Ngôn Tình Một Màu Xuân

Một Màu Xuân
Chương 20


Giang Lam Sinh vừa cầm quạt gõ cột cửa, vài phiến lông trắng đã rủ xuống đất. Tay Nam Sương vẫn đang cầm áo lụa màu hồng nhạt, liếc mắt mà trông lại thấy như áo cưới.

Công tử Giang lạnh cả sống lưng, bước nhanh tới trước bàn, ánh mắt chuyển từ bọc hành lí đã thu dọn xong đến Vu Hoàn Chi đương cau mày, rồi lại nhìn về phía Hoa đào Nam. Hắn ta “ôi chao” một tiếng, than thở: “Liễu Chương Đài, liễu Chương Đài, xưa xanh xanh nay vẫn còn xanh? Ôi, bị tay kẻ khác vin cành bẻ mất rồi[1]!”

Mấy chữ cuối cùng đọc trầm bồng du dương, tay Giang Lam Sinh run rẩy trỏ quạt vào Vu Hoàn Chi, đau lòng nói: “Hoa Đào Nhỏ ơi là Hoa Đào Nhỏ, tôi mới xa cô mấy canh giờ mà cô đã muốn bỏ trốn với thằng nhãi này ư?”.

Vu Hoàn Chi hếch đuôi mắt lên, cầm bọc hành lí trong tay, thủng thẳng tới trước bàn, che Nam Sương ở phía sau, cười nhạt nói: “Hoa xinh phải bẻ liền tay, chớ để lâu ngày lại bẻ cành khô[2]“.

Cây quạt trong tay Giang Lam Sinh đột nhiên rơi xuống đất, chấm đỏ trên ấn đường như chim quyên khóc đến nhỏ máu, một lát sau mới mở miệng, khó tin hỏi: “Anh… đã bẻ rồi ư?”.

Nam Sương không rõ họ dùng ngôn từ tranh cãi nhau là vì điều gì, lặng lẽ cúi đầu cất áo lụa hồng nhạt. Lúc để vào trong bọc, nàng vẫn liếc mắt quan sát ma đầu họ Vu, để phòng y nửa đường cướp lại xiêm áo.

Vu Hoàn Chi nhướng mày liếc nhìn Giang Lam Sinh, thờ ơ nói: “Nhắc nhở anh thôi”. Dứt lời, y đã ngoảnh lại hỏi Nam Sương: “Cất xong chưa?”. Thấy Nam Sương gật đầu, y bèn nhận lấy bọc quần áo trong tay nàng rồi đi thẳng ra ngoài cửa.

Lúc bấy Giang Lam Sinh mới nhận ra, hỏi: “Mọi người muốn trở về Tô Châu à?”.

Lúc này, ánh mắt Nam Sương hoàn toàn dính vào bọc quần áo màu vàng xanh pha nâu trong tay Vu Hoàn Chi. Mới vừa rồi lúc y nhận lấy bọc quần áo từ trong tay mình, động tác quá tự nhiên nên nàng trở tay không kịp.

Hoa đào Nam suy nghĩ, còn hai yêu cầu chưa hoàn thành, vả lại, chẳng biết có thể làm được không.

Mà hình ma đầu họ Vu không hài lòng lắm với nụ hôn vừa rồi của mình, tám phần là bộ xiêm áo lụa hồng này bị hẫng rồi. Nhìn ma đầu thế này, e là chỗ xiêm áo còn lại đều phải đền cho.

Từ sau sự kiện “chuyện phòng the” và “họa thủy”, cuộc đời trong sạch của Hoa đào Nam đã dính phải vết nhơ. Nam Cửu Dương hối tiếc không thôi, từ đó đều hết sức chú ý đến lời nói và việc làm của mình. Nhưng tục ngữ nói già néo đứt dây, Nam Cửu Dương vừa chú ý cái đã chú ý đến nỗi xảy ra sơ suất. Ví dụ, ông chỉ dạy Nam Sương “không có việc gì khó, chỉ cần mình chịu trèo[3]“, lại quên nhắc nhở nàng phải tránh “đốt rừng làm ruộng, tát ao bắt cá[4]“.

Ví dụ tiếp, ông thường nói với Hoa đào Nam rằng gặp chuyện phải “phát hồ tình, chỉ hồ lễ[5]“ song chẳng dạy nàng cái giới hạn “lễ” này phải vạch ra ở đâu, thế cho nên nàng “vô lễ” với ma đầu họ Vu mấy lần mà vẫn vui vẻ tự đắc, không hề hay biết.

Nói tóm lại, Nam Sương đắn đo, thầm nghĩ mặc dù Vu Hoàn Chi không phải kẻ tính toán chi li nhưng nếu chạm vào vảy ngược của y thì e sẽ có kết cục không chịu nổi. Lần này, mình nằm trong cảnh nước sôi lửa bỏng như vậy, mắt thấy khó giữ xiêm áo nên chỉ đành chiều theo rồi mới ra tay.

Vì vậy Nam Sương nhớ lại dáng vẻ nói năng dịu dàng, mắt nhuốm men say của Vu Hoàn Chi sau khi hôn mình, chỉ mới nhớ lại thôi đã làm xương cốt người mềm oặt đi. Thế nên nàng cho rằng, trước tiên phải liếc mắt đưa tình rồi đục nước béo cò, cuối cùng kim thiền thoát xác, ắt là thượng sách.

Nam Sương thông minh, lại không biết người thông minh quá thường bị thông minh hại. Mà trên thực tế, công sức nàng thận trọng bỏ ra chẳng qua chỉ là một chiêu đập nồi dìm thuyền, một kích không thành đã bị hại nặng nề, huống chi đối thủ là một ma đầu.

Giang Lam Sinh thấy không ai lên tiếng trả lời thì gõ cây quạt vào lòng bàn tay, cười nói: “Cũng tốt, người ta nói phong cảnh Giang Nam đẹp, tôi vẫn mong mỏi trong lòng, lần này đúng là cơ hội tốt”.

Vu Hoàn Chi ngoảnh lại lạnh nhạt nhìn hắn ta một cái.

Đầu kia hành lang, Mục Diễn Phong đang đi tới giữa đêm khuya, hắn thấy Giang Lam Sinh chỉ nhíu mày lại, đến gần mới hỏi: “Anh cũng tới à?”.

Giang Lam Sinh giỏi dùng người, ghé sát vào Nam Sương có tính cách tốt nhất, cười nói: “Không phải đã nói cùng đi rồi ư?”.

Hoa đào Nam đang quấn quýt suy nghĩ, chỉ thờ ơ “ừ” một tiếng, từ chối cho ý kiến.

Giang Lam Sinh cười đắc ý, nói: “Chậc chậc”. Đoạn lập tức mở quạt lông trắng ra chỉ về phía sau Mục Diễn Phong, nói: “Con gái con đứa, như vậy không được đâu”.

Nam Sương nghe vậy, nhìn về phía sau Mục Diễn Phong, vui mừng lên tiếng chào hỏi: “Yên Hoa”.

Chỉ thấy Tiêu Mãn Y cầm một sợi dây thừng to trong tay, một đầu buộc cổ tay Vương Thất, Vương Cửu, hai người xám xịt đi theo.

Mục Diễn Phong cau mày nói: “Cô cứ cởi dây thừng cho họ đi, không chạy được đâu”.

Tiêu Mãn Y giậm chân, hừ ra hai chữ với Nam Sương: “Họa, thủy”, chợt quay về phía Mục Diễn Phong, lập tức thay thành vẻ rạng rỡ, nói: “Khó khăn lắm tôi mới giúp chàng làm được một chuyện mà”.

Mấy người ra khỏi nhà trọ, đêm khuya sương dày, con đường rải đá xanh ướt rượt. Mấy bóng người bị ánh trăng kéo dài, hắt lên mặt đường.

Một lúc lâu sau, cái bóng dong dỏng phía trước dừng lại, xoay người nói với Giang Lam Sinh: “Anh thật sự muốn đi theo?”.

Giang Lam Sinh ngẩn ra rồi lại mở quạt lông trắng, nhàn nhã phe phẩy nói: “Sao? Đường đường là thuyền do trang Lưu Vân của Giang Nam thuê mà có thêm một người thôi đã không chứa nổi ư?”.

Vu Hoàn Chi trầm mặc, xoay người mới đi được hai bước, lại nghe Giang Lam Sinh nói thêm một câu: “Hay là cung Mộ Tuyết đã không đến nông nỗi không được việc như thế rồi?”.

Bầu không khí trở nên xấu hổ trầm trọng, bóng lưng Vu Hoàn Chi cứng đờ, mái tóc đen như mực khẽ phấp phới, lộ ra mấy phần cô đơn. Nhưng lúc quay đầu lại, y lại đang cười, nụ cười lạnh nhạt không xuất phát từ đáy lòng. Y thờ ơ vuốt tay áo, chỉ thấy ống tay áo lấp lánh ánh sáng, một lưỡi dao sắc bén như tuyết như sương, xán lạn bốn phía đột nhiên kẹp ở đầu ngón tay y.

Sắc mặt Giang Lam Sinh tái nhợt đi.

Trên giang hồ có rất nhiều lời đồn về “bảy thức Mộ Tuyết” song kẻ thực sự chính mắt trông thấy môn võ công này đã ít lại càng ít, nhất là bốn thức kinh thế hãi tục cuối cùng, gần như không ai được chứng kiến.

Nhưng không phải Giang Lam Sinh không biết.

Người võ lâm nói, tự sau khi Vu Kinh Viễn mất tích, kẻ có thể lĩnh ngộ được tinh túy của “bảy thức Mộ Tuyết” chỉ có mình Vu Hoàn Chi. Ma đầu này đã luyện môn võ công ấy tới thức thứ tư – Tuyết Diếu Băng Thiên, lấy lưỡi dao rối ren nhanh chóng, vung ra sát chiêu như tuyết bay đầy trời, có thể quật ngã cả trăm người chỉ trong nháy mắt.

Nhưng rõ ràng động tác mà Vu Hoàn Chi bày ra giờ này khắc này là thức thứ năm của “bảy thức Mộ Tuyết” – Tuyết Ngược Phong Thao. Đặc điểm lớn nhất của chiêu thức này chính là tư thế lúc đầu nhàn nhã, làm người ta không nhìn ra sát khí, nhưng sau khi ra chiêu lại tàn nhẫn ghê gớm, có thể khiến một người chết một cách đau đớn vì thương tích đầy mình, máu chảy quá nhiều.

Nếu là trên chiến trường, chiêu thức này thường dùng để công kích chủ soái, lấy khí thế diệt quân địch.

Nếu Vu Hoàn Chi thật sự luyện tới thức thứ năm của “bảy thức Mộ Tuyết” vậy thì đại hội võ lâm năm sau, chỉ cần y bằng lòng tham gia thì tất sẽ được liệt vào năm hạng đầu, thậm chí ở trong ba vị trí đầu cũng không phải không thể.

Thứ thứ năm của “bảy thức Mộ Tuyết” có uy lực mạnh, đã không thể áp chế bằng “quyết Băng Tâm” của cung Mộ Tuyết mà cần kết hợp “quyết Thần Sát” và “công Thiên Nhất”.

“Công Thiên Nhất” ở trang Lưu Vân Giang Nam, Mục Diễn Phong và Vu Hoàn Chi tình như thủ túc, cũng có thể sẽ truyền võ công không truyền ra ngoài cho Vu Hoàn Chi.

Nhưng làm sao Vu Hoàn Chi có được “quyết Thần Sát” đã thất truyền từ lâu?

Suy nghĩ xoay vần, Giang Lam Sinh nhớ lại lúc ban ngày gặp Sư Nhai thì nỗi nghi ngờ nảy sinh đầy bụng.

Vẻ mặt Vu Hoàn Chi tĩnh lặng như một vầng trăng lạnh. Mục Diễn Phong đứng ở đầu gió, áo bào tím cuồn cuộn như sóng, vẻ mặt luôn luôn thờ ơ mà lúc này lại hiện ra vẻ vắng lặng im lìm, hắn chỉ nhìn chứ không nói gì.

Năm xưa cung Mộ Tuyết bị diệt đã liên lụy nhiều người trong đó. Ngay cả Bắc Đẩu võ lâm, thiên tử triều thần đều ngần ngừ chưa kết luận được quan hệ lợi hại, ai đúng ai sai trong đó, huống hồ là thế hệ sau như họ.

Mục Diễn Phong tỏ vẻ mặt nghiêm nghị, Tiêu Mãn Y thấy thế thì tim thắt lại, nàng ấy lặng lẽ dịch đến bên Nam Sương, nhỏ giọng nói: “Họa Thủy, đi khuyên nhủ ma đầu Vu đi, nửa đêm rồi chớ sinh sự, làm ầm lên khiến tất cả mọi người tỉnh lại bây giờ”.

Nam Sương trầm ngâm một lát rồi nói thầm bên tai nàng ấy: “Cô nói rất hợp lí”. Dứt lời, nàng dời bước tiến lên, tránh khỏi sát khí lấp lánh của lưỡi Vọng Tuyết, khẽ kéo ống tay áo Vu Hoàn Chi và nói: “Cái cũ không đi thì cái mới không đến, đợi về Giang Nam rồi, chúng ta đào đất, lại xây một cái cung là được”.

Ánh mắt Vu Hoàn Chi lập lòe, ngoảnh lại nhìn Nam Sương đầy ngạc nhiên.

Dưới bóng đêm, dung nhan ấm áp, trơn bóng như ngọc ngâm trong suối nước ở khe núi, Hoa đào Nam trông thấy thế thì trong lòng muôn tía nghìn hồng, nói không mà nghĩ ngợi gì: “Hay gọi là Họa Xuân cung nhé? Nghe cho vui mừng”.

Vu Hoàn Chi sửng sốt, hỏi: “Cái gì?”.

Giang Lam Sinh nuốt nước miếng, Vương Thất, Vương Cửu xì xào bàn tán, Tiêu Mãn Y thì cười đến ngả nghiêng. Mục Diễn Phong cân nhắc lời Hoa Đào Nhỏ nói một lần trong miệng xong thì chọn trọng điểm ra nói: “Họa… Xuân cung?”.

Nam Sương gật đầu, bỗng nhiên cảm thấy được không thích hợp, ngượng ngùng nhìn Mục Diễn Phong, không biết giải thích thế nào. Đúng lúc này, Vu Hoàn Chi lại cất lưỡi Vọng Tuyết đi, mặt mày thư thái, chỉ cười nhạt nói: “Đúng là một cái tên hay có thể uy chấn giang hồ”.

Trong chốc lát bầu không khí hòa hoãn lại, mọi người tiếp tục đi về phía trước. Một lát sau, Giang Lam Sinh đột nhiên nói: “Không phải tôi khăng khăng muốn đến Giang Nam, chỉ là buổi chiều, tôi đã gặp Sư Nhai”.

Trước mặt, Vu Hoàn Chi vẫn lặng lẽ đi, bước chân không hề dừng lại.

Giang Lam Sinh lại bảo: ““Bảy thức Mộ Tuyết” trong tay anh là tàn phổ, nhưng “bảy thức Mộ Tuyết” trong tay Sư Nhai cũng không phải toàn phổ”.

Bước chân Vu Hoàn Chi dừng lại, Mục Diễn Phong vỗ vai Giang Lam Sinh từ phía sau rồi bảo: “Lên thuyền nói cho rõ”.

Nhưng mà Giang Lam Sinh không thôi, sắp đến bến đò nên gió càng lớn, mấy cái màn vải treo trong lầu gác hai bên bay phần phật.

Giang Lam Sinh đứng ở một góc đầu đường, nói: “Nếu nói các bên đều có sai lầm trong truyện năm đó thì ấy là tìm cớ. Tất nhiên tôi biết tôi và cha tôi, chú tôi khó mà thoái thác lỗi lầm. Nhưng hôm nay “bảy thức Mộ Tuyết” lại xuất hiện trong võ lâm, quyển trong tay Sư Nhai là quyển bị kẻ khác xóa đi phần nối tiếp giữa các chiêu thức. Anh có biết việc này chứng tỏ điều gì không?”.

Vu Hoàn Chi dừng lại, ngước mắt nhìn về phía dòng sông nổi sóng phía xa xăm: “Chứng tỏ có kẻ đang giữ toàn phổ “bảy thức Mộ Tuyết”, chứng tỏ lúc này có kẻ khôi phục cung Mộ Tuyết, ắt là hạng bụng dạ khó lường, chứng tỏ mấy… việc vặt năm đó, ba bên cũng tổn thất, cuối cùng chẳng ai kiếm chác được gì tốt, lại còn bị tai bay vạ gió”.

Giang Lam Sinh ngẩn ra, nhìn Vu Hoàn Chi, lúng túng nói: “Anh cũng biết rồi ư?”. Mãi sau hắn ta lại mở quạt lông trắng ra phe phẩy, lại tỏ cái dáng công tử bình thường ra, “chậc chậc” hai tiếng rồi bảo: “Trang Lưu Vân ở Giang Nam và cung Mộ Tuyết ở Thục châu đều là đất thị phi”.

Vu Hoàn Chi híp mắt, thản nhiên nói: “Chúng ta sẽ lên thuyền ở bến đò nhỏ”.[1] Câu thơ trong bài Liễu Chương Đài – gửi Liễu thị của Hàn Hoằng. Hàn Hoằng được một người bạn tặng cho một diệu kỹ là Liễu thị, trai tài gái sắc rất tương đắc. Khi Hàn Hoằng đi làm ký thất cho quan Tiết độ hầu Di Dật ở Tuy Thanh, để Liễu thị ở lại Trường An, ba năm sau gửi bài từ này cho Liễu thị, “liễu Chương Đài” ở đây chỉ Liễu thị ở Trường An. “Cây liễu trước vẫn xanh xanh nay không biết ra sao” là nói Liễu thị ngày trước kiều diễm, chẳng hay bây giờ thế nào. “Dù vẫn cành dài nguyên vẹn rủ, cũng tay người khác vin cành bẻ” là tỏ ý hoài nghi.

[2] Câu thơ trong bài Áo kim tuyến của Đỗ Thu Nương.

[3] Câu trong Thủy Điệu Ca Đầu – Trọng Thượng Tỉnh Cương Sơn.

[4] Câu trong Hoài Nam Tử – bản kinh huấn, chỉ thấy cái lợi trước mắt, không chú ý đến lợi íhc lâu dài.

[5] Xuất xứ từ bài “Đại Tự” trong “Kinh Thi”, chỉ có thể yêu đương nhưng không được vượt quá lễ, pháp.
 
Một Màu Xuân
Chương 21


Trời tối người yên, bến đò nhỏ, nước lăn tăn.

Từ khi lên thuyền, Nam Sương hưng phấn lạ thường. Ấy là thuyền khác cỡ lớn, trước sau tổng cộng có bốn người chèo, một cái cầm lái. Thân thuyền nhẵn bóng, bởi vì không chở hàng nên đáy thuyền ổn định, mực nước rất cạn.

Khoang thuyền có lầu nhỏ hai tầng, mái cong tầng hai kiều diêm mang phong cách Cô Tô. Hai bên nhà chính tầng một có hiên cột. Cột buồm cao vút ở sau khoang thuyền, buồm lớn mở ra như con cò trắng bỗng nhiên dang cánh, thuận gió xuất phát.

Tiêu Mãn Y khịt mũi coi thường dáng vẻ lấy làm lạ của Hoa đào Nam. Giang Lam Sinh dùng quạt lông trắng phỏng lại hình dáng thuyền từ chỗ đầu thuyền gió lớn rồi kiểm kê số khách trong thuyền, lắc đầu cố làm ra vẻ cảm khái: <i>“Trang Lưu Vân của Giang Nam phô trương lãng phí, đáng thẹn đáng thẹn”.</i>

Có lẽ Nam Sương cẩu thả không nhớ Giang Lam Sinh, nhưng Đồng Tứ thì lại nhớ.

Từ nhỏ Đồng Tứ đã lớn lên cùng Vu Hoàn Chi ở cung Mộ Tuyết. Tám năm trước cung Mộ Tuyết bị diệt, trước khi Vu Hoàn Chi được Mục Chiêu đón đến trang Lưu Vân, hai người từng ở kinh thành ba tháng.

Cậu nhóc Đồng Tứ này, luận võ nghệ, luận tài học đều bình thường không có gì lạ; duy trí nhớ rất tốt, người từng gặp là không quên được.

Đầu mùa xuân tám năm trước, Nam Sương chưa mang danh tiếng vô liêm sỉ “Hoa Đào Nước Nam” thì Vu Hoàn Chi đã là ma đầu giang hồ mọi người đều biết.

Ma đầu mười bốn tuổi dẫn nhóc sai vặt tám tuổi lặn lội đường xa chạy tới kinh thành không sung sướng gì. Dẫu sao cung Mộ Tuyết bị huỷ diệt, dây dưa cực lớn, đều để lại ám ảnh trong lòng người giang hồ. Mà năm đó, Vu Hoàn Chi vừa hay luyện tới thức thứ ba trong “bảy thức Mộ Tuyết”, nội tức công tâm, tẩu hỏa nhập ma nên từ má phải tới sau cổ đều có đốm màu tím, thấy mà hãi.

Từ Thục châu đến kinh thành, non xa sông dài, đường đi bảy rẽ tám ngoạt. Mỗi khi tới một chỗ, hễ có người nhận ra Vu Hoàn Chi thì đều thét chói tai chạy trốn, hết sức sợ hãi.

Đồng Tứ oán giận nói, công tử, chờ tôi tu luyện võ công giỏi giang sẽ đánh cho những kẻ này tàn phế.

Vu Hoàn Chi lại nói, cũng tốt, bây giờ ta tẩu hỏa nhập ma, tay trói gà không chặt, chi bằng tương kế tựu kế.

Vu Kinh Viễn danh chấn thiên hạ năm ấy đã không biết tung tích, chỉ còn lại một mình Vu Hoàn Chi bình tĩnh kế thừa danh vọng và tiếng xấu do ông tạo ra. Đằng sau uy tín là trách nhiệm nặng nề, song ma đầu họ Vu lại gánh vác cực kỳ ung dung.

Có người nói y nham hiểm, y bèn đe dọa dụ dỗ; có người nói y độc ác, y bèn miệng hùm gan sứa.

Vì thế, dù là kẻ thù chung của người giang hồ song cả đường, một thiếu niên và một đứa bé vẫn không gặp nguy hiểm gì.

Vu Hoàn Chi tự đắc ngồi vững ngôi ma đầu giang hồ, khoa tay múa chân đe nẹt người, hăm dọa nạt nộ đi ăn cướp, muốn sau được vậy. Còn Đồng Tứ thì thầm cho rằng, trên thực tế Vu Hoàn Chi không phải ma đầu mà là một con cáo đột lốt ma đầu mà thôi.

Đợi hai người tới kinh thành, ma đầu họ Vu mới có lương tâm đi tìm cái mạng đen, che khuôn mặt đáng sợ của mình lại. Đoạn tìm căn nhà nhỏ trong thành, dẫn Đồng Tứ vào ở.

Trong mắt Đồng Tứ, từ trước đến giờ Vu Hoàn Chi một mình gánh vác, giống như chuyện thiên hạ đến trước mắt y đều thành đồ nhắm uống rượu, gia vị nấu cơm, khiến cuộc sống nhiều màu sắc hơn mà thôi.

Trong sân có ba gian phòng, trước đình có hai gốc liễu.

Từ đầu đến cuối, Đồng Tứ chưa từng hỏi mục đích Vu Hoàn Chi đến kinh thành. Hai người tạm thời sống yên ổn trong nhà, chỉ thấy mỗi ngày ma đầu đều đi sớm về trễ.

Đảo mắt đã hơn tháng đi qua, liễu rủ tơ nảy mầm, mặc áo ngọc bích. Tiết xuân phân, một vị khác tới nhà, ấy là Giang Lam Sinh.

Giang công tử ca cùng tuổi với Vu Hoàn Chi, tám năm trước cũng mới có mười bốn tuổi.

Nhưng còn nhỏ mà chí lớn. Lúc đó Giang Lam Sinh chưa tu luyện ra khí chất đắc ý của công tử ca song lại có tinh thần lưu manh của bọn côn đồ vô lại.

Giống như một tiểu thư khuê các tất phải tu luyện từ cô con gái rượu của gia đình, tiền thân của một anh hùng cái thế tất phải là con trẻ giang hồ, với Giang Lam Sinh mà nói, côn đồ vô lại là đường bắt buộc phải đi qua để đến công tử ca phú quý, để hắn ta trổ mã vẹn toàn.

Chuyến này lưu manh Giang tới với khí thế hung mãnh, dẫn hơn mười người cuồn cuộn bao vây căn nhà. Hắn ta vén vạt áo lên, tiến lên đá cổng lớn ra, vung quạt lông trắng rồi ồn ào: “Vu Hoàn Chi, anh gám cướp người với bản vương?”.

Đồng Tứ không biết thân phận thật của Giang Lam Sinh, chỉ thấy hắn ta mặc gấm vóc xa hoa thì đoán người này chẳng giàu cũng sang.

Lúc đó Vu Hoàn Chi chưa về, Đồng Tứ nghĩ võ nghệ công tử nhà mình đã bị phế, chẳng qua chỉ là cáo mượn oai hùm gánh cái danh ma đầu thì không khỏi cuống cuồng từ tận đáy lòng, muốn thừa dịp Vu Hoàn Chi chưa về nhà mà dỗ Giang Lam Sinh đi.

Nào ngờ chẳng biết Giang Lam Sinh của năm ấy đã kết thù oán thế nào với Vu Hoàn Chi, tức tối vô cùng, mặt dày mày dạn ở lại trong nhà, khăng khăng quyết một trận sống mái với y.

Tuy khi còn bé Đồng Tứ nhát gan, nhưng cậu lo bảo vệ chủ bèn thương lượng làm vui lòng Giang Lam Sinh, nói công tử Giang có thể cọ xát với mình trước, tạm thời làm nóng người.

Phàm là công tử ca đắc ý, quyết sẽ không bắt nạt bề dưới. Đáng tiếc lúc đó, Giang Lam Sinh chỉ là một lưu manh đắc ý.

Đồng Tứ nhìn Giang Lam Sinh quần là áo lượt, võ nghệ tất khôg ra gì, ngờ đâu không đọ được mười chiêu, mình đã sắp bại.

Vu Hoàn Chi đẩy cổng lớn ra, thấy tình cảnh thế này: một người cao to đẩy một đứa loắt choắt ngã xuống đất, đứa loắt choắt lau mặt một cái, định đưa chân gạt người cao to. Người cao to bèn nhấc chân giẫm lên bắp chân đứa loắt choắt, đắc ý nói: “Có phục không?”. Đứa loắt choắt quỳ rạp trên đất, rất tức giận bất bình, nhưng cậu là một người có giáo dục, bèn gào lên: “Phục rồi, phục rồi!!”.

Giang Lam Sinh đắc ý buông chân ra, ngẩng đầu lên đã thấy Vu Hoàn Chi đứng ở cửa với vẻ mặt lạnh băng.

Đồng Tứ ngoài cuộc tỉnh táo, càng thấy càng ngây ra, ví dụ cậu nhìn thấy người đẹp mĩ lệ xuất hiện phía sau Vu Hoàn Chi, ví dụ như cậu trông thấy sau khi Giang Lam Sinh thấy người đẹp thì vẻ mặt vui giận lẫn lộn.

Lúc bấy Vu Hoàn Chi vẫn đeo mạng đen, lấy lưỡi Vọng Tuyết ra khỏi tay áo, chỉ vào Giang Lam Sinh nói: “Cút ra ngoài”.

Đây là lần thứ hai Đồng Tứ thấy ma đầu Vu tức giận. Lần trước là lúc Vu Kinh Viễn mất tích. Ma đầu này càng lớn, sống càng thâm trầm, rất ít khi bộc lộ tâm trạng, hoàn toàn trái ngược với thiếu chủ Mục nhiều năm không có tiến bộ.

Giang Lam Sinh thấy người đẹp đó đã thần hồn điên đảo, bỏ qua cơn tức với Vu Hoàn Chi, xoa tay kêu gào: “Vu Hoàn Chi, chúng ta đấu một trận, ai thắng thì người đẹp sẽ thuộc về kẻ đó!”.

Vu Hoàn Chi còn chưa bằng lòng, người đẹp kia đã thản nhiên lượn ra từ sau y, xách váy đong đưa đi ra giữa sân, cười nói: “Giang lang, xem chàng đang nói gì kìa. Chàng và Vu lang mới đến đậu khấu[1], mà tôi đã tuổi phá qua[2], nếu một trong hai người có được tôi, há chẳng không tiêu thụ nổi. Chi bằng hai người đều theo tôi trở về Tây Vực…” Lời chưa dứt, người đẹp lại nhìn thấy Đồng Tứ ngã dưới đất, tấm tắc khen: “Ngoan quá ngoan quá”. Đoạn đưa tay véo nhẹ trên mặt Đồng Tứ.

Không nói đến chuyện dùng tuổi đậu khấu để hình dung hai thiếu niên làm người ta lạnh lòng, chỉ nguyện vọng phúc người Tề[3] của người đẹp này đã làm Đồng Tứ tám tuổi sợ mất mật.

Vu Hoàn Chi làm như không nghe thấy, tiến lên trước một bước, chỉ lưỡi Vọng Tuyết vào Giang Lam Sinh nói: “Tôi đấu với anh”.

Lúc này, Giang công tử ca mới nhận ra sự nghiêm túc của Vu Hoàn Chi. Cành liễu lắc nhẹ, ngày xuân ấm áp mà không khí lại chợt ngưng trọng.

Trong lòng Giang Lam Sinh có sự sợ hãi không nói lên lời, hắn ta cố tỏ vẻ thoải mái nói với người đẹp kia: “Nàng còn chưa thấy y, sao biết y đẹp hơn tôi? Nói không chừng y rất xấu đấy”.

Người đẹp lấy tay hất tóc, đắc ý cười nói: “Nghe y nói thôi cũng đủ mất hồn”.

Đồng Tứ vừa mới bò dậy từ dưới đất đã ngã xuống lần nữa.

Giang Lam Sinh quay đầu lại, chỉ kịp thấy mạng che mặt của Vu Hoàn Chi khẽ động, một bóng người như thoi đưa trên bầu trời, nhanh chóng lướt đến cạnh hắn ta, lưỡi Mộ Tuyết phá không như sấm sét phun tuyết. Giang Lam Sinh bèn vội vàng dùng một chiêu “Đông Vân Thiểm”, khó khăn né được một kích.

Nhưng hắn ta đã dùng hết bản lĩnh giữ nhà, còn Vu Hoàn Chi mới chỉ dùng dao mổ trâu cắt tiết gà.

Một khắc sau, ma đầu họ Vu giữa không trung chợt lóe về, mạng che mặt đen rơi ra, phấp phới rơi trên mặt đất. Ánh mặt trời chợt sáng chợt tắt, lưỡi Vọng Tuyết trong tay y nhanh chóng xoay tròn như bán xe, lập lòe, đảo mắt đã kề trên cổ Giang Lam Sinh.

Giang Lam Sinh nhìn Vu Hoàn Chi trân trân, đốm tím đã hết, chỉ có một khuôn mặt cực kỳ thanh tú, nhìn hắn ta chăm chú như cười như không.

Ma đầu họ Vu ham mê đúng bệnh hốt thuốc, đạp lên điểm yếu người khác. Y liếc nhìn người đẹp cũng đang kinh ngạc, cười nói với Giang Lam Sinh: “Sau này phàm là cô gái anh thích, anh thích một người, tôi cướp một người”.

Dứt lời, lưỡi Vọng Tuyết xoay vài vòng, cứa ba vết rách nhỏ trên cổ Giang Lam Sinh rồi nhanh chóng được Vu Hoàn Chi thu vào tay áo.

Giang Lam Sinh đờ đẫn giơ tay lên lau máu ấm trên cổ, lát sau lúng túng nói: “Không phải anh nội tức công tâm, tẩu hỏa nhập ma sao?”.

Vu Hoàn Chi đỡ Đồng Tứ dậy, quay lưng về phía Giang Lam Sinh mà vuốt tay áo, đoạn xoay mặt nhíu mày cười nhạt, nói một câu lạ lùng: “Nhờ phúc của anh, khỏe cả rồi”.

Giang Lam Sinh kinh hãi, nắm chặt quạt lông trắng lui về sau một bước, đốt ngón tay trắng bệch, run giọng nói: “Anh đã biết hết chuyện ở cung Mộ Tuyết năm ngoái rồi ư?”.

Vu Hoàn Chi không để ý tới, dẫn Đồng Tứ vào nhà chính, tìm rượu xoa bóp.

Tầng mây nhàn nhạt, cỏ xanh dưới liễu. Người đẹp trong sân si mê nhìn bóng lưng ma đầu họ Vu, lát sau nói: “Công tử Hoàn cung Mộ Tuyết, chậc chậc, mê hồn”.

Trên thực tế, Giang Lam Sinh tranh người đẹp này với Vu Hoàn Chi chỉ là xúc động nhất thời, nay sự việc đến nông nỗi này đã vượt ngoài dự đoán của hắn ta. Lúc bấy hắn ta nhàm chán nhìn người đẹp kia, hậm hực bỏ đi.

Còn về mấy ngày sau đó, người đẹp kia quấy rầy Vu Hoàn Chi thế nào thì đều là việc phía sau.

Dù sao một tháng sau, có người đẹp mới tuổi phá qua ôm trái tim vụn vỡ, đau đớn rời khỏi kinh thành.

Dù sao giang hồ của ba năm sau, kế tiếp Hoa Đào Nước Nam, Y Nhân Hai Mặt, lại chợt hiện ra một kỳ nữ – Đinh Nhụy.

Đinh Nhụy được người ta gọi là Hồ Điệp Mất Hồn, lấy mĩ nam mê hồn là ước mơ cả đời. Dung mạo nàng ta mĩ lệ, thướt tha nhưng tính hết sức hung hãn, háo sắc.

Đàn ông háo sắc thì được khen là phong lưu; phụ nữ háo săsc lại bị chê là đê tiện.

Năm đó, sau khi sự háo sắc của Hồ Điệp Mất Hồn bị truyền đi không ai không biết không ai không hiểu, là đương sự, Đinh Nhụy rất dũng cảm đứng ra nói một câu: đâu phải yêu phong trần, mà lỡ duyên tiền kiếp.

Đâu phải yêu phong trần, mà lỡ duyên tiền kiếp, hoa nở hoa tàn tự có lúc, chỉ nhờ chúa mùa xuân[4].

Những lời này đã dấy lên sóng to gió lớn trong giang hồ lúc bấy, nhân sĩ võ lâm lắm chuyện đua nhau đoán rốt cuộc “chúa mùa xuân” là ai. Lại có nhân sĩ biết chuyện bí mật tiết lộ, nói người này không phải ma đầu giang hồ Vu Hoàn Chi thì chính là cửu vương gia kinh thành Giang Lam Sinh.

Một ngày, có gia đinh trong Giang phủ hối hả kể lại lời đồn ấy cho công tử Giang nghe, công tử ấy phe phẩy quạt lông trắng, nói: “Năm ấy tôi đậu khấu, nàng phá qua, vốn cho là hai nhỏ vô tư, đáng buồn đáng tiếc phí hoài một bận. Chúa mùa xuân ấy không phải tại hạ”.

Lại một ngày, Mục Diễn Phong hào hứng chạy về trang Lưu Vân, lấy lời đồn này ra cười nhạo Vu Hoàn Chi. Một lát sau, ma đầu này thẳng người dậy từ trên ghế mây, thong thả hỏi một câu: “Đinh Nhụy là ai?”.[1] Đậu khấu豆蔻là loại thực vật lúc sơ hạ 初夏 (đầu mùa hạ) ra hoa, sơ hạ hãy còn là thịnh hạ, ví người vẫn chưa thành niên tầm 13, 14, cho nên gọi lúc thiếu niên chưa thành niên là “đậu khấu niên hoa” 豆蔻年华. Từ này thường chỉ con gái nhiều hơn.

[2] con gái 16 tuổi. Văn nhân thời cổ đem chữ “qua” 瓜 phân ra làm hai nửa như hai chữ “bát” 八, lấy đó để ghi tuổi.

[3] Người nước Tề có vợ cả và vợ lẽ. Ý ở đây là muốn cả hai chàng.🙂)

[4] Bài thơ Bốc toán tử của Nghiêm Nhị.
 
Một Màu Xuân
Chương 22


Đồng Tứ còn trẻ, ít va vấp. Với cậu mà nói, thế gian rất công bằng, sự vĩ ngạn của tạo hóa chính ở chỗ luôn có thể giữ hai chén nước thăng bằng.

Người bình thường, bình bình đạm đạm qua một đời; người có danh vọng thì tất đường đười lắm long đong lận đận.

Hồng nhan bạc mệnh, anh hùng thường rơi vào bước đường cùng, không gì không theo lòng tin vào sự công bằng trên thế gian của thằng nhãi Đồng Tứ.

Dựa vào nhận thức ấy, cậu cũng tin nếu một người quá hoàn mĩ thì ắt sẽ có một nhược điểm nổi tiếng không mấy người biết. Nhược điểm ấy ám chỉ đến chuyện Vu Hoàn Chi và Mục Diễn Phong không muốn gặp phụ nữ.

Nếu bàn về dáng dấp, Vu Hoàn Chi dịu dàng anh tà, thanh tú tột cùng, Mục Diễn Phong ngọc thụ lâm phong, khí vũ hiên ngang, thật là hiếm có trong thế gian.

Dù Mục Diễn Phong không muốn gặp phụ nữ là do Tiêu Mãn Y nhiều năm truy kích tới cùng tạo thành ám ảnh tâm lí nghiêm trọng, Vu Hoàn Chi đã quên mất Đinh Nhụy nhưng quả thực họ không có lí do không có hứng thú với phụ nữ cả.

Huống hồ mấy năm nay, Mục Diễn Phong còn qua lại không thoải mái với Tiêu Mãn Y hay bày tỏ lấy lòng, cchws Vu Hoàn Chi thì cô đơn lẻ loi, một hình một bóng, làm chàng độc thân bình đạm qua ngày.

Chị của Mục Diễn Phong là Mục Hương Hương từng nói, nếu Vu Hoàn Chi không sinh ra tình cảm cấm đoán với em trai mình thì ắt là cảm thấy con gái trong thiên hạ không đẹp bằng mình, so với việc lưu luyến phấn son thì chi bằng ra sông mà soi, nhìn gương dán hoa.

Đồng Tứ dã cho là phải, lại cảm khái, công tử và thiếu chủ trời sinh cái túi da tốt, đã hai mươi hai nhưng không thê thiếp thành đàn, thật là lãng phí tài nguyên, làm người ta rất mực đắn đo.

Mà suy cho cùng thì đây đều là họa do tạo hóa quá công bằng gây ra.

Lần gặp ở Khách châu này lại lật đổ hoàn toàn lòng tin của Đồng Tứ đối với tạo hóa.

Mục Diễn Phong lại dẫn Tiêu Mãn Y đi theo ngoài dự đoán của mọi người, thái độ Vu Hoàn Chi đối với Hoa Đào Nước Nam thì càng lúc gần lúc xa, cao thâm khó dò. Tuy cả đường Giang Lam Sinh vẫn chưa dấy can qua với ma đầu Vu, song bầu không khí giữa mấy người quỷ bí mơ hồ, thực sự làm Đồng Tứ không chịu nổi.

Cậu thật lòng bội phục thái độ hễ thấy Mục Diễn Phong là coi trời bằng vung bền bỉ kiên trì của Tiêu Mãn Y, càng phục sát đất đối với năng lực giao thiệp như cá gặp nước giữa mấy người của Hoa đào Nam.

Đồng Tứ cho rằng ở chung với công tử Hoàn và thiếu chủ thì thà rằng ra sau khoang ngồi cùng Vương Thất, Vương Cửu đang buồn tình. Dù sao trước đó hai người này phải chịu đau đớn thảm hại bị rình coi và hãm hại, cuối cùng còn bị cướp mất gia sản, có thể khiến người ta khuây khỏa hơn trong thời gian không công bằng này.

Thuyền đi thuận gió, một đường theo nước trôi xuống. Đợi vào Giang Nam, đội thuyền lui tới bèn nhiều hơn.

Giang Nam kênh rạch chằng chịt, dòng sông rải rác, phân bố lộn xộn khắp các thành trấn lớn nhỏ. Đã là tiết tháng Mười, hoa mai chớm nở, lượn lờ phiêu hương. So với kinh thành, khí hậu Tô Châu ấm áp hơn. Tuyết chưa rơi, trời đã se se.

Đoàn người xuống thuyền ở bến đò lớn rồi đổi sang ngồi hẹp dài thuyền ô bồng[1], vượt dòng qua trấn. Hai bên tường trắng ngói đen, ngõ cong sâu thẳm. Nước trong sóng biếc, đội thuyền đong đưa.

Giang Nam nhiều sông ngòi, nên phần lớn dân bản xứ đều biết chèo thuyền. Khi mặt trời chiều ngã về tây, trời cao nhuộm đầy hào quang, sóng nước lăn tăn phản chiếu sắc trời quang đãng, Vu Hoàn Chi cầm mái chèo đứng ở đầu thuyền hẹp dài, ngựa như dát một lớp vàng, đường nét gương mặt hoàn mĩ không một tì vết.

Nam Sương thò đầu ra từ trong thuyền ô bồng, cúi người sáp vào mép thuyền, nhìn xuống sóng nước. Nàng đưa tay vốc một ít nước, lạnh đến rùng mình. Vu Hoàn Chi đạp mái chèo ở đầu thuyền, Hoa đào Nam nghiêng đầu lộ ra răng nanh, ngượng ngùng nói: “Tôi chỉ ngó một tí thôi”.

Tiêu Mãn Y ló ra từ một chiếc thuyền ô bồng khác, cười nhạo Nam Sương kiến thức hạn hẹp.

Tuy đều là kì nữ giang hồ tiếng tăm lừng lẫy nhưng Tiêu Mãn Y ở cùng Nam Sương một tháng mà quan hệ vẫn căng thẳng. Một là nhân duyên của Hoa đào Nam rất tốt, cả ngày giao thiệp với mọi người, bận không có thời gian làm quen với y nhân Tiêu; hai là Tiêu Mãn Y ít nhiều có phần hục hặc với Nam Sương vì Mục Diễn Phong, tóm được cơ hội là châm chọc khiêu khích, khiến cả hai không thể giao lưu, không thể ở chung.

Chèo vào thành, buộc thuyền lên lỗ mũi trâu như ý ven bờ. Cả đám người mới xuống thuyền đã nghe tiếng ồn ã loáng thoáng trong thành.

Đã giờ Dậu mà cổng thành Tô châu vẫn mở. Mục Diễn Phong xa nhà mấy tháng, hôm nay nhìn thấy phong cảnh quê cũ thì hưng phấn lạ thường, chỉ coi tiếng ồn ào này là tình người nồng hậu của cố hương.

Vu Hoàn Chi lại nhận ra điểm khác thường. Đường lớn ở cổng thành thưa thớt người, dường như tiếng ầm ĩ truyền ra từ trong thành. Tô Châu không thể so với Phượng Dương, đa số mọi người đều nghỉ ngơi sớm, vả lại đã sắp vào đông, hoàng hôn đến sớm, bình thường lúc này trong thành đã im ắng từ lâu chứ không giống hôm nay.

Trang Lưu Vân ở ngoại ô tây nam Tô châu, nằm ở trong dãy núi vùng núi Thái Bình núi Linh Nham, diện tích mênh mông.

Từ Tô Châu thành đến trang Lưu Vân còn mất hai mươi dặm đường, bởi vì sắc trời đã tối, mọi người quyết định ngủ lại một đêm ở thành Tô châu.

Lầu gác mái hiên ở Giang Nam đều vểnh lên, trong tinh xảo có phóng khoáng, trong nhã nhặn có hoạt bát. Mấy người rẻ vào đầu hẻm, chợt có một người lao ra, đâm thẳng vào lòng Mục Diễn Phong đi đầu.

Vóc dáng người nọ gầy yếu, đụng phải Mục Diễn Phong thì phải lùi lại mấy bước mới đứng vững được. Thiếu chủ họ Mục giương mắt nhìn lên, không khỏi ngây ra chốc lát.

Người trước mặt mày thanh mắt sáng, mặc áo dài nam xanh nước biển, vẻ mặt kinh hái hoảng hốt. Nhưng những thứ này đều không phải điểm quan trọng, điểm quan trọng là tuy người này cải trang nam nhi, thật ra lại là một cô nương. Sau khi nhìn thấy Mục Diễn Phong, mặt của nàng ta đột nhiên đỏ bừng.

Ánh chiều tà dần tắt, mắt Mục Diễn Phong chứa sắc hoàng hôn, nói: “Vị cô nương này…”.

Không ngờ nàng ta hối hả vuốt tóc, ngượng ngùng nhìn thiếu chủ họ Mục, ủ tay trong vạt áo, vội vã vòng ngõ nhỏ đi về phía đầu đường.

Mục Diễn Phong kinh ngạc nhìn bóng lưng nàng, lát sau mới khẽ nhíu mày quay mặt lại, lẩm bẩm: “Là ai nhỉ…”.

“Chậc chậc, rẽ vào ngõ nhỏ gặp má hồng, thiếu chủ uy vũ”. Giang Lam Sinh cầm quạt đập tay, lại nhìn Tiêu Mãn Y với ánh mắt đồng cảm: “Đường truy phu lắm truân chuyên, có nhiều hồ li tinh yêu ma quỷ quái lắm”.

Hai mắt y nhân Tiêu đẫm lệ, mím môi, nước mắt lưng tròng nói: “Đúng là con đường không có lối về…”.

Hoa đào Nam thấy bầu không khí tốt đẹp, gật đầu rất hợp thời, than thở theo Tiêu Mãn Y: “Buồn thay!”.

Mục Diễn Phong thấy ba người ấy lạc đề đến chín tầng mây thì ngoảnh lại hỏi Vu Hoàn Chi: “Cậu Vu, cô gái vừa rồi trông rất quen, cậu có nhớ đã gặp ở đâu không?”.

Vu Hoàn Chi liếc thấy Tiêu Mãn Y đang nhìn tà dương, vểnh tai, lông toàn thân sắp xù cả lên thì khoan thai trả lời một câu: “Đó là chuyện của anh”. Dứt lời, y như như cười như không, trỏ vào một nhà trọ ở đầu đường rồi nói: “Chi bằng vào trong đó?”.

Bầu không khí hơi lạ. Hoa đào Nam là người đầu tiên vui vẻ đi theo, Giang Lam Sinh theo sát phía sau, thi thoảng quay lại liếc một cái. Đồng Tứ cảnh giác gọi Vương Thất Vương Cửu rồi cũng đi đến nhà trọ.

Để lại thiếu chủ Mục đứng đực ra tại chỗ, lát sau mới run giọng nói: “Cậu Vu, cậu lại hãm hại tôi? Rõ ràng tôi chỉ…” Còn chưa dứt lời đã thấy Tiêu Mãn Y nhìn mình với vẻ mặt cực kỳ bi ai, “Diễn Phong, sao chàng có thể làm ra chuyện bội tình bạc nghĩa này?”.

Đoàn người vào nhà trọ, ngồi quan bàn. Đợi thức ăn lên đủ, ăn một lúc lâu, đầu ngõ mới truyền đến tiếng kêu gào như đã hẹn của thiếu chủ Mục: “Ông trời ơi!”.

Mọi người nghe xong, hết sức ăn ý dịch ghế, nhường vị trí trống bên ngoài bàn tròn. Vu Hoàn Chi thong thả gắp sợi măng, nhai từ tốn rồi quay lại nói với tiểu nhị: “Thêm hai cái ghế”.

Trên bàn cơm giương cung bạt kiếm, sau khi đũa của Vu Hoàn Chi và Mục Diễn Phong tranh đấu qua lại mấy trăm hiệp, cuối cùng khi hai đôi đều nứt ra mới thôi. Vương Thất, Vương Cửu nhìn trân trân chiếc đũa lúc vung lên không trung, lúc chợt hiện về thì run rẩy, sợ hai người này sơ ý tổn thương người vô tội.

Giang Lam Sinh coi thường, Đồng Tứ thẹn mướt mồ hôi, Tiêu Mãn Y thì bực dọc. Chỉ mình Hoa đào Nam là bình tĩnh múc canh gắp đồ ăn cho mọi người. Nhân lúc ma đầu họ Vu và thiếu chủ họ Mục chưa vạ lây người vô tội, nàng chia đều thức ăn ngon cho mọi người, đồng thời sau khi đũa của hai người này nứt ra thì vô thức sờ đôi đũa tham sống sợ chết bên hông mình.

Mục Diễn Phong là một người độ lượng, hắn độ lượng ở chỗ một khi có người trêu chọc hắn, hắn chỉ cần báo thù đủ để hả giận thì quyết sẽ không gây chuyện với người kia nữa. Vì cớ ấy, hắn cho là mình sống rất biết phải trái.

Một trận chiến đũa vui vẻ dạt dào, Mục Diễn Phong cũng tạm thời cho rằng đã xả được giận. Lúc tiểu nhị run rẩy tới thu dọn, phát hiện hai đôi đũa gãy thành hai mươi mảnh nhỏ thì không khỏi run rẩy hồi lâu. Xa xa, chưởng quỹ cũng than thở: “Thói đời không theo nề nếp, buôn bán cũng khó khăn”.

Mục Diễn Phong đưa mắt nhìn bốn phía, bấy giờ mới phát hiện bên trong nhà trọ chỉ có lác đác mấy bàn thực khách, mới hỏi: “Chưởng quỹ, sao hôm nay buôn bán kém thế?”.

Tiểu nhị là một tay lắm lời, vừa nghe có khách hỏi thăm nhân vật mới việc mới thì mắt đã tỏa ra sự hưng phấn. Chưa chờ chưởng quỹ ra hiệu, gã đã xách ấm trà tiến lên, vừa thêm trà cho mọi người vừa nói: “Mấy vị khách quý không biết đấy thôi, gần đây thành Tô Châu đã xảy ra chuyện lớn đấy!”.

Bàn bên cạnh cũng có người nơi khác, dường như lúc ở gần thành cũng thấy trong thành ồn ào náo động hơi kỳ quặc, bèn chen miệng nói: “Tôi thấy bên cạnh ngõ cong trong thành, tụ tập một đám người, hình như còn thấy lão gia Đỗ của cục Tô Duyệt, có phải nhà lão gia Đỗ đã xảy ra chuyện không?”.

Mặc dù cục Tô Duyệt tên nghe dịu dàng song lại là tiêu cục hàng đầu Tô châu. Tiêu cục chỉ có mười tiêu sư, mỗi người đều có thể tự mình đảm đương một phía, không phải vật phẩm quý giá tinh xảo thì không hộ tống. Hộ tống mấy trăm lần, không có một lần sai lầm, vì vậy cực kì uy tín.

Tiểu nhị nhìn chưởng quỹ gật đầu đành chịu, bèn phấn khởi nói: “Phải kể từ ba năm trước…”.

Ba năm trước đây, tiểu thư Đỗ Niên Niên của cục Tô Duyệt Tô châu từng đính hôn với một công tử ca của một nhà môn đăng hộ đối, gọi tắt là công tử Giáp. Lúc đó, Đỗ Niên Niên đến tuổi cập kê, là nụ hoa chớm nở, mềm mại mĩ lệ. Hai gia đình thân thiết, quyết định đầu xuân năm sau để con cái thành hôn.

Nhưng ông trời không thành toàn cho. Trước khi công tử Giáp lấy Đỗ Niên Niên lại gặp một vị tiểu thư nhà giàu khác.

Tiểu thư này, gia cảnh giàu có, bối cảnh hiển hách, cục Tô Duyệt không thể sánh bằng.

Công tử Giáp và tiểu thư yêu nhau như thiên lôi câu địa hỏa[2], sau khi về nhà, chém đinh chặt sắt muốn xóa bỏ việc hôn nhân với Đỗ Niên Niên.

Nhân duyên không thành, thúc đẩy một mối lương duyên khác vốn là chuyện tốt. Dù sao Đỗ Niên Niên vẫn chưa xuất giá, danh tiếng chưa bị hao tổn, còn có thể tái giá đến nhà tốt.

Sau khi công tử kia Giáp kia ở rể nhà tiểu thư, lão gia Đỗ liền muốn dựa thế. Vì vậy năm sau, ông ta bèn dẫn Đỗ Niên Niên đi thăm hỏi công tử Giáp và tiểu thư nhà giàu.

Lần thăm hỏi này đã gây ra bước ngoặt.

Kể rằng, lúc đó đương đầu xuân, băng tuyết đang tan. Ban đầu iệc hôn nhân của Đỗ Niên Niên và công tử Giáp được định vào thời gian này, phí hoài lương duyên làm thiếu nữ hheets sức thương cảm, lững thững đi trong lâm viên của công tử, lại tình cờ gặp phải một vị công tử khác, ở đây gọi là công tử Ất.

Công tử Ất là em trai của tiểu thư nhà giàu, cực kỳ anh tuấn.

Đỗ Niên Niên vừa gặp đã thương công tử Ất này, trở về bèn nói với lão gia Đỗ, lão gia Đỗ liền nói việc này với công tử Giáp. Ai ngờ công tử Giáp và tiểu thư nhà giàu đều cực kì tán thành mối hôn sự này, nói việc hôn nhân của công tử Ất vốn là một tâm bệnh của hai người.

Ban đầu cũng chỉ nói qua việc này, lão gia Đỗ về nhà suy đi nghĩ lại, tự biết không xứng với gia đình này, bèn khuyên Đỗ Niên Niên bỏ suy nghĩ ấy.

Ông ta cho rằng chưa tình bén rễ ăn sâu, nhổ gốc không khó, việc này có thể cứ thế qua đi.

Ai ngờ Đỗ Niên Niên nhớ mãi không quên công tử Ất, chịu đựng đến mười tám tuổi, có vẻ không phải chàng không lấy. Lão gia Đỗ đành phải nhắc lại chuyện xưa, lại tới nhà giàu nọ.

Ngày đó, trùng hợp công tử Ất không có nhà, công tử Giáp và tiểu thư nhà giàu uống ít rượu, nghe lão gia Đỗ nói vậy thì vui mừng đồng ý.

Lão gia Đỗ cả mừng, về ngay nhà nói với Đỗ Niên Niên chuyện đã thành. Đỗ Niên Niên vui mừng khôn xiết, từ đầu hạ trở đi đã bắt đầu vội vàng may áo cưới.

Nào ngờ, mùa thu áo cưới vừa mới hoàn thành lại truyền tới một tin tức trời long đất lở. Công tử Ất lén định chung thân cùng một vị thiên kim nhà giàu, không phải người không cưới rồi.

Lần này Đỗ Niên Niên mặc kệ, khăng khăng đòi nhà công tử Giáp cho mình một lời giải thích.

Đáng ra, bị vứt bỏ một lần thì không sao, bị vứt bỏ hai lần, trên giang hồ khó tránh khỏi có kẻ nói năng linh tinh. Vả, nay nàng đã quá mười tám, đã không còn nhiều thời gian nữa.

Lão gia Đỗ lựa lời khuyên bảo Đỗ Niên Niên, bảo nàng từ bỏ việc lấy công tử Ất. Ngờ đâu Đỗ Niên Niên lại nói, nàng chỉ cầu một đời ở bên công tử Ất, dù làm thiếp, làm nô tỳ cũng cam tâm tình nguyện.

Một cô gái nhượng bộ đến nông nỗi này, quả thực làm người ta hết sức cảm thán.

Nhưng về không ngờ công tử Ất lại tiêu dao bên ngoài cùng vị thiên kim nhà giàu kia của mình. Đỗ Niên Niên quả quyết thu bọc hành lí, để lại thư cho người nhà, nói đi khắp cùng trời cũng phải tìm công tử Ất về.

Bận này thành Tô châu náo nhiệt là vì lão gia Đỗ bỏ ra số tiền lớn, một mặt xin người khác tìm con gái, một mặt xin người tìm công tử Ất, nói rõ ràng mối hôn sự này.[1] là một loại công cụ giao thông đặc biệt của vùng sông nước Thiệu Hưng 绍兴 tỉnh Triết Giang 浙江, nhân vì mui thuyền được sơn đen nên có tên gọi như thế.

[2] Lúc núi lửa phun trào sẽ có chớp xuất hiện, người xưa bèn tổng kết thành thiên lôi câu địa hỏa, là một hiện tượng tự nhiên, ám chỉ tình yêu cực kì mãnh liệt, cảm tình nhanh chóng phát triển.
 
Một Màu Xuân
Chương 23


Tiểu nhị trầm bồng du dương kể hết câu chuyện, rồi lại than thở chưa thỏa mãn: “Theo tôi, công tử Ất kia chỉ cần cưới Đỗ Niên Niên hưởng phúc người Tề là được. Dù sao trên đời này, có nhiều đàn ông tam thê tứ thiếp mà”.

Nghe xong, vẻ mặt Vu Hoàn Chi như có điều suy nghĩ. Khánh bàn bên lại bảo: “Chỉ nghe anh nói về công tử Giáp công tử Ất, không biết hai người này rốt cuộc là người phương nào?”.

Tiểu nhị thần bí lắc đầu nói: “Không thể nói không thể nói, thân phận công tử Ất này tôn quý, phàm phu tục tử như chúng ta há có thể tùy tiện bàn tán? Nếu mấy vị thật sự muốn nghe thì chi bằng đến cửa nhà họ Đỗ mà xem, người ở đó nhiều lắm”.

Chưởng quỹ ho một tiếng, tiểu nhị ngượng ngùng cười, vứt khăn lau lên vai rồi xách ấm trà ra phòng bếp phía sau hỗ trợ.

Mục Diễn Phong thấy Vu Hoàn Chi đang suy nghĩ thì trầm ngâm một lát, nói: “Cậu Vu, tôi luôn cảm thấy có cái gì lạ lắm”.

Vu Hoàn Chi khẽ nhíu mày, đặt chiếc đũa lên trên bát, cũng nói: “Ừ, câu chuyện này râu ria không đáng kể, luôn cảm thấy giống như đã từng nghe thấy”.

“Nhà họ Đỗ, cục Tô Duyệt…” Mục Diễn Phong suy tư nói, bỗng nhiên thông suốt, vỗ hai tay kêu lên: “Cô nương ở đầu ngõ vừa rồi!”.

Tiêu Mãn Y tò mò hỏi: “Chàng nói cô nương kia chính là Đỗ Niên Niên?”. Suy nghĩ một lát, Tiêu Mãn Y lại thoải mái cười nói: “Vậy là được rồi, cô nương kia thích công tử Ất, không nhìn trúng chàng”.

Giang Lam Sinh lại hỏi: “Không phải Đỗ Niên Niên đã rời nhà đi tìm công tử Ất rồi sao, sao vẫn còn ở trong thành Tô Châu?”.

Đồng Tứ suy đoán nói: “Có thể mới vừa đi?”.

Giang Lam Sinh lắc đầu, xoay người bảo chưởng quỹ gọi tiểu nhị tới, hỏi: “Đỗ Niên Niên mà vữa nãy anh kể đã rời nhà bao lâu rồi?”.

Tiểu nhị kia bấm tay tính toán: “Chắc cũng được hai ba ngày rồi”. Nói đoạn, gã lại bổ sung một câu: “Theo tôi, người phụ tình trong thiên hạ chủ yếu là đàn ông. Cũng chưa nghe nói cô nương nhà ai đính hôn rồi, gần đến ngày thành hôn lại bỏ chạy với kẻ khác”.

Nam Sương đang uống canh, nghe thấy lời này thì phun cả một muôi canh lên vạt áo, sặc đến ho khan.

Vu Hoàn Chi liếc mắt nhìn nàng như cười như không. Giang Lam Sinh móc khăn tay ra, đang định lau giúp nàng thì ma đầu họ Vu chợt nói: “Lau không sạch đâu, lát nữa thay quần áo đi”.

Hoa đào Nam nghe thấy lời ấy, cho là có ý đòi lại bộ áo tơ hồng đó, vội vàng hăng hái bằng lòng.

Sau hơn tháng ở chung, Nam Sương cảm thấy thái độ của Vu Hoàn Chi với mình có phần khó bề phân biệt. Lúc đầu ở nhà trọ thành Phượng Dương, y vẫn nho nhã lễ độ, quan tâm săn sóc. Sau đó hình như nàng đã chọc giận vị ma đầu này, làm y đâm ra phiền chán với mình.

Nam Sương nghĩ ngợi, nàng chọc tức ma đầu tổng cộng hai lần.

Lần đầu tiên là vào đêm cuối cùng ở nhà trọ thành Phượng Dương. Lúc nàng xông vào đòi Vu Hoàn Chi áo tơ hồng, công tử Hoàn giảo hoạt đã đưa ra ba yêu cầu với nàng để đổi. Ai ngờ sau khi nàng tự cho là đúng, hôn y một cái, ma đầu lại cau mày tỏ vẻ bất mãn.

Lần thứ hai là ở trên thuyền khách. Mấy ngày sau khi giương buồm, Nam Sương dần quen thuộc với một người chèo thuyền. Người chèo thuyền đó chỉ mười sáu mười bảy tuổi, tổ tiên đều lấy sông để sống, lấy thuyền làm nhà. Hắn thấy Nam Sương đẹp như tiên thì luôn miệng khen nàng xinh đẹp.

Lúc bấy gió lớn, hoa đào Nam và người chèo thuyền ngồi ở mũi thuyền, nói chuyện trời đất tràng giang đại hải. Người chèo thuyền kích động, hỏi Nam Sương đã có hôn phối chưa. Nam Sương hậm hực nói có lẽ sắp lấy người khác rồi, còn lấy ông anh kết nghĩa của mình nữa.

Người chèo thuyền nghe xong, vẻ mặt như cha mẹ chết, dường như rất tiếc nuối khi phải nhìn nàng bái thiên địa vì không bằng người ta.

Mãi sau, người chèo thuyền hoàn hồn khỏi nỗi tiếc nuối, tiện đà hỏi: “Vậy cô thích anh cô không?”.

Nam Sương gật đầu cười nói: “Thích chứ”. Nghĩ một lát, lại thêm câu: “Anh tôi có rất nhiều người thích, cô nương Tiêu cũng thích anh ấy”.

Vừa dứt lời, hai mắt người chèo thuyền tỏa ra vẻ kì dị như chết đi sống lại, tay bấu chặt mạn thuyền, cẩn thận hỏi: “Vậy cô không buồn ư?”.

Nam Sương ngây ra nửa khắc, nói: “Có gì mà buồn”.

Người chèo thuyền giơ tay vỗ lên mạn thuyền, cười to nói: “Thì ra cô chỉ có tình huynh muội với anh cô!” Dứt lời, hắn lại suy nghĩ nửa khắc rồi run như cầy sấy hỏi: “Cô nương Nam, vậy cô thích tôi không?”.

Anh chèo thuyền này không biết, hỏi Nam Sương đầu óc thiếu gốc rễ có thích ai không giống như hỏi một con chim có biết bay không, hỏi một con cá có chết đuối trong nước không.

Thế là, hoa đào Nam không chút nghĩ ngợi gật đầu: “Thích chứ”.

Vẻ mặt người chèo thuyền mừng mừng tủi tùi, lát sau cầm lấy tay Nam Sương, run rẩy nói: “Nếu việc hôn nhân của nàng và anh nàng không thành…”.

Nam Sương hiểu ý vỗ mu bàn tay hắn, nói: “Nếu việc hôn nhân của tôi và anh tôi không thành thì việc hôn nhân lần sau, tôi sẽ viết thư thông báo cho anh trước, để anh tới kịp”.

Bỗng như đêm gió xuân trôi, rừng lê, hoa rộ sắc tươi muôn nghìn[1] chính là tâm trạng lúc bấy của người chèo thuyền, hắn lại cầm chặt tay Nam Sương, gọi: “Nàng Sương…”.

Bỗng nhiên có người ho khẽ một tiếng. Hoa đào Nam ngoảnh lại thấy một người áp xanh phấp phới, tóc đen bay bay, không biết đã đứng sau lưng bao lâu.

Chẳng biết tại sao, trái tim nàng bỗng nhiên đập rộn như có tật giật mình, vội vàng bước nhanh tới cạnh y, gọi: “Công tử Hoàn…”.

Vu Hoàn Chi không đáp, lại lạnh lùng liếc ra phía sau nàng. Người chèo thuyền đó run rẩy, chán nản bỏ đi.

Gió sông rất to, trút vào quần áo Nam Sương. Ánh mắt Vu Hoàn Chi có vẻ mơ màng trong gió, một lúc lâu sau mới chắp tay xoay người, đi mấy bước thì quay đầu nói: “Đi theo tôi”.

Nam Sương theo ma đầu họ Vu lượn tới bên trái thuyền. Hành lang nhỏ hẹp, cứ cách một đoạn là có cột chống. Nước sông cuồn cuộn nổi sóng lớn, áo Vu Hoàn Chi tung bay, lẻ loi trước sông, mãi mới hỏi: “Cô không muốn lấy thiếu chủ?”.

Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt, Nam Sương gật đầu như giã tỏi nói: “Muốn muốn muốn”.

Vu Hoàn Chi liếc mắt, lạnh nhạt liếc nàng một cái rồi nói: “Nói thật”.

Nam Sương thở dài một hơi, thận trọng nói: “Quả thực không tính là rất muốn”. Thấy vẻ mặt Vu Hoàn Chi thay đổi, nàng lại vội vàng nói: “Thật ra miễn cưỡng thì cũng được…”.

Lúc bấy Vu Hoàn Chi mới xoay người, vẻ mặt trầm như hồ lặng, nhưng tóc đen như mực vẫn tung bay ở phía sau, vô duyên vô cớ quấy nhiễu lòng người. Hoa đào Nam thấy tim lại đập nhanh hơn, nghe tiếng Vu Hoàn Chi mang nụ cười: “Thế cô muốn gây họa cho ai?”.

Nam Sương kêu oan trong lòng. Trời xanh chứng giám, hoa đào nàng từ khi sinh ra đến nay mới chỉ nảy sinh ý muốn gây họa cho Vu Hoàn Chi mà thôi, đối với những khác người đều ngây thơ thậm chí còn thánh khiết ấy chứ.

Thế nhưng, thông minh như hoa đào Nam, tự biết không nên nói với ma đầu Vu ý nghĩ này. Nàng suy tư một lúc lâu, tìm đáp án lập lờ nước đôi, nói: “Chuyện gây họa cho người phải xem thiên thời, địa lợi, nhân hòa, ví dụ như…”.

Còn chưa nói xong, người Nam Sương xoay tròn, đã bị Vu Hoàn Chi chống trên vách khoang. Vu Hoàn Chi chống hai tay lên vách, bó buộc nàng trong một tấc vuông. Mặt hai người quá sát, đầu óc Nam Sương trở nên trống rỗng, chỉ nghe giọng nói trong trẻo của ma đầu họ Vu bay tới: “Bây giờ, không có thiên thời, địa bất lợi, người không hòa, cô có muốn gây họa cho tôi không?”.

Hoa đào Nam tự dưng cảm thấy giận dữ, nàng thầm chửi mắng trong lòng, giận dữ muốn nói vừa nãy tôi đã muốn gây họa cho anh, lúc này chỉ nghĩ gây họa đến tận xương tủy anh. Nhưng lời đến mép lại thành một câu dứt khoát: “Không muốn”.

Nục cười ở khóe miệng Vu Hoàn Chi như mai mùa đông nở được một nửa bỗng bị cái giá rét đông cứng lại. Nam Sương thở dài một hơi trong lòng, thầm nghĩ lần trước ở nhà trọ Phượng Dương, lanh chanh hôn một cái đã thành sai lầm lớn, lúc này tuyệt đối không thể khiến ma đầu Vu biết mình vẫn muốn gây họa cho y được.

Nghĩ như vậy, tay trái lại bị Vu Hoàn Chi nhẹ nhàng cầm lấy, từ từ đặt tới bên môi. Đôi môi mềm mại ướt át làm cả người Nam Sương run lên, cảm giác tê dại ở ngón tay lan ra toàn thân nhanh như chớp.

“Giờ thế nào? Còn muốn không?” Tiếng Vu Hoàn Chi như cách tầng hơi nước, còn đôi mắt lại xán lạn như sao, nhìn chằm chằm đến mức người ta chỉ cảm thấy non sông đều thất sắc.

Hoa đào Nam đờ đẫn giây lát, vẫn cố giữ chút tỉnh táo cuối cùng, lắc đầu cười ngây ngô nói: “Yên tâm đi, tôi không muốn”.

Vẻ mặt Vu Hoàn Chi lạnh lẽo trống vắng như bãi sông đìu hiu sau khi triều rút. Lát sau, y lại cong khóe môi lộ ra một nụ cười như bóng câu qua khe cửa. Nụ cười ấy khiến lòng Nam Sương chùng xuống. Dường như có ai ném cục đá vào nước sông khi triều rút, phát ra những tiếng ùm lác đác giữa sông sóng núi xanh, càng lộ vẻ hiu hắt.

Lúc ma đầu họ Vu xoay người biến mất ở cuối hành lang trên thuyền, Nam Sương đã hao hết sức lực toàn thân, một mình ngã ngồi trên mặt đất, lát sau mắng: “Má, lại cháy rồi”.

Mấy ngày sau đó, ma đầu Vu bèn dựa theo nguyên tắc lúc gần lúc xa, ở chung với Hoa Đào Nhỏ theo cách đạo khả đạo, phi thường đạo[2].

Trăn trở mấy bận, Nam Sương tổng kết rằng, sự bất mãn của Vu Hoàn Chi với mình ít nhiều là vì mình có ý muốn “gây họa” cho y. Tục ngữ nói cởi chuông phải do người buộc chuông, nếu muốn cởi bỏ khúc mắc của ma đầu họ Vu thì mình phải tỏ rõ không còn ý muốn gây họa cho y nữa, đồng thời còn phải lấy lòng.

Dù sao chỉ có dỗ cho y vui vẻ thì bộ áo tơ hồng ấy mới có thể tới tay.

Mọi việc đều cần một điểm bắt đầu, mọi việc khó thì chỉ khó ở điểm bắt đầu ấy.

Hoa đào Nam suy đi nghĩ lại về khoảng thời gian quen biết ma đầu Vu hơn một tháng, cuối cùng phát hiện lúc ma đầu làm đèn cung đình, tâm trạng tốt lạ thường, đối nhân xử thế tốt lạ thường.

Chuẩn bị mọi việc, chỉ thiếu gió đông.

Hoa đào Nam hết sức phấn khởi kéo cửa ra, trước mắt lại là Vu Hoàn Chi bỗng nhiên ngẩng đầu lên.

Ma đầu họ Vu đang cầm áo tơ màu hồng trong tay như công tử đến cửa cầu hôn, gương mặt vẫn mang theo thần thái khó bề phân biệt. Y thấy Nam Sương thì cười ôn hòa, nụ cười đã lâu không thấy làm hoa đào Nam run rẩy trong lòng.

Vu Hoàn Chi đưa áo tơ hồng trong tay cho nàng, nói: “Tôi nghĩ cô muốn thay xiêm áo”.

Ngón tay thon dài như ngọc lướt qua trên lụa hồng, hiện ra vẻ đẹp khôn tả. Nam Sương ngẩng đầu kinh ngạc nhìn ma đầu họ Vu, bỗng chốc quên mất vật đang bưng trong tay chính là thứ khiến mình mong nhớ ngày đêm, chỉ ngây ra nói: “Tôi còn chưa hoàn thành ba yêu cầu đó mà”.

Vu Hoàn Chi nhướng mày nhìn Nam Sương. Ban đêm, nàng chỉ chừa lại một búi tóc vòng cung đơn giản trên đầu, mái tóc đen dài tới thắt lưng, mái tóc đen nhánh làm nổi bật đôi má hồng như say, đôi mắt trong veo óng ánh như suối.

Ma đầu họ Vu chợt giơ tay lên, trượt xuống theo tóc Nam Sương, chọn một lọn tóc đen từ vai nàng, đặt lên môi hôn nhẹ, hương thơm phả vào mặt: “Bỏ đi”.

Y lại cụp mắt nhìn áo tơ kiều diễm trong tay Nam Sương, lặng lẽ cười nói: “Thay đi, nhất định rất đẹp”. Dứt lời, y xoay người đi vào trong ánh đèn lờ mờ của hành lang.

Nam Sương ngơ ngác tại chỗ, không kìm lòng được nhón lọn tóc vừa rồi lên, chỗ tay chạm vào bỏng như bị ngọn lửa nóng rực thiêu đốt.

Cơn nóng rực ấy lại như thiêu đốt cả đáy lòng Nam Sương, nàng lúng túng gọi: “Công tử Hoàn”.

Bóng lưng dong dỏng cao lớn ở đầu hành lang bỗng nhiên quay đầu lại.[1] Bài hát tuyết trắng tiễn phán quan họ Vũ về kinh của Sầm Tham.

[2] Đạo mà có thể nói rõ ràng minh bạch ra hết thì không phải là Đạo thường hằng bất biến – Lão Tử.
 
Một Màu Xuân
Chương 24


Bóng dáng dong dỏng ấy đứng yên ở phần cuối hành lang ánh đèn lay động, tựa như một vầng trăng sương xa xôi trong ngân hà. Nam Sương bỗng chẳng biết tại sao muốn gọi y lại, còn bất giác đi tới phía y.

Nàng dừng lại trước mặt Vu Hoàn Chi, con mắt trong suốt nhìn thẳng vào mắt y như màu nước phản chiếu sắc trời.

Một lúc lâu sau, Nam Sương vuốt lụa bóng trong tay, lúng túng nói: “Tôi mặc xiêm áo này cho anh xem nhé?”.

Ánh mắt Vu Hoàn Chi càng thêm mờ mịt, như thể thu nạp cả bóng chồng vào mắt. Y thong thả tự đắc nhìn dáng vẻ tay chân luống cuống của hoa đào Nam, mãi mới nói: “Về phòng cô đi”.

Nam Cửu Dương dạy Nam Sương rằng, đối nhân xử thế phải biết có qua có lại với toại lòng nhau, thế thì quan hệ mới hòa hợp, mới dài lâu, nếu nợ quá nhiều ân tình thì cuối cùng kẻ thua thiệt lại là mình.

Thế là Nam Sương nhận một quả bàn đào của Vu Hoàn Chi bèn muốn mau chóng đáp lễ mấy quả mận, dù sao nợ ân tình của ma đầu giang hồ không phải chuyện gì tốt.

Vu Hoàn Chi mới theo hoa đào Nam vào phòng đã thấy nàng vắt áo tơ lên trên bình phong, vội vàng rót nước cho mình rồi vội vàng lấy bọc hành lí ra từ gian trong, vùi đầu tìm kiếm một bận, sau khi lấy ra vài cái túi giấy nhỏ thì chạy ngay ra khỏi phòng.

Chỉ chốc lát sau, Nam Sương bưng một cái khay gỗ về phòng. Trong khay bày ba đ ĩa bánh: bánh phù dung, bánh hoa quế, bánh dứa.

Hoa đào Nam đặt bánh trước mặt Vu Hoàn Chi rồi ngồi ngay trước mặt y, chống cằm dòm bánh nuốt nước miếng, nói: “Cho anh ăn đấy”.

Vu Hoàn Chi ngạc nhiên nhìn món ngon đầy bàn, ngước mắt lên nhìn Nam Sương hỏi: “Cô mua à?”.

Nam Sương gật đầu, nằm xuống bàn nói: “Mua lúc mới tới Tô châu, anh không thấy thôi”. Nói rồi lại chỉ vào đ ĩa bánh dứa nói: “Món này khá hiếm, lúc mua chỉ còn lại một ít, Yên Hoa phải cứ tranh với tôi, tôi không tranh được bèn mặc cô ấy lấy một túi nhỏ”.

Vu Hoàn Chi nghe xong lời ấy thì bật cười xoa trán, không khỏi nghĩ tới phần lớn chỗ bánh dứa lấy từ Nam Sương đều được Tiêu Mãn Y tặng cho Mục Diễn Phong thì thích chí nhón một miếng lên nếm thử.

Vào miệng là tan, hương vị ngọt ngào lượn quanh lưỡi. Nam Sương nhìn đến nuốt nước bọt.

Vu Hoàn Chi cụp mắt đẩy đ ĩa bánh tới trước mặt hoa đào Nam, khoan thai nói: “Ăn một ít đi, tôi không thích ngọt”.

Nam Sương nhịn một lúc lâu mới đau khổ lắc đầu, chỉ vào áo tơ hồng vắt trên bình phong, nghiêm túc nói: “Cha tôi nói, đối nhân xử thế phải có qua có lại”.

Vu Hoàn Chi “à” một tiếng rồi lộ ra nụ cười sâu xa: “Sao không thấy cô mặc xiêm áo cho tôi xem?”.

Hoa đào Nam vỗ gáy, vội vàng vòng raa sau tấm bình phong.

Ma đầu họ Vu buồn cười nhìn lụa đỏ biến mất khỏi bình phong gỗ đen. Lát sáu y lại bỏ bánh vào giấy dai, tỉ mỉ gói kỹ rồi dùng dây nhỏ buộc chặt, đặt vào bọc hành lí của Nam Sương.

Bọc hành lí của hoa đào Nam ngổn ngang, căng phồng toàn là mấy thứ linh: cây thăm bằng trúc có hình mặt người tinh mua ở thành Phượng Dương, hoa phượng tiên đỏ thẫm, hoa tai đồng tinh xảo, hòn đá trắng nhặt ven đường, bát đ ĩa có in hoa văn hoa đào…

Vu Hoàn Chi nhớ lúc dẫn nàng rời khỏi các Vạn Hồng, bởi vì đi quá vội, quần áo trên người Nam Sương đều là của Mục Diễn Phong. Có thể tưởng tượng bao nhiêu vật này đều là nàng thu lượm được mấy ngày nay.

Có thể thấy mặc dù hoa đào Nam thông minh nhưng chưa mất tính trẻ con lại không am hiểu tình yêu.

Nhưng dù nàng hồ đồ, Vu Hoàn Chi lại là người sáng. Mấy ngày nay, bản thân làm chuyện vượt khuôn phép với Nam Sương vô số kể, dù hoa đào Nam bất kể hiềm khích lúc trước nhưng ma đầu Vu cũng kiên quyết có trách nhiệm.

Giữa mùa hạ năm nay, lúc Vu Hoàn Chi còn đang ở trang Lưu Vân, mới vừa nghe nói chuyện phái Thiên Thủy kết minh với các Vạn Hồng, y đã nhận được hai phong thư lạ thường. Một phong đến từ người cha mất tích nhiều năm – Vu Kinh Viễn; một phong, đến từ minh chủ võ lâm tiền nhiệm lánh đời ẩn cư đi du sơn ngoạn thủy – Mục Chiêu.

Bởi trước kia Vu Kinh Viễn và ma đầu họ Vu có xung đột, ông từng thề với con trai, mỗi năm nhiều nhất chỉ mười chữ nên trên bức thư này lời ít ý nhiều: cướp hôn Hoa Đào Nước Nam rồi bức hôn.

Khi Vu Hoàn Chi chạy tới các Vạn Hồng, thư của Mục Chiêu mới khoan thai tới muộc.

Tính tình Mục Diễn Phong giống cha đến bảy phần, ba phần khác là sự cáo già mà Mục Chiêu tu luyện ra sau nhiều năm nhậm chức minh chủ. Ông biểu đạt tràng giang đại hải lòng cảm kích ma đầu họ Vu quản lí trang Lưu Vân, tỉ tê nhắc đến tình thân động lòng người của Vu Hoàn Chi hơn hẳn cha, cuối cùng nhấn mạnh từng chữ cho rằng, trang Lưu Vân của Giang Nam cần một thiếu phu nhân, để giảm bớt gánh nặng cho thiếu chủ Mục và Vu Hoàn Chi. Cuối cùng Mục Chiêu tổng kết, ứng cử viên tốt nhất cho vị trí thiếu phu nhân chính là Hoa Đào Nước Nam – Nam Sương.

Lúc đó, Vu Hoàn Chi không biết quan hệ giữa Vu Kinh Viễn và Mục Chiêu đã căng thẳng. Y kết hợp ý của hai phong thư lại, đưa ra kết luận cướp hôn Hoa Đào Nước Nam, để thiếu chủ Mục ép hôn thành thiếu phu nhân.

Vì vậy, hoa đào Nam đáng ra phải ở giường của mình bị chuyển đến giường Mục Diễn Phong.

Vu Hoàn Chi nghĩ thầm, bây giờ có lẽ là y đã nhìn trúng Hoa Đào Nước Nam rồi, vì vậy y tất phải ngăn cản việc hôn nhân của Mục Diễn Phong và Nam Sương. Vả lại hai người này xưng anh gọi em, rất vui vẻ, hoàn toàn không vượt quá tình yêu nam nữ.

Núi cao hoàng đế xa, về phần cha y và minh chủ có thể chém trước tâu sau.

Điều hóc búa nhất lại là bản thân Nam Sương. Vu Hoàn Chi bật cười nhìn đồ đạc linh tinh nhặt nhạnh đầy bọc hành lí, thầm nghĩ dù Nam Sương lanh lợi nhưng có vài phương diện lại hết sức trì độn. Dục tốc bất đạt, hướng dẫn từng bước mới là chính đạo.

Sau tấm bình phong khẽ động, Vu Hoàn Chi liếc mắt nhìn lại, chỉ thấy một đóa sen hồng xinh tươi bước ra từ sau tấm bình phong. Vóc dáng thướt tha, áo lụa đỏ hừng hực, áo váy hồng nhạt nở rộ hoa sen lấp ló sau tà áo, cánh hoa non nớt kín đáo không lộ. Mái tóc đen rủ bên mặt, đổ xuống áo quần. Mày như sương khói, lạnh lùng mà êm dịu. Mi dài như quạt, bọng mắt ngọa tằm làm đôi mắt như nước mùa thu có thêm cái ấm áp của hoa đào ngày xuân. Dưới chóp mũi cao thằng là đôi môi hồng hào hơi cong, lộ ra răng nanh và lúm đồng tiền, thanh tú lại ngờ nghệch.

Ma đầu họ Vu cũng cong khóe miệng trong ánh nến chập chờn, y cúi người nhặt một chiếc thoa ngang khảm ngọc và mấy đóa hoa đào tự trong bọc hành lí của Nam Sương. Đi thẳng tới trước mặt Nam Sương, Vu Hoàn Chi vén phần tóc rủ xuống vai nàng ra phía sau, ánh mắt rơi vào dấu hoa đào như ẩn như hiện giữa vạt áo, cười nói: “Dấu hoa đào này thật đẹp”.

Dưới xương quai xanh, hai đóa hoa đào liền đế đầu cành đang nở rộ. Nam Sương cụp mắt mấp máy môi, im lặng không lên tiếng.

Vu Hoàn Chi bỗng đến gần một bước, mùi hương ôn hòa thơm ngát ào đến. Y tháo búi tóc vòng cung khi trước của Nam Sương ra rồi chọn vài lọn tóc đen ở đỉnh đầu nàng, búi thành một cái búi tóc hình hoa đơn giản, đoạn dùng thoa ngang khảm ngọc cố định lại, cài mấy đóa hoa đào bên tóc mai.

Lời của y như sương như khói, xen lẫn hơi thỏa ấm áp, lượn lờ xung quanh: “Đẹp lắm”.

Đôi má hoa đào Nam hây hây, bên tai đỏ bừng, dã tâm nổi lên, ánh mắt đảo quanh, lát sau mới tìm được đề tài rồi hỏi: “Bánh đâu?”.

Vu Hoàn Chi quay đầu lại liếc nhìn đ ĩa không trên bàn, cười nói: “Cô giữ lại đi”.

Nam Sương cúi đầu suy nghĩ một hồi, lại nói: “Vậy snh đưa đèn cung đình chưa làm xong cho tôi đi”.

Thấy Vu Hoàn Chi hơi kinh ngạc, nàng Sương vội vàng giải thích: “Tôi thấy anh thích chiếc đèn cung đình đó, chi bằng tôi làm xong sẽ tặng anh, coi như là có qua có lại”.

Vu Hoàn Chi mỉm cười: “Tôi chỉ biết mộc đào người tặng ném sang, quỳnh dao ngọc đẹp mang ra đáp người[1]…”.

Quỳnh dao tức ngọc đẹp, mà mĩ nhân như ngọc.

Tất nhiên Nam Sương không hiểu rõ cách nói ẩn dụ như vậy. Nàng đang cúi đầu ngẫm nghĩ thì Vu Hoàn Chi lại vỗ mặt nàng, lược bỏ câu nói tiếp theo, thản nhiên rời đi.

<i>Về sau nếu lấy tôi, không cứ phải mũ phượng khăn choàng, ăn mặc như thế đã đẹp nhất rồi.</i>

Nam Sương nhìn cảnh cửa gỗ vẫn còn đong đưa, trong đầu nổ ầm, tựa như có ý nghĩ gì trào lên muốn ra ngoài, như cầu vồng vắt ngang bầu trời sau cơn giông tố.

Mà Nam Sương gặp chuyện, chuyện dễ thì giải quyết; chuyện khó thì khắc phục; chuyện nghi hoặc thì không nghĩ đến, thuận theo tự nhiên.

Thế nên chuyện trên đời đến tay hoa đào Nam hoặc giải quyết cực nhanh hoặc tiêu tan thành mây khói. Vì vậy cuối cùng cầu vồng vẫn chưa bắc lên. Sau một đêm mất ngủ hiếm có, Nam Sương tổng kết ra: một, mình đối với Vu Hoàn Chi không tầm thường; hai, hình như có cảm xúc khó bề phân biệt sinh sôi như cỏ hoang; ba, so với lấy Mục Diễn Phong, Âu Dương Hi, người qua đường Ất Bính Đinh thì mình muốn lấy Vu Hoàn Chi hơn; bốn, ăn cơm chúa múa tối ngày, sau này phải tranh thủ thời gian tạ ơn Vu Hoàn Chi; năm, sự việc càng ngày càng không ổn; sáu, về sau đừng suy nghĩ, nhọc lòng.

Sáng hôm sau, Đồng Tứ mướn xe ngựa từ sớm, còn chuẩn bị cho Mục Diễn Phong và Vu Hoàn Chi mỗi người một ngựa.

Sau khi ăn sáng xong, sương sớm chưa tan, mọi người đã chạy về hướng trang Lưu Vân.

Trang Lưu Vân nằm ở một chỗ đất bằng trên núi Thiên Bình và núi Linh Nham, diện tích mênh mông, dẫn suối trong núi vào trang, đào hồ Nguyệt làm hồ bên trong.

Mấy người phi nước đại một ngày, dọc đường núi đầy hoa dại, phong đỏ tung bay, vạn niên thanh cao vút chằng chịt. Đến khi mặt trời chiều ngã về tây mới thấy rõ nước hồ Nguyệt quanh co khúc chiết chảy vào tòa nhà. Có hai người đứng trước cửa gỗ lim đóng kín trong dãy tường trắng ngói đen dằng dặc của trang Lưu Vân.

Mục Hương Hương nghe tiếng móng ngựa phi nhanh, bánh xe lộc cộc từ xa thì cuống quýt vỗ tay Tống Tiết, khẩn trương nói: “Về rồi về rồi”.

Tống Tiết nắm lấy tay Mục Hương Hương, nói: “Vợ ơi, ban đầu việc này là hiểu lầm, đợi em Phong về, chúng ta giải thích với nó”. Tuy nói thì bình tĩnh nhưng Tống Tiết đã run như cầy sấy với vẻ mặt kinh hoàng.

Mục Hương Hương lườm hắn ta một cái, dậm chân nói: “Em Phong dễ lừa nhưng chàng lừa được Hoàn Chi không? Hơn nữa, trước kia ngay cả người đẹp tuyệt trần như Tiêu Mãn Y mà nó còn thấy phiền như thế. Bận này nó chọn Hoa Đào Nước Nam thì tất sẽ không thèm ngó ngàng gì đến các cô nương khác nữa!”.

Đầu đường bụi mù nổi lên bốn phía, hai chiếc xe ngựa lái tới, trên hai thớt ngựa đi đầu là hai người đàn ông oai hùng hiên ngang.

Tống Tiết cầm tay Mục Hương Hương, cái khó ló cái khôn nói: “Phong nhi không cưới, để Hoàn Chi cưới, thế nào?”.

Thấy Mục Hương Hương trợn to hai mắt nhìn mình, Tống Tiết lại nói: “Con gái mà thấy diện mạo của Vu Hoàn Chi thì ắt sẽ thích ngay. Chẳng phải Đỗ Niên Niên thích vì em Phong anh tuấn sao? Lấy Hoàn Chi thế vào, sẽ không sao đâu!”.

Vừa dứt lời, Mục Hương Hương đã giẫm lên mũi chân hắn ta, vén tay áo lên thấp giọng uy h**p: “Chàng tìm đường chết à? Cô gái nào dám mơ tưởng đến Hoàn Chi nhà tôi?! Tôi làm thịt nàng nàng ta!”.

Tống Tiết nói với vẻ mặt bi phẫn: “Dầu gì tôi còn là chồng nàng, dầu gì em Phong mới là em ruột của nàng cơ mà”.

Lúc này, con ngựa trước mặt đã hí dài, Tống Tiết còn chưa định thần lại, đã nghe tiếng gọi hưng phấn của Mục Diễn Phong: “Chị, anh rể!”.[1] Bài Mộc qua 2 trong Kinh thi.
 
Một Màu Xuân
Chương 25


Mục Hương Hương ngượng ngùng cười với Mục Diễn Phong, mãi mới rặn ra một câu: “Phong về rồi à?”.

Ánh mắt Tống Tiết lấp lòe không yên, xoa xoa tay, cũng miễn cưỡng vui mừng nói: “À, về là tốt, về rồi”.

Cả đường gió bụi làm dung nhan vốn đã anh tuấn của Mục Diễn Phong tăng thêm vẻ phấn chấn. Hắn vén vạt áo, tiến lên ôm lấy Mục Hương Hương và Tống Tiết, còn vỗ mạnh lưng Tống Tiết, cười giỡn nói: “Em theo cậu Vu đi cả một tháng, anh không gây ra tai họa gì với chị em nữa chứ?”.

Tống Tiết nghe xong lời ấy, lặng lẽ nhìn Mục Hương Hương như thể sắp gặp kẻ địch mạnh.

Tất nhiên Mục Diễn Phong không phát hiện, hắn xoay người đi về hướng xe ngựa.

Lúc bấy Vu Hoàn Chi mới tung người xuống ngựa, áo dài nam màu xanh nhạt mặc trên người y hệt như một gốc cây ngọc. Y nhìn thấy vẻ mặt vừa nãy của Mục Hương Hương và Tống Tiết, nhíu mày như ngộ ra điều gì, ôm quyền nói với hai người: “Đại tiểu thư, công tử Tống”.

Tống Tiết ôm quyền đáp lễ, Mục Hương Hương thì quý mến quan sát Vu Hoàn Chi từ trên xuống dưới một lúc lâu mới đưa tay vẫy: “Hoàn Chi, tới gần chút nữa, để mẹ nuôi xem có phải gầy đi không?”.

Vu Hoàn Chi đứng tại chỗ không tiến lên, bình tĩnh cười nói: “Đại tiểu thư cất nhắc rồi”.

Khóe miệng Tống Tiết co giật. Mục Hương Hương hai mươi lăm, chỉ hơn Vu Hoàn Chi ba tuổi nhưng từ khi ma đầu vào ở trang Lưu Vân, nàng đã suốt ngày tự xưng là mẹ nuôi y, vô duyên vô cớ đội cái mũ “cậu nuôi” cho Mục Diễn Phong đã đành, còn để Tống Tiết làm cha nuôi ma đầu họ Vu.

Đồng Tứ quát Vương Thất Vương Cửu ra khỏi chiếc xe ngựa phía trước rồi lập tức để ngựa chạy tới bên đường.

Phía sau, một chiếc xe ngựa tinh xảo nhã nhặn chậm rãi chạy đến làm từ gỗ hạch đào, nóc bằng nỉ da. Chàng trai trước xe chân đi giày tơ vàng, mặt mày như ngọc, tướng mạo đường hoàng, ấn đường còn có nốt ruồi mĩ nhân, hắn ta khẽ nhảy xuống xe ngựa, ôm quyền không sợ lạ nói: “Đại tiểu thư, công tử Tống”.

Mục Diễn Phong đã đến trước xe ngựa, vén màn vải lên, vui vẻ reo lên với bên trong: “Em gái, ra ngoài gặp chị và anh rể anh đi”.

Mục Hương Hương đang buồn bực “em gái” này từ đâu ra, nhưng lúc trông thấy người trước mắt bỗng nhiên ngây người ra.

Bên trong xe ngựa, hai giai nhân tuyệt sắc khoan thai bước ra. Một người mặc áo tơ hồng, một người mặc váy gấm tím. Một người thanh tú, nghiêng nước nghiêng thành, hoa nhường nguyệt thẹn thật thà chân chất; một người đẹp đẽ, sắc nước hương trời, như hoa như ngọc.

Lúc xuống xe ngựa, Tiêu Mãn Y tiến đến nói bên tai Nam Sương: “Lần đầu tiên Diễn Phong dẫn tôi về gặp người nhà chàng ấy nên tôi hơi căng thẳng”.

Hoa đào Nam cười lộ ra răng nanh, nháy mắt nói: “Tôi cũng thế”.

Y nhân Tiêu phẫn hận trừng mắt với hoa đào Nam, xách váy tranh tới trước mặt Mục Hương Hương trước, chậm rãi hành lễ: “Chị, anh rể”.

Khóe miệng Mục Hương Hương mấp máy, liếc mắt nhìn sư tử đá trước cửa, lạnh nhạt nói: “Không dám”. Dứt lời, nàng ấy vòng thẳng tới trước mặt Nam Sương, quan sát tỉ mỉ rồi kinh ngạc nói: “Ôi, đây là Sương Sương đúng không? Đẹp quá!”.

Tiêu Mãn Y dẩu môi, bi thương ngó Mục Diễn Phong.

Mục Diễn Phong nháy mắt với Tống Tiết, Tống Tiết lập tức bảo: “Em Tiêu đường xá xa xôi đến đây, cứ ở tự nhiên mấy ngày”.

Tiêu Mãn Y tìm được bậc thang thì xuống ngay, vội vàng gật đầu nói: “Vâng ạ vâng ạ”.

Hoa đào Nam nhìn Mục Hương Hương một hồi lâu, cười hì hì nói: “Đại tiểu thư cũng đẹp”.

Mục Hương Hương ngây ra một lát, hỏi: “Cô gọi tôi là gì?”.

Ánh mắt Nam Sương bay tới Vu Hoàn Chi sau lưng nàng ấy, hé miệng cười: “Tôi nghe công tử Hoàn gọi cô là đại tiểu thư”. Nói rồi, nàng lại thò đầu ra cất tiếng chào hỏi Tống Tiết: “Công tử Tống”.

Mục Hương Hương thoáng cảm thấy sự việc không ổn, một câu hào sảng “Chị, đây là em gái mới vừa kết bái với em đấy!” của Mục Diễn Phong càng khiến dự cảm của nàng tệ hơn.

Sau đó, công tử Giang nhanh nhẹn tới chào đón, đổ thêm dầu vào lửa, phụ họa nói: “Đại tiểu thư, công tử Tống, kẻ hèn này họ Giang, tên Lam Sinh, là bạn thân của thiếu chủ Mục và công tử Hoàn, cũng là trúc mã thanh mai của cô nương Nam Sương”.

Sắc mặt Mục Hương Hương lập tức thay đổi, sắc mặt Tống Tiết bên cạnh cũng chuyển từ trắng thành xanh.

Trang Lưu Vân chia thành ngoại trang và nội trang. Ngoại trang có ba sân: sảnh kiệu, sảnh trà và sảnh chính.

Nội trang có năm cái vườn nhỏ, Mục Chiêu một, Mục Hương Hương và Tống Tiết một, Mục Diễn Phong một, Vu Hoàn Chi một, còn có một cái vườn trống để đãi khách quý. Trừ nội ngoại trang, còn có sân luyện võ và rừng cây nhỏ.

Nước hồ Nguyệt chảy qua cả trang, lầu gác đình đài, hiên thuyền cầu sàn, đều xây sát bên dòng.

Mục Hương Hương dẫn mọi người tới sảnh trà, dọc đường cầu nhỏ bắc qua, mái nhà cong cong, cổ thụ xòe bóng, làm trang Lưu Vân lừng lẫy giang hồ bớt vẻ thô bạo, thêm chút phóng khoáng.

Mặc dầu tiếng tăm của trang Lưu Vân Giang Nam lan xa nhưng không phải môn phái đồng người. Độc một “kiếm pháp Thiên Nhất” võ bá giang hồ đã khiến mọi người trong võ lâm phải thần phục.

Mấy chục năm trước, trong chốn võ lâm còn có thế lực môn phái sánh vai với trang Lưu Vân. Sau đó Mục Chiêu luyện “kiếm pháp Thiên Nhất” tới tầng thứ chín, trên giang hồ ngoại trừ Vũ Kinh Viên – cha Vu Hoàn Chi – thì không ai có thể đọ được nữa.

Nhưng Vu Kinh Viễn và Mục Chiêu ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, hai người mê rượu lại đều cuồng võ, đã kết thành bạn tâm giao.

Nếu hơn tám năm trước Vu Kinh Viễn không mất tích, cung Mộ Tuyết không bị diệt thì e lúc này giang hồ sẽ không có tình trạng một trang độc quyền.

Con trai Mục Chiêu là Mục Diễn Phong, mặc dù tính tình tùy tiện, song cũng là kì tài luyện võ hiếm có. Gần hai mươi hai tuổi, hắn đã luyện “kiếm pháp Thiên Nhất” tới tầng thứ tám, còn sớm hơn cha hắn ba năm. Vả lại “kiếm pháp Thiên Nhất” được cải biên từ phổ võ công ngoại công hộ thể “công Thiên Nhất”, rất khó đẽo gọt, người bình thường dốc cả một đời cũng khó lĩnh hội được da lông bên ngoài.

Từ sau khi Vu Hoàn Chi gia nhập vào trang Lưu Vân, địa vị giang hồ của trang này trên giang hồ càng không ai bì nổi. Dù sao “bảy thức Mộ Tuyết” ở chung với “kiếm pháp Thiên Nhất” đã đủ khiến mọi người sợ mất mật.

Trên giang hồ, kẻ có thể đánh thằng Mục Diễn Phong và Vu Hoàn Chi không quá mười người, mà có thể đánh thắng họ thì đều là cao nhân không màng chuyện đời. Nên hạng có dã tâm trong võ lâm không ai không hy vọng Vu Hoàn Chi và Mục Diễn Phong trở mặt thành thù, hai hổ cắn nhau, con què con bị thương vì mơ ước phổ võ công “công Thiên Nhất”. Kể từ đó, chúng ngồi xem hổ đấu rồi làm ngư ông đắc lợi.

Nào ngờ ma đầu giang hồ vào trang Lưu Vân lại đao to búa lớn nhận chức quản gia. Buốn bán từ nam chí bắc và giao thiếp với các môn phái giang hồ của trang Lưu Vân, không chỗ nào không qua tay Vu Hoàn Chi trong sáng vô tư.

Người võ trố mắt nghẹn họng, lòng càng thấy ma đầu họ Vu bí hiểm, trang Lưu Vân Giang Nam quỷ bí mơ hồ.

Đệ tử của trang Lưu Vân có cả thảy ba mươi người nhưng chỉ có thể luyện “kiếm pháp Thiên Nhất” tới tầng thứ ba. Hạng làm việc vặt như a hoàn, người hầu, người làm vườn, đầu bếp cũng có chút võ vẽ mèo cào trong người.

Còn lại là mấy người chủ.

Đại tiểu thư Mục Hương Hương của trang Lưu Vân kế thừa hết tình cách của Mục Chiêu, bình thường ôn hòa, không được bình tĩnh lắm, lúc giận thì cực kì cáu kỉnh, yêu chiều em ruột Mục Diễn Phong, bảo vệ “con nuôi” Vu Hoàn Chi, hô tới quát lui chồng là Tống Tiết.

Chàng rể Tống Tiết ở rể trang Lưu Vân, vì là cỏ mọc đầu tường, gió chiều nào xoay chiều nấy, sợ vợ, mềm mỏng, không quả quyết, trời sập xuống cũng không tức giận, yêu mến Mục Diễn Phong, kính sợ Vu Hoàn Chi, cúi đầu nghe theo Mục Hương Hương.

Giữa sảnh trà treo tấm biển “trang Lưu Vân”. Dưới biển là một bức vẽ chấm phá non xanh nước biếc. Hai bên treo một đôi câu đối, bên trái là “Búi ốc đen nhánh, ngoài lầu non đêm nghìn trùng”, bên phải là “Đầu vịt xanh ngắt, trong suối nước xuân xâm xấp”.

Núi xanh vạn trượng, nước biếc thuyền cao, dâu đâu cũng lộ ra vẻ tĩnh mịch không màng danh lợi, phong nhã vượt khỏi trần gian, cũng xứng với cái tên “Trang Lưu Vân”.

Từ trước đến nay, Mục Hương Hương và Tống Tiết ăn chơi hát lượn, không giao thiệp với chuyện giang hồ, vì vậy Vu Hoàn Chi vẫn chưa nói rõ nguyên nhân dẫn Vương Thất, Vương Cửu và Tiêu Mãn Y về trang.

Tống Tiết gọi bọn a hoàn pha vài chén trà Ô Long thượng hạng, vừa dùng nắp trà gạt lá trà, vừa kể việc vặt gần đây của trang Lưu Vân. Nói ngắn gọn, ý của hắn ta là anh tốt tôi tốt mọi người tốt.

Vu Hoàn Chi nhìn ra ngôn từ úp mở của Tống Tiết và Mục Hương Hương, liên hệ trước sau mà suy nghĩ, chẳng những đoán ra nguyên nhân bên trong, còn thuận tiện nghĩ kế sách ngăn cản việc hôn nhân của Mục Diễn Phong và Nam Sương cho mình.

Một ngày trước, lúc tiểu nhị nhà trọ đó đề cập công tử Ất có thân phận tôn quý, Vu Hoàn Chi đã nghĩ có lẽ người đó chính là Mục Diễn Phong. Dù sao trong lứa trẻ của võ lâm, nếu bàn về thân phận địa vị thì không ai có thể so với thiếu chủ họ Mục.

Mà hôm nay, vẻ mặt kinh hoàng thất sắc của Mục Hương Hương và Tống Tiết khi thấy thiếu chủ Mục càng làm Vu Hoàn Chi xác nhận suy đoán của mình.

Vì vậy Tống Tiết chính là công tử Giáp năm đó, sau khi đính hôn với Đỗ Niên Niên, hắn ta lại nảy mối tình thắm thiết với Mục Hương Hương, cưới làm vợ. Đoạn thời gian này Vu Hoàn Chi và Mục Diễn Phong đều rời khỏi trang Lưu Vân, chắc lão gia họ Đỗ kia lại mang con gái tới cửa hỏi thăm. Trong lúc kích động, vợ chồng Mục Hương Hương đã đồng ý việc hôn nhân của Đỗ Niên Niên và thiếu chủ Mục.

Kết quả đến giữa mùa thu, trên giang hồ lại dấy lên lời đồn thiếu chủ Mục và Hoa Đào Nước Nam tự định chung thân. Lần này, Tống Tiết và Mục Hương Hương có tật giật mình, hết sức khó xử.

Lẽ ra chuyện này không đáng ngại, dựa vào năng lực của ma đầu họ Vu có thể dễ dàng giải quyết. Nhưng việc này dính dáng đến một chuyện khác, chín khúc ruột của Vu Hoàn Chi đã có ý đồ xấu, khăng khăng lợi dụng Mục Hương Hương và Tống Tiết.

Trước mắt, khúc mắc lớn nhất của ma đầu họ Vu chính là việc hôn nhân của Mục Diễn Phong và hoa đào Nam.

Trừ Hoa Đào Nước Nam ra, sở dĩ Mục Hương Hương và Tống Tiết âu sầu vì chuyện của Đỗ Niên Niên còn vì e ngại uy quyền của Mục minh chủ – Mục Chiêu.

Nếu Vu Hoàn Chi đã nhận được thư để Hoa Đào Nước Nam đến trang Lưu Vân làm thiếu phu nhân thì hai trung thần tay sai như Mục Hương Hương và Tống Tiết không thể không biết. Lúc trước sở dĩ họ để ý đến Giang Lam Sinh vì hắn ta là thanh mai trúc mã của Nam Sương, sợ Giang Lam Sinh lừa hoa đào Nam chạy mất, sau khi kế hoạch thất bại, Mục Chiêu sẽ giận lây sang họ.

Vả, Mục Hương Hương và Tống Tiết vừa phải giải quyết chuyện Đỗ Niên Niên, lại vừa muốn Nam Sương lấy Mục Diễn Phong, có thể nói là tiến thoái lưỡng nan, cực kì khó xử.

Còn về ma đầu họ Vu, tất nhiên nhân vậy y diễn là mượn chuyện giúp đỡ dàn xếp cho Đỗ Niên Niên, khiến Mục Hương Hương và Tống Tiết về phe mình, giúp mình lấy Hoa Đào Nhỏ.

Về Mục Chiêu, y có thể gạo nấu thành cơm, chém trước tâu sau.

Ăn một bữa tối thanh đạm, dường như ai nấy đều có suy tư, nói câu được câu chăng hợp với tình hình, hối hả ăn cho xong rồi trở lại phòng mình.

Hoa Đào Nước Nam cùng Y Nhân Hai Mặt ở hai chái đông tây của vườn Thấm Huân chuyên tiếp khách.

Vì bất hòa với Vu Hoàn Chi, Giang Lam Sinh bèn vào vườn Phong Hòa của thiếu chủ Mục.

Sau khi về phòng, Nam Sương thắp đèn mài mực, bày giấy nâng bút. Nàng rời nhà mấy tháng, rất nhớ Nam Cửu Dương. Chống cằm suy nghĩ một lát, một hàng chữ nhỏ đẹp đẽ hiện đầy trên giấy.

<i>Thưa cha, sau khi việc hôn nhân ở các Vạn Hồng không thành, con ở Phượng Dương hai ngày, phố phường náo nhiệt, rất mực hoan hỉ. Sau ngồi thuyền hơn tháng, giữa tiết tháng Mười mới tới Tô châu. Yên liễu họa cầu, tường trắng ngói đen, sóng biếc nước chảy, cảnh trí tuyệt vời, sinh thời nhất định phải cùng cha thưởng ngoạn.</i>

Tái bút: <i>Cha ơi, không ngờ con gặp được Vu Hoàn Chi rồi, quả thực y rất đẹp, còn đẹp hơn năm đó nữa.</i>
 
Một Màu Xuân
Chương 26


Sáng hôm sau, Nam Sương mới thức dậy, đã nghe tiếng gõ cửa như mưa to gió lớn.

Người tới là Tiêu Mãn Y, nàng ấy mặc bộ váy gấm xanh nước biển ngày đó, khoác áo nhỏ trắng mượt. Dây tơ vàng trên làn váy treo hai quả cầu nhung trắng.

Hoa đào Nam khẽ kêu lên: “Ôi, đẹp thế!” rồi khom người muốn bóp hai quả cầu nhung đó. Tiêu Mãn Y kịp thời nhảy ra, tét tay nàng, liếc nàng từ trên xuống dưới, cau mày nói: “Sao cô không thay quần áo?”.

Nam Sương giơ tay áo lên, múa qua múa lại, cười nói: “Tôi thích nhất bộ này”.

Tiêu Mãn Y “hừ” một tiếng, vòng qua Hoa Đào Nhỏ vào thẳng phòng, vừa đi vừa nói: “Cô như thế là không được, hôm qua đi đường mệt nhọc, nhất định phải thay quần áo”. Nói rồi nàng ấy ngoảnh lại nhìn chằm chằm Nam Sương, chỉ vào bộ áo tơ hồng của nàng, tức giận nói: “Suốt ngày mặc bộ này, vui mừng như cô nương chờ xuất giá ấy, thật không thể gặp ai!”.

Hoa Đào Nhỏ vui vẻ vào phòng với nàng ấy, nghe xong những lời này thì hơi ngượng ngùng, mặt dày nói: “Quả thật tôi là một cô nương chờ xuất giá, chờ xuất giá một thời gian rồi”.

Chân Tiêu Mãn Y lảo đảo.

Nam Sương cụp mắt hâm mộ nhìn làn váy xếp nếp của Tiêu Mãn Y, mím môi khô khốc nói: “Cô nương Tiêu tìm tôi vì chuyện gì thế?”.

Con gái đều thích quần áo đẹp đẽ trang sức độc đáo nên tất nhiên Tiêu Mãn Y đã nhìn ra suy nghĩ của hoa đào Nam. Nàng ngồi xổm mở rương đựng đồ của mình ra, vén tay áo lên lộ ra vòng tay hoa hạnh liền đế ra lấy le. Thấy Nam Sương nuốt nước miếng, Tiêu Mãn Y mới nói: “Buổi sáng có người báo lại, nói lão gia họ Đỗ đã tìm được Đỗ Niên Niên rồi”.

Hoa đào Nam vui vẻ nói: “Đây là chuyện tốt mà”.

“Tốt cái đầu cô ấy!” Tiêu Mãn Y trợn mắt với nàng, tức giận nói: “Lát nữa lão gia Đỗ muốn dẫn Đỗ Niên Niên tới thăm hỏi trang Lưu Vân, cô mau thay bộ áo đỏ này đi, ăn diện nghiền nát hồ ly tinh kia đi!”.

Hoa đào Nam nghe xong lời ấy thì chớp mắt, cười hì hì thay quần áo.

Nếu lúc trước mấy người vẫn nghi ngờ về thân phận của công tử Ất thì hành động lão gia Đỗ dẫn Đỗ Niên Niên tới trang Lưu Vân thăm hỏi đã đủ khiến mọi người đoán được Mục Diễn Phong chính là công Tử Ất.

Tiêu Mãn Y tất phải diệt trừ chường ngại vật Đỗ Niên Niên này, khổ nỗi bây giờ nàng ấy danh bất chính ngôn bất thuận. Còn Nam Sương thì khác, Nam Sương và Mục Diễn Phong có hôn ước, có thể nhẹ nhàng giải quyết tiểu tốt vô danh như Đỗ Niên Niên. Tiêu Mãn Y để Nam Sương ăn diện là muốn dùng chiêu mượn đao giết người.

Hoa đào Nam thông minh, nàng đoán được hết những ý nghĩ xấu xa này của y nhân Tiêu.

Nên khi nàng thay xong váy dài cam và áo ngắn trắng, lại nói với Tiêu Mãn Y như vô ý: “Không phải việc hôn nhân của Đỗ Niên Niên và anh Tống đã xong từ ba năm trước rồi sao?”.

Tiêu Mãn Y chải mái tóc đen như mực của hoa đào Nam, thuận tay nhặt hoa cài đầu ra thử, thờ ơ đáp một câu: “Đúng vậy”.

“Nhưng năm nay lão gia Đỗ bỗng nhiên nhắc lại chuyện xưa, không phải rất lạ sao?”

Động tác trong tay Tiêu Mãn Y ngừng lại, cẩn thận suy tư. Quả thực là vậy. Có hai chỗ lạ: một, theo lý việc hôn nhân của Tống Tiết và Đỗ Niên Niên không thành, đến nay Đỗ Niên Niên chưa gả, trang Lưu Vân là nơi nàng ta phải tránh, sao bỗng nhiên ba năm sau lại đến thăm với cha; hai, Đỗ Niên Niên thích Mục Diễn Phong, bề ngoài thì cũng hợp lí. Nhưng bốn năm trước đại hội Anh hùng, Đỗ Niên Niên tham dự theo lão gia Đỗ, trên thực tế đã từng gặp Mục Diễn Phong. Nếu nàng ta thích thì lão gia nên tới cửa làm mai khi việc hôn nhân thất bại với Tống Tiết đã qua, sao lại đợi tới khi Mục Diễn Phong và Vu Hoàn Chi vừa hay không có ở đây?

Nói ngắn gọn, mặc dù thoạt nhìn mọi việc hợp tình hợp lí nhưng trên thực tế lại hết sức đột ngột.

Thường thường, một việc diễn ra quá đột ngột thì kẻ gây chuyện tất có mưu đồ khác.

Tiêu Mãn Y nhíu mày, bĩu môi vấn tóc cho hoa đào Nam, lát sau lại hỏi: “Thế theo ý cô nên làm thế nào?”.

Hoa đào Nam nhìn vào gương đồng, rất hài lòng với bũi tóc tròn rủ hai bên, giơ tay lên sờ sờ rồi cười hì hì nói: “Tay nghề cô thật giỏi”. Tiêu Mãn Y tét vào tay nàng.

Nam Sương thổi mu bàn tay phù phù, nói: “Hôm qua chắc chắn anh Mục và công tử Hoàn đã đoán được sự thực, họ chẳng tỏ vẻ gì ắt là đã thuận nước đẩy thuyền”.

“Thuận nước đẩy thuyền?”

Nam Sương gật đầu một cái: “Ừ, thuận nước đẩy thuyền, gậy ông đập lưng ông”.

Sau buổi trưa, ngày thu càng âm u, nước hồ Nguyệt lạnh, mặt nước đầy lục bình lá khô, nước chảy quanh co. A hoàn chính phục vụ vườn Thấm Huân tên Li Bình, dẫn Nam Sương và Tiêu Mãn Y đi về sảnh chính ngoại trang.

Ở ngoại trang của trang Lưu Vân, sảnh trà tiếp đãi khách quen, sảnh chính tiếp đãi khách quý. Lần này, Vu Hoàn Chi và thiếu chủ Mục quyết định tiếp đãi cha con lão gia Đỗ ở sảnh chính tức đã có ý trả lời mối hôn sự này.

Dọc đường Li Bình kể hết lầu đài đình các dày đặc trong trang Lưu Vân cho đám Nam Sương nghe.

Đừng nói đến cả trang có diện tích rộng, người bình thường ở hơn tháng cũng rất khó đặt chân tới khắp các nơi, chỉ ngay chỗ có kết cấu cầu nhỏ đầy hòn non bộ, nước chảy quanh vườn hoa này thôi đã đủ khiến người ta hoa cả mắt.

Nam Sương chỉ cảm thấy hứng thú với một con ngõ mà Li Bình nhắc đến. Lại nói đi về phía sau không xa là con ngõ kia, rất gần trai Huy Vũ của Vu Hoàn Chi. Ngõ nhỏ dài mà sâu, hai bên đều là tường đá xanh, loang lổ rêu, quấn đầy tử đằng, nhỏ đến mức chỉ cho phép một người đi qua.

Đợi hai người tới sảnh chính, đám Vu Hoàn Chi đã chuyện trò với cha con lão gia Đỗ một hồi.

Vì mục đích cơ bản của chuyến thăm viếng này là việc hôn nhân nên Mục Hương Hương và Tống Tiết ngồi vị trí chủ nhà ở sảnh chính, những người còn lại chia nhau ngồi hai bên. Bởi vì lão gia Đỗ đến thăm với danh nghĩa rỗi rãi thì hội họp nên Nam Sương, Tiêu Mãn Y cũng có thể tham dự trong đó.

Trời thu quang mây, heo may mát lành.

Lão gia Đỗ Đỗ Bình Xuyên xem dáng vẻ Mục Diễn Phong như cáo dòm gà, càng xem càng thèm. Ngoài cửa, Tiêu Mãn Y ho the thé hai tiếng, Đỗ Bĩnh Xuyên còn chưa phản ứng kịp, Đỗ Niên Niên đã vội vàng đứng dậy chào hỏi, gọi: “Cô nương Tiêu”. Ánh mắt nàng ta chuyển ra phía sau Tiêu Mãn Y, thấy Nam Sương thì như ngẩn ra, mãi mới gọi: “Chào cô nương Nam”.

Ánh mắt hoa đào Nam lượn lờ trên người Đỗ Niên Niên vài vòng, tuy ngũ quan nàng ta không phải quá đẹp, nhưng thanh tú động lòng người, quần áo lụa trắng càng bật lên màu da trắng nõn như tiên tử sông Lạc.

Dù ngữ khí của Đỗ Niên Niên điềm đạm nhưng mặt mày lại có vài phần cao ngạo thanh tao, thực sự khó có thể liên hệ nàng ta với hành vi bất chấp tất cả vì tình.

Hoa đào Nam bước vào ngưỡng cửa, chào hỏi: “Chào cô nương Đỗ”. Dứt lời, tìm chỗ trống bên tay trái Vu Hoàn Chi ngồi xuống.

Vu Hoàn Chi đang uống trà, cụp mắt chậm rãi hớp một hớp nhỏ, rất thích chí.

Đỗ Bình Xuyên thấy các nhân vật chính đã hoá trang lên sân khấu, bèn kéo màn bắt đầu xướng khúc. Ông ta liếc nhìn trà trong chén, thong thả gạt lá trà rồi nói: “Trà Ô Long thượng hạng được sản xuất ở vùng Mân Bắc. Nếu tôi nhớ không lầm, công tử Tống là người Mân Bắc nhỉ?”.

Tống Tiết cũng chén cười theo: “Trí nhớ của lão gia Đỗ thật tốt”.

Đỗ Bình Xuyên nói: “Trí nhớ tốt gì đâu. Năm đó lúc bát tự của công tử Tống và tiểu nữ Niên Niên rất hợp, đã phối mối nhân duyên, chỉ tiếc…”.

Mục Hương Hương ho mạnh hai tiếng, cao giọng gọi một a hoàn, dặn dò: “Sắp vào đông rồi, sao không thấy đốt than bạc?”.

A hoàn kia kinh ngạc nói: “Bẩm đại tiểu thư, Tô châu ấm áp, bình thường đốt than bạc đều phải đợi đến…”.

“Năm nay trời lạnh, thằng Phong lạnh, tôi cũng lạnh buốt”. Mục Hương Hương vừa nói, vừa hung hãn nhìn Tống Tiết.

Tống Tiết cười ngượng. Đỗ Bình Xuyên thấy thế, chỉ thong thả nói tiếp: “Nhưng có khi Tái ông mất ngựa, dù tiểu nữ bỏ lỡ nhân duyên với công tử Tống, tôi gộp bát tự của thiếu chủ và bát tự của Niên Niên, mới biết thế nào là ông trời tác hợp, thế nào là uyên ương quyến lữ”.

Mặc dù con gái giang hồ hào hùng, nhưng khi cha nói lời này trước mặt con gái thì các cô gái bình thường đều xấu hổ đỏ mặt cả. Nhưng Nam Sương nhìn Đỗ Niên Niên, chủ thấy vẻ mặt trầm lắng của nàng ta có chứa vẻ kiên nghị, không hề ngượng ngùng chút nào.

Nam Sương đang định thu hồi tầm mắt nhưng lại ngẩn ra trong lòng, Đỗ Niên Niên bỗng ngẩng phắt đầu lên nhìn lại.

Làn da trắng như tuyết, môi xinh đỏ tươi như máu, trong mắt như có ánh sáng lạ thường. Mặc dù Đỗ Niên Niên yên lặng hờ hững, nhưng lại có chút lệ khí khó phát giác lượn lờ quanh mình.

Dấu hiệu của tẩu hỏa nhập ma.

Thầy dạy võ của Nam Sương là Đào Thiển từng nói với nàng, người tẩu hỏa nhập ma có ba loại dấu hiệu: tầng thấp nhất, kinh mạch đảo ngược, tính tình cáu kỉnh; tầng giữa, hành động cổ quái, tính tình thần bí; dấu hiệu nhập ma của tầng cao nhất biến ảo đa đoan, có người mất hết huyết sắc, lệ khí lộ ra ngoài nhưng không dễ nhận ra, thậm chí có người còn thay đổi ngoại hình.

Trong ba loại tẩu hỏa nhập ma này, tầng dưới, chỉ cần ngừng luyện võ là được; tầng giữa, cần phế bỏ võ công, thậm chí từ đó về sau tàn phế cả đời; tầng trên, một khi nhập ma thì chắc chắn phải chết.

Thường thì trình độ võ công cao thấp quyết định tầng tẩu hỏa nhập ma. Lần này, Đỗ Niên Niên tẩu hỏa nhập ma tầng cao nhất, nói cách khác, chắc chắn nàng ta đã lén lút tu tập võ công danh chấn giang hồ nào đó, đồng thời không còn sống được lâu nữa.

Nam Sương thất thần chốc lát, lúc hoàn hồn, sắc mặt Tiêu Mãn Y đã cả kinh đến trắng bệch, Mục Hương Hương và Tống Tiết thì rất vui mừng, Mục Diễn Phong đang nói: “Chỉ là tôi với tiểu thư Đỗ không quen biết, trên giang hồ lắm lời đồn vô căn cứ, sao không đợi phong ba qua đi rồi cùng bàn lại chuyện hôn nhân?”.

Hôm nay Đỗ Bình Xuyên đến thăm, vốn đã xốc hết tinh thần, định tử chiến đến cùng. Nào ngờ thiếu chủ Mục nói câu nào câu nấy đều đúng ý mình, ông ta vội vàng luôn miệng nói: “Thiếu chủ nói rất có lý, rất có lý”.

“Quả thực có lý”. Âm thanh trêu đùa vang ở cửa, chính là Giang Lam Sinh khoan thai tới muộn.

Hắn ta cầm quạt đập vào tay, quét ánh mắt ra bốn phía, sau khi ôm quyền hành lễ với mọi người thì đảo khách thành chủ, cười nói với Đỗ Niên Niên: “Chi bằng cô nương Đỗ cứ vào trang Lưu Vân ở cùng Sương và Mãn Y trước, để dễ làm quen với các chị?”.

Một từ chị, nói lấp lửng. Nam Sương và Tiêu Mãn Y lớn hơn Đỗ Niên Niên một tuổi, lý nên là chị. Nhưng nếu Đỗ Niên Niên lấy Mục Diễn Phong càng phải gọi Nam Sương được cưới hỏi đàng hoàng một tiếng chị.

Đỗ Bình Xuyên nghe thấy lời ấy, vỗ án khen: “Ý kiến hay!”.

Lúc bấy Đỗ Niên Niên cũng đứng dậy, liếc Mục Diễn Phong một cái sâu xa rồi chân thành hành lễ với Giang Lam Sinh: “Vậy xin nghe lời công tử”.

Giang Lam Sinh chắp tay khẽ vái, cười nói: “Không dám không dám”. Đoạn lại liếc Vu Hoàn Chi.

Muốn cướp Hoa Đào Nước Nam, Giang công tử cả có hai đối thủ, một thiếu chủ Mục, một ma đầu Vu. Hắn ta lợi dụng Đỗ Niên Niên giải quyết Mục Diễn Phong lại xem như đã giúp Vu Hoàn Chi.

Từ đầu đến cuối, trừ chào hỏi ra thì Vu Hoàn Chi chưa nói chữ nào. Y bí hiểm ngồi trong sảnh, trầm tĩnh xem kĩ càng, nhiều nhất chỉ giật giật đuôi mắt lúc hoa đào Nam gọi a hoàn thêm trà cho mình.

Hôm đó, cuối cùng thư của công tử Giang từ thành Phượng Dương đã đến kinh thành.

Nam Cửu Dương hùng hùng hổ hổ xé phong thư ra, nói bình thường đầu óc thằng nhãi Giang Lam Sinh này lanh lợi, sao lần này đi tìm Hoa Đảo Nhỏ cũng không mang bồ câu đưa thư theo mật báo cho cha vợ bất cứ lúc nào.

Song khi Nam Cửu Dương mở giấy viết thư ra rồi đọc xong thì vẻ mặt bỗng chuyển từ phẫn nộ thành mừng như điên. Ông nhấc tay vỗ bàn, giấy viết thư bị ông vo thành một nắm, xuýt xia nói: “Hoa Đào Nhỏ nhà ta có tiền đồ, không ngờ lại sát nhập vào nội bộ trang Lưu Vân, uốn nắn hai thằng ranh đó răm rắp nghe lời”. Nam Cửu Dương mừng khấp khởi nhướng mày, đưa tay phất áo bào rồi gọi a hoàn bên cạnh: “Nào nào, lấy quan phục ta cất đáy hòm ra đây, ta phải hẹn anh Giang cùng vào cung gặp hoàng thượng”.

Vui quá hóa buồn. Đúng lúc này, một gã sai vặt ngoài cửa lăn một vòng chạy đến: “Không xong rồi lão gia, lão gia không xong rồi, ông thầy già ở phố đông lại đánh tới rồi!”.

Cùng lúc đó, có một người u ám lượn ra từ sau tấm bình phong, mở miệng lạnh lùng phun ra hai chữ: “Vào cung?”.
 
Một Màu Xuân
Chương 27


Sau khi vào đông, cảnh trí của trang Lưu Vân đẹp đẽ muôn ngần. Mai đỏ mai trắng xen nhau nở rộ, sắc sương bàng bạc trên suối nước như gương.

Bồ câu đưa thư vỗ cánh phành phạch, hạ xuống xương thú trong vườn Phong Hòa. Mục Diễn Phong không ở đây, Giang Lam Sinh xoay quạt lông trắng mấy vòng giữa mười ngón tay, ngón trỏ ngón cái tay trái để trong miệng, huýt một tiếng vang dội.

Bồ câu đưa thư đập cánh hạ xuống, dừng ở cổ tay Giang Lam Sinh, lông trắng bay xuống.

Lão gia tiểu thư phái Thiên Thủy ở kinh thành đều nghiện chim. Chẳng bao lâu sau, một lớn một nhỏ thả chim đi dạo nơi ngoại ô kinh thành như thể trăm sao vây trăng, là phong cảnh mà người kinh thành thường hăng say nhắc đến.

Tiểu Nam Sương học theo Nam Cửu Dương, kẹp ngón trỏ ngón cái trong miệng huýt sáo, tiếng cười lảnh lót vang tận mây xanh, quanh mình chim vỗ cánh bay. Chúng vỗ cánh theo nhịp điệu, vọt thẳng lên mây, cảnh tượng hùng vĩ, ngay cả rừng cây nhỏ cách đó hai dặm cũng phải chấn động rơi đầy lá cây.

Lúc ấy, Nam Cửu Dương sẽ khoanh tay, thảnh thơi nhìn Nam Sương cười, nói mấy chuyện không đâu, không màng danh lợi như một áng mây duy nhất giữa trời quang đang trôi không biết bờ bến.

Hoa đào Nam chỉ thích con sáo nhỏ của mình, vì nó biết nói; Nam Cửu Dương thì mê đắm con bồ câu đưa thư màu trắng, vì nó biết truyền tin.

Nam Sương ngẩng đầu lên, trời vào đông quang như một khối ngọc Hòa Điền lạnh như băng, từng vầng sáng chói mắt cũng hơi giá rét.

Nàng mới ở trong sân, thoáng nghe thấy tiếng vỗ cánh của con bồ câu ấy nhưng khi ngẩng đầu nhìn thì trong vạn dặm trời quang, chỉ có một vầng mặt trời mùa đông sáng chói.

Trong vườn Thấm Huân có một hồ nước nhỏ, tên là “Âm Nguyệt”, ý là giấu minh châu. Hồ nước nhỏ ấy được khơi từ hồ Nguyệt, ánh nước lành lạnh, một cây cầu đá dài hình vòm xây vắt ngang hồ, đầu kia của cầu là một cái đình lục giác nhỏ.

Hoa đào Nam lững thững qua cầu, bàn đá trong đình lục giác rất nhỏ, chỉ cỡ bàn cờ. Nhưng trong một tấc vuông của nơi này, mẹ ruột nàng là Hoa Nguyệt lại có thể múa ra phong hoa tuyệt đại.

Nam Sương nhớ, lúc chín tuổi, nàng mở to mắt nhìn người mẹ bệnh hết phương cứu chữa múa “khúc Kinh Loan” trên bàn đá vì Nam Cửu Dương đến kiệt sức mà chết.

Kích thước cái bàn đá đó cũng chẳng khác cái trước mắt là bao.

Từ ngày đầu tiên vào vườn Thấm Huân, hoa đào Nam đã muốn hỏi Tiêu Mãn Y, nàng ấy nhảy khúc Kinh Loan có thể không lấy thảm trắng nhung làm giới hạn mà lấy bàn đá trước mắt được không. Dù sao nhân gian ngút ngàn, chỉ có một nơi có thể học được kĩ thuật múa của “khúc Kinh Loan” chính là “Vũ Thiên Hạ” đệ nhất kinh thành mà thôi.

Mà mẹ hoa đào Nam là Hoa Nguyệt, đến tận năm trước khi qua đời, vẫn cố chấp ở lại Vũ Thiên Hạ.

Đưa chim đi dạo nơi tĩnh mịch là thói quen của cha con Nam Cửu Dương sau khi Hoa Nguyệt qua đời. Ngoại ô kinh thành, gió thổi vạn dặm, chim hót hoa rơi, Nam Cửu Dương sẽ nói đôi ba câu về rất nhiều người và rất nhiều chuyện với Nam Sương, song chưa từng nhắc tới vợ cả của mình.

Vì vậy hoa đào Nam cũng không nhắc tới. Cứ như trong sinh mệnh hai cha con nàng chưa bao giờ có người này. Ăn ý đại trí giả ngu, cố làm ra vẻ yên bình, dù có đôi chút hoang vắng song chưa chắc đã không phải là lựa chọn sáng suốt.

Nam Sương tưởng là người sống cả đời nên không thẹn với lòng, nên tận hưởng lạc thú trước mắt, nếu có hối hận buồn bã thì nhớ lấy là được. Cứ hay đào bới ra mà gặm nhấm, nghĩ mình lại xót cho thân mà rơi lệ tự thương hại thì tuyệt đối không nên.

Lúc thuộc nằm lòng liệt kê mấy người mình quý trọng, nàng lại rất đắc ý thêm mấy vị vào. Trước có Hoa Nguyệt, Nam Cửu Dương, thầy Đào Thiển, thầy Vu Bất Cử phố đông, còn có Vu Hoàn Chi.

Bây giờ thì nhiều lắm, có Hoa Nguyệt, Nam Cửu Dương, Đào Thiển, Vu Bất Cử, Mục Diễn Phong, Tiêu Mãn Y, Giang Lam Sinh, vẫn có Vu Hoàn Chi.

Từ khi Đỗ Niên Niên đến trang Lưu Vân đã mười ngày có lẻ. Hoa đào Nam vẫn chưa quen thân với nàng.

Mỗi ngày Mục Hương Hương và Tống Tiết đều gọi mọi người cùng dùng bữa tối, nhưng bữa tối vừa xong thì ai về phòng nấy. Mười ngày qua, hoa đào Nam phát hiện, cùng lắm Mục Hương Hương và Tống Tiết chỉ lo toan chi phí ăn mặc của trang Lưu Vân. Còn buôn bán từ nam chí bắc và qua lại với môn phái võ lâm ngoài trang, đệ tử nội môn tu tập võ nghệ đều qua tay Mục Diễn Phong và Vu Hoàn Chi.

Chắc chắn Vu Hoàn Chi làm việc này rất thành thạo. Dẫu sao với cái tính Thái sơn có đổ trước mặt mà một cọng lông măng cũng chẳng động đậy của y luôn khiến người ta cảm thấy bất cứ chuyện gì cũng chỉ là trò vui đùa với y mà thôi.

Còn Mục Diễn Phong lại có tính dửng dưng, lúc làm việc, dù không đủ tỉ mỉ nhưng cũng rất mực thông minh, sấm rền gió cuốn. Hắn thích nhất là đột kích võ nghệ của đệ tử trong trang, dùng chiêu kiếm pháp Thiên Nhất “Phù Không Lãm Nguyệt” cực kì cao minh.

Thiếu chủ Mục từng ghé đến vườn Thấm Huân mấy lần nhưng đều không phải tới tìm Nam Sương và Tiêu Mãn Y, mà là đến tìm Đỗ Niên Niên, nói muốn dẫn nàng ta du ngoạn trong trang. Thi thoảng, ma đầu họ Vu cũng đi theo.

Mấy người du ngoạn trong trang không hề dẫn Nam Sương và Tiêu Mãn Y theo.

Tất nhiên hoa đào Nam biết Mục Diễn Phong lấy cớ du ngoạn trong trang, nhưng thật ra đang tìm cơ hội thăm dò lộ võ công của Đỗ Niên Niên nên chìm vào yên tĩnh tự tại. Tiêu Mãn Y cũng biết động cơ của Mục Diễn Phong song vẫn rất bất mãn, muốn nghĩ cách lén lút đi theo, hành động bịt tai trộm chuông làm mọi người trong trang khịt mũi coi thường.

Giang Lam Sinh rảnh rỗi, thường xuyên đến vườn Thấm Huân hội họp, dò hỏi thực hư. Ví dụ như Sương cảm thấy ở lại trang Lưu Vân lâu dài là việc tốt ư. Lại ví dụ như Sương thấy thiếu chủ Mục và công tử Hoàn, ai giống anh cả hơn, vì sao. Lại ví dụ như Sương, nếu có một ngày, một kẻ hoàng thân quốc thích võ nghệ cao cường, mặt đẹp như ngọc, thắt lưng giắt vạn quan cầu hôn cô, cô có bằng lòng không?

Hỏi hoa đào Nam hay lạc đề vốn không phải cử chỉ sáng suốt, vì vậy phần lớn thời điểm, Giang Lam Sinh đều bị Nam Sương cua vào khúc cong không sao ra được. Chỉ một câu hỏi cuối cùng là hoa đào Nam nghiêm trang lắc đầu, nói: “Không bằng lòng”.

Giang Lam Sinh ngẩn ra, lại hỏi vì sao. Còn Nam Sương đã thất thần, ánh mắt nàng rơi trên xà ngang chạm trổ chim muông hoa cỏ, thầm nghĩ chẳng biết công tử Hoàn đã khắc xong gỗ lê của đèn cung đình chưa.

Nghĩ đến đây thì chợt ngừng lại, đầu hoa đào Nam vụt lóe sáng kiến. Nàng vỗ gáy theo thói quen, thuận miệng đáp Giang Lam Sinh một câu: “Đúng rồi! Tôi có thể đi hỏi công tử Hoàn chuyện đèn cung đình!”. Vừa dứt lời, nàng đã xách váy, hí ha hí hửng, vui mừng rạo rực chạy ra ngoài vườn.

Cây quạt trong tay Giang Lam Sinh rơi xuống đất đánh cách một tiếng rồi gãy thành hai nữa như thần giao cách cảm, vài cơn gió thổi tới từ phía chân trời.

Từ vườn Thấm Huân đến trai Huy Vũ phải đi dọc theo hồ Nguyệt, xuyên qua sân tập võ trong rừng trúc nhỏ, qua cầu chín khúc là đến.

Nam Sương không giỏi phân biệt phương hướng nên vừa đi vừa hỏi, hỏi đến nỗi trên dưới trang Lưu Vân không ai không biết, không ai không hiểu nàng đang tìm công tử Hoàn.

Trong hiên Huy Vũ cũng có hồ nước cầu đá, dù vào đông cỏ cây khô héo vẫn dày đặc cây cỏ khô, khiến người ta có thể tưởng tượng ra, vào tiết xuân hè, nơi này xanh biếc dạt dào, tuoi tốt um tùm nhường nào.

Trong đình viện chỉ có mai trắng nở rộ, cảnh hoa rơi lả tả, hương thơm thoang thoảng.

Nhà chính phía bắc, trung gian là sảnh, bên phải là phòng sách, bên trái là phòng ngủ. Phòng sách mở cửa sổ. Đã quá trưa, nắng chiều lẳng lặng chiếu xéo vào nhà. Trước bàn dài trong phòng, một người mặc áo trắng trầm lặng, tóc đen dây trắng đang ngồi.

Dường như bị cảnh yên tĩnh ấy cảm hoá, hoa đào Nam rón ra rón rén xách váy, dừng chân dưới cửa sổ thò đầu vào.

Ánh mặt trời nhợt nhạt ngày đông lờ mờ chiếu lên gò má Vu Hoàn Chi, y cụp mắt chăm chú, tay cầm gỗ lê, đang khắc gì đó. Mi dài chớp chớp như điệp vỗ cánh. Ánh mắt lấp lánh như bông tuyết vỡ tung. Nhờ vẻ mặt hết sức chăm chú, đường nét hoàn mĩ lại thêm vẻ hớp hồn.

Nam Sương chỉ thấy tim bỗng đập mạnh, hô hấp không thông, đực người ra nhìn ngờ nghệch mãi đến khi Vu Hoàn Chi bình tĩnh như thường để gỗ lê xuống, dịch ghế ra sau rồi đi tới phía nàng.

Ma đầu họ Vu dở khóc dở cười nhìn hoa đào Nam kề đầu lên bệ cửa sổ. Lúc bấy Nam Sương mới hoàn hồn, ngượng ngùng rụt đầu về sau, còn chưa thẳng người lên, Vu Hoàn Chi đã đóng cửa sổ đánh “cộp” một cái. Hoa đào Nam sợ bắn lên, suýt nữa đụng phải mũi.

Nhìn cửa sổ khép lại thật chặt, nàng không khỏi hết sức nản lòng, đang định hậm hực bỏ đi, lại nghe “két” một tiếng, Vu Hoàn Chi đã mở cửa nhà chính ra.

Y đứng trong ánh sáng mỏng manh, thân như trăng sáng người như ngọc, khẽ cười với Nam Sương, nói: “Lần sau tới tìm tôi, nhớ vào thẳng cửa”.

Hoa đào Nam xách váy đến gần, lại cười hì hì với y, nom như có động cơ xấu xa.

Vu Hoàn Chi dẫn Nam Sương vào thẳng phòng sách, vừa đi vừa hỏi: “Sao lại đến đây?”.

Nam Sương nhìn chằm chằm đôi vai rộng của y, vụng về nói: “Tôi tới hỏi xem khi nào làm xong đèn cung đình”.

Vu Hoàn Chi ngây ra, xoay người lại trước bàn dài, xếp mấy cuốn sách sang một chỗ rồi lấy một cái hộp đen từ tủ âm tường phía sau, đặt lên mặt bàn. Lúc cụp mắt mở hộp, y tỏ vẻ thờ ơ hỏi một câu: “Chỉ là cờ hiệu[1] đúng không?”.

Nam Sương không hiểu, nàng ghé mặt lên trên hộp đen, không chú ý mặt Vu Hoàn Chi gần trong gang tấc, đang lẳng lặng nhìn nàng.

Trong hộp đen xếp mười một khúc gỗ lê, cộng thêm một khúc trên bàn, tám dài ba ngắn đã được sơn, khúc ngắn đều khắc hoa văn hoa đào, hình hoa đào liền đế, trừ cành khô ra thì chẳng khác nào dấu dưới xương quai xanh của Nam Sương.

Hoa đào Nam thán phục “oa oa” liên miên, giơ khúc gỗ lê ngắn, hỏi Vu Hoàn Chi: “Trước đó anh đã làm cái này rồi à?”.

Ánh mắt Vu Hoàn Chi khẽ đậu trên bàn tay trắng nõn như ngọc đang nắm gỗ lê: “Về lật sách rồi học theo thôi”.

Nam Sương đặt gỗ lê lên bàn, giơ ngón tay cái với y: “Thông minh!”. Sau đó lại nhặt khúc gỗ kia lên như lấy được báu vật, mở cửa sổ ra xem dưới ánh mặt trời một lúc lâu sau mới nói: “Giống dấu của tôi thật, vừa tao nhã vừa phóng khoáng”.

Vu Hoàn Chi ngẩn người, không biết nàng đang tự khen hay đang khen mình, mãi y mới hỏi: “Cô muốn vẽ gì trên thân đèn?”.

Nam Sương xoay người lại, khoanh tay chống cằm nghĩ một chốc. Nàng bỗng cười, búng tay trên không trung: “Muốn vẽ hoa hồng hoa cúc, cành nhỏ lá xanh, chim khách chim sẻ, hồ điệp chuồn chuồn, cái nào hoan hỉ thì vẽ cái nấy”.

Vu Hoàn Chi cười cau mày, cúi đầu lấy tơ lụa ra, đặt lên mặt bàn rồi hất ra, quan sát một lát đoạn nhẹ nhàng nói: “Cũng tốt, dung tục mới là phong nhã”.

Nam Sương nghe lời ấy thì chép miệng, nói vô cùng đắc ý: “Cha ta thường nói, Hoa Đào Nhỏ nhà ông chính là một người dung tục phong nhã”.

Vu Hoàn Chi ngước mắt nhìn, hôm ấy Nam Sương vận một bộ váy xanh nhạt, nụ cười xán lạn, tựa như đào hồng với lá xanh đón gió xuân, quả thực dung tục phong nhã.

Y lẳng lặng vẫy tay với Nam Sương, nói: “Sương, qua đây”.

Nam Sương nghe xưng hô này, thoạt tiên chợt ngẩn ra rồi vui vẻ khó hiểu, hí ha hí hửng tới bên y, cười đùa: “Xin cứ dặn dò”.

Ánh mắt Vu Hoàn Chi dịu dàng, y vịn vai Nam Sương, hơi cúi người, khẽ khàng dán lên trán nàng. Tư thế ấy như thể rất sợ làm hư hại, làm vỡ một vật quý báu vậy.

Chốc lát sau, y lại quay lưng đi, dời mấy cuốn sách ở nóc tủ âm tường đi, lấy ra một cái hộp gỗ khác. Nam Sương tỏ vẻ tò mò, lúc Vu Hoàn Chi mở hộp gỗ ra thì hết sức kinh ngạc.[1] Ý là lấy cớ, mượn danh nghĩa.
 
Một Màu Xuân
Chương 28


Trong hộp lấp lánh sắc màu, một đôi vòng sắt màu sương bạc như vầng sáng nhật thực, là binh khí hoa đào Nam thường dùng.

Nam Sương tập võ từ nhỏ, dù không có thiên phú, lại có mới nới cũ với binh khí, nhưng từ năm mười một tuổi nàng có được vòng sắt thì chuyên tâm tập võ, tám năm qua cũng coi như có chút thành tựu.

Bất kể là Nam Cửu Dương hay Đào Thiển, thậm chí là thầy Vu Bất Cửu dọn tới vào mấy năm sau đều khịt mũi coi thường với môn binh khí vòng sắt này. Đây là binh khí ít được chú ý, công phòng đều không ra gì. Nếu dùng tốt còn có thể ném nó vòng lại, công kích cự li xa. Nếu dùng không tốt thì chỉ có thể làm vòng sắt to hơn, bất ngờ chụp xuống cổ địch mà siết.

Gặp chủ nhân sức cánh tay không lớn lại thích chơi vòng sắt nhỏ như hoa đào Nam, hất, đâm, chém đều không thể thực hiện được, chỉ có thể chạy ra sau địch rồi gõ chết, vả lại, hiệu quả còn chẳng bằng nhặt bừa hòn đá bên đường.

Nam Cửu Dương cảm thấy chuyện vòng sắt rất đáng buồn, từng triệu tập Đào Thiển, Vu Bất Cử võ công cao cường ở trong đình bát giác nhỏ của phái Thiên Thủy, định bàn cách giải quyết.

Tuy phái Thiên Thủy của ông là môn phái võ lâm dởm mười phần, trong liên kết triều đình, thực tế lại buôn bán, võ học chẳng qua là cờ hiệu. Nhưng đáy lòng Nam Cửu Dương mong con gái thành phượng hoàng, chờ một ngày kia, Hoa Đào Nước Nam thay da đổi thịt, biến thành nữ hiệp hoa đào tới vô ảnh đi vô tung.

Đào Thiển rất mê trà, đòi uống Phổ Nhĩ nghìn năm được Nam Cửu Dương cất kỹ nhiều năm xong thì chậm rãi nói: “Theo tôi, cứ mặc nó muốn dùng binh khí gì, ngày sau lấy con trai tôi, trên giang hồ ai dám bắt nạt nó?”.

Nam Cửu Dương xót ruột xót gan nhìn Đào Thiển nhấm nháp Phổ Nhĩ nghìn năm, khóc không ra nước mắt.

Lúc này Vu Bất Cử đã tới, dửng dưng chào hỏi Nam Cửu Dương, sau khi nghe xong chuyện vòng sắt thì nhấc tay vỗ bàn cười to nói: “Chỉ việc nhỏ thế thôi? Rất đơn giản!”.

Đào Thiển thảnh thơi dùng nắp chén gạt lá trà, ngước mắt thong thả liếc Vu Bất Cử. Nam Cửu Dương hưng phấn nói: “Lẽ nào anh Mục quả thực có cách ư?”.

Vu Bất Cử cười bảo: “Chuyện này có gì khó? Mấy nhà chúng ta lắm phổ võ công tuyệt thế, mặc cho Hoa Đào Nhỏ tu đại một môn thì binh khí chỉ là chuyện nhỏ!”.

Quả thật là vậy, thông thường tu luyện một môn võ công tới trình độ nhất định, lúc đấu với địch, binh khí chưa đến mà sát khí binh khí mang theo đã đủ để đả thương giết người rồi.

Chỉ tiếc, cách này không thể thực hiện với Nam Sương. Nam Cửu Dương buông tiếng thở dài “thương thay”, nếu võ công của Hoa Đào Nhỏ nhà mình có thể tinh tiến đến cảnh giới lấy khí đả thương người thì sao ông còn phải sầu vì chuyện binh khí.

Nam Cửu Dương đau lòng liếc chén trà của Đào Thiển, Phổ Nhĩ nghìn năm bên trong dập dềnh trong nước. Nói tóm lại, tóm lại mà nói, hôm đó tụ họp tiền mất tật mang, lợi bốn tám, hại năm tư.

Đào Thiển như thể nhìn thấu suy nghĩ của Nam Cửu Dương, đợi a hoàn thêm trà cho mình, lại thản nhiên nói: “Nếu ông thấy tiếc Phổ Nhĩ nghìn năm này, sau khi uống xong tôi có thể vớt lá trà trả lại ông, cất ít ngày, không chừng càng quý hơn đấy”.

Việc này vốn là để Nam Cửu Dương buồn bã rời đi. Ai ngờ Nam Cửu Dương bỏ đi được nửa đường, Hoa Đào Nhỏ bỗng chạy ta từ trong bụi hoa bên cạnh, nàng đã nghe thấy đối thoại vừa nãy của mấy người. Tất nhiên ba người Đào Thiển cũng biết nàng ở bên nghe trộm.

Nam Cửu Dương từng có ý đập nồi dìm thuyền, nếu Hoa Đào Nhỏ không muốn từ bỏ vòng sắt, ông có thể đả kích lòng tin của nàng, để nàng lựa cành mà đậu.

Tiếc rằng hoa đào Nam trời sinh thần kinh vững vàng, năng lực điều tiết bản thân rất mạnh, nàng hớn hở nói một câu: “Xin cha yên lòng, con gái thấy mình tuy không phải thiên tài luyện võ nhưng dùng cái vòng sắt này, tất có thể trở thành cao nhân tuyệt đỉnh!” khiến Nam Cửu Dương hoàn toàn tuyệt vọng.

Không ai tin Nam Sương chân chất có thể trở thành cao thủ tuyệt thế, càng không ai tin một đôi vòng sắt có thể tạo ra phong thái lỗi lạc ngoại trừ người mẹ đã qua đời của Nam Sương.

Nhưng Hoa Nguyệt càng ngốc nghếch hơn, suốt ngày hớn hở tồ tệch, con gái làm gì nàng đều khen, chưa tức giận với ai bao giờ, còn chất phác hơn Nam Sương mấy phần. Trước đây Nam Sương thấy Hoa Nguyệt như vậy không tốt. Sau đó phát hiện thật ra mình kế thừa tính mẹ, đồng thời luôn rất nhớ bà, nhớ lúc mình non nớt nói “về sau tung hoành giang hồ”, Hoa Nguyệt thò đầu ra cười hì hì nói “Ngày sau Sương Sương thành đại hiệp, có năng về nhà thăm mẹ không?”.

Sau đó Nam Sương xuất giá, bèn ngoan ngoãn để vòng sắt ở nhà. Gì mà xưng bá giang hồ, gì mà võ công cái thế, ôi, đó đều là truyền thuyết, thà rằng ngoan ngoãn xây tổ sinh con, duy trì hương khói, dẫn chồng lưng thẳng, ôm con ngoan trắng mập về nhà thăm cha, báo hiếu cha.

Thế là khi nhìn thấy đôi vòng sắt màu sương bạc trong hộp, Nam Sương vừa kinh ngạc kích động vừa vui vẻ đắc ý, còn có sự cảm động khó nói thành lời hơn. Dường như ngực chất đầy bông, mềm mại căng tràn, lúc lấy hơi muốn nói lại bị sợi bông hít vào ấy làm sặc, sặc đến mức mũi cay cay, khóe mắt ẩm ướt.

Hoa đào Nam thích thú cầm vòng sắt không nỡ dời tay, nhìn Vu Hoàn Chi toét miệng cười hì hì, nói: “Hì, anh không biết đấy thôi, trước kia tôi mơ làm một vị nữ hiệp võ công cái thế tung hoành giang hồ đấy!”.

Vu Hoàn Chi cười nhìn nàng chốc lát, đưa tay xoa mặt nàng, ngón cái lướt nhẹ qua khóe mắt nàng, vẽ ra một vệt nước mỏng. Y dịu dàng nói: “Ừ, sau này theo tôi là được”.

Bông trong lòng Nam Sương như hòa vào máu, chảy khắp cơ thể, toàn thân mềm nhũn cả ra. Nàng vô thức nghiêng đầu, khóe môi chạm vào lòng bàn tay Vu Hoàn Chi như lướt qua đá nung.

Nàng cầm vòng sắt ở tay trái rồi lại nâng tay phải lên, bất giác lướt qua gò má dịu dàng mà nham hiểm của Vu Hoàn Chi, cử chỉ kích động bất thường. Hai vòng sắt phát ra một tiếng “keng” lanh lảnh như lời cảnh bá, đánh thức cả hai.

Nam Sương giật mình, có tật giật mình nhanh chóng rụt tay phải lại. Vu Hoàn Chi cười khẽ, cụp mắt nhìn vòng sắt rồi nói: “Cô ra cửa sổ, hướng về phía mặt trời nhìn kĩ thử xem”.

Mặt mày Nam Sương đượm vẻ nghi hoặc, đi thẳng tới cửa sổ. Hướng vòng sắt về phía ánh mặt trời, nó liền tỏa ánh sáng bảy màu như cầu vồng. Nam Sương xem cẩn thận, bỗng cau mày lại rồi gập ngón tay gõ khẽ trên vòng, ngoảnh lại trợn mắt há mồm nói với Vu Hoàn Chi: “Đây là… đá Phong Minh?!”.

Đá Phong Minh, tức một trong bí bảo ngũ hành của Lạc Thiên Cửu Nhãn, nguyên là đá lạ vạn năm trong sơn động bí ẩn của dãy Trường Bạch. Sau đó lúc Thái Tổ dựng nước đã phái người đến đào để tìm đủ bí bảo ngũ hành.

Một trăm mười năm trôi qua, đá Phong Minh trở thành vật báu trấn phái của ma cung giang hồ – cung Mộ Tuyết, chỉ vì binh khí chế tạo từ đá Phong Minh có lực sát thương đáng sợ, bình thường binh khí còn cách trăm tấc đã có thể đưa người ta vào chỗ chết. Một đôi lưỡi Vọng Tuyết của Vu Hoàn Chi chính là dùng đá Phong Minh chế tạo ra.

Sau khi cung Mộ Tuyết bị diệt, đá Phong Minh cũng chẳng biết ở đâu, không ngờ đúng là đã bị ma đầu họ Vu gióng trống khua chiêng chuyển đến trang Lưu Vân.

Vu Hoàn Chi gật đầu, vẻ mặt lại nghiêm túc, y nói: “Đôi…”

Hoa đào Nam cười tươi như hoa, bảo: “Vòng Vọng Tuyết. Hai lưỡi của anh là lưỡi Vọng Tuyết, vòng của tôi cũng chế tạo từ đá Phong Minh, tất nhiên là vòng Vọng Tuyết rồi’.

Vu Hoàn Chi gật đầu nói tiếp: “Cố nhớ mang theo đôi vòng Vọng Tuyết này bên người, phòng thân khi cần”.

Tất nhiên Nam Sương biết vòng Vọng Tuyết quý giá. Đá Phong Minh là một trong bí bảo ngũ hành, giống như gương thủy phái Thiên Thủy của nàng vậy. Nàng bèn cất kĩ đôi vòng vào trong ngực.

Hành động này của Vu Hoàn Chi quá rõ ràng. Sắp xếp Đỗ Niên Niên ở vườn Thấm Huân là kế sách vẹn toàn, nhưng nàng ta đã tẩu hỏa nhập ma, dù Mục Diễn Phong âm thầm phái người bảo vệ Nam Sương và Tiêu Mãn Y, song chỉ sợ ngộ nhỡ. Vả, võ công của Đỗ Niên Niên quỷ bí, không biết thầy là nhà nào. Vu Hoàn Chi tặng Nam Sương đôi vòng Vọng Tuyết, tất nhiên hi vọng ở thời khắc nguy nan, nàng có thể mượn vật ấy mà an toàn thoát thân.

Lúc này, mặt trời đông chiếu xéo, bóng mặt trời đã chuyển về tây. Ngoài sân hiên Huy Vũ lại có một người rảo bước vào.

Mục Diễn Phong mặc áo dài màu xanh da trời, tay áo lật lên, bên trái thêu ba nút màu hạch đào, so với vẻ phòng khoáng bất kham thường ngày thì có thêm khí chất sâu sắc xúc tích.

Từ ngoài cửa sổ, hắn đã gọi Vu Hoàn Chi, vẻ mặt không có sự vui đùa thường ngày nữa.

Ma đầu họ Vu khẽ nhíu đầu lông mày, mở rộng cửa nhà chính, Mục Diễn Phong bước nhanh vào nhà rồi rẽ thẳng vào phòng sách.

Hoa đào Nam hết sức phấn khởi, chào: “Anh!”.

Mục Diễn Phong hơi ngây ra, bỗng vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ nói: “Em gái!”.

Nam Sương vội vàng rót chén trà nhỏ cho Mục Diễn Phong, cung kính đưa rồi hé miệng cười nói: “Anh uống trà đi”.

Mục Diễn Phong chậc chậc chậc nhận chén trà, ngoảnh lại liếc nhìn Vu Hoàn Chi một cái vi diệu, tay khoác lên vai y rồi rẽ ra sau tấm bình phong, đổi giọng nói: “Cậu Vu, cậu thật xấu xa!”.

Vu Hoàn Chi lạnh nhạt liếc hắn một cái.

Mục Diễn Phong tiếp tục hưng phấn hỏi: “Từ khi nào mà quan hệ với em gái tôi tốt hơn thế?”.

Vu Hoàn Chi nhàn nhã im lặng một lát, đợi khi Mục Diễn Phong cồn cào ruột gan, nóng lòng muốn nghe đáp án, y biết thời biết thế lừa hắn một câu: “Không lâu trước đây”.

“Ông trời ơi!” Mục Diễn Phong buông Vu Hoàn Chi ra, một tay cầm chén trà, một tay vỗ mạnh cánh tay y: “Cậu Vu! Khá lên rồi đấy!”.

Dứt lời, Mục Diễn Phong lại đột nhiên nghĩ tới một chuyện, vội hỏi: “Thế việc hôn nhân của tôi và em ấy?”.

Vu Hoàn Chi trầm ngâm chốc lát, nhìn tơ liễu rủ hồ, uyên ương nghịch nước trên bình phong, nói: “Không thành”.

Mục Diễn Phong lại chậc chậc vài tiếng, nhìn y xem thường, nói: “Trước đây trước đây, biết vậy chẳng làm. Cậu nói xem cậu là vì cớ gì?”.

Lời ấy vốn như gió thoảng bên tai, lọt vào tai không vào tim, dù sao ma đầu họ Vu đã nghĩ ra cách ứng đối. Nhưng nghĩ lại, lòng y bỗng trầm xuống, không biết rốt cuộc tại sao Mục Chiêu, Âu Dương Nhạc các Vạn Hồng, thậm chí Vu Kinh Viễn đều phải cạnh tranh muốn Nam Sương làm con dâu.

Tuyệt không chỉ vì nàng là Hoa Đào Nước Nam.

Nếu vì gương thủy… Gương thủy vô ích với Vu Kinh Viễn và Mục Chiêu, còn người của các Vạn Hồng có gương thủy này thì có ích lợi gì?

Thủy khắc hỏa… Vu Hoàn Chi bỗng cả kinh trong lòng: quyết Thần Sát thuộc hỏa!

Nhưng ý nghĩ này chỉ thoáng qua, nếu không có “bảy thức Mộ Tuyết” thì tu luyện “quyết Thần Sát” cũng vô dụng, nếu có “bảy thức Mộ Tuyết” rồi thì khí băng hàn mà bảy thức Mộ Tuyết tự mang đã đủ để ngăn chặn hỏa tính của “quyết Thần Sát” rồi.

Nói cách khác, cho dù người nào đó của các Vạn Hồng có tâm pháp với hỏa tính như “quyết Thần Sát” thì hắn có gương thủy cũng vô dụng.

Vu Hoàn Chi nhíu mày, trăm mối không lời giải. Mục Diễn Phong chỉ nghĩ y khốn đốn vì tình bèn vỗ vai y, khuyên nhủ: “Cậu Vu chớ vội, quan hệ giữa cậu và em Sương tốt hơn thì tất nhiên đã là em rể kết nghĩa của tôi. Việc này để anh thay cậu làm chủ!”.

Lúc này, hoa đào Nam thò đầu ra từ bên cạnh bình phong, hỏi: “Làm chủ chuyện gì?”.

Mục Diễn Phong cười ha ha, nói: “Em gái à, anh hỏi em…”.

“Hôm nay anh đến, có phải muốn nói về chuyện của tiêu cục Tô Duyệt không?” Vu Hoàn Chi lạnh nhạt ngắt lời hắn.

Mục Diễn Phong đột nhiên nhớ tới việc chính, tức khắc thu hồi vẻ không đứng đắn vừa nãy. Hắn nhíu mày lại, cất bước đến trước ghế trong phòng sách rồi ngồi xuống, đặt chén trà xuống bên cạnh, nói: “Bữa trước, tiêu cục Tô Duyệt nhận chuyến vận chuyện rồi bị mất hàng”.

Vu Hoàn Chi ngừng động tác, ngay cả Nam Sương cũng không khỏi “ồ” một tiếng.

Theo lời người giang hồ, mười tiêu sư của tiêu cục Tô Duyệt, ai nấy võ nghệ cao cường, trăm lần vận chuyện chẳng sai lầm bao giờ.

Vu Hoàn Chi trầm ngâm hỏi: “Người nhờ vận chuyện là?”.

Mục Diễn Phong gật đầu, nói: “Trọng điểm ở đây, bề ngoài là một phái nhỏ vô danh trong giang hồ, nhưng thứ vận chuyển là ngọc Thủy Long Phi Thiên trong cấm cung. Sau tôi phái người âm thầm điều tra, trước đó, phái nhỏ vô danh kia qua lại rất gần gũi với người của các Vạn Hồng”.

“Ngọc Thủy Long Phi Thiên?” Tiếng Giang Lam Sinh bỗng nhiên truyền đến từ ngoài cửa: “Không thể nào!”.
 
Một Màu Xuân
Chương 29


Giang Lam Sinh bước nhanh tới trước mặt mọi người, nhìn khắp bốn phía, lúc thấy Nam Sương, vẻ chán nản trên mặt hắn ta lóe lên rồi biến mất. Hắn ta vén vạt áo ngồi xuống, bưng trà trong tay rồi nói: “Ngọc Thủy Long Phi Thiên chắc… không thể đâu”.

Vu Hoàn Chi dọn dẹp sách vở trên bàn, xem chừng đã tỏ tường đầu đuôi câu chuyện.

Mục Diễn Phong liếc y hai cái rồi ngoảnh lại hỏi Giang Lam Sinh: “Sao lại không thể?”.

Giang Lam Sinh cầm quạt lông trắng trong tay, điểm năm cái trong không trung: “Bí bảo ngũ hành của Lạc Thiên Cửu Nhãn”. Hắn ta dừng lại rồi mở xoẹt cây quạt ra, cười nói: “Bốn phổ võ công và bí bảo ngũ hành của Lạc Thiên Cửu Nhãn là vật then chốt lúc lập quốc của cả vùng Thần Châu”.

“Bí bảo ngũ hành có hai thứ được cất trong cung là đài Càn Khôn thuộc thổ và phù Hóa Hỏa thuộc hỏa. Bởi vì đài Càn Khôn thuộc thổ nên tính chất ổn định trầm lắng, chỉ cần xếp lại là được. Còn phù Hóa Hỏa thuộc hỏa thì cương liệt kích động, cần phải có vật khác áp chế. Thủy khắc hỏa, nhưng gương Thủy trong bí bảo ngũ hành…” Giang Lam Sinh nói đến đây thì dừng một lát: “Sớm đã không rõ tung tích. Nên Thái Tổ bèn đặt chung thần vật “ngọc Thủy Long Phi Thiên” với phù Hóa Hỏa, nước lửa tương khắc, mới được an bình”.

“Nếu trong cung vẫn chưa truyền ra tin tức phù Hóa Hỏa mất trộm thì sao ngọc Thủy Long Phi Thiên lại lưu lạc dân gian?”.

Nhiều năm qua, bí bảo ngũ hành của Lạc Thiên Cửu Nhãn đã biến thành gốc rễ quốc gia trong lời đồn của mọi người. Nếu phù Hóa Hỏa là một trong bí bảo ngũ hành thì hoàng cung tất sẽ phong tỏa tin nó mất trộm, không ai hay biết.

Nhưng, dựa vào thân phận của Giang Lam Sinh, muốn nghe ngóng tin tức bí ẩn như vậy không khó.

Nam Sương cẩn thận nghiền ngẫm lời nói của Giang Lam Sinh trong lòng, bỗng nhiên nói: “Làm sao anh biết phù Hóa Hỏa đó thực sự ở trong cung chứ?”.

Giang Lam Sinh giật mình, kinh ngạc nhìn Nam Sương.

Hoa đào Nam nói tiếp: “Đài Càn Khôn ở trong cung, điểm ấy không kỳ, vì hàng năm lúc bái tế đều có thể nhìn thấy. Nhưng phù Hóa Hỏa ở trong cung chỉ là nghe nhầm đồn bậy mà thôi, dù sao chưa có ai tận mắt trông thấy”.

“Không sai”. Mục Diễn Phong tiếp lời: “Tôi cũng cho rằng phù Hóa Hỏa không ở trong cung. Trăm năm trước, Thái Tổ chỉ giữ đài Càn Khôn ở trong cung, phân tặng tứ bảo còn dư lại cho người đời sau của trung sĩ, mục đích chính là để bí bảo ngũ hành tản mát chân trời, không bị thu được cả thảy. Nhưng mấy năm trước, trong cung bỗng nhiên truyền ra tin tức, nói con cháu của một trung sĩ lại giao phù Hóa Hỏa về hoàng cung, hoàng đế cả mừng, còn phong chức quan cho người kia. Song nghĩ cẩn thận, hành động thu hồi phù Hóa Hỏa không hợp với động cơ ban đầu”.

“Vả, năm phù Hóa Hỏa thu hồi vừa hay là lúc cung Mộ Tuyết bị huỷ diệt”. Tiếng Vu Hoàn Chi thanh vẫn lạnh nhạt, chỉ là nắng chiều ngoài cửa sổ đã tắt, cỏ cây bên hồ đã phủ sương: “Chắc thu hồi phù Hóa Hỏa chỉ là cái cớ trấn an lòng người thôi”.

Bí bảo ngũ hành và bốn phổ võ công của Lạc Thiên Cửu Nhãn không phải không có liên hệ. Lấy tâm pháp ngoại công tu luyện “bảy thức Mộ Tuyết” trùng điệp trắc trở, hầu như lúc nào cũng phải tìm được đường sống trong chỗ chết mới có thể đột phá một cảnh giới. Mà bí bảo ngũ hành chính là thứ tốt giúp kẻ tu luyện đột phá trùng vây, luyện thành bảy thức Mộ Tuyết.

Vì vậy, trăm năm trước, sở dĩ có bốn vị tướng quân đồng thời luyện thành bảy thức Mộ Tuyết là vì họ có bí bảo ngũ hành giúp đỡ. Mà nay khi bí bảo ngũ hành bặt vô âm tín, e là kẻ có thể luyện thành bộ công phu này là chỉ có cha con Vu Kinh Viễn Vu Hoàn Chi.

Năm đó cung Mộ Tuyết bị diệt, Vu Kinh Viễn chỉ giữ một quyển tàn phổ bảy thức Mộ Tuyết trong tay, còn toàn phổ đã không biết nơi nao.

Có một thời gian lòng người trên giang hồ đều bàng hoàng, lòng dân thiên hạ thì càng bất ổn, chỉ sợ kẻ có dã tâm được bộ võ công tuyệt thế này, gây nên một trận rung chuyển. Nhưng, nếu muốn đột phá tầng thứ ba của bảy thức Mộ Tuyết, nếu bản thân kẻ tu luyện không có thiên tư đặc biệt, cốt cách thanh kỳ thì bắt buộc phải mượn công lực của phù Hóa Hỏa.

Vào thời khắc này, hoàng đế chiêu cáo thiên hạ, nói phù Hóa Hỏa đã đặt ở trong cung. Trên thực tế là trá hình nói cho giang hồ, trừ được cha con Vu Kinh Viễn bị diệt môn thì trên giang hồ sẽ không còn người luyện thành bảy thức Mộ Tuyết nữa, dùng nó để trấn an lòng dân.

Giang Lam Sinh trầm ngâm chốc lát, đã đoán được ý của Vu Hoàn Chi, hắn ta cười nói: “Cũng đành, vậy coi như phù Hóa Hỏa không ở trong cung”. Trong vẻ mặt không nghiêm túc lại có vài phần bất đắc dĩ.

Mục Diễn Phong bỗng cười. Sắc mặt ấy của Giang Lam Sinh quá rõ ràng – <i>phù Hóa Hỏa ở trong cung đúng là ngụy trang, không ngờ ba người lại đoán ra được.</i>

Lúc này đã sắp tối. Mùa đông trời nhanh tối, hôm đó nắng chiều biến mất rất nhanh, chỉ chốc lát mà chân trời chỉ còn lác đác một luồng sáng nhạt màu cam. Bốn phía nổi gió, lẳng lặng thổi. Tháng Chạp chưa đến, bầu trời nặng nề mây đen, lại có vẻ chực đổ tuyết khi đêm xuống.

Lát sau Giang Lam Sinh lại hỏi: “Vậy theo mọi người, chúng ta nên làm thế nào?”.

Người bình thường điều tra nhất việc khó bề phân biệt hay cố chấp tóm rịt manh mối sau khi có được, nên đi vào góc chết. Ví dụ như khi điều tra võ công của Đỗ Niên Niên, Mục Diễn Phong phái người đi lục chuyện tiêu cục Tô Duyệt mất hàng, lại tra được phù Hóa Hỏa từ ngọc Thủy Long Phi Thiên. Phù Hóa Hỏa chính là manh mối ấy.

Thế là Mục Diễn Phong dừng một lát rồi lại nói: “Chuyện phù Hóa Hỏa rất kỳ quặc, nhưng bây giờ truy cứu cũng vô ích, tạm không luận đến”.

Trong mắt Giang Lam Sinh, trước nay Vu Hoàn Chi kiếm sắc giấu mình, còn Mục Diễn Phong cẩu thả không làm nên chuyện. Song thiếu chủ họ Mục vừa nói ra lời này, dù là công tử ca kiêu ngạo như hắn ta cũng nhướng mày có mấy phần kính phục.

Vu Hoàn Chi đột nhiên hỏi: “Anh phái người tìm hiểu chuyện tiêu cục Tô Duyệt mất hàng từ khi nào?”.

Câu hỏi này đúng như mong muốn của Mục Diễn Phong, hắn cong miệng cười: “Giờ Thìn hôm nay”.

Thời gian ngắn ngủi như vậy lại có thể thăm dò hai năm rõ mười chuyện cơ mật như vậy, thám tử của trang Lưu Vân đâu phải thần. Như vậy thì chỉ có một lời giải thích: tiêu cục Tô Duyệt cố ý lộ tin mất hàng, đồng thời khiến tất cả mọi người biết vật họ bị trộm chính là ngọc Thủy Long Phi Thiên có quan hệ mật thiết với phù Hóa Hỏa.

Vu Hoàn Chi kinh ngạc nhếch đuôi lông mày, lát sau cũng cười: “Thì ra là thế”. Y nhẹ nhàng đặt cái chặn giấy ra góc bàn, phát ra một tiếng “cạch” rồi giải quyết dứt khoát: “Ba kết luận: một, chuyện tiêu cục Tô Duyệt mất hàng là do có kẻ âm thầm thao túng, mục đích là để người ta biết phù Hóa Hỏa không ở trong cung, mà ở giang hồ; hai, Đỗ Niên Niên vào trang Lưu Vân tất có liên quan đến chuyện tiêu cục Tô Duyệt mất hàng; ba, nếu trước đó chúng ta đoán không sai thì võ công mà Đỗ Niên Niên luyện tập…”. Y nhìn xung quanh, nở nụ cười nói: “Là thức thứ ba của bảy thức Mộ Tuyết”.

“Sao có thể?” Nam Sương thất thanh nói: “Đỗ Niên Niên đã tẩu hỏa nhập ma, nhưng tẩu hỏa nhập ma khi luyện thức thứ ba của bảy thức Mộ Tuyết không giống cô ta mà là…” Nàng nói đến đây, bỗng nhiên ngây ra, nuốt nửa lời phía sau xuống.

“Mà là từ khuôn mặt đến sau cổ đều mọc đầy đốm màu tím, vô cùng kì dị”. Vu Hoàn Chi khoan thai tiếp lời nàng, bỗng nhiên lại liếc Nam Sương một cái sâu xa, trong mắt có vầng sáng.

Giang Lam Sinh cầm quạt gõ “bộp” một tiếng xuống án kỷ: “Có rồi! Mọi người còn nhớ lời của mấy kẻ giang hồ gian bên cạnh lúc ở nhà trọ Hỉ Xuân của Phượng Dương không?”.

Mục Diễn Phong nghe vậy cười nói với Vu Hoàn Chi: “Nghe nói cậu muốn khôi phục cung Mộ Tuyết, lần lượt tuyển bảy người, dạy mỗi người một chiêu bảy thức Mộ Tuyết”.

Tất nhiên người muốn khôi phục cung Mộ Tuyết không phải Vu Hoàn Chi mà là kẻ khác.

Mọi người trầm mặc chốc lát. Nói đến tận đây đã rõ như ban ngày. Đỗ Niên Niên chính là người được chọn tu luyện thứ thứ ba của bảy thức Mộ Tuyết – Phi Hồng Ánh Tuyết.

Bộ võ công “bảy thức Mộ Tuyết” này cần tiến dần lên từng tầng một, nếu luyện từ giữa, võ công có thể đột nhiên tăng mạnh trong một tối, nhưng cứ thế mãi thì tất tẩu hỏa nhập ma, chết bất đắc kỳ tử. Nói cách khác, Đỗ Niên Niên cố tu luyện thức thứ ba của “bảy thức Mộ Tuyết” ắt không được chết yên lành, không còn sống được bao lâu.

Hoa đào Nam buông tiếng thở dài: “Vậy cô ta cố chấp đến trang Lưu Vân như thế là vì cớ gì…”.

Vu Hoàn Chi suy nghĩ một lát, nói: “Hỏi là biết thôi”.

“Ừ, hỏi rõ ràng tiền căn hậu quả đi”. Giang Lam Sinh cũng gật đầu nói rồi lại cười ngay: “May mà bây giờ cô ta còn an tĩnh tự đắc. Vừa nãy lúc tới đây, tôi thấy cô ta ngồi một mình bên hồ rất đau buồn, dường như thực sự là khốn đốn vì tình, còn vốc nước trong hồ mà uống…”.

Vu Hoàn Chi bỗng nhiên ngẩng đầu nhìn Giang Lam Sinh, cả kinh hỏi: “Cô ta vốc nước từ trong hồ để uống?”.

Nước hồ ngày đông cực lạnh, vào lục phủ ngũ tạng sẽ như vạn cái kim đâm vào. Người bình thường rất khó chịu được, nhưng Đỗ Niên Niên đã tu luyện thức thứ ba của bảy thức Mộ Tuyết.

Vu Hoàn Chi im lặng một lúc, mãi sau mới nhìn Mục Diễn Phong, nhấn mạnh từng chữ: “Theo tôi biết, nếu chỉ luyện thức thứ ba thì lúc tẩu hỏa nhập ma, ban đầu chỉ có kinh mạch hỗn loạn, tính tình âm trầm, giấu vẻ tàn ác. Nhưng chịu đựng đến bước ngoặt cuối cùng thì lục phủ ngũ tạng như thiêu như đốt, khó có thể nhẫn nại, dù vào đông rét buốt cũng muốn nuốt băng ăn tuyết để giảm bớt”. Dừng một lát, y lại nói: “Nếu lúc này, cô ta mà bị ai chọc tức thì sẽ khó có thể khống chế, nổi điên lên, khát máu giết người”.

Nam Sương nghe xong lời ấy, sắc mặt cũng trắng bệch ngay. Mấy ngày nay, vì Mục Diễn Phong mà Tiêu Mãn Y năm lần bảy lượt đi gây sự với Đỗ Niên Niên. Nàng ấy toàn dùng mánh khóe nhỏ, thường ngày Đỗ Niên Niên chỉ làm như không thấy.

Nhưng hôm nay… Nam Sương ngẩng đầu ngơ ngác nhìn Mục Diễn Phong.

Mục Diễn Phong chỉ nhìn chằm chằm nơi xa, cúi đầu xuống, cầm chén trong tay, bất động một lúc lâu. Lát sau hắn lại ngẩng đầu cố tỏ vẻ ung dung, cười nói: “Cậu Vu, sao cậu lại trở nên lo nghĩ như vậy? Ôi, mọi ngươi đều lo nghĩ quá nhiều rồi”.

Ánh chiều le lói, mây đen tầng tầng. Trời đất tràn ngập tiếng gió thổi, khiến cây cối kêu xào xạc. Mấy chiếc lá khô rụng xuống bị cuốn bay, cắt ngang chiều tối màu xanh nước biển, vẽ ra vẻ xơ xác tiêu điều.

Xa xa thoáng có tiếng sấm. Mục Diễn Phong ngước mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, mày kiếm anh tuấn của hắn đẹp đẽ lạ thường, đuôi mắt phượng tuấn lãng bất phàm, lời hắn nhẹ bẫng: “Năm nay tuyết rơi sớm thật”.

Dứt lời, khóe mắt hắn bỗng giật một cái. Một người làm lảo đảo chạy tới từ ngoài sân, hô to: “Thiếu chủ, công tử! Không xong rồi! Cô nương Tiêu và cô nương Đỗ một lời không hợp, đánh nhau rồi. Võ công của cô nương Đỗ quá cao, mấy người chúng tôi không cản được…”.

“Cạch” một tiếng, chén trà rơi trên mặt đất. Mục Diễn Phong đứng dậy hét hơn: “Rốt cuộc cô ta muốn làm cái gì?!!”. Lời còn chưa dứt đã biến mất, vạt áo màu xanh da trời lóe lên ở cửa sổ, Mục Diễn Phong đã nhanh chóng lướt ra sân, đầu ngón chân điểm ở trên chạc cây mai trắng một cái, đột nhiên chìm vào trong sắc đêm.
 
Một Màu Xuân
Chương 30


Tầng mây mù mịt, gió đêm lượn vòng, cỏ cây bên hồ xào xạc. Hành lang gấp khúc, lầu các trùng điệp, cây già rợp bóng của trang Lưu Vân thấm sắc đêm, hiện ra vẻ dày đặc tăm tối.

Thân hình nhanh nhẹn của Mục Diễn Phong hơi chậm lại trước vườn Thấm Huân. Không có tiếng chém giết trong dự liệu, sự yên tĩnh cổ quái khiến lòng hắn tự dưng sinh ra cảm giác hoang vắng.

Không biết tại sao, trước mắt hắn bỗng xẹt qua hình ảnh Tiêu Mãn Y nở nụ cười đắc ý, vui mừng hớn hở lắc hoa liền đế ở cổ tay. Tiếng vang leng ca leng keng làm đầu óc hắn lơ đãng.

Mục Diễn Phong bực bội nghĩ, lát nữa hắn ắt phải xách Tiêu Mãn Y ra, trách mắng nàng ấy một trận, nếu nàng ấy còn càn quấy nữa thì nhất định phải đuổi nàng khỏi trang Lưu Vân, nhất định phải… Mục Diễn Phong đánh một quyền vào tường thấp của vườn Thấm Huân, vén vạt áo đi vào trong vườn.

Trong vườn, đệ tử trang Lưu Vân nằm ngổn ngang, đều còn thở. Bên hồ Âm Nguyệt, một người ngồi run cầm cập, toàn thân nàng ta ướt đẫm nhưng từ tai tới sau cổ lại đỏ bừng.

Tiêu Mãn Y trốn sau cây cột đình lục giác, kinh hoàng nhìn Đỗ Niên Niên bên hồ.

Mục Diễn Phong thoáng thấy Tiêu Mãn Y thì cơn tức đầy bụng nổi lên. Hắn đi thẳng, hỏi ngay: “Rốt cuộc cô đang làm cái gì đấy?!”.

Tiêu Mãn Y thấy hắn thì thoạt tiên sửng sốt, lập tức ngạc nhiên mừng rỡ, giọng nói vui sướng có vẻ nhẹ nhõm: “Diễn Phong”.

Mục Diễn Phong chỉ nhíu mày lẳng lặng nhìn nàng ấy một lát rồi lập tức phất tay áo đi tới ven hồ. Tiêu Mãn Y cuống quýt kéo tay áo hắn: “Diễn Phong đừng đi”. Nàng ấy nâng cổ tay chỉ vào Đỗ Niên Niên, mím môi nói: “Người phụ nữ này rất kì dị, vừa rồi cô ta đánh nhau với tôi, chiêu võ công nào cũng trí mạng, may mà…”.

“Bất luận là người phương nào cô cũng dám chọc vào à?!” Mục Diễn Phong giận tím mặt. Lời lúc trước của Tiêu Mãn Y, hắn chỉ nghe rõ câu “chiêu nào cũng trí mạng”, chỗ tầm mắt chạm tới là vết hằn sâu trong bàn tay nàng ấy. Tình hình vừa nãy nguy cấp, tất nhiên nàng ấy phải nắm chặt vòng hạnh hoa trong bàn tay.

Tiêu Mãn Y bị hắn quát thì ngây ra, bàn tay nhỏ bé níu ống tay áo hắn buông lỏng ra.

Dù Mục Diễn Phong dễ xù lông nhưng rất ít khi tức giận thật. Thật ra hắn giống Nam Sương, đều là người vô cùng tốt tính, rất ít khi để bụng, cực kỳ rộng lượng.

Nhưng lúc này, hắn giận thật rồi.

Tiêu Mãn Y mở miệng, ngơ ngác hỏi: “Diễn Phong, có phải chàng thích nàng ta không?”.

Mục Diễn Phong không đáp, trong lòng hắn rất loạn.

Rất nhiều lúc, trầm mặc chính là ngầm thừa nhận. Tiêu Mãn Y cho là phải. Nàng cụp mắt một lúc lâu, lúc ngẩng đầu lên, đôi mắt sáng rưng rưng nước, cố làm ra vẻ mặt vô tội, khiến lông mày vốn hếch lên kiêu ngạo trở nên vô cùng thê lương: “Diễn Phong, tôi không biết, tôi không biết chàng thích…”. Tiếng nàng ấy càng ngày càng nhỏ, lặng lẽ hiu hắt như đóa đồ mi cuối hạ rơi.

Mục Diễn Phong chỉ trầm lặng, lạnh lùng rút ống tay áo khỏi tay nàng ấy, đi tới bên hồ không ngoảnh đầu lại.

Hôm nay hắn ăn vận rất đẹp. Áo dài xanh da trời, vải vóc bóng trơn tuột giữa ngón tay, giống hệt thời gian như nước mang phi hoa hồng trần đi xa.

Tiêu Mãn Y cảm thấy hơi trống vắng. Nàng ấy đờ đẵn tại chỗ nhíu mày mím môi, lạc lõng, buồn chán khôn tả.

Mục Diễn Phong còn chưa đến gần, Đỗ Niên Niên bỗng ngẩng đầu lên nói: “Chàng đừng tới đây”.

Tiếng nói của nàng ta khàn khàn, giống như từng bị lửa thiêu vậy.

Mục Diễn Phong sửng sốt. Đúng lúc này, tiếng Vu Hoàn Chi bỗng nhiên ung dung truyền tới từ phía sau: “Lúc tu luyện thức thứ ba và thứ tư của bảy thức Mộ Tuyết có hai tầng băng hỏa, cô không có tâm pháp ngoại công để bảo vệ mình, không có cơ sở của thứ thứ nhất và thứ hai, tiếp tục như vậy thì mạng không còn được bảy ngày”.

Đỗ Niên Niên khó nhọc ngẩng đầu nhìn y một cái, ánh mắt ảm đạm đi. Một lúc lâu sau, nàng ta chỉ nói: “Không sao cả”.

Mục Diễn Phong quay đầu lại liếc nhìn Vu Hoàn Chi, lại chỉ thấy thân hình y lóe lên rồi biến mất, lướt đến phía sau Đỗ Niên Niên như ma quỷ rồi đẩy liền ba chưởng.

Đỗ Niên Niên đau đến mức hét to một tiếng, bỗng đứng phắt dậy như bị mất khống chế. Quanh người nàng ta loáng thoáng có lệ khí đỏ như máu, thần trí bị nuốt hết, sát khí bừng bừng trong mắt.

Lúc này, Vu Hoàn Chi nghiêng người hiện ra ở bên cạnh Mục Diễn Phong, nói nhỏ: “Kiếm pháp Thiên Nhất, ngưng khí”. Đoạn xoay đến bên một đệ tử đã ngã xuống, nhặt bội kiếm của gã ném lên không trung.

Mục Diễn Phong ngầm hiểu, khẽ nhảy lên đón bội kiếm, kiếm chưa rời vỏ đã tấn công Đỗ Niên Niên một chiêu. Mục Diễn Phong giơ kiếm cản dao trong tay nàng ta rồi vòng lại chợt hiện ra phía sau nàng, rút kiếm đánh mấy cái, thủ pháp sắc bén mau lẹ, bước chân rõ ràng mà kì dị, đã có phong thái bá chủ võ lâm.

Tất nhiên thức thứ ba của bảy thức Mộ Tuyết vô cùng uy lực. Nhưng Đỗ Niên Niên chỉ hiểu chiêu thức, không có tâm pháp ngoại công phụ trợ, càng không nền tảng. Lúc này lòng nàng ta rối như tơ vò, tẩu hỏa nhập ma, lại gặp phải cao thủ như Mục Diễn Phong, chỉ đành chịu thua.

Chỉ qua hơn mười chiêu, Mục Diễn Phong cầm vỏ kiếm điểm vào thiên trụ và huyệt Phong Trì của nàng ta, cuối cùng gõ nhẹ huyệt Thiên Trung, thoát hết sức lực toàn thân của nàng.

Đỗ Niên Niên chỉ cảm thấy thân thể như nhũn ra, nàng cúi người phun một búng máu, lui lại mấy bước ngã ngửa vào trong hồ. Mục Diễn Phong vội vàng tiến lên kéo nàng ta lại.

Sắc mặt nàng ta trắng bệch, khóe môi vạt áo có vết máu loang lổ khiến người ta không nhận ra nụ cười nơi khóe miệng nàng nom vừa lạnh buốt vừa ấm áp.

Ánh mắt tan rã dẫn, khuôn mặt cực kì anh tuấn trước mắt vẫn như lúc mới gặp ở đại hội anh hùng bốn năm trước.

Mục Diễn Phong gọi: “Cô nương Đỗ”.

Đỗ Niên Niên khó nhọc gật đầu, giơ tay lên xua xua.

Vu Hoàn Chi buông tiếng thở dài, nói: “Đưa cô ta về phòng đi”.

Mục Diễn Phong nhíu mày, khom người ôm Đỗ Niên Niên lên, lúc mới quay đầu lại đối mắt với Tiêu Mãn Y.

Có lẽ là thói quen nhiều năm không đổi, Tiêu Mãn Y quen hễ nhìn thấy Mục Diễn Phong sẽ cười gọi hắn là Diễn Phong.

Mục Diễn Phong đã nhìn quen nụ cười của cô gái quái dị này, lúc dương dương đắc ý, lúc hết sức phấn chấn, lúc lòng lang dạ sói, nhiều màu sắc quả thật không hổ với tên hiệu danh chấn giang hồ – Y Nhân Hai Mặt của nàng.

Nhưng bây giờ, nàng chỉ miễn cưỡng nhếch khóe miệng, hai mắt mở to tròn, thoáng có phần tiêu điều.

Nàng ấy vẫn gọi: “Diễn Phong”.

Chẳng biết tại sao, tiếng nàng hôm nay nghe có vẻ yếu ớt.

Mục Diễn Phong hô hấp gấp gáp, nhíu mày vòng qua nàng ấy, đưa Đỗ Niên Niên về phòng.

Lúc này, Giang Lam Sinh và Nam Sương cũng đã chạy tới. Trước vườn, Hoa Đào Nhỏ “oa” một tiếng, Giang Lam Sinh “chậc chậc” hai tiếng. Vu Hoàn Chi đi ra ngoài vườn, hình như nói gì đó với Nam Sương rồi gọi Đồng Tứ tới xử lý người bị thương.

Từ đầu đến cuối, Tiêu Mãn Y đều nhìn chăm chú vào bóng lưng Mục Diễn Phong, nhìn bóng lưng to lớn của hắn bước vào trong phòng.

Mây vần vũ, ánh trăng lúc ẩn lúc hiện, hạt tuyết rất nhỏ rơi xuống đất thì tan ngay. Mục Diễn Phong đóng cửa lại, ánh nến lờ mờ chiếu lên giấy cửa sổ, mịt mùng.

Lúc bấy Tiêu Mãn Y mới xoay người lại, nhìn Đồng Tứ dẫn một đám hạ nhân đang xem xét thương thế của người trong vườn. Vu Hoàn Chi vẫn mang vẻ mặt lạnh nhạt vào trong phòng Đỗ Niên Niên.

Nam Sương nhìn nàng ấy một lúc lâu, bấy giờ mới gọi: “Yên Hoa”. Nàng hé miệng, lại cười hì hì nói: “Yên Hoa, may mà cô không sao”.

Tiêu Mãn Y cực ghét Nam Sương gọi mình là Yên Hoa nhưng lúc bấy nàng ấy nghe tiếng xưng hô này lại cảm giác rất thân thiết. Nàng ấy nhíu mày như bình thường, hơi hất cằm lên, giận dỗi gọi một tiếng: “Họa Thủy”. Dứt lời, nàng ấy lại lảo đảo đi tới trước mặt Nam Sương, tức giận nói: “Sao giờ cô mới đến? Vừa nãy tôi trúng một chưởng của hồ li tinh kia, suýt chút nữa bị cô ta đánh chết đấy”. Nói rồi nàng ấy lại cười đắc ý: “Có điều võ công của tôi cao, lúc cô ta đánh chưởng thứ hai, tôi bèn vọt tới, sau đó nàng ta tẩu hỏa nhập ma ngồi bên cạnh ao uống nước nên không… không đả thương được…”.

Tiêu Mãn Y còn chưa dứt lời, bỗng nhiên ôm ngực, hai mắt tối sầm, ngã ngửa ra.

Trong nhà chính của vườn Thấm Huân, một chậu than bạc cháy xèo xèo.

Mục Diễn Phong độ nội lực cho Đỗ Niên Niên rồi xoay người xuống giường, cáu kỉnh nói: “Bảy thức Mộ Tuyết của cậu là công phu tà môn gì mà độ nội lực vào như cái động không đáy thế? Cứu thế nào đây?!”.

Vu Hoàn Chi vắt khăn vải, lau khô tay, vừa lấy túi kim châm trong ngực ra, vừa thong dong nói: “Vừa nãy anh dùng kiếm pháp Thiên Nhất, ngưng khí của cô ta. Lúc này độ nội lực cho cô ta hoàn toàn không có tác dụng gì, chẳng qua là cho cô ta chút sức lực mà thôi”.

Mục Diễn Phong ngoảnh lại nhìn Vu Hoàn Chi sắp từng cây kim bạc ra, còn tìm cây to nhất rửa bằng nước sạch thì không khỏi buồn bực hỏi: “Cậu muốn làm gì?”.

Vu Hoàn Chi nói: “Đánh thức cô ta”.

Ánh mắt Mục Diễn Phong khóa chặt trên cây kim to nhất, lại khó hiểu nói: “Thuật châm cứu trọng ở độ chính xác và sức lực, nhưng chưa từng thấy cậu dùng loại kim to như kim may áo thế này”. Suy nghĩ một lát, hắn lại than: “Bảy thức Mộ Tuyết quả nhiên thần kỳ”.

Vu Hoàn Chi lạnh nhạt nhìn hắn một cái, lấy khăn vải sạch sẽ lau kim, bình tĩnh nói: “Cứu cô ta chỉ có hai cái cách. Một, chọn kinh mạch của cô ta, chặt đứt lai tầng lệ khí băng hỏa của bảy thức Mộ Tuyết, lại lấy ngoại công “công Thiên Nhất” để cứu. Tuy từ nay về sau cô ta sẽ là kẻ tàn phế nhưng vẫn có thể sống cho qua ngày. Hai, phế võ công của cô ta, lấy ngoại công của “công Thiên Nhất” để cứu, dạy cô ta ngưng khí thế nào. Nhưng cách này trị ngọn không trị gốc, sẽ chịu đau đớn dày vò của hai tầng băng hỏa vào giờ quy định, không đầy năm năm sẽ bỏ mình”.

Mục Diễn Phong nghe xong, nhíu mày ngẫm nghĩ, lát sau lại nói: “Nhưng hai cách này đều không liên quan tới châm cứu”.

Vu Hoàn Chi bước tới trước giường, tìm huyệt Bách Hội sau gáy Đỗ Niên Niên. Y giơ kim lên áng chừng, ánh nến trong phòng nổ lách tách, đốm lửa chiếu vào mũi kim, phát ra ánh sáng lấp lánh. Vu Hoàn Chi thản nhiên nói: “Ừ, không liên quan tới châm cứu. Chẳng qua là tôi muốn châm cho cô ta tỉnh lại trước, hỏi xem cô ta chọn cách nào?”.

Mục Diễn Phong sửng sốt, một lát sau, toàn thân giật mình.

Nam Sương xoa cái hông đau nhức. Vừa rồi lúc Tiêu Mãn Y ngất, mình vội vàng đỡ, kết quả vừa hay bị nàng ấy lấy làm nệm thịt mà đè lên.

Ngoài sân tuyết rơi im ắng. Đồng Tứ xử lý xong người bị thương trong vườn lại vội vàng tìm thầy thuốc ở quê cho Tiêu Mãn Y. Giang Lam Sinh đã dò xét thương thế cho nàng ấy, nói mặc dù bị nội thương nhưng may mà không nặng, điều dưỡng một tháng là hồi phục.

Nam Sương nghe hắn ta nói thế thì yên lòng, không quấy rầy Vu Hoàn Chi và Mục Diễn Phong nữa.

Dù sao hiện nay Đỗ Niên Niên là đầu mối duy nhất, chỉ có cứu sống nàng ta mới có thể thám thính được chủ mưu đằng sau việc khôi phục cung Mộ Tuyết, mới có thể thám thính được tung tích của toàn phổ “bảy thức Mộ Tuyết” cùng với các loại gian khổ chưa biết của con đường phía trước.

Tuy bình thường Tiêu Mãn Y hay om sòm nhưng ngủ rất ngoan, như con mèo vậy, hoàn toàn không có thói xấu chép miệng, ch ảy nước miếng, đá chăn, ôm gối như hoa đào Nam.

Tay nàng ấy lẳng lặng để ở bên cạnh, vòng bạc lấp lánh, hoa hạnh liền đế tinh xảo hệt như thật.

Nam Sương mơ ước cái vòng tay này đã lâu, lần này nhân Tiêu Mãn Y ngủ say bèn giơ một ngón tay lên, nhẹ nhàng gảy một cái. Đóa hoa nhỏ bé khẽ rung, tinh xảo đặc sắc. Hoa đào Nam li3m môi, mở cờ trong bụng, lại ghé sát vào, sờ sờ đóa hoa hạnh kia. Thấy Tiêu Mãn Y vẫn chưa tỉnh, lá gan lớn hơn, nàng đưa tay định tháo vòng trang sức khỏi cổ tay nàng ấy. Mình thử đeo một lần, chỉ thử một lần thôi.

Ai ngờ nàng đang lén lút hành động, Tiêu Mãn Y bỗng nhiên hét lớn một tiếng: “Họa Thủy!”.
 
Một Màu Xuân
Chương 31


Tiêu Mãn Y bỗng nhiên ngồi dậy, Hoa Đào Nhỏ kinh ngạc giật mình, hai người cằm đụng trán, đau đến mức kêu xuýt xoa.

Y nhân Tiêu giơ tay lên, run rẩy chỉ vào Nam Sương đang xoa trán, giận dữ hét lên: “Đồ ăn trộm, giết!”.

Hoa đào Nam vươn mặt nhìn nàng ấy, cười hì hì nói: “Tôi chỉ ngắm tí thôi”.

“Ngắm tí ngắm tí!” Tiêu Mãn Y nổi giận: “Trừ ngắm tí ra, cô còn biết dùng từ khác không?!” Nàng ấy tức đến mức ngực không ngừng phập phồng, chỉ vào Nam Sương mà kêu: “Cô chỉ ngắm tí! Ngắm một tí chính là bắt nguồn động cơ bất lương của cô, cô ngắm xong sẽ muốn thử một tí, thử xong sẽ tiện tay lấy đi mất, thế là mất ngay!”.

Dứt lời, nàng ấy vén chăn ra, đứng lên tiếp tục kêu la: “Một túi tròn vo đầy ắp của cô chính là do cả đoạn đường này cô ngắm tí mà ra đấy! Gì mà hòn đá ven đường, chiếc đũa nhỏ khắc hoa, tấm bảng thực đơn nhỏ của nhà trọ, hoa trắng mà gia quyến người chết đeo cô cũng nhón một đóa, cái buồm treo trên cột thuyền, cô cũng cầm kéo cắt một góc nhỏ. Cô ngắm đi ngắm đi, xem có trả lại không!”.

Tiêu Mãn Y vốn đã bị thương, kêu la một chặp, nàng ấy nhọc đến khàn cả giọng. Đợi la xong, cả người nàng ấy tê liệt, lại ngã lên trên giường, ngửa mặt nhìn xà nhà đen thùi lùi, than một tiếng to: “Ông trời ơi! Giang hồ có ba kì nữ, sao tên tuổi tôi lại noiis ngang với cô? Sao lại thế sao lại thế sao lại thế…”

Tiếng nàng ấy càng ngày càng nhỏ, dần dần nhỏ như muỗi kêu, nhưng cứ lượn lờ không ngừng như câu thần chú. Nam Sương nhìn nàng ấy trấn định lại bèn tiến lên dịch nàng ấy lên trên gối. Lại dốc sức ba bò chín trâu ra để kéo chăn bông dưới người nàng ấy, đắp lên người nàng, giúp nàng kéo căng góc chăn.

Trong quá trình này, mắt Tiêu Mãn Y đượm bi thương, khoan thai nhìn chăm chú hoa đào Nam.

Nàng ấy đã lạnh lòng, đã chấp nhận số mệnh rồi.

Vu Hoàn Chi dùng cây châm to và nước lạnh dày vò khiến Đỗ Niên Niên tỉnh lại, lời ít ý nhiều nói ra hai cách cứu người. Đỗ Niên Niên trời sinh thanh cao ít lời, người như vậy tuyệt đối không cho phép bất cứ ai bất cứ chuyện gì xúc phạm tới tôn nghiêm của mình. Không ngoài dự liệu, nàng ta chọn cách thứ hai, trị ngọn không trị gốc, chỉ còn lại năm năm thọ mệnh.

Sau khi nghe xong, Vu Hoàn Chi bèn điểm huyệt hôn mê của nàng ta, để nàng ta ngủ tiếp.

Đỗ Niên Niên lựa chọn đúng như dự liệu của y. Có lẽ bất kể là y hay Mục Diễn Phong, thậm chí Nam Sương thật thà và Tiêu Mãn Y lắm mồm cũng sẽ đưa ra quyết định như vậy.

Thời gian như nước, phải xem trong nước hoa rơi mấy phần, khói sóng mấy chỗ, chứ không phải mặc kệ nó chảy dài buồn tẻ. Bởi thế lúc chọn một trong hai, ý nghĩa của sinh mạng có sức hấp dẫn hơn chiều dài sinh mạng nhiều.

Mục Diễn Phong cảm thấy cách làm của Vu Hoàn Chi làm phép thật là độc ác, nhưng trong lòng hắn cũng hiểu, dùng châm cứu khiến Đỗ Niên Niên tỉnh lại là cách bất đắc dĩ. Thương thế của nàng ta quá sâu, nếu cứu trễ thì sợ rằng dù Biển Thước[1] tái thế, cũng hết cách xoay chuyển.

Trang Lưu Vân hỗn loạn như vậy, ban đầu Tống Tiết và Mục Hương Hương muốn đến xem, nhưng Vu Hoàn Chi đã sai Đồng Tứ truyền lời, nói lúc này nguy cơ trong trang chưa qua, mong mấy ngày này đại tiểu thư và công tử Tống ở lại trang ứng phó cục diện, tuyệt đối không được để lộ phong thanh.

Tuy đã có cách cứu mạng, song tính mạng của Đỗ Niên Niên vẫn như ngàn cân treo sợi tóc. Bởi vì vết thương của nàng ta liên quan đến “bảy thức Mộ Tuyết” và “công Thiên Nhất” nên Vu Hoàn Chi và Mục Diễn Phong phải tự mình thay phiên coi chừng. Họ sai người dưới đưa nhu yếu phẩm hằng ngày đến gian nhà trống của vườn Thấm Huân, chỉ để lại vài cô a hoàn.

Đợi Mục Diễn Phong độ chút ngoại lực của công Thiên Nhất để Đỗ Niên Niên hộ thể thì đêm đã khuya rồi.

Vu Hoàn Chi ngồi ở trước giường, thăm dò mạch đập của nàng ta, mặc dù vẫn hỗn loạn song đã tốt hơn máu chảy gấp về tim lúc trước nhiều. Một a hoàn tiến lên dâng chén trà nhỏ cho y, lúc bấy Vu Hoàn Chi mới rảnh rỗi uống một hơi cạn sạch nước trà rồi nhìn chằm chằm Diễn Phong ngồi buồn bực trước bàn, nói: “Nếu ngày mai không thay đổi thì phế võ công của cô ta đi”.

Dường như Mục Diễn Phong không tập trung, nghe thấy lời của y mà mãi mới “à” một tiếng.

Vu Hoàn Chi liếc mắt nhìn hắn, bỗng nhiên cười tỏ vẻ đã hiểu, tặng lại lời Mục Diễn Phong chế nhạo mình lúc chiều: “Trước đây trước đây, biết vậy chẳng làm”.

Mục Diễn Phong vẫn nhíu mày, lát sau, hắn ngẩng đầu khỏi ánh nến, hơi ngập ngừng hỏi: “Ôi, cậu Vu cậu nói xem, có phải Tiêu Mãn Y bị thương rồi không?”.

Vu Hoàn Chi “À?” một tiếng, nhìn chằm chằm giấy cửa sổ, ngoài cửa sổ, tuyết rơi lặng lẽ không một tiếng động. Y khẽ cười rồi lại cụp mắt cất châm vào túi, du nhạt nói: “Sương chưa tới tìm, chắc là không sao”.

Mục Diễn Phong nghe xong lại lâm vào trầm tư. Một lát sau, hắn nói tiếp: “Vừa nãy tôi nghe cô ấy nói, có vẻ mất sức lắm”.

Vu Hoàn Chi rót chén nước cho hắn ở trước bàn, trả lời: “Có lần nào cô ấy thấy anh mà không mất sức yếu ớt không?”.

Mục Diễn Phong gật đầu một cái rồi tiếp tục trầm tư. Say một lát, hắn lại mở miệng nói: “Không đúng, cậu Vu, trước khi chúng ta đuổi trước, cô nương Đỗ đã ra tay với Tiêu Mãn Y rồi, ngộ nhỡ bị thương thì phải làm sao?”.

Lúc này, Vu Hoàn Chi đã lấy một cuốn sách ra xem. Y thong thả lật một tờ, ngước mắt lên khỏi sách, nở nụ cười: “Quan tâm tắc loạn”.

Mục Diễn Phong rất khốn đốn, lại nhíu chân mày, mấy lần muốn mở miệng đều bị vẻ “nhà không dứt ý trần[2]“ của Vu Hoàn Chi chặn lại.

Khi thiếu chủ họ Mục ngứa ngáy, lòng nóng như lửa đốt, Vu Hoàn Chi bỗng nhiên nói: “Tối nay tôi trông chừng, ngày mai giờ mão anh đến thay”.

Mục Diễn Phong ngẩn ra, chợt thấy áy náy, ánh mắt Vu Hoàn Chi vẫn thản nhiên đảo qua những hàng chữ, không ngẩng đầu lên, chỉ thêm một câu: “Vừa lúc đọc xong quyển sách này”.

Giang Lam Sinh phóng ngựa vào thẳng trang Lưu Vân, giục ngựa chạy chậm đến khi vào vườn Thấm Huân mới tung người xuống ngựa, tư thế cực kì đẹp đẽ lưu loát. Hắn ta lại nhấc tay lên xách đại phu già xuống khỏi ngựa, dẫn ông ta vào thẳng chái tây.

Đại phu đó họ Hứa, đã ở tuổi xế chiều. Ông ta bị Giang Lam Sinh xách lên ngựa từ trấn Vân Thượng, bôn ba tới trang Lưu Vân, cả đường xóc nảy rất k1ch thích nên ông lão xuống ngựa, vào phòng rồi vẫn vỗ ngực kêu to: “Ôi chao, mẹ ơi!”.

Giang Lam Sinh gọi a hoàn đưa chén nước cho đại phu bớt hãi. Đại phu họ Hứa mới vừa xuôi xuôi, ngó chén trà thấy là sứ men xanh thượng hạng của trấn Cảnh Đức thì sợ đến run tay, kêu to: “Ôi chao, cha ơi!”.

Giang Lam Sinh tay mắt lanh lẹ, đón được chén trà rơi trên không trung rồi đưa cho a hoàn bên cạnh, đưa tay làm một chữ “mời”, nói: “Đại phu Hứa, bên này”.

Đại phu Hứa gật đầu, theo Giang Lam Sinh vào gian trong.

Cha mẹ vị đại phu Hứa này đã rời thế gian, hiển nhiên không nghe thấy tiếng gọi thành khẩn của con trai nên khi đại phu Hứa vào gian trong, ánh mắt chuyển từ Tiêu Mãn Y đẹp như Điêu Thuyền trên giường bệnh sang gương mặt như tiên giáng trần của Nam Sương thì hít sâu đến mức suýt nữa tắt thở.

Ông ta cả kinh cả người run run, ôm ngực lại kêu to: “Ôi chao, tổ tông ơi!”.

Tổ tông của đại phu Hứa quan tâm đến con cháu mình, đợi đại phu già run rẩy bắt mạch cho Tiêu Mãn Y xong, cuối cùng cũng khôi phục chút thần thái. Ông ta vung bút lớn, viết một phương thuốc, đoạn đưa cho Giang Lam Sinh nói: “Dùng phương thuốc này, mỗi ngày uống hai lần, không đầy mười ngày nhất định thuốc đến bệnh trừ”.

Giang Lam Sinh đưa cho đại phu đó một mẩu bạc vụn, sai người làm tiễn ông ta ra ngoài rồi đưa phương thuốc cho một đứa a hoàn, bảo nàng ta mau sắc thuốc.

Đợi đại phu đi, Tiêu Mãn Y bèn xoay mình bò dậy trên giường, hỏi Giang Lam Sinh: “Anh đi đâu tìm đại phu thế? Trấn Vân Thượng à?”.

Trấn Vân Thượng là một thị trấn cách trang Lưu Vân không xa. Nhỏ mà có võ, bên trong trấn đầy đủ nhà trọ quán trà, câu lan nhà hát, vân vân.

Thấy Giang Lam Sinh gật đầu, Tiêu Mãn Y lại hưng phấn hỏi: “Anh tìm được đường đến trấn Vân Thượng à?”.

Giang Lam Sinh ngây ra, rút cây quạt lông trắng từ bên hông ra mở đánh soạt một cái, phe phẩy, cảnh giác nhìn nàng ấy.

Ban đầu hoa đào Nam đang ngủ gà ngủ gật, thấy dáng vẻ hưng phấn ấy của Tiêu Mãn Y thì tỉnh táo lại, hỏi góp vui: “Trấn Vân Thượng vui lắm à?”.

Tiêu Mãn Y vội nói: “Vui lắm vui lắm, nhà hát nơi đó tên “lầu Thanh Thanh”, mời vài vũ cơ vũ quán của “Vũ Thiên Hạ” năm đó, đáng tiếc tôi chưa tới bao giờ”.

Nam Sương nghe thấy “Vũ Thiên Hạ” cũng sửng sốt, một lát sau nàng lại cười ha ha, hỏi: “Vì sao không tới?”.

Tiêu Mãn Y chán nản ngồi xếp bằng trên giường, oán giận nói: “Nhà hát đó chỉ tiếp khách nam, không tiếp khách nữ. Nếu khách nữ muốn đi nhất định phải được chồng hoặc cha dẫn đi, tôi không cha chưa lập gia đình, tất nhiên không đi được”. Dứt lời, nàng ấy nghĩ một lát lại nói: “Thật ra nữ giả nam trang đi cũng được, nhưng tôi luôn múa ở câu lan, tiếng tăm vốn đã không tốt, nếu nữ giả nam trang tới đó mà truyền ra ngoài thì Diễn Phong tất không cần tôi nữa”.

Nhắc tới Mục Diễn Phong, trên mặt nàng ấy thoáng hiện vẻ ảm đạm. Tiêu Mãn Y chợt nhớ tới chuyện vừa rồi, ngơ ngác ngẩng đầu nhìn Nam Sương, mếu máo, không muốn nói nữa.

Từ nhỏ hoa đào Nam đã rất hiếu kì, bị Tiêu Mãn Y xúi bẩy như vậy thì lập tức nhìn Giang Lam Sinh chờ mong.

Vừa bị Nam Sương nhìn như thế, Giang Lam Sinh chạy trời không khỏi nắng, khép quạt nói: “Cũng được, đợi cô nương Tiêu dưỡng thương xong, tôi dẫn hai người đi”.

Đêm đã khuya, Giang Lam Sinh dặn dò vài câu với hai người rồi đi. Hắn ta cũng tìm gian phòng trống trong vườn Thấm Huân, một mình thảnh thơi phe phẩy quạt lông trắng đến vườn Phong Hòa mang bọc hành lý tới.

Mục Diễn Phong đến trước chái tây nhưng nghe trong phòng im bặt. Hạt tuyết khắp trời tựa như ngọc đẹp vụn vỡ, nhao nhao rắc xuống mặt đất, chạm đất thành mưa, như hoa trong gương như trăng trong nước.

Rất lâu về sau, khi Tô châu lại có tuyết rơi, Mục Diễn Phong nhớ Tiêu Mãn Y từng nói với hắn, thật ra trên đời này có rất nhiều chuyện đều là công dã tràng hoa trong gương, trăng trong nước, duy chỉ có việc mà chàng nhận định, việc mà chàng kiên trì là không phải.

Giống như tuyết đầu mùa của Tô châu, mênh mông bao la rơi xuống từ bầu trời đêm là thế, song vì không có quyết tâm tích dày ba thước nên chạm vào mặt đất là hóa thành hư không.

Phía sau thoáng có tiếng bước chân, Mục Diễn Phong quay đầu lại nhìn, là a hoàn Li Bình hầu ở vườn Thấm Huân.

Tay nàng ấy cầm một cái khay, trên khay đặt thuốc mới sắc xong và một đ ĩa mứt hoa quả. Nàng ấy thấy Mục Diễn Phong thì hành lễ nói: “Thiếu chủ”.

Vì tuyết rơi nên trên bát thuốc còn có nắp đậy. Mục Diễn Phong đi tới, hỏi: “Là gì thế?”, lập tức mở nắp ra, mùi thuốc nòng nặc xộc vào mũi, không cần nói cũng biết đáp án.

Người làm của trang Lưu Vân đều được dạy phải biết giới hạn. Li Bình không đáp, chỉ đợi Mục Diễn Phong hỏi: “Thương thế có nặng không?”, nàng ấy mới thưa: “Bẩm thiếu chủ, chắc là lúc đó mặc dù cô nương Đỗ tẩu hỏa nhập ma nhưng không có ý làm hại cô nương Tiêu nên đã khống chế sức lực. Dù cô nương Tiêu bị nội thương nhưng đại phu nói, chỉ cần dùng thuốc này, không đầy mười ngày sẽ khỏi”.

Mục Diễn Phong thở phào nhẹ nhõm, liếc mắt lại nhìn vào trong phòng, lát sau xoay đầu lại hỏi: “Em Sương đâu?”.

Li Bình cười, nói: “Đang ở cùng cô nương Tiêu ạ. Cô nương Nam Sương có tâm tính thiện lương, thấy cô nương Tiêu bị thương bèn canh giữ bên cạnh chăm sóc, đêm rồi vẫn chưa đi, còn gọi người chuyển giường của mình đến đấy ạ”.

Mục Diễn Phong cũng thoải mái cười nói: “Tính nó thích náo nhiệt, thích vui mừng”.

Li Bình gật đầu theo, lại hỏi: “Thiếu chủ vào phòng không ạ?”.

Tuyết bay đầy trời điểm tô lên lọn tóc của Mục Diễn Phong rồi tan thành nước, chứa mấy phần thê lương. Hắn bỗng nghĩ tới mình bỗng dưng phiền lòng loạn trí lúc ở bên hồ, đến nay, cảm giác hỗn loạn ấy vẫn khiến lòng hắn sợ hãi. Một lúc lâu sau, hắn lắc đầu nói: “Không”.[1] Biển Thước, hiệu Lư Y, là một đại phu trứ danh thời Chiến Quốc và được xem là một trong những danh y đầu tiên được ghi chép sớm nhất trong các thư tịch của lịch sử Trung Quốc. Tương truyền ông chính là người khai sinh ra phương pháp bắt mạch, là người đặt tiền đề quan trọng cho Đông y.

[2] Một câu trong bài Về ở ruộng vườn kì 2 của Đào Tiềm. Đại ý là dứt bỏ ý nghĩ trần tục.
 
Một Màu Xuân
Chương 32


Tiêu Mãn Y nhìn Nam Sương sắp xếp ghế dài thành một cái giường nhỏ với vẻ hết sức phấn khởi thì não sung huyết, nói: “Cô không thể về phòng mình sao?!”.

Hoa đào Nam vỗ vỗ cái giường nhỏ mềm mại ấm áp, cười hì hì nói: “Chỗ này tốt mà”.

Tiêu Mãn Y cáu, quay đầu đi, niệm tiếng “A Di Đà Phật” với pho tượng phật Di Lặc rồi bắt đầu ngồi thiền. Ngồi một lát, mở mắt ra lại thấy phật Di Lặc cười bừng bừng phấn khởi như hoa đào Nam thì càng khí huyết công tâm.

Ngoài phòng có người gõ cửa hai tiếng.

Li Bình đẩy cửa vào, đặt khay lên bàn và nói: “Cô nương Tiêu, uống thuốc thôi”. Dứt lời, nàng ấy dùng thìa khuấy nước thuốc, đợi nguội đi một chút bèn đưa cho Tiêu Mãn Y, cười nói: “Ban nãy thiếu chủ ở ngoài phòng, nghĩ có lẽ hai cô nương đã nghỉ ngơi nên không vào”.

Tiêu Mãn Y ngừng động tác trong tay lại, ngửa đầu uống thuốc một hơi cạn sạch.

Thuốc kia vô cùng đắng, nhưng từ nhỏ Tiêu Mãn Y đã vào “Vũ Thiên Hạ”, sau này một mình lưu lạc chân trời, một chén thuốc đâu có đáng là gì với những khổ sở mà nàng ấy phải chịu.

Li Bình nhận lấy chén không rồi dâng đ ĩa mứt hoa quả đó lên. Tiêu Mãn Y khoát tay áo, ý bảo không cần. Li Bình cười, đang định cất đ ĩa đi thì bên cạnh chợt hiện ra một người, ngơ ngẩn nhìn đ ĩa mứt hoa quả đó.

Nam Sương vẫn chưa nói gì, Tiêu Mãn Y đã mở miệng chế nhạo: “Cô ta chỉ ngắm tí thôi”.

Hầu hạ Nam Sương và Tiêu Mãn Y đã được một khoảng thời gian, Li Bình cũng khá hiểu tính tình hai người này. Nàng ấy đặt đ ĩa mứt hoa quả lên trên bàn rồi quay đầu lại cười nói với vẻ hiểu ý: “Tôi sẽ dặn người chuẩn bị chút đồ ăn đến cho hai cô nương”.

Nghe xong lời ấy, Nam Sương và Tiêu Mãn Y mới nhận ra từ buổi chiều, hai người đã chưa bỏ một hạt cơm vào bụng, phút chốc bụng sôi không ngớt.

Li Bình mới rời đi, hoa đào Nam đã reo hò, chạy đến trước bàn chọn một miếng mứt hoa quả tung lên không trung, dùng miệng đón lấy. Ăn mãi ăn mãi, vẻ mặt vui mừng của nàng lại biến thành đau khổ.

Tiêu Mãn Y tỉnh bơ ngồi trên giường, thấy Nam Sương trúng kế mới cười ha ha, vừa vỗ giường vừa nói: “Cô đần thế, mứt hoa quả đó là cho người uống thuốc ăn để lạoi vị thuốc trong miệng, ngọt khé cổ đấy!”.

Hoa đào Nam liền vội vàng rót trà uống liền ba chén, mím môi cau mày vẻ âu sầu, than thở: “Buồn thay”.

Tiêu Mãn Y vừa ngừng cười, bụng lại kêu ầm lên. Nàng ấy ngơ ngẩn, lát sau luống cuống tay chân kéo chăn, nói: “Ngủ thôi ngủ thôi”.

Hoa đào Nam nghe xong sửng sốt, bỗng chạy ra ngoài như một làn khói. Tiêu Mãn Y mới kéo chăn, vừa đắp kín định giả vờ ngủ, thấy Nam Sương bỗng nhiên đi mất thì lại kinh ngạc ngồi bật dậy.

Nàng ấy liếc mắt nhìn cái giường nhỏ trống trải bên cạnh giường thì bực mình hừ một tiếng: “Còn nói ở với mình! Thật là!”.

Chỉ chốc lát sau, ngoài phòng két một tiếng, Nam Sương lại chạy về. Nàng vòng cánh tay trước ngực, ôm ít đồ rồi nhoài lên bàn, đồ rơi xuống khỏi lòng nàng, đập lộp cộp lên bàn.

Tiêu Mãn Y vẫn tức giận ngồi trên giường, liếc mắt nhìn hoa đào Nam. Chỉ thấy Hoa Đào Nhỏ nương ánh nến chọn lựa trên bàn, mãi mới cầm hai thứ chạy tới trước giường.

Một thứ là một cái bát nhỏ có hoa văn hoa đào; một thứ là một cái túi giấy dai.

Y nhân Tiêu liếc túi giấy đó, cảm thấy hơi quen, tiếp tục bực dọc hỏi: “Cái gì đấy?”.

Nam Sương cúi đầu xé túi giấy ra rồi nhặt từng cái bánh dứa bên trong ra đặt vào trong bát, đưa cho Tiêu Mãn Y lại cười hì hì nói: “Không phải cô đói bụng sao?”.

Tiêu Mãn Y ngây ra nhìn bánh dứa xinh xẻo hấp dẫn trong bát, dường như trái tim bị chạm vào, bị mở van nước, từng dòng máu ấm áp tí tách rót vào tim như một cơn mưa lất phất trong tiết xuân.

Nàng ấy dịch ra mất tự nhiên, nuốt mấy ngụm nước miếng bày ra vẻ không thèm để ý: “Ai nói với cô tôi đói?”.

Lúc bấy ánh mắt hoa đào Nam cũng khóa chặt trên bánh dứa, nàng cũng nuốt mấy ngụm nước miếng, thì thào: “Dù sao tôi cũng đói rồi”.

Tiêu Mãn Y thấy dáng vẻ của nàng thì nhận lấy bát hoa đào, cúi đầu oán giận nói: “Thật đáng ghét! Rõ ràng tôi không đói, cô lại cứ đưa cho tôi ăn!”. Vài lọn tóc đen lướt qua vai nàng ấy, che lại khiến vẻ mặt nàng ấy lập lòe.

Hoa đào Nam cười, xoay người lại tiếp tục lục lọi đồ trên bàn của mình.

Tiêu Mãn Y ăn mấy cái bánh dứa một cách ngon lành, bỗng nhiên lại nghiêng đầu nhìn cái bàn cao góc trái, đặt bát lên, giọng nói như có vẻ giận: “Tôi không ăn hết được! Cô ăn đi!”.

Hoa đào Nam khoát tay, cười nói: “Cô bị thương rồi, cho cô ăn đồ ngon đấy, tôi còn có bánh hoa quế”. Nàng chỉ thứ trắng bóng trong giấy dai mở trên bàn, lập tức nói tiếp: “Hơn nữa bánh dứa vốn là của cô”.

Tiêu Mãn Y nghe xong lời ấy thì kinh ngạc xoay đầu lại, ngơ ngác nhìn vào bát, trong đầu bỗng rền vang sấm chớp.

Lúc vừa tới Tô châu, nàng ấy và Nam Sương đi ngang qua một cửa hiệu bánh ngọt. Hoa đào Nam vui mừng mua rất nhiều, Tiêu Mãn Y không thích những thứ này nên chỉ mua bánh dứa mà Mục Diễn Phong thích.

Đúng lúc hôm ấy chỉ còn lại một ít bánh dứa cuối cùng. Hoa đào Nam và nàng ngoài sáng trong tối tranh giành hồi lâu, cuối cùng khiếp sợ quyền uy của nàng ấy, chỉ đành tan tác quay về. Không ngờ hôm sau, hai túi bánh dứa nhỏ của nàng ấy đã thiếu một túi. Nàng ấy lén nhét túi còn lại vào trong bọc hành lí của Mục Diễn Phong, còn mình thì không được ăn.

Tính tới tính lui, bánh dứa này không phải vô duyên vô cớ mất trộm, mà là bị hoa đào Nam thó mất.

Tiêu Mãn Y chậm rãi giơ tay lên, run rẩy chỉ vào Nam Sương, “Cô cô cô…” nửa ngày, cuối cùng xụ xuống, cúi đầu buông tiếng thở dài nói: “Quên đi”. Ngày đó nàng mua thêm một túi vốn vì giận dỗi Hoa Đào Nhỏ.

Nến lặng lẽ nhỏ giọt, trong phòng lờ mờ. Sau khi đưa cơm canh tới, Li Bình gẩy cho ánh nến bốn góc phòng sáng hơn một chút.

Ba khay thức ăn, hai bát cháo cá, một bát canh mộc nhĩ, thơm ngát thanh đạm. Tiêu Mãn Y khoác áo lông cừu, đến trước giường ăn cùng Nam Sương, mới ăn hai miếng, nàng ấy đã vỗ bàn, thở dài nói: “Ôi, không có rượu!”.

Nam Sương nói: “Cô bị nội thương, dù không nghiêm trọng nhưng cũng phải điều dưỡng”.

Tiêu Mãn Y nguýt nàng, chợt hỏi: “Cô từng ở kinh thành, đã nghe nói đến một vũ quán “Vũ Thiên Hạ” chưa?”.

Hoa đào Nam đang múc canh, động tác dừng lại, sánh ra vài giọt nước canh. Nàng cụp mắt nói: “Biết chứ, Vũ Thiên Hạ danh tiếng lẫy lừng mà”.

Tiêu Mãn Y dương dương đắc ý nói: “Tôi học ở chỗ ấy đấy”.

Nam Sương đưa canh cho Tiêu Mãn Y rồi mức cho mình một bát, tiếp tục nghe nàng ấy nói: “Tôi từng có một thầy dạy múa đẹp lắm, nhưng cũng ngốc hệt như cô, mà múa đẹp hơn tôi. Đời tôi có hai nguyện vọng, ngoại trừ lấy Diễn Phong ra thì chính là múa đẹp như thầy”. Nói rồi, nàng ấy đưa tay ném chiếc đũa đi, chiếc đũa sáng trắng vẽ ra hình hoa trên không trung, như đèn cá đèn rồng, lấp lánh ánh sáng.

“Khúc Kinh Loan” lừng lẫy thiên hạ, dù với tư thái của một người trong một tấc vuông vẫn múa ra muôn hình vạn trạng, phồn hoa như gấm.

Tiêu Mãn Y đón lấy chiếc đũa, thuận thế gắp thức ăn bỏ vào trong miệng, nhai vài cái rồi lại nói: “Đáng tiếc Diễn Phong thích Đỗ Niên Niên, thật ứng với câu “Đường truy phu lắm truân chuyên, có nhiều hồ li tinh yêu ma quỷ quái” của tên miệng quạ Giang Lam Sinh”.

Lúc bấy Nam Sương mới ngẩng đầu, kinh ngạc hỏi: “Anh Mục thích Đỗ Niên Niên”.

“Đúng vậy!” Tiêu Mãn Y giận dỗi đặt đũa xuống, rầu rĩ nói: “Ban đầu tôi cũng tưởng chàng ấy tiếp cận Đỗ Niên Niên chẳng qua là để tra rõ lộ võ công của cô ta. Ai ngờ hôm nay rõ ràng là Đỗ Niên Niên đả thương tôi, chàng ấy lại trách tôi”. Nói đến đây, nàng ấy cúi người tựa đầu lên bàn, loạng choạng hát: “ Gió đông tàn ác, tình người mong manh vui được thoáng chốc[1]“.

Hoa đào Nam liền vội vàng đẩy bát ăn cơm của nàng ấy ra, tò mò nói: “Nhưng anh Mục không lấy cô ta được”.

Tiêu Mãn Y chợt ngẩng đầu, đập bàn “bộp” một cái: “Nói rất hay! Tôi cũng đoán như thế! Cho nên thoáng cái tôi đã không buồn nữa”. Lúc nói “thoáng cái”, nàng ấy đổi ngữ điệu, dường như thật sự có ngàn tia sáng mặt trời mùa xuân chiếu vào trái tim tăm tối.

Liếc thấy Hoa Đào Nhỏ mím môi hoang mang, tỏ vẻ mặt xin chỉ bảo, Tiêu Mãn Y lại nói: “Cô nghĩ đi, vừa rồi Giang Lam Sinh nói, hoặc Đỗ Niên Niên cả đời thành kẻ tàn phế hoặc chỉ có thể sống năm năm. Cô ta chọn cái thứ hai nên không còn sống lâu nữa. Cô ta đáng thương như vậy, lại lưỡng tình tương duyệt với Diễn Phong, thế thì cứ lấy thôi. Nhưng Diễn Phong còn phải sống cả đời. Tôi đã nghĩ xong rồi, năm năm này, tôi sẽ đi theo không xa không gần. Đỗ Niên Niên còn trên đời thì tôi không đi quấy rầy Diễn Phong nữa. Nếu Đỗ Niên Niên qua đời, khẳng định Diễn Phong sẽ buồn bã, lúc này tôi lại đi tìm chàng ấy, ở bên chàng ấy”.

Hoa đào Nam không hiểu hết lời nói của Tiêu Mãn Y, nhưng đáy lòng nàng chỉ thấy kinh ngạc, rất lâu sau, khóe miệng nàng chỉ lọt ra một chữ: “Cô…”.

Tiêu Mãn Y lại cười trộm hì hì: “Tôi tự có tính toán”. Nói rồi nàng ấy lại hạ thấp giọng, sáp lại bên tai Nam Sương bảo: “Lúc con người buồn bã là yếu ớt nhất, lúc bấy chỉ cần có người ở bên cạnh chàng, chàng sẽ rất dễ dàng ỷ lại người đó. Diễn Phong đúng là, sống đến bây giờ vẫn là một tên người sắt đá, tôi chỉ chờ lúc chàng yếu ớt, thừa cơ mà vào”.

“Nhưng…” Nam Sương mím môi nói: “Vì sao phải như vậy, khổ cực như vậy chứ?”.

Giống người mẹ ruột Hoa Nguyệt của nàng, đến điểm cuối của sinh mệnh cũng gắng gượng múa một khúc Kinh Loan kinh thế hãi tục vì Nam Cửu Dương.

Tiêu Mãn Y dõng dạc nói: “Đây chính là thích”. Nàng ấy đã khá hiểu Nam Sương, lại lập tức giải thích: “Không phải thích giữa người thân bè bạn, là tình yêu nam nữ”.

Nam Sương cái hiểu cái không gật đầu: “Đây chính là thích à…”. Nàng trầm ngâm chốc lát, lại lặng lẽ ghi nhớ lời trước đó của Tiêu Mãn Y: “Đỗ Niên Niên chỉ có thể sống năm năm nhưng Diễn Phong còn phải sống cả đời. Họ lưỡng tình tương duyệt thì cứ lấy đi. Tôi đã nghĩ xong rồi, năm năm này, tôi sẽ đi theo không xa không gần. Đỗ Niên Niên còn trên đời, tôi sẽ không đi quấy rầy Diễn Phong. Đỗ Niên Niên qua đời, khẳng định Diễn Phong rất buồn, lúc này tôi lại đi tìm chàng, ở bên chàng… Như vậy, là thích?”.

Tiêu Mãn Y gật đầu khen ngợi, nói: “Đúng vậy đúng vậy, có điều kiến thức về tình yêu lớn lắm!”.

Hoa đào Nam cực kì hưng phấn, dường như chạm vào một thế giới khó hiểu mà bên trong lại là thời thịnh trị phồn hoa rực rỡ sắc màu, nàng chớp mắt nói: “Dạy tôi dạy tôi!”.

Tiêu Mãn Y bí hiểm gật đầu, cười hì hì nói: “Mấy ngày nữa Giang Lam Sinh dẫn chúng ta đến nhà hát, đợi xem mấy vở kịch, tôi nói kĩ cho cô là cô biết ngay!”.

Hoa đào Nam hưng phấn dị thường gật đầu, cũng cười hì hì nói: “Được được!”.[1] Bài Thoa đầu phụng của Lục Du.
 
Một Màu Xuân
Chương 33


Trên sử sách giang hồ rất nhiều năm sau có một đoạn ghi chép thế này: <i>Nữ ma đầu giang hồ Nam Sương, hiệu Hoa Đào Nước Nam. Dáng hình nghiêng quốc, võ công cái thế, kinh thế hãi tục, tính tình khó lường, làm người thâm độc, là kẻ thù chung số một của võ lâm. Sau bỏ chạy, bặt vô âm tín.</i>

Sau đoạn này, người viết lại thao thao bất tuyệt ghi chép câu chuyện truyền kì về hành trình từ một Hoa Đào Nhỏ vô danh trở thành ma đầu đáng sợ của Nam Sương. Trong đó ba chìm bảy nổi, cực kì nguy hiểm, giữa người với người đấu đá lẫn nhau, khẩu Phật tâm xà.

Sau có một ngày, quyển sử giang hồ này rơi vào tay ma đầu Sương tiếng tăm lừng lẫy, nàng tiện tay lật xem hết, hô to tuyết rơi tháng sáu, máu vẩy ba thước lụa trắng[1]. Võ công cái thế là thật, trở thành kẻ thù chung là bất đắc dĩ, đấu đá lẫn nhau chỉ đơn thuần trùng hợp, thâm độc khó lường toàn là bịa đặt.

Khi Nam Sương âu sầu thất bại xem lại mấy chục năm của mình, nàng thấy cả đời mình chính là một số mạng bị hiểu lầm. Từ hoa đào họa thủy đến ma đầu thâm độc hoàn toàn khác xa với bản tính hiền lành thật thà của nàng.

Khi nóng vội tìm kiếm nguồn gốc của hiểu lầm này, nàng không thể không đổ tội tất cả hiểu lầm cho trò cười gây ra do sự kiện chuyện phòng the trước đây. Dù sao nếu không có sự kiện này thì nàng đã không trở thành Hoa Đào Nước Nam, đã không trở thành cái đích cho mọi người chỉ trích, càng không thu hút ánh mắt của các giới võ lâm.

Chuyện danh tiếng là kiểu nước lên thì thuyền lên. Một khi nổi tiếng thì dù làm chuyện nhỏ nhặt không đáng kể cũng có thể dấy lên phong ba.

Không phải nàng chỉ tái giá sao? Không phải nàng chỉ lấy chồng mấy lần thôi sao?

Lại có một ngày, tướng công của Nam Sương an ủi nàng, nói: “Nàng hãy đọc lại cẩn thận, quyển sử giang hồ này vẫn khá có khảo cứu và dẫn chứng đấy. Võ công cái thế không sai, dáng hình nghiêng nước là thật, còn về khó lường thâm độc ấy à, nàng đúng là một người rất khó đoán”.

Sự khó dò của Nam Sương nằm ở chỗ nàng kết hợp thống nhất vài đặc trưng đối lập vào bản thân một cách hoàn mĩ.

Có kì nhân như Tiêu Mãn Y, tính tình đơn thuần cố chấp, bền gan vững chí.

Có kì nhân như Vu Hoàn Chi, tính tình bình tĩnh dịu dàng, sâu xa khó dò.

Có kì nhân như Giang Lam Sinh, tính tình ngả ngớn rộng rãi, tâm cơ kín đáo.

Người gần với hoa đào Nam hơn là Mục Diễn Phong, kì nhân này hơi mâu thuẫn, tính tình phóng khoáng, lòng dạ rộng lượng, lúc lại hục hặc, chết cũng không nhận.

Nhưng quái dị như hoa đào Nam thì có thể nói là cực phẩm của thế gian. Một mặt, cô gái này thông minh tuyệt đỉnh, giấu tài, tính tình ôn hòa thiện lương, gặp chuyện thì nhìn thấu tường tận; mặt khác, cô gái này thật thà ngớ ngẩn, chân tay vụng về, rất hiếu kì, có trò thỉnh thoảng thó một vài vật, gặp chuyện cực kì chậm chạp, dễ lầm đường.

Đoạn thời gian hoa đào Nam ở trang Lưu Vân chính là lúc mà mâu thuẫn nhân cách này thịnh nhất. Lại kể lúc đầu Tiêu Mãn Y và Nam Sương thao thao về chuyện tình yêu nam nữ, hoa đào Nam hưng phấn chộn rộn, hai cô gái tâm tình thủ thỉ đến đêm khuya, tới khi thể lực không chịu nổi mới ngủ thiếp đi.

Ngày đông trời sáng muộn, khi ánh mai dát vàng, mái cong nhỏ sương thì đã là giờ Thìn ba khắc.

Vì hăng hái chuyện trò một đêm với Tiêu Mãn Y lại nóng lòng muốn đi dạo nhà hát nên Nam Sương ngủ chưa được ba canh giờ đã dậy.

Hôm trước trang Lưu Vân gặp biến cố nhưng trong toàn trang cực kì bình tĩnh. Hôm sau, trừ vườn Thấm Huân luôn vắng lặng bỗng có nhiều người ở ra thì tất cả đều như thường lệ.

Tiêu Mãn Y còn đang ngủ, Nam Sương khẽ khàng đắp kín chăn cho nàng ấy rồi lại rón ra rón rén đi ra gian ngoài, nhắc nhở a hoàn đi sắc thuốc, lúc này mới rời phòng.

Sân vườn Thấm Huân thăm thẳm. Mặt trời mới mọc vẫn chưa hoàn toàn vùng khỏi tầng mây, luồng sáng mới điểm rọi được một góc vườn hoa, mấy đóa mai đỏ nở rộ. Tuyết đã ngừng rơi song trên mặt đất vẫn ướt sũng. Hồ Ấm Nguyệt yên ả chảy mãi, một người cầm sách chậm rãi bước qua cầu bên hồ giống như tiên trong tranh vậy.

Phúc đến thì lòng cũng sáng ra, Vu Hoàn Chi ngây người ở trên cầu đá, ngoảnh lại quả nhiên nhìn thấy Nam Sương đứng dưới mái hiên mím môi cười gian xảo dòm y. Y cũng khẽ cười, vẫy tay với Nam Sương.

Gần đây, chẳng biết tại sao hoa đào Nam hễ thấy Vu Hoàn Chi thì cực kì vui vẻ.

Từng có một ngày, có khách đến phái Thiên Thủy, đám bạn xấu của Nam Cửu Dương thấy Nam Sương đều nói: “Ngoan quá ngoan quá”. Nam Cửu Dương đắc ý cười nói: “Đây là quả vui vẻ của tôi đấy”.

Hoa đào Nam nghĩ, như vậy, chắc Vu Hoàn Chi chính là quả vui vẻ của nàng nhỉ?

Nàng hí ha hí hửng chạy đến đầu cầu đá, thấy quầng thâm trên mắt Vu Hoàn Chi thì hỏi: “Đêm qua công tử Hoàn không ngủ à?”.

Đến gần câu nệ cứng nhắc như thế, tất nhiên ma đầu họ Vu không hài lòng. Y cong mắt, bí hiểm khó dò mãi không trả lời, sau một lát bỗng nhiên gọi: “Sương”.

Nam Sương thộn ra đấy.

Vu Hoàn Chi đến gần, cởi áo khoác màu trắng ra giũ, áo khoác phất trên không trung như ánh trăng sáng rọi vào nhân gian. Nam Sương chỉ ngửi thấy một mùi bạc hà thơm mát ấm áp phả đến.

Vu Hoàn Chi dựa sát vào, y cụp mắt buộc dây áo khoác cho Nam Sương, trên mặt không thấy nụ cười nhưng vẻ mặt rất dịu dàng: “Coi chừng lạnh”.

Tim Nam Sương đập thình thình, tai hơi nóng lên. Nàng đưa tay sờ tai, ngẩng đầu trông thấy khuôn mặt dịu dàng như ngọc của Vu Hoàn Chi, một giọt nước sương còn đọng trên tóc mái của y.

Hoa đào Nam ngẩn ra, lại không tự chủ được, giơ tay lên lau giọt sương sớm giúp y. Tóc mái của Vu Hoàn Chi khẽ phất phơ, ánh mắt bỗng trở nên mơ màng. Nam Sương lau giọt sương sớm đó xong còn vén tóc y lên, nắm tay áo, tỉ mỉ lau phần trán ướt sương cho y.

Hồ Ấm Nguyệt, gió gợn nước. Bóng cây sum suê, trời xanh muôn dặm.

Một giọt sương lướt qua mu bàn tay Nam Sương như dạ minh châu lăn xuống mâm ngọc. Vu Hoàn Chi cầm cái tay kia lên, nắm tới bên môi, hôn khẽ một cái trên đầu ngón tay ướt át mà như đổ một dòng nước xiết vào mạch máu Nam Sương.

Nàng giật nảy mình, song càng vui vẻ nhìn chăm chằm ma đầu họ Vu.

Vu Hoàn Chi ngạc nhiên cười khổ, gập bàn tay gõ lên trán nàng, khẽ than: “Sao không biết từ chối?”.

Nam Sương nói: “Hả?”

Vu Hoàn Chi lại than thở, hỏi: “Nếu người khác làm vậy với cô, cô cũng không biết từ chối sao?”.

Nam Sương lại nói: “Hả?”.

Vu Hoàn Chi bật cười, bất đắc dĩ nói: “Quên đi”. Y liếc mắt nhìn nhà chính, nói với Nam Sương đang đờ đẫn suy ngẫm: “Tính mạng cô nương Đỗ như ngàn cân treo sợi tóc. Mấy ngày nay, tôi và thiếu chủ cần phải trông chừng cô ta”. Dứt lời y lặng lẽ nhìn Nam Sương chốc lát rồi bật cười nói: “Nhớ phải ngoan ngoãn” rồi vòng qua nàng trở về phòng.

Mới vừa đi hai bước, ống tay áo đã bị kéo lại.

Vu Hoàn Chi kinh ngạc quay đầu, nhìn thấy Nam Sương mang vẻ mặt tỉnh ngộ nói với mình: “Nếu là người khác, tôi sẽ từ chối”.

Ma đầu họ Vu ngây ra, hỏi như khó mà tin nổi: “Vì sao?”.

Hoa Đào Nước Nam cười cực kì xán lạn: “Tôi chỉ có một quả vui vẻ như anh thôi!”. Nàng nhìn sắc mặt Vu Hoàn Chi trở nên vô cùng hoang mang, lại đào hố chôn mình, giải thích: “Giống như cha tôi chỉ có một quả vui vẻ như tôi ấy!”.

Mãi sau, Vu Hoàn Chi mới day thái dương, bật cười nói: “Cô ấy à…”.

Sau khi Vu Hoàn Chi trở về phòng, Tiêu Mãn Y vẫn chưa dậy, Mục Diễn Phong thì coi chừng Đỗ Niên Niên. Một mình Nam Sương ăn không ngồi rồi đã đành, lại còn trong lòng trăm mối ngổn ngang.

Vừa hay Đồng Tứ đi ngang qua vườn Thấm Huân, thò đầu nhìn thấy Nam Sương ngồi một mình trong đình mà than thở thì chào hỏi từ rất xa: “Chào buổi sáng, cô nương Sương!”. Nghe Nam Sương đáp một tiếng ỉu xìu, Đồng Tứ lại đến gần hỏi: “Cô nương Sương có phiền não à?”.

Nam Sương lại đáp một tiếng, tiện thể trả lời: “Không ăn trái cây được”.

Đồng Tứ ngẩn ra, “Hả?” một tiếng rồi hỏi: “Trái cây?”.

Hoa đào Nam vỗ băng ghế đá bên cạnh, ý bảo Đồng Tứ ngồi xuống nghe nàng nói: “Ừ, có miếng trái cây rất thơm, lại chả biết ăn thế nào, thế nào cho phải?”.

Đồng Tứ cười ha hả: “Nào có trái cây như vậy?”.

Hoa đào Nam chớp mắt, bỗng nằm sấp lên bàn, thở dài nói: “Buồn quá, buồn quá thể”.

Đồng Tứ cười nói: “Nếu thật sự có trái cây như vậy cũng không thành vấn đề. Nỗi buồn của cô nương Sương là ở chỗ cầu mà không được, nhưng nếu đã là miếng trái cây thơm ngon thì tất vào bụng không khó. Chi bằng cô nương Sương nghĩ cách hái quả vào tay, dù sao ngày tháng còn dài, rồi một ngày sẽ có thể ăn nó”.

Ban đầu Đồng Tứ đến vườn Thấm Huân vì có việc, lại bị trái cây khso hiểu của Nam Sương cản trở. Cậu nói huơu nói vượn để qua loa có lệ với hoa đào Nam, muốn thoát ra đi làm việc. Nào ngờ người nói vô ý, người nghe có lòng, Nam Sương nghe xong lời của cậu tựa như hiểu ra, sau khi cảm tạ rối rít thì đi còn nhanh hơn cả cậu.

Đêm ấy Mục Diễn Phong cũng không ngủ ngon, cảnh trong mơ lúc nóng lúc lạnh, cứ thấy một ma nữ đuổi theo sau mình, đuổi tới chân trời góc biển, đuổi tới sông cạn đá mòn. Hình như ma nữ kia bị chết oan, cả ngày khóc sướt mướt bên tai mình. Mục Diễn Phong rất phiền muộn, bèn vung kiếm chém ma nữ này một cái.

Hắn vốn tưởng ma nào cũng có sức mạnh nên chắc một kiếm của kẻ phàm như mình không gây thương tổn được nàng ta. Nhưng ma nữ kia vừa đụng vào ánh kiếm, thân hình đã dần tan biến, hóa thành vạn đốm sao sáng.

Mục Diễn Phong sửng sốt, ngẩng đầu nhìn chung quanh, chỉ thấy trời cao muôn đời, một sớm gió trăng, bốn bề mênh mang, lơ thơ thoáng đãng.

Hắn bỗng thấy rất hoang vắng giống như mất thứ gì, tìm khắp nơi mà chẳng thấy.

Chưa đến giờ mão hắn đã dậy. Sau khi đi thay cho Vu Hoàn Chi, hắn nhìn chằm chằm Đỗ Niên Niên trên giường, bỗng nhiên nghĩ nếu có một ngày, một người cứ thế biến mất khỏi thế gian vào cõi hư vô thì quả là chuyện quá thê lương. Bất kể là chết hay là mất tích.

Hắn lại nghĩ đến Tiêu Mãn Y. Không biết tại sao mà chẳng còn sự nóng nảy trước kia nữa, khóe môi hắn bất giác khẽ cong, thầm nghĩ may mà Tiêu Mãn Y là người sẽ không biến mất sẽ không rời bỏ. Từ trước đến nay nàng ta phúc lớn mạng lớn, cố chấp không hối hận, cứng cỏi bền bỉ lại còn đầu óc đơn giản, đơn thuần đến nực cười.

Ba tiếng gõ ngoài cửa cắt đứt mạch suy nghĩ của Mục Diễn Phong, ý nghĩ vừa nãy chợt bị ném lên chín tầng mây. Lúc nghiêng đầu, Mục Diễn Phong thoáng thấy khóe miệng mình trong gương đồng lại chứa một nụ cười nhạt, hắn cả kinh giật mình, gãi đầu chẳng hiểu ra làm sao rồi đứng dậy mở cửa.

Hoa đào Nam đứng ngoài cửa cười vô cùng kì dị, vừa thấy hắn bèn khom người chắp tay thi lễ: “Em gái xin thỉnh an anh!”.

Mục Diễn Phong lại ngẩn tò te.

Hôm ấy đã định trước là một ngày kì diệu.

Nam Sương thò đầu vào nhà, nhìn ngắm bốn bề và hỏi: “Cô nương Đỗ vẫn ngủ ạ?”.

Mục Diễn Phong liếc vào gian trong, gật đầu cười nói: “Em Sương tới thăm anh à?”.

Nam Sương ngoan ngoãn gật đầu rồi lại nói: “Vào trang Lưu Vân, vì anh bận rộn nên em không thể hầu hạ gần bên, thật cảm thấy áy náy. Vả, trang Lưu Vân gặp biến cố này, tuy em là khách song cũng xin dốc hết sức mọn. Cả ngày mệt nhọc, anh một mình phòng không chiếc bóng, thật là tịch mịch. Sức nhỏ bé, chẳng nên thân, song em cũng nên bầu bạn với anh, cùng qua ngày đông đằng đẵng cho đến xuân về trên đất nước, xuân về hoa nở”.

Hoa đào Nam nói dõng dạc mấy câu, tự cho là có thể đả động Mục Diễn Phong nhằm moi được chút thực hư về ma đầu họ Vu từ miệng hắn, dễ bề biết người biết ta, trăm trận trăm thắng.

Nào ngờ Mục Diễn Phong nghe thấy lời này thì khóe miệng mấp máy, một câu “hầu hạ gần bên”, một câu “phòng không chiếc bóng”, một câu “xuân về trên đất nước, xuân về hoa nở” khiến người ta không nghĩ về hướng khác cũng phải nghĩ về hướng khác.

Mục Diễn Phong hít một hơi thật sâu, thật sâu, hai mắt nhắm lại, lúc mở ra đã hiện đầy tơ máu. Chỉ nghe hắn nặng nề nói: “Em Sương, có phải là em thích anh không? Ông trời ơi! Không được đâu!”.[1] Tuyết rơi tháng sáu ý chỉ việc vô lí; máu vẩy ba thước lụa trắng ý chỉ bị oan.
 
Một Màu Xuân
Chương 34


Tiêu Mãn Y tỉnh lại khởi cơn mơ đã thấy mắt phải máy liên tục. Ngó sang cái giường nhỏ bên phải, quả thực chăn xếp chỉnh tề nhưng không thấy bóng dáng hoa đào Nam đâu.

Trong lòng Tiêu Mãn Y, Nam Sương là một kẻ gieo họa không hơn không kém. Lòng dạ kẻ gieo họa bí hiểm, xảo trá đa đoan, vừa hay lại khiến người ta không ghét nổi. Người như vậy ở bên cạnh còn đỡ, lúc không có ở bên thì lại làm người ta sợ mất mật, e sợ sẽ âm thầm giở mánh.

Y nhân Tiêu học múa từ nhỏ, cơ thể và gân cốt vô cùng tốt, dù bị nội thương nhưng nghỉ ngơi một đêm đã khá hơn nhiều rồi. Đợi uống thuốc, vội vã ăn sáng xong, nàng ấy đang muốn đi tìm hoa đào Nam về thì cửa lại bị đẩy ra kêu két một tiếng.

Người bình thường vào phòng sẽ đưa chân trước rồi cả người vào theo. Hoa Đào Nước Nam vào nhà sẽ thò đầu trước, quan sát một lúc mới chạy vào nhanh như chớp.

Tiêu Mãn Y nhìn thấy cảnh này thì không nhịn được chế nhạo: “Cô không đi làm ăn trộm thật là đáng tiếc”.

Nam Sương cười hề hề rất huyền diệu, nàng thong thả ung dung đi tới trước bàn, tay trái nắm lại. Đợi đến trước mặt Tiêu Mãn Y, nàng mới mở lòng bàn tay ra đưa tới cho nàng ấy, dọa cho Tiêu Mãn Y suýt nữa ngã xuống khỏi băng ghế: “Làm, làm sao cô lấy được tua kiếm của Diễn Phong?”.

Hoa đào Nam lại cười, nói: “Cô ngắm cẩn thận đi”.

Tiêu Mãn Y nghe thế thì sửng sốt, lại cụp mắt nhìn tua kiếm kia, tức khắc biến sắc mặt. Chỉ thấy dưới nút thắt hình rồng nằm có hai viên đông châu vô cùng quý giá, dưới đông châu có kết một nút thắt hoa năm cánh. Dưới nút thắt hình hoa mới là sợi tua rua màu xanh lơ.

Tua kiếm rồng nằm màu xanh lơ này chỉ một mình Mục Diễn Phong có, người trong thiên hạ đều nhận ra, buộc ở trên kiếm, dịu dàng mà mạnh mẽ, phong lưu phóng khoáng. Nhưng bị trang trí như thế, thêm hai viên đông châu còn thắt nơ hoa liền thêm mấy phần thanh tú, nếu để con gái dùng cũng rất tốt.

Mục Diễn Phong không thể so với ma đầu họ Vu tùy ý, mái tóc mực chỉ dùng dây xanh buộc lên qua quýt. Trang Lưu Vân là phái lớn hàng đầu giang hồ, Mục Diễn Phong lại là thiếu chủ, lúc tiếp đãi khách không tránh khỏi phải mặc áo mũ chỉnh tề. Trong đó có một mũ bịt tóc màu xanh nhạt, phía trên khảm hai viên đông châu, thanh nhã lại không mất uy nghiêm, quả thực rất đẹp.

Tiêu Mãn Y từng nhìn thấy mũ bịt tóc đó, ấn tượng rất sâu sắc. Vì vậy nàng ấy vừa liếc cái tua kiếm giả gái này đã biết được lai lịch của hai hạt đông châu đó.

Việc đã đến nước này, trong lòng y nhân Tiêu chỉ còn chín chữ: Phung phí của trời ôi phung phí của trời…

Nhưng nàng ấy lại không tiện quở trách Nam Sương. Dù sao xem cảnh này, Hoa Đào Nhỏ nhọc lòng thó mấy thứ này đến, còn biến tua kiếm rồng nằm uy vũ này thành trang sức cho nữ là vì tặng mình.

Trầm mặc một lúc lâu, Tiêu Mãn Y chỉ cảnh giác nói một câu: “Tự dưng ân cần, không phải gian trá cũng phường trộm cắp”.

Nam Sương ngồi xuống, vuốt cái nơ hoa nhỏ trên tua kiếm kia, lại đưa tới trước mặt Tiêu Mãn Y và bảo: “Tặng cô”.

Tiêu Mãn Y đấu tranh hồi lâu, tua kiếm kia càng nhìn càng thích. Chốc sau, nàng ấy nhận trái lương tâm, còn bất giác khẽ vuốt hai cái tua mảnh màu xanh lơ, lại ngồi nghiêm chỉnh hỏi: “Sao mà cô lấy được?”.

Lần trước hoa đào Nam cướp bạc của Vương Thất Vương Cửu, bị Vu Hoàn Chi bắt quả tang, lại không chống được sự bức cung lạnh lùng của ma đầu họ Vu, nàng đành thú nhận không e dè việc mình ăn trộm. Có kinh nghiệm thê thảm ấy, hôm nay hoa đào Nam đã tu luyện thành một con rùa nghìn năm, nàng mặt không biến sắc tim không đập nhanh, nói: “Tôi đòi tua kiếm, anh bèn ngầm cho phép, tôi cũng nói với anh về hai viên đông châu đó rồi”.

Tiêu Mãn Y nghe xong lời ấy thì thở phào một hơi, nhíu mày than thở: “Coi như cô vẫn còn chút lương tâm với người anh kết bái của cô”.

Lời này của hoa đào Nam lời nói này, như Khổng Tử hiệu đính Xuân Thu[1], trước sau xóa đi mảng lớn nhưng không phải dối trá.

Lúc đó, Mục Diễn Phong bị câu “phòng không chiếc bóng, xuân về hoa nở” của Nam Sương dọa cho cả kinh biến sắc, mở miệng một tiếng “ông trời ơi”, mở miệng một tiếng “không được”, thế nên hoa đào Nam nói cái gì làm cái gì, hắn đều không để trong lòng.

Tất nhiên Nam Sương đã hỏi chút chuyện của ma đầu họ Vu. Nàng thăm dò ra tình trạng trái cây của nàng, dễ bề biết người biết ta. Nhưng Mục Diễn Phong nghe xong một đoạn tỏ tình thật lòng thật dạ của Nam Sương thì thần hồn nát thần tính, nghe thấy “công tử Hoàn” ba lần là tự dưng xù lông một lần.

Tự dưng xù lông tức chỉ xù lông trong lòng, bề ngoài cố gắng bình tĩnh.

Vì vậy, sau buổi sáng thiếu chủ họ Mục bị hoa đào Nam bắn tiếng đe dọa thì người đã như lọt vào trong sương mù, trong lòng chỉ lo tính toán rốt cuộc ma đầu họ Vu sẽ dùng thức nào trong bảy thức Mộ Tuyết để giải quyết mình. Mình đánh trả hay là mặc cho y làm thịt?

Ông trời ơi, người là dao thớt, tôi là thịt cá, buồn thay đau thay.

Sau đó Nam Sương lại chuyển lời của Tiêu Mãn Y tới, nói câu: “Em chỉ thích anh như anh em chứ không phải tình yêu nam nữ”.

Với Mục Diễn Phong mà nói, những lời này giống như người đang chìm chợt vớ được một khúc gỗ, người đang đói chợt lấy được một cái bánh bao. Thiếu chủ họ Mục xúc động đến rơi nước mắt, không thể tự kiềm chế.

Vì vậy Hoa Đào Nhỏ đã mượn gió bẻ măng nói: “Em ngó thấy tua kiếm của anh rất đẹp, đáng tiếc hai ta kết bái mà chẳng có vật làm chứng”.

Lời này vang như sấm sét, bỗng làm lòng Mục Diễn Phong sáng ra, hắn lập tức nương theo, muốn chứng minh trừ tình anh em ra thì mình không có tư tình với hoa đào Nam, vì vậy tua kiếm kia đã rơi vào tay Hoa Đào Nhỏ.

Trước khi đi Hoa Đào Nhỏ chợt thấy áy náy với Mục Diễn Phong, bèn nói: “Em đến phòng anh xem thử kẻ dưới đã đưa đồ đạc của anh tới chưa, đưa tới hết chưa”.

Tất nhiên Mục Diễn Phong đã bằng lòng, còn khen một tiếng “Em gái ngoan”.

Tiêu Mãn Y có câu nói rất hay, Họa Thủy ngó xong sẽ sờ, sờ xong sẽ thử, thử xong sẽ thó, thó đi mất thì chẳng còn gì nữa.

Thế là viên đông châu đường đời lận đận ấy tới theo đạo này.

Nhìn sắc mặt Tiêu Mãn Y vẫn có vẻ do dự, hoa đào Nam lại nhắc nàng ấy: “Người trong thiên hạ đều nhận ra tua kiếm này”.

Tiêu Mãn Y bỗng nhiên hiểu ra. Tuy Mục Diễn Phong đã tặng nàng ấy một cái vòng tay, nàng cũng tự mình đa tình coi đó là tín vật đính ước, nhưng nói ra thì người khác sẽ không mấy tin tưởng. Nhưng tua kiếm này lại khác, nó là vật vua ban, tơ bện hình rồng nằm, chỉ một mình Mục Diễn Phong mới có. Nếu cầm nó ra ngoài thì ai nấy trên giang hồ đều tất sẽ tin phục.

Nghĩ đến chỗ này, y nhân Tiêu như nhặt được vật báu, nàng ấy vỗ bàn, hô lớn: “Họa Thủy nghĩa khí lắm!”.

Nam Sương cười hì hì rồi nghiêm trang lại, nói: “Gọi tôi Hoa Đào là được”.

Tiêu Mãn Y gật đầu, nói: “Tốt! Từ nay về sau tôi không gọi cô là Họa Thủy nữa mà gọi cô là Hoa Đào!”

Hoa đào Nam cũng vui sướng gật đầu, lát sau lại khó xử nói: “Nhưng tôi đã quen gọi cô là Yên Hoa rồi”.

Tiêu Mãn Y đực ra một lát, cụp mắt nhìn tua kiếm hình rồng nằm rồi rộng lượng nói: “Không sao cả, ngày sau nếu cô gặp chuyện khó khăn, tôi sẽ giúp cô!”.

Nam Sương thấy người đã sập bẫy thì vui vẻ nói: “Được được”. Dừng một lát, nàng đã hỏi một cách vô liêm sỉ: “Tôi nghe cha tôi nói, nếu muốn ăn một người, có phải bắt buộc phải dùng đến thuật phòng the không?”.

Nam Cửu Dương vốn nói là: Anh Giang! Thuật phòng the này diệu lắm, diệu lắm! Anh ắt có thể ăn sạch người đó không còn sót lại chút cặn!

Tiêu Mãn Y nghe thấy lời ấy, suýt chút nữa ngã khỏi ghế. Nhưng dẫu sao Y Nhân Hai Mặt cũng thấy nhiều biết rộng, uống hai chén nước là bình tĩnh lại.

Sau đó, y nhân Tiêu nói sâu xa: “Lời ấy không sai. Nhưng, khụ khụ, chuyện phòng the cần chăn gối chiếu nệm, quá trình này ấy à…”. Vừa nghĩ tới mấy năm bôn ba của mình, y nhân Tiêu không khỏi lắc đầu bi thương hát: “Tang thương sao nói cho cùng…”.

Hoa đào Nam nghe đến mê mẩn, vội vàng hỏi: “Quá trình gì cơ?”.

Tiêu Mãn Y liếc mắt nhìn nàng, thở dài nói: “Muốn có chuyện phòng the, phải có danh vợ chồng trước; muốn có danh vợ chồng, phải có hôn ước trước; muốn có hôn ước, phải có lệnh cha mẹ lời mai mối trước; đương nhiên, nếu không có lệnh cha mẹ lời mai mối thì ít nhất phải là đôi bên tình nguyện. Đôi bên tình nguyện chính là tình yêu nam nữ”.

Nam Sương gật đầu tỏ vẻ đã hiểu: “Phải có tình yêu trước rồi có hôn ước, lại bái thiên địa mới có thể ăn được trái cây”.

“Ba cái sau đều là thứ chân thực. Duy chỉ có tình yêu là khó đoán, biến hóa khôn lường nhất, trừ phi tự thể nghiệm, không thì khó mà phân biệt ảo diệu trong đó”. Tiêu Mãn Y lại giải thích, dừng một lát rồi than: “Thật ra xem nam nữ trong kịch nam cũng là một cách, đáng tiếc Giang Lam Sinh muốn đợi tôi khỏi bệnh mới dẫn hai ta đến lầu Thanh Thanh trấn Vân Thượng, bứt rứt đến sợ”.

Nam Sương nghe xong lời ấy, bỗng nhiên cười hì hì, hỏi: “Cô có muốn đến lầu Thanh Thanh không?”.

Tiêu Mãn Y nói: “Dĩ nhiên là muốn rồi”.

Nam Sương tìm trong tay áo, lấy ra hai tờ giấy gấp kĩ rồi đưa cho Tiêu Mãn Y, lại vỗ gáy, vội vàng chạy ra ngoài.

Tiêu Mãn Y nghi ngờ mở trang giấy ra xem, một tờ vẽ địa hình phía sau trang Lưu Vân, một tờ thì vẽ thôn xã đường núi chung quanh trang Lưu Vân, bao gồm cả trấn Vân Thượng.

Chỉ chốc lát sau, Nam Sương lại xách một cái bọc vào. Lúc đó, Tiêu Mãn Y đã quá quen với sự tiện tay thó trộm của hoa đào Nam, nàng ấy ung dung nhìn Nam Sương cởi bọc quần áo ra, ung dung nhìn nàng lấy một bộ áo dài nam từ trong bọc quần áo, ung dung nhận lấy bộ áo xanh từ tay nàng, sau đó sợ hãi kêu lên.

Cái áo xanh đó là của Vu Hoàn Chi.

Mặc cho Tiêu Mãn Y suy đi nghĩ lại cũng không ngờ hoa đào Nam dám nhổ lông đuôi hổ, thó xiêm áo của ma đầu họ Vu.

Nam Sương thấy thế vội nói: “Cái này không phải thó đâu”. Nàng lại cười hì hì: “Tôi dòm thấy góc áo của công tử Hoàn dính tuyết bèn bảo y thay, tôi giặt giúp. Giặt xong vẫn chưa trả nên tiện thể dùng một lát”.

Tiêu Mãn Y nuốt nước bọt, đưa trả cái áo xanh cho Nam Sương, nói: “Mặc xiêm áo này sẽ giảm thọ, đổi bộ khác cho tôi đi”.

Nam Sương lẩm bà lẩm bẩm rồi lại tìm kiếm một hồi trong bọc, lôi một bộ áo váy vạt xéo dài màu hồng cánh sen mềm mại ra và nói: “Bộ này thì sao?”

Tiêu Mãn Y nhận lấy xem, ướm trên người rồi liếc mắt hỏi: “Của Đồng Tứ à?”.

Hoa đào Nam gật đầu.

Y nhân Tiêu đỡ trán thở dài, ung dung đáp: “Đầu cậu ta nhỏ”.

Hoa đào Nam lại lật tìm một hồi, đưa ra một bộ áo xanh tím hoa văn mây, tay áo cổ áo hoa hòe hoa sói. Đợi Tiêu Mãn Y nhận lấy, nàng lại đưa ra một cái quạt lông trắng, nói: “Làm nguyên bộ”.

Tiêu Mãn Y quan sát một hồi, cầm đến trước gương đồng ướm thử, quay đầu lại cười nói với Nam Sương: “Xiêm áo của anh chàng này cũng đẹp ra phết”. Dứt lời, nàng ấy đi tới trước mặt Nam Sương, tùy ý đặt quạt lông trắng và áo hoa văn mây xuống bàn rồi cúi đầu tìm kiếm với Hoa Đào Nhỏ, vừa tìm vừa nói: “Có bộ áo dài màu đen với áo choàng màu bạc đó của Diễn Phong không…”.

Nàng ấy sa đọa rồi.

Một canh giờ sau. Hai người rón ra rón rén chuồn ra từ chái nhà tây. Một người mặc áo dài xanh, áo khoác xanh nhạt, thậm thà thậm thụt. Một người mặc áo dài màu xanh nước biển, cầm quạt lông trắng trong tay, lén la lén lút.

Nam Sương và Tiêu Mãn Y lần theo góc tường ra khỏi vườn Thấm Huân. Tham chiếu tấm bản đồ kia, họ tìm đến một cửa ra bí mật ở sau trang.

Mặc dù đã vào đông, cửa gỗ đen cũng chằng chịt dây leo, hai con ngựa đứng bên cổ thụ, thấy Nam Sương tới thì hí vài tiếng, đạp chân vẫy đuôi.

Tiêu Mãn Y tiến lên, đẩy cửa gỗ đen ra kêu két một tiếng, cái mát mẻ bên ngoài trang kéo vèo tới kèm theo mây mù vùng núi. Nàng ấy và Nam Sương cùng rùng mình mấy cái, song hưng phấn lạ thường.

Hai người dắt ngựa ra khỏi trang Lưu Vân, vừa đi vừa quay đầu lại vì có tật giật mình. Đợi đi được mấy trượng, Nam Sương và Tiêu Mãn Y cùng phòng người lên ngựa như có thần giao cách cảm, tư thế đẹp đẽ mà nhanh nhẹn.

Khe núi âm u tĩnh mịch, đột nhiên vang lên hai tiếng ra roi lảnh lót. Trên lưng ngựa, áo bào tung bay, nghiêng nước nghiêng thành.

Tiêu Mãn Y đón gió trên tuấn mã cấp tốc chạy băng băng, cười hỏi: “Đi như thế nào?”.

Lúc Nam Sương quay đầu lại, mái tóc dài màu mực như sóng biển phất qua gương mặt, nàng phóng ngựa rong ruổi, đáp: “Xuống núi!”.[1] Kinh Xuân Thu được coi là do Khổng Tử sáng tác.
 
Một Màu Xuân
Chương 35


Trấn Vân Thượng gần núi Linh Nham, cách sơn trang Lưu Vân không xa.

Phía tây Tô châu lắm dãy núi, ít thôn xóm. Trấn Vân Thượng ở giữa hai ngọn núi, vốn là chốn hẻo lánh nhưng nó kề sơn trang Lưu Vân, gần quan được ban lộc, lại là thôn trấn duy nhất của vùng này nên có nhiều người trong võ lâm và thương nhân quan viên qua lại. Mười dặm đường trường, nhà cửa chạy dài, ngựa xe như nước, có thể so bì với thành Tô châu.

Nam Sương và Tiêu Mãn Y ra roi đánh ngựa, hai mươi dặm đường núi mà chỉ chạy hết một canh giờ.

Gần giờ Tuất, trời đã sắp tối. Đầu đường cuối ngõ thắp đèn lồ||g lên như sao sáng đầy trời. So với hoa đào Nam hiếu kì, dọc đường hết nhìn đông lại ngó tây thì Tiêu Mãn Y điềm tĩnh hơn nhiều.

Trấn Vân Thượng không lớn, mới xuyên qua hai cái ngõ nhỏ đã thấy một chỗ gác thắm mái cong, trên ban công đèn đuốc có treo một tấm biển – lầu Thanh Thanh.

Lầu Thanh Thanh vốn là một nhà hát chẳng mấy tiếng tăm. Mấy năm trước, sau khi diễn viên chính Hoa Nguyệt qua đời thì “Vũ Thiên Hạ” tiếng tăm lẫy lừng cũng sụp đổ, vài vũ sinh vũ cơ tứ tán lưu vong. Lầu chủ của lầu Thanh Thanh đã nhân cơ hội này mời chào nhân tài, thu nhận ba vũ cơ của Vũ Thiên Hạ, còn dạy nghệ thuật hát hí khúc.

Từ đó, lầu Thanh Thanh tiếng tăm vang dội, thành một nhà hát khó cầu.

Quy củ của lầu này rất kì lạ, không nhận khách nữ đơn độc. Nếu khách nữ muốn đến xem kịch mà không có chồng có cha dẫn theo thì không vào được.

Hoa đào Nam và Tiêu Mãn Y hoá trang hồi lâu, lúc này đã ăn vận như công tử trần tục. Hai người ước tính thời gian, còn một canh giờ nữa mới bắt đầu diễn kịch, bèn quyết định đi tìm nhà trọ lấp đầy cái bụng.

Mới vừa quẹo vào một ngã rẽ, Tiêu Mãn Y đã nghe thấy có người phía sau đang gọi mình, xoay người lại, người trong ngõ thưa thớt, hối hả, chẳng quen biết ai.

Hoa đào Nam thấy tình cảnh ấy cũng rất buồn rầu, bất giác nghĩ đến chuyện ma trong sách cổ thì rùng mình, nắm tay áo Tiêu Mãn Y nói: “Đi thôi đi thôi”.

Tiêu Mãn Y gật đầu, lại nghi ngờ liếc nhìn vào trong ngõ.

Nào ngờ vừa đi hai bước, giọng nói khi nãy lại cất cao hơn, gọi: “Tiêu Mãn Y!”.

Lần này Hoa đào Nam đã nghe rõ, kẻ gọi y nhân Tiêu là một người đàn ông mà giọng nói lảnh lót như tỳ bà, nghe hay cực kì.

Hai người quay đầu nhìn lại, chỉ thấy một người áo trắng phấp phới bay xuống từ trên mái hiên. Phía sau người nọ là vầng trăng sáng vằng vạc, ngõ nhỏ hun hút, lúc rơi xuống đất lại chẳng một tiếng động, mái tóc đen chưa buộc rủ xuống hai bên mặt, giống hệt một hồn ma.

Nam Sương và Tiêu Mãn Y thộn ra tại chỗ, người nọ cũng đứng cách đó không xa.

Bóng đêm quá mờ ảo, khuôn mặt hắn ta mờ nhạt, chỉ thoáng thấy khóe môi nở nụ cười, lộ ra hàm răng trắng bóc.

Diệp Nho thấy dáng vẻ ấy của Tiêu Mãn Y thì cho là nàng nhận ra mình, vì quá kích động mới ngây ra. Nào ngờ trong khoảnh khắc, công tử văn nhã bên cạnh y nhân Tiêu bỗng run bắn, đột nhiên nhảy lên. Cái nhảy này dường như đã gọi hồn y nhân Tiêu quay lại, khiến nàng ấy cũng nhảy theo.

Hoa đào Nam và Tiêu Mãn Y cô hát xong thì tôi lên sân khấu, nhảy một chặp hơn mười lần, vừa nhảy vừa hít không khí, vừa nhảy vừa nói chuyện. Tiếc rằng đầu lưỡi hai người xoắn lại, mãi mà chỉ rặn ra vài âm tiết: “Ma trắng”, “đào đường đi”, “diễn đi”…

Diệp Nho thấy thế vô cùng buồn bực, toan đến gần chào hỏi đàng hoàng. Nhưng hắn ta mới bước một bước, Tiêu Mãn Y đã thét chói tai. Diệp Nho bị tiếng hét này làm giật mình lùi lại nửa bước, hoa đào Nam thấy thế thì tận dụng thời cơ, khẽ cắn môi dường như đã hạ quyết tâm. Nàng bỗng nhiên nắm lấy cổ tay Tiêu Mãn Y, đầu ngón chân xoay tròn tại chỗ, hất bụi bặm lên thành hình xoắn ốc rồi lập tức chạy như bay.

Tiêu Mãn Y chỉ cảm thấy cơ thể chợt bị kéo đi, bên tai vọt tới từng tiếng gió thổi, cảnh vật trước mắt nhanh chóng xẹt qua, ngay cả nhìn cũng không thấy rõ.

Phúc tới thì ít, họa cứ dồn dập. Hoa đào Nam mới kéo Tiêu Mãn Y chạy được mười trượng đã nghe phía trước có tiếng ngói vỡ vụn, trên đầu tường hiện lên ba bóng người.

Nàng ngây ra tại chỗ, lát sau than thở: “Buồn thay”.

Còn Tiêu Mãn Y cũng nghẹn họng nhìn nàng trân trân, vứt cả “con ma lấy mạng” khỏi đầu, chỉ hỏi: “Cô dùng khinh công gì đấy?” Nàng ấy quay đầu lại nhìn “oan hồn” kia, giơ tay lên khoa tay múa chân: “Mà có thể chạy mười trượng trong nháy mắt như thế?”.

Nam Sương tránh né câu hỏi của nàng ấy, chợt lóe lên ý tưởng: Đi về phía trước là địch ở trong tối, ta ở ngoài sáng; lui về phía sau là địch ở ngoài sáng, ta cũng ở ngoài sáng. Trong lúc lựa chọn, hiển nhiên cứng chọi cứng với con ma kia dễ dàng hơn. Nàng bèn cười hì hì với Tiêu Mãn Y, chỉ vào con ma đang đến gần hai người rồi lại ngừng cười, than một câu: “Buồn thay”.

Diệp Nho đứng yên tại chỗ, giơ tay lên dùng một sợi dây buộc mái tóc đen ở sau gáy lên, tươi cười nhìn về phía Tiêu Mãn Y: “Y, không nhớ tôi à?”.

Y nhân Tiêu nghe nói thế, trên mặt chợt hiện ra nụ cười, nàng ấy bước lên trước hai bước, thử gọi: “Diệp?”.

Đầu kia lại truyền tới tiếng nói dễ nghe: “Thì ra cô còn nhớ”.

Diệp Nho cực kì hiền hoà, thấy Tiêu Mãn Y nhận ra mình thì tiến lên trước, khom người vái Nam Sương trước và gọi: “Cô nương”. Đoạn ngoảnh lại nói với Tiêu Mãn Y: “Trước kia nếu gặp cô, tôi nhất định phải nhảy lên mái hiên, đợi lúc cô nhìn chung quanh tưởng là không có ai thì nhảy xuống dọa cô. Khi đó cô còn nói đã quen với trò vớ vẩn này, chẳng ngờ nhiều năm không gặp, cô lại bị tôi dọa”.

Diệp Nho là người gần gũi với y nhân Tiêu nhất khi còn ở “Vũ Thiên Hạ”. Mặc dù hắn ta lớn hơn Tiêu Mãn Y một tuổi, song vì vào học muộn hơn nên cũng tính là sư đệ của nàng ấy.

Năm tháng trôi qua, chia li rồi gặp lại. Mặc dù Tiêu Mãn Y không phải người hay xúc động mà cũng phải thổn thức vài câu, biểu đạt tình cảm khi xa cách: “Sau chia cách, nhớ gặp nhau, hoa lạt tàn hồng cây hạnh nhỏ[1]. Ôi! Qua nghe tiếng mưa gió, chẳng biết rụng bao hoa[2]“.

Quả nhiên là nàng ấy thích Mục Diễn Phong, ngay cả nền tảng thơ văn cũng bị bóp méo theo.

Diệp Nho nghe thế thì sửng sốt.

Ở phương diện này, Hoa Đào Nhỏ Nam là rắn chuột một ổ với Mục Diễn Phong, tất nhiên nàng sẽ vui mừng khen hay: “Diệu thay diệu thay”.

Diệp Nho thấy thế chỉ đành gật đầu, chắp tay nói: “Thật… diệu…”.

Gặp bạn cũ nơi đất khách là chuyện vui của đời người, huống hồ tính Diệp Nho ôn hòa, phóng khoáng khéo léo, lại chân thành khôi hài khiến hoa đào Nam và y nhân Tiêu rất thích.

Ba người kết bạn, lại tính kịch trong lầu Thanh Thanh chưa bắt đầu diễn, bèn cùng nhau đến một quán cạnh lầu tìm chút thức ăn.

Mấy người nói chuyện rất vui. Qua lời nói, Tiêu Mãn Y và Nam Sương mới biết, sau khi rời khỏi “Vũ Thiên Hạ” Diệp Nho liền tới lầu Thanh Thanh này mưu sinh. Không phải độc nhất vô nhị, đêm nay đến vở diễn “ghi chép về chiếc thoa tím[3]“, còn nhân vật chính là “Hoắc Tiểu Ngọc” mà Diệp Nho xướng.

Diệp Nho trắng nõn nà, ngũ quan thanh tú dịu dàng nên tất nhiên mặc trang phục diễn giả làm nữ sẽ rất đẹp.

Mà vừa rồi, Diệp Nho liếc mắt đã nhận ra Nam Sương nữ giả nam trang, gọi nàng là cô nương vì hắn ta là đào kép nên nhìn rõ mồn một phương diện này.

Ban đêm đèn hoa đầy đường. Mấy người ăn xong thì cùng đi tới “lầu Thanh Thanh”.

Lầu này tuy nổi danh, nhưng sân tuồng không được cao rộng như kinh thành, Tô châu, vẻn vẹn hai tầng, không cách gian, toàn dựa vào kĩ thuật diễn tinh diệu của đào kép mà được tiếng thơm.

Lúc này, trong vườn đã huyên náo tiếng người, tiểu nhị chạy khắp nơi rót trà cho khách xem. Trên sân khấu bày bình phong Hái Sen rộng lớn. Tiếng đàn sáo thấp thoáng sau tấm bình phong, xuyên qua khe hở ồn ào náo động, chảy vào tai người.

Diệp Nho dẫn Tiêu Mãn Y và Nam Sương đi vào cửa nhỏ, dặn tiểu nhị tìm chỗ yên tĩnh cho hai người ngồi, nói “xin lỗi” rồi hối hả ra phía sau thay quần áo.

Mỗi ngày trước khi kịch mở màn, sau sân đều lộn xộn ngổn ngang, đám đào kép vội vàng hoá trang thay quần áo, nhạc công cũng vội vàng gảy dây thử âm thanh.

Phòng thay trang phục diễn ở chái tây, Diệp Nho đi ra sau sân thì nhìn sang bên phải rồi rẽ vào, theo hành lang đi vòng đến một gian phòng ở lầu hai.

Trong phòng đốt hương làm người ta bí bách gay mũi. Trước giường là từng tầng mành sa tung bay, thấp thoáng bóng người ngồi trong đó, tư thế xinh đẹp vô cùng, sơn móng tay trên ngón ngọc đỏ như đỗ quyên.

Diệp Nho cúi người hành lễ trước giường, gọi: “Chủ lầu”.

Chủ lầu là một cô gái, giọng nói trầm thấp, có sức hấp dẫn khiến người ta nhập ma. Chỉ nghe nàng ta khẽ cười một tiếng, nói: “Hai con nhóc ngu ngốc ấy tới thật rồi à?”.

“Vâng thưa chủ lầu”. Diệp Nho đáp. Nói xong, hắn ta lại lưỡng lự một lát: “Chỉ là vừa rồi trong ngõ hẻm, hình như tôi trông thấy một người”.

“Ồ? Ai thế?”

Diệp Nho ngừng một lát, ngước mắt nhìn cái mành tung bay, âm thanh không chút gợn sóng: “Sư Nhai ạ”.

Mãi mà sau mành chẳng có động tĩnh, tay cô gái nhón lất một cây nhang dưới gối ngọc, đưa tới lư. Mùi hương trong phòng càng ngột ngạt.

Diệp Nho lại khom người thi lễ, nói: “Chủ lầu, bây giờ đã dò ra Vương Thất, Vương Cửu ở trang Lưu Vân. Lần này, hai người Vu, Mục gióng trống khua chiêng trói họ về trang chính là muốn dụ địch thâm nhập, tìm chủ mưu phía sau. Thuộc hạ cho rằng, nếu hôm nay có thể dùng kế lừa gạt Y Nhân Hai Mặt và Hoa Đào Nước Nam rồi thì tôi có thể trà trộn vào trang Lưu Vân. Như thế, chủ lầu không phải lộ mặt, chỉ cần đợi thuộc hạ thăm dò hư thực là được”.

Rất lâu sau, vài tiếng cười truyền ra từ trong mành, cô gái kia vừa cười vừa than thở: “Đâu phải yêu phong trần, mà lỡ duyên tiền kiếp”. Nàng ta khoác áo lên, thong thả nói với người ngoài mành: “Vở kịch nên bắt đầu rồi”.

Sau khi tiểu nhị thắp nến ở khắp các bàn, ánh nến của lầu Thanh Thanh chợt tắt. Phút chốc cả căn lầu lặng ngắt như tờ.

Cách ánh sáng chập chờn, Tiêu Mãn Y nhìn thấy vẻ mặt chờ mong của hoa đào Nam, ánh mắt thì nhìn chằm chằm sân khấu phía trước.

Nàng ấy cũng rất chờ mong. Diệp Nho cũng coi như là người lớn lên cùng nàng ấy. Sau khi trưởng thành, con người ta mới biết, người hiểu mình xót mình càng ngày càng ít, còn những tri kỉ trong lòng đã lắng đọng theo thời gian, dù cho chia cách nhiều năm cũng không giống người thường được.

Suy nghĩ lúc này của Tiêu Mãn Y rất đơn thuần, nàng ấy muốn thấy sau khi trở thành đào kép, kĩ thuật múa của Diệp Nho thế nào.

Chuyện cũ xa xăm như khói, mây khói chẳng tan.

Trong kí ức của y nhân Tiêu, mỗi vũ cơ trong “Vũ Thiên Hạ” đều mang tuyệt kĩ, đều có thể múa những khúc nổi tiếng như “bài ca lụa đỏ”, “áo bay” với phong thái đẹp đẽ.

Nhưng “khúc Kinh Loan” nổi tiếng thì đời đời kiếp kiếp chỉ có thể có một truyền nhân. Người học được “khúc Kinh Loan” dù dốc hết cả đời cũng phải tìm được một vũ cơ có năng khiếu cực tốt để truyền lại tài múa kinh thế hãi tục này.

Cho tới khi “Vũ Thiên Hạ” tứ tán, các vũ sinh vũ cơ tốp năm tốp ba đến quán múa nhà hát, chỉ một mình Tiêu Mãn Y là múa một khúc ở câu lan theo định kì, kiếm đủ lộ phí, lưu lạc khắp gầm trời tìm kiếm truyền nhân.

May thay gặp được Mục Diễn Phong, may thay mình thích chàng, may thay sau khi lang bạt kì hồ, nhân vì sự yêu thích trong lòng mà có chốn quay về, dù chàng không hề thích mình.

Trước Tiêu Mãn Y, truyền nhân của khúc Kinh Loan là Hoa Nguyệt.

Hoa Nguyệt từng nói với y nhân Tiêu: “Khúc Kinh Loan là một khúc múa rất cần tư chất, thiên hạ này hiếm người có đủ tư chất ấy. Cho nên kẻ múa Kinh Loan như chúng ta dù phải lang bạt kì hồ đến tận lúc cuối đời cũng phải tìm được người này. Bằng không kĩ thuật múa kinh thế hãi tục như vậy sẽ không thể lưu truyền tiếp nữa”.

Hoa Nguyệt là người thật thà, có lúc ngốc nghếch, rất ít khi nói năng nghiêm túc như thế. Sau khi bà nói xong lại than liền vài tiếng, sau đó cười hì hì bảo: “Một đời một kiếp với một người nhớ nhung trong lòng, dù cho không thể bên nhau trọn đời”.

Tiếng đàn văng vẳng, phá tầng không trăng giật mình. Bình phong trên sân khấu dần được kéo ra, một màn kí về chiếc thoa tím, một cành liễu nơi cầu Bá giang.[1] Câu đầu bài từ Điệp luyến hoa – Tình xuân của Tô Thức.

[2] Hai câu cuối bài Buổi sáng mùa xuân của Mạnh Hạo Nhiên.

[3] Mọi người có thể xem phim Tử Thoa kì duyên để biết thêm về nội dung vở kich.
 
Một Màu Xuân
Chương 36


Ghi chép về thoa tím chia làm mấy màn, hát về chuyện của Lý Ích và Hoắc Tiểu Ngọc.

Sở dĩ có tên thoa tím là vì hai người kết duyên nhờ chiếc thoa tím, thề ước dưới hoa, kết làm vợ chồng. Sau khi nhận chức quan, Lý Ích bị thái úy Lư trong triều ghi thù. Thái úy Lư dâng biểu lên thánh thượng tiến cử Lý Ích đến tòng quân ở quan ngoại Ngọc Môn.

Hoắc Tiểu Ngọc nén đau thương chia ly với Lý Ích. Sau khi hai người xa cách lại sinh ra rất nhiều hiểu lầm do tên thái uý. Thấy uyên ương ly tán, may mà có bạn Lý Ích giúp đỡ, bày kế vạch trần âm mưu của thái uý, khiến người có tình trở thành thân thuộc.

Vở hôm đó là màn bẻ liễu chia tay đến đèo Dương.

Nghe khèn sáo khóc than, khúc nhạc đẫm nước mắt. Diệp Nho trang điểm nhạt, tay áo dài múa phấp phới, tuy là đàn ông nhưng vì có kỹ thuật múa trời sinh và khả năng lĩnh ngộ cao siêu nên dù chỉ bước đi cũng sinh ra vẻ quyến rũ đau khổ.

Hoắc Tiểu Ngọc và Lý Ích bẻ liễu chia tay ở cầu sông Bá, vốn là màn bình lặng nhất trong vở ghi chép về chiếc thoa tím, không có huyền cơ hồi hộp, chẳng có âm mưu từ từ làm lòng người sợ hãi mà hoàn toàn dựa vào kĩ thuật diễn của hai người trên sân khấu để lôi cuốn lòng người.

Giơ tay nhấc chân mang tư thái nhi nữ, quyến luyến tình biệt li sâu sắc mới có thể làm khán giả ngồi đó che mặt khóc nức nở.

Diệp Nho diễn rất tốt, còn đào kép lão làng sắm vai Lý Ích diễn càng tuyệt hảo.

Có lẽ tính đào kép này chín chắn, khi hát độc thoại cũng mang vẻ bình tĩnh nên hơi chênh lệch với Lý Ích trong câu chuyện.

Chủ lầu Thanh Thanh rất sáng tạo, lúc hát khúc thì sai người dùng cả thơ văn đau buồn li biệt trên cầu sông Bá triều trước, vừa để tăng thêm không khí, vừa còn khiến hạng học đòi văn vẻ dưới sân khấu vỗ tay khen hay.

Hoa đào Nam xem như mê như say, nửa vỏ hạt dưa vẫn dính trên mép, đã quên cả bản thân.

Trong lời kịch vốn là Lý Ích và Hoắc Tiểu Ngọc vừa ra đã che mặt khóc. Nhưng đào kép của lầu Thanh Thanh lại thay đổi cách diễn trong vở kịch. Tất nhiên Hoắc Tiểu Ngọc vẫn rơi lệ tự thương cảm, còn Lý Ích lại trầm mặc nhìn nàng chăm chú.

Ánh mắt kia vừa dịu dàng vừa đau đớn khi phải chia xa, còn có tình cảm không sao tả được. Sóng dậy trong mắt, như có ai cầm đàn cầm sáo trong tay, khẽ lướt nhẹ trên mặt đàn, tiếng nhạc tình tang như sóng lòng rung động.

Nam Sương trông thấy vẻ mặt ấy thì bỗng nhiên ngẩn ra, không biết tại sao nàng lại nhớ tới ngày mình chạy đến hiên Huy Vũ ghé vào trên bệ cửa, dòm công tử Hoàn làm đèn cung đình. Mặt trời đương thịnh, lồ||g lên gò má hoàn mĩ của Vu Hoàn Chi, y bỗng nhiên quay mặt lại nhìn mình.

Trên đài, Lý Ích khẽ than, lúc này tiếng nhạc cũng ngừng, chỉ còn tiếng tiêu xa xăm, tràn qua cỏ thơm um tùm. Hắn giơ tay lên, xoa dọc theo tóc nàng, lựa lấy một lọn tóc đen ròi đưa tới bên môi hôn khẽ.

Trước khi mở màn, Tiêu Mãn Y từng nói với Nam Sương: “Cô xem Hoắc Tiểu Ngọc và Lý Ích trong vở kịch thì sẽ biết thế nào là nhi nữ tình trường”.

Trong vở kịch, vì người diễn Lý Ích và Hoắc Tiểu Ngọc đều là đàn ông, để tránh hiềm nghi nên chỉ hôn mái tóc đen. Nhưng động tác nhỏ ấy lại lộ hết tình cảm, thể hiện rõ ràng tĩnh nghĩa giữa hai người như một khúc đàn bỗng nhiên vang cao, đánh thức người trong mộng.

Dưới đài, hoa đào Nam ngơ ngẩn tại chỗ. Vu Hoàn Chi đã từng có động tác này.

Lúc đó mình đang nghĩ gì, ngổn ngang rối bời, thất vọng mất mát? Nàng chỉ nhớ sau khi y thở dài bỏ đi, mình nhìn bóng lưng y mà trong lòng thắt lại, thất thanh gọi: “Công tử Hoàn”.

Một lúc lâu sau, khóe miệng hoa đào Nam bỗng nở một nụ cười kì dị. Nàng thè lưỡi khẽ li3m môi mình, cuốn nửa vỏ hạt dưa đó vào trong miệng, chậm rãi nhai mấy cái thì thấy rát miệng bèn nhổ đi.

Sau đó nàng lại cầm ấm trà bên cạnh lên, thong thả thổi mấy hơi, học theo Nam Cửu Dương, than thở một cách xảo quyệt: “Kịch hay ư? Kịch hay thật”.

<i>Về sau nếu lấy tôi, không cứ phải mũ phượng khăn choàng, ăn mặc như thế đã đẹp nhất rồi.</i>

Vu Hoàn Chi nói với nàng.

Hoa đào Nam lại cười kì dị.

Đợi diễn xong đã đến giờ hợi hai khắc. Ngoại trừ lầu Thanh Thanh vẫn đèn đuốc sáng trưng thì cả con phố đều đã đi ngủ. Chẳng biết tuyết rơi từ lúc nào, hạt tuyết cực nhỏ dính trong tóc người, chỉ chốc lát đã hóa thành giọt nước mưa.

Hoa đào Nam xem kịch xong thì tâm trạng rất tốt. Nàng lắc đầu, khiến mặt Tiêu Mãn Y đầy nước.

Y nhân Tiêu cả kinh kêu to, mở quạt lông trắng quạt về phía nàng, một đám tuyết bỗng phất vào mặt Nam Sương như muối rắc.

Hoa đào Nam vội vàng nhắm mắt, hạt tuyết dính vào lông mi lông mày của nàng, trông rất khôi hài.

Tiêu Mãn Y cười hớn hở, chợt nghe Diệp Nho gọi mình ở phía sau thì xoay người lại. Lúc bấy Diệp Nho đã thay quần áo, khoác áo choàng tối màu đi về phía nàng ấy, thấy hai người thì hành lễ nói: “Y và cô nương Nam phải đi rồi ư?”.

Tiêu Mãn Y cười nói: “Vốn định từ giã anh nhưng thấy muộn quá rồi”. Thấy mặt Diệp Nho có vẻ không nỡ, Tiêu Mãn Y lại an ủi hắn ta: “Chỗ hai bọn tôi ở cách đây không xa, ngày sau sẽ thường xuyên đến”.

Diệp Nho hơi sửng sốt, mặt xẹt qua vẻ thất vọng khó thấy, lát sau lại hỏi: “Y ở đâu, không bằng nán lại chốc lát, lúc nữa tôi sai người đưa cả hai về”.

Thấy Diệp Nho giữ lại như thế, Tiêu Mãn Y không tiện khước từ nữa. Nhưng lúc này trời đã sắp tối, nếu bị Vu Hoàn Chi phát hiện mình và Nam Sương lén chạy ra, không biết hôm sau ma đầu này sẽ phản ứng thế nào.

Đang lúc lưỡng nan, hoa đào Nam bên cạnh bỗng nói: “Công tử Diệp, tôi thấy hình như anh thích cô ấy”.

Nam Sương nói rất chậm, giọng điệu vô cùng bình tĩnh, lời trong lời ngoài không hề có vẻ cợt nhả mà cực kỳ nghiêm túc. Nàng thấy Diệp Nho giật mình nhìn mình thì lại giơ ngón tay chỉ vào mắt hắn ta, nhẫn nại giải thích: “Tôi nhìn ra từ trong mắt anh đấy”.

“Bốp” một tiếng, Tiêu Mãn Y giơ tay lên vỗ một phát lên tay hoa đào Nam, quay đầu định giải thích thì lại trông thấy Diệp Nho ngước mắt nhìn tuyết bay đầy trời, yết hầu cuồn cuộn lên xuống.

Cảnh tượng này sao đẹp thế? Chôn tiền sau nhà, viết chữ to trên tường, rằng: Giấu đầu lòi đuôi.

Mặt Diệp Nho hây hây, giọng nói rất mất tự nhiên, nuốt nước miếng như nuốt mấy câu xuống, chỉ chừa lại lời nói đường hoàng trên mặt: “Tôi và Y cùng nhau lớn lên từ nhỏ nên có tình nghĩa anh em”.

Hôm nay xem xong vở bẻ liễu, hoa đào Nam đã ngộ ra, nút thắt được giải, nàng cảm thấy mình như đang nâng cánh đại bàng đón gió vượt chín vạn dặm, khả năng lĩnh ngộ từ từ vọt lên. Nhìn thấu Diệp Nho muốn miễn cưỡng qua ải, Nam Sương không nói gì nữa mà chỉ chớp mắt, vui vẻ cười hì hì.

Tiêu Mãn Y than trong lòng: <i>“Nuôi ong tay áo, nuôi ong tay áo”.</i>

Cả ba đang bế tắc thì lại có mấy người đi ra từ lầu Thanh Thanh. Kẻ cầm đầu độ trung tuần, áo gấm xa hoa, khoác áo lông cáo, hai tên sai vặt phía sau mắt sáng như sao. Thấy Diệp Nho, tên đàn ông mặc áo lông cáo này cười bỉ ổi, ngoắc ngón tay với Diệp Nho.

Tiêu Mãn Y hiểu được chuyện ấy. Khán giả nhà hát có người chỉ thích nam, đào kép thanh y[1] có tướng mạo đẹp mà bị khán giả có tiền có thế chọn trúng thì cả đời cũng không ngóc đầu lên được.

Diệp Nho ngây ra, thở dài bất lực, cười khổ với Tiêu Mãn Y: “Cũng được, trời tối rồi, cô về trước đi”.

Ban đầu Tiêu Mãn Y định nói gì đó, nhưng mình nán lại trong cảnh này lâu cũng xấu hổ bèn gật đầu, kéo Nam Sương vội vã đi ngay.

Vừa đi mấy bước, lại nghe Diệp Nho phía sau kêu lên một tiếng đau đớn, lúc quay đầu lại, chỉ thấy hắn ta đã ngã trên mặt đất, hai tên sai vặt cười khẩy muốn lại gần đấm đá, còn tên đàn ông mặc áo lông cáo chỉ lạnh mặt đứng tại chỗ.

Tiêu Mãn Y đang muốn tiến lên ngăn cản lại bị hoa đào Nam kéo, hạ giọng nói: “Đừng đi”.

Lúc này Diệp Nho cũng quay đầu sang, ánh mắt khổ sở bất lực, rồi lại có vẻ dửng dưng xa cách.

Tiêu Mãn Y cắn môi, quay người rời đi, dù phía sau phát ra tiếng động thế nào cũng không quay đầu lại.

Nhưng hoa đào Nam mới đi mấy bước đã ngoảnh đầu nhìn lại, ánh mắt chuyển từ hai kẻ sai vặt đến người đàn ông mặc áo lông cáo, cuối cùng nhìn về phía Diệp Nho ngã trên đất.

Lúc mới tới trấn Vân Thượng, hoa đào Nam và Tiêu Mãn Y gửi ngựa trong một nhà ở cửa trấn.

Đêm khuya thanh vắng, ngõ phố âm u. Muốn đến cửa trấn phải vòng ra từ con ngõ nhỏ vừa nãy.

Trên mái hiên ven ngõ có ba người lẳng lặng đứng. Hoa tuyết rơi lả tả trên bờ vai rộng của người đàn ông cầm đầu, lướt qua áo choàng đen của gã thành một vết trắng, như lọn trắng hai bên mái tóc đen của gã.

Sư Nhai thoáng trông thấy hai bóng người đầu ngõ thì khẽ thở dài, ngoảnh lại nói với hai kẻ phía sau: “Thiếu chủ Âu Dương chỉ bảo chúng ta dò rõ chân tướng, phải tránh rút dây động rừng”.

Hai kẻ phía sau gã, một người cao gầy, tên Lộ Tùy, một người rắn rỏi, mắt to mày rậm, tên Phù Tích.

Sắc mặt Phù Tích trắng bệch không thấy màu máu, quanh người có lệ khí quanh quẩn lờ mờ, giống hệt triệu chứng tẩu hỏa nhập ma của Đỗ Niên Niên. Khác biệt duy nhất là tính chất của lệ khí này, nếu lệ khí của Đỗ Niên Niên đỏ sậm thì Phù Tích lại mang khí màu xanh da trời.

Lộ Tùy nghe vậy, giơ tay lên chắp tay, cười hì hì nói: “Vâng thưa công tử”.

Còn Phù Tích thì cắn răng, không nói không rắng.

Sư Nhai xoay người nhảy xuống khỏi tường cao, đi mấy bước rồi bỗng quay đầu nhìn Phù Tích nói: “Tôi hiểu cậu lo cho Niên Niên, nhưng dù hôm nay cậu lấy được gương trên người Nam Sương cũng không thể cứu cô ta trong lúc nước sôi lửa bỏng, chi bằng để cô ta ở lại sơn trang Lưu Vân, để hai người Vu Hoàn Chi Mục Diễn Phong gánh trọng trách này”.

Phù Tích ngước mắt nhìn Sư Nhai, siết chặt tay, vẫn không nói lời nào.

Sương đêm đọng trên mày Sư Nhai, lông mày gã cũng có vài sợi trắng, mặt mày tuấn tú. Mặc dù không ngọc thụ lâm phong bằng Mục Diễn Phong, không dịu dàng anh ta như Vu Hoàn Chi, song cả người Sư Nhai lại có khí chất lạnh lùng tự nhiên, còn chứa vẻ trầm tĩnh và dịu dàng kín đáo, cũng là người tuấn tú thanh lịch.

Lúc xuyên qua ngõ, lòng Nam Sương và Tiêu Mãn Y vẫn còn sợ hãi.

Có câu nói rất hay, cảnh do tâm sinh. Bấy giờ hoa đào Nam càng chạy càng sợ, ngay cả tiếng bước chân cũng như đang giẫm lên ngực. Nàng nghĩ dù sao Tiêu Mãn Y đã thấy khinh công do mình gọt giũa ra, không ngại thi triển lần nữa. Nghĩ thế, nàng vươn tay nắm lấy cổ tay Tiêu Mãn Y, chạy về phía trước như một làn khói, chớp mắt đã ra khỏi con ngõ nhỏ.

Lúc xui xẻo thì uống nước lạnh cũng sẽ ê răng.

Khó lắm Sư Nhai mới khuyên Phù Tích đi được, không ngờ Nam Sương và Tiêu Mãn Y đã ra khỏi ngõ trong tích tắc. Oan gia ngõ hẹp, không thể buông tha. Mắt to trừng mắt nhỏ một hồi lâu Sư Nhai mới phản ứng lại, gật đầu nói: “Cô nương Tiêu”.

Tiêu Mãn Y cũng sững sờ, đáp: “Công tử Sư Nhai”.

Nam Sương bừng tỉnh, Sư Nhai này chính là người dùng thức thứ nhất trong bảy thức Mộ Tuyết là Ngạo Tuyết Lăng Sương cứu Tiêu Mãn Y lúc nàng ấy bị chòng ghẹo ở lầu xanh.

Hoa đào Nam cũng đã từng nghe nói đến chuyện anh hùng cứu mĩ nhân. Nhưng trước giờ sự chú ý của nàng chủ yếu nằm ở hào khí anh hùng của câu chuyện. Hôm nay nàng xem màn bẻ liểu thì cảnh giới phi thăng, viên mãn đắc đạo, nhìn đêm tuyết thiếu trăng, anh hùng gặp mỹ nhân bèn biết điều lui về sau hai bước, cười cực kỳ dung tục.

Sư Nhai nhìn thấy vẻ mặt kì dị của Nam Sương thì rất ngạc nhiên. Mà thay đổi thường sản sinh chỉ trong nháy mắt.

Phù Tích thừa dịp Sư Nhai ngây ra, thình lình xông lên, rút hai con dao găm trong tay áo rồi xoay người trên không trung. Bóng dáng hắn ta nhanh đến mức không thể nhìn rõ, chỉ thấy ánh sáng phản chiếu vầng trăng từ dao găm như lưỡi sắc hất hoa tuyết bay đầy trời, hạt tuyết bỗng như có sinh mệnh, kề sát ánh dao, lả tả kéo tới hướng Nam Sương và Tiêu Mãn Y.

Đây là thức thứ tư của bảy thức Mộ Tuyết – Tuyết Diếu Băng Thiên.

Phù Tích tu luyện không tốt, lại tẩu hỏa nhập ma. Nhưng dựa vào năng lực hiện giờ của hắn ta muốn khiến hai cô gái võ công không cao mất mạng trong một chiêu đã đủ rồi.

Ngay trong nháy mắt ấy, hoa đào Nam chợt đẩy Tiêu Mãn Y đang sững sờ ra rồi đột ngột vút lên, rút vòng Vọng Tuyết bên hông mà Vu Hoàn Chi đưa cho nàng ra.

Dưới ánh trăng, một bóng người nhanh như gió, lặng lẽ không phá tan màn đêm. Y vận đồ màu trắng như ánh trăng đứng trên sống mái hiên hình các con thú, tuyết rơi lên người hắn mà như thể được gương mặt hoàn mỹ tựa thần tiên ấy chiếu sáng.

Y lẳng lặng nhìn bóng người vọt lên không trung trong lưỡi sắc nở hoa bên đường, cong khóe môi lộ ra nụ cười: “À, quả nhiên”.[1] Vai đào trong hí khúc.
 
Một Màu Xuân
Chương 37


Người trên giang hồ cùng lắm chỉ từng thấy năm thức đầu trong bảy thức Mộ Tuyết: thức thứ nhất Ngạo Tuyết Lăng Sương, thức thứ hai Lạc Tuyết Vô Thanh, thức thứ ba Phi Hồng Ánh Tuyết, thức thứ tư Tuyết Diếu Băng Thiên và thức thứ năm Tuyết Ngược Phong Thao.

Bộ võ công này tiến lên từng tầng, trong đó Ngạo Tuyết Lăng Sương là thứ căn bản nhất, Lạc Tuyết Vô Thanh là nền móng của con đường võ công, là bản đơn lẻ của khinh công tuyệt thế.

Tổng cộng có bảy người bao gồm cả Sư Nhai chia nhau tu luyện bộ võ công này. Ngoại trừ Sư Nhai tu thức thứ thất và Lộ Tùy tu thức thứ hai thì năm người còn lại đều tẩu hỏa nhập ma vì không có nền móng.

Phù Tích xoay người trên không trung, lấy lưỡi dao hất tuyết lấp lánh như băng, bắn về chỗ Nam Sương đứng lúc trước.

Đột nhiên, không biết một ánh dao quét ngang từ nơi nào dưới ánh trăng bay tới. Vì tốc độ quá nhanh nên lúc xuyên qua màn đêm lại dựng lên một vệt ánh sáng chói mắt, cắm ở trước chỗ Nam Sương từng đứng, chặn tuyết cho nàng.

Mà lúc này, hoa đào Nam đã thình lình bay lên từ lâu, sau khi quát khẽ, chớp mắt vòng Vọng Tuyết trong tay đã mang theo sát khí. Nàng nhảy không cao, hai tay hợp lại, một chiếc vòng đánh lên thân chiếc vòng khác, phát ra tiếng vang leng keng, ấy là thức thứ nhất Ngạo Tuyết Lăng Sương trong bảy thức Mộ Tuyết.

Sư Nhai thấy thế còn không kịp kinh ngạc. Đôi vòng trong tay Nam Sương cùng kêu lên, xoay tròn trên không trung như sương tuyết giá rét hóa thành ánh đao bóng kiếm. Tuyết sắc như dao tấn công về phía Phù Tích.

Ngàn lưỡi Mộ Tuyết, địa ngục đóng băng ý chỉ uy lực của bảy thức Mộ Tuyết.

Nếu là lúc trước thì Phù Tích còn có thể né được kích này, nhưng Phù Tích đã tu luyện thức thứ tư của bảy thức Mộ Tuyết, trong cơ thể đã có hai tầng băng hỏa, vả lại hắn ta đang bận lòng về thương thế của Đỗ Niên Niên, sau khi kẻ tẩu hỏa nhập ma buồn bực hay vui mừng sẽ dễ bị lệ khí công tâm, kinh mạch hỗn loạn nhất.

Sư Nhai nhanh chóng tháo kiếm sau lưng xuống ném vào không trung rồi lập tức nhảy lên. Cùng lúc đó, chuôi kiếm trượt xuống như ánh sáng nhật nguyệt tràn ra. Tay gã đón lấy kiếm, cầm kiếm đâm về hướng ánh kiếm vừa nãy, một luồng kiếm khí phá không kéo tới.

Bảy thức Mộ Tuyết chỉ là đường võ công, cầm bất kỳ binh khí nào cũng có thể tu luyện, dùng hai binh khí là tuyệt hảo.

Nhưng nếu tu luyện tới cảnh giới cao nhất của mỗi một thức thì có thể phối hợp giữa kiếm và kiếm khí, hình thành hiệu quả giống như hai binh khí cùng lúc. Cho nên chiêu Ngạo Tuyết Lăng Sương này của Sư Nhai là Ngạo Tuyết Lăng Sương cao nhất, uy lực mạnh hơn của Nam Sương ba phần.

Thấy kiếm khí mãnh liệt kéo tới, hoa đào Nam chỉ trợn mắt “ôi” một tiếng, nhưng trong ánh mắt dường như có vẻ mừng rỡ. Kiếm khí của Sư Nhai chặn một kích thay Phù Tích, còn tàn lực thì tấn công Nam Sương ngay lập tức.

Nam Sương kinh hãi, vội vàng nghiêng mình định tránh. Nhưng đúng lúc này, eo nàng bỗng bị siết. Hương bạc hà ôn hoà tươi mát phả vào mũi, một cánh tay ôm chặt lấy eo nàng.

Vu Hoàn Chi phất tay áo nâng cổ tay lên, lưỡi Vọng Tuyết nhanh chóng xoay tròn trong tay y, hoa tuyết bị cắt nhỏ vụn.

Đám tuyết rả rích như sương, xuyên vào không trung vang rền.

Trong trời đêm, chỉ thấy hai luồng ánh sáng ngưng sương chạm vào nhau rồi nổ ầm, người bốn phía đều bị sức mạnh ấy làm cho chấn động, lùi về phía sau mấy bước.

Tuyết không lớn, nhưng hoa tuyết rả rích. Đêm khuya ngõ sâu, Vu Hoàn Chi nghiêng mặt lẳng lặng liếc nhìn Nam Sương, ánh mắt chuyển động, vừa bất đắc dĩ, vừa vui vẻ.

“Thiếu… cung chủ”. Lát sau, Sư Nhai mới chần chừ gọi một tiếng. Tuyết mịn như dựng lên một tấm mành, che đi biểu cảm mập mờ trên mặt gã.

Vu Hoàn Chi nghiêng người lại, lát sau khẽ mỉm cười, nói: “Vệ Cảnh, nay tôi đã là công tử Hoàn của sơn trang Lưu Vân rồi”.

Một câu nói như hồ nước yên ả không một gợn sóng, nhưng lại dấy lên gióng gió động trời ở đáy lòng Sư Nhai. Gã siết chặt tay đến mức trắng bệch, mãi mới trả lời: “Nay tôi là Sư Nhai, Vệ Cảnh đã chết từ năm cung Mộ Tuyết bị huỷ diệt rồi”. Dừng một lúc, gã ngước mắt nhìn thẳng về phía Vu Hoàn Chi: “Công tử Hoàn”.

Vu Hoàn Chi lại cười, ánh mắt xẹt qua Phù Tích, chỉ bảo: “Khéo thật, hình như lại cứu rồi”.

Sư Nhai nghe vậy thì giật mình, nghẹn họng nhìn Vu Hoàn Chi trân trân.

Ma đầu họ Vu thì vui vẻ tự tại, ngước mắt ngắm trăng thản nhiên bảo: “Tối rồi”. Đoạn vuốt ống tay áo, vòng qua Sư Nhai rồi đi mất. Hoa đào Nam bèn nháy mắt với Tiêu Mãn Y, hai người nơm nớp lo sợ vội vàng đuổi theo.

Đợi đám Vu Hoàn Chi đi thật xa, Lộ Tùy chợt nghi ngờ hỏi: “Công tử Sư Nhai, Vu Hoàn Chi…”.

Sư Nhai nhíu mày, nhìn sắc mặt Phù Tích cực kì khó coi vì động vào nội tức, thì thào: “Y muốn cứu chúng ta, việc này…”.

Tuyết rơi mịt mùng. Hoa đào Nam và y nhân Tiêu theo sát phía sau Vu Hoàn Chi mà không dám thở mạnh.

Ma đầu họ Vu đi được một đoạn bỗng dừng chân lại, quay đầu quan sát Nam Sương và Tiêu Mãn Y nín hơi đứng im một lượt, chợt cười nói: “Thó được đấy à?”.

Tiêu Mãn Y ngẩn ra rồi lập tức hiểu Vu Hoàn Chi nói đến xiêm áo trên người cả hai, bèn vội vàng đáp trước: “Mượn, mượn đấy”.

Nam Sương thì cực kì xấu hổ. Tiêu Mãn Y mặc quần áo của Giang Lam Sinh, tất nhiên có thể nói là mượn. Còn trên người mình, ngoại trừ áo choàng xanh ra thì áo dài xanh và giày bó, không cái nào không phải là đồ của ma đầu họ Vu.

Thật ra hoa đào Nam hay tiện tay thó trộm, nếu thó thứ to thì thường thưởng thức mấy ngày rồi trả lại. Hôm nay bị chính chủ bắt quả tang thực sự là lần đầu tiên trong đời nàng, hơn nữa đối phương còn là một tên ma đầu.

Vu Hoàn Chi cười nhìn nàng chốc lát rồi bỗng hỏi: “Kịch hay không?”.

Nam Sương đờ đẫn mãi mới hiểu y hỏi đến màn bẻ liễu đèo Dương trong vở ghi chép về chiếc thoa tím thì dường như có một cục đá ném vào suối lòng, hoa đào Nam lập tức cười rạng rỡ, nói: “Hay lắm”.

Vu Hoàn Chi hơi kinh ngạc: chẳng qua chỉ là một vỡ kịch, có thể khiến Nam Sương lộ ra dung nhan rạng rỡ như thế cũng tốt. Y lại mỉm cười nói: “Nếu đã thích thì năng đến xem”. Nói rồi, y ngoảnh lại nhìn Tiêu Mãn Y và bảo: “Nhưng sau này, hai người hãy nói trước khi đi”.

Tiêu Mãn Y cực kì kinh hãi, nhìn Vu Hoàn Chi rồi lại nhìn Nam Sương, lập tức hiểu ra: đây đúng là thời kì xuân về trên đất nước, xuân về hoa nở.

Trong bóng đêm, y nhân Tiêu nhàn nhã tự đắc khẽ ngân nga: “Khuê phụ buồn khắc khoải, chẳng dám oán chinh phu, chàng chớ vì nhà vì ân ái lỡ tiền đồ… Sợ cơ thể nàng chẳng chịu nổi nỗi khổ ly biệt, tất nhiên tôi phải năng gửi thư tín đến bờ cỏ thơm[1]“.



Thề non hẹn biển yêu tới cạn.

Ngàn lời vạn tiếng khó nói hết, ta sợ quên đoạn đường đèo Dương ấy.

Tuyết nhỏ đi, từng tiếng ra roi đánh ngựa trên đường núi khiến lá đông rụng rời, xuyên qua bầu trời đêm. Vu Hoàn Chi giục ngựa phía trước, phía sau, Nam Sương và Tiêu Mãn Y sóng vai mà đi, ánh trăng chiếu trên gương mặt tuyệt đẹp của cả hai, dù ở ngày đông giá rét vẫn như có phong thái đào hạnh tranh xuân.

Hai người xem kịch và đánh nhau xong thì hưng phấn lạ thường, tiếng cười lanh lảnh.

“Hoa đào, không ngờ cô lại biết thức thứ nhất của bảy thức Mộ Tuyết!”

“Hì hì, hiểu sơ hiểu sơ thôi”.

“Cô thật là lợi hại!”

“Hì hì, đâu có đâu có”.

“Khinh công vừa nãy của cô cũng tuyệt vời!”

“Hì hì, quá khen quá khen”.

“Dạy tôi được không? Diễn Phong đã ngứa mắt khinh công của tôi từ lâu rồi”.

“Hì hì, được được”.

“Yên Hoa… Cô có thể múa khúc Kinh Loan trên bàn đá không?”

“Bàn đá? Hơi khó, nhưng thầy tôi thì biết đấy, ngày sau chắc chắn tôi cũng sẽ biết!”

“Nếu cô biết múa rồi thì có thể múa một lần cho tôi xem không?”

“Cô muốn xem à? Được thôi”.

Sắp đến sơn trang Lưu Vân, ánh trăng lờ mờ, tuyết đã ngừng rơi. Trong mắt Vu Hoàn Chi vẫn có sự vui vẻ, chẳng biết tại sao chỉ nghe hai cô nương này nói chuyện thôi mà trong lòng đã thấy ấm áp.

Như thể ai đó đang kéo đàn nhị, ngay cả âm điệu thê lương nhất cũng có thể bị họ hát thành vui mừng dung tục. À, dung tục mà phong nhã.

Chơi đùa bên ngoài cả một ngày, Nam Sương và Tiêu Mãn Y trở về vườn Thấm Huân liền về phòng nghỉ ngơi.

Nội thương của Tiêu Mãn Y chưa hồi phục, vừa ngả đầu đã ngủ.

Hoa đào Nam ngủ một giấc, đầu óc loạn cào cào, toàn là lời hát của màn bẻ liễu đèo Dương lúc tối trong lầu Thanh Thanh, thỉnh thoảng xen lẫn hình dáng hát múa của đào kép, cứ quanh quẩn mãi.

Lúc giật mình tỉnh lại, nàng lại nhớ đến từng lời nói việc làm của Vu Hoàn Chi.

“<i>Hì, anh không biết đấy thôi, trước kia tôi mơ làm một vị nữ hiệp võ công cái thế tung hoành giang hồ đấy!”.</i>

<i> “Ừ, sau này theo tôi là được”.</i>

Có một từ gọi là hai lòng cùng ưa, còn có một từ là tâm đầu ý hợp. Trước kia Nam Sương chẳng hiểu, thường dùng bừa, hôm nay dường như nàng đã giác ngộ.

Bỗng nhiên lại nghĩ tới lúc gặp phải Sư Nhai, Vu Hoàn Chi vội vã tới bảo vệ nàng. Tuy dựa vào năng lực của mình cũng có thể miễn cưỡng né được kích ấy, nhưng có y đến thì mình có thể yên lòng hoàn toàn.

Nghe đối thoại giữa Vu Hoàn Chi và Sư Nhai, Sư Nhai vốn tên Vệ Cảnh, trước là người của cung Mộ Tuyết. Bề ngoài Vu Hoàn Chi hờ hững với chuyện cung Mộ Tuyết bị diệt, thật ra không biết y đã thầm chịu đựng đau khổ cỡ nào.

Hoa đào Nam nghĩ tới đây, tim bỗng thắt lại, thấy đau âm ỉ. Nàng nghĩ, nếu Vu Hoàn Chi đã có thể tới bên cạnh bảo vệ nàng mỗi lúc nguy nan thì mình cũng nên đối tốt với y hơn, tốt hơn chút nữa.

Không phải sự áy náy mà chịu trách nhiệm với một người sau khi gây họa cho y lúc trước mà là đơn thuần đối tốt với một người.

Nam Sương vui rạo rực khoác áo lên. Trong vườn rất yên tĩnh, mặt nước lăn tăn chứa đầy ánh trăng, nom như một cái gương sáng. Nước hồ gợn sóng, mái đình cong cong, mọi thứ đều đẹp đẽ.

Phòng chính vẫn thắp ngọn đèn dầu. Ánh đèn phác họa ra đường nét anh tuấn hắt lên trên cửa sổ.

Mấy ngày nay, Đỗ Niên Niên bị thương nặng chưa khỏi, tính mệnh lúc nào cũng có nguy cơ nên Vu Hoàn Chi phải canh đêm, Mục Diễn Phong thì canh ngày.

Hoa đào Nam cười tủm tỉm, rón rén đi tới trước của phòng, sợ kinh động ý nghĩ bất an của mình.

Nàng giơ tay lên gõ cửa.

Đường nét trên giấy cửa sổ dừng lại, sau đó lặng lẽ để sách xuống.

“Sương à?” Vu Hoàn Chi thấy Nam Sương thì có phần kinh ngạc.

Nam Sương rùng mình trong gió đêm, khép kín cái áo choàng mà ban sáng ma đầu họ Vu phủ thêm cho nàng, thò đầu nhìn vào trong phòng rồi cười hì hì nói với Vu Hoàn Chi: “Tôi tới canh đêm với anh”.

Vu Hoàn Chi ngạc nhiên, sợ nàng bị cóng trong gió đêm nên nghiêng người để nàng vào phòng rồi lập tức đóng cửa lại, nói: “Muộn quá rồi, về…” Lời còn chưa dứt, y ngoảnh lại đã thấy Nam Sương nhìn mình với ánh mắt sáng như sao.

“Sao vậy?” Y hỏi.

Hoa đào Nam cười, nghiêm trang nói với ma đầu Vu: “Tôi đoán anh hơi thích tôi”.

Vu Hoàn Chi lại sửng sốt, ánh nến lờ mờ chiếu rọi hàng mày đẹp đẽ và đôi mắt sáng ngời của y.

Rất lâu sau, y bỗng bật cười, nhẹ nhàng cầm lấy tay Nam Sương áp vào ngực mình, nghiêm túc bảo: “Nàng sai rồi, tôi rất thích nàng”.[1] Lời hát trong vở kịch “ghi chép về chiếc thoa tím”.
 
Một Màu Xuân
Chương 38


Đêm lạnh như nước, bóng đèn như mây loạn.

Trong căn phòng yên tĩnh, Nam Sương cảm nhận rõ ràng một trái tim đập đang theo tiết tấu ở chỗ bàn tay chạm vào. Tay Vu Hoàn Chi lành lạnh, ánh mắt lại như than củi bùng cháy trong đêm, sáng rực những đốm lửa.

Qua một lúc lâu, y thấy hoa đào Nam giãn lông mày ra, nhìn mình chăm chú thì không khỏi cười hỏi:

– Nàng thì sao?

Lúc này trong lòng Nam Sương khá xúc động.

Suy cho cùng thì cái ngọt khi hai lòng cùng ưa và cái đắng lúc mỗi người một ngả trong vở kịch vẫn có vẻ đẹp đẽ như ngắm hoa trong sương. Còn suy nghĩ của mình đối với ma đầu họ Vu lại có phần dâm tà, từ lúc bắt đầu ý nghĩ muốn gây họa cho y chưa từng biến mất.

Đến hôm nay, Nam Sương mới hay, bản thân gánh cái danh Hoa Đào Nước Nam này không phải là không có nguyên do.

Nàng thở dài một tiếng, rút tay ra khỏi bàn tay Vu Hoàn Chi, lão luyện vỗ ngực của y, nói:

– Thật không dám giấu, tôi cũng có ý với anh. – Suy nghĩ một lát, nàng lại bổ sung – Tiếc thay cho tấm lòng của anh.

Ma đầu họ Vu ngây ra rồi lại nhướng mày cười hỏi:

– Vì sao?

Vẻ mặt Nam Sương ảm đạm đi, nhìn thấy tay mình vẫn đặt lên ngực Vu Hoàn Chi thì cười xấu hổ, lúc đang định bỏ xuống lại bị ma đầu họ Vu ấn chặt.

Mắt Vu Hoàn Chi như viên ngọc thanh mát, nàng nhìn đến thất thần.

Lát sau, Hoa Đào Nhỏ lại than một tiếng:

– Ôi, xin lỗi anh, tôi vẫn luôn có ý đồ xấu với anh.

Dường như có ánh trăng chợt vẩy lên viên ngọc trogn mắt Vu Hoàn Chi, ánh sáng lấp lánh, sóng mắt trong suốt. Một nụ cười nở rộ từ môi y, hòa vào ánh sáng không bến bờ.

– Không sao cả, – Hắn trả lời – tôi cũng luôn muốn hút nàng mà.

Nam Sương ngơ ngẩn, phút chốc nhớ tới lời đồn thổi “thái âm bổ dương” về Vu Hoàn Chi, không khỏi kinh ngạc nói:

– Thật ư?

– Không tin à? – Ma đầu họ Vu nhíu mày, bỗng nhiên đưa tay ôm lấy eo Nam Sương, đầu ngón chân xoay tròn trên mặt đất.

Hoa đào Nam chỉ cảm thấy trời đất xoay vần, mình đã bị Vu Hoàn Chi đẩy ngã lên giường.

Chẳng biết chiếc áo choàng xanh đã rơi xuống tự bao giờ, uốn lượn trên mặt đất như sông.

Hai tay Vu Hoàn Chi chống ở mép giường, cúi người nhìn Nam Sương chằm chằm, trong mắt tràn ngập nụ cười:

– Đã tin chưa?

Mặt của y sáp lại cực gần, chóp mũi cao như núi dán lên đầu mũi nàng. Nam Sương có thể nhìn thấy rõ ràng từng âm thanh quyến rũ phun ra từ đôi môi hồng hào ấy.

Nàng há miệng song chẳng biết phải trả lời thế nào. Chỉ kinh ngạc nhìn Vu Hoàn Chi, trong đầu xoay mòng móng cuối cùng chỉ còn lại một suy nghĩ: người này quả đúng là ma đầu, ma đầu nghìn năm có một.

Bình phong màu sắc ngăn cách phòng chính thành gian trong gian ngoài.

Lối vẽ tỉ mỉ trên bình phong nhuộm đầy mai lan trúc cúc, trong phòng yên tĩnh, hô hấp gấp gáp mà vấn vương quanh quẩn ra muôn tía nghìn hồng.

Vu Hoàn Chi khẽ dịch mặt đi, lấy tay ngoắc cằm Nam Sương, nhẹ nhàng cười với nàng và nói:

– Được, để tôi khiến nàng tin tưởng.

Vừa dứt lời, hoa đào Nam chỉ cảm thấy một bàn tay man mát thò đến cổ mình, khẽ cởi nút buộc trên vạt áo ra. Soạt một tiếng, một mảng da thịt nhỏ tr@n trụi ở xương quai xanh chợt lộ ra.

Nam Sương nghệt ra.

Nụ cười của Vu Hoàn Chi rất khẽ khàng, song đủ để mê hoặc lòng người. Chân y chống trên giường, cánh tay phải ôm lấy vai Nam Sương, cúi đầu tìm kiếm dưới xương quai xanh của nàng.

Phía dưới xương quai xanh bên phải của Nam Sương có một dấu, cành khô khúc chiết, lá xinh, hoa đào liền đế nở rộ bừng bừng.

Lưỡi Vu Hoàn Chi cũng bừng bừng như lửa xẹt qua cành khô đó, dừng ở trên đế hoa, sau khi ngừng lại thì đôi môi nóng bỏng dán lên, ban đầu li3m hôn rồi m*t lấy nhiều lần.

Đầu Nam Sương trống rỗng, trong lòng có sự kinh hoàng và mãnh liệt khác thường.

Nàng không tự chủ được r3n rỉ một tiếng, âm thanh vừa mềm mại vừa mờ mịt.

Lần này, đầu óc Vu Hoàn Chi cũng trống rỗng. Y bỗng nhiên buông hoa đào Nam ra, ánh mắt sâu thẳm mà say mê, lẳng lặng nhìn nàng một lát, đến khi hô hấp càng ngày càng nặng nề, đến khi hắn bỗng cúi đầu, há miệng hôn mạnh lên nàng.

Nụ hôn mạnh mẽ này như giấc mộng kỵ binh trên sông băng, cờ xí che cả mặt trời, nổi chiêng nổi trống, lại như gió mưa đột kích trên biển, dấy lên sóng lớn vạn trượng, đoạt mất thần trí Nam Sương.

Vu Hoàn Chi đã ôm nàng vào lòng thật chặt, ra sức như thể dầu có trời long đất lở cũng không chịu buông nàng ra.

Nam Sương không nhớ rõ y hôn bao lâu, chỉ biết mình từ kinh ngạc đến đưa lưỡi hùa theo, đến cuối cùng hoàn toàn trầm luân. Ắt hẳn đây chính là hãm sâu vào lầy, không thể kềm chế.

Hoa đào Nam quy kết hết tất cả thành tẩu hỏa nhập ma.

Vu Hoàn Chi buông nàng ra hồi lâu mà vẫn còn còn thở d ốc nặng nề. Quần áo cả hai đều nhăn nhúm, ngây người nhìn đối phương, không ai chịu động đậy, sợ chỉ khẽ động thôi đã phá tan giấc mộng đẹp, lại sợ chỉ khẽ động thôi sẽ rơi vào sâu trong mộng cảnh.

Sáp nến góc phòng đọng trên chân đèn, nến nổ một tiếng, b ắn ra mấy đốm lửa kêu tí tách.

Nam Sương lập tức cả kinh, xoay người ngồi dậy. Nàng nhìn xiêm áo của mình, lại nhìn ma đầu họ Vu vẫn ngơ ngác ở mép giường thì giật nảy mình, vội vàng chạy đến bên cạnh bàn, bất chấp nước trong ấm trà đã lạnh, lật chén lên uống liền ba chén.

Lúc này ma đầu họ Vu đã tỉnh táo hơn, y ngồi ở mép giường, đang nhắm mắt day ấn đường.

Nam Sương thấy thế lại rót chén nước cho y, bưng đến bên cạnh y, chớp mắt cười nói:

– Uống không?

Vu Hoàn Chi nhướng mày, ánh mắt chuyền từ mặt nàng sáng chén nước kia, đưa tay nhận lấy uống vào một ngụm rồi lại nhìn nàng cười nói với vẻ đành chịu:

– Quả thật là cần quyết đoán mà không quyết đoán, ngược lại bị đảo loạn.

Nam Sương nhìn thấy ngực y vẫn phập phồng không thôi thì cười hì hì với y, bèn cầm ngay chậu nước trên kệ gỗ rồi chạy ra ngoài.

Vu Hoàn Chi kinh ngạc nhìn hoa đào Nam, lúc nàng ra ngoài còn muốn khép cửa phòng lại, sợ gió đêm thổi vào khiến ma đầu họ Vu bị lạnh.

Ngơ ngác mất một lúc, Vu Hoàn Chi mới nhặt áo khoác trên đất lên, muốn đi ra ngoài theo, Nam Sương đã trở về phòng rồi.

Nàng móc chân ra phía sau để khép cửa lại, đặt chậu nước lên trên kệ gỗ, lấy khăn vải ngâm nước rồi vắt qua. Cầm khăn ướt, Nam Sương đi tới trước mặt Vu Hoàn Chi, giơ tay lên lau trán cho y, còn hết lòng lau dọc theo đường nét gương mặt cho y.

Hoa đào Nam nhớ lúc ở nhà trọ Hỉ Xuân, có một lần mình cũng không an phận, cầm lấy ông tay áo Vu Hoàn Chi nói mình bị hắn đốt. Ma đầu họ Vu bèn ra khỏi phòng lấy chậu nước, lau cái khăn tay lạnh như băng lên trán nàng một cách nhẹ nhàng, nếu nói một cách mỹ miều thì là dập lửa.

Trên đời này, người khác đối tốt với mình bao nhiêu thì mình phải đối tốt với người đó bấy nhiêu. Càng là người mình thích thì càng nên một lòng một dạ.

Nam Sương hiểu rất rõ đạo lý này.

Mắt Vu Hoàn Chi dậy sóng nhìn nàng, lát sau giũ áo choàng, khoác lên cho Nam Sương, vừa buộc dây vừa nói:

– Ban đêm lạnh.

Hoa đào Nam ngoan ngoãn gật đầu, nhìn y một lát, lại nói:

– Anh thật là đẹp.

Vu Hoàn Chi day trán, không nhịn được mà bật cười.

Qua một lát, Nam Sương ngồi xuống trước bàn, liếc mắt nhìn Vu Hoàn Chi, ra vẻ sầu khổ nói:

– Chuyện hôm nay thật là có phần khó khăn.

Vu Hoàn Chi nhướng mày “Ồ?” một tiếng, cũng vén vạt áo ngồi xuống trước bàn theo nàng.

Hoa đào Nam nói:

– Tôi vốn tưởng rằng hai ta cùng lắm chỉ hai lòng cùng ưa, nào biết đâu rằng chúng ta lại có ý đồ xấu với nhau. Tôi thấy tình cảnh này không lạc quan cho lắm.

Vu Hoàn Chi nhướng mày nhìn nàng, mãi chỉ mỉm cười không nói. Vốn tưởng rằng Hoa Đào Nhỏ xem xong màn bẻ liễu đèo Dương từ lầu Thanh Thanh thì sẽ hiểu chuyện tình ái, nào ngờ nàng lại tách hai lòng cùng ưa và cái gọi là “ý đồ xấu” ra.

Không biết rằng ý đồ xấu đó chính là hai lòng cùng ưa, là kết tinh của tình yêu.

Vu Hoàn Chi hớp trà rồi cười nói:

– Theo ý nàng thì nên làm thế nào?

Nghe ma đầu họ Vu hỏi như vậy, Nam Sương cho là y đã trúng kế liền vội vàng phiền muộn nói:

– Tục ngữ nói đốm lửa nhỏ cũng có thể cháy cả đồng cỏ. Bây giờ ý đồ xấu này đã thâm căn cố đế, cố ngăn cản không phải là cách hay.

Vu Hoàn Chi cười gật đầu.

Hoa đào Nam hít hai hơi hết sức khó xử, suy nghĩ cẩn thận, khóe mắt đảo mấy vòng trên khuôn mặt chứa nụ cười của Vu Hoàn Chi, nói như đã rút ra được kinh nghiệm xương máu:

– Ôi, tôi nghĩ nếu hai ta đều đã có bụng dạ xấu xa thì nhất định không thể lảm bẩn thanh danh con trai con gái nhà lành. Chi bằng anh cứ theo tôi, đợi ngày sau thành hôn, ý đồ xấu này sẽ thành danh chính ngôn thuận rồi.

Dứt lời, Nam Sương lại nhìn về phía Vu Hoàn Chi, thở dài ba tiếng một cách giả tạo.

Dần dần, khóe môi ma đầu họ Vu mím chặt lại như thể nghẹn thứ gì nên không dám há miệng. Sau đó hai mắt y lại cong lên, con mắt đen láy nhìn Nam Sương lóe ra ánh sáng xảo trá.

Hoa đào Nam mất tự nhiên quay đầu đi, ánh mắt rơi vào cái bóng trên mặt đất của Vu Hoàn Chi, trợn mắt há mồm nhìn ma đầu Vu một tay cầm chén trà, tay còn lại thì giơ lên day day giữa chân mày, hai vai run lên.

Nam Sương kinh ngạc quay đầu lại, Vu Hoàn Chi vội vàng nghiêm mặt lại, đặt chén trà lên bàn đánh cạch một tiếng, cũng phiền muộn nói với Hoa Đào Nhỏ:

– Nàng nói rất có lý, tôi phải đi theo nàng.

Trong đêm đông yên tĩnh mà giá rét này, vẻ mặt Vu Hoàn Chi và Nam Sương đều rất nặng nề: <i>“Than ôi, dưới gầm trời này, nhìn khắc giang hồ, kẻ hại nước hại dân là ai? Chính là ma đầu Vu và hoa đào Nam đây.”</i>

Nghĩ đến đấy, hai người đồng loạt thở dài như có thần giao cách cảm.

Ma đầu họ Vu cầm chén, mặt trầm như nước, tiếp tục uống từng ngụm nhỏ.

Hoa đào Nam lấy tay chống cằm, cau mày, cẩn thận suy nghĩ.

Mà đáy lòng hai người đều chỉ có một chữ mừng.

Một lát sau, Vu Hoàn Chi đột nhiên nói:

– Một màu xuân.

Nam Sương giật mình, đặt tay xuống nhìn y, ngạc nhiên hỏi:

– Gì cơ?

Vu Hoàn Chi cười nói:

– Còn nhớ ngọn đèn cung đình đó không?

Hoa đào Nam gật đầu.

– Tôi đã nói sẽ làm xong đèn cung đính tặng cho nàng trước khi nàng lập gia đình. Bây giờ… – Ma đầu Vu dừng lại, khẽ cười một cái mới nói tiếp – Bây giờ mặc dù nàng lấy tôi, tôi cũng sẽ làm xong cái đèn cung đình đó.

– Trước đó vài ngày, tôi hỏi nàng muốn vẽ gì trên đèn cung đình. Nàng nói muốn vẽ Muốn vẽ hoa hồng hoa cúc, cành nhỏ lá xanh, chim khách chim sẻ, cái nào hoan hỉ thì vẽ cái nấy.

Nam Sương lại nghi hoặc gật đầu.

– Mặc dù là đèn cung đình cũng phải có màu trắng, tất nhiên không thể nhổi nhét đấy hoa và chim được. – Vu Hoàn Chi cười nói – Chi bằng tôi bắt chước dấu dưới xương quai xanh của nàng, vẽ một cảnh xuân, hoa đào lá xanh, chim khác đầu cành, dung tục mà phong nhã.

Vu Hoàn Chi tươi cười nói xong, lại nhìn thấy vẻ mặt ngây ngẩn của Nam Sương.

Đây là lần đầu tiên y thấy vẻ mặt cảm động như vậy trên mặt hoa đào Nam.

Trong mắt nàng có ánh nước, nụ cười trên khóe miệng có vẻ cay đắng, đôi môi mấp máy rồi lại vui vẻ cười rộ lên:

– Anh nói dấu hoa đào của tôi là một màu xuân dung tục mà phong nhã?
 
Một Màu Xuân
Chương 39


Khắp đất Thần Châu, chốn nào cũng có thổ nhưỡng màu mỡ nảy mầm chuyện hóng hớt, giang hồ cũng không ngoại lệ.

Từ nhỏ Nam Sương đã nổi danh, “Hoa Đào Nước Nam” vừa khiến nàng trở thành người trong mộng của vô số chàng trai giang hồ, vừa khiến vô số tiểu thư ngọc bích khịt mũi coi thường nàng.

Nhưng Nam Sương không để bụng những điều này, giống như có người trời sinh lạnh nhạt, trời ban cho nàng cái tính lãnh đạm, luôn có thể bốn lạng địch ngàn cân, biến hóa can qua thành mây khói bằng cách thức độc đáo.

Hoa đào Nam cho rằng trong cuộc đời xuôi chèo mát mái của nàng chỉ có hai chuyện làm nàng mãi không thể quên được.

Hai chuyện này đều có liên quan tới Hoa Nguyệt.

Hoa Nguyệt là vũ cơ, kỹ thuật múa nghiêng nước nghiêng thành, bà múa khúc Kinh Loan là đẹp nhất, xưa nay chưa từng có ai múa đẹp hơn. Mà tính tình bà còn thật thà ngốc nghếch hơn cả hoa đào Nam.

Có người nói năm đó Nam Cửu Dương theo đuổi Hoa Nguyệt chỉ mất tổng cộng chưa đến một tháng.

Khi đó kinh thành đang là mùa hè nóng bức, Hoa Nguyệt múa hết một khúc Kinh Hồng, mồ hôi đầm đìa lẫn với phấn, công tử Nam Cửu Dương trông thấy thì động lòng. Hắn lập tức sai người đi nghe ngóng lai lịch của Hoa Nguyệt. Khi quản gia đưa ngày sinh tháng đẻ của cô nhi Hoa Nguyệt đến tay hắn, một mưu kế dần dần nảy sinh trong lòng Nam Cửu Dương.

Sau ba ngày, trạng nguyên khóa mới Nam Cửu Dương của triều đình dẫn thầy tướng số và gia đinh, nhao nhao chạy tới Vũ Thiên Hạ. Hoa Nguyệt vừa mới ra khỏi phòng, công tử Nam đã tiến lên nắm lấy bàn tay của mỹ nhân Hoa, nước mắt nước mũi tèm lem mà gọi em gái.

Hắn vốn tưởng rằng cô nương Hoa thấy cảnh tượng này thì nhất định sẽ sợ hãi nhượng bộ. Nào ngờ cô gái này không giống người thường, chớp mắt nhìn mình, một lát sau còn gọi anh.

Nam Cửu Dương choáng váng, mặc dù sau đó hắn biết dù có không biết hay là quen mặt, Hoa Nguyệt cũng đều gọi anh hết.

Nhưng đã là trạng nguyên thì nhất định là người từng va chạm xã hội. Công tử Nam nhanh chóng bình tĩnh lại, khoát tay áo, thầy tướng số trình lên ngày sinh tháng đẻ, một bà xen lẫn trong đám gia đinh một mực chắc chắn Hoa Nguyệt chính là em gái thất lạc nhiều năm của Nam Cửu Dương.

Lúc đó đầu óc Hoa Nguyệt cũng mơ hồ, nhưng nàng nghĩ tự dưng có thêm một người anh thì dẫu sao cũng là chuyện tốt, thế là cười hì hì lộ răng nanh ra, xưng em gọi anh với Nam Cửu Dương.

Nam Cửu Dương là một vị trạng nguyên hiểu rõ đạo nghĩa, tỏ tường đạo lý dục tốc bất đạt.

Sau khi nhận thân, hắn nói với Hoa Nguyệt:

– Em ở Vũ Thiên Hạ nhiều năm, chắc chắn đã có tình cảm. Tuy anh là anh trưởng mới của em cũng không muốn thấy em phải dứt bỏ, chi bằng em cứ ở lại chỗ này, anh thường đến thăm em là được.

Hoa Nguyệt cười nói:

– Tốt quá tốt quá.

Đàn ông theo đuổi phụ nữ có hai chiêu trăm dùng không lậm, một là lấy lui làm tiến, hai là lạt mềm buộc chặt. Nam Cửu Dương giở cả hai chiêu, tất nhiên hiệu quả rất tốt.

Giữa mùa hè nắng chói chang, mỗi ngày quan trạng nguyên khóa mới lâm triều, làm xong công vụ thì đều nóng lòng chạy tới Vũ Thiên Hạ. Chạy tới không lượn ra sau vườn xem Hoa Nguyệt ngay mà ngồi một mình ở trong chỗ tối ở mái hiên trong sân vườn.

Mỗi khi Hoa Nguyệt luyện múa xong lượn ra từ vườn sau là có thể thấy Nam Cửu Dương đứng ở chỗ cách trước mặt một tấc dưới ánh mặt trời gay gắt.

Bốn vách tường sân vườn tiêu điều vắng vẻ, chẳng có một chỗ ngồi nào. Nam Cửu Dương thấy Hoa Nguyệt thì phấn khởi bừng bừng bừng nhảy dựng lên gọi, gọi bà là em gái.

Hoa Nguyệt cũng gọi Nam Cửu Dương là anh, thấy hắn ngồi xổm đến mức tê cả chân, bước đi đã lảo đảo thì trong lòng luôn có cảm giác khó tả. Không phải cô nương Hoa chưa từng hỏi vì sao công tử Nam không ra vườn sau tìm mình, Nam Cửu Dương nói:

– Lượn ra vườn sau thì sợ cản trở việc luyện múa của em; chờ ở vũ quán lại thấy cách xa quá, chi bằng đến sân vườn ngồi, tê chân một chút nhưng trong lòng mới yên.

Lúc bấy Hoa Nguyệt nghe xong những lời này, trong lòng ấm áp song bề ngoài lại chỉ biết cười hì hì ngây ngô với người, cười đến mức Nam Cửu Dương phải thở dài trong lòng.

Trạng nguyên Nam tường tận đạo làm quan, đến tiệc rượu, nhận ít hối lộ, biết khi nào làm cho ra trò, khi nào đưa đẩy cho xong chuyện, khi nào nhắm một mắt mở một mắt. Tác phong linh hoạt trong ngoài của hắn được quan viên lớn nhỏ trong triều chào đón, ngay cả vị ở ngôi cửu ngũ cũng không khỏi khen một câu: “Nam Cửu Dương? Cáo già xảo quyệt”.

Thế nên công tử Nam cũng khá giàu có. Ngày ngày hắn sai gia đinh mua gối ngọc chiếu mát, quạt tròn bằng lụa thượng hạng tặng cho Hoa Nguyệt, còn thường nói mắt đám quan trong triều tệ hại, toàn tặng anh thứ vô dụng, chỉ đành đem ra cho em gái tiêu khiển.

Đương nhiên Hoa Nguyệt đã nhận những thứ này, còn làm một chiếc đèn cung đình, đưa cho Nam Cửu Dương làm quà cảm ơn.

Chỉ nửa tháng, hai người đã nặng tình anh em, khó bỏ khó phân.

Tháng bảy đổ lửa, như có ai bỏ nhân gian vào nồi hơi mà hấp vậy. Một hôm nọ, Hoa Nguyệt luyện múa xong đi ra, không thấy Nam Cửu Dương ngồi dưới mái hiên, thầm nghĩ có lẽ hắn có công vụ trong người.

Nhưng sau đó, ba ngày liền Nam Cửu Dương không tới tìm nàng, Hoa Nguyệt liền thấy sốt ruột. Nàng đội mặt trời chói chang, lảo đảo chạy về phía phủ trạng nguyên. Gã sai vặt trước cửa phủ vừa thấy nàng thì kêu một tiếng ôi chao, nói:

– Cảm tạ trời đất, cuối cùng cô nương Hoa cũng tới rồi.

Hoa Nguyệt cười hì hì, lại nghĩ thầm thấy lạ, vội nói:

– Tôi tới thăm anh tôi.

Gã sai vặt trầm mặc một lát rồi dẫn Hoa Nguyệt vào phủ.

Bên trong nhà chính, Nam Cửu Dương nằm mê man trên giường, người hầu xung quanh bận trong bận ngoài, thay nước đắp trán. Hoa Nguyệt thấp thỏm tiến lên, giơ tay lên sờ thấy trán nóng đến đáng sợ.

Nam Cửu Dương bắt lấy bàn tay kia, gọi tên Hoa Nguyệt trong lúc ngủ mơ. Đây là lần đầu tiên cô nương Hoa nghe thấy công tử Nam không gọi mình là em gái, nghĩ thầm có lẽ hắn đã sốt đến lẫn rồi.

Hoa Nguyệt canh bên giường Nam Cửu Dương ba ngày ba đêm.

Tảng sáng bốn ngày sau, quan trạng nguyên mới tỉnh lại. Cả người hắn không còn chút sức lực nào song đầu óc vẫn khá tỉnh táo, nhìn Hoa Nguyệt ghé vào mép giường mơ màng mở mắt, nói:

– Ôi, em gái, sau đó tôi lại đi điều tra ngày sinh tháng đẻ, phát hiện thật ra em gái ruột của tôi là người khác, tôi phải đi tìm em ấy.

Hoa Nguyệt nghe vậy thì cắn môi, mãi vẫn không nói gì. Một lúc lâu sau, nàng lại ngẩng đầu lên mỉm cười, răng nanh trắng bóc, lúm đồng tiền bên khóe miệng giống như hoa đào tươi đẹp nhất mùa xuân, nhưng lúc nàng nói “Tốt quá tốt quá”, trên mặt rõ ràng lóe lên vẻ ảm đạm.

Trong lúc cuống quýt, Nam Cửu Dương nắm lấy tay Hoa Nguyệt, gọi “Nguyệt”, vùng ngồi dậy khỏi giường như có thần giúp:

– Mấy ngày nay, dù nàng không phải em tôi, tôi cũng đã coi nàng thành người thân nhất của mình. Vả mỗi ngày tôi đến Vũ Thiên Hạ tìm nàng, nàng cũng đã tới phủ tôi ở một thời gian, đợi tôi tìm được em gái thật sự rồi, chẳng phải nàng phải mang tiếng xấu ư? Thế thì tôi sẽ hủy thanh danh của nàng, bảo tôi làm sao chịu nổi?

Quan trạng nguyên nói xong những lời này thì quả thực hối hận.

Lúc đầu hắn định giả vờ tìm em gái ruột trước, đợi nửa tháng sau trở về lại nói với Hoa Nguyệt, không tìm được em gái. Mà cô nương Hoa của hắn vừa hay sẽ trải nghiệm được sự mạn diệu của nỗi tương tư khắc cốt ghi tâm trong nữa tháng không có hắn.

Nhưng hôm nay hắn vô ý rút dây động rừng, thất bại trong gang tấc, quân lính tan rã.

Ngờ đâu Hoa Nguyệt nghe xong lời này của hắn chỉ yên lặng ngồi bên giường, chốc sau nàng lại mở miệng, giơ tay lên vỗ ngực Nam Cửu Dương:

– Thế, đành để chàng ấm ức cưới tôi thôi.

Đất bằng nổi một tiếng sấm, khiến Nam Cửu Dương chấn động đến ngẩn tò te, hắn chỉ mở miệng ấp úng nói:

– Cũng chỉ đành vậy thôi. – Dứt lời lại hôn mê bất tỉnh.

Hôm Nam Cửu Dương khỏi bệnh chính là đại hôn của hai người.

Trong kí ức của ông cụ Nam, hôm ấy vẫn là ngày náo nhiệt nhất trong sinh mệnh.

Trượng nghi rợp hồng trần, hương thoảng qua mười dặm. Đèn lồ||g sáng đường trường, trăng chiếu khắp trời cao.

Chiêng trống vang trời, hắn đeo lụa hồng, cưỡi ngựa mà lòng vui rạo rực, quay đầu lại đã thấy kiệu hỉ lắc lư, cô nương Hoa của hắn đương ngồi bên trong.

Cô nương Hoa mang khăn đội đầu, tất nhiên cũng đang cười hì hì ngây ngô ở bên trong kiệu.

Một ngày cực kì đáng nhớ như vậy khiến rất lâu về sau, Nam Cửu Dương vẫn cầm chén rượu nhỏ, ngồi một mình trong đình lục giác lắc đầu lẩm nhẩm hát: “Còn nhớ lúc đó, hai ta còn trẻ. Vén khăn voan, thổi ngọn nến. Kéo mành che, cởi xiêm áo. Lật qua lật lại, lật tới lật lui, trằn trọc trăn trở, trăn trở trằn trọc…”.

Có công mài sắt có ngày nên kim, với sự miệt mài khổ cực như thế của Nam Cửu Dương và Hoa Nguyệt, cuối cùng ngày xuân năm sau hoa đào Nam đã cất tiếng khóc chào đời.

Khi đó hoa đào nở khắp kinh thành, từng cánh hồng bay lượn.

Hoa Nguyệt ôm con gái nhỏ bé, vui sướng khó tả.

Cửa mở ra, mấy đóa hoa đào mềm mại bay tới, mang theo sự ấm áp ngày xuân. Nam Cửu Dương nói tên con gái nên là Nam Tiểu Đào, Hoa Nguyệt lại khăng khăng muốn gọi nàng là Nam Sương.

Nam Cửu Dương nói:

– Vợ à, gọi nó là hoa đào vì nàng cười lên đẹp như hoa đào vậy.

Hoa Nguyệt không nói gì.

Nam Cửu Dương lại nói:

– Vợ à, nàng xem con gái chúng ta cũng giống như hoa đào vậy.

Hoa Nguyệt vẫn không nói.

Nam Cửu Dương vỗ bàn nói:

– Vợ à, Nam Sương đúng là một cái tên rất hay!

Hoa Nguyệt mới cười hì hì.

Nam Sương không có nhiều kí ức về Hoa Nguyệt. Đoạn chuyện cũ này của cha mẹ nàng cũng là do Nam Cửu Dương từ tốn kể với nàng sau khi nàng dẫn Vu Hoàn Chi về kinh gặp ông cụ Nam.

Sau khi Hoa đào Nam ra đời, Hoa Nguyệt ở cữ xong bèn trở về Vũ Thiên Hạ. Sau đó có một ngày hồn lạc phách xiêu trở về nhà, từ đó càng luyện múa siêng năng chăm chỉ hơn.

Nam Sương hai tuổi, thấy mẹ múa phiêu diêu trong sân, cũng hoa chân múa tay theo. Người nàng mềm dẻo, tư chất vô cùng tốt, còn nhỏ đã có thiên phú của vũ cơ xuất sắc. Hoa Nguyệt thấy thế lại cực kì sợ hãi, cầm gậy gỗ đánh thật mạnh vào mắt cá chân nàng.

Khúc Kinh Loan phải xoay tròn tại chỗ, múa ra phong thái của tiên, múa ra màu sắc nhuộm khắp trời.

Hoa Nguyệt làm tổn thương gân chân Nam Sương, cả đời hoa đào Nam cũng không thể múa được điệu đẹp đẽ ấy nữa.

May mà còn nhỏ nên không nhớ, qua một thời gian, Hoa Đào Nhỏ đã quên béng chuyện này. Còn thứ làm nàng khắc cốt ghi tâm là một chuyện khác.

Nam Sương bảy tuổi, Nam Cửu Dương bỗng dưng từ quan, chọn một tòa nhà để xây phái Thiên Thủy.

Khi đó, Hoa Nguyệt đã luyện múa đến si mê, suốt ngày ở Vũ Thiên Hạ, đêm khuya mới về nhà.

Một hôm trời xanh mây trắng, Nam Sương bị Hoa Nguyệt gọi vào phòng chính, trên bàn phòng chính có bức tranh hoa đào liền đế. Hoa Nguyệt dỗ Nam Sương uống bát nước ngọt. Trogn nước ngọt có bỏ thuốc, hoa đào Nam vừa uống xong đã mơ màng ngủ mất.

Nàng bị cơn đau đớn đánh thức. Lúc mở mắt ra, nàng thấy Hoa Nguyệt đang dùng kim đâm từng chút một dưới xương quai xanh của mình, đổ phẩm màu đỏ như máu vào trong vân da. Cơn đau đáng sợ ấy làm Nam Sương quên cả la hét, chỉ ngơ ngác nhìn Hoa Nguyệt cầm nước mắt, hai tay run rẩy, đâm từng chút từng chút một.

Từ đó về sau Nam Sương không bao giờ để ý tới Hoa Nguyệt nữa.

Một năm sau, hình như Vũ Thiên Hạ không cần Hoa Nguyệt nữa. Thời gian nàng ở nhà càng ngày càng dài.

Mỗi ngày nhàn rỗi thì đến vườn của Nam Sương, hoặc trốn ở góc tường, hoặc trốn ở cạnh cửa dòm Hoa Đào Nhỏ cười ngây ngô. Thấy Nam Sương bắt gặp mình, nàng ấy bèn nói:

- Ngày sau Sương thành đại hiệp, về nhà thăm cha, báo hiếu mẹ.

Có lúc nàng ấy còn nói với Hoa Đào Nhỏ:

– Mẹ thấy con chim sáo đó sắp đẻ trứng rồi, về sau con nuôi mấy con chim sáo thì sẽ không cô quạnh.

Từ nhỏ tính cách Nam Sương đã cực tốt, mặc dù trong lòng nàng có khúc mắc với Hoa Nguyệt, song không tức giận thật. Nhưng nhớ tới cơn đau ngày đó cũng không biết nói gì cho phải, chỉ đành cười ngây ngô với mẹ.

Cho tới sau này, Nam Sương thấy mẹ múa khúc Kinh Loan trên bàn đá, kiệt sức mà chết.

Khi đó lại là một năm mùa hè nóng nực, đúng lúc dành dành nở rộ, cả vườn thơm ngát.

Nam Cửu Dương ngồi bên giường nắm lấy tay Hoa Nguyệt, hai mắt lấp lánh ánh sáng vì kiềm nén cực độ, hắn hưng phấn kể về chuyện trong những năm gần đây, hưng phấn kể từng câu chuyện cũ của hai người cho Hoa Đào Nhỏ của họ.

Lúc tinh thần của Hoa Nguyệt tốt hơn sẽ cười hì hì trả lời hắn.

Có một bữa, Hoa Nguyệt gọi Nam Cửu Dương tới bên giường, nói:

– Em thấy mấy ngày nay đều là chàng nói, hôm nay em nói với chàng nhé?

Nghe nói trước khi chết con người sẽ hồi quang phản chiếu, không phải Nam Cửu Dương không biết, nhưng hắn vẫn cười nói được.

Hoa Nguyệt bảo:

– Năm mười chín tuổi, em múa trên sân khấu, nhìn khán giả ngồi bên dưới mặc quần áo bằng gấm lam, đẹp trai cực kỳ. Lúc đó em đã nghĩ, nếu có thể lấy chàng ấy thì tốt biết bao.

– Ngày hôm sau, quan trạng nguyên khóa mới diễu phố, chị em trong Vũ Thiên Hạ kéo em đi xem, em lại nhìn thấy chàng ấy. Chàng mặc quan phục, dáng vẻ đường hoàng. Lúc đó em lại nghĩ, chàng ấy thật là đẹp trai, nếu có thể lấy chàng thì tốt biết bao.

– Sau đó, chàng ấy tới tìm em. Nói em là trẻ mồ côi, là em gái thất lạc của chàng. Thật ra em nào phải trẻ mồ côi gì, chẳng qua để vào Vũ Thiên Hạ múa nên em mới nói dối đấy thôi. Em có cha có mẹ, nhưng mẹ thì chết, cha thì điên. Lúc đó em nghĩ, nếu được làm em gái chàng ấy, em cũng đã thấy đủ rồi.

– Ai ngờ chàng ấy thật sự coi em là em gái, mỗi ngày đều đến thăm em, không đến vườn sau vì sợ cản trở em, không đến quán múa vì thấy xa cách. Đành ngồi canh mỗi ngày ở sân vườn giữa vườn sau và quán múa.

– Khi đó trời nóng lắm, nóng như lò lửa muốn nướng chín người ta. Em nhớ mình đặt cái ghế ở sân vườn cho chàng ấy, nhưng mỗi ngày cái ghế kia lại bị thầy lặng lẽ cầm đi mất. Thầy nói, bởi vì chàng ấy nghĩ lừa em đi mất.

– Chàng ấy tặng em nhiều thứ tốt lắm, còn nghĩ ra đủ cái cỡ muôn hình vạn trạng. Sau, em cũng làm một cái đèn cung đình tặng cho chàng. Em vụng về, chả có tài năng gì, chỉ có có thể làm đèn cung đình vuông vức. Chàng mừng rỡ cầm đi, thực sự là mừng rỡ nhảy nhót tung tăng ấy. Thật ra chàng ấy không biết, em buồn lắm, em thấy chàng ấy ngày ngày ngồi trong sân vườn chờ em, trong lòng lại buồn. Em vừa buồn là lại ngồi làm đèn cung đình. Cả đời này, chiếc đèn cung đình tốt nhất mà em từng làm chính là chiếc đèn tặng cho chàng ấy.

– Sau đó chàng ấy mãi không tới, em sốt ruột lắm, sợ chàng phải cưới vợ, bèn tới tìm chàng. Kết quả gã sai vặt kia mở cửa lại nói chàng bị bệnh rồi, nói là hai ngày trước gã sai vặt kia từng tới tìm thấy em, bảo thầy nói với em.

– Em không trông ba ngày ở bên giường chàng ấy, em trở về tìm thầy. Thầy nói chàng giả bệnh dọa em thôi, em lại vòng về phủ trạng nguyên tìm quản gia nhà chàng ấy.

– Quả thực chàng ấy giả bệnh dọa em, nhưng chỉ có ngày đầu tiên là chàng giả bệnh thôi. Đợi một ngày thấy em không đến nên ngâm mình trong nước đá cho cóng cả một ngày, thế là đổ bệnh thật.

– Lúc trông nom bên giường chàng ấy, em nghĩ chờ chàng tỉnh lại, em phải nói với chàng rằng em không phải em gái chàng. Khéo là chàng tỉnh lại đã nói chuyện này.

– Từ năm mười chín tuổi gặp chàng ấy, em nghĩ chàng thật đẹp trai, nếu có thể lấy chàng thì tốt rồi. Em thật tốt số, thật sự lấy được chàng ấy.

– Cả đời này, người đối tốt với em nhất chính là chàng ấy. Khi Sương xuất hiện trên đời, chàng nói muốn gọi là Hoa Đào Nhỏ, bởi vì giống em. Em không đồng ý, bởi vì em cảm thấy chàng ấy giống như sương tuyết. Khi đó, dưới cái nóng mùa hè, mỗi ngày em đều luyện múa, nóng đến mức luôn miệng kêu khổ, nhưng vòng đến sân vườn, thấy chàng ấy ngồi chờ ở đó, trong lòng em lại mát đi. Giống như phủ mấy lớp sương tuyết, vừa đắng lại lạnh vừa chát, lại có chút ngọt ngào…

Hoa Nguyệt nói với Nam Cửu Dương xong lại gọi hoa đào Nam tới, rủ rỉ tổng cộng cả nửa ngày.

Hôm ấy, mặt trời cực kì chói chang, tinh thần Hoa Nguyệt cực kỳ tốt, tốt đến mức nàng khăng khăng đến bàn đá trong đình, múa khúc Kinh Loan để Nam Cửu Dương ngắm, cho đến kiệt sức mà chết.

Nam Cửu Dương ngồi yên tại chỗ. Mặt trời độc ác thiêu đốt khiến mắt hắn cay sè, nước mắt chảy đẫm khuôn mặt.

Rất lâu sau, hắn bỗng ôm lấy thi thể của Hoa Nguyệt, dẫn Nam Sương trở về Vũ Thiên Hạ.

Lúc đó tiếng tăm của Vũ Thiên Hạ đã xuống dốc, bốn bức tường sân vườn vẫn tiêu điều vắng vẻ như năm xưa.

Nam Cửu Dương ngơ ngác ôm Hoa Nguyệt vào trong lòng, ngồi xổm tại chỗ, nhìn về phía cái cửa nhỏ góc tây hết lần này đến lần khác. Năm đó Hoa Nguyệt lượn ra từ nơi đó, cười hì hì với ông, vẻ mặt ngờ nghệch.

Mà khi đó Nam Sương lại đưa ngón tay ra chạm vào bàn tay lạnh như băng của Hoa Nguyệt.

Nàng nhớ sau khi về phủ, không còn người thò đầu ra từ góc tường sau cửa, cười với nàng, nói mấy câu ngô nghê nữa, nước mắt bỗng nhiên rơi xuống.

Hoa đào Nam cho rằng trong cuộc đời xuôi chèo mát mái của nàng chỉ có hai chuyện làm nàng mãi không thể quên được.

Một chuyện là năm đó Hoa Nguyệt khắc dấu hoa đào dưới xương quai xanh của nàng, còn một chuyện khác chính là cái chết của Hoa Nguyệt.

Lúc dấu hoa đào đó mới thành hình, còn lâu mới được đẹp như bây giờ, màu đỏ tươi, da thịt lồi lõm, là dấu vết đáng sợ nhất. Nam Sương nghĩ, nàng không hận Hoa Nguyệt nhưng lúc bà còn sống vẫn chưa hỏi rõ nguyên nhân khắc dấu.

Trên đời này, rất nhiều chuyện trôi qua rồi thì đều có thể bỏ qua, có thể không để bụng, chỉ để lại tiếc nuối trong lòng đã có thể ràng buộc người ta cả đời.

Lúc người khác đối tốt với mình thì mình phải đối tốt với người đó. Càng là người mình thích thì càng nên một lòng một dạ.

Sau đó hoa đào Nam đã hiểu ra.
 
Back
Top Dưới