa nhưng trong nhà lại hoàn toàn đen nhánh, trống rỗng, tớ đi tìm từng căn phòng một, bên trong có một quyển sách đã đọc được một nửa, một bữa tối đang ăn dở, trà vẫn còn bốc hơi nóng nhưng lại không có ai cả.

Tớ chạy lên lầu hai, đẩy cửa thư phòng ra, bên trong là một con quái vật hình chim, trông nó như một con quạ đen, tiếng kêu của nó cũng y hệt vậy, móng vuốt của nó dính tro than.

Lúc nó bắt lấy tớ, những thứ u tối kia cũng đã cọ vào tay tớ.

Nó nói nó có thể nói cho tớ những người khác đang ở đâu nhưng nó muốn máu của tớ, thế là tớ đồng ý.

Trên bàn sách của cha có một con dao mở thư, lưỡi dao mỏng nhưng được mài sắc bén, tớ cầm con dao mở thư lên, cho nó máu.

Khi máu nhỏ lên lông chim sẽ tỏa ra khói như khi tưới nước lên than nóng vậy, thế nhưng con quái vật hình chim ấy vẫn thấy chưa đủ, nó mổ vào mắt của tớ, tớ thề là tớ có thể cảm nhận được một cái mỏ chim đang bổ vào đầu tớ."
Alex nhún vai, tựa như đây là một câu chuyện không hề liên quan đến hắn.
"Sau đó tớ tỉnh lại, có vẻ nó không giống một giấc mơ lắm, máu chảy thẳng lên sách và thảm, tớ đã cố gắng bịa ra rất nhiều lý do để thuyết phục Martha nhưng bà ấy vẫn gọi bác sĩ đến.

Hiển nhiên, tớ còn làm vỡ một cái ly thủy tinh rồi cắt ngón tay tớ, cậu xem, tớ có nói dối vụ mảnh vỡ thủy tinh đâu.

Tối đó có lẽ tớ đã uống nhiều rượu hơn một chút, suỵt, Harry, im lặng, đừng càu nhàu, thật sự là không có chuyện gì nghiêm trọng đâu, sau đó tớ không còn nằm mơ thấy giấc mơ nào như vậy nữa."
Harry không nói gì, Alex bò dậy khỏi ghế salon, tiện tay vứt quyển tập thơ sang một bên, bảo rằng hắn muốn ăn số điểm tâm còn dư lại cùng với thịt xông khói nên đã đi vào phòng bếp.
- ---
Thời tiết vào giữa tháng chín bắt đầu thay đổi khiến người ta không vui, trời lành lạnh, mưa nhỏ rơi tí tách.

Tiệm sách "Gạch dưới" đã mở cửa trở lại vào tuần trước nhưng Alex không đến đó vào những buổi tụ họp tối thứ năm nữa, hắn nói rằng không còn hứng thú nên tình nguyện ở trong nhà.

Harry đã bớt chút thời gian để đi lấy lại chiếc máy đánh chữ đã được sửa xong của hắn, Alex bảo cậu để nó vào trong phòng ngủ, Harry đoán rằng có lẽ hắn đang viết gì đó nhưng cũng không chắc, Alex không nói gì cho cậu cả.
"Hôm nay tớ đã gặp lại Barry." Vào một chiều tối thứ ba trời đổ mưa khác, Alex bỗng nói như vậy, hắn dựa vào tủ đựng, nhìn Harry cắt khoai tây thành từng cục rồi bỏ vào trong nồi hầm.
"Cậu ta thế nào?" Harry ngắt lá xô thơm, xé nát rồi cũng bỏ vào trong nồi.
"Giữ lại râu dê, đầu đội một cái mũ panama như một nhân vật châm biếm trong truyện.

Cậu ta nói rằng cậu ta đến họp - bây giờ cậu ta đang làm việc ở Bộ ngoại giao đấy, cậu biết không - bất kể như thế nào, cậu ta sẽ ở lại Paris một tuần nên muốn mời chúng ta ăn cơm, tớ đã đồng ý."
"Chờ một chút, chúng ta ư?"
"Trừ khi trưa thứ bảy cậu không rảnh."
"Tớ có rảnh, nhưng mà cậu định giải thích thế nào về..." Trong lúc nhất thời, Harry không tìm được từ ngữ thích hợp, cậu chỉ vào đống bản thảo và chăn gối đặt trên ghế salon trong phòng khách: "Những thứ này?"
"Không giải thích.

Chúng ta có ở chung với nhau đâu, cậu còn nhớ không? Barry cũng chẳng muốn tới chỗ này."
Nước trong nồi thịt hầm bắt đầu sôi ùng ục, Harry kéo ngăn kéo ra rồi lấy một chiếc muôi gỗ để bắt đầu khuấy, tránh việc bị cháy: "Tớ nhớ rồi."
"Còn một chuyện nữa."
Harry lơ đãng trả lời, cậu dùng muôi lấy một ít nước để nếm thử.
"Tối nay cậu nên vào phòng ngủ ngủ, trời lạnh quá."
Harry nhìn nồi hầm rồi cười rộ, cậu không xoay người để tránh bị đối phương phát hiện: "Cảm ơn.

Cậu có thể lấy một nắm muối cho tớ không?"
Giống như trước đây, bọn họ không thảo luận quá nhiều về chuyện này.
Theo lý thuyết, cuộc hẹn vào trưa thứ bảy sẽ diễn ra vào mười hai giờ nhưng vì đã nhập gia tùy tục theo lễ nghi ở Pháp, không có ai đến đúng giờ cả.

Barry đến sớm hơn một chút vào mười hai giờ rưỡi, cậu ta chọn một bàn cạnh cửa sổ rồi ngồi xuống.

Alex bước vào nhà hàng vào năm phút sau, còn Harry thì mười hai giờ bốn mươi lăm phút mới đến, cậu bảo rằng ở tòa soạn có chút chuyện nên không đến được, thực chất là để tránh việc đến cùng lúc với Alex.

Bọn họ bắt tay với nhau, mỗi người đều biết rõ một ít phép xã giao thông dụng trong các dịp này.

Bồi bàn mang thực đơn nước uống lên, sau khi đã mang lên những món nước mà bọn họ gọi, anh ta mới mang thực đơn chính lên.
Nhà hàng này có tên là "Chim bồ câu", nơi này ở gần cầu cảng Orsay và cũng cách không xa khách sạn mà Barry đang ở tạm.

Barry trong trí nhớ của Harry vẫn dừng lại ở thời sinh viên, đó là một chàng trai với gương mặt đầy tàn nhang học khoa lịch sử.

Giờ đây, trông Barry còn lớn hơn tuổi thật của cậu đến mười lăm tuổi, trên người cậu ta tản ra thứ phóng xạ độc hại chỉ có trên người của đám quan chức nhỏ nhen, chỉ biết nghĩ cho bản thân mình.

Bọn họ trò chuyện một chút về người Mỹ và phía đông nước Đức, sau đó Barry và Alex bắt đầu thảo luận về một người bạn ở Harrow mà cả hai cùng biết.

Harry không chen lời vào mà chỉ cẩn thận quan sát món sò biển sốt bơ vừa dọn lên bàn.
Sau khi món tráng miệng được dọn lên bàn, Barry châm một điếu thuốc, chuyển sự chú ý sang Harry, cậu ta thờ ơ hỏi cậu gần đây các phóng viên đang chú ý tới chuyện gì hoặc có còn dây dưa với thư ký của đại sứ quán hay không.

Harry thuận miệng trả lời mấy câu, không quá để ý.

Đồng hồ treo tường điểm hai giờ, Barry dập điếu thuốc, đội chiếc mũ rơm lên đầu, cậu ta nói rằng hóa đơn sẽ được trả bởi Whitehall nên không cần lo lắng, rất hân hạnh vì được gặp những người bạn cũ, mọi việc xong xuôi, cậu ta rời khỏi nhà hàng.
Bản thân bữa trưa này cũng chẳng có gì đáng nhớ, ngày hôm sau, Harry đã ném nó ra sau gáy.

Thế nhưng vào chiều thứ tư, Barry lại đúng lúc xuất hiện ở đại lộ Haussmann, còn đúng vào lúc Harry vừa tan làm, ở cầu thang xuống ga Richelieu - Drouot, cậu ta thân thiện bắt lấy cùi chỏ của Harry.
"Tôi còn tưởng rằng cậu không cần dùng tàu điện ngầm khi về nhà." Barry nói, đoàn tàu chạy ầm ầm, Harry không nghe rõ giọng nói của cậu ta.
"Sao cậu biết tôi đang ở đâu?"
"Tạm thời thì tôi có nhiều tai mắt lắm." Barry trả lời, trên mặt vẫn treo nụ cười mỉm ôn hòa như đang bàn về một bữa tối: "Tôi muốn cậu giúp tôi chuyện này, Harry."
"Không."
"Đơn giản lắm, chỉ cần đưa một lá thư đến đại sứ quán Mỹ mà thôi."
"Thế thì cậu đi tìm hòm thư đi."
"Không, không phải thư đó." Barry vỗ vai Harry: "Tôi không thể tự đi được, bởi vì tới bây giờ tôi vẫn chưa xuất hiện ở đó, nếu đi thì sẽ gây nghi ngờ.

Thế nhưng ong mật thường xuyên ra vào nơi đó như cậu thì khác, không một ai sẽ chú ý tới cậu."
Harry bỏ tay cậu ta ra: "Thư gì?"
"Không nói được, cậu cứ coi như là đang giúp MI6 làm một chuyện đi, vì lòng trung thành tận tụy với nước Anh, cậu biết những thứ nhảm nhí đó mà."
"Tôi từ chối."
Một chuyến xe lửa khác lại rẽ vào đường ray làm phát ra những tiếng ầm ầm, một tên ăn mày ngồi xổm bên đường thổi kèn harmonica, chiếc mũ mềm xèo đặt bên chân ông ta, bên trong có ba bốn đồng tiền xu.

Barry thở dài, nhíu mày lại như đang thật lòng lo lắng cho Harry, cậu ta lấy từ trong túi ra hai tấm hình, tuy không rõ ràng lắm nhưng có thể thấy rõ tấm thứ nhất là lúc cậu và Alex đang sóng vai nhau đi dọc bờ sông, tấm thứ hai là lúc hai người đang hôn nhau.
"Tôi không muốn đi đến nước này chút nào, Harry thân mến ạ." Giọng nói của Barry lại truyền đến, cậu ta lấy lại hình từ tay Harry rồi bỏ vào trong túi áo: "Đây là hình đã được phục chế, đương nhiên, phim vẫn còn ở chỗ chúng tôi, khi tôi nói chúng tôi, ý của tôi chính là MI6.

Chúng tôi đã quan sát cậu một khoảng thời gian, nói thật, Harry à, nghĩ lại xem, chúng tôi chỉ cần cậu mang một bức thư đến một địa điểm nhất định vào một khoảng thời gian nhất định, cậu vừa không bị mất mát gì lại cũng chẳng cần mạo hiểm gì.

Nếu cậu không vui, tôi chỉ có thể gửi những bức hình này cho chủ bút Schmidt, tôi rất tò mò ông ta sẽ giải quyết cậu thế nào đấy.

Cho nên tôi hỏi lại lần nữa, cậu có đồng ý giúp tôi một tay hay không?".
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 27: Chương 27


"Trong phim không hề nhắc đến chuyện này." Người phóng viên nói.
"Đương nhiên là không, chuyện này vẫn chưa đủ k*ch th*ch, chưa đạt tiêu chuẩn của một bộ phim về gián điệp.

Vì để lấy lòng khán giả, bộ phim tài liệu ấy đã cắt bớt rất nhiều sự thật không quá đặc sắc rồi bịa ra nhiều giai thoại nhảm nhí cho Barry, biến cậu ta thành một gián điệp hai mang nhằm thu hút lòng hiếu kỳ của đại chúng.

Sau cái hôm cậu ta chặn tôi lại ở trạm xe lửa, Barry chưa từng xuất hiện thêm lần nào, người trao đổi với tôi chính là một chàng trai thanh niên Algeria trẻ tuổi.

Cậu ta đã đưa cho tôi một bộ mật mã phức tạp để dùng trong điện thoại, vậy thì dù cho có người nghe lén chúng tôi nói chuyện, họ cũng sẽ không hiểu chúng tôi đang nói gì.

Nhà trọ ở đường St.

Dominic không có điện thoại nên đa số cuộc gọi đều được gọi đi từ phòng làm việc của tôi.

Nếu cậu ta rao bán xà phòng dầu dừa, nó có nghĩa là chúng tôi sẽ gặp nhau trước tiệm bánh mì cách đây hai con phố vào một giờ sau.

Nếu cậu ta nói Chào anh, xin hỏi đây có phải là cửa hàng sửa đồng hồ Perrier & Sons không? thì có nghĩa là cậu chàng Algeria ấy đang ở dưới lầu, tôi phải lập tức kiếm cớ để gặp mặt với cậu ấy ngay."
"Phần lớn những bức thư đều là những túi tài liệu không có dấu hiệu được dán kín, tôi sẽ giấu chúng vào trong túi xách tay, nhét giữa những phong bì và những tập giấy kraft giống hệt nhau, thừa dịp có buổi họp báo tin tức hoặc cơ hội phỏng vấn gì đó, tôi sẽ mang chúng vào đại sứ quán.

Đây cũng xem như là một nhiệm vụ đơn giản, thế nhưng đôi khi chàng trai người Algeria sẽ nói ra vài yêu cầu quái lạ, chẳng hạn như tôi phải mang theo một tấm bưu thiếp rồi đứng đợi ở trạm xe lửa vào lúc chín giờ hai mươi bảy phút tối, tấm bưu thiếp ấy chỉ là một tấm bưu thiếp phong cảnh bình thường, phía sau được viết đầy nét chữ bằng tiếng Tây Ban Nha, tôi chỉ đọc được mấy chữ như Bà nội thân yêu, Du lịch và Rất vui, trông giống như một món đồ kỷ niệm được gửi cho ông bà từ một đứa trẻ con.

Tôi không thể không bịa ra một loạt những cái cớ nói dối hòng qua mặt Alex để vội vã ra ngoài, chạy đến trạm xe lửa đã được chỉ định.

Chúng tôi ngồi trên một chiếc ghế dài bẩn thỉu rồi ngắm trăng đến tận khi một người đàn ông cầm cây dù dài đi tới và ngồi xuống, ông ta lấy mất bưu thiếp, để lại trên ghế một lá thư, tôi mang lá thư ấy đến địa điểm đã được chỉ định rồi gửi tín hiệu, ý bảo chàng trai Algeria hãy tới nhận hàng."
"Lần nguy hiểm nhất là lần ở Lãnh sự quán Ba Lan, cảnh vệ đã phát hiện ra túi tài liệu mà tôi vừa bỏ xuống nên muốn mở ra, tôi chạy đến rồi giật lại túi tài liệu từ tay anh ta, tỏ ý rằng tôi vô tình đánh rơi, sau đó vội vàng rời đi.

Túi tài liệu ấy nằm trong túi xách của tôi suốt hai tuần lễ, cuối cùng tôi nhận được một mệnh lệnh mới, họ bảo tôi hãy mang nó đến một nhà thờ nhỏ ở vùng ngoại ô, nhét vào bên dưới chiếc ghế ngoài cùng ở hàng thứ hai đếm ngược lên."
"Hẳn là cậu đã để ý đến chuyện này, cậu Rivers, một vài tác giả tài liệu nghiên cứu về Barry và một số nhà nghiên cứu về lịch sử trong cuộc Chiến tranh lạnh đã chỉ trích tôi ít nhiều về việc: Tại sao lại không nghi ngờ về nội dung trong những túi tài liệu kia? Chẳng lẽ ngài Prudence là đồng mưu bí mật của ngài Morton sao? Chuyện này rất không công bằng, vào lúc ấy, ngay cả MI5 và MI6 cũng không kịp thời tra ra Brandon Morton là tay trong trung thành của Moscow, sao bọn họ có thể chĩa mũi dùi vào một người ngoài cuộc chưa bao giờ được huấn luyện về việc tình báo chứ? Huống chi tôi còn bị uy h**p, lúc ấy, một lòng tôi chỉ hy vọng tấn hài kịch hoang đường xảy đến bất ngờ này sẽ không ảnh hưởng tới Alex."
"Vào một ngày nào đó trong tháng mười một, tôi không nhớ cụ thể là ngày bao nhiêu, nếu cậu cần biết thì chắc là có thể tra lại trong những ghi chép, CIA và MI6 đã công khai toàn bộ tài liệu vào mấy năm trước.

Có lẽ là vào cuối tháng mười một đấy, tôi nghĩ vậy.

Tôi đi làm như mọi ngày, thậm chí còn đến tòa soạn sớm hơn mười phút so với bình thường.

Schmidt gọi tôi vào phòng họp, đó là nơi mà các biên tập viên vẫn thường họp chung với nhau vào mỗi buổi sáng, tôi vào phòng làm việc để lấy sổ tay và bút viết rồi đi theo ông."
"Trong phòng họp ngồi đầy người nhưng họ đều không phải là biên tập viên.

Tôi đứng ngây người ngoài cửa, Schmidt bảo tôi đóng cửa lại, đi vào ngồi xuống.

Chỗ trống duy nhất còn sót lại chính là chiếc ghế nằm ở cuối chiếc bàn hình bầu dục, tất cả mọi người đều nhìn chằm chằm vào tôi, tôi ngồi vào đó, cảm giác mình giống như một tên nghi phạm đang chờ bị tra hỏi."
"Tổng cộng có năm người xa lạ, bên trái hai người, bên phải ba người.

Người xa lạ cách tôi gần nhất bắt tay với tôi, ông ấy nói tên mình là Mitchell Prescott, trông ông ấy như một người hiệu trưởng ở trường tiểu học hoặc như một cha xứ đã dành cả đời mình ở nhà thờ, nếu cậu hiểu ý của tôi là gì, ông ấy là một người khiến người ta cảm thấy rất thân thiết.

Ông ấy có khẩu âm giọng Mỹ, giải thích cho việc đó chính là vì ông đã từng làm tại đại sứ quán Mỹ, phụ trách công việc có liên quan đến bảo vệ an ninh, ông ấy muốn hỏi tôi một số câu hỏi, tôi có thể từ chối trả lời, cũng có thể tự nguyện đáp lại.

Đương nhiên, nếu tôi từ chối, bọn họ sẽ không tránh khỏi việc phải mời đến cảnh sát của Pháp để thuyết phục tôi hợp tác.

Những người còn lại ngồi quanh bàn không tự giới thiệu bản thân nhưng trông vẻ mặt họ đều nghiêm túc, ai cũng nhìn chằm chằm vào cuốn sổ nhỏ của mình.

Người đàn ông đội mũ phớt bên phía tay phải trông rất quen nhưng nhất thời, tôi không thể nhớ ra mình đã từng gặp ông ta ở đâu."
"Được rồi.

Tôi nói với Prescott: Hỏi đi."
"Prescott chỉ vào túi xách của tôi, ông hỏi đó có phải là của tôi không, tôi nói đúng.

Ông ấy hỏi tiếp rằng có phải mỗi lần tôi đến đại sứ quán đều sẽ mang theo chiếc túi xách này hay không, tôi lại trả lời đúng vậy, hỏi ông ấy tại sao lại hỏi những chuyện này.

Ông ấy không để ý, tiếp tục hỏi tôi xem trong sáu tháng qua có liên lạc với bất cứ kẻ nào ở đại sứ quán Liên Xô hay không, không nhất định phải là nhân viên ngoại giao, tài xế, người đánh chữ hay lính gác cổng cũng được."
"Không, không có. Tôi nói."
"Cậu Prudence, cuộc sống của cậu rất bình thường đúng không? Chuyện này nghe có vẻ kỳ lạ, tôi biết, tôi muốn hỏi cậu có từng vướng phải món nợ nào hay không, có thói quen đánh bạc hay không, hoặc có dính dáng dây dưa đến cô gái xinh đẹp nào không? Nói chung là có chuyện gì đó mà người khác có thể dùng để uy h**p cậu hay không?"
"Tôi có thể cảm nhận mồ hôi lạnh trên người tôi đang chảy ra nhưng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, tránh để những người Mỹ kia nhìn ra manh mối gì đó.

Tôi đang nghĩ về Alex và tấm hình trong tay Barry, sau đó lại nghĩ về tay cảnh vệ nhiều chuyện ở Lãnh sự quán Ba Lan, phải chăng anh ta chính là người đã báo cáo về túi tài liệu đó? Anh ta biết mình là phóng viên ở tòa soạn nào sao? Tại sao túi tài liệu của Barry lại có liên quan đến đại sứ quán Liên Xô? Tôi bỗng nhiên nhớ ra người đàn ông đội mũ phớt ngồi bên phía tay phải đó là ai, ông ta chính là điều tra viên của MI5 - Connelly, người đã gõ cửa số 55 đường Juniper vào một đêm khuya tám năm trước rồi đưa Alex đi.

Ông ta đã cạo sạch râu, mặc dù đã bị che bởi chiếc nón phớt nhưng tôi vẫn có thể nhìn thấy một ít tóc trên đầu ông ta, không nghi ngờ gì hơn đó là cùng một người."
"Không, tôi nghĩ là không." Tôi trả lời."
"Cậu đã đến Lãnh sự quán Ba Lan vào tuần trước. Prescott nói."
"Còn có năm sáu người phóng viên khác đi cùng. Tôi nói."
"Có người nhìn thấy cậu đi vào khu vực không phận sự."
"Đó là lần đầu tiên tôi đến Lãnh sự quán Ba Lan, trong lúc đi tìm nhà vệ sinh thì bị lạc đường, khi vừa phát hiện đó là khu vực không phận sự tôi đã rời đi ngay."
"Prescott không nói gì nữa, tiếp theo đến lượt Connelly đặt câu hỏi, ông ta cứ cắn mãi không buông như một con quạ đen theo đuổi miếng thịt thối cho mấy câu như: Còn liên lạc với Digby không? Không à? James thì sao? Cũng không à? Thế cậu Alexander Loiseau thì sao? Có à, tại sao? Brandon Barry Morton thì sao? Không ư? Cậu chắc chứ?"
"Bấy giờ chủ bút Schmidt đứng ra, ông ấy nói rằng điều tra viên đã chiếm dụng của tôi quá nhiều thời gian, hơn nữa lại chẳng hỏi được bất cứ bằng chứng nào nên không có lý do gì để tiếp tục hùng hổ vặn hỏi nhân viên ở tòa soạn báo.

Prescott nói xin lỗi với tôi, giải thích rằng tôi không phải là đối tượng tình nghi mà chỉ là tra hỏi bình thường theo thông lệ.

Hy vọng sẽ không gây ra phiền toái gì quá lớn."

"Sau đó bọn họ đi mất nhưng cũng không rời đi quá lâu.

Hai ngày sau, hai người đàn ông lịch sự đứng đắn một cao một thấp đã trở lại, họ tự xưng mình là người từ MI6 rồi cho tôi xem giấy chứng nhận, mời tôi tự nguyện đi theo bọn họ.

Tôi rời khỏi phòng làm việc dưới con mắt của mọi người, bị nhét vào một chiếc xe, giữa khoang ghế sau và khoang ghế trước có một tấm ngăn cách bằng thủy tinh đen, trông giống như đang bị giam vào một cái quan tài nửa đậy nắp.

Đường đi kéo dài khoảng nửa tiếng, sau đó họ áp giải tôi vào một căn nhà hai tầng với vẻ ngoài hết sức bình thường."
"Prescott đang chờ trong phòng khách, ông mời tôi ngồi xuống ghế salon, hỏi tôi có muốn uống nước có ga hay không.

Tôi từ chối, thái độ thân thiết của ông cũng chấm dứt từ ấy.

Ông ấy nói rằng một nhân viên ngoại giao cấp ba ở đại sứ quán đã trông thấy tôi lấy đi một lá thư từ quầy tiếp khách, CIA có đầy đủ lý do để nghi ngờ lá thư bên trong sẽ tiết lộ tài liệu cơ mật gì đó, vì vậy họ cũng có đầy đủ lý do để nghi ngờ tôi là gián điệp Liên Xô.

Tôi bị tố cáo ấy dọa sợ...!Bất kể là ai thì cũng sẽ bị loại tố cáo ấy dọa sợ.

Prescott tiếp tục liệt kê những lần tiếp xúc giữa tôi và cậu chàng người Algeria, mà chàng trai người Algeria ấy lại có quan hệ mật thiết với đám thương nhân Cairo đang sống tại Paris, trong khi đám thương nhân Cairo ấy lại là tay trong của Moscow, CIA biết rõ chuyện này, bởi vì bọn họ cũng đã trả tiền để thuê những tên thương nhân xảo trá ấy."
"Cậu chuẩn bị giải thích những chuyện này thế nào đây, cậu Prudence? Ông ấy hỏi tôi."
"Cuối cùng tôi khai ra tên Barry, thuật lại những lời mà cậu ta đã nói ở trạm xe lửa.

Đây là hành vi uy h**p. Tôi nói với Prescott: Trong tay Barry có một ít hình, nhưng tôi không nói rõ đó là hình gì.

Prescott hỏi phải chăng những tấm hình ấy có liên quan đến cậu Loiseau, tôi nói là đúng, ông ấy không hỏi tiếp nữa mà chỉ vừa lắng nghe vừa ngửa đầu nhìn trần nhà như tôi đang nói cho ông ấy nghe một câu chuyện mà ông ấy vô cùng chán ghét.

Chờ đến khi tôi nói xong, ông ấy nói cảm ơn rồi rời khỏi phòng khách, khóa cửa lại."
"Trên vách tường bên cạnh chiếc lò sưởi sát tường có treo một chiếc đồng hồ xinh đẹp được khắc hình hai thiên sứ đang thổi kèn lệnh.

Tôi đi quanh phòng khách một vòng như một chú chuột bị nhốt trong lồng, nhìn chằm chằm vào kim chỉ giờ.

Nửa giờ đã qua, tôi thử gõ cửa một cái, không ai trả lời.

Một giờ sau, tôi gõ cửa lần thứ hai, một cảnh vệ với gương mặt vô cảm mở cửa, anh ta nói rằng ngài Prescott đang họp nên sẽ trở lại đây sớm thôi."
"Ông ấy đã không trở về kể từ khi ấy."
"Sáu tiếng đã trôi qua, sau khi trời tối, hai người làm trong MI6 đã đưa tôi đến đây mở cửa, nói rằng tôi có thể đi.

Tôi lại bị đẩy vào trong một chiếc xe, bọn họ đưa tôi về đại lộ Haussmann.

Túi xách và áo khoác của tôi vẫn còn trong phòng làm việc, thế nhưng tòa soạn báo đã khóa cửa.

Số tiền lẻ còn sót lại trên người tôi miễn cưỡng đủ để mua vé xe buýt, tôi cố gắng về đến đường St.

Dominic trước mười một giờ, bởi vì không mang theo chìa khóa, tôi không thể không dùng sức gõ cửa.

Alex mở cửa rồi nhìn tôi, hỏi tôi có phải vừa bị cướp hay không."
"Nếu có thể, tôi rất muốn uống một ly rượu Brandy nhưng trong nhà đã sớm không còn bất cứ thứ gì liên quan đến bia rượu.

Tôi đóng cửa lại rồi ngồi lên ghế salon, chôn mặt vào lòng bàn tay.

Alex hỏi tôi có muốn uống trà hay không, tôi nói Không cần, lại đây, ngồi bên cạnh tớ."
"Sau đó tôi kể cho cậu ấy nghe mấy tháng náo nhiệt vừa qua."
"Lúc nói được một nửa, Alex bỗng nắm lấy tay tôi, chờ đến khi tôi nói xong tất cả mọi chuyện, cậu ấy đứng dậy, đi lại trong phòng khách, nói rằng cậu ấy nhất định phải gửi một bức điện báo quyết liệt cho Barry, tốt nhất là cậu ta phải ngồi phà về đây trong ngày mai.

Tôi cản cậu ấy lại, dù sao Barry vẫn còn giữ hình của chúng tôi."
"Cậu ta có thể dùng mấy tấm hình kia làm gì chứ? Gửi cho tòa soạn báo à? Chúng ta cũng đâu có danh tiếng cần bảo vệ đâu. Alex hỏi."
"Tôi nói với cậu ấy rằng có lẽ tòa soạn sẽ không để ý đến những chuyện vụn vặt ấy nhưng lỡ như Barry gửi hình cho cha cậu ấy thì sao?"
"Alex không trả lời, ngồi lại trên ghế salon, cùng nhìn chằm chằm vào bức tường đối diện với tôi.

Hồi lâu sau, cậu ấy hỏi tôi còn ổn không, những tên tình báo khốn kiếp kia đã coi tôi như một chú lừa vô tội bị bắt phải vận chuyển hàng hóa sau khi tôi đã khai ra toàn bộ mưu hèn kế bẩn của Barry chưa."
"Tôi thành thật trả lời rằng tôi không biết.".
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 28: Chương 28


"Cậu xem, mãi mà vẫn không dứt." Prudence cảm thán, trời cứ mưa rồi lại tạnh, dập tắt mất tia nắng chợt lóe lên cuối cùng.

Bãi đá, mặt biển và những chòm mây hòa chung vào nhau, để lộ ra tầng tầng lớp lớp sắc xanh cùng đen.

Cơn mưa không lớn như buổi sáng, nó chậm rãi, có thể xem như đang xấu hổ, rơi xuống, dính lên cửa kính như lớp đường tan chảy.
Người hộ sỹ gõ cửa bước vào, nhắc nhở người phóng viên chỉ còn lại nửa tiếng, tất cả những vị khách đến thăm đều phải rời đi trước bảy giờ tối.

Nếu anh có ý định bắt chuyến tàu lửa để về thì tốt nhất là nên đi ngay bây giờ, chuyến tàu cuối cùng về Paris trong hôm nay đã sắp sửa rời trạm.
"Gần đây cũng không có khách sạn." Người hộ sỹ bổ sung thêm một câu.
"Albert, để chàng trai trẻ tuổi này ở lại đây ăn tối đi." Prudence chen vào, giọng Pháp của ông vừa cẩn trọng vừa rõ ràng, mỗi một nguyên âm phát ra đều vô cùng tròn vành rõ chữ: "Xem như là để tôi vui đi, được không? Tôi chẳng còn vị khách đến thăm nào cả.

Hơn nữa cậu ấy vẫn chưa được thử món rượu lê ngon tuyệt của cậu mà."
"Thế nhưng chúng ta cũng có quy định của riêng mình, ngài Prudence ạ."
"Thế thì vị khách này có một công việc rất quan trọng phải hoàn thành trong hôm nay, hơn nữa cậu ấy lại không muốn rời đi, cậu cũng chẳng có cách gì." Prudence nháy mắt với người phóng viên: "Tối nay vẫn còn hai chuyến tàu đến Rennes nữa, lỡ như cậu Rivers đây rời đi vào lúc chín giờ tối thì cậu ấy vẫn có thể lên tàu kịp."
"Nếu ngài đã nói vậy, ngài Prudence.

Bữa tối sẽ bắt đầu lúc bảy giờ rưỡi."
"Cảm ơn cậu, Albert."
Người hộ sỹ rời đi, nhẹ nhàng đóng cửa lại.

"Tôi thích Albert." Prudence nói với người phóng viên: "Cậu ấy biết ủ rượu, có trái tim biết đồng cảm chứ không giống cậu Pierre thường trực vào thứ năm, làm việc đâu ra đấy.

Chúng ta nói đến đâu rồi nhỉ? Tôi có thể xem thử ghi chép của cậu không? Lễ Giáng sinh năm 1961, tôi cứ ngỡ rằng mọi chuyện đã qua.

Tôi và Alex tận hưởng một kỳ nghỉ giáng sinh và năm mới yên ổn ở Brugge.

Mùa đông ở Brugge vừa tiêu điều lại vừa gần gũi, chỗ đó y hệt nơi mà cậu sẽ mơ thấy mỗi khi ngủ gà ngủ gật bên cạnh lò sưởi.

Trừ chúng tôi, trong khách sạn chỉ có mỗi một đôi vợ chồng già người Ý, bọn họ không biết tiếng Anh lẫn tiếng Pháp còn chúng tôi thì lại không biết nổi một chữ tiếng Ý, thỉnh thoảng gặp nhau trong phòng ăn, chúng tôi chỉ có thể gật đầu mỉm cười với nhau.

Cửa sổ trong phòng chúng tôi hướng ra một bến tàu, một hàng du thuyền xếp ở đó, chờ đợi những du khách đến vào mùa hè.

So với mùa hè của chúng tôi, tôi muốn nhớ lại những ngày đông ở Brugge hơn, tuyết không bao giờ ngừng rơi nhưng lò lửa cũng chưa từng bị dập tắt.

Căn phòng được sơn màu nâu nhạt ấy đã trở thành sào huyệt bí mật của chúng tôi, ở nơi đó, sau khi kéo rèm cửa sổ lên, chúng tôi lại trở thành chúng tôi của tuổi hai mươi, trở thành những đứa trẻ, trở thành những lữ khách không tên."
"Tuần lễ thứ hai trong tháng một, chúng tôi lên đường trở về Paris."
Tên của Barry đã xuất hiện trên trang đầu mặt báo vào đầu tháng hai: "Mưu toan hay bị oan? Morton đang chờ được xét xử tại London".

Báo chí nói rằng mặc dù Bộ ngoại giao đã công khai kháng nghị việc này nhưng ngài Brandon Morton vẫn tự nguyện chấp nhận để MI5 tra hỏi vì không thể dập tắt đi những tin đồn về gián điệp Liên Xô.

Trước mắt, ngài Morton đang bị giam lỏng tại một địa điểm không tên để chờ đến kết quả cuối cùng.

Khi các phóng viên phỏng vấn MI6, họ nhận được câu trả lời như sau: Anh ấy đã bị oan, rất có thể là do Moscow tự tay dựng nên mọi chuyện, hiểu lầm sẽ nhanh chóng được sáng tỏ.
Sóng gió từ Barry chiếm trụ trên trang đầu suốt mấy ngày liền.

Harry mang mỗi một tờ báo ấy về cho Alex xem, hai người cùng để ý đến mỗi một từ đơn trên báo, suy đoán về tỷ lệ vượt qua cú đắm tàu này của Barry.

Giống như những tin tức khác, cuộc náo loạn này dần trở về với sự yên lặng, thế nhưng chưa tới năm ngày sau, tin đồn lại nổi lên, tiết lộ một số cuộc đối thoại trong phiên điều trần, trong hai tuần căng thẳng tiếp theo, có vẻ Barry đã sắp bị loại khỏi cuộc chơi, cậu ta phải xin tạm thời từ chức, MI5 lục soát nơi ở của cậu ta, toàn là những dấu hiệu vô cùng bất lợi với cậu ta.

"Chúng ta sẽ chứng kiến phiên tòa thế kỷ ấy." Phóng viên chính trị của tờ "Báo tường" bình luận một cách sắc bén: "Đây cũng là lần đầu tiên chúng ta thấy rõ Moscow đã nhúng sâu đến mức nào." Tuy nhiên đến tận cuối tháng ba, hình Barry lại xuất hiện trên trang đề thêm một lần nữa, phía trên là tựa đề "Morton đã được rửa sạch hiềm nghi" thật lớn.

Nhân vật trong hình nhìn thẳng vào ống kính, cậu ta giơ mũ như một tay quyền anh vừa thắng một bàn lớn.

Bộ ngoại giao và MI6 cùng giang tay đón cậu ta về.
Tay quyền anh lập tức trả thù.

Ngày 4 tháng 4 năm 1962, một bức thư xuất hiện trên bàn làm việc của chủ bút Schmidt, bên ngoài không có dấu bưu điện cũng không có chữ viết, hẳn là không phải do người đưa thư mang tới, không ai biết kẻ nào đã đặt bức thư ở đó, bảo vệ bên dưới cũng bảo là không thấy người xa lạ ra vào.

Trong bức thư là những tấm hình mà Harry không tài nào giải thích một cách hợp lý, cậu ngồi đờ người trên chiếc ghế đối diện Schmidt, tay nắm thành quả đấm như một phạm nhân đang chờ được thả.
"Tôi không bao giờ hỏi về đời sống riêng tư của người khác." Schmidt không thích nhắc đến chuyện này, cũng giống như mọi người vẫn không thể thò tay vào cống thoát nước để kéo xác của một con chuột chết đang chặn bên trong ra ngoài, nó khiến người ta khó chịu nhưng lại không thể không làm: "Có lẽ cậu nên đi đâu đó, Harry, đi tận hưởng khắp nơi mấy ngày, tìm gặp bác sĩ, có lẽ bọn họ có thể giúp cậu thoát khỏi chuyện này, thứ, cậu biết đấy, bệnh tật ấy."
"Tôi không cần gặp bác sĩ."
Chủ bút nhìn cậu với cái nhìn đồng cảm khiến Harry cảm thấy chán ghét: "Tôi rất thích cách làm việc của cậu, Harry, cậu là một người phóng viên cực kỳ giỏi, những thứ này..." Chủ bút nhìn bức thư: "Tôi không thể giả vờ như tôi chưa nhìn thấy nhưng tôi sẽ không báo cảnh sát...!Ở đây, ở nước Pháp này, việc này là phạm tội, cậu hãy nhớ rõ điều ấy."
"Đời sống riêng tư của tôi không hề liên quan đến công việc của tôi."

"Cậu bị bệnh, Harry, cậu cần giúp đỡ."
"Ông muốn đuổi việc tôi sao?"
"Tạm thời từ chức, cho đến khi cậu nhận được giấy chứng nhận từ bác sĩ tâm thần chứng minh cậu đã khỏi bệnh."
"Không cần." Harry đứng lên: "Tôi từ chức."
Trong phòng làm việc không có gì cần dọn dẹp, đèn bàn, máy đánh chữ và điện thoại đều không phải của cậu, chìa khóa và công văn thì cứ để lại chỗ cũ.

Harry chỉ mang đi mấy bức thư, bút viết và một hộp kẹp giấy, bên trong đựng giấy kraft và phong thư.

Giờ đây, gian phòng này vẫn xa lạ như lúc cậu mới tới, những chậu cây héo úa cùng tấm kính phủ đầy sương mù, những kệ tài liệu tỏa đầy mùi long não.

Harry xé những tờ giấy ghi chú được dán trên bàn rồi vò lại thành một cục, cậu ném nó vào sọt giấy vụn, mở cửa đi ra.
Lúc rời khỏi tòa soạn, không mấy ai liếc nhìn cậu.

Hôm nay cô Mignet không có ở đây, chắc là ra ngoài phỏng vấn rồi.

Cậu chậm rãi xuống lầu, nghĩ xem Schmidt sẽ thông báo chuyện này thế nào, có lẽ ông ấy sẽ nói cậu xin nghỉ vì bị bệnh hoặc cũng có thể sẽ không nói gì cả.

Người bảo vệ mở cửa giúp cậu, ông nhìn thấy trên tay cậu cầm phong thư nên muốn hỏi cậu có phải muốn đến bưu điện hay không.

Harry cười trừ một tiếng chứ không trả lời, cậu đi thẳng vào ánh nắng mệt mỏi đầu tháng tư.
Cậu gấp phong thư lại rồi nhét vào túi áo, sau khi đi lang thang ngoài đường hồi lâu, cậu đi đến bờ sông rồi lại đi vòng vòng một lúc, cuối cùng tìm đại một quán cà phê nào đó rồi ngồi xuống, lơ đãng nhìn người qua đường đi tới đi lui.

Đó là một ngày nhiều mây, mùa xuân vẫn luôn như vậy, không mưa nhưng lại có rất nhiều mây tụ lại với nhau làm hiện lên một mảng xám trắng tinh khôi.

Áo khoác của mọi người cũng có màu xám tro, Harry nhìn bọn họ từ từ đi lại trên con đường điểm đầy sắc trắng đen như một cảnh phim được cắt từ cuộn phim.

Cậu đã đến Paris hơn ba năm nhưng lại chưa từng nghiêm túc ngắm nhìn thành phố này vào một buổi sáng thường ngày như thế này, cậu chưa từng có thời gian để làm việc ấy.
Bồi bàn đến hỏi cậu có muốn gọi món gì không, giờ ăn trưa đã sắp đến, nếu cậu không định ở lại ăn thì phiền cậu nhường bàn lại.

Harry nhét tiền lẻ vào dĩa đựng tách rồi đứng dậy rời đi, sau khi đi qua cầu, cậu đi thẳng về quận bảy, bởi vì gió quá lớn, cậu phải cúi đầu khi đi.
Lúc Harry trở về đường St.

Dominic thì đã qua bốn giờ chiều, Alex đang viết thơ trên bàn uống trà nhỏ, vừa nhìn thấy cậu, hắn đặt bút viết xuống, trong lòng bỗng tràn lên dự cảm có gì đó không đúng.
"Schmidt." Harry nói ngắn gọn: "Ông ấy biết rồi."
"Thế còn công việc của cậu?"
Harry không trả lời, lắc đầu.

Alex nhẹ nhàng nói "Trời ạ, Harry" rồi đi tới từ phòng khách để ôm lấy Harry, hôn trán cậu.

Harry mò tới tay Alex, dùng sức nắm chặt.

Gió thổi bay rèm cửa, làm giấy bay xuống đất, thế nhưng trong hai bọn họ không ai để ý đến.
Sau khi hợp đồng kết thúc, tòa soạn báo cũng tự động lấy lại căn hộ nhỏ phía sau nhà hát múa rối, họ cho Harry một tháng để dọn đi, cũng giống như phòng làm việc, trong căn hộ không có thứ gì để mang đi, phần lớn vật tư của Harry đều đã được mang đến đường St.

Dominic.

Cậu dùng một buổi chiều để quét sạch căn hộ, sau khi bỏ mấy quyển sách vào trong rương hành lý, cậu khóa cửa rồi ném chìa khóa vào hòm thư của người gác cổng, bấy giờ mới rời đi.
"Sau đó." Prudence nói, lựa chọn từ ngữ như đang đi trên một con đường mờ tối bởi vì gió thổi mưa rơi, nếu không nhìn kỹ thì sẽ đi sai đường: "Sau đó, Hỏa hình được xuất bản.

Cậu Rivers, bây giờ cậu đã hiểu tại sao giữa Con diều của Agnes và Hỏa hình lại có khoảng cách dài như vậy chưa.

Mọi người - nhất là những tác giả tài liệu - thường dùng những tác phẩm của Alex để làm những nấc đo cho chiếc thước đo của họ, họ tự cho rằng họ đã đo xong cuộc sống của cậu ấy nhưng lại quên mất rằng giữa hai nấc đo ấy lại có một khoảng cách đầy ý nghĩa.

Mới đầu, bản tiếng Pháp của Hỏa hình chỉ được in có mấy chục bản - đương nhiên, bản dịch cũng là do cậu Mana hào phóng phiên dịch - sau đó, tuy có in thêm một trăm bản nữa nhưng chúng lại không được bán công khai trên thị trường mà chỉ được lặng lẽ trao tay giữa những người bạn thân thiết.

Bây giờ nhìn lại, Hỏa hình cũng không có nội dung gì quá mới mẻ, đây chỉ là câu chuyện về hai học sinh nam ở ký túc xá trường học, họ yêu nhau lại bị buộc phải chia tay, bọn họ thay nhau tự sát.

Tuy nhiên, thế giới lúc bấy giờ lại không thể so sánh với thế giới hiện nay của chúng ta được, chỉ riêng việc viết câu chuyện ấy thôi đã là một loại tội danh.

Tiệm sách Gạch dưới đã chặn chúng tôi bên ngoài, những buổi tụ họp mà Alex thường đến trước đây cũng đuổi cậu ấy như một bệnh nhân mắc bệnh phong.

Paris đã thể hiện rõ thái độ của nàng: Hai người không được chào đón ở đây, mau mau rời đi đi."
"Tôi đã thử tìm một công việc khác, có lần còn phải viết một tập quảng cáo cho một nhà hát.

Lúc ấy, số lượng tòa soạn tiếng Anh chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, mặc dù Schmidt không nói gì nhưng tất cả những tờ báo khác đều biết về việc đột ngột xin nghỉ khỏi Góc nhìn của tôi, hơn nữa còn vô cùng nghi ngờ tôi nên không một tờ báo nào chịu nhận tôi vào làm.

Riêng những tờ báo tiếng Pháp thì lại chẳng cần đến một phóng viên người Anh không biết cách hành văn lưu loát.

Mỗi ngày Alex đều nhận được mấy chục bức thư, một ít vẫn khen ngợi Hỏa hình, đại đa số thì đều nguyền rủa cậu ấy xuống địa ngục.

Mùa hè năm ấy, chúng tôi bỏ lại cái ổ nho nhỏ trên đường St.

Dominic để quay về London.

Phần lớn hành lý của Alex đều bị bản thảo chiếm hết, đó là bản ban đầu của Mùa hè bất tận, khi đó nó vẫn chưa hoàn thành.

Cậu ấy không cho tôi biết cậu ấy đang viết bản thảo như thế nào, ngay cả một đoạn thôi cũng không được, đương nhiên là cậu ấy cũng không còn hỏi ý kiến của tôi như trước nữa.

Tôi chỉ nghĩ là vết thương sẽ không thể lành lại nhanh như vậy."
"Chúng tôi không ở lại London quá lâu, trừ Leila, chúng tôi không gặp ai nữa.

Nam tước có vài bất động sản ở London, trước kia George từng sống trong một căn nhà đơn ở vùng ngoại ô, bây giờ căn nhà ấy đã được để lại cho người vợ góa của anh ấy, bọn họ không có con.

Ngoài ra còn có một căn hộ ở phía nam Kensington, Alex và tôi lặng lẽ mang hành lý vào đó, trốn chui trốn nhủi như hai con cú đang trốn trong một lỗ cây.

Tôi nhanh chóng tìm được một công việc làm thêm, viết bài cho một tạp chí làm vườn, tôi phải tâng bốc những chiếc cào cỏ mới nhất, giải thích cách trồng rau, mọi việc là như thế đấy, cậu hiểu mà.

Cậu làm ở mục văn học kể từ lúc mới vào sao, cậu Rivers?"
"Không, tôi phải làm ở mục nấu nướng sáu tháng, phải vắt óc suy nghĩ xem làm cách nào để tán dương một tiệm bánh ngọt bình thường không có gì lạ."
"Chúa phù hộ cậu."
"Không thể tránh khỏi việc bị hành hạ."
Prudence nhìn đồng hồ đeo tay, kém năm phút nữa là đến bảy giờ rưỡi.

Trời đã tối hẳn, khung cửa sổ biến thành một tấm gương màu đen trơn nhẵn, nó phản chiếu ông lão, người phóng viên và ánh lửa trong lò sưởi.

Tiếng cánh cửa bị gió thổi bỗng vang lên từ nơi nào đó, nghe có vẻ là nó truyền tới từ phòng ăn.
"Sau đó, một người bạn cũ đã tìm tới nhà chúng tôi, là Bưu báo, nơi làm việc đầu tiên của tôi, đúng lúc bọn họ đang cần một phóng viên chính trị hiểu rõ về những nước trong khối Warsaw, tôi lại vừa trở về từ phía bên kia eo biển, đương nhiên trở thành lựa chọn số một của bọn họ.

Bảy năm sau, tôi lại trở về văn phòng rộng lớn với đầy mùi thuốc lá ấy, tôi đồng ý sẽ bắt đầu làm việc vào tháng chín, vậy thì vào mùa hè, tôi có thể trở về Cornwall cùng với Alex - hẳn là Leila đã nói cho Nam tước biết chuyện chúng tôi trở về, bởi vì vài ngày sau khi gặp chuyện ấy, Alex đã nhận được một bức điện báo bảo cậu ấy phải về nhà chính một chuyến nhưng chưa nói tại sao.

Chúng tôi vốn chỉ định ở lại đó khoảng năm ngày nên thu dọn hành lý rất đơn giản.

Tôi đặt chuyến xe lửa vào buổi sáng, cùng Alex trở về nơi bắt đầu câu chuyện.".
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 29: Chương 29


Tiếng chuông báo đã đến giờ ăn tối reo vang.

Hai người ngồi trong phòng tiếp khách cùng đứng dậy, cầm lấy áo khoác rồi lại đi xuyên qua hành lang dài được sơn xám xanh để đến phòng ăn.

Những bàn ở xung quanh lò sưởi ấm áp đều đã có người, bà Sanders mặc một chiếc áo len chính là người đầu tiên phát hiện ra người phóng viên, bà lớn tiếng gọi "Boris, gấu con của bà" rồi khó khăn đứng dậy, các y tá vội vàng đỡ bà ngồi xuống xe lăn, thu hút bà bằng món cháo bí đỏ nhão nhẹt.

Ông lão và người phóng viên cùng ngồi xuống một chỗ bên cạnh cửa sổ.

Nhìn từ đây, bầu trời đêm mang lại cảm giác thật bí bách, chỉ có tấm kính yếu ớt là ngăn bọn họ tách khỏi bóng tối ướt nhẹp ngoài ấy.
Prudence chỉ cần một tách trà và một phần bánh cuộn.

Người phóng viên gọi một phần thịt hầm, hộ sỹ Albert mang thức ăn cho anh cùng với một ly rượu lê, Prudence nháy mắt với người phóng viên, ý bảo anh nên thử một chút.

Người phóng viên uống một ngụm, hương rượu ngọt hơn so với tưởng tượng của anh, mang theo những bọt khí nho nhỏ như đang được uống một giọt tinh chất mùa hè hòa tan cùng nước đá.
"Tuyệt lắm, không phải sao? Nhà của Albert có kinh doanh một nhà máy ủ rượu ở Finistère - tỉnh cực tây của Brittany - nhưng cậu ấy nhất quyết chạy khỏi bán đảo đầy mưa ấy để đến Paris học tập, thi lấy bằng hộ sỹ."
"Cuối cùng lại trở về bán đảo đầy mưa."
"Cuộc sống mà." Prudence xé một miếng bánh mì nhỏ để phết hết lượng sốt còn dính lại trên thành đĩa: "Từ sau năm 1963, tôi đã không còn trở về Cornwall, sau đó người ta lại biến nhà chính của nhà họ Loiseau thành một địa điểm du lịch khiến tôi cũng chẳng còn lý do gì để về đó nữa.

Trên chuyến tàu vào mùa hè cuối cùng của chúng tôi, Alex trông rất vui vẻ, tôi nghĩ bản thân tôi cũng vậy, chúng tôi đều đang trông chờ vào một kỳ nghỉ thong thả ở đó: Bãi cát, trời trong, dù che nắng, dâu tây và rượu vang."
Trên tầng mây đen nhánh bỗng lóe lên một tia chớp bất ngờ, tiếng sấm chui xuống qua lỗ hổng ấy, người phóng viên ngẩng đầu nhìn trần nhà trong suốt bằng thủy tinh theo bản năng, vết thương giữa trời mưa đã khép lại nhưng những tia điện màu xanh trông như mạch máu lại đang lan đến khắp nơi, mấy giây sau lại biến mất.

Trong đầu người phóng viên thoáng hiện lên ngọn hải đăng xa xa, anh tưởng tượng mưa gió đang ập vào căn phòng tối đen không hề được chiếu sáng ấy.

Đèn trong phòng ăn lóe lên một lát rồi lại khôi phục như bình thường, mọi người tiếp tục cúi đầu, đặt sự chú ý của họ lên những món ăn.

Prudence là người duy nhất không bị tiếng sấm dọa sợ, ông đang nhìn chăm chú vào nước trà đậm màu trong tách như đang kiếm tìm một lời dự báo nào đó, hoặc giả như là câu trả lời.
"Tài xế đã chờ Alex ở trạm xe lửa, lúc nhìn thấy tôi, ông ấy có vẻ kinh ngạc bởi vì ông ấy chỉ được lệnh đón một mình Alex.

Alex không cho ông ấy cơ hội nói nhiều, cậu Prudence đây đã là bạn tốt từ nhiều năm trước, Cậu ấy muốn tới thì tới, không cần phải thông báo trước.

Người tài xế trả lời rằng Vâng thưa cậu, ông ấy không có lựa chọn.

Chúng tôi lên xe, lái về phía nhà chính."
Xe đỗ trên con đường đá vụn, tài xế lấy hành lý ra giúp hai người.

Martha vẫn đứng đợi trước cửa như mọi ngày, trông bà có vẻ nhợt nhạt, miệng không nở nụ cười.

Bà nhẹ nhàng ôm lấy Alex nhưng không đến gần Harry mà chỉ cứng nhắc gật đầu một cái, nói rằng Nam tước đang chờ họ trong thư phòng.

Hai chàng trai lo lắng nhìn nhau, một trước một sau đi lên lầu.

Lò sưởi sát tường trong thư phòng cháy hừng hực, bây giờ là đầu tháng sáu, không khí bị thiêu đốt vừa khô vừa nóng tỏa đầy mùi gỗ thông và mùi giấy cũ lên mốc khiến người ta khó mà hô hấp.

Nam tước ngồi phía sau bàn đọc sách, ông đang vùi đầu viết gì đó nên có lẽ không để ý đến việc có khách đến thăm.

Alex gọi ông, Nam tước không nói một lời mà chỉ dùng chiếc bút viết để chỉ vào cái ghế đặt trước lò sưởi, hai người ngồi xuống, chờ đợi trong lo lắng bồn chồn.

Củi kêu tí tách trong lò sưởi, đầu ngọn bút lướt qua tờ giấy làm phát ra tiếng xào xạc nhỏ nhẹ, trừ những âm thanh ấy ra, trong căn phòng khổng lồ này không còn tiếng động nào khác.

Alex đụng tay Harry, người nọ liếc nhìn Nam tước, sau khi đảm bảo đối phương không để ý đến họ, cậu mới nhẹ nhàng cầm lấy ngón tay Alex rồi buông ra.
"Ở Paris vẫn tốt chứ, Alex?" Nam tước bỗng nhiên hỏi, đẩy bút và lá thư sang một bên.
"Đúng vậy, thưa cha."
"Còn viết những câu chuyện của con không?"

"Không, không còn nữa ạ."
"Cậu thì sao, cậu Prudence? Tôi nhớ là cậu đang viết bài cho một tạp chí."
Harry ngồi thẳng lên một chút: "Tòa soạn báo thưa ngài, nơi đó có tên là Góc nhìn, thế nhưng tôi đã không còn làm việc ở đó nữa."
"Tôi rất tiếc, tại sao vậy?"
"Chỉ vì muốn đổi một hoàn cảnh khác thôi thưa ngài, bây giờ tôi đang ở Bưu báo."
Nam tước hừ một tiếng như có điều suy nghĩ rồi không nói gì nữa, ông đứng dậy, đi về phía bên kia lò sưởi, trong tay cầm một lá thư.

Harry nhìn Alex, người kia nhìn lá thư, hắn nắm chặt tay vịn ghế như lúc mọi người nhìn chằm chằm vào một con rắn hổ mang đang chực chờ bò ra khỏi bụi cỏ.

Nam tước thả bức thư lên bàn cà phê trước mặt đứa con trai nhỏ, trông nó rất giống với bức thư đã được gửi cho chủ bút Schmidt, bên ngoài phong thư không hề có mộc bưu điện và địa chỉ, bên đầu bên phải thì đã bị mở ra gọn gàng bằng dao mở thư.
"Được đưa tới cùng với những bức thư khác vào ngày hôm trước." Giọng nói của Nam tước rất bình tĩnh, thậm chí có thể nói là lạnh lùng: "Mở ra xem thử đi, Alex."
Alex lắc đầu.
Nam tước cầm bức thư lên, đổ những tấm hình bên trong ra rồi bày trên bàn.

Alex quay đầu, nhắm mắt lại giống như chỉ cần hắn chờ đủ là có thể tỉnh dậy khỏi cơn ác mộng ấy.

Harry hít sâu một hơi: "Đây chỉ là trò đùa mà thôi, tôi có thể giải thích..."
"Câm miệng, cậu Prudence." Nam tước cắt ngang lời cậu bằng chất giọng lạnh như băng: "Đi ra ngoài, nhà này không chào đón cậu nữa.

Cậu nên vui mừng vì tôi đã không mời cảnh sát đến giải quyết chuyện này."
Harry ngơ ngác ngồi tại chỗ, đến khi Nam tước lặp lại lệnh đuổi khách thêm một lần nữa, cậu mới đờ đẫn đứng dậy.

Alex muốn đi theo cậu nhưng đã bị cha của hắn cản lại: "Con ở yên đây, ta sẽ gọi cho bác sĩ Mercer, ông ấy và trợ lý sẽ đến đây vào sáng ngày mai, bọn họ sẽ quyết định xem con có cần phải đến bệnh viện để tiếp nhận điều trị hay không."
"Cha..."
"Nói thêm câu nào nữa, ta sẽ nhốt con vào phòng ngầm dưới đất."
"Ngài không có quyền nhốt cậu ấy ở đây." Harry nắm lấy tay Alex: "Ngài có thể tiết kiệm thời gian đến đây của bác sĩ được rồi, chúng tôi sẽ đi ngay bây giờ."
Nam tước bước hai bước đến bên bàn đọc sách, cầm lấy một cái chuông với tay cầm được điêu khắc rồi dùng sức lắc.

Cửa thư phòng mở ra, hai nam người làm bước tới, đi phía sau là Martha, trên mặt bà là vẻ mặt vô cùng khó tin.

Lúc Harry bị bắt đi, trông bà rất bối rối giống như chính bà mới là người bị kéo ra ngoài.

Đứng ngoài hành lang cũng có thể nghe thấy tiếng cãi vã từ trong thư phòng.

Harry giãy giụa, đánh một trong hai nam người làm một quyền nhưng hai người vẫn đứng yên, sau đó, họ kéo Harry xuống lầu như đang kéo một con mồi chuẩn bị lên thớt, họ thô bạo đẩy cậu ra ngoài cửa, khiến cậu suýt chút nữa đã té ngã trên con đường đá vụn.

Cửa đóng lại, khóa chặt.

Harry chạy lên bậc tam cấp, dùng sức gõ cửa, hét to.

Có người chạm vào bờ vai cậu, Harry xoay người, bấy giờ mới phát hiện chiếc xe đưa bọn họ tới đây vẫn còn đỗ ở chỗ cũ, động cơ không khởi động, hành lý của cậu thì được đặt ven con đường đá vụn.

Người tài xế đồng tình nhìn cậu, hỏi cậu có cần ông ấy đưa đến trạm xe lửa hay không.
"Tôi trả lời: Cút ngay."
Giọng nói của Prudence đột ngột tăng cao khiến người hộ sỹ cũng phải tò mò nhìn ông: "Tôi không đi, trong suốt một tuần lễ tiếp theo vẫn vậy.

Tôi cố chấp chờ ngoài cửa, trời đổ mưa vẫn chờ.

Martha có đi ra một lần để khuyên tôi mau rời đi.

Tôi nói tôi sẽ chỉ rời đi cùng với Alex, bà ấy bỗng nhiên nổi giận, chỉ trích tôi khi đã lây căn bệnh đáng khinh ấy cho Alex.

Lửa giận mau chóng qua đi, bà ấy khóc, tiếc cho cả hai đứa con trai bất hạnh của nhà Loiseau, đầu tiên là George, bây giờ lại đến Alex.

Tôi nhét một tờ giấy đã được gấp lại vào tay bà, cầu xin bà ít nhất hãy mang những lời này đến Alex, bà do dự rất lâu, không đồng ý cũng không từ chối, sau đó bà đóng cửa lại, không xuất hiện thêm lần nào nữa."
"Sau đó họ đã gọi cảnh sát đến.

Vì để có thể nhét tôi vào xe cảnh sát, hai viên cảnh sát không thể không dùng tới gậy cảnh sát và còng tay.

Tôi tin là tôi vẫn còn sẹo từ vụ đó, ngay ở khóe mắt này thôi, không rõ lắm đâu nhưng nếu có đủ ánh sáng thì sẽ thấy ngay đấy.

Bọn họ đưa tôi tới trạm xe lửa, bắt chuyến tàu sớm nhất về London.

Tôi định sẽ lén trở lại đây vào một chuyến khác nhưng bọn họ đã sớm đề phòng chuyện này, cảnh sát đã đưa hình và miêu tả của tôi cho tàu trưởng, tôi còn chưa kịp thực hiện thì đã bị ngăn cản."
"Tôi lại nghĩ ra một cách khác, xuống tàu trước một trạm rồi bắt xe về nhà chính.

Tôi vẫn không thể gặp được Alex, Nam tước uy h**p rằng nếu tôi còn xuất hiện trước cửa nhà họ, ông ấy sẽ đưa con trai vào viện chữa bệnh.

Tôi quay về London, không dám mạo hiểm nữa."
"Tôi không nhớ trong khoảng thời gian từ tháng bảy đến tháng chín tôi đã làm những gì, dù sao mỗi ngày cũng chỉ uống rượu, không ngừng viết thư rồi gửi đi, bị trả về, tôi bỏ những bức thư ấy vào trong một chiếc hộp bánh quy.

Tôi cũng đã thử gọi điện thoại nhưng bất kể người nghe là ai, họ đều sẽ cúp máy khi vừa nghe thấy giọng tôi.

Đến tháng chín, tôi bắt đầu làm việc ở Bưu báo như đã hẹn, đơn giản là vì bánh mì và tiền thuê phòng.

Tiền lương có vừa đủ để tôi thuê một căn gác xép nhỏ ở gần tòa soạn, tôi thường xuyên bị đau dạ dày, nếu không phải bị đau nửa đầu thì cả đêm cũng không ngủ được, tôi không thể làm gì khác hơn đọc đi đọc lại những xấp bản thảo của Alex - lúc ấy tôi chỉ có mấy tờ mà cậu ấy đã gửi cho tôi từ rất nhiều năm trước.

Bản thảo của Mùa hè đã nằm trong hành lý mà cậu ấy mang về Cornwall, nếu bị cha cậu ấy phát hiện, số bản thảo ấy có lẽ sẽ bị thiêu rụi."
"Sau đó, cảm ơn Chúa, Leila đã xuất hiện."
"Chị ấy đã tới tìm tôi, chị chờ dưới tòa soạn báo, lái một chiếc xe mui trần màu trắng, có lẽ chị ấy đang về thành phố từ ngoại ô bởi vì trên bánh và thân xe chỉ toàn là vết bùn.

Chị ấy đưa cho tôi một lá thư, không nói gì nhiều.

Tôi hỏi chị ấy về tình trạng của Alex, chị do dự hồi lâu, khéo léo nói rằng cậu ấy đang không quá ổn, có lẽ bởi vì phải uống thuốc do bác sĩ Mercer kê, trông Alex lúc nào cũng như người đang say, chị không tin tưởng người bác sĩ này lắm.

Có lẽ cha đã làm quá lên.

Chị lại giải thích tiếp rằng Martha đã lén đưa bức thư này cho chị, nếu tôi muốn viết cho em trai chị ấy cái gì đó, chị ấy có thể giúp tôi mang về Cornwall, chờ Martha có tìm được cơ hội đưa cho Alex hay không, có lẽ làm như vậy có thể khiến cậu ấy cảm thấy tốt hơn một chút."
Người giúp việc mặc tạp dề đẩy một chiếc xe kêu lạch cạch bắt đầu dọn dẹp tách dĩa.

Bấy giờ, người phóng viên mới phát hiện anh chỉ mới ăn được một nửa phần thịt hầm nên vội vàng ăn hết số còn lại.

Đá trong ly rượu ngọt đã tan hết giúp vị ngọt loãng bớt, người giúp việc chờ anh phóng viên uống hết số rượu còn lại mới dọn đi dĩa thức ăn, dao nĩa và ly trên bàn rồi đẩy xe đến một bàn khác.

Những người ở trong viện dưỡng lão chầm chậm rời đi dưới sự giúp đỡ của hộ sĩ, đèn trên trần cũng lần lượt tắt ngúm.

Người hộ sĩ đi tới, khom người nói gì đó bên tai Prudence, ông lão nói cảm ơn rồi đứng dậy, đi về phòng tiếp khách cùng với người phóng viên.
"Albert nói rằng đáng lẽ ra căn phòng này sẽ bị khóa sau bảy giờ tối nhưng tối nay họ đã phá lệ cho tôi một lần." Prudence ném hai thanh gỗ thông vào lò sưởi sát tường, ông chưa ngồi lại trên chiếc ghế bập bênh mà ngồi xuống chiếc ghế salon một người bên cạnh người phóng viên, hai người cùng nhau nhìn ngọn lửa nhún nhảy, khói bay lên cùng với những hạt bụi nhỏ li ti biến mất dần vào đường ống khói tối đen.

Trong chiếc hộp sắt trống rỗng, những bức thư cũ nằm tán loạn trên chiếc bàn uống trà nhỏ, vết mực đậm nhạt không giống nhau.
"Cứ như vậy, nhờ có Leila và Martha, Alex và tôi cuối cùng cũng chạm được tới đối phương thêm một lần nữa - theo nghĩa bóng.

Martha đã giúp cậu ấy lén chuyển đi từng tờ bản thảo của quyển tiểu thuyết ấy, có đôi khi còn là một chồng thật dày, lúc không may thì chỉ có mấy tờ.

Thư của Alex được kẹp bên trong, nghiêm túc mà nói thì cũng không tính là thư, nhìn xem."
Prudence tìm lấy một lá thư không được dán tem rồi thả vào giữa bàn uống trà.

Người phóng viên đeo găng tay vải vào, dè dặt mở bức thư ra, bên trong chứa đầy những mảnh giấy vụn khác nhau giống như chúng đã bị xé vội từ nơi khác ra, một mảnh chép thơ, một mảnh khác lại là cuộc đối thoại giữa hai nhân vật hư cấu - một người mẹ đang giải thích về màu sắc của lông chim.

Người phóng viên vuốt thẳng một mảnh giấy với đầy nếp nhăn, phía trên chính là tên của Harry, nói chính xác là cả một trang.
"Chúng tôi đốt tất cả những bức thư để tránh bị phát hiện.

Leila nói với tôi rằng Nam tước đã từng cho phép Alex đi lại tự do trong nhà nhưng có một lần, cậu ấy đã định chạy trốn từ cửa sổ nên từ đó, cậu ấy đã bị nhốt vào phòng cho khách ở phía tây.

Ở đây, chỉ có những câu chuyện là ngăn tớ khỏi bờ vực của sự điên loạn. Cậu ấy đã nói như vậy với tôi trong một bức thư: Những nhân vật của tớ la hét ầm ĩ, tớ nghĩ rằng bọn họ muốn bước vào giấy, muốn bị mực in cố định nhằm theo đuổi sự sống, cũng giống như một chú chim sẽ rời khỏi một cái cây sắp chết vậy.

Bác sĩ nghĩ rằng tớ thật lì lợm, thuốc men có thể khiến những giọng nói ấy yên tĩnh trong một hai giờ nhưng nói thật, tớ đúng là cần yên tĩnh, nhưng sự yên tĩnh ấy là sự yên tĩnh của những nấm mồ có thể khiến người ta khiếp sợ.

Harry, ở đây, cậu đã biến thành một khái niệm hư vô, có lúc tớ còn không dám chắc cậu có thật sự tồn tại hay không.

Có lẽ chỉ có những thứ tớ viết ra mới là thật, có lẽ chính tớ cũng chỉ là một nhân vật trong một quyển sách vốn không có hồi kết, một bàn tay độc ác đang thêu dệt nên câu chuyện của chúng ta.

Trước kia chúng ta đã từng nói về chuyện này rồi, không phải sao?"
"Tôi cố gắng an ủi cậu ấy, bảo cậu ấy hãy tạm thời giả vờ hợp tác, ít nhất là phải lừa gạt được bác sĩ trước.

Cứ như vậy một hai tháng, kế sách này có vẻ đã thành công, bác sĩ Mercer không cho cậu ấy uống thuốc an thần nữa, vào mỗi buổi sáng còn cho phép cậu ấy đi dạo trong vườn hoa.

Nhân cơ hội này, Martha đã gửi cho tôi nhiều thư và bản thảo hơn.

Thế nhưng cậu ấy lại bắt đầu uống rượu, Martha không thể không khóa căn hầm trú ẩn và tủ rượu lại, tuy nhiên Alex luôn giấu một chai rượu trong một góc nào đó, bà ấy cũng hết cách.

Cuốn tiểu thuyết đã gần đến hồi kết.

Vậy thì tớ và cậu sẽ không chết cùng với tớ, tớ có thể cảm nhận ngày ấy đang đến rất gần, có lẽ ngày mai tớ sẽ không tỉnh lại nữa, nhưng mà cậu sẽ biết phải tìm tớ ở đâu."
"Chúng ta phải đưa cậu ấy rời khỏi đó, không thể đợi được nữa. Tôi tìm được Leila, lập tức nói như vậy với chị.

Chị ấy nói rằng chị phải bàn bạc với Martha, tôi nói rằng không cần bàn nữa, cho dù bọn họ không đồng ý, tôi cũng sẽ đến Cornwall, nếu cần thiết, tôi sẽ đốt căn nhà ấy thành tro tàn.

Chị ấy hẳn là đã vô cùng bất ngờ, trong mấy phút ấy, tôi cứ tưởng rằng chị ấy sẽ lấy điện thoại gọi cho cảnh sát nhưng cuối cùng chị lại nói, được rồi, nói tôi biết cậu cần cái gì."
"Kế hoạch vốn là như vầy, chúng tôi sẽ thuê một chiếc xe từ chợ nông sản rồi chờ trước trạm xe lửa, loại xe này thường xuất hiện ở những nơi lấy hàng nên sẽ không gây quá nhiều chú ý.

Bác sĩ không hề ở lại Cornwall, ông ấy sẽ bắt tàu về London vào thứ sáu mỗi tuần, đến sáng thứ hai lại về nhà chính.

Lúc ông ấy không có ở đây, hai người hộ sĩ sẽ phụ trách việc trông chừng Alex.

Vào chủ nhật, hai người hộ sĩ ấy sẽ có nửa ngày nghỉ, bọn họ cũng không đi quá xa, bình thường chỉ vào thị trấn để mua một ít đồ, một hai giờ sau sẽ trở lại.

Khe hở không quá dư dả nhưng ít ra vẫn là một khe hở, Martha có thể viện cớ đi dạo để đưa Alex ra vườn hoa, từ đó, cậu ấy có thể trèo qua hàng rào, đi bộ đến nơi lấy hàng ở trạm xe lửa cách nhà khoảng bảy tám dặm, quả thật không gần nhưng chắc chắn có thể làm được.

Đến trạm xe lửa, cậu ấy sẽ có thể tìm được xe hàng, chúng tôi định đi về phía bắc, có lẽ là Glasgow nhưng sẽ không trở về London, bởi vì Nam tước nhất định sẽ biết phải tìm chúng tôi ở đâu.

Chồng của Leila có một người bạn đáng tin từ hồi còn là sinh viên ở trường y ở Glasgow, chúng tôi định tạm thời đến ở tại căn nhà nghỉ của anh ấy ở đó.

Vì lý do an toàn, tôi không nói về kế hoạch trong thư gửi Alex, tôi chỉ nhắc thoáng qua rằng tôi có một chủ ý, bảo cậu ấy hãy chờ đến cuối tuần."
Prudence chăm chú nhìn lò lửa nhưng lại không giống như đang nhìn lò lửa, trông ông giống như đang nhìn đường bờ biển vốn đã không còn tồn tại sau lớp sương mù dày đặc hơn.
"Tối hôm tôi đưa bức thư ấy cho Leila, Martha gọi điện thoại tới, nói đúng hơn là gọi cho chủ nhà, bởi vì trong gác xép không có đường dây điện thoại.

Bốn giờ sáng, chủ nhà nổi giận đùng đùng gõ cửa phòng tôi rồi ném cho tôi một tờ giấy ghi chú, bên trên có ghi lại lời nhắn Martha gửi đến tôi."
- ---
Chuyến tàu đầu tiên đến London thường đến vào lúc năm giờ hai mươi và rời đi vào lúc năm giờ ba mươi lăm.

Harry đến từ lúc năm giờ.

Nhân viên bán vé không ngừng dùng ánh mắt nghi ngờ để quan sát vị khách xa lạ run rẩy toàn thân ấy, sau khi đẩy vé và tiền lẻ đến trước mặt Harry, họ vội vàng đóng cửa sổ lại như sợ rằng sẽ bị lây vi khuẩn nguy hiểm gì đó.

Harry đi một mình vào sân ga, ngồi yên trên chiếc ghế dài, tay siết chặt tờ giấy ghi chú rồi ngắm nhìn đường sắt trống rỗng.

Trong toa tàu vắng hoe được thắp sáng bằng những ánh đèn.

Đường ranh bao bọc những căn nhà lướt qua khỏi khung cửa sổ rồi dần dần biến mất, nhường chỗ lại cho một mảnh ruộng đen nhánh.

Harry tựa đầu lên cửa sổ, nhìn tờ giấy kia hết lần này đến lần khác.

"Thằng bé mất rồi, trở về ngay đi", tại sao Martha không chịu nói rõ ràng? Hay bà ấy vốn đã nói rõ rồi, chỉ có đầu óc cậu là từ chối hiểu mà thôi.

Harry chợt đứng dậy, lắc lư đi tới nhà vệ sinh chật hẹp giữa các toa tàu, người soát vé nghe thấy tiếng bước chân nên ló đầu ra từ toa bên cạnh, người đó nhìn sắc mặt Harry, hỏi cậu có phải thấy không thoải mái không.

Harry lắc đầu, đóng cửa nhà vệ sinh lại rồi bắt đầu nôn, sau đó trượt ngồi xuống đất theo cửa.

Người soát vé gõ cửa, lớn tiếng hỏi cậu có cần giúp đỡ hay không, tàu trưởng có thể báo cho bác sĩ đứng chờ ở trạm kế tiếp.

Harry khó khăn đứng dậy, mở cửa, nói mọi thứ vẫn ổn rồi cảm ơn.

Quay về chỗ ngồi.
Thằng bé mất rồi, trở về ngay đi.
Cậu ngủ một lát, sau đó bị đánh thức bởi tiếng còi dài.

Trời đã sáng, có lẽ vì đoán được cậu sẽ ngồi chuyến tàu đầu tiên đến đây, Martha và tài xế đều đã chờ ở trạm, nữ quản gia còng lưng, mím chặt môi như khoảnh khắc chờ dưới căn hầm vào hai mươi hai năm trước, lúc họ đang chờ không quân Đức thả bom.

Dọc theo đường đi, không ai nói chuyện, xe lắc lư qua những chỗ lồi lõm trên đường, xuyên qua lớp sương mù mỏng manh vào buổi sáng sớm.
Con đường đá vụn dẫn tới nhà chính hệt như không có điểm cuối, bánh xe nghiền trên đá phát ra tiếng răng rắc.

Những bụi hoa hồng héo úa hai bên đường có sắc đen thoang thoảng khiến chúng trông như vừa bị thiêu rụi.

Cửa rộng mở, trong nhà một mảnh tĩnh mịch, bóng tối quấn chặt vào nhau như cây mây và dây leo.

Harry do dự đứng trong chỗ mờ tối giống như lần đầu tiên cậu tới chỗ này vào hai mươi hai năm trước.
"Phòng hứng nắng." Martha nói.
Hàng lang vang vọng lại từng âm thanh khiến tiếng bước chân của bọn họ bị sao chép thành của nguyên một đội quân.

Cửa dẫn vào phòng hứng nắng nửa mở làm hắt ra ánh sáng nhợt nhạt.

Harry dừng bước, quay đầu nhìn Martha, nữ quản gia gật đầu.

Harry hít sâu một hơi, cậu đẩy cửa ra, đi vào.
Điều đầu tiên mà cậu để ý đến chính là sách và giấy nháp phủ đầy đất.

Alex đang nằm trên chiếc ghế bên cạnh cửa sổ sát đất, đầu hơi nghiêng về phía bên phải như đang ngủ.

Harry cẩn thận tránh né những quyển sách trên mặt đất để đi về phía hắn.

Một chai rượu rỗng đặt trên bàn cà phê, bên cạnh vương vãi đầy tàn thuốc, trong tách trà cũng rơi đầy tro thuốc.

Một chiếc bút lăn xuống mặt đất làm chảy ra vết mực thấm ướt tờ giấy như một vết máu đã khô.

Harry quỳ xuống bên cạnh chiếc ghế, hôn bàn tay lạnh như băng của Alex.
"Bác sĩ nói rằng có lẽ là vào khoảng hai giờ sáng." Cậu thoáng nghe thấy giọng nói Martha, vừa yếu ớt vừa xa xôi như bị cách một tấm thủy tinh: "Nguyên nhân là do rượu và thuốc, chủ yếu là do rượu.

Cảnh sát cũng đã tới, họ cho rằng không có gì đáng nghi."
Harry không trả lời.

Phía dưới chai rượu có đè một quyển giấy được gấp một nửa, tên của cậu được viết nguệch ngoạc trên đó, Harry rút tờ giấy ra, mở xem, bấy giờ mới nhận ra tay cậu đang run lẩy bẩy.

Alex chỉ viết vài câu, chữ viết xiêu vẹo, ngòi bút còn đâm xuyên cả tờ giấy.
"Chàng thủy thủ thân yêu,
Tớ ngại ngùng dâng lên câu chuyện của tớ, mỗi một chữ trong đó đều đến từ tớ nhưng nó chỉ thuộc về mình cậu.

Tớ đã viết xong kết cục, giờ phút này, mọi âm thanh đều đã hóa tĩnh lặng, tớ nghĩ rằng cuối cùng tớ đã có thể ngủ một giấc.".
 
Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Chương 30: Chương 30


Prudence nhìn đồng hồ đeo tay.
"Sợ rằng đây cũng là hồi kết của tôi.

Tôi không tham dự lễ tang, không phải vì không muốn mà là không thể, vợ chồng Nam tước không cho phép tôi bước nửa bước vào khu tưởng niệm.

Tôi chỉnh sửa lại toàn bộ bản thảo, đánh chữ lại rồi đóng sách chỉnh tề, sau đó còn tìm nhà xuất bản cho quyển sách nhưng lại bị toàn giới văn chương tiếng Anh cự tuyệt.

Cuối cùng, tôi giao Mùa hè cho cậu Mana, năm 1966, bản tiếng Pháp được xuất bản, cậu Mana đã sửa lại tựa đề một chút, thêm một tính từ vào chữ mùa hè, éternel.

Về phần London, sau mười hai năm, họ mới chịu đưa cành ô liu với tôi.

Năm 1978, bản tiếng Anh đầu tiên được xuất bản với tựa đề cũng theo chủ ý của cậu Mana: Mùa hè bất tận."
Người phóng viên gỡ mắt kính xuống, nhìn về phía cửa sổ phủ đầy mưa, hồi lâu sau vẫn không nói gì.

"Cảm ơn cậu." Prudence nói.
"Tại sao?"
"Như cậu đã nói, cho tôi cơ hội để kể một câu chuyện mà người ta đã từng từ chối lắng nghe."
Người phóng viên thu hồi tầm mắt, đeo mắt kính lên.

Anh cầm lấy bản thảo sách, hỏi Prudence có muốn xem qua nội dung bên trong hay không.
"Không, tôi không xem đâu.

Tôi đã già quá rồi, thứ cho tôi không thể chịu đựng nổi mỗi khi nhớ lại."

Prudence thu dọn những bức thư trên bàn, người phóng viên cúi người giúp ông, thả những mảnh giấy yếu ớt vào lại trong chiếc hộp sắt nhỏ.

Ông lão nói cảm ơn rồi bắt tay với anh, ông chúc anh ngủ ngon, mang cái hộp rời khỏi phòng tiếp khách.

Cửa đóng, tiếng bước chân của Prudence rất nhẹ, người phóng viên không thể nghe thấy âm thanh lúc ông bước lên cầu thang.
- ---
Phóng viên tờ "Báo chiều" rời đi lúc sáng sớm, bởi vì không bắt kịp chuyến tàu cuối cùng vào tối qua, anh không thể không nằm trên chiếc ghế salon trong phòng tiếp khách, người khoác chiếc áo choàng dài để ngủ một đêm.

Xe lửa lắc lư, chạy xuyên qua vùng hoang vu ở Brittany, xua tan lớp sương gió lạnh thấu xương, bãi biển bên trái phía trước tỏa sáng lấp lánh, chỉ cần rẽ một ngã rẽ nữa là sẽ không còn trông thấy nó.
Anh mở dây kéo của chiếc túi xách, lấy bản thảo ra, lật vài tờ rồi đặt xuống, sau đó anh lấy một quyển sổ và một chiếc bút bi ra.

Đầu tiên anh viết "Đây là một câu chuyện không hề dính dáng đến chiến tranh" rồi lại gạch bỏ, suy nghĩ một hồi, lần đặt bút tiếp theo, anh đã biết mình nên viết gì mà không hề do dự.
"Sinh mạng của Harry Prudence bắt đầu từ một viên đá vụn ven đường, con đường ấy hệt như không có điểm cuối."
[TOÀN VĂN HOÀN].
 
Back
Top Bottom