Cập nhật mới

Khác Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện

Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Thập Đại Danh Kiếm


THẬP ĐẠI DANH KIẾM:

Theo nhiều sách cổ và truyền thuyết thượng cổ thuật lại, như 《 Sử Ký 》, 《 Việt Tuyệt Thư 》, 《 Liệt Tử 》, 《 Ngô Việt Xuân Thu 》.

Thập đại danh kiếm thường gặp thuyết pháp vi: (Hiên Viên, Trạm Lô, Xích Tiêu, Thái A, Thất Tinh Long Tuyền, Can Tương, Mạc Tà, Ngư Trường, Thuần Quân, Thừa Ảnh).

Thập đại danh kiếm thứ nhất: Hiên Viên Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ hai: Trạm Lô Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ ba: Xích Tiêu Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ tư: Thái A Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ năm: Thất Tinh Long Tuyền Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ sáu: Can Tương Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ bảy: Mạc Tà Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ tám: Ngư Trường Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ chín: Thuần Quân Kiếm

Thập đại danh kiếm thứ mười: Thừa Ảnh Kiếm

*P/S: Hình ảnh hơi nhỏ, các bạn thông cảm 🙂
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Sự Hình Thành Đạo Giáo


Người ta không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ thấy được là tôn giáo này hình thành qua một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu thượng cổ khác.

Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu (周朝, 1040-256 trước CN).

Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành , thuyết về năng lượng, chân khí , thuyết âm dương và Kinh Dịch .

Nhưng, ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử.

Việc tu luyện đạt trường sinh có bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Nam Hoa chân kinh của Trang Tử, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước CN thì các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ chính là Ngọc Hoàng thượng Đế và Tây Vương Mẫu ), những hình tượng đã có trong thời nhà Thương , thiên niên kỉ 2 trước CN.

Đạo trong sự trình bày của Lão Tử là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên: "Người ta bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên".

Nó là nguồn gốc của vạn vật.

Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật.

Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức.

Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo.

Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ.

Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần biện chứng âm dương của triết lý nông nghiệp.

Được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lý, công bằng, chu đáo, và do vậy mà mầu nhiệm.

Hợp lý, vì theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, cao thì ghìm xuống, thấp thì nâng lên.

Công bằng, vì nó luôn bớt chỗ thừa mà bù vào chỗ thiếu.

Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt.

Bởi vậy mà nó mầu nhiệm tới mức không cần tranh mà chiến thẳng, không cần nói mà ứng nghiệm.

Mọi sự bất cập hay thái quá (mất quân bình) đều trái với lẽ tự nhiên, và do vậy sẽ tự điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hóa: "Vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt".

Từ đây, Lão Tử suy ra triết lý sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập, phải vô vi (không làm).

Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà là hòa nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá.

Vì làm thái quá thì theo luật âm dương "vật cực tắc phản", kết quả thu được còn tệ hại hơn là hoàn toàn không làm gì.

Triết lý vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là "chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình".

Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải "giống như kho một nồi cá nhỏ": cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không quấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát.

Công lao của Lão Tử chính là đã học thuyết hóa những tư tưởng triết lý của truyền thống văn hóa nông nghiệp phương Nam: Đạo chẳng phải cái gì khác ngoài sự phạm trù hóa triết lý tôn trọng tự nhiên; còn Đức chính là sự phạm trù hóa luật âm dương biến đổi.

Cả Khổng Tử và Lão Tử đều tiếp nhận sức sống của văn minh nông nghiệp, nhưng trong khi Khổng Tử tìm cách kết hợp nó với văn minh gốc du mục thì Lão Tử dựa hoàn toàn vào nó.

Khổng thì "nhập thế", "hữu vi", còn Lão thì "xuất thế", "vô vi".

Không phải không có lý do khi có người coi Lão Tử là "ông tổ triết học của dòng họ Bách Việt".

Cũng chính vì học thuyết của Lão Tử xây dựng trên cơ sở triết lý âm dương của văn hóa nông nghiệp là cái mà truyền thống văn hóa gốc du mục chưa hề đến, cho nên Hegel từng nhận xét rằng tư tưởng của đạo Khổng thì nghèo nàn, còn Lão Tử mới xứng đáng là người đại diện cho tinh thần phương Đông cổ đại.

Trong khi Khổng Tử dù đã kết hợp tinh hoa của văn hóa nông nghiệp với truyền thống của văn hóa du mục mà Nho giáo vẫn không được dùng thì dễ hiểu là triết lý hoàn toàn dựa trên truyền thống nông nghiệp phương Nam của Lão Tử càng không thể được sử dụng.

Lão Tử phàn nàn: "Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ai làm".

Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý.

Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cực đoan thành một thứ tương đối luận.

Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻ trộm lớn).

Nhưng Trang Tử đẩy phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ yếm thoát thế tục, trở về xã hội nguyên thủy: "Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật sống chung, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú".

Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỷ thứ 2), tư tưởng của Lão Tử cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo gia thành Đạo giáo.

Chủ trương vô vi cùng với thái độ phản ứng của Lão – Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích hợp để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa.

Đạo giáo thờ "Đạo" và tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là "Thái Thượng Lão Quân", coi ông là hóa thân của "Đạo" giáng sinh xuống cõi trần.

Nếu mục đích của việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống lâu.

Đạo giáo có hai phái: Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh, chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh; Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện đan, dành cho các quý tộc cầu trường sinh bất tử.

Kinh điển của Đạo giáo gọi là Đạo tạng kinh; ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, Đạo tạng còn bao gồm cả các sách thuốc, dưỡng sinh bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bút ký... tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển.

Đạo giáo thần tiên hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử.

Tu tiên có hai cách: nội tu và ngoại dưỡng.

Ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh, gọi là kim đan (hay linh đan, thu được trong lò bằng cách luyện từ một số khoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng).

Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công... lấy thân mình làm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô (Đạo).

Con người cũng như vạn vật là từ "Đạo" mà sinh ra; cho nên tu luyện là trở về với "Đạo".

Lão Tử và Đạo Đức kinh

Các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được là đã thật có một triết gia tên Lão Tử hay không.

Các Đạo gia cho rằng, chính ông là tác giả của bộ Đạo Đức kinh.

Tiểu sử của ông bị huyền thoại vây phủ và vì vậy gây nhiều tranh luận trong giới học thuật.

Tương truyền ông sống thời Chiến Quốc, thế kỉ thứ 6 trước CN, một thời kì được đánh dấu bằng chiến tranh và loạn li.

Nhưng thời này cũng được xem là thời vàng son của triết học Trung Quốc vì nhiều nhà tư tưởng đã tìm cách giải hoá vấn đề làm sao để an dân lập quốc.

Do đó mà người sau cũng gọi thời kì này là thời của Bách gia chư tử—"hàng trăm trường phái".

Đạo Đức kinh hàm dung những tư tưởng này, hướng đến những nhà cầm quyền và cách tạo hoà bình.

Đạo Đức kinh cũng được gọi dưới tên của tác giả, là Lão Tử.

Trong dạng được truyền ngày nay thì nó bao gồm hai quyển với tổng cộng 81 chương.

Phần thứ nhất nói về Đạo, phần hai nói về Đức.

Tuy nhiên, Đạo Đức kinh không là một bộ kinh có một kết cấu lôgic của một thế giới quan, mà chỉ là một tập hợp của những ngạn ngữ huyền bí, tối nghĩa, dường như nó muốn người đọc phải tự lí giải một cách chủ quan.

Chính vì vậy mà người ta tìm thấy hàng trăm bản chú giải, hàng trăm bản dịch của bộ Đạo Đức kinh này.

Trang Tử và Nam Hoa chân kinh

Bộ Nam Hoa chân kinh thì được viết với một phong cách hoàn toàn khác.

Tác phẩm này được biên soạn ở thế kỉ thứ 4 trước CN và tương truyền tác giả là Trang Tử (vì vậy mà tên ngắn của tác phẩm này cũng là Trang Tử, tên tác giả).

Trong Nam Hoa kinh, thể tính của Đạo được miêu hoạ qua những ngụ ngôn, những mẩu chuyện hàm dung những cuộc đàm thoại triết học.

Trang Tử lấy nhiều điểm được nhắc đến trong Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng lại bài bác những điểm khác một cách rõ ràng.

Ví dụ như Trang Tử không hề nhắc đến việc nhắc nhở những nhà cầm quyền an quốc trị dân.

Một chân nhân vô sự, lìa thế gian là người lí tưởng trong tác phẩm này.

Như trường hợp Đạo Đức kinh, việc xác nhận tác giả của tác phẩm này cũng là một điểm tranh luận lớn.

Mặc dù Trang Tử được xem là một nhân vật lịch sử nhưng theo những nhà nghiên cứu sau này thì tác phẩm Nam Hoa chân kinh phần lớn có lẽ được các đệ tử sau này biên tập.

Trong thời Lão Trang, người ta không thấy dấu tích của một tổ chức hay cơ cấu triết học hoặc tôn giáo nào có thể được gọi là Đạo giáo.

Chỉ còn một vài tác phẩm hàm dung tư tưởng Đạo giáo được lưu lại, tôn vinh là Thánh điển khi Đạo giáo dần dần hình thành.

Tuy nhiên, tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau là những tác phẩm này đã được phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với những phương pháp tu tập tôn giáo và tín ngưỡng.

Đạo giáo như một hệ thống triết học

Triết học Đạo giáo so với tín ngưỡng Đạo giáo

Sự phân biệt triết học Đạo giáo và tín ngưỡng Đạo giáo là một cách nhìn từ phương Tây và về mặt khái niệm thì nó cũng không đủ rõ ràng.

Nó có vẻ như là một phương tiện của nền Hán học châu Âu, được áp dụng để có thể nắm bắt và miêu tả được những khía cạnh lịch sử Đạo giáo lâu dài một cách dễ dàng hơn.

Nhìn kĩ thì người Trung Quốc cũng đã có sự phân biệt vi tế trong cách gọi tên trào lưu này.

Khi dùng từ Lão Trang hoặc Đạo gia người ta liên tưởng đến khía cạnh triết học và từ Đạo giáo hoặc Hoàng Lão được dùng để chỉ đến khía cạnh tín ngưỡng tôn giáo.

Tuy vậy, Đạo giáo cũng là một hiện tượng nhiều khía cạnh như những tôn giáo khác.

Trong dòng thời gian hơn hai nghìn năm qua, nhiều hệ thống và chi phái rất khác nhau đã được hình thành.

Do vậy mà sự phân biệt giữa triết học và tôn giáo ở đây là một sự giản hoá quá mức và trong giới học thuật người ta cũng không nhất trí có nên phân biệt như vậy nữa hay không, bởi vì nó không tương thích với sự phức tạp của đối tượng nghiên cứu.

Mặc dù vậy, hai khái niệm đối xứng bên trên cũng mang đến một ích lợi nhất định vì chúng hỗ trợ bước đầu phân tích Đạo giáo.

Nhưng ta nên nhớ là sự việc phức tạp hơn là sự phân biệt đơn giản trên có thể lột toát được hết.

Khái niệm Đạo

Tên Đạo giáo xuất phát từ chữ Đạo, một danh từ triết học Trung Hoa đã được dùng rất lâu trước khi bộ Đạo Đức kinh xuất hiện, nhưng chỉ đạt được tầm quan trọng đặc biệt, phổ cập trong văn bản này.

Đạo ban đầu có nghĩa là "con đường", những ngay trong tiếng Hán cổ đã có nghĩa "phương tiện", "nguyên lí", "con đường chân chính".

Nơi Lão Tử, danh từ này được hiểu như một nguyên lí cơ sở của thế gian, xuyên suốt vạn vật.

Theo kinh văn, Đạo là hiện thật tối cao, là sự huyền bí tuyệt đỉnh (chương IV):

Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh.

Uyên hề, tự vạn vật chi tông.

Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy.

Đạo sâu thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật.

Đạo là đơn vị tối sơ, nguyên lí của vũ trụ và là cái tuyệt đối.

Vạn vật xuất phát từ Đạo, nghĩa là cả vũ trụ và như vậy, trật tự vũ trụ cũng từ Đạo mà ra, tương tự như nguyên tắc tự nhiên, nhưng Đạo lại chẳng phải là một nhân vật toàn năng, mà là nguồn gốc và sự dung hoà tất cả những cặp đối đãi và như thế, không thể định nghĩa được.

Đạo là Vô danh, như câu đầu của bộ kinh này cho thấy:

Đạo khả đạo, phi thường Đạo.

Danh khả danh, phi thường Danh.

Vô danh thiên địa chi thuỷ, hữu danh vạn vật chi mẫu.

Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo thường .

Danh mà ta có thể gọi được, không phải là Danh thật sự.

Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật.

Về mặt triết học thì Đạo có thể được xem là siêu việt mọi khái niệm vì nó là cơ sở của tồn tại, là nguyên nhân siêu việt và như vậy, là tất cả, bao gồm tồn tại và phi tồn tại.

Trên cơ sở này thì ta không thể luận đàm, định nghĩa được Đạo vì mỗi định nghĩa đều có bản chất hạn chế.

Nhưng Đạo lại là cả hai, là sự siêu việt mọi hạn lượng mà cũng là nguyên lí bên trong trong vũ trụ.

Cái Dụng của Đạo tạo ra âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hoá, chuyển động của âm dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng.

Luân lí Đạo giáo

Đạo giáo như một tôn giáo

Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo - được dùng ở đây vì những nguyên nhân thực tiễn - có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lí tưởng của một Thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất định, trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng những phương pháp như Tĩnh toạ (Khí công, Thái cực quyền), sự tập trung cao độ, thiết tưởng (visualization), hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ và huyền học để tạo một thế giới vi quan từ thân tâm - một ánh tượng của đại vũ trụ - và qua đó đạt được sự hợp nhất với vũ trụ.

Thời điểm đầu tiên được xác nhận của Đạo giáo như một tôn giáo là năm 215, khi Tào Tháo chính thức công nhận trào lưu Thiên sư đạo như một tổ chức tôn giáo.

Nhiều trường phái Đạo giáo tìm cách tu tập đạt trường sinh bất tử.

Chúng có lẽ xuất phát từ các phép tu thuộc Tát-mãn giáo (shamanism) và sự sùng bái trường sinh bất tử và được hoà nhập với nhánh Đạo giáo triết học sau này.

Quan hệ với Phật giáo

Phật giáo đến Trung Hoa trong thế kỉ thứ nhất sau CN, trong một thời đoạn mà giới tri thức ở đây khát khao tiếp nhận, nhưng lại mang theo những điểm khó dung hoà.

Với tư cách của một tôn giáo đề cao sự giải thoát một cách khắt khe, Phật giáo chủ trương triết học siêu hình và nhận thức học (sa. pramāṇa, en. epistemology ) với những điểm trung tâm là chân lí (sa. satya), kinh nghiệm bản thân, kiến thức cần có trước, một tín tâm được thể hiện rõ ràng, một cơ sở tâm lí học chuyên chú đến niềm tin đặt nền tảng trên lí giải (sa. hetu, en. reasoning) như một khả năng tự nhiên của loài người - và dĩ nhiên, một tấm lòng tin tưởng.

Những điểm này không thu hút được giới tri thức Trung Hoa và cơ sở luận bàn duy nhất có thể "thuần hoá" hệ thống ngoại lai này là huyền học được các Tân Đạo gia (sau thế kỉ thứ 2) đề xướng.

Huyền học chuyên chú vào ý nghĩa siêu hình của tồn tại và phi tồn tại (hữu vô), và hệ thống này lại tương quan mật thiết với khái niệm Niết-bàn trong Phật giáo.

Nếu Niết-bàn đối lập Luân hồi thì nó là một trạng thái phi tồn tại hay tồn tại?

Niết-bàn là thành tựu tối cao của một vị Phật, là biểu thị của Phật tính.

Tuy nhiên, Phật giáo được trang bị với một nghịch thuyết (paradox) rất có thể đã gây cảm hứng đến các Đạo gia, đó là sự nghịch lí của lòng tham ái (sa. tṛṣṇā).

Luân hồi - hay nói cụ thể hơn - sự tái sinh làm người được xem như là kết quả của tham ái và Niết-bàn chỉ có thể được thực hiện khi hành giả đã buông xả tham ái.

Nhưng như vậy có nghĩa là, để thành tựu Niết-bàn, hành giả cũng phải lìa bỏ lòng ham muốn thành tựu nó.

Cách lập luận này cho thấy ý nghĩa tinh tế của hình tượng tiêu biểu trong Phật giáo Đại thừa là Bồ Tát, một người đã đạt những điều kiện tiên quyết để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng vẫn lưu lại Luân hồi để cứu độ chúng sinh.

Nhánh Đại thừa của Phật giáo được phổ biến rất thành công tại Trung Hoa vì giáo lí của trường phái này - mặc dù chỉ được thể hiện một cách ám thị - hàm dung một cái nhìn bình đẳng: Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, tương tự trường hợp ai cũng có thể thành một Đạo gia hoặc một Nho gia.

Nhánh triết học Phật giáo gây ảnh hưởng lớn nhất tại Trung Hoa là Trung quán tông (sa. mādhyamika), giải đáp vấn đề bản chất của Niết-bàn hoặc Phật tính bằng cách không giải đáp.

Niết-bàn được thực hiện bằng một loại trí huệ đặc biệt, bất khả thuyết, bất khả tư nghị (Bát-nhã, Bát-nhã-ba-la-mật-đa).

Và đây cũng là điểm thúc đẩy sự hoà nhập của khái niệm Đạo và Niết-bàn cũng như sự kết luận "Niết-bàn và Đạo là một".

Hai trường phái Phật giáo quan trọng với vũ trụ quan có điểm tương đồng với Tân Đạo gia là Thiên Thai tông và Hoa Nghiêm tông.

Thiên Thai tông chủ trương "một niệm phát sinh tam thiên đại thiên thế giới xuất hiện" và Hoa Nghiêm tông nhấn mạnh đến khía cạnh "Lí sự vô ngại" và "Sự sự vô ngại".

Sự tương tác, xuyên suốt của vạn vật chính là sự thể hiện của Phật tính.

Tông phái có nhiều điểm tương đồng với Đạo giáo nhất là Thiền tông.

Thành phần Đạo giáo của Thiền có thể được hiểu rõ hơn khi tham chiếu lại nghịch lí "tham ái".

Lão tử nói: Ai thường không có ham muốn (dục) thì thấy được cái huyền diệu (của Đạo), ai ham muốn thì chỉ thấy những cái nhỏ nhặt ( Đạo Đức kinh I).

Nếu hành giả Phật giáo lìa bỏ tham ái để đạt Niết-bàn thì phải quên cả hai, Niết-bàn và Luân hồi.

Và sự kiện này lại tương ứng câu giải đáp bí ẩn dành cho bản chất Niết-bàn cũng như nhấn mạnh lần nữa sự đề cao cách thực hành của Thiền tông "ngay lúc này, ngay đây", sự trực nhận "tất cả chúng sinh bản lai là Phật".

Việc từ khước lí thuyết Phật giáo của các Đạo gia được tiếp nối bởi một đặc điểm khác: Nhấn mạnh sự hấp thụ hoàn toàn vào thực hành trên một cấp bậc cao.

Thiền tông Trung Hoa lập cơ sở chủ yếu trên quan điểm Đốn ngộ, nghĩa là "giác ngộ ngay lập tức", và như thế, Thiền tông phản bác tất cả những quá trình tu tập: "Bạn không thể đến gần hơn - chính vì Bạn đang ở ngay trong Đạo".

Điểm tương đồng giữa Đạo giáo và Thiền tông được minh hoạ rất hay trong Công án thứ 19 của tác phẩm Vô môn quan và Triệu Châu Chân Tế Thiền sư ngữ lục.

Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm hỏi Nam Tuyền Phổ Nguyện:

Sư hỏi Nam Tuyền: "Thế nào là Đạo?"

Nam Tuyền đáp: "Tâm bình thường là Đạo."

Sư hỏi: "Có thể hướng đến được không?"

Nam Tuyền đáp: "Nghĩ tìm đến là trái."

Sư lại hỏi: "Chẳng nghĩ suy thì làm sao biết Đạo?"

Nam Tuyền đáp: "Đạo chẳng thuộc về hiểu biết hay không hiểu biết.

Biết là vọng giác (khái niệm), không biết là vô kí (vô minh).

Nếu thật đạt Đạo thì không còn nghi ngờ, [Đạo] như hư không thênh thang rộng rãi, đâu thể cưỡng nói là phải là quấy."

Sư nhân nghe lời này lập tức ngộ được huyền chỉ, tâm sư sáng như trăng tròn.

Tổ chức Đạo giáo đầu tiên xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo Lăng khởi xướng phong trào Thiên sư đạo tại tỉnh Tứ Xuyên năm 142.

Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo và thâu nhiếp các thành phần của Toả-la-á-tư-đức giáo ( Zoroastrianism).

Trong phái mang tên Ngũ Đẩu Mễ Đạo ( gọi theo số gạo đồ đệ phải nộp để gia nhập) người ta tìm thấy những yếu tố, tư tưởng cứu thế chủ và cách mạng: Vương triều Hán nên bị lật đổ để Thiên sư Trương Đạo Lăng cai trị và thời đoạn cuối của thế giới bắt đầu.

Sự phát triển thành một tôn giáo quần chúng

Các tông phái chính

Nhìn chung, Đạo giáo có 3 trường phái:

Đạo học chủ trương tu tánh thiên về vấn đề giác ngộ, quay về với nội tâm tìm sự thanh tĩnh để đạt Đạo, tương đương phương pháp Đốn ngộ của Phật giáo.

Đại diện cho trường phái này là Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử (khoảng thế kỷ thứ 4 trước CN) viết Xung Hư chân kinh,Quan Doãn Tử viết Văn Thủy Chân Kinh, Trần Hi Di tức Trần Đoàn Lão Tổ (khoảng 900, đầu thời Tống) là người đã sáng lập khoa Tử vi.

Tiên học (còn gọi là Đơn Đạo) khác với Đạo học, là phương pháp tiệm tu, đi từ thấp đến cao, từ thô tới tinh, từ hữu vi đến vô vi; có mục tiêu tu hành phản lão hoàn đồng, trường sinh bất lão tức là chủ trương tu tạo nên một xác thân tráng kiện, dần dần tiến đến thân tâm an lạc và cuối cùng mở được tuệ giác và chung cuộc vẫn đi đến chỗ Thiên Nhân hiệp nhất, huyền đồng cùng Trời Đất.

Phái Tiên Học cũng thờ Lão Tử nhưng có 3 vị đứng đầu là Đông Hoa Đế Quân Lý Thiết Quải (sống vào thời nhà Hán) tu ở núi Côn Lôn; Chung Ly Quyền (cuối thời Đông Hán), đứng đầu Bát Tiên; Lữ Đồng Tân là đồ đệ của Hán Chung Ly.

Tiên Học có các tông phái:

- Nam Tông : gồm có Lưu Thao được Chung Ly Quyền truyền Đạo năm 911; Trương Bá Đoan (đời Tống) sáng lập ra Nam Tông.

- Bắc Tông : còn gọi là Toàn Chân Phái, giáo chủ là Vương Trùng Dương, người Hàm Dương, có 7 đệ tử: Khưu Xứ Cơ, Lưu Xứ Huyền, Đàm Xứ Đoan, Mã Ngọc, Hách Đại Thông, Vương Xứ Nhất, Tôn Bất Nhị.

Doãn Chân Nhân, người giảng Hoàng Cực hợp Tích Chứng Đạo Tiên Kinh và Liêu Dương Điện Vấn Đáp sau tập hợp thành Tính Mệnh Khuê Chỉ là học trò của Khưu Xứ Cơ

- Đông phái : do Lục Tiềm Hư sáng lập năm 1567 đời Minh Mục Tông.

- Tây phái : do Lý Hàm Hư đời ThanhHàm Phong sáng lập (1851)

- Trung phái : do Lý Đạo Thuần sáng lập đời Nguyên, đề cao chữ Trung.

- Trương Tam Phong phái : (cuối nhà Nguyên, đầu triều Minh).

Ngòai ra, dưới thời nhà Tấn, có Kim Đan Đạo do một ông quan là Cát Hồng khởi xướng chủ trương tu Tiên bằng hai cách : nội tu và ngọai dưỡng.

Ngọai dưỡng là dùng kim đan gọi là thuốc trường sinh luyện bằng các khóang chất như thần sa, vàng....

Nội tu là rèn luyện thân thể bằng phép dưỡng sinh, tịnh luyện tinh – khí – thần để "hườn Hư".

- Đạo giáo nhân gian hay Đạo giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng, người nước Bái đến núi Tứ Xuyên tu luyện, là cháu 8 đời của Trương Lương thời Tam Quốc (đời Hán – 206 trước CN và 220 sau CN) sáng lập "Đạo 5 đấu gạo" (Ngũ đấu mễ đạo: ai muốn vào Đạo thì phải nộp 5 đấu gạo), thờ Lão Tử tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân dùng kinh kệ, bùa chú, phương thuật, tế lễ...

để thu hút tín đồ, được hậu thế phong là Trương Thiên Sư.

Như vậy, Đạo giáo cũng giống như Nho giáo và Phật giáo, ngày càng đi xa chân truyền của vị Giáo Tổ khai sáng.

Ngày nay tại Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông, Đạo giáo vẫn còn rất thịnh hành.

Riêng Đài Loan, có tất cả 86 giáo phái hoặc tổ chức Đạo giáo được chính quyền hỗ trợ, nhưng có 6 môn phái nổi bật:

- Phái Chính Nhất hay phái Thiên Sư thuộc Long Hổ Sơn.

- Phái Mao Sơn với 2 loại pháp môn: nội luyện theo kinh Huỳnh Đình và võ công theo Kỳ Môn Độn giáp.

- Phái Thái Cực với pháp môn tu luyện theo truyền thống Trương Tam Phong và pháp môn võ thuật trừ tà ma.

- Phái Toàn Chân theo đường lối của Vương Trùng Dương.

- Phái Thần Tiên: chuyên về biểu diễn bán thuốc hoặc kiếm tiền.

- Phái Lư Sơn thiên về bí thuật.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Truyền Thuyết Xi Vưu


TRUYỀN THUYẾT XI VƯU

Xi Vưu (蚩尤) là thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê (九黎) và được biết đến nhiều do đã chiến đấu với Hoàng Đế trong trận chiến Trác Lộc trong truyền thuyết Trung Quốc Xi Vưu đã thể hiện được uy lực trong chiến tranh, cái tên Xi Vưu cũng trở nên đồng nghĩa với từ "chiến tranh" trong tiếng Hán, những người tôn trọng thì xem ông như là "chiến thần", còn những người bài xích thì xem ông như là "họa thủ".

Đối với người Miêu, Txiv Yawg (IPA: /cʰi jaɨ/) là một vị vua thần thoại có tính khôn ngoan.

Xi Vưu có nguồn gốc phức tạp và gây tranh luận, ông có thể thuộc tộc Đông Di, Miêu hay thậm chí là Man tùy theo nguồn và nhận định.

Khái quát truyền thuyết

Trong lịch sử Trung Quốc, cổ tịch từ thời Xuân Thu đã có ghi chép tương đối phong phú về truyền thuyết Xi Vưu, song thường mâu thuẫn.

Theo các ghi chép này, Xi Vưu là lãnh tụ bộ lạc Cửu Lê thời thượng cổ.

Có học giả chiếu theo Dật Chu thư (逸周书) Diêm Thiết luận (盐铁论) Xi Vưu có 81 người anh em (khả năng có ý chỉ 81 bộ lạc, có thuyết nói là 72).

Trong một tình tiết thần thoại, sau khi Xi Vưu tuyên bố rằng mình không thể bị chế ngự, Nữ Oa đã ném một phiến đá từ Thái Sơn vào Xi Vưu.

Xi Vưu không thể nghiền nát phiến đá, song vẫn có thể xoay xở để thoát ra.

Từ đó về sau, các khối đá có hình năm ngón tay, được khắc chữ Thái Sơn thạch cảm đương (泰山石敢當, phiến đá Thái Sơn) trở thành một vũ khí tinh thần của người Hán trong việc xua đuổi cái ác và tai họa.

Trong rất nhiều cổ tịch có đề cập đến việc Xi Vưu chiến đấu với Hoàng Đế - thủ lĩnh một liên minh bộ lạc, tình huống cụ thể thì có ba thuyết.

Thuyết thứ nhất thấy trong Sử ký - Ngũ Đế bản kỉ, theo đó thì sau khi Hoàng Đế chiến thắng trước Viêm Đế trong trận Phản Tuyền (阪泉之战), Xi Vưu làm loạn, Hoàng Đế đã đánh bại Xi Vưu trong trận Trác Lộc (涿鹿之战), do đó củng cố địa vị thiên tử.

Thuyết thứ hai ghi trong Dật Chu thư - Thường mạch thiên, theo đó Xi Vưu đã đánh đuổi Xích Đế (Viêm Đế), Xích Đế xin Hoàng Đế trợ giúp, Nhị Đế liên thủ giết chết Xi Vưu ở Trung Kí.

Thuyết thứ ba được ghi trong Sơn Hải Kinh - Đại Hoang Bắc kinh, theo đó Xi Vưu đưa binh tiến đánh Hoàng Đế, Hoàng Đế lệnh cho Ứng Long (应龙) nghênh chiến, hai bên tiến hành đại chiến trên cánh đồng ở Kí châu, Xi Vưu bại trận và bị giết.

Mặc dù các thuyết có sự khác biệt song đều có chi tiết Xi Vưu giao chiến với Hoàng Đế.

Quá trình chiến tranh cũng phức tạp, và mang sắc thái thần thoại ở mức độ cao.

Xi Vưu thiện chiến, "chế tạo năm loại binh khí, biến đổi mây mù", "làm ra sương mù dày đặc, trọn ba ngày", Hoàng Đế "chín lần chiến thì chín lần không thắng "ba năm không hạ được thành".

Ngư Long hà đồ chép rằng Hoàng Đế không địch nổi Xi Vưu, "bèn ngước lên trời mà than thở, ông trời sai Huyền Nữ xuống ban cho Hoàng Đế binh lính được thần thánh phù trợ". nhờ có lực lượng của "Huyền Nữ" (玄女) mà Hoàng Đế cuối cùng đã giành được chiến thắng.

Một thuyết thì cho rằng Xi Vưu dùng yêu thuật tạo ra sương mù dày đặc làm quân của Hoàng Đế mất phương hướng, Hoàng Đế liền dùng Chỉ Nam xa dẫn đường để đuổi giết Xi Vưu, giành được thắng lợi.

Về kết cục của Xi Vưu, truyền thuyết đa phần nói rằng bại binh và bị giết.

Theo ghi chú của họa gia La Sính (罗聘) thời Thanh: "Hoàng Đế đã hạ lệnh cho quân lính chặt đầu Xi Vưu... thấy rằng đầu của Xi Vưu đã bị tách khỏi phần thân, sau đó Hoàng Đế đã cho khắc hình tượng của Xi Vưu lên các chén thiêng nhằm cảnh báo những người có lòng thèm muốn quyền lực và giàu sang."

Hoàng Đế chiến đấu với Xi Vưu là một sự kiện cực kỳ quan trọng trong truyền thuyết Trung Quốc.

Sau khi Hoàng Đế giành được thắng lợi đã thống nhất khu vực Trung Nguyên, trở thành thủy tổ của tộc Hoa Hạ.

Cũng do đó, các sử tịch Hán văn, đặc biệt là điển tịch Nho giáo - vốn chiếm thế chủ lưu trong một thời gian dài, xem Xi Vưu là một nhân vật xấu xa mặc dù điều này không hoàn toàn công bằng.

Về sau, Xi Vưu dần bị thần hóa, trở thành nhân vật có hình tượng "đầu đồng trán sắt", "tám tay tám chân", "thân người móng trâu, bốn mắt sáu đầu", và "ăn cát sỏi".

Sau khi Xi Vưu bại trận, người trong bộ tộc Cửu Lê lưu tán, một bộ phận quy phục Hoàng Đế, một bộ phận di cư đến nơi khác.

Thời đại Thượng cổ

Xi Vưu cùng Viêm Đế

Xi Vưu và Viêm Đế có quan hệ phức tạp, các thuyết có sự khác biệt.

Có một loại quan điểm nhận định Xi Vưu có khả năng từng thần thuộc Viêm Đế hoặc từng gia nhập và liên minh bộ lạc mà Viêm Đế làm thủ lĩnh. nhưng sau đó giữa Xi Vưu và Viêm Đế đã phát sinh xung đột gay gắt, và kết quả là Viêm Đế đại bại.

Một số nhà sử học mà đại diện là Hạ Tằng Hựu (夏曾祐), Đinh Sơn (丁山), Lã Tư Miễn (吕思勉) thì nhận định rằng Xi Vưu là Viêm Đế.

Họ chủ yếu căn cứ theo ghi chép về Trác Thủy trong Thủy Kinh Chú (水经注) đưa ra nhận định rằng nơi giao chiến giữa Xi Vưu và Hoàng Đế (ở Trác Lộc) và nơi giao chiến giữa Viêm Đế và Hoàng Đế (ở Phản Tuyền) thực ra là một nơi, hai trận chiến thực ra chỉ là một, biểu hiện của Xi Vưu và Viêm Đế cũng tương đồng.

Thêm vào đó, Xi Vưu và Viêm Đế đều lấy ngưu làm vật tổ.

Cũng có quan điểm rằng Xi Vưu xuất hiện sau Viêm Đế.

Hai người này cùng thuộc một bộ tộc, đều là tước hiệu thủ lĩnh hoặc là thủ lĩnh của bộ tộc đó.

Sau khi Hoàng Đế đánh bại bộ tộc Viêm Đế, bộ tộc Xi Vưu hoạt động với tư cách là hậu thế, vì muốn báo thù nên đã giao chiến với Hoàng Đế trong đại chiến Trác Lộc, sau khi chiến bại, thủ lĩnh bị bắt giết, một bộ phận tộc nhân quy thuận Hoàng Đế.

Xi Vưu với Hoàng Đế

Trong một thời gian dài, tư tưởng Nho giáo là chủ lưu trong xã hội Trung Quốc, trước sau như một đều nhấn mạnh quan niệm "chính thống", sử gia lại có truyền thống "thắng làm vua, thua làm giặc".

Việc Hoàng Đế chiến thắng Xi Vưu dần được mô tả là chiến tranh giữa chính nghĩa và tà ác, chẳng hạn như trong Sử ký - Ngũ Đế bản kỉ, lưu truyền sâu rộng.

Trong các tư liệu văn hiến phi Nho giáo như Dật Chu thư, Sơn Hải kinh, sự kiện Xi Vưu giao chiến với Hoàng Đế được miêu tả tương đối khách quan.

Trong kinh điển Trang tử của Đạo giáo, mượn lời của Đạo Chích mà bày tỏ đồng tình với Xi Vưu và khiển trách Hoàng Đế.

Thêm vào đó, Xi Vưu và Hoàng Đế ngoài quan hệ đối địch ra, còn có thể đã có quan hệ thần thuộc.

Hoàng Đế từng sai khiến Xi Vưu làm chủ quản việc luyện kim, phụ tá Thiếu Hạo.

Thời Xuân Thu, danh tướng nước Tề là Quản Trọng thì cho rằng Xi Vưu là người đứng đầu trong "lục tướng" của Hoàng Đế, địa vị rất cao.

Thời Chiến Quốc, Hàn Phi cũng có các ghi chép tương tự, song mang nhiều sắc thái thần thoại hơn.

Xi Vưu với Cửu Lê và Tam Miêu

Xi Vưu là thủ lĩnh của Cửu Lê (九黎), việc này có rất nhiều ghi chép và thậm chí còn có tranh luận.

Xi Vưu là đại diện cho Cửu Lê và có quan hệ với một tập đoàn bộ lạc khác là Tam Miêu (三苗).

Căn cứ theo "Thượng thư" và "Quốc ngữ" cùng nhiều loại thư tịch cổ, Tam Miêu bắt nguồn từ Cửu Lê, và là hậu thế của Cửu Lê.

Cửu Lê chiến bại, tộc nhân lưu tán, phát triển thành Tam Miêu.

Tuy nhiên, có nhiều học giả bất đồng về điều này và nhận định rằng Cửu Lê và Tam Miêu không có nguồn gốc với nhau.

Một cách giải thích khác là Xi Vưu là tên hiệu cộng đồng của thủ lĩnh quân sự liên minh bộ lạc, do vậy là hậu duệ của Viêm Đế, cũng là thủ lĩnh tập đoàn Lưỡng Hạo (Thái Hạo, Thiếu Hạo), cũng là quân chủ Cửu Lê, sau đó tập đoàn Tam Miêu noi theo sử dụng tước hiệu này.

Xi Vưu và Đông Di

Người ngày nay thường nói Xi Vưu là thủ lĩnh Đông Di.

Kỳ thực, "Đông Di" là cách xưng hô sau khi hình thành mô hình "Hoa Di ngũ phương" thời Thương Chu, cách xa thời đại của Xi Vưu, hoặc nói Đông Di là hậu duệ của Xi Vưu, điều này có vẻ thích hợp hơn.

Dân tộc hậu thế

Căn cứ theo một số sử thi, ca dao, truyền thuyết của người Miêu, Xi Vưu là đại tổ thần của tộc người này, có địa vị hết sức cao quý.

Một số học giả, đặc biệt là học giả người Miêu đề xuất rằng, tổ tiên của người Miêu vào thời thượng cổ ban đầu cư trú tại lưu vực Hoàng Hà, do bị tộc Hoa Hạ đánh bại, bị buộc phải thiên di đến khu vực Quý Châu, tây bộ tỉnh Hồ Nam và tây nam bộ tỉnh Hồ Bắc ngày nay.

Sau khi Xi Vưu bại trận, một bộ phận tộc nhân dung hợp vào tập đoàn Viêm Hoàng, do đó trở thành một bộ phận của tộc Hoa Hạ, cũng là tổ tiên của người Hán ngày nay.

Một số họ của người Hán có khả năng có liên hệ với Xi Vưu, như Trâu], Đồ (屠), Lê (黎), Xi (蚩).

Căn cứ theo Hậu Hán thư - Tây Khương truyện, một bộ phận tộc nhân Tam Miêu đã di chuyển về hướng tây.

Do vậy nếu thừa nhận Xi Vưu và Tam Miêu có quan hệ thì Xi Vưu có khả năng là tổ tiên của người Khương.

Phân chi Đông Bắc Di của Đông Di có thể có khả năng có quan hệ với Phù Dư và có thể là cả Cao Câu Ly.

Năm 1979, tại Hàn Quốc xuất hiện một quyển sách lịch sử gây tranh cãi là Hoàn Đàn cổ kí (桓檀古記, 환단고기), trong đó Xi Vưu được xem là Từ Ô Chi Hoàn Hùng (慈烏支桓雄, 자오지 환웅), đại quân chủ thứ 14 của Bột Đạt Quốc (倍達國, 배달국) trên bán đảo Triều Tiên.

Mặc dù Xi Vưu là nhân vật phản diện trong các điển tịch Nho giáo, song trong dân gian vẫn duy trì truyền thống thờ phụng Xi Vưu, khu vực các tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây ở Hoa Bắc có hoạt động thờ phụng tương quan.

Như Nhâm Phưởng (任昉) thời Nam triều có ghi trong "Thuật dị chí" (述异志) rằng Kí châu (nay là Hà Bắc) có nhạc danh (Xi Vưu hí), người dân đầu đội sừng trâu và giữ thăng bằng.

Tại một thôn ở Thái Nguyên có tế thần Xi Vưu.

Tần Thủy Hoàng tự mình tế Xi Vưu, xem là một trong tám chiến thần.

Các bậc đế vương và võ tướng sau này trước khi xuất chinh thường tế bái Xi Vưu để cầu xin sự phù hộ.

Theo truyền thuyết, sau khi chiến bại, Xi Vưu bị chặt đầu, ngoài ra còn có nhiều mộ được cho là của Xi Vưu, tức "Xi Vưu chủng" (蚩尤冢), có người dân cúng tế.] Ở huyện Cự Dã thuộc tỉnh Sơn Đông có "mộ Xi Vưu" và "quảng trường Xi Vưu".

Căn cứ vào việc Xi Vưu là một trong lục tướng của Hoàng Đế, đứng đầu trong việc quản lý thời tiết, tên gọi này đã được đặt cho một loại hình nhất định trong chiêm tinh học, gọi là "Xi Vưu kỳ".

Căn cứ theo Lã thị Xuân Thu, Sử ký, Tùy thư và các văn hiến khác miêu tả, Xi Vưu kỳ ứng chỉ một số loại sao chổi nhất định, là dấu hiệu của chiến tranh.

Người Miêu

Trong khi người Hán tự nhận là con cháu của Viêm Hoàng, người Miêu tiếp tục xem Xi Vưu là tổ tiên của mình.

Một bộ phận người Miêu lưu truyền truyền thuyết "Gid Chib Yeul Laol", trong đó "Gid Chib" ý chỉ ông hay người già, "Yeul Laol" ý chỉ anh hùng, vẫn còn có tranh luận về việc nó có phải ám chỉ đến Xi Vưu hay không.

Ở các vùng người Miêu tại Kiềm Đông Nam thuộc tỉnh Quý Châu và huyện Dung Thủy thuộc Quảng Tây, cứ mỗi sáu năm hoặc mười năm lại cử hành một lần nghi thức tế tổ Chiguzang (吃鼓藏, Cật Cổ Tang) với quy mô lớn, đầu tiên là tế thủy tổ "Khương Vưu" (姜尤).

Ở Kiềm Nam thuộc tỉnh Quý Châu có sử thi "Bảng Xi Vưu" (榜蚩尤), kể về truyện cũ của vị tổ tiên đệ nhất Hương Vưu (香尤).

Người Miêu ở Mã Quan, Vũ Định có phong tục "khiêu nguyệt" (跳月) hoặc "thải hoa sơn" (踩花山), truyền thuyết của phong tục này và Xi Vưu có quan hệ mật thiết.

Đường thời, Xi Vưu lãnh đạo dân Miêu chống lại việc Hoàng Đế đông tiến, sau khi thất bại thì rút vào núi sâu.

Nhằm triệu tập người Miêu ở tứ phương, Xi Vưu dựng cây gậy gỗ trên núi, cho treo dải lên, lệnh cho nam nữ ca múa xung quanh cây gậy hoa, thổi lô sanh (芦笙, một loài khèn của người Miêu).

Khung cảnh náo nhiệt đã thu hút nhiều người Miêu tụ hội, tập hợp lại và nhập quân chiến đấu.

Về sau, nó đã trở thành một hội hát múa lớn, trở thành tiết truyền thống của người Miêu.

Người Miêu có phong tục thờ cúng cây phong, thậm chí lấy cây phong làm vật tổ.

Điều này cũng có thể liên quan đến Xi Vưu Sử thi "Phong mộc ca" của người Miêu nói rằng tộc người Miêu và thậm chí là cả nhân loại đều được tạo ra từ cây phong.

Trong Văn học

Trong tiểu thuyết "Xi Vưu Thiên hoàng" (蚩尤天皇, 치우천왕기) xuất bản tại Hàn Quốc năm 2007, Xi Vưu được viết là tổ tiên của dân tộc Triều Tiên và đã đánh thắng Hoàng Đế.

Cuốn tiểu thuyết này gây ra phản ứng tiêu cực từ phía Trung Quốc vì cho rằng nó bóp méo lịch sử.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Truyền Thuyết Hoàng Đế


*Hoàng Đế ở đây không ám chỉ vua, mà là một nhân vật thần thoại của Trung Quốc.

Hoàng Đế (Trung phồn thể: 黃帝, Trung giản thể: 黄帝, bính âm: huángdì), còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế (轩辕黃帝), là một vị quân chủ huyền thoại và là anh hùng văn hoá của Văn minh Trung Hoa, được coi là thuỷ tổ của mọi người Hán.

Chữ Hoàng (黃) ở đây hàm nghĩa sắc vàng, là màu biểu trưng cho hành Thổ.

Hiểu nôm na "Hoàng Đế" là "Vua Vàng", khác với Hoàng (皇) trong Hoàng đế, là danh xưng của các quân chủ kể từ thời nhà Tần.

Hoàng Đế được coi là một trong Ngũ Đế, đứng đầu danh sách chính thống này.

Theo huyền sử Trung Quốc, ông trị vì trong khoảng 2698 TCN đến 2599 TCN và là người sáng lập ra nền văn minh Trung Quốc.

Theo truyền thuyết, việc ông rút về phía tây tại trận Trác Lộc (涿鹿) đánh thủ lĩnh Xi Vưu (蚩尤) là cái mốc hình thành người Hán.

Thân thế

Hoàng Đế có họ là Công Tôn thị (公孙氏), do sống ở gò tên gọi Hiên Viên (轩辕) nên từ đó ông được gọi là Công Tôn Hiên Viên (公孙轩辕), là con của Thiếu Điển và con gái bộ tộc Hữu Kiệu là Phù Bửu (附宝).

Mẹ ông đã nằm mơ thấy sao Bắc Đẩu rớt vào mình mà thụ thai sinh ra ông.

Thưở nhỏ, ông rất thông minh, có tính thần linh, dáng vẻ ngoài rất kỳ dị, khi còn bọc trong tã đã biết nói, lớn lên cần cù hiểu biết sáng suốt, thường khuyên người đồng thời lo làm lành và tu ngũ đức, được bầu làm tù trưởng bộ lạc Hữu Hùng (有熊氏)[2].

Hoàng Đế sinh ra ở đất Thọ Khâu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) sau chuyển đến sống ở ven sông Cơ Thủy, từ đó mới lấy tên sông làm họ Cơ (姬).

Chiến tranh với Xi Vưu

Cách đây hơn 4000 năm, ở lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang có nhiều thị tộc và bộ lạc sinh sống.

Hoàng Đế là một trong những thủ lĩnh bộ lạc nổi tiếng nhất trong truyền thuyết.

Bộ lạc Thiểu Điển, do Hoàng Đế làm thủ lĩnh, ban đầu sống ở vùng Cơ Thuỷ thuộc tây bắc Trung Quốc, sau dời tới vùng Trác Lộc bắt đầu định cư, phát triển chăn nuôi và trồng trọt.

Viêm Đế (Thần Nông) là thủ lĩnh một bộ lạc khác đồng thời với Hoàng Đế, cư trú tại vùng Khương Thuỷ ở tây bắc Trung Quốc.

Theo truyền thuyết Trung Hoa thì Viêm Đế có họ hàng thân tộc với Hoàng Đế.

Còn Xi Vưu là thủ lĩnh bộ tộc Cửu Lê.

Họ chế tạo ra các loại vũ khí như đao, kích, cung, nỏ, thường dẫn bộ lạc đi xâm chiếm, cướp phá các bộ lạc khác.

Có lần, Xi Vưu xâm chiếm vùng đất của Viêm Đế.

Viêm Đế đem quân chống lại nhưng thất bại.

Viêm Đế đành chạy đến Trác Lộc, xin Hoàng Đế giúp đỡ.

Hoàng Đế liên kết các bộ lạc, chuẩn bị lương thực, vũ khí, triển khai một trận quyết chiến với Xi Vưu trên cánh đồng Trác Lộc.

Về trận đại chiến này, đã có nhiều truyền thuyết hoang đường, khi quân của Hoàng Đế thừa thắng đuổi theo quân của Xi Vưu, trời bỗng nổi cuồng phong, là do Xi Vưu đã được sự giúp đỡ của thần gió, thần mưa.

Hoàng Đế cũng nhờ Thiên Nữ giúp đỡ.

Cuối cùng, Xi Vưu bại vong.[2] Những truyền thuyết trên chỉ có tính chất phản ánh sự khốc liệt của cuộc chiến.

Từ đó, Hoàng Đế được nhiều bộ lạc ủng hộ.

Nhưng sau đó 2 bộ lạc của Hoàng Đế và Viêm Đế lại nảy ra xung đột, hai bên đánh nhau một trận ở Phản Tuyền, Viêm Đế thất bại.

Từ đó Hoàng Đế trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc các vùng Trung Nguyên.

Trong các truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, Hoàng Đế rất được tôn sùng.

Người đời sau đều cho rằng Hoàng Đế là thuỷ tổ của người Hoa Hạ (tức dân tộc Hán ngày nay) và coi mình là con cháu của Hoàng Đế.

Viêm Đế và Hoàng Đế vốn thân thuộc nên sau này hai bộ lạc lại hoà hợp, nên người Trung Quốc thường tự xưng mình là con cháu Viêm-Hoàng.

Để kỉ niệm vị tổ tiên chung đó, người ta xây lăng Hoàng Đế ở Kiều Sơn, phía bắc huyện Hoàng Lăng tỉnh Thiểm Tây.

Phát minh

Thời Hoàng Đế có nhiều phát minh sáng tạo (trong truyền thuyết) của nhiều người nhưng được quy chung cho Hoàng Đế như làm nhà, đóng xe thuyền, may được quần áo ngũ sắc, chế kim chỉ nam, làm lịch, y thuật (Hoàng Đế nội kinh tương truyền là của Hoàng Đế và Kỳ Bá) v.v.[2]

Lịch cổ Trung Quốc lấy mốc bắt đầu từ vua Hoàng Đế.

Cũng theo truyền thuyết Hoàng Đế có người vợ tên là Luy Tổ (嫘祖) hay Loa Tổ (螺祖), là người đã dạy cho phụ nữ nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa.[2] 累 hay 螺 đều có chữ 糸 mịch tức sợi tơ nhỏ.

Tuy nhiên, một số người cho rằng các tên trên có thể phiên sai từ 雷祖 Lôi Tổ, nghĩa là bà Tổ Sấm.

Theo sách Hoài Nam Tử, vua Hoàng Đế còn có một sử quan tên là Thương Hiệt, đã sáng tạo ra chữ viết cổ.

Tuy nhiên, người ta chưa được thấy chữ viết thời đó nên không có cách gì chứng minh cho việc này.

Truyền thuyết

[] Hoàng Đế là vị vua theo truyền thuyết Trung Hoa và là người anh hùng văn hóa, người được truyền thuyết Trung Hoa coi là tổ tiên của người Hán.

Người ta tin rằng Hoàng Đế rất kỳ lạ từ khi còn trẻ.

Ông rất thông minh và đạt được những thành tựu cực kỳ quan trọng trong đời.

Trong hàng nghìn năm, người Trung Hoa xem Hoàng Đế là mẫu hình trong tất cả các hoàng đế vĩ đại.

Hoàng Đế là hậu duệ của người bộ tộc Thiểu Điển.

Ông có họ là Công Tôn, tên hiệu là Hiên Viên.

Ông sinh ra với những tính khí đặc biệt.

Không lâu sau khi sinh, ông đã biết nói.

Khi còn là một đứa trẻ, ông rất thông minh.

Cậu bé Hiên Viên khá lương thiện và siêng năng khi lớn lên.

Khi trưởng thành, cậu rất hiểu biết và có khả năng tuyệt vời khi phân biệt đúng sai.

Thời kỳ hậu Viêm đế, các đời sau của Thần Nông trở nên suy yếu, các chư hầu chinh phạt lẫn nhau khiến nhiều người chết.

Những người con của Thần Nông không thể bình định chiến sự, vì thế Hiên Viên dự định huấn luyện binh sỹ để chinh phạt các chư hầu không nộp triều cống.

Các chư hầu đều quy phục, ngoại trừ Xi Vưu, chư hầu hung bạo nhất không ai dám đối đầu.

Viêm đế muốn chinh phục những chư hầu nhỏ này nhưng tất cả họ đều nghe theo Hiên Viên.

Một lần, Viên Hiên học được các kế sách của Viêm đế.

Anh bắt đầu tu nhân tích đức, nghiên cứu cách biến hóa của thời tiết bốn mùa, dạy người ta cách trồng ngũ cốc, làm yên lòng dân, đi chu du các lãnh địa, và chuẩn bị quân đội.

Anh cũng thuần hóa các loài thú dữ như cọp và gấu.

Khi Hiên Viên chiến đấu với Viêm đế trên chiến trường ở Phản Tuyền và chinh phục được Viêm đế, Xi Vưu phát động bạo loạn và không tuân mệnh Hiên Viên.

Vì thế Hiên Viên điều động quân đội từ các chư hầu và tác chiến với Xi Vưu tại Trác Lộc.

Xi Vưu bị bắt sống và bị giết chết.

Các chư hầu tôn Hiên Viên làm thiên tử và để ông lên ngôi hoàng đế thay cho Thần Nông.

Hiên Viên được thần thánh ban cho điềm tốt là đất đai trở nên phì nhiêu khi ông lên ngôi hoàng đế.

Vì màu của đất là vàng nên ông được đặt tên hiệu là "Hoàng Đế".

Nơi nào có bạo loạn, ông bèn mang quân đến chinh phạt.

Khi đã bình định trở lại, ông lại mang quân về.

Hoàng Đế không có một nơi ở cố định và cũng không sống trong tiện nghi.

Suốt thời kỳ của ông, khi ông ra ngoài chiến trận, ông đã xây nhiều đường xá ở các vùng núi.

Ông đã đến tận Đông Hải, lên tận ngọn núi Hoàng Sơn và Thái Sơn; đến miền tây, qua vùng Đạt Không Đồng, băng qua Kê Đầu Sơn; đến miền nam, vượt sông Trường Giang, lên ngọn Liễu Hùng Sơn, Tương Sơn; đến miền bắc, xua quân bạo loạn Hung Chúc, và ký kết với các chư hầu nhỏ ở Phù Khế, thiết lập đô ấp tại chân núi Trác Lộc Sơn.

Khi Hoàng Đế cùng quân đội đi viễn chinh, ông ở trong trại lính và các lính gác bảo vệ ông.

Ông đặt tên các quan chức là "vân lai", quân đội là "vân sư".

Ông cũng thiết lập hệ thống kiểm tra để giám sát các chư hầu.

Vì thế hòa bình và thịnh vượng lan truyền khắp nơi.

Có nhiều tài liệu nói về việc ông đã đến những thắng cảnh nổi tiếng để thờ phụng Thần thánh trong suốt triều đại của ông nhiều hơn bất kỳ một hoàng đế nào khác.

Các chư Thần trao cho Hoàng Đế bảo đỉnh và cỏ thi để chiêm đoán trước vận mệnh, có thể tạo ra lịch pháp, dự báo mùa màng và thay đổi khí hậu.

Ông đã bổ nhiệm Phong Hậu, Lực Mục, Thường Tiên và Đại Hồng là những cố vấn gần gũi để giúp ông điều hành những việc quan trọng.

Ông tuân theo quy luật của Trời Đất, hiểu biết nguyên lý Âm Dương, từ đó thiết lập các giáo huấn về dưỡng sinh, ma chay người chết và giải thích các đạo lý tồn vong của quốc gia.

Ông trồng nhiều loại cây khác nhau vào những mùa khác nhau, thuần hóa các thú vật hoang, và sử dụng tơ tằm để dệt vải.

Ông quan sát chuyển động của nhật nguyệt tinh tú và tính chất của nước, đất, đá và kim loại để những vật liệu này có thể được sử dụng hợp lý.

Ông áp dụng những ý tưởng mới một cách chuyên cần và hợp lý, đồng thời quan sát và lắng nghe cẩn thận mọi việc.

Câu chuyện kể trên mô tả về đức hạnh của Hoàng Đế, từ việc giết chết người lãnh đạo chư hầu phản bội Xi Vưu, đánh bại Viêm đế, thống nhất thiên hạ cho tới việc thiết lập nền văn minh Trung Hoa.

Ông tuân theo quy luật tự nhiên và các nguyên tắc của Trời Đất.

Ông thiết lập lịch Trung Hoa và tạo ra những công cụ mà con người có thể làm cuộc sống trở nên thịnh vượng, bằng cách thuần hóa những thú vật hoang, trị thủy, khai hoang đất trồng trọt, và trồng ngũ cốc.

Ông sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, giải thích bản chất của sinh tử, và sự khó khăn để sống sót.

Trong tất cả các kế hoạch của mình, ông luôn cân nhắc đến lợi ích của người dân.

Cùng lúc ấy, ông cũng tôn trọng thần linh, núi, sông và dạy người dân kính trọng Thần thánh cùng Trời đất.

Mặc dù đây chỉ là một truyền thuyết cổ xưa, nhưng các di vật được phát hiện và những văn vật lịch sử đã chứng tỏ điều này có thể là sự thật.

Những văn vật này có thể cho chúng ta những manh mối và giúp chúng ta có được những hiểu biết về nguồn cội của xã hội Trung Hoa cổ xưa.

Văn hóa 5.000 năm của dân tộc Trung Hoa đã được truyền xuống bởi các chư Thần, tất cả đều bắt nguồn từ truyền thuyết này.

Sự thống nhất của hai chư hầu Viêm Đế và Hoàng Đế đã hình thành nên dân tộc Hoa Hạ.

Vì cả hai hoàng đế đều được xem như là tổ tiên của dân tộc Hoa Hạ, người Trung Hoa xưa cũng tự xưng là "Viêm Hoàng tử tôn" (Con cháu của Viêm Đế và Hoàng Đế).

Sau này những con cháu của họ định cư dọc theo sông Hoàng Hà, và đã sáng tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Thập Đại Ma Thần Thời Thượng Cổ


10 đại ma thần thời thượng cổ bao gồm:

1 Binh chủ Xi Vưu

2 Chiến Thần - Hình Thiên

3 Tinh Thần - Khoa Phụ

4 Thủy Thần - Cộng Công

5 Phong Bá - Phi Liêm

6 Vũ Sư - Bình Ế

7 U Minh Song Thần

8 Ma Tinh - Hậu Khanh

9 Hạn Thần - Nữ Bạt

10 Độn Thần - Ngân Linh Tử

*************************************

Thập Đại Ma Thần thời thượng cổ trong văn học bao gồm Xi Vưu, Hình Thiên, Khoa Phụ, Cộng Công, Phi Liêm, Bình Ế, Thần Đồ, Úc Lũy, Hậu Khanh, Hạn Bạt, Ngân Linh Tử.

Các tư liệu dưới đây được trích từ "Sơn Hải Kinh" cổ văn làm chuẩn, do các đề tài về Thập Đại Ma Thần thời thượng cổ được nhiều người sáng tác, truyền miệng, thần thoại hóa nhiều, không phải là tư liệu lịch sử Trung Quốc ghi chép chân thực.

BINH CHỦ XI VƯU

Tương truyền Xi Vưu có diện mạo như đầu trâu, sau lưng mọc lên hai cánh, là thủ lĩnh của tộc Ngưu Đồ Đằng và Điểu Đồ Đằng.

Y có 81 người huynh đệ, ai nấy đều là đầu đồng trán sắt, tám tay chín chân, bản lĩnh phi phàm.

Trong cổ tịch đề cập đến Xi Vưu là nhiều nhất, điển hình là trận chiến giữa y và Hoàng Đế (Hiên Viên Hoàng Đế)- thủ lĩnh liên minh các bộ lạc.

Vài ngàn năm trước, tại lưu vực Trung Quốc, Hoàng Hà và Trường Giang có rất nhiều thị tộc và bộ lạc, trong đó Hoàng Đế là thủ lĩnh bộ lạc (Thiểu Điển) nổi danh nhất lưu vực Hoàng Hà.

Một thủ lĩnh bộ lạc nổi danh khác nữa gọi Viêm Đế (Thần Nông).

Hoàng Đế cùng Viêm Đế là huynh đệ.

Tại lưu vực Trường Giang có một bộ tộc nữa gọi là Tộc Cửu Lê, thủ lĩnh của tộc này là Xi Vưu, thập phần cường hãn.

Y cũng là thủ lĩnh kiệt xuất nhất của tộc Đông Di (Còn gọi là Cửu Di, Cửu Lê).

Theo dã sử "Quy Giáp Ký Sự" có ghi lại: Xi Vưu sinh ra ở một gia đình thủ lĩnh thị tộc tại hạ du Hoàng Hà, bởi vì chịu ảnh hưởng dưới trướng thần khí Búa Bàn Cổ mà có được thần lực thiên sinh.

Lúc vừa mới ra đời, một tiếng khóc của y đã làm chấn động ba con Nghiệt Long đang ngủ đông trong đầm núi, khiến bọn chúng kinh sợ.

Tộc nhân tiên đoán kẻ này ngày sau tất thành đại khí

Về sau, Hoàng Đế dựa vào vũ lực cường đại từ thượng du Hoàng Hà xuất binh tại bản suối đánh bại bộ tộc của Viêm Đế, thành lập nên bộ tộc mạnh nhất lưu vực Hoàng Hà: bộ tộc Hoa Hạ.

Bộ tộc Hoa Hạ không ngừng Đông tiến, đánh bại rất nhiều bộ tộc khác tại hạ du Hoàng Hà.

Bộ tộc của Xi Vưu không muốn thần phục dưới trướng Hiên Viên Hoàng Đế, cho nên liên hợp với chín bộ tộc ở hạ du Hoàng Hà tạo thành Tộc Cửu Lê, đối kháng với Hoàng Đế.

Khi tộc Cửu Lê và Hoa Hạ đại chiến, Xi Vưu liên hợp với Hình Thiên và Khoa Phụ, lại được Thủy Thần -Cộng Công, Phong Bá - Phi Liêm và Vũ Sư - Bình Ế trợ giúp, liên tiếp đánh bại Hoàng Đế 72 trận.

Về sau Hoàng Đế mời cương thi Thủy tổ Nữ Bạt (Nữ Bạt là con gái của Hoàng Đế) đến tham dự trận chiến Trác Lộc mới đánh bại được Xi Vưu.

Xi Vưu bị Ứng Long giết chết, máu ở cổ bay lên trời biến thành lá cờ phong bế bầu trời, khiến Ứng Long, Nữ Bạt không thể trở về trời, cũng là cơ hội cho tộc Đông Di dời đến Nam.

Thi thể Xi Vưu được quy táng tại Tây Thủy, Bộc Dương, xưng là "Đế Khâu".

Xi Vưu chết cũng bởi trận Trác Lộc.

Hoàng Đế dẫn đầu binh sĩ thừa thắng truy sát, bỗng nhiên trời mờ đất tối, sương mù bao trùm, cuồng phong gào thét, lôi điện đan xen, trên trời nổi mưa to, binh sĩ Hoàng Đế không cách nào tiếp tục truy đuổi.

Thì ra Xi Vưu mời "Phong Thần" và "Vũ Thần" đến trợ chiến.

Hoàng Đế cũng không cam chịu yếu thế, mời "Hạn thần" (Nữ Bạt) hỗ trợ, xua đi mưa gió.

Trong một sát na, gió dừng mưa hết, trời quang mây tạnh trở lại.

Xi Vưu lại dùng Vu thuật chế tạo một trận sương mù làm binh sĩ Hoàng Đế lạc mất phương hướng.

Hoàng Đế lợi dụng hiện tượng sao Bắc Đẩu vĩnh viễn chỉ hướng phương bắc trên trời tạo thành một cỗ "Xe chỉ nam", hướng dẫn binh sĩ thoát khỏi mê vụ.

Trải qua rất nhiều lần chiến đấu kịch liệt, Hoàng Đế tuần tự giết chết 81 huynh đệ của Xi Vưu, bắt sống Xi Vưu.

Hoàng Đế mệnh lệnh cho Xi Vưu mang gông xiềng, sau đó xử tử y.

Bởi vì sợ Xi Vưu sau khi chết làm loạn nên Hoàng Đế đem đầu và thân thể của y quy táng tại hai nơi cách xa nhau.

Gông xiềng Xi Vưu mang qua bị ném ở trên núi hoang, hóa thành một rừng phong, mỗi một phiến lá phong đỏ thẫm đều là vết máu loang lổ của Xi Vưu.

Về sau, Hoàng Đế thu nhận rất nhiều bộ lạc duy trì, dần dần trở thành thủ lĩnh của tất cả các bộ lạc.

Nói đến chuyện Xi Vưu bị Hoàng Đế bắt giết, Sử Ký, Dật Chu Thư, Sơn Hải Kinh ghi chép khác nhau: một nơi bảo là được Hoàng Đế trọng dụng, như Long Ngư Hà Đồ nói: "Hoàng Đế đồng phục Xi Vưu, Đế cho làm binh chủ, chế phục bát phương" .

Đến thời Tần Hán, dân gian còn có tục hành lễ binh chủ Xi Vưu.

Cho nên khi Tần Thủy Hoàng đông du và Cao Tổ Lưu Bang khởi binh, cũng lấy dân tục Xi Vưu. (trích Sử Ký - Phong Thiện Thư cùng Sử ký - Cao Tổ Bản Kỷ).

Liên quan tới Xi Vưu, có hai bản kết cục hoàn toàn khác biệt được ghi chép, phản ánh mối quan hệ giữa Hoàng Đế và Xi Vưu ở hai khía cạnh khác nhau.

"Xi Vưu" vốn là danh xưng của thủ lĩnh trong bộ lạc nông, cũng là danh xưng của toàn thể thành viên bộ lạc.

Thủ lĩnh bộ lạc đời thứ nhất xưng Xi Vưu, đời thứ hai cũng xưng Xi Vưu; thành viên bộ lạc đời thứ nhất xưng Xi Vưu, đời thứ hai vẫn được xưng là Xi Vưu. (trích Đại tái lễ ký • Ngũ Đế Đức và Hoàng đế tam bách niên).

Những liên quan giữa Hoàng Đế và Xi Vưu sau cuộc chiến đặt vào bối cảnh lịch sử chiến tranh giữa các bộ tộc thời nguyên thủy đã chứng tỏ việc giết chóc là không thể tránh khỏi, cũng không thể tiêu diệt hoàn toàn 1 bên, cuối cùng chỉ có thể là để một bộ tộc chiến bại phục tùng bộ tộc chiến thắng dưới điều kiện giữ lại nguyên trạng cuộc sống của họ.

CHIẾN THẦN HÌNH THIÊN

Hình Thiên là thủ lĩnh của một bộ tộc phía Đông thời thượng cổ Viêm Đế, về sau gia nhập bộ lạc Đông Di, trở thành thủ lĩnh chủ yếu của Cửu Lê Tộc.

Theo «Sơn Hải Kinh» ghi chép: Hình Thiên và Hoàng Đế đánh nhau, cuối cùng bị Hoàng Đế chặt đứt đầu, bồi táng tại Thường Dương Sơn Lộc.

Hình Thiên mặc dù mất đầu nhưng vẫn không mẫn chí.

Hắn lấy núm vú làm mắt, lấy rốn làm miệng, sử dụng khiên, búa tiếp tục vung vẩy, lại quyết sống mái cùng Hoàng Đế.

Mà trong Nguyên Dương Chí Lược có ghi: Hình Thiên có được Thánh Linh Chi Thạch, tranh giành cùng Ứng Long, đánh đến thiên hôn địa ám bất phân thắng bại, thế là Hoàng Đế thừa cơ cưỡi rồng từ phía sau đánh lén, chặt đầu của hắn, thế nhưng Hình Thiên vẫn đứng hiên ngang như cũ không ngã, tiếp túc chém giết không thôi.

Về sau Cửu Thiên Huyền Nữ phái Huyền Thiên Ngọc Nữ ban cho Hình Thiên một câu nói: "Không có đầu ngươi cũng có thể Sát Thiên Đế", hắn mới ngã xuống, sau an táng tại Thường Dương Sơn Lộc.

Hình Thiên chết trong cuộc chiến Trác Lộc.

Theo Sơn Hải Kinh ghi chép: "Hình Thiên cùng Đế tranh thần, bị Đế chặt đầu, táng tại Thường Dương Chi Sơn.

Hắn lấy nhũ làm mắt, lấy rốn làm miệng, cầm búa bay múa."

Hình Thiên là đại thần Viêm Đế, thấy Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu cùng Khoa Phụ, hào hứng chạy đến nơi Viêm Đế, thỉnh cầu cử binh đối kháng Hoàng Đế, thế nhưng Viêm Đế sớm đã không có đấu chí, chỉ cầu bình an, bởi vậy cự tuyệt xuất binh.

Hình Thiên thất vọng tìm kiếm tộc nhân Khoa Phụ, hi vọng bọn họ sẽ Đông Sơn tái khởi, thế nhưng khi đến Thành Đô tái thiên lại không thấy một bóng người.

Hình Thiên vung búa chấp thuẫn, quyết định một mình thượng trung Thiên Đình đi tìm Hoàng Đế khiêu chiến, đụng phải đại thần Phong Bá của Hoàng Đế, Vũ Sư và thiên thần Lục Ngô ngăn cản, Hình Thiên đánh bại bọn họ.

Cuối cùng, hắn tìm thấy Hoàng Đế, Hoàng Đế dùng bảo kiếm chặt đứt đầu Hình Thiên, đồng thời mai táng đầu hắn tại Thường Dương Sơn.

Hình Thiên oán khí trùng thiên.

Hắn lấy nhũ làm mắt, lấy rốn làm miệng, vẫn tiếp tục cầm búa bay múa".

Hình Thiên nguyên là một cự nhân vô danh, tại đại chiến cùng Hoàng Đế, hắn bị Hoàng Đế chém đứt đầu, cho nên mới gọi là Hình Thiên.

Hình Thiên là một vị đại thần thời Viêm Đế thống trị toàn cõi chư thiên, cuộc đời hắn rất thích ca hát, từng làm các ca khúc khiến Viêm Đế vui như Phù Lê, làm thơ ca Phong Thu, tổng danh xưng là Bốc Mưu, ca tụng cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.

Về sau Viêm Đế bị Hoàng Đế lật đổ, khuất đến phương nam làm một Thiên Đế.

Mặc dù nén giận, không chống lại Hoàng Đế, nhưng con của ngài và thủ hạ lại không phục.

Đương lúc Xi Vưu cử binh phản kháng Hoàng Đế, Hình Thiên muốn đến tham gia trận chiến này, nhưng Viêm Đế kiên quyết ngăn cản.

Cuối cùng ngài cản không thành.

Lúc Xi Vưu thất bại dưới tay Hoàng Đế, Xi Vưu bị giết chết, Hình Thiên rốt cuộc không kìm nén được, thế là len lén rời đi, trực tiếp chạy về phía trung tâm, phân tranh với Hoàng Đế

Vũ khí Hình Thiên sử dụng là một cây búa lớn, còn có một cái khiên lớn, cổ đại gọi là Thuẫn.

TINH THẦN KHOA PHỤ

Khoa Phụ là thủ lĩnh bộ lạc cự nhân Miêu Man, một trong ba bộ lạc Tam Miêu thời thượng cổ, về sau y Bắc tiến gia nhập bộ lạc Đông Di.

Dân gian tạp sử "Thư Lâm Thông Chí" ghi chép: Khoa Phụ cùng Nữ Bạt chiến đấu, Nữ Bạt đánh không lại Khoa Phụ trên mặt đất, liền bay lên không trung, toàn thân tỏa ra liệt hỏa, từ trên mặt đất nhìn lên giống như một mặt trời chói lọi.

Khoa Phụ sử dụng pháp thuật làm thân tăng cao mấy lần, vung Đào Mộc Trượng đuổi theo Nữ Bạt cho đến bị liệt hỏa làm toàn thân y bốc hơi, đói khát mỏi mệt, sau đó tử nạn.

Khoa Phụ chết trong trận chiến Trác Lộc.

Dưới thời kì Hoàng Đế, bên trong đại hoang phương bắc có một tòa núi lớn đột ngột nổi lên từ ở dưới mặt đất, cao sánh ngang trời, thiên hạ xưng rằng "Thành Đô Tái Thiên" .

Đỉnh núi sừng sững ở giữa mây mù lượn lờ, tùng bách trên núi dựng thẳng, tạo nên một cảnh sắc hùng vĩ tráng lệ.

Tại nơi tiên cảnh này có một bộ tộc là tử tôn được đại thần hậu thổ truyền thừa, gọi là tộc Khoa Phụ.

Bọn họ dáng người cao lớn, khí lực nhiều, đặc biệt ưa thích bênh vực kẻ yếu.

Đương lúc Xi Vưu phương nam bị Hoàng Đế đánh bại, phái người đến tộc Khoa Phụ cứu viện, tộc Khoa Phụ cảm thấy y là kẻ yếu thế, muốn trợ giúp kẻ yếu, vì vậy xuất binh tham gia chiến tranh, phản đối Hoàng Đế.

Tộc nhân Xi Vưu được tộc nhân Khoa Phụ trợ giúp, như hổ mọc thêm cánh, tại đại chiến với Hoàng Đế thế lực ngang nhau, bất phân thắng bại.

Quân đội Hoàng Đế tạm thời bại trận, gấp đến độ Hoàng Đế vô kế khả thi, thế là bèn lên Thái Sơn đi tìm các lộ thần tiên hỗ trợ.

Có một phụ nhân tự xưng là "Huyền Nữ" đến bái kiến Hoàng Đế, dạy ngài binh pháp.

Tiếp đó lại có người đến tặng cho Hoàng Đế đồng đỏ Côn Ngô Sơn để ngài chế tạo thanh bảo kiếm.

Thanh bảo kiếm này đồng tâm cắt ngọc, chém sắt như chém bùn, biểu thị kỹ thuật luyện thanh đồng thời thượng cổ đã đạt tới mức tinh.

Từ đây, Hoàng Đế dựa vào sở học hành quân bày trận, tại đại chiến Trác Lộc, rốt cuộc cũng đánh bại được liên quân, giết chết Xi Vưu, khiến tộc nhân Khoa Phụ phải chạy về nguyên trụ địa.

Không lâu, đại địa phát sinh nạn hạn hán nghiêm trọng, mặt trời tựa như một đại hỏa cầu, thiêu đốt mặt đất đến rạn nứt, làm sông hồ khắp nơi cạn khô, biến mọi thứ trở nên hoang lương.

Tộc Khoa Phụ xuất động tìm nơi có nước kháng hạn hán, thế nhưng khắp nơi đều khô cằn, tìm đâu ra nước?

Thủ lĩnh tộc Khoa Phụ tức giận, thề sẽ hái xuống mặt trời.

"Mặt trời" thấy Khoa Phụ nổi giận, cũng có chút hoảng hốt, tăng thêm tốc độ bay về hướng tây.

Thủ lĩnh tộc Khoa Phụ liền đuổi theo.

"Mặt trời" vừa chạy vừa bắn nhiệt lực vào Khoa Phụ để ngăn cản bước chân của hắn.

Khoa Phụ mặc cho toàn thân bốc hơi, mồ hôi tuôn như mưa vẫn không chịu dừng bước.

Khoa Phụ trong chớp mắt đã đuổi tới vạn dặm.

Y nhìn thấy nơi "mặt trời" rơi xuống – Ngu Cốc, thế là cực kỳ cao hứng: "Xem ngươi chạy đi đâ"!

"Mặt trời" mắt thấy không còn chỗ trốn, cười lạnh vài tiếng, hồi mã thương (quay đầu lại bất ngờ đâm ngọn thương vào kẻ địch) — đem tất cả nhiệt lượng có trong người phóng về phía Khoa Phụ.

Khoa Phụ một trận đầu váng đầu hoa mắt, kim tinh trước mắt loạn tóe, miệng khô lưỡi tiêu, hai tay bất giác rũ xuống.

"Không thể ngã!".

Khoa Phụ một mặt cổ vũ mình, một mặt cúi người xuống uống nước Hoàng Hà, y nghĩ rằng uống nước xong khỏe lại sẽ bắt được mặt trời.

Nào ngờ y đã uống cạn Hoàng Hà, uống cạn luôn Vị Thủy mà là cảm thấy khát nước khó nhịn.

Khoa Phụ quật cường quyết tâm đi uống nước đầm lầy, sau đó lại cùng mặt trời đọ sức. (Đầm lầy còn gọi là Hãn Hải, là nơi các điểu tước sinh sống).

Khoa Phụ vừa mới đi tới đầm lầy, còn chưa kịp cúi người xuống đã choáng váng, Ầm một tiếng, ngã xuống đất.

Khoa Phụ tiếc nuối nhìn mặt trời lặn về phía tây, thở dài một tiếng, cầm trượng ném về phía mặt trời, sau đó nhắm mắt lại chết.

Sáng sớm ngày thứ hai, mặt trời oai phong lẫm liệt mọc lên từ phía đông, nhìn nơi Khoa Phụ ngã xuống hóa thành một tòa đại sơn, không khỏi âm thầm khâm phục Khoa Phụ dũng khí.

Nói cũng kỳ quái, nơi Khoa Phụ ném Đào Mộc trượng về phía mặt trời, được mặt trời chiếu rọi, lại hóa thành một khu rừng đào, khắp nơi đều là đào hoa vạn dặm, cây trái xum xuê.

Thủ lĩnh tộc Khoa Phụ nhiệt tâm nhiệt tình, vì mọi người trong tộc, không hề nguy nan đuổi theo mặt trời, lại mang trong mình một tinh thần quật cường không biết sợ, cho nên được gọi là "Tinh Thần Khoa Phụ".

Mặc dù không thực tế nhưng điều này cũng cho thấy được tư duy cùng tâm linh của những con người thời xã hội nguyên thuỷ.

Trong lịch sử, Khoa Phụ được ghi là chết trận, y là cháu trai của Cộng Công.

Khi Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu, muốn đồ Trung Nguyên, triển khai kịch chiến với Cộng Công, bộ tộc Cộng Công bị đả bại, bị Hoàng Đế vây khốn, Khoa Phụ không đành lòng nhìn thấy toàn tộc diệt vong, thế là tổ chức phá vây, cũng tự hành đoạn hậu (tự mình ngăn cản ở phía sau).

Trốn đến Hàm Cốc Quan, bị thuộc cấp Ứng Long của Hoàng Đế bắn giết, Cộng Công trốn thoát.

Hậu nhân của Hoàng Đế vì nói xấu Khoa Phụ, mới bảo là y chết vì truy đuổi mặt trời, cho nên mới có rất nhiều truyền thuyết nói Khoa Phụ là một Kẻ tâm thần, thích "Chạy trần truồng" dưới ánh mặt trời, cuối cùng đến nơi mặt trời rơi xuống, uống cạn Hoàng Hà, Vị Thủy, định đi uống nước đầm lầy Nhạn Môn Quan, thế nhưng chết khát trên đường.

THỦY THẦN CỘNG CÔNG

Cộng Công là đệ tử của Cửu Thiên Huyền Nữ, là sư huynh của Huyền Thiên Ngọc Nữ. « Nguyên Dương chí lược » xưng là: Cộng Công

Cửu Thiên Huyền Nữ cùng Nữ Oa bất hòa, liền phái Cộng Công đi giúp Xi Vưu – đối địch lại với Hoàng Đế được Nữ Oa ủng hộ.

Hoàng Đế tại nam dã tập kích Xi Vưu, Cộng Công tiến đến nghênh chiến, một mình độc cản tọa hạ của Hoàng Đế là bốn vị đại tướng Chúc Dung, Lực Mục, Cú Mang, Anh Chiêu mà không hề bị thất thế, về sau Nữ Oa tại Không Chu Chi Sơn thiết lập đàn phong thiên, khiến quân đội Xi Vưu không thể lui lại, Cộng Công giận dữ, nhìn trời mắng to thiên thần bất công, sau đó đâm đầu vào Bất Chu Sơn mà chết, phá phong thiên trận của Nữ Oa, khiến tộc Cửu Lê có thể đào vong.

Cộng Công, chết trong trận Trác Lộc. (Cửu Thiên Huyền Nữ là lão sư của Hoàng Đế, từng dạy Hoàng Đế thuật kỳ môn độn giáp)

Trong truyền thuyết, Cộng Công thuộc bộ lạc tạo phản dưới thời Nữ Oa cầm quyền, nguyên do ban đầu bộ tộc Cộng Công cai quản thủy chính, chủ quản phương diện trị thủy, sau đó Nữ Oa tranh đoạt quyền thống trị, Nữ Oa phái bộ tộc hỏa chính ( "Chúc Dung" chính là hậu thế của hỏa chính) đánh bại bộ tộc Cộng Công.

Cộng Công dẫn đầu bộ tộc đào vong, phá hủy Bất Chu Sơn dự đoán khí tượng, dẫn đến việc Nữ Oa không có cách nào hiểu rõ khí tượng biến hóa, không thể dự báo hồng thủy để có đối sách kịp thời, cuối cùng bị hồng thủy càn quét, khiến rất nhiều bộ lạc tử thương.

Nữ Oa chỉ huy bộ hạ đốn củi làm thuyền, tiến hành cứu viện, đằng sau lại chỉ huy mọi người trị thủy, lấy các loại "Thạch Liêu" (vật liệu đá) cùng "Lô Hôi" (sậy trộn lẫn vôi) làm chủ.

Cho nên sau này mới có tích "Cộng Công phẫn nộ động Bất Chu Sơn", "Nữ Oa tạo người", "Nữ Oa luyện đá vá trời".

Từ thời Bàn Cổ khai thiên tích địa, Thủy Thần Cộng Công đã luôn không hợp với Hỏa Thần Chúc Dung.

Cộng Công phát động tiến công, đảm nhiệm vị trí thống lĩnh Tương Liễu và Phù Du, mãnh liệt tiến vào nơi ở của Hỏa Thần Chúc Dung là Quang Minh Cung, dập tắt thần hỏa quanh năm rực cháy ở đó, khiến đại địa lập tức phủ một màu đen kịt.

Hỏa Thần Chúc Dung toàn thân bốc hỏa diễm bước ra nghênh chiến.

Những nơi hắn đến mây mù trong vắt, vũ thủy tề thu; hắc ám lặng lẽ thối lui, đại địa tái hiện một màu quang minh.

Thủy Thần Cộng Công thẹn quá hoá giận, lệnh cho Tương Liễu và Phù Du đem nước ngũ hải tam giang lên đổ vào nơi của bọn Chúc Dung.

Tức khắc, khí đục bốc lên trên không trung, sóng đen cuồn cuộn, mây trắng bị che lấp, hỏa thần lại bị dập tắt.

Thế nhưng hồng thủy vừa lui, hỏa thần lại cháy lên, cộng thêm Chúc Dung mời Phong Thần đến hỗ trợ, gió trợ uy lửa, lửa thuận thế gió, hừng hực lao về phía Cộng Công.

Cộng Công muốn giữ lại hồng thủy ngự hỏa, thế nhưng nước cứ chảy xiết ngàn dặm, chỗ nào lưu được?

Hỏa diễm mạnh mẽ cuốn tới, bọn Cộng Công bị thiêu đến sứt đầu mẻ trán, nghiêng trái ngã phải.

Cuối cùng Cộng Công suất lĩnh thuỷ quân vừa đánh vừa lui, trốn về biển cả.

Hắn vốn cho rằng Chúc Dung thấy hồng thủy sẽ biết khó mà lui, bởi vậy đứng trong thủy cung đắc ý.

Không ngờ Chúc Dung lần này hạ quyết tâm tất thắng, dùng tốc độ cao nhất truy kích.

Hỏa long vừa đến, nước biển không khỏi cuồn cuộn xoay chuyển, tách ra hai bên, để lộ một con đường.

Chúc Dung thẳng bước vào thủy cung, khiến Thủy Thần Cộng Công đành phải đi ra nghênh chiến.

Kết cục, Hỏa Thần Chúc Dung thu được toàn thắng, Phù Du chết, Tương Liễu bỏ trốn mất dạng, Cộng Công tâm lực quá độ, không cách nào chiến thắng, chật vật chạy về phía chân trời.

Cộng Công một mực chạy trốn tới Bất Chu Sơn, nhìn lại, truy binh đã gần đến.

Cộng Công vừa thẹn lại vừa phẫn, liền đâm đầu vào Bất Chu Sơn.

"Rầm" một tiếng, Bất Chu Sơn bị Cộng Công phá hủy.

Bất Chu Sơn chao đảo, đại nạn giáng xuống nhân gian.

Nguyên do Bất Chu Sơn là đại trụ chống trời, cột vừa gãy, nửa bầu trời liền sụp xuống, lộ ra thạch cốt lởm chởm, nhiều lỗ thủng xuất hiện.

Lập tức Thiên Hà trút xuống, hồng thủy tràn lan.

Trứ danh "Xung khắc như nước với lửa" cũng bắt nguồn từ trận đại chiến này.

Về sau mới có sự tích Nữ Oa luyện đá vá trời, khiến đại địa trở lại bình yên.

PHONG BÁ PHI LIÊM

Cổ Sử Châm Ký ghi rằng: Phong Bá Phi Liêm thân hươu đầu tước, đầu mọc sừng nhọn, toàn thân báo vằn, đuôi như hoàng xà, trợ giúp Xi Vưu một phương tham gia trận chiến tộc Cửu Lê.

Hắn từng liên hợp Vũ Sư Bình Ế đánh bại Băng Thần Ứng Long.

Sau khi bị Nữ Bạt đánh bại, hắn bị bắt giết, chết trong trận Trác Lộc.

Phong Bá Phi Liêm vốn là sư đệ của Xi Vưu.

Tướng mạo của hắn kì lạ, thân hươu nhưng lại có hoa văn báo.

Đầu của hắn giống như Khổng Tước, sừng trên đầu cao chót vót cổ quái, có một cái đuôi như đuôi rắn.

Hắn từng cùng Xi Vưu bái một chân đạo nhân làm sư phụ, tu luyện tại kỳ sơn.

Lúc tu luyện, Phi Liêm phát hiện ra trên núi đối diện có một tảng đá lớn, mỗi lúc gió mưa liền bay lên như yến , lúc tạnh rồi lại quay về chỗ cũ, không khỏi âm thầm thấy kỳ lạ, thế là lưu tâm quan sát.

Có một đêm, hắn thấy tảng đá này bắt đầu chuyển động, đảo mắt liền biến thành một cái vật sống không chân giống như túi vải, hướng mặt đất hít sâu hai cái, ngửa mặt lên trời phun ra.

Lập tức, cuồng phong phát động, cát phi đá tẩu, nó lại bay lượn như chim yến bên trong gió xoáy.

Phi Liêm thân thủ nhanh nhẹn, nhảy lên bắt được, mới biết được nó là Thông Ngũ Vận Khí Hầu, là "Phong mẫu" chưởng bát phong.

Thế là hắn học được từ "Phong mẫu này kỳ thuật thu phong, trí phong.

Lúc Xi Vưu cùng Hoàng Đế triển khai ác chiến, Xi Vưu mời tới Phong Bá, Vũ Sư thi triển pháp thuật, khiến mưa gió đại tác, bộ tộc của Hoàng Đế bị lạc mất phương hướng.

Hoàng Đế phải bố trí thế trận đánh thắng bất ngờ, lại lợi dụng gió chế tạo xe chỉ nam, phân biệt hướng gió, đánh bại Xi Vưu.

Phi Liêm bị Hoàng Đế hàng phục liền ngoan ngoãn làm phong thần chưởng quản gió.

Phong Bá luôn là tiên phong mỗi khi Thiên Đế đi tuần, phụ trách quét dọn hết thảy chướng ngại trên đường.

Mỗi khi Thiên Đế đi tuần, luôn luôn có Lôi Thần mở đường, Vũ Sư vẩy nước, Phong Bá quét dọn.

Phong Bá chủ yếu chức trách là chưởng quản gió tám hướng, vận thông khí hậu bốn mùa.

VŨ SƯ BÌNH Ế

Cổ Sử Châm Ký ghi rằng: Vũ Sư Bình Ế hình dáng như tế tằm bảy tấc, sau lưng mọc vảy cánh, trợ giúp Xi Vưu một phương tham gia trận chiến tộc Cửu Lê.

Y từng liên hợp với Phong Bá Phi Liêm đánh bại Băng Thần Ứng Long.

Sau khi bị Nữ Bạt đánh bại, y bị bắt giết, chết trong trận Trác Lộc.

Từ lâu Vũ Thần đã được gọi là Bình Ế, Ế là bởi vì dáng vẻ mang lông vũ hoặc mặc vũ y, mà ban đầu các Vu sư cầu mưa đều mặc vũ y, cách ăn mặc như hình tượng chim chóc, cho nên Vũ Sư liền được xưng là Bình Ế.

Trong truyền thuyết, Vũ Sư Bình Ế thường thường xuất hiện cùng Phong Bá Phi Liêm (mưa và gió).

Từng là thuộc thần của Hoàng Đế, Hàn Phi Tử - Thập Quá có ghi: Xưa kia khi Hoàng Đế hợp quỷ thần tại Tây Thái Sơn thì Xi Vưu cư tiền (đứng trước), Phong Bá tiến tảo (quét dọn), Vũ Sư vẩy đạo (vẩy nước).

Nhưng về sau khi Xi Vưu cùng Hoàng Đế tác chiến, Sơn Hải Kinh - Đại hoang bắc kinh có ghi: "Xi Vưu tác Binh phạt Hoàng Đế, Hoàng Đế ra lệnh cho Ứng Long tiến công Ký Châu.

Xi Vưu mời Phong Bá, Vũ Sư làm mưa to gió lớn."

Thế gian lưu truyền đủ loại thuyết pháp phong phú, thậm chí có chỗ xưng Vệ Công Lý Tĩnh là Vũ Sư, mặc dù có vẻ hoang đường nhưng đủ để thấy được làm nông nghiệp đại quốc, Hán tộc dân gian đối với quá trình thu hoạch nông nghiệp ắt không thể thiếu mưa.

Đáng nhắc tới chính là bên địa chi (12 con giáp) cho rằng Sửu chính là Vũ Sư, cho nên Hán tộc dân gian thường lấy ngày Sửu là ngày tế tự mưa.

U MINH SONG THẦN - MINH THẦN THẦN ĐỒ VÀ MINH THẦN ÚC LŨY

Quy Giáp Ký Sự ghi chép: Minh Thần Thần Đồ cùng Minh Thần Úy Lũy đứng đầu các yêu ma quỷ quái, quy thuận Xi Vưu, về sau bị bắt trong trận chiến Trác Lộc, được Nữ Oa bổ nhiệm làm Minh phủ chi thần, chưởng quản Minh giới.

Trong truyền thuyết, Minh Thần Thần đồ là thần nhân có thể chế phục ác quỷ, tịnh xưng cùng với một thần nhân khác là Minh Thần Úc Lũy.

Hán Trương Hành « Đông Kinh Phú » có ghi: "Độ sóc tác ngạnh, thủ dĩ Úc Lũy ; Thần Đồ phó yên, đối thao tác vi."

Thanh Trần Duy Tung 《 Mãn Giang Hồng • Ất Tị Trừ Tịch Lập Xuân 》có ghi: "Úc Lũy y tà đầu thượng mạo, Thần Đồ thoát lạc yêu gian trượng." 《 Yên Chi Huyết 》 lại đề: "Trấn thủ triêu môn hổ quỷ hồ, tiền thân đoan đích thị Thần Đồ ."

Úc Lũy Thần Đồ — Theo truyền thuyết Hán tộc dân gian, tương truyền vào thời viễn cổ, Thần Đồ và Úc Lũy vì một đôi huynh đệ, hai huynh đệ đều am hiểu bắt quỷ, khi ác quỷ quấy rối bách tính, Thần Đồ và Úc Lũy liền đi thu phục, sau đó đem buộc chặt nó cho lão hổ ăn.

Những người đời sau để tránh ma quỷ liền họa trên cửa hình của Thần Đồ, Úc Lũy và lão hổ, lưu truyền cho đến đời nay.

Trái cánh cửa họa hình Thần Đồ, phải cánh cửa là hình Úc Lũy, Hán tộc dân gian gọi bọn họ là Môn Thần.

Thần Đồ là thần tướng tả môn, mặc ngân giáp, đội ngân khôi, cầm trong tay Hồn Thiết Điểm Cương Xoa (Đinh ba sắt), mặt như Sinh tất (thổ sơn, là một chất lỏng màu thuần thiên nhiên được cắt ra từ cây sơn, sau khi tiếp xúc không khí sẽ từng bước chuyển thành màu nâu) hai mắt tiếp tai, lông mày chĩa lên trời, dưới hàm có một bộ râu cứng như sắt, là quan tướng dưới trướng Chung Quỳ.

ĐỘN THẦN NGÂN LINH TỬ:

Nguyên Dương chí lược ghi chép, Ngân Linh Tử là Đại tướng Đông Di, giỏi về tự vệ.

Sau khi Xi Vưu chết, y dẫn đầu một bộ phận sơn quỷ thuộc Đông Di bộ tộc nam hạ đến địa khu của tộc Khoa Phụ, còn lại người Đông Di cùng y dời đến đông Thái Sơn, trốn khỏi sự truy sát của Đại tướng Vương Hợi - tọa hạ của Hoàng Đế.

Trong truyền thuyết, Ngân Linh Tử là một trong thập đại ma thú, trong trận chiến Thần Ma chỉ có Địa Ma Thú và Lượng Ma Thú chưa vong, đứng hàng thứ nhất Địa Ma thú bị vây trong phong ấn, xếp cuối cùng trong Lượng Ma Thú có năng lực chạy trốn và dự báo tương lai, cuối cùng trốn tránh được chiến dịch vây bắt của các thiên thần.

Về sau bởi vì Lượng Ma Thú chỉ tự vệ mà chưa từng hại người nên nhóm thiên thần nội đấu, do đó không tiếp tục đi truy bắt y.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Sự Tích Bát Tiên


Trong hệ thống thứ bậc của đạo Lão có 8 vị tiên bất tử.

Truyền thuyết nói rằng họ đều đã nếm qua rượu và đào tiên nên bất tử và được coi là biểu tượng của sự trường sinh và những điềm lành, sự hiện diện của Bát Tiên đem đến bình yên và hạnh phúc cho gia chủ.Truyền kỳ về Bát Tiên có lẽ bắt đầu từ triều đại nhà Đường, và câu chuyện cũng thay đổi khác nhau qua với các triều đại.

Tám vị tiên, theo ấn bản sau đời nhà Minh, là gồm có Chung Ly Quyền, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Lý Thiết Quải, Tào Quốc Cữu, Lã Động Tân, Lam Thái Hoà, và Hà Tiên Cô.

Rất khác nhau về bề ngoài và cá tính, tám vị này là Đại Tiên trong Đạo gia, và họ thường tụ tập, họp mặt với nhau.Tào Quốc Cữu là hoàng tộc của một hoàng đế; Lý Thiết Quải có tật ở chân nên bước đi với một cây gậy; Hà Tiên Cô là một phụ nữ trẻ đẹp; Trương Quả Lão trông rất khỏe mạnh ở tuổi già của mình và thường cưỡi ngược trên lưng lừa.

Hàn Tương Tử là cháu trai của Hàn Dũ, một văn nhân nổi tiếng ở triều đại nhà Đường, thường thích thổi sáo; Chung Ly Quyền luôn luôn được nhìn thấy với một tay phe phẩy cái quạt lá.

1/.

Hán Chung Ly: Chung Ly Quyền, hiệu là Vân Phòng, làm đại tướng trong triều đình nhà Hán nên còn được gọi là Hán Chung Ly hay Hớn Chung Ly.

Ông có thân hình mập mạp, bộ râu xoăn và đôi mắt khoan hòa, mặc chiếc áo phanh trần, để lộ chiếc bụng tròn.

Ông là vị tiên luyện nước thánh và tay phe phẩy chiếc quạt thần dùng để cứu người bệnh.

Khi mới sinh, trên nóc nhà ông có hào quang sáng rực.Chung Ly Quyền tượng trưng cho sức khỏe và quyền năng chữa bệnh.

Có vị tiên này trong nhà sẽ giúp cho các thành viên trong gia đình luôn khỏe mạnh.

2/.

Trương Quả Lão: Là một lão tiên chuyên nghề thuật sĩ và những lĩnh vực huyền bí.

Vật tiêu biểu là cái trống cơm và con lừa mà ông luôn cưỡi nhưng ngồi ngược.

Khi không cưỡi, ông gói con lừa lại cho vào một cái bị cói đeo kè kè sau lưng.Trương Quả Lão tay mang một nhạc cụ giống như ống tre.

Ông nắm giữ sự thông thái của tuổi già.

Ông được tôn là nhà hiền triết, ban sự thông thái, minh mẫn cho những người cao tuổi trong gia đình.

3/.

Lã Động Tân: Ông xuất thân Đạo gia nên thường sử dụng phất trần và kiếm phép.

Kiếm phép là kiếm biết bay và nghe theo lời ông sai khiến.

Ông được tôn là ông tổ của nghề thợ cạo.

Là một học giả ẩn dật được tôn sùng như thần hộ mệnh của những người bệnh, thanh kiếm của ông có phép thuật để xua đuổi những linh hồn quỷ dữ và loại bỏ những nguồn năng lượng xấu.

Tay phải ông cầm phất trần để chữa bệnh.

Đặt vị tiên này trong nhà sẽ giúp cho mọi thành viên của gia đình tránh được bệnh tật do âm khí tạo ra.

4/.

Tào Quốc Cữu: Tào Quốc Cữu (Tào Hữu), em ruột của Tào Thái hậu, đời vua Tống.

Ông có nghề gõ phách nhịp, nên còn được xưng tụng là ông Tổ của các kịch sỹ, diễn viên.

Ông kết bạn với Hán Chung Ly và Lã Động Tân sau đó từ bỏ vinh hoa phú quý và tu tiên.

Ông thường mặc một chiếc áo nhà quan quý phái, toát lên vẻ cao quý, thanh nhã.

Đặt vị tiên này trong nhà sẽ giúp con đường công danh, địa vị xã hội được thăng tiến.

5/.

Lý Thiết Quả (hay còn gọi là Lý Thiết Quải): Lý Thiết Quải – vị tiên có quyền năng nhất trong 8 vịTrong Bát Tiên thì Lý Thiết Quải là vị Tiên đắc đạo đầu tiên và sau đó có công giúp các vị kia thoát tục thành Tiên.

Vì thế, người ta còn nói Lý Thiết Quải là vị Tiên đứng đầu bảng của Bát Tiên.Lý Thiết Quải: họ Lý, tên là Huyền, hiệu là Ngưng Dương, nên thường gọi là Lý Ngưng Dương, diện mạo nghiêm trang, tính khí ngay thẳng, trong sạch, học rộng biết nhiều, không theo đuổi công danh mà muốn đi tu Tiên.

Biết được Lão Tử đang dạy đạo trên Hoa Sơn, Lý Ngưng Dương liền tìm đến xin học.

Chính vì thế mà hình ảnh của ngài tượng trưng cho trí tuệ và sự sáng suốt.

6/.

Hàn Tương Tử: Hàn Tương Tử là người có biệt tài thổi sao nên được gọi là Học Sỹ thổi tiêu, ông đã sáng tác những bản nhạc êm dịu từ ống sáo thần.

Ông sống dưới thời nhà Thương, là bạn có Lã Động Tân và cũng nhờ đó tu đắc đạo.

Tiếng sáo thần thu hút những điềm lành bao quanh ông, vì thế mà tất cả muông thú, côn trùng, cây cỏ đều phát triển mạnh mẽ khi ông xuất hiện.Khả năng đặc biệt của Hàn Tương Tử là có thể làm cho cây cối mọc nhanh trong tích tắc.

Hình ảnh Hàn Tương Tử với rất nhiều những mầm cây trong chiếc bao tải đeo sau lưng tượng trưng cho một cuộc sống viên mãn.

7/.

Lam Thể Hòa: Tương truyền Lam Thể Hòa (hay còn gọi là Lam Thái Hòa) do Xích Cước Đại Tiên đầu thai xuống trần, có hình dáng cậu bé trai (hoặc bé gái trong nhiều dị bản), tay xách giỏ hoa, thường mặc áo rộng màu xanh, buộc dây lưng đen, một chân đi đất, một chân mang giày, mùa hè mặc áo bông mà không biết nóng nực, mùa đông chỉ mặc áo đơn mà không biết lạnh.Thực tế không phân biệt được Lam Thể Hòa là nam hay nữ nên dân gian coi ông là bán nam bán nữ.

Ông sinh vào cuối thời Thương và đắc đạo sau một trận say túy lúy, trời long đất lở, ông được một con ngỗng trời đưa về trời.Thường ngày, ông ra chợ, vừa ca vừa gõ nhịp, để xin tiền bố thí.

Những bài ca do ông tự đặt ra đều có ý khuyên người đời bỏ dữ theo lành.

Tiền xin được, ông cột vào dây lưng và bố thí cho người nghèo khổ.

Lam Thể Hòa là một vị tiên mang đến sức khỏe và niềm vui cho gia đình.

8/.

Hà Tiên Cô: Hà Quỳnh hay Hà Tiên Cô quê ở huyện Tăng Thành, tỉnh Quảng Châu, đời nhà Thương, đây là vị nữ tu chính xác duy nhất trong Bát Tiên (do Lam Thể Hòa không biết là nam hay nữ).

Tương truyền lúc còn nhỏ bà vốn được gọi là Hứa Sinh (là tên con trai), sau mới được coi là nữ (nhiều tài liệu cho rằng bà đã cải giống chuyển từ nam thành nữ).

Bà rất có hiếu, một lòng phụng dưỡng mẹ già ốm đau, nhờ đó mà đắc đạo thành tiên.Khi còn bé, vị tiên này có 6 cái xoáy trên đầu mà ai cũng cho là kỳ tướng.

Sau khi thành tiên, Hà Tiên Cô thường cầm hoa sen linh thiêng và cây phất trần.

Nếu thờ bà trong nhà thì những người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình sẽ gặp nhiều may mắn, hoa sen và trái đào biểu thị cho sự sung túc và trù phú.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tuyển Tập Cương Thi


Cương thi: Tên như ý nghĩa, là một thi thể cứng ngắc.

Ở trong truyền thuyết của dân gian, thi thể con người sau khi chết bởi vì hấp thu âm khí quá nặng mà biến thành yêu ma.

Cương thi còn là tử thi mà có thể nhảy.

Trong Trung Hoa thời xưa, người ta cho rằng cương thi là những người chết không nhắm mắt mà oán khí tụ yết hầu, có thể hấp thu âm khí ánh trăng.

Những người sau khi nhiễm độc thi hoặc ở nơi mộ phần có thuộc tính phong thủy, thi thể sản sinh sự thay đổi sẽ hóa thành cương thi.

Sau này tại phương tây có chế ra phiên bản Vampire hút máu người, lấy móng tay làm vũ khí, hút máu người sống, người khác bị hút máu hoặc quào trầy xước sẽ bị lây nhiễm độc thi, cuối cùng tử vong hoặc biến thành một con cương thi khác.

Cương thi thông thường toàn thân cứng ngắc, móng tay biến thành màu đen, rất bén nhọn, có răng nanh, sợ ánh dương quang.

Ban ngày nó trốn trong quan tài, huyệt động hoặc các nơi âm u ẩm ướt, vào đêm thường lui tới những nơi có máu người hoặc gia súc để tìm thức ăn.

Đối vật còn sống, nó thường có tính công kích rất lớn.

Khi nhảy thì đưa hai tay về phía trước thân.

Thi thể thay đổi do nhiều loại phương thức, như dính vào độc thi, mượn dương khí người sống, vấn đề phong thuỷ, ánh trăng chiếu rọi, mèo mun nhảy qua người, bị ác linh tà vật nhập thân, hồn ly phách lưu, bị lôi điện đánh trúng v.v...

Có sách chia ra hai loại: Tân thi đột biến và chôn lâu không rữa.

Có miêu tả về cương thi như sau: "Lông trắng khắp người, mắt đỏ như chu sa, ngón tay như mắc câu, răng lộ ra ngoài như lưỡi dao sắc bén, mồm thở ra hư khí, máu tanh xuyên qua mũi."

Tương truyền có một loại thi thể gọi là ấm thi, được coi như là tình trạng quá độ từ thi thể lên cương thi, nếu như không mau xử lý sẽ rất nhanh thoái hóa thành cương thi.

Thi thể mai táng cho dù hơn trăm năm cũng không hư thối, đồng thời lông và móng tay sẽ tiếp tục sinh trưởng.

Tang thi: Tiếng Anh gọi là Zombie.

Có người nói trong tài liệu gần nhất có ghi chép, vào năm 1819, thi nhân Robert Southey đã chỉ ra có Zombie tồn tại trên đờ.

Mà từ Zombie thực tế xuất phát từ Tây Phi Congo, theo nô lệ da đen lưu truyền đến Caribbean, nhất là Hai-ti.

Hai-ti Zombie đặc biệt còn gọi là hoàn hồn thi (chết đi sống lại).

Cản thi: còn được gọi là di linh (dời linh), tục xưng là hét người chết, ở bộ tộc Tana Toraja thuộc Sulawesi Selatan (Indonesia) hay ở Tương Tây (Trung Quốc) có một phương pháp đưa thi thể người chết trở về quê an táng bằng cách làm cho thi thể có thể đi được .

Ở Trung Quốc cho rằng phương pháp này có liên quan tới Vu thuộc của Miêu tộc, còn thuộc về Chúc Do Khoa (Chúc Do Khoa: Bí quyết kỳ thư, gồm năm loại, chia làm Càn nguyên, hanh, lợi, trinh, nội dung chủ yếu là mệnh lý, thuật số) của Mao Sơn Thuật.

Người đưa thi về gọi là Cản thi tượng.

Tương Tây thực hiện cản thi đều tiến hành trước khi trời sáng, thợ thực hiện là một tiểu đồng, đầu tiên chấp nhiếp hồn linh khiến người ra tránh ra, thuận tiện để những nhà có chó đóng cửa nhốt chó lại, đề phòng chúng nó cắn thi thân.

Cản thi tượng rất ít đốt đèn lồng, phía sau là mấy thi thể xếp thành một hàng rồi đi trên đường núi.

Thi thể được dùng vải bố đen che khuất, khi đi thì tự nhảy về phía trước, đầu đội một mũ cao hình ống phủ qua đầu, trên mặt dán một lá bùa vàng.

Trước bình minh khi cản thi tượng và thi thể có ở đây, không có một khách sạn quán trọ nào kinh doanh, buổi tối thì lại kinh doanh bình thường.

Dân chúng ở Tương Tây có quan niệm truyền thống rất sâu sắc: "Lá rụng về cội", cho nên luôn muốn đưa thi thể người chết về quê an táng, thế nhưng đường núi gồ ghề, khó đi, không thể dùng xe, cáng cứu thương vận chuyển, bởi vậy hình thức cản thi này xuất hiện.

Lại có truyền thuyết kể lại, thời thượng cổ, Xi Vưu và Hoàng Đế giao tranh, chém giết thảm liệt.

Xi Vưu vì muốn đưa di thể những binh sĩ về nhà, bèn ra lệnh cho quân sư thủ hạ nghĩ cách vận chuyển thi, do đó hình thành nên hình thức cản thi.

Muốn cản thi, đầu tiên thi thể phải được bác sĩ tiêm qua vắc xin chống phân hủy, sau đó vẽ chu sa lên người người chết.

Còn cách thức cụ thể thế nào thì mỗi nơi có một cách thức khác nhau.

Chọn thợ cản thi: Cản thi tượng được truyền thừa từ sư qua đồ.

Cản thi tượng phải 16t trở lên, tướng mạo xấu 1 chút, cao trên 1m7, khi nhập môn phải trải qua 3 đợt khảo hạch:

1.

Nhìn mặt trời chuyển động, vạch ra phương hướng (Bởi vì thực hiện cản thi đa số vào lúc trời tối, cho nên việc phân định được phương hướng rất quan trọng)

2.

Huấn luyện khiêng vật nặng.

3.

Đêm khuya vào khu mồ mả tìm lá ngô đồng mà sư phụ đã đặt (mục đích rèn luyện lòng can đảm)

Sau khi nhập môn, sư phụ sẽ chỉ cho đệ tử vẽ bùa "ba mươi sáu cách" và truyền thụ kỹ thuật.

Tài liệu lịch sử có nhắc tới vài loại hình thái thi sau khi không mục rữa: Tử cương, bạch cương, hắc cương, lục cương, mao cương, phi cương.

Có cương thi cùng loại, nhưng chỉ có duy nhất ba loại được coi như là "Khô lâu": Du thi, phục thi, bất hóa cốt.

Còn có một giả thuyết không rõ nguồn gốc chỉ cương thi biến thành yêu, thay bạt hóa hống (biến thành quỷ đại hạn hay hóa sói) – Hạn Bạt.

Tử cương, thân thể hiện ra tử sắc (sắc tím).

Hiện đại khoa học cho rằng, thân thể hiện tử sắc là bởi vì trúng một loại độc làm cho máu bị nhuộm thành màu tím, sau đó lan ra toàn thân.

Bạch cương và hắc cương là thi thể màu trắng hoặc đen.

Bạch cương thi hành động chậm chạp, vô cùng dễ đối phó, nó cực sợ ánh dương quang, cũng sợ lửa, sợ nước, sợ gà, sợ chó, thậm chí sợ hãi người.

Lục cương, thi thể tản ra thi khí và thân thể màu xanh biếc.

So với bạch cương, hắc cương, nó nhảy cực nhanh, không sợ người, không sợ gia súc, duy chỉ có chỉ sợ ánh dương quang.

Mao cương, trên người thi thể mọc ra bộ lông dài, nổi danh mình đồng da sắt, tu vi càng cao, thân thể càng đầy đặn.

Hành động mẫn tiệp, nhảy qua trần nhà được, leo lên cây được, nhảy nhót như bay, bắt đầu không sợ lửa, thậm chí còn không sợ ánh dương quang.

Phi cương, là cương thi ngàn năm tu luyện thành công.

Phi cương có thể am hiểu pháp thuật, thân thể bất hoại, bởi vì ... loại cương thi này có thể bay, cho nên xưng là phi cương.

Bất hóa cốt, người sau khi chết, thân thể có một số bộ phận được tinh thần quán chú mà khiến cho bất hóa cốt.

Cái gọi là tinh thần quán chú cũng giống như một công nhân liên tục dùng lực vai gánh gạo, sau khi hắn chết những vị trí gần bả vai cũng sẽ không mục rữa, mà vai không thay đổi bộ vị nên dẫn đến không thay đổi thành xương cốt (bất hóa cốt), mà không hóa cốt vào lúc được nhật nguyệt tinh khí chiếu rọi sẽ có chuyện.

Phục thi, thi thể ngàn năm, vô pháp di động, có thể nói là thi thể hoàn chỉnh không thay đổi cốt toàn thân mình, lâu dần hấp thụ tinh hoa nhật nguyệt sẽ từ từ hóa thành du thi.

Du thi, là do bởi vì nguyệt khí chuyển động, không có ở một chỗ cố định, lâu dần hóa thành quỷ dạ xoa phi hành.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Thần Thánh Trung Hoa


THẦN THÁNH TRUNG HOA

Bản dịch của Nhược Thủy - dienbatn giới thiệu.

LỜI NÓI ĐẦU : Đây là bản dịch rất công phu của Nhược Thủy trong trang Hoangthantai .

Nay không còn thấy trang này hoạt động nữa. dienbatn chép lại vào đây để làm tư liệu .

Mong bác Nhược Thủy cảm thông.

Lời giới thiệu:- Nhận thấy từ trước đến nay, người Việt Nam chúng ta theo phong tục tập quán của người Trung Hoa, nên đã tin tưởng và thờ phụng rất nhiều vị Thánh, Thần giống như người Trung Hoa.

Tài liệu giải thích về các Ngài thì quá ít và không có cơ sở khảo cứu , chỉ theo truyền khẩu nhiều hơn.

Nay tôi xin cố gắng dịch những tài liệu nầy từ một Website có uy tín và khảo cứu cẩn thận, xin kính tặng tất cả huynh đệ trong 4R-HTT.

Nếu có chỗ nào sai sót, xin quí cao nhân hoan hỉ chỉ bảo cho (kèm theo nguyên tác để quí vị dễ đối chiếu)

Xin thành thật cảm ơn quí huynh đệ.

Nhược Thủy

-Giới thiệu tóm tắt Thần Thánh Trung Hoa theo lịch sử .

Tổng quát về Thánh Thần Trung Hoa

Vào thời kỳ viễn cổ, những người nguyên thủy đối với các hiện tượng phát sinh trong Đại tự nhiên như: - mặt trời, mặt trăng, các sao, ao hồ sông biển, núi đá đất cát, hoa cỏ cây Cối, sấm sét nước lửa, tối sáng mưa gió, mong trời răng trời ...

Họ không biết được đó là tự nhiên mà cho rằng "có một chủng loại nào không biết đó sinh ra các thứ trên".

Từ đó sinh ra tín ngưỡng đầu tiên của con người mang tính cách "thần thoại" như: - Phong Thần có gió, lửa có Hỏa Thần, nước có Thủy Thần ... sau trở thành quan niệm muôn vật đều có thần linh cả Quan niệm nay là một bộ phận quan trọng trong đời. sống của người thời xưa.

Tín ngưỡng nay nói chung là "kính trọng các vật thể siêu tự nhiên".

Thần linh hồi ban đầu, có tài biến hóa vô cùng, mà không nghe tiếng có, mà thấy không có hình, đi lại không tung tích Thời kỳ.

Đó, người nguyên thủy sùng bái các Thần, không thấy các Thần ở chỗ thân thiết, mà là thấy các Thần ở chỗ đáng sợ Mong mỏi. các Thần đừng tai họa giáng xuống cho họ, vì thế, những vị Thần của người nguyên thủy đa số là nửa người, nửa cầm thú hoặc nửa loài bò sát ... hoặc hỗn hợp các loài đó với nhau, quái thành những vật không thể nghĩ bàn.

Rồi nhân loại tiến hóa dần, những vị Thần, không còn là chỗ sợ hãi, là chỗ giáng tai họa cho người nữa, mà trở thành chỗ để con người cầu xin phước huệ lợi lộc Cho nên., Chỉ trừ các loại "Ôn thần "(thần gây bệnh dịch) đại đa số các vị thần đều là" Thần Bảo Hộ "cho con người.

Do vậy, sự sùng bái thần dần dần được" Nhân Hình Hóa "(hóa thành hình người) và tạo ra các hình tượng để thờ cúng.

Thời cổ đại đời nhà Chu, dân gian đã có sự lưu truyền việc sùng bái thần linh, tư tưởng và nghi lễ cúng tổ tiên Từ sau.

Nho gia khi khởi hưng, đã nhấn mạnh đến các việc đề cao công đức của việc cứu nước cứu dân, những hành vi trung hiếu tiết nghĩa của các bậc cổ thánh tiên hiền, nói chung là những cống hiến đối với xã hội Từ đó., phát triển mộ bước từ "Thần Linh" hát "Thần Minh" (thần cách hóa những người có công).

-Đời nhà Hán thì Đạo Giáo hưng khởi, đề xướng các việc "tu tâm dưỡng mệnh" "Trường sinh Bất lão", "Tôi cát Tị treo", cùng các pháp "Luyện đan", "Thổ nạp" vv ...

Những lý thuyết ấy cộng với sự phục hưng tư tưởng của Thần Đạo cổ đại, làm cho nội dung thần thoại vô cùng phong phú, rồi được gia thêm lễ nghi, cộng với những khát vọng về nhu cầu đời sống, về sự sợ hãi chết chóc ... khiển cho số lượng Thần càng ngày càng tăng rất nhiều lên Những vị Thần về sau gọi "thần được phong" hay "thần được tạo ra.".

-Đồng thời khi ấy, Phật Giáo du nhập vào Trung Hòa, với những lý thuyết về nhân quả, báo ứng, lưu chuyển ba đời, sáu đường luân hồi, thiên đường địa ngục ... thêm một lô danh sách phong phú những Thần Quân , được nhân dân tiếp thụ dần dần trở thành tín ngưỡng thần kì.

-Đến đây có sự hỗn đồng của "thần các thần làm cách hóa" và "thần làm các nhân cách hóa", nổi bật là tổ tiên của con người thế tục và các vị Thánh Hiền cũng lên được cách thăng "Thần Minh" Tiêu chí. bắt buộc của Thần là: - "Thông minh, Từ bi, Chính trực" Theo tiêu. chí đó, đời sau ông đã có những vị đế vương, anh hùng, những vị cứu dân độ thế ... cũng được đưa nhân dân vào danh sách các thần Phụng để thờ cúng bái.

-Trong cuộc lữ trình của người con, phải chấp nhận những biến hóa khôn lượng trong cuộc sống, những cái mà con người không thể tự cứu, tự định đoạt được đó Từ., Nhu cầu của các thần bảo hộ về mặt con người đã thể hiện qua những truyền thuyết, nói lên những yêu cầu nội tâm, nguyện vọng hoặc lý tưởng của con người Tất cả.

đã trở thành lực lượng mạnh mẽ của tâm lý, chi phối cuộc sống nhân loại.

Ta gọi đó là "Kính Thần Quân" (quan niệm tôn kính thần), và câu nói phổ biến: --

Thảo vọng Xuân sinh, nhân vọng thần phù "(cỏ chờ mùa Xuân đến để sinh sôi nẩy nở, người chờ chư Thần phù hộ để sung sướng khổ bớt).

Đại bộ phận các tôn giáo đều nhằm vào mục tiêu "khuyên dạy người làm lành lánh dữ", còn dân chúng có tín ngưỡng, sùng bái Thánh Thần là để cầu xin ban phước Việc tìm hiểu kỹ về "lý lịch".

Thần Thánh ít có ai làm đến nơi đến chốn, chỉ đơn giản một quan niệm "lay được nhiều Thần Thánh ở nhiều nơi là được các ngài phù hộ" Tính ". hỗn dung" trong tôn giáo cũng là tất yếu, nghi thức cúng tế có nguồn gốc từ nhiều tín ngưỡng khác nhau hợp lại mà thành Như việc. tổ chức tang lễ chẳng hạn, người con thuộc về Nho gia, nghi thức tống táng theo Đạo giáo, cầu siêu độ theo Phật giáo Đây là thí dụ điển hình. nhất cho việc "Tam giáo hợp nhất".

* Việc sùng bái tuy mang tính cách cá nhân, nhưng trải qua thời gian lâu dài, nhiều đời nhiều kiếp đã thành "thâm căn cố đế" (thâm căn cố đế), tín ngưỡng tôn giáo ngày càng cao, càng đa dạng phức tạp hơn Không có một. tôn giáo hay tín ngưỡng nào mà còn giữ nguyên được "trạng thái ban đầu" cả.

Đạo giáo cũng không thoát ra khỏi qui luật khách quan ấy Cho nên., việc đánh giá một vấn đề nào đó, là "mê tín" hay không, là cả một việc hết sức khó khăn, phải dè dat cho lắm.

* Việc cúng tế tổ tiên, nhiều đời dã làm, đến nay và về sau có lẽ cũng không dứt , nhưng có ai khẳng định được hay có "không có cái gọi là Tổ Tiên" ấy?

Tổ tiên trong lòng con mắt và mọi người, là quan trọng nhất Bởi vì.

ơn nghĩa sanh thành, dưỡng dục, sánh với trời cao biển rộng Những luân. lý đạo đức đã thành nếp, khắc sâu vào tâm khảm mọi người, mọi thế hệ như: - kính trọng người trên, báo hiếu cha mẹ, thờ cúng tổ tiên ... thì đối với một gia đình nào đó, có thể là họ không có thờ Phật, không có thờ Thần của Đạo giáo ... nhưng không thể không thờ kính tổ tiên, dù bằng cách nay hay cách khác Điều nay cho thấy., khách quan mà nói, thờ kính tổ tiên vượt khỏi giới hạn của mọi tôn giáo.

* Nói về "Phả hệ" của Thánh Thần trong Đạo Giáo, vì đã kế thừa nào là tôn giáo xưa, thần thoại cổ tích, những nhân vật sống thành Tiên lâu, những anh hùng dân tộc được nhân dân kính ngưỡng Phụng thờ ... kết hợp với những vị thần Phật Giáo, Đạo Giáo ... lần lần hình thành một "hệ thống Thánh Thần" hết sức đa dạng và phức tạp, khó mà định hình thống nhất được.

* Phả hệ đầu tiên của Thánh Thần có nguồn gốc cơ bản là từ các vị "tôn thần" của Đạo Giáo (bao gồm các giáo chủ, các bậc đạo cao, các bậc được tôn xưng trong ba cõi vv ... cốt lõi của việc "hình thành Thánh Thần" là dựa vào ba yếu tố căn bản sau: - một là đạo, hai là khí, ba là hóa và sinh Hóa là "nhân cách. hóa các Thần" (từ sự sùng bái thiên nhiên hoặc Điểu thú linh hiển ...) và "Tiên hóa người tu hành".

* Đời Tống, các vị học giả đã cố gắng "hệ thống hóa" lại Phả hệ Thần Thánh trong Đạo Giáo, sơ bộ có mười một tầng lớp như sau: --

1.

Tam Thanh, Tứ Ngự;

2.

Nam Cực Trường Sinh Đại Đế, Đông Cực Cứu Khổ Thiên Tôn, Mộc Công Đạo Quân, Kim Mẫu Nguyên Quân Cập Tam Thập Nhị Thiên Đế (1);

3.

Thập Thái Nhất (Thái Ất) (2), Nhật Nguyệt Ngũ Tĩnh, Bắc Đầu, Nhị Thập Bát Tú Tinh Quân;

4.

Ngũ Đế, Tam Quan, Tứ Thánh;

5.

Những vị Pháp Sư truyền dạy kinh sách nhiều đời;

6.

Ma Vương, Thần Vương, Tiên Quán;

7.

Ngũ Nhạc và Chư Thần của Phong Đô và Địa Phủ;

8.

Phù Tang Đại Đế và Chư Thần của Thuỷ Phủ;

9.

Các đáng chú Tể và chư Thần của Thiên Xu Viện, Khu Tà Viện, Lôi Phủ;

10.

Các đang Công Tạo, Sứ Giả, Kim Đồng, Ngọc Nữ, Hương Quân, Lại Dịch vv ...;

11.

Thành Hoàng, Thổ Địa Thần và các sở thuộc.

* Chú thích: --

(1) Tam Thập Nhị Đế

1.-Đông Phương Bát Thiên

Đường Huỳnh Thái Hoàng Thiên, Đế Úc Giám Ngọc Minh

Thái Minh Ngọc Hoàn Thiên, Đế Tu A Na Điền

Thanh Minh Hà Đồng Thiên, Đế Nguyên Dục Kinh Tế

Huyền Thái Bình Dục Thiên, Đế Lưu Độ Nội Tiên

Nguyên Minh Văn Cử Thiên, Đế Sửu Pháp Luân

Thượng Minh Thất Diệu Di Ma Thiên, Đế Điềm Huệ Diên

Vô Ngũ Hành Thiên Việt, Đế Chính Quang Định

Thái Cực Mông E Thiên, Đế Khúc Dục Cửu Xương

2.-Nam Phương Bát Thiên

Xích Dương Thiên Minh Hoà, Cẩm Thượng Đế Lý Chân

Huyền Minh Cung Thiên Hòa, Đế Không Đạo Sửu Âm

Diệu Minh Tôn Phiêu Thiên, Đế Trọng Quang Minh

Trúc Huỳnh Già Thiên Lạc, Diệu Đế Ma Di Biên

Hư Minh Đường Diệu Thiên, Đế Một Gia Lâu Sinh

Quán Minh Đoan Tịnh Thiên, Đế Úc Mật La Thiên

Huyền Minh Cung Thiên Khánh, Long Đế La Bồ Đề

Hoàn Thái Cực Đạo Thiên, Đế Uyển Nhữu Vô Diên

3.-Tây Phương Bát Thiên

Nguyên Tải Khổng Thăng Thiên, Chân Đế Khải Định Quang

Thái An Huỳnh Thiên Nhai, Đế Bà La Một Thám

Hiển Định Cực Phong Thiên, Chân Đế Chiêu Đồng

Mạng thuỷ Hoàng Hiếu Thiên, Đế Tát Lâu La Vương

Ông Thái Hoàng Trọng Phù Dung Thiên, Đế Mân Bà Cuồng

Vô Tư Giang Đỗ Thiên, Đế Minh Phạm Quang

Thượng Diệp Nguyễn Lạc Thiên, Đế Bột Bột Lâm

Vô Cực Đàm Thiên, Đế Phiêu No Khung Long

4.-Bắc Phương Bát Thiên

Hạo Đình Tiêu Độ Thiên, Đế Huệ Giác Hôn

Thông tin Uyên Nguyên Động Thiên, Đế Phạm Hành Quán Sinh

Thái Văn Han Sung Diệu Thành Thiên, Đế Na Dục Sửu Anh

Thái Tố Lạc Tú Cẩm Thượng Thiên, Đế La Giác Long Trường

Thái Hư Vô Thượng Thường Dũng Thiên, Đế Tổng hợp Giám Quỉ Thần

Thái Hư Ngọc Long Đằng Thánh Thiên, Diệu Diệu Đế Hành Nguyên

Độ dài Biến Phạm Thiên, Đế Vận Thượng Huyền Huyền

Thái Cực Bình Dục Dịch Cổ Thiên, Đế Đại Trạch Pháp Môn

Các nguồn "từ lâu, chiết trung, Thiên Chúa Sở không đồng nhất, phân cấp rõ ràng" như là đặc trưng của dòng dõi bất tử được xác định bởi các yếu tố truyền thống, các yếu tố tôn giáo, hạn chế các yếu tố, làm bằng không gian-thời gian.

* Phả hệ của Thần Tiên Đạo Giáo có đặc điểm "từ nhiều nguồn gốc khác nhau, cái nào cũng lấy vào, hệ thống tạp nhập, tầng thứ không rõ ràng".

Có tình trạng Sở dĩ như thế vì các lý do sau: --

-tiếp thu theo truyền thống

-tiếp thu theo sở thích mỗi người

-tiếp thu theo từng giáo phái

-tiếp thu theo thời gian

-tiếp thu theo không gian, địa phương ...

Tất cả những thứ đó làm cho tổng thể trở thành phong phú nhập tạp nhưng hỗn loạn,, thứ lớp lao lộn, trùng lắp ... không thể nào có cái gọi là "lớp lang thứ bậc" hoàn chỉnh được.

* Tôn giáo là một hiện tượng phổ biến của lịch sử con người, đến nay thì tạm dừng.

Chúng ta thấy rằng nhận, tất cả tôn giáo đều chứa yếu tố cơ bản là "tôn giáo của tự nhiên", nghĩa là làm sự sùng bái các yếu tố tự nhiên, các động thực vật, các linh Quỉ, tổ tiên, linh vật hay "TÔ-TEM", các ngẫu tượng vv ...

Những sùng bái từ nguyên thủy đến giờ vẫn còn dấu vết sinh hoạt trong xã hội hiện nay của các dân tộc trên thế giới Có thể.

Nói tôn giáo nào cũng có sự kế thừa của tinh thần sùng bái thần linh cả.

* Đạo Giáo lại là một tôn giáo "cá biệt", không giống như các tôn giáo khác là "có một giáo chủ cụ thể", mà lại phát triển mở rộng đến mọi nơi, mọi lúc cầu xã hội Trung Quốc Trải dài. năm tháng, càng dày ngày càng sâu, không ngớt tồn tại và phát triển.

Có người dùng câu "tạp nhi đa đoan" (phức tạp mà nhiều nguồn gốc) để nói về Đạo Giáo Ý ấy hàm nghĩa châm Biếm,. nhưng cũng phản ảnh thật đúng với tình trạng thực tế của Đạo Giáo.

* Khi nghiên cứu về Phả hệ của Thần Tiên trong Đạo Giáo, phải chấp nhận yếu tố "ảnh hưởng thần học" làm đầu mối Điều đó.

Có nghĩa là, những tôn giáo tự nhiên của xã hội nguyên thủy Trung Quốc đã dần dần trở thành "tôn giáo của con người" (tôn giáo thần học).

Thời đại Ân, Chu thì làm vì người đời Ân rất sùng bái Quỉ thần Như Chiêm bốc chẳng hạn., Ngày nay còn ghi lại nhiều "lời que" có đặc điểm thời nhà Ân Thời ấy,.

Mỗi khi có việc gì cần giải quyết, họ đều hướng về "ĐẾ" để cầu xin ý kiến.

Đế ở đây là chỉ cho "tổ tiên" (sách Vương Tân Nhật ghi) Đến đời.

Chu, việc sùng bái Quỉ thần được ghi khá đầy đủ trong "Chu Lễ - Thiên Đại Tôn Bá "rằng: -" Chức năng của Đại Tôn Bá là có nhiệm vụ xây dựng Miếu Thờ cùng phụ trách việc cúng tế các Thiên Thần ".

Thiên thần ở đây bao gồm: - Hạo Thiên Thượng Đế, mặt trời, mặt trăng, các sao, Thần Gió, Thần Mưa, Thần Xã Tắc (lúa gạo), Ngũ Nhạc (năm núi lớn), Thần Rừng Núi, Thần Sông Nước, vật trăm bốn phương, nhân qui (tổ tiên của người) ".

Tôn giáo cổ đại của Trung Quốc có nguồn gốc từ các tín ngưỡng trên phát triển dần thành hệ thống những thiên thần, địa linh Quỉ nhân,, là những nhân tố khởi đầu của sự sùng bái thần linh của Đạo Giáo.

Trọng sách các của Đạo Giáo nói "... trong những vị đắc đạo thiên sanh, cao nhất là Ngọc Hoàng ... dưới có sông núi Quỉ thần cầm thú, không ngoài sở đắc học hỏi của con người", "Ngũ Đế của cung Thái Thanh, là các vị thần của tự nhiên ".

Trọng đây, câu "các thần tự nhiên" là chỉ cho trời đất, trời trăng sao, núi rừng sông nước Như ".

Ngũ Đấu Mễ Đạo" (đạo năm lít gạo) thì thờ ba vị (Tam Quan) của trời, đất và nước (Thiên, Địa, Thủy Quân), Đạo Thái Bình thì thờ Huỳnh Thái Ất ... tất cả đều có dấu vết sùng bái tự nhiên.

-Nguyên Thủy Thiên Tôn là vị tôn thần cao nhất của Đạo Giáo Theo sự.

Mô tả của Cát Hồng đời Tấn trong "Chăm Trung Thư": - "Xưa chưa phân trời đất, toàn cõi mờ mit hỗn mang, vũ trụ chưa thành hình, mặt trăng mặt trời chưa có, giống như hột gà mới sanh, Lào lộn trắng đỏ, đã có vị Bàn Cổ Chân Nhân tức là tinh hoa của trời đất, hiệu là Nguyên Thủy Thiên Vương ".

Lối nói nay là hoàn toàn dựa vào Từ Chỉnh, người nước Ngô thời Tam Quốc viết trong "Tam Ngũ Lịch Kỷ" về thần thoại Bàn Cổ khai thiên lập địa trước đây.

-Về hai danh xưng "Nguyên Thủy Thiên Vương" và "Nguyên Thủy Thiên Tôn" thì sách của Đạo Giáo cho là hai người khác nhau.

Trọng "Chân Linh Vị Nghiệp Đồ" của Đào Hoằng Cảnh thời Nam Triều thì xếp Nguyên Thủy Thiên tôn và trung vị thứ nhất, còn Nguyên Thủy Thiên Vương là trung vị của "bốn vị bên tả" Còn giữa.

Nguyên Thủy Thiên Tôn và Bàn Cổ Chân Nhân thì có mối liên hệ thông nhất là "Bàn Cổ là hóa thân của Nguyên Thủy ", như vậy hai người là một Thực tế., lại có" hai Bàn Cổ ", một là Bàn Cổ làm Nguyên Thủy hóa thân được thờ cúng trong Đạo Giáo, hai là Bàn Cổ làm thế gian sùng bái và ông tin chỉ Bàn Cổ khai thiên lập địa nay thôi Một thí. dụ nay cũng đủ nói lên "tính biến hóa" của Phả hệ Thần Tiên rồi!

* Trọng ảnh hưởng thần học truyền thống có tác động đến phả hệ Thần Tiên.

Cũng phải nói đến việc kế thừa tập quán "sùng bái thánh hiền" Kinh điển.

Sớm nhất của Đạo Giáo "Thái Bình Kinh" đã có tên của những "thánh nhân", "hiền nhân".

-Cát Hồng trong "Chăm Trung Thư" thì có Tam Hoàng Ngũ Đế.

-Thượng Thanh Chúng Tiên ký, Chân Linh Vị Nghiệp Đồ, Vô Thượng Bí Yếu và các "danh tác Đạo gia" đều có nêu nào là: - ba vua Nghiêu, Thuận, Ngũ, Thành Thánh của nhà Ân, Vũ Vương nhà Chu , te Hoàn Công, Hán Cao Tổ, Lưu Bị ... các thánh hiền như: - Khổng Tử, Nhan Hồi, Mặc Địch ...

* Trọng "Thái Thượng Cảm Ứng Thiên" đời Tống nói: - "Có ba loại hiền thánh, nhà Phật thì lấy những nhân vật trong Tam Thừa, thì Đạo gia lấy Ngũ Chủng Tiên, nhà Nho thì lấy các đồ đệ Khổng Mạnh" điều đó. phản ảnh chủ trương "Tam Giáo đồng nguyên" của thần học đương thời Như vậy,. khi nghiên cứu về Phả hệ thần thánh của Đạo Giáo không thể nào bỏ qua được mối "quan hệ hữu cơ" giữa ba tôn giáo Nho, Lão, Thích được.

* Một vấn đề cũng cần phải làm sáng tỏ là, giữa hai vị Thái Thượng Lão Quân là "Tổ của nguyên khí, bậc chí tôn của Đạo, gốc rễ của trời đất" và Nguyên Thủy Thiên Tôn "tinh hoa của trời đất, Tổ khí của Đạo lớn, tự nhiên sinh, không khí hình là, có hình là thần "thì giải quyết ai lớn hơn ai đây?.

Việc nay thật khó vô cùng.

-Truy tầm nguyên ủy của vấn đề, hóa ra có sự khác biệt như vậy, là làm lúc đầu, Ngũ Đấu Mễ Đạo và Thái Bình Đạo ra đời, tôn sùng Thái Thượng Lão Quân làm chủ tế.

Đồng thời cũng thờ Tam Phụng Quân, Huỳnh Thái Ất Tiếp sau., đến thời Nam Bắc Triều, có Khấu Khiêm Chí của Bắc Ngụy lập Thiên Sư Đạo, cũng tôn thờ Thái Thượng Lão Quân. (20 quyển của "Vân Trung Giả Âm Tùng Tân Khoa chi giới" nói về việc chỉnh đơn Đạo Giáo) Đến đời.

Đông Tấn, có hai phái Thượng Thanh và Linh Bảo xuất hiện, thì không thờ Thái Thượng Lão Quân làm chủ Tể nữa Như phái Thượng Thanh thì lấy Nguyên Thủy Thiên Vương tức Thái Thượng.

Ngọc Thần Đạo Quân làm chủ tế; phái Linh Bảo thì lấy Nguyên Thủy Thiên Tôn và Thái Thượng Đại Đạo Quân làm chủ tế, rồi sau dùng thuyết hóa thân giải thích để đưa Nguyên Thủy Thiên Tôn hay Nguyên Thủy Thiên Vương lên địa vị độc tôn.

Về sau, trong các phái có sự hiệp thương, đã đề xuất giải pháp dung hợp lại tất cả.

Thống nhất là ý kiến: "Đạo không thể không có vị tôn sư, Giáo không thể không có bậc tôn chủ Lão Quân đã. xưng là Đại Ngọc Thần Đạo Quân, mà Đại Đạo Quân là kế thừa của Nguyên Thủy, lẽ ra phải kể là thầy trò, nhưng xét kỷ ba vị cũng làm một biến hóa ra, nên địa vị ngang nhau "Cuối cùng. tôn ba vị Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thái Thượng Lão Quân, Linh Bảo Thiên Tôn làm thành "TAM THÁNH TÔN THẦN", là địa vị tối cao của Thần Tiên Trong phần hệ Đạo Giáo.

Miêu tả ở đây, các vị thần địa phương người dân tin tưởng vào vị thần chủ yếu là ở miền nam Trung Quốc.

* Xét các vị gọi là "Tiên Chân" về mặt đối đãi, trong quá trình biên soạn các sách truyện về Thần Tiên, ta thấy nổi bật yếu tố "giáo phái" sớm nhất là ".

Liệt Tiên truyện" có kê ra gần bảy mươi hai vị Đến Cát Hồng trong "Thần Tiên truyện" thì có chín mươi bốn vị Đến Triệu.

Đạo Nhất đời Nguyên, biên soạn các sách "Lịch thế chân Tiên thể đạo thông giám".

"Tục biên", "Hậu biên "đã tăng lên đến vị hơn trăm chín.

Trước tình trạng số lượng Thần Tiên nhiều như thế, "Đạo Giáo Chính Lược" là giải thích [tên trong việc xếp những vị "Tiên", vì ý niệm về Tiên gần gũi với mọi người, nên gọi là Tiên cho dễ hiểu.

Thật ra theo Đạo Giáo, chưa phải là đúng nghĩa "Tiên"] lại nói thêm ", ông sách truyện của đạo Nho thì lấy tên của nhà Nho, chứ không nói tên thánh hiền.Đạo Phật thì lấy tên của cao tăng, chứ không nói đến Phật, Bồ-Tát Còn Đạo. gia thì lấy đạo sĩ hoặc những nam nữ thế gian tu hành đắc đạo Thành ra. kết quả hỗn tạp, nhiều chỗ không thể truy cứu được "Cũng vì. lý do không có một" tiêu chuẩn rõ ràng "nào để công nhận là" Tiên Thật ", chỉ tùy theo sự truyền thừa của các giáo phái không giống nhau, mà sinh ra tình trạng" không thể sắp xếp "theo hệ thống được rõ ràng.

* Thí dụ như, khi tôn xưng các vị "Chân Tiên", Thiên Sư Đạo thì thờ Trương Thiên Sư, Khấu Thiên Sư; Thượng Thanh Phái thì thờ Tam mao Quân, Hứa Chân Quân; Linh Bảo Phái thì thờ Cát Huyền, Cát Hồng; Tịnh Minh Đạo thì thờ Hứa Tốn; Toàn Chân Đạo thì thờ Bắc Ngũ Tổ, Bắc Thất Chân ...

* Về việc tôn xưng các danh sơn, các cung, đạo quán ..., mỗi phái cũng có "bản sơn" riêng Thí như.

Thiên Sư Đạo thì ở Long Hổ Sơn-Giang Tây; phái Thượng Thanh Mao Sơn thì ở Mao Sơn; Toàn Chân Đạo thì có ba "đại tổ đình" Rồi đến việc. mỗi cung quán ... lại thờ những vị khác nhau, như là: - Ở Tây xây Thiêm "Thuyết Kinh Đài-Chu Chí Lâu" thờ Lão Tử; ở Giang Tây có Vạn Thọ Cung thờ Hứa Tốn, Thuần Dương Cung thờ Lữ Đồng Tân; điện Khuu Tổ ở Bạch Vân Quán thờ Khu Xử Cơ.

Như vậy, ta thấy rất rõ ràng sự khác biệt về "Phả hệ Thần Tiên" ngay trong nội bộ các giáo phái của Đạo Giáo rồi.

* Yếu tố thời gian và không gian không phải là yếu tố quyết định trong việc sắp xếp "Phả hệ Thần Tiên" trong Đạo Giáo, mà chính là trước hết do ảnh hưởng của "sự biến hóa tư tưởng giáo lý" của Đạo Giáo Khi Đạo Giáo mới thành hình., lý tưởng mục tiêu quan trọng nhất của Đạo Giáo là "trường sinh thành Tiên" bạch nhật và "thăng thiên" (giữa ban ngày bay lên trời).

* Yếu tố thời gian và không gian không phải là nguyên nhân chính của sự "đa dạng" về Phả hệ Thần Tiên của Đạo giáo, mà chính là do sự biến hóa về tư tưởng giáo lý mà ra.

Thời kỳ đầu khi Đạo giáo mới xuất hiện, trọng tâm của nó là ở chỗ "trường sinh thành Tiên, giữa ban ngày bay lên trời" Điều nay.

Phản ánh rõ nét trong "Chân Linh Vị Nghiệp Đồ" của Đào Hoằng Cảnh thời Nam Triều, cơ bản là các vị Thiên Đế, tôn xưng là "Đạo Quân", "Nguyên Quân", "Quân", "Cao Chân" Còn xưng.

Đế là Thiên Hoàng Thượng Đế hay Cao Thượng Đế Ngọc Tứ Cực Đại.

đế là Đông Minh, Tây Hòa, Bắc Huyền, Nam Chu thì được xưng là "Cao Thượng Hư Hoàng Đạo Quân".

* Đến thời Bắc Chu, trong "Vô Thượng Bí Yếu", quyển 55, khi nêu Phả hệ, thì dựa vào tiêu chí "đắc đạo thành Tiên" để xếp hạng Thuật ngữ.

Được dùng ở đây là: - "Đại Thánh, Chí Chân, Chư Quân, Trường Nhân "để tôn xưng.

* Đến thời Ngụy, Tấn của Nam Bắc Triều thì lại nêu tôn chỉ "Tiên Chân" để xưng hô Thế nào là ".

Tiên Chân" Theo sách?

"Tạo Tượng Phẩm" nói "Tất cả các Chân Tiên, từ Tam Thanh ở trên rồi đến Đại La Thiên ...

đều phải được tạo hình theo mô thức "Thánh tiên chân tướng" (hình dáng của chân Tiên có tính hàng Thánh).

Cũng làm tư tưởng chủ đạo ấy mà phát sinh quan điểm đưa Tam Thanh lên cao hơn các Thiên Đế.

* Từ đời Tống đến nay, có nhiều sự cải biến tình huống, trong Phả hệ Thánh Thần, sau "Tam Thanh xếp thì" "Tứ Ngự" cho các vị Thiên Đế, rồi mới đến các vị Tiên Chân khác.Sự biến đổi nay, có lẽ do nguồn gốc từ bên ngoài, chế độ phong kiến nhà Tống cố muốn cũng "trung ương tập quyền", nên phản ánh qua việc sắp xếp lại Phả hệ nay Trọng nội. bộ Đạo Giáo, quan điểm "bạch nhật thăng thiên "cũng đã trở thành một việc" ảo tưởng "Hơn nữa., giờ bay lúc, chủ thuyết" tam giáo hợp nhất "đang được đề xuất mạnh mẽ Như".

Toàn Chân Đạo "cho rằng: --

"Nho môn, Thích hộ, Đạo tương thông,

Tam giáo tùng lai nhất Tổ phong ...

"

(Nhà Nho, cửa Phật giáo và Đạo tương thông với nhau, Tam giáo trước giờ vẫn chung một Tổ)

nên đã dung nạp tư tưởng "hiếu trung" của Nho gia, "từ bi" của Phật giáo vào trong Đạo Điều đó., phản ánh rõ nét vào năm thứ 35 Vạn Lịch đời Minh (năm 1607), Đại Chân Nhân Trương Quốc Phùng Chí Tường đã hiệu chỉnh sách "Sưu Thần Kỷ" gồm sáu quyển, quyển một thì nói rõ nghĩa trong sáng gắn bó mật thiết của Nho, Thích và Đạo Đế cao vị trí của Ngọc Hoàng,.

Hoàng Hậu Thổ Địa Kỳ, rồi sau đó mới sắp xếp các vị Hứa Chân Quân, Trương Thiên Sư, Tam Mao Chân Quân của Đạo giáo ở bên dưới Đồng thời,. cũng đưa vào danh sách các vị như: - Quan Âm, Đạt Ma ... các Phật, Bồ Tát vv ...; bên Nho thì có: - Tây Sở Bá Vương, Ngũ Tử Tư ...

Thêm nữa, cũng đưa các vị được dân gian tôn thờ như: - Động Đình Quân, Tương Quân, kể cả chồn, chó của những vị nay.

Điều đó nói lên ý nghĩa "chính quyền lập ra là từ dân gian, tín ngưỡng của các vua chúa cũng phản ánh tín ngưỡng dân gian mà thôi".

Đây cũng là yếu tố có liên quan rất nhiều đèn pha hệ của Thánh Thần Đạo giáo vậy.

* Việc tôn xưng "Tổ Sư" của Đạo Giáo cũng có phần từng tham dự của Triều đại vua chúa Như đời.

Đường thì tôn xưng Lão Tử, đời tôn Tống thì Huỳnh Đế, đời Minh thì tôn Chân Vũ Đại Đế (nhân vì kỵ huy tên vua Tống Chân Tông nên cải "Huyền" Vũ thành Chân Vũ) Lại còn.

đề cao công đức của "(Tống) Thái Tổ bình định thiên hạ, Thái Tông dẹp nạn, công dày sâu lớn, hai kinh lệnh cho các quan cúng tế hai ngày sóc, vọng chu đáo ".

Điều nay cho thấy rõ, theo yêu cầu của mỗi Triều đại mà có ảnh hưởng sâu sắc đèn pha hệ của Đạo giáo Thí như vậy., đời Tống Huy Tông đã đàn áp Phật giáo, cải Phật thành "đại giác kim tiên", nhưng chỉ một năm thì không còn tình trạng ấy Nhưng ảnh hưởng của. nó khiển cho tín ngưỡng bị trộn lẫn, "kim tiên" trở thành vừa vừa Tiên Phật Hợp tôn. lại có mười hai vị "Kim Tiên", như Điện Tam Thanh của Thanh Dương Cung ở Thành Đô có tượng của 12 vị tiên là kim: - Quảng Thành Tử, Xích Tùng Tử, Đạo Hạnh Thiên Tôn, Thái Ất Chân Nhân, Đạo Đức Chân Quân, Linh Bửu Đại Pháp Sư, Cù Lưu Tôn, Vân Trung Tử, Văn Thù Thiên Tôn, Phổ Hiền Chân Nhân, Từ Hàng Đạo Nhân, Ngọc Đỉnh Chân Nhân.

Sắc thái dung hợp và ảnh hưởng thời đại thể hiện rất rõ ở đây.

* Về yếu tố "không gian" nói mà, hồi mới khai sáng Đạo Giáo, Ngũ Đấu Mễ Đạo (đạo năm đấu gạo) gốc ở miền Ba Thục của Hán Trung Còn Thái Bình Đạo lưu.

Truyền ở tám châu là: - Thanh , Từ, U, Ký, Kinh, Dương, Con, Dự Châu, nên hình tượng tôn thờ phải khác nhau thôi Về sau. lại xuất hiện các phái Thượng Thanh, Linh Bảo, Tịnh Minh, Lâu Quán ... thì việc tôn thờ hình tượng mang sắc thái tùy theo địa phương nổi lên rất rõ.

Thêm nữa, các nghi thức về làm khoa, trai đàn ... của Đạo giáo cũng biến đổi theo "tâm lý quần chúng" Như Đạo.

Sĩ Lữ Nguyên Tố ở Tây Thục lập thành "Đạo Môn Định Chế" quyển thứ chín viết: -- "Trong ba giai đoạn đều nói lên tinh thần trung quân của người dân Tây Thục, cùng hình tượng núi sông xung quanh, tùy theo nơi thờ Phụng mà có sự thêm bớt".

Điều nay cho thấy ảnh hưởng địa phương không phải là nhỏ đối với việc cấu tạo thành Phả hệ Thánh Thần.

* Tóm lại, trong lịch sử lâu dài của việc hình thành Phả hệ "Thánh Thần Đạo Giáo", mặc dù đã hết sức cố gắng bám chắc vào tín ngưỡng "ĐẠO", nhưng vì có sự phân hóa các chi phái, ảnh hưởng biên thiên lịch sử các Triều đại, tác dụng tương hỗ của các tôn giáo, không gian quá phổ biến rộng lớn tạo nhiều "tính địa phương" ... cuối cùng tạo thành kết quả Phả hệ vô cùng phức tạp như ngày nay.

* Tài liệu nay chủ yếu giới thiệu Thần thánh Đạo giáo của vùng, khu vực phía Nam Trung Quốc mà thôi.

* Nhược Thủy dịch

Giới thiệu sơ lược về Thánh Thần Trung Quốc

BẢNG DANH SÁCH THÁNH THẦN TRUNG QUỐC THEO LỊCH SỬ

A.

- CHƯ THẦN THEO CHÍNH DIỆU .

1 .- TỐI CAO: --

Bàn Cổ Thị-còn gọi Nguyên Thuỷ Thiên Vương, tên khác, Phù Lê Nguyên Thuỷ Thiên Tôn.

2 .- Tam Thanh: --

1 / - Nguyên Thuỷ Thiên Tôn

2 / - Linh Bảo Thiên Tôn còn gọi Thái Thượng Đạo Quân

3 / - Đạo Đức Thiên Tôn còn gọi Thái Thượng Lão Quân (Tây Du Ký gọi là Thái Thượng Đạo Tổ)

3 .- Lục Ngự: --

1 / - Trung ương Ngọc Hoàng Đại Đế-Vợ: - Vương Mẫu Nương Nương, còn gọi là Tây Vương Mẫu.

2 / - Phương Bắc Trung Thiên Bắc Cực Tử Vi Đại Đế

3 / - Nam Phương Nam Cực Trường Sinh Đại Đế, còn gọi là Ngọc Thanh Chân Vương, là con trai thứ chín của Nguyên Thuỷ Thiên Vương.

4 / - Đông Phương Đông Cực Thanh Hoá Đại Đế Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn

5 / - Tây Phương Thái Cực Thiên Hoàng Đại Đế [Thủ hạ gồm có: Bát Đại Nguyên Soài Rạp, Ngũ Cực Chiến Thần (Thiên Không Chiến Thần, Đại Địa Chiến Thần, Nhân Trung, Chiến Thần, Bắc Cực Chiến Thần Và Nam Cực Chiến Thần)].

6 / - Mẹ của đại địa: Thừa Thiên Hiệu Pháp Hoàng Hậu Thổ Địa Kỳ

4 .- Ngũ Phương Ngũ Lão: --

1 / - Nam Phương Nam Cực Quan Âm

2 / - Đông Phương Sung Ân Thánh Đế

3 / - Tam Đảo Thập Châu Tiên Ông Đông Hòa Đại Đế Quân (tức Đông Vương Công, tên \ "Kim Thiền Thị \", hiệu Mộc Công).

4 / - Bắc Phương Bắc Cực Huyền Linh Đầu Mẫu Nguyên Quân (Trời là Ma Lợi của hai mươi vị Trời trong Phật Giáo)

5 / - Trung ương Hoàng Cực Giác Huỳnh Đại Tiên

5 .- Các Tiên ở Trung ương Thiên Cung: --

Thiên Lý Nhãn | Thuận Phong Nhĩ | Kim Đồng | Ngọc Nữ | Lôi Công | Điện Mẫu (Kim Quang Thánh Mẫu)

Phong Bá | Vũ Sư | Du Dịch Linh Quân | Dực Thánh Chân Quân | Đại Lực Quỉ Vương | Thất Tiên Nữ | Thái Bạch Kim Tinh |

Xích Cước Đại Tiên | Quảng Hàn Tiên Tử (Hằng Nga Tiên Tử) Thường Nga | Ngọc Thọ | Ngọc Thiêm | Ngô Cương | Thiên Bồng Nguyên Soài Rạp |

Thiên Hữu Nguyên Soài Rạp | Cửu Thiên Huyền Nữ | Thập Nhị Kim Thoa | Cửu Diệu Tinh | Nhật Du Thần | Dạ Du Thần | Thái Âm Tinh Quân |

Thái Dương Tinh Quân | Vũ Đức Tinh Quân | Hữu Thành Chân Quân

Thác Tháp Thiên Vương Lý Tịnh | Kim Trà | Mộc Trà (Hành Giả Huệ Ngạn) | Tam Đàn Hải Hội Đại Thần Na Trà | Cự Linh Thần |

Nguyệt Lão | Tả Phụ Hữu Bật | Nhị Lang Thần Dương Tiển | Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn Vương Thiện Vương Linh Quân | Tát Chân Nhân |

Tử Dương Chân Nhân (Trương Bá Đoan) | Văn Xương Đế Quân | Thiên Lũng | Địa Á

6 .- Tam Quan, Đại Đế: Thiên Quân | Địa Quân | Thuỷ Quân

7 .- Tứ Đại Thiên Vương: --

Tăng Trưởng Thiên Vương, Trì Quốc Thiên Vương, Đa Văn Thiên Vương và Nghiêm Mục Thiên Vương

8 .- Tứ Trị Công tạo: --

Trị Niên Thần: - Lý Bính | Trị nhục Nguyệt Thần: - Huỳnh Thừa Ất | Trị Nhật Thần: - Chu Đăng | Trị Thời Thần: - Lưu Hồng

9 .- Tứ Đại Thiên Sư: --

Trương Đạo Lăng, Hứa Tốn (tự Kính Chi, hiệu Hứa Tinh Dương), Khẩu Hoằng Tế, Cát Hồng

10 .- Tứ Phương Thần: --

Thành Long Mạnh Chương Thần Quân, Bạch Hổ Giám Bình Thần Quân, Chu tuoc Lăng Quảng Thần Quân, Huyền Vũ Chấp Minh Thần Quân.

11 .- Tứ Đậu Long Thần: - (Long Thần ở hang, động)

Hoàng Hà | Trường Giang | Hoài Hà | Tế Thuỷ Hà Thần

12 .- Mã-Triệu-Ôn-Quân-Tứ Đại Nguyên Soài Rạp: --

1 / - Mã Nguyên Soài Rạp còn gọi Mã Thiên Quân, Hòa Quang Thiên Vương, Hòa Quang Đại Đế.

2 / - Triệu Nguyên Soài Rạp tức Vũ Tài Thần Triệu Công Minh, còn gọi Triệu Huyền Đàn.

3 / - Ôn Nguyên Soài Rạp Ôn Quỳnh (bộ tướng của Đông Nhạc Đại Đế)

4 / - Quan Nguyên Soài Rạp Quan Vũ.

13 .- Ngũ Phương Yết Đế: --

Kim Quang Yết Đế, Ngân Đầu Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Hà Yết Ma Đế

14 .- Ngũ Khí Chân Quân: --

1 / - Đông Phương Tuệ Tĩnh Mộc Đức Chân Quân

2 / - Nam Phương Huỳnh Hoặc Hoả Đức Chân Quân

3 / - Tây Phương Thái Bạch Kim Đức Chân Quân

4 / - Bắc Phương Thuỷ Tinh Thần Chân Đức Quân

5 / - Trung ương Sân Tĩnh Thổ Đức Chân Quân

15 .- Ngũ Nhạc: --

1 / - Đông Nhạc Thái Sơn Thiên Te Nhân Thánh Đại Đế

2 / - Nam Nhạc Hành Sơn Tư Thiên Chiêu Thánh Đại Đế

3 / - Trung Nhạc Tung Sơn Trung Thiên Sung Thánh Đại Đế

4 / - Bắc Nhạc Hằng Sơn An Đế Thiên Huyền Thánh Đại

5 / - Tây Nhạc Hoa Sơn Thiên Kim Nguyện Thánh Đại Đế

(Ngũ Nhạc Đế Quân: - Đông Nhạc Đế Quân, tên Thị Kim Hồng, em trai Đông Hòa Đế Quân Còn bốn vị Đế Quân kia là bốn người con của Đông Hoa Đế Quân và Bích Hà Nguyên Quân..)

16 .- Ngũ Đầu Tinh Quân: --

Đầu đông Tinh Quân | Tây Đầu Tinh Quân | Trung Đầu Tinh Quân | Nam Đầu Tinh Quân | Bắc Đầu Tinh Quân

17 .- Lục Đinh Lục Giáp: --

a / - Lục Định là: --

* Sáu vị Âm Thần Ngọc Nữ: --

1 / - Đinh Mao Thần Tư Mã Khánh

2 / - Đinh Tỵ Thần Thôi Cự Khánh

3 / - Đinh Mùi Thần Thạch Thúc Thông

4 / - Đinh Dậu Thần Tăng Văn Công

5 / - Đinh Hợi Thần Trương Văn Thông

6 / - Đinh Sửu Thần Triệu Tử Ngọc

b / - Lục Giáp là: --

* Sáu vị Thần Dương Ngọc Nam: --

1 / - Giáp Tý Thần Vương Văn Khánh

2 / - Giáp Tuất Triển Thần Tử Giang

3 / - Giáp Thân Thần Hỗ Văn Trường

4 / - Giáp Ngọ Thần Vệ Ngọc Khánh

5 / - Giáp Thìn Thần Mạnh Phi Khanh

6 / - Giáp Dan Thần Minh Văn Chương

18 .- Nam đầu lúc Tinh Quân: --

1 / - Đệ Nhất Thiên Cung Phủ: Tư Mệnh Tinh Quân

2 / - Đệ Nhị Thiên Tướng Cung: Tư Lộc Tinh Quân

3 / - Đệ Tam Thiên Cung Lương: Diên Thọ Tinh Quân

4 / - Đệ Tứ Thiên Đồng Cung: Ích Toán Tinh Quân

5 / - Đệ Ngũ Cung Thiên Xu: Độ ạch Tinh Quân

6 / - Đệ Lục Thiên Cơ Cung: Thượng Sanh Tinh Quân

19 .- Bắc Đầu Thất Tinh Quân: (là Bắc Thiên Thất Hoàng của "Sư Đà Quốc")

1 / - Bắc Đầu Đệ Nhất Dương Minh - Tham Lang Tinh Quân

2 / - Bắc Đầu Đệ Nhị Âm Tinh - Cự Môn Tinh Quân

3 / - Bắc Đầu Đệ Tam Chân Nhân - Lộc Tồn Tinh Quân

4 / - Bắc Đầu Đệ Tứ Huyền Minh - Văn Khúc Tinh Quân

5 / - Bắc Đầu Đệ Ngũ Đan Nguyên - Liêm Trinh Tinh Quân

6 / - Đệ Lục Đầu Bắc Bắc Cực - Vũ Khúc Tinh Quân

7 / - Bắc Đầu Đệ Thất Thiên Quân - Phá Quân Tinh Quân

* Ghi chú: - Sư Đà Quốc là tên gọi của khu vực chòm sao Bắc đâu.

- Bắc Đầu Thất Tinh Quân còn có tên hiệu khác là: --

Thiên Xu, Thiên Tuyền, Thiên Cơ, Thiên Quyền, Ngọc Hành, Khai Dương, Diệu Quang.

* Trong đó, \ "Thiên Xu, Thiên Tuyền, Thiên Cơ, Thiên Quyền \" hợp thành nhóm gọi là "Đầu khôi" hay "Tuyền" (hình cái GÁO mục nước) Bà sao.

Còn lại hợp thành "Thước" ( tức là cái cán GÁO)

20 .- Bát Tiên: --

Lý Thiết Quái (Thiết Quái Lý), Hán Chung Ly, Lữ Động Tân, Hà Tiên Cô, Lâm Thái Hoà, Hàn Tương Tử, Tao Quốc Cửu (Cựu), Trương Quả Lão

21 .- Tám vị tướng thủ hạ của Tăng Trưởng Thiên Vương: --

* Gọi tắt là: - Bưu Lưu Tuân Tất, Đặng Tân Trương Đào.

* Tên đủ tám vị là: --

Lưu Tuấn, Tuân Lôi Cát, Bưu Dục, Viễn Tất Tông;

Đặng Bá Ôn, Tân Hán Thần, Trương Bá Nguyên, Đào Nguyên Tín (tứ mục)

22 .- Cửu Diệu Tình: --

Kim Tinh | Mộc Tinh | Thuỷ Tinh | Hoả Tinh | Thổ Tinh |

La Hậu (Thực Tĩnh) | Kế Đô Tinh | Tử Khí Tinh | Nguyệt Bột Tĩnh

23 .- Thiên Tiên trên mặt đất: --

1 / - Khương Tử Nha (còn gọi Đông Hòa Đế Quân, là Người Tiếp Khách của Mộc Công)

2 / - Bồng Lai Tam Tiên: --

Phúc Lộc Thọ Tam Tinh

* Ghi chú: - Phúc Thiên Thần Quân Đại Đế: - có thuyết nói là Dương Thành đời Tây Hán, có thuyết nói là Dương Thành đời Đường.

3 / - Vũ Tài Thần Triệu Công Minh, (còn Tỷ có thể, Phạm Lãi là Văn Tài Thần)

4 / - Thọ Tinh Nam Cực Tiên Ông - Nữ Thọ Tĩnh: Ma Cô (hình vẽ hiến đào)

5 / - Chân Vũ Đại Đế, còn gọi Cửu Thiên Hàng Ma Tổ Sư, Huyền Vũ Nguyên Soài Rạp.

6 / - Quy Xà Nhị Tướng (còn có tên là Thái Huyền Linh Hắc Thuỷ Tinh Thần Tôn, Thái Huyền Hoả Tinh Xích Linh Tôn Thần)

7 / - Tiểu Trương Thái Tử và Ngũ Đại Thần Long.

8 / - Lê Sơn Lão Mẫu, Sân Nguyên Tử

9 / - Long Vương: --

Đông Hải Long Vương Ngao Quảng | Nam Hải Long Vương Ngao Khâm | Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận | Bắc Hải Long Vương Ngao Thuận | Tỉnh Hải Vương (thần Long Vương ở giếng)

* Nhược Thủy dịch

B.

- THẦN THEO THÁNH THẦN TIÊU PHẢI

1 .- Bắc Cực Tử Vi Đại Đế

2.-Ngọc Thanh Chân Vương (Nam Cực Trường Sinh Đại Đế) - Con thứ chín của Nguyên Thuỷ Thiên Vương)

3.-Thần Tiêu Bát Đế

(Tám vị Thần Tiêu, làm Đạo Giáo hư cấu), Ngọc Thanh Chân Vương và Thần Tiêu Bát Đế hợp thành Thần Cửu Tiêu Thần Đại Đế: --

* Tám vị là: --

1 / - Đông Cực Thanh Hoá Đại Đế,

2 / - Cửu Thiên ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hoá Thiên Tôn (Huỳnh Đế),

3 / - Cửu Thiên Lôi Tổ Đại Đế.

4 / - Thái Ất Thiên Đế,

5 / - Lục Thiên Uyên Động Đại Đế,

6 / - Lục Bà Thiên Chủ Đế Quân,

7 / - Khả Hàn Chân Quân,

8 / - Thái Phóng Chân Quân.

* Cửu Ty - Tam Tỉnh - Bắc Cực Tứ Thánh

4 .- Cửu Ty: --

Phủ Ngọc Phan Phủ Chân Quân, Ngọc Phủ Tả Hữu Đại Trung, Ngọc Phủ Tả Hữu Bộc Tạ, Thiên Lôi Thượng Tướng, Ngọc Xu Sử Tướng, đầu Xu Thượng Tướng, Thượng Thanh Tư Mệnh Phủ Ngọc Hữu Khánh, Ngũ Lôi Viện Sử Quân , Lôi Đình Nguyên Đô Ty Mệnh Chân Quân

5 .-- Tam Tỉnh: --

Lôi Đình Thái Tỉnh, Lôi Đình Huyền Tỉnh, Lôi Đình Đô Tỉnh

6 .-- Bắc Cực Tứ Thánh: --

- Thiên Bồng Nguyên Soài Rạp (Trư Bát Giới)

* Các thủ hạ là: - Thiên Cương Đại Thánh, Cửu Thiên Sát Đồng Đại Tướng (Bắc Đầu Đệ Bát Tĩnh, còn gọi Thiên Sát Đại Thần), Lôi Sứ Giả.

- Thiên Hữu (Du) Nguyên Soài Rạp

- Dực Thánh Nguyên Soài Rạp

- Huyền Vũ Nguyên Soài Rạp (Chân Vũ Đại Đế)

* Ngoài ra còn có: - Ngũ Phương Lôi Vương, Ngũ Phương Lôi Đình Đại Đế

7 .- Âm Tao Địa Phủ: --

1/-Bắc Âm Phong Đô Đại Đế

2/-Ngũ Phương Quỉ Đế: - Gồm có: --

a / - Đông Phương Quỉ Đế: - Sái Úc Lũy, Thần Đồ, cai trị \ "Đào Chỉ Sơn \" Quỉ Môn Quan

b / - Tây Phương Quỉ Đế Triệu Văn Hoà, Vương Chân Nhân, cai trị \ "Bà Trung Sơn \"

c - Bắc Phương Quỉ Đế Trương Hành, Dương Vân, cai trị Phong Sơn La;

d-Nam Phương Quỉ Đế Đỗ Tử Nhân, cai trị La Phù Sơn;

e / - Trung ương Quỉ Đế Chu Khát, Kê Khang, cai trị \ "Bão Độc Sơn \"

8 .- Sáu Thần giữ sáu cung ở Cõi Trời La Phong: --

1 / - Thần Trụ Tuyệt - Âm Thiên Cung,

2 / - - Thái Sát Lượng Sự - Tông Thiên Cung,

3 / - - Minh Thần Nại Phạm Vũ - Thành Thiên Cung,

4 / - - Điềm Chiêu Tội - Khí Thiên Cung,

5 / - - Tôn Thất Linh - Phi Thiên Cung,

6 / - - Cảm Tư Liên Uyển - Lâu Thiên Cung

9 .- Địa Tạng Bồ Tát

10 .- Thập Điện Diêm Vương: --

1 / - Mười vua: - Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Diêm La Vương, Bình Đẳng Vương, Thái Sơn Vương, Đô Thị Vương, Biện Thành Vương, Chuyển Luân Vương

2 / - Những Tướng, Thần hộ giá: --

Thủ tích phân Quân Thôi Phủ Quân, Chung Quỳ, Hắc Bạch Vô Thường, Ngưu Đầu Mã Diện, Mạnh Bà Thần .

C.

- Chư Thần theo Thần Thoại Thượng Cổ

1.-Hỗn độn Thiên Thần: --

Bàn Cổ là vị Thần khai thiên lập địa đầu tiên, nhưng lại có thuyết nói "lúc trời đất còn hỗn độn sinh ra Bàn Cổ".

2.-Sáng Thế Thần: --

Thiên Ngô, Tất Phương, Cư Tỷ, Thụ Hợi, Chúc Âm, Nữ Oa

3 .- Thượng Cổ Tứ Phương Thiên Đế và Phụ Thần: --

1 / - Thái Dương Thần Viêm Đế và Hoả Thần Chúc Dung cùng chung nhau cai trị cõi trời phương Nam suốt mười hai ngàn dặm.

2 / - Thiếu Hạo và Thuỷ Thần Công Cộng cai trị cõi trời phương Tây suốt mười hai ngàn dặm.

3 / - Chuyên húc và Hải Thần Ngũ Cường (còn gọi Đông Thần Huyền Minh) cai trị cõi trời phương Bắc suốt mười hai ngàn dặm.

4 / - Thanh Đế Phục Hi và Cửu Hà Thần Nữ Tư Thị Hòa với Chúc Thần Câu Mang cai trị cõi trời phương Đông suốt mười hai ngàn dặm.

4 .- Chư Thần Thời Đại Huỳnh Đế: --

Lục Ngô, Anh Chiêu, Nhữu Châu, Kim Giáp Thần (truyền thuyết nói vị nay là hóa thân của Kim Giáp Lôi Thần của Sư Đà Quốc)

Xi Vưu, Phong Bá, Vũ Sư, Xích Tùng Tử, Lực Mục, Thần Hoàng, Phong Hậu, Ứng Long, Bát Cánh, Phụ Khoa, Đại Lực Thần, Khoa Thị Nga, Đại Đình Thị, Ngũ Long Thị.

5.-Viêm Đế, sau xưng là Thần Nông Thị Các con là:.

--

* Con gái: --

a / - Khuê, sau hóa thân thành chim Tinh Vệ.

b / - Đạo Cơ, ở "Sư Đà Quốc" có tên là Uyển Hoa Tiên Tử.

c - một người con gái khác, không biết tên, ở "Sư Đà Quốc" có tên là Viêm Thiên Thánh Mẫu.

d / - Hoàng Nga, mẹ của Thiếu Hạo.

* Con trai: --

e / - trưởng tử Xuân Thần Câu Mang.

f / - thứ tử Thủ Thần nhục Thu.

6 .- Sau thời đại Chuyên húc: --

* Con trai: - Ngược Quỉ, vòng Lượng, Tống Cùng Quỉ, Thọ Ngọt.

-Đời sau: -: Lão Đồng, Thái Tử Trường Cầm, Lê, Trọng, Bánh Tổ (cháu) Đế Tuấn

* Vợ ở trên trời: -: Hi Hoà, Thường Hi

* Con gái: - Sửu, Nghệ

* Vợ ông Con: - Nữ Hi.

* Vua Nghiêu có tên: Phóng Huân; vợ: - Nữ Hoàng;

* Vua Thuận Hồ Diệu, tên Trọng Hòa; vợ: - Nga Hoàng, Nữ Anh;

* Vua Vũ, cha là con, vợ: - \ "Nữ Kiều \", còn gọi Đồ Sơn Thị, có liên quan đến Cửu Vĩ Bạch Hồ Tĩnh (tinh chồn trắng chín đuôi)

7 .- Tam Hoàng: --

-tức Thiên-Địa-Nhân Tam Hoàng, phân biệt là Phục Hi, Thần Nông và Nữ Oa.

8 .- Ngũ Đế: --

* Thông thường chỉ Huỳnh Đế | Chuyên húc | Đế Tuấn | Nghiêu | Thuận .

D.

- Phần phụ: --

CÁC VỊ CHÂN TIÊN HẬU THIÊN NỔI DANH

Phòng Trưng Chí Tổ - Bánh Tổ | Si Hoành Thuỷ Tổ - Quỷ Cốc Tử |

Văn Thuỷ Chân Nhân - Doãn Hi | Nam Hoa Chân Nhân - Trang Tử

Cầu Tiên Sứ Giả - Từ Phúc | Mao Sơn Tiên Tổ - Tam Mao Chân Quân |

Vạn Cổ Đan Vương - Ngụy Bá Dương | Thái Cực Chân Nhân - Lưu An

Khôi Hài Tuệ Tĩnh - Đông Phương Sóc | Thái Bình Giáo Chủ - Vũ Cát |

Dịch Sử Quỉ Thần - Phí Trưởng Phòng | Trúc Lâm Cuồng Sĩ - Kê Khang

Thuỷ Phủ Tiên Bá - Quách Phác | Tịnh Minh Giáo Chủ - Hứa Tốn |

Bồng Lai (Đô) Thuỷ Giám - Đào Hoằng Cảnh | Thiên Sư - Khấu Khiêm Chi

Tình Tiên - Bùi Hàng | Phù Diệu Tử - Trần Đoàn |

Hiển Hoá Chân Nhân - Trương Tam Phong

* Trung Dương Vương và Thuyên Chân Thất Tử (Trường Xuân Tử Khẩu Xử Cơ, Ngọc Dương Tử Vương Xử Nhất, tỉnh Quảng Trữ Tử hách Đại Thông,

Thanh Tịnh Tản Nhân Tôn Bất Nhị, Trường Sinh tử Lưu Xử Huyền,

Trường Chân Tử Đàm Xử Đoan, Đan Dương Tử Mã Ngọc)

E.

- Phần phụ 2: --

THẦN LINH DÂN GIAN

* Thiên Phi Nương Nương | Thành Hoàng | Thổ Địa Thần | Môn Thần: - Tần Thúc Bảo, uất Trì Kính Đức

* Sàng Thần (chia ra Sàng Công, Sàng Mẫu Sàng Công.

Là \ "Cửu Thiên Minh Giám Sinh Tố Quân Chân \", Sàng Mẫu là \ "Cửu Thiên Vệ Phòng Thánh Mẫu Thiên Quân \")

* Hi Thần | Xí Tử Thần Cô | Thạch Cảm Đương | Tiểu Nhị Thần Hồng Thác | Châu Thiên Đại Đế Sung Trịnh | Trà Thần Lục Vũ | Hoa Thần | Nhiễm Chức Nhị Thánh Mai, Cát | Tửu Thần Đỗ Khang | Thổ Công Tổ Sư Thần Lỗ Ban | * Phương Chức Thần Hoàng Đạo Bà | (thần dệt may)

* Tàm Thần Mã Đầu Nương (Sơn Hải Kinh nói là Tây Lăng Thị, Lũy Bán Tổ) | ngục Thần Cao Đào | Lê Viên Thần Đường Minh Hoàng Mã Thần | Thanh Oa Thần Bạch Ngọc Thiêm | Khu Hoàng Thần Lưu Mạnh (ý nói Thủ Mạnh Tưởng Quân) | Xà Vương Thị Tướng Công (Thị Thuyên) |

* Đậu Thần Trương Soài Rạp | Thần Nông Hậu Tắc

* Ôn Thần: - còn gọi Ngũ Quỉ hoặc Ngũ Phương Lực Sĩ, nhân gian gọi là Ngũ Ôn.

Trong đó có: - Xuân Ôn Trương Bá Nguyên, Hạ Ôn Lưu Nguyên Đạt,

Thu Ôn Triệu Công Minh, Đông Ôn Chung Sĩ Quí, Tổng hợp Quản Trung Ôn Sử Văn Nghiệp.

* Diệu Thần Thái Thượng Lão Quân | Tác Thời Thiên Thần | Cùng Thần |

Mưu Thần Quản Trọng | Vũ Mục Vương Nhạc Phi | Chu Công, Đào Hoa Nữ | Hoàn Hi Thần Hoà Hợp Nhị Tiên Hàn Sơn, Thập Đắc

F.

- Phần phụ 3: --

CÁC VỊ TIÊN MA HƯ CẤU TRỌNG SÁCH VÕ.

Thái Cổ Viên Quân | Ma Phật Lão Nhân | Thiên Diện Thiên Yêu | Địa Tâm Cổ Long | Thánh Thủ Tiên Vương | Thánh Thủ Văn Vương | La Thiên Vương

(Là hóa thân của Tam Thanh trong Đạo Giáo)

Càn Khôn Đại Tiên | Điên Đảo Lão Tổ | Khung Thiên Lão Tổ | Tiên Thiên Lão Tổ | Vô Cực Lão Tổ | Vô Vi Lão Tổ |

Tích Lịch Lão Tổ | Đằng Tổ | ảo Tiên Tử | Thanh Nhị Thiên Thần Chư | Âm Dương Pháp Vương / /

Độc Long Sơn Thiên Độc Chiểu Chiểu Để --- Mang Thần (có hai cánh) | * Ở độ sâu một Ngan dam dưới đáy Nam Hải: - Hải Hoàng (Chương Ngư Quái);

* Thú Đế (rắn chín đầu có lưng rùa) (Cửu Anh giao hợp với khí trời đất sanh ra quái vật)

* Bá Vương (khủng long ở ao Thiên Trì núi Trường Bạch)

* Thiên Tử Thọ Ngọt (con trai Chuyên húc, trú tại Bắc Phương Huyền Băng Cung)

* Bất Hoài Lâm Vương Toan Nghê (trú trong rừng già nhiệt đới phương Nam, thân cứng hơn sắt, đao thương đâm không thùng)

* Bình Thiên Đại Thánh Ngưu Ma Vương | Phúc Hải Đại Thánh Giao Ma Vương | Di Sơn Đại Thánh Sư Đà Vương | Khu Thần Đại Thánh Dã Tượng Vương |

Hồn Thiên Đại Thánh Bằng Ma Vương | Thông Phong Đại Thánh Di Hậu Vương | Te Thiên Đại Thánh Mỹ Hầu Vương.

G.

- Phần phụ 4: --

TIÊN PHẬT Ở LINH SƠN TÂY THIÊN

(Đây là cách hiểu theo dân gian Trung Quốc, không phải của Phật giáo thuần túy - ND)

1.-Tam Thế Phật:

Có hai cách giảng về Tam Thế Phật (đúng nghĩa thì nói là Phật quá khứ, hiện tại và vị lai; nhưng dân gian lại có cách hiểu thứ hai) Hải danh.

Hiệu: --

a - Thụ Tam Thế Phật: --

* Quá khứ phật: - Nhiên Đăng Thượng Cổ Phật,

* Hiện tại thế: - Thích Ca Phật (nguyên danh: Tất Đạt Đa),

* Vị lai thế: - Di Lặc Phật

b / - Hoành Tam Thế Phật: --

* Giữa là Thích Ca Mâu Ni Phật, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát;

* Bên phải: - Tây phương cực lạc thế giới: - A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát;

* Bên trái: - Đông Phương Tịnh Lưu Li Thế Giới: - Dược Sư Phật, Nhật Quang Bồ Tát và Nguyệt Quang Bồ Tát.

2 .- Tứ Đại Kim Cang: --

1 / - Ngũ Đài Sơn Bí Ma Nham: - Thần Thông Nghiêm Bát Đại Pháp Kim Cang

2 / - Nga Mi Sơn Thành Lương Động: - Pháp Lực Vô Lượng Thắng Điệt Kim Cang

3 / - Tu Di Sơn Ma Nhĩ Nhai: - Tì Lô Sá Môn Đại Lực Kim Cang

4 / - Côn Sơn Kim Lon Nhĩ Lãnh: - Bất Hoài Tôn Vương Vĩnh Trụ Kim Cang

3 .- Ngũ Phương Phật: --

-Đông Phương Bất Động (Thân) Phật;

-Nam Phương Bảo Sanh Phật;

-Trung ương Tì Lô Giá Na Phật;

-Tây Phương A Di Đà Phật;

-Bắc Phương Bất Không Thành tựu Phật.

4 .- Bát Bồ Tát: --

Quán Âm Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát,

Linh Cát Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát

5 .- Thập Đại Đệ Tử: --

Xả Lợi Phát: - Trí Tuệ Đệ Nhất | Mục Kiên Liên: - Thần Thông Đệ Nhất | A Nan Đà:-Đa Văn Đệ Nhất | Ưu Ba Ly: - Trì Giới Đệ Nhất

A Na Luật:-Thiên Nhãn Đệ Nhất | Đại Ca Điệp:-Đầu Đà Đệ Nhất | Phú Lâu Na: - Thuyết Pháp Đệ Nhất | Ca Chiên Diên:-Luận Nghị Đệ Nhất

La Hầu La:-Mật Đệ Nhất Hạnh | Tu Bồ Đề:-Giải Không Đệ Nhất

6 .- Thập Bát La Hán: --

Thác Tháp La Hán | Thám Thủ La Hán | La Hán Quá Giang | Bà Tiêu La Hán | Tĩnh Toàn La Hán |

Kỵ Tượng La Hán | Khan Môn La Hán | Hàng Long La Hán | Cử Bát La Hán | Bố Đại La Hán |

Trường Mi La Hán | Khai Tâm La Hán | Hi Khánh La Hán | Oat Nhĩ La Hán | Tiếu Sư La Hán |

Phục Hổ La Hán | Trầm Tư La Hán | Ky Lộc La Hán |

7 .- Thập Bát Già Lam: --

Mỹ Âm | Phạm Âm | Thiên Cổ | Than Dieu | Than Mỹ | Ma Diệu | Lôi Âm | Sư Tử | Diệu Than

Phạm Hưởng | Nhân Âm | Phật Nô | Tùng Đức | Nghiêm Mục | Diệu Nhãn | Triết Thính | Triết Thị | Biến Thị

8 .- Nhị Thập Chư Thiên:

Nhật Thiên (còn gọi Nhật Cung Thiên Tử) | Đại Phạm Thiên | Đa Văn Thiên | Kim Cương Mật Tích | Quỷ Mẫu Tử Thần;

Nguyệt Thiên (còn gọi Nguyệt Cung Thiên Tử) | Đế Thích Thiên | Trì Quốc Thiên | Đại Tự Tại Thiên | Ma Lợi Chi Thiên; (Đại) Biện Tài Thiên | (Đại) Công Đức Thiên | Tăng Trưởng Thiên | Tán Chỉ Đại Tướng | Bà Kiệt Long Vương;

Vi Đà Thiên (thần chiến đấu: - Tắc Kiên Đà) | Kiên Lao Địa Thần | Nghiêm Mục Thiên | Bồ Đề Thụ Thần | Ma La Diêm Vương.

* Ngoài ra: --

Kim Đỉnh Đại Tiên, A Na, Cà Điệp.

H.

- Phần phụ 5: --

CÁC THẦN BÀ-LA-MÔN GIÁO

* Phật Tổ Ma Ha Bà La Phật và Bà La Tam Thế Phật (bốn vị Phật nay đều là hư cấu; sau đây là tên những vị Tiên có liên quan đến Phật Thích Ca)

Tần Bà Sa, A Lâm La /, uất Đà, Đề Bà Đạt Đa

* Thần lớn chủ yếu: - Đại Phạm Thiên, Thấp Bà Lâu Đà La, Tuyết Sơn Nữ Thần Đỗ Nhĩ Ca, Quần Chủ

Bà La Bát Bộ (Bà La Môn Thiên Long Bát Bộ) - (Bà La Bát Bộ là hư cấu, dưới đây là chư Thần làm Ấn Độ tạo ra)

Thuỷ Thần Phát Lâu Na | Thổ Thần Đà Thấp Đa | Phong Thần Phát Do | Nhật Thần Tô Lý Đà | Thiên Đế Nhân Đà La

Đạo Thần Phổ Thiện | Bảo Hộ Thần Tì Thấp Nô | A Tu La: Đắc Đề Đà và Đàn Bà Nà | Bà Đỗ Hoả Thần.

* Người viết: - Ngoan Tiên Lão Tàu - trợ lý cấp hai của web.

* Nhược Thủy dịch

Trung Thiên Bắc Cực Tử Vi Đại Đế.

* Còn gọi là "Bắc Cực Tử Vi Đại Đế", "Bắc Cực Đại Đế", "Bắc Cực Tinh Quân", là một vị trong "Tứ Ngự".

* Tín ngưỡng về Bắc Cực Đại Đế là do sự sùng bái trời trăng sao của người Trung Quốc từ thời cổ đại Bắc Cực tức là "Sao bắc cực" nói gọn, còn gọi là "sao bắc", nằm trong khu vực.

Thiên Từ trong Tử Vi Viên (danh từ của khoa thiên văn).

* Trong quyển thứ tư của "Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp" có nói: --

"Bắc Cực Đại Đế là vị sao chủ (đế) của Tử Vi Viên".

Thiên Văn Chí nói: - "Nam Cực thì nhập địa ở ba mươi sáu độ, còn Bắc Cực thì xuất địa ở ba mươi sáu độ, có hình dạng như chiếc ghế đai, phân nửa thì chỉ đất, phân nửa chỉ trời.

Các sao khác thì xoay chuyển, chỉ có hai sao Nam Bắc Cực thì đứng yên trong bầu trời chuyển động Đời nhìn. sao Bắc Cực thì cho là hướng Bắc, kỳ thực là sao ấy ở giữa trời, làm chủ của muôn vì sao khác, là vua thứ hai của tam giới sau Thượng Đế, ứng vào nguyên khí của thanh thượng, nên gọi là Bắc Cực Tử Vi Đại Đế ".

* Hậu Hán Thư quyển bốn mươi tám viết: - "Trời có cung Tử Vi, là nơi cư trú của Thượng Đế" Vậy Tử.

Vi Viên tức là Tử Vi Cung, về sau Huỳnh Đế cũng cư trú ở nơi này, gọi là Tử Cấm Thành.

* Đạo Giáo cho rằng sao Bắc Cực mãi mãi không di chuyển, nằm ở chính giữa của trời, vị trí rất cao, cực kỳ tôn quí, gọi là "chủ của các sao" hay "gốc của các thần thánh".

Do đó , thế gian hết sức tôn sùng Bắc Cực.

* Trọng "Tấn Thư-Thiên Văn Chí" nói: - "Bắc Cực có năm sao, Câu Trần có sáu sao, đều ở tại Tử Vi Cung Bắc Cực.

Hay Bắc Thần là tôn quí hơn hết, tuy thể hình nhỏ, nhưng là "mẫu chốt" của trời "Lại nói. thêm" là tòa của vua "" vua thường hay ở đây ".

* Khổng Dĩnh Đạt đời Đường viết trong "Thư Đạo-Thuyết Mệnh": - "Bắc Đầu xoay quanh Bắc Cực, giống như các quan ở xung quanh hộ vệ cho vua, sao năm nay coi sóc các tinh tú khác là các quận huyện cai quản đất đai của vua ban Nhị thập. bát tú chia ra bốn phương, là đất của thiên tử cấp cho chư hầu.

Thiên tượng ấy biểu trưng cho tự tôn ti trát chính pháp ở đời vậy "

* Về lai lịch của Bắc Cực Tử Vi Đại Đế, trong "Thái Thượng Thuyết Huyền Thiên Đại Thánh Chân Vũ Bản Vân Thần Chú Kinh Diệu dẫn theo" "Đầu Bản Sanh Bắc Kinh" nói rằng: --

"Xưa còn ở sơ kiếp Long Hán, Tử Quảng Phú Nhân ở nước Chu Thượng Ngự vào ngày xuân, đi du ngoạn đến bên suối Ôn Ngọc Tuyền, định coi y phục để tắm, chợt thấy có chín đóa sen nở ra, hóa sanh chín người con trai Phú nhân.

đem về nuôi nấng, với tâm nguyện

Sau này họ sẽ thành những bậc thánh triết, phụ giúp cho trời đất Những vị. nay đã đến trang các quán để tu hành, trải qua thời gian quả công viên mãn, thăng thiên bạch nhật đến cung điện Tam Thanh mà thọ lãnh chức tuoc Người con trưởng được phong làm Thiên Hoàng Đại Đế, cai quản về. kỷ cương của Tử Vi Thượng Cung.

Người con thứ hai, được phong làm Tử Vi Đại đế, coi sóc việc bố chính ở minh đường nơi Bắc Cực.

* Trọng Đạo Kinh, nói về chức năng của Tử Vi Đại Đế như sau: --

"Chấp chưởng thiên kinh địa vĩ (chiều đứng của trời và chiều ngang của đất), cai quản các thần trong tam giới và các thần sông núi" Đây là.

Hiện tượng tôn vương của các hiện tượng tự nhiên.

"Ngài có thể kêu gọi mưa gió, sai sử các Quỉ thần của Lôi Bộ ".

* Theo "Cửu Thiên Lôi ứng Nguyên Thanh Hoá Tích Thiên Tôn Hứa Ngọc Bảo Kinh Tập Chú" quyển thượng nói: - "Bắc Cực Tử Vi Đại Đế chưởng quản Ngũ Lôi thần" Do đó., Tử Vi Đại Đế được các Triều đại vua chúa thờ Phùng, đặc biệt đề cao thời nhà Tống, thường thờ chung với Ngọc Hoàng Đại Đế.

Hiện nay ở các vùng Tứ Xuyên, Đại Túc ... vẫn còn lại những tượng thờ Tử Vi Đại Đế được tạo từ thời Tống.

* Trọng "Minh Sử • Lễ Chí Tứ" viết: - "Thời Minh, Triều đình ban chiếu chỉ xây dựng Điện Tử Vi và tạo tượng để cúng tế" Tượng thờ.

Có dáng vẻ của một vị đế vương, hai bên có những võ tướng oai phong lâm vệ liệt hộ, thật là thân phận mười phần cao quí.

* Ngày Đản sinh của Tử Vi Đại Đế là ngày mười tám tháng tư âm lịch.

(Có sách nói là ngày hai mươi bảy tháng mười)

* Nhược Thủy dịch

(Từ: -- ).

THẦN THÁNH TRUNG HOA

TẬP I

STT ĐỀ TÀI

01 Giới thiệu tổng quát về Thánh Thần Trung Hòa

02 Giới thiệu tóm tắt Thánh Thần Trung Hòa, theo lịch sử

03 Nguyên Thủy Thiên Tôn

04 Thái Thượng Lão Quân

05 Linh Bửu Thiên Tôn (LBTT)

06 Thái Thượng LBTT thuyết Diên Thọ Kinh

07 Ngọc Hoàng Đại Đế (Bài 1)

08 Ngọc Hoàng Đại Đế (Bài 2)

09 Vương Mẫu Nương Nương (9A-Bài 1 + 9B-Bài 2)

10 Huyền Thiên Thượng Đế

11 Chân Vũ Đại Đế

12 Tiên thiên thần tôn-Tứ Ngự

13 Câu Trần Đại Đế

14 Thổ Hoàng Địa Kỳ (Hậu Thổ)

15 Cửu Thiên Huyền Nữ

16 Nữ Oa Nương Nương

17 Phụ lục: - Tam Hoàng Ngũ Đế -

18 Nguyên Thần Điện (Điện thờ các tinh tú)

19 Chức năng của Nhị Thập Bát Tú

20 Trung Thiên Bắc Cực Tử Vi Đại Đế

21 Bắc Đầu Thất Tinh Nguyên Quân

22 Thần chú Bắc Đầu Tiêu Tai

23 Kinh Đại Thánh Bắc Đầu Thất Nguyên Quân

24 Bắc Đầu Chân Kinh

25 Nam Cực Trường Sinh Đại Đế + Nam Cực Tiên Ông

26 Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn-Phụ lục

27 Vương Công Đông (Mộc Công)

28 Tiên thiên thần tôn LỢI TỔ

29 Thái Dương Tinh Quân + Kinh Thái Dương-Thái Âm

30 Thái Âm Nương Nương (Nguyệt Nương)

31 Đông Nhạc Đại Đế

32 Hỏa Đức Tinh Quân

33 Chú Sanh Nương Nương (Bà Chúa Thái Sanh)

34 Tâm Tình😛hước-Lộc-Thọ

35 Bích Hà Nguyên Quân

36 Quan Thánh Đế Quân

37 PL: - Kinh Minh Thánh + Giác Thế Chân Kinh

38 Văn Xương Đế Quân

39 Thiên Hậu Thánh Mẫu

40 Thập Điện Diêm Vương (Mười Điện-Mười Vua DV)

41 Bảo Sanh Đại Đế

42 Tam Quan, Đại Đế

43 Viêm Đế Thần Nông

44 Tam Thái Tử Na Tra

45 Nguyệt Hạ Lão Nhân (Nguyệt lão)

46 Phù Hữu Đế Quân Lữ Đồng Tân

47 Bát Tiên (tổng quát)

48 Tiểu sử Bát Tiên (theo truyện Đông du Bát Tiên)

49 Khôi Tĩnh

50 Thái Tuệ

51 PL: - Tên của Thái Thứ sáu 60 năm theo trường phái

52 Cách cúng một vị Thái Thứ năm hàng (bài vị mẫu + thần chú)

53 Thành Hoàng

54 Phước Đức Chính Thần (Thổ Địa)

55 Võ Văn Tài Thần (Thần Tài)

56 Định Phước Táo Quân (Ông Táo)

57 Môn Thần

58 Thất Nương MU (Má)

59 Sàng MU (Má)

60 Lôi Bộ Ngũ Nguyên Soài Rạp

61 Lôi Công-Điện Mẫu

62 Vũ Sư (Thần làm mưa)

63 Phong Bá (Thần làm gió)

64 Long Vương

65 Thờ Bạch Hổ

66 Tổ chức Thiên Đình (theo Wikipedia tiếng Việt)

67 Nhị thập bát tú (theo Thiên Văn Học)

68 Pháp Chủ Công

69 Tế Công Hoạt Phật-Phụ lục: - Tế Công Thánh Huấn

70 Hòa Hợp Nhị Tiên: - Hàn Sơn, Thập Đắc

71 Khai Chương Thánh Vương

72 Tam Sơn Quốc Vương

73 Thanh Thủy Tổ Sư (bốn bài)

74 Thương hiết Tổ Sư

75 Thạch Cảm Đương (Bua đá trấn yếm)

76 Đẳng cấp của Thánh Thần

THẦN THÁNH TRUNG HOA

( TẬP 2 )

MỤC LỤC

01.- Ngũ Lão Quân

02.- Ngũ Tinh Thất Diệu Tinh Quân

03.- Li (Lê) Sơn Lão Mẫu

04.- Lâm Thủy Phu Nhân

05.- Lục Đinh -- Lục Giáp

06.- Bành Tổ

07.- Huỳnh Đế

08.- Xích Tùng Tử

09.- Ninh Phong Tử

10.- Quảng Thành Tử

11.- Dung Thành Công (Tử)

12.- Quỷ Cốc Tiên Sinh

13.- An Kỳ Sinh

14.- Âm Trường Sinh

15.- Hà Thượng Công

16.- Tứ đại Thiên Sư

17.- Tam Mao Chân Quân

18.- Ma Cô (Nữ Thọ Tinh)

19.- Vương Linh Quan

20.- Vương Kiều

21.- Thanh Hư Chân Nhân

22.- Thanh Linh Chân Nhân

23.- Thái Cực Chân Nhân

24.- Thái Hòa Chân Nhân

25.- Cát Tiên Ông

26.- Hoài Nam Bát Công

27.- Vương Thường Nguyệt

28.- Ngưng Dương Chân Nhân

29.- Trần Đoàn Lão Tổ

30.- Điền Đô Nguyên Soái

31.- Tạ Tiên Tổ

32.- Thanh Hư Huyền Diệu—Trương Chân Quân

33.- Hồng Ân Linh Tế Chân Quân

34.- Ngũ Tổ Thất Chân

35.- Ngộ Chân-Tử Dương Chân Nhân

36.-Hạnh Lâm-Thúy Huyền Chân Nhân

37.-Đông Hoa Đế Quân Vương Huyền Phủ

38.- Chính Dương Đế Quân Chung Ly Quyền

39.- Thuần Hựu Đế Quân Lưu Hải Thiềm

40.- Thuần Hữu Đế Quân Vương Trùng Dương

41.- Trường Xuân Chân Nhân Khưu Xử Cơ

42.- Vô Vi Chân Nhân Mã Ngọc

43.- Uẩn Đức Chân Nhân Đàm Xử Đoan

44.- Trường Sinh Chân Nhân—Lưu Xử Huyền

45.- Ngọc Dương Chân Nhân—Vương Xử Nhất

46.- Quảng Ninh Chân Nhân Hách Đại Thông

47.-Thanh Tịnh Tản Nhân Tôn Bất Nhị

48.- Vương Linh Thiên Quân

49.- Dược Vương

50.- Ôn Thần

51.- Tàm Thần

52.- Xí Thần
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tứ Thánh Thú


TỨ THÁNH THÚ: THANH LONG - BẠCH HỔ - CHU TƯỚC - HUYỀN VŨ

Tứ tượng hay tứ thánh thú, là một khái niệm hình tượng bộ bốn trong khoa học thiên văn, triết học, phong thủy,... phương Đông.

Tứ tượng (Si Xiang) là bốn thánh thú trong các chòm sao Trung Hoa cổ đại:

Thanh Long của phương Đông

Bạch Hổ của phương Tây

Chu Tước của phương Nam

Huyền Vũ của phương Bắc

Mỗi thánh thú cai quản một phương và tượng trưng cho một mùa, chúng có những đặc điểm và nguồn gốc riêng.

Chúng được miêu tả đầy sinh động trong thần thoại và trí tưởng tượng của người Trung Hoa, và cả trong Manga và Anime của Nhật

Tứ tượng được đặt cho những cái tên loài người tương ứng khi Đạo giáo trở nên phổ biến.

Thanh Long có tên là Mạnh Chương (孟章), Chu Tước là Lăng Quang (陵光), Bạch Hổ là Giám Binh (監兵), và Huyền Vũ là Chấp Minh (執明).

Các thánh thú hợp thành Hệ thống Ngũ hành:

Thanh Long của phương Đông: Mộc

Chu Tước của phương Nam: Hỏa

Bạch Hổ của phương Tây: Kim

Huyền Vũ của phương Bắc: Thủy

Tương truyền còn có thánh thú thứ năm, Hoàng Lân (con kỳ lân màu vàng), hay "Hoàng Lân của Trung tâm".

Tất cả các thánh thú hợp lại dưới sự cai quản của "trung tâm" là Hoàng Lân, và Hoàng Lân tượng trưng cho nguyên tố Thổ.

Trong thiên văn học Trung Quốc, Tứ tượng là bốn cung Đông - Tây - Nam - Bắc của Nhị thập bát tú.

Mỗi chòm Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước được hợp từ bảy chòm sao.

Đông: Thanh Long

Chòm Thanh Long (rồng xanh) gồm bảy chòm sao nhỏ hơn hợp thành gồm: Giác (Cá sấu), Cang (rồng), Đê (cu li), Phòng (thỏ), Tâm (cáo), Vĩ (cọp) và Cơ (báo)

Tây: Bạch Hổ

Chòm Bạch Hổ (cọp trắng) gồm: Khuê (sói), Lâu (chó), Vị (trĩ), Mão (gà), Tất (quạ), Chủy (khỉ) và Sâm (vượn)

Nam: Chu Tước

Chòm Chu Tước (chim sẻ đỏ) gồm: Tỉnh (cầy), Quỷ (dê), Liễu (hoẵng), Tinh (ngựa), Trương (nai), Dực (rắn) và Chẩn (giun)

Bắc: Huyền Vũ

Chòm Huyền Vũ (rùa và rắn đen) gồm: Đẩu (cua), Ngưu (trâu), Nữ (dơi), Hư (chuột), Nguy (én), Thất (heo) và Bích (nhím)

Trong thuyết Âm Dương, Tứ tượng tương ứng với giai đoạn sinh làm bốn phạm trù trong quá trình biến đổi của vũ trụ (Hư vô sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái)

Thái dương: tượng hình bởi hai vạch liền

Thiếu dương: tượng hình bởi vạch liền ở dưới, vạch đứt ở trên

Thiếu âm: tượng hình bởi vạch đứt ở dưới, vạch liền ở trên

Thái âm: tượng hình bởi hai vạch đứt

Tứ tượng Đồng thời Tứ tượng cũng tương ứng với bốn phần của vòng tròn Thái cực đồ.

Các thiên thể trên bầu trời cũng được phân chia thành tứ tượng:

Nhật (Mặt Trời) - tương ứng với Thái dương

Nguyệt (Mặt Trăng) - tương ứng với Thái âm

Tinh (các vì sao đứng yên, định tinh) tương ứng với Thiếu âm

Thần (hay Thìn, các ngôi sao chuyển động, hành tinh) tương ứng với Thiếu dương.

Các thiên thể trên bầu trời cũng được phân chia thành tứ tượng:

Trong phong thủy

Đối với phong thủy, hội tụ đủ Tứ tượng Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ là điều cần thiết để có một địa thế đẹp.

Ngày xưa, để chọn được nơi để đặt kinh đô, các nhà phong thủy phải tìm nơi hài hòa giữa tứ tượng như nơi đó phải có sông ngòi, đất phải phì nhiêu, dễ đón gió và nhận được ánh mặt trời vừa phải.

Tứ tượng còn tương ứng với bốn phương Đông - Tây - Nam - Bắc; bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông .

Không hiểu do trùng hợp mà tứ tượng lại tương ứng với Tứ Đại Nguyên Tố của truyền thuyết châu Âu là nước (xanh biển - Thanh Long), lửa (đỏ - Chu tước), gió (trắng - Bạch Hổ) và đất (đen - Huyền Vũ)
 
Back
Top Bottom