Cập nhật mới

Khác Liêu Trai Chí Dị ( Full )

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
260728685-256-k769206.jpg

Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Tác giả: kt19802
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

•Tác Giả: Bồ Tùng Linh
•Liêu Trai Chí Dị (聊齋志異) Với Ý Nghĩa Là Những Chuyện Quái Dị Chép Ở Căn Nhà Tạm, Là Tập Truyện Ngắn Gồm 431 Thiên, Ra Đời Vào Đầu Thời Nhà Thanh (Cuối Thế Kỷ 17) Của Nhà Văn Trung Quốc BỒ TÙNG LINH.

Bộ Truyện Này Được Coi Là Một Kỳ Thư Và Được Đánh Giá Là Đỉnh Cao Của Tiểu Thuyết Văn Ngôn Thời Cổ Đại.
•MỖI CHƯƠNG MỖI CỐT TRUYỆN!



tiểuthuyết​
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Giới Thiệu Tác Giả Và Đề Tài


Đề tài chủ yếu của LIÊU TRAI CHÍ DỊ do tác giả sưu tầm trong dân gian hoặc rút từ truyện chí quái đời Lục triều, các truyện truyền kỳ đời nhà Đường rồi gia công sáng tạo thêm.

Hầu hết các truyện nói về thần tiên ma quái, hồ ly, lang sói, hổ, báo, khỉ, vượn, voi, rắn độc trùng cho tới cây cỏ hoa lá, khói mây gạch đá v.v. nhưng không chỉ vậy, xuyên suốt các tác phẩm là những câu chuyện về người và việc trong cuộc sống hiện thực.

Tất cả những đề tài trên được tác giả xử lý khéo léo, ít nhiều ngầm ý chỉ trích nền chính trị tàn bạo của triều đình Mãn Thanh đương thời, phê phán thói hư tật xấu của bọn nho sỹ, thể hiện những tư tưởng dân chủ trong vấn đề hôn nhân và tình yêu.

Có thể chia tập truyện thành 3 cụm đề tài chính:

Đả kích chế độ chính trị tàn bạo, vạch mặt bọn tham quan, cường hào ác bá.

Phơi bày những tệ lậu của chế độ khoa cử, đả kích việc dùng văn bát cổ để chọn nhân tài.

Nguyện vọng đập tan những trói buộc của chế độ hôn nhân phong kiến, giành lấy quyền tự do yêu đương của nam nữ thanh niên.

______________________

Tên: BỒ TÙNG LINH (phồn thể: 蒲松齡, giản thể: 蒲松龄, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1640 - mất ngày 25 tháng 2 năm 1715).

Tự: Liêu Tiên (留仙) và Kiếm Thần (剑臣), cũng có người gọi ông là Liễu Tuyền cư sĩ (柳泉居士), là một văn sĩ người Trung Hoa dưới triều đại nhà Thanh.

Ông được biết đến nhiều với tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (聊齋志異).

Ông sinh ra trong một gia đình tiểu thương ở huyện Truy Xuyên (淄川, nay là một quận của địa cấp thị Truy Bác, tỉnh Sơn Đông).

Tổ tiên ông có thể coi là người Mông Cổ.

Năm Thuận Trị thứ 14 (1657), ông đỗ tú tài khi mới 18 tuổi, nhưng phải mãi đến năm Khang Hy thứ 50 (1710), khi 71 tuổi mới được bổ làm cống sinh.

Thân phụ của Bồ Tùng Linh là Bồ Bàn vì lận đận nơi khoa trường, nên đã từ bỏ nghiệp nho theo nghiệp thương gia.

Sinh con đầu lòng là Triệu Kỳ nhưng chẳng may chết yểu.

Đến tuổi trung niên thì coi như ông đã tuyệt tự nên ông đóng cửa chuyên tâm đọc sách và làm từ thiện.

Nhưng kỳ lạ thay lúc đó ông lại có bốn người con lần lượt là: Triệu Cơ, Bá Linh, Tùng Linh và Hạc Linh.

Bồ Tùng Linh là con dòng thứ.

Mẹ đẻ ông là người họ Đổng.

Ông dành hầu hết thời gian trong việc dạy học tư, và sưu tầm những câu chuyện mà sau này được viết trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị.

Ông có các sáng tác trong cả thơ, tiểu thuyết và truyện ngắn.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là đoản thiên tiểu thuyết Liêu Trai Chí Dị bao gồm 16 quyển chia làm 431 tập truyện chính và 17 truyện phụ, vị chi 448 tập về những truyện kỳ quái mà ông sưu tập được.

Đây cũng được coi là một đỉnh cao trong thể loại truyện ngắn cổ điển Trung Quốc.

Về tiểu thuyết, có bộ 16 quyển Liêu trai văn tập.

Về thơ cũng có bộ Liêu trai thi tập bao gồm 6 quyển với hơn 1.000 bài thơ, 170 bài từ, 14 vở ca khúc dân gian và 3 vở tạp kịch.

Ngoài ra, một số nhà phê bình văn học cho rằng tác phẩm tiểu thuyết Tỉnh Thế Nhân Duyên Truyện (醒世姻緣傳) bằng tiếng Trung bản ngữ là của ông sáng tác.

_________

Trong 2 từ Liêu Trai (聊齋) thì từ "Trai" là chính từ, còn từ "Liêu" chỉ là bổ túc từ.

Từ "Trai - 齋" có rất nhiều nghĩa nhưng nghĩa "phòng học" là được nhiều người đồng tình nhất.

Từ "Liêu - 聊" có nghĩa là "sơ sài", "tạm bợ".

Vậy Liêu Trai có nghĩa là phòng học (cũng có thể là phòng đọc sách ngày xưa) sơ sài tạm bợ.

Thật ra trước đó Liêu trai chí dị có tên là "Quỷ Hồ Truyện" (鬼狐傳).

Nhưng có lời đồn rằng trong lúc ông đi thi Hương, quỷ hồ cứ quanh quẩn ngoài lều khiến ông sợ hãi nên đổi tên thành Liêu Trai Chí Dị.

Nhưng đó chỉ là tin đồn không có căn cứ để xác minh.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 1+2+3+4


CHƯƠNG 1: KHẢO THÀNH HOÀNG

THI THÀNH HOÀNG

Nhân Sinh Bách Hạnh Hiếu Vi Tiên

Minh Nghĩa Khai Tông Đệ Nhất Thiên

Khấp Thế Trần Tình Dữ Giả Nhật

Hoan Thừa Huyên Thảo Hỉ Diên Niên

Dịch:

Người Trăm Nết Tốt Hiếu Lên Trên

Minh Nghĩa Thiên Đầu Đã Nói Nên

Đẫm Lệ Trần Tình Xin Gia Hạn

Được Thừa Hoan Mẹ Tuổi Cao Niên



Ông tổ của anh rễ tôi, Tống công là một sinh viên ăn học bổng của ấp.

Một hôm nằm bệnh, thấy có viên lại cầm văn thư, dắt một con ngựa trán có đốm trắng đến nói rằng:

-Xin mời ông đi thi.

Ông nói:

-Quan giám khảo chưa đến, sao vội thi được?

Viên lại không nói gì, chỉ thúc đi.

Ông bèn cố gượng cưỡi ngựa đi theo, thấy một con đường rất xa lạ.

Đến một tòa thành quách như nơi kinh đô.

Một lát vào giải vũ, cung điện tráng lệ, ngồi trên có hơn mười vị quan, đều không biết là ai, chỉ biết có một vị là Quan Vũ.

Dưới thềm bày hai đôn hai kỷ, trước mình đã có một vị tú tài ngồi trên một đôn.

Ông bèn ngồi bên cạnh.

Trên kỷ có đặt bút và giấy.

Giây lát có đề thi đưa xuống, nhìn xem thì có tám chữ:"Nhất Nhân, Nhị Nhân, Hữu Tâm, Vô Tâm".

Hai ông làm bài xong, trình lên điện, trong bài văn của ông có câu:

"Hữu tâm vi thiện, tuy thiện bất thưởng.

Vô tâm vi ác, tuy ác bất phạt".

Nghĩa là:

(Làm việc thiện mà có chủ ý thì không được thưởng.

Làm việc ác mà không có chủ ý thì không bị phạt).

Các thần đưa nhau xem, khen mãi không thôi, gọi ông lên bảo rằng:

-Ở Hà Nam thiếu một chức Thành Hoàng, ông đáng giữ chức ấy.

Ông hiểu ra, đập đầu khóc mà thưa rằng:

-Được ân ban sủng đâu dám từ nan, chỉ hiềm một nỗi còn mẹ già bảy mươi tuổi không ai phụng dưỡng.

Xin được đến hết tuổi trời lúc ấy lục dụng sẽ vâng theo.

Trên tòa có một vị vương giả truyền rằng:

-Tra sổ xem người mẹ thọ bao nhiêu?

Có một viên quan lại râu dài, lấy sổ ra xem, rồi bẩm:

-Theo sổ, còn được ở dương gian chín năm nữa.

Trong lúc các quan còn giùng giằng thì Quan Đế nói:

-Không hề gì, cho Trương sinh thay giữ chức ấy chín năm cũng được.

Một ông nói rằng:

-Đáng lẽ phải đi nhậm chức ngay.

Nay xét có lòng hiếu, cho nghỉ chín năm.

Đến kỳ hạn phải nghe vâng lệnh triệu.

Đoạn cũng phủ dụ ông tú tài kia vài lời.

Hai ông cúi đầu chào lui xuống.

Tú tài cầm tay Tống đưa đến cánh đồng ngoài ấp, tự giới thiệu là Trương mỗ ở Trường Sơn, lấy thơ tặng, bài thơ quên cả chỉ nhớ có câu:

"Hữu hoa hữu tửu xuân thường tại.

Vô nguyệt vô đăng dạ tự sinh".

Nghĩa là:

(Sẵn hoa sẵn rượu, còn xuân mãi.

Không trăng không đèn vẫn sáng trưng).

Ông lên ngựa, từ biệt mà về, tới làng chợt như tỉnh mộng.

Ông chết đã ba ngày rồi, người mẹ bỗng nghe trong quan tài có tiếng rên rỉ bèn mở ra, nửa ngày thì nói được.

Hỏi đến Trường Sơn thì có Trương sinh chết vào ngày hôm đó thật.

Chín năm sau, quả nhiên người mẹ mất.

Chôn cất mẹ xong, ông tắm gội vào nhà trong cũng mất luôn.

Bên nhà vợ, ở trong cửa thành phía tây chợt thấy ông cưỡi ngựa choàng ngù đỏ, rất đông xe ngựa đi theo, lên nhà trên làm lễ rồi ra đi.

Cả nhà lạ lùng, kinh ngạc không biết rằng ông đã thành thần rồi.

Chạy đi hỏi thăm tin tức trong làng thì ông đã mất.

Chính tay ông có ghi lại chuyện mình, tiếc rằng sau cơn biến loạn không còn nữa, đây chỉ là tóm lược mà thôi.

___________________________

CHƯƠNG 2: ĐỒNG NHÂN NGỮ

TIẾNG NGƯỜI TRONG CON NGƯƠI

Mục Dâm Nguyên Tự Ý Dâm Lai

Mâu Tử Manh Thời Vạn Niệm Hôi

Thiên Thị Vị Dao Tòng Ngã Thị

Chuyển Di Tiệp Kính Tại Linh Đài

Dịch:

Mục Dâm Nguyên Ý Tự Dâm Xui

Khi Mắt Mù Rồi Vạn Biện Thôi

Trời Ngó Chẳng Xa Ta Ngó Thấy

Chuyển Dời Mau Lẹ Ở Linh Đài



Phương Đống là học trò đất Trường An, khá nổi tiếng là có tài nhưng điêu bạc không giữ lễ.

Mỗi khi đi đường gặp con gái là đi theo riết, giờ trò bỉ ổi.

Một hôm, trước tiết Thanh minh, tình cờ đi bộ ngoài thành thấy một chiếc xe nhỏ, cửa son, màn gấm, có mấy nữ tỳ mặc áo xanh cưỡi ngựa thong thả theo hầu.

Trong đám có một ả cưỡi con ngựa nhỏ, nhan sắc rất đẹp.

Hắn chạy lại gần ngắm, thấy màn xe mở, bên trong có một người con gái mặc áo đỏ, nhan sắc tuyệt trần, đẹp chưa từng thấy.

Hắn tâm thần mê mẩn, bèn theo ngắm không rời, khi đi trước, lúc đi sau, lẽo đẽo hàng mấy dặm.

Chợt nghe người con gái đó gọi thị tỳ lại gần bảo:

-Buông cái rèm xe xuống cho ta!

Sao lại để tên điên khùng dòm trộm mãi?

Đứa thị tỳ liền buông rèm, giận dữ quay lại bảo hắn:

-Đây là vợ mới cưới của cậu Bảy ở thành Phù Dung về thăm nhà, không phải là hạng gái quê mùa đâu mà để tên tú tài như ngươi dòm ngó bậy bạ.

Nói xong liền bốc một nắm đất dưới bánh xe ném vào hắn, hắn díp mắt không mở được.

Vừa lau xong, nhìn ra thì ngựa xe đã đi đâu mất, kinh ngạc mà về.

Về nhà thấy mắt không được dễ chịu, nhờ người bạn vạch mí mắt ra xem thì thấy trên con ngươi có một màng nhỏ, qua đêm càng kịch liệt, nước mắt chảy ra không ngừng.

Cái màng ngày càng lớn dần, vài ngày thì lớn như đồng tiền, mắt bên phải nổi lên một cái nhài quạt, dùng hàng trăm thứ thuốc đều vô hiệu, phiền muộn vô cùng, nhưng nghĩ cũng hối hận.

Hắn nghe nói Kinh Quang Minh có thể giải ách được, bèn lấy một cuốn nhờ người dạy tụng, trước còn bực tức nóng nảy, sau cũng yên.

Sớm chiều không có việc gì, chỉ ngồi xếp bằng lần tràng hạt, như thế được hơn một năm, mọi duyên đều lắng.

Chợt nghe thấy trong mắt trái có tiếng nói rất nhỏ như tiếng ruồi bay:

-Tối như mực không chịu nổi.

Mắt bên phải đáp lại:

-Cùng nhau rong chơi một chút cho đỡ buồn.

Rồi thấy trong hai lỗ mũi ngọ nguậy ngứa ngáy như có vật gì chui ra từ lỗ mũi mà đi, một hồi lâu trở về lại theo lỗ mũi chui vào.

Trong con mắt lại có tiếng nói:

-Lâu không ngó đến vườn, hoa lan trân bảo khô héo chết cả.

Hắn vốn thích hoa lan, trong vườn trồng nhiều giống, ngày ngày thường tưới bón.

Từ ngày mù mắt, bỏ mặc không hỏi đến, chợt nghe nói thế liền hỏi người vợ:

-Hoa lan sao để khô héo chết cả?

Vợ hỏi lại:

-Tại sao tự nhiên mà biết?

Hắn bèn nói cho vợ rõ tại sao mà biết.

Người vợ vội chạy ra xem có đúng không thì quả nhiên hoa đã khô héo thật, rất lấy làm lạ.

Người vợ bèn lẳng lặng nấp trong phòng, thấy hai người trong lỗ mũi hắn chui ra, to chưa bằng hạt đậu, xăm xăm đi ra cửa, xa dần thì không biết ở chỗ nào nữa.

Một lát lại thoát tay cùng về, bay vào mũi hắn, như ong chui vào bộng, cứ như vậy hai ba hôm.

Rồi lại nghe bên trái có tiếng nói:

-Con đường hầm xa quá, đi về không thuận tiện mấy, chi bằng mở lấy cửa mà ra vào.

Bên phải đáp:

-Vách của ta đầy quá, khó mở được.

Bên trái nói:

-Để ta mở thử, nếu được cùng ngươi dùng chung.

Đoạn hắn cảm thấy trong mắt bên trái tựa hồ như có ai cào xé, giây lát mở mắt tự nhiên trông thấy bàn ghế, đồ đạc, mừng rỡ bảo cho vợ biết.

Người vợ xem kỹ thì màng mắt thủng một lỗ nhỏ, con ngươi đen lay láy chỉ bằng hạt hoa tiên tử.

Qua một đêm, màng che tan hết, xem kỹ thành ra trùng đồng, nhưng mắt bên phải vẫn còn nhài quạt như cũ, mới biết hai con ngươi nay ở chung một bên mắt.

Hắn tuy mù một mắt nhưng so với người đủ cả hai mắt cũng chẳng kém gì.

Từ đó cũng tự kiềm thúc, trong làng mọi người khen là có đức lớn.

______________________________

CHƯƠNG 3: HỌA BÍCH

VẼ TRÊN VÁCH

Vi Tiếu Niêm Hoa Bích Thượng Thù

Nghi Vân Nghi Vũ Lưỡng Mơ Hồ

Trùng Lai Ảo Cảnh Do Tâm Đạo

Thí Vấn Hoàng Lương Mộng Hữu Vô?

Dịch:

Nhoẻn Miệng Cầm Hoa Tựa Vách Tường

Mây Mưa Ngờ Ngợ Luống Mơ Màng

Chính Vì Ảo Cảnh Do Tâm Đạo

Hỏi Giấc Kê Vàng Có Thực Chăng?



Mạnh Long Đàm người Giang Tây, cùng với ông hiếu liêm họ Chu đến chơi ở Kinh Đô.

Chợt đi qua một ngôi chùa, điện vũ thiền xá đều không lấy gì làm rộng rãi.

Duy chỉ có một nhà sư khoác áo ngồi trong, thấy khách vào, bèn xốc áo ngay ngắn ra đón khách mời vào chơi.

Trong điện có đắp tượng Chi Công, hai bên tường tranh vẽ rất khéo léo, người, vật như sống thực.

Bên tường phía đông có vẽ Tán Hoa Tiên Nữ.

Trong bức vẽ có một cô gái tóc rủ trái đào, cầm hoa mỉm cười, cặp môi anh đào như muốn động đậy, sóng mắt đưa đẩy.

Chu hiếu liêm chú mục nhìn lâu, cảm thấy tâm thần dao động, hồn phách như đang thoát đi.

Chợt thấy thân thể nhẹ lâng như cưỡi mây, rồi vào trong bức tường.

Thấy lầu các trùng điệp, không phải là cõi trần gian.

Ở trên tòa có một vị sư già đang thuyết pháp, người mặc áo cà sa vây quanh rất đông.

Chu bèn đứng lẫn vào trong đám, chốc lát tựa như có người khẽ kéo vạt áo.

Quay đầu lại thì ra là cô gái tóc rủ trái đào, nàng mỉm cười bỏ đi.

Chu bèn theo sau, quanh một khúc hàng rào, rẽ vào một căn nhà nhỏ, Chu ngần ngừ không dám tiến lên trước.

Cô gái quay đầu lại, giơ bông hoa cầm trong tay vẫy gọi, Chu vội theo vào.

Trong nhà vắng không có người, Chu liền ôm chầm lấy cô gái, cô ta cũng không chống cự mấy, bèn cùng nhau ân ái.

Xong rồi cô gái đóng cửa đi ra, dặn Chu chớ lên tiếng, tối lại đến.

Được như thế hai ngày, bạn cô gái biết, cùng tìm ra được, nói đùa cô gái rằng:

-Bụng có mang to tướng còn để trái đào như gái tơ.

Cùng xúm lại lấy trâm và bông tai cài vào mái tóc mà vắt lên.

Cô gái xấu hổ, nín thinh.

Một cô nói:

-Chị em ơi!

Chúng ta chớ ở đây lâu kẻo người ta không vui.

Cả bọn cười ồ mà đi, Chu nhìn cô gái, thấy trái đào đã bới cao lên, cánh phượng rũ xuống, so với lúc kết trái đào lại còn đẹp hơn nhiều.

Bốn phía không có ai, bèn la cà đến gần đùa nghịch, hương lan thơm phức, ngây ngất trong lòng.

Vui thích chưa hết, chợt nghe tiếng quát tháo dữ dội, tiếng xích xiềng loảng xoảng, chung quanh có tiếng người cãi cọ.

Cô gái sợ hãi đứng lên, cùng với Chu nhìn ra thấy một sứ giả mặc áo giáp vàng, mặt đen như nhọ nồi, tay cầm xích tay, tay cầm chùy, bọn thiếu nữ vây quanh, sứ giả hỏi:

-Đủ chưa?

Đáp:

-Đủ cả rồi!

Sứ giả lại nói:

-Nếu giấu người hạ giới phải lập tức đưa ra, đừng tự rước vạ vào thân.

Lại đáp:

-Không có!

Sứ giả quay đầu trở lại có vẻ ngạc nhiên, như là có ý tự mình lục soát.

Cô gái sợ quá, mặt xám ngoét, hốt hoảng bảo Chu:

-Mau nấp dưới gầm giường.

Rồi cô gái mở một cánh cửa nhỏ ở trên tường trốn mất.

Chu nằm nép mình không dám thở, một lát nghe thấy tiếng ồn ào xa dần cũng yên tâm đôi chút.

Bên ngoài cửa có tiếng người nói qua lại.

Chu nằm co quắp đã lâu, ù tai hoa mắt, nhức mỏi không chịu nổi, chỉ im lặng đợi cô gái trở về, cũng không nhớ mình ở đâu tới.

Trong lúc ấy, Mạnh Long Đàm trong điện, liếc mắt không thấy Chu đâu, nghi hoặc bèn hỏi nhà sư.

Nhà sư nói:

-Đi nghe thuyết pháp.

Hỏi:

-Ở đâu?

Đáp:

-Không xa.

Giây lát lấy ngón tay gõ vào tường gọi to:

-Chu đàn việt, sao đi chơi lâu quá thế chẳng trở về?

Mạnh quay lại thấy trong bức tranh trên tường có hình Chu, đứng lắng tay nghe ngóng, nhà sư lại gọi:

-Ông bạn đợi lâu rồi.

Bèn thấu Chu nhẹ nhàng từ trên tường bay xuống, mắt mở trừng trừng đứng ngây như gỗ.

Mạnh sợ quá, lát sau thong thả hỏi:

-Làm sao vậy?

Chu đáp:

-Nằm phục dưới gầm giường, nghe tiếng gõ như sấm, nên ra khỏi phòng nghe ngóng.

Cả hai cùng nhìn lại cô gái cầm hoa mỉm cười lúc nãy, bây giờ tóc vấn lên cao, không còn rủ trái đào như trước.

Chu kinh hãi, vái nhà sư hỏi duyên cớ, sư trả lời:

-Duyên là ở người, lão nạp làm sao mà giảng giải được?

Chu thấy lòng dạ buồn bã, Mạnh thì sợ hãi hoang mang, lập tức đứng lên, xuống thềm ra về.

____________________________

CHƯƠNG 4: CHỦNG LỆ

TRỒNG LÊ

Nhẫm Giao Khanh Lận Biến Nhân Hoàn

Thiên Đạo Nguyên Lai Thị Vãng Hoàn

Khoảnh Khắc Hoa Khai Khoảnh Khắc Thực

Thần Tiên Tương Hí Cảnh Tham Ngoan

Dịch:

Mặc Cho Keo Kiệt Khắp Nhân Gian

Mà Đạo Trời Xưa Vốn Vãng Hoàn

Liền Lúc Ra Hoa Liền Kết Quả

Thần Tiên Cảnh Giới Kẻ Tham Ngoan



Có một người nhà quê bán lê ở chợ, lệ ngọt và thơm, rất quý giá.

Một đạo sĩ khăn rách, áo nát, ăn xin ở trước xe.

Người nhà quê quát đuổi vẫn không chịu đi, người ấy giận, nặng lời mắng nhiếc.

Đạo sĩ nói:

-Một xe có đến mấy trăm quả, lão nạp chỉ xin có một quả, đối với ông cũng chẳng tổn hại bao nhiêu sao lại giận dữ như vậy làm gì?

Người đứng xem khuyên lấy một quả xấu cho đạo sĩ để lão đi cho rảnh, người nhà quê vẫn không chịu.

Có một người làm mướn trong cửa hàng thấy cãi nhau ầm ĩ không chịu nổi bèn bỏ tiền túi ra mua một quả đưa cho đạo sĩ.

Đạo sĩ vái tạ, rồi nói với mọi người:

-Kẻ xuất gia không được biển lận, ta có lê ngon xin đem biếu mọi người.

Có người nói:

-Đã có sao không lấy của mình mà ăn?

Đạo sĩ nói:

-Ta cần cái hạt này để làm giống.

Nói xong, cầm quả lê ăn đến hết, cầm hạt ở trong tay.

Lấy một cái mai ở trên vai ra, đào một hố đất sâu vài tấc, đặt hạt lê vào, lấy đất lấp kín rồi quay về phía người ở chợ xin nước tưới.

Có người hiếu sự, đi vào cửa hàng bên đường xin nước sôi mang ra.

Đạo sĩ tiếp lấy, tưới nước vào chỗ đất đã đào.

Hàng ngàn con mắt vây quanh nhìn xem thì thấy có một cái mầm nhú lên, lớn dần, cành lá lơ thơ.

Chợt ra hoa, chợt kết quả, to lớn, thơm phưng phức, chi chít đầy cây.

Đạo sĩ tới gần ngọn cây, hái quả đưa cho những người đứng xem, trong khoảnh khắc hết nhẵn.

Rồi lấy cái mai ra chặt cây, chan chát hồi lâu cây gãy, buộc lá vác lên đầu vai, thong thả cất bước mà đi.

Lúc đạo sĩ bắt đầu làm phép, người bán lê cũng đứng lẫn lộn trong bọn người xem, nghểnh cổ chú mục nhìn, quên cả hàng họ.

Khi đạo sĩ đã đi rồi, mới quay lại nhìn trong xe thì lê đã hết cả.

Bấy giờ mới hiểu bao nhiêu lê đem biếu khắp cả là lê của mình.

Lại xem kỹ trên xe, thấy một bên càng xe vừa mới bẻ gãy, giận lắm, vội vã đi tìm.

Đi qua góc tường, thấy cái càng xe gãy vứt ở chân tường, mới biết là cái thân cây lê mới chặt đức chính là cái càng xe của mình vậy.

Không biết đạo sĩ ở đâu, cả chợ đều cười!
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 5+6+7


CHƯƠNG 5: LAO SƠN ĐẠO SĨ

ĐẠO SĨ NÚI LAO SƠN

Nguyện Học Thần Tiên Nhất Niệm Si

Tiểu Tân Tô Thảo Khổ Nan Chi

Chỉ Cần Thụ Đắc Xuyên Du Thuật

Tự Thử Cư Tâm Dĩ Khả Tri

Dịch:

Thần Tiên Nguyện Học Rất Mê Say

Rau Củi Gian Truân Mấy Chẳng Nề

Truyền Thuật Chỉ Mong Xuyên Thủng Vách

Dụng Tâm Như Thế Có Đâu Dè



Trong ấp có Vương sinh, còn thứ bảy của một nhà thế tộc, lúc nhỏ mộ đạo, nghe nói trong núi Lao Sơn có tiên liền vác khăn gói đi vào núi chơi.

Lên đến đỉnh núi thấy một ngôi đền rất vắng vẻ, có một đạo sĩ ngồi trên một cái bồ đoàn, tóc bạc rũ xuống cổ nhưng thần sắc rất mạnh mẽ.

Vương gõ cửa, thấy đạo lý rất huyền diệu, xin thờ làm thầy, đạo sĩ nói:

-Sợ anh yếu ớt, lười biếng không chịu được khó nhọc.

Vương thưa là chịu được, học trò của đạo sĩ rất đông, đến tối tụ hợp cả lại, Vương đến chào khắp lượt rồi ở lại trong đền.

Sáng sớm, đạo sĩ gọi Vương dậy, đưa cho một cái búa nhỏ, bảo theo bọn học trò đi kiếm củi, Vương cung kính nghe lời.

Qua một tháng, chân tay chai cả, không chịu nổi cực khổ, trong lòng ngầm có ý muốn về.

Một hôm đi kiếm củi về, thấy hai người khách lạ cùng thầy uống rượu.

Ngày đã chiều vẫn chưa thắp đèn nến, đạo sĩ bèn lấy kéo cắt giấy thành một hình tròn như cái gương dán lên tường.

Lát sau thấy ánh sáng rọi từ trên tường xuống.

Bọn học trò vây quanh nghe ngóng, phục dịch.

Một ông khách nói:

-Đêm nay vui quá, không thể không cho bọn nhỏ cùng vui được.

Bèn lấy rượu trong vò để trên bàn chia cho, lại dặn:

-Phải say khướt mới được.

Vương nghĩ bụng:"có đến bảy tám người, rượu trong vò làm sao đủ cho cả bọn?" rồi ai nấy lấy chén, tranh nhai uống trước, chỉ sợ hết rượu.

Nhưng rót đi rót lại vẫn không vơi đi chút nào, trong bụng lấy làm lạ lắm.

Một lát, ông khách lại nói:

-Được ông cho ánh trăng, lại cho uống rượu, nhưng thầm lặng thế này thì tẻ nhạt lắm, sao không mời Thường Nga đến?

Bèn lấy một chiếc đũa ném vào mặt trăng liền thấy một mỹ nhân từ mặt trăng đi ra, thoạt đầu chưa đầy một thước, đến mặt đất thì bằng người thật.

Lưng ong, cổ tròn xiêm áo phất phới, yểu điệu múa khúc Nghê Thường, nàng ca rằng:

-Chư tiên này!

Chư tiên này!

Ta sắp sửa về đây.

Chốn Quảng Hàn lạnh lẽo lắm thay.

Tiếng hát lanh lảnh, trong như tiếng sáo, tiếng kêu.

Múa xong đứng dậy nhảy lên kỷ.

Trong khi kinh ngạc, quay đầu nhìn lại thì đã hóa thành chiếc đũa.

Ba người cười ông lên, lại một ông khách nói:

-Đêm nay vui quá, nhưng uống chưa thỏa thuê, cùng tôi đi ăn tiệc ở cung trăng được không?

Ba người bèn rời tiệc, dần dần đi vào mặt trăng.

Bọn đệ tử thấy ba người ngồi trong mặt trăng uống rượu, râu tóc rõ hết, như bóng người trong gương vậy.

Một lát nữa, trăng tối dần, bọn học trò thắp đèn đem đến thì chỉ có một mình đạo sĩ ngồi, còn khách thì đã biến đâu hết, trên bàn vẫn còn thức ăn và hạt trái cây.

Mặt trăng trên tường chỉ còn là một tấm giấy tròn như tấm gương mà thôi.

Đạo sĩ hỏi:

-Uống rượu có đủ không?

Họ trả lời:

-Đủ ạ!

Đạo sĩ bảo:

-Đủ rồi thì nên đi ngủ sớm, chớ để lỡ việc lấy củi.

Bọn họ vâng dạ mà rút lui, Vương trong lòng hâm mộ, bèn bỏ ý xin về.

Lại được một tháng, khó nhọc không chịu nổi mà đạo sĩ tịnh không dạy qua một thế nào.

Sốt ruột không đợi được, bèn xin từ biệt, nói rằng:

-Đệ tử đi mấy trăm dặm đường đến xin học thầy, nếu không học được phép trường sinh, cũng xin truyền cho một phép nhỏ để an ủi lòng cầu học.

Nay đã qua hai tháng, chỉ sớm đi kiếm củi, chiều lại về.

Đệ tử lúc còn nhỏ ở nhà chưa từng phải chịu khó nhọc như thế.

Đạo sĩ cười mà bảo:

-Ta vẫn nói là ngươi không chịu được khổ nhọc, nay quả đúng như vậy, mai cho ngươi về sớm.

Vương nói:

-Đệ tử làm lụng nhiều ngày, xin thầy truyền qua loa cho một phép nhỏ, chẳng bỏ công đến đây.

Đạo sĩ hỏi:

-Ngươi muốn học phép gì?

Vương nói:

-Mọi lần thấy thầy đi đến đâu tường vách cũng không cản trở được, đệ tử chỉ xin học được phép đó là đủ.

Đạo sĩ cười mà chấp thuận, bèn truyền cho bí quyết, bảo tự đọc xong lời chú, hô:"Vào!"

Vương đứng nhìn tường, không dám vào, đạo sĩ lại bảo:

-Thử vào xem.

Vương ung dung đi vào, đến tường thấy cản lại, đạo sĩ bảo:

-Gắng lấy đầu lao mạnh vào, đừng rụt rè.

Vương làm theo lời, đứng cách mấy bước, chạy mà húc vào, bức tường như không cản lại, đến khi quay đầu thì đã ở ngoài rồi.

Mừng lắm liền vào tạ ơn, đạo sĩ nói:

-Về nhà nên giữ thanh khiết, nếu không sẽ mất linh nghiệm.

Rồi cho tiền lộ phí bảo về, về đến nhà Vương khoe mình đã gặp tiên, học được phép đi qua tường vách.

Vợ không tin, Vương làm đúng theo lời thầy đã dạy.

Đứng cách tường mấy bước, chạy mạnh húc đầu vào tường, đầu vấp vào tường rắn, ngã quay lơ.

Vợ liền nâng dậy, xem thấy trán u lên một cục bằng quả trứng lớn, vợ chế giễu mãi.

Vương vừa thẹn vừa giận, chửi mãi đạo sĩ là phường bất lương.

_______________________________

CHƯƠNG 6: TRƯỜNG THANH TĂNG

ÔNG SƯ Ở TRƯỜNG THANH

Kinh Hồn Sơ Định Ức Tiền Thân

Đọa Lạc Hà Tằng Muội Túc Nhân

Phong Cảnh Bất Thù Quy Cựu Tự

Ưng Tri Nùng Thị Tái Lai Nhân

Dịch:

Hoảng Hồn Chợt Tỉnh Nhớ Tiền Thân

Té Xỉu Đâu Chừng Lú Túc Nhân

Chùa Cũ Y Nguyên Phong Cảnh Cũ

Nơi Đây Ta Đã Tới Hai Lần



Có ông sư nọ ở Trường Thanh, đạo hạnh rất cao khiết, tuổi ngoài tám mươi mà vẫn còn tráng kiện.

Một hôm ông ngã không dậy được, các sư trong chùa chạy lại cứu thì viên tịch.

Sư không biết mình đã chết, hồn phiêu diêu bay đi đến địa phận Hà Nam.

Ở Hà Nam có một vị công tử con nhà dòng dõi, kéo hơn mười người cưỡi ngựa cầm chim ưng đi săn thỏ, ngã ngựa chết.

Hồn sư đến chỗ đó bèn nhập vào, vị công tử dần dần sống lại, đầy tớ xúm quanh để hỏi thăm, công tử dương mắt nhìn hỏi:

-Sao ta lại ở đây?

Bọn đầy tớ đỡ dậy khiêng về, vào nhà thấy đàn bà phụ nữ tô son điểm phấn xúm lại thăm hỏi thăm, công tử thất kinh hỏi:

-Ta là hòa thượng sao lại ở đây?

Người nhà cho là nói sảng, cùng kéo tay để cho tỉnh.

Ông không sao giảng giải cho họ hiểu được, chỉ nhắm mắt không nói nữa.

Đem cơm gạo xấu ra thì ăn, rượu thịt thì không chịu, tối ngủ một mình, không cho đàn bà hầu hạ.

Vài hôm sau, chợt nghĩ muốn đi dạo, mọi người đều mừng, đi chơi rồi về, tinh thần hơi ổn định một chút.

Lập tức gia nhân xúm lại, đưa sổ sách tiền bạc ra tính toán.

Công tử mượn cớ là ốm mệt, từ chối, chỉ hỏi rằng:

-Có biết huyện Trường Thanh ở Sơn Đông không?

Mọi người đều trả lời:

-Có biết!

Công tử nói:

-Ta thấy trong người buồn bực, muốn đi xem phong cảnh, nên sửa soạn đi ngay.

Người nhà thưa:

-Vừa ốm khỏi, không nên đi xa.

Công tử không nghe, hôm nay ra đi.

Đến Trường Thanh, trông cảnh vật như hôm qua, không cần hỏi thăm đường lối, đến thẳng chùa.

Bọn đệ tử thấy khách quý đến, ra mắt lạy chào rất cung kính, công tử hỏi:

-Sư cụ đi đâu?

Bọn họ đáp rằng:

-Thầy chúng tôi hôm trước đã hóa.

Công tử lại hỏi:

-Mộ ở đâu?

Cả bọn đưa ra mộ, chỉ thấy một nắm mộ ba thước chơ vơ còn chưa xanh cỏ.

Mọi người chẳng hiếu ý ra sao, xem xong sửa soạn lên ngựa về, công tử dặn mọi người rằng:

-Thầy các ngươi là người tu hành có giới hạnh, các đồ để lại phải giữ lấy chớ làm hư hỏng.

Bọn đệ tử vâng dạ, công tử bèn ra về.

Về nhà rồi, trong lòng nguội lạnh, không sao đương nổi công việc trong nhà.

Ở được vài tháng, ra cửa trốn đi, đến hẳn chùa cũ, bảo đệ tử:

-Ta là thầy của các ngươi!

Họ ngờ là lầm, nhìn nhau mà cười.

Công tử bèn kể chuyện hồn nhập, lại nói ra những chuyện lúc sống thường làm, mọi chuyện đều đúng, chúng đệ tử mới tin là thật.

Để công tử ở nơi giường cũ, hầu hạ như ngày thường.

Sau đó, người nhà nhiều lần đem xe đến, khóc lóc mời về, công tử đều không ngó tới.

Lại được hơn một năm, phu nhân cho người đem quà cáp đến rất nhiều.

Vàng lụa đều từ chối, chỉ nhận có một chiếc áo bào bằng vải mà thôi.

Hoặc giả có bạn bè đi qua làng, cung kính đến gặp, trông người, mặc nhiên là kẻ chân tu.

Tuổi chỉ có ba mươi, mà tu hành đã được hơn tám mươi năm.

____________________________________

CHƯƠNG 7: HỒ GIÁ NỮ

TIỆC CƯỚI HỒ LY

Thần Tiên Nhưỡng Nhưỡng Sức Sanh Cư

Dã Cộng Nhân Gian Hôn Giá Như

Nhất Thốc Sinh Ca Lưỡng Hàng Chúc

Dạ Thâm Thâu Tước Tiếu Thượng Thư

Dịch:

Thần Tiên Hôn Giá Giống Nhân Gian

Lúc Tiễn Đưa Dâu Cũng Cỗ Bàn

Nhộn Nhịp Sinh Ca Đèn Đuốc Sáng

Đêm Khuya Thó Chén Bật Cười Quan



Thượng thư bộ Lại họ Ân người Lịch Thành tỉnh Sơn Đông lúc trẻ nhà nghèo, có can đảm.

Trong làng có phủ đệ của nhà thế gia cũ, rộng vài mươi mẫu, lầu gác san sát nhưng thường thấy sự quái dị, vì vậy bỏ trống không ai ở.

Lâu ngày cỏ hoa mọc đầy, ban ngày cũng không người nào dám vào.

Có lần ông cùng các bạn bè học trò uống rượu, có người nói đùa:

-Có ai dám vào đó ngủ lại một đêm, thì cả bọn góp tiền đãi một bữa rượu.

Ông nhảy phắt dậy nói:

-Chuyện đó có khó gì?

Bèn ôm một cái chiếu đi, mọi người đưa tới tận cổng, đùa nói:

-Bọn ta chờ ở đây, nếu thấy có gì lạ, cứ kêu to lên.

Ông cười nói:

-Nếu có ma quỷ hồ tinh, ta sẽ bắt về làm chứng.

Bèn bước vào trong, thấy gai góc khuất lối, cỏ dại um tùm.

Lúc ấy là đầu tháng, trăng non mờ mờ có thể nhìn thấy cổng nẻo, bèn lần theo vách đi một lúc mới tới lầu phía sau, lên hiên ngắm trăng thấy quang quẻ sạch sẽ đáng yêu liền dừng lại, trông về vầng trăng phía tây chỉ thấy như núi ngậm một sợi dây sáng mà thôi.

Ngồi một lúc lâu chẳng thấy gì lạ, cười thầm lời đồn đãi hão huyền rồi trải chiếu xuống đất, gối đầu lên hòn đá nằm ngắm sao Ngưu lang Chức nữ, một lúc thì thiu thiu ngủ.

Chợt dưới lầu có tiếng giày lẹp kẹp đi lên, ông bèn giả ngủ hé mắt nhìn, thấy là một tỳ nữ cầm chiếc đèn lồng hình hoa sen, chợt trông thấy ông giật mình lui lại nói với người đi sau:

-Có người lạ ở đây.

Người đi sau hỏi:

-Ai vậy?

Trả lời:

-Không biết nữa.

Giây lát có một ông già lên tới, tới sát ghé mắt nhìn ông rồi nói:

-Đây là quan Thượng thư họ Ân, nhưng đã ngủ say, cứ làm việc của ta đi, tướng công là ngươi không câu nệ, chắc không lấy làm lạ mà quát nạt đâu.

Bèn kéo nhau lên cả trên lầu, mở hết cửa nẻo ra.

Một lúc sau người qua lại càng đông, trên lầu đèn đuốc sáng như ban ngày, ông bèn khe khẽ trở mình, cất tiếng ho hắng.

Ông già thấy ông tỉnh dậy bèn bước ra quỳ gối xuống nói:

-Tiểu nhân có đứa con gái gả chồng đêm nay làm lễ rước dâu, không ngờ làm kinh động quý nhân mong ông bỏ qua.

Ông đứng dậy đỡ ông già lên nói:

-Không biết đêm nay gia đình có việc vui mừng, thật thẹn không có lễ vật để tặng.

Ông già nói:

-Được quý nhân quang lâm, trấn áp sự hung hiểm là may lắm rồi.

Xin ông cảm phiền ngồi chơi thì càng quý hóa lắm.

Ông vui vẻ nhận lời, bước vào trong lầu nhìn, thấy bày biện đẹp đẽ, lại có người đàn bà tới vái lạy, tuổi khoảng hơn bốn mươi, ông già nói:

-Đây là vợ quê của ta.

Ông bèn đáp lễ.

Chợt nghe tiếng đàn sáo inh tai, có người chạy mau từ dưới lên nói:

-Tới rồi.

Ông già vội ra đón, ông cũng đứng chờ.

Phút chốc có người cầm chiếc đèn lồng bằng sa đưa chàng rể vào, thấy tuổi khoảng mười bảy mười tám, dáng vẻ tuấn tú, ông già bảo làm lễ chào khách quý trước.

Thiếu niên nhìn ông, ông như người giữ việc tiếp khách, bèn nhận nửa lễ chủ nhân, kế cha vợ chàng rể làm lễ với nhau, rồi ngồi vào bàn.

Giây lát đám phụ nữ kéo lên đông đúc, rượu thịt bày ra la liệt, chén ngọc bình vàng sáng rực bàn ghế.

Rượu được vài tuần, ông già gọi tỳ nữ mời tiểu thư ra, hồi lâu không thấy tới.

Ông già đứng dậy vén màn hối thúc, giây lát một đám bà vú tỳ nữ đưa cô dâu ra, tiếng vòng ngọc lanh canh, mùi lan xạ thơm phức.

Ông già bảo lạy người trên, nàng lạy xong đứng dậy tới ngồi cạnh mẹ, ông liếc nhìn thấy trâm phượng dát ngọc biếc, vòng tai khảm minh châu, dung mạo đẹp tuyệt trần.

Kế đó rót rượu vào chén vàng lớn chứa được vài đấu, ông nghĩ vật này có thể lấy để làm chứng với bạn bè bèn lén bỏ vào tay áo rồi giả say nằm phục lên bàn ngủ vùi.

Mọi người đều nói:

-Tướng công say rồi.

Không bao lâu nghe chàng rể xin rước dâu về, tiếng đàn sáo lại trỗi vang, nhộn nhịp xuống lầu ra đi.

Kế chủ nhân dọn dẹp mâm chén thấy thiếu một cái chén uống rượu, tìm mãi không được, có người nói trộm là ông khách đang ngủ lấy, ông già vội bảo im, sợ ông nghe được.

Lát sau trong ngoài yên ắng, ông mới trở dậy, thấy tối om không có đèn đuốc gì, chỉ còn mùi hương hơi rượu vẫn sực nức cả bốn bên.

Nhìn ra phía đông thấy trời đã rạng bèn thong thả bước ra, mò trong tay áo thì cái chén vàng vẫn còn, ra tới cổng thì các bạn bè học trò đã chờ sẵn, ngờ là ông đang đêm trở ra rồi gần sáng mới vào.

Ông bèn đưa cái chén ra cho họ xem, mọi người kinh ngạc hỏi thăm, ông bèn kể lại mọi việc.

Bạn bè đều nghĩ rằng học trò nghèo không thể có được vật này mới tin lời.

Về sau ông đỗ Tiến sĩ, làm quan ở huyện Phì Khâu tỉnh Sơn Đông.

Có nhà thế gia họ Chu mời ông ăn tiệc, sai lấy chén lớn uống rượu, lâu không thấy đem ra.

Có đứa hầu nhỏ nói thầm với chủ nhân, chủ nhân có dáng tức giận.

Giây lát mang chén vàng ra rót rượu mời khách uống, ông nhìn thì kiểu chén nét chạm giống hệt với cái thén của hồ, lấy làm ngờ vục bèn hỏi ở đâu chế tạo, chủ nhân đáp:

-Bộ chén này có cả thảy tám cái, đời cha ta làm quan khanh trong kinh tìm thợ giỏi chế ra, là vật gia bảo truyền đời, cất kỹ đã lâu.

Nay được phủ quân hạ cố mới cho lấy trong hòm ra, thì chỉ còn có bảy cái.

Ngờ là người nhà ăn trộm, nhưng dấu niêm phong mười năm vẫn còn nguyên, thật là không sao hiểu nổi.

Ông cười nói:

-Chén vàng mọc cánh bay rồi, nhưng vật báu truyền đời không nên để mất, ta có một cái cũng hơi giống, xin đưa lại tặng.

Xong tiệc về dinh, lấy cái chén rượu sai người đưa tới, chủ nhân xem kỹ rất hoảng sợ, đích thân qua cám ơn ông, hỏi từ đâu mà có.

Ông bèn kể rõ đầu đuôi, mới biết vật trong vòng ngàn dặm thì hồ vẫn có thể lấy được, chỉ không dám giữ luôn mà thôi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 8+9


CHƯƠNG 8: KIỀU NA

Bất Quý Nhân Gian Công Tử Danh

Vị Mưu Gia Thất Thái Đa Tình

Tùng Nương Nhan Sắc Kiều Nương Đức

Chỉ Hợp Thanh Niên Thệ Tử Sinh

Dịch:

Công Tử Phong Lưu Vốn Nổi Danh

Lương Duyên Tác Hợp Khéo Đa Tình

Kiều Nương Đức Hạnh Tùng Nương Đẹp

Thề Nguyện Xin Cùng Kết Tử Sinh



Khổng sinh Tuyết Lạp là dòng dõi Khổng phu tử, học vấn uẩn súc, giỏi làm thơ.

Có người bạn học cũ làm Huyện lệnh Thiên Thai tỉnh Chiết Giang gửi thư mời, sinh tới thì người bạn vừa qua đời, bơ vơ không có tiền về, phải ngụ ở chùa Bồ Đà, chép thuê cho sư trong chùa.

Cách chùa hơn trăm bước về phía tây có tòa nhà của Đơn tiên sinh, vốn là con quan, vì chuyện kiện tụng nên sa sút, gia đình lại ít người bèn dời vào ở trong làng, tòa nhà thành ra bỏ hoang.

Một hôm tuyết lớn, trên đường vắng tanh, sinh ngẫu nhiên đi ngang, có một thiếu niên từ trong đi ra, phong tư anh tuấn, thấy sinh thì rảo bước tới chào hỏi rất lễ phép, mời vào nhà chơi.

Sinh vui vẻ theo vào, thấy phòng ốc không rộng rãi lắm nhưng chỗ nào cũng buông màn gấm, trên tường treo đầy thư họa của cổ nhân, trước bàn có một quyển sách, ngoài bìa đề 'Loan Hoàn Tả Ký', sinh mở xem một lượt, đều là những chuyện mình chưa bao giờ nghe thấy.

Sinh cho rằng thiếu niên ở tòa nhà của họ Đơn thì ắt là chủ nhà, nên không hỏi thăm gia thế.

Thiếu niên gạn hỏi tình cảnh của sinh, tỏ ý thương xót, khuyên sinh mở trường dạy học.

Sinh than rằng:

-Ở nơi đất khách quê người, có ai chịu dương danh mách mối?

Thiếu niên nói:

-Nếu không chê, thì chính ta xin thụ giáo đây!

Sinh mừng rỡ nhưng không dám nhận là thầy, chỉ xin làm bạn, nhân hỏi:

-Tại sao lâu nay nhà này đóng kín cửa thế?

Đáp:

-Đây là Đơn phủ, vì công tử vào ở trong làng, nên nơi này bỏ hoang đã lâu.

Ta họ Hoàng Phủ, quê quán vốn ở đất Thiểm (tỉnh Thiểm Tây), vì nhà cửa bị hỏa hoạn nên tạm ở nhờ.

Sinh mới rõ thiếu niên không phải là Đơn.

Đêm ấy hai người chuyện trò rất vui vẻ, ngủ chung một giường.

Tảng sáng có đứa tiểu đồng vào đốt lò, thiếu niên dậy trước vào nhà trong.

Sinh vẫn còn khoác chăn ngồi trên giường thì tiểu đồng vào nói:

-Thái Công tới.

Sinh ngạc nhiên vội đứng dậy, thấy một ông già bước vào, râu tóc bạc phơ, cảm tạ nói:

-Tiên sinh không bỏ thằng con khờ dại của lão mới chịu dạy bảo cho nó, nhưng nó mới tập viết tập đọc, xin đừng lấy cớ là bạn mà coi nó ngang hàng.

Kế sai mang ra biếu một bộ áo gấm và mũ lông điêu cùng giày tất mỗi thứ một món, chờ sinh rửa mặt chải đầu xong thì gọi dọn rượu.

Các thứ vật dùng trong nhà không biết tên gì, chỉ thấy sáng ngời lóa mắt.

Uống vài chén, ông già đứng lên từ tạ, chống gậy đi vào.

Cơm xong, thiếu niên đem văn bài ra trình, mấy bài toàn là lối cổ văn, không hề giống lối khoa cử.

Sinh hỏi, thiếu niên cười đáp:

-Ta không cần làm quan.

Tối đến lại bày tiệc rượu, nói:

-Đêm nay uống thật say rồi thôi, từ ngày mai trở đi không được uống nữa.

Rồi gọi tiểu đồng nói:

-Ngươi xem Thái Công đã đi nằm chưa, nếu rồi thì lén gọi Hương Nô ra đây.

Tiểu đồng vào, lát sau ôm cái túi thêu đựng cây đàn tỳ bà ra trước, kế có một tỳ nữ mặc áo đỏ bước vào, dung mạo xinh đẹp.

Thiếu niên sai gảy khúc Tương phi, nàng cầm phím ngà gảy đàn, trầm bổng bi ai, tiết tấu khác hẳn nhạc thường.

Lại sai mang chén lớn ra uống rượu, đến canh ba mới thôi.

Hôm sau cũng dậy sớm đọc sách, thiếu niên rất thông minh, đọc qua là nhớ, sau hai ba tháng đã làm văn rất hay, bèn hẹn với sinh cứ năm ngày cùng nhau uống rượu một lần, lần nào cũng gọi Hương Nô tới góp vui.

Một đêm sinh say rượu nóng mặt cứ nhìn Hương Nô chằm chằm, thiếu niên hiểu ý nói:

-Đứa tỳ nữ này là gia phụ nuôi dạy từ lâu, ông trơ trọi không có gia đình, ta đã sớm hôm nghĩ tới lâu rồi, đang tính cho ông một mối rất xứng đáng.

Sinh nói:

-Nếu có lòng tốt, phải tìm cho ta một người như Hương Nô mới được.

Thiếu niên cười đáp:

-Ông thật là người thấy ít nên lạ nhiều, như nó mà ông cho là đẹp thì sở nguyện của ông cũng dễ thỏa mãn thôi.

Được nửa năm sinh muốn ra ngoài dạo chơi, nhưng tới cổng thì hai cánh khóa chặt, hỏi thì thiếu niên đáp:

-Gia phụ sợ giao du làm rộn tâm trí nên đóng cửa tạ khách thôi!

Sinh từ đó cũng ở yên.

Gặp hôm nóng bức dời ra học ngoài vườn, bụng sinh chợt nổi lên cái ung như trái đào, qua đêm lớn bằng cái chén, đau đớn rên rỉ, thiếu niên sớm tối săn sóc bỏ cả ăn ngủ.

Vài hôm sau đau hơn, càng không ăn uống gì được, Thái Công cũng tới thăm, đứng nhìn thở dài.

Thiếu niên nói:

-Đêm trước con nghĩ chứng bệnh của tiên sinh chắc em Kiều Na chữa được, đã cho người đến nhà bà ngoại gọi về, sao lâu quá chưa thấy tới.

Bỗng tiểu đồng vào thưa:

-Cô Na đã tới, cả dì với cô Tùng cũng cùng tới.

Hai cha con vội ra đón.

Lát sau thiếu niên đưa em gái lại, khoảng mười ba mười bốn tuổi, dung mạo xinh đẹp, dáng vẻ yểu điệu, sinh vừa nhìn thấy chợt quên cả đau đớn, tinh thần khỏe khoắn hẳn lên.

Công tử nói:

-Đây là bạn thân của ta, tình như ruột thịt, nhờ em chữa bệnh giùm."

Cô gái bèn giấu vẻ thẹn thùng, vén tay áo dài tới trước giường thăm bệnh, trong lúc cầm tay bắt mạch, sinh ngửi thấy mùi hương thơm ngát.

Cô gái cười nói:

-Tâm mạch động thì phải có bệnh này, nhưng tuy là chứng nguy hiểm vẫn có thể chữa được.

Có điều cái ung đã lớn, phải rạch da khoét thịt mới xong.

Rồi tháo chiếc xuyến vàng trên cánh tay đặt lên chỗ đau từ từ ấn xuống, cái ung chợt nổi cao lên khoảng một tấc so với da thịt bên ngoài nhưng toàn bộ vùng bầm tím bên dưới đều gom cả vào bên trong chiếc xuyến chứ không loang rộng bằng cái chén như trước.

Kế vén áo lấy ra một thanh bội đao mỏng như tờ giấy, đè xuyến cầm đao nhè nhẹ cắt chung quanh, máu bầm phun ra ướt đẫm giường chiếu.

Sinh thích vì được kề cận ngươi đẹp nên chẳng những không thấy đau đớn mà còn sợ việc mổ xẻ mau xong, không được ở cạnh nàng lâu.

Phút chốc nàng đã cắt hết thịt thối, lục cục lòn hòn như những u bướu trên thân cây, lại gọi đem nước để rửa chỗ mới cắt, kế nhả ra một hoàn thuốc màu đỏ to bằng viên đạn lớn đạt lên thoa khắp xung quanh.

Mới một vòng đầu chàng thấy nóng rần, vòng thứ hai thì thấy xót ngứa, vòng thứ ba thì khắp thân thể mát mẻ.

Cô gái thu viên hồng hoàn lại ngậm vào miệng, nói:

-Khỏi rồi đấy!

Rồi rảo bước đi ra.

Sinh nhảy phắt dậy, chạy theo cảm tạ.

Bệnh tật lâu ngày dường như hết sạch, nhưng từ đó trở đi cứ mơ tưởng dáng vẻ của nàng không khuây, bỏ bê sách vở, chỉ ngồi ngẩn ngơ như kẻ mất hồn.

Công tử thấy thế nói:

-Đệ đã tìm chọn được một mối tốt đẹp cho huynh rồi!

Sinh hỏi là ai, Công tử đáp:

-Cũng là họ hàng với đệ.

Sinh nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói:

-Thôi đừng!

Rồi quay vào tường ngâm hai câu thơ cổ:

-Tằng kinh thương hải nan vi thủy.

Trừ khước Vu Sơn bất thị vân.

Dịch: (Đã qua bể thẳm khôn còn nước.

Ngoài chốn non Vu chẳng có mây)

Công tử hiểu ý, nói:

-Cha ta vẫn mến tài ông, thường muốn kết hôn nhân, nhưng ta chỉ có một đứa em gái còn quá nhỏ.

Có con gái dì ta tên A Tùng, đã mười bảy tuổi không đến nỗi xấu xí.

Nếu không tin, thì hàng ngày A Tùng vẫn dạo chơi ngoài vườn, ông núp trong hiên nhìn xem.

Sinh theo lời, quả thấy Kiều Na dắt một mỹ nhân ra vườn, mày vẽ cong vút, chân mang giày phượng, xinh đẹp tương tự Kiều Na.

Sinh cả mừng nhờ công tử làm mối giùm.

Hôm sau công tử ở nhà trong đi ra, chúc mừng rằng:

-Việc xong rồi.

Rồi dọn một chỗ ở riêng cho sinh làm đám cưới.

Đêm ấy nhạc trỗi vang nhà, sinh như thấy người tiên trong trăng, đến khi cùng chăn gối lại ngờ cung điện Quảng Hàn chưa chắc đã ở trên trời cao.

Sau khi thành vợ chồng, đôi bên rất tâm đầu ý hiệp.

Một đêm công tử nói với sinh:

-Cái ơn dạy bảo không lúc nào quên, nhưng gần đây Đơn tiên sinh kiện cáo đã xong, đòi nhà rất gấp nên định bỏ nơi này về Thiểm Tây, khó lại hội họp cùng nhau, trong lòng lấy làm vương vấn.

Sinh xin đi cùng nhưng công tử khuyên nên về quê.

Sinh lấy làm khó khăn, công tử nói:

-Đừng lo, ta có thể tiễn ông về ngay lập tức.

Không bao lâu ông già dẫn Tùng nương tới, lấy một trăm lượng vàng tặng sinh, công tử nắm tay hai vợ chồng, dặn nhắm mát đừng nhìn, rồi lướt đi trên không, chỉ nghe gió vi vút bên tai, hồi lâu công tử nói:

-Tới rồi!

Sinh mở mắt quả thấy quê mình, mới rõ công tử không phải là người.

Mừng rỡ về gõ cửa, mẹ không ngờ con về, lại thấy con có vợ đẹp vui vẻ chuyện trò, đến khi nhìn lại thì công tử đã biến mất.

Tùng nương thờ phụng mẹ chồng rất hiếu thảo, đức hiền sắc đẹp đồn dậy xa gần.

Sau sinh thi đỗ Tiến sĩ, được bổ chức Tư lý coi việc hình ở Diên An, đem cả nhà đi phó nhiệm, duy mẹ ngại đường xa không đi.

Tùng nương sinh một con trai, đặt tên là Tiểu Hoạn.

Sinh vì trái ý quan trên nên bị bãi chức, nhưng vì còn có việc trở ngại nên chưa về quê được.

Một hôm ngẫu nhiên đi săn ngoài đồng, gặp một thiếu niên đẹp trai cưỡi ngựa thanh câu cứ ngoảnh nhìn mình, nhìn kỹ thì là Hoàng Phủ công tử.

Hai người cùng dừng ngựa buông cương, mừng mừng tủi tủi.

Công tử mời sinh đi tới một thôn cây cối um tùm không thấy ánh mặt trời, vào nhà thì sơn son thếp vàng rực rỡ, rõ ràng là nhà thế tộc.

Hỏi thăm cô em thì đã lấy chồng, bà nhạc đã mất vô cùng đau xót.

Sinh nghỉ qua đêm rồi từ biệt ra về, dắt vợ cùng tới.

Kiều Na cũng tới, bế con sinh đùa giỡn, nói:

-Bà chị làm rối loạn dòng giống nhà ta rồi.

Sinh tạ ơn cứu mạng ngày trước nàng cười nói:

-Nay anh rể quý hiển, vết thương đã liền miệng, còn chưa quên nỗi đau à?

Chồng nàng là Ngô lang cũng tới chào sinh, ở qua đêm rồi đi.

Một hôm công tử có vẻ lo lắng nói với sinh:

-Trời giáng tai họa, có cứu nhau được không?

Sinh không biết chuyện gì nhưng cũng hăng hái nhận lời.

Công tử bèn rảo bước ra gọi cả gia đình vào sảnh đường xếp hàng quỳ lạy.

Sinh cả sợ vội hỏi, công tử nói:

-Ta không phải là người mà là hồ.

Hôm nay có tai nạn bị sét đánh, nếu ông chịu lấy thân ra cứu nạn thì cả nhà có thể được toàn sinh, nếu không thì xin ông bế con đi ngay cho khỏi bị vạ lây?

Sinh thề cùng sống chết, công tử bèn bảo sinh cầm gươm đứng trấn ngoài cửa, dặn:

-Sấm sét đánh ầm ầm cũng đừng động đậy.

Sinh theo lời, quả thấy mây mù kéo tới che khuất ánh ngày, trời đất tối đen, ngoảnh nhìn chỗ ở cũ không thấy phòng ốc nhà cửa gì cả, chỉ thấy gò cao chót vót, hang sâu thăm thẳm.

Đang lúc kinh ngạc thì một tiếng sét nổ ầm ầm chấn động núi non, mưa to gió lớn bật gốc cả những cây lâu năm, sinh hoa mắt choáng tai nhưng vẫn đứng sừng sững không hề nhúc nhích.

Bỗng trong đám gió âm mây tối có một con quỷ mỏ sắc móng dài quắp một người trong hang ra bay thẳng lên mây, sinh thoáng thấy áo giày giống hệt Kiều Na vội nhảy lên vung kiếm chém theo, người kia theo tay rơi xuống.

Chợt núi lở sét ran, sinh ngã xuống bất tỉnh.

Lát sau trời tạnh, Kiều Na tỉnh dậy thấy sinh chết bên cạnh, òa khóc nói:

-Khổng lang vì ta mà chết, ta làm sao sống được?

Tùng nương cũng vừa bước ra, cùng nhau vực sinh vào nhà.

Kiều Na bảo Tùng nương ôm đầu sinh, bảo anh lấy trâm cạy răng rồi vạch miệng ra, dùng lưỡi đẩy viên hồng hoàn vào, lại kề môi mà phà hơi vào.

Viên hồng hoàn theo hơi vào cổ kêu ùng ục, lát sau sinh tỉnh dậy, thấy người nhà xúm cả chung quanh, giật mình thấy như vừa tỉnh mộng.

Rồi đó cả nhà sum họp, qua cơn lo sợ lại càng vui vẻ.

Sinh nghĩ nơi mồ mả âm u không thể ở lâu, bàn cùng về quê mình.

Mọi người đều tán thành, chỉ có Kiều Na không vui.

Sinh muốn nàng và Ngô lang cùng về nhưng nàng lo cha mẹ chồng không chịu xa con trai nhỏ nên bàn bạc cả ngày chưa quyết.

Chợt một đưa tớ nhỏ nhà họ Ngô mồ hôi ròng ròng, hơi thở hổn hển chạy tới, mọi người hoảng sợ hỏi han thì ra cũng ngày hôm ấy cả nhà Ngô lang bị tai nạn sét đánh chết hết.

Kiều Na giẫm chân đau xót khóc lóc, mọi người cùng nhau khuyên giải, việc cùng về quê sinh mới quyết.

Sinh vào thành sắp xếp vài hôm rồi gấp rút sửa soạn hành lý lên đường.

Về tới nhà cắt khu vườn trống cho công tử ở, nhà thường khóa trái, sinh hay Tùng nương tới mới mở.

Sinh cùng anh em công tử chén rượu cuộc cờ, chuyện trò thân mật như người một nhà.

Tiểu Hoạn lớn lên diện mạo xinh xắn, hơi có vẻ hồ, ra phố chơi người ta đều biết là con của hồ.

_____________________________

CHƯƠNG 9: YÊU THUẬT

Ỷ Kiếm Khiêu Đăng Đởm Khí Thô

Yêu Nhân Ảo Thuật Cảm Tương Đồ

Tảo Tri Sinh Tử Do Thiên Địa

Trác Thức Như Công Tín Trượng Phu

Dịch:

Tựa Kiếm Chong Đèn Đởm Khí Cao

Tà Gian Yêu Thuật Dám Mưu Đồ

Sớm Khuya Sống Chết Do Trời Đất

Lỗi Lạc Như Ông Thực Trượng Phu



Ông Vu lúc trẻ hào hiệp, thích quyền thuật, sức có thể cầm hai thùng nước giơ cao lên múa may như gió lốc.

Trong niên hiệu Sùng Trinh thời Minh (1628-1643) lên thi điện ở kinh đô, người đầy tớ mắc bệnh không dậy nổi, Vu lo lắm.

Gặp lúc ở chợ có người thầy bói giỏi, có thể biết chuyện sống chết của người ta, Vu bèn tới xem cho người đầy tớ.

Vừa tới nơi chưa kịp nói gì thì người thầy bói nói ngay:

-Ông định hỏi về bệnh của người đầy tớ phải không?

Ông hoảng sợ vâng dạ.

Người thầy bói nói:

-Người bệnh thì không sao chứ ông thì nguy đấy.

Ông bèn xem cho mình, người thầy bói gieo quẻ xong, ngạc nhiên nói:

-Sau ba ngày nữa ông sẽ chết.

Ông kinh ngạc hồi lâu, người thầy bói ung dung nói:

-Bỉ nhân có thuật mọn, nếu ông đưa ta mười lượng vàng, ta sẽ khẩn cầu giúp cho.

Ông nghĩ thầm sống chết có số, phép thuật nào cứu được nên không đáp, đứng dậy định về.

Người thầy bói nói:

-Tiếc chút ít tiền như vậy thì đừng hối hận, đừng hối hận!

Những người yêu mến ông đều lo lắng thay, khuyên cứ dốc túi cầu xin nhưng ông không nghe.

Thấm thoát đến ngày thứ ba, ông ngồi ở nhà trọ im lặng chờ xem nhưng cả ngày không có gì lạ.

Đêm đến đóng cửa khêu đèn, chống kiếm ngồi thẳng, hết canh một vẫn không thấy có gì làm mình chết được đã toan đi ngủ.

Chợt nghe chỗ song cửa sổ có tiếng loạt soạt, vội nhìn ra thấy một người nhỏ bé vác giáo chui qua kẽ hở mà vào, rơi xuống đất thì cao vọt lên như người thật.

Ông nắm kiếm bật dậy xông vào chém, người ấy theo gió dạt ra chưa trúng kiếm nhưng chợt nhỏ lại như cũ, lui lại chỗ kẽ hở cửa sổ định chạy.

Ông chém vội nhát nữa, người ấy theo kiếm ngã lăn ra, cầm đèn tới xem thì ra là một hình nhân bằng giấy bị chém đứt ngang lưng.

Ông không dám đi nằm, lại ngồi xuống chờ.

Lát sau lại có một vật chui qua song cửa sổ vào, mặt mũi hung ác như quỷ.

Ông chờ nó vừa rơi tới đất là xông vào chém ngay, nó bị đứt làm hai đoạn mà vẫn còn động đậy.

Ông sợ nó lại vùng dậy bèn chém liên tiếp, nhát nào cũng trúng nghe bồm bộp, nhìn kỹ lại thì là một pho tượng bằng đất, nát vụn cả ra.

Rồi đó ông kéo ghế tới ngồi trước cửa sổ chăm chú nhìn vào khe hở, hồi lâu nghe bên ngoài có tiếng thở mạnh như bò rồi có một vật lay mạnh song cửa, vách phòng rung lên muốn đổ xuống.

Ông sợ bị tường sập đè lên, nghĩ chẳng bằng cứ ra đánh nhau, bèn đạp cửa sấn ra.

Thấy một con quỷ to lớn cao ngang mái nhà, trong ánh trăng mờ mờ thấy mặt đen như than, mắt sáng rực lóe ánh vàng, trên người không áo, dưới chân không giày, tay cầm cung lưng đeo tên.

Còn đang hoảng sợ thì quỷ đã phát tên, ông vung kiếm gạt mũi tên rơi xuống đất, định sấn vào chém thì nó bắn tiếp phát nữa, ông vội nhảy qua tránh, mũi tên găm vào vách tường nghe phằm phặp, quỷ tức quá rút đao vung múa như gió chém mạnh tới.

Ông sấn mau vào, thanh đao chém trúng tảng đá trong sân, tảng đá đứt đôi.

Ông từ dưới khuỷu tay nó phóng kiếm đâm trúng ngực nghe leng keng, quỷ càng tức giận gào thét như sấm, xoay người chém nhát nữa.

Ông lại cúi xuống lòn vào, thanh đao chém xuống đứt ống quần ông.

Ông đã vào sát dưới ngực nó, hết sức chém mạnh, cũng nghe keng một tiếng, quỷ lăn ra nằm cứng đờ.

Ông chém túi bụi vào nó, nghe tiếng vang như mõ, cầm đèn ra xem thì là một pho tượng gỗ to lớn như người thật, cung tên còn buộc ở lưng, mặt mũi chạm khắc rất hung dữ, những chỗ trúng kiếm đều có vết máu.

Ông bèn đốt đuốc chờ đến sáng, mới sực nghĩ ra rằng đám quỷ này đều do người thầy bói sai tới giết người để chứng tỏ thuật bói toán của y thần kỳ.

Hôm sau ông kể cho tất cả bạn thân nghe rồi cùng nhau kéo tới chỗ người thầy bói.

Người thầy bói thấy ông từ xa liền biến mất không thấy đâu nữa.

Có người nói:

-Đó là thuật tàng hình, máu chó có thể phá được.

Ông theo lời về chuẩn bị đầy đủ rồi tới.

Người thầy bói lại biến mất như lần trước, ông vội lấy máu chó hất vào chỗ y đứng, thì thấy y đầu tóc mắt mũi dính máu chó bê bết, hai mắt rừng rực đứng như con quỷ, bèn bắt trói giải lên quan giết mất.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 10+11


CHƯƠNG 10: DIỆP SINH

THƯ SINH HỌ DIỆP

Ân Thâm Tri Kỷ Úy Bình Sinh

Hồn Mộng Tương Tùy Thiên Lý Hành

Mạc Đạo Hoàng Chung Chung Hủy Khí

Tu Tri Nhụ Tử Dĩ Thành Danh

Dịch:

Ơn Sâu Tri Kỷ Hả Bình Sinh

Ngàn Dặm Hồn Theo Bước Nhẹ Tênh

Đừng Bảo Chuông Vàng Đành Bỏ Xó

Nhớ Rằng Con Trẻ Đã Thành Danh



Diệp sinh người huyện Hoài Dương tỉnh Hà Nam không rõ tên tự, văn chương tư phú đứng đầu một thời nhưng không thành đạt, lận đận mãi nơi trường ốc.

Gặp lúc ông Đinh Thừa Hạc người Đông Quan tới làm Tri huyện ở đó, xem văn chương của sinh lấy làm lạ bèn mời tới nói chuyện, rất vừa ý liền sai ở lại trong dinh, giúp cho ăn học, thỉnh thoảng lại cho tiền thóc để giúp đỡ gia đình.

Đến kỳ khảo khóa, ông khen ngợi văn tài của sinh với quan Học sứ, kế sinh đỗ đầu, ông rất mong mỏi vào sinh, thi hương xong đòi văn bài của sinh để đọc, gõ bàn đánh nhịp ngợi khen không ngớt.

Không ngờ thời vận cản người, văn chương ghen mệnh, khi ra bảng thì sinh rớt, trở về ngơ ngác thẫn thờ, thẹn đã phụ lòng tri kỷ, thân gầy rộc như bộ xương, người ngây ra như tượng gỗ.

Ông nghe tin mời tới an ủi, sinh rơi lệ không thôi.

Ông thương xót, hẹn lúc nào hết hạn về kinh sẽ đưa sinh cùng đi.

Sinh rất cảm kích cáo từ ra về, đóng cửa không đi đâu nữa.

Không bao lâu sinh lâm bệnh, ông thăm hỏi biếu tặng không ngớt nhưng sinh uống bao nhiêu thuốc vẫn không khỏi.

Gặp lúc ông xúc phạm quan trên bị cách chức, lúc sắp về quê bèn viết thư cho sinh, đại lược rằng:

-Ta nay mai sẽ về Đông nhưng sở dĩ còn chần chừ là vì muốn chờ túc hạ đó thôi.

Túc hạ tới buổi sáng thì buổi chiều ta khởi hành.

Thư đưa tới cạnh giường, sinh cầm thư xem khóc rồi nhắn người đưa thư về nói bệnh nặng khó khỏi ngay, xin ông cứ đi trước.

Người ấy về thưa lại, ông không nỡ đi, nán lại để chờ.

Qua mấy hôm chợt người canh cổng vào báo Diệp sinh tới, ông mừng rỡ ra đón hỏi han.

Sinh nói:

-Vì cái bệnh của kẻ hèn để đại nhân phải chờ lâu, lòng rất áy náy, nay may đã có thể theo hầu.

Ông bèn gói ghém hành trang đi sớm, về tới làng sai con thờ sinh làm thầy, sớm tối bên nhau.

Công tử tên Tái Xương, năm ấy mười sáu tuổi, chưa biết làm văn nhưng rất thông minh, sách vở thơ phú đọc qua hai ba lần là nhớ không sót một chữ.

Được một năm thì công tử hạ bút thành văn, thêm có ông lo toan nên được vào học trường huyện.

Sinh chép lại tất cả văn chương cử nghiệp của mình đã làm cho công tử học, đến khi vào trường thi, bảy đầu đề không sai đề nào, công tử liền đỗ á khôi.

Một hôm ông nói với sinh:

-Ông bỏ ra một mối tơ thừa mà giúp thằng nhỏ thành danh, nhưng quả chuông vàng bị vứt bỏ mãi thì làm sao?

Sinh nói:

-Điều đó là có số mệnh.

Ta mượn phúc trạch của đại nhân mà hà hơi cho văn chương để người đời biết rằng nửa đời lận đận không phải vì kém tài, thế là thỏa nguyện rồi.

Vả lại kẻ sĩ được một người biết đã đủ không ân hận, cần gì phải đỗ đạt mới đắc chí?

Ông thấy sinh xa nhà đã lâu, sợ lỡ kỳ sát hạch hàng năm, khuyên nên về thăm.

Sinh rầu rĩ không vui, ông không nỡ ép bèn dặn công tử khi đến kinh thì nộp tiền mua chức cho sinh.

Công tử lại đỗ kỳ thi hội, được bổ chức Chủ chính trong bộ, đưa sinh vào Giám, sớm tối có nhau.

Qua năm sau sinh thi hương ở kinh đỗ Cử nhân, gặp lúc công tử được bổ chức Điển vụ ở Hà Nam, nhân nói với sinh:

-Chuyến này đi không xa quý hương, nay tiên sinh đắc chí mây xanh, áo gấm về làng cũng hay.

Sinh cũng mừng liền chọn ngày tốt lên đường, tới địa giới Hoài Dương thì công tử sai người ngựa đưa sinh về.

Tới nhà thấy cổng ngõ tiêu điều, sinh bùi ngùi lững thững đi vào sân.

Vợ cầm cái nia đi ra, thấy sinh thì vứt xuống hoảng sợ bỏ chạy.

Sinh buồn rầu nói:

-Ta nay đã nên danh phận, mới ba bốn năm không gặp, sao lại như không quen nhau thế?

Vợ đứng xa nói:

-Chàng chết đã lâu, sao còn nói là nên danh phận?

Sở dĩ còn quan linh cữu trong nhà là vì nhà nghèo con nhỏ mà thôi.

Nay con cũng đã khôn lớn, đang tìm đất chôn cất, chàng đừng hiện hồn để dọa người còn sống.

Sinh nghe nói ngậm ngùi, lững thững đi vào trong phòng, nhìn thấy linh cữu mình liền ngã xuống đất biến mất.

Vợ kinh hãi nhìn lại chỉ thấy áo mũ không như cái xác ve lột, vô cùng thương xót ôm lấy khóc lóc.

Con trai sinh đi học về, thấy ngựa xe trước cổng bèn hỏi han rồi hoảng sợ chạy vào báo cho mẹ, mẹ gạt nước mắt kể lại, lại hỏi kỹ những người theo hầu mới biết rõ đầu đuôi.

Người theo hầu về báo, công tử nghe tin nước mắt ròng ròng, lập tức sai thắng xe ngựa tới nhà sinh khóc lóc rồi bỏ tiền ra làm ma chay, chôn cất sinh theo lễ Hiếu liêm.

Lại tặng tiền bạc cho con sinh rất hậu, đón thầy về dạy cho và nói với quan Học sứ, qua năm sau con sinh được vào học trường huyện.

______________________________

CHƯƠNG 11: THÀNH TIÊN

VỊ TIÊN HỌ THÀNH

Tự Kinh Tụng Hệ Thế Tình Hôi

Học Đạo Danh Sơn Khứ Hận Hồi

Mộng Tỉnh Khí Gia Như Tệ Tỉ

Cố Nhân Giai Ngã Thượng Thanh Lai

Dịch:

Tranh Tụng Qua Phen Lạt Thế Tình

Tìm Đi Học Đạo Chốn Non Xanh

Bỏ Nhà Coi Nhẹ Như Giày Rách

Bạn Cũ Cùng Ta Tới Thượng Thanh



Chu sinh người huyện Văn Đăng tỉnh Sơn Đông cùng Thành sinh học chung từ nhỏ nên kết thành bạn thân.

Thành nhà nghèo, quanh năm phải nhờ vả Chu, so về tuổi thì Chu lớn hơn nên Thành gọi vợ Chu là chị dâu, giỗ tết qua lại như một nhà.

Vợ Chu sinh được một trai thì bị bạo bệnh chết, Chu cưới vợ kế họ Vương, Thành vì nàng nhỏ tuổi nên chưa từng xin gặp mặt.

Một hôm em trai Vương thị tới thăm chị, Chu bày tiệc mời ở nhà trong.

Gặp lúc Thành tới chơi, người nhà vào báo, Chu sai mời vào.

Thành không vào mà từ tạ ra về, Chu bèn dời tiệc ra nhà ngoài rồi đuổi theo gọi Thành quay lại.

Vừa ngồi vào bàn thì có người vào báo tin đầy tớ giữ trại cho nhà Chu bị quan huyện phạt đánh rất đau.

Nguyên là đầy tớ chăn trâu nhà quan Lại bộ họ Hoàng để trâu xéo lên ruộng của Chu nên đôi bên cãi nhau, tên chăn trâu chạy về báo với chủ bắt đầy tớ của Chu giải lên quan phạt đánh thật nặng.

Chu hỏi rõ đầu đuôi rồi nổi giận nói:

-Thằng đầy tớ chăn lợn họ Hoàng kia sao dám làm thế.

Cha nó còn phải hầu hạ ông nội ta, vừa đắc chí đã không coi ai ra gì à?

Rồi giận sôi lên đứng phắt dậy định qua tìm Hoàng, Thành ấn ngồi xuống nói:

-Thời buổi ngang ngược này vốn không phân đen trắng, huống chi quan lại ngày nay quá nửa là lũ cướp, chỉ là không cầm giáo đeo cung thôi.

Chu không nghe, Thành năn nỉ mấy lần rơi cả nước mắt mới chịu thôi nhưng vẫn không nguôi giận.

Trằn trọc suốt đêm, sáng ra nói với gia nhân:

-Họ Hoàng khinh ta thì ta tức, nhưng cứ để đó.

Còn quan huyện là quan của triều đình chứ không phải là quan của bọn quyền thế, nếu có chuyện tranh chấp thì cũng phải hỏi cả đôi bên chứ sao lại như con chó suỵt đâu chạy đó được?

Ta cũng kiện đầy tớ nhà kia xem y phân xử thế nào.

Đám gia nhân đều vun vào, Chu bèn quyết ý cầm đơn kiện tới gặp quan huyện.

Quan huyện xé đơn ném xuống đất, Chu tức giận chửi mắng, quan vừa thẹn vừa tức bèn bắt giam Chu.

Gần trưa Thành qua thăm mới biết Chu đã lên huyện thưa kiện, vội đuổi theo cản lại thì Chu đã bị giam vào ngục, giẫm chân không biết làm sao.

Lúc bấy giờ vừa bắt được ba tên giặc biển, quan huyện và Hoàng đút tiền dặn chúng khai Chu là đồng đảng rồi vịn vào đó mà lột mũ áo nhà nho, tra tấn tàn nhẫn.

Thành vào ngục thăm nhìn nhau cay đắng, bàn việc lên kinh kêu oan.

Chu nói:

-Nay vướng vào trọng án như chim trong lồng, tuy có chú em yếu ớt cũng chỉ làm được việc đưa cơm tù mà thôi.

Thành sốt sắng nhận đi, nói:

-Đây là phận sự của ta, lúc có nạn không giúp nhau thì còn bạn bè làm gì.

Rồi lập tức lên đường, em Chu định đưa tiền lộ phí thì đã đi lâu rồi.

Thành tới kinh đô, chưa biết tới cửa nào kêu thì nghe đồn vua sắp đi săn bèn tính toán núp trong khu chợ gỗ, kế xa giá đi qua liền ra sụp lạy kêu khóc.

Sớ được chuẩn xét giao cho dịch trạm chuyển về bộ viện thẩm tra tâu lại.

Lúc ấy vụ án đã qua hơn mười tháng, Chu đã bị khép bừa vào tội hình.

Hình viện nhận được ngự phê hoảng sợ, cho thẩm xét lại bản cung khai và lời nghị án.

Hoàng cũng sợ, mưu giết Chu bèn hối lộ cho người coi ngục để tuyệt đường cơm nước.

Em Chu mang thức ăn vào thăm cũng bị cấm ngặt, Thành lại tới Hình viện tố cáo sự khuất khúc, Chu được gia ơn đem ra hỏi cung thì đã đói lả không dậy nổi.

Quan Hình viện tức giận cho đánh chết người coi ngục, Hoàng khiếp đảm phải bỏ ra mấy ngàn lượng vàng chạy chọt nên được mập mờ xóa tội, quan huyện thì vì làm trái pháp luật bị đi đày.

Chu được thả về, càng phục Thành là can đảm.

Thành sau vụ kiện tụng thì tình đời nguội lạnh bèn rủ Chu cùng đi ở ẩn, nhưng Chu còn đắm đuối vợ trẻ nên nghe nói thì cười là viển vông, Thành tuy không đáp song đã quyết ý.

Sau khi chia tay, mấy ngày không thấy tới, Chu sai qua nhà thăm dò thì người nhà nghĩ rằng đang ở nhà Chu, cả hai nơi đều không thấy mới nghi ngờ.

Chu biết là có chuyện lạ, sai người đi dò hỏi khắp các chùa quán hang động, thỉnh thoảng lại đem vàng lụa chu cấp cho con Thành.

Tám chín năm sau Thành chợt tìm về, đội khăn vàng mặc áo lông, rõ ràng là đạo sĩ.

Chu cả mừng nắm tay hỏi:

-Anh đi đâu làm ta tìm khắp nơi?

Thành cười đáp:

-Mây ngàn hạc nội không ở nơi nào nhất định, nhưng sau khi chia tay may vẫn mạnh khỏe.

Chu sai bày tiệc, nói qua nỗi niềm xa cách, muốn Thành hoàn tục nhưng Thành chỉ cười không nói.

Chu bảo:

-Ngu thay!

Sao có thể bỏ vợ con như đôi giày rách được?

Thành cười nói:

-Không phải thế, người định bỏ ta chứ ta đâu bỏ được ai?

Hỏi nơi ở, Thành đáp là trên cung Thượng Thanh núi Lao Sơn.

Kế nằm gác chân ngủ, Chu mơ thấy Thành trần truồng đè lên người mình nặng muốn tức thở, kinh ngạc hỏi làm gì nhưng Thành không đáp.

Giật mình tỉnh dậy gọi không thấy Thành lên tiếng, nhỏm dậy mò thì đã đi đâu mất.

Lát sau định thần mới biết đang trên giường của Thành, hoảng sợ nói:

-Tối qua không say mà sao lẫn lộn đến thế này?

Bèn gọi người nhà, người nhà thắp đèn lên thì thấy rõ ràng là Thành.

Chu vốn nhiều râu bèn lấy tay sờ thì thấy cằm lơ thơ chỉ có vài sợi, liền cầm gương soi rồi ngạc nhiên nói:

-Thành sinh ở đây thì ta đi đâu?

Kế sực hiểu ra, biết Thành dùng ảo thuật gọi mình đi ở ẩn, muốn vào phòng vợ nhưng em trai thấy mặt mũi khác hẳn nên ngăn lại không cho.

Chu cũng không có cách nào làm rõ liền sai sắp ngựa và đầy tớ đi tìm Thành.

Mấy ngày thì tới núi Lao, ngựa chạy nhanh nên đầy tớ theo không kịp, Chu dừng lại dưới gốc cây chờ.

Thấy khách mặc áo lông qua lại rất đông, trong có một đạo nhân đưa mắt nhìn, Chu nhân hỏi Thành thì đạo sĩ cười đáp:

-Cũng có nghe tên, hình như ở cung Thượng Thanh.

Nói xong bỏ đi.

Chu nhìn theo thấy ông ta đi xa khoảng hơn một tầm tên lại dừng lại chuyện trò với một người, cũng chỉ vài câu rồi đi.

Người kia dần dần tới gần thì ra là một người bạn học, thấy Chu kinh ngạc hỏi:

-Bao nhiêu năm không gặp, nghe người ta nói ông lên non học đạo mà nay còn dạo chơi ở nhân gian sao?

Chu kể lại chuyện lạ, người kia giật mình nói:

-Thế thì ta vừa gặp Thành sinh mà tưởng là ông.

Mới đi chưa bao lâu, chắc cũng không xa đâu.

Chu rất lạ lùng, nói:

-Quái thật, sao mặt mũi của mình mà nhìn thấy lại không nhận ra được thế?

Người đầy tớ cũng vừa tới, vội đuổi theo nhưng không thấy bóng dáng Thành đâu, nhìn lên chỉ thấy mịt mù xa tắp, không biết nên đi hay về.

Kế tự nghĩ không biết về đâu bèn quyết ý đuổi theo tới cùng, nhưng đường cheo leo hiểm trở không đi ngựa được bèn đưa ngựa cho đầy tớ dắt về, lần mò đi tiếp.

Thấy xa xa có đứa tiểu đồng ngồi một mình vội rảo bước tới gần hỏi đường, nói rõ duyên cớ.

Tiểu đồng tự xưng là đệ tử của Thành rồi mang giúp khăn gói dẫn Chu cùng đi, dãi gió dầm sương lặn lội rất xa, ba ngày mới tới lại không phải nơi thế gian vẫn gọi là cung Thượng Thanh.

Bấy giờ là giữa tháng mười mà hoa rừng nở đầy lối đi, không giống như đầu mùa đông.

Tiểu đồng vào báo tin khách tới, Thành lập tức ra đón, Chu mới nhận ra hình dáng của mình.

Thành cầm tay dắt vào bày tiệc trò chuyện, Chu thấy có nhiều chim chóc màu sắc lạ lùng dạn dĩ, tiếng như đàn sáo cứ tới đậu ngay chỗ ngồi mà hót, rất lấy làm lạ nhưng lòng trần còn tha thiết không có ý ở lại.

Dưới đất trải hai tấm bồ đoàn, Thành kéo cùng ngồi, đến quá canh hai thì muôn mối lo nghĩ đều lặng xuống, chợt như chớp mắt bỗng thấy mình và Thành lại đổi thân hình cho nhau, ngờ vực đưa tay sờ cằm thì thấy rậm râu như cũ.

Sáng ra Chu muốn về ngay, Thành cố giữ lại, qua ba ngày thì nói:

-Xin cứ nghỉ một lúc, sáng sớm sẽ đưa ông về.

Vừa thiu thiu thì nghe Thành gọi:

-Hành trang đã sẵn rồi.

Bèn trở dậy theo đi, thấy đường khác hẳn lối cũ.

Không bao lâu thì thấy làng quê hiện ra trước mắt, Thành ngồi đợi bên đường bảo cứ tự về.

Chu lôi kéo không được đành lủi thủi đi, về tới cổng nhà gõ không thấy thưa, đang định trèo tường vào thì cảm thấy thân nhẹ như chiếc lá, nhảy một cái đã qua khỏi, vượt mấy lớp tường thấp thì tới phòng ngủ.

Thấy bên trong đèn đuốc sáng trưng, vợ còn chưa ngủ mà đang rì rầm trò chuyện với người khác.

Chu nhấm nước bọt chọc thủng giấy dán cửa sổ nhìn vào thì ra vợ đang uống rượu với một tên đầy tớ, bộ dạng rất lả lơi.

Chu giận sôi lên toan xông vào bắt nhưng sợ có một mình không thắng nổi bèn lặng lẽ lui lại mở cửa chạy ra nói với Thành nhờ giúp sức.

Thành hăng hái đi theo thẳng tới phòng ngủ, Chu vác đá đập cửa, bên trong hoảng sợ nháo nhác.

Chu càng đập gấp nhưng cửa đóng rất chặt, Thành rút gươm đưa một nhát, cánh cửa toác ra.

Chu sấn vào, tên đầy tớ lao ra cửa chạy, bị Thành đứng ngoài vung gươm chém đứt cánh tay tới tận vai.

Chu bắt vợ tra vấn mới biết lúc mình bị giam thì nàng đã tư thông với tên đầy tớ, bèn mượn gươm chặt đầu vợ, khoét ruột treo lên cành cây trước sân rồi theo Thành trở ra.

Đang tìm đường về núi chợt giật mình tỉnh dậy thì thấy vẫn còn nằm trên giường, hoảng sợ nói:

-Mộng mị bậy bạ làm rợn cả người.

Thành cười nói:

-Mơ thì ông cho là thật, thật thì lại cho là mơ.

Chu ngạc nhiên hỏi, Thành đưa gươm ra cho xem thì vết máu vẫn còn, Chu sợ phát khiếp nhưng thầm ngờ là Thành dùng ảo thuật lừa dối.

Thành biết ý bèn sắp sửa hành trang đưa Chu về.

Phút chốc tới đầu làng, Thành nói:

-Đêm ấy chẳng phải là ta chống kiếm đợi ở đây sao!

Ta đã chán cuộc đời nhơ đục, xin lại đợi ông ở đây.

Nếu quá trưa mà ông không ra, ta sẽ đi.

Chu tới nhà thấy cổng ngõ tiêu điều như không có người ở, bèn vòng qua nhà em.

Em Chu thấy anh thì sa nước mắt kể:

-Sau khi anh đi, đang đêm cướp vào giết chị rồi khoét ruột bỏ đi, vô cùng thê thảm, đến nay quan lùng bắt chưa được.

Chu như chợt tỉnh mộng bèn kể lại sự tình thật, dặn đừng truy cứu nữa, em Chu sững sờ hồi lâu.

Chu hỏi thăm con trai mình, em gọi bà vú bế tới, Chu nói:

-Đứa nhỏ còn bọc tã lót này quan hệ tới việc nối dõi tông đường, em nên cố chăm sóc chứ anh nay muốn từ giã cõi trần rồi.

Rồi đứng lên đi ra, em trai nước mắt giàn giụa đuổi theo giữ lại, Chu chỉ cười đi thẳng không ngoái lại.

Ra tới ngoài làng gặp Thành liền cùng đi, đi xa mới quay lại dặn:

-Ở đời thì việc nhẫn nhục là vui nhất.

Em còn muốn nói thì Thành khoát tay một cái, lập tức không thấy đâu nữa, bèn ngẩn ra hồi lâu rồi khóc lóc trở về.

Em Chu là người chất phác vụng về, không biết coi sóc người nhà làm ăn nên qua vài năm nhà càng nghèo, con Chu dần lớn lên không thể đón thầy nên phải tự mình dạy cháu học.

Một hôm sáng sớm tới phòng sách, thấy trên bàn có một phong thư dán kín, ngoài đề gởi em trai.

Cầm xem thì đúng là nét chữ của anh, mở ra thì trong không chẳng có gì, chỉ thấy một cái móng tay dài khoảng hai đốt tay, lấy làm kỳ quái.

Bèn đặt cái móng lên nghiên mực rồi bước ra hỏi người nhà thư từ đâu tới nhưng không ai biết, quay vào nhìn thì cái nghiên đá đã biến thành vàng lóng lánh, vô cùng ngạc nhiên, đem thử lên đồng sắt đều như thế.

Từ đó giàu to, đem ngàn vàng cho con Thành, vì thế người ta đồn rằng hai nhà này có thuật điểm kim.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 12+13


CHƯƠNG 12: VƯƠNG THÀNH

Vật Lãn Nghi Cần Tằng Chúc Phó

Lữ Hành Hà Sự Cánh Trì Trì

Khởi Tri Nhất Điểu Thiên Kim Trị

Thiên Khiển Thành Toàn Giới Sĩ Thì

Dịch:

Cần Mẫn Đinh Ninh Đã Dặn Dò

Lữ Hành Lần Lữa Luống Thêm Lo

Ngàn Vàng Chuốc Một Con Chim Cắt

Trời Khiến Xui Nên Thực Chẳng Ngờ



Vương Thành là con nhà thế tộc cũ ở Bình Nguyên phủ thành Tế Nam tỉnh Sơn Đông, tính rất lười biếng nên sinh sống ngày càng chật vật, chỉ còn mấy gian nhà nát, vợ chồng ngủ trong ổ xơ gai, oán trách nhau thậm tệ.

Gặp lúc giữa mùa hè nóng nực, trong làng có cái vườn của họ Chu, tường vách đổ nát chỉ còn một ngôi đình, người làng nhiều kẻ tới ngủ nhờ, Vương cũng trong số đó.

Sáng ra mọi người đã đi cả, mặt trời lên cao ba con sào Vương mới dậy, dùng dằng định về thì nhặt được chiếc thoa vàng trong đám cỏ, trên có khắc hàng chữ nhỏ “Phủ Nghi Tân Chế Tạo”.

Ông nội Vương là Nghi tân Hành phủ, vật cũ trong nhà phần nhiều đều có dấu hiệu ấy, vì vậy Vương cầm chiếc thoa ngần ngừ.

Chợt có một bà già tới tìm chiếc thoa, Vương tuy rất nghèo nhưng không tham vặt bèn đưa ra trả lại.

Bà già mừng rỡ cảm tạ, nói:

-Chiếc thoa không đáng bao nhiêu nhưng đây là kỷ vật của ông nhà ta để lại.

Vương hỏi:

-Cụ nhà là ai?

Bà già đáp là Nghi tân Vương Giản Chi trước kia.

Vương giật mình nói:

-Đó là ông nội ta, sao bà gặp gỡ được?

Bà già cũng giật mình nói:

-Ngươi là cháu nội Vương Giản Chi sao?

Ta là hồ tiên, một trăm năm trước có gần gũi với ông nội ngươi, sau khi ông mất thì lão thân ở ẩn, qua ngang đây đánh rơi chiếc thoa lại vào tay ngươi, không phải là số trời sao?

Vương cũng từng nghe nói ông nội có vợ hồ nên tin lời, nhân mời tới nhà chơi, bà già bèn đi theo.

Vương gọi vợ ra chào, bà già thấy áo rách đầu bù, mặt mày xanh xao hốc hác bèn than rằng:

-Ôi, con cháu Vương Giản Chi lại nghèo khổ đến thế này ư!

Lại nhìn gian bếp hư nát không nổi lửa mà nói:

-Gia cảnh thế này lấy gì để sống?

Vợ Vương bèn kể hết nỗi khổ, nghẹn ngào rơi lệ, bà già đưa chiếc thoa cho nàng bảo đem cầm lấy tiền đong gạo, ba ngày nữa sẽ tới thăm.

Vương cố giữ lại, bà nói:

-Ngươi chỉ có một vợ mà nuôi không nổi, ta ở lại đây thì chỉ ngồi ngắm xà nhà chứ có ích gì?

Rồi đi thẳng.

Vương kể lại đầu đuôi, vợ sợ lắm nhưng Vương ca tụng ơn nghĩa của bà già, dặn phải thờ bà như mẹ, vợ vâng dạ.

Ba ngày sau quả nhiên bà già tới, đưa mấy đồng vàng bảo đong gạo và bột mì mỗi thứ một thạch, tối đến cùng vợ Vương nằm chung trên một cái giường nhỏ.

Vợ Vương lúc đầu sợ sệt nhưng xét tình ý thấy bà rất trìu mến nên cũng không ngờ vực gì nữa.

Hôm sau bà nói với Vương:

-Cháu đừng lười, nên tìm một nghề mọn mà làm chứ ngồi ăn không làm sao lâu dài được?

Vương thưa là không có vốn, bà nói:

-Lúc ông nội ngươi còn sống thì vàng lụa cứ mặc ý mà lấy, nhưng vì ta không phải là người trần, không cần tới các thứ ấy nên không lấy nhiều, chỉ để dành bốn mươi lượng vàng làm tiền phấn sáp.

Đến nay vẫn còn, cất lâu cũng chẳng làm gì, ngươi cứ đem đi mua hết vải cát rồi mang gấp vào kinh, có thể lãi chút ít.

Vương vâng lời, mua hơn năm mươi tấm mang về, bà già bảo thu xếp hành trang, tính độ đường khoảng sáu bảy ngày là tới Yên Kinh, dặn rằng:

-Phải siêng đừng lười, phải gấp đừng hoãn, chậm mất một ngày, ăn năn đã muộn.

Vương kính cẩn vâng dạ, xếp hàng vào bọc lên đường.

Dọc đường gặp mưa, áo giày ướt sũng, Vương bình sinh chưa trải sương gió nên mệt quá bèn nghỉ tạm lại quán trọ, không ngờ mưa cứ tầm tã đến tối, nước trên máng xối rót xuống như dây thừng.

Qua đêm đường càng lầy lội, thấy người đi đường bùn ngập lút cổ chân, trong lòng rất nản.

Chờ đến trưa đường mới hơi mới hơi khô ráo, nhưng mây đen lại kéo tới, lại đổ mưa lớn, phải ngủ qua đêm nữa mới đi được.

Gần tới kinh nghe đồn vải cát đang có giá, trong lòng mừng thầm nhưng vào tới kinh thành ghé lại quán trọ thì chủ trọ rất tiếc vì Vương tới chậm.

Trước đó đường giao thông với phía Nam mới mở, vải cát tới rất ít, các nhà giàu sang trong kinh lại thường mua nhiều nên giá đắt gấp ba, nhưng trước đó một ngày thì những người buôn vải cát đổ tới đông nghẹt nên giá sụt hẳn, những người tới sau đều thất vọng.

Chủ trọ nói rõ cho Vương biết, Vương u uất không vui.

Qua một ngày vải cát tới càng nhiều, giá càng sụt, Vương thấy không có lãi nên không chịu bán.

Nấn ná hơn mười ngày, tiền ăn ở tính ra đã tốn khá nhiều, càng thêm lo buồn.

Chủ trọ khuyên nên bán rẻ để tính cách khác, Vương nghe theo bán tháo hết, lỗ vốn mười lượng.

Sáng dậy sớm định ra về, mở túi ra xem thì tiền đã mất sạch, phát hoảng nói với chủ trọ, chủ trọ cũng không biết làm sao.

Có người khuyên lên kêu với quan bắt chủ trọ bồi thường, Vương than:

-Đó là số phận của ta chứ chủ trọ có lỗi gì?

Chủ trọ nghe thế rất cám ơn Vương, tặng năm lượng vàng rồi an ủi khuyên về.

Vương nghĩ không còn mặt mũi nào gặp lại bà nội, loanh quanh ra vào không biết tính sao.

Chợt thấy có bọn chọi chim thuần, mỗi lần chọi đặt cuộc tới mấy ngàn, mua một con chim thuần có khi hơn trăm quan tiền.

Vương chợt động tâm, tính lại tiền túi thì chỉ đủ buôn chim thuần, bèn bàn với chủ trọ.

Chủ trọ hết sức vun vào, lại hứa cho ăn ở không phải trả tiền.

Vương mừng bèn đi, mua một gánh chim thuần trở lại kinh thành, chủ trọ cũng mừng, chúc cho bán đắt hàng.

Đến đêm mưa to đến sáng sớm, khi trời sáng nước trên đường chảy như sông mà mưa vẫn chưa ngớt, Vương ngồi chờ tạnh mà mưa liên tiếp mấy ngày không ngớt.

Dậy nhìn thì thấy chim thuần trong lồng chết dần.

Vương sợ lắm mà không biết làm sao.

Đến hôm sau thuần chết càng nhiều, chỉ còn vài con bèn dồn chung vào một lồng, qua đêm lại ra xem thì chỉ còn một con sống.

Bèn vào nói với chủ trọ, bất giác sa lệ, chủ trọ cũng ái ngại.

Vương tự liệu hết tiền không về được chỉ muốn tìm đường chết, chủ trọ khuyên giải an ủi, kế cùng ra xem con thuần, ngắm kỹ rồi nói:

-Hình như là một con chim hay, những con kia biết đâu không phải do bị nó chọi chết?

Ông đang rảnh rỗi cứ tập luyện cho nó, nếu quả là chim hay thì mang đi đánh cuộc cũng mưu sinh được.

Vương theo lời.

Khi con chim đã thuần, chủ trọ bảo đem ra phố đánh cuộc lấy rượu thịt.

Con thuần rất khỏe, chọi lần nào cũng thắng, chủ trọ mừng rỡ đưa tiền cho Vương bảo đánh cuộc với đám con em nhà giàu, ba lần chọi ba lần thắng.

Khoảng nửa năm thì tích cóp được hai mươi lượng vàng, trong lòng cũng được an ủi, coi con thuần như tính mạng của mình.

Trước đó có thân vương nọ thích chọi chim thuần, hàng năm cứ đến tiết Thượng Nguyên lại cho những người chơi chim thuần trong dân gian đem tới vương phủ để chọi.

Chủ trọ nói với Vương:

-Nay thì có thể trở thành đại phú ngay, có điều không biết vận số của ông ra sao

Bèn nói rõ sự tình rồi dắt Vương đi, dặn:

-Nếu thua thì đành im lặng đi ra thôi, còn vạn nhất con thuần này thắng ắt vương sẽ hỏi mua, ông đừng nhận lời, nếu vương ép thì cứ nhìn vào ta, lúc nào ta gật đầu hãy bán.

Vương vâng dạ.

Tới vương phủ thì những người chọi chim đã chen vai dưới thềm, giây lát vương ngự ra điện, tả hữu truyền ai có chim thuần muốn chọi thì lên.

Lập tức có một người xách lồng lên điện, vương sai thả thuần ra, khách cũng thả.

Mới bay nhảy mổ đá qua loa, thuần của khách đã thua chạy, vương cả cười, trong giây lát đã có mấy người thua.

Chủ trọ nói:

-Đến lúc rồi!

Rồi cùng nhau lên điện.

Vương nhìn con thuần của Thành, nói:

-Tròng mắt có vằn máu giận dữ, con thuần này khỏe lắm, không thể coi thường.

Rồi sai đem con Thiết chủy ra chọi.

Mới bay nhảy đấu đá vài hiệp thì lông con thuần của vương đã rụng tơi tả, vương sai chọn con hay hơn đem ra, hai lần thay đều thua.

Vương vội sai lấy con Ngọc thuần trong cung, giây lát đem ra, thấy lông trắng như cò, thần thái mạnh mẽ khác thường, Vương Thành nao núng quỳ xuống xin thôi, nói:

-Thuần của đại vương là chim thần, sợ giết mất chim ta thì ta mất nghiệp!

Vương cười nói:

-Cứ cho chọi đi, nếu chết ta sẽ đền bù thật hậu!

Thành bèn thả thuần ra, con Ngọc thuần xông thẳng vào.

Lúc con Ngọc thuần đang sấn vào thì con thuần của Thành nằm phục xuống như con gà dữ để đợi, con Ngọc thuần mổ mạnh một cái thì nó vùng bay lên như con hạc đánh lại, tiến lui lên xuống cầm cự một lúc thì con Ngọc thuần đuối dần mà con thuần của Vương càng hăng máu đánh ráo riết, không bao lâu bộ lông tuyết của Ngọc thuần rụng tơi tả, cụp cánh chạy trốn.

Cả ngàn người đúng xem ai cũng khen ngợi.

Vương bảo bắt con thuần của Thành, đích thân xem xét từ đầu mỏ đến móng chân một lượt rồi hỏi:

-Con thuần này ngươi có bán không?

Thành đáp:

-Tiểu nhân không có tài sản gì, phải nhờ vào nó mà sống nên không dám bán.

Vương nói:

-Ta sẽ trả giá cao cho ngươi có một gia tư bậc trung, có bằng lòng không?

Thành cúi đầu suy nghĩ hồi lâu rồi nói:

-Thật vốn không muốn bán, nhưng đại vương đã thích, vả lại nếu cho tiểu nhân được có ăn có mặc thì còn muốn gì hơn.

Vương hỏi giá, Thành xin ngàn lượng vàng, Vương cười nói:

-Gã ngốc này, nó có phải châu ngọc gì mà giá ngàn vàng.

Thành nói:

-Đại vương không cho nó là quý báu nhưng đối với thần thì ngọc bích liên thành cũng không hơn được.

Vương hỏi vì sao, Thành đáp:

-Tiểu nhân đem nó ra chợ, mỗi ngày được vài đồng đổi lấy đấu gạo, một nhà mười miệng ăn không phải lo đói rét, còn của báu nào bằng.

Vương nói:

-Ta không để ngươi thiệt, thôi trả ngươi hai trăm.

Thành lắc đầu.

Vương lại trả thêm một trăm, Thành nhìn chủ trọ không thấy tỏ vẻ gì bèn nói:

-Thừa mệnh đại vương, xin bớt một trăm.

Vương nói:

-Thế thì thôi vậy, ai mà đem chín trăm lượng vàng mua một con chim thuần?

Thành cho thuần vào lồng định đi thì Vương gọi:

-Anh chọi chim lại đây, anh chọi chim lại đây.

Ta trả sáu trăm, chịu thì bán, không chịu thì thôi vậy.

Thành lại nhìn chủ trọ nhưng chủ trọ vẫn điềm nhiên.

Thành trong bụng đã thỏa mãn, chỉ sợ bỏ qua cơ hội bèn nói:

-Với cái giá ấy thì thật không được vừa ý, nhưng đã bàn việc mua bán mà không thành e lại mắc tội lớn, bất đắc dĩ xin vâng lệnh đại vương.

Vương mừng rỡ sai cân vàng đưa ngay.

Thành nhận vàng, lạy tạ đi ra.

Chủ trọ bực tức nói:

-Ta dặn thế nào mà ông hấp tấp như thế?

Nếu kèo nài thêm một chút thì có tám trăm rồi!

Thành về nhà trọ đặt vàng lên bàn mời chủ trọ tự lấy.

Chủ trọ không chịu, Thành ép mãi mới đem bàn tính ra tính toán nhận tiền ăn ở.

Thành sắp xếp hành lý trở về, tới nhà kể lại những việc đã qua, lấy vàng ra chúc mừng nhau.

Bà già bảo mua ba trăm mẫu ruộng tốt, xây nhà cửa sắm đồ đạc, nghiễm nhiên là nhà thế gia.

Bà già dậy sớm đôn đốc Thành coi việc cày bừa, vợ coi việc canh cửi, hơi lơ là thì quát mắng nhưng vợ chồng vẫn lễ phép không dám tỏ lời hờn oán.

Qua ba năm nhà càng giàu lên, bà già từ biệt định đi, vợ chồng cùng cố giữ, chảy cả nước mắt bà mới ở lại.

Sáng ngày vào hầu thì đã biến mất.

_____________________________________

CHƯƠNG 13: THANH PHƯỢNG

Họa Lâu Nhất Giác Nguyệt Tam Canh

Minh Chúc Quang Trung Tiếu Ngữ Nghinh

Nhàn Độc Nhất Thiên Thanh Phượng Truyện

Phong Lưu Diễm Phúc Tiện Cuồng Sinh

Dịch:

Chênh Chênh Bóng Nguyệt Rọi Lầu Cao

Đuốc Sáng Cười Vui Nhộn Đón Chào

Thanh Phương Một Thiên Xem Rõ Truyện

Cuồng Sinh Diễm Phúc Biết Đường Nào



Họ Cảnh ở Thái Nguyên tỉnh thành Sơn Tây là nhà đại gia cũ, nhà cửa rộng rãi.

Về sau sa sút, lầu viện san sát bỏ hoang đến quá nửa, vì vậy sinh ra nhiều điều quái dị.

Cửa vào sảnh đường cứ tự mở tự đóng, người nhà lắm khi nửa đêm lại hoảng sợ kêu la.

Cảnh lo lắng dời qua ở nơi khác, chỉ để lại một người đầy tớ già coi giữ, vì thế nhà cửa càng thêm hoang tàn, có người còn nghe thấy cả tiếng nói cười đàn hát ở trong.

Cảnh có người cháu ruột tên Khứ Bệnh, tính ngông nghênh không chịu bị câu thúc, dặn người đầy tớ già hễ nghe thấy chuyện gì thì báo cho mình biết ngay.

Một đêm ông ta thấy trên lầu có ánh đèn lúc sáng lúc tắt vội tới báo, sinh nghe thế muốn vào xem chuyện lạ, ai cản cũng không được.

Sinh vốn biết rõ cửa ngõ trong nhà bèn rẽ cỏ lần đường, vòng vèo đi vào.

Lên tới trên lầu vẫn chẳng thấy gì lạ, băng qua lầu đi vào tiếp thì nghe có tiếng nói xì xào nói chuyện.

Lén nhìn vào thấy hai ngọn đuốc lớn thắp song song sáng trưng như ban ngày, có một ông già mặc áo nhà nho ngồi trên ghế chủ nhân, một bà già ngồi đối diện, đều khoảng hơn bốn mươi tuổi.

Ghế dưới là một thiếu niên khoảng hai mươi tuổi, bên phải là một cô gái tuổi mới cập kê, trên bàn đầy rượu thịt, đang vui vẻ chuyện trò.

Sinh đột ngột bước vào, cười kêu lên rằng:

-Có một người khách không mời mà tới này!

Cả bọn hoảng hốt chạy trốn, riêng ông già bước ra quát hỏi là ai mà dám xông vào khuê phòng nhà người ta?

Sinh đáp:

-Đây là khuê phòng nhà ta, ông đã chiếm cứ còn đem rượu ngon uống riêng với nhau, không mời qua chủ nhà một câu thì cũng quá keo kiệt đấy.”

Ông già ngắm kỹ sinh một lượt rồi nói:

-Không phải chủ nhân mà.

Sinh nói:

-Ta là học trò ngông tên Cảnh Khứ Bệnh, cháu ruột chủ nhân đây.

Ông già vội kính cẩn đáp:

-Lâu nay vẫn ngưỡng mộ danh tiếng Thái Sơn Bắc Đẩu!

Bèn chắp tay mời sinh vào, gọi người nhà bày mâm mới, sinh ngăn lại, ông già bèn rót rưựu mời khách.

Sinh nói:

-Chúng ta là người quen, đâu cần tránh mặt khách, xin mời cả nhà ra cùng uống với nhau.

Ông già gọi:

-Hiếu Nhi!

Giây lát thiếu niên bước vào, ông già nói:

-Đây là thằng con ta.

Thiếu niên vái chào rồi ngồi xuống.

Hỏi thăm về gia thế, ông già tự xưng họ Hồ tên Nghĩa Quân.

Sinh vốn tính hào phóng, chuyện trò rất say sưa, Hiếu Nhi cũng là người không câu nệ, nói chuyện một hồi đã thấy ưa thích nhau.

Sinh hai mươi mốt tuổi, hơn Hiếu Nhi hai tuổi, nên gọi y là em.

Ông già nói:

-Nghe nói ông tổ ông ngày xưa có soạn ngoại truyện về họ Đồ Sơn, ông có biết không?

Đáp:

-Có biết!

Ông già nói:

-Bọn ta là dòng dõi họ Đồ Sơn đây.

Từ đời Đường trở về sau, gia phả còn nhớ được, nhưng từ đời Ngũ đại về trước thì không được truyền lại.

Xin công tử chỉ giáo cho.

Sinh kể qua công trạng của cô gái họ Đồ Sơn giúp vua Vũ thuở xưa, thêm thắt nhiều lời, tường thuật trôi chảy.

Ông già cả mừng nói với con trai:

-Hôm nay may mắn được nghe những điều chưa từng nghe bao giờ.

Công tử đây cũng chẳng phải người lạ, con vào mời mẹ và Thanh Phượng ra cùng nghe, cũng là để biết công đức tổ tiên.

Hiếu Nhi vào trong một lúc thì bà già và cô gái bước ra.

Sinh nhìn kỹ thấy cô gái vóc dáng mảnh mai yêu kiều, đôi mắt sóng thu lóng lánh, trên đời không ai đẹp bằng.

Ông già chỉ bà già nói:

-Đây là vợ ta!

Lại chỉ cô gái nói:

-Đây là Thanh Phượng, cháu gọi ta bằng chú, cũng hơi sáng dạ, nghe qua chuyện gì đều nhớ không quên, nên gọi ra cho nghe cùng.

Sinh nói chuyện xong bèn uống rượu, nhìn cô gái đăm đăm không rời mắt.

Cô gái biết ý cúi đầu, Sinh ngầm đạp lên giày nàng, nàng vội rút chân về nhưng không hề có nét giận dữ.

Bấy giờ sinh thần hồn bay bổng, không tự chủ được nữa, vỗ bàn nói:

-Được người vợ thế này, có đổi cho làm vua cũng không thèm!

Bà già thấy sinh đã hơi say lại thêm ngông, bèn cùng cô gái đứng dậy bước vào trong.

Sinh mất hứng bèn chào ông già ra về, nhưng vẫn vấn vương không sao quên được Thanh Phượng, đến đêm lại tới thì còn ngửi thấy mùi hương thơm phức mà đợi suốt đêm vẫn yên ắng.

Về bàn với vợ dời nhà qua ở đó, mong có ngày gặp lại nhưng vợ không nghe.

Sinh bèn dọn qua một mình, ở dưới lầu đọc sách.

Đêm đang ngồi ở bàn thì một con ma xõa tóc bước vào, mặt đen như sơn trợn mắt nhìn, sinh cười nhúng ngón tay vào nghiên mực tự bôi lên mặt trố mắt nhìn lại, con ma xấu hổ bỏ đi.

Đêm hôm sau, lúc khuya vừa tắt đèn định đi nằm thì nghe sau lầu có tiếng mở then rồi có tiếng kẹt cửa, sinh vội trở dậy xem thì thấy cánh cửa hé mở.

Lát sau nghe có tiếng giày bước khe khẽ, có ánh đèn trong phòng chiếu ra, nhìn qua thì là Thanh Phượng.

Bất chợt thấy sinh, nàng hoảng hốt quay vào đóng ngay cửa sổ lại.

Sinh quỳ mọp xuống năn nỉ:

-Tiểu sinh không nề nguy hiểm thật chỉ vì nàng.

May gặp lúc không có ai, xin được cầm tay cười một tiếng thì có chết cũng không hối hận.

Cô gái từ trong nói ra:

-Thâm tình khăng khít sao thiếp không biết, nhưng chú giáo huấn rất nghiêm nên không dám vâng mệnh.

Sinh cố van nài, nói:

-Cũng chẳng dám mong được thân cận, chỉ xin cho thấy nhan sắc một lần cũng đủ.

Cô gái như xiêu lòng bèn mở cửa bước ra nắm cánh tay sinh kéo dậy.

Sinh mừng quýnh, đưa nhau xuống dưới lầu, ôm ghì lấy đỡ ngồi lên gối.

Nàng nói:

-Cũng may có chút túc duyên nhưng qua đêm nay thì dù có nhớ nhau cũng vô ích.

Sinh hỏi vì sao, nàng đáp:

-Chú thiếp sợ chàng ngông nên giả làm quỷ dữ để dọa mà chàng không sợ, hôm nay tính dọn đi nơi khác.

Cả nhà đã mang đồ dùng tới nơi ở mới, chỉ còn thiếp ở lại coi giữ, sáng mai sẽ đi.

Dứt lời muốn đi, nói sợ chú về.

Sinh cố giữ lại, muốn cùng giao hoan.

Đang níu kéo nài nỉ thì ông già sấn vào.

Cô gái vừa thẹn vừa sợ không biết làm sao, chỉ cúi đầu đứng tựa thành giường mân mê dải áo không nói gì.

Ông già giận dữ nói:

-Con tiện tỳ làm nhơ nhuốc danh giá nhà ta!

Không đi ngay thì roi quất vào lưng bây giờ!

Cô gái cúi đầu bước mau đi, ông già cũng bỏ ra.

Sinh theo sau nghe tiếng chửi mắng không ngớt rồi có tiếng Thanh Phượng khóc rưng rức, lòng đau như cắt liền nói lớn:

-Tội lỗi là do tiểu sinh, chứ Thanh Phượng dính líu gì vào đó?

Cứ tha cho Phượng, bao nhiêu gươm đao rìu búa tiểu sinh xin chịu cả.

Một lúc lâu thấy yên ắng, sinh bèn đi ngủ.

Từ đó trong nhà không còn nghe thấy tăm hơi gì nữa.

Chú sinh được tin lấy làm lạ, vui lòng bán rẻ khu nhà cho, sinh mừng rỡ đem cả gia quyến dọn sang, rất vừa ý nhà mới nhưng vẫn chưa lúc nào quên được Thanh Phượng.

Gặp tiết Thanh Minh sinh đi tảo mộ trở về, thấy hai con chồn con bị chó đuổi riết, một con nhảy vào bụi rậm trốn mất còn một con thì cuống quýt trên đường, nhìn thấy sinh thì sán lại kêu thương, cụp tai cúi đầu như cầu cứu.

Sinh thương xót mở vạt áo ra bọc vào đem về, tới nhà đóng cửa đặt lên giường thì ra là Thanh Phượng.

Sinh mừng rỡ thăm hỏi, nàng đáp:

-Vừa rồi đang cùng đứa tỳ nữ đùa giỡn thì gặp phải nạn lớn, nếu không có chàng chắc đã chôn thây trong bụng chó rồi.

Mong chàng không vì khác loài mà ghét bỏ.

Sinh nói:

-Ngày đêm tưởng nhớ canh cánh bên lòng, gặp được nàng như được của báu, sao lại nói là ghét bỏ.

Cô gái nói:

-Đây cũng là số trời, nếu không gặp chuyện nguy nan thì làm sao được theo nhau?

Nhưng cũng may là đứa tỳ nữ ắt cho là thiếp đã chết, có thể cùng kết nghĩa lâu dài.

Sinh mừng, dọn một phòng riêng cho nàng ở.

Được hơn hai năm, một đêm sinh đang đọc sách chợt Hiếu Nhi bước vào.

Sinh ngừng đọc ngạc nhiên hỏi từ đâu tới.

Hiếu Nhi quỳ rạp xuống đất buồn thảm nói:

-Cha ta gặp nạn bất ngờ, ngoài ông không ai cứu nổi, định tự tới cầu khẩn nhưng sợ ông không chịu nên cho ta đi thay.

Sinh hỏi là việc gì, Hiếu Nhi đáp:

-Công tử có quen Tam lang họ Mạc không?

Sinh nói:

-Đó là bạn đồng niên với ta.

Hiếu Nhi nói:

-Ngày mai y sẽ đi qua đây, nếu có mang một con chồn săn được thì mong ông giữ lại cho.

Sinh đáp:

-Chuyện nhục nhã dưới lầu trước đây vẫn canh cánh không quên, việc khác thật không dám nghe tới.

Nếu muốn ta đem sức hèn ra giúp thì phi Thanh Phượng tới không xong.

Hiếu Nhi rơi lệ nói:

-Em Phượng chết ngoài đồng ba năm nay rồi.

Sinh rũ áo nói:

-Nếu thế càng hận sâu hơn thôi.

Rồi cầm sách cao giọng ngâm nga, không nhìn tới nữa.

Hiếu Nhi đứng dậy khóc lạc cả giọng, ôm mặt đi mất.

Sinh tới chỗ Thanh Phượng ở kể cho nàng nghe, nàng thất sắc hỏi:

-Thế có cứu không?

Sinh đáp:

-Cứu thì cứu rồi, nhưng vừa rồi không nhận lời là để trả đũa chuyện ngang ngược ngày trước đã.

Cô gái mới mừng nói:

-Thiếp mồ côi từ nhỏ, nhờ chú nuôi nấng mới trưởng thành.

Ngày ấy tuy ông đắc tội với chàng nhưng cũng là phép nhà phải thế.

Sinh nói:

-Phải rồi!

Nhưng cũng làm người ta không khỏi ấm ức, nếu nàng chết thật thì nhất định không cứu đâu.

Nàng cười đáp:

-Nhẫn tâm thật!

Hôm sau quả nhiên Tam lang họ Mạc tới, yên ngựa khảm vàng, túi cung da cọp, tôi tớ theo hầu rất oai vệ.

Sinh ra cửa đón thấy săn được rất nhiều cầm thú, trong có một con chồn đen, máu ướt đẫm cả lông.

Sờ xem thấy da thịt còn ấm bèn nói thác là áo cừu bị rách, hỏi xin để vá.

Mạc khảng khái cởi dây tặng cho, sinh lập tức trao cho Thanh Phượng rồi ra uống rượu với khách.

Khách về rồi cô gái ôm con chồn vào lòng, ba ngày thì sống lại, xoay trở rồi biến thành ông già.

Ngước mắt nhìn thấy Phượng, ngỡ không còn ở giữa cõi trần.

Cô gái kể lại mọi chuyện, ông bèn sụp lạy sinh, thẹn thùng tạ lỗi trước rồi vui vẻ nhìn cô gái nói:

-Ta vẫn nói là ngươi không chết, nay quả thế thật.

Cô gái nói với sinh:

-Chàng như có lòng nghĩ tới thiếp, thì xin cho mượn chỗ ngôi lầu để thiếp được báo đáp chút riêng về ơn nuôi nấng.

Sinh ưng thuận, ông già bẽn lẽn từ biệt ra đi, đến tối quả đưa cả nhà lại.

Từ đó như cha con một nhà, không còn nghi ngờ oán ghét nhau nữa.

Sinh ở chỗ phòng sách, Hiếu Nhi thỉnh thoảng tới chuyện trò.

Con trai mà vợ lớn của sinh sinh ra dần lớn lên bèn nhờ Hiếu Nhi dạy dỗ, vì ôn tồn khéo dạy học, có phong độ người thầy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 14+15


CHƯƠNG 14: HỌA BÌ

ĐỘI LỐT DA VẼ

Mịch Khan La Sát Biến Tây Thi

Chỉ Yếu Nga Mi Dạng Nhập Thời

Như Thử Nghiên Bì Như Thử Cốt

Cá Trung Sắc Tướng Phí Tham Si

Dịch:

Thoáng Nhìn La Sát Hóa Tây Thi

Chỉ Cốt Nga Mi Vẽ Hợp Thời

Tươi Đẹp Ngoài Da Thâm Độc Cốt

Trong Đây Sắc Tướng Thấy Mà Ghê



Vương sinh người Thái Nguyên tỉnh thành Sơn Tây sáng sớm ra đường gặp một nữ lang ôm bọc quần áo đi mau một mình, có vẻ rất mệt nhọc, vội vượt lên nhìn thì thấy tuổi khoảng đôi tám, dung mạo tuyệt đẹp.

Trong lòng ưa thích bèn hỏi:

-Sao còn sớm mà đã đi lẻ loi một mình thế?

Nàng đáp:

-Khách qua đường hiểu sao được nỗi lo buồn của kẻ khác, hỏi làm gì cho mệt?

Sinh hỏi:

-Nàng có điều gì lo buồn vậy?

Nếu giúp được thì ta không từ chối mà.

Cô gái buồn bã đáp:

-Cha mẹ tham tiền bán thiếp cho nhà quan, vợ lớn cả ghen sớm hôm đánh đập chửi mắng làm nhục, không chịu nổi nên phải trốn đi.

Sinh hỏi định đi đâu, nàng đáp:

-Người đi trốn thì làm sao có nơi mà định trước được?

Sinh nói:

-Tệ xá không xa, mời nàng ghé qua.

Cô gái mừng rỡ đi theo.

Sinh mang hộ bọc quần áo, đưa nàng cùng về.

Cô gái thấy nhà không có ai bèn hỏi sao không có người nhà, sinh đáp đây chỉ là phòng sách thôi, nàng nói:

-Nơi này tốt lắm.

Chàng như thương xót mà cứu giúp thiếp thì xin giữ kín đừng nói với ai.

Sinh ưng thuận, kế cùng nàng chung chạ, giấu giếm trong phòng kín qua mấy ngày cũng không ai hay.

Sinh nói hé với vợ là Trần thị, vợ ngờ là nàng hầu vợ lẽ của nhà đại gia, khuyên để cô ta đi nhưng sinh không nghe.

Ngẫu nhiên đi ngang chợ, gặp một đạo sĩ nhìn sinh kinh ngạc hỏi gặp gì lạ rồi, sinh đáp không có gì cả.

Đạo sĩ nói:

-Người ông đầy tà khí, sao lại nói là không?

Sinh lại cố chối.

Đạo sĩ bèn bỏ đi, nói:

-Mê muội thay, trên đời vẫn có kẻ sắp chết đến nơi mà chưa tỉnh ngộ!

Sinh thấy lời nói lạ lùng cũng hơi ngờ cô gái, nhưng lại nghĩ rõ ràng là một mỹ nữ sao đến nỗi là yêu quái được nên cho rằng đạo sĩ mượn tiếng trừ tà để kiếm ăn.

Lát sau về tới nhà học, thấy bên trong đóng chặt không vào được lấy làm ngờ vực, bèn trèo qua chỗ tường lở vào thì cửa phòng cũng đóng.

Sinh rón rén tới trước cửa sổ nhìn vào, thấy một con quỷ hung ác mặt xanh lè, răng chơm chởm như lưỡi cưa đang trải một tấm da người ra giường, lấy bút màu tô lên.

Tô xong ném bút nhấc tấm da như tấm áo khoác lên người, liền biến thành cô gái.

Sinh thấy thế cả sợ, bò xuống lẻn ra, vội vàng đi tìm đạo sĩ thì không biết đã đi đâu, tìm kiếm khắp nơi mới gặp ngoài đồng, quỳ xuống xin cứu mạng.

Đạo sĩ nói:

-Xin sẽ đuổi đi giúp ông.

Con quỷ ấy cũng khốn khổ mới tìm được người thay, ta cũng không nỡ hại mạng nó.

Liền lấy chiếc phất trần đưa sinh, dặn treo ở cửa phòng ngủ rồi từ biệt, hẹn gặp lại ở miếu Thanh Đế.

Sinh về không dám tới nhà học bèn vào phòng vợ ngủ, treo phất trần lên cửa.

Khoảng canh một nghe ngoài cửa có tiếng lạch cạch, không dám nhìn bèn bảo vợ ra nhìn xem.

Chỉ thấy cô gái tới, thấy chiếc phất trần thì không dám bước tới nữa, đứng nghiến răng hồi lâu rồi bỏ đi.

Giây lát lại quay lại mắng:

-Đạo sĩ chỉ dọa ta!

Chẳng lẽ miếng ăn đã đến miệng lại nhả ra à?

Rồi chụp chiếc phất trần bẻ nát, phá cửa sấn vào, lên thẳng giường sinh nằm xé bụng móc lấy quả tim bỏ đi.

Vợ sinh la lên, tỳ nữ vào soi đèn thì sinh đã chết, khoang bụng máu me bê bết, Trần thị sợ khóc không thành tiếng.

Hôm sau sai em chồng là Nhị Lang chạy tới kể với đạo sĩ, đạo sĩ tức giận nói:

-Ta đã thương tình mà con quỷ này lại dám làm thế.

Lập tức theo em sinh tới thì cô gái đã biến mất, bèn ngẩng đầu nhìn quanh rồi nói:

-May là nó trốn chưa xa.

Lại hỏi dãy nhà phía nam là nhà ai, Nhị Lang đáp:

-Đó là nhà tiểu sinh.

Đạo sĩ nói:

-Nó đang ở nhà ông.

Nhị Lang ngạc nhiên nói là chưa hề có.

Đạo sĩ hỏi:

-Vậy có ai không quen tới chưa?

Nhị Lang đáp:

-Ta tới miếu Thanh Đế nên không biết, để về hỏi lại.

Rồi đi một lúc thì quay lại nói:

-Quả là có.

Sáng nay có một bà già tới xin làm thuê, vợ ta giữ lại, hiện còn ở đó.

Đạo sĩ nói:

-Chính nó đấy!

Liền cùng đi qua, cầm kiếm gỗ đứng giữa sân gọi:

-Yêu nghiệt ra đền phất trần cho ta!

Bà già trong nhà hốt hoảng tái mặt, ra cửa toan chạy.

Đạo sĩ đuổi theo chém ngã lăn ra, tấm da người tuột xuống, bà ta hóa thành con quỷ nằm kêu rống như heo.

Đạo sĩ lấy kiếm gỗ chặt đầu, thân nó biến thành đám khói dày xoáy tròn trên mặt đất.

Đạo sĩ lấy ra một cái hồ lô mở nút đặt vào giữa đám khói, nghe kêu vu vu như huýt sáo, trong chớp mắt đám khói mất hết, đạo sĩ nút hồ lô lại bỏ vào túi.

Cùng nhìn lại tấm da người thấy đủ cả mày mắt tay chân, đạo sĩ cuốn lại, tiếng kêu như cuốn trục tranh, cũng bỏ vào túi rồi từ biệt toan đi.

Trần thị đón lại lạy lục trước cổng, khóc lóc xin cứu chồng sống lại, đạo sĩ từ tạ là không làm được.

Trần thị càng đau xót, quỳ rạp không đứng dậy, đạo sĩ ngẫm nghĩ rồi nói:

-Phép thuật của ta kém cỏi, thật không làm người chết sống lại được.

Ta chỉ cho một người may ra có thể làm được, tới cầu chắc có kết quả.

Hỏi là ai, đạo sĩ đáp:

-Trong chợ có một người điên hay nằm trên đống phân, thử tới khẩn cầu xem.

Nếu y buông tuồng làm nhục phu nhân, xin phu nhân cũng đừng tức giận.

Nhị Lang cũng biết người ấy bèn từ biệt đạo sĩ, cùng chị dâu đi tìm.

Thấy người ăn mày đang ngu ngơ ca hát trên đường, nước mũi lòng thòng, vô cùng bẩn thỉu.

Trần thị lê gối tới trước mặt, y cười nói:

-Người đẹp yêu ta à?

Trần thị kể mọi chuyện xong y lại cười lớn nói:

-Ai cũng là chồng được mà, cứu sống lại làm gì?

Trần thị cố kêu van, y nói:

-Lạ thật, ai đâu chết mà nhờ ta cứu sống, ta là Diêm Vương à?

Rồi tức giận lấy gậy đánh Trần thị.

Trần thị cắn răng chịu đau, người trong chợ dần xúm lại xem đông nghẹt.

Người ăn mày khạc một vốc đờm vào tay rồi gí vào miệng Trần thị nói:

-Ăn đi!

Trần thị đỏ bừng mặt tỏ vẻ ngần ngại, nhưng nhớ lại lời đạo sĩ dặn bèn nhắm mắt nuốt vào, tới cổ họng thấy vướng như nắm bông, nghèn nghẹn trôi xuống rồi dừng lại ở ức.

Người ăn mày cười lớn nói:

-Người đẹp yêu ta thật!

Rồi đứng lên đi thẳng không ngoái lại.

Trần thị theo sau thấy y vào trong miếu, bước mau theo để khẩn cầu thì không biết đã đi đâu mất, tìm khắp trước sau không thấy tăm hơi đành vừa thẹn vừa giận trở về.

Đã xót chồng không may chết thảm, lại hối mình chịu nhục nuốt đờm, ôm mặt kêu khóc chỉ muốn chết ngay.

Kế chùi máu liệm xác chồng, người nhà cứ đứng xa nhìn không ai dám tới gần, Trần thị ôm thây nhặt ruột, vừa xếp vừa khóc.

Khóc đến lúc thất thanh chợt cái vật vướng trong ức trào ra, chưa kịp quay đi nó đã rơi vào trong khoang bụng xác chết.

Hoảng sợ nhìn lại thì là một quả tim người đang đập thon thót, hơi nóng bốc nghi ngút như khói, lấy làm lạ vội lấy hai tay khép bụng chồng lại, cố sức giữ chặt, hơi nới tay thì hơi nóng từ khe hở bốc ra, bèn xé lụa buộc mau lại.

Sờ vào xác chồng thấy dần dần ấm lại bèn lấy chăn đắp lên, nửa đêm mở ra xem thì thấy mũi có hơi thở.

Đến sáng thì sinh sống lại, nói vừa giật mình như nằm mơ tỉnh dậy, chỉ thấy bụng nhoi nhói đau.

Nhìn lại chỗ bị xé rách thấy đóng vảy to như đồng tiền, sau dần lành lại.

____________________________

CHƯƠNG 15: CỔ NHI

CON NGƯỜI LÁI BUÔN

Tấu Hiệu Hà Tu Sắc Lặc Phù

Cổ Nhi Thông Tuệ Thiện Khu Hồ

Cơ Tâm Mặc Vận Kỳ Mưu Xuất

Chỉ Yếu An Bài Tửu Nhất Hồ

Dịch:

Kết Quả Cần Chi Phải Chú Phù

Nhỏ Con Nhanh Trí Khéo Khu Hồ

Kiến Cơ Chợt Nghĩ Ra Mưu Lạ

Dự Bị Dành Riêng Rượu Một Vò



Ông Mỗ người đất Sở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc đi buôn xa nhà, vợ ở nhà một mình, đêm mơ thấy ngủ với người lạ, tỉnh dậy sờ thì là một người đàn ông bé nhỏ.

Thấy cung cách khác người thường biết là hồ, lát sau y xuống giường đi ra, cửa chưa mở đã biến mất.

Đến tối phải bảo bà già nấu bếp vào ngủ chung, có đứa con trai mười tuổi vẫn ngủ riêng cũng gọi vào.

Đến khuya bà già và đứa nhỏ đã ngủ thì hồ lại tới, người đàn bà ú ớ như nói mê, vú già hay được la lên, hồ mới đi.

Từ đó người đàn bà cứ ngẩn ngơ, đến tối không dám tắt đèn, dặn con đừng ngủ say.

Đến khuya, đứa nhỏ và bà già dựa vào tường ngủ gật một lúc, tỉnh dậy thì người đàn bà biến mất, ngỡ là đi tiểu nhưng chờ lâu không thấy vào mới sinh nghi.

Bà già sợ không dám đi tìm, đứa nhỏ cầm đèn đi soi khắp nơi, tới phòng khác thì thấy mẹ trần truồng nằm trong, tới gần đỡ lên cũng không biết xấu hổ.

Từ đó người đàn bà hóa điên, ban ngày ca khóc chửi mắng đủ kiểu, đêm đến không muốn ở chung với ai mà ngủ riêng một phòng, bảo đứa nhỏ và bà già qua ngủ chỗ khác.

Đứa nhỏ mỗi khi nghe thấy tiếng mẹ cười nói thì dậy châm lửa soi, mẹ tức giận mắng cũng mặc kệ, mọi người đều khen là gan dạ.

Nhưng nó lại nghịch ngợm quá quắt, hàng ngày cứ bắt chước thợ nề lấy gạch đá xếp lên cửa sổ, cản lại thì nó không nghe, vứt gạch đá đi thì nó lăn ra đất kêu khóc nên không ai dám chọc ghẹo.

Qua mấy hôm, hai cửa sổ đều bị lấp kín không còn chút ánh sáng nào lọt vào được, kế nó lại lấy bùn trét kín khe vách bị hở, suốt ngày quần quật không biết mệt.

Trét xong lại vớ dao làm bếp mài xoèn xoẹt, ai cũng ghét là bướng bỉnh, không buồn đếm xỉa.

Đến nửa đêm đứa nhỏ giấu dao vào bụng, chụp vỏ quả bầu lên ngọn đèn, đợi mẹ nói mê liền vùng dậy mở ra, đứng chặn ngoài cửa phòng kêu ầm lên.

Chờ hồi lâu không thấy gì lạ, nó bèn bước ra xa cửa phòng giả nói to là mót tiểu.

Chợt có con vật như con mèo từ khe cửa vọt ra, nó chém vội chỉ đứt được khúc đuôi dài khoảng hai tấc, máu chảy ròng ròng.

Lúc nó vừa dậy khêu đèn thì mẹ đã mắng chửi, đứa nhỏ cũng làm như không nghe, chém không trúng hồ bực bội đi ngủ lại, tự nghĩ tuy không chém chết được nhưng may ra thì hồ không tới nữa.

Đến sáng ra nhìn thấy vết máu qua tường mà đi, lần theo thấy vào vườn nhà họ Hà, đến đêm quả không thấy gì nữa.

Đứa nhỏ mừng thầm nhưng mẹ lại ngủ mê mệt như chết.

Không bao lâu người lái buôn về, tới cạnh giường thăm hỏi nhưng vợ chửi mắng coi như kẻ thù.

Đứa nhỏ kể chuyện lại, người cha sợ hãi mời thầy cắt thuốc chữa, vợ hắt thuốc chửi rủa, phải ngầm đổ thuốc vào cháo cho uống, mấy ngày mới hơi đỡ, cha con đều mừng.

Một đêm tỉnh giấc thấy người đàn bà đã biến mất, hai cha con qua phòng khác tìm thì bắt gặp.

Từ đó lại điên không muốn ngủ cùng phòng với chồng, cứ gần tối lại chạy qua phòng khác, kéo lại thì càng chửi mắng thậm tệ.

Chồng không còn cách nào phải đóng chặt cửa tất cả các phòng khác, nhưng người đàn bà tới thì cửa cứ tự mở.

Chồng lo lắng, cầu cúng đủ cách vẫn không hiệu nghiệm.

Đứa nhỏ chiều tới lén tới núp trong bụi cỏ rậm ở vườn nhà họ Hà để dò xét chỗ hồ ở.

Trăng vừa lên chợt nghe tiếng người nói, lén vạch cỏ nhìn ra thấy hai người uống rượu, có một người đầy tớ râu dài bưng bầu rượu, mặc áo màu xanh sẫm, tiếng nói rất nhỏ, không nghe được gì.

Lát sau nghe một người nói:

-Ngày mai cứ đem một vò rượu trắng tới đây.

Giây lát cùng ra đi, chỉ còn người râu dài ở lại, cởi áo nằm trên tảng đá trong đình, nhìn kỹ thấy tay chân đều như người, chỉ có cái đuôi thò ra phía sau.

Đứa nhỏ muốn về nhưng sợ hồ biết bèn núp suốt đêm, trời chưa sáng lại nghe thấy hai người lục tục trở lại, thì thào đi vào bụi tre rậm.

Đứa nhỏ trở về, cha hỏi đi đâu nó đáp là ngủ ở nhà bác.

Gặp hôm theo cha vào chợ, thấy hàng mũ có treo cái đuôi chồn liền xin cha mua.

Cha không nghe, nó cứ kéo áo vòi vĩnh, cha không nỡ phật ý bèn mua cho.

Cha buôn bán trong cửa hàng, đứa con nô đùa bên cạnh, nhân lúc cha quay đi bèn lấy cắp tiền đi mua rượu trắng, gửi lại ở quán.

Có người cậu ở trong thành vốn làm nghề săn bắn, đứa nhỏ chạy tới nhà cậu thì cậu đi vắng, mợ hỏi thăm mẹ, nó đáp:

-Mấy hôm nay khỏe hơn, nhưng vì chuột cắn phá quần áo làm mẹ giận kêu khóc không thôi nên sai cháu xin ít thuốc chuột.

Mợ mở hòm lấy ra khoảng một đồng cân gói lại đưa cho, đứa nhỏ cho là ít.

Mợ ra nấu mì cho cháu ăn, nó nhân lúc trong phòng không có ai liền mở gói thuốc trộm lấy một vốc giấu vào bọc, kế ra nói với mợ đừng nhóm bếp nữa vì cha đang chờ ở chợ, nó không kịp ăn, rồi đi luôn.

Nó lén bỏ thuốc độc vào rượu rồi chơi rong trong chợ, gần tối mới về.

Cha hỏi đi đâu, nó nói thác là ở nhà cậu, từ đó hàng ngày đứa nhỏ cứ đi chơi trong chợ.

Một hôm thấy người râu dài cũng chen trong đám đông, đứa nhỏ nhìn kỹ liền theo sát bên, lân la bắt chuyện hỏi thăm quê quán, y đáp ở thôn Bắc rồì cũng hỏi lại, đứa nhỏ bịa đặt đáp là trong hang núi.

Người râu dài tỏ vẻ lạ lùng, nó cười nói:

-Nhà ta đời đời ở hang núi, ông thì không sao?

Người kia càng kinh ngạc hỏi tên họ, đứa nhỏ đáp:

Ta là con họ Hồ, hình như đã gặp ông ở đâu rồi, thấy ông đi theo hai chàng trẻ tuổi, ông quên rồi à?

Người kia nhìn kỹ nó nửa tin nửa ngờ, nó bèn khẽ vạch quần, hơi thò cái đuôi giả ra, nói:

-Bọn ta trà trộn giữa loài người, chỉ cái này là vẫn còn, thật đáng bực.

Người kia hỏi ra chợ làm gì, nó đáp:

-Cha ta sai đi mua rượu.

Y cũng nói là đi mua rượu.

Đứa nhỏ hỏi mua chưa, y đáp:

-Bọn ta phần lớn đều nghèo nên hay đánh cắp hơn.

Đứa nhỏ nói:

-Việc ấy cũng khổ, luôn luôn phải lo sợ.

Người kia nói:

-Chủ nhân ra lệnh, không thể không làm.

Đứa nhỏ hỏi chủ là ai, y đáp:

-Là hai anh em mà hôm trước ngươi gặp đấy.

Một người dan díu với vợ họ Vương ngoài cửa Bắc, một người ngủ ở nhà ông Mỗ ở thôn Đông, gặp thằng con ông ta dữ quá nên bị chém đứt đuôi mười ngày mới lành, nay lại tới đó rồi.

Nói xong định từ biệt, nói:

-Đừng làm hỏng việc của ta.

Đứa nhỏ nói:

-Đánh cắp khó hơn mua nhiều, ta đã mua trước còn gởi trong quán, xin tặng cho ông.

Trong túi ta còn tiền, không lo gì cả.

Người kia thẹn vì không có gì báo đáp, đứa nhỏ nói:

-Chúng ta vốn cùng loài, tiếc gì bấy nhiêu đó, lúc nào rảnh con phải uống với ông một bữa thật say kia.

Liền cùng tới quán lấy rượu đưa cho y rồi về.

Đến đêm thấy mẹ quả ngủ yên không chạy đi nữa, nó biết có chuyện lạ bèn nói với cha cùng tới xem thì thấy có hai con chồn chết trong đình, một con chết trong đám cỏ, máu còn ròng ròng trên miệng, bình rượu cũng có đó, cầm lên lắc thử vẫn chưa hết.

Cha kinh ngạc hỏi sao không nói trước, nó đáp:

-Giống này rất khôn lanh, hơi lộ ra là nó biết ngay.

Cha mừng nói:

-Con ta quả là 'Trần Bình' đánh hồ đấy!

Hai cha con bèn mang xác chồn về, thấy một con bị cụt đuôi, vết dao còn rõ.

Từ đó mới yên nhưng người đàn bà ngày càng gầy rạc, tỉnh táo dần nhưng ho càng nặng, cứ khạc ra hàng đấu đờm, kế chết.

Vợ họ Vương ngoài cửa Bắc trước vẫn bị hồ ám, lúc ấy tới hỏi thì hồ đã dứt mà bệnh cũng khỏi.

Cha vì vậy cho rằng đứa nhỏ là đứa trẻ lạ liền cho học cưỡi ngựa bắn cung, sau làm quan tới chức Tổng nhưng.

__

Trần Bình đánh hồ: Trần Bình là người thời Hán Sở tranh hùng, theo giúp Hán Cao tổ Lưu Bang đánh dẹp, từng sáu lần bày kế lạ giúp Lưu Bang, sau làm tới chức Tả Thừa tướng, được phong là Khúc Nghịch hầu.

Đây người cha có ý khen con mưu trí như Trần Bình.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 16+17


CHƯƠNG 16: ĐỔNG SINH

Thủy Niệm Vô Như Chuyển Niệm Phi

Thọ Yểu Tảo Dĩ Thị Tiên Ki

Bất Giao Ẩu Tận Tâm Đầu Huyết

Do Thuyết Tiêu Hồn Cẩm Tú Vi

Dịch:

Thoạt Nghĩ Phân Vân Sau Nghĩ Bậy

Tiên Cơ Thọ Yểu Hiện Ra Điềm

Chưa Cho Thổ Máu Trong Tim Hết

Còn Nói Tiêu Hồn Trướng Gấm Êm



Đổng sinh tự Hà Tư người phía tây phủ Thanh Châu tỉnh Sơn Đông, chiều tối ngày mùa đông trải chăn đốt lò sưởi xong, định che đèn đọc sách thì có người mời đi uống rượu.

Bèn đóng cửa đi tới chỗ bạn thấy trong tiệc có một thầy lang giỏi xem mạch Thái tố, bắt mạch cho tất cả khách khứa, cuối cùng nhìn Vương sinh Cửu Tư và Đổng nói:

-Ta đã xem cho nhiều người mà không thấy ai có mạch lạ như hai ông.

Mạch sang mà có điềm hèn, mạch thọ mà có điềm yểu, thật không phải là điều ta biết được, mà riêng ông Đổng lại càng lạ lắm.

Mọi người cùng ngạc nhiên hỏi, ông ta đáp:

-Thuật của ta chỉ tới đây là hết rồi, không dám đoán mò.

Chỉ xin hai ông cẩn thận mà thôi.

Hai người vừa nghe thì sợ lắm, kế lại cho là lời nói mơ hồ nên cũng không để ý nữa.

Nửa đêm Đổng về, thấy cửa phòng sách khép hờ rất ngờ vực, nhưng đang lúc say lại nghĩ chắc là lúc đi vội vàng nên quên khóa cửa.

Vào phòng chưa thắp đèn, thò tay vào trong chăn sờ trước xem ấm không.

Vừa thò tay vào thì thấy mềm mềm như có ai nằm, giật mình rút tay lại rồi vội thắp đèn lên, thì ra là một cô gái tuyệt đẹp, mặt tươi răng trắng không khác thần tiên.

Mừng quýnh lấy tay đùa mò xuống phần dưới thì vớ phải một nắm lông đuôi, hoảng sợ toan chạy.

Cô gái tỉnh giấc, vươn tay níu cánh tay sinh hỏi:

-Chàng đi đâu?

Đổng càng khiếp sợ run lẩy bẩy, xin người tiên thương mà tha cho.

Cô gái cười nói:

-Thấy cái gì mà cho ta là tiên?

Đổng đáp:

-Ta chẳng sợ phần đầu mà sợ phần đuôi.

Cô gái lại cười nói:

Đuôi ở đâu ra?

Chàng lầm rồi.

Rồi cầm tay Đổng kéo vào cho sờ lại, thấy da đùi mềm mại như mỡ, xương cụt nhẵn thín.

Cô gái cười nói:

-Thế nào?

Rượu say mê mẩn, không rờ thấy cái gì ở đâu mà lại vu cho người ta như thế.

Đổng vốn thích nàng đẹp, đến lúc ấy lại càng mê mẩn, lại tự trách mình lầm.

Nhưng vẫn nghi ngờ không rõ vì sao nàng tới đây, cô gái nói:

-Chàng không nhớ cô nhỏ tóc vàng nhà hàng xóm phía đông sao?

Co ngón tay tính lại thì từ lúc nhà đi đến nay đã mười năm rồi, lúc ấy thiếp chưa cài trâm mà chàng cũng còn để tóc trái đào kia.

Đổng sực nhớ ra, hỏi:

-Nàng là A Tỏa nhà họ Chu phải không?

Nàng đáp phải.

Đổng nói:

-Nàng nói ra ta mới mường tượng nhớ lại, mười năm không gặp đã thành người xinh đẹp thế này rồi.

Nhưng sao lại tới ngay đây được thế?

Cô gái đáp:

-Thiếp lấy phải thằng chồng ngu, được bốn năm năm cha mẹ chồng theo nhau qua đời, lại chẳng may chồng cũng mới mất, chỉ còn một mình không nơi nương tựa.

Nhớ lại người quen biết thuở nhỏ chỉ có chàng nên cố tìm tới.

Vào tới cổng thì trời tối, gặp lúc có người mời chàng đi uống rượu nên núp đợi chàng về.

Đợi lâu lạnh cóng nên mượn cái chăn đắp cho ấm lên thôi, xin đừng ngờ vực.

Đổng mừng rỡ cởi áo lên giường cùng ngủ, lấy làm đắc ý lắm, được hơn tháng dần gầy rộc đi, người nhà lấy làm lạ hỏi thì cứ nói là không biết.

Lâu sau mặt mũi càng hốc hác, mới sợ hãi tìm tới thầy lang chẩn mạch giỏi trước đây nhờ bắt mạch.

Thầy lang nói:

-Đây là yêu mạch, cái điềm chết yểu ngày trước nay đã nghiệm rồi, không sao chữa được đâu.

Đổng òa khóc không chịu về, thầy lang bất đắc dĩ phải châm cho ở tay, đốt ngải cứu cho ở rốn rồi đưa thuốc cho, dặn:

-Nếu có gặp ai thì phải cố gắng dứt đi.

Đổng cũng tự biết đã nguy, khi về tới nhà cô gái lại cười cợt đòi làm chuyện nọ kia, bèn xẵng giọng nói:

-Đừng lằng nhằng nữa, ta mà làm việc thì chết luôn đấy.

Rồi bỏ đi không ngoái lại.

Cô gái cả thẹn cũng tức tối nói:

-Ngươi còn muốn sống à?

Đêm đến Đổng uống thuốc rồi ngủ riêng, vừa chợp mắt đã mơ thấy cùng nàng ân ái, tỉnh dậy thì đã di tinh rồi.

Càng thêm sợ sệt bèn dời vào ngủ nhà trong, bảo vợ con thắp đèn canh gác, nhưng vẫn mơ thấy như cũ, lén nhìn tới cô gái thì đã đi đâu mất.

Được vài hôm, Đổng thổ ra hơn một đấu huyết mà chết.

Vương Cửu Tư đang trong phòng sách thì thấy một cô gái tới, thích vì nàng đẹp nên ăn nằm với nhau.

Hỏi từ đâu tới, nàng đáp:

-Thiếp là láng giềng của Hà Tư, trước đây ông ta với thiếp rất thân mật, không ngờ bị hồ mê hoặc mà chết rồi.

Yêu khí của bọn ấy rất đáng sợ, những người đọc sách nên cẩn thận đề phòng.

Vương càng mến phục, bèn ăn ở với nhau rất vui vẻ.

Được vài hôm thì mắc bệnh hôn mê, chợt nằm mơ thấy Đổng về nói:

-Kẻ đang ăn ở với ông là hồ đấy, đã giết ta rồi lại còn muốn giết hại cả bạn ta nữa.

Ta đã kiện nó ở dưới âm ty để rửa hận, trong bảy đêm tới ông nhớ thắp hương ngoài cửa phòng, đừng có quên.

Vương tỉnh dậy lấy làm lạ, nói với cô gái:

-Ta bệnh nặng quá, sợ sắp chết rồi, có người khuyên nên kiêng chuyện trong phòng.

Cô gái nói:

-Số được thọ thì gần vợ cũng sống, số không thọ thì không gần vợ cũng chết.

Rồi sán vào cười cợt khêu gợi, Vương không kìm được lại cùng nàng giao hoan, kế lại hối hận nhưng không sao dứt tình được.

Đến tối thấp hương cắm trên cửa phòng, cô gái tới nhổ ra vứt đi, đêm Vương lại nằm mơ thấy Đổng về trách sao không nghe lời dặn.

Đêm sau Vương lén dặn người nhà chờ lúc nàng ngủ rồi hãy lén thắp hương, cô gái đang trên giường chợt hoảng sợ nói:

-Lại thắp hương à?

Vương nói không biết, nàng vội trở dậy rút hương bẻ rồi dụi đi, kế trở vào hỏi:

-Ai bảo chàng làm như thế?

Vương đáp:

-Có khi là vợ ta thấy ta đau ốm nên nghe lời thầy bói làm thế để trừ tà thôi.

Cô gái thẫn thờ không vui.

Người nhà lén nhìn thấy hương tắt lại thắp nén khác, cô gái chợt than:

-Phúc trạch của ông dày thật.

Ta đã lỡ hại Hà Tư rồi tới tư thông với ông, thật là có lỗi.

Ta sắp phải cùng ông ta đối chất dưới âm ty, nếu không quên tình ân ái xin đừng làm hỏng cái xác của ta.

Nói xong thong thả bước xuống giường, ngã lăn ra đất mà chết, thắp đèn soi thì là một con chồn.

Vương còn sợ nó sống lại liền gọi người nhà lột da treo lên.

Vương bệnh nặng thêm, thấy hồ tới nói:

-Ta đã tới kiện ở pháp tòa, pháp tòa cho rằng ông Đổng thấy sắc động tâm thì chết là đáng tội, nhưng buộc tội ta mê hoặc người nên thu mất viên kim đan rồi cho sống lại, vậy xác của ta đâu?

Vương đáp:

-Người nhà không biết đã đem lột da mất rồi.

Hồ ảm đạm nói:

-Ta giết người nhiều rồi, nay chết cũng đã muộn, nhưng sao chàng lại nhẫn tâm thế?

Rồi căm hờn bỏ đi.

Vương ốm tưởng nguy, nửa năm mới khỏi.

____________________________

CHƯƠNG 17: LỤC PHÁN QUAN

PHÁN QUAN HỌ LỤC

Dịch Khước Tâm Trường Canh Diện Mục

Hồi Thiên Thủ Đoạn Tối Kham Xưng

Lăng Dương Miếu Mạo Kim Hà Tại

Thỉnh Dữ Tiên Sinh Đính Tửu Bằng

Dịch:

Đổi Luôn Tim Ruột Thay Mày Mặt

Thủ Đoạn Thay Trời Mới Thấy Đây

Miếu Mạo Lăng Dương Đâu Tá Nhỉ

Xin Mời Kết Bạn Nhập Làng Say



Chu Nhĩ Đán người Lăng Dương tỉnh An Huy tự Tiểu Minh, tính hào phóng nhưng tối dạ nên tuy chăm học vẫn không thành danh.

Một hôm văn xã hội họp uống rượu, có người đùa nói:

-Ông có tiếng là hào, nếu đang đêm dám tới đền Diêm Vương cõng vị Phán quan ở hành lang bên trái về đây thì mọi người xin mời một bữa rượu.

Nguyên ở Lăng Dương có đền thờ Diêm Vương, tượng thần đều chạm bằng gỗ, phục sức như sống, hành lang phía đông có tượng Phán quan đứng, mặt xanh râu đỏ trông rất dữ tợn.

Có khi đang đêm nghe hai bên hành lang có tiếng tra khảo, ai vào cũng rợn tóc gáy nên mọi người lấy đó thách Chu.

Chu cười đứng dậy đi thẳng, không bao lâu ngoài cửa có tiếng gọi lớn:

-Ta mời tôn sư rậm râu tới đây rồi!

Mọi người đứng cả dậy thì thấy Chu cõng tượng Phán quan vào đặt lên bàn, bưng chén mời rượu ba lần.

Mọi người nhìn thấy co rúm cả lại trên ghế, lại xin cõng đi.

Chu lại rót rượu xuống đất khấn:

-Đệ tử ngông cuồng thô suất, xin đại tôn sư bỏ qua đừng trách.

Nhà tranh không xa đây mấy, lúc nào gặp hứng xin cứ tới lấy rượu uống, mong đừng khách sáo.

Rồi cõng pho tượng đi.

Hôm sau, mọi người quả mời Chu uống rượu, đến tối Chu ngà ngà về nhà chưa hết hứng lại khêu đèn uống một mình.

Chợt có người vén rèm bước vào, nhìn ra thì là Phán quan.

Chu đứng dậy nói:

-Ôi, chắc ta sắp chết rồi, tối hôm qua ta trót xúc phạm nên hôm nay tới để trừng trị phải không?

Phán quan vuốt chòm râu rậm cười khẽ, nói:

-Không phải thế, hôm qua đội ơn ông hẹn mời, đêm nay may được thong thả xin theo lời hẹn của bậc đạt giả.

Chu mừng rỡ kéo áo mời ngồi, tự đi rửa chén khơi lò.

Phán quan nói:

-Trời ấm uống rượu lạnh cũng được.

Chu theo lời đem vò rượu đặt lên bàn rồi chạy xuống sai người nhà sửa soạn thức ăn.

Vợ nghe thế cả sợ bảo đừng ra, Chu không nghe, đứng đợi thức ăn làm xong rồi bưng ra, nâng chén mời xong mới hỏi tên họ.

Phán quan nói:

-Ta họ Lục, không có tên tự gì cả.

Bàn tới chuyện văn chương điển tích thấy ứng đáp trôi chảy.

Chu hỏi có biết văn chương kinh nghĩa không, ông ta đáp:

-Cũng có thể phân biệt được hay dở.

Việc học hành ở âm ty đại khái cũng giống trên trần thế.

Lục uống rất hào, mỗi lần nâng chén là uống liên tiếp hàng chục chén, Chu vì đã uống suốt ngày nên bất giác gục xuống bàn ngủ khò, lúc tỉnh dậy thì ngọn đèn còn leo lét mà ông khách ma đã đi.

Từ đó cứ hai ba hôm Lục lại tới chơi, ngày càng thân thiết, có khi nằm gác chân lên nhau mà ngủ.

Chu đem văn bài cho Lục xem, Lục lấy sơn sổ hết, chê là không hay.

Một đêm Chu say đi ngủ trước, Lục còn ngồi uống một mình, Chu đang ngủ say chợt thấy tạng phủ hơi đau, mở mắt nhìn thì thấy Lục ngồi trước giường mổ bụng mình lôi ruột gan lên sắp lại, ngạc nhiên hỏi:

-Vốn không có thù oán, sao lại giết nhau?

Lục cười đáp:

-Đừng sợ, ta thay cho ông quả tim thông tuệ mà thôi.

Rồi ung dung nhét ruột Chu vào khoang bụng, kéo hai mép lại, sau cùng lấy vải bó chân buộc ngang lưng Chu, xong rồi Chu nhìn tới giường không thấy dây vết máu nào, chỉ hơi ngứa ở bụng.

Thấy có một khối thịt trên bàn, hỏi thì Lục đáp:

-Đó là quả tim của ông.

Xem văn ông thấy không được hay, biết rằng tim ông có một khiếu không thông, vừa rồi ta chọn được một quả tim tốt trong ngàn muôn quả dưới âm ty để thay cho ông, còn quả này để bù vào đó.

Rồi đứng dậy khép cửa đi.

Trời sáng Chu cởi áo xem thì vết rạch đã liền da, chỉ còn như vết chỉ đỏ, từ đó học hành tấn tới, sách vở đọc qua là nhớ không quên.

Vài hôm sau đưa văn cho Lục xem, Lục nói:

-Được rồi, nhưng ông phúc mỏng không hiển đạt lớn được, chỉ đỗ thi hương thôi.

Chu hỏi bao giờ đỗ, Lục đáp:

-Năm nay ắt đỗ đầu.

Không bao lâu Chu thi khảo khóa đứng đầu, kế thi hương cũng lại đỗ đầu.

Các bạn học vốn coi thường Chu, đến lúc đọc bài thi của Chu đều nhìn nhau kinh ngạc, hỏi kỹ mới rõ chuyện lạ, bèn nhờ Chu nói trước để xin làm quen với Lục.

Lục nhận lời, mọi người chuẩn bị tiệc rượu thịnh soạn để đợi, hết canh một thì Lục tới, hàm râu đỏ lay động, mắt sáng quắc như chớp.

Mọi người khiếp đảm, răng đánh vào nhau lập cập, dần dần rút lui hết.

Chu bèn dẫn Lục về nhà cùng uống rượu, khi đã ngà ngà say Chu nói:

-Được nhờ ơn lớn rửa ruột thay tim, nay lại có việc muốn làm phiền, không biết được không.

Lục xin cho biết, Chu nói:

-Đổi được tim ruột thì trộm nghĩ mặt mũi cũng thay được.

Vợ ta thì phần thân thể không đến nỗi xấu, duy mặt mũi thì không được đẹp lắm, nếu muốn phiền đến lưỡi dao của ông thì thế nào?

Lục cười đáp:

-Được thôi!

Nhưng để ta tính.

Qua mấy hôm, nửa đêm Lục tới gọi cửa, Chu vội trở dậy mời vào, thắp đèn lên thấy có bọc một vật trong vạt áo.

Hỏi thì Lục đáp:

-Hôm trước ông dặn kể cũng khó tìm, nhưng vừa may được cái đầu mỹ nhân, xin đem tới để phụng mệnh.

Chu mở ra xem, thấy máu trên cổ còn ướt.

Lục giục vào ngay đừng để gà chó kinh động.

Chu lo ban đêm vợ đóng cửa phòng nhưng Lục vào đẩy một cái thì cánh cửa mở ra ngay.

Chu dẫn vào giường, thấy vợ đang nằm nghiêng mà ngủ, Lục đưa cái đầu cho Chu cầm rồi rút trong giày ra một lưỡi dao sáng loáng như thanh chủy thủ đặt lên cổ vợ Chu dùng sức ấn xuống như bổ dưa, cái đầu theo lưỡi dao rơi xuống cạnh gối.

Lục vội đỡ cái bọc từ tay Chu, lấy cái đầu mỹ nhân ra gắn lên cổ, ướm cho thật ngay rồi xoa miết cho liền vết, kế đặt gối đỡ vào dưới vai vợ Chu, bảo Chu đem đầu vợ chôn ở nơi sạch sẽ rồi đi.

Vợ Chu tỉnh dậy thấy cổ hơi ngứa, sờ thấy vết máu khô sợ quá sai đứa tỳ nữ múc nước rửa mặt, đứa tỳ nữ thấy mặt vợ Chu máu me bê bết cũng phát hoảng, rửa xong nước trong chậu đỏ lòm, ngẩng đầu lên thấy mặt mày khác hẳn lại càng khiếp sợ.

Vợ Chu soi gương cũng ngơ ngác không hiểu vì sao, Chu vào kể lại mọi chuyện, nhân nhìn kỹ thì thấy lông mày dài tới gần chân tóc, nụ cười tươi tắn như người trong tranh.

Nhìn tới cổ thấy còn một ngấn đỏ vòng quanh, hai phần trên dưới màu da khác hẳn nhau.

Nguyên là quan Thị ngự họ Ngô có người con gái rất xinh đẹp, có hai người hỏi xong chưa kịp cưới đều chết nên mười chín tuổi vẫn chưa có chồng.

Nhân tiết Thượng Nguyên nàng đi chơi điện Thập Vương, người đi chơi chen chúc, trong có một tên vô lại thấy nàng xinh đẹp bèn ngầm hỏi nhà cửa.

Kế nhân đêm tối bắc thang leo vào, đào ngạch vào phòng ngủ, giết một tỳ nữ nằm dưới giường rồi ép cô gái giao hoan.

Cô gái cố sức chống cự la lớn, y tức giận giết luôn.

Ngô phu nhân thoáng nghe tiếng, bảo tỳ nữ tới xem, thấy xác chết sợ mất vía.

Cả nhà đều trở dậy, đem xác nàng đặt trên sảnh, để cái đầu bên cạnh khóc lóc ầm ĩ suốt đêm.

Đến sáng mở chăn ra thì thân vẫn còn mà đầu thì biến mất, bọn tỳ nữ bị đánh đòn suốt lượt vì tội canh giữ bất cẩn để chó ăn mất cái đầu.

Thị ngự trình lên quận, quan ra nghiêm hạn tìm bắt hung thủ, qua ba tháng vẫn không tìm ra được.

Dần dần có người đem việc đổi đầu kỳ lạ ở nhà họ Chu kể cho ông Ngô nghe, Ngô ngờ vực sai người vú già tới thăm dò, bà ta vào nhà Chu nhìn thấy phu nhân hoảng sợ chạy về báo với.

Ông Ngô thấy xác con gái vẫn còn, kinh nghi không hiểu vì sao, nghĩ là Chu dùng tà thuật giết chết con gái bèn tới cật vấn.

Chu nói:

-Vợ ta nằm mơ thấy đổi đầu, thật cũng không hiểu vì sao, nếu nói là ta giết tiểu thư thì oan lắm.

Ngô không tin bèn kiện lên quan, quan bắt người nhà Chu tra vấn thì họ đều khai như lời Chu nói, quận thú không sao xét xử được.

Chu trở về hỏi kế Lục, Lục nói:

-Không khó gì, để bảo con gái y tự nói ra.

Ban đêm Ngô mơ thấy con gái về nói:

-Con bị tên Dương Đại Niên ở Tô Khê giết chứ không can gì tới Hiếu liêm họ Chu, vì ông ta thấy vợ không đẹp nên Phán quan họ Lục lấy đầu con thay vào, thế thì tuy thân con chết mà đầu vẫn sống, xin đừng thù oán họ.

Ngô tỉnh dậy kể cho phu nhân, phu nhân cũng mơ thấy như thế bèn lên thưa với quan.

Hỏi ra quả có tên Dương Đại Niên bèn bắt lên tra khảo, y liền nhận tội.

Ngô bèn tới nhà Chu xin gặp phu nhân, từ đó coi Chu như con rể rồi đem đầu vợ Chu về chôn với xác con gái.

Chu ba lần vào kinh thi hội nhưng đều phạm trường quy bị đánh rớt, từ đó công danh nguội lạnh, suốt ba mươi năm.

Một đêm Lục nói:

-Ông không còn thọ lâu nữa đâu.

Chu hỏi đến lúc nào, Lục đáp trong năm ngày nữa.

Chu hỏi có thể cứu nhau được không, Lục đáp:

-Đó là mệnh trời, ai mà thiên vị riêng tư được.

Vả lại lấy con mắt đạt nhân mà xem thì sống chết cũng như nhau, cần gì phải sống thì vui mà chết thì buồn.

Chu cho là đúng, liền cho chuẩn bị quần áo quan quách rồi ăn mặc chỉnh tề mà chết.

Hôm sau phu nhân đang khóc ở bên quan tài bỗng Chu từ ngoài đi nhanh vào, phu nhân hoảng sợ, Chu nói:

-Ta đúng là ma nhưng cũng không khác gì lúc sống, nghĩ tới nàng mẹ góa con côi nên quyến luyến thôi.

Phu nhân đau lòng chảy nước mắt ròng ròng, Chu cố gắng an ủi.

Phu nhân nói:

-Xưa có việc hoàn hồn sống lại, chàng đã linh thiêng sao không làm thế?

Chu nói:

-Số trời không thể trái được.

Phu nhân lại hỏi làm việc gì dưới âm ty, Chu đáp:

-Phán quan họ Lục tiến cử ta giữ chức đôn đốc việc án, được trao quan tước cũng chẳng có gì khổ.

Phu nhân còn muốn hỏi chuyện thì Chu nói:

-Ông Lục cùng về với ta, nàng dọn cho mâm rượu.

Rồi rảo bước đi ra.

Phu nhân theo lời dọn rượu, chỉ nghe nhà ngoài có tiếng cười nói uống rượu, ăn to nói lớn hệt như lúc sống, nửa đêm ra nhìn thì đã đi mất.

Từ đó cứ vài ba ngày Chu lại về một lần, có khi ở lại gần gũi với vợ, chỉ vẽ cho các việc trong nhà.

Con trai là Vĩ lúc ấy mới năm tuổi, Chu về là bế ẵm, năm bảy tám tuổi đêm đêm vẫn được cha dạy học cho.

Đứa con cũng thông minh, chín tuổi đã biết làm văn, mười lăm tuổi được vào học trường huyện nhưng vẫn không biết mình mồ côi cha.

Nhưng từ đó Chu về cũng thưa dần, có khi cả tháng mới về.

Một đêm về nói với phu nhân:

-Từ nay thì cùng nàng vĩnh biệt.

Phu nhân hỏi đi đâu, Chu đáp:

-Ta được Thượng đế cho làm Thái Hoa khanh, sắp phải đi xa, việc bận đường xa nên không thể về được nữa.

Hai mẹ con ôm Chu khóc lóc, Chu nói:

-Đừng thế!

Con trai đã khôn lớn, gia sản cũng đủ sống, mà có ai sau trăm tuổi không phải loan phượng chia lìa?

Kế nhìn con nói:

-Con sống đừng làm hư sự nghiệp của cha, mười năm nữa sẽ có lần gặp nhau.

Rồi ra cửa đi thẳng, từ đó không về nữa.

Về sau Vĩ hai mươi lăm tuổi thi đỗ Tiến sĩ, làm quan tới chức Hành nhân, phụng mệnh ra tế Tây Nhạc, đường đi ngang qua Hoa Âm bỗng có toán xe kiệu cờ lọng rong ruổi xông vào giữa đoàn nghi trượng.

Kinh ngạc nhìn kỹ thì người trong xe là cha, bèn xuống ngựa khóc lạy bên đường.

Cha dừng xe nói:

-Con làm quan có tiếng tốt, ta nhắm mắt được rồi!

Vĩ quỳ rạp không đứng lên, Chu giục xe đi như bay không ngoảnh lại, được mấy bước quay nhìn rồi cởi thanh bội đao sai người cầm lại cho con, từ xa nói:

-Đeo vào thì sẽ được quý hiển.

Vĩ muốn chạy theo thì thấy xe kiệu người ngựa lướt đi như gió, trong chớp mắt đã mất hút, đau xót hồi lâu.

Rút thanh đao ra xem thấy chế tác rất tinh xảo, khắc một hàng chữ:

-Đảm dục đại nhi tâm dục tiểu.

Trí dục phương nhi hạnh dục viên.

Dịch: Hành sự cần quả quyết, suy xét cần thận trọng, kiến thức cần đầy đủ, đức hạnh cần trọn vẹn.

Vĩ sau làm quan tới chức Tư mã, sinh năm con trai là Trầm, Tiềm, Vẫn, Hồn, Thâm.

Một đêm mơ thấy cha về nói:

-Thanh bội đao nên cho thằng Hồn.

Vĩ theo lời.

Hồn sau làm quan tới chức Tổng đốc, có tiếng về chính tích tốt.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 18+19


CHƯƠNG 18: ANH NINH

Niêm Hoa Vi Tiếu Dục Khuynh Thành

Tình Đáo Thâm Thì Chuyển Bất Tình

Nhất Vị Thiên Chân Hà Lạn Mạn

Chỉ Ưng Hô Tác Thái Hám Sinh

Dịch:

Cài Hoa Nhoẻn Miệng Muốn Nghiêng Thành

Tới Lúc Tình Thâm Lại Chẳng Tình

Lãn Mạn Thiên Chân Ngơ Ngác Nhỉ

Ngây Thơ Vốn Dĩ Tính Trời Sinh



Vương Tử Phục người đất La Điếm huyện Lữ tỉnh Sơn Đông mồ côi cha sớm, rất thông minh, mười bốn tuổi được vào học trường huyện.

Mẹ rất thương yêu, bình thường không cho đi chơi ra ngoài đồng ruộng.

Đã dạm hỏi Tiêu thị nhưng chưa cưới thì nàng chết sớm nên chưa thành gia thất.

Gặp tiết Thượng Nguyên có con trai ông cậu là Ngô sinh tới rủ đi chơi, vừa ra tới đầu làng thì đầy tớ nhà cậu tới gọi Ngô về, sinh thấy con gái đi chơi rất đông cũng cao hứng đi chơi một mình.

Có một cô gái dắt tỳ nữ theo, cầm một cành hoa mai, dung mạo tuyệt thế, tươi cười rạng rỡ, sinh nhìn chằm chằm quên cả việc giữ ý.

Cô gái đi vượt lên mấy bước, ngoảnh lại nói với tỳ nữ:

- Anh chàng này mắt nhìn chòng chọc cứ như giặc.

Rồi vứt cành hoa xuống đất, cười nói đi mất.

Sinh nhặt cành hoa buồn bã, thần hồn ngơ ngẩn thẫn thờ quay về.

Tới nhà cất cành hoa dưới gối, gối lên mà ngủ, không nói năng cũng không ăn uống.

Mẹ lo lắng khấn vái cầu cúng nhưng bệnh sinh càng nặng, chỉ còn da bọc xương.

Thầy thuốc thăm bệnh, cắt cho thang phát tán nhưng sinh cứ thất thần như người mê.

Mẹ dỗ dành hỏi vì sao thì lặng im không đáp, gặp lúc Ngô sinh tới bà bèn nhờ kín đáo hỏi giùm.

Ngô tới trước giường, sinh nhìn thấy thì rơi nước mắt, Ngô ngồi lên giường an ủi, lân la hỏi han.

Sinh bèn kể thật rồi nhờ lo giùm, Ngô cười nói:

- Ông thật ngây quá, chuyện đó thì có gì là khó toại nguyện chứ, để ta hỏi giúp cho.

Đi bộ trên đồng ắt không phải là con nhà thế gia, nếu chưa hứa gả cho ai thì thế nào cũng xong, còn nếu không cứ bỏ nhiều tiền ra thì muốn sao cũng được.

Chỉ cốt là ông khỏi bệnh, ta sẽ lo cả cho.

Sinh nghe thế bất giác tươi cười, Ngô ra nói với mẹ sinh tìm hỏi làng xóm của cô gái, nhưng hỏi han khắp nơi vẫn không thấy tung tích.

Mẹ lo lắm không biết tính sao, nhưng sau khi Ngô về thì sinh có vẻ tươi tỉnh, ăn uống khá hơn.

Vài hôm sau Ngô lại tới, sinh hỏi đã lo giúp tới đâu, Ngô đáp bừa:

- Đã tìm ra rồi, tưởng ai hóa ra là con cô ta, tức là hàng em con dì của ông, hiện vẫn còn chờ người mai mối.

Tuy là có họ hàng kết thông gia không tiện, nhưng cứ nói thật ra thì thế nào cũng xong.

Sinh mừng rỡ tươi rói cả mặt mày, hỏi Ngô nàng ở đâu, Ngô bịa rằng:

- Ở trong núi phía tây nam, cách đây hơn ba mươi dặm.

Sinh lại dặn dò năm lần bảy lượt, Ngô sốt sắng nhận lời rồi về.

Sinh từ đó ăn uống nhiều hơn, ngày càng khỏe lại, mò lấy cành hoa dưới gối ra xem thì hoa khô nhưng vẫn chưa rụng, cứ mân mê ngắm nghía như nhìn người đẹp.

Lấy làm lạ vì Ngô không tới, viết thư mời thì Ngô tìm cớ lần lữa không qua.

Sinh bực dọc không vui, mẹ lo con lại ngã bệnh vội bàn chuyện cưới vợ cho, nhưng cứ nói động tới là sinh lại lắc đầu không chịu, chỉ ngày ngày đợi Ngô.

Lâu ngày Ngô vẫn bặt tăm, sinh càng bực tức, chợt nghĩ ba mươi dặm đường không phải là xa, cần gì nhờ vả người khác?

Bèn giấu cành mai vào tay áo, giận dữ ra đi, người nhà không ai hay biết.

Lủi thủi đi một mình không biết đâu mà hỏi đường, chỉ nhắm hướng núi Nam đi tới.

Khoảng hơn ba mươi dặm thì thấy núi mọc ngổn ngang xanh biếc mát lạnh, vắng vẻ không một bóng người, chỉ có đường núi cheo leo.

Nhìn xuống khe núi xa xa, trong chỗ cây hoa um tùm thấp thoáng như có một thôn nhỏ.

Xuống núi vào thôn thấy nhà cửa thưa thớt, toàn là nhà tranh nhưng dáng cách rất thanh nhã.

Có một gian nhà quay về hướng bắc, trước cổng tơ liễu buông mành, trong tường đào hạnh tươi tốt chen lẫn với tre trúc, chim rừng kêu ríu rít.

Sinh cho là nơi vườn cảnh nên không dám đường đột bước vào, quay nhìn thấy trước cổng có tảng đá lớn trơn bóng sạch sẽ bèn ngồi xuống nghỉ.

Giây lát nghe trong tường có tiếng con gái gọi “Tiểu Vinh”, thanh âm nhẹ nhàng êm ái, đang lắng nghe thì có một nữ lang từ phía đông đi tới, tay cầm đóa hoa hạnh, cúi đầu cài lên tóc, vừa ngẩng đầu thấy sinh liền không cài nữa, mỉm cười cầm đóa hoa đi vào.

Nhìn kỹ lại thì đúng là người đã gặp dọc đường hôm tiết Thượng Nguyên, mừng rơn chỉ nghĩ không biết lấy cớ gì bước tới, muốn gọi cô em con dì nhưng trước nay chưa từng qua lại nên sợ lầm.

Trong cửa lại không có ai để hỏi, đành quanh quẩn đứng ngồi đến tận trưa, đăm đăm trông ngóng quên cả đói khát.

Lâu lâu lại thấy cô gái hé nửa mặt ra nhìn như lấy làm lạ sao không đi.

Bỗng có một bà già chống gậy đi ra nhìn sinh hỏi:

- Chàng trai ở đâu, nghe như tới từ giờ Thìn đến giờ chưa đi là cần gì vậy, không đói bụng sao?

Sinh vội đứng dậy vái chào, đáp:

- Định tìm thăm người họ hàng.

Bà già nghễnh ngãng nghe không rõ, sinh nói to lần nữa, bà bèn hỏi:

- Vậy quý thân thích họ gì?

Sinh không đáp được.

Bà già cười nói:

- Lạ thật, tên họ cũng không biết thì biết họ hàng nào mà hỏi?

Ta thấy chàng cũng chỉ là con mọt sách thôi.

Thôi vào trong này ăn ít cơm hẩm, nhà có chiếc giường con cũng ngả lưng được, đợi sáng mai về hỏi lại tên họ rồi trở lại tìm cũng chưa muộn.

Sinh đang lúc bụng đói muốn ăn, lại thấy sẽ được làm quen với người đẹp thì mừng quá bèn theo bà già vào.

Thấy trong cổng lối đi lát đá trắng, hai bên lối đi hoa hồng từng cánh từng cánh rụng trên thềm, quanh co đi về phía tây lại mở một cánh cửa nữa, luống đậu giàn hoa đầy trong sân.

Bà già kính cẩn dẫn khách vào nhà, tường quét vôi sáng như gương, hoa hải đường ngoài song thò cả vào phòng, đệm chiếu bàn ghế đều bóng loáng sạch sẽ.

Vừa ngồi xuống đã thấy ngoài cửa sổ thấp thoáng có người nhìn trộm, bà già gọi:

- Tiểu Vinh làm cơm mau!

Bên ngoài có tiếng tỳ nữ dạ lớn.

Ngồi yên xong bèn nói rõ tên họ dòng dõi, bà già hỏi:

- Ông ngoại chàng họ Ngô phải không?

Sinh đáp phải.

Bà già ngạc nhiên nói:

- Thế thì chàng là cháu ta, mẹ chàng là em gái ta.

Mấy năm nay ta vì nhà nghèo lại không có con trai nên bỏ bẵng việc thăm hỏi, cháu đã khôn lớn thế này mà vẫn không biết.

Sinh đáp:

- Lần này cháu tới đây là để thăm dì, mà lúc vội vàng quên mất cả họ.

Bà già nói:

- Lão thân người nhà họ Tần, không sinh nở lần nào, chỉ có một con gái cũng là vợ lẽ sinh ra.

Mẹ nó đi bước nữa, để nó lại cho ta nuôi nấng, cũng không phải đần độn nhưng ít được dạy dỗ nên cứ cười đùa chẳng biết buồn lo gì, lát nữa sẽ gọi ra chào.

Giây lát tỳ nữ dọn cơm lên, thức ăn đầy đĩa.

Bà già ngồi tiếp sinh, ăn xong tỳ nữ lại ra dọn, bà già nói:

- Gọi cô Ninh ra đây!

Tỳ nữ dạ đi vào hồi lâu nghe ngoài cửa như có tiếng cười, bà già gọi:

- Anh Ninh, anh con dì ngươi đây này!

Ngoài cửa tiếng cười khúc khích vẫn không ngừng, tỳ nữ đẩy cô gái vào, nàng còn che miệng cười không nín được.

Bà già trừng mắt nói:

- Đang có khách mà cứ khúc kha khúc khích là lối gì thế?

Nàng nín cười đứng yên.

Sinh vái chào, bà già nói:

- Đây là Vương lang con dì của ngươi.

Người nhà mà không biết nhau, có buồn cười không.

Sinh hỏi:

- Em đây bao nhiêu tuổi?

Bà già chưa hiểu, sinh bèn nhắc lại cô gái lại rũ ra cười không ngẩng lên được nữa.

Bà già nói với sinh:

- Ta vừa nói nó ít được dạy dỗ, giờ thì thấy rồi đấy.

Tuổi đã mười sáu mà cứ ngu dại như trẻ con.

Sinh nói:

- Kém cháu một tuổi.

Bà già hỏi:

- Cháu mười bảy tuổi, là sinh năm Canh Ngọ tuổi ngựa à?

Sinh gật đầu, bà lại hỏi vợ là ai, sinh đáp chưa có.

Bà già nói:

- Tài mạo như cháu, sao mười bảy tuổi rồi còn chưa cưới vợ?

Anh Ninh cũng chưa thành gia thất, kể sánh với nhau thật xứng đôi, tiếc là có chút họ hàng với nhau.

Sinh không đáp, mắt nhìn dán vào Anh Ninh không chớp, đứa tỳ nữ quay qua cô gái nói nhỏ:

- Con mắt nhìn chòng chọc như giặc vẫn chưa đổi.

Cô gái lại cười lớn, quay qua nói với nó:

- Ra xem bích đào nở chưa đi!

Rồi vụt đứng ngay dậy, lấy tay áo che miệng rón rén bước nhanh ra, khỏi cửa thì cười phá lên.

Bà già cũng đứng dậy, gọi tỳ nữ mang chăn đệm xếp đặt chỗ nghỉ cho sinh, nói:

- Cháu tới đây không phải dễ, cứ ở chơi năm ba hôm, thong thả ta sẽ tiễn về.

Nếu thấy vắng vẻ buồn chán thì sau nhà có mảnh vườn con cũng đủ tiêu khiển, cũng có sách để đọc.

Hôm sau sinh ra sau nhà quả có mảnh vườn rộng nửa mẫu, cỏ mịn như trải thảm, hoa dương đầy lối đi, có ba gian nhà tranh cây hoa phủ kín bốn bề.

Sinh đang lách trong đám cây hoa chợt nghe trên cây có tiếng khúc khích, ngẩng lên nhìn thì ra Anh Ninh đang ở trên cây, thấy sinh tới cười rộ muốn ngã.

Sinh kêu:

- Đừng thế, ngã đấy!

Cô gái vừa tụt xuống vừa cười không nhịn được, gần tới đất thì tuột tay ngã xuống mới thôi cười.

Sinh đỡ dậy, lén nắm vào cổ tay, nàng lại bật tiếng cười, dựa vào thân cây không bước đi được, hồi lâu mới thôi.

Sinh chờ nàng dứt tiếng cười bèn rút cành hoa trong tay áo ra cho xem.

Cô gái cầm lấy nói:

- Khô rồi còn giữ làm gì?

Sinh nói:

- Đây là cành hoa em bỏ lại hôm tiết Thượng Nguyên, nên mới giữ.

Nàng hỏi giữ làm gì, sinh đáp:

- Để tỏ rằng yêu nhau không quên được.

Kể từ hôm tiết Thượng Nguyên được gặp gỡ, cứ tơ tưởng đến thành bệnh, cứ nghĩ là đã chết rồi, nào ngờ lại còn được thấy mặt, xin hãy rủ lòng thương xót.

- Cô gái đáp:

- Việc đó rất nhỏ, chỗ họ hàng thì có tiếc gì.

Đợi hôm nào anh đi, các thứ hoa trong vườn sẽ gọi lão bộc bẻ một ôm lớn mang theo tiễn anh.

Sinh nói:

- Em ngây đấy à?

Nàng hỏi:

- Thế nào là ngây?

Sinh đáp:

- Ta chẳng phải yêu hoa mà là yêu người cầm hoa thôi.

Nàng nói:

- Họ hàng thân thiết thì thương yêu nhau cần gì phải nói.

Sinh nói:

- Ta nói yêu chẳng phải là tình họ hàng mà là tình vợ chồng kia!

Cô gái nói:

- Có gì khác nhau nào?

Sinh đáp:

- Đêm thì cùng chung chăn chung gối...

Cô gái cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói:

- Em không quen ngủ với người lạ.

Đang còn trò chuyện thì đứa tỳ nữ đã khẽ khàng đi tới, sinh hoảng sợ lẩn đi.

Lát sau cùng hội họp chỗ bà già, bà hỏi đi đâu, cô gái đáp nói chuyện với nhau trong vườn.

Bà già nói:

- Cơm chín lâu rồi, có chuyện gì hay mà nói lâu thế?

Nàng đáp:

- Anh muốn ngủ chung với con.

Sinh nghe chưa hết câu đã phát hoảng vội trợn mắt nhìn, nàng mỉm cười im bặt, may mà bà già không nghe rõ, còn khẽ khàng hỏi lại thì sinh vội nói lảng qua chuyện khác, nhân đó khẽ trách nàng.

Cô gái hỏi:

- Thế chuyện ấy không nên nói ra à?

Sinh đáp:

- Đó là chuyện phải giấu người khác.

Nàng nói:

- Giấu người khác chứ sao lại giấu mẹ già, vả lại ngủ chung là chuyện thường có gì phải sợ.

Sinh bực vì ngu ngơ nhưng không biết làm sao cho nàng hiểu được.

Ăn vừa xong thì người nhà dắt hai con lừa tới tìm sinh.

Trước là mẹ sinh đợi lâu không thấy con về sinh nghi, tìm kiếm khắp làng không thấy dấu vết bèn tìm tới Ngô.

Ngô nhớ lại lời mình nói trước đây liền bảo tới núi phía tây nam tìm, qua mấy thôn mới tới.

Sinh ra cửa thì vừa gặp bèn trở vào nói với bà già, lại xin đưa cô gái cùng về.

Bà già mừng rỡ nói:

- Ta vẫn có ý ấy từ lâu, nhưng vì già yếu không đi xa nổi, được cháu dẫn em nó về nhận dì thì hay lắm.

Bèn gọi Anh Ninh, Ninh cười ra gặp, bà già nói:

- Có gì vui mà cười mãi thế?

Nếu không cười thì cũng ra dáng con người rồi đấy.

Nhân trừng mắt nhìn rồi nói:

- Anh cả muốn ngươi đi cùng, vào sắp sửa hành trang đi!

Lại dọn cơm rượu thết đãi người gia nhân rồi đưa ra cổng, nói:

- Nhà dì có nhiều ruộng vườn, đủ sức nuôi người ăn không, tới đó thì đừng về, học lấy chút lễ nghĩa cho biết cách thờ phụng cha mẹ chồng, rồi sẽ nhờ dì tìm cho một tấm chồng tốt.

Hai người bèn lên đường, tới dưới núi quay nhìn còn thấy rõ bóng dáng bà già dựa cửa nhìn theo.

Tới nhà, mẹ sinh thấy có cô gái xinh đẹp ngạc nhiên hỏi là ai, sinh đáp là con bà dì.

Mẹ nói:

- Lời Ngô lang nói với con trước đây là dối đấy.

Mẹ chưa từng có chị, làm sao có cháu gọi bằng dì được?

Hỏi cô gái, nàng đáp:

- Cháu không phải là do mẹ đẻ ra.

Cha vốn họ Tần, mất lúc cháu còn trong tã nên cháu không nhớ gì.

Mẹ nói:

- Ta có một người chị lấy chồng họ Tần thật, nhưng mất đã lâu, làm sao còn sống được?

Nhân hỏi kỹ mặt mũi nốt ruồi, nhất nhất đều đúng, lại ngờ vực nói:

- Đúng rồi, nhưng chị ấy đã chết từ lâu, làm sao còn sống kia chứ?

Đang lúc suy nghĩ ngờ vực thì Ngô sinh tới, cô gái lánh vào nhà trong.

Ngô hỏi biết chuyện ngẩn ra hồi lâu rồi chợt hỏi:

- Cô gái này tên Anh Ninh phải không?

Sinh đáp phải.

Ngô than thở là chuyện kỳ lạ, hỏi vì sao biết, Ngô đáp:

- Sau khi cô Tần mất thì dượng ở góa, bị hồ ám mang bệnh mà chết.

Hồ sinh một gái tên là Anh Ninh, vẫn quấn tã đặt trên giường, người nhà đều nhìn thấy.

Dượng mất rồi, thỉnh thoảng hồ vẫn tới, sau xin bùa của Thiên sư dán trên vách mới ôm con gái bỏ đi có lẽ là đây chăng?

Người này người nọ bàn tán xôn xao, chỉ nghe trong phòng có tiếng khúc khích, đều là tiếng Anh Ninh cười.

Mẹ sinh nói:

- Con bé này cũng ngớ ngẩn quá.

Ngô xin cho gặp mặt, mẹ vào phòng thì nàng còn rũ ra cười không ngoảnh lại, mẹ giục bảo ra nàng mới cố nín cười, lại quay mặt vào vách một lúc mới ra được.

Vừa vái chào xong đã xoay mình trở vào rồi cười phá lên, đàn bà con gái trong phòng đều vui thích.

Ngô xin đi dò xét sự lạ, nếu tiện thì làm mối luôn, nhưng tìm tới đó thì không thấy xóm làng nhà cửa gì cả, chỉ có hoa rừng rơi tả tơi mà thôi.

Ngô ngờ ngợ nhớ lại nơi chôn bà cô cũng gần đó nhưng mộ cũ đã mất dấu không nhận ra được đành than thở quay về.

Mẹ sinh ngờ bà là ma, vào kể lại lời Ngô cho nghe nhưng cô gái không hề tỏ vẻ sợ sệt lại thương cho nàng không có nhà cửa cũng không hề tỏ vẻ đau xót, cứ ngơ ngẩn cười khúc khích mà thôi, mọi người đều không hiểu ý tứ ra sao.

Mẹ bảo cùng ngủ với con gái út, sáng sớm nàng đã tới vấn an.

Việc nữ công thì nàng vô cùng khéo léo nhưng hay cười, có cấm cũng không nhịn được, có điều cười rất tươi, dù cười như phát điên cũng không mất vẻ xinh đẹp, ai thấy cũng vui thích, đàn bà con gái láng giềng cứ giành nhau mời đón.

Mẹ chọn ngày tốt cho làm lễ hợp cẩn nhưng vẫn sợ là ma, rình lúc nàng đứng dưới bóng mặt trời nhìn thì thấy cũng có bóng không khác gì người thường.

Đến ngày cưới bảo nàng trang sức đẹp đẽ làm lễ, nàng cười quá không thể vái lạy đành thôi.

Sinh thấy nàng ngu ngơ sợ lại nói lộ chuyện kín trong phòng ra nhưng cô gái hết sức kín đáo, một câu cũng không nói.

Mỗi khi mẹ có điều lo lắng tức giận, nàng tới cười một tiếng là lập tức nguôi hết, tôi tớ có lỗi sợ bị đòn cứ xin nàng tới nói chuyện với mẹ rồi vào ra mắt là được tha.

Nhưng nàng có tật mê hoa, tìm kiếm trong khắp thân thích láng giềng, lén bán cả đồ trang sức để mua giống hoa đẹp, vài tháng thì bờ tường bậc thềm chuồng lợn nhà xí chỗ nào cũng đầy những hoa.

Sân sau có một giàn mộc hương sát nhà láng giềng phía tây, cô gái vẫn vin cây trèo lên hái hoa cài đầu, mẹ bắt gặp là mắng nhưng nàng vẫn không chừa.

Một hôm con trai nhà ấy trông thấy nàng, say mê nhìn sững.

Cô gái không tránh mặt lại cười, y cho rằng nàng đã ưng thuận, lòng càng khao khát.

Nàng chỉ vào chân tường cười rồi leo xuống.

Y nghĩ rằng nàng chỉ nơi hò hẹn mừng lắm, đến tối mò ra, quả nhiên nàng đã ở đó, liền sấn tới hành dâm thì chỗ kín như bị dùi đâm, đau buốt tận tim gào lớn ngã lăn ra.

Nhìn kỹ lại thì không phải cô gái mà là một cây khô nằm dưới tường, chỗ mình chọc vào là một cái hốc cây đọng nước.

Cha y nghe tiếng vội chạy ra hỏi, y thì rên rỉ không nói, khi vợ tới mới thú thật.

Đốt đuốc soi vào hốc cây thấy có một con bò cạp to bằng con cua con.

Cha y chẻ cây ra bắt con bò cạp giết đi rồi vực con trai về, nửa đêm thì chết.

Nhà ấy kiện sinh, tố cáo Anh Ninh là yêu quái.

Quan huyện vốn ngưỡng mộ tài học của sinh, lại biết sinh là kẻ sĩ đức hạnh nên cho rằng nhà láng giềng kiện bậy toan phạt đánh đòn, sinh xin cho mới được tha về.

Mẹ sinh nói với cô gái:

- Cứ ngây dại thế mãi, ta đã biết trước là vui quá hóa lo mà.

May là quan huyện thần minh nên mới không liên lụy, chứ gặp phải hạng quan hồ đồ ắt đã đòi đàn bà con gái lên công đường đối chất, thì con trai ta còn mặt mũi nào nhìn thấy họ hàng làng xóm nữa?

Cô gái nghiêm trang thề không cười nữa, mẹ nói:

- Người ta ai mà không cười nhưng phải có lúc.

Nhưng từ đó nàng quả không cười nữa, dù cố chọc ghẹo cũng không cười, có điều không lúc nào có vẻ mặt nhăn nhó.

Một đêm nàng nhìn sinh ứa nước mắt, sinh lấy làm lạ thì nàng nghẹn ngào nói:

- Trước đây theo chàng chưa lâu, nói ra e sẽ hoảng sợ.

Nay thấy mẹ và chàng đều yêu thương không có ý khác nên xin thưa thật, may ra không sao chăng?

Thiếp vốn do hồ sinh ra, lúc mẹ thiếp ra đi đem gởi cho bà mẹ ma, nương tựa nhau hơn mười năm mới có ngày nay.

Thiếp lại không có anh em, chỉ trông cậy vào chàng.

Mẹ già cô quạnh nơi góc núi, không ai thương xót hợp táng cho, dưới chín suối vẫn còn sầu tủi.

Nếu chàng không tiếc công tiếc của giúp cho người nằm dưới đất tiêu tan được mối oán hận ấy thì ngõ hầu những kẻ sinh con gái sẽ không nỡ dìm nước vứt bỏ nữa.

Sinh ưng thuận nhưng lo phần mộ bị lẫn trong cỏ rậm, cô gái chỉ nói đừng lo.

Bèn định ngày rồi vợ chồng chở quan tài tới, cô gái chỉ mộ phần giữa đám gai góc khói mây, quả đào được thi thể bà già, da thịt vẫn còn.

Nàng vỗ về khóc lóc thảm thiết, đưa về tìm mộ ông Tần hợp táng.

Đêm ấy sinh mơ thấy bà già về tạ ơn, tỉnh dậy thuật lại.

Cô gái nói:

- Đêm qua thiếp có gặp, nhưng mẹ dặn đừng làm chàng kinh động thôi.

Sinh ân hận không giữ bà lại, nàng nói:

- Bà là ma, nơi đây người sống nhiều, khí dương thịnh, làm sao ở được.

Sinh hỏi Tiểu Vinh, nàng đáp:

- Nó là hồ, rất lanh lợi, mẹ hồ lưu lại để trông nom thiếp, vẫn đút bánh trái cho thiếp ăn nên nhớ ơn nó không lúc nào quên.

Đêm qua hỏi mẹ, thì nói đã gả chồng cho nó rồi.

Từ đó cứ gặp tiết Hàn Thực hàng năm vợ chồng lại đi thăm mộ ông bà Tần, khấn vái quét dọn không hề sơ sót.

Được hơn năm cô gái sinh được một trai, lúc còn bế ẵm đã không sợ người lạ, thấy người là cười cũng rất giống phong thái của mẹ.

_____________________________________

CHƯƠNG 19: NHIẾP TIỂU THIẾN

Ký Cụ Quang Minh Lỗ Lạc Trường

Bất Phùng Kiếm Hiệp Diệc Hà Thương

Lương Tiêu Tự Ngạc Kỳ Duyên Giả

Đa Bán Thanh Lân Chú Mộ Dương

Dịch:

Lỗi Lạc Quang Minh Quả Dị Thường

Chả Cần Kiếm Khách Cũng Vô Thương

Đêm Thanh Bỡ Ngỡ Duyên Kỳ Ngộ

Quá Nửa Lân Tinh Tựa Bạch Dương



Ninh Thái Thần người đất Chiết (tỉnh Chiết Giang), tính hào sảng, ngay thẳng tự trọng, thường nói với người ta rằng bình sinh không biết tới người đàn bà thứ hai.

Gặp lúc có việc tới huyện Kim Hoa (tỉnh Chiết Giang), tới cổng bắc huyện thành vào nghỉ trong một ngôi chùa.

Thấy trong chùa điện tháp nguy nga tráng lệ nhưng cỏ tranh cao lút đầu như không có người qua lại, thiền phòng hai bên đông tây cửa chỉ khép hờ, duy gian nhà nhỏ phía nam thì then khóa như còn mới.

Nhìn qua góc đông điện có rặng tre to hàng chét tay, bên dưới có cái ao lớn, sen dại đã nở hoa, có ý thích cảnh u nhã.

Gặp lúc quan Học sứ về khảo khóa, giá thuê nhà trong thành đắt đỏ nên Ninh quyết ở lại, nhân tản bộ đợi sư về.

Trời sẩm tối có người sĩ nhân tới mở cửa gian nhà phía nam.

Ninh bước tới chào hỏi rồi ngỏ ý.

Sĩ nhân nói:

- Nhà này không có chủ, ta cũng chỉ ở ngụ, nếu không chê là hoang vắng, sớm tối chỉ giáo cho thì may lắm!

Ninh mừng rỡ bèn rải cỏ làm giường, ghép ván làm ghế, tính kế ở lâu.

Đêm ấy trăng sáng vằng vặc, trời trong như nước, hai người nằm gác vế dưới hiên chuyện trò, hỏi han tên họ.

Sĩ nhân tự nói họ Yến tên Xích Hà, Ninh tưởng là Chư sinh chờ khảo khóa nhưng nghe giọng nói không phải là người đất Chiết, hỏi thì đáp là người đất Tần (tỉnh Thiểm Tây), ăn nói rất chất phác thật thà.

Kế chuyện vãn đã cạn, hai người chia tay đi nghỉ.

Ninh lạ nhà nằm mãi không ngủ được, chợt nghe gian phía bắc có tiếng rì rầm như người nói chuyện bèn trở dậy tới núp dưới song cửa sổ bằng đá dưới vách tường phía bắc nhìn qua.

Thấy sau tường có một khu nhà nhỏ, có người đàn bà khoảng hơn bốn mươi tuổi và một bà vú già mặc chiếc áo hồng bạc màu, trên tóc cài cái lược to, lưng gù già sọm đang trò chuyện dưới trăng.

Người đàn bà nói:

- Tiểu Thiến sao mãi không tới?

Bà vú già nói:

- Thế nào nó cũng tới mà.

Người đàn bà hỏi:

- Nó có oán thán gì với bà không?

Bà vú già đáp:

- Ta không nghe thấy, nhưng nó có vẻ buồn rầu.

Người đàn bà nói:

- Con nhãi ấy thì không cần phải tử tế đâu.

Chưa dứt lời thì một cô gái khoảng mười bảy mười tám tuổi tới, nhìn phảng phất có vẻ xinh đẹp.

Bà vú cười nói:

- Đừng nói chuyện người vắng mặt, hai người bọn ta chỉ trò chuyện thôi, mà con tiểu yêu lẻn tới không một tiếng động.

May là bọn ta không nói gì xấu.

Lại nói:

- Tiểu nương tử thật là xinh đẹp như trong tranh, giả như già này là đàn ông cũng bị bắt mất hồn rồi.

Cô gái nói:

- Bà mà không khen ta thì còn ai khen chứ.

Kế không rõ họ nói với nhau những gì, Ninh cho rằng đó là gia đình nhà láng gìềng nên bỏ vào ngủ không buồn nghe nữa, hồi lâu tiếng trò chuyện mới tắt.

Ninh vừa thiu thiu sắp ngủ chợt thấy như có người tới chỗ mình nằm, vội trở dậy nhìn thì ra là cô gái bên gian nhà phía bắc.

Ninh ngạc nhiên hỏi, cô gái cười đáp:

- Đêm trăng không ngủ được, xin tới vui vầy.

Ninh nghiêm sắc mặt nói:

- Nàng phải đề phòng điều dị nghị còn ta thì sợ tiếng chê cười, lỡ chân một bước thì hết cả liêm sỉ.

Cô gái nói:

- Đêm hôm đâu có ai biết.

Ninh xì khinh bỉ nhưng cô gái cứ lần lữa như còn muốn nói gì nữa, Ninh quát:

- Đi mau đi!

Nếu không ta kêu to cho người bên kia biết đấy.

Cô gái sợ lui ra ngoài cửa nhưng lại trở vào đặt một nén vàng lên nệm, Ninh cầm lấy ném ra thềm nói:

- Của phi nghĩa chỉ làm bẩn túi ta.

Cô gái thẹn thùng quay ra nhặt vàng nói một mình:

- Người này sắt đá thật.

Sáng hôm sau có người học trò ở huyện Lan Khê dẫn theo một người đầy tớ tới ở trọ chờ khảo khóa, đến đêm đột nhiên chết, lòng bàn chân có một lỗ nhỏ như dùi đâm rỉ máu ra, không ai biết vì sao.

Qua đêm sau thì người đầy tớ chết, cũng có dấu vết như vậy.

Chiều tối Yến sinh về, Ninh hỏi về chuyện ấy, Yến cho là yêu tinh nhưng Ninh vốn chính trực cũng không sợ sệt.

Nửa đêm cô gái lại tới, nói với Ninh rằng:

- Thiếp từng gặp qua nhiều người mà chưa thấy ai cứng rắn như chàng.

Chàng quả là bậc thánh hiền, thiếp không dám lừa dối.

Thiếp họ Nhiếp tên Tiểu Thiến, chết yểu năm mười tám tuổi, chôn ở cạnh chùa, bị yêu tinh bắt làm những việc hèn hạ, mặt dày ôi gặp người, thật lòng rất không thích.

Nay trong chùa không còn ai có thể giết được, sợ sẽ sai quỷ Dạ Xoa tới hại chàng.

Ninh hoảng sợ xin chỉ cách thoát thân, cô gái nói:

- Chàng cứ ở chung một phòng với Yến sinh thì thoát.

Ninh hỏi sao không dụ dỗ Yến sinh, nàng đáp:

- Ông ta là bậc kỳ nhân nên không dám tới gần.

Lại hỏi làm cách nào để dụ dỗ người ta, nàng đáp:

- Ai ôm ấp ta, ta sẽ lén đâm dùi vào chân cho lập tức mê man rồi hút lấy máu dâng yêu tinh uống.

Có khi đưa vàng cho họ, thật ra không phải là vàng mà là xương quỷ La Sát, lưu lại để moi lấy tim gan.

Hai cách ấy cùng làm được cả thì tốt nhất.

Ninh cảm tạ, hỏi phải phòng bị vào lúc nào, nàng đáp là đêm mai.

Khi từ biệt, nàng khóc nói:

- Thiếp rơi xuống bể khổ, muốn tìm bờ lên mà không được.

Chàng nghĩa khí xông mây, ắt có thể cứu thiếp, nếu có thể đem nắm xương tàn của thiếp về chôn cho mồ yên mả đẹp thì còn hơn cả ơn tái tạo.

Ninh quả quyết nhận lời, nhân hỏi mộ ở đâu, nàng đáp:

- Cứ ra chỗ cây bạch dương, trên ngọn có tổ quạ là đúng.

Dứt lời bước ra cửa biến mất.

Hôm sau Ninh sợ Yến đi vắng, sáng sớm đã mời qua chơi, gần trưa thì sửa soạn cơm rượu mời mọc, để ý quan sát Yến, kế hẹn tối ngủ chung phòng.

Yến lấy cớ thích yên tĩnh để từ chối, Ninh không nghe, ép phải mang giường chiếu qua.

Yến bất đắc dĩ theo lời, dặn rằng:

- Ta biết túc hạ là bậc trượng phu nên rất kính mộ phong độ.

Nhưng có chút niềm riêng khó thưa ngay được, vậy xin đừng nhìn vào cái tráp của ta, nếu không cả hai chúng ta đều bất lợi.

Ninh kính cẩn vâng lời, kế đều đi nghỉ.

Yến để cái tráp trên cửa sổ, vừa ngả lưng một lát đã ngáy vang như sấm, Ninh thì không ngủ được.

Khoảng gần hết canh một thì có bóng người thấp thoáng ngoài cửa sổ, giây lát tới gần cửa sổ nhìn vào, mắt sáng rừng rực.

Ninh khiếp sợ đang định gọi Yến, chợt có một vật sáng loáng như giải lụa xé cái tráp bắn ra tiện đứt chấn song cửa sổ bằng đá, lóe sáng một cái rồi quay ngay vào tráp như ánh chớp tắt ngấm.

Yến biết trở dậy, Ninh giả ngủ nhìn ra thấy Yến bưng cái tráp lấy vật ấy ra vừa săm soi dưới ánh trăng vừa hít ngửi, ánh sáng lóng lánh, dài khoảng hai tấc, mỏng như lá hành, kế bọc lại mấy lớp cho vào cái tráp thủng, lẩm bẩm:

- Không biết con quỷ già nào mà lớn mật làm hỏng cái tráp của ta.

Rồi lại đi nằm.

Ninh lấy làm lạ trở dậy hỏi, kể những điều mình thấy.

Yến đáp:

- Đã là bạn tri giao, sao còn dám giấu giếm, ta là kiếm khách đây.

Nếu không vướng cái chấn song đá thì yêu tinh phải chết ngay lập tức, nhưng như thế cũng bị thương rồi.

Ninh hỏi vật cất đi là cái gì Yến đáp:

- Đó là thanh kiếm, vừa ngửi thấy có yêu khí.

Ninh muốn xem thử, Yến rút ra một thanh đoản kiếm lấp lánh, Ninh vì vậy càng thêm kính phục.

Hôm sau Ninh xem ngoài cửa sổ thấy có vết máu, ra phía bắc chùa thấy một nấm mộ hoang, bên cạnh quả có cây bạch dương trên ngọn có tổ quạ.

Khi việc đã xong Ninh thu xếp hành trang trở về, Yến sinh bày tiệc tiễn rất ân cần, tặng Ninh một cái bao da rách, dặn:

- Đây là cái bao kiếm, giữ kỹ thì lũ yêu tinh phải tránh xa.

Ninh muốn theo học đạo, Yến nói:

- Người tín nghĩa cương trực như ông có thể học được, nhưng ông là người trong trường phú quý chứ không phải là người trong mạch đạo.

Ninh nói thác là có em gái chôn ở đó đào mộ cô gái lấy hài cốt gói lại thuê thuyền đem về quê.

Phòng sách của Ninh nhìn ra cánh đồng, nhân chôn cất nàng ngay phía ngoài, cúng tế khấn rằng:

- Thương nàng hồn ma lẻ loi nên chôn cạnh nhà, khi ca khi khóc đều nghe cho khỏi bị lũ quỷ mạnh làm nhục.

Có bát nước mưa mời uống, chưa được ngọt trong cũng mong đừng trách.

Khấn xong quay về nghe phía sau có người gọi:

- Xin đợi cùng về!

Ngoái nhìn thì là Tiểu Thiến.

Nàng vui vẻ cảm tạ, nói:

- Chàng là bậc tín nghĩa, thiếp có chết mười lần cũng không đủ đền đáp.

Xin theo về ra mắt cha mẹ chồng, dù làm đứa ở con đòi cũng cam lòng.

Ninh nhìn kỹ thấy nàng da ửng màu ráng hồng, chân thon như búp măng, nhìn ban ngày càng xinh đẹp bèn dẫn về phòng sách, dặn ngồi đợi rồi vào trước thưa với mẹ.

Mẹ ngạc nhiên, lúc ấy vợ Ninh ốm đã lâu bèn bảo đừng nói ra vì sợ nàng kinh hãi.

Vừa nói xong thì cô gái nhẹ nhàng bước vào sụp lạy, Ninh nói:

- Đây là Tiểu Thiến!

Bà mẹ hoảng sợ nhìn nàng lo ngại, Tiểu Thiến nói:

- Con lênh đênh một mình, xa cha mẹ anh em, nay đội ơn công tử che chở tái tạo, nguyện sửa túi nâng khăn để báo cao nghĩa.

Bà mẹ thấy nàng xinh xắn đáng yêu mới dám trò chuyện, nói:

- Nương tử ra ơn chiếu cố cho con ta, già này rất mừng.

Nhưng bình sinh chỉ có đứa con trai này để nối dõi tông đường, không dám cho nó lấy vợ ma.

Cô gái nói:

- Con thật không dám hai lòng.

Người đã chết không đủ để mẹ tin cậy thì xin thờ chàng làm anh, nương tựa nơi mẹ để sớm hôm hầu hạ có được không?

Mẹ thương nàng thành tâm bèn bằng lòng, nàng muốn vào lạy chào chị dâu nhưng mẹ lấy cớ con dâu đang ốm từ chối.

Nàng liền xuống bếp thay mẹ lo cơm nước, lên xuống ra vào như người trong nhà.

Tối đến bà mẹ e sợ, từ chối về phòng ngủ, không đặt giường cho nàng.

Cô gái biết ý bà liền trở ra, ngang qua phòng sách định vào nhưng cứ ngập ngừng ngoài cửa như có điều sợ sệt.

Ninh gọi vào, nàng nói:

- Trong phòng có kiếm khí ghê người, nãy giờ qua lại không dám vào gặp chàng là vì thế.

Ninh biết là vì cái bao da, liền đem qua phòng khác treo, cô gái mới vào, tới ngồi cạnh đèn một lúc không nói gì.

Hồi lâu mới hỏi:

- Tối đến chàng có đọc sách không?

Lúc nhỏ thiếp có học kinh Lăng nghiêm, nay đã quên quá nửa.

Xin cho mượn một quyển, tối rảnh nhờ chỉ cho.

Ninh nhận lời.

Nàng lại ngồi im lặng, gần hết canh hai vẫn không đi, Ninh giục thì buồn rầu nói:

- Hồn côi ở xứ lạ sợ nấm mồ hoang lắm.

Ninh nói:

- Trong phòng sách không có giường nằm, vả lại anh trai em gái cũng nên tránh hiềm nghi.

Cô gái đứng dậy, mặt ủ mày chau như muốn khóc, ngần ngừ bước ra cửa, xuống tới thềm thì biến mất.

Ninh thầm thương xót, muốn lưu nàng lại ngủ giường khác nhưng lại sợ mẹ mắng.

Từ đó cô gái sớm chiều tới hầu mẹ, bưng chậu múc nước rồi ra làm việc nhà, không việc nào không theo ý mẹ, chập tối cáo lui qua phòng sách thắp đèn tụng kinh, đến khi Ninh sắp đi ngủ mới buồn rầu trở ra.

Trước là vợ Ninh ốm nặng bỏ hết việc nhà, bà mẹ vất vả không sao chịu nổi, từ khi cô gái tới mới được thong thả nên trong lòng biết ơn nàng.

Lâu dần thì yêu quý như con ruột, quên luôn việc nàng là ma, chiều tối không nỡ bắt nàng phải ra khỏi nhà nên giữ lại ngủ cùng.

Cô gái lúc mới tới không ăn uống gì, nửa năm mới dần dần hớp qua canh cháo, mẹ con Ninh đều rất thương yêu, kiêng nói tới chuyện ma quỷ nên mọi người cũng không ai biết.

Không bao lâu vợ Ninh chết, bà mẹ ngầm có ý cưới Tiểu Thiến cho con trai nhưng lại sợ mang hại.

Nàng biết ý, nhân lúc rảnh rỗi nói với bà:

- Con ở đây đã hơn một năm, chắc mẹ đã hiểu lòng con không muốn hại người nên một lòng theo công tử không có ý khác.

Chỉ vì thấy công tử quang minh lỗi lạc, trời người đều phục nên thật lòng muốn nương tựa giúp đỡ để vài ba năm nữa nhờ cậy được chút sắc phong cho vẻ vang dưới suối vàng.

Bà mẹ cũng biết nàng không độc ác nhưng còn lo không có cháu nối dõi, cô gái nói:

- Con cái là do trời cho, tên chàng đã được ghi trong sổ phúc, có ba con trai, không vì lấy vợ ma mà bị cắt giảm.

Mẹ tin lời bàn với con trai, Ninh mừng lắm bày tiệc báo cho thân thích bè bạn.

Có người xin nhìn mặt cô dâu mới, cô gái thản nhiên trang điểm lộng lẫy bước ra, cả tiệc đều tròn mắt nhìn, không nghĩ là ma mà ngờ là tiên.

Vì vậy họ hàng nội ngoại đều mang lễ vật tới đến mừng, tranh nhau làm quen.

Cô gái giỏi vẽ hoa lan hoa mai, cứ vẽ ra đưa tặng để đáp lễ, người được tặng đều trân trọng cất kỹ, lấy làm vinh dự.

Một hôm cô gái cúi đầu đứng bên song cửa sổ có vẻ lo lắng buồn bã, kế chợt hỏi cái bao da để đâu Ninh đáp:

- Nàng sợ hãi nên ta gói cất ở chỗ khác.

Nàng nói:

- Thiếp nhận được sinh khí người sống đã lâu nên không còn sợ nữa, chàng nên đem ra treo ở đầu giường.

Ninh hỏi làm thế là có ý gì, nàng đáp:

- Ba hôm nay trong lòng thiếp cứ hồi hộp không yên, có lẽ bọn yêu tinh ở Kim Hoa hận thiếp bỏ trốn đi xa, e sớm chiều sẽ tìm tới đây.

Ninh đem cái bao da ra, cô gái lật đi lật lại nhìn kỹ rồi nói:

- Cái này là bậc kiếm tiên dùng để bắt ma quỷ, rách nát đến thế này không biết đã giết bao nhiêu rồi.

Hôm nay thiếp nhìn thấy còn rợn cả người.

Rồi đem treo lên.

Hôm sau nàng lại bảo Ninh đem treo trên cửa, đến tối ra ngồi bên đèn, dặn Ninh đừng ngủ.

Chợt có một vật như con chim bay rơi xuống, nàng hoảng sợ nép vào sau tấm rèm, Ninh nhìn ra thấy hình dáng nó như quỷ Dạ Xoa, mắt lóe như chớp, miệng đỏ như máu, tay quờ quạng như sắp chộp bắt ai tiến thẳng tới trước cửa, dừng lại hồi lâu rồi tới gần cái bao da, quờ móng giật lấy như muốn xé rách.

Cái bao chợt kêu soạt một tiếng, thấp thoáng như có nửa mình quỷ bên trong nhô ra nắm Dạ Xoa kéo vào, tiếng động tắt ngay mà cái bao cũng co lại như cũ.

Ninh hoảng sợ, cô gái cũng bước ra mừng rỡ nói:

- Hết lo rồi!

Cùng nhìn vào bao, chỉ thấy có vài đấu nước trong mà thôi.

Vài năm sau quả nhiên Ninh thi đỗ Tiến sĩ, sinh được một con trai.

Sau khi Ninh lấy vợ lẽ, mỗi vợ lại sinh một trai nữa, ba con sau đều làm quan, rất có danh tiếng.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 20+21+22


CHƯƠNG 20: THỦY MÃNG THẢO

CỎ THỦY MÃNG

Đồng Thị Thanh Trà Phụng Ngọc Trường

Xuất Chi Thiếu Nữ Tiện Cam Phương

Nhất Thời Tuy Giải Tương Như Khát

Hà Xứ Phùng Nhân Mịch Cố Đương?

Dịch:

Cùng Thứ Trà Xanh Đựng Ngọc Hồ

Tay Người Đẹp Rót Thấy Thơm Tho

Tạm Thời Dù Đỡ Tương Như Khát

Quần Lót Tìm Đâu Giải Cứu Cho?



Thủy mãng là loài cỏ độc, mọc như dây leo, hoa tím như đậu ván, ai lầm ăn vào là chết ngay, hóa thành ma thủy mãng.

Tục truyền ma ấy không được luân hồi, phải có người khác trúng độc chết thay vào mới được thác sinh, vì vậy suốt một dải sông Đào Hoa ở đất Sở Trung (vùng Hồ Nam) có rất nhiều ma ấy.

Người Sở nếu sinh cùng năm thì gọi là đồng niên, đưa thiếp ra mắt gọi nhau là canh huynh canh đệ, hàng con cháu thì gọi bề trên là canh bá, quen lệ thành như thế.

Có Chúc sinh đi thăm bạn đồng niên, trên đường khát nước, chợt thấy bên đường có bà già bày quán thí nước liền rảo bước tới.

Bà già đón vào rót nước mời mọc ân cần, sinh thấy có mùi lạ không giống mùi trà bèn đặt xuống không uống mà đứng dậy đi ra.

Bà già vội giữ khách lại rồi gọi:

- Tam Nương, pha một chén trà ngon đem ra đây.

Giây lát có một thiếu nữ bưng trà từ sau quán bước ra, tuổi khoảng mười bốn mười lăm, nhan sắc tuyệt đẹp, ngón tay đeo nhẫn, cổ tay đeo xuyến sáng loáng.

Sinh đỡ lấy chén trà, tâm thần ngây ngất, ngửi thấy thơm phức liền uống cạn, lại xin chén nữa.

Thừa lúc bà già đi ra bèn đùa nắm tay cô gái, tháo một chiếc nhẫn.

Nàng đỏ mặt mỉm cười, sinh càng mê mệt bèn hỏi qua nhà cửa.

Cô gái nói:

- Tối chàng tới thì thiếp còn ở đây.

Sinh xin một nắm trà, lại cất luôn chiếc nhẫn ra đi.

Tới nhà bạn đồng niên thì thấy bụng đau quặn, ngờ là vì nước trà bèn kể cho bạn nghe.

Bạn hoảng sợ nói:

- Chết rồi!

Đó là ma thủy mãng.

Cha ta ngày xưa cũng chết vì nó, không thể cứu được, làm sao bây giờ.

Sinh cả sợ đưa gói trà cho bạn xem thì đúng là cỏ thủy mãng.

Lại đưa chiếc nhẫn ra, tả lại hình dáng cô gái, người bạn ngẫm nghĩ rồi nói:

- Đó ắt là Khấu Tam Nương.

Sinh thấy đúng tên liền hỏi vì sao biết, bạn đáp:

- Cô ta là con gái họ Khấu ở thôn Nam, nổi tiếng xinh đẹp, mấy năm trước ăn lầm cỏ thủy mãng mà chết, ắt đã làm ma.

Có người nói ai bị ma ấy hại, nếu biết được tên họ mà tới nhà xin được cái quần cũ nó mặc đem về nấu nước uống thì có thể khỏi.

Bạn vội tới nhà họ Khấu kể rõ tình thật, lạy lục năn nỉ.

Khấu nghĩ Chúc sinh chết thì con gái mình sẽ được đầu thai nên không cho, người bạn tức giận về kể lại.

Sinh cũng nghiến răng căm hờn nói:

- Ta chết rồi quyết không cho con gái y đi đầu thai.

Người bạn cáng sinh về, gần tới cổng nhà thì chết, mẹ sinh khóc lóc chôn cất con trai.

Sinh để lại một con trai vừa đầy năm, vợ không thủ tiết được, nửa năm sau bỏ đi lấy chồng khác.

Mẹ sinh giữ cháu nội lại nuôi nấng, vất vả không sao chịu nổi, sớm tối đau xót khóc lóc.

Một hôm bà đang bế cháu khóc lóc trong phòng chợt sinh sừng sững bước vào.

Mẹ cả sợ gạt nước mắt hỏi, sinh nói:

- Con ở dưới đất nghe mẹ khóc rất đau xót nên trở về để sớm hôm hầu hạ mẹ thôi.

Con tuy chết nhưng đã lấy vợ, nay cũng về cùng để giúp đỡ mẹ, mẹ đừng buồn nữa.

Mẹ hỏi vợ là ai, sinh nói:

- Họ Khấu để mặc cho con chết, con rất căm hận, sau khi chết muốn tìm Tam Nương nhưng không biết nàng ở đâu.

Mới rồi gặp canh bá Mỗ chỉ cho, con tới thì Tam Nương đã đầu thai vào nhà quan Thị lang họ Nhiệm.

Con đuổi theo bắt nàng trở lại, nay đã làm vợ con, cũng tâm đầu ý hợp không có gì khổ.

Giây lát có một cô gái ăn mặc lộng lẫy bước vào quỳ xuống lạy mẹ, sinh nói:

- Đây là Khấu Tam Nương!

Tuy hai vợ chồng không phải là người sống nhưng mẹ nhìn thấy cũng được an ủi, sinh bèn sai Tam Nương làm việc nhà.

Tam Nương không quen làm lụng nhưng rất ngoan ngoãn với mẹ chồng, từ đó vào ở luôn phòng sinh cũ không đi.

Cô gái xin mẹ báo tin cho nhà mình biết, sinh không muốn nhưng mẹ chiều ý con dâu nên báo cho họ Khấu.

Ông bà Khấu nghe tin cả sợ, thắng xe kiệu tới ngay, vào thấy đúng là Tam Nương, nhìn nhau khóc lạc cả giọng, cô gái khuyên mãi mới nín.

Bà Khấu thấy nhà sinh nghèo quá có ý thương xót con gái, nàng nói:

- Con đã là ma thì sợ gì nghèo.

Huống hồ mẹ con Chúc lang đối xử với con rất có tình nghĩa, con đã yên phận rồi.

Bà Khấu nhân hỏi bà già bán trà là ai, nàng đáp:

- Bà ta họ Nghê, tự thẹn già nua không dụ dỗ được khách đi đường nên nhờ con giúp cho thôi, nay đã thác sinh vào một nhà bán rượu trong thành.

Kế quay lại nhìn sinh nói:

- Chàng đã làm rể mà không lạy cha mẹ vợ thì thiếp còn lòng dạ nào?

Sinh liền lạy chào.

Cô gái bèn vào bếp giúp mẹ chồng nấu cơm đãi thông gia.

Họ Khấu thấy thế thương xót, khi trở về liền sai hai tỳ nữ tới hầu hạ, gởi thêm trăm cân vàng, vài mươi tấm lụa, thỉnh thoảng lại tặng biếu rượu thịt, mẹ Chúc sinh trở nên dư dật.

Họ Khấu cũng thỉnh thoảng gọi nàng về thăm nhà, nhưng cứ ở vài ngày thì nàng nói:

- Ở nhà không có ai, nên để con về sớm.

Nếu cố giữ lại thì nàng lãng đãng tự về.

Ông Khấu xây cất nhà cửu cho Chúc sinh rất tươm tất, nhưng rốt lại sinh vẫn không hề tới nhà cha mẹ vợ.

Một hôm trong làng có người trúng độc cỏ thủy mãng chết nhưng lại sống lại, người ta đồn là chuyện lạ.

Sinh nói:

- Đó là ta cứu sống đấy, y bị con ma Lý Cửu làm hại, ta đã đuổi nó đi giúp.

Mẹ hỏi:

- Sao con không tìm người khác thay thế cho mình?

Sinh đáp:

- Con rất căm thù bọn ấy đang định diệt trừ cho bằng hết, đâu lại làm như chúng.

Vả lại con được thờ mẹ là vui lắm rồi, không muốn đầu thai nữa.

Từ đó về sau, những người trúng độc thường bày cỗ bàn giữa sân khấn vái sinh, đều thấy hiệu nghiệm.

Trải hơn mười năm, bà mẹ qua đời, vợ chồng cũng để tang nhưng không ra tiếp khách, chỉ sai con mặc sô chống gậy làm lễ chôn cất mà thôi.

Chôn cất mẹ xong, lại ở hơn hai năm rồi cưới vợ cho con, nàng dâu là cháu nội Thị lang họ Nhiệm.

Trước là người thiếp của ông Nhiệm sinh được đứa con gái vài tháng thì chết, sau nghe chuyện lạ của vợ Chúc bèn sai thắng kiệu tới nhà nhận sinh làm con rể.

Đến lúc ấy lại gả cháu nội cho con sinh, hai nhà qua lại nhau không dứt.

Một hôm sinh nói với con:

- Thượng đế xét ta có công với người đời nên phong làm Tứ độc Mục Long quân, nay ta đi đây.

Giây lát thấy giữa sân có bốn con ngựa thắng xe mui vàng, chân ngựa đều mọc vảy, hai vợ chồng ăn mặc đẹp đẽ bước ra cùng lên xe.

Vợ chồng con trai khóc lạy đưa tiễn, trong chớp mắt đều biến mất.

Hôm ấy nhà họ Khấu thấy con gái về từ giã cha mẹ, cũng nói như lời sinh.

Bà Khấu khóc giữ lại nàng nói:

- Chúc lang đi trước rồi!

Rồi bước ra cửa biến mất.

Con trai sinh tên Ngạc, tự Ly Trần, tới xin ông Khấu cho lấy hài cốt Tam Nương về hợp táng với sinh.

____________________________________

CHƯƠNG 21: PHƯỢNG DƯƠNG SĨ NHÂN

CHÀNG THƯ SINH ĐẤT PHƯỢNG DƯƠNG

Đệ Huynh Phu Phụ Các Tây Đông

Nguyệt Hạ Hoài Nhân Cảm Khái Trung

Điên Đảo Viễn Ly Thành Mộng Tưởng

Bất Đồng Dị Mộng Mộng Thiên Đồng

Dịch:

Anh Em Chồng Vợ Biệt Tây Đông

Dưới Nguyệt Hoài Mong Cảm Khái Chung

Điên Đảo Xa Lìa Thành Mộng Tưởng

Chẳng Cùng Đêm Mộng Mộng Sao Cùng



Có một người học trò ở huyện Phượng Dương (tỉnh An Huy) đi du học xa, hẹn vợ nửa năm sẽ về nhưng hơn mười tháng vẫn tuyệt vô âm tín, vợ ở nhà mỏi mòn trông đợi.

Một đêm vừa mới đi nằm, thấy bóng trăng lay động trên tấm rèm che cửa sổ, càng thêm nhớ nhung.

Còn đang trằn trọc thì có một cô gái đẹp cài trâm ngọc quàng khăn hồng vén rèm bước vào cười hỏi:

- Bà chị muốn gặp lang quân không?

Người vợ vội trở dậy vâng dạ.

Người đẹp rủ cùng đi, nàng ngại đường xa hiểm trở, người đẹp khuyên đừng lo rồi nắm tay đạp lên ánh trăng ra đi.

Được khoảng một tầm tên, nàng thấy người đẹp đi rất mau mà mình đi chậm liền gọi bảo đợi một lát để về mang giày.

Người đẹp kéo nàng ngồi xuống bên đường, cởi giày của mình đưa cho, nàng mừng rỡ mang vào, may là vừa khít, liền đứng dậy đi theo, thấy bước đi mau như bay.

Giây lát thấy người học trò cưỡi ngựa trắng đi tới, nhìn thấy vợ ngạc nhiên vội xuống ngựa hỏi đi đâu, nàng đáp:

- Định đi thăm chàng!

Người học trò quay nhìn người đẹp rồi hỏi là ai, nàng chưa kịp trả lời thì người đẹp che miệng cười nói:

- Thôi đừng hỏi nữa, nương tử bôn ba tới đây không phải dễ, chàng thì rong ruổi đến nửa đêm, chắc người ngựa cũng đều mệt rồi.

Nhà thiếp cách đây không xa, xin mời vào tạm nghỉ ngơi, sáng mai đi cũng không muộn.

Hai người nhìn ra thấy gần đó quả có làng xóm bèn cùng đi.

Vào một ngôi nhà, người đẹp gọi tỳ nữ dậy lo cơm nước mời khách, nói:

- Đêm nay trăng sáng không cần thắp đèn, ngồi lên sập đá trong tiểu đình cũng được.

Người học trò buộc ngựa vào cây ngô đồng rồi ngồi xuống, người đẹp nói:

- Giày to không vừa chân, trên đường chắc chị mệt lắm.

Nhưng lúc về đã có con ngựa đỡ chân, cho em xin lại.

Người vợ cảm ơn, cởi giày trả lại.

Lát sau, rượu bánh bày ra, người đẹp nâng chén nói:

- Loan phượng xa nhau lâu ngày, đêm nay được sum họp, có chén rượu đục xin kính mừng!

Người học trò cũng nâng chén đáp lễ, chủ khách cười nói vui vẻ, giày dép lẫn lộn dưới sập.

Người học trò cứ đăm đăm nhìn người đẹp, mấy lần buông lời đùa cợt, vợ chồng bao ngày mới gặp nhau mà không trò chuyện một lời.

Người đẹp cũng liếc mắt đưa tình, thả lời nũng nịu, người vợ cứ ngồi im giả như ngu đần.

Hồi lâu rượu càng ngấm, hai người trò chuyện lại càng buông thả.

Người đẹp lấy chén lớn mời khách, người học trò từ chối là đã say nhưng nàng cứ ra sức nài ép.

Người học trò cười nói:

- Nàng hát cho nghe một khúc, ta sẽ uống ngay.

Người đẹp không từ chối, lấy phím ngà gảy đàn cầm hát rằng:

Hoàng hôn xếp bỏ tàn son phấn

Gió lọt song the thấu lạnh da

Tiếng mưa rả rích trên tàu chuối

Vui thú nơi nao mãi xướng ca

Trông mòn con mắt chẳng thấy về a

Càng nhớ ai mà, càng hận ai mà

Vớ lấy chiếc giày gấm hoa, gieo quẻ bói ma. (*)

(*) chồng đi xa lâu chưa về, lấy chiếc giày của chồng giơ lên cao rồi gieo xuống đất để bói, giày ngửa là chồng sắp về, giày úp là không về, gọi đấy là gieo quả bói ma ( xuân vi bí hí ).

Hát xong cười nói:

- Đây là khúc hát ở đầu đường xó chợ, không đáng làm bẩn tai chàng, nhưng vì thiên hạ đang ưa chuộng nên thiếp cũng học đòi bắt chước thôi.

Giọng nói uốn éo, bộ dạng lả lơi khiến người học trò điên đảo tâm thần, như không kìm lòng được nữa.

Lát sau người đẹp giả về ngủ đi ra, người học trò cũng đứng dậy đi theo, hồi lâu không trở vào, đứa tỳ nữ mỏi mệt nằm gục xuống ngủ ở hành lang.

Người vợ ngồi trơ trọi một mình, trong lòng vừa buồn vừa giận không sao chịu nổi, nghĩ muốn bỏ ra về nhưng đêm tối mù mịt, lại không nhớ đường đi, băn khoăn không sao kìm lòng được bèn đứng lên ra xem.

Vừa tới cạnh cửa sổ đã nghe loáng thoáng tiếng mây mưa bên trong, lại lắng nghe thì ra những gì chồng vẫn thường làm khi âu yếm với mình trong phòng đều giở ra hết.

Người vợ lúc ấy tim đập mạnh, tay run bắn, chết điếng cả người, nghĩ không bằng cứ ra cửa nhảy xuống ngòi rãnh mà chết đi.

Vừa căm hờn đi ra thì thấy em trai là Tam Lang cưỡi ngựa tới, xuống ngựa hỏi han.

Nàng kể lại mọi việc, Tam Lang cả giận lập tức cùng chị quay lại, vào thẳng trong nhà thì cửa phòng đã cài then nhưng vẫn nghe thấy tiếng thì thào trên giường.

Tam Lang nhấc một hòn đá to bằng cái đấu ném mạnh vào cửa sổ làm gãy luôn mấy cái chấn song, nghe bên trong có tiếng kêu lớn:

- Lang quân vỡ sọ rồi, làm sao?

Nàng nghe thấy kinh hoàng khóc lớn, nói với em:

- Ta đâu có bảo ngươi giết y, làm thế nào bây giờ.

Tam Lang trợn mắt nói:

- Chị vừa khóc lóc kéo ta vào, bây giờ hả giận rồi thì lại vì chồng mà oán anh em.

Ta không quen chịu sai phái như bọn tôi tớ đâu.

Rồi quay người bỏ ra.

Nàng níu áo nói:

- Ngươi chẳng đưa ta về lại còn đi đâu?

Tam Lang xô chị ngã lăn xuống đất rồi bỏ đi, nàng giật mình tỉnh dậy mới biết là vừa nằm mơ.

Hôm sau quả nhiên người học trò về, cũng cưỡi con ngựa trắng, vợ kinh ngạc nhưng chưa nói gì.

Người học trò kể lại giấc mơ đêm qua, những điều gặp gỡ nhất nhất đều như vợ đã nghe đã thấy, hai người đều lấy làm quái lạ.

Kế Tam Lang nghe tin anh rể đi xa về cũng tới thăm hỏi, xong nói với người học trò:

- Đêm qua nằm mơ thấy anh về, nay quả đúng, thật lạ quá.

Người học trò cười nói:

- May mà ta không bị đá ném chết.

Tam Lang ngạc nhiên hỏi sao nói thế, người học trò kể lại giấc mơ, Tam Lang vô cùng kinh ngạc.

Thì ra đêm qua Tam Lang cũng nằm mơ thấy gặp chị khóc lóc kể lể nên nổi giận ném đá.

Ba giấc mộng khớp nhau, chỉ không biết người đẹp là ai mà thôi.

____________________________________

CHƯƠNG 22: CHÂU NHI

Sách Trái Nhân Tiên Phản Dạ Đài

Cảm Ân Hồn Hựu Phụ Thi Lai

Châu Nhi Chân Tự Châu Như Ý

Bất Cách U Minh Nhẫm Vãng Hồi

Dịch:

Khách Nợ Đòi Xong Xuống Dạ Đài

Mang Ơn Mượn Xác Phụ Hồn Thôi

Châu Nhi Thực Giống Châu Như Ý

U Hiểm Không Nề Mặc Tới Lui



Người dân ở Thường Châu (huyện Vũ Tiến tỉnh Giang Tô) là Lý Hóa, nhà giàu có, nhiều ruộng đất.

Hơn năm mươi tuổi mà không có con trai, chỉ có một con gái tên Tiểu Huệ, mặt mũi xinh đẹp, vợ chồng rất yêu dấu.

Năm cô gái mười bốn tuổi thì mắc bạo bệnh chết yểu, nhà cửa vắng vẻ, Lý không còn sinh thú mới cưới tỳ thiếp.

Hơn một năm người thiếp sinh được một con trai, Lý yêu quý như châu ngọc, đặt tên là Châu nhi.

Đứa nhỏ dần dần lớn lên, khôi ngô khả ái nhưng tính rất ngây ngốc, năm sáu tuổi vẫn chưa phân biệt được ngô với đậu, ăn nói thì ngơ ngẩn, Lý cũng ưa nên không ghét bỏ.

Gặp lúc có nhà sư lòa tới khuyến hóa ở chợ, biết rõ cả việc trong khuê phòng nhà người ta, mọi người đều tôn kính như thần.

Sư lại nói có thể cứu sống hại chết, ban phúc giáng họa, muốn vài trăm ngàn đồng tiền cứ tìm tên mà đòi, không ai dám chậm trễ.

Tới Lý khuyến hóa xin một trăm quan tiền, Lý lấy làm khó, đưa ra mười quan nhưng sư không nhận.

Dần dần đưa lên thêm tới ba mươi quan, sư tức giận nói:

- Phải đủ một trăm quan, thiếu một đồng cũng không được.

Lý cũng tức giận, thu tiền lại đuổi ra, sư tức tối đứng lên nói:

- Đừng có hối hận, đừng có hối hận.

Không bao lâu Châu nhi chợt phát bệnh đau tim, lăn lộn cào cấu trên giường, mặt xám như tro.

Lý sợ liền đem tám mươi quan tới chỗ nhà sư xin cứu cho, sư cười nói:

- Có được bấy nhiêu tiền quả không dễ, nhưng nhà sư trong núi thì làm được gì?

Lý về thì Châu nhi đã chết, vô cùng đau đớn bèn đưa đơn kiện lên huyện.

Quan huyện cho bắt nhà sư hỏi cung, sư cũng nói đó là việc ngẫu nhiên để phân trần, quan sai đánh đòn thấy bồm bộp như đánh vào cái túi da, liền sai lục soát trong người sư, tìm được hai hình người bằng gỗ, một chiếc quan tài nhỏ, năm lá phướn con.

Quan tức giận, lấy tay làm ra vẻ bắt quyết cho nhìn, sư sợ hãi bèn xin cung khai.

Quan không thèm nghe, sai đánh chết luôn, Lý bèn lạy tạ ra về.

Lúc ấy trời đã sập tối, Lý và vợ đang ngồi trên giường, chợt có đứa nhỏ chập chờn bước vào phòng, nói:

- Sao cha đi mau thế?

Con cố đuổi mà không kịp.

Nhìn tới vóc dáng dung mạo thì khoảng bảy tám tuổi.

Lý kinh ngạc đang định gạn hỏi thì thấy nó như ẩn như hiện, chập chờn tựa làn mây mù.

Lúc chập chờn nó đã lên tới giường, Lý xô xuống, nó rơi xuống đất không có tiếng động, nói:

- Sao cha lại làm thế?

Trong chớp mắt lại đã lên giường trở lại.

Lý hoảng sợ dắt vợ bỏ chạy, đứa nhỏ kêu cha gọi mẹ không ngớt.

Lý chạy vào phòng vợ, đóng mau cửa lại, quay lại thì đứa nhỏ đã đứng ngay dưới chân, Lý sợ quá hỏi nó định làm gì, đứa nhỏ đáp:

- Con là người Tô Châu (tỉnh Giang Tô), họ Thiềm, năm lên sáu tuổi đã mồ côi cha mẹ, anh trai chị dâu không chịu nuôi nấng nên tới ở nhà ngoại.

Ngẫu nhiên chơi đùa ngoài cổng bị gã yêu tăng kia dụ dỗ giết chết dưới gốc dâu, sai khiến như ma trành, ngậm oan dưới suối vàng không được chuyển sinh.

May nhờ cha trả thù cho, xin theo làm con.

Lý nói:

- Người với ma khác loài, làm sao nương tựa nhau được?

Đứa nhỏ nói:

- Chỉ xin xếp cho một gian phòng nhỏ, trong bày giường chiếu cho con nằm, mỗi ngày cho một chén cháo loãng, ngoài ra không cần gì khác.

Lý theo lời, đứa nhỏ mừng rỡ, từ đó một mình ở trong phòng riêng, ra vào ăn nói không khác gì người sống.

Nghe người thiếp của Lý khóc lóc, nó hỏi Châu nhi chết đã mấy ngày rồi, người thiếp đáp bảy ngày.

Đứa nhỏ nói:

- Trời đang rất lạnh, chắc xác chưa rã, xin đào mồ lên xem thử, nếu như vẫn còn nguyên vẹn thì con có thể sống lại.

Lý mừng rỡ dắt nó cùng đi, đào mồ Châu nhi lên xem thấy xác vẫn như cũ, đang còn đau xót, ngoảng lại nhìn thì đứa nhỏ đã biến mất, lấy làm lạ bèn cáng cái xác về.

Vừa đặt lên giường thì mí mắt đã động đậy, giây lát đòi uống nước, uống xong ra mồ hôi đầm đìa, kế đứng lên.

Mọi người mừng Châu nhi đã sống lại, lại còn thêm khôn ngoan thông minh khác hẳn ngày trước.

Đến đêm lại lên giường nằm cứng đờ không có chút hơi thở nào, mọi người cùng vào xoay trở vẫn nhắm mắt nằm yên như chết, mọi người đều cả sợ cho rằng lại chết rồi.

Trời vừa sáng nó mới như tỉnh mộng, mọi người xúm lại hỏi han, đứa nhỏ đáp:

- Trước đây lúc còn theo gã yêu tăng, còn có hai đứa nhỏ khác, một đứa tên Ca Tử, vừa rồi đuổi theo cha không kịp vì nán lại phía sau chia tay Ca Tử đó thôi.

Nay Ca Tử ở dưới âm ty làm con nuôi của Khương Viên ngoại, cũng được thong thả.

Đêm qua nó tới chơi đùa với con, kế lấy ngựa đưa con về.

Vợ Lý nhân hỏi có thấy Châu nhi dưới âm ty không, đứa nhỏ đáp:

- Châu nhi đã đi đầu thai rồi, nó với cha không có duyên phận cha con, chẳng qua chỉ là Nghiêm Tử Phương ở Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô) tới đòi món nợ mấy trăm ngàn đồng tiền trước đây mà thôi.

Trước là Lý buôn bán ở Kim Lăng, còn thiếu tiền hàng của Nghiêm chưa trả, kế Nghiêm chết, chuyện ấy không ai hay biết.

Lý nghe thấy cả sợ.

Vợ Lý bèn hỏi đứa nhỏ rằng con gặp chị Huệ không, nó đáp:

- Không biết, lần sau con xuống đó sẽ hỏi thăm.

Ba bốn hôm sau, nó nói với mẹ rằng:

- Chị Huệ dưới âm ty sung sướng lắm, làm vợ của con trai út Sở Giang vương, vàng ngọc đeo đầy người, ra cửa thì có hàng ngàn người tiền hô hậu ủng.

Vợ Lý hỏi:

- Sao nó không về thăm nhà một chuyến?

Đứa nhỏ nói:

- Kẻ đã chết thì không dính líu gì với người thân nữa, nếu có ai kể rõ chuyện kiếp trước mới nhớ lại thôi.

Hôm rồi con theo Khương Viên ngoại nên được gặp chị, chị gọi con lên ngồi trên giường san hô, con nói cha mẹ đều rất nhớ nhung mà chị cứ như đang ngủ mơ.

Con nói lúc chị còn sống thích thêu quả cầu kết hoa bằng lụa, lúc cắt vải bị đứt tay làm dính máu vào đó, nay mẹ còn treo ở đầu giường, thương nhớ không nguôi, chị quên rồi sao?

Chị mới buồn rầu, nói sẽ thưa với lang quân xin về thăm mẹ.

Vợ Lý hỏi lúc nào, nó đáp là không biết.

Một hôm nói với mẹ rằng:

- Chị sắp về tới, có rất nhiều tùy tùng đi theo, phải chuẩn bị nhiều rượu thịt.

Giây lát nó chạy vào phòng mẹ nói:

- Chị tới rồi!

Rồi đẩy ghế ra sảnh đường nói:

- Chị hãy ngồi xuống nghỉ mệt, đừng khóc lóc.

Mọi người không ai nhìn thấy gì cả.

Đứa nhỏ bảo mọi người ra đốt giấy tiền vàng bạc ngoài cổng rồi trở vào nói:

- Con đã cho những người tùy tùng tạm lui về rồi.

Chị nói rằng trước đây cái chăn gấm xanh chị vẫn đắp bị lửa đèn bắn vào làm thủng một lỗ to bằng hạt đậu, nay có còn không?

Mẹ đáp:

- Vẫn còn!

Rồi lập tức mở rương lấy ra, đứa nhỏ nói:

- Chị bảo con đem trải trong phòng cũ, chị hơi mệt phải nghỉ một lúc, ngày mai sẽ lại nói chuyện với mẹ.

Có cô gái họ Triệu bên láng giềng vốn chơi thân với Huệ, đêm ấy chợt mơ thấy Huệ đội khăn mặc áo màu tía tới thăm, chuyện trò cười nói thân thiết như lúc còn sống, kế nói:

- Ta nay khác loài, giáp mặt cha mẹ mà chẳng khác nào xa cách nhau muôn núi ngàn sông, định mượn xác muội tử về trò chuyện với người nhà, xin đừng hoảng sợ.

Đến sáng nàng đang trò chuyện với mẹ chợt ngã lăn ra đất mê man, lát sau mới tỉnh, nói:

- Tiểu Huệ xa cách thím mấy năm rồi, không ngờ tóc thím đã bắt đầu bạc.

Bà Triệu hoảng sợ nói:

- Con điên rồi à?

Nàng lạy chào rồi đi ra.

Bà Triệu biết là có chuyện lạ bèn đi theo, thấy nàng tới thẳng nhà Lý, vào ôm vợ Lý khóc sướt mướt, vợ Lý hoảng sợ không biết chuyện gì.

Nàng nói:

- Hôm qua con về mệt quá chưa nói được câu nào.

Con bất hiếu nửa đường chết đi bỏ cha mẹ lại, lại làm cha mẹ phải nhớ nhung, biết lấy gì để chuộc tội?

Mẹ sực hiểu ra bèn khóc hỏi:

- Nghe nói nay con rất quý hiển, mẹ rất được an ủi, nhưng con gởi thân ở nhà bậc vương hầu, làm sao tới được đây?

Cô gái nói:

- Chồng con rất thương yêu con, cha mẹ chồng cũng rất thương mến, nên không bị ghét bỏ gì.

Lúc Huệ còn sống hay lấy tay chống cằm, cô gái nói xong cũng làm giống hệt.

Giây lát Châu nhi chạy vào nói:

- Người đón chị tới rồi!

Cô gái bèn đứng lên khóc lóc từ biệt, nói:

- Con đi đây!

Nói xong ngã lăn ra đất hồi lâu mới tỉnh.

Sau đó vài tháng, Lý mắc bệnh nặng, thuốc men gì cũng vô hiệu.

Đứa nhỏ nói:

- Sợ trong sớm tối sẽ khó cứu, có hai con quỷ ngồi ở đầu giường cha, một đứa cầm gậy, một đứa cầm dây dài bốn năm thước, con đã đêm ngày năn nỉ mà chúng không đi.

Mẹ khóc chuẩn bị đồ liệm, đến tối thì đứa nhỏ bước vào nói:

Đàn bà con gái tránh ra hết, anh rể tới thăm cha đấy.

Giây lát lại vỗ tay cười lớn mẹ hỏi vì sao, nó đáp:

Con cười hai con quỷ nghe nói anh rể tới đều rúc vào gầm giường như con rùa rụt đầu.

Lát sau lại thấy nó nhìn lên trời nói chuyện, hỏi thăm anh rể khỏe không, kế vỗ tay nói:

Hai thằng quỷ kia, ta năn nỉ không chịu đi bây giờ thật hả dạ.

Rồi đi ra cổng, kế quay vào nói:

- Anh rể đi rồi, hai con quỷ bị bắt buộc sau yên ngựa, chắc cha không sao đâu.

Anh rể nói trở về sẽ thưa với Đại vương xin cho cha mẹ sống lâu trăm tuổi.

Cả nhà đều mừng rỡ.

Đến đêm thì Lý đỡ bệnh, qua vài ngày thì khỏi hẳn.

Bèn rước thầy về dạy học cho, đứa nhỏ rất thông minh, mười tám tuổi được vào học trường huyện, vẫn thường nói chuyện dưới âm ty.

Thấy trong làng có ai bị bệnh thì chỉ rõ nơi ma quỷ trốn núp, lấy lửa thiêu đất, ai cũng khỏi bệnh.

Về sau nó bị bệnh nặng, người sưng phù lên, da chỗ xanh chỗ tím, tự nói là quỷ thần phạt ta về tội tiết lộ chuyện âm ty, từ đó trở đi không nói gì nữa.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 23+24+25


CHƯƠNG 23: TIỂU QUAN NHÂN

QUAN TÍ HON

Cơ Nhi Song Nhân Thụy Mơ Hồ

Hòe Quốc Y Quan Sự Hữu Vô

Vi Vật Tiên Tiên Do Lận Tích

Tiểu Nhân Thường Thái Diệc Hà Thù

Dịch:

Hầu Nhi Hai Mắt Ngủ Mơ Màng

Giấc Mộng Nam Kha Việc Có Chăng?

Vật Mọn Cỏn Con Còn Biển Lận

Tiểu Nhân Khí Cục Cũng Là Thường



Có quan Thái sử Mỗ, ta quên mất tên họ, một hôm nghỉ trưa trong phòng chợt thấy có một đội nghi trượng bé tí trong góc phòng kéo ra, ngựa như con ếch, người như con kiến xếp thành vài mươi đội đưa một viên quan đội mũ sa mặc áo thêu ngồi kiệu, rầm rộ kéo ra ngoài cửa đi mất.

Thái sử lấy làm lạ, ngờ là mình ngái ngủ hoa mắt nhìn lầm, chợt có một người tí hon quay vào phòng, vác một cái bao lông chiên to bằng nắm tay đi tới dưới giường, nói rằng chủ nhân có món quà mọn kính biếu Thái sử.

Nói xong đứng sững ra đó không đưa quà, lát sau lại cười nói:

- Vật mọn nhỏ tí, nghĩ chắc Thái sử cũng không dùng được vào việc gì, chẳng bằng ban cho tiểu nhân cho xong.

Thái sử gật đầu, y vui vẻ vác cái bao đi, về sau không lần nào thấy như thế nữa.

Tiếc là Thái sử trong lòng đang sợ sệt, chưa kịp hỏi người ấy rằng họ từ đâu tới.

_

*Thái sử: từ gọi chung quan chức trong Hàn lâm viện.

_______________________________

CHƯƠNG 24: HỒ TỨ THƯ

Như Quả Lan Nhân Sự Mạc Luân

Tình Thiên Tiểu Kiếp Cực Mông Ân

Đan Thành Tái Lý Hồng Trần Nhật

Phong Nguyệt Đô Quyên Kiến Túc Căn

Dịch:

Nghiệp Quả Căn Nhân Tạm Chẳng Bàn

Tình Duyên Trong Kiếp Đã Mang Ân

Đan Thành Lại Xuống Nơi Trần Thế

Trăng Gió Lâng Lâng Thấy Túc Căn



Thượng sinh người Thái Sơn (tỉnh Sơn Đông), ở một mình nơi nhà học.

Gặp đêm mùa thu, sông Ngân vằng vặc, trăng sáng giữa trời, sinh bồi hồi dưới bóng hoa, nghĩ ngợi vẩn vơ.

Chợt có cô gái trèo tường vào, cười nói:

- Tú tài nghĩ gì lung thế?

Sinh tới gần nhìn thấy nàng xinh đẹp như tiên, mừng quýnh ôm lấy dìu vào, thả sức ân ái.

Nàng tự xưng họ Hồ tên Tam Thư, hỏi nhà ở đâu chỉ cười không nói.

Sinh cũng không căn vặn, chỉ hẹn gắn bó với nhau dài lâu mà thôi, từ đó đêm nào nàng cũng tới.

Một đêm nàng cùng sinh ngồi kề gối dưới đèn trước màn, sinh âu yếm nhìn không chớp.

Cô gái cười hỏi:

- Sao cứ nhìn thiếp chằm chằm thế?

Sinh nói:

- Nàng như hồng dược bích đào, dù nhìn suốt đêm cũng không chán.

Cô gái nói:

- Thiếp xấu xí mà chàng còn để vào mắt xanh, nếu gặp em Tư nhà thiếp thì không biết chàng điên đảo tới đâu.

Sinh càng động lòng, hận là chưa được một lần thấy mặt, bèn quỳ xuống nài nỉ.

Đêm sau quả nhiên nàng dắt Tứ Thư cùng tới, thấy tuổi mới cập kê, như cánh sen đượm sương, đóa hạnh khói tỏa, nụ cười chúm chím vô cùng quyến rũ.

Sinh mừng quýnh mời ngồi, khi Tam Thư cùng sinh cười nói chuyện trò thì Tứ Thư chỉ cúi đầu mân mê dải thắt lưng thêu mà thôi.

Giây lát Tam Thư đứng lên cáo biệt, cô em định theo về thì sinh kéo lại không chịu buông, nhìn qua Tam Thư nói:

- Ái khanh, phiền nàng nói giùm một tiếng.

Tam Thư cười nói:

- Chàng cuồng yêu quýnh lên rồi, em hãy ở lại một lúc.

Tứ Thư không nói gì, người chị bèn ra về.

Hai người cùng nhau ân ái rất vui sướng, kế gối đầu lên tay nhau kể hết mọi chuyện về mình không hề giấu giếm.

Tứ Thư tự nói là hồ nhưng sinh say mê sắc đẹp nên cũng không lấy làm lạ.

Tứ Thư nhân nói:

- Chị thiếp tàn độc, nghiệp căn là phải giết ba người, ai bị chị ấy dụ dỗ đều phải chết.

Thiếp may được chàng đoái thương nên không nỡ nhìn chàng bị hại, hãy sớm dứt tình với chị ấy đi.

Sinh sợ hãi xin chỉ cách, Tứ Thư nói:

- Thiếp tuy là hồ nhưng học được chính pháp của tiên, vẽ một lá bùa dán lên cửa phòng thì có thể cự tuyệt chị ấy.

Rồi vẽ ra luôn.

Sáng sớm Tam Thư tới nhìn thấy lá bùa liền lui lại nói:

- Con nhãi phụ ơn, hết lòng với tân lang mà không nhớ tới bà mối.

Hai người các ngươi có duyên phận với nhau, ta cũng không thù oán gì, nhưng cần gì phải làm như thế!

Rồi bỏ đi.

Vài hôm sau Tứ Thư có việc, hẹn đi vắng một đêm.

Hôm ấy sinh ngẫu nhiên ra ngoài đi dạo, dưới chân núi vốn có đám cây kiều mộc, chợt thấy một thiếu phụ từ trong đám cây xanh tốt bước ra, cũng khá xinh đẹp, tới cạnh sinh nói:

- Tú tài cần gì phải quyến luyến chị em họ Hồ, họ thì không có một đồng để tặng.

Rồi lập tức đưa cho sinh một quan, nói:

- Chàng cứ đem về trước mua rượu ngon, thiếp sẽ đem một ít thức ăn tới cùng chàng vui chơi.

Sinh đem tiền về, làm như lời dặn, giây lát quả nhiên thiếu phụ tới, đặt lên bàn một con gà quay, một vai lợn muối, rút dao thái nhỏ ra rồi cùng ăn uống đùa giỡn rất vui vẻ.

Kế tắt đèn lên giường ôm ấp mơn trớn vô cùng buông thả.

Sáng ra vừa dậy, đang ngồi ở đầu giường mang giày chợt nghe có tiếng chân, đang còn lắng nghe thì đã vào tới bên màn, té ra là chị em họ Hồ.

Thiếu phụ nhìn thấy hai người hoảng sợ chạy trốn, bỏ lại đôi giày cạnh giường.

Hai nàng đuổi theo mắng:

- Con chồn dâm đãng dám ngủ với người ta à?

Đuổi theo hồi lâu mới quay lại.

Tứ Thư giận sinh, nói:

- Chàng không khá được!

Đã chung chạ với con chồn dâm đãng thì không thể gần gũi nữa!

Rồi tức tối bỏ đi.

Sinh hoảng sợ xin lỗi, năn nỉ khẩn khoản rất thảm thiết, Tam Thư đứng bên cũng lựa lời khuyên giải Tứ Thư mới nguôi giận, từ đó lại thương yêu nhau như trước.

Một hôm có người ở đất Thiểm (tỉnh Thiểm Tây) cưỡi lừa tới cổng, nói:

- Ta tìm yêu quái không phải một sớm một chiều, hôm nay mới gặp.

Cha sinh thấy lời nói lạ lùng liền hỏi duyên do, người ấy đáp:

- Tiểu nhân ngày ngày lênh đênh nơi khói sóng, rong chơi khắp bốn phương, một năm hơn mười tháng thì vắng nhà đến tám chín nên em trai bị bọn yêu quái giết hại.

Khi trở về rất đau xót căm hờn, đã thề phải tìm diệt chúng bằng hết, nhưng lặn lội mấy ngàn dặm mà chưa thấy dấu vết.

Hiện chúng đang ở nhà ông, nếu không diệt đi thì sẽ bị hại như em ta.

Lúc ấy cha mẹ đã hơi biết chuyện sinh lén lút dan díu với cô gái nên nghe khách nói thế rất sợ, bèn mời vào nhà xin làm phép diệt trừ yêu quái.

Khách lấy ra hai cái bình đặt xuống đất, niệm chú hồi lâu thì có bốn làn khói đen bay tới chia nhau chui vào bình.

Khách mừng nói:

- Cả nhà nó đều vào đây cả rồi.

Rồi lấy bong bóng lợn bịt miệng bình, buộc lại thật chặt.

Cha sinh cũng mừng, cố mời khách ở lại ăn cơm.

Sinh trong lòng thương xót, lại gần bình nghe trộm thì nghe Tứ Thư trong bình nói:

- Nỡ ngồi nhìn không cứu, sao chàng bạc tình thế?

Sinh càng mủi lòng vội mở miệng bình nhưng dây buộc chặt không sao cởi được.

Tứ Thư lại nói:

- Đừng làm thế, chỉ cần hất đổ lá cờ trên đàn cúng, lấy kim châm thủng một lỗ trên lớp bong bóng là thiếp ra được.

Sinh làm theo lời, quả nhiên thấy một sợi khói trắng chui qua lỗ kim bay lên trời đi luôn.

Khách ra thấy lá cờ đổ xuống đất, cả sợ nói:

- Nó trốn mất rồi, đây ắt là do công tử làm thôi.

Kế lắc bình, ghé tai nghe rồi nói:

- May là chỉ có một con trốn thoát, con ấy không đáng tội chết, có thể tha được.

Rồi mang bình đi.

Về sau sinh đang coi gặt lúa ngoài đồng, nhìn ra xa thấy Tứ Thư ngồi dưới gốc cây bèn tới gần cầm tay ân cần thăm hỏi.

Nàng đáp:

- Xa nhau chốc đã mười năm.

Nay tu luyện đã thành, chỉ vì chưa quên lòng chàng nên lại tới thăm một lần.

Sinh muốn nàng cùng về, nàng nói:

- Thiếp nay không phải như xưa, không thể vương vào tình ái cõi trần được nữa, sau này sẽ còn gặp nhau.

Nói xong biến mất.

Lại hơn hai mươi năm, sinh đang ở nhà một mình thì Tứ Thư từ ngoài bước vào, sinh mừng rỡ cùng trò chuyện.

Nàng nói:

- Thiếp nay đã được ghi tên vào sổ tiên, lẽ ra không nên trở lại cõi trần, nhưng cảm lòng chàng nên tới kính báo cho chàng biết thọ kỳ đã hết, hãy sớm thu xếp việc nhà.

Cũng đừng lo buồn, thiếp sẽ độ trì cho làm quỷ tiên, cũng không khổ đâu.

Rồi từ biệt mà đi.

Đến ngày, sinh quả nhiên qua đời.

Thượng sinh là người thân thích của bạn ta là Lý Văn Ngọc, ta cũng từng gặp.

_______________________________

CHƯƠNG 25: CHÚC ÔNG

Khiển Quyển Ân Tư Bi Vĩnh Quyết

Do Lai Kháng Lệ Tối Tình Thâm

Tòng Kim Bạch Thủ Đồng Quy Khứ

Si Tuyệt "Phân Hương Mãi Lý" Tâm

Dịch:

Bịn Rịn Tơ Vương Sầu Vĩnh Biệt

Chính Vì Đôi Lứa Ái Ân Thâm

Từ Nay Giai Lão Bên Nhau Mãi

"Bán Dép Chia Hương" Khỏi Bận Tâm



Thôn Chúc ở huyện Tế Dương (tỉnh Sơn Đông) có ông họ Chúc hơn năm mươi tuổi bệnh chết.

Người nhà về phòng lo may tang phục, bỗng nghe tiếng ông kêu rất gấp, vội chạy tới trước linh sàng thì thấy ông đã sống lại.

Mọi người mừng rỡ xúm lại hỏi han, ông chỉ nói với vợ:

- Ta vừa đi, đã định không trở lại, nhưng đi được mấy dặm nghĩ bỏ một mình thân già bà lại cho lũ con, ấm lạnh đều phải cậy vào người khác cũng không còn sinh thú, chẳng bằng cùng đi với ta nên quay lại đưa bà đi.

Có người cho là ông mới sống lại nói mê sảng nên không tin, ông lại nhắc lại.

Bà vợ nói:

- Như thế cũng hay, nhưng đang sống làm sao chết ngay được?

Ông vẫy lại nói:

- Chuyện đó không khó, bà cứ thu xếp những việc lặt vặt trong nhà mau đi.

Bà vợ cười không chịu đi, ông lại giục, bà bèn ra ngoài cửa một lúc rồi quay vào nói:

- Đã thu xếp xong cả rồi!

Ông bảo đi thay quần áo tử tế bà không đi, ông càng hối thúc, bà không nỡ trái ý bèn vào thay quần áo trở ra, con gái con dâu đều bịt miệng cười.

Ông dời đầu qua một bên gối, vỗ tay lên bảo nằm xuống bên cạnh.

Bà vợ nói:

- Con cái đứng cả đây mà nằm sóng đôi nhau thì ra cái gì!

Ông đập tay xuống giường nói:

- Vợ chồng cùng chết với nhau thì có gì đáng cười?

Đám con cái thấy cha nổi giận cũng khuyên mẹ tạm chiều.

Bà theo lời, cũng ghé đầu xuống gối nằm cứng đờ, người nhà đều phì cười.

Lát sau thấy bà tắt dần nụ cười, hai mắt nhắm lại, hồi lâu im lặng như đã ngủ hẳn, mọi người mới tới gần xem thì da thịt đã lạnh mà tắt hơi rồi, xem tới ông cũng thế.

Năm Khang Hy thứ 21 (1683) người em dâu ông họ Chúc tới làm thuê ở nhà quan Thứ sử họ Tất kể lại rất rõ ràng.

_

*Thứ sử họ Tất: bản Hương Cảng chú nhân vật này tên Tế Hữu, tự Tải Tích, người Truy Xuyên Sơn Đông, làm quan tới chức Thượng thư bộ Hộ nhà Minh.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 26+27


CHƯƠNG 26: HIỆP NỮ

CÔ GÁI NGHĨA HIỆP

Ân Cừu Liễu Liễu Phiêu Nhiên Khứ

Ngọc Mạo Hoa Dung Hà Xứ Tầm

Vô Phục Tầm Thường Nhi Nữ Thái

Ẩn Nương Can Đảm Tiểu Nga Tâm

Dịch:

Ân Oán Phân Minh Tâm Đã Nhẹ

Tìm Đâu Cho Thấy Mỹ Nhân A

Nữ Nhi Khác Hẳn Thường Tình Nhỉ

Gan Ẩn Nương Mà Dạ Tiểu Nga



Cố sinh người Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô), tài giỏi mà nghèo khó, lại có mẹ già nên không nỡ đi xa, ngày ngày viết liễn vẽ tranh nuôi thân, hai mươi lăm tuổi vẫn lẻ loi chưa có vợ.

Trước cửa vẫn có một tòa nhà bỏ không, chợt một bà già và một nữ lang tới thuê ở, sinh thấy nhà không có đàn ông nên không hỏi là ai.

Một hôm sinh về nhà, thấy cô gái từ phòng mẹ bước ra, khoảng mười tám mười chín tuổi, dáng dấp xinh đẹp, thế gian ít có.

Nàng thấy sinh cũng không tránh né gì lắm, nhưng ý tứ có vẻ lạnh lùng.

Sinh vào hỏi, mẹ nói:

- Ấy là cô gái ở trước mặt nhà ta qua mượn kéo và thước may, vừa rồi nói chuyện nhà nàng cũng có một bà mẹ già.

Ta xem mẹ con họ không phải hạng nhà nghèo, hỏi sao không lấy chồng thì nàng nói vì còn có mẹ già.

Ngày mai ta qua làm quen với mẹ nàng, nhân dò ý thử, nếu họ không đòi hỏi nhiều thì con nuôi giùm mẹ nàng luôn.

Hôm sau bà qua thăm, thì mẹ cô gái là một bà già nghễnh ngãng, nhìn trong nhà thấy không có gạo để qua đêm, hỏi làm nghề gì thì ra chỉ sống nhờ mười ngón tay của con gái.

Dần dà đem ý ở chung để hỏi thì bà già có vẻ bằng lòng, nhưng bàn với cô gái thì nàng im lặng như không muốn.

Mẹ sinh bèn về kể rõ rồi ngờ vực nói:

- Hay nàng chê nhà mẹ con ta nghèo chăng?

Người đâu không nói cũng không cười, xinh đẹp như đào ly mà lạnh lùng như sương tuyết, thật kỳ lạ.

Mẹ con bàn tán than thở với nhau rồi bỏ qua.

Một hôm sinh ngồi trong phòng sách thì có thiếu niên tới nhờ vẽ tranh, dáng mạo rất đẹp trai, ý tứ có vẻ không đứng đắn, sinh hỏi từ đâu tới thì đáp là ở làng bên cạnh.

Từ đó cứ hai ba ngày lại tới chơi một lần, dần dần quen thuộc đùa giỡn, sinh ôm ấp mơn trớn cũng không chống cự gì lắm, bèn tư thông với nhau, nhân đó lui tới ngày càng thân mật.

Gặp lúc cô gái qua, thiếu niên đưa mắt nhìn theo hỏi là ai, sinh đáp là con gái nhà láng giềng.

Thiếu niên nói:

- Xinh đẹp như thế mà thần thái sao dễ sợ quá.

Lát sau sinh vào nhà trong, mẹ nói:

- Mới rồi nàng qua vay gạo, nói bếp không nổi lửa trọn ngày rồi.

Nàng chí hiếu mà nghèo khổ đáng thương, ta nên giúp đỡ chút ít.

Sinh vâng lời mang một đấu gạo qua nói rõ ý mẹ, cô gái nhận nhưng cũng không cảm ơn.

Hàng ngày nàng qua nhà sinh, thấy mẹ sinh may áo khâu giày là may vá hộ, ra vào làm giúp việc nhà như là vợ.

Sinh càng biết ơn, có thức ăn ngon là chia phần đưa qua biếu mẹ nàng, nàng cũng không hề cảm tạ.

Gặp lúc mẹ sinh bị mụn nhọt ở chỗ kín, sớm tối rên la, cô gái cứ tới cạnh giường thăm hỏi, rửa ráy thoa thuốc cho, mỗi ngày ba bốn lần, mẹ sinh áy náy không yên lòng nhưng nàng không nề bẩn thỉu hôi hám.

Mẹ sinh nói:

- Ôi!

Làm sao ta có được đứa con dâu như cháu để nuôi dưỡng thân già này đến chết.

Nói xong khóc tấm tức.

Cô gái an ủi nói:

- Lang quân đại hiếu, còn sung sướng hơn cảnh con côi mẹ góa nhà cháu gấp ngàn lần!

Mẹ sinh nói:

- Những việc lặt vặt bên giường thế này thì có phải đứa con trai hiếu thảo làm nổi đâu.

Vả lại ta đã già, sớm tối sương nắng chưa biết thế nào nên rất lo vì chưa có cháu nối dõi.

Đang nói thì sinh bước vào, mẹ khóc nói:

- Mẹ làm phiền nương tử đây nhiều lắm, con đừng quên đền ơn.

Sinh vái lạy tạ ơn, cô gái nói:

- Chàng kính mến mẹ ta mà ta không cảm tạ, sao chàng lại tạ ơn ta?

Từ đó sinh càng kính yêu nhưng thái độ của nàng vẫn cứng cỏi, không có chỗ nào có thể suồng sã được.

Một hôm nàng ra tới cửa, sinh nhìn theo đăm đăm, nàng bỗng quay lại nhìn sinh mỉm cười.

Sinh mừng quá lòng mong mỏi, liền đuổi theo vào tới nhà nàng, chọc ghẹo nàng cũng không chống cự, lại vui vẻ cùng sinh giao hoan.

Kế dặn sinh rằng:

- Chuyện này chỉ một lần thôi, không có tới hai đâu.

Sinh im lặng ra về, hôm sau lại hẹn hò, cô gái nghiêm sắc mặt không đếm xỉa tới mà bỏ đi thẳng.

Hàng ngày nàng qua lại sinh cũng thường gặp, nhưng nàng vẫn giữ vẻ nghiêm nghị từ sắc mặt tới lời nói, hơi tỏ ý đùa cợt thì nàng lập tức trở nên lạnh lùng.

Chợt gặp nhau ở chỗ vắng, nàng hỏi thiếu niên thường ngày tới chơi là ai, sinh kể rõ, nàng nói:

- Y mấy lần tỏ vẻ vô lễ với thiếp rồi, nhưng vì chàng thân mật với y nên thiếp bỏ qua, xin nhắn với y rằng nếu còn như vậy là không muốn sống nữa đấy!

Thiếu niên tới, sinh kể lại rồi nói:

- Anh nên cẩn thận, nàng ta thì không thể phạm vào đâu.

Thiếu niên nói:

- Đã không thể phạm thì sao anh lại phạm?

Sinh ra sức biện bạch là không có, thiếu niên nói:

- Nếu không có thì sao những lời đùa cợt của ta lại tới tai anh được?

Sinh không đáp được thiếu niên nói:

- Ta cũng phiền anh nhắn với cô ta là đừng làm ra vẻ, nếu không ta sẽ rêu rao khắp nơi đấy.

Sinh giận dữ ra mặt, thiếu niên mới đi.

Một đêm sinh đang ngồi một mình chợt cô gái tới cười nói:

- Ta với chàng tình duyên chưa dứt, há không phải số trời sao?

Sinh mừng quýnh ôm lấy nàng, chợt nghe có tiếng giày lẹp kẹp, hai người hoảng sợ vùng dậy thì thiếu niên đã đẩy cửa bước vào.

Sinh sửng sốt hỏi:

- Anh định làm gì?

Thiếu niên cười nói:

- Ta tới xem con người trinh tiết thôi!

Rồi quay qua cô gái nói:

- Hôm nay không mắng người à?

Cô gái đỏ mặt dựng ngược lông mày im lặng không nói gì, chỉ phanh áo ngoài để lộ ra một cái túi da, theo tay tuốt ra thì là một thanh chủy thủ sáng loáng dài ngót một thước.

Thiếu niên trông thấy sợ hãi bỏ chạy, đuổi theo ra cửa nhìn quanh thì đã biến mất.

Cô gái phóng ngọn chủy thủ lên không nghe vút một tiếng, lóe sáng như chiếc cầu vồng bay đi, chớp mắt có vật rơi huỵch xuống đất, sinh vội cầm đèn ra soi thì là một con chồn trắng, đầu một nơi mình một nẻo.

Cô gái nói:

- Đó là thằng nhãi đẹp trai của chàng đấy.

Ta vẫn muốn tha, nhưng tự nó không muốn sống nữa thì làm sao được.

Rồi thu đao cất lại vào túi.

Sinh kéo trở vào, nàng nói:

- Mới rồi bị con vật này làm mất hứng, xin hẹn đêm mai.

Rồi ra cửa đi thẳng.

Đêm sau nàng quả tự tới cùng sinh ân ái, hỏi về thuật lạ thì nàng nói:

- Đó không phải là điều chàng biết được, nên giữ cho kín, tiết lộ ra e không phải là chuyện hay cho chàng đâu.

Sinh bàn chuyện cưới hỏi, nàng nói:

- Đầu gối tay ấp rồi, nấu cơm gánh nước rồi, không phải vợ chồng thì là gì?

Đã là vợ chồng mà còn nói chuyện cưới hỏi sao?

Sinh nói:

- Hay là nàng chê ta nghèo?

Nàng đáp:

- Chàng nghèo thì thiếp giàu sao?

Cuộc gặp gỡ đêm nay chính vì thương chàng nghèo đó thôi.

Lúc chia tay lại dặn:

- Việc chung lén này không nên làm mãi.

Thấy nên thì thiếp tự tới, không thì đừng ép nhau vô ích.

Sau đó gặp nhau sinh cứ lần khân muốn nói chuyện riêng nhưng cô gái đều tránh đi, có điều việc cơm nước vá may nàng đều lo toan như là vợ sinh thật vậy.

Mấy tháng sau mẹ nàng mất, sinh hết sức lo việc mai táng.

Cô gái từ đó còn có một mình, sinh nghĩ vắng vẻ có thể gạ gẫm bèn trèo tường vào đứng ngoài cửa sổ gọi mấy lần không thấy đáp, nhìn tới cửa thì nhà vắng người mà then vẫn cài.

Sinh ngờ nàng hẹn hò với ai khác nên tối lại tới nhưng nàng cũng đi vắng, bèn tháo miếng bội ngọc đặt ở cửa sổ rồi đi.

Qua hôm sau gặp nhau ở phòng mẹ, kế sinh đi ra, nàng theo sau nói:

- Chàng ngờ thiếp ư?

Người ta ai cũng có tâm sự riêng không thể nói ra, nay muốn chàng hết ngờ thì làm sao cho được.

Nhưng hiện có chuyện gấp nhờ chàng lo giùm.

Sinh hỏi chuyện gì, nàng đáp:

- Thiếp có thai tám tháng rồi, e sớm tối là sinh nở.

Thân phận thiếp chưa rõ ràng nên chỉ có thể sinh con chứ không thể nuôi con cho chàng.

Vậy chàng nói kín với mẹ để tìm vú nuôi, cứ nói là con nuôi chứ đừng nói là con của thiếp.

Sinh theo lời kể với mẹ, mẹ cười nói:

- Lạ thật, cô gái này hỏi cưới thì không chịu mà lại tình nguyện hiến thân cho con ta!

Rồi vui mừng sửa soạn để chờ.

Lại hơn tháng sau, cô gái mấy hôm liền không ra ngoài, mẹ sinh ngờ vực tới nhà dò xét, thấy vắng vẻ yên ắng, gõ cửa hồi lâu mới thấy nàng đầu tóc rối bù mặt mũi lem luốc từ trong đi ra mở cửa cho bà vào rồi đóng lại ngay.

Vào trong phòng thì đứa nhỏ mới sinh đã nằm trên giường.

Bà giật mình hỏi sinh nở bao lâu rồi, nàng đáp đã ba hôm, mở tã ra xem thì ra là con trai, mặt vuông trán rộng.

Bà mừng nói:

- Con đã sinh cho già cháu nội rồi, nhưng lênh đênh một mình định nương dựa vào đâu.

Nàng nói:

- Nỗi riêng trong lòng không dám tỏ bày với mẹ, hãy đợi đến tối mà bế cháu về.

Bà về kể chuyện cho sinh nghe, mẹ con cùng lấy làm lạ, đến đêm qua bế đứa nhỏ về.

Mấy hôm sau, lúc gần nửa đêm, cô gái chợt gõ cửa bước vào, tay xách cái túi da cười nói:

- Việc lớn xong rồi, từ nay xin vĩnh biệt.

Sinh vội hỏi duyên cớ, nàng đáp:

- Cái ơn chàng nuôi mẹ không lúc nào quên.

Trước đây nói một lần chứ không có hai vì nghĩ chuyện báo đền không phải ở chỗ cùng chăn gối.

Thấy chàng nghèo không cưới vợ được nên muốn giúp chàng kéo dài dòng dõi, vốn nghĩ chỉ một lần là có kết quả, không ngờ lại thấy tháng nên phải phá giới mà ăn nằm lần thứ hai.

Nay ơn chàng đã trả, chí thiếp đã toại, không ân hận gì nữa.

Hỏi vật gì trong túi nàng nói:

- Cái đầu của kẻ thù.

Sinh mở xem thấy râu tóc bờm xờm, máu me bê bết sợ quá lại hỏi đầu đuôi, cô gái nói:

- Trước kia không nói với chàng vì việc lớn mà không kín đáo e bị tiết lộ.

Nay việc đã xong, nói ra cũng không sao.

Thiếp là người đất Chiết (tỉnh Chiết Giang), cha làm quan Tư mã bị kẻ thù hãm hại, tịch thu hết sản nghiệp.

Thiếp dẫn mẹ già đi trốn, mai danh ẩn tích đã ba năm rồi.

Sở dĩ không trả thù ngay chỉ vì mẹ còn sống, khi mẹ qua đời lại vướng hòn máu của chàng trong bụng nên đến nay mới ra tay được.

Đêm trước thiếp đi vắng không có chuyện gì khác, chỉ vì đường lối cửa ngõ chưa thuộc nên e bị lầm lẫn.

Nói xong đi ra cửa, lại dặn:

- Nên chăm sóc con cho khéo, chàng phúc mỏng không thọ nhưng đứa nhỏ này có thể làm rạng rỡ cửa nhà.

Đêm khuya không thể quấy rầy mẹ, thôi ta đi đây.

Sinh đang buồn rầu định hỏi đi đâu thì cô gái như ánh chớp lướt đi, trong nháy mắt không thấy đâu nữa.

Sinh thở than thương tiếc đứng ngẩn ra như mất hồn.

Hôm sau kể chuyện cho mẹ nghe, chỉ còn cùng nhau thở than khen lạ mà thôi.

Ba năm sau quả nhiên sinh chết, đứa con năm mười tám tuổi thi đỗ Tiến sĩ, phụng dưỡng bà nội đến già.

____________________________________

CHƯƠNG 27: TỬU BẰNG

BẠN RƯỢU

Tiên Nhân Dã Hướng Túy Hương Du

Lại Bộ Phong Lưu Kim Thượng Lưu

Tri Kỷ Cảm Ân Tình Ích Hậu

Trượng Đầu Tiền Cánh Vị Quân Mưu

Dịch:

Tiên Nhân Cũng Hướng Nhập Làng Say

Lại Bộ Phong Lưu Trước Tới Nay

Tri Kỷ Ân Tình Nồng Hậu Nhỉ

Tiền Treo Đầu Gậy Vị Ai Đây



Cố Xa sinh nhà không khá giả mấy nhưng thích uống rượu, đêm đến mà không uống thật say thì không ngủ được, nên vò rượu ở đầu giường ít khi rỗng không.

Một đêm chợt tỉnh, trở mình thấy như có người cùng nằm ngủ chung, nghĩ là cái màn rơi xuống.

Đưa tay sờ, thấy rõ ràng có con vật giống con mèo mà lớn hơn, thắp đèn nhìn thì là con chồn uống rượu say nằm phục xuống đó, nhìn tới vò rượu thì đã cạn sạch.

Sinh cười nói:

- Đây là bạn rượu của ta, không nỡ làm nó sợ!

Bèn đắp thêm chăn cho nó, lại nằm xuống bên cạnh nhưng vẫn để đèn chờ xem động tĩnh.

Đến nửa đêm con chồn duỗi ra như tỉnh dậy, sinh cười hỏi:

- Ngủ ngon chứ hả?

Giở chăn ra nhìn, thì một nho sĩ tuấn tú đứng lên vái lạy trước giường, tạ ơn không giết.

Sinh nói:

- Ta có tật thích rượu, người ta cho là ngu si, ông là người tri kỷ của ta, nếu không ngờ vực hãy làm bạn rượu với nhau.

Kế lại lên giường cùng ngủ, sinh nói:

- Ông cứ tới đây thường, đừng nghi ngại gì.

Hồ hứa sẽ tới.

Khi sinh tỉnh dậy thì hồ đã đi, bèn mua một vò rượu lớn để đợi.

Đến tối quả nhiên hồ tới, cùng ngồi xếp bằng uống rượu với nhau rất vui vẻ.

Hồ tửu lượng rất cao, lại khéo đùa giỡn, nên hai người đều hận là gặp nhau quá muộn.

Hồ nói:

- Mấy lần uống rượu nhờ, không biết lấy gì báo đáp?

Sinh đáp:

- Vui vẻ với nhau là chính, một đấu rượu có đáng cái gì.

Hồ nói:

- Nhưng ông là học trò nghèo, kiếm tiền mua rượu rất không dễ, phải tính cách giúp ông mới được

Đêm hôm sau tới nói:

- Từ đây đi về phía đông nam bảy dặm, cạnh đường có tiền rơi nên tới sớm mà nhặt.

Mờ sáng sinh ra đi, quả nhặt được hai đồng tiền vàng, bèn mua thức ăn ngon thêm vào bữa rượu đêm.

Hồ lại nói:

- Phía sau nhà có tiền thôn nên đào lên.

Sinh theo lời, quả đào được hơn trăm quan tiền, mừng nói:

- Trong túi đã có tiền, không phải buồn nỗi thiếu rượu nữa rồi.

Hồ nói:

Không phải vậy!

Nước trong vũng làm sao có thể vốc uống mãi được?

Phải cùng nhau tính cách thôi.

Ngày khác, hồ nói với sinh:

- Hạt hướng dương ngoài chợ rất rẻ, đó là món hàng quý có thể tích trữ.

Sinh nghe theo, gom mua tới hơn bốn mươi thạch, ai thấy cũng cười.

Nhưng ít lâu sau trời đại hạn, lúa đậu đều khô cháy, chỉ có hướng dương là trồng được, sinh đem bán hướng dương cho người ta làm hạt giống, lãi gấp chục lần vốn mua.

Từ đó giàu lên, mua hai trăm mẫu ruộng tốt, chỉ hỏi hồ mà trồng trọt, trồng lúa nếp thì trúng lúa nếp, trồng lúa tẻ thì trúng lúa tẻ, mọi việc gieo cấy sớm hay muộn đều theo lời hồ.

Hồ ngày càng thân với sinh, gọi vợ sinh là chị, coi con sinh như con.

Sau sinh chết, hồ thôi không tới nữa.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 28+29


CHƯƠNG 28: LIÊN HƯƠNG

Thất Nhật Trầm Kha Hoàn Cố Ngã

Thập Niên Cựu Ước Chứng Tiền Sinh

Nhàn Trung Tế Độc Tang Sinh Truyện

Hồ Quỉ Tranh Nghiên Tối Hữu Tình

Dịch:

Bệnh Bảy Ngày Qua Quy Cố Ngã

Hẹn Mười Năm Cũ Chứng Tiền Thân

Trong Phòng Đọc Kỹ Tang Sinh Truyện

Hồ Quỷ Ganh Đua Vẻ Tuyệt Trần



Tang sinh tên Hiểu tự Tử Minh là người huyện Nghi Châu (tỉnh Sơn Đông), mồ côi từ nhỏ, dạy học ở phố Hồng Hoa.

Sinh là người lặng lẽ yên phận, mỗi ngày hai lần qua nhà láng giềng ăn cơm, ngoài ra chỉ ngồi lì ở nhà mà thôi.

Người bạn nhà láng giềng tình cờ ghé chơi, đùa nói:

- Ông ở một mình mà không sợ hồ quỷ à?

Tang cười đáp:

- Trượng phu sợ gì hồ quỷ.

Con đực tới thì ta có gươm sắc, con cái tới thì sẽ mở cửa mời vào.

Bạn về bàn với người quen, cho một kỹ nữ bắc thang trèo qua tường gõ cửa.

Sinh nhìn ra hỏi là ai, người kỹ nữ tự xưng là ma.

Sinh sợ quá run cầm cập, người kỹ nữ quanh quẩn một lúc rồi bỏ đi.

Sáng sớm người bạn nhà láng giềng tới, sinh kể lại rồi nói muốn về quê, bạn vỗ tay cười hỏi:

- Sao không mở cửa mời vào?

Sinh sực hiểu là giả nên lại ở yên như cũ.

Được nửa năm có cô gái đang đêm tới gõ cửa, sinh cho là bạn lại trêu ghẹo liền mở cửa mời vào, thì là một mỹ nhân nghiêng nước nghiêng thành, kinh ngạc hỏi từ đâu tới.

Cô gái đáp:

- Thiếp là Liên Hương, kỹ nữ bên xóm tây.

Nguyên trên phố vốn có nhiều thanh lâu nên sinh tin là thật, bèn tắt đèn lên giường, yêu đương cực kỳ âu yếm.

Từ đó cứ năm ba ngày nàng lại tới một lần.

Một đêm sinh đang ngồi một mình nghĩ ngợi thì có một thiếu nữ lãng đãng bước vào Sinh cho là Liên Hương nên bước ra chào hỏi, nhưng nhìn mặt thì không phải, thấy khoảng mười lăm mười sáu tuổi, tay áo tha thướt, mái tóc buông rủ, dáng vẻ phong nhã xinh đẹp, bước chân nửa như muốn tới nửa như muốn lui, sinh hết sức kinh ngạc, ngờ là hồ.

Nàng nói:

- Thiếp là con nhà lương dân, họ Lý, hâm mộ chàng cao nhã, mong được đoái tưởng.

Sinh mừng rỡ cầm tay nàng, thấy lạnh như băng liền hỏi sao lạnh thế, nàng đáp:

- Tấm thân yếu đuối đơn hàn lại dầm sương đêm làm sao không lạnh.

Kế cởi bỏ quần áo thì rõ ràng còn là xử nữ.

Nàng nói:

- Thiếp vì tình duyên mà tấm thân nhỏ nhoi này một sớm không giữ được nữa, nếu chàng không chê là xấu xí hèn hạ thì xin được thường hầu hạ chăn gối.

Trong nhà chàng không có ai khác chứ?

Sinh đáp:

- Không có ai khác, chỉ có một kỹ nữ ở cạnh đây nhưng cũng không tới thường.

Cô gái nói:

- Thế thì phải tránh mặt, thiếp không thể ví như hạng kỹ nữ.

Xin chàng giữ kín đừng tiết lộ, cứ cô ta tới thì thiếp đi, cô ta đi thì thiếp tới là được.

Khi gà gáy nàng muốn ra đi, tặng sinh một chiếc giày thêu, nói:

- Đây là vật thiếp mang dưới chân, mân mê cũng đủ bớt nhớ nhung, nhưng có người khác thì cẩn thận đừng lấy ra.

Sinh cầm xem thấy cong cong nhỏ tí, trong lòng rất thích.

Qua đêm sau nhân lúc vắng người lấy ra ngắm nghía vuốt ve, chợt cô gái lãng đãng bước vào, lại cùng nhau ân ái.

Từ đó cứ lúc nào sinh đem chiếc giày ra là cô gái theo lòng mong mỏi tới lập tức.

Sinh lấy làm lạ gạn hỏi thì nàng cười đáp:

- Ngẫu nhiên đúng lúc thôi!

Một đêm Liên Hương tới, sửng sốt nói:

- Thần sắc chàng sao tiều tụy thế?

Sinh đáp là không biết.

Liên Hương bèn từ biệt, hẹn mười ngày nữa sẽ tới.

Sau khi Liên đi đêm nào Lý cũng tới, thường hỏi:

- Tình nương của chàng sao lâu quá không thấy tới?

Sinh bèn nói lại lời hẹn.

Lý cười hỏi:

- Chàng thấy thiếp với Liên Hương ai đẹp hơn?

Sinh đáp:

- Có thể nói cả hai đều rất đẹp, nhưng nàng Liên Hương thì da thịt ấm áp hơn.

Lý biến sắc nói:

- Chàng nói hai người cùng đẹp chỉ là chiều lòng thiếp thôi.

Chắc cô ta là người tiên trên Nguyệt điện, thiếp không bằng được.

Vì thế không vui, nhân tính lại đã hết kỳ hạn mười ngày bèn dặn sinh giữ kín để nàng nhìn lén xem sao.

Đêm sau quả Liên Hương tới, nói cười rất vui vẻ, đến lúc đi ngủ hoảng sợ nói:

- Chết rồi!

Mười ngày không gặp nhau sao chàng thêm suy yếu thế này, có gặp gỡ ai phải không?

Sinh hỏi sao biết, nàng đáp:

- Thiếp theo thần khí của chàng mà nghiệm thôi.

Mạch yếu ớt như tơ rối, đúng là bệnh ma làm.

Đêm sau Lý tới, sinh hỏi thấy Liên Hương ra sao, nàng đáp:

- Đẹp lắm!

Thiếp vốn ngờ trên đời không có ai đẹp tới mức ấy, đúng là hồ.

Khi cô ta đi ra, thiếp theo sau tới tận hang ở Nam Sơn.

Sinh nghi là Lý ghen nên chỉ ậm ừ, cách một đêm nữa đùa nói với Liên Hương:

- Ta vốn không tin đâu, nhưng có kẻ nói nàng là hồ đấy.

Liên Hương hỏi ai nói thế, sinh cười đáp:

- Ta nói đùa thôi!

Liên Hương nói:

- Hồ thì khác người chỗ nào?

Sinh nói:

- Người mà bị hồ mê hoặc bệnh nặng quá thì chết, nên rất đáng sợ.

Liên nói:

- Không phải thế!

Như tuổi chàng thì ba ngày sau khi ăn nằm với đàn bà tinh khí sẽ phục hồi, cho dù với hồ cũng có gì hại.

Còn nếu đêm nào cũng truy hoan thì người còn hại hơn hồ nhiều.

Chẳng lẽ những con ma ho lao, cái xác mòn mỏi trong thiên hạ đều ngu xuẩn chết vì hồ cả à?

Tuy nhiên ắt có kẻ bình phẩm về ta rồi đây.

Sinh cố phân trần là không có ai cả nhưng Liên càng ra sức gạn hỏi, sinh bất đắc dĩ phải nói thật.

Liên nói:

- Thiếp vẫn lấy làm lạ là sao chàng suy yếu, mà sao lại mau lẹ đến thế?

Hay cô ta không phải là người chăng?

Chàng cũng đừng nói gì, tối mai thiếp sẽ làm đúng như cô ta lén nhìn thiếp hôm trước vậy.

Đêm ấy Lý tới, vừa nói vài câu chợt nghe ngoài cửa sổ có tiếng ho hắng, vội vàng bỏ đi.

Liên vào nói:

- Thôi chàng nguy rồi.

Cô ta đúng là ma, nếu chàng còn mê sắc đẹp không dứt tình ngay đi thì đường xuống âm ty gần lắm.

Sinh nghĩ nàng ghen nên im lặng không đáp.

Liên lại nói:

- Thiếp biết ngay rằng chàng không thể dứt tình, nhưng không nỡ ngồi nhìn chàng chết, ngày mai sẽ đem thuốc tới đây để trừ âm độc cho chàng.

Cũng may là gốc bệnh còn cạn, trong mười ngày sẽ khỏi, xin nằm chung giường để săn sóc đến tới khi khỏi hẳn.

Đêm sau quả nàng đem thuốc tới sắc cho sinh uống, phút chốc đi ngoài hai ba lần, thấy ruột gan mát mẻ, tinh thần sảng khoái, trong lòng rất biết ơn nàng nhưng rốt lại vẫn không tin mình bị ma làm.

Liên cứ đêm đêm ngủ chung để chăm sóc, sinh muốn giao hoan thì nàng không chịu.

Mấy hôm sau sinh khỏe lại rồi, nàng từ giã dặn đi dặn lại là phải dứt tình với Lý, sinh giả vâng dạ.

Kế đóng cửa khêu đèn, lại đem chiếc giày ra vuốt ve mơ tưởng.

Lý chợt tới, vì xa cách mấy ngày nên có nét hờn giận.

Sinh nói:

- Cô ta suốt mấy đêm liền lo thuốc men cho ta, xin đừng giận dỗi, thương yêu là ở ta thôi.

Lý mới hơi nguôi.

Khi cùng nằm chung, sinh nói nhỏ:

- Ta rất yêu nàng, nhưng có kẻ nói nàng là ma đấy!

Lý đơ lưỡi hồi lâu rồi mắng:

- Chắc là con chồn dâm dục nói bậy với chàng rồi.

Nếu chàng không dứt tình với nó thì thiếp không tới nữa đâu.

Rồi khóc hu hu, sinh khuyên giải đủ cách mới nín.

Đêm sau Liên Hương tới, biết Lý lại ghé liền nổi giận nói:

- Chàng nhất định chết phải không?

Sinh cười đáp:

- Sao nàng ghen với cô ta quá thế?

Liên càng tức giận, nói:

- Chàng gieo mầm chết, thiếp đã trừ cho, không ghen mà được à?

Sinh đặt chuyện để đùa, nói:

- Cô ta nói hôm trước ta bị bệnh là do hồ gây ra đấy.

Liên bèn than:

- Nếu như lời chàng nói thì chàng say đắm không tỉnh, vạn nhất có bề gì thì dẫu thiếp có trăm miệng cũng làm sao phân trần cho được?

Vậy xin giã biệt từ đây sau trăm ngày sẽ xem chàng nằm liệt giường.

Sinh cố giữ lại không được, nàng phẩy tay đi thẳng.

Từ đó đến đêm là Lý tới khoảng hơn hai tháng thì sinh thấy mỏi mệt quá, lúc đầu còn tự an ủi nhưng ngày càng kiệt sức, chỉ uống được một chén nước cháo.

Muốn về quê dưỡng bệnh mà còn bịn rịn với Lý không nỡ đi ngay, cứ thế thêm vài ngày thì bệnh nặng không sao dậy nổi.

Người bạn láng giềng thấy sinh yếu quá, ngày ngày sai học trò trong trường lo lắng cơm nước cho.

Sinh lúc ấy mới nghi ngờ Lý, nhân nói với Lý rằng:

- Ta hối hận không nghe lời Liên Hương nên mới tới nông nỗi này.

Nói xong thì ngất đi, giây lát mới tỉnh, giương mắt nhìn quanh thì Lý đã bỏ đi rồi, từ đó bặt tăm luôn.

Sinh nằm một mình trong căn nhà vắng, mong đợi Liên Hương như nhà nông chờ ngày lúa chín vậy.

Một hôm đang tơ tưởng chợt có người vén rèm bước vào, thì ra là Liên Hương.

Nàng tới cạnh giường, nhếch mép cười nói:

- Anh nhà quê, ta nói có sai đâu?

Sinh nghẹn ngào hồi lâu, tự nói đã biết tội, chỉ xin cứu cho.

Liên nói:

- Bệnh chàng đã vào sâu trong tim phổi, thật không có cách gì cứu được, ta ghé qua để cùng chàng vĩnh biệt cho rõ là không phải ghen tuông thôi.

Sinh vô cùng đau xót, nói:

- Dưới gối có một vật, phiền nàng xé nát giùm.

Liên tìm được chiếc giày, đem ra trước đèn xoay trở ngắm nghía.

Lý chợt bước vào, vừa thấy Liên Hương vội quay ra định chạy.

Liên đứng chặn ngang cửa, Lý cùng đường không biết chạy đâu.

Sinh trách mắng kể tội, Lý không sao đáp được.

Liên cười nói:

- Thiếp nay mới được giáp mặt chị để đối chất.

Hôm trước chị nói lang quân mắc bệnh chưa chắc không phải là thiếp gây ra, bây giờ thì sao?

Lý cúi đầu tạ tội, Liên nói:

- Trông xinh đẹp như thế mà đem tình yêu kết oán cừu sao?

Lý nằm phục xuống đất khóc nức nở, xin thương tình cứu giúp.

Liên đỡ dậy hỏi lai lịch, nàng nói:

- Thiếp là con Lý Thông phán, tuổi nhỏ chết non, chôn ngoài tường này.

Tằm xuân đã chết mà mối tơ chưa dứt, gắn bó với chàng là điều thiếp mong mỏi, chứ thật lòng đâu muốn làm cho chàng chết.

Liên hỏi:

- Nghe nói ma hay làm cho người chết để có thể gặp nhau thường phải không?

Lý đáp:

- Không phải thế!

Hai con ma gặp nhau thì không có gì chút sung sướng, nếu sung sướng thì há dưới suối vàng lại thiếu kẻ trai tráng sao?

Liên nói:

- Ngốc thật!

Cứ đêm đêm hành dâm thì với người cũng không chịu nổi, huống chi là với ma.

Lý hỏi hồ cũng hiếu dâm làm chết người chứ đâu riêng gì ma, Liên đáp:

- Đó là bọn hút tinh khí tu luyện nhưng thiếp không phải loại ấy.

Cho nên ở đời có loại hồ không hại người, nhưng quyết không có loại ma nào không hại người, vì âm khí nặng nề vậy.

Sinh nghe nói chuyện mới biết hai người đúng là hồ và ma, nhưng vì gần gũi đã quen nên cũng không sợ hãi, song nghĩ mình hơi thở chỉ còn như sợi tơ bất giác đau lòng khóc lớn.

Liên nhìn lại hỏi định xử sự với lang quân thế nào, Lý ấp úng từ tạ.

Liên cười nói:

- Chỉ e lang quân khỏe rồi nương tử lại ghen với ta à?

Lý khép nép nói:

- Nếu chị có tài thần y giúp thiếp khỏi mang tội với lang quân thì thiếp phải úp mặt xuống đất chứ đâu còn dám nhìn thiên hạ nữa!

Liên mở túi lấy thuốc ra nói:

- Thiếp đã biết trước là sẽ có hôm nay nên sau khi từ giã liền đi hái thuốc khắp các núi, suốt ba tháng mới đủ dược vị, dù bệnh nặng gần chết uống vào cũng khỏi.

Nhưng vì đâu mà mắc bệnh thì phải lấy đó dẫn thuốc, nên không thể không nhờ nàng ra sức.

Lý hỏi cần giúp gì, Liên đáp:

- Chỉ cần một ít nước bọt từ môi son thôi.

Ta sẽ đặt hoàn thuốc lên miệng chàng, phiền nàng kề môi nhổ nước bọt đưa thuốc xuống.

Lý đỏ bừng cả mặt, cúi đầu quay qua ngó chiếc giày.

Liên hỏi:

- Em chỉ có chiếc giày là đắc ý thôi sao?

Lý càng thẹn, nhìn quanh như không còn mặt mũi nào, Liên nói:

- Đó là ngón thường ngày đã quen nay sao lại tiếc?

Kế lấy thuốc đặt lên môi sinh rồi quay qua giục Lý.

Lý bất đắc dĩ phải làm, Liên bảo nhổ thêm lần nữa, Lý lại làm theo, ba bốn lần thì hoàn thuốc trôi xuống cổ họng sinh.

Giây lát trong bụng sinh có tiếng ùng ục như sấm, Liên cho uống một hoàn nữa, tự mình kề môi tiếp hơi cho sinh nuốt.

Sinh thấy đan điền nóng ran, tinh thần phấn chấn, Liên nói:

- Khỏi rồi!

Lý nghe gà gáy vội vàng từ giã.

Liên vì sinh vừa khỏi bệnh còn cần chăm sóc, qua láng giềng ăn cơm thì không tiện bèn đóng cổng lại khóa ngoài, giả làm ra vẻ như sinh về quê để tuyệt hết bạn bè, ngày đêm ở cạnh chăm sóc cho sinh.

Lý thì đến đêm là tới, lo cơm nước rất ân cần, thờ Liên như chị, Liên cũng rất thương yêu.

Được ba tháng thì sinh khỏe mạnh như cũ, Lý bèn vài đêm mới tới.

Ngẫu nhiên ghé qua thì chỉ nhìn qua sinh rồi đi ngay, lúc ngồi với nhau cũng thường rầu rầu không vui.

Liên thường giữ lại ngủ chung nhưng nhất định không chịu, sinh đuổi theo bế về, thấy thân thể nhẹ bỗng như hình nộm.

Lý không trốn được bèn để nguyên áo nằm yên, co ro còn không đầy hai thước, Liên càng thêm thương xót, lén bảo sinh ôm ấp vuốt ve nhưng lay gọi mấy cũng không tỉnh.

Sinh thiếp đi, khi tỉnh dậy sờ xem thì nàng đã biến mất.

Hơn mười ngày sau Lý không tới nữa, sinh nhớ nhung tha thiết cứ đem chiếc giày ra mân mê.

Liên than:

- Người yểu điệu như thế thiếp nhìn thấy cũng thương, huống gì là đàn ông.

Sinh nói:

- Trước đây cứ mân mê chiếc giày là lập tức nàng tới, ta vẫn ngờ vực nhưng không ngờ nàng là ma.

Nay thấy vật nhớ người, thật rất thương xót.

Rồi sa nước mắt.

Nguyên là nhà giàu họ Chương có con gái tên Yến Nhi, mười lăm tuổi thì bị bệnh tắc mồ hôi chết, qua đêm lại sống lại, trở dậy nhìn ngó rồi định chạy, Chương đóng chặt cửa không cho chạy ra.

Cô gái nói:

- Ta là hồn con gái Lý Thông phán, cảm tình Tang quân thương yêu, giày ta còn để ở nhà chàng.

Thật ra ta là ma thôi, ngăn cấm ta làm gì?

Chương nghe lời nói có duyên do liền hỏi vì sao tới đây, cô gái cúi xuống ngẩng lên cũng mịt mờ không tự hiểu.

Có người nói Tang sinh bị ốm đã về quê rồi, nàng cố cãi là bịa đặt, người nhà nghe thế rất nghi ngờ.

Người bạn láng giềng của sinh nghe chuyện bèn trèo tường vào nhìn, thấy sinh đang ngồi trò chuyện với một mỹ nhân liền xô cửa xông vào, đang lúc ầm ĩ thì mỹ nhân đã biến mất.

Bạn hoảng sợ gạn hỏi, sinh cười nói:

- Lúc trước ta đã nói với ông rồi, con cái tới thì sẽ mời vào mà.

Bạn kể lại lời Yến Nhi, sinh muốn ra ngoài tới nhà họ Chương dò la nhưng khổ nỗi không có cớ.

Bà Chương nghe tin quả sinh chưa về quê càng lấy làm lạ bèn sai mụ ở tới đòi chiếc giày, sinh liền đưa ra.

Yến Nhi được giày rất mừng nhưng mang thử thì nhỏ hơn chân một tấc, cả sợ cầm gương soi bỗng sực hiểu ra là mình mượn xác để sống lại, nhân kể rõ lại mọi việc, bà Chương lúc ấy mới tin.

Cô gái soi gương khóc lớn, nói:

- Mặt mũi ngày trước thấy rất tự tin mà mỗi khi gặp chị Liên còn xấu hổ, giờ đây thành ra thế này thì cứ làm ma còn hơn.

Rồi cầm chiếc giày kêu khóc không ai khuyên dỗ được, kế trùm chăn nằm yên, mang cơm tới cũng không ăn, toàn thân sưng phù.

Bảy ngày liền không ăn uống mà không chết, dần dần hết phù, thấy đói quá không chịu nổi bèn ăn uống trở lại.

Vài hôm sau toàn thân ngứa ngáy, da cũ lột hết, sáng ra mang giày thấy rơi ra mới so lại thì giày lớn quá, lại thử chiếc giày cũ thấy vừa khít.

Mừng quá soi gương thì mặt mũi mày mắt giống hệt lúc trước, càng mừng rỡ liền rửa mặt chải đầu tới gặp mẹ, ai thấy cũng ngạc nhiên.

Liên Hương nghe chuyện lạ bèn khuyên sinh nhờ người mai mối dạm hỏi, nhưng sinh vì giàu nghèo xa cách nên chưa dám làm ngay.

Vừa gặp dịp sinh nhật bà mẹ Yến Nhi, sinh theo bọn con cháu dâu rể tới chúc thọ.

Bà thấy có tên sinh bèn bảo Yến Nhi đứng sau rèm nhận mặt.

Sinh vào sau cùng, nàng sấn ra kéo áo đòi theo về nhà, mẹ quát mắng mới xấu hổ trở vào.

Sinh nhìn kỹ rõ ràng là Lý, bất giác động lòng rơi lệ lạy phục xuống đất không đứng dậy, bà không cho là khinh mạn, bước ra đỡ lên.

Sinh về năn nỉ ông cậu làm mối, bà Chương bàn cho sinh ở rể.

Sinh về kể lại cho Liên Hương và bàn chuyện sính lễ.

Liên buồn bã hồi lâu rồi từ biệt đi.

Sinh hoảng sợ khóc lóc, Liên nói:

- Chàng làm đám cưới ở nhà người ta, thiếp đi theo thì còn mặt mũi nào nữa?

Sinh bàn trước hết đưa Liên về quê rồi sau sẽ cưới Yến Nhi, Liên nghe theo.

Sinh đem tình thật thưa với Chương, Chương nghe nói sinh đã có vợ nổi giận chửi mắng, Yến Nhi hết sức phân trần Chương mới nghe theo.

Đến ngày sinh đi đón dâu, khi đi trong nhà chỉ xếp đặt qua loa nhưng lúc về thì từ cổng tới thềm đều trải nệm, trăm ngàn ngọn đèn lồng sáng rực bày ra như gấm.

Liên Hương đỡ cô dâu vào phòng tân hôn, bỏ khăn che mặt ra, hai người thấy nhau vui mừng chuyện trò như ngày trước.

Liên Hương mời rượu hợp cẩn rồi gạn hỏi chuyện lạ hoàn hồn.

Yến Nhi nói:

- Hôm ấy uất ức buồn bã, nghĩ mình là ma rất thẹn thùng nên sau khi từ biệt phẫn uất không trở về mồ, theo gió phiêu bạt, thấy người sống nào cũng thèm, ban ngày thì nương tựa cỏ cây, ban đêm thì theo chân vất vưởng.

Ngẫu nhiên tới nhà họ Chương, thấy có xác thiếu nữ nằm trên giường liền nhập luôn vào, cũng không biết là được sống lại ngay.

Liên nghe thế im lặng như có điều suy nghĩ.

Hai tháng sau Liên sinh một con trai, sinh xong phát bệnh nặng, ngày càng trầm trọng, cầm tay Yến nói:

- Dám xin lấy đứa nhỏ làm phiền, con ta cũng như con nàng vậy.

Yến sa nước mắt ân cần an ủi, bàn rước thầy thuốc nhưng Liên cứ chối từ.

Bệnh Liên càng nặng, hơi thở thoi thóp, sinh và Yến Nhi đều khóc.

Chợt Liên giương mắt nói:

- Đừng như thế, chàng vui được sống, riêng thiếp vui được chết, nếu có duyên thì mười năm sau lại gặp thôi.

Dứt lời thì tắt hơi.

Mở chăn ra liệm thấy xác dã biến thành chồn, sinh không nỡ coi là khác loài, chôn cất rất hậu.

Đứa con tên Hồ Nhi, Yến săn sóc như con mình sinh ra, mỗi năm đến tiết Thanh Minh đều bế ra mộ Liên khóc lóc.

Mấy năm sau sinh đỗ thi hương, nhà cũng dần khá giả, chỉ ngặt nỗi Yến không sinh nở, mà Hồ Nhi thông minh nhưng yếu ớt nhiều bệnh nên Yến thường nghĩ tới việc mua hầu thiếp cho sinh.

Một hôm chợt tỳ nữ thưa ngoài cổng có một bà già dắt con gái muốn bán.

Yến gọi vào, vừa nhìn đã cả kinh nói:

- Chị Liên lại ra đời sao?

Sinh nhìn thấy thấy quả rất giống cũng kinh ngạc, hỏi nàng ta bao nhiêu tuổi, bà già đáp là mười bốn.

Hỏi muốn bán giá bao nhiêu, bà nói:

- Già chỉ có mình nó là con, nếu nó được chỗ yên thân, ta cũng có cơm ăn, sau này nắm xương già không bị ném ra ngoài ngòi rạch là đủ.

Sinh trả nhiều tiền, giữ bà ở lại.

Yến cầm tay cô gái dắt vào phòng kín cười hỏi:

- Ngươi biết ta không?

Nàng đáp không biết.

Hỏi tên họ, nàng nói:

- Thiếp họ Vi, cha làm nghề bán tương ở thành Từ Châu, qua đời đã ba năm.

Yến bấm đốt tay nghĩ lại thì Liên đã chết đúng mười bốn năm, lại nhìn kỹ mặt mũi dáng điệu nàng thấy đều giống hệt Liên bèn đập vào trán nàng gọi:

- Chị Liên, chị Liên, đã hẹn mười năm gặp lại, xin đừng dối ta!

Cô gái chợt như tỉnh mộng, bật kêu lên “ôi!” rồi nhìn Yến Nhi chằm chằm.

Sinh cười nói:

- Đây cũng giống chim én quen nhà về chốn cũ vậy.

Cô gái sa nước mắt nói:

- Phải rồi!

Nghe mẹ nói lại là lúc thiếp vừa sinh ra đã biết nói, nhà cho là điềm bất tường bèn lấy máu chó cho uống nên quên mất tiền duyên, nay thật đúng như vừa tỉnh mộng.

Nương tử là dì Lý tủi phận làm ma đó chăng?

Rồi cùng nói chuyện tiền sinh, nửa mừng nửa tủi.

Một hôm vào ngày Hàn thục, Yến nói:

- Hàng năm đến hôm nay là ngày thiếp với lang quân khóc chị.

Rồi cùng nhau tới mộ Liên, thấy cỏ hoang rậm rạp, cây cối đã vừa ôm, cô gái cũng than thở, nói với sinh rằng:

- Thiếp cùng chị Liên hai đời tình nghĩa, không nỡ xa nhau, nên chôn chung một huyệt.

Sinh theo lời, bốc mộ Lý lấy cốt đem về hợp táng với di cốt Liên.

Bạn bè nghe chuyện lạ mặc quần áo đẹp tới dự lễ hợp táng, không hẹn mà có tới vài trăm người.

Năm Canh Tuất ta đi chơi miền nam tới Nghi Châu gặp mưa dầm nghỉ lại nhà trọ, có Lưu Tử Kính là anh em cô cậu đưa cho xem tập Tang sinh truyện do bạn đồng xã là Vương Tử Chương soạn khoảng hơn vạn chữ, ta được đọc hết, đây chỉ tóm tắt ghi lại thôi.

____________________________________

CHƯƠNG 29: A BẢO

Tình Nữ Tằng Ly Chẩm Thượng Hồn

Si Lang Tình Tứ Cánh Ôn Tồn

A Nùng Hưu Thuyết Nhân Cầm Dị

Anh Vũ Tiền Thân Khước Tính Tôn

Dịch:

Bên Gối Cô Nương Thả Mộng Hồn

Chàng Si Tình Tứ Lại Ôn Tồn

Cô Dừng Có Nói Người Chim Khác

Anh Vũ Tiền Thân Vốn Họ Tôn



Tôn Tử Sở người Việt Tây là danh sĩ, sinh ra có ngón tay thừa, tính viển vông thật thà, ai lừa cũng tin là thật, ai mời dự tiệc mà có ca kỹ thì nhìn thấy từ xa đã bỏ chạy.

Có người biết thế dụ tới, cho kỹ nữ ôm ấp thì mặt đỏ tới cổ, mồ hôi ròng ròng.

Họ vì vậy buồn cười, nhại lại dáng vẻ ngây ngốc của sinh đặt lời chế nhạo, gọi là “Tôn ngây”.

Nhà buôn lớn trong huyện là ông Mỗ, giàu ngang bậc vương hầu, thông gia họ hàng đều là nhà quý hiển, có con gái tên A Bảo rất xinh đẹp đến tuổi gả chồng.

Các nhà đại gia tranh nhau đưa sính lễ tới dạm hỏi nhưng ông đều không vừa ý.

Tôn bấy giờ góa vợ, có người đùa khuyên nên cậy mối đến hỏi.

Sinh hoàn toàn không xét mình, quả nhiên theo lời.

Ông vốn nghe tiếng sinh nhưng chê nghèo, bà mối ra thì gặp A Bảo hỏi, bà ta kể lại.

Cô gái đùa nói:

- Y chặt bỏ ngón tay thừa đi thì ta sẽ về theo.

Bà mối kể lại, sinh nói:

- Không khó!

Bà ta về rồi, sinh lấy búa chặt ngón tay thừa, đau thấu cả ruột, máu chảy lênh láng suýt chết, qua mấy ngày mới dậy được, qua nhà bà mối cho xem.

Bà ta hoảng sợ chạy qua nói với cô gái.

Nàng cũng lấy làm lạ, nhưng đùa nói ráng xin bỏ cái ngây đi.

Sinh nghe thế cãi ầm lên, nói mình không ngây, nhưng không sao làm rõ cho được.

Bèn đổi sang nghĩ rằng A Bảo chưa chắc đã đẹp như tiên, sao tự đánh giá mình quá cao như thế, từ đó lòng mong ước cũng nguội lạnh.

Gặp tiết Thanh Minh, theo tục lệ thì hôm ấy phụ nữ ra ngoài đi chơi, đám thiếu niên khinh bạc cũng họp bọn đi theo mặc tình bình phẩm.

Có đám bạn học lôi kéo sinh đi, có kẻ đùa nói:

- Lại không muốn xem mặt người mình thích sao?

Sinh cũng biết là nói đùa, nhưng vì đã bị cô gái coi thường nên cũng muốn biết mặt một lần, bèn vui vẻ theo họ đi tìm.

Thấy xa xa có một cô gái nghỉ dưới gốc cây, đám trai trẻ suồng sã vây quanh như bức tường, mọi người nói:

- Đó ắt là A Bảo!

Rảo bước tới xem thì quả là Bảo, nhìn kỹ thấy xinh đẹp có một không hai.

Một lát người xem càng đông, cô gái đứng dậy vội vàng bỏ đi.

Mọi người đều say mê khen tóc khen chân, nhao nhao như điên, chỉ riêng sinh im lặng.

Đến lúc cả bọn đã tan đi, ngoái nhìn thấy sinh vẫn đứng ngây ra ở chỗ cũ, gọi thì không đáp.

Mọi người kéo đi nói:

- Hồn theo A Bảo rồi à?

Cũng không đáp.

Họ biết tính sinh vốn lẩn thẩn nên cũng không lấy làm lạ, người xô kẻ kéo dẫn về.

Đến nhà sinh lên ngay giường nằm, cả ngày không dậy, thiêm thiếp như say rượu, gọi cũng không tỉnh.

Người nhà ngờ là hồn đi lạc, ra gọi hồn ngoài đồng trống song vô hiệu, đập mạnh hỏi thì ú ớ nói:

- Ta ở nhà cô Bảo!

Hỏi kỹ thì lại im lặng không đáp, người nhà phát hoảng không hiểu thế nào.

Vốn khi sinh thấy cô gái bỏ đi thì lòng không nỡ dứt, thấy mình đi theo, dần dần sát tới vạt áo dây lưng cũng không ai la mắng, bèn theo nàng về nhà, ngồi nằm đều dựa kề một bên, đêm về lại ôm ấp vuốt ve, rất lấy làm thích, nhưng thấy trong bụng đói quá, muốn trở về nhà mà quên mất cả đường.

Cô gái cứ nằm mơ thấy giao hoan với một người, hỏi tên thì đáp:

- Ta là Tôn Tử Sở!

Lấy làm lạ nhưng không thể nói ra với ai.

Sinh nằm ba ngày, hơi thở chỉ còn thoi thóp, người nhà hoảng sợ nhờ người tới lấy lời mềm mỏng nói với cha cô gái xin tới nhà để gọi hồn sinh.

Ông Mỗ cười nói:

- Trước nay không từng qua lại, làm sao mất hồn ở nhà ta được?

Năn nỉ mãi ông mới chịu.

Thầy đồng cầm áo mặc và chiếu nằm của sinh qua, cô gái gặp hỏi biết chuyện, hoảng sợ không cho đi tìm chỗ khác mà dẫn thẳng vào phòng mình, cho mặc ý kêu gọi rồi ra.

Thầy đồng vừa về tới cổng thì ở sinh trên giường đã rên lên.

Khi tỉnh dậy thì đồ vật hộp phấn trong phòng cô gái màu gì tên gì đều kể ra vanh vách.

Cô gái nghe chuyện lại càng hoảng sợ, thầm cảm thâm tình của sinh.

Sinh khi đi lại được rồi thì đứng ngồi đều trầm tư như đãng trí, cứ dò tin tức A Bảo, chỉ mong gặp lại.

Đến ngày Phật đản nghe tin nàng sẽ dâng hương ở chùa Thủy Nguyệt, sinh dậy thật sớm ra đợi bên đường, mỏi mòn trông ngóng, đến giữa trưa cô gái mới tới.

Nàng ngồi trong nhìn ra thấy sinh, lấy bàn tay búp măng vén rèm nhìn đăm đăm, sinh càng xao xuyến bèn đi theo.

Nàng bỗng sai tỳ nữ tới hỏi tên họ, sinh nói rõ cả, lòng càng say mê.

Xe đi rồi mới quay về, tới nhà lại mắc bệnh trở lại, nằm thiêm thiếp không ăn không uống, trong giấc mơ cứ gọi tên A Bảo, thường giận vì hồn mình không thiêng nữa.

Trong nhà vốn có nuôi một con vẹt, bỗng lăn ra chết, đứa nhỏ cầm chơi trên giường.

Sinh nghĩ nếu mình được làm con vẹt thì có thể vỗ cánh bay đến phòng cô gái ngay.

Lòng đang mơ tưởng thì thấy mình đã là con vẹt, liền bay thẳng tới phòng A Bảo.

Cô gái mừng rỡ bắt lấy, buộc cánh lại lấy hạt vừng cho ăn.

Vẹt kêu to:

- Đừng buộc, ta là Tôn Tử Sở đây!

Cô gái kinh hãi, mở dây cũng không bay, bèn khấn:

- Tình sâu đã khắc trong lòng, nhưng nay người và chim khác loài, làm sao tròn được nhân duyên?

Chim nói:

- Được gần vóc thơm là đủ mãn nguyện rồi.

Người khác cho mồi thì không ăn, cô gái cho mới ăn, nàng ngồi thì đậu trên gối, nàng nằm thì đậu cạnh giường.

Như thế ba ngày, cô gái rất thương, lén sai người qua thăm dò thì sinh đã nằm cứng đờ tắt thở đã ba ngày, chỉ trên ngực còn hơi ấm thôi.

Nàng lại khấn rằng:

- Nếu chàng trở lại làm người thì xin theo đến chết.

Chim nói:

- Lừa ta đấy!

Cô gái bèn thề thốt, chim nghiêng đầu nhìn như suy nghĩ.

Lát sau nàng bó chân, cởi giày để dưới giường.

Vẹt sà xuống ngậm giày bay đi, nàng vội gọi lại thì đã bay xa rồi.

Nàng sai bà đầy tớ qua thăm dò thì sinh đã tỉnh.

Người nhà thấy con vẹt ngậm chiếc giày thêu bay về rơi xuống đất chết, đều đang lạ lùng.

Sinh vừa tỉnh là hỏi ngay tới chiếc giày, mọi người đều không biết vì sao.

Vừa lúc bà đầy tớ tới, vào thăm sinh, hỏi chiếc giày đâu, sinh nói:

- Đó là vật làm tin của A Bảo, nhờ về nhắn hộ rằng tiểu sinh không dám quên lời vàng đá.

Bà già về thưa lại, cô gái càng lấy làm lạ bèn bảo tỳ nữ kể lại sự tình cho mẹ.

Mẹ hỏi lại thấy đúng bèn nói:

- Y tài danh cũng không tệ, có điều nghèo quá.

Kén chọn mấy năm lại được rể như thế, e các nhà quý hiển cười cho.

Cô gái lấy cớ chiếc giày thề không lấy người khác.

Ông bà chiều lòng, cho người báo với sinh, sinh mừng khỏi bệnh ngay.

Ông bàn cho sinh ở rể, nàng nói:

- Con rể không thể ở lâu tại nhà cha vợ, huống chàng lại nghèo, càng ở lâu càng bị coi thường.

Con đã theo chàng thì ở nhà tranh nhà lá cũng cam lòng, ăn rau lê rau hoắc cũng không oán trách.

Sinh bèn làm lễ cưới, vui mừng như qua kiếp khác được gặp lại nhau.

Từ đó nhà sinh nhờ có của hồi môn của nàng cũng hơi dư dật, mua thêm ruộng đất.

Nhưng sinh mê sách, không biết sai bảo người nhà làm lụng, được cô gái khéo buôn bán nên cũng không phiền sinh phải lo tới việc nhà.

Được ba năm nhà giàu thêm, bỗng sinh mắc bệnh tiêu khát mà chết.

Cô gái khóc lóc rất đau thương, bỏ ăn bỏ ngủ, không sao khuyên giải được.

Nhân lúc đêm khuya nàng thắt cổ tự tử, đứa tỳ nữ biết được vội cứu nên tỉnh lại, nhưng vẫn không chịu ăn uống.

Ba hôm sau mời họ hàng tới để liệm sinh, nghe trong quan tài có tiếng rên, mở ra thì sinh đã sống lại.

Sinh kể khi ra mắt Diêm Vương, vì bình sinh thành thật chất phác nên được cho làm Bộ tào.

Chợt có người bẩm vợ Bộ tào họ Tôn sắp tới, Diêm Vương tra sổ rồi nói người ấy chưa đáng chết, người kia lại bẩm đã bỏ ăn ba ngày rồi, Diêm Vương ngoảnh lại nói cảm vì vợ ngươi tiết nghĩa nên cho sống lại rồi sai lính thắng ngựa đưa về.

Từ đó bình phục dần.

Gặp năm có kỳ thi hương, trước khi vào trường bọn thiếu niên đùa cợt, cùng nghĩ ra bảy đề bài hiểm hóc, kéo sinh ra chỗ vắng nói riêng là nhờ quen biết với nhà đại gia nọ, xin đưa kín cho nhau.

Sinh tưởng thật, đêm ngày mài miệt làm thành bảy bài, mọi người cười thầm.

Năm ấy quan chủ khảo nghĩ rằng ra đề quen thuộc thì thường có cái tệ sao chép văn cũ, bèn cố sức thay đổi cho khác hẳn.

Giấy đầu bài phát ra đều đúng bảy đề nọ, nhờ vậy sinh đỗ Thủ khoa.

Năm sau đỗ Tiến sĩ, được bổ chức Hàn lâm.

Vua nghe chuyện lạ triệu vào hỏi, sinh khải tấu, vua rất khen ngợi, lập tức triệu A Bảo vào bệ kiến, tặng thưởng rất nhiều.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 30+31


CHƯƠNG 30: NHIỆM TÚ

Bình Thủy Tương Phùng Mạn Ký Minh

Di Lưu Ký Ngữ Bất Thăng Tình

Phụ Tâm Đáo Thử Nam Vi Hữu?

Báo Dĩ Hô Lư Thượng Giác Khinh

Dịch:

Nước Bèo Gặp Gỡ Lãng Quên Nhanh

Lời Dặn Lâm Chung Xiết Kể Tình

Bạn Hữu Phụ Tâm Như Thế Nhỉ?

Trắng Tay Canh Bạc Báo Còn Khinh



Nhiệm Kiến Chi ngươi đất Ngư Đài (tỉnh Sơn Đông), làm nghề buôn áo lông chiên, mang hết tiền bạc tới Thiểm Tây.

Trên đường gặp một người tự xưng là Thân Trúc Đình quê ở Túc Thiên (tỉnh Giang Tô), trò chuyện rất hợp ý bèn kết làm anh em, cùng đi với nhau.

Tới đất Thiểm Nhiệm mắc bệnh không dậy nổi, Thân chăm sóc rất chu đáo, nhưng hơn mười hôm thì bệnh càng nặng, bèn nói với Thân:

- Nhà ta vốn không giàu có, tám miệng ăn đều trông vào một người dãi nắng dầm sương.

Nay ta bất hạnh chết ở quê người, chỉ có ông là anh em, chứ ngoài hai ngàn dặm có ai đâu.

Trong túi ta còn hơn hai trăm lượng vàng, ông lấy một nửa mua quan tài khâm liệm cho ta và làm tiền đi đường, còn một nửa để lại cho vợ con ta, chở giúp quan tài về quê cho.

Nếu nắm xương tàn về được tới quê nhà, thì tất cả những hành lý khác không nói tới nữa.

Rồi gượng ngồi dậy viết thư đưa Thân, đến đêm thì chết.

Thân lấy năm sáu lượng bạc mua chiếc quan tài xấu, tẫn liệm xong chủ trọ cứ hối thúc đưa đi.

Thân nói thác là để tìm nơi chùa quán xin quàn tạm rồi trốn luôn không quay lại.

Hơn năm sau gia đình Nhiệm mới được tin đích xác.

Con trai Nhiệm tên Tú, năm ấy mười bảy tuổi, đang còn đi học nhưng vì cha mất phải thôi, muốn đi tìm quan tài cha.

Mẹ thương con còn nhỏ, Tú khóc lóc muốn chết đi, mẹ bèn cầm bán đồ dùng lấy tiền, sai lão bộc đi cùng Tú, nửa năm mới về tới.

Sau khi chôn cất xong, nhà nghèo không còn chút gì, may là Tú thông minh, hết tang xong được vào học trường huyện Ngư Đài.

Nhưng Tú tính lêu lổng thích cờ bạc, mẹ răn dạy rất nghiêm mà chứng nào tật ấy.

Một hôm quan Học sứ về khảo hạch, Tú bị xếp hạng chót, mẹ uất ức khóc lóc bỏ ăn.

Tú sợ hãi thẹn thùng, vào thề trước mặt mẹ, từ đó đóng cửa học tập hơn một năm, liền được xếp hạng ưu, cấp cho tiền gạo.

Mẹ bảo Tú mở trường dạy học, nhưng rốt lại người ta vẫn dè bỉu vì việc Tú lêu lổng trước kia.

Có người chú họ là Trương Mỗ buôn bán ở kinh tới rủ cùng đi, xin đưa Tú theo làm bạn, bao nhiêu phí tổn xin chịu hết, Tú mừng rỡ đi theo.

Tới Lâm Thanh (thuộc tỉnh Sơn Đông) ghé thuyền ngoài cửa quan.

Lúc ấy thuyền buôn muối khắp nơi về tụ họp ở đó, cột buồm san sát như rừng.

Tú đi nằm mà nghe tiếng nước vỗ, tiếng người nói cứ ì oạp râm ran, không sao ngủ được.

Đến khuya chợt nghe thuyền bên cạnh có tiếng gieo xúc xắc rào rào, đâm ra ngứa nghề.

Lắng nghe khách khứa trong thuyền đều đã ngủ say, lục túi lấy ra một ngàn đồng tiền định qua thuyền kia chơi một phen.

Nhưng rón rén đứng lên mở túi cầm tới tiền rồi lại ngần ngừ, nhớ lời mẹ răn dạy lại thắt túi lại.

Vào giường nằm ngủ mà trong dạ bồn chồn không sao ngủ được, lại ngồi dậy cởi túi ra, cứ thế mấy lần, chợt thấy hăng lên không sao nhịn được nữa bèn cầm tiền qua thẳng thuyền kia.

Vào tới khoang thì thấy hai người đang đánh bạc với nhau, tiền bạc đầy cả chiếu, bèn đặt tiền lên ghế ngồi vào cùng chơi.

Hai người kia vui mừng, liền cùng gieo xúc xắc.

Tú thắng lớn, một người khách hết sạch cả tiền bèn lấy đĩnh vàng lớn cầm cho chủ thuyền lấy hơn mười quan chơi tiếp.

Đang lúc say máu sát phạt lại có một người bước vào thuyền, đứng nhìn hồi lâu rồi dốc túi ra trăm lượng vàng cầm cho chủ thuyền lấy tiền, ngồi vào cùng chơi.

Nửa đêm Trương tỉnh dậy, không thấy Tú trên thuyền, nghe tiếng gieo xúc xắc thì biết ngay, bèn qua thuyền bên cạnh, định gây sự để cản cháu.

Tới nơi thì thấy dưới chân cháu tiền bạc chất đống như núi bèn không nói gì nữa, chỉ mang vài ngàn đồng quay về, gọi mọi người thức dậy qua vác tiền, chỉ để lại hơn mười ngàn trên chiếu bạc.

Không bao lâu cả ba người khách đều thua, tiền bạc trong cả thuyền đều hết sạch.

Khách muốn chơi bằng vàng, nhưng Tú thấy đã thắng nhiều rồi, bèn lấy cớ phải chơi bằng tiền để từ chối.

Trương đứng bên cạnh lại cứ giục về.

Ba người khách cay cú, chủ thuyền tham món tiền xâu bèn qua thuyền khác vay giùm hơn một trăm ngàn đồng tiền.

Khách có tiền đánh càng lớn, không bao lâu lại mất sạch về tay Tú.

Trời đã sáng, chèo qua cửa quan rồi bèn cùng nhau vác tiền về thuyền, ba người khách cũng ra đi.

Chủ thuyền nhìn lại số vàng hơn hai trăm lượng họ cầm thì đều là tro tàn, cả kinh tìm qua thuyền Tú kể lại, ý muốn Tú bồi thường, đến khi hỏi họ tên quê quán, biết là con trai Nhiệm Kiến Chi thì rụt cổ toát mồ hôi trở về.

Tú hỏi người chung quanh mới biết chủ thuyền chính là Thân Trúc Đình.

Lúc Tú tới Thiểm Tây đã biết rõ tên họ y, đến đây vì ma quỷ đã rửa hờn nên cũng không hỏi tới oán cũ nữa.

Bèn lấy số tiền ấy chung vốn cùng Trương lên kinh buôn bán, tròn năm thì thu lãi gấp mười.

Bèn theo lệ nộp tiền mua chức Giám sinh, lại càng buôn may bán đắt, trong vòng mười năm trở nên giàu có đứng đầu một vùng.

____________________________________

CHƯƠNG 31: TRƯƠNG THÀNH

Thủ Phủ Tiều Tân Trợ Ngọc Côn

Lý Uyên Chỉ Phá Phục Hà Luân

Thiên Giao Thần Hổ Hàm Chi Khứ

Thiên Hộ Quy Lai Khánh Nhất Môn

Dịch:

Vác Rìu Đốn Củi Giúp Cho Anh

Thủng Dép Sầy Chân Mấy Cũng Đành

Mãnh Hổ Trời Sai Vồ Ngoạm Chạy

Trở Về Thiên Hộ Rạng Môn Đình



Họ Trương ở đất Dự (tỉnh Hà Nam), tổ tiên là người đất Tề (tỉnh Sơn Đông).

Lúc quân Tĩnh Nạn nổi lên, đất Tề đại loạn, vợ bị bắt đi.

Trương vì vẫn lui tới đất Dự bèn ở luôn lại đó lấy vợ người đất Dự, sinh con trai là Nột.

Không bao lâu vợ chết, lại lấy vợ kế, sinh con trai là Thành.

Vợ kế họ Ngưu tính hung dữ, rất ghét Nột, nuôi như đầy tớ, cho ăn toàn rau, bắt đi đốn củi, mỗi ngày đòi phải đủ một gánh, không đủ thì đánh đập mắng nhiếc không sao chịu nổi.

Chỉ cất giấu những thức ngon cho Thành ăn, sai tới trường học chữ.

Thành dần lớn lên, tính hiếu hữu, không nỡ thấy anh vất vả, lén khuyên can mẹ nhưng mẹ không nghe.

Một hôm Nột vào núi đốn củi, chưa xong thì gặp mưa to gió lớn phải núp vào dưới vách núi.

Mưa tạnh thì trời đã tối, đói quá bèn gánh củi về.

Mẹ xem củi thấy ít, tức giận không cho ăn, bụng đói như thiêu vào phòng nằm vật ra.

Thành đi học về thấy anh thẫn thờ hỏi ốm à, Nột đáp:

- Đói thôi!

Thành hỏi nguyên do, Nột nói rõ sự tình.

Thành buồn rầu bước ra, lát sau mang bánh vào cho anh.

Anh hỏi bánh ở đâu ra, Thành nói:

- Em lấy trộm bột nhờ chị hàng xóm làm bánh giùm, cứ ăn đi đừng nói gì nữa.

Nột ăn xong dặn em rằng:

- Từ sau đừng làm thế nữa, lộ ra thì liên lụy đến em.

Vả lại ngày nhịn ăn một bữa thì có đói cũng không chết mà.

Thành nói:

- Anh vốn yếu sức thì làm sao đốn củi nhiều được?

Hôm sau ăn xong lén vào núi tới chỗ anh đốn củi.

Anh nhìn thấy giật mình hỏi định làm gì, Thành đáp định lấy củi giúp anh.

Anh hỏi ai bảo làm thế, Thành đáp:

- Em tự tới thôi!

Anh nói:

- Không kể là em không biết đốn củi, dẫu biết đi nữa thì cũng không nên!

Rồi giục về ngay.

Thành không nghe, cứ tay bẻ chân đạp hái củi giúp anh, lại nói ngày mai phải đem búa theo.

Anh lại gần ngăn cản thì thấy ngón tay bị toạc, giày bị rách, buồn rầu nói:

- Em không về cho mau thì anh lấy búa tự chặt cổ mà chết đấy.

Thành bèn về, anh đưa tới nửa đường mới quay lại đốn củi tiếp.

Khi về ghé vào trường dặn thầy học rằng:

- Em ta còn nhỏ, thầy nên răn cấm chứ cọp beo trong núi dữ lắm.

Thầy nói trước giờ Ngọ không biết Thành đi đâu, đã phạt đòn rồi.

Nột về nói với Thành:

- Không nghe lời anh nên bị phạt đòn đấy!

Thành cười nói không sao.

Hôm sau lại xách búa vào núi, anh hoảng sợ nói:

- Anh đã bảo em đừng tới, sao lại còn làm thế?

Thành không đáp, cứ hăm hở chặt củi, mồ hôi chảy ròng ròng xuống mặt vẫn không nghỉ, khoảng đủ một ôm thì im lặng ra về.

Thầy lại trách phạt, Thành bèn nói thật.

Thầy khen là hiền, cũng không ngăn cấm nữa.

Anh nhiều lần bảo thôi nhưng rốt lại Thành vẫn không nghe.

Một hôm hai anh em cùng vài người đốn củi trong núi thì chợt có con cọp tới, mọi người sợ hãi nằm mọp xuống, cọp vồ Thành mang đi.

Cọp mang người nên đi chậm, bị Nột đuổi kịp, hết sức chém một búa trúng đùi.

Cọp đau quá vùng chạy không đuổi tìm được nữa, Nột đau xót kêu khóc quay về.

Mọi người an ủi, Nột càng khóc lóc thảm thiết, nói:

- Em ta chẳng phải như em người khác, huống chi nó vì ta mà chết, ta làm sao sống được?

Bèn lấy búa tự chặt vào cổ, mọi người vội can thì đã đứt sâu vào thịt một tấc, máu phụt ra lênh láng, hoa mắt ngất đi.

Mọi người sợ hãi xé áo buộc vết thương cho rồi xúm lại dìu về.

Mẹ khóc chửi:

- Ngươi giết con ta, lại muốn chặt cổ để thoát tội à?

Nột rên rỉ nói:

- Xin mẹ đừng lo phiền, em chết thì ta quyết không sống đâu.

Đặt lên giường, vết thương đau đớn không ngủ được, ngày đêm cứ ngồi dựa vào tường mà khóc.

Cha sợ Nột cũng chết, lúc lúc tới cạnh giường đút cho ăn uống qua loa, Ngưu thị lại chửi rủa.

Nột bèn không chịu ăn nữa, ba ngày thì chết.

Trong làng có thầy đồng xuống âm ty về, Nột gặp giữa đường bèn kể lể nỗi khổ trước đây, nhân hỏi chỗ em ở.

Thầy đồng nói không biết, rồi quay lại dẫn Nột đi.

Tới một nơi đô hội, thấy một người mặc áo đen trong thành ra, thầy đồng giữ lại hỏi thăm giùm, người áo đen xem kỹ lại tập trát trong túi thấy có hơn một trăm đàn ông đàn bà nhưng không có ai họ Trương.

Thầy đồng ngờ rằng ở tập trát khác, người áo đen nói:

- Con đường này thuộc về ta, làm sao có chuyện bắt lầm?

Nột không tin, ép thầy đồng đưa vào thành.

Trong thành ma cũ ma mới đi lại đông đúc, cũng có người quen cũ nhưng tới hỏi đều không ai biết.

Chợt mọi người cùng nhao nhao nói Bồ Tát tới, ngẩng nhìn thấy trong mây có một người to lớn, ánh hào quang rực rỡ khắp trên dưới, chợt cảm thấy trời đất quang đãng.

Thầy đồng chúc mừng nói:

- Đại Lang có phúc thật!

Bồ Tát mấy ngàn năm mới xuống âm ty một lần để rửa sạch khổ não, đúng hôm nay lại được gặp.

Rồi kéo Nột quỳ xuống.

Bọn quỷ cũng nhao nhao quỳ xuống chắp tay cùng tụng niệm, tiếng “từ bi cứu khổ” vang rền.

Bồ Tát lấy cành dương nhúng nước cam lộ rẩy khắp nơi, li ti như bụi sương.

Giây lát hơi mù tan đi, hào quang thu lại thì không thấy Bồ Tát ở đó nữa.

Nột thấy trên cổ thấm ướt cam lộ, chỗ búa chặt không còn đau nữa.

Thầy đồng lại theo đường cũ đưa Nột về, khi nhìn thấy cổng làng mới từ biệt mà đi.

Nột chết đã hai ngày chợt sống lại, kể lại những việc đã gặp, nói Thành chưa chết, mẹ cho là bịa đặt lại mắng chửi.

Nột oan ức không biết làm sao giãi bày, sờ tới vết thương thì đã lành, cố gượng đứng dậy chào cha, nói:

- Con sẽ băng mây vượt biển tìm em, nếu không thấy thì đừng mong con quay về, xin cha cứ coi như con đã chết.

Cha đưa ra chỗ vắng cùng nhau khóc lóc, không dám giữ lại.

Nột bèn ra đi, cứ theo đường lớn hỏi thăm tin tức em.

Giữa đường tiền ăn hết sạch, phải ăn mày mà đi.

Hơn một năm tới Kim Lăng, áo quần rách rưới lần mò trên đường, chợt thấy hơn mười kỵ mã đi qua liền tránh sang vệ đường.

Trong bọn có một người như quan lớn, tuổi khoảng bốn mươi, lính mạnh ngựa khỏe xúm xít trước sau.

Có một thiếu niên cưỡi con ngựa nhỏ, mấy lần nhìn Nột.

Nột thấy là công tử con quan chưa dám ngẩng nhìn, thiếu niên dừng roi ghìm ngựa, chợt xuống ngựa gọi to:

- Có phải anh ta không?”

Nột ngước nhìn kỹ thì ra là Thành, nắm tay đau xót khóc lạc cả tiếng.

Thành cũng khóc nói:

- Sao anh phải lưu lạc đến thế này?

Nột kể sự tình, Thành càng đau xót.

Bọn kỵ mã đều xuống hỏi duyên do rồi bẩm lại với quan lớn.

Quan sai bớt ra một con ngựa chở Nột, cùng nhau về nhà mới hỏi chuyện tường tận.

Trước là cọp tha Thành đi đặt ở vệ đường lúc nào không biết, nằm giữa đường suốt một đêm.

Gặp lúc Trương Thiên hộ từ kinh đô tới đi ngang qua, thấy Thành mặt mày nho nhã, thương xót vực lên vỗ về.

Thành dần sống lại, nói nhà cửa quê quán thì đã quá xa, nên chở Thành cùng về bó thuốc cho, vài ngày thì khỏi.

Thiên hộ không có con trai nên nhận Thành làm con, đại khái hôm đó là gặp lúc Thành theo ông dạo chơi.

Thành kể lại với anh xong thì Thiên hộ vào, Nột lạy tạ không thôi.

Thành vào trong lấy áo lụa ra biếu anh rồi bày rượu trò chuyện.

Thiên hộ hỏi quý gia ở đất Dự có đông người không, Nột nói:

- Không có mấy người.

Cha ta lúc nhỏ là người đất Tề, tới ngụ ở đất Dự.

Thiên hộ hỏi:

- Ta cũng người Tề, quý quán thuộc hạt nào?

Nột đáp:

- Từng nghe cha ta nói thuộc huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông).

Thiên hộ giật mình hỏi:

- Cùng quê với ta rồi, thế tại sao lại tới ở đất Dự?

Nột nói:

- Mẹ già bị quân bắt đi, cha ta gặp binh lửa mất sạch cả gia sản, vì trước từng buôn bán ở miền Tây, qua lại đã quen nên ở luôn lại đó.

Thiên hộ lại giật mình hỏi lệnh tôn tên gì, Nột đáp rõ.

Thiên hộ tròn mắt nhìn rồi cúi đầu như ngờ vực, bước mau vào nhà trong.

Không bao lâu Thái phu nhân ra, mọi người lạy chào xong, bà hỏi Nột:

- Ngươi là cháu nội Trương Bính Chi phải không?

Nột thưa:

- Phải!

Thái phu nhân khóc lớn nói với Thiên hộ:

- Đây là em ngươi đấy!

Anh em Nột không hiểu ra sao.

Thái phu nhân nói:

- Ta lấy cha các ngươi ba năm, lưu lạc sang Bắc, thuộc về quan Chỉ huy Mỗ, được nửa năm sinh anh ngươi.

Lại nửa năm thì Chỉ huy chết, anh ngươi nhờ phụ ấm thăng lên chức quan này, nay giải chức rồi vẫn canh cánh nhớ quê hương, đã lấy lại họ cũ, nhiều lần cho người tới đất Tề hỏi thăm mà không có tin tức gì, có biết đâu là cha ngươi đã dời sang miền Tây!

Rồi nói với Thiên hộ:

- Ngươi nuôi em làm con thì giảm phúc mà chết thôi.

Thiên hộ nói:

- Trước có hỏi Thành, Thành thưa từng nói là người Tề, chắc là còn nhỏ dại nên không biết.

Bèn theo tuổi xếp đặt lại, Thiên hộ bốn mươi mốt tuổi làm anh lớn, Thành mười sáu tuổi là út, Nột hai mươi thì là anh lớn mà thành anh hai.

Thiên hộ được hai em mừng lắm, ăn ngủ đều có nhau, biết hết nguyên do chia lìa lưu lạc, tính chuyện trở về.

Thái phu nhân sợ bà vợ kế không dung, Thiên hộ nói:

- Dung được thì ở chung, nếu không thì ở riêng, chứ trong thiên hạ có nước nào mà lại không có tình cha con.

Rồi đó bán nhà đất sắm hành lý lập tức lên đường.

Tới đầu làng Nột và Thành chạy về trước báo tin cho cha.

Cha từ lúc Nột bỏ đi, vợ cũng chết, chỉ còn một ông già góa vợ một mình một bóng.

Chợt thấy Nột vào, mừng đến thảng thốt, đang còn giật mình lại nhìn thấy Thành, mừng quá không nói nên lời, nước mắt giàn giụa.

Hai người nói mẹ con Thiên hộ tới, ông nín khóc ngạc nhiên không biết là vui hay buồn, đứng ngẩn người ra.

Không bao lâu Thiên hộ vào, lạy chào xong Thái phu nhân nắm lấy tay ông nhìn nhau cùng khóc.

Kế thấy tôi tớ trai gái đứng đầy trong ngoài, người ngồi kẻ đứng, không còn biết làm gì nữa.

Thành không thấy mẹ liền hỏi mới biết mẹ đã chết, gào khóc muốn đứt hơi, một lúc mới tỉnh lại.

Thiên hộ lấy tiền ra xây dựng lầu gác, đón thầy về dạy hai em học, ngựa hí ran trong tàu, người ồn ào trong nhà, nghiễm nhiên là một đại gia.

__

Quân Tĩnh Nạn: năm Kiến Văn thứ hai (1400), Minh Huệ đế thấy các phiên vương phạm pháp định diệt trừ, Yên vương Chu Đệ là con thứ tư của Minh Thái tổ nhân đó nổi dậy kéo về vây kinh đô, tự xưng là quân dẹp nạn (Tĩnh Nạn binh), đánh đuổi Huệ đế tự lập làm vua, tức Minh Thành tổ.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 32+33+34+35


CHƯƠNG 32: XẢO NƯƠNG

Đăng Tiền Hà Khổ Nị Thân Thân

Cảm Bì Phù Dĩ Oán Tích Tân

Mạc Quái Hoa Gia Hàm Đố Ý

Hoàng Kim Yếu Chú Nhuế Phu Nhân

Dịch:

Trước Đèn Oán Thán Khổ Vào Thân

Củi Nước Gia Đình Nỗi Khó Khăn

Đừng Trách Họ Hoa Ngầm Đố Kị

Cần Vàng Đúc Tượng Nhuế Phu Nhân



Quảng Đông có nhà thế gia họ Phó hơn sáu mươi tuổi sinh được một trai tên Liêm, rất thông minh nhưng bị trời hoạn, mười bảy tuổi mà dương vật chỉ mới bằng con tằm.

Xa gần biết chuyện, không nhà nào chịu gả con gái cho, tự nghĩ dòng dõi đã tuyệt, ngày đêm lo lắng nhưng không biết làm sao.

Liêm theo thầy đọc sách, thầy ngẫu nhiên đi vắng, gặp lúc ngoài cửa có gánh xiếc khỉ, Liêm ra xem bỏ cả học.

Đến chừng đoán thầy sắp về, sợ hãi bèn bỏ trốn.

Rời nhà được mấy dặm thấy một nữ lang áo trắng dắt đứa tỳ nữ nhỏ đi phía trước, một lần nàng quay lại, thấy xinh đẹp không ai sánh được.

Nàng đi chậm lại, Liêm đi vượt lên thì nàng quay qua nói với đứa tỳ nữ:

- Thử hỏi xem lang quân có tới Quỳnh Châu (huyện thuộc Quang Đông) không.

Đứa tỳ nữ gọi lại hỏi, Liêm hỏi có việc gì.

Cô gái đáp:

- Nếu đi Quỳnh Châu thì có lá thư phiền chàng tiện đường đưa giúp về nhà.

Mẹ già ta ở nhà cũng là người hiếu khách.

Liêm lúc ra đi vốn cũng chưa định đi đâu, nghĩ ra biển cũng hay, bèn nhận lời.

Cô gái rút thư đưa tỳ nữ trao cho sinh.

Hỏi họ tên quê quán thì nàng đáp là họ Hoa, ở làng gái Tần cách phía bắc thành ba bốn dặm.

Sinh đáp thuyền đi, tới phía bắc huyện thành Quỳnh Châu thì trời đã tối, hỏi thăm thôn gái Tần lại không ai biết.

Đi về hướng bắc bốn năm dặm thì trăng sao hiện sáng, cỏ dại ngút mắt, đồng không chẳng có quán trọ, rất là mệt mỏi.

Nhìn thấy một ngôi mộ bên đường, muốn nghỉ lại nhưng sợ thú dữ bèn leo lên cây ngồi.

Nghe tiếng thông reo xào xạc, côn trùng tỉ tê, trong lòng thảng thốt, hối hận vô cùng.

Chợt nghe có tiếng người phía dưới, cúi nhìn thì rõ ràng là một nơi đình viện, có một cô gái xinh đẹp ngồi trên phiến đá, hai tỳ nữ xõa tóc cầm đèn lồng đứng hai bên.

Người đẹp quay qua bên trái nói:

- Đêm nay trăng sáng sao thưa, gói trà cô Hoa vừa tặng có thể đem pha một ấm uống ngắm cảnh đêm thanh.

Sinh nghĩ là ma quỷ, rùng mình sởn óc khống dám thở mạnh.

Chợt đứa tỳ nữ ngẩng nhìn nói:

- Trên cây có người!

Cô gái giật mình đứng vụt dậy nói:

- Đứa lớn mật nào dám tới đây nhìn trộm thế!

Sinh cả sợ, không còn chỗ trốn đành tụt xuống, phục xuống đất xin tha.

Cô gái tới gần nhìn qua chợt đổi giận làm vui, kéo dậy cùng ngồi.

Sinh liếc nhìn, thấy nàng khoảng mười bảy mười tám, vẻ người xinh đẹp có một, nghe giọng nói cũng không phải người ở đây.

Nàng hỏi chàng đi đâu, sinh đáp có người nhờ đưa giúp lá thư.

Nàng nói:

- Đồng hoang nhiều người xấu, nằm sương rất đáng lo, nếu không hiềm nhà tranh, mời vào nghỉ tạm.

Rồi đưa sinh vào nhà.

Chỉ có một chiếc giường, nàng sai con hầu sắp hai tấm chăn lên.

Sinh thẹn mình xấu xa xin nằm dưới đất, nàng cười đáp:

- Khách quý đến nhà, con gái đâu dám nằm cao.

Sinh bất đắc dĩ phải nằm chung giường, nhưng trong lòng sợ sệt không dám trở mình.

Giây lát cô gái luồn tay qua chăn xoa nhẹ vào đùi sinh, sinh giả như ngủ say không biết.

Lát sau nàng lại mở chăn ra chui qua lay, sinh vẫn nằm yên không động.

Nàng bèn sờ xuống chỗ kín rồi dừng tay buồn bã, lặng lẽ giở chăn trở dậy, kế nghe tiếng khóc thút thít.

Sinh xấu hổ không sao chịu nổi, chỉ giận trời bắt mình phải khuyết tật mà thôi.

Cô gái gọi tỳ nữ thắp đèn, tỳ nữ thấy ngấn lệ kinh ngạc hỏi buồn khổ chuyện gì, nàng lắc đầu đáp:

- Ta tự xót phận mình thôi!

Đứa tỳ nữ đứng trước giường nhìn chằm chằm, nàng nói:

- Gọi y dậy bảo đi đi!

Sinh nghe thế càng thêm xấu hổ, lại lo đêm hôm tối tăm không biết đi đâu.

Đang nghĩ ngợi thì một người đàn bà đẩy cửa bước vào, đứa tỳ nữ nói:

- Cô Hoa đã về!

Sinh hé mắt nhìn trộm thấy bà ta tuổi khoảng năm mươi nhưng còn phong vận.

Bà thấy cô gái chưa ngủ liền hỏi duyên cớ, nàng chưa đáp, lại thấy trên giường có người nằm, bèn hỏi ai nằm cùng giường.

Đứa tỳ nữ đáp thay là lúc tối có một chàng trai tới xin ngủ nhờ, bà ta cười nói:

- Không biết là Xảo Nương vui đuốc hoa.

Chợt thấy cô gái nước mắt chưa khô, bà giật mình nói:

- Đêm hợp cẩn mà buồn khóc thì không hợp, không lẽ lang quân thô bạo sao?

Cô gái không đáp, càng thêm buồn.

Người đàn bà định kéo áo ra nhìn sinh, vừa kéo thì lá thư rơi ra giường, bà ta cầm lấy nhìn rồi hoảng sợ nói:

- Có lẽ là chữ con gái ta!

Kế mở đọc rồi thở dài.

Cô gái hỏi, bà ta đáp:

- Đây là thư của con Ba báo tin chàng Ngô chồng nó đã chết, nay nó trơ trọi không nơi nương tựa, biết làm thế nào.

Cô gái nói:

- Y có nói là đưa thư giúp ai đó, may mà ta chưa đuổi đi.

Bà già gọi sinh dậy, hỏi rõ nguyên ủy lá thư, sinh kể rõ, bà nói:

- Làm phiền lặn lội xa xôi, biết lấy gì báo đáp.

Lại ngắm kỹ sinh rồi cười hỏi sao lại làm trái ý Xảo Nương, sinh đáp không biết mình có tội gì.

Bà lại hỏi cô gái, nàng than:

- Chỉ thương cho mình lúc sống lấy phải thằng chồng liệt dương, khi chết lại ngủ với đứa bị thiến, vì thế mà buồn thôi.

Bà già nhìn sinh nói:

- Chú nhỏ thông minh lanh lợi này là trống mà hóa ra lại là mái sao?

Đây là khách của ta, không nên làm lụy người ta lâu.

Liền dẫn sinh qua phòng phía đông, sờ xuống đũng quần khám rồi cười nói:

- Chẳng trách Xảo Nương lại khóc lóc.

Nhưng may vẫn có cuống rễ, còn chữa được.

Bèn khêu đèn tìm khắp rương hòm lấy ra một viên thuốc màu đen trao cho sinh bảo nuốt ngay, lại dặn nhỏ rằng đừng cử động, rồi đi ra.

Sinh nằm một mình nghĩ ngợi không biết thuốc chữa bệnh gì.

Khoảng canh năm tỉnh dậy, thấy dưới rốn có một luồng hơi nóng xông thẳng vào chỗ kín, lại lủng lẳng như có vật gì treo giữa hai đùi, tự sờ xem thì mình đã là đàn ông hẳn hoi, trong lòng mừng quýnh như vị quan chợt được ban cửu tích.

Khi ngoài song cửa sổ đã sáng thì người đàn bà bước vào đem bánh hấp cho sinh, dặn cố ngồi yên rồi khóa cửa ra ngoài nói với Xảo Nương:

- Y vất vả mang thư tới, hãy giữ lại gọi Tam Nương về cho nó kết nghĩa chị em, nên phải đóng cửa cho người ta khỏi buồn chán.

Kế ra cửa đi.

Sinh quanh quẩn trong phòng buồn quá, cứ tới khe cửa nhìn ra như con chim ngóng ra ngoài lồng, nhìn thấy Xảo Nương cũng muốn gọi để nói rõ sự tình, nhưng thẹn vì khó nói lại thôi.

Chờ đến khuya người đàn bà mới dẫn con gái về, mở cửa nói:

- Để lang quân buồn chết mất rồi.

Tam Nương vào cám ơn đi.

Cô gái gặp trên đường trước kia rụt rè bước vào khép nép nhìn sinh, người đàn bà bảo gọi nhau bằng anh em.

Xảo Nương cười nói:

- Gọi là chị em gái cũng được.

Rồi cùng ra phòng khách ngồi quây quần uống rượu.

Uống được một lúc, Xảo Nương hỏi đùa người hoạn thấy sắc có động lòng không, sinh đáp:

- Người què không quên giày, người lòa không quên ngó.

Mọi người cười rộ.

Xảo Nương vì Tam Nương đi đường mệt nhọc ép phải đi nghỉ.

Người đàn bà quay nhìn Tam Nương bảo nằm chung với sinh.

Tam Nương đỏ bừng mặt không chịu.

Người đàn bà nói:

- Đây là trượng phu đội khăn mặc yếm thôi, sợ gì chứ?

Rồi giục hai người đi ngủ, ngầm dặn sinh rằng:

- Trong thì làm rể nhưng ngoài làm con ta là được.

Sinh mừng rỡ, nắm tay nàng dắt lên giường, dao sắc mới mài đem thử lần đầu, khoái trá thế nào có thể biết rõ.

Kế hỏi Xảo Nương là ai, cô gái đáp:

- Là ma đấy.

Tài sắc vô song nhưng số mệnh lận đận, lấy tiểu lang nhà họ Mao bị liệt dương, mười tám tuổi đầu vẫn chẳng ra con người nên ấm ức không vui, ôm hận mà chết.

Sinh thất kinh, ngờ Tam Nương cũng là ma.

Nàng nói:

- Nói thật với chàng, thiếp không phải là ma mà là hồ.

Xảo Nương sống lẻ loi một mình mà mẹ con thiếp không có nhà nên tới ở nhờ.

Sinh rất kinh ngạc, nàng nói:

- Đừng sợ, tuy là ma là hồ, nhưng không gây họa cho nhau đâu.

Từ đó hàng ngày thường cùng nhau chuyện trò yến ẩm, sinh tuy biết Xảo Nương không phải là người nhưng lòng vẫn yêu mến nhan sắc, chỉ hận không có dịp tự hiến thân.

Sinh học hành uẩn súc, giỏi đùa cợt pha trò, nên Xảo Nương rất thương mến.

Một hôm mẹ con họ Hoa đi vắng, lại đóng cửa nhốt sinh trong phòng.

Sinh buồn bực đi loanh quanh rồi đứng cách vách gọi Xảo Nương.

Xảo Nương sai tỳ nữ lấy chìa khóa thử mấy lần thì cửa mở, sinh ghé tai xin gặp riêng.

Xảo Nương bảo tỳ nữ đi ra, sinh liền kéo nàng lên giường nằm sát vào.

Nàng đùa đưa tay sờ xuống phía dưới rốn nói:

- Tiếc thay, chỗ này lại thiếu mất rồi.

Chưa dứt lời thì tay vớ phải một nắm, giật mình nói:

- Sao trước vắng vẻ mà chợt đã bấy nhiêu thế?

Sinh cười đáp:

- Trước thấy người xấu hổ nên rụt lại, nay bị phỉ báng không chịu nổi nên làm con ếch tức giận phình ra đấy thôi.

Rồi cùng nhau giao hoan.

Xong xuôi nàng căm tức nói:

- Nay mới biết vì sao đóng cửa.

Trước đây mẹ con họ lênh đênh không nhà, đã nhường nhà cho ở, Tam Nương theo học thêu thùa thiếp cũng không từng giấu giếm gì, mà lại ganh ghét như thế.

Sinh kể thật mọi chuyện để khuyên giải nhưng Xảo Nương vẫn hậm hực.

Sinh nói:

- Phải giữ kín đấy, Hoa Cô dặn ta kỹ lắm.

Chưa dứt lời thì Hoa Cô đã đẩy cửa bước vào, hai người vội vàng nhỏm dậy.

Hoa Cô trừng mắt hỏi ai mở cửa, Xảo Nương cười nhận là mình.

Hoa Cô càng tức giận, quát mắng không thôi.

Xảo Nương nhếch mép cười nói:

- Bà già này thật là buồn cười, là trượng phu đội khăn mặc yếm mà thế à?

Tam Nương thấy mẹ và Xảo Nương cứ khích bác nhau, lấy làm áy náy bèn đứng ra can ngăn, đôi bên mới đổi giận làm lành.

Xảo Nương lời lẽ dẫu gay gắt nhưng từ đó đã nhún mình chiều chuộng Tam Nương, chỉ vì Hoa Cô ngày đêm ráo riết canh giữ nên đôi lòng không sao bày tỏ, chỉ biết liếc mắt gởi tình mà thôi.

Một hôm Hoa Cô nói với sinh:

- Cả hai chị em nó đều đã hầu hạ chàng, nhưng sống ở đây không phải là hay, chàng nên về trình với cha mẹ để sớm tính chuyện trăm năm.

Rồi sắm sửa hành trang giục sinh lên đường.

Hai cô gái nhìn nhau buồn rầu, mà Xảo Nương càng như không chịu nổi, nước mắt chảy ròng ròng không dứt.

Hoa Cô ngăn họ lại rồi đưa sinh ra, tới ngoài cổng thì nhà cửa đã biến mất cả, chỉ thấy một ngôi mộ hoang.

Hoa Cô đưa sinh lên thuyền, nói:

- Chàng đi rồi lão thân cũng sẽ dắt hai con gái tới ngụ ở quý huyện, nếu không quên duyên cũ thì xin ở trong khu vườn hoang nhà họ Lý đợi làm lễ nghênh hôn.

Sinh bèn trở về.

Lúc ấy ông Phó tìm kiếm con trai không được đang nóng ruột lo lắng, thấy con về vô cùng mừng rỡ.

Sinh kể lại vắn tắt đầu đuôi, nói cả việc họ Hoa hẹn ước.

Cha nói:

- Lời yêu quái làm sao tin được.

Ngươi sở dĩ sống sót về được là nhờ bị tật nguyền, không thì chết rồi.

Sinh đáp:

- Họ tuy khác loài nhưng tình nghĩa cũng như người, lại thông minh xinh đẹp, có cưới cũng không sợ họ hàng làng xóm chê cười.

Cha không đáp chỉ cười nhạt, sinh bèn lui ra.

Nhưng ngứa nghề không chịu ở yên, bèn tư thông với đứa tỳ nữ, dần dần giữa ban ngày cũng công nhiên hành dâm, cố ý cho cha mẹ biết.

Một hôm bị đứa tỳ nữ nhỏ nhìn trộm thấy chạy vào báo với mẹ, mẹ không tin tới xem mới giật mình, gọi đứa tỳ nữ hỏi kỹ mới biết rõ.

Bà mừng quá gặp ai cũng rêu rao để tỏ ra là con mình không có tật, định hỏi cưới con nhà thế gia.

Sinh thưa riêng với mẹ là không phải nhà họ Hoa thì không cưới, mẹ nói:

- Trên đời thiếu gì gái đẹp, cần gì phải cưới yêu ma.

Sinh nói:

- Con mà không gặp Hoa Cô thì đâu biết được mùi đời, phụ bạc họ không hay đâu.

Ông Phó nghe lời, cho một người tớ trai và một vú già tới dò xem.

Họ ra khỏi cửa Đông bốn năm dặm tìm được khu vườn hoang của nhà họ Lý, thấy trong đám tre trúc bên chỗ tường thấp đổ nát có làn khói bốc lên.

Bà vú trèo qua tường đi thẳng tới cửa thì thấy mẹ con đang quét tước dọn dẹp như có ý chờ ai.

Bà vú vái chào thưa lời chủ dặn, nhìn thấy Tam Nương thì giật mình nói:

- Đây là bà chủ nhỏ của nhà ta sao?

Ta nhìn thấy còn thương, không trách công tử cứ đêm ngày nhớ nhung.

Hỏi tới cô chị, Hoa Cô thở dài than:

- Đó là con gái nuôi của ta, ba hôm trước đây bị bạo bệnh chết rồi.

Nhân đem rượu thịt ra thết đãi.

Bà vú và người tớ trai về kể rõ dung mạo cử chỉ của Tam Nương, ông bà Phó đều vui mừng.

Sau cùng mới báo tin Xảo Nương mất, sinh đau xót rơm rớm nước mắt.

Đêm rước dâu sinh gặp Hoa Cô đích thân hỏi lại, Hoa Cô cười đáp:

- Đã đầu thai ở đất Bắc rồi!

Sinh than thở hồi lâu.

Cưới Tam Nương rồi mà vẫn không sao quên được Xảo Nương, cứ nghe có ai ở Quỳnh Châu tới đều cho gọi tới hỏi chuyện.

Có người nói dưới mộ nàng họ Tần đêm đêm có tiếng ma khóc, sinh lấy làm lạ vào nói với Tam Nương.

Tam Nương trầm ngâm hồi lâu rồi sa nước mắt nói:

- Em phụ chị rồi!”

Sinh gạn hỏi, nàng cười đáp:

- Lúc mẹ con thiếp đi thật không có nói cho chị ấy biết, tiếng kêu khóc đó chắc là của chị ấy thôi.

Trước đã định nói thật với chàng, nhưng lại sợ phơi bày lỗi của mẹ.

Sinh nghe thế buồn xong lại vui, lập tức sai sắp sửa xe kiệu ngày đêm đi gấp tới mộ nàng, gõ vào bia mộ gọi to:

- Xảo Nương!

Xảo Nương!

Ta ở đây!

Giây lát thấy cô gái bế một đứa nhỏ từ mộ bước ra, mắt nhìn ai oán không thôi, sinh cũng rơi lệ.

Sờ vào bọc hỏi con ai, Xảo Nương đáp:

- Đây là cái mầm oan nghiệt của chàng để lại đấy, được ba ngày rồi.

Sinh nói:

- Lầm nghe lời Hoa Cô khiến mẹ con phải ôm mối lo dưới đất, tội thật không tha được.

Rồi cùng lên xe vượt biển về, bế con vào thưa với mẹ.

Mẹ nhìn đứa nhỏ thấy khôi ngô khỏe mạnh không giống ma quỷ càng vui mừng.

Hai nàng sống hòa thuận, thờ cha mẹ chồng rất có hiếu.

Về sau ông Phó bị bệnh, mời thầy thuốc tới, Xảo Nương nói:

- Bệnh không làm gì được nữa, vì hồn đã lìa khỏi xác.

Rồi đôn đốc lo đồ táng liệm, vừa xong thì ông mất.

Đứa nhỏ lớn lên rất giống cha mà còn thông minh hơn, mười bốn tuổi đã vào học trường huyện.

Ông Cao Bưu hiệu Tử Hà tới đất Quảng nghe chuyện này, nhưng tên làng xóm thì quên mất và không rõ chung cục ra sao.

Cửu tích: chín loại vật dụng và nghi thức như xe ngựa, y phục, nhạc khí, cửu được sơn son, ra đường có quân hổ bôn hộ vệ... theo nghi lễ vương giả, ý nói được phong tước vương.

_____________________________________

CHƯƠNG 33: PHỤC HỒ

TRỪ HỒ

Nhị Bút Đan Trì Xứng Thị Tùng

Mỗi Nhân Xuân Hận Dục Đồ Cùng

Linh Y Tân Thụ Phòng Trung Thuật

Ngọc Toái Hoa Tàn Nhất Thuấn Trung

Dịch:

Chầu Chực Đan Trì Dắt Bút Lông

Chỉ Nhân Xuân Hận Thán Đừng Cùng

Học Thầy Được Thuốc Phòng Trung Bí

Nát Ngọc Tàn Hoa Khéo Lạ Lùng



Có ông Thái Sử nọ bị hồ ly ám, mắc bệnh gầy mòn, cầu cúng bùa phép đủ nơi cũng không khỏi, bèn xin nghỉ về quê mong tránh được.

Nhưng Thái Sử đi thì hồ ly cũng đi theo, Thái Sử sợ lắm không biết tính cách nào.

Một hôm, Thái Sử dừng lại ở ngoài cửa huyện Trác, gặp một thầy lang dạo, tự nói rằng mình phục được hồ.

Thái Sử bèn đón vào, thầy lang trao thuốc cho, thì ra là thuốc cường dương và giục Thái Sử uống.

Khi uống thuốc xong vào phòng giao hoan với hồ ly, khỏe mạnh vô cùng.

Hồ ly lăn lộn, kêu van xin thôi, vùng vẫy muốn thoát ra mà không sao thoát được.

Một lát không nghe thấy tiếng kêu nữa, nhìn xem thì hồ ly đã hiện nguyên hình mà chết rồi.

________________________________

CHƯƠNG 34: TAM TIÊN

BA ÔNG TIÊN

Định Thị Hồ Lô Hữu Túc Nhân

Bất Nhiên Ngộ Hợp Ức Hà Thần

Văn Chương Xuất Tự Tiên Nhân Bút

Đắc Ý Thu Vi Đệ Nhất Nhân

Dịch:.

Tiệc Rượu Chẳng Là Có Túc Nhân

Nếu Không Sao Khéo Gặp Là Thần

Văn Chương Xuất Tự Tay Tiên Ấy

Chiếm Giải Trường Thi Chẳng Khó Khăn



Có người học trò lên Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô) thi, đi ngang huyện Túc Thiên (tỉnh Giang Tô) gặp ba vị Tú tài.

Cùng nhau trò chuyện, thấy đều khoáng đạt hơn đời, rất thích bèn mua rượu mời họ cùng uống.

Trong lúc thù tạc, ba người đều xưng tên họ, một là Giới Thu Hành, một là Thường Phong Lâm, một là Ma Tây Trì.

Mê mải chuyện trò với nhau, trời tối lúc nào không hay, Giới nói:

- Chưa làm phận sự chủ nhà lại được cho uống rượu, theo lẽ rất là không phải.

Nhà cỏ cách đây không xa, xin mời tới đó nghỉ lại.

Thường và Ma cũng đứng dậy kéo áo mời mọc, người học trò bèn gọi đầy tớ cùng đi theo.

Tới chỗ núi phía bắc làng, chợt thấy đình viện, ngoài cổng có dòng nước chảy quanh.

Vào bên trong thì thấy nhà cửa rất sạch sẽ, chủ nhân gọi trẻ thắp đèn, lại sai đưa người đầy tớ đi nghỉ.

Ma nói:

- Trước vẫn lấy văn chương họp bạn, nay đã gần đến ngày thi, không nên bỏ phí đêm đẹp.

Xin nghĩ ra bốn đề bài, mỗi người rút thăm lấy một, làm văn xong hãy uống rượu.

Mọi người theo lời, mỗi người nghĩ ra một đề bài, viết đặt lên bàn, ai rút được đề nào thì tới bàn riêng suy nghĩ mà làm.

Chưa hết canh hai tất cả đều làm xong, đưa cho nhau lần lượt xem.

Người học trò đọc văn của ba người rất khâm phục, bèn chép lại cất đi.

Chủ nhân đưa rượu ngon ra mời khách, rót chén lớn uống liên tiếp, không biết say là gì.

Khách từ tạ không uống nữa, chủ nhân cũng chiều lòng, đưa vào một phòng riêng.

Người học trò say quá, cứ mặc áo mang giày nằm xuống ngủ thẳng.

Đến khi tỉnh dậy thì mặt trời đã mọc cao, nhìn bốn bên chẳng thấy có nhà cửa phòng ốc gì, chỉ có hai chủ tớ nằm trong hốc núi.

Người học trò hoảng sợ vội gọi đầy tớ dậy.

Nhìn ra thấy bên cạnh có một cái động, trong có dòng nước cuồn cuộn chảy ra, ngờ rằng mình nằm mơ, nhưng tìm lại trong bọc thì ba bài văn chép lại vẫn còn.

Xuống tới dưới núi hỏi dân ở đó, mới biết đó là động Tam tiên, trong động có ba con vật là cua, rắn và ễnh ương rất linh thiêng, hay ra ngoài chơi, thỉnh thoảng họ vẫn trông thấy.

Khi người học trò vào thi, đề bài ra đều trùng với ba bài mà tiên đã làm, nhờ vậy được đỗ đầu.

________________________________

CHƯƠNG 35: OA KHÚC

KHÚC NHẠC CHẪU CHÀNG

Cổ Xúy Tằng Kinh Lưỡng Bộ Khoa

Trì Đường Thanh Thảo Độc Thinh Oa

Hà Nhân Chế Tựu Phiên Tân Khúc

Vận Hiệp Cung Thương Liễu Bất Sai

Dịch:

Hai Bộ Đã Từng Khoe Cổ Xúy

Cỏ Xanh Ao Lắng Chẫu Chàng Kêu

Hỏi Ai Mới Chế Thành Tân Khúc

Theo Vận Cung Thương Khéo Hiệp Điều



Vương Tử Tôn nói hồi ở Kinh Đô từng thấy một người diễn trò ở chợ, cầm hộp gỗ làm một tầng, ngăn ra gồm mười hai lỗ, mỗi lỗ đặt một con ếch nằm dưới, lấy cái que nhỏ gõ vào đầu thì nó kêu lên.

Có người đưa tiền cho thì gõ loạn vào các con ếch như đánh vân la, thành khúc nhạc, cung thương âm điệu nghe rất rành mạch.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 36+37+38+39+40


CHƯƠNG 36: THỬ HÍ

TUỒNG CHUỘT

Vô Nghỉ Chỉ Hợp Tướng Kỳ Bì

Đô Đạo Trường An Sự Tối Kỳ

Mạc Tiếu Yêu Ma Ngô Thử Kỹ

Cư Nhiên Dã Hữu Thượng Trường Thì

Dịch:

Kìa Ngắm Ngoài Da Còn Có Vẻ

Trường An Còn Lắm Chuyện Ly Kỳ

Đừng Cười Nhỏ Mọn Trò Con Chuột

Chỉnh Chệ Lên Đài Cũng Có Khi



Lại có người ở chợ Trường An trình diễn tuồng chuột.

Người ấy lưng đeo một cái đẫy, ở trong nuôi hơn mười con chuột nhỏ.

Thường ở chỗ đông người, lấy ra một cái giá gỗ nhỏ đặt trên vai, nghiễm nhiên như là sân khấu.

Rồi gõ phách, hát các bản tuồng cổ.

Vừa cất tiếng ca thì chuột trong đẫy chui ra, đeo mặt nạ, mặc quần áo nhỏ vào, từ lưng leo lên sân khấu, đứng (hai chân) như người múa, có vai nam vai nữ, vui buồn đều hợp với tiết mục trong tấn tuồng.

_______________________________

CHƯƠNG 37: TRIỆU THÀNH HỔ

CON HỔ HUYỆN TRIỆU THÀNH

Huyện Điệp Trì Lai Hổ Tựu Câu

Cư Nhiên Phản Bộ Học Từ Ô

Đại Cung Tử Chức Di Tiền Hám

Từ Vũ Đông Giao Kim Vị Vô

Dịch:

Quan Sai Cầm Trát Tuy Tìm Hổ

Bắt Chước Từ Ô Mớm Mẹ Già

Thay Bổn Phận Con Đền Tội Trước

Đông Giao Miếu Vũ Vẫn Nguy Nga



Có bà già ở huyện Triệu Thành (tỉnh Sơn Tây) hơn bảy mươi tuổi chỉ có một người con trai.

Một hôm y vào núi bị cọp vồ chết, bà già đau đớn chết đi sống lại, kêu khóc tới kiện với quan huyện.

Quan huyện cười nói:

- Cọp thì làm sao lấy phép quan mà trị tội được?

Bà già càng kêu khóc thảm thiết, không làm sao cho bà ta im đi được.

Quan huyện tức giận quát tháo cũng không sợ hãi, lại thương xót bà ta già cả, bèn hứa sẽ bắt cọp trị tội.

Nhưng bà già vẫn không ra về, đòi phải nhìn thấy trát quan ra lệnh bắt cọp mới chịu đi.

Quan không biết làm sao, bèn hỏi các nha dịch ai đi được.

Có một người lính lệ tên Lý Năng đang say ngồi ở đó, tự nói mình đi được, quan bèn viết trát giao cho y, bà già mới chịu ra về.

Người lính lệ tỉnh rượu hối hận, lại cho rằng quan huyện chỉ giả làm ra như thế để bà già không kêu khóc quấy rầy nữa, nên cũng không hề để ý, đem tờ trát tới xin hủy bỏ.

Quan giận nói:

- Ngươi nói là đi được, tại sao lại hối?

Người lính lệ bí quá, xin hạ trát bắt các thợ săn trong huyện cùng đi, quan ưng thuận.

Người lính lệ tập họp các thợ săn ngày đêm rình trong núi, mong bắt được một con cọp để không bị trách phạt.

Nhưng hơn một tháng chẳng được gì, bị phạt đánh mấy trăm trượng, khổ quá không biết kêu nài với ai, bèn tới Nhạc miếu ngoài phía đông huyện thành quỳ xuống cầu khẩn, khóc tắt cả tiếng.

Không bao lâu, chợt có một con cọp từ ngoài đi tới, người lính lệ cả kinh, sợ bị nó vồ.

Nhưng cọp vào tới nơi không ngó ngàng gì tới ai, chỉ ngồi xuống ngay giữa cổng miếu.

Người lính lệ khấn rằng:

- Nếu người giết con trai bà già kia thì cúi đầu cho ta trói.

Rồi rút dây ra buộc vào cổ nó.

Cọp cụp tai chịu trói, người lính lệ bèn dắt nó về huyện đường.

Quan huyện hỏi nó rằng:

- Có phải là ngươi giết con bà già không?

Cọp gật đầu.

Quan huyện nói:

- Giết người thì phải đền mạng, đó là pháp luật đã định từ xưa.

Vả lại bà già chỉ có một đứa con trai, mà ngươi giết đi, bà ta già rồi, làm thế nào sinh sống?

Nếu ngươi có thể làm con bà ta, thì ta tha cho.

Cọp lại gật đầu.

Quan bèn sai cởi dây cho nó đi, bà già vẫn còn oán giận quan huyện không giết cọp để đền mạng cho con trai mình.

Sáng ngày mở cửa chợt thấy có một con hươu chết nằm ở sân, bà già đem bán thịt lấy tiền sống qua ngày.

Từ đó thường thường như thế, có lần cọp còn mang vàng lụa tới vứt trong sân.

Bà già nhờ vậy cũng được dư dả, thấy được chăm sóc còn hơn cả lúc con trai còn sống cũng thương cọp.

Có lúc nó tới nằm dưới thềm cả ngày không đi, nhưng người nhà và súc vật đều yên ổn, không bị sợ hãi náo động.

Vài năm sau bà chết, con cọp tới kêu gào trong phòng khách.

Những tiền bạc bà già gìn giữ tích góp được có thừa để làm đám ma, họ hàng lấy đó chôn cất cho bà.

Mộ vừa đắp xong thì cọp ào ào phóng tới, khách khứa chạy sạch.

Cọp đứng gào rít trước phần mộ, tiếng vang như sấm, hồi lâu mới đi.

Dân ở đó lập đền thờ Nghĩa hổ ở phía đông huyện thành, đến nay vẫn còn.

____________________________________

CHƯƠNG 38: TIỂU NHÂN

NGƯỜI TÍ HON

Chi Thể Kiều Nhu Cung Hí Cụ

Do Lai Quỉ Quắc Biến Giang Hồ

Thí Thính Tố Cung Ngôn Như Hội

Tả Đạo Ưng Nghiêm Lưỡng Quán Tru

Dịch:

Tay Chân Mềm Dẻo Hiến Trò Chơi

Quỉ Quái Giang Hồ Khắp Mọi Nơi

Tra Hỏi Lời Cung Từng Đã Rõ

Nghiêm Trừng Tả Đạo Giết Cho Rồi.



Trong thời Khang Hi, có một thuật sĩ mang theo một cái tráp, ở trong đựng một người tí hon, cao độ hơn một gang tay.

Quăng tiền cho thì hắn mở tráp bảo người tí hon ra ca một khúc rồi lui.

Đến huyện Dịch, quan tể huyện Dịch thu lấy tráp đem về dinh xét hỏi tỉ mỉ lai lịch người tí hon.

Lúc đầu người ấy không nói, căn vặn mãi mới khai họ hàng, quê quán.

Nguyên trước kia người ấy là học trò hiếu học, đi học về bị thuật sĩ mê hoặc cho uống thuốc thân thể bỗng co rút lại, hắn bèn mang đi dùng làm trò.

Quan tể nổi giận, giết tên thuật sĩ, giữ đứa học trò lại.

Muốn chạy chữa cho nó, nay vẫn chưa tìm ra phương thuốc nào.

_______________________________

CHƯƠNG 39: LƯƠNG NGẠN

Diệt Tị Vô Đoan Cách Phệ Phu

Tai Lai Thiết Cận Cánh Hà Cô

Thế Gian Bất Thiểu Cường Thân Nhược

Mạc Thị Cơ Tâm Cảm Triệu Phù

Dịch:

Ngạt Mũi Không Dưng Lại Cắn Da

Tai Ương Bách Thiết Tội Chi Mà

Thế Gian Chẳng Thiếu To Ăn Nhỏ

Chừng Cũng Tâm Cơ Cảm Triệu A



Lương Ngạn người Từ Châu, bị bệnh nghẹt mũi cứ khụt khịt đã lâu không khỏi.

Một hôm đi ngủ, vừa nằm xuống thì chợt thấy lỗ mũi bên trái ngứa ngáy vô cùng, bèn ngồi dậy khịt mạnh.

Có một con vật văng ra rơi xuống đất, hình dạng như con chó, to bằng đầu ngón tay.

Lại khịt thì văng ra một con nữa, khịt tất cả bốn lần văng ra bốn con, ngọ nguậy như sâu, bò lại ngửi hít lẫn nhau.

Chợt bốn con quay ra cắn xé nhau, con mạnh ăn con yếu, cứ ăn xong lại dài ra thêm một chút.

Trong nháy mắt chỉ còn có một con to bằng con chuột, thè lưỡi bò quanh, có vẻ còn thèm ăn nữa.

Lương rất kinh ngạc, giơ chân giẫm, con vật theo ống quần bò lên, dần dần tới đùi.

Lương phất tay áo phủi xuống nhưng nó bám rất chặt không chịu rơi, giây lát chui vào trong áo, bò lên hông.

Lương hoảng sợ vội cởi áo ném xuống đất, đưa tay mò bắt thì con vật đã dính chặt vào lưng, lay không động, giật thì đau, kết thành một cục thịt lồi lên, nhắm mắt ngậm miệng, như một con chuột đang nằm vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 40: HỒNG NGỌC

Kiếp Thê Sát Phụ Đại Cừu Bình

Nghĩa Sĩ Tương Phùng Điếu Tử Sinh

Hữu Tử Hữu Gia Thùy Ngọc Nhữ

Bất Kỳ Cân Quắc Hữu Trình Anh

Dịch:

Giết Cha Cướp Vợ Oan Cừu Nặng

Hiệp Sĩ Ra Tay Dẹp Bất Bình

Lập Nghiệp Nuôi Con Ai Bảo Trợ

Quần Thoa Đâu Tưởng Có Trình Anh



Ông Phùng người huyện Quảng Bình (tỉnh Hà Bắc) có một con trai tên Tương Như, cha con cùng là Chư sinh.

Ông Phùng tuổi gần sáu mươi, tính cứng cỏi mà vẫn nghèo.

Trong khoảng vài năm, vợ và con dâu nối nhau chết, việc cơm nước giặt giũ đều phải tự làm lấy.

Một đêm Tương Như ngồi dưới trăng, chợt thấy người con gái láng giềng phía đông leo lên tường nhìn trộm.

Sinh thấy nàng đẹp, tới gần thấy hơi cười bèn vẫy, nàng không tới cũng không đi, nài mãi mới trèo thang qua, liền ngủ với nhau.

Hỏi tên họ, nàng nói:

- Thiếp là con gái nhà láng giềng, tên Hồng Ngọc.

Sinh rất yêu thương, hẹn cùng kết duyên mãi mãi.

Nàng ưng thuận, từ dó đêm đêm thường tới.

Được nửa năm, một đêm ông Phùng tỉnh giấc nghe trong phòng con có tiếng cười nói, nhìn vào thấy cô gái nổi giận gọi sinh ra mắng:

- Quân súc sinh làm gì thế?

Nghèo túng thế này đã không chịu khổ lại còn học thói đàng điếm à?

Người ta biết thì ngươi mất hết danh dự, người ta không biết thì ngươi cũng giảm thọ.

Sinh quỳ xuống nhận lỗi, khóc nói đã hối hận.

Ông Phùng mắng cô gái:

- Con gái không giữ lễ giáo, đã làm nhuốc mình lại làm nhơ cả người khác.

Nếu việc lộ ra thì không chỉ một nhà này chịu nhục thôi đâu.

Mắng xong căm tức quay vào phòng.

Cô gái chảy nước mắt nói:

- Lời cha quở trách thật là thẹn nhục, duyên phận hai ta thế là hết rồi.

Sinh nói:

- Cha còn thì không được tự chuyên, nếu nàng có tình thì nên ngậm tủi thương nhau.

Cô gái quyết ý đoạn tuyệt, sinh rơi nước mắt, nàng khuyên giải, nói:

- Thiếp với chàng không có lời mai mối, không có lệnh cha mẹ, trèo tường theo nhau thì làm sao sống với nhau tới lúc bạc đầu được?

Vùng này có một đám tốt, có thể hỏi cưới.

Sinh nói nhà nghèo, cô gái nói:

- Tối mai cứ đợi nhau, thiếp sẽ tính cho.

Đêm sau quả nhiên nàng tới, đưa ra bốn mươi lượng bạc tặng sinh, nói:

- Cách đây sáu mươi dặm có con gái họ Vệ ở Ngô thôn đã mười tám tuổi, còn kén chọn nên chưa lấy ai, chàng đưa nhiều tiền thì xong.

Rồi từ biệt ra đi.

Sinh tìm dịp thưa với cha muốn đi xem mặt, nhưng giấu chuyện cô gái tặng tiền, không dám nói cho cha biết.

Ông Phùng nghĩ nhà nghèo nên bảo thôi, sinh lại nói khéo là cứ đi thử xem, không được thì thôi, ông bèn ưng thuận.

Sinh bèn thuê đầy tớ và ngựa tới nhà họ Vệ.

Vệ vốn là người làm ruộng, sinh gọi ra nói chuyện.

Vệ biết sinh là nhà dòng dõi, lại thấy dáng người khôi ngô, trong lòng đã ưng nhưng còn lo không được nhiều tiền.

Sinh thấy nói năng ngập ngừng biết ý, bèn dốc túi bày tiền ra bàn.

Vệ mừng rỡ, nhờ người học trò láng giềng làm chứng, viết giấy đỏ giao ước.

Sinh vào chào bà già, thấy nhà cửa chật hẹp, cô gái đứng núp sau mẹ.

Sinh liếc thấy nàng tuy áo vải thoa gai nhưng thần thái xinh đẹp, trong bụng mừng thầm.

Vệ thuê nhà tiếp đãi con rể, nói:

- Công tử không cần đón dâu, đợi may ít quần áo sẽ đưa qua nhà.

Sinh hẹn ngày rồi về, nói dối với cha rằng:

- Họ Vệ mến nhà ta dòng dõi thanh bạch nên không đòi tiền.

Ông Phùng cũng mừng.

Đến ngày hẹn, Vệ quả đưa con gái tới.

Cô gái tính cần kiệm lại hiền thục, vợ chồng rất êm ấm.

Hơn hai năm nàng sinh một trai, đặt tên là Phúc Nhi.

Nhân tiết Thanh Minh nàng bế con đi tảo mộ, gặp họ Tống là thân hào trong huyện.

Tống làm quan tới chúc Ngự sử, phạm tội ăn hối lộ bị cách chức về nhưng vẫn cậy oai lộng hành.

Hôm ấy Tống cũng đi tảo mộ về, thấy cô gái đẹp, hỏi người trong thôn biết là vợ sinh, nghĩ Phùng là học trò nghèo, lấy nhiều tiền dụ dỗ có thể xiêu lòng, liền sai người nhà bắn tin.

Sinh vừa nghe thấy tức giận ra mặt, kế lại nghĩ thế không địch nổi bèn nén giận tươi cười rồi về nói với cha.

Ông Phùng cả giận chạy ra gặp tên người nhà của Tống chỉ trời vạch đất chửi mắng thậm tệ.

Tên người nhà trốn về, Tống cũng tức giận, sai mấy người xông vào nhà sinh đánh nhau, hai cha con sinh chửi ầm lên.

Cô gái nghe thấy, bỏ con xuống giường, xõa tóc chạy ra kêu cứu, bọn kia liền bắt lấy khiêng lên rầm rộ bỏ đi.

Cha con bị thương nằm rên rỉ dưới đất, đứa nhỏ thì khóc oa oa trong phòng.

Láng giềng cùng thương xót vực cha con lên giường, qua hôm sau sinh chống gậy đứng lên được, ông Phùng thì tức giận bỏ ăn, thổ huyết mà chết.

Sinh khóc lớn, bế con đi kiện lên tới tỉnh, kiện tụng khắp nơi rốt lại vẫn không được xét.

Sau nghe nói vợ không chịu khuất mà chết lại càng đau xót, căm giận đầy bụng không làm sao phát tiết.

Thường nghĩ muốn đón đường đâm chết Tống, nhưng lo đầy tớ y đông, con lại không gửi ai được, ngày đêm đau xót nghĩ ngợi không hề chợp mắt.

Chợt một người đàn ông tới nhà thăm hỏi, râu quăn cằm bạnh, chưa từng gặp qua.

Sinh mời ngồi, vừa định hỏi họ tên quê quán, khách đã nói ngay:

- Ông có cái thù giết cha, mối hận cướp vợ mà không báo à?

Sinh ngờ là người của Tống sai tới dò xét nên chỉ giả vâng dạ.

Khách nổi giận trợn mắt muốn rách khóe, bước ngay ra, nói:

- Ta cho rằng ông là người, nay mới biết là đồ hèn không đáng đếm xỉa.

Sinh thấy lạ liền quỳ xuống kéo lại nói:

- Thật là sợ người nhà họ Tống tới dò la, nay xin bày tỏ gan ruột.

Ta ôm lòng báo thù lâu rồi, nhưng thương đứa nhỏ trong bọc này, sợ bị tuyệt tự.

Ông là bậc nghĩa sĩ, có thể vì ta mà làm Chử Cữu không?

Khách nói:

- Đó là việc của đàn bà con gái, ta không làm được.

Việc ông muốn nhờ người xin tự làm lấy, còn việc ông muốn tự làm thì ta xin làm thay cho.

Sinh nghe nói dập đầu lạy, khách bỏ ra không thèm nhìn.

Sinh đuổi theo hỏi họ tên, khách đáp:

- Việc không xong không nhận oán, việc xong không nhận ơn.

Rồi đi.

Sinh sợ tai vạ tới, bế con bỏ trốn.

Đến đêm, cả nhà họ Tống đang ngủ, có người vượt qua mấy lần tường vào giết ba cha con Ngự sử và một tỳ nữ, một con dâu.

Nhà họ Tống làm báo quan, quan cả sợ.

Nhà họ Tống cứ vu cho Tương Như nên quan sai lính bắt sinh, vì sinh trốn không biết đi đâu nên càng tin là thật.

Đầy tớ nhà họ Tống cùng lính quan đi lùng khắp nơi, đêm đến núi Nam nghe tiếng trẻ khóc, tìm tới nơi gặp sinh bèn trói giải về.

Đứa nhỏ càng khóc dữ, chúng liền giật lấy vứt đi, sinh căm hờn muốn chết.

Khi gặp quan huyện, quan hỏi vì sao giết người, sinh nói:

- Thật oan quá!

Họ chết ban đêm mà ta ra đi từ ban ngày, vả lại bế đứa nhỏ khóc oa oa thì làm sao vượt tường giết người?

Quan huyện hỏi:

- Không giết người tại sao bỏ trốn?

Sinh nghẹn lời không đáp được, quan liền sai giam vào ngục.

Sinh khóc nói:

- Ta chết cũng không tiếc, nhưng đứa nhỏ mồ côi kia có tội gì?

Quan huyện nói:

- Ngươi giết con người ta đã nhiều, thì con ngươi bị giết còn oán gì?

Sinh bị lột áo mũ nhà nho, lại nhiều lần bị tra tấn tàn khốc nhưng rốt lại không hề nhận tội.

Đêm ấy quan huyện nằm ngủ nghe có vật gì đập vào giường rung lên thành tiếng, cả sợ kêu lớn.

Cả nhà giật mình thức dậy, xúm lại đốt đuốc soi, thấy một lưỡi đoản đao sáng loáng cắm vào giường sâu hơn một tấc, chặt cứng không rút ra được.

Quan huyện nhìn thấy khiếp vía, cầm giáo đi lùng khắp nơi không thấy gì, trong lòng lo thầm.

Lại vì họ Tống đã chết không đáng sợ nữa, bèn trình lên quan tỉnh giải oan cho sinh rồi tha về.

Sinh về nhà, trong hủ không một đấu gạo, một mình với bốn bức vách, may được láng giềng thương xót cho ăn uống, sống đỡ qua ngày.

Nghĩ tới mối thù lớn đã trả thì tươi cười vui vẻ nhưng nhớ lại tai họa thảm khốc suýt chết toàn gia thì buồn bã sa lệ, lại nghĩ mình nửa đời nghèo thấu xương, không người nối dõi, thì khi vắng người bật tiếng khóc thất thanh không sao kìm được.

Cứ thế nửa năm, việc bắt bớ lơi lỏng dần, bèn xin quan huyện cho mang hài cốt Vệ thị về.

Chôn cất xong trở về, đau đớn chỉ muốn chết, trằn trọc trên giường nghĩ không còn cách gì để sống.

Bỗng có người gõ cửa, sinh lắng tai nghe thấy ngoài cửa có tiếng một người đang nựng nịu trẻ con.

Sinh vội dậy ra nhìn thì như là một cô gái, cửa vừa mở đã hỏi:

- Nỗi oan lớn đã rửa, may không sao chứ?

Giọng rất quen nhưng lúc vội vàng không sao nhớ ra được.

Đánh lửa soi thì ra là Hồng Ngọc, dắt một đứa nhỏ cười đùa dưới chân.

Sinh không kịp hỏi han, ôm nàng khóc nức nở, cô gái cũng buồn bã.

Kế đẩy đứa nhỏ nói:

- Con quên cha rồi sao?

Đứa nhỏ nắm áo cô gái nhìn sinh chằm chằm, sinh nhìn kỹ thì là Phúc Nhi, cả kinh khóc hỏi:

- Sao con về đây được?

Cô gái nói:

- Nói thật với chàng, trước kia thiếp nói là con gái láng giềng là nói dối.

Thiếp thật là hồ, nhân đi đêm thấy con khóc trong hang liền bế về nuôi ở đất Tần (tỉnh Thiểm Tây).

Nghe nạn lớn đã yên nên đem con về cùng chàng đoàn tụ.

Sinh lau nước mắt lạy tạ.

Đứa nhỏ nép vào lòng cô gái như nương tựa mẹ ruột, không nhận ra cha nữa.

Trời chưa sáng, cô gái đã trở dậy, hỏi thì nàng đáp:

- Nô tỳ muốn đi!

Sinh cởi trần quỳ ở đầu giường khóc không ngẩng lên được.

Cô gái cười nói:

- Thiếp lừa chàng thôi.

Nay nhà đang gầy dựng, không thức khuya dậy sớm không được.

Rồi nhổ cỏ dọn dẹp, làm lụng như đàn ông.

Sinh lo nhà nghèo không đủ ăn, nàng nói:

- Xin chàng cứ buông rèm học hành, đừng hỏi chuyện thiếu đủ, may cũng không chết đói đâu.

Rồi bỏ tiền ra sắm khung dệt, thuê vài mươi mẫu ruộng mướn người cày cấy, vác bừa làm ruộng, kéo tranh lợp nhà, hàng ngày làm lụng.

Làng xóm nghe sinh có vợ hiền càng vui lòng giúp đỡ, khoảng nửa năm trong nhà ăn uống sung túc như nhà giàu.

Sinh nói:

- Sau lúc tro tàn, nhờ nàng một tay gầy dựng lại, nhưng còn một việc chưa xong, biết làm sao?

Nàng hỏi việc gì, sinh đáp:

- Kỳ thi sắp tới mà khăn áo chưa lấy lại được.

- Cô gái cười nói:

- Trước đây thiếp đã đem bốn lượng vàng gửi Học quan, ghi lại tên chàng vào sổ rồi, đợi tới chàng nhắc thì trễ lắm.

Sinh càng cho là thần.

Khoa ấy sinh đỗ Cử nhân, năm ấy ba mươi sáu tuổi, ruộng tốt liền bờ, nhà cửa cao rộng.

Cô gái mảnh khảnh như gió thổi là bay mà làm lụng còn hơn con nhà nông, mùa đông rét buốt vẫn làm việc mà bàn tay vẫn mềm mại, tự nói ba mươi tám tuổi nhưng nhìn chỉ như hơn hai mươi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 41+42


CHƯƠNG 41: LÂM TỨ NƯƠNG

Phiêu Linh Thân Thể Cảm Tang Thương

Thê Tuyệt Đương Niên Lâm Tứ Nương

Hảo Cứ Tự Hàm Vong Quốc Hận

Man Thành Do Tự Độ Y Lương

Dịch:

Nước Bèo Trôi Nổi Ngán Tang Thương

Thê Thảm Thay Đời Lâm Tứ Nương

Âm Điệu Ngậm Ngùi Hờn Mất Nước

Giọng Ca Phảng Phất Khúc Y Lương



Ông Trần Bảo Thược làm quan ở đạo Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) là người đất Mân (tỉnh Phúc Kiến) đêm ngồi một mình, có cô gái vén rèm bước vào.

Nhìn ra thì không quen mà rất đẹp, tay áo dài như lối trong cung cười nói:

- Đêm thanh ngồi một mình không buồn à?

Ông giật mình hỏi là ai, nàng đáp:

- Nhà thiếp không xa, chỉ bên xóm tây.

Ông đoán là ma nhưng lòng yêu thích bèn kéo áo mời ngồi, thấy trò chuyện rất phong nhã.

Ông thích lắm ôm lấy, cũng không kháng cự gì lắm, chỉ ngoảnh lại hỏi:

- Ở đây không có ai khác sao?

Ông vội khép cửa đáp không.

Giục cởi áo xiêm, nàng có vẻ thẹn thùng sợ sệt, ông phải ân cần cởi giúp cho.

Nàng nói:

- Thiếp nay hai mươi tuổi, vẫn còn là xử nữ, mạnh bạo quá thì không chịu nổi.

Giao hoan xong thấy máu đỏ vấy ra chiếu, kế dựa gối cùng trò chuyện, tự nói là Lâm Tứ Nương.

Ông hỏi kỹ, nàng nói:

- Một tấm kiên trinh đã để cho chàng khinh bạc mà mất hết, nếu yêu thương thiếp thì chỉ cần tính chuyện lâu dài với nhau là được, hỏi lằng nhằng làm gì?

Không bao lâu gà gáy, nàng trở dậy ra đi.

Từ đó đêm nào cũng tới, thường đóng cửa uống rượu, nói tới âm luật thì nàng hiểu hết cung bậc.

Ông đoán chắc hát rất hay, nàng nói:

- Lúc còn nhỏ vốn được học.

Ông xin hát cho nghe một khúc, nàng nói:

- Đã lâu không đụng tới âm nhạc, cung bậc quên mất quá nửa, sợ người hiểu biết cười cho.

Ông cố nài ép, nàng bèn cúi đầu gõ nhịp, hát khúc châu Y châu Lương, giọng rất thê thiết, hát xong rơi nước mắt.

Ông cũng chua xót, ôm nàng an ủi:

- Nàng đừng vì cái âm nhạc mất nước ấy mà buồn khiến người ta mất vui.

Cô gái nói:

Âm thanh là để tỏ ý, người buồn không thể bắt vui, cũng như người vui không bắt buồn được.

Hai người thân thiết còn hơn cả vợ chồng, lâu ngày người nhà nghe trộm, nghe thấy tiếng hát đều rơi nước mắt.

Phu nhân nhìn trộm dung mạo, nghi là trên đời không có người đẹp đến như thế, không phải ma ắt là hồ, sợ sẽ gieo tai họa bèn khuyên ông dứt tình.

Ông không nghe, chỉ hỏi kỹ gốc tích cô gái.

Nàng buồn rầu nói:

- Thiếp là Cung nhân trong Hành phủ, gặp tai biến mà chết mười bảy năm rồi.

Nghĩ chàng cao nghĩa nên gửi thân kết tình, thật không dám làm hại chàng.

Nếu nghi ngờ thì xin giã biệt từ đây.

Ông nói:

- Ta không hiềm nghi gì, nhưng đã yêu thương nhau như vậy thì phải biết rõ sự thật thôi.

Bèn hỏi việc trong cung thuở trước, cô gái kể rành rọt nghe rất thú vị, kể tới lúc suy vi thì nức nở nói không nên lời.

Cô gái ít ngủ, hàng đêm cứ trở dậy tụng kinh Chuẩn đề, Kim cang.

Ông hỏi:

- Ở chín suối cũng có thể tự sám hối sao?

Nàng đáp:

- Cũng như nhau cả, thiếp nghĩ trọn đời luân lạc nên muốn kiếp sau được giải thoát thôi.

Lại cùng ông phẩm bình thi từ, chỗ nào dở là chê, gặp câu hay thì cất tiếng ngâm nga, ý khí phong lưu khiến người nghe quên mỏi mệt.

Ông hỏi có hay thơ không thì đáp:

- Lúc sống ngẫu nhiên cũng có làm.

Ông đòi viết tặng cho mình, nàng cười nói:

- Lời thơ của đàn bà con trẻ đâu đủ đến tai bậc cao nhân?

Được ba năm, một đêm chợt nàng buồn rầu từ biệt.

Ông giật mình hỏi, nàng cười đáp:

- Diêm Vương nói thiếp kiếp trước không có tội mà vẫn không quên tụng kinh nên cho thác sinh làm con vua, đêm nay là vĩnh biệt, không còn gặp lại nhau nữa đâu.

Nói xong buồn rầu, ông cũng rơi lệ.

Bèn bày rượu cùng uống với nhau cho thật say, cô gái ngậm ngùi cất tiếng hát, âm điệu đau xót, mỗi tiếng mỗi tiếng đều thay đổi cung bậc, tới chỗ thương tâm thì nức nở, dừng lại mấy lần mới hát trọn khúc.

Rượu cũng không sao uống say, đứng lên bồi hồi định từ biệt.

Ông cố giữ lại, nàng ngồi thêm một lúc, chợt nghe tiếng gà gáy bèn nói:

- Không thể ở lại lâu nữa rồi.

Chàng vẫn trách thiếp không chịu dâng lời thơ dở, nay sắp vĩnh biệt, xin viết qua một bài.

Rồi đòi giấy bút, viết xong nói:

- Lòng đau ý loạn, không thể cân nhắc câu chữ, tiếng dở luật sai xin cẩn thận đừng đưa người khác xem.

Rồi lấy tay áo che mặt bước ra.

Ông tiễn ra tới ngoài cổng, nàng tan đi như làn khói mất dạng.

Ông đau xót hồi lâu, nhìn tới bài thơ thấy chữ viết ngay ngắn đẹp đẽ, trân trọng cất đi.

Thơ rằng:

Nguyên Văn

Tĩnh tỏa thâm cung thập thất niên

Thùy tương cố quốc vấn thanh thiên

Nhàn khan điện vũ phong kiều mộc

Khấp vọng quân vương hóa đỗ quyên

Hải quốc ba đào tà tịch chiếu

Hán gia tú cổ tĩnh phong yên

Hồng nhan lực nhược nan vi lệ

Huệ chất tâm bi chỉ vấn thiền

Nhật tụng Bồ đề thiên bách cú

Nhàn khan bối diệp lưỡng tam thiên

Cao xướng "Lê Viên" ca đại khốc

Thỉnh quân độc thính diệc san nhiên.

Dịch:

Khóa kín thâm cung mười bảy niên

Hỏi trời khôn thể bắc thang lên

Nhàn xem điện ngọc um kiều mộc

Khắc khoải hồn vua hóa đỗ quyên

Sóng vỗ ngoài khơi tà chiếu rọi

Khói mờ cung Hán quản huyền yêu

Má hồng yếu đuối khôn làm ác

Chất tuệ từ bi chỉ mộ thiền

Ngày tụng Bồ đề trăm vạn chữ

Nhàn xem bối diệp một vài thiên

Hát khúc Lê Viên thay tiếng khóc

Riêng ai nghe cũng lệ sa liền.

Ông Ngô Bảo Thược ở Tấn Giang (tỉnh Phúc Kiến) tự Lục Nhai, năm Khang Hy thứ 2 (1663) làm quan Thiêm sự ở đạo Thanh Châu tỉnh Sơn Đông, đêm cứ nghe có tiếng gõ cửa, lên tiếng hỏi thì không ai đáp.

Tên đầy tớ tức tối không chịu nổi cầm giáo rình đâm.

Đêm ấy chỉ nghe tiếng chửi mắng, xô cửa giữa xông ra thì là một con quỷ mặt xanh nanh dài cởi trần đứng sừng sững, đầu cao tới tận chái nhà, y hoảng sợ vứt giáo ngã lăn ra đất.

Trần vội bước ra quát:

- Đây là công thự của triều đình, ngươi là yêu quái ở đâu dám tới quấy nhiễu?

Quỷ cười nói:

- Nghe quý nô bộc định giết nên tới chịu chết.

Trần tức giận định gọi quân bắt giết, vừa nghĩ thì quỷ đã cười nói:

- Gọi quân bắt ta, sao mưu kế kém cỏi thế?

Trần càng tức giận, sáng ra điều hai ngàn quân tới giữ cổng.

Đến đêm quỷ từ trong góc tường nhô ra, cao chừng ba thước, đầu to như cái bánh xe, miệng há to như cái thúng, hai mắt lóe sáng, bò rạp dưới đất, hơi lạnh toát ra gai người.

Quân sĩ quát tháo bắn túi bụi, đạn lửa đều không cháy, tên bắn trúng thì không mũi nào cắm vào nó.

Quỷ giật cung bắn trả, tên bay như mưa nhưng đều lướt qua đầu chứ không làm ai bị thương, quân sĩ bỏ chạy tán loạn.

Trần lại mời thầy pháp về làm phép xua đuổi, đêm đến thầy pháp ngủ lại trong dinh.

Lúc ấy là tháng chạp rất lạnh, Trần vừa đi nghỉ thì quỷ tới thẳng chỗ thầy pháp ngủ lột sạch chăn nệm quần áo, thầy pháp sợ hãi kêu cứu, Trần bất đắc dĩ phải tới năn nỉ.

Quỷ cười nói:

- Nghe nói thầy pháp cao tay lắm, nghĩ là có phép thuật mà tài nghề chỉ có bấy nhiêu thôi sao?

Rồi ném trả quần áo.

Hôm sau thầy pháp xấu hổ từ biệt ra đi.

Từ đó trong dinh cứ bị ném đá liệng ngói sớm tối không yên, có khi thấy tường sụp cột đổ, mọi người vội tránh xa thì lại không có chuyện gì, Trần lo lắm.

Sau ta có người bạn đồng niên là Lưu Vọng Linh lên kinh, đi ngang Thanh Châu hỏi biết chuyện bèn nói với Trần:

- Ông tự chuốc lấy tai họa đó thôi.

Lý trong thiên hạ có dương ắt có âm, nếu không hấp tấp trừ yểm thì cũng không đến nỗi bị phá phách như vậy.

Chưa dứt lời thì quỷ đã hiện ra lạy tạ.

Lưu thấy hung ác đáng sợ bèn khuyên nên thay đổi dung mạo, quỷ lập tức bước vào phòng kín, giây lát trở ra thì là một giai nhân tuyệt sắc, tóc mây búi cao, y phục đẹp đẽ tha thướt đi tới.

Quần áo của nàng đều bằng thứ lụa long sa trơn láng mềm mại, cũng không thấy đường may, hương thơm sực nức không sao tả xiết.

Nàng tự xưng là Lâm Tứ Nương, có một tớ trai tên Quán Đạo, một tỳ nữ tên Đông Cô, đều có bóng không có hình, chỉ Tứ Nương là không khác gì người sống.

Trần hàng ngày cùng nàng uống rượu làm vui, thân cận rất mực, chỉ không có chuyện kia nọ mà thôi.

Phàm các công văn trong dinh phần lớn đều do nàng thảo ra, những án ngục khó xét lâu năm thì nàng dò xét rõ cả đầu đuôi, Trần ra xét một lần là ai cũng phục.

Trần đi khảo thí thì nàng phẩm bình văn chương, xếp hạng trên dưới đều xứng đáng nên rất nổi tiếng.

Trước kia Trần chờ bổ nhiệm ở Yên Kinh có vay một người nhà buôn hai ngàn quan tiền, lúc ấy người nhà buôn bất ngờ tới đòi không sao trả được, xin trả một nửa nhưng y không chịu.

Tứ Nương ra trách, nói:

- Trần công há phải là kẻ quỵt nợ sao, chỉ vì nhất thời nên không đủ sức trả hết thôi.

Người cứ nằng nặc đòi bằng được để đẩy ông vào chỗ mất danh dự thì có gì hay cho ngươi?

Ta là ma đây, nếu không nghe lời thì ta sẽ gieo tai họa cho ngươi đấy.

Người nhà buôn vốn không tin chuyện ma quỷ nên cười nói:

- Nàng là người đẹp mà lấy chuyện ma quỷ dọa ta, nếu quả là ma thì phải biết nhà cửa nghề nghiệp của ta ở kinh.

Tứ Nương nói:

- Nhà cửa nghề nghiệp của ngươi khó gì mà không biết.

Ngươi gần đây có làm một việc nhơ nhuốc ở nơi nọ, ta nói ra chỉ sợ ngươi phải chết thôi.

Người nhà buôn hoảng sợ cáo từ ra về, Trần ngầm hỏi việc y làm nhưng rốt lại Tứ Nương vẫn không chịu nói ra, giấu điều xấu cho người như thế đấy.

Tính nàng ưa ngâm vịnh, thơ phú làm ra phần lớn có âm điệu thê lương cảm khái, người ta không nỡ đọc.

Phàm những người ở đất Mân (tỉnh Phúc Kiến) tới thăm Trần thì nàng ắt cùng họ uống rượu vui đùa, khi chia tay là tặng thơ, trong có ẩn ngữ, về sau phần lớn đều nghiệm.

Có một người học trò thích nàng xinh đẹp nên động tà niệm, Tứ Nương tức giận nói:

- Thằng mán rừng này thật vô lễ.

Rồi ra lệnh:

- Phạt gậy!

Người học trò chợt ngã lăn xuống đất kêu gào xin tha, hai mông đít đầy vết gậy đánh.

Mọi người xin tha cho y, Tứ Nương bèn gọi tỳ nữ Đông Cô lấy thuốc cho y uống, lập tức không còn đau đớn gì nữa, rồi lại cùng nhau uống rượu vui vẻ như lúc đầu.

Trần hỏi đầu đuôi việc thành ma, Tứ Nương đáp:

- Ta là người huyện Bồ Điền (tỉnh Phúc Kiến) trong niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh (1628 -1643).

Trước cha ta làm quan giữ kho ở phủ Giang Ninh (tỉnh Nam Kinh), ăn cắp của kho bị hạ ngục.

Ta cùng người anh con cậu hết sức chạy vạy, suốt nửa năm đi đâu cũng có nhau nhưng không hề có chuyện tư tình.

Đến khi cha ta được tha lại nghi ngờ, ta bèn thắt cổ tự tử để chứng tỏ là không có chuyện gì, hồn phách cứng cỏi nên không tan.

Vì có tình đồng hương với ông nên tới đây, cũng không phải là ngẫu nhiên đâu.

Tính lại nàng ở dinh thự được mười tám tháng thì cáo từ, sau khi chia tay Trần nhớ tiếc mãi.

Năm Khang Hy thứ 6 (1667) Trần được bổ làm Truyền dịch đạo ở Giang Nam, kể cho nghe chuyện này, dặn ta ghi lại.

_____________________________________

CHƯƠNG 42: LỖ CÔNG NỮ

CON GÁI LỖ CÔNG

Thạch Thượng Tam Sinh Sự Điểu Mang

Si Tình Cánh Dục Đãi Trương Lang

Hồng Nhan Bạch Phát Tri Đa Thiểu

An Đắc Thần Tiên Hoán Cốt Phương

Dịch:

Tảng Đá Ba Sinh Truyện Điểu Mang

Tình Si Còn Muốn Đợi Chàng Trương

Má Hồng Đầu Bạc Bao Nhiêu Nhỉ?

Hoán Cốt Tiên Đâu Kiếm Được Phương



Trương Ư Đán người huyện Chiêu Viễn (tỉnh Sơn Đông) tính ngang tàng không chịu bị trói buộc, tới học ở chùa Tiêu.

Lúc ấy quan Tri huyện là ông Lỗ người Tam Hàn (vùng đất phía nam Triều Tiên) có cô con gái thích đi săn, sinh tình cờ gặp nàng ngoài đồng, thấy phong tư lộng lẫy, mặc áo lông điêu gấm, cưỡi con ngựa câu nhỏ, xinh đẹp như tranh vẽ, trở về nhớ nhung, băn khoăn tơ tưởng.

Sau nghe tin nàng mắc bạo bệnh mà chết, vô cùng đau xót.

Lỗ vì nhà ở xa nên gởi quan tài nàng trong chùa, tức nơi sinh ở.

Sinh kính cẩn như đối với thần minh, sáng ra thì thắp hương, đến bữa thì cúng vái, cứ rưới rượu khấn rằng:

- Thấy mặt một lần mộng hồn vương vấn, không ngờ người ngọc chợt qua đời, nay thì tuy gần gũi trong gang tấc mà xa xôi như núi sông, thật hận làm sao.

Nhưng nàng còn sống thì còn có điều trói buộc chứ chết rồi không còn gì ngăn cấm, dưới chín suối có thiêng thì xin nhẹ nhàng về đây cho vơi niềm mong nhớ!

Sớm tối cứ thế khấn khứa suốt nửa năm.

Một đêm khêu đèn đọc sách, chợt ngẩng đầu thì thấy cô gái đang đứng trước đèn tươi cười.

Sinh giật mình đứng lên hỏi, nàng đáp:

- Cảm vì tình của chàng, không cầm lòng được nên không sợ mang tiếng tư tình.

Sinh cả mừng kéo nàng ngồi xuống rồi cùng nhau ân ái, từ đó đêm nào nàng cũng tới.

Cô gái nói với sinh:

- Lúc thiếp còn sống thích cung ngựa, lấy việc bắn hươu giết nai làm vui, tội nghiệt rất sâu, chết không có nơi về, nếu chàng thật lòng thương yêu xin phiền tụng kinh Kim cương cho đủ số một tạng thì đời đời kiếp kiếp không dám quên ơn.

Sinh kính cẩn nghe lời, cứ sáng ra là lập tức tới trước quan tài lần tràng hạt đọc kinh.

Gặp lúc cuối năm, muốn cô gái cùng về nhà với mình, cô gái lo chân yếu không thể lặn lội.

Sinh xin cõng đi, nàng cười nghe theo, thấy như cõng trẻ con không có chút gì nặng nhọc mỏi mệt.

Từ đó lấy thế làm thường, đi khảo thí cũng đưa nàng theo, nhưng chỉ ban đêm mới đi.

Sinh sắp đi thi hương, cô gái nói:

- Chàng phúc mỏng, vất vả làm gì?

Sinh nghe lời bèn thôi.

Được bốn năm năm, Lỗ bãi chức nghèo quá không thể đưa quan tài con gái cùng về quê, định chôn ở đó nhưng ngặt không có đất.

Sinh bèn tự trần rằng:

- Ta có khoảnh đất xấu gần chùa, xin cứ chôn cất tiểu thư ở đó.

Lỗ mừng lắm, sinh lại hết sức giúp đỡ việc chôn cất, Lỗ rất biết ơn nhưng không hiểu vì sao.

Lỗ đi rồi, hai người lại khăng khít như trước.

Một đêm nàng nép vào lòng sinh nước mắt lã chã nói:

- Gắn bó được năm năm, nay phải chia tay rồi.

Thiếp chịu ơn của chàng mấy kiếp cũng không báo đáp được.

Sinh ngạc nhiên hỏi, nàng đáp:

- Đội ơn tới tận suối vàng, kinh sấm đã tròn một tạng, nay được đi đầu thai vào nhà quan Hộ bộ họ Lư ở Hà Bắc.

Nếu chàng không quên tình hôm nay thì đúng ngày Trung thu mười lăm năm sau xin tới gặp nhau.

Sinh rơi nước mắt nói:

- Ta đã hơn ba mươi tuổi rồi, thêm mười lăm năm nữa thì sắp vào quan tài, gặp nhau có làm được gì?

Cô gái cũng khóc nói:

- Thiếp xin làm nô tỳ để đền ơn!

Lát sau lại nói:

- Chàng đưa thiếp đi giùm sáu bảy dặm với, từ đây ra đó đường nhiều gai góc, thiếp sợ rách hết quần áo.

Rồi ôm cổ sinh, sinh cõng nàng ra tới đường cái, thấy ven đường có một dãy xe ngựa, trên ngựa hoặc một hoặc hai người, trên xe hoặc ba bốn người hoặc mười mấy người không như nhau.

Có một chiếc xe buông màn thêu treo rèm ngọc, chỉ có một bà già ngồi trên, thấy cô gái tới bèn gọi:

- Tới rồi đấy à?

Cô gái đáp:

- Tới rồi đây!

Rồi ngoảnh nhìn sinh nói:

- Tới đây thì thiếp xin đi, đừng quên lời thiếp dặn.

Sinh vâng dạ.

Cô gái bước tới cạnh xe, bà già đưa tay kéo lên, rồi đó lăn bánh lên đường, xe ngựa rầm rập phóng đi.

Sinh buồn bã trở về, ghi lại ngày hẹn lên vách, nhưng lại nghĩ tới công hiệu của kinh Phật, lại càng chuyên cần tụng niệm.

Nằm mơ thấy thần nói:

- Lòng thành của ngươi rất đáng khen, nhưng cũng phải tới Nam Hải nữa.

Sinh hỏi:

- Nam Hải cách đây xa không?

Thần đáp:

- Chỉ trong gang tấc.

Sinh tỉnh dậy hiểu ý, bèn tụng kinh Quan Âm, tu hành càng nghiêm cẩn.

Ba năm sau con thứ là Minh, con trưởng là Chính nối nhau thi đỗ.

Sinh quý hiển nhưng vẫn giữ thiện hạnh, đêm mơ thấy một người áo xanh mời đi, tới một nơi cung điện, trong điện có một người ngồi, hình dáng như Quan Âm Bồ Tát đứng lên đón, nói:

- Ông làm điều lành đáng khen, tiếc không được sống lâu, may ta đã xin được Thượng đế cho thêm tuổi thọ rồi.

Sinh lạy rạp dập đầu, Bồ tát gọi đứng lên, cho ngồi uống trà, thấy mùi vị thơm ngát như hoa lan.

Lại sai đồng tử dẫn đi, bảo xuống ao tắm, nước ao trong suốt có thể đếm được cá đang bơi, bước xuống thấy ấm áp, vốc lên thấy có mùi hương sen.

Lát sau dần ra tới chỗ sâu, hụt thân chìm nghỉm, giật mình tỉnh dậy lấy làm lạ lùng.

Từ đó thân thể càng khỏe mạnh, mắt càng sáng, vuốt râu thì những sợi râu trắng đều lả tả rơi xuống, lâu sau thì râu đen cũng rụng xuống, những nếp nhăn trên mặt cũng giãn ra.

Vài tháng sau thì cằm không còn sợi râu nào mà mặt như trẻ con giống lúc mười lăm mười sáu tuổi.

Lại thích những trò nghịch ngợm phá phách, có khi làm điều bậy bạ, hai con trai phải xin lỗi che chở cho.

Không bao lâu, phu nhân già mắc bệnh chết, hai con trai muốn hỏi cưới vợ kế con nhà thế tộc cho cha, sinh nói:

- Chờ ta tới Hà Bắc trở về rồi sẽ cưới vợ.

Bấm đốt ngón tay tính đã tới ngày hẹn, bèn sai đầy tớ thắng ngựa tới Hà Bắc, hỏi thăm quả có nhà quan Hộ bộ họ Lư.

Trước là ông Lư sinh được một con gái, sinh ra đã biết nói, lớn lên càng thông minh xinh đẹp, cha mẹ rất yêu dấu.

Các nhà giàu sang tới dạm hỏi thì nàng cứ chối từ không chịu, cha mẹ lấy làm lạ hỏi, nàng kể lại lời hẹn kiếp trước.

Cha mẹ cùng tính lại tuổi tác sinh, cười lớn nói:

- Con nhãi ngây ngốc, Trương lang tính ra đã gần năm mươi tuổi, nếu việc người thay đổi thì xương đã mục nát, mà nếu còn sống cũng thì đã đầu hói răng rụng rồi.

Cô gái không nghe, mẹ thấy nàng quyết ý bèn bàn với ông Lư sai người giữ cửa không được đưa tin sinh tới, chờ qua kỳ hẹn để nàng không mong đợi nữa.

Không bao lâu sinh tới, người giữ cửa từ chối không cho vào, sinh quay lại nhà trọ buồn bã không biết làm sao.

Lúc nhàn rỗi đi dạo ngoài đồng, nhân ngầm tìm cách nghe ngóng tin tức trong nhà họ Lư.

Cô gái cho rằng sinh phụ ước, khóc lóc bỏ ăn, mẹ nói:

- Y không tới, chắc đã chết rồi, nếu không thì cái lỗi phụ ước không phải là do con.

Nàng không nói gì, chỉ nằm cả ngày.

Lư lo sợ, cũng nghĩ muốn gặp sinh một lần xem sao bèn lấy cớ ra ngoài dạo chơi, gặp sinh ngoài đồng, nhìn thấy là một thiếu niên lấy làm kinh ngạc.

Bèn trải chiếu xuống đất cùng ngồi trò chuyện, thấy rất hợp ý, mừng rỡ mời về nhà.

Sinh đang định hỏi chuyện, Lư lập tức đứng lên dặn khách ngồi đợi một lúc rồi vội vào nói với con gái.

Cô gái vui mừng gượng dậy, ra núp nhìn mặt sinh thấy không giống, rơi lệ quay vào, oán trách cha lừa dối mình.

Lư ra sức phân trần đó đúng là sinh, cô gái không nói gì, chỉ rơi lệ không thôi.

Lư trở ra, trong lòng chán nản, trò chuyện với khách rất lạt lẽo.

Sinh hỏi:

- Quý nhân có phải là quan Hộ bộ không?

Lư ngạo mạn gật đầu, ngoảnh nhìn chỗ khác như không muốn tiếp khách.

Sinh thấy ngạo mạn vô lễ bèn cáo từ ra về, cô gái khóc lóc mấy ngày rồi chết.

Sinh đêm nằm mơ thấy nàng tới nói:

- Người tới đó đúng là chàng ư?

Tuổi tác cùng dung mạo quá cách biệt, lại nhìn qua rèm nên không thấy rõ mặt, thiếp vì phẫn uất mà chết, xin chàng tới miếu Thổ địa gọi hồn gấp thì thiếp còn có thể sống lại, nếu chậm thì không kịp đâu.

Sinh tỉnh dậy vội tới cổng nhà họ Lư nghe ngóng, quả nhiên cô gái đã chết hai ngày rồi.

Sinh vô cùng đau xót, vào tận nhà trong điếu tang, kế kể lại giấc mơ cho Lư nghe, Lư theo lời lập đàn gọi hồn về rồi mở vải liệm ra vỗ về xác cô gái, kêu gọi khấn khứa.

Giây lát nghe trong cổ họng nàng có tiếng thở khò khè, chợt thấy môi son hé mở, nhưng toàn thân vẫn lạnh như băng.

Vội bế ra đặt lên giường, giây lát thì nàng rên rỉ, Lư mừng rỡ mời khách ra ngoài, mở tiệc khoản đãi.

Hỏi tới gia thế biết sinh là nhà quý hiển, càng thêm mừng rỡ bèn chọn ngày tốt gả con gái cho sinh.

Sinh ở đó nửa tháng rồi đưa cô gái về, Lư cũng tiễn về tới tận nhà, ở lại nửa năm mới đi.

Vợ chồng ăn ở với nhau rõ ra là một cặp vợ chồng trẻ, nhiều người không biết cứ lầm tưởng vợ chồng con trai là vợ chồng sinh.

Qua năm sau ông Lư chết, con trai còn quá nhỏ nên bị bọn cường hào lấn hiếp, gia sản dần khánh kiệt, sinh bèn đón về nuôi, sau con trai Lư làm nhà ở đó luôn.

_

[Đủ số một tạng: tức đủ tám mươi mốt lần.

Tám mươi mốt là con số thiêng của nhà Phật.]

[Nam Hải: đây chỉ nơi ở của Quan Thế Âm Bồ Tát.]
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 43+44+45


CHƯƠNG 43: ĐẠO SĨ

Dã Tòng Trần Thế Luận Giao Du

Bỉ Bạc Nhân Tình Diệc Khả Tu

Ảo Hóa Thạch Gia Song Tỉ Muội

Huân Du Khí Vị Các Tương Đầu

Dịch:

Cũng Theo Trần Thế Luận Giao Đây

Khinh Bạc Tình Người Đáng Thẹn Thay

Ảo Hóa Chị Em Nhà Họ Thạch

Tìm Nhau Khí Vị Khéo Là Hay



Hàn sinh là con nhà thế gia, tính hiếu khách, có họ Từ cùng thôn thường tới uống rượu.

Một lần đang họp mặt thì ngoài cổng có đạo sĩ tới ăn xin, người nhà cho tiền gạo đều không lấy cũng không đi, chúng tức giận bỏ vào không nhìn tới nữa.

Hàn nghe tiếng cãi cọ hồi lâu bèn hỏi người nhà, họ thưa lại, chưa dứt lời đạo sĩ đã vào tới.

Hàn mời ngồi, đạo sĩ nhìn chủ khách giơ tay một cái rồi ngồi ngay xuống.

Hỏi qua mới biết là ngụ trong ngôi miếu nát ở xóm Đông.

Hàn nói:

- Không biết dấu hạc về quán Đông lúc nào khiến ta thiếu lễ địa chủ.

Đạo sĩ đáp:

- Kẻ quê kệch mới tới, không quen biết ai, nghe nói cư sĩ rộng rãi nên rất muốn xin uống rượu.

Hàn sai rót rượu, đạo sĩ uống rất hào, Từ thấy quần áo rách rưới dơ dáy có vẻ nghèo khổ nên không trọng lắm, Hàn cũng coi là loại khách thoáng qua.

Đạo sĩ uống cạn hơn hai chục chén rồi chào ra về.

Từ đó cứ mở tiệc mời khách là đạo sĩ tới, gặp lúc ăn thì ăn, gặp lúc uống thì uống, Hàn cũng hơi bực mình.

Có lần đang uống rượu, Từ chế nhạo nói:

- Đạo trưởng hàng ngày làm khách, sao không làm chủ một phen?

Đạo sĩ cười đáp:

- Đạo sĩ với cư sĩ như nhau, chỉ có hai vai mang một cái mồm thôi.

Từ thẹn không sao trả lời được.

Đạo sĩ nói:

- Tuy nhiên bần đạo có lòng thành đã lâu, cũng phải hết sức làm chén nước để mời.

Kế uống xong dặn:

- Trưa mai xin mời quá bộ!

Hôm sau hai người rủ nhau cùng đi, vẫn ngờ là đạo sĩ không đặt tiệc, nhưng ông ta đã đón trên đường.

Vào cổng thấy nhà cửa đều mới làm, gác rộng liền mây, vô cùng lạ lùng, nói:

- Lâu không tới đây, xây mới lúc nào vậy?

Đạo sĩ đáp:

- Cũng vừa làm xong!

Vào tới nhà trong thấy đồ vật bày biện đều sang trọng đẹp đẽ, các nhà thế gia cũng không có, hai người bất giác nảy lòng kính trọng.

Mời ngồi xong, những kẻ rót rượu bưng mâm đều là bọn đồng tử đẹp trai khoảng mười sáu tuổi, áo gấm hài đỏ, còn rượu và thức ăn thơm ngon thì ê hề.

Ăn xong lại bưng lên thức tráng miệng, có nhiều loại trái cây quý không biết tên, đựng trong khay pha lê ngọc thạch lóng lánh, rượu thì rót vào chén pha lê chu vi cả thước.

Đạo sĩ nói:

- Gọi chị em họ Thạch lên đây!

Tiểu đồng đi giây lát thì có hai mỹ nhân bước vào.

Một nàng mảnh khảnh mà cao như cành liễu, một nàng thấp, tuổi cũng trẻ hơn, cả hai đều xinh đẹp.

Đạo sĩ sai hát mời rượu, nàng trẻ tuổi gõ phách mà hát, nàng kia thổi sáo họa lại, âm thanh vi vu trong trẻo.

Dứt khúc, đạo sĩ đưa chén ra bảo rót rượu, rồi bảo uống cạn.

Lại hỏi người đẹp:

- Lâu quá không múa, nay múa được không?

Lập tức có bọn tớ trai đem nệm ra trải dưới tiệc.

Hai nàng đối nhau múa, áo dài phất tung, hương thơm bay ngát, múa xong dựa người vào tấm bình phong vẽ.

Hai người thần hồn bay mất, bất giác uống tới say mèm.

Đạo sĩ cũng không nhìn ngó gì tới khách nữa, cứ nâng chén uống cạn, kế đứng lên nói:

- Xin phiền cứ tự rót rượu, ta đi nghỉ một lúc sẽ trở lại.

Rồi bước đi.

Vách phía nam có đặt một cái giường khảm xà cừ, hai cô gái đem nệm gấm trải ra rồi đỡ đạo sĩ lên nằm.

Đạo sĩ bèn kéo nàng cao lên cùng nằm, sai nàng trẻ đứng ở dưới xoa lưng.

Hai người thấy thế bực lắm, Từ bèn gọi lớn:

- Đạo sĩ không được vô lễ!

Rồi sấn tới phá đám, đạo sĩ vội trở dậy chạy trốn.

Từ thấy nàng trẻ tuổi vẫn đứng trước giường, nhân đang say bèn kéo lên chiếc giường ở vách phía bắc, công nhiên ôm ấp.

Ngoái lại thấy người đẹp trên giường vẫn nằm yên bèn nói với Hàn:

- Sao ông đứng xa thế?

Hàn liền leo lên giường định giao hoan, nhưng người đẹp ngủ say, lay không nhúc nhích bèn ôm nàng cùng ngủ.

Trời sáng tỉnh rượu thức giấc, thấy trong lòng có một vật lạnh buốt, nhìn lại thì ra mình ôm một hòn đá dài nằm dưới bậc thềm.

Vội nhìn lại Từ thấy vẫn chưa tỉnh, gối đầu vào một viên đá ngủ say trong nhà xí cũ.

Tới đá cho tỉnh dậy, cùng lạ lùng kinh sợ, nhìn quanh thì chỉ có một sân cỏ hoang, hai gian nhà nát mà thôi.

_____________________________________

CHƯƠNG 44: HỒ THỊ

HỌ HỒ

Dục Nhân Tây Tịch Phụ Đông Sàng

Tần Tấn Hôn Nhân Kỷ Chiến Trường

Phiến Ngữ Chuyển Đi Tiền Khích Thích

Thừa Long Khoái Tế Tại Môn Tường

Dịch:

Chiếu Tây Ngấp Nghé Ngó Giường Đông

Tần Tấn Bao Phen Khởi Chiến Trường

Giải Thích Cho Tan Hiềm Khích Trước

Duyên May Đệ Tử Đẹp Thừa Long



Vùng Trục Lệ (tỉnh Hà Bắc) có nhà giàu muốn đón thầy dạy học, chợt có vị Tú tài tới cửa tự giới thiệu.

Chủ nhân mời vào, thấy ngôn ngữ hào sảng, quý mến như bạn lâu ngày.

Tú tài tự nói mình họ Hồ, chủ nhân bèn nộp tiền dạy học, giữ lại ở đó.

Hồ dạy học rất chăm chỉ, kiến thức khác hẳn bọn học trò tầm thường, nhưng thường ra ngoài chơi đến khuya mới về, cổng nẻo vẫn đóng chặt, không thấy gõ cửa mà đã vào tới trong phòng rồi.

Chủ nhân ngờ là hồ nhưng xét tình ý thấy không có vẻ độc ác nên vẫn đối xử lễ phép, không vì quái dị mà coi thường.

Hồ biết chủ nhân có con gái, muốn kết thông gia, mấy lần nói xa nói gần nhưng chủ nhân cứ làm như không hiểu.

Hồ bèn lấy cớ có việc đi vắng, hôm sau có khách tới, buộc con lừa đen ở cổng.

Chủ nhân ra mời vào, thấy tuổi khoảng năm mươi, áo quần tươm tất sạch sẽ, lời lẽ ý khí phong nhã, ngồi vào trò chuyện mới biết là người mai mối của Hồ.

Chủ nhân im lặng hồi lâu rồi nói:

- Ta với Hồ tiên sinh quen nhau không có gì trái ý, cần gì phải làm thông gia, vả lại con gái ta đã hứa gả cho người khác rồi, phiền ông tạ lỗi giùm với tiên sinh.

Khách nói:

- Ta biết chắc lệnh ái còn chưa hứa gả cho ai, sao ông cự tuyệt nhau quá thế?

Nói đi nói lại mấy lần chủ nhân vẫn không chịu, khách có vẻ thẹn thùng, nói:

- Họ Hồ cũng là thế tộc, có chỗ nào không bằng ông?

Chủ nhân nói thẳng rằng:

- Thật không có ý gì khác, chỉ vì khác loài mà thôi.

Khách nghe thấy nổi giận, chủ nhân cũng nổi giận, lớn tiếng sỉ vả nhau.

Khách đứng bật dậy đánh chủ nhân, chủ nhân sai người nhà vác gậy đánh đuổi, khách bỏ chạy bỏ cả con lừa lại.

Nhìn kỹ lại thì thấy con lừa lông đen tuyền, xua tai vẫy đuôi đúng là con lừa, nhưng kéo đi thì không động đậy, đánh đuổi thì theo tay khuỵu xuống kêu rền rĩ, té ra là một con sâu.

Chủ nhân thấy khách căm tức, biết ắt sẽ báo thù nên chuẩn bị đề phòng.

Hôm sau quả có quân hồ kéo tới rất đông, người đi ngựa, người đi bộ, hoặc mang giáo hoặc mang cung, người kêu ngựa hí ầm ĩ, chủ nhân không dám ra.

Bọn hồ kêu lớn:

- Đốt nhà y đi!

Chủ nhân càng sợ.

Có người khỏe mạnh dắt gia nhân xông ra ném đá bắn tên, hai bên đánh nhau, bên nào cũng có người bị thương, bọn hồ dần dần yếu thế, nhao nhao bỏ chạy, vứt cả gươm giáo xuống đất, thấy sáng loáng như tuyết, tới gần nhặt lên thì toàn là lá lúa mì.

Mọi người cười nói:

- Tài nghề bọn chúng chỉ có bấy nhiêu thôi.

Nhưng sợ hồ sẽ lại kéo tới nên càng phòng bị nghiêm ngặt.

Sáng hôm sau mọi người đang họp lại bàn tán chợt có một người to lớn từ trên trời rơi xuống, mình cao hơn một trượng, vai rộng mấy thước, vung đại đao to bằng cánh cửa đuổi người mà chém.

Mọi người bắn tên đạn túi bụi, người ấy ngã lăn ra đất, nhìn lại thì là hình nộm bằng cỏ mà thôi, cùng lấy làm lạ.

Ba ngày liền hồ không tới nữa, mọi người hơi lơ là.

Vừa lúc chủ nhân vào nhà xí, chợt bọn hồ ào ào kéo tới bắn loạn xạ, bị trúng tên vào mông, cả sợ kêu cứu, mọi người đổ ra đánh dữ dội, bọn hồ mới lui.

Nhổ tên ra xem thì đều là cọng cỏ bồng.

Cứ thế hơn tháng, bọn hồ lúc tới lúc không, tuy không bị thiệt hại gì nhiều, nhưng ngày nào cũng phải nơm nớp đề phòng, chủ nhân vô cùng lo lắng.

Một hôm Hồ sinh dẫn quân tới, chủ nhân đích thân ra, Hồ thấy mặt bèn lẩn vào đám đông, chủ nhân gọi lớn, bất đắc dĩ Hồ phải ra.

Chủ nhân nói:

- Ta tự thấy mình không hề thất lễ với tiên sinh, sao tiên sinh lại dấy động binh đao?

Bọn hồ muốn bắn, Hồ ngăn lại, chủ nhân tới gần nắm tay mời vào phòng dạy học cũ, bày rượu khoản đãi rồi ung dung nói:

- Tiên sinh là người đạt lý, chắc sẽ tha thứ cho.

Ta tuy thân thiết với tiên sinh nhưng không muốn làm thông gia, chỉ vì xe ngựa nhà cửa của tiên sinh phần lớn đều khác với loài người, con gái ta theo về thì tiên sinh cũng biết là không thể được.

Vả lại lời ngạn có câu: “Trái dưa mọc ra thì ai hái cũng chỉ để ăn" vậy tiên sinh cưới làm gì?

Hồ cả thẹn, chủ nhân nói:

- Không sao, con trai ta còn đây, nếu không chê là ngu hèn, thì thằng nhỏ theo học ông đã mười lăm tuổi, xin cho nó làm rể, không biết ông có đứa con gái nào không?

Hồ mừng rỡ nói:

- Ta có đứa em gái kém công tử một tuổi, nếu không chê là thô lậu, xin được hầu hạ khăn lược cho công tử, có được không?

Chủ nhân đứng lên vái lạy, Hồ cũng vái trả, rồi đó thù tạc rất vui vẻ, quên hết thù hiềm cũ.

Chủ nhân sai mang rượu thịt ra khao thưởng tất cả bọn hồ đi theo, trên dưới đều hoan hỉ.

Lại hỏi tới nơi ở để sai người tới nộp sính lễ nhưng Hồ từ tạ, trời tối lại đốt đuốc uống rượu đến lúc say mới về, từ đó chủ nhân lại được yên ổn.

Hơn năm sau Hồ không tới, có người ngờ là hẹn dối nhưng chủ nhân vẫn kiên tâm chờ.

Lại sau nửa năm Hồ chợt tới, hỏi thăm sức khỏe chủ nhân xong, nói:

- Em gái ta đã trưởng thành, xin chọn ngày lành tháng tốt cho nó được về thờ cha mẹ chồng.

Chủ nhân mừng rỡ, lập tức đính ước.

Kế Hồ ra về, đến ngày hẹn quả nhiên có xe kiệu đưa cô dâu tới, của hồi môn rất nhiều, bày đầy cả phòng.

Cô dâu ra mắt cha mẹ chồng, vô cùng lễ phép, chủ nhân cả mừng.

Hồ sinh cùng một người em trai đưa cô dâu tới, trò chuyện đều phong nhã, tửu lượng lại cao, uống rượu đến sáng mới về.

Cô dâu mới lại có thể biết trước năm nào được mùa năm nào mất mùa, nên việc trồng trọt mưu sinh trong nhà cứ theo đó mà quyết.

Anh em Hồ sinh cùng bà mẹ thường tới thăm nàng, mọi người đều biết mặt.

________________________________

CHƯƠNG 45: VƯƠNG GIẢ

Trừng Cảnh Tham Phu Liêu Ảo Hóa

Y Quan Thành Quách Quýnh Phi Phàm

Xướng Ngân Tiêu Tức Hà Tu Vấn

Nhất Lũ Thanh Ty Phụ Cụ Hàm

Dịch:

Trừng Giới Tham Ô Ảo Hóa Nên

Uy Nghi Thành Quách Cõi Thần Tiên

Tiền Hương Tin Tức Đừng Nên Hỏi

Dúm Tóc Phong Thư Nhận Rõ Liền



Tuần phủ Hồ Nam là ông Mỗ sai quan Châu tá áp tải sáu mươi vạn tiền lương về kinh.

Giữa đường gặp mưa, trời tối lỡ đường không có chỗ ngủ, thấy xa xa có một ngôi chùa cổ bèn tới đó nghỉ lại.

Sáng ra nhìn tới số tiền thì đã mất hết.

Mọi người kinh hãi nhưng không thể quy tội cho ai, bèn về bẩm với Tuần phủ.

Tuần phủ cho là bịa đặt định đem trị tội, đến khi tra hỏi các sai dịch đi cùng thì không ai nói gì khác, liền bắt phải trở lại chỗ mất tiền điều tra manh mối.

Tới trước miếu thấy một người mù tướng mạo kỳ dị treo tấm bảng đề “Biết việc trong lòng”, nhân nhờ bói cho.

Người mù nói:

- Đây là vì việc mất vàng!

Viên Châu tá nói phải rồi kể lể nỗi khổ.

Người mù đòi một cỗ kiệu, nói:

- Cứ đi theo ta sẽ biết!

Mọi người theo lời, các sai dịch cũng đi theo.

Người mù nói:

- Đi về phía đông.

Mọi người đi về phía đông, người mù nói:

- Đi về phía bắc.

Mọi người đi về phía bắc.

Được năm ngày thì vào trong núi sâu, chợt thấy thành quách, người đi lại nhộn nhịp.

Vào thành đi một lúc, người mù nói:

- Dừng lại!

Rồi xuống kiệu, chỉ về hướng nam nói:

- Cứ tới cái cổng cao quay về phía tây thì vào mà hỏi.

Rồi chắp tay bỏ đi.

Viên Châu tá theo lời, quả tới cái cổng cao liền vào.

Có một người ra, ăn mặc theo kiểu thời Hán, không xưng tên họ.

Viên Châu tá kể nguyên do mình tới, người ấy nói:

- Xin ở lại vài hôm, sẽ đưa ông tới ra mắt người có trách nhiệm.

Rồi đưa viên Châu tá đi, cho ở một nơi riêng, lo đủ cơm nước.

Nhân lúc rảnh rỗi, viên Châu tá đi dạo ra sau nhà thấy có cái đình trong khu vườn, tùng già rợp bóng, cỏ mượt như nhung.

Qua mấy đoạn hành lang lại tới một cái đình cao, theo bậc thềm bước lên, thấy trên vách treo mấy tấm da người còn đủ cả tai mắt mũi mồm, mùi tanh nồng nặc, bất giác sởn hết gai ốc, vội vàng quay về phòng.

Tự nghĩ chắc phải gởi thây nơi đất lạ, không mong gì sống được.

Nhưng nghĩ bề nào cũng chết, hãy cứ chờ xem.

Hôm sau người kia tới gọi đi, nói:

- Hôm nay có thể gặp được!

Viên Châu tá dạ dạ.

Người kia cưỡi ngựa phóng như bay, viên Châu tá hộc tốc chạy theo.

Lát sau tới một quân dinh oai vệ như dinh Tổng đốc, sai dịch dàn hàng hai bên, không khí nghiêm trang.

Người kia xuống ngựa dẫn viên Châu tá vào, qua một lớp cửa nữa, thấy một vị vương giả áo gấm mũ ngọc ngồi quay về hướng nam.

Viên Châu tá bước lên lạy chào, vị vương giả hỏi:

- Ngươi là quan giải lương ở Hồ Nam phải không?

Viên Châu tá thưa phải.

Vị vương giả nói:

- Tiền còn đủ ở đây, chẳng đáng bao nhiêu, quan Tuần phủ của ngươi khảng khái dâng nộp chắc cũng được mà.

Viên Châu tá khóc nói:

- Kỳ hạn đã mãn, trở về sẽ bị trị tội, biết lấy gì bẩm lại với quan trên?

Vị vương giả đáp:

- Chuyện đó không khó!

Rồi đưa cho một cái tráp to, nói:

- Đem cái này về đưa lên, chắc chắn vô sự.

Kế hạ lệnh lực sĩ đưa ra, viên Châu tá sợ sệt không dám nói gì, nhận tráp mà về.

Đường ra núi sông khác hẳn đường vào, ra khỏi núi người đưa đường quay về.

Vài ngày về tới Trường Sa (tỉnh thành Hồ Nam) bẩm lại với Tuần phủ.

Tuần phủ càng cho là bịa đặt, nổi giận không thèm nghe nữa, sai ngay tả hữu mang dây ra trói.

Viên Châu tá cởi khăn lấy cái tráp đưa lên.

Tuần phủ mở ra, vừa nhìn thấy đã tái mặt bảo thôi trói, nói:

- Tiền bạc là việc nhỏ, cho ngươi lui!

Kế vội phát văn thư sai các thuộc quan tìm cách bù vào, vài hôm sau thì ốm rồi chết.

Trước đó Tuần phủ cùng người thiếp yêu nằm ngủ, khi tỉnh dậy thì tóc người thiếp bị cắt hết, cả nha môn hoảng sợ không biết vì sao, thì ra tóc ấy được đựng trong cái tráp.

Ngoài ra còn có lá thư viết:

- Ngươi từ khi làm quan Tuần phủ, chúc vị cao sang, hối lộ tham ô tiền không kể xiết.

Khoản tiền sáu mươi vạn kia đã xét thu vào kho, hãy mở túi tham mà nộp cho đủ.

Viên quan áp tải không có tội, không được xử bậy.

Trước đây cắt tóc người thiếp để cảnh cáo qua loa, nếu không tuân lệnh thì sớm tối sẽ lấy đầu ngươi.

Món tóc gởi kèm là để làm tin đấy.

Sau khi Tuần phủ chết, người nhà mới truyền lá thư ra.

Về sau các thuộc viên sai người tìm tới chốn nọ thì chỉ thấy núi cao vực sâu, không có đường đi nào.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 46+47


CHƯƠNG 46: TRẦN VÂN THÊ

Mạc Đạo Uyên Ương Ngộ Nữ Quan

Hội Khan Cầm Dịch Vị Thừa Hoan

Phần Hương Thệ Tiễn Anh Hoàng Ước

Do Ký Lang Quân Thuyết Tính Phan

Dịch:

Đừng Ngại Duyên Hài Với Nữ Quan

Cầm Kỳ Khéo Biết Lựa Thừa Hoan

Hương Thề Nguyện Học Anh Hoàng Trước

Còn Nhớ Chàng Ta Nói Họ Phan



Chân Dục Sinh người Di Lăng đất Sở (vùng Hồ Nam, Hồ Bắc) là con một Cử nhân, học giỏi đẹp trai, hai mươi tuổi đã nổi tiếng.

Lúc còn nhỏ có thầy tướng đoán:

- Về sau sẽ lấy vợ là đạo cô!

Cha mẹ đều cười nhưng bàn tới việc hôn nhân của sinh thì khổ nỗi cứ kén chọn mãi không xong.

Tang phu nhân mẹ sinh quê ở huyện Hoàng Cương (tỉnh Hồ Bắc), sinh có việc về quê ngoại nghe người ta nói:

- Bốn nàng Vân ở Hoàng Cương, xinh đẹp không ai sánh bằng.

Nguyên ở huyện có am thờ Lữ tổ bốn đạo cô trong am đều xinh đẹp nên có lời đồn như thế.

Am cách nhà họ Tang hơn mười dặm nên sinh lén tới gọi cổng, quả có bốn đạo cô vui vẻ ra đón tiếp, phong thái đều tao nhã, có một nàng trẻ nhất xinh đẹp vô song, sinh thích lắm cứ nhìn chằm chằm.

Nàng lấy tay che mặt nhìn qua chỗ khác.

Các đạo cô lo lấy ấm pha trà, sinh thừa dịp hỏi thăm tên họ, nàng đáp:

-bHọ Trần tên Vân Thê!

Sinh nói đùa:

- Lạ thật, tiểu sinh lại đúng họ Phan*.

Trần đỏ mặt cúi đầu không nói, đứng dậy bước ra.

[*Cổ kim nữ sử chép thời Tống ở đạo quán Nữ Trinh có đạo cô Trần Diệu Thường rất xinh đẹp, hay thơ giỏi đàn, tư thông với bạn của quan huyện Lâm Giang Trương Vu Hồ là Phan Pháp Thành.

Phan kể lại với Trương, Trương ra lệnh cho hai người lấy nhau.

Đây Chân Dục Sinh có ý nói đùa Vân Thê là Trần Diệu Thường còn mình là Phan Pháp Thành.]

Giây lát trà quả bưng lên, các đạo cô xưng tên: một nàng tên Bạch Vân Thâm, tuổi khoảng ba mươi, một nàng tên Thịnh Vân Miên khoảng đôi mươi trở lại, một nàng tên Lương Vân Đống khoảng hăm bốn hăm lăm là đàn em, duy Vân Thê không vào.

Sinh mất vui bèn hỏi, Bạch đáp:

- Con nhãi ấy sợ người lạ.

Sinh đứng lên cáo từ, Bạch hết sức giữ lại không được, nói:

- Nếu muốn gặp Vân Thê, xin mời mai tới!

Sinh về nhớ nhung tha thiết, hôm sau lại tới am.

Các đạo cô đều có mặt, chỉ vắng Vân Thê.

Sinh chưa tiện hỏi thì các đạo cô dọn cơm mời khách, sinh cố từ chối nhưng không được.

Bạch xắn bánh trao đũa mời mọc rất ân cần.

Sinh hỏi Vân Thê đâu, họ đáp sẽ tự tới.

Hồi lâu mặt trời xế bóng, sinh muốn về, Bạch nắm tay giữ lại nói:

- Xin cố ở lại, ta sẽ bắt con nhãi ra chào.

Sinh bèn ở lại.

Giây lát họ thắp đèn bày rượu, Vân Miên cũng ra ngoài.

Rượu được vài tuần, sinh cáo đã say, Bạch nói:

- Cứ cạn ba chén nữa thì Vân Thê sẽ ra.

Sinh bèn uống đủ ba chén.

Lương cũng nài nỉ mời ba chén, sinh uống cạn rồi úp chén cáo là đã say.

Bạch nhìn Lương nói:

- Chúng ta đáng khinh không thể mời rượu được, cô đi dắt con nhãi Trần tới đây, cứ nói chàng Phan đợi Diệu Thường lâu rồi.

Lương ra, giây lát quay lại nói Vân Thê không tới.

Sinh muốn về nhưng đã khuya liền giả say nằm vật ra.

Hai người cởi quần áo sinh rồi thay phiên đòi hỏi suốt đêm không sao chịu nổi, trời sáng sinh không cáo biệt về luôn, mấy ngày sau không dám quay lại.

Nhưng vẫn không sao quên được Vân Thê nên cứ lâu lâu lại tới gần am nghe ngóng.

Một hôm trời đã tối, thấy Bạch cùng một thiếu niên đi ra, sinh mừng vì không sợ Lương lắm liền tới gõ cổng.

Vân Miên ra mở, hỏi thăm thì Lương cũng đi vắng.

Nhân hỏi Vân Thê, Thịnh dẫn tới một gian phòng gọi:

- Vân Thê, có khách tới!

Chỉ thấy cửa phòng đóng sầm lại, Thịnh cười nói:

- Đóng cửa rồi!

Sinh đứng ngoài cửa sổ như định nói gì, Thịnh liền bỏ đi.

Vân Thê nói vọng ra:

- Họ đều lấy thiếp làm mồi nhử chàng, nếu chàng tới mãi sẽ mất mạng đấy.

Thiếp không thể giữ trọn thanh quy nhưng cũng không dám coi thường liêm sỉ, muốn được người như chàng Phan để thờ mà thôi.

Sinh thề chung sống suốt đời, Vân Thê nói:

- Công sư phụ thiếp nuôi dạy cũng không ít, nếu quả thương yêu nhau thì phải đem hai mươi lượng vàng chuộc thiếp, thiếp xin chờ ba năm.

Còn như muốn làm trò trên bộc trong dâu thì không thể được.

Sinh nhận lời đang muốn nói rõ về mình thì Thịnh đã trở lại, đành theo ra rồi chào về.

Trong lòng vẫn buồn rầu, muốn nán lại gặp nhau lần nữa thì gặp lúc người nhà tới báo cha bệnh, bèn vội vã về quê.

Không bao lâu ông Cử nhân mất, phu nhân thì dạy con rất nghiêm, sinh không dám tỏ bày tâm sự, chỉ dè sẻn để dành dụm tiền bạc.

Có ai mối lái đánh tiếng thì cứ lấy cớ đang có tang từ chối.

Mẹ không nghe, sinh lựa lời nói:

- Trước đây ở Hoàng Cương bà ngoại đã định hỏi con gái họ Trần cho con, thật đúng sở nguyện.

Nay nhà có việc, tin tức cách trở, đã lâu chưa đi thăm bà, nay mai con sẽ đi một phen, nếu đám đó không xong sẽ xin vâng lời mẹ.

Phu nhân bằng lòng, sinh vội thu xếp tiền để dành được đem theo.

Tới Hoàng Cương qua am thì viện quán vắng vẻ khác hẳn ngày trước, vào trong chỉ có một ni cô già đang nấu cơm, nhân hỏi tin tức.

Ni cô nói:

- Năm rồi đạo sĩ già chết, bốn nàng Vân mỗi người một ngả.

Hỏi họ đi đâu, bà đáp Vân Thâm, Vân Đống trốn theo bọn trai trẻ đàng điếm, nghe nói Vân Thê tới ngụ ở bắc huyện, còn Vân Miên thì không nghe tin.

Sinh nghe thế buồn rầu than thở, sai đánh xe lên bắc, gặp đạo quán là hỏi thăm mà không thấy tung tích gì.

Đành rầu rĩ trở về nói dối với mẹ rằng:

- Cậu nói ông Trần đi Nhạc Châu (huyện thuộc Hồ Nam), đợi khi nào ông về sẽ sai người báo tin.

Nửa năm sau phu nhân về thăm nhà, đem chuyện hỏi mẹ thì bà không biết gì.

Phu nhân giận con nói dối, nhưng bà mẹ ngờ là hai cậu cháu bàn tính riêng với nhau mà chưa nói cho mình biết, may là cậu đi vắng nên sinh không bị lộ chuyện nói dối.

Phu nhân lên dâng hương trên núi Liên Phong, tối nghỉ trọ ở dưới núi, đã đi nằm thì chủ nhân gõ cửa dẫn một đạo cô vào trọ chung.

Nàng tự xưng tên Trần Vân Thê, nghe nói phu nhân ở Di Lăng liền qua ngồi cùng giường kể chuyện mình trắc trở, lời lẽ buồn rầu, sau cùng nói:

- Có người anh họ là Phan sinh cũng ở Di Lăng, phiền phu nhân sai con cháu nhắn giúp một câu là ta đang ở tạm chỗ sư thúc Vương Đạo Thành tại quán Thê Hạc, sớm tối nguy nan khổ sở, một ngày như một năm, xin tới thăm cho sớm, chứ e sau này chưa biết ra sao.

Phu nhân hỏi tên Phan sinh thì nàng lại không biết, chỉ nói:

- Anh ấy đã đi học ở trường huyện, các vị Tú tài chắc ai cũng biết.

Trời chưa sáng nàng đã từ biệt ra đi, còn ân cần dặn đi dặn lại.

Phu nhân về nhà kể lại với sinh, sinh quỳ xuống nói:

- Thưa thật với mẹ, chàng Phan sinh ấy chính là con.

Phu nhân hỏi rõ duyên cớ, giận nói:

- Thằng con xấu xa vào chùa quán chơi bời, nếu lấy đạo cô làm vợ thì còn mặt mũi nào nhìn họ hàng bè bạn nữa!

Sinh cúi đầu không dám nói gì.

Gặp khi sinh lên quận thi, lén thuê thuyền tới thăm Vương Đạo Thành.

Tới nơi thì Vân Thê đã ra đi nửa tháng không về, sinh về nhà buồn rầu phát bệnh.

Kế bà Tang mất, phu nhân về chịu tang.

Chôn cất xong trở về lạc đường tới nhà họ Kinh, hỏi ra thì là em họ mình.

Phu nhân nhân tiện ghé vào chơi, thấy có một thiếu nữ trong phòng, tuổi khoảng mười tám mười chín, dung nhan tuyệt thế, bà chưa từng thấy ai đẹp bằng.

Phu nhân thường muốn tìm một nàng dâu thật đẹp cho thằng con không oán hờn, thấy nàng thì động lòng bèn hỏi lai lịch.

Bà em nói:

- Đây là Vương thị, cháu gọi ông Kinh bằng cậu, cha mẹ đều đã mất, tạm ở nhờ nhà ta.

Phu nhân hỏi chồng là ai, bà em đáp chưa có.

Phu nhân cầm tay nàng trò chuyện thấy dịu dàng nết na thích lắm, vì thế nghỉ lại qua đêm, ngỏ ý riêng với bà em.

Bà em nói:

- Xứng đôi lắm nhưng nó làm cao, nếu không thì đâu lại đến nay còn chưa lấy chồng, xin để ta bàn lại.

Phu nhân gọi cô gái tới ngủ chung giường, nàng nói cười rất vui vẻ, xin nhận phu nhân làm mẹ.

Phu nhân mừng, rủ cùng về Kinh Châu.

Nàng càng vui mừng, hôm sau cùng lên thuyền về.

Về tới nhà thì sinh còn ốm chưa dậy.

Mẹ muốn con đỡ bệnh liền sai tỳ nữ vào nói thầm với sinh:

- Phu nhân đưa người đẹp về cho công tử đấy.

Sinh chưa tin, núp dưới cưa sổ nhìn ra, thấy cô gái còn đẹp hơn cả Vân Thê, nhân nghĩ:

- Cái hẹn ba năm đã hết, nàng ra đi không về thì hoa thơm chắc đã có chủ, được người đẹp này thì trong lòng cũng được an ủi.

Rồi đó vui vẻ trở lại, bệnh cũng dần khỏi.

Phu nhân gọi hai người tới chào nhau, sinh ra.

Phu nhân nói với cô gái:

- Có hiểu ý ta đưa con cùng về không?

Nàng mỉm cười đáp:

- Con đã biết rồi, có điều ý con lúc đầu nhận về cùng thì mẹ chưa biết.

Lúc con còn nhỏ đã đính ước với Phan sinh ở Di Lăng, nhưng tin tức vắng bặt, chắc chàng đã có vợ khác rồi.

Nếu thế con sẽ làm con dâu của mẹ, nếu không thế thì con sẽ làm con gái của mẹ suốt đời, sẽ có ngày báo đáp ơn sâu.

Phu nhân nói:

- Nếu con đã có lời đính ước ta cũng không ép.

Nhưng trước đây ta ở núi Ngũ Tổ có gặp một đạo cô hỏi thăm họ Phan, nay con cũng nói tới họ Phan, song các nhà thế tộc đất Di Lăng vốn không có họ ấy.

Cô gái giật mình nói:

- Người nghỉ lại dưới núi Liên Phong là mẹ sao?

Người hỏi thăm họ Phan chính là con đây.

Phu nhân chợt hiểu ra, cười nói:

- Nếu đúng thế thì Phan sinh ở đây!

Cô gái hỏi ở đâu phu nhân sai tỳ nữ dẫn tới chào sinh.

Sinh giật mình hỏi:

- Nàng là Vân Thê phải không?

Cô gái hỏi sao biết, sinh kể lại sự tình, lúc ấy nàng mới biết sinh tự xưng là Phan lang để đùa, thẹn thùng bàn chuyện chung thân rồi vội vàng quay ra thưa với mẹ.

Mẹ hỏi:

- Thế sao con lại lấy họ Vương?

Nàng đáp:

- Con vốn họ Vương, vì đạo sư yêu quý coi như con gái nên lấy họ Trần thôi.

Phu nhân cũng mừng, chọn ngày làm lễ thành hôn.

Nguyên trước đây cô gái và Vân Miên đều tới nương tựa Vương Đạo Thành.

Đạo Thành ăn ở hẹp hòi, Vân Miên bỏ đi Hán Khẩu, còn nàng vốn yếu ớt ngây thơ không thể làm lụng vất vả, lại xấu hổ không dám đi hành nghề đạo sĩ nên Đạo Thành cũng không thích lắm.

Gặp lúc ông cậu họ Kinh đỉ qua Hoàng Cương, nàng gặp mặt rơi nước mắt, ông bèn đưa về nhà, cho bỏ trang phục đạo cô, định gả cho nhà sĩ tộc nên giấu biệt việc nàng từng làm đạo cô.

Nhưng có ai làm lễ vấn danh thì nàng không chịu, cậu mợ không biết nàng muốn gì nên rất bực mình.

Hôm ấy nàng theo phu nhân đi, được chỗ gửi gắm tử tế, họ như cất được gánh nặng.

Sau lễ hợp cẩn, hai người cùng kể lại chuyện mình, mừng quá phát khóc.

Cô gái hiếu thảo kính cẩn, phu nhân rất thương yêu, nhưng nàng chỉ gảy đàn đánh cờ chứ không biết coi sóc gia nhân làm ăn nên bà rất lo lắng.

Hơn tháng sau phu nhân sai vợ chồng tới thăm họ Kinh, ở lại vài hôm rồi về.

Thuyền đang trên sông chợt có một thuyền khác đi tới, trong có một dạo cô tới gần thì là Vân Miên.

Vân Miên chỉ thân với cô gái nên nàng vui mừng gọi qua thuyền mình, nhìn nhau cùng chua xót.

Hỏi định đi đâu, Thịnh đáp:

- Lâu ngày nhớ nhau, tới quán Thê Hạc tìm thì nghe tin nàng đã về nương tựa ông cậu họ Kinh nên định tới Hoàng Cương thăm thôi.

Không ngờ nàng đã được đoàn tụ với người trong mộng rồi.

Nay nhìn nàng như tiên, chỉ còn kẻ phiêu bạt này không biết đến lúc nào mới hết kiếp.

Rồi than thở mãi.

Cô gái bày kế, bảo đổi bỏ trang phục đạo cô giả làm chị mình về ở với phu nhân rồi sẽ thong thả chọn nơi xứng đáng.

Thịnh nghe theo, về tới nhà cô gái vào thưa trước với phu nhân rồi Thịnh mới vào, cử chỉ như con nhà đại gia, trò chuyện thì rõ ra là người am hiểu việc đời.

Phu nhân góa bụa đang buồn vì vắng vẻ cô đơn, gặp Thịnh vui lắm, chỉ sợ nàng đi.

Thịnh dậy sớm giúp đỡ bà làm việc nhà, không coi mình là khách.

Mẹ càng mừng, thầm muốn cưới thêm chị để át cái tiếng đạo cô của em nhưng chưa dám nói ra.

Một hôm bà quên một việc, vội hỏi lại thì Thịnh đã làm giúp xong từ lâu, bèn nói với cô gái:

- Người đẹp như tranh mà không làm nổi việc nhà thì có làm gì.

Con dâu mà được như chị thì ta không lo gì nữa.

Không ngờ cô gái đã tính từ lâu nhưng sợ mẹ giận, nghe nói thế liền cười thưa:

- Mẹ đã yêu quý chị ấy thì con dâu muốn bắt chước Nữ Anh Nga Hoàng*, ý mẹ thế nào?

[*Nga Hoàng Nữ Anh: hai con gái vua Nghiêu, chị em cùng làm vợ vua Thuấn, đây ý nói hai người Vân Miên Vân Thịnh cùng lấy Chân Dục Sinh.]

Mẹ không đáp nhưng cũng tươi cười cô gái lui về nói với sinh:

- Mẹ già gật đầu rồi!

Rồi dọn dẹp một gian phòng khác, nói với Thịnh rằng:

- Lúc trước cùng ngủ chung trong đạo quán, chị nói chỉ cần được một người biết thương yêu thì hai ta cùng thờ, chị còn nhớ không?

Thịnh bất giác quắc mắt nói:

- Cái ta nói là “thương yêu” ấy không phải gì khác đâu, nếu ngày ngày làm lụng mà không ai biết cho nỗi ngọt bùi cay đắng.

Vài hôm ở đây có chút khó nhọc, được mẹ già thương yêu thì lòng đã khác trước rồi.

Nếu không ra lệnh đuổi khách thì xin được sống mãi với mẹ già là đủ thỏa nguyện, chứ không mong làm theo đúng lời nói trước đây.

Cô gái thưa lại với mẹ, mẹ sai chị em thắp hương thề không oán hối rồi bảo sinh làm lễ thành thân với Vân Miên.

Lúc sắp đi ngủ, nàng nói với sinh:

- Thiếp là cô gái còn trinh già hăm ba tuổi đấy.

Sinh chưa tin, đến lúc thấy trên nệm có vết hồng mới lấy làm lạ.

Thịnh nói:

- Thiếp sở dĩ vui được chổng tốt không phải vì không chịu được cảnh vắng vẻ, mà thật là vì tấm thân khuê các mà tươi cười thù ứng như ca kỹ thanh lâu thì không kham nổi thôi.

Nên mượn dịp này vào ở nhà chàng, sẽ vì chàng phụng dưỡng mẹ già, coi sóc việc nhà, chứ việc vui thú phòng the xin chàng cứ tìm người khác.

Ba ngày sau Miên ôm chăn chiếu qua ngủ với mẹ, đuổi không chịu đi.

Vân Thê bèn vào phòng mẹ giành chỗ trước, Vân Miên bất đắc phải về với sinh.

Từ đó cứ hai ba ngày đổi phiên một lần, dần dần thành lệ.

Phu nhân vốn đánh cờ giỏi nhưng từ khi góa bụa không rảnh mà chơi, từ khi có Thịnh coi sóc việc nhà đâu đấy nên cả ngày rảnh rỗi, cứ đánh cờ với Vân Thê.

Tối đến thì thắp đèn pha trà nghe hai con dâu đàn hát, nửa đêm mới ngủ.

Thường nói với người ta rằng:

- Lúc ông ấy còn sống cũng chưa từng được vui thế này.

Thịnh coi việc xuất nhập, thường ghi sổ trình mẹ, mẹ ngờ vực nói:

- Các con vẫn nói là mồ côi từ nhỏ, vậy ai dạy cho biết chữ đánh đàn chơi cờ?

Cô gái cười kể thật, mẹ cũng cười nói:

- Ta lúc đầu không muốn con trai cưới một đạo cô làm vợ, nay lại cưới tới hai đạo cô.

Sực nhớ lại quẻ bói lúc nó còn là trẻ con, mới biết số trời đã định thì khó mà tránh được.

Sinh đi thi mấy lần không đỗ, phu nhân nói:

- Nhà ta tuy không giàu, nhưng ba trăm mẫu ruộng xấu may được Vân Miên coi sóc nên ngày càng no ấm, con cứ ở dưới gối cùng hai nàng dâu vui thú với già này, chứ ta không mong con cầu công danh phú quý.

Sinh vâng lời.

Sau Vân Miên sinh một trai một gái, Vân Thê sinh một gái ba trai, mẹ hơn tám mươi mới mất, các cháu nội đều được vào học trường huyện, cháu lớn do Vân Miên sinh thi đỗ Cử nhân.

____________________________________

CHƯƠNG 47: CHỨC THÀNH

Hạ Đệ Quy Lai Nhất Khả Hành

Túy Trung Do Ký Phú Nhàn Tình

Thủy Tinh Giới Xích Như Phù Tiết

Khiết Túc Chân Thành Khiết Tý Minh

Dịch:

Đáp Thuyền Một Chuyến Trượt Thi Về

Say Vịnh Nhàn Tình Vẫn Nhớ Ghi

Giới Xích Thủy Tinh Phù Hợp Nhỉ

Cắn Chân Thực Khéo Cắn Tay Thề



Trong hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam) thường có việc thủy thần mượn thuyền, thuyền mà trống thì dây buộc chợt tự tháo ra, lững lờ trôi đi.

Chỉ nghe trên không trung có tiếng đàn sáo trỗi lên, những người chèo thuyền quỳ mọp trong một góc không dám ngẩng nhìn, để mặc thuyền tự trôi, xong lại dạt vào chỗ cũ.

Có Liễu sinh thi rớt về say nằm trên thuyền, chợt có tiếng nhạc nổi lên, những người chèo thuyền lay gọi vẫn không tỉnh, vội ra cả đầu thuyền chui xuống dưới sạp.

Chợt có người đẩy sinh, sinh say quá, theo tay lăn xuống dưới sàn, vẫn ngủ như cũ, họ bèn để cho nằm đó.

Giây lát đàn trống om sòm, sinh hơi tỉnh, ngửi thấy mùi lan xạ thơm phức, hé mắt ra nhìn thấy trên thuyền đều là mỹ nhân, biết là có việc lạ bèn giả như vẫn còn ngủ.

Kế nghe truyền gọi Chức Thành, lập tức có người thị tỳ tới, đứng cạnh đầu sinh, thấy quần xanh dệt sa tía, hài nhỏ như ngón tay, trong lòng rất thích, ngầm cắn vào gấu quần.

Lát sau thị tỳ bước đi bị giằng ngã xuống, người ngồi trên hỏi, bèn thưa lý do.

Người ngồi trên tức giận sai đem sinh ra giết, lập tức có võ sĩ bước vào trói sinh lôi dậy.

Sinh thấy một người ngồi ngoảnh mặt về phía nam, áo mão như bậc vương giả, lúc đi ra bèn nói:

- Nghe nói Long quân hồ Động Đình họ Liễu, thần cũng họ Liễu, ngày xưa người thi rớt, nay thần cũng thi rớt, người được gặp tiên nữ mà thành tiên, thần say đùa cô hầu mà bị giết, sao mà may rủi khác nhau tới như thế?

Vương nghe thấy gọi quay lại hỏi:

- Ngươi là học trò thi rớt à?

Sinh vâng dạ.

Bèn đưa giấy bút, bảo sinh làm bài phú Tóc chải gió đầu gội mưa.

Sinh vốn là danh sĩ đất Tương Dương (tỉnh Hồ Bắc) nhưng lập tứ rất chậm, cầm bút hồi lâu chưa viết.

Vương nói mỉa mai:

- Danh sĩ gì hạng ngươi?

Sinh gác bút thưa:

- Người xưa viết bài phú Tam đô* mười năm mới xong, xem đó đủ biết làm văn quý hay chứ không quý mau.

[*Bài phú Tam đô: tức bài Tam đô phú của Tả Tư thời Tấn, tương truyền viết mười năm mới xong, khi truyền tới kinh đô người ta đua nhau sao chép, giá giấy vì vậy tăng vọt.

Đây ý nói văn chương hay.]

Vương cười ngồi chờ.

Từ giờ Thìn đến giờ Ngọ sinh mới làm xong, Vương xem vui vẻ nói:

- Đúng là bậc danh sĩ!

Bèn thưởng rượu.

Trong phút chốc, những thức ăn ngon bày lên la liệt.

Đang lúc chuyện trò, một viên lại ôm sổ vào thưa:

- Danh sách những người chết đuối đã soạn xong.

Vương hỏi:

- Cả thảy là bao nhiêu người?

Thưa:

- Một trăm hai mươi tám người.

Hỏi:

- Công sai là ai?

Thưa:

- Hai viên úy ở Trạch Nam.

Sinh đứng dậy bái từ, Vương tặng mười cân vàng, lại cho một viên ngọc pha lê chặn giấy, nói:

- Trong hồ sắp có kiếp nạn nhỏ, cầm cái này có thể thoát chết.

Chợt thấy người ngựa mang cờ quạt chia đứng trên mặt nước, Vương xuống thuyền lên kiệu, chớp mắt đã không thấy đâu nữa.

Yên ắng hồi lâu, những người chèo thuyền mới từ dưới sạp chui lên, chèo thuyền lên phía bắc, bị gió ngược không đi được.

Chợt thấy dưới nước nổi lên một con mèo bằng sắt, bọn chèo thuyền hoảng sợ nói:

- Mao tướng quân xuất hiện rồi!

Khách buôn trên các thuyền đều nằm rạp cả xuống.

Phút chốc trên hồ lại nhô lên một cây gỗ dựng thẳng, lắc lư lay động, mọi người càng sợ, nói:

- Nam tướng quân cũng xuất hiện rồi!

Liền đó sóng lớn nổi lên ầm ầm che khuất cả mặt trời, nhìn ra thuyền bốn phía trên hồ đều nhất loạt chìm hết.

Sinh giơ viên ngọc chặn giấy ngồi im trong thuyền, sóng lớn muôn trượng đổ tới gần đều chợt tan hết, nhờ vậy được sống sót.

[Mao tướng quân, Nam tướng quân: là tên thủy quái ở hồ Động Đình theo truyền thuyết.]

Sinh về tới nhà, mỗi lần kể chuyện lạ cho mọi người nghe đều nói:

- Cô gái hầu trong thuyền tuy không nhìn rõ được dung mạo, song chỉ đôi hài cũng đã không tìm được ở cõi trần.

Sau có việc tới Vũ Xương (tỉnh thành Hồ Bắc) có bà già họ Thôi gả con gái, sính lễ ngàn vàng cũng không chịu, chỉ cầm một viên ngọc pha lê chặn giấy nói:

- Ai có một cái như thế này ghép thành đôi sẽ gả cho.

Sinh lấy làm lạ, mang cái chặn giấy tới, bà già hớn hở đón tiếp, gọi cô gái ra chào, thấy trạc mười lăm mười sáu tuổi trở lại, phong vận yêu kiều không ai sánh được, lạy một lạy rồi quay người trở vào sau màn.

Sinh vừa thấy mặt nàng, tâm thần rúng động nói:

- Tiểu sinh cũng có giữ một viên ngọc chặn giấy, không rõ có sánh được với viên của lão bà không?

Kế cùng đem ra so, thì dài ngắn kiểu dáng giống hệt nhau không sai một mảy.

Bà già mừng rỡ, hỏi nơi sinh ngụ, bảo sinh lập tức trở về mang xe kiệu lại đón, để viên ngọc lại làm tin.

Sinh không chịu, bà già cười nói:

- Quan nhân đừng cẩn thận quá như thế, chẳng lẽ lão thân lại mang một viên ngọc chặn giấy trốn đi sao?

Sinh bất đắc dĩ phải để lại, trở về thuê xe kiệu quay lại ngay, thì bà già đã đi mất.

Hoảng hốt hỏi khắp cả những nhà lân cận, thì không ai biết.

Mãi tới xề chiều mới buồn bã hối tiếc, thẫn thờ ra về.

Giữa đường gặp một chiếc xe vượt lên, chợt có người vén rèm hỏi:

- Liễu lang sao chậm thế?

Nhìn ra thì là bà già họ Thôi.

Sinh mừng hỏi:

- Lão bà đi đâu?

Bà già cười nói:

- Chắc đã ngờ rằng lão thân lừa dối trốn đi rồi phải không?

Sau khi chia tay, nhân cũng có xe, chợt nghĩ quan nhân đang ở trọ, khó lòng xếp đặt đầy đủ, nên đã đưa con gái lên thuyền rồi.

Sinh gọi dừng lại, bà già không chịu, sinh hoảng hốt không dám tin, vội chạy tới thuyền, quả thấy cô gái và một tỳ nữ.

Cô gái thấy sinh vào, cười nói ra đón tiếp, sinh thấy quần xanh hài đỏ giống hệt như thị tỳ trên thuyền ngày nào, lấy làm lạ lùng, bồi hồi nhìn chằm chằm.

Cô gái cười nói:

- Mắt cứ trừng trừng, chẳng lẽ chưa nhìn thấy nhau lần nào sao?

Sinh lại bò xuống nhìn, thì vết răng cắn vào gấu quần vẫn còn đó, cả kinh nói:

- Nàng là Chức Thành sao?

Cô gái che miệng khẽ cười.

Sinh vái dài nói:

- Nàng đúng là người thần rồi, xin nói rõ mọi chuyện ra cho ta khỏi lo sợ.

Cô gái nói:

- Nói thật với chàng, người chàng gặp trên thuyền lúc trước là Long quân hồ Động Đình.

Thấy chàng tài cao đem lòng ngưỡng mộ, đã muốn đem thiếp tặng cho chàng, nhưng vì thiếp được vương phi yêu mến nên còn phải về bàn lại với phi.

Thiếp tới đây là theo lệnh của vương phi đấy.

Sinh mừng rỡ, rửa tay thắp hương, hướng về phía Hồ Nam vái tạ rồi đưa nàng về.

Sau sinh tới Vũ Xương, cô gái xin đi cùng, nhân tiện quy ninh.

Khi tới Động Đình, nàng rút chiếc thoa ném xuống nước, chợt có một chiếc thuyền nhỏ dưới nước nhô lên, nàng nhún chân nhảy qua như chim bay lượn đáp xuống, trong chớp mắt đã biến mất.

Sinh đang ngồi trên đầu thuyền nhìn chăm chăm vào chỗ chiếc thuyền nhỏ biến mất thì có một chiếc lâu thuyền từ xa lướt tới, gần tới thì cửa sổ mở ra, chợt như có một con chim ngũ sắc bay qua, nhìn lại thì Chúc Thành đã đứng trước mặt.

Một người trong cửa sổ lâu thuyền đưa qua vàng lụa bảo vật rất nhiều, đều là của vương phi ban cho.

Từ đó thành lệ, cứ mỗi năm về thăm viếng đôi lần, nhà sinh vì vậy giàu có, có nhiều bảo vật đưa ra cho xem thì ngay các nhà thế gia cũng không biết là gì.

________

TRUYỆN PHỤ: Đường Lý Thành Uy Long Nữ truyện.

Liễu Nghị thi rớt, trên đường về đi ngang bờ hồ, thấy một thiếu phụ chăn dê bên đường.

Nghị hỏi, thiếu phụ đáp:

- Thiếp là con gái của Long quân hồ Động Đình, được gả cho con trai thứ của Long quân hồ Kinh Dương, nhưng bị chồng ghét bỏ, lại phạm tội với cha mẹ chồng, nên bị đày ải tới nỗi này.

Nghe nói chàng về đất Ngô, xin chuyển giùm một lá thư.

Phía nam hồ Động Đình có một cây quýt lớn, vỗ vào thân cây ba cái sẽ có người trả lời.

Nghị tới Động Đình, vỗ vào cây quýt ba cái, lập tức có người võ sĩ từ dưới sóng nhảy lên vái lạy hỏi:

- Quý khách có việc gì tới đây?

Nghị nói:

- Xin yết kiến đại vương!

Người võ sĩ rẽ nước dẫn đường, dần vào tới thủy cung, nói:

- Đây là điện Linh Hư.

Kế thấy một người mặc áo tía cầm ngọc xanh bèn nói:

- Đây là Long quân!

Nghị thưa:

- Gặp ái nữ của đại vương chăn dê ngoài đồng, tóc chải gió đầu gội mưa, thật không nỡ nhìn.

Rồi lấy thư dâng lên.

Long quân hồ Động Đình xem xong ôm mặt khóc, sai đưa thư vào trong cung, tả hữu đều sa nước mắt.

Long quân nói với tả hữu rằng:

- Không được để cho Long quân sông Tiền Đường biết.

Nghị hỏi:

- Long quân sông Tiền Đường là ai?

Long quân nói:

- Là em ruột của quả nhân!

Chợt nghe thấy tiếng cười nói râm ran, trong có một người đeo đầy châu ngọc khua vang, quần áo lụa là tha thướt bước tới, nhìn ra thì là người thiếu phụ nhờ Nghị đưa thư.

Long quân cười nói:

- Đứa tù nhân ở sông Kinh về đây rồi!

Bèn cho Nghị nghỉ lại ở điện Ngưng Quang.

Hôm sau mở tiệc lớn ở điện Ngưng Bích, hội cả bạn bè thân thích, tấu nhạc rộn rã.

Bắt đầu thì còi trống thanh la, gươm giáo cờ xí, hàng vạn người đàn ông múa bên phải, trong có một người bước ra nói:

- Đây là bài nhạc Tiền Đường phá trận.

Kế đó tơ trúc đàn sáo, cờ lọng gấm vóc, hàng ngàn người con gái múa bên trái, trong có một người bước ra nói:

- Đây là khúc nhạc Công chúa về cung.

Nghị bèn cùng về hồ Động Đình, không rõ tung tích ra sao.
 
Back
Top Bottom