Cập nhật mới

Khác Marianna Ucrìa

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
389268164-256-k547489.jpg

Marianna Ucrìa
Tác giả: wonjieon
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Marianna Ucrìa là một tiểu thuyết nổi bật của nữ văn sĩ Ý Dacia Maraini, kể về hành trình của một người phụ nữ bị câm điếc trong xã hội quý tộc Sicily thế kỷ 18.

Từ khi còn nhỏ, Marianna đã bị ép kết hôn với người đàn ông lớn tuổi mà cô không hề yêu thương, nhưng chính sự im lặng bắt buộc ấy lại giúp cô phát triển một nội tâm sâu sắc và khao khát tri thức mãnh liệt.

Giữa một thế giới nơi phụ nữ bị ràng buộc bởi những định kiến hà khắc, Marianna dần tìm thấy tiếng nói của mình qua sách vở, tư duy độc lập và lòng khao khát tự do.

Với giọng văn tinh tế, giàu chất thơ, Dacia Maraini không chỉ khắc họa số phận một cá nhân mà còn mở ra bức tranh rộng lớn về xã hội Ý thời bấy giờ-một thế giới mà những quy tắc gia trưởng áp chế con người, đặc biệt là phụ nữ.

Marianna Ucrìa là câu chuyện về sự đấu tranh, khám phá bản thân và hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời, nơi im lặng không còn là dấu hiệu của sự khuất phục, mà trở thành biểu tượng của sức mạnh và ý chí kiên cường.



vănhọcý​
 
Marianna Ucrìa
I


Họ đó, người cha và cô con gái: người cha tóc vàng, đẹp trai, tươi cười, cô con gái rụt rè, mặt đầy tân nhang, dáng vẻ sợ sệt.

Người cha thanh lịch, phóng khoáng, đôi tất để trễ xuống, bộ tóc giả đội nghiêng, cô con gái thì thu mình trong chiếc áo chẽn màu đỏ sậm càng làm nổi màu da vàng sáp.

Cô bé chăm chú dõi theo hành động của cha trong gương, ông đang cúi xuống chỉnh lại đôi tất chân.

Miệng ông đang nói gì đó nhưng thứ âm thanh ấy không tới được chỗ cô bé, nó rơi rụng đi trước khi đến tai cô ngay cả khi khoảng cách hữu hình giữa cô và cha chỉ là tích tắc.

Họ có vẻ gần nhau là vậy nhưng thực ra lại xa nhau hàng ngàn dặm.

Cô chăm chú thăm dò đôi môi cha đang cử động nhanh dần lên.

Cô biết cha đang nói gì với mình ngay cả khi cô không nghe thấy: cha nói cô phải nhanh chân đi chào mẹ rồi xuống dưới sân với ông và phải nhanh chóng nhảy lên cỗ xe ngựa bởi lẽ họ lại đang bị muộn giống như mọi lần.

Cũng lúc này, Raffaele Cuffa vẫn với những bước chân nhẹ nhàng, thận trọng của loài cáo như khi ở trong "nhà đã, đã đuổi kịp ngài công tước Signoretto và dita cho ông một giỏ mây lớn phía trên nổi lên một cây thánh giá trắng.

Ngài công tước mở nắp giỏ mây bằng một cái lắc cổ tay rất nhẹ, cô con gái nhận ra ngay cử chỉ quen thuộc nay tay cha: ông thường làm thế một cách bực dọc mỗi khi muốn vứt bỏ những gì không vừa ý.

Bàn tay nhẹ nhàng và đẩy tình cảm của ông đang lục tìm trong số quần áo đã được là ủi cẩn thận và rồi thoáng run lên khi chạm vào cây thánh giá bằng bạc lạnh lẽo, bàn tay lại lướt qua chạm vào túi tiền căng đầy trước khi rút nhanh ra khỏi giỏ.

Đại ông chủ gật đầu ra hiệu, Raffaele Cuffa nhanh chóng đây giỏ lại.

Giờ thì chỉ cần quất ngựa chạy thẳng tới Palermo.

Trong khi đó, cô bé Marianna chạy vội về phía phòng ngủ của cha mẹ.

Mẹ cô vẫn đang nằm thu mình giữa những tấm ga giường, chiếc váy ngủ viền đăng ten trễ xuống một bên vai, trong tay là chiếc hộp thuốc lá hít bằng sứ.

Cô bé sững lại một chút vì mùi thuốc lá tẩm mật pha lẫn với nhiều thứ mùi khác đồng hành cùng người mẹ mỗi khi bà thức dậy: mùi dầu hoa hồng, mùi mồ hôi đã khô, mùi khai, mùi những viên ngậm hương hoa diên vĩ.

Người mẹ hờ hững kéo cô con gái vào lòng.

Marianna thấy môi mẹ cử động nhưng cô không muốn cố đoán những gì mẹ nói.

Cô bé biết mẹ đang dặn cô không được qua đường một mình bởi một người điếc như cô có thể bị xe ngựa nghiến nát vì không nghe thấy tiếng xe đến gần.

Rồi còn lũ chó nữa, dù chúng to nhỏ thế nào thì cô cũng phải tránh xa chúng ra.

Cô biết rõ là đuôi chúng có thể mọc dài đến mức quấn được hết eo của người ta giống như lũ quái vật mình sư tử và rồi rắc một cái, đầu nhọn chẽ đôi ở đuôi sẽ xuyên qua người, vậy là tiêu đời, thậm chí người ta còn không kịp nhận ra điều đó...

Cô bé chăm chú nhìn trong chốc lát cái cằm béo tốt của mẹ, cái miệng rất đẹp với những đường nét thuẩn khiết, đôi má mịn hồng, đôi mắt ngây thơ, buông xuôi và xa xăm: có chết mình cũng không bao giờ muốn giống mẹ, cô bé tự nhủ.

Trong khi người mẹ vẫn đang nói với cô bé về lũ chó trăn có thể vươn dài mình như rắn, chúng còn có những sợi râu biết cù buồn, những con mắt ma mãnh biết thôi miên, cô đã chạy biến đi sau khi vội vã hôn mẹ.

Người cha đã ngồi sẵn trên xe ngựa nhưng thay vì quát mắng, cô thấy cha đang hát.

Cô nhận ra điều đó qua cái cách ông phồng má, nhướn mày.

Vừa đặt một chân lên bậc lên xuống của cỗ xe ngựa, cô thấy mình bị kéo vào bên trong và được đẩy xuống ghế.

Cũng từ bên trong xe, cửa được đóng sập lại và Peppino Cannarota nhanh chóng quất cho ngựa phi nước đại.

Cô bé thả mình trên ghế đệm nhồi bông rồi khép mắt lại.

Thi thoảng hai giác quan được cô tin tưởng nhất lại nâng mức cảnh báo lên cao và xung đột với nhau một cách khốn khổ.

Đôi mắt tham vọng chiếm lĩnh toàn vẹn các hình thù nhìn thấy được trong khi cơ quan khứu giác cưỡng lại như muốn cho cả thế giới đi qua hai cái lỗ nhỏ nằm ở cuối mũi.

ngơi Giờ thì cô bé nhắm mắt lại cho con ngươi được nghỉ khí, ghi nhận và tỉ mỉ phân loại các mùi vị: cái thứ nước rau diếp dây trên áo gi lê của cha mới nặng mùi làm sao!

Phía sau cái mùi đó có thể đoán định được mùi thơm của phần gạo quyện lẫn với mùi véc-ni của ghế ngồi, với cái mùi chua chua của đám rận bị đè nát, mùi cay cay của bụi đường lọt vào qua khe cửa và mùi hương nhè nhẹ của bạc hà dại đang bốc lên từ những trảng cỏ vùng Palagonia.

Đột nhiên một cú xóc mạnh khác thường buộc cô bé phải mở mắt.

Cô thấy cha vẫn đang ngủ trên ghế đối diện.

Chiếc mũ ba chỏm nghiêng sang một bên vai, bộ tóc giả đang sụp xuống vầng trán thanh tú đẫm mồ hôi, mấy lọn tóc buông nhẹ trên khuôn mặt mới cạo râu.

Marianna vén tấm ri đô màu huyết dụ với những hình chim đại bàng thêu nổi.

Cô bé thấy xe đang đi đến một đoạn đường phủ đầy bụi đất, đám ngỗng dang cánh chạy vọt qua cạnh bánh xe ngựa.

Trong tâm trí tĩnh lặng của cô bé chợt hiện ra những hình ảnh của vùng nông thôn Bagheria: những cây sồi bần với cái thân trụi vỏ chỉ còn lại màu gỗ đỏ bên trong, những cành cây ô liu trĩu quả vẫn còn xanh, những bụi cây gai vươn ra như muốn chiếm hết cả con đường, lại cả những cánh đồng xanh tốt, những bụi xương rồng, những khóm mía, xa xa là những khu đồi lộng gió của vùng Aspra.

Giờ thì cỗ xe ngựa đã vượt qua hai trụ cổng vào biệt thự Butera rồi rẽ về hướng Oliastro và Villabate.

Bàn tay bé nhỏ của cô bé vẫn bám chặt vào tấm ri đô mà không hể quan tâm đến cái nóng đang tỏa ra từ lớp vải len thô.

Cô bé vẫn giữ tư thế cứng đỡ và yên lặng như vậy cũng vì không muốn đánh thức người cha bằng những tiếng động không phải lúc.

Đúng thật là ngốc!

Vậy những tiếng ổn của cỗ xe ngựa đang lăn bánh trên con đường đầy những hố lớn nhỏ và cả tiếng hét thúc ngựa của Peppino Cannarota thì sao?

Còn những tiếng roi quất đen đét?

Còn cả những tiếng chó sủa nữa chứ?

Ngay cả khi với cô bé đó chỉ là những thứ tiếng động mường tượng thì với cha cô chúng lại là những tiếng động có thực.

Vậy mà cô bé cảm thấy bị quấy rầy còn người cha thì không.

Rõ là trò đùa oái oăm mà cái đầu thông minh đang bày ra cho những giác quan khiếm khuyết của cô bé!

Khi nhìn thấy những cây mía biếng nhác hiện ra và hơi nghiêng ngả mỗi khi cơn gió Phi châu thổi tới, Mari-anna hiểu ra là xe đã đến gần Ficarazzi.

Ở phía cuối kia, ngay bên trái là một doanh trại lớn màu vàng được gọi là "nhà máy đường".

Qua những khe hở của cánh cửa đang đóng bay ra một thứ rất nặng mùi, chua chua.

Đó là mùi của cây mía sau khi bị chặt, ngâm trong nước cho mềm ra, tước sợi để rồi được chế biến thành mạch nha.

Hôm nay những chú ngựa phi nhanh như bay.

Người cha vẫn tiếp tục giấc ngủ bất chấp những cú xóc mạnh.

Cô bé rất thích nhìn cha thả mình như thế ngay trước mặt mình, thi thoảng cô lại dịch lên phía trước chỉnh lại mũ cho cha hay đuổi một chú ruồi gan lì.

Sự im lặng là một thứ nước tù trong cơ thể khiếm khuyết của cô bé mới chỉ vừa lên bảy.

Trôi trong cái thứ mước tĩnh lặng và trong trẻo đó là một cỗ xe ngựa, những sân hiên phơi đây quần áo, có cả những ả gà mái đang chay, mặt biển thấp thoáng xa xa và người cha dang say ngủ.

Tổng thể những thứ đó chỉ hơi trĩu nặng và dễ dàng thay đổi vị trí nhưng từng thứ một lại được kết nối vớ nhau bằng cái thứ chất lỏng có khả năng nhào nặn các sắc màu và làm tan chảy mọi hình khối.

Khi Marianna quay lại nhìn qua cửa kính, đột nhiên cô bé như thấy mình đang đứng trước biển.

Nước biển trong xanh vỗ nhẹ vào những hòn cuội xám xịt.

Phía đường chân trời có một chiếc thuyền lớn với những cánh buồm rủ xuống, con thuyền đang đi từ bên phải sang hướng bên trái.

Một cành dâu đất quất mạnh vào cửa kính, những quả dâu màu tía đập mạnh vào cửa sổ.

Marianna vội quay đầu nhưng quá muộn: đầu cô đập mạnh vào thành xe.

Mẹ cô bé nói đúng: rằng đôi tai cô không tốt để có thể làm nhiệm vụ cảnh giới, rằng không lúc này thì lúc khác lù chó sẽ nhảy chồm lên người cô.

Vậy nên mũi của cô bé đã trở nên nhạy cảm đến thế và đôi mắt cô cũng rất nhanh nhạy để có thể cảnh báo cho cô về bất kỳ thứ gì đang chuyển động.

Người cha hé mắt ra một chút rồi lại tiếp tục chìm sâu vào giấc ngủ.

Nếu cô hôn ông một cái thì sao nhỉ?

Nhìn khuôn mặt với những vết dao cạo vội vã của cha, cô bé muốn ôm cha biết bao.

Nghĩ vậy nhưng cô vẫn kìm lại được vì cô biết cha mình không thích trò nũng nịu.

Vả lại sao nỡ đánh lại thức cha dậy khi ông đang ngủ ngon lành thế kia, sao có thể đưa ông trở lại với một ngày nhàm chán nữa, như ông vẫn nói, thậm chí ông cũng đã từng viết như vậy cho cô bằng nét chữ tròn trịa và bay bổng của mình.

Qua chuyển động đung đưa đều đặn của cỗ xe ngựa, cô bé biết họ đã đến thành phố Palermo.

Giờ thì bánh xe lăn nhẹ trên những phiến gạch lát lớn, dường như cô bé nghe được cả vòng quay đều đặn của bánh xe.

Chỉ lát nữa thôi xe sẽ rẽ về hướng cảng Felice, rồi hướng Cassaro Morto và rồi sao nhỉ?

Người cha đã không nói cho cô biết ông đưa cô đi đâu nhưng qua túi giỏ đồ lúc trước Raffaele Cuffa trao cho ông thì cô bé có thể đoán ra được.

Họ đang đi đến Vicaria chăng?
 
Marianna Ucrìa
II


Chính xác là khi được cha đỡ xuống khỏi xe ngựa, có bé thấy mình đang đứng ngay mặt trước của Vicaria Toàn bộ cử chỉ của người cha làm cô bé thấy buồn cưới ông vội vàng thức dậy, chỉnh lại lọn tóc giả rắc phán quanh tai, đội lại mũ và một cú nhảy từ trên bậu cửa xe xuống, dù cha đã cố nhảy xuống một cách dứt khoát nhưng kết quả là cú nhảy vẫn rất vụng về, suýt nữa thì ông đã ngã sóng soài ra đó vì chân ông đang quá tê cứng.

Các cửa sổ ở Vicaria đều giống nhau với hàng song sắt nhọn hoắt trông rất đáng sợ.

Cánh cổng lớn phủ đầy đinh ốc đã hoen gỉ, tay nắm trên cánh cổng có hình đầu con sói miệng há hoác.

Vicaria chính xác là nhà tù với tất cả vẻ xấu xí của nó, thậm chí khi đi qua nơi này người ta thường quay mặt đi chỗ khác để khỏi phải nhìn.

Ngài công tước đang định gõ cửa thì cánh cổng đã mở rộng ra và ông đi vào như thể đó là nhà mình.

Mari-anna đi theo ngay sau cha trong khi những người bảo vệ và phục vụ đang cúi đầu chào.

Một người ngạc nhiên mỉm cười với cô bé, người khác lại làm vẻ mặt nghiêm nghị, một người khác thậm chí định kéo tay giữ cô bé lại.

Nhưng Marianna đã kịp thoát ra và chạy theo sau cha.

Dãy hành lang dài dằng dặc và chật chội: cô con gái khó nhọc theo chân cha trong khi ông rảo bước dài về phía đường hầm.

Cô bé gần như là chạy gần trên đôi giày vải nhưng vẫn không theo kịp cha.

Khi cô nghĩ mình đã để lạc mất cha thì đột nhiên tại một khúc quanh cô lại thấy cha đang đứng đó chờ mình.

Người cha và cô con gái cùng có mặt trong một căn phòng hình tam giác được chiếu sáng bằng thứ ánh sáng yếu ớt rọi xuống từ ô cửa sổ duy nhất ở sát trần nhà.

Một người hầu giúp cha cởi áo khoác ngoài và bỏ chiếc mũ ba chỏm ra, ông ta đỡ lấy bộ tóc giả rồi treo lên cái mắc trên tường.

Sau đó ông ta giúp cha mặc chiếc áo choàng dài màu trắng lấy từ cái giỏ ông mang theo, trong giỏ còn có cả tràng hạt, cây thánh giá và túi tiền.

Giờ thì người đứng đầu Nhà nguyện của Gia đình Quý tộc Áo Trắng (1) đã sẵn sàng.

Trong khi đó lại có thêm những quý ông đến mà cô bé Marianna không hề hay biết, cả họ cũng mặc áo choàng dài màu trắng.

Bốn người trông giống như những con ma đội mũ trùm kín xuống đến cổ.

Marianna ngước nhìn lên, những người hầu lễ đang thành thạo chuẩn bị cho các Huynh đệ Áo trắng như thể chuẩn bị cho các nghệ sĩ lên sàn diễn: nếp gấp áo choàng rủ thẳng xuống vừa chấm tới những đôi chân đi xăng đan, những chiếc mũ chụp xuống đến cổ tạo nên chóp nhọn màu trắng hướng lên cao.

Giờ thì cả năm người đã giống hệt nhau, không phân biệt được ai với ai: tất cả đều là một màu trắng, một sự sùng tín như nhau; chỉ qua những bàn tay thò ra khỏi nếp gấp áo choàng và cái khoảng đen thoắt ẩn, thoắt hiện sau gắp cái lỗ trên chiếc mũ chụp mới có thể đoán được ai là ai.

Con ma thấp nhất cúi xuống nhìn cô bé rồi khua tay hướng về phía cha cô.

Qua cái giậm chân lên sàn nhà có thể thấy con ma đó đang rất bực bội.

Một huynh đệ áo trắng khác bước lên một bước như muốn can thiệp.

Dường như họ đang định túm cổ nhau.

Nhưng người cha đã ra hiệu cho họ yên lặng bằng một cử chỉ rất uy quyền.

Marianna cảm thấy chiếc áo choàng của cha làm bằng thứ vải lạnh lẽo và mềm oặt đang rủ xuống chạm vào phần cổ tay để trần của cô.

Tay phải cha siết chặt quanh các ngón tay cô.

Cái mũi mách bảo cho cô biết sắp xảy ra điều gì đó rất khủng khiếp, nhưng là gì vậy nhỉ?

Người cha kéo cô đi về phía một hành lang khác, cô bé bước vội theo mà không hề để ý phải đặt chân chỗ nào, cô đang bị trítò mò kích thích cao độ.

Cuối hành lang là một cầu thang đá dựng đứng rất trơn.

Các quý ông phải đưa tay nâng áo choàng lên giống như các quý bà thường làm khi mặc váy dài để khỏi giẫm lên gấu váy.

Các bậc thang bằng đá ẩm ướt và rất khó nhìn mặc dù đã có một người lính canh đi trước dẫn đường, tay giơ cao một ngọn đuốc cháy sáng.

Không có bất kỳ cái cửa sổ nào, dù là cao hay thấp.

Đột nhiên một màn đêm buông xuống và bốc lên mùi dầu cháy, mùi phân chuột, mỡ lợn.

Người đội trưởng đội hành quyết trao chìa khóa phòng biệt giam cho ngài công tước Ucrìa.

Ông tiếp tục tiến lên trước và dừng lại trước một cánh cửa nhỏ được gia cố bằng các thanh gỗ chắc chắn.

Ngài công tước được một thanh niên đi chân trần giúp đỡ để có thể mở cái xích sắt nặng trịch và rút thanh sắt to chắn ngang cửa ra.

Cánh cửa mở ra.

Ngọn đuốc nghi ngút khói soi sáng một khoảng sàn nhà và lũ gián đang chạy toán loạn.

Người lính gác giơ cao ngọn đuốc lên, một chút ánh sáng chiếu đến chỗ có hai người gần như trần truồng đang nằm dọc tường, chân họ bị cùm bởi vòng xích sắt lớn.

Không biết người phụ trách chìa khóa từ đâu chui ra, ông ta cúi xuống mở khóa cho một trong hai tù nhân.

Đó là một cậu thanh niên với đôi mắt đầy ghèn, dường như mất kiên nhẫn vì việc mở xích quá chậm nên cậu ta nâng một chân lên đến nỗi ngón chân cái gần như có thể cù được vào mũi người phụ trách chìa khóa.

Và cậu ta cười, để lộ cái miệng rộng trụi răng của mình.

Cô bé giấu mình sau người cha, thỉnh thoảng ông lại cúi xuống một chút chạm vào cô nhưng những cái chạm đó hơi mạnh như thể chỉ để chắc chắn rằng cô bé vẫn đang xem chứ không phải là cử chỉ vỗ về dành cho cô.

Cuối cùng thì việc mở xích cũng xong, khi người thanh niên đứng dậy Marianna mới nhận ra rằng cậu ta quá trẻ, chỉ như một cậu bé.

Có lẽ cậu ta chỉ tầm tuổi con trai của người đánh xe ngựa Cannarota.

Cậu bé ấy vừa chết cách đây mấy tháng vì bệnh sốt rét khi mới mười ba tuổi.

Những tù nhân khác im lặng nhìn.

Cậu bé chỉ vừa tập tễnh bước đi với đôi chân không còn bị xiềng xích là họ lại tiếp tục trò chơi còn dang dở lúc trước và hài lòng vì được một lần có nhiều ánh sáng đến thế.

Giết rận chính là trò chơi của họ: ai dùng hai ngón cái giết được nhanh và nhiều rận nhất là người thắng cuộc.

Những con rận bị giết được cẩn thận đặt trên một đồng tiền bằng đồng.

Người chiến thắng được nhận đồng tiền trị giá 1 grano(2)

Cô bé chăm chú nhìn ba người tù chơi, miệng họ cười hoặc hét lên những tiếng mà với cô là hoàn toàn câm lặng.

Giờ thì cô không còn thấy sợ nữa, cô bình thản nghĩ chắc cha muốn đưa mình đi cùng đến địa ngục này vì một lý do bí mật nào đó, một lý do mà sau này cô sẽ biết thôi.

Có lẽ cha sẽ đưa cô đến xem những linh hồn phải trầm mình trong bùn, những linh hồn phải gùi cả cối xay bằng đá trên vai, những linh hồn bị biến thành cây, những linh hồn nhả khói ra từ miệng vì ăn cục than đỏ, những linh hồn trườn như rắn, những linh hồn bị biến thành chó có đuôi dài đến mức trở thành lưỡi móc để quặp những người đi đường rồi cắn ngang miệng tha đi, giống như những gì mẹ cô thường nói.

Nhưng vẫn sẽ có cha ở đó để cứu cô khỏi miệng những con chó ấy.

Vả lại địa ngục, nếu ta đi thăm với tư cách là người sống giống như ngài Dante (3) từng làm, thì cũng đáng để xem lắm chứ: họ ở đó để chịu hành xác còn ta ở đây để quan sát.

Chẳng phải đó chính là lời mời của những người chụp mũ trắng, tay lần tràng hạt đó sao?

----------------------

Chú thích:

(1) Tiếng Ý trong nguyên bản "Cappella della Nobile Famiglia dei Bianchi, một nhóm quý tộc giúp việc cho Giáo hội trong các phiên xét xử.

(2) Grano (số ít grano, số nhiều grani): tiến tệ của Sicilia thời bấy giờ, trị giá 1/20 tari.

Vào thời Carto III. & Sicilia lưu hành loại tiền xu bằng bạc với giá trị tương đương với lượng bạc được dùng để đúc ra nó.

Người ta lấy đồng tari làm chuẩn.

1 tari được đúc bằng 2,16 g bạc.

(3) Dante Alighieri (1265-1321): Đại thi hào Ý với tác phẩm nổi tiếng La divina commedia (tạm dịch: Thần khúc) nói về chuyến chu du của chính ông đến thiên đường, địa ngục và trần gian.

Ông được coi là cha đẻ của tiếng Ý phổ thông.
 
Marianna Ucrìa
III


Cậu bé chăm chú nhìn Marianna và cô cũng giương mắt nhìn lại như không muốn bị bắt nạt.

Nhưng mímắt cậu ta phồng lên và rỉ nước, như thể con ngươi sắp lòi ra khỏi tròng mắt; có lẽ cậu ta không nhìn rõ gì cả, cô bé nghĩ vậy.

Không hiểu cậu ta thấy mình thế nào nhỉ?

Không biết có béo mập giống như khi mình đứng trước cái gương biến dạng của cô Manina không, hay là nhỏ xíu và gầy giơ xương.

Cũng đúng lúc đó, khi thấy cái chau mày khó chịu của cô, cậu bé kia đột nhiên nở một nụ cười méo xệch và ủ rũ.

Cha của Marianna được một huynh đệ trong nhóm giúp túm cánh tay cậu bé và lôi về phía cửa.

Những tù nhân khác lại trở lại với sự tăm tối thường ngày.

Hai bàn tay gầy guộc nhấc cô lên, rồi nhẹ nhàng đặt xuống bậc đầu tiên của cầu thang.

Đoàn hành lễ lại tiếp tục: đi đầu là người lính canh cầm đuốc, ngài công tước Ucrìa đang túm cánh tay tên tù nhân đi ngay sau, các huynh đệ áo trắng khác, người thợ rèn rồi đến hai người hầu lễ mặc áo chùng đen đi sau cùng.

Họ lại trở lại căn phòng hình tam giác, lần này thì có thêm rất nhiều lính canh và người hầu tay cầm đuốc.

Lính canh đang kê lại ghế cho ngay ngắn, bê các chậu nước ấm với khăn lau bằng vải lanh vào, rồi còn cả những liễn bánh mì còn nóng hổi và mứt hoa quả.

Cha cúi xuống nhẹ nhàng vuốt ve cậu bé với những cử chỉ thật trìu mến.

Chưa bao giờ thấy cha dịu dàng và trìu mến đến vậy, Marianna tự nhủ.

Người cha vốc nước trong lòng bàn tay và cho chảy nhẹ lên gò má đầy nước mũi của cậu bé, rồi ông lấy một chiếc khăn sạch từ tay một người hầu và lau mặt cho cậu.

Ngay sau đó ông nhón lấy một mẩu bánh mì trắng và mềm, khẽ mỉm cười chìa cho cậu bé tù nhân như thể cậu ta là đứa con được ông yêu thương nhất trong số những người con của mình vậy.

Cậu bé ngồi yên khi được chăm sóc, lau rửa và cho ăn mà không nói một lời.

Lúc thì cậu mỉm cười, một lát sau lại thấy cậu khóc.

Ai đó đưa cho cậu một chuỗi tràng hạt với những hạt xà cừ rất lớn.

Cậu lần tràng hạt nhưng rồi lại để rơi xuống đất.

Người cha có một cử chỉ nóng nảy.

Marianna cúi xuống nhặt tràng hạt đặt vào tay cậu bé.

Cô thoáng cảm nhận được mấy ngón tay chai sạn và lạnh ngắt của cậu bé.

Người tù nhân trẻ tuổi bặm cái miệng đã mất quá nửa số răng.

Đôi mắt đỏ ngầu của cậu ta được thấm ướt bằng một chiếc khăn tẩm nước rau diếp.

Trước ánh mắt khoan dung của nhóm huynh đệ áo trắng, kẻ bị kết án vươn tay về phía giỏ mứt hoa quả, rụt rè nhìn quanh rồi đưa nhanh vào miệng một quả mận màu mật ong dầm đường.

Năm quý ông áo trắng quỳ xuống, vừa cầu nguyện vừa lần tràng hạt.

Cậu bé tù nhân lúc này đang phỏng miệng ăn cũng bị nhẹ nhàng đẩy xuống quỳ cầu nguyện.

Thời điểm nóng nực nhất của buổi chiều đã trôi qua như vậy với những tiếng cầu nguyện gây cảm giác buồn ngủ.

Thi thoảng một người hầu tiến lại gần các quý ông cùng khay cốc và nước hoa hồi.

Họ uống nước và trở lại tiếp tục cầu nguyện.

Một ai đó lau mồ hôi, những người khác gà gật ngủ rồi đột nhiên choàng tỉnh dậy và tiếp tục lần tràng hạt.

Cậu bé tù nhân lúc này cũng thiếp đi sau khi đã gần như nuốt chửng ba quả mơ bọc đường màu nâu ánh vàng.

Không ai nỡ đánh thức cậu ta dậy.

Marianna chăm chú quan sát cha cầu nguyện.

Không hiểu người đội mũ chụp kia có phải là cha cô, Công tước Signoretto không nhỉ?

Hay là người với cái đầu đung đưa kia?

Dường như cô nghe được giọng ông đang chậm rãi đọc bài Kinh kính mừng(1).

Trong vành tai giờ đã im lìm của cô bé vẫn lưu lại vài mẫu giọng nói của người thân: cái giọng rin rít và khàn của người mẹ, giọng choe chóe của chị đầu bếp Innocenza, cái giọng vang và ngọt ngào mặc dù đôi khi cũng trở nên sắc nhọn, cục cần đến khó chịu của người cha.

Có lẽ trước kia cô bé cũng đã tập nói.

Nhưng khi đó cô mấy tuổi nhỉ?

Bốn hay năm tuổi?

Khi đó cô còn là một cô bé chậm phát triển, câm lặng, không để ý gì đến xung quanh đến nỗi tất cả mọi người thường hay quên cô bé ở một góc nào đó rồi chợt nhớ ra và quay lại trách cô vì đã trốn mọi người.

Rồi một ngày, không hiểu tại sao cô bé trở nên hoàn toàn câm lặng.

Sự câm lặng xâm chiếm cô bé như một căn bệnh hay cũng có thể như một sự lựa chọn.

Việc không còn được nghe giọng vui vẻ của người cha làm cô bé cảm thấy rất buồn.

Nhưng rồi cô cũng dần quen.

Giờ đây cô bé còn cảm thấy vui khi nhìn cha nói mà không hề hiểu gì, gần như một sự mãn nguyện ma mãnh.

"Con sinh ra đã câm điếc vậy rồi", người cha viết cho cô như vậy vào quyển sổ của cô còn cô thì phải tự quyết phục là chính mình đã tưởng tượng ra những giọng nói xa xăm đó.

Không thể chấp nhận những gì mà người cha dịu dàng và rất đỗi thương yêu của mình nói là dối trá, cô bé đành tự cho mình là người giàu trí tưởng tượng.

Quả vậy, cô không hề thiếu trí tưởng tượng, thậm chí cả mong muốn nói được, vì thế nên:

Rồi phì, phì, phì

Bảy cô con gái đổi lấy 1 tarì

Rồi phì, phì, phì

1 tarì thì quá ít

Nên bảy cô con gái đổi lấy một quả mơ...

Dòng suy nghĩ của Marianna đột nhiên bị cắt ngang bởi một huynh đệ áo trắng đi ra và sau đó trở lại với một cuốn sách rất lớn trên tay, trên bìa cuốn sách có viết dòng chữ mạ vàng TỰ VẤN LƯƠNG TÂM.

Người cha nhẹ nhàng đánh thức cậu bé tù nhân dậy rồi cả hai đến góc phòng nơi có một lỗ hõm trên tường và phía dưới có một tấm đá lồng khít tạo thành hình chiếc ghế.

Chính tại đó ngài công tước của vùng Fontanasalsa cúi xuống gần kề tai kẻ bị buộc tội và yêu cầu cậu thú tội.

Cậu bé nói lí nhí gì đó bằng cái miệng gần như móm.

Ngài công tước vẫn trìu mến, kiên trì thuyết phục cậu bé.

Cuối cùng thì cậu bé cũng nở nụ cười.

Giờ đây họ giống như người cha và cậu con trai đang thoải mái nói chuyện gia đình.

Marianna quan sát hai người và đột nhiên cô cảm thấy nghẹn thở: cái đồ con vẹt đang thủ thỉ bên cạnh cha định làm gì đấy nhỉ?

Cứ như thể cậu ta biết rõ cha lắm ấy, như thể cậu ta đã được nắm bàn tay luôn nóng vội của cha, như thể cậu ta nhớ rõ những đường nét của ông, như thể ngay khi ra đời mũi cậu ta đã ngập tràn mùi cơ thể ông, như thể trong đời cậu ta đã ngàn lần được hai cánh tay chắc khỏe kia nhấc từ xe ngựa, từ kiệu, từ cũi hay từ cầu thang xuống với những cử chỉ yêu thương mà chỉ có cha đẻ mới dành cho con gái mình.

Cậu ta định làm gì nhỉ?

Đột nhiên một mong muốn tột bậc được giết chết cậu ta tràn lên cổ họng cô bé, dâng lên đến vòm miệng và đốt cháy lưới cô.

Cô sẽ ném cái khay kia vào giữa mặt cậu ta, đâm con dao vào giữa ngực và nhổ đến cọng tóc cuối cũng trên đầu cậu ta.

Cha không thuộc về cậu ta mà thuộc về cô, thuộc về cô bé khốn khổ, câm điếc và chỉ có trên đời một thứ tài sản duy nhất, thứ tài sản đó chính là cha cô.

Những ý nghĩ giết chóc chợt tan biến đi khi đột nhiên cánh cửa mở toang và trên ngưỡng cửa xuất hiện một người đàn ông có cái bụng to như quả dưa.

Người vừa đến ăn mặc như một chàng hề, nửa đỏ nửa vàng: trẻ, người béo mập, chân ngắn, bờ vai vạm vỡ, cánh tay săn chắc và đôi mắt vừa nhỏ vừa xếch.

Ông ta luôn miệng cắn hạt bí rồi nhổ vỏ ra một cách khoan khoái.

Vừa nhìn thấy ông ta, mặt cậu bé trắng bệch ra.

Nụ cười vừa mới ló ra khi được ngài công tước khích lệ lại tắt ngóm ngay trên mặt cậu bé.

Môi cậu run lên và nước mắt chảy ra giàn giụa.

Miệng cắn hạt dưa, chàng hề tiến lại gần cậu bé.

Khi thấy cậu bị đổ rũ xuống đất như một miếng giẻ ướt, ông ta ra hiệu cho hai người hầu vực nách cậu ta lên rồi kéo về phía lối ra.

Không gian bị khuấy động lên bởi những rung động mạnh như những cái đập cánh của một con chim khổng lồ chưa từng được biết đến.

Marianna nhìn quanh.

Nhóm huynh đệ áo trắng bước nhịp hành lễ tiến về phía cửa.

Cánh cửa lại mở toang và tiếng đập cánh gần và mạnh đến mức cô bé cảm thấy quay cuồng.

Đó là tiếng trống từ Dinh thống đốc, kèm với đó là những tiếng la hét, những cái vẫy tay của đám đông đang phấn khích.

Quảng trường Marina vốn không một bóng người nay đã chật cứng: những cái đầu nhấp nhô, những cái cổ rướn lên cao, những cái miệng há ra, cờ quạt được giương lên, lũ ngựa tung vó; cả một biển người chen chúc, len lỏi đang tràn ngập quảng trường hình chữ nhật.

-------------------

Chú thích:

(1) Tiếng Latin Ave Maria, một bài kinh truyền thống của Kitô giáo để cầu nguyện đến Đức Trinh nữ Maria, mẹ của Chúa Giêsu.
 
Marianna Ucrìa
IV


Xung quanh quảng trường, từ các cửa sổ những cái đầu chen chúc thò ra, , ngoài ban công cũng đầy rẫy người đứng san sát nhau, một số người còn nhoài người ra để nhìn cho rõ.

Các quan thẩm phán với cây gậy màu vàng, đội cận vệ hoàng gia đang giương cờ màu tím vàng và đội vệ binh được trang bị lưỡi lê, tất cả đang đứng yên tại chỗ và khó nhọc kìm hãm sự nôn nóng của đám đông.

Chuyện gì sắp xảy ra vậy nhỉ?

Marianna cố đoán nhưng cô bé không dám đưa ra cho mình câu trả lời.

Những cái đầu đang hò hét kia như muốn gõ cửa thâm nhập vào sự yên lặng trong cô.

Cô bé quay đi, ngước nhìn về phía cậu bé móm mém.

Cô thấy cậu đứng yên, ngực ưỡn ra: cậu ta không còn run nữa, không còn đổ gục xuống.

Giờ đây trong mắt cậu ánh lên một niềm kiêu hãnh: tất cả những hỗn loạn kia là dành cho cậu!

Lũ người ăn mặc như đi trẩy hội kia, những con ngựa, những cỗ xe kia đang chờ đợi chính cậu.

Nào là cờ quạt, nào là bộ quân phục với những khuy đồng đang ánh lên, nào là những chiếc mũ cảnh binh có gắn lông vũ, những vàng những tía này, tất cả chỉ dành cho riêng cậu, quả là một điều kỳ diệu!

Cảnh chiêm ngưỡng chiến thắng huy hoàng của cậu bé đột nhiên bị chặn lại khi hai người lính tiến tới buộc tiếp một dây thừng dài và to vào cái dây thừng mà trước đó họ đã dùng để trói tay cậu bé.

Sợi dây thừng dài được gia cố chắc chắn rồi buộc vào đuôi một con la và cứ như vậy cậu bé bị kéo ra giữa quảng trường.

Ở phía cuối quảng trường, ngay trên lầu Steri là lá cờ hiệu màu đỏ máu rực rỡ.

Cũng chính từ đó những Đức cha của tòa án dị giáo, lần lượt hai người một hàng đi ra, đi. trước và sau họ là đoàn thị đồng đông đảo.

Giữa quảng trường người ta đã dựng lên một khán đài cao hai đến ba sải tay, giống như những khán đài đã từng được dùng để tái hiện lại các câu chuyện của Nofriu và Travaglino, của Nardo và Tiberio(1).

Chỉ có điều thay vào vị trí của các tấm phông bằng vải đen là một vật bằng gỗ xám xịt, một cái gì đó giống chữ L lộn ngược và trên đầu có treo một cái thòng lọng.

Marianna bị cha đang đi ngay sau cậu bé đẩy lên phía trước để rồi chính cô cũng đi theo con la.

Giờ thì buổi hành lễ đã bắt đầu và không ai có thể ngăn lại vì bất kỳ lý do nào: dẫn đầu đoàn hành lễ là những con ngựa của đội cận vệ hoàng gia, tiếp theo là nhóm huynh đệ áo trắng trùm mũ kín mít, thẩm phán, các cha xứ tổng giáo phận, các thầy hành lễ, thầy tu đi chân trần và cuối cùng là đoàn trống, kèn.

Cả đoàn hành lễ khó nhọc mở đường giữa đám đông phấn khích.

Cái thòng lọng ở đó, chỉ cách vài bước chân nhưng sao lại mất quá nhiều thời gian để đến được đó, như thể phải vòng đi vòng lại nhiều lần quanh quảng trường vậy.

Cuối cùng thì chân Marianna cũng chạm tới bậc thang bằng gỗ của khán đài.

Bây giờ thì tất cả đã đến đích.

Người cha đi lên cầu thang cùng với kẻ bị buộc tội, đi trước họ là đao phủ, sau cùng là những người còn lại của nhóm thành viên Cái chết êm ái.

Lại một lần nữa người tù nhân trẻ tuổi nở một nụ cười bối rối trên khuôn mặt trắng bệch.

Vẫn chính là cha cô đang dỗ dành cậu, an ủi cậu với những lời lẽ ngọt ngào và đẩy cậu về phía thiên đường mà ông miêu tả như một nơi tuyệt vời cho nghỉ ngơi, không phải lo nghĩ đến công việc, ăn uống no say, ngủ nghê thỏa thích.

Cậu bé giống như một đứa trẻ đang mê mẩn với những lời dỗ dành của mẹ chứ không phải là của cha, dường như cậu chẳng có mong muốn gì hơn là được chạy nhanh sang thế giới bên kia, chạy sang nơi không hề có nhà tù, không có chấy rận, không bệnh tật và không tra tấn mà chỉ có cao lương mỹ vị và sự ngơi nghỉ.

Marianna căng mắt ra nhìn đến đau cả con ngươi, giờ thì có một thứ mong muốn đang tràn ngập trong cô:

được là cậu ta, dù chỉ là trong chốc lát, được là cậu bé móm mém với đôi mắt tèm nhem để được nghe giọng người cha, để được một lần uống thứ âm thanh ngọt ngào đã bị mất đi quá sớm ấy dù có phải chết treo trên cái dây thòng lọng đang đung đưa trong nắng kia.

Gã đao phủ tiếp tục nhằn hạt bí và ngửa cổ nhổ vỏ lên cao đầy vẻ thách thức.

Mọi thứ đều giống như ở sân khấu nhỏ Casotto: giờ thì Nardo sẽ nghển cao đầu lên và gã đao sẽ phủ vụt gậy.

Nardo sẽ vùng vẫy hai tay rồi đổ vật xuống khán đài và rồi lại sống lại và đi lên nhận những nhát gậy khác, những câu chửi khác.

Và cũng giống như ở nhà hát, đám đông cười, nói chuyện phiếm, ăn uống và đợi màn đập gậy.

Những người bán nước hoa hồi đến tận sát chân khán đài và chìa bình nước của họ ra bán, họ phải chen lấn với đám người bán bánh mì cật, những người bán bạch tuộc luộc, những người bán quả vả Ấn Độ.

Họ vừa rao bán vừa thúc cùi chỏ vào nhau.

Một người bán kẹo bông đến ngay trước mũi cô bé và dường như đoán ra được là cô bị điếc, ông ta khua tay mời gọi rồi chỉ vào cái khay gỗ được nối với một đoạn dây lem luốc đeo vòng trước cổ mình.

Cô bé liếc nhìn những hình trụ kim loại bé xíu.

Chỉ cần đưa tay rút ra một cây và dùng ngón tay đẩy cái vòng buộc rồi bỏ vỏ ngoài là có thể thưởng thức cây kẹo bông hương va ni ngon tuyệt.

Nhưng cô không muốn mất tập trung, sự quan tâm của cô đang ở chỗ khác, ở trên những bậc cầu thang gỗ đen sì kia nơi cha cô vẫn đang thủ thỉ, ngọt ngào dỗ dành kẻ bị kết án như thể cậu ta là một phần máu thịt của ông.

Cuối cùng thì họ cũng lên đến bục khán đài.

Ngài công tước Ucrìa cúi đầu chào các quan chức đang ngồi đối diện khán đài, họ là các thượng nghị sĩ, các vị công hầu, thẩm phán.

Rồi ông trầm lặng quỳ xuống với chuỗi tràng hạt trên tay.

Đám đông đột nhiên im lặng trong giây lát.

Thậm chí những người bán rong cũng thôi khua chân múa tay chào hàng, họ đứng yên bất động với những xe đẩy, khay hàng, há miệng ngước nhìn lên.

Sau phần cầu nguyện, người cha giơ cây thánh giá cho kẻ bị kết án hôn.

Dường như vào lúc này ông đang ở vào vị trí của Đức Chúa, trần truồng và bị đóng đinh trên cây thánh giá với da thịt bằng ngà và vòng gai trên đầu, đang tự dâng hiến trước đôi môi run rẩy của kẻ tử tù để trấn an, để ngự trị và đưa anh ta về thế giới bên kia một cách bình thản và mãn nguyện.

Với cô cha chưa từng dịu dàng, gần gũi và máu thịt đến vậy, Marianna tự nhủ, ông chưa từng ngả người ra để ôm lấy cô như vậy, chưa từng phủ phục lên cô như muốn ấp ủ và bao bọc cô trong những lời lẽ dịu dàng, trấn an như vậy.

Cô quay sang nhìn kẻ bị kết án và thấy cậu ta đang khó nhọc quỳ xuống.

Những lời nói mê hoặc của vị công tước đột nhiên tan biến đi khi cổ cậu chạm vào sợi dây thừng lạnh lẽo, dính nhớt mà gã đao phủ quàng quanh.

Dẫu vậy cậu vẫn cố gắng đứng dậy, trong khi có cái gì đó trong mũi cậu đang chảy ra.

Cậu cố rút tay ra để lau nước mũi đang chảy xuống miệng, xuống cằm cậu.

Nhưng tay cậu vẫn đang bị trói sau lưng.

Hai ba lần cậu cố ngoẹo cổ, vặn vẹo như thế lau mũi là việc duy nhất cậu muốn làm vào lúc này.

Không khí chợt rộn lên với những tiếng trống lớn.

Khi được Ngài quan tòa ra hiệu, gã đao phủ tung chân đá vào cái hộp nhỏ dưới chân kẻ tử tù mà lúc trước gã đã bắt cậu bước lên.

Cả người kẻ tử tù bật lên một cái rồi duỗi thẳng ra và quay vòng.

Nhưng có gì đó không ổn.

Thay vì đung đưa như cái bị, kẻ bị thắt cổ vẫn tiếp tục vặn vẹo trên không, cổ căng phồng lên, con ngươi như muốn bật ra khỏi tròng mắt.

Nhận thấy thành quả công việc của mình không như ý muốn, gã đao phủ leo lên cái chạc rồi nhảy sang bám vào người kẻ tử tù.

Cả hai đung đưa vài giây trên sợi dây thòng lọng như hai con ếch đang yêu nhau trong khi đám đông nín thở nhìn theo.

Giờ thì kẻ tử tù đã chết thật, chỉ cần nhìn vào cơ thể như một hình nộm treo lơ lửng kia là biết.

Gã đao phủ bình thản bám cột nhẹ nhàng tuột xuống khán đài.

Đám đông reo hò tung mũ lên trời.

Vậy là tên cướp trẻ tuổi, đã kẻ sát hại đến cả chục người đã bị trừng trị.

Mãi đến hôm sau cô bé Marianna mới biết điều đó, còn vào lúc này cô đứng đó và tự hỏi không hiểu cậu bé chỉ hơn cô chút tuổi với khuôn mặt hoảng sợ, ngốc nghếch kia đã gây ra tội gì vậy.

Người cha cúi xuống, mệt mỏi nhìn cô con gái.

Ông chạm vào miệng cô như thể đang chờ đợi một điều kỳ diệu.

Ông vuốt ve cằm cô bé, nhìn thẳng vào mắt cô với vẻ nửa hăm dọa nửa van nài.

Hãy nói đi miệng ông mấp máy, hãy mở cái miệng chết tiệt câm như hến ra đi nào!"

Cô bé cố nhúc nhích đôi môi nhưng cô không làm được.

Cả người cô đang không ngừng run rẩy.

Đôi tay bám vào những nếp gấp trên áo choàng của người cha trở nên cứng đờ như hóa đá.

Cậu bé mà cô muốn giết đã chết.

Cô tự hỏi liệu có phải chính mình giết cậu ta vì đã mong muốn cái chết đó như mong muốn có được một thứ hạnh phúc bị cấm đoán hay không.
 
Marianna Ucrìa
V


Các anh chị em của Marianna đang làm mẫu trước mắt cô.

Một lũ trẻ với đủ màu sắc và đang tỏ ra mất kiên nhẫn: anh cả Signoretto thật giống cha với mái tóc thưa mỏng, đôi chân cân đối, khuôn mặt rạng rỡ và tự tin; chị Fiammetta với bộ quần áo nữ tu, mái tóc được bó gọn trong cái mũ chụp đính đăng ten; anh Carlo với cái quần ngắn bó chặt lấy cặp đùi mập mạp, đôi mắt đen lấp lánh; cậu em Geraldo thì đang thay răng và cười như một ông cụ non móm mém; em gái út Agata có nước da trắng muốt với đầy nốt muỗi đốt.

Cả năm anh chị em đang chăm chú nhìn cô bé câm cắm cúi trước giá vẽ như thể chính chúng đang vẽ cô chứ không phải cô đang vẽ chúng.

Chúng dò xét cô bé khi cô cúi xuống dùng đầu bút lông trộn màu rồi quay lại khung vải và vậy là trên tấm vải trắng bắt đầu xuất hiện những nét màu vàng nhạt, rồi trên màu vàng đó lại có những nét xanh da trời trong trẻo và vui mắt.

Carlo nói cái gì đó và lũ trẻ phá lên cười.

Marianna ra hiệu cầu khẩn chúng đứng yên thêm chút nữa.

Bức tranh vẽ phác thảo bằng bút chì đã hoàn thiện trên tấm vải với đầy đủ đầu, cổ, mặt, tay và chân của lũ trẻ.

Màu vẽ đang dần định hình một cách khó khăn, chúng tan loãng và chảy xuống dưới.

Lũ trẻ đứng im, cố gắng tỏ ra kiên nhẫn thêm được một lúc.

Nhưng rồi Geraldo đã phá tan sự hài hòa đó khi cấu nhẹ chị Fiammetta, còn cô chị thì phản ứng lại bằng một cú đá hậu.

Vậy là hai đứa xô đẩy nhau, đấm đá loạn xạ.

Mãi tới khi Signoretto bợp tai chúng và kéo lại vị trí cũ thì cả hai mới chịu yên: là anh cả nên chỉ có Signoretto mới làm được vậy.

Marianna trở lại tiếp tục đưa bút vẽ lấy màu trắng, rồi màu hồng trong khi đôi mắt vừa liếc nhìn lũ trẻ vừa nhìn vào bức tranh.

Có cái gì đó không giống lắm, cái gì đó trơn tru quá và phi thực trong bức tranh của cô bé.

Nó giống như những bức chân dung "trang trọng mà các bà bạn của mẹ cô thường thuê vẽ, tất cả đều gượng gạo, cứng đờ và hình ảnh ban đầu chỉ là một cái gì đó rất xa vời.

Mình phải để ý kỹ hơn đến tính cách của mọi người, cô nghĩ, nếu không muốn để điều đó vụt mất.

Ông anh Sig-noretto bắt đầu ganh đua với cha, cung cách độc đoán và những tràng cười vang.

Thêm vào nữa mẹ lúc nào cũng bảo vệ anh ấy: khi mẹ thấy hai cha con đối đầu nhau là bà lại nhìn họ một cách bình thản, gần như vui thích.

Nhưng những cái nhìn quá trìu mến mà bà dừng lại ở người con trai này thì không ai không nhận ra.

Trái lại người cha thì như phát cáu lên vì điều đó: thằng con ông không chỉ giống ông một cách kỳ lạ ở ngoại hình mà cả ở những cử chỉ, thậm chí những cử chỉ của nó khi bắt chước ông còn thanh lịch và quyến rũ hơn.

Mỗi khi đứng trước con ông tưởng tượng như mình đang đứng trước một cái gương biết ca tụng vẻ đẹp của mình nhưng mặt khác chiếc gương cũng nhắc ông rằng chẳng bao lâu nữa người đứng trong gương sẽ thay thế ông mà không hề nuối tiếc.

Vì lẽ đó là cậu con trai đầu lòng của ông và cũng mang tên ông.

Với cô em câm điếc, Signoretto luôn đứng ra bảo vệ nhưng đôi khi cậu cũng có đôi chút ganh tị với sự quan tâm mà cha dành cho cô em gái; đôi khi cậu giễu cợt khiếm khuyết của em gái nhưng cũng có lúc cậu lấy em để chứng tỏ cho mọi người biết cậu hào hiệp dường nào; nhưng chẳng ai biết được đâu là con người thật của cậu và khi nào thì cậu diễn kịch.

Bênh cạnh ông anh cả là chị Fiammetta trong bộ trang phục nữ tu với bộ lông mày lưỡi mác, hai con mắt quá gần nhau, hàm răng khấp khểnh.

Vì không đẹp như cô em út Agata nên chị được mọi người hướng cho vào tu viện.

Ngay cả khi kiếm được một tấm chồng thì cũng không thể đòi hỏi gì như người ta vẫn thường làm với một cô con gái xinh đẹp.

Trên khuôn mặt không được cân đối và tinh nghịch của cô có thể nhìn ra ngay vẻ thách thức trước sự sắp đặt tù túng trong tương lai dù cô đã chấp nhận không chút sợ sệt khi mặc trên mình bộ váy trùm dài che đi những nét nữ tính trên người cô.

Hai anh em trai Carlo và Geraldo, người mười lăm, đứa mười một tuổi nhưng giống nhau như thể anh em sinh đôi.

Nhưng một người cũng sẽ đi tu, người còn lại làm lính kỵ binh.

Cách ăn mặc của hai anh em như thầy tu và anh lính, Carlo thường mặc áo choàng dài còn Ger. aldo thì mặc quân phục.

Ngay khi ra đến vườn là hai anh em khoái chí đổi quần áo cho nhau rồi vật nhau lăn lộn trên đất cho đến khi làm hỏng cái áo choàng dài màu kem và cả bộ quân phục đẹp đẽ với những phù hiệu bằng vàng.

Carlo đang phát phì.

Món khoái khẩu của anh là bánh ngọt và các món ăn có tẩm ướp gia vị.

Nhưng với cô anh là người tình cảm nhất trong mấy anh chị em, đôi khi anh đến tìm chỉ để nắm tay em một cái.

Agata là cô em út nhưng cũng là người xinh nhất.

Cha mẹ đang sắp đặt cho cô một hôn ước mà gia đình không phải mất gì, ngoại trừ món hồi môn ba mươi ngàn scudi).

Bù lại hôn lễ sẽ cho phép gia đình mở rộng tầm ảnh hưởng, kết thân họ hàng cần thiết, tạo cho con cháu sau này cuộc sống giàu sang.

Khi Marianna trở lại ngước nhìn các anh chị em thì cô mới nhận ra là cả lũ đã biến mất.

Lũ trẻ đã tranh thủ lúc cô bé quá tập trung vào khung vẽ để chuồn khỏi cô vì chúng cũng biết là cô không thể nghe thấy tiếng cười rúc rích và bước chân chạy của chúng.

Dẫu sao khi quay đầu lại, cô cũng kịp nhìn ra một phần váy của Agata vừa khuất ở khu nhà cũ, ngay cạnh những chiếc lá nhọn của cây lưỡi hổ.

Giờ thì làm thế nào để tiếp tục bức tranh đây?

Cô sẽ phải lục tìm hình ảnh trong trí nhớ vì biết chắc chẳng đời nào lũ trẻ quay trở lại đứng làm mẫu trước mặt cô như lúc trước cô đã thuyết phục được chúng sau biết bao nài nỉ và đợi chờ.

Những khoảng trống lũ trẻ để lại trên bức tranh ngay lập tức được lấp đầy bằng cây cọ lùn, mấy bụi hoa nhài và cây ô liu đang nghiêng mình về phía biển.

Sao lại không vẽ cái quang cảnh tĩnh lặng và luôn bất động thay vì lũ trẻ không khi nào biết đứng yên một chỗ nhỉ?

Khung cảnh có chiều sâu và đầy vẻ kỳ bí ấy vẫn đang lịch thiệp đứng làm mẫu từ bao thế kỷ nay và có vẻ luôn sẵn sàng nhập cuộc.

Bàn tay thiếu nữ của Marianna vươn sang một khung vải khác giờ được đặt vào vị trí của khung vải ban đầu trên giá vẽ; cô nhấn bút vẽ vào chỗ màu sơn dầu xanh lục mềm mại và đậm đặc.

Nhưng phải bắt đầu từ đâu nhỉ?

Từ màu xanh non biếc và óng ả của cây cọ lùn, từ màu xanh lốm đốm của vườn cây ô liu hay từ màu xanh với những sọc vàng trên sườn đồi Catalfano?

Hay là quay sang vẽ khu nhà cũ đúng như ông nội Mariano Ucrìa đã xây trước kia với cái hình thù to lớn và vuông vắn, cửa sổ của nó phù hợp cho một tòa tháp hơn là cho một ngôi nhà nông thôn.

Rồi sẽ có một ngày nó sẽ trở thành một biệt thự, cô bé chắc chắn như vậy và cô sẽ ở đó cả khi mùa đông đến vì cội nguồn của cô đã ăn sâu trên mảnh đất này, nơi cô yêu quý hơn cả những con đường lát đá ở thành phố Palermo.

Trong khi cô bé còn do dự chưa biết vẽ gì với cây bút lông đang nhỏ màu lên khung vải thì cô thấy ai đó nắm vào cánh tay mình giật giật.

Cô quay đầu lại.

Cô em Agata đang chìa ra cho cô một mẩu giấy.

“Người múa rối đến rồi, lại đây ngay điữ nhìn vào chữ viết cô biết đó là của anh cả.

Quả vậy, những gì viết trên mẫu giấy giống một mệnh lệnh hơn là lời mời.

Marianna đứng dậy lau bút vẽ đang chảy ròng ròng màu xanh vào cái giẻ ướt, chùi vội tay vào tạp dề vải bông kẻ rồi đi theo cô em về phía sân trước.

Carlo, Geraldo, Fiammetta và Signoretto đều đã có mặt ở đó và đang đứng quanh Tutui, người múa rối.

Ông ta đã buộc con lừa vào gốc cây vả và dựng gần xong sân khấu nhỏ.

Bốn cây cọc dựng đứng và được nối ngang với nhau bằng ba thanh sào dài.

Xung quanh được bao bởi chừng hai đến ba mét vải đen.

Cũng đúng lúc này từ các cửa sổ nhô ra khuôn mặt của các cô hầu gái, chị bếp Innocenza, ông Raffaele Cuffa, cả mẹ cô.

Thoạt nhìn thấy bà, người múa rối liền cúi đầu chào thật thấp.

Bà công tước ném một đồng tiền xu mười tarì và ông ta nhanh chóng nhặt lấy, đút ngay vào túi áo rồi lại cúi đầu chào rất kịch và đi lấy những con rối trong cái bị treo bên hông lừa.

Marianna đã từng thấy nhìn thấy những cây gậy ấy, những cái đầu rơi thụt xuống phía dưới sân khấu rồi lại xuất hiện ngay sau đó, tinh nghịch, ngạo nghễ.

Hàng năm cứ vào mùa này, lão Tutui lại đến diễn tại khu nhà cũ ở xứ Bagheria để mua vui cho lũ trẻ.

Và năm nào bà công tước cũng ném một đồng tiền xu mười tarì cho lão và lão thường ngả mũ đáp lại với những điệu bộ cúi chào kiểu sân khấu một cách thái quá đến mức như chế nhạo.

Trong khi đó không hiểu được ai báo tin mà có tới cả chục đứa trẻ con nông dân sống xung quanh đã chạy tới.

Mấy cô hầu vừa đi xuống sân vừa lau tay và vén lại mái tóc.

Lại thêm cả người chăn bò Ciccio Calò cùng hai cô con gái sinh đôi Lina và Lena, người làm vườn Peppe Geraci và bà vợ Maria cùng năm cậu con trai và cả người đánh xe Peppino Cannarota.

Kia là con rối nhân vật Nardo đang dùng gậy đập bùm bụp vào con rối nhân vật Tiberio.

Vậy là vở diễn đã bắt đầu dù vẫn còn mấy đứa trẻ đang chơi.

Nhưng chỉ một lát sau là tất cả ngồi phịch xuống đất và hếch mũi lên, mắt dán vào sân khấu.

Marianna vẫn đứng và tách sang một bên.

Lũ trẻ hay làm cô bé sợ: đã quá nhiều lần cô là nạn nhân trong những trò đùa của chúng.

Chúng lủi trốn và đột nhiên nhảy chồm lên người cô rồi khoái trá thưởng thức những phản ứng của cô, chúng còn thách đố nhau xem ai đốt pháo ngay cạnh mà cô không hề hay biết.

Lúc này sau tấm mành đen xuất hiện một đồ vật mới mà không ai ngờ tới: giá treo cổ.

Trên sân khấu của Tutui đồ vật này chưa từng được đem ra diễn, vậy nên thoạt nhìn thấy nó lũ trẻ con nông dân nín thở hồi hộp, đây quả đúng là một điều mới mẻ thú vị!

Một cảnh binh với cây kiếm đeo ngang hông, sau khi chạy ngang dọc trên tấm mành đen đuổi theo Nardo đã túm được cổ anh ta và lồng vào một cái lòng lọng.

Một cái trống nhỏ xuất hiện bên cánh phải sân khấu và Nardo được đưa lên một bục cao.

Và rồi, bây giờ, viên cảnh bình tung chân đá văng cái bục và Nardo giãy giụa trong khi sợi dây thừng bắt đầu siết lại.

Marianna thoáng rùng mình.

Có cái gì đó giãy giụa trong trí nhớ cô như một con cá mắc câu, cái gì đó không muốn trồi lên, nó kéo và khuấy động mặt nước trầm lặng trong tâm thức cô bé.

Tay cô với tìm cái áo choàng dài với những nếp gấp của cha cô nhưng lại chỉ chạm vào những cái lông cứng đờ ở đuôi con lừa.

Nardo đang đung đưa trên không, đung đưa với cái cơ thể nhẹ nhàng của một cậu bé với đôi mắt đầy ghèn, cái miệng móm mém và cái nhìn kinh ngạc đến tột độ và dường như cậu ta đang cố vặn vẹo rút tay ra để lau nước mũi đang chảy xuống.

Marianna cứng đờ người và đổ ập về phía sau, đầu đập xuống nền đất cứng trên sân.

Tất cả mọi người quay đầu lại nhìn.

Cô em Agata chạy ngay lại, theo sau là Carlo đang khóc rống lên và cúi xuống ôm em gái.

Bà vợ ông Cannarota vung vẩy cái tạp dề quạt cho cô bé trong khi một cô hầu lao đi gọi bà công tước.

Người múa rối thò đầu ra từ dưới tấm mành đen, tay cầm một con rối lộn ngược còn Nardo vẫn tiếp tục đung đưa trên giá treo cổ.
 
Marianna Ucrìa
VI


Một giờ sau, Marianna tỉnh dậy.

Cô thấy mình đang nằm trong phòng ngủ của cha mẹ với một cái khăn ướt lạnh trên trán.

Nước dấm đang chảy cả vào mắt cô làm chúng bỏng rát.

Bà mẹ cúi xuống nhìn cô: cô bé đã nhận ra bà cả khi còn chưa mở mắt vì cái thứ mùi thuốc lá tẩm mật nồng nặc trên người bà.

Cô nhìn mẹ từ dưới lên trên: đôi môi đầy đặn loáng thoáng một chút lông tơ màu vàng, lỗ mũi sạm đi vì khói thuốc, đôi mắt to, ưa nhìn nhưng thoáng buồn; cô cũng không biết có thể nói là bà đẹp hay không, chắc chắn có cái gì đó ở bà khiến cô khó chịu, nhưng cái gì kia chứ?

Có thể là cái tính dễ buông xuôi, sự trầm tĩnh cố hữu, hay là việc chìm sâu vào trong làn khói thuốc, lãnh đạm với mọi thứ xung quanh.

Cô luôn ngờ rằng trước kia, trong một thời quá khứ xa xăm, khi bà còn trẻ và mơ mộng, bà đã tự giết chết mình để khỏi phải chết thêm một lần nữa.

Có lẽ cũng chính từ đó mà ở bà có một khả năng đặc biệt: chấp nhận mọi sự nhàm chán với vẻ bình thản tối đa và một nỗ lực tối thiểu.

Khi còn sống, thi thoảng bà nội Giuseppa viết về mẹ cô trong quyển sổ bìa hoa: "Mẹ cháu từng đẹp đến mức a cũng muốn có được nhưng nó lại chẳng cần ai cả.

Rõ là đổ cứng đầu giống hệt bà mẹ Giulia trước kia đến từ xứ Granada.

Khi đó nó không muốn lấy người anh họ, tức là cha Signoretto của cháu ấy.

Ai cũng nói: nó đẹp trai lắm, nó tốt lắm cưới đi.

Không phải vì là con ta nên ta nói vậy đâu, nó đẹp đến mức nhìn thấy nó chẳng khác nào được rửa mắt.

Nhưng cuối cùng thì cha cháu cũng cưới được con mẹ ngốc nghếch của cháu, chỉ có điều hôm cưới mặt con bé cứ như đưa tang.

Rồi cưới nhau được một tháng, nó tự nhiên sinh ra yêu chồng, yêu đến mức nó quay ra hút thuốc...

Ban đêm nó không ngủ nữa vậy nên nó phải uống cả rượu cồn pha thuốc phiện...

Thấy cô con gái bắt đầu tỉnh lại, bà công tước Maria đi về phía bàn viết, cầm một mảnh giấy và viết cái gì đó.

Bà dùng giấy thấm thấm khô mực rồi chìa tờ giấy về phía con gái.

"Con khỏe chưa?"

Marianna gượng ngồi dậy, ho mạnh rồi nhổ nước dấm đang chảy vào miệng cô ra.

Bà mẹ cười và bỏ khăn ướt ra khỏi mặt cô.

Rồi bà lại tiến về phía bàn viết, lại nguệch ngoạc gì đó và tiến lại gần giường với tờ giấy trên tay.

"Con đã mười ba tuổi rồi, nhân đây ta báo cho con biết là đã đến lúc con phải lấy chồng, chúng ta đã tìm được cho con một người bác để con khỏi phải đi tu như số phận đã định với chị Fiammetta của con."

Cô bé đọc lại những dòng chữ vội vã của mẹ.

Bà viết lẫn lộn giữa thổ ngữ và tiếng Ý, những nét chữ méo mó xiên xẹo.

Một người chồng ư?

Nhưng sao vậy được?

Cô luôn nghĩ câm điếc như mình sẽ bị ngăn cấm kết hôn.

Vả lại cô mới chỉ mười ba tuổi.

Bà mẹ vẫn đang chờ câu trả lời.

Bà mỉm cười trìu mến với cô con gái nhưng là sự trìu mến đó có đôi chút giả tạo.

Với bà, cô con gái khiếm khuyết này làm bà cảm thấy như một gánh nặng không gánh vác nổi, một sự khó xử làm bà như muốn đóng băng lại.

Bà không biết làm thế nào để hiểu được con gái hay làm cho con hiểu mình.

Bà vốn không thích việc viết lách: đọc chữ viết của người khác với bà còn hơn cả một cực hình.

Nhưng với sự hy sinh cao cả của người mẹ, bà vẫn nhẹ nhàng đi lại phía bàn và mang lại chỗ cô con gái đang nằm một tờ giấy, cây bút lông ngỗng và lọ mực.

"Câm điếc cũng có chồng ư?"

Marianna chống một bên cùi chỏ viết, trong lúc bối rối cô làm vấy cả mực ra tấm ga trải giường.

"Cha đã làm tất cả để con có thể nói được, thậm chí còn đưa con đến tận nhà tù Vicaria để mong con khỏi bệnh nhưng con vẫn không nói vì con là đồ cứng đầu, con không muốn như vậy...

Chị Fiammetta thì đi phụng sự Đức chúa, em Agata cũng được hứa gả cho con trai của hoàng thân xứ Torre Mosca, con có nghĩa vụ phải chịu sự sắp đặt của chúng ta vì chúng ta muốn điều tốt đẹp cho con và chúng ta không muốn con đi khỏi gia đình vậy nên chúng ta muốn trao con cho bác Pietro Ucrìa xứ Campo Spagnolo, nam tước xứ Scannatura, xứ Bosco Grande, xứ Fiume Mendola, bá tước xứ Sala di Paruta, hầu tước xứ Sollazi và Taya.

Không những là anh trai của ta ông còn là anh họ của cha con.

Ông muốn tốt cho con và con chỉ có thể thấy được bến đỗ cho tâm hồn con nơi ông ấy mà thôi."

Marianna nheo mắt khi đọc mẫu giấy, cô không còn để ý tới những lỗi chính tả mẹ viết, cũng không để ý tới những từ thổ ngữ mẹ cô đưa vào một cách lộn xộn.

Cô đọc lại những dòng cuối cùng: vậy ra, vị hôn phu, tấm chồng ở đây chính là ông bác Pietro sao?

Là con người buồn bã, lúc nào cũng co rúm lại và mặc bộ đồ màu đỏ để rồi mọi người trong gia đình gọi là "con tôm luộc" đấy ư?

"Con không lấy chồng", cô bực bội viết vào mặt sau tờ giấy với những dòng chữ vẫn còn chưa ráo mực của mẹ.

Bà công tước vẫn kiên nhẫn trở lại bàn viết, trán bà lấm tấm mồ hôi: cô con gái câm điếc mới làm bà mệt làm sao, nó không muốn hiểu rằng nó chỉ là một cái nợ đời, không hơn.

"Không ai khác muốn lấy con, Marianna bé bỏng ạ.

Con có biết là đi tu cũng cần phải có món hồi môn không?

Chúng ta đang chuẩn bị tiền cho chị Fiammetta, tốn kém lắm.

Bác Pietro lấy con mà không cần gì cả vì bác quý con, tất cả điền địa của bác sẽ là của con, con hiểu không?"

Giờ thì bà mẹ đã đặt cây bút xuống và nói liên tục với con gái như thể cô nghe được bà trong khi tay bà lơ đãng vuốt mái tóc ướt đẫm nước dấm của cô.

Cuối cùng bà giật mạnh cây bút từ tay con gái đang định viết gì đó và kiêu hãnh viết nhanh dòng chữ:

"Tiền mặt, ông bác giao ngay mười lăm ngàn scudi."
 
Marianna Ucrìa
VII


Gạch đá ngổn ngang trên mặt sân.

Những túi thạch cao, vài đống cát.

Marianna đang đi lại dưới cái nắng chói chang, váy quấn ngang hông để gấu váy khỏi bị vấy bùn.

Đôi giày dưới chân Marianna không buộc dây, tóc búi cao sau gáy bằng những cây trâm bạc được chồng tặng.

Xung quanh cô ngổn ngang mẩu gỗ, búa, xẻng, thuổng, rìu, dao xây và xe cút kít.

Cái lưng cô đau không chịu nổi, cô đưa mắt tìm chỗ râm mát để nghỉ ngơi giây lát.

Có phiến đá lớn gần chuồng ngựa và dù nó có vẻ khá trơn nhưng cô vẫn lại đó.

Cô ngồi xuống rồi để cả người trượt trên phiến đá, tay chống hông.

Cô nhìn xuống bụng, nó mới chỉ hơi nhô lên dù cái thai đã sang tháng thứ năm và đây đã là lần mang thai thứ ba của cô.

Trước mặt cô là một ngôi biệt thự rất đẹp.

Không còn chút dấu vết nào của khu nhà cũ.

Đúng ở vị trí của nó trước kia, bây giờ là phần chính của một biệt thự ba tầng và một cái cầu thang uốn lượn rất lịch lãm.

Hai bên là hàng trụ thẳng đứng tạo thành một vòng tròn gần như khép kín trước mặt ngôi nhà.

Các kiểu cửa sổ được bố trí luân phiên nhau theo một nhịp đều đặn. một, hai, ba, một; một, hai, ba, một; cử như một điệu mây, điệu tarascondo.

Một vài cửa số trong số đó là thật, những cái còn lại được vẽ thêm để giữ lại phong cách thời trước.

Ở một trong số những cửa giả ấy, Mar ianna sẽ cho vẽ một cái rèm và cả gương mặt một phụ nữ đang ló ra, có thể là gương mặt của chính cô đang nhìn ra từ sau cửa kính.

Lúc đầu ông bác-chồng muốn giữ lại khu nhà cũ y nguyên như khi ông nội Mariano xây lên và cũng giống như các anh chị em trong gia đình đã thống nhất từ trước.

Nhưng Marianna đã khẩn nài và cuối cùng cô cũng thuyết phục được chồng biến nó thành một biệt thự để mọi người có thể lưu lại đây khi mùa đông đến, sẽ có cả phòng riêng cho lũ trẻ, cho người hầu và cả khách khứa.

Trong lúc xây dựng, ngài công tước bố cô cũng đã có một chòi đi săn khác ở khu Santa Flavia.

Rất ít khi ông bác-chồng đến xem công trình.

Ông ta rất ghét cảnh vôi vữa, gạch ngói bụi bặm.

Ông thích ở lại Palermo, tại ngôi nhà ở phố Alloro trong khi cô vợ ở Bagheria luôn phải tính toán, ngã giá với thợ xây, thợ vẽ.

Kiến trúc sư phụ trách thi công cũng chẳng mấy khi có mặt, để lại mọi việc cho ông thợ cả và bà công tước trẻ.

Bà công tước đã tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền cho công trình.

Riêng mình gã kiến trúc sư đã đòi một nghìn sáu trăm onze.

Các phiến gạch sành bị vỡ liên tục nên tuần nào cũng phải bổ sung thêm gạch mới, cách đây không lâu ông thợ cả lại bị ngã từ giàn giáo xuống gãy tay và vậy là công việc lại bị đình đốn tới hai tháng trời.

Đến khi công trình chỉ còn lại phần sàn nhà nữa là xong thì ở Bagheria lại bùng phát dịch đậu mùa: ba thợ xây mắc bệnh và vậy là việc hoàn thiện lại phải trì hoãn thêm hàng tháng trời.

Ông bác-chồng lui về tránh dịch ở Torre Scannatura với hai cô con gái Giuseppa và Felice.

Marianna ở lại, bất chấp những lá thư hối thúc như mệnh lệnh của chồng: "Đi khỏi đó nếu cô không muốn mắc bệnh...

Cô phải nghĩ cho đứa con trong bụng."

Nhưng cô vẫn nhất quyết cưỡng lại và chỉ yêu cầu cho chị đầu bếp Innocenza ở lại cùng mình.

Tất cả mọi người khác đều có thể đi đến khu đồi Scannatura.

Ông bác-chồng rất bực mình nhưng cũng không cố thuyết phục thêm.

Sau bốn năm chung sống, ông đã từ bỏ mong muốn được vợ vâng lời; ông tôn trọng ý kiến của vợ nếu như ý kiến đó không ảnh hưởng quá trực tiếp đến mình, không đi ngược lại quan điểm của mình về nuôi dạy con cái và không cản trở quyền làm chồng của ông.

Ông không giống như chồng Agata, luôn muốn can thiệp vào mọi việc dù là nhỏ nhặt thường nhật của vợ.

Ông luôn câm lặng, đơn độc, rụt đầu rụt cổ như một con rùa già.

Lúc nào ông cũng có vẻ không hài lòng và nghiêm khắc nhưng Marianna thấy dẫu sao ông ta còn khoan MADE

dung hơn rất nhiều người đức ông chồng khác mà có biết.

Cô chưa bao giờ nhìn thấy ông cười, ngoại trừ cái lần có cởi một chiếc giày và cho chân trần vào đài phun nước.

Đó là lần duy nhất.

Ngay từ đêm đầu tiên sau đám cưới, người đàn ông lạnh lùng, nhút nhát ấy đã có thói quen nằm sát mép giường và quay lưng lại với cô.

Để rồi một buổi sáng, trong khi cô vẫn đang chìm trong giấc ngủ, ông ta đã nhảy xổ lên người và cưỡng đoạt cô.

Cơ thể của người vợ trẻ mới vừa mười ba tuổi đã phản kháng lại bằng những cú đạp và cào cấu.

Ngay sáng sớm hôm sau, Marianna đã trốn chạy về nhà cha mẹ đẻ ở Palermo.

Cũng chính ở đó mẹ cô viết cho cô rằng cô đã mắc một sai lầm lớn khi trốn tránh trách nhiệm làm vợ và rằng cô đã bôi tro trát trấu vào bộ mặt của cả gia đình.

Bà dội lên đầu cô vô số lời trách mắng và cả tục ngữ, nào là "Ai lấy chồng mà không hối hận thì có thể mua cả Palermo với chỉ một trăm onze và "Ai lấy chồng vì tình yêu thì sẽ luôn phải đau khổ, rồi thì "Đàn bà và gà mái đi nhiều dễ bị lạc", "Vợ có ngoan thì chồng mới tốt.

Lại thêm cả bà bác Teresa, xơ xưng tội, cũng nhảy vào giáo huấn, mẩu giấy bà viết nói cô đã mắc phải một tội lỗi chết người khi tự ý rời khỏi nhà chồng.

Bà bác già Agata thì khỏi nói rồi, bà túm lấy tay cô và giật phắt cái nhẫn cưới ra rồi bắt cô phải cắn răng vào đó.

Cuối cùng, thậm chí cả cha cũng trách mắng cô thậm tệ rồi đích thân ông đánh xe ngựa riêng của mình đưa cô trở lại Bagheria trao trả lại cho ông chồng và cầu xin ông đừng quá hà khắc với cô vì dẫu sao cô cũng còn nhỏ tuổi, lại bị tật nguyền.

"Hãy nhắm mắt lại và nghĩ đến chuyện khác, bà bác xơ xưng tội đã viết như vậy lên một mẩu giấy và nhét nó vào trong túi cô, lúc sau trên đường trở lại nhà cô mới đọc: "Hãy cầu xin Đức Chúa, Chúa sẽ bù đắp cho con."

Buổi sáng ông bác-chổng thường dậy sớm, vào khoảng năm giờ.

Ông ta nhanh chóng mặc quần áo trong khi Marianna vẫn còn đang ngủ và đi ra đồng ruộng cùng Raffaele Cuffa.

Ông quay trở về khoảng lúc một giờ rưỡi và ăn trưa với cô.

Sau đó ông đi nghỉ khoảng một tiếng rồi lại đi ra ngoài hoặc khép mình trong thư viện với những cuốn sách về các tầng lớp quý tộc của mình.

Với cô ông rất lịch thiệp nhưng cũng lạnh lùng.

Có khi ông quên là mình có một cô vợ trong nhiều ngày liền.

Thỉnh thoảng, ông đi Palermo và ở lại đó cả tuần.

Rồi đột nhiên ông trở về và Marianna bắt gặp ánh mắt ông cứ nhìn chăm chăm vào ngực mình.

Theo bản năng tự nhiên cô khép lại vạt cổ áo.

Khi cô vợ trẻ đang ngồi chải tóc gần cửa sổ, thi thoảng công tước Pietro lại nhìn trộm vợ từ xa.

Nhưng ngay khi bị phát hiện là ông lại bỏ đi ra ngoài.

Vả lại, ban ngày rất ít khi chỉ có riêng hai vợ chồng với nhau vì lúc nào cũng có một người hầu đi lại quanh các phòng để châm đèn, sắp xếp lại chăn đệm trên giường, cất quần áo đã giặt và phơi khô vào tủ, lau chùi mấy cái tay nắm ở cánh cửa hay thay khăn lau sạch vừa là xong ở gần chậu rửa.

Một con muỗi to như con ruồi đậu lên cánh tay trần của Marianna, cô nhìn chú muỗi trong giây lát với vẻ tò mò rồi đuổi đi.

Không hiểu ở đâu ra con muỗi to đến thế nhữ Cô đã cho hút khô nước ở cái vũng gần chuồng gia súc từ sấu tháng trước rồi, năm ngoái con mương dẫn nước tới vườn chanh cũng đã được vệ sinh lại, chỉ mới cách đây vài tuần cô còn cho lấp đầy hai vũng bùn lầy trên đường đi đến vườn ô liu.

Có lẽ vẫn còn nước đọng ở đâu đó quanh đây, nhưng nó có thể ở đâu nhỉ?

Lúc này thì những bóng râm đang dần rộng ra.

Mặt trời đã trượt ra phía sau nhà người chăn bò Ciccio Calò, làm cho sân trước ngôi nhà trở nên tranh tối tranh sáng.

Lại một con muỗi khác bay đến đậu lên cái cổ nhễ nhại mồ hôi của Marianna, cô vung tay bực dọc: phải đổ cả vôi sống vào chuồng gia súc mới được, có khi chính cái máng nước cho đàn bò giống Messina uống lại sinh ra cái lũ hút máu này.

Trong năm có những giai đoạn không có loại lưới, mành vải hay hương liệu nào có thể xua được lũ muỗi.

Ngày trước người được muỗi ưa thích nhất là Agata nhưng giờ thì cô em cũng đã đi lấy chồng và đến sống ở Palermo.

Có vẻ như lũ côn trùng thích nhất là cánh tay trắng để trần và cái cổ mảnh mai của Marianna.

Nhất định tối nay cô phải cho đốt lá cây sả trong phòng ngủ để tránh muỗi.

Việc xây biệt thự đã gần hoàn thành.

Giờ chỉ còn phải hoàn thiện nốt phần trang trí hoa văn bên trong nhà.

Marianna đã cho gọi Intermassimi đến để vẽ tranh tường.

Tay thợ vẽ đến với một cuộn giấy trên tay, cái mũ ba chỏm bẩn thỉu đội trên đầu, hai chân ngắn cũn, gày gò như đang bơi trong đôi ủng rộng.

Anh ta xuống ngựa, cúi đầu và mỉm cười với Mari-anna, một điệu cười nửa nhún nhường quyến rũ, nửa như thách thức.

Anh ta trải cuộn giấy vẽ ra ngay trước mắt Marianna với đôi bàn tay ngắn mũm mĩm khiến cô thấy lo lo.

Những hình vẽ táo bạo và đầy sáng tạo, dù vẫn chuẩn mực về mặt hình thức và tuân thủ truyền thống nhưng như thể được phác họa nên từ một ý nghĩ đen tối, láu lỉnh mà rực sáng.

Marianna thấy không giống như trong truyền thuyết về con quái vật đầu sư tử, thay vào vị trí cái đầu sư tử ở trên tranh là hình đầu một người đàn bà.

Nhìn kỹ tranh thêm lần nữa cô nhận ra những cái đầu đó giống cô đến lạ thường và điều này làm cô đôi chút bất ngờ; làm thế nào mà hắn ta đưa được cô vào hình vẽ những con quái vật trong truyền thuyết trong khi hắn chỉ nhìn cô duy nhất một lần hôm đám cưới, nghĩa là khi cô mới chỉ vừa mười ba tuổi?

Phía dưới những cái đầu màu vàng với đôi mắt to màu xanh nước biển ấy là cái mình dài của con sư tử với bộ lông xoăn kỳ lạ, dọc sống lưng có những cái bờm, mào và cả lông vũ.

Dưới chân tua tủa những móng vuốt hình mỏ vẹt, cái đuôi dài uốn thành nhiều vòng về phía trước rồi lại uốn về phía sau, ở cuối đuôi tách ra thành hai đầu nhọn, giống hệt như đuôi những con chó mà trước kia mẹ cô vô cùng khiếp sợ.

Một số con lại mang trên lưng một cái đầu dê với rất nhiều con mắt lớn, một số con khác thì không.

Nhưng tất cả đều nhìn qua cặp lông mi dài với vẻ đầy kinh ngạc.

Anh chàng họa sĩ chằm chằm nhìn cô vẻ ngưỡng mộ và không chút bối rối về khuyết tật của Marianna.

Trái lai hắn ta bắt đầu nói với cô bằng ánh mắt mà không sờ tay tới những thứ giấy má mà cô luôn mang theo bên mình cùng với hộp đựng bút, mực.

Đôi con ngươi lóng lánh cho thấy anh chàng họa sĩ nhỏ con và lông lá của vùng Reggio Calabria đang sẵn sàng dùng những ngón tay đen đúa, mũm mĩm của mình nhào nặn cơ thể trắng ngần của nữ công tước trẻ tuổi như thể cô là là một thứ bột nở để sẵn đó cho hắn nặn.

Marianna nhìn hắn vẻ khinh bỉ.

Cô không thích cái cách chứng tỏ mình một cách ngạo nghễ và trắng trợn ấy.

Vả lại hắn ta là ai kia chứ?

Đơn giản chỉ là một họa sĩ, một kẻ vô danh đến từ một khu nhà tồi tàn của vùng Calabria và có khi được sinh ra trên đời này từ một cặp bố mẹ làm nghề chăn bò hay chăn cừu cũng nên.

Khi đêm đến, trong bóng tối Marianna nghĩ lại những gì xảy ra khi đó và tự mỉa mai mình.

Cô biết là sự kỳ thị của cô lúc chiều chỉ là giả, chẳng qua là cô dùng nó để che giấu một cảm giác bị quấy rối mà cô chưa từng gặp, một nỗi sợ hãi bất chợt làm cô thấy cổ họng như nghẹn lại.

Cho đến giờ, trước mặt cô chưa ai từng thể hiện ham muốn đối với cơ thể cô một cách táo tợn và rõ rệt đến thế, điều này hoàn toàn xa lạ với cô nhưng cũng lại làm cô cảm thấy tò mò.

Ngày hôm sau, cô cho người báo cho anh chàng họa sĩ là cô đi vắng và ngay ngày tiếp theo cô lại viết cho anh ta một mẩu giấy, nói anh ta có thể bắt đầu công việc và cô sẽ cử thêm hai thanh niên đến phụ giúp trộn màu và rửa bút vẽ, còn cô thì sẽ ở trong thư viện đọc sách,

Và mọi việc cũng diễn ra đúng như vậy, ngoại trừ hai lần Marianna đi ra chỗ bậc thềm nhìn anh chàng họa sĩ đang vắt vẻo trên giàn giáo vẽ phác thảo bằng bút chì lên bức tường trắng.

Cô thích xem những ngón tay nhỏ lông lá và mũm mĩm ấy cử động ra sao khi anh ta vẽ.

Các hình vẽ trông rất tự tin và thanh lịch cho thấy một tay nghề rất tinh tế và sâu sắc khiến cô không thể không thán phục.

Đôi bàn tay lấm đầy màu vẽ thi thoảng lại đưa lên gãi mũi làm cho cái mũi lem luốc những màu vàng, màu xanh.

Tay nắm chặt chiếc bánh mì kẹp cật để đưa lên miệng và chốc chốc lại làm rơi những miếng cật rán và mấy mẩu vụn bánh mì.
 
Marianna Ucrìa
VIII


Chẳng ai nghĩ đứa con thứ ba, đúng hơn là đứa con gái thứ ba, lại ra đời sớm đến thế, sớm đến gần cả tháng lại còn ngôi ngược, hai chân ra trước như một con bê lâu tấu.

Bà đỡ mồ hôi đầm đìa, mái tóc ướt sũng như thể mới bị dội cả một xô nước vào giữa mặt.

Marianna nhìn theo những thao tác của bà đỡ như thể chưa từng nhìn thấy trước đó.

Bà đỡ nhúng tay vào chậu nước nóng rồi đưa sang xoa mỡ lợn, làm dấu trước ngực rồi lại nhúng tay vào chậu nước.

Trong khi đó chị bếp In-nocenza luôn tay nhúng khăn ướt tẩm tinh dầu cam rồi lau lên miệng, lên cái bụng vẫn còn căng cứng của sản phụ.

Ra đi, ra đi đồ thối tha

Như Đức chúa quyền năng yêu cầu.

Marianna biết mấy công thức của bà đỡ, cô đọc được điều đó trên môi bà.

Cô biết mình sắp bị những ý nghĩ của bà ta tấn công nhưng không làm gì để cưỡng lại.

Cô tự nhủ có lẽ như thế sẽ cảm thấy bớt đau hơn và cô nhắm mắt lại để tập trung.

"Đổ oắt con, mày làm gì vậy?... sao mày không ra?

Như thế mày sẽ làm đau cái đầu trọc đấy... nó làm gì vậy nhỉ?

Định chống lại sao?

Chân thì ra trước, tay thì vặn vẹo, mày đang múa à?

Vậy thì múa đi, múa đi đồ ngốc kia... mà sao mày không ra?

Ra đi chứ, đồ ốc sên!... không ra thì tao cho vài gậy đấy... còn nữa mày làm vậy sao tao lấy được của bà công tước bốn mươi đồng tarì như thỏa thuận chứ?...

À, đây rồi, hóa ra là "thị mẹt!

Ôi trời, cả ba đứa từ cái bụng khốn kiếp này chui ra đều là thị mẹt cả, khốn nạn!

Đã câm lại còn không may gì cả...

Ra đi, ra đi đồ thối tha thị mẹt... nếu ta hứa cho mày một cái kẹo đường, mày chịu ra chứ?

Không à, mày không muốn ra... vậy nếu ta hứa cả chục cái hôn thì sao?... làm sao bây giờ nhỉ?

Nếu nó không ra thì ta còn làm cái nghề này thế nào được?

Mọi người sẽ biết là bà đỡ Titina này kém cỏi, không biết làm sao cho nó chịu ra, làm chết cả mẹ lẫn con...

Lạy Đức Mẹ lòng lành, xin hãy giúp con... cả khi Đức Mẹ chưa từng sinh nở thì cũng xin Người hãy cứu con... nhưng Đức Mẹ biết gì về sinh nở, về trở dạ kia chứ?... hãy làm cho con bé chịu ra vì con, con sẽ vì Người mà đốt một ngọn nến to bằng cả cái cột, con xin thề trước Chúa, thậm chí nếu phải tiêu tốn hết cả số tiền bà công tước tốt bụng sẽ trả..."

Đến cả bà đỡ cũng nghĩ mình sắp chết thì đã đến lúc chuẩn bị ra đi cùng con bé ở nguyên trong bụng rồi đây.

Mình phải cầu nguyện ngay thôi, phải xin Chúa tha thứ cho những lỗi lầm của mình, Marianna tự nhủ.

Nhưng chính trong thời khắc cô đang chuẩn bị để chết thì con bé đã ra, người nó tím ngắt, không hơi thở.

Bà đỡ nắm chặt lấy hai chân đứa trẻ và đốc ngược lên rồi lắc như thể trong tay bà ta là một con thỏ đã sẵn sàng để vào nồi.

Bà ta lắc cho đến khi con "thị mẹt" nhăn mặt như một con khỉ già và ngoác cái miệng khóc thét lên.

Trong khi đó chị bếp Innocenza đã đem kéo lại cho bà đỡ, bà ta cắt gọn cuống rốn rồi đưa ngọn nến lại chỗ vết cắt để đốt.

Mùi thịt cháy bay lên tới hai cánh mũi đang phập phồng của Marianna: vậy là cô không phải chết nữa, chính cái mùi cháy khét ấy đã đưa cô trở lại với cuộc sống, đột nhiên cô cảm thấy mệt lả và cũng thật hài lòng.

Innocenza vẫn tiếp tục dọn dẹp: lau chùi giường, quấn quanh bụng bà đẻ một băng vải sạch, rắc chút muối lên rốn đứa bé sơ sinh, chút đường lên cái bụng nhỏ xíu vẫn còn vương máu và chút dầu lên miệng đứa bé.

Cuối cùng, sau khi lau chùi con bé con bằng nước hoa hồng, chị để nó lên một cái tã và quấn chặt từ đầu đến chân như một xác ướp.

"Giờ ai sẽ đi nói với ngài công tước đứa trẻ này lại là con gái đây?...

Phải có ai đó đã nguyền rủa bà công tước khốn khổ này...

Nếu là nông dân thì hẳn bà đã cho con thị mẹt này một thìa ovu di cannd): một thìa ngày đầu tiên, hai thìa ngày thứ hai và ba thìa ngày thứ ba và vậy là đứa bé gái không mong muốn sẽ sang thế giới bên kia...

Nhưng họ là người quyền quý và chắc chắn họ sẽ giữ con bé lại dù họ đã có nhiều con gái rồi...

Marianna không rời mắt nổi khỏi bà đỡ lúc này đang lau mồ hôi trên trán cô và cho cô uống "conzu", một loại thuốc được pha chế từ tro của một miếng vải nhỏ trộn lẫn với dầu ô liu, lòng trắng trứng và đường.

Tất cả những thứ này cô đều đã biết, mỗi lần sinh nở cô lại thấy những thứ giống hệt nhau, chỉ có điều lần này cô nhìn chúng với đôi mắt cay xè và buồn bã của một người biết mình không phải chết nữa.

Và cô cũng cảm thấy một niềm vui rất mới mẻ khi nhìn những động tác cẩn trọng, chắc chắn của hai người đàn bà đang chăm chút cho cơ thể cô.

Bây giờ bà đỡ đang dùng cái móng tay dài và nhọn của mình xé lớp màng đang còn bọc lưỡi đứa trẻ sơ sinh, như vậy khi lớn lên nó sẽ không bị nói lắp; theo truyền thống và cũng là để an ủi đứa bé đang khóc, bà đưa một ngón tay quét vào mật rồi cho vào miệng nó.

Thứ cuối cùng Marianna nhìn thấy trước khi chìm sâu vào giấc ngủ là đôi bàn tay chai sạn của bà đỡ đang giơ cao cái nhau thai về phía cửa sổ để cho thấy là nó vẫn nguyên vẹn, rằng bà đã không làm rách nó hay để sót chút nào trong bụng sản phụ.

Khi Marianna mở mắt sau mười hai tiếng chìm trong vô thức, cô thấy trước mặt mình là hai đứa con gái lớn Giuseppa và Felice, chúng đang mặc lễ phục, người đầy nơ, đăng ten và đeo trang sức san hô.

Felice đã biết đứng còn Giuseppa đang được bảo mẫu bế.

Cả ba đang nhìn cô kinh hãi như thể cô vừa mới bước ra khỏi quan tài ngay giữa đám tang.

Phía sau chúng có cả cha chúng, ông bác-chồng trong bộ cánh màu đỏ đẹp nhất của mình, trên mặt ông ta thoáng qua một cái gì đó như nụ cười.

Tay Marianna đưa ngay ra lần tìm đứa con mới sinh, khi không thấy nó, cô đột nhiên thấy lo: hay là nó đã chết khi cô còn ngủ?

Nhưng cái nụ cười nửa miệng của ông chồng và vẻ trịnh trọng của người bảo mẫu đang mặc lễ phục làm cô cảm thấy yên tâm.

Việc đứa trẻ là con gái cô đã biết ngay từ tháng đầu tiên mang thai: cái bụng to tròn chứ không nhô cao như khi người ta mang thai con trai.

Chính bà nội Giuseppa đã dạy cô điều này và quả đúng như thế, mỗi lần cái bụng của cô có cái hình tròn trịa như quả dưa thì y như rằng tòi ra một đứa con gái.

Hơn nữa cô còn mơ thấy như thế. trong mơ cô thấy một cái đầu nhỏ xíu tóc vàng đang dựa vào ngực cô và nhìn cô với vẻ buồn chán.

Điều kỳ lạ là con bé lại mang trên lưng một cái đầu dê với những lọn tóc xoăn rối bời.

Liệu có phải cô đã sinh ra thứ quái vật ấy không nhỉ?

Trái lại con bé sinh ra hoàn toàn bình thường, dù bị đẻ non đến cả tháng, nó chỉ bé hơn một chút thôi nhưng rất xinh và sáng sủa, nó không có lớp lông phủ đầy người như Giuseppa hay cái đầu quả lê tím tái như Felice khi chúng ra đời.

Con bé cũng chứng tỏ mình rất ngoan, nó bú sữa khi được cho ăn mà không hề đòi hỏi gì.

Nó cũng không khóc và ngủ yên một mạch tám tiếng liền trong cũi.

Nếu không phải là chị bếp Innocenza cầm đồng hồ trong tay đến đánh thức bà công tước dậy để cho nó bú thì hai mẹ con đã tiếp tục ngủ mà không hề quan tâm đến những gì mà tất cả các bà mẹ, bà đỡ, vú em vẫn bảo: rằng trẻ sơ sinh cần phải được cho bú ba tiếng một lần nếu không chúng có thể chết vì đói và mang lại tiếng xấu cho gia đình.

Marianna đã hai lần sinh con gái một cách dễ dàng.

Lần thứ ba này cô lại sinh con gái.

Ông bác-chồng không hài lòng dù với cô ông cũng đã tử tế kiệm lời trách móc.

Cô biết chừng nào còn chưa sinh cho ông ta một thằng con trai thì cô vẫn phải tiếp tục cố gắng.

Cô sợ bị ném vào mặt những mẩu giấy cụt lủn mà cô đã có hẳn cả một bộ sưu tập với nội dung đại loại như "Thế khi nào thì em định đẻ một thằng con trai đây?"

Cô biết những người chồng khác khi vợ sinh đến đứa con gái thứ hai thì họ đã không cho vợ mở miệng rồi.

Nhưng ông bác Pietro không phải là người nhiều lời đến mức đó.

Đến viết cho cô ông cũng đã rất hạn chế rồi.

Vậy là Manina được sinh ra đúng vào lúc việc xây biệt thự đã gần như hoàn tất, khi đó Marianna mười bảy tuổi.

Con bé được đặt tên giống cụ bà Manina độc thân, chị gái ông nội Mariano.

Trên cây phả hệ treo trong căn phòng màu hồng đầy rẫy những cái tên Manina: một người sinh năm 1420 và chết năm 1440 vì bệnh dịch tả, một người khác sinh năm 1615, chết năm 1680, là nữ tu sĩ dòng Carmel đi dép trần; một người khác nữa sinh năm 1650 và chết hai năm sau đó và cuối cùng, người sinh năm 1651 và hiện là người cao tuổi nhất của dòng họ Ucrìa.

Bé Manina giống cụ bà Scebarràs ở cái cổ tay thanh mảnh và cái cổ dài.

Nó cũng giống cha, ông công tước Pietro ở cái vẻ buồn bã, nghiêm khắc, dù vẫn có nét vui vẻ và vẻ đẹp mềm mại của dòng họ Ucrìa, nhánh Fontanasalsa.

Hai cô chi Felice và Giuseppa rất thích chơi với em bé, chúng nhét vào tay em cả những cây kẹo bọc đường bếnh con giống và nghĩ là em sẽ ăn nhưng kết quả là kẹo dính ra khắp nôi và những cái tã.

Đôi khi Marianna có cảm giác sự yêu thương của hai đứa chị dành cho em quá ồn ào và mạnh bạo đến mức có thể gây nguy hiểm cho đứa trẻ sơ sinh.

Vậy là cô phải liên tục để mắt tới chúng mỗi khi chúng ở gần nôi.

Từ khi Manina ra đời, hai đứa trẻ đã thôi không đến chơi với hai cô gái Lina và Lena con người chăn bò Ciccio Calò, trong ngôi nhà của họ cạnh chuồng gia súc.

Hai cô gái đó không lấy chồng.

Kể từ khi mẹ họ qua đời, họ dành tất cả cho ông bố, cho lũ bò và ngôi nhà.

Hai chị em sinh đôi đều to lớn, lực lưỡng, rất khó phân biệt được ai là chị, ai là em.

Họ thường ăn mặc giống nhau với những cái váy đỏ bạc màu, áo chẽn nhung màu đỏ tía, cái tạp dề màu xanh nhạt lúc nào cũng vấy máu.

Từ khi chị bếp Inno-cenza quyết định không tự tay giết gà nữa, nhiệm vụ vặt cổ và mổ gà được chuyển sang cho hai chị em này, họ làm rất dứt khoát và nhanh chóng.

Những kẻ độc mồm độc miệng nói Lina và Lena ngủ với cả cha mình, trên chính cái giường mà hồi trước cha họ ngủ với vợ khi bà còn sống.

Họ còn nói đã hai lần hai cô mang thai và phải phá thai bằng cây mùi tây.

Nhưng đó chỉ là những lời đàm tiếu mà một hôm Raffaele Cuffa viết cho Marianna biết trên mặt sau của tờ giấy tính toán chi tiêu trong nhà và cô đã không muốn tin điều đó.

Khi mấy cô con gái nhà Calò đi phơi quần áo các cô thường hay hát và giọng hát của họ quả là tuyệt vời.

Cả điều này cô cũng chỉ biết một cách gián tiếp khi một trong những người hầu gái vào trong nhà để giặt quần áo.

Và thỉnh thoảng Marianna cũng nhận ra điều đó khi cô đứng trước cái lan can sơn màu dọc sân thượng dài nằm ngay trên khu chuồng gia súc và nhìn hai cô gái ấy phơi quần áo.

Họ cùng cúi xuống cái rổ to đựng quần áo ra sao, họ kiễng chân lên phơi với một cử chỉ trông rất thanh lịch, họ lấy tấm vải ga ra và mỗi người cầm một đầu để vắt trông cứ như đang chơi trò kéo co vậy.

Cô thấy miệng họ mở ra nhưng không thể biết liệu có phải họ đang hát không.

Mong muốn mãnh liệt được nghe giọng hát mà như mọi người nói là rất hay của hai cô ấy với cô mãi mãi là vô vọng.

Ông bố chăn bò của họ thường huýt sáo gọi họ như ông vẫn làm với lũ bò giống Messina.

Và họ nhanh nhẹn chạy đến với những bước chân chắc chắn, mạnh bạo của người đã quen với công việc nặng và có cơ bắp săn chắc.

Khi ông bố đi vắng, đến lượt Lina và Lena huýt sáo gọi chú ngựa hồng giống Miguelito rồi cả hai nhảy lên lưng ngựa và dạo một vòng quanh vườn ô liu, người này bám vào lưng người kia mà không hề bận tâm đến các cành cây gãy ngay bên cạnh hông ngựa hay những cây gai thông xuống trước mặt và móc vào mái tóc dài của họ.

Felice và Giuseppa thường đến tìm họ ở ngôi nhà tồi tàn bên cạnh chuồng gia súc, ngoài hình ảnh các vị thánh trong nhà còn có rất nhiều bình sữa đầy để một bên dùng làm pho mát.

Hai đứa nhỏ đòi các cô kể cho chúng nghe chuyện về những người chết do bị ám sát, về lũ ma sói rồi chúng lại mang về kể cho cha.

Mỗi lần như vậy ông công tước lại nổi giận và cấm chúng quay lại nơi đó.

Nhưng khi ông vừa khởi hành đi Palermo là chúng lại chạy với đến nhà hai chị em sinh đôi, ngồi ăn bánh mì và pho mát giữa bầy ruồi trâu.

Ngài công tước vô tâm đến mức không hể nhận ra thứ mùi vương trên quần áo lũ trẻ khi chúng lên về, sau khi đã lăn lộn hàng giờ trên rơm rạ và nghe chuyện kinh dị.

Đêm đến chúng thường chui vào giường mẹ vì sợ những câu chuyện chúng nghe xảy ra với chính chúng.

Nhiều đêm đột nhiên chúng tỉnh dậy mồ hôi đầm đìa, miệng khóc thét.

"Rõ là lũ con cô ngu si, nếu sợ sao chúng còn đến đó?"

Đó là suy luận lô gic của ngài công tước và không thể nói là ông sai.

Chỉ có điều thứ lô gic đó không đủ để giải thích thú vui được nghe chuyện chết chóc dù chúng sợ đến phát khiếp.

Hoặc cũng có thể chính vì cái cảm giác đó.

Nghĩ đến hai đứa con đầu lúc nào cũng chạy lung tung, Marianna nhấc đứa con mới sinh ra khỏi nôi.

Dúi mũi vào chiếc váy đăng ten tí xíu được móc bằng tay dài đến quá chân đứa bé, cô ngửi thấy cái mùi không lẫn vào đâu được của phèn, nước tiểu, mùi chua của sữa, mùi nước rau diếp mà đứa trẻ sơ sinh nào cũng có trên người và không hiểu tại sao đó là thứ mùi tuyệt nhất trên đời này.

Áp má mình vào cơ thể nhỏ bé của con, cô tự hỏi liệu nó có nói được không.

Hồi trước cả với Felice và Giuseppa cô đều sợ chúng sẽ không biết nói.

Vậy nên cô thường lo lắng dò xét hơi thở của chúng, chạm tay vào cổ họng để cảm nhận luồng hơi của những tiếng nói đầu tiên.

Và chỉ khi thấy những cái môi nhỏ xíu đóng mở theo nhịp của câu nói thì cô mới cảm thấy yên tâm.

Tối qua, ông bác-chồng đi vào phòng, ngồi lên giường.

Ông nhìn vợ cho con bú với vẻ suy tư, buồn chán.

Rồi ông viết cho cô một mẩu giấy dè dặt: "Con nhỏ sao rồi?" và Em thấy ngực đỡ đau chưa?".

Cuối cùng, ông thêm một câu vẻ tử tế: "Rồi ta sẽ có con trai, hãy cho nó thời gian.

Đừng nghĩ ngợi nhiều, sẽ có thôi."
 
Marianna Ucrìa
IX


Cậu quý tử rồi cũng chào đời như ông bác-chồng mong đợi, nó tên là Mariano.

Mariano ra đời đúng hai năm sau cô chị Manina.

Cũng tóc màu vàng, xinh xắn hơn chỉ nhưng tính cách thì hoàn toàn trái ngược: nó rất dễ khóc nếu không có ai luôn mắt để ý tới, mỗi lần như thế nó khua chân múa tay và khóc thét lên.

Vấn đề là ở chỗ mọi người ai cũng nâng niu nó như một món đồ quý giá và vậy là dù mới chỉ mấy tháng tuổi nhưng nó cũng đã hiểu là những gì nó muốn đều sẽ được đáp ứng.

Lần này ông bác-chồng đã cười hể hả, ông mang đến tặng ngay cho vợ một chuỗi hạt ngọc trai sắc hồng to như hạt đậu.

Ông còn trao cho vợ cả một ngàn scudi vì "các ông hoàng thường làm như vậy với hoàng hậu khi họ sinh hạ quý tử".

Ngôi nhà chật cứng những người họ hàng chưa từng gặp mặt rồi cả hoa và bánh ngọt.

Bà bác xơ xưng tội Teresa mang theo một đoàn thiếu nữ là con cái của các gia đình quyền quý, các cô đều sắp vào tu viện, mỗi người mang một món quà tặng cho sản phụ: người thì tặng một chiếc thìa bạc, người thì hộp kim chỉ khâu hình trái tim, người lại mang đến một cái gối thêu tay hay đôi dép xỏ đính nổi hình ngôi sao.

Ông anh cả Signoretto lại ngồi cạnh cửa sổ gần một giờ, uống một cốc sôcôla nóng, một nụ cười hạnh phúc đọng mãi trên môi.

Cùng đến với ông là cô em Agata với ông chồng Diego và lũ con mặc lễ phục.

Anh Carlo cũng từ tu viện San Martino delle Scale đến, mang tặng cô em một cuốn Kinh Thánh được một thầy tu chép tay từ thế kỷ trước và điểm xuyết những hình tiểu họa có màu sắc tinh tế.

Hai đứa con gái lớn ganh tị vì bị bỏ quên nên ra vẻ không quan tâm đến thằng em trai mới sinh.

Chúng lại tiếp tục thói quen đi sang chỗ Lina và Lena để rồi bị lây chấy.

Chị bếp Innocenza hết chải tóc chúng với dầu đốt lại chải với dấm nhưng chỉ có lũ chấy lớn là lăn ra chết còn bọn còn trong trứng thì vẫn sống và tiếp tục sinh sôi nhanh chóng.

Vậy là phải quyết định cạo trọc đầu hai đứa, mỗi khi nhìn chúng đi ra ngoài như tù nhân với cái đầu trọc lốc và cái vẻ rụt rè là Innocenza lại phì cười.

Ông bố Marianna quyết định lưu hẳn lại biệt thự để "có thể nhìn ra màu mắt của thằng nhóc".

Ông ta nói mắt trẻ sơ sinh rất hay đánh lừa ta, rằng ông không biết chúng thực sự là màu gì, mỗi lần bế thằng bé ông lại hát ru như thể nó là con ông vậy.

Mẹ cô thì chỉ đến một lần, việc đi lại làm bà thấy quá mệt mỏi đến mức sau chuyến đi như vậy bà phải nằm liệt giường tới ba ngày.

Với bà đoạn đường từ Palermo đến Bagheria như dài vô tận" với những cái hố sâu "như vực", cái nắng "mọi rợ và bụi mù "khốn kiếp".

Bà thấy Mariano "quá đẹp không giống con trai và "một vẻ đẹp như thế lớn lên sẽ dùng làm gì đây?", bà đã viết như thế trên một mẫu giấy màu xanh nhat có mùi hoa viôlét.

Rồi bà nhìn thấy đôi chân thằng bé và khẽ nhay vào đó: "Ta sẽ cho nó làm vũ công."

Lần này, khác với mọi khi bà viết rất nhiều và thậm chí còn viết một cách vui vẻ Bà cười nói, ăn uống, nhịn nhai thuốc lá được vài giờ, rối bà cùng chồng trở về phòng dành cho khách và họ ngủ cho đến tận mười một giờ sáng hôm sau.

Tất cả người làm ai cũng muốn bế đứa bé trai đã bao lâu trông chờ: người chăn bò Ciccio Calò trìu mến bế nó trên đôi tay chai sạn, chằng chịt vết sẹo, vết cắt đen sĩ.

Lina và Lena hôn lên miệng và đôi chân nhỏ xíu với vẻ dịu dàng hiếm thấy.

Cả Raffaele Cuffa cũng nhân cơ hội mặc chiếc áo khoác dài mới vải gấm Ả rập với màu truyển thống của gia đình Ucrìa, ông đến cùng bà vợ Severina chẳng mấy khi ra ngoài vì bệnh đau đầu nặng đến mức gần như bị mù.

Người làm vườn Peppino Geraci thì đến cùng bà vợ Maria và năm người con, đứa nào cũng có tóc và lông mi màu đỏ hoe, rụt rè đến nỗi chẳng dám nói gì.

Người đánh ngựa Peppino Cannarota đến với thằng con trai lớn, nó cũng làm vườn cho nhà Palagonia.

Đứa bé được họ chuyền tay từ người này sang người khác như thể nó là Đức Chúa hài đồng vậy, họ cười ngờ nghệch, giẫm chân lên cả áo lễ dài của nhau rồi thi nhau hít hà cái mùi thơm tho tỏa ra từ cơ thể bé xíu của cậu ấm.

Trong khi đó con bé Manina bò khắp phòng, chỉ có chị bếp Innocenza là để mắt tới con nhỏ.

Cả hai bò chồm hỗm dưới mấy cái bàn trong khi khách khứa nhộn nhịp ra vào, giẫm đạp lên những tấm thảm quý mua từ xứ Erice, nhổ vào mấy cái bình xứ Caltagirone, vốc cả nắm kẹo dồi xử Catania) từ cái khay đẩy mà Marianna để cạnh giường ngủ.

Một buổi sáng, cha Marianna đến với một món quà bất ngờ: một bộ đồ viết cho cô con gái câm điếc, đó là một cái túi lưới màu bạc bên trong có một cái lọ có nắp xoay được dùng để đựng mực, một hộp thủy tinh dùng để đựng bút, một túi da nhỏ đựng giấy thấm và cả một cuốn sổ tay nhỏ được nối với một sợi dây buộc vào cái túi lưới.

Nhưng thứ ngạc nhiên nhất chính là cái bảng nhỏ gấp được, làm bằng gỗ rất nhẹ và có thể đeo ở đai lưng bằng hai sợi dây kim tuyến.

Tưởng nhớ Maria Luisa xứ Savoia Orléans(2), hoàng hậu trẻ nhất và thông minh nhất của vương quốc Tây Ban Nha, mong rằng bà sẽ là một tấm gương cho con, Amen!", người cha đã viết như vậy để khai trương bộ đồ viết của Marianna.

Trước thái độ khẩn khoản của cô con gái, ông đã ngồi viết ngắn gọn câu chuyện về bà hoàng hậu qua đời năm 1714 và chưa bao giờ bị quên lãng này.

"Một thiếu nữ có thể không đẹp nhưng rất mạnh mẽ.

Là con gái của Vittorio Amedeo(3), đức vua của chúng ta từ năm 1713 và công chúa Anna xứ Orléans), cháu gái vua nước Pháp Louis XIV(2), năm mười sáu tuổi bà đã trở thành vợ của hoàng tử Filippo V(3), sau này là vua Tây Ban Nha.

Chẳng bao lâu sau người chồng phải đi chinh chiến ở Ý và được người ông họ, thái tử nước Pháp gợi ý, bà quyết định nhiếp chính.

Những người rì rầm phản đối nhất thì đặt câu hỏi: Một cô gái mười sáu tuổi làm thế nào mà đứng đầu Nhà nước được?

Nhưng sau đó ai cũng phải thừa nhận đó là sự lựa chọn không thể đúng đắn hơn.

Bà hoàng hậu trẻ Maria Luisa trên thực tế có năng khiếu làm chính trị.

Bà bỏ ra hàng giờ ở Hội đồng để nghe tất cả những gì mọi người nói rồi đưa ra những nhận xét ngắn gọn nhưng thấu đáo.

Khi một diễn giả nào đó nói quá nhiều và toàn là những điều vô bổ, bà lôi từ dưới gầm bàn ra một bức thêu và chỉ tập trung vào nó.

Và cuối cùng mọi người cũng hiểu ra căn nguyên của hành động ấy nên mỗi khi thấy bà lấy bức thêu ra là họ biết cần cắt ngắn bài diễn thuyết.

Với cách làm như vậy bà đã khiến các phiên họp Hội đồng Nhà nước diễn ra nhanh chóng và đi vào nội dung cụ thể.

"Bà thường xuyên trao đổi thư từ với người ông họ là Vua Mặt trời và luôn nghe theo lời khuyên của ông một cách ngoan ngoãn nhưng khi cần từ chối điều gì, bà vẫn nói không một cách khẳng khái đáng kinh ngạc.

Những người lớn tuổi sững sờ vì trí thông minh của bà.

Nhân dân yêu mến bà."

"Khi quân đội Tây Ban Nha thất bại thảm hại trên các chiến trường, bà hoàng hậu trẻ Maria Luisa đã làm gương cho tất cả mọi người khi cho bán tất cả đồ trang sức của mình và đích thân đi đến nhà từ người giàu nhất đến kẻ nghèo nhất để quyên góp tiền tái thiết quân đội.

Khi bà sinh người con đầu lòng, hoàng tử xứ Asturie, bà nói nếu được tự mình quyết định, bà sẽ ôm con cưỡi ngựa ra mặt trận.

Và ai cũng biết bà hoàn toàn làm được điều đó."

"Khi nhận được tin về chiến thắng tại Brihuega và Villaviciosa, bà hoàng hậu vui đến mức xuống đường hòa mình cùng mọi người dân, nhảy múa, ca hát cùng họ."

"Sau khi người con thứ hai ra đời nhưng lại chết chưa đầy một tuần sau đó, bà bị chứng viêm amiđan nhưng bà không hề than vãn, bà tìm cách che chỗ sưng bằng cái cổ áo xếp.

Người con tiếp theo là hoàng tử Ferdinando Pietro Gabriele ra đời và may mắn sống sót nhưng căn bệnh của bà càng trở nên trầm trọng.

Các bác sĩ nói bà bị lao phổi.

Cũng chính vào thời điểm này, cha chồng bà, Thái tử (1) qua đời; tiếp theo đó là chị gái bà, Maria Adelaide, cùng chồng và con trai đầu cùng chết vì bệnh đậu mùa."

"Hai năm sau, khi biết đã đến lúc phải ra đi, bà xưng tội và rửa tội rồi vĩnh biệt chồng cùng các con với một sự bình thản đáng kinh ngạc.

Bà tắt thở năm hai mươi tư tuổi và trong cuộc đời mình bà chưa từng thốt lên một lời than vân."

Toàn bộ người thân trong gia đình trốn chạy đi nơi khác đúng cái ngày người ta phát hiện ra một trong những Khá con của Peppino Geraci bị bệnh đậu mùa.

Lại một đợi dịch đậu mùa khác ở Bagheria!

Đây là đợt dịch thứ hai kẻ từ khi Marianna bắt đầu biến khu nhà cũ thành biệt thự, Đợt dịch đầu đã giết chết rất nhiều người, trong số đó có mẹ của người chăn bò Ciccio Calò, thằng con trai độc nhất nhà Cuffa và cũng kể từ đó bà vợ Severina khốn khổ của Cuffa mắc chứng đau đầu khủng khiếp đến mức lúc nào cũng phải quấn quanh thái dương một dải vải thấm đẫm dấm, vậy nên chỗ nào bà đến cũng vương đầy mùi chua nồng nặc.

Nhiều người cũng chết trong đợt dịch thứ hai: hai trong số bốn đứa con còn lại của của Peppino Geraci, cô bạn gái đã đính hôn của con trai người đánh xe Peppino Cannarota, nổi tiếng là xinh đẹp ở xứ Bagheria này và cũng là người hầu nhà Palagonia.

Lại thêm hai người đầu bếp nhà Butera và bà công chúa già Spedalotto, người mới chỉ vừa chuyển sang ở ngôi biệt thự mới cách đó không xa.

Cả bà bác Manina trước đó được hai người đánh xe dìu đến, người quấn chặt trong cái khăn choàng bằng len và hay bế thằng bé Mariano bằng đôi tay gầy giơ xương cũng đã qua đời.

Không ai biết có phải bà chết do dịch đậu mùa hay không.

Bà ra đi chính ở trong biệt thự nhà Ucrìa mà không ai hay biết.

Mãi hai ngày sau người ta mới phát hiện ra: bà nằm dựa trên giường như một con chim lông xù, cái đầu nhẹ tênh, sau này ông bố viết là "nhẹ như một quả hạnh nhân rỗng".

Hồi trẻ bà bác Manina được rất nhiều người theo đuổi, "bà có khuôn mặt nhỏ nhắn và thân hình như nàng tiên cá, đôi mắt lôi cuốn và mái tóc óng ả làm cụ cố Signoretto phải từ bỏ ý định cho bà đi tu để khỏi làm mất lòng những người ngấp nghé dạm hỏi bà.

Hoàng thân xứ Cutò muốn lấy bà làm vợ, rồi cả công tước xứ Altavilla, nam tước xứ San Giacomo và bá tước xứ Patanè, nam tước xứ San Mar-tino.

Nhưng bà không muốn lấy chồng mà ở lại nhà cha mẹ.

Để trốn tránh việc kết hôn, bà đã phải giả vờ bị bệnh trong nhiều năm," ông bố viết.

"Nhưng rồi bà lại mắc bệnh thật và không ai hiểu đó là bệnh gì.

Bà ho đến gập cả người lại, tóc rụng và ngày càng gầy gò, ngày càng nhẹ cân."

Bệnh tật là thế nhưng bà bác Manina cũng sống đến gần tám mươi tuổi, ai cũng muốn mời bà đến dự tiệc vì bà là người có khiếu quan sát và bắt chước mọi người dù già hay trẻ, gái hay trai, làm bạn bè khách khứa ôm bụng mà cười.

Cả Marianna cũng cười dù không nghe được bà nói gì.

Chỉ cần nhìn con người nhỏ nhắn và nhanh nhẹn của bà, xem bà múa đôi tay như nhà ảo thuật ra sao, bắt chước vẻ ăn năn của người này, vẻ cục mịch của người kia và vẻ tự phụ của người khác nữa là hoàn toàn bị bà chinh phục.

Bà còn biết đến như một người ác khẩu nên ai cũng muốn kết bạn với bà để khỏi bị nói xấu sau chẳng ai lung lạc được bà: thoạt nhìn thấy ai đó trông có lưng.

Nhưng

vẻ buồn cười là bà bêu xấu ngay.

Dẫu vậy bà không phải người bản chất hay thóc mách chuyện người khác mà bà thường để ý nhiều đến những hành động, thái độ thái quá của kẻ keo kiệt, người tự phụ, hay kẻ yếu đuối, người dại dột.

Đôi khi những câu nói của bà chuẩn xác đến mức trở thành những câu ngạn ngữ.

Khi miêu tả hoàng thân Rau, bà nói "ông ta coi rẻ tiền bạc nhưng đối xử với mấy đồng xu như chị gái mình".

Hay khi nói về hoàng thân Des Puches, người nổi tiếng là lùn và đang chờ vợ sinh con "ông ta lo lắng đi đi lại lại dưới gầm giường".

Rồi thì gọi tử tước xứ Palagonia là "cái cán chổi không hoài bão.

Và rất nhiều những cách nói tương tự như thế làm mọi người rất thích thú.

Về thằng bé Mariano, bà thều thào nói nó là "con chuột nhắt có cái vẻ của một chúa sơn lâm đội lốt chuột nhất".

Nói xong bà quay ra nhìn xung quanh với đôi mắt long lanh chờ đợi một tràng cười.

Giờ thì bà như một nghệ sĩ trên sân khấu và không bao giờ chối bỏ công chúng của mình.

Một lần bà nói "Khi chết ta sẽ xuống địa ngục.

Rồi bà thêm vào "Nhưng mà địa ngục là cái gì nhỉ? có giống như Palermo mà không có hiệu bánh ngọt không?

Ta vốn chẳng thích đồ ngọt rồi."

Và một lúc sau: "Nói tóm tại ta vẫn hợp với cái phòng khiêu vũ nơi đầy rẫy những thiên thần hơn, tức là thiên đường ấy mà."

Bà ra đi một mình, không làm phiền ai.

Không ai khóc.

Nhưng những câu nói mặn mà và cay đến rách lưỡi như cá cơm ngâm mắm ớt của bà vẫn tiếp tục lưu truyền.
 
Marianna Ucrìa
X


Công tước Pietro Ucrìa không hề mảy may tranh cãi về những quyết định của vợ đối với việc xây biệt thự.

Ông chỉ khăng khăng là có làm gì thì cũng phải dựng trong vườn một thứ mà ông thường gọi là "coffee house) bằng sắt, có mái vòm, gạch lát nền màu trắng và xanh và phải nhìn ra biển.

Và ông đã được toại nguyện, hay ít ra thì mọi thứ cũng sẽ được làm như ông muốn vì sắt thì đã có sẵn rồi nhưng còn thiếu mấy người thợ sắt để lắp đặt.

Hiện tại ở Bagheria có tới hàng chục cái biệt thư đang được xây nên không dễ kiếm thợ xây, thợ sắt.

Ông bác-chồng của Mar-ianna vẫn nói đi nói lại là dẫu sao cái khu nhà cũ cũng rất tiện, nhất là cho việc đi săn.

Chẳng ai hiểu tại sao ông ta lại nói vậy vì ông chưa từng đi săn lấy một lần.

Ông ghét sự hoang dã.

Thậm chí ông còn ghét cả súng ống tuy có cả một bộ sưu tập.

Thú vui của ông là những cuốn sách nói về các tước hiệu quý tộc và trò đánh bài whist kiểu Anh, ngoài ra ông cũng thích đi dạo dọc những luống chanh do đích thân ông chiết ghép.

Ông biết mọi điều về tổ tiên, về nguồn gốc dòng họ Ucrìa nhánh xứ Capo Spagnolo, nhánh xứ Fontanasalsa và các chi nhánh trước, về ngôi thứ dòng tộc và tất nhiên là về các tước hiệu.

Trong phòng đọc của mình, ông cho treo một bức tranh lớn tái hiện cảnh hành quyết thánh Sig-noretto.

Bên dưới bức tranh ông cho khảm đồng dòng chữ: Thánh Signoretto Ucrìa xứ Fontanasalsa và xứ Campo Spagnolo, sinh tại Pisa năm 1269".

Tiếp theo là hàng chữ nhỏ kể sơ lược cuộc đời vị thánh, ông đã đến Palermo ra sao, và đã tham gia như thế nào vào "các hoạt động từ thiện tại bệnh viện, cứu giúp biết bao người nghèo tràn ngập thành phố khi đó.

Rồi năm khoảng ba mươi tuổi ông rút lui về ở ẩn tại một nơi vô cùng hoang vắng gần biển" như thế nào.

Nhưng cái "nơi vô cùng hoang vắng này ở chỗ nào không biết?

Liệu ông có rút lui về tận bờ biển châu Phi không?

Tại cái nơi hoang mạc "gần biển", thánh Signoretto đã bị "người Ả rập hành quyết", nhưng tại sao ông bị hành quyết thì trên cái biển đồng đó không nói.

Chỉ vì ông là thánh sao?

Không phải thế, mình ngốc thật - Marianna nghĩ - ông trở thành thánh sau khi bị hành quyết chứ.

Một cánh tay của thánh Signoretto, trên dòng đề tựa viết, đang được các thầy tu dòng tu Domenico gìn giữ và coi nó như thánh tích.

Trên thực tế ông bác-chồng đã làm tất cả để lấy lại thánh tích của gia đình nhưng đến giờ ông vẫn chưa làm được.

Các thầy tu dòng Domenico thì nói đã trao lại cho một tu viện của các nữ tu dòng Carmel, các nữ tu dòng Carmel thì nói đã tặng lại cho các nữ tu dòng Clara.

Đến khi đến hỏi các xơ dòng Clara thì họ cho biết chưa từng nhìn thấy cái thánh tích đó bao giờ.

Trong bức tranh có màu tối đen của biển: một con

thuyền thả neo gần bờ, trên thuyền không một bóng người, một cánh buồm nâu đã được cuộn lại.

Ở tiền cảnh có một luồng ánh sáng dội từ bên trái như thể có ai đó đứng ngay cạnh bức tranh và soi ngọn đuốc cháy sáng vào.

Một người đàn ông lớn tuổi - nhưng chẳng phải là ông thánh khoảng ba mươi tuổi sao?

- đang bị hai thanh niên lực lưỡng ở trần dùng dao đâm (đấm đá).

Trên cao, chếch về phía bên phải là hình ảnh ba thiên thần đang bay, tay nâng một vòng gai.

Với công tước Pietro, câu chuyện gia đình dù là truyền thuyết và tưởng tượng cũng vẫn đáng tin hơn những gì các cha xứ thường kể.

Với ông, Chúa ở rất xa và đang cười khẩy"; Christ "nếu là con của Chúa thật thì, nói cho ngắn gọn, cũng chỉ là một kẻ chẳng có tríkhôn".

Còn Đức Mẹ Maria "nếu là một người đàn bà cao quý thì đã không cư xử hời hợt đến mức để thằng con nhỏ giữa lũ sói rồi mang nó đi khắp nơi trong ngày lễ thánh, làm cho nó tin rằng mình bất khả chiến bại nhưng ai cũng biết kết cục của nó thế nào".

Theo ông bác-chồng, người đầu tiên của dòng họ Ucrìa không phải ai khác mà chính là một ông vua của thế kỷ thứ VII trước Công nguyên, nói chính xác ra thì người đó là vua xứ Lidia (1).

Từ vùng đất hẻo lánh ấy, vẫn theo ông, người họ Ucrìa đã qua cả Roma và làm Nguyên lão của nền Cộng hòa ở đó.

Sau cùng họ trở thành người theo đạo Kitô dưới thời Costantino Đại đến.

Khi Marianna đùa mà viết cho ông chồng rằng chắc chắn người nhà Ucrìa là người không có chính kiến nên thường đứng về phe kẻ mạnh, ông liền nổi cáu và không nhìn mặt cô mấy ngày liền.

Không được đùa cợt với các vị tổ tiên đã khuất.

Nhưng nếu cô yêu cầu giải thích về những bức tranh lớn được chất thành đống ở căn phòng khách màu vàng để rồi sẽ được treo lên tường khi ngôi nhà hoàn thiện, ông chồng cầm ngay lấy bút và viết kể cho cô về ông giám mục Ucrìa, người đã từng chiến đấu chống quân Phổ và về ông nghị sĩ Ucrìa, người đã từng có một bài diễn văn nổi tiếng bảo vệ chế độ con trai trưởng hưởng thừa kế.

Không quan trọng Marianna trả lời thế nào.

Rất hiếm khi ông đọc những gì vợ viết cho dù rất thích ngắm những nét chữ dốc đứng và sạch sẽ của vợ.

Việc vợ hay qua lại thư viện làm ông không hài lòng nhưng ông cũng không dám phản đối; ông biết với Marianna việc đọc là một nhu cầu không thể thiếu và dù câm nhưng cô vẫn có cái lý của mình.

Ông không thích đọc sách vì chúng "giả dối".

Trí tưởng tượng là một thứ tự do đáng ghê tởm.

Với công tước Pietro, thực tế được hình thành từ một loạt những nguyên tắc trường tồn và bất di bất dịch; người có học thức không thể không hòa nhập với những nguyên tắc đó.

Chỉ khi phải đi thăm một đứa trẻ sơ sinh, như người ta vẫn làm ở Palermo, hay khi phải có mặt tại một nghi lễ chính thức, ông mới yêu cầu vợ mặc lịch sự, đeo thêm cái ghim cài đính kim cương của bà Ucrìa xứ Scannatura để lại và đi theo ông ra thành phố.

Mỗi khi quyết định ở lại biệt thự tại Bagheria là ông luôn tìm cách gọi thêm người vào bàn ăn.

Khi thì ông mời Raffaele Cuffa, người vừa làm quản gia, vừa làm bảo vệ kiêm luôn thư ký cho ông, nhưng không khi nào mời bà vợ.

Khi thì ông cho gọi ông luật sư Mangiapesce từ Palermo đến; hoặc cho kiệu đến tu viện dòng Clara rước bà bác Teresa xơ xưng tội về hay cho người cưỡi ngựa mang thư mời đến một trong những anh em họ Alliata xứ Valguarnera.

Ông bác-chồng thích nhất gã luật sư Mangiapesce vì hắn không bắt ông phải nói mà có thể ngồi yên nghe.

Không cần phải yêu cầu thì gã "thầy cãi trẻ tuổi như ông vẫn gọi thế cũng luôn miệng nói.

Hắn rất thích tranh luận về những vấn đề tinh tế của luật học và luôn cập nhật các sự kiện chính trị nổi bật diễn ra trong thành phố và cả những câu chuyện ngồi lê đôi mách ở những gia đình quyền quý của thành phố Palermo.

Nhưng khi có bà bác Teresa thì gã luật sư rất khó mở miệng vì bà luôn ngắt lời hắn và quả thực khi nói về những câu chuyện ngồi lê đôi mách trên phố thì bà biết nhiều hơn hắn.

Trong số người thân trong gia đình thì bà Teresa, chị gái bố vợ, là người được ông bác chồng yêu quý nhất.

Đôi khi ông còn nói chuyện một cách hăng say với bà.

Họ trao đổi với nhau về các vấn đề trong gia đình và còn tặng quà cho nhau: thánh tích, tràng hạt được ban phép và cả đồ gia bảo.

Bà bác mang từ tu viện đến món cà tím cuộn pho mát trộn đường và thì là bỏ lò.

Món ăn ngon tuyệt đến mức mỗi lần như thế công tước Pietro ăn đến cả chục cuộn, vừa ăn vừa nhăn mũi như con chuột chũi háu đói.

Marianna nhìn ông bác-chồng nhai và tự nhủ bộ não ông có cái gì đó giống cái miệng: cắn, xé, nghiền, trộn, nuốt.

Nhưng những thứ nuốt vội nuốt vàng ấy ông cũng chẳng hấp thụ được gì.

Vậy nên ông mới gầy đến thế.

Ông mất quá nhiều sức lực cho việc nghiền ngẫm các ý nghĩ nên trong cơ thể ông chỉ lưu lại những thứ hương hoa.

Vừa mới ăn vào cái gì là ông vội vàng đào thải ra những thứ cặn bã mà ông cho là không xứng đáng lưu lại trong cơ thể của một người thanh cao.

Với rất nhiều quý tộc ở tuổi ông, những người đã sống và trưởng thành trong thế kỷ trước, tư duy một cách có hệ thống là cái gì đó tầm thường và thông tục.

Về nguyên tắc thì sự đối chiếu cùng các trí tuệ khác, tư tưởng khác được coi như một sự đầu hàng.

Dân đen thường suy nghĩ theo nhóm, theo bầy đàn còn một quý tộc thì làm việc đó một cách độc lập và sự vinh quang, lòng quả cảm được cấu thành từ chính sự đơn độc ấy.

Marianna biết dù tôn trọng vợ nhưng ông chồng không coi vợ ngang hàng với mình.

Với ông ta vợ là một cô gái của thế kỷ mới, khó hiểu và có cái gì đó quá dân đã trong những lo nghĩ về chuyện đi lại, làm lụng hay việc xây dựng.

Hành động là cái gì đó khác thường, nguy hiểm, chẳng có ích lợi gì và luôn giả dối.

Có thể nhận thấy điều đó trong đôi mắt buồn rười rượi của ông khi nhìn cô đi đi lại lại bận rộn trên cái sân ngổn ngang vôi vữa, gạch ngói, Hành động là một việc đã được lựa chọn và sự lựa chọn là cần thiết.

Định hình cho thứ ta không biết, làm cho nó trở nên thân quen, nổi bật nghĩa là cách xa dần sự tự do, xa dần với nguyên tắc cao quý của sự nhàn hạ mà chỉ một quý tộc thực thụ mới tự cho phép mình, học đòi theo Đấng cao xanh.

Dù chưa một lần được nghe giọng chồng nhưng Marianna biết điều gì nung nấu trong cái cổ họng quàu quạu kia: một thứ tình yêu kiêu ngạo, đầy cảnh giác với những mơ mộng vô hạn, những ham muốn không phương hướng và với đam mê không được thỏa mãn.

Một giọng nói chát chúa vì buồn chán nhưng vẫn hoàn toàn được kiểm soát như những người không bao giờ thả lỏng mình.

Chắc chắn là như vậy, Marianna cảm nhận được điều đó qua hơi thở hổn hển và nóng bỏng của ông mỗi khi ở gần cô.

Công tước Pietro coi ý muốn của vợ kiên quyết ở lại Bagheria cả trong những tháng lạnh lẽo trong khi họ có cả một ngôi nhà lớn, tiện nghi ở Palermo là điên rồ.

Ông như phát cuồng khi phải từ bỏ các buổi tối ở sòng bạc quý tộc trên phố, nơi ông có thói quen chơi bài whist kiểu Anh hàng giờ và uống nước hoa hồi trong khi chán nản nghe những câu tán gẫu ngu ngốc của mấy người bạn đồng niên.

Trái lại, với Marianna ngôi nhà ở phố Alloro quá tối tăm, chật chội với quá nhiều tranh ảnh tổ tiên và quá nhiều khách không mời mà đến.

Vả lại quãng đường từ Bagheria đến Palermo đầy rẫy những ổ gà to nhỏ và bụi mù làm cô não ruột.

Nhiều lần đi qua khu Acqua dei Corsari cô nhìn thấy ngay trước mặt mình, trên cây cọc cạnh dinh tổng đốc là đầu của những tên cướp bị xiên lên để thị uy với người dân.

Những cái đầu đang khô đi dưới ánh nắng, ruồi nhặng bu kín và thường đi kèm với các mẩu chân tay lem luốc máu đen.

Nhắm mắt hay quay mặt đi cũng chẳng ích gì.

Một cơn gió xoáy xua tan mọi ý nghĩ.

Cô biết chỉ một lát nữa là đi đến hai cây cột trụ ở cổng Porta Felice và họ sẽ đi về hướng Cassaro Morto và rồi ngay lập tức đi vào quảng trường Marina thênh thang hình chữ nhật, giữa cung điện Zecca và nhà thờ Santa Maria della Catena.

Phía bên phải sẽ xuất hiện nhà tù Vicaria, gió thổi trong đầu mạnh như cơn bão, những ngón tay cô sẽ co lại nắm chặt lấy cái áo choàng dài của người cha đang đội mũ kín hết đầu để rồi kéo rách cả cái áo ngắn bằng nhung choàng trên vai cô.

Vậy nên cô rất ghét đi Palermo và thích ở lại Bagheria hơn.

Ngoại trừ những dịp đặc biệt như đám tang, lễ đặt tên thánh hay đi thăm trẻ sơ sinh là cô lại phải lên phố, tiếc là những dịp như vậy không hề ít chút nào vì vốn họ hàng nhà Ucrìa rất mắn đẻ.

Marianna quyết tâm sống ổn định cả trong dịp mùa đông tại ngôi biệt thự Ucrìa ở Bagheria, dù mọi người có phải co cụm lại trong mấy căn phòng quanh lò sưởi lúc nào cũng đỏ than để tránh rét.

Giờ thì ai cũng biết và đến tìm cô ở đó khi đường đi vào không quá khó khăn những dịp nước sông Eleuterio dâng cao và làm ngập úng các khu vực nông thôn nằm giữa Ficarazzi và Bagheria.

Cuối cùng cha cũng đến và ở lại với Marianna tron một tuần.

Chỉ có hai cha con như cô vẫn luôn mong muốn, không có sự hiện diện của con cái, anh chị em và các họ hàng khác.

Kể từ khi mẹ cô qua đời đột ngột không ốm đau gì, cha thường một mình đến gặp cô.

Ông thường ngồi trong căn phòng màu vàng, dưới bức chân dung bà cố Giuseppa hút thuốc hoặc ngủ.

Cha cô thường ngủ rất nhiều, về già lại càng nhiều hơn; nếu đêm nào không ngủ đủ mười tiếng là ông cảm thấy không được khỏe.

Và vì khó có thể ngủ liên tục nhiều giờ đồng hồ đến vậy nên có lúc giữa ban ngày ông cũng ngủ thiếp đi trên ghế bành hoặc đi văng.

Lúc tỉnh dậy ông thường rủ con gái chơi một ván pikê.

Ông vẫn mỉm cười, vui vẻ dù chứng thấp khớp đã làm biến dạng đôi tay và làm lưng ông còng xuống, nhưng ông cứ coi như không và lúc nào cũng sẵn sàng vui đùa và làm mọi người vui lây.

Ông chậm chạp hơn và không có khả năng ngẫu hứng như bà bác Manina nhưng ông cũng có khiếu hài hước, nếu không phải vì lười thì chắc chắn ông cũng là một tay bắt chước có hạng.

Đôi khi ông cầm lấy cuốn sổ nhỏ Marianna buộc ở thắt lưng và giật ra một tờ giấy rồi viết vội lên đó: "Con là một con ngốc, con gái ạ, nhưng lúc về già ta lại phát hiện ra là mình thích lũ ngốc hơn tất cả những người khác."

"Chồng con, ông con rể-anh họ của ta, là một thằng đại ngốc nhưng nó rất yêu con."

"Ta không thích phải chết vì ta sẽ phải để con lại nhưng ta cũng thích thử đi xem có bỏ công được gặp Đức Chúa không."

Điều không khi nào hết làm Marianna ngạc nhiên là sự khác biệt giữa ông bác-chồng Pietro và cô em gái, mẹ cô, cũng như với người em họ, cha cô.

Mẹ cô phương phi và lười biếng bao nhiêu thì ông anh lại gầy gò, xông xáo bấy nhiêu, lúc nào cũng sẵn sàng động đậy chân tay dù chỉ là để đi ngang đi dọc mấy ruộng nho.

Mẹ cô nhàn tản, cam chịu bao nhiêu thì ông anh lại khó khăn, cứng đầu bấy nhiêu.

Đấy là còn chưa kể đến sự khác biệt của ông ta với với người em họ, trông cha cô tươi tắn bao nhiêu thì ông ta lại u ám bấy nhiêu, cha cô cởi mở với mọi người bao nhiêu thì ông ta lại thù địch, ngờ vực họ bấy nhiêu.

Tóm lại ông bác-chồng của cô giống như một hạt giống lạ nảy mầm không đúng lúc trên mảnh đất gia đình và khi lớn lên thì nó mọc xiên mọc xẹo, thô kệch, đầy vẻ hoài nghi.

Lần gần đây nhất, Marianna và cha đã chơi bài pikê đến tận hai giờ sáng.

Hai cha con vừa chơi vừa ăn mứt quả và uống rượu vang thơm xứ Malaga.

Trước đó công tước Pietro đã khởi hành đi Torre Scannatura vì đã đến mùa thu hoạch nho.

Và vậy là xen giữa ván bài hay đợt nghỉ giải lao để uống rượu, cha cô đã viết kể cho Marianna những lời đàm tiếu mới nhất từ Palermo: mọi người nói cô nhân tình của thống đốc thường ngủ trên đống chăn ga màu đen để tôn thêm màu da trắng nõn của mình; thuyền buôn vừa cập bến từ Barcellona chở đầy bô bằng thủy tinh trong suối và mọi người đua nhau mua để làm quà tặng bạn bè, má váy kiểu Adrienne được khởi xướng từ triều đình Paris đã nhanh chóng lan tới Palermo như một quả cầu tuyế không gì ngăn cản nổi làm tất cả thợ may trên phố như ngồi trên đống lửa.

Thậm chí cha còn thổ lộ với cô về tình yêu ông dành cho một thợ thêu ren tên là Ester, có ta làm việc tại một ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của ông ở Papireto.

“Ta đã tặng cho cô ấy một căn phòng nhìn xuống phố nơi cô ấy làm việc... con không tưởng tượng được cô ấy vui thế nào đâu."

Vậy mà cái người là cha cô này, người yêu cô nhất mực lại chính là người đã gây cho cô sự kinh hãi nhất trong cuộc đời mình.

Nhưng ông không biết điều đó.

Ông đã làm vậy để giúp cô: một bác sĩ có tiếng của trường phái Salerno đã khuyên ông chữa bệnh câm cho cô con gái mà có vẻ như nguyên nhân là do một nỗi sợ hãi khủng khiếp, bằng một nỗi sợ hãi lớn hơn.

Timor fecit vitium, timor recuperabit salutem).

Nếu cuộc thử nghiệm không thành công thì đó không phải lỗi của ông.

Lần cuối cùng đến thăm Marianna, cha đã mang đến cho cô một món quà: một bé gái mười hai tuổi, con một tửtù được ông đưa lên giá treo cổ.

"Mẹ nó chết vì bệnh đậu mùa.

Cha nó bị xử tội chết và đã gửi gắm nó lại cho ta trước khi lên giá treo cổ.

Các huynh đệ áo trắng muốn gửi nó đến một tu viện dành cho trẻ mồ côi nhưng ta thì nghĩ sẽ tốt hơn nếu nó đến ở với con.

Ta tặng nó cho con nhưng con phải chăm sóc nó, nó chỉ còn một mình trên thế gian này.

Nghe nói nó có một em trai nhưng chẳng hiểu thằng bé đi đằng nào, có khi chết rồi cũng nên.

Cha chúng nói không nhìn thấy con trai kể từ khi gửi nó cho một bà nông dân đi xin sữa bú.

Con hứa sẽ chăm sóc nó chứ?"

Vậy là con bé Filomena mà mọi người vẫn gọi là Fila ở lại nhà Marianna.

Nó được cho ăn cho mặc nhưng dường như nó vẫn chưa hết rụt rè, ngờ vực: nó nói rất ít hoặc chẳng nói gì, thường trốn sau cánh cửa và vẫn chưa thể cầm nổi một cái đĩa mà không làm vỡ.

Ngay khi có thể, nó chạy ra chuồng gia súc, ngồi lên đống rơm ngay cạnh mấy con bò.

Khi vào nhà lúc nào trên người nó cũng có mùi phân gia súc nồng nặc đến mức đứng cách xa mười bước chân vẫn còn ngửi thấy.

Trách mắng con bé cũng chẳng ích gì.

Marianna nhận ra trong cái nhìn hoảng hốt, lúc nào cũng cảnh giác của nó cái gì đó giống như tâm trạng hồi nhỏ của mình và cô để mặc nó làm những gì nó muốn.

Việc này làm cáu tiết chị bếp Innocenza, Raffaele Cuffa và đến cả ông bác-chồng cũng chịu đựng một cách khó khăn cô hầu mới chỉ vì tôn trọng ông em họ bố vợ và cô vợ câm điếc.
 
Back
Top Bottom