Cập nhật mới

Khác Liêu Trai Chí Dị ( Full )

Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 48+49


CHƯƠNG 48: TRÚC THANH

Cùng Đồ Vô Nại Tú Tài Cơ

Đa Tạ Ngô Vương Tứ Vũ Y

Phân Cá Trùy Hoàn Vi Thất Ngẫu

Tòng Kim Song Túc Vĩnh Song Phi

Dịch:

Tú Tài Gặp Phải Bước Lưu Ly

Nhờ Được Ngô Vương Tặng Vũ Y

Đôi Lứa Uyên Ương Nhờ Tác Hợp

Song Song Bay Đậu Kể Từ Khi



Ngư Dung người Hồ Nam, người kể chuyện quên mất quận huyện.

Nhà nghèo đi thi bị trượt trở về, dọc đường hết sạch tiền nhưng xấu hổ không dám ăn xin, đói quá vào tạm nghỉ trong miếu Ngô Vương, bi phẫn khấn vái trước án thờ rồi ra nằm ở hành lang.

Chợt có một người dẫn đi yết kiến Ngô Vương, quỳ xuống tâu:

- Đội Hắc y còn thiếu một lính, xin lấy người này sung vào.

Ngô Vương ưng thuận, Ngư liền được trao cho chiếc áo đen, vừa mặc vào thì biến thành quạ vỗ cánh bay ra.

Thấy các bạn quạ họp thành bầy bèn bay theo chia nhau đậu trên cột buồm.

Khách trên thuyền tranh nhau ném thịt cho ăn, đàn quạ lượn lờ trên không đón lấy.

Sinh cũng bắt chước, giây lát no bụng, bay đậu lên cành cây, cũng rất mãn nguyện.

Qua hai ba ngày, Ngô Vương thương còn lẻ loi ghép cho một con mái tên Trúc Thanh, rất thương yêu nhau.

Ngư mỗi khi đi kiếm mồi không hề đề phòng, Thanh nhiều lần khuyên nhưng Ngư không nghe.

Một hôm bị người lính đi thuyền qua bắn trúng bụng, may được Trúc Thanh quắp mang đi mới không bị bắt.

Bầy quạ nổi giận vỗ cánh quạt nước, sóng nổi cuồn cuộn lật úp hết thuyền bè.

Trúc Thanh tha mồi mớm cho Ngư nhưng Ngư bị thương nặng quá, một ngày thì chết, chợt như tỉnh mộng thì ra đang nằm trong miếu.

Nguyên là trước đó dân chung quanh thấy Ngư chết, không biết là ai, sờ vào người thấy còn ấm nên cứ lâu lâu lại tới xem.

Đến lúc ấy họ hỏi biết duyên do, liền góp tiền giúp cho về quê.

Ba năm sau Ngư lại qua chốn cũ liền vào bái yết miếu Ngô Vương, bày thức ăn gọi bầy quạ xuống ăn, khấn:

- Trúc Thanh như có ở đây, xin ở lại gặp.

Nhưng bầy quạ ăn xong đều bay đi hết.

Sau Ngư đỗ Cử nhân về qua lại vào bái yết miếu Ngô Vương, dâng cỗ cúng tế.

Kế bày cỗ lớn mời hết các bạn quạ, lại khấn như trước.

Đêm ấy ghé vào nghỉ ở Hồ Thôn, đốt đèn ngồi chơi chợt thấy trước bàn như có con chim đáp xuống, thì ra là một mỹ nhân khoảng hai mươi tuổi.

Nàng tươi cười hỏi:

- Từ khi chia tay chàng vẫn khỏe chứ?

Ngư kinh ngạc hỏi, nàng đáp:

- Chàng không nhận ra Trúc Thanh à?

Ngư mừng rỡ hỏi từ đâu tới, nàng đáp:

- Thiếp nay là thần nữ Hán Giang, ít có dịp về cố hương.

Trước đây bạn quạ hai lần kể lại tình chàng nên tới gặp nhau một lần.

Ngư càng bồi hồi cảm động, hai người như vợ chồng xa cách lâu ngày, rất mực nồng nàn.

Sinh định đưa nàng về nam, nàng lại muốn sinh theo về tây, không quyết được bề nào.

Sinh thức giấc thì nàng đã dậy rồi, mở mắt thấy mình đang trong một ngôi nhà lớn, đèn đuốc sáng choang chứ không phải trong thuyền nữa.

Sinh kinh ngạc trở dậy hỏi đây là nơi nào, nàng cười đáp:

- Đây là Hán Dương (huyện thuộc Hồ Bắc).

Nhà thiếp tức là nhà chàng, cần gì phải về nam?

Trời dần sáng, đám tỳ nữ vú già nhao nhao kéo tới, rượu thịt đã bày, kê giường rộng, đặt ghế thấp, vợ chồng cùng nhau ăn uống.

Ngư hỏi đầy tớ của mình đang ở đâu, nàng đáp:

- Ở trên thuyền!

Ngư lo nhà thuyền không thể chờ lâu, nàng nói:

- Không sao, thiếp sẽ báo giúp cho!

Từ đó ngày đêm vui thú, Ngư vui quên cả chuyện về.

Nhà thuyền thức dậy chợt thấy đang ở Hán Dương sợ lắm.

Người hầu của Ngư đi tìm chủ khắp nơi không thấy, nhà thuyền muốn đi thì chèo lái bị cột chặt không cởi ra được, đành cùng ở lại giữ thuyền.

Được hơn hai tháng, sinh chợt nhớ quê, nói với cô gái:

- Ta ở đây tuyệt đường thân thích, vả lại ta với nàng tiếng là vợ chồng mà chưa một lần biết tới nhà cửa họ hàng thì làm sao được?

Nàng đáp:

- Chưa nói tới chuyện thiếp không đi được, nếu đi được thì ở nhà chàng đã có vợ, vậy sẽ xử với thiếp ra sao?

Chi bằng cứ để thiếp ở đây làm một phòng khác của chàng là được rồi.

Sinh buồn nỗi đường xa không thể tới thường, cô gái đưa chiếc áo đen ra, nói:

- Áo cũ của chàng còn đây, lúc nào nhớ thiếp cứ mặc vào thì có thể tới ngay, tới rồi thiếp sẽ cởi ra cho.

Rồi sai bày tiệc lớn đưa tiễn, sinh say rồi ngủ, khi tỉnh dậy thì thấy mình trong thuyền, nhìn ra thì vẫn là cảnh vật chỗ ghé thuyền ở hồ Động Đình cũ.

Nhà thuyền và đầy tớ đều có đó, nhìn nhau kinh sợ xúm lại hỏi đi đâu.

Sinh làm ra vẻ bàng hoàng sợ hãi, thấy bên gối có cái bọc, mở ra xem thì là áo mới, giày thêu của cô gái tặng, chiếc áo đen cũng xếp để trong đó.

Lại có cái túi thêu buộc dây thắt ngang, mở ra thì thấy đầy tiền bạc.

Rồi đó đi thẳng về nam, khi cập bến Ngư trả công hậu cho nhà thuyền rồi về.

Về nhà được mấy tháng sinh nhớ Hán Thủy, liền ngầm lấy chiếc áo đen ra mặc, hai tay mọc ra đôi cánh bay vút lên không, qua hai giờ đã tới Hán Thủy.

Bay vòng nhìn xuống thấy giữa đảo nhỏ có một dãy lầu gác bèn đáp xuống.

Đã có một tỳ nữ nhìn thấy từ xa gọi lớn:

- Quan nhân tới!

Không bao lâu Trúc Thanh ra, sai mọi người cởi áo cho, sinh thấy lông cánh đều trút xuống hết.

Nàng cầm tay sinh đi vào nhà, nói:

- Chàng tới vừa hay, chỉ nay mai là thiếp sinh nở.

Sinh đùa hỏi:

- Sinh con hay đẻ trứng?

Nàng đáp:

- Thiếp nay là thần, xương cốt đều thay đổi, chắc phải khác trước chứ.

Vài hôm sau quả nàng lâm bồn, bọc thai to dày nhìn như quả trứng lớn, xé vỏ ra thì là con trai.

Sinh mừng rỡ đặt tên là Hán Sản.

Sau ba ngày các thần nữ ở Hán Thủy đều tới, đem đủ quần áo đồ chơi quý lạ chúc mừng, người nào cũng xinh đẹp, tuổi đều không quá ba mươi.

Họ vào phòng tới bên giường lấy ngón tay cái ấn lên mũi đứa nhỏ, gọi là “Tăng Thọ”.

Họ về rồi, sinh hỏi là ai, cô gái đáp:

- Đều là bạn thiếp, nàng mặc áo trắng đi cuối cùng chính là người cởi ngọc ở Hán Cao đấy.

[Người cởi ngọc ở Hán Cao: Liệt tiên truyện chép Trịnh Giao Phủ đi chơi Hán Giang, tới dưới đài Hán Cao gặp hai cô gái đeo hai viên ngọc to bằng quả trứng gà, Giao Phủ tới chuyện trò rồi xin ngọc, hai nàng bèn cởi ra cho.

Giao Phủ chào đi, lại muốn được cả hai nàng, ngoảnh nhìn thì không thấy đâu nữa mà ngọc cũng biến mất.]

Được vài tháng, nàng cho thuyền đưa sinh về, thuyền không cần dùng cánh buồm mái chèo mà cứ tự lướt đi.

Tới bờ đã có người dắt ngựa chờ bên đường, sinh liền cưỡi về, từ đó qua lại không dứt.

Được vài năm, Hán Sản càng khôi ngô, sinh yêu quý lắm.

Vợ sinh họ Hòa khổ vì không sinh nở được, cứ đòi gặp Hán Sản một lần.

Sinh nói với cô gái, nàng liền sắp sửa hành trang cho con theo cha về, hẹn ba tháng phải quay lại.

Về tới nhà, Hòa thị yêu quý Hán Sản còn quá con đẻ, giữ lại hơn mười tháng không nỡ cho về.

Một hôm đứa nhỏ phát bệnh mà chết, Hòa thị đau xót muốn chết.

Sinh bèn đi Hán Thủy báo cho cô gái, vào cửa thì thấy Hán Sản cởi truồng nằm trên giường, mừng quá vội hỏi.

Cô gái đáp:

- Chàng lỡ hẹn lâu quá, thiếp nhớ con nên gọi nó về.

Sinh nhân giải thích vì Hòa thị quá mến con, nàng nói:

- Chờ thiếp sinh lần nữa sẽ cho Hán Sản về hẳn bên đó.

Hơn năm sau nàng đẻ sinh đôi, một trai một gái.

Trai đặt tên là Hán Sinh, gái đặt tên là Ngọc Bội, sinh bèn đưa Hán Sản về.

Nhưng mỗi năm ba bốn lần đi lại không tiện, nên sinh dời nhà tới ở Hán Dương.

Năm Hán Sản mười hai tuổi vào học ở trường quận.

Cô gái cho là ở trần gian không có người đẹp, gọi con tới Hán Thủy cưới vợ cho rồi bảo về.

Vợ tên Hỗ Nương, cũng là con gái thần nữ.

Sau Hòa thị mất, Hán Sinh và em gái đều tới chịu tang.

Chôn cất xong, Hán Sản ở lại còn sinh dắt Hán Sinh và Ngọc Bội đi, từ đó không trở về nữa

___________________________________

CHƯƠNG 49: NHẠC TRỌNG

Chí Hiếu Cơ Thành Bất Hiếu Luân

Hạnh Tai Nhất Sách Chiếm Sơ Hôn

Phá Trừ Thường Giới Trì Tâm Giới

Lưỡng Đóa Liên Hoa Hiện Cổ Ngân

Dịch:

Chí Hiếu Hầu Như Bất Hiếu Thôi

Tân Hôn Hùng Mộng (*), Ứng Ngay Rồi

Lơ Là Thường Giới Trì Tâm Giới

Hai Đóa Hoa Sen Hiện Giữa Đùi

(*) Mộng Hùng là nằm mơ thấy con gấu: điềm sinh con trai.



Nhạc Trọng người Tây An (tỉnh thành Thiểm Tây), cha chết lúc mẹ còn mang thai, sau mới sinh Trọng.

Mẹ chuộng đạo Phật, không ăn mặn uống rượu.

Trọng lớn lên thích uống rượu, ưa ăn nhậu, trong lòng thầm cho là mẹ không phải, cứ đem các thức béo ngon dâng mẹ, nhưng mẹ đều nhổ ra.

Sau mẹ bệnh sắp chết lại thèm ăn thịt, Trọng trong lúc gấp gáp không biết tìm đâu ra bèn cắt thịt ở đùi trái nấu nướng dâng lên.

Mẹ khỏi bệnh, hối hận vì phá giới, bỏ ăn mà chết.

Trọng càng thêm đau xót, lấy đao sắc cắt luôn thịt đùi phải nhìn thấy cả xương, người nhà xúm lại cứu, bó thuốc cho, dần dần lành lại.

Trọng thương mẹ chịu khổ giữ tiết, lại xót mẹ ngu muội theo đạo, bèn đốt tượng Phật mẹ thờ, lập bàn thờ thờ mẹ, lúc uống rượu say cứ nhìn lên khóc lóc.

Năm Trọng hai mươi tuổi mới lấy vợ mà vẫn còn là đồng nam, cưới được ba ngày thì nói với người ta rằng:

- Việc trai gái trong phòng là nhơ nhớp nhất trên đời, ta thật không ưa.

Rồi bỏ vợ.

Cha vợ là Cố Văn Uyên nhờ họ hàng xin Trọng cho con gái về lại, nhưng tới xin ba bốn lần mà Trọng vẫn nhất quyết không chịu, lần lữa tới nửa năm, Cố bèn gả con gái cho người khác.

Trọng ở vậy mười năm, hành vi càng thêm phóng túng, uống rượu với cả tôi tớ con hát, làng xóm có ai xin xỏ nhờ vả gì cũng không từ chối.

Có người nói gả con gái mà không có nồi niêu, Trọng lập tức vào bếp bưng ra cho, từ đó cứ nấu nướng nhờ bên nhà láng giềng.

Bọn vô lại biết tính Trọng, đứa thì sớm tối tới lừa dối bòn rút, đứa thì lấy việc đánh bạc hết tiền mà than thở trước mặt Trọng, kể lể chuyện nợ thúc thuế đòi, sắp phải bán vợ đợ con.

Trọng nghe thấy là dốc cả tiền để dành đóng thuế ra đưa, đến khi người thu thuế tới tận nhà đòi mới lo cầm bán đồ đạc mà đóng, vì thế nhà ngày càng sa sút.

Trước kia khi Trọng giàu có thì bọn em cháu họ hàng tranh nhau phụng sự, trong nhà có vật gì cứ mặc ý cho lấy đi, cũng không tính đếm gì.

Đến khi Trọng sa sút thì không mấy người tới thăm hỏi, nhưng may Trọng là người khoáng đạt nên không để bụng.

Gặp ngày giỗ mẹ, Trọng mắc bệnh không ra mộ được, định sai bọn em cháu trong họ ra tế thay, đầy tớ đi nói khắp các nhà mà ai cũng tìm cớ từ chối.

Trọng bèn làm lễ tế trong phòng, nhìn bàn thờ mẹ gào khóc, lo buồn về việc không có con nối dõi nên bệnh càng nặng.

Trong lúc mê man thấy có người xoa bóp vỗ về hé mắt nhìn thì ra là mẹ.

Giật mình hỏi sao mẹ tới đây, mẹ đáp:

- Vì trong nhà không có ai ra mộ cúng tế nên về đây hưởng đồ cúng, mới biết con bệnh.

Trọng lại hỏi trước nay ở đâu, mẹ đáp là ở Nam Hải.

Mẹ xoa bóp xong Trọng thấy tay chân mát rượi, mở mắt nhìn quanh thì không thấy ai nhưng bệnh đã đỡ nhiều.

Đến khi khỏi hẳn muốn tới Nam Hải bái yết Quan Âm Bồ Tát, ngặt không có ai đi cùng.

Gặp lúc thôn bên cạnh có bọn người kết làm hội dâng hương đi Nam Hải lễ Phật, Trọng bán mười mẫu ruộng tới xin vào hội, nhưng họ cho rằng Trọng không ăn chay giữ giới nên không chịu, năn nỉ mãi họ mới ưng thuận.

Dọc đường đi Trọng cứ ăn thịt uống rượu, nhai hành nhả tỏi nồng nặc cả phòng, mọi người càng ghét, nhân lúc Trọng ngủ say lẳng lặng bỏ đi.

Từ đó Trọng đi một mình, tới địa giới đất Mân (tỉnh Phúc Kiến) gặp người bạn mời đi uống rượu, trong tiệc có một danh kỹ tên Quỳnh Hoa thấy nói đi Nam Hải lễ Phật xin đi cùng cho có bạn.

Trọng mừng rỡ, liền chờ nàng sắp sửa hành trang rồi cùng nhau lên đường, ăn ngủ gì cũng có nhau nhưng không hề có chuyện nọ kia.

Khi tới Nam Hải thì hội dâng hương vừa lập xong đàn tế, thấy Trọng dắt ca kỹ tới càng nhạo báng chê bai, khinh bỉ không thèm hành lễ chung.

Trọng và Quỳnh Hoa biết ý, chờ họ lễ bái xong mới vào làm lễ.

Mọi người lạy lục xong, hận không thấy gì lạ, có kẻ òa khóc, còn hai người vừa lạy phục xuống chợt thấy khắp mặt biển đều có hoa sen, trên hoa đều có người đeo tràng hạt.

Quỳnh Hoa nhìn thấy cho là Bồ Tát, Trọng nhìn thì ra những người đứng trên hoa đều là mẹ mình, vội chạy tới gọi mẹ, nhảy luôn xuống nước lội ra.

Mọi người thấy hàng vạn đóa hoa sen đều biến thành cầu vồng rực rỡ như tấm màn gấm che khuất cả mặt biển.

Giây lát mây tan sóng lặng, tất cả đều biến mất mà Trọng vẫn còn đứng trên bờ biển, cũng không hiểu vì sao mình lên được tới bờ, mà quần áo giày tất vẫn khô ráo.

Trọng nhìn ra biển gào khóc, cả vùng đảo đều nghe thấy.

Quỳnh Hoa kéo áo khuyên giải Trọng mới buồn bã rời chùa, gọi thuyền trở về bắc.

Dọc đường có nhà giàu mời Quỳnh Hoa đi, Trọng nghỉ ở quán trọ một mình, thấy có đứa nhỏ khoảng tám chín tuổi xin ăn trong quán, mặt mũi không giống như bọn trẻ ăn mày.

Hỏi han thì ra nó bị mẹ kế đuổi đi, Trọng rất thương xót.

Đứa nhỏ cứ quanh quẩn bên Trọng xin cứu vớt, Trọng dắt nó cùng về.

Hỏi họ tên, nó nói:

- Cháu họ Ung tên Tân, mẹ họ Cố, thường nghe mẹ nói về với họ Ung sáu tháng thì sinh ra cháu, chứ đúng ra phải là họ Nhạc.

Trọng cả kinh nhưng nghĩ lại bình sinh chỉ lấy vợ có một lần, không thể nào có con được, nhân hỏi:

- Họ Nhạc ấy người ở đâu?

Đứa nhỏ đáp:

- Cháu không biết, nhưng lúc mẹ cháu chết có để lại một phong thư, dặn không được đánh mất.

Trọng vội đòi xem phong thư.

Tân mở cái bị lấy ra đưa cho, Trọng xem thì là tờ ly hôn với Cố thị năm xưa, hoảng sợ nói:

- Đúng là con ta rồi!

Xét tới năm tháng thấy đều ăn khớp, trong lòng được an ủi rất nhiều, có điều gia cảnh ngày càng tiêu điều.

Qua hai năm thì ruộng vườn đã bán gần hết, cũng không thể nuôi nổi tôi tớ nữa.

Một hôm hai cha con đang tự nấu cơm, chợt có một người đẹp bước vào, nhìn lên thì ra là Quỳnh Hoa.

Trọng giật mình hỏi từ đâu tới, nàng cười nói:

- Số phận là phải làm vợ chồng hờ với nhau, sao chàng còn hỏi?

Trước đây không theo chàng ngay là vì bà chủ còn sống, nay bà ta đã chết, thiếp nghĩ không theo làm vợ người thì không có nơi nương tựa, theo làm vợ người thì không giữ được trong sạch, tính lại muốn trọn vẹn đôi bề thì không gì bằng theo chàng, nên mới không ngại ngàn dặm mà lặn lội tới đây.

Rồi thay áo nấu cơm giúp con, Trọng mừng lắm.

Đến đêm cha con ngủ chung với nhau như cũ, dọn một gian phòng sạch sẽ cho Quỳnh Hoa ở.

Quỳnh Hoa cũng khéo chăm sóc đứa nhỏ, láng giềng biết chuyện đều mở tiệc mừng Trọng, hai vợ chồng cũng vui vẻ nhận lời.

Có khách tới chơi thì Quỳnh Hoa lo liệu cơm rượu rất đầy đủ, Trọng cũng không hỏi nàng lấy tiền đâu ra.

Quỳnh Hoa dần dần đem vàng ngọc ra chuộc lại ruộng vườn cũ, tôi tớ trâu ngựa trong nhà cũng càng ngày nhiều thêm.

Trọng thường nói với Quỳnh Hoa rằng:

- Lúc ta say rượu thì nàng nên lánh mặt, đừng để ta nhìn thấy.

Quỳnh Hoa cười ưng thuận.

Một hôm Trọng say quá, gọi Quỳnh Hoa rất gấp, Quỳnh Hoa ăn mặc lộng lẫy bước ra, Trọng nhìn sững hồi lâu, chợt cả mừng nhảy nhót như cuồng, nói:

- Ta ngộ ra rồi!

Rồi chợt tỉnh rượu, thấy chung quanh sáng rỡ, nhà cửa đều trở thành lầu quỳnh gác ngọc, hồi lâu mới hết, từ đó không uống rượu ngoài quán nữa mà chỉ đối ẩm với Quỳnh Hoa, Quỳnh Hoa ăn chay chỉ uống trà ngồi tiếp.

Một hôm Trọng ngà ngà say, bảo Quỳnh Hoa bóp đùi cho mình.

Nàng thấy vết sẹo trên hai đùi Trọng đã biến thành hai nụ sen thấp thoáng dưới da thì lấy làm lạ.

Trọng cười nói:

- Lúc nào nàng thấy hai nụ hoa này nở ra, thì hai mươi năm làm vợ chồng hờ đã hết đấy.

Quỳnh Hoa cũng tin lời.

Kế cưới vợ cho Tân, Quỳnh Hoa dần dần giao hết việc nhà cho con dâu, cùng Trọng ở riêng một nơi.

Vợ chồng con trai cứ ba ngày tới thăm một lần, nếu không có chuyện gì khó khăn thì nàng không nói tới việc nhà, chỉ có hai người tỳ nữ hầu hạ, một người hâm rượu, một người pha trà mà thôi.

Một hôm Quỳnh Hoa tới chỗ con ở, con dâu thưa bẩm đủ chuyện, rất lâu mới về, Tân cũng theo tới thăm cha.

Vào cửa thấy Trọng để chân trần ngồi trên giường, nghe tiếng động hé mắt cười khẽ nói:

- Mẹ con tới rất hay!

Rồi lập tức nhắm mắt lại.

Quỳnh Hoa hoảng sợ nói:

- Chàng định làm gì thế?

Nhìn tới đùi Trọng thì thấy hai đóa hoa sen nở lớn, tới gần gọi thử thì Trọng đã tắt hơi rồi.

Quỳnh Hoa vội lấy tay bóp hai đóa hoa lại khấn rằng:

- Thiếp ngàn dặm tới theo chàng, không phải là chuyện dễ dàng, lại vì chàng nuôi con dạy dâu, cũng có chút ơn nghĩa, chỉ còn hai ba năm nữa sao không chịu khó chờ nhau một chút.

Khoảng nấu xong nồi cơm chợt Trọng mở mắt ra cười nói:

- Nàng có việc của nàng, sao cứ lôi kéo người ta làm bạn, thôi ta cũng tạm ở lại chờ vậy.

Quỳnh Hoa buông tay ra thì hai đóa hoa sen đã khép lại, từ đó Trọng ăn ở như lúc trước.

Sau hơn ba năm, Quỳnh Hoa tuổi gần bốn mươi mà dáng vẻ vẫn xinh đẹp như người hơn hai mươi, chợt nói với Trọng:

- Phàm người ta chết rồi thì bị kẻ khác đỡ đầu nâng chân, thật rất không sạch sẽ.

Liền sai thợ đóng hai chiếc quan tài, Tân hoảng sợ hỏi, nàng đáp:

- Không phải là chuyện con biết được.

Quan tài đóng xong, nàng tắm gội trang điểm rồi nói với vợ chồng Tân:

- Ta sắp chết đây!

Tân khóc nói:

- Mấy năm nay nhờ mẹ lo toan mới không đói rét, mẹ còn chưa được yên vui ngày nào, sao lại bỏ con mà đi?

Quỳnh Hoa nói:

- Cha trồng phúc thì con hưởng, tôi tớ trâu ngựa ruộng vườn nợ nần đều là trả lại cho cha con, chứ ta có công lao gì đâu.

Ta vốn là Thiên nữ rắc hoa, ngẫu nhiên động lòng trần tục nên bị đày xuống trần gian hơn ba mươi năm, nay đã hết hạn rồi.

Rồi bước vào quan tài nằm xuống, Tân tới gọi thì hai mắt đã nhắm lại.

Tân khóc lóc chạy tới báo với cha thì Trọng đã đội mũ mặc áo nằm cứng đờ không biết từ lúc nào.

Tân gào khóc muốn đứt hơi, liệm xác cha cho vào quan tài quàn trong sảnh đường mấy ngày chưa chôn, có ý chờ cho sống lại.

Có ánh sáng từ đùi Tân phóng ra soi rõ cả bốn vách, trong quan tài Quỳnh Hoa thì có mùi hương thơm ngát tỏa ra, láng giềng đều ngửi thấy, đậy nắp quan tài thì ánh sáng hương thơm mới hơi giảm.

Chôn cất xong, bọn em cháu trong họ tham lam của cải, cùng nhau tính kế đuổi Tân đi bèn kiện lên quan, quan không biết làm sao liền phán cắt một nửa ruộng vườn trâu ngựa giao cho chúng.

Tân không chịu, đâm đơn lên phủ kiện, lâu ngày xử mãi không xong.

Lúc đầu ông Cố gả con gái cho họ Ung, được hơn một năm thì Ung tới ngụ ở đất Mân, không có tin tức gì.

Cố già không có con trai, nhớ con gái bèn tới nhà rể thăm thì con gái đã chết mà cháu ngoại đã bị đuổi đi.

Cố uất ức kiện lên quan, Ung sợ đưa nhiều tiền xin thôi kiện nhưng Cố không chịu, nhất quyết đòi tìm bằng được cháu ngoại.

Ung tìm kiếm khắp nơi, nửa năm vẫn không thấy, hai vợ chồng đều bị quan trách phạt đánh đòn.

Cố đang đi đường chợt thấy có một cỗ kiệu kết hoa đi qua vội tránh qua vệ đường, thấy trong kiệu có một mỹ nhân gọi Cố nói:

- Có phải ông Cố đấy không?

Cố gật đầu, nàng nói:

- Cháu ngoại ông là con ta, hiện đang ở nhà họ Nhạc, đừng kiện tụng gì nữa, cháu ngoại ông đang gặp nạn, nên tới đó ngay.

Cố muốn hỏi thêm thì cỗ kiệu đã đi xa, bèn nhận tiền của Ung rồi lên đường tới Tây An.

Tới nơi thì hai bên đang kiện tụng cãi cọ ầm ĩ, Cố liền vào thưa với quan về ngày tháng con gái mình bị Trọng bỏ, ngày tháng lấy Ung, ngày tháng sinh Tân rất rõ ràng.

Bọn họ Nhạc đều bị đánh đòn, vụ án bèn kết thúc.

Cố về kể lại ngày gặp mỹ nhân trên kiệu thì đúng là ngày Quỳnh Hoa chết, lúc bấy giờ còn chưa có việc kiện tụng.

Tân dời gia đình Cố tới ở cùng, xây nhà cửa tặng tỳ thiếp, năm Cố hơn sáu mươi tuổi thì sinh được một con trai, Tân cũng thường chăm sóc chu cấp cho.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 50+51


CHƯƠNG 50: HƯƠNG NGỌC

Hoa Nhân Tình Tử Hoa Đương Khốc

Hoa Vị Tình Sinh Hoa Dũ Hương

Khả Tích Ái Hoa Nhân Khứ Hậu

Đố Hoa Phong Vũ Tiện Xương Cuồng

Dịch:

Hoa Chết Vì Tình Hoa Đáng Xót

Hoa Vì Tình Nở Đượm Mùi Hương

Người Yêu Hoa Mới Vừa Đi Khỏi

Mưa Gió Ghen Hoa Lại Phũ Phàng



Cung Hạ Thanh núi Lao có cây nại đông cao hai trượng, to mấy mươi chét tay và cây mẫu đơn cao hơn trượng, khi trổ hoa thì rực rỡ như gấm.

Hoàng sinh người Mục Châu (tỉnh Sơn Đông) làm nhà ở đó đọc sách.

Một hôm ngồi trong cửa sổ nhìn ra thấy một cô gái áo trắng thấp thoáng trong đám hoa, nghi là trong đạo quán sao lại có con gái, bước mau ra thì đã trốn mất.

Từ đó thường thấy nàng, bèn núp trong bụi cây rậm để đợi.

Chẳng bao lâu cô gái lại cùng một người mặc xiêm hồng tới, từ xa thấy cả hai tuyệt đẹp, tới gần thì nàng mặc xiêm hồng hoảng sợ lui lại nói:

- Ở đây có người!

Sinh đứng bật dậy, hai nàng sợ hãi bỏ chạy, áo xiêm phấp phới, thoang thoảng mùi thơm.

Đuổi theo qua bức tường thấp thì đã biến mất.

Sinh vô cùng hâm mộ, nhân đề bài thơ lên thân cây rằng:

Vô hạn tương tư khổ,

Hàm tình đối đoản song

Khủng quy Sa Trá Lợi,

Hà xứ mịch Vô Song.

Dịch:

[Tưởng nhớ bao đau khổ

Tần ngần ngóng trước sau

Sợ vào tay Trá Lợi

Đâu kiếm thấy Vô Song?]

Sa Trá Lợi, Cổ Áp Nha: xem hai truyện phụ lục.

Hai câu thơ trên nguyên văn là “Giai nhân dĩ thuộc Sa Trá Lợi, Nghĩa sĩ kim vô Cổ Áp Nha”, chưa rõ tác giả.

Về phòng học ngồi mơ tưởng, chợt cô gái bước vào.

Sinh giật mình mừng rỡ đón chào, nàng cười nói:

- Chàng hùng hổ như ăn cướp làm người ta hoảng sợ, không ngờ cũng là người tao nhã, có gần cũng không sao.

Sinh hỏi qua thân thế, nàng đáp:

- Thiếp tiểu tự là Hương Ngọc, người chốn bình khang, bị đạo sĩ nhốt trong núi, thật không phải ý nguyện.

Sinh hỏi:

- Đạo sĩ tên gì?

Ta sẽ rửa hờn cho nàng.

Cô gái nói:

- Không cần!

Y cũng chưa dám ép buộc gì, cứ mượn nơi này cùng khách phong lưu làm chỗ gặp gỡ kín đáo cũng hay.

Sinh hỏi:

- Nàng mặc áo hồng là ai?

Nàng đáp:

- Đó là Giáng Tuyết, chị kết nghĩa của thiếp.

Rồi cùng nhau đi ngủ.

Tỉnh giấc thì trời đã rạng, cô gái vội trở dậy nói:

- Ham vui quên cả trời đã sáng.

Mặc áo đi giày xong, lại nói:

- Thiếp xin khẩu chiếm họa lại bài thơ, chàng chớ cười.

Thơ rằng:

Lương dạ canh vị tận

Triều đôn dĩ thượng song.

Nguyện như lương thượng yến

Thê xứ tự thành song.

Dịch:

[Dễ hết đêm vui nhỉ?

Vừng đông đã rọi song

Mong như đội én nọ

Cũng chỗ đậu song song]

Sinh nắm cổ tay nàng nói:

- Nàng đã đẹp lại thông minh, khiến người ta yêu quên chết.

Một ngày xa nhau như xa cách ngàn dặm, lúc nào nàng rảnh thì tới, đừng đợi đến đêm.

Cô gái nhận lời, từ đó sớm tối thường tới, sinh thường bảo mời Giáng Tuyết mà không thấy tới nên lấy làm hận.

Nàng nói:

- Chị Giáng tính rất lạnh lùng, không như thiếp si tình, cứ để thiếp từ từ khuyên nhủ, không cần nóng nảy.

Một đêm nàng buồn rầu bước vào nói:

- Chàng không giữ được đất Lũng mà còn mong lấy Thục ư?

Từ nay thì vĩnh biệt nhau rồi.

Sinh hỏi đi đâu, nàng lấy tay áo lau nước mắt nói:

- Đây là định số, khó nói với chàng được.

Câu thơ ngày trước nay thành lời sấm rồi.

Người đẹp đã về Sa Trá Lợi, nghĩa sĩ nay không Cổ Áp Nha, có thể nói là vịnh cảnh ngộ của thiếp đấy.

Sinh gạn hỏi thì nàng không đáp, chỉ nức nở khóc, suốt đêm không ngủ, sáng ra đi ngay.

Sinh lấy làm lạ, hôm sau có họ Lam ở Túc Mặc vào cung quán vãn cảnh, thấy cây bạch mẫu đơn thích lắm bèn đào lên mang về.

Sinh mới hiểu ra Hương Ngọc là tinh hoa, buồn rầu không thôi.

Qua vài hôm nghe nói cây hoa họ Lam đem về nhà trồng ngày càng khô héo, sinh rất hận, làm năm mươi bài thơ khóc hoa, ngày ngày tới chỗ cây bạch mẫu đơn cũ, nước mắt ròng ròng nhỏ xuống cái hố.

Một hôm sinh ra đó, từ xa thấy cô gái mặc xiêm hồng đứng khóc cạnh hố, thong thả tới gần nàng cũng không tránh mặt, nhân kéo vạt áo nàng sa nước mắt, kế mời vào nhà.

Nàng cũng theo vào, than rằng:

- Chị em với nhau từ thuở nhỏ, một sớm chia lìa, thấy chàng thương cảm thiếp cũng mủi lòng, nước mắt rơi xuống suối vàng may ra cảm thấu lòng thành mà tái sinh.

Nhưng người chết thần khí đã tan, trong giây lát làm sao có thể cùng nhau cười nói được?

Sinh nói:

- Tiểu sinh phận bạc làm hại người tình, quả không có phúc được cả hai người đẹp.

Trước từng nhiều lần nhờ Hương Ngọc bày tỏ lòng thành, sao không chịu tới?

Nàng nói:

- Thiếp cho rằng bọn học trò trẻ tuổi mười người thì tám chín là kẻ bạc hãnh, không biết chàng là kẻ chí tình.

Nhưng thiếp cùng chàng giao hảo vì tình nghĩa chứ không vì chăn gối, nếu đêm ngày ôm ấp thì thiếp không làm được.

Nói xong cáo biệt, sinh nói:

- Hương Ngọc mất đi làm ta bỏ cả ăn ngủ, muốn cậy nàng ở lại một lúc cho khuây nỗi nhớ, sao lại dứt khoát về như vậy?

Cô gái bèn ở lại, hết đêm ra về, mấy ngày liền không tới.

Một hôm mưa lạnh rả rích ngoài song, sinh nhớ thương Hương Ngọc, trằn trọc trên giường, lệ ướt đẫm gối, xốc áo trở dậy khêu đèn cầm bút theo vần trước viết một bài thơ:

Sơn viện hoàng hôn vũ

Thùy liêm tọa tiểu song

Tương tư nhân bất kiến

Trung dạ lệ song song.

Dịch:

[Sơn viện chiều mưa lạnh

Buông rèm tựa trước song

Người tương tư chẳng thấy

Đêm nhỏ lệ song song.]

Viết xong đọc lên, chợt có tiếng người ngoài cửa sổ nói:

- Có xướng không thể không có họa.

Nghe thì là tiếng Giáng Tuyết.

Sinh mở cửa mời vào, nàng xem thơ xong lập tức viết ngay phía sau một bài:

Liên khuyết nhân hà xứ?

Cô đăng chiếu vãn song

Không sơn nhân nhất cá

Đối ảnh tự thành song.

Dịch:

[Chung gối người đâu tả

Đèn le lói rọi song

Phòng văn ngồi đối bóng

Đơn chiếc tựa thanh song.]

Sinh đọc xong sa nước mắt, nhân trách nàng ít tới.

Nàng nói:

- Thiếp không thể nồng nàn như Hương Ngọc được, chỉ có thể an ủi cho chàng ít nhiều khuây cảnh tịch mịch thôi.

Sinh muốn ngủ chung, nàng nói:

- Gặp nhau là vui, cần gì phải thế?

Từ đó lúc nào sinh thấy cô quạnh thì nàng lại tới.

Tới thì yến ẩm xướng họa, có khi không ngủ lại, tan tiệc là về, sinh cũng chiều ý, nói với nàng:

- Hương Ngọc là vợ yêu của ta, Giáng Tuyết là bạn tốt của ta.

Thường hỏi:

- Nàng là cây thứ mấy trong viện xin nói cho biết, ta sẽ mang trồng trong nhà, khỏi bị bọn ác cướp đi mất như Hương Ngọc, để hận lại suốt đời.

Nàng đáp:

- Chốn cũ khó dời, nói cho chàng biết cũng vô ích.

Vợ còn chẳng theo nhau trọn đời được, huống là bạn ư.

Sinh không nghe, kéo tay cùng ra, tới mỗi cây mẫu đơn lại hỏi:

- Có phải là nàng không?

Cô gái không nói chỉ che miệng cười.

Gặp lúc sinh về quê ăn tết, qua tháng hai chợt mơ thấy Giáng Tuyết tới buồn rầu nói:

- Thiếp gặp nạn lớn, chàng tới mau thì may ra còn gặp được nhau, chậm là không kịp đâu.

Sinh tỉnh dậy lấy làm lạ, vội sai người nhà thắng ngựa lên núi ngay, tới nơi thấy đạo sĩ sắp làm nhà, có một cây nại đông vướng chỗ, đám thợ sắp đốn đi.

Sinh biết đó là ứng với giấc mơ vội vàng cản lại.

Đến đêm Giáng Tuyết tới tạ ơn, sinh cười nói:

- Trước không nói thật nên gặp nạn này.

Từ nay đã biết rõ nàng rồi, nếu không tới ta sẽ lấy ngải cứu đốt cho xem.

Nàng đáp:

- Thiếp vốn biết chàng như thế nên trước kia mới không dám nói.

Ngồi một lát, sinh nói:

- Nay ngồi với bạn tốt lại thêm nhớ vợ đẹp.

Lâu không viếng Hương Ngọc, nàng có thể đi với ta không?

Hai người bèn tới hố đất mà khóc, gần hết canh một Giáng Tuyết lau nước mắt khuyên giải sinh rồi ra về.

Vài ngày sau, sinh đang ngồi một mình buồn bã, Giáng Tuyết tươi cười bước vào nói:

- Có tin mừng báo cho chàng hay.

Thần hoa cảm lòng chí tình của chàng, cho Hương Ngọc tái sinh ở cung này.

Sinh mừng hỏi đến lúc nào, nàng đáp:

- Không rõ nhưng chắc không bao lâu nữa.

Trời sáng trở dậy, sinh nói:

- Ta vì nàng mà tới đây, đừng để người ta chịu hiu quạnh mãi đấy.

Nàng cười gật đầu.

Hai đêm nàng không tới sinh bèn tới ôm lấy cây, vuốt ve rung lắc gọi tên Giáng Tuyết mấy lần mà không nghe đáp lại.

Liền về ngồi dưới đèn vê mồi ngải định tới đốt cây.

Cô gái vội chạy vào, giật mồi ngải ném đi, nói:

- Chàng hay đùa ác khiến người ta bị đau, phải đoạn tuyệt với chàng thôi.

Sinh cười ôm lấy nàng, vừa ngồi chưa yên thì Hương Ngọc lững thững bước vào.

Sinh trông thấy mừng sa nước mắt, vội đứng lên đỡ nàng.

Hương Ngọc giơ một tay kéo Giáng Tuyết, nhìn nhau sụt sùi, kế cùng ngồi xuống than thở chuyện xa cách.

Sinh cầm tay Hương Ngọc thấy trống không như tự nắm tay mình, kinh ngạc cho là khác với ngày trước.

Hương Ngọc ứa nước mắt nói:

- Thiếp trước là thần hoa nên thể chất ngưng tụ, nay là ma hoa nên thể chất hư tán, nay tuy gặp nhau nhưng chàng đừng coi là thật, chỉ là như gặp nhau trong mộng thôi.

Giáng Tuyết nói:

- Em tới hay lắm, chị bị chồng em quấy rối muốn chết.

Rồi lập tức cáo biệt.

Hương Ngọc vẫn âu yếm như xưa, song lúc tựa kề nhau, phảng phất như một mình tựa bóng.

Sinh buồn bực không vui, Hương Ngọc cũng áy náy tủi hận, nói:

- Chàng lấy bột bạch liễm trộn với ít lưu hoàng pha nước mỗi ngày tưới cho thiếp một chén, ngày này sang năm xin đền ơn chàng.

Rồi cũng từ biệt đi.

Hôm sau sinh ra chỗ cũ thì có mầm cây mẫu đơn mới nảy bèn làm theo lời, hàng ngày chăm bón, lại rào chung quanh để giữ gìn, Hương Ngọc tới rất cảm kích.

Sinh bàn dời cây mang về nhà, nàng không chịu, nói:

- Thiếp vốn thể chất yếu đuối, không chịu nổi việc đào lên trồng xuống.

Vả lại mọi vật sinh ra đều có nơi nhất định, thiếp từ trước vốn không định sinh ở nhà chàng, làm trái đi sẽ giảm thọ, chỉ cần yêu thương nhau thì ắt có ngày sum họp thôi.

Sinh hận Giáng Tuyết không tới, Hương Ngọc nói:

- Nếu muốn ép chị ấy tới thì thiếp có thể làm được.

Bèn cùng sinh thắp đèn ra dưới gốc cây, lấy một cọng cỏ đo vào xiêm mình làm cữ rồi đo gốc cây từ dưới lên trên bốn thước sáu tấc thì đánh dấu vào, bảo sinh lấy hai móng tay gãi.

Giây lát Giáng Tuyết từ sau thân cây đi ra, mắng:

- Con nhãi tới giúp Kiệt làm điều bạo ngược à?

Rồi dắt tay nhau cùng về.

Hương Ngọc nói:

- Chị đừng trách, phiền chị tạm làm bạn với chàng, một năm sau em không dám quấy quả nữa.

Từ đó Giáng Tuyết lại tới thường.

Sinh thấy mầm cây ngày càng tươi tốt, cuối xuân đã cao gần hai thước, trước khi về nhà đưa tiền tặng đạo sĩ nhờ tưới bón giúp.

Tháng tư năm sau trở lại cung quán thấy có một nụ hoa chưa nở, đang còn tần ngần thì hoa bỗng lay động như muốn gãy, giây lát thì nở, đóa to như cái mâm, có một người đẹp nghiễm nhiên ngồi trong nhụy hoa, chỉ cao ba bốn đốt tay, trong chớp mắt nhẹ nhàng bước xuống, chính là Hương Ngọc.

Nàng cười nói:

- Thiếp chịu gió mưa để đợi chàng, sao chàng tới muộn thế?

Rồi cùng vào nhà thì Giáng Tuyết đã tới, cười nói:

- Ngày ngày làm vợ thay người, bây giờ may mắn lại được lui về làm bạn.

Rồi cùng nhau chuyện trò xướng họa, nửa đêm Giáng Tuyết ra về, hai người cùng đi nằm, lại mặn nồng như trước.

Sau vợ sinh chết, sinh vào trong núi ở luôn không về nhà nữa, lúc ấy cây mẫu đơn đã to bằng cánh tay.

Sinh thường chỉ cây nói:

-

Sau này ta sẽ gửi hồn ở đó, mọc bên trái nàng.

Hai cô gái cười nói:

- Chàng đừng quên đấy!

Hơn mười năm sau sinh chợt mắc bệnh, con trai tới thăm, nhìn cha đau xót, sinh cười nói:

- Đây là ngày ta sinh chứ không phải ngày ta chết, đau xót làm gì?

Rồi nói với đạo sĩ:

-

Sau này dưới gốc mẫu đơn có một mầm đỏ chợt nảy ra, một lúc trổ năm lá chính là ta đấy.

Rồi không nói gì nữa.

Con trai sinh chở về, tới nhà thì sinh chết.

Năm sau quả có cái mầm lớn chợt nảy ra, trổ đủ năm lá, đạo sĩ lấy làm lạ càng năng vun tưới.

Ba năm sau thì cao mấy thước, to một ôm nhưng không trổ hoa.

Đạo sĩ già mất đi, các đệ tử không biết, thấy cây không trổ hoa nên đốn bỏ.

Cây bạch mẫu đơn cũng héo đi rồi chết, không bao lâu cây nại đông cũng chết.

___________________________________

CHƯƠNG 51: ĐẠI NAM

Muộn Muộn Tầm Thân Vạn Lý Hành

Bàng Nhân Môn Hộ Đắc Công Danh

Mẫu Hiền Tử Hiếu Chung Đoàn Tụ

Hãn Phụ Môn Tâm Tổng Bất Bình

Dịch:

Tìm Cha Muôn Dặm Huống Cheo Leo

Gặp Vận Công Danh Cũng Khéo Chiều

Xum Họp Mẹ Hiền Con Hiếu Thảo

Đàn Bà Cay Nghiệt Trái Oan Nhiều



Hề Thành Liệt là sĩ nhân ở Thành Đô (tỉnh thành Tứ Xuyên), có một vợ một thiếp, người thiếp họ Hà, tiểu tự là Chiêu Dung.

Vợ chết sớm, Hề lấy vợ kế họ Thân nhưng không tử tế được với nhau, ngược đãi Hà làm khổ lây cả Hề, cả ngày cãi vã ầm ĩ không sao sống nổi, Hề tức giận bỏ đi.

Sau khi chồng đi, Hà sinh được một trai đặt tên là Đại Nam.

Lâu ngày Hề không trở về, Thân gạt Hà ra không cho ăn cơm chung, cứ tính ngày đong gạo cấp cho.

Đại Nam lớn dần, Hà không dám xin cấp nhiều hơn, phải dệt vải để kiếm thêm.

Đại Nam thấy trẻ con ở trường ngâm nga đọc sách thích lắm nói với mẹ muốn đi học, mẹ thấy còn nhỏ quá nên tạm đưa tới trường cho học thử để làm khó.

Nhưng Đại Nam thông minh, học mau gấp đôi các trẻ khác.

Thầy lấy làm lạ, tình nguyện dạy không lấy tiền, Hà bèn cho con theo học, thù tạ chút ít cho thầy.

Được hai ba năm Đại Nam đã đọc thông kinh sử, một hôm về nói với mẹ:

- Trong trường có năm sáu đứa đều xin tiền cha mua quà bánh, sao con không có cha?

Mẹ nói:

- Lúc nào con lớn mẹ sẽ cho biết!

Đại Nam hỏi:

- Con mới bảy tám tuổi, lúc nào mới là lớn?

Mẹ đáp:

- Con tới trường đi ngang miếu Quan Đế thì nên vào lạy, người sẽ phù hộ cho mau lớn.

Đại Nam tin lời, ngày hai buổi đi qua đều vào miếu lạy.

Mẹ biết, hỏi con cầu xin chuyện gì thì đáp:

- Chỉ xin người sang năm cho con lớn như mười lăm mười sáu tuổi.

Mẹ cười, nhưng Đại Nam sức học và vóc dáng đều tăng nhanh, đến năm mười tuổi đã như mười ba mười bốn, làm văn thì thầy học cũng không thể thêm bớt sửa đổi.

Một hôm nói với mẹ:

- Trước mẹ nói lúc nào con lớn mẹ sẽ cho biết cha ở đâu, nay đã đến lúc rồi!

Mẹ nói:

- Chưa đâu, chưa đâu!

Lại hơn một năm nữa, đã như người lớn hẳn hoi, càng gặng hỏi luôn luôn.

Mẹ bèn thuật lại ngành ngọn.

Đại Nam nghe kể vô cùng thương cảm, muốn đi tìm cha.

Mẹ nói:

- Con còn nhỏ lắm, mà cha con sống chết ra sao chưa rõ, làm sao tìm được?

Đại Nam không đáp đi ra, đến trưa không về, mẹ tới trường hỏi thì thầy nói sau giờ cơm sớm chưa trở lại trường.

Mẹ cả kinh, thuê người đi tìm kiếm khắp nơi mà không thấy tung tích.

Đại Nam ra cửa, không biết nên đi đâu, cứ theo đường mà đi.

Gặp một người đang đi Quỳ Châu (huyện thuộc Tứ Xuyên), tự nói là họ Tiền, bèn xin đi theo.

Tiền thấy đi chậm chán quá, thuê cho con lừa đỡ chân, tiền lưng cạn hết.

Tới Quỳ Châu cùng ăn cơm, Tiền ngầm bỏ thuốc mê vào, Đại Nam mê man bất tỉnh.

Tiền chở tới một chùa lớn nói là con mình, đi đường bị ốm hết cả tiền ăn, muốn bán cho sư.

Các sư thấy mặt mũi khôi ngô tranh nhau mua, Tiền được vàng ra đi.

Các sư đổ nước cho, Đại Nam dần tỉnh lại, sư ông mới biết bèn tới xem, thấy tướng mạo lấy làm lạ, hỏi biết được ngọn ngành càng thương, trách phạt các sư rồi cho Đại Nam tiền bảo đi.

Có Tú tài họ Tưởng ở huyện Lô Châu (tỉnh Tứ Xuyên) thi trượt trở về trên đường gặp hỏi biết chuyện khen là hiếu, bèn dắt cùng đi.

Tới Lô Châu ở lại nhà Tưởng hơn một tháng, tìm hỏi khắp nơi.

Có người nói trong các thương nhân đất Mân (tỉnh Phúc Kiến) có người họ Hề, bèn chào Tưởng để đi Mân.

Tưởng tặng tiền áo giày, làng xóm cũng góp tiền giúp đỡ.

Trên đường có hai khách buôn vải đi Phúc Thanh (tỉnh thành Phúc Kiến) rủ đi cùng.

Đi được vài ngày, họ nhìn thấy tiền trong túi Đại Nam bèn đưa tới chỗ vắng trói tay chân cướp sạch rồi bỏ đi.

Gặp lúc có ông Trần người huyện Vĩnh Phúc (tỉnh Tứ Xuyên) đi ngang đó cởi trói cho chở về nhà.

Nhà Trần giàu có, khách buôn các trấn trong vùng phần lớn đều xuất thân từ nhà ông.

Ông dặn các khách buôn Nam Bắc hỏi giùm tin Hề, giữ Đại Nam lại cho học với các con mình.

Đại Nam bèn ở lại không đi đâu nữa, nên quê càng xa, tin nhà càng vắng.

Hà Chiêu Dung sống cô đơn ba bốn năm, Thân thị chu cấp ít đi, ép phải tái giá nhưng Hà tự làm lụng mà sống, không chịu đổi lòng.

Thân bán bừa cho một khách buôn ở Trùng Khánh (tỉnh Tứ Xuyên), người ấy bắt cóc Hà mang đi.

Đến đêm Hà lấy dao tự cứa cổ, người khách buôn không dám ép, chờ vết thương lành bán lại cho một khách buôn ở Diêm Đình.

Tới Diêm Đình, Hà tự rạch bụng thấy cả ruột gan, người khách buôn sợ bó thuốc cho, khi lành rồi Hà chỉ xin cho làm ni cô.

Người khách buôn nói:

- Ta có người bạn buôn không có ngọc hành thường muốn tìm một người để may vá, ở với y cũng như làm ni cô, mà cũng có thể bù lại cho ta ít tiền.

Hà nghe theo.

Người khách buôn cho kiệu đưa đi, tới cửa chủ nhân bước ra thì là Hề sinh.

Nguyên Hề đã bỏ nghiệp nho đi buôn, người khách buôn thấy không có vợ nên đem Hà tặng cho.

Hai người gặp nhau kinh ngạc đau xót, cùng kể nỗi khổ, Hề mới biết là có con trai đi tìm cha chưa về.

Hề bèn nhờ các quán trọ dò hỏi tin tức Đại Nam, còn Chiêu Dung từ chỗ là thiếp trở thành chính thất.

Nhưng nàng trải nhiều tai nạn nên đau yếu lắm bệnh không làm được việc nhà, bèn khuyên chồng lấy vợ lẽ.

Hề nhớ lại tai họa trước đây nên không nghe, Hà nói:

- Nếu thiếp là kẻ tranh giành nơi giường chiếu thì mấy năm nay đã theo người sinh con rồi, làm sao còn đoàn tụ với chàng như hôm nay!

Vả lại việc người ta đối xử với mình nay còn thầm đau trong lòng, lẽ nào mình lại đối xử như thế với người khác.

Hề bèn dặn bạn khách buôn mua cho một người thiếp già hơn ba mươi tuổi.

Qua nửa năm, khách quả mua được người về, vào tới cửa thì ra là Thân thị, ai cũng lạ lùng kinh sợ.

Trước đó Thân thị ở một mình thêm được hơn năm thì anh là Bao khuyên tái giá.

Thân nghe theo, duy ruộng nương thì bị họ hàng nhà chồng cản trở không cho bán, liền bán các vật dùng được mấy trăm lượng vàng về nhà anh ở.

Có người khách buôn ở huyện Bảo Ninh (tỉnh Tứ Xuyên) nghe nói có nhiều của hồi môn bèn đút lót nhiều tiền cho Bao để lừa cưới.

Nhưng người khách buôn già nua không còn sức làm đàn ông, Thân oán anh không chịu ở yên, hết thắt cổ lại nhảy xuống giếng, phiền nhiễu không chịu nổi.

Người khách buôn giận, lục soát tiền bạc lấy hết, định đem bán làm thiếp, nhưng ai nghe cũng chê đã quá ba mươi rồi.

Người khách buôn đi Quỳ Châu đưa Thân cùng đi, người bạn buôn với Hề gặp bèn mua về.

Thân gặp mặt Hề thì vừa thẹn thùng sợ sệt không nói một câu.

Hề hỏi người bạn buôn biết rõ đầu đuôi bèn nói:

- Nếu gặp được người đàn ông mạnh khỏe thì đã ở lại Bảo Ninh, đâu có gặp nhau ở đây, cũng là số trời.

Nhưng nay ta mua thiếp chứ không phải cưới vợ, nên cứ vào lạy Chiêu Dung cho đúng lễ vợ cả vợ bé đã.

Thân lấy làm nhục, Hề nói:

- Trước kia ngươi làm vợ cả thì sao?

Hà khuyên thôi nhưng Hề không chịu, cầm gậy đe dọa cưỡng ép, Thân bất đắc dĩ phải lạy, nhưng trước sau vẫn không chịu hầu hạ, chỉ làm lụng ở phòng khác.

Hà đều bỏ qua hết, cũng không nỡ xét nét siêng năng hay lười biếng.

Hề cứ chuyện trò yến ẩm với Chiêu Dung là gọi Thân thị tới hầu hạ bên cạnh, Hà muốn sai tỳ nữ thay nhưng không nghe.

Gặp lúc ông Trần Tự Tông tới làm Huyện lệnh Diêm Đình, Hề có việc tranh chấp nhỏ với người làng, họ bèn kiện Hề tội bắt vợ cả làm vợ lẽ, Trần thét đuổi ra.

Hề mừng ca ngợi ông với Hà.

Một đêm đã khuya, đứa hầu nhỏ gõ cửa vào bẩm quan huyện tới.

Hề hoảng sợ vội tìm áo mũ thì quan đã tới cửa phòng, lại càng sợ không biết làm gì.

Hà nhìn kỹ, vội bước ra nói:

- Con ta đây mà!

Rồi bật khóc, Trần bèn lạy phục xuống đất khóc nức nở, té ra Đại Nam lấy họ ông Trần nay đã làm quan.

Lúc trước từ kinh tới đi vòng qua quê cũ mới biết hai mẹ đều đã cải giá, trong lòng đau xót.

Họ hàng biết Đại Nam đã làm quan liền trả lại ruộng vườn nhà cửa, Đại Nam cho đầy tớ ở lại sửa sang xây cất đợi ngày cha về.

Kế được bổ nhiệm ở Diêm Đình, lại muốn bỏ quan tìm cha, ông Trần hết sức khuyên can.

Vừa gặp lúc có người thầy bói bèn xin một quẻ, thầy bói nói:

- Nhỏ làm lớn, dưới thành trên, tìm trống được mái, tìm một được hai, làm quan rất tốt.

Trần bèn đi nhậm chức, vì không tìm được cha nên làm quan không uống rượu ăn mặn.

Hôm ấy nhận được đơn kiện của người làng thấy nói đến họ Hề có ý ngờ, ngầm sai tớ gái dò hỏi thì quả là cha.

Bèn nhân lúc đêm tối vi hành, gặp mẹ càng tin thầy bói tài giỏi.

Lúc ra về dặn đừng tiết lộ, đưa ra hai trăm lượng vàng, bảo cha sửa soạn về quê.

Cha về tới nơi thì nhà cửa mới mẻ, nuôi thêm người hầu ngựa cưỡi, nghiễm nhiên là một đại gia.

Thân thị thấy Đại Nam sang giàu càng hổ thẹn, anh là Bao biết được, kiện lên quan giành lại ngôi vợ cả cho em.

Quan xét được sự thật, giận nói:

- Đã tham của khuyên em tái giá, bỏ Hề lấy chồng hai lần rồi, lại còn mặt mũi tranh giành cả lẽ như xưa à?

Rồi sai đánh Bao thật đau.

Từ đó danh phận rõ ràng, Thân coi Hà như em, Hà cũng coi Thân như chị, thức ăn cái mặc đều chia cho.

Thân lúc đầu vẫn sợ Hà trả thù, đến lúc ấy càng thẹn thùng hối hận.

Hề cũng bỏ qua lỗi trước, cho người nhà gọi Thân là Thái mẫu, chỉ không được phong tặng thôi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 52+53


CHƯƠNG 52: THẠCH THANH THƯ

Dị Thạch Linh Lung Cánh Bất Ngoan

Lũ Tao Nhương Thiết Lũ Châu Hoan

Tiếu Tha Hải Nhạc Am Trung Khách

Lệ Chích Thiệt Trừ Biệt Nghiễn San

Dịch:

Đá Quý Long Lanh Dành Hiếm Lạ

Bao Phen Cướp Trộm Lại Châu Hoàn

Trong Am Hải Nhạc Cười Cho Khách

Châu Lệ Còn Rơi Biệt Nghiễn San



Hình Vân Phi người phủ Thuận Thiên thích đá, thấy đá đẹp là mua ngay không tiếc tiền.

Tình cờ đánh cá ở sông thấy có vật vướng vào lưới, lặn xuống gỡ thì được tảng đá bề ngang khoảng một thước, bốn mặt lóng lánh lởm chởm như núi non rất đẹp, mừng như được ngọc báu, lấy gỗ đàn hương tía chạm thành cái đế bày trên bàn.

Mỗi khi trời sắp mưa thì các lỗ sinh mây, nhìn xa như bông bay phơ phất.

Có nhà thế hào Mỗ tới xin xem, nhìn thấy cướp luôn, đưa cho tên đầy tớ khỏe mạnh vác rồi quất ngựa đi mất.

Hình không làm gì được, chỉ biết giẫm chân căm tức mà thôi.

Tên đầy tớ vác đá tới bờ sông nghỉ vai ở trên cầu, chợt tuột tay, đá rớt xuống sông.

Nhà thế hào giận đánh đầy tớ rồi bỏ tiền thuê người giỏi lặn tìm đủ cách mò lên mà vẫn không thấy, bèn treo tiền thưởng cho ai mò được rồi đi.

Từ đó người mò đá hàng ngày kéo tới đầy sông mà không ai lấy được.

Sau Hình tới chỗ đá rơi, nhìn sông than thở thì thấy nước trong suốt, đá vẫn ở dưới đó.

Hình cả mừng cởi áo lặn xuống ôm lên, cái đế gỗ đàn vẫn còn.

Về nhà không bày ở phòng khách nữa, dọn sạch phòng ngủ đặt ở đó.

Một hôm có ông già gõ cửa xin xem, Hình nói thác rằng mất đã lâu.

Ông già cười nói:

- Không phải ở phòng khách sao?

Hình bèn mời vào phòng khách để chứng tỏ là không có, vào tới thì thấy tảng đá bày trên ghế, kinh ngạc đớ lưỡi.

Ông già xoa tảng đá nói:

- Đây là vật cũ của nhà ta bị mất đã lâu, vẫn còn ở đây à?

Nay đã thấy xin cho lại.

Hình cuống quá bèn cãi nói của mình, ông già cười hỏi:

- Đã là của nhà ông thì lấy gì làm bằng?

Hình không sao trả lời.

Ông già nói:

- Ta thì biết rõ lắm, trước sau có tất cả chín mươi hai lỗ, trong lỗ lớn có năm chữ Thanh Hư thiên thạch cung (Đá trời cung Thanh Hư ).

Hình nhìn kỹ quả trong lỗ có hàng chữ nhỏ như hạt gạo, cố nhìn mới đọc được, lại đếm số lỗ thì đúng như ông già nói.

Hình không đáp được, chỉ giữ không chịu đưa ông già cười nói:

- Vật của nhà ai mà ông đòi làm chủ?

Rồi chào ra.

Hình đưa ra tới cổng, quay vào thì đá đã đâu mất.

Cả kinh nghi là ông già lấy, vội đuổi theo thì thấy ông thong thả đi cũng chưa xa, Hình chạy theo níu áo van xin.

Ông già nói:

- Lạ chưa?

Tảng đá to cả thước, ai mà giấu được trong tay áo?

Hình biết là thần, cố kéo về nhà, quỳ xuống năn nỉ.

Ông già bèn hỏi:

- Đá đó thật là của ông hay của ta?

Hình đáp:

- Quả là của ông, chỉ xin ông dứt tình mà cho thôi.

Ông già nói:

- Nếu thế thì đá vẫn ở đấy.

Hình vào phòng ngủ thì đá vẫn ở chỗ cũ.

Ông già nói:

- Vật quý trên đời nên để cho người biết quý.

Tảng đá này có thể tự chọn chủ, ta cũng mừng.

Nhưng nó vội xuất hiện, ra đời sớm thì ma kiếp chưa trừ, ta thật muốn mang đi, ba năm nữa mới đem tặng ông.

Nếu muốn giữ nó ngay thì phải giảm thọ ba năm nó mới làm bạn với ông mãi được, ông có chịu không?

Hình đáp chịu, ông già bèn lấy hai ngón tay miết lên một cái lỗ, cái lỗ mềm như bùn, theo ngón tay vít kín lại, lần lượt vít ba lỗ.

Ông già nói:

- Số lỗ trên đá là số tuổi thọ của ông.

Rồi chào đi.

Hình cố giữ lại nhưng ông nhất định chối từ, Hình hỏi họ tên cũng không nói, ra đi ngay.

Hơn năm sau, Hình có việc đi vắng, đêm có kẻ trộm vào phòng, không lấy vật gì mà chỉ trộm tảng đá mang đi.

Hình về buồn bã tưởng chết, dò hỏi thuê tìm nhưng không thấy manh mối.

Vài năm sau tình cờ vào chùa Báo Quốc, thấy có người bán đá, tới gần xem thì là vật cũ bèn nhận của mình.

Người bán đá không chịu, nhân vác đá lên quan.

Quan hỏi:

- Lấy gì làm bằng?

Người bán đá nói đúng số lỗ.

Hình hỏi còn gì khác không thì không nói được.

Hình bèn nói năm chữ trong lỗ và ba vết ngón tay, việc liền rõ ràng.

Quan định phạt đòn người bán đá, người ấy khai mua ở chợ mất hai mươi lượng vàng, quan bèn tha.

Hình mang được đá về, lấy gấm bọc lại cất vào rương, thỉnh thoảng lấy ra ngắm thì đốt trầm trước rồi mới đem ra.

Có quan Thượng thư nọ đem một trăm lượng vàng tới mua nhưng Hình thì vạn lượng vàng cũng không bán.

Thượng thư tức giận ngầm lấy việc khác hãm hại, Hình bị bắt, vợ con cầm ruộng bán vườn chạy vạy, Thượng thư sai người bắn tin cho con Hình là muốn lấy đá.

Con thưa lại, Hình nói thà chết chứ không chịu mất đá.

Vợ bàn riêng với con đem đá dâng Thượng thư, Hình ra khỏi ngục mới biết, chửi vợ đánh con, nhiều lần thắt cổ tự tử nhưng người nhà đều biết cứu thoát.

Một đêm mơ thấy một người đàn ông tới, tự xưng là Thạch Thanh Hư, nói với Hình rằng:

- Đừng buồn, chỉ tạm xa ông hơn một năm thôi.

Mờ sáng ngày hai mươi tháng tám sang năm cứ đem hai quan tiền tới cửa Hải Đại chuộc về.

Hình mừng rỡ ghi lại ngày tháng cẩn thận, mà tảng đá trong nhà Thượng thư cũng không sinh mây nữa, dần dần cũng không quý trọng lắm.

Năm sau Thượng thư có tội bị cách chức, kế chết.

Đúng ngày hẹn Hình tới cửa Hải Đại thì gia nhân Thượng thư ăn cắp đá ra đang tìm người để bán, Hình bèn bỏ ra hai quan mua về.

Về sau Hình sống đến tám mươi chín tuổi, tự sắm sửa quan quách, dặn con hễ mình chết thì chôn đá theo.

Kế chết, con theo lời chôn đá vào trong mộ.

Khoảng nửa năm kẻ trộm đào mộ lấy đá đi, con Hình biết nhưng không có cách nào đòi được.

Qua hai ba hôm dắt đầy tớ đi trên đường chợt thấy hai người mồ hôi nhễ nhại chạy theo, ngẩng lên không cầu khẩn:

- Hình tiên sinh tha cho bọn ta đi, hai đứa lấy đá chẳng qua bán được bốn lượng bạc thôi.

Liền bắt trói đưa lên quan, quan hỏi liền nhận tội ngay.

Hỏi đá thì họ khai là bán cho họ Cung, bèn lấy lên.

Quan nhìn thấy rất thích, muốn chiếm lấy bèn sai cất vào kho.

Viên lại vừa bưng đi thì đá chợt rơi xuống đất vỡ làm mấy mươi mảnh, ai cũng hoảng sợ.

Quan cho cùm kẹp hai tên trộm thật đau rồi tha ra.

Con Hình nhặt các mảnh đá đem chôn vào mộ cha như cũ.

____________________________________

CHƯƠNG 53: TĂNG HỮU VU

Phân Phân Nhưỡng Nhưỡng Nhật Tầm Cừu

Cam Hiệu Diên Lăng Khứ Quốc Mưu

Đãi Khán Thu Phong Liên Tiệp Báo

Nãi Ông Khuông Lệ Liệu Ưng Thu

Dịch:

Bời Bời Ngày Một Vạn Thù Gây

Đành Phải Tha Phương Tránh Vạ Lây

Đợi Gió Thu Đưa Tin Tiệp Báo

Mắt Ông Ráo Lệ Hẳn Từ Đây



Ông họ Tăng là người đất Côn Dương (huyện Diệp tỉnh Hà Nam) là con nhà thế gia cũ.

Lúc ông chết còn chưa chôn, hai mắt ứa lệ giàn giụa, nhưng có sáu người con mà không ai hiểu vì sao.

Người con thứ tên Đễ, tự Hữu Vu là danh sĩ trong huyện cho là điều không lành, nói với anh em đều nên cẩn thận giữ gìn đừng để người quá cố đau lòng, nhưng một nửa số anh em khinh bỉ chế nhạo là ngu xuẩn vu vơ.

Trước kia ông Tăng lấy vợ sinh được người con trưởng là Thành, được bảy tám tuổi thì hai mẹ con bị giặc cướp bắt đi.

Lấy vợ kế sinh được ba con trai là Hiếu, Trung, Tín, người thiếp sinh được ba con trai là Đễ, Nhân, Nghĩa.

Hiếu vì bọn Đễ là con dòng thứ nên khinh bỉ không coi là ngang hàng, kéo bè kéo cánh với Trung và Tín.

Như đang uống rượu với khách mà bọn Đễ đi ngang thềm thì tỏ ra ngạo mạn vô lễ, Nhân và Nghĩa đều tức giận, bàn với Hữu Vu định trả đũa.

Hữu Vu tìm đủ cách can ngăn khuyên giải chứ không nghe theo, mà Nhân và Nghĩa vì còn quá nhỏ nên nghe anh nói thế cũng thôi.

Hiếu có con gái gả cho họ Chu người cùng huyện bị bệnh chết, bèn dắt các em đến đánh đập người mẹ chồng.

Chu báo lên huyện, quan huyện tức giận bắt giam bọn Hiếu định trị tội thật nặng.

Hữu Vu sợ hãi lên ra mắt quan huyện nài nỉ.

Quan huyện vốn ngưỡng mộ phẩm hạnh Hữu Vu, nhờ vậy bọn anh em không phải chịu khổ nhiều.

Hữu Vu lại tự mang roi tới nhà Chu xin nhận lỗi, Chu cũng kính trọng Hữu Vu nên thôi không kiện nữa.

Bọn Hiếu được trở về nhưng rốt vẫn không hề biết ơn Vu.

Không bao lâu, mẹ Hữu Vu là Trương phu nhân chết, bọn Hiếu đều không để tang mà vẫn yến ẩm như cũ, Nhân và Nghĩa càng căm tức.

Hữu Vu nói:

- Đó là họ vô lễ chứ chúng ta đâu có mất gì?

Đến khi chôn cất thì bọn Hiếu ra giữ cửa mộ không cho hợp táng với ông Tăng, Hữu Vu bèn chôn mẹ ở đường vào mộ cha.

Không bao lâu vợ Hiếu chết, Hữu Vu gọi Nhân và Nghĩa tới giúp việc tang, hai người đều nói:

- Họ không để tang vợ lẽ của cha, thì làm gì có chuyện chúng ta để tang chị dâu?

Khuyên mấy lần vẫn thản nhiên bỏ đi.

Hữu Vu bèn tới, khóc lóc rất đau thương.

Nghe Nhân và Nghĩa ở nhà bên đàn hát uống rượu, Hiếu tức giận họp các em qua đánh.

Hữu Vu vác gậy xông vào trước, Nhân biết được bỏ chạy, Nghĩa đang trèo qua tường thì Hữu Vu đuổi tới đánh ngã xuống đất.

Bọn Hiếu xúm lại đánh túi bụi không ngừng tay.

Hữu Vu lấy thân mình che chở cho Nghĩa, Hiếu tức giận chửi Hữu Vu.

Hữu Vu nói:

- Đánh nó vì tội vô lễ chứ tội ấy không đáng chết, em không tha thằng em vô lễ nhưng cũng không thể thấy anh nóng giận mà không can, xin được chịu tội thay nó.

Hiếu bèn quay gậy đánh Hữu Vu, Trung và Tín cũng giúp Hiếu đánh anh, gầm thét ầm ĩ, người làng xúm lại khuyên giải mới thôi.

Hữu Vu bèn vác gậy tới nhà anh xin chịu tội, Hiếu đuổi đi không cho để tang.

Nhưng Nghĩa bị đánh trọng thương không ăn uống gì được, Nhân bèn lên quan kiện thay, tố cáo bọn Hiếu không để tang thứ mẫu.

Quan bèn ra lệnh bắt bọn Hiếu, sai Hữu Vu khai báo.

Hữu Vu vì mặt mũi bị thương không tới công đường được, chỉ làm tờ bẩm năn nỉ bỏ qua chuyện này.

Quan huyện bèn không xét tới nữa, Nghĩa cũng dần dần bình phục, từ đó càng thù hận bọn Hiếu.

Nhân và Nghĩa đều còn nhỏ yếu ớt, cứ mỗi khi bị đánh đập thì nói với Hữu Vu:

- Người ta đều có anh em, chỉ có chúng ta là không.

Hữu Vu nói:

- Ta mà nói câu ấy ra thì hai em sẽ đi đâu mà sống?

Nhân đó hết sức khuyên giải, nhưng rốt lại hai người vẫn không nghe.

Hữu Vu bèn đóng cửa nhà, dắt vợ con tới ngụ ở làng khác cách đó hơn năm mươi dặm, không ai biết tin tức.

Hữu Vu lúc còn ở nhà tuy không bênh vực gì hai em nhưng bọn Hiếu cũng hơi kiêng dè, lúc đi rồi thì bọn Hiếu không sợ hãi gì nữa, cứ tới nhà Nhân và Nghĩa chửi mắng, xúc phạm cả tới mẹ ruột họ.

Nhân và Nghĩa tự lượng không đủ sức đánh lại, chỉ đóng chặt cửa nghĩ cách tìm lúc bọn Hiếu sơ hở mà đâm chết, đi đâu cũng giắt dao trong người.

Một hôm chợt người anh lớn bị cướp bắt đi là Thành dắt mẹ trở về, các anh em vì chia gia tài đã lâu, họp lại bàn bạc ba ngày mà không biết đối xử với Thành thế nào, bèn tới báo với Hữu Vu, Hữu Vu mừng rỡ về ngay, đưa ruộng vườn nhà cửa cho Thành ở.

Bọn Hiếu tức giận, cho rằng Hữu Vu làm ơn để lấy lòng Thành, tới tận nhà sỉ vả làm nhục.

Nhưng Thành ở lâu ngày với bọn cướp cũng quen thói dữ tợn, nghe thế cả giận nói:

- Ta về tới đây đã không người nào đưa cho một gian nhà để ở, may có chú ba nghĩ tình anh em thì các người lại bắt lỗi này nọ, muốn đuổi ta đi phải không?

Rồi vác đá ném Hiếu, Hiếu ngã lăn ra, Nhân và Nghĩa đều vác gậy xông ra bắt Trung và Tín đánh túi bụi.

Thành không chờ bọn Hiếu thưa kiện mà đi kiện trước, quan huyện lại sai người tới hỏi ý Hữu Vu.

Hữu Vu bất đắc dĩ phải lên gặp quan, cúi đầu không nói gì chỉ chảy nước mắt, quan hỏi mãi mới thưa chỉ xin cứ theo phép công mà xét.

Quan bèn truyền bọn Hiếu phải đưa lại ruộng vườn nhà cửa cho Thành, sai chia làm bảy phần cho đều, từ đó Nhân và Nghĩa càng thêm kính trọng yêu mến Thành.

Nhân cùng trò chuyện kể lại việc chôn mẹ, hai người rơi nước mắt, Thành căm giận nói:

- Bất nhân như thế thì thật là cầm thú.

Bèn định bốc mộ mẹ ba anh em Hữu Vu lên để cải táng, Nhân và Nghĩa tới báo, Hữu Vu vội về can ngăn nhưng Thành không nghe, chọn ngày lập đàn chay cạnh mộ, cầm đao phạt đứt một cái cây nói với các em rằng:

- Đứa nào không chịu mặc áo tang đi theo, thì sẽ như cái cây này đấy.

Mọi người đều líu ríu vâng dạ, cả nhà đều ra khóc than, chôn cất đủ lễ, từ đó anh em yên ổn với nhau.

Nhưng Thành tính nóng nảy cứng rắn, thường đánh đập các em, nhất là bọn Hiếu, duy chỉ trọng có Hữu Vu, đang lúc giận sôi lên mà Hữu Vu tới nói một câu là nguôi ngay.

Những việc Hiếu làm Thành đều không ưa, vì vậy ngày nào Hiếu cũng tới nhà Hữu Vu chửi lén Thành, nhưng Hữu Vu khéo léo can ngăn, không nghe lời Hiếu.

Hữu Vu thấy phiền nhiễu không chịu nổi bèn dời tới ngụ ở đất Tam Bạc, thuê nhà để ở, càng xa quê hơn trước, từ đó tin tức đi lại thưa dần.

Được hai năm, các em đều sợ Thành, lâu ngày quen dần không còn tranh giành cãi cọ với nhau nữa.

Nhưng Hiếu bốn mươi sáu tuổi, sinh được năm con trai, trưởng là Kế Nghiệp, thứ ba là Kế Đức là con vợ lớn, con thứ là Kế Công, thứ tư là Kế Tích là con vợ thứ, lại có Kế Tổ là con người thiếp, lúc ấy đều đã trưởng thành, cũng học thói cha ngày xưa kéo bè kéo cánh hàng ngày tranh giành cãi cọ nhau, Hiếu không sao ngăn cấm được.

Duy có Tổ là không có anh em ruột nào, lại nhỏ tuổi nhất, các anh đều có người để chửi mắng.

Nhà cha vợ Tổ vốn ở gần Tam Bạc, gặp hôm Tổ tới thăm bèn lén vòng qua thăm chú, vào tới nhà chú thấy hai anh một em đang đọc sách râm ran, thích lắm bèn ở lại lâu ngày không nói tới việc về.

Chú giục về, Tổ nài nỉ xin cho ở lại, chú nói:

- Cha mẹ cháu đều không biết chuyện này, chứ chú đâu tiếc gì miếng cơm hớp nước với cháu?

Tổ bèn về, mấy tháng sau vợ chồng đi mừng thọ mẹ vợ bèn nói với cha:

- Con đi lần này không về nữa đâu.

Cha hỏi han, Tổ bèn ngỏ ý riêng, cha sợ Hữu Vu nhớ oán hờn cũ khó nỗi ở lâu.

Tổ nói:

- Cha lo xa quá, chứ chú hai là bậc thánh hiền đấy.

Rồi dắt vợ lên đường tới Tam Bạc.

Hữu Vu chia nhà cho ở, coi như con ruột, sai học với con lớn là Kế Thiện.

Tổ học rất giỏi, từ đó ngụ luôn ở Tam Bạc.

Anh em trong nhà Tổ ngày càng bất hòa, một hôm Nghiệp vì cãi cọ chuyện nhỏ chửi mắng thứ mẫu, Công tức giận đâm chết Nghiệp.

Quan bắt Công trừng phạt nặng nề, được vài hôm Công chết trong ngục.

Vợ Nghiệp là Phùng thị hàng ngày cứ chửi mắng thay việc khóc chồng, vợ Công là Lưu thị nghe thấy tức giận nói:

- Chồng ngươi chết còn chồng ta thì sống à?

Rồi xách dao vào chém chết Phùng thị, kế nhảy xuống giếng tự tử.

Cha Phùng thị là Đại Lập xót con gái chết thảm bèn dắt con cháu trong nhà giấu binh khí dưới áo tới bắt vợ Hiếu về, lột truồng đánh đập làm nhục.

Thành tức giận nói:

- Nhà ta đang chết như rạ mà họ Phùng sao dám làm thế?

Rồi gầm thét xông ra, anh em con cháu họ Tăng cũng đổ ra.

Bọn nhà họ Phùng chạy tán loạn, Thành túm được Đại Lập, cắt luôn hai vành tai.

Con Phùng tới cứu bị Kế Tích cầm gậy sắt đánh gãy hai chân, bọn nhà họ Phùng đều bị thương, kêu gào chạy tứ tán.

Chỉ có con Phùng còn nằm bên đường, mọi người không biết tính sao, Thành bèn xốc nách đưa tới bỏ gần thôn Phùng rồi về, gọi Kế Tích bảo lên quan tự thú.

Lúc ấy đơn kiện của họ Phùng cũng vừa gởi tới, anh em con cháu nhà họ Tăng đều bị bắt.

Chỉ có Trung chạy thoát, tới Tam Bạc chần chừ mãi ngoài cổng vì sợ anh nhớ thù xưa.

Gặp lúc Hữu Vu dắt con lớn và cháu đi thi về, nhìn thấy ngạc nhiên nói:

- Sao em lại tới đây?

Trung quỳ mọp ven đường, Hữu Vu càng hoảng sợ nắm tay dắt vào nhà, hỏi biết sự tình kinh sợ nói:

- Làm thế nào bây giờ, cả nhà đều phạm tội.

Ta đã biết có họa này từ lâu, nếu không thì đâu trốn lánh thế này.

Anh xa nhà đã lâu, không có giao thiệp gì với quan huyện, nay cho dù có khúm núm tới đó cũng chỉ chuốc lấy cái nhục mà thôi.

Có điều cha con họ Phùng tuy bị thương nặng nhưng không chết, nếu ba người chúng ta có ai may mắn thi đỗ thì tai họa này có thể gỡ ra một chút.

Rồi giữ Trung lại, ngày ăn cùng mâm, đêm nằm cùng chiếu, Trung rất cảm động.

Ở đó hơn mười ngày lại thấy chú cháu Hữu Vu thân thiết như cha con, anh em đều như một mẹ, buồn rầu sa nước mắt nói:

- Nay em mới biết ngày trước mình làm quấy.

Hữu Vu thấy Trung tỉnh ngộ hối hận cũng vui mừng, đối xử rất chu đáo.

Chợt có tin báo cha con Hữu Vu đều thi đỗ Cử nhân, Tổ cũng đỗ Tú tài, cả mừng không dự ăn yến mừng các vị tân khoa, trở về cúng mộ cha mẹ trước.

Cuối thời Minh khoa bảng rất được coi trọng, bọn nhà họ Phùng vì thế đều nín hơi.

Hữu Vu lại nhờ bạn bè đưa vàng lụa tới cho họ lo thuốc men, việc kiện tụng bèn dứt.

Cả nhà họ Tăng đều khóc, xin Hữu Vu quay về làng ở.

Hữu Vu bèn cùng anh em đốt hương lập lời thề, ai nấy đều theo đó sửa mình rồi dời nhà về.

Tổ theo chú không muốn về nhà, Hiếu bèn nói với Hữu Vu rằng:

- Ta thiếu đức, lẽ ra không được có đứa con làm rạng rỡ dòng họ như thế, em lại khéo dạy bảo, xin cứ cho theo ý nó gởi lại nhờ em, sau này có khá hơn thì cho nó về.

Hữu Vu theo lời, ba năm sau quả nhiên Tổ thi đỗ Cử nhân, Hữu Vu bảo dời về ở với cha mẹ, vợ chồng đều khóc ròng ra đi.

Được vài tháng, Tổ có đứa con mới ba tuổi cứ trốn tới nhà Hữu Vu không chịu về, đuổi bắt đưa về thì chạy trốn.

Hiếu bèn dời nhà tới ở cạnh Hữu Vu, Tổ thì mở cửa bên vách thông qua nhà chú, qua lại thăm hỏi hai nhà như nhau.

Từ đó Thành cũng dần già yếu, việc trong dòng họ giao cho Hữu Vu quyết, vì vậy môn hộ đều yêu thương nhau, nổi tiếng là hiếu hữu.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 54+55+56+57+58


CHƯƠNG 54: GIA BÌNH CÔNG TỬ

Lãnh Vũ Thê Phong Tuyệt Diệu Từ

Cá Nhân Đoan Đích Thị Tình Si

Bất Kỳ Thiên Thượng Giáng Ma Pháp

Thiên Thị Nhân Gian Một Tự Bi

Dịch:

Đìu Hiu Mưa Gió Gợi Hồn Thi

Thực Giống Đa Tình Khéo Khéo Si

Kìa Pháp Giáng Ma Đâu Có Tưởng

Là Bia Không Chữ Mới Ly Kỳ



Công tử Mỗ ở đất Gia Bình phong tư tuấn tú, năm mười bảy mười tám tuổi lên quận thi khoa Đồng tử, tình cờ đi ngang kỹ viện nhà họ Hứa.

Ngoài cổng có một cô gái đẹp, công tử nhìn chằm chằm, nàng mỉm cười gật đầu, công tử vui vẻ tới gần trò chuyện.

Cô gái hỏi chỗ trọ ở đâu, công tử nói rõ, nàng lại hỏi có ai ở cùng không, công tử đáp không.

Nàng liền nói:

- Tối nay thiếp sẽ tới thăm, đừng để ai biết.

Công tử gật đầu rồi về, bảo gia nhân đi hết qua nơi khác.

Tối quả cô gái tới, tự nói tiểu tự là Ôn Cơ, lại nói:

- Thiếp hâm mộ công tử phong lưu nên trốn bà chủ tới đây, phận hèn rất muốn được hầu hạ công tử trọn đời.

Công tử cũng mừng rỡ, hẹn sẽ đem món tiền lớn chuộc nàng ra khỏi kỹ viện, từ đó cứ hai ba hôm nàng lại tới một lần.

Một đêm nàng đội mưa tới, vào cửa rồi cởi chiếc áo ngoài bị ướt mắc lên giá, lại cởi chiếc hài nhỏ ở chân xin công tử gột giùm bùn đất cho.

Công tử nhìn chiếc hài thấy là loại gấm mới năm màu, dính bùn bê bết cả, lấy làm tiếc.

Cô gái nói:

- Không phải thiếp dám lấy việc hèn hạ bắt công tử phục dịch, chỉ là muốn công tử biết mối tình si của thiếp thôi.

Nghe ngoài song tiếng mưa vẫn rả rích không ngớt, bèn ngâm:

- Thê phong lãnh vũ mãn giang thành.

Dịch:

(Gió buồn mưa lạnh ngập giang thành)

Rồi xin công tử nối vần.

Công tử từ chối nói không làm được, nàng nói:

- Công tử là một người như thế, mà không biết chuyện phong nhã, làm thiếp mất cả hứng.

Nhân khuyên công tử cố gắng học tập, công tử vâng dạ.

Sau nàng thường lui tới nên đám gia nhân đều biết, công tử có người anh rể họ Tống cũng là con nhà thế gia nghe biết chuyện, lén xin công tử cho gặp Ôn Cơ một lần.

Công tử nói lại nhưng nàng nhất định không chịu.

Tống bèn tới rình trong phòng gia nhân, chờ nàng tới núp ngoài cửa sổ nhìn trộm, thấy say mê đến phát điên bèn xô cửa sấn vào, cô gái đứng dậy leo qua tường đi mất.

Tống càng hâm mộ, bèn sắm sửa lễ vật tới gặp bà chủ nêu đích danh Ôn Cơ xin gặp, thì đúng là ở đó có Ôn Cơ song đã chết lâu rồi.

Tống kinh ngạc về nói với công tử, công tử mới biết nàng là ma nhưng trong lòng vẫn yêu mến.

Đêm nàng tới, công tử kể lại lời Tống, cô gái nói:

- Đúng thế, nhưng chàng muốn có vợ xinh đẹp, thiếp cũng muốn có chồng tuấn tú, ai cũng thỏa nguyện thì bàn làm gì chuyện người hay ma.

Công tử cho là đúng.

Thi xong trở về, cô gái cũng về theo, người khác không ai nhìn thấy nàng mà chỉ công tử nhìn thấy.

Về tới nhà, công tử để nàng ở trong phòng khách rồi cũng ngủ một mình ở đó, cha mẹ đều ngờ vực.

Khi cô gái về thăm nhà công tử mới nói riêng với mẹ.

Cha mẹ cả sợ, bắt công tử tuyệt tình với nàng, công tử không nghe, hai ông bà lo lắng, tìm đủ cách trừ ếm mà không được.

Một hôm, công tử có tờ thiếp răn bảo gia nhân đặt ở bàn, trong đó nhiều chữ viết sai như “tiêu” viết thành “thúc”, “khương”, viết thành “giang”, “khả hận” viết thành “khả lãng”.

Cô gái đọc thấy, viết thêm vào phía dưới rằng:

Hà sự khả lãng

Hoa thúc sinh giang

Hữu tế như thử

Bất như vi xướng.

Dịch:

(Việc gì “đáng sóng”

Hoa thúc sinh giang

Có chồng như thế

Làm đĩ còn hơn.)

Rồi giã từ công tử, nói:

- Thiếp lúc đầu cho rằng công tử là văn nhân nhà thế gia nên mặt dày tự theo về, không ngờ chỉ có cái mẽ ngoài, chỉ biết xét người theo dung mạo thế này liệu tránh khỏi thiên hạ chê cười không?

Nói xong biến mất.

Công tử tuy xấu hổ căm hờn nhưng cũng không hiểu nàng viết gì, cứ đem tờ thiếp ra răn bảo gia nhân, người nghe được kể cho nhau nghe để cười.

____________________________________

CHƯƠNG 55: MIÊU SINH

Long Ngâm Sư Vũ Khí Hào Hùng

Tục Tử Hà Kham Hối Nãi Công

Mãn Tọa Y Quan Kinh Nhất Hống

Bất Tu Cánh Thí Kiếm Quang Hồng

Dịch:

Rồng Ngâm Sư Múa Khí Hào Hùng

Tục Tử Đừng Nên Xúc Phạm Ông

Một Tiếng Gầm Vang Kinh Cử Tọa

Chẳng Nên Lại Thử Kiếm Quang Hồng



Cung sinh người Dận Châu (tỉnh Tứ Xuyên) lên Tây An (tỉnh Thiểm Tây) dự thi, nghỉ lại ở quán gọi rượu uống một mình.

Chợt có một người đàn ông to lớn bước vào, ngồi xuống cùng trò chuyện, sinh nâng chén mời.

Khách cũng không từ chối, tự nói tên là Miêu sinh, lời lẽ rất thô hào, sinh cho là không biết văn chương, đối xử rất ngạo mạn, uống hết rượu không gọi thêm nữa.

Miêu nói:

- Bọn học trò uống rượu làm người ta phát chán.

Rồi đứng lên bước ra quầy bỏ tiền mua rượu, xách một vò lớn bước vào.

Sinh chối từ không uống nữa, Miêu nắm tay mời mọc, tay sinh đau buốt như sắp gãy, bất đắc dĩ phải cạn thêm vài chén.

Miêu lấy tô đựng canh múc rượu uống, cười nói:

- Ta không biết mời khách, uống nữa hay thôi thì tùy ông.

Sinh mang hành lý ra đi, được vài dặm thì con ngưa bị bệnh khuỵu xuống lăn ra đường, sinh ngồi đợi ven đường, hành lý nặng nề không biết làm sao.

Kế Miêu tới hỏi biết chuyện, bèn đưa hành lý cho đầy tớ, vác con ngựa lên vai đi hơn hai mươi dặm mới tới quán trọ, bỏ ngựa vào chuồng, hồi lâu chủ tớ sinh mới tới.

Sinh kinh ngạc cho là thần nhân, đối xử rất ân cần lễ phép, gọi lấy cơm rượu cùng ăn uống.

Miêu nói:

- Ta ăn khỏe lắm, ông không cho ăn no nổi đâu, nhưng uống rượu thì được.

Uống cạn một vò rồi đứng lên giã từ, nói:

- Ông chữa bệnh cho ngựa cũng phải mất ngày giờ, ta không chờ được, bây giờ xin đi.

Sau đó thi xong, sinh cùng ba bốn người bạn lên chơi Hoa Sơn, trải chiếu ra đất bày tiệc.

Vừa ngồi vào uống rượu cười nói thì Miêu chợt tới, tay trái xách vò rượu lớn, tay phải cầm cái đùi heo, ném xuống chiếu nói:

- Nghe tin các vị lên chơi, xin tới hầu hạ.

Mọi người đứng lên chào hỏi, kế cùng ngồi xuống uống rượu rất vui vẻ.

Mọi người định làm thơ liên cú, Miêu giành nói:

- Uống rượu rất vui, cần gì phải nghĩ ngợi cho buồn rầu?

Mọi người không nghe, bày lệ ai không làm được thơ thì bị phạt uống rượu.

Miêu nói:

- Ai làm thơ không hay thì phải xử theo quân pháp.

Mọi người cười nói:

- Tội ấy thì không đến nỗi bị trị như thế.

Miêu nói:

- Nếu không bị giết thì ta tuy là kẻ vũ phu cũng làm được.

Người ngồi đầu tiệc là Cấn sinh đọc:

- Tuyệt hiến bàng lâm nhãn giới không.

Dịch:

(Lên ngắm non cao mắt trống không).

Miêu ứng khẩu đọc tiếp ngay rằng:

- Thóa hồ kích khuyết kiếm quang hồng.

Dịch:

(Gõ hồ hát lớn ánh gươm hồng).

Mọi người trầm ngâm hồi lâu, Miêu bèn nghiêng vò tự rót rượu uống, hồi lâu cả bọn mới đọc nối theo thành bài, ý thơ quê mùa bỉ lậu.

Miêu gọi nói:

- Thế là được rồi, đừng dọa ta nữa!

Mọi người không nghe.

Miêu không nhịn được nữa vùng dậy quát lên như tiếng rồng ngâm vang dội cả hang núi, lại ngẩng đầu múa điệu sư tử, mọi người tứ thơ đều rối loạn mới thôi không làm nữa.

Kế lại rót rượu uống tiếp, đến lúc ngà ngà khách lại đọc những bài làm trong trường thi để tâng bốc nhau.

Miêu không muốn nghe, lôi sinh ra ngoài vật tay, đã mấy phen phân thắng phụ mà đám kia còn ngâm đọc tán tụng không thôi.

Miêu lớn tiếng nói:

- Ta đã nghe cả rồi, loại văn chương ấy chỉ đáng đem về đọc cho vợ nghe trong phòng, chứ trước chỗ đông người mà cứ lải nhải thì đáng chán lắm.

Mọi người hổ thẹn, lại thêm ghét Miêu thô mãng, càng cao giọng ngâm nga.

Miêu càng tức giận, nằm phục xuống đất gầm lớn, lập tức biến thành con cọp xông vào vồ chết cả bọn rồi gầm thét bỏ đi, những người còn sống chỉ có sinh và Cấn.

Khoa ấy Cấn đỗ Cử nhân, ba năm sau lại qua Hoa âm (tỉnh Sơn Đông), chợt gặp Kê sinh, cũng là kẻ bị cọp giết trên núi, cả sợ định bỏ chạy.

Kê nắm dây cương ngựa, Cấn không chạy được bèn xuống ngựa hỏi định làm gì.

Kê đáp:

- Ta nay làm ma trành của Miêu sinh, theo hầu hạ rất khổ, phải giết một người học trò để thay.

Ba ngày nữa sẽ có một người mặc áo đội mũ nhà nho bị cọp vồ dưới núi Thương Long, là người thay ta đấy.

Hôm ấy ông nên mời các bậc văn sĩ tới đó để mưu việc giùm bạn cũ.

Cấn không dám nói gì, kính cẩn gật đầu rồi chia tay.

Tới nơi ngụ suy nghĩ suốt đêm không biết làm sao để giúp bèn quyết ý nuốt lời, mặc kệ con ma.

Chợt có người anh bên ngoại là Tưởng sinh tới, Cấn thuật lại chuyện lạ.

Tưởng là kẻ danh sĩ, trong huyện có Vưu sinh đi khảo thí được điểm cao hơn mình nên ngấm ngầm ghen ghét.

Hôm ấy nghe Cấn nói, ngầm có ý hại Vưu bèn gởi thư mời Vưu hôm ấy lên núi chơi, tự mình mặc áo trắng tới đó.

Vưu không hiểu ý, hôm ấy lên tới giữa núi thấy rượu thịt đã bày đủ, trò chuyện rất thân mật lễ phép.

Gặp lúc quan Thái thú lên núi, Thái thú vốn là thông gia với Tưởng, nghe nói Tưởng ở dưới sai người xuống mời lên.

Tưởng không dám mặc áo trắng lên gặp, bèn đổi áo mão với Vưu, vừa mặc áo nhà nho vào xong thì cọp phóng ra vồ Tưởng mang đi mất.

________________________________

CHƯƠNG 56: TỶ MUỘI DỊCH GIÁ

DUYÊN CHỊ BUỘC VÀO EM

Dịch Huyện Truyền Văn Sự Hữu Vô

Đại Di Phu Tác Tiểu Di Phu

Tập Khô Tập Uyển Tầm Thường Sự

Tỉ Muội Đương Thời Kế Hiệu Thù

Dịch:

Dịch Huyện Phao Đồn Truyện Bớt Thêm

Khéo Đem Duyên Chị Buộc Vào Em

Tẻ Vui Âu Cũng Do Trời Nhỉ?

Vận Mệnh Rồi Đây Ngẫm Thử Xem



Tướng quốc họ Mao ở huyện Dịch (tỉnh Sơn Đông) lúc nhỏ nhà nghèo, cha phải đi chăn trâu cho người ta.

Lúc ấy nhà thế tộc họ Trương trong huyện có khu mộ ở sườn núi phía đông, có người đi qua nghe trong phần mộ có tiếng quát tháo:

- Các ngươi phải đi ngay, không được ở lâu trong ngôi đất của quý nhân.

Trương nghe kể cũng chưa tin lắm, kế chợt nằm mơ thấy thần nói:

- Khu mộ của gia đình ngươi vốn là ngôi đất quý của ông Mao, sao lại mượn lâu thế?

Từ đó trong nhà liên tiếp gặp mấy chuyện rủi ro, có người môn khách khuyên nên dời mộ qua nơi khác thì hay, Trương nghe theo bèn cải táng.

Một hôm cha Tướng quốc đi chăn trâu, ra tới khu mộ cũ nhà họ Trương thì trời chợt mưa lớn, bèn núp dưới huyệt mộ cũ.

Kế mưa càng lớn như trút, nước tràn xuống huyệt, đất lở sụp xuống nên chết đuối dưới đó.

Lúc ấy Tướng quốc còn là trẻ con, bà mẹ bèn tới nhà Trương xin cho vài thước đất chôn cha đứa nhỏ.

Trương hỏi biết họ tên lấy làm lạ, tới xem nơi cha ông chết thì thấy đất nổi lên như cái gò, càng thêm hoảng sợ bèn cho chôn luôn ở đó, lại bảo dắt đứa nhỏ tới.

Chôn cất xong bà mẹ dắt con tới nhà Trương tạ ơn, Trương vừa nhìn thấy đã mừng rỡ, giữ lại ở nhà mình dạy cho học, coi như con cháu, lại xin gả con gái lớn cho.

Bà mẹ sợ hãi không dám đáp, vợ Trương nói:

- Nếu đã nói ra thì không giữa chừng thay đổi đâu.

Bà mẹ bèn ưng thuận.

Nhưng con gái lớn Trương rất coi thường nhà họ Mao, oán hận hổ thẹn hiện ra nét mặt, nếu có ai nhắc tới chuyện đó thì bịt tai không thèm nghe, thường nói với người ta rằng:

- Ta thà chết chứ không lấy thằng chăn trâu.

Đến hôm làm lễ rước dâu, chàng rể đã vào ăn tiệc, kiệu hoa chờ ngoài cửa mà cô gái cứ lấy tay áo che mặt quay vào vách khóc lóc, giục trang điểm thì không chịu, khuyên giải mấy cũng không nghe.

Kế chàng rể xin về, đàn sáo đã trỗi mà cô gái mắt còn ngấn lệ, tóc còn rối tung.

Cha nàng bèn ngăn con rể lại, tự vào trong khuyên cô gái, nàng cứ khóc lóc như không nghe thấy, cha nổi giận lôi kéo càng khóc lớn, cha không biết làm sao.

Lại có người nhà vào thưa là chàng rể muốn lên đường, cha vội chạy ra nói:

- Áo quần còn chưa sắp xếp xong, xin con chờ thêm một lúc.

Rồi lại lập tức chạy vào xem con gái ra sao, chạy ra chạy vào không nghỉ chân.

Dằng dai thêm một lúc, việc càng gấp rút, cô gái rốt lại vẫn không chịu đổi ý, cha không biết làm sao, định tự tử.

Cô con gái thứ hai đứng bên cạnh, cho là chị làm thế rất không phải, ra sức khuyên lơn.

Chị giận nói:

- Con nhãi cũng học đòi múa mép, sao ngươi không lấy người ta đi?

Cô em nói:

- Cha vốn chưa từng hứa gả em cho chàng Mao, chứ nếu cha hứa gả em cho chàng thì không cần chị phải khuyên dỗ đâu!

Cha thấy lời nàng khảng khái hào sảng bèn cùng mẹ nàng bàn riêng, định lấy em thay chị.

Mẹ lập tức gọi nàng hỏi:

- Con nhãi ngỗ nghịch kia không vâng lời cha mẹ, cha mẹ mượn lấy con thay nó, con có chịu không?

Cô gái khảng khái thưa:

- Cha mẹ dạy con đi lấy chồng, giả như chồng là ăn mày cũng không dám từ chối, vả lại chắc gì chàng họ Mao đã phải đói rét mà chết đâu?

Cha mẹ nghe thế cả mừng, bèn lấy quần áo cưới của chị cho cô gái mặc, rồi vội đưa nàng lên kiệu đi.

Về tới nhà chồng, vợ chồng rất yêu thương nhau, nhưng cô gái có bệnh rụng tóc cứ nơm nớp lo ông chê, lâu sau ông nghe phong thanh chuyện tráo người nên lại càng cám ơn nàng là kẻ tri kỷ.

Không bao lâu, ông được lấy làm Giám sinh, đi dự thi hương, đường đi ngang qua quán trọ của Xá nhân họ Vương.

Đêm trước chủ quán nằm mơ thấy thần nói:

- Sáng mai sẽ có Thủ khoa họ Mao tới đây về sau sẽ giúp ngươi thoát được tai ách.

Vì vậy dậy sớm ra đứng chờ những khách từ phía đông vào.

Đến khi gặp ông mừng lắm, cung phụng hầu hạ rất kính trọng, không chịu nhận tiền trọ, lấy việc giấc mộng ra kể, coi đó là trách nhiệm của mình.

Ông cũng rất tự phụ, nghĩ thầm vợ mình rụng trụi cả tóc, sợ bị những người quyền quý chê cười, định là lúc thi đỗ xong sẽ cưới vợ khác.

Kế đó ra bảng thì ông thi rớt, than thở rằng mình lận đận, trong lòng chán nản, thầm hổ thẹn với chủ quán trọ bèn đi đường khác về nhà.

Ba năm sau lại đi thi, chủ quán trọ vẫn tiếp đãi nồng hậu như trước.

Ông nói:

- Lời ông nói lần trước không đúng, ta rất xấu hổ được đối xử như thế này.

Chủ quán nói:

- Tú tài vì ngầm muốn bỏ vợ nên bị âm ty đánh rớt, đâu phải ta mơ mộng quàng xiên.

Ông kinh ngạc hỏi, thì ra sau khi chia tay chủ quán lại nằm mơ thấy thần nói thế.

Ông nghe kể áy náy hối hận, đứng thừ ra như tượng gỗ.

Chủ quán trọ nói:

- Tú tài nên tự giữ mình, rồi thế nào cũng đỗ Thủ khoa mà.

Không bao lâu quả nhiên ông đỗ Thủ khoa, tóc phu nhân cũng dần dần dài ra, ngày thêm mượt mà, càng xinh đẹp hơn.

Người chị thì lấy chồng là con nhà giàu trong làng, càng thêm kiêu hãnh, nhưng chồng chơi bời lêu lổng, nhà dần dần sa sút, đến nỗi trong nhà không còn gì, dưới bếp không nổi lửa.

Nghe nói em gái đã là vợ Hiếu liêm càng thêm xấu hổ, đi đường gặp em là tránh mặt.

Không bao lâu người chồng chết, nhà càng nghèo túng, kế đó ông Mao lại thi đỗ Tiến sĩ, người chị nghe thấy vô cùng hối hận, uất ức xuống tóc vào chùa làm ni cô.

Đến khi ông được phong chức Tể tướng về thăm nhà, ni cô ép lòng sai đệ tử tới phủ Tể tướng khuyến hóa, có ý chờ ông tặng tiền bạc.

Tới nơi thì phu nhân lấy vải vóc the lụa như thường lệ đưa cho, nhưng ngầm gói vàng bên trong.

Người đệ tử không biết, đem gói vải về đưa thầy, thầy thất vọng bực tức nói:

- Cho tiền bạc thì còn có thể mua củi gạo, chứ những thứ quà biếu này thì ta cần gì.

Rồi sai đem trả lại.

Ông Mao và phu nhân ngờ vực đến khi mở ra xem thì vàng đều còn đó, mới hiểu ý người chị từ chối.

Phu nhân bèn cất vàng đi, cười nói:

- Thầy của ngươi có hơn trăm lượng vàng cũng không giữ được, làm sao có phúc lấy quan Thượng thư nhà ta?

Rồi lấy năm mươi lượng vàng đưa cho người đệ tử đem về, dặn:

- Đem về đưa cho thầy ngươi chi dùng, nhiều hơn thì sợ là kẻ ít phúc không nhận nổi đâu.

Người đệ tử về kể hết mọi chuyện với thầy, người chị im lặng thầm than thở, nghĩ thấy những việc mình làm lúc trước đều dại dột, lẫn lộn người hay kẻ dở.

Ôi, há có phải chỉ do người thôi đâu?

Về sau chủ quán trọ dính líu vào việc án mạng bị bắt giam, nhờ ông Mao ra sức giúp đỡ mà được khỏi tội.

_________________________________

CHƯƠNG 57: PHIÊN TĂNG

Trịnh Lai Nhất Tháp Vô Thiên Ỷ

Triển Xuất Song Quăng Hỗ Khuất Thân

Mạc Nhạ Phiên Tăng Đa Dị Thuật

Lạt Ma Kim Diệc Hữu Kỳ Nhân

Dịch:

Một Tháp Tung Lên Đứng Thẳng Ro

Một Tay Dài Phưỡn Một Tay Co

Thuật Kỳ Đừng Lạ Phiên Tăng Nhỉ

Các Lạt Ma Nay Cũng Lắm Trò



Thích Thể Không kể lại ở Thanh Châu có gặp hai vị Phiên tăng, tướng mạo cổ quái, hai tai đeo vòng, mặc áo vải vàng, râu tóc quăn tít, tự xưng ở Tây Vực đến, nghe nói Thái thú sùng Phật nên xin yết kiến.

Thái thú sai hai lính lệ đưa đến xá tăng.

Hòa thượng Linh Bi đối đãi không trọng lắm, người chấp sự thấy hai người có vẻ lạ, tự ý khoản đãi riêng.

Có người hỏi:

- Tây Vực có nhiều dị nhân, hai vị la hán có thuật gì lạ không?

Một trong hai vị Phiên tăng nhoẻn miệng cười, lấy trong ống tay áo ra, trong bàn tay có một tòa tháp nhỏ, cao chỉ bằng gang tay, long lanh rất đẹp mắt.

Ở chỗ cao nhất trên tường có một cái khảm nhỏ, vị Phiên tăng ném cái tháp vào đó, đứng thẳng tắp không nghiêng lệch chút nào, nhìn trên tháp có ngọc xá lợi chiếu ra sáng rực cả gian phòng.

Một lát, vẫy tay, cái tháp lại rơi vào bàn tay như cũ.

Vị Phiên tăng kia bèn hở cánh tay ra, duỗi cánh tay trái dài ra sáu bảy thước mà cánh tay phải thì rút lại như không còn nữa.

Rồi chuyển sang duỗi cánh tay phải, lại dài ra như cánh tay trái lúc trước.

__________________________________

CHƯƠNG 58: LÝ TƯ GIÁM

Tự Tuyên Tội Ác Tự Thao Đao

Thiên Khiển Do Lai Bất Khả Đào

Vị Tá Minh Teu Hành Hiển Lục

Vạn Nhân Tùng Lý Hí Đài Cao

Dịch:

Tự Tuyên Tội Trạng Tự Cầm Đao

Tuy Lưới Trời Thưa Lọt Thoát Nao

U Hiển Âm Dương Cùng Một Lẽ

Muôn Người Thấy Rõ Trước Đài Cao



Lý Tư Giám là một cử nhân ở Vĩnh Ninh, năm Khang Hi thứ tư, ngày hai mươi tám tháng chín, đánh chết vợ là Lý thị, dân địa phương báo lên quan, quan ra lệnh cho huyện tra xét.

Tư Giám đứng trước phủ, hốt nhiên cầm con dao mổ heo kẻ dưới giá thịt, chạy vào miếu Thành Hoàng, lên hí đài, quỳ trước tượng thần, tự miệng nói ra:

- Thần trách ta nghe kẻ gian tà ở trong hương đảng hay đảo tiên thị phi, bắt ta xẻo tai.

Đoạn xẻo tai trái ném xuống đài.

Lại nói:

- Thần trách ta về tội gian dâm phụ nữ, xử ta cắt thận.

Đoạn tự tay cắt bỏ dương vật, ngã xuống ngay đơ, mê man bất tỉnh.

Quan Tổng đốc Vân Môn bấy giờ tâu xin cách tuột cử nhân định tội, khi được chỉ thị thì Tư Giám đã bị tòa âm hình phạt chết rồi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 59+60+61+62+63


CHƯƠNG 59: BẢO TRÚ

Tiệp Tự Viên Nhu Tấn Tự Hồng

Tì Bà Thuấn Tức Đạo Thâm Cung

Khả Lân Cụ Thử Hảo Thân Thủ

Ngộ Lạc Ngô Phan Nghịch Để Trung

Dịch:

Nhanh Như Khỉ Vượn Lẹ Như Hồng

Thoáng Trộm Tì Bà Tận Cấm Cung

Đáng Tiếc Tinh Thâm Thân Thủ Thế

Mà Theo Nghịch Tặc Nỡ Cam Lòng



Phiên vương Ngô Tam Quế lúc chưa làm phản thường ra lệnh cho tướng sĩ rằng ai một mình tay không bắt sống được cọp sẽ được cấp bổng hạng nhất, tặng danh hiệu Đả hổ tướng.

Trong các viên tướng ấy có một người tên Bảo Trú, khỏe mạnh nhanh nhẹn như khỉ, lúc trong vương phủ xây ngôi lầu cao, xà vừa gác lên, Trú men theo góc lầu mà lên, trong giây lát đã tới trên nóc, đứng trên xà chạy đi chạy lại mấy lần, kế lại co người nhảy xuống đứng thẳng dưới đất.

Vương có người ái cơ giỏi đánh đàn tỳ bà, chiếc đàn nàng dùng lấy noãn ngọc làm chốt lên dây, cầm lên là cả phòng ấm hẳn.

Người thiếp quý báu cất kỹ, nếu không phải vương ra lệnh thì không đem ra cho ai thấy.

Một đêm ăn yến, khách có người xin được xem vật lạ một lần, vương đang mỏi mệt nên hẹn để hôm sau.

Lúc ấy Trú đang ở bên cạnh nói:

- Không cần vương gia phải ra lệnh, thần có thể lấy được.

Vương bèn sai người báo khắp trong ngoài vương phủ, ra lệnh phòng bị nghiêm cẩn rồi sai Trú đi lấy.

Trú vượt qua mười mấy lần tường mới vào tới chỗ người ái cơ của vương ở, thấy đèn trong phòng sáng choang mà cửa nẻo khóa chặt không vào được.

Dưới hành lang có cái lồng nuôi chim vẹt, Trú giả tiếng mèo kêu, kế lại giả tiếng vẹt kêu ầm lên là có mèo tới, lại làm ra tiếng vỗ cánh phành phạch rất gấp.

Nghe người ái cơ nói:

- Lục Nô ra ngay xem, con vẹt bị mèo vồ chết rồi.

Trú liền nép vào góc tối.

Giây lát có một cô gái khêu đèn lách ra, Trú nhân đó lẻn vào, thấy người ái cơ đang cầm chiếc đàn tỳ bà ngồi trên ghế liền xô vào giật lấy bỏ chạy.

Người ái cơ hoảng sợ la lớn giặc tới, đám quân canh gác đổ cả ra, thấy Trú ôm đàn chạy nhưng đuổi theo không kịp, bắn tên rào rào như mưa.

Trú nhảy lên gốc cây, dưới tường vốn có cây hòe lớn, Trú chuyền qua cành cây như chim chuyền cành, hết gốc cây lên tới gác, hết gác lên tới lầu, chuyền vào trong điện như có cánh, chớp mắt đã không thấy đâu nữa.

Khách còn đang uống rượu, Trú ôm chiếc đàn phi thân vào đứng trước tiệc, cửa vẫn đóng chặt như cũ, không hề có tiếng gà kêu chó sủa.

___________________________________

CHƯƠNG 60: THỦY TAI

NẠN LỤT

Mộ Kiến Nhị Ngưu Sơn Thượng Đấu

Triêu Khan Nhất Ốc Thủy Trung Tồn

Thiên Công Tạo Bạch Phân Minh Thậm

A Hộ Thường Lâm Hiếu Tử Môn

Dịch:

Trâu Chọi Trên Non Chiều Thấy Rõ

Nhà Ngâm Dưới Nước Sớm Còn Y

Đạo Trời Đen Trắng Phân Minh Nhỉ

Con Hiếu Luôn Luôn Được Hộ Trì



Năm Khang Hy thứ 21 (1682) đại hạn, từ xuân qua hạ đất khô cháy không còn cọng cỏ nào xanh.

Ngày mười ba tháng sáu có cơn mưa nhỏ mới có kẻ trồng bắp, ngày mười tám thì mưa lớn ngập bàn chân, người ta mới trồng đậu.

Một hôm ở trang Thạch Môn (tỉnh Chiết Giang) có ông già lúc chiều tối nhìn thấy hai con trâu húc nhau trên núi, nói với người trong thôn rằng:

- Sắp có lụt lớn!

Rồi lập tức dắt gia đình đi tránh, người trong thôn đều cười.

Không bao lâu mưa đổ ào ào từ đêm đến sáng không ngớt, trên đất bằng nước cao mấy thước, nhà cửa đều bị ngập hết.

Có một nông dân bỏ hai đứa con lại, cùng vợ dìu cha mẹ chạy lên gò cao, nhìn xuống dưới thôn thì đã như cái đầm lớn, nghĩ không kịp quay về cứu con nữa.

Khi nước đã rút trở về, thấy cả thôn đã thành bãi hoang, vào nhà thấy một gian phòng còn nguyên mà hai đứa con đều ngồi trên giường cười đùa không hề hấn gì.

Có người nói đó là trời thương cho hai vợ chồng có hiếu, đó là việc ngày hai mươi tháng sáu.

Năm Khang Hy thứ 34 (1695) ở Bình Dương có động đất, nhân dân mười phần chết hết bảy tám, thành quách đều sụp đổ chỉ còn một căn nguyên vẹn là nhà một người con có hiếu.

Giữa cơn đại kiếp mênh mang mà chỉ có những người con hiếu là không việc gì, ai bảo là ông trời kia không phân biệt được trắng đen?

____________________________________

CHƯƠNG 61: CHƯ THÀNH MỖ GIÁP

TÊN GIÁP Ở CHƯ THÀNH

Bất Tử Ư Đao Tử Ư Tiếu

Khả Tri Tiếu Lý Ám Tàng Đao

Lữ Hào Thượng Cửu Chiêm Đa Nghiệm

Tiên Tiếu Cư Nhiên Biến Hậu Hiền

Dịch:

Chém Đao Không Chết Cười To Chết

Mới Biết Trong Cười Có Sẵn Đao

Quẻ Lữ Nghiệm Xem Hào Thượng Cửu

Trước Cười Sau Khóc Chẳng Sai Nào



Học quan tiên sinh Tôn Cảnh Hạ nói trong huyện có Mỗ Giáp, gặp lúc có giặc bị chém, đầu rơi xuống trước ngực.

Khi giặc rút đi người nhà tìm được xác, đang định đem chôn thì nghe còn hơi thở, nhìn kỹ thấy cổ họng còn một khoảng bằng ngón tay chưa đứt, bèn nâng đầu lên giữ lại cho đúng chỗ rồi khiêng về.

Qua một ngày một đêm thì bắt đầu rên rỉ, người nhà lấy thìa đút cháo cho, nửa năm thì lành.

Hơn mười năm sau, Giáp cùng hai ba người trò chuyện, có kẻ kể chuyện cười, mọi người cùng cười ầm lên, Giáp cũng vỗ tay.

Đang lúc nghiêng ngửa thì vết thương cũ chợt toác ra, rơi đầu phun máu, mọi người cùng nhìn lại thì đã đứt hơi chết rồi.

Cha Giáp đi kiện người kể chuyện, mọi người cùng góp tiền van xin, người cha bèn chôn Giáp mà không kiện nữa.

___________________________________

CHƯƠNG 62: HÍ ẢI

ĐÙA CHƠI CHẾT THẬT

Trừu Giai Giải Đới Thái Vô Đoan

Khiển Đắc Hồng Nhan Nhất Tiếu Khan

Chú Thác Liệu Ưng Tâm Bất Hối

Nhất Hồn Do Hỉ Bạng Điêu An

Dịch:

Tuốt Rơm Thòng Cổ Khéo Không Đầu

Khiến Mỹ Nhân Cười Thách Đố Nhau

Trót Dại Hẳn Không Còn Hối Tiếc

Si Hồn Yên Ngựa Bám Theo Sau



Mỗ người huyện ta là kẻ lông bông vô lại, tình cờ ra ngoài thôn thấy một thiếu phụ cưỡi ngựa đi tới bèn nói với bạn bè:

- Ta có thể làm nàng cười một trận.

Mọi người không tin, đánh cuộc một bữa rượu.

Mỗ bèn chạy lên trước ngựa kêu luôn mồm rằng:

- Ta muốn chết đây!

Nhân thấy chỗ đầu tường có một miếng ván mỏng nhô ra, bề ngang hơn một thước bèn cởi dây lưng móc lên đó, thò cổ vào làm như sắp tự tử.

Thiếu phụ đi qua nhìn thấy quả nhiên bật cười, bạn bè cũng đều cười rộ.

Thiếu phụ đi xa rồi mà Mỗ vẫn bất động, mọi người càng cười dữ, nhưng tới gần xem thì đã thè lưỡi trợn mắt tắt hơi rồi.

Treo cổ lên tấm ván mà chết há chẳng phải là chuyện lạ sao?

Chuyện này đủ để răn bọn người khinh bạc vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 63: A TIÊM

Cổ Kiếm Phiêu Linh Tứ Bất Câm

Trùng Lai Ưng Vị Cảm Ân Thâm

Phân Cư Bất Tích Phân Kim Túc

Do Lượng Khu Khu Ái Đệ Tâm

Dịch:

Vợ Cũ Lênh Đênh Quạnh Quẽ Sầu

Trùng Phùng Chừng Hẳn Ái Ân Sâu

Ở Riêng Vẫn Cấp Riêng Tiền Thóc

Nếu Chẳng Thương Em Chẳng Thế Đâu



Hề Sơn người huyện Cao Mật (tỉnh Sơn Đông) làm nghề buôn bán, thường qua lại vùng Mông Sơn, Nghi Thủy (đều thuộc tỉnh Sơn Đông).

Một hôm dọc đường gặp mưa, tới được nhà trọ quen thì đã khuya, gõ cửa mãi mà không ai lên tiếng.

Đang ngần ngừ dưới hiên thì hai cánh cửa chợt mở, một ông già bước ra mời vào.

Sơn mừng theo vào, lần dò lên sảnh, trong sảnh không có giường ghế gì cả.

Ông già nói:

- Ta thương khách không có chỗ nghỉ nên mời vào, chứ thật ra ta không phải là người mở hàng bán cơm.

Nhà không có ai đỡ đần, chỉ có bà vợ già và đứa con gái nhỏ đã ngủ cả rồi.

Cái ăn thì còn đủ nhưng không còn nóng lắm, đừng chê là nguội lạnh.

Nói xong vào trong, giây lát mang ra một cái chõng thấp đặt xuống đất mời khách ngồi.

Lại trở vào mang ra một cái bàn con, đi lại tất bật trông rất vất vả.

Sơn đứng ngồi không yên, giữ ông lại nói xin cứ nghỉ một lúc.

Giây lát một cô gái mang rượu ra, ông già nói:

- Con A Tiêm nhà ta dậy rồi!

Nhìn thấy khoảng mười sáu mười bảy tuổi, xinh đẹp yểu điệu, phong thái đoan trang.

Sơn có em trai chưa vợ, cũng thầm có ý bèn hỏi thăm dòng dõi quê quán ông già.

Ông đáp:

- Ta họ Cổ tên Sĩ Hư, con cháu đều chết yểu chỉ còn đứa con gái này nên không nỡ làm nó mất giấc ngủ ngon, chắc bà vợ ta gọi nó dậy đấy.

Hỏi:

- Chồng cô em là ai?

Ông đáp còn chưa hứa gả, Sơn mừng thầm.

Kế thức ăn bày lên đủ thứ, như trong hàng cơm.

Sơn ăn xong cung kính nói:

- Con người bèo nước, đội ơn thương tới, đến chết cũng không dám quên.

Nhân thấy ông thịnh đức nên xin đường đột tỏ lời quê mùa.

Ta có đứa em trai nhỏ là Tam Lang mười bảy tuổi theo nghiệp đèn sách, cũng không đến nỗi ngu tối, muốn cầu chỉ thắm xe duyên, không biết ông có chê nghèo hèn không.

Ông già mừng nói:

- Lão phu ở đây cũng là ngụ cư, nếu nó có chỗ gửi thân, nhân mượn được túp lều dời đi chỗ khác thì cũng đỡ lo.

Sơn đều xin vâng, đứng dậy vái tạ.

Ông già ân cần sắp đặt chỗ ngủ cho khách đâu đó rồi vào.

Gà vừa gáy ông đã ra gọi khách dậy rửa mặt, Sơn gói hành lý xong đưa trả tiền cơm, ông già từ chối, nói:

- Khách ở lại dùng bữa cơm, không lý gì lại lấy tiền, hay định đưa tiền dẫn cưới đây?

Kế chia tay, hơn tháng sau Sơn quay lại, cách thôn hơn dặm thì thấy có bà già dắt một cô gái, khăn áo đều trắng, tới gần thấy như là A Tiêm.

Cô gái cũng mấy lần nhìn Sơn rồi nắm áo bà già nói nhỏ gì đó, bà già liền dừng chân quay lại hỏi Sơn:

- Ông họ Hề phải không?

Sơn dạ dạ.

Bà già buồn rầu nói:

- Ông nhà ta không may bị tường đổ đè chết rồi.

Hôm nay bọn ta định đi thăm mộ, ở nhà không có ai, xin đợi bên đường một lát sẽ trở lại ngay.

Rồi đi vào rừng.

Lát sau trở lại thì trời đã tối, bèn cùng đi về, nói chuyện mẹ góa con côi, bất giác mủi lòng thương khóc Sơn cũng bùi ngùi.

Bà già nói:

- Dân ở đây rất không lương thiện, con côi mẹ góa khó sống nổi.

A Tiêm đã là dâu nhà ông, để lâu nữa sợ chậm trễ ngày tháng, chẳng bằng khuya nay cùng đưa nhau về sớm.

Sơn bằng lòng.

Tới nhà, bà già khêu đèn dọn cơm đãi khách xong, nói với Sơn:

- Nghĩ là ông sắp tới nên đã bán thóc lúa cất trữ đi, chỉ còn hơn hai mươi thạch vì xa nên chưa bán được.

Cách đây khoảng bốn năm dặm về phía bắc có ngôi nhà đầu xóm là nhà Đàm Nhị Tuyền là người vẫn mua thóc của ta.

Xin phiền ông chịu khó mang một túi tới trước gọi cổng, cứ nói bà già họ Cổ ở xóm Nam có vài thạch thóc định bán lấy tiền đi đường, phiền cho lừa tới chở luôn một lúc.

Rồi đưa túi thóc cho Sơn.

Sơn vội vàng đi ngay, tới nơi gõ cửa thì một người đàn ông bụng phệ ra, Sơn nói rõ rồi trút thóc về trước.

Lát sau có hai người phu dắt năm con lừa tới, bà già dẫn Sơn tới chỗ chứa thóc, thì là một căn hầm.

Sơn chui xuống cầm hộc xúc lên, mẹ con bà già chuyền cho nhau, chốc lát đầy túi đưa họ mang đi.

Đi lại tới bốn lần mới chở hết thóc, kế họ đưa tiền đưa cho bà già, bà giữ lại một người và hai con lừa rồi thu xếp hành lý đi về phía đông.

Được hai mươi dặm, trời mới sáng rõ, tới một khu chợ, thuê được ngựa xe ở đầu chợ, đầy tớ họ Đàm bèn quay về.

Về tới nhà, Sơn thưa lại với cha mẹ.

Hai bên gặp nhau rất vui vẻ, bèn dọn một chỗ riêng cho bà già ở rồi chọn ngày lành làm lễ thành hôn cho Tam Lang, bà già sắm sửa tư trang cho con gái rất đầy đủ.

A Tiêm hiền lành ít nói, ai trò chuyện chỉ mỉm cười, sớm tối lo dệt vải không ngừng, vì thế cả nhà ai cũng thương yêu.

Nàng dặn Tam Lang:

- Nhớ dặn anh nếu có trở lại miền Tây thì đừng nói gì về mẹ con thiếp cả.

Được ba bốn năm, nhà họ Hề càng giàu có, Tam Lang được vào học trường huyện.

Một hôm Sơn ghé trọ nhà láng giềng cũ của họ Cổ, tình cờ kể chuyện năm trước không có chỗ trọ, phải ngủ nhờ nhà ông bà già.

Chủ nói:

- Ông khách lầm rồi, đó là căn nhà riêng của bác ta, trước đó ba năm người ở đó thường thấy chuyện quái dị nên bỏ hoang đã lâu, làm gì có ông bà già nào mà cho ông ngủ lại?

Sơn rất kinh ngạc nhưng chưa tin lắm.

Chủ nhân lại nói:

- Khu nhà ấy bỏ không mười năm, không ai dám vào.

Một hôm bức tường sau nhà bị sập, bác ta tới xem thì thấy đá đè lên một con chuột to như con mèo, khúc đuôi bên dưới còn quẫy, vội về gọi mọi người tới xem thì không thấy đâu nữa.

Ai cũng nghi vật đó là yêu quái, hơn mười ngày sau vào xem thử thì yên ắng không thấy gì, hơn năm sau mới có người tới ở.

Sơn càng lấy làm lạ, về nói riêng với người nhà, trộm ngờ em dâu không phải là người.

Lo thầm cho Tam Lang, nhưng Tam Lang vẫn hết lòng yêu quý vợ như thường.

Lâu ngày người nhà xì xào bàn tán, cô gái thoáng nghe biết, nửa đêm nói với Tam Lang:

- Thiếp theo chàng mấy năm chưa từng có một lỗi nhỏ.

Nay lại đặt chuyện để khinh rẻ, xin viết cho tờ ly hôn để chàng chọn một người vợ xứng đáng.

Rồi rơi nước mắt.

Tam Lang nói:

- Lòng ta thế nào thì nàng đã rõ.

Từ ngày nàng về, nhà ngày một no đủ, vẫn nghĩ là nhờ phúc trạch của nàng, đâu lại còn điều này tiếng khác.

Nàng nói:

- Chàng vốn không hai lòng, thiếp há không biết sao?

Nhưng nhiều người nói ra nói vào, e rồi không khỏi như chiếc quạt đến mùa thu bị bỏ xó.

Tam Lang khuyên giải mấy lần mới thôi.

Nhưng Sơn vẫn không tha, ngày ngày cứ tìm mèo giỏi bắt chuột về để dò ý tứ.

Cô gái tuy không sợ nhưng rầu rầu không vui.

Một đêm nói mẹ không khỏe, xin Tam Lang cho về săn sóc, sáng ra Tam Lang qua tìm thì trong phòng trống không, phát hoảng cho người đi tìm khắp nơi không thấy tung tích, bứt rứt bỏ ăn bỏ ngủ.

Cha và anh lại đều lấy làm may, cùng vỗ về an ủi, định cưới vợ khác cho, nhưng Tam Lang nhất định không chịu.

Chờ hơn một năm, tin tức vắng bặt, cha và anh cứ chế nhạo trách mắng, bất đắc dĩ phải bỏ nhiều tiền mua một người thiếp, mà lòng nhớ A Tiêm vẫn không nguôi.

Lại vài năm nhà họ Hề nghèo dần, vì thế càng thương nhớ A Tiêm.

Có người em con chú Tam Lang là Lam nhân có việc tới huyện Giao (tỉnh Sơn Đông), đường xa nghỉ lại nhà người họ hàng bên ngoại là Lục sinh, đêm nghe bên nhà láng giềng có tiếng khóc rất đau thương, cũng chưa rảnh hỏi thăm.

Lúc quay về lại nghe thấy bèn hỏi, chủ nhân đáp:

- Mấy năm trước có người đàn bà góa và cô gái mồ côi thuê nhà ở đó.

Tháng trước bà già mất, cô gái ở một mình không người thân thích nên khóc đó thôi.

Lam nhân hỏi họ, Lục đáp:

- Họ Cổ, thường đóng cửa không giao thiệp với làng xóm nên chưa rõ gia thế ra sao.

Lam giật mình nói:

- Thế thì là chị dâu ta rồi!

Bèn qua gọi cửa thì có người nín khóc bước ra, đứng trong cửa nói:

- Nhà ta không có đàn ông đâu.

Lam nhìn qua khe cửa, từ xa ngắm kỹ thấy đúng là chị dâu liền nói:

- Chị mở cửa, em ở nhà chú A Toại đây.

Cô gái nghe tiếng, mở cửa mời vào, kể lể tình cảnh lẻ loi khổ sở, lời lẽ rất bi thảm.

Lam nói:

- Anh Tam Lang nhớ chị lắm, vợ chồng có gì trái ý đâu mà chị xa lánh tới tận đây.

Rồi lập tức định thuê xe cùng về.

Cô gái buồn rầu nói:

- Ta vì bị người khinh rẻ mới đưa mẹ đi ẩn, nay lại trở về nương tựa người thì ai không khinh rẻ?

Như muốn ta trở về thì phải cùng anh chia bếp, nếu không, ta chỉ còn nước uống thuốc độc tự vẫn cho rồi.

Lam về kể lại cho Tam Lang, Tam Lang lật đật đi ngay.

Vợ chồng gặp nhau đều rơi lệ, hôm sau nói với chủ nhà xin về.

Chủ nhà là Giám sinh họ Tạ thấy nàng đẹp, ngầm tính cưới nàng làm thiếp nên mấy năm không lấy tiền nhà, đã nhiều lần ngỏ ý với bà già nhưng bà cự tuyệt.

Bà chết rồi, đang mừng mưu mình chắc xong thì Tam Lang chợt tới, bèn tính tiền nhà luôn trong mấy năm để làm khó.

Nhà Tam Lang vốn không dư dật, nghe nói tiền nhiều có ý lo.

Cô gái nói không sợ, rồi dẫn vào xem vựa thóc, khoảng hơn ba mươi thạch, trả tiền nhà rồi vẫn thừa.

Tam Lang mừng nói với Tạ, Tạ không nhận thóc, cứ nhất định đòi tiền.

Cô gái than:

- Trăm sự cũng vì nghiệp chung thân này.

Rồi kể lại tình thật.

Tam Lang tức giận định kiện lên huyện.

Lục bèn can, đem thóc chia bán cho người thân thích trong làng lấy tiền trả Tạ, rồi đem xe tiễn hai người về.

Tam Lang thưa với cha mẹ, xin cùng anh chia nhà ra để ở.

A Tiêm bỏ tiền riêng, ngày ngày xây kho thóc mà trong nhà vẫn chưa có lấy được một thạch, ai cũng lấy làm lạ, nhưng hơn năm xem lại thì kho đã đầy.

Không vài năm, nhà đã giàu có mà Sơn vẫn nghèo khổ.

Nàng mời cha mẹ chồng về nuôi dưỡng và đem tiền gạo chu cấp cho anh, nhiều lần thành lệ.

Tam Lang mừng nói:

- Nàng có thể nói là người không để tâm thù oán.

Cô gái đáp:

- Cũng bởi anh ấy có lòng thương em trai.

Nếu không có anh ấy, thiếp đâu được cùng chàng nên duyên?

Về sau cũng không có chuyện gì lạ.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 64+65


CHƯƠNG 64: THỤY VÂN

Thanh Sơn Hồng Tụ Lưỡng Đa Tình

Cảm Vị Nghiêng Xuy Phụ Cựu Minh

Mỹ Mãn Nhân Duyên Thành Tựu Nhật

Tâm Hương Nhất Biện Tạ Hòa Sinh

Dịch:

Giai Nhân Tài Tử Thảy Đa Tình

Xấu Đẹp Sao Đang Phụ Ước Đành

Kết Cục Lương Duyên Thành Mỹ Mãn

Tâm Hương Một Nén Tạ Hòa Sinh



Thụy Vân là danh kỹ ở đất Hàng (tỉnh Chiết Giang), nhan sắc tài nghệ vô song.

Năm mười bốn tuổi bà chủ là mụ dầu họ Sái định cho ra tiếp khách.

Thụy Vân nói:

- Đây là lúc con bắt đầu vào đời, không thể qua quít, nên giá thì do mẹ định nhưng khách thì xin cho con tự chọn.

Mụ ưng thuận, bèn định giá là mười lăm lượng vàng, nàng bèn hàng ngày ra tiếp khách.

Khách muốn gặp thì đưa lễ vật tới, nhiều thì được tiếp một ván cờ, tặng một bức tranh, ít thì được mời uống chén trà mà thôi.

Thụy Vân nổi tiếng đã lâu, từ đó các bậc phú thương quý quan ngày ngày nối nhau tới cổng.

Hạ sinh người huyện Dư Hàng (tỉnh Chiết Giang) nổi tiếng tài danh nhưng gia tư chỉ đủ ăn, vốn ngưỡng mộ Thụy Vân nhưng chưa dám nghĩ tới giấc mộng uyên ương, cũng gắng sửa chút lễ mọn, chỉ mong được một lần gặp mặt, vẫn thầm lo nàng trải đời đã nhiều, không để mắt tới kẻ nghèo hèn.

Đến lúc gặp mặt, vừa chuyện trò nàng đã tỏ ra rất ân cần.

Cùng nói chuyện hồi lâu, đầu mày cuối mắt đều chứa chan tình ý, lại tặng sinh bài thơ rằng:

Hà sự cầu tương giả,

Lam Kiều khấu hiểu quan.

Hữu tâm tầm ngọc chử

Đoan chỉ tại nhân gian.

Dịch:

(Xin nước làm chi cho vất vả

Tinh sương lại phải tới cầu Lam*

Có lòng xin cố tìm chày ngọc

Dám chắc còn trên cõi thế gian)

[*Cầu Lam: dịch chữ Lam Kiều.

Bùi Hàng truyền kỳ chép Bùi Hàng là người thời Đường đi ngang trạm Lam Kiều khát nước ghé vào nhà một bà già xin nước uống, bà già sai con gái là Vân Anh mang nước ra cho.

Hàng thấy nàng xinh đẹp xin cưới làm vợ, bà già nói mình có phương thuốc tiên nhưng còn thiếu cối ngọc chày ngọc để giã, nếu Hàng tìm được sẽ gả Vân Anh cho.

Sau Hàng mua được cối ngọc chày ngọc tới bà già sai Hàng giã thuốc một trăm ngày rồi gả Vân Anh cho Hàng, kế hai vợ chồng cũng thành tiên.]

Sinh được thơ mừng quýnh, còn muốn nói nữa chợt a hoàn vào báo khách tới.

Sinh vội từ biệt, về nhà đem bài thơ ra ngắm nghía ngâm nga, mộng hồn vướng vít.

Được một hai hôm không kìm được, lại sắm sửa lễ vật tìm tới.

Thụy Vân đón tiếp rất vui vẻ dời ghế tới gần sinh, buồn bã nói:

- Chàng có thể lo được một đêm sum họp không?

Sinh đáp:

- Học trò nghèo chỉ có tấm tình si để tặng tri kỷ, lo được cái lễ nhỏ mọn thì bao nhiêu tơ tằm đã rút hết, được gần mặt hoa là thỏa nguyện rồi, còn như đầu gối tay ấp thì đâu dám mong tưởng.

Thụy Vân nghe nói chau mày không vui, hai người chỉ nhìn nhau không nói.

Sinh ngồi lâu không ra, mụ chủ mấy lần gọi Thụy Vân để giục giã.

Sinh bèn ra về, trong lòng buồn bực, muốn đem hết gia sản chuốc một lần vui, nhưng hết đêm lại phải chia tay thì thật không sao chịu nổi, nghĩ tới đó thì tấm lòng hăm hở đều tiêu tan.

Từ đó dứt hẳn không lui tới nữa.

Thụy Vân kén rể mấy tháng mà chưa chọn được người vừa ý.

Mụ dầu bực tức, định ép uổng nhưng còn chưa ra tay.

Một hôm có người Tú tài đem lễ vật tới, ngồi nói chuyện một lúc bèn đứng lên, ấn một ngón tay lên trán nàng nói:

- Đáng tiếc, đáng tiếc!

Rồi ra về.

Thụy Vân tiễn khách ra trở vào mọi người cùng nhìn thì thấy trên trán nàng có dấu ngón tay in đen như mực, rửa lại càng đậm.

Sau vài hôm vết mực lan rộng ra, hơn một năm sau thì lan từ trán xuống cả mũi, ai thấy cũng cười, vì vậy vết xe ngựa ngoài cổng cũng mất hẳn.

Mụ dầu lột hết trang sức, bắt làm việc của hạng tôi tớ, Thụy Vân lại ẻo lả không làm nổi việc nặng nhọc nên ngày càng tiều tụy.

Hạ nghe tin ghé qua, thấy nàng đầu bù tóc rối dưới bếp, xấu xí như ma, ngẩng đầu thấy sinh thì quay vào tường giấu mặt.

Hạ thương xót bèn nói với mụ dầu xin chuộc nàng, mụ ưng thuận.

Hạ bán ruộng dốc túi mua nàng đem về.

Tới nhà nàng kéo áo lau nước mắt, không dám tự xem là vợ, chỉ xin giữ phận làm lẽ, để ngôi chính thất chờ người sau này.

Hạ nói:

- Người ta ở đời vẫn quý kẻ biết mình.

Lúc nàng đang thịnh, nàng còn biết tới ta, lẽ nào vì nàng suy mà ta quên nàng sao?

Rồi không lấy vợ nữa.

Ai nghe chuyện cũng chế nhạo, nhưng sinh thì càng thương yêu nàng thêm.

Được hơn năm, sinh ngẫu nhiên tới đất Tô (tỉnh Giang Tô), gặp Hòa sinh cùng trọ một chỗ.

Bỗng Hòa hỏi:

- Danh kỹ đất Hàng là Thụy Vân nay ra sao?

Sinh đáp đã lấy chồng rồi.

Hòa lại hỏi lấy ai, sinh đáp:

- Người đó cũng đại loại như ta.

Hòa nói:

- Nếu được như ông thì có thể nói là lấy đúng người, không biết giá bao nhiêu?

Hạ nói:

- Vì mắc bệnh lạ nên cũng rẻ thôi, nếu không loại bọn ta làm sao mua nổi người đẹp trong kỹ viện.

Hòa lại hỏi:

- Người đó quả thật có được như ông không?

Hạ thấy câu hỏi kỳ lạ bèn căn vặn lại, Hòa cười nói:

- Thật không dám dối, trước đây ta từng gặp nàng một lần, rất tiếc tài mạo tuyệt thế mà lênh đênh không có người xứng đôi nên dùng chút thuật mọn che ánh sáng để giữ vẻ ngọc, dành lại chờ tấm gương soi chân hình của kẻ yêu tài.

Hạ vội hỏi:

- Ông chấm được chắc cũng rửa được chứ?

Hòa cười đáp:

Sao không được?

Nhưng phải chính người kia thành tâm cầu xin thôi.

Hạ đứng dậy vái nói:

- Người chồng của Thụy Vân chính là ta đây.

Hòa mừng nói:

- Trong thiên hạ chỉ có kẻ chân tài mới có thể đa tình, không vì xấu đẹp mà đổi ý.

Xin cho ta theo về nhà, ta sẽ tặng một người đẹp.

Bèn cùng nhau về, tới nhà Hạ định sai dọn rượu, Hòa ngăn lại nói:

- Cứ để ta làm phép để người dọn rượu phải vui vẻ trước đã.

Rồi lập tức bảo bưng lên một chậu nước, lấy ngón tay vẽ bùa lên, nói:

- Rửa đi là khỏi, nhưng phải đích thân ra tạ ơn thầy thuốc đấy.

Hạ cười bưng chậu nước vào, đứng đợi Thụy Vân rửa mặt, vết mực theo tay trôi hết, diễm lệ chẳng khác năm xưa.

Vợ chồng đều cảm ơn, cùng nhau ra vái tạ thì khách đã biến mất, tìm khắp nơi không thấy, có lẽ là tiên chăng?

____________________________________

CHƯƠNG 65: LONG PHI TƯỚNG CÔNG

Tự Mệnh Phong Lưu Phóng Đãng Thân

Tận Giai Hắc Ngục Đạo Trung Nhân

Đới Sinh Bất Nặc Huyền Nhai Mã

Chung Hướng U Tuyền Bạn Bích Lân

Dịch:

Phong Lưu Phóng Túng Vẻ Ta Đây

Hết Thảy Vào Trong Ngục Tối Đầy

Mé Vực Đới Sinh Gò Ngựa Kịp

Thoát Qua Suối Thẳm Mịt Đêm Ngày



Đới sinh ở An Khánh (tỉnh thành An Huy), lúc trẻ tính bừa bãi không kiềm thúc.

Một hôm say rượu từ nơi khác về, dọc đường gặp người anh họ ngoại là Quý sinh, lúc đang say mờ mịt cũng quên mất là Quý sinh đã chết, bèn hỏi:

- Trước nay ở đâu?

Quý nói:

- Ta đã chết rồi, ông quên hay sao?

Đới mới sực nhớ ra nhưng đang say cũng không sợ hãi, bèn hỏi:

- Ông làm gì dưới âm ty?

Quý đáp:

- Gần đây làm chức giữ sổ sách cho Chuyển Luân vương điện hạ.

*(Chuyển Luân vương điện hạ: theo truyền thuyết dưới âm phủ có mười vua, trong đó Chuyển Luân vương coi việc cho các hồn ma đi đầu thai.)

Đới nói:

- Nếu thế thì chắc ông biết được họa phúc của mọi người.

Quý nói:

- Đó là chức phận của ta, sao lại không biết?

Chỉ là nhiều quá, nếu không phải là người thật thân thiết thì không nhớ kỹ thôi.

Ba hôm trước tình cờ soát lại sổ sách, thấy có tên ông.

Đới vội hỏi trong ấy viết thế nào, Quý đáp:

- Thật không dám dối, tên ông có trong số những người bị giam vào ngục tối.

Đới cả sợ tỉnh rượu hẳn, năn nỉ xin cứu giúp.

Quý nói:

- Đây không phải là việc ta giúp được, chỉ có việc thiện là có thể giải cứu thôi.

Nhưng sổ sách ghi tội lỗi của ông dày cả ngón tay, không có việc thiện lớn thì không cứu được, mà Tú tài nghèo khó thì làm sao làm được việc gì lớn.

Thôi cứ lập tức mỗi ngày làm một việc thiện, không hơn một năm như vậy thì không được xét tới đâu.

Bây giờ đã muộn rồi, giả như cố sức thì may ra có thể thoát khỏi địa ngục.

Đới nghe thế rơi nước mắt lạy rạp xuống đất cầu khẩn, khi ngẩng lên thì Quý đã biến mất bèn buồn bã trở về.

Từ đó sửa lòng đổi nết, không dám sơ sẩy.

Trước kia Đới tư thông với người đàn bà láng giềng, người chồng biết nhưng không nói ra, định rình bắt quả tang, nhưng Đới đã sửa nết không đi lại với người đàn bà nữa, người chồng rình mãi không bắt được căm tức lắm.

Một hôm gặp nhau ngoài ruộng bèn giả vờ trò chuyện, lừa Đới tới cái giếng cạn rồi xô xuống.

Giếng sâu mấy trượng nên y nghĩ thế nào Đới cũng chết, nhưng nửa đêm thì Đới tỉnh dậy, ngồi dưới giếng gào lớn mà không ai biết.

Người láng giềng cũng sợ Đới sống lại, sáng hôm sau tới nghe ngóng, nghe tiếng Đới kêu cứu vội ném đá xuống.

Đới lùi vào hốc dưới giếng, không dám kêu nữa, người láng giềng biết là chưa chết bèn xúc đất lấp giếng đầy gần tới miệng.

Cái hốc dưới giếng tối om, thật không khác gì địa ngục, Đới không có gì ăn, nghĩ thầm ắt phải chết.

Lom khom bò vào trong khoảng ba bước thì đều là nước, không sao đi tiếp bèn quay lại ngồi chỗ cũ, ban đầu thì thấy đói bụng, hồi lâu cũng quên đi.

Nhân nghĩ dưới suối vàng không có điều thiện gì mà làm, đành niệm Phật mà thôi.

Kế thấy lửa ma trơi bay túa tới lập lòe đầy hang, bèn khấn:

- Nghe nói lửa ma trơi đều là hồn ma chết oan, ta tuy còn sống nhưng cũng khó trở về, nếu có thể trò chuyện được với nhau thì cũng đỡ tịch mịch.

Chỉ thấy các đốm lửa ma trơi đều họp cả trên mặt nước, trong mỗi đốm đều có một người cao khoảng nửa người thường.

Sinh hỏi từ đâu tới, họ đáp:

- Đây là cái hầm than cũ, chủ nhân đào lấy than động tới ngôi mộ cũ bị tướng công Long Phi khoét đất dẫn nước biển vào dìm chết bốn mươi ba người, bọn ta đều là các hồn ma ấy.

Sinh hỏi tướng công là ai, họ đáp:

- Không biết, nhưng tướng công là kẻ sĩ văn học, nay làm mạc khách của Thành hoàng, ông cũng thương bọn ta vô tội mà chết nên cứ năm ba ngày lại cho một bữa cháo loãng.

Nhưng xương cốt bọn ta bị dầm trong nước lạnh không có ngày siêu thăng, nếu ông trở về được nhân thế xin vớt mớ xương tàn xây cho ngôi mộ làm phúc thì bọn ta dưới suối vàng được đội ơn nhiều lắm.

Đới nói:

- Nếu vạn nhất được trở về thì chuyện ấy có khó gì?

Chỉ là thân dưới chín suối, làm sao dám mong ngày thấy lại mặt trời.

Nhân dạy đám ma niệm kinh Phật, vê đất làm tràng hạt, cứ theo đủ tạng số mà đọc, không biết ngày đêm thế nào, cứ mệt thì ngủ, thức thì ngồi niệm Phật mà thôi.

Chợt thấy chỗ sâu bên trong có ánh đèn lồng, bọn ma mừng rỡ nói:

- Tướng công Long Phi cho ăn đấy!

Rồi rủ Đới cùng đi.

Đới sợ nước sâu, đám ma ép kéo đi, phất phới bay lên, quanh co chừng nửa dặm, tới một chỗ thì buông xuống bảo tự đi càng đi càng lên cao như bước lên bậc thang cao vài trượng, hết bậc thang thấy phòng ốc, trên sảnh đường có một ngọn nến cháy sáng, to bằng cánh tay.

Đới đã lâu không thấy đèn lửa, mừng quá rảo bước tới, thấy ở trên có một ông già ngồi, mặc áo đội mũ nhà nho.

Đới dừng chân không dám bước tới nữa song ông già đã nhìn thấy, kinh ngạc hỏi người lạ từ đâu tới đây.

Đới bước lên quỳ xuống thưa chuyện mình, ông già nói:

- Té ra là cháu năm đời của ta.

Bèn bảo đứng dậy cho ngồi, tự nói:

- Ta tên là Đới Tiềm, tự Long Phi, trước đây vì đứa cháu hư là Đường kết đảng với bọn xấu, đào hầm than gần mộ khiến lão phu không được yên ổn dưới suối vàng nên khơi nước biển dìm chết cả bọn, người là con cháu dòng nào?

Đại khái họ Đới có năm chi, Đường là ngành trưởng, lúc đầu có nhà thế gia trong huyện đút tiền cho Đường để đào hầm lấy than cạnh mộ tổ, các em sợ thế lực nên không ai dám cãi lại.

Không bao lâu nước dưới đất vọt ra, những người đào than đều chết dưới hầm, gia đình họ họp nhau thưa kiện, Đường và nhà thế gia kia vì thế trở nên nghèo khó, con cháu Đường đến nỗi không có tấc đất cắm dùi.

Đới là dòng dõi của em Đường, từng nghe ông cha kể lại chuyện ấy, bèn thưa với ông tổ.

Ông già nói:

- Hư hỏng như thế thì con cháu làm sao mà khá được?

Cháu đã tới đây, phải tiếp tục học hành.

Rồi lấy rượu thịt cho ăn uống, kế đem sách đặt lên bàn, đều là những văn trường ốc trong niên hiệu Thành Hóa Hoằng Trị thời Minh (1465-1505) bắt phải học, lại ra đề bài cho làm văn như thầy dạy trò.

Nến trong sảnh đường đều sáng, cắt bấc đi cũng không tắt.

Đới cứ lúc mệt thì ngủ, không biết đang ngày hay đêm.

Ông già lúc đi vắng thì sai một tiểu đồng tới hầu hạ, lâu như trải qua mấy năm nhưng may mà không phải chịu khổ.

Có điều là không có sách gì khác để đọc, chỉ có trăm bài văn bát cổ, vài ngàn bài thơ mà thôi.

Một hôm ông già nói:

- Cháu đã hết hạn quả báo, sắp được trở về nhân thế.

Chỗ mộ ta có đường hầm đào than xoi vào, gió âm châm chích xương cốt, sau này cháu đắc chí rồi hãy dời mộ ta ra cánh đồng phía đông.

Đới cung kính vâng dạ.

Ông già bèn gọi bọn ma tới sai đưa Đới ra chỗ cũ, đám ma lạy rạp nghe lệnh, nhưng Đới cũng không biết làm sao mà lên khỏi giếng được.

Trước là gia đình thấy Đới mất tích, tìm kiếm khắp nơi, mẹ lên báo quan, bắt bớ đòi gọi rất nhiều người mà không có chút manh mối gì.

Qua ba bốn năm, quan thôi giữ chức, việc tìm kiếm tra xét cũng thưa dần, vợ Đới không chờ được bèn xin lấy chồng khác.

Gặp lúc người làng vét giếng cũ, vào trong hốc thấy Đới, vỗ về thấy chưa chết cả sợ báo cho gia đình biết, cáng về nhà mấy ngày mới nói được, kể lại mọi chuyện đã qua.

Sau khi Đới rơi xuống giếng, người láng giềng cãi vã rồi giết chết vợ, bị cha vợ thưa kiện, giam nhốt xét xử hơn một năm, chỉ còn bộ da bọc xương trở về, nay nghe tin Đới sống lại cả sợ bỏ trốn.

Người trong họ bàn xin thưa quan trừng trị, Đới không nghe, cứ nói:

- Trước đây là ta chuốc lấy tội, chuyện đó là âm ty trừng phạt chứ y có can dự gì?

Người láng giềng thấy không có ý gì khác bèn lần mò trở về.

Nước dưới giếng đã vét sạch, Đới thuê người xuống thu nhặt xương cốt, đều sắm quan tài chôn cất ở nghĩa địa làm phúc.

Lại giở tới gia phả thấy có tên Tiềm tự Long Phi, bèn sắm sửa lễ vật ra cúng tế trước mộ.

Quan Học sứ nghe chuyện lạ, lại khen ngợi văn bài của Đới, khoa ấy lấy Đới làm hạng ưu cho đi thi hương, kế Đới thi đỗ Cử nhân.

Đới trở về liền xây dựng phần mộ ở cánh đồng phía đông, dời mộ Long Phi ra đó, xuân thu cúng tế, hương lửa không dứt.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 66+67+68


CHƯƠNG 66: SAN HÔ

Câu Đăng Khóa Tích Ý Toan Tân

Lao Oán Tương Vong Hiếu Thủy Chân

Thi Khán Vu Điền Hiều Khấp Tử

Chỉ Tương Cao Hậu Cách Ngoan Ngân

Dịch:

Trước Đèn Dạy, Dệt Xiết Chua Cay

Mệt, Oán Đều Quên Chí Hiếu Thay

Cày Ruộng Kìa Ai Gào Khóc Nhỉ?

Rồi Ra Cảm Cách Thấy Cao Đầy



An Đại Thành là người huyện Trùng Khánh (tỉnh Tứ Xuyên), cha đỗ Cử nhân nhưng mất sớm, em là Nhị Thành còn nhỏ.

Sinh cưới Trần thị, tiểu tự là San Hô, nhưng mẹ sinh họ Thẩm tính tình hung dữ, đối xử tàn tệ, có khi ngược đãi mà San Hô không tỏ ra hờn oán, cứ sáng ra là trang điểm tới hầu.

Gặp lúc sinh bị bệnh, mẹ cho rằng nàng trang điểm để mê hoặc sinh bèn chửi mắng.

San Hô lui về, tháo bỏ trang sức, rửa hết phấn son rồi tới, mẹ tức giận, đập đầu vào tường gào thét.

Sinh vốn có hiếu bèn đánh vợ, mẹ mới hơi nguôi giận, từ đó càng ghét con dâu, tuy nàng chăm chỉ hầu hạ vẫn không thèm nói với nàng một câu.

Sinh biết mẹ giận cũng ngủ riêng, tỏ ý dứt tình với vợ.

Lâu ngày mẹ vẫn không hả dạ, cứ chửi chó mắng mèo để nói cạnh San Hô.

Sinh nói:

- Cưới vợ là để hầu hạ cha mẹ, nay đã như thế thì có vợ làm gì?

Bèn thôi vợ, sai bà vú già đưa San Hô về.

Vừa ra tới cổng làng, San Hô khóc nói:

- Là đàn bà mà không làm vợ người ta được, về nhà còn mặt mũi nào nhìn thấy cha mẹ, chẳng bằng chết đi cho xong.

Rồi rút kéo may trong tay áo ra đâm vào cổ họng, mọi người xúm lại cứu thì máu đã ướt đẫm áo quần, bèn dìu về nhà người thím trong họ.

Bà thím sinh là Vương thị, góa chồng ở một mình bèn giữ nàng lại ở đó.

Bà vú trở về, sinh dặn giấu kín chuyện nhưng trong lòng vẫn thầm sợ mẹ biết.

Qua vài hôm nghe ngóng biết vết thương của San Hô đã hơi lành, bèn tới nhà Vương thị bảo đừng giữ San Hô ở đó.

Vương thị gọi vào, sinh không chịu vào, chỉ hung hăng đòi đuổi San Hô.

Không bao lâu nàng ra gặp sinh, hỏi:

- San Hô có tội gì?

Sinh trách là không hầu hạ được mẹ.

San Hô im lặng không nói câu nào, chỉ cúi đầu khóc nức nở, lệ đỏ như máu ướt đẫm vạt áo, sinh động lòng thương xót không sao nói nữa liền trở về.

Qua mấy hôm mẹ sinh biết chuyện, giận dữ tới nhà Vương lớn tiếng chửi mắng.

Vương cũng ngạo nghễ không chịu lép, kể tội lại mẹ sinh ngược đãi San Hô, lại nói:

- Nàng ta đã bị đuổi, thì còn là người gì của nhà họ An nữa?

Ta đây giữ con gái nhà họ Trần chứ không giữ con dâu nhà họ An, ai cần bà chõ mồm vào việc nhà người khác?

Mẹ sinh tức lắm nhưng đuối lý, lại thấy Vương thị có vẻ hung dữ bèn xấu hổ gào khóc quay về.

San Hô áy náy, nghĩ tới việc qua ở nơi khác.

Nguyên dì sinh là bà Vu, tức chị bà Thẩm, hơn sáu mươi tuổi thì con trai chết, chỉ còn một đứa cháu nội và con dâu góa, rất yêu mến San Hô, nàng bèn từ giã Vương thị tới đó ở.

Bà Vu hỏi biết duyên cớ, rất chê em gái hung dữ mê muội, muốn đưa nàng về ngay.

San Hô hết sức nói là không được, lại xin đừng nói lộ ra.

Rồi đó nàng ở cùng với bà Vu như mẹ chồng nàng dâu.

San Hô có hai người anh nghe chuyện rất thương em, muốn đón nàng về gả chồng cho, nhưng San Hô nhất định không chịu, chỉ theo bà Vu kéo sợi dệt mướn sinh nhai.

Sinh sau khi bỏ vợ thì mẹ tìm đủ mọi cách cưới vợ cho, nhưng tiếng hung dữ đã lan rộng ra nên gần xa không ai muốn kết thông gia.

Được ba bốn năm, Nhị Thành dần lớn lên, bèn hỏi vợ trước cho.

Vợ Nhị Thành là Tàng Cô, hung dữ còn quá mẹ sinh, mẹ mà có vẻ nổi nóng thì Tàng Cô dằn giọng đối đáp, Nhị Thành lại nhu nhược không dám bênh vực ai, vì thế mẹ cũng không dám ra oai nữa, đã không dám bới móc lại trở lại tìm cách lấy lòng nhưng Tàng Cô vẫn không ưng ý.

Tàng Cô sai khiến mẹ chồng như đầy tớ, sinh không dám nói gì, chỉ cố sức làm lụng thay mẹ, làm hết những việc rửa chén quét nhà, mẹ con thường những lúc không có ai cứ nhìn nhau khóc lóc.

Không bao lâu mẹ uất ức sinh bệnh nằm liệt giường, những việc trở mình đi đồng đều nhờ sinh giúp, sinh suốt đêm không được ngủ, hai mắt đỏ ngầu.

Gọi em tới giúp, Nhị Thành vừa vào phòng thì Tàng Cô đã gọi đi mất.

Sinh vì vậy tới kể với bà Vu, định nhờ bà tới trông nom mẹ mình, vào tới cửa thì vừa khóc vừa kể, kể chưa xong thì San Hô sau màn bước ra, sinh hổ thẹn quá im bặt định ra về.

San Hô lấy hai tay khép cổng, sinh quýnh quáng xô nàng ra cướp đường chạy về, cũng không dám kể với mẹ.

Không bao lâu bà Vu tới, mẹ sinh mừng rỡ giữ lại.

Từ đó nhà bà Vu ngày nào cũng sai người đưa thức ăn ngon tới cho, bà nhắn con dâu rằng:

- Ta ở đây không đói, đừng gởi thức ăn thế nữa.

Nhưng ở nhà cứ đều đặn gởi tới.

Bà Vu không nếm qua một miếng, cứ dành lại cho người bệnh ăn, bệnh mẹ sinh cũng đỡ dần.

Cháu nội bà Vu lại vâng lệnh mẹ đem thức ăn tới cho bà và hỏi thăm sức khỏe mẹ sinh, mẹ sinh than:

- Nàng dâu ngoan thật, chị tu mấy kiếp mà được như thế?

Bà Vu hỏi:

- Có bằng nàng dâu em đuổi không?

Bà Thẩm nói:

- Ôi!

Nói ra không hết chuyện, nhưng làm sao mà được như vợ thằng cháu bên nhà!

Bà Vu nói:

- Nàng dâu còn thì em không biết vất vả, em nóng giận thì nàng dâu không biết oán trách, có chỗ nào không bằng dâu chị?

Bà Thẩm rơi lệ tỏ ý hối hận, lại hỏi:

- San Hô lấy chồng khác chưa?

Bà Vu đáp:

- Không biết, để hỏi lại sau!

Mấy hôm sau bà Thẩm khỏi hẳn, bà Vu từ giã ra về, bà Thẩm khóc nói:

- Sợ chị đi thì em chết mất thôi.

Bà Vu bèn bàn với sinh chia gia tài cho Nhị Thành ra ở riêng, Nhị Thành nói với Tàng Cô, Tàng Cô không vui nói nhiều lời xúc phạm tới anh, động chạm tới cả bà Vu.

Sinh bèn tình nguyện đưa hết những ruộng tốt cho Nhị Thành, Tàng Cô mới vui vẻ, lập tờ chia gia tài xong bà Vu mới về.

Hôm sau bà Vu lấy xe tới đón bà Thẩm, bà Thẩm vào tới nhà trước hết xin gặp con dâu bà Vu, hết sức ca ngợi nàng hiền.

Bà Vu nói:

- Đàn bà có trăm việc hay cũng đâu tránh khỏi có một điều dở.

Ta phải rộng rãi bao dung, chứ như em thì cho dù có con dâu như ta e cũng chưa chắc đã nhờ vả gì được.

Thẩm nói:

- Ồ!

Oan cho em lắm, chị bảo em là súc vật gỗ đá hay sao?

Em cũng có miệng có mũi, há lại ngửi mùi thơm mà không biết sao?

Bà Vu hỏi:

- Như San Hô bị đuổi, không biết nghĩ tới em sẽ nói gì?

Bà Thẩm đáp:

- Chỉ có mắng chửi thôi!

Bà Vu nói:

- Nếu em tu tỉnh thì chẳng có chỗ nào để mắng chửi, mà cũng chẳng có chỗ nào ghét để chửi mắng.

Bà Thẩm nói:

- Ai cũng có lúc lỗi lầm, chỉ có điều cô ta không thể hiền, nên em biết là cô ta sẽ chửi mắng.

Bà Vu nói:

- Người đáng oán lại không oán thì đức thế nào đủ biết rồi, người đáng đuổi lại không đuổi thì tài thế nào đủ biết rồi.

Những thức ăn hôm trước đem qua cung dưỡng vốn không phải của con dâu chị gởi đâu, mà là của con dâu em gởi đấy.

Bà Thẩm giật mình hỏi:

- Chị nói gì?

Bà Vu đáp:

- San Hô tới đây lâu rồi, những thức ăn gởi cho em là của nàng thức đêm dệt thuê lấy tiền mua đấy.

Bà Thẩm nghe thế nước mắt ròng ròng, nói:

- Em còn mặt mũi nào nhìn con dâu nữa?

Bà Vu bèn gọi San Hô, San Hô rơi lệ bước ra, lạy rạp xuống đất, mẹ đau xót hổ thẹn tự vả vào mặt mình, bà Vu khuyên mãi mới thôi, từ đó lại là mẹ chồng nàng dâu như trước.

Hơn mười hôm sau cùng trở về, trong nhà chỉ còn vài mẫu ruộng xấu không đủ ăn, chỉ trông mong vào việc sinh học hành thi dỗ, San Hô thì may thuê dệt mướn.

Nhị Thành có tiếng khá giả nhưng anh không qua nhờ vả, em cũng không ngó ngàng gì tới, Tàng Cô vì chị dâu từng bị đuổi nên khinh bỉ, San Hô cũng ghét cô ta đanh đá nên không đếm xỉa tới.

Anh em ở sát vách nhau, Tàng Cô thường chửi chó mắng mèo, cả nhà đều bịt tai không nghe, Tàng Cô không cớ gì để gây sự bèn chửi chồng đánh tỳ nữ.

Một hôm đứa tỳ nữ treo cổ tự tử, cha cô ta kiện Tàng Cô.

Nhị Thành lên hầu quan thay vợ bị đánh đập rất nặng nhưng Tàng Cô cũng bị bắt, sinh chạy chọt lo lót khắp trên dưới cũng không được tha.

Tàng Cô bị đánh vào mười ngón tay tróc hết cả thịt, quan lại tham lam đòi hỏi rất nhiều.

Nhị Thành cầm cố ruộng vườn đem đủ số tới vợ mới được tha về.

Nhưng chủ nợ cứ hàng ngày tới đòi, bất đắc dĩ phải bán hết ruộng tốt cho ông Nhiệm trong làng.

Ông Nhiệm vì thấy một nửa số ruộng ấy là của Đại Thành nhường cho, mời sinh tới ký tên vào văn tự bán ruộng.

Sinh tới nơi, ông Nhiệm chợt nói:

- Ta là An Hiếu liêm đây, Nhiệm mỗ là ai mà dám mua cơ nghiệp của ta?

Rồi nhìn sinh nói:

- Âm ty cảm động vì vợ chồng con hiếu thảo nên sai ta tạm tới gặp mặt một lần.

Sinh rơi lệ nói:

- Cha có thiêng xin cứu giúp cho em con.

An đáp:

- Thứ con hư dâu dữ có gì đáng tiếc, về nhà rồi mau lo tiền bạc tới chuộc lại cơ nghiệp của ta.

Sinh nói:

- Mẹ con con chỉ kiếm được đủ sống, lấy đâu ra nhiều tiền như thế?

An nói:

- Dưới gốc cây tử vi có vàng chôn, cứ lấy mà dùng.

Sinh định hỏi lại thì ông Nhiệm im bặt, lát sau tỉnh lại cũng không biết mình vừa nói gì.

Sinh về kể lại với mẹ, cũng chưa tin lắm thì Tàng Cô đã dắt mấy người gia nhân ra đào vàng, sâu xuống bốn năm thước mà chỉ thấy có gạch ngói, không có chút gì gọi là vàng bạc, thất vọng trở về.

Sinh nghe nói Tàng Cô đào vàng liền dặn mẹ và vợ đừng ra nhìn, sau nghe nói không tìm được gì, mẹ sinh lén tới xem chỉ thấy gạch ngói trộn lẫn với đất cát bèn về.

Kế San Hô tới thì thấy dưới hầm đất đều là bạc nén trắng xóa, gọi sinh tới xem thì quả đúng thế.

Sinh nghĩ đây là của ông cha để lại, không nỡ giấu giếm bèn gọi Nhị Thành tới chia đôi, mang lên mấy lần mới hết, phần ai người ấy bỏ túi mang về.

Nhị Thành cùng Tàng Cô xem lại, mở túi ra chỉ thấy toàn là gạch ngói cả sợ.

Tàng Cô ngờ Nhị Thành bị anh lừa liền bảo Nhị Thành tới nhà anh dò xét, thì thấy anh đang bày vàng bạc ra giường, mẹ con đang vui vẻ chúc mừng nhau.

Nhị Thành vào kể lại với anh, sinh cũng sợ nhưng trong lòng rất thương hại, bèn tặng hết số vàng bạc của mình.

Nhị Thành mừng quá mang đi trả nợ, rất biết ơn anh.

Tàng Cô nói:

- Xem đó đủ biết là anh gian trá, nếu không phải là hối hận thì đời thuở nào có ai đem phần mình được chia mà nhường hết cho người khác không?

Nhị Thành nửa tin nửa ngờ.

Hôm sau chủ nợ sai người tới nói:

- Những tiền trả nợ đều là bạc giả, ta sẽ thưa lên quan.

Hai vợ chồng đều tái mặt.

Tàng Cô nói:

- Thế nào nào?

Ta đã nói là anh không hiền đến như thế, làm thế là để giết thẳng đấy.

Nhị Thành sợ hãi tới năn nỉ chủ nợ, chủ nợ căm tức không chịu, Nhị Thành bèn gán văn tự ruộng mới lấy đủ số tiền đã trả nợ về.

Nhìn kỹ thấy hai nén bạc bị chặt ra, chỉ có một lớp bạc thật mỏng như chiếc lá bao bên ngoài, còn bên trong đều là đồng cả.

Tàng Cô bèn bàn với Nhị Thành giữ lại hai nén bị chặt còn bao nhiêu đem trả cho anh xem thử ra sao, lại dặn nói rằng:

- Mấy lần được anh nhường nhịn thật lấy làm bất nhẫn, xin giữ lại hai nén để nhớ ơn, còn những ruộng đất đã cầm đó cũng là của anh, em không quen làm nhiều ruộng, những cơ nghiệp đã bỏ đi, có chuộc lại hay không là quyền ở anh.

Sinh không biết cứ cố nhường, Nhị Thành nhất quyết từ chối.

Sinh bèn nhận lại bạc, cân lên thì thiếu hơn năm lượng, bèn bảo San Hô bán nữ trang bù vào cho đủ số rồi đem tới trả nợ.

Chủ nợ nghi cũng là số bạc cũ, lấy dao chặt ra xem thì sắc bạc trong ngoài đều như một không khác nhau mảy may bèn nhận bạc, trả lại văn tự ruộng đất cho sinh.

Nhị Thành trả bạc cho anh xong cho rằng thế nào cũng có chuyện lôi thôi, kế nghe sinh đã chuộc lại được cả ruộng vườn cũ rồi, rất lấy làm lạ.

Tàng Cô nghi là lúc đào lên anh đã giấu hết bạc thật đi, tức giận qua nhà anh gây gổ chửi mắng, lúc ấy sinh mới rõ vì sao Nhị Thành trả lại tiền bạc.

San Hô bước ra cười nói:

- Ruộng vườn còn cả đây, sao lại giận dữ.

Rồi bảo sinh đem văn tự ruộng đất ra đưa Tàng Cô.

Một đêm Nhị Thành mơ thấy cha về trách mắng, nói:

- Ngươi bất hiếu bất đễ, đã sắp đến ngày chết, một tấc đất cũng không có được lại còn tranh chiếm ruộng vườn, định làm gì hả?

Tỉnh dậy nói với Tàng Cô, muốn đem ruộng đất trả lại anh, Tàng Cô chế nhạo là ngu.

Lúc ấy Nhị Thành có hai con trai, đứa lớn bảy tuổi, đứa nhỏ ba tuổi, không bao lâu thì đứa lớn mắc bệnh đậu chết.

Tàng Cô sợ bảo Nhị Thành đưa lại văn tự ruộng đất cho anh, nhưng nói mấy lần sinh vẫn không nhận.

Không bao lâu đứa con nhỏ lại chết.

Tàng Cô càng sợ, tự mang văn tự ruộng đất tới đưa chị dâu, lúc ấy sắp hết mùa xuân, ruộng bỏ hoang không cày, sinh bất đắc dĩ phải ra gieo cấy.

Tàng Cô từ đó sửa đổi tính nết, sáng thăm tối viếng mẹ như con hiếu, cũng hết sức kính trọng chị dâu.

Chưa được nửa năm mẹ bệnh chết, Tàng Cô khóc lóc rất đau xót, bỏ cả ăn uống, nói với người ta rằng:

- Cha mẹ chồng chết khiến ta không được hầu hạ, đó là trời không cho ta được chuộc lỗi đấy.

Sau sinh nở mười lần đều không nuôi được, bèn nuôi con anh làm con mình.

Vợ chồng sinh đều sống lâu, sinh được ba con trai, hai người thi đỗ Tiến sĩ, người ta thường nói rằng đó là trời báo đáp lòng hiếu hữu vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 67: THẦN NGŨ THÔNG

Lưu Tục Tương Truyền Phụng Quỉ Hùng

Công Nhiên Tang Bộc Tứ Đâm Phong

Vạn Sinh Đao Tiếu Thang Công Tấu

Nhất Dạng Uy Linh Nhiếp Ngũ Thông

Dịch:

Thờ Quỷ Lưu Truyền Khéo Viễn Vông

Công Khai Dâu Bộc Phạm Thuần Phong

Vạn Sinh Chém Bắn Thang Công Tấu

Uy Lực Đều Hay Trị Ngũ Thông



Phương nam có dâm thần Ngũ thông cũng như phương bắc có hồ vậy.

Nhưng ở phương bắc bị hồ ám thì còn tìm đủ cách khu trừ, chứ ở vùng Giang Tô Chiết Giang đàn bà con gái xinh đẹp trong dân gian mà bị thần Ngũ thông hành dâm thì cha mẹ anh em không ai dám ho he, gây hại còn dữ hơn cả hồ.

Có Thiệu Hồ là nhà buôn mở cửa hiệu ở huyện Ngô (tỉnh Giang Tô), vợ là Diêm thị rất xinh đẹp.

Một hôm có người đàn ông nghênh ngang từ ngoài vào, vỗ kiếm trừng mắt nhìn quanh, vú già tớ gái trong nhà chạy sạch.

Diêm muốn chạy ra, người ấy chặn lại nói:

- Đừng sợ, ta là Tứ lang trong Ngũ thông đây.

Ta yêu nàng, không làm hại nàng đâu.

Rồi ôm ngang lưng Diêm thị nhấc lên như bế trẻ con đặt lên giường, giải quần nàng tự tuột ra, y bèn cưỡng hiếp, nhưng dương vật to cứng nàng không chịu nổi, lúc mê man đau đớn kêu rên như sắp chết.

Tứ lang cũng thương xót không làm hết sức, kế bước xuống giường nói:

- Năm ngày nữa ta sẽ lại tới!

Rồi đi.

Hồ bày cửa hiệu ngoài cổng, đêm ấy đám tớ gái chạy tới thưa, Hồ biết là thần Ngũ thông không dám nói gì.

Đến sáng thấy vợ mỏi mệt không dậy nổi, trong lòng rất nhục nhã xấu hổ, dặn người nhà không được kể rộng ra.

Người đàn bà qua ba bốn ngày mới khỏe lại, nhưng sợ thần Ngũ thông lại tới, đám vú già tớ gái không dám ngủ đêm trong phòng, tránh hết ra nhà ngoài, chỉ có người đàn bà buồn rầu ngồi trước đèn chờ.

Không bao lâu, Tứ lang dắt hai người nữa tới, đều là thiếu niên ôn nhã, có tên tiểu đồng bày rượu thịt ra cùng ăn uống với người đàn bà.

Người đàn bà xấu hổ cúi đầu, họ ép uống rượu cũng không uống, trong lòng nơm nớp sợ họ thay phiên hành dâm thì hết sống.

Ba người uống rượu vui vẻ với nhau, người gọi là đại ca người gọi là tam đệ.

Uống đến khuya, hai người khách đứng lên nói:

- Hôm nay Tứ lang được mỹ nhân nên mời, cũng nên gọi Nhị lang Ngũ lang tới uống rượu mừng.

Rồi từ biệt đi.

Tứ lang kéo người đàn bà vào màn, nàng khóc lóc năn nỉ, Tứ lang cứ ép giao hoan, nàng máu me đầm đìa ngất đi không biết gì nữa, Tứ lang mới đi.

Người đàn bà nằm vật ra trên giường khôn xiết căm hờn xấu hổ, nghĩ định tự tử nhưng treo cổ thì dây tự đứt, mấy lần đều như thế, khổ không sao chết được.

May mà Tứ lang cũng không tới thường, cứ chờ khoảng nàng đỡ bệnh mới lại tới một lần, cứ thế hơn ba tháng, cả nhà không yên.

Có Vạn sinh ở Cối Kê (huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang) là em họ ngoại của Thiệu, dũng mãnh thiện xạ, một hôm tới thăm Thiệu.

Lúc ấy trời đã tối, Thiệu vì nhà khách đã cho gia nhân ở bèn đưa Vạn vào ngủ nhà trong.

Vạn nằm hồi lâu không ngủ, nghe trong sân có tiếng chân người bèn núp cạnh cửa sổ nhìn ra, thấy một người đàn ông bước vào phòng vợ Thiệu, lấy làm ngờ vực xách đao lẻn theo.

Thấy người ấy ngồi sánh vai với Diêm thị, trên bàn thì đầy rượu thịt liền nổi giận sấn vào, người đàn ông giật mình vội đứng dậy nắm lấy kiếm thì đã bị chém toác đầu ngã xuống, nhìn ra thì là một con ngựa con to như con lừa.

Vạn kinh ngạc hỏi Diêm thị, người đàn bà kể lại mọi chuyện rồi nói:

- Các thần sắp tới, làm sao bây giờ?

Vạn xua tay ra hiệu đừng lên tiếng rồi tắt đèn cầm cung tên nằm chờ trong bóng tối.

Không bao lâu có bốn năm người trên không đáp xuống, Vạn bắn mau một phát, người đi đầu trúng tên chết tươi.

Ba người kia tức giận gầm thét, tuốt kiếm xông vào tìm kẻ bắn tên, Vạn cầm đao núp sau cánh cửa im lặng không động đậy, một người bước vào bị Vạn chém trúng đầu cũng lăn ra chết.

Vạn đứng im chỗ cũ chờ hồi lâu thấy im ắng bèn bước ra gọi Thiệu dậy kể chuyện.

Thiệu cả kinh cùng đốt đuốc vào xem thì thấy một con ngựa và hai con heo chết trong phòng.

Cả nhà đều mừng rỡ, nhưng sợ hai con quái còn sống tới trả thù bèn giữ Vạn ở lại.

Nấu nướng thịt heo thịt ngựa đem lên mời, thấy ngon ngọt khác hẳn thịt heo ngựa thường, từ đó Vạn sinh lừng lẫy tiếng tăm.

Vạn ở lại hơn tháng, không thấy đám quái tới nữa bèn từ giã Thiệu, sắp lên đường thì có nhà buôn Mỗ tới mời.

Trước là Mỗ có con gái chưa lấy chồng, chợt Ngũ thông giữa ban ngày hiện ra, là một người đàn ông đẹp trai hơn hai mươi tuổi, nói sẽ cưới cô gái làm vợ, đưa một trăm lượng vàng làm sính lễ rồi hẹn ngày cưới.

Mỗ tính lại sắp tới ngày hẹn, cả nhà lo sợ, nghe danh Vạn sinh bèn nài nỉ mời bằng được về nhà, nhưng sợ Vạn từ chối nên giấu không nói thật, thết tiệc xong mới cho con gái ăn mặc đẹp đẽ ra lạy chào.

Vạn thấy cô gái khoảng mười sáu mười bảy tuổi, dung mạo xinh đẹp kinh ngạc không hiểu là có ý gì, vội đứng lên chào, Mỗ kéo ngồi xuống kể thật mọi việc.

Vạn nghe thấy cả kinh, nhưng bình sinh ý khí hào hùng nên cũng không từ chối.

Đến ngày cưới, Mỗ cũng hoa giăng dây lụa ngũ sắc ngoài cổng, bảo Vạn ngồi trong phòng.

Đến trưa vẫn không thấy Ngũ thông tới, Vạn mừng rỡ nghĩ thầm chắc tân lang là trong số đã bị mình giết.

Phút chốc chợt thấy trước thềm có vật như con chim sa xuống rồi một thiếu niên ăn mặc đẹp đẽ bước vào, nhìn thấy Vạn quay người bỏ chạy.

Vạn đuổi ra tới ngoài, chỉ thấy một làn khí đen sắp bay lên, vội rút đao nhảy lên chém theo, chặt đứt một chân, thiếu niên kêu gào bay mất.

Cúi nhìn thì khúc chân là một cái móng lớn to bằng bàn tay, không biết là con gì, tìm theo vết máu thì thấy nhảy xuống sông.

Mỗ cả mừng, lại nghe nói Vạn không có vợ, ngay đêm ấy chuẩn bị giường chiếu cho làm lễ hợp cẩn với cô gái.

Từ đó những người vốn sợ Ngũ thông đều mời Vạn tới nhà mình ngủ một đêm.

Được hơn năm Vạn mới đưa vợ về nhà, từ đó Ngô Trung chỉ còn một trong Ngũ thông, không dám công nhiên tác quái nữa.

__________________________________

CHƯƠNG 68: NGŨ THÔNG NHỊ

NGŨ THÔNG (2)

Ngũ Thông Thần Chỉ Nhất Thông Tồn

Tỳ Nữ Nam Lai Diệu Liễm Hồn

Tuyệt Tự A Thùy Ma Giới Thể

Cánh Tòng Đâm Tịch Đoạn Dâm Căn

Dịch:

Năm Thông Nay Chỉ Một Thông Còn

Cô Gái Nam Qua Khéo Hú Hồn

Lầm Tưởng Rằng Ai Quen Rở Thói

Trừng Dâm Đoan Đích Phải Trừ Côn



Kim sinh tự Vương Tôn, người Tô Châu (tỉnh Giang Tô).

Tới đất Hoài (tỉnh Giang Tô) dạy học, ở trong vườn một vị thân sĩ lầu gác không nhiều nhưng cây cối rậm rạp.

Hàng đêm đến khuya, khi bọn tiểu đồng đầy tớ đã ngủ hết thường một mình ngồi trước đèn, trong lòng buồn bã.

Một đêm vừa hết canh hai chợt nghe có người lấy ngón tay búng cửa sổ, sinh vội lên tiếng hỏi, bên ngoài nói là xin lửa, giọng nói như đứa tiểu đồng.

Sinh mở cửa cho vào thì là một người đẹp khoảng mười sáu tuổi, có một tỳ nữ theo sau.

Sinh ngờ là yêu quái, gặng hỏi cặn kẽ, cô gái nói:

- Thiếp thấy chàng là kẻ sĩ phong nhã mà cô tịch đáng thương nên không ngại sương gió tới định cùng vui vầy đêm nay, chứ sợ nói lai lịch ra thì thiếp không dám tới mà chàng cũng không dám chứa chấp đâu.

Sinh lại nghĩ là con gái hư hỏng trong làng, lấy cớ sợ mang tiếng để từ tạ.

Cô gái đưa mắt liếc, sinh thấy thần trí mê man, tâm thần điên đảo không thể tự chủ được nữa.

Người tỳ nữ biết, bèn nói:

- Cô Hà, em đi đây!

Cô gái gật đầu, kế mắng:

- Đi thì cứ đi, còn Hà Hà Vân Vân gì?

Người tỳ nữ đi rồi, nàng mới cười nói:

- Gặp lúc nhà không có ai mới dắt nó tới đây, ngu ngốc như thế đấy, nói lộ ra cho chàng biết tên tự của thiếp.

Sinh nói:

- Nàng tinh tế sâu sắc quá làm ta sợ có tai họa.

Nàng nói:

- Về sau sẽ biết thôi, nhưng thiếp cam đoan là không làm gì có hại cho chàng đâu, đừng lo.

Kế nàng lên giường tháo gỡ đồ trang sức, sinh thấy trên tay nàng có đeo một cái xuyến bằng vàng tía khảm hai viên ngọc minh châu, tắt đèn vẫn lóng lánh chiếu sáng cả phòng.

Sinh càng sợ hãi, không đoán được là nàng từ đâu tới.

Vừa giao hoan xong thì người tỳ nữ tới gõ cửa, cô gái trở dậy, lấy chiếc xuyến soi đường vào trong rặng cây um tùm đi mất.

Từ đó đêm nào cũng tới, có lần sinh định lén đi theo, cô gái như đã biết bèn che ánh sáng, cây cối rậm rạp tối om giơ bàn tay lên cũng không nhìn thấy, sinh đành quay về.

Một hôm sinh đi Hà Bắc, dây mũ bị đứt, gió thổi suýt rơi, ngồi trên ngựa cứ phải lấy tay giữ.

Tới sông lên ngồi trên thuyền, mũ bị gió thổi rơi xuống sông rồi bị nước cuốn đi, nghĩ là mất rồi.

Đến khi lên bờ thì gặp con gió lớn thổi chiếc mũ bay tới, chao chao trên không rồi rơi xuống, giơ tay chụp lấy thì thấy dây mũ đã liền lại, lấy làm lạ.

Khi trở về kể lại với cô gái, nàng không nói gì mà chỉ cười khẽ.

Sinh ngờ là do nàng làm bèn nói:

- Nếu quả nàng là thần thì xin nói rõ cho ta yên lòng.

Cô gái nói:

- Chàng lúc vắng vẻ tịch mịch lại được kẻ si tình giải khuây cho, thiếp tự nghĩ như thế là không xấu.

Giả như thiếp làm được như thế thì cũng là yêu thương nhau đó thôi, căn vặn làm gì muốn tuyệt tình sao?

Sinh không dám nói nữa.

Trước Sinh có nuôi đứa cháu gái, đã đi lấy chồng, bị Ngũ thông quấy phá, rất lo lắng nhưng chưa từng nới với ai, vì quen biết thân mật với cô gái đã lâu nên kể ra không giấu giếm gì.

Nàng nói:

- Những loại ấy thì cha thiếp có thể diệt trừ được, nhưng làm sao thiếp dám đem việc riêng của người tình mà kể với cha.

Sinh năn nỉ xin bày cách cho, nàng ngẫm nghĩ rồi nói:

- Loại ấy cũng dễ trừ, nhưng phải đích thân thiếp đi, mà bọn ấy đều là đầy tớ nhà thiếp, nếu chỉ để chúng chạm một ngón tay vào người thôi thì nước Tây Giang cũng không rửa hết nhục.

Sinh nài nỉ mãi, nàng nói:

- Để thiếp tính cho!

Đêm sau nàng tới nói:

- Thiếp đã vì chàng sai đứa tỳ nữ xuống nam rồi, nhưng nó yếu ớt, sợ không giết được chúng thôi.

Đêm sau đang ngủ thì đứa tỳ nữ tới gọi, Sinh vội dậy mở cửa cho vào.

Cô gái hỏi công việc thế nào, đứa tỳ nữ đáp:

- Con không đủ sức bắt sống, nên đã thiến nó rồi.

Nàng cười hỏi đầu đuôi, đứa tỳ nữ kể:

- Ban đầu con tưởng là ở nhà lang quân đây, nhưng tới nơi mới biết là không phải.

Tới nhà chồng nàng thì đã lên đèn, vào trong thấy nàng ngồi trước đèn, gục xuống bàn như đang ngủ, con bèn thu hồn nàng cho vào vò úp lại.

Giây lát con quái tới, vừa vào phòng thì lùi ra ngay, quát: “Sao lại có người lạ nào thế?” nhưng nhìn kỹ không thấy ai khác lại bước vào.

Con làm như đang mê man, y cởi quần áo ra leo lên, lại giật mình nói: “Sao lại có binh khí thế này.”

Ý con không muốn cầm vào vật bẩn dơ tay, nhưng sợ chậm trễ sinh biến bèn chụp lấy thiến luôn.

Con quái đau đớn kêu la bỏ chạy, con trở dậy mở cái vò lên, nàng tỉnh dậy rồi thì con đi.

Sinh mừng rỡ tạ ơn, cô gái cùng đứa tỳ nữ ra về.

Hơn nửa năm sau không thấy nàng tới, Sinh đã tuyệt vọng.

Cuối năm Sinh nghỉ dạy dịnh về quê, cô gái chợt tới.

Sinh mừng rỡ ra đón, nói:

- Lâu quá nàng không tới, ta nghĩ chắc đã phạm lỗi gì, nay nàng không dứt tình chứ?

Nàng đáp:

- Gắn bó với nhau cả năm mà chia tay nhau không có một lời thì cũng chưa trọn vẹn.

Nghe nói chàng thôi dạy học nên lén tới nói lời từ biệt.

Sinh xin nàng cùng về quê với mình, nàng than:

- Khó nói lắm, hôm nay chia tay mà lòng không nỡ quên tình.

Thiếp là con gái của Kim Long đại vương, vốn cùng chàng có túc duyên nên tới gặp gỡ.

Không ngờ sai đứa tỳ nữ xuống Giang Nam làm giang hồ đồn ầm lên rằng thiếp vì chàng mà thiến Ngũ thông, cha thiếp nghe được cho là quá nhục nhã, đã định ban tội chết.

May mà đứa tỳ nữ đứng ra nhận tội, ông mới hơi nguôi giận, phạt đánh nó một trăm gậy.

Thiếp đi đâu nửa bước cũng có bà vú đi theo, chỉ nhân lúc sơ hở tới được đây một lần chứ không thể trọn duyên cầm sắt, biết làm sao được.

Nói xong từ biệt, Sinh kéo lại rơi nước mắt, nàng nói:

- Chàng đừng làm thế, ba mươi năm sau sẽ lại sum họp mà.

Sinh nói:

- Ta nay ba mươi tuổi, ba mươi năm nữa đã là một ông già tóc bạc, còn mặt mũi nào gặp lại nhau?

Cô gái nói:

- Không phải thế.

Ở Long cung không có người già tóc bạc, mà người đời thọ hay yểu không phải ở chỗ dung mạo, song nếu chàng muốn giữ dung mạo cho không già là chuyện rất dễ.

Kế viết một phương thuốc lên bìa quyển sách trên bàn rồi đi.

Sinh về quê, cháu gái kể lại chuyện lạ, nói:

- Tối đến mơ thấy một người tới bắt bỏ vào vò, tỉnh dậy thấy máu đầm đìa cả chăn nệm, mà con quái tuyệt tích luôn.

Sinh nói:

- Đó là do ta cầu đảo Hà Bá đấy!

Mọi người mới rõ.

Về Sau sinh sáu mươi tuổi mà diện mạo vẫn như người ba mươi.

Một hôm qua sông, nhìn thấy xa xa phía thượng lưu có chiếc lá sen to như chiếc chiếu trôi xuống, một người đẹp ngồi ở trên, tới gần thì là cô gái thần liền nhảy qua, người theo chiếc lá sen nhỏ dần lại, khi còn bằng đồng tiền thì biến mất.

Chuyện này và chuyện Thiệu Hồ đều xảy ra thời Minh mạt, không biết chuyện nào trước chuyện nào sau.

Nếu chuyện này xảy ra sau khi Vạn sinh dụng võ thì vùng Ngô Hạ chỉ còn có nửa tên Ngũ thông, chắc không đủ để tác quái làm hại nữa.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 69+70


CHƯƠNG 69: THÂN THỊ

ANH CHÀNG HỌ THÂN

Ưu Tâm Cánh Vịnh Bắc Môn Thiên

Tọa Đổi Ngưu Y Thế Dục Liên

Ninh Tử Bất Cam Vi Đạo Chích

Tiêu Hành Ung Động Quỉ Thần Tiên

Dịch:

Cám Cảnh Lo Rầu Vịnh Bắc Môn

Áo Tơi Ngồi Ngắm Lệ Trao Tuôn

Thà Cam Chịu Chết Không Ăn Trộm

Cảm Động Thần Minh Thấu Tấm Son



Cạnh sông Kính Hà (ở tỉnh Thiểm Tây) có họ Thân là con sĩ nhân, nhà rất nghèo, có ngày không nổi lửa nấu cơm, vợ chồng nhìn nhau không biết làm sao.

Vợ nói:

- Hết cách rồi, hay là chàng đi ăn trộm vậy?

Thân đáp:

- Là con nhà sĩ nhân đã không làm rạng rỡ tổ tông mà còn làm mất danh tiếng, làm nhục ông cha, thì ăn trộm mà sống chẳng bằng trong sạch mà chết.

Vợ uất ức nói:

- Ngươi muốn sống mà ghét mang nhục à?

Trên đời những kẻ không cày ruộng mà sống chỉ có hai cách, ngươi đã không thể làm ăn trộm thì ta cũng không sao làm đĩ.

Thân tức giận cãi vã với vợ, vợ uất ức bỏ đi ngủ.

Thân nghĩ mình là đàn ông mà không lo được ngày hai bữa cơm, để đến nỗi vợ muốn đi làm đĩ thì thà chết cho xong, bèn lặng lẽ dậy ra thắt thòng lọng trên cây ngoài sân treo cổ tự tử.

Chợt thấy cha tới kinh ngạc nói:

- Thằng con ngu này sao lại đến nỗi như thế?

Rồi cắt dây, dặn:

- Ăn trộm thì cũng được, nhưng phải rình ở chỗ đám lúa dày, chuyến này thì được chứ không được làm lần nữa đâu đấy.

Vợ nghe có tiếng rơi xuống đất giật mình tỉnh dậy gọi chồng không thấy lên tiếng, thắp đèn ra nhìn thì thấy trên cây có sợi dây đứt, Thân thì chết ngất ở dưới, hoảng sợ tới lay gọi, giây lát Thân tỉnh lại, vợ đỡ vào nằm trên giường, cũng bớt tức giận.

Trời sáng, vợ Thân nói thác là chồng bị bệnh qua xin cơm nhà láng giềng về cho Thân ăn.

Thân ăn xong ra cửa đi, tới trưa vác một túi gạo về.

Vợ hỏi gạo ở đâu, Thân đáp:

- Các bạn bè của cha ta đều là nhà thế gia, tới đó xin xỏ thì được nhưng không mặt mũi nào đi cầu xin.

Người xưa nói: "Kẻ không nổi tiếng thì làm gì cũng được" nay ta định đi ăn trộm đây, còn tiếc gì?

Nấu cơm mau lên, ta định theo lời nàng đi trộm cướp đây.

Vợ nghĩ Thân giận lời nói của mình hôm qua nên mới nói thế, bèn vo gạo nấu cơm, Thân ăn no rồi vội tìm gỗ cứng lấy búa đẽo thành cái gậy cầm lấy ra đi.

Vợ thấy đúng là đi trộm cướp vội kéo áo giữ lại, Thân nói:

- Cô bảo ta đi trộm cướp, nếu việc bại lộ liên lụy tới nhau thì đừng có hối hận.

Rồi dứt áo đi thẳng.

Chập tối Thân tới thôn bên cạnh bèn vòng ra cách đó một dặm nằm rình.

Chợt có cơn mưa rào đổ xuống, cả người ướt đầm, nhìn thấy phía xa có rặng cây bèn tìm tới tránh mưa.

Chợt có tia chớp lóe sáng, thấy đã tới gần bức tường, xa xa lại như có người đi tới, sợ họ trông thấy, nhìn thấy dưới tường có đám lúa dày vội lủi mau vào đó ngồi thụp xuống.

Không bao lâu có một người đàn ông tới, thân thể to lớn, cũng rẽ xuống đám lúa.

Thân sợ không dám nhúc nhích, may mà người ấy đi xéo qua, nhìn theo thấy y nhảy vào trong tường.

Thân nhớ lại phía trong tường là nhà phú ông họ Khang, ắt người này là kẻ trộm, cứ chờ y ăn trộm trở ra sẽ đòi chia.

Lại nghĩ y to lớn khỏe mạnh, nếu không lấy trộm được nhiều sẽ không chịu chia, ắt phải dùng võ, nhưng tự lượng sức mình không đánh nổi y, chẳng bằng nhân lúc bất ngờ đánh ngã.

Tính kế xong nằm xuống chờ hồi lâu, lúc gà gáy canh một y mới nhảy tường ra, chân chưa chạm đất, Thân đã vùng dậy đập một gậy vào lưng ngã xuống đánh huỵch, thì là một con rùa lớn, miệng to như cái chậu.

Thân phát hoảng vác gậy đập túi bụi, con rùa chết luôn.

Trước là ông họ Khang có một con gái rất xinh đẹp, cha mẹ đều yêu thương.

Một đêm có người đàn ông vào trong phòng nàng cưỡng ép đòi giao hoan, cô gái muốn la lên thì lưỡi đã cứng đơ rồi hôn mê không biết gì nữa, mặc cho y muốn làm gì thì làm.

Khi y đi rồi nàng xấu hổ không dám nói, chỉ họp đám tỳ nữ lại ngủ cùng phòng, đóng cửa thật chặt mà thôi.

Đêm sau không biết vì sao cửa phòng lại tự mở ra, vào xem thì mọi người đều mê man, đám tỳ nữ đều bị hành dâm, cùng hoảng sợ kể lại với nhau rồi báo cho ông Khang.

Ông sai gia nhân cầm dao gậy rình sẵn, thắp đèn sáng ngồi trong phòng, khoảng gần nửa đêm thì người gác trong ngoài đều nhất loạt thiếp đi, chợt như tỉnh mộng thức dậy thì thấy cô gái đã trần truồng nằm trên giường ngất đi, hồi lâu mới tỉnh lại ông Khang hận lắm nhưng không biết làm sao, được vài tháng thì cô gái cứ héo hắt gầy mòn đi.

Ông Khang nói với mọi người rằng ai có thể trừ tà cho thì sẽ thưởng ba trăm lượng vàng, ngày thường Thân cũng đã từng nghe.

Đêm ấy đánh được con rùa, sực nghĩ ra đây là tà quỷ ám cô gái.

Bèn gõ cửa xin thưởng, ông Khang mừng rỡ mở tiệc mời, sai treo con rùa ở sân phanh thịt ra, giữ Thân ở lại qua đêm, quả nhiên tà quỷ đều tuyệt tích, bèn đem đủ ba trăm lượng vàng thưởng cho Thân.

Thân mang vàng về, vợ thấy qua đêm không về đang lo lắng trông ngóng, thấy Thân vào vội hỏi han, Thân không đáp, bày vàng ra giường.

Vợ nhìn thấy hoảng sợ nói:

- Thật là anh đi ăn cướp à?

Thân đáp:

- Cô bắt ta làm như thế, sao lại còn hỏi?

Vợ khóc nói:

- Hôm trước chỉ là nói đùa thôi, nay anh phạm tội chết chém, ta không thể chịu liên lụy với thằng giặc giết người, xin chết trước đây.

Rồi chạy ra ngoài, Thân đuổi theo cười kéo lại kể thật mọi chuyện, vợ mới mừng rỡ.

Từ đó đem vàng buôn bán, cũng nổi tiếng giàu có.

__________________________________

CHƯƠNG 70: HẰNG NƯƠNG

CÔ HẰNG

Tiểu Gia Đại Hề Ám Thương Bi

Tích Nhật Chuyên Phòng Sủng Dĩ Suy

Cảm Kích Nan Vong Văn Chủng Đức

Nhất Tần Nhất Tiếu Giáo Tây Thi

Dịch:

Nhỏ Coi Hơn Lớn Ngậm Sầu Bi

Ân Ái Đượm Nồng Nay Đã Suy

Văn Chủng Công Dày Ghi Tạc Dạ

Chau Mày Nhoẻn Miệng Dạy Tây Thi



Hồng Đại Nghiệp người kinh đô, vợ là Chu thị nhan sắc rất đẹp, hai bên đều yêu thương nhau.

Sau Hồng cưới tỳ nữ là Bảo Đới làm thiếp, nhan sắc kém xa Chu nhưng Hồng lại yêu chiều.

Chu bất bình, vì thế vợ chồng sinh ra bất hòa.

Hồng tuy không dám công nhiên ở luôn lại phòng thiếp nhưng càng chiều chuộng Bảo Đới mà xa cách Chu.

Sau Hồng dời nhà, ở cạnh nhà một người buôn lụa họ Địch.

Vợ Địch là Hằng Nương qua thăm Chu trước, thấy khoảng ba mươi tuổi, nhan sắc chỉ bình thường nhưng nói năng dịu dàng, Chu thích lắm.

Hôm sau qua thăm đáp lễ thấy nhà nàng cũng có người thiếp khoảng hai mươi tuổi rất xinh đẹp.

Ở cạnh nhau gần nửa năm, Chu không nghe thấy họ cãi cọ gì cả, mà Địch lại chỉ yêu quý có Hằng Nương, vợ thiếp chỉ là người để đó mà thôi.

Một hôm Chu qua chơi nhà Hằng Nương, hỏi:

- Thiếp trước nay cho rằng chồng yêu vợ lẽ là vì vợ lẽ muốn thay bậc đổi ngôi, nay mới biết không phải.

Phu nhân có thuật gì thế, nếu có thể dạy được thì thiếp xin làm học trò.

Hằng Nương đáp:

- Ồ! chị tự xa cách rồi lại trách chồng sao?

Ngày đêm cứ nói sa sả là đuổi chim sẻ cho bụi rậm, càng xa cách nhau hơn.

Về nhà cứ để mặc họ, dù chồng tự tới cũng đừng cho vào phòng.

Sau một tháng thiếp sẽ tính tiếp cho chị.

Chu theo lời, trang điểm thêm cho Bảo Đới, bảo cùng ngủ với chồng, Hồng ăn uống gì cũng bảo Bảo Đới ăn chung.

Lúc nào Hồng quan tâm thì Chu ra sức từ chối, từ đó mọi người đều khen Chu thị hiền.

Như thế hơn tháng, Chu qua thăm Hằng Nương, Hằng Nương vui vẻ nói:

- Được đấy!

Bây giờ chị về nhà bỏ hết nữ trang, đừng mặc quần áo đẹp, đừng đánh phấn tô son, để mặt bẩn đi giày rách làm lụng với người nhà, một tháng sau hãy qua đây.

Chu theo lời, mặc áo vá đụp, làm ra vẻ bẩn thỉu chỉ lo dệt vải chứ không hỏi gì tới chuyện khác.

Hồng thương xót bảo Bảo Đới cùng làm lụng nhưng Chu không cho, cứ quát đuổi lên nhà.

Như thế hơn tháng, lại qua gặp Hằng Nương, Hằng Nương nói:

- Đứa nhỏ này dạy được đấy!

Ngày tới là tiết Thượng Ty, muốn rủ chị đi chơi.

Chị nên bỏ hết quần áo rách, giày dép áo quần thay mới một loạt rồi qua ta cho sớm.

Chu thị vâng dạ.

Đến ngày, Chu thị soi gương trang điểm kỹ càng, hết thảy đều theo như lời Hằng Nương dặn.

Trang điểm xong qua nhà Hằng Nương, Hằng Nương vui vẻ nói:

- Tốt lắm!

Rồi búi hộ mái tóc cánh phượng, mượt bóng như gương, tay áo không hợp thời trang thì tháo ra may lại, lại nói kiểu giày vụng, lấy vải vụn trong rương ra cùng khâu, xong rồi lập tức bảo Chu thay đổi.

Lúc chia tay mời Chu uống rượu rồi dặn:

- Về gặp mặt chồng xong là đóng cửa đi ngủ ngay, y có tìm gõ cửa cũng đừng mở.

Gọi ba lần mới mở cửa cho vào một lần, nhưng phải dè sẻn chuyện hôn hít vuốt ve.

Nửa tháng sau hãy qua đây.

Chu ăn mặc đẹp đẽ về nhà vào chào Hồng, Hồng chăm chú ngắm vợ từ trên xuống dưới, vui vẻ cười nói khác hẳn ngày thường.

Chu thị kể qua buổi đi chơi rồi đỡ má ra vẻ mệt mỏi, trời chưa tối đã đứng dậy về phòng cài cửa đi nằm.

Không bao lâu quả nhiên Hồng tới gõ cửa, Chu cứ nằm mãi không chịu dậy, Hồng mới bỏ đi, đêm sau cũng thế.

Sáng ra Hồng trách móc, Chu nói:

- Ngủ một mình quen rồi, không chịu nổi sự quấy rầy.

Trời vừa xế Hồng đã vào phòng vợ ngồi giữ chỗ, kế tắt đèn lên giường như đêm tân hôn, thương yêu rất mực, lại hẹn đêm sau.

Chu không chịu, hẹn trở đi cứ ba ngày một lần.

Khoảng nửa tháng qua gặp Hằng Nương, Hằng Nương đóng cửa lại chuyện trò rồi nói:

- Từ nay thì chị có thể chiếm luôn chồng rồi.

Có điều chị tuy đẹp nhưng chưa có duyên.

Nhan sắc như chị mà biết làm duyên thì tranh giành được cả lòng sủng ái với Tây Thi, huống hồ là kẻ xấu hơn.

Liền bảo Chu liếc thử, nói:

- Không phải thế!

Cạnh ngoài khóe mắt chưa được.

Lại bảo cười thử, nói:

- Không phải thế!

Má bên trái chưa được.

Rồi liếc mắt đưa tình, hé miệng cười duyên bảo Chu làm theo, mấy mươi lần mới hơi giống.

Hằng Nương bảo:

- Chị về cứ soi gương mà tập, thuật chỉ có bấy nhiêu thôi.

Còn như lúc trên giường thì tùy cơ mà khêu gợi, tùy sở thích mà chiều chuộng thì đó không phải là điều dùng lời mà dạy được!

Chu về làm đúng như lời Hằng Nương dạy, Hồng rất đẹp ý, bị cả nhan sắc lẫn phong thái của vợ làm cho si mê, chỉ sợ bị cự tuyệt.

Trời vừa xế là vào ngồi nói chuyện vui cười với vợ không chịu rời phòng nửa bước, ngày nào cũng thế, không sao bảo ra được.

Chu càng tử tế với Bảo Đới, mỗi khi ăn uống trong phòng đều gọi vào ngồi cùng, nhưng Hồng càng thấy Bảo Đới xấu xí, chưa xong bữa đã bảo nàng ta đi ra.

Chu lại lừa chồng vào phòng Bảo Đới rồi cài cửa ở bên ngoài nhưng suốt đêm Hồng không động chạm gì tới, Bảo Đới vì thế giận Hồng, gặp ai cũng oán trách ra miệng.

Hồng càng chán ghét, dần dần tới chỗ đánh đập.

Bảo Đới phẫn uất bỏ cả trang điểm, áo bẩn giày rách, đầu bù tóc rối nên càng không trách ai được.

Một hôm Hằng Nương hỏi Chu:

- Thuật của ta thế nào?

Chu đáp:

- Đạo thầy thật là tuyệt diệu, có điều đệ tử có thể làm được mà rốt lại vẫn chưa hiểu được.

Để mặc là vì sao?

Hằng Nương nói:

- Chị không biết sao?

Người ta vốn chán cái cũ mà thích cái mới, trọng cái khó mà khinh cái dễ.

Chồng yêu vợ lẽ không hẳn vì cô ta đẹp mà vì thấy cái ít được nếm là ngon, thấy việc khó được gặp là hay.

Cứ để mặc cho ăn no thì sơn hào hải vị cũng ngán chứ nói gì tới canh rau muống.

Chu hỏi:

- Bỏ hết trang điểm rồi sau ăn mặc lộng lẫy là vì sao?

Hằng Nương đáp:

- Bỏ không ngó ngàng gì tới thì như xa cách lâu ngày, bỗng thấy trang điểm đẹp đẽ thì như mới tới, khác nào người nghèo chợt được ăn thịt ngon, sẽ thấy gạo lứt là vô vị.

Lại không dễ dàng cho nếm ngay thì kẻ kia là cũ mà mình là mới, kẻ kia thì dễ mà mình thì khó, đó chính là thuật biến vợ thành thiếp đấy.

Chu cả mừng, bèn coi Hằng Nương là bạn thân chốn khuê phòng.

Được vài mấy chợt Hằng Nương nói với Chu:

- Hai người chúng ta tình như ruột thịt, tự nghĩ không nên giấu giếm tung tích, trước đã định nói nhưng sợ chị nghi ngờ.

Nay sắp từ biệt nên xin nói thật, thiếp chính là hồ.

Thuở nhỏ thiếp gặp nạn, bị mẹ kế bán lên kinh đô, vì chồng thiếp đối xử tử tế nên không nỡ dứt tình ngay mới dùng dằng đến nay.

Ngày mai cha thiếp trút xác lên tiên, thiếp phải về thăm không trở lại nữa.

Chu cầm tay Hằng Nương than thở, sáng ra qua xem thì cả nhà đang hoảng hốt kinh sợ vì Hằng Nương đã biến đâu mất.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 71+72


CHƯƠNG 71: CÁT CÂN

Lan Hương Dĩ Thị Giáng Vân Xa

Hà Tất Tiên Nguyên Cánh Phiếm Tra

Tỉnh Đắc Thu Phong Đoàn Phiến Lãnh

Bất Ung Lưu Tử Chỉ Lưu Hoa

Dịch:

Lan Hương Rầy Đã Giáng Xe Mây

Còn Đến Nguồn Tiên Chi Nữa Đây?

Hiu Hắt Gió Thu Hờ Hững Quạt

Để Con Chẳng Thiết Để Hoa Thay



Thường Đại Dụng người đất Lạc (tỉnh Hà Nam), rất mê hoa mẫu đơn.

Nghe nói mẫu đơn ở Tào Châu (tỉnh Sơn Đông) đứng đầu cả Tề Lỗ (vùng Sơn Đông), đã có ý tới tìm.

Gặp lúc có việc tới Tào Châu, nhân thuê khu vườn của một nhà thân sĩ để ở.

Lúc ấy mới tháng hai, mẫu đơn chưa có, sinh cứ bồi hồi trong vườn nhìn chằm chằm vào cành, mong thấy nụ hoa nhú ra, lại làm đủ một trăm bài thơ tứ tuyệt nhan đề Hoài mẫu đơn (Nhớ mẫu đơn).

Ít lâu sau mẫu đơn có nụ, tiền lưng đã cạn phải cầm bán quần áo, nhưng vẫn say mê với hoa quên cả chuyện về.

Một hôm sáng sớm ra vườn hoa, thấy có một nữ lang cùng bà vú ở đó, ngờ là gia quyến nhà quan vội quay vào phòng.

Chiều ra vườn lại thấy, họ thong thả tránh đi.

Liếc nhìn thấy nữ lang mặc quần áo lối cung trang vô cùng xinh đẹp, đang lúc ngây ngất chợt nghĩ:

- Đây chắc là tiên chứ dưới trần há có được người như thế sao.

Vội vàng quay lại tìm, vừa qua một hòn giả sơn thì giáp mặt bà vú.

Nữ lang đang ngồi trên hòn đá, thấy sinh thì giật nảy mình.

Bà vú đứng trước mặt nàng, quát:

- Cuồng sinh định làm gì?

Sinh quỳ rạp xuống nói:

- Nương tử đây ắt là thần tiên!

Bà vú thét mắng:

- Ăn nói bậy bạ như vậy thật đáng trói lại giải lên quan lắm.

Sinh cả sợ.

Nữ lang mỉm cười nói:

- Thôi ta đi!

Rồi họ vòng qua hòn giả sơn đi mất.

Sinh quay về, cất bước không nổi, nghĩ chắc nữ lang về kể lại với cha anh ắt mình phải chịu nhục nhã, nằm lăn trong phòng tự hối hận vì đã liều lĩnh.

Rồi nghĩ may mà nữ lang không có vẻ tức giận, có lẽ nàng không để bụng.

Vừa hối hận vừa lo sợ suốt đêm phát ốm, đến rạng ngày vẫn không thấy ai tới hỏi tội mới hơi yên lòng.

Song nhớ lại dung mạo âm thanh của nàng thì lại đổi sợ ra nhớ, cứ thế ba ngày, người gầy rộc đi như sắp chết.

Đêm thắp đèn ngồi đến khuya, đầy tớ đã ngủ say thì bà vú kia bước vào cầm một cái liễn đưa sinh nói:

- Nương tử Cát Cân nhà ta tự tay nấu tô canh thuốc độc này đây, uống mau đi.

Sinh nghe thế phát hoảng, kế nói:

- Kẻ hèn này với nương tử vốn không có thù oán, sao lại ban cho tội chết?

Nếu đã là nương tử tự tay sắc thì ốm tương tư mà chết không bằng uống thuốc độc mà chết.

Rồi ngửa cổ uống luôn.

Bà vú cười cầm cái liễn đi.

Sinh thấy vị thuốc thơm mát tựa hồ không phải là thuốc độc, giây lát thấy thân thể khoan khoái, đầu óc nhẹ nhàng, ngủ thiếp đi luôn.

Khi tỉnh thấy nắng đã soi sáng cửa sổ, thử trở dậy thì như đã khỏi bệnh, trong lòng càng tin nữ lang là tiên.

Không biết làm sao gặp lại song lúc vắng người vẫn thấy phảng phất như nàng đang đứng đang ngồi, nên sinh lại vái lạy cầu khấn.

Một hôm đi dạo chợt gặp phải nữ lang trong khóm cây rậm, không có ai khác bên cạnh.

Sinh mừng quá lạy phục xuống đất, nữ lang tới gần đỡ dậy.

Sinh chợt nghe mùi hương lạ tỏa ra khắp người nàng, liền nắm tay nàng đứng lên, thấy da thịt mềm mại khiến người ta nhũn cả xương cốt.

Đang vừa muốn nói thì bà vú chợt tới, nàng bảo sinh núp vào sau tảng đá, chỉ về phía nam nói:

- Tối cứ theo cái thang trong vườn mà leo qua tường, chỗ bốn phía đều có cửa sổ sơn màu hồng là nơi thiếp ở.

Rồi vội vàng bỏ đi.

Sinh ngẩn ngơ mất cả hồn phách, không biết mình đang ở đâu.

Đến đêm bắc thang leo lên bức tường phía nam thì bên trong đã có chiếc thang bắc sẵn, vui mừng leo xuống, quả thấy chỗ có cửa sổ sơn màu hồng, bên trong có tiếng gõ quân cờ.

Sinh dừng lại không dám tới, lại leo qua tường quay về.

Lát sau lại leo qua thì vẫn còn tiếng gõ quân cờ chan chát, tới gần nhìn thì thấy nữ lang đang ngồi đối diện với một mỹ nhân áo trắng, bà vú cũng ngồi đó, có một tỳ nữ đứng hầu, lại quay về.

Qua lại ba lần, trống canh ba đã điểm.

Sinh đang núp dưới chiếc thang bên này thì nghe bà vú đi ra nói:

- Ai đem cái thang ra bắc ở đây thế này?

Rồi gọi tỳ nữ cùng đem cất.

Sinh leo lên đầu tường, muốn xuống lần nữa thì không có thang, buồn bực quay về.

Đêm sau lại qua thì thang đã đặt sẵn trong tường, may là vắng vẻ không có ai.

Vào tới nơi thì nữ lang ngồi một mình như đang nghĩ ngợi điều gì, thấy sinh giật mình đứng dậy thẹn thùng khép nép.

Sinh chắp tay nói:

- Tự nghĩ mình phúc mỏng, sợ không có duyên phận với người tiên, ngờ đâu lại có đêm nay.

Rồi ôm lấy nàng, thấy lưng ong nhỏ nhắn, hơi thở thơm phức.

Nàng đẩy ra nói:

- Sao mà gấp thế?

Sinh đáp:

- Việc hay thường khó khăn, chậm trễ thì quỷ ghét!

Chưa dứt lời thì nghe có tiếng người xa xa, nàng vội nói:

- Em Ngọc Bản tới, chàng hãy tạm núp xuống gầm giường.

Sinh theo lời.

Giây lát một cô gái bước vào cười nói:

- Tướng thua trận còn dám nói đánh nữa hay không?

Ta đã pha trà sẵn, xin mời tới chơi luôn qua đêm.

Cô gái lấy cớ mỏi mệt từ chối nhưng Ngọc Bản cứ cố mời, nàng ngồi lỳ không chịu đi.

Ngọc Bản nói:

- Còn chần chừ nữa, hay là giấu trai trong phòng.

Rồi lôi nàng ra cửa đi mất.

Sinh lóp ngóp bò ra, hận quá liền lục chăn nệm mong tìm được một vật làm tin, nhưng trong phòng không có món nữ trang nào, chỉ có một cái như ý pha lê buộc mảnh khăn tía ở đầu giường trông xinh xắn đáng yêu, bèn nhét vào bụng.

Kế leo qua tường, về tới nhà xếp áo thấy vẫn còn đượm hương thơm của nàng, càng thêm thiết tha ái mộ.

Nhưng vì bị cái sợ chui dưới gầm giường nên lo bị khép vào tội lớn, nghĩ ngợi không dám quay lại nữa, chỉ giữ kỹ cái như ý chờ nàng tới tìm.

Cách một đêm quả nhiên nữ lang tới, cười nói:

- Trước nay thiếp cho rằng chàng là bậc quân tử chứ không biết là kẻ trộm cắp.

Sinh nói:

- Đúng thế đấy chứ, sở dĩ ngẫu nhiên có lúc chưa phải là bậc quân tử chỉ là vì mong được như ý thôi.

Rồi ôm nàng vào lòng, cởi giải quần cho.

Da ngọc vừa lộ ra, hương thơm đã tỏa khắp.

Trong lúc ôm ấp vuốt ve thấy hơi thở mồ hôi của nàng đều thơm phức, nhân nói:

- Ta vẫn nghĩ nàng là bậc tiên nữ, nay càng thấy là đúng.

Nay may được nàng đoái thương cũng là duyên kiếp ba sinh.

Nhưng chỉ sợ Đỗ Lan Hương xuống trần một lúc, cuối cùng sẽ thành mối hận biệt ly thôi.

*[Dung Thành tiên lục chép có người đánh cá ở Tương Giang ven hồ Động Đình nghe tiếng trẻ khóc, tới nhìn thì là một bé gái khoảng một hai tuổi bèn đem về nuôi, đến năm hơn mười tuổi thì dung mạo xinh đẹp lạ lùng, quả đúng như người tiên.

Chợt có Đông Linh chân nhân trên không hạ xuống đưa nàng đi.

Lúc ra đi cô gái nói với người đánh cá rằng: “Ta là tiên nữ Đỗ Lan Hương, vì có lỗi bị đày xuống trần, nay xin từ biệt.”]

Nàng cười nói:

- Chàng nói quá lời!

Thiếp chẳng qua như Thiến nữ lìa hồn tình cờ động lòng vì tình thôi.

Việc này phải thật kín đáo, chứ e lời thị phi đơm đặt trắng đen thì chàng không thể mọc cánh bay còn thiếp cũng không thể cưỡi gió trốn, lúc ấy tai họa còn thê thảm hơn biệt ly nhiều.

- Sinh cho là đúng nhưng rốt lại vẫn ngờ nàng là tiên, cứ cố hỏi họ tên.

Nàng đáp:

- Chàng cho thiếp là tiên, mà đã là tiên thì cần gì phải lưu tên họ.

Sinh lại hỏi bà vú là ai, nàng đáp:

- Đó là bà Tang.

Thuở nhỏ thiếp được bà che chở nên không coi như hạng tôi tớ.

Rồi trở dậy ra về, dặn:

- Chỗ thiếp ở có nhiều tai mắt, không thể ở lâu, lúc nào có cơ hội thiếp sẽ tới.

Khi từ biệt nàng đòi cái như ý, nói:

- Vật này không phải của thiếp mà là của Ngọc Bản để quên.

Sinh hỏi Ngọc Bản là ai, nàng đáp:

- Đó là em con ông chú.

Rồi trở gót quay về.

Nàng đi rồi, chăn gối đều nhuốm mùi hương lạ.

Từ đó cứ hai ba đêm nàng lại tới một lần, sinh say mê chẳng nghĩ gì tới việc về quê mà đã hết sạch tiền, định bán ngựa.

Nàng biết được, nói:

- Vì thiếp mà chàng hết tiền bán áo, lòng đã không nỡ, lại còn bán cả vật đỡ chân thì hơn ngàn dặm đường lấy gì mà đi?

Thiếp có của riêng, có thể giúp chàng chút ít.

Sinh từ chối, nói:

- Cảm lòng nàng yêu thương, dù thịt nát xương tan cũng không đủ đền đáp, thế mà còn tham lam hèn hạ để nàng tốn kém thì sao đáng gọi là người?

Nàng cố ép nói:

- Nhờ chàng một lúc.

Rồi cầm tay sinh dẫn tới dưới một gốc dâu, chỉ một hòn đá bảo vần đi.

Sinh làm theo, nàng lại rút chiếc trâm trên đầu chọc vài mươi nhát xuống đất rồi bảo đào lên.

Sinh làm theo, thấy lộ ra một cái miệng vò.

Nàng mò vào trong lấy ra một đĩnh bạc khoảng năm mươi lượng, sinh giữ tay ngăn lại nhưng nàng không nghe, cứ lấy thêm hơn mười đĩnh nữa, sinh cố trả lại một nửa rồi lấp đất lại như cũ.

Một đêm nàng nói với sinh:

- Gần đây đã hơi có lời đồn, thế không thể lâu dài được, không thể không tính kế khác.

Sinh cả kinh hỏi:

- Làm sao bây giờ.

Tiểu sinh vốn lo xa nhưng nay vì chuyện nàng, thật như góa phụ thất tiết không thể tự chủ được.

Xin nhất nhất vâng lời nàng, dù đao cưa rìu búa gì cũng bất kể.

Nàng bàn cùng trốn đi, bảo sinh về trước, hẹn gặp nhau ở đất Lạc.

Sinh sắp sửa hành trang về quê, định về trước đợi đón nàng, nhưng vừa vào tới nhà thì xe nàng đã tới cổng.

Hai người lên sảnh cho gia nhân lạy chào, láng giềng tới mừng không ai biết là hai người đi trốn.

Sinh nơm nớp lo sợ nhưng nàng vẫn thản nhiên, nói với sinh:

-Không nói là ngoài ngàn dặm thì ma quỷ cũng không biết được, dù có biết thì thiếp là con gái Trác Vương Tôn lại không bằng Tương Như à?

*[Hán thư chép con gái Trác Vương Tôn là Trác Văn Quân xinh đẹp, giỏi thi phú, hiểu âm luật nhưng góa chồng sớm.

Tư Mã Tương Như tới chơi nhà Trác Vương Tôn thấy nàng xinh đẹp bèn gảy đàn hát khúc Phượng cầu hoàng để khêu gợi, Văn Quân bèn trốn theo Tương Như.

Đây cô gái có ý nói sẵn sàng vì tình trốn theo người yêu.]

Em trai sinh là Đại Khí, tuổi vừa mười bảy.

Nàng nhìn thấy khen:

- Thật có bản căn thông tuệ, tiền đồ còn hơn chàng nhiều.

Đại Khí sắp làm đám cưới thì vợ chưa cưới chết yểu, cô gái nói với sinh:

- Em Ngọc Bản của thiếp chàng đã thấy mặt rồi, dung mạo không xấu, tuổi cũng xấp xỉ, làm vợ chú ấy có thể nói là xứng đôi.

Sinh nghe thế phì cười, đùa nhờ nàng làm mai.

Nàng nói:

- Nếu muốn cũng không khó.

Sinh mừng hỏi làm cách nào, nàng đáp:

- Em Ngọc Bản và thiếp rất thân thiết, chỉ cần hai con ngựa kéo chiếc xe nhẹ và một bà vú đi về thôi.

Sinh sợ lộ chuyện trước không dám theo lời, nàng quả quyết không hề gì, lập tức sai thắng xe, bảo bà Tang đi.

Vài ngày tới Tào Châu, tới gần cổng làng bà Tang xuống xe, bảo người đánh xe dừng lại đợi bên đường, nhân lúc trời tối vào làng, hồi lâu đưa Ngọc Bản ra lên xe phóng về, đêm nghỉ ngày đi.

Cô gái tính ngày, bảo Đại Khí mặc quần áo đẹp đi đón, cách năm mươi dặm thì gặp nhau, đánh xe trở về, nổi nhạc kết đèn làm lễ cưới.

Từ đó cả hai anh em cùng có vợ đẹp, gia cảnh ngày càng khá giả.

Một hôm có bọn cướp lớn vài mươi tên vào nhà, sinh biết có biến, gọi cả nhà lên lầu.

Bọn cướp vào nhà tới vây chặt dưới lầu, sinh cúi xuống hỏi:

- Có thù oán gì với nhau chăng?

Chúng đáp:

- Không có thù oán gì, nhưng có hai điều muốn xin.

Một là nghe nói hai phu nhân nhà này xinh đẹp tuyệt thế, xin cho được thấy mặt một lần.

Hai là năm mươi tám người ở đây, mỗi người xin năm trăm lượng vàng.

Rồi chất củi dưới lầu, định dùng kế phóng hỏa để uy hiếp.

Sinh ưng thuận nộp tiền nhưng chúng không thỏa ý, vẫn đòi đốt lầu, gia nhân cả sợ.

Cô gái muốn cùng Ngọc Bản xuống lầu, ai ngăn cũng không nghe, thay áo quần lộng lẫy bước xuống, chưa hết ba bậc thì nói với bọn cướp:

- Chị em ta đều là người nơi tiên cung tạm thời xuống trần, sợ gì bọn giặc cướp.

Muốn cho các ngươi ngàn vạn lượng vàng, chỉ e các ngươi không dám lấy thôi.

Bọn cướp nhất tề ngước lên vái lạy, đồng thanh nói không dám.

Hai chị em đang định trở lên, một tên thét:

- Trò bịp đấy!

Nàng nghe thấy quay lại nói:

- Muốn gì cứ làm ngay đi, cũng chưa muộn mà.

Bọn cướp nhìn nhau im lặng, hai chị em ung dung bước lên lầu.

Chúng nhìn theo đến khi hai nàng khuất bóng rồi mới ồn ào rút đi.

Sau hai năm, chị em mỗi người sinh một con trai, lúc ấy cô gái mới tự nói là họ Ngụy, mẹ được phong làm Tào Quốc phu nhân.

Sinh ngờ là đất Tào không có nhà thế gia nào họ Ngụy, vả lại dòng họ lớn mà mất hai con gái đời nào chịu để yên, tuy không dám căn vặn tới cùng nhưng vẫn thầm ngờ vực.

Bèn kiếm cớ trở lại đất Tào, vào địa giới đất Tào là hỏi thăm ngay nhưng không có nhà thế gia nào họ Ngụy.

Bèn tìm đến nhà trọ cũ, chợt thấy trên vách có bài thơ Tặng Tào Quốc phu nhân, vô cùng kinh sợ lạ lùng.

Bèn hỏi chủ nhân, chủ nhân cười, lập tức mời đi xem Tào Phu nhân, tới nơi thì là một gốc mẫu đơn cao ngang chái nhà.

Hỏi vì đâu có tên ấy thì vì đó là thứ hoa đệ nhất đất Tào nên người ta mới phong đùa như vậy.

Hỏi đó là giống gì, chủ nhân đáp là Tử Cát sinh càng sợ hãi, cho cô gái là tinh hoa.

Trở về cũng không dám hỏi han, chỉ kể lại chuyện bài thơ Tặng Tào phu nhân để dò ý.

Cô gái chợt biến sắc bỏ ra ngay, gọi Ngọc Bản bế con tới, nói với sinh:

- Ba năm trước cảm lòng chàng nghĩ tới nên đem thân đền đáp.

Nay đã ôm lòng nghi ngờ thì sao còn có thể chung sống được nữa?

Rồi lập tức ném con ra xa, hai đứa nhỏ rơi xuống chết ngay.

Sinh đang hoảng hốt thì hai nàng đã biến mất, hối hận vô cùng.

Vài hôm sau ở chỗ hai đứa nhỏ rơi chết mọc lên hai cây mẫu đơn, qua đêm đã cao một thước, ngay trong năm ấy nở hoa một màu tía, một màu trắng, đóa hoa to như cái mâm, tươi đẹp dày đặc hơn hẳn các giống Cát Cân, Ngọc Bản bình thường.

Mấy năm sau hai cây mẫu đơn ấy tươi tốt thành bụi dày, nếu đem đi trồng nơi khác thì biến đổi không ra giống gì cả.

Từ đó, nơi nhiều mẫu đơn không đâu hơn đất Lạc.

_____________________________________

CHƯƠNG 72: HOÀNG ANH

Thiên Lý Bình Tông Bốc Ẩn Cư

Tửu Hương Hoa Khí Mộng Tình Sơ

Lương Duyên Ưng Vị Mai Hoa Đố

Xử Sĩ Phong Lưu Chuyển Bất Như

Dịch:

Dẫu Bèo Ngàn Dặm Bước Đi Cư

Hương Rượu Mùi Hoa Mộng Tỉnh Vừa

Duyên Đẹp Hoa Mai Chừng Đố Kỵ

Phong Lưu Xử Sĩ Hẳn Còn Thua



Mã Tử Tài người phủ Thuận Thiên, gia đình mấy đời rất chuộng hoa cúc, đến đời Tài thì càng say mê hơn, nghe ở đâu có giống cúc quý thì dù xa xôi ngàn dặm cũng tìm tới.

Một hôm có người khách từ Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô) tới trọ trong nhà, nói họ hàng bên ngoại mình có một vài giống cả phương Bắc không đâu có.

Mã thích quá lập tức thu xếp hành trang theo tới Kim Lăng, khách tìm đủ cách mới tìm được cho hai cây.

Mã giữ gìn như của báu, về tới giữa đường gặp một thiếu niên cưỡi ngựa theo sau một cỗ kiệu có mui, bèn tới gần bắt chuyện.

Thiếu niên nói mình họ Đào, ăn nói rất phong nhã, nhân hỏi Mã từ đâu tới, Mã kể thật.

Thiếu niên nói:

- Không có giống cúc nào không đẹp, chỉ là ở người chăm bón tưới tắm thôi.

Nhân bàn tới thuật trồng cúc, Mã thích lắm, hỏi định đi đâu.

Thiếu niên đáp:

- Chị ta chán đất Kim Lăng, muốn lên phương Bắc ở.

Mã vui mừng nói:

- Nhà ta tuy nghèo nhưng lều tranh có thể ở tạm, nếu không chê hoang vắng bỉ lậu thì khỏi phải vất vả đi đâu cả.

Đào phóng ngựa lên trước kiệu thưa với chị, người trong kiệu vén rèm trò chuyện, là một mỹ nhân tuyệt thế, tuổi khoảng hai mươi.

Nàng nói với em trai:

- Nhà thấp nhỏ không sao nhưng vườn thì cần rộng.

Mã gật đầu, hai chị em bèn theo Mã về.

Phía nam nhà Mã có một khu vườn hoang, trên có ba bốn gian nhà nhỏ, Đào mừng rỡ bèn vào đó ở.

Hàng ngày qua nhà phía bắc giúp Mã trồng cúc, cúc đã chết khô thì nhổ lên rồi giâm xuống, cây nào cũng sống.

Nhưng gia cảnh Đào thanh bần, hàng ngày ăn uống với Mã chứ xem trong nhà như không mấy khi nổi lửa.

Vợ Mã là Lữ thị cũng rất quý chị Đào, thỉnh thoảng lại giúp cho gạo thóc.

Chị Đào tiểu tự là Hoàng Anh, ăn nói khéo léo nhã nhặn, cứ qua chỗ Lữ thị cùng nhau may vá.

Một hôm Đào nói với Mã:

- Nhà ông vốn không dư dật, hàng ngày ta lại vì miếng cơm làm lụy kẻ tri giao, cứ thế mãi sao được.

Nay tính kế thì bán cúc cũng đủ mưu sinh.

Mã vốn ngay thẳng nên nghe Đào nói thế rất khinh bỉ, nói:

- Ta cho rằng ông là kẻ cao sĩ phong lưu, có thể vui với cảnh nghèo, nay bàn như thế là lấy vườn cúc làm cái chợ, nhục cho cúc thật.

Đào cười nói:

- Tay làm hàm nhai không phải tham, trồng hoa để sống không phải tục.

Người ta vốn không nên mong giàu bậy bạ song cũng bất tất phải mong nghèo.

Mã không nói gì, Đào đứng dậy ra về, từ đó cứ cành gãy mầm xấu bên nhà Mã bỏ đi thì nhặt hết đem về nhà mình, cũng không qua ăn ngủ với Mã nữa, Mã có mời mới qua.

Không bao lâu đến kỳ hoa cúc nở, Mã nghe bên cổng nhà Đào ồn ào như cái chợ, lấy làm lạ ra xem thì thấy khách buôn tới mua hoa, vai vác xe chở đầy đường.

Nhìn tới hoa đều là giống lạ mắt chưa từng thấy, trong lòng ghét Đào tham lam, muốn tuyệt giao nhưng hận vì còn giữ kín giống lạ bèn gõ cửa qua định trách mắng.

Đào ra dắt tay dẫn vào, thấy nửa mẫu sân bỏ hoang đều thành luống cúc, ngoài mấy gian nhà ra không còn đất trống, những chỗ vừa cắt cúc đi thì lấy cành khác dặm vào, hoa trên luống đều đẹp đẽ, nhìn kỹ đều là những thứ mình bỏ đi trước kia.

Đào vào nhà lấy rượu thịt ra bày cạnh luống cúc nói:

- Ta nghèo không giữ được điều răn thanh bạch, bao nhiêu ngày mới may kiếm được chút ít, cũng đủ uống say.

Lát sau trong phòng có tiếng gọi Tam Lang, Đào dạ quay vào, giây lát đem ra các thức nấu nướng ngon lành.

Mã nhân hỏi lệnh tỷ sao không xuất giá, Đào đáp chưa đến lúc.

Mã hỏi lúc nào, Đào đáp bốn mươi ba tháng nữa.

Mã lại gặng hỏi tại sao nói thế, Đào chỉ cười không đáp, hai người uống say rồi mới chia tay.

Hôm sau lại qua, thấy những nhánh cúc mới dặm đã cao gần thước lấy làm lạ bèn năn nỉ hỏi Đào cách trồng.

Đào nói:

- Điều ấy không thể lấy lời mà truyền được, vả lại ông không trồng cúc để mưu sinh thì biết làm gì.

Lại mấy hôm nữa, trong sân ngoài ngõ hơi vắng người mua, Đào bèn lấy chiếu cói bọc cúc, chất lên mấy xe chở đi.

Giữa mùa xuân năm sau Đào mới chở hoa lạ ở phương Nam về, mở hàng bán hoa trong kinh đô, mười ngày thì bán hết sạch, kế lại về trồng cúc.

Hỏi tới những người năm trước mua cúc của Đào giữ cây làm giống thì năm sau hoa đều thay đổi kém hẳn, lại phải mua của Đào.

Đào vì thế ngày càng giàu có, năm đầu làm thêm phòng ốc, năm thứ hai xây nhà, việc xây cất cứ tùy ý không bàn với chủ nhân, dần dần vườn trồng cúc cũ đều là nhà cửa.

Lại mua riêng một khu ruộng, xây tường chung quanh trồng toàn cúc, mùa thu chở hoa đi, cuối xuân vẫn không về.

Kế vợ Mã chết, Mã muốn cưới Hoàng Anh nên nhờ người bắn tin, Hoàng Anh mỉm cười có vẻ ưng thuận, chỉ đợi Đào về mà thôi.

Hơn năm Đào vẫn chưa về, Hoàng Anh đốc thúc tôi tớ trồng cúc giống hệt như Đào, có tiền lại càng buôn bán lớn, cấy cày đến hai mươi khoảnh ruộng tốt ngoài thôn, nhà cửa ngày càng bề thế.

Bỗng có khách từ Đông Việt (tỉnh Quảng Đông) tới đem thư của Đào gới về, mở xem thì là Đào khuyên chị lấy Mã, xem lại ngày viết thư đúng là ngày vợ Mã chết.

Mã nhớ lại lúc uống rượu trong vườn, tính đến đó vừa đúng bốn mươi ba tháng, vô cùng lạ lùng bèn đưa thư cho Hoàng Anh xem, hỏi nộp sính lễ ở đâu.

Hoàng Anh từ chối không nhận sính lễ, lại vì chỗ ở cũ chật chội, muốn Mã qua ở bên khu nam giống như ở rể.

Mã không nghe, chọn ngày đón dâu về nhà mình.

Hoàng Anh về với Mã rồi, mở cửa trên vách thông với khu nam, hàng ngày qua đó sai bảo đầy tớ.

Mã xấu hổ vì vợ giàu, thường dặn Hoàng Anh làm sổ biên chép của cải hai khu để đề phòng bị lẫn lộn, nhưng những thức cần dùng, Hoàng Anh đều lấy ở khu nam.

Chưa được nửa năm, vật dụng trong nhà đều là của nhà Đào, Mã lập tức sai người đem trả hết, dặn đừng lấy qua nữa.

Chưa đầy một tuần mọi thứ lại lẫn lộn, mấy lần đem trả như thế, Mã không sao chịu nổi phiền phúc.

Hoàng Anh cười nói:

- Chàng Trần Trọng Tử có mệt không?

Mã xấu hổ không kê biên gì nữa, nhất nhất theo ý Hoàng Anh.

Hoàng Anh thuê thợ, mua vật liệu để dựng nhà, Mã không sao cản được, qua vài tháng thì lầu gác san sát, hai khu nhà hợp làm một không chia ranh giới nữa.

*[Trần Trọng Tử: Cao sĩ truyện của Hoàng Phủ Mật chép ẩn sĩ Trần Trọng Tử nước Tề thời Chiến quốc là em Trần Đới đại quý tộc ở nước Tề, “ăn lộc muôn chung”.

Trần Trọng Tử cho rằng như thế là bất nghĩa, vì vậy dắt vợ trốn tới đất Ô Lăng nước Sở, chồng đan hài, vợ dệt vải để sống, được người ta coi là liêm.

Nhân vật Hoàng Anh có ý chế nhạo.]

Nhưng theo ý Mã nên gia đình đóng cửa không bán cúc nữa, song việc chi dùng còn hơn cả các nhà thế gia.

Mã áy náy nói:

- Nết trong sạch ba mươi năm của ta vì nàng mà bị lụy.

Nay sống ở đời mà mọi sự ăn ở đều nhờ vào vợ, thật không có chút phẩm giá đàn ông.

Cho nên người ta đều muốn giàu mà ta chỉ muốn nghèo thôi.

Hoàng Anh nói:

- Thiếp không phải là phường tham bỉ, nhưng nếu không dư dật chút ít thì ngàn năm sau người ta lại nói Uyên Minh nghèo thấu xương, trăm đời không ngóc đầu nổi, nên phải xóa bỏ tiếng chê cười cho nhà Bành Trạch chúng ta thôi.

Nhưng kẻ nghèo mong giàu thì khó, còn kẻ giàu muốn nghèo vốn rất dễ, bao nhiêu tiền bạc trong nhà xin chàng cứ mặc ý phá tán, thiếp không tiếc đâu.

*[Uyên Minh, Bành Trạch: Nam sử chép Đào Tiềm thời Tấn tự Uyên Minh, từng giữ chức Huyện lệnh Bành Trạch nên người ta còn gọi là Đào Bành Trạch, tính ngay thẳng thanh cao, rất thích hoa cúc.

Chị em Hoàng Anh trong truyện này lấy họ Đào là có ý nói mình là hậu duệ của Đào Tiềm.]

Mã nói:

- Làm hao tổn tiền bạc của người khác thì tệ lắm.

Hoàng Anh nói:

- Chàng không muốn giàu nhưng thiếp cũng không thể chịu nghèo.

Thôi cứ ở riêng, ai trong cứ trong, ai đục cứ đục, có hại gì đâu?

Rồi sai cất một gian nhà tranh trong vườn, chọn tỳ nữ xinh đẹp cho tới hầu hạ Mã.

Mã yên lòng ra ở đó nhưng được vài ngày nhớ Hoàng Anh quá, sai gọi nhưng nàng không chịu tới bất đắc dĩ phải quay về, cứ cách một đêm một lần thành lệ.

Hoàng Anh cười nói:

- Ăn nhà đông ngủ nhà tây, kẻ liêm không nên như thế.

Mã cũng phì cười không trả lời được, bèn lại ở chung như trước.

Gặp lúc Mã có việc lên Kim Lăng đúng vào mùa cúc thu, sáng đi ngang hàng bán hoa thấy bày đủ thứ chậu, hoa đều rất đẹp, động lòng ngờ là cúc của Đào.

Lát sau chủ nhân ra thì quả là Đào, mừng rỡ hàn huyên rồi ngủ lại đó.

Mã nhân rủ Đào về, Đào nói:

- Kim Lăng là quê cũ của ta, ta sắp cưới vợ ở đây.

Có dành dụm được ít tiền, phiền anh đem về cho chị ta, khoảng cuối năm ta sẽ về.

Mã không chịu cố nài nỉ Đào về, lại nói:

- May gia cảnh đã phong túc, có thể ngồi mà ăn không cần phải buôn bán gì cả.

Đào bèn ngồi trong hàng sai đầy tớ thay mình ngã giá bán rẻ, vài ngày thì bán hết hoa, vội thu xếp hành lý thuê thuyền về Bắc.

Vào nhà thì chị đã dọn dẹp phòng ốc, chuẩn bị giường chiếu chăn đệm như đã biết trước là em trai về.

Đào từ khi về tới nhà thì cởi hành lý coi việc nhà, tu sửa hết nhà cửa vườn tược, hàng ngày chỉ cùng Mã uống rượu đánh cờ, không tiếp người khách nào.

Anh chị muốn tìm vợ cho nhưng Mã không chịu, chị bèn sai hai tỳ nữ hầu hạ giường chiếu, qua ba bốn năm sinh được một gái.

Đào vốn uống rượu rất hào, chưa ai thấy say.

Mã có người bạn là Tăng sinh, tửu lượng cũng chưa ai bằng, gặp lúc ghé chơi, Mã bảo uống thi với Đào.

Hai người thả sức uống rất vui vẻ, chỉ hận là biết nhau quá muộn.

Uống từ giờ Thìn đến canh tư, tính ra mỗi người uống hết trăm bầu.

Tăng say mèm ngủ luôn tại bàn, Đào đứng lên về phòng ngủ, ra tới luống cúc thì ngã vật xuống, ném cái áo bên cạnh hóa luôn thành cây hoa cúc cao bằng đầu người, mang hơn chục đóa hoa đều to bằng nắm tay.

Mã khiếp đảm báo Hoàng Anh, Hoàng Anh vội tới nhổ cây cúc đặt trên mặt đất, nói:

- Sao mà say tới mức này?

Rồi đắp cái áo lên, kéo Mã cùng đi, bảo đừng nhìn.

Sáng ra Mã tới thì thấy Đào nằm bên luống cúc, mới sực hiểu ra hai chị em là tinh cúc, từ đó càng thêm yêu kính.

Từ ngày lộ tung tích, Đào uống rượu càng buông thả, thường viết thư mời Tăng tới uống rượu, chơi với nhau rất thân.

Gặp ngày Tết Tăng tới thăm, dắt hai người đầy tớ mang theo một vò rượu trắng ngâm thuốc, hẹn cùng uống kỳ hết.

Vò rượu gần cạn mà hai người vẫn chưa say lắm, Mã lại ngầm rót thêm rượu vào, hai người lại uống cạn.

Tăng say khướt, bọn đầy tớ cõng về.

Đào nằm lăn ra đất, lại hóa thành cây cúc.

Mã thấy đã quen không sợ nữa, cứ theo đúng cách nhổ lên đặt trên đất rồi ngồi canh bên cạnh xem diễn biến.

Hồi lâu lá cúc càng héo đi, Mã cả sợ mới báo với Hoàng Anh.

Hoàng Anh hoảng hốt nói:

- Chết em ta rồi!

Rồi chạy ra xem thì cả gốc lẫn cành cúc đã khô héo.

Nàng vô cùng đau xót, ngắt lấy cành hoa giâm vào chậu mang về phòng riêng, hàng ngày tưới bón chăm sóc.

Mã vô cùng hối hận, rất oán Tăng, mấy ngày sau thì nghe tin Tăng chết vì say rượu.

Nhánh cúc trong chậu dần nảy mầm, tháng chín đã trổ hoa, cành ngắn nụ mướt, ngửi có mùi thơm như rượu, đặt tên là “Túy đào” (đào say), tưới bằng rượu thì rất tươi tốt.

Về sau con gái Đào lớn lên lấy chồng nhà thế gia, còn Hoàng Anh đến trọn đời cũng không có gì khác lạ.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 73+74


CHƯƠNG 73: THƯ SĨ

MỌT SÁCH

Bất Tín Thư Trung Cánh Hữu Ma

Ngọc Nhan Kim Ốc Lưỡng Vô Ngoa

Tổ Long Nhất Cự Tuy Do Số

Dã Quái Si Nhi Phúc Vị Đa

Dịch:

Chẳng Tin Trong Sách Có Yêu Ma

Người Ngọc Nhà Vàng Cũng Chẳng Ngoa

Mồi Lửa Tổ Long Dành Bởi Số

Chàng Si Tu Phúc Chửa Dầy A



Lang Ngọc Trụ người Bành Thành, cha làm quan Thái thú, lúc tại chức thanh liêm, được bổng lộc không mua ruộng đất nhà cửa, chỉ chứa sách đầy nhà.

Đến đời Ngọc Trụ lại càng say mê, nhà nghèo khó phải bán hết đồ đạc nhưng một quyển sách của cha để lại cũng không nỡ bán.

Khi cha còn sống từng chép thiên Khuyến học dán bên phải chỗ ngồi, Lang hàng ngày vẫn ngâm nga, lại lấy the trắng bọc lại sợ mờ mất chữ, không phải vì công danh mà thật lòng tin rằng trong sách cũng có vàng có thóc.

Ngày đêm mải mê đọc sách, mùa hè mùa đông cũng không bỏ bê, hơn hai mươi tuổi cũng không lo cưới vợ, chờ người đẹp trong sách tự tới.

Bạn bè thân thích tới chơi cũng không buồn hỏi han chuyện trò, nói năm ba câu xong lại cất tiếng ngâm đọc, mặc khách tự về.

Lần nào học quan về sát hạch cũng được lấy đứng đầu, nhưng thi mãi vẫn không đỗ.

Một hôm Lang đang học, chợt có cơn gió lớn thổi bay sách, vội đuổi theo nhặt chợt chân bị sụt xuống đất, mò xem thì dưới hố có cỏ mục, đào lên thì là kho lúa của người xưa cất giấu, đã mục nát thành đất.

Tuy không ăn được nhưng càng tin mấy chữ “ngàn chung thóc” là đúng nên càng chăm đọc sách.

Hôm khác bắc thang trèo lên giá sách cao, trong đống sách vở nhặt được chuỗi tiền vàng dài một thước, cả mừng cho rằng nghiệm với chữ “nhà vàng”.

Đưa cho người ta thì té ra là vàng mạ, không phải vàng thật, lòng thầm oán cổ nhân lừa mình.

Không bao lâu người bạn cùng khoa với cha Lang ra làm Quan sát đạo ấy, tính mộ đạo Phật.

Có người khuyên Lang cúng chuỗi tiền xây tháp Phật.

Quan sát thích lắm ban cho Lang ba trăm đồng vàng và hai con ngựa.

Lang mừng cho là chữ “xe ngựa, nhà vàng” đều đã nghiệm nên càng ra sức học hành nhưng đã ba mươi tuổi.

Có người khuyên lấy vợ, Lang nói:

- Trong sách có nàng mặt như ngọc, ta lo gì không có vợ đẹp.

Lại học thêm hai ba năm vẫn không thấy gì, có người chế giễu.

Lúc ấy trong dân gian ngoa truyền rằng:

- Chức Nữ trên trời trốn theo trai.

Có người nhân đùa Lang rằng:

- Cháu trời bỏ trốn chỉ vì ông thôi.

Lang biết là đùa nên không buồn cãi.

Một đêm đọc sách Hán thư tới quyển tám, tới giữa quyển thấy hình một mỹ nhân cắt bằng lụa mỏng ép trong đó, hoảng sợ nói:

- Câu “trong sách có nàng mặt như ngọc” là ứng vào đây chăng?

Trong lòng chợt thấy buồn rầu.

*[Hán thư tới quyển tám: Hán thư quyển này có chép tờ chiếu tháng 5 năm Bản Thủy thứ 4 đời Hán Tuyên đế, trong có câu “Phụ tử chi thân, phu phụ chi đạo, thiên tính dã” (Tình cha con, đạo vợ chồng là tính trời), có vẻ ám hợp với nội dung truyện này vì nhân vật Lang Ngọc Trụ không chịu lấy vợ.]

Nhìn kỹ mỹ nhân thì thấy con mắt lông mày như người sống, sau lưng có chữ “Chức Nữ” mờ mờ, vô cùng lạ lùng, hàng ngày cứ đặt lên trên sách xoay trở ngắm nghía đến nỗi quên ăn quên ngủ.

Một hôm đang chăm chú nhìn thì mỹ nhân chợt nhỏm dậy ngồi trên sách mỉm cười, Lang khiếp đảm lạy sụp xuống trước bàn, khi ngẩng lên thấy nàng đã cao một thước, càng sợ lại lạy phục xuống.

Mỹ nhân ung dung bước xuống đất, rõ ràng là một giai nhân tuyệt thế.

Lang lạy hỏi là thần gì, mỹ nhân cười nói:

- Thiếp họ Nhan tên Như Ngọc, chàng đã biết từ lâu rồi.

Hàng ngày được chàng rủ mắt xanh, nếu thiếp không tới một phen e rằng ngàn năm sau không còn ai tin vào cổ nhân.

Lang mừng rỡ để ở cùng phòng, ngủ chung với nhau rất thân thiết, nhưng lúc chăn gối thì không làm sao cho ra đàn ông.

Mỗi khi đọc sách là bảo cô gái ngồi cạnh, nàng bảo đừng học nữa nhưng Lang không nghe.

Cô gái nói:

- Chàng sở dĩ không đỗ đạt là vì đọc sách đó thôi.

Thử xem những người khoa bảng có mấy người đọc sách như chàng.

Không nghe là thiếp bỏ đi đấy.

Lang nghe theo nhưng chốc lát lại quên lời nàng, cất tiếng ngâm đọc.

Giây lát ngoái tìm cô gái thì đã biến mất, hoảng hốt quỳ xuống cầu khấn nhưng vẫn không thấy đâu.

Chợt nhớ tới nơi ẩn náu cũ của nàng, mở sách Hán thư kiểm kỹ lại, tới chỗ cũ quả tìm thấy.

Gọi mãi vẫn không động, Lang quỳ xuống năn nỉ nàng mới bước ra, nói:

- Chàng còn trái lời thiếp thì quyết sẽ vĩnh biệt.

Rồi lấy bàn cờ cỗ bài ra hàng ngày cùng chơi, nhưng Lang không thích thú gì, cứ vắng nàng lại giở trộm sách ra đọc, sợ bị nàng biết nên ngầm cất quyển tám sách Hán thư vào chỗ khác để nàng không tìm thấy.

Một hôm đang đọc say sưa thì cô gái tới, cho rằng nàng không biết, vội gấp sách lại thì nàng đã biến mất.

Lang cả sợ, lục soát khắp sách vở không thấy, tới quyển tám sách Hán thư tới đúng trang cũ lại thấy, bèn lạy lục khấn khứa thề không đọc sách nữa.

Cô gái bèn bước ra bắt cùng đánh cờ, nói:

- Nếu ba ngày đánh không khá thiếp sẽ đi đấy.

Đến ngày thứ ba chợt một ván Lang thắng nàng hai quân, nàng bèn vui vẻ trao đàn bắt tập, hẹn năm ngày phải chơi được một khúc.

Lang lo nhìn dây bấm phím, không rảnh mà nghĩ tới chuyện khác, lâu sau thì đã đàn đúng tiết tấu giai điệu, bất giác mừng rỡ múa lên.

Cô gái bèn hàng ngày rủ uống rượu đánh bài, Lang vui thích quên cả việc đọc sách, nàng lại bảo ra ngoài kết bạn, vì vậy bỗng nhiên nổi tiếng sành đời.

Cô gái nói:

- Chàng có thể thi đỗ làm quan rồi!

Một đêm Lang nói với cô gái:

- Phàm người ta nam nữ ở chung sẽ sinh con, nay ta với nàng ăn ở đã lâu mà sao không thấy gì cả?

Cô gái cười nói:

- Chàng hàng ngày đọc sách, thiếp đã nói là vô ích, nay quả chưa hiểu nổi một chương “chồng vợ”.

Hai chữ “gối chăn” cũng có công phu chứ.”

Lang kinh ngạc hỏi công phu gì, nàng cười không nói.

Lát sau ngầm bày vẽ, Lang thích lắm nói:

- Ta không nghĩ rằng cái lạc thú vợ chồng lại có chỗ không nói rộng ra được.

Từ đó gặp người ta là kể, ai cũng che miệng cười.

Cô gái biết được trách móc, Lang nói:

- Kẻ khoét ngạch trèo tường mới không dám kể ra, chứ cái lạc thú trong đạo thiên luân thì ai cũng thế, có gì mà kiêng kỵ.

Qua tám chín tháng cô gái quả sinh một trai, thuê vú nuôi trông nom.

Một hôm nàng nói với Lang:

- Thiếp theo chàng hai năm đã sinh con, có thể chia tay rồi, ở lâu sợ gây tai họa cho chàng, hối hận không kịp.

Lang nghe nói khóc ròng, lạy phục xuống không đứng lên, nói:

- Nàng không nghĩ tới đứa nhỏ oa oa sao?

Cô gái cũng buồn rầu, hồi lâu mới nói:

- Nếu muốn thiếp ở lại thì phải phá tán hết sách vở đi.

Lang nói:

- Đó là quê cũ của nàng, là tính mệnh của ta, sao nàng lại nói thế.

Cô gái không ép, nói:

- Thiếp cũng biết là có số mệnh, nhưng không thể không báo trước.

Trước đây trong họ Lang có người nhìn thấy cô gái ai cũng giật mình, lại chưa thấy mai mối với nhà nào nên cùng cật vấn.

Lang không biết nói dối nên cứ im lặng không đáp, mọi người càng ngờ vực, lời đồn đại dần tới quan huyện họ Sử.

Sử người đất Mân (tỉnh Phúc Kiến), xuất thân Tiến sĩ, nghe chuyện động lòng muốn được thấy mặt người đẹp một lần bèn sai bắt Lang và cô gái.

Cô gái nghe tin bỏ trốn biệt tích, quan huyện tức giận bắt Lang lột hết quần áo, cùm kẹp tàn nhẫn, mong cô gái sẽ tự tới.

Lang gần chết vẫn không nói một lời, quan tra tấn đứa tỳ nữ, nó nói ra vài chuyện loáng thoáng.

Quan cho là yêu quái bèn đích thân tới nhà Lang khám xét, thấy sách vở chất đầy nhà nhiều không kiểm xuể liền ra lệnh đốt, khói kết lại trước sân không tan, mờ mịt như mây mù.

Sau Lang được tha, xin được thư người học trò cũ của cha nên lấy lại được áo mũ nho sinh, năm ấy thì đỗ Cử nhân, năm sau đỗ Tiến sĩ.

Nhưng trong lòng chứa chất căm hận, lập bài vị thờ Nhan Như Ngọc, sớm chiều khấn rằng:

- Nàng có khôn thiêng xin phù hộ cho ta được làm quan đất Mân.

Sau quả được cử đi Tuần sát đất Mân, ở lại ba tháng tra hỏi các tội ác của Sử, tịch biên gia sản.

Lúc ấy Sử có người anh em họ ngoại làm quan Tư lý đòi cưới ái thiếp, Sử nói thác là mua tỳ nữ gởi lại trong dinh.

Khi vụ án kết thúc, Lang lập tức trở về, đưa cả người ấy theo.

_________________________________

CHƯƠNG 74: TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH

Ngụ Ngôn Bát Cửu Bản Khâu Ông

Lưu Tục Tương Truyền Bái Ngộ Không

Nhất Tự Hồi Sinh Thi Pháp Lực

Tiếu Quân Cương Trực Dịch Sơ Trung

Dịch:

Ngụ Ngôn Hầu Hết Tự Khâu Ông

Thế Tục Lưu Truyền Bái Ngộ Không

Một Tự Hồi Sinh Dùng Pháp Lực

Cười Ai Cương Trực Đã Siêu Lòng



Hứa Thịnh người đất Duyện (tỉnh Trực Lệ) theo anh là Thành đi buôn bán tới đất Mân (tỉnh Phúc Kiến).

Còn chưa cất hàng xong thì có người khách nói:

- Đại Thánh thiêng lắm, hãy tới đền cầu khẩn.

Thịnh chưa biết Đại Thánh là thần nào bèn theo anh tới đó, vào thấy điện gác san sát nối nhau vô cùng tráng lệ đẹp đẽ.

Vào điện cúng bái thấy tượng thần mình người đầu khỉ, té ra là Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không, khách khứa đều kính cẩn vái lạy, không ai dám tỏ vẻ khinh nhờn.

Thịnh vốn cương trực, cười thầm người đời ngu muội nên lúc mọi người thắp hương khấn khứa thì ngầm bỏ ra.

Về tới nhà trọ, anh trách Thịnh không kính cẩn, Thịnh nói:

- Tôn Ngộ Không là truyện ngụ ngôn của ông Khưu đặt ra, sao lại tin là có thật như thế?

Mà giả như có thật thì bao nhiêu búa rìu sấm sét em xin chịu cả.

*[Ông Khưu: tức Khưu Xử Cơ, người cuối thời Tống đầu thời Nguyên, đệ tử của Vương Trùng Dương phái Toàn Chân Đạo giáo, có đạo hiệu là Trường Xuân tử, được Thành Cát Tư Hãn mời qua Mông Cổ, có viết quyển Trường Xuân chân nhân Tây du ký.

Nhân vật Hứa Thịnh trong truyện này lầm Tây du ký của Khưu Xử Cơ với Tây du ký của Thi Nại Am kể chuyện Huyền Trang thỉnh kinh.]

Chủ quán trọ nghe gọi tên Đại Thánh thì xua tay tái mặt như sợ Đại Thánh nghe được, Thịnh thấy thế càng bô bô nói ầm lên, ai nghe thấy cũng bịt tai bỏ chạy.

Đến đêm quả nhiên Thịnh bị bệnh, đầu nhức như búa bổ, có người khuyên tới đền tạ lỗi nhưng Thịnh không nghe.

Không bao lâu thì đầu đỡ đau nhưng đùi lại nhức, qua đêm thì mọc một cái mụn nhọt lớn, cả chân đều lở lói, không ăn ngủ gì được, anh tới đền cầu khẩn thay nhưng không hiệu nghiệm.

Có người nói thần phạt thì phải tự mình cầu khẩn, Thịnh rốt lại vẫn không tin, hơn một tháng thì những chỗ lở lành dần nhưng lại nảy ra một cái mụn nhọt khác đau nhức gấp bội.

Thầy thuốc tới lấy dao cắt bỏ những chỗ thịt thối, máu chảy cả tô nhưng sợ người ta nói bị thần phạt nên cắn răng không rên rỉ.

Hơn tháng sau mới bình phục nhưng anh lại mắc bệnh nặng.

Thịnh nói:

- Thế nào nào?

Người kính thần cũng bị bệnh như vậy, đủ thấy là bệnh của ta chứ không phải do Ngộ Không.

Anh nghe thế rất bực tức, trách em không đi cầu khấn cho mình.

Thịnh nói:

- Anh em như chân tay, trước đây em chân tay lở lói còn không chịu đi cầu khấn, nay chẳng lẽ chân tay có bệnh mà đổi ý à?

Rồi chỉ rước thầy cắt thuốc chứ không chịu đi cầu đảo.

Anh uống thuốc xong thì lăn ra chết, Thịnh đau đớn uất ức trong lòng, mua quan tài liệm anh xong tới thẳng đền Đại Thánh chỉ lên tượng thần kể tội, nói:

- Anh ta bị bệnh, nói là do người giận lây khiến ta không sao bày tỏ được, nếu như ngươi là thần thật cứ làm cho anh ta sống lại, ta sẽ lạy thờ làm sư phụ không dám nói gì khác, nếu không ta sẽ theo đúng cách ngươi đối xử với Tam Thanh mà đối xử với ngươi, cũng có thể trút hờn cho anh ta nơi chín suối.

*[Tây du ký kể Tôn Ngộ Không bảo hộ Tam Tạng đi lấy kinh tới nước Xa Trì, vua quan nước ấy trọng Đạo khinh Phật, Ngộ Không cùng Bát Giới, Sa Tăng nửa đêm lẻn vào nơi cúng Tam Thanh (tức Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thái Thượng Lão Quân, Linh Bảo Đạo Quân của Đạo giáo Trung Hoa) đem tượng Tam Thanh vứt vào nhà xí rồi hóa thành tượng Tam Thanh ăn uống.

Đây nhân vật Hứa Thịnh có ý nói sẽ quăng tượng Tề Thiên Đại Thánh vào nhà xí].

Đến đêm Thịnh nằm mơ thấy một người tới gọi đi, vào đền Đại Thánh, ngẩng lên thấy Đại Thánh lộ vẻ giận dữ quát mắng:

- Vì ngươi không chịu phục nên ta mới lấy đao của Bồ Tát xuyên qua chân ngươi, đã không biết tự hối lại còn ăn nói lằng nhằng.

Lẽ ra ta đã tống ngươi xuống ngục, rút lưỡi dưới âm ty, nhưng nghĩ ngươi nhất sinh ngay thẳng nên mới tạm tha cho.

Còn như anh ngươi bệnh thì vì ngươi rước gã lang băm về làm giảm tuổi thọ, chứ người khác dính líu gì vào đó?

Nay mà ta không tạm thi triển chút ít pháp lực thì bọn ngông cuồng còn chưa chịu im mồm.

Rồi sai Thanh y sứ tới xin Diêm Vương, Thanh y sứ nói:

- Sau ba ngày thì danh sách ma quỷ đã báo lên Thiên đình, sợ Diêm Vương khó mà tha được.

Đại Thánh bèn rút thiết bảng làm bút viết những gì không biết, rồi bảo Thanh y sứ cầm thư tới Diêm Vương.

Hồi lâu Thanh y sứ trở về, Thành cũng theo về, vào quỳ xuống lạy tạ.

Đại Thánh hỏi sao chậm thế, Thanh y sứ bẩm:

- Diêm Vương không dám tự chuyên, cầm lệnh chỉ của Đại Thánh lên báo với Bắc Đẩu vì thế nên về chậm.

Thịnh rảo bước lên vái lạy tạ ơn, Đại Thánh nói:

- Đưa anh ngươi về ngay đi, nếu biết theo điều thiện thì ta sẽ ban phúc cho.

Anh em vừa mừng vừa tủi dắt nhau cùng về.

*[Bắc Đẩu: Tây du ký chép trên trời có hai tòa Nam Tào Bắc Đẩu coi sổ sách ghi việc sống chết của muôn vật, Nam Tào coi sổ sinh, Bắc Đẩu coi sổ tử.]

Thịnh tỉnh dậy lấy làm lạ, vội tới mở quan tài ra xem thì quả anh đã sống lại bèn đỡ ra, hết sức cảm tạ pháp lực Đại Thánh.

Thịnh từ đó dốc lòng tin tưởng thờ phụng còn hơn cả người thường.

Nhưng vốn liếng của hai anh em vì mắc bệnh đã hao mất một nửa, anh lại chưa thật khỏe, hai anh em cứ nhìn nhau buồn bã.

Một hôm Thịnh ngẫu nhiên đi dạo ngoài thành, chợt gặp một người áo xám nhìn mình hỏi:

- Anh có chuyện gì lo lắng à?

Thịnh đang buồn rầu không biết nói với ai, bèn kể nhĩmg chuyện mình gặp.

Người áo xám nói:

- Có một nơi phong cảnh rất đẹp, cứ tạm tới ngắm xem cũng đủ giải sầu.

Hỏi ở đâu, người ấy chỉ nói không xa, Thịnh bèn đi theo.

Ra khỏi thành khoảng nửa dặm, người áo xám nói:

- Ta có thuật mọn, trong khoảnh khắc có thể tới nơi.

Rồi bảo Thịnh ôm lưng mình, khẽ gật đầu một cái chợt có mây đùn lên dưới chân, nhảy vọt lên trên không biết là đi bao xa.

Thịnh cả sợ nhắm mắt không dám mở ra, trong khoảnh khắc nghe người ấy nói:

- Tới rồi!

Thịnh thấy thành quách trong vắt đủ màu sắc rực rỡ lạ lùng, kinh ngạc hỏi đây là nơi nào.

Người ấy đáp:

- Đây là thiên cung!

Rồi rảo bước đi vào, càng đi càng lên cao, xa xa thấy một ông già, người áo xám mừng rỡ nói:

- Gặp được người này thì anh có phúc lắm.

Rồi giơ tay vái chào.

Ông già mời vào nhà, pha trà mời khách nhưng chỉ bưng ra có hai chén chứ không nhìn ngó gì tới Thịnh.

Người áo xám nói:

- Đây là đệ tử của ta, đi buôn bán ngàn dặm tới thăm tiên cung, xin ông tặng cho chút quà.

Ông già sai tiểu đồng lấy ra một mâm đá trắng to bằng trứng chim sẻ, sáng loáng như băng, bảo Thịnh tự nhặt lấy.

Thịnh nghĩ cầm về có thể làm tửu lệnh uống rượu, bèn lấy sáu viên, người áo xám cho rằng quá ít bèn lấy thêm cho sáu viên nữa, đưa cả cho Thịnh bảo cất vào túi rồi chắp tay nói:

- Đủ rồi!

Thịnh từ biệt ông già đi ra, người áo xám lại bảo bám vào mình rồi bay xuống, chốc lát đã tới mặt đất.

Thịnh dập đầu thỉnh giáo tiên danh, người áo xám cười nói:

- Phép thuật đi trên mây vừa rồi gọi là Cân đẩu vân đấy.

Thịnh giật mình hiểu ra là Đại Thánh, lại cầu xin giúp đỡ.

Đại Thánh nói:

- Vừa rồi là gặp Tài tinh, cho ngươi được lãi mười hai phần, còn muốn gì nữa.

*[Cân đẩu vân: Tây du ký chép Tôn Ngộ Không có phép Cân đẩu vân, uốn lưng một cái đã vượt được mười vạn tám ngàn dặm đường].

Thịnh lạy tạ, đứng lên nhìn thì Đại Thánh đã biến mất.

Thịnh trở về mừng rỡ kể lại với anh, cởi túi ra nhìn thì đá đã lặn cả vào thắt lưng rồi.

Về sau cất hàng trở về, được lãi rất nhiều, từ đó cứ tới buôn bán ở đất Mân là vào đền khấn vái Đại Thánh, người khác khẩn cầu có khi không hiệu nghiệm chứ Thịnh khẩn cầu thì điều gì cũng ứng nghiệm.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 75+76


CHƯƠNG 75: THANH OA THẦN

THẦN CHẪU

Bất Ý Thanh Hoa Diệc Hiệu Thần

Lang Tình Huyến Bạc, Thiếp Tình Chân

Tính Thành Hiệu Nộ Do Năng Giải

Sai Thắng Sơ Chung Hổ Át Nhân

Dịch:

Chẳng Chuộc Dè Dâu Cũng Gọi Thần

Chàng Tình Bạc Bẽo, Thiếp Tình Chân

Thực Thà Hay Giận Còn Mong Giải

Chung Thủy Cần Sao Trọn Ái Ân



Vùng Giang Hán thờ cúng thần ếch rất kính cẩn, trong đền không biết là bao nhiêu ngàn vạn con ếch, có con to bằng cái lồng.

Có ai xúc phạm làm thần giận thì trong nhà liền có điềm lạ, ếch nhái nhảy cả lên bàn lên giường, thậm chí bám đầy trên vách không rơi xuống, nhà ấy sẽ gặp tai họa.

Người ta sợ hãi cứ cúng tế cầu khẩn, nếu thần vui lòng thì khỏi.

Đất Sở (tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc) có Tiết Côn Sinh lúc nhỏ thông minh, diện mạo tuấn tú.

Năm lên sáu bảy tuổi có bà già áo xanh tới nhà tự xưng là sứ giả của thần, vào ngồi trò chuyện ngỏ ý thần muốn gả con gái cho Côn Sinh.

Ông Tiết tính chất phác vụng về nghe thế rất không thích, liền lấy cớ con trai còn nhỏ để từ chối, nhưng tuy cố từ chối vẫn chưa dám hỏi cưới con gái nhà khác.

Được vài năm Côn Sinh dần lớn lên, dạm hỏi con gái họ Khương, thần nói với Khương:

- Tiết Côn Sinh là con rể của ta, sao ngươi dám ăn đồ cúng hả?

Khương sợ hãi trả lại sính lễ, ông Tiết lo lắng trai giới mang lễ vật ra đền khấn khứa, tự nói không dám kết thông gia với thần.

Vừa khấn xong thì thấy cỗ bàn cúng tế đều có giòi lớn bò ra lúc nhúc cựa quậy, bèn đổ bỏ tạ tội rồi về, trong lòng càng sợ nhưng cũng chờ để nghe ngóng xem sao.

Một hôm Côn Sinh đi đường có sứ giả đón báo thần tuyên triệu, cố mời ghé lại, sinh bất đắc dĩ phải đi theo.

Vào tới một phủ đệ cánh cổng sơn son, lầu gác hoa lệ, có ông già ngồi trên sảnh đường, trông như người bảy tám mươi tuổi.

Côn Sinh vào lạy ra mắt, ông già sai kéo đứng lên, cho ngồi cạnh bàn.

Giây lát đám tỳ nữ, vú già tụ tập lại nhìn ngó dày đặc chung quanh, ông già quay lại nói:

- Vào trong báo là Tiết lang tới!

Mấy người tỳ nữ chạy đi, lát sau có bà già đỡ một nữ lang ra, khoảng mười sáu mười bảy tuổi, xinh đẹp vô song.

Ông già chỉ nàng nói:

- Đây là tiểu nữ tên Thập Nương, ta tự cho rằng có thể sánh đôi với chàng, nhưng cha chàng lại cho là khác loài nên cự tuyệt, vậy thì do chàng thôi.

Côn Sinh chăm chú nhìn Thập Nương, trong lòng yêu thích, im lặng không nói gì.

Bà già nói:

- Ta đã biết là chàng ưng thuận, xin cứ về trước, sẽ lập tức đưa Thập Nương tới ngay.

Côn Sinh vâng dạ rồi vội về kể với cha.

Cha hốt hoảng không biết làm sao đành ưng thuận, sai con quay lại tạ ơn thần nhưng Côn Sinh không chịu đi.

Đang lời qua tiếng lại thì kiệu hoa đã tới ngoài cổng, cả đám tỳ nữ xúm xít đưa Thập Nương vào.

Nàng lên sảnh đường làm lễ, cha mẹ chồng thấy mặt đều vui mừng.

Ngay đêm ấy làm lễ hợp cẩn, cầm sắt rất hòa hợp.

Từ đó vợ chồng thần thường giáng lâm nhà sinh, cứ thấy mặc áo đỏ là có tin vui, mặc áo tràng là có tiền bạc, vì vậy nhà ngày càng khá giả.

Từ khi Côn Sinh cưới Thập Nương thì khắp nhà từ hàng rào đến cầu xí đều có ếch, mọi người không ai dám chửi bới giẫm đạp, chỉ có Côn Sinh tuổi trẻ ngông nghênh, vui thì thôi giận thì đạp cho chết chẳng thương xót gì lắm.

Thập Nương tuy hiền lành nhu thuận nhưng hay giận, rất không thích việc ấy song Côn Sinh không vì có Thập Nương mà kiềm chế.

Thập Nương bực tức nói năng có chỗ xúc phạm, Côn Sinh nổi giận nói:

- Ngươi cậy cha mẹ có thể gieo tai họa cho người ta à?

Trượng phu có sợ gì con ếch?

Thập Nương nghe thế giận lắm, nói:

- Từ khi thiếp về đây thì nhà chàng ruộng thêm lúa, buôn thêm lời không phải là ít, nay cả nhà già trẻ đều được no ấm, lại như chim vọ mọc cánh rồi thì muốn mổ mắt chim mẹ sao?

Côn Sinh càng tức tối, nói:

- Ta đang ngại nhận thêm những thứ nhơ bẩn, không dám lưu lại cho con cháu, xin cứ chia tay cho sớm.

Rồi đuổi Thập Nương.

Cha mẹ vừa nghe tin thì Thập Nương đã đi rồi, bèn quát mắng Côn Sinh, sai mau đuổi theo giữ lại nhưng Côn Sinh căm tức không chịu.

Đến đêm mẹ con đều ngã bệnh, trong người bứt rứt không ăn uống gì được.

Ông Tiết sợ hãi tự mang roi tới đền thần tạ lỗi, thiết tha nài nỉ.

Qua ba ngày thì hai người dần dần khỏi bệnh, Thập Nương tự quay về, vợ chồng lại đầm ấm như trước.

Thập Nương hàng ngày cứ trang điểm xong là ngồi yên, không làm việc nội trợ, những áo quần giày tất của Côn Sinh đều nhờ mẹ khâu vá.

Một hôm mẹ bực tức nói:

- Con trai đã có vợ còn làm phiền mẹ, nhà người ta thì con dâu hầu mẹ chồng, nhà này thì mẹ chồng hầu con dâu.

Thập Nương nghe thấy tức tối lên thêm nói:

- Con buổi sớm tới thăm, buổi tối tới viếng, đạo thờ mẹ chồng còn gì khác nữa?

Còn như việc con kém cỏi, thì thật không thể tiếc chút tiền thuê mướn mà chuốc khổ vào thân được.

Mẹ không biết nói sao, hổ thẹn khóc lóc.

Côn Sinh vào thấy mắt mẹ có ngấn lệ, hỏi biết được chuyện giận dữ mắng Thập Nương, Thập Nương cứ giữ ý mình không chịu thua.

Côn Sinh nói:

- Lấy vợ mà không được vui sướng thì chẳng bằng đừng có, cho dù làm con ếch già giận thì bất quá cũng chỉ gặp nạn dữ mà chết là cùng.

Lại đuổi Thập Nương, Thập Nương ra cửa đi thẳng.

Hôm sau nhà Côn Sinh phát hỏa, lửa lan ra cháy rụi cả mấy gian, bàn ghế giường tủ đều thành tro.

Côn Sinh tức giận tới đền thần quát mắng kể tội, nói:

- Nuôi con gái không thờ phụng được cha mẹ chồng, đã không dạy bảo gì mà lại còn bao che cái dở của con, thần là phải rất công bằng mà lại dạy người ta sợ vợ à?

Vả lại việc bát đũa va chạm là do ta gây ra, không dính líu gì tới cha mẹ, muốn đâm chém cưa xẻ gì cứ nhằm vào ta thôi.

Còn nếu không thế thì ta cũng đốt đền của ông để trả thù.

Nói xong vác củi vào chất dưới điện định châm lửa, dân quanh đó xúm lại năn nỉ mới tức tối bỏ về, cha mẹ nghe được đều sợ tái mặt.

Đến đêm thần báo mộng cho thôn bên cạnh, sai cất lại nhà cho con rể, sáng ra thì kẻ mua gỗ người mướn thợ kéo tới làm nhà cho Côn Sinh, từ chối thế nào họ cũng không chịu thôi, hàng ngày có mấy trăm người gọi nhau trên đường.

Không mấy ngày thì nhà cửa đều xây xong, mọi thứ đồ dùng đều đầy đủ.

Vừa dọn dẹp đâu đấy thì Thập Nương đã tới, lên thềm tạ lỗi với cha mẹ, ăn nói nhỏ nhẹ từ tốn rồi quay qua Côn Sinh tươi cười cả nhà bèn đổi oán làm vui.

Từ đó Thập Nương càng hiền dịu, suốt hai năm không có chuyện xích mích.

Thập Nương rất ghét rắn, Côn Sinh đùa bắt một con rắn nhỏ bỏ vào hộp bảo nàng mở ra.

Thập Nương biến sắc mắng nhiếc, Côn Sinh cũng đổi cười thành giận tức tối cãi vã, Thập Nương nói:

- Lần này thì không cần phải đuổi, xin vĩnh biệt từ đây.

Rồi ra cửa đi.

Ông Tiết cả sợ đánh đòn Côn Sinh rồi tới tạ tội với thần, may mà không bị giáng họa nhưng cũng lặng ngắt không thấy đáp lại.

Hơn năm sau Côn Sinh nhớ Thập Nương, vô cùng hối hận, lén tới chỗ thần năn nỉ Thập Nương nhưng không ai trả lời.

Không bao lâu nghe tin thần gả Thập Nương cho họ Viên, vô cùng thất vọng, cũng dạm hỏi người khác nhưng xem mặt mấy đám đều không có ai bằng Thập Nương, vì vậy càng thêm nhớ nhung.

Tới nhà họ Viên nghe ngóng thì thấy họ đang quét dọn nhà cửa, sửa sang xe kiệu chuẩn bị đám cưới.

Trong lòng thẹn thùng uất ức không thể tự chủ, bỏ ăn ngã bệnh, cha mẹ hoảng sợ lo lắng nhưng không biết làm sao.

Chợt đang lúc mê man thấy có người vỗ về lay gọi, nói:

- Đại trượng phu mấy lần muốn dứt tình mà như thế này sao?

Mở mắt nhìn thì là Thập Nương.

Côn Sinh mừng quýnh nhảy bật dậy hỏi:

- Sao nàng lại tới đây?"

Thập Nương đáp:

- Vì gã khinh bạc đối xử với nhau tệ bạc, chỉ nên nghe lời cha mẹ mà lấy người khác nên từ lâu đã nhận sính lễ của nhà họ Viên, có điều thiếp nghĩ đi nghĩ lại cũng không nỡ.

Đêm nay đã là ngày cưới, cha lại cho rằng không mặt mũi nào trả lại sính lễ nên đích thân thiếp đem tới trả.

Lúc đi cha thiếp đưa ra cửa nói: 'Con nhãi ngây không nghe lời ta, sau này có bị nhà họ Tiết đối xử tàn tệ thì có chết cũng đừng về đây nữa'.

Côn Sinh cảm vì tình nghĩa của nàng chảy nước mắt ròng ròng, gia nhân cùng mừng rỡ chạy đi báo cho ông bà hay.

Bà Tiết nghe tin không chờ nàng qua chào, vội tới phòng con trai nắm tay nàng òa khóc.

Từ đó Côn Sinh cũng trở nên đứng đắn không đùa ác nữa, vợ chồng vì thế càng yêu thương nhau.

Thập Nương nói:

- Trước đây thiếp cho rằng chàng là người khinh bạc, chưa chắc đã sống được với nhau đến lúc bạc đầu nên không dám lưu lại con cái nơi trần thế.

Nay chàng đã không có ý khác, thiếp sẽ sinh con trai.

Không bao lâu vợ chồng thần mặc áo đỏ giáng lâm nhà sinh, hôm sau Thập Nương lâm bồn, sinh một lần được hai con trai, từ đó hai bên đi lại không dứt.

Dân quanh vùng nếu có ai xúc phạm làm thần giận cứ tới năn nỉ với Côn Sinh trước, sai đàn bà ăn mặc đẹp đẽ vào phòng vái lạy Thập Nương, nếu nàng cười thì được thần tha tội.

Con cháu họ Tiết rất đông, người ta gọi là nhà Tiết ếch, nhưng người ở gần không dám gọi thế, chỉ có người ở xa gọi mà thôi.

__________________________________

CHƯƠNG 76: VÃN HÀ

Vô Đoan Ảo Xuất Không Hư Cảnh

Bổ Đắc Tình Thiên Ly Hận Đa

Tất Cánh Long Cung Hà Xứ Thị

Cử Nhiên Tuyển Vũ Hựu Trưng Ca?

Dịch:

Bỗng Cảnh Không Hư Ảo Hóa Ra

Biển Tình Ly Hận Lắng Phong Ba

Long Cung Này Ở Nơi Nao Nhỉ

Mà Lại Công Nhiên Tuyển Vũ Ca?



Tiết Đoan ngọ ở vùng Ngô Việt có trò đua thuyền rồng.

Người ta chạm gỗ làm thuyền hình con rồng, vảy rồng sơn son thếp vàng, mạn thuyền đều chạm trổ, lấy gấm thêu làm buồm.

Cuối thuyền là đuôi rồng, cao hơn một trượng, dùng dây vải kết làm sạp, có đứa con trai nhỏ ngồi trên đó múa may nhảy nhót diễn các trò khéo, bên dưới là sông sâu rất nguy hiểm.

Cho nên thuê đứa trẻ ấy thường đưa nhiều tiền cho cha mẹ trước để dạy nó luyện tập, nếu rơi xuống nước chết cũng không được oán hận.

Ở vùng Ngô Môn (Tô Châu) thì cho các ca kỹ xinh đẹp đứng trên đuôi thuyền múa hát, cũng có khác nhau.

Ở huyện Trấn Giang (tỉnh Giang Tô) có đứa nhỏ họ Tưởng tên A Đoan, mới bảy tuổi đã giỏi diễn những trò khéo không ai hơn được hết nên rất nổi tiếng.

Năm mười sáu tuổi người ta vẫn còn thuê, nhưng thuyền đua tới núi Kim Sơn thì rơi xuống nước chết đuối, bà Tưởng chỉ có đứa con ấy nhưng cũng đành đau xót khóc lóc mà thôi.

A Đoan không biết mình đã chết, được hai người tới dẫn đi, thấy dưới nước cũng có một cõi trời đất riêng, ngoái nhìn thì thấy sóng nước vây quanh cao như vách núi.

Chợt có cung điện hiện ra, thấy một người mặc giáp trụ ngồi trên điện, hai người kia nói:

- Đó là Long Oa quân!

Rồi bảo A Đoan vái lạy.

Long Oa quân vẻ mặt ôn hòa vui vẻ nói:

- Tài khéo có thể cho vào ban Liễu Điều.

Hai người bèn dẫn A Đoan tới một chỗ bốn phía cung điện rộng rãi.

Rảo bước lên hành lang phía đông thì có một bọn thiếu niên ra chào hỏi, đều khoảng mười ba mười bốn tuổi, kế có một bà già tới, mọi người gọi là bà Giải, lên ngồi sai diễn trò thử.

Kế bèn dạy điệu múa Sấm ran sông Tiền Đường và khúc nhạc Gió dịu hồ Động Đình, chỉ nghe chiêng trống ầm ầm vang rền các cung điện.

Khi tiếng chiêng trống đã tắt, bà già sợ A Đoan không thể nhớ hết, cứ dặn đi dặn lại.

Nhưng A Đoan học qua một lần đã hiểu rõ cả, bà già mừng rỡ nói:

- Được thằng nhỏ này thật chẳng thua kém gì A Hà.

Hôm sau Long Oa quân tổng duyệt các ban ca vũ, các ban đều tập hợp cả lại.

Đầu tiên duyệt ban Dạ Xoa, đều là mặt quỷ áo da cá, chiêng lớn chu vi khoảng bốn thước, trống thì khoảng bốn người ôm, tiếng như sấm sét, có gào thét cũng không nghe thấy gì.

Ban ấy vừa múa thì sóng lớn nổi cuồn cuộn dâng lên ngang trời, liền có một điểm tinh quang trên trời sa xuống, tới đất thì tắt, Long Oa quân vội sai dừng lại.

Sai ban Khổng Oanh ra, đều là mỹ nhân mười sáu tuổi thổi sinh gõ phách dìu dặt, liền có gió mát hây hây, tiếng sóng tắt hẳn, mặt nước êm ả trong suốt như một cõi pha lê nhìn rõ cả trên dưới, diễn xong thì đều lui vào đứng dưới thềm phía tây.

Kế tới ban Yến Tử, đều kết bím tóc rũ xuống, trong có một nữ lang tuổi khoảng mười bốn mười lăm trở lại rung tay áo nghiêng búi tóc múa điệu Rắc hoa chập chờn qua lại, trên khắp người tung ra những đóa hoa ngũ sắc theo gió lả tả rụng xuống rải khắp trên sân, múa xong thì theo ban cũng lui vào dưới thềm phía tây.

A Đoan đứng bên cạnh nhìn trong lòng ưa thích, hỏi người cùng ban thì nàng ấy là Vãn Hà.

Không bao lâu lại gọi tới ban Liễu Điều, Long Oa quân đặc biệt thử tài một mình A Đoan.

Đoan liền múa theo điệu đã được dạy, vẻ vui mừng giận dữ hiện ra theo điệu nhạc, lui tới qua lại ăn khớp với tiết tấu, Long Oa quân khen là sáng dạ, thưởng cho nhung phục ngũ sắc và trâm cài đầu hình cá trên khảm ngọc dạ quang.

A Đoan vái lạy tạ ơn rồi cũng rảo bước về thềm phía tây đứng vào ban.

Đoan đứng giữa đám đông cứ nhìn Vãn Hà chằm chằm.

Vãn Hà cũng từ xa chăm chú nhìn lại.

Giây lát Đoan theo ban từ từ đi về phía bắc, Vãn Hà cũng thong thả theo ban đi về phía nam, cách nhau có mấy quãng đường phép nghiêm không dám làm rối loạn hàng ngũ, chỉ nhìn nhau ngây ngất mà thôi.

Kế duyệt tới ban Giáp Điệp, đều là đồng nam đồng nữ từng cặp ra múa, đứa cao đứa thấp, đứa lớn đứa nhỏ nhưng đều mặc áo quần màu trắng màu vàng một loạt như nhau.

Các ban duyệt xong xếp hàng đi ra, ban Liễu Điều đi sau ban Yến Tử, Đoan rảo bước lên phía trên thì Vãn Hà đã thong thả lui về phía cuối, ngoảnh lại nhìn Đoan rồi cố ý đánh rơi chiếc trâm bằng san hô, Đoan vội nhặt lấy cho vào tay áo.

Về tới chỗ ở tơ tưởng thành bệnh bỏ ăn bỏ ngủ, bà Giải cứ mang thức ăn ngon tới cho, mỗi ngày ba bốn lần vào thăm hỏi, chăm sóc rất ân cần mà bệnh vẫn không hề giảm.

Bà Giải lo lắng không biết làm sao, nói:

- Đã sắp đến ngày mừng thọ của Ngô Giang vương, làm sao bây giờ?

Chiều tối có một đồng tử tới vào ngồi bên giường trên chuyện với Đoan, tự nói là trong ban Giáp Điệp rồi thong thả hỏi:

- Anh bệnh vì Vãn Hà phải không?

Đoan giật mình hỏi sao biết, nó cười đáp:

- Chị Vãn Hà cũng như anh thôi.

Đoan buồn rầu ngồi dậy nhờ tìm cách giúp cho, đồng tử hỏi:

- Anh đi được không?

Đoan đáp :

- Cố gắng thì cũng được!

Đồng tử bèn kéo Đoan ra, đi về phía nam, qua một cánh cửa thì vòng qua phía tây, lại mở hai lần cửa nữa thì thấy mấy mươi mẫu sen mọc trên đất bằng, tàu lá to như cái chiếu, cánh hoa to như cái lọng, đài hoa rụng xuống đất chất cao cả thước.

Đồng tử dẫn Đoan vào đó, nói:

- Cứ ngồi tạm ở đây!

Rồi đi.

Giây lát một mỹ nhân rẽ hoa sen bước vào, thì là Vãn Hà.

Hai nguời gặp nhau vừa mừng vừa sợ, cùng kể lể nỗi nhớ nhung rồi thuật qua chuyện mình.

Kế lấy lá dằn lên lá sen che kín lại, vun đài hoa rụng làm chiếu rồi vui vẻ ân ái với nhau, kế hẹn chiều hôm sau gặp lại rồi chia tay.

Đoan về thì bệnh cũng giảm từ đó ngày nào hai người cũng gặp nhau ở bãi sen.

Qua vài hôm thì theo Long Oa quân tới chúc thọ Ngô Giang vương, chúc thọ xong các ban đều về, chỉ còn Vãn Hà và một người trong ban Khổng Oanh ở lại dạy múa trong cung Ngô Giang vương, vài tháng không có tin tức gì.

Đoan sốt ruột trông ngóng, thì có bà Giải hàng ngày lui tới phủ Ngô Giang vương, bèn bịa rằng Vãn Hà là em họ ngoại của mình, xin bà dẫn đi thăm mong được gặp mặt một lần.

Nhưng ở lại trong phủ Ngô Giang vương mấy ngày mà cung cấm thâm nghiêm, Vãn Hà lại không sao ra được đành rầu rĩ trở về, hơn một tháng thì nhớ nhung mỏi mòn sắp chết.

Một hôm bà Giải vào, đau xót chia buồn nói:

- Tiếc thay, Vãn Hà nhảy xuống sông tự tử rồi.

Đoan kinh sợ chảy nước mắt ròng ròng không sao cầm được, vứt mũ xé áo mang vàng ngọc bỏ ra, định chết theo Vãn Hà, nhưng thấy nước trong sông như bức vách, ra sức lấy đầu húc mà vẫn không vào được cũng muốn quay về song sợ bị hỏi tới mũ áo tội sẽ nặng thêm, trong lòng quẫn bách, mồ hôi toát ra khắp người.

Chợt thấy trên vách sóng có một cây đại thụ bèn bám vào trèo lên, dần dần lên tới ngọn cây rồi hết sức nhảy xuống, may không bị ướt mà thấy mình nổi trên mặt nước.

Trong lúc bất ngờ lại chợt thấy cõi trần, bèn bì bõm bơi đi.

Giây lát vào tới bờ, lên khỏi bến sông nhớ tới mẹ già liền thuê thuyền về.

Về tới quê nhìn cảnh vật bốn bề thấy như đã trải qua kiếp khác.

Hôm sau về tới nhà, chợt nghe sau cửa sổ có người con gái nói:

- Con mẹ tới rồi!

Giọng nói rất giống Vãn Hà, kế cùng với mẹ bước ra, quả là Hà thật.

Lúc ấy hai người mừng rỡ quên hết nỗi đau xót mà bà mẹ thì đau xót ngờ vực, sợ hãi mừng rỡ xen lẫn.

Lúc trước Vãn Hà ở trong phủ Ngô Giang vương thấy trong bụng máy động mà phép tắc dưới Long cung rất nghiêm, sợ một sớm một chiều lâm bồn sẽ bị trừng phạt mà không gặp được A Đoan lần nữa, chỉ muốn tìm cái chết bèn nhảy xuống sông tự tử.

Thân thể nổi lên dật dờ trong sóng, được người khách đi thuyền vớt lên, hỏi tới quê quán thì Hà vốn là ca kỹ nổi tiếng ở đất Ngô chết đuối không tìm được xác, tự nghĩ không thể trở lại kỹ viện bèn nói:

- Họ Tưởng ở Trấn Giang là chồng ta.

người khách bèn thuê thuyền cho về tới nhà.

Bà Tưởng ngở là lầm, nàng nói là không lầm rồi kể rõ tình thật, bà thấy nàng xinh đẹp phong vận nên rất yêu mến.

Kế lại nghĩ nàng còn quá trẻ, ắt không phải là kẻ chịu ở góa, nhưng cô gái rất cung kính hiếu thảo, thấy nhà nghèo bèn cởi châu báu trang sức bán được vài vạn đồng mang về, bà Tưởng thấy nàng không có ý gì khác rất mừng.

Nhưng vì không có con trai ở nhà nên sợ lúc nàng sinh nở thì họ hàng láng giềng không tin, cô gái nói:

- Cốt là mẹ được cháu nội thật chứ cần gì người ta biết.

Bà cũng yên lòng.

Đến lúc ấy Đoan về, cô gái mừng quýnh, bà mẹ cũng ngờ là con không chết, lén đào mộ con lên thì hài cốt đều còn đó bèn đem chuyện căn vặn Đoan.

Đoan mới sực hiểu nhưng sợ Vãn Hà chê mình không phải là người bèn dặn mẹ đừng nói ra, mẹ cho là phải bèn nói với láng giềng rằng cái xác vớt được trước đây không phải là con mình, nhưng rốt lại cũng sợ Đoan không thể sinh được con trai.

Không bao lâu Vãn Hà sinh được một con trai, bế thấy không khác gì trẻ con thường mới vui mừng.

Lâu dần cô gái biết được A Đoan không phải là người bèn nói:

- Sao chàng không nói sớm, phàm là ma mà mặc áo của Long cung qua bốn mươi chín ngày hồn phách sẽ ngưng tụ lại chẳng khác gì người sống.

Nếu có keo sừng rồng của Long cung thì có thể nối xương cốt mà sinh da thịt, tiếc là không mua cho sớm.

Đoan bán viên ngọc của mình, có người khách buôn đất Hồ bỏ ra trăm vạn đồng để mua, nhờ đó trở thành giàu có cự vạn.

Đến ngày mừng thọ mẹ thì vợ chồng múa hát dâng rượu, chuyện dần truyền tới phủ Hoài vuơng.

Vương muốn chiếm đoạt Vãn Hà, Đoan sợ hãi vào ra mắt vương tự tâu bày rằng hai vợ chồng đều là ma, vương sai xét nghiệm đều thấy không có bóng nên tin lời không bắt Vãn Hà nữa.

Nhưng sai cung nhân ra biệt viện cho nàng dạy múa, Vãn Hà lấy nước đái rùa bôi lên mặt loang lổ che giấu dung mạo rồi mới tới ra mắt.

Dạy được ba tháng họ cũng không sao học hết được tài múa, kế nàng trở về.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 77+78


CHƯƠNG 77: BẠCH THU LUYỆN

Tiêm Ảnh Đồng Đồng Hạm Ngoại Qua

Mỹ Nhân Tiềm Khởi Thính Ngâm Nga

Sở Vương Giang Thủy Kham Vi Mệnh

Vương Kiến La Y Bất Cập Tha

Dịch:

Thấp Thoáng Bóng Người Trước Ngõ Qua

Mỹ Nhân Rón Gót Lắng Ngâm Nga

Dòng Nước Sở Giang Là Sinh Mệnh

Vương Kiến La Y Chẳng Kịp Mà



Ở tỉnh Trực Lệ có Mộ sinh tự Thiềm Cung là con thương gia Mộ Tiểu Hoàn, thông minh ham học.

Năm mười sáu tuổi cha cho rằng việc văn chương là viễn vông, bắt bỏ học đi buôn.

Sinh theo cha tới đất Sở (vùng Hồ Nam, Hồ Bắc), mỗi khi trong thuyền rảnh rỗi lại ngâm nga đọc sách.

Tới Vũ Xương (tỉnh thành Hồ Bắc), cha ở lại nhà trọ để giữ hàng, sinh nhân lúc cha đi vắng cầm sách đọc thơ, tiếng ngâm sang sảng, cứ thấy ngoài cửa sổ thấp thoáng như có người nghe trộm nhưng cũng chưa lấy gì làm lạ.

Một đêm cha đi uống rượu lâu không về, sinh càng cao giọng ngâm nga, thấy có người quanh quẩn ngoài song, trăng sáng nhìn thấy rất rõ, lấy làm lạ vội bước ra xem thì là một nữ lang tuyệt đẹp khoảng mười lăm mười sáu tuổi, thấy sinh vội vàng tránh đi.

Hai ba ngày sau chở hàng về bắc, chiều tối đậu thuyền bên bờ hồ, cha vừa ra khỏi thuyền thì có bà già bước vào nói:

- Chàng giết con gái ta rồi!

Sinh ngạc nhiên hỏi, bà đáp:

- Ta họ Bạch, có một gái tên Thu Luyện, cũng hơi biết chữ nghĩa, nói rằng lúc ở quận thành được nghe giọng ngâm thanh cao nên đem lòng nhớ nhưng đến nỗi bỏ cả ăn ngủ, ý muốn kết duyên, xin đừng chối từ.

Sinh thật lòng rất thích nhưng còn lo cha giận, bèn nói thẳng với bà già, bà già không tin bắt phải thề nguyền, sinh không chịu.

Bà giận nói:

- Việc nhân duyên ở đời, có kẻ xin mang sính lễ tới mà còn không được, nay già tự đứng ra làm mối cho con lại bị từ chối thì còn gì nhục bằng, vậy xin đừng nghĩ tới chuyện về Bắc nữa.

Rồi bỏ đi.

Lát sau cha về, sinh khéo léo kể lại, có ý mong cha chấp thuận nhưng cha vì đường sá xa xôi, lại có ý khinh rẻ các cô gái hoài xuân nên cười bỏ qua.

Chỗ đậu thuyền nước sâu lút con sào, đến đêm cát sỏi chợt bồi lên, thuyền mắc cạn không xoay trở gì được.

Hàng năm thuyền buôn trong hồ vẫn có người ở lại, đến mùa nước hoa đào năm sau hàng hóa nơi khác vẫn chưa kịp chở tới, những hàng trong thuyền đều tăng giá gấp trăm.

Cha sinh vì vậy cũng không lo lắng gì lắm, chỉ tính cách làm sao sang năm về Bắc hàng vẫn được giá, bèn để con ở lại còn mình về nhà.

Sinh mừng thầm nhưng tiếc là không hỏi rõ nơi ở của bà già.

Trời sập tối, bà già cùng một tỳ nữ dìu nữ lang tới, cởi áo khoác đặt nàng lên giường, kế nhìn sinh nói:

- Người ta bệnh tới mức này, xin đừng nằm khoèo làm ra vẻ vô sự nữa.

Rồi bỏ đi.

Sinh vừa nghe thì hoảng sợ, cầm đèn tới nhìn cô gái thấy đang lúc đau ốm vẫn xinh đẹp, ánh mắt vẫn lóng lánh.

Lại gần hỏi han, nàng chỉ cười khẽ.

Sinh cố ép lên tiếng thì nàng nói:

- Câu Vì chàng tiều tụy, thẹn cùng chàng là vịnh thiếp đấy.

Sinh mừng quýnh muốn thân cận nhưng thương nàng còn yếu nên chỉ sờ tay vào bụng vuốt ve hôn hít làm vui.

Cô gái chợt rạng rỡ mặt mày, tươi cười nói:

- Hãy ngâm cho thiếp nghe ba lần bài Áo là lớp lớp của Vương Kiến thì sẽ khỏi bệnh.

Sinh theo lời, ngâm đến lần thứ hai cô gái đã xốc áo ngồi dậy nói:

- Thiếp khỏi rồi!

Ngâm tiếp thì nàng cất giọng êm ái thỏ thẻ họa theo, sinh thần trí càng bay bổng bèn tắt đèn cùng ngủ.

Trời chưa sáng cô gái đã dậy, nói:

- Mẹ già sắp tới rồi!

Không bao lâu quả nhiên bà già tới, thấy con gái đang ngồi tươi tắn trang điểm bất giác mừng rỡ, giục về thì nàng cúi đầu không nói.

Bà già lập tức ra về, nói:

- Ngươi thích vui đùa với lang quân thì mặc ngươi.

*[Bài áo là lớp lớp của Vương Kiến: nguyên văn là “Vương Kiến La y diệp diệp chi tác", tức bài Cung từ của Vương Kiến thời Đường, mở đầu bằng câu "La y diệp diệp tú trùng trùng” (áo là lớp lớp chập chùng thêu)].

Sinh nhân hỏi nhà cửa ở đâu, cô gái nói:

- Thiếp với chàng chẳng qua là bạn mới quen, việc cưới xin còn chưa chắc chắn, cần gì phải biết nhà cửa.

Nhưng hai người vẫn yêu thương nồng mặn, thề thốt keo sơn.

Một đêm cô gái chợt ngồi dậy, khêu đèn mở sách ra xem rồi buồn bã rơi lệ.

Sinh vội dậy hỏi, nàng đáp:

- Cha chàng sắp tới đây, chuyện giữa hai ta mới rồi thiếp vừa mở sách bói một quẻ thì được bài Giang Nam khúc của Lý Ích, ý bài thơ không phải là điềm hay.

*[Bài Giang Nam khúc của Lý ích: tức bài thơ của Lý ích thời Đường, nguyên văn là “Giá đắc Cù Đường cổ, Triêu triêu ngộ thiếp kỳ, Tảo tri triều hữu tín, Giá dữ lộng triều nhi" (Lấy chàng thương lái Cù Đường, Sớm hôm chờ đợi xót thương phận mình, Nếu hay con nước đáng tin, Đã theo con nước kết tình phu thê)].

Sinh an ủi nói:

- Câu đầu bài thơ là Lấy chàng thương lái Cù Đường thì đại cát có gì là không hay.

Cô gái mới hơi vui vẻ, đứng lên từ biệt, nói:

- Xin tạm chia tay, kẻo trời sáng lại nhiều người dòm ngó.

Sinh cầm tay nàng nghẹn ngào hỏi:

- Nếu việc tốt đẹp thì báo cho nàng ở đâu?

Cô gái đáp:

- Thiếp vẫn sai người dò la, việc tốt đẹp hay không là biết ngay.

Sinh định lên bờ tiễn chân nhưng nàng cố từ chối rồi đi.

Không bao lâu quả ông Mộ tới, sinh dần dà thổ lộ tình thật, cha ngờ là dắt kỹ nữ về, nổi giận chửi mắng, đến khi xem kỹ trong thuyền thấy không mất mát chút gì mới thôi.

Một đêm ông đi vắng, cô gái chợt tới, hai người buồn rầu nhìn nhau không biết làm sao.

Nàng nói:

- Thấp cao có số, cứ lo việc trước mắt đã xin chàng ở lại thêm hai tháng rồi sẽ bàn tiếp.

Lúc chia tay hẹn lấy tiếng ngâm thơ làm hiệu gặp nhau.

Từ đó cứ cha đi vắng, sinh lại cao giọng ngâm nga thì nàng tới.

Sắp hết tháng tư hàng hóa đều mất giá, đám khách buôn không biết làm sao bèn góp tiền sắm lễ vật tới cầu đảo ở miếu thần hồ.

Sau tiết Đoan dương mưa to nước lên, thuyền mới đi được.

Sinh về tới nhà tương tư thành bệnh, ông Mộ lo lắng tìm đủ cách cầu cúng thuốc thang.

Sinh nói riêng với mẹ:

- Bệnh của con chẳng có thuốc men cầu cúng nào chữa được, chỉ có Thu Luyện tới mới xong.

Ông Mộ lúc đầu nổi giận nhưng lâu sau thấy sinh ngày càng gầy gò héo hắt thì hoảng sợ, bèn thuê xe chở con trở lại đất Sở, xuống thuyền đậu đúng chỗ cũ.

Hỏi người ở đó thì không ai biết bà già họ Bạch, vừa lúc có bà già ghé thuyền vào bờ, bước ra tự nhận là mình.

Ông Mộ lên thuyền thấy mặt Thu Luyện mừng thầm, nhưng hỏi tới dòng dõi gia thế thì ra chỉ sống trên thuyền, trôi nổi đây đó mà thôi.

Ông nhân nói thật bệnh của con trai, mong nàng tới thuyền mình để con bớt bệnh trước, nhưng bà già lấy cớ chưa định hôn ước nên không chịu.

Cô gái ngồi nghiêng chăm chú lắng nghe, thấy hai người tranh cãi thì rưng rưng muốn khóc.

Bà già thấy mặt con gái như thế, lại vì ông Mộ năn nỉ quá nên cũng nhận lời.

Đến đêm, ông ra ngoài, cô gái quả tới, lại gần giường khóc lóc, nói:

- Tình cảnh thiếp năm trước nay lại rơi vào chàng rồi ư?

Mùi vị nó thế nào tưởng cũng phải để chàng nếm qua cho biết.

Nhưng gầy rộc đi thế này, làm sao chữa khỏi ngay được?

Xin vì chàng ngâm một bài thơ vậy.

Sinh cũng mừng rỡ, cô gái bèn ngâm lại bài thơ của Vương Kiến ngày trước.

Sinh nói:

- Đó là tâm sự của nàng, đem chữa cho cả hai người sao được.

Nhưng nghe giọng nàng cũng đã thấy tâm thần khoan khoái, hãy thử ngâm bài Liễu hướng về tây ca vạn cành cho ta nghe xem.

*[Bài Liễu hướng về tây ca vạn cành: tức bài Xuân oán của Lưu Phương Bình thời Đường, nguyên văn là "Triêu nhật tàn oanh bạn thiếp đề, Khai liêm chỉ kiến thảo thê thê, Đình tiền thời hữu đông phong nhập, Dương liễu thiên điều tận hướng tây”, (Sáng sớm quanh mình rộn tiếng oanh, Mở rèm chỉ thấy cỏ xanh xanh, Gió xuân thổi lộng trong đình viện, Liễu hướng về tây cả vạn cành)].

Cô gái theo lời, sinh thích thú nói:

- Khoan khoái quá!

Trước đây nàng đọc bài Hái sen trong tập Thi dư có câu Tốt tươi hương tỏa khắp mười gò vẫn chưa quên, nay phiền nàng tốt giọng ngâm lên lần nữa.

Nàng lại theo lời.

Vừa dứt tiếng, sinh nhảy ngay dậy nói:

- Tiểu sinh có bệnh gì đâu!

Rồi ôm ấp nhau như đã khỏi hẳn.

Kế hỏi:

- Cha gặp mẹ nàng nói những gì?

Việc có xong không?

Cô gái đã biết ý ông Mộ, nói thẳng rằng không xong rồi đi.

Cha về thấy sinh đã dậy được mừng lắm nhưng chỉ lựa lời khuyên nhủ, nhân nói:

- Con bé rất đẹp, nhưng từ nhỏ đã ôm mái chèo gõ bánh lái ca hát, chưa nói tới chuyện là con nhà hèn mọn, cũng không thể là gái trinh.

Sinh im lặng.

Cha vừa đi thì cô gái trở lại, sinh kể rõ ý cha.

Nàng nói:

- Thiếp vừa nhìn đã biết ngay rồi.

Việc đời cứ càng đeo đuổi thì càng xa lánh, càng săn đón thì càng cự tuyệt, cứ để ông tự đổi ý quay lại cầu cạnh nhau.

Sinh hỏi kế, nàng đáp:

- Kẻ buôn bán thì chỉ mong được lợi thôi.

Thiếp có thuật biết được giá cả hàng hóa, mới rồi thấy các hàng hóa trên thuyền chẳng thứ nào có lời chút gì.

Hãy nói với cha chàng muốn lãi gấp ba thì mua hàng này, muốn lãi gấp mười thì mua hàng này, về tới nhà nếu đúng thì thiếp đúng là dâu hiền rồi.

Lúc trở lại thì chàng mười tám tuổi còn thiếp mười bảy, còn có ngày sum vầy, có gì phải lo?

Sinh đem lời nàng nói lại với cha, cha không tin lắm nên tạm đem nửa số tiền còn thừa mua những hàng nàng dặn.

Sau khi về, những hàng ông mua đều lỗ nặng, may có ít hàng mua theo lời cô gái được lãi lón nên bù lại được, vì thế phục Thu Luyện là thần.

Sinh còn khoe khoang rằng cô gái tự nói có thể giúp mình thành giàu có, vì thế ông Mộ lại mang thêm nhiều tiền xuống Nam.

Tới hồ mấy ngày không thấy bà già họ Bạch, qua mấy hôm nữa mới thấy bà đậu thuyền dưới gốc liễu bèn đem sính lễ tới.

Bà không nhận gì cả, chỉ chọn ngày lành đưa con gái qua thuyền sinh, ông Mộ thuê một thuyền khác cho con làm lễ hợp cẩn.

Cô gái bèn bảo ông xuống Nam, hàng nào cần mua đều viết ra giấy đưa ông, bà già bèn mời rể qua ở thuyền mình.

Ba tháng sau ông Mộ trở lại, hàng hóa mới về tới đất Sở đã tăng giá gấp đôi.

Khi sắp về, cô gái xin chở theo một ít nước hồ, về tới nhà mỗi lần ăn cơm lại rưới vào một ít như chan tương.

Vì vậy lần nào xuống Nam ông cũng mang về cho vài vò.

Ba bốn năm sau nàng sinh một trai.

Một hôm cô gái khóc muốn về thăm nhà, ông Mộ bèn dẫn cả con và dâu cùng tới đất Sở.

Tới hồ không biết bà già ở đâu, cô gái gõ mạn thuyền gọi mẹ, thất sắc giục sinh theo ven hồ tìm hỏi.

Vừa lúc có người câu cá tầm hoàng câu được một con cá ngựa trắng, sinh tới gần xem thì là một con cá lớn hình dáng như người, có đủ cả vú và âm hộ.

Sinh về kể lại, cô gái hoảng hốt nói trước kia có lời nguyền phóng sinh, bảo sinh mua thả ra.

Sinh tới thương lượng nhưng người câu cá đòi giá rất cao.

Cô gái nói:

- Thiếp ở nhà chàng nghĩ cách kiếm ra tiền không dưới bạc vạn, mà sao lại khư khư tiếc nhau bấy nhiêu.

Nếu không nghe thì thiếp nhảy xuống hồ chết quách cho rồi.

Sinh sợ, không dám nói với cha, lấy trộm tiền mua cá thả ra.

Khi quay về không thấy cô gái, tìm mãi không được, đến khuya nàng mới về.

Hỏi đi đâu, nàng đáp:

- Vừa về nhà mẹ!

Hỏi mẹ ở đâu, nàng nói:

- Hôm nay thì không thể không thưa thật, con cá chàng vừa chuộc chính là mẹ thiếp đấy.

Trước sống ở hồ Động Đình, được Long quân giao coi việc khách qua lại.

Gần đây trong cung muốn tuyển phi tần, nhiều người đồn đại là thiếp xinh đẹp, nên có sắc chỉ trị tội mẹ để đòi thiếp.

Mẹ thiếp tâu thật nhưng Long quân không nghe, đày mẹ xuống bến Nam, gần chết đói nên mới mắc nạn.

Nay tuy thoát nạn nhưng vẫn chưa được xóa tội.

Nếu chàng yêu thiếp thì hãy thay thiếp khẩn cầu với Chân quân, mẹ có thể được yên lành.

Còn nếu thấy khác loài mà ghét bỏ thì xin trả con cho chàng, thiếp đi.

Hầu hạ ở Long cung chưa chắc đã không gấp trăm lần ở nhà chàng.

Sinh cả sợ, lo không gặp được Chân quân, nàng nói:

- Giờ Mùi ngày mai Chân quân sẽ tới, cứ thấy vị đạo sĩ thọt chân thì phải phục xuống lạy ngay, ông ta xuống nước cũng phải xuống theo.

Chân quân thích kẻ văn sĩ, ắt sẽ rủ lòng thương xót.

Kế lấy ra một vuông lụa bóng mượt như bụng cá nói:

- Nếu Chân quân hỏi muốn xin điều gì thì đưa cái này ra xin ông viết cho một chữ Miễn.

Sinh theo lời chờ, quả có một đạo sĩ khập khiễng đi tới.

Sinh lạy phục xuống, đạo sĩ bước mau đi, sinh rảo theo sau.

Đạo sĩ ném gậy xuống nước rồi nhảy lên trên, sinh cũng lội xuống nước lên theo, thì không phải gậy mà là một chiếc thuyền.

Sinh lại sụp xuống lạy, đạo sĩ hỏi cần gì, sinh đưa vuông lụa ra xin viết chữ.

Đạo sĩ giở ra nhìn, nói:

- Đây là vẩy cá ngựa trắng, sao ngươi có được?

Thiềm Cung không dám giấu, kể rõ đầu đuôi, đạo sĩ cười nói:

- Loài này rất phong nhã, con rồng già làm sao hoang dâm được.

Bèn rút bút ra viết ngoáy một chữ “Miễn" như đạo bùa, rồi quay thuyền ghé bờ bảo sinh lên.

Kế thấy đạo sĩ đạp cây gậy rẽ nước mà đi, phút chốc đã mất dạng.

Sinh về thuyền, cô gái mừng rỡ, dặn đừng nói lộ cho cha mẹ biết.

Sau khi về nhà hai ba năm, ông Mộ xuống nam mấy tháng không về, bình nước hồ cạn dần mà chờ mãi không thấy.

Cô gái bỗng lâm bệnh, ngày đêm thở dốc, dặn sinh:

- Nếu thiếp chết thì đừng chôn, cứ đúng các giờ Mão, Ngọ, Dậu lại ngâm một lần bài thơ Đỗ Phủ mộng thấy Lý Bạch, thì chết rồi thây vẫn không nát.

Chờ khi nước về rót vào bồn rồi đóng cửa, cởi áo thiếp ra, ôm thiếp dầm vào trong nước, thiếp sẽ sống lại.

Thở thoi thóp vài hôm, nàng lịm đi mà chết.

Nửa tháng sau ông Mộ về, sinh vội làm theo lời, ngâm nước khoảng một giờ thì nàng dần dần tỉnh lại.

Từ đó nàng thường có ý muốn về nam.

Sau ông Mộ mất, sinh chiều ý nàng dời nhà xuống sống ở đất Sở.

_____________________________________

CHƯƠNG 78: KIM HÒA THƯỢNG

Phú Quí Tùng Trung Kết Thiện Duyên

Bất Trì Kinh Chú, Bất Tham Thiền

Thích Ca Vô Ngữ Đồ Lê Tiếu

Y Bát Nhi Kim Hữu Biệt Truyền

Dịch:

Trong Đám Giàu Sang, Kết Thiện Duyên

Chẳng Trì Kinh Chú, Chẳng Tham Thiền

Thích Ca Im Lặng Đồ Lê Tiếu

Y Bát Giờ Đây Có Biệt Truyền



Hòa thượng họ Kim là người Chư Thành (tỉnh Sơn Đông), cha là kẻ vô lại, đưa mấy trăm đồng tiền đem Kim lên gởi vào chùa trên núi Ngũ Liên.

Kim lúc nhỏ ngu si đần độn không thể học kinh, chỉ làm được những việc chăn heo đi chợ như tôi tớ.

Sau sư phụ của Kim chết, cũng có chút ít tiền bạc để lại, Kim cuỗm đi trốn khỏi chùa làm nghề buôn bán, rất giỏi những việc treo dê bán chó, tráo đấu lường thăng nên chỉ mấy năm vụt trở nên giàu có.

Bèn mua ruộng đất nhà cửa ở làng Thủy Pha, đệ tử rất đông, hàng ngày có hàng ngàn người ăn cơm, quanh làng có mấy ngàn mẫu ruộng tất đều là của Kim, trong làng có vài mươi gian nhà lớn đều là sư ở.

Nếu là người khác thì cũng là kẻ nghèo khó không sản nghiệp nên dắt vợ con tới đó ở nhà thuê làm ruộng mướn mà thôi, có mấy trăm gia đình như thế.

Mỗi nhà thì cất phòng sát tường san sát cho họ ở, sư thì ở giữa, phía trước có sảnh đường, rường sơn cột chạm sơn son thiếp vàng lóa mắt, bàn ghế bình phong trong sảnh bóng loáng có thể soi được.

Phía sau thì làm phòng ở, rèm đỏ màn thêu xông lan xạ thơm phức, giường nằm chạm trổ khảm xà cừ, trên giường trải nệm dày hơn thước, trên vách thì treo kín các bức vẽ mỹ nhân sơn thủy nổi tiếng.

Trong nhà gọi to một tiếng thì ngoài cổng có mấy mươi người dạ ran như sấm ào ào chạy vào xếp hàng im lặng lắng tai nghe lệnh.

Khách tới bất ngờ thì trong vòng mười mâm có thể bày lên trong chớp mắt, cơm canh rượu thịt ngon lành bưng lên tới tấp.

Chí là không dám công nhiên nuôi ca kỹ nhưng cũng có mười mấy tiểu đồng đẹp trai, đều lanh lợi khéo léo có thể làm vừa lòng người, sai đội khăn đen ca hát thì người nghe kẻ xem cũng không thấy chướng.

Kim mỗi lần ra khỏi nhà thì trước sau có vài mươi kỵ mã đeo cung dẹp đường, bọn tôi tớ đều gọi là gia gia, dân trong huyện người gọi là ông, người gọi là chú chứ không gọi là sư hay Thượng nhân, cũng không gọi theo pháp hiệu.

Môn đồ Kim ra ngoài thì nghi vệ có kém hơn nhưng áo đẹp ngựa khỏe cũng gần như các công tử con quan.

Kim lại giao du rộng, cho dù ngoài ngàn dặm cũng biết được tin tức, vì vậy các quan lớn nhỏ trong vùng nếu ngẫu nhiên làm Kim mất lòng cũng run sợ lo lắng.

Nhưng Kim là người thô lỗ, từ đầu tới chân không có chút nào là văn nhã, bình sinh không đọc một câu kinh, tụng một câu sấm, chân không lui tới chùa chiền, phòng không bày biện chuông mõ, những vật ấy thì bọn môn đồ chưa từng thấy mà cũng chưa từng nghe.

Phàm những gia đình tới thuê nhà ở thì phụ nữ trang sức như gái kinh đô, phấn sáp gương lược đều do sư cấp, sư cũng không bỏn xẻn.

Vì vậy các gia đình không có ruộng mà làm nông trong vùng có tới vài trăm.

Thỉnh thoảng lại có chuyện tá điền giết sư trên giường, Kim cũng không tra xét gì lắm, chỉ đuổi đi nơi khác, dần dần thành lệ.

Kim lại mua trẻ con khác họ nuôi làm con mình, rước thầy về dạy cho học hành.

Đứa nhỏ thông minh học giỏi, bèn sai vào học trường huyện, kế theo lệ mua cho chức Thái học sinh.

Không bao lâu y lên thi hương ở phủ Thuận Thiên đỗ Cử nhân, từ đó Kim được gọi là Thái công, những người gọi là gia gia trước đây càng khúm núm, con cháu của họ đều chắp tay làm lễ với Kim như ông tổ mấy đời.

Không bao lâu Thái công chết, Hiếu liêm mặc tang phục cư tang, tự xưng là con mồ côi, các môn đồ chống gậy đứng đầy quanh giường, nhưng sau linh sàng chỉ có một mình phu nhân Hiếu liêm khe khẽ sụt sùi mà thôi.

Sĩ phu có người dắt vợ ăn mặc đẹp đẽ tới điếu tế an ủi, mũ lọng xe kiệu chen chúc tắc cả đường.

Ngày chôn cất thì nhà táng cao chạm mây, cờ phướn rợp mặt trời, khi chôn thì bó cỏ dán giấy vàng bạc ngũ sắc làm vật tuẫn táng, gồm mấy mươi cỗ kiệu, một ngàn con ngựa, một trăm mỹ nhân.

Làm thần dẹp đường đội khăn gấm đen, đầu cao chạm mây, nhà đám thì lầu gác phòng ốc rộng tới mấy mẫu, ngàn cửa trăm cổng, ai vào cũng lạc không biết đường ra, những vật đưa lên cúng tế đều không thể gọi tên.

Những người tới dự đám tang mũ lọng chen nhau, các quan lớn cũng lom khom vào quỳ lạy tám lần, các Giám sinh, Cống sinh và quan nhỏ ở huyện thì bò ra đất dập đầu làm lễ không dám để công tử và các sư thúc lạy trả.

Cả vùng đổ tới xem đám ma, đàn ông dắt vợ, đàn bà bế con mồ hôi nhễ nhại đứng đầy đường, tiếng người ồn ào át cả tiếng chiêng trống, người đứng chỉ hở có từ vai trở lên, hàng vạn cái đầu ngoảnh qua ngoảnh lại mà thôi.

Có kẻ có thai chuyển bụng sinh nở thì chị em bạn kéo xiêm giáng quanh làm màn che, nghe tiếng trẻ khóc cũng không buồn hỏi là trai hay gái, lập tức xé áo làm tã bế lên rồi kẻ dìu người kéo sản phụ chập choạng bước đi, thật là kỳ quan vậy!

Sau khi chôn cất xong, đem những tiền của Kim để lại chia đôi, con Kim một phần, các môn đồ một phần.

Hiếu liêm được nửa gian nhà, bốn phía nam bắc đông tây toàn là sư ở nhưng đều là hàng anh em, đau ngứa gì cũng có nhau.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 79+80+81+82+83


CHƯƠNG 79: CÁI TĂNG

NHÀ SƯ ĂN MÀY

Tụng Kinh Lược Kiến Phàn Tu Khổ

Chí Nhận Vô Ưng Giải Thoát Trì

Mạc Quái Lão Tăng Như Thử Hóa

Lão Tăng Nguyên Bất Dục Nhân Tri

Dịch:

Tụng Kinh Cảm Thấy Tu Hành Khổ

Dao Cấm Không Nên Giải Thoát Chày

Đừng Lạ Lão Tăng Như Vậy Hóa

Lão Tăng Nguyên Chẳng Muốn Ai Hay



Ở Tế Nam (tỉnh thành Hà Nam) có một nhà sư, không rõ gốc gác ở đâu.

Hàng ngày đi chân đất mặc áo vá, lê la trước các hàng quán bên hồ Phù Dung tụng kinh khuyến hóa, song ai cho cơm rượu tiền gạo gì đều không nhận, hỏi có cần gì khác không thì không đáp, thường cả ngày không thấy ăn uống.

Có người khuyên nói:

- Sư đã không ăn rau lại chẳng uống rượu thì đi khuyến hóa trong thôn cùng ngõ vắng cũng được, cần gì phải mỗi ngày mỗi tới nơi ồn ào náo nhiệt như thế này?

Sư cứ chắp tay tụng kinh, rủ đôi lông mi dài một tấc xuống như không hề nghe thấy.

Lại hỏi nữa, sư mới mở mắt lớn tiếng đáp:

- Ta muốn khuyến hóa như vậy.

Rồi tiếp tục tụng kinh, hồi lâu mới bỏ đi.

Có người đuổi theo, hỏi tại sao phải khuyến hóa như vậy, sư cứ đi không đáp.

Hỏi ba bốn lần, lại lớn tiếng nói:

- Ngươi không biết được đâu, lão tăng muốn khuyến hóa như vậy.

Mấy hôm sau chợt ra ngoài phía nam thành, nằm dài như xác chết ở cạnh đường ba ngày không động đậy.

Dân ở đó sợ sư chết đói thì liên lụy tới thôn xóm, họp nhau kéo tới khuyên nên đi chỗ khác nằm, muốn cơm sẽ cho cơm, muốn tiền sẽ cho tiền.

Sư cứ nhắm mắt không lên tiếng, mọi người bèn lay gọi.

Sư giận, rút trong áo ra một lưỡi đao ngắn tự rạch bụng, thò tay vào kéo ruột ra bày lên đường rồi đứt hơi chết.

Mọi người khiếp sợ báo lên quan rồi đem chôn qua loa.

Ngày khác chỗ ấy bị chó moi lên lộ manh chiếu bó thây ra, đạp lên thấy như không có gì, mở ra xem thì manh chiếu vẫn gói kín như cũ nhưng chỉ như cái kén rỗng.

____________________________________

CHƯƠNG 80: TẬP LONG

RỒNG ẨN

Bất Du Hải Quốc Khốn Thư Thành

Khởi Thị Giao Long Tập Vị Kinh

Nhất Đán Xuất Vi Thiên Hạ Vọng

Chung Giao Lâm Vũ Úy Thương Sinh

Dịch:

Biển Chẳng Vẫy Vùng Nằm Kê Sách

Rồng Còn Lẩn Dấu Chứa Dương Vây

Ngày Kia Lúa Cạn Làm Mưa Lớn

Thiên Hạ Trông Mong Đội Đức Dầy



Quan Thông chính sứ họ Khúc ở đất U Lục (thuộc tỉnh Sơn Đông) đọc sách trên lầu, gặp lúc trời mưa mù mịt, thấy một con dời nhỏ sáng như đom đóm cựa quậy trên bàn, bò qua khỏi chỗ nào thì chỗ ấy cháy đen.

Dần dần bò lên quyển sách, quyển sách cũng bị cháy.

Ông nghĩ là rồng bèn bưng quyển sách lên tiễn đi, nhưng ra tới ngoài cửa đứng chờ hồi lâu vẫn thấy nằm bất động bèn nói:

- Hay là cho rằng ta không cung kính?

Bèn bưng quyển sách trở vào đặt lại lên bàn, đội mũ mặc áo vái dài rồi lại bưng ra.

Vừa tới ngoài thềm thì con dời ngẩng đầu duỗi thân rời quyển sách bay lên, rít gió thành tiếng thành một đạo ánh sáng kéo dài.

Ra được vài bước thì quay nhìn lại ông, đầu như cái vò, dài mấy mươi vây.

Lại uốn lộn một hồi thì có tiếng sét nổ ầm ầm, vọt thẳng lên mây đi mất.

Quay vào nhìn chỗ nó vừa bò qua thì thấy từng đoạn từng đoạn như tre bị đốt vậy.

__________________________________

CHƯƠNG 81: TIỂU KẾ

TÚM TÓC NHỎ

Bằng Thành Huyệt Xã Kế Cầu An

Thủ Thử Tương Tao Cánh Thoát Quan

Kỷ Hử Đầu Lư Không Tụ Tránh

Linh Nhân Tiếu Tác Mộc Hầu Quan

Dịch:

Đục Thành Khoét Xã Kế Cầu Yên

Chuột Thập Thò Ra Trụt Mũ Liền

Lố Nhố Đầu Lâu Xô Tán Loạn

Khéo Trò Tắm Khủ Mũ Gia Lên



Huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) có người dân là Mỗ đang ngồi chơi thì có người khách thấp lùn tới, ngước mặt trò chuyện hồi lâu, thấy bình sinh không hề quen biết, cố nhớ lại.

Khách nói:

- Ba bốn hôm nữa sẽ dời tới đây làm láng giềng.

Qua bốn năm hôm lại tới nói:

- Hôm nay đã là cùng làng, xin được sớm tối dạy bảo cho.

Mỗ hỏi ngụ ở đâu, người ấy không nói rõ, chỉ lấy tay chỉ về phía bắc.

Từ đó ngày nào cũng tới, có khi hỏi mượn vật dùng chén bát, nếu có ai bủn xỉn không cho thì tự nhiên bị mất, mọi người cùng nghi là hồ.

Phía bắc thôn có ngôi mộ cổ, sâu không biết là bao nhiêu, mọi người ngờ hồ ở đó, cùng nhau vác gậy gộc khí giới tới nằm rình, hồi lâu không thấy gì lạ.

Đến hết canh một thì nghe dưới mộ có tiếng lào xào như hàng trăm hàng ngàn người trò chuyện, mọi người im lặng không động đậy.

Giây lát có đám người lùn khoảng hơn một thước lũ lượt kéo ra, đông không biết bao nhiêu mà kể.

Mọi người cùng quát tháo vùng dậy xô vào đánh túi bụi, đánh trúng thì trên gậy lửa bắn tứ tung, trong chớp mắt bọn kia chạy tứ tán.

Chỉ còn lại một cái búi tóc nhỏ bằng trái hồ đào bọc lụa buộc dây kim tuyến, ngửi thử thì hôi tanh vô cùng.

____________________________________

CHƯƠNG 82: HOẮC SINH

Tài Nhân Kết Tập Hảo Khinh Huyên

Huống Thiệp Hiềm Nghi Họa Dị Điên

Ân Giám Bất Đao Quân Tỉnh Phủ

Song Vưu Đảo Trí Tại Thần Biên

Dịch:

Ba Hoa Xúm Tụ Khéo Hư Đời

Huống Dính Hiềm Nghi Họa Kéo Dài

Trước Mắt Gương Soi Nhìn Rõ Chửa

Hai Bìu Mọc Ngược Ở Bên Môi



Hoắc sinh và Nghiêm sinh ở huyện Văn Đăng (tỉnh Sơn Đông) lúc nhỏ vẫn đùa giỡn với nhau, lớn lên cũng hay chọc ghẹo nhau, lấy miệng lưỡi hơn thua, chỉ sợ không bằng đối thủ.

Hoắc có bà già láng giềng từng đỡ đẻ cho vợ Nghiêm, ngẫu nhiên trò chuyện với vợ Hoắc, nói rằng chỗ kín của vợ Nghiêm có hai mụn cóc, vợ bèn kể lại cho Hoắc.

Hoắc bèn cùng chúng bạn bàn tính, rình lúc Nghiêm vừa tới, cố ý nói thầm với nhau rằng:

- Ta quá rành vợ y!

Chúng bạn làm ra vẻ không tin, Hoắc bèn bịa đặt đủ cả đầu đuôi rồi nói:

- Nếu không tin, thì chỗ kín của vợ y có hai cái mụn cóc.

Nghiêm dừng lại ngoài cửa sổ nghe thấy hết bèn không vào, quay về nhà chửi mắng đánh đập vợ.

Người vợ không chịu nhận, Nghiêm đánh đập càng tàn nhẫn, vợ không chịu nổi treo cổ tự tử.

Hoắc vô cùng hối hận nhưng không dám nói thật với Nghiêm là mình bịa đặt.

Vợ Nghiêm chết rồi, đêm đêm cứ hiện hồn về khóc lóc, cả nhà không sao ở yên.

Không bao lâu Nghiêm bị bạo bệnh mà chết, hồn ma mới không khóc nữa.

Vợ Hoắc nằm mơ thấy vợ Nghiêm xõa tóc gào lớn rằng:

- Ta chết rất khổ, vợ chồng người lại muốn yên vui à?

Tỉnh dậy mắc bệnh vài ngày thì chết.

Hoắc cũng nằm mơ thấy vợ Nghiêm xỉa xói chửi mắng, lấy tay vả vào miệng mình, hoảng sợ tỉnh dậy thấy trên môi dau nhức, cứ sưng to dần, ba ngày thì biến ra hai cục thịt thừa thành tật luôn, không dám cười nói lớn tiếng vì há mồm to thì đau không chịu nổi.

___________________________________

CHƯƠNG 83: HỒ HÀI

HỒ LY HÀI HƯỚC

Đồng Thị Bình Phiêu Nhứ Bạc Trung

Tiếu Hi Nộ Mạ Các Xưng Hùng

Khôi Hài Thiệp Khẩu Giai Thành Thú

Khả Sử Tề Khôn Bái Hạ Phong

Dịch:

Cùng Trong Bèo Dạt Cánh Hoa Trôi

Giận Mắng Đùa Vui Thảy Tuyệt Vời

Mở Miệng Khôi Hài Đều Lý Thú

Tề Khôn Cũng Phải Chịu Thua Tài



Vạn Phúc tự Tử Tường là người huyện Bác Hưng (tỉnh Sơn Đông).

Từ nhỏ theo đòi nghiệp nho, nhà cũng hơi khá giả nhưng thi cử lận đận, hơn hai mươi tuổi vẫn không đỗ đạt gì.

Ở quê có lệ xấu là bắt các nhà giàu ra làm lý dịch, có người phải khuynh gia bại sản.

Vạn bị ép làm chức ấy, sợ quá trốn tới Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) vào nhà trọ ở.

Đêm có cô gái tới khêu gợi, cũng khá xinh đẹp, Vạn thích bèn giao hoan.

Hỏi họ tên, cô gái nói:

- Nói thật ta là hồ, nhưng không làm hại chàng đâu.

Vạn mừng rỡ không ngờ vực gì, nàng dặn đừng ở chung với ai, từ đó ngày nào cũng tới ăn ở cùng phòng, phàm mọi chi dùng hàng ngày đều do hồ chu cấp.

Không bao lâu có vài người quen tới thăm chơi, thường ngủ lại không về.

Vạn chán ghét nhưng không nỡ cự tuyệt, bất đắc dĩ phải nói thật.

Khách xin được chiêm ngưỡng dung nhan người tiên một lần, Vạn nói với hồ, hồ nói với khách:

- Gặp ta làm gì?

Ta cũng như mọi người thôi.

Nghe tiếng nói rõ ràng trước mắt, nhưng nhìn quanh thì không thấy đâu.

Khách có người tên Tôn Đắc Ngôn giỏi khôi hài, cố xin được thấy mặt, lại nói được nghe giọng oanh, thần hồn điên đảo, sao lại tiếc không cho thấy dung nhan khiến người ta nghe tiếng mà tương tư.

Hồ cười đáp:

- Cháu hiền muốn vẽ bức tranh hành lạc cho bà cố à?

Khách khứa đều cười.

*[Bức tranh hành lạc: nguyên văn là "hành lạc đồ", vẽ những hình ảnh trai gái giao hoan, đại khái là loại tranh ảnh khiêu dâm].

Hồ nói:

- Ta là hồ, xin kể chuyện hồ cho khách nghe, chịu không?

Mọi người đều ừ, hồ kể:

- Xưa ở quán trọ làng nọ có nhiều hồ, thường ra quấy phá khách trọ.

Khách khứa qua lại biết được, dặn nhau đừng trọ ở đó.

Nửa năm sau hàng quán vắng vẻ, chủ trọ lo lắm, rất kiêng nói tới hồ.

Chợt có người khách từ xa tới, tự nói là người nước ngoài, thấy quán trọ nên vào nghỉ.

Chủ trọ mừng lắm mời vào, liền có người đi đường lén nói với khách rằng:

- Nhà này có hồ!

Khách sợ, nói rõ với chủ trọ rồi định qua trọ chỗ khác, chủ trọ ra sức phân trần rằng đó là lời bịa đặt.

Khách bèn ở lại, vào phòng vừa nằm xuống thì thấy bầy chuột từ gầm giường chạy ra, khiếp đảm nhào ra ngoài la hoảng:

- Có hồ!

Chủ nhân sợ hãi hỏi han, khách oán trách nói:

- Hồ làm hang ở đây, sao nói dối ta là không có.

Chủ nhân lại hỏi thấy hình thù nó thế nào, khách đáp:

- Ta nay mới thấy, nó ngắn ngắn nhỏ nhỏ, không phải hồ con ắt là hồ cháu.

Vừa dứt lời thì khách khứa đều cười ầm.

Tôn nói:

- Nếu không cho thấy mặt thì bọn ta sẽ ngủ lại, mà ai đó cũng đừng đi mà bỏ lỡ giấc mộng Dương Đài.

Hồ cười đáp:

- Cứ ngủ lại không sao, nếu có hơi xúc phạm thì xin đừng để bụng.

Khách sợ bị chơi ác bèn cùng tan về.

*[Giấc mộng Dương Đài: bài tựa Cao Đường phú của Tống Ngọc viết vua Sở ra chơi đầm Vân Mộng, đêm mộng thấy một người con gái tới xin hầu chăn gối, khi chia tay nàng ấy nói "Thiếp là thần nữ ở núi Vu Sơn sớm làm mây, tối làm mưa, sáng sáng chiều chiều ở dưới Dương Đài”, sau người ta thường dùng tích này để chỉ việc ái ân trai gái].

Kế cứ vài ngày lại tới, đòi hồ trêu cợt.

Hồ rất giỏi khôi hài, cứ lên tiếng là khách cười nghiêng ngửa, nhưng kẻ có tài hoạt kê cũng không thể hơn được, mọi người đùa gọi là Hồ nương tử.

Một hôm bày tiệc họp mặt, Vạn ngồi ghế chủ, Tôn và hai người khách nữa chia ngồi hai bên, đặt một cái giường phía sau mời hồ, hồ từ chối là không hay rượu.

Có người xin cứ ngồi nói chuyện, hồ ưng thuận.

Rượu được vài tuần, mọi người bày trò gieo xúc xắc làm tửu lệnh "qua man, khách trúng mặt dưa bị phạt, đùa đưa chén qua giường nói:

- Hồ nương tử là bậc đại tỉnh, xin uống giùm một chén.

Hồ cười đáp:

- Ta vốn không uống được, xin kể một câu chuyện góp vui với các vị.

Tôn bịt tai ra vẻ không muốn nghe, mọi người đều nói:

- Nếu chửi xỏ người thì phải chịu phạt đấy.

Hồ cười hỏi:

- Thế ta chửi xỏ hồ được không?

Mọi người đáp:

- Được!

Rồi lắng tai nghe.

*["Qua man": nghĩa đen là dây dưa bò lan, chưa rõ thể thức luật chơi cụ thể].

Hồ kể:

- Xưa có một ông quan lớn đi sứ nước Hồng Mao đội mũ lông hồ vào yết kiến quốc vương nước ấy.

Quốc vương thấy cái mũ lạ, hỏi lông gì mà vừa dày vừa mềm như thế.

Ông quan lớn ấy thưa là lông hồ.

Quốc vương nói bình sinh chưa từng nghe nói tới, vậy chữ “hồ" viết ra sao?

Ông quan lớn bèn lấy tay vạch lên không, tâu “Bên phải là một qua lớn, bên trái là một khuyển nhỏ.

Chủ khách lại cười ầm.

*[Nước Hồng Mao: tức Anh].

*[Bên phải là một qua lớn, bên trái là một khuyển nhỏ nhỏ: đây là theo lối chiết tự trong chữ Hán, hồ có ý nói xỏ người khách ngồi bên trái Vạn tức Tôn là “khuyển” (chó), vì người bên phải đã gieo trúng mặt “qua" (dưa)].

Hai người khách kia là hai anh em họ Trần, một tên Sở Kiến, một tên Sở Văn, thấy Tôn bị áp đảo quá bèn nói:

- Hồ đực đâu mà để hồ cái ác hại thế này?

Hồ nói:

- Có một câu chuyện kể chưa xong đã bị sủa loạn làm ngắt quãng, xin kể nốt.

Quốc vương Hồng Mao thấy sứ thần cưỡi một con la, rất lạ lùng.

Sứ thần thưa "Đây là do con ngựa đẻ ra” quốc vương lại càng lấy làm lạ.

Sứ thần nói ở Trung Quốc thì con ngựa đẻ ra con la, con la đẻ ra con ngựa choai”.

Quốc vương hỏi kỹ hình dạng, sứ thần đáp "Ngựa đẻ ra la là thần sở kiến, la đẻ ngựa choai là thần sở văn.

Cả tọa lại cười ầm.

*[Ngựa đẻ ra la là thần sở kiến, la đẻ ngựa choai là thần sở văn: sở kiến nghĩa đen là "vốn thấy", sở văn nghĩa đen là “vốn nghe", nhưng cũng là tên hai anh em họ Trần, nên câu này có ý nói xỏ hai người là la và ngựa choai].

Mọi người biết không địch nổi mồm mép của hồ, liền giao hẹn trở đi nếu ai khơi chuyện ngạo ngược thì phải đứng ra làm chủ, bỏ tiền mua rượu.

Giây lát rượu ngà ngà, Tôn nói đùa với Vạn:

- Có vế đối thách ông đối lại.

Vạn hỏi câu gì, Tôn đọc:

- Kỹ nữ xuất môn phỏng tình nhân, lai thời vạn phúc, khứ thời vạn phúc.

Cả bàn nghĩ mãi không ai đối được.

*[câu trên có nghĩa đen là "Kỹ nữ ra cửa thăm tình nhân, lúc tới thưa vạn phúc, lúc đi thưa vạn phúc", “vạn phúc" là lời chúc tụng nhưng cũng là tên của Vạn Phúc, nên đoạn sau còn có thể hiểu là "tới cũng Vạn Phúc, đi cũng Vạn Phúc", có ý đùa là Vạn Phúc chuyên tới kỹ viện chơi bời].

Hồ cười nói:

- Ta có câu rồi đây!

Mọi người lắng tai nghe, hồ đọc:

- Long vương hạ chiếu cầu trực gián, miết dã đắc ngôn, quy dã đắc ngôn.

Tất cả lại cười bò ra.

*[Câu trên có nghĩa đen là “Long vương xuống chiếu cầu lời thẳng, vích cũng được nói, rùa cũng được nói", “được nói” (đắc ngôn) cũng là tên của Đắc Ngôn, nên đoạn sau còn có thể hiểu là “... vích là Đắc Ngôn, rùa là Đắc Ngôn", có ý nói xỏ Tôn Đắc Ngôn là con rùa.

Rùa là một giống vật được người Trung Hoa ví với kẻ hạ tiện dâm đãng].

Tôn bực lắm, nói:

- Đã giao hẹn rồi, sao lại phạm?

Hồ cười đáp:

- Đúng là ta có lỗi, nhưng nếu không thế thì không đối cho sát được.

Sáng mai xin đặt tiệc để chuộc lỗi.

Chủ khách cùng cười rồi chia tay.

Hồ khôi hài đại loại như thế, không sao kể hết được.

Được vài tháng, hồ cùng Vạn về quê.

Tới địa giới Bác Hưng, hồ nói với Vạn:

- Ở đây ta có người họ hàng xa, đã lâu không qua lại, không thể không ghé thăm.

Vả lại trời cũng đã tối, chàng cứ đi cùng tới đó ngủ lại, sáng mai đi cũng được.

Vạn hỏi ở đâu, hồ chỉ nói không xa.

Vạn ngờ vì trước nay khu này vốn không có làng xóm gì, nhưng cũng đi theo.

Khoảng hai dặm quả thấy một gia trang, bình sinh chưa đi ngang lần nào.

Hồ gõ cổng thì có một người hầu ra mở, vào trong thấy cửa liền gác nối, rõ ràng là nhà thế gia.

Giây lát tới chỗ chủ nhân, có hai ông bà già, vái chào Vạn rồi mời ngồi, bày tiệc linh đình tiếp đãi như con rể, kế hai người nghỉ lại đó.

Sáng sớm hồ nói:

- Ta về ngay cùng chàng, sợ người nhà sợ hãi.

Chàng cứ về trước, ta sẽ theo tới ngay!

Vạn theo lời về trước nói rõ với gia nhân.

Không bao lâu hồ tới, nói cười với Vạn, mọi người đều nghe rõ nhưng không nhìn thấy người.

Năm sau Vạn lại có việc đi Tế Nam, hồ cũng đi cùng.

Chợt có mấy người tới, hồ theo ra trò chuyện thăm hỏi rồi nói với Vạn:

- Ta vốn gốc gác ở Thiểm Trung (tỉnh Thiểm Tây), cùng chàng có mối túc duyên nên theo nhau bấy lâu, nay anh em ta đã tới, ta phải theo về, không theo hầu chàng trọn đời được.

Vạn cố giữ lại không được, hồ cứ bỏ đi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 84+85


CHƯƠNG 84: TỤC HOÀNG LƯƠNG

NỐI TIẾP MỘNG HOÀNG LƯƠNG

Sơ Tiệp Nam Cung Ý Khí Dương

Huống Đồng Dự Ngữ Cảnh Cao Tường

Tăng Liêu Bất Thị Hàm Đan Mộng

Dã Tác Hoàng Lương Mộng Nhất Trường

Dịch:

Nam Cung Vừa Đậu Đã Huênh Hoang

Lại Được Người Khen Thấy Vẻ Vang

Chẳng Chốn Hàm Đan Nơi Tự Viện

Cũng Cho Mơ Một Giấc Kê Vàng



Cử nhân họ Tăng người Phúc Kiến lúc vừa thi đỗ Tiến sĩ cùng vài người bạn thân khoa dạo chơi ngoài thành.

Tình cờ nghe nói ở chùa Tỳ Lư có một thầy tướng liền kéo nhau tới xem quẻ.

Tăng vào ngồi, thầy tướng nhìn thấy ý khí tự đắc bèn nịnh hót lấy lòng.

Tăng phe phẩy quạt mỉm cười rồi hỏi:

- Ta có số làm Tể tướng không?

Thầy tướng nghiêm trang nói sẽ làm Tể tướng hai mươi năm trong đời thái bình, Tăng cả mừng, ý khí càng thêm cao ngạo.

Gặp lúc có cơn mưa nhỏ, cùng bạn bè vào tăng xá tránh mưa, thấy bên trong có vị sư già mắt sâu mũi cao ngồi trên tấm bổ đoàn, ngạo mạn không chào hỏi ai.

Cả bọn cùng chào rồi lên sạp ngồi nói chuyện với nhau, đều mừng Tăng sẽ làm Tể tướng.

Tăng càng đắc ý, chỉ bạn cùng đi nói:

- Khi nào ta làm Tể tướng, sẽ cử Trương huynh làm Tuần phủ Hà Nam, ông anh cô cậu của ta làm chức Tham du, lão bộc nhà ta cũng được chức Thiên bả nho nhỏ, thế là mãn nguyện.

Cả bọn cười vang.

Kế nghe bên ngoài mưa càng lớn như trút nước, Tăng mỏi mệt nằm xuống giường, chợt thấy hai quan Trung sứ đem tờ chiếu do Thiên tử đích thân viết tới triệu Tăng Tể tướng vào triều bàn việc nước.

Tăng đắc ý vội vàng vào triều, nhà vua hỏi han dịu ngọt hồi lâu, truyền cho Tăng được quyền thăng giáng các quan từ tam phẩm trở xuống, ban cho mãng bào đai ngọc và ngựa quý, Tăng mặc áo đeo đai dập đầu tạ ơn rồi ra về.

Vào nhà thì thấy không phải nơi ở cũ ngày trước mà toàn là cột chạm cửa sơn vô cùng lộng lẫy, cũng không hiểu vì sao vinh hiển mau lẹ như vậy, nhưng chỉ cần vuốt râu gọi khẽ thì quân hầu dạ ran như sấm.

Kế các quan công khanh đem quà cáp tặng biếu tới khúm núm xếp hàng ngoài cổng.

Các quan khanh sáu bộ tới thì Tăng vội vàng ra đón, hạng Thị lang thì vái chào cùng trò chuyện, chức thấp hơn thì chỉ gật đầu chào thôi.

Tuần phủ Sơn Tây gởi tặng ban nữ nhạc mười người đều là con gái trẻ đẹp, trong đó Niễu Niễu và Tiên Tiên đẹp nhất, hai người rất được yêu quý, Tăng cho phục dịch khăn áo, hàng ngày hầu hạ ca múa.

Một hôm Tăng nhớ lại lúc còn hàn vi thường được thân sĩ trong huyện là Vương Tư Lương giúp đỡ, nay ta đã nhẹ bước thang mây mà ông ấy còn lận đận trên đường công danh, sao không đưa tay dìu dắt một phen.

Sáng ra dâng sớ tiến cử Vương làm quan Gián nghị, lập tức có chỉ dụ bổ dụng.

Lại nghĩ tới Thái bộc họ Quách từng trợn mắt với mình, liền gọi bọn Cấp gián họ Lữ và Thị ngu Trần Xương dặn dò, hôm sau sớ tấu đàn hặc nối nhau dâng lên, liền có chỉ cách chức Quách Thái bộc cho về làm dân.

Đền ơn trả oán xong, Tăng rất thỏa ý.

Một hôm ra ngoài thành chơi, có người say rượu phạm vào nghi trượng, Tăng sai trói lại giải tới quan Kinh triệu doãn, người ấy lập tức bị đánh đòn mà chết.

Những người có nhà cửa ruộng đất ở cạnh đều sợ quyền thế đem những ruộng tốt nhà to hiến cho, từ đó Tăng thành phú gia địch quốc.

Không bao lâu, Niễu Niễu và Tiên Tiên nối nhau qua đời.

Tăng khuya sớm nhớ nhung, chợt nhớ năm xưa thấy người con gái hàng xóm tuyệt đẹp, vẫn muốn mua làm tỳ thiếp nhưng vì ít tiền nên không được như nguyện, nay may đã đắc ý, bèn sai mấy tên gia nhân đắc lực đem tiền tới ép nhận sính lễ, giây lát kiệu nàng về tới, so lại với ngày trước thì càng đẹp hơn, tự nghĩ như thế đã thỏa nguyện ước bình sinh rồi.

Hơn năm sau thì các quan trong triều đều ngầm có lòng chê trách nhưng đều không dám nói ra, Tăng cũng nghênh ngang không thèm để ý.

Có quan Long đồ học sĩ họ Bao dâng sớ hặc tội, đại lược như sau:

- Trộm nghĩ Tăng Mỗ vốn là một kẻ vô lại cờ bạc rượu chè, tiểu nhân đầu đường xó chợ, chỉ có một lời nói hợp ý mà được thánh thượng tin dùng, cha con vinh hiển, ân sủng tột bực.

Thế mà không nghĩ tới việc dốc lòng báo đáp trong muôn một, lại phóng ý rông càn làm oai phúc, những tội đáng chết nhổ tóc mà đếm cũng không đủ.

Danh vị trọng thể của triều đình thì coi như món hàng lạ, cân nhắc nhỏ to, ra giá cao thấp.

Vì thế công khanh tướng sĩ đều phải lui tới nhà y, tính toán tiến thân như đi buôn, luồn lọt lấy lòng không kể xiết.

Hoặc có kẻ kiệt sĩ hiền thần không chịu a dua, nhẹ thì bị gạt bỏ không dùng, nặng thì bị cách quan bãi chức.

Thậm chí chỉ hơi trái ý thì y đặt điều vu cáo bắt phải đi đày, nên quan lại đều tê lòng, triều đình thành cô lập.

Lại máu mỡ dân đen mặc tình vơ vét, con gái nhà lành bắt ép làm hầu, hơi oán mịt mờ, mặt trời u ám.

Gia nhân của y tới nơi thì quan địa phương phải dạ lấy lòng, thư từ của y gởi ra thì kẻ cầm quyền phải làm trái phép.

Có khi con cái tôi tớ, họ hàng dây dưa đi ra cũng dùng ngựa trạm, ruổi rong mịt bụi, hò hét thị uy.

Địa phưong cung cấp hơi chậm trễ, roi vọt đánh đập liền ra tay, ức hiếp nhân dân, sai khiến quan lại, nghi trượng tới đâu thì ruộng đồng sạch cỏ.

Thế mà Tăng Mỗ vẫn nghênh ngang hống hách, không chút ăn năn, tấu đối qua loa ở triều đình, dối trá gian tà trước thánh thượng.

Xe kiệu vừa rời chốn công môn, sênh ca đã bày nơi hậu uyển.

Thanh sắc chó ngựa cứ chơi tràn, quốc kế dân sinh chẳng lo nghĩ, trên đời há có loại Tể tướng như thế sao?

Trong ngoài xôn xao, nhân tâm ly tán, nếu không có búa rìu trị ngay, ắt sẽ thành Mãng Tháo gây họa.

Thần sớm tối lo lắng, không dám yên thân, liều chết kể ra các tội của y, dâng lên Thánh thượng xem xét.

Mong Thánh thượng ra lệnh xử chém kẻ gian nịnh, tịch thu của tham ô, để trên thỏa dạ trời, dưới hả bụng chúng.

Nếu thần vu oan, xin cam chịu tội...

*[Mãng Tháo: tức Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán và Tào Tháo lấn quyền vua Hán, sử sách Trung Hoa ngày xưa coi là gian thần].

Tờ sớ dâng lên, Tăng nghe được vô cùng run sợ, người lạnh toát như uống băng, nhưng may nhờ vua khoan dung, để đó không xét.

Kế các quan Khoa đạo cửu khanh lại liên tiếp dâng sớ đàn hặc, ngay những kẻ trước kia xin làm môn hạ, cung kính như cha cũng trở mặt vớì Tăng.

Vua liền giáng chỉ tịch thu gia sản, bắt Tăng sung quân ở Vân Nam, con trai Tăng làm Thái thú quận Bình Dương (tỉnh Sơn Tây) cũng bị triều đình sai quan ra tra xét.

Tăng nghe chỉ dụ đang kinh hoàng thì có mấy mươi võ sĩ đeo gươm cầm giáo vào thẳng nhà trong lột hết áo mão, vợ cũng bị trói.

Kế thấy mấy người vác của cải trong nhà ra sân, vàng bạc tiền nong tới mấy trăm vạn, châu ngọc bảo vật tới mấy trăm hộc, rèm màn giường tủ cũng tới mấy ngàn món, còn những tã lót trẻ con, giày tất đàn bà thì vương vãi khắp sân.

Tăng đều nhất nhất trông thấy, đau lòng xốn mắt.

Giây lát lại có một người bắt nàng hầu đẹp nhất giải ra, tóc rối kêu khóc, mặt ngọc tái xanh, Tăng đau xót như lửa đốt ruột gan nhưng ngậm hờn không dám nói.

Kế lầu gác kho tàng niêm phong xong, họ lập tức quát thét giải Tăng ra, toán lính áp giải xô đẩy vung giáo bắt đi mau.

Vợ chồng Tăng nuốt lệ lên đường, lúc này muốn ngựa tồi xe xấu đỡ chân cũng không sao có được.

Được hơn mười dặm thì vợ mệt quá loạng choạng muốn ngã, Tăng phải dìu đỡ.

Lại hơn mười dặm nữa thì mình cũng mệt mỏi, thấy núi non xa xa cao chọc trời mà lo không trèo lên nổi, cứ kéo tay vợ nhìn nhau khóc lóc nhưng toán lính áp giải trợn mắt sấn tới không cho nghỉ chân.

Lại thấy mặt trời đã lặn, không có chỗ nào nghỉ lại bất đắc dĩ phải khập khiễng lê bước.

Tới lưng núi thì vợ kiệt sức khóc lóc ngồi phịch xuống vệ đường, Tăng cũng mệt quá ngồi xuống nghỉ, mặc cho toán lính áp giải quát tháo chửi mắng.

Bỗng nghe tiếng hò la ầm ĩ, có bọn cướp vác đao sắc ào ào xông ra, toán lính áp giải hoảng sợ bỏ chạy.

Tăng quỳ mọp nói mình một thân trơ trọi bị đày đi xa, hành lý chẳng có gì đáng giá, năn nỉ bọn cướp tha cho.

Bọn cướp trợn mắt nói:

- Bọn ta đều là dân bị hại, chỉ cần cái đầu đứa nịnh tặc chứ không cần lấy gì cả.

Tăng nổi giận quát:

- Ta dù mắc tội cũng là quan lớn của triều đình, lũ giặc cỏ sao dám hỗn láo như thế?

Bọn cướp cũng nổi giận vung búa lớn trên đầu Tăng, nghe thấy đầu rơi xuống đất thành tiếng.

Hồn Tăng còn đang kinh hãi thì lập tức có hai tên quỷ tốt tới nắm tay lôi đi.

Đi mấy khắc thì vào tới một nơi đô hội, giây lát tới một cung điện, trên điện có một vị vương giả tướng mạo xấu xí ngồi xét xử tội phúc.

Tăng khúm núm tới quỳ trước mặt nghe lệnh, vị vương giả mở sổ xem qua mấy hàng lập tức giận dữ quát:

- Tên này phạm tội dối vua hại nước, phải bỏ vào vạc dầu.

Muôn quỷ dạ ran như sấm, lập tức có tên quỷ to lớn lôi Tăng xuống dưới thềm, thấy cái vạc cao khoảng bảy tám thước, bốn phía đốt than, chân vạc đỏ rực.

Tăng run sợ kêu khóc, muốn chạy trốn mà không được, tên quỷ tốt tay trái túm tóc, tay phải nắm chân Tăng ném vào vạc dầu, Tăng theo dầu sôi nổi lên chìm xuống, da thịt bong rát đau thấu tim gan, dầu tràn vào miệng cháy bỏng gan ruột, muốn chết ngay mà không chết được.

Khoảng xong bữa cơm, tên quỷ tốt lấy đinh ba vớt Tăng ra đem vào sảnh đường.

Vị vương giả lại xem sổ sách, nổi giận nói:

- Y cậy thế hiếp người, phải quăng vào núi đao.

Quỷ tốt lại lôi Tăng đi, thấy hòn núi không to lớn lắm nhưng sườn đá dựng đứng, đao nhọn tua tủa như măng mọc dày đặc, đã có mấy người thủng bụng toác ruột đang vướng bên trên, đau đớn kêu gào vô cùng thảm thiết.

Quỷ tốt giục Tăng leo lên, Tàng khóc rống lùi lại, quỷ tốt cầm dùi nhọn đâm vào gáy, Tăng nhịn đau xin tha cho, quỷ tốt nổi giận túm lấy Tăng ra sức ném lên trời.

Tăng thấy mình lơ lửng trên mây rồi rơi thẳng xuống, bị đao xóc vào bụng, đau đớn không sao nói xiết.

Lát sau vì thân thể to béo đè nặng lên nên vết đao đâm vào dần dần rộng ra, chợt rơi phịch xuống, chân tay co quắp.

Quỷ tốt lại dẫn vào trước mặt vị vương giả, vương sai tính lại lúc sinh bình Tăng bán chức buôn danh, ăn hối lộ cướp của người được bao nhiêu tiền.

Lập tức có người rậm râu đứng gãy bàn tính rồi nói:

- Tất cả là Ba trám hai mươi mốt vạn.

Vương nói:

- Y đã gom góp thì bắt y uống đi!

Phút chốc lấy vàng bạc ra chất đống dưới thềm, cao như gò núi, rồi từ từ bỏ vào nồi sắt quạt lửa nấu chảy ra, kế mấy tên quỷ tốt luân phiên lấy gáo múc đổ vào miệng Tăng, tràn qua gò má thì da thịt cháy khét, vào tới cuống họng thì ruột gan nóng sôi, lúc sống lo vật ấy có ít, lúc ấy lại sợ nó quá nhiều, mất nửa ngày mới uống xong.

Vương giả sai quỷ tốt giải Tăng đi đầu thai làm con gái ở đất Cam Châu (huyện Trương Dịch tính Cam Túc).

Đi độ vài bước thấy trên giá cao có một cây trục sắt chu vi độ mấy thước xỏ qua một bánh xe lớn, rộng lớn không biết mấy trăm dặm, sáng lóe năm sắc chiếu tới mây xanh.

Quỷ tốt đánh bắt trèo lên, Tăng nhắm mắt bước lên thì bánh xe theo chân xoay chuyển, thấy như bị rơi xuống, toàn thân mát lạnh, mở mắt nhìn lại mình thì đã hóa ra đứa trẻ sơ sinh mà lại là con gái.

Nhìn tới cha mẹ thì áo quần rách rưới, trong gian phòng vách đất còn đủ cả bị gậy, biết đã đầu thai làm con ăn mày.

Lớn lên hàng ngày theo đám trẻ ăn mày đi xin ăn, bụng lép kẹp ít khi được no, áo tả tơi gió lạnh thấu xương.

Năm mười bốn tuổi bị bán làm vợ lẽ cho Tú tài họ Cố, tuy hơi được no ấm nhưng gặp người vợ lớn hay ghen, hàng ngày thường đánh đập, lại nung sắt đỏ đốt vú, may là chồng thương xót nên cũng thấy được an ủi.

Chợt có gã thiếu niên hung ác bên láng giềng trèo tường qua cưỡng ép, mới tự nghĩ kiếp trước làm nên tội nghiệt đã chịu hình phạt dưới âm ty rồi, nay sao lại phải chịu như thế nữa.

Bèn kêu ầm lên, chồng và vợ lớn đều tỉnh dậy, gã thiếu niên mới bỏ chạy.

Không bao lâu, một đêm Tú tài tới ngủ ở phòng, đang thì thầm to nhỏ kể lể oan khổ bỗng có tiếng ầm ầm, cửa phòng mở toang, có hai tên cướp cầm đao sấn vào chặt đầu Tú tài rồi lục lọi tài vật, sợ hãi nằm im trong chăn không dám lên tiếng.

Kế bọn cướp đi rồi mới kêu khóc chạy tới phòng vợ lớn, vợ lớn cả kinh, cùng tới xem xét khóc lóc, nghi là vợ lẽ đưa gian phu vào giết chồng bèn làm đơn trình lên Thứ sử.

Thứ sử cho bắt tra hỏi, bị tra tấn tàn nhẫn đành nhận bừa, bị kết án lăng trì.

Khi bị giải ra chỗ hành hình, trong lòng uất ức không sao phát tiết, vừa đi vừa la khóc rằng mười tám địa ngục dưới âm ty cũng không có nơi nào đen tối hơn.

Đang kêu gào thảm thiết, nghe tiếng bạn cùng đi gọi:

- Anh bị ma đè à?

Giật mình tỉnh dậy, thấy nhà sư già vẫn ngồi xếp bằng như cũ.

Bạn bè lại hỏi:

- Trời chiều bụng đói sao ngủ say thế?

Tăng buồn rầu đứng lên.

Nhà sư mỉm cười hỏi:

- Quẻ bói Tể tướng nghiệm chưa?

Tăng càng kinh sợ, vái lạy thỉnh giáo.

Nhà sư nói:

- Tu nhân tích đức thì trong lò lửa tự có sen vàng chứ bần tăng làm sao biết được?

Tăng nghênh ngang khi tới, không ngờ buồn bã mà về, tấm lòng công danh từ đó nguội lạnh, sau vào núi tu, không rõ kết cục ra sao.

_____________________________________

CHƯƠNG 85: TIỂU LIỆP KHUYỂN

CHÓ SĂN TÍ HON

Phân Phân Dã Mã Dữ Ê Kê

Đạo Thị Tiên Sinh Thụy Nhãn Mê

Ky Sắt Ký Trừ Di Tế Khuyển

Ngụ Ngôn Đắc Thỏ Mạc Vong Đề

Dịch:

Bời Bời Dã Mã (Hạt Bụi) Với Ê Kê

Há Phải Tiên Sinh Mất Ngủ Mê

Chấy Rận Trừ Rồi Quên Chó Nhỏ

Ngụ Ngôn Được Thỏ Chó Quên Đề



Tể tướng họ Vệ ở Sơn Tây lúc còn là Chư sinh ghét ồn ào phiền nhiễu nên tới ở trong chùa, khổ là trong phòng rất nhiều rận rệp ruồi muỗi, cả đêm không chợp mắt được nên ăn cơm trưa xong bèn lên giường nằm nghỉ.

Chợt thấy một võ sĩ nhỏ bé đội mũ gắn lông trĩ, cao khoảng hai tấc, cưỡi con ngựa to bằng con sâu, vai mang cái đai xanh trên có con chim ưng to bằng con ruồi từ ngoài vào qua lại trong phòng, lúc đi lúc chạy.

Ông đang chăm chú ngắm nhìn chợt lại có một người khác vào, trang phục như người trước, lưng đeo bộ cung nhỏ, dắt con chó săn to bằng con kiến càng.

Khoảnh khắc thì có vài trăm quân bộ quân kỵ ồ ạt kéo vào, dắt theo vài trăm con chim ưng, vài trăm con chó săn, có bao nhiêu ruồi muỗi đang bay đều thả ưng ra đánh giết bằng hết.

Lại thả chó lên giường lần theo sát vách tìm săn rận rệp sâu bọ, sục tới khe hở nào thì sâu bọ trong đó đều phải bò ra, trong chớp mắt đã cắn giết sạch.

Ông vờ ngủ hé mắt nhìn, thấy chim ưng đánh giết, chó săn săn mồi sát bên người mình.

Kế có một người mặc áo màu vàng đội mũ bình thiên như bậc vương giả lên một giường khác, nghênh ngang dong xe bốn ngựa đi lại.

Bọn quân kỵ đều xuống ngựa dâng các con vật săn được lên, chất đống bên cạnh, cũng không rõ là trò chuyện những gì.

Giây lát vị vương giả lại lên xe, quân hộ vệ đều vội vàng lên ngựa rầm rập túa ra như đậu lăn kéo đi như mây bay gió cuốn, trong chớp mắt đã đi hết.

Ông nhìn thấy rõ ràng, kinh lạ không rõ bọn họ từ đâu tới, xỏ giày bước ra xem thì không thấy bóng dáng dấu vết gì cả, duy thấy trên hòn gạch sát tường còn sót một con chó nhỏ, vội vàng bắt lấy.

Con chó rất thuần, ông đặt vào cái hộp đựng nghiên mực xoay đi xoay lại ngắm nhìn, thấy lông rất mượt, cổ có đeo cái vòng nhỏ.

Lấy cơm cho ăn thì nó chỉ ngửi rồi bỏ đi, nhảy lên giường tìm những nếp chăn nếp áo sục sạo bắt rận rệp, xong rồi quay về nằm xương ngủ.

Qua một đêm, ông ngờ là nó đã bỏ đi, xem lại thấy vẫn nằm khoanh tròn như cũ.

ông ngủ trưa thì nó nhảy lên giường, cứ thấy sâu bọ nào trên chiếu là cắn chết hết, ruồi muỗi cũng không dám đáp xuống, ông quý hơn cả vàng ngọc.

Một hôm ông ngủ trưa, con chó tới rúc xuống nằm bên cạnh.

Ông tỉnh dậy trở mình đè lên nó, thấy có vật gì cộm dưới lưng, nghĩ ngay là con chó vội vàng dậy xem thì nó đã chết bẹp như mảnh giấy, nhưng từ đó không bị rận rệp gì cắn nữa.

Phụ Lục: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Phụ Lục: Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)

Quan Tể tướng Mỗ lúc chưa thi đỗ, mùa hè thường nằm ngủ trưa.

Chợt thấy một người nhỏ bé cưỡi ngựa vào, người ngựa đều cao khoảng hơn tấc, lưng đeo cung tên, vai mang chim ưng to bằng con ruồi.

Kế một người nữa tới, cũng nhỏ bé như vậy, dắt một con chó săn to bằng con kiến càng.

Hai người đi vòng vòng trong phòng, hồi lâu có vài ngàn giáp sĩ kéo vào, cờ xí rực rỡ chia làm hai cánh bổ vây mở cuộc săn lớn, ruồi muỗi trong phòng đều bị giết sạch, những sâu bọ trốn núp trên kẽ vách đều bị lôi ra.

Kế có một người áo đỏ xuống xe ngồi lên giường khác, quân sĩ lần lượt tới dâng những vật săn bắt được.

Xong lại lên xe, đội ngũ tề chỉnh kéo đi, quân giáp sĩ cũng ra theo như mây bay gió cuốn rút hết.

Ông choàng dậy không thấy gì nữa, chỉ còn một con chó nhỏ ngơ ngác trên vách, lập tức bắt lấy bỏ vào tráp.

Con chó rất thuần, ông cho cơm thì không ăn, ông ngủ thì nằm bên cạnh gối, cứ thấy ruồi muỗi thì cắn đuổi đi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 86+87


CHƯƠNG 86: TÂN THẬP TỨ NƯƠNG

THẬP TỨ NƯƠNG HỌ TÂN

Liễu Khước Phu Thê Vị Liễu Tình

Công Thành Chủ Tì Hảo Đồng Hành

Xá Thư Mạch Địa Tòng Thiên Giáng

Tằng Đối Thiên Nhan Đạo Tính Danh

Dịch:

Xa Cách Phu Thê Chửa Dứt Duyên

Công Thành Chủ Tớ Khéo Tương Liên

Xá Thư Bỗng Tự Trên Trời Xuống

Từng Tấu Thiên Nhan Rõ Họ Tên



Phùng sinh ở huyện Quảng Bình (tỉnh Hà Bắc) là người thời Chính Đức nhà Minh (1506-1521), lúc trẻ lông bông hay rượu.

Sáng sớm ra đường gặp một thiếu nữ mặc áo khoác đỏ, vô cùng xinh đẹp, có đứa tiểu đồng theo hầu, đạp bừa trên sương mà đi, giày tất ướt hết, lòng thầm yêu mến.

Chiều tối say rượu trở về, bên đường vốn có ngôi chùa bỏ hoang đã lâu, có cô gái từ trong đi ra, chính là người đẹp lúc sáng.

Nàng vừa thấy sinh tới, lập tức quay người trở vào.

Sinh nghĩ thầm người đẹp như thế sao lại ở trong chùa, liền buộc lừa ở cổng rồi vào trong tìm hiểu chuyện lạ.

Vào thấy tường rào đổ nát, cỏ phủ đầy thềm, còn đang ngần ngừ thì một ông già tóc bạc đi ra, áo mũ chỉnh tề hỏi khách tới đây làm gì.

Sinh đáp:

- Ngẫu nhiên đi ngang thấy ngôi chùa cổ nên muốn vào lễ Phật, còn ông tới đây làm gì?

Ông già đáp:

- Lão phu ngụ cư không có chỗ ở nên mượn tạm nơi này cho gia đình ở, được ông quang lâm, có chén trà núi cũng tạm thay rượu được.

Rồi cung kính mời khách vào.

Thấy hậu điện có gian nhà, đường đi lát đá sáng bóng không có chút rêu cỏ, vào nhà thì rèm cửa màn giường đều thơm phức.

Ngồi xuống hỏi họ tên, ông già nói là Mông Tẩu họ Tân.

Sinh nhân say hỏi:

- Nghe nói ông có một cô con gái chưa gả cưới, ta không xét mình, tình nguyện làm rể được không?

Tân cười nói:

- Để ta bàn lại với bà ấy!

Sinh lập tức hỏi lấy giấy bút làm một bài thơ rằng:

Thiên kim mịch ngọc chử

Ân cần thủ tự tương

Vân Anh như hữu ý

Thân vị đảo nguyên sương.

Dịch:

(Ngàn vàng tìm chày ngọc

Ân cần tay tự mang

Vân Anh như có ý

Xin giã thuốc cho nàng.)

*[Vân Anh như hữu ý, xin giã thuốc cho nàng: Bùi Hàng truyền kỳ chép Bùi Hàng là người thời Đường đi ngang trạm Lam Kiều khát nước ghé vào nhà một bà già xin nước uống, bà già sai con gái là Vân Anh mang nước ra cho.

Hàng thấy nàng xinh đẹp xin cưới làm vợ, bà già nói mình có phương thuốc tiên nhưng còn thiếu cối ngọc chày ngọc để giã, nếu Hàng tìm được sẽ gả Vân Anh cho.

Sau Hàng mua được cối ngọc chày ngọc tới, bà già sai Hàng giã thuốc một trăm ngày rồi gả Vân Anh cho Hàng, kế hai vợ chồng cũng thành tiên.

Bài thơ của Phùng sinh dùng tích này để ngỏ ý xin làm rể nhà ông Tân].

Chủ nhân đọc thơ cười đưa cho người hầu, giây lát có tỳ nữ từ nhà trong ra ghé tai Tân nói nhỏ.

Tân đứng lên xin khách chịu khó ngồi đợi rồi vén rèm vào nhà trong, nghe trò chuyện loáng thoáng năm ba câu rồi lập tức trở ra.

Sinh nghĩ chắc có tin hay nhưng Tân cứ ngồi cười nói trò chuyện chứ không nói gì tới việc đó.

Sinh không kìm được hỏi luôn:

- Chưa rõ ý ông về việc đó thế nào, xin dạy bảo cho ta hết ngờ vực.

Tân đáp:

- Ông là bậc tài sĩ, ta đã hâm mộ từ lâu, nhưng có chuyện riêng nên không dám nói thôi.

Sinh cứ nài nỉ xin cho biết, Tân đáp:

- Ta có tất cả mười chín con gái, đã gả chồng cho mười hai đứa, nhưng việc cưới gả đều quyền ở bà nó chứ ta không dự bàn.

Sinh nói:

- Tiểu sinh chỉ muốn hỏi cưới người dắt đứa tiểu đồng lội sương sáng nay thôi.

Tân không đáp, im lặng nhìn khách, nghe trong phòng có tiếng con gái thì thào, sinh mượn men vén rèm bước vào, nói:

- Đã không thành vợ chồng được, thì cũng phải thấy mặt một lần ta mới nguôi hận.

Bên trong nghe tiếng rèm khua đều sửng sốt đúng cả dậy, quả có cô gái áo đỏ xốc tay áo nghiêng đầu mân mê giải áo, thấy sinh xông vào hoảng hốt nhìn khắp mọi người trong phòng.

Tân tức giận sai mấy người lôi sinh ra cửa.

Men rượu càng bốc, sinh ngã lăn vào bụi gai, gạch đá ném xuống như mưa, may mà không trúng vào người.

Nằm một lúc nghe con lừa vẫn còn gặm cỏ bên đường, bèn dậy lên lừa thất thểu ra đi.

Trời tối lầm đường lạc vào khe núi, sói gào cú rúc rợn gáy lạnh mình, ngập ngừng nhìn quanh không biết đang ở đâu.

Nhìn tới khu rùng xa xa thấy có ánh đèn thấp thoáng, nghĩ là làng xóm, liền giục lừa tới, thấy cánh cổng cao rộng bèn cầm roi gõ cửa.

Bên trong có người hỏi:

- Lang quân ở đâu mà nửa đêm tới đây?

Sinh đáp là lạc đường.

Người ấy nói:

- Chờ ta thưa với chủ nhân!

Sinh đứng đợi chồn cả chân, chợt nghe tiếng then lạch cạch rồi cánh cổng mở ra, một người tớ trai khỏe mạnh bước ra đỡ dây cương lừa.

Sinh vào, thấy nhà cửa hoa lệ, trên sảnh thắp đèn sáng trưng.

Ngồi giây lát thì có người đàn bà ra hỏi tên họ khách, sinh nói rõ.

Hồi lâu có mấy tỳ nữ đỡ một bà già ra, nói:

- Quận quân tới!

Sinh đứng lên định vái lạy, bà già ngăn lại bảo ngồi rồi hỏi:

- Ngươi là cháu nội của Phùng Vân Tử phải không?

Sinh đáp:

- Thưa phải!

Bà già nói:

- Vậy thì ngươi là cháu gọi lão thân bằng bà mợ.

Thân già như chuông câm lậu cạn, đến cuối đời họ hàng ruột thịt cũng không ai lui tới.

Sinh nói:

- Cháu lúc nhỏ mồ côi cha, những người lui tới với ông nội mười phần không biết một nên chưa được chào bà, xin chỉ bảo cho.

Bà già nói:

- Rồi cháu sẽ tự rõ!

Sinh không dám hỏi nữa, ngồi đối diện bà già trầm tư.

Bà già hỏi:

- Sao cháu lại nửa đêm tới đây?

Sinh bèn khoe khoang mình gan dạ, kể rõ những chuyện đã qua.

Bà già cười nói:

- Đó là việc mừng lớn, huống hồ cháu là danh sĩ, chẳng có gì làm nhà thông gia phải xấu hổ mà con chồn tinh nhà quê sao dám làm cao như thế?

Cháu đừng lo, để ta thu xếp cho.

Sinh vâng dạ cám ơn, bà già quay lại hỏi tả hữu:

- Ta không biết con gái họ Tân lại có đứa xinh đẹp như thế đấy.

Một tỳ nữ nói:

- Y có mười chín con gái, người nào cũng xinh xắn, không rõ quan nhân định hỏi người nào?

Sinh đáp:

- Là người khoảng mười lăm tuổi.

Người tỳ nữ nói:

- Vậy là cô Mười bốn, ba hôm trước từng theo mẹ tới đây chúc thọ Quận quân, Quận quân quên rồi sao?

Bà già cười nói:

- Phải là người kết hột sen làm giày cao gót, trong chứa bột thơm, ngoài bọc sa mỏng mà đi không?

Người tỳ nữ đáp:

- Thưa phải!

Bà già nói:

- Con nhãi ấy biết làm ra vẻ quyến rũ khéo lắm, nhưng quả là xinh đẹp, cháu ta thưởng lãm không sai.

Rồi lập tức bảo:

- Sai thằng Mèo Con gọi nó tới đây!

Người tỳ nữ đó vâng dạ đi ra, lát sau quay vào bẩm:

- Đã gọi được cô Mười bốn nhà họ Tân tới.

Liền thấy cô gái áo đỏ bước vào phủ phục làm lễ, bà già kéo dậy nói:

- Sắp làm vợ cháu ta, không nên làm lễ như tỳ nữ thế nữa.

Cô gái thướt tha đứng lên, hai tay áo đỏ rủ xuống, bà già sửa mái tóc cho, sờ đôi hoa tai của nàng hỏi:

- Gần đây Tân Mười bốn ở nhà làm gì?

Nàng đáp khẽ:

- Lúc rảnh con chỉ thêu thùa.

Rồi quay đầu thấy sinh, có vẻ ngượng ngập bối rối.

Bà già nói:

- Đó là cháu ta, nó có ý tốt muốn kết duyên với con, sao lại để nó lạc đường, đêm khuya thất thểu trong khe núi thế?

Nàng cúi đầu im lặng.

Bà già nói:

- Ta gọi con tới đây không có chuyện gì khác, chỉ là muốn làm mai cho cháu ta đấy thôi.

Nàng vẫn im lặng.

Bà già sai quét giường trải nệm để làm lễ thành hôn lập tức, cô gái thẹn thùng nói:

- Xin cho con về thưa với cha mẹ.

Bà già nói:

- Ta làm mai cho con thì còn có gì sai sót chứ?

Nàng thưa:

- Quận quân ra lệnh thì cha mẹ con phải vâng lời chứ đâu đám trái, nhưng qua quít thế này thì con dù chết cũng không dám vâng mệnh.

Bà già cười nói:

- Con bé này chí khí cứng cỏi, thật xứng đáng làm vợ cháu ta.

Bèn rút một chiếc thoa vàng trên tóc nàng đưa cho sinh làm tin, bảo về chọn ngày lành giờ tốt làm lễ cưới.

Rồi sai tỳ nữ đưa nàng về, nghe xa xa có tiếng gà gáy lại sai dắt lừa tới tiễn sinh ra.

Sinh đi được vài bước, ngoảnh lại thì nhà cửa xóm làng đã biến mất, chỉ thấy cây cối um tùm, cỏ hoang mộ lở mà thôi, định thần ngẫm nghĩ hồi lâu mới nhớ ra chỗ đó là mộ quan Thượng thư họ Tiết.

Tiết vốn là em bà nội sinh nên gọi sinh là cháu.

Lúc ấy sinh biết mình đã gặp ma, nhưng không hiểu cô Tân Mười bốn là ai.

Bèn than thở quay về, chọn bừa một ngày tốt chờ nhưng vẫn thầm ngờ vực lời hẹn của ma quỷ khó tin, lại tới ngôi chùa cổ xem thì trong ngoài vắng tanh, hỏi thăm thì người ở đó nói trong chùa thường có hồ quy.

Sinh nghĩ thầm nếu được vợ đẹp thì có là hồ cũng tốt.

Đến ngày đã định liền cho dọn phòng quét ngõ, sai người nhà thay phiên nhau ra ngóng, đến nửa đêm vẫn yên ắng, sinh đã hết trông chờ.

Giây lát nghe ngoài cổng ồn ào, lật đật ra xem thì kiệu hoa đã ngừng ở sân, hai a hoàn đỡ cô gái vào phòng, của hổi môn không có gì đáng giá chỉ có hai người tớ trai khiêng một cái phốc mãn to bằng cái khạp ghé vai đặt xuống góc phòng khách.

Sinh mừng được vợ đẹp, không nghĩ gì tới việc khác loài, nhân hỏi cô gái:

- Một người đã chết như vậy sao nhà nàng quá phục tùng thế?

Nàng đáp:

- Quan Thượng thư họ Tiết hiện làm Ngũ Đô Tuần hoàn sứ, hồ quỷ trong vài trăm dặm đều phải theo hầu, nên ít khi về mộ.

Sinh nhớ cái ơn làm mối, hôm sau tới tế mộ ông bà, lúc về thấy hai tỳ nữ đem tới một cuộn gấm mừng, đặt lên bàn rồi đi.

Sinh kể lại cho cô gái, nàng xem cuộn gấm rồi nói:

- Đây là vật của quận quân đấy!

Trong huyện có công tử con quan Thông chính ty họ Sở, thuở nhỏ học chung với sinh, chơi bời thân mật, nghe sinh cưới được vợ hồ liền đem thức ăn tới, sinh lập tức ra sảnh đường nhận rượu mừng.

Vài hôm sau công tử lại bày tiệc mời, cô gái nghe chuyện nói với sinh:

- Hôm trước công tử tới, thiếp nhìn trộm qua kẽ vách thấy người ấy mắt vượn mũi ưng không thể thân cận, chàng đừng đi!

Sinh nghe theo.

Hôm sau công tử tới trách sinh lỗi hẹn, nhân khoe bài văn mới làm.

Sinh bình phẩm có ý giễu cợt, công tử cả thẹn không vui, kế chia tay.

Sinh vào phòng cười kể lại, cô gái buồn bã nói:

- Công tử độc ác như sài lang, không nên trêu chọc.

Chàng không nghe lời thiếp thì sắp gặp tai vạ rồi.

Sinh cười xin lỗi nàng.

Sau đó sinh gặp công tử thì cười đùa vui vẻ, chuyện xích mích trước dần tiêu tan.

Gặp lúc có kỳ thi ở dinh Đốc học, công tử đỗ đầu, vô cùng vui vẻ sai người mời sinh qua uống rượu, sinh từ chối, công tử sai mời mấy lần mới tới.

Khi tới mới biết là ngày sinh nhật của công tử, khách khứa đầy nhà, rượu thịt ê hề.

Công tử đưa quyển thi cho sinh xem, bạn bè đua nhau ca tụng.

Rượu được vài tuần, dàn nhạc ra tấu dưới thềm, tiếng đàn sáo tưng bùng, chủ khách đều rất vui vẻ.

Bỗng công tử nói với sinh:

- Lời ngạn có câu Trong trường chớ bàn văn chương hơn kém, nay mới rõ câu ấy là sai.

Sở dĩ mới rồi tiểu sinh may mắn đỗ trên ông là nhờ vài câu khởi đề cao hơn một bực mà thôi.

Công tử nói xong, cả tiệc đều cất tiếng khen ngợi.

Sinh đang say không nhín được, cười rộ nói:

- Mãi đến nay ông mới nhờ văn chương mà thành đạt tới mức ấy à?

Sinh nói xong cả tiệc đều tái mặt, công tử vừa thẹn vừa uất.

Khách khứa lần lượt ra về, sinh cũng lẩn đi.

Khi tỉnh rượu hối hận bèn kể lại cho vợ, nàng không vui, nói:

- Chàng thật là gã thôn phu quê mùa!

Phàm lấy thái độ khinh bạc đối xử với bậc quân tử thì tổn đức, đối xử với kẻ tiểu nhân thì hại thân, tai họa sắp tới cho chàng không còn xa đâu.

Thiếp không nỡ thấy chàng lưu lạc, từ nay xin giã biệt.

Sinh lo sợ sa nước mắt tỏ ý ăn năn, nàng nói:

- Nếu muốn thiếp ở lại thì chàng phải hứa là từ nay trở đi đóng cửa tuyệt hết bạn bè, không uống rượu say sưa nữa.

Sinh kính cẩn theo lời.

Cô Mười bốn tính cần kiệm hơn người, hàng ngày thường lo việc canh cửi, có lúc về thăm nhà nhưng không bao giờ ở lại qua đêm.

Có khi lại xuất tiền buôn bán, hàng ngày có lời thì bỏ vào cái phốc mãn.

Ngày ngày đóng cửa, ai tới thăm viếng cững bảo gia nhân ra từ tạ không tiếp.

Hôm sau, công tử họ Sở gửi thư tới, nàng đốt bỏ không cho sinh biết.

Lại hôm sau sinh vào thành điếu tang, gặp công tử ở nhà tang chủ, công tử nắm tay lôi kéo mời mọc, sinh thác cớ không đi.

Công tử sai mã phu nắm cương ngựa sinh kéo đi, tới nhà công tử lập tức sai bày tiệc, sinh lại cáo từ muốn về sớm.

Công tử nhất định giữ lại, lại gọi ban nhạc trong nhà ra đàn hát giúp vui.

Sinh vốn không chịu bị gò bó, từ khi phải đóng cửa ở lỳ trong nhà rất lấy làm buồn bực, gặp bữa rượu lớn chợt nổi hứng không nghĩ gì tới ý trước nữa, cứ thả sức uống đến lúc say mèm lăn ra luôn bên bàn tiệc.

Vợ công tử là Nguyễn thị rất hung dữ ghen tuông, đám tỳ thiếp không dám trang điểm son phấn.

Hôm trước có một nàng hầu vào phòng sách của công tử bị Nguyễn thị bắt được, cứ lấy gậy đập vào đầu, nàng ấy vỡ đầu chết ngay.

Công tử vẫn căm giận vì bị sinh chế giễu, hàng ngày nghĩ cách báo thù, bèn mưu phục rượu cho say để vu cáo.

Nhân lúc sinh say ngủ, liền khiêng cái xác nàng hầu lên giường rồi khép cửa bỏ đi.

Đến canh năm sinh tỉnh mới biết mình ngủ trên ghế bèn dậy tìm giường, thấy có vật mềm mềm vướng chân, mò xem thì là người.

Bụng nghĩ chắc chủ nhân cho tiểu đồng ngủ chung để chăm sóc hầu hạ, nhưng lay gọi sờ nắn thì bất động mà cứng đờ, cả sợ ra cửa la ầm lên.

Tôi tớ trong nhà vùng dậy, thắp đèn soi thấy xác chết liền bắt sinh đánh dập.

Công tử tới giả xem xét xác chết rồi vu cho sinh cưỡng gian giết nàng hầu của mình, giải nộp lên huyện Quảng Bình.

Hôm sau cô Mười bốn mới biết chuyện, khóc nói:

- Ta đã biết trước là sẽ có ngày hôm nay mà.

Rồi hàng ngày gởi tiền bạc cho sinh.

Sinh gặp quan Phủ doãn không có lý lẽ gì để minh oan nên sớm chiều bị tra khảo đánh đập tuột da nát thịt.

Cô gái vào ngục thăm, sinh gặp nàng nghẹn ngào đau đớn không nói nên lời.

Nàng biết đã mắc vào mưu sâu bèn khuyên cứ nhận tội bừa cho khỏi bị tra tấn đau đớn, sinh khóc nghe theo.

Nàng ra vào trong ngục mà người cách nhau gang tấc cũng không nhìn thấy, về nhà thở dài buồn bã, đuổi hết tớ gái ra ngoài, ở trong phòng một mình liền mấy ngày.

Kế nhờ bà mối mua giùm một cô gái nhà dân tên Lộc Nhi, tuổi vừa cập kê, nhan sắc khá đẹp, cho ăn cùng mâm nằm cùng chiếu, yêu mến khác hẳn đám tỳ thiếp trong nhà.

Sinh nhận tội ngộ sát bị kết án thắt cổ, người lão bộc nghe tin chạy về khóc lóc kể không ra tiếng, nhưng nàng thản nhiên như không để ý.

Kế sắp đến ngày đem xử những tù phạm bị kết án tử hình, nàng mới nhớn nhác vội vã, ngày đi đêm về không lúc nào nghỉ ngơi, lúc vắng người thì ngồi buồn rầu, bỏ cả ăn ngủ.

Một hôm trời vừa sập tối, chợt con hồ tỳ tới, nàng vội đứng lên dắt vào phòng kín trò chuyện, lúc quay ra thì có vẻ hón hở, lại coi sóc việc nhà như ngày thường.

Hôm sau người lão bộc vào ngục thăm, sinh gởi lời vĩnh biệt nương tử, người lão bộc về thuật lại, nàng ậm ừ mà cũng chẳng có vẻ đau thương buồn bã, chỉ lạnh lùng mặc kệ, tôi tớ đều lén chê là nàng nhẫn tâm.

Chợt khắp nơi đồn đại quan Thông chính sứ họ Sở bị cách chức, quan Quan sát Bình Dương vâng đặc chỉ xét lại vụ án Phùng sinh.

Lão bộc nghe tin, mừng rỡ vào nói với bà chủ.

Nàng cũng mừng, lập tức sai lão bộc lên phủ thăm dò, thì sinh đã ra khỏi ngục, gặp nhau vừa mừng vừa tủi.

Giây lát thấy công tử bị bắt giải tới, chỉ tra hỏi một lượt là biết hết nội tình, sinh được tha ngay về.

Về tới nhà, sinh vừa nhìn thấy vợ vùng sa nước mắt, nàng cũng chua xót.

Sinh buồn rồi lại vui, nhưng rốt lại vẫn không rõ nhờ đâu mà vua biết được.

Nàng cười chỉ con hồ tỳ nói:

- Đây là công thần của chàng đấy!

Sinh mới kinh ngạc hỏi han.

Trước là nàng sai con hồ tỳ lên yên Kinh, muốn vào cung vua kêu oan cho sinh nhưng tới nơi thấy trong cung có thần canh giữ, cứ quanh quẩn ngoài ngự câu mấy tháng không vào được.

Nó sợ hỏng việc, toan về bàn tính lại, chợt nghe tin Thiên tử sắp ngự giá tới huyện Đại Đồng (tỉnh Sơn Tây), liền tới đó trước, giả làm con hát rong.

Vua tới kỹ viện gặp nó rất thương yêu, tỏ ý ngờ không phải là kẻ phong trần, nó bèn cúi đầu khóc lóc.

Vua hỏi có chuyện gì oan khổ, con hồ tỳ tâu:

- Thiếp vốn quê ở huyện Quảng Bình, con gái sinh viên Phùng mỗ, vì cha bị vu oan sắp bị xử tử nên bị bán vào kỹ viện.

Vua nghe thấy buồn bã thương xót, ban cho một trăm lượng vàng, lúc ra về lại hỏi kỹ đầu đuôi câu chuyện, lấy giấy bút ghi lại tên họ, lại nói muốn đưa nó về cùng chung hưởng phú quý.

Con hồ tỳ nói chỉ muốn cha con đoàn tụ chứ không mong được hưởng giàu sang, vua gật đầu rồi đi.

Con hồ tỳ kể lại cho sinh nghe, sinh vội vái lạy tạ ơn, nước mắt lưng tròng.

Không bao lâu sau, cô gái chợt nói với sinh:

- Thiếp không vì tình duyên thì đâu phải chịu cảnh phiền não thế này.

Lúc chàng bị giam, thiếp chạy chọt khắp cả họ hàng thân thuộc mà không một ai bàn tính giùm mưu kế gì, lúc ấy trong lòng chua cay, thật không thể nói ra.

Nay thấy chán ghét tục lụy, đã tìm sẵn cho chàng một người vợ hiền, vậy từ đây xin giã biệt.

Sinh nghe lạy phục xuống đất khóc lóc không chịu đứng lên, cô gái mới ở lại.

Đến đêm nàng sai Lộc Nhi qua với sinh, sinh nhất định từ chối.

Sáng hôm sau thấy cô Mười bốn dung mạo sút hẳn, hơn một tháng thì già sọm đi, nửa năm thì mặt nám da đen như bà già nhà quê, nhưng sinh vẫn kính mến không khác trước.

Chợt cô gái lại đòi từ biệt, nói:

- Chàng đã có vợ đẹp rồi, cần gì tới con quỷ già này?

Sinh lại khóc giữ lại như trước.

Qua tháng sau, cô gái phát bệnh nguy cấp, bỏ cả ăn uống nằm liệt.

Sinh hôm sớm thuốc thang như lo cho cha mẹ, nhưng thuốc men bùa chú gì cũng vô hiệu, kế nàng chết.

Sinh đau thương muốn chết theo luôn, liền lấy số vàng của con hồ tỳ được vua ban cho trước kia lo việc chôn cất.

Vài hôm sau con hồ tỳ cũng đi.

Sinh bèn lấy Lộc Nhi làm vợ, hơn một năm sinh được một trai.

Nhưng sinh đi thi mấy khoa liền không đỗ mà gia cảnh ngày càng sa sút, vợ chồng không biết làm sao, chỉ nhìn nhau buồn rầu.

Chợt nhớ tới cái phốc mãn trong góc nhà, thường thấy cô Mười bốn bỏ tiền vào trong, không biết có còn không?

Tới xem thì nồi niêu chai lọ bày la liệt ở trên, phải nhấc cả ra rồi lấy đũa chọc thử nhưng không chọc vào được, bung lên đập vỡ thì tiền bạc tuôn ra đầy nhà, nhờ thế bỗng chốc sinh lại trở thành sung túc.

Về sau người lão bộc tới núi Thái Hoa, gặp cô Tân Mười bốn cưỡi ngựa đi trước, con hồ tỳ cưỡi lừa theo sau, hỏi:

- Phùng lang bình yên chứ?

Lại dặn:

- Về nói cho ông chủ biết là ta đã thành tiên rồi.

Nói xong thì biến mất.

____________________________________

CHƯƠNG 87: BẠCH LIÊN GIÁO

Tả Đạo Do Lai Ảo Thuật Đa

Nhất Gia Giới Hệ Thái Hàng Qua

Cự Nhân Thôn Bãi Ung Dung Khứ

Cánh Đắc An Nhiên Thoát Võng La

Dịch:

Tả Đạo Bày Nhiều Ảo Thuật A

Toàn Gia Xiềng Xích Thái Hàng Qua

Khổng Lổ Xuất Hiện Ung Dung Nuốt

Lại Được An Nhiên Thoát Lưới Ra



Bạch Liên giáo có Mỗ người tỉnh Sơn Tây, không rõ tên họ, đại khái là đệ tử của Từ Hồng Nho, dùng yêu thuật mê hoặc dân chúng, có nhiều người hâm mộ phép thuật nhận y làm thầy.

Có hôm Mỗ đi vắng, đặt một cái chậu trong sảnh đường, lại lấy một cái chậu khác úp lên, dặn một người học trò ngồi giữ nhưng không được mở ra nhìn.

Mỗ đi rồi, trò mở ra xem thì thấy trong chậu đựng nước trong, trên mặt nước có một chiếc thuyền kết bằng cỏ đủ cả cánh buồm bánh lái, lấy làm lạ đưa ngón tay khều, chiếc thuyền nghiêng đi một cái rồi nổi lại như cũ, bèn úp chậu lại.

Kế thầy về hỏi sao dám trái lời ta, trò ra sức biện bạch là không hề mở ra, thầy nói:

- Vừa rồi thuyền đi trên biển suýt bị lật, còn dám dối ta à?

*[Bạch Liên giáo: tên một tổ chức quần chúng mang hình thức tôn giáo xuất hiện ở Trung Quốc cuối thời Nguyên, liên tục bị giai cấp phong kiến từ Nguyên đến Minh, Thanh đàn áp nhưng vẫn tồn tại với tôn chỉ chống chính quyền.

Tổ chức này có nhiều người dùng võ nghệ, thuốc men, ảo thuật để tập hợp nhân dân, nên thường bị coi là tà giáo].

Lại một đêm thầy đốt đuốc cắm trên sảnh đường, dặn phải giữ đừng để gió thổi tắt rồi ra đi.

Hết canh một thầy vẫn chưa về, trò mệt mỏi lên giường nằm ngủ, thức giấc thì đuốc đã tắt ngấm vội đứng dậy đốt lên.

Kế thầy vào, lại trách mắng, trò nói:

- Con vốn không hề ngủ, làm sao đuốc tắt được?

Thầy tức giận nói:

- Mới rồi ta phải đi thầm hơn chục dặm, lại còn cãi à?

Trò cả sợ.

Những việc làm kỳ lạ như thế rất nhiều, không thể chép ra hết được.

Sau người ái thiếp của Mỗ tư thông với một người học trò, Mỗ biết nhưng để bụng không nói ra, sai trò đi cho heo ăn.

Trò bước vào chuồng heo thì ngã lăn ra đất biến thành con heo, Mỗ lập tức gọi đồ tể tới giết thịt đem bán, không ai biết cả.

Cha người ấy không thấy con về tới hỏi, Mỗ chối nói là lâu lắm không thấy tới, người cha quay về tìm kiếm khắp nơi không có tin tức gì.

Có người học trò khác của Mỗ ngầm biết việc đó lén nói cho người cha, người cha lên báo với quan huyện.

Quan huyện sợ Mỗ trốn thoát, không dám đi bắt, bẩm lên quan trên xin phát một ngàn giáp sĩ kéo tới vây nhà, bắt được cả Mỗ lẫn vợ con nhốt vào lồng sắt, định giải lên kinh.

Đi ngang núi Thái Hàng, trong núi có một người to lớn bước ra, cao như cây lớn, mắt như cái tô, miệng như cái chậu, răng dài hơn thước, quân sĩ hoảng sợ đứng ngây ra không dám đi.

Mỗ nói:

- Đó là yêu quái, vợ ta có thể đuổi được.

Quân sĩ theo lời cởi trói cho vợ Mỗ.

Vợ Mỗ vác giáo xông tới, người to lớn tức giận vồ lấy nuốt chửng, mọi người càng sợ hãi.

Mỗ nói:

- Nó đã giết được vợ ta, thì phải con trai ta ra mới xong.

Quân sĩ lại thả con trai Mỗ ra, nhưng cũng bị nuốt sống như thế.

Mọi người nhìn nhau không biết làm sao.

Mỗ khóc lóc rồi giận dữ nói:

- Đã giết vợ ta, lại giết con ta làm sao nhịn được?

Nhưng không phải đích thân ta ra thì không xong.

Mọi người quả nhiên lại thả Mỗ ra khỏi lồng sắt, trao cho thanh đao bảo tới đánh.

Người to lớn giận dữ xông tới, tay không ác đấu một lúc thì vươn tay chụp lấy Mỗ đút vào miệng, rướn cổ ra nuốt xuống rồi ung dung bỏ đi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 88+89


CHƯƠNG 88: HỒ TỨ TƯỚNG CÔNG

Tặng Kim Đặc Trọng Cố Nhân Tình

Dị Loại Hữu Bằng Thắng Đệ Huynh

Nhất Diện Hữu Duyên Nan Tái Kiến

Thần Giao Diệc Túc Úy Bình Sinh

Dịch:

Nặng Lòng Cố Cựu Tặng Kim Ngân

Khác Loài Mà Sao Nghĩ Chí Thân

Nhất Diện Duyên May Khôn Gặp Lại

Thần Giao Cũng Hả Được Đôi Phần



Trương Hư Nhất ở huyện Lai Vu (tỉnh Sơn Đông) là anh Học sứ Trương Đạo Nhất, tính hào sảng tự tin.

Nghe nói ngôi nhà của người nọ trong huyện bị hồ chiếm ở, bèn mang danh thiếp tới yết kiến mong được gặp một lần.

Nhét danh thiếp vào khe cửa một lúc thì cánh cổng tự mở, đầy tớ sợ hãi lui lại.

Trương sửa áo kính cẩn bước vào, thấy trong sảnh đường đủ cả bàn ghế nhưng vắng ngắt không có một ai, bèn vái dài khấn rằng:

- Tiểu sinh trai giới tới đây, thượng tiên đã không nỡ từ chối ngay từ cổng, sao không ban ơn cho thấy mặt?

Chợt nghe có tiếng người nói:

- Làm phiền ông lặn lội giá lâm, đã nghe tiếng bước chân rồi, xin mời ngồi xuống dạy dỗ cho.

Lập tức thấy hai chiếc ghế di động tới đối mặt với nhau.

Trương vừa ngồi lập tức có cái khay đỏ sơn đen đựng hai chung trà lơ lửng tới trước mặt, mỗi bên cầm một chén lên uống, nghe tiếng thổi, tiếng hớp nước nhưng vẫn không thấy người.

Uống trà xong, kế có rượu dọn ra, Trương hỏi lai lịch, hồ đáp:

- Đệ họ Hồ, bày hàng thứ tư, bọn tùy tùng gọi là Tướng công.

Rồi đó uống rượu trò chuyện, thấy rất hợp nhau.

Thấy chả ba ba, khô thịt nai, rau sống liên tiếp đưa lên, như có rất nhiều người hầu rượu.

Trương uống rượu xong đang muốn uống trà, vừa nghĩ xong đã có trà thơm phức đặt lên bàn, cứ vừa nghĩ cần món gì thì lập tức món đó đã được mang tới.

Trương thích lắm, uống say mới về.

Từ đó cứ ba bốn hôm lại đến thăm Hồ một lần, Hồ cũng thường tới nhà Trương như qua lại đáp lễ.

Một hôm Trương hỏi:

- Có bà đồng ở nam thành vẫn khoe nhà có thần hồ mà lấy tiền người bệnh, không rõ ông có quen hồ nhà ấy không?

Hồ đáp:

- Mụ ta bịa đấy, không có hồ thật đâu.

Lát sau Trương đứng dậy đi tiểu, nghe thấy tiếng nói nhỏ:

- Vừa rồi nghe nói tới bà đồng có hồ ở nam thành, chẳng biết ra sao.

Tiểu nhân muốn theo tiên sinh tới xem, xin tiên sinh nói với chủ nhân một câu.

Trương biết đó là đám hồ nhỏ, bèn gật đầu nói:

- Được rồi!

Rồi quay vào chỗ ngồi nói với Hồ rằng:

- Ta muốn mượn hai ba người hầu dưới trướng tới xem thư bà đồng có hồ, xin ông ra lệnh.

Hồ cứ nói không cần, Trương năn nỉ mấy lần mới ưng thuận.

Kế Trương ra thì ngựa tự tới như có người nắm cương dắt đi, khi lên ngựa đi thì dọc đường hồ nói với Trương:

- Từ nay tiên sinh đi đường thấy cát nhỏ bắn lên vạt áo tức là có bọn ta đi theo đấy.

Nói tới đó thì vào thành, tới nhà bà đồng nọ.

Bà đồng thấy Trương tới, tươi cười ra đón, nói:

- Sao quý nhân lại bất ngờ quang lâm?

Trương hỏi:

- Nghe nói ông hồ trong nhà bà linh thiêng lắm phải không?

Bà đồng nghiêm sắc mặt đáp:

- Người sang cả không nên nói lời khinh bạc, sao lại nói là ông hồ?

E rằng bà chị xinh đẹp nhà ta không vui đâu!

Chưa dứt lời thì có nửa viên gạch ném tới trúng tay, bà đồng giật mình nhảy dựng lên, hoảng sợ hỏi Trương:

- Sao quan nhân lại ném gạch vào già?

Trương cười nói:

- Bà già mù rồi, đó là gạch ngói trên nóc nhà bà lở xuống, định vu oan cho người ngoài à?

Bà đồng ngạc nhiên không biết viên gạch từ đâu bay tới, đang dáo dác ngó quanh lại bị một hòn đá ném trúng đầu ngã lăn ra, kế bị bùn đất cứt đái ném xuống tới tấp, mặt mày lấm lem như quỷ, chỉ kêu gào xin tha mạng.

Trương xin đám hồ nhỏ tha cho, chúng mới dừng tay.

Bà đồng vội vùng dậy chạy tuốt vào phòng đóng chặt cửa không dám ra nữa.

Trương gọi hỏi:

- Hồ của ngươi bằng hồ của ta không?

Bà đồng chỉ rối rít xin lỗi.

Trương ngẩng đầu lên không bảo đừng ném nữa, bà đồng mới dám run rẩy bước ra, Trương cười an ủi vài câu rồi về.

Từ đó Trương đi một mình trên đường mà thấy cát bụi bắn lên áo thì gọi hồ cùng trò thuyện, lần nào cũng có bên cạnh, nhờ thế chẳng sợ gì sói cọp trộm cướp.

Cứ thế nửa năm, ngày càng thân thiết với đám hồ.

Thường hỏi tuổi, cả bọn đều không nhớ rõ, chỉ nói rằng từng thấy Hoàng Sào làm phản nhưng cũng chỉ như vừa hôm qua.

*[Hoàng Sào: lãnh tụ nông dân cuối thời Đường, theo Phương Tiên Chi khởi nghĩa rồi thay Tiên Chi lãnh đạo, từng đánh chiếm Trường An, xưng hiệu Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Tề, chống nhà Đường trong thời gian 874-884].

Một đêm đang cùng trò chuyện chợt nghe đầu tường có tiếng hú lớn rất ghê rợn, Trương lấy làm lạ, Hồ nói:

- Đó ắt là anh ruột ta!

Trương hỏi:

- Vậy sao không mời vào chơi?

Hồ đáp:

- Y tệ lắm, chỉ thích trộm cắp gà qué mà ăn, cứ mặc kệ y là xong.

Trương nói với Hồ:

- Giao du thân thiết như hai chúng ta có thể nói là không ngờ vực gì nhau, thế mà chưa lần nào được thấy mặt ông, nghĩ thật đáng hận.

Hồ đáp:

- Chỉ cần chơi thân với nhau là được rồi, thấy mặt làm gì?

Một hôm Hồ bày tiệc mời Trương, nói xin cáo biệt.

Trương hỏi định đi đâu, Hồ đáp:

- Đệ có sản nghiệp ở Thiểm Trung (tỉnh Thiểm Tây), định về lại đó.

Ông vẫn hận việc đối diện không thấy mặt, nay xin nhìn qua người bạn mấy năm một lần để ngày sau còn nhận ra nhau.

Trương nhìn quanh không thấy gì, Hồ nói:

- Ông cứ vén rèm cửa phòng ngủ ra là thấy đệ.

Trương theo lời vén rèm lên, thấy có một thiếu niên đẹp trai đang nhìn mình cười, phục sức sang trọng, mày mắt như vẽ, chớp mắt không thấy đâu nữa.

Trương quay người bước ra thì có tiếng giày lẹp kẹp phía sau, nói:

- Hôm nay ông hết hận rồi nhé!

Trương lưu luyến không nỡ chia tay, Hồ nói:

- Tan hợp là có số, băn khoăn làm gì?

Rồi lấy chén lớn mời rượu, đến nửa đêm mới sai lấy đèn lồng đưa Trương về.

Sáng ra Trương tới xem, thì chỉ có nhà không vắng ngắt mà thôi.

Về sau tiên sinh Trương Đạo Nhất làm quan Học sứ ở Tây Xuyên (tỉnh Tứ Xuyên), Trương vẫn nghèo như trước bèn tới thăm em, cũng mong được biếu thật nhiều.

Hơn tháng trở về, được biếu quá ít so với lòng mong mỏi, trên ngựa cứ thở vắn than dài như vợ chết.

Chợt có một thiếu niên cưỡi ngựa Thanh câu từ sau đuổi theo, Trương nhìn thấy áo đẹp ngựa khỏe, dáng vẻ rất phong nhã, bèn trò chuyện qua loa.

Thiếu niên thấy Trương có vẻ buồn bã bèn hỏi, Trương cũng thở dài kể lại nguyên do, thiếu niên cũng tìm lời an ủi.

Cùng đi hơn một dặm, tới ngã ba thiếu niên chắp tay chào nói:

- Phía trước có người gởi ông một vật của cố nhân, xin vui lòng nhận cho.

Định hỏi lại thì đã phóng ngựa đi thẳng, Trương cũng chẳng hiểu là có ý gì.

Lại đi hai dặm, gặp một người đầy tớ cầm cái rương nhỏ đón trước ngựa đưa lên nói:

- Tướng công Hồ Tứ kính gởi tiên sinh.

Trương lúc ấy mới chợt hiểu ra.

Bèn đón lấy mở ra xem, thì bên trong toàn bạc nén trắng xóa, nhìn lại người đầy tớ thì không biết đã đi đâu mất.

___________________________________

CHƯƠNG 89: CỪU ĐẠI NƯƠNG

Mẫu Gia Dĩ Đãng Cánh Trùng Hưng

A Phụ Sinh Hoàn Hỉ Cánh Tăng

Tân Điển Điền Viên Từ Bất Thụ

Đại Nương Khôi Đãn Thiện Tài Năng

Dịch:

Mẹ Đã Vong Gia Lại Phục Hồi

Cha Về Sống Sót Lại Thêm Vui

Chia Cho Vườn Ruộng Từ Không Nhận

Tài Đức Cừu Nương Dễ Mấy Ai



Cừu Trọng người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây) không rõ phủ huyện, gặp loạn bị giặc bắt đi.

Có hai trai là Phúc và Lộc còn nhỏ, vợ kế là Thiệu thị chăm sóc đôi trẻ mồ côi, may nhờ sản nghiệp của Trọng để lại cũng được ấm no, nhưng gặp mấy năm mất mùa liên tiếp, lại bị cường hào lấn áp đến nỗi không giữ được mà ăn.

Chú của Trọng là Thượng Liêm thấy cháu dâu cải giá thì có lợi cho mình, thường khuyên lấy chồng nhưng Thiệu thị thề giữ chí không lay chuyển.

Liêm ngầm hẹn với một nhà đại tộc, định cưỡng ép nàng, bàn bạc đã xong mà người ngoài vẫn không ai biết.

Trong làng có tên Ngụy là kẻ gian giảo quỷ quyệt từ lâu có hiềm khích với nhà Trọng, có chuyện gì cũng nghĩ cách phá đám, nhân Thiệu thị ở góa bèn phao tin nhảm để bêu xấu.

Nhà đại tộc nghe được, cho Thiệu thị là người không có đức bèn thôi.

Lâu ngày mưu của Liêm và lời đồn đại bên ngoài cũng tới tai Thiệu thị, nàng buồn rầu uất sớm tối sa lệ dần dần tay chân tê bại nằm liệt giường.

Phúc đã mười sáu tuổi, vì trong nhà không có người khâu vá nên vội lo việc lấy vợ, hỏi cưới con gái Tú tài Khương Dĩ Chiêm, có tiếng hiền thục đảm đang, việc nhà đều nhờ nàng lo toan xếp đặt, nhờ vậy nhà cũng hơi dư dật, bèn cho Lộc đi học.

Ngụy ghen ghét nhưng làm ra vẻ thân thiện, nhiều lần mời Phúc uống rượu, Phúc thấy thế coi Ngụy như bạn thân.

Ngụy nhân dịp nói:

- Lệnh đường bệnh nằm liệt giường không thể coi sóc việc nhà, chú em thì chỉ ngồi ăn không làm được việc gì, hai vợ chồng việc gì phải nai lưng ra làm trâu ngựa?

Lại lúc chú em cưới vợ thì còn tốn kém nhiều nữa chứ.

Tính kế cho ông chẳng bằng cứ sớm ra riêng, thì chú em sẽ phải nghèo chứ ông sẽ giàu có.

Phúc về bàn với vợ, vợ cho là nói bậy.

Nhưng Ngụy cứ rủ rỉ xúi giục ngày này tháng khác, mưa dầm thấm sâu nên Phúc nghe theo, bèn nói thẳng ý ấy với mẹ.

Mẹ tức giận chửi mắng, Phúc càng tức tối, cho rằng tiền bạc thóc gạo trong nhà chẳng qua chỉ là của người khác nên không ngó ngàng gì tới nữa.

Ngụy thừa cơ rủ rê Phúc cờ bạc, thóc trong kho cứ vơi dần, vợ biết nhưng chưa dám nói, đến lúc hết thóc ăn, mẹ giật mình hỏi mới nói thật.

Mẹ giận lắm nhưng không làm sao được, đành cho Phúc ra ở riêng.

May là cô gái họ Khương hiền đức, sáng chiều vẫn qua lại lo cơm nước hầu hạ mẹ như trước.

Phúc đã ra riêng càng không nể sợ gì nữa, thả sức cờ bạc, chỉ trong vài tháng đã bán sạch ruộng vườn nhà cửa để trả nợ chơi bời mà mẹ và vợ vẫn chưa biết.

Khi tiền bạc đã hết sạch, không còn cách nào bèn làm tờ gán vợ để vay tiền mà không ai chịu nhận.

Trong huyện có Triệu Diêm La vốn là tên cướp lớn lọt lưới, ngang ngược nhất vùng nên không sợ Phúc nuốt lời, thản nhiên cho vay.

Phúc cầm tiền đi, vài ngày thì thua sạch, đang ngần ngừ định bội ước thì Triệu đã trừng mắt nhìn.

Phúc cả sợ, lừa dắt vợ tới giao cho Triệu.

Ngụy nghe tin mừng thầm, chạy ngay tới nói với nhà họ Khương, rắp tâm làm cho họ Cừu lụn bại.

Khương tức giận phát đơn kiện, Phúc sợ quá bèn bỏ trốn.

Cô gái họ Khương tới nhà Triệu mới biết là bị chồng lừa bán, khóc lớn chỉ muốn chết ngay.

Triệu ban đầu còn dỗ dành nhưng nàng không nghe, kế ra oai quát nạt thì nàng càng mắng chửi, cả giận đánh đập nàng cũng không chịu khuất phục, rút trâm cài đầu tự đâm vào cổ họng, vội tới cứu thì đã lút vào thực quản, máu phun ra.

Triệu vội lấy lụa băng bó cho nàng, còn nghĩ cứ để thong thả sẽ khuất phục được.

Hôm sau có trát quan tới đòi, Triệu thản nhiên lên hầu như không có chuyện gì.

Quan khám thấy vết thương của cô gái rất nặng, sai nọc Triệu ra đánh, nhưng đám lính cứ nhìn nhau không dám ra tay.

Quan nghe đồn Triệu ngang ngược đã lâu, đến lúc ấy càng tin, cả giận gọi người nhà ra đánh Triệu chết luôn tại chỗ, Khương bèn cáng con gái về.

Từ khi họ Khương đi kiện, Thiệu thị mới biết Phúc hư hỏng tới mức ấy, gào khóc cơ hồ đứt hơi rồi nhắm mắt ngất đi.

Bấy giờ Lộc mười lăm tuổi, một mình lúng túng không biết làm sao.

Trọng có một gái con vợ trước là Đại Nương gả chồng xa, tính khí cương cường, mỗi khi về thăm mà thức ăn vật dùng không vừa ý thì cãi vã với cha mẹ rồi giận dữ bỏ đi, Trọng vì thế giận ghét, lại vì đường xa nên có khi vài năm không một lần thăm hỏi.

Lúc Thiệu thị bệnh nặng, Ngụy muốn gọi nàng tới để gây ra việc tranh giành của cải, gặp lúc có người lái buôn ở cùng làng với Đại Nương bèn thác cớ nhắn tin, lại mừng rằng nhà này thế là tan nát.

Vài hôm sau quả nhiên Đại Nương dắt một đứa con nhỏ tới, vào nhà thấy em nhỏ hầu mẹ ốm, quang cảnh rất thảm đạm, bất giác mủi lòng.

Nhân hỏi tới Phúc, Lộc kể hết đầu đuôi, Đại Nương nghe thấy giận nghẹn cổ nói:

- Nhà không có người lớn nên để cho người ta giày xéo đến như thế!

Ruộng vườn nhà ta sao bọn ăn cướp dám lừa chiếm lấy?

Rồi xuống bếp chụm lửa nấu cháo bưng lên mời mẹ trước, kế gọi em và con cùng ăn.

Ăn xong giận dữ ra đi, tới huyện nộp đơn kiện bọn cờ bạc.

Cả bọn sợ góp tiền đút lót Đại Nương, nàng nhận tiền nhưng vẫn kiện.

Quan cho bắt tên Giáp, tên Ất...

đánh đòn quở trách nhưng không hỏi tới việc ruộng vườn.

Đại Nương căm tức không thôi, dắt con lên thẳng lên quận.

Quận thú rất ghét cờ bạc, Đại Nương hết sức bày tỏ nỗi cô khổ cùng tình trạng bị bọn cờ bạc lừa đảo, lời lẽ thống thiết.

Quận thú động lòng, ra lệnh cho quan huyện truy thu ruộng vườn cấp lại cho chủ cũ và trừng phạt Cừu Phúc làm gương cho bọn hư hỏng.

Sau khi nàng về, quan huyện được lệnh ráo riết thi hành nên nhà cửa ruộng vườn cũ lấy lại được hết.

Lúc ấy Đại Nương góa chồng đã lâu, bèn bảo đứa con nhỏ về nhà, dặn phải theo anh lo làm ăn không được tới nữa.

Đại Nương từ đó ở lại nhà mẹ, nuôi mẹ dạy em, xếp đặt trong ngoài đâu vào đấy.

Mẹ được an ủi rất nhiều, dần dần khỏi bệnh, việc nhà giao cả cho Đại Nương.

Bọn cường hào trong làng có hơi lấn lướt thì nàng vác dao tới tận cửa cứng cỏi đấu lý, kẻ nào cũng phải nhụt.

Hơn một năm thì ruộng vườn ngày càng tăng, thỉnh thoảng lại mua thuốc men và thức ngon vật lạ gởi cho cô gái họ Khương.

Lại thấy Lộc dần trưởng thành, nhiều lần dặn mối lái tìm nơi cưới hỏi.

Ngụy nói với mọi người rằng:

- Sản nghiệp nhà họ Cừu đều giao cho Đại Nương, e rằng sau này không lấy lại được.

Mọi người tin theo nên không ai muốn kết thông gia với họ Cừu.

Có công tử Phạm Tử Văn, nhà có khu vườn nổi tiếng nhất ở đất Tấn, các loại hoa quý trong vườn trồng dọc hai bên đường chạy thẳng vào nhà trong.

Có người không biết lỡ đi vào, gặp lúc gia đình công tử đang ăn tiệc, ông nổi giận bắt trói bảo là kẻ trộm, đánh cho gần chết.

Gặp tiết Thanh minh, Lộc từ trường học trở về, Ngụy rủ đi chơi, dắt tới chỗ ấy.

Ngụy vốn quen người coi vườn nên được cho vào, đi xem khắp cả đình tạ.

Giây lát tới một chỗ nước khe chảy cuồn cuộn, có chiếc cầu vẽ lan can màu đỏ thông vào cánh cổng sơn đen, từ xa nhìn tới thấy hoa rậm như gấm, là nơi phòng sách của công tử.

Ngụy lừa nói:

- Anh cứ vào trước, ta đi tiểu một chút.

Lộc tin bèn bước lên, qua cầu vào cửa, tới một dãy viện thì nghe tiếng con gái cười nói.

Vừa dừng chân thì có một tỳ nữ ra, nhìn thấy Lộc lập tức quay gót trở vào, Lộc mới sợ hãi bỏ chạy.

Giây lát công tử bước ra quát người nhà lấy dây thừng đuổi bắt, Lộc bí quá nhảy luôn xuống khe.

Công tử hết giận bật cười, sai đầy tớ xuống dắt lên.

Thấy mặt mũi y phục của Lộc đều phong nhã, ông sai đem áo và giày ra cho thay rồi dắt vào một ngôi đình hỏi họ tên, thái độ hết sức niềm nở thân mật.

Lát sau công tử đi nhanh vào trong rồi trở ra ngay, tươi cười dắt tay Lộc đi, qua cầu dần tới chỗ lúc nãy.

Lộc không hiểu ý thế nào, dùng dằng không dám bước, công tử cố kéo vào.

Thấy sau giậu hoa thấp thoáng có người đẹp nhìn trộm, vừa ngồi xuống thì các tỳ nữ dọn rượu lên.

Lộc từ tạ nói:

- Trẻ con không biết gì, đi lầm vào chốn khuê các, được khoan xá là đã mừng lắm, chỉ mong được cho về sớm thì đội ơn vô cùng.

Nhưng công tử không nghe.

Giây lát thức ăn bày lên la liệt, Lộc lại đứng lên từ tạ là đã no say rồi.

Công tử kéo ngồi xuống, cười nói:

- Ta có một cái tên từ khúc, nếu ông đối được xin cho đi ngay.

Lộc dạ dạ xin cho biết.

Công tử nói:

- Phách tên Chẳng hề giống.

Lộc ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đối:

- Bạc đúc Biết làm sao.

Công tử cười lớn nói:

- Quả đúng là Thạch Sùng!

Lộc không hiểu gì cả.

*[Công tử nói quả đúng là Thạch Sùng: nguyên văn hai vế đối trên là "Phách danh Hồn bất tự, Ngân thành Một nại hà”.

Vế trước lấy tích Chiêu Quân có chiếc đàn tỳ bà bị hỏng, sai làm chiếc khác, khi dâng lên thì bé hơn chiếc trước, Chiêu Quân cười nói "Chẳng hề giống chiếc trước” (Hồn bất tự), người sau nhân lấy đó đặt tên cho một bản nhạc, vì ngoa truyền nên có khi gọi là “Hồn phát tứ”.

Vế sau lấy tích nhà Trương Tuần, Vương Tuấn thời Tấn có nhiều bạc, cho đúc thành hình quả cầu, mỗi quả là một ngàn lượng, gọi tên là "Biết làm sao" (Một nại hà), ý nói quá giàu có.

Thạch Sùng là người thời Tấn, nổi tiếng phú gia địch quốc].

Thì ra công tử có con gái tên Huệ Nương, xinh đẹp lại biết chữ, vẫn tìm chỗ gả chồng cho.

Đêm trước nàng mơ thấy một người nói:

- Chồng ngươi là Thạch Sùng!

Hỏi ở đâu thì đáp:

- Ngày mai sẽ rơi xuống nước.

Sáng ra kể với cha, mọi người đều lấy làm lạ.

Vừa gặp việc Lộc rất hợp với giấc mơ nên công tử mời vào nhà trong cho phu nhân và đàn bà con gái trong nhà xem mặt.

Công tử nghe câu đối của Lộc rất mừng, nói:

- Tên phách nhạc là do tiểu nữ đặt ra, nghĩ mãi mà không đối được, nay mới được câu đối hay, cũng là duyên trời.

Ta muốn để cháu làm người nâng khăn sửa túi cho ông, vả lại tệ xá cũng không thiếu nơi ở, không dám làm phiền phải rước dâu.

Lộc bối rối từ tạ lại lấy cớ mẹ đang ốm không ở rể được.

Công tử bảo cứ về bàn lại rồi sai mã phu thắng ngựa mang áo quần ướt đưa Lộc về.

Về tới nhà Lộc kể với mẹ, mẹ sợ cho là việc bất tường, từ đó mới biết Ngụy là kẻ hiểm độc nhưng vì gặp việc dữ mà được điều lành nên cũng không đem lòng thù oán, chỉ khuyên con nên xa lánh đừng giao thiệp với y nữa mà thôi.

Qua vài hôm công tử lại cho người đến ngỏ ý với mẹ Lộc, rốt lại bà vẫn không dám nhận lời, Đại Nương bèn nhận lời rồi nhờ hai bà mối đi nộp sính lễ cho nhà công tử.

Không bao lâu Lộc tới gởi rể ở nhà công tử, qua năm sau được vào học trường huyện nổi tiếng tài giỏi.

Em vợ dần dần lớn lên, không kính trọng anh rể như trước nữa.

Lộc tức giận bèn đưa vợ về nhà mình.

Lúc ấy mẹ đã chống gậy đi lại được mấy năm liền nhờ có Đại Nương trông nom nên nhà cửa cũng khang trang.

Cô dâu mới đã về, tớ trai tớ gái tấp nập, rõ ra có phong thái đại gia.

Ngụy bị tuyệt giao lại càng ghen ghét, giận không vạch lá tìm sâu gì được để hãm hại, gặp lúc có bọn cướp lớn đang bị truy nã bèn vu cáo Lộc giấu diếm tiền bạc cho chúng, Lộc bị xử đày ra ngoài cửa ải.

Phạm công tử đút lót từ trên tới dưới chỉ xin miễn cho Huệ Nương khỏi bị đi đày, còn ruộng vườn nhà cửa đều bị sung công.

May là Đại Nương cầm giấy chia gia tài lên quan cãi lý, bao nhiêu ruộng vườn mới mua thêm đều đứng tên Phúc nên mẹ con mới được ở yên.

Lộc nghĩ mình không trở về được nữa bèn làm giấy ly hôn đưa cha vợ rồi lẻ loi lên đường.

Đi được vài ngày tới đất Bắc Đô, vào ăn trong quán, thấy có người ăn mày khép nép ngoài cửa, mặt mũi rất giống anh mình, ra hỏi thì đúng là anh.

Lộc kể chuyện mình, anh em đều buồn thảm.

Lộc mở hành lý chia cho Phúc ít tiền bảo về nhà.

Phúc rơi lệ nhận rồi chia tay.

Lộc tới cửa ải được sung làm lính hầu cho tướng quân, vì là học trò yếu ớt nên được giữ việc biên chép sổ sách, ăn ở chung với đám tôi tớ.

Bọn họ hỏi han gia thế, Lộc kể hết, trong bọn có một người cả kinh nói:

- Đúng là con ta rồi!

Thì ra Cừu Trọng ban đầu bị bọn cướp sai chăn ngựa, về sau chúng bỏ trốn, Trọng bị bắt đày ra cửa ải làm đầy tớ cho tướng quân.

Trọng thuật lại rõ đầu đuôi, cha con mới nhận ra nhau bèn ôm nhau khóc, mọi người đều mủi lòng.

Không bao lâu, tướng quân bắt được vài mươi tên cướp lớn, trong có một tên chính là kẻ trước đây Ngụy vu cáo là bè đảng của Lộc.

Kế lấy lời cung của y xong, hai cha con kêu khóc với tướng quân.

Tướng quân dâng sớ rửa oan cho, vua biết chuyện bèn ra lệnh cho quan địa phương chuộc lại ruộng đất trả lại họ Cừu, cha con đều mừng rỡ.

Lộc hỏi số người trong nhà để tính cách chuộc mình cho cha mới biết từ khi theo hầu tướng quân Trọng đã hai lần lấy vợ mà không có con, lúc ấy lại vừa góa vợ.

Lộc bèn sắm sửa hành trang về quê.

Trước đó Phúc chia tay em về tới nhà, khúm núm sụp lạy xin chịu tội.

Đại Nương rước mẹ lên ngồi nhà trên, cầm gậy hỏi Phúc:

- Ngươi chịu đánh đòn thì có thể tạm cho ở lại còn không thì ruộng vườn nhà cửa của ngươi đã hết sạch, đây cũng không phải chỗ người xin ăn, mời xéo ngay!

Phúc khóc lạy xuống đất xin chịu đòn, Đại Nương vứt gậy xuống nói:

- Cái người đã bán vợ thì ta cũng chẳng thèm đánh đòn, nhưng án cũ vẫn chưa xóa, nếu tái phạm cứ báo quan thôi!

Rồi lập tức cho người qua báo tin cho họ Khương.

Cô gái họ Khương mắng:

- Ta là người gì của nhà họ Cừu mà phải báo tin?

Đại Nương cứ nhắc đi nhắc lại câu ấy để đay nghiến Phúc, Phúc hổ thẹn không dám lên tiếng.

Suốt nửa năm Đại Nương cho Phúc đủ ăn đủ mặc nhưng bắt làm việc như tôi tớ, Phúc cũng làm lụng không hề oán trách, có giao cho tiền bạc cũng không dám bừa bãi.

Đại Nương xét thấy không có ý gì khác, bèn thưa với mẹ mời cô gái họ Khương về.

Mẹ cho rằng không sao làm nàng hồi tâm lại được, Đại Nương nói:

- Không phải thế!

Nếu người ta chịu thờ hai chồng thì đã không tự chuốc lấy đau đớn khổ sở, chứ không thể không có nỗi uất hận ấy.

Rồi dắt em trai qua chịu tội.

Ông bà nhạc trách mắng hết lời, Đại Nương quát bắt Phúc quỳ xuống rồi mới xin gặp mặt cô gái.

Mời ba bốn lần nàng vẫn khăng khăng từ chối không chịu ra, Đại Nương kéo ra thì nàng chỉ mặt Phúc mắng nhiếc.

Phúc thẹn toát mồ hôi, không sao tha thứ được cho mình, bà Khương mới kéo Phúc, bảo đứng lên.

Đại Nương xin cho biết ngày trở về, cô gái nói:

- Trước nay chịu ơn chị rất nhiều, nay chị dạy như thế đâu dám nói gì khác nhưng sợ không giữ được khỏi bị bán lần nữa.

Vả chăng ân nghĩa đã dứt, còn mặt mũi nào ăn ở với đứa vô lại xấu xa ấy nữa?

Muốn xin chị cho một chỗ ở riêng, thiếp qua đấy phụng dưỡng mẹ già còn hơn cạo đầu đi tu là đủ.

Đại Nương nói hộ là Phúc đã ăn năn, hẹn ngày mai qua đón rước rồi chào về.

Sáng hôm sau cho kiệu qua đón cô gái về, mẹ ra đón ở cổng quỳ lạy, cô gái cũng sụp lạy khóc lớn.

Đại Nương khuyên lơn an ủi, dọn tiệc ăn mừng, bảo Phúc ngồi cạnh bàn rồi nâng ly rượu nói:

- Ta tranh giành khổ sở không phải để mưu lợi cho mình.

Nay em đã hối lỗi, vợ hiền đã trở về, xin đem sổ sách giao lại, ta tới tay không thì cũng về tay không.

Vợ chồng đều rời bàn tiệc đứng dậy, nghiêm trang vái lạy khóc lóc năn nỉ, Đại Nương bèn thôi.

Không bao lâu lệnh rửa oan về tới, chỉ vài ngày ruộng vườn nhà cửa lại trở về chủ cũ.

Ngụy kinh hãi không biết vì sao, tự giận mình không còn kế gì để thi thố.

Gặp lúc nhà láng giềng phía tây bị cháy, Ngụy lấy cớ chữa cháy chạy qua, ngầm lấy mồi rơm đốt nhà Lộc, gió lại thổi mạnh cháy lan gần hết, chỉ còn hai ba gian nhà của Phúc, cả nhà phải ở chung vào đó ít lâu sau Lộc về, gặp nhau mừng mừng tủi tủi.

Lúc trước Phạm công tử nhận được tờ ly hôn, đem bàn với Huệ Nương, Huệ Nương khóc ròng xé nát vứt xuống đất, cha chiều ý không ép nữa.

Lộc về nghe nỏi nàng chưa cải giá mừng rỡ tới nhà nhạc gia, công tử biết nhà Lộc vừa bị cháy, mượn giữ ở lại đó nhưng Lộc không chịu, cáo từ ra về.

May là Đại Nương còn tiền cất được bèn đem ra sửa nhà, Phúc vác mai đi đào đất đắp nền, đào phải hầm tiền chôn.

Đêm đến cùng em ra đào thì là một cái bể xây bằng đá rộng khoảng một trượng chứa đầy tiền đồng, nhờ đó mướn thợ xây nhà, lầu gác san sát tráng lệ sánh ngang nhà đại gia.

Lộc nhớ ơn tướng quân, sắp ra ngàn vàng để chuộc cha.

Phúc xin đi, nhà bèn cho đầy tớ khỏe mạnh theo hầu.

Lộc đón Huệ Nương về, ít lâu sau cha và anh cùng về, cả nhà vui vẻ tưng bừng.

Đại Nương từ khi về ở nhà mẹ thì cấm con tới thăm để tránh tiếng, nay cha đã về liền quyết ý xin đi, hai em không nỡ để chị đi.

Cha bèn chia gia sản làm ba, con trai hai phần con gái một phần.

Đại Nương từ tạ không nhận, hai em rơi nước mắt nói:

- Hai em không có chị thì làm gì có được ngày nay!

Đại Nương bèn ở lại, sai người gọi con dọn nhà về ở chung.

Có người hỏi Đại Nương rằng chị em khác mẹ sao gắn bó như vậy, Đại Nương đáp:

- Biết có mẹ mà không biết có cha, chỉ có cầm thú mới thế thôi?

Là người sao lại bắt chước giống vật chứ.

Phúc và Lộc nghe nói đều chảy nước mắt.

Rồi sai thợ làm nhà cho Đại Nương, cũng rộng lớn như nhà mình.

Ngụy nghĩ hơn mười năm tìm cách gây họa mà hóa ra lại là tạo phúc cho người, rất hổ thẹn áy náy.

Lại ngưỡng mộ họ Cừu giàu có, muốn làm thân bèn lấy cớ mừng Trọng mới về, đưa lễ vật qua mừng.

Phúc muốn từ chối nhưng Trọng không nỡ phật ý bèn nhận gà rượu.

Gà có buộc dây vải ở chân, sổng ra chạy vào bếp, lửa bén vào dây vải, gà nhảy lên đống củi đậu, đám tôi tớ đều nhìn thấy nhưng chưa để ý.

Lát sau đống củi bốc cháy, cả nhà hoảng sợ, may có đông người nhiều tay xúm lại dập tắt được ngay nhưng đồ đạc trong bếp đã cháy sạch, anh em đều bảo đồ vật của Ngụy là không lành.

Sau đó gặp ngày mừng thọ của Trọng, Ngụy lại biếu con dê, từ chối không được phải buộc dê vào gốc cây ngoài sân.

Đến đêm có đứa tiểu đồng bị tên đầy tớ đánh, tức giận chạy ra gốc cây mở sợi dây buộc dê tự treo cổ chết.

Anh em than rằng:

- Y làm phúc lại không bằng y gây họa.

Từ đó tuy Ngụy vẫn ân cần, nhưng nhà Trọng không dám nhận đến một sợi chỉ, chỉ đối xử với y thật tốt mà thôi.

Sau Ngụy già nghèo khổ phải đi ăn mày, nhà họ Cừu vẫn lấy ơn trả oán, chu cấp cho cái ăn cái mặc.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 90+91


CHƯƠNG 90: LÝ BÁ NGÔN

Cang Trực Vô A Quỉ Sứ Nghinh

Nhất Tồn Tự Niệm Hỏa Sinh Doanh

Tòng Tri Âm Luật Nan Khoan Giả

Bất Tự Nhân Gian Khả Tuẫn Tình

Dịch:

Chính Trực Vô Tư Quỷ Sứ Mời

Chợt Sinh Tư Niệm Cháy Tơi Bời

Mới Hay Âm Luật Không Khoan Vị

Tuyệt Đối Công Minh Khác Cõi Đời



Lý sinh tên Bá Ngôn là người huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), cương trực can đảm.

Chợt mắc bệnh nặng, người nhà mang thuốc cho uống, Lý từ chối nói:

- Bệnh của ta không phải là thuốc mà chữa được, vì chức Diêm Vương ở âm ty bị khuyết nên ta tạm đi giữ ấn triện thôi, đừng chôn ta, cứ để đấy đợi.

Hôm ấy Lý chết, thấy có nghi trượng tới đón đi, vào tới một nơi cung điện có người dâng áo mão Diêm Vương, nha lại đứng hầu rất nghiêm chỉnh.

Trên bàn sổ sách chất đống, có một vụ án là tên Mỗ ở Giang Nam, tính lại bình sinh đã cưỡng gian tám mươi hai người đàn bà con gái nhà lương thiện, tra xét thì thấy đủ cả chứng cứ không sai, xét theo luật âm ty phải chịu tội bào lạc.

Dưới thềm có cây cột đồng cao tám chín thước, chu vi khoảng một ôm, ruột rỗng để đổ than lửa vào đó, trong ngoài đều đỏ rực.

Đám quỷ tốt lấy chùy sắt có gai nhọn đánh giải Mỗ tới, bắt giang tay khuỳnh chân trèo lên.

Lên tới đỉnh cột thì khói bốc mù mịt, đoàng một tiếng nổ tung ra như ống pháo tre, thân thể rơi xuống, nằm co quắp một hồi mới tỉnh lại.

Đám quỷ tốt lại đánh bắt trèo lên, lại nổ ra rơi xuống như lần trước, tới lần thứ ba chỉ còn là một đám khói là là mặt đất rồi tan ra, không sao còn có thể trở thành hình người nữa.

Lại tới một vụ khác, là Vương Mỗ người cùng huyện, bị cha người tỳ nữ kiện là bắt cóc con gái, Vương vốn là thông gia với sinh.

Trước là có một người bán tỳ nữ, Vương biết là y bất chính nhưng thấy giá hời bèn mua về.

Đến lúc ấy Vương bị bạo bệnh chết, hôm sau bạn Vương là Chu lại gặp bên đường, biết là ma bỏ chạy về nhà, Vương cũng theo vào.

Chu sợ hãi ra gặp hỏi định làm gì.

Vương đáp:

- Phiền ông xuống làm chứng giùm dưới âm ty.

Chu kinh ngạc hỏi làm chứng việc gì, Vương đáp:

- Ta mua tỳ nữ theo đúng giá, nay bị vu là bắt cóc, việc này chính ông chứng kiến, xin nói cho một câu làm tin, không cần nói gì khác.

Chu cố từ chối, Vương bỏ ra nói:

- Sợ chuyện này thì ông không làm chủ được thôi.

Không bao lâu quả nhiên Chu chết, cùng bị giải tới Diêm Vương đối chất.

Lý thấy Vương trong lòng ngầm có ý thiên vị, chợt trên nóc điện có ngọn lửa bùng lên, rường cột cháy phùng phừng, Lý cả sợ đứng bật dậy, viên lại ngầm bước tới sau lưng nói:

- Âm ty không phải như dương thế, không thể có một chút ý niệm riêng tư, xin ông bỏ ngay ý ấy thì lửa sẽ tự tắt.

Lý bèn ngưng thần gạt bỏ tạp niệm, ngọn lửa tắt ngay.

Kế hỏi cung, vương và cha người tỳ nữ tranh cãi không thôi, hỏi Chu thì Chu cứ theo sự thật thưa lên.

Vương bị kết án cố ý phạm tội, phạt đánh gậy, đánh xong Lý sai đem cả về cho hồi sinh.

Vương và Chu đều chết ba ngày rồi sống lại.

Lý xét việc xong, có xe kiệu đưa về, giữa đường gặp một bọn vài trăm người sứt đầu cụt chân nằm rạp dướỉ đất van xin.

Lý dừng xe hỏi thì là ma quỷ chết xa quê muốn trở về nhưng sợ dọc đường bị ngăn trở, xin dẫn đường cho.

Lý nói:

- Ta coi việc Diêm Vương chỉ có ba ngày, nay đã thôi giữ chức, làm sao giúp được?

Đám ma nói:

- Hồ sinh ở thôn nam sắp lập đàn chay tế độ, xin ông nói giùm.

Lý ưng thuận.

Về tới nhà thì tùy tùng đều quay đi, Lý mới sống lại.

Hồ sinh tự Thủy Tâm chơi thân với Lý, nghe nói Lý sống lại bèn tới thăm, Lý hỏi ngay lúc nào mở đàn chay.

Hồ kinh ngạc nói:

- Sau cơn binh lửa, ta may mà vợ con được vô sự, hôm trước bàn với bà nó định làm điều tâm nguyện ấy nhưng chưa từng nói với một ai, sao ông biết được?

Lý kể lại mọi chuyện, Hồ than:

- Một câu vừa thốt ra trong phòng kín mà đã đồn đại khắp chốn u minh, thật đáng sợ!

Rồi cung kính nhận lời mà về.

Hôm sau Lý qua nhà Vương, Vương còn nằm bệnh, thấy Lý vào lập tức kính cẩn đứng lên tạ ơn đã che chở giúp đỡ cho.

Lý nói:

- Pháp luật không thể nương nhẹ tha thứ gì cả, nay ông may vẫn không sao chứ?

Vương đáp:

- Nay thì không bị gì khác, chỉ những chỗ bị đánh thì làm mủ thôi.

Hơn hai mươi ngày sau mới lành hẳn, thịt thối ở mông rụng ra, còn lại những vết sẹo như lằn gậy in xuống vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 91: HOÀNG CỬU LANG

Hưu Thuyết Hồ Tuy Sự Vị Phương

Hà Sinh Sắc Đởm Thái Xương Cuồng

Thế Gian Tẫn Hữu Phân Đào Tích

Hạp Sử Tương Phùng Hoàng Cửu Lang

Dịch:

Đừng Bảo Hồ Tuy Không Tổn Thương

Hà Sinh Sắc Đởm Quá Ngông Cuồng

Chia Đào Cõi Thế Hay Thành Tật

Sao Chẳng Xui Cho Gặp Cửu Lang



Hà Sư Tham tự Tử Túc làm phòng học ở phía đông Thiều Khê (ở núi Thiên Mục tỉnh Chiết Giang).

Cửa nhà học nhìn ra cánh đồng rộng, xế chiều ngẫu nhiên ra ngoài thấy có người đàn bà cưỡi lừa đi tới, một thiếu niên theo sau.

Người đàn bà khoảng năm mươi tuổi, phong thái nhàn nhã, thiếu niên thì khoảng mười lăm mười sáu, phong tư xinh đẹp còn hơn cả giai nhân.

Hà sinh vốn có bệnh thích đàn ông, thấy thiếu niên điên đảo cả thần hồn, nhón chân nhìn theo đến khi mất hút mới trở về.

Hôm sau lại ra đứng đón, đến sẩm tối thiếu niên mới tới.

Sinh niềm nở bước ra đón, cười hỏi đi đâu về, thiếu niên đáp là từ nhà ông ngoại về.

Sinh mời vào nghỉ chân, thiếu niên từ chối nói là không rảnh, sinh lôi kéo mãi bèn vào, ngồi giây lát lại đứng lên cáo từ, không thể giữ lại được.

Sinh dắt tay đưa ra, ân cần dặn lúc nào tiện đường cứ ghé chơi, thiếu niên dạ dạ rồi đi.

Sinh từ đó cứ ngơ ngẩn nhớ nhưng, ra vào trông ngóng cả ngày.

Một hôm lúc mặt trời đang lặn thiếu niên chợt tới, sinh cả mừng mời vào, sai tiểu đồng dọn rượu tiếp đãi.

Hỏi tên họ, thiếu niên đáp là họ Hoàng, bày vai thứ chín, vì còn nhỏ nên chưa có tên tự.

Hỏi sao hay qua lại đường này, thiếu niên đáp:

- Mẹ ta ở bên nhà ông ngoại, hay có bệnh nên ta phải qua thăm.

Rượu được vài tuần thì cáo từ ra về, sinh nắm tay giữ lại, khóa chặt cửa, Cửu lang không biết làm sao, bẽn lẽn ngồi xuống lại.

Sinh thắp đèn cùng trò chuyện, thấy thiếu niên nhỏ nhẻ như con gái, buông lời chọc ghẹo thì càng có vẻ thẹn thùng, quay mặt vào vách.

Lát sau cùng đi ngủ, sinh ôm chặt lấy vuốt ve mơn trớn đòi này nọ.

Cửu lang tức giận nói:

- Ta cho rằng ông là kẻ sĩ phong nhã nên mới qua lại, nay lại làm như thế thật chẳng khác gì cầm thú.

Không bao lâu, sao trời chỉ còn thưa thớt, Cửu lang bỏ về.

Sinh sợ Cửu lang sẽ tuyệt giao, lại ra cửa chờ, qua lại đăm đăm trông ngóng.

Qua mấy hôm Cửu lang mới tới, sinh ra đón tạ lỗi, ép kéo vào nhà, giục ngồi trò chuyện cười nói, thầm lấy làm may mắn vì Cửu lang không để bụng chuyện cũ.

Cửu lang nói:

- Tình thương yêu của ông ta đã khắc sâu vào lòng, nhưng thân ái đâu cứ phải làm thế.

Rồi đang đêm ra về, sinh buồn bực như mất vật quý, quên ăn bỏ ngủ, ngày càng héo hắt, chỉ hàng ngày sai tiểu đồng ra cổng chờ đợi.

Một hôm Cửu lang ngang qua cổng, định đi thẳng luôn nhưng tiểu đồng ra nắm áo kéo vào.

Thấy sinh tiều tụy, Cửu lang kinh sợ hỏi han.

Sinh kể thật đầu đuôi, nước mắt rơi lã chã.

Cửu lang nói nhỏ:

- Cái ý thương mến nhau ấy thật đáng cảm kích, nhưng đã chẳng ích lợi gì cho đệ mà còn làm hại cho ông, nên không muốn thôi.

Chứ nếu ông đã thích thì ta có tiếc gì.

Sinh cả mừng, Cửu lang đi rồi thấy bệnh tật phút chốc tiêu tan.

Vài hôm hoàn toàn bình phục rồi quả nhiên Cửu lang lại tới, cùng nhau vui vầy rồi nói:

- Nay nể lòng chiều ông, xin đừng làm như thế nữa.

Kế nói:

- Có việc muốn nhờ, không biết ông có chịu giúp không.

Sinh hỏi việc gì, Cửu lang đáp:

- Mẹ ta bị đau tim, chỉ có Tiên thiên đan của quan Thái y Tề Dã Vương chữa được, ông chơi thân với ông ấy chắc sẽ xin được.

Sinh hứa sẽ xin cho.

Lúc Cửu lang ra đi lại dặn dò, sinh bèn vào thành xin thuốc, chiều tối mang về.

Cửu lang mừng rỡ cảm ơn ca ngợi, nói:

- Xin tìm cho ông một mỹ nhân, còn hơn đệ gấp vạn lần.

Sinh hỏi là ai, Cửu lang đáp:

- Đệ có người biểu muội xinh đẹp vô song, nếu ông ưng thuận đệ sẽ làm mai cho.

Sinh cười khẽ không đáp, Cửu lang cầm thuốc về.

Ba hôm sau lại tới xin thuốc, sinh giận vì tới muộn, lời lẽ có ý bực túc.

Cửu lang nói:

- Bản ý vốn không muốn làm hại ông nên không tới thường, nay ông đã không rộng lượng cho, thì xin đừng hối hận.

Từ đó tối nào cũng vui vầy với nhau, mà cứ ba ngày lại xin thuốc một lần.

Tề lấy làm lạ vì cứ xin mãi, nói:

- Thuốc này ai uống ba lần cũng khỏi bệnh, sao lâu quá vẫn không khỏi thế?

Rồi lấy ba tễ trao cả cho, lại nhìn sinh nói:

- Ông khí sắc tối tăm, có bệnh phải không?

Sinh đáp:

- Không!

Tề bèn cầm tay bắt mạch, giật mình nói:

- Ông có quỷ mạch, bệnh ở mạch Thiếu âm, nếu không tự gìn giữ thì chết đấy.

Sinh về kể lại, Cửu lang than:

- Quả thật là danh y, nói thật ta là hồ, sợ không phải là điều may cho ông.

Sinh ngờ là dối trá nên giấu bớt thuốc lại không đưa hết vì sợ Cửu lang không tới nữa.

Không bao lâu quả nhiên sinh bị bệnh, rước Tề tới xem, Tề nói:

- Trước đây ông không nghe ta, nay thần khí đã tan tác, thầy giỏi nào chữa được nữa?

Cửu lang hàng ngày tới chăm sóc, nói:

- Không nghe lời ta, quả đến nông nỗi này.

Kế sinh chết, Cửu lang khóc lớn rồi đi.

Trước là trong huyện có Thái sử Mỗ lúc trẻ cùng học với sinh, năm mười bảy tuổi đã làm Hàn lâm.

Lúc ấy phiên vương đất Tần (tỉnh Thiểm Tây) tham bạo mà thích ăn của đút, các quan trong triều không ai dám nói.

Ông bèn dâng sớ hặc tội, bị kết tội quá phận cách chức.

Phiên vương lại được thăng chức Tuần phủ tỉnh ấy, hàng ngày cứ rình ông sơ hở để bắt tội.

Ông lúc trẻ có tiếng tài giỏi, có một phiên vương làm phản coi trọng, lúc ấy Tuần phủ bắt được thư từ qua lại giữa đôi bên đem tới uy hiếp, ông sợ treo cổ tự tử, phu nhân cũng tự thắt cổ chết.

Qua đêm chợt ông sống lại nói:

- Ta là Hà Tử Túc!

Người nhà hỏi han thấy đều nói chuyện nhà họ Hà, biết là Hà mượn xác hoàn hồn, giữ lại không được bèn cho về nhà cũ.

Tuần phủ ngờ là gian trá, cũng muốn đẩy vào chỗ chết bèn sai người tới đòi ngàn vàng, sinh giả vâng dạ nhưng vô cùng lo lắng.

Chợt Cửu lang tới, cùng nhau mừng rỡ trò chuyện, vừa mừng vừa tủi.

Kế lại muốn cùng vui vầy với nhau, Cửu lang nói:

- Ông có tới ba mạng sống à?

Sinh đáp:

- Ta hối vì sống lo chẳng bằng chết sướng.

Nhân kể lại chuyện oan khổ.

Cửu lang nghĩ ngợi rồi nói:

May mà ông còn sống lại gặp nhau.

Ông còn chưa có vợ, trước ta đã nói biểu muội xinh đẹp đa mưu, có thể giúp ông.

Sinh muốn gặp mặt một lần, Cửu lang nói:

- Không khó, ngày mai nàng cùng tới thăm mẹ ta, cũng đi qua đây, ông giả làm anh của đệ, ta sẽ giả khát vào xin nước uống.

ông cứ nói Lừa chạy mất rồi, thế là xong.

Bàn tính xong Cửu lang ra về.

Gần trưa hôm sau quả nhiên Cửu lang cùng một nữ lang đi ngang cổng, sinh ra chắp tay trò chuyện dằng dai, liếc thấy nữ lang mắt phượng mày ngài, quả thật xinh đẹp như tiên.

Cửu lang đòi uống trà, sinh mời vào nhà, Cửu lang nói:

- Tam muội đừng ngại, đây là anh em kết nghĩa của anh, ghé vào nghỉ một chút không hề gì.

Rồi đỡ nàng xuống, buộc lừa ngoài cổng cùng vào.

Sinh tự pha trà mời, đưa mắt nhìn Cửu lang nói:

- Trước đây ông nói chưa đủ đâu, hôm nay đúng là ta được chỗ để chết rồi.

Cô gái như biết nói tới mình, rời ghế đứng phắt dậy, khẽ nói:

- Đi thôi!

Sinh nhìn ra ngoài nói:

- Lừa chạy mất rồi!

Cửu lang vội vàng chạy ra.

Sinh ôm cô gái đòi giao hoan, cô gái đỏ bừng cả mặt mày, lính quýnh như con chó bị nhốt, gọi Cửu huynh nhưng không thấy đáp, bèn nói:

- Chàng đã có vợ rồi, sao lại làm mất danh tiết người ta.

Sinh bèn phân trần rằng mình không có vợ, nàng nói:

- Nếu dám thề rằng không phụ rẫy nhau, thì thiếp xin vâng lời.

Sinh bèn chỉ lên mặt trời thề thốt, cô gái bèn không chống cự nữa.

Xong đâu đấy rồi Cửu lang bước vào, cô gái hầm hầm nét mặt trách mắng, Cửu lang nói:

- Đây là Hà Tử Túc, trước là danh sĩ, nay là Thái sử, chơi thân với anh.

Người này có thể nương tựa được, nếu cậu mợ nghe thấy chắc cũng không phiền giận gì đâu.

Trời xế chiều, sinh giữ lại không cho đi, cô gái sợ cô lo lắng, Cửu lang nhận sẽ lo hết rồi lên lừa ra đi.

Được vài hôm, có người đàn bà dắt một tỳ nữ tới, tuổi trạc bốn mươi, phong nhã xinh đẹp giống hệt Tam nương.

Sinh gọi cô gái ra xem thì quả là mẹ nàng.

Bà nhìn con gái kinh ngạc hỏi sao lại ở đây, nàng thẹn thùng không đáp, sinh bèn mời vào lạy chào rồi kể rõ.

Người đàn bà cười nói:

- Cửu lang thật là tính khí trẻ con, sao không bàn trước.

Cô gái vào bếp làm thức ăn mời mẹ, bà ăn xong rồi về.

Sinh từ khi lấy được vợ đẹp trong lòng vui sướng, nhưng nỗi lo lắng còn dó nên thường chau mày nghĩ ngợi.

Cô gái hỏi, sinh kể rõ đầu đuôi, nàng cười nói:

- Chuyện đó thì một mình Cửu huynh cũng giúp được, chàng việc gì phải lo?

Sinh hỏi nguyên do, nàng đáp:

- Nghe nói quan Tuần phủ thích thanh sắc, chuyện thằng nhãi con ngu ngốc ấy thích đều là sở trường của Cửu huynh.

Đem cái y thích mà dâng, thì thù oán gì mà y không bỏ qua.

Sinh sợ Cửu lang không chịu, cô gái nói:

- Phải năn nỉ thôi!

Qua hôm sau, sinh thấy Cửu lang tới, bèn khép nép ra đón, Cửu lang ngạc nhiên nói:

- Hai đời giao du đã biết rõ nhau, dù cho tan xương nát thịt cũng không dám tiếc, sao lại đối xử với nhau như thế?

Sinh kể lại việc mình và vợ bàn tính, Cửu lang có vẻ ngần ngừ, cô gái nói:

- Thiếp thất thân với Hà lang là vì ai gây nên?

Nếu để Hà lang nửa đường đứt gánh thì thiếp sẽ ra sao?

Cửu lang bất đắc dĩ phải ưng thuận.

Sinh bèn cùng Cửu lang bàn tính, gởi thư tới bạn thân là Vương Thái sử, lại gởi gắm Cửu lang.

Vương hiểu ý, mở tiệc lớn mời Tuần phủ tới, sai Cửu lang mặc y phục đàn bà ra múa khúc Thiên ma vũ, xinh đẹp như con gái.

Tuần phủ thích lắm, xin Vương cho trả nhiều tiền để mua Cửu lang nhưng vẫn sợ không được.

Vương làm ra vẻ nghĩ ngợi như khó xử, ngần ngừ hồi lâu rồi tỏ ý sinh muốn dâng Cửu lang.

Tuần phủ vui mừng không căm giận gì sinh nữa, từ khi được Cửu lang, ăn ngủ gì cũng có nhau, có hơn mười người thiếp trẻ đẹp đều coi như đất bùn, cung phụng cái ăn cái mặc cho Cửu lang như bậc vương giả, ban cho vàng bạc hàng vạn lượng.

Được nửa năm Tuần phủ ngã bệnh, Cửu lang biết là sắp chết bèn chở hết vàng bạc gấm vóc về nhà sinh.

Kế Tuần phủ chết, Cửu lang bỏ tiền ra xây nhà cửa mua tôi tớ, mẹ con cùng cậu mợ đều tới đó ở chung.

Mỗi khi Cửu lang ra đường thì mặc áo cừu cưỡi ngựa béo rất sang trọng, mọi người không ai biết là hồ.

Trai gái ở chung, là đạo thường chồng vợ, khô ướt thông suốt, ấy khiếu chính âm dương.

Chờ trăng đón gió còn chuốc danh nhơ, cắt áo chia đào, khó che tiếng xấu.

Người đều là lực sĩ, đường chim bay mới được mở ra, động chẳng phải Đào Nguyên, sào ngư phủ sao cho chọc xuống.

Nay Mỗ theo lối dưới mà quên trở lại, bỏ đường chính mà chẳng đi theo.

Mây mưa chưa hừng, trên dưới liền tay sờ mó, âm dương ngược thế, trong ngoài cứ thế làm gian.

Ao hoa thành chốn không dùng, nói bậy sư già nhập định, động Mán là vùng không cỏ, lại sai tướng chột vung gươm.

*[Chờ trăng đón gió: nguyên văn là "nghênh phong đãi nguyệt", chữ trong câu thơ của Thôi Oanh Oanh thời Đường "Đãi nguyệt Tây sương hạ, Nghênh phong hộ bán khai" (Chờ trăng hiên thấp mái, Đón gió cửa không cài), đây chỉ việc hẹn hò trai gái].

*[Cắt áo chia đào: nguyên văn là "đoạn tụ" và "phân đào" Hán Ai đế sủng ái Đổng Hiền, có lần ngủ chung trở dậy thấy Đổng Hiền nằm đè lên tay áo mình, bèn cắt tay áo để Đổng Hiền không bị mất giấc ngủ.

Vệ Linh công sủng ái Di Tử Hà, có lần cùng dạo trong vườn, Di Tử Hà hái một trái đào chín, cắn một miếng rồi đút cho Vệ Linh công.

Đây chỉ việc đàn ông thích đàn ông].

Buộc Xích thố ngoài viên môn, như toan bắn kích, mò cung lớn trong quốc khố, những muốn phá rào.

Hay là nhà Giám mộng cá vàng, thăm tri giao đêm trước, rõ ràng họ Vương dùi mận đỏ, đòi báo đáp kiếp sau.

Rừng Hắc Tùng người ngựa thường qua, vốn là yên ổn, phủ Hoàng Long nước triều chợt tới, lấy gì chặn ngăn.

Phải chặt đứt cây gậy đâm xoi, mà nút kín con đường đưa đón.

*[Buộc Xích thố ngoài viên môn bắn kích: lấy tích Lữ Bố thời Hậu Hán bắn kích giải hòa cho Lưu Bị và Kỷ Linh tướng của Viên Thuật, nghĩa bóng chỉ quan hệ tình dục không lành mạnh giữa đàn ông với đàn ông]

*[Mò cung lớn trong quốc khố, những muốn phá rào: lấy tích Dương Hổ thời Xuân thu lấy trộm cung lớn trong quốc khố, nghĩa bóng chỉ quan hệ tình dục không lành mạnh giữa đàn ông với đàn ông].

*[Nhà Giám mộng cá vàng: Nhĩ đàm chép Vương Tế tửu ở Nam Kinh thân thiết với một viên Giám sinh, người ấy nằm mơ thấy có con cá chiên vàng từ đũng quần rơi ra, kể lại với bạn bè.

Đám Giám sinh đùa nói "Giấc mơ của Mỗ rất nhiêu khê.

Chuyện cá chiên vàng xoi vào mông rất đáng ngờ, chắc là Vương học sĩ đang đêm tới thăm người thương].

*[Họ Vương dùi mận đỏ: Tấn thư, Vương Nhung truyện chép nhà Vương Nhung có cây mận ngon, Vương hái quả bán nhưng sợ người ta lấy giống, nên trước khi bán là dùng kim đâm phá hỏng hạt mận, nghĩa bóng chỉ quan hệ tình dục không lành mạnh giữa đàn ông với đàn ông].
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 92+93


CHƯƠNG 92: KIM LĂNG NỮ TỬ

Bình Thủy Tương Phùng Sự Dĩ Kỳ

Khởi Tri Ký Hợp Phục Tu Ly

Trùng Lai Hựu Tác Đầu Thoa Thái

Tự Thử Hành Tung Thái Khả Nghi

Dịch:

Bèo Nước Đưa Duyên Sự Dã Kỳ

Hay Đâu Xum Hợp Lại Chia Ly

Trùng Phùng Giở Thói Gieo Thoi Nữa

Như Thế Hành Tung Rất Khả Nghi



Người dân ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) là Triệu Mỗ có việc vào thành trở về, gặp một cô gái mặc áo trắng khóc than bên đường rất thảm thiết.

Triệu liếc thấy xinh đẹp thích lắm, dùng lại nhìn chằm chằm không chịu đi.

Cô gái gạt lệ nói:

- Ông kia đường không chịu đi lại cứ nhìn ta.

Triệu nói:

- Ta thấy đồng không mông quạnh mà nàng đau xót khóc lóc nên thật rất thương tâm.

Cô gái nói:

- Chồng chết không biết về đâu nên đau lòng thôi.

Triệu khuyên nên lấy chồng khác, nàng đáp:

- Một thân lưu lạc, biết ai mà chọn?

Nếu được nương tựa thì làm vợ lẽ cũng được.

Triệu mừng rỡ xin đứng ra bảo bọc, cô gái bèn đi theo.

Triệu vì nhà ở xa, định tìm ngựa đỡ chân, cô gái nói không cần rồi bước lên trước, lãng đãng đi mau như chạy.

Về tới nhà rồi, nàng lo việc nhà rất chăm chỉ, được hơn hai năm nói với Triệu:

- Cảm vì chàng thương mến nên theo về, thấm thoát đã hai năm, nay phải đi thôi.

Triệu hỏi:

- Trước nàng nói không biết về đâu, nay định tới nơi nào?

Nàng đáp:

- Lúc ấy chỉ là nói dối thế thôi, chứ đâu lại không còn nơi về?

Cha thiếp bán thuốc ở Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô), nếu chàng muốn gặp nhau thì nên chở thuốc tới, sẽ giúp đỡ cho ít nhiều đi đường.

Triệu tính toán định thuê xe ngựa cho, nàng từ tạ rồi ra cửa đi thẳng, Triệu đuổi theo không kịp, trong chớp mắt đã mất hút.

Lâu sau Triệu càng nhung nhớ, bèn mua thuốc chở lên Kim Lăng, gởi hàng ở quán trọ rồi ra phố, chợt có ông già ở hiệu thuốc nhìn ra nói:

- Con rể tới rồi!

Rồi ra kéo vào.

Cô gái đang giặt áo trong sân, thấy Triệu không nói cũng không cười, cứ mãi miết giặt giũ.

Triệu uất ức bỏ ngay ra, ông già lại kéo trở vào, nàng vẫn không nhìn ngó gì tới.

Ông già bảo dọn cơm rượu thết đãi, định tặng tiễn cho Triệu thật hậu, cô gái ngăn lại nói:

- Y bạc phúc, có cho nhiều cũng không hưởng được, chỉ cần an ủi nỗi vất vả tới đây, lựa ra mười mấy bài thuốc trao cho là thừa cơm áo một đời rồi.

Ông già hỏi tới số thuốc Triệu mang lên, nàng đáp:

- Đã ngã giá rồi, đang để cả ở đây!

Ông già bèn đưa bài thuốc ra, trao tiền cho Triệu về.

Dùng thử các bài thuốc thì hiệu nghiệm phi thường, đến nay có người ở Nghi Thủy còn biết bài thuốc lấy vỏ trái vải giã nát ra hứng nước mưa ở mái tranh để tẩy nốt ruồi, là một trong những bài ấy, rất có công hiệu.

____________________________________

CHƯƠNG 93: LIÊN TỎA

Hoang Thảo Thùy Hương Dạ Sắc Hôn

Ngâm Hoài Bi Sở Nguyện Vô Ngân

Thập Niên Nhất Giác Tuyền Đài Mộng

Hà Tất Chân Hương Thủy Phản Hồn

Dịch:

Thấp Thoáng Thùy Dương Bãi Cỏ Hoang

Tiếng Ngâm Ảo Não Nguyệt Mơ Màng

Mười Năm Chợt Tỉnh Tuyền Đài Mộng

Tự Phản Hồn Đâu Phải Mượn Hương



Dương Vu Úy dời nhà tới ở cạnh sông Tứ Thủy, phòng học liền với cánh đồng rộng, ngoài tường có nhiều ngôi mộ cổ.

Đêm nghe cành lá bạch dương rung ào ào như sóng dâng, khuya dậy thắp đèn ngồi, đang buồn bã bâng khuâng chợt nghe ngoài tường có tiếng người ngâm thơ rằng:

- Nguyên dạ thê phong khích đảo xuy, Lưu oanh nặc thảo phục triêm vi.

Dịch:

(Hiu hắt đêm rằm gió lạnh qua, Lập lòe đom đóm đậu màn là).

Ngâm đi ngâm lại, âm thanh rất não nùng, Dương lắng tai nghe kỹ thấy dịu dàng như tiếng con gái, lấy làm ngờ vực.

Hôm sau ra ngoài tường xem không thấy vết chân người nào cả, duy có một sợi dây lụa tía rơi trong bụi gai, bèn nhặt về để trên bậu cửa sổ.

Đến canh hai lại nghe tiếng ngâm nga như đêm trước, Dương bắc ghế leo lên nhìn ra thì tiếng ngâm vụt tắt, biết đó là ma nhưng rất thích.

Đêm sau ra núp chờ bên tường, vừa hết canh một thấy có một cô gái trong đám cỏ lững thững đi ra, tỳ tay vào gốc cây nhỏ cúi đầu buồn bã ngâm nga.

Dương khẽ đằng hắng, nàng vội lui vào đám cỏ rậm biến mất.

Từ đó Dương cứ ra chờ, một đêm đợi cô gái vừa ngâm xong, liền cách tường đọc tiếp rằng:

- U tình khổ tự hà nhân kiến, Thúy tụ đơn hàn nguyệt thượng thì.

Dịch:

(Tình riêng mối khổ nào ai rõ, áo biếc mong manh dưới nguyệt tà)

hồi lâu vẫn thấy im ắng.

Dương bèn trở vào phòng, vừa ngồi xuống chợt thấy một cô gái đẹp từ ngoài bước vào, khép nép nói:

- Chàng vốn là văn nhân phong nhã mà bấy lâu nay thiếp cứ sợ sệt trốn tránh.

Dương mừng rỡ kéo nàng ngồi, thấy ẻo lả như mặc áo không nổi.

Hỏi quê quán nơi nào, ở đây bao lâu rồi, nàng đáp:

- Thiếp là người quận Lũng Tây (tỉnh Cam Túc) theo cha lưu lạc tới đây, năm mười bảy tuổi bị bạo bệnh chết, đến nay đã hơn hai chục năm rồi.

Hồn ở suối vàng, thây vùi đồng trống, trơ trọi một mình, hai câu thơ thường ngâm là của thiếp làm ra để gởi gắm niềm u hận, lâu nay vẫn muốn làm trọn bài nhưng nghĩ không ra, được chàng nối giùm nên thiếp ở dưới suối vàng lấy làm vui sướng.

Dương muốn cùng giao hoan, nàng cau mày nói:

- Xương nát dưới dạ đài không như người sống, nếu còn nọ kia sẽ làm người ta tổn thọ, thiếp không nỡ gây họa cho bậc quân tử.

Dương mới thôi.

Đùa thò tay nắn bóp ngực nàng thì nụ hoa còn son, rõ ràng vẫn là xử nữ, lại muốn nhìn đôi hài dưới chân.

Nàng cúi mặt cười nói:

- Anh chàng si cuồng tò mò quá!

Dương cầm chân nàng đùa giỡn, thấy hài làm bằng gấm màu nguyệt bạch nhỏ như bó tơ, nhìn kỹ thấy một chiếc thiếu giải lụa tía.

Hỏi sao không buộc cả hai chiếc, nàng đáp:

- Đêm trước sợ chàng bỏ chạy, không biết đánh rơi chỗ nào.

Dương nói:

- Để ta thay sợi khác cho nàng!

Rồi lấy sợi dây lụa tía trên bậu cửa sổ đưa cho cô gái.

Nàng ngạc nhiên hỏi ở đâu ra, Dương kể lại nàng bèn giắt vào thắt lưng.

Kế mở xem sách vở trên bàn, chợt thấy tập Liên xướng cưng từ cảm khái nói:

- Lúc thiếp còn sống rất thích đọc tập thơ này, giờ nhìn thấy, giống như đang trong mơ vậy.

Dương cùng nói chuyện văn thơ, thấy nàng thông minh đáng yêu, chong đèn trò chuyện như gặp bạn quý.

*[Liên xướng cung từ: tên tập thơ của Nguyên Chẩn, nhà thơ thời Đường]

Từ đó cứ đêm đến nghe tiếng ngâm thơ khe khẽ thì thấy nàng tới.

Thường dặn Dương rằng:

- Xin chàng giữ kín đừng cho ai biết, thiếp từ nhỏ vẫn nhút nhát nên sợ có khách khứa hung dữ hiếp đáp.

Dương ưng thuận.

Hai người vui như cá nước gặp nhau, tuy chưa thật là vợ chồng nhưng trong chốn phòng khuê còn âu yếm đằm thắm hơn cả vợ chồng.

Cô gái thường trước đèn chép sách cho Dương, nét chữ đoan chính đẹp đẽ.

Lại tự chọn một trăm bài Cung từ chép để ngâm nga, còn dặn Dương sắm bàn cờ vây, mua đàn tỳ bà, đêm đêm dạy Dương đánh cờ, không thì nàng so phím lên dây gảy khúc Mưa sa tàu chuối bên song khiến người phải não lòng.

Dương không nỡ nghe hết khúc, thì nàng gảy bản Tiếng oanh trong vườn buổi sớm, chợt Dương thấy trong lòng khoan khoái.

Thường chong đèn vui chơi quên cả đêm dài, thấy ánh mai hiện ra trên cửa sổ nàng mới vội vã ra đi.

Một hôm Tiết sinh tới chơi, gặp lúc Dương đang ngủ trưa, thấy trong nhà đủ cả bàn cờ nhạc khí, biết không phải là những môn Dương giỏi.

Lại lật sách vở xem, gặp tập Cung từ thấy nét chữ ngay thẳng đẹp đẽ không phải chữ Dương, càng thêm ngờ vực.

Dương thức dậy, Tiết hỏi bàn cờ nhạc khí từ đâu ra, Dương đáp là đang muốn học, lại hỏi về quyển thơ, Dương nói thác là mượn của bạn bè.

Tiết giở ra xem đi xem lại, tới tờ cuối thấy có hàng chữ nhỏ đề ngày ấy tháng ấy Liên Tỏa viết bèn cười nói:

- Đây là tên con gái mà, sao dối nhau quá thế?

Dương bí quá không biết trả lời thế nào, Tiết càng hỏi riết.

Dương không chịu nói, Tiết bèn lấy tập thơ bỏ túi, Dương cùng đường phải nói thật.

Tiết xin cho gặp một lần, Dương nhắc lại lời Liên Tỏa dặn.

Tiết càng hâm mộ cứ thiết tha xin gặp, Dương bất đắc dĩ đành nhận lời.

Khuya cô gái tới, Dương tỏ ý Tiết, nàng giận nói:

- Trước đã dặn thế nào, mà lại ba hoa với người ta!

Dương kể lại sự tình để phân trần, nàng nói:

- Duyên phận với chàng đến đây là hết rồi.

Dương tìm đủ lời năn nỉ khuyên giải mà nàng vẫn không vui, đứng dậy từ biệt, nói:

- Thiếp phải tạm lánh mặt.

Hôm sau Tiết tới, Dương cho biết là Liên Tỏa không chịu, Tiết ngờ là kiếm cớ thoái thác, chiều tối rủ hai bạn học nữa tới, dằng dai không chịu ra về, làm ầm ĩ suốt đêm, Dương bực lắm nhưng không biết làm sao.

Họ thấy mấy đêm liền không có gì lạ cũng chán, dần dần yên lặng, chợt nghe tiếng ngâm thơ, cùng lắng tai nghe, thấy rất buồn thảm.

Tiết còn đang chăm chú nghe, trong bọn có một người bạn học võ là Vương sinh lượm hòn đá to ném ra nói lớn:

- Làm bộ làm tịch không chịu ra mặt, thơ có ra gì mà ngâm nga sướt mướt nghe phát bực.

Tiếng ngâm thơ tắt liền.

Mọi người rất tức, Dương thì bực bội ra mặt.

Hôm sau họ mới chịu đi, Dương ngủ một mình ở phòng sách chờ cô gái trở lại nhưng nàng biệt tăm.

Qua hai hôm nàng chợt tới khóc nói:

- Chàng đón những khách hung tợn tới làm thiếp sợ gần chết.

Dương chưa kịp xin lỗi, nàng đã bước ngay ra, nói:

- Thiếp đã nói duyên phận với chàng hết rồi, từ đây xin vĩnh biệt.

Dương định kéo lại thì nàng đã biến mất, suốt hơn tháng sau không thấy tới nữa.

Dương nhớ nhung tới mức gầy ốm nhưng không còn cách nào gặp được nàng.

Một đêm đang ngồi uống rượu một mình, chợt cô gái vén rèm bước vào.

Dương mừng quá, nói:

- Nàng tha thứ cho ta rồi sao?

Cô gái chảy nước mắt im lặng không đáp, hỏi mãi thì nàng muốn nói lại thôi, kế nói:

- Tức giận bỏ đi, lại có chuyện nguy cấp phải nhờ người, nghĩ mà hổ thẹn.

Dương gặng hỏi mấy lần, nàng nói:

- Có một tên lính lệ thô bỉ không biết ở đâu tới ép thiếp phải làm vợ lẽ của y.

Thiếp nghĩ mình là con nhà thanh bạch, há lại chịu khuất phục một tên quỷ tốt, nhưng một thân yếu đuối làm sao chống cự.

Nếu chàng coi thiếp như vợ chồng thì chắc không để mặc thiếp phải khổ.

Dương cả giận, căm tức tưởng chết nhưng lo người với ma khác loài, không thể giúp nàng được.

Cô gái nói:

- Đêm mai cứ đi ngủ sớm, thiếp nhờ chàng trong mộng vậy.

Rồi cùng nhau chuyện trò đợi sáng, lúc nàng ra đi dặn Dương đi ngủ để giữ cái hẹn buổi tối, Dương theo lời.

Buổi chiều uống vài ly rượu rồi nhân lúc ngà ngà lên giường, để nguyên áo mà ngủ.

Chợt thấy cô gái tới, đưa cho thanh bội đao rồi cầm tay dắt đi.

Tới một căn nhà, vừa vào đóng cửa trò chuyện thì nghe có người đập cửa cô gái hoảng sợ nói:

- Kẻ thù tới đấy!

Dương mở cửa sấn ra, thấy một người mũ đỏ áo xanh, râu quai nón tua tủa như lông nhím, tức giận thét đuổi đi.

Tên lính trợn mắt quát lại, lời lẽ rất ngạo mạn.

Dương cả giận sấn vào, y vác đá ném như mưa, Dương bị ném trúng tay không cầm đao được nữa.

Đang lúc nguy cấp, chợt thấy xa xa có một người đeo cung tên đi săn, nhìn kỹ chính là Vương sinh, bèn kêu lớn cầu cứu.

Vương sinh giương cung chạy tới bắn trúng đùi tên lính, lại bắn thêm một phát giết chết luôn.

Dương mừng rỡ cảm tạ.

Vương hỏi duyên cớ, Dương kể lại đầu đuôi.

Vương mừng đã chuộc được lỗi trước, bèn cùng vào nhà.

Cô gái thẹn thùng sợ sệt đứng xa nhìn không nói một câu.

Trên bàn có thanh đao nhỏ dài hơn một thước khảm vàng ngọc, rút ra khỏi vỏ thì long lanh sáng quắc.

Vương khen ngợi không nỡ rời tay, trò chuyện qua loa với Dương, thấy cô gái sợ sệt rất đáng thương bèn bước ra chia tay rồi đi.

Dương cũng ra về, tới cổng thì ngã chúi, giật mình tỉnh dậy nghe gà trong thôn gáy ran.

Thấy cánh tay đau buốt, sáng ra nhìn kỹ thì da thịt sưng lên đỏ bầm.

Trưa Vương sinh tới, nói đêm qua nằm mơ rất lạ.

Dương hỏi:

- Mơ thấy bắn tên phải không?

Vương lấy làm lạ sao Dương biết.

Dương đưa tay cho xem rồi nói rõ duyên cớ.

Vương nhớ lại người đẹp trong mộng, hận chưa được thấy người thật, nhưng nghe may có chút công với cô gái nên lại xin cho được gặp.

Đêm đến cô gái tới cảm tạ, Dương quy công cho Vương sinh rồi tỏ bày lòng thành của Vương.

Nàng nói:

- Cái ơn giúp đỡ làm sao dám quên, nhưng y mạnh mẽ dữ tợn, thật thiếp sợ quá.

Kế lại nói:

- Y thích thanh bội đao của thiếp, thanh đao ấy là cha thiếp ngày trước mua ở đất Việt (tỉnh Quảng Đông) hết trăm lượng vàng.

Thiếp thích nên cha cho tua buộc tơ vàng, vỏ nạm minh châu, cha thương thiếp mệnh bạc nên bỏ vào quan tài chôn theo.

Nay xin dứt tình đưa tặng, y thấy đao cũng như gặp thiếp vậy.

Hôm sau Dương tỏ ý ấy Vương thích lắm.

Đến đêm, cô gái quả đem thanh đao tới, nói:

- Chàng dặn y giữ cho kỹ, đây không phải là vật ở Trung Hoa đâu.

Từ đó lại lui tới nhà Dương như trước.

Vài tháng sau chợt nàng ngồi dưới đèn nhìn Dương như định nói gì, nhưng hai ba lần đỏ mặt rồi thôi.

Dương ôm nàng hỏi han, nàng đáp:

- Lâu nay được chàng yêu mến, tiếp nhận sinh khí người sống, hàng ngày ăn những thức nấu nướng nên mớ xương khô chợt có sinh cơ, nhưng phải có tinh huyết của người sống mới có thể sống lại.

Dương cười nói:

- Vì nàng không muốn chứ ta có tiếc gì đâu.

Cô gái nói:

- Thiếp tiếp nhận tinh khí rồi thì chàng ắt ốm nặng hơn hai mươi ngày, nhưng uống thuốc là khỏi.

Bèn cùng nhau giao hoan.

Kế nàng mặc áo trở dậy, lại nói:

- Còn phải có một giọt máu tươi, chàng nhịn đau cho nhau được không?

Dương liền cầm dao sắc tự đâm vào tay lấy máu, cô gái nằm trên giường bảo nhỏ máu vào rốn, xong rồi đứng dậy nói:

- Thiếp không tới nữa.

Chàng nhớ là sau đây một trăm ngày ra trước mộ thiếp, thấy có con chim xanh kêu trên ngọn cây thì lập tức đào lên.

Dương hứa theo lời.

Lúc nàng ra cửa lại dặn:

- Chàng nhớ kỹ đừng quên, sớm hay trễ hơn đều không được đâu.

Rồi đi.

Hơn mười ngày sau quả Dương phát bệnh, bụng trướng lên gần chết, thầy lang cho uống thuốc, xổ ra hôi thối như bùn, đúng mười hai hôm thì khỏi.

Tính đủ trăm ngày, sai gia nhân mang cuốc ra chờ sẵn bên mộ, lúc mặt trời xế bóng quả thấy hai con chim xanh hót.

Dương mừng nói:

- Đến lúc rồi!

Rồi phá gai đào mồ, thấy quan tài đã mục nát mà dung mạo cô gái vẫn như còn sống, sờ vào người thấy âm ấm liền lấy chăn bọc lại khiêng về đặt vào phòng kín.

Lát sau có hơi thở như sợi tơ, từ từ đổ nước cho, nửa đêm thì nàng sống lại.

Thường nói với Dương:

- Hơn mười năm mà thấy như một giấc mộng thôi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 94+95


CHƯƠNG 94: BẠCH VU NGỌC

Ngẫu Nhiên Giả Quán Hỗn Hồng Trần

Tuyền Khóa Thanh Thiền Phản Ngọc Thân

Dự Vị Cư Đình Mưu Tự Lục

Tôn Tiền Lưu Đắc Tử Y Nhân

Dịch:

Hỗn Tính Hồng Trần Khéo Ngẫu Nhiên

Phản Hồi Thượng Giới Cười Thanh Thiền

Lưu Tâm Rắp Dã Mưu Tôn Tự

Áo Tía Ngờ Đâu Gặp Được Tiên



Ngô Quân tự Thanh Am lúc trẻ đã nổi tiếng, quan Thái sử họ Cát đọc thấy văn bài thường khen ngợi, nhờ người quen mời tới nhà, thấy ngôn ngữ phong thái bèn nói:

- Chẳng lẽ có tài như Ngô sinh mà nghèo hèn mãi sao?

Nhân nhờ người đánh tiếng, nói:

- Nếu Thanh Am gắng sức thi đỗ thì ta gả con gái cho.

Lúc ấy Thái sử có cô con gái tuyệt đẹp, sinh nghe thế cả mừng, rất tự tin sẽ thi đỗ.

Kế thi hương bị đánh rớt, bèn nhờ người nói với Thái sử rằng nhất định sẽ được giàu sang, chỉ không biết sớm hay muộn thôi, xin chờ cho ba năm nữa, nếu mình không thành danh hãy gả chồng cho tiểu thư, từ đó càng ra sức học hành.

Một đêm sáng trăng có người Tú tài tới thăm, da trắng râu ngắn, vóc nhỏ móng tay dài.

Hỏi từ đâu tới, khách tự xưng là họ Bạch, tự Vu Ngọc, cùng chuyện trò vài câu thấy hợp nên thích lắm, mời ngủ lại.

Sáng ra Bạch sắp lên đường, sinh dặn có qua ngang tiện đường nhớ ghé chơi.

Bạch cảm vì ân cần, xin lần sau cho ở nhờ, hẹn ngày tới rồi chia tay.

Đến ngày hẹn, có một người đầy tớ đem các vật dụng nhà bếp tới trước, kế Bạch tới, cưỡi con ngựa thần thái như con rồng, sinh để một gian nhà riêng cho Bạch ở.

Bạch sai đầy tớ dắt ngựa đi, còn mình ở lại sớm tối cùng sinh gần gũi, rất vui vẻ tương đắc.

Sinh thấy những sách Bạch đọc đều không phải loại thường thấy, cũng tuyệt nhiên không có loại sách văn chương khoa cử nên ngạc nhiên hỏi.

Bạch cười đáp:

- Kẻ sĩ ai có chí người ấy, ta không phải là người trong trường công danh.

Thường đêm, Bạch mời sinh qua uống rượu, đưa một quyển sách cho xem, đều là dạy thuật đạo dẫn dưỡng sinh, nhiều chỗ không hiểu nổi, sinh thấy viễn vông nên bỏ đó.

Hôm khác Bạch nói:

- Quyển sách ta đưa hôm trước là con đường tu luyện, chiếc thang lên tiên đấy.

Sinh cười nói:

- Việc gấp của ta không phải ở đó, vả lại muốn thành tiên ắt phải dứt hết lòng trần, bỏ hết ham muốn, nhưng ta có tật xấu nên chưa làm được.

Bạch hỏi vì sao, sinh đáp phải lo có người nối dõi.

Bạch hỏi:

- Vậy sao vẫn không lấy vợ?

Sinh cười đáp:

- Quả nhân có tật xấu, quả nhân thích sắc đẹp.

Bạch cũng cười nói:

- Xin nhà vua đừng thích cái sắc nhỏ, ông thích sắc đẹp ra sao?

Sinh kể lại việc Thái sử, Bạch ngờ rằng con gái Thái sử chưa chắc đã thật đẹp.

Sinh nói:

- Chuyện đó thì xa gần đều biết, không phải tiểu sinh không có mắt đâu.

Bạch cười khẽ rồi im lặng.

*[Quả nhân... sắc nhỏ: nguyên văn là “Quả nhân hữu tật, quả nhân hiếu sắc”, và "Vương thỉnh vô hiếu tiểu sắc", câu đầu là lời Tề Hoàn công thời Xuân thu nói với Quản Trọng, câu sau là nhại lời Mạnh Tử nói với Đằng Văn công "Vương hà tất viết lợi", đây hai nhân vật dùng để nói đùa với nhau].

Hôm sau chợt sắp hành lý chào đi, sinh buồn bã cùng trò chuyện, quyến luyến không dứt ra được, Bạch bèn sai tiểu đồng mang hành lý đi trước.

Hai người còn đang bịn rịn, chợt thấy một con ve xanh sè sè đáp xuống bàn.

Bạch chào nói:

- Ngựa xe đã tới, từ nay xin giã biệt.

Nếu ông nhớ nhau thì cứ quét cái giường ta nằm mà ngủ.

Sinh đang muốn hỏi lại thì trong chớp mắt Bạch đã chỉ còn nhỏ như ngón tay, nhảy lên cưỡi trên lưng con ve, e e bay lên biến mất trong mây.

Sinh lúc ấy mới biết Bạch không phải là người thường, kinh ngạc than thở hồi lâu, buồn bực như mất của quý.

Mấy hôm sau chợt trời mưa phùn, sinh càng nhớ Bạch, nhìn tới chỗ giường Bạch nằm thấy vết chân chuột chi chít, cảm khái quét dọn rồi trải chiếu lên nằm ngủ.

Giây lát thấy đứa tiểu đồng của Bạch tới mời bèn vui vẻ đi theo.

Chợt có con phượng đáp xuống, tiểu đồng giục sinh:

- Đường tối khó đi, cưỡi nó đỡ chân cũng được.

Sinh lo con chim nhỏ không chở nổi, tiểu đồng nói:

- Ông cứ cưỡi thử xem sao!

Sinh theo lời thì thấy ngồi còn thừa chỗ, tiểu đồng cũng ngồi ghé trên đuôi, chim giương cánh soạt một tiếng bay thẳng lên không.

Không bao lâu, thấy một cái cổng sơn son, tiểu đồng bước xuống trước rồi đỡ sinh cùng xuống.

Sinh hỏi đây là nơi đâu, tiểu đồng đáp:

- Đây là cổng trời!

Bên cửa có con cọp lớn ngồi chồm chổm, sinh sợ hãi, tiểu đồng bèn lấy mình che cho cùng vào, thấy phong cảnh khắp nơi đều khác hẳn thế gian.

Tiểu đồng dẫn vào cung Quảng Hàn, bên trong lấy thủy tinh làm bậc thềm, người đi lên như đang giữa tấm gương, có hai cây quế lớn vấn vít lấy nhau, mùi hương theo gió thơm tho không dứt, đình tạ cửa sổ đều sơn son.

Lúc lúc lại có mỹ nhân ra vào, người nào cũng xinh đẹp lạ thường, thế gian không sao bì kịp.

Tiểu đồng nói mỹ nhân ở cung Vương Mẫu còn xinh đẹp hơn nhưng sợ ông chủ đợi lâu, không thể thơ thẩn rồi dắt sinh đi mau ra.

Giây lát thấy Bạch đứng chờ ngoài cửa, cầm tay sinh đưa vào thấy trước nhà suối trong cát trắng, tiếng chảy róc rách, thềm ngọc hiên son như cung điện vua chúa, vừa ngồi xuống đã có hai thị nữ trẻ bưng trà lên mời.

Kế Bạch sai dọn rượu, có bốn mỹ nhân khép nép hầu hạ chung quanh, vừa thấy trong lưng hơi ngứa thì mỹ nhân đã lấy móng tay dài gãi giùm.

Sinh thấy tâm thần phiêu diêu, quên cả là mình đang ở đâu, lúc đã ngà ngà say không tự chủ được nữa, cười liếc mỹ nhân, kéo lại nói nhỏ, mỹ nhân mỉm cười né ra.

Bạch sai đàn hát chuốc rượu, một nàng mặc áo hồng bưng ly rượu mời khách rồi đứng trước tiệc cất tiếng hát du dương, các nàng khác gõ sênh phách réo rắt họa theo.

Kế tới một nàng mặc xiêm xanh cũng chuốc rượu rồi hát, còn một nàng mặc áo tía, một nàng mặc áo màu nguyệt bạch cứ cười khúc khích đùn đẩy nhau không chịu bước ra.

Bạch sai mỗi nàng mời một chén hát một bài, nàng áo tía bèn bước lên rót rượu.

Sinh mượn cớ đón ly rượu đùa nắm lấy cổ tay, nàng bật cười buột tay làm rơi ly rượu xuống đất Bạch trách mắng, nàng nhặt chén lên mỉm cười, cúi đầu nói khẽ:

- Da lạnh như tay ma mà cố nắm tay người ta?

Bạch cười lớn, phạt nàng phải múa hát một mình.

Nàng múa xong, nàng áo nguyệt bạch lại mời một chén, sinh từ chối nói không uống nổi nữa.

Cô gái bưng ly rượu có vẻ hổ thẹn, sinh bèn gượng uống.

Nhìn kỹ bốn nàng thấy phong thái yêu kiều, người nào cũng xinh đẹp tuyệt thế, sinh nói với chủ nhân:

- Người đẹp trên đời, ta mong được một mà còn khó khăn, ông thì tụ họp bấy nhiêu giai nhân, có thể cho nhau hưởng thú tiêu hồn không?

Bạch cười nói:

- Túc hạ trong lòng đã có giai nhân rồi, thế này đâu đã đủ lọt vào mắt?

Sinh nói:

- Nay ta mới biết kiến thức của mình còn hẹp hòi.

Bạch gọi tất cả các cô gái tới cho chọn, sinh mê mệt không biết chọn ai.

Bạch nghĩ nàng áo tía có cái duyên nắm tay, bèn sai lo giường nệm hầu khách.

Kế cùng chung chăn chung gối, hết sức yêu thương, sinh đòi tặng một vật làm kỷ niệm, nàng tháo chiếc xuyến vàng ở cổ tay đưa cho.

Chợt đứa tiểu đồng vào nói:

- Tiên phàm khác nhau, ông nên đi ngay!

Cô gái vội trỗi dậy đi ra.

Sinh hỏi ông chủ, tiểu đồng nói:

- Ông chủ ta đi chầu Ngọc Hoàng, lúc đi có dặn ta tiễn khách về.

Sinh buồn bã theo ra, lại theo lối cũ, gần tới cổng quay lại nhìn thì tiểu đồng đã đi đâu mất.

Con cọp gầm thét chồm lên, sinh sợ hãi bỏ chạy, nhìn xuống dưới thấy mờ mịt nhưng chân đã lọt xuống, giật mình tỉnh dậy thì phía đông đã hừng sáng.

Vừa giũ áo đứng lên thì có một vật rơi nhẹ xuống chiếu, nhìn lại thì là chiếc xuyến, càng lấy làm lạ.

Từ đó ý nghĩ lúc trước thành nguội lạnh, thường muốn tìm tiên học đạo nhưng còn lo về nỗi không có con nối dõi.

Qua hơn mười tháng, một hôm sinh ngủ trưa mơ thấy nàng áo tía từ ngoài vào, bế một đứa nhỏ nói:

- Đây là xương máu của chàng, trên trời không giữ lại được nên xin đem tới trả chàng.

Rồi đặt đứa nhỏ trên giường, kéo vạt áo sinh đắp cho nó rồi vội vã định đi.

Sinh ép cùng giao hoan, kế nàng nói:

- Lần trước là động phòng, lần này là vĩnh quyết, vợ chồng trăm năm đến đây là hết.

Nếu chàng có chí, may ra còn có lúc gặp lại.

Sinh tỉnh giấc thấy đứa nhỏ nằm trong bọc tã trên giường, liền bế vào nói với mẹ.

Mẹ mừng rỡ, thuê vú nuôi cháu, đặt tên là Mộng Tiên.

Rồi đó sinh sai người báo cho Thái sử rằng mình sắp đi ở ẩn xin kén rể khác.

Thái sử không chịu, sinh cố từ chối.

Thái sử kể cho con gái, nàng nói:

- Xa gần chẳng ai không biết con đã hứa làm vợ Ngô lang, nay thay đổi hóa ra là hai chồng sao?

Thái sử đem lời ấy nói với sinh.

Sinh nói:

- Ta chẳng những không có chí về việc công danh mà còn tuyệt tình về đường gia thất nữa, sở dĩ không vào núi ngay chỉ vì còn mẹ già đó thôi.

Thái sử lại bàn với con gái, nàng nói:

- Ngô lang nghèo thì con cam phận rau cháo, Ngô lang đi thì con xin thờ mẹ chồng, quyết không theo người khác.

Sinh sai người qua lại hai ba lần cũng không xong, Thái sử bèn chọn ngày lành cho xe kiệu đưa con gái về nhà chồng.

Sinh cảm là người hiền đức, rất mực kính yêu.

Nàng thờ mẹ chồng rất có hiếu, chiều chuộng hầu hạ còn hơn con gái nhà nghèo.

Qua hai năm mẹ chồng mất, nàng cầm bán tư trang lo liệu tang lễ rất tươm tất.

Sinh nói:

- Được người vợ như nàng, ta còn lo gì.

Nhưng nghĩ một người đắc đạo bỏ nhà lên tiên, ta sắp đi xa, việc nhà xin phó thác cho nàng.

Nàng thản nhiên không hề giữ lại, sinh bèn ra đi.

Nàng ngoài lo mưu sinh, trong dạy con côi, đều có phép tắc.

Mộng Tiên dần dần lớn lên, vô cùng thông minh, mười bốn tuổi thi khoa Thần đồng đỗ Cử nhân, mười lăm tuổi vào Hàn lâm viện, triều đình phong tặng nhưng không biết tên mẹ đẻ nên chỉ có bà Cát được phong tặng mà thôi.

Đến ngày tế, Mộng Tiên hỏi cha ở đâu, bà Cát nói rõ, Mộng Tiên muốn từ quan đi tìm cha, bà nói:

- Cha con rời nhà đến nay đã hơn mười năm, chắc đã lên tiên rồi, biết đâu mà tìm.

Sau Mộng Tiên phụng chỉ ra tế ở Nam Nhạc, giữa đường gặp cướp, đang lúc nguy cấp có một đạo sĩ cầm gươm xông vào đánh, bọn cướp thua chạy tán loạn nên được giải vây.

Mộng Tiên cảm ơn đạo sĩ, tặng tiền nhưng y không nhận, đưa ra một phong thư nói:

- Ta có người bạn cũ cùng làng với đại nhân, phiền đưa giùm lá thư thăm hỏi.

Mộng Tiên hỏi họ tên người ấy, đạo sĩ đáp là Vương Lâm, nhưng nhớ lại trong thôn không có ai tên ấy, đạo sĩ nói:

- Người ấy con nhà hèn mọn nên ông không biết thôi.

Lúc từ giã lại đưa ra một chiếc xuyến vàng, nói:

- Đây là vật dùng của đàn bà con gái, bần đạo nhặt được nhưng không dùng gì tới, xin biếu ông luôn.

Mộng Tiên thấy chiếc xuyến chạm trổ rất tinh xảo, đem về đưa phu nhân.

Phu nhân thích lắm, sai thợ khéo theo đúng kiểu làm thêm chiếc nữa, nhưng không sao tinh xảo bằng được.

Mộng Tiên hỏi khắp trong thôn thì không có ai tên Vương Lâm, bèn lén mở phong thư ra xem, thấy phía trên viết như sau:

Ba năm loan phượng

Chia cách đôi miền

Nuôi con chôn mẹ

Toàn cậy nàng hiền

Lấy gì báo đức?

Tặng thuốc một viên

Cắt ra mà uống

Có thể thành tiên.

Dưới viết:

- Kính gửi Phu nhân Lâm nương.

Mộng Tiên đọc xong không hiểu là gởi ai bèn cầm tới kể với mẹ.

Bà Cát đọc xong khóc nói:

- Đây là thư của cha con gửi về nhà, Lâm là tiểu tự của ta.

Mộng Tiên mới sực hiểu ra “Vương Lâm" là chiết tự chữ “Lâm“, ân hận không thôi.

Lại đưa chiếc xuyến cho mẹ xem, bà Cát nói:

- Đây là di vật của mẹ đẻ con, lúc cha con còn ở nhà vẫn đưa cho ta xem.

Mộng Tiên thấy viên thuốc bằng hạt đậu lớn, vui mừng nói:

- Cha đã thành tiên, mẹ uống viên thuốc này ắt được trường sinh.

Nhưng bà Cát chưa muốn uống ngay, bèn nhận lấy cất đi.

*[Vương Lâm"... chữ "Lâm”: đây theo lối chiết tự trong chữ Hán.

Chữ Lâm (ngọc lâm) đây gồm bộ ngọc và chữ lâm (rừng), nhưng bộ ngọc thường viết giảm một chấm nên thành chữ vương].

Gặp lúc Thái sử qua thăm cháu, bà đọc bức thư của Ngô lang cho ông nghe, nhân mang viên thuốc ra chúc thọ.

Thái sử cắt làm đôi cho cha con cùng uống, trong giây lát thấy tinh thần phấn chấn hẳn lên.

Năm ấy Thái sử đã bảy mươi tuổi, già nua yếu ớt lắm rồi mà chợt thấy sức lực cuồn cuộn dưới da thịt, lúc về bỏ kiệu xuống bộ đi rất nhanh, bọn gia nhân chạy theo mướt mồ hôi mới kịp.

Năm sau đô thành có nạn cháy nhà, lửa bốc suốt ngày không tắt, mọi người đêm không dám ngủ, tụ tập ở sân.

Thấy lửa cứ lan ra, dần dần tới lối xóm, cả nhà nhớn nhác không biết làm sao.

Bỗng chiếc xuyến vàng ở tay phu nhân soạt một tiếng thoát khỏi tay bay ra, nhìn theo thấy to mấy mẫu úp quanh trên nhà, hình dáng như vành trăng, chỗ mối nối hướng về phía đông nam, nhìn thấy rất rõ ràng, mọi người đều kinh ngạc.

Giây lát ngọn lửa từ phía tây lan tới, tới gần cái vành thì tạt qua phía đông.

Khi thế lửa đã dịu, phu nhân đang thầm nghĩ chắc mất chiếc xuyến rồi, không sao lấy lại được nữa chợt thấy ánh vàng vụt thu lại, chiếc xuyến rơi leng keng ngay dưới chân.

Mấy vạn nhà dân trong thành đều cháy sạch, chung quanh đều ra tro, chỉ có nhà họ Ngô là không bị gì, duy có một ngôi lầu nhỏ ở phía đông nam bị cháy rụi, tức là nơi mối nối của chiếc xuyến để hở ra.

Bà Cát hơn năm mươi tuổi mà có người gặp, thấy chỉ như ngoài hai mươi.

____________________________________

CHƯƠNG 95: DẠ XOA QUỐC

NƯỚC DẠ XOA

Thâm Sơn Thương Mãng Thiểu Nhân Tông

Tập Tục Cơ Nghi Loại Độc Long

Bất Thi Từ Sinh Hoàn Cố Quốc

An Tri Hải Ngoại Ngọa Mi Phong

Dịch:

Non Sâu Rừng Thẳm Người Thưa Đến

Phong Tục Hầu Nghi Giống Độc Long

Chẳng Có Từ Sinh Về Nước Nói

Ngoài Khơi Ai Biết Ngoại Mi Phong



Họ Từ ở đất Giao Châu (huyện Ngô Châu tỉnh Quảng Tây) vượt biển đi buôn, bị bão thổi bạt thuyền.

Mở mắt thấy tới một xứ núi cao rừng rậm, cho rằng có người ở bèn buộc thuyền đem theo lương khô lên bờ.

Vừa vào thì thấy hai bên núi đều có cửa hang dày đặc như lỗ tổ ong, phía trong như có tiếng người.

Bèn tới ngoài một cửa hang nhìn vào, thấy có hai con dạ xoa răng tua tủa như dao, mắt sáng quắc như đèn đang lấy móng xé một con hươu ăn sống, hồn bay phách lạc vội chạy lui lại thì dạ xoa quay lại nhìn thấy, bỏ ăn quay ra bắt vào.

Hai con nói chuyện với nhau, tiếng như chim kêu thú gào, rồi tranh nhau xé nát áo Từ như muốn ăn tươi nuốt sống.

Từ cả sợ quá vội lấy lương khô thịt khô trong túi ra đưa, chúng chia nhau ăn có vẻ ngon lành lắm rồi lại lục cái túi.

Từ xua tay ra hiệu không còn, dạ xoa tức giận lại túm lấy Từ.

Từ năn nỉ:

- Tha cho ta đi, trong thuyền ta có nồi niêu, có thể nấu nướng được.

Dạ xoa không hiểu, vẫn tức giận.

Từ dùng tay ra hiệu, chúng có vẻ hơi hiểu bèn theo Từ ra thuyền.

Từ đem nồi vào hang, gom củi nhen lửa nấu chín thịt hươu còn lại đưa cho dạ xoa, hai con vật ăn xong thích lắm.

Đêm đến chúng vần khối đá lớn lấp cửa hang như có ý sợ Từ bỏ trốn.

Từ nằm co quắp xa xa, chỉ sợ không sao sống được.

Trời sáng hai con vật ra, lại lấp chặt cửa hang, lát sau mang về một con hươu đưa cho Từ.

Từ lột da, múc nước chảy ở cuối hang luộc thịt làm mấy nồi, giây lát có một bầy mấy con dạ xoa kéo tới ăn ngấu nghiến hết sạch, rồi cùng chỉ vào cái nồi như chê nhỏ.

Ba bốn ngày sau, một dạ xoa vác tới một cái nồi lớn như người ta vẫn thường dùng.

Từ đó cả bầy cứ đem tới nào nai nào sói cho Từ nấu, thịt chín rồi thì gọi Từ cùng ăn.

Được vài ngày, dạ xoa dần dà quen Từ, khi đi không vần đá lấp cửa hang nhốt lại nữa mà đối xử như cùng trong bầy.

Từ dần dần xét tiếng kêu của chúng mà xem ý tứ rồi tập kêu theo, nói tiếng dạ xoa.

Dạ xoa càng thích, đưa một dạ xoa cái tới làm vợ Từ.

Lúc đầu Từ sợ không dám gần, dạ xoa cái tới ngủ chung, cùng Từ ăn nằm thích lắm, thường đem thịt cho Từ ăn như vợ chồng con người vậy.

Một hôm cả bầy dậy sớm, lấy chuỗi hạt minh châu đeo quanh cổ thay phiên nhau ra cửa như chờ khách quý, lại bảo Từ nấu nhiều thịt.

Từ hỏi dạ xoa cái, nó đáp đây là tiết Thiên thọ.

Dạ xoa cái ra nói với bầy rằng:

- Từ lang không có vòng đeo cổ.

Mỗi con bèn trích trong chuỗi minh châu của mình năm hạt đưa nó, nó cũng rút mười hạt trong chuỗi của mình ra, được tất cả năm mươi hạt rồi lấy dây cỏ xỏ thành một chuỗi đeo vào cổ cho Từ, Từ xem kỹ thấy mỗi hạt đều đáng giá hàng trăm đồng vàng.

Lát sau cả bầy đều ra ngoài, Từ nấu thịt xong, dạ xoa cái vào bảo đi, nói là ra đón thiên vương.

Tới một cái hang lớn rộng chừng một mẫu, giữa có tảng đá to bằng phẳng như cái bàn, chung quanh đều có chỗ ngồi bằng đá, một chỗ trên cùng phủ da báo, còn lại đều phủ da hươu, hai ba chục dạ xoa đã ngồi la liệt trong hang.

Giây lát gió to tung bụi bay mù mịt, cả bọn vội vàng ra đón, thấy một con vật to lớn hình thù như dạ xoa chạy ào vào hang, nhảy lên ngồi ngất ngưỡng trên bệ, đưa mắt nhìn khắp chung quanh.

Bầy dạ xoa theo vào chia ngồi xuống hai bên, đầu ngẩng cao, hai cánh tay chắp thành hình chữ thập trước ngực.

Con vật đếm cả bọn rồi hỏi:

- Bọn Ngọa My Sơn có mặt cả ở đây không?

Cả bầy cùng dạ.

Nó nhìn Từ hỏi:

- Từ đâu tới?

Dạ xoa cái thưa là chồng, cả bầy đều ca ngợi Từ biết nấu thịt.

Lập tức hai ba dạ xoa chạy đi lấy thịt chín bày lên, con vật bốc ăn no, hết sức khen ngợi, bảo phải cung đốn thường xuyên.

Lại quay nhìn Từ hỏi:

- Vòng hạt sao ngắn thế?

Cả bọn thưa:

- Mới tới nên chưa đủ!

Con vật rút mười hạt trong chuỗi hạt đeo trên cổ đưa cho, hạt nào cũng to như đầu ngón tay, tròn như viên đạn, dạ xoa cái vội đón lấy đeo vào cho Từ, Từ cũng chắp tay nói tiếng dạ xoa tạ ơn.

Kế con vật ra khỏi hang, lướt gió đi nhanh như bay, cả bầy bèn ăn chỗ thịt còn lại rồi tan đi.

Được hơn bốn năm, vợ Từ sinh ba, hai trai một gái, đều có hình người chứ không giống mẹ.

Bầy dạ xoa đều rất thích ba đứa nhỏ, cùng vỗ về đùa giỡn với chúng.

Một hôm cả hang đi vắng, chỉ còn một mình Từ, chợt một dạ xoa cái ở hang khác sang gạ gẫm, Từ không chịu, nó tức giận quật Từ xuống đất.

Vợ Từ từ ngoài vào, nổi giận đánh nhau, cắn đứt tai nó.

Giây lát con đực chồng nó về, gỡ ra đuổi nó đi, từ đó dạ xoa cái giữ rịt lấy Từ không rời.

Lại ba năm sau, ba đứa trẻ biết đi, Từ dạy chúng tiếng người, dần dần biết nói, bập bẹ như người, tuy còn nhỏ nhưng trèo núi như đi trên đất bằng, khắng khít với Từ như cha con loài người.

Một hôm dạ xoa cái và một trai một gái ra ngoài, nửa ngày chưa về mà gió bấc thổi mạnh, Từ chạnh tình quê, dẫn con trai tới bờ biển.

Thấy chiếc thuyền cũ vẫn còn, định cùng nhau trở về, đứa con định báo với mẹ, Từ ngăn lại.

Hai cha con xuống thuyền, một ngày một đêm về tới Giao Châu, tới nhà thì vợ đã cải giá.

Từ bán hai hạt châu được rất nhiều tiền, trong nhà dư dật.

Đứa con lấy tên là Bưu, mười bốn mười lăm tuổi đã có thể nhấc nổi vật nặng trăm thạch, tính thô mãng thích đánh nhau.

Viên Tổng súy đất Giao gặp lấy làm lạ, trao cho chức Thiên tổng.

Gặp lúc có loạn ngoài biên, Bưu lập được công, năm mười tám tuổi được phong Phó tướng.

Lúc ấy có một lái buôn đi biển cũng bị gió bạt tới Ngọa My, vừa lên bờ thì gặp một thiếu niên, lấy làm kinh ngạc.

Thiếu niên biết là người Trung Quốc liền tới hỏi han, người lái buôn nói rõ.

Thiếu niên dẫn tới hẻm núi vắng, đưa vào một hang đá. nhỏ, bên ngoài toàn là cây cỏ gai góc, dặn chớ ra ngoài.

Đi hồi lâu quay về đem thịt hươu cho người lái buôn ăn, nói cha mình cũng là người Giao Châu, người lái buôn hỏi ra thì là Từ, lúc đi buôn có biết nhau bèn nói:

- Ông ta là bạn ta, nay đứa con trai đang làm Phó tướng.

Thiếu niên không hiểu Phó tướng là gì người ấy nói:

- Đó là chức quan ở Trung Quốc.

Thiếu niên lại hỏi quan là gì, người ấy đáp:

- Ra đường thì cưỡi ngựa đi xe, vào nhà thì ngồi trên sảnh đường, gọi một tiếng thì trăm người dạ, ai gặp cũng không dám nhìn thẳng, không dám đứng thẳng, như thế gọi là quan.

Thiếu niên có vẻ thích lắm, người lái buôn nói:

- Tôn quân đã ở Giao Châu, sao còn chịu ở đây lâu thế?

Thiếu niên kể lại sự tình.

Người lái buôn khuyên nên về nam, thiếu niên nói:

- Ta cũng thường có ý ấy, song mẹ ta không phải là người Trung Quốc, vẻ người tiếng nói đều khác, vả lại nếu đồng loại mà biết sẽ làm hại nên còn chần chừ.

Rồi đi ra, nói:

- Đợi gió bắc nổi ta sẽ đưa ông về, phiền ông tới báo cho cha anh ta biết tin.

Người lái buôn ẩn trong hang gần nửa năm, có lần nhìn qua đám gai góc thấy dạ xoa qua lại bên ngoài sợ lắm, không dám động đậy.

Một hôm gió bắc ù ù nổi, thiếu niên chợt tới, dẫn người lái buôn trốn ra, dặn:

- Đừng quên điều ta nhờ!

Người lái buôn vâng dạ rồi về, tới Giao Châu vào ngay phủ Phó tướng kể lại những điều đã gặp.

Bưu nghe chuyện chạnh lòng muốn đi tìm mẹ và em, cha lo biển khơi sóng gió, yêu vật hung dữ, nguy hiểm khó lòng nên hết sức ngăn cản.

Bưu đấm ngực kêu khóc, cha phải cho đi.

Bưu tới trình với Tổng súy đất Giao, dẫn hai người lính ra biển.

Thuyền bị gió ngược, trôi dạt trên biển nửa tháng, nhìn quanh chỉ thấy mênh mông trời nước không bờ, không phân biệt được phương hướng.

Bỗng gặp con sóng to ngất trời, thuyền bị lật úp, Bưu rơi xuống biển bị sóng cuốn hồi lâu thì được một con vật kéo đi.

Tới một nơi thấy có nhà cửa, nhìn thấy con vật ấy có hình dáng dạ xoa, bèn nói tiếng dạ xoa.

Dạ xoa kinh ngạc hỏi han, Bưu nói rõ là mình định đi đâu, dạ xoa mừng rỡ nói:

- Ngọa My là quê cũ của ta, đường đột thế này thật có lỗi.

Ông đã đi chệch đường tám ngàn dặm, đây là đường tới nước Độc Long, không phải lối đến Ngọa My.

Rồi tìm thuyền đưa Bưu xuống, dạ xoa bơi dưới nước đẩy thuyền đi nhanh như tên bắn, chớp mắt đã vượt ngàn dặm, qua một đêm thì tới bờ bắc Ngọa My.

Thấy trên bờ có một thiếu niên quanh quẩn trông ngóng, Bưu biết trên núi không có loài người ở, ngờ đó là em, tới gần hỏi quả đúng.

Hai anh em nắm tay nhau khóc, kế Bưu hỏi tin tức mẹ và em gái, em trai nói đều mạnh khỏe bình yên.

Bưu muốn tới thăm, em trai ngăn lại, trời tối quay đi.

Bưu trở ra cám ơn dạ xoa đưa mình tới thì nó đã đi mất.

Không bao lâu mẹ và em gái cùng tới, vừa thấy Bưu đã khóc ròng.

Bưu nói ý mình, mẹ dạ xoa buồn rầu bảo:

- Sợ đến sẽ bị người làm nhục!

Bưu nói:

- Con ở Trung Quốc rất quý hiển, ai dám coi thường.

Khi đã quyết ý về Giao Châu thì lại gặp gió ngược không đi được, mẹ con đang lúng túng thì cánh buồm xoay về phía nam kêu phần phật, Bưu mừng nói:

- Trời giúp ta rồi!

Mẹ con theo nhau lên thuyền, sóng xuôi gió thuận, thuyền đi như tên bắn, ba ngày thì tới Giao Châu, người trên bờ nhìn thấy đều bỏ chạy.

Bưu chia quần áo cho ba người, về tới nhà, mẹ dạ xoa thấy Từ thì giận dữ chửi mắng vì ra đi không bàn với mình, Từ phải xin lỗi mãi.

Gia nhân tới chào chủ mẫu, người nào cũng run sợ.

Bưu khuyên mẹ học nói tiếng Trung Quốc, cho mặc đẹp ăn ngon, mẹ dạ xoa dần dần vui vẻ yên lòng.

Cả mẹ và con gái đều mặc nam trang, được vài tháng mẹ dần biết tiếng người, hai em thì trắng ra.

Em trai đặt tên là Báo, em gái đặt tên là Dạ Nhi, đều rất khỏe mạnh.

Bưu xấu hổ vì em không biết chữ, cho Báo học hành.

Báo rất thông minh, kinh sử chỉ đọc qua là hiểu nhưng không muốn học văn, Bưu bèn cho tập cưỡi ngựa bắn cung, sau đỗ Tiến sĩ võ, lấy con gái viên Du kích họ A.

Dạ Nhi thì vì khác loài không ai lấy, sau có viên Thủ bị họ Viên dưới trướng Bưu góa vợ mới lấy gượng.

Dạ Nhi có thể giương được cung cứng trăm thạch, ngoài trăm bước bắn trúng chim nhỏ, không sai một phát.

Viên mỗi khi đánh dẹp thường đưa vợ cùng đi, dần làm tới chức Đồng tri tướng quân, một nửa công trạng là do vợ lập.

Báo năm ba mươi tư tuổi được đeo ấn Tướng quân, mẹ cũng thường theo đi đánh dẹp phía nam, mỗi khi gặp đám giặc mạnh là mặc giáp cầm gươm tiếp ứng cho con, quân giặc trông thấy là sợ hãi lui chạy.

Nhà vua xuống chiếu phong tước nam, Báo thay mẹ dâng sớ từ chối, được phong Phu nhân.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 96+97+98


CHƯƠNG 96: LÃO THAO

CƯỚP GIÀ

Lão Thao Chân Thị Lục Lâm Hùng

Khước Địch Ung Dung Cổ Chưởng Trung

Nhất Phát Tam Thỉ Vô Dụng Xứ

Cánh Khan Tuyệt Kỹ Xuất Kỳ Đồ

Dịch:

Lão Thai Chính Thực Lục Lâm Hùng

Khước Địch Tay Không Khéo Lạ Lùng

Một Phát Ba Tên Vô Tích Sự

Hãy Coi Tuyệt Kỹ Của Hề Đồng



Hình Đức người Trạch Châu (huyện Tấn Thành tỉnh Sơn Tây) là tay kiệt hiệt trong bọn lục lâm, có thể phát tên liên tiếp nhiều mũi, nổi tiếng là tuyệt kỹ, bình sinh phóng khoáng không để ý tới chuyện kiếm tiền, ra cửa mới nhìn lại túi.

Các nhà buôn lớn ở hai kinh đều thích đi chung với Hình vì dọc đường chắc chắn sẽ được yên ổn.

Gặp lúc đầu mùa đông, có hai ba người khách buôn tới vay ít tiền rồi rủ Hình cùng đi, Hình cũng dốc túi góp vốn với họ.

Bạn Hình có người bói giỏi, Hình tới hỏi, người bạn gieo quẻ rồi nói:

- Quẻ này rất xấu, làm gì cũng không những không có lời mà còn cụt vốn.

Hình không vui, đã định thôi không đi nữa nhưng mấy người khách cứ ép lên đường ngay.

*[Hai kinh: tức Trường An và Lạc Dương, hai trung tâm chính trị và kinh tế ở Trung Quốc thời cổ].

Tới kinh quả nhiên buôn bán thua lỗ, giữa tháng chạp Hình cưỡi ngựa rời kinh, tự nghĩ qua năm mới không có tiền, càng thêm phiền muộn.

Lúc ấy là buổi sáng, hơi mù ngập đồng, Hình phóng nhanh tới một quán rượu cạnh đường, cởi hành lý gọi rượu.

Thấy một ông già tóc bạc trắng ngồi cùng hai thiếu niên uống rượu chỗ của sổ phía bắc, có một đứa tiểu đồng đứng hầu, tóc xõa rối tung.

Hình ngồi bàn phía nam, đối diện với ông già.

Đứa tiểu đồng bưng rượu lỡ tay làm đổ mâm vấy cả thức ăn vào áo ông già, một thiếu niên tức giận đứng dậy kéo tai nó rồi lấy khăn lau áo cho ông già.

Kế lại thấy trên cổ tay đứa tiểu đồng có đeo một chuỗi đạn sắt dày khoảng nửa tấc, mỗi viên nặng khoảng hơn hai lượng.

Ăn uống xong ông già bảo thiếu niên lấy bọc tiền trong túi da đổ ra trên bàn, tính toán trả tiền xong còn đủ uống thêm mấy chén nữa, bèn cất trở vào.

Thiếu niên dắt một con ngựa đen buộc dưới tàu ra, đỡ ông già lên, đứa tiểu đồng cũng nhảy lên ngựa đi theo.

Hai thiếu niên thì đều đeo cung tên trên lưng, thúc ngựa cùng ra.

Hình nhìn trộm thấy họ có nhiều tiền, lại đang lúc túng quẫn, máu tham nổi lên vội trả tiền đuổi theo, thấy ông già và đứa tiểu đồng đang thủng thỉnh phía trước bèn rẽ xuống đường tắt phóng ngựa vòng lên chặn trước ông già, kéo căng dây cung chĩa thẳng tên trợn mắt hăm dọa.

Ông già cúi xuống tháo chiếc giày bên chân trái ra cười khẽ nói:

- Người không biết lão cướp già này à?

Hình bắn thử một phát, ông già ngã người trên yên ngựa giơ chân lên lấy hai ngón cặp mũi tên rồi cười nói:

- Tài nghề chỉ có bấy nhiêu thì chưa đáng là địch thủ của cha ngươi đâu.

Hình nổi giận giở tuyệt kỹ ra, mũi trước vừa phát đi, mũi sau lại xé gió bay tới.

Ông già vươn tay chụp được mũi trước nhưng dường như không đề phòng tên liên châu nên bị mũi sau bắn trúng miệng ngã lăn xuống ngựa, miệng ngậm tên, mắt trợn ngược, đứa tiểu đồng cũng vội xuống ngựa.

Hình mừng rỡ cho là ông ta đã chết bèn phóng tới gần, ông già phun mũi tên ra nhảy choàng dậy vỗ tay nói:

- Sao vừa gặp nhau đã giở độc thủ ra thế?

Hình cả kinh, con ngựa cũng giật mình phóng đi, vì thế biết ông già là người lạ, không dám quay lại nữa.

Đi được ba bốn mươi dặm thấy có một bọn gia nhân nhà quan chở đồ đạc về kinh, Hình đánh cướp luôn, tính ra được khoảng hơn ngàn vàng, lại bắt đầu hăng hái.

Đang lúc phóng nhanh chợt nghe phía sau có tiếng vó ngựa, ngoảnh nhìn thì thấy đứa tiểu đồng đã thay con ngựa khác đuổi tới như bay, quát lớn:

- Thằng kia đừng chạy, số hàng vừa cướp được phải chia đôi.

Hình hỏi:

- Ngươi có biết Liên châu tiễn Hình mỗ không?

Nó đáp:

- Ta vừa được lãnh giáo rồi!

Hình nhìn bộ dạng nó không có gì là khỏe mạnh, lại không thấy có cung tên nên xem thường, phát luôn ba mũi tên liên châu nối nhau không dứt như bầy chim ào ạt bay ra.

Đứa tiểu đồng không hề hoang mang, giơ tay bắt hai mũi, há miệng cắn một mũi rồi cười nói:

- Tài nghệ như thế thì nhục nhã thật, cha ngươi đi gấp quá không kịp mang cung, vật này vô dụng, xin trả lại ngay.

Rồi rút chuỗi đạn sắt trên tay xỏ vào mũi tên lấy hết sức phóng trả.

Mũi tên rít gió bay tới, Hình vội lấy dây cung gạt ra, vừa chạm vào chuỗi đạn sắt thì phựt một tiếng, dây cung đứt đôi, cánh cung cũng bị sứt một mảnh.

Hình khiếp đảm, chưa kịp bỏ chạy thì mũi kế lại lướt qua mang tai, bất giác ngã ngựa.

Đứa tiểu đồng xuống ngựa tới túm lấy, Hình nằm dưới đất lấy cánh cung đánh trả.

Đứa tiểu đồng tức giận giật cung bẻ làm đôi, lại chập đôi bẻ làm tư ném đi, rồi một tay nắm hai tay, một chân đạp lên hai đùi Hình, tay nắm chặt như dây trói, chân đạp nặng như đá đè, Hình hết sức vùng vẫy mà không sao nhúc nhích được.

Trên lưng Hình có thắt sợi dây lưng dày hai lớp, rộng bằng ba ngón tay, đứa tiểu đồng lấy một tay giật ra, sợi dây theo tay đứt tả tơi như tro.

Lấy hết tiền của Hình xong, nó nhảy lên ngựa giơ tay một cái, một tràng vó ngựa vừa vang lên thì người đã mất hút.

Hình về tới nhà, sau đó trở nên lương thiện, thường kể lại cho người ta nghe chuyện ấy không hề lấy làm xấu hổ.

Chuyện này cũng phảng phất như chuyện Lưu Đông Sơn.

*[Chuyện Lưu Đông Sơn: chưa rõ nội dung, nhưng bản Hương Cảng chú là chép trong Cửu thược tập của Tống Ấu Thanh].

____________________________________

CHƯƠNG 97: CƠ SINH

Tự Tác Xuyên Du Tự Cái Khiên

Tướng Phu Lại Hữu Thất Nhân Hiền

Hữu Ngôn Cuồng Được Năng Mê Tính

Nhương Tửu Đô Ung Viễn Đạo Tuyền

Dịch:

Khoét Vách Vượt Tường Cứ Thản Nhiên

May Nhờ Nội Tướng Có Tâm Hiền

Nói Chi Thuốc Độc Làm Mê Tính

Cất Rượu Đều Nên Tránh Đạo Tuyền



Nhà họ Ngạc ở Nam Dương (tỉnh thành Hà Nam) bị hồ quấy phá, tiền bạc đồ dùng cứ bị lấy trộm, chửi mắng thì càng phá phách thêm.

Ngạc có cháu ngoại là Cơ sinh, là kẻ danh sĩ, tính vốn không chịu bị ràng buộc, cứ đốt hương khấn khứa năn nỉ thay Ngạc nhưng hồ không nghe.

Lại khấn khứa xin tha cho nhà ông ngoại, bảo cứ về nhà mình mà phá phách, hồ cũng không chịu, người ta đều cười.

Sinh nói:

- Hồ có thể biến hóa thì ắt biết suy nghĩ, nên ta cố dẫn dắt cho vào đường chính.

Cứ hai ba hôm lại khấn khứa một lần.

Tuy vẫn không hiệu nghiệm nhưng cứ sinh tới thì hồ không phá phách gì nữa, vì vậy Ngạc thường giữ sinh ngủ lại.

Sinh đêm đêm cứ nhìn lên trời khấn khứa ngày càng thêm kiên tâm.

Một hôm sinh về nhà, đang ngồi một mình trong phòng, chợt cửa phòng từ từ khép lại, sinh đứng lên kính cẩn nói:

- Hồ huynh tới đấy ư?

Nhưng không có tiếng động nào khác nữa.

Một đêm cánh cổng tự mở ra, sinh nói:

- Nếu đúng là hồ huynh giáng lâm thì đó là vì tiểu sinh khấn khứa nài nỉ, ngại gì mà không cho gặp mặt?.

Thì lại yên ắng, nhưng có hai trăm đồng tiền để ở đầu bàn, sáng ra nhìn tới đã mất rồi.

Đến đêm sinh lại để thêm vài trăm đồng, giữa khuya nghe ngoài màn có tiếng động, sinh nói:

- Lại tới đấy ư?

Có sẵn vài trăm đồng tiền để đó phòng khi huynh cần dùng, ta tuy không dư dả gì nhưng cũng chẳng phải loại keo kiệt, nếu huynh cần gấp để chi dùng cứ hỏi mà lấy có hề gì, cần chi phải lấy trộm?

Lát sau ra nhìn thấy chuỗi tiền bị rút mất hai trăm đồng, sinh vẫn để yên đó nhưng mấy đêm không bị mất nữa.

Có con gà luộc định đãi khách thì mất, tối đến sinh lại đặt thêm bầu rượu vào đó, nhưng từ đó hồ tuyệt tích luôn.

Nhà họ Ngạc thì vẫn bị quấy phá như cũ, sinh qua khấn nói:

- Ta để tiền mà ông không cầm, để rượu mà ông không uống, còn ông ngoại ta già yếu, sao cứ quấy phá mãi thế?

Ta có sắp sẵn vật mọn, đêm nay nhờ ông tới lấy giúp.

Rồi lấy mười ngàn đồng tiền và một vò rượu gói lại đặt lên bàn, sinh nằm ngay bên cạnh nhưng cả đêm không thấy một tiếng động, tiền và rượu vẫn còn nguyên chỗ cũ, từ đó hết hẳn nạn hồ.

Một hôm chiều tối sinh về nhà, mở cửa phòng sách thấy trên bàn có một bầu rượu, một đĩa thịt gà luộc và bốn trăm đồng tiền xâu bằng dây đỏ, là những món bị mất trước đây, biết là hồ đem tới.

Ngửi bầu rượu thấy thơm phức, rót ra thấy màu xanh biếc, uống vào vô cùng ngon ngọt, uống cạn bầu rượu thì hơi say, chợt nảy ý tham lam muốn đi ăn trộm bèn mở cổng bước ra.

Nhớ lại trong thôn có một nhà giàu bèn tới đó nhảy qua tường, tuy tường cao nhưng nhảy lên rồi nhảy xuống nhẹ nhàng như có cánh, vào phòng xách luôn cái áo cừu, bưng cái đỉnh đồng trở ra quay về nhà đặt ở đầu giường rồi mới đi ngủ.

Sáng ra cắp vào phòng vợ, vợ ngạc nhiên hỏi, sinh thì thào kể lại, dáng vui vẻ lắm.

Vợ lúc đầu còn cho là sinh đùa, khi biết là thật hoảng sợ nói:

- Chàng vốn ngay thẳng, sao bỗng nhiên lại đi làm chuyện này?

Sinh thản nhiên không hề lấy làm lạ lùng, còn kể chuyện hồ có tình nghĩa.

Vợ giật mình hiểu ra ắt là trong bình rượu có thuốc độc của hồ, nhân nghĩ đan sa có thể giải tà độc bèn lấy nghiền ra hòa vào rượu bảo sinh uống.

Giây lát chợt sinh rú lên nói:

- Tại sao ta lại đi ăn trộm?

Vợ giải thích nguyên do, sinh thẫn thờ như mất của.

Lại nghe nói nhà giàu bị trộm, cả làng đồn đại, sinh cả ngày bỏ ăn không biết làm sao, vợ bàn nhân đêm tối đem ném trả vào trong tường, sinh nghe theo.

Nhà giàu lấy lại được vật bị mất, việc ấy mới lắng xuống.

Sinh khảo khóa cuối năm đỗ đầu, lại được cử làm Chư sinh hạng ưu, theo lệ thì được thưởng gấp đôi.

Đến ngày phát thưởng chợt trên xà nhà công thự có một tấm thiếp dán vào, trên viết:

- Cơ sinh là ăn trộm, lấy trộm áo cừu đỉnh đồng của ông Mỗ, sao lại được hạng ưu?

Xà nhà rất cao, không thể nhảy lên mà dán vào được, khảo quan lấy làm ngờ vực, cầm tấm thiếp hỏi sinh.

Sinh ngạc nhiên, nghĩ việc này ngoài vợ ra thì không ai biết, huống hồ công thự canh gác nghiêm cẩn thì tấm thiếp từ đâu tới được, chợt sực nghĩ ra nói:

- Đây chắc là hồ làm ra!

Rồi kể lại mọi việc không e ngại gì, khảo quan bèn thưởng thêm cho.

Sinh vẫn tự nghĩ không làm gì nên tội với hồ, mấy lần mình sa hầm sẩy hang cũng chỉ là cái nhục của kẻ tiểu nhân, vì mình là kẻ tiểu nhân mà thôi.

_____________________________________

CHƯƠNG 98: ĐẠI LỰC TƯỚNG QUÂN

Xuy Tiêu Khất Thực Thần Duyên Môn

Mạt Lộ Anh Hùng Dục Đoạn Hồn

Phú Quý Túng Nhiên Ngô Tự Hữu

Cảm Vong Đương Nhật Giải Thôi Ân

Dịch:

Thổi Sáo Xin Ăn Dạo Khắp Miền

Anh Hùng Lỡ Vận Đã Xui Nên

Giàu Sang Túng Sử Trong Tay Sẵn

Nhường Sẻ Ơn Xưa Há Dám Quên



Tra Y Hoàng là người đất Chiết (tỉnh Chiết Giang), tiết Thanh minh đi chơi, vào uống rượu trong một ngôi chùa hoang.

Thấy trước điện phật có cái chuông cổ to bằng hai cái lu, trên dưới đầy vết tay bụi bặm còn mới, lấy làm ngờ vực bò xuống xem thì bên trong có cái giỏ tre đựng khoảng tám thăng, không biết chứa vật gì.

Sai mấy người xúm lại nhấc lên mà không nổi, càng sợ bèn ngồi lại uống rượu chờ xem.

Không bao lâu có một người ăn mày từ ngoài vào, đặt các thức cơm bánh xin được thành đống xuống cạnh chuông, một tay nhấc chuông lên, một tay bốc bỏ vào cái giỏ, mấy lượt như thế mới hết rồi đậy chuông lại bỏ đi.

Lát sau trở lại bốc ăn, ăn xong lại đậy chuông lại, nhẹ nhàng như mở nắp rương, cả bọn đều sợ hãi.

Tra hỏi:

- Anh là kẻ nam nhi, tại sao phải xin ăn?

Người ấy đáp vì ăn khỏe quá nên không có ai thuê mướn.

Tra thấy thế khuyên nên đầu quân, người ấy thở dài nói rằng không có người dẫn dắt.

Tra bèn dắt về nhà cho ăn uống, thấy ăn khỏe bằng năm sáu người.

Lại may y phục cho, rồi tặng năm mươi đồng vàng làm lộ phí.

Hơn mười năm sau, cháu của Tra làm Tri huyện ở đất Mân (tỉnh Phúc Kiến), chợt có tướng quân Ngô Lục Nhất tới bái phỏng.

Đang lúc chuyện trò, tướng quân hỏi Y Hoàng là người thế nào với ông, cháu Tra đáp:

- Đó là chú ta, quen biết tướng quân ở đâu?

Tướng quân nói:

- Đó là thầy ta, chia tay đã mười năm, lòng thường không quên, phiền ông nhắn với tiên sinh tới chơi một lần.

Cháu Tra ậm ừ, tự nghĩ chú mình có tiếng văn chương, làm sao có được học trò theo nghề võ.

Gặp lúc Y Hoàng tới, cháu kể lại, Y Hoàng quên bẵng không nhớ ra là ai nhưng thấy nói là thăm hỏi rất ân cần, lập tức sai đầy tớ dắt ngựa tới phủ tướng quân đưa danh thiếp xin yết kiến.

Tướng quân rảo bước ra đón tận ngoài cổng lớn, Tra thấy không hề quen biết, nghĩ thầm chắc là tướng quân lầm.

Nhưng tướng quân tỏ vẻ rất cung kính, mời khách vào nhà, qua ba bốn lần cửa tới một chỗ có đàn bà con gái qua lại, Tra biết là nơi ăn ở của gia đình bèn dừng lại, tướng quân lại kéo đi.

Giây lát lên một sảnh đường, những người cuốn rèm bưng ghế đều là tỳ thiếp trẻ đẹp.

Tra vừa ngồi xuống, đang định hỏi thì tướng quân khẽ hất hàm, một người tỳ thiếp liền bưng mũ áo đại trào tới, tướng quân lập tức đứng dậy thay áo.

Tra không biết tướng quân định làm gì thì các tỳ thiếp đều xắn tay áo, tướng quân sai mấy người xúm lại giữ chặt Tra ngồi yên không cho nhúc nhích rồi lạy phục xuống đất như ra mắt thiên tử vậy.

Tra rất kinh ngạc không hiểu vì sao, tướng quân lạy xong lại vào thay áo ra ngồi, cười nói:

- Tiên sinh không nhớ thằng ăn mày nhấc cái chuông à?

Tra mới sực nhớ ra.

Kế đó mời lên thềm cao ăn yến, phường hát trong nhà ca múa ở dưới, lúc say rồi các tỳ thiếp xúm lại hầu hạ.

Tướng quân vào trong bảo dọn giường cho Tra nghỉ rồi mới đi.

Tra say rượu dậy muộn, tướng quân đã tới ngoài cửa phòng hỏi thăm mấy lần.

Tra áy náy cáo từ muốn về, tướng quân sai đóng cổng lại không cho ra.

Tra thấy tướng quân hàng ngày không làm gì khác, chỉ tính toán số tỳ thiếp và tôi tớ trong nhà, kiểm điểm xe ngựa, quần áo, vật dùng, bắt làm sổ sách, dặn không được để sót.

Tra cho rằng đó là việc nhà của tướng quân nên cũng không hỏi gì.

Một hôm tướng quân cầm sổ sách tới nói với Tra:

- Kẻ bất tài này có được ngày hôm nay là nhờ ơn lớn của tiên sinh, một người một vật cũng không dám riêng tư, xin kính dâng tiên sinh một nửa.

Tra ngạc nhiên từ chối, tướng quân không nghe, đem tiền bạc ra có đến mấy vạn chia làm hai phần, kế theo sổ sách đem từ đồ cổ ngoạn tới bàn ghế giường tủ ra bày la liệt từ trong tới ngoài.

Tra cố từ chối nhưng tướng quân không để ý gì tới, kê biên tên họ tôi tớ tỳ thiếp xong, lập tức ra lệnh đàn ông lo thu thập hành lý, đàn bà lo thu thập tư trang, dặn phải kính cẩn thờ phụng tiên sinh, mọi người dạ rân.

Lại đích thân đưa các tỳ thiếp lên kiệu, sai bọn mã phu dắt lừa ngựa rầm rộ ra đi rồi quay lại chào Tra.

Về sau Tra vướng vào cái án làm sử bị bắt, sau cùng được tha đều là nhờ sức tướng quân.

Phụ Lục: Một Truyện Trong Cô Thặng Tuyết Cấu.

Hiếu Liêm họ Tra ở huyện Hải Ninh tỉnh Chiết Giang tự Y Hoàng là người tài hoa tiêu sái, thường nói:

- Mắt thấy mênh mông, không sao gặp gỡ hết các bậc kỳ kiệt trong thiên hạ, nếu không tìm trong đám người thường thì không được.

Cuối năm ở nhà, sai lấy rượu ra độc ẩm, khoảnh khắc mây mù giăng mắc, tuyết rơi mờ mịt, bèn đi dạo ra cổng xem có khách quý nào tới để cùng ngâm cảnh.

Chợt thấy một người ăn mày tránh tuyết nép dưới vòm cổng, hiên ngang đứng thẳng, Hiếu liêm đứng nhìn hồi lâu thầm lấy làm lạ.

Nhân gọi vào ngồi, hỏi:

- Ta nghe nói trong chợ có một người ăn mày tay không cầm gậy, miệng như ngậm tăm, áo rách hở bụng mà không có vẻ đói rét, mọi người đều gọi là Thiết cái (ăn mày sắt), có phải là ngươi không?

Người ấy đáp:

- Phải!

Lại hỏi:

- Uống rượu được không?

Người ấy đáp:

- Được!

Hiếu liêm bèn sai tiều đồng lấy chỗ rượu thừa trong bầu trút vào tô cho y uống, người ăn mày bưng tô uống một hơi hết sạch.

Hiếu liêm thích quá lại sai quạt than hâm rượu, hẹn với y rằng:

- Ngươi uống một tô thì ta uống một chung, hết chỗ rượu này thì thôi.

Người ăn mày uống liền hơn ba mươi tô mà mặt chưa đỏ, còn Hiếu liêm đã say nằm lăn ra chiếu.

Tiểu đồng xốc nách dìu vào nhà trong, người ăn mày đứng lên, lại bước ra đứng dưới vòm cổng.

Đến sáng tuyết ngừng rơi, Hiếu liêm tỉnh rượu nói với gia nhân rằng:

- Đêm qua ta cùng Thiết cái đối ẩm vui quá, thấy quần áo y rách rưới, lấy gì chống rét cho được, lấy cái áo bông của ta đem cho y.

Người ăn mày khoác áo rồi đi, cũng không xin vào tạ ơn chủ nhân.

Năm sau Hiếu liêm tới ngụ trong chùa Tường Minh ở Hàng Châu (tỉnh thành chiết Giang), lúc cuối xuân cùng bạn bè mang rượu đi chơi trên hồ.

Chợt gặp người ăn mày ấy ở đình Phóng Hạc (tại Cô Sơn ở Tây Hồ), áo hở khuỷu tay, chân trần không dép ngẩng đầu đi một mình, bèn kéo về chùa, hỏi cái áo cho ngày trước đâu?

Y đáp:

- Đang là tiết xuân, dùng nó làm gì?

Ta đã bán lấy tiền gởi cả vào quán rượu rồi.

Hiếu liêm nghe thế lấy làm lạ, nhân hỏi đã từng học chữ chưa, y đáp:

- Nếu không học chữ đọc sách thì đã không làm ăn mày.

Hiếu liêm chạnh lòng, cho tắm rửa ăn mặc sạch sẽ rồi hỏi tên họ quê quán, người ăn mày nói:

- Ta là hậu duệ Diên Lăng, hâm mộ Trần Bình, nhà ở Việt Hải (tỉnh Quảng Đông), tên là Lục Kỳ.

Chỉ vì cha anh mất sớm, tính lại ưa cờ bạc nên tới nỗi lưu lạc giang hồ, trôi nổi như thế này.

Nhân nghĩ gõ cửa xin ăn thì người hiền ngày xưa có khi cũng không tránh được, ta là hạng người nào mà dám cho đó là cái nhục, không nghĩ rằng gặp được minh công coi trọng kẻ phong trần, ra ơn lúc gặp gỡ.

Ta tuy không phải kẻ thiếu niên ở Hoài âm nhưng cái ơn một bữa cơm cũng đâu dám quên.

*[Hậu duệ Diên Lăng, hâm mộ Trần Bình: nguyên văn là "Hệ xuất Diên Lăng, tâm nghĩa Khúc Nghịch”.

Diên Lăng là địa danh thuộc huyện Vũ Tiến tỉnh Giang Tô, là nơi ở của Ngô Quý Trát thời Xuân thu, đây nhân vật Lục Kỳ có ý nói mình họ Ngô.

Khúc Nghịch tức Khúc Nghịch hầu, tước phong của Trần Bình, một trong Hán triều tam kiệt là Trương Lương, Hàn Tín, Trần Bình, ba khai quốc công thần bậc nhất của nhà Hán, đây nhân vật Lục Kỳ có ý nói mình có hoài bão lớn lao].

*[Thiếu Hoài âm: tức Hàn Tín, người huyện Hoài âm, Phá Sở Nguyên nhung của Hán Cao tổ Lưu Bang, là người cầm quân đánh bại Tây Sở Bá vương Hạng Vũ, kết thúc cục diện Hán Sở tranh hùng.

Lúc Hàn Tín còn hàn vi ra câu cá ở bờ sông, được một bà già giặt vải (Phiếu mẫu) cho ăn cơm suốt cả tháng.

Sau Tín lập nên công nghiệp, đem ngàn lượng vàng về tạ ơn bà].

Hiếu liêm vội đứng dậy nắm tay y nói:

- Ngô sinh vốn là bậc kỳ kiệt trên đời mà ta lại coi là bạn rượu, để mất Ngô sinh rồi.

Bèn sai sư trong chùa mua một thạch rượu Lê hoa xuân uống với nhau trọn ngày, giữ lại cả tháng rồi tặng tiền đi đường, bảo về Việt Đông.

Lục Kỳ nhiều đời ở Triều Châu (tỉnh Quảng Đông), từng học Thi Thư nhưng vì say mê cờ bạc mà gia tài khánh tận, gởi thân làm phu trạm nên đường đi cửa ải hình thế hiểm trở ra sao đều biết rất rõ.

Lúc ấy thiên hạ vừa định, vương sư từ Chiết Giang tiến vào Quảng Đông, chiến thuyền liên tiếp nối nhau, cờ xí đỏ rực chiêng trống ầm ầm suốt mấy trăm dặm không dứt, qua các thành ấp quận huyện cư dân đều chạy trốn về thôn xóm, trên đường không một bóng người.

*[Thiên hạ vừa định: chỉ lúc nhà Thanh đã đàn áp được nhiều phong trào phản Thanh phục Minh, bắt đầu khẳng định được quyền thống trị ở Trung Hoa].

Lục Kỳ một mình thản nhiên đi tới bị đội tiền tiêu bắt giải về dưới trướng, nhân đó xin ra mắt chủ tướng, thưa rõ về hình thế đất Việt Trung (tỉnh Quảng Đông), nói có thể truyền hịch mà bình định.

Kỳ có ba mươi anh em kết nghĩa, vốn có tiếng anh hùng giỏi võ, chỉ vì thiên hạ vô chủ nên tụ tập bè đảng chiếm cứ đất đai làm cướp.

Nay gặp lúc Hoàng thượng lên ngôi, thiên binh nam chinh, chính là lúc cứu vớt dân đen, sử dụng hào kiệt, bèn cho Kỳ đem ba mươi tờ văn thư phong chức đi trước chia cấp cho quần hùng, người gần ra hàng, người xa hưởng ứng, chưa đầy một tháng đã hình thành cái thế phá giặc như chẻ tre.

Chủ tướng theo lời Lục Kỳ, đất Việt bèn yên.

Từ đó Lục Kỳ bày mưu tính kế, nói gì trúng đó, những kẻ có sức khỏe cũng không chống được, đánh đất Mân (tỉnh Phúc Kiến) phá đất Thục (tỉnh Tứ Xuyên) nhiều lần lập kỳ công, trong vòng vài năm được thăng tới chức Thông tỉnh Thủy lục Đề đốc.

Lúc Lục Kỳ lưu lạc chưa gặp thời, tự nghĩ rằng mình phải làm ăn mày hèn hạ suốt đời, gặp được Tra Hiếu liêm cởi áo tặng vàng, lại nổi tiếng là bậc kỳ kiệt trong thiên hạ nên trong lòng mừng rỡ hăng hái, trong quân ngũ ra sức lập công, dần làm tới bậc nguyên nhung, thường nói:

- Thiên hạ có một người tri kỷ, không ai được như Tra Hiếu liêm.

Đầu niên hiệu Khang Hy (1662-1722) mở phủ Đề đốc ở Tuần Châu (tỉnh Quảng Đông), lập tức sai nha tướng đem ba ngàn lượng vàng về để sẵn trong nhà rồi gửi thư mời Tra Hiếu liên tới đất Việt, chuẩn bị đầy đủ thuyền bè xe kiệu.

Tra vừa qua Mai Lĩnh thì Ngô công tử đã đón đường vái lạy đón rước, giữ lễ rất mực cung kính, còn cách tỉnh thành hai mười dặm thì Ngô tự ra đón, đem nghi vệ dẫn đường như bậc vương hầu.

Hiếu liêm về tới phủ thì Ngô phục lạy dập đầu, tự nói:

- Thằng ăn mày hèn hạ ngày xưa nếu không gặp được tiên sinh thì làm gì có ngày hôm nay.

Nay may được tỉên sinh quá bộ tới chơi, dẫu nát thân ăn mày này cũng không đủ báo ơn.

Tra ở đó một năm, Ngô tuy việc quân bận rộn nhưng ai được Tra tiên sinh nói giúp một lời thì Ngô lập tức nghe theo, nhờ vậy Tra được người ta biếu xén có tới hàng vạn lượng vàng.

Đến khi Tra về, Ngô đem ba ngàn lượng vàng ra tiễn tặng, nói:

- Không dám nói là đền ơn, chỉ là để ghi lại lòng cảm kích của kẻ thiếu niên ở Hoài âm mà thôi.

Trước là ở Thiều Trung (tỉnh Chiết Giang) có nhà giàu Trang Đình Việt mua được bộ sử của Chu Tướng quốc, tìm mời các danh sĩ vùng Tam Ngô (Tô Châu, Nhuận Châu, Hồ Châu) san định tu sửa, khắc in lưu truyền.

Đầu sách có kể ra mười mấy ngườitham gia san định, vì Tra Hiếu liêm là bậc danh sĩ nên cũng kể vào.

Không bao lâu cái án làm sử riêng phát ra, ai dính líu đều bị khép trọng tội.

Ngô ra sức tâu bày nên Tra Hiếu liêm mới thoát chết.

*[Cái án làm sử riêng: tức vụ án Minh thư tập lược nổi tiếng thời Thanh.

Trang Đình Long người Hồ Châu mua được bản thảo bộ Minh sử của tướng quốc nhà Minh Chu Quốc Trinh bèn dựa vào đó biên soạn thêm, mời nhiều danh sĩ Giang Nam san định bình chú, đặt tên sách là Minh thư tập lược, khắc bản lưu hành.

Vì trong sách có dùng niên hiệu các vua nhà Minh, lời lẽ cũng nhiều chỗ động chạm tới nhà Thanh, nên gây ra vụ án lớn, có đến hàng trăm danh sĩ bị bắt, những người in sách bán sách mua sách cũng bị liên lụy, hàng vạn người tan cửa nát nhà náo động một thời].

Hiếu liêm từ đó về sau càng thả tình ở thơ rượu, dốc hết tiền bạc mua mười hai người con gái xinh đẹp dạy cho múa hát.

Mỗi lúc đêm thanh mở tiệc thì buông rèm thắp đèn ca múa, châu ngọc khua ran, mỹ nữ yêu kiều, ai nhìn thấy cũng phải ngây ngất.

Phu nhân của Hiếu liêm cũng giỏi âm luật, thường đích thân ra gõ phách cho đám ca kỹ trong nhà múa hát, sửa cho những chỗ sai, vì vậy phường nữ nhạc của họ Tra nổi tiếng nhất ở vùng Chiết Trung.

Trước kia lúc Hiếu liêm ở mạc phủ Quảng Đông thấy vườn hoa trong phủ cực đẹp, trong có một tòa giả sơn bằng đá thạch anh cao hơn hai trượng, lóng lánh đẹp đẽ như là quỷ thần tạc ra, rất ưa thích bèn đề cho hai chữ "Xu Vân" (Mây the).

Qua tuần sau lại ra xem thì tòa giả sơn không còn, té ra Ngô đã sai lấy thuyền lớn chở về nhà Hiếu liêm, qua sông lên núi tốn phí tới hàng ngàn quan tiền.

Nay Hiếu liêm đã chết, ca kỹ đã già, vườn hoang ao cạn mà tòa giả sơn vẫn còn.
 
Back
Top Bottom