Khác MỆNH TIỀN KIẾP [Cảm hứng lịch sử | Xuyên không]

Mệnh Tiền Kiếp [Cảm Hứng Lịch Sử | Xuyên Không]
20. Con mèo


"Kiếp này coi như bỏ!"

Tôi rầu rĩ ngửa mặt lên trời, hít một hơi thật sâu rồi nhanh chóng cúi gằm đầu xuống.

Miễn cưỡng lết từng bước xiêu vẹo nối gót người đằng trước, tôi thấy mình giống kẻ tử tù đang được dẫn ra pháp trường, tuyệt vọng không để đâu cho hết.

Rốt cuộc, vị Hoàng đế kia muốn gì ở tôi?

Vô vàn thắc mắc quay cuồng trong tâm trí, ngặt nỗi cái nào cũng đưa tới kết cục là bị chém đầu hoặc thả trôi sông.

Tôi len lén ngước nhìn theo bóng lưng y, lối nhỏ dưới chân tưởng chừng kéo dài vô tận bởi vị vua này chẳng hề vội vã.

Y chậm rãi thả bước, từng vạt nắng yếu ớt giữa mùa đông xuyên qua tán cây, rải trên vai y những đốm sáng nhạt màu.

Dáng người y vốn rất cao lớn, đôi bờ vai mạnh mẽ như gánh cả giang sơn.

Trộm nghĩ, thần linh trên cao chắc phải ưu ái lắm mới ban cho y một gương mặt đẹp cùng ngoại hình tuyệt mỹ đến vậy.

"Tiếc thay, con người này lại độc ác khôn cùng."

Buông một tiếng thở dài cảm thán, tôi xốc thanh kiếm trên lưng rồi tiếp tục vật vờ bám chân Lê Long Đĩnh.

Chẳng rõ y định đi tới nơi nào.

Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ khuôn viên phủ Khai Minh Vương chỉ kéo dài đến chỗ gian nhà chính là hết.

Vậy mà vòng qua cửa vòm bên phải ra đến đằng sau nhà là nguyên một mảnh đất rộng trồng la liệt đủ loại cây cối lẫn hoa màu.

Cái "vườn" khổng lồ ấy có nhiều loài kì hoa dị thảo đến mức tôi chỉ bới ra được vài bông nom quen mắt, còn lại hầu như không biết tên hoặc chưa gặp bao giờ.

Theo Lê Long Đĩnh ra khỏi khu đất trồng, đi thêm mấy mét thì tôi trông thấy một hồ cá nhỏ.

Cạnh hồ đặt bộ bàn ghế được chế tác nguyên khối từ đá tảng, trên mặt bàn hình như còn có vài đồ vật gì đó đương nằm lăn lóc mà tôi ở xa quá nên nhìn mãi cũng không ra là thứ gì.

Lê Long Đĩnh lại gần chỗ bàn đá, y ngó quanh một chút rồi bất ngờ quay đầu về phía tôi.

Đối diện với gương mặt lạnh lẽo vô cảm của y, kẻ vốn đã lo sợ từ lúc trải nghiệm giấc mơ quá đỗi kinh dị lúc trên thuyền và có thành kiến khi nghe sử sách ghi đủ kiều kinh sợ là tôi chẳng dám nhìn thẳng vào mắt y mà vội vã cúi đầu xuống né tránh.

"Nhật Dương, mau lại đây."

Y bỗng vẫy tôi ý bảo đến gần.

Nghe tiếng gọi, toàn thân tôi lập tức cứng đờ, khóe miệng co rút.

Kỳ thực là giờ tôi rất muốn bỏ chạy, nhưng lệnh vua xưa nay vốn ngang lệnh trời, tôi trốn thế quái nào được?

Hơn nữa, người đang đứng trước mặt tôi cũng chẳng phải vị vua nào hiền lành mà chính là ông vua bạo chúa Lê Long Đĩnh.

Chưa cần dùng đến não cũng biết, nếu tôi không muốn đầu và cổ mình phải chia tay nhau sớm thì tốt nhất là nên ngoan ngoãn làm theo vô điều kiện.

Nhấc đôi chân nặng nề tiến về phía y, tôi đảo mắt, chọn một vị trí đủ gần chiếc bàn nhưng cũng cách xa Long Đĩnh khoảng nửa sải tay, khúm núm đứng yên ở đấy.

"Nghe anh trai cô nói năm nay cô mười sáu tuổi?"

Y ngồi xuống chiếc ghế đá, cất giọng nhàn nhạt hỏi.

Vừa nghe nhắc hai chữ "anh trai", mí mắt tôi liền giật mạnh, trong đầu nảy số ra gương mặt gợi đòn của Khắc Duy.

Tuy là hiện tại, tôi không có cách nào để biết thằng cha chết dẫm đấy đã bịa đặt những chuyện gì và ba xạo tới đoạn nào với Lê Long Đĩnh, nhưng có thể chắc chắn một điều rằng không phải tự dưng mà vị này lại đi hỏi cung tôi chuyện tuổi tác.

Thấy tình hình rất chi là tình hình, tôi lại không có nhiều thời gian để tìm một câu trả lời chuẩn chỉ nên đành bấm bụng đáp bừa.

"Dạ, bẩm chúa thượng, đúng là như vậy ạ."

Nói xong, tôi lấm lét nhìn y để xem thái độ.

Chỉ thấy khóe miệng Lê Long Đĩnh cong lên, hàng chân mày hơi nhếch.

Biểu cảm đó của y làm tôi sợ toát mồ hôi dù gương mặt y khi cười trông cũng... khá thân thiện.

"Đã mười sáu tuổi nhưng ý thức chỉ ngang một đứa trẻ bảy tuổi, quả là chuyện lạ."

Y đưa tay chọn lấy một vật trên bàn, giọng nói phát ra nghe đều đều, không cao cũng không thấp, xem chừng rất khó đoán ý.

Tay tôi vô thức nắm chặt gấu áo, có lẽ là vì hiệu ứng tâm lý nên lòng chợt nảy sinh cảm giác nghi ngờ mơ hồ, chẳng biết đây liệu có phải chỉ đơn thuần là một câu bình phẩm thông thường không hay còn có hàm ý sâu xa nào khác.

Trong lúc tôi đang căng não để phân tích từng câu từng chữ, Lê Long Đĩnh hơi nhổm người dậy, cầm vật trên tay đưa ra phía trước rồi vẩy nhẹ.

Tôi thoáng ngây người bởi một tràng âm thanh trong trẻo vang lên ngay sau đó.

Hóa ra, thứ y đang cầm là một vật có hình dạng giống với chiếc lục lạc cỡ nhỏ.

"Ngoaoooo ~"

Khi âm thanh của lục lạc vừa dứt, có tiếng mèo từ đâu văng vẳng như thể đáp lại.

Tôi ngoái đầu nhìn, trông thấy một cục bông trắng muốt phi như bay tới chỗ mình.

Nhận ra nó chính là con mèo hung dữ ban nãy, tôi sực nhớ tới cái bóng ma quỷ mới định bám vào người mình lúc đó, trong đầu nổ oành một tiếng.

"Chết bỏ mịa!

Nó chạy đâu mất rồi?"

Tôi hốt hoảng đưa mắt quan sát xung quanh, không khỏi tự trách mình vì mải lo nghĩ cách đối phó với Lê Long Đĩnh mà quên bẵng sự tồn tại của cái bóng đen.

Cùng lúc đó, con mèo trắng béo ú co người lấy đà rồi nhảy lên đùi Lê Long Đĩnh, cuộn mình nằm gọn lỏn trong lòng y.

Nó dụi đầu vào cánh tay y làm nũng, mắt nhắm hờ thỏa mãn khi vị vua ấy chậm rãi vuốt ve bộ lông mịn màng của nó.

"Trẫm định mang nó về Hoa Lư.

Sắp tới cô theo xuống Ái Châu cũng rảnh rỗi, chăm sóc nó cho trẫm đi."

Đang hoang mang, mặt tôi được thể nghệt ra, tưởng nghe nhầm.

Lấy hết can đảm, tôi rón rén hỏi:

"Chúa thượng bảo thần... chăm mèo ấy ạ?"

Y chống cằm, nghiêng đầu cười nhạt:

"Thế nào, có làm được không?"

Giọng điệu của y nửa đùa nửa thật, tôi nghe thế nào mà còn thấy có cả mùi đe dọa trong đấy.

Lại thầm khấn tên "Trần Khắc Duy" thêm lần nữa, tôi nuốt khan, gật đầu lia lịa đồng ý, chỉ sợ chậm lời chút thôi là người ta mang mình đi xử tử liền:

"Dạ bẩm, thần làm được!

Xin chúa thượng cứ giao cho thần."

Nói xong câu này, tôi rất muốn tự vả cho mình một cái đau thật đau lên mặt.

Trời ơi, đúng là cái miệng hại cái thân, tôi ngu quá mà!

Vốn dĩ, tôi nào có yêu quý gì cái bọn bốn chân nhiều lông ấy đâu?

Với một đứa có xu hướng sống ái kỷ và thiếu kiên nhẫn như tôi, việc chăm nuôi thú cưng rất phiền, chẳng khác gì mua bực vào người.

Vậy nên, như một lẽ hiển nhiên thì tôi hoàn toàn không có tí kỹ năng nào để "sống chung với động vật" chứ đừng nói đến chuyện bỏ công chăm sóc chúng tử tế.

Khốn thay, lời đề nghị của Lê Long Đĩnh vốn mang hàm ý ra lệnh.

Và đương nhiên rồi, tôi làm sao mà từ chối y được?

Nói trắng ra, đến tư cách để "kháng chỉ" tôi còn không có ấy chứ!

Thấy tôi lúng túng, Long Đĩnh cả cười, hai tay đan nhau vòng ra sau đầu làm điểm tựa, hạ giọng nói:

"Chút việc nhỏ này sao làm khó được cô!"

Y dừng lại đôi chút, tiếp lời.

"Mà Nhật Dương này, cô mau nói cho trẫm biết, khi nãy ở ngoài sân cô đã nhìn thấy thứ gì vậy?"

"Dạ?"

Giống như có ngàn vạn tia sét đánh giữa trời quang, tôi thất kinh đứng chết trân tại chỗ, ngỡ đâu mình đã hóa đá trong khoảnh khắc ấy.

"Chúa thượng, sao người lại..."

"Đừng ngạc nhiên, trẫm đoán nó không tốt đẹp gì lắm."

Y tặc lưỡi, đôi mắt lạnh lùng sâu thẳm như biến thành mũi tên găm vào người tôi, từng chút lột bỏ lớp mặt nạ giả dối tôi đang mang.

Sống lưng tôi lạnh toát, nỗi sợ bị lật tẩy phút chốc bao trùm lấy tâm trí.

Tôi mấp máy môi, biết rõ mình phải mau chóng lên tiếng nhưng đầu óc giờ chỉ còn là một mảng hỗn độn.

Tôi thừa nhận, kể cả khi chưa biết danh tính thật của gã thanh niên "Lê Trung" - tức vua Lê Long Đĩnh thì tôi vẫn luôn dè chừng ánh nhìn của y.

Nó không những đem đến cho tôi cảm giác y không ưa tôi mà còn khơi lên một sự bất an rất khó diễn tả thành lời.

"Tại sao thế nhỉ?"

"Trẫm biết cô có thể nhìn thấy những thứ thuộc về cõi âm ty."

Lê Long Đĩnh đứng dậy tiến đến trước mặt tôi, buông một câu nhẹ tênh.

"Ở quán trọ, việc cô và anh trai cô làm, trẫm đã thấy cả rồi."

Nói đoạn, y nhếch môi cười khẩy, đưa tay vỗ nhẹ lên đầu tôi:

"Còn phải học nhiều lắm, Dương ạ."

Tôi trân trối nhìn y, đôi chân bải hoải vô lực, chẳng thể tiếp tục đứng vững.

Tôi khuỵu gối, hai tay theo đà chống xuống nền đất, run rẩy nói:

"Chúa thượng tha tội... thần... thần..."

"Tội tình gì đâu.

Nói đi, trẫm đang nghe đây!"

Y hơi nghiêng đầu, mắt nheo lại đầy vẻ mong chờ.

Một cơn giá buốt trườn qua gáy khiến gai ốc trên người tôi nổi cộm từng mảng.

Cuối cùng, trước sức ép vô hình đè nặng, tôi đã phải thành khẩn "tuồn" ra với Lê Long Đĩnh một số chuyện mình biết.

Dĩ nhiên là có lược bỏ chỗ này, cắt gọt chỗ kia để tránh tiết lộ quá nhiều thứ không nên.

Bởi lẽ, dù cho bản thân có đang sốc óc tột độ thì nhờ phần lý trí ít ỏi còn sót lại, tôi vẫn hiểu rõ mình đang rơi vào tình thế nguy hiểm nhường nào.

Như đã trình bày, tôi không hề biết tên khốn Khắc Duy kia bịa đặt với vua Lê Long Đĩnh bao nhiêu chuyện, càng không biết y đã nắm được cụ thể trong tay những thông tin gì.

Từ đầu chí cuối, tất cả mọi thứ đều do một tay thằng cha Duy thao túng, tôi giống hệt như loại tệp đính kèm vô dụng chạy theo hắn, được hắn cho biết tới đâu thì hay tới đó.

Vậy nên, khi mọi chuyện không may trượt khỏi tầm kiểm soát thế này, tôi đây chỉ còn nước trông chờ vào vận số mà thôi.

"Bẩm chúa thượng, đúng là thần đôi lúc có thể nhìn thấy hồn ma bóng quế, nhưng xưa nay chưa từng trông rõ hình dáng của chúng..."

Tôi cúi đầu thật thấp, cốt để tránh cho y bắt được một tia gian dối nào vô ý lộ ra trên mặt mình.

"Về bóng đen ở ngoài sân, thần quả thực không biết nó là thứ tà ma quỷ quái gì.

Thần cũng rất lo lắng, rằng phải chăng những điều mình thấy trước giờ chỉ là ảo giác do bệnh tật tạo thành..."

Đáp lại "lời khai" có vẻ thành thực của tôi là một khoảng yên lặng kéo dài.

Lê Long Đĩnh chắp tay sau lưng, dành cho tôi một ánh nhìn dò xét như muốn hỏi còn gì nữa không.

Tôi mím môi, cơ mặt gồng cứng để giữ nguyên một biểu cảm trông ngây thơ vô tội nhất có thể.

Tuy vô vọng nhưng tôi vẫn mong y sẽ tự đọc ra thông điệp "Thần khai hết rồi ạ!" trên mặt mình thay vì tiếp tục đặt câu hỏi.

Trong lúc ứng biến với tình huống bất ngờ phát sinh, bộ não của tôi đã phải cố gắng gạn bớt, chắt lọc và sắp xếp các chi tiết có thể tiết lộ vào với nhau một cách dù hơi miễn cưỡng song vẫn vừa đủ để qua mặt y, vừa đủ để giữ lại những bí mật không thể "bật mí".

Nhưng chung quy lại thì tôi đã đến giới hạn của sự lươn lẹo rồi, tôi không bịa chuyện nổi nữa!

Cũng may, phúc tổ bảy mươi đời cho tôi là sau đấy không có thêm cuộc tra khảo nào diễn ra.

Lê Long Đĩnh lẳng lặng trở lại ghế ngồi, bế con mèo béo đặt lên đùi rồi nhắm mắt dưỡng thần.

Có thể là y đang tính toán xem nên xử tội tôi thế nào?

À, tôi đoán bừa vậy chứ cũng không sao hiểu được những chuyển biến tâm lý của vị vua này.

Vài phút trước, y còn làm tôi sốc vô cùng khi tỏ ra quan tâm đặc biệt đến chuyện cái bóng mà ít phút sau đã thờ ơ xem tôi như người vô hình, cứ thế ung dung vuốt ve con mèo.

Liếc thấy Long Đĩnh vẫn nhắm mắt an tĩnh, một tia sáng lóe trong đầu tôi.

Đang lúc tính thử xem có nên đánh bài chuồn không thì từ xa truyền tới tiếng bước chân dậm huỳnh huỵch trên đất.

Tôi tò mò nhìn thì thấy Lý Công Uẩn chạy đến gần, điệu bộ rất gấp gáp.

Vốn định cúi đầu hành lễ với anh ta, nào ngờ, Công Uẩn hăm hở giơ nắm đấm hướng vào mặt tôi.

Nhờ hành động thực hiện dở trước đó, tôi may mắn tránh được một cú trời giáng.

Nắm đấm uy lực sượt ngang khiến lông tóc trên người tôi dựng ngược.

Hoảng hốt giật lùi lại, tôi kêu lên:

"Phó chỉ huy sứ, có chuyện gì vậy?"

Công Uẩn không trả lời, tiếp tục ra đòn đá chân.

Tôi buộc phải vào thế thủ, lập tức dùng chân chặn lại cú đá của anh ta.

Cũng trong khoảnh khắc va chạm ngắn ngủi ấy, tôi biết rõ mình không có cửa để đấu lại người này.
 
Mệnh Tiền Kiếp [Cảm Hứng Lịch Sử | Xuyên Không]
21. Đâu mới là sự thật?


Kể cả với một kẻ đã được đào tạo võ thuật bài bản như tôi, Lý Công Uẩn vẫn mạnh đến mức khiến tôi ngỡ ngàng!

Trước đây, vì định hướng của gia đình nên vào năm tám tuổi, tôi đã được bố mẹ cho đi học võ, cụ thể là Karatedo.

Bốn năm sau, tôi được chuyển qua lớp Taekwondo đối kháng theo lời tư vấn của huấn luyện viên do thể chất không phù hợp.

Đến nay, trình độ của tôi đang ở ngưỡng tam đẳng huyền đai, có thể coi là hàng "chiếu trên" nếu thực chiến ở hiện đại.

Trong những năm tháng đại học còn ôm giấc mộng trở thành nhà báo điều tra, tôi đã không ít lần chủ động đăng ký xin tham gia hỗ trợ thực hiện tuyến bài cho chuyên án cùng các anh chị phóng viên hướng dẫn có thâm niên trong nghề.

Tuổi trẻ nên máu liều cao, lại mang trong mình ảo tưởng làm anh hùng chính nghĩa, tôi của hồi đó chẳng biết hai chữ "sợ hãi" viết như thế nào.

Được góp chút sức mọn đồng hành với các chiến sĩ cảnh sát qua nhiều phi vụ trọng án như triệt phá đường dây buôn lậu, đua xe trái phép, lừa đảo chiếm đoạt tài sản... thậm chí có lần còn liều mạng xâm nhập vào một tụ điểm cá độ bóng đá để lấy thông tin, tôi tưởng mình đã quen với những cuộc xung đột vốn xảy ra như cơm bữa này.

Đánh thì đánh thôi, vấn đề gì đâu mà!

Chính lão sếp Minh Huy "yêu quái" ưa thử thách phóng viên trẻ ở tòa soạn cũng thường xuyên gài tôi vào những tình huống điều tra rất oái oăm để tôi phải giở hết mấy ngón đòn võ vẽ ra mà xoay sở.

Nhìn chung, tôi từng khá tự tin vào năng lực của mình sau nhiều năm dấn thân bán mạng cho đam mê ngành báo.

Ấy vậy nhưng, tất cả những trải nghiệm đó, cộng cả khoảng thời gian dài ăn ngủ ở võ đường dường như cũng chẳng thấm tháp vào đâu khi đem so găng với Phó chỉ huy sứ Lý Công Uẩn.

Đứng trước một võ tướng hùng mạnh như thế, tôi thậm chí không có lấy nửa cơ hội để phản công.

Đòn đánh của anh ta dù là đấm thẳng hay đá tạt đều mang uy lực gấp mấy lần tôi, chỉ riêng việc chống đỡ chúng thôi cũng đã cực kỳ chật vật.

Nói tóm lại, chênh lệch thực lực giữa đôi bên đã quá rõ rệt.

Tôi chỉ miễn cưỡng tránh được dăm ba cú đấm rồi nhanh chóng bị quật ngã không thương tiếc bởi một đường gạt chân rất hiểm.

"Ặc..."

Sau khi cho tôi nằm đo đất, Lý Công Uẩn thành công khống chế cứng tôi bằng đòn khóa tay.

Khớp vai kêu răng rắc đau tưởng gãy, tôi từ bỏ ngay ý định phản kháng, yếu ớt rên rỉ:

"Trời mẹ ơi... cứu cái vai con..."

Ừ thì... suốt cả năm qua dành phần lớn thời gian ngồi bàn giấy cắm mặt vào công văn với họp hành, tôi nghĩ là mình đã lụt nghề kha khá.

Mà lụt nghề rồi thì đánh không lại người ta cũng là chuyện bình thường thôi.

Nhưng tại sao vậy nhỉ?

Tại sao tự dưng Lý Công Uẩn lại tấn công tôi vậy trời...

Những câu hỏi không lời giải cứ thế nối đuôi nhau chạy vòng vòng trong đầu tôi.

Tới tận khi Khắc Duy hớt hải chạy xộc tới, Lý Công Uẩn thả tôi ra rồi trao đổi gì đó với Duy, tôi vẫn ngồi đần mặt trên đất, đầu óc mụ mị.

Mọi thứ càng lúc càng trở nên kỳ lạ.

"Cô Dương cũng gọi là nhanh nhẹn, có điều lực ở cánh tay hãy còn yếu, cần rèn luyện nhiều hơn nữa mới theo kịp được."

Nói chuyện hết một hồi lâu, Lý Công Uẩn đánh mắt về phía tôi rồi hướng Khắc Duy mà nở nụ cười.

Hắn lập tức chắp tay, cúi đầu đáp:

"Dạ bẩm, mấy năm nay thần cũng muốn chỉ dạy thêm mà ngặt nỗi sức khỏe con bé không thể đáp ứng.

Thôi thì cứ để nó học được ít nào hay ít nấy ạ."

"Nắm chắc trong tay đủ các thế võ căn bản là dùng được rồi.

Dẫu sao cô Dương sinh ra một thân bệnh tật đã là thiệt thòi hơn so với người khác.

Đành chịu khó cực khổ chút vậy."

"Dạ, Phó chỉ huy sứ dạy phải ạ."

Lý Công Uẩn lắc đầu cười, đuôi mắt nheo lại:

"Anh Duy lại khách sáo với ta rồi!

Ai chứ riêng anh Duy thì ta không câu nệ mấy chuyện lễ nghi tiểu tiết đâu.

Từ lần đầu gặp anh ta đã thấy ấn tượng, về cả cốt cách lẫn nghị lực của anh.

Này nhé, tuy đêm qua đúng là có quá chén thật, nhưng những gì chúng ta nói với nhau thì ta vẫn nhớ kỹ lắm đấy, người anh em!"

Không rõ là vô tình hay cố ý mà ba chữ cuối cùng được vị Phó chỉ huy sứ đặc biệt nhấn mạnh.

Đang ngồi há miệng hóng hớt trong sự ngờ nghệch, tôi thấy mặt Khắc Duy chợt biến sắc, khóe môi giật khẽ.

Nhưng biểu cảm này của hắn cũng chỉ diễn ra trong một cái chớp mắt, bởi rất nhanh tên ôn thần đấy đã nhoẻn miệng trưng lên bộ mặt trông vừa thảo mai, vừa xu nịnh với Lý Công Uẩn:

"Ấy chết, xin Phó chỉ huy sứ tha tội.

Bao lâu nay thần sống lang bạt, hiếm lắm mới có dịp gặp được bậc kỳ tài am tường binh pháp để cùng luận bàn, quả thật có hơi cao hứng.

Trong lúc men rượu đưa lối mà thần có lỡ buông lời xằng bậy thì cũng mong ngài đại xá cho ạ!"

"Cái nhà anh này hay nhỉ!

Ta đã bảo là..."

"Khụ!"

Tiếng ho nặng nề vang lên một cách có chủ đích bất ngờ chen vào làm gián đoạn cuộc trò chuyện của Lý Công Uẩn và Khắc Duy.

Hai người bọn họ đột ngột im bặt đi.

Cùng lúc này, Lê Long Đĩnh một tay chắp sau lưng, một tay cắp nách con mèo béo đủng đỉnh tiến lại chỗ tôi đang ngồi.

Ánh mắt y lướt qua hai con người đang đứng im như tượng kia, dừng vài giây rồi chuyển sang tôi.

Theo phản xạ, tôi vô thức rụt đầu so vai, căng thẳng đến độ không dám chớp mắt.

"Trông nó đi này."

Không giống với những viễn cảnh khủng bố mà bộ não mắc chứng nghĩ nhiều của tôi đã vẽ ra trong vài giây ngắn ngủi, Lê Long Đĩnh chỉ khom người thả con mèo xuống đất, đẩy nhẹ mông nó để nó chạy đến bên cạnh tôi.

Đoạn, y đứng thẳng dậy, vươn vai, sau đó quay ra nói với Lý Công Uẩn:

"Cho truyền Thái y đến đi."

Dứt lời, y lẳng lặng xoay lưng, chân rảo bước một mạch theo lối cũ dẫn về phía gian nhà chính, chẳng mấy chốc đã mất hút sau bức tường gạch.

Ở bên này, Lý Công Uẩn thoáng cau mày.

Anh ta gật đầu chào Khắc Duy rồi vội vàng chạy theo Lê Long Đĩnh, để lại hai đứa chúng tôi ngơ ngác đứng hình.

Mãi tới lúc xung quanh chìm vào thinh lặng, chỉ còn tiếng gió thi thoảng ngân khẽ qua những phiến lá cũng như không có dấu hiệu nào cho thấy một trong hai người đó sẽ quay lại, tôi mới há miệng thở hắt ra một hơi dài, cả người nhẹ bẫng như thể vừa trút xuống gánh nặng nghìn cân:

"Đậu xanh rau má, sợ vãi nhái!"

"Quỷ thật chứ, tí nữa thì ăn cám rồi..."

Tiếng Khắc Duy lẩm bẩm đồng thời vang lên.

Như bị chạm trúng nọc, tôi lập tức phóng ánh mắt sắc hơn dao về phía hắn.

Vốn đã định ngoạc miệng ra xóc xỉa vài câu cho vừa lòng hả dạ, ngờ đâu sau đấy tôi lại bị dáng vẻ khác thường của hắn dọa cho giật mình.

"Ối bạn ơi, bạn ổn không vậy?"

Khắc Duy xua tay, không trả lời câu hỏi của tôi.

Hắn uể oải ngồi bệt xuống đất, mặt mũi tái mét nom xanh xao như người mới ốm dậy.

Giữa tiết trời mùa đông, gió bấc lùa rét cắt da mà cả mảng lưng áo của hắn vẫn ướt đẫm, mồ hôi mồ kê nhỏ thành giọt dưới cằm.

Nhìn bộ dạng thê thảm ấy, tôi bỗng đâm lo.

Quả thật, nếu không được tận mắt chứng kiến cảnh hắn chạy ào tới đây rồi đứng buôn chuyện phiếm với Lý Công Uẩn thì khéo tôi còn tưởng là hắn vừa trải qua biến cố nào kinh khủng lắm.

Duy cứ ngồi thẫn thờ như thế chừng khoảng mười phút.

Lát sau, hắn cất giọng nói khẽ:

"Đùa chứ, tiếp chuyện hai "ông cụ" này tốn hơi thật đấy..."

Sẵn lúc đang khó chịu trong người do mới bị ăn đòn xong, tôi nghe hắn than vậy bèn gắt gỏng:

"Còn không phải tại anh ba hoa chích chòe, bịa chuyện quá trớn à?

Họa từ miệng mà ra cả thôi Duy!"

"Cái ngữ đàn bà như cô thì biết cái gì, không làm thế để có mà lộ hết thiên cơ à?"

Hắn nhăn mặt làu bàu, tiện tay nới lỏng cổ áo.

"Đúng là không đùa được với bậc quân vương, sơ sẩy chút là chết cả nút!"

"Ừ, thêm vài lần như này nữa thì tôi thấy đường đến nghĩa trang của chúng ta cũng không còn xa mấy đâu!"

"Ê, cô nói thế là có ý gì đây?"

"Chả có ý gì sất, tôi chỉ nói sự thật thôi."

Tôi nhún vai trả lời cộc lốc, không buồn che giấu sự bất mãn của mình.

"Nếu anh vẫn tiếp tục chọn cách im ỉm hành động một mình, mặc kệ tôi tự tìm kế xoay sở để chạy theo trong khi chưa nắm được hết tình hình thì sớm muộn gì cũng toang cả."

Với người đề cao chủ trương làm gì cũng phải tự do dân chủ như tôi thì việc đồng hành cùng tên ấm ớ hội tề Khắc Duy trong nhiệm vụ là một sự tra tấn tinh thần vô cùng khổ sở.

Hắn rất biết cách khiến tôi phát rồ lên chỉ bằng cái thói ăn nói nửa vời của mình.

Và ờm... hình như là tôi đã chịu hết nổi hắn rồi!

Thế là, trước khi Duy kịp hé răng phản bác, tôi nhanh tay rũ áo, ngồi khoanh chân đối diện với hắn, dõng dạc đề nghị:

"Tôi nghĩ chúng ta nên thẳng thắn trao đổi lại một lần, chứ không là khó hợp tác với nhau tiếp đấy.

Tự anh cũng thấy rồi mà, sao đùa được với bậc quân vương?

Chí ít thì ngoài việc bắt buộc là cung cấp cho tôi đầy đủ thông tin, anh cũng nên cập nhật giúp tôi xem tình hình bên anh tiến triển tới đâu, ý tôi là anh đã làm những gì, để tôi còn tính toán đường đi nước bước cho hợp lý."

Tôi ngừng lại, hít một hơi đoạn nói tiếp.

"Lê Long Đĩnh và Lý Công Uẩn đều đang nghi ngờ chúng ta, vậy nên ta càng phải cẩn trọng, nhất là lời ăn tiếng nói.

Không thể để xảy ra tình trạng "ông nói gà, bà nói vịt" do "kịch bản" của hai đứa bất đồng được.

Vừa nãy, lúc anh không có mặt ở đây, Long Đĩnh đã có ý dò hỏi tôi rồi đấy."

Rút kinh nghiệm triệt để từ lần lỡ miệng chọc vào ổ kiến lửa hay chính là cái tôi phong kiến cao hơn cả núi của Khắc Duy, tôi dù không còn tí kiên nhẫn nào vẫn cố ngậm bồ hòn làm ngọt, lựa lời sao cho vừa nghe ra vẻ thiện chí, vừa nêu được quan điểm của mình.

Thừa biết tính hắn ẩm ương lại ngang ngược nên tôi lên tiếng cũng chỉ vì muốn mọi thứ rõ ràng chứ chẳng mang nhiều kỳ vọng là hắn sẽ vui vẻ thuận theo ý mình.

Mà chết tiệt thật, thằng cha tồi tệ kia thậm chí còn đếch coi lời tôi nói ra gì hết!

Đối với sự xuống nước đầy chân thành của tôi, mới đầu hắn bày ra bộ mặt quan ngại sâu sắc, lát sau thì bật cười khùng khục như đang xem hài kịch.

Rồi hắn chép miệng, quẳng cho tôi một ánh mắt rặt vẻ xem thường:

"Những điều cần nói ta đã nói tương đối đầy đủ, cho cô biết nhiều hơn nữa cũng đâu để làm gì?

Có khi cô còn chẳng hiểu được, nên cứ ngoan ngoãn đóng vai kẻ ngốc đi cho yên nhà yên cửa."

"Yên á?

Yên cái con khỉ chứ mà yên!"

Tựa như giọt nước cuối cùng, thái độ tệ hại ấy đã khiến chiếc ly mang tên "nhẫn nhịn" trong tôi đổ tràn ra bao nhiêu là phẫn nộ xen lẫn ấm ức.

Không thể giữ nổi bình tĩnh, tôi sửng cồ lên, đứng bật dậy rồi chỉ tay vào mặt hắn, chì chiết:

"Thằng dở hơi này, anh muốn người ta "hiểu" thì bước đầu tiên cần làm là phải "nói" ra đã?

Biết chưa hả?

Do you understand?

Tôi đâu có bị ngu!

À, nếu có ngu thật thì đó là lỗi của anh, do anh làm ăn cẩu thả, thiếu trách nhiệm nên bắt thiếu một phách của tôi.

Tôi bị như thế là tại anh, tại anh hết, ok?

Bớt tư tưởng đổ lỗi, bớt coi thường người khác đi nhé!

Còn nữa, rõ ràng là Hưng Đạo đại vương giao nhiệm vụ cho cả hai đứa chứ có giao cho mỗi anh đâu mà anh quá quắt với tôi vậy Duy?

Anh thấy anh có thể tự đảm đương hết thì sao từ đầu không xin thầy để tôi ở lại rồi đi một mình đi?

Tôi đang sống một cuộc đời rất bình thường của một người bình thường, anh tự nhiên xuất hiện làm đảo lộn hết rồi giờ cư xử với tôi như cục nợ là sao hả?"

Khi giới hạn của sức chịu đựng bị đạp đổ thì đó là lúc người ta chẳng còn quan tâm điều gì khác ngoài bản thân và cảm xúc của mình.

Vậy nên, hiện trong người có bao nhiêu sự tiêu cực là tôi đem trút ra bằng sạch, gay gắt đến nỗi buột miệng xổ cả một câu tiếng Anh với hắn.

Phải nói thật, tôi tự thấy mình rất biết điều.

Ít nhất, cho đến trước thời điểm này, tôi vẫn dành cho Khắc Duy một sự cả nể nhất định mà nhắm mắt bỏ qua những lần hắn xấu tính.

Dẫu sao, hắn cũng là "người nhà giời", từ giờ tới lúc hoàn thành nhiệm vụ tôi còn phải phụ thuộc hắn dài dài.

Khổ nỗi, cái nết tên Duy quá khó ưa nên dù tôi có muốn kìm nén để giữ hòa khí cũng không được.

"Cô đang tức giận đấy à?"

Có lẽ là bất ngờ với phản ứng bùng nổ của tôi, hoặc chỉ đơn giản là nhớ ra trọng trách mà thầy tin tưởng đặt lên vai mình, Duy đã ngẩn người hồi lâu trước khi cất giọng dè dặt hỏi.

"Tùy anh nghĩ, như nào cũng được."

Đã quá mệt để giải thích, tôi quyết định mặc kệ hắn, muốn ra sao thì ra.

Thất thểu quay lại nhặt thanh kiếm nằm chỏng chơ ở chỗ mình vừa bị Lý Công Uẩn đánh ngã, tôi thở dài ngao ngán khi trông thấy cặp mắt long lanh của con mèo trắng đang ngó mình chăm chăm:

"Giời ơi, còn cả mày nữa!"

Tôi rũ mắt ngồi sụp xuống đất, cảm giác rệu rã cùng cái lạnh lần lượt thấm dần vào cơ thể càng khiến tôi thêm nản lòng.

Trong khoảnh khắc, tôi chợt thấy tương lai như biến thành một con đường dài vô tận, đi mãi đi mãi cũng không có điểm dừng.

Rốt cuộc, tôi phải làm thế nào mới được nhỉ?

Gặp và tiếp cận vua Lê Long Đĩnh, biết mục tiêu của nhiệm vụ rồi thì sao?

Tôi cần làm gì tiếp theo để hoàn thành nó, khi mà kẻ đồng hành bên cạnh mình chẳng hề hợp tác chút xíu nào?

Những suy nghĩ bi quan cứ quẩn quanh dày vò tinh thần vốn đã kiệt quệ suốt mấy ngày nay.

Nó cũng gây ra cơn đau râm ran ở đỉnh đầu và dường như là nguyên nhân chính khiến mắt tôi đột nhiên mờ đi.

Tôi tặc lưỡi, vội đưa tay dụi mắt để rồi giật mình nhận ra bản thân đã bật khóc từ bao giờ.

"Bỏ mẹ, khóc lóc gì tầm này!"

Nội tâm tôi đã tự mắng mình như thế.

Sợ bị tên ôn thần kia phát hiện, tôi lén lút lấy vạt áo lau khô những giọt nước mắt.

Nào ngờ, khi ngẩng đầu lên đã thấy hắn ở trước mặt, đang nhìn mình chăm chú.

"Anh nhìn cái vẹo gì vậy?"

"Xin lỗi."

"Hả?"

"Ta bảo là xin lỗi!"

Duy cục cằn nhắc lại.

Vẻ mặt cau có của hắn trông không có chút gì gọi là thành ý.

Trong lúc tôi chưa hết ngạc nhiên vì câu xin lỗi sượng hơn cả sầu riêng non chưa tẩm hóa chất đó, hắn lôi từ trong ngực áo ra một cuộn da thuộc cũ kỹ, thảy nó xuống đất rồi thủng thẳng cất giọng:

"Tình hình hiện tại không khả quan lắm.

Hai "ông cụ" hơi khác so với những gì ta được biết.

Chúng ta phải thay đổi kế hoạch...

Cơ mà từ từ, con mèo này ở đâu ra thế?"
 
Mệnh Tiền Kiếp [Cảm Hứng Lịch Sử | Xuyên Không]
22. Chia cách không yên bình


"Ông hoàng né tránh", "chúa tể lập lờ", "master of đánh trống lảng"... tất cả những danh xưng hết sức "mỹ miều" ấy có lẽ sinh ra là để dành tặng cho Trần Khắc Duy - kẻ mặt dày và vô liêm sỉ nhất tôi từng biết trong hệ mặt trời này.

Nói về độ trơ tráo, tôi cam đoan nếu hắn xếp thứ hai thì chắc chắn không một ai dám giành chủ nhật.

Nhưng hẳn là sẽ chẳng có người nào thừa hơi đi tranh cái vị trí đó với hắn làm gì cho nhọc.

Tốt nhất là hắn nên ở nguyên đó đi, vì tôi không nghĩ ngoài Hưng Đạo đại vương ra sẽ xuất hiện thêm ai khác đủ lòng bao dung và sự thấu hiểu để chấp nhận con người hắn.

"Thật sự rất tệ, tệ vô cùng, tệ hết cả phần thiên hạ luôn rồi!"

Tôi tặc lưỡi, kìm nén một tiếng thở dài chán ngán, đưa hai bàn tay lạnh cóng lên ấn mạnh huyệt thái dương, cố xoa dịu cơn đau nửa đầu khiến não bộ tưởng muốn long khỏi hộp sọ.

Trước mặt tôi, cuộn da thuộc đã được trải rộng ngay ngắn trên nền đất.

Hốt nhiên, nó bỗng tách ra thành hai rồi lại chập làm một, cứ liên tiếp mấy lần như vậy.

Biết rõ đó là thứ ảo giác thường xuất hiện khi mắt bị mỏi do điều tiết quá mức, tôi vội chớp mi vài cái.

Thấy tầm nhìn vẫn còn mờ, tôi liền dùng vạt áo lót đầu ngón tay, nhắm mắt rồi bóp nhẹ vào phần hốc mắt gần sống mũi.

Độ chục giây sau, cảm giác mờ đục tan biến, thị lực trở lại bình thường.

Tôi tiếp tục cúi đầu xuống nghiền ngẫm những nội dung viết bằng chữ quốc ngữ xiên xẹo, đổ nghiêng đổ ngả trong cuộn da.

"Lê Long Đĩnh (986 - 1009), còn có tên khác là Chí Trung do nhà Tống ban cho, con trai thứ 5 của Lê Hoàn tức Đại Hành hoàng đế.

Sau khi vua cha qua đời, y cùng các hoàng tử khác tranh cướp ngôi báu, sát hại anh trai Lê Long Việt hay chính là Trung Tông hoàng đế..."

"Thề, chữ với chả nghĩa gì mà xấu như ma như quỷ.

Các cụ bảo "nét chữ nết người" cấm có sai bao giờ!"

Đọc được một đoạn ngắn, tôi không nhịn nổi phải lên tiếng chê bôi vì chẳng thể luận ra những phần sau đó nữa.

Để mà nhận xét thì cái loại chữ này thật sự là thua cả bọn trẻ con tập viết!

Nói không ngoa chứ khoảng năm đòng đầu tôi còn miễn cưỡng đọc hiểu, nhưng càng về sau thì chữ nghĩa càng chằng chịt quằn quại, nét nọ xoắn vào nét kia, ai không biết nhìn vào khéo còn tưởng người viết bị ma đuổi nên mới ngoáy vội đến thế.

Tất nhiên, đó chỉ là cách nói ví von cho đỡ nặng nề, bởi tôi đoán có thách một núi vàng mã thì cũng chả có con ma nào dám rớ tay chòng ghẹo "tác giả" của cuộn da kia.

Đâu ai ngu dại gì mà động vào, vừa mang tiếng oan lại còn chịu cảnh hồn bay phách tán.

Đến tôi đây, người sống sờ sờ ra mà còn ngán hắn tới tận cổ luôn rồi!

"Tóm lại thì trong này chứa các thông tin vắn tắt về vua Lê Long Đĩnh do anh soạn thảo ấy à?"

Không muốn tốn thêm thời gian ngồi cặm cụi đọc từng dòng vô ích, tôi quay qua hỏi thẳng Khắc Duy.

"Ngoài mấy nội dung cơ bản như thân thế, sự nghiệp trị vì thì có chỗ nào mà tôi cần đặc biệt lưu ý không?

Với cả, công dụng của thứ này chỉ là để đọc cho biết thôi à?"

"Chứ cô còn muốn gì nữa?

Cái đó là ta tổng hợp rồi chép lại khái quát ý chính từ mấy cuốn sách có nhắc về y, không đầy đủ hay chính xác tuyệt đối đâu.

Mà phiên phiến đi Dương, xem qua để tiện hình dung thôi, đằng nào thì ta thấy nó cũng chả có ích gì cho lắm."

Hắn trả lời qua loa, chẳng buồn ngẩng mặt lên.

Sau khi "giảng hòa" với tôi bằng thái độ không thể nào hống hách hơn, mọi sự quan tâm của hắn dường như dành trọn cho con mèo trắng béo ú đang nằm thiu thiu ngủ - "cục nợ đời" mà Long Đĩnh mới quẳng cho tôi trông ban nãy.

"Ông cụ họ Lê ấy quả thực có nhiều điểm kỳ lạ hơn ta tưởng."

Nghe Duy nói thế, tôi thoáng chưng hửng vì cứ ngỡ phen này vớ được món hời.

Hóa ra, tất cả chỉ là những mẩu ghi chú lặt vặt do Duy tự ghi chép, mà phần lớn thông tin tôi đều đã biết từ trước rồi.

"Đành vậy, méo mó có hơn không!"

Tôi thở dài, cẩn thận gấp cuộn da lại như cũ.

"Sang vấn đề tiếp theo, anh đã nói với hai người họ những gì, ý tôi là đã nói gì về chúng ta ấy?"

Vẫn giữ nguyên tư thế nửa ngồi nửa quỳ trên đất như thú săn mồi, hắn đáp:

"Như cô đã biết thì ta có nói cô là em gái của ta, từ nhỏ vốn yếu ớt lại mắc thêm bệnh tâm thần.

Cha làm nghề thợ rèn, mất sớm.

Mẹ cũng mất sau khi hạ sinh cô.

Vì muốn chữa bệnh cho cô nên ta đã đưa cô đi khắp nơi, hễ người ta mách nước ở đâu có thầy giỏi là ta đều tìm đến đó."

Duy bất ngờ thò tay nhấc bổng con mèo trắng đang lim dim ngủ bên cạnh tôi.

Đột nhiên bị quấy rối, nó lập tức cong lưng, bốn chân quẫy loạn xạ, miệng phát ra mấy tiếng khò khè khó chịu.

Duy giữ chặt con mèo trong tay.

Mặc kệ nó xòe vuốt quơ quào trong vô vọng, ánh mắt hắn nheo lại, lóe lên một tia hiểm độc:

"Ta lựa chọn phương án này là để phòng tình huống bất trắc, cũng là để giữ cho cô một lối thoát.

Ít nhất, khi cô đóng vai người điên, thần trí không tỉnh táo thì người ta sẽ giảm sự chú ý tới những hành động vụng về khác thường của cô.

Họ sẽ chỉ coi đó là biểu hiện bệnh tật chứ không nghĩ cô có mưu đồ gì sâu xa.

Thêm vào đó, ta có thể lợi dụng những khoảng còn trống trong lý lịch giả kia mà tùy cơ ứng biến sao cho phù hợp tình hình thực tế, tránh bị nghi ngờ.

À, đấy là khi mọi thứ trót lọt, và gã Lê Trung với vua Lê Long Đĩnh không phải cùng một người."

Loài mèo hầu hết đều không thích bị ôm hoặc giữ quá chặt, thế nên chỉ một tích tắc sau, trên mu bàn tay Khắc Duy đã hằn đầy những vết cào rướm máu.

Tôi nhìn mà còn thấy xót hộ hắn.

Nhưng Duy không để ý lắm, hắn giơ con mèo béo lên ngang mặt, mắt bên trái chợt phát ra thứ ánh sáng màu đỏ rực.

Ngay tức khắc, con mèo ngừng giãy giụa, đồng tử mắt cũng theo đó giãn nở hết cỡ.

Duy vừa ngắm nghía vẻ mặt đờ đẫn của con mèo vừa trầm ngâm nói:

"Lẽ ra, kế hoạch tiếp cận của ta sẽ rất thuận lợi nếu hai gã thanh niên "Lê Trung - Lý Thuận" chỉ là đám lính lác hoặc đẹp nhất là quan lại trong triều.

Nhưng rốt cuộc, mọi chuyện lại không diễn ra như những gì ta dự liệu.

Phải nói là có nằm mơ ta cũng không ngờ được mình sẽ gặp Lê Long Đĩnh sớm như vậy.

Bên cạnh y còn có thêm Lý Công Uẩn.

Và Lý Công Uẩn sau này sẽ trở thành ai thì cô chắc cũng không lạ."

"Ừ, chính là vua Lý Thái Tổ, người sáng lập ra triều đại nhà Lý."

Tôi lúng túng đỡ lấy con mèo trắng đã bất động từ tay Khắc Duy.

Không biết hắn vừa làm gì nó, cơ mà khi sờ cổ thấy nó vẫn hô hấp bình thường tôi mới yên tâm nói tiếp.

"Vậy chuyện anh bảo họ "khác" ở đây là khác ra làm sao?"

"Rất khó giải thích, Dương ạ!

Với ta thì nó đến từ cảm giác, một cảm giác bất thường không thể miêu tả bằng ngôn ngữ.

Nhưng cái dễ thấy nhất chính là cách cư xử, hành vi và cả việc..."

Duy hạ thấp giọng, nét mặt trở nên nghiêm trọng.

"...

Lê Long Đĩnh đã phát hiện ra chuyện ta hành pháp ở quán trọ.

Y cũng biết cô có thể nhìn thấy ma quỷ.

Cơ mà vì sao y biết và lại "tin" vào một chuyện vốn dĩ hoang đường như thế thì ta chưa thể lý giải được."

Tính đến thời điểm này, tôi nhớ có hai lần Khắc Duy nói hắn chưa thể lý giải được vấn đề và rất nhiều lần hắn dùng từ "bất thường" để diễn đạt.

Tôi không chắc suy nghĩ của mình và hắn có đồng điệu không, nhưng hình như là tôi hiểu được cảm giác của hắn.

Chính tôi cũng luôn canh cánh trong lòng một nỗi hoang mang bất định, tựa như kẻ mù lòa lạc bước vào mê cung, biết rõ phía trước là nguy hiểm nhưng lại chẳng nhận ra nguy hiểm nằm ở chỗ nào.

Im lặng một lát, tôi ngập ngừng kể:

"Lê Long Đĩnh từng hỏi tôi nhìn thấy gì ở ngoài sân, còn nói đã biết chuyện chúng ta làm ở quán trọ.

Lúc anh vào gặp riêng, tôi đúng là có thấy một cái bóng đen, nó định leo cả lên vai tôi.

Do không biết khi ấy anh nói gì với y nên tôi đành khai ra chuyện mình nhìn thấy ma.

Nhưng cũng may là kịp viện thêm lý do "mắc bệnh" vào để thành tình tiết "giảm nhẹ" rồi."

"Sao cơ?

Y đã hỏi như vậy thật hả?"

Khắc Duy bỗng sốt sắng nắm vai tôi đoạn hỏi dồn.

"Rồi sau đó thế nào?

Còn nói gì nữa không?"

"Không, hết ... hết rồi!

Tôi... tôi bảo thi thoảng mới thấy, cũng... cũng không biết có phải mình bị hoang tưởng không..."

Càng kể, tôi càng líu cả lưỡi, chỉ sợ mình đã lỡ tuồn ra thông tin nào gây bất lợi cho cả hai.

"Chết rồi, hay... hay chúng ta bị lộ..."

"Lộ cái gì mà lộ!"

Duy nói gắt, vẻ hốt hoảng hiện rõ trên mặt.

Hắn đứng dậy đi đi lại lại, tay liên tục vò đầu khiến mái tóc nhanh chóng rối bù.

"Mẹ kiếp, như thế chứng tỏ là bị chơi đòn tâm lý rồi!"

"Anh nói rõ ra xem nào!"

Tôi cũng quýnh hết lên.

"Vào tròng cả lũ rồi, nói gì được nữa!"

Duy bật cười cay cú.

Và rồi sau đó, hắn bắt đầu thuật lại cho tôi một phần cuộc trò chuyện riêng giữa mình với Lê Long Đĩnh và Lý Công Uẩn.

Nghe kể tới đâu, sống lưng tôi lạnh toát tới đấy.

Thì ra, khi còn ở quán trọ, Lê Long Đĩnh đã vô tình trông thấy chúng tôi rải muối gạo ở sân sau.

Do vị trí phòng nghỉ của y ngay gần cái sân nên có thể du di đổ tại số, vì chúng tôi sơ suất nên mới bị phát hiện.

Để hợp thức hóa thân phận, Khắc Duy đành nhận mình từng mưu sinh bằng nghề...

đào mồ bốc mả thuê trước đây.

Nhờ cái ngón nghề "phục vụ" người chết đó mà hắn lĩnh hội được chút kinh nghiệm xem đất, xem hướng từ mấy tay thầy cúng.

Lại thêm việc tiếp xúc với tử khí lâu ngày nên thành ra thỉnh thoảng mắt mũi có tí khác người.

Việc hắn đem muối gạo đi rải âu cũng là giúp lão chủ trọ, vì nơi ấy đất dữ, người sống ở đó dần dà dễ sinh bạo bệnh.

Còn về phần tôi - đứa em gái bất đắc dĩ trong màn kịch của hắn - nếu có nhìn thấy ma thì đó hẳn là "sản phẩm" phát sinh từ thứ tâm bệnh quái ác mà hắn đang nỗ lực cứu chữa.

Thực hư việc tôi có thấy ma hay không thì hắn không dám khẳng định.

Tựu chung, Khắc Duy đã dàn xếp mọi thứ tương đối ổn thoả.

Chỉ tội, bước ngoặt mang tên "Lê Trung" kia đã bẻ gãy một nửa kế hoạch.

Nửa còn lại thì giờ hấp hối và sắp có nguy cơ chết yểu bởi nước đi khó lường của Lê Long Đĩnh.

"Quả nhiên y hỏi tôi là để xem câu trả lời của chúng ta có mâu thuẫn với nhau hay không."

Tôi choáng váng, ngỡ như mới bị ai phang cho một cú trời giáng vào đầu.

"Chưa một giây nào họ ngừng nghi ngờ chúng ta thật luôn!"

"Ừ, nếu chỉ hỏi dò chuyện xuất thân thì không đáng bàn, quan trọng là y hỏi cái gì và cách đặt câu hỏi kìa."

Duy đưa tay bóp trán, mặt nhăn lại.

"Ta sẽ kiếm cách xác minh thử, vì chiếu theo lời cô thì có lẽ y biết về sự tồn tại của cái bóng đen, tức là bản thân y cũng có khả năng nhìn thấy ma quỷ."

"Thế... tôi phải làm gì bây giờ?"

"Muốn hoàn thành nhiệm vụ thì phải theo tới cùng thôi, hết cách rồi.

Trước mắt, cô cứ đóng cho tròn vai đi.

Tầm này ai hỏi gì thì cứ bảo không biết.

Lựa nước đẩy thuyền, giữ yên cái mạng để về đến Hoa Lư đã.

Gặp được người của phe ta rồi tính sau."

Vừa lúc ấy, tiếng gà gáy trưa chợt vang lên như giục giã.

Thời gian đã hết, Duy vội vàng xốc lại thanh kiếm lên vai.

Sau khi dặn dò tôi thêm đôi câu, hắn chạy đi tìm vị tướng tên Nguyễn Lâm để gặp mặt binh sĩ theo lời hẹn trước đó.

Duy cứ thế mà đi mất dạng.

Bấy giờ tôi mới nhìn xuống con mèo trắng đang nằm ngơ ngác dưới chân.

Chút xấu tính nổi lên, tôi nhẹ nhàng đưa tay vuốt ve bộ lông êm mượt của nó, lẩm bẩm:

"Không ngoan là có ngày vào nồi nha con..."
 
Mệnh Tiền Kiếp [Cảm Hứng Lịch Sử | Xuyên Không]
23. Mất bò mới lo làm chuồng


Người ta hay bảo: “Trăm triệu hạt mưa rơi, không hạt nào rơi nhầm chỗ.

Vạn người đã từng gặp, không người nào là ngẫu nhiên.”

Xét theo luật nhân quả, mọi sự xảy ra trên đời đều có nguyên do của nó.

Gieo nhân nào thì gặp quả nấy.

Người chăm làm việc thiện ắt sẽ hưởng phước lành, kẻ làm việc ác thì sớm muộn gì cũng có ngày trả nghiệp.

Còn tôi, hẳn là trong vô lượng kiếp đã từng phá hủy thế giới, gây họa muôn nơi nên kiếp này cạn hết phước, gặp phải tên khốn Trần Khắc Duy!

“Nếu giờ góp vốn xây đôi ba cái chùa thì có gỡ gạc được chuyến này không, nhỉ?”

Ngửa cổ lên nhìn bầu trời nặng trĩu một màu mây xanh xám, tôi không khỏi thở dài khi nghĩ đến tình cảnh éo le của bản thân hiện tại.

Miệng thì than vậy thôi chứ tôi không có lấy nửa xu trong người, cướp đâu ra tiền mà đòi đầu tư xây chùa!

Tự vỗ vào mặt hai cái để xốc lại tinh thần, tôi với tay vơ vội đống quần áo đã khô phơi trên chiếc sào tre bắc tạm xuống ném vào rổ nứa rồi nhanh chân nhảy lên bậc thềm.

Trước khi khép cánh cửa gỗ lại, tôi phóng tầm mắt về phía gian nhà đối diện, thấy hai người lính canh vẫn đang ngồi uống nước tán gẫu dưới mái hiên thì mới yên tâm chốt chặt then cài lại.

Cửa đóng rồi, cơn mưa nặng hạt cũng bắt đầu rơi.

Tiếng mưa ào ào dội vào ngói, đập đùng đùng xuống lá cây.

Căn phòng nhỏ vốn đã thiếu sáng, lúc này đây lại càng trở nên tăm tối hơn bao giờ hết.

Gió lạnh mang theo mùi đất ẩm ngai ngái thốc qua khe hở nhỏ trên cửa sổ, khẽ lay ánh đèn dầu cháy leo lét khiến những cái bóng của đồ vật hắt lên tường trở nên méo mó, lúc chập chờn lúc đung đưa, thoạt trông khá kinh dị.

Không muốn để trí tưởng tượng có cơ hội thêu dệt ra mấy hình ảnh ma quái, tôi đặt rổ quần áo xuống bàn, cẩn thận bưng đĩa đèn dầu chuyển qua chỗ tủ gỗ cạnh đầu giường cho khuất gió.

Sống trong điều kiện thiếu thốn lại không có đèn điện, ngọn lửa bé xíu ấy là nguồn sáng duy nhất mà tôi có, nhỡ chẳng may lát nữa bị gió thổi tắt mất thì nguy lắm.

Cũng cần phải nói thêm, thân phận của tôi hiện giờ chắc chỉ thua phạm nhân bị quản thúc tại gia một bản tuyên án chính thức!

Tôi sẽ tạm gọi căn phòng rộng chưa đầy mười ba mét vuông này là “nhà kho” cho lịch sự.

Bởi nếu phải chấp nhận sự thật rằng ở một góc độ nào đó, nơi đây chẳng khác gì cái “chuồng mèo cao cấp” thì lòng tự trọng của tôi sẽ thấy tổn thương sâu sắc.

Tôi thề tôi không nói quá đâu.

Đây chính xác là nơi Lê Long Đĩnh cấp cho tôi ở để trông nom con mèo quý của y.

Vào bốn ngày trước, sau khi kết thúc cuộc trò chuyện với Khắc Duy, tôi vẫn cứ quanh quẩn ở chỗ hồ nước suốt nửa buổi chiều vì chưa biết xử trí ra sao với con mèo.

Đang loay hoay thì viên quan nội thị đanh đá hầu cận bên cạnh Long Đĩnh tự xưng là Trí Ngạn thình lình xuất hiện cùng với một mệnh lệnh gửi đến tôi.

Theo những gì cậu ta truyền đạt, để binh lính có thời gian nghỉ ngơi lại sức, chúa thượng sẽ dừng chân tại Đằng Châu một tuần, sau đấy mới tiến hành di chuyển xuống Ái Châu.

Trong thời gian này, “anh trai” của tôi phải ở lại khu vực tập kết của binh lính để cậy nhờ Đô chỉ huy sứ Nguyễn Lâm giảng dạy binh pháp.

Do đó, để thuận tiện thì kẻ vốn dĩ thừa thãi - vừa “thăng chức” từ dân đen thành “nô tỳ”... chăn mèo là tôi được ưu tiên cấp cho hẳn một chỗ ở riêng trong phủ Khai Minh Vương.

Thoạt nghe thì kèo này có vẻ thơm đấy, nhưng kỳ thực ai nhìn qua cũng biết rõ đó chỉ là cái kho chứa đồ bỏ không lâu ngày chả ma nào thèm ngó.

“Chúa thượng nhân từ đức độ, có lòng thương xót kẻ ngu dại như cô nên mới cho lưu lại chốn này hầu hạ thú nuôi của ngài.

Đây là ân điển hiếm có, cô phải biết lấy làm vinh hạnh mà dốc lòng vì ngài, rõ chửa!”

Viên nội thị Trí Ngạn từ lúc giao lệnh cho đến tận khi người hầu trong phủ dọn dẹp xong căn phòng ẩm mốc đã không ngớt miệng nhắc đi nhắc lại với tôi về “đại ân đại đức” của Long Đĩnh bằng một giọng điệu vô cùng thượng đẳng.

Cái nét kênh kiệu kẻ cả của người quen sống dưới bóng vương quyền ấy khiến tôi không khỏi ngứa ngáy tay chân mà nảy sinh ý đồ tác động vật lý lên gương mặt non choẹt của Trí Ngạn.

Tuy nhiên, vì biết mình đang ở thế hèn nên tôi chỉ đành kiềm chế, ngoan ngoãn hết “vâng” lại “dạ” với cậu ta cho qua chuyện.

Sau hai lần tiếp xúc, tôi quyết định Trí Ngạn sẽ là cái tên tiếp theo được đặc biệt ghi vào danh sách đen như một thành phần tiêu cực nhất định phải tránh xa.

Tôi không thích cách Trí Ngạn cư xử, càng không ưa thái độ khinh miệt cậu ta dành cho mình khi cứ liên tục đay nghiến chuyện ơn nghĩa bằng những lời lẽ chua ngoa.

Đôi lúc, tôi có cảm tưởng như viên nội thị này đã ghét mình từ cái nhìn đầu tiên.

Chính vì thế nên hễ thấy tôi được vua ban cho chút đặc ân là cậu ta lại không vừa lòng, cứ vạch lá tìm sâu bới lông tìm vết cốt để củng cố cho cái định kiến rằng tôi đây là phường bất hiếu bất trung, vong ân phụ nghĩa vậy.

“Nhưng mà đúng là cũng chẳng có gì đáng để mang ơn thật.

Được cấp cho cái chuồng mèo thì bà đây cũng phải nai lưng ra chăm mèo đó thôi.

Giao dịch dân sự công bằng và sòng phẳng như vậy thì ơn nghĩa nỗi gì?”

Không thích nghe người ta sỉ vả, tôi đã thầm nghĩ thế trong đầu.

Nhưng khách quan mà nói, mặc dù cơ sở vật chất có hơi tồi tàn xập xệ, người và mèo chung sống cỏ lúa bằng nhau, song nếu đem so với hoàn cảnh khó khăn mà Khắc Duy tô vẽ cho tôi thì đãi ngộ từ vua Lê Long Đĩnh cũng xem như là xa xỉ.

Một dân nữ có vấn đề về cả đầu óc lẫn sức khoẻ như tôi không có tư cách để chê bai.

Sống trong phận (giả) dân đen tha hương cầu thực, may mắn được nương nhờ đấng cửu trùng, lẽ thường khéo tôi còn phải ghi lòng tạc dạ, mang ơn tới mấy kiếp ấy chứ!

Khổ nỗi, ở đời cái gì tốt quá, thuận lợi quá cũng thường hay tiềm ẩn những rủi ro khó lường.

Ngay lúc Trí Ngạn cùng người đầy tớ gái lục tục kéo nhau rời khỏi, tôi đã nhanh chóng nhận ra ánh nhìn sắc như cú vọ của hai người lính canh đứng gác trước cửa gian nhà đối diện lia về phía mình.

Bằng nghiệp vụ quan sát được rèn luyện qua quá trình phỏng vấn kha khá đối tượng trên đời, tôi dám khẳng định đến chín mươi chín phẩy chín phần trăm là bọn họ đang âm thầm theo dõi tôi.

Mẹ kiếp!

Cẩn tắc vô áy náy, để tránh sơ suất gây rắc rối khi Khắc Duy vắng mặt, những ngày vừa qua tôi đã chủ động giới hạn mọi hoạt động.

Từ sáng đến tối, tôi cứ thế ở yên trong căn phòng với con mèo béo và chỉ ra ngoài trong trường hợp cần thiết.

Bên cạnh đó, tôi cũng tranh thủ quỹ thời gian rảnh rỗi, ngồi dịch những mẩu tư liệu ghi chép trong cuộn da Khắc Duy đưa hòng tìm hiểu thêm về Lê Long Đĩnh.

Trước đây đọc nhiều sách vở, tôi đã nắm được cơ số thông tin của vị vua cuối cùng trị vì đất nước thời Tiền Lê.

Có điều, cả tôi và Khắc Duy đều phải thừa nhận với nhau là hành vi của Lê Long Đĩnh rất kỳ lạ, y không giống những gì sử liệu ghi chép.

Tôi đã thử phân tích, đối chiếu dựa trên tư liệu lịch sử và thực tế gặp gỡ để tìm lời giải thích nhưng chưa ra kết quả, tất cả chỉ là một mớ giả thuyết không đâu vào đâu.

Dẫu vậy, tôi vẫn hy vọng những hàng chữ xiên xẹo kia sẽ có chứa thứ gì đó giúp ích cho mình.

Hy vọng là thế!

Vừa bịt mũi vừa thay đống cát đào ngoài vườn hồi chiều vào chậu cho con mèo béo, tôi chợt thấy cát vệ sinh chuyên dụng quả là cứu tinh của loài người thế kỷ 21.

Giờ tôi “sáng chế” ra cát vệ sinh bằng xỉ than trộn đất thì liệu Lê Long Đĩnh có thưởng cho tôi không nhỉ?

Hay người đa nghi như y sẽ lôi tôi ra chém vì tội làm khùng làm điên luôn đây?

Mà thây kệ, so với đầu bay thì chịu ngạt một tí cũng không đến nỗi.

Xong việc, tôi uể oải thả người xuống giường, tiện tay đẩy con mèo béo đang ngủ vắt lưỡi dịch sang một bên rồi trùm chăn kín mít, định bụng nằm nghĩ sự đời giết thời gian, nào buồn ngủ thì đánh luôn một giấc đến sáng.

Trời đã tối từ lâu, ngoài tiếng trống sang canh thỉnh thoảng gióng lên thì tôi chẳng có cách nào để xác định giờ giấc cụ thể, thành ra cung cách sinh hoạt hoàn toàn phó mặc cho cảm tính, cứ hễ tối trời là lên giường đi ngủ, hết vị.

“Trông mèo (lười) kể ra cũng nhàn…”

Bên ngoài, mưa vẫn rơi rả rích.

Tiếng mưa dai dẳng thấm đẫm trong không gian tĩnh mịch, nghe sao cồn cào hết ruột gan.

Nằm trong chăn, tôi nhắm tịt mắt, cố dỗ dành tâm trí buông bỏ mọi suy nghĩ mà nhanh nhanh chìm vào cõi mộng.

Nhưng cứ mơ màng được một lát, lòng tôi lại chộn rộn thứ cảm giác nôn nao khó chịu như có lũ kiến bò quanh người mình.

Trằn trọc mãi không ngủ được, tôi bỗng đâm ức chế, vùng chăn ngồi bật dậy.

Bấy giờ, nhìn kỹ một lần nơi mình đang sống, tôi mới sực nhớ ra chuyện quan trọng.

“Rồi xong, hôm nay không được ăn tối!”
 
Mệnh Tiền Kiếp [Cảm Hứng Lịch Sử | Xuyên Không]
24. Ác mộng


"Có thể là người khổ nhất thế giới luôn!"

Tôi tuyệt vọng úp cái gối lên mặt, rầu rĩ than thầm một câu.

Đúng là không nhớ thì thôi, nhớ rồi mới thấy sao cái số mình nó khổ thế không biết!

Vốn dĩ mấy ngày gần đây, đều đặn khoảng giữa trưa và chập tối, người ta sẽ đem đến cho tôi và con mèo một phần đồ ăn.

Mặc dù tôi có từng ngỏ ý hỏi khu vực nhà bếp để tự đi lấy nhưng những người gia nô ấy chỉ cúi đầu đáp lại bằng nụ cười nhạt, nói rằng đã có lệnh của quan nội thị Trí Ngạn, "khách quý" cứ việc ở yên một chỗ, mọi thứ sẽ có người lo.

Đoán chừng thái độ của họ cũng là ý chỉ của viên nội thị nên tôi chẳng dám ý kiến nhiều, ai bảo sao nghe vậy.

Tôi tự an ủi là mình đang được "phục vụ tận răng" theo kiểu quý tộc xứ này.

Cơ mà cái sự "phục vụ" ấy hình như chỉ tử tế khi trời quang mây tạnh.

Bữa nay mưa gió mãi không ngớt, đám gia nhân cũng biệt tăm từ trưa.

Cơm tối không ai mang đến, tôi cũng suýt quên bẵng luôn.

Kể ra thì nhịn tạm một hai bữa không phải vấn đề gì quá to tát, cái khó là giờ cơn đói cứ kéo hai mắt tôi mở thao láo.

Thiếu ăn tôi còn chấp nhận được chứ thiếu ngủ thì chịu thua!

"Ê nhóc!"

Tôi quay sang vỗ một phát lên mông con mèo làm nó giật mình tỉnh giấc, ngơ ngác nhìn lên.

"Mày đói không?"

Cặp mắt hai màu chớp chớp vài cái, rồi nó há miệng ngáp, kêu ba tiếng "ngoao" như đáp lời.

Tất nhiên là tôi không hiểu ngôn ngữ loài mèo, thế nên để hợp thức hóa ý đồ của mình, tôi tự cho đó là lời đồng ý.

"Nằm yên ở đó nha con, để tao đi kiếm đồ ăn!"

Tôi khoác tấm áo choàng lên người, xỏ nhanh đôi giày vải rồi dò dẫm bước xuống giường tìm chiếc áo tơi.

Cơn đói đang gióng trống khua chiêng trong bụng, tôi không thể tiếp tục nằm chờ người ta ban ơn mưa móc được.

Suy cho cùng, tự thân vận động đi xin ăn vẫn là phương án tốt nhất!

Nghĩ vậy, tôi hăm hở xắn gấu quần lên qua đầu gối, quấn chặt mấy lớp áo cho đỡ lạnh, định bụng lội mưa chạy sang gian nhà đối diện hỏi hai tay lính canh đường đến nhà bếp.

Ấy thế mà, vừa thắt xong sợi dây cố định vạt áo tơi qua cổ thì ngoài cửa bỗng vang lên ba tiếng gõ rất đanh.

Tôi sửng sốt, tưởng đâu gia nô phủ này đem đồ ăn đến, liền vội vàng ào ra gỡ chốt then cài.

"Ơn giời, đồ ăn đây rồi!"

Tôi cười như được mùa, trong đầu đã mường tượng ra hình ảnh bát cơm nóng dẻo bốc khói thơm lừng.

Đang đói mà có cơm trắng thì thịt, rau, cá, mắm... tầm này cho tôi món gì ăn cùng tôi cũng ưng hết.

"Đến đây, đến đây!"

Cửa gỗ mở toang, một cơn gió lạnh buốt cào da xé thịt thốc thẳng lên mặt.

Tôi đứng hình, nụ cười toe toét cứng đờ trên môi rồi méo dần.

Không có ai cả.

Trước mắt tôi là một khoảng không đen kịt với màn mưa trắng xóa giăng kín trời.

Ở gian nhà phía đối diện, dưới mái hiên chỉ có độc một ngọn đèn treo bên cột gỗ tỏa ánh sáng nhờ nhờ tựa đốm lửa ma trơi.

Tôi nuốt khan, cảm giác rờn rợn chạy dọc từ đỉnh đầu kéo giật trái tim trong lồng ngực.

Cùng lúc ấy, con mèo béo nằm trên giường bỗng bật dậy, lông dựng đứng, nhe nanh gầm gừ rồi cong đuôi lùi về góc tường.

"Trời mẹ ơi!"

Mùi hương trầm khét lẹt đột ngột xông vào khứu giác, tôi giật thót người, cuống cuồng đóng sầm cửa lại.

Nhưng còn chưa kịp cài then, một lực đẩy mạnh khủng khiếp xô vào cửa, hất tôi ngã lăn ra đất.

Tôi xây xẩm mặt mày, qua ánh nến nhập nhoạng chỉ thấy một đám khói đen lơ lửng trên trần nhà.

Từ trong đám khói, hai bàn tay đen đúa vươn dài ra, những ngón tay khẳng khiu như nhành củi nắm lấy cổ tôi, siết chặt.

Tôi kinh hãi vùng vẫy, cố sức giằng ra nhưng chẳng thể chạm được vào đám khói, tay cứ quơ quào trong vô vọng.

"Kéc... kéc..."

Bất chợt, tiếng kêu thét chói tai nghe hao hao giống tiếng cười gằn của loài sinh vật bí ẩn nào đó như vọng tới từ địa ngục đâm xuyên vào màng nhĩ.

Không khí ở hai buồng phổi nhanh chóng cạn kiệt, tôi không thở nổi nữa, rốt cuộc chỉ đành trơ mắt nhìn sự sống bị tước đi bởi một thứ vô hình vô dạng.

Trước khi tất cả chìm vào bóng tối, tôi dường như đã thấy ba gương mặt quái dị hiện ra với những nụ cười méo mó...

*

"Dương!

Nhật Dương!"

"Tỉnh lại đi, Dương!"

"Ba hồn sáu vía Phan Lê Nhật Dương ở đâu mau nghe ta gọi!

Hồn nhập lại xác, vía nhập lại tâm.

Ta lệnh cho ngươi lập tức trở về!"

...

Vô số những giọng nói mang âm hưởng khác nhau không ngừng vang vọng bên tai, lúc như rất gần, lúc lại xa xôi.

Ý thức đương trôi dạt trong thinh không bất ngờ bị một tràng âm thanh trong trẻo tựa tiếng chuông chùa lôi ngược trở lên.

Tôi choàng tỉnh.

Ngay khi thị giác vừa thích nghi được với ánh sáng lờ mờ, thứ đập ngay vào mắt tôi là gương mặt của một người đàn ông trẻ tuổi có mái tóc bạc trắng như tuyết cùng đôi mắt đỏ ma mị.

Giật mình, tôi bất giác kêu ầm lên:

"Ối mẹ ơi, ma cà rồng!"

"Ma cái đầu nhà cô!"

Người đàn ông cau mày đáp lại đoạn quay sang nói lớn với người đằng sau.

"Còn to mồm thế này là vẫn khoẻ chán!

Chắc đói quá nên lả đi thôi.

Cho ăn no rồi đun thêm nửa bát nước gừng, uống chừng đó là đủ."

"Huynh có chắc là không bị gì không?"

Người nọ nghi hoặc hỏi lại.

"Không tin thì cậu tự đi mà kiểm chứng.

Ta đã lừa cậu bao giờ đâu?"

Người đàn ông tóc trắng nhếch môi cười lạnh, rũ áo đứng dậy tỏ ý nhường chỗ.

Tôi nheo mắt nhìn theo.

Còn chưa định hình được chuyện gì đang xảy ra thì tôi đã phải ngạc nhiên khi thấy người vừa bước lên có gương mặt trông thân quen đến phát bực.

Mẹ kiếp, còn ai ngoài ông bạn Khắc Duy trời đánh sủi tăm mất dạng mấy hôm nay nữa chứ?

"Nhật Dương, em thấy trong người sao rồi?"

Duy cất giọng hỏi vẻ quan tâm.

Tôi không trả lời hắn ngay mà thận trọng quan sát hồi lâu, xác định không có chỗ nào bất thường mới nhàn nhạt đáp:

"Ổn, cảm ơn."

"Hửm, thái độ gì đấy?"

Hắn phì cười.

"Mới không gặp có vài hôm mà đã dỗi ta rồi sao?"

"Ối giời, đây không rảnh thế đâu!"

Tôi nhăn mặt, muốn ngồi dậy nhưng vừa nhấc người lên thì khớp cổ kêu "rắc" một tiếng.

"Á đau..."

"Trông có mỗi con mèo thôi mà sao ra nông nỗi này vậy?"

"Biết thế vẹo nào được!

Mà khoan đã, sao anh lại ở đây vậy?"

Tôi chỉ tay về phía người đàn ông tóc trắng.

"Rồi đó là ai nữa?"

"À..."

Duy đang tính trả lời thì người đó liền nói chen vào:

"Khá quá rồi, Trần Nhật Dương!

Mới hôm nào còn đòi ta đây cõng lên đền Đồng Cổ xem binh lính thích chữ (1), vậy mà nay đã vội quên mặt cố nhân rồi sao?"

"Đình Bách, chuyện đã là của kiếp trước, giờ huynh nhắc lại cũng không có ích gì đâu."

Khắc Duy đằng hắng, một thoáng ưu tư xẹt qua đáy mắt.

Hắn hướng về phía tôi, hất hàm nói.

"Đây là Trần Đình Bách, người mà thầy từng nhắc qua.

Huynh ấy tới nơi này trước để dàn xếp cho chúng ta, hiện đang sống trong thân phận của một thái y đương triều."

"Ngoài ra còn kiêm luôn mấy việc hay làm của một quan Thái bốc (2) như xem bói, coi thiên văn đoán khí tượng.

Cô cứ nhớ thế là được!"

Đình Bách bổ sung thêm.

Lúc này, đôi mắt của anh ta đã trở về màu đen thuần túy.

Dưới ánh lửa vàng vọt, dung mạo khôi ngô có phần kỳ lạ bởi mái tóc trắng xoã dài khiến Bách dường như tách biệt khỏi thế giới này.

Tôi nhìn Bách một lượt từ đầu đến chân, chút ký ức từ tiền kiếp chợt gợi lên cảm giác vừa lạ vừa quen đối với anh ta.

"Ngắm vừa thôi Dương, người ta có vợ rồi."

Đang miên man giữa dòng hồi ức, điệu cười khả ố của Khắc Duy bỗng dưng lọt vào làm mọi suy nghĩ của tôi đứt đoạn.

Rồi không cho tôi cơ hội đính chính, hắn đã vội nói lảng sang chuyện khác:

"Phó chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là người giới thiệu Đình Bách cho ta, khi đó ta mới biết thân phận của huynh ấy ở đây là vị thái y giỏi nhất trong triều, rất được chúa thượng trọng dụng.

Nay việc quân đã tạm vãn, ta có lời nhờ huynh ấy qua chỗ em thăm bệnh, cốt là để ba người chúng ta có dịp gặp riêng, tiện đường bàn kế hoạch sắp tới.

Không ngờ lúc tới nơi thì thấy cửa phòng mở toang, em nằm bất động trên giường, lay kiểu gì cũng không tỉnh.

Bách thử khai nhãn, phát hiện hồn vía em xuất ra lơ lửng trên đầu giường nên dùng chú ngữ gọi chúng về lại thân xác.

Chuyện sau đó thế nào thì em tự biết."

"Hồn xuất ra chủ yếu là do ngất xỉu vì suýt chết đói đấy."

Bách nhún vai.

"Dặn trước không thừa, cô đã yếu thì đừng ra gió, và từ rày đi ngủ nhớ đóng kín cửa, không là có ngày về với thầy sớm!"

"Ờ, mà về sớm quá thì thầy cũng không cho vào nhà đâu."

"Cậu nhắc mới nhớ, lúc đi ta chưa dọn nhà.

Bát hương thờ trên ban của ta khéo mọc cả rêu rồi!"

"Có dịp huynh xem trồng thêm cây vào lấy bóng mát cũng đuợc."

Nghe hai gã đàn ông kẻ tung người hứng đùa cợt chuyện chết chóc, toàn thân tôi nổi đầy gai ốc.

Nhớ lại hình ảnh cái bóng với đôi tay đen đúa đã siết cổ mình đến tắt thở trong mơ, tôi run run bò dậy, không kìm được ngó nghiêng xung quanh rồi lẩm bẩm:

"Cha bà nhà nó, thế là mơ hay là thực vậy trời?

"Hửm, em lại mơ cái gì vậy?"

Duy cúi xuống hỏi.

"Đáng sợ lắm..."

Tôi đờ đẫn sờ tay lên cổ, thấy cảm giác ê nhức vẫn còn nguyên thì không khỏi rùng mình.

Bình thường đau cổ có nhiều nguyên nhân, cái nết nằm ngủ không thẳng thớm dễ gây cong vẹo cột sống của tôi là một ví dụ.

Cơ mà nếu bảo sự việc kinh hoàng vừa trải nghiệm chỉ là một cơn ác mộng thì tôi thấy rất lấn cấn.

Mọi thứ diễn ra trong giấc mơ ấy quá mức chân thật.

Thật đến độ tôi còn phải nghi ngờ sự tồn tại của chính mình vì không tài nào phân biệt được sự khác nhau giữa giấc mơ và thực tế.

Sau một hồi trấn tĩnh, tôi kể lại với Duy và Bách về cái bóng đen ma quái đã tấn công mình, cố gắng mô tả kỹ những chi tiết mà bản thân cho là quan trọng.

Bọn họ nghe xong thì nhìn nhau đôi chút rồi đồng thanh kết luận một câu ngắn gọn:

"Là ngủ mơ thôi!"

Đình Bách ngồi xuống cuối giường, ôn tồn giải thích:

"Trong phủ Khai Minh Vương quả đúng là có một cái vong.

Đợt trước theo chúa thượng hành quân qua đây ta đã thấy nó đôi ba lần.

Có điều, vong ấy là dạng vong lành, chỉ ẩn thân chứ không hóa hình, bình thường cũng chưa từng có ý gây hại gì đến ai nên ta không động vào.

Âm khí của nó tỏa ra khá nồng, hễ hiện diện ở đâu là đều để lại dấu vết.

Nhưng trong phòng này thì không có đâu nên cô cứ yên chí."

"Nhưng... nhưng nó từng bám lên người tôi..."

Tôi vô thức rụt người sâu vào chiếc chăn.

Khắc Duy nãy giờ vẫn đứng tựa bên thành giường, hai tay khoanh trước ngực, nghe đến đây liền cất giọng:

"Nói đơn giản thì em giống như cây đèn bắt muỗi!

Bản mệnh dồi dào khí dương song lá số lẫn bát tự lại thuần vận âm.

Lũ ma quỷ dù rất thèm khát nhưng có bám vào cũng không thể xâm nhập, cố chấp quá không chừng còn bị dương khí thiêu đốt đến hồn phi phách tán."

"Cậu so sánh vớ vẩn thế Duy!

Tên "Nhật Dương" là mặt trời mới đúng chứ.

Ai cũng muốn hướng về nơi có ánh sáng mặt trời nhưng nếu đến quá gần thì lại cháy rụi vì sức nóng khủng khiếp của nó."

Đình Bách khoát tay cười ẩn ý.

"Pháo đài bất khả xâm phạm, nhỉ?"

"Nói nhảm đủ rồi, huynh học đâu cái thói màu mè đó vậy?"

"Thời thế, thế thời!

Đã nhập vai thì phải diễn sao cho trọn.

Ta đến đây trước hai cô cậu hơn nửa thập kỷ, từ khi Đại Hành hoàng đế còn tại vị.

Leo tới chức thái y này cũng tốn không ít công sức đâu."

Đình Bách đổi giọng làm vẻ già dặn, còn khoa trương giả vờ vuốt râu như mấy ông cụ dù cằm anh ta nhẵn thín.

"Thôi, dẹp chuyện ma cỏ để quay lại vấn đề chính nhé.

Ta không có thời gian trình bày cho hai cô cậu tất cả mọi thứ.

Nhiệm vụ chung là gì thì thầy đã nói, ta không nhắc lại nữa.

Tuy nhiên, con đường đi đến cái đích cuối cùng sẽ là một hành trình rất dài, mỗi người trong chúng ta lại nắm một nhiệm vụ ở một giai đoạn khác nhau.

Do đó, ta quyết định cả ba sẽ hành động theo từng bước một, dĩ nhiên là dưới sự chỉ thị của ta."

Dù rằng trong lòng chưa hết quan ngại chuyện cái bóng nhưng những gì Đình Bách nói chính là điều tôi quan tâm nhất bây giờ.

Tôi đánh mắt sang phía Khắc Duy.

Hắn cũng không có ý kiến gì trước những lời của Bách, hoàn toàn tin tưởng trao quyền quyết định cho anh ta.

Không giống phong cách lấp lửng dậm dờ của Duy, Bách nói chuyện thẳng thắn và dứt khoát hơn nhiều.

Nhờ thế, phần lớn các thắc mắc của tôi đều đã được anh ta giải đáp tương đối đầy đủ.

Bức tranh toàn cảnh đang dần lộ diện trước mắt.

---

*Chú thích:

1, Vào thời nhà Trần, giai đoạn chống quân Nguyên - Mông lần hai, các binh lính Đại Việt đã xăm hai chữ "Sát Thát" lên tay với lời thề giết giặc Mông Cổ thể hiện Hào khí Đông A vang danh bờ cõi.

2, Thái bốc: Một chức quan phụ trách phụ trách việc bói toán, chiêm nghiệm âm dương.

Ở thời đại phong kiến Việt Nam, cơ quan chuyên trách về thiên văn, địa lý, làm lịch và bói toán đã được đổi tên và tổ chức lại thành: Tư Thiên Giám (司天監) xuất hiện từ thời nhà Lê và Khâm Thiên Giám (欽天監) là tên gọi chính thức và nổi bật nhất dưới triều đại nhà Nguyễn.

Ở thời Tiền Lê, do chưa khảo cứu được tư liệu có tên gọi chính xác cho chức quan phụ trách này nên mạo muội mượn lời thoại của nhân vật để so sánh.

Sẽ bổ sung và chỉnh sửa khi có nguồn sử liệu đáng tin cậy.
 
Mệnh Tiền Kiếp [Cảm Hứng Lịch Sử | Xuyên Không]
25. Đổi vai


Trích phần thông tin lược chép từ bản ghi chú của Trần Khắc Duy.

Mùa đông, Ứng Thiên năm thứ 12.

Đại Việt sử ký toàn thư viết:

"Mùa đông, vua cướp ngôi, tôn hiệu làm Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế; truy tôn mẹ làm Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng Thái hậu.

Lập bốn hoàng hậu.

Ngự Bắc Vương cùng với Trung Quốc Vương chiếm trại Phù Lan làm phản.

Vua thân đi đánh.

Đến Đằng Châu, Quản giáp là Đỗ Thị đem việc người anh em họ ngoại là Lê Hấp Ni làm phản tâu lên.

Vua sai bắt tra hỏi, Hấp Ni và những kẻ dự mưu mười hai người điều bị giết.

Đến trại Phù Lan, người trại đóng cửa trại cố thủ.

Đánh không hạ được, bèn vây chặt vài tháng, người trong trại hết lương ăn.

Ngự Bắc Vương tự biết kế cùng thế khuất, bèn bắt Trung Quốc Vương đem nộp.

Chém Trung Quốc Vương, tha tội cho Ngự Bắc Vương, rồi đem quân đánh Ngự Man Vương ở Phong Châu.

Ngự Man Vương phải chịu hàng.

Quân về đến Đằng Châu, đổi tên châu ấy làm phủ Thái Bình.

Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả.

Chuyến đi này khi quan quân đánh nhau với người trại Phù Lan, chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Đầu (nay là cửa biển Thần Phù).

Vua về đến sông Tham đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long."

"Ủa anh Bách, sự việc viên Quản giáp tên Đỗ Thị tố giác "phản động" này hình như chưa diễn ra đúng không?"

Tôi giơ cuộn da dày cộm lên, chỉ cho Đình Bách xem một đoạn thông tin khá dài được viết liền nhau mà mình mới luận ra.

"Chữ của tên Duy xấu quá, em đọc tới đây thì thấy rối hết cả lên rồi, còn chả biết hắn có chép đúng thứ tự sự kiện không nữa."

"Phản động cái gì, gọi là phản tặc!"

Đình Bách sửa lời tôi, mắt liếc qua một chút rồi trở lại với mấy sàng nứa to đựng đầy thảo dược cùng đủ các loại dược liệu chuyên dùng bào chế thuốc.

Vừa tỉ mẩn phân chia từng thứ, anh vừa kể.

"Chuyện đó diễn ra từ đợt trước rồi, lúc chúa thượng đưa quân đi đánh Ngự Bắc Vương và Trung Quốc Vương ở trại Phù Lan.

Ta vẫn nhớ trưa hôm ấy cung nhân đang hầu ngài dùng ngự thì Đỗ Thị xin đến tâu.

Thế là chỉ trong vỏn vẹn một buổi chiều, quân ám vệ đã tóm gọn toàn bộ bè lũ của Lê Hấp Ni lôi về phủ để tra khảo, qua sáng sớm hôm sau thì bọn chúng đều bị xử tử theo lệnh của chúa thượng."

"Nhanh gọn thế cơ á?"

Tôi ngạc nhiên.

"Ừ, "tốc độ" lắm!

Mà theo những gì được chứng kiến trong suốt mấy năm sống ở đây thì ta nhận thấy hành động của Lê Long Đĩnh luôn rất nhanh và chính xác.

Y thường không tốn quá nhiều thời gian để đưa ra quyết định dù sự việc có nghiêm trọng hay bất ngờ cỡ nào.

Phải công nhận là tư duy xử lý vấn đề của y vô cùng nhạy bén, tới mức mà nếu có ai nói y nhìn thấy trước tương lai thì ta sẽ tin ngay đấy!"

Bách cười khan, tay bốc một nắm nhỏ cam thảo bỏ vào vò đất đựng nước sôi vừa được anh bắc từ trên bếp xuống.

Mùi thơm ngọt dịu, thanh mát nhanh chóng theo làn khói mỏng mảnh tỏa ra tứ phía.

Anh múc một thìa đưa lên miệng nhấp thử, khẽ gật gù ra vẻ hài lòng.

Sau khi gia giảm thêm vài thành phần nguyên liệu, Bách chắt ra lưng bát con nước rồi đẩy về phía tôi.

"Uống tạm đi Dương, thứ này có tác dụng làm ấm cơ thể, ổn định thần trí.

Trước khi đến đây, thằng trời đánh kia có lỡ bắt thiếu của cô một phách, thế nên bây giờ tám phách còn lại rất dễ bị thoát ra ngoài.

Ta không biết Duy cất bùa trấn hồn mà thầy chuẩn bị cho cô ở đâu, đành phải chờ nó về rồi hỏi vậy!"

"Dạ vâng, em xin..."

Tôi gật gật đầu, mắt vẫn dán chặt vào cuộn da trong khi bộ não gắng gượng chạy hết công suất để ghi nhớ loạt dữ kiện mà Bách vừa cung cấp.

Mặc dù phần lớn các chi tiết được nêu ra trong số đó đều xuất phát từ nhận định của cá nhân Đình Bách, nhưng nếu xét kỹ thì quả thực là chúng có chứa một vài từ khóa về vua Lê Long Đĩnh mà trước nay tôi chưa từng nghe đến.

Rất đáng lưu tâm!

"Xem nào, là người có phản ứng nhanh nhẹn, hành động gọn ghẽ, quyết liệt, tư duy xử lý vấn đề nhạy bén, linh hoạt... còn gì nữa nhỉ?"

Sau gần mười phút ngồi phân tích và hệ thống lại các đặc điểm mô tả hành vi, tính cách của y qua lời Đình Bách, bảng sơ đồ tư duy tôi vẽ tạm trên tờ giấy dó xin được từ chỗ quân y đã phân nhánh chằng chịt như tơ vò.

Nhìn những cụm ghi chú thông tin viết tắt nằm chen chúc nhau, Bách tặc lưỡi kết luận:

"Trình suy luận của cô kể ra khá đấy, nhưng chung quy là vẫn chưa nói lên được gì!"

Đang uống dở bát thuốc, tôi nghe mà suýt sặc nước lên mũi:

"Ối giời ơi, anh giai em phán cứ như thần ấy nhỉ?

Chuyện mà đơn giản thế thì tội gì em phải khổ như này.

Hay là giờ tính vậy đi, nếu anh thấy phương án mình đang làm không hiệu quả thì chúng ta đổi cách khác!"

Tôi nín cười, nói đùa.

"Em thấy bình thường hai đánh một chẳng chột cũng tàn phế.

Anh với Khắc Duy xưa kia là lính thuộc quân Ngũ Yên dưới trướng An Sinh vương Trần Liễu (1).

Chi bằng nửa đêm canh ba em kiếm cho anh cái bao tải rồi chúng ta đột nhập vào phủ của Lê Long Đĩnh... nhanh hơn bao nhiêu không!

Đỡ mất công lập kế hoạch phiền phức."

"Nói bậy nào, bỏ ngay cái ý định đi tắt đón đầu ấy đi nhé!

Còn nữa, ta với thằng Duy gia nhập quân Ngũ Yên vào giai đoạn khi thầy đã thu binh về tay, không phải lứa quân thời An Sinh vương đâu."

Bách phì cười, lấy cây quạt giấy giắt ở thắt lưng gõ nhẹ lên đầu tôi mấy cái.

Hành động ấy khiến tôi bất giác liên tưởng đến hình ảnh Hưng Đạo đại vương trong ký ức tiền kiếp.

Anh cũng bắt chước thầy làm điệu phe phẩy quạt, chậm rãi nói:

"Bảo vậy để cô chú ý, nếu đã quyết tâm tìm hiểu thì việc đầu tiên cần ghi nhớ là đừng quá tập trung vào tiểu tiết, thứ hai là không nên nóng vội.

Dẫu sao, "ông cụ" này cũng thuộc kiểu người thâm sâu khó lường.

Ta đến Hoa Lư nhận chức thái y ngay đúng thời điểm Đại Hành hoàng đế đang cân nhắc chọn người lập Thái tử, thành ra có nghe ngóng được đôi ba chuyện.

Kỳ thực, ngài ấy từ trước vốn đã có những ưu ái nhất định dành cho Lê Long Đĩnh, nhiều lần công khai tỏ ý khen ngợi và lên tiếng nói đỡ giúp y khi triều đình phản đối việc y xin làm Thái tử.

Chuyện sắc phong Lê Long Đĩnh làm Khai Minh Vương, rồi ban thực ấp ở Đằng Châu..."

Đến đây, Bách chợt ngừng lại, cảnh giác nhìn ra cửa bếp rồi hạ thấp giọng xuống:

"Hậu thế có kẻ coi đó là sự bù đắp của ngài nhằm xoa dịu đứa con trai ngỗ nghịch sau khi lập Lê Long Thâu làm Thái Tử (2).

Nhưng theo ta lạm bàn, có thể đó lại chính là minh chứng cho sự yêu quý và tin tưởng mà Đại Hành hoàng đế đặt nơi người con trai này.

Cô xem, ở đây đất đai trù phú, vừa giàu tài nguyên lại có thêm vị trí địa lý thuận lợi, nhìn sao cũng thấy vô cùng phù hợp để tiến hành các công cuộc giao thương và phát triển kinh tế.

Chưa kể, nếu đem so sánh với các nơi khác trên vùng lãnh thổ Đại Cồ Việt bây giờ thì Đằng Châu là một khu vực trọng yếu, tiềm lực khai thác lớn nên rất dễ bị các thế lực bên ngoài nhòm ngó.

Người không có bản lĩnh thật sự không trấn giữ nổi đâu.

Cô hiểu ý ta chứ?"

"Dĩ nhiên là em hiểu!

Em có xem qua vài cuộc thảo luận về thời Tiền Lê trên mạng hồi trước.

Nhưng lý thuyết nói thì dễ thế chứ thực hành có dễ đâu nào!"

Tôi lắc đầu cười khổ, nói khẽ.

"Anh biết đấy, em và tên Duy vừa tới đã vỡ kế hoạch vì gặp vua Lê Long Đĩnh sớm hơn dự tính, giờ cả hai bọn em đều đang vướng vào rắc rối.

Muốn sống yên ổn tới ngày hoàn thành nhiệm vụ thì chỉ có cách duy nhất là tìm ra nguyên nhân càng sớm càng tốt.

Khắc Duy ít nhất còn bịa chuyện đối phó cầm chừng được chứ em thì em không tự tin lắm..."

Tính đến thời điểm hiện tại, tôi đã bước đầu phác họa được một chân dung tương đối rõ nét về con người vị vua này.

Thế nhưng, phần quan trọng nhất là các câu hỏi xoay quanh động cơ dẫn đến sự kỳ lạ của Lê Long Đĩnh vẫn đang bị bỏ xó.

Tạm thời, cả ba người chúng tôi đều chưa tìm thấy manh mối nào đủ sức thuyết phục để giải đáp chúng.

Và đương nhiên, chừng nào bí ẩn về y còn tồn tại thì chừng ấy kẻ vượt thời không là tôi đừng mong toàn mạng thoát khỏi phủ Khai Minh Vương.

"Em nghĩ kỹ rồi anh ạ!

Quanh đi quẩn lại thì nguyên nhân chính hẳn vẫn là vì "ông cụ" ấy nghi ngờ hai đứa em nhưng chưa có bằng chứng, lại không muốn buộc tội nhầm người nên mới đưa con mèo quý kia cho em nuôi.

Hành động này ngoài mặt thì trông như đang ban ơn nhưng thật ra là để tiện bề giám sát em."

Tôi chỉ tay vào cục bông trắng béo tròn đang thong dong tận hưởng bữa trưa ngon lành ở góc bếp.

"Theo dõi một đứa dân đen ngơ ngáo như em khó gì đâu, quan trọng là dàn cảnh sao cho hợp tình hợp lý để không ai phát hiện kìa.

Lúc Khắc Duy ra tay hỗ trợ hai "ông cụ" xử lý đám thổ phỉ ở bờ sông, hắn chỉ nghĩ đơn giản là đang giúp người, tức Lê Trung và Lý Thuận.

Nhưng nếu đứng từ góc độ của họ mà đánh giá thì Khắc Duy mạnh hơn tiêu chuẩn cho phép của một anh phó thường dân (3) rồi, không đáng nghi mới lạ!

Em chẳng biết Lê Long Đĩnh tin câu chuyện hắn bịa được bao nhiêu phần, nhưng phàm là kẻ theo nghiệp binh đao, nhìn thân thủ của Duy chắc chắn sẽ nhận ra, không sớm thì muộn.

Một cấm vệ quân được đào tạo bài bản lúc ra trận kiểu gì chả có chỗ khác một anh thanh niên học võ trường làng, phải không anh Bách?"

"Ừ, con mèo đích thực là cái cớ để giữ cô luôn trong tầm kiểm soát của y.

Còn việc y tiện tay thu nạp Khắc Duy, một thằng ất ơ nhặt đại ngoài đường vào hàng ngũ của quân Tiên phong chỉ từ lần cứu mạng duy nhất đấy... bảo "họa" thì sai mà nói "phúc" cũng chả đúng!

Về lý, khi đất nước lâm nguy, một thân nam nhi trai tráng sao đành lòng đứng ngoài nhìn chúng giặc xâm phạm bờ cõi.

Tự nguyện hay được gọi đi đều như nhau cả.

Xung quân là chuyện hiển nhiên và đổ máu là điều tất yếu.

Cơ mà về tình..."

Vô thức đặt mạnh cây quạt xuống bàn, Bách nói liền một hơi rồi đi thẳng tới kết luận.

"Tất cả đều tại nó để mồm miệng đi chơi xa, không giấu nổi cái khí thế nhà binh treo ở đầu lưỡi.

Chúng ta thì thiếu gì cách để bám đuôi quân triều đình?

Hơn nữa, Lê Long Đĩnh từ đầu đến cuối chỉ toàn gợi ý chứ đã có lời nào ép nó phải đi?

Đây là nó tự nguyện cầm dây người ta đưa tròng vào cổ mình, trách ai bây giờ!"

Tiếng nước sôi réo ầm ĩ phát ra từ chiếc nồi đất bắc trên bếp củi không ngăn được khoảng lặng sau đó đẩy hai anh em tôi rơi vào trầm tư.

Tôi nhìn Đình Bách, Đình Bách nhìn tôi.

Rồi như có hẹn trước, chúng tôi đồng loạt thở dài, ai nấy chán không buồn thảo luận tiếp nữa.

Hễ động đến Trần Khắc Duy và câu chuyện hắn được "nhấc" vào quân ngũ là tôi lại thấy váng hết cả đầu.

Đình Bách nói không sai, tên hâm dở Khắc Duy quả thực đã có một màn chơi ngu lấy tiếng đi thẳng vào lòng đất.

Còn nhớ hôm đó, khi hắn quỳ trước Lê Long Đĩnh, hùng hổ tuyên bố muốn theo y xuống Ái Châu dẹp nạn giặc Man, tôi vì cứ đinh ninh đấy là một phần bắt buộc trong kế hoạch của hắn nên dù sợ chết khiếp cũng không dám mở miệng ý kiến.

Mãi tới lúc gặp Đình Bách, được nghe anh phân tích, tôi mới ngộ ra là thằng cha chết dẫm đó định "tay không bắt giặc" chứ vốn dĩ hắn chả có cái gì gọi là "kế hoạch" ở đây hết.

Không những vậy, anh còn tiết lộ cho tôi biết một sự thật động trời, rằng cuộn da chứa thông tin hắn đưa tôi là sản phẩm của mười hai tiếng chong đèn thức trắng, hoàn thành gấp gáp ngay sát giờ hắn phải đón tôi về đền Kiếp Bạc.

Ban đầu, thầy cho hắn thời hạn tận mười ngày để chuẩn bị, vậy mà hắn nhất định phải chờ sang ngày cuối mới làm.

Sau đó, thành quả hắn tạo ra là một bản ghi chép xấu kinh hồn và tôi - nạn nhân bất đắc dĩ bị hắn bắt thiếu một phách phải ngồi phiên dịch nó trong vô vọng.

"Tóm lại vẫn là ăn hại!

Nó được cái đánh đấm giỏi, về khoản này ta không chê.

Nhưng cái đầu của nó khéo chỉ dùng để trồng cây thôi, tính nước nào sai bét nước đấy.

Thầy thương nó chứ cũng không tin tưởng giao hết việc quan trọng cho nó, tại tin nó là có ngày bán nhà!

Và đó là lý do tại sao "anh mày" phải xuất hiện ở đây để phòng trừ hậu họa thằng ôn thần ấy gây ra."

Chừng như khá bất mãn, Bách nén bực bưng chiếc nồi đất đã sôi từ ban nãy đặt mạnh lên bàn như thể trút giận vào đó.

Tôi nghe anh kể tội hắn mà chỉ biết gật đầu hưởng ứng, không bênh nổi câu nào.

Bởi lẽ, Khắc Duy hành động phần lớn theo cảm tính, phương châm sống của hắn là tùy cơ ứng biến, mưa đến đâu mát mặt đến đấy.

Chuyện hắn tìm đủ mọi cách né tránh việc chia sẻ thông tin với tôi cũng không hẳn toan tính xấu xa gì, đơn giản là vì chính hắn còn phải vừa đi vừa mò đường, nào có nắm rõ cơ sự đâu mà chia với chả sẻ!

"Nhật Dương!"

"Dạ!"

Đương mải nghĩ ngợi linh tinh, tiếng Bách gọi đột ngột vang lên làm tôi giật nảy người.

"Sắp quá trưa rồi, nay chúng ta bàn chuyện tới đây thôi.

Hãy còn nhiều thời gian, cô cứ từ từ tìm hiểu từng chút, không cần vội."

Bách nói, tay đẩy ra trước mặt tôi một chiếc khay gỗ mun khảm trai, bên trên là bát chiết yêu đựng canh thuốc vừa sắc bốc khói nghi ngút.

Tự dưng, tôi thấy chân mình lạnh toát, cảm giác rờn rợn bò dọc sống lưng.

Đình Bách mỉm cười nham hiểm nhìn tôi, đuôi mắt híp lại:

"Nhưng ta thiết nghĩ, thay vì ở đây suy diễn thì vào thẳng hang cọp tham quan giống thằng Duy cũng hay đó chứ?

Nhật Dương, cô mau đem thuốc này lên nhà chính dâng chúa thượng đi, tiện thể nghía qua xem quanh y có gì thú vị không.

Đằng nào thì chúa thượng cũng đã đồng ý cho cô ở lại chỗ ta để phụ việc vặt, nên lựa mà cư xử sao cho đúng phận nô tỳ nhé.

Lười biếng là không được đâu!"

---

*Chú thích:

1, Ngũ Yên quân (五燕軍) là đội quân tinh nhuệ, thiện chiến do An Sinh vương Trần Liễu (cha của Trần Hưng Đạo) nuôi dạy, ban đầu nhằm phục vụ ý định rửa hận cá nhân, nhưng sau đó được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sử dụng hiệu quả trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, nổi tiếng về sự trung thành và sức mạnh đánh bại quân xâm lược, đặc biệt là lực lượng này do Trần Tử Đức, Bùi Thiệu Hoa và Trần Ý Ninh chỉ huy chặn giặc tại Phù Lỗ, để lại ấn tượng sâu sắc trong lịch sử.

2, Đoạn này là phóng tác từ những gì tác giả tham khảo được sau khi đọc ý kiến tranh luận của một số cá nhân trên các diễn đàn lịch sử và bài thảo luận lượm nhặt ở nhiều nơi nhằm phục vụ việc sáng tác, không có nguồn dẫn cụ thể, hoàn toàn là phỏng đoán lạm bàn, không có giá trị tham khảo như một tư liệu lịch sử, không đại diện cho bất cứ suy nghĩ, quan điểm nào của tác giả.

3, Phó thường dân: khẩu ngữ, ý chỉ dân thường, không có địa vị, chức vụ gì trong xã hội, được dùng với hàm ý mỉa mai hoặc nói đùa
 
Mệnh Tiền Kiếp [Cảm Hứng Lịch Sử | Xuyên Không]
26. Thêm một mối nguy


Cuối đông, trời bỗng chuyển rét đậm.

Sau trận giông lớn quét qua đêm hôm trước, một đợt không khí lạnh mới bất ngờ tràn xuống đã khiến mọi thứ quanh tôi như bị nhấn chìm trong cái giá buốt đầy khắc nghiệt.

Từ sáng sớm, mặc cho làn mưa bụi giăng kín lối, khuôn viên phủ Khai Minh Vương vẫn tấp nập người ra kẻ vào, phần lớn là binh lính và gia nô.

Bọn họ ai nấy tất bật khuân vác đủ thứ đồ đạc, nghe đâu là đang gấp rút bổ sung quân tư trang cùng nhu yếu phẩm để chuẩn bị cho lần hành quân xuống Ái Châu đánh giặc Man sắp tới.

Thỉnh thoảng, sẽ có vài vị thái y khoác áo bông dày, tóc tai ướt sũng, tay cắp hòm thuốc đi ngược hướng với tôi.

Vừa nhìn, tôi đã biết là họ đang trên đường đến tìm Đình Bách để lấy thảo dược, sau đó rẽ lối sang hướng cửa phụ dẫn về các khu điều trị thương binh nằm bên cạnh phủ.

Trong trận công thành ở Phong Châu vừa rồi, tuy quân triều đình dễ dàng đánh bại thế lực của Ngự Man Vương nhưng số binh lính bị thương cần tĩnh dưỡng cũng vừa vặn lên tới hàng chục người.

Chưa kể, nếu tôi nhớ không nhầm thì bản thân vua Lê Long Đĩnh cũng lãnh một vết thương rất sâu ở lưng.

Sau lần y giao tranh với đám thổ phỉ, vết thương ấy đã rách toác ra khiến Lý Công Uẩn mất khá nhiều công sức mới cầm máu được.

Chính vì thế, trọng trách đặt trên vai nhóm quân y những ngày này dường như tăng lên gấp bội.

Là thái y có tay nghề giỏi nhất, suốt nửa tuần nay Đình Bách hầu như chỉ quanh quẩn dưới bếp, sống chung với đủ thứ nồi niêu, cối thớt.

Đang ôm cái mác chân sai vặt phụ việc của anh, tôi đương nhiên cũng phải nhảy vào giúp anh một tay, lúc thì thêm củi đun nước, lúc lại bốc thuốc đưa người ta.

Song, có lẽ do bản mặt tôi bẩm sinh trông khó ưa, hoặc ở tôi thật sự toát ra vẻ hèn mọn thường gặp của phận con sen con ở nên hồi sáng đã bị mấy vị thái y lớn tuổi cậy quyền gây khó dễ không ít.

Vốn tôi chẳng muốn để bụng làm gì cho mệt, nhưng bởi cái nạn trời ơi đất hỡi vừa đáp xuống đầu mà tự dưng trong lòng nảy sinh chút ác cảm với họ.

Thành thử ra, mới nhác thấy có vị định giơ tay vẫy mình lại, tôi đã lập tức cắm mặt đi thẳng, giả mù không biết.

Thôi thì, coi như tôi ưu tiên chuyện đại sự vậy!

Dẫu sao, đắc tội với mấy vị đó tôi còn có cửa giữ mạng.

Chứ lỡ mang thuốc đến muộn, làm phật ý chúa thượng thì khéo tôi chỉ còn có thể về nhà vào hai ngày là Rằm với mồng Một đầu tháng.

"Đời là bể khổ, qua khổ là qua đời..."

Tôi tặc lưỡi, tay kéo gấu váy, đoạn nhón chân bước lên bậc tam cấp.

Trời mưa, đường trơn nên dù còn cách đích đến khoảng hơn hai trăm mét, tôi vẫn rón rén bước từng bước vì sợ sẩy chân trượt ngã.

Gian nhà chính nằm ở khu vực trung tâm của phủ Khai Minh Vương là nơi chúa thượng nghỉ ngơi.

Ngoài toán lính canh thường xuyên đi tuần ra, khu này chẳng mấy khi có người lui tới.

Nghĩ cảnh một mình đơn thương độc mã vào gặp "ông cụ" Lê Long Đĩnh, lòng tôi chợt đau đớn như thể bị người ta cầm dao nhọn đâm cho vài nhát.

Đúng là... tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, tránh được Trần Khắc Duy thì va ngay phải Trần Đình Bách!

Tôi thừa nhận, trước những bí ẩn xoay quanh Lê Long Đĩnh, tôi vô cùng nôn nóng muốn lật tung mọi thứ để tìm cho ra đáp án.

Thế nhưng, nếu hỏi tôi có muốn trực tiếp đối mặt với y để điều tra hay không thì câu trả lời đã quá rõ ràng rồi: Tôi không muốn, ngàn lần không muốn!

Đặt nhiệm vụ và tính mạng lên bàn cân, cái nào quan trọng hơn có lẽ không cần bàn cãi.

Với tôi, nhiệm vụ là sự ưu tiên còn lo giữ mạng là mới là điều cấp thiết cần làm ngay lúc này.

Cái mạng quèn của tôi trông thế nhưng cũng đáng giá lắm chứ!

Khổ nỗi, Đình Bách và tên Duy hâm cứ như dùng chung một hệ điều hành, tính nết gia trưởng không thua kém nhau là mấy.

Tôi đã thử quẳng hết liêm sỉ qua một bên mà đi khóc lóc, năn nỉ ỉ ôi với Đình Bách, những mong anh đổi ý.

Tiếc thay, Trần Đình Bách chẳng phải kiểu người dễ mủi lòng với con gái.

Thấy tôi rơi nước mắt, anh chỉ nhếch miệng cười trừ, để tôi tự khóc rồi tự thôi, một lời an ủi cũng lười nói ra.

Rốt cuộc, kết quả của phi vụ ăn vạ thất bại đó là bây giờ đây tôi không thể phân biệt được mình đang run rẩy vì trời đông rét mướt, nhiệt độ xuống thấp hay bởi hai vị hộ pháp mặt mày bặm trợn, trên trán thích ba chữ "Thiên tử quân" (1) có ánh nhìn lạnh hơn cả mùa đông đứng canh cửa kia nữa!

"Nhóc con, đi đâu đây?"

Người đứng bên phải cất giọng ồm ồm nói, người bên trái phối hợp liếc mắt nhìn tôi.

Dáng vẻ của họ so với đám thổ phỉ tôi từng gặp tuy rất đạo mạo nhưng khí chất nhà binh tỏa ra còn đáng sợ hơn chúng vài phần.

Tôi bất giác nuốt khan, bao lời được chuẩn bị sẵn ra đến đầu lưỡi tức khắc biến thành một mớ hỗn độn:

"Dạ... bẩm...bẩm... thuốc... thuốc của... của cụ... của chúa thượng...

ạ..."

"Nói rõ ràng ra!

Ngươi lảm nhảm cái gì vậy?"

Người đứng bên trái trừng mắt, lớn tiếng quát.

Tôi giật thót tim, nhắm mắt nhắm mũi thoại bừa một câu:

"Dạ bẩm, là thuốc của chúa thượng ạ!"

Hai người lính canh nhanh chóng đánh mắt nhìn nhau, không hiểu là loại ám hiệu gì.

Tôi thấy da đầu mình tê rần rần, cơ mặt dần căng cứng vì phải duy trì một biểu cảm vô hại đầy gượng gạo.

Cùng lúc đó, nước mưa đọng trên tóc bắt đầu chảy dọc xuống má, chạy qua cằm rồi chui tọt vào cổ áo mang theo cái lạnh thấu xương.

Đang bưng khay thuốc bằng cả hai tay, tôi không thể lau chúng đi nên chỉ đành cắn răng chịu đựng.

Vài giây trôi qua dài như nửa kiếp người, cấm quân đứng bên phải hất hàm nói:

"Ai sai ngươi tới đây?"

"Dạ bẩm, là thầy Bách ạ."

Tôi lập cập đáp, hai hàm răng va vào nhau nghe "cộc" một tiếng.

Vẫn biết cấm quân hành động có nguyên tắc, nhưng qua con mắt phiến diện của tôi, tôi cho rằng họ đang cố tình làm khó mình.

Bằng chứng là hỏi tôi xong, họ lại im lặng, nửa như chần chừ, nửa như đợi điều gì không rõ.

Cảm thấy đôi bên cứ đứng nhìn nhau thế này không ổn, một là tôi sẽ chết vì rét, hai là bị ánh nhìn dò xét của họ dọa cho sợ chết khiếp.

Tôi thì chưa muốn chết nên định bụng hỏi lại họ xem có thể để khay thuốc này ở đâu rồi tính đường chuồn đi cho sớm sủa.

May phước làm sao, ngay vào lúc tôi đang tự khích lệ mình mở miệng ra nói thì ông trời đã kịp thời phái xuống một "thiên thần" cứu tôi thoát cảnh khó xử:

"Nhật Dương!"

Tôi mừng rỡ quay đầu lại tìm nơi phát ra giọng nói của "thiên thần", trước mắt tưởng như có ánh sáng từ mười phương chư Phật chiếu rọi.

Rất nhanh, người ấy đã xuất hiện giữa vầng hào quang chói lọi.

Trời ơi, không những một mà hẳn hai "thiên thần" đến giúp tôi!

"Thuốc này là thầy Bách bảo cô dâng lên, đúng không?"

"Thiên thần" nở nụ cười hiền từ, không chờ tôi đáp đã giơ tay ra hiệu cho "thiên thần" đứng đằng sau tiến lên.

"Trí Ngạn, ngươi mau đem thuốc vào trong đi."

Thoắt cái, chiếc khay gỗ mun khảm trai được nhấc khỏi tay tôi.

"Thiên thần" kia lạnh lùng đẩy vai tôi rồi lách người qua.

Khoảnh khắc đó, ảo tưởng đẹp đẽ trong mắt tôi liền bị thực tại phũ phàng đập cho nát bấy.

Mẹ kiếp, không có "thiên thần" nào ở đây hết!

Người vừa đẩy tôi suýt ngã thực ra chính là viên nội thị Trí Ngạn.

Còn người đang cười với tôi...

Tôi khóc không ra nước mắt.

Chẳng biết có phải ông trời chê cuộc đời tôi chưa đủ thảm hay không mà đây đã là lần thứ hai tôi bị Phó chỉ huy sứ Lý Công Uẩn bắt gặp rồi.

Lần trước tóm được tôi ở chỗ mụ Tám bán gạo, nụ cười xán lạn của anh ta làm tôi thiếu chút nữa đứng tim mà lăn ra ngất tại chỗ.

Nên với vẻ thân thiện anh ta dành cho tôi lần này, tôi không biết đáp lại kiểu gì mới phải.

Về cơ bản, giao diện người này quá trẻ để gọi là "cụ" mà chức vị lại không nhỏ để tôi có thể tùy tiện gọi hai chữ "anh Thuận" như trước kia.

Thấy tôi lúng búng mãi không nên lời, Lý Công Uẩn lắc đầu cười:

"Cô đừng căng thẳng, ta không có ý gì đâu!"

Câu nói của Lý Công Uẩn dường như chệch khỏi nội dung cuộc trò chuyện đang diễn ra.

Tôi biết mình phải lên tiếng đính chính ngay để tránh hiểu lầm, nhưng đính chính chuyện gì và sợ bị hiểu lầm điều gì thì bản thân tôi cũng không rõ.

"Trời mưa lạnh đấy, cô mau về chỗ Đình Bách đi."

Lý Công Uẩn đưa mắt nhìn ra sân rồi đột nhiên à lên một tiếng.

"Phải rồi, ta có thứ này muốn cho cô."

Nói đoạn, anh ta lấy từ ngực áo ra một vật hình chữ nhật được bọc trong mảnh vải, cẩn thận nhét vào tay tôi.

Nhân lúc tôi còn đang ngơ ngác, Lý Công Uẩn vẫy tay chào rồi cứ vậy biến mất sau cánh cửa gỗ.

Anh ta đi rồi, hai cấm vệ quân cũng không cho tôi nán lại lâu, thẳng thừng đuổi tôi xuống bếp.

Mang theo tâm trạng mơ mơ hồ hồ rời khỏi gian nhà chính, tôi trở về căn bếp của Đình Bách trong tình trạng toàn thân ướt sũng nước mưa.

Bếp không có ai, chắc Bách đã ra ngoài thăm bệnh thương binh.

Chọn lấy một chỗ khô ráo để ngồi, tôi mặc kệ cơn choáng váng âm ỉ ở đầu, run rẩy cầm cái bọc vải mà Lý Công Uẩn cho mình lên xem.

"Hình như là đồ gỗ?"

Tôi lẩm bẩm, loay hoay tìm nút thắt.

Món đồ này được bọc những hai lớp vải, nhìn cách gói ghém chỉn chu có thể thấy rõ thành ý của người đi tặng.

Tôi không mất nhiều thời gian để gỡ nó ra.

Ấy vậy nhưng, vừa trông thấy thứ ở bên trong, trái tim tôi lập tức rơi mất một nhịp, cơ thể không tự chủ được run lên bần bật.

Nếu không phải đang ngồi, tôi nghĩ mình sẽ ngã gục ra ngay lúc ấy.

Thứ Lý Công Uẩn cho tôi... không ngờ lại là một cuốn vở viết!

Tại sao?

Tại sao vậy chứ?

---

*Chú thích:

1, Dưới các triều vua Tiền Lê, đặc biệt dưới triều vua Lê Đại Hành (980 - 1005) quân đội Tiền Lê được quan tâm xây dựng, gồm hai lực lượng chính: quân cấm vệ và quân vương hầu.

Quân cấm vệ là lực lượng thường trực của triều đình, nòng cốt của quân đội Tiền Lê, quân số khoảng 3.000 người, được tổ chức khá hoàn chỉnh từ năm 986 trên cơ sở quân đội thời nhà Đinh, được lựa chọn, bổ sung thêm những đinh tráng khỏe mạnh nhất trong nước; gồm 2 bộ phận: quân Tùy long (canh gác nơi vua ở và làm việc) và quân Tứ sương (canh gác bên ngoài các vùng thành ở kinh đô Hoa Lư).

Chỉ huy lực lượng quân cấm vệ là điện tiền chỉ huy sứ, có phó chỉ huy sứ giúp chỉ huy quân tứ sương.

Binh sĩ cấm quân đều được thích lên trán 3 chữ "thiên tử quân".
 
Back
Top Dưới