Cập nhật mới

Khác Mưa Đỏ

Mưa Đỏ
Chương 19


Tướng Ngô Quang Trưởng với dáng người xương xương, khuôn mặt gầy và khắc khổ y hệt khuôn mặt của những người nông phu miền Tây sông nước đang ngồi trước hai viên sư trưởng dù, thủy quân lục chiến và đại tá liên đoàn trưởng liên đoàn biệt động.

Khác với nhiều viên tướng nóng nảy, kênh kiệu và xa cách, viên tướng tư lệnh vùng tiền đồn có tiếng là cam go vào bậc nhất trong các vùng chiến thuật này lại nói năng nhẹ nhàng, rành mạch nhưng thấu vào da thịt:

- Sao, ông Tư lệnh đội quân được mệnh danh là con cưng của quân lực, sự kiêu hãnh của lính dù các ông để đâu hết mà thời gian đã tăng gấp đôi, các ông vẫn không tiến thêm được bước nào?

Viên đại tá dù ngước nhìn thẳng vào người thượng cấp của mình, chưa vội nói, chỉ thấy vết thẹo trên đuôi thái dương hơi bợt đi, nháy nháy.

Trong cái nhìn đó hàm chứa cả một chút e dè lẫn kính nể.

Bởi dù muốn hay không, ngồi trước mặt ông ta cũng là một viên trung tướng từng trải trận mạc, bằng thực lực đã qua mặt được ba viên trung tướng quý tộc khác để lên ngôi vị cao nhất ở vùng đất dữ này, đã giải phóng được thành Huế sau khi bị Việt Cộng chiếm giữ kỳ Mậu Thân và giờ đây lại lãnh trách nhiệm tái chiếm vùng Quảng Trị nước sôi lửa bỏng, một vị tướng gắn cả đời binh nghiệp với binh lính, không quan cách, không hách dịch và đặc biệt là không hề bảo mạng, với một con người như thế tốt nhất là nên trung thực.

Ông ta đứng dậy:

- Tôi xin chịu kỷ luật và nếu cần tôi sẵn sàng ra tòa án binh vì, xin được báo cáo thật, nếu có đánh nữa thì tình hình chắc vẫn không khá hơn, chưa nói có khi còn bị giật xuống.

Thưa Trung tướng, dù có bị bắn bể ngực ngay bây giờ, tôi vẫn khẳng định đây là một đối tượng tác chiến rắn nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh mà anh em lính dù của tôi đã trải qua.

Viên tư lệnh khẽ nhíu trán:

- Có thể đây là một câu nói trung thực nhưng không phải là cách nói của một quân nhân chân chính.

Còn ông Tư lệnh thủy quân lục chiến?

Tôi hy vọng rằng, ông sẽ có những suy nghĩ khác nghe cứng rắn hơn.

So với Tư lệnh dù thì người Tư lệnh thủy quân lục chiến có lẽ chưa lâm trận nên phong thái, lời nói có vẻ mạnh mẽ hơn:

- Tôi là người lính, tôi có bổn phận chấp hành mọi mệnh lệnh theo đúng tinh thần "Tổ quốc, danh dự, trách nhiệm", không một chút nề hà gì.

Đại tá dù khẽ nhếch cười còn nét mặt viên Trung tướng lại thoáng nghiêm lạnh:

- Cám ơn nhưng lúc này tôi muốn được nghe những giải pháp tác chiến hữu hiệu chứ không phải chỉ là những câu chấp hành chung chung.

- Ngừng một chút, ông ta nói tiếp.

- cả tôi và các ông đều quá hiểu chúng ta đang đánh nhau với một đội quân như thế nào.

Với cương vị chỉ huy, tôi thấy vinh dự được đọ sức với họ.

Có một kẻ thù can tràng còn hơn có một thằng bạn thấp hèn.

Nhưng ta lại không thể thua.

Vì vậy, từ hôm nay tôi muốn sư đoàn thủy quân lục chiến chính thức vào cuộc, còn sư dù tạm lui ra vừa củng cố vừa tác chiến vòng ngoài.

Riêng liên đoàn biệt động vẫn tiếp tục trấn giữ dọc lộ 1 cho đến cầu Mỹ Chánh với tư cách là một thê đội dự bị mạnh khi tình huống thuận lợi xuất hiện cũng như tình huống xấu xảy ra.

Hai viên chỉ huy của hai sắc lính được tiếng là thiện chiến, kiêu hùng thủy quân lục chiến và liên đoàn biệt động đứng nghiêm nhận lệnh.

Viên Trung tướng tư lệnh quay sang một sĩ quan đeo kính trắng có bộ dạng trí thức:

- Còn ông chỉ huy pháo binh?

Nằm ở chỉ huy sở, tôi nghe pháo các ông nổ dữ dội lắm, nổ suốt ngày đêm nhưng hình như... rất tiếc, vẫn chưa có kết quả như ta mong đợi?

- Báo cáo!

- Viên chỉ huy pháo binh bật nói.

- Theo chỉ lệnh được phép sử dụng hỏa lực không hạn chế của Tổng thống và Bộ tổng tham mưu, mỗi ngày chúng tôi đã cho bắn trên một nghìn, thậm chí gần hai nghìn trái pháo xuống một mảnh đất chu vi không quá hai nghìn mét, một mật độ chưa từng có tiền lệ trong chiến tranh, một mật độ mà không một sinh vật nào có thể sống sót chớ đừng nói con người, vậy không hiểu sao chúng vẫn không bị tê liệt?

- Câu chuyện nó nằm ở chỗ đó, ông Đại tá ạ!

Chúng ta đã quá hiểu, với một đối phương lì lợm như thế này, số lượng nhiều khi không có ý nghĩa gì, mà cái chính là phải tìm ra cách đánh.

Cả không lực cũng vậy, một trăm bảy mươi lần xuất kích cùng hàng nghìn tấn bom rải xuống mỗi ngày là cũng chưa từng có chớ gì?

Nhưng thử hỏi kết quả đến đâu?

Cái Thành cổ vẫn trơ khấc.

Tôi muốn các ông hãy tạm quên những bài học trong nhà trường, dù là nhà trường hiện đại nhất để tìm ra bài học trong chính thực tiễn.

Rồi để mặc cho viên Tư lệnh pháo binh đứng đó với những phản ứng thuận chiều, trái chiều trên mặt, ông ta nói thêm, giọng khẽ khàng hơn:

- Từ Sài Gòn, cả Tổng thống, cả nội các lẫn quốc hội đều nóng lòng nhìn về chúng ta.

Hơn ai hết, họ hiểu sinh mệnh quốc gia, cán cân trên bàn hòa đàm Paris sẽ phụ thuộc đa phần vô công cuộc tái chiếm này.

Do vậy, dù quân số đã hao hụt đi khá nhiều mà báo chí phương Tây, báo chí Sài Gòn đều gọi bằng cái tên là "Cối xay thịt", chúng ta vẫn phải giữ được quyết tâm chỉ được thắng không được thua.

Với danh dự người lính, nếu có mệnh hệ gì, tôi, trung tướng tư lệnh Quân khu, tư lệnh Quân đoàn 1 sẽ là người ra đi trước.

Người ta biết ông ta nói thật nên tất cả đều để cho không khí im lặng bao trùm.

Chỉ có cái bắt tay của Đại tá dù đặt vào bàn tay của viên chỉ huy lính Mũ nồi đỏ thủy quân lục chiến là rung lắc như muốn nhắn nhủ: "Ráng lên người anh em!

Hy vọng người anh em sẽ không phải ôm đầu máu trở về như cánh lính dù chúng tôi, và cũng không cần bọn này phải làm cú mã hồi để tiếp cứu trở lại."
 
Mưa Đỏ
Chương 20


Mọi ý tưởng trong cuộc họp mang quyết tâm tái chiếm Thành cổ giữa những sĩ quan chỉ huy gan dạ, giàu kinh nghiệm trận mạc vào loại sừng sỏ nhất của khối Quân lực Sài Gòn ấy đã được thể hiện ngay sau đó một ngày.

Bắt đầu là pháo.

Những loạt pháo không thi nhau cấp tập lấy được xuống khu thành nữa mà được bắn từng đợt, mỗi đợt có cường độ dày mỏng, cao thấp, xa gần khác nhau.

Tưởng là xong, nó lại bắn tiếp.

Tưởng là bắn tiếp, nó lại đột ngột dừng.

Chính cái kiểu bắn vừa đỏng đảnh vừa ranh ma, lúc thì như ngái ngủ lúc lại như ăn cướp ấy đã gây cho các trận địa phòng thủ rơi vào thế lúng túng, bất ngờ, khó đoán trước nên đã để xảy ra không ít những thương vong đáng tiếc.

Như trận địa phòng thủ của tiểu đội Tạ, chỉ nội trong mươi đợt pháo, quân số đã thương vong tới một phần ba, mà toàn là thương vong lãng xẹt không đâu vào đâu.

Thương vong khi đứng trong giao thông hào, thương vong khi nhao lên mặt đất, thậm chí thương vong ngay khi ngồi bó gối trong hầm.

Tạ nổi điên văng tục:

- Đ... mẹ!

Nó chơi kiểu gì thế này?

Sen trầm tĩnh hơn, sau một hồi quan sát các điểm rơi của pháo, nhân lúc pháo dừng, anh bò đến bên Tạ vừa nói vừa vạch tay vào không khí:

- Anh có thấy bắt đầu nó dùng pháo chụp như mọi lần để xua ta xuống hầm, sau đó nó lại dùng pháo khoan để buộc ta phải trồi lên, đã trồi lên rồi là dứt khoát sẽ dính loại pháo mảnh toàn phạt ngang của nó.

Bộ đội mình chết là chết ở chỗ này.

Tạ ngớ ra, nhìn trân trân vào bàn tay của Sen, thán phục:

- Cậu... cậu giỏi quá!

Bấy lâu tớ đang được chỉ huy một thiên tài pháo binh mà không hay.

Vậy bây giờ phải làm sao?

- Đơn giản, anh cứ lệnh cho anh em khi nó pháo, ai ở đâu ở yên đấy đừng chuyển động.

- Nhưng lỡ nó chơi pháo ục, tức là pháo khoan, khoan từ lòng đất khoan lên thì bỏ mẹ!

- Trường hợp đó đành chịu nhưng còn đỡ hơn rất nhiều khi vội vã trồi lên.

- Nhất trí!

Tớ sẽ cho triển khai ngay.

Nói rồi với cái thân hình quằn quèo như chão rừng, anh bò nhanh đến các hầm khác trong tiểu đội.

Sau pháo là bom.

Một đợt bom oanh tạc vừa dứt, khu thành còn đang chìm trong khói bụi màu vàng đen, cả tiểu đội đã tràn hết ra chân tường thành.

Những nòng súng lăm lăm chĩa về phía trước.

Im lặng...

Đợi chờ...

Tạ dụi mắt sốt ruột:

- Mẹ, các chú mày định chơi kiểu gì mà pháo dứt một lúc vẫn chưa chịu lên như mọi bận?

Trưa trầy trưa trật rồi chứ còn sớm sủa con mẹ gì nữa.

Đáng lẽ các chú phải nhổng đít bò vào từ lâu rồi chứ?...

Hay là chán rồi, bỏ rồi, chịu thua các bố mày rồi?

Sen nghiêm mặt:

- Không nên lạc quan quá, rất có thể đây là dấu hiệu đổi quân, quân đổi cách đánh cũng đổi.

Tạ nhìn sâu vào mắt Sen:

- Cậu sao nói cái gì cũng giống như chính ủy mặt trận ấy nhỉ?

- Bởi vì kẻ thù của chúng ta không hèn và ngu như chúng ta tưởng.

- Tốt, lại ní nuận!

Miễn ní nuận, mà sao cậu hay ní nuận thế?

Sen im lặng.

Còn Cường lại nhìn sang Tiểu đội trưởng như ngầm ý bảo rất có thể anh Sen nói đúng đó, phải coi chừng.

Vừa lúc, Tú chợt tròn mắt kêu lên:

- Lính!

Lính ở đâu ra nhiều quá, anh Tạ ơi!

- Lính nào?

- Tạ gắt.

- Mày quáng gà đấy à?

Nhưng rồi chính mắt anh cũng trợn tròn: Phía trước, vừa nãy còn là bãi đất đá hoang phế thì giờ đây đã lổn nhổn đầy mũ sắt lính, cả những chiếc mũ nồi thay vì màu nâu đã biến thành màu đỏ và phía dưới không phải là những bộ rằn ri mà là bộ kaki xám chật chội.

Chúng đang rùng rùng đội đất hiện lên như thổ thần thổ địa rồi quăng thân qua khoảng trống hệt một bầy khỉ đột về những địa hình che đỡ che khuất có lợi nhất, vừa quăng vừa nhả đạn, động tác thuần thục như đang biểu diễn xiếc.

Tạ bật chửi:

- Thằng Sen nói đúng!

Bọn dù đã thay bằng bọn thủy quân lục chiến.

Mẹ, mày thích độn thổ à?

Vậy các bố mày cho độn luôn.

Nào, các cậu theo tôi!

Theo cái vẫy tay của Tạ, cả tiểu đội nhảy hẳn lên bức tường thành đã bị san gần thành bình địa, nhảy tới sát vị trí đối phương vừa trồi lên, chờ một chút... rồi đồng loạt găm những đường đạn rất căng xuống những hình nhân mang dáng khỉ voọc vừa trồi lên từ hư vô đó.

Bất ngờ bị bất ngờ lại, đám lính mũ nồi đỏ không kịp trở tay đã bị hứng đạn ngã gục hàng loạt nhưng đám lính khác lại tiếp tục từ cỏ lác tràn lên...

Cả khu Thành cổ rung giật dữ dội.

Đối phương đông hơn gấp bội nhưng do dàn thế xung phong ở địa hình trống trải nên cái trò độn thổ bất ngờ ban đầu đã nhanh chóng bị trơ khấc để trong phút chốc lại trở thành những mục tiêu sống cho những đường đạn chính xác từ tất cả các địa hình đổ vỡ trong thành nhả ra.

Thời gian bị đốt cháy trôi khét lẹt trên hoang tàn.

Mặt trời đang ngả dần phía bên kia sông lúc nào không hay nhưng trận đánh vẫn không hề giảm cường độ, thậm chí từng chỗ từng lúc còn khốc liệt hơn.

Khốc liệt đến nỗi không chỉ cán bộ tiểu đoàn mà cả cán bộ trung đoàn, các trợ lý phòng ban, nhân viên điện đài, y tá, anh nuôi... cũng rời chỉ huy sở vác súng ống lao ra hết.

Trong đó nổi bật lên cái dáng gầy gầy của Trung đoàn trưởng Thành.

Với khẩu AK báng sứt trên tay, khẩu K54 để trần giắt hông, ông lao như con thoi giữa các khu hầm, vừa trực tiếp bóp cò vừa lia mắt loang loáng nhìn nhận cục diện.

Chỉ thấy bàn tay ông huơ lên hạ xuống lúc khoan thai lúc mạnh mẽ, ngẫu hứng như một nhạc trưởng dày dạn.

Có lúc ông bụm tay vào miệng gào lên nhưng không ai nghe thấy gì khiến cậu công vụ lại phải dịch lại bằng cái giọng lanh lảnh nhưng có vẻ cũng sắp khàn đến nơi.

- Thủ trưởng trung đoàn nhắc chúng đã thay đổi cách đánh, các đơn vị cứ bình tĩnh, cứ giữ cách đánh truyền thống là phòng thủ đi đôi với vận động, luôn vận động để chúng không biết đường nào mà lần.

- Cậu quay sang Trung đoàn trưởng, thấy ông gật đầu hài lòng, vẻ khoái chí thì giọng nói càng dõng dạc.

- Và nên nhớ, thưa các đồng chí, Thành cổ không đơn độc.

Xung quanh chúng ta, trên toàn bộ mặt trận Quảng Trị luôn có ba sư đoàn mạnh bảo vệ, tiêu diệt chúng ở vòng ngoài.

Cậu cần vụ nói xong, như hụt hơi, ngồi thụp xuống ho một chập.

Trung đoàn trưởng nhìn xuống cậu, bật cười rõ tươi, ra cái ý: "Cái thằng này, hằng ngày mày ù ị như nắm cơm mà hôm nay mày nói còn hay hơn cả tao!"

Trước ông, một cán bộ cầm súng ngắn bị thương đang co giật trên bãi trống.

Một chiến sĩ khác nhao lên định cứu nhưng liền bị trúng đạn tiếp.

Một chiến sĩ khác nữa không nhào mà áp bụng bò tới nhưng vẫn bị những luồng đạn lia sát đất găm vào mông.

Lại một chiến sĩ khác định lên nhưng rồi trúng đạn, quặn người nhủi đầu xuống.

Ông quát:

- Ngu, dừng lại!

Rồi lập tức tháo súng, tháo giày, hạ lưng nằm ngửa sát đất, dùng gót chân trườn lên từng phân một.

Đạn bay gần như cháy trên ngực trên bụng ông nhưng không viên nào chạm vào được.

Cứ thế, ông đến được chỗ người thương binh ban đầu, dùng tay kéo về, vẫn trong tư thế nằm ngửa.

"Làm tiếp đi!"

Ông nói phào phào âm được âm mất và lại xách súng định chạy đi thì một chiến sĩ hốt hải lao đến:

- Báo cáo, đường dây bị đứt, toàn bộ liên lạc bị mất tín hiệu.

Ông hét, không hiểu sao lần này lại phát ra tiếng đàng hoàng:

- Hả?

Đứt ở đâu?

Sao lại đứt?

- Dạ, có thể ở sông ạ!

Cùng với cậu công vụ, ông lao người qua mọi địa hình rải đầy xác chết, lao nhanh ra phía bờ sông, nơi mặt trời sắp lặn.



Không hiểu cái tên Bến Vượt này đã có từ xa xưa hay là chỉ khi cuộc phòng thủ Thành cổ được khởi màn thì nó mới mang cái tên gọi mộc mạc ấy, và rồi sau này, không hiểu hai từ Bến Vượt rất đỗi đơn sơ kia có ghi ấn vào lịch sử chiến tranh như một địa danh đau thương, hào hùng nhất hay không nhưng tối nay, bất kỳ một du khách nào nếu có mặt ở đây thì chắc chắn sẽ không thể nào tin được.

Dòng sông lửa?

Không, chỉ đúng phần nào.

Dòng sông chết?

Cũng chưa chính xác.

Có lẽ ba tiếng Dòng sông máu mới nói lên đầy đủ được cái hình hài quặn đau kinh hoàng của nó.

Thương binh đang được chuyển qua sông đen đặc bằng đủ các loại phương tiện có thể và không thể.

Những tốp bộ đội bổ sung vượt ngược chiều cũng đen đặc và cũng bằng đủ các loại phương tiện mà nếu sau này có nhà sử học nào tỉ mẩn nói lên thì cũng chưa chắc đã có độ tin cậy.

Số người được chuyển qua sông để về trạm phẫu, về lòng đất bao nhiêu thì số bổ sung sang lại tương đương bấy nhiêu và đêm hôm sau, mọi sự chuyển động sống và chết ấy lại được lặp lại đúng như vậy, như một quy luật, quy luật máu.

Pháo sáng đỏ trời.

Pháo nổ dựng đáy sông.

Khi các cột nước ập xuống, nằm im không dựng lên nữa thì mới lộ ra những xác người, xác thuyền trồi lên, trôi bập bềnh theo dòng nước loang màu đỏ.

Trên bờ, Trung đoàn trưởng Thành với chiếc đèn pin trên tay đôn đáo chạy chỗ này, chỗ kia, gầm lên, chém tay, quát tháo ra lệnh cho các đơn vị trưởng phải ổn định lại trật tự vượt sông.

Nhưng tất cả những tiếng gào thét của ông đều bị dòng nước nuốt chửng và đạn pháo xé tan.

Ông đành dừng lại, đứng như trời trồng, đau đớn, bất lực, nước mắt chảy tràn trên gò má nhọn hoắt, đen sạm.

Bỗng ông chau mày nhìn ra mặt nước.

Tại đó có một người lính thông tin đang bơi ra giữa dòng, trên tay cầm một đầu dây điện thoại bị đứt.

Anh bơi khó nhọc, thỉnh thoảng lại bị một cột nước đánh bật trở lại hoặc dìm sâu xuống đáy.

Lại bơi, lại bị đánh bật.

Có lúc chìm nghỉm hồi lâu tưởng chừng đã bị trúng đạn không trồi lên được nữa, nhưng rồi cái đầu tóc ngắn của anh lại ngóc lên, nhấp nhô bơi tiếp về phía bờ bên kia.

Vừa bơi anh vừa khổ sở lặn hụp tìm cái gì giống như một người đang mò tôm cá.

Thi thoảng lại vấp một thây người, một mảnh thuyền trôi xuống khiến anh phải bơi tránh qua một bên...

Thế rồi, khi chỉ còn cách bờ bên chừng vài chục thước, cái anh cần tìm đã tìm được.

Đó là một đầu dây bị đớt từ phía bên kia.

Nhưng do thiếu hụt nên dù đã vận hết sức, hai đầu dây bướng bỉnh vẫn không chạm được vào nhau để nối xoắn.

Pháo vẫn nổ chi chít.

Đã có những trái pháo đánh sóng trào lên trùm kín người khiến anh tuột tay, lại vật vã mò tìm lại từ đầu.

Tìm được, sợ tuột nữa, không còn cách nào khác, anh quyết định đưa hai đầu dây vào giữa hai hàm răng, nghiến chặt để tạo sự liền mạch, thành mối nối qua thân thể...

Một trái pháo nổ gần, toàn thân anh tung lên, dập xuống nhưng răng vẫn không rời mối dây.

Pháo sáng chiếu vào hình ảnh kiêu hùng và tội tình ấy như một biểu tượng cho ý chí kiên cường của người lính trong sóng nước hiểm nguy.



Mùi hôi thối nồng nặc xộc ra từ hầm phẫu.

Bác sĩ Lê đang chuẩn bị cưa khúc chân bị hoại tử thối rữa của một người lính còn rất trẻ.

Anh càu nhàu:

- Hết bố nó đồ gây tê rồi, thằng em ráng chịu đau, đừng kêu mất sức!

Nói rồi, anh ngáng một thanh gỗ vào giữa hai hàm răng người thương binh, nhờ hai chiến sĩ bị thương nhẹ đứng gần đấy giữ chặt chân tay đầu cổ cho.

Không blouse, không khẩu trang, không mũ y tế, anh bắt đầu cưa.

Máu phọt lên mặt, phọt cả lên trần nhà.

Người thương binh quằn người lên, răng nghiến vào thanh gỗ ken két như tiếng mọt gặm trong đêm, mồ hôi vã ra, vẻ đau đớn tột cùng.

Lưỡi cưa đẫm máu vẫn nghiến xoèn xoẹt vào xương người, thỉnh thoảng lại vấp cái cục!

Lại quằn lên, căng giật, thanh gỗ ngáng miệng văng ra để bật lên một tiếng thét man dại: "Con chết mất mẹ ơi!..."

Lưỡi cưa đành dừng lại.

Máu từ đó chảy xuống thành vũng dưới nền xi măng.

Vừa lúc Hồng chạy từ ngoài vào.

Nước da trắng hồng ngày nào đã chuyển màu xanh sạm, khuôn mặt gầy đi rất nhiều, đôi mắt không còn long lanh như cũ nhưng lại cháy sáng một đốm lửa bên trong như không thể dập tắt.

Tiếng nói của cô cũng trầm hơn, thoáng mệt mỏi:

- Báo cáo, thuyền chở thương bổ sung đã đến ạ!

- Tốt!

- Bác sĩ Lê không nhìn lên.

- Giờ cô ngồi xuống đây, hát một bài gì đó đi, hát thật ngọt vào, hát thay cho thuốc mê.

Hiểu ra, sau một chút ngập ngừng, cô đưa tay áo lau nhanh giọt mồ hôi trên má rồi khẽ ngồi xuống cạnh người thương binh, cầm lấy bàn tay run bắn của anh, vỗ nhè nhẹ, ánh mắt tỏa ra vẻ xót xa, rất đỗi dịu dàng của người mẹ, người chị, người em.

Và cô hát.

Hát một làn điệu dân ca thao thiết, thăm thẳm buồn của vùng đất Quảng Trị.

Lời hát bay lên, lan tỏa vào tất cả các ngóc ngách chật đặc thương binh, lan sâu vào đôi mắt đang mở to đau đớn của anh.

Đôi mắt ấy nhìn lên cô như cái nhìn của một đứa trẻ được mẹ hiện ra vỗ về.

Cô vẫn hát.

Tiếng hát là lời tâm sự của một người yêu tiễn người yêu đi xa, của một người mẹ cầu mong đứa con ra khơi vượt qua muôn trùng sóng dữ, của những cô gái nón lá chao nghiêng đứng ở triền đê đợi người ấy trở về, của...

Lưỡi cưa lại chuyển động.

Tiếng kim loại xiết vào xương cốt, trộn vào làn điệu dân ca tạo thành một hợp âm kiêu hãnh, tức tưởi của một thời bom đạn.

Người lính thiếp dần, thiếp dần và ngất đi.

Nước mắt cô cũng trào ra nhỏ từng giọt xuống tóc người thương binh...

Lát sau, cưa xong, người bác sĩ ướt đẫm mồ hôi và máu ném phịch khúc chân tơ tướp, đỏ lòm vào trong thùng đạn để gần đó, văng tục:

- Mẹ!

Vũ khí Mỹ với bộ binh ngụy là thế này đây!

Chuyển đi!

Hồng tần ngần nán lại:

- Bác sĩ ơi...

- Cái gì nữa đây?

- Bác sĩ Lê lại đang cúi xuống vết thương ở đầu của một người khác, không nhìn lên.

- Có người chết hả?

Nếu chết thì chôn tại chỗ, khỏi phải mang qua sông, chết thêm người vô ích.

- Dạ không...

- Cô lúng túng, gò má bất giác đỏ rần lên.

- Bác sĩ cho em hỏi anh... anh Cường.

- Cường nào?

Cả cái Thành cổ này có khoảng bảy chục thằng Cường, có hy sinh bớt thì ít nhất cũng còn bốn chục, phải hỏi cho rõ ra.

- Anh Cường...

- Cô càng bối rối.

- ...cao cao, trắng trắng ấy ạ.

- Thế thì thế này nhé!

- Bác sĩ Lê nhìn lên, giọng cấm cảu.

- Sau bốn mươi ngày ở đây, thằng trắng nhất cũng trở thành đen sì.

Hồng vẫn kiên trì:

- Dạ, nghe nói anh ấy là... sinh viên.

- Sinh viên à?

- người bác sĩ lại nhìn xuống.

- Mười thằng ở đây đến ba thằng là sinh viên, hỏi thế thì tôi chịu.

Hồng tiu nghỉu:

- Vậy thôi, em chào bác sĩ.

- Không dám, mời cô lại... bến.

Hồng đi ra, dáng đi cắm cúi, hơi xiêu vẹo.

Bác sĩ Lê nhìn theo, khẽ lắc đầu rồi lại cúi xuống với máu me, băng gạc...

Tiếng chuông điện thoại chợt réo vang bên hầm chỉ huy.

Kệ, cho mày réo, réo chán thì phải câm.

Lê nghĩ và vẫn không rời tay khỏi đống dụng cụ mổ xẻ.

Điện thoại lại réo nữa, dồn dập như phải bỏng. người bác sĩ đành dừng lại, vừa lau máu cồn cột trên tay vừa nhìn quanh:

- Mấy bố đi đâu cả rồi thế này?

Bộ cứ phải chúi đầu vào giao thông hào mới là chỉ huy chắc?

Tiếng điện thoại vẫn réo.

Anh đành đi đến, cầm lên, giọng cáu bẳn:

- Tớ đây!

Gọi gì mà gọi lắm thế?

Đang bận bỏ mẹ!

Đột nhiên mặt anh thuỗn ra, chiếc điện thoại chút rơi khỏi tay.

Vừa lúc Trung đoàn trưởng Thành vào, một bên tay băng bó.

- Ai gọi đó?

Ông lại trở về cái giọng khào khào, rin rít khốn khổ.

Lê trợn mắt, mồm miệng méo xệch:

- Đại...

Đại tướng Võ...

Võ Nguyên Giáp.

Thành vội nhảy ba bước, vồ lấy ống nói, nhưng chỉ khào khào vâng dạ được mấy câu rồi đành chuyển máy cho bác sĩ Lê:

- Cậu... cậu thay tớ đi!

Bác sĩ Lê đỡ lấy, giọng đã trở nên thoải mái, tự tin hơn:

- Báo cáo Tổng tư lệnh, tôi, Thiếu tá Đinh Quang Lê, trưởng trạm phẫu phải nói thay chỉ huy trưởng Thành cổ vì gào thét nhiều quá, anh ấy điếc tai mất giọng rồi...

Dạ, Thành cổ vẫn vững chắc nhưng thương vong nhiều lắm!

Mỗi ngày mất đi trên trăm người, không sức nào bổ sung nổi.

Người bị thương chuyển qua sông, người hy sinh chôn tại chỗ nhưng cũng báo cáo thật Đại tướng, cũng... cũng sắp hết đất chôn rồi ạ!...

Thành trợn mắt xua tay.

Lê vẫn oang oang:

- Dạ, tuy thế nhưng tinh thần anh em vẫn không suy suyển, Quang Sơn còn Thành cổ còn.

Tất cả chiến sĩ Trung đoàn Quang Sơn thề sẽ giữ Thành cổ đến người cuối cùng.

- Bỗng anh đứng thẳng người.

- Vâng, xin Tổng tư lệnh cứ nói, tôi sẽ truyền đạt lại ạ!

Một phút im lặng trôi qua...

Lát sau bác sĩ Lê hạ điện thoại xuống, ghé sát tận vành tai Trung đoàn trưởng Thành nói rành rọt từng tiếng:

- Đại tướng biểu dương tinh thần chiến đấu của chúng ta và thông báo, rất có thể đêm nay chúng sẽ cho thám kích luồn vào cắm cờ, bằng mọi giá ta phải vô hiệu hóa được nó vì sáng ngày kia hội nghị Paris sẽ chính thức đi vào những nội dung chính yếu, nếu cắm được cờ, nó sẽ có cớ để rùm beng với thế giới rằng Thành cổ đã thuộc về chúng.

Thành để rơi người ngồi xuống, vẫn khào khào:

- Chết mẹ chưa, nếu cái cậu thông tin ấy không cắn được mối dây thì cái lệnh đặc biệt này đã chìm ở giữa dòng rồi.

- Rồi anh quay qua cậu công vụ vừa bước vào.

- Xuống Đại đội 3 mời ngay Chính ủy về cho tôi, có chuyện gấp, nhanh chân lên!

Chả biết người công vụ có hiểu thực chất cái gấp đó là cái gì không nhưng chỉ loáng cái, cậu đã biến khỏi căn hầm, chìm nhanh vào bóng tối như một ảo ảnh.
 
Mưa Đỏ
Chương 21


Trên một bãi cỏ nằm giữa những mái lều bạt dã chiến của Đại đội Hắc Báo mang nhãn hiệu US ARMY đang diễn ra một cảnh đấu võ dữ dội giữa một bên thách đấu là Trung úy Quang với một vài người khác.

Tất cả đều ở trần, quần nhà binh túi hộp, nắng trát vào những bộ ngực, múi bụng đen mun, xăm trổ thoạt nhìn như lạc vào một bộ tộc da đỏ vùng Amazon nào đó.

Với vóc dáng nhỉnh hơn các đối thủ một chút, bằng những động tác nhà nghề khá tàn bạo, Quang đã không nương tay lần lượt quật ngã hết người này đến người khác, quật ngã đến nỗi Quang buộc phải dừng lại, giọng chán nản: "Các cậu nên nhớ đây là đối phương, là những tay gan dạ chớ không phải tôi, đại đội trưởng của các cậu mà đánh đấm dè chừng như vậy.

Nào còn ai nữa, mạnh dạn lên!"

Hắn đưa mắt nhìn khắp lượt rồi dừng lại ở khuôn mặt Thiếu úy Phan Thái.

Chạm cái nhìn khiêu khích pha chút giễu cợt không thể chịu nổi ấy, cái máu tự ái trong người hắn, một thằng đã từng đoạt giải quán quân võ thuật trong nhà trường đặc biệt nổi lên và bỏ qua cái vẻ dũng mãnh rất đáng gờm đang hiện diện trước mặt kia, gã tháo giây lưng, lột áo, lao vào xới.

Tiếng hò reo man rợ thường chỉ xảy ra ở một cuộc sát sinh đường phố váng động cả một vùng đồi.

Đám Hắc Báo đang chờ đợi một trận đấu ngang tài ngang sức nếu không muốn nói ở Phan Thái có phần sắc sảo, nổi trội hơn.

Mới vào cuộc mà cả hai đã dính đòn của nhau đến sưng tím mặt mày, máu bắt đầu đổ ra ở mũi, ở miệng.

Tuy thế, Quang vẫn điềm tĩnh che đỡ như đã ngầm chứa một điều gì đó bên trong chưa nói ra.

Còn Phan Thái lại có vẻ say đòn mà những cú chân cú tay gã tung ra toàn nhằm vào chỗ hiểm của đối thủ như thể đây là dịp may để gã có thể hạ gục một hình ảnh mà bao lâu nay đã trở thành tiềm thức u uẩn trong đời gã.

Nhận ra điều đó, Quang tiếp tục né tránh và chỉ đến khi những cú đòn của Phan Thái tung ra toàn vào khoảng không, mất sức thì Quang mới lựa thế bất ngờ quật lại một miếng chí tử vào giữa ngực gã.

Miếng đòn này do một ông thầy Tàu từ Đài Bắc sang truyền cho hắn đã lâu đủ khiến cho gã toán phó gục xuống, vùi sâu mặt vào cỏ.

Tiếng vỗ tay, tiếng đập ca i nốc vào báng súng dội lên khoái trá.

Quang bật người đè lên ngực gã, gí sát miệng vào tai gã nói vừa đủ nghe: "Thái!

Làm thằng lính mà đi bô báo là hèn lắm nghe chưa?

Đường tiến thân của mày là ở trận tiền chứ không phải ở đầu gối.

Đáng lẽ bữa nay tao sẽ cho mày bay cả hàm răng nếu như đêm nay không có nhiệm vụ đặc biệt."

Hắn định đứng dậy thì vừa lúc một chiếc Jeep cuốn bụi lướt đến, dừng sững.

Viên Đại tá sư trưởng dù cùng một viên cố vấn Mỹ mặc thường phục mở nhanh cửa, gần như nhảy xuống, cả hai vỗ tay.

Viên Sư trưởng cười lớn:

- Bravo!

Đúng là đáng mặt Hắc Báo, luôn giữ được phong độ trong bất cứ hoàn cảnh nào!

Quang vội mặc lại áo, thắt lại dây lưng, đứng nghiêm:

- Thưa, chúng tôi chỉ dợt qua vài miếng để chống stress.

Cứ đánh nhau kiểu giẫm chân tại chỗ, ngày ta lấn được bao nhiêu, đêm chúng lại lấn lại bấy nhiêu, không stress mới là lạ.

Viên cố vấn Mỹ bước tới bắt tay Quang:

- Tốt!

Tôi rất thích những câu nói thẳng như thế này.

Quang cười nhạt:

- Chắc ông cố vấn thích cả chuyện mỗi ngày chúng tôi phải đi tiêu cả đại đội để phục vụ cho cái Việt Nam hóa vĩ đại và khôn ngoan của các ông?

- Sao lại của chúng tôi, của chúng ta chứ!

- Viên cố vấn vẫn tươi cười.

- Cuộc chiến này, danh dự hai nước, hai quân đội chúng ta là một.

- Nếu vì danh dự thì người Mỹ các ông đã không chơi con bài nửa chừng bỏ của chạy lấy người như thế.

Viên Sư trưởng vội dàn hòa:

- Thôi nào, xin các vị!

Trung úy, có việc đây!

Quang nói:

- Cắm cờ lên Thành cổ để giành thế thượng phong trên bàn hội nghị?

- Đúng!

Nhưng sao Trung úy biết lẹ vậy?

- Dạ, Hắc Báo là tai mắt của mặt trận.

Mặc dù giữa cái Thành cổ sặc mùi tử thi và cái bàn hội nghị thơm phức mùi ngoại giao kia chưa chắc đã có gì liên quan đến nhau, nhưng chúng tôi đã sẵn sàng, thưa Đại tá.

Chỉ xin hỏi một điều, tưởng đại tá đã tạm ra ngoài vòng chiến như cuộc họp vừa rồi phân định mà sao bây giờ Đại tá lại trực tiếp đảm trách việc này?

- Nghề mà!

- Cái thẹo trên thái dương ông ta nháy nháy.

- Bọn thủy quân thì biết mẹ gì ba cái chuyện đòi hỏi tính nghiệp vụ tinh xảo này.

Rồi cái gì khó lại phải dính đến tay lính dù thôi.

- Tôi hiểu.

- Quang nói hiểu nhưng rõ ràng là chả hiểu gì.

Sư trưởng chợt nghiêm giọng:

- Đây cũng là mệnh lệnh của Tổng thống và Tướng tư lệnh.

Công việc hết sức quan trọng này do đại đội Hắc Báo của Trung úy đảm nhiệm, thời điểm sẽ báo sau.

Chiều nay hai vị trình lên tôi phương án hữu hiệu nhất.

Cũng cần nhắc thêm: Tổng thống hứa thưởng bội tinh danh dự và năm mươi ngàn đô la cho đơn vị nào cắm được cờ vào trúng ruột gan phổi phèo chúng nó.

Quang cười nhẹ:

- Dạ, việc cần cắm thì cứ cắm theo bổn phận người lính chứ không ai đi đổi mạng mình lấy ba cái thứ bội tinh và tiền bạc vô nghĩa đó.

Viên Đại tá đưa mắt nhìn nhanh sang viên cố vấn rồi cố rặn ra một tiếng cười xòa:

- Thôi, chơi tiếp đi.

Nếu được trẻ lại vài tuổi, moa cũng sẵn sàng tỉ thí mấy chiêu.

Chào!

Trước khi lên xe, viên Đại tá còn nói nhỏ vào tai Quang:

- Được, chú em chơi vỗ mặt thằng Mỹ thế là được, đáng, nhưng nhớ giữ mồm giữ miệng, họ vẫn chưa hết uy lực ở cái xứ đang lâm vào căn bệnh hấp hối chết tiệt này và mọi sự vẫn còn trông vào cái túi đô la rủng rẻng đô la.

- Cái thẹo lại nháy nháy.

- Nè, vừa có con nhỏ trên rừng xuống, màu ô liu, hệt một thỏi sô cô la, đang chờ cậu thắng lợi trở về đó.

Câu nói ấy đã lọt vào cái tai thính như tai thú của Phan Thái.

Hắn nhìn Quang với ánh mắt đố kỵ và cả hận thù.

Vậy là sao hè?

Chính gã đã báo cáo với Đại tá về mối quan hệ rất đáng nghi ngờ giữa Trung úy Quang và cô gái bí ẩn phía bên kia mà sao giờ đây nhìn thái độ của ông Đại tá trước hắn lại có vẻ tin cậy, thân mật vậy?

Để rồi cuối cùng, chính gã lại ăn đủ một cú đá móc vào giữa ngực cùng câu nói khinh miệt thấu tới xương kia?

Mẹ, chả lẽ thời thế thay đổi cứt lộn lên đầu hết rồi?

Xong, cứ để đó, đêm dài lắm mộng, chờ xem.

Xe bon đi.

Viên cố vấn sa sầm mặt:

- Tôi muốn ông Đại tá cho thay ngay tên Đại đội trưởng xấc láo kia!

- Nhưng trong sư đoàn dù của tôi, loại thiện chiến, chịu chơi như hắn không có nhiều, nếu thay hết có khác gì con cá bị rút hết xương?

Viên cố vấn Mỹ nhún vai, còn viên Đại tá bản địa lại nhìn đi chỗ khác, thoáng một chút nhếch cười.



Lúc này, chiếc đồng hồ Poljot rạn mặt trên tay Cường đã chỉ vào con số 1.

Nửa đêm rồi.

Trước cửa hầm, cả tiểu đội đang đứng thành hàng.

Tiểu đội trưởng Tạ trầm giọng:

- Bộ chỉ huy Thành cổ giao cho tiểu đội ta làm mũi chủ công phá thế cắm cờ của địch.

Đây là một trận đánh có ý nghĩa rất đặc biệt, nó quyết cắm và ta quyết nhổ, tôi đề nghị tất cả lấy quân phục cất trong ba lô ra mặc vào.

Nếu chẳng may có làm sao thì ta cũng có bộ quần áo đàng hoàng mặc trên người.

Mọi người răm rắp làm theo.

Thoắt cái, cả tiểu đội đã biến thành một đội hình ăn vận chính quy nghiêm chỉnh như hồi còn dọc dài đi theo triền núi Trường Sơn.

Tú cũng mặc bộ đồ mới coóng của mình.

Tạ lắc đầu:

- Thằng Tú ở lại coi hầm!

Tú mếu máo:

- Tiểu đội trưởng không tin em chứ gì?

- Chưa chứ không phải không.

Tú càng mếu máo:

- Mẹ em mà biết chuyện này thì mẹ em... buồn lắm!

- Buồn gì?

Báo chí họ nói, chỉ cần tồn tại đến tháng thứ hai ở đây mà không đầu hàng, không thối chí là đáng phong anh hùng rồi.

Cậu đang là một anh hùng, được chưa?

- Em là anh hùng?

Tú ngớ ra một lát rồi khi đã hiểu, nước mắt cậu tự nhiên chảy ra, cái miệng có lớt phớt chút lông tơ lại méo xệch:

- Mẹ ơi...

Con anh hùng rồi.

Cường ôm cậu vào lòng, chúm tay búng nhẹ một cái vào cái má đang xị ra kia.



Cùng lúc, tại một vị trí kín đáo bên ngoài khu thành, Trung úy Quang cũng đang đứng trước toán Hắc Báo rằn ri, dữ tợn của mình.

Đứng sau một chút là đông đảo cánh nhà báo, quay phim ăn mặc xanh đỏ tím vàng cả nam lẫn nữ, cả ta lẫn Tây mới từ Sài Gòn bay lên chiều nay.

Quang cầm lá cờ ba sọc đã cuốn gọn, giơ cao như giơ cây quyền trượng, giọng hắn âm u như không phải cái giọng vốn có hằng ngày:

- Được lệnh cắm cờ vào khu trung tâm Thành cổ là một vinh dự đặc biệt đối với Đại đội Hắc Báo chúng ta.

Chỉ cần chụp được một tấm hình thôi là ngày mai báo chí, truyền thông cả thế giới sẽ đăng tải, coi như ta xong việc.

Do vậy, các chiến hữu nghe nè, dù tình huống nào, ai bỏ chạy, tôi sẽ bắn bỏ.

Quay lại với cánh nhà báo, hắn vẫn không hề hạ giọng:

- Chúng tôi mang máu ra để cho các vị hành nghề, chả vinh quang gì đâu, cũng là một thứ nghề thôi nhưng ai trong các vị tỏ ra hèn nhát, làm rối đội hình, tôi cũng sẽ hết sức cứng rắn, xin lỗi trước.

- Rồi hắn lia bàn tay chỉ vào toán phó Phan Thái.

- Ngài Thiếu úy đẹp trai này sẽ trực tiếp phụ trách các vị.

Vị trí của các vị là ở bên ngoài thành, khi cờ cắm rồi, các vị muốn làm gì thì làm.

Một cô có vẻ là phóng viên một tờ báo lớn, còn khá trẻ, ăn mặc rất mốt, cất giọng đáo để:

- Phong độ người hùng có nhất thiết cứ phải nói năng kiểu người hùng sát máu vậy không, thưa ông Trung úy?

Quang trừng mắt:

- Đây là trận chiến, là chết chóc chứ không phải là một cuộc phỏng vấn trong xa lông sặc mùi nước hoa rẻ tiền, mong cô hiểu cho.

Và nếu cô thấy đó là sát máu thì xin mời, cô có thể ở lại, tùy thích.

Một đại úy đeo máy ảnh đứng gần đó, đến gần Quang như nói thầm:

- Chết nỗi, Trung úy.

Cô ta là... bồ nhí của ngài Đại tá dù đó.

Quang không thay đổi nét mặt:

- Vậy thì tốt nhất nên để cô ta trở về cái giường của ông Đại tá đó, tháo đồ lót ra mà tác nghiệp.

Tất cả chuẩn bị!



Trong bóng đêm phập phồng, tiểu đội bảy người âm thầm chuyển dịch về phía bức tường gạch nằm mờ mờ ở một góc Thành cổ.

Gần đến nơi, họ tản ra, hạ thấp người xuống.

Tạ ghé sát vào tai Cường:

- Này, tại sao cậu lại quả quyết nó sẽ cắm ở bức tường nhà tù đã bỏ này?

- Vì nó là một điểm cao duy nhất còn sót lại.

Không ai đi phô trương chiến quả trong một vũng lầy cả.

Tạ gật, quay qua Sen:

- Còn ông đặc công, theo cậu chúng sẽ đột qua điểm nào?

- Căn theo phương vị...

- Sen trả lời chắc chắn.

- ...nhất định chúng sẽ đột vào từ một điểm có cạnh gần nhất kéo thang đến mục tiêu.

- Tức là điểm nào?

- Tạ sốt ruột.

Dưới vầng sáng hỏa châu, Sen chỉ về một điểm có cái cọc nhọn hoắt chọc lên nền trời phía trên bức tường thành.

Tạ gật đầu:

- Mấy cậu ăn học không phí, nói cái gì cũng thấu tới đáy.

Phân công này: cậu Sen dẫn một tổ ra đón chặn ở đó.

Còn lại theo tôi tiến vào khu nhà tù cũ.

Họ chia làm hai ngả, nương vào các vũng tối khom thấp người đi tiếp.



Trung úy Quang và toán cắm cờ của mình đang ngồi thu lu trước cây cọc nhô lên nhọn hoắt hằn in vào da trời xám ngoét.

Hai gã lính phía sau định xách súng mò lên tiếp cận thì hắn vội chặn lại: "Khoan!

Nếu ta biết chọn điểm lợi thế thì chúng cũng không ngu gì mà bỏ qua.

Chuyển điểm cắm khác!"

Cả toán oằn mình di chuyển chếch sang bên phải mềm mại như những con báo đêm, thoắt ẩn thoắt hiện, quăng mình, hạ xuống, bò trườn về hướng tường nhà tù.

Bóng đêm quánh đặc tưởng có thể xắt được ra từng khúc.

Những bóng đen ấy chuyển động chỉ cách chỗ phục của tổ Sen hơn chục thước.

Bình vổ với thói quen tinh nhạy của một nhà hội họa hay quan sát đã phát hiện ra có điều gì không bình thường trong màn đen ấy, anh thì thào:

- Nó kìa!

Sen cũng đã nhận ra nhưng gạt đi:

- Muộn rồi, cứ để cho nó vào sâu, tổ anh Tạ sẽ tiêu diệt.

- Thế mình ngồi nhìn à?

- Sẽ khóa đuôi chứ sao lại ngồi nhìn?

- Tôi thấy trong chuyện này có gì không ổn!

- Bình nói với một thoáng hồ nghi.

Sen gắt khẽ:

- Vậy cậu nổ đi, và chính cậu sẽ chịu trách nhiệm về toàn bộ chuyện này nếu chúng cắm được cờ.

Đúng là ngựa non...

Đến đây thì Bình không kìm được nữa, cũng như đã phải cố kìm nhiều rồi, anh nhìn thẳng vào mắt Sen:

- Đừng giở cái giọng trịch thượng ấy ra!

Đã cùng nhau chui đầu vào đây đánh hàng trăm trận, ai là ngựa non?

Hai tia mắt bắn vào nhau căng chằng...



Toán của Quang đã đến gần bức tường nhà tù xù xì, đen thẫm.

Đáng lẽ chỉ còn một nhịp nữa là sẽ nhảy phóc lên được mặt tường, nhưng đột nhiên hắn dừng lại: "Khoan!

Rất có thể ở đó có phục.

Nhóm thằng Hùng cứ tiếp tục tiến về phía đó để nghi binh, còn lại theo tôi!"

Ngậm chắc cuộn cờ trong miệng, hắn dẫn đầu một tốp tiến đến một mô đất cao cách đó không xa.



Tổ của Tiểu đội trưởng Tạ đã phát hiện ra những bóng đen ngọ nguậy của tốp Hắc Báo làm nhiệm vụ nghi binh đang bò trườn lên bức tường như những chú thằn lằn đêm.

Anh thì thào: "Chưa!

Cứ để nó cắm cờ lên đàng hoàng rồi hãy nổ súng."

Nhưng những bóng đen ấy bỗng biến mất và trước mắt họ không có một lá cờ nào in vào nền trời cả.

Cường chột dạ: "Nó chơi trò đánh lạc hướng rồi.

Anh cứ ở đây, để tôi dẫn một tổ ra chỗ mô đất cao kia."

Cường, Hải gù và một chiến sĩ rất trẻ quê Nam Định nhanh chóng chui người vào bóng tối tiếp cận mục tiêu.

Gần đến nơi, anh bỗng dợm chân dừng lại, hạ người nằm xuống, nhìn hất lên: Trước mắt anh hiện rõ ba bóng đen mờ mờ đang nối nhau hàng một trườn lên đúng cái mô đất đó.

Đến nơi, cái bóng trườn đầu ngó quanh một chút rồi nhanh chóng rút dao găm đào khoét lỗ cắm.

Hải gù lào phào thổi hơi nóng vào tai Cường: "Tôi hạ nhé!"

Cường lắc đầu: "Nổ bây giờ dễ làm kinh động tất cả, có cách khác."

Nín thở chờ cho lá cờ to bằng cái mặt bàn học sinh được cắm xong, tung ra, bay rờn rợn như lá cờ ma trong gió đêm, Cường mới ghé sát tai từng người: "Mỗi cậu phụ trách một thằng, tôi lo thằng đi đầu.

Bắt được một cái lưỡi để khai thác là tốt nhất.

Cẩn thận nhé!"

Họ chậm rãi bò thêm vài thước nữa, khi đã ước lượng đủ cự ly cần thiết, cả ba cùng lấy đà gần như bay bốc người lên.

Một cuộc vật lộn diễn ra trong bóng tối huyền hoặc.

Bên cắm cờ hoàn toàn bị bất ngờ nên sức kháng cự rất thụ động, yếu ớt, chỉ loáng cái đã bị quật ngã.

Nhưng vì là những tay súng đã được huấn luyện kĩ nên chúng nhanh chóng lấy lại được bản lĩnh và đánh trả quyết liệt.

Đối tượng của Hải gù là một gã to con.

Hắn lẳng cái thân hình lòng khòng của anh hết góc này sang góc khác như lẳng bó rơm rồi đến khi anh kiệt sức nằm ngửa sõng soài thì hắn cười khấc lên một tiếng như tiếng của con đười ươi đã nắm chắc được con mồi, rút con dao Mỹ to bản giắt ở thắt lưng lao đến định kết liễu đối thủ không cân sức bằng một nhát chém nhà nghề thì bất ngờ, cả một vốc cát trên tay Hải đã kịp thời bung ra.

Hắn rú khẽ một tiếng, ôm mặt loạng choạng, đủ để cho anh vùng dậy, xọc một đường lê vào lút bụng hắn.

Một tiếng ặc ặc như con vật bị chọc tiết ục lên, hắn gập người gục xuống giãy đành đạch mấy cái rồi nằm im...

Cạnh đó, người lính trẻ quê xứ dệt ít may mắn hơn, bị một tay thấp đậm, vâm vam đè ngửa, siết mạnh hai bàn tay chuối mắn vào cổ.

Người lính cong người quằn quại và chắc chắn sẽ đón nhận cái chết đau đớn nếu như không có một bóng đen từ đâu lao đến, nện cả cái báng súng AK vào giữa đỉnh đầu hắn.

Chỉ nghe một tiếng vỡ khô khốc.

Hắn ngật người, ngã vật ra, thở những hơi cuối cùng rè rè như kẻ kéo đờm.

Cái bóng đen vừa dộng báng súng ấy cũng buông rơi cây súng thõng xuống, toàn thân run bắn.

Hải chạy đến, tròn mắt:

- Tú!...

Sao mày lại ở đây?

Tú vẫn còn ngơ ngơ như kẻ bị đớp mất hồn:

- Cái sọ người khi vỡ nghe như chum vại vỡ ấy nhỉ?

Như một sự sắp đặt của số phận, lại như một sự ngẫu nhiên khó tin, tại lỗ cắm cờ, cuộc vật lộn giữa Cường và Quang đang diễn ra dữ dội.

Cả hai lao vào nhau, ghì siết, đấm đá vẻ ngang tài ngang sức.

Lúc người này nằm trên, lúc người kia nằm trên.

Bắt đầu là báng súng, sau đó là dao găm và sau nữa là chân tay không.

Nằm phía trên người đối thủ, Cường đã nhoài người rút được cán cờ, cái bóng kia lại quằn lên giật lại và ra sức cắm trở xuống.

Cuối cùng lá cờ cũng bị bung khỏi lỗ, bay đi, chìm vào đất cát.

Nằm kẹt cứng ở dưới không tài nào thoát vùng ra nổi, Quang điên giận móc trái tạc đạn ở cạnh sườn, cho lên miệng định cắn kíp như sẵn sàng chia đôi.

Cường chồm lên giữ lại.

Hai bàn tay của hai kẻ đối địch cùng nắm trái tử thần.

Một muốn ghì kíp lại, một muốn rút kíp ra.

Hai đôi mắt đấu vào nhau.

Bất giác hắn thảng thốt nhận ra người nằm trên mình là ai.

Trong một khoảnh khắc lơ đãng, trái da láng đã rút kíp tuột rơi xuống đất.

Quang chỉ kịp buột ra một câu hằn học: "Thằng Việt Cộng, hẹn gặp lại mày dưới kia!"

Nói vừa dứt, trái nổ, khói bụi phủ lên cả hai thân hình.

Khói tan, trong ánh sáng nhập nhoạng của nền trời sắp chuyển về sáng chỉ thấy một thân hình tơ tướp, máu me, giãy giụa trên mặt đất, còn cái thân hình kia bị hất văng đi đâu mất.

Tiểu đội trưởng Tạ từ phía sau ào đến, ôm chầm lấy cái thân hình đó lắc mạnh, nâng lên, kêu rống:

- Cường ơi...

Ta thắng rồi!

Cậu không thể chết được!

Hải rồi Tú cũng chạy lại.

Sen đột ngột xuất hiện, giọng thất thanh:

- Cậu ấy sao rồi?

Tạ trừng mắt:

- Mày làm gì bây giờ mới tới, hả?

Sen làm thinh không trả lời.

Tạ định nói thêm câu gì nữa nhưng dưới ánh hỏa châu chợt nhận ra một dòng máu đang chảy từ thái dương xuống ướt đẫm cổ áo của Sen, anh dừng lại.

- Xin... xin lỗi cậu!

- Tạ nói.

Nằm khuất trong một bụi cỏ xơ xác, Quang tỉnh lại.

Thừa lúc, bằng chút sức lực cuối cùng, hắn quờ được cây súng nằm dưới đất, đưa lên nhằm về phía Cường định siết cò thì Tú đã phát hiện ra, cậu giật cây AK trong tay Hải lao đến.

Nhưng không kịp, khi sắp chạm được, chồm lên được cái bóng đó thì từ tường thành, một tràng tiểu liên cực nhanh bất thần phóng ra, quật Tú ngã xuống.

Đó là tràng đạn của viên Thiếu úy toán phó.

Hắn hiện ra nhìn theo cái bóng của Quang được đồng bọn nhào xuống, dìu qua mặt, tặc lưỡi:

- Đáng lẽ loạt đạn đó thuộc về mày kia Quang ạ!
 
Mưa Đỏ
Chương 22


Paris đang chìm trong những làn mưa bụi dịu dàng và bí ẩn.

Phải chăng vì thế mà dòng sông Senie đang trôi chảy dưới kia càng khoác thêm cho mình cái vẻ mơ màng, huyền ảo như sương như khói của một trong những thành phố cổ nhất châu Âu.

Cảnh sắc và con người, cái mênh mang và điều nhức nhối.

Chao ôi, cái màn mưa mang dấu vết vĩnh cửu của thiên nhiên ngàn đời bất biến ấy như không hề dính dáng gì đến cái cuộc họp căng thẳng có liên quan đến vận mệnh các quốc gia, đến số phận của bao nhiêu triệu con người đang diễn ra trong phòng.

Nhưng lại vô cùng can hệ khi mà những khuôn mặt, ánh nhìn, mọi ngôn từ, cử chỉ của cả bốn đoàn đại biểu đều hằn rõ điều đó.

Một cuộc đấu trí, đấu mưu, đấu sự kiên trì, thậm chí là lì lợm không biết sẽ kéo dài trong bao nhiêu lâu và ai sẽ bại ai sẽ thắng sắp bắt đầu.

Tiếng đồng hồ treo trên tường kêu tinh tang nghe như tiếng động của định mệnh.

Ngồi kín đáo ở hàng ghế sau, bà mẹ của Cường cố gắng gạt khỏi đầu óc mình hình ảnh của đứa con giờ chưa biết sống chết thế nào ở nơi xa để dồn hết tâm trí vào công việc.

Bà hiểu, diễn biến của hội nghị này có liên quan rất mật thiết không chỉ đến cái chung, đến lịch sử đã chất chứa quá nhiều đau thương mà còn liên quan trực tiếp đến cuộc sống của con bà, của những đồng đội với con bà.

Bất giác bà đưa mắt nhìn nhanh những khuôn mặt hiện diện quanh chiếc bàn tròn dài rộng, trong đó nổi lên khuôn mặt của các vị đoàn trưởng và các vị cố vấn đã trở nên thuộc tính thuộc nết, thuộc cả những cái hắng giọng, nhướng mày sẽ sắp nói ra điều gì, nói theo khẩu khí nào...

Mỗi vị mỗi sắc thái biểu cảm không ai giống ai.

Người Mỹ thì lịch lãm hay cố tỏ ra lịch lãm cho đúng với vai trò cầm trịch của mình, trên môi luôn thường trực một nụ cười ngoại giao mềm mỏng nhưng con mắt lại rất lạnh, nhất là con mắt của cái người gốc Do Thái làm chức năng cố vấn đặc biệt kia, cười cười đấy nhưng lại tối sầm ngay đấy như thoa phấn lại như móc da móc thịt đối phương nếu tìm được chỗ sơ hở.

Còn bên Sài Gòn ngồi cạnh với tư cách liên minh lại hoàn toàn ngược lại.

Hầm hầm, cau có như sẵn sàng nổi quạu, sẵn sàng văng tục với bất cứ ai, với cái gì không làm vừa ý họ, kể cả những người trong phái đoàn Mỹ.

Và đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngồi đối diện với họ rõ ràng là mang một phong thái ung dung tự tại, cái tự tại của người đến đây trong thế thượng phong, thế được mời mà nổi bật là mái đầu bạc và khuôn mặt hiền từ, thông tuệ như khuôn mặt của một thầy đồ của người cố vấn tối cao.

Người cố vấn này nhìn đồng hồ rồi nói nhỏ cái gì đó với vị đoàn trưởng có đôi mắt thi nhân hơn là chính khách đang dõi cái nhìn qua song cửa.

Vị này gật đầu rồi quay qua mỉm cười nói với vị trưởng đoàn Mỹ có vẻ cao niên hơn cả, thông qua lời dịch rất chuẩn và nhạy của bà mẹ Cường:

- Có lẽ ta nên bắt đầu đi thôi, thưa ngài Harriman?

- Vội gì!

- Vị trưởng đoàn Mỹ cũng mỉm cười lại, cái cười không rõ nghĩa của một nhà ngoại giao cao tuổi và có thâm niên.

- Chúng ta đã chờ được bốn năm, chờ thêm ít phút nữa đâu có là gì, thưa các ngài?

- Tôi biết điều mà các ngài đang chờ.

- Một thoáng giễu cợt ẩn trong giọng nói.

- Vâng, xin cứ chờ nhưng tôi thiết nghĩ sẽ không thay đổi được gì đâu.

- Hình như người Việt Nam các ngài có câu: Cờ bạc ăn nhau về sáng, đúng không?

Vậy ta chớ nên sốt ruột.

- Ông ta quay sang phía người trưởng đoàn Sài Gòn.

- Sao?

Tôi hy vọng rằng các ông sắp thông báo một tin vui?

Người này khẽ nhúc nhích cái thân hình béo tốt, nói giọng càu cạu và lộ rõ vẻ sốt ruột:

- Nó đang đến và chắc chắn sẽ đến, thưa các vị.

Và khi nó đến, tôi tin rằng cuộc hòa đàm của chúng ta sẽ được khơi thông.

Đến đây, người trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, một phụ nữ trung tuổi có nét đẹp Đông phương điển hình, thanh thoát, kín đáo và đoan trang cất tiếng nói trực tiếp bằng tiếng Pháp, mềm mại nhưng đanh thép:

- Chấp thuận một hội nghị gồm cả bốn bên là biểu hiện thiện chí hòa bình của chúng tôi.

Vậy các ngài cũng phải chấp nhận miền Nam Việt Nam đang tồn tại hai chính phủ, hai vùng đất, hai quân đội như một điều hiển nhiên, mà cái gọi là "bóng ma" như các ngài hay nói về chính phủ của Mặt trận Dân tộc giải phóng chúng tôi là hết sức viển vông, võ đoán.

Trưởng đoàn Sài Gòn nổi máu:

- Sao lại võ đoán?

Không có hai, ba gì hết mà thực chất chỉ có một và chỉ một mà thôi, đó là chúng tôi, chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Vị cố vấn tóc bạc của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhẹ nhàng hỏi lại:

- Đó là ý của Tổng thống các ngài hay chính là ý của ngài, thưa ngài trưởng đoàn rất đáng kính?

- Của ai cũng vậy, câu hỏi này không nhất thiết chúng tôi phải trả lời, vì chỉ một lát nữa thôi thưa các ngài, các ngài sẽ nhận được câu trả lời chính xác nhất.

- Chắc các ngài muốn ám chỉ chiến trường Quảng Trị và một vài mặt trận khác?

- Vị cố vấn vẫn nhẹ nhàng.

- Vậy ta cùng chờ.

Harriman, trưởng phái đoàn Mỹ hơi nghênh đầu:

- Hả?...

Xin các ngài nói to lên một chút, tôi năm nay đã tám mươi rồi, nói nhỏ là không nghe thấy gì đâu, cám ơn!

Một vài tiếng cười khẽ nổi lên nhưng không đủ xua đi được cái không khí nặng nề trong phòng.

Chiếc đồng hồ cổ lại lê đi từng giây ngột ngạt.

Dường như để đốt cháy sự im lặng, viên cố vấn của phái đoàn Mỹ cười to một tiếng, giơ ngang hai tay ra:

- Ô la la!

Tôi có cảm giác như chúng ta đang sắp sửa được nghe một bản giao hưởng Định mệnh gì đó của ông Beethoven?

Thì ra sự liên quan giữa chính trị xám xịt và nghệ thuật bay bổng luôn là bạn đồng hành chứ không hề đối lập!

Ok?

Vị cố vấn đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẽ vỗ tay, giọng nói vẫn giữ được cái chất hóm và vui vốn có:

- Bravo!

Một ý tưởng hay của một bộ óc được tiếng là uyên bác.

Vậy đối với ngài, cái tên Quảng Trị kia chắc là rất xa lạ nhưng chúng ta đều hiểu nó lại có ý nghĩa rất sâu sắc đến chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của các ngài, cũng như nó sẽ góp tiếng nói quyết định trong các vấn đề thương thảo cơ bản ngay trên bàn hội nghị này?

Vị cố vấn Mỹ nhún vai:

- Trong bất cứ tình huống nào, ông là người bao giờ cũng biết cách bóc trần tất cả sự thật bên trong cái vỏ mù mờ của nó, tôi rất thích.

Ok!

Vừa lúc một sĩ quan cấp tướng phía Sài Gòn bước vào, mặt đăm chiêu, ghé tai viên trưởng đoàn nói nhỏ cái gì.

Viên trưởng đoàn này lại ghé tiếp tai vị trưởng đoàn Mỹ.

Vị này nghênh đầu hả hả... rồi lắc đầu cười một tiếng rất nhạt, đứng lên:

- Không có gì thay đổi cả.

Chúng ta có thể bắt đầu!

Tất cả bên phía đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam thoáng đưa mắt nhìn nhau, nén một tiếng thở phào.

Bà trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam hơi nghiêng người về phía người mẹ của Cường, nói nhỏ: "Thành cổ vẫn trụ vững.

Cờ của chúng ta vẫn cắm chắc ở đó.

Cháu nó đang ở đó phải không em?

Có tin gì không?"

Người mẹ khẽ lắc đầu nhưng nét mặt lại tái nhợt đi như vừa mơ hồ linh cảm thấy một điều gì đó không lành từ trời cao rơi xuống.

Hơi ngước nhìn lên xa xăm, từ trong đôi mắt mờ mịt của bà bất giác ánh lên lời cầu nguyện khẩn thành chiết ra từ trái tim rớm máu của người mẹ: "Cường ơi... con ơi...

Mẹ tự hào về con, về đồng đội của con nhiều lắm.

Nhưng Cường ơi...

Đừng đi đâu xa cả, hãy đợi mẹ nhé..."



Lời cầu nguyên đó dường như đã có hiệu ứng thần giao cách cảm.

Cường không chết.

Anh đang dập dềnh nằm cạnh những thương binh khác trên một cái bè chuối tơ tướp.

Nước chảy xối xả dưới lưng, toàn thân băng bó trắng xóa, chỉ có đôi mắt là mở to nhìn lên bầu trời sáng rực ánh hỏa châu.

Tú nằm bên anh, cũng vòng băng quấn quanh ngực, thều thào: "Anh đừng chết nhé...

Em thương anh lắm!"

Cường chớp mắt.

Tú nói tiếp, giọng đã yếu lắm: "Em là người lính thật sự rồi phải không anh?"

Cường chớp mắt nữa.

"Em sẽ nhắn tin cho mẹ là thằng Tú tồ của mẹ đã trả thù được cho bố rồi."

Mắt Cường không chớp nữa mà từ đó, một giọt nước mắt chảy ra.

Anh đưa tay nắm lấy tay Tú, bóp chặt...

Đúng lúc một trái pháo nổ gần khiến cái bè bênh lên nhưng người lái đã kịp lấy được thăng bằng, chèo tiếp...

Nhưng trái thứ hai nổ ngay sát cạnh đã bẻ chiếc bè ra làm đôi, hất văng Tú và ba thương binh khác xuống dòng nước cuộn đỏ.

Vận hết chút sức lực để bám níu, Cường may mắn vẫn còn nằm lại được trên bè mặc dù nửa thân người đã chìm vào sóng.

Anh quằn mình cố chuyển người lên và vội nhìn xuống mặt nước đang sôi sùng sục...

Tại đó, cái thân hình của Tú đang chìm dần, chìm dần, vòng băng trắng quấn nơi ngực xổ ra, vật vờ nổi lên...

Bằng một nỗ lực cuối cùng, như cố bám níu lấy sự sống, cậu cố ngoi lên nhưng một làn sóng khác tràn tới, lại nhấn chìm...

Nước tràn qua khuôn mặt, tràn qua đôi mắt, tràn qua... tràn qua...

Trước khi đi hẳn vào lòng sông, dưới ánh pháo sáng lạnh lùng, ma quái, đôi mắt Tú còn mở to dưới làn nước nhìn lại anh như vĩnh biệt, như trách móc rồi mới từ từ chìm xuống...

Tú ơi!...

Cường hộc lên một tiếng đau đớn rồi dụi sâu mặt vào thân chuối, để mặc cho nước mắt trào ra, trào ra...

Cùng lúc, như một sự thăng hoa bất chợt và thần thánh, từ trong tâm tưởng rách rưới của anh, từ trong nỗi đau tột cùng của anh, một nét nhạc vang lên thao thiết, khổ đau, kiêu hùng.

Nét nhạc như lan khắp dòng sông kinh hoàng, lan qua những thây người tơi tả, lan qua mọi chết chóc đau thương bay thẳng lên bầu trời lửa cháy...



Vẫn đêm.

Cũng dòng sông ấy nhưng không phải là bom pháo, là ánh sáng hỏa châu, mà là sấm chớp xé ngang trời.

Và sau đó là mưa.

Mưa đền cây, mưa bù cho những tháng ngày nắng lửa không có một giọt mưa.

Bắt đầu mưa còn nhỏ, sau đó nặng hạt dần và cuối cùng là xối xả, rào rào.

Bầu trời mờ mịt.

Mặt sông chao nghiêng, nước sông dâng lên, dâng lên...

Mùa mưa bắt đầu!

Cái âm thanh lộp độp... rào rào... cùng với sự mát lạnh của nó sau cả một mùa khô khát bỏng cháy nghe mới quý giá đến sững sờ làm sao, nhưng đâu có biết rằng, những giọt mưa ấy đã đẩy con người ở nơi đây vào một hoàn cảnh cay nghiệt khác không lường được.

Chiều muộn.

Tại một trạm phẫu nằm cách Bến Vượt bờ bên kia sông chừng năm cây số về phía hạ lưu, dòng Thạch Hãn dưới kia đang vào mùa lũ xoáy cuồn cuộn.

Tiếng nước chảy như thác.

Cường đang nằm thiêm thiếp trong một căn hầm thùng có các vòm lá xơ xác ngụy trang bên trên.

Gò má hốc hõm, râu ria ra tua tủa, đầu, ngực và tay chân vẫn quấn kín những vòng băng đã chuyển màu xin xỉn.

Mưa đang quất từng đợt trên mái lá, gió thông thốc từ cửa biển thổi vào như muốn bứng đi tất cả.

Tiếng động ấy làm anh chợt tỉnh, he hé mắt nhìn ra và đôi môi khô xác khẽ nhúc nhích dãn nở như cười, cái cười của một tâm hồn suốt đời khao khát những âm thanh mới lạ.

Bất giác, anh cố đưa bàn tay còn quấn băng ra khỏi mép hầm như muốn nắm bắt những giọt mưa vàng bạc ấy nhưng không được.

Bàn tay thõng xuống, mí mắt lại từ từ khép lại...

Hồng từ dưới bến sông đi lên, cái bến ngày nào còn dốc thoai thoải nay nước đã láng líp bờ, trên tay cắp một xô quần áo, bông băng vừa giặt.

Cô gầy xanh và có phần tiều tụy đi hơn cả lần gặp trước ở cửa hầm thương binh, nhưng phải chăng vì thế mà đôi mắt càng trở nên hun hút, vời vợi.

Đôi mắt của người con gái đi qua chiến trường, đi sâu vào nỗi đau đồng đội.

Dừng lại bên anh, nhìn sâu vào khuôn mặt anh, đỡ lấy cánh tay thõng xuống của anh, cô nén một tiếng thở dài.

Chính cái nén tội tình ấy đã khiến anh mở mắt trở lại.

Đôi mắt mơ hồ xa ngái nhưng khi chạm vào cô, nó lại hơi sáng lên.

Cô lúng túng quay đi, mang xô quần áo ra phơi tạm ở một góc kín đáo không mưa rồi vào lán bếp mang lên một tô cháo còn bốc khói, ngồi xuống cạnh anh, đưa một thìa cháo lên miệng anh, dỗ dành:

- Ráng đi anh Cường!

Từ bữa qua đến giờ anh không chịu ăn chút gì hết.

Tiếng nói Cường còn yếu lắm:

- Lũ... lũ về phải không?

- Dạ!

Mấy chục năm nay chưa có con lũ nào lớn dữ thế này.

Cường lặng đi một chút:

- Anh em mình trong đó chắc khổ lắm!...

Tôi nằm đây mấy ngày rồi?

- Mười lăm ngày.

- Trời, đã hai tuần rồi kia à?...

Tình hình trong ấy ra sao?

Tiểu đội tôi liệu có ai còn sống không?

Hồng dỗ dành:

- Nào, chịu khó ăn hết bát cháo này, cháo cá sông đêm qua bọn em bắt được đó, rồi em sẽ nắm tin trong thành kể lại cho nghe!

Anh biết không, khi người ta đưa anh đến đây, nhận ra anh, em đã khóc đấy.

Bác sĩ bảo lúc đó anh một phần sống, chín phần chết.

Nào, há miệng ra!

Cường gượng nhấc đầu, để mặc cho thìa cháo trên tay cô nhọc nhằn chảy vào miệng.

Hồng cười nhẹ:

- Phải vậy chớ...

Gớm, đêm hồi hôm anh mê gì mà mê dữ vậy?

Nói mê mà như hát ấy, buồn lắm, nghe muốn khóc.

- Tôi sắp được tháo băng chưa?

- Cường đột ngột hỏi.

- Chưa, còn mấy chỗ bị nhiễm trùng.

Ăn nguyên trái da láng mà vẫn sống được như anh thật là hiếm.

Kìa, còn mấy thìa nữa, chịu khó ăn, khỏe mới trở về tiểu đội được.

Nào nào, há miệng ra...

Đó, ngoan lắm...

Không hiểu do khát khao mau lành vết thương hay do chính câu nói giọng Quảng Trị thật đằm ngọt đó mà anh ngửa cổ cố nuốt đến thìa cháo cuối cùng rồi nằm vật ra thở...

Tối hẳn.

Trời vẫn mưa.

Tiếng mưa trộn bết vào tiếng pháo nghe ùng oàng dấp dính như cái cổ họng con quái vật bị nghẹn.

Ánh sáng pháo trộn vào ánh sáng đèn đỏ cạch.

Những giọt mưa cũng đỏ như những giọt máu.

Cả dòng sông hòa máu.

Máu dâng ngang trời.

Có rất nhiều cáng thương đi qua cửa hầm.

Có rất nhiều chiến thương dìu nhau, chống nạng cũng đi qua... dài như bất tận, xám như một nốt trầm thê lương trong bản tổng phổ có rất nhiều giai điệu trái chiều đang vang trong cái đầu nhức buốt ong ong của anh.

Dưới kia, trong khu lán nhập nhòa, nhớp nháp, cái dáng mảnh gầy của Hồng và các cô hộ lý cứu thương khác đan qua đan lại giữa bông băng, rên la và máu mủ.

Một người đàn ông trung tuổi khoác bồng, mang súng ngắn đi theo đường mòn trơn truội rẽ nhanh vào khu lán.

Chạm Hồng chạy qua, hai bàn tay, cổ, má lấm tấm máu, anh giữ lại:

- Chào cô!

Cô cho tôi hỏi có một thương binh tên Cường, D18 Thành cổ nằm ở đây không?

Cô gật đầu, chỉ về phía hầm của Cường rồi lại tất tả chạy đi, chạy được vài bước, cô bỗng nhìn lại người đàn ông vẻ nghi ngại rồi lại chạy tiếp.

Trong hầm, người đàn ông ngồi xuống bên Cường, nhẹ nắm lấy mấy ngón tay còn băng kín của anh:

- Đã đỡ chưa đồng chí?

Cường nhúc nhích cặp môi khô nứt, gật đầu.

Người này nói luôn:

- Thế này nhé!

Mình ở trên mặt trận, đồng chí Cục trưởng chính trị mặt trận chuyển lời biểu dương thành tích phá thế cắm cờ của đơn vị và của cậu.

Thành tích này đã tác động rất mạnh đến mặt trận ngoại giao của ta trên bàn hòa đàm chiến lược...

"Mẹ tôi có khỏe không?..."

Nếu là người khác, một người từ bên kia trở về chẳng hạn thì chắc chắn anh đã hỏi câu đó nhưng ở đây, lúc này, trước câu nói ấy, anh chỉ cảm thấy trào ứ trong lòng một cảm nghĩ đau đáu về tiểu đội.

Tú ơi...

Thoáng nhớ lại đôi mắt Tú trừng trừng nhìn lên anh rồi lặng lẽ chìm sâu vào dòng nước, anh bật khóc mà không thể kìm được.

Người cán bộ cũng lặng đi và chắc sẽ còn lặng đi lâu hơn nữa trong sự đồng cảm thiêng liêng trước mọi mất mát hy sinh của người lính nếu như cái kim đồng hồ trên tay anh không báo hiệu đã đến lúc phải đi.

Anh cúi xuống nhìn thẳng vào đôi mắt còn ướt nước của Cường:

- Đồng chí Cục trưởng muốn hỏi là cậu đã rèn luyện, đã chiến đấu thế đủ chưa, nếu đủ rồi, mặt trận sẽ chuyển cậu ra Bắc dưỡng thương, sau đó đi đào tạo dài hạn ở nước ngoài, đào tạo đúng cái nghề cậu đang theo học.

Cả hai đều không hay rằng lúc ấy, đôi mắt mở to của Hồng hiện ra sau mắt lá đang dõi nhìn vào.

Ra Bắc... dưỡng thương... nước ngoài...

Những từ ngữ mới lung linh, lấp lánh làm sao!

Nếu gật đầu thì anh sẽ sống, sẽ có tất cả, sẽ được trở về bên mẹ, sẽ mở ra một trang mới trong cuộc đời mình, còn lắc đầu là xong, là hết, là không còn gì nữa ngoài sự biến vào hư vô giữa dòng Thạch Hãn.

Chao ôi!

Những ngày tưởng như không chịu nổi áp lực khủng khiếp của cuộc chiến bảo vệ Thành cổ vừa rồi, không phải không có lúc anh đã thoáng nghĩ đến điều này, thậm chí nó còn trở đi trở lại nhức nhối, nhưng giờ đây, tất cả đã gắn kết vào cơ thể anh, đã nhập sâu vào hồn anh, anh không thể có nẻo nào khác để chọn.

Mà nếu muốn chọn thì anh đã chọn ngay từ lúc ông Tư lệnh mặt trận gợi ý trước khi lâm trận chứ đâu phải chờ đến tận bây giờ?

Và sự có mặt của con người này ở đây chắc chắn cũng có sự can thiệp của bác ấy.

Không!

Nét mặt trở về sự thanh thản được toát từ trong ra, Cường se sẽ nói:

- Anh nói em cám ơn nhưng em không thể đi lúc này, không thể, bạn bè em còn nằm cả trong đó.

Nán lại một chút rồi người cán bộ đứng dậy, giọng nói trở nên cảm kích khác lạ:

- Đây là một câu trả lời mà không phải ai cũng có thể trả lời được.

Nó cắt nghĩa tại sao người lính chúng ta có thể có sức chịu đựng phi thường đến như thế.

Tùy đồng chí, nhưng nếu nghĩ lại cứ báo qua đồng chí chính ủy Bộ chỉ huy Thành cổ.

Chào!

Mong gặp lại!

Người cán bộ vỗ vỗ lên vai anh mấy cái rồi đi ra, cái dáng đi gù gù khuất nhanh trên con đường mòn nhầy ướt dẫn tới cửa rừng.

Cường mở to mắt nhìn chếch lên bầu trời vẫn mưa bay vần vũ, khẽ thở phào kiệt sức như vừa thoát ra khỏi một trận đánh lớn, trận đánh giằng xé dữ dội trong tâm hồn để tự chiến thắng mình.

Mẹ ơi!

Không còn tay để viết nhật ký nữa, anh đành viết thầm những con chữ trong đầu cũng như không biết bao nhiêu lần những nốt nhạc, những giai điệu mới mẻ lạ lẫm nảy sinh cũng được anh viết thầm như vậy.

Mẹ ơi, ở bên đó mẹ có hay tin chúng con đã phá được cái trò cắm cờ ma giáo của chúng không?

Nếu biết, chắc mẹ sẽ vui lắm và chắc mẹ sẽ càng vui hơn khi biết chính đứa con ở nhà vốn đa sầu đa cảm của mẹ đã là người cuối cùng ném cái cờ ba sọc ấy xuống đất.

Lá cờ nhàu nát vô nghĩa ấy lại có ý nghĩa trên mặt bàn hòa đàm lắm hả mẹ?

Sâu xa, phức tạp quá con chưa hiểu thấu đâu, nhưng vẫn có một cái gì đó mơ hồ trong con mà con cố thoát vùng không ra.

Mỗi ngày hy sinh một đại đội đủ!

Đại đội đủ là bao nhiêu mẹ biết không?

Nhiều lắm mẹ ạ!

Bạn bè đi gần hết rồi, chắc chắn rồi cũng sẽ đến lượt con, chỉ chưa thật biết con mụ thần Chết hôi hám đó lúc nào sẽ thè cái lưỡi đỏ loét ấy liếm vào con...

Chết con không sợ, nhưng phải chứng kiến đôi mắt mở to ngơ ngác của Tú, một cậu bé chưa tròn mười bảy tuổi chìm dần vào lòng nước đỏ quạch là đầu óc con cứ ong ong lên.

Các đồng chí chỉ huy ở chỗ con hay nói đến thuật ngữ "anh hùng".

Họ quan niệm anh hùng là một cái gì đó rất phi thường, một cái gì đó ở người bình thường không làm được nhưng cọ xát rồi con mới thấy, người anh hùng là người cũng sợ chết, thậm chí là người sợ chết nhất, nhưng biết vượt qua cái sợ ấy sẽ trở thành anh hùng.

Tú là một người anh hùng mẹ ạ!

Anh hùng thật sự, anh hùng không tự biết.

Còn con, con chưa bao giờ nghĩ mình sẽ là anh hùng mà cũng không thích mình là anh hùng mặc dù sau chuyện cờ quạt vớ vẩn vừa rồi, họ gọi con là người lính có hành động anh hùng.

Hay con là anh hùng thật hả mẹ?

Vì con đã hai lần dám khước từ khi các chú định đưa lên mặt trận, đưa về chỗ sống.

Mẹ, con... tức bụng quá!

Hồng đi đến với hộp ống tiêm trên tay, nhẹ vén lại tấm mền đắp trên ngực anh, im lặng...

Giây lâu cô mới nói như hờn dỗi:

- Chịu khó ăn nhiều vào để mai mốt ra viện còn lấy sức mà đi...

- Đi đâu?

- Đi ra Bắc...

đi học nước ngoài!

- Ai bảo với Hồng như vậy?

- Cần gì ai phải bảo?

Anh cười nhẹ rồi bất giác mặt trở nên nhăn nhó, khổ sở:

- Cậu... cậu Hoàn bị thương vào chân nằm cạnh tôi đâu rồi, em?

- Cường hỏi.

- Anh ấy trở về bên kia sông rồi.

Lúc chuyển đi, anh còn ngủ.

Anh ấy gửi lời chào và chúc anh mau lành!

"Chúc chiếc gì!"

Cường nhăn mặt.

"Kiểu này là chết sặc gạch đây!

Có nó, hằng ngày nó còn giúp mình giải quyết được cái chuyện kia, giờ biết làm sao?"

Anh ngọ nguậy rồi nhìn quanh:

- Cả cái... cái đồng chí y tá nam hồi trưa đâu không thấy nhỉ?

- Anh ấy được điều lên trạm phẫu phía trên rồi.

Có gì không anh?

Cường không trả lời, càng ngọ nguậy.

Rồi vẻ như không nén nổi, anh đành buột miệng:

- Lấy cho tôi xin cái...

ống lon.

Hồng bỗng hiểu ra, cô cúi xuống hỏi:

- Anh muốn...

đi phải không?

Cường gật đầu:

- Em đỡ tôi dậy một chút rồi... rồi quay đi nhé!

- Sao lại phải quay?

- Hồng ngơ ngác.

- Bảo quay thì cứ quay!

- Cường đột nhiên cáu.

- Chuyện đàn ông.

Chợt hiểu ra, Hồng nghẹn giọng:

- Anh Cường!

Đến thế này mà anh vẫn còn...

ư?

Đây là công việc của tụi em.

Người quay đi lúc này phải là anh...

Không biết làm sao, anh đành im lặng như một sự phó mặc.

Cứ nói qua nói lại kiểu này rồi thì... tè ra quần bây giờ!

Một thoáng ngượng ngập lướt qua, cô mạnh dạn đỡ anh ngồi dậy, cho anh dựa lưng vào ngực mình rồi từ từ cúi xuống, khe khẽ tháo vén vòng băng ở chính cái chỗ...

Đột nhiên cô hơi đánh mặt đi, gò má lựng đỏ trong khi người thương binh khẽ rùng mình một cái rồi, qua chân sạp, một dòng nước nhỏ rỉ rả chảy vào lon...

Xong, cô lại lặp lại động tác như cũ, thành thạo và dứt khoát hơn rồi đặt nhẹ anh xuống.

Đôi mắt anh khổ sở nhìn lên:

- Hồng...

Làm vậy tôi thấy thế nào ấy, kỳ lắm, không được đâu.

Hồng nghiêm mặt, làm bộ gắt nhẹ:

- Thế nào là thế nào?

Anh đang là thương binh, em là y tá, chuyện nó phải thế, em còn chả nghĩ nữa là anh.

- Tôi... tôi xin lỗi!

Hồng cười khẽ:

- Ai dạy anh xin lỗi nghe hay vậy?...

Chiều nay em sẽ mượn bác sĩ trưởng trạm con dao cạo, cạo râu cho anh.

Nhìn anh bây giờ giống như là người đẻ ra cái anh Cường dạo trước í, rõ chán!

Cường bất giác nhìn lên cô, giọng chìm xuống:

- Hồng...

Em cũng xanh và gầy đi nhiều lắm!...

Nghe nói có khi cả tuần bọn em không được ngủ một đêm nào!

- So với các anh trong thành đã là gì.

Cường hơi ngẩng đầu lên, lần đầu tiên anh nhìn lâu vào mắt cô, đôi mắt lúc này hun hút, mênh mông những nỗi niềm trắc ẩn:

- Hồng...

- Dạ...

- Em có muốn anh ra ngoài kia điều dưỡng không?

- Cái đó anh tự trả lời, em làm sao mà biết.

- Cô quay đi, tiếng nói nhỏ dần.

Cường khẽ cầm lấy mấy ngón tay gầy guộc, xanh xao của cô:

- Em biết không, nếu anh quyết định ở lại không đi đâu cả là cũng... cũng một phần vì em.

Cô gái khẽ rùng mình rồi nhẹ rút tay ra, đôi mắt rơm rớm nước.

Ngoài kia mưa vẫn quất từng hồi trên mái lán, gió vẫn từ cửa sông thông thốc thổi vào...

Cô bất thần cúi xuống hôn nhanh vào má anh một cái rồi vùng chạy đi...
 
Mưa Đỏ
Chương 23


Trong khu thành nội Huế cũng đang mưa.

Nhưng màn mưa dai dẳng không dứt ở đây chỉ làm cho bóng dáng các cô gái đạp xe đi qua cầu Trường Tiền, đi qua những con phố cổ trở nên phiêu diêu lãng mạn đến nao lòng.

Sự lãng mạn dường như không một chút dính dáng gì đến cái địa ngục trần gian chỉ cách đó không đầy trăm cây số.

Trong căn biệt thự u tịch của Quang, bà mẹ đang ngồi lọt thỏm, mỏng dính trên chiếc xô pha nỉ trắng trống trải đặt giữa phòng khách.

Với vẻ mặt bất an, bà lại đang khẽ lần chuỗi tràng hạt đeo nơi cổ, miệng lầm rầm điều gì nghe như là xa vắng, như là âu lo, ngậm ngùi.

Từ trên gác, Quang nhảy hai bậc cầu thang đi xuống, quân phục chỉnh tề, cánh tay trái còn treo nơi ngực bằng một vòng băng màu xám.

Hắn đến bên mẹ, cúi xuống áp mặt vào mái tóc đã điểm bạc của mẹ, khẽ nói:

- Mẹ, con đi đây.

- Đi đâu?

- Giọng bà thảng thốt.

- Trở về đơn vị.

- Ai bắt con phải đi khi con còn đang được nghỉ dưỡng thương kia mà.

- Con tự bắt.

Mảnh đất quái quỷ ấy đã vón cục, đã thành ám ảnh trong con rồi.

Trước đây là một cô gái, bây giờ là thêm một chiến binh phía bên kia.

Con không chịu nổi cái nhìn của nó khi kíp tạc đạn trên tay con đã được rút ra, cái nhìn trong veo của một đứa con nít.

Bà mẹ đứng dậy ôm lấy bờ vai vạm vỡ của con:

- Trời, con tôi bị hoang tưởng mất rồi.

Đứa con quỳ xuống bé bỏng:

- Thì cả cuộc chiến chết tiệt này cũng chỉ là hoang tưởng khi mà người ta đổi hàng tấn máu tươi để có được một đồng lời chính trị bẩn thỉu trên bàn mặc cả bán buôn.

Và con, con sẽ tìm trong sự bẩn thỉu đó những gì ít bẩn thỉu nhất để có chỗ dựa mà sống, nếu không cuộc đời này còn ra cái thể thống gì nữa!

Bà mẹ khẩn khoản:

- Con chịu khó nán lại thêm một ngày, chiều nay ba con sẽ bay từ Sài Gòn ra, hai cha con ngồi với nhau một chút rồi con có quyết định gì thì quyết định.

- Con không thích gặp ông ấy.

Con không muốn ông ấy lại tiếp tục nhồi vào đầu con những khát vọng thực dụng mà từ lâu con đã chán ngấy.

Có tiếng cười nhẹ.

Cô bạn gái điệu đàng của Quang đã bất chợt đứng ở cửa phòng từ lúc nào, nghe trọn câu cuối, cất tiếng cười giễu cợt:

- Kẻ thù trên cơ hay sự vô nghĩa của trò đánh đá đã đẩy anh trở lại tổ kén của mình thế này?

Ôi người hùng tội nghiệp của em!

Chào anh!

Đến sáng nay em mới biết anh bị thương và đang trị thương ở nhà.

Quang đứng phắt dậy, trừng mắt nhìn cô ta với cái nhìn của con thú bị tổn thương rồi từ từ đi đến định dang thẳng một cái tát vào giữa khuôn mặt đẹp đang vênh váo lên kia nhưng rồi lại thôi.

Không hiểu vì ánh mắt tồi tội của bà mẹ hay vì chính đôi môi đầy nhục cảm và khuôn ngực căng mẩy nóng nhức của con gái hiện ra ngồn ngộn ngay trước mặt kia, trước mặt một con đực mạnh mẽ đã thiếu vắng hơi đàn bà cả mấy tháng nay buộc hắn phải dừng lại.

Hắn lạnh mặt, hất đầu lên trên gác:

- Tốt!

Tôi cũng đang muốn gặp em, lên trên kia tôi có chuyện nói.

Hắn lặng lẽ đi lên trước, cô ta líu quýu bước theo sau như đã cồn cào chờ đợi cái khoảnh khắc này từ lâu.

Cánh cửa phòng được ập lại, khóa trái.

Không nói không rằng, vẻ đói khát vằn lên mắt, hắn ẩy mạnh cô ta ngã ngửa xuống giường, xé tung quần áo, xé luôn đồ lót, chồm lên, đè nghiến, vùi mặt vào tảng da thịt trắng nhễ nhại, điên loạn...

Nhưng đúng vào lúc toàn thân con gái đờ ra, mắt nhắm nghiền, thở dốc, hai chân dang rộng chờ đợi thì hắn lại đột ngột ngồi dậy, vẻ mặt kinh hoàng:

- Có mùi xác chết!

Hắn rú lên một tiếng và vội mặc lại quần áo, đi như chạy xuống...
 
Mưa Đỏ
Chương 24


Vị Tổng thống của cái quốc gia đang hấp hối hằng ngày vốn nhã nhặn, lịch lãm, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn biết giữ một nụ cười tươi tắn với mấy chiếc răng khểnh nơi khóe miệng đã khiến cho không biết bao nhiêu các mệnh phụ phu nhân, kể cả các cô tiểu thư con nhà giàu phải lòng xiêu đảo thì giờ đây lại xếch mày trợn mắt, giận dữ lia tay ngang mặt viên Trung tướng tư lệnh con cưng, át chủ bài của hệ thống quân lực có nét mặt võ vàng:

- Nhục!

Rất nhục!

Nhục lắm ông tướng được mệnh danh là người hùng ạ!

Có cái thành bé bằng miếng thịt bò giữa chợ ấy mà các ông đã chôn vùi cả uy lực, cả danh dự của quân nhân xuống đó.

Thời hạn đã ngốn hết gấp ba thời gian theo dự định mà nó vẫn cứ trơ ra là thế nào?

Rồi lại chỉ có một miếng giẻ con con hình ba sọc đó mà các vị cũng không cắm nổi lên cái mặt Thành cổ chết tiệt ấy.

Và khốn nạn, đến ngay cả cái trò cắm cờ lên một bức tường thành giả cũng không xong nữa!

Thiên hạ nó cười vào mặt tôi, Hà Nội chúng nó cười vào mặt tôi, người Mỹ nó cũng cười vào mặt tôi.

Nhục!

Mỗi tiếng "nhục" như một búng nước bọt bắn vào giữa mặt viên tư lệnh làm hắn lúi chúi cúi xuống không biết phản ứng ra sao.

Chưa nguôi ngoai cơn giận, viên Tổng thống đi đến trước viên Đại tá đội mũ nồi đỏ, giọng mát mẻ:

- Sao, ông đó à, ông chỉ huy trưởng đội quân Thiên thần mũ đỏ!

Sau khi được đưa vô thay sư dù, ông hứa đinh ninh với tôi chỉ trong vòng nửa tháng sẽ san phẳng mà bây giờ là mấy cái nửa tháng rồi?

Các ông tính vừa đánh vừa ngủ à?

Hay là không đánh nổi thì cũng phải nói với tôi một tiếng để tôi còn liệu chớ!

Viên Đại tá sư trưởng có một vết thẹo còn chưa lên da non trên gò má làm cho khuôn mặt hắn đã cô hồn lại càng cô hồn đứng thẳng người:

- Thưa, sư đoàn thủy quân lục chiến đã làm hết sức, mười tiểu đoàn thì tới bảy tiểu đoàn đã bị xóa phiên hiệu là một minh chứng ạ.

- Tôi không cần minh chứng, đây không phải lịch sử mà là hiện tại.

Hiện tại lúc này là tôi cần tái chiếm.

Và các ông cũng không phải sử gia mà là người lính, người lính lúc này là chỉ biết chết cho vận mệnh quốc gia.

- Thiệu đưa ngón tay búng búng vào cái ve áo có gắn ba bông mai vàng trên cổ viên Đại tá.

- Vậy mà kỳ này lên đây, tôi đã tưởng chính tay tôi sẽ có hân hạnh được thay cái lon hàm rườm rà này bằng một cái lon hàm khác tinh gọn hơn kia đấy.

Ông, các ông đã làm tôi thật sự thất vọng.

Quay qua viên Trung tướng, Thiệu lạnh lùng:

- Nếu ngài sư trưởng đây đã hết sức thì lại để sư dù vô tăng cường.

Cần thiết, tung luôn cả liên đoàn biệt động vô nữa.

Vậy là đủ mặt anh tài, đủ mặt những đơn vị thiện chiến, vinh danh nhất của lực lượng tổng trù bị.

Cả ba viên chỉ huy của ba đơn vị mà Thiệu gọi là thiện chiến, là được vinh danh đệ nhất của lực lượng tổng trù bị ấy vội đứng thẳng người nhưng rõ ràng là cái thẳng đó chỉ mang ý nghĩa thuần quân lệnh.

Thiệu vẫn riết róng:

- Mỗi ngày chi hàng ngàn trái bom pháo các loại, có thể nói chi nhiều nhất trong cả cuộc chiến tranh, đến con chuột cũng không sống nổi, vậy mà các ông vẫn không tiến được nửa bước.

Viên cố vấn Mỹ cao cấp có mái tóc bạch kim lần trước đã đi cùng Thiệu, lúc này từ phía sau ôn tồn lên tiếng:

- Phải thừa nhận sức chống trả của phía bên kia là một bất ngờ, bất ngờ ngay cả với Washington và bất ngờ ngay tại hội nghị Ba Lê .

Paris, cách gọi của Mỹ - ngụy.

Như đã bị dồn nén từ lâu, câu nói ấy chẳng khác gì quẳng thêm que diêm vào lửa, Thiệu quặc luôn:

- Xin ông cố vấn thôi không nhắc đến cái hội nghị đó nữa, một thứ ba bị mà chúng tôi không có một tiếng nói đích thực nào.

Việc tái chiếm điểm này điểm kia là việc của chúng tôi, danh dự của chúng tôi chứ nó không hề liên quan đến một thứ hội nghị nào hết.

Các vị cần rút thì cứ rút chứ ở đây, ở cái mảnh đất chúng tôi đã đổ biết bao xương máu này làm gì có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng đất, các vị có nằm mơ không?

Bị phản ứng bất ngờ, viên cố vấn Mỹ thoáng sạm mặt lại nhưng lại cố nở một nụ cười giả tạo rồi rút điếu xì gà ra gõ vào mặt đồng hồ đeo tay mà không có ý châm lửa.

Được đà, Thiệu nổ tiếp, cái tiếng nổ đã ủ ở trong người khá lâu giờ mới có dịp được phát lộ:

- Thực chất cuộc chiến lúc này là cái gì, thưa các ông và ông cố vấn?

Là chúng ta không chỉ đánh với Hà Nội mà phải đánh cả với Nga Xô và Trung Cộng nữa, còn ta thì sao?

Chỉ có một chiếc gậy chống lưng là người Mỹ thì họ tự động rút ra rồi!

Đây là sự tráo trở bỏ của chạy lấy người hay là bi kịch của sự liên minh không trung thực, thưa ngài cố vấn rất khả kính?

Viên cố vấn Mỹ chỉ khẽ nhún vai không trả lời và qua làn khói xì gà đang cháy, ông ta rất hiểu lúc này có trả lời, có nói gì đi nữa thì cái con người như một con bệnh tâm thần đang bị xô đến chân tường chính trị kia cũng không đủ tỉnh táo thu nhận được gì ngoài những câu nói mỗi lúc mỗi bỗ bã, ngông cuồng hoàn toàn không xứng với khẩu khí cần thiết của một tổng thống vào lúc nhạy cảm nữa.

Như để kết thúc, viên Tổng thống một lần nữa bước đến trước mặt gã Trung tướng tư lệnh, hạ giọng xuống nhưng nghe có cả sự u uất không giấu được bên trong:

- Thưa ông tướng, giờ phút này, giữa kinh thành xưa, liệu tôi có diễm phúc được nghe từ ông, một sĩ quan tài ba nhất quân lực, một phát kiến nào có thể cho là đáng hy vọng hơn không?

Viên Trung tướng lúc này mới ngẩng lên, mắt tối sẫm, giọng nói cố tỏ ra dõng dạc:

- Thưa, nếu chiến thuật tốc chiến tốc thắng của sư dù không xong, chiến thuật lấn dũi của sư thủy quân lục chiến cũng không xong thì xin trình Tổng thống, ta sẽ dùng chiến thuật đánh nhỏ đánh lẻ, đánh đúng theo kiểu của đối phương, dĩ độc trị độc bằng lực lượng biệt động vào khu thành và một khi đối phương đã kiệt quệ, ta sẽ dồn một cú hích tổng lực.

Mùa mưa sẽ làm cho cú hích phát huy hết hiệu quả và sẽ làm cho chúng trở thành lũ cá nằm trong rọ, muốn cất vó lúc nào thì cất.

- Muốn cất lúc nào thì cất!

Ông nói vậy có lãng mạn quá không?

- Thiệu nhếch mép.

- Thưa, trong chiến tranh, khi tình huống rơi vào hiểm nghèo nhất thì người lính lại rất cần một chút lãng mạn để...

- Để làm gì?

- Thiệu lại nhếch mép.

- Để bay lên hay để nhủi đầu xuống?

- Dạ!

- Gò má Tướng Ngô Quang Trưởng chuyển sang tái nhợt vì cố nén.

- Dạ, đây là canh bạc cuối, thử thách cuối, nếu thất bại, tôi xin được ra đi, thưa Tổng thống.

Thiệu khẽ thả ra một tiếng cười nhạt từ đôi môi đỏ như ăn trầu:

- Nếu chỉ là ra đi để khỏi phải gánh cái trách nhiệm trước quân lực, trước lịch sử thì đến chính tôi cũng muốn ra đi, ra đi ngay bây giờ, quá nhẹ!

Lúc này là hành động, chỉ có hành động.

Tốc chiến ư?

Đánh dũi ư?

Hay đánh luồn sâu nhỏ lẻ?

Tôi, nhân danh tổng thống, tổng tư lệnh quân đội, hạ lệnh cho các ngài, dù với bất kỳ kiểu đánh nào, phải giải quyết xong cái mụn bọc này trước khi mùa mưa chấm dứt!

Tất cả đám sĩ quan tướng lĩnh đều đứng thẳng như một sự tuân lệnh, nhưng rõ ràng tiếng dập gót giày không còn kêu vang, không còn tắp đều như cũ, thậm chí nghe còn có tiếng xịt trễ nải.

Với đôi mắt xanh lét như mắt mèo ăn đèn, viên cố vấn Mỹ nhận ra điều đó, lần đầu tiên thấy ông ta đưa mắt nhìn lảng đi, vẻ mặt thoáng chán chường như thể ngạc nhiên vì chuyện cớ sao những con người như thế này mà lại là đồng minh số một của Nhà Trắng bấy lâu nay?

Và nếu được nói một câu gì đó với viên Tổng thống người bản xứ có cái dáng tay chơi tài tử óng ả kia lúc này thì câu đó sẽ là: "Thưa ngài Tổng thống, vấn đề lúc này có lẽ không còn là cách đánh nữa mà là tinh thần đánh.

Tôi thấy mới rời cái bầu vú Mỹ ra có một chút mà tinh thần của các ngài xuống quá.

Thật tiếc!"

Và, người cố vấn nghĩ tiếp, mai mốt trở về bên kia Thái Bình Dương, nếu được nói với ông chủ Nhà Trắng một điều thì điều ấy sẽ là: "Khi đã chọn nhầm đối tác chiến lược thì việc ta thất bại ở chiến trường Việt Nam âu cũng là điều dễ hiểu."
 
Mưa Đỏ
Chương 25


Chiến tranh thường có những khoảng lặng không thể hiểu nổi!

Do mệt mỏi ư?

Kiệt sức ư?

Hay nín lặng một chút để xả hơi?

Hay con người bắt đầu trở nên trống rỗng, chán nản sau những giây phút kiệt quệ vô nghĩa?

Có thể có tất cả mà cũng có thể chả có cái gì.

Chiến tranh là vậy, bí hiểm, trần trụi và biến ảo khôn lường.

Cũng như chiều nay không hiểu sao bầu trời lại trở nên im ắng thế này?

Cuộc sống cái gì cũng có thể trở thành quen.

Bom pháo nhiều quá, quen!

Cơ khổ đến tận cùng, quen!

Và chết chóc nhiều quá, cũng quen!

Nhưng bỗng một ngày không có gì cả, không tiếng nổ, không chết chóc, không khổ đau thì lại thấy không quen được.

Như chiều nay trong khu vực trạm xá, tĩnh lặng đến khác thường, đến gần như giả tạo.

Nhưng con người cũng biết lợi dụng cái giả tạo ấy để trở về với công việc bận rộn của mình.

Trở về với cả những điều thầm kín riêng tư mang sắc màu lãng mạn nữa, mà nếu không có nó, cuộc chiến đấu dù có cao sang đến mấy cũng trở thành vô nghĩa, nghèo nàn.

Như sự chia tay của hai con người sinh ra từ hai vùng đất nhưng lại gặp nhau trong một chiến trận sinh tử có một không hai trong lịch sử chiến tranh dân tộc này.

Họ đang ngồi bên nhau ở bìa sông.

Dòng Thạch Hãn chiều nay êm đềm chảy ra cửa biển nhưng trong đôi mắt của họ lại có sóng nước dào lên.

- Vậy là đêm nay anh qua sông rồi?

- Hồng bẻ một cọng cỏ, ném bâng quơ xuống dòng nước.

- Nhanh quá!

Mới đó với đó mà đã nửa tháng trôi qua.

- Cường nói và nhìn nhanh sang khuôn mặt chao nghiêng rất đẹp của Hồng.

- Em có biết tại sao chiều nay lại im pháo không?

- Sao kia?...

- Trời Phật muốn ban cho chúng mình một đặc ân được ngồi giữa thiên nhiên ngát gió thay vì suốt ngày phải đập mặt vào bốn bức vách hầm ngột ngạt.

Bật lên một tiếng cười rất khẽ:

- Trước khi vô đây, anh Cường là sinh viên trường Nhạc phải không?

- Còn năm nữa anh sẽ ra trường.

Cũng nghe nói em là dân Văn khoa?

- Em còn ba năm nữa.

Sao nhiều sinh viên vậy hỉ?

Cứ đánh nhau miết như ri, sau này hòa bình còn có ai ngồi vào ghế học đường nữa?

Câu nói buồn như một hơi thở đêm.

Cường bất giác nắm lấy tay cô:

- Chính ra chiến tranh không nên có khuôn mặt đàn bà con gái, một mình cánh con trai bọn anh là đủ rồi, nhưng... giả dụ không có em, không có những cô gái thấp thoáng đi lại thì cuộc phòng thủ Thành cổ này, mọi sự sẽ buồn, sẽ nghèo đi biết chừng nào.

- Anh Cường nói hay nhỉ?

Nhưng cái đó chỉ là ảo giác thôi, em sợ rằng khi hết bom đạn, ảo giác cũng hết theo, có thể anh lại nghĩ khác.

- Không!

Em biết không, trong một góc khuất nào đó, anh lại thầm cám ơn bom đạn đã cho anh gặp được em, người con gái lạ lùng mà ở vào hoàn cảnh bình thường, chắc chắn có đi tìm mỏi mắt cũng không ra.

- Anh Cường...

- Anh nghe!

- Đầu óc em sao ấy, em vừa muốn anh ra ngoài kia như lời chú gì hôm rồi nói, lại vừa muốn anh ở lại, cũng như lúc này đây, em vừa muốn anh sang sông đêm nay, lại vừa muốn anh đừng đi đâu hết, vẫn cứ nằm như vậy, ngoan ngoãn, băng bó cùng mình để em được...

- Hồng...

Anh hiểu, anh cám ơn em!

Anh kéo cô gái vào sát người, nâng khuôn cằm mảnh mai của cô lên...

Mắt cô hơi nhắm lại, cặp môi tai tái run run chờ đợi...

Nhưng cái chờ đợi cồn cào ấy chưa kịp trao nhau thì tiếng rít của pháo từ cửa Ái Tử bay vào đã xé ngang đôi môi họ ra.

Cường vội đứng dậy:

- Vào đi em!

- Không!

Cô nói và ghì lấy khuôn mặt xanh xao của người con trai vào sát mặt mình, cuống quýt đặt lên môi, lên khắp mặt anh những nụ hôn ẩm ướt, khắc khoải.

- Cường...

Em thương anh... yêu anh...

Em không cho anh chết đâu...

Anh không được chết...

Anh phải trở lại bên này sông với em...

Pháo vẫn rít từng hồi.

Tiếng nổ lại dựng sóng trên mặt nước, cả hai bờ bùng lửa, chao nghiêng.

Họ vẫn đứng sát vào nhau, đắm chìm, bất chấp như lúc này chỉ có họ là hiện hữu, còn ngoài ra tất cả là không có thực...

Và giữa cơn rung giật náo cuồng của tử thần, câu cuối cùng anh nghe được từ hơi thở nóng bỏng của Hồng là: "Cường ơi...

Em nói cái này nè!

Tập tục ở quê em bảo rằng nếu một người con gái đã nhìn thấy, đã chạm vào... cái ấy của người con trai thì người con trai ấy coi như đã là chồng mình rồi."

"Coi như đã là chồng mình rồi..."

Câu nói này sẽ theo anh đi cho đến những giây phút cuối chót cuộc đời.



Cường sang được sông thì trời đã rạng sáng.

Và một chút xíu nữa anh đã phải trở lại trạm phẫu nếu như mảnh pháo không sượt qua cổ anh găm thẳng vào ngực một cô gái chèo thuyền.

Mưa vẫn tối đất tối trời.

Trước mặt anh, cảnh vật khu thành hiện ra khác lạ đến nỗi anh cứ đứng ngây ra như không còn tin ở mắt mình!

Cái khô cằn, tơ tướp, bụi bay rát mặt ngày nào không còn nữa, thay vào đó là một vùng nước đỏ sóng sánh, sột sệt ăn ngập vào tận chân tường thành.

Tuy vậy, như một cái gì thân yêu nhất bây giờ được gặp lại, anh cúi xuống vốc véo một nắm đất còn khô có lẫn rất nhiều những mảnh kim loại li ti, sắc lẻm bóp tơi rồi áp nhẹ lên mặt mình, đứng lặng...

Mưa chuyển sang rả rích.

Định thần một lúc anh mới xác định được ra cái hướng đi về tiểu đội của mình.

Nước, lại nước, nước nhiều quá, nước lai láng ở khắp mọi nơi, nước tràn vào từng ngóc ngách, từng căn hầm, từng đoạn giao thông hào.

Trong nền trời tái nhợt, cả khu thành như một đáy hồ bị tát gần cạn, lại như một cảnh hoang vu của ngày tận thế đang hiện ra.

Thỉnh thoảng bàn chân Cường lại vấp một cái.

Vấp không phải vì địa hình mà vì cái mùi khăn khẳn thường thấy ở một cái lò sát sinh hay của một xí nghiệp thuộc da nào đó nồng nặc xộc thẳng vào mũi.

Anh hiểu mùi đó là mùi gì, bước chân bỗng chậm lại như sợ giẫm sợ đạp phải vào một cái gì không nên giẫm, chẳng thể đạp.

Trời đã sáng hơn.

Một thứ ánh sáng nhợt nhạt của da người bị chết trôi.

Anh dợm dừng lại bên một cọc rào sắt: chiếc cọc quán queo, chỗ lồi chỗ móp, lỗ chỗ những vết đạn.

Đưa mắt nhìn những chiếc cọc khác, tất cả cũng đều bị vặn vỏ đỗ như thế.

Chao ôi, cọc còn như vậy thì thân xác con người sẽ như thế nào?

Phóng tầm mắt nhìn ra xa chút nữa, cả bức tường thành dày dặn bao quanh lúc anh đi còn chỗ cao chỗ thấp giờ đây đã gần như phẳng lì, có chỗ còn thấp hơn mặt đất...

Với niềm vui ngào nghẹn sắp được gặp lại tất cả, anh xắn cao quần nhảy qua từng vũng nước nhưng rồi vẫn có lúc phải dừng sững, sởn da gà...

Mẹ ơi!

Cái gì kia, cái gì mà lòa nhòa lổn nhổn nằm thòi lói trong đất đá kia nếu không phải là một cánh tay, một cẳng chân, một miếng sọ người còn tóc, một mảng be sườn, một đoạn ruột bị cắt nát... tất cả đều vàng ệch, tím ngắt.

Trời, của anh em mình hay của đám lính bên kia đây?

Sao họ không dọn dẹp đi nhỉ?

Cường hụt hẫng bước tiếp, đầu óc mông lung như kẻ mộng du hành hương về nơi địa ngục.

Và bàn chân của anh bỗng bị hẫng lún như vừa đặt lên một cái gì không có thực.

Tần ngần cúi xuống, bới tìm và vội dừng phắt, ngẩng nhìn lên ngay: một cái đầu người không có thân mình với đôi mắt sưng húp hiện ra, hình như đang nhìn lên anh nháy nháy: "Chào anh bạn!"

Lần này thì anh muốn bỏ chạy thật sự, chạy thật xa, chạy vào khu hầm tiểu đội hay chạy đi đâu cũng được, miễn là khuất xa tầm mắt.

Nhưng chính đôi mắt bị vùi trong cát kia đã kìm chân anh lại.

Mắt của ai, mắt của bên nào lúc này đối với anh không còn quan trọng nữa.

Anh vội bỏ ba lô xuống, bằng hai bàn tay không cào cấu, nhặt nhạnh tất cả những mảnh nát của thân thể con người kia gom lại một chỗ, thả xuống một hố pháo võng vãnh nước cạnh đó, lấp lại rồi cắm lên một thanh gỗ vát nhọn như để đánh dấu.

Đôi mắt nhấp nháy kia trước khi chìm hẳn vào trong bùn nước vẫn cứ nhìn lên không chớp...

Giống cái nhìn của Tú trước khi bị nước tràn qua mặt nhấn chìm thế này?

Căn hầm quen thuộc đây rồi!

Anh chạy bổ tới nhưng chưa kịp đặt chân vào cửa hầm thì lập tức có ba bóng đen ùa ra, đen gầy, râu tóc rùm ròa, áo quần te tua, mặt mày hốc hõm, chỉ có hàm răng là trắng ởn như răng ma chìa ra, ôm chầm lấy anh.

Mất một lúc anh mới nhận ra đó chính là Tạ, Hải gù, Bình vổ.

Họ đấm thùm thụp vào người anh, cười như mếu.

Tạ vừa nói vừa gãi bụng sồn sột:

- Tao nghe nói mày được chuyển ra Bắc, chắc sống, sao lại còn lộn lại?

Cường cười:

- Chết cả còn hơn sống lỏi.

Mà anh làm cái gì mà gãi ghê thế?

Xước cả máu ra kia kìa!

Tạ trợn mắt:

- Xước còn là may, nhiều lúc muốn lấy dao cắt mẹ nó thịt ra kia.

Ghẻ, gãi ghẻ, thằng nào cũng ghẻ cả, mi nhìn đi rồi chia... ghẻ với anh em cho vui.

Bình hỏi :

- Thằng Tú chết trên sông phải không?

Chắc xác nó bây giờ đã trôi ra đến biển?

Hải gù đánh gọn một câu:

- Thế cũng mát, còn hơn chết cháy ở đây.

Cường nhìn quanh:

- Tiểu đội mình còn có thế này thôi ư?

Tạ lại trợn mắt:

- Sao lại tiểu đội?

Đại đội rồi, mới nhận được lệnh hôm kia, cái hôm toàn bộ ban chỉ huy đại đội cũ bị hy sinh hết không còn một ai.

Nghe truyền đạt này: Bây giờ tớ là đại đội trưởng, cậu là chính trị viên, thằng Hải đại đội phó, thằng Bình phó chính trị, không lính, chỉ toàn cán bộ, chất không?

Cường ngơ ngác:

- Nhưng tôi mới đảng viên dự bị, chính trị viên thế nào được?

- Bị bọt mẹ gì, ngay cái chuyện cậu không ra Bắc mà quay lại đây đã xứng đáng là anh hùng, là... chính ủy, là... cán bộ cấp trung ương rồi.

Cường lẩm bẩm:

- Một đại đội hơn trăm quân mà bây giờ chỉ còn có năm thôi ư?

- Tới đây có khi chỉ còn ba.

Kệ cha nó, còn bao nhiêu uýnh bấy nhiêu, càng gọn.

Cường lại nhìn quanh quất:

- Thế... thế anh Sen đâu?

Hy... hy sinh rồi à?

Câu hỏi rơi tõm vào im lặng.

Bình tặc lưỡi:

- Cũng coi như hy sinh.

Hắn kia kìa!

Theo tay Bình chỉ, Sen hiện ra như một hình nhân nhếch nhác, lôi thôi, tóc vàng khè, chân thấp chân cao, đang lang thang như một hiền triết lập dị đi tìm chân lý ngoài bãi trống, thỉnh thoảng lại nhoẻn cười ngơ ngẩn.

Hải gù:

- Ông ấy điên rồi.

Suốt đêm cứ đi như thế, chốc chốc lại tru lên như chó sói.

Kia, nó sắp tru lên rồi kia kìa!

Đúng lúc Sen dừng lại, ưỡn người, gân cổ, tru lên một tiếng rùng rợn như tiếng của quỷ thật.

Cường chẹp miệng:

- Tội nghiệp!

- Tội mẹ gì!

- Hải cười khẩy.

- Lên gân lắm vào, lý luận, dạy đời lắm vào rồi nó ám cho.

- Chưa, mình chưa nghĩ vậy đâu, Hải ơi!

- Cường lắc đầu.

- Chiến tranh phức tạp lắm, nay thế này mai lại có thể thế khác, mình tin anh ấy không đến nỗi thế đâu.

- Cậu cái gì cũng chỉ nhìn mặt phải.

- Hải quặc lại.

- Chiến tranh cũng có mặt trái đấy, nhạc sĩ ạ!

Cường nhìn sang Tạ:

- Sao không đưa anh ấy về phía sau Tiểu đội...

à, Đại đội trưởng?

Tạ lại vòng bàn tay có mấy ngón cáu bẩn ra phía sau lưng, mắm môi mắm lợi gãi cồn cột:

- Thì định thế nhưng lúc tỉnh, cậu ấy cứ nhất định đòi ở lại, bảo đã vào đến đây thì chết cùng chết sống cùng sống.

Nói xong nó còn khóc.

Tội quá!

- Anh ấy bị như vậy từ bao giờ?

- Từ cái lúc nó tận mắt chứng kiến thi thể thằng Hoành quê Thanh Hóa đã chôn xuống rồi mà nội trong một ngày còn bị pháo nó đào lên nhồi xuống tới cả chục lần, mỗi lần là mỗi bay lên một phần thân thể, lần cuối cùng chả còn gì nữa, hình như còn mỗi bàn tay...

Cường không hỏi thêm gì nữa, hơi lặng đi rồi đặt ba lô xuống, lấy ra mấy bịch kẹo mè xửng và một gói thuốc lá Ruby Queen:

- Quà cô Hồng y tá gửi cho mọi người.

Bịch kẹo được mọi người bóc ra cho vào mồm nhai rốp rốp ngon lành như đám trẻ được quà của mẹ đi chợ về.

Riêng Tạ không ăn, anh cập rập xé gói thuốc, rít một lúc hai điếu liền, nằm ngửa ra, nhả khói như tàu hỏa rồi đập tay đập chân vẻ cực kỳ khoái trá:

- Mẹ ơi... giờ có thể chết được rồi, quá đã!

Đâu đó, anh lấy phần kẹo của mình mang ra đưa cho Sen.

Sen trân mắt ngó nhìn một tí, ném bủm xuống nước, rú lên:

- Không...

Cao người, cao xương người kinh quá!

Rồi lại thất thểu đi dọc bãi trống.

Trên cao, da trời đã bớt bợt bạt hơn.

Tại một hố bom, chỗ còn mọc lên được một nhánh cây xanh đến nhức mắt, có con chim nào bay đến cất tiếng hót véo von báo sáng.

Âm thanh của nó khiến mọi người trở nên ngơ ngẩn, chìm lắng đi trong những xốn xang khó tả.

Chợt từ phía bờ sông, một cô gái nhỏ nhắn mặc bà ba chạy đến.

Giữa hoang tàn chết chóc, sự xuất hiện của cô như một ảo ảnh, như nàng tiên từ trong truyện cổ tích tách ra.

Giữa hoang tàn, tiếng nói con gái Quảng Trị mới nồng nàn ngọt dịu làm sao!

- Mấy eng ơi, ở đây còn thương binh không?

Còn, chuyển ra bến để tụi em đưa qua sông lần cuối không sáng mất.

- Chỉ có tử sĩ thôi.

- Bình nói và ngây ngây nhìn vào cái dáng đó như nhìn vào một vẻ đẹp bí ẩn lâu nay đang đi tìm.

- Đâu, nhiều không?

- Cô gái lo lắng.

- Tất cả.

- Đến đây Bình bỗng chuyển giọng láu loát.

- Giữa bom đạn ù đầu, chỉ cần được nghe giọng nói của o một xíu thôi là có thể chết ngay được rồi, thành liệt sĩ được rồi.

- Í, em không giỡn đâu.

Cô gái chạy nhanh sang khu hầm khác.

Dáng cô lại gợi lên tiếng chim kêu xao xuyến vừa rồi.

Nhưng một trái pháo đầu ngày đã chặn cô lại.

Toàn thân cô chìm trong khói.

Khói tan, chỉ thấy dáng hình con gái ngã vùi trong đất.

Cường lao đến bế xốc lên, vác nhanh trở lại hầm, đặt nằm xuống.

- Đau em...

- Cô rên khẽ.

- Đau ở đâu?

- Tạ hỏi.

- Ở...

ở...

- Cô ấp úng không nói hết câu.

- Tạ bất giác nhìn xuống và hoảng hồn thấy háng cô đầy máu.

- Chết cha rồi!

- Anh kêu lên.

- Máu ra nhiều quá, cậu nào băng lại cho cô ấy cái đi!

- Đừng...

đừng...

- Giọng cô van nài.

Tạ nổi cáu:

- Đừng cái con tườu!

Đến nước này mà còn đừng à?

Dở hơi!

Mấy thằng chưa vợ quay đi, tao có vợ rồi, tao xử lý cho!

Nói xong anh cúi xuống, chẳng nói chẳng rằng thô bạo xé toạc cái ống quần bết máu kia lên đến tận bẹn, để lộ ra một mảng trắng đỏ nhòe và một cái viền quần lót màu xanh.

Cô gái không kịp phản ứng, chỉ vội lấy tay che mặt, hơi oằn người đi một chút.

Rất thành thạo, loáng cái Tạ đã làm xong phần việc băng bó khó nhọc của mình, đứng dậy hất cằm:

- Thằng Hải, mày... khoan, cái lưng mày gù tít như thế không ổn, thằng Bình!

- Có tôi!

- Mày cõng nhanh cô ấy lên chỗ ông Lê không lại không kịp bây giờ.

Tao sợ nó vào động mạch.

Anh chàng họa sĩ "rõ" một tiếng khá đanh rồi xốc cô gái lên vai chạy băng về phía bờ sông, dáng chạy như một hiệp sĩ mang cõng cái biểu tượng vẻ đẹp của mình về miền xa thẳm.

Tạ nhìn theo, lẩm bẩm:

- Nhìn ngoài thì cũng thường thôi mà sao chỗ ấy lại... trắng thế?

Giống của vợ tao quá!

Cường bật cười, đi ra khoảng trống cầm lấy tay Sen lúc ấy vẫn đang lúi húi mê mải tìm cái gì trong hốc đất:

- Anh Sen!

Vào hầm đi, sắp đến giờ pháo nó cấp tập rồi đó.

Sen không trả lời, chỉ quay người về hướng cửa biển rồi bất ngờ vạch quần, ưỡn người, nói lớn:

- Pháo đi, mẹ mày, tao cũng pháo, xem thằng nào ngon?

Từ giữa hai đùi Sen, một dòng nước đỏ kè như nước vối pha đặc bắn xuống rồi vòng vèo bay theo hình cầu ra xa...

Cường lắc đầu ái ngại, cầm tay Sen lôi mạnh vào cửa hầm...

Vừa lúc, một đàn máy bay phản lực bất thần nhô ra từ các đám mây lao tới, cắt bom.

Nhìn rõ những quả bom đen sì rơi vùn vụt chênh chếch xuống trận địa.

Bom chưa nổ pháo đã bắn.

Bắn cấp tập.

Những tiếng nổ liên hoàn rền lên như sự nổi giận cuồng nộ của Thiên đình giáng xuống trần gian.

Đất đá và cả nước bùn trộn máu văng lên, trùm xuống, không còn hiểu đâu là bom đâu là pháo.

Từ khe hầm nhìn lên, đôi mắt của Cường mở tròn: Một trái bom rơi trúng vào chỗ thanh gỗ anh đánh dấu lúc nãy.

Tất cả những thứ anh chôn xuống bây giờ lại bay lên, rơi ngùng ngoằng trong không khí...

Nhưng chưa hết.

Những phần thân thể đó chưa kịp nằm im đã lại bay lên, rơi xuống bởi một trái pháo khác.

Tạ quát vào tai anh:

- Nhìn làm mẹ gì!

Mày lại muốn như thằng Sen hả?

Cường bất giác quay nhìn về phía Sen.

Mỗi trái pháo rơi xuống là thân thể Sen lại giật nẩy lên như một quả bong bóng nhưng đôi mắt vẫn mở ra, mở trừng trừng, đờ dại, mờ đục như đôi mắt của người đã chết, không có một biểu hiện gì.



Tiếp những dòng thư gửi mẹ của Cường:

"Thành cổ, ngày... tháng... năm...

Thế là một lần nữa, cái chết nó lại chừa con mẹ ạ!

Cuộc đời lạ thật, con đã không chết mà cuộc chiến một mất một còn nó lại hào phóng ban tặng cho con tình yêu của một người con gái Quảng Trị!

Không hiểu có phải do chiến tranh hay vùng đất khắc nghiệt tự ngàn năm này đã tạo nên một tính cách, một tâm tình con gái mặn mòi, sâu xa, tinh tế, nồng nàn và dịu dàng, dâng hiến đến thế mẹ ơi!

Con có cảm giác như tất cả đức tính tốt đẹp của các cô gái trên trái đất này đã hội tụ vào một mình em!

Chắc mẹ lại cười mà bảo rằng thằng bé Cường hay đa sầu đa cảm ngày nào lại ngoa ngôn rồi.

Nhưng đúng vậy đấy, mẹ!

Có cô ấy, cuộc chiến đấu bỗng trở nên có ý nghĩa biết chừng nào.

Cái lẽ cầm súng này trước hết là vì em, là cầu mong cho em được sống, là mau chóng được gặp lại em, hôn em, nói với em tất cả những gì chưa kịp nói, kể cả chuyện anh Sen, một người anh mẫu mực trong mọi chuyện giờ đây không chịu nổi áp lực chết chóc đã thành con bệnh tâm thần.

Thành cổ lúc này như một cơ thể đang bị lóc dần từng mảng thịt, từng lóng xương và con người trong đó cũng bị bóc từng mảng tinh thần để trơ ra cái lõi thật giả không giấu được...

Mẹ à!

Tiểu đội con đã thành đại đội.

Đó không phải là sự trưởng thành mà là sự mất mát hao hụt không thể bù lấp được.

Ngày hôm nay, đứa con bé bỏng của mẹ đã chiến đấu với một cương vị khác, cương vị của một người giữ vai trò là chỗ dựa tinh thần, tư tưởng cho bộ đội.

Con sợ rằng con sẽ không làm được điều đó vì đầu óc con còn linh tinh nhiều thứ lắm, ví như tìm mọi cách lẩn tránh cái chết để được sang sông với người con gái ấy...

Nhưng cũng vì để được gặp em, con sẽ cố gắng cầm cây súng cho tử tế, để mai mốt, nếu trời chưa bắt đi, con sẽ nhìn thẳng vào mắt em, đôi mắt trận mạc đẹp hơn mọi đôi mắt thiên thần mà nói rằng: Anh không phải là một thằng hèn...

Con ngừng đây.

Con biết mẹ ở bên ấy cũng căng thẳng lắm!

Và trận đánh ngày mai của chúng con chắc cũng sẽ ác liệt hơn hôm nay vì tin từ trên cho biết nó sẽ đánh tổng lực bằng tất cả các chiến thuật, bằng tất cả các sắc lính thuộc lực lượng tổng trù bị tinh nhuệ nhất của nó.

Nhưng mẹ ơi, mẹ đừng lo cho con.

Thực lòng con chỉ mong mẹ khỏe thôi..."



Sau đợt pháo, Đại đội trưởng Tạ nghênh tai nghe ngóng một chút, cào đầu cho bụi đất lẫn chấy rận rơi xuống lả tả rồi hạ lệnh:

- Nó câm miệng rồi.

Lên, chuẩn bị đánh bộ binh!

Đội hình dàn ra chân thành, chui xuống công sự, nhảy vào hố cá nhân, đạn lên nòng, căng mắt chờ đợi... vẫn im lặng.

Ngâm nửa người trong nước, Tạ càu nhàu:

- Mẹ, nó lại định giở trò gì nữa đây?

Không phải độn thổ chứ?

Các cậu nghe này, thằng dù đánh kiểu ăn cướp ta đã nện gãy răng, thằng thủy quân lục chiến đánh kiểu dế dũi ta cũng cho vỡ mõm, còn thằng liên đoàn biệt động nữa, xem chúng sẽ giở ra trò gì ta móc họng nốt.

Bình nháy mắt với Hải:

- Lão này chắc trước làm nghề mổ lợn nên các thuật ngữ quân sự nói ra nghe cũng hệt như mổ lợn.

Nện, bẻ, móc, vỡ... nghe kinh bỏ mẹ!

- Thì đây có khác gì lò mổ, còn hơn lò mổ, lão nói thế còn là nhẹ.

- Hải gù vẫn cái cách nói như khoan vào ruột người nghe.

- Nhưng thử không có lão ấy dù chỉ một phút xem, chắc chắn cả tuyến phòng thủ phía đông coi như liệt.

Tạ nghe câu được câu mất, lại nghếch nghếch cái đầu:

- Hả?...

Thằng nào nói cái gì lợn, lợn đấy?

Chúng mày tưởng tao điếc hẳn?

Bố láo!

- Không.

- Bình chống chế.

- Tụi em bảo anh có cái dáng một ông giám đốc... chăn nuôi lợn, càng đánh càng lì.

- Giám đốc giám điếc mẹ gì, vớ vẩn, mở căng con mắt ra mà nhìn.

Chợt từ phía sau có một chiến sĩ trẻ măng, đen cháy, đầu cắt trọc, quần đùi, cởi trần, tay ôm một cây cối tép 62 vù vù chạy tới như một vận động viên điền kinh chuyên vượt địa hình.

Tạ giơ chân ra ngáng:

- Ê!

Thằng này chạy đi đâu?

Định đào tẩu hả?

Người lính chút nữa ngã nhủi đầu xuống đất, may mà Tạ đưa tay giữ lại được.

- Nếu đào tẩu thì em phải chạy về phía sau chớ ai lại đâm đầu ra phía trước ạ?

- Cậu ta cãi.

- Há!

- Tạ ngoác miệng cười.

- Thằng cu này nói nghe được, mai mốt thắng lợi bố cho đi học luật sư nhé, tha hồ mà cãi!

Tóm lại, đi đâu?

- Em hỏi Đại đội trưởng Nông...

Nông...

ạ!

- Nông nông gì?

Tao đã chết đâu mà mi chỉ réo mỗi cái họ của tao ra thế!

Tạ, Nông Văn Tạ, con cháu của Nông Văn Dền đây, có tên có tuổi đàng hoàng, quân đội là phải gọi cho đủ họ tên, hiểu chưa?

Nào, có việc gì?

- Báo cáo!

- Cậu này vội đứng nghiêm nhưng hai chân cứ bắt tréo vào nhau để tránh vũng nước.

- Em được lệnh bổ sung vào đại đội anh ạ!

- Tốt!

- Tạ nhìn cậu lính trẻ từ đầu đến chân.

- Đơn vị nào hay du kích chuyển qua?

- Dạ, du kích ạ!

- Tốt!

Nhưng sao lại du kích?

Du kích lo phục vụ vòng ngoài, vào đây làm gì?

- Sao Thủ trưởng vừa bảo tốt ạ?

- Lại vặn vẹo rồi.

Lính chỉ nghe chứ cấm vặn vẹo.

Tốt, tên gì?

- Báo cáo, em tên Tấn.

- Họ?

Đã bảo phải nói cho đủ kia mà?

- Mai Quốc Tấn ạ!

- Tốt!

Coi như cậu có bà con với tớ.

- Bà con ạ?

- Cậu tròn mắt.

- Tấn với tạ, nặng trình trịch cả.

Thế không cùng một họ à?

Bao nhiêu tuổi?

- Tính cả tuổi mụ là mười lăm ạ!

- Mười lăm?

Bố bậy, đây là chiến hào chứ có phải vườn trẻ đâu mà toàn đưa con nít vô vậy?

- Em không con nít đâu.

- Cậu phụng phịu.

- Em cũng uýnh trên chục trận rồi, lại được thưởng cả Dũng sĩ diệt xe cơ giới nữa đó.

- Dũng sĩ à?

Tốt!

Coi như đại đội ta đều dũng sĩ cả.

Thôi được, về vị trí, chuẩn bị nện đấy!

Tấn nhoẻn cười, ào đến cạnh Cường, hạ bàn cối xuống, mặt mày tươi rói:

- Anh em mình hiệp đồng nhé!

Anh tên gì?

Cường đưa tay vỗ vỗ vào má cậu trai:

- Tên Cường.

Nhớ đây không phải là đánh trận giả.

- Rõ!

Bất chợt cả khu thành giật nẩy lên bởi một loạt tiếng nổ khác lạ dội thẳng vào tai.

Đất đá bị xới tung ngay trước mặt.

Tạ ngơ ngác:

- Cái gì thế, cái gì mà nổ đanh thế?

Sao không nghe tiếng rít?

Bình vổ ngóc cao cổ nhìn về phía trước:

- Pháo!

Hình như pháo, pháo bắn thẳng Đại đội trưởng ơi!

- Pháo nào?

Pháo mẹ nào vào đây, mày mù à?

Bình không nói, chỉ hốt hoảng đưa tay chỉ.

Tạ tái mặt.

Cách chừng hơn trăm thước về phía tay chỉ của Bình, giữa đất đá, lùm bụi nhìn rõ những nòng pháo cỡ nhỏ không biết gài ém từ lúc nào đang ngóc lên như một bầy rắn đen ngang bằng mặt đất, thụt ló, rung giật nhả đạn.

Tạ kêu to:

- Bỏ mẹ rồi, táng âm rồi!

Hèn chi suốt đêm qua tao nghe tiếng ình ịch như đất đánh rắm.

Những nòng pháo tăng vẫn phụt đạn vun vút.

Thoạt nghe như tiếng cười sằng sặc tột cùng khoái trá vì đã làm được cú bất ngờ khủng khiếp cho đối phương không kịp trở tay.

Ục oành!

Không có tiếng nổ đầu nòng, không cả tiếng rít đường bay, ục một cái là nổ luôn, nổ thẳng căng, chính xác, công hiệu hơn hẳn những loạt pháo rót từ xa đến.

Và đúng là hoàn toàn bất ngờ.

Đã có những căn hầm bung tróc, lại có những miệng hầm hứng trọn một trái đạn, vỡ toang hoác, đất đá, gỗ chạp và thân người bay lên, láo liêng, loằng ngoằng, rơi xuống, sõng soài, đổ gục...

Như có thanh sắt đột ngột phang mạnh vào giữa gáy, sau một lát choáng váng đến mê mụ, những tay súng đã rùng mình nhanh chóng lấy lại được sự chủ động của mình, sự chủ động đã biến thành bản năng, thành phản ứng tự nhiên qua hàng chục hàng trăm cuộc cọ xát nảy lửa với một đối phương có quá nhiều thủ đoạn.

- Bỏ AK, tập trung tối đa hỏa lực!

- Tiếng Tạ thét lên.

Nghe lệnh, những trái B40, B41, cả M72 thu được của địch từ trên vai Cường, vai Bình bay đi cũng thẳng căng, những tưởng sẽ phát huy hết hiệu quả với sức nóng kinh hoàng của nó nhưng rồi đều trở nên bẽ bàng, bất lực.

Giấu mình trong lòng đất, các nòng pháo tăng hầu như vẫn không suy suyển gì sau màn khói bụi đang tan loãng.

Và ngay cả những quả cối của Tấn rót xuống cũng chỉ làm cho chúng cáu kỉnh khạc đạn dữ dội hơn.

Tình hình đang xấu đi, rất xấu, thậm chí đội hình có nhiều khả năng phải tróc khỏi hầm lui lại thì, như một bản năng trận mạc, Tấn vội tháo bàn đế, đá sang bên, nâng phắt nòng cối tì vào vai vào ngực, rồi như một pháo binh chưa được qua trường, một tay giữ thăng bằng, một tay thả đạn.

Những trái đạn trùng trục, nhọn hoắt, to bằng bắp tay bay ra cũng theo đường thẳng mà không bay theo đường vòng cầu như nguyên lý cơ bản khi ra đời của nó được kết hợp khá nhịp nhàng với dàn hỏa lực của đồng đội đang mỗi lúc mỗi siết gần lại đã tạo nên một bản hòa ca táo bạo của tinh thần phòng thủ.

Bản hòa ca này đã được các trận địa khác nhanh chóng góp thêm những giai điệu mãnh liệt.

Thẳng chọi với thẳng.

Cối đọ với pháo.

Bất ngờ trị bất ngờ.

Thế trận đã dần được cải thiện rõ rệt.

Và cái gì cần đến đã đến: đàn rắn đen kia chỉ còn lại vài con ngắc ngoải làm rốn phận sự của mình thêm chút nữa rồi cũng dụi đầu xuống.

Tạ reo lên:

- Chết cha mày chưa?

Bắn thẳng nữa đi!

Các con tưởng các bố mày không biết bắn thẳng à?

Các đồng chí, tiến lên!

Cả đội hình ào lên...

Và lúc này, các loại hỏa lực, các loại tiểu liên, thủ pháo tạc đạn, các loại lưỡi lê, báng súng, cuốc xẻng... lại tiếp tục phát huy hết cái hiệu ứng quen thuộc một cách chuyên nghiệp của nó.

Ngay từ đầu, cái hình ảnh kiêu dũng của Tấn đã được một nhà nhiếp ảnh quân đội có cái dáng cao gầy, để ria mép xuất hiện đột ngột từ đâu ở phía sau giơ máy ảnh lên bấm liên tục, lúc này mới đi đến và bên cạnh là khuôn mặt vàng sạm cùng cái cười rất tươi của Trung đoàn trưởng Thành, cạnh nữa là gương mặt hốc hõm của bác sĩ Lê.

Khi cối hết đạn, pháo tăng âm bên kia cũng ngừng nổ, Tấn hạ súng xuống, cười như trẻ thơ mà không biết rằng phần ngực để ghì đế cối của cậu da thịt đang cháy xèo xèo...

Trung đoàn trưởng nhao tới, ôm ghì lấy cậu, chỉ nghẹn ngào nói được mấy tiếng:

- Cám ơn... cám ơn con trai!

Rồi ông quay nhìn tất cả mọi người, giọng cảm động:

- Thay mặt Bộ chỉ huy, tôi biểu dương tinh thần chiến đấu kiên cường và đầy sáng tạo của các đồng chí!

Với trận đánh lui bọn liên đoàn biệt động tổng trù bị này, một lần nữa đã chứng tỏ Thành cổ là một pháo đài bất khả xâm phạm.

Chúc mừng và cám ơn các đồng chí!

Im lặng.

Không một tiếng hoan hô.

Ông hiểu, từ trong cõi chết đi ra, lính của ông chỉ còn sức để hoan hô bằng mắt.

Và ông, nếu không quần quật chiến đấu cùng với họ thì những câu nói vừa rồi sẽ trở thành sáo rỗng hết.

Bác sĩ Lê kéo người phóng viên có đôi mắt đeo kính trắng đến trước mặt Cường, không hiểu vì sao mà mặt mũi lại cứ vênh vênh lên:

- Hắn đấy!

Cậu ấy đấy, dũng sĩ phá thế cắm cờ, dân Hà Nội.

Nhà nhiếp ảnh chỉ gật gật rồi ngoắt cây súng sang bên, đưa máy lên hướng về phía anh bấm liên tục khiến anh lúi chúi không trốn mặt đi đâu được.

Người bác sĩ mới đến gần Cường, nháy mắt:

- Này!

Có một cô bé xinh phết hỏi thăm cậu nhưng tớ nói không biết vì ở cái nơi nay sống mai chết này, tốt nhất là đừng tơ vương cái gì cả.

Tạ cười khồ khồ:

- Muộn rồi Thủ trưởng ơi, cậu ấy đã được cô nàng cầm...

"ấy" cho đi tè rồi.

- Cái "ấy" à?

- Người bác sĩ nhướng mắt.

- Đi tè à?

Mà tè sao lại phải cầm...?

- Nhưng đến khi chợt hiểu ra, ông cười rất hóm.

- Xét đến cùng thế cũng là tốt thôi.

- Rồi quay qua Tấn.

- Lát nữa chạy ù lên phẫu, tớ băng chỗ phỏng cho nhé!

Cối mà sử dụng kiểu đó, tốt nhất lần sau tự kiếm lấy thuốc trị bỏng nhé!

Vẻ như đã từng thân quen, Trung đoàn trưởng Vũ Thành vỗ vào vai nhà nhiếp ảnh:

- Thôi, ta đi!

Góc thành phía tây sao nghe tiếng súng ta nổ rời rạc quá!

Có đồng chí Chính ủy ở đó kia mà?

Nhà nhiếp ảnh bấm tanh tách thêm một loạt nữa bằng chiếc máy ảnh lấm bùn rồi không hiểu sao, ống kính lại dừng hơi lâu ở khuôn mặt Tạ...

Lát sau ông bước đến, kéo Tạ ra một chỗ, gò má thoáng giật giật, còn con mắt lại hơi bạc đi một cách ma mị:

- Này, hết sức cẩn thận nghe anh bạn!

Tất cả những gì hiện lên mặt anh bạn lúc này đều báo điềm không tốt đâu.

Tạ lại cười khồ khồ:

- Yên tâm đi nhà báo ơi, sống đến lúc này mà chưa chết đã là quá vĩ đại rồi, quá lãi rồi.

Để mặc những con mắt bộ đội đỏ cạch nhìn theo, hai vị khách bì bõm lội nhanh về hướng cổng phía tây thành đang có những tiếng nổ tắc nghẹn không mấy khả quan dội về.

Trời lại đổ mưa...
 
Mưa Đỏ
Chương 26


Mưa cũng đang rơi tầm tã xuống những mái lá của trạm cứu thương bên kia sông.

Lúc này đã vào cuối chiều.

Một chiếc trực thăng gầy guộc như con nhặng đói è è làm một đường bay ngoạn mục xuống sát mặt nước đang dâng cao, cuộn chảy đục ngầu dưới bụng rồi nghiêng cánh lạng vào bờ, kín đáo hạ xuống một bãi cỏ gianh um tùm cách đó không xa.

Tiếng mưa và tiếng sóng ồn ào đã khiến cho sự hạ cánh của nó êm nhẹ như một cánh diều mỏng rồi rùng mình nôn ra chừng hơn chục tên Hắc Báo nai nịt như cướp rừng của Trung úy Quang, mặt mày bôi vằn vện, quần áo màu cỏ úa cũng vằn vện.

Có cả khuôn mặt bí hiểm của Phan Thái, tên Thiếu úy toán phó ác ôn đi đằng sau.

Quang phẩy tay.

Cả nhóm ngồi xuống, mặt mày căng chằng.

- Tôi nhắc lại, nhiệm vụ của chúng ta là tìm và diệt được đầu não và các đầu mối vận tải chủ yếu của đối phương.

Không có lệnh tôi, không ai được hành động.

Đi!

Bám theo con đường mòn trơn trụa, luồn qua các lùm bụi ướt nhép, cả toán tiến về phía những mái lá đang thấp thoáng ẩn chìm trong cây lá, sũng ướt ở đằng xa.

Bất ngờ, bóng một cô gái vận bà ba đen đang lui cui giặt giũ dưới bến sông đã ăn vào mắt họ.

Tên toán phó lên đạn nhón chân định tiến lại...

Quang ngăn:

- Coi chừng, dân.

- Đã ở đây, dân cũng là phiến Cộng.

Phan Thái hạ gọn một câu.

Quang trừng mắt:

- Không thể quy kết hồ đồ vậy được!

Quân đội chứ không phải thảo khấu!

Gã toán phó cắm mặt, im lặng.

Dưới kia, cô gái đã ôm đống quần áo vừa giặt chênh chếch đi lên về phía một cụm rừng.

Quang vẫy một tổ bám theo...

Cô gái vô tình đã dẫn họ vào đúng căn cứ cứu thương của mình mà không biết.

Trước mắt Quang, qua ống nhòm, thương binh nằm ngổn ngang, la liệt, chật chội trong các hầm lán, nằm tràn ra cả mặt đất có căng tăng.

Tiếng rên la, rít rẩm, vật vờ, đau đớn trộn vào tiếng mưa gõ vào lá như tiếng kêu của địa ngục, khiến cho đến ngay cánh Hắc Báo vốn chai sần mọi cảm xúc cũng thấy nhợn da gà.

Trong cái ngổn ngang khủng khiếp đó, chỉ thấy dăm ba cái bóng cứu thương, quân y sĩ không áo choàng, không blouse chạy qua chạy lại, nhọc nhằn cúi lên cúi xuống.

Con mắt Quang thoáng tối lại.

Nhưng con mắt của gã toán phó lại sáng rỡ lên như bất ngờ vớ được mỏ vàng lộ thiên giữa cơn tuyệt vọng.

Gã lạnh lẽo hất đầu.

Lập tức phân nửa số Hắc Báo nghe lệnh vội lên đạn, găm súng về phía trước, sẵn sàng nhào lên nẻ cò hủy diệt.

Quang quắc mắt:

- Lùi tất cả lại!

Nhiệm vụ chúng ta là tìm diệt được sinh lực của chúng chứ không phải tìm diệt thương binh!

Gã toán phó cười nhạt:

- Không diệt, khi khỏi, chính đám này sẽ quay lại nổ súng vào đầu ta.

Quang quay đi:

- Đây là công ước quốc tế, nếu muốn thì Thiếu úy cứ tự nhiên, và ngay ngày mai, Thiếu úy sẽ tìm cách trả lời trước thượng cấp và báo chí.

Đuối lý, lại thêm ánh mắt màu chì của Quang chiếu thẳng vào, viên toán phó lại cắm mặt, bàn tay cầm súng khẽ rung lên trong một sự nén giận khổ sở.

- Bỏ qua!

Vòng sang hướng khác!

Quang ra lệnh.

Nhưng chính lúc đó, như sự sắp đặt của số phận, từ trong lán, Hồng, vừa được điều từ đội vận tải về đây phụ trách tổ cứu thương xách một cái xô nhựa đi ra, vô tình bước lại gần cánh thám báo.

Cả toán nằm nín thở.

Cô vẫn bước...

Gần hơn... gần nữa... sát sạt như có thể ngửi được cả cái mùi nồng nồng ngai ngái trên mái tóc nồng nồng ngai ngái vì dính mưa của cô.

Đôi mắt trũng sâu ấy dường như có khoảnh khắc đã nhìn thấu vào khuôn mặt Quang...

Hắn bất giác nhắm nghiền mắt lại như bị một tia sét chém tới.

Đến khi mở được mắt ra thì cái bóng kia đã mất hút xuống bìa sông rồi.

Tới một chỗ khuất, cô đặt xô, ngồi xuống, nét mặt thật buồn, dùng con dao Mỹ to bản đào một cái hố nhỏ, đổ tất cả những thứ trong xô xuống rồi lấp đất lại.

Quang thoắt rùng mình khi nhìn rõ những cẳng chân, bàn tay, cánh tay bị cưa rời chìm dần trong cái hố đó.

Qua chiếc ống nhòm, gã toán phó cũng nhìn chăm chú vào mặt cô gái rồi vẻ như đã chợt nhận ra điều gì, gã bật lên một tiếng cười độc:

- Sao, Đại úy, ta cũng bỏ qua luôn con nhỏ này chứ?

Một suy nghĩ cháy trong mắt, Quang hất hàm ra lệnh cho hai tên to con, trong đó có một tên mang vẻ mặt sắt nguội nằm gầm ghì bên cạnh:

- Bắt giữ cô ta lại!



Cái nóng hối hả đổ xuống bao nhiêu thì bóng tối lại trùm xuống trễ nải bấy nhiêu.

Mưa tạm dứt.

Trong im lặng bất chợt, nghe được cả tiếng nước sông gào réo vọng vào.

Nhưng không chỉ réo, nước tiếp tục thốc tháo tràn vào khu thành rồi chia nhỏ thành từng dòng từng bụm lao xuống hầm.

Mực nước trong hầm dâng dần lên, thậm chí còn vỗ sóng óc ách như cái kẻ sôi bụng muốn đi ngoài nhưng không đi được.

Sáu người, bắt đầu còn thả chân xuống, sau đó buộc phải co chân lên nhưng vẫn dính nước.

Cuối cùng, do mặt sạp quá chật chội trước độ co cồng kềnh vướng víu này, Cường rồi Bình đành chuồi xuống, ngâm nửa người trong nước.

Họ là hai người còn tương đối khỏe hơn cả.

Trên chiếc sạp lỏng lẻo đang đưa võng như muốn gãy chỉ còn Tạ, Tấn, Hải và Sen.

Sen bệnh hoạn, rõ rồi.

Hải mới bị dính đạn vào đùi chiều nay, không thể ngâm nước được.

Tấn với vết bỏng vẫn rỉ dịch vàng và Tạ, từ tối đến giờ tự nhiên lại lên cơn ho rút ruột, chắc vì bị ngấm lạnh.

Chiều nay, khi băng bó cho Hải, Cường ghé tai hỏi nhỏ:

- Sao?

Không chịu đi phẫu chắc vẫn muốn ở lại để kiếm cái bằng... liệt sĩ?

Hải lắc đầu cười buồn:

- Mọi cái đó, sau những ngày vừa rồi, nó bỗng trở thành hài hước và vô nghĩa.

Có lẽ trước những điều đích thực ở cuộc đời như sống chết, vui buồn đến tột cùng thì những cái kia đều là giả hết.

Cường không hỏi thêm gì nữa.

Tất cả đều là giả hết.

Câu nói của Hải cũng là suy nghĩ của anh.

Có lẽ người lính đang từng ngày đọ mặt với sinh tử và chưa biết ra đi bất cứ lúc nào, họ mới hiểu thế nào là thật là giả.

Góc kia, sau một trận ho cố nén, Tạ nói:

- Từ đêm nay sẽ thay nhau ngủ sạp, thằng yếu trước thằng khỏe sau, thằng dưới nước kiêm nhiệm vụ tát nước và cảnh giới.

- Theo em không nhất thiết phải thế đâu anh ạ!

- Cường nói lại.

- Hai thằng em còn chịu được, cứ để bọn em nằm dưới, càng mát.

- Không cãi!

- Tạ nặng giọng.

- Trừ thằng Hải thôi, còn lại cứ thứ tự đổi ca.

Quay sang Sen, anh hỏi:

- Còn cái gì ăn không?

Sen ngơ ngác lắc đầu rồi như chợt nhớ, lọ mọ lôi ở cái bịch đặt cuối sạp ra mấy gói mì tôm.

Tạ quăng cho mỗi người một gói: "Phú quý giật lùi. trước là gạo thịt ê hề, nay đến chút cháo cũng không, mì đấy, thằng nào ăn kiểu gì thì ăn."

Anh bóc gói mì cho vào miệng nhai sồn sột.

Cường kĩ hơn, khỏa tay vớt nước hầm rắc vào, bóp cho mềm rồi mới nhai, nhai thật chậm.

Tất cả làm theo Cường.

Chợt Tấn kêu lên:

- Rắn!

Tạ vội bấm đèn: Một con rắn nước bé xíu nửa đen nửa trắng đang nằm gọn trong gói mì của cậu ta.

Tạ chuyển giọt đèn pin sang chỗ khác:

- Đừng bỏ!

Vất nó đi mà ăn!

Tấn vẫn cầm gói mì trên tay:

- Nó cũng có vẻ đói, chắc mẹ nó cũng chết vì bom pháo rồi, cho nó ăn trước một tí rồi em ăn sau.

- Thằng đần!

- Tạ gắt.

- Từ cổ kim đến giờ, tao chưa nghe ai nói rắn lại nhai mì bao giờ.

Vất đi!

Tấn đành chụm ngón tay quẳng chú rắn con ra cửa hầm, nơi có một vũng nước khá to.

Đứng dưới nước nhìn lên, thấy Sen vẫn ngồi lặng, Cường đưa nửa gói mì cho anh ta:

- Ăn đi anh Sen, kẻo nó trương, khó nuốt lắm!

Sen vẫn ngồi im, mắt nhìn lờ đờ lên nóc hầm đang có những giọt nước nhỏ xuống.

Từ khoảng trống ngoài cửa hầm, có tiếng chân lõm bõm lội đến, rồi tiếng của cậu liên lạc tiểu đoàn vang lên:

- Báo cáo, Tiểu đoàn trưởng mời Thủ trưởng Tạ lên hội ý.

- Tối rồi mà vẫn chưa tha cho nhau?

Tạ càu nhàu, nhổ phì miếng mì trong miệng ra, khoác súng bò lên cửa hầm, chạy theo cậu liên lạc.

Bình đã ăn xong, thấy Cường đang lúi húi tát nước ra khỏi hầm bằng chiếc mũ sắt chiến lợi phẩm, anh cũng lấy một chiếc mũ khác tát phụ.

Chả mấy chốc, nước trong hầm đã giật tới đáy.

Hai người nhấc mấy hòm đạn kê tạm rồi ngả lưng nằm xuống, kiểu nằm chèo queo trong một toa xe lửa thời chiến.

Nằm một lúc, vẻ như căn bệnh mất ngủ lại hành hạ, Bình trở dậy lôi trong ba lô ra một cuốn sổ hoen ố, đến cạnh Cường mượn cây đèn pin soi vào, lật giở từng trang.

Cường nhấc đầu nhìn, bên trong cuốn sổ lần lượt hiện ra những bức ký họa bút chì sinh động lạ lùng phác họa những cảnh chiến đấu, hy sinh, cảnh sinh hoạt của lính Thành cổ, lính tiểu đội mà một ai đó nếu không trải qua thì không thể có những nét sổ trần trụi và xuất thần như thế được.

Nhất là những đôi mắt, chỉ hai màu đen trắng thôi mà toát lên được nhiều điều thế, cả sự hoảng loạn, giằng xé lẫn lì lợm, kiên cường ẩn giấu bên trong.

Những đôi mắt của bản năng sinh tồn mãnh liệt đan trộn vào lòng tự trọng đến bình thản.

Cường nhìn như cháy vào những bức tranh đó, mắt tự nhiên thấy cay cay...

- Tuyệt lắm Bình ơi!

Cậu phải giữ gìn cẩn thận rồi chuyển bằng được chúng ra ngoài để cả nước, cả thế giới biết về cuộc chiến tranh, về những người lính bảo vệ Thành cổ này.

Bình lắc đầu:

- Vẽ để lấp đầy im lặng, để tự trấn an tinh thần, để khỏi nghĩ ngợi lung tung thôi chứ có cần ai xem, ai phán gì đâu.

Cậu thử nghĩ xem, nếu ngày nào cũng đập mặt vào bom đạn, chết chóc ghê rợn mà không có những đam mê ngoài nó thì chắc phát điên lên từ lâu rồi.

Cường khẽ nhìn sang Sen như thấu hiểu rồi im lặng.

Đó cũng là những tâm sự của anh.

Chính những dòng nhật ký viết vội, những âm thanh, giai điệu kỳ lạ chưa nghe thấy ở bất cứ đâu đã đêm ngày ăn hằn vào trí nhớ, nở bung, ngọ nguậy, chuyển động rối rít, lặng chìm đã là một làn gió mát thổi cho cái đầu của anh khỏi mưng đỏ lên.

Có một ngọn gió đêm mang theo hơi ẩm của nước thổi về đẩy nhẹ tâm hồn người lính xuống chiều sâu nghĩ ngợi chứ không chỉ là bom đạn.

Bình bỗng nhỏ giọng:

- Này!

Cái cô Hồng của cậu thế nào rồi?

Mình mới gặp cô ấy hai lần, một lần chèo thuyền, một lần đến tận đây tìm cậu nhưng để lại ấn tượng khá mạnh.

Không phải ấn tượng về vẻ đẹp giới tính đơn thuần mà về một vẻ đẹp trận mạc, đẹp như sắp ra pháp trường, lạ lắm!

Dường như bom đạn càng khủng khiếp thì cái đẹp càng được tôn lên.

Còn sống, mình sẽ dứt khoát chơi cả một bức sơn dầu khổ rộng về đề tài này, thứ đề tài mà tin rằng thế giới không có hay ít có.

- Mình tin.

Vì mình cũng đang cùng tâm trạng.

Nếu còn sống, tất cả nằm ở chỗ nếu còn sống ấy.

- Nếu chết thì sao?

- Bình nhìn thẳng vào mắt bạn.

- Ít nhất cũng để lại một cái quặng quý cho những người đi sau làm tiếp.

Nói thật, đánh nhau thì thôi, khi không đánh nữa hoặc đêm về, trong đầu mình cứ văng vẳng những âm thanh rất lạ, thứ âm thanh chỉ có giao hưởng mới tải nổi chứ các hình loại khác, khó lắm, dù hay đến mấy cũng không chạm đến lõi.

- Bảo vật đấy, chính cậu cũng phải nâng niu giữ lấy!

- Cậu nói ai?

- Mình nói Hồng của cậu.

- Thế mà mình tưởng cậu đang nói về âm nhạc?

- Những người như cô ấy làm đẹp cho cuộc chiến tranh này.

- Bình trầm ngâm nói tiếp.

- Cầu mong cho hai người còn sống cho đến ngày thắng lợi không thì cuộc đời này phi lý quá!

Như bị lây lan, đến lượt Cường hỏi lại:

- Từ đó đến giờ, cậu có nghe tin gì về người phụ nữ chủ thuyền buôn đã làm cho cậu căm thù đàn bà như có lần cậu kể với tớ không?

Anh không ngờ câu hỏi đó đã khiến cho nét mặt của bạn mình trở nên lắng chìm khác lạ thay vì phải bắn bọt mép nổi sùng lên.

- Không...

Nhưng sau này nếu còn sống trở về, mình nhất định sẽ tìm gặp lại người đàn bà đó.

Vào tới đây rồi, không hiểu sao mình lại hay nghĩ tới hình ảnh ấy, cả cái xấu lẫn cái tốt, lại thèm vô cùng được sống lại những cảnh đời thường có hờn giận, có yêu thương, có đau buồn như hồi ấy.

Đúng ra bà ta làm mọi điều chỉ vì yêu, yêu quá hóa rồ, thế thôi.

Cường đột nhiên nháy mắt lia lịa:

- Ai, ai nhắc ấy nhỉ?

- Còn ai nữa!

Sau một ngày đánh đấm tơi bời không tin tức gì người ta phải nhắc chứ.

- Không...

Hay là mẹ mình?

Cường bất giác nhìn ra ngoài trời, mặt thần ra...

Hình như có một linh tính gì đó báo điềm không hay về Hồng?

Bom pháo hôm nay tăng lên gấp bội thế này, liệu em có sao không?



Trong căn nhà nhỏ xơ xác nằm cách bến sông một đoạn gần như không còn chút đồ đạc nào đáng giá, mái lá bốc tung, chắc là của dân bỏ lại, xung quanh là mảnh vườn cũng xơ xác, cháy trụi.

Dưới ánh đèn pin tỏa rộng, Quang đang ngồi im lặng trước mặt Hồng.

Tay cô vẫn bị trói, khuy áo đứt tung, để lộ một khoảng ngực con gái trắng đến tội tình.

Bên ngoài mờ mờ hiện ra khuôn mặt của gã toán phó đang đi qua đi lại, thỉnh thoảng lại khẽ lén nhìn vào.

Cô đã ngồi đây cả giờ đồng hồ và hắn cũng đã hỏi cô những câu hỏi không thể không hỏi cả giờ đồng hồ.

Trên mặt cô có một vệt máu nhỏ mà ngay từ lúc đầu vào, hắn đã muốn lau khô bằng chiếc khăn tay của mình nhưng lại không thể lau.

Hắn nhận ra cô gầy và xanh hơn lần gặp trước, khi cô bế đứa bé trên tay trong dòng người chạy loạn, nhưng phải chăng vì thế nhìn cô càng đẹp hơn, đẹp và hấp dẫn hơn cả cái lần gặp cô ở sân trường hôm nào.

Dù cố ra vẻ cứng rắn lạnh lùng nhưng trong lòng hắn không thể không rung lên những cảm xúc khác lạ, thứ cảm xúc đã ám ảnh, đã đeo đẳng dằn vặt hắn nhiều tháng nay.

Thực lòng là hắn vừa muốn gặp lại vừa không muốn gặp vì mọi sự gặp tất nhiên hay ngẫu nhiên lúc này đều trớ trêu hết, cái gặp của hai con người nằm ở hai chiến tuyến đối lập khắc nghiệt.

Kẻ thù!

Cô gái với đôi mắt mở to không biết sợ hãi kia là kẻ thù của hắn ư?

Hắn không tin nhưng lại buộc phải tin theo một định đề chính trị đã ăn khá sâu vào người.

Chao ôi, giá như giờ đây không có chiến tuyến, không bom đạn, không giết chóc, chỉ có cô và hắn, chỉ có hai con người một nam một nữ ngồi bên sông, không pháo sáng, không thù hận, có bao nhiêu điều để hỏi, bao nhiêu điều để nói thì mọi sự sẽ trở nên dễ chịu biết bao!

Trước mắt hắn, cô là một ẩn số hút hoẳm mà hắn khao khát khám phá nhưng lại phải diễn vai kịch hận thù.

Lần đầu tiên hắn lờ mờ cảm thấy cuộc chiến tranh này có gì không thật, không đúng như chính nó.

Nhìn đồng hồ đã gần một giờ sáng, biết không thể nấn ná lâu hơn được nữa, trong đầu đã có một chủ định khác, hắn lặng lẽ đứng dậy diễn nốt vai kịch của mình và đồng thời cũng muốn che mắt cái thằng người cứ gợi lên cái mùi chồn hôi chắc là đang lấp ló ở ngoài kia.

Thực lòng hắn thừa biết gã vốn là dân du thủ du thực thuộc tầng lớp thấp, mà đã thấp thì không chịu được ai sáng giá, ai học vấn cao hơn nên đang tìm mọi cách, kể cả những cách đểu giả nhất để hạ bệ hắn hay chí ít cũng làm cho hắn mất mặt trước thượng cấp, nhưng cái thế của nó chưa tới và hắn cũng muốn cứ để mùi hôi đó ở cạnh xem sao, cũng vui, cũng có một tác nhân để hắn tỉnh táo tự biết kìm mình lại hơn.

Hơn thế, nó cũng là một tay súng cừ, việc gì giao cho đều được hoàn tất trót lọt, mình cũng nhàn.

Hắn đứng dậy, đi đến trước mặt cô, không hiểu sao lại tránh nhìn thẳng vào đôi mắt vẫn mở to đầy bình thản của cô, nặng giọng:

- Tóm lại cô vẫn không thay đổi ý định?

- Không.

- Hồng trả lời.

- Thật tiếc!

Đáng lẽ trận chiến chó chết này, cái cối xay thịt mọi rợ này không nên có cô, không nên có cánh đàn bà con gái các cô dính vô.

Cộng sản các cô độc ác quá đó!

- Anh không đủ tư cách nói câu đó.

Anh đã biết gì về phụ nữ chúng tôi, về cuộc chiến đấu của chúng tôi?

Từ chỗ hỏi cho qua chuyện để còn chọn thời điểm thuận lợi chuyển sang một ý định khác, hắn bỗng bị đôi mắt và cái giọng đanh đanh kia làm bốc máu lên mặt khiến tiếng nói của hắn cũng trở thành cáu kỉnh thật:

- Xin lỗi thưa cô, tôi hân hạnh là biết, rất biết để có thể quả quyết rằng, cô lầm, cũng như người phía bên cô đang lầm.

Việc gì mà họ phải đổi hàng chục ngàn sinh mạng để giữ lấy cái Thành cổ hôi thối, chết giẫm chỉ vì cái ngộ nhận là đất đai ông bà, tiên tổ này.

Vậy nó không phải mảnh đất sinh ra tôi chắc?

- Có những điều anh và những người như mấy anh không hiểu, không bao giờ hiểu được đâu.

- Lần này thì cô quay đi như không thể, không muốn nhìn vào bộ mặt khó chịu kia nữa.

Quang hơi nhao người cúi xuống nhìn thẳng vào Hồng:

- Nhưng có điều này thì cô cần hiểu ngay vì chúng tôi rất bận không có thì giờ đôi co: Một, vì chỉ là một nhân viên cứu thương nên theo công ước nhân đạo, cô không phải là đối tượng tác chiến của chúng tôi, do đó cô chỉ cần hứa sẽ trở về phía sau làm một người bình thường, tôi sẽ đứng ra bảo lãnh.

Hai...

- Mạng sống của tôi sẽ được quyết định ngay tại đây.

- Đúng.

- Vậy tôi chọn cái thứ hai.

- Rất tiếc là tôi biết cô sẽ trả lời như vậy!

Đây là luật lệ thời chiến, mong cô đừng oán.

Hắn ra hiệu.

Cái gã lính có vẻ mặt sắt nguội như một sát thủ lạnh lẽo bước vào.

Quang hất cằm:

- Cậu cứ làm cái gì cần làm.

Tên lính đẩy nhanh cô ra cửa.

Quang không nhìn theo.

Viên toán phó bước vào, khẽ vỗ tay:

- Hoan hô!

Vì danh dự, dám thủ tiêu một ám ảnh ngọt ngào không phải ai cũng làm được.

Chỉ tiếc, Trung úy hoàn toàn có quyền thưởng thức mùi vị nóng hổi của nó trước khi biến nó thành đông lạnh.

Không quay lại, Quang thả một câu không cần giấu vẻ giễu cợt:

- Tôi buộc phải lưu ý ông toán phó một điều: sau này trong mọi việc, Thiếu úy có thể hoàn toàn đặt mình trong tư thế đối diện đàng hoàng chứ không cần phải lén lút theo dõi.

Hình như trong quân trường người ta không dạy đề mục này.

Gã toán phó chưa kịp phản ứng thì bên ngoài, chếch về phía bến sông, hơi xa một chút bỗng vang lên hai tiếng nổ rất đanh.

Toán phó đưa tay làm dấu:

- Phải hạ thủ một kẻ đối địch xinh đẹp như vậy thì Chúa cũng độc ác thiệt!

Đó là hai tiếng nổ từ họng súng của người lính có vẻ mặt sát thủ lạnh lẽo được lệnh dẫn cô đi ra khỏi căn nhà.

Hai phát súng làm cho Hồng choáng giật, toàn thân đơ ra tưởng mọi sự đối với mình đã kết thúc nhưng định thần lại thấy thân thể vẫn còn nguyên, đôi chân trần vẫn bám xuống mặt đất, cô bủn rủn nhìn lên.

Cái họng súng kia vẫn đang lầm lầm chĩa vào cô, hơi cắm xuống một chút và phía trên, khuôn mặt gã đao phủ có đôi mắt trắng dã như mắt thú vẫn lạnh lẽo, cô hồn không có một dấu hiệu gì.

Hồng nói:

- Anh lính!

Nếu phận sự bắt anh phải bắn thì bắn luôn đi, không nhất thiết phải thử làm gì cho phí đạn.

Người lính vẫn không thay đổi cái sắc mặt như từ khi lọt lòng đã được đúc bằng gỗ nhà mồ, súng vẫn lăm lăm bước từng bước đến sát cạnh cô.

Hồng khẽ nhắm mắt lại.

Cô biết giờ phút cuối của đời mình đã điểm, chỉ tiếc sao nó lại điểm vào chính lúc này, trong một hoàn cảnh trớ trêu thế này.

Hình ảnh còn lại lóe lên trong đầu cô là hình ảnh của Cường.

Cường ơi, em đi đây, ở lại anh đừng buồn nghe...

Cô thầm vĩnh biệt và nhắm hẳn mắt lại...

Nhưng không.

Sao lâu quá không nghe thấy tiếng nổ thế này?

Hay là cô đã chết rồi, chết thật rồi?

Vội mở mắt và cái điều đang hiện ra kia làm cô sững sờ...

Người lính đã khoác súng vào người, hai bàn tay thô ráp lặng lẽ mở dây trói cho cô, khoác thêm vào vai cô một tấm pông - sô rồi, vẫn nét mặt gỗ lim, anh ta nói như tiếng nói không phải từ cái miệng kia phát ra:

- Còn một đoạn nữa là tới trảng, chị cứ đi thẳng!

Ông Quang dặn chị nên trở về thành phố tiếp tục đi học, đừng quay trở lại đây nữa!

Ông bảo chỗ này không phải là chỗ của một người như chị.

Hồng bất giác cầm lấy tay người lính, giọng hơi nghẹn lại:

- Anh lính, tôi chưa biết tên anh là gì, quê quán anh ở đâu nhưng tôi xin thành thực cám ơn anh.

Nhờ anh nói lại với ông Quang là tôi cám ơn ông ấy, đây là lần thứ hai ông ấy đã cứu tôi, nếu còn sống nhất định tôi sẽ có dịp tạ ơn.

Nói xong, cô quay người đi nhanh theo hướng tay chỉ của người lính.

Người này nhìn theo một chút rồi, vẫn lặng lẽ như gốc cây, chĩa súng lên trời nẻ mấy viên đạn nữa.
 
Mưa Đỏ
Chương 27


Tạ từ tiểu đoàn trở về vào lúc gần một giờ sáng.

Nét mặt lù lì của anh lần này lại tráng một vẻ đăm chiêu khác lạ.

Tạ vẫy mọi người lại, ho khan một tiếng rồi nói luôn:

- Lệnh cho đại đội ta đêm nay phải tiêu diệt được ban chỉ huy tiểu đoàn biệt động quân số 6 ác ôn đang đóng tại ngã ba Long Hưng theo tinh thần phòng ngự là chủ động tiến công.

Long Hưng, chỗ này thằng Tấn biết chứ?

Tấn tỏ vẻ hào hứng:

- Dạ biết.

Ngày nào đi học em chả qua đó.

- Tốt rồi.

- Lại một tiếng ho bật ra.

- Vậy chuẩn bị dẫn đường!

Tất cả tranh thủ ngụy trang, mười lăm phút nữa xuất phát.

Thằng Sen vẫn ở lại coi hầm và cảnh giới.

Góc trong cùng hầm, một ánh pháo sáng từ trên cao hắt vào soi rõ đôi mắt đang nhìn lên rất lạ của Sen...

Còn mười phút, Tạ bỗng mượn Bình cây bút Bic, xin mảnh giấy rồi lui về góc sạp, bấm đèn vừa ho cục cục vừa viết hí hoáy cái gì đó xem chừng nhọc nhằn và mải miết lắm...

Viết xong, nhét vào tận dưới đáy ba lô, bôi trét bùn đất qua loa lên người lên mặt rồi ra lệnh lên đường.

Tất cả những động tác ấy không qua được mắt Cường.

"Tất cả những gì hiện lên mặt anh bạn lúc này đều báo điềm không tốt đâu."

Chợt nhớ đến câu nói của người phóng viên nhiếp ảnh hồi chiều nói với Tạ, anh bước đến bên, nói khẽ:

- Đại đội trưởng có sao không?

Nếu còn ho, cứ ở lại, em dẫn anh em đi được rồi.

- Láo nào!

Cái gì mà ở lại với không ở lại?

Đi!

Tạ gắt và cùng với Tấn, súng xuống tay, anh dẫn đầu đội hình xuyên vào trời đêm.

Họ nương vào bóng tối dày đặc, thận trọng luồn qua khúc tường thành... tiến qua khoảng trống... bò ra đường cái... lần theo vệt đường mòn đến một ngã ba thì dừng lại.

Tấn thì thào:

- Đến rồi, đây là ngã ba Long Hưng.

Tạ chỉ một ngôi nhà tô có sáng đèn, hỏi Tấn:

- Nó đấy phải không?

- Tấn gật đầu.

- Tốt, theo tao!

Đánh nhanh rút nhanh nghe chửa?

Họ khom thấp người, nhón chân dò dẫm từng bước.

Thân thể họ nhòa chìm vào cây cỏ, vào trời đêm, vào đất đai ẩm ướt.

Bỗng gò má Tạ chạm vào một hàng rào lưỡi lam, bị cứa rớm máu.

Vẫy tay cho mọi người ngồi xuống, anh căng mắt nhìn.

Bên kia hàng rào là một cái cự mã ba tầng kiên cố, bên kia cự mã là bóng một tên lính đang đi đi lại lại.

Thêm một tên lính khác đi ngược chiều, cả hai súng hườm hườm trong tay.

Trời se lạnh.

Một luồng gió lạnh từ hướng bắc thổi về khiến Cường rùng mình.

Theo hiệu lệnh của Tạ, Cường bò lên định làm động tác chui qua rào thì đúng lúc ở đằng sau nghe đến khục một cái.

Anh giật mình quay lại và sửng sốt chứng kiến người Đại đội trưởng của mình đang đánh vật khốn khổ khốn nạn với cơn ho tai quái đang hành hạ.

Toàn thân Tạ gồng cuộn lên như bị bò cạp đốt vào chỗ hiểm... nhưng không ăn thua, tiếng lục bục, rè rè trong cổ họng vẫn phát ra.

Nghe được cả tiếng rin rít như tiếng gió thổi qua ống nứa.

Cường vội trườn trở lại xem có giúp được gì không, nhưng làm sao có thể giúp khi cái âm thanh khủng khiếp đang được khuếch đại hàng chục lần trong đêm vắng đó bật từ trong ra chứ không phải ăn từ ngoài vào.

Cường đưa tay vuốt vuốt vào lưng anh...

Không ổn, chỉ thêm ngứa ngáy.

Giống như lần nào chữa ho cho Hải ở trong hầm, Tạ vội bứt cả nắm cỏ có trộn cả đất nhão nhoét đưa vào miệng cố nuốt...

Vẫn vô ích, tiếng ho đẩy nắm cỏ bật ra.

Tạ lại vội vơ cái mũ vải đội trên đầu, vo tròn tống tiếp vào cổ họng.

Vẫn bất lực, cái mũ vải cùng chung số phận với nắm cỏ kia.

Không còn cách nào khác, Tạ đành vùi sâu mặt xuống đất ướt, thật sâu, sâu nữa...

Chỗ đất ấy như miệng núi lửa cứ sôi lên lục bục.

Lần này có vẻ khá hơn, cái lưng của Tạ không gồng quắn lên nữa và tiếng thở trong ngực anh bắt đầu vang ra đều đều.

Cường hiểu Tạ đã uống cả một vốc nước bùn vào bụng cho dịu cái cần cổ đang nóng rẫy.

Ứa nước mắt nhìn lên, không nhìn thấy chiếc răng nào, Tạ cười thiểu não ra hiệu cho Cường tiếp tục công việc rồi nằm ật ra, kiệt sức...

Chàng võ sinh Hà thành ngày nào đêm nay lại có dịp được thực thi những bài luyện của mình một cách đắc dụng.

Trong giây lát, anh đã luồn qua được lớp rào cự mã ken dày để nằm phục ngay dưới chân tên lính gác lúc nãy trong một bụi cỏ Mỹ cao ngang ngực.

Tên lính nhỏ con không trông rõ mặt ngáp một tiếng sái quai hàm rồi vạch quần đái tồ tồ.

Dòng nước đái khai nồng mùi rượu phun tia vào cả mặt anh.

Chắc hắn vừa đổi phiên gác sau một chầu nhậu?

Anh nghĩ và tự nhiên cảm thấy lúc này đây, giữa gã và anh có cái gì gần nhau lạ lắm.

Cùng là thằng người, cùng từ một gia đình có cha có mẹ, có anh em, có thể có cả người yêu hay vợ, cùng mùi mồ hôi chua loét, cùng một đêm côi cút không biết chết sống lúc nào, cùng...

Kẻ địch ở xa còn mơ hồ khái niệm, khi nó ở gần lại thấy nó như mình, giống mình làm sao.

Giống đến nỗi anh chỉ muốn lúc này hắng giọng một tiếng rõ to rồi đứng dậy vỗ vào vai nó cái pạch và nói: "Thôi, đánh nhau mãi chán rồi, đủ rồi, hiểu nhau quá rồi, giờ tớ với cậu ra phố làm một tô hủ tíu nóng rụng răng, thêm một ly cà phê đá đánh cho sủi bọt cái đã rồi tính gì thì tính", nhưng anh vẫn phải nằm im.

Quy luật chiến tranh, quy luật sống còn không để cho anh được phép thả nổi tình cảm của mình theo một chiều không dính gì đến hiện tại.

Mà đúng ra, trước thằng người này, anh chả thấy có một chút hận thù gì để hủy diệt, mặc dù trong ý thức anh vẫn hiểu rằng, nó chính là nguyên cớ của mọi sự khôn cùng, mất mát khôn xiết kể cho anh em mình ở trong khu Thành cổ xương người nhiều hơn đất đá, máu người nhiều hơn mưa rơi kia.

Nhưng có đúng nó là nguyên cớ hay còn có một thế lực nào, một thằng nào đứng đằng sau nó nữa?

Muộn rồi, xin lỗi thằng em nhé, tôi phải làm phận sự người lính.

Anh bật dậy đánh mạnh một xống tay vào cổ gã.

Gã dụi xuống như một khúc chuối bị đốn ngang thân không kịp kêu lên tiếng nào.

Cường rút dao găm kề sát cổ gã định đưa một đường kết liễu nhưng rồi không hiểu sao lại thôi, để mặc gã nằm đó.

Tên thứ hai anh cũng làm như vậy, nhanh hơn, mạnh hơn, làm vừa đủ để cho sự sống không rời khỏi chúng mà chỉ bị tê liệt phân nửa người phía trên.

Cửa đã mở, vật cản không còn nữa, cả đội hình nhanh chóng tiến sát ngôi nhà tô vẫn còn ánh đèn đỏ quạch như mắt thú hoang hắt ra.

Họ men theo chân tường đến trước một khuôn cửa sổ.

Tạ rướn người nhìn vào.

Bên trong có chừng bốn, năm sĩ quan cấp úy cấp tá của sắc lính biệt động đang chụm đầu vào một tấm bản đồ, vẻ căng thẳng bàn bạc cái gì đó.

Ngoài cửa chính có hai tên đứng gác như hai bức tượng.

Và ngoài sân đang có hai chiếc xe bọc thép đi qua đi lại, gầm gừ.

Trong phòng, một viên trung tá quấn băng trắng ở trán đang nói gì nghe lào khào không rõ, chỉ thấy hắn khum bàn tay, bóp nghiến lại rồi dộng mạnh xuống mặt bàn như úp cá, đập bẹp.

Tạ thì thào vào tai Cường: "Bọn khốn này tính ngày mai ăn tươi nuốt sống mình đây.

Vậy bố ăn trước!

Các cậu không chế đám ngoài sân.

Tớ trong nhà."

Dứt lời, không hiểu học được miếng võ khỉ này từ đâu, Tạ nhún chân lấy đà quăng vút người qua cửa sổ, dừng lại, đứng choãi chân, chĩa súng vào giữa ngực tốp sĩ quan, giọng khàn đặc: "Đứng im!

Đã đến giờ chúng mày phải đền tội cho những tội ác mà chúng mày đã gây ra bấy lâu nay ở cái Thành cổ này!"

Anh nghiến răng lia cả băng.

Như hứng trọn một cơn lốc từ trên cao đổ ụp xuống, đám sĩ quan thay nhau gục ngã mà mắt vẫn mở to ngơ ngác như không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Cùng lúc, Cường và nhóm của mình cũng tản ra, chiếm lĩnh những gốc cây, nã những đường đạn rất căng và chính xác về phía chiếc xe và đám lính rằn ri đang ào ào chạy tới.

Đạn nổ chát chúa, lửa đạn làm sáng rực cả một khu ngã ba.

Trong phút chốc, trước mắt Cường đã trở thành trống hoác không còn thấy gì nữa.

Rồi như linh cảm thấy một điều gì không ổn, anh thét vào tai Hải: "Cậu phụ trách giải quyết nốt hai cái xe kia!", rồi lao trở lại cái phòng họp lúc nãy.

Trong căn phòng lúc ấy, với sắc mặt phấn khích đến cực độ, Tạ đang thoăn thoắt vơ vét tất cả giấy tờ, tài liệu trên bàn cho vào túi xách đeo bên hông thì bất ngờ cơn ho ập đến làm anh phải cúi gập người sao nhãng mất vài giây và đồng thời làm viên Trung tá kia đủ thời gian trấn tĩnh.

Chính vào cái giây định mệnh đó, khẩu súng ngắn trên tay hắn tưởng đã chết nằm rụi ở góc nhà bỗng nháng lửa...

Tạ hơi giật người lên rồi ôm ngực lảo đảo.

Lại một nháng lửa nữa.

Lần này chính xác hơn.

Đến lượt anh ngơ ngác nhìn sững kẻ bắn mình như oán thán rồi gục hẳn, ngã sấp mặt xuống đống giấy tờ.

Vừa lúc Cường nhảy vào, chứng kiến cái chết của Tạ, anh hộc lên một tiếng đau đớn rồi bước đến đặt mũi súng nóng rẫy vào ngay thái dương viên Trung tá, lạnh lùng siết cò, siết thẳng căng chứ không có một chút chần chừ như cái lần đánh giáp lá cà, anh đã để nguyên cục đá sắc cạnh trên tay trong khi đường đi của nó phải là chính chỗ thái dương của thằng nằm dưới kia.

Lúc gã chỉ huy tiểu đoàn biệt động vẹo đầu sang bên, thở hơi cuối cùng cũng là lúc anh bế thốc người đại đội trưởng vẫn còn thoi thóp của mình qua cửa chính lao ra.



Trên cao, nền trời chuyển màu nhờn nhợt báo hiệu đã quá nửa đêm.

Trời lại bắt đầu mưa.

Cách ngã ba một đoạn, tìm một chỗ khuất, họ dừng lại, Cường đặt nhẹ Tạ xuống, rút bông băng cá nhân băng bó cho anh.

Nhưng không kịp nữa rồi, băng quấn đến đâu, máu từ bụng từ ngực Tạ trào ra đến đó.

Như vô thức, Tạ yếu ớt đẩy hai bàn tay nhòe máu của Cường ra, thều thào: "Thôi...

đừng làm gì nữa...

Phận tao đến đây là xong... chỉ thương mấy thằng chúng mày.

Ở lại bảo ban nhau mà sống.

Cường... tao có lá thư để trong... gửi cho tao."

Nói xong, anh từ từ nhắm mắt như người chìm vào giấc ngủ.

Dòng Thạch Hãn dưới kia rền lên một tiếng ai oán, tức tưởi...

Mọi người cúi đầu làm động tác mặc niệm.

Tất cả im lặng, chỉ có tiếng khóc nghẹn tắc của cậu bé Tấn là khẽ bật lên...

Với thi thể của Tạ trên vai, họ đi tiếp về phía khu thành, lầm lũi, không ai nói với ai một lời nào.

Đã trải qua bao cái chết, bao sự mất mát nhưng chưa lần nào họ thấy sự mất mát lại nặng trĩu như lần này.

Họ không chỉ mất đi một đồng đội, một người chỉ huy tháo vát, một người anh thân yêu mà hơn thế, họ còn mất đi một chỗ dựa tin cậy, một điểm tựa chắc chắn mà không biết trong những ngày tới ác liệt hơn, họ sẽ sống và chiến đấu thế nào?

Đã bớt mưa.

Nhưng bầu trời vẫn còn sũng nước.

Một vài vì sao ẩm ướt trên cao nhấp nháy lần cuối cùng rồi từ từ chui vào mênh mông.

Tấn đang đi đầu thì chợt dừng lại, ngó nghênh cái đầu trọc thụi lụi một lúc rồi cất giọng hốt hoảng:

- Chết!

Em quên mất đường rồi!

- Cứ bình tĩnh.

- Cường bước đến bên cạnh.

- Em nhớ hướng không?

- Không...

- Mặt cậu bé bí xị, mắt vẫn còn ngân ngấn nước.

- Hình như mất mối đường từ lúc... mặc niệm anh Tạ.

- Bỏ mẹ rồi!

- Bình nói.

- Kiểu này trời sáng, nó đem từng thằng bỏ vào rọ.

- Im!

- Cường gắt khẽ rồi anh ngửa mặt chú mục nhìn lên trời.

- Có cậu nào còn nhớ những nguyên lý lượng giác áp dụng vào thiên văn không?

- Tôi nhớ.

- Bình nói.

- Ta đang ở hướng nam, muốn đi về hướng bắc phải cắt theo cạnh huyền của sao Thần Nông.

- Anh nhìn lên.

- Kia, sao Thần Nông còn mờ mờ kia, cạnh huyền kia, đi theo tôi!

- Không, cạnh đáy chứ.

- Hải cãi.

- Cạnh huyền.

- Bình nói lại.

Hai người sẽ còn cãi cọ chưa biết đến bao giờ nếu cuối cùng Cường không lên tiếng quyết định:

- Trận mạc làm kiến thức rơ rão hết rồi.

Vậy ta đi theo cạnh huyền trước, không đúng, lại đi theo cạnh đáy sau.

- Nhất trí!

Lần này tôi dẫn đường.

Bình nói và phăm phăm đi trước.

Mọi người cõng thi thể của Tạ theo sau.

Bất ngờ nhận định của Bình đã đúng.

Chỉ mươi phút sau, họ đã chạm bờ sông, từ đây đã mờ mờ nhìn thấy tòa nhà cụt mái của Bộ chỉ huy.

Trời lại mưa tầm tã.

Họ nhẹ nhàng đặt thi thể của Tạ xuống, bó chặt bằng miếng vải dù pháo sáng không còn lành lặn vừa được lấy từ trong túi của Tấn ra rồi tất cả quỳ xuống, chắp tay lên ngực.

Tiếng Cường hay tiếng sóng vỗ bờ xa vắng:

- Anh Tạ ơi...

Không muốn để thi thể anh phải bị bom pháo quăng quật nhiều lần trên mặt đất, chúng tôi xin phép được thủy táng cho anh.

Nếu ai đó lấy được anh lên chôn cất ở một chỗ an toàn thì chúng tôi cũng toại nguyện.

Mong anh sống khôn chết thiêng phù hộ cho chúng tôi, những thằng em còn sống tiếp tục hoàn thành công việc của anh để lại.

Lời nói này thay cho nén tâm nhang xin được thắp lên mộ anh...

Họ lặng lẽ mang anh ra mép sông lúc này đang ăm ắp nước, kính cẩn thả xuống.

Một quầng nước tung lên.

Cái xác chìm nhẹ rồi sau đó nổi bềnh trôi từ từ ra cửa biển.

Trên trời, một loạt hỏa châu bay lên nhòe nhoẹt như vô tình soi đường cho linh hồn một con người về miền cực lạc...

Rời bờ sông, họ âm thầm đi ngược lên Thành cổ.

Nỗi buồn thương chống chếnh đã khiến cho họ không nhìn thấy một bóng người đang bước ngược lại xuống bến sông, bóng con gái, cái bóng của Hồng...



Trời sắp sáng.

Không kịp ngủ, mọi người tập trung ngồi nghe Cường bấm đèn đọc lá thư của Tạ để lại trong đáy ba lô.

Giọng anh xa vắng:

"Em và con thương nhớ!

Anh sắp đi đây.

Lần này chắc anh sẽ đi xa mãi mãi.

Vậy là anh không có dịp được gặp em và con nữa rồi.

Anh thương nó lắm!

Khi anh đi, nó chỉ nhìn anh không nói nhưng anh biết trong lòng nó cũng thương bố lắm.

Em nhớ nói với con rằng thằng bố vô tích sự của nó đã biết nằm xuống như một người đàn ông, một người lính thực thụ.

Em...

Phận anh trả nợ nước thế là xong, chỉ thương em, mẹ già, con nhỏ nhưng anh biết em sẽ vượt qua được.

Nhớ động viên mẹ, đừng để mẹ khóc nhiều.

Sau này có ai đem lòng thương em thật lòng, em cứ gắn bó với người ta, như vậy ở dưới kia anh cũng mát lòng.

Ngày thắng lợi, nếu còn nghĩ đến anh, em cứ đi tàu vào Quảng Trị, xuôi sông Thạch Hãn tìm đến thôn Nhan Biều, người ta sẽ vớt anh lên chôn ở đó.

Trong mộ có miếng tôn khắc tên anh..."

Im lặng.

Tiếng sụt sịt của Tấn khẽ vang lên.

Riêng mái tóc xù xì, vàng cháy của Sen là vẫn gục xuống hai đầu gối để trần.

Cường ngước nhìn lên bầu trời đêm Thành cổ, từ trong tâm tưởng sâu thẳm của anh, dường như có cái gì đó như một thanh âm bi thương và thao thiết nào đó khe khẽ vẳng lên, lan tỏa rồi thu lại lặn sâu, rất sâu vào trong người như một góc để dành, góc cất giữ những điều tinh lọc nhất để chờ dịp trào ra...



"Ngày... tháng... năm...

Mẹ ơi!

Vậy là cho đến hôm nay, chúng con đã trụ được tới ngày thứ bảy mươi lăm.

Anh Tạ, người anh đáng kính của chúng con đi rồi, đi lặng lẽ, đi thanh thản như đã biết trước giờ khắc ra đi của mình, điều mà lâu nay con chỉ coi là hoang tưởng, là sản phẩm của một bộ óc mê mụ.

Sự ra đi của anh ấy để lại cho chúng con một khoảng trống ghê gớm quá, đến nỗi chúng con phải nghĩ rằng, chính tình nghĩa tử sinh đồng đội, những ký ức sâu sắc nằm gai nếm mật đã kết dính chúng con lại, đã hà hơi tiếp sức để cho chúng con biết vượt lên tất cả để đứng vững chứ chưa hẳn đã là những gì thuộc về lý tưởng, hoài bão hay mục đích chính trị xa xôi nào.

Mẹ có tin vào những điều linh cảm không?

Anh ấy đã linh cảm, đã tiên liệu trước được nơi chôn cất của mình và dặn vợ con sau chiến tranh tìm đến.

Còn con, con hiểu đó chỉ là sự trải nghiệm của người lính, sự trải nghiệm mang tính quy luật và đã chạm đến tâm linh.

Mẹ!

Cuộc họp bên ấy diễn tiến đến đâu rồi mẹ?

Con hiểu mỗi người lính ngã xuống ở đây là mỗi cú thúc cho cuộc họp liên quan đến vận mệnh dân tộc ở bên kia mau chóng được ký kết, đúng không mẹ?

Cho nên mẹ nói các bác, các chú ở đó cứ yên tâm, tụi con sẽ làm hết sức mình để chân lý được tồn tại và để mẹ nhanh được trở về nhà nghỉ ngơi.

Còn điều này nữa mẹ có tin không?

Càng vào những lúc ác liệt nhất, đầu óc con càng vang lên những âm thanh lạ lắm, nó ngọ nguậy, nó rục rịch chuyển động, nó thét gào đòi được thoát ra.

Đó là âm thanh của một bản giao hưởng mà nếu không trải qua những ngày ở đây, con sẽ không bao giờ có.

Có lẽ vì thế nên con sẽ tìm cách tranh thủ để cho nó được tái sinh thành những ký hiệu, bởi, con nói điều này không phải là bi quan đâu, chưa biết bom đạn nó tìm đến con lúc nào.

Là đứa con, con thực lòng vừa mong những dòng thư này đến được với mẹ lại vừa không mong.

Không đến được là con vẫn còn sống, vẫn còn viết tiếp.

Đến được rồi tức là con đã...

Nhưng không nói hết tất cả với mẹ thì còn biết nói với ai.

Vì mẹ không chỉ là mẹ, mà trong những phút giây hiểm nghèo nhất, đối với con, mẹ còn là Hà Nội, là quê hương, là Tổ quốc.

Con nói thế, chắc mẹ hiểu."
 
Mưa Đỏ
Chương 28


Đêm ấy, người mẹ cũng không ngủ, nơi thành phố yên tĩnh và tráng lệ này đang là gần sáng.

Qua những dòng thư gửi mẹ viết thoắng bay lên từ nơi Thành cổ kia, bà như mơ hồ nghe được tiếng nói của đứa con rì rầm bên tai.

Cường ơi!...

Mẹ đây, mẹ cũng đang nghĩ về con đây.

Mẹ biết con và bạn bè con ở đó đang gian khổ lắm, giá như không có hội nghị này, mẹ cũng đã xin vào đó với con rồi.

Vào đó mẹ có thể nấu cơm, giặt giũ, băng bó... làm gì cũng được, miễn là được ở gần con, được chăm sóc con.

Bà trở dậy, quàng thêm tấm voan cho đỡ lạnh rồi lặng lẽ ra ngồi trước tấm ảnh đứa con đặt trên mặt bàn.

Tấm ảnh bằng bàn tay này đi đâu bà cũng mang theo như một chỗ dựa tinh thần, một niềm an ủi thiêng liêng, sâu thẳm nhất.

Công việc bận bịu thì thôi, rảnh một chút, nhất là mỗi khi đêm về, bà lại ngồi trước con để nghĩ, để nhớ, để chuyện trò mà không rõ tại sao bà lại chắc mẩm rằng, nếu làm thế, bằng đường dây thần giao cách cảm tâm linh, bằng tất cả tấm lòng của một người mẹ, đứa con sẽ không nỡ bỏ bà mà đi.

Ngoài kia trời đã sắp sáng.

Một buổi sáng yên hàn ở đây và một buổi sáng bom đạn ở đó, một buổi sáng chưa biết điều gì sẽ xảy ra với con.

Bất giác bà đưa tay chắp ngang ngực, mắt ngước nhìn lên bầu trời vi vút gió, lầm rầm khẩn cầu thần Phật phù hộ cho đứa con cùng đồng đội của nó qua khỏi được ngày hôm nay, cứ một ngày đã, Nam mô A Di Đà Phật...

Chợt có tiếng điện thoại réo vang ở góc phòng.

Bà giật mình cầm lên.

Đó là giọng nói của đồng chí trưởng ban bảo vệ: "Cô ơi!

Cô có khách đợi ở dưới nhà ạ!"

Khách nào nhỉ?

Từ ngày sang đây đến giờ, bà có khách nào đâu, và ở đây bà cũng không quen ai cả.

Hay là có tin tức gì của nó mà một ai đó từ trong nước vừa qua?

Nghĩ vậy, bà vội trang điểm qua loa rồi hồi hộp đi xuống.

Chờ bà ở phòng khách là một cô gái Việt Nam ăn mặc nền nã, tóc buông thả che đi nửa khuôn mặt.

Khi cô gái đó nhìn lên thì bà thoáng giật mình, Thanh, con bé người yêu ngày nào của con bà!

Cô gái gần như chạy ào lại ôm chặt lấy bà, giọng ngào nghẹn:

- Cô... cháu vừa xuống tàu.

Cháu biết cô đang ở đây, hỏi mãi mới ra.

- Thế à?

Đi suốt đêm qua à?

Tự dưng bà lại buông một câu lấy lệ thay vì cũng ôm chặt lấy cô như ôm một kỷ niệm, ôm chính một phần thân thể, một phần linh hồn của con mình nhưng...

- Cô ơi... cô có nhận được tin gì của anh Cường không?

Bà lắc đầu, cũng lại là cái lắc đầu dửng dưng.

Nhận ra điều đó, cô rơm rớm nước mắt:

- Cháu biết cô giận cháu, thậm chí không muốn gặp lại cháu nhưng... nếu cô biết rằng những ngày ở xa tổ quốc cháu đã nghĩ nhiều lắm, đã vô cùng hối hận, đã tự nguyền rủa mình là con người chả ra gì, sao lại có thể nói ra được những lời nhẫn tâm như thế trước lúc anh ấy đi?

Cô ơi...

Nếu anh ấy còn sống thì không sao chứ chẳng may anh ấy... thì cháu khổ sở suốt đời.

Câu nói này khiến bà lạnh hẳn.

Chao, vậy mà cũng gọi là tình yêu ư con người bội bạc kia?

Yêu mà chỉ vì những lý do không ra lý do ấy, nếu không muốn nói là quá ư thực dụng ấy mà nỡ để cho một chàng trai mang theo nỗi hận tình đi vào chỗ chết ư?

Và cái gọi là hỏi tin xem nó sống hay chết cũng đâu xuất phát từ sự hối hận mà thực chất là chỉ tìm một chút cứu rỗi linh hồn, đúng không?

Bà định nói thẳng với cô như thế nhưng rồi lại thôi, nói làm gì, vô ích, vả lại nhìn khuôn mặt võ vàng, thâm thấm nước mắt kia bà lại không nỡ.

Biết đâu trong cái thực dụng thời thượng đó lại chả còn một chút tình cảm thật xen vào.

Bà cầm tay cô gái, vỗ nhè nhẹ:

- Thôi chuyện đã rồi, bỏ qua đi.

Cũng là kiếp đàn bà với nhau, cô hiểu, cô cũng không trách cháu.

Đứng trước phận sự lớn lao, mỗi người có cách hành xử riêng mà không thể áp đặt được.

Vả lại, nói điều này để cháu yên tâm, trong đó nó cũng đã tìm được một người con gái rất hợp với nó rồi.

Một thoáng hao hụt hiện lên trong ánh mắt, cô cúi xuống nói lí nhí:

- Dạ... cháu cũng... mừng cho anh ấy.

- Thế nhé, cô phải chuẩn bị đi họp đây.

Trưa nay cô mời cháu dùng cơm, có gì ta nói chuyện tiếp.

- Dạ, cháu phải đáp chuyến tàu trở lại ngay bây giờ.

Chúc cô mạnh khỏe và... thôi, xin phép cô cháu đi!

Cô gái cúi đầu chào rồi bước như chạy ra ngoài tiền sảnh.

Người mẹ nhìn theo giây lâu, khẽ buông một tiếng thở dài...
 
Mưa Đỏ
Chương 29


Thời gian đã chuyển dịch sang phía nửa đêm bên kia rồi mà trời vẫn không có dấu hiệu tạnh hơn.

Dưới ánh pháo sáng, nếu ai đó từ trên cao nhìn xuống sẽ thấy toàn cảnh dòng sông Thạch Hãn và khu vực Thành cổ hiện ra lênh láng nước như mặt hồ.

Mặt sông gần như bằng với mặt đất.

Nước từ sông theo lũ tràn ồ ồ vào thành.

Nước trong thành lại ồ ồ tràn xuống các hầm, tràn vào các đường giao thông hào ngang dọc, tràn vào tất cả những gì gọi là nơi trú ẩn của con người.

Trong cái lênh láng như nạn đại hồng thủy thời tiền cổ đang hiển linh trở lại ấy, chốc chốc lại thấp thoáng có một mô đất, một mảng bê tông, một đụn cỏ nhô lên như cô đảo, như nấm mồ.

Trời vẫn mưa không dứt.

Nước vẫn réo ù tai, dai dẳng.

Lúc ấy, trong hầm chỉ có Hải, Tấn và Sen là kê người trên sạp, kiểu kê nửa nằm nửa ngồi, hoặc kê úp thìa vào nhau cho đỡ ướt.

Riêng Sen vẫn ngồi gục đầu thu lu ở một góc.

Không biết Sen ngồi như thế tự bao giờ mà nếu không thỉnh thoảng ngật đầu sang bên thì ở ngoài nhìn vào dễ nghĩ anh đã chết, chết trong tư thế thường có trong các căn hầm ở đây.

Còn Cường và Bình lại ngâm nửa người trong nước.

Cũng ngủ, một kiểu ngủ khổ sở như kẻ hành xác trong kinh Thiên chúa.

Thỉnh thoảng Bình lại giật mình đến bũm một cái tỉnh dậy rồi lại ngủ.

Một tiếng ếch kêu ộp ộp đâu đây khiến Cường choàng tỉnh, dụi dụi mắt nhìn lên... sắp sáng rồi, phải dậy thôi, gần đây chúng hay lọ mọ đột kích vào cái giờ chạng vạng này, cái giờ đối phương nửa ngủ nửa thức.

Để cho tỉnh hẳn, anh vỗ bốp bốp mấy cái vào gáy, thò tay ra cửa hầm, vục xuống dòng nước khăm khẳm chảy qua định đưa lên mặt thì bỗng rụt ngay tay lại như chạm nước sôi, ngay trước mắt anh, trong làn nước nhờ nhờ ấy, một xác người không quần áo lệt sệt trôi qua, dập dềnh một mảng mông trắng sáp đang phân hủy khuất dần...

Tiếng ếch lại kêu gần hơn.

Tấn ngóc đầu lên ngơ ngác:

- Em vừa nằm mơ đi bắt ếch, vừa chộp được thì tỉnh, tiếc quá!

- Tiếc gì!

- Cường nói.

- Ếch thật kia kìa.

Tấn trố mắt nhìn xuống, một chú ếch gầy đét đang mắc kẹt giữa mấy cái đà gỗ ở góc hầm, hai cẳng chân chòi đạp rối rít, mồm cứ ngoác ra...

Vẻ thích thú trẻ thơ, Tấn nhoài ra chộp được, nhưng không thả ra mà rút vội sợi dây của chiếc giày để bên cạnh, loay hoay buộc hai cái giò tong teo ấy lại rồi lại loay hoay tìm cách treo lên lưng chừng nước ở cửa hầm.

Bị treo, chú ếch càng kêu ộp ộp, múa may, đạp nước tứ tung.

Tấn khoái chí:

- Ếch cảnh đó.

Để nó kêu cho đỡ buồn.

Chợt bầu trời bị xé nát bởi hàng loạt những trái pháo bay tới.

Mặt đất chao đảo, nước trong hầm sóng sánh.

Pháo chưa dứt, những trái bom các loại từ những chiếc phản lực bất thần lao tới ném xuống đã tạo nên sự cộng hưởng âm thanh như tiếng vỡ của miệng núi lửa để bắt đầu phun trào nham thạch.

Tấn nhắm mắt lắng nghe từng tiếng nổ một rồi hồn nhiên như đứa trẻ học đếm:

- Trái này nghe ực một cái là bom đào này...

Trái này nghe rào rào như cháy rừng là bom phạt này...

Trái này nghe lốp bốp như bắp rang quá lửa đích thị là bom bi...

Còn trái này không nghe tiếng, chỉ nghe lửa phựt phựt dứt khoát là thằng napan...

- Im một lát, cậu lại xướng lên.

- Trái này là pháo dù...

Trái này là pháo chụp...

Trái này là pháo khoan...

Trái này là...

- Cậu chợt kêu rú lên.

- Chết con ếch cảnh của em rồi!

Nơi cửa hầm, chú ếch bị mảnh pháo chém bay hết phần thân, chỉ còn lại cái đùi tơ tướp đung đưa...



Bom pháo tạm ngừng.

Trời bắt đầu sáng hửng, ném từng mảng nắng nhợt nhạt vào lòng hầm.

Cường xách súng ngoi lên khỏi mặt nước.

Tấn bỗng cười váng:

- Nhìn anh Cường kìa!

Như rắn hai màu ấy.

Mọi người nhìn lại, dưới ánh nắng sớm, thân thể anh chia làm hai màu thật.

Từ cổ xuống trắng nhợt như cá ươn, từ cổ trở lên lại đen cháy như vừa bị bom napan, chỉ có đôi mắt và hàm răng là trắng, trắng dã, trắng ởn.

Hải cũng bò lên, thân thể cũng hai màu không kém, thậm chí còn rõ rệt hơn.

Thế rồi như lây lan, tất cả, trừ Sen, đều trườn mình ra nắng để lộ rõ cái thân thể nửa trắng nửa đen của mình.

Bình đùa:

- Cứ thế này mà nghễu nghện đi trên phố nhỉ?

Có khi cụ Da Vinci phải sống lại để xem loại sinh vật này là sinh vật gì mà chưa hề có trong các họa phẩm về Kinh thánh?

Tiếng cười bật lên.

Lâu lắm mới lại có một tiếng cười chào sáng vô tư và sảng khoái thế này!

Nhưng tiếng cười chưa kịp tắt thì cả khu hầm bỗng rực lóa như có một mảnh thiên thạch ngàn độ từ dải Ngân Hà rơi xuống.

Bình lúc ấy đang ngồi ngoài cùng chợt rú lên một tiếng rồi ôm chặt lấy mặt gần như bị thổi văng bật trở lại.

Ngay liền đó, có rất nhiều lưỡi lửa đỏ rực vút đến, liếm xèo xèo, reo phừn phựt, luồn vào cửa hầm, luồn vào các ngách giao thông hào, vào thân thể con người.

Lưỡi lửa luồn liếm đến đâu là ở đó bùng cháy như có một trận hỏa thiêu, một trận động đất ngàn độ richter chụp xuống.

Cường thét lớn:

- Súng phun lửa!

Tất cả xuống hầm, dùng bao cát, gạch đá bịt kín các kẽ lại!

Mọi người vội làm theo.

Trên mặt đất, những con rắn lửa bỗng chốc mất con mồi nên cứ lồng lộn đan qua đan lại, quật lên vắt xuống thiêu rụi tất cả những vật thể rắn mềm, nhỏ to trên đường đi của nó.

Lúc này, qua khe gờ, Cường mới chú mục nhìn ra và sửng sốt phát hiện đó chính là những lưỡi lửa từ trên những chiếc xe lội nước đen trũi đang xé nước ùng ục bươn vào.

Đã có chiếc xe trườn đến gần cửa hầm.

Một quả đạn B40 từ tay anh phóng ra trúng đích... nhưng không hề hấn gì.

Quả thứ hai cũng vậy!

Con hắc thú lưỡi đỏ chỉ rùng mạnh mình một cái, hơi sựng lại, chao nghiêng rồi lại lấy thăng bằng tiếp tục chồm lên, phè phè phun lửa.

Cường cay đắng nhận ra, vẫn cái thành xe có trấn bao cát kín mít đã hất lại tất cả những trái hỏa lực mạnh nhất từ trong các tầng hầm, các khúc đoạn giao thông hào bay ra.

Đã có chiến sĩ ở khu hầm bên cạnh bắt lửa, toàn thân bùng cháy.

Anh điên cuồng chạy lên một khoảng trống vùng vẫy, lăn lộn, nhào lên lộn xuống nhưng ngọn lửa không hề thuyên giảm mà còn cháy dữ dội hơn.

Đây là một trường hợp không thể sẻ chia, cứu chữa mà chỉ có thể trân mắt đứng nhìn, đành chờ cho cái thể xác kia dụi xuống, tan chảy, biến mất...

Tấn nói nhỏ vào tai Bình:

- Để em!

Anh bắn yểm trợ nghen!

Nói rồi, như một con sâu đo tinh quái, lại như một chiến sĩ chống tăng sành sỏi, với thân hình nhỏ thó của một thiếu niên, cậu vác cây B40 dài gần bằng người bò len lách giữa các vật chướng ngại, giữa các xác chết của cả bên này lẫn bên kia, ngoắt qua ngoắt lại khiến các lưỡi lửa, các đường đạn bất lực chỉ lướt qua phía trên mà không sao chạm được vào người.

Cứ thế, thoáng chốc cậu đã tiến gần đến một chiếc M48 sừng sững như một tòa nhà đang nghênh ngang cuốn xích bươn tới như bươn vào chỗ không người.

Vẫn ở tư thế nằm, Tấn đặt cây súng lên vai, không cần nhắm mắt, siết cò...

Trái đạn có hình hoa chuối hột trên vai Tấn không bay vào thành xe mà găm thẳng vào xích.

Lửa nháng lên, vẫn ngọn lửa nghìn độ, màu trắng nhưng lần này cả vòng xích nặng nề đứt tung, rồn rột tuột ra phía sau như con thú bị lòi ruột.

Phía trên, cái nắp tăng hốt hoảng mở tung, từ đó các bóng lính thuộc liên đoàn biệt động văng ra, nhảy xuống, ôm đầu chạy trí mạng về phía sau.

Đứng trong giao thông hào, Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên Đặng Cường hét to:

- Cậu ấy làm được rồi...

Tất cả làm theo!

Xông lên...

Đến lượt những thân hình vận quần cộc, áo rách, ở trần nửa đen nửa trắng lao lên.

Lại thêm một vài cái xe tuột xích nữa.

Có xe bốc cháy, có xe lật nghiêng.

Xác chết rải quanh, có cái xác cũng ngún lửa như luật bù trừ nghiệt ngã gieo cây nào gặt quả ấy đang được hiện hành.

Nhưng đàn quái thú vẫn sắp xếp lại đội hình, phè lửa lao lên điên loạn.



Trước mắt Hải hiện ra một cảnh ùn tắc bi thảm trong giao thông hào.

Bộ đội người bị thương, người còn lành nhoi lên từ các nắp cống ngầm, chen chúc, xô đẩy, dồn ứ...

Những lưỡi lửa nhân đà ấy liếm xuống ràn rạt khiến sự hỗn loạn lại càng thêm hỗn loạn.

Có những người không chịu nổi áp lực đã cố nhoai lên mặt đất để hy vọng được thở một chút khí trời thì lập tức bị những đường đạn như đã chờ sẵn, thẳng căng găm tới, hất văng trở lại.

Hải chặn một chiến sĩ ướt lướt thướt vừa từ lòng cống nhoi lên.

- Sao, cái gì xảy ra ở dưới đó?

- Nước bị ứ.

Tắc rồi.

Hải đuỗn mặt một chút rồi cầm súng len lách qua đám đông, qua những mùi mồ hôi khét nồng, qua cả những vết thương rỉ máu chui xuống.

Đúng là lòng cống đang nghẹt người.

Nước đã không thoát được mà lại đang dâng dần khiến cho sự cơ động chiến thuật trong lòng đất hoàn toàn bị bế tắc.

Cứ đà này thì ta tự giết ta chứ chưa cần đến súng đạn kẻ thù.

Hải khựng lại một chút, vầng trán căng ra, rồi như đã quyết được một điều gì hệ trọng, anh chen, gạt, dũi ngược lại dòng người mỗi lúc mỗi ken đặc.

Có lúc anh bị đè ngã sấp ngã ngửa, có lúc bị giẫm đạp lên cả lưng, cả mặt, cả cổ.

Anh lại gồng người vùng dậy dũi tiếp...

Rồi lòng cống cũng sáng dần báo hiệu anh sắp ra đến cửa.

Đột ngột một mùi hôi thối xộc lên khiến anh bất giác váng vất, xây xẩm mặt mày, quặn bụng muốn nôn.

Anh nhịn thở dũi tiếp, dũi tiếp nữa...

Cuối cùng cái cửa cống bằng vỉ sắt nằm ngang mép nước và nguyên nhân ùn tắc cũng bất chợt hiện ra, ghê rợn.

Tại cửa cống, một xác chết trôi từ đâu tới giắt ngang mắt lưới, trương phình, bịt kín.

Không kịp suy nghĩ gì thêm, anh vội nhoài tới, dùng tất cả những gì có thể dùng được: báng súng, mũi súng, lưỡi lê, dùng cả tay chân nhằm ẩy cái khối xương thịt cứng ngắc như hóa đá kia ra khỏi nhưng bất lực.

Nếu có kênh ra được một chút thì nước lại đẩy lại, cứng hơn.

Cuối cùng, không còn cách nào khác, anh lầm rầm trong đầu: "Không biết anh ở bên nào nhưng vì sự sống của mọi người, tôi xin lỗi...", rồi lên đạn lia một loạt vào cái xác đó.

Cái xác ăn đạn vữa ra từng mảnh rồi từ từ tuột xuống cho một luồng ánh sáng quý giá lùa vào cùng lúc với dòng nước trong cống bắt đầu thốc tháo thoát ra.

Anh cũng theo dòng nước nhoài ra khoảng trống, thỏa thuê vươn vai, hụp xuống, giơ cả hai tay vẫy chào tổ hỏa lực làm nhiệm vụ bảo vệ cửa cống, lặn xuống, khoan khoái để mặc cho dòng nước đẩy đưa mình đi một đoạn rồi mới nhô đầu với ý định sẽ lên bờ, đi tắt qua chỉ huy sở về phía đại đội của mình.

Nhưng vừa vuốt nước trên mặt, định đặt chân lên gờ đá bước lên thì bất ngờ một đế giày bốt-đờ-sô đen sì, to tướng, lấm máu đã hiện ngay trước mặt.

Phía trên là một nòng súng cũng đen ngòm và trên nữa là một cái cười rất hiểm độc.

Cái cười của Phan Thái, viên Trung úy toán phó Hắc Báo, lúc này hắn đã đeo lon trung úy, và phía sau hắn là một dãy những nòng súng khác từ trong các lùm bụi đang gom chúi vào anh, sẵn sàng xổ đạn...
 
Mưa Đỏ
Chương 30


Trung úy Phan Thái nói với Đại úy Quang, cũng đã thăng lon đại úy, quân đội Cộng hòa rất hào phóng trong việc tăng hàm cho các sĩ quan như một sự khích lệ cụ thể mà nếu không thế thì tinh thần của họ sẽ thả dốc hết, với giọng vui vẻ, một điều mà ít khi gặp được ở gã:

- Anh Quang cứ yên tâm làm một giấc cho ngon đi, thằng Cộng sản này để tôi.

Quang cười, đưa tay ra bắt tay gã, một điều lâu nay cũng chưa hề có:

- Chúc mừng cậu đã lập được một chiến tích!

Công này là của cậu, cậu có thể toàn quyền xử lý nó.

Chào!

Nói rồi Quang đi thẳng vào căn lều dã chiến của mình.

Thái nhìn theo.

Quan hệ giữa gã và viên chỉ huy của gã gần đây đã được cải thiện phần nào kể từ lúc gã chứng kiến con người bí hiểm kia đã lạnh lùng hạ lệnh đưa con Việt Cộng kia về với đất.

Thế là được, là cùng mối thâm thù không đội chung trời với Cộng sản.

Đối với Đại úy Quang, gã hiểu, mối thâm thù này không bắt đầu từ nỗi hờn căm uất hận cụ thể mà có vẻ rắc rối sang trọng hơn, thuộc về một điều gì đó như tiềm thức sâu xa bên trong, cái tiềm thức mà phía bên kia thường kêu bằng giai cấp hay cái gì gì đó.

Còn gã, người cha xã trưởng bị Việt Minh xử tử, người chú đeo lon đồn trưởng lại bị bọn Việt Cộng phục chết, vậy thì với gã, Cộng sản không là cái gì khác ngoài một kẻ thù bất cộng đái thiên, một món nợ máu cần phải trả, càng lấy được nhiều máu càng hả, càng mát ruột.

Gã đã trích máu thề trước mồ cha, mồ chú như thế và nhất định sẽ làm được như thế.

Với quả đấm sắt sáng bạc trên tay, gã bước nhanh vào căn lán đang có thằng lính Cộng sản bị trói chặt trong đó với vẻ hứng khoái của một con đười ươi sắp xé xác con mồi vừa tóm được.

Quần đùi, cởi trần, toàn thân lem luốc, hai khuỷu tay bị trói giật ra đằng sau, Hải ngồi trên chiếc ghế sắt hoen gỉ với khuôn mặt sưng vù, bầm tím.

Phan Thái từ ngoài đi vào, sạch sẽ diêm dúa, phảng phất mùi nước hoa gây gây chất lính.

Gã nhìn từ đầu đến chân người tù binh, nhếch một cái cười giễu cợt:

- Chào anh bạn!

Anh bạn thử nhìn lại con người của anh bạn thê thảm như thế nào mà dám đòi chống lại một đội quân thiện chiến như chúng tôi, liệu có cuồng tín quá không?

Hải bụm miệng nhổ ra một chiếc răng có lẫn cả máu, quay đi không trả lời.

Cái cười giễu cợt trên môi gã Trung úy chuyển thành cay nghiệt, gã bước đến dùng mũi súng hất mặt anh trở lại:

- Đừng có làm trò quân tử nữa!

Quân tử giữa trận tiền còn khả dĩ coi được, quân tử khi đã sa cơ thất thế nửa người nửa ngợm thế này là mắc cười lắm, nói đúng ra là dở người.

Hải chiếu thẳng cái nhìn vào giữa bộ mặt đểu đểu trơn lì của gã, bật nói:

- Bắt được rồi, các người muốn bắn thì bắn ngay đi, đúng theo luật thời chiến, đừng giở cái trò khích bác đàn bà ấy ra, tởm lắm!

Rắc!

Quả đấm sắt trên tay Phan Thái vung lên khiến cả khuôn mặt anh vẹo lệch sang bên.

Đến đây gã hiện nguyên hình cái bản chất du thủ du thực của dân anh chị bến xe bến tàu trước khi vào quân trường:

- Mẹ mày!

Chết đến đít rồi mà vẫn còn láo!

Tao ghét cái nhìn của mày...

Đi liền với câu nói đó là quả đấm sắt thứ hai dộng ngay vào đôi mắt đang nhìn rất thẳng của anh.

Một thoáng chấp chới, máu ở khóe mắt rỉ ra nhưng ánh nhìn vẫn bay qua đôi mí mắt sưng tấy, chiếu thẳng vào mặt gã.

Tiếng nói anh khàn khàn, dấp dính bọt máu đang sủi ra nơi khóe miệng:

- Tôi nghĩ rằng, với một đội quân thiện chiến như ông vừa nói, nhất lại là một sĩ quan, ông không nên có cách nói chợ búa, hạ đẳng ấy với đối phương.

Phan Thái sững ra một giây rồi bật tiếng cười ha hả, nhe cả mấy chiếc răng vàng nơi khóe miệng:

- Mẹ, cái thằng dòm cù lần này cũng biết ăn nói lắm, không giống những thằng khác ở vào trường hợp này là chỉ còn biết co rúm người lại.

Tốt!

Chắc cũng là dân có học, dân sinh viên như tin tình báo cho biết, đúng không?

- Không, tôi chỉ là người thợ, thợ điện.

- Quân hàm, cấp bậc?

- Binh nhì.

- Đầu óc như anh mà chỉ có binh bét thôi ư?

Hình như phía Cộng sản mấy anh không biết cách dùng người?

Hơi uổng!

- Chúng tôi bỏ tất cả vào đây không phải vì chiếc lon hàm trên ve áo.

Nếu chỉ vì thế thì cái trận địa này đã bị bỏ trống từ lâu rồi.

- Khá, trả lời vẫn được!

- Gã đập tay xuống đùi.

- Quê quán?

- Hà Nội.

Gã không hỏi nữa, quay đi châm điếu thuốc, nhả khói phèo phèo.

Mẹ, một thằng binh nhì cóc cáy mà biết ăn nói, biết giữ phong độ nhà binh như thế trước cái chết là không đùa được.

Bên trong cái đầu nham nhở đầy chấy rận kia chắc còn có một cái gì khác nữa để chúng nó có thể liều thân mà giữ cho được cái mảnh đất chết tiệt này.

Một chút nể nể nhen lên, gã châm điếu thuốc thứ hai đi đến nhét vào miệng anh.

Hải khẽ nói cám ơn rồi chu miệng rít sâu một hơi vào lồng ngực.

- Các anh biết là các anh sẽ thua không?

Ít nhất là ở đây, ở cái Thành cổ này?

- Gã ngồi xuống chiếc ghế đối diện, hỏi.

- Trong chiến tranh thua thắng là chuyện thường, chắc ông sĩ quan hiểu rõ hơn tôi điều đó.

- Thực chất các anh chỉ là những con thiêu thân, những vật tế mạng cho một mệnh lệnh ngu ngốc, một âm mưu chính trị cũng ngu ngốc không kém mà không biết.

- Không, chúng tôi biết.

Phải biết rất rõ nên mới có thể trụ được đến ngày hôm nay trước cường độ bom đạn mà ngay chính các ông chắc cũng lấy làm khủng khiếp.

- Hỏi thật nhé, anh bạn binh nhì!

- Gã cúi sát mặt anh, vẫn cái kiểu hỏi nhơn nhớt.

- Anh bạn có sợ chết không?

Và nếu phải nhận một viên đạn ngay vô sọ lúc này thì anh bạn có hối hận gì không?

Rốp!

Gã bật kim hỏa khẩu súng ngắn trên tay rồi kê sát thái dương anh như sẵn sàng bóp cò.

Hơi thép lạnh buốt khiến Hải thoáng đau nhói trong ngực như có một tia lửa hàn nào vừa chạm đến chỗ nhạy cảm nhất.

Chao ôi!

Kết cục rồi mình cũng chết, cũng thực hiện được cái ý định mà vì nó mình vào đây, nhưng không thể chết một cách tức tưởi, tăm tối như thế này!

Đồng đội, bạn bè đã chết gần hết rồi, mình cũng sẵn sàng chết nhưng phải chết thế nào cho ra chết chứ!

Đấy là chưa nói, chết thế thì cái lý do, tiềm thức kia rồi sẽ đi đến đâu hay vẫn lại mù mờ như bao năm qua nó đã mù mờ nằm chình ình giữa người thân để gây phiền lụy biết chừng nào cho gia đình?

Nghĩ vậy, anh lặng lẽ nhìn vào cái miệng đang cười nhơn nhớt ấy:

- Là người sao lại không sợ chết, ông Trung úy!

Chúng ta có phải sinh ra để trở thành kẻ chém giết chuyên nghiệp đâu.

Nhưng chết thế nào, chết vì cái gì mới là điều cả tôi và ông phải cân nhắc đến.

Đại úy Quang từ nãy đã bước vào phòng, kín đáo ngồi xuống một chỗ khuất và đã nghe được trọn vẹn mẩu đối thoại bất thường ấy.

Hắn biết rằng gã toán phó võ biền, đầu óc nông cạn của mình không phải là đối thủ tranh luận của cái tay tù binh gù gù rách rưới kia nên đứng dậy, hắng giọng:

- Thôi, trong lúc thiên hạ đang đánh nhau mù trời mù đất ngoài kia mà các vị cứ ngồi đây lảm nhảm những điều vớ vẩn ấy thì thật là hài hước.

Trung úy, cho đưa hắn xuống hầm, trói kĩ lại, mai sẽ tính.

Gã Trung úy phất tay.

Hai tên Hắc Báo xồng xộc đi vào, thô bạo lôi nhanh anh ra khỏi lán.

Nhưng chưa bước ra khỏi cửa đã bị Phan Thái gọi giật lại: "Khoan!", gã tiến sát đến anh, gầm ghì:

- Anh bạn, chuyện này chưa xong đâu, chúng ta còn có dịp chứng minh điều tôi vừa nói.

Đưa đi!

Hải đi khuất, Quang thả người ngồi xuống:

- Ngay chiều nay cho giải hắn lên Ban an ninh sư đoàn, ở đó họ sẽ có cách nói chuyện với hắn.

Việc của chúng ta ở đây là siết cò chứ không phải là hỏi cung.

- Không!

- Phan Thái lắc đầu.

- Với loại này chả có cái Ban an ninh nào xử lý được hết.

Tôi đã có cách, mong Đại úy đồng thuận.

- Cách gì?

- Quang nhướng mắt.

- Vẫn là cách cổ điển thôi nhưng với chúng ta, với đặc điểm trận chiến này, tôi hy vọng rằng nó sẽ đem lại hiệu quả bất ngờ.

Chiều nay tôi sẽ xin phép được trình bày cụ thể với Đại úy.

Quang im lặng.

Hắn biết rằng, đây là dịp để cho thằng đàn ông không nhiều kiến thức nhưng lại rất sẵn cơ mưu và sự tham lam, hãnh tiến kia được bộc lộ bản thân trước cấp trên.

Được thôi, tốt thôi, anh bạn, xin cứ tự nhiên, cuộc chiến này chả của riêng ai!
 
Mưa Đỏ
Chương 31


Paris tháng Chín.

Mùa này các loại hoa đang nở rực và các khóm cây dọc hai bờ sông Seine sau một đêm bỗng chuyển sang đủ các sắc màu tím đỏ vàng xanh như trong một bức tranh cổ điển diễn tả cảnh thu.

Mùa thu châu Âu, mùa thu thanh bình, mùa thu của những cặp tình nhân cầm tay nhau bước thật chậm trên các đại lộ rộng dài, se se lạnh.

Bà mẹ của Cường khẽ kéo tấm mành cửa sổ màu xanh xuống và chợt thấy lòng se lại.

Đứa con của bà nếu ngày ấy không một mực xin vào chiến trường thì biết đâu giờ này nó - cậu sinh viên Nhạc viện tài năng đã cầm chắc một xuất du học nước ngoài, cũng đang đi dạo dưới kia để tận hưởng hết âm thanh, màu sắc của một cuộc sống yên hòa?

Hôm nay đã là ngày thứ bảy mươi lăm kể từ khi người ta thông báo các đơn vị bắt đầu vượt sông vào trận rồi!

Thành cổ, Quảng Trị, Thạch Hãn, Mỹ Chánh... những cái tên xa ngái chưa một lần bà có khái niệm, chưa một lần bà được đặt chân đến ấy, sao bây giờ nó lại nằm sâu trong tâm khảm bà, lại trở nên nhưng nhức gần gụi với bà đến nhường vậy.

Khối lượng công việc thì nhiều, đối phương lại luôn biết sử dụng những ngón trò ngoại giao sành sỏi, biến ảo khôn lường khi ngọt nhạt, khi vỗ mặt, lúc bài bản, lúc lại thô rám khiến cho sự ghi chép, tổng hợp, theo dõi từng buổi họp, từng chi tiết của bà luôn căng như cánh cung sắp bật ná nên chỉ khi đêm về, cả thành Paris chìm trong sương khói, chìm trong giấc ngủ thì bà mới có dịp rảnh rang để nghĩ đến con.

Bằng những nguồn tin bí mật và tế nhị từ đồng chí tư lệnh mặt trận, bạn với gia đình, bà biết nó vẫn còn sống, nó vẫn chiến đấu dũng cảm và hình như đã lên nắm quyền chỉ huy một cấp cơ sở đại đội gì đó.

Đại đội hay tiểu đoàn, hay trung đoàn, kể cả sư đoàn thì đối với bà, với tấm lòng người mẹ chả là cái gì hết.

Bà muốn khi được sống trở về, nó vẫn cứ là thằng Cường bé bỏng, hay vui hay buồn, đêm ngủ dang rộng chân tay, vào mâm cơm thì ào ào một cái là đứng lên, chưa bao giờ cãi mẹ một câu nhưng lại luôn làm mẹ buồn vì các quan điểm sống vừa cổ kính vừa hiện đại của nó.

Cường ơi...

Có tiếng gõ cửa, và người cố vấn cao niên vẫn bộ quần áo kiểu Tôn Trung Sơn giản tiện từ tốn bước vào.

Thoáng nhìn thấy đống giấy tờ tài liệu vẫn bày ngồn ngộn trên mặt bàn, ông nói với vẻ ái ngại của một người cha:

- Cô Lan vẫn chưa nghỉ à?

- Dạ, cháu còn một chút nữa.

- Nghỉ sớm đi!

Đường đua còn dài, cái kiểu họp hành cò cưa này là cũng chưa thể nhanh được, cố giữ gìn sức khỏe, tôi thấy cô dạo này có vẻ yếu nhiều, da sạm, mắt trũng.

Bà chợt thấy cay cay sống mũi.

Bận bịu, căng thẳng đến như vậy mà ông vẫn chú ý đến sức khỏe của từng cán bộ dưới quyền.

Bà se mắt nhìn lên, chao ôi, mới có mấy tháng mà tóc ông đã bạc trắng cả ra!

Trọng trách, số phận cả đất nước dồn vào vai mà dung dáng, đi lại, lời nói của ông vẫn nhẹ nhàng, bình dị như không, cái nhẹ của một con người đắc đạo, luôn luôn biết làm chủ tình thế, dùng cái tĩnh thắng cái động, ít nói nhưng một khi đã nói thì những câu chữ tưởng như nôm na ấy bao giờ cũng khiến đối phương bối rối.

Ông phần nào mang hình ảnh của ông tướng già một mắt Kutuzov trong Chiến tranh và hòa bình mà hồi trẻ bà có đọc, vị nguyên soái này trong các cuộc họp quan trọng chỉ ngồi như ngủ nhưng lại chính là con người đánh bại được vị hoàng đế Napoleon vĩ đại.

Trưởng đoàn Mỹ Harriman tuổi già không chịu được áp lực cuộc hòa đàm đã xin nghỉ, Kissinger bỗng trở thành linh hồn, bao nhiêu cái khôn ngoan, lọc lõi của một chính khách gốc Do Thái tung ra bằng hết nhưng rồi đều bị ông bẻ lại từng câu từng ý, cuối cùng, như cuộc họp chiều qua, buộc phải đứng dậy bắt tay ông mà nói: "Rất vinh hạnh khi có một đối thủ phải thành thực nói là rất khó chịu như ngài!"

- Cô Lan này!

- Ông đưa tay khẽ kéo tấm rèm cửa sổ lên.

- Dạ...

- Sắc thu đẹp thế này, bỗng thấy nhớ Hà Nội!

Thực lòng tôi chỉ mong cho xong sớm mọi việc để gác tất cả lại, thả bộ một mình đi dạo khắp Paris.

Bà chưa kịp đồng cảm với người lãnh đạo cấp cao có trái tim thi nhân ấy thì ông đã quay lại hỏi luôn:

- Theo cô liệu nó có ký không?

- Cháu tin là có.

- Nếu có thể, cho tôi nghe một lời biện giải?

- Hôm qua cháu đọc trên tờ Paris Match có một câu thế này: "Người Mỹ sẽ thua ngay trên bàn hội nghị, bởi họ đang thua từng ngày ngay trong lòng nước Mỹ."

- Ý họ nói phong trào phản chiến đang dâng cao trong quốc hội, trong các tầng lớp nhân dân Mỹ.

Nhưng muốn thế thì phải bẻ gãy ý chí của họ ngay trên chiến trường.

Không có quả đấm quân sự thì không có sự xoay chuyển gì hết trong cái đầu đã nhiễm quá sâu sự kiêu căng ấy.

Bà định nói một điều gì đó thì ông đã giơ tay ngăn lại:

- Tôi đến đây để ghi nhận công sức và năng lực nhạy bén trong công việc được giao của cô.

Những đúc kết, phân tích sắc sảo và tầm nhìn nhạy cảm của cô đã giúp cho chúng ta nhiều lắm.

Cám ơn!

Thứ nữa là tôi muốn chia sẻ với cô, một người mẹ đang có con chiến đấu ở chiến trường.

Phải khẳng định, không có sự hy sinh ngoan cường của các chiến sĩ thì chúng ta không có gì hết.

Vì thế, cũng là một người ông, người cha, dù đôi lúc đã thấy mệt mỏi, tôi chỉ muốn chúng ta làm hết sức mình để nhanh chóng ký được cái hiệp định ngừng bắn này.

Xương máu nhân dân đã đổ xuống quá nhiều rồi, để đổ thêm nữa là chúng ta có tội.

Thật lòng, có ngừng bắn, có thắng lợi, thậm chí là thắng lợi trọn vẹn chăng nữa mà không có sự hội tụ thì cũng thấy trái lòng lắm.

- Thưa chú!

- Bà quyết định hỏi cái câu hỏi mà một người mẹ đã muốn hỏi từ lâu nhưng không thể hỏi.

- Tại sao ta lại chọn Quảng Trị và có nhất thiết phải chọn nó không khi có bao địa danh khác có thể chọn?

Ông im lặng một chút rồi nhìn thẳng vào mắt người mẹ, thả từng tiếng một:

- Hôm rồi, tại hành lang, Kissinger cũng có hỏi tôi một câu tương tự, tôi đã dẫn lời của một nhà báo Anh nổi tiếng từng nói về chuyện này trên tờ báo Hoàng gia của họ: "Quảng Trị hay Thành cổ, trong một cuộc chiến tranh tổng lực, mảnh đất nghèo và nhỏ ấy không nói lên điều gì, thậm chí rất vô nghĩa, nhưng nó sẽ là tất cả nếu như giữ được, Hà Nội sẽ chứng minh được một điều là họ hoàn toàn có đủ năng lực làm chủ được một vùng đất.

Nó gợi nhớ đến lòng chảo Điện Biên cách đây mười tám năm, Hà Nội đã chơi một canh bạc tuyệt vời khiến người Pháp phải đại bại, chỉ khác ngày ấy, quân đội Hà Nội nằm ở thế tiến công, còn bây giờ họ ở thế chiếm giữ."

Bà im lặng.

Ông bước đến gần cửa sổ, nhìn ra không gian đang se se lạnh, tiếng nói nhỏ đi:

- Tôi rất hiểu nỗi lòng của cô, một người mẹ đang có đứa con duy nhất chiến đấu ở đó.

Biết làm sao được, trong guồng máy chiến tranh có những địa danh, những vùng đất bỗng dưng phải oằn lưng gánh chịu cả sức nặng cuộc chiến như một sự ngẫu nhiên nhưng cũng lại rất tất nhiên, cũng như tại sao Việt Nam nghèo khổ, lành hiền của mình lại cứ mãi mãi là nơi đọ sức với các thế lực ngoại xâm?

Lịch sử là rõ ràng nhưng lịch sử cũng không phải mỗi lúc đưa ra ngay được những câu trả lời thỏa đáng.

Cô hiểu không?

Bà lặng lẽ gật đầu.

Tiếng nói chân tình ấy làm nước mắt bà chực trào ra, nhưng khi bà dụi mắt nhìn lên thì người cố vấn đặc biệt đã lặng lẽ ra đến cửa, tấm lưng hơi gù xuống như đang gánh chịu cả sức nặng của vận mệnh non sông trĩu đè lên người...
 
Mưa Đỏ
Chương 32


Mới năm giờ chiều mà khu Thành cổ đã chuyển màu u ám, tối nhờ.

Chỉ có tiếng mưa rơi vào tĩnh lặng.

Trong cái tĩnh lặng rất đáng nghi ngờ đó, lại chỉ nghe tiếng ruồi nhặng kêu u u.

Tiếng u u khuếch tán, tăng dần thành một âm thanh kinh dị, dai nhách quẫy lộng khắp không gian.

Ngồi trong góc hầm, vẫn chỉ là góc hầm hôi hám, Sen co rút người lại, thỉnh thoảng lại giật thót mình một cái.

Bình có vẻ khó chịu:

- Ông Sen!

Hết nổ rồi, ông ngồi thẳng lên cho đàng hoàng chút đi!

Sen vẫn không thay đổi thế ngồi, sợ hãi đưa bàn tay trắng mốc như da trăn đất chỉ ra ngoài cửa hầm, nơi có một cái xác bầy nhầy nằm chìm trong cái vũng đỏ đục không hiểu máu hay là bùn đất.

Kế bên cái xác là một người lính ở khu hầm bên cạnh có vòng băng trắng quấn quanh cổ đang vừa nằm ngửa vừa dùng tay, dùng dao găm moi đất nhão lên thành một cái hố nông choèn, sền sệt nước.

Vẻ như kiệt hơi, mỏi tay, anh hơi nhô người lên để lấy lại sức thì lập tức một tràng đạn từ bên kia tường thành phía trước đã bay đến sát sạt, găm nước tung tóe lên người.

Hít vào một hơi thật sâu, người lính lại trở về tư thế ban đầu, tiếp tục cào cấu vào đất như chú gián nằm ngửa mà dù có cuống cuồng giãy đạp đến mấy cũng không lật sấp lại được.

Thấy vậy, từ hầm của mình, Bình lập tức nhoài ra.

Động tác moi đất của chàng họa sĩ tương lai có vẻ thành thạo và chuẩn xác hơn.

Cũng có thể cái động tác nằm ngửa tiếp cận tử sĩ của người Trung đoàn trưởng hôm nào vẫn còn lưu lại trong trí nhớ của anh.

Chỉ một loáng, cái hố đã sâu hơn và nước chảy vào cũng nhiều hơn.

Xong, anh kéo cái xác nát bấy không toàn thây kia xuống.

Nước văng lên nhưng cái xác vẫn còng queo nằm lại.

Không còn cách nào khác, anh đành mím môi mím lợi quặp chân, bẻ tay cái xác cho vừa miệng hố rồi thừa cơ bên kia im lặng, anh lấy đà nhảy lên dùng cả sức nặng thân người dận mạnh xuống...

Cái thân thể trần truồng, dị dạng kia lúc đó mới chịu ngoan ngoãn lọt hẳn dưới đáy hố.



Trung đoàn trưởng Thành theo giao thông hào chạy đến, thân thể quắt queo như tù nhân bị nhốt vào chuồng cọp ở nhà tù Côn Đảo.

Ông bắt tay Đại đội trưởng Cường thật chặt như thầm gửi gắm một tình cảm nào vào đó.

Cái giọng khào khào giờ đã chuyển sang rè rè như cái loa hỏng:

- Tin từ trên cho biết, sáng mai rất có thể chúng sẽ đánh một cú tổng lực.

Tức là chúng muốn chơi canh bạc cuối cùng, tất cả các đơn vị giữ vững ý chí và trung thành với chiến thuật phòng thủ mềm dẻo vừa nhu vừa cương.

Ta đã thắng nó trong mùa khô thì sẽ thắng tiếp trong mùa mưa, sa mạc chiến hay thủy chiến đều vẫn chỉ là trận địa này.

Tình hình này, ngày mai chắc còn căng hơn, rất căng, cần phải hết sức gọn nhẹ để dễ cơ động.

Các đơn vị có thương bệnh binh khẩn trương cho chuyển ra bến hết ngay đêm nay!

Nói xong, ông lại chạy qua trận địa khác, vẫn cái tiếng rè rè vang lại nghe thật khổ.

Cường, sây sát toàn thân, máu quết đầy người, vệt khô vệt ướt, vệt đã đóng vảy, vệt còn rớm máu thoạt nhìn như những hình săm rối loạn, khuôn ngực và cặp đùi để trần vẫn lộ ra những thớ cơ còn săn chắc mặc dù đã tọp tẹp đi khá nhiều, lặng nhìn theo người chỉ huy trung đoàn, không giấu được vẻ ái ngại.

Gọi là Bộ chỉ huy nhưng có khi ông chỉ còn không tới trăm tay súng trong đội hình.

Và do tình hình quá khẩn trương, nhiều khi không kịp triệu tập họp mà ông và người Chính ủy phải trực tiếp lao xuống từng đơn vị để triển khai nhiệm vụ cho kịp thời.

Trung đoàn trưởng thì triển khai phương án chiến đấu, Chính ủy thì triển khai nghị quyết Đảng bộ, rất rạch ròi, rất nhất quán theo đúng kỷ cương điều lệnh một trung đoàn chính quy, một trung đoàn cứ sáng đủ quân, tối lại vơi sạch.

Vơi!

Vơi do thương vong tại chỗ, vơi do vừa đánh xong trận đầu, vơi ở giữa sông, vơi ở trên bờ, vơi đủ chuyện, chưa bao giờ cái động từ "vơi" lại mang dấu tích bi kịch ghê gớm như ở trận địa thành Đinh Công Tráng những năm cuối thế kỷ 20 này!

Cường khom người bước vào hầm, đến bên Sen, đặt tay lên đôi vai đang gù xuống:

- Anh Sen, tình hình sắp rất căng, anh chuẩn bị đồ đoàn tối nay qua sông.

Sen nghe chỉ khẽ chao người rồi vẫn ngồi im.

Cường ra hiệu Tấn chuẩn bị đồ cho anh ta, rồi quay qua Bình, vẻ bồn chồn khác lạ:

- Quái!

Đến giờ này cậu Hải vẫn mất tăm là sao?

Hay là cậu ấy gặp điều gì trong lòng cống rồi?

- Để tôi xuống tìm nó!

- Bình dợm đứng dậy.

- Thôi, Sen tối nay đi, chỉ còn ba thằng, mình không muốn mất thêm thằng nào nữa.

Chợt Tấn nhô lên, khệ nệ xách một chiếc bồng căng phồng, nét mặt vô tư:

- Eo ơi, bồng anh Sen có cái gì mà nặng thế?

Đạn dược à?

Để em lấy ra nhé!

Vừa nghe nói, toàn thân Sen đã giật nẩy, một cái giật từ bên trong giật ra chứ không phải từ ở ngoài tác động vào rồi bằng một cử động rất bất ngờ, Sen định nhao người ra giữ chặt lấy cái bồng đó.

Nhưng không kịp, bằng một động tác dứt khoát, Bình đã cầm cái bồng nặng trịch ấy lên, tháo dây buộc rồi chúc miệng đổ dốc xuống...

Cả hai tròn mắt kinh ngạc.

Trên đất, trước mắt họ là vô thiên lủng những lon hộp, tiền bạc ngụy, đồng hồ, nhẫn xuyến, dây chuyền...

Lặng đi một lát như lồng ngực bị ai đó vừa lấy vòng đai thép siết chặt, Cường bật lên một tiếng cười đắng chát như khóc rồi trừng mắt hét vào giữa khuôn mặt có đôi mắt đang bạc phếch nhìn cắm xuống ấy:

- Ra!

Sen lơ ngơ bước ra, mặt vẫn cúi gằm.

Cường chỉ đống đồ đang ánh lên dưới vạt nắng chiều cuối cùng hắt vào:

- Cái gì đây?

Hả?

Sen không trả lời, toàn thân như sụp xuống, nhũn mềm.

Cường nắm ngực áo anh ta dựng dậy, ghì sát mặt:

- Tâm thần mà còn biết hôi của thế này à?

Về phía sau mà hôi tiếp, đưa nó đi!

Anh vung chân đá mạnh, cả đống đồ lỉnh kỉnh đó bay vèo vào không trung rồi rơi lõm bõm xuống nước.

Những tiếng rơi như những âm thanh vô nghĩa của lòng tham và kiếp người.

Bình bật lên một tiếng cười khô khốc:

- Mẹ!

Thì ra lâu nay nó chỉ giả bệnh để hy vọng mang được cái đống đồ khốn nạn kia về phía sau.

Không hiểu có nghe được câu nói ấy không, chỉ thấy Sen hơi rùng người lên một chút rồi cúi đầu bước đi như một tên tội phạm, tất cả vẻ tâm thần hoảng loạn lâu nay dường như biến mất để chỉ còn lại một nét mặt khốn khổ, bệ rạc.

Bỗng một âm thanh khác chói lói hơn khiến bước chân Sen dừng sững.

Âm thanh của chiếc loa điện mở hết volume từ một chỗ khá xa bên kia tường thành phóng thẳng vào tai mọi người:

"...

Các cán binh thuộc Trung đoàn 48, Trung đoàn 95 Cộng quân hãy nghe đây!

Các bạn đang đi vào ngõ cụt không có lối thoát, chỉ ngày một ngày hai, trước sức tấn công vũ bão của những đơn vị thiện chiến nhất thuộc lực lượng tổng trù bị quân lực Việt Nam Cộng hòa kết hợp với vũ khí siêu mạnh của người Mỹ, chắc chắn tất cả các bạn sẽ không một ai sống sót, sẽ làm mồi cho cá sông Thạch Hãn.

Vì vậy, các bạn chỉ có một con đường sống duy nhất là hạ vũ khí đầu hàng hoặc quay súng lại bắn vào cấp chỉ huy khát máu của các bạn.

Không có hòa bình, không có Paris gì hết, đó chỉ là một sự bịp bợm đổi bằng máu xương của các bạn.

Sự tỉnh ngộ của các bạn sẽ đưa chính các bạn trở về với vợ con, gia đình.

Bây giờ, các bạn hãy mục kích nhỡn tiền một trong những sự tỉnh ngộ ấy..."

Tại chỗ đó, kẻ đang nói vào loa với vẻ đắc chí không ai khác ngoài chính gã Trung úy toán phó.

Trước mặt gã, hơi chếch ra phía khoảng trống một chút để những người bên trong thành có thể nhìn thấy rõ là Hải.

Anh đang bị trói ghì vào một cây cọc được cắm sâu xuống đất như một tử tù đang đứng dựa cọc chờ giây phút thi hành án ngoài pháp trường.

Nắng cuối chiều hắt vào khuôn mặt bợt bạt, hai hốc mắt sưng tím, dọc theo cẳng chân đầy những vệt máu đã khô khiến toàn thân anh cứ gợi nhớ đến hình ảnh Chúa Jesus bị đóng đinh trên giá chữ thập.

Chờ cho tiếng nói của mình đã tạo được ấn tượng ban đầu cần thiết, và cũng chờ cho mọi con mắt trong thành chú mục nhìn ra, gã toán phó mới đi đến, nép vào sau lưng anh, vòng tay đưa ống loa vào sát miệng anh, gằn khẽ:

- Nào, anh bạn!

Hãy một lần tỏ ra thức thời đi!

- Nói rõ ra đi!

- Hải quắc mắt, máu trong miệng anh đùn ra.

- Chỉ cần anh bạn nói lại y sì những câu tôi vừa nói hoặc nói ngắn hơn, đại ý là biết hối hận, thấy sai lầm, xin đầu hàng gì gì đó cũng được.

Nào, bắt đầu đi!

Nên nhớ ráo trọi đều là trò chơi hết, làm gì có lý tưởng, làm mẹ gì có anh hùng, bất khuất, chỉ có cái mạng sống của bản thân mới là quan trọng.

Nào!

Hải im lặng...

Anh hiểu thời khắc định mệnh của mình đã đến.

Anh đã bình thản chờ đợi nó ngay từ khi bị cái mũi súng AR15 oan nghiệt kê vào đầu mà bây giờ nó mới đến thì kể ra cũng là muộn.

Anh không nghĩ rằng chiều nay, một chiều mưa bên dòng Thạch Hãn, anh sẽ được chết giữa Thành cổ, mảnh đất đã chất chứa bao kỷ niệm đau thương và oanh liệt, được ra đi trước mặt những người anh em, đồng đội quá đỗi thân yêu, thế cũng là toại nguyện.

Anh cũng hiểu giây phút này đồng đội đang nhìn ra, đang lo lắng chờ xem anh sẽ ứng xử với cái chết của mình như thế nào, trong đó có thể có cả cái nhìn của người Trung đoàn trưởng, của ông Chính ủy, những người chỉ huy đồng cam cộng khổ bấy lâu mà anh luôn kính trọng.

Chết!

Đồng đội anh chết đã quá nhiều rồi, chết hết lớp này đến lớp khác, bây giờ đến lượt anh âu cũng là điều dễ hiểu.

Dễ hiểu như cái khái niệm chết để rửa lý lịch, chết để có tấm bằng liệt sĩ đặt lên ban thờ cho bằng với người ta lúc này đây, trước kẻ thù, trước đồng đội, trước những gì thì thầm quá đỗi thiêng liêng, cái khái niệm ấy bỗng trở nên tầm thường, nhỏ bé.

Rửa lý lịch ư?

Sao lại phải rửa?

Mà có cần phải rửa chăng nữa thì trước hết là rửa danh dự, rửa lòng tự trọng trước thế lực thù địch, trước tà khí đang hiện diện trước mặt kia.

Mỉm một nụ cười nhẹ nhõm, anh hất cằm:

- Bật công tắc lên!

- Ô kê!

- Bị bất ngờ, gã sướng rơn.

- Ngay từ đầu tôi đã biết anh bạn sẽ làm như thế.

Rất thông minh, rất biết điều, OK!

Công tắc bật.

Im lặng một giây.

Tiếng xèo xèo của chiếc loa điện vang lên...

Sau đó là giọng nói của Hải, thoạt đầu còn khò khè, nhọc mệt, sau đó trở nên rành rẽ hơn:

"...Các đồng chí!

Tôi là Hải, Hải gù, Đại đội 1 Tiểu đoàn 13 đây.

Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ của chúng ta không vô ích, cuộc chiến đấu ấy nhất định sẽ thắng lợi..."

Tiếng nói vọng vang vào không gian, lan tỏa vào từng căn hầm, xoáy buốt vào tai từng đồng đội.

Như bị một cái tát vênh mặt, tên toán phó ác ôn ngớ ra một chút, choáng váng chưa kịp làm gì thì tiếng nói kia lại vang lên gấp gáp hơn:

"Cường ơi!

Bình ơi!

Tấn ơi!

Các đồng chí ơi!...

Tôi đi đây, các bạn ở lại hãy nắm chắc tay súng!

Chúng nó đang run sợ.

Chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc về chúng ta, những người lính bảo vệ Thành cổ.

Vĩnh biệt..."

Cái báng súng ngắn trên tay gã toán phó vung lên phang thẳng vào miệng làm tiếng nói anh vỡ ra, tụt lại.

"Đốt!"

Gã rít lên.

Liền đó, những can xăng màu chì mang nhãn USA đã đặt sẵn dưới đất được nhấc lên, mở nắp, tưới xối xả lên đầu, lên cổ, lên cả người anh.

Đâu đó, gã hơi lùi lại, rút hộp quẹt cũng mang nhãn Zippo USA, quẹt lửa rồi quăng vào.

Lửa bùng lên, liếm nhanh, trùm lên anh.

Phút chốc, toàn thân người chiến sĩ đã hóa thành ngọn đuốc sống cháy giữa mênh mông hoang tàn, cháy ngút lên trời cao trộn vào lửa khói...

Trong một hoàn cảnh đặc biệt khi nước nhà ly loạn, người lính, không phải rửa, mà là đã đốt cháy lý lịch, đốt cháy quá khứ buồn đau của mình bằng ngọn lửa tự tôn, anh hùng như thế.



Ngọn lửa ấy cũng đang cháy trong mắt Sen.

Bắt đầu chỉ là lom dom hắt ánh, sau rồi là sáng bùng, rần rật.

Ngọn lửa đã đốt cháy mọi góc tối u uẩn, đã thiêu rụi mọi tạp chất nhơ bẩn còn vương lại trong đầu.

Rùng mạnh mình một cái như thoát xác thành một người khác, Sen lẳng lặng lấy trong bồng ra một bộ quần áo cỏ binh chủng, bộ quần áo người lính chỉ sử dụng trong những giờ khắc trọng đại nhất, mặc nhanh vào người.

Đâu đó, anh lục tìm trong bồng còn bao nhiêu trái tạc đạn là giắt kín một vòng tròn dây lưng.

Toàn thân anh bỗng biến thành cỏ.

Vệt cỏ úa chìm vào trời chiều, chìm vào đất đai khe rãnh, chìm vào đáy mắt đồng đội lặng lẽ trôi nhẹ về phía ngọn đuốc sống đang hắt lên những tia lửa cuối cùng.

Tất cả nín thở.

Cường phẩy tay.

Những luồng đạn yểm trợ bay ra nhiều tầng nhiều lớp.

Vệt cỏ đã đến sát gần mục tiêu lửa, đã đến sát gần kẻ thù nhưng có lẽ do quá mải mê khoái trá với trò man rợ đang diễn ra, những hung thủ sát nhân thời trung cổ hoàn toàn không để ý.

Chỉ đến lúc từ vệt cỏ ma đó bất thần bay ra những trái tạc đạn nổ rất chụm, rất căng thì chúng mới kịp bừng tỉnh.

Nhưng đã muộn!

Những thân xác dính tạc đạn tung lên, rơi xuống, ngã vật hàng loạt.

Trong đó có cả thân xác của gã toán phó.

Nhưng gã không chết, chỉ bị mảnh găm vào ngực, được hai tên khác đỡ dìu chạy đi.

Được đà, với tất cả sự uất hận trào dâng, bộ đội từ trong các giao thông hào ồ ạt lao ra, nã đạn dữ dội.

Một sự tháo chạy kinh hoàng xuất hiện cùng với những tiếng la hét thê thảm cũng man rợ như thời trung cổ.

Đám giặc tan.

Lửa khói cũng tan.

Chỉ còn vương lại mùi khét như mùi pháo nổ sang xuân.

Bộ đội vội thu gom phần hài cốt đã cháy đen, còn bốc mùi da thịt dấp dính của Hải, nhanh chóng rút về.

Họ dừng lại trước một tốp người đang đứng thầm lặng nhìn xuống, trong đó có khuôn mặt của Cường, Bình, Tấn và cả khuôn mặt của Trung đoàn trưởng Thành, của Chính ủy Tân.

Sen đang nằm đó, im lịm như ngủ, bộ quần áo cỏ trên người đã bị đạn găm tơi tả, rách nát.

Đồng đội nâng anh lên, lặng lẽ đưa anh cùng bộ hài cốt của Hải trở về trận địa.
 
Mưa Đỏ
Chương 33


Một ngày chống chọi với lối đánh tổng lực của đối phương đã tạm dứt.

Cả khu thành như một cơ thể bị vắt kiệt cùng sức lực, nằm vật ra, ngáp ngáp.

Không có hoàng hôn, chỉ có nền trời chuyển màu sang tối sẫm là biểu hiện cho sự kết thúc một ngày.

Một ngày chưa chết tức là vẫn còn sống.

Chu trình ấy lặp đi lặp lại như kẻ tử tù chưa được thực thi án tử hình.

Trời vẫn mưa.

Tiếng mưa nghe như tiếng khóc.

Ngọn đèn chai cháy leo lét trong hầm gợi lên đốm sáng ma trơi.

Cường và Bình đang ngồi im lặng trên sạp.

Tấn lui cui ở dưới cầm mũ tát nước.

Nhưng mặt nước trong hầm vẫn dâng lên, dâng đến mấp mé mặt sạp.

Tấn vừa thở hổn hển vừa nói:

- Từ lúc em đẻ ra đến giờ, đây có lẽ là đợt mưa lũ lớn nhất.

- Ông trời phụ mình rồi!

Cứ nghĩ trời nắng là đã quá đủ cho sức chịu đựng của con người, vậy mà trời mưa còn ghê gớm hơn.

- Cường nói.

- Bao giờ chả vậy.

- Bình phụ họa.

- Trong Tam quốc, ông Khổng Minh đã chả nói là gì, sa mạc chiến không thể so với thủy chiến, mức độ thiệt hại ở cầu Trường Bản không thể so với trận Xích Bích.

- Ngồi đây nghe được cả tiếng sóng sông.

- Giọng Cường bỗng xa vắng.

- Không hiểu giờ này đã có ai vớt anh Tạ lên chưa hay lại trôi ra tới tận cửa biển thì...

- Đại đội lúc này còn có sáu mống.

- Bình nói như điểm danh.

- Bên này ba, hầm bên ba, nếu đêm nay không có lính sang sông thì có khi chỉ đến mai là sạch!

Cường cười nhẹ:

- Trước đây thằng trên sạp thằng dưới nước, quá chật, nay lại thèm được chật như thế.

Này Bình, cậu vẫn vẽ đấy à?

- Để khỏi phát rồ.

- Tốt, vẽ đi, cũng như tớ, thỉnh thoảng cũng phải vùi đầu vào mấy nốt nhạc cho đầu óc nó đỡ rã ra.

- Hôm nay đã sang ngày thứ bảy mươi chín rồi đấy nhỉ?

Bảy mươi chín ngày dài bằng bảy mươi chín thế kỷ.

Bình lại lẩm nhẩm và để như muốn xóa đi những con số đang trở thành ấn tượng ghê gớm ấy, anh cúi nhìn trân trân vào cuốn sổ ký họa của mình...

Rồi như có một sự chuyển động gì đó phá ra từ bên trong, anh nghiến răng xé mạnh: "Vô nghĩa hết!"

Những tờ giấy ố vàng rơi lả tả xuống nước, chìm dần.

Cường vội nhao xuống, quơ tay nhặt lên được một ít, vẩy nước, gí vào mặt Bình, gắt lên:

- Thằng ngu!

Mày làm cái gì thế?...

Mày có biết những thứ này đối với cuộc đời nó quý giá như thế nào không?

Sẽ không có một ai vẽ hơn được nữa.

Đó là mày vẽ bằng máu, hiểu chưa?

- Nhưng mà để làm gì khi những bức vẽ này, những nốt nhạc của cậu kia cũng sẽ tan rữa theo chúng ta?

- Thì đã sao nào?

Cái chết của anh Tạ, của Hải, của Sen, của thằng Tú, của biết bao người khác không phải để cho chúng ta sống u tối thế này.

- Nhưng tại sao lại cứ phải là chỗ này?

Có thể có chỗ khác đỡ chết chóc thê thảm hơn để đặt trên bàn hội nghị kia mà?

- Bình bỗng chuyển làn suy nghĩ của mình sang chuyện khác.

Câu nói vô tình ấy khiến anh thoáng giật mình bởi mẹ anh đang ở đó và cũng bởi có lúc chính anh đã từng nghĩ như thế, đã từng dằn vặt như thế.

- Chính trị nhạy cảm và phức tạp lắm, lịch sử sẽ công bằng.

Nhưng trên tất cả là danh dự, danh dự con người mà ta không thể để mất.

Theo mình biết, không, mình nghĩ thì đúng hơn, chuyện mặc cả trên bàn hòa đàm chưa phải là tất cả để ta phải giữ bằng được cái Thành cổ này đâu, mà còn một cái gì khác nữa, cao hơn.

- Cái gì?

- Mình chưa thật rõ nhưng cũng có thể bằng cái khu thành bé tí tẹo này, ta muốn chứng minh với thế giới rằng một dân tộc, một đội quân biết sống biết chết, biết yêu thương biết lãng mạn, một đội quân đi ra từ truyền thống lịch sử ngàn năm và nền văn hóa thâm sâu thì đội quân đó sẽ không bao giờ chiến bại.

Đại loại thế, mà thôi, đừng đi sâu vào nó nữa, mệt đầu lắm.

Bình đột ngột quay mặt lại, nhìn thẳng vào mắt bạn:

- Mình biết cậu là người cứng rắn và có tầm nhìn hơn mình, có lẽ do cái gốc gia đình truyền lại, mình hỏi thật nhé, có khi nào cậu nghĩ ta sẽ không giữ nổi mảnh đất này không?

- Tức là thất bại?

- Cứ cho là thế, hoặc gọi là chiến bại cho sang như cậu vừa nói cũng được.

Sao?

- Có chứ!

Làm sao mà cái gì cũng thắng được.

Lịch sử chiến tranh thế giới, phe chính nghĩa chiến bại khối ra rồi đấy thôi, thậm chí chiến bại không gượng dậy được nữa như quân đội của Nữ hoàng Cleopatra chẳng hạn, nhưng... biết nói thế nào nhỉ?

Nhưng cái để lại của sự chiến bại ấy sẽ có một ý nghĩa, một giá trị gì đó mà lúc này ta chưa thể biết được.

- Nhưng cuộc đời ngắn quá, mình còn có biết bao dự định phải làm.

Cường lặng đi, ôm chặt lấy bạn:

- Đưa cho tớ.

Tớ sẽ có cách lưu giữ và gửi ra.

Phải để cho thiên hạ biết chúng ta đã sống và chiến đấu cho một mục tiêu cao đẹp và lòng tự trọng như thế nào.

Tấn từ ngoài chui vào, trên tay là một chú chim con ướt lướt thướt, cậu cười nhoen nhoẻn:

- Em bắt được nó ở hố bom, cậu đang rét run, tội nghiệp!

Tấn nâng niu, hà hơi, xoa bóp cho chú chim.

Nằm gọn trong bàn tay người, chú chim nhỏ kêu lên những tiếng kêu chiếp chiếp biết ơn yếu ớt.

Nhìn cảnh đó, bất giác nét mặt u ám của Bình khẽ dãn ra rồi lặng lẽ nhặt lại tất cả những trang giấy, cuộn tròn, lặng lẽ đưa cho Cường.
 
Mưa Đỏ
Chương 34


Đà Nẵng.

Thành phố được thiên nhiên ưu đãi đặc biệt với một bên sông một bên biển sẽ hết sức thơ mộng, êm đềm nếu như không có cái quân cảng gồ ghề trấn giữ ngay nơi cửa biển, một thứ quân cảng sầm uất và hiện đại vào hàng bậc nhất của chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc ấy.

Với vị thế địa chính trị thuận lợi đó, không phải vô cớ mà người Pháp ngay từ đầu thế kỷ đã nhắm nó như một vịnh nước sâu đắc địa để đổ quân nhằm lấn chiếm toàn bộ mảnh đất hình chữ S còn quá ư nghèo nàn, lạc hậu này, và khoảng nửa thế kỷ sau, nó cũng là bàn đạp để người Mỹ đặt chân lên nhằm thôn tính toàn bộ miền Nam Việt Nam.

Và giờ đây, giữa những ngày của năm 72 cháy lửa, nó vẫn cứ là thủ phủ của những đoàn quân đang dốc sức hành binh làm cuộc tái chiếm Quảng Trị.

Phòng làm việc của Tướng Ngô Quang Trưởng sáng nay được quân cảnh canh gác nghiêm mật.

Trong phòng, tất cả các sĩ quan chủ chốt đang ngồi bỗng đứng bật dậy.

Từ ngoài hành lang kín đáo, viên Đại tướng tổng tham mưu trưởng và tốp tùy tùng đi vào.

Vị tướng này nổi tiếng là một tướng salon, thích ngồi điều phối trong văn phòng thơm nức mùi nước hoa Cologne hơn là xuống thị sát tận các đơn vị, mà nếu đến nay ông ta vẫn còn ngồi ở vị trí tột đỉnh quyền uy như thế là bởi Tổng thống Thiệu không muốn làm mất lòng người Mỹ khi định cho ra rìa một nhân sự của họ, hơn thế không ít lần chính vị tướng này đã xin từ chức với lý do lạ lùng: "Tôi không hợp với nhà binh, tôi chỉ thích văn chương."

Và sáng nay, với một khuôn mặt trí thức, nho nhã, với bộ quân phục có cả ngù vai sáng choang lại xuất hiện ở đây thì chắc chắn là có chuyện gì.

Cười gượng gạo đưa tay lên vành mũ đáp lễ mọi người, ông ta nhẹ nhàng mời tất cả ngồi xuống rồi vẫn nhẹ nhàng lên tiếng:

- Tôi tới đây để truyền đạt câu hỏi của Tổng thống với ông Tư lệnh và các vị tướng lĩnh: Đánh nhanh không xong, đánh lấn dũi không xong, đánh nhỏ đánh lẻ cũng không xong nốt, vậy các ngài định thế nào?

Hòa chăng?

Hòa sau khi đã mất đi một khối lượng bom đạn tương đương với bảy trái bom nguyên tử ném xuống Hiroshima, hòa sau khi đã nướng vô đây hàng chục ngàn binh lính con cưng ư?

Tôi vẫn nên nhắc lại, đây là nguyên ý hỏi của Tổng thống.

Ngô Quang Trưởng cúi mặt:

- Xin Đại tướng nói lại với Tổng thống gia hạn cho chúng tôi thêm thời gian.

Chúng tôi đã làm hết những gì mình có thể làm và tin mới nhất cho biết bên trong Cộng quân đã có nhiều biểu hiện rệu rã.

Viên Đại tướng bỏ chiếc mũ bê-rê màu đen ra khỏi đầu để lộ một mái tóc bồng bềnh và một vầng trán khá đẹp:

- Tôi hiểu, thưa các bạn!

Nhưng mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh.

Tôi, với tư cách tổng tham mưu trưởng, xin lỗi, dù chỉ là một thứ tổng tham mưu trưởng không có thực quyền, vẫn muốn nói với các bạn rằng không thể gia hạn được nữa.

Cây viết của người Mỹ không chờ cho chúng ta gia hạn mà bất cứ lúc nào cũng có thể sẽ hạ xuống chính thức ký vào cái Hiệp định Paris đang đi vào hồi chót.

Vì vậy Tổng thống hạ lệnh chỉ nội trong ba ngày nữa phải tái chiếm được Thành cổ và sau đó là lấy lại toàn bộ tỉnh Quảng Trị.

Ông ta lại đội mũ vào, song tiếng nói và điệu bộ không phải vì thế mà oai phong hơn, mà nó vẫn cứ giống như phong thái của một giáo sư trên bục giảng đường:

- Thưa các ngài, trước khi đến đây tôi đã có buổi làm việc trực tiếp với ngài Đại tướng tổng chỉ huy liên quân Mỹ và đã đưa đến một quyết định quan trọng, người Mỹ sẽ sử dụng con át chủ bài cuối cùng, đó là bom chín tấn, loại bom chưa hề được sử dụng ở bất cứ đâu.

Với sức công phá không một lực lượng nào có thể chịu nổi của nó, các ngài chỉ còn việc dốc toàn lực vào mà thanh toán cho nó xong đi, kể ra cũng lâu quá rồi.

Hy vọng rằng lần sau tôi đến đây sẽ đến với các ngài trong một tư thế khác, tư thế của người chiến thắng.

Tất cả dập mạnh gót giày, đồng thanh kêu "Rõ!" nhưng là thứ đồng thanh dè chừng, không rõ rệt.

Tiễn người thượng cấp vận bộ võ phục bất đắc dĩ như mặc nhầm của người khác đi ra chiếc trực thăng đang đậu ngoài sân bê tông, Tướng tư lệnh hỏi:

- Thưa, tôi thấy gần đây Tổng thống nói trên đài có vẻ mạt sát, lăng mạ người Mỹ quá, phải chăng vì vậy mà bữa nay không thấy có ông cố vấn đi cùng Đại tướng lên đây, một điều mà lâu nay đã thành tiền lệ?

Đại tướng quay lại, nét mặt bỗng trở nên trễ nải:

- Vì cả Tổng thống và cả chúng ta đều biết rõ, có tái chiếm hay không tái chiếm được, với tính thực dụng cốt được việc của mình, ta lại chỉ là một nốt mụn ruồi nhỏ đã bốc mùi, họ còn phải giữ thể diện trước toàn thế giới nữa nên trước sau gì rồi họ cũng ký thôi.

Cho nên tốt nhất là họ tránh, lùi dần lại phía sau để mai đây có ký cũng đỡ mất mặt.

- Vậy cuộc tái chiếm này là vô ích?

- Cũng ráng vớt vát một chút khi bàn đến những quyền lợi ngừng bắn.

Tôi và Trung tướng đã sống với nhau lâu, đã khá hiểu nhau, tôi muốn nói một điều rằng, cái kết bi đát của chúng ta sắp điểm.

Trước khi bước lên trực thăng, Tướng Trưởng còn hỏi thêm câu cuối cùng với cung cách tước bỏ hết mọi lễ nghi:

- Em biết anh Hai bữa nay xuất tướng thế này là một việc cực chẳng đã, nó khác với thói quen thường ngày của anh.

- Ôi chà!

Đại tướng "làm vì" ấy mà, mọi việc lớn nhỏ đều do ông Sáu quyết hết, mình dính zô làm chi cho mệt!

- Em hiểu.

- Nhưng tụi mình là quân nhân, dẫu muốn hay không một khi đã trót lao vô cuộc chơi thì chơi cho đáng mặt.

- Viên Đại tướng chợt nghiêm trang.

- Đó cũng là danh dự.

Nếu người Mỹ họ dùng tối vũ khí tối ưu để giúp ta nhổ cho được cái Thành cổ này thì cũng là để cứu vớt một chút danh dự muộn mằn.

Chúc Trung tướng hoàn thành bổn phận!

Một cái bắt tay vừa chặt vừa lỏng nhưng cũng đủ cho nét mặt của viên tư lệnh Vùng 1 chiến thuật thoáng trở nên nghiêm trọng.
 
Mưa Đỏ
Chương 35


Rạng sáng.

Trên sạp, Bình và Tấn vẫn còn ngủ mê mệt.

Không hiểu sao gần đây Bình bỗng lại ngủ được, như ngủ bù cho tất cả những ngày trước đó.

Anh nói đùa với Cường: "Hình như đó cũng là điềm gở đấy cậu ạ!"

Còn Tấn, với nét mặt còn rất ngây thơ, cậu chàng vừa nhai nhóp nhép vừa nói mớ điều gì mà cái miệng thỉnh thoảng lại nhoẻn cười.

Ngược lại với Bình, Cường lại mất ngủ, anh đang ngồi tựa súng vào vai trong tư thế canh gác vừa nhìn lên bầu trời Thành cổ như một sự thả hồn vào những âm thanh ẩn chìm đâu đó rồi cúi xuống thếp giấy mỏng có kẻ đầy các khuông nhạc ngoằn ngoèo đặt trên đùi.

Dưới giọt đèn pin vàng khè còn sót lại, anh cầm bút viết.

Viết rất nhanh, viết mê mụ, viết đắm chìm, viết như xổ bằng hết những điều đã được chất chứa lâu nay ở đáy sâu tâm khảm, viết như linh cảm thấy điều gì đang chờ phía trước mà mình không còn có dịp viết nữa.

Những nốt nhạc li ti từ ngọn bút chì gọt nhọn trong tay anh bay lên, rối rít, chợt ngừng... rồi lại ào ạt hơn.

Những nốt nhạc vô tri nhưng rõ ràng, thông qua ánh mắt như cháy lửa, nét mặt xuất thần, thăng hoa đến nhợt nhạt của anh, những thanh âm của nó đang vang lên vi vút, rộn ràng trong tâm tưởng khiến anh dường như nghẹt thở.

Nền trời trắng dần.

Khi chú chim Tấn nhốt ở cuối hầm giật mình cất tiếng hót báo sáng thì ngòi bút trên bàn tay xây xước máu của anh cũng dừng lại, chấm mạnh một cái, vất nó ra không gian như không bao giờ sờ đến nữa.

Đâu đó, anh cẩn thận cuốn thếp giấy lại, nhét vào người cùng với thếp ký họa của Bình.

Đôi mắt hơi nhắm lại, một nụ cười rã rời nhưng sáng ngời hiện lên môi anh.

Anh định ngả lưng vào vách hầm tranh thủ chợp mắt một chút thì ruột gan bỗng co thắt lại trước một âm thanh rất lạ đang rền trên bầu trời.

Tấn cũng bừng tỉnh, cậu ngóc cổ lên trời ngó nghiêng:

- Tiếng nặng lắm, không phải B52, B52 có khói xịt đằng đuôi kia.

Bình cũng đã tỉnh dậy, vừa định dụi mắt nhìn lên thì chỉ nghe đến ục một cái, lập tức cả người anh đã bị hất dụi vào góc hầm.

Cả Cường và Tấn cũng thế, ngã nghiêng ngã ngửa, tối tăm mặt mày...

Đến khi định thần được trở lại thì không ai còn tin ở mắt mình nữa: Trước mắt họ, ngoài cửa hầm là một khoảng trống hoác mù mịt lửa khói hiện ra.

Màn khói tan loãng, cái trống trải đó đã biến thành một hố bom khổng lồ, sâu hút như không nhìn thấy đáy!

- Bom siêu nặng...

- Cường lẩm bẩm.

- Chúng bắt đầu dùng bom siêu nặng!

- Trời đất!

Đúng bằng cái ao ở làng em.

- Tấn vẫn không rời mắt khỏi cái miệng khổng lồ của hố bom.

Bình như linh cảm được điều gì, quay sang Cường hỏi thảng thốt:

- Cậu cất kĩ những tờ ký họa của mình rồi chứ?

- Rồi.

- Cường cười, gật đầu.

- Sao không vất béng nữa đi!

Cái cười của anh lại bị chìm lấp bởi một độ rung khác ập xuống kinh hoàng hơn, có cảm giác cả khu thành đang bị một cái họng núi lửa bục lên từ lòng đất hất tung lên trời.

Lần này thì nóc hầm bị bay đi nửa mái.

Lộ rõ thân thể Cường đang bị đất đá đè lên từng khối từng tảng, nằm im lịm.

Tấn vừa cuống cuồng móc đất vừa mếu máo: "Anh Cường...

Anh Cường ơi!

Tỉnh dậy đi..."

Còn Bình thì bị hơi bom hất tung ra ngoài, nằm sõng soài cách xa miệng hầm cả chục thước, cũng bất tỉnh.

Tấn lại cuống cuồng nhao ra, lay gọi: "Anh Bình... anh Bình ơi!

Em không cho anh chết đâu...

Chúng mình chỉ còn có ba anh em..."

Rồi cậu lại chạy trở lại với Cường, lại mếu máo...

Khắp khu thành, những trái bom khổng lồ khác lại tiếp tục cào rách không gian rơi xuống...

Những cái ao sâu hoẳm lại tiếp tục lộ ra.

Cùng lúc, từ phía biển, một đàn trực thăng bay tới đen ngòm như một bầy châu chấu ma.

Giống một nhát chổi khổng lồ, từ cái bụng no phềnh của chúng, những trái rốc két phóng chênh chếch xuống trận địa, quét tung những nắp hầm còn lại, quét bay những bóng người đang chạy tung tóe trên mặt đất.

Bình đã tỉnh.

Mảnh áo cuối cùng còn dính trên người cũng không còn nữa.

Nằm tênh hênh nhìn những trái rốc két lao xuống đang gây cái chết tan hoang cho đồng đội, anh vùng dậy, thét lên một tiếng man dại, nhặt cây AK chạy đến một mô đất cao, chĩa thẳng lên trời, chạng chân bắn cả băng về phía đàn châu chấu đang è è chúi xuống đó.

Một chiếc trực thăng ăn đạn bùng cháy lao ầm xuống ở vệ sông.

Anh lại lắp thêm một băng khác, lại chạng chân, lại chĩa thẳng, tia nắng sớm mai trát vào thân hình anh một màu đỏ của lửa.

Nhưng lần này anh chưa kịp siết cò thì toàn thân đã đổ gục vì một loạt đạn 20 ly phóng xuống găm lỗ chỗ đầy thân thể.

Cường lúc ấy đã được Tấn moi ra khỏi chỗ đất sập, lóa nhóa chứng kiến cảnh ấy, thét lên đau đớn: "Bình!", rồi loạng choạng lao ra bế thốc anh vào hầm.

Với lồng ngực bị phá toang, máu từng đợt sùi ra sủi bọt, Bình chỉ nói được một câu:

- Còn... còn sống, cậu mang cái ấy về cho ba tôi... nói thằng Bình này bất hiếu đã...

đã không chịu theo nghề của ba...

Rồi tắt thở.

Cường hộc lên một tiếng đau đớn, gục mặt vào bộ ngực đẫm máu của bạn.

Mất mát nối tiếp mất mát, tưởng tâm hồn đã chai sạn nhưng không hiểu sao lần mất mát này lại khiến anh không gượng dậy nổi nữa.

Và mái đầu bù xù của anh sẽ vẫn còn gục như thế nữa, gục luôn, buông trôi nếu như khuôn mặt của Tấn không hiện ra.

Một khuôn mặt còn quá trẻ, một cái nhìn còn gần như thơ ngây ấy đã làm anh bừng tỉnh.

Không!

Cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục, đồng đội của anh, dẫu chỉ còn một người nhưng vẫn cần đến anh.

Anh vuốt mắt cho bạn, lấy bộ quần áo trong bồng của mình mặc cho cái thân thể nửa đen nửa trắng của bạn rồi cùng với Tấn xách súng ra khỏi cửa hầm.

Trời vẫn đổ mưa.

Những hạt mưa đang biến thành màu đỏ.

Mưa đỏ.

Mưa máu...
 
Mưa Đỏ
Chương 36


Paris sáng nay trời vẫn se lạnh nhưng đã có thật nhiều nắng.

Nắng nhuộm vàng cây tháp Eiffel, nắng chiếu từng vệt long lanh vào phòng họp.

Và dường như nắng cũng phả nét dịu dàng vào từng đôi mắt của ít nhất là nửa số những con người ngồi đây.

Trong khi chỉ đợi phái đoàn của Sài Gòn đến là đủ, mà phái đoàn này hình như bao giờ cũng cố ý đến chậm, như thể họ muốn sử dụng cái chậm trễ đó để đánh vào tâm lý những thành viên bên đoàn đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hầu hết đã cao niên nên dễ bức xúc, mất tỉnh táo nhằm hy vọng giành được chút thế thượng phong khi mặc cả, người mẹ khẽ để mắt vào bài báo trên tờ New York Times còn thơm mùi mực in đặt trước mặt.

Tác giả bài báo không tránh né mà đi thẳng vào bản chất sự việc với một cái tít khá đậm:

"Hội nghị Paris về Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình gay go nhất thế kỷ 20!

Trong gần năm năm, khoảng thời gian dài chưa từng thấy trong lịch sử đàm phán thế giới, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam, cuộc đấu tranh ngoại giao của cả bốn bên có liên quan đến hòa bình ở Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Paris đã thực sự là một "đòn cân não" thật ấn tượng.

Đây là sự kết hợp giữa cuộc chiến đấu trên chiến trường với cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán và trên trường quốc tế.

Bản Hiệp định Paris về Việt Nam bao gồm những nội dung chủ yếu: Hoa Kỳ cùng các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

Hoa Kỳ hoàn toàn chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua Tổng tuyển cử tự do và dân chủ.

Việc thống nhất nước

Việt Nam sẽ được thực hiện bằng phương pháp hòa bình..."

Ngoài hành lang có những bước chân uể oải đi vào.

Rồi cuối cùng phái đoàn chính quyền Sài Gòn cũng có mặt chậm ba mươi phút với thái độ lầm lì, khó chịu như bị áp tải đến đây, như đến để bàn về việc của ai đó, việc của người nào đó chứ không phải là việc của mình.

Vị trưởng đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng dậy, mái tóc bạc được nắng viền quanh một lớp sáng lên như bạch kim.

Giọng nói ông tươi tỉnh hơn nhưng vẫn không mất đi vẻ điềm đạm cố hữu:

- Thưa các quý vị!

Vậy là sau hàng chục các cuộc họp công khai, hàng trăm các cuộc họp nội bộ, sau nhiều ngày tranh luận có lúc căng thẳng, có lúc không thật hiểu nhau để rồi cuối cùng hôm nay, các dự luật hòa bình về Việt Nam đã bước đầu được hình thành trong sự đồng thuận cơ bản của cả bốn bên.

Thật là tuyệt vời!

Hôm nay với tư cách đến phiên chủ trì, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xin mời bà thứ trưởng bộ Ngoại giao chính thức tuyên đọc bản hiệp định được sơ thảo bước đầu...

Trưởng đoàn Việt Nam Cộng hòa, một sĩ quan đeo hàm cấp tướng, đầu húi cua, dáng người phục phịch, lộ rõ vẻ võ biền khi cắt ngang lời người đang nói:

- Nhớ rằng đây chỉ là sơ thảo.

Từ đây đến khi có nghị định chính thức chúng ta còn phải chờ, mọi chuyện không dễ dàng như vậy đâu.

- Cám ơn ông đã nhắc, thưa ông!

- Vị trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên tiếng.

- Đúng là mọi chuyện không hề dễ dàng mà số lần nhóm họp hoãn đi hoãn lại tới con số bốn đã là một minh chứng, nhưng, tôi cũng xin lưu ý ông trưởng đoàn Việt Nam Cộng hòa rằng, cái gì thuộc chân lý thì mãi là chân lý, dẫu có họp đến lần thứ bao nhiêu chăng nữa.

Viên đoàn trưởng Sài Gòn nhếch mép cười khẩy một tiếng rồi ném cái nhìn qua đôi mắt hum húp ra ngoài khung cửa sổ coi như không nghe, không nhìn, không thấy.

Trong bầu không khí trái chiều đó, trước nét mặt mệt mỏi nhưng rạng ngời của các thành viên hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trước vẻ bình thản khiên cưỡng của đoàn Mỹ và vẻ hậm hực ra mặt của đoàn Sài Gòn, người mẹ của Cường đứng dậy, áo dài tím, tóc vấn cao, kính trắng, vầng trán thanh tao.

Giọng đọc của bà rung nhẹ nhưng vẫn thật sang và ấm, mỗi chữ như được chắt ra từ bổn phận công dân, từ nỗi lòng người mẹ, từ hồn thiêng sông núi, từ những đêm không ngủ, từ giọt máu của những người chiến sĩ đêm ngày đổ xuống vì nghĩa cả nơi Tổ quốc thân yêu cách đây hàng ngàn cây số.

Bà đọc như có đôi mắt to và đẹp, kiên nghị và nhiều tình cảm của Cường, đứa con yêu thương ở sát gần bên cạnh, cũng đang dõi theo từng chữ...

"Paris ngày... tháng... năm...

Những điều khoản cơ bản của Hiệp định Hòa bình về Việt Nam..."
 
Mưa Đỏ
Chương 37


Cuộc phòng thủ Thành cổ đã bước sang ngày thứ tám mươi mốt.

Tám mươi mốt ngày đêm là tám mươi mốt sự tan hoang ghê rợn, nhưng sự tan hoang đó chưa bao giờ lại hiện rõ như mấy ngày gần đây.

Tan hoang trên bầu trời, tan hoang trong cảnh vật, tan hoang trong mắt người.

Xế chiều.

Ngoài kia, những tiếng nổ kinh thiên đã tạm lắng, khói bụi đã tạm tan ra.

Nhưng trong hầm chỉ huy, nơi chất chứa thương binh lại vô cùng ngột ngạt.

Mật độ thương binh vốn đã quá tải ngay từ những ngày đầu và bây giờ sự quá tải đó đã không còn nằm trong hai chữ "quá tải" đó nữa mà phải được thay vào bằng mấy chữ "không còn chịu nổi".

Quần áo mỗi người một kiểu, hầu hết là cởi trần, quần cộc, khá hơn thì quần dài, áo lót nhưng hết thảy đều rách bươm, bẩn thỉu.

Họ nằm ngồi chật ních, nằm xếp lớp, nửa trên đen nửa dưới trắng, đè lên nhau, ngồi lan ra các ngăn hầm khác, lan cả vào khu vực chỉ huy, gầy xọp, hốc hác, râu tóc rùm ròa, miên man những vòng băng trắng, nhức nhối những tiếng rên la, khăm khẳm những mùi vị của thịt thối, xương rò, sinh hơi hoại tử...

Vậy mà ngoài cửa hầm, thương binh nặng nhẹ các loại vẫn nối đuôi nhau kìn kìn kéo đến.

Người tự đi, người phải dìu, người nằm trên cáng, người được cõng trên lưng, có cả người buộc toòng teng chân và đầu vào đòn tre khênh đi vì không còn võng...

Bác sĩ Lê đan như con thoi giữa những bông băng, máu me bừa bộn rồi chạy ra ngoài cửa hầm, hai tay đầy máu dang rộng, hét the thé:

- Không vào nữa!

Không được chuyển vào nữa!

Hết mẹ nó chỗ rồi!

Nhưng vẫn có những bóng người lệch lạc, xiêu vẹo cố sức len vào.

Anh lại cố sức đẩy ra.

Không được, cuối cùng anh giật cây AK của một chiến sĩ đứng cạnh đó, chĩa nòng về một tốp người len mạnh nhất:

- Ai bị nặng được vào, ai còn đi được, ra cả ngoài kia, nói không nghe tôi bắn!

Nhưng làm sao có thể bắn khi lời đe dọa của anh trở thành thừa thãi, không có một chút sức nặng nào và dòng người vẫn chen đẩy nhau vào, dồn ứ.

Bác sĩ Lê thả xuôi nòng súng, đứng đờ ra một lúc, bất lực và tuyệt vọng, anh ngồi thệp xuống gò đất, để mặc cho nước mắt chảy ra, những giọt nước mắt cũng màu đỏ...

Đứng cạnh anh, Trung đoàn trưởng Vũ Thành đã chứng kiến tất cả.

Với chỉ độc một chiếc áo quân phục trên người, phía dưới là chiếc quần cộc đã rách te tua, khuôn mặt hốc hõm, đen cháy, ông bước đến đặt tay lên vai người bác sĩ, vỗ vỗ vài cái như ngầm sẻ chia rồi ngoắt người len nhanh vào căn hầm chỉ huy của mình, trong mắt thoáng ánh lên một cái gì đó bất thường.

Tại đây, ông đụng ngay người Chính ủy cũng chỉ một chiếc áo may ô bẩn thỉu phía trên nhưng phía dưới khá hơn một chút là có chiếc quần dài bị cắt ống quá nửa.

Ông đang cầm ống điện thoại áp vào miệng, một cái miệng với những cọng râu đã bắt đầu bạc và tay bên kia có một vòng băng trắng đeo nơi cổ.

Giọng Chính ủy đã yếu lắm nhưng vẫn cố gồng lên như đang đứng trong một hội nghị quân chính ngàn người:

- Không được!

Lúc này hơn lúc nào hết Đảng viên phải đi đầu, tuyệt đối giữ vững lập trường quan điểm, kiên quyết chống mọi tư tưởng dao động, mọi phát ngôn không có lợi cho tinh thần tiến công!

Vũ Thành đi đến đỡ lấy ống điện thoại, khẽ lắc đầu:

- Anh Tân, với những con người đã trụ vững được cho đến giờ phút này, có lẽ ta không cần phải nói những câu như thế, bởi vì họ đã chứng minh bằng máu, bằng sinh mạng mình rằng họ là ai, họ cầm súng vì mục đích gì nếu không muốn nói tất cả họ đều là anh hùng.

Rồi để mặc Chính ủy hơi sững lại, ông đưa ống nói lên miệng:

- D18 đâu, hãy báo cáo thật đi!

Hiện các cậu còn bao nhiêu người có thể tiếp tục chiến đấu?...

Ba mươi à!...

Còn D3, thế nào?...

Hai sáu ư?

Vậy tỉnh đội?...

Thông tin?...

Trinh sát?...

Công binh?...

Đặc công?...

Hả?

Chỉ còn có thế thôi ư?

Ông gần như để rơi thõng máy xuống, thẫn thờ nhìn ra khoảng trời bé bằng bàn tay trên khung cửa rồi quay lại, nhìn thẳng, nhìn sâu, nhìn rất lâu vào người đồng cấp:

- Anh Tân!

Cả trận địa lúc này tính hết cũng chỉ còn không tới bảy chục tay súng kể luôn cả anh em trợ lý, văn phòng, thông tin...

Số thương vong cũng tương đương.

Đạn dược lại chưa chuyển qua được.

Cứ đà này, với những trái bom hủy diệt lần đầu tiên chúng đem ra sử dụng kia, thêm một ngày nữa là hoàn toàn kiệt sức.

Anh nghĩ sao, anh Tân?

Chính ủy từ nãy đã nghe trọn được cú điện thoại của chỉ huy trưởng, cơ mặt ông thỉnh thoảng lại co giật trong sự kìm nén vất vả nhưng vì là chính ủy, là chỗ dựa tinh thần quan trọng của bộ đội, của trận đánh nên ông không cho phép mình được một phút sao nhãng, thả rơi vào sự mềm lòng tất yếu mà vẫn ráng làm ra vẻ trầm ngâm, chỉ có thể thả rơi được những ngôn từ chắc nịch:

- Tiếp tục chiến đấu theo tinh thần của Mặt trận, theo đúng nghị quyết Đảng ủy chứ làm sao!

Vũ Thành sa sầm mặt:

- Kể cả hy sinh đến người cuối cùng?

- Đó là truyền thống của quân đội cách mạng.

- Và cái cuối cùng đó rút cục vẫn phải chấp nhận một cái kết nhỡn tiền chắc chắn sẽ xảy ra: chỉ ngày một ngày hai chúng sẽ tràn vào được khu Thành cổ này?

- Thà như thế.

- Anh Tân, chúng ta đều là người Cộng sản, đều là chỉ huy, đã từng sát cánh bên nhau từ hồi Điện Biên, đã quá hiểu nhau nhưng cũng đã đến lúc phải nhìn nhận lại mình có quá duy ý chí không?

Duy ý chí vừa độ là một động lực chiến đấu, nhưng khi nó quá độ sẽ trở thành cuồng tín.

Với một tương quan chênh lệch như thế mà ta đã giữ được đến trên tám mươi ngày đêm, không phải chỉ chúng ta mà ngay cả báo chí thế giới, các nhà lãnh đạo chiến lược của đối phương cũng coi đây là một kỳ tích huyền thoại.

Hơn thế, nếu những gì ta đã làm vì Hiệp định Hòa bình thì có lẽ ta đã làm hết, làm xong, làm đủ làm quá mức rồi.

Theo tôi, là người chỉ huy, ta không nên để xảy ra một cái kết trắng tay dễ tạo nên sự ảnh hưởng ngược lại.

- Thế nào là trắng tay?

- Là mất sạch, mất cả sinh mạng lẫn danh dự.

Sẽ không còn một người nào sống sót, sẽ có cả người trở thành tù binh.

Cái đau và cái nhục ấy sẽ đi vào lịch sử như một vết nhơ mà đám tù binh Pháp ở mặt trận Điện Biên Phủ đã là một bài học còn nguyên giá trị.

Người Chính ủy quay mặt lại, đến lượt ông nhìn thẳng vào Vũ Thành:

- Không còn cách nào có thể liên lạc được với Mặt trận à?

Vũ Thành lắc đầu:

- Tất cả các phương tiện liên lạc đều bị đứt hết, bây giờ chỉ còn chúng ta.

- Chờ thêm một chút nữa xem!

- Lúc này mọi sự chờ đợi đều trở thành vô vọng.

- Tức là anh muốn ta rút lui?

Tự động rút lui khi chưa có lệnh ở trên?

- Anh Tân ạ, trong chiến tranh, một khi đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị, đã thực hiện được mục đích chiến đấu thì sự rút lui đúng lúc để bảo toàn lực lượng và giữ gìn được thanh danh dù rất ít ỏi thì không bao giờ gọi là tự động cả.

Chính ủy hơi trầm ngâm nhìn xuống rồi lát sau ngẩng lên, rõ ràng tiếng nói đã có chiều bớt căng:

- Chiều qua tôi có điện lên Đảng ủy Mặt trận, các anh ấy bảo cứ cố giữ, chỉ ngày một ngày hai sẽ có chi viện đặc biệt và đối phương cũng có nhiều dấu hiệu thối chí.

- Ngày một ngày hai à?

Tôi sợ lúc đó nơi đây không còn một bóng người.

Như vậy từ chiến thắng ta sẽ trở thành chiến bại thảm hại trước con mắt công luận.

- Anh vẫn bảo lưu ý định cho rút?

- Rút!

Đằng nào cũng phải rút, rút lúc này còn bảo toàn được danh dự.

- Chưa có lệnh, tôi e rằng chúng ta, tôi và anh sẽ lãnh đủ hậu quả, ít nhất là ra tòa án binh.

- Còn có một hậu quả ghê gớm hơn, đó là sinh mệnh của gần trăm con người đang trông chờ ở chúng ta.

Bốn cây số vuông thị xã, hai trăm năm mươi ngàn mét vuông Thành cổ, hơn tám mươi ngày đêm tử thủ, hơn mười ngàn người hy sinh, mật độ bom đạn dày nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, tương đương với bảy trái bom nguyên tử giội xuống Hiroshima, trên đầu mỗi chiến sĩ ít nhất đã hứng chịu một trăm trái bom, hai trăm trái pháo, không một phân đất nào không trộn đặc kim loại, như vậy bộ đội đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của họ mà không thể làm hơn được nữa.

Còn ra tòa án binh ư?

Tôi sẵn sàng ra, cái cá nhân của mình trong tình thế này không còn có giá trị gì hết.

- Từ từ...

Việc này lớn quá!

- Lớn hay nhỏ là tùy ở quan niệm mỗi người.

Bảo lớn nó lớn, bảo nhỏ nó nhỏ, miễn là lương tâm ta không đau đớn.

- Khoan, để tôi suy nghĩ chút đã.

- Mọi suy nghĩ lúc này đều đã muộn.

Tôi, Trung tá Vũ Thành, chỉ huy trưởng bảo vệ Thành cổ sẽ hoàn toàn đứng ra chịu trách nhiệm, chỉ một mình tôi.

Người Chính ủy sầm mặt:

- Anh đừng nghĩ tôi thấp kém như thế!

Hơn hai tháng sống chết bên nhau, đã quá hiểu nhau mà sao lại có thể nghĩ về nhau những điều cắc cớ như thế?

Là cương vị chính ủy kiêm bí thư Đảng ủy Bộ chỉ huy, nếu cần quy vào trách nhiệm thì tôi sẽ là người chịu trách nhiệm nặng nhất chứ không phải anh.

- Chính vì thế mà anh chần chừ?

- Chần chừ không phải cho riêng tôi, mà vì những điều sâu xa thuộc về bản chất điều lệnh, về phẩm chất người lính cách mạng.

- Tôi lại chỉ nghĩ đến sinh mệnh của họ, những sinh mệnh mà gia đình, vợ con họ gửi gắm cho chúng ta.

Sự hy sinh này đã quá đủ, đã tới ngưỡng và hơn hết là đã đạt được mục tiêu chính trị đề ra, ta không cho phép xương máu của họ để xuống thêm nữa.

- Tôi cũng đã từng nghĩ những điều như vậy, nghĩ như anh, thậm chí còn đau đớn hơn anh.

Bởi vì...

- Nói đến đây, giọng ông chợt nghẹn lại.

- Cách đây ba ngày, tôi nhận được tin thằng con trai duy nhất của tôi đã hy sinh ở Mặt trận Đường 9, nhưng tôi không nói với anh, không thể nói, không muốn nói, nhất là trong hoàn cảnh mỏng manh sống chết này.

Vũ Thành khẽ rung người lên.

Anh bước đến ôm chặt lấy đôi vai gầy guộc của người cha đã nén khổ đau vào sâu trong lòng để không ảnh hưởng đến đồng đội.

- Tôi hiểu anh và tôi xin lỗi câu nói vừa rồi.

Cũng là do quá nóng vội.

Thực lòng những ngày qua, nếu không có anh bên cạnh thì chưa biết tôi sẽ điều hành trận đánh thế nào.

Vậy, thưa đồng chí Chính ủy, lúc nước sôi lửa bỏng này đây, tôi chờ đợi quyết định cuối cùng của đồng chí!

Sau một chút im lặng nhọc nhằn, người Chính ủy bộ đội bảo vệ Thành cổ nói như rặn từng lời:

- Cả cuộc đời binh nghiệp tôi chưa một lần vi phạm kỷ luật chiến đấu, nhưng lần này, trước những người còn sống và những người đã mất, tôi chấp nhận.

Vũ Thành bước đến bắt chặt tay người đồng cấp gầy guộc, lúc này nhìn đã già đi tới chục tuổi, rồi ông quay sang người sĩ quan liên lạc, giọng chìm xuống, tắc nghẹn nhọc nhằn đưa ra một mệnh lệnh mà có lẽ cả cuộc đời binh nghiệp ông chưa từng đưa ra.

- Đồng chí xuống các đơn vị truyền đạt lệnh của bộ chỉ huy: đêm nay, tất cả sẽ rút sang bên kia sông!

Thương binh rút trước, bộ đội rút sau.

Rút nhưng không phải bỏ chạy, cuộc chiến đấu phòng thủ chưa kết thúc mà sẽ được tiếp tục ở bờ bên kia!

Người sĩ quan đưa mắt nhìn ông như chưa tin, không tin, nhưng thấy nét mặt Trung đoàn trưởng nghiêm lạnh như nét mặt của người đưa đám nên vội chạy đi...
 
Mưa Đỏ
Chương 38


Chiều muộn.

Trời lúc mưa lúc tạnh.

Những hạt mưa bay xiên qua các đụn khói vẫn đang còn vẩn lên, bay xiên qua ráng chiều bầm tím, thấm rơi xuống các chiến hào chật ních tử sĩ, thương binh, thấm rơi vào mặt sông tám mươi mốt ngày đêm chưa hề có một khoảnh khắc trở lại màu xanh.

Một bầu không khí nặng nề đến thê lương bao trùm toàn khu thành.

Mặc những bộ quân phục còn lành lặn vừa lôi trong ba lô ra, Cường, Tấn đứng cúi đầu trước mông lung.

Họ lặng lẽ quỳ xuống, chắp hai tay lên ngực.

Tiếng Cường trộn vào mưa gió:

- Hải ơi, Bình ơi, Tú ơi, Sen ơi, các đồng chí ơi...

Anh Tạ ơi!

Chúng tôi đi đây, sắp đến giờ sang sông rồi...

Sau này nếu còn sống, anh em tôi nhất định sẽ trở lại đưa anh, đưa các đồng chí về với gia đình.

Tạm biệt!

Tấn cọ cọ mỏ chú chim non vào má mình rồi thả tay ra: "Bay đi!"

Chú chim lảo đảo một chút rồi vút bay vào bầu trời xám ngoét.

Hai người, cả đại đội lúc này chỉ còn có hai người, đi nhanh xuống bờ sông.

Tại đó, những tốp thương binh đang nằm ngồi ngổn ngang chờ đến lượt qua sông.

Dưới ánh pháo sáng, những con thuyền, những bè mảng, những bọc ni lông đan qua đan lại, trôi ngược trôi xuôi mà lượng thương binh trên bờ vẫn gần như không vơi đi chút nào.

Trong cái xô bồ tanh nồng mùi máu và diêm sinh ấy, thấp thoáng bóng của người bác sĩ, người chỉ huy trưởng và bóng những cô du kích làm nhiệm vụ vận tải, trong đó có cả cái dáng đôn đáo của Xã đội trưởng Hồng lúc ẩn lúc hiện trong sự hối hả đốc thúc, điều hành đã trở thành gần như bất lực.

Thỉnh thoảng lại một trái pháo dựng cột nước ở giữa dòng, ở bờ bên kia và ngay cả bờ bên này.

Tiếng Trung đoàn trưởng vang lên:

- Bộ đội bám dây cáp và phao, thuyền, bè mảng dành cho thương binh!

Khẩn trương!

Trong chiến tranh, vị trí người chỉ huy bao giờ cũng đóng một vai trò quan trọng nếu không muốn nói nhiều khi là tất cả, nhưng ở vào những tình huống chênh vênh như tình huống vượt sông này, các khái niệm về chỉ huy và bị chỉ huy dường như hoàn toàn biến mất, để thay vào đó, tất cả cùng đều làm một công việc như nhau.

Như người Chính ủy rất nguyên tắc và lúc nào cũng mực thước kia, lúc này không chỉ thấy cái dáng tầm thước của ông đi lại nói năng, khích lệ động viên an ủi đơn thuần nữa, mà với một cánh tay còn lại, ông thật sự đã trở thành một người lính cứu thương tận tụy, thậm chí đôi khi còn văng tục với những chiến sĩ chen lấn làm rối loạn trật tự.

Thuyền đã cập bến nhưng Cường vẫn ngần ngừ chưa muốn bước xuống, mặc cho Tấn đã trên hai lần lúc thì cáu kỉnh lúc lại nằn nì nhắc anh bước lên không đủ người nó lại quay đầu đi mất.

Cường vẫn dùng dằng đưa cái nhìn hun hút sục sạo vào từng người, từng nhóm người rối rắm mờ nhòa trước mặt...

Chợt mắt anh sáng lên như có đốm lân tinh nào bay vào.

Trước anh, lẫn trong bông băng là cái dáng mảnh khảnh, mềm mại quá đỗi quen thuộc của Hồng đang lui cui ở mép nước với một vệt thẫm màu không hiểu là máu hay mồ hôi chạy dọc tấm lưng con gái.

Anh quay qua Tấn:

- Anh có chút việc, em cứ qua trước đi!

Tấn nhướng mắt:

- Việc gì anh?

- Việc có liên quan đến cả cuộc đời.

Tấn lắc đầu quầy quậy:

- Không!

Cả đại đội còn có hai người, giờ sao lại có chuyện sau trước?

Anh không được bỏ em...

Cường cúi xuống hôn phớt vào cái má đang phịu ra của Tấn một cái rồi quay người bước đi.

Anh đi nhanh tới cái bóng người kia.

Nhưng không phải!

Hồng ơi...

Tiếng gọi thảng thốt chực bật ra ở cửa miệng lập tức bị chặn cứng khi cô gái kia quay lại với một khuôn mặt hoàn toàn khác, một cái nhìn hoàn toàn khác.

Chưng hửng toàn thân nhưng trót rồi, anh lại đi tiếp, lại sục sạo ánh mắt vào tất cả những gì gợi lên cái bóng dáng vừa gần vừa xa, vừa mơ hồ vừa rất cụ thể của em.

Nhưng rồi vẫn không phải, vẫn là những khuôn mặt khác.

Anh vẫn đi, cái đầu lúc nóng lúc lạnh dường như không còn làm chủ được đôi chân của mình.

Tôi phải gặp được em, trong tình huống chao chênh chưa biết điều gì sẽ xảy ra này, tôi không thể không gặp.

Suy nghĩ cháy bỏng ấy đẩy nhanh đôi chân anh đến với những cái bóng con gái khác nhưng mọi sự vẫn thế, trật lất!

"Vậy em đi đâu?

Lúc này em đang ở đâu?

Liệu có cái gì không may đã đến với em?

Hồng ơi..."

Chỉ có tiếng pháo gầm rít lộng óc và tiếng rên la đau đớn của thương binh dội lại.

Thất vọng, anh định quay trở về với Tấn thì giọng Trung đoàn trưởng Thành bỗng vang lên ở một mô đất cao:

- Các đồng chí!

Có ba tiểu đoàn biệt động kết hợp với lực lượng Hắc Báo đang vận động đến đây để ngăn chặn việc chuyển quân của chúng ta.

Tôi cần ba mươi người còn sức chiến đấu theo tôi đánh chặn chúng lại!

Im lặng một lát rồi tức thì một người... hai người... mười người... rất nhiều người chứ không phải chỉ ba mươi tách ra từ những tấm thân rách nát tiến lại phía ông, trong đó có cả Cường và Tấn.

Ông quay qua Chính ủy:

- Anh Tân ở lại phụ trách cho bộ đội qua sông, tôi dẫn anh em đi nện trận cuối cùng này.

- Cẩn thận nhé!

Hẹn gặp lại bên kia sông!

Hai người chỉ huy rách rưới siết chặt tay nhau rồi mỗi người lao về vị trí của mình.

Cường cũng định lao đi thì vừa lúc, ngay phía sau Cường khẽ vang lên một tiếng gọi thật khẽ: "Anh Cường!"

Như có một cái gì đó ngọt lịm và buốt sắc từ đâu đó xa xôi lắm xuyên thẳng vào ngực, anh rùng mình nhìn lại... và không tin ở mắt mình nữa khi Hồng đang đứng trước mặt anh, sắc nét và nhập nhòa như từ thinh không hạ xuống.

Giọng anh rung lên:

- Trời, anh tìm em mãi.

- Em cũng tìm anh.

Em sợ không còn được gặp anh nữa.

- Tiếng nói cũng như từ trên thinh không vọng xuống.

Họ ôm chặt lấy nhau, ôm chặt trước bao con mắt của đồng đội nhìn vào.

- Em đi đâu đây?

- Cường hỏi sau khi họ đã buông nhau ra.

- Đi theo anh, đi chặn địch theo các anh.

- Không được.

Chỗ em là ở dưới kia cơ.

- Ơ!

- Vẫn cái nét bướng bỉnh hiện lên trên đôi môi hơi cong.

- Anh quên em là xã đội trưởng rồi à?

- Thủ trưởng Thành không cho em đi đâu.

- Em xin rồi, Thủ trưởng bảo cứ ra hỏi anh.

- Nhưng mà nguy hiểm lắm!

- Em muốn được một lần ở bên anh, chiến đấu cạnh anh, sống chết cùng anh, nguy hiểm thế nào cũng được.

- Nói đến đây, cô nhìn thẳng vào mắt Cường, hạ giọng.

- Anh Cường, anh còn nhớ lời em nói hôm ấy không?

Giờ đây, chồng ở đâu vợ ở đấy.

- Hồng...

Một nỗi xúc động bất chợt dâng lên không kìm được, Cường lại ghì nhẹ cái thân hình thân thiết kia vào lòng mình rồi cả hai chạy nhanh theo đội hình.

Trời vẫn mưa và pháo mỗi lúc mỗi nổ dày đặc hơn, như thể đối phương biết mà làm cuộc tiễn đưa bằng bữa tiệc âm thanh cuối cùng.

Đang chạy, bỗng tổ trinh sát đi đầu bất chợt dừng lại khoát tay.

Tất cả cũng chợt dừng rồi nhanh chóng tản ra những vị trí che khuất trên triền sông, nằm xuống, súng găm thẳng về phía trước.

Tại chỗ đó, cách không đầy trăm thước, trong bóng tối nhập nhòa, những chiếc bóng lính chật chội, nón sắt tùm hụp cũng đang dàn hàng ngang hàng dọc đen kịt tiến lại lầm lì như một đàn thủy quái vừa từ dưới sông bò lên nhe nanh múa vuốt.

Cục diện thật chênh lệch.

Hơn ba mươi chiến sĩ phải đọ với số lượng biệt động quân thiện chiến gấp hàng chục lần hơn.

Nhưng hơn tám mươi ngày đêm họ đã quá quen với sự chênh lệch này, chênh lệch đến ngoài sức hình dung nên không một ai tỏ ra bối rối, choáng ngợp, thậm chí còn tỏ ra phấn khích vì đây là lần đầu họ được tác chiến thảnh thơi, rộng dài giữa thiên nhiên khoáng đạt chứ không phải trong những căn hầm ngột ngạt, tanh khẳm và dẫu chẳng may có ngã xuống thì cũng ngã vào dòng sông ăm ắp nước.

Ông Thành quay sang Cường, nói khẽ như nói với một chỉ huy đồng cấp:

- Nói anh em tản rộng ra để tránh sát thương và hết sức tiết kiệm đạn.

- Rõ!

Cường định trườn người đi thì chợt ông giữ lại, tiếng nói ân cần như của một người cha nói với con:

- Cường!

Đáng hy sinh thì hy sinh, đừng quá liều mạng.

Chú biết thời gian qua cháu đã trưởng thành nhiều lắm, mẹ cháu ở bên kia chắc cũng sẽ rất vui, sau chiến dịch này cháu phải về đi học lại, không có lý do gì ở lại trong này nữa.

Cường cũng nói như nói với một người cha:

- Chú cứ tin ở cháu.

Bọn cháu sẽ hành xử như những người lính có tự trọng của Trung đoàn Quang Sơn.

Nói xong anh băng người đi, để lại trong mắt người chỉ huy hình ảnh rực sáng của một dũng sĩ "tử vì đạo" rất mặc nhiên.

Trận đánh tuy không cân sức nhưng lại tạo được thế bất ngờ khi chủ động nổ súng trước.

Ngay từ loạt đạn đầu họ đã hất được khá nhiều địch quân xuống sông, xuống mép nước, đã phá vỡ cơ bản được cái đám đông ken đặc nhiều tầng nhiều lớp ở trước mặt.

Nhưng rồi khi biết đối phương chỉ có một nhúm người lèo tèo tan ra rồi lại hợp vào theo đúng chiến thuật nghi binh truyền thông, chúng đã xốc lại đội hình và ào ào lao xuống.

Và vì thế, một trận tao ngộ chiến nhỡn tiền phải xảy ra như nó đã từng xảy ra theo đúng quy luật đánh gần mà bên ít người dù muốn hay không cũng buộc phải rơi vào tình thế co cụm vô cùng bất lợi.

Một lần nữa, ranh giới giữa người chỉ huy và người bị chỉ huy bị đốt cháy.

Dưới lửa đạn, dưới ánh pháo sáng, Hồng nhìn rõ người chỉ huy trưởng Thành cổ của mình đang tả xung hữu đột như một chàng trai trẻ còn nguyên sức vóc, dẫu rằng cái bóng gầy guộc xiêu vẹo của ông chốc chốc lại bật lên ngã xuống đến khổ.

Ông đang thể hiện thật sinh động sự lì lợm, tài hoa của một tay súng dạn dày chứ không chỉ ở bàn tay vung lên hạ xuống vạch những phương án tác chiến lớn nhỏ ở chỉ huy sở.

Tất cả những súng ngắn, súng trường, tiểu liên, phóng lựu, tạc đạn, kể cả hỏa lực B40, B41... lọt vào tay ông đều trở thành những điểm nổ chính xác và phát lộ hết công năng.

Hình ảnh ấy đã lọt vào con mắt độc địa của tên toán phó Hắc Báo.

Hắn không cần biết ông là ai, chỉ huy hay lính thường, cán bộ hay chiến sĩ mà chỉ cần cái hình ảnh thù địch khó chịu ấy phải bị tan biến đi, tan càng nhanh càng tốt.

Hắn đặt cây M16 lên chạc cây như một kẻ đi săn thiện nghệ rồi rê nhẹ nòng súng theo bóng ông, miệng nở nụ cười khoái trá như rê theo một con mồi béo bở...

Đến khi toàn bộ thân hình méo mó, tơ tướp của ông ăn vào tầm ngắm, hắn mới nghiến răng siết cò.

Cả một băng đạn găm lút vào ngực, hất thân thể ông nhảy dựng lên rồi đổ vật xuống.

"Thủ trưởng Thành!"

Từ phía sau, Hồng kêu lên một tiếng xé lòng rồi chạy ào đến chỗ ông.

Cường và Tấn đã trở lại.

Nấp sau một gờ đá, anh đã chứng kiến tất cả, chứng kiến luôn cái vị trí đường đạn đã bay ra hạ sát người chỉ huy của mình.

Đau đớn chết lặng đi giây lát, cố nén, anh vẫy Tân luồn qua một rặng cây rậm rạp tiến đến sát chỗ kẻ sát thủ đang đứng.

Gần đến nơi, anh ra hiệu cho Tấn ngồi lại rồi một mình bò lên.

Toàn thân tên Hắc Báo đã hiện ra, vằn vện, gớm guốc.

Anh đưa nòng AK lên.

Ngón tay siết mạnh nhưng... hết đạn, súng không nổ, chỉ nghe tạch một tiếng khô khan.

Tên toán phó thấy động giật mình quay lại.

Như chỉ chờ có thế, với tất cả sự hận thù, anh bật dậy, giáng xuống giữa ngực hắn một báng súng cực mạnh.

Rắc...

Cùng với âm thanh gãy vỡ ấy, hắn ngã bổ chửng ra phía sau, đập mạnh lưng xuống đất, nhưng, như một con sâu đo đã được thục luyện kĩ càng, lại lồm cồm bò dậy hướng thẳng nòng súng về anh.

Cường nhào đến, định giáng vào cái thân hình quằn quèo kia một cú đá quyết định nữa để kết liễu luôn thì bất thần nòng súng ngắn từ trên tay một gã cao lớn không biết từ đâu nhảy ra đã kê sát vào ngực anh.

Đó là Quang.

Ánh hỏa châu phực lên soi rõ khuôn mặt hốc hác nhưng vẫn đẹp như bức tượng khắc gỗ của Cường, Quang tròn mắt:

- Trời!

Lại là anh bạn?

Tưởng anh bạn đã đi tìm tiên tổ ở dưới suối vàng trong lần cắm cờ ấy rồi vậy mà...

Đúng là đất đai chật hẹp.

Rồi, với một nét mặt cố tỏ ra mã thượng không đúng lúc, hắn nhét trở lại cây súng vào bao, cất một tiếng cười khinh bạc cố hữu nhưng đôi mắt lại buồn buồn:

- Rất hân hạnh được gặp lại cựu thù!

Nhưng chiến tranh là chiến tranh, nếu phải làm một cái gì đó thì cũng chỉ là buộc phải làm thôi, anh bạn cảm phiền.

- Hắn quay sang đám lính đang đứng gườm gườm ở đằng sau như bầy thú hoang sẵn sàng lao lên nhai sống con mồi.

- Nào, còn thời gian, tụi bay, vứt hết vũ khí xuống, chỉ được bắt sống chứ không được hạ sát!

Hắn bật ngón tay đánh tách, giật lấy cây AK hết đạn từ tay anh vứt ra sông rồi đứng lui ra như thể chỉ đóng vai trò chứng kiến.

Cường cũng thoáng giật mình khi mang máng nhận ra khuôn mặt ít nhất đã trên hai lần chạm trán kia và lặng lẽ thu người về trong tư thế phòng thủ.

Sau lưng anh, dưới một bụi cây xơ xác là khuôn mặt của Tấn và Hồng.

Hồng cũng đã nhận ra Quang.

Cô hốt hoảng định nhao ra như một động thái tự thân muốn che chở cho người đàn ông thân yêu của mình, nhưng bàn tay Tấn kịp ghì chặt lấy: "Chị Hai...

Chưa phải lúc.

Ra bây giờ chết!"

Cô đành cắn chặt môi ngồi lại, mắt nhìn trừng trừng về phía Cường.

Chỗ đó, theo lệnh của Quang, hai gã Hắc Báo to con, thân hình dềnh dàng, đen mun, tóc tai cượp gáy như hai con báo đen hùng hổ nhảy vào như muốn cắn xé anh ra làm trăm mảnh.

Chúng tung ra những đòn hóc hiểm nhằm hạ gục anh ngay từ đầu nhưng anh, dù dính đòn khá mạnh, vẫn lần lượt hóa giải và tung đòn trở lại cũng hóc hiểm không kém khiến cho cả hai thằng bỗng chốc trở thành hai cái xác quằn quại không thể gượng dậy nổi...

Lại hai tên nữa xông vào, vẻ hầm hố dữ dội hơn.

Biết rằng chơi tay không với tay Việt Cộng có cái dáng mảnh khảnh thư sinh tưởng chỉ cú đấm thì thiếu cú đạp thì thừa kia là một điều sai lầm, chúng quyết định dùng dao găm.

Những đường dao loang loáng xẹt qua xẹt lại vào da thịt anh, cứa sâu, tưởng chừng anh sẽ lãnh đủ nhưng người sinh viên cựu vô địch đai đen Hà thành ngày nào, dù đã kiệt sức, dù mặt mày tay chân không còn chỗ nào nguyên vẹn nhưng bằng những cú tránh mềm mại, những cú ra chân sắc lẻm đã tiếp tục cho cả hai tên ôm mặt, ôm bụng bật ra.

Toàn thân nhòe máu, anh cũng loạng choạng muốn quỵ xuống.

Đến lúc này Quang mới quyết định nhập cuộc.

Hắn bước lên, nói vừa đủ nghe, đôi mắt vẫn thật buồn:

- Có một đối phương như anh thật cũng đáng mặt để lâm trận, đáng để cho tụi này khốn khổ khốn nạn bao ngày qua.

Đáng ra lúc này được ngồi bù khú với nhau bên chai đế là thú nhất nhưng thôi, đây là tử chiến chứ không phải võ đài, tụi này đang vội, đành chia tay người hùng Việt Cộng vậy, xin xá lỗi!

Với đế giày đinh sần sùi, nặng trịch, như đã được chuẩn bị kĩ càng từ trước, hắn bất thần tung một cú đá ngược cực mạnh vào giữa ngực anh, cú đá chỉ để dành cho những tình huống cấp bách.

Không chịu nổi đòn đánh hủy diệt cho chết ngay này, anh ôm ngực quặn người gục xuống.

Bật lên một tiếng cười như xương gãy, hắn nhào đến, định tung một cú đá bồi quyết định nữa thì anh bắt được, ghì cứng lại.

Mất đà, hắn chúi tới, siết cả hai cánh tay cứng như hai thanh thép vào cổ anh định bẻ.

Anh cũng siết cứng trở lại... cả hai ôm nhau lăn tròn xuống bờ ta-luy nhầy nhụa đất cát...

"Anh Cường ơi..."

Sau khóm lá, tới lúc này thì chính Tấn cũng đã không còn kìm nổi nữa, cậu cùng với Hồng quyết định xông ra thì bất thần hai bàn chân họ bỗng sựng lại...

Từ trong vũng tối, trên bờ cách đó không xa, một loạt tiểu liên cực nhanh rất căng phóng xuống mép sông, phóng chính xác vào chỗ hai thân hình kia đang vật lộn, vẫy vùng, tung tóe nước...

Trong thoáng chốc, hai thân hình đó bật rời nhau ra, ngơ ngác rồi cùng nằm vật xuống, bất động.

Tấn và Hồng nhào tới, quỳ gối lia hàng loạt đạn về phía vũng tối ấy và về cả những điểm đen nghi ngờ khác.

Những đường đạn đã trúng đích.

Những tiếng kêu la vang lên, những thân xác đổ vật, có cả những tiếng chân dận giày đinh bỏ chạy thục mạng về phía sau.

Khoảnh khắc đó, họ không biết rằng, tại cái vũng tối vừa bay ra loạt đạn quái ác xuống mép nước đủ để hạ gục hai con người đang ôm cứng lấy nhau kia, người lính có nét mặt sắt nguội đã tha cho Hồng đêm nào đang gí trái da láng lạnh buốt vào sát mặt tên toán phó, gằn giọng:

- Đ. má!

Hèn hạ đến thế thì mày chỉ đáng chết như chó!

Anh ta rút dây lưng trói giật hai tay gã lại phía sau rồi rút trái tạc đạn, mở chốt, nhét sâu vào trong cạp quần gã, thứ quần lính buộc túm ở cổ chân rồi khinh bỉ bỏ đi xuống mép nước, nơi có thân xác của Quang, người chỉ huy thân thiết đang nằm im lịm bên đối thủ của mình.

Đằng sau anh ta, với trái tạc đạn trong quần, gã toán phó ác ôn đang điên loạn nhảy dựng lên như nhập đồng rồi đứng đờ ra, ngây dại, hai mắt lộn tròng...

Một tiếng nổ vỡ toác kèm theo quầng lửa bùng lên bao trùm lấy toàn thân gã...

Dưới mép nước, Hồng đang ôm chặt lấy tấm thân rách nát của Cường, đặt đầu anh vào lòng mình, nấc lên:

- Em đây anh Cường ơi!...

Anh đừng bỏ em, đừng bỏ em...

Cường khẽ mở mắt tỉnh lại, mỉm cười khô xác:

- Hồng...

Tập giấy để trong người... em gửi về cho mẹ...

Anh... anh yêu em...

Mẹ ơi!

Anh gọi mẹ tiếng cuối cùng rồi ngật đầu, tắt thở.

"Mẹ ơi..."

Tiếng gọi ấy lan ra mặt sông, bay lên không trung, bay qua bầu trời đêm Thạch Hãn, bay vào cõi mênh mông hư ảo...



Và vượt qua ngàn trùng mây trắng, tiếng gọi ấy đã bay đến trái tim người mẹ.

Đó cũng là lúc bà vừa kết thúc Bản dự thảo Nghị định thư về hòa bình ở Việt Nam gồm 9 chương, 23 đề mục, dày 42 trang thì như có một cú thúc mạnh vào ngực, bà xây xẩm mặt mày ngồi xuống.

Trước bà, những chữ ký của bốn bên lòa nhòa hiện ra.

Những chữ ký từ màu xanh chuyển sang màu đỏ, nhểu máu...

"Con ơi!..."

Trên đôi môi tái nhợt của bà bật lên hai tiếng xé lòng xé ruột...

Ngoài kia, trên bầu trời Paris yên bình, có con chim câu nào đậu bên cửa sổ cất tiếng gáy gù gù.

Và ẩn trong gió dường như có một thanh âm mơ hồ nào đó như âm hưởng bản giao hưởng Cổ Thành nhè nhẹ nhen lên, chảy sâu vào tấm lòng người mẹ.

Bản giao hưởng thao thiết và hào hùng.

Bản giao hưởng máu.

Người mẹ ngồi như hóa đá, nước mắt lặng lẽ chảy ra.
 
Back
Top Bottom