Cập nhật mới

Khác Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
153,753
Điểm cảm xúc
0
Điểm thành tích
0
VNĐ
44,735
154721976-256-k212271.jpg

Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tác giả: Pham-Ming
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện, tập trung giới thiệu các vấn đề bên lề của truyện Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân như: pháp khí, quyết chú, thông tin về đạo giáo.....

Bổ sung thông tin cho bạn đọc hiểu rõ hơn bộ truyện Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân.

Nguồn: Internet



trocquy​
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Mao Sơn Thế Giới


Tri thức dưới đây đều là bản thân Thanh Tử tổng kết được, đều sẽ xuất hiện trong truyện:

HỆ THỐNG SINH VẬT:

(Môn phái): Mao Sơn (phân Nam phái và Bắc phái), Long Hổ Sơn, Lạc Già Sơn, Ngũ Đài Sơn, tán tu dân gian.

(Giống sinh vật): Loài người, quỷ, yêu, thi, tà linh.

(Đẳng cấp cương thi): Tang thi, Linh thi, Thi ma, Thi vương, hình dáng khác nhau, tu vi khác nhau, theo thứ tự là: xám, đỏ, lục, tím.

(Loại hình cương thi): Hành thi, Thi sống, Thi khô, Địa thi, Nhục thi, Huyết thi, Hạn thi, Phi thi, Chí thi, Đồng giáp thi.

(Đẳng cấp quỷ): U hồn, Oán linh, Ác quỷ, Lệ quỷ, Quỷ thủ lĩnh, Quỷ khấu, Quỷ vương.

(Đẳng cấp yêu): Yêu thú, Yêu linh, Yêu tiên, Yêu vương.

(Đặc thù hình thái quỷ, yêu, thi, tà linh ): Hạn Bạt, Quỷ thi, Quỷ tiên, Thi rùa, Thi trùng, Lục nhãn quỷ đồng, Liệt đầu quỷ tử, Song thai quỷ anh, Thị nữ oán linh, Thủ linh đồng tử, Tam vĩ ngô công (rết ba đuôi), Kappa, Mao nữ, Hà cơ, Thực mộng quỷ (quỷ ăn mộng), Thực thi quỷ (quỷ ăn thi), Băng tàm cực bắc, Hung tâm quỷ, Tiếp âm sanh bà, Cương thi ngư, Huyết cổ thi vương, Bái bì phong (ong lột da), Tam đầu xà hạt (rắn ba đầu), Thử tinh (Chuột tinh), Tiểu quỷ huyết dưỡng, Quỷ ngư, Quái tai, Quỷ đại nhãn, Huyết ô (quạ máu), Họa trung nhân (người trong tranh), Búp bê tà linh, Anh sát, Nhân tâm quỷ ngẫu, Âm khôi tướng quân, Quỷ quân sư, Quỷ bức (dơi quỷ), Giao nhân, Hỗn độn, Huyết địa long, Thấp địa bà, Thượng cổ tà thần, Tu la quỷ mẫu, La sát quỷ mẫu, U linh quỷ mẫu...

HỆ THỐNG ĐỊA NGỤC:

Cai quản địa ngục: Phong Đô Đại Đế (chưởng quản tất cả),

Phán quan Thôi Phủ Quân và Tần Quảng Vương, Chuyển Luân Vương, Diêm La vương: hợp xưng "Tam vương nhất xử", tương đương với bộ trưởng ba ngành "Công an- kiểm sát- tư pháp" nhân gian; Khu ma tướng quân: Thiên sư Thần Chung Quỳ (chưởng quản mười vạn Thiên sư).

Chưởng quản Thất Tọa địa ngục: Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Biện Thành Vương, Thái Sơn Vương, Đô Thị Vương, Bình Đẳng Vương;

Âm thần: Hắc Bạch Vô Thường, Ngưu Đầu Mã Diện, Nhật Dạ Tuần Du, Quỷ Vương Mạnh Bà, Tam Đại Tư Pháp Vương, Ti chủ bảy mươi hai ti;

Quỷ sai: Nhân viên công tác cao trung tiểu, tương đương với nhân viên công vụ.

Công tào: Quan viên quỷ dịch, tương đương với đốc công.

Quỷ dịch: Tạp dịch trong âm ty, tương đương với công nông dân, là những quỷ hồn được tuyển chọn do không phải đợi đầu thai.

Nhân vật đặc biệt: Địa Tạng Vương Bồ Tát (đặc phái viên Phật giáo, chuyên quản siêu độ)
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Thập Đại Thần Khí Thượng Cổ


Thời đại thượng cổ, chư thần tại Thần Châu đại lục Trung Nguyên lưu lại mười cổ lão Thần khí, theo thứ tự là: Chuông Đông Hoàng, Kiếm Hiên Viên, Búa Bàn Cổ, Hũ Luyện Yêu, Tháp Hạo Thiên, Đàn Phục Hi, Đỉnh Thần Nông, Ấn Không Động, Kính Côn Lôn, Đá Nữ Oa, mỗi loại lại có được thế lực đặc biệt kinh người.

Dưới đây là thông tin về chúng.

1.

Chuông Đông Hoàng: Thiên giới chi môn

Tung tích không rõ, sức mạnh không rõ .

Bình thường nghe đồn là thiên giới chi môn, nhưng theo cổ lão bích văn trong hang đá Thiên Sơn vào thời đại chư thần có lưu lại: Chuông Đông Hoàng chính là thần khí đứng đầu thập đại thần khí, đủ để hủy thiên diệt địa, thôn phệ chư thiên. (Thứ này sẽ có xuất hiện trong truyện Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân).

2.

Hiên Viên Kiếm: Sức mạnh vô địch

Cổ kiếm hoàng kim sắc nghìn năm, theo truyền thuyết là thần kiếm do chư thần thiên giới ban cho Hiên Viên Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu; trong đó chất chứa sức mạnh vô tận, thần kiếm trảm yêu trừ ma. (Thứ này cũng sẽ xuất hiện trong truyện Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân sau này).

3.

Búa Bàn Cổ: Xuyên qua thái hư

Theo truyền thuyết từ lúc thiên địa hỗn độn mới bắt đầu, Bàn Cổ tỉnh lại từ ngủ mơ, mỗi ngày đều mù mịt, liền cầm một cái búa cực lớn bổ mở trời đất, từ đó khai sinh ra vũ trụ của chúng ta.

Búa này có thể phân thiên khai địa, xuyên thẳng qua thái hư chi lực, uy lực không kém Hiên Viên Kiếm.

4.

Hũ Luyện Yêu: Luyện hóa vạn vật

Cổ xưng là Hũ Cửu Lê, chính là một trong thượng cổ dị bảo.

Có được sức mạnh không thể tưởng tượng nổi, nghe nói có thể bồi dưỡng hết thảy vạn vật, cũng có sức hủy hoại kinh người.

Bên trong hũ có không gian kỳ dị, có thể thu nạp thiên địa vào trong.

5.

Hạo Thiên Tháp: Hấp tinh hoán nguyệt

Là thiên giới trọng bảo, có được sức mạnh to lớn vô cùng, nghe nói đánh bại hết thảy yêu ma tà đạo, khi tất yếu cũng có thể hàng phục tiên thần; nhưng sau bởi vì không rõ nguyên nhân mà mất tung tích, không có ai biết được nó đang ở đâu.

6.

Đàn Phục Hi: Thao túng tâm linh

Phục Hi là nhạc khí dùng ngọc thạch thêm thiên ty chế ra, có bạch sắc quang mang ôn nhu, tiếng đàn có thể khiến tâm người cảm thấy yên tĩnh tường hòa, nghe nói có thể chi phối tâm linh vạn vật, sức mạnh thần bí.

7.

Đỉnh Thần Nông: Nấu luyện tiên dược

Cổ xưng là đỉnh tạo thế, thời đại thượng cổ Thần Nông vì thương sinh linh biến thường bách thảo mà vì hậu thế đặt vững cơ sở y học.

Thần Nông ngày xưa luyện chế bách dược cổ đỉnh, nguyên nhân chính là để dành vô số linh dược chi khí ngàn năm qua, nghe nói có thể luyện ra khoáng thế thần dược mà chư thần thiên giới cũng không thể khinh thường, cũng ẩn tàng các sức mạnh thần bí khác.

8.

Ấn Không Động: Suối nguồn bất lão

Là thần khí long tộc canh giữ trên biển bất tử Không Động, trên đó có khắc hình dáng tướng mạo của ngũ phương Thiên Đế, cũng có Ngọc Long quay quanh.

Từ xưa tương truyền người đạt được nó có thể có được thiên hạ, cũng có truyền thuyết nó có thể khiến người ta bất lão bất tử.

Từ xưa rất nhiều phương sĩ nhao nhao ra biển tìm ấn này, nhưng cuối cùng đều chỉ là không đường trở về.

9.

Côn Lôn Kính: Xuyên qua thời gian

Trong thiên cung tiên nhân cố hương bên trong Côn Luân Sơn, truyền thuyết có một thần kính có được sức mạnh tự do vượt qua thời không.

Nhưng trong một lần thịnh hội tiên nhân, thần kính bị người ta trộm, đến nay vẫn không rõ ở đâu.

10.

Đá Nữ Oa: Phục sinh tái sinh

Nữ Oa – mẹ của nhân loại, nặn đất tạo ra con người, luyện đá vá trời, cũng giúp nhân tộc thu phục rất nhiều yêu ma, từ xưa được nhân dân Thần Châu kính ngưỡng.

Tương truyền Nữ Oa từng vì cứu ái nữ mắc bệnh qua đời mà đem tu vi vạn năm của mình dồn vào một viên đá ngũ sắc dư ngày xưa bổ thiên, từ đó nên linh thạch có sức mạnh đặc biệt.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tam Hồn Thất Phách (Ba Hồn Bảy Phách)


*Bảy Phách

Hồn: Người xưa chỉ đó là tinh thần có thể rời khỏi nhân thể; Phách: ý chỉ tinh thần phụ thuộc hình thể mà hiển hiện.

Đạo gia nói, từ hồn phách là do "Tam hồn thất phách" tạo thành, khoa học vẫn chưa có cách nào chứng minh được lời các tông giáo nói rằng hồn phách có thể ly thể hoặc luân hồi, có thể tạo hợp có chính xác hay không.

Tục dân gian nói: "Người sau khi chết, bảy phách tán đi, ba hồn một về với mộ, một về với thần chủ, một đi âm phủ thụ thẩm, chuyển thế"

Tam hồn (ba hồn): 1.

Đạo gia cho rằng con người có ba hồn: Một là thai quang, hai là sảng linh, ba là u tinh, (Theo Vân Cấp Thất Thiêm – quyển 54)., Đan Đỉnh phái xưng là "Nguyên Thần, Dương thần và Âm thần", ba hồn sinh tồn với tinh thần bên trong, người sau khi chết, hồn đi ba ngã.

Một là Thai quang, Thái Thanh dương hòa chi khí, thuộc về trời; hai là Sảng linh, âm khí chi biến, thuộc về ngũ hành; ba tên là U tinh, âm khí chi tạp, thuộc về đất.

Thai quang chủ sinh mệnh, ở lâu trên thân người có thể làm thần thanh khí sảng, ích thọ duyên niên; bắt nguồn từ mẫu thể.

Sảng linh chủ tài lộc, có thể làm minh khí chế dương, khiến người cơ mưu vạn vật, lao dịch bách thần, sinh họa nhược hại; quyết định trí tuệ, năng lực, bắt nguồn từ phụ thể.

U tinh chủ tai suy (các bậc tai họa), khiến người háo sắc thèm dục, chìm trong ý nghĩ dâm loạn, hao tổn tinh hoa, thần khí thiếu khuyết, thận khí không đủ, tính khí ngũ mạch không thông, sớm tối như thi thể; khống chế tuyến sinh dục nhân thể, chủ trì giới tính.

Bởi vậy, dưỡng sinh tu đạo phải kiểm soát U tinh, bảo dưỡng dương hòa chi khí.

Ba hồn hiện lên màu đỏ, hình người.

Ba hồn, một thường cư ở cung túc, một ở Ngũ nhạc địa phủ, một ở thủy phủ.

Ba hồn có liên quan tới thức thần, nguyên thần, dục thần.

Sảng linh cùng thức thần chưởng quản sự thông minh, trí tuệ.

U tinh chưởng quản tình ái, cũng giống như dục thần.

Thiên Hồn quy thiên đường, đến không gian thiên lộ.

Bởi vì Thiên Hồn chỉ là lương tri nên cũng bất sinh bất diệt "Vô cực", mà vì có liên quan đến nhân quả nhục thể cho nên không thể quy tông nguyên địa, đành phải ký thác ở thiên lộ, tạm bị "giam giữ" thay chủ thần, gọi là vào "Thiên lao" .

Địa Hồn quy địa phủ, đến Địa Ngục, bởi vì Địa Hồn chịu hết thảy nhân quả báo ứng của chủ hồn, cũng có thể sai khiến nhục thân tại thế làm điều thiện ác, cho nên sau khi nhục thân tử vong, Địa Hồn lại tiến vào nơi nhân quả thị phi nhất.

Nhân Hồn thì quanh quẩn ở mộ địa, bởi vì Nhân Hồn vốn là "Tổ đức" của lịch đại dòng họ lưu truyền cho nhục thân.

Lấy phách lực của bảy phách tại thân mang theo những đức tính tốt đẹp, sau khi tử vong sẽ ở lại mộ địa với thần chủ, mãi cho tới khi được vào nhân lộ.

Bao giờ đến lúc "luân hồi", ba hồn mới có thể đoàn tụ với nhau.

Mà ba hồn có căn là "Chân như" (sinh mệnh thực tướng), ba hồn là một loại năng lượng hình thái do "Chân như động niệm" sinh ra đồng thời hấp thụ linh chất, thuộc về "Linh giới".

Tín ngưỡng dân gian còn nhắc về ba hồn với:

Sinh hồn (tượng hồn): Chủ tể của sự sống, đại biểu cho nguồn sinh mệnh, có thể tùy hoàn cảnh sinh ra phản ứng, thực vật chỉ có sinh hồn.

Giác hồn (thức hồn): Chủ tể của ý thức, đại biểu cho bản thân, có thể suy nghĩ, cảm thụ và ký ức, động vật có sinh hồn và giác hồn.

Linh hồn (chủ hồn): Chủ tể của linh tính, đại biểu cho trí tuệ, có thể phân biệt thiện ác, thông hiểu vạn vật, tình cảm, chỉ có người mới có đầy đủ sinh hồn, giác hồn, linh hồn.

Linh hồn nếu có "tật", người sẽ si ngốc.

Cảm hồn nếu có "tật", người sẽ nổi điên, thần kinh tán loạn, không biết xấu hổ, dễ dàng có hành động loạn luân.

Sinh hồn nếu có "tật", người sẽ dễ dàng sinh bệnh.

Người sau khi chết, sinh hồn sẽ bị diệt, linh hồn theo nhân quả tuần hoàn tiến vào lục đạo luân hồi.

Nếu như có thiện nghiệp lớn hơn ác nghiệp sẽ đầu thai đến thiên giới hoặc nhân giới.

Linh hồn đến thiên giới sẽ cùng giác hồn hợp nhất, đến nhân giới thì giác hồn cũ sẽ bị diệt, lại tân sinh một giác hồn mới đầu thai làm người.

Nếu như ác nghiệp lớn hơn thiện nghiệp thì sẽ đến địa ngục, linh hồn sẽ ở tại địa ngục thụ hình chịu khổ, chỉ có ngày rằm tháng bảy âm lịch mới có thể về lại nhân gian.

Mãi cho đến khi linh hồn thụ hình xong đầu thai nhân lộ (đường người hoặc đường súc sinh) thì giác hồn mới bị diệt.

Giác hồn lưu lại nhân gian vì chủ thần để cho người sống cúng bái, có khi lang thang quanh mộ.

Người có cúng bái sẽ không dễ bị giác hồn chọc ghẹo, người không có cúng bái dễ bị cô hồn trêu đùa.

Bảy phách:

Bảy phách bao gồm Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, Xú Phế, chứa đựng hỉ, nộ, ái, ố, đau, sợ, dục, sinh tồn cùng với vật chất bên trong.

Người qua đời, bảy phách biến mất.

Về sau lại sinh ra theo nhục thân mới, thuộc về "thế giới vật chất dương gian".

Bảy phách là máu trong thân người, được chia thành từng loại.

Thứ nhất là huyết nhãn (máu mắt), huyết nhãn có vị "chát".

Thứ hai là huyết nhĩ (máu lỗ tai), huyết nhĩ có vị "lạnh" mà không dễ "đông đặc".

Thứ ba là huyết tị (máu mũi), huyết tị có vị "mặn".

Thứ tư là huyết thiệt (máu lưỡi), huyết thiệt có vị "ngọt".

Thứ năm là huyết thân (máu thân thể), huyết thân là máu "nóng", dễ "đông đặc".

Năm vị trí đầu này theo thứ tự là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, gọi là "ngũ căn".

Máu bên ngoài "Ngũ căn" chính là máu nội tạng bên ngoài.

Mà nội tạng chúng ta có nội tạng đỏ và nội tạng trắng, nội tạng đỏ là tim, phổi, gan...các loại.

Nội tạng trắng là dạ dày, ruột non, đại tràng v.v...

Máu nội tạng đỏ có mùi "tanh", máu nội tạng trắng có mùi "thối".

Bảy phách quản lý mệnh hồn, tính mạng con người là từ mệnh hồn trụ thai mà sinh ra.

Sau khi mệnh hồn trụ thai, đem năng lượng phân bố tại bảy Luân mạch trên cơ thể con người, hình thành nên bảy phách.

Phách của mỗi người sở hữu là khác nhau, là duy nhất, cho nên sau khi người mất, phách cũng tán theo, mệnh hồn tự động rời đi.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Cương Thi Hình Thành Như Thế Nào


Trong Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký(閱微草堂筆記) của Kỷ Hiểu Lam đời Thanh đã chia nguyên nhân một xác chết hồi sinh có thể xếp vào hai nhóm: một là những người mới chết trở về với cõi dương; hai là những xác chết lâu ngày không phân hủy.

Đây là một số nguyên nhân hình thành cương thi:

1.

Thành phần hóa học trong đất của nơi chôn không phù hợp cho các sinh vật sống, vì thế không có vi khuẩn để giúp phân hủy xác chết.

Nên thi thể được chôn cất hơn trăm năm thì lông tóc và cơ thể cũng không bị hư thối.

Người ta nói sau khi chết thì tóc, móng tay sẽ tiếp tục dài ra.

Trên thực tế sau khi chết các mô cơ co rút lại, khiến móng tay hay tóc dài ra thêm.

Loại thi thể này được gọi là Âm Thi, là hình thái giữa thi thể và cương thi, nếu như không nhanh chóng xử lý sẽ hóa thành cương thi.

Trong phong thủy học cũng có cách nói tương tự.

Tình huống này cũng giống như như nguồn gốc của Vampire trong văn hóa một số nước phương tây.

2.

Trước khi chết oán khí quá nặng

3.

Sử dụng ma thuật siêu nhiên giúp cải tử hoàn sinh.

4.

Thi thể của người mới chết bị tà vật / tà khí phụ thân.

5.

Xác chết hấp thụ đủ dương khí, hoặc một số thiên tai khiến địa khí bị thay đổi dẫn tới thi biến.

6.

Người bị chôn sớm khi còn chưa chết hẳn (Khi tỉnh dậy thấy mình bị chôn sống sẽ hình thành oán khí rất nặng, tới khi chết hẳn thi thể sẽ hấp thu oán khí và biến thành cương thi, giống với mục 2)

7.

Người bị một cương thi làm bị thương và bị nhiễm "virus cương thi", dần dần theo thời gian sẽ biến thành cương thi.

8.

Một số điển tịch Đạo gia có nói thi thể chôn cất trong một khoảng thời gian, được các pháp sư tế luyện, tới kỳ hạn nhất định sẽ sống lại.

9.

Do bản thân người chết.

Trong bút ký Tử Bất Ngữ (子不語) của Viên Mai có ghi lại: "Nhân chi hồn thiện nhi phách ác, nhân chi hồn linh nhi phách ngu" dịch nghĩa là: "Hồn của một người vốn dĩ tốt nhưng phách của họ là ác, hồn thì khôn ngoan nhưng phách thì dốt nát".

Phần hồn rời khỏi xác thịt sau khi chết nhưng phách vẫn còn lại và giành quyền kiểm soát thân thể, khi đó người chết sẽ trở thành cương thi.

10.

Sau khi chết không chôn cất.

Khoảng những năm 1950 người Hương Cảng thường không chôn người chết, để trong nhà nhiều ngày.

Cho nên lúc đó thường xảy ra nhiều việc khiến thi biến như: sét đánh, mèo (có thể chửa hay không đều được) nhảy qua quan tài, gió độc thổi tới...

11.

Do người thân thuê pháp sư làm phép, hoặc do ý niệm của người chết muốn trở về quê hương như trong chương 215.

Phép đưa người chết về nổi tiếng do các pháp sư Tương Tây hay Mao Sơn thực hiện, thường được gọi là thuật Cản Thi.

12.

Do trúng độc mà khi chết bị thi hóa, cơ thể hóa thành cương thi.

13.

Không chỉ con người mà thậm chí là các con vật khi chết cũng có thể hóa thành cương thi, đặc biệt là tu vi của con vật càng cao thì sức mạnh khi hóa thành cương thi càng mạnh.

II, Chủng loại và đặc tính của cương thi:

Các truyền thuyết đều có nói cương thi có cảm giác, biết ăn cơm và hút máu người.

– Viên Mai lấy lông cương thi để phân biệt, trong quyển 9 Quật Trung Kỳ Báo (掘塚奇報) của Tử Bất Ngữ có nói tới vài loại cương thi có lông theo cấp bậc như: Tử cương (lông tím), Bạch cương (lông trắng), Lục cương (lông xanh), Mao cương (lông cứng như tóc).

Các loại biến thể của cương thi như Hạn Bạt, Hống: "Ở Tường Minh Phủ, Thường Châu thường hay nói: người không biết thì nói Phật thường cưỡi sư tử, voi...Người biết thì nói Phật cưỡi Hống, vì Hống do cương thi biến thành."

Cũng có nói Hống do Hạn Bạt biến thành, khi biến hóa sẽ gầm thét cực lớn, nhảy ba nhảy rồi hóa thành thú.

Hống có thần thông, miệng biết phun lửa, có thể đấu với rồng, sau này bị Phật bắt làm tọa kỵ.

Trong đó cũng nhắc tới truyện thợ mỏ ở Vân Nam, sau khi bị sập mỏ thì thi thể hấp thu kim loại trong đất mà hóa thành Kim Kỷ Tử – cương thi toàn thân phủ kim loại, cực kỳ khó giết.

– Thần Dị Kinh (神异经) có nói tới Hạn Bạt như sau: Phía nam có người, dài hai ba thước, thân để trần, có hai mắt trên đỉnh đầu, đi nhanh như gió.

Tên là Bạt, mỗi khi xuất hiện sẽ xảy ra đại hạn, đất cằn ngàn dặm."

Hạn Bạt có thể bay, giết rồng nuốt mây, thành nạn hạn hán.

Cho nên mỗi khi nạn hạn hán xuất hiện, dân chúng sẽ dò tìm cương thi, bắt bọn chúng đốt thành tro bụi

– Trong cuốn Tần Trung Mộ Đạo (秦中墓道) ghi chép về mộ người chết từ thời Tần lại chia cương thi thành hai loại: Hắc hung (lông đen), Bạch hung (Lông trắng).

– Trong Thi Bôn (屍奔) thậm chí còn nhắc tới một con ngũ sắc cương thi là một con chồn cương thi.

– Ngoài ra trong Khô Lâu Tam Chủng (骷髅三种) có đề cập tới một số loại cương thi: Bất Hóa Cốt Thi – loại cương thi này do một bộ phận được tập trung quá nhiều tinh lực khi sống mà không thay đổi khi chết, sau đó hấp thu tinh khí từ nhật nguyệt sẽ hóa thành cương thi.

Ví dụ về xương được tập trung quá nhiều tinh lực: Một người công nhân khuân vác vì vai vác quá nhiều nhiều sức lực và tinh thần tập trung hết vào vai, sau khi chết phần vai sẽ không bị thối rữa mà hóa thành cương thi.

Bất Hóa Cốt Thi chỉ có một bộ phận trên người không bị thối rữa, hoặc cả người chỉ còn xương.

Loại cả người trơ xương cực mạnh, có thể tu luyện thành Bạch Cốt Tinh như trong Tây Du Ký.

Mạnh hơn Bất Hóa Cốt Thi chính là Phục Thi: Thi thể ngàn năm không biến đổi, sau khi hấp thu tinh khí sẽ sống lại, tiếp tục hóa thành Du Thi.

Theo Câu Lũ Thần Thư (岣嵝神书) thì:

"Nghêu sò ngàn năm có thể hóa Phục Thi"

"Du Thi biết hoạt động theo tiết khí trong năm, không có chỗ ở cố định, sống càng lâu càng dễ hóa thành Phi Thiên Dạ Xoa."
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Các Tông Phái Đạo Giáo (Trung Quốc)


Trong Tam giáo thì Nho giáo (儒教) và Đạo giáo (道教) là hai hệ thống tín ngưỡng/tôn giáo bản địa của Trung Quốc; còn Phật giáo là một tôn giáo du nhập từ Ấn Độ.

Riêng về Đạo giáo, chính tư tưởng Hoàng Lão (Hoàng Đế 黃帝 - Lão Tử 老子) hay tư tưởng Đạo gia, Vu thuật (巫術, shamanism), và khát vọng trường sinh bất tử đã dẫn đến sự hình thành tôn giáo này.

Trong Đạo giáo, có nhiều tông phái; mỗi tông phái có sự hình thành, cơ cấu và hoạt động, ảnh hưởng đối với triều đình và quần chúng khác nhau.

Có ba giáo phái tiêu biểu, xuất hiện vào thời kỳ ban đầu của Đạo giáo, đó là: Ngũ Đấu Mễ Đạo (五斗米道), Thái Bình Đạo (太平道), và Bạch Gia Đạo (帛家道).

Khái lược

Đạo giáo Trung Quốc có nhiều tông phái (tức giáo phái).

Thuật ngữ tông (宗) và phái (派) đồng nghĩa nhau và Đạo giáo hay dùng lẫn lộn phái và tông để đặt tên.

Người Tây phương thường dùng chữ sect để dịch chữ phái và chữ school để dịch chữ tông.

Thực tế, tuy tông và phái đồng nghĩa nhau, nhưng Phật giáo có xu hướng dùng chữ tông và Đạo giáo có xu hướng dùng chữ phái.

Trong vài chục tông phái của Đạo giáo Trung Quốc, ngoài thuật ngữ tông và phái, thuật ngữ đạo và giáo cũng được dùng.

Nhưng các thuật ngữ này được dùng không theo quy tắc nào cả và cũng không hề có sự so sánh về quy mô lớn nhỏ giữa các thuật ngữ ấy.

Ở đây dùng thuật ngữ "giáo phái" là một thuật ngữ phổ thông, có thể dùng cho một tôn giáo bất kỳ.

Giáo phái đầu tiên là Ngũ Đấu Mễ Đạo (五斗米道), xuất hiện vào đời Đông Hán (東漢, 25-220), triều vua Thuận Đế (順帝, 126-144).

Sau đó, giữa những năm Kiến Ninh (建寧) và Hi Bình (熹平, 168-177) dưới triều Hán Linh Đế (漢靈帝, 168-189), Thái Bình Đạo (太平道) được hình thành.

Cho đến đời Đông Tấn (東晉, 317-420) và Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589), có thêm nhiều giáo phái xuất hiện như Thượng Thanh (上清), Linh Bảo (靈寶), Lâu Quán (樓觀), v.v...

Đến đời Nam Tống (南宋, 1127-1279) và đời Kim (金, 1115-1234), phía Bắc xuất hiện Toàn Chân Đạo (全真道), Chân Đại Đạo (真大道), Thái Nhất Đạo (太一道), v.v... và phía Nam xuất hiện Thiên Tâm Phái (天心派), Thần Tiêu Phái (神霄派), Thanh Vi Phái (清微派), Đông Hoa Phái (東華派), Tịnh Minh Đạo (靜明道), v.v...

Đó là giai đoạn phát triển cực thịnh của Đạo giáo.

Trong lịch sử phát triển của Đạo giáo, người ta thấy rằng tùy theo sự biến thiên của xã hội mà nhiều giáo phái suy vong, thì lại có tân giáo phái ra đời.

Có khi do hoàn cảnh xã hội, một giáo phái nhỏ sáp nhập với một giáo phái khác, hoặc một giáo phái lớn bị phân hoá thành chi phái nhỏ hơn.

Đó là hiện tượng hưng (興) - suy (衰) - phân (分) - hợp (合) trong lịch sử phát triển khoảng 2000 năm của Đạo giáo Trung Quốc.

Thí dụ:

Ngũ Đấu Mễ Đạo đã trải qua hai cuộc cải cách do đạo sĩ Khấu Khiêm Chi (寇謙之, Bắc Ngụy) và đạo sĩ Lục Tu Tĩnh (陸修靜, Nam Triều Tống) tiến hành.

Khấu Khiêm Chi cải cách Ngũ Đấu Mễ Đạo (tức Thiên Sư Đạo) ở phương bắc nên nhánh này gọi là Bắc Thiên Sư Đạo, còn Lục Tu Tĩnh cải cách Ngũ Đấu Mễ Đạo ở phương nam nên nhánh này gọi là Nam Thiên Sư Đạo.

Đến đời Tùy thì Nam và Bắc Thiên Sư Đạo hợp nhất làm một.

Khoảng đời Đường sử sách không chép rõ diễn biến của Thiên Sư Đạo.

Sau đời Đường, cháu của Trương Lăng (tương truyền là Trương Thịnh (張盛), con thứ tư của Trương Lỗ) tiếp tục truyền giáo tại Long Hổ Sơn ở Giang Tây.

Núi này dần trở thành một trung tâm truyền bá Thiên Sư Đạo và giáo phái mang tên mới là Long Hổ Tông (龍虎宗) theo tên của nơi truyền đạo là Long Hổ Sơn, cũng gọi là Long Hổ Sơn Thiên Sư Đạo.

Thượng Thanh Phái đến đời Đào Hoằng Cảnh (陶弘景) thì lấy Mao Sơn làm trung tâm truyền đạo, nên gọi là Mao Sơn Tông (茅山宗).

Lý Gia Đạo từ đời Đông Tấn về sau thì nhập vào Thiên Sư Đạo.

Linh Bảo Phái đến đời Bắc Tống thì phân hoá thành Đông Hoa Phái; đến đời Nguyên thì nhập vào Chính Nhất Đạo.

Lâu Quán Đạo suy thoái vào đời Nguyên, được Toàn Chân Đạo khôi phục, nên nhập vào Toàn Chân. v.v...

Cho dù do những điều kiện chủ quan và khách quan dị biệt như thế nào, thì các giáo phái có một đặc điểm chung là: xuất hiện vào những thời kỳ mà xã hội bị phân hóa, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, và nhân dân lầm than khốn khổ.

Thí dụ như:

Ngũ Đấu Mễ Đạo (五斗米道) và Thái Bình Đạo (太平道) xuất hiện vào cuối đời Đông Hán lúc mà tình hình chính trị tối tăm mục nát, khủng hoảng kinh tế nặng nề.

Thượng Thanh Phái (上清派) và Linh Bảo Phái (靈寶派) xuất hiện vào đời Đông Tấn bị suy yếu do các nước phân tranh.

Các giáo phái phương Bắc (như Toàn Chân Đạo 全真道, Chân Đại Đạo 真大道, Thái Nhất Đạo 太一道,...) và các giáo phái phù lục phương Nam (như Thiên Tâm Phái 天心派, Thần Tiêu Phái 神霄派, Thanh Vi Phái 清微派, Đông Hoa Phái 東華派,...) xuất hiện vào đời Bắc Tống (北宋, 960-1127) là thời hai vua Huy Tông (徽宗) và Khâm Tông (欽宗) bị giặc bắt giữ, và đời Nam Tống (南宋, 1127-1279) là một thời kỳ loạn lạc liên miên.

Với hoàn cảnh xã hội tao loạn điêu linh trong cơn binh lửa như vậy, các giáo phái đã ra đời như một điểm tựa tâm linh cho quần chúng vốn dĩ quá ngao ngán trước thế cuộc và băn khoăn đau xót về thân phận phù du của kiếp người.

Cách đặt tên

Lấy tên của bộ tổ kinh

Người sáng lập các giáo phái có nhiều cách để thu hút quần chúng.

Ngay từ thuở đầu tiên, các giáo chủ đều lấy kinh điển (tương truyền do thần tiên giáng cơ bút, còn gọi là tổ kinh - 祖經) để thu hút quần chúng:

Khi Thái Bình Đạo (太平道) được sáng lập, người ta bảo nhau rằng Trương Giác (張角) được thần tiên trao cho bộ kinh 170 quyển nơi suối Khúc Dương (曲陽).

Đó là bộ Thái Bình Thanh Lĩnh Thư (太平青領書) tức là Thái Bình Kinh (太平經).

Khi Ngũ Đấu Mễ Đạo (五斗米道) xuất hiện, người ta tuyên truyền rằng nơi Hạc Minh Sơn (鶴鳴山) Thái Thượng Lão Quân (太上老君) đích thân truyền đạo Chính Nhất Minh Uy (正一盟威) cho Trương Lăng (張陵).

Ngũ Đấu Mễ Đạo cũng gọi là Chính Nhất Đạo và Thiên Sư Đạo.

Thượng Thanh Phái (上清派) khi thành lập, họ tuyên truyền rằng Ngụy Phu Nhân (魏夫人) (tức Ngụy Hoa Tồn 魏華存) và chư tiên đã truyền cho Dương Hi (楊羲) và Hứa Mật (許謐) bộ Thượng Thanh Chân Kinh (上清真經).

Linh Bảo Phái (靈寶派) thì nói rằng giáo chủ Cát Sào Phủ (葛巢甫, cháu họ của Cát Hồng) đã có được bộ Linh Bảo Kinh (靈寶經) mà xưa kia Nguyên Thủy Thiên Tôn (元始天尊) đã truyền cho Cát Huyền (葛玄).

Những truyền tụng đại loại như vậy thì rất nhiều, nhưng điều này cho thấy việc đặt tên cho giáo phái dựa trên cơ sở ban đầu là tên của tổ kinh (tương truyền do thần tiên giáng cơ bút dạy cho vị đạo sĩ sáng lập giáo phái).

Thí dụ như:

Trương Giác (張角) căn cứ vào bộ Thái Bình Kinh (太平經) mà đặt tên giáo phái mình là Thái Bình Đạo (太平道).

Trương Lăng (張陵) căn cứ vào bộ Chính Nhất Minh Uy (正一盟威) mà đặt tên giáo phái là Chính Nhất Đạo (正一道; Ngũ Đấu Mễ Đạo 五斗米道 và Thiên Sư Đạo 天師道 là tên gọi bình dân của Chính Nhất Đạo).

Dương Hi (楊羲) và Hứa Mật (許謐) căn cứ bộ Thượng Thanh Đại Đỗng Chân Kinh (上清大洞真經) mà đặt tên phái mình là Thượng Thanh Phái (上清派).

Cát Sào Phủ (葛巢甫) căn cứ bộ Linh Bảo Kinh (靈寶經) mà đặt tên phái mình là Linh Bảo Phái (靈寶派).

Đạo sĩ Nhiêu Động Thiên (饒洞天; đời Bắc Tống) mộng thấy thần tiên mách bảo bèn lên núi Hoa Cái (華蓋) khai quật một hộp bằng vàng chứa bộ Thiên Tâm Kinh Chính Pháp (心經正法), từ đó lập giáo phái và đặt tên là Thiên Tâm Phái (天心派).

Các đạo sĩ Vương Văn Khanh (王文卿) và Lâm Linh Tố (林靈素, cuối đời Bắc Tống) được Uông Quân Hỏa Sư (汪君火師) truyền cho Phi Thần Yết Đế Đạo (飛神謁帝道) và Triệu Thăng (趙升, đệ tử của Trương Lăng) truyền cho bộ Thần Tiêu Thiên Đàn Ngọc Thư (神霄天壇玉書) nên đặt tên giáo phái là Thần Tiêu Phái (神霄派).

Đạo sĩ Lưu Đức Nhân (劉德仁, đầu đời Kim) được Lão Tử giáng bút dạy cho yếu lĩnh của bộ Đạo Đức Kinh nên lập Đại Đạo Giáo (大道教), sau đổi thành Chân Đại Đạo (真大道).

Lấy khẩu quyết luyện đan

Tiêu biểu nhất là Toàn Chân Đạo 全真道 và Thái Nhất Đạo 太一道.

Đời Kim, Vương Trung Phu 王中孚 (tự là Duẫn Khanh 允卿) gặp tiên Lã Động Tân 呂洞賓 tại trấn Cam Hà 甘河, được Lã Tổ truyền cho khẩu quyết luyện đan là Toàn chân 全真.

Ý nói bảo toàn tam bảo (toàn tinh 全精, toàn khí 全氣, toàn thần 全神) hội tụ trung cung 中宮, kim đan thành tựu.

Vương bỏ Nho theo Đạo, tu luyện tại núi Chung Nam 終南, đổi tên là Vương Triết (chữ Triết gồm 3 chữ Cát 吉), tự là Tri Minh 知明, hiệu là Trùng Dương Tử 重陽子 (người đời hay gọi là Vương Trùng Dương 王重陽).

Từ khẩu quyết luyện đan, Vương Trùng Dương chọn tên của giáo phái là Toàn Chân Đạo.

Đầu đời Kim, đạo sĩ Tiêu Bão Trân 蕭抱珍 xưng là được thần tiên truyền cho Thái Nhất Tam Nguyên Pháp Lục 太一三元法籙, cho nên sáng lập giáo phái là Thái Nhất Đạo 太一道 hoặc Thái Nhất Giáo 太一教, chuyên về phù lục 符籙.

Lấy tên của tổ sư

Trường hợp này có Đông Hoa Phái (東華派), Tử Dương Phái (紫陽派) và Bạch Gia Đạo (帛家道).

Đông Hoa Phái do Ninh Toàn Chân (寧全真) sáng lập.

Đông Hoa là Đông Hoa Thiếu Quân (東華少君, tức Vương Huyền Phủ 王玄甫), đệ tử của Thái Thượng Lão Quân.

Tử Dương Phái (紫陽派) thuộc Toàn Chân Đạo Nam Tông (全真道南宗), thờ Trương Tử Dương (張紫陽, tức Trương Bá Đoan 張伯端) làm tổ sư.

Bạch Gia Đạo (帛家道) xuất hiện đời Ngụy Tấn, lấy tên của vị sáng lập là Bạch Hòa (帛和) làm tên của giáo phái.

Lý Gia Đạo (李家道) xuất hiện đời Ngụy Tấn, lấy tên của tổ sư là Lý Bát Bách (李八百) (cũng gọi Lý Bát Bá 李八伯) làm tên của giáo phái.

Lấy tên của khu vực địa lý

Một số giáo phái lấy một địa danh làm tên (có thể là nguyên quán của tổ sư hoặc khu vực phát khởi giáo phái) thí dụ như: Lâu Quán Đạo 樓觀道, Long Hổ Tông 龍虎宗, Mao Sơn Tông 茅山宗, Các Tạo Tông 閣皂宗 (Cáp Tạo Tông 閤皂宗), Long Môn Phái 龍門派.

Lâu Quán 樓觀 thuộc huyện Chu Chí 周至 tỉnh Thiểm Tây 陝西, tương truyền là nguyên quán của quan lệnh Doãn Hỉ 尹喜.

Vì thờ Doãn Hỉ làm tổ sư nên giáo phái lấy tên là Lâu Quán Đạo.

Mao Sơn Tông 茅山宗 lấy Mao Sơn (núi cỏ mao) làm tổ đình.

Mao Sơn có tên xưa là Cú Khúc Sơn 句曲山, Địa Phế Sơn 地肺山, Cương Sơn 岡山, Kỷ Sơn 己山.

Mao Sơn thuộc hàng động thiên phúc địa rất nổi tiếng, nằm ở giữa hai huyện Kim Đàn 金壇 và Cú Dung 句容 của tỉnh Giang Tô.

Mao Sơn Tông kế thừa Thượng Thanh Phái 上清派.

Đào Hoằng Cảnh 陶弘景 là tổ sư đời thứ 9 của Thượng Thanh Phái (không chú trọng phù lục).

Sau khi quy ẩn 10 năm tại Mao Sơn, ông sáng lập Mao Sơn Tông (coi trọng phù lục), lấy tên núi làm tên giáo phái.

Long Hổ Tông 龍虎宗 là một giáo phái phù lục, do con cháu của Trương Đạo Lăng 張道陵 là Trương Thịnh lấy núi Long Hổ 龍虎 làm trung tâm truyền đạo.

Long Hổ Sơn cũng thuộc hàng động thiên phúc địa, có tên gốc là Vân Cẩm Sơn 雲錦山, nằm phía Tây Nam của huyện Quý Khê 貴溪 tỉnh Giang Tây.

Các Tạo Tông 閣皂宗 (cũng gọi Cáp Tạo Tông 閤皂宗) chuyên về phù lục, là giáo phái phát triển từ Linh Bảo Phái.

Các Tạo Tông hình thành vào đời Bắc Tống, tổ đình là Sùng Chân Vạn Thọ Cung 崇真萬壽宮 trên núi Các Tạo 閣皂 (tức Cáp Tạo 閤皂), nằm phía Đông Nam của huyện Thanh Giang 清江 tỉnh Giang Tây.

Do đó giáo phái lấy tên là Các Tạo Tông 閣皂宗.

Long Môn Phái 龍門派 phát triển từ Toàn Chân Đạo.

Vào đời Minh Thanh, Toàn Chân suy yếu, nên Triệu Đạo Kiên 趙道堅 (một đệ tử của Khưu Xứ Cơ 邱處機) sáng lập Long Môn Phái, và thờ Khưu Xứ Cơ làm tổ sư.

Long Môn là tên núi (nơi Khưu Xứ Cơ tu luyện), tọa lạc ở huyện Lũng 隴 tỉnh Thiểm Tây.

Tên gọi các giáo phái

Số lượng các giáo phái rất nhiều, do bởi quá trình hưng-suy-phân-hợp.

Người ta có thể kể ra một số giáo phái lớn thôi.

Sau đây là 38 giáo phái, phân biệt theo tên gọi (gồm 14 đạo, 16 phái, 7 tông, 1 giáo):

14 giáo phái tên gọi có chữ Đạo

1.

Bắc Thiên Sư Đạo 北天師道

2.

Bạch Gia Đạo 帛家道

3.

Chân Đại Đạo 真大道

4.

Chính Nhất Đạo 正一道

5.

Lâu Quán Đạo 樓觀道

6.

Lý Gia Đạo 李家道

7.

Nam Thiên Sư Đạo 南天師道

8.

Ngoại Đan Đạo 外丹道

9.

Ngũ Đấu Mễ Đạo 五斗米道

10.

Nội Đan Đạo 內丹道

11.

Thái Bình Đạo 太平道

12.

Thái Nhất Đạo 太一道

13.

Toàn Chân Đạo 全真道

14.

Tịnh Minh Đạo 淨明道

16 giáo phái tên gọi có chữ Phái

1.

Diên Hống Phái 鉛汞派

2.

Du Sơn Phái 游山派

3.

Đan Đỉnh Phái 丹鼎派

4.

Đông Hoa Phái 東華派

5.

Kim Sa Phái 金砂派

6.

Linh Bảo Phái 靈寶派

7.

Long Môn Phái 龍門派

8.

Nam Vô Phái 南無派

9.

Ngộ Tiên Phái 遇仙派

10.

Phù Lục Phái 符籙派

11.

Thanh Vi Phái 清微派

12.

Thần Tiêu Phái 神霄派

13.

Thiên Tâm Phái 天心派

14.

Thượng Thanh Phái 派上清

15.

Tử Dương Phái 紫陽派

16.

Tùy Sơn Phái 隨山派

7 giáo phái tên gọi có chữ Tông

1.

Bắc Tông 北宗

2.

Các Tạo Tông 閣皂宗

3.

Kim Đan Phái Nam Tông 金丹派南宗

4.

Long Hổ Tông 龍虎宗

5.

Mao Sơn Tông 茅山宗

6.

Nam Bắc Tông 南北宗

7.

Nam Tông 南宗

1 giáo phái tên gọi có chữ Giáo

1.

Huyền Giáo 玄教

Đặc điểm của các giáo phái

Cho dù các giáo phái đã phát khởi thế nào, tên gọi dị biệt ra sao, nhưng tất cả đều giống nhau ở tín ngưỡng cơ bản và mục đích tu luyện.

Tín ngưỡng cơ bản của họ là Đạo (theo quan niệm của Lão Tử) và mục đích tu luyện là trường sinh bất tử, đắc đạo thành tiên.

Từ quan niệm nền tảng là Đạo, các giáo phái đã kế thừa và phát triển để biến nó thành một thứ thế giới quan triết học (hay phương pháp luận) của bản môn, mà từ đó họ thiết kế một phương pháp tu luyện phù hợp.

Đó là tính chất chung (cộng tính 共性) của các giáo phái; nhưng ngoài ra, mỗi giáo phái cũng có tính chất riêng (cá tính 個性) của mình.

Cái cá tính đó phát xuất từ cách lý giải tín ngưỡng cơ bản và mục tiêu tu luyện, cũng như các phương pháp thực hành.

Ngay giai đoạn phát triển ban đầu của Đạo giáo, các giáo phái đều có chung mục tiêu là trường sinh và thành tiên, nhưng cách thực hành thì khác nhau: hoặc họ thực hành trai tiêu (tức là thể thức cúng tế), hành khí, đạo dẫn, tồn thần, thủ nhất, v.v... (gọi chung là luyện hình 煉形); hoặc họ tìm cách chế biến đan dược (bằng các thứ chu sa, diên, hống, các dược thảo, v.v...) làm thuốc trường sinh và ăn vào để thành tiên (gọi chung là ngoại đan 外丹); hoặc họ vận nội công hấp khí đại tiểu chu thiên, v.v... (gọi chung là nội đan 內丹; nội ngoại đan gọi chung là đan đỉnh 丹鼎); hoặc họ dùng phù lục, bùa chú, cầu đảo, pháp thuật, v.v... (gọi chung là phù lục 符籙).

Dần dần các thứ ngoại đan phù lục bị xem là tà đạo, chỉ còn chủ trương nội đan luyện dưỡng là được duy trì mà thôi.

Cho dù phương pháp dị biệt, nhưng quan niệm thành tiên của các giáo phái trong giai đoạn ban đầu của Đạo giáo là «nhục thể và tinh thần cùng tồn tại» (nhục thể dữ tinh thần cộng tồn 肉體與精神共存), hiểu rằng bất tử tức là nhục thể bất tử.

Do đó phép tu luyện là nhắm vào luyện thần và luyện hình, để thần (tinh thần) và hình (nhục thể) đều huyền diệu (hình thần câu diệu 形神俱妙), nhờ đó thân thể bay được lên trời (nhục thể phi thăng 肉體飛升), giống như truyền thuyết "Hoàng Đế bạch nhật thăng thiên" (Hoàng Đế bay lên trời giữa ban ngày).

Không những nhục thể, mà điền sản nhà cửa cũng có thể bay theo lên trời.

Đến khi Toàn Chân Đạo phát khởi (vào đầu đời Kim), quan niệm nhục thể bất tử bị xem là quan niệm ngu xuẩn, không thấu đạt đạo lý.

Trái lại, bất tử phải hiểu là chân tính 真性 hay dương thần 陽神 bất tử, thoát xác để quay về với Đại Đạo; còn cái thân huyết nhục giống như cái áo, phải cởi bỏ tại thế gian.

Về mặt tín ngưỡng cơ bản, các giáo phái như Ngũ Đấu Mễ Đạo, Thái Bình Đạo, Bạch Gia Đạo, Lý Gia Đạo, v.v... cũng có sự dị biệt.

Các giáo phái này sáng lập vào giai đoạn ban đầu của Đạo giáo; giáo nghĩa (ý nghĩa của giáo phái) và giáo quy (nội quy của giáo phái) không hoàn bị, mang tính chất mù quáng.

Các giáo phái này phát sinh từ quần chúng như một phong trào phản kháng giai cấp thống trị, tức là một hình thức nông dân khởi nghĩa, chẳng hạn như Trương Giác 張角 lợi dụng Thái Bình Đạo để dấy động cuộc đại khởi nghĩa gọi là Hoàng Cân khởi nghĩa 黃巾起義 mà sách sử hay gọi là loạn giặc Khăn Vàng.

Giữa đời Hán, Trương Tu 張修 thống lĩnh một cánh quân của Ngũ Đấu Mễ Đạo để hưởng ứng Hoàng Cân.

Cuối đời Hán của thời Tam Quốc, Bạch Gia Đạo và Lý Gia Đạo cũng khởi nghĩa.

Đến đầu đời Tấn, đệ tử của Lý Thoát 李脫 là Lý Hoằng 李弘 (tự xưng là hoá thân của Lão Quân) khởi nghĩa ở núi Hoắc Sơn 霍山 thuộc tỉnh An Huy.

Ngũ Đấu Mễ Đạo thời Tam Quốc bị Trương Lỗ 張魯 lợi dụng, thiết lập tại Hán Trung 漢中 một chính quyền kết hợp giữa chính trị và tôn giáo kéo dài gần 30 năm.

Sau khi chính quyền Trương Lỗ bị diệt, Ngũ Đấu Mễ Đạo do Trần Thụy 陳瑞 lãnh đạo tại Thục 蜀.

Rồi Lý Đặc 李特 và Lý Hùng 李雄 lãnh đạo các lưu dân khởi nghĩa.

Với sự trợ giúp của một đầu lĩnh của Ngũ Đấu Mễ Đạo là Phạm Trường Sinh 范長生, họ chiếm được Thành Đô, xây dựng một thứ chính quyền nhà Hán, kéo dài hơn 40 năm.

Sau khi Ngũ Đấu Mễ Đạo truyền vào Giang Nam, vào cuối đời Đông Tấn, lại bạo phát cuộc khởi nghĩa của Tôn Ân 孫恩 và Lư Tuần 盧循, làm cho nhà Đông Tấn mau chóng bị diệt vong.

Cuối đời Hán về sau vẫn không ngừng xảy ra các vụ khởi nghĩa của các giáo phái.

Nói chung, trong giai đoạn ban đầu của Đạo giáo, các giáo phái đa số mang tính chất chống triều đình.

Đến đời Nam Bắc Triều, các đạo sĩ như Khấu Khiêm Chi 寇謙之, Lục Tu Tĩnh 陸修靜, v.v...

đều xuất thân từ giới sĩ tộc.

Họ dùng luân lý Nho gia để cải cách tính chất chống lại triều đình này; và giáo lý tăng cường nội dung trung hiếu để các đạo giáo thích ứng bản chất của chế độ phong kiến.

Có lẽ đây là một trong các lý do mà các Thiện Thư (sách khuyến thiện) một mực đề cao luân lý tam giáo, nhất là luân lý trung hiếu của Nho giáo.

Các giáo phái một mặt ảnh hưởng qua lại với nhau, một mặt hấp thu tinh túy của Nho và Phật giáo.

Kể từ đời Đường và đời Tống, tư tưởng Tam giáo hợp nhất là một trào lưu rất thịnh hành.

Như Tịnh Minh Đạo chịu ảnh hưởng sâu đậm Nho giáo; còn Toàn Chân Đạo thì ngay từ lúc lập giáo, lý luận tu luyện đã mang màu sắc Thiền Tông.

Về mặt cơ cấu tổ chức, các giáo phái có cơ cấu hoàn bị và tự trị; nhưng càng về sau thì chịu sự giám sát, quản lý của triều đình.

Thuở đầu khi Trương Lăng 張陵 sáng lập, Ngũ Đấu Mễ Đạo có 24 đơn vị giáo khu gọi là 24 Trị 治.

Sau đó, khi Trương Lỗ cát cứ và thống trị Hán Trung 漢中, cái chế độ chính trị và tôn giáo hợp nhất này ấn định chức Tế tửu 祭酒 như là một đầu lĩnh chính trị kiêm tôn giáo của mỗi Trị.

Chế độ Tế tửu này suy tàn khi chính quyền Hán Trung bị tiêu diệt.

Cuối đời Đông Tấn, các phái Thượng Thanh và Linh Bảo thiết lập chế độ Đạo Quán (viết là 道館 hoặc 道觀) làm nơi quy tụ tín đồ và thực hành lễ nghi cũng như tu tập.

Tại mỗi quán, dần dần hình thành chế độ quản lý và giới luật.

Từ đời Tùy, đời Đường, các quán 館 (觀) nhỏ vẫn gọi là quán, còn các quán lớn thì gọi là cung 宮.

Từ Nam Bắc Triều, triều đình ấn định chế độ kiểm soát các giáo phái.

Đời Nguyên, chế độ kiểm soát càng nghiêm mật.

Triều đình lập Tập Hiền Viện 集賢院 để quản lý các giáo phái.

Các giáo phái đều tuân theo khu vực hành chánh của nhà Nguyên: ở mỗi Lộ 路 triều đình lập một Đạo Lục Ty 道錄司, đứng đầu là Đạo Lục 道錄 hay Đạo Phán 道判.

Ở mỗi Châu 州 thì có Đạo Chính Ty 道正司, đứng đầu là Đạo Chính 道正 hay Đạo Phán 道判.

Ở mỗi Huyện 縣 thì có Uy Nghi Ty 威儀司, đứng đầu là Uy Nghi 威儀.

Người cai quản một cung hay quán gọi là Trụ trì 住持, hay Đề Cử 提舉, hay Đề Điểm 提點.

Qua đời Minh, tại Kinh Sư có Đạo Lục Ty 道錄司 tổng quản lý Đạo giáo.

Ở mỗi Phủ có Đạo Kỷ Ty 道紀司, mỗi Châu có Đạo Chính Ty 道正司, mỗi Huyện có Đạo Hội Ty 道會司.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tứ Đại Hung Thú Thượng Cổ


Trong truyền thuyết thời thượng cổ Trung Quốc, tứ đại hung thú bao gồm hóa thân của bốn danh thần sau khi chết, tức Tam Miêu, Hoan Đâu, Cổn và Công (sau này sẽ 1 bài viết về những người này), bởi vì làm nhiều việc ác, không tu đức, bị giáng chức hạ phàm mà hóa thành hung thú, trở thành: Thao Thiết, Hỗn Độn , Đào Ngột và Cùng Kỳ.

Hỗn Độn

Đào Dị Kinh nói: Tây Côn Luân có giống thú dáng như chó, lông dài, bốn chân, giống như gấu mà không có vuốt, có mắt mà không mở được, không thấy được, có tai mà không thể nghe ,có bụng mà không có ngũ tạng.

Mâu thuẫn với người có hạnh đức, nương nhờ vào kẻ có hung đức.

Xưng là Hỗn Độn .

Hỗn Độn là do oán khí của Hoan Đâu khi chết hóa thành, là một hung thần thời thượng cổ với dáng vẻ giống chó hoặc gấu.

Người không có cách nào nghe thấy nó, cũng không thể nhìn thấy nó.

Nó thường hay cắn đuôi mình và ngửa mặt lên trời cười.

Hỗn Độn không sống trong vô vi.

Nếu như gặp người cao thượng, Hỗn Độn sẽ ngấu nghiến người đó.

Nếu như gặp kẻ ác nhân, Hỗn Độn sẽ tuân theo sự chỉ huy của kẻ đó.

Hỗn Độn bởi vì đã hỗn lại loạn cho nên hậu thế không cho rằng "Hỗn Độn có phần người.

Sử ký "Ngũ Đế bản kỷ thứ nhất" có nói: "Xưa kia Đế Hồng thị có con trai bất tài, che giấu tặc tử để làm điều hung ác, thiên hạ gọi là Hỗn Độn ."

Càng thêm hình tượng nguyên thủy của Hỗn Độn xuất phát từ Sơn Hải Kinh – Tây Thứ Tam Kinh: "Có thần yên, dáng như hoàng nang ( 1 cái túi màu vàng), đỏ như đan hỏa, sáu chân bốn cánh, mắt đục ngầu, có nhận thức, biết ca múa hát, thật là Đế Giang."

Cùng Kỳ

Thần Dị Kinh có nói: "Tây Bắc có giống thú như hổ, có cánh, bay được, giết người ăn thịt, biết ngôn ngữ loài người, đấu văn nhân thì ăn hết người, đấu trung tín thì ăn mũi người, đấu ác nhân thì dâng thú cho họ, tên là Cùng Kỳ."

Đây là hung thú đại ác.

Cùng Kỳ là ác thần thượng cổ của Trung Quốc, có dáng như trâu, ngoại hình như hổ, khoác trên da lớp lông như nhím, mọc cánh.

Cùng Kỳ có tiếng kêu giống chó, ăn thịt người.

Nghe nói Cùng Kỳ thường xuyên bay đến những nơi đánh nhau để ăn mũi của người tốt; nếu có người làm việc ác, Cùng Kỳ sẽ bắt dã thú tặng cho kẻ đó, đồng thời cổ vũ hắn làm nhiều chuyện xấu hơn.

Cổ nhân cũng hay gọi những kẻ xa quân tử, gần tiểu nhân, hay có ý đồ bất chính là Cùng Kỳ.

Về sau "Cùng Kỳ" dùng để ví von những người bội bạc.

Tả truyện Văn Công Thập Bát Niên có nói: "Thiếu Hạo thị có con trai bất tài, hủy tín ác trung, sùng bái ác ngôn, thiên hạ gọi là Cùng Kỳ."

Thuấn (vua Thuấn) đày nó đi, "Dời đến bốn đời, làm yêu ma quỷ quái".

(Thiếu Hạo là Thiên Đế phương Tây, một trong ngũ phương Thiên Đế trong thần thoại, mẹ là Hoàng Nga, cha là Bạch Đế Tử – tức Thái Bạch chi tinh)

Thế nhưng Cùng Kỳ cũng có một mặt có ích.

Trong những nghi thức khu quỷ hay Đại Na (xem Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân – Chương 427 để biết thêm thông tin) có mười hai loại ác quỷ mãnh thú, xưng là thập nhị thần thú, Cùng Kỳ chính là một trong số đó.

Đào Ngột

Thần Dị Kinh- Tây Hoang Kinh có nói: "Tây hoang có giống thú dáng to như hổ, lông dài hai thước, chân hùm mặt người, đuôi dài một trượng tám thước, nhiễu loạn Tây hoang, tên là Đào Ngột".

Mạnh Tử – Ly Lâu Hạ có viết: "Tấn chi Thừa, Sở chi Đào Ngột, Lỗ chi Xuân Thu, nhất dã."

Thừa, Đào Ngột và Xuân Thu đều là tên trong quốc sử, mà Sở sử chuyên gọi là Đào Ngột.

Đào Ngột là thượng cổ hung thú.

Về sau Đào Ngột được dùng để ví von những người hung ác, cố chấp không chịu thay đổi thái độ.

Tả truyện Văn Công Thập Bát Niên có nói: "Chuyên Húc thị có con trai bất tài, không thể giáo huấn, không lựa lời phát ngôn, bảo ban thì bướng, bỏ thì lại quậy, kiêu ngạo hung tàn, thường xuyên làm loạn, dân trong thiên hạ gọi là Đào Ngột".

Vì là ác nhân không thể giáo huấn, nên khi chết hóa thành thượng cổ ma thú trứ danh – Đào Ngột.

Thao Thiết

Sơn Hải Kinh – Bắc Sơn Kinh thuật lại: "Trên núi Câu Ngô có nhiều ngọc quý, dưới núi có nhiều quặng đồng.

Tại đây có một giống thú thân dê mặt người, mắt nằm dưới nách, răng hổ móng người, tiếng như hài nhi, gọi là Bào Hào, còn ăn thịt người".

Theo chú giải của Quách Phác triều Tấn, Bào Hào ý chỉ Thao Thiết.

Trên đại đỉnh Ân Chu thường khắc những đồ hình Thao Thiết, đầu dữ tợn, hai mắt sáng ngời, dáng vẻ thịnh nộ, mũi lồi ra; trên đầu có một đôi sừng thú uốn lượn, hai chân cũng uốn lượn giống như vô định phương hướng, có lúc giống như sừng dê, có lúc lại giống như sừng trâu; miệng lớn nhe ra, răng nhọn như lưỡi cưa, miệng hơi cong vào bên, hoặc miệng ngậm chặt.

Ngồi xổm, khom lưng, đầu chạm đất hoặc cưỡi lên mây, hai bên có một cặp móng vuốt sắc bén như móng chó hoặc hổ.

Hai bên đầu có hai cái lỗ tai như hai cục thịt.

Những người giàu có tham lam được hậu thế ví như Thao Thiết.

Tả truyện Văn Công Thập Bát Niên có nói: "Tấn Vân thị có con trai bất tài, tham ăn tục uống, tham ô hối lộ, thiên hạ gọi là Thao Thiết".

Trong truyền thuyết Hiên Viên Hoàng Đế đại chiến Xi Vưu, Xi Vưu bị trảm, đầu rơi xuống đất hóa thành Thao Thiết.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tứ Phương Quỷ Khấu


Nhân gian tứ phương quỷ Khấu, nguyên bản đều là trời giáng sát tinh, sinh tiền giết người vô số, sau khi chết đều ở lăng mộ bố trí Kỳ Môn trận pháp, không rơi vào luân hồi, lấy lăng mộ làm trụ cột, tụ lại sinh tiền binh sĩ Âm Hồn, còn có Qủy Hồn bị dụ dỗ lôi kéo, hình thành thế lực chiếm lĩnh một phương, hình thành nhất phương cắt cứ thế lực, ở pháp thuật giới xưng là tứ đại Sát Thần.

Trong bộ truyện Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân có nhiều lần nhắc tới Tứ Phương Quỷ Khấu, và một trong số đó cũng sẽ xuất hiện trong những chap sau này.

Bắc phương sát thần – Thiết Mộc Chân – Thành Cát Tư Hãn

Thành Cát Tư Hãn (tên tiếng Mông Cổ: Чингис хаан, Çingis hán; tiếng Mông Cổ: [tʃiŋɡɪs xaːŋ] (nghe); phiên âm Hán: 成吉思汗; 1162[1]-1227) là một Khả hãn Mông Cổ và là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đông bắc châu Á năm 1206.

Ông là một nhà quân sự lỗi lạc và quan trọng của lịch sử thế giới, ông được người Mông Cổ dành cho sự tôn trọng cao nhất, như là một vị lãnh đạo đã loại bỏ hàng thế kỷ của các cuộc giao tranh, mang lại sự thống nhất cho các bộ lạc Mông Cổ.

Cháu nội của ông và là người kế tục sau này, Khả hãn Hốt Tất Liệt đã thiết lập ra triều đại nhà Nguyên của Trung Quốc.

Tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 3 (1266), Hốt Tất Liệt đã truy tôn Thành Cát Tư Hãn miếu hiệu là Thái Tổ, nên ông còn được gọi là Nguyên Thái Tổ.

Thụy hiệu khi đó truy tôn là Thánh Vũ Hoàng đế.

Tới năm Chí Đại thứ 2 (1309), Nguyên Vũ Tông Hải Sơn gia thụy thành Pháp Thiên Khải Vận.

Từ đó thụy hiệu của ông trở thành Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng đế.

Các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn trên khắp khu vực Á-Âu để bành trướng lãnh thổ đã đem lại sự thống nhất và phát triển giao lưu buôn bán, đồng thời ông cũng thi hành chính sách tự do tôn giáo, cho phép tín đồ mọi tôn giáo được tự do hành đạo.

Tuy nhiên, Thành Cát Tư Hãn cũng nổi tiếng bởi sự tàn bạo với những người phản kháng.

Thành Cát Tư Hãn bị nhiều dân tộc coi là hiện thân của sự tàn bạo, nhất là từ Trung Á, Đông Âu và Trung Đông (là những nơi đã từng bị quân đội Mông Cổ thảm sát hàng loạt).

Theo một số ước tính, đội quân của Thành Cát Tư Hãn đã giết hơn 40 triệu người tại các lãnh thổ mà họ xâm chiếm[2]

Có rất nhiều nhân vật nổi tiếng được cho là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, là những kẻ đi xâm chiếm nhiều đất đai về tay mình như Timur Lenk, kẻ chinh phục dân Thổ Nhĩ Kỳ, Babur, người sáng lập ra đế quốc Mogul trong lịch sử Ấn Độ.

Những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn còn tiếp tục cai trị Mông Cổ đến thế kỷ XVII cho đến khi nó bị Đế quốc Thanh của người Mãn Châu thống trị lại.

Phía nam Sát Thần Trương Hiến Trung

Trương Hiến Trung (chữ Hán: 张献忠, 18/09/1606 – 02/01/1647), tên tự là Bỉnh Trung, hiệu là Kính Hiên, người bảo Giản, huyện Liễu Thụ, vệ Duyên An[1], là lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối đời nhà Minh, từng kiến lập chính quyền Đại Tây; đồng thời với Lý Tự Thành, người kiến lập chính quyền Đại Thuận.

Trương Hiến Trung lúc nhỏ gia cảnh nghèo khó, đã được học chữ, lớn lên tham gia quân đội, từng làm bộ khoái của phủ Duyên An, về sau bị cách chức, nên tòng quân ở trấn Duyên Tùy.

Vì phạm pháp nên bị xử chém, chủ tướng Trần Hồng Phạm thấy tướng mạo của ông lạ lùng, bèn xin quan Tổng binh Vương Uy, thay bằng phạt đòn, đánh ông 100 côn.

Từ đó Trương Hiến Trung quanh quẩn ở trong làng.

Cuối những năm Thiên Khải (1620 – 1627), tỉnh Thiểm Tây đã chịu nhiều tai ương.

Do hạn hán kéo dài, mất mùa liên tiếp, người Phủ Cốc là Vương Gia Dận chiếm cứ núi Hoàng Long, hiệu triệu dân đói ở Thiểm Bắc khởi nghĩa; tiếp theo là Vương Tả Quải ở Nghi Xuyên, Cao Nghênh Tường ở An Trại, Trương Tồn Mạnh ở Lạc Xuyên, Vương Tự Dụng ở Duyên Xuyên, Vương Đại Lương ở Hán Nam... nối nhau hưởng ứng.

Năm Sùng Trinh thứ 3 (1630), Trương Hiến Trung tại quê nhà tụ tập 18 trại nông dân, tổ chức thành đội ngũ, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Vương Gia Dận, tự đặt hiệu là "Bát đại vương".

Vì ông người cao gầy mà mặt vàng nhỏ, râu dài 1 thước 6 tấc, tráng kiện, mạnh mẽ, quả cảm, hào hiệp, trong quân gọi ông là "hoàng hổ".

Ban đầu ông chỉ huy 1 đội, sau trở thành chỉ huy của 1 cánh quân.

Bộ chúng của ông trở thành doanh binh mạnh nhất trong 36 doanh mà Vương Tự Dụng làm minh chủ.

Trương Hiến Trung theo nghĩa quân chiến đấu ở Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Tứ Xuyên..., liên tiếp lập chiến công.

Đông Phương Sát Thần Đa Nhĩ Cổn

Đa Nhĩ Cổn (chữ Hán: 多爾袞; Mãn Châu: Dorgon.png; 17 tháng 11 năm 1612 – 31 tháng 12 năm 1650), còn gọi Duệ Trung Thân vương (睿忠親王), là một chính trị gia, hoàng tử và là một Nhiếp chính vương có ảnh hưởng lớn trong thời kì đầu nhà Thanh.

Ông giữ ngôi vị Đại Thanh Hoàng phụ Nhiếp Chính vương (大清皇父摄政王), toàn quyền nhiếp chính triều chánh dưới thời Thanh Thế Tổ Thuận Trị hoàng đế.

Bằng tài năng vượt trội của mình, ông đã giúp quân Thanh thuận lợi vào Sơn Hải quan tấn công quân Lý Tự Thành và đánh dẹp các thế lực nhà Nam Minh, đặt nền móng vững chắc cho triều đại nhà Thanh thống nhất Trung Hoa.

Chính thái độ ẩn nhẫn của Đa Nhĩ Cổn đã giúp ông thoát khỏi hàng loạt vụ thanh trừng của anh mình.

Tuy vậy, nhằm đề phòng ảnh hưởng của anh em Đa Nhĩ Cổn, sau khi lên ngôi Hoàng đế Đại Thanh, năm 1636, Hoàng Thái Cực thu lại quyền lãnh đạo 2 Hoàng kỳ vốn rất trung thành với vua cha, đang thuộc quyền lãnh đạo của anh em Đa Nhĩ Cổn, với lý do đây là những Kỳ thuộc quyền Hoàng đế.

Để xoa dịu, ông ta đổi lại 2 Bạch kỳ vốn trung thành với mình và phong cho Đa Nhĩ Cổn làm Hòa Thạc Duệ Thân vương (和碩睿親王).

Nhận thấy thời cơ vẫn chưa chín muồi, Đa Nhĩ Cổn đành nuốt hận.

Ông nhẫn nhịn theo phò Đại Hãn Nam chinh Bắc chiến, thu phục Triều Tiên, chinh phạt Mông Cổ, nhiều lần đem quân đánh nhà Minh.

Khi Hoàng Thái Cực chết, hai Kỳ Trắng do anh em ông lãnh đạo đã mở rộng dần từ 50 Niru (tức khoảng 15.000 người) lên đến 65 Niru (khoảng 19.500 người), chiếm hơn 31% quân số của Bát Kỳ.

Tây Phương Sát Thần Bạch Khởi

Bạch Khởi (chữ Hán: 白起; ? – 257 TCN) là danh tướng vô địch của nước Tần trong thời Chiến Quốc, lập nhiều công lao, góp phần lớn chiến tích trong việc thống nhất Trung Quốc của nước Tần, được phong tước Vũ An quân (武安君), giữ chức Đại lương tạo, chức quan coi hết việc quân của nước Tần.

Ông được đánh giá là vị tướng lĩnh tài năng nhất trong bốn vị đại tướng thời Chiến Quốc, 3 người còn lại là Vương Tiễn, Liêm Pha và Lý Mục.

Vì khi sống Bạch Khởi giết nhiều người nên người đương thời gọi ông là Nhân đồ (人屠).

Nước Tần nằm cạnh ba nước Hàn, Triệu, Nguỵ vốn tách ra từ nước Tấn nên gọi là Tam Tấn.

Trên con đường thống nhất Trung Hoa, nước Tần chủ trương "đánh gần, thân xa", nghĩa là kết thân với các nước ở xa trước như Yên, Tề và đánh các nước chung biên giới như Tam Tấn và Sở.

Nước Sở hùng cường đất rộng chưa dễ đánh chiếm nên mục tiêu đầu tiên của Tần là Tam Tấn.

Trong Tam Tấn, chính quyền và quân đội không phải không đủ mạnh nhưng giữa 3 nước có thế "môi răng" này lại hay có hiềm khích.

Sự liên minh giữa các nước này thưòng lỏng lẻo và không bền vững.

Vì thế nước Tần thường tận dụng sự mâu thuẫn đó để giành lấy lợi thế.

Năm 294 TCN, Bạch Khởi giữ chức Tả thứ trưởng, đem quân Tần đi đánh nước Hàn, chiếm được Tân Thành.

Chiến dịch đó đã thể hiện tài năng quân sự vượt trội của ông, được quan tướng quốc mới nhậm chức là Ngụy Nhiễm rất mến mộ.

Năm đó Ngụy Nhiễm tiến cử Bạch Khởi lên vua Tần Chiêu Tương vương, phong làm tướng.

Năm 293 TCN, Bạch Khởi cầm quân đánh nước Hàn ở phía đông, đánh bại liên quân giữa nước Ngụy và nước Hàn ở Y Khuyết (ngọn núi này thuộc vùng tây nam Lạc Dương, tỉnh Hà Nam).

Trong trận này, lợi dụng sự nhút nhát của quân đội hai nước đùn đẩy nhau đi tiên phong, Bạch Khởi chủ động đánh vào đạo quân Hàn yếu hơn, kết quả quân Hàn tan rã.

Ông thừa thắng truy kích đánh bại cả hai đạo quân của hai nước, chém 24 vạn thủ cấp, làm kinh động cả hai nước Hàn, Ngụy.

Trận Y Khuyết này cũng là một trong những trận đánh lớn thời Chiến Quốc.

Năm 280 TCN, Bạch Khởi chỉ huy binh mã đánh Triệu, quân Triệu đại bại, quân Tần chiếm được thành Quang Lang.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Thái Ất Phất Trần


Dưới đây là thông tin chung về phất trần, không nói riêng về Thái Ất Phất Trần của Mao Sơn mà Diệp Thiếu Dương hay dùng.

Thiều gia giản giới:

Phất trần (拂 = phất qua phớt lại, 麈 = bụi trần, bụi trên trần thế, bụi hồng trần; phất trần 拂 麈 = 拂尘.

Phiên âm: fú chén) là danh từ gốc Hán dùng để chỉ một thứ "chổi" đặc biệt chuyên dùng để xua tà khí, quét "hồng trần" trong các nghi thức tôn giáo xưa, đặc biệt là nghi lễ của Phật giáo và Đạo gia Trung Quốc.

Với Thiền tông, người ta thường thấy các vị Bồ Tát, Trưởng giả, các sư Trụ trì tay cầm phất trần mỗi khi đăng đường thuyết pháp hoặc khi tiến hành các cuộc đại lễ của Phật môn.

Và vì vậy, đối với giới tăng ni phật tử Thiền môn thì "phất trần" không những được coi là thứ "pháp khí" không thể thiếu để tiến hành các nghi lễ mà còn là biểu tượng của sự trang nghiêm.

Với Đạo gia, phất trần được dùng với dụng ý là quét sạch bụi "trần duyên" khiến con người trở nên "siêu phàm thoát tục".

Trong các thư tịch, kinh văn của Đạo gia, trong thi ca hội họa cổ... khi đặc tả thần thái tiêu dao tự tại, Tiên phong hạc cốt của các bậc chân nhân như Thái Thượng Lão Quân, Lữ Động Tân, Thái Ất Chân nhân...

đều không thể thiếu cây phất trần, sự uy phong thần vũ của các vị đều là "Các hiển thần thông" của phất trần.

Đối với Đạo gia, phất trần không chỉ đơn thuần là "pháp khí" khi đăng đàn hành lễ mà còn để xua ruồi đuổi muỗi, đuổi côn trùng... và quan trọng hơn, phất trần còn là thứ vũ khí dùng để tấn công phòng vệ vô cùng lợi hại.

Do lấy phất trần làm vũ khí để phòng thân, tự vệ nên phất trần là vật "Bất khả ly thân", kể cả lúc hành đại lễ cũng như khi vân du ngoài thế tục.

Tục ngữ cổ có câu: "Thủ nả phất trần bất thị phàm nhân" (kẻ mà trên tay cầm phất trần tất không phải là người thường) cũng xuất phát từ việc này.

Phất trần xưa có tên gọi là súy tử, về sau lại gọi là trần vĩ, vân triển, phất tử...

Phất trần được tạo thành bởi 2 bộ phận: một phần dùng để cầm tức cái cán thường được làm bằng gỗ gọi là "bỉnh" hay "bính" và phần kia là do lông loài thú hoặc sợi bện lại mà thành.

Do được hình thành dựa trên nền tảng võ thuật, tuân thủ nghiêm mật qui luật âm dương ngũ hành cùng với triết lý vô vi của Đạo giáo nên bài quyền hễ vũ động thời như "Thiên mã hành không", thần thái phiêu dật, tiên phong hạc cốt.

Tuy hình thành dựa trên nền tảng "vô vi" của Lão Trang nhưng không vì thế mà các chiêu thức của bài "võ phất trần" trở nên hời hợt và lạc lỏng mà ngược lại nó không những có kết cấu chặt chẽ, có sự tương quan mật thiết, công thủ kiêm bị, khai hợp khẩn tấu.

Về kỹ thuật, phất trần vận dụng một cách linh hoạt các kỹ thuật của Đao pháp, thương pháp, côn pháp, kiếm pháp v.v. trong đấy lấy phách, lạp, triền, đẩu, tảo... làm nền tảng của hoạt động công thủ do vậy kỹ thuật công kích rất phong phú đa dạng, mới lạ và cực kỳ hấp dẫn.

Yêu cầu khi luyện: Hình với Ý hợp, Ý với Khí hợp, Khí với Thần hợp.

Khi thi triển cần phải đạt đến độ thần thái tiêu dao, an nhiên tự tại, động tác nọ phải nối tiếp động tác kia, liên miên bất đoạn, nhất khí hợp thành.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tỳ Hưu Ấn


Tỳ Hưu tiếng Trung Quốc 貔貅 Phiên âm: pinyin: pí xiū.

Tỳ Hưu là linh vật có hình dáng hao hao giống Kỳ Lân và thường Tỳ Hưu được thờ phụng với ngụ ý nghĩa mang tới sự tài lộc bình an cho người sở hữu chúng.

Tỳ Hưu lại là một linh thú có vẻ đầu Lân, thân gấu toàn thân được bao bao bọc bới lớp vẩy như rồng, trên đầu có sừng, lưng có cánh.

Theo nhân gian truyền tụng, Tỳ Hưu có hai loại với tên gọi và ý nghĩa khác nhau.

Thiên Lộc: Đây là loại Tỳ Hưu có dáng vẻ uy phong, bụng và mông to, miệng rất rộng trên đầu có 2 Sừng.

Thức ăn chính của Tỳ Hưu Thiên Lộc là Vàng, Bạc và Châu Báu.

Ý nghĩa phong thủy của Tỳ Hưu Thiên Lộc là bảo vệ của cải, mang lại sự giàu sang cho gia chủ

Tịch Tà: Đây là loại Tỳ Hưu có miệng luôn há rộng vẻ ngoài luôn toát sự dữ tợn trên đầu có duy nhất 1 sừng trên đầu.

Theo truyền thuyết Tỳ Hưu Tịch Tà thường dùng sừng của mình để tấn công các loại yêu ma, thức ăn của Tịch Tà chính là các sinh khí của yêu ma.

Tịch Tà được xem là linh vật phong thủy mang xua đuổi tà ma, mang lại sự bình an cho gia chủ

Hầu như nhắc đến con linh vật nào thì cũng gắn với một truyền thuyết nào đó.

Đối với Tỳ Hưu cũng vậy, truyền thuyết tỳ hưu là một câu chuyện đầy bí ẩn và thú vị liên quan tới các vì Vua trong lịch sử Trung Hoa.

Theo truyền thuyết kể lại thì loài rồng sinh ra 9 đứa con là: Si vẫn, Phụ hí, Bệ ngạn, Bí hí, Toan nghê, Bồ lao, Trào phong, Nhai xế và Tỳ Hưu là đứa con thứ 9.

Sở hữu thân hình với bề ngoài đẹp nhất, ở Tỳ Hưu luôn toát lên vẻ đẹp tuyệt vời mà trong 9 đứa con của rồng không có con nào có được.

Vẻ đẹp đó của Tỳ Hưu là sở hữu tất cả những thứ đẹp nhất của các loài vật khác: đầu như Kỳ Lân, có sừng trên đầu, thân to như thân gấu, trên lưng có cánh.

Nhưng trên đời này vốn đâu có sự hoàn hảo, khi sinh ra Tỳ Hưu đã mang trong mình dị tật là không có hậu môn.

Sinh ra chưa được vài ngày thì Tỳ Hưu chết, chết từ khi còn rất bé, làm cho Ngọc Hoàng cảm động nên cho về làm linh vật nhà trời chuyên phò trợ về tài lộc.

Có truyền thuyết còn cho rằng khi gặp khó khăn về tiền bạc lo quốc sự, Minh Thái Tổ trong việc tạo lập nghiệp, ngân khố nhà Minh gần như cạn kiệt, nhà vua lo lắng không yên.

Vì quá lo lắng, đêm đêm về thì nằm mơ, trong giấc mơ đó nhà vua thấy một con linh vật to lớn, đầu như đầu sư tử, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện đang ra sức nuốt những thỏi vàng.

Sự xuất hiện giấc mơ kì lạ đó, nhà vua đã mời thầy phong thủy về để lý giải chuyện này, và biết được rằng khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài, đất ấy là đất linh.

Vua đã cho xây dựng một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm Thành, ngay tại nơi mà Tỳ Hưu xuất hiện.

Sau đó, nhà vua tạc tượng tỳ hưu bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu "Tài môn", từ đó mà nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.

Vì theo người Hồng Kông thì chữ "Vương" thêm một dấu chấm thì thành chữ "Ngọc", chính vì thế mà Tỳ Hưu làm bằng "ngọc" sẽ đem lại nhiều may mắn, làm ăn thuận lợi.c.

Một truyền thuyết khác kể rằng khi Thương Hiệt thời thương cổ đi tìm dấu vết các loài để chế ra chữ viết có bắt gặp một vết chân lạ.

Ông hỏi một người thợ săn thì được biết đó là con tỳ hưu.

Người thợ săn còn cho biết thêm loài thú này rất hung dữ và ít khi xuất hiện.

Lại còn truyền thuyết Tỳ Hưu với Hòa Thân: Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại.

Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường.

Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật "dưới một người trên triệu triệu người".

Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổ tiếng "Những gì nhà vua có thì Hòa Thân có, còn những gì Hòa Thân có thì vua chưa chắc đã có".

Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có.

Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ.

Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua.

Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hòa Thân là ngọc phỉ thúy xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng bạch ngọc.

Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Đả Thần Tiên


*Đây là pháp khí của Côn Lôn Sơn, được Lăng Vũ Hiên sử dụng trong truyện.

Khương Tử Nha: học trò thứ 13 của Nguyên Thủy Thiên Tôn, không đắc đạo thành tiên mà phong thần, cai quản sao Thiên Cơ, thần của mưu lược, tính toán, trí tuệ, giúp đỡ và học thức.

* Pháp khí: Cơ Tiết, Đả Thần Tiên

Đả Thần Tiên – 打神鞭:

Là cây roi làm bằng gỗ, có màu vàng nâu, thân dài ba thước sáu tấc năm phân, gồm 21 tiết (khúc/đoạn), mỗi tiết có bốn đạo phù ấn (tổng cộng 84 đạo phù ấn).

Đả Thần Tiên là cực phẩm tiên thiên linh bảo, được gọi là "Thiên phạt chi tiên".

Đả Thần Tiên vốn là pháp khí của Nguyên Thủy Thiên Tôn, chuyên môn dùng để tiết chế sức mạnh của thần, bất kể thần tiên nào cũng phải sợ nó.

Nói cách khác, Đả Thần Tiên chính là vũ khí đối phó thần tiên tốt nhất.

Trong trận chiến Phong Thần, Nguyên Thủy Thiên Tôn đã cho Khương Tử Nha mượn dùng Đả Thần Tiên, kết thúc trận chiến đã thu hồi lại.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Cửu Vĩ Thiên Hồ


Trong các huyền thoại và truyền thuyết ở những nước Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, hồ ly tinh là cách gọi những con cáo sống lâu năm, tự tu luyện, hoặc có cao nhân chỉ điểm mà hấp thu tinh hoa trời đất để thành tinh.

Chúng tu luyện một trăm năm thì ba cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là Yêu Hồ, tu luyện đến 1.000 năm thì chuyển sang loài Lục vĩ ma hồ (Cáo ma 6 đuôi), và cứ như vậy, khi đến được cảnh giới là 9 đuôi Cửu vĩ thiên hồ.

Tất cả các hồ ly tinh là cáo cái, khi hóa thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kỳ lạ.

Một trong những hình tượng nổi tiếng nhất về hồ ly tinh hóa người chính là nàng Đát Kỷ.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Mao sơn nhân tướng học - thuật nhìn người mao sơn


Trong lúc đọc truyện, chúng ta thường thấy khi Diệp Thiếu Dương gặp một nhân vật mới nào đó sẽ bắt đầu quan sát và đánh giá họ thông qua nhân tướng học, nay chúng ta cùng tìm hiểu 1 tí về nó nha.

Có thể nó cũng giúp ích ta trong cuộc sống hằng ngày.

Về cơ bản, có thể định nghĩa "nhân tướng học" như là khả năng cảm nhận, thấu hiểu, bắt nhịp tương tác, hay đọc được cảm xúc và tính cách ẩn sâu bên trong người khác thông qua dáng vẻ bên ngoài.

Thuật nhìn người không chỉ giúp đánh giá nhân cách và cá tính của một người, mà còn có thể nhìn ra số phận của người đó.

Không giống như ngày nay, người xưa không chú trọng nhiều đến quần áo, dáng vẻ bề ngoài của một người, thay vào đó, họ quan tâm đến tướng mạo, khí chất bên trong phát ra.

Nét tướng mạo đầu tiên được chú ý chính là khuôn mặt.

Đặc điểm khuôn mặt có thể tiết lộ những thông tin bí mật của một người.

Người xưa cho rằng có 5 hình dạng chính của khuôn mặt, tương ứng với Ngũ Hành:

1.

Khuôn mặt dài, thon thuộc hành Mộc.

Những người này được cho là khá cô đơn, thích gắn bó với bạn bè hơn người khác.

Họ cũng có tham vọng và mong muốn thành công.

2.

Khuôn mặt tròn thuộc hành Thủy.

Loại khuôn mặt này không chỉ tròn mà còn rất đầy đặn.

Họ khá linh hoạt, dễ thích nghi với hoàn cảnh xung quanh và có tấm lòng thông cảm với người khác.

Những người này có tham vọng đối với quyền lực và tiền bạc.

3.

Khuôn mặt đầy đặn hơi rộng, có dạng vuông thuộc hành Thổ.

Họ khá bình tĩnh và ổn định.

Họ cũng tham công tiếc việc nhưng không bộc lộ tính cách ra ngoài nhiều.

4.

Khuôn mặt hình tam giác, trán hẹp, cằm rộng thuộc hành Hỏa: Những người có khuôn mặt này được cho là thường là nóng nảy, không giữ được bình tĩnh.

Họ cũng rất mạnh mẽ và có lòng can đảm.

5.

Khuôn mặt hình trái xoan, hơi tròn thuộc hành Kim.

Đây là loại khuôn mặt kết hợp giữa sức mạnh, sự vững chắc và tinh thần chiến đấu.

Đồng thời, người xưa cũng phân chia khuôn mặt thành 3 vùng chính:

– Vùng thứ nhất: Ở trên cùng, được tính từ trán đến lông mày, thể hiện số phận của con người từ 15 đến 30 tuổi.

– Vùng thứ hai: Ở giữa, là khu vực từ lông mày đến mũi, thể hiện số phận từ năm 31 tuổi đến 50 tuổi.

– Vùng thứ ba: Ở dưới, là khu vực từ mũi đến cằm, thể hiện số phận từ sau năm 51 tuổi.

Nếu cả 3 khu vực này có độ rộng bằng nhau thì chứng tỏ người đó có một cuộc sống cân bằng.

Nếu phần trên cùng rộng nhất, có nghĩa là người đó có một tuổi thơ hạnh phúc.

Nếu vùng dưới rất lớn hay cằm rộng nghĩa là cuộc sống của họ sẽ chỉ tốt đẹp về hậu vận.

Khá nhiều người có diện tích vùng giữa lớn nhất, nghĩa là cuộc sống của họ sẽ tốt nhất trong khoảng từ 31 tuổi đến 50 tuổi, tức là ở tuổi trung niên.

Nhân trung là gì?

Nhân trung là phần ngấn rãnh môi trên thẳng từ mũi xuống (trên khuôn mặt người).

Trong nhân tướng học, kích thước, hình dáng, độ sâu của Nhân trung có thể cho biết đặc điểm về sức khỏe, tuổi thọ, sức sống và năng lực,... cũng như quan điểm đạo đức của người đó.

Cách xem Nhân trung:

Nhân trung thẳng, chỗ gần mũi hẹp, chỗ gần môi rộng, có đường nét rõ ràng là tốt nhất.

Nhân trung rộng, dài và sâu là người giàu ý chí, tính cách khảng khái, không chịu khuất phục trước sức mạnh hay trở ngại nào.

Họ có thể tự mình đứng lên sau những vấp ngã.

Họ phẩm chất tốt, thọ lâu, chức năng sinh sản tốt.

Những người này thể lực dẻo dai, bền bỉ, có sức chịu đựng cao.

Kiểu Nhân trung này phần nhiều thấy ở nữ giới.

Tuy nhiên, người có Nhân trung quá rộng lại thiếu lòng kiên trì.

Người có Nhân trung ngắn, hẹp và nông là người có sức khỏe yếu, cuộc đời có nhiều bước thăng trầm.

Với người có Nhân trung ngắn, kết hợp với môi cong là người ít hòa đồng, e dè, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh, thường sống khép kín trong vỏ ốc do chính mình tạo ra.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tĩnh Tâm Chú - Băng Tâm Chú - Thanh Tâm Chú


Trong truyện, chúng ta hay thấy Diệp Thiếu Dương hay đọc những chú này khi lâm vào những hoàn cảnh đặc biệt, cần lấy lại bình tĩnh, ví dụ như gặp gái chẳng hạn 🙂)
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Duyên nợ và nhân duyên


DUYÊN NỢ VÀ NHÂN DUYÊN TRONG ĐỜI

Trong cuộc sống tấp nập, mỗi chúng ta đều có cơ hội giao tiếp và gặp gỡ với rất nhiều người.

Những người đó có thể trở thành những người bạn bình thường, bạn tri kỷ hoặc như các cụ vẫn nói là "phải duyên phải số" sẽ thành vợ chồng... tất cả đều là duyên phận từ kiếp trước.

Dân gian cho rằng, vợ chồng đến được với nhau là vì duyên nợ.

Tuy nhiên không phải cặp vợ chồng nào cũng hạnh phúc, có những cặp vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận, lại có những cặp vợ chồng đối xử với nhau lạnh nhạt, thậm chí người này còn oán hận với người kia.

Có những người vợ không ngừng than vãn, oán trách số phận rằng tại sao lại để mình lấy một người chồng vô dụng, hèn kém như vậy....

Kỳ thực, người phụ nữ được gả cho người đàn ông nào, thậm chí có đến vài đời chồng...

đều đã nằm trong số mệnh của họ.

Tất cả những người mà chúng ta gặp trong đời này, đều đã được sắp đặt bởi những mối nhân duyên từ kiếp trước, không nợ sẽ không đến.

Đàn ông hay phụ nữ đều như vậy.

Cho nên nếu cuộc hôn nhân của bạn không có được hạnh phúc, hay vợ chồng bạn thường có xích mích, mâu thuẫn, thì bạn nên làm gì?

Duyên vợ chồng

Tu trăm năm mới chung một chuyến thuyền, tu nghìn năm mới nên duyên vợ chồng, đó là câu nói dân gian về duyên phận nhân sinh, gặp nhau bởi chữ duyên, gắn kết đời nhau bởi chữ nợ, trân quý cơ duyên này cũng chính là trân quý bản thân mình vậy.

Vợ chồng là thiếu nợ lẫn nhau sao?

Vợ chồng là nợ nghiệp nhau sao?

Duyên vợ chồng như thế nào mới có thể chấm dứt đây?

Vợ chồng lại là cái gì duyên mà kết thành đây?

Tục ngữ có câu:"Tu trăm năm mới đi chung thuyền, tu ngàn năm mới chung chăn gối".

Ý câu này là, những người có thể ngồi chung trên một chuyến thuyền đều là người hữu duyên, còn có thể kết thành vợ chồng thì giữa họ với nhau mối duyên càng sâu đậm.

Nói cách khác, quan hệ vợ chồng là loại sâu sắc nhất trong tất cả các loại duyên phận, chỉ có điều là trong những duyên này có thiện có ác.

Duyên vợ chồng nhìn chung đến từ ba loại duyên dưới đây:

Duyên đến từ việc người này có ân với người kia

Con người trong những lần gặp nhau, nếu người này có ân với người kia, khiến họ cảm động khôn nguôi, và nguyện ý báo ân trả nợ, thì vào kiếp sau một người sẽ là nam còn người kia là nữ, bởi nguyện ước thiện lành trong quá khứ mà kết thành vợ chồng.

Ví dụ, khi bạn rơi xuống nước, lúc đó không ai nguyện ý cứu bạn, nhưng lại có một người dũng cảm quên mình vì bạn, mặc kệ có cứu sống hay không, bạn vẫn ghi lòng tạc dạ ân nghĩa này.

Vì đền ân cứu mạng, bạn vào kiếp sau sẵn lòng làm thân trâu ngựa báo đáp.

Loại tình huống này chính là duyên vợ chồng vì báo ân mà kết thành.

Trong các loại duyên vợ chồng, loại duyên vợ chồng này có thể hạnh phúc mỹ mãn nhất, bởi vì sâu thẳm trong ý thức của một người tồn tại ý niệm dâng hiến một cách không oán không hối, nên hai bên đều có thể hạnh phúc.

Tuy nhiên, loại vợ chồng này không bảo đảm là không cãi nhau hoặc không ly hôn, nếu cá tính không hợp thì vẫn sẽ có vấn đề ma sát khi sống chung.

Duyên mà người này thiếu nợ người kia

Nếu như duyên vợ chồng kết thành từ việc người này thiếu nợ người kia, thì chúng ta có hai loại nợ nần được tính đến.

Một là khoản nợ tiền tài, hai là khoản nợ tình cảm, cũng có những khoản nợ khác, nhưng hai loại trên vẫn là chính yếu.

Ví như nếu kiếp trước bạn là đàn ông, bị một người con gái phụ bạc, lừa gạt tình cảm, cảm thấy không cam lòng.

Như vậy kiếp sau bạn sẽ còn gặp lại cô ấy.

Khi cô gái này gặp được bạn, cô sẽ nắm chặt bạn, không bao giờ để bạn chạy trốn nữa.

Đây chính là vợ chồng vì khoản nợ tình cảm mà kết thành.

Một ví dụ khác như, khi nam nữ đang trong quá trình tìm hiểu, con trai lúc nào cũng là người chi trả mọi khoản.

Nếu cô gái ham hưởng thụ điều này, mà lại không thành tâm muốn kết giao, khi đã lợi dụng được một thời gian liền lạnh lùng rời đi, như vậy người con trai đương nhiên sẽ rất không cam tâm.

Nếu là vậy, cô gái này trong kiếp sau sẽ còn gặp người con trai này, cô gái khi đó cũng sẽ có tiền, nhưng rất nhiều tiền của cô đều bị anh ta tiêu hết, hoặc cuối cùng đều thuộc về anh ta.

Trường hợp này là vợ chồng vì khoản nợ tiền tài mà kết thành.

Dẫu đây là vì ác duyên mà kết thành vợ chồng, nhưng chỉ cần trong quá trình sống chung tại kiếp này có thể làm việc chăm chỉ, không so đo với nhau khi ở chung, thì vẫn có cơ hội sống hạnh phúc.

Nhân duyên thiếu nợ lẫn nhau

Loại duyên thiếu nợ lẫn nhau này, tức là nợ qua nợ lại nhưng là nợ tiền tài và tình cảm là phần nhiều.

Nói cách khác, nếu đôi bên khi tìm hiểu, đã nợ nhau các khoản tiền tài và tình cảm như trên, họ kiếp này gặp lại kết thành vợ chồng, vừa vặn dễ dàng giúp nhau trả nợ.

Lúc này cũng có thể nói, vợ chồng kết thành chính là vì cân bằng nhân quả.

Chính vì có nhân quả nên "quan hệ" giữa con người với nhau liên tục được cân bằng, không tồn tại bất công.

Vì vậy, bất kì ai khi đã nên duyên vợ chồng, cần phải quý trọng nhau mà chung sống, vì khoản nợ này sẽ còn thay đổi.

Không được oán giận người kia, không được oán trời trách đất, vì oán thán sẽ khiến món nợ kia trả hoài không hết!

Hoặc món nợ đã mắc càng ngày càng nặng hơn!

Trong loại duyên vợ chồng này, bởi vì hai bên đối với nhau đều đòi hỏi bên này phải trả nợ bên kia, nên thường xuất hiện tính toán và tranh chấp.

Tuy nhiên, hai bên chỉ cần thay đổi suy nghĩ, dùng thái độ cam tâm tình nguyện mà đối đãi với người kia, như vậy khoản nợ này sẽ nhanh chóng được trả hết.

Duyên vợ chồng tốt nhất

Trên đây là nói về các loại yếu tố kết thành duyên vợ chồng.

Nếu dùng số mệnh con người để xem, các loại thiện ác trong duyên vợ chồng cũng phần nào nói lên bạn có hạnh phúc hay không, những người vì ác duyên mà thành vợ chồng, lại càng không cần phải nói.

Tuy nhiên, nếu hai bên phù hợp ba điều kiện dưới đây, bất kể là loại vợ chồng duyên gì cũng có thể hưởng hạnh phúc.

Vì vậy, khi bạn chọn người phối ngẫu, ba nhân tố này là rất quan trọng:

Một, hai bên cá tính tương hỗ.

Hai, hai bên đều kính trọng lẫn nhau.

Ba, hai bên đều là người có trách nhiệm.

Nói cách khác, điều kiện bên ngoài, vinh hoa phú quý hay không cũng không phải chỉ tiêu hạnh phúc hay không.

Làm sao biết duyên vợ chồng đã kết thúc hay chưa?

Bên cạnh đó, khi chung sống tại kiếp này, vợ chồng cãi nhau là chuyện thường tình.

Tuy nhiên, sau khi giằng co cự cãi không ai chịu ai, luôn sẽ có một người nhất định muốn ly hôn, nhưng người kia lại không chịu, điều này nói lên rằng khoản nợ lẫn nhau vẫn còn chưa hết, duyên vợ chồng này còn chưa kết thúc.

Ngược lại, nếu như trong quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng nhạt nhẽo, chẳng ai lưu luyến ai.

Điều này nói lên rằng khoản nợ giữa vợ chồng đã hết, vì vậy hai bên sống chung giống như bạn bè, chẳng lưu luyến bịn rịn.

Ngoài ra, qua việc chia tay cũng có thể nhìn rõ duyên vợ chồng đã kết thúc hay chưa.

Bất luận việc chia tay này là tử vong, đi xa nhà, xuất gia, hay ly hôn.

Nếu như đôi bên khó lòng chia ly, lúc chia tay khóc nức nở, thì ắt hẳn ân oán vợ chồng này còn chưa trả hết, duyên vợ chồng vẫn còn.

Còn khi chia tay, oán hận lẫn sự bất mãn vẫn khuấy động tâm can hoặc không cam lòng, điều này nói lên rằng "khoản nợ" giữa các bạn vẫn còn chưa trả hết, kiếp sau gặp lại vẫn sẽ tiếp tục kết làm vợ chồng.

Hoặc lúc chia tay, cả hai giống như bạn bè, không oán hận, chỉ đau thương hoặc khổ sở một chút, nhưng không đến nỗi muốn níu kéo nhau, điều này nói lên rằng khoản nợ giữa vợ chồng các bạn cuối cùng có thể chấm dứt rồi.

Vợ chồng là nghiệp chướng sao?

Phật giáo thường nói, kết hôn là nghiệp chướng, cái này chủ yếu nói về giải thoát trong tu luyện.

Dựa vào duyên vợ chồng trong quá khứ, bởi vì có ân oán tình thù chưa kết thúc, vì vậy đời này kết làm vợ chồng, mà trước khi ân oán tình thù chưa cân bằng, hai bên sẽ phải gắn kết với nhau, người này cản trở người kia, tạo thành chướng ngại trên con đường tu hành.

Tuy nhiên, nếu các bạn mong muốn nhanh chấm dứt duyên vợ chồng này, có thể dùng lý trí mà suy nghĩ để cải thiện quan hệ đôi bên.

Suy nghĩ cho lợi ích của đối phương là điều kiện tiên quyết để quyết định sự việc, chuyện cản trở lẫn nhau này có thể giải quyết được.

Ngoài ra, nếu như duyên vợ chồng của các bạn còn chưa kết thúc, mà bạn muốn tu hành, thì bạn có thể tận dụng khoản thời gian chung sống vợ chồng để hiểu rõ nhân tính.

Việc này chính là giúp bạn thêm trí tuệ, bởi hiểu tận tường nhân tính con người không phải chuyện dễ dàng.

Nam và nữ đều có cả ưu và khuyết điểm, và khoảng thời gian chung sống của vợ chồng cũng chính là thời khắc bạn học tập ưu điểm của người kia, đây cũng là điều không dễ để tiếp thu.

Đặc thù giữa nam nữ khác nhau rất lớn, ví dụ như mưu cầu dục vọng và giá trị quan của nam nữ khác nhau, sở thích hoặc nhu cầu tình cảm cũng không giống nhau v.v.., bạn chính là trong khi chung sống vợ chồng mà tự mình tìm hiểu, nếu làm được như thế thì đây cũng là tu hành rồi.

Duyên vợ chồng mặc dù là trở ngại giải thoát, nhưng nếu bạn có thể tận dụng tốt việc này để tìm hiểu nhân tính, thì cũng chính là có thể giúp bạn khai mở trí tuệ, chẳng phải đó là "đá kê chân" sao.

Hãy tận dụng cho tốt cơ duyên này vậy.

Xin hãy đọc những câu chuyện dưới đây, mỗi câu chuyện sẽ là 1 bài học cho nhân duyên của bạn sau này:

Câu chuyện thứ 1:

Ngày xưa ở đất Thương Châu có hai vợ chồng vị quan lại trẻ tuổi nhưng sống không hòa thuận, hạnh phúc.

Sau một thời gian không hòa thuận kéo dài, người vợ trong lòng buồn chán và sinh bệnh.

Hơn nữa, tính khi của người vợ lại rất kỳ quái, ngang bướng khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng đi xuống.

Một hôm, có một vị ni cô đức hạnh đi qua Thương Châu.

Người vợ kia liền đến gặp bái kiến vị ni cô và hỏi: "Thưa ni cô!

Xin hỏi bà, mối quan hệ giữa vợ và chồng là có nhân quả không?

Vì sao cuộc sống vợ chồng tôi lại không được êm ấm, hòa thuận?".

Vị ni cô từ tốn chậm rãi nói: "Tôi không phải quan lại dưới âm phủ, nên không thể nào tra xét sổ sách để biết nhân quả giữa hai vợ chồng thí chủ!

Tôi lại càng không phải Bồ Tát, nên không thể nhìn được nhân quả trong quá khứ, hiện tại và tương lai của thí chủ.

Nhưng mà đối với đạo lý nhân quả duyên phận, thì tôi ít nhiều có hiểu rõ, có thể giải thích được cho thí chủ".

Nói rồi, vị ni cô lý giải cho người vợ kia rằng: Nhân duyên vợ chồng không có một đôi nào là vô duyên vô cớ mà kết hợp.

Một số đôi vợ chồng là do ân tình từ kiếp trước mà kiếp này gặp nhau, cho nên cuộc sống cũng vui vẻ tốt đẹp.

Một số khác lại là vì oán giận từ kiếp trước mà kiếp này gặp nhau nên cuộc sống của họ cũng phiền não, khổ đau, oán giận.

Cũng có những đôi vợ chồng là vì cả ân và oán mà kết hợp, khi đó họ sẽ có cơ hội để hoàn trả ân oán cho nhau.

Mối quan hệ giữa vợ chồng trên thế gian này cơ bản là như vậy.

Như lời thí chủ kể, thì mối quan hệ giữa vợ chồng thí chủ hẳn là vì nợ tiền duyên từ kiếp trước nên kiếp này gặp nhau.

Đây là ông trời đã định sẵn, không phải theo ý muốn của con người.

Theo Phật gia, trong quan hệ vợ chồng, dù kiếp này có kém thuận hòa, thì cũng là an bài để hoàn thành lương duyên từ kiếp trước...

Mặc dù nói: "Thiên định thắng nhân", nhưng con người cũng có thể làm cải biến được.

Cho nên, bên nhà Phật mới khuyên con người ta sám hối, ăn năn hối lỗi, tu sửa bản thân.

Chỉ cần người làm vợ là thí chủ cố gắng từ bỏ tâm hiếu thắng, chế ngự sự cao ngạo, mọi việc phải lấy nhẫn nhịn làm trọng, không tranh giành với chồng thì tự nhiên mâu thuẫn sẽ giảm dần.

Trong gia đình, cố gắng làm tốt bổn phận của mình, hiểu thảo với cha mẹ đôi bên, hòa thuận với anh chị em, khoan dung với mọi người, chỉ để ý bản thân làm như nào thành người tốt, không so đo suy nghĩ người ta có tốt với mình hay không, nếu thí chủ làm được như vậy thì chắc chắn tình cảm hai vợ chồng thí chủ sẽ được cải biến.

Nếu như thí chủ đi truy hỏi nguyên nhân trong tiền kiếp thì cho dù có truy hỏi được rõ ràng, tỉ mỉ thì cũng có lợi ích gì đâu?"

Người vợ sau khi nghe xong lời khuyên của vị ni cô, liền không để tâm trách móc, tìm lỗi ở ai nữa mà cố gắng hành theo những lời khuyên của ni cô.

Quả nhiên, một thời gian sau, tình cảm giữa hai vợ chồng họ đã có cải biến tốt lên.

Những năm về sau, những người lớn ở địa phương thường hay lấy câu chuyện này để dạy bảo, khuyên nhủ con gái trong nhà.

Họ thường nói: "Những lời nói của vị ni cô quả thực là thần chú giúp giải oán giận giữa vợ chồng.

Một người nếu có thể kiên trì thực hiện theo, chắc chắn sẽ có kết quả tốt.

Còn như không có kết quả tốt, thì nhất định là bởi vì còn chưa thực sự kiên trì."

Đây là câu chuyện được ghi chép lại trong cuốn "Duyệt vi thảo đường bút ký" của tác giả Kỷ Hiểu Lam.

Thay vì oán trách người khác, chúng ta chỉ cần chấp nhận, thông cảm và giúp đỡ người kia nhiều hơn.

Có như vậy, bạn mới có thể hoàn trả lại những điều xấu mình đã từng làm, tìm được hạnh phúc thực sự và tránh được việc tạo thêm nợ nghiệp cho kiếp sau.

Câu chuyện thứ 2:

Trước đây, có một thư sinh và một cô gái xinh đẹp đã hẹn ước ngày kết hôn.

Nhưng đúng vào ngày mà hai người hẹn ước thì cô gái lại đi lấy người đàn ông khác.

Thư sinh vì chuyện này mà bị tổn thương ghê gớm, đau khổ ngày ngày rồi mắc bệnh nằm liệt giường.

Lúc đó, một vị hòa thượng đi vân du ngang qua gặp hoàn cảnh của thư sinh này.

Vị hòa thượng lấy một chiếc gương và bảo thư sinh kia hãy nhìn vào trong đó.

Thư sinh này lập tức nhìn vào trong gương và thấy:

Đầu tiên là một vùng biển rộng mênh mông mờ mịt hiện ra trước mắt anh ta.

Tiếp đến, trên bờ biển có một cô gái bị chết trong tình cảnh không mảnh vải che thân.

Ngay lúc đó, là một người đi ngang qua, liếc mắt nhìn, lắc đầu và bỏ đi Sau đó, lại có một người nữa đi qua, cởi bộ quần áo ngoài ra và đắp lên thân cô gái và lại đi.

Một lát sau lại có một người nữa đi qua, người này thương cảm với tình cảnh của cô gái nên lập tức đào một cái hố rồi cẩn thận đem thi thể cô gái chôn xuống dưới.

Vị hòa thượng lúc này nói: "Cô gái nằm chết ở trên bờ biển kia chính là vị hôn thê ở kiếp này của cậu.

Cậu là người đàn ông thứ hai đi qua thi thể cô ấy và cởi bộ quần áo đắp lên thân thể cô ấy.

Cô ấy kiếp này yêu thương cậu là để trả lại ân tình đó.

Còn người mà cô ấy muốn báo đáp cả đời này chính là người mà đã mang thi thể cô ấy đi chôn.

Người đó là người chồng hiện tại của cô ấy!"

Thư sinh nghe xong những lời này của vị hòa thượng liền hiểu ra mối nhân duyên của hai người, không còn trách cứ hay oán giận ai.

Anh ta nhẹ nhàng buông bỏ nên bệnh tật qua mấy ngày sau cũng đã khỏi.

"Người vợ ở kiếp này là người mà bạn chôn ở kiếp trước, đến để trả ơn cho bạn."

Có biết bao người không chịu buông tay khi tình yêu mất đi, thống khổ tột cùng, sống hờ hững qua ngày.

Hãy buông bỏ giải thoát cho chính mình, bước tiếp về con đường phía trước!

Câu chuyện thứ 3:

Câu chuyện sau đã xảy ra ở một nhà giàu tại Trung Quốc ngày xưa.

Truyền thống ''Cải gia vi tự'' (biến nhà thành chùa) bắt nguồn từ đó.

Một gia đình rất giàu sửa soạn nhà cửa đón dâu.

Phú ông đang bận rộn với việc đám cưới thì gia nhân vào báo, có một vị sơn Tăng đến khất thực hóa duyên.

Vốn là người mộ đạo, phú ông vội vàng ra nghinh tiếp, mời Sư vào nhà, thỉnh ngồi ở ghế thượng khách.

Nhưng vị Sư chỉ chống tích trượng đứng cười ha hả.

Lạ lùng trước cử chỉ của nhà Sư nhưng phú ông không dám có ý nghĩ đấy là người cuồng.

Bởi, trông mọi dáng vẻ Ngài đều có tiên phong đạo cốt, phú ông quyết đấy không phải là người thường giả bộ.

Ngước nhìn đôi mắt sáng như sao của nhà Sư, phú ông bất giác rơi lệ quỳ mọp xuống:

- Bạch Hòa Thượng, đệ tử ngu dốt, nay có phước duyên được người chiếu cố, xin người từ bi dạy bảo!

- Hà hà.

Chúng sanh mê muội, làm tội ác tày trời còn hí hững đánh trống thổi kèn.

Trong khi nhà Sư nói vậy, thì từ nhà sau vọng lên tiếng lợn kêu thống thiết.

Vị Sư tiếp:

- Con heo đó là cha ngươi ngày trước.

Vì tham tiếc cái gia tài, ông đã tái sanh làm con heo sau chuồng nhà ngươi.

Phú ông đầm đìa nước mắt, bạch:

- Bạch Hòa Thượng, quả đúng như vậy, cha con khi sắp chết cứ thao thức tiếc cái gia tài của cải một đời mồ hôi nước mắt này, và dặn đi dặn lại chúng con phải giữ gìn đừng hoang phí.

Nói rồi, vội bảo gia nhân đình chỉ việc giết heo.

Nhà sư lại nói tiếp:

- Còn đứa con gái ngươi sắp cưới cho con ngươi là ai biết không?

- Bạch Hòa Thượng, đó là con gái nhà láng giềng của con.

Hai trẻ có cảm tình với nhau từ nhỏ, nên khi chúng thành niên, con cho tác hợp thì có gì sai quấy.

- Hà hà.

Mới bà bà cháu cháu đó, mà nay là vợ vợ chồng chồng.

Than ôi, chúng sanh có mắt như mù.

- Bạch Hòa Thượng, xin Hòa Thượng từ bi khai thị cho kẻ ngu muội.

Con không được rõ thánh ý.

- Có gì là mờ mịt đâu, chỉ vì ngươi không thấy đứa con gái kia là mẹ ngươi ngày trước.

Do vì khi sắp chết, bà lưu luyến đứa cháu nội không nỡ rời, nên thần thức đầu thai lại cõi đời để sống gần nó.

Phú ông nhẩm lại, thì quả nhiên cô gái thua cậu con 4 tuổi, nghĩa là cô ra đời đúng lúc bà mẹ ông mất, lúc con trai ông lên 4.

- Bạch Hòa Thượng, quả như Ngài nói, mẹ con khi mất đã cầm chặt tay cháu nội, bà rất yêu cháu vì nó là đứa cháu trai duy nhất.

Nay sự tình vậy thì con không dám làm việc ác tày đình thế kia.

Xin Hòa Thượng chứng minh cho con được thế phát xuất gia biến nhà thành chùa.

Rạp trang hoàng cho tiệc cưới trong chốc lát được sửa lại thành đạo tràng.

Phú ông cung thỉnh Sư lên pháp tòa thuyết pháp cho bá tánh đến dự và coi đám cưới.

Nghe xong thời pháp, mọi người đều xin quy y Tam Bảo, từ bỏ sát sanh, chú rể xin cha theo vị Hòa Thượng về núi tu hành, còn cô dâu nguyện trọn đời ở vậy phụng dưỡng cha mẹ cho đến khi hai thân khuất núi, rồi cô cũng xuất gia.

"Cuộc thế sự rạp cao, con người như kép hát

Đổi thay nhiều lớp, biết ai mẹ ai con?

Luân chuyển lâu đời, tưởng người dưng người lạ

Đời nay thù oán, té ra cha mẹ trước không hay!"

Câu chuyện thứ 4:

Trong suốt đời ta, sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người.

Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có "duyên" là đủ.

Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.

Trước miếu Quan Âm mỗi ngày có vô số người tới thắp hương lễ Phật, khói hương nghi ngút.

Trên cây xà ngang trước miếu có con nhện chăng tơ, mỗi ngày đều ngập trong khói hương và những lời cầu đảo, nhện dần có Phật tính.

Trải nghìn năm tu luyện, nhện đã linh.

Một ngày, bỗng Phật dạo đến ngôi miếu nọ, thấy khói hương rất vượng, hài lòng lắm.

Lúc rời miếu, ngài vô tình ngẩng đầu lên, nhìn thấy nhện trên xà.

Phật dừng lại, hỏi nhện: "Ta gặp ngươi hẳn là có duyên, ta hỏi ngươi một câu, xem ngươi tu luyện một nghìn năm nay có thật thông tuệ chăng.

Được không?"

Nhện gặp được Phật rất mừng rỡ, vội vàng đồng ý.

Phật hỏi: "Thế gian cái gì quý giá nhất?"

Nhện suy ngẫm, rồi đáp: "Thế gian quý nhất là những gì không có được và những gì đã mất đi!".

Phật gật đầu, đi khỏi.

Lại một nghìn năm nữa trôi qua, nhện vẫn tu luyện trên thanh xà trước miếu Quan Âm, Phật tính của nhện đã mạnh hơn.

Một ngày, Phật đến trước miếu, hỏi nhện: "Ngươi có nhớ câu hỏi một nghìn năm trước của ta không, giờ ngươi đã hiểu nó sâu sắc hơn chăng?"

Nhện nói: "Con cảm thấy trong nhân gian quý nhất vẫn là "không có được" và "đã mất đi" ạ!"

Phật bảo: "Ngươi cứ nghĩ nữa đi, ta sẽ lại tìm ngươi."

Một nghìn năm nữa lại qua, có một hôm, nổi gió lớn, gió cuốn một hạt sương đọng lên lưới nhện.

Nhện nhìn giọt sương, thấy nó long lanh trong suốt sáng lấp lánh, đẹp đẽ quá, nhện có ý yêu thích.

Ngày này nhìn thấy giọt sương nhện cũng vui, nó thấy là ngày vui sướng nhất trong suốt ba nghìn năm qua.

Bỗng dưng, gió lớn lại nổi, cuốn giọt sương đi.

Nhện giây khắc thấy mất mát, thấy cô đơn, thấy đớn đau.

Lúc đó Phật tới, ngài hỏi: "Nhện, một nghìn năm qua, ngươi đã suy nghĩ thêm chưa: Thế gian này cái gì quý giá nhất?"

Nhện nghĩ tới giọt sương, đáp với Phật: "Thế gian này cái quý giá nhất chính là cái không có được và cái đã mất đi."

Phật nói: "Tốt, nếu ngươi đã nhận thức như thế, ta cho ngươi một lần vào sống cõi người nhé!"

Và thế, nhện đầu thai vào một nhà quan lại, thành tiểu thư đài các, bố mẹ đặt tên cho nàng là Châu Nhi.

Thoáng chốc Châu Nhi đã mười sáu, thành thiếu nữ xinh đẹp yểu điệu, duyên dáng.

Hôm đó, tân Trạng Nguyên Cam Lộc đỗ đầu khoa, nhà vua quyết định mở tiệc mừng sau vườn ngự uyển.

Rất nhiều người đẹp tới yến tiệc, trong đó có Châu Nhi và Trường Phong công chúa.

Trạng Nguyên trổ tài thi ca trên tiệc, nhiều tài nghệ khiến mọi thiếu nữ trong bữa tiệc đều phải lòng.

Nhưng Châu Nhi không hề lo âu cũng không ghen, bởi nàng biết, chàng là mối nhân duyên mà Phật đã đưa tới dành cho nàng.

Qua vài ngày, tình cờ Châu Nhi theo mẹ lên miếu lễ Phật, cũng lúc Cam Lộc đưa mẹ tới miếu.

Sau khi lễ Phật, hai vị mẫu thân ngồi nói chuyện.

Châu Nhi và Cam Lộc thì tới hành lang tâm sự, Châu Nhi vui lắm, cuối cùng nàng đã có thể ở bên người nàng yêu, nhưng Cam Lộc dường như quá khách sáo.

Châu Nhi nói với Cam Lộc: "Chàng còn nhớ việc mười sáu năm trước, của con nhện trên xà miếu Quan Âm chăng?"

Cam Lộc kinh ngạc, hỏi: "Châu Nhi cô nương, cô thật xinh đẹp, ai cũng hâm mộ, nên trí tưởng tượng của cô cũng hơi quá nhiều chăng?".

Nói đoạn, chàng cùng mẹ chàng đi khỏi đó.

Châu Nhi về nhà, nghĩ, Phật đã an bài mối nhân duyên này, vì sao không để cho chàng nhớ ra chuyện cũ, Cam Lộc vì sao lại không hề có cảm tình với ta?

Vài ngày sau, vua có chiếu ban cho Trạng Nguyên Cam Lộc sánh duyên cùng công chúa Trường Phong, Châu Nhi được sánh duyên với thái tử Chi Thụ.

Tin như sấm động giữa trời quang, nàng không hiểu vì sao Phật tàn nhẫn với nàng thế.

Châu Nhi bỏ ăn uống, nằm khô nhắm mắt nghĩ ngợi đau đớn, vài ngày sau linh hồn nàng sắp thoát khỏi thân xác, sinh mệnh thoi thóp.

Thái tử Chi Thụ biết tin, vội vàng tới, phục xuống bên giường nói với nàng: "Hôm đó, trong những cô gái giữa bữa tiệc sau vườn thượng uyển, ta vừa gặp nàng đã thấy yêu thương, ta đã khốn khổ cầu xin phụ vương để cha ta cho phép cưới nàng.

Nếu như nàng chết, thì ta còn sống làm chi."

Nói đoạn rút gươm tự sát.

Và giây khắc ấy Phật xuất hiện, Phật nói với linh hồn sắp lìa thể xác Châu Nhi: "Nhện, ngươi đã từng nghĩ ra, giọt sương (Cam Lộc) là do ai mang đến bên ngươi chăng?

Là gió (Trường Phong) mang tới đấy, rồi gió lại mang nó đi.

Cam Lộc thuộc về công chúa Trường Phong, anh ta chỉ là một khúc nhạc thêm ngắn ngủi vào sinh mệnh ngươi mà thôi.

Còn thái tử Chi Thụ chính là cái cây nhỏ trước cửa miếu Quan Âm đó, anh ta đã ngắm ngươi ba nghìn năm, yêu ngươi ba nghìn năm, nhưng ngươi chưa hề cúi xuống nhìn anh ta.

Nhện, ta lại đến hỏi ngươi, thế gian này cái gì là quý giá nhất?"

Nhện nghe ra sự thật, chợt tỉnh ngộ, nàng nói với Phật: "Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!"

Vừa nói xong, Phật đã đi mất, linh hồn Châu Nhi quay lại thân xác, mở mắt ra, thấy thái tử Chi Thụ định tự sát, nàng vội đỡ lấy thanh kiếm...

"Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!"

Trong suốt đời ta, sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người.

Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có "duyên" là đủ.

Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.

Mất một người không biết trân quý bạn, có gì phải buồn rầu?

Bởi bạn còn cơ hội, một lần nữa, gặp người biết rằng bạn quý giá.

Câu chuyện thứ 5:

Dù chỉ gặp thoáng qua trên đường hay chỉ nhìn nhau trong giây lát cũng có thể là đã phải mất cả ngàn năm chờ đợi trong nhiều kiếp trước.

Hết thảy đều là duyên.

Vậy nên hãy kết thiện duyên trong kiếp này.

Có một cô gái xinh đẹp, đa tài, sinh ra trong một gia đình giàu có.

Tuy nhiên các ông mối, bà mối đều phải lắc đầu ngán ngẩm, bởi cô gái vẫn chưa gặp được người tình trong mộng của mình.

Cho đến một ngày, cô đến vãn cảnh chùa để tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn và gặp một người thanh niên.

Ngay trong giây phút đó cô biết rằng đó chính là người mà cô chờ đợi bao năm qua.

Đáng tiếc là người đến chùa quá đông, khiến cô gái chỉ còn cách đứng một chỗ mà nhìn người thanh niên cho đến khi bóng anh xa dần.

Hai năm sau, cô không ngừng đi khắp nơi tìm kiếm người tình trong mộng của mình, nhưng kết quả chỉ khiến cô thất vọng.

Cô gái ngày nào cũng thành tâm cầu xin cho cô được gặp lại người thanh niên đó.

Sự thành tâm của cô gái đã đánh động đến một tiên nhân.

Tiên nhân nói: "Con có muốn nhìn lại người thanh niên đó không?"

Cô gái trả lời: "Có ạ, con chỉ muốn nhìn anh ấy một lần nữa".

Vị tiên nhân nói: "Con có nguyện vì điều đó mà từ bỏ tất cả, bao gồm cả người thân và cuộc sống sung túc này không".

Cô gái trả lời: "Con có thể từ bỏ".

Vị tiên nhân nói: "Con phải chờ đợi gian khổ 500 năm, mới có thể gặp mặt anh ta 1 lần.

Con không ân hận chứ?"

Cô gái trả lời: "Con không ân hận".

Cô gái biến thành tảng đá, chờ đợi 500 năm

Cô gái biến thành một tảng đá lớn tại một nơi hoang vu, chờ đợi 400 năm trong nắng mưa, rét buốt...

Nỗi khổ không gì tả xiết, nhưng những thứ đó không làm lay động trái tim cô, cô gái chỉ thấy khổ sở vì hơn 400 năm qua mà vẫn chưa nhìn thấy người thanh niên đó.

Vào năm cuối cùng, một người thợ đá phát hiện ra tảng to lớn này, họ đã mang nó về để xây cầu.

Và cô đã được dùng để làm lan can cầu.

Đúng vào ngày cây cầu hoàn thành, cô gái đã nhìn thấy người thanh niên mà cô hằng chờ đợi 500 năm.

Người thanh niên bước đi vội vã, dường như anh đang có việc bận.

Tất nhiên anh không hề để ý đến chiếc lan can đá đang chăm chú nhìn theo anh.

Bóng dáng người thanh niên lại một lần nữa biến mất trong ánh mắt tiếc nuối của cô gái.

Tiên nhân lại xuất hiện.

Tiên nhân nói: "Con đã mãn nguyên chưa?"

Cô gái trả lời: "Không ạ, tại sao con chỉ là chiếc lan can?

Nếu con được lát ở giữa đường thì con đã có thể gặp anh ấy, con có thể chạm vào anh ấy".

Tiên nhân lại nói: "Con muốn chạm vào anh ấy, vậy con phải chờ đợi thêm 500 năm".

Cô gái trả lời: "Con đồng ý".

Tiên nhân nói: "Chịu rất nhiều tội khổ như vậy, con có ân hận không?"

Cô gái trả lời: "Con không ân hận".

Cô gái biến thành một cây cổ thụ bên đường, hàng ngày đều có rất nhiều người qua lại.

Ngày nào cô gái cũng trông ngóng người thanh niên đó.

Ngày lại qua ngày tâm cô cũng dần bình tĩnh trở lại, cũng giống như lần trước, cô biết rằng chưa tròn 500 năm thì người đó sẽ không xuất hiện.

tình yêu, thiện duyên, ngàn năm, luân hồi, Kiếp trước, gặp nhau, duyên phận, chó đói, Bài chọn lọc,

Vậy là, cô gái nguyện làm cây cổ thụ chờ đợi tiếp 500 năm để được gặp người trong mộng.

Vào ngày cuối cùng của 500 năm, cô gái biết chàng trai sẽ đến, nhưng tâm cô không còn bị kích động nữa.

Người thanh niên đó đã đến, anh vẫn mặc quần áo màu trắng mà anh thích, khuôn mặt vẫn rất khôi ngô tuấn tú.

Lần này người thanh niên không vội vã như lần trước.

Trời hôm đó rất nóng, anh đã nhìn thấy chiếc cây cổ thụ và muốn nghỉ chân một lát.

Anh tiến đến chiếc cây, dựa lưng vào thân cây, mắt nhắm khẽ và anh thiếp đi lúc nào không biết.

Cô gái đã được chạm vào anh, lúc này anh đã ở ngay bên cạnh cô gái, nhưng cô không thể nói cho anh biết, cô đã phải đợi 1000 chỉ để có được những giây phút ngắn ngủi này.

Cô chỉ có thể chụm những tán lá lại để che nắng cho anh.

Người thanh niên tỉnh dậy, phủi bụi trên quần áo và chuẩn bị rời đi.

Anh nhìn chiếc cây cổ thụ, lấy tạy vỗ nhẹ lên thân cây, tỏ ý cảm ơn vì đã mang đến bóng mát cho anh.

Cô gái lại một lần nữa nhìn anh cho đến khi bóng anh khuất dần.

Tiên nhân lại xuất hiện.

Tiên nhân nói: "Con có phải vẫn muốn làm vợ anh ta?

Vậy con phải chờ đợi ..."

Cô gái ngắt lời tiên nhân và nói: "Con rất muốn, nhưng không cần nữa, như thế này đã tốt lắm rồi.

Con yêu anh ấy, nhưng không nhất định phải làm vợ anh ấy.

Vợ của anh ấy có phải cũng phải chịu khổ như con không?"

Tiên nhân khẽ gật đầu.

Cô gái mỉm cười và nói: "Con cũng có thể làm được, nhưng giờ không cần nữa".

Cô gái phát hiện thấy tiên nhân có vẻ như đang thở dài.

Cô gái tự hỏi, "Tiên nhân cũng có tâm tư gì ư?"

Tiên nhân cười và nói: "Như thế này cũng tốt, anh ta cũng đỡ phải chờ đợi 1 ngàn năm nữa.

Anh ta vì muốn nhìn con 1 lần mà đã phải chờ đợi trong gian khổ 2 ngàn năm rồi".

Chỉ vì một ánh mắt mà phải chờ đợi 500 năm, chỉ vì kiếp này có thể vai kề vai trong giây lát đã phải đổi lấy cả ngàn năm chờ đợi.

Gặp nhau đã là có duyên, kiếp này có thể nên duyên vợ chồng không biết chúng ta đã phải đợi chờ bao nhiêu năm.

Vì vậy, hãy đối xử tốt với bản thân mình, đối xử tốt với người bên cạnh mình, trân quý những gì chúng ta đang có.

Có như vậy thì thiện duyên của kiếp này mới mang đến cho chúng ta phúc báo.

Câu chuyện thứ 6:

Trong thế gian người ta thường nói có nợ mới có duyên, đúng như vậy, duyên của thế gian đến như một sự nhân quả, đến để trả nợ cho nhau ở kiếp trước

Trong sự tái sinh luân hồi, duyên sẽ tồn tại, nhân - quả ân oán đời trước sẽ theo duyên này đến đời sau.

Thời đức Phật còn tại thế có câu chuyện, hai mẹ con nhà nọ thất lạc nhau lúc đứa con còn rất bé vì chiến tranh nên họ lưu lạc nhau, đến khi họ gặp nhau thì họ không còn nhận ra nhau là mẹ - con nữa mà họ đem lòng yêu nhau vì họ thấy có cái gì đó quyến luyến giữa hai người?!

Đến ngày họ làm lễ thành hôn, lúc đó Phật đi qua và đức Phật khuyên ngăn cuộc tình đó, đức Phật gọi đó là Nghiệp Duyên.

Nhưng bị họ chống đối quyết liệt, họ phải đến với nhau cho bằng được.

Cuối cùng Ngài sử dụng Thiên nhãn thông giúp cho họ thấy quá khứ của chính mình, hai mẹ con đã nhận ra nhau.

Trong đạo Phật thì kiếp trước và kiếp này hay quá khứ của kiếp này không hoàn toàn khác nhau mà là một, một sự chuyển đổi, hoán đổi và liên tục từ cảnh giới này sang cảnh giới khác nhưng nghiệp lực không thay đổi.

Lấy ví dụ: Hai vợ chồng thương nhau sống với nhau hạnh phúc, nhưng bỗng nhiên người vợ hay người chồng lại có thêm người khác bên ngoài.

Đó là nhân quả của duyên và nợ.

Điều này bị xã hội vô cùng lên án đó là vi phạm đạo lý làm người, là tội lỗi nặng nề.

Phật giáo thì xem đó như là món nợ mà người đó phải trả, hoặc chính họ tạo ra một nghiệp mới (nợ).

Đến với đạo Phật, phải biến chuyển đổi tình cảm và nợ duyên đó thành phước lành giúp cho mình tinh tấn trong việc phụng sự đạo Pháp mới mong được giải thoát được nợ duyên đó.

Để hướng đến cuộc sống an lạc, hạnh phúc ngay tại đời này.

Còn đối với những người không thấm nhuần giáo lý cao siêu nhiệm mầu của đức Phật thì xem nó như là một trò chơi tình ái và dục vọng, vì vậy mà nghiệp vẫn còn, và tự chuốc lấy khổ đau, khi gia đình ly tán, ghen tuông, kiện tụng đeo đẳng đời sống của ta....Và do vậy, luân hồi duyên và nợ.

Trong cuộc sống thường ngày có rất nhiều thắc mắc khó lý giải như:

"Vì sao ở thế gian có đôi vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc nhưng chỉ một thời gian ngắn ngủi rồi chia tay?

Vì sao có đôi bạn trẻ yêu nhau rất lâu khi sắp thành hôn lại bỏ nhau?

- Đó là duyên, nợ đã hết:

Vì sao hai người vừa gặp nhau trong giây lát đã tin tưởng và yêu say đắm?

Vì sao có đôi vợ chồng người vợ bị đánh đập, mắng chửi tàn nhẫn nhưng vẫn tận tâm chăm sóc chồng không bỏ được?

Vì sao có người luôn quan tâm lo lắng và hết mực yêu thương người bạn ngoài đời hơn cả chính mình?

Tất cả là vì nợ - duyên vẫn còn, đó là nghiệp của mình tạo ra ở kiếp trước nên mình phải trả.

Là người con Phật phải biết tu tập lấy tâm từ bi hóa giải nghiệp chướng đó mới mong thoát khỏi luân hồi duyên nợ, đó mới là trách nhiệm của người có hiểu đạo Phật!

Và cứ như thế ta tu tập từ đời kiếp này sang đời kiếp khác thì chúng ta tìm đến cái Duyên với Phật Pháp.

Chúng ta sẽ hưởng Phước lành nếu biết tạo cái duyên nợ của thế gian đến với Phật Pháp.

Có thể duyên đó đến trong giây lát rồi biến mất và cũng có thể duyên đó tồn tại mãi mãi đến kiếp sau vì trong duyên đó còn có nợ.

Nhưng còn nợ của duyên thì phải trả, không trả thì còn nghiệp mà còn nghiệp thì không thể giải thoát.

Như vậy chúng ta phải tu tập ngay từ kiếp này, giây phút này đừng để chậm hơn, để chúng ta có cuộc sống an lạc tương ứng.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Cấp Bậc Bài Vị Đạo Sĩ


Cấp bậc bài vị của Đạo Sĩ chia làm nhiều cấp bậc, thăng tiến một cấp bậc mới đạo sĩ sẽ học và sử dụng được bùa, chú, pháp khí.... cấp cao hơn.

Việc thăng tiến bài vị phụ thuộc vào việc tích lũy âm đức, thông tin dưới đây hoàn toàn dựa theo bộ truyện Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân, không có tác dụng tham khảo làm tài liệu!

" Âm đức chính là số công đức khi đạo sĩ siêu độ và giết chết quỷ hồn quỷ linh, không phải dựa vào tuổi thọ.

Giết và bắt càng nhiều quỷ, âm đức càng tăng."

"Bài vị đạo môn chính là Tam Thanh Thiên Sách, âm đức được cộng dồn đến một mức độ nào đó rồi cử hành nghi thức cầu xin Tam Thanh, sẽ có thể được sắc phong."

"Pháp lực bản thân không có biến hóa, thế nhưng bài vị càng cao thì có thể tu luyện và thi triển càng nhiều pháp thuật."

"Từ Đạo đồng đến Thiên sư khi sử dụng pháp khí phải căn cứ theo màu sắc của bài vị, theo thứ tự là vàng, lam, đỏ, tím, uy lực mỗi thứ không giống nhau."

- Diệp Thiếu Dương chuyên sử dụng phù màu tím, cấp cao nhất.

Sau này học được thêm Ám Kim Thần Phù, uy lực vô cùng.

Đôi khi, tích lũy âm đức chưa hẳn sẽ tấn chức bài vị, ví dụ như Diệp Thiếu Dương khi xuống núi, bài vị của hắn đạt ngưỡng Địa Tiên, sau này nhờ ngộ đạo mà tăng dần lên.

Các cấp bậc tăng dần như sau:

- Đạo đồng: Tương đương nhập môn.

- Phương Sĩ: Người tu đạo đạt được bài vị Phương Sĩ, Thiên Nhãn sơ khai, trở thành con mắt âm dương, có thể thấy rõ chân tướng quỷ mị.

- Chân Nhân: Người đạt được bài vị chân nhân, tiến hóa Thiên Nhãn Thông, có thể thấy rõ một số bản chất hư vọng của vật chất.

- Thiên Sư: Sử dụng được linh phù cấp cao nhất, màu tím.

- Địa Tiên:

- Linh Tiên: Có thể mở ra Thiên Nhãn Quang, có thể một kích giết chết hoặc làm bị thương tà vật cường đại, tiêu hao cương khí, không thể sử dụng thường xuyên.

- Thượng tiên: Mạnh tới nỗi có thể nhẹ nhàng giết chết một Thiên Sư.

- Tạo Hóa:

- Vô Cực:
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Ngũ Đại Thiên Sư


Gồm những vị:

-Trương Đạo Lăng, Trương Quả, Diệp Pháp Thiện, Lữ Đồng Tân, Vương Trùng Dương-

********

Cần đặc biệt chú ý, "Ngũ Đại Thiên Sư" ở đây không phải dựa theo đạo pháp cao thấp, cũng không phải dựa theo độ nổi tiếng, mà là năm người có ảnh hưởng lớn nhất đối với Đạo môn...

Đặc biệt chú ý, Đạo môn Trung Hoa bắt nguồn từ xa xưa, qua dòng chảy dài, xuất hiện rất nhiều nhân vật mạnh mẽ, tuy nhiên ở đây chỉ bình năm người, bởi vì quá nhiều nên chỉ chọn ra năm nhân vật đại biểu.

Như Trần Đoàn, La Công Viễn, Cát Huyền, Tam Mao Chân Quân, Hoài Nam Bát Công...

Tôi tạm thời sẽ không đề cập tới (tương lai sẽ viết một bài dựa theo pháp lực và bài danh).

Giới thiệu sơ lược một chút về năm vị lão tổ:

1.

Trương Đạo Lăng – Trương Thiên Sư (Người sáng lập giáo phái Ngũ Đấu Mễ Đạo)

Tính danh: Trương lăng

Biệt danh: Trương Đạo Lăng

Đạo hiệu, thụy hào: Thiên Sư Lão Tổ, Chính Nhất Chân Nhân,

Triều đại: Tây Hán

Sinh ngày: ngày 22/2 năm 34 Sau công nguyên

Qua đời: năm 156 Sau công nguyên

Tác phẩm tiêu biểu: Lão Tử Tưởng Nhĩ Chú

Nơi sinh: Huyện Phong, thôn A Phòng (nay là huyện Phong, thôn Phí Lâu, tỉnh Giang Tô)

Sở trường đặc biệt: Phù Triện

Pháp khí chuyên biệt: Thư hùng kiếm

Công trạng chủ yếu: Sáng lập Chính Nhất Minh Uy Đạo, tức Thiên Sư Đạo.

Tru diệt lục thiên ma vương, bát đại quỷ soái, chứng hỗn nguyên đại đạo.

Đệ nhất Đại Thiên Sư Đạo giáo.

(Trong sách Thuỷ tổ Trương Vô Sinh, đệ nhất đại thiên sư, tổ sư gia Long Hổ Sơn, kỳ thực cũng là tổ sư gia núi Thanh Thành)

2.

Lữ Đồng Tân – Lữ Tổ

Tính danh: Lữ Đồng Tân

Biệt danh: Lữ Thuần Dương

Triều đại: Đường triều

Đạo hiệu, thụy hào: Diệu Đạo Thiên Tôn, Thuần Dương Tử, Lữ Nham, Lữ Tổ

Sinh ngày: 4/5 năm 798 Sau Công nguyên (ngày mười bốn tháng tư năm Mậu Dần)

Nơi sinh: Chiêu Hiền Lý (nay thuộc trấn Vĩnh Lạc, huyện Nhuế Thành, tỉnh Sơn Tây)

Tác phẩm tiêu biểu phẩm: Lữ Tổ Niên Phổ , Lữ Tổ Thi Tập, Thánh Đức Thiên, Chỉ Huyền Thiên, Trung Hiếu Khóa , Bách Tự Bia

Sở trường đặc biệt: Pháp lực thông huyền, kiếm pháp có một không hai trong thiên hạ.

Pháp khí chuyên biệt: Thông thiên linh kiếm

Công trạng chủ yếu: Đại tông sư Đạo giáo, khai sáng ngũ đại phái Đạo giáo, khiến Đạo giáo phát dương quang đại

(Phong lưu nhất Đạo môn, cũng đẹp trai nhất, nổi danh nhất, là một trong Bát Tiên)

3.

Vương Trùng Dương - Toàn Chân Khai Hóa Chân Quân

Tính danh: Vương Trùng Dương

Biệt danh: Vương Triết, Vương Trung Phu Đẳng

Triều đại: Tống triều

Nơi sinh: Kinh Triệu Hàm Dương (Nay là Thiểm Tây Hàm Dương), thôn Đại Ngụy

Sinh ngày: 11/3/1113

Qua đời: Năm 1170

Tác phẩm tiêu biểu phẩm: Trùng Dương Lập Giáo Thập Ngũ Luận, Trùng Dương Giáo Hóa Tập, Phân Lê Thập Hóa Tập

Địa điểm tu luyện: Chung Nam Sơn

Sở trường đặc biệt: Tu tâm, vạn pháp quy tông

Pháp khí chuyên biệt: Kim bồ phiến

Công trạng chủ yếu: Người khai sáng Toàn Chân Giáo (một trong ngũ tổ của Toàn Chân Giáo cùng với Vương Huyền Phủ, Chung Ly Quyền, Lữ Động Tân, Lưu Hải Thiềm), một trong bắc tông Ngũ Tổ của Đạo giáo.

4.

Trương Quả Lão - Quảng Tông Thiên Sư

Tính danh: Trương Quả

Biệt danh: Trương Quả Lão

Triều đại: Đường triều

Đạo hiệu, thụy hào: Quảng Tông Đạo Nhân, Thông Huyền Tiên Sinh, Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu

Sinh ra: 618 Sau Công nguyên

Qua đời: 907 Sau Công nguyên

Nơi sinh: Hà Bắc – huyện Quảng Tông - Trại thôn Trương Cố

Tác phẩm tiêu biểu phẩm: ** Đại Thần Đan Sa Chân Yếu Quyết, Khí Quyết, Âm Phù Kinh Thái Vô Truyền, Quả Lão Tinh Tông mười một bộ.

Địa điểm tu luyện: Trung Điều Sơn, Hằng Sơn

Sở trường đặc biệt: Nội ngoại đan kiêm tu, tính mệnh song tu

Pháp khí chuyên biệt: Ngư cổ

Công trạng chủ yếu: Đạo môn luyện đan thuật tập đại thành giả, làm hơn mười mấy bản, tất cả đều là kinh điển Đạo môn.

(Ở trong sách, lúc Trương Quả Lão chứng đạo hỗn nguyên, chém lưỡng đại linh thân một thiện một ác thì đều dùng một đạo hiệu sinh tiền: Thông Huyền Đạo Nhân, Quảng Tông Thiên Sư)

5.

Diệp Pháp Thiện – Đạo Nguyên

Triều đại: Đường triều

Đạo hiệu, thụy hào: Đạo nguyên, Thái Tố, La Phù Chân Nhân

Quan tước: quốc sư Đại Đường, Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu, Việt Quốc Công

Sinh ngày: Năm 616 sau Công nguyên

Qua đời: năm 720 sau Công nguyên

Tác phẩm tiêu biểu phẩm: Lưu Thi

Địa điểm tu luyện: Trường An

Sở trường đặc biệt: Vạn pháp giai thông

Pháp khí chuyên biệt: Thất Tinh Long Tuyền Kiếm, Thiên Sư Ấn (mất)

Công trạng chủ yếu: đứng đầu đạo môn Đại Đường sơ kỳ, pháp thuật đăng phong tạo cực, Đường Huyền Tông ngự phong quốc sư, suốt đời đấu pháp vô số, không một lần thất bại.

(Trong truyện Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân là lão tổ tiên của Diệp Thiếu Dương – tham khảo thêm tại Mao Sơn Phổ: Thông Tin Nhân Vật – Diệp Thiếu Dương.

Vị này sẽ được long trọng giới thiệu một chút, so công tích, tác phẩm, Diệp Pháp Thiện không bằng bốn vị còn lại, sở trường của ngài kỳ thực chỉ có một điểm: Có thể đánh!

Lúc đó Đại Đường vừa qua Khai Nguyên thịnh thế, có bốn vị pháp sư đứng đầu: Diệp Pháp Thiện, La Công Viễn, Trương Quả, Kim Cương Tam Tạng; bốn người thường xuyên đấu pháp với nhau, Diệp Pháp Thiện lại thường xuyên đấu pháp với Kim Cương Tam Tạng, mỗi lần đấu xong đều thắng (có hứng thú có thể tìm tòi đọc một chút).

Truyền thuyết về Diệp Pháp Thiện có thuật lại, ngài hay dẫn theo Đường Huyền Tông đi đến cung trăng xem cung nga khiêu vũ ca hát, sau khi trở về làm một bài từ khúc trứ danh, đó chính là Nghê Thường Vũ Y Khúc.

Diệp Pháp Thiện suốt đời trảm yêu trừ ma, lưu lại rất nhiều sự tích, sau lại được phong làm Việt Quốc Công, quốc sư Đại Đường, đồng thời đứng đầu Đạo môn thiên hạ thời đó, khiến Đạo môn phát dương quang đại, trở thành quốc giáo...

Bất kể là tư liệu hay là bách khoa nào cũng đều tả rằng Diệp Pháp Thiện thường xuyên trảm yêu trừ ma và đấu pháp, xem ra huyết thống thật đúng là truyền thừa... – trích lời Thanh Tử)

- Trong truyện Diệp Thiếu Dương được gọi là Diệp thiên Sư, dù thực lực đạt tới Thượng Tiên bởi vì đạo môn mặc định, con cháu họ Diệp, họ Trương, (một họ nữa mà quên rồi 🙁 ) khi là đạo sĩ đều được gọi là Thiên Sư, cho dù thực lực có chưa đạt tới hay đã vượt qua bài vị Thiên Sư, sau này trong truyện sẽ có đoạn giải thích.
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Cương Thi (2)


I, Phương thức di chuyển:

Đầu tiên trước phải giải thích một chút về cách di chuyển của cương thi: "Nhún một cái nhảy một cái".

Đại đa số mọi người cho rằng "Sau khi chết thân thể cương thi cứng ngắc, các khớp xương không như lúc còn sống.

Cộng thêm thế nhân thường sợ những thứ chưa siêu thoát, cho nên họ gắn cho cương thi cách di chuyển khác người!"

Điều này thật ra là một sự hiểu lầm, tôi tin rằng rất nhiều người đều cho rằng cương thi di chuyển như vậy, kỳ thực không phải.

Trước kia có truyền thuyết như vậy: Vì không cho cương thi chạy loạn, một số đạo sĩ hoặc người làm nghề cản thi (biến thi thể người thành cương thi, nhằm đưa về quê nhà) dán Trấn Thi Phù lên trán, vừa để điều khiển cương thi vừa là một ký hiệu, thường di chuyển vào trời tối để mọi tránh người ta nhìn thấy.

Giơ tay lên là để xếp thành hàng ngũ, đưa về phía trước để tránh cương thi chạy loạn.

Điều này đúng, nhưng mà những thứ này chỉ nhằm đối phó một số cương thi cấp thấp đến cương thi phổ thông, chứ một số cương thi hơn trăm năm hoặc oán khí quá mạnh thì Trấn Thi Phù đối với chúng hiệu quả cũng khá ngắn, sợ là chưa lắc chuông với niệm thần chú đã bị chúng bóp chết rồi.

Hơn nữa, suy nghĩ kỹ một chút ta đều thấy ở bất kỳ thời kỳ nào, hầu như tất cả mọi người đều biết "Cương thi nhún một cái nhảy một cái".

Tựa như từ nhỏ trong tiềm thức đã được dạy "1+ 1= 2".

Điều này dẫn tới nguyên nhân mọi người hiểu lầm về cách di chuyển của cương thi.

Nhưng cũng có thể một số cương thi trước khi chết bị bệnh viêm khớp chẳng hạn, di chuyển bình thường khó khăn nên chúng có thể di chuyển bằng cách "nhún một cái nhảy một cái"

Phần một có viết về nhiều loại cương thi, trong số đó có Hạn Bạt có thể bay, Hống thì nhảy.

Nên ta có thể kết luận cương thi có nhiều cách di chuyển.

II, Trang phục:

Xem nhiều phim cương thi của HongKong (đặc biệt là phim Lâm Chánh Anh) mọi người đều biết, thông thường cương thi đều mặc quan phục Thanh triều.

Nhưng trên thực tế những thứ này chỉ là một số cương thi cấp thấp, chỉ có cương thi cấp thấp mới không chú ý quần áo của mình.

Đẳng cấp cao cương thi đã sinh ra thần trí, chúng cũng giống Vampire của phương Tây, thì làm sao lại thích thứ quan phục nhàm chán ấy.

Đã từng có ai nghĩ tới: Các sách cổ của TQ đều nói cương thi đã xuất hiện từ lâu.

Tại sao nhất định đều phải mặc quan phục Thanh triều?

Bởi vì đạo diễn HongKong thấy quan phục thời Thanh có tông màu tối, nhìn đáng sợ hơn.

Nói tới quan phục thời Hán, Tống, Đường thì đều là xanh đỏ loè loẹt.

Cứ thử tưởng tượng buổi tối có người mặc quần áo loè loẹt nhảy qua thì ai sợ cơ chứ.

Lại nói đến quan phục?

Thời xưa không làm quan lấy đâu ra quan phục, dù có tiền tiệm vải người ta cũng không dám bán.

Còn thêm lý do thời cổ người dân rất tin chuyện ma quỷ, tin rằng có chuyện sau này người chết vùng dậy.

Cho nên khi hạ táng còn cột chặt xác chết, nhiều nơi còn đóng cả đinh, cho tới giờ vẫn còn tập tục này.

Cho nên suy nghĩ về việc cương thi mặc quan phục là sai lầm.

Nếu đứng trên góc độ thực tế thì cương thi cấp thấp sẽ mặc trang phục khi hạ táng, cương thi cao cấp sẽ mặc trang phục mà chúng muốn.

III, Các vật cương thi sợ

Cương thi sợ cái gì?

Người ta chia chúng thành vài loại, đương nhiên là có đúng cũng có sai: (giải thích trong ngoặc)

1.

Cái gương. (Thật: gương theo ngũ hành là kim thủy chi tinh – tinh hoa của hành kim và thuỷ, bên trong sáng bên ngoài tối.

Gương cũng là vật được nhắc tới khi muốn nhốt quỷ.

Đặc biệt là gương bát quái)

2.

Đào Mộc kiếm, Đàn Mộc kiếm (gỗ đàn hương), kiếm từ gỗ Tùng trăm năm trở lên... (Thật: gỗ đào, đàn hương, tùng... là tinh hoa của ngũ hành, có thể chế phục tà khí, chế ngự bách quỷ.

Hơn nữa còn làm theo hình kiếm, đâm người còn được nói gì đâm quỷ)

3.

Gà gáy. (Chưa xác minh: Quỷ nghe thấy gà gáy thì lui, nhưng cũng có nhiều loại đếch sợ.

Đương nhiên cương thi cũng vậy)

4.

Bảy hạt táo. (Thật: ghim bảy hạt táo vào huyệt đạo của cương thi.

Cái này trừ phi cương thi ngủ say, hôn mê hoặc là đánh rắm mới có thể.

Bằng không ghim tới tận 7 cái, chưa sờ tới người nó đã bị giết rồi.)

5.

Chuông (nửa thật nửa giả, thông thường chuông đối với cương thi không gây ra bất kỳ thương tổn nào, ngược lại còn làm chúng hưng phấn.

Trừ phi là pháp khí của Đạo gia)

7.

Kinh dịch (Giả: cương thi sợ một quyển sách?

Ngoại trừ pháp sư cầm chúng để đọc chơi.)

8.

Lịch (Giả, giống như trên )

9.

Đấu mực (Thật: Chỉ có thể trói cương thi lại, làm chậm hành động của chúng)

10.

Dùi đục đá (Nửa thật nửa giả: cương thi bất tử, không phải đồ vật được thi pháp thì không thể gây thương tổn.

Cái này đâm nó cũng được)

11.

Phù chú (Thật đương nhiên có tác dụng rồi)

12.

Gạo nếp, vụn sắt, đậu đỏ, tỏi (Nửa thật nửa giả, mấy thứ này nếu như không có cách thi pháp, không dùng để đối phó với cương thi được.

Thi pháp cũng chỉ là cách tạm thời thương tổn tới chúng mà thôi.

Từ một số phim liên quan tới cương thi của HongKong thời xưa quán thâu cho chúng ta một nhận thức sâu sắc rằng gạo nếp có thể xua tan độc thi, cản cương thi.

Nhưng thực tế có phải như vậy?

Đứng trên góc độ thực tế mà nói thì vài hạt gạo nhỏ như vậy mà một con cương thi có thể sợ được sao?

Nếu bạn thực sự may mắn gặp được một con cương thi, có thể thử xem gạo nếp có hiệu quả thật hay không.

Nhớ kỹ phải live stream cho mọi người biết nhé.

Ở một số vùng phía nam TQ có phong tục khi người trong nhà qua đời sẽ ăn gạo nếp để trừ tà khí.

Đây có lẽ chính là lý do trong phim hoặc truyện có nói rằng cương thi sợ gạo nếp.

Đứng trên góc độ huyền thuật phương đông:

Gạo nếp nằm trong ngũ cốc, được dùng để tế trời.

Đồng thời phải nộp 5 đấu gạo mới được gia nhập Ngũ Đấu Mễ Đạo – Chính Nhất Giáo của Trương Lăng, cũng có liên quan nhiều tới Long Hổ Sơn và Mao Sơn)

13.

Móng lừa đen (Nửa thật nửa giả: Chính từ mấy tác phẩm như Đạo Mộ Bút Ký hay Ma Thổi Đèn đều nói đến nó.

Nhưng lấy một cái móng lừa đâm nó thì nó càng nổi điên, giết bạn càng nhanh hơn.

Đến anh Hồ Bát Nhất còn vài lần mém chết nữa là bạn không có buff nhân vật chính.)

14.

Máu lừa đen, máu chó đen, máu gà trống đen, nước đái đồng tử, máu thiên sư (Thật: Chúng đều là thứ ảnh hưởng tới hồn phách)

15.

Pháo (Thật: Có tác dụng nhất định với cương thi, xuất phát từ tập tục đốt pháo năm mới để xua đuổi tà ma)

16.

Hỏa thiêu (Thật, cũng là phương pháp tối ưu nhất.

Chỉ cần một mồi lửa đốt rụi thì thân xác cương thi chẳng thể làm gì nổi)
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Quyết Chú Đuổi Quỷ


KHU QUỶ CHÚ NGỮ ĐẠI TOÀN - BÁCH KHOA TOÀN THƯ VỀ THẦN CHÚ ĐUỔI QUỶ.

~Những điều cần biết khi gặp quỷ~

Khu quỷ chú 1: Ngã thị thiên mục, dữ thiên tương trục.

Tình như lôi điện, quang diệu bát cực .

Triệt kiến biểu lý, vô vật bất phục .

Cấp cấp như luật lệnh .

Khu quỷ chú 2: Ngũ tinh trấn thải, quang chiếu huyền minh .

Thiên thần vạn thánh, hộ ngã chân linh .

Cự thiên mãnh thú, chế phục ngũ binh .

Ngũ thiên ma quỷ, vong thân diệt hình .

Sở tại chi xử, vạn thần phụng nghênh .

Cấp cấp như luật lệnh .

Trí Vũ Chú (Chú gây mưa) : Ngũ đế ngũ long, hàng quang hành phong, nghiễm bố nhuận trạch, phụ tá lôi công .

Ngũ hồ tứ hải, thủy tối triêu tông .

Thần phù mệnh nhữ, thường xuyên thính tòng .

Cảm hữu vi giả, lôi phủ bất dung .

Cấp cấp như luật lệnh .

Diệt Ôn Dịch Chú : Thủy thanh phù mệnh, động uyên chính hình, kim việt tiền đạo, lôi cổ hậu oanh .

Binh trượng ức thiên, biến hóa chân linh .

Cảnh tiêu sở bộ, trung hữu uy thần .

Hoa du yết dụng, mạc xử thuật quy .

Trắc cấm động gia, hi uyên tấu minh .

Lễ cương đại ?

Đà mạc tử trì .

Ngưng âm hợp dương, lý cấm tà nguyên .

Yêu ma lệ quỷ, thúc tống cùng tuyền .

Cảm hữu kiền thí, nhiếp phó động uyên .

Phong đao khảo thân, vạn tử bất nguyên .

Cấp cấp như luật lệnh .

Tịnh Thân Thần Chú: Linh Bảo Thiên Tôn, an úy thân hình .

Đệ tử hồn phách, ngũ tạng huyền minh .

Thanh long bạch hổ, đội trượng phân vân .

Chu tước huyền vũ, thị vệ thân hình .

Cấp cấp như luật lệnh .

Uy Thiên Đại Pháp Thần Chú : Ngô phụng uy thiên đại pháp, Giang hà nhật nguyệt sơn hải tinh thần tại ngô chưởng trung, Ngô sử minh tức minh, ám tức ám .

Tam thập tam thiên thần tại ngô pháp chi hạ, Sử đông tức đông, sử tây tức tây, Sử nam tức nam, sử bắc tức bắc .Tòng ngô phong hầu, bất tòng ngô lệnh giả trảm thủ . . .

Nhập Hộ Chú: thiên lãng khí thanh, tam quang động minh .

Kim phòng ngọc thất, ngũ chi bảo sinh .

Huyền vân tử cái, lai ánh ngã thân .

Tiên đồng ngọc nữ, vi ngã trí linh .

Cửu khí tề cảnh, tam quang đồng .

Thượng thừa tử cái, thăng nhập đế đình .

Dĩ hạ vi bố bát quái thì tất tu yếu niệm đích!

Nhất bái ký châu đệ nhất khảm, nhị bái cửu ly đáo nam dương, Tam bái mão thượng chấn thanh châu, tứ bái dậu đoái quá tây lương, Ngũ bái hợi kiền ung châu địa, lục bái tị tốn từ châu thành,Thất bái thân khôn kinh châu giới, bát bái dần cấn duyện châu thành, Hành đàn đệ tử nhập trung cung .

Sát Quỷ Chú: Thái thượng lão quân giáo ngã sát quỷ, dữ ngã thần phương.

Thượng hô ngọc nữ, thu nhiếp bất tường.

Đăng sơn thạch liệt, bội đái ấn chương.

Đầu đái hoa cái, túc niếp khôi cương, tả phù lục giáp, hữu vệ lục đinh.

Tiền hữu hoàng thần, hậu hữu việt chương.

Thần sư sát phạt, bất tị hào cường, tiên sát ác quỷ, hậu trảm dạ quang.

Hà thần bất phục, hà quỷ cảm đương?

Cấp cấp như luật lệnh.

Sắc Ôn Chú: Sắc đông phương thanh ôn chi quỷ, hủ mộc chi tinh; nam phương xích ôn chi quỷ, viêm hỏa chi tinh; tây phương huyết ôn chi quỷ, ác kim chi tinh; bắc phương hắc ôn chi quỷ, hỗn trì chi tinh; trung ương hoàng ôn chi quỷ, phẩn thổ chi tinh.

Tứ thì bát tiết, nhân vượng nhi sinh.

Thần bất nội dưỡng, ngoại tác tà tinh.

Ngũ độc chi khí, nhập nhân thân hình.

Hoặc hàn hoặc nhiệt, ngũ thể bất ninh.

Cửu sửu chi quỷ, tri nhữ tính danh.

Cấp tu đãi khứ, bất đắc cửu đình.

Cấp cấp như luật kim.

Phòng Quỷ Chú: nhân lai cách trọng chỉ quỷ lai cách tọa sơn thiên tà lộng bất xuất vạn tà lộng bất khai

Huyền Khoa Cấm Chúc Cẩn Chú: Thiên hữu tam kỳ nhật nguyệt tinh thông thiên thấu địa quỷ thần kinh nhược hữu hung thần ác sát quỷ lai lâm địa đầu hung thần ác sát tẩu bất đình thiên thanh thanh địa linh linh đệ tử phụng tam mao tổ sư chi hào hà thần bất thảo hà quỷ bất kinh cấp phụng tổ sư mao sơn lệnh tảo trừ quỷ tà vạn yêu tinh cấp phụng thái thượng lão quân lệnh khu ma trảm yêu bất lưu tình ngô phụng tam mao tổ sư cấp cấp như luật lệnh sắc

Siêu Độ Chú: thái thượng sắc lệnh siêu nhữ cô hồn quỷ mị nhất thiết tứ sinh triêm ân hữu đầu giả siêu vô đầu giả sinh thương thù đao sát khiêu thủy huyền thằng minh tử ám tử oan khúc khuất vong trái chủ oan gia thao mệnh nhi lang quỵ ngô thai tiền bát quái phóng quang trạm nhữ nhi khứ siêu sinh tha phương vi nam vi nữ tự thân thừa đương phú quý bần * do nhữ tự triệu sắc tựu đẳng chúng cấp cấp siêu sinh sắc tựu đẳng chúng cấp cấp siêu sinh

Phật giáo Khu quỷ chú:

Lục Tự Đại Minh Chú Toàn Văn: Oṃ maṇi padme hūṃ (Ám mani bát mê hồng)

30 PHƯƠNG PHÁP KHU QUỶ DÂN GIAN:

1.

Không thể bối rối (người hoảng hốt sẽ tự loạn trận cước).

2.

Không thể lớn tiếng kêu sợ hãi (sẽ phát ra âm vang).

3.

Không thể cuồng loạn (hoang mang lo sợ tự chịu diệt vong).

4.

Không thể chạy loạn (sẽ tự chui đầu vào lưới).

5.

Không thể nhắm mắt (mắt là cái thần của người).

6.

Không thể nín thở (không dương khí tự diệt).

7.

Không thể kêu cứu (gặp quỷ kêu cứu chỉ có thể làm liên lụy người vô tội, trừ phi phụ cận có chùa chiền).

8.

Không thể ngất (té bất tỉnh sẽ không có biện pháp).

9.

Không thể vứt bỏ đồng bạn (nhiều người lực lớn, phàm là người thường chạy trối chết đều khó thoát khỏi quỷ chưởng).

10.

Không thể hãm hại người khác (tự tâm sinh ma tất để quỷ lợi dụng).

11.

Nếu có tông giáo tín ngưỡng thì hẳn là nên cầu nguyện, nếu như không có tốt nhất cầu Phật, Bồ Tát (bởi vì Phật giáo thần lực lớn nhất, hữu cầu tất ứng).

12.

Nếu như tín ngưỡng Phật giáo, tốt nhất nắm giữ pháp khí (cần được khai quang) hoặc là niệm tụng chú ngữ, cuối cùng hô to Phật hiệu.

13.

Nếu như tín ngưỡng Đạo giáo, thì cần được chân truyền, chú ý tới phương vị của mình.

14.

Nếu như tín ngưỡng Cơ Đốc (Thiên chúa giáo), hãy làm dấu thánh; tốt nhất là nắm giữ thánh vật Thập Tự Giá.

15.

Nếu như tín ngưỡng Đạo Hồi, thì...

16.

Gặp phải quỷ, phải biết rõ vị trí của mình.

17.

Nếu đang ở trung tâm, hướng tây bắc là cát (lành) nhất, hướng đông bắc là hối (mờ) nhất (theo Khám Dư Học).

18.

Tận lực đứng ở nơi có ánh nắng.

19.

Không thể đứng ở dưới đáy ánh trăng (nếu như đang vào buổi tối dã ngoại).

20.

Nếu như có tín ngưỡng Phật giáo, hướng chính đông là vị trí tốt nhất (phương đông chính là nơi Bất Động Minh Vương suất lĩnh chúng kim cang, Kim Cang Minh Vương.

Đây là phương có công năng c hàng phục ác quỷ Diêm La, lại là phương vị Phật Tổ thành đạo, lợi ích phong phú).

21.

Thấy rõ mình hoàn cảnh chung quanh của mình, không được chạy vào góc chết.

22.

Nếu như ở tại nơi bình thường (có người cư trú), thì lựa chọn đường lớn, đừng chọn đường quanh co quạnh quẽ.

23.

Không được đứng dưới đám mây, công trình kiến trúc có bóng âm.

24.

Lúc có nhiều người không được phân tán nhau ra (phàm là phân tán chạy trốn , bình thường kết cục đều rất thảm).

25.

Nếu như phát hiện có quỷ, phải phân biệt là mãnh quỷ hay là u linh (hai loại phân loại cơ bản của quỷ học).

26.

Nếu như là u linh, thì chú ý (vị trí thiên) phương vị, tiến hành phương pháp đơn giản là có thể giải quyết.

27.

Nếu như phát hiện là mãnh quỷ (hữu hình hữu thanh), thì chú ý có thể đào thoát hay không, trừ phi vạn bất đắc dĩ, không thể không biết tự lượng sức mình.

Là quỷ thì đừng tranh với nó nếu không muốn chuốc lấy phiền toái, dù cho đụng phải quỷ cũng tránh được nên tránh.

28.

Nếu như phát phát hiện mình bị quỷ cuốn lấy, như quỷ đả tường thì đầu tiên phải trấn định.

29.

Nếu như cuốn lấy mình là u linh oán lực rất mạnh thì cần phải có pháp khí (khai quang).

30.

Nếu như cuốn lấy mình là mãnh quỷ thì cần phải có pháp khí đánh nhau (như binh khí).
 
Mao Sơn Tróc Quỷ Nhân Ngoại Truyện
Tứ Đại Cương Thi Thủy Tổ


TỨ ĐẠI CƯƠNG THI THỦY TỔ: DOANH CÂU, HẬU KHANH, HẠN BẠT, TƯỚNG THẦN.

Truyền thuyết về tứ đại cương thi thuỷ tổ Trung Hoa cổ đại không giống nhau.

Có nơi ghi chép lại, tứ đại cương thi thuỷ tổ xuất hiện vào thời hồng hoang yêu thú (sinh ra trước nhân loại), cũng có nơi ghi chép, tứ đại cương thi thuỷ tổ xuất hiện ở thời nhân loại đã sinh ra.

Trên thực tế, bất kể truyền thuyết nào đi chăng nữa, cũng chưa biết chắc chắn là đúng hay sai.

Như vậy, tứ đại cương thi thuỷ tổ rốt cuộc là xuất hiện như thế nào?

Được sinh ra như thế nào?

Bọn họ là ai?

Chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn một truyền thuyết như sau...

Về tứ đại cương thi thuỷ tổ, có một truyền thuyết tương đối đáng tin cậy, nói về Doanh Câu, Hậu Khanh, Hạn Bạt, Tướng Thần.

Lai lịch của bọn họ càng cực kỳ thần bí!

Trong sự tích dân gian, cương thi vô hồn vô phách, bất tử bất hoại.

Cương thi dễ đạt tới trường sanh bất tử.

Chỉ cần không gặp chuyện ngoài ý muốn, thọ mệnh cương thi trên căn bản sẽ là vô hạn!

Càng kỳ lạ chính là cương thi thích uống máu người, đồng thời người bị cắn sẽ biến thành cương thi mới!

Trên thực tế, trong truyền thuyết mặc dù có tứ đại cương thi thuỷ tổ, nhưng không phải ai cũng là cương thi hút máu!

Trong tứ đại cương thi thuỷ tổ chỉ có Tướng Thần mới là cương thi hút máu, bởi vậy, những cương thi mà chúng ta đồn có thể đều là hậu đại của Tướng Thần.

Tướng Thần là do thân Hống (Còn gọi là Vọng Thiên Hống, là thần thú thượng cổ trong truyền thuyết của Trung Quốc) biến thành, vô hồn vô phách, bởi vậy, các cương thi hậu đại của Tướng Thần không có hồn phách, đồng thời kế thừa đặc tính hút máu của Tướng Thần.

Một, cương thi thuỷ tổ - Doanh Câu:

Doanh Câu nguyên bản là một đại tướng quân - thủ hạ của Hoàng Đế.

Đáng tiếc trong lần đại chiến với Xi Vưu không tuân thủ chỉ lệnh của Hoàng Đế mà dẫn đến kết cục binh bại.

Hoàng Đế trong cơn giận dữ liền bắt Doanh Câu dẫn thủ hộ xuống chốn hoàng tuyền minh hải.

Doanh Câu biểu hiện tiếp nhận nghiêm phạt của Hoàng Đế nhưng bên trong nội tâm đã có chút bất mãn, có điều lại không thể tránh được mệnh lệnh, cho đến một ngày, cơ hội của hắn đã tới.

Sau khi một phần hồn phách của Hống hữu ý vô tình trôi dạt đến hoàng tuyền, Doanh Câu mới bắt đầu không chút do dự xuất thủ, muốn đánh chết hồn phách của Hống.

Mặc dù hồn phách của Hống chỉ là một tàn hồn nhưng Hống cũng là một trong tứ đại cổ thần, cho dù chỉ là một tàn hồn nhưng thần lực cũng vượt xa Doanh Câu.

Tàn hồn Hống không chút do dự bay vào trong cơ thể của Doanh Câu.

Doanh Câu mới đầu không ngừng phản kháng, thế nhưng dưới sự ưu hóa không ngừng của Hống, Doanh Câu tự nhiên chậm rãi tiếp nhận lời đề nghị của Hống: hồn phách hai người dung hợp, trở thành một "thần" cường đại hơn!

Sau khi hồn phách dung hợp thành công, Doanh Câu trở thành một trong tứ đại cương thi thuỷ tổ!

Thực lực của bản thân Doanh Câu vốn đã cực kỳ mạnh mẽ, sau khi dung hợp hồn phách của Hống rồi, thân thể của hắn phát sinh biến hóa, thần lực trong cơ thể biến thành thi khí vô tận, đồng thời thi khí được làm dịu, biến thân thể Doanh Câu trở nên cứng rắn hơn, kiên cố hơn, trở thành thân kim cương bất tử.

Doanh Câu sau khi biến thành cương thi thuỷ tổ cũng không cam lòng làm tiểu thần tiên bị Hoàng Đế giáng chức xuống hoàng tuyền, vì vậy đã điên cuồng trả thù Hoàng Đế, không ngừng làm hắc loạn nhân gian.

Hoàng Đế, với tư cách là một thủ lĩnh, cầm Hiên Viên Kiếm đại chiến với Doanh Câu.

Doanh Câu tuy rằng lợi hại thế nhưng Hiên Viên Kiếm lại là một Sát Kiếm, sát khí trên thân kiếm chính là khắc tinh của thi khí.

Bởi vậy, dưới sức mạnh của thần binh, Doanh Câu cuối cùng cũng bại trận.

Trận chiến này giằng co tròn 49 ngày, cuối cùng, Hoàng Đế dùng Hiên Viên Kiếm hủy diệt thân thể của Doanh Câu.

Doanh Câu cũng xem như là cực kỳ hùng mạnh, hồn phách của hắn mang theo nguồn thi khí vô tận bỏ trốn mất dạng.

Sau đó, chẳng ai biết Doanh Câu đi đâu.

Hai, cương thi thuỷ tổ - Hậu Khanh:

Hậu Khanh là thân đệ đệ của Hoàng Đế, ban đầu cũng là một viên Đại tướng bang trợ Hoàng Đế đánh Xi Vưu.

Hậu Khanh dũng mãnh thiện chiến, thân thể cường tráng, rất được Hoàng Đế trọng dụng.

Đáng tiếc, Xi Vưu có 81 huynh đệ cường hãn khác, mỗi người lại rất mạnh mẽ dũng mãnh, lại một lần nữa trong chiến tranh, Hậu Khanh bất hạnh chết trận.

Sự tình cũng không đơn giản như vậy.

Sau khi Hậu Khanh phơi thây nơi hoang dã, hồn phách của hắn phiêu dạt bốn phía.

Một thời gian dài sau, oán niệm của Hậu Khanh càng ngày càng nặng: Vì lúc sinh tiền Hậu Khanh liều mạng giết địch cho Hoàng Đế, thế nhưng sau khi chết lại không có ai đi nhặt xác cho hắ́n!

Hồn phách của Hậu Khanh càng lúc càng oán hận Hoàng Đế hơn.

Trùng hợp chính là, một phần hồn phách của Hống lại vừa mới phiêu du đến đây, hồn phách mặc dù chỉ là một phần ba thế nhưng đó cũng là một trong tứ đại cổ thần, thần thông cũng vô cùng cường đại.

Hống đối với Nữ Oa tâm tồn oán hận, sau đó Khanh đối Hoàng Đế cũng tâm tồn hận ý.

Hậu Khanh vì để trả thù Hoàng Đế nên đã nguyện ý đem ba hồn bảy phách của mình dâng hiến cho Hống.

Để sống lại lần thứ hai, tàn hồn Hống đã thôn phệ hồn phách của Hậu Khanh, đồng thời lợi dụng thân thể sứt mẻ của Hậu Khanh để sống lại, hóa thành tứ đại cương thi thuỷ tổ - Hậu Khanh!

Hậu Khanh có thể nói là cương thi khác với những cương thi khác, hắn là người đầu tiên chết mà phục sinh biến thành cương thi!

Hậu Khanh mặc dù là cương thi thuỷ tổ nhưng lại không phải là cương thi hút máu, mà là một loại cương thi bay.

Thân thể Hậu Khanh không mạnh mẽ, sức mạnh của hắn và linh lực cũng không cường đại, thế nhưng năng lực của hắn lại hết sức đáng sợ —năng lực nguyền rủa cực kỳ cường hãn.

Để trả thù Hoàng Đế, Hậu Khanh ban đêm xông vào quân doanh, đại náo quân doanh một trận.

Tuy rằng lực công kích của Hậu Khanh không mạnh thế nhưng không phải là thần tiên bình thường có thể chống đối được.

Sau đó, Nữ Oa cản được hắn, hắn mới bỏ đi.

Hậu Khanh cũng trở thành một cương thi đoản mệnh nhất trong tứ đại cương thi thuỷ tổ, cũng là một cương thi thần bí nhất.

Hậu Khanh trước khi chết dùng linh hồn của mình hạ một câu chú lên thi thể vừa mới chết đi: Tất cả người hàm oan mà chết đều có thể biến thành cương thi!

Cũng chính là như vậy nên về sau người sau khi chết đi, thi thể liền có hiện tượng biến thành cương thi, cho nên mới phải xuất hiện tục hoả táng về sau.

Ba, cương thi thuỷ tổ - Hạn Bạt:

Con gái của Hoàng Đế nguyên danh là Nữ Bạt, tướng mạo xinh đẹp, đồng thời cũng hết sức thiện lương.

Sau một lần Hoàng Đế đại chiến Xi Vưu, Hạn Bạt vì lo lắng cho cha của mình mà tinh thần và thể xác đều mỏi mệt, lâm vào bạo bệnh.

Bệnh tình của Nữ Bạt cực kỳ nghiêm trọng, dựa theo lời Vu sư ngay lúc đó đã nói, Nữ Bạt không có thuốc nào cứu được.

Mà vào lúc bệnh tình của Nữ Bạt nguy kịch, một phần hồn phách của Hống phá phong ấn của Nữ Oa và Phục Hy, trốn thoát.

Để trả thù Nữ Oa, một phần hồn phách của Hống len lén lẻn vào căn phòng của Nữ Bạt, nhân cơ hội đoạt được thân thể của Nữ Bạt.

Mà phần hồn phách này của Hống bản thân lại không hoàn chỉnh, hồn phách không hoàn chỉnh không thể chiếm thân thể của Nữ Bạt.

Hống vì cướp đoạt thân thể của Nữ Bạt mà cố gắng dung hợp hết hồn phách của mình và ba hồn bảy phách của Nữ Bạt.

Lúc dung hợp, thân thể của Nữ Bạt xảy ra dị biến.

Tóc Nữ Bạt bắt đầu trắng xóa rụng đi, trán của nàng xuất hiện nhiều nếp nhăn, nước trong thân thể của nàng bắt đầu bốc hơi, trở nên cực kỳ khô cạn.

Càng đáng sợ hơn chính là, thân thể Nữ Bạt tản mát ra một loại nhiệt lượng khổng lồ!

Khu vực vài dặm quanh nơi ở của Nữ Bạt, hơi nước bốc lên rất nhanh, đất đai trở nên khô hạn không gì sánh được.

Nữ Bạt dị biến khiến Hoàng Đế và thôn dân sợ hãi.

Rơi vào đường cùng, Hoàng Đế phải đuổi Nữ Bạt ra ngoài, Nữ Bạt lưu vong ở phương bắc.

Bởi vì Nữ Bạt đến đâu, nước sông và hồ bốc hơi sạch sẽ đến đó cho nên Nữ Bạt được gọi là Hạn Bạt.

Cũng chính vì vậy, Hạn Bạt bị mọi người xưng là thần hạn hán.

Bởi vì Hạn Bạt là do Nữ Bạt và hồn phách của Hống dung hợp cho nên Hạn Bạt vẫn lưu lại một bộ phận ký ức của Nữ Bạt.

Cũng chính vì vậy, lúc Hoàng Đế đại chiến Xi Vưu, Nữ Bạt đã bang trợ Hoàng Đế đánh lùi Xi Vưu.

Hạn Bạt cũng đã có một cống hiến cho nhân loại.

Sau đó, Hạn Bạt bôn tẩu khắp nơi ở phương bắc, khiến nhiều nơi ở phương bắc khô hạn, rất nhiều địa phương biến thành sa mạc vô tận.

Bất đắc dĩ, Đế Sử Ứng Long phải tru diệt Hạn Bạt.

Bốn, cương thi thuỷ tổ - Tướng Thần:

Tướng Thần, dựa theo Xuân Thu Dã Sử ghi lại, là cương thi thuỷ tổ hút máu, thuộc cấp cương thi đệ nhất, xuất xứ bất minh.

Thuật lại

Thật lâu trước, Hống đã từng bắt một nhánh thần thụ ở hạo thiên.

Sau khi Hống bị phong ấn, nhánh thần thụ tiếp xúc được thể xác của Hống, cư nhiên từ từ dung nhập vào trong cơ thể Hống, trở thành một sinh mạng mới, chiếm thân thể của Hống, trở thành cương thi vương Tướng Thần!

Trên thực tế, trong truyền thuyết mặc dù có tứ đại cương thi thuỷ tổ, nhưng không phải ai cũng là cương thi hút máu!

Trong tứ đại cương thi thuỷ tổ chỉ có Tướng Thần mới là cương thi hút máu, bởi vậy, những cương thi mà chúng ta đồn có thể đều là hậu đại của Tướng Thần.

Tướng Thần là do thân Hống (Còn gọi là Vọng Thiên Hống, là thần thú thượng cổ trong truyền thuyết của Trung Quốc) biến thành, vô hồn vô phách, bởi vậy, các cương thi hậu đại của Tướng Thần không có hồn phách, đồng thời kế thừa đặc tính hút máu của Tướng Thần.

Dã sử ghi lại, Tướng Thần cùng với ba cương thi thuỷ tổ (Hậu Khanh, Doanh Câu, Hạn Bạt) sinh ra vào thời kì hồng hoang yêu thú, nhân loại chưa xuất hiện, mãi cho đến thời trung cổ mới biến mất.

Ứng với hệ thống thần thoại Trung Hoa cổ đại, bốn cương thi thủy tổ đều xuất hiện lúc Hoàng Đế đại chiến Xi Vưu, trong đó Hậu Khanh sau đại chiến mới biến thành cương thi.

Tướng Thần là cương thi đáng sợ nhất, tương truyền Tướng Thần có thân bất tử, sống mấy vạn năm, là cương thi thuỷ tổ tối cao.

Trong truyền thuyết vùng Trung Nguyên có kể, Tướng Thần thậm chí còn xuất hiện sớm hơn, vào thời Phục Hy, mãi cho đến thời kì trung cổ, hắn mới đột nhiên mai danh ẩn tích, có người nói là bị Cách Tát Nhĩ Vương giết chết (Theo truyền thuyết Tây Tạng, ngài là Liên Hoa Sinh Đại Sư hóa thân)." — trích tiểu thuyết kinh khủng《Sách cấm Tây Tạng》
 
Back
Top Bottom