Khác Liên Minh Huyền Thoại

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Liên Minh Huyền Thoại
Nunu & Willump - Cậu Bé & Người Tuyết III (Những Trái Tim Băng)


"Mẹ ơi... con hỏi câu này nhé?"

"Sao thế, Nunu?

Có gì dính trên mũi con kìa, và mẹ không nghĩ con elkyr có lỗi gì...

à thì, lần này đâu.

Xin lỗi nhé, Kona!"

"Ha ha, elkyr bốc mùi ghê chết được!

Nhưng... chúng ta lúc nào cũng bắt chúng kéo xe đi chỗ khác.

Con không muốn đi đâu mẹ ạ.

Con thích ngôi làng này.

Con tìm được một cái tù và trong đống bùn nè!"

"Lại đây nào, cậu bé nhăn nhó, để mẹ nhắc con nhớ.

Có lý do khiến người Notai phải lên đường khi tuyết rơi xuống.

Một cuộc phiêu lưu mà mẹ của mùa đông đã giao phó cho chúng ta."

"Ý mẹ là Anivia ạ?"

"Ừm.

Người ta bảo bà là phượng hoàng, với những cột băng thay cho lông vũ—đôi cánh của bà thổi ra gió rét căm căm!

Nhưng người Notai chúng ta biết, Anivia mang theo hy vọng, và bà không phải người bảo vệ vùng đất này như Hậu Nhân Avarosa nói đâu.

Bà là tự do.

Bà là tinh thần ngập tràn trong con khi con theo đuổi đam mê của mình, không cần biết thế giới tồi tệ ra sao.

Con biết đam mê là gì không, Nunu?"

"Có phải là khi một kẻ man di hôn chiến mẫu không ạ?"

"Hừm, thỉnh thoảng thì thế, và thỉnh thoảng chiến mẫu cũng hôn kẻ man di nữa.

Nhưng nếu phải gọi tên nó, mẹ sẽ bảo đam mê... là cảm giác trong lễ kỷ niệm cuối cùng trước khi mùa đông ập đến, là sự ấm áp bên trong cỗ xe khi bông tuyết đầu tiên rơi xuống.

Là điệu nhảy, là lời ca, là cây đàn lyre trong tay ta run rẩy dù ta thiêu cháy nó với cái—cái thứ ta cố gọi tên này!

Đó là những gì Anivia giao phó cho chúng ta mang đến khắp mọi miền Freljord.

Đó là những gì đã khơi nguồn gió mỗi lần bà di trú!

Nhiều ngôi làng coi chúng ta là những lái buôn không đáng tin cậy, những ngôi làng khác lại sợ hãi chúng ta vì băng giá báo hiệu chúng ta ghé thăm, báo hiệu mùa đông không rõ sống chết.

Nhưng với tất cả bọn họ, chúng ta mang đến những bài hát, chúng ta mang đến sự quây quần, chúng ta kết nối từng ngôi làng với tâm hồn của chúng ta.

Con có thể tưởng tượng được món quà đó không, Nunu?

Con có biết là chúng ta biết điều đó bởi những cỗ xe lạch cạch này đã khắc ghi nó vào sâu trong xương tủy chúng ta không?

Cuộc sống là một chuỗi dài vô tận những bài hát..."

"Như thứ này ạ?"

"Phải, như những sợi hát của mẹ.

Mỗi sợi dây là một bài hát, mỗi nút thắt trên sợi dây là một nốt nhạc, và mỗi nốt nhạc là một nơi chúng ta từng đến khi theo chân Anivia.

Cái này chẳng hạn.

Đây là tiếng thì thầm không dứt của những người hành hương tụ tập bên dưới bức tượng Avarosa ở Rakelstake—một hồ nước đóng băng sáng lấp lánh như một viên đá quý to đến nỗi không ai sở hữu nổi.

Nhưng Hậu Nhân Avarosa đã xây một tượng đài bên bờ hồ, và tuyên bố họ sở hữu nó.

Họ sống cuộc đời như những bức tượng.

Các chiến mẫu, Băng Tộc, họ không di chuyển, họ sợ thế giới tồn tại bên ngoài cái bóng của Avarosa.

Nhưng so với những người khác, họ đã di chuyển quá nhiều rồi đó..."

"Móng Vuốt Mùa Đông.

Họ ghét Hậu Nhưn Avarosa."

"Hậu Nhân Avarosa.

Nhưng những bài hát kết nối họ lại, như bài này.

Đây là âm thanh của những sợi xích buộc đoàn thuyền sói vào cảng Glaserport, và buộc tộc Móng Vuốt Mùa Đông vào quá khứ.

Những đường lối xa xưa.

Máu đổ trên tuyết.

Họ sống trên mặt băng nứt rạn.

Họ nghĩ chính sức mạnh của họ đã khai phá con đường ra biển, để những con thuyền sói trườn qua... nhưng thật chẳng mạnh mẽ gì khi bám víu vào xích sắt, cũng như bắt người khác phải mang chúng cả."

"Con biết những con thuyền sói.

Chúng làm bằng gỗ.

Không phải sói!

Móng Vuốt Mùa Đông không biết cách đặt tên gì cả."

"Nunu ạ, có những thứ không nên được đặt tên.

Như Thành Frostguard phía trên Vực Gió Hú ấy.

Tất cả những bí mật đó... những bí mật của riêng mẹ, của hơi ấm mẹ đã tìm thấy...

Người ta thuyết giảng rằng đó là những lời của Ba Chị Em, nhưng mẹ nghĩ những bí mật là đức tin chân chính của họ.

Làm sao con cứu được ai đó khỏi thứ họ không biết chứ?

Chỉ có khúc bi ca vẳng lên từ Vực Gió Hú mới nhớ được thôi.

Đó là thứ Thủ Vệ Băng Giá đang canh gác."

"Họ là anh hùng như trong các bài hát đúng không ạ?

Con cũng muốn làm anh hùng!"

"Lắng nghe những nốt nhạc này nhé, Nunu.

Chúng là pháo đài trên Đỉnh Frosthorn và những hầm mộ bên dưới.

Chúng tĩnh lặng.

Trống rỗng.

Dù Băng Tộc chống lại thứ gì, nó cũng đã bị quên lãng.

Và giờ, khi không còn gì để chống lại nữa, họ dùng sức mạnh của mình để cai trị.

Hậu Nhân Avarosa, Móng Vuốt Mùa Đông, Thủ Vệ Băng Giá, đều như nhau.

Họ dùng những bức tượng, những sợi xích, những bí mật, để buộc người ta quỳ gối.

Nhưng con...

Khi mẹ nhìn ra con đường kia, mẹ thấy tương lai của con đó Nunu.

Niềm vui con sẽ mang đến cho biết bao người, như con đã mang đến cho mẹ.

Đó là ý muốn của mẹ của mùa đông, và nếu bà gửi ngọn gió đến đưa con bay xa, mẹ sẽ trao yêu thương.

Con là bài hát trong tim mẹ, Nunu ạ.

Chúng ta sẽ thêm nốt nhạc nào nữa đây?

Tình yêu sẽ đưa chúng ta tới đâu?"

"Chắc là sẽ đến một ngôi làng khác.

Nhưng ngôi làng này sẽ không có tù và..."

"Không, Nunu.

Ngoài kia có rất nhiều, con chỉ cần tưởng tượng ra nó thôi!

Chúng ta có thể đi tới một cây cầu từng vắt ngang bầu trời!

Chỉ là nó đã sụp đổ từ lâu lắm rồi, và phần lớn cây cầu vẫn nằm ẩn trong mây.

Nhưng, con nghe thấy không?

Có ai đó đang bước, bước, bước dọc theo nó kìa.

Chúng ta có thể tiến vào lăng mộ của những sinh vật từng thống trị Freljord trước con người, tìm kiếm màn sương mù bị đóng băng giữa không trung, mang lại hình dạng cho những giấc mơ cổ xưa.

Nếu nó ở trước mặt con thì sao Nunu?

Con có đặt tên được cho giấc mơ không?

Hay tìm ra những đường hầm giá lạnh lan tỏa khắp mọi nơi như thể đang vẽ lại bóng dáng cây thế giới đã bị tổ tiên chúng ta chặt gãy và chôn vùi trong băng.

Con có thể tìm ra tất cả những thứ ấy nếu con chịu nhìn.

Con có thể đi tới bất kỳ đâu con tưởng tượng được."

"Chúng ta có thể leo lên đỉnh thế giới rộng lớn này để con thổi tù và trên đó không?

Con cá là cả Avarosa cũng nghe được, và bà sẽ trở lại!"

"Chúng ta có thể tới đó ngay lúc này, Nunu ạ, nếu con nói cho mẹ mọi điều về nó.

Con sẽ thấy gì đây?

Câu chuyện nào đang nằm trong tim con?"

"Con biết nó bắt đầu thế nào!

Ngày xửa ngày xưa, có một cậu bé tên Nunu, và mẹ cậu, Layka...

Bà rất xinh đẹp, và họ sống trong một đoàn xe, và... họ đang cố nghĩ xem mình sẽ đi đâu tiếp theo."

"Và họ quyết định ra sao, Nunu?"

"Họ quyết định họ có thể đi bất kỳ đâu cùng nhau!

Và thế là đoàn xe bay lên trời cao khi mà Kona mọc cánh ra từ mông, và vỗ cánh khỏe hơn cả Anivia!

Và hai người họ ấm áp, an toàn, mặc cho tuyết rơi dày đặc.

Cảm giác đó là gì mẹ nhỉ?

Như một cái ôm, chỉ là..."

"Là nhà.

Là nhà, anh hùng nhỏ của mẹ ạ.

Chúng ta luôn ở nhà dù chúng ta có đi tới đâu.

Đó là cách để chúng ta biết rằng, dù giá rét đồng hành cùng chúng ta, dù có thể sẽ khó khăn và cần đến hy vọng... sẽ không bao giờ có mùa đông, Nunu ạ, nếu con yêu thương người bên cạnh con."
 
Liên Minh Huyền Thoại
Olaf - Chiến Binh Điên Cuồng


''Khi ngươi gặp lại tổ tiên mình, bảo chúng rằng Olaf tiễn ngươi tới.'' - Olaf

Hầu hết mọi người sẽ nói rằng cái chết là một điều cần phải sợ hãi; nhưng Olaf không nằm trong số họ.

Cuộc sống của Chiến Binh Điên Cuồng chỉ để dành cho tiếng hét xung trận và tiếng thép chạm nhau trên chiến trường.

Được cơn khát vinh quang và lời nguyền về cái chết trong quên lãng tiếp sức, Olaf lao vào mọi cuộc chiến bằng sự liều lĩnh.

Để cho sự khát máu sâu trong tâm chiếm hữu, Olaf chỉ thực sự cảm nhận được hơi thở cuộc sống khi đang đứng trước bờ vực của cái chết.

Vùng duyên hải Lokfar là một trong những địa điểm khốc liệt nhất Freljord.

Ở đó, cơn thịnh nộ là ngọn lửa duy nhất sưởi ấm trước cái lạnh thấu xương, máu là thứ chất lỏng duy nhất có thể chảy mà không bị đông cứng, và không có định mệnh nào tồi tệ hơn là trở nên già cỗi, yếu đuối, và chìm trong quên lãng.

Olaf là một chiến binh của Lokfar với vô số vinh quang và cũng không ngần ngại chia sẻ chúng với những chiến binh đồng loại.

Một tối nọ, khi đang khoe khoang với những người cùng bộ tộc trên một ngôi làng bị tàn phá còn chưa tắt lửa; một chiến binh cao tuổi cảm thấy chán những trò khoe mẽ của Olaf.

Ông già đã khích Olaf, rằng hãy đọc những dấu tiên tri và xem xem tương lai của hắn có thực sự như hắn khoe khoang hay không.

Bị thách thức, Olaf nhạo báng sự ghen tức của lão chiến binh và quăng xương khớp của một con thú đã chết từ lâu vào lửa; để tiên đoán đỉnh cao vinh quang của hắn khi giã từ cuộc sống.

Và cuộc vui tan biến trong phút chốc khi mọi người đọc điềm xấu: mẩu xương cho thấy một cuộc sống dài mòn mỏi và một cái chết trong câm lặng.

Giận dữ, Olaf lao vào đêm tối, quyết tâm chứng minh rằng định mệnh đã sai bằng cách tìm giết con Băng Xà khủng khiếp của Lokfar.

Con quái vật này đã nuốt chửng hàng ngàn người cũng như thuyền bè từ khi sinh ra tới giờ, và cái chết khi đối mặt nó là một kết cục có hậu với bất kỳ chiến binh nào.

Khi Olaf liều mình trước bóng tối của cổ họng con mãng xà khủng khiếp, hắn chìm vào bóng tối của chính tâm trí hắn.

Và khi làn nước buốt giá đánh thức hắn dậy từ trong bóng tối, chỉ còn lớp vảy tan nát của con mãnh thú nổi bồng bềnh bên cạnh hắn.

Bị thương nhưng chưa gục ngã, Olaf tiếp tục tìm đến mọi thể loại mãnh thú với nanh vuốt, với hy vọng rằng trận chiến tiếp theo sẽ là trận chiến cuối cùng của hắn.

Nhưng mỗi lần hắn liều lĩnh đối mặt với cái chết cận kề; cơn cuồng chiến trận đến mất trí của hắn lại giữ mạng sống cho Olaf.

Olaf kết luận rằng không con mãnh thú nào có thể cho hắn một cái chết của một chiến binh đích thực.

Hắn chọn giải pháp khác: tấn công bộ tộc đáng gờm nhất Freljord - tộc Vuốt Đông.

Sejuani tỏ ra thích thú trước lời thách thức của Olaf trước đoàn quân của cô; nhưng sự liều lĩnh của hắn không mang lại cho hắn chút tha thứ nào.

Sejuani ra lệnh tấn công bằng một nhóm quân của cô để áp đảo Olaf.

Từng người một ngã xuống, cho đến khi Olaf lại để cơn say máu chiếm hữu; cho hắn sức mạnh để cắt xuyên qua hàng quân Vuốt Đông đến thẳng với vị nữ thủ lĩnh.

Khoảnh khắc vũ khí của cả hai chạm nhau là lúc mặt đất băng giá rung chuyển trước sức mạnh kinh hoàng của họ.

Cho dù có vẻ như Olaf đã là không thể cản phá, Sejuani vẫn chiến đấu với hắn cho đến lúc cả hai bất động với đôi vũ khí khóa chặt vào nhau.

Trong tư thế đó, ánh mắt của Sejuani đã xuyên thủng cơn cuồng nộ của Olaf bằng một cách không vũ khí nào có thể bì được.

Ánh mắt đó cho cô đủ thời gian để cô đề nghị với Chiến Binh Cuồng Nộ một điều: cô thề rằng cô sẽ tìm thấy cái chết vinh quang của Olaf nếu hắn đồng ý tham gia chiến dịch chinh phục của cô.

Trong khoảnh khắc đó, Olaf đã thề rằng hắn sẽ khắc tên mình vào lịch sử của chính Freljord.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Orianna - Quý Cô Dây Cót I


"Khi bướm rời kén, nó có nhớ cuộc sống lúc còn là sâu không?"

- Orianna

Orianna là kỳ quan công nghệ được tạo thành hoàn toàn từ dây cót, nhưng trước đây cô từng là một cô gái bằng xương bằng thịt.

Một đứa trẻ ở Piltover, Orianna bị bệnh, và những cơ quan đang chết dần của cô được thay thế bằng các bộ phận giả tinh vi cho đến lúc cô thành người cơ khí hóa hoàn toàn đầu tiên.

Bạn đồng hành thân thiết của cô là quả cầu cơ khí cô tạo ra để làm vệ sĩ và bằng hữu.

Sống nội tâm và tò mò về vị trí của cô trên thế giới này, Orianna không ngừng tìm kiếm mục tiêu đích thực.

Lớn lên trong một quận giàu có ở Piltover, Orianna được cha mình, nhà phát minh nổi tiếng Corin Reveck, che chắn khỏi mọi tàn bạo và bất công của thế giới bên ngoài.

Các thiết kế của ông đẹp đẽ và tinh tế đến mức cả những người không có nhu cầu y học vẫn muốn được ông nâng cấp.

Chủ nhân của chúng thề rằng tác phẩm của ông có chất lượng không khác gì thực thể, như thể ông đã đưa ma thuật len lỏi giữa đám bánh răng và phụ tùng.

Háo hức được học nghề từ cha, cô bé Orianna làm việc không mệt mỏi với vai trò tập sự.

Cha cô tài năng, nhưng thích ẩn dật, và phải nhờ Orianna tiếp xúc cùng khách hàng.

Với bản tính cầu thị và thân thiện, cô sớm trở thành gương mặt đại diện của ông.

Dù hiếm khi lang thang ra ngoài vùng lân cận, Orianna lại thường lẻn đến nhà hát, nơi cô ngắm nhìn các vũ công nhảy múa biểu diễn lại những câu chuyện từ bao vùng đất ngoài Piltover.

Những chuyến phiêu lưu hoành tráng mở ra trước mắt cô: một pháp sư không tuổi đi khắp sa mạc để tìm kiếm câu thần chú ông đã đánh mất cả thế kỷ trước, một trinh nữ ngụy trang mình thành một tảng đá trong khu rừng ma thuật, một tín đồ khao khát leo lên ngọn núi cao ngất sẽ chữa lành cho bất kỳ ai lên tới đỉnh, và hàng tá truyện kể khác khơi gợi trí tưởng tượng của cô.

Bị chúng dẫn dắt, Orianna mơ một ngày được thăm thú những vùng đất xa lạ kia.

Từ ban công nhà hát, cô học hỏi từng chuyển động và chi tiết, rồi quay lại công xưởng của cha để tạo nên những hình nhân nhỏ bé tái hiện lại buổi diễn huy hoàng đó.

Một ngày bình lặng ở cửa hàng, sau khi Orianna lắp tay máy cho một phụ nữ lớn tuổi, khách hàng của cô nhắc đến tai nạn khủng khiếp xảy ra ở Zaun, thành phố trên đó Piltover được xây dựng nên.

Một vụ nổ đã giải phóng đám mây khí độc, làm ô nhiễm không khí trong các đường phố bao quanh.

Nếu không được xử lý, hóa chất sẽ làm hỏng nội tạng và gây ra cái chết dai dẳng.

Tất cả những người nhiễm bệnh đã bị cách lý trong một trại y tế ở trung tâm Zaun.

Nghĩ rằng kỹ năng của họ có thể giúp những ai đang chịu đau đớn bởi luồng khí độc, Orianna nài nỉ cha xuống Zaun và chữa trị cho các nạn nhân.

Corin biết phơi mình trước độc chất cỡ đó là quá liều lĩnh và cấm con gái lai vãng tới chốn nguy hiểm ấy.

Nhưng Orianna không để tâm, và ngay trước bình minh, cô trốn khỏi nhà.

Mang theo nhiều máy thở nhất có thể, cô đeo mặt nạ bảo hộ trước khi đi thang máy xuống tận cùng Zaun.

Orianna choáng váng trước cảnh tàn phá; hàng đống đổ nát ngập đầy đường tại địa điểm xảy ra vụ nổ, và dân Zaun đi qua đám mây độc dày đặc mà chẳng có gì che mặt ngoài mảnh giẻ đầy dầu mỡ.

Cô chưa từng thấy cảnh khổ ải nào như thế trong đời.

Orianna gia nhập một nhóm người tình nguyện chăm sóc những ai bị ảnh hưởng nhiều nhất tời khí độc.

Cô trở lại đó hết đêm này đến đêm khác để sửa chữa những thiết bị hô hấp bị hỏng và lắp đặt máy lọc không khí cho các nạn nhân, cho phép họ thở an toàn giữa khói độc.

Sau khi cho đi mọi máy thở, Orianna nhận ra một đứa bé đang thở dốc trong hấp hối.

Không nghĩ ngợi gì, cô bỏ mặt nạ của mình ra và đưa cho đứa bé, rồi lấy khăn tay ra thay thế.

Trong vòng vài ngày, Orianna đổ bệnh, và sớm thấy khó thở ngay cả giữa bầu không khí trong lành quê nhà.

Mỗi hơi thở thật đau đớn khi phổi cô bị hủy hoại dần từ bên trong, và cô buộc phải đối mặt với cái chết của chính mình.

Suy sụp trước tình trạng sức khỏe của con gái, Corin đổ mọi nỗ lực vào phát triển dự án tham vọng nhất của ông từ trước đến giờ: thay thế lá phổi bị hỏng của Orianna bằng những cỗ máy tự hoạt động.

Ông sử dụng những vật liệu lọc sinh-cơ tốt nhất, thường chỉ dành cho những khách hàng trả hậu hĩ.

Sau nhiều tuần không ngủ để chế tạo một thiết bị dây cót tinh vi, Corin gắn nó vào lồng ngực Orianna.

Mong muốn ngăn ngừa Orianna lộ mình trước nguy hiểm lần nữa, Corin cài đặt một cơ chế cấp nguồn năng lượng cho phổi của cô bằng một chìa khóa chỉ ông vặn được.

Lá phổi nhân tạo hoạt động hoàn hảo, và Orianna sớm trở lại với công việc trong cửa hàng.

Thật đáng buồn, vận may của Orianna không tồn tại lâu.

Sau vài tháng khỏe mạnh, tình trạng của cô lại tệ đi khi căn bệnh lan sang phần còn lại của cơ thể.

Orianna và cha làm việc quên mình để phát triển các bản sao dây cót của nhiều cơ quan khác nhau, và cứ mỗi phần cơ thể bị hỏng, nó lại được thay thế.

Cơ thể dần thay đổi, Orianna càng khó xác định mình là gì hơn.

Theo thời gian, bánh răng và dây cót đưa vào ngày một nhiều.

Cô vẫn giữ được phần lớn ký ức, nhưng lại thấy thật xa cách với con người trước đây.

Ngay cha cô cũng nhận ra sự thay đổi; Orianna đôi khi nghe tiếng ông khóc trong đêm.

Ông mua vé đưa cô đến nhà hát để khích lệ tinh thần cô, nhưng Orianna kiên quyết rời buổi diễn giữa chừng.

Cô nói mình đã học được mọi điều có thể từ đó rồi.

Đau khổ khi con gái mất dần nhân cách, Corin cố gắng giúp Orianna nhớ lại những ký ức ngày xưa, hướng cô về đúng đường khi cô đi quá xa khỏi cách hành xử trong quá khứ.

Orianna làm theo chỉ dẫn của ông, nhưng dần không bằng lòng với sự can thiệp đó.

Cô ước mình có thể đơn giản là chính mình.

Trong vòng một năm, Orianna đã gần như được cơ khí hóa hoàn toàn, trừ trái tim.

Thật kỳ diệu, nó vẫn không bị chất độc kia nuốt chửng.

Trong thời gian Orianna bị bệnh, Corin chỉ tập trung vào con gái mà bỏ qua nhiều khách hàng giàu có khác, và đã mất gần hết khách quen.

Không còn tiền để tiếp tục công việc, Orianna và Corin buộc phải bán tài sản và chuyển xuống Zaun.

Họ mở một cửa hàng bên trên một phòng thí nghiệm hóa-kỹ ở lưng chừng vách núi, và nhanh chóng đảm nhận việc điều chỉnh thiết bị hô hấp để lọc Zaun Xám.

Kỹ năng chế tạo dây cót cơ khí của Orianna giỏi hơn bao giờ hết, vì tay cô không còn mệt mỏi khi làm những công việc tỉ mỉ, và đầu óc phi nhân loại của cô chỉ cần nghỉ ngơi rất ít.

Cô không cần đo lường thiết bị, bởi chỉ cần liếc qua là cô đã ngay lập tức biết rõ thông số của nó, và có thể giải quyết các công thức phức tạp thường tốn nhiều giờ chỉ tỏng vài giây.

Orianna học cách tự bảo trì cơ thể, thay dầu, sửa chữa các bộ phận đã hao mòn, và chỉnh dây cót bị kẹt khi cần, dù cô vẫn phải nhờ cha lên dây cót mỗi khi các cơ quan hoạt động chậm chạp đi.

Bánh răng chạy không ngừng nghỉ bên trong khiến Orianna thường thấy khó chịu vì thời gian dường như chẳng bao giờ trôi – ít nhất là với cô.

Năm tháng trôi qua, những nếp nhăn dần hiện trên trán cha cô và mái tóc nơi thái dương dần ngả bạc.

Nhưng các bộ phận trong Orianna vẫn không ngừng hoạt động, và cô thay đổi rất ít.

Cô tự hỏi liệu cuộc đời mình có mãi tiếp tục trong vòng lặp bất biến này không, và thấy mất mát trước những thứ cô có lẽ chẳng bao giờ được trải nghiệm.

Khi hầu hết dân Zaun đã quen với việc hít thở không khí đầy hóa chất, người ta chỉ thỉnh thoảng mới đến cửa hàng của Corin, và chuyện làm ăn kém đi trông thấy.

Thêm vào đó, Corin còn bị ho tức ngực kể từ khi họ chuyển đến Zaun và buộc phải nghỉ ngơi thường xuyên.

Một ngày, Orianna nhận thấy một đứa trẻ thường đi ngang qua cửa hàng, và dành cả buổi chiều để chế tạo một hình nhân cơ khí cho cậu ta.

Một quý ông dây cót ngả mũ cúi chào khi vặn dây cót.

Cậu bé rất vui.

Nghĩ rằng cuộc sống ở Zaun có thể có thêm nhiều niềm vui, Orianna thiết kế một loạt hình nhân tinh xảo.

Ở một nơi mà hầu hết vật dụng đều chỉ thuần túy chức năng, những tác phẩm vui nhộn của cô đem lại nụ cười cho rất nhiều người.

Đống hình nhân nhanh chóng hết hàng, và danh tiếng của cửa hàng Corin lại nổi lên.

Một lần nữa, họ lại có thể mua được những vật liệu đắt tiền, thậm chí là tinh thể hextech.

Danh tiếng thu hút nhiều người ghé qua, nhưng không phải ai trong số họ cũng thân thiện.

Đám côn đồ dưới trướng Petrok Grime, một Hóa-Chủ hùng mạnh, đến đòi Corin tiền bảo kê.

Ông từ chối, tin rằng đứng lên chống lại tội phạm thì tốt hơn là nhân nhượng với chúng.

Đêm đó, cửa hàng bị cướp, toàn bộ số tiền bị lấy đi.

Orianna dành một tháng sau để phát triển công cụ tự vệ: một quả cầu kim loại có thể tán xạ năng lượng mạnh mẽ, khiến mục tiêu cực kỳ đau đớn.

Corin nhận thấy quả cầu tự động hỗ trợ Orianna trong công việc, như thể giữa cả hai có mối liên hệ không nhìn thấy được.

Sức khỏe của Corin tiếp tục xấu đi, Orianna buộc phải mua về nhiều thuốc bổ đắt tiền.

Cô chăm sóc ông hết lòng, nhưng một thầy thuốc Zaun đã xác nhận không khí đầy hóa chất đã xâm nhập mạch máu Corin và đầu độc trái tim ông.

Mặc cho những tiến bộ về máy móc sinh-cơ, cả Corin lẫn Orianna đều chưa phát triển được một cơ chế đủ tinh vi để thay thế trái tim.

Trái tim khỏe mạnh của Orianna đã cho thấy sự kiên cường suốt quãng thời gian bệnh tật.

Nó cũng là một liên kết không thể phá vỡ với quá khứ, đóng băng cô giữa dòng thời gian.

Orianna biết cha cô yêu mến người con ông từng cô, nhưng cô chẳng còn cảm thấy như cô gái đó nữa.

Có lẽ trao trái tim của cô cho cha có thể giữ ký ức về con gái của ông sống mãi, khi mà cô chẳng thể làm điều đó nữa.

Nếu có thể tạo ra một trái tim cơ khí cho chính mình với nguồn hextech, phổi của cô sẽ không cần lên dây cót nữa.

Có thể khi ấy, thời gian sẽ tiếp tục trôi.

Orianna cho cha uống một liều thuốc ngủ và chế tạo trái tim máy từ tinh thể hextech họ vừa thu được.

Nó vượt ngoài tầm của bất kỳ thứ gì cô và cha từng làm ra.

Có quả cầu trợ giúp, cô gỡ bỏ chìa khóa sau lưng và cài đặt thiết bị mới, biết rằng nhịp tim được hextech truyền năng lượng sẽ không bao giờ còn phụ thuộc vào ai khác nữa.

Đến lúc đó, cô mới thay thế trái tim bị hủy hoại của cha với phần cuối cùng của Orianna mà ông từng biết và yêu mến.

Orianna nghe tiếng tim cha đập đều suốt đêm, và đến bình minh, cô rời đi vĩnh viễn.

Dù vẫn yêu ông, nhưng cô muốn thấy thế giới.

Cô đã trở thành một thứ hoàn toàn mới, một quý cô dây cót, và giờ cô hoàn toàn là cơ khí, cô đã tự do.

Corin tỉnh dậy và thấy công xưởng ngập tràn hàng trăm hình nhân nhỏ: những con người bằng dây cót có thể đứng thăng bằng trên dây, hát dân ca, hoặc thậm chí lắc lư những quả cầu bạc nhỏ.

Một gia tài đủ để ông quay về Piltover ngay lập tức.

Nhưng có một hình nhân ông thề sẽ không bao giờ bán: một vũ công màu vàng chẳng cần lên dây, nhảy múa trong một vũ điệu không hồi kết.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Orianna - Quý Cô Dây Cót II (Fieram)


Orianna dạo bước qua sân hội chợ vắng lặng trong bóng chiều.

Hội chợ Huyền bí của Ngài Feisterly chỉ mở cửa để mua vui cho dân Zaun hai lần một năm, và Orianna không muốn bỏ lỡ cơ hội đó.

Cô đợi đến khi mọi người đi hết, tiếng cười đùa đàn hát ầm ĩ chìm vào yên tĩnh.

Chỉ còn tiếng o o trầm thấp của những đường ống hơi nước của nhà máy hóa chất gần đó.

Rác vụn vương vãi trên nền đất; những dải cờ đầy màu sắc, những quả bóng bay tươi sáng lẫn với giấy sáp bọc bánh mứt.

Quả cầu của Orianna lơ lửng bên cạnh khi cô bước qua một gian hàng chất đầy hoa hồng.

Cô đi qua một chú khỉ dây cót đang cầm đôi chũm chọe, một xe hàng nặng trĩu táo bọc đường.

Chẳng thú vui Zaun nào làm cô chú ý, Orianna chỉ hướng măt đến một hộp thủy tinh nằm trong góc khuất tít phía xa sân hội chợ.

Ánh kim loại loáng qua dưới trăng.

Nó đến từ một cậu bé cơ khí ngồi phía sau kính.

Orianna chưa thấy thứ nào như cậu ta, và tò mò lại gần.

Cậu ta mặc áo màu lam đêm và đội mũ lụa.

Lớp vỏ sứ nguyên chất che phủ hệ thống máy móc tinh tế bên dưới, và đôi mắt sáng ánh bạc.

Khi Orianna lại gần, môi cậu hé ra một nụ cười.

"Chị giữ bí mật được không?" cậu nói.

Giọng đó nhắc Orianna nhớ tới tiếng chuông rung.

"Chào," cô nói.

"Tất nhiên rồi."

"Chúng ta trao đổi nhé.

Bí mật của em lấy tên chị."

"Công bằng đấy.

Chị tên là Orianna."

"Or-ee-AHN-uh," cậu lặp lại.

"Nghe êm tai thật."

Orianna có thể thề gò má sứ của cậu đỏ ửng lên.

"Giờ chắc đến lượt em.

Tên em là Fieram.

Bí mật của em là em sợ thế giới bên ngoài, dù em khao khát được thấy những bờ biển và dãy núi nơi chân trời xa xôi."

"Vì thế nên em sống trong hộp?" cô hỏi.

"Vì em sợ?"

"Từ đây, cả thế giới đến với em," Fieram nói.

"Phía sau lớp kính, em được an toàn.

Em rất mỏng manh, chị thấy đấy."

Cậu chỉ vào một vết rạn bằng sợi tóc trên cánh tay.

"Đây này.

Em đang già đi."

Miệng Fieram mở rộng thành một nụ cười không cân xứng.

Orianna khúc khích cười và nhún vai, một cử chỉ cô mới học được, dù cô không chắc mình có làm đúng không.

"Ô!

Chị chưa thấy mấy trò em làm đâu," Fieram nói.

Cậu cho tay vào tay áo và lấy ra một đóa cúc dại nở rộ.

"Ta-Da!" cậu kêu lên.

"Và..."

Fieram bỏ mũ xuống, gật đầu.

Nửa tá bồ câu máy túa ra từ dưới vành mũ.

Cậu đập tay và cả hộp kính tràn đầy khói đỏ.

Vài giây sau, khi chúng tan đi, bầy bồ câu đã biến mất.

Orianna vỗ tay thích thú.

Quả cầu rung lên.

"Tuyệt vời!" cô thốt lên.

"Như ma thuật vậy."

"Vẫn chưa phải trò hay nhất đâu.

Còn vụng về lắm," cậu khoanh tay lại.

"Những phép màu nho nhỏ là chuyên môn của em.

Như chị tìm đường đến chỗ em, trong thành phố vĩ đại này!

Chị, chứ không phải ai khác."

"Em ra hiệu cho chị," Orianna nói.

"Tại sao?"

"Chúng ta có tâm hồn đồng điệu, chị và em.

Chị biết rồi đúng không," Fieram nói.

"Đó là lý do chị đứng đây, phải không?"

Cậu gõ gõ chân.

Orianna thấy ngưỡng mộ sự tinh tế trong chuyển động của cậu.

"Chỉ là chị chưa từng thấy ai khác như em," cô nói.

"Em là duy nhất, đúng không?

Như chị thôi," Fieram nói.

Cậu chỉ về phía bộ khung máy của cô, và lại nháy mắt.

Orianna mỉm cười.

Fieram tựa lên kính.

"Nụ cười của chị..."

"Giả tạo?" cô nói.

"Phải.

Chị vẫn đang tập làm chủ một số cảm xúc."

"...xinh đẹp," Fieram nói.

"Giờ em sắp làm chị đỏ mặt rồi đấy."

Quả cầu của Orianna, đang lơ lửng trên vai trái, khẽ giật nhẹ.

"Không phải lúc này," cô bảo quả cầu.

Cô nhấc con khỉ máy từ quầy hàng gần đó và vặn chìa khóa.

Nó lật đật đi quanh sàn, mắt sáng ánh đỏ, đập chũm chọe vào nhau sau mỗi bước thứ ba trước khi chậm dần lại.

"Em không giống nó, đúng không Fieram?

Chỉ hoạt động khi vặn chìa khóa?" cô nói.

"Em có tâm trí.

Em có suy nghĩ."

"Em có thể được làm ra từ bánh răng, nhưng em có giấc mơ như bao người."

"Chị biết em mơ được rời nơi này.

Chắc chắn em rất cô đơn phía sau tấm kính đó.

Đi cùng chị.

Chúng ta có thể rời đi, cùng nhau, ngay bây giờ," Orianna nói.

"Đi?" biểu cảm của Fieram biến mất.

"Em e là mình không biết chị nói gì."

"Hẳn là em đã thấy sự hối hả không ngừng của Zaun, hay nghe về những kỳ quan to lớn ở Piltover?"

Orianna hỏi.

Fieram gật đầu.

"Chị thích cưỡi trên Gió Gào lúc hoàng hôn để chứng kiến những tia sáng vàng cuối ngày," Orianna nói.

"Từ trên đỉnh, em có thể thấy bến cảng bên kia hải môn, và đại dương vô tận.

Từ đó, em có thể tưởng tượng ra mùi của những vùng đất phía xa.

Quả cầu của Orianna rung lên và khẽ chạm vào vai cô lần nữa.

"Chị chắc giờ là lúc tốt nhất," cô nói.

"Fieram, em có muốn thấy thế giới không?

Chúng ta có thể rời đi cùng nhau, ngay bây giờ.

Chị sẽ bảo vệ em."

"Em không thể nghĩ ra thứ gì tuyệt vời hơn," cậu nói.

Orianna đi quanh hộp kính để tìm chỗ mở.

Một ổ khóa sắt kiên cố trên một cánh cửa nhỏ dưới đáy.

Cô đấm vào ổ khóa, mở tung nó ra.

Một tay bảo vệ lại gần họ.

"Này!

Dừng lại!"

Orianna liếc mắt, quả cầu bắn về phía tay bảo vệ.

Nó đập vào mũ đội đầu của hắn, rồi lơ lửng trên không chờ lệnh.

Orianna gật đầu và quả cầu tỏa ra một đợt sóng năng lượng.

Tay bảo vệ giơ gây lên đập vào quả cầu, làm nó xoay vòng trên không trước khi quay trở lại mục tiêu.

Một tay bảo vệ thứ hai chạy về phía Orianna.

Cô cố kéo Fieram qua cửa nhưng cái ghế của cậu đã chắn lối ra.

"Fieram!

Em làm lại màn ảo thuật của mình được không?"

Quả cầu ngập tràn năng lượng khi quay quanh tay bảo vệ đầu.

Mũ đội của hắn tóe ra ánh lửa.

"Màn ảo thuật?"

Fieram cho tay vào ống tay áo và rút ra bó hoa.

"Không, cái khác!"

Fieram cất bó hoa đi.

"Cái gần nhất ấy," cô nói.

"Nhanh lên!"

Cậu bé máy lại lôi bó hoa ra khỏi tay áo.

Orianna xoay người lao vào tay bảo vệ, chiếc váy kim loại tỏa ra thành một chùm dao sắc nhọn đến khi người đàn ông lùi lại, giơ gậy lên.

"Tránh xa khỏi nó!" tay bảo vệ nói.

"Đó là tài sản của chúng ta!"

"Từ đây, cả thế giới đến với em," Fieram nói.

Cậu ngả mũ và bồ câu ùa ra.

Tay bảo vệ vụt gậy vào đầu Orianna, cô thụp xuống vừa lúc Fieram vỗ tay.

Cây gậy phá tan mặt bên hộp kính và khói đỏ tràn ra khỏi lối vào, cản trở mọi chuyển động.

Tay bảo vệ đầu tiên giận dữ đáp trả đòn tấn công mãnh liệt từ quả cầu dồn hết sức vào mỗi cú đấm.

Quả cầu không ngừng nghỉ, phóng luồng năng lượng cuối cùng vào mũ đội đầu, khiến hắn lăn ra bất tỉnh.

Kêu vù vù thỏa mãn, quả cầu bay lại chỗ Orianna.

Nó giật sóng điện vào tay bảo vệ thứ hai, khiến hắn bất động nốt.

Orianna bước vào trong hộp kính đầy khói.

Cô kéo cậu bé máy khỏi ghế, nhưng chân cậu không đủ linh hoạt để đứng.

"Fieram!

Fieram, chúng ta phải đi thôi."

"Đi?

Em e là mình không biết chị nói gì."

Một đôi bồ câu kim loại bay qua kính vỡ, nhưng rơi xuống đất sau khi ra khỏi đó vài thước.

"Fieram, đứng lên đi nào," Orianna nói.

"Xin em đấy."

"Ô!

Chị chưa thấy mấy trò em làm đâu."

Cậu rút bó hoa khỏi tay áo.

Orianna bỏ qua nỗ lực của Fieram để ngả mũ và kéo cậu, vẫn dính cứng ở tư thế ngồi, ra khỏi hộp kính.

Bên ngoài, quả cầu đã dồn tay bảo vệ thứ hai vào góc, giờ hắn đã gục thành một đống.

"Vẫn chưa phải trò hay nhất đâu.

Còn vụng về lắm," Fieram nói.

"Em không... giọng em...

đang lặp lại?"

Orianna nói.

Đầu cậu bé nở ra một nụ cười kỳ quặc.

"Bí mật của em là em sợ thế giới bên ngoài," cậu nói.

Orianna nhìn thấy chữ thêu trên áo khoác của cậu.

Hội chợ Huyền bí của Ngài Feisterly

Fieram Thân Thiện

Cậu bé chỉ là một người máy tự động đơn giản, trò diễn cho đám đông.

"Chị đã tưởng em có tâm trí.

Có suy nghĩ.

Như chị," cô nói.

Fieram nhìn lên cô với đôi mắt ánh bạc.

"Em là duy nhất, đúng không?"

Cậu gõ gõ chân căng thẳng, như thể họ đang đứng giữa không trung.

"Như chị thôi."

Quả cầu quay lại chỗ Orianna, kêu lên khe khẽ.

"Chúng tôi phải đi," cô thì thầm.

Cô đặt Fieram lại lên chiếc ghế cô vừa đặt bên ngoài hộp kính vỡ.

"Chúc cậu may mắn."

"Những phép màu nho nhỏ là chuyên môn của em," cậu nói.

"Như chị tìm đường đến chỗ em."

"Tạm biệt, Fieram," Orianna khẽ nói.

Hai tay bảo vệ bất tỉnh nằm trên mặt đất.

Quả cầu lơ lửng bên hông khi cô bước đi.

Cô không nhìn lại cho đến khi thấy rõ cánh cổng cao ngất của công viên.

Khi quay đầu, cô nghĩ mình đã thấy ánh kim loại loáng lên từ xa.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Ornn - Ngọn Lửa Khởi Nguyên I


"Nói thế đủ rồi."

- Ornn

Ornn là vị bán thần của nghề rèn và thủ công ở Freljord.

Ông đơn độc làm việc trong một lò rèn khổng lồ tạo bởi những hang động dung nham bên dưới ngọn núi lửa Tổ Ấm.

Tại đó, ông đun những vạc đá nóng chảy sôi sùng sục để tinh luyện quặng và chế tác những món trang bị có chất lượng vô bì.

Khi các vị thần khác – nhất là Volibear – xuất đầu lộ diện và can dự vào việc trần, Ornn đứng lên đưa những kẻ hăng máu này về đúng chỗ, dù là bằng cây búa ông luôn tin tưởng hay bằng sức mạnh rực lửa của núi non.

Hơn mọi đồng loại, Ornn coi trọng sự riêng tư, cô độc, và tập trung.

Bên dưới ngọn núi lửa ngủ say vẫn còn mang dấu vết của những đợt phun trào xa xưa, ông làm việc ngày đêm để rèn ra bất kỳ thứ gì trái tim ông khao khát.

Kết quả luôn là những công cụ vô giá xứng đáng đi vào huyền thoại – những kẻ may mắn được chạm tay vào các món đồ này đều phải thán phục trước chất lượng không gì sánh nổi của chúng.

Có người cho rằng tấm khiên của Braum được Ornn làm ra từ hàng ngàn năm trước, vì nó vẫn chắc chắn y như ngày đầu.

Tuy nhiên, chẳng ai chắc chắn, bởi họ tìm đâu ra vị thần thợ rèn để mà hỏi.

Tên của Ornn từng được nhắc đến khắp vùng đất sau này là Freljord.

Tuy nhiên, gần như tất cả truyền thuyết về ông đã bị xóa khỏi lịch sử bởi kẻ thù và bởi dòng thời gian không ngừng chảy – chỉ còn vài kỳ công của ông truyền lại đến giờ, trong vài bộ lạc ít ỏi có nguồn gốc từ nền văn hóa đã bị quên lãng của những thợ rèn, những kiến trúc sư, và những bậc thầy ủ rượu.

Dân tộc đã biến mất này được gọi là Máu Ấm, họ đến từ mọi nơi trên thế giới và tụ tập bên sườn Tổ Ấm để noi gương Ornn.

Mặc kệ kiểu thờ phụng bắt chước đó, Ornn chưa bao giờ coi mình là chủ nhân tộc Máu Ấm.

Ông chỉ trao cho họ những cái gật đầu hay nhướn mày cụt ngủn khi họ dâng sản phẩm lên, thế nhưng tộc Máu Ấm chấp nhận điều này và quyết tâm mài giũa kỹ nghệ của mình.

Nhờ đó, họ đã chế tạo ra những công cụ tinh xảo nhất, thiết kế nên những công trình bền vững nhất, và ủ được những thùng rượu ngon lành nhất thế giới.

Ornn thầm công nhận sự kiên trì của tộc Máu Ấm, cả việc họ luôn tìm cách cải thiện bản thân nữa.

Nhưng, trong một đêm thảm họa, mọi thứ họ đạt được đã tiêu tan khi Ornn giao chiến cùng người em Volibear trên đỉnh núi, bởi những lý do mà phàm nhân chẳng tài nào hiểu nổi.

Trận đánh gây ra một cơn bão lửa đỏ, than hồng và sấm sét dữ dội đến mức cách đó mười chân trời vẫn nhìn thấy.

Khi khói bụi dần tan, Tổ Ấm trở thành một miệng núi lửa âm ỉ cháy, và tộc Máu Ấm chẳng còn gì ngoài nắm tro tàn.

Dù không bao giờ thừa nhận, nhưng Ornn thực sự tan nát cõi lòng.

Qua tộc Máu Ấm, ông thoáng thấy tiềm năng vô tận của con người, chỉ để chứng kiến tất cả mất đi theo cơn cuồng nộ thiếu suy nghĩ của những kẻ bất tử.

Trái tim tràn đầy cảm giác tội lỗi, Ornn ẩn dật trong xưởng rèn, vùi mình trong công việc qua cả một thời đại.

Giờ, ông cảm nhận được thế giới sắp sửa bước sang kỷ nguyên mới.

Một trong các anh chị em của ông đã lại có được thực thể, đám giáo đồ của họ hoạt động ngày một mạnh mẽ và hung hăng hơn.

Freljord bị chia rẽ không người lãnh đạo, những nỗi kinh hoàng cổ xưa đang rình rập trong bóng tối chờ dịp trỗi dậy.

Thay đổi lớn đang đến.

Trong cuộc chiến sắp tới, và cả sau đó nữa, Ornn biết Freljord – cũng như phần còn lại của Runeterra – sẽ cần một thợ rèn lành nghề.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Ornn - Ngọn Lửa Khởi Nguyên II (Giọng Nói Của Lửa)


Không biết ai đã thắp lửa, nhưng chúng tôi thấy khói bốc lên từ tận đằng xa.

Móng Vuốt Mùa Đông đã xua bộ tộc của chúng tôi lên phía Bắc, nơi khắc nghiệt đến nỗi chiến mẫu Olgavanna phải run rẩy qua đêm đầu.

Đàn elnuk chết trong đêm thứ hai.

Ít nhất chúng tôi cũng có thức ăn cho đêm thứ ba.

Nhưng bữa tiệc ê hề đó chỉ còn là ký ức khi chúng tôi leo lên ngọn núi không đỉnh.

Kriek Mất Chân gọi nó là "Nửa Núi Của Ornn."

Vị vu sư mất trí rồi, nhưng Olgavanna bắt chúng tôi làm theo trò ngốc đó.

Ông ta đã thuyết phục bà rằng chúng tôi chỉ có thể sống sót nếu đến được ngọn nguồn của làn khói bí ẩn đó.

Những người còn lại đều tin chúng tôi đang đi đến chỗ chết.

Sườn núi là một quang cảnh tan hoang đầy đá đen.

Chúng tôi tìm thấy tàn tích của một thành phố đã bị lãng quên chẳng xuất hiện trên bản đồ nào – giờ chỉ còn là một mê cung những nền móng đã cháy thành than.

Kriek, vắt vẻo trên vai Boarin, quả quyết rằng nó từng có tên là Tổ Ấm.

Mây đen từ phương đông ngoằn ngoèo ánh sét, gió đem đến mùi hôi của lông thú ẩm mốc và thối rữa.

Đội trinh sát không quay lại.

Chúng tôi đều biết điều đó nghĩa là sao, nhưng chẳng ai muốn nói to cái từ "Ursine" lên cả.

Chúng tôi leo đến khi đứng trên rìa một miệng núi lửa rộng.

Thế rồi, Kriek thấy ngọn lửa.

Thật lạ lùng, vì Kriek Mất Chân bị mù.

Ở trung tâm lòng chảo là ngọn nguồn của đám khói đang bốc lên trời.

Olgavanna biện luận rằng ít nhất sườn thoải của miệng núi lửa giúp chúng tôi tránh được ngọn gió thét gào, nên chúng tôi đi xuống nơi chắc sẽ sớm trở thành nấm mộ của mình.

Mặt đất âm ỉ cháy khiến thật khó để di chuyển, nhưng ngừng lại đồng nghĩa với cúi đầu và chấp nhận bị tàn sát.

Rồi chúng tôi thấy lò luyện.

Kiến trúc hình vòm là thứ duy nhất nhìn có vẻ được con người làm ra.

Nó có tạo hình một cái đầu dê lớn, với từng cụm cỏ dê len lỏi giữa khe đá phiến.

Trong miệng con dê là ngọn lửa rực rỡ đến nỗi nhắm mắt lại cũng nhìn thấy.

Chúng tôi túm tụm quanh đó tìm hơi ấm trong lúc Olgavanna vạch kế hoạch phòng thủ.

Đứng thẳng lưng mà chết thì vẫn tốt hơn là rúm ró trong giá lạnh.

Hầu hết chúng tôi đều là nông dân, thợ xây, thợ may, chỉ ít người được đào tạo chiến đấu như các bộ tộc khác.

Chúng tôi quan tâm đến người già, người bệnh, và trẻ nhỏ.

Giờ chúng ta đang ở quá xa vòng cứu trợ của Hậu Nhân Avarosa – nhưng chiến tranh thì chỉ đòi có xương máu mà thôi.

Chúng tôi chẳng có cơ hội nào trước Móng Vuốt Mùa Đông.

Nếu lũ Ursine ra tay, hàng phòng ngự của chúng tôi sẽ sụp đổ nhanh chóng.

Quân đoàn nửa người nửa gấu gớm ghiếc đó sẽ đè nát chúng tôi.

Đúng lúc đó, chúng tôi nghe tiếng gầm chiến trận lớn dần, cùng tiếng bước chân thình thịch.

Chúng tôi ngửi thấy mùi chúng.

Hàng trăm tên đang leo xuống vách đá, như những bóng đen vặn vẹo trên sườn đá bazan.

Chúng tôi làm giáo từ khung căng vải, và dùng đá lửa mài sắc con dao đục.

Chúng tôi sẽ thực hiện Nghi Lễ Của Cừu cho người già và những người bị thường, còn phần còn lại sẽ cùng nhảy với Sói.

Mọi chuyện sẽ kết thúc trước bình minh.

Không biết ai đã thổi lửa, nhưng nó nóng đến mức chúng tôi phải lùi lại.

Rồi cái lò lên tiếng, giọng của nó như củi cháy lép bép.

"Volibear đang ở gần đây," nó nói.

"Tìm chỗ trú đi."

"Chẳng có chỗ trú nào để tìm cả," Olgavanna đáp lại ngọn lửa lò rèn.

Chúng tôi không biết mình đang đứng trước ai.

"Quân thù đã sát gót.

Lũ Ursine đang bao vây chúng tôi."

"Lũ Ursine..." lò rèn càng nóng hơn khi thốt ra những lời này, "...sẽ bị ngăn lại.

Các người tự giải quyết những vấn đề khác đi."

Đám cỏ dê bắt lửa.

Mặt đá phiến nóng đỏ quanh rìa, rồi lan dần vào trung tâm.

Hơi nước xì ra từ kẽ nứt.

Nhiều người xé quần áo để tránh nhiệt độ tăng cao.

Những người khác ngất xỉu.

Đợt sóng nhiệt tiếp theo khiến tất cả khuỵu xuống, ngạt thở.

"Ta chưa bao giờ nghĩ sẽ thấy được ngày này!"

Kriek kêu lớn, gạt đi những giọt lệ vui sướng.

Đá bắt đầu chảy ra như sáp nến.

Cả công trình bằng đá sụm dần xuống nền.

Mái vòm của lò rèn bị nóng chảy vào trong, kéo toàn bộ phần vỏ ngoài vào vũng sôi sùng sục.

Ánh sáng cam lóa mắt nhá lên, thoáng hiện ra hình người.

Rồi, một luồng lửa phụt lên không trung, thả đá nóng chảy rơi ào ào xuống mặt đất dưới chân chúng tôi.

Ở nơi lò rèn khổng lồ từng đứng, một sinh vật khổng lồ xuất hiện, hình dạng mờ đi vì sóng nhiệt.

Đó là huyền thoại đã bị lãng quên mà Kriek luôn kể, Ornn, cao bằng ba ngọn thông tuyết.

Vị thần thở rèn cổ xưa nhanh chóng dịu xuống, dung nham nhỏ giọt từ cằm ông và đông lại thành bộ râu.

Đôi mắt ông sáng như than hồng.

Một tay cầm cây búa, tay còn lại cầm đe.

Chúng tôi tụ tập sau lưng chiến mẫu.

Olgavanna nắm chặt Fellswaig, cây rìu bằng chân băng, và lại gần Ornn.

"Nếu lũ Ursine là kẻ thù của ngài, chúng tôi sẽ chiến đấu bên cạnh ngài," bà nói.

Rồi, với một cử chỉ không tương xứng với một chiến mẫu của tộc băng nhân, bà quỳ gối và đặt vũ khí dưới chân Ornn.

Chân băng của Fellswaig tan chảy, để lộ ra cây rìu bằng đồng và sắt bình thường ẩn bên trong.

Tôi chưa từng thấy chân băng tan chảy.

Chưa ai từng thấy.

Chúng tôi cảm thấy thật khôn ngoan nếu cùng quỳ gối như Olgavanna.

Ornn càu nhàu.

"Đứng lên.

Quỳ gối là chết."

Ông nhìn vào cơn bão sấm sét đang cuộn xoáy trên đầu.

"Ta sẽ lo lũ Ursine.

Đừng đi theo ta."

Ông lừng lững bước về phía đội quân đang ầm ầm xông tới.

Chúng tôi có thể thấy ngọn lửa của ông phản chiếu trong mắt chúng.

Boarin nâng vị vu sư già cao hơn trên vai.

"Ornn đang vung búa, ngài san núi thành thung lũng," lão già mất chân ngân nga.

Chúng tôi lặng im nhìn Ornn một mình chống lại lũ Ursine.

Ông thét lên, đập búa xuống đất, và một khe nứt lan đến chỗ đạo quân đang tiến bước, ngăn đội tiên phong lại.

Dung nham và lưu huỳnh bắn tung lên trời, trút cơn mưa lửa xuống đám chiến binh nửa người nửa gấu.

Dù Ornn là ai, ông cũng chiến đấu với dòng máu nóng của đất mẹ.

Phía sau lũ Ursine, từng đống đá xuyên qua mặt đất, cắt đường rút lui.

Ornn lao đến và liên tục vung búa đập chúng.

Thế nhưng, chúng vẫn tấn công dữ dội bằng mười tên cuồng chiến binh.

Nhưng chúng tôi biết lúc Ornn đến được chỗ hậu quân, bởi có một vụ nổ inh tai – bức tường đá vỡ tan, và lũ Ursine bay lên không thành từng vệt thịt và lông thú cháy.

Bầu trời đen đặc tàn tro.

Những cột khói bốc lên giao chiến cùng đám mây dông, và những tia sét rạch ngoằn ngoèo qua vùng mờ ảo.

Thế giới chợt tĩnh lặng lạ kỳ khi Thần Gấu Ngàn Lần Đâm đặt chân đến chiến trường.

Chúng tôi có thể thấy rõ lý do: giáo, kiếm, ngà, tất cả đều cắm trên da nó.

Sấm sét đi theo mỗi bước chân.

Và nó cười lớn.

Tiếng tù và vang vọng đáp trả khiến chúng tôi giật mình.

Dung nham ứa ra từ vách đá đen, những dòng sông lửa chảy xuống sườn núi, ào ào đổ tới lòng chảo, tạo thành một con sông vô cùng.

Từng tia sét đâm vào vách núi, gây ra những vết thương trên đá tảng, và một màn sương mù độc hại bao trùm lên toàn bộ ngọn núi lửa.

Chúng tôi chỉ thấy những tia sáng trắng xanh và những vụ nổ đỏ rực đan vào trong tấm màn dày đặc.

Nhiệt từ dưới lòng đất khiến đế giày chúng tôi cháy xém.

Rồi chúng tôi nhìn thấy con sóng lửa tạo thành hình một con dê khổng lồ.

Ornn lao vào con thú, kẹp chặt thứ ông gọi là Volibear ở giữa vai và con dê bằng dung nham.

Sức ép của vụ nổ khiến tất cả nghiêng ngả.

Vị vu sư mất chân bị ném ra khỏi vai Boarin cả trăm bước, suốt lúc đó lão vẫn cười lớn.

Chúng tôi thức suốt đêm chờ đại thảm họa ụp xuống, nhưng không.

Chỉ có tiếng gào thét của Thần Gấu Ngàn Lần Đâm, và tiếng rống trầm trầm của con dê nham thạch.

Sáng hôm sau, khi khói tan, chúng tôi thấy sườn núi xung quanh đã phủ đầy lớp đá bốc khói, và những cột bazan phi tự nhiên trồi lên từ đủ mọi góc độ.

Khi nhận ra thứ gì đang đứng trước mặt, chúng tôi co rúm lại vì kinh sợ.

Lũ Ursine bị kẹt cứng trong đá, khuôn mặt vẫn giữ nguyên vẻ đau đớn.

Chúng tôi không thấy dấu hiệu gì của Ornn hay Volibear cả.

Chúng tôi cũng chẳng có thời gian để tìm kiếm.

Tiếng tù và của Móng Vuốt Mùa Đông đã báo hiệu sự hiện diện của chúng.

Chúng tôi nhặt nhạnh vũ khí và lấy lại tinh thần.

Quần áo chúng tôi chỉ còn lại những mảnh tả tơi, nhưng cái lạnh không còn châm chích da thịt nữa.

Tóc Olgavanna bị xém mất vài chỗ, lưng bà đỏ ửng lên vì nhiệt.

Cây rìu từng làm bằng chân băng giờ chỉ còn đồng với sắt, trần trụi như chính chúng tôi vậy.

Bà chưa bao giờ trông mạnh mẽ như bây giờ.

Máu chúng tôi sôi lên.

Tâm can gầm thét.

Chúng tôi lạnh cóng và phỏng rộp, trần trụi và trơ trọi.

Chúng tôi lấy tàn tro vẽ hình cây búa lên ngực, và hình sừng dê lên mặt.

Chúng tôi cất tiếng hát trong ký ức về đêm qua, với lời lẽ của Kriek già điên khùng.

Chúng tôi biết ai đã thắp lửa.

Tộc Móng Vuốt Mùa Đông rồi cũng sẽ biết.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Ornn - Ngọn Lửa Khởi Nguyên III (Truyện Thần Ornn)


"Ta chưa từng thấy vị thần bị quên lãng.

Bà ta kể truyện cho ta, nhưng bà cũng chưa từng thấy vị thần bị quên lãng—và cả bà của bà nữa, hay bà của bà của bà, cứ thế cả ngàn đời.

Huyền thoại của ông chỉ được cất lên quanh những đống lửa nổ lép bép cùng những con cá nướng cho bữa ăn.

Càng truy nguyên đến tổ tiên chúng ta, truyện kể càng chân xác hơn."

Khuôn mặt uể oải của bọn trẻ hơi ngẩng lên.

Ánh lửa nhảy múa trên má chúng, nhưng trong đôi mắt chúng ẩn chứa sự khó chịu.

"Thần linh trú ngụ quanh ta, trên bầu trời, giữa những đụn đất, và phía sau tấm màn sao.

Chúng ta chỉ cần kiếm tìm ân huệ từ họ, truyền sự tồn tại của họ vào trái tim và hành động của chúng ta.

Chẳng hạn, trên biển, trời lạnh giá đến nỗi mắt các cháu đóng băng cứng ngắc trong hốc mắt.

Không, thật thế đấy!

Nhưng khi thủy thủ chà cây bọt lên mặt và nghĩ về Chị Em Hải Cẩu, vị thần mà tên thật đã bị lãng quên, họ được bảo vệ khỏi những luồng gió buốt giá ngoài đại dương.

"Những vị thần khác, như Volibear, không cho phép huyền thoại của họ phai nhạt, và vẫn sải bước trên thế giới này.

Ông đòi hỏi hiến sinh và ép buộc kẻ khác phục tùng, như tộc Ursine..."

Chưa ai chưa từng nghe truyện kể về đám quái thú nửa người nửa gấu.

Nỗi sợ khiến lũ trẻ dịch lại gần đống lửa hơn.

"Ừ phải, các cháu—chúng ta có thể nói về vị thần bão tố mang dạng gấu này sau, nhưng càng ít bàn về ông ta càng tốt."

Như bà ngoại vẫn thường nói, khi chúng dịch lại gần đống lửa hơn, chúng là của cháu rồi đấy.

"Thay vào đó, những câu chuyện này kể về vị thần đầu tiên được sinh ra..."

I: ĐẤT ĐAI THÀNH HÌNH

Ornn là con cả trong số các anh chị em.

Ông nhảy đến thế giới này, ngứa ngáy muốn tìm một trận đánh.

Tuy nhiên, chuyện đó đâu dễ.

Cây cối là những đối thủ yếu đuối, gãy rạp trong nháy mắt.

Băng trôi tan chảy khi ông chạm vào, bỏ chạy trối chết ra biển.

Thất vọng, ông đấm vào núi.

Núi không đầu hàng.

Ornn hài lòng vì thế, nên ông thách thức chính vùng đất này trong một cuộc ẩu đả thân thiện.

Trong lúc Ornn vật lộn cùng đất, ông gây ra đủ loại vết lõm vết bầm, tạo hình nên Freljord mà chúng ta biết ngày nay.

Những cú húc đầu của ông độn núi lên từ đồng bằng, và những cú đập xẻ ra thung lũng thăm thẳm.

Khi đã mệt lử, Ornn cảm tạ đất vì trận chiến hào hùng.

Đất đáp lại bằng cách mở ra một hố sâu rực lửa, cho ông nhìn vào tận trái tim của nó, và ông hân hoan khi thấy hình phản chiếu của chính mình: một con cừu cháy hừng hực.

Đất công nhận Ornn là người xứng đáng, và trao cho ông bí mật của nó, ban cho ông sức mạnh của ngọn lửa khởi nguyên, bởi lửa là tác nhân thực sự của mọi thay đổi.

Ông nhìn quang cảnh sau trận chiến và gật đầu.

Quả là vậy.

Sau đó, Ornn bắt tay vào chế tạo công cụ và vũ khí.

Tổ tiên hẳn đang mỉm cười, bởi đúng lúc này, một đợt tuyết nhẹ bắt đầu rơi.

Những bông tuyết nhẹ nhàng đậu trên mũ lông của bọn trẻ, chúng thè lưỡi ra liếm.

"Các cháu có biết Freljord từng một thời không hề có tuyết?" ta hỏi chúng.

Bọn trẻ trông bối rối ra mặt.

"Thật thế đấy.

Vùng đất của chúng ta luôn là nơi lạnh lẽo nhất thế giới, nhưng vào những ngày đầu, chỉ có bầu không khí khô khốc và giá rét, chẳng có thứ gì đại loại như mây bão cả..."

II: TUYẾT ĐẾN TỪ ĐÂU?

Cũng chính trong những ngày đầu buốt lạnh không mây đó mà Ornn đã dựng lên một ngôi nhà.

Ông làm ra nó từ loại gỗ tốt nhất.

Ngôi nhà tráng lệ trải dài qua ba thung lũng.

Các cháu tưởng tượng nổi không?

Sau khi hoàn thành Sảnh Sừng nguy nga, Ornn đánh giá lại công trình của mình.

"Tốt," ông nói.

Ngày đó còn rất lâu ngôn ngữ mới ra đời, nên thực ra đây là một lời tán thưởng.

Nhưng mà, em gái Anivia của ông lại bực mình.

Để xây nhà, Ornn đã đốn những cái cây vốn là chỗ đậu ưa thích của bà.

Vậy nên, bà quyết định dạy ông một bài học.

Trong lúc Ornn đang say giấc, bà bay vào qua cánh cửa phòng ngủ.

Thế rồi, bà dùng lông vũ cù vào mũi ông, khiến ông hắt hơi ra một luồng lửa đốt cháy khăn trải giường!

Rồi khăn trải giường khiến sàn cháy bừng bừng!

Anivia hoảng sợ, đập cánh bay đi, nhưng nó chỉ thổi không khí khô của Freljord tới làm ngọn lửa thêm phần dữ dội.

Cả Sảnh Sừng mau chóng sáng rực.

Lửa đốt suốt nhiều ngày, tro đen phủ kín bầu trời.

Tất nhiên, suốt thời gian đó Ornn vẫn chẳng tỉnh cơn mơ.

Ông thức dậy trên đống tàn tích với tâm trạng cực kỳ tệ, bởi ông không được ngon giấc.

Nhưng ông không biết việc Anivia làm.

Đến tận giờ này bà vẫn chưa kể sự thật cho ông.

"Ta đã tán thưởng tác phẩm của chính mình, và nhìn xem nó dẫn ta tới đâu," Ornn nói trong lúc xem xét thiệt hại.

"Ta sẽ không bao giờ vỗ ngực tự khen nữa.

Ta sẽ để chất lượng sản phẩm tự nói lên tất cả."

Ornn có một mục tiêu riêng cho căn nhà mới: ông không muốn nó dễ cháy.

Ông trang bị cho mình môt cái thuổng, một cái đòn bẩy, và một cái nĩa.

Với chúng, ông có thể đào quặng, chuyển dời những cột trụ to lớn, và ăn những trái anh đào muối thơm ngon mà ông rất thích.

Ông đập và rèn giũa từng đống quặng cho đến khi một ngọn núi đen sừng sững xuất hiện.

Bên trong là một lò rèn khổng lồ chạy bằng ngọn lửa khởi nguyên từ sâu trong lòng đất.

Ông hài lòng với Tổ Ấm của mình—nhưng nó quá "ấm" để thoải mái trú ngụ, kể cả với Ornn.

Thế là ông đào một con mương dẫn từ biển tới ngọn núi.

Chị Em Hải Cẩu cho phép nước lạnh chảy qua mương và tản nhiệt cho Tổ Ấm.

Từng đám hơi nước dày đặc bốc lên.

Mất ba ngày để ngọn núi đủ mát cho Ornn ở.

Lúc đó, mực nước biển đã tụt đi vài phân.

Có nhiều hơi nước bốc lên đến nỗi bầu trời xanh vĩnh cửu đã lấm tấm những đám mây xám xịt.

Khi những cụm bồng bềnh này tụ lại và lạnh đi, chúng trở nên nặng hơn, nặng hơn rồi bung ra thành tuyết.

Trời đổ tuyết suốt một trăm năm.

Đó là lý do Freljord giờ vẫn còn nhiều tuyết tới vậy.

Một đứa trẻ cau mày với ta.

"Nếu Ornn đã làm biết bao việc cho thế giới này, sao chỉ có bà biết chuyện của ông?" cô bé hỏi.

Nó còn nhỏ, nhưng đã trải qua gian khổ nhiều đến nỗi có vài mảng bạc trên tóc.

""Có một truyện kể trả lời cho chính câu hỏi này," ta đáp.

"Các cháu có muốn nghe không?"

Khuôn mặt háo hức của bọn trẻ đã nói lên tất cả rồi.

III: BA CHỊ EM NHỜ ORNN GIÚP ĐỠ

Một lần, có Ba Chị Em cần Ornn giúp cứu thế giới của họ.

Tuy nhiên, Ornn chẳng quan tâm đến việc giúp bất kỳ ai cứu bất kỳ thế giới nào ở bất kỳ đâu cả.

Ông có lý do cá nhân, và cũng không giải thích chi tiết.

Nhưng điều đó không ngăn Ba Chị Em lặn lội nhiều ngày đêm đến cầu viện.

"Những sinh vật ma thuật to lớn và ác độc đang rình rập bộ tộc của chúng tôi," Chị Cả nói.

Mắt bà chất chứa hung dữ và chiến tranh.

"Chúng muốn hủy diệt tất thảy và chiếm lấy thế giới này cho riêng mình!"

"Nghe có vẻ thành vấn đề đấy," Ornn đáp.

Ông vẫn cắm cúi vào lò rèn.

"Vậy ông sẽ chiến đấu cùng chúng tôi chứ, và dùng sức mạnh của ông giết sạch lũ quái vật?"

Ornn làu bàu.

Nó nghĩa "không" theo cách chặn đứng mọi câu bàn luận gì thêm.

Ai cũng hiểu.

Nếu nghe tiếng làu bàu này, các cháu sẽ thấy Chị Cả thật khôn ngoan khi không đẩy vấn đề đi xa hơn.

"Đám sinh vật đó theo dõi chúng tôi từng bước một," Chị Thứ nói.

Giọng bà ẩn hiện hy vọng và trí tuệ.

"Tôi xin nhờ ông cầm cây thuổng từng tạo nên con sông vĩ đại kia, và dùng nó để đào con mương sâu nhất thế giới này.

Rồi chúng tôi sẽ tự dụ lũ quái vật xuống rãnh, và giải quyết vấn đề của chúng tôi."

Ornn làu bàu.

Nó nghĩa là "ta sẽ đào cái rãnh đó," và tất cả nên ngừng nói ngay lập tức.

Ai cũng hiểu.

Nếu nghe tiếng làu bàu này, các cháu sẽ thấy Chị Thứ thật khôn ngoan khi không đẩy vấn đề đi xa hơn.

Thế là Ornn đào cho họ con mương, bởi một cái rãnh cực sâu có thể khiến cảnh quan thêm phần đẹp mắt.

Vả lại, đằng nào ông cũng đã định đào một cái, và địa điểm họ đề xuất không tồi chút nào.

Khi làm xong việc, ông bỏ đi mà chẳng nói thêm câu nào với Ba Chị Em, ông đã nói quá nhiều rồi.

"Cái rãnh sâu thật," Chị Thứ nói.

"Cầu cho nó đủ sâu."

Gió thổi từ vực thẳm mới đào với tiếng rú gào quái dị, như thể muốn nói thế là đủ.

Nếu nghe tiếng vực thẳm rú gào, các cháu sẽ thấy thật khôn ngoan khi không ai mò xuống để đo độ sâu của nó cả.

Vài năm sau, Ba Chị Em quay lại.

Họ trông mệt mỏi rã rời, dường như do cuộc chiến với kẻ thù.

Lần này, Em Út nói.

Hơi thở băng giá của bà nhắc Ornn nhớ đến những ngày khô lạnh thật lâu trước đây.

"Ornn, Người Xây Nên Mọi Thứ," bà cất tiếng.

"Ta không xây nên mọi thứ," Ornn càu nhàu.

Lại một lần nữa, ông vẫn cắm cúi vào lò rèn.

"Chỉ một số thôi."

Em Út tiếp tục.

"Hôm nay chúng tôi đến chỉ để nhờ một việc đơn giản thôi.

Cái rãnh ông đào sâu và rộng đến nỗi chúng tôi không xây nổi một cây cầu nào bắc qua nó cả.

Xin dạy tôi cách xây một cây cầu không bao giờ bị phá hủy, và tôi sẽ tự làm mọi việc."

Ornn nhướn mày.

Ông dò xét đôi mắt Em Út.

Ông không tin bà ở bà có mùi ma thuật, và ma thuật luôn khiến những thứ vững chãi suy yếu đi.

"Có rất nhiều thợ xây cầu thừa khả năng.

Đi làm phiền họ đi."

"Những thợ xây cầu khác không thể làm ra cây cầu với loại đá chúng tôi có," Em Út đáp.

"Họ bảo nó rơi xuống từ bầu trời, và họ cố gắng hết sức cũng không rèn giũa nó được."

Rồi bà đưa ra một miếng kim loại lấp lánh ánh sao.

Nếu nhìn thấy miếng kim loại, các cháu sẽ thấy thật khôn ngoan khi cho rằng chỉ Ornn mới chế luyện được vật liệu này, bởi nó ngoan cường và bất khuất chẳng kém gì ông cả.

Ornn đồng ý, nhưng ông sẽ làm một mình, và ông yêu cầu trả công bằng chính thứ kim loại kia.

Em Út trao nó cho ông, và ông dùng nó để rèn ra một công cụ giúp xây cầu.

Với công cụ đó, và chỉ công cụ đó mà thôi, Ornn xây xong chiếc cầu.

Chị Thứ thấy ân hận vì lời nói dối của Em Út—vì họ hoàn toàn chẳng cần một cây cầu.

Bà hỏi Ornn đây là loại công cụ gì.

"Ta dùng nó để đập," Ornn đáp.

"Nên ta sẽ gọi nó là 'Búa.' Nói thế đủ rồi."

Khi ông đã đi khuất tầm mắt, Em Út đi dọc theo cây cầu, ngâm nga những chú ngữ lạ lùng suốt chiều dài của nó.

Chúng biến cây cầu thành thanh giằng phong ấn lũ quái thú bên dưới vực thẳm.

Tuy nhiên, Ornn đã đúng, ma thuật phá hỏng chất lượng công trình.

Nếu Ba Chị Em cứ để yên đó, nó sẽ tồn tại vĩnh viễn.

Trái lại, phù phép sẽ từ từ gặm nhấm lớp kim loại.

Nhưng phải mất nhiều thế hệ, nên chẳng ai bận tâm quá làm gì, và Ba Chị Em thề sẽ không bao giờ nói về Ornn một lần nào nữa.

Trong lúc đó, Ornn nhận ra ông không thích bị người khác nhờ vả, nên đã ném cây thuổng xa hết mức có thể về phía tây.

Nó rơi xuống chỗ nào thì ai mà biết được, và số phận của nó tan biến trong bóng tối.

Rồi ông quay sang phía đông và ném cây nĩa yêu thích đi xa hết mức có thể.

Nó rơi xuống Đại Hải.

Sau này, người ta đồn rằng một nhân ngư đã tìm được cây đinh ba đầy quyền năng dưới đáy biển, và vẫn dùng nó để cai trị vương quốc của mình.

Ornn đã sẵn sàng ném cây búa vào trời đêm, nhưng ông không chịu nổi việc đó và quyết định giữ nó lại.

Nếu các cháu gặp Ornn và hỏi nó có phải công cụ yêu thích của ông không, ông sẽ la rầy các cháu vì suy nghĩ như trẻ con.

Nhưng trong thâm tâm, ông dành nhiều tình cảm cho Búa hơn tất thảy những gì ông đã tạo ra.

"Bình minh đem đến những quả mọng căng tròn nhất và những con cá béo tốt nhất," ta nói với bọn trẻ.

"Chúng ta cần được nghỉ ngơi."

Chúng đồng loạt ồ lên và năn nỉ ta kể một câu chuyện nữa.

Chỉ một câu chuyện nữa thôi.

"Cũng chỉ còn một câu chuyện về Ornn," ta bảo.

"Chúng ta nên giữ nó lại cho một đêm khác..."

Chỉ khi chúng hứa sẽ làm tất cả việc nhà và không than phiền về việc bị mệt quá, ta mới nhượng bộ.

IV: QUỶ KHỔNG LỒ VÀ CÁNH CỬA CỪU

Ai cũng biết là không nên thi uống với một con quỷ khổng lồ nhỉ?

Kể cả đám nhỏ các cháu cũng biết là không nên cá cược với quỷ khổng lồ, bởi chúng thật ranh ma và luôn giành chiến thắng.

Hơn nữa, ai ở Freljord cũng biết quỷ khổng lồ càng xấu xí thì càng may mắn và tinh quái.

Không may, Ornn chẳng biết gì cả.

Grubgrack Xấu Xí là con quỷ khổng lồ già đời nhất trên thế giới.

Lông ngực lão dài đến nỗi quấn cả vào những ngón chân xù xì.

Ui!

Lão thường vấp phải chúng và bị gãy mũi, cái mũi đã sưng u và vặn vẹo vì bị gãy quá nhiều lần.

Lão chỉ còn hai cái răng, một con mắt kèm nhèm, và một con mắt còn kèm nhèm hơn.

Mụn nhọt mọc khắp bụng lão.

Ta sẽ không tả cho các cháu biết lão có mùi gì đâu.

Nếu thế, các cháu sẽ không bao giờ đụng đến món cá hầm lên men nữa.

"Hãy làm cho ta một cánh cửa giữ kho tàng của ta mãi mãi an toàn trước bọn trộm cắp," Grubgrack nói với Ornn bên ngoài Tổ Ấm, "và ta sẽ cho ông mười thùng rượu quỷ.

Công thức gia truyền đấy."

Ornn đuổi khách, nhưng Grubgrack lấy chân chẹn cửa.

Ornn không muốn mấy ngón chân sưng tấy của con quỷ khổng lồ làm hỏng lớp sơn, nên ông để lão vào.

"Chúng ta đánh cược đi," con quỷ khổng lồ xấu xí cùng cực nói.

"Ai uống cạn một thùng rượu quỷ trước sẽ nợ người kia một việc."

"Nếu làm thế mà ngươi biến đi thì được," Ornn chưa bao giờ bị đánh bại trong một cuộc thi uống.

Từ trước đến giờ ai cũng biết, và giờ tới các cháu đó.

"Ít nhất thì uống rượu cũng vui mà," Grubgrack đáp, nụ cười của hắn khiến một cây trụ của Tổ Ấm cong đi.

Khi Ornn quay lưng đi, con quỷ khổng lồ thả một mảnh Chân Băng vào thùng rượu và đưa nó cho đối thủ.

Họ nâng cốc theo cung cách vui vẻ của Freljord và uống.

Ornn thấy rượu quỷ nhạt dần, và ông không thích điều đó.

Tuy nhiên, Grubgrack đã uống hết nửa thùng.

Khi thùng của ông rượu vẫn ngấp nghé miệng, Ornn ngửa cổ dốc ừng ực, cho đến lúc ông nghĩ mình sẽ chết chìm mất.

Nhưng Grubgrack dộng cái thùng rỗng xuống và ợ một tiếng, và ngọn lửa trong bếp lửa chuyển màu xanh bệnh hoạn!

Ornn ho và phun phì phì.

"Sao thế?"

Grubgrack trêu chọc.

"Ông bị sặc hả?"

Rồi Ornn nhận ra mẩu Chân Băng bên trong.

Nó không ngừng chảy ra và pha loãng món rượu quỷ.

Ông có uống bao nhiêu thì Chân Băng cũng bồi lại cho đầy.

Chỉ dùng một tay, ông đập nát thùng rượu.

"Ngươi gian lận," Ornn nói.

Giọng ông giận dữ như cơn động đất nhấn chìm vài hòn đảo.

"Tất nhiên!

Một con quỷ khổng lồ xấu xí như ta có lợi thế gì khác trước Ornn hùng mạnh chứ?"

Thật ra, lũ quỷ khổng lồ xấu xí có đủ mọi lợi thế trên đời, nhưng Ornn không dành nhiều thời gian với lũ quỷ khổng lồ xấu xí, nên ông không biết điều đó, nhưng giờ các cháu biết rồi đấy.

"Giao kèo là giao kèo," Grubgrack nhắc nhở ông.

"Lời nói của ta chắc như Búa," Ornn càu nhàu.

"Dù có bị lừa đi nữa."

Thế là Ornn bỏ mười ngày làm ra một cánh cửa tốt nhất từ trước đến giờ.

Ông trang trí nó bằng một cái đầu cừu, nhưng chính ông, và như con cừu ở trong lòng Freljord.

Nó không thể bị suy suyển bởi ma thuật cũng như lũ bẻ khóa.

Grubgrack ấn tượng trước chất lượng của cánh cửa đến nỗi không thốt nổi câu nào, điều cực kỳ hiếm thấy ở lũ quỷ khổng lồ.

Ornn gắn chặt cánh cửa vào trước hang của con quỷ khổng lồ, nằm trên một ngọn núi cao, nơi tất cả lũ quỷ khổng lồ xấu xí trong lịch sử chôn giấu kho tàng của chúng.

Làu bàu, Ornn lùi lại, để Grubgrack chiêm ngưỡng cánh cửa mới.

Khi định thần lại, Grubgrack nhận ra đã một ngày kể từ lần cuối lão đếm vàng, và lão ngày một lo lắng.

Nhưng lão không tìm ra cách nào để mở cánh cửa!

Không cách nào cả.

Grubgrack cố dùng sức.

Cánh cửa với đầu cừu không lay chuyển.

Thế là, hắn cố lột bỏ lớp sơn với hơi thở hôi thối của mình.

Lại một lần nữa, cánh cửa không lay chuyển.

Cuối cùng, hắn cố cạy bản lề khỏi vách hang nhưng, than ôi, cánh cửa gắn vào ngọn núi chặt đến nỗi con quỷ khổng lồ chỉ thấy đau vai khi cố huých nó lỏng ra.

Lão đã bị khóa cứng bên ngoài.

Grubgrack chạy xồng xộc đến lò rèn của Ornn.

"Trò gì thế này?" lão gào lên.

Hơi thở của lão thật khủng khiếp, khiến lửa lò chút nữa tắt ngúm.

"Chẳng có trò gì cả," Ornn đáp, thổi bùng lại ngọn lửa.

"Ngươi bảo ta làm một cánh cửa có thể giữ kho tàng của ngươi mãi mãi an toàn khỏi lũ trộm cắp, và ta đã làm thế.

Cánh cửa sẽ đứng vững còn lâu hơn cả ngọn núi.

Không ai phá được nó.

Ta làm y như ngươi yêu cầu."

"Nhưng ta không vào trong được!"

Grubgrack hét lớn.

"Và ta chẳng trộm gì của ngươi cả!"

"Thời gian đáng giá hơn vàng bạc," Ornn nói.

"Vậy nên ngươi là kẻ trộm, và tác phẩm của ta cũng chắc chắn như lời nói của ta vậy."

Grubgrack cố gắng nhiều năm trời để vào được kho tàng của hắn, nhưng cánh cửa chẳng bao giờ xê dịch, và hắn còn không tìm nổi lỗ khóa.

Sau mỗi lần thử, cánh cửa đầu cừu lại ngó lại hắn, như một lời nhắc vĩnh hằng về lần hắn gian lận với Ornn.

Và nếu các cháu lắng tai, tít trên dãy núi cao, các cháu có thể nghe thấy lão Grubgrack già tham lam đau khổ than vãn trước mỗi trận tuyết lở, cho đến tận ngày nay.

Bọn trẻ ngủ rất nhanh, rúc đầu vào nhau xung quanh đống lửa.

Ta bế từng đứa về lều.

Bộ tộc của chúng ta chẳng có gì nhiều để san sẻ, nhưng chúng ta không phải bọn Móng Vuốt Mùa Đông.

Đứa trẻ cuối cùng vẫn còn thức.

Nó nằm nghiêng sang bên.

"Mấy câu chuyện đó không có thật," nó lí nhí nói.

Đó là cậu bé mất chân.

Chúng ta tìm thấy nó sống dở chết dở sau khi làng bị cướp phá.

Chúng ta không thể bỏ mặc nó—ta không thể bỏ mặc nó—nên ta dùng vải băng bó vết thương, và vác nó lên vai.

"Cháu nghĩ chúng được bịa ra.

Hoặc... thay đổi để giúp chúng ta dễ ngủ."

"Câu chuyện thật ra ra sao là do chúng ta tin vào chúng," ta nói và ngồi xuống bên cạnh.

"Có một vị thần tốt bụng, nhưng chẳng quan tâm đến chúng ta."

Ta chầm chậm gật đầu.

"Ta biết vì sao cháu nghĩ thế, nhưng không đúng đâu.

Còn một câu chuyện nữa ta có thể kể cho cháu.

Đây là câu chuyện cuối cùng bà ta kể cho ta trước khi ta trưởng thành.

Bà muốn ta sẵn sàng, bởi nó không giống những câu chuyện khác.

Nhưng ta nghĩ cháu đã thấy đủ nhiều để sẵn sàng rồi.

Cháu nghĩ sao?"

Cậu bé gật đầu.

Ta kéo nó lại gần và bắt đầu kể.

V: THẢM KỊCH CỦA MÁU ẤM

Một lần, rất lâu trước khi Freljord bị chia cắt, Ornn có một đoàn thợ rèn sống dưới chân núi.

Họ tuyên bố thờ phụng Ornn, nhưng nếu cháu đi hỏi ông, ông sẽ bảo mình chẳng có môn đồ nào cả, và họ đã bị dẫn dắt sai đường.

Tuy nhiên, đúng là họ đã tự xây nên một thị trấn nhỏ nơi chứa đầy những người mong ước được làm ra những sản phẩm tốt nhất thế giới.

Có hàng ngàn người bọn họ.

Họ làm ra công cụ.

Họ làm ra cày cuốc.

Họ làm ra xe đẩy, áo giáp, và yên cương.

Họ xây lò luyện và nhà cửa.

Họ tự gọi mình là Máu Ấm, bởi họ chưa từng cảm thấy cái lạnh cắt da cắt thịt của Freljord, và có thể chịu đựng luồng nhiệt mênh mông của sườn Tổ Ấm bên dưới đôi chân trần.

Họ trở thành những nhà chế tạo tài ba nhất thế giới, và tay nghề của họ chỉ có thể bị Ornn vượt qua.

Thỉnh thoảng, ông sẽ đánh giá sản phẩm của họ.

Nếu thích thứ một Máu Ấm làm ra, ông chỉ đơn giản nói "Qua."

Đây là lời tán dương vĩ đại từ Ornn, người từ lâu đã hiểu rằng hãy để chất lượng tự nói lên tất cả.

Cháu có nhớ truyện kể đó không?

Ornn chưa bao giờ thừa nhận ông thích tộc Máu Ấm, nhưng sâu trong lồng ngực, trái tim lửa của ông tràn đầy kính trọng với những con người chăm chỉ này.

Họ không quỳ gối hay hiến sinh gì cho ông cả.

Họ không viết những lời ông nói thành thánh kinh và truyền bá khắp vùng đất tới những con người chẳng muốn nghe chúng.

Thay vào đó, họ im lặng làm việc.

Họ giàu trí tưởng tượng, tháo vát, và chăm chỉ.

Tộc Máu Ấm khiến Ornn mỉm cười, dù không ai biết cả bởi họ không thể thấy nụ cười bên dưới bộ ria rậm rập của ông.

Một ngày, Volibear đến thăm anh trai Ornn.

Nó không phải một cuộc thăm viếng thân thiện gì, bởi Ornn và em trai chưa bao giờ thân nhau, và cũng chưa bao giờ thăm viếng nhau trước đây.

Thần gấu vĩ đại chuẩn bị gây chiến và cần vũ khí cho quân đội của mình.

Ornn đã thấy đội quân đó—những con người hung tợn lầm lạc, bị biến đổi thành hình dạng khác để cố làm hài lòng Volibear.

Họ đơn giản, dữ dằn, và rất dễ nổi nóng.

"Cho họ kiếm và rìu," Volibear yêu cầu, với ý đồ xấu xa.

"Cho họ áo giáp, và em sẽ khiến nó xứng đáng công sức anh làm ra."

"Không," Ornn nói, ông chẳng muốn can dự vào sự hiếu chiến của Volibear.

"Tốt thôi," Volibear nói.

"Để môn đồ của anh làm đi.

Em không quan tâm.

Làm đi.

Em là em trai anh đó."

Câu này chọc giận Ornn ghê gớm đến nỗi cặp sừng vĩ đại của ông sáng rực ngọn lửa nóng chảy.

"Người dân thị trấn bên dưới không phải môn đồ của ta.

Họ làm cho chính họ.

Họ thầm lặng và chăm chỉ.

Có thế thôi."

Nhưng Volibear đã nhìn thấu qua những lời lẽ của anh trai vào tận trái tim rực lửa của ông.

Dù có nhiều thói xấu, Volibear rất giỏi đọc vị người khác.

"Họ là hình ảnh phản chiếu của chính anh."

Sừng của Ornn nóng đỏ, rồi nóng trắng lên.

"Nếu tôi nhìn thấy cậu một lần nữa, Volibear, tôi sẽ đánh cậu thừa sống thiếu chết," ông gầm gừ.

Nếu nghe lời đe dọa này, cháu sẽ thấy thật khôn ngoan khi Volibear bỏ đi và không bao giờ trở lại.

Nhưng Volibear thích đánh nhau, và cũng không khôn ngoan, nên ông ta lấy một miếng giáp treo trên tường lò rèn của Ornn.

"Nếu anh sẽ làm điều em muốn, thì em cũng chịu."

Thế là, Ornn lao vào Volibear và húc sừng vào ông ta.

Cú đánh mạnh đến mức đỉnh núi rung chuyển.

Đây chính xác là những gì Volibear muốn.

Suốt nhiều thế kỷ, ông ta đã nuôi lòng ghen tị với tình yêu tộc Máu Ấm tự nguyện trao cho anh trai ông ta.

Nó khiến vị thần gấu giận điên người.

Họ đánh suốt tám ngày.

Họ đánh nhau dữ dội đến nỗi chân núi phải run rẩy.

Họ đánh nhau kịch liệt đến nỗi dung nham thổi tung lên từ đỉnh Tổ Ấm.

Sấm sét oanh tạc sườn núi, và những mạch lửa tuôn ra từ vách đá.

Bầu trời đen kịt và đỏ rực.

Máu của thế giới chảy qua các cao nguyên còn mặt đất thì rung chuyển.

Người dân trên toàn Freljord đều thấy kết quả trận chiến giữa Volibear và Ornn.

Khi khói tan, ngọn núi đã mất đỉnh.

Nhưng tệ hơn, tộc Máu Ấm đã chết cả, và thị trấn của họ chỉ còn là đống tàn tích âm ỉ cháy và một ký ức dần phai nhạt.

Suốt nhiều thế kỷ, ngọn núi chỉ còn một nửa từng có tên Tổ Ấm vẫn đứng im lìm.

Thỉnh thoảng, một cụm khói phụt lên từ miệng núi lửa nơi đỉnh núi từng nằm đó.

Có người bảo đó là Ornn đang đốt lò để giữ lửa bên dưới bề mặt thế giới này không trào ra ngoài.

Người khác thì lại bảo ông đang chế tạo một món vũ khí vĩ đại để một ngày nọ sẽ phóng thích nó.

Và vẫn có những người tin rằng Ornn đã bị Volibear tiêu diệt, bởi kể từ đó ta không thấy ông ở Freljord nữa.

"Và thế là, tên và truyện kể về Ornn biến mất theo thời gian và mờ dần khỏi sử sách.

Mấy câu chuyện này, được truyền lại quanh những bữa cá nướng, là tất cả những gì còn hiện hữu."

"Một truyện kể buồn, đồng nghĩa với nó là chân xác nhất," cậu bé mất chân ngước nhìn ta và nói.

Lệ vương trong mắt nó.

"Bà nghĩ chuyện gì đã xảy ra với Ornn?"

"Ta tin khi Thợ Xây Vĩ Đại trở về," ta bảo nó, "thì là để tái tạo thế giới này."

Cậu bé bật cười.

"Cháu rất muốn thấy ngày đó."

"Có lẽ cháu sẽ thấy thôi.

Đừng than khóc tộc Máu Ấm.

Hãy khóc cho những câu chuyện bị chiến tranh và thời gian xóa nhòa, bởi có thời chúng nhiều hơn sao trời.

Hãy kể lại những truyện kể này để con cháu chúng ta vẫn nghe được giọng nói của tổ tiên, và gầy lên ngọn lửa lò rèn trong tim chúng ta."

Trong trái tim của chính ta, ta có thể cảm thấy bà ngoại mỉm cười.

Nó sưởi ấm ta.

Ta chẳng thấy giá lạnh bên dưới đôi chân trần.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Pantheon - Bậc Thầy Chiến Tranh I


"Mang thêm một, hay một trăm chiến binh đích thực như ngươi tới đây; và ta sẽ đánh một trận lưu danh sử sách tới muôn đời."

- Pantheon

Chiến binh vô địch mang tên Pantheon là một biểu tượng chiến tranh bất khả chiến bại trên mọi chiến trường.

Anh sinh ra trong bộ tộc Rakkor, một bộ tộc của những chiến binh sinh sống trên sườn Núi Targon.

Sau khi đặt chân lên đỉnh của ngọn núi khắc nghiệt này và được chọn là người xứng đáng, Pantheon trở thành hiện thân trên trần thế của vị Thượng Nhân Chiến Trận thần thánh.

Mang trong mình sức mạnh vô song, anh quyết liệt truy lùng những kẻ thù của Targon, và chỉ để lại xác chết của chúng với mỗi bước chân anh đi.

Atreus là một người Rakkor trẻ tuổi và kiêu hãnh, được đặt tên theo một trong số bốn vì sao tạo thành chòm Chiến Binh trên bầu trời đêm rộng lớn – hay còn gọi là chòm Pantheon với người Rakkor.

Không phải là chiến binh nhanh nhất, hay khỏe nhất trong số những chiến binh trẻ tuổi của Núi Targon; cũng không phải là người thuần thục nhất những kỹ nghệ cung thuật, kiếm thuật hay thương thuật; nhưng Atreus là người có lòng quyết tâm, ý chí cũng như khả năng chịu đựng thần thánh so với những người đồng trang lứa.

Mỗi ngày, trước khi bình minh ló dạng, khi bằng hữu vẫn còn ngủ yên, anh đã bắt đầu sải bước trên những con đường đầy chông gai của Núi Targon, và cũng là người cuối cùng rời khỏi trường đấu tập khi đêm xuống, đôi tay luôn tê dại vì rèn kiếm thuật.

Giữa Atreus và một chiến binh Rakkor trẻ tuổi khác mang tên Pylas dần hình thành một sự cạnh tranh vô cùng quyết liệt.

Được sinh ra trong một dòng tộc chiến binh lẫy lừng, Pylas sở hữu kỹ năng điêu luyện cũng như sự cường tráng, và rất được yêu mến.

Dường như định mệnh ưu ái dành cho anh một tương lai vĩ đại, khi mà không một ai bằng tuổi Pylas có thể hạ được anh trên trường đấu.

Chỉ có Atreus, người chưa bao giờ chịu đầu hàng, luôn luôn đứng dậy trở lại tiếp tục chiến đấu với anh, cho dù máu đã đổ và người đã bầm tím khắp nơi, cho dù đã bị đốn ngã hết lần này đến lần khác.

Sự kiên trì này mang lại cho Atreus sự tôn trọng đến từ người thầy lão tướng của anh, nhưng cũng là sự thù ghét đến từ Pylas, người cho rằng sự bất khuất cũng Atreus là dấu hiệu của sự thiếu tôn trọng đối với Pylas.

Atreus bị ghét bỏ bởi những người đồng trang lứa và phải chịu đựng đòn thù đến từ Pylas và những người đi theo anh ta; thế nhưng Atreus vượt qua tất cả với sự kiên cường của anh.

Atreus giấu chuyện bị ghét bỏ với gia đình mình, vì nó sẽ chỉ khiến họ đau đớn mà thôi.

Trong một buổi tuần tra sớm vào mùa đông, cách làng của họ khoảng một ngày đường, những chiến binh trẻ và thầy của họ bắt gặp một tiền đồn của người Rakkor bị thiêu rụi.

Máu nhuốm đỏ màu trắng của tuyết, và xác người nằm la liệt trên mặt đất.

Họ lập tức được lệnh rút lui, nhưng đã quá muộn... kẻ thù đã bắt đầu giao chiến.

Được trang bị tận răng với giáp sắt dày và lông thú, kẻ thù xâm lược bất ngờ vùng lên tấn công từ dưới lớp tuyết dày, lưỡi rìu của chúng ánh lên thứ ánh sáng lạnh lẽo và chết chóc.

Chưa một ai trong số những chiến binh trẻ đã hoàn thành thời gian huấn luyện, thủ lĩnh của đội tuần tra Rakkor râu tóc cũng không còn xanh và thời hoàng kim cũng đã qua từ rất lâu; nhưng với mỗi mạng sống của họ, kẻ thù vẫn phải trả giá bằng rất nhiều sinh mạng của chúng.

Tuy thế, kẻ thù xâm lược, với quân số vượt trội hoàn toàn, dần dần hạ gục những chiến binh Rakkor, từng người, từng người một.

Pylas và Atreus, dựa vào nhau mà chiến đấu, là hai chiến binh Rakkor cuối cùng còn giữ được hơi thở của mình.

Cả hai đều đã bị đả thương, máu của họ đã rơi xuống tuyết.

Trận chiến sẽ kết thúc chỉ trong một khoảnh khắc nữa thôi, họ biết, nhưng họ cũng biết rằng phải có ai đó cảnh báo về cho dân làng.

Atreus đâm thương vào cổ họng của một tên mọi rợ, và Pylas chém hạ hai tên khác, tạo ra một lỗ hổng trong vòng vây của kẻ thù chỉ trong tích tắc.

Atreus bảo Pylas hãy chạy thoát trong khi anh giữ chân kẻ thù.

Không thể đáp trả vì Atreus đã tiếp tục giao chiến, Pylas vùng chạy.

Atreus đã chiến đấu hết sức, nhưng khi một lưỡi rìu lớn chạm tới lồng ngực anh, Atreus ngã xuống, bất tỉnh.

Atreus tỉnh dậy, không phải ở cõi vĩnh hằng mà anh vẫn hy vọng, mà vẫn ở sườn núi nơi anh nằm xuống.

Mặt trời đã lặn sau ngọn núi đằng xa, và trên người anh phủ một lớp tuyết còn tươi mới.

Tuy cơ thể đã tê dại và các giác quan gần như đã mất, Atreus vẫn đứng dậy.

Anh kiểm tra từng cơ thể những người đồng đội Rakkor đang nằm đó, nhưng không còn ai sống sót.

Tệ hơn nữa, Pylas ngã xuống cách đó không xa, một lưỡi rìu ném găm sâu vào tấm lưng.

Người làng vẫn chưa biết chuyện.

Nửa bò nửa lết tới chỗ Pylas, Atreus nhận ra địch thủ ngày nào vẫn còn thoi thóp, nhưng đã trọng thương.

Vác người đồng đội lên vai, Atreus bắt đầu hành trình dường như dài vô tận trở về nhà.

Ba ngày sau, Atreus đặt chân tới cửa làng, rồi mới tự cho phép mình được gục xuống.

Atreus tỉnh dậy một lần nữa và thấy Pylas đang ở cạnh mình, vết thương của anh ta đã được khâu lại, băng bó và chữa trị.

Tuy an lòng vì làng mình vẫn chưa bị tấn công, Atreus cũng rất bất ngờ khi biết những trưởng lão Rakkor và Solari đã không phái đội Ra-Horak đi truy lùng những kẻ xâm lăng, thay vào đó, họ quyết định án binh để phòng thủ trước những đợt tấn công có thể tới.

Những tháng ngày sau đó, Atreus và Pylas trở thành chiến hữu.

Quên đi những thù hằn trước kia, họ tiếp tục rèn luyện với một mục đích cũng như sức mạnh mới.

Cùng lúc đó, Atreus càng ngày càng phẫn nộ với hội Solari.

Đối với anh, cách tốt nhất để bảo vệ bộ tộc là Rakkor là trực tiếp săn lùng và tiêu diệt những thế lực thù địch.

Ngược lại, thủ lĩnh mới của những chiến binh Solari, Leona, cũng là một người cùng bộ tộc với Atreus, lại truyền bá một cách bảo vệ bộ tộc khác – cái cách mà theo anh là yếu đuối và thụ động.

Như mọi người Rakkor trẻ tuổi khác, Atreus và Pylas lớn lên cùng với những câu chuyện về những anh hùng lỗi lạc đã đặt chân lên đỉnh Núi Targon và được ban cho sức mạnh vĩ đại.

Sau khi đã vượt qua những nghi thức gian nan của người Rakkor, bộ đôi này bắt đầu khổ luyện để cùng tự mình leo lên đỉnh núi.

Atreus hy vọng sẽ có được sức mạnh anh cần để tự mình tìm diệt những kẻ thù của Rakkor, bởi vì có vẻ như hội đồng Solari không muốn làm vậy.

Chỉ có những kẻ mạnh nhất mới dám thử sức với đỉnh Núi Targon, và chưa đầy một trong một ngàn người đã từng nhìn thấy đích.

Tuy vậy, Atreus và Pylas vẫn tham gia vào một nhóm rất đông người đến từ nhiều ngôi làng Rakkor khác nhau quanh chân núi, và bắt đầu hành trình.

Khi họ bắt đầu cất bước, mặt trăng bạc trôi qua khiến ánh mặt trời bắt đầu dần tối.

Đối với một số người, đây là điềm xấu, nhưng đối với Atreus, đó chỉ là minh chứng cho thấy rằng anh đã đúng về hội đồng Solari.

Sau nhiều tuần leo núi, số người còn lại trong nhóm đã vơi nửa.

Kẻ thì bỏ cuộc trở về làng, người thì bỏ lại sinh mạng cho ngọn núi – một bước chân lầm lỡ xuống khe núi sâu, một phút lơ là khi tuyết lở, hay một đêm lạnh giá đến đông cứng người.

Họ đã vượt lên trên cả hàng mây, nơi bầu trời chứa đầy những ảo ảnh và hào quan lạ lùng.

Thế nhưng, họ không chùn bước.

Không khí càng ngày càng loãng dần, và cái lạnh cắt sâu hơn vào da thịt, khi hành trình này của họ bắt đầu được tính bằng tháng chứ không phải bằng tuần.

Có những người dừng bước để lấy lại sức, rồi không bao giờ có thể cất bước trở lại được nữa; máu thịt của họ đã đông cứng cùng đá núi.

Có những người mất trí vì thiếu dưỡng khí và sức lực, buông mình xuống núi trong tuyệt vọng như những hòn đá lăn cùng tuyết lở.

Từng người một, đi theo ước vọng chinh phục đỉnh núi, gục ngã trước Núi Targon, cho đến khi chỉ còn lại Pylas và Atreus.

Khi sức họ đã kiệt và tâm trí họ đã lu mờ trong giá lạnh, bộ đôi chiến binh, cuối cùng, cũng đặt chân tới đỉnh núi, chỉ để thấy xung quanh hoàn toàn là hư vô.

Không có những thành phố tráng lệ trên đỉnh núi, không có những thiên anh hùng chờ đón họ - chỉ có băng giá, chết chóc, và đá lạnh xoắn thành những hình tròn kỳ dị.

Pylas gục xuống, chút sức tàn cuối cùng tan biến.

Atreus gầm lên trong giận dữ.

Biết rõ rằng Pylas không còn sức để quay về, Atreus ngồi đó cùng bạn, gối đầu Pylas lên đùi anh, và chỉ biết lặng lẽ nhìn người bạn của mình trút những hơi thở cuối cùng.

Và rồi cánh cổng thiên giới bật mở.

Không khí xung quanh được chiếu sáng lấp lánh như làn nước khi Atreus nhìn thấy một con đường mở ra trước mắt anh.

Hào quang chói lọi, vàng như ánh nắng, tỏa hơi ấm lên khuôn mặt anh, và đằng sau ánh sáng đó dường như là một thành phố tráng lệ với những kiến trúc thần thánh và lý tưởng huy hoàng.

Một bóng người đang đứng chờ Atreus, với đôi tay dang rộng.

Nước mắt trôi dài trên khuôn mặt của Atreus.

Anh sẽ không bỏ lại người bạn của mình, nếu như anh không nhìn xuống và thấy Pylas đã từ trần trong tay anh, với nụ cười hạnh phúc trên môi.

Atreus đứng dậy, vuốt mắt Pylas và nhẹ nhàng để người bạn của mình xuống lớp tuyết đang dần tan chảy.

Anh bước tới với người dẫn đường đang chờ đợi, và cùng họ vượt qua màn sương hư ảo đến với Targon đích thực.

Nhiều tháng đã trôi qua.

Nơi chân núi, họ cho rằng Atreus và Pylas cùng với đoàn người đồng hành đã không còn sống sót.

Tất cả đã được an táng, nhưng điều này không có gì đáng ngạc nhiên hay bất thường cả.

Trong từng thế hệ, chỉ có một người trở lại với sức mạnh của đỉnh Núi Targon.

Cũng chính vào khoảng thời gian này, một nhóm mọi rợ phương Bắc bất ngờ xuất hiện trên núi, gần một năm sau ngày chúng phục kích toán tuần tra của Atreus ở tiền đồi Rakkor.

Chúng tấn công một số ngôi làng nơi hẻo lánh, giết người và cướp của, rồi đặt mục tiêu lên ngôi đền Solari trên sườn núi cao hơn.

Lính gác đền bị áp đảo về quân số, nhưng họ cũng đã sẵn sàng bỏ mạng để bảo vệ những thánh tích bên trong.

Khi những kẻ xâm lăng tới gần, một cơn gió lạ xuất hiện và lớn dần, dữ dội xới tung tuyết trắng xung quanh.

Mây dày tách ra để lộ hình ảnh của đỉnh Targon vĩ đại trong tâm bão.

Những chiến binh ở cả hai chiến tuyến phải khó khăn lắm mới giữ vững vị trí, tay che mắt khỏi sự khắc nghiệt của cơn bão tuyết, đến cùng sự xuất hiện của thành phố thiên giới nơi đỉnh núi.

Bốn ngôi sao của chòm Pantheon sáng rực rỡ, rồi đột nhiên vụt tắt.

Cùng lúc đó, ánh sáng chói lòa của một ngôi sao rơi xuất hiện từ thành phố lạ và tiến xuống trần thế.

Vì sao rơi này tiến tới ngôi đền Solari với âm thanh chói tai và tốc độ chóng mặt, khiến cho những kẻ mọi rợ phải run rẩy cầu nguyện những vị thần vô đạo của chúng.

Mặt đất giữa hai phe chiến binh nổ tung khi vì sao tiếp đất, sức mạnh của vụ nổ khiến sườn núi cũng phải nứt vỡ.

Đó không phải là một vì sao.

Đó là một chiến binh, khoác lên mình ánh sao trời, tay mang tấm khiên vàng sáng lấp lánh và ngọn thương huyền thoại.

Từ tư thế quỳ, một đầu gối chạm mặt đất, của một chiến binh; anh đứng lên đối mặt với những kẻ dám làm ô uế vùng đất của Núi Targon – và người Rakkor nhận ra đó là Atreus... nhưng cũng không phải Atreus.

Thượng Nhân Chiến Trận đã nhập vào anh, biến Atreus thành hiện thân của chiến tranh, vừa phàm trần, nhưng cũng thật thần thánh.

Atreus đã trở thành vị thần của chiến trận.

Atreus trở thành Pantheon.

Vị thần chiến tranh đứng thẳng dậy, đôi mắt anh cháy rực rỡ thứ ánh sáng thần linh, và chỉ vậy, kẻ thù biết rằng cái chết đã đến với chúng.

Trận chiến kết thúc chỉ trong chốc lát, không ai có thể chống lại Pantheon.

Máu của kẻ xâm lăng trôi khỏi áo giáp và vũ khí của Pantheon, và chúng lại sáng lấp lánh ánh sao trời.

Kẻ thù đã bị tiêu diệt, Pantheon lại cất bước và biến mất vào trong cơn bão tuyết.

Gia đình của Atreus đã an táng người con trai của họ.

Tuy đã nghĩ rằng anh đã chết khi không trở lại từ hành trình lên đỉnh núi, đến bây giờ thì kết cục của Atreus đã được khẳng định.

Vị Thượng Nhân Pantheon đã chiếm vị trí của nhân cách, ký ức và cảm xúc của Atreus.

Cơ thể anh giờ chỉ là một vỏ bọc trống rỗng cho Thượng Nhân Chiến Trận trú ngụ, còn linh hồn của Atreus đã cùng tổ tiên của anh đến với kiếp vĩnh hằng.

Atreus không phải người đầu tiên trở thành Pantheon trên Runeterra – đã từng có những người khác, và rồi sẽ có những người khác.

Họ không bất tử, họ phụ thuộc vào cơ thể phàm trần mà họ vay mượn.

Họ có thể tử trận, nhưng kẻ thù của họ sẽ biết rằng điều đó không dễ dàng gì.

Sự xuất hiện của Pantheon gây nhiều tranh cãi trong số những trưởng lão của hội đồng Solari, nó vừa là phước lành, vừa là lời nguyền rủa, bởi vì sự trở lại của vị Thượng Nhân Chiến Trận thường báo hiệu một thời kỳ tăm tối trong tương lai không xa...
 
Liên Minh Huyền Thoại
Pantheon - Bậc Thầy Chiến Tranh II (Ngọn Thương Của Targon)


Một bóng người đơn độc đứng chờ đoàn tùy tùng vũ trang đầy đủ, quay lưng về phía ánh mặt trời.

Áo choàng và lông vũ điểm trên mũ trụ của người này bay trong cơn gió nóng nực và khô cằn của vùng sa mạc.

Ngọn thương dài đứng sừng sững bên người đó.

Đoàn tùy tùng có ba mươi chiến binh, hầu hết là lính đánh thuê – những kẻ cục cằn và hiếu chiến, mang trên người giáp da đính xích sắt, cùng kiếm, kích và nỏ chiến.

Họ bước trên con đường bụi bặm cùng với những con la thồ hàng, văng những câu nói thô tục và những trò cợt nhả - nhưng tất cả dừng lại khi họ nhìn thấy chiến binh bất động trước mặt.

Vị thủ lĩnh của đoàn tùy tùng, trong trang phục đen như chiến mã của hẳn, chau mày khi hắn phải dừng cả đoàn tùy tùng lại.

Bóng người trên dốc đá không hề lay động, chắn đường cả đoàn tùy tùng.

"Các người đến với sát ý."

Anh nói.

Giọng nói của anh đanh thép, và có khẩu ngữ thật kỳ lạ.

"Ta đến từ Núi.

Các người sẽ không bước thêm nữa."

Toán lính đánh thuê bắt đầu cười khẩy và chế nhạo.

"Biến đi, đồ điên."

Một tên hét lên.

"Nếu không muốn bọn ta đánh dấu đường ta đi bằng đầu của ngươi trên cọc."

"Cậu ở xa nhà quá đấy, bạn của tôi."

Vị thủ lĩnh nói.

"Chúng tôi cũng đang lên núi.

Không cần phải đổ máu ở đây."

Chiến binh cô độc không nhúc nhích.

"Chúng tôi chỉ là những người hành hương, và hành trình của chúng tôi còn rất dài." vị thủ lĩnh tiếp lời.

"Ngoài ra, chúng tôi không thể quay lại nữa.

Thuyền của chúng tôi đã giương buồm rồi, thấy không?" hắn nói, tay chỉ về phía sau.

Đằng sau đoàn người, chỉ chưa đầy một dặm, biển sáng lấp lánh như vẩy rồng trong ánh sáng hoàng hôn.

Ba ngọn buồm vẫn còn có thể được nhìn thấy, đang dần khuất xa trong hành trình trở về của họ.

"Chúng tôi không có ác ý, hãy yên lòng." vị thủ lĩnh tiếp tục.

"Chúng tôi chỉ đi tìm trí tuệ."

"Miệng lưỡi của người chỉ phun lời rắn độc."

Người chiến binh cô độc nói.

"Ngươi đến vì máu của nhà tiên tri.

Quay bước, hoặc bỏ mạng."

Khuôn mặt của kị sĩ áo đen sa sầm lại, hắn nhún vai quay lại với những người tùy tùng của mình.

"Cứ vậy đi" hắn nói.

"Kết liễu hắn."

Trong chớp mắt, những cây nỏ được nâng lên vai và những mũi tên phủ kín tầm mắt.

Tuy vậy, chiến binh cô độc không hề chùn bước, vì những mũi tên đó chẳng là gì trước tấm khiên tròn to và nặng của anh.

Người chiến binh bắt đầu tiến lên.

Bước chân của người chiến binh này thật chậm rãi.

Anh bước tới với ý chí kiên định, lưng vẫn quay về phía chút ánh nắng còn sót lại, và mũi thương hạ xuống hướng về phía kẻ thù.

Một loạt tên khác được phóng ra.

Một loạt tên nữa thất bại trước tấm khiên vững chãi.

Tay lính đánh thuê đầu tiên, một người đàn bà, xông tới tấn công, thanh kiếm cong sắc lạnh nhằm thẳng vào cổ họng người chiến binh cô độc.

Cô ta bỏ mạng ngay lập tức, với mũi thương ngập sâu trong lồng ngực.

Hai kẻ tiếp theo cũng gục ngã nhanh như thế khi mũi thương của anh quét một đường đỏ máu qua cổ họng của một tên, trong khi tấm khiên nặng nề đánh nứt sọ một kẻ khác.

"Tấn công!"

Tay thủ lĩnh gầm lên, tay rút một khẩu súng cầu kỳ từ thắt lưng.

Một áng mây trôi qua che đi ánh mặt trời, để diện mạo của người chiến binh được chiêm ngưỡng rõ hơn trong mắt kẻ địch.

Anh mang trên người giáp trụ có thiết kế cổ đại, nhưng để tay chân trần, lộ ra cơ bắp rắn chắc.

Áo choàng của anh mang màu đỏ máu, nhưng chút ánh hoàng hôn phủ lên khiến nó tựa như sáng lấp lánh ánh sao.

Ánh sao đó cũng rực cháy trong mắt anh, ánh mắt kiên định tới từ sau khe hở trên mũ trụ của người chiến binh.

Mỗi bước chân của người chiến binh đều thật linh hoạt, uyển chuyển như làn nước, nhưng mang lại chết chóc cho kẻ thù.

Anh tấn công với tốc độ vượt trội hơn bất kỳ người phàm trần nào.

Kẻ thù tiếp tục gục ngã, máu của chúng nhuốm đỏ khoảng đất sa mạc cằn cỗi.

Di chuyển của anh tựa như không hề khó khăn, và bước chân tiến tới chỗ tay kị sĩ dường như không thể cản phá.

Toán lính thuê tiếp tục lần lượt gục ngã.

Trong chốc lát, những kẻ còn sống sót quay bước và bỏ chạy trước đối thủ vô địch này.

Tay kị sĩ nâng khẩu súng ngắn lên ngắm vào người chiến binh và siết cò.

Bằng tốc độ không tưởng, anh xoay người trong khoảnh khắc, và viên đạn chỉ kịp lướt nhẹ qua mũ của anh.

Buông lời thô tục, tay kị sĩ lên đạn để bắn phát thứ hai... nhưng đã quá muộn.

Tấm khiên của người chiến binh tông mạnh vào ngực tay kị sĩ, hất tung hắn khỏi yên ngựa.

Lăn xuống đất trong đau đớn, tay kị sĩ bị găm xuống đất bằng bàn chân của người chiến binh trên ngực hắn.

"Ngươi là ai?" hắn rít lên qua kẽ răng.

"Ta là cái chết của ngươi." người chiến binh lên tiếng.

"Ta là Pantheon."

Tay thủ lĩnh quay đầu nhìn thấy khẩu súng của hắn rơi cạnh đó.

Hắn đưa tay với lấy nó trong vô vọng.

"Vui lên đi, phàm nhân."

Pantheon nói.

"Ngươi phải cảm thấy thật vinh dự khi được chết bằng Ngọn Thương của Targon."

Kẻ xấu số định cất tiếng, nhưng lời nói của hắn chưa tròn chữ thì mũi thương của Pantheon đã đâm sâu vào ngực của hắn.

Môi hắn mấp máy trong máu đỏ, rồi cơ thể hắn bất động.

Pantheon rút ngọn thương của mình về và quay bước.

Hoàng hôn đã kết thúc, và bầu trời giờ đây được soi sáng bởi vô vàn ánh sao.

Một ngôi sao băng rực lửa lướt qua trên bầu trời phía đông, sau những ngọn núi cách xa hàng trăm dặm.

Pantheon nheo mắt.

"Cũng đã đến lúc rồi." anh nói với bóng đêm, rồi bắt đầu hành trình trở lại với Núi Targon.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Poppy - Người Giữ Búa I


"Tôi không phải anh hùng.

Chỉ là một Yordle cầm cây búa."

- Poppy

Runeterra không hề thiếu các anh hùng dũng cảm, nhưng có rất ít người ngoan cường như Poppy.

Mang theo cây búa dài gấp đôi mình, cô nàng Yordle kiên quyết này đã dành không biết bao năm để tìm kiếm "Anh hùng xứ Demacia," một chiến binh huyền thoại được truyền tụng là chủ nhân của thứ vũ khí cô đang nắm giữ.

Truyền thuyết miêu tả rằng, vị anh hùng này là người duy nhất có thể giải phóng hoàn toàn sức mạnh của cây búa và đưa Demacia đến thời đại huy hoàng.

Dù Poppy đã đến tận những vùng xa xôi nhất của vương quốc, nhưng sứ mệnh của cô vẫn chưa có chút kết quả nào.

Mỗi lần cô định đưa cây búa cho một anh hùng tiềm năng, những gì xảy ra sau đó đúng là thảm họa, và thường khép lại bằng cái chết của "người được chọn."

Người khác thì đã từ bỏ nhiệm vụ này từ lâu, nhưng người khác thì đâu có được sự can trường và kiên định như vị nữ anh hùng bất khuất của chúng ta.

Poppy từng là một Yordle rất khác biệt.

Từ lúc nhận thức được, cô đã tìm kiếm một mục đích.

Xa cách với những Yordle ồn ào xung quanh, cô thích sự ổn định và những công trình to lớn.

Ý thích này đã đưa cô đến với khu định cư của con người ở phía tây Valoran, nơi cô kinh ngạc khi nhìn thấy những đoàn lữ hành bất tận.

Nhiều người trong số họ trông rách rưới và mệt mỏi, nhưng họ vẫn lê bước tiến lên để theo đuổi cuộc sống tươi đẹp phù hoa có thể đang nằm bên kia đường chân trời.

Đến một ngày, một đoàn lữ hành khác đi qua.

Không giống trước đây, những người trong đó dường như đang di chuyển với mục đích nào đó.

Buổi sáng, họ dậy vào một giờ cố định theo tiếng tù và của người canh gác.

Họ ăn cùng một giờ, và luôn kết thúc nó chỉ trong vài phút.

Họ cắm và nhổ trại với tốc độ đáng ngạc nhiên.

Trong khi Yordle dùng ma thuật bẩm sinh để tạo ra những thứ phi thường, những con người này đạt được điều tương tự nhờ phối hợp và kỷ luật.

Họ hoạt động như bánh răng trong một cỗ máy, trở thành một thứ to lớn và mạnh mẽ hơn bất kỳ một cá nhân đơn lẻ nào có thể trở thành.

Với Poppy, đây là thứ kỳ diệu hơn mọi ma thuật trên đời.

Khi Poppy quan sát khu trại từ chỗ ẩn nấp an toàn, cô nhìn thấy ánh sáng lấp lánh chiếu ra từ trong lều.

Đó là sĩ quan chỉ huy của nhóm, đang mặc một bộ giáp bằng thép sáng ngời và hoàn hảo.

Tên ông là Orlon, và sự hiện diện của ông thắp lên ngọn lửa tinh thần cho mọi người.

Nếu có ai nản chí, ông có mặt để nhắc nhở họ lý do phải cố gắng.

Nếu có ai kiệt sức gục ngã, ông giúp họ đứng dậy.

Điều đó gợi cho Poppy về một số bùa phép của Yordle, dù lại một lần nữa, không có ma thuật.

Poppy len lén tiến vào để nhìn gần hơn.

Cô thấy mình đi theo viên chỉ huy, như thể bị số mệnh thu hút.

Cô nhìn Orlon hướng dẫn những người lính tập luyện.

Ông ta không cao lớn, nhưng vẫn vung búa với sự linh hoạt đáng ngạc nhiên.

Đến tối, Poppy nghe trộm ông thảo luận với những người khác trong trại.

Họ đang lên kế hoạch đi về phía tây để xây một khu định cư lâu dài.

Tâm trí Poppy ngập tràn những câu hỏi.

Orlon sẽ đi đâu?

Ông đến từ đâu?

Làm thế nào ông tập hợp được một đoàn lữ hành như thế này, và liệu có chỗ cho một Yordle trong đó?

Lúc ấy, cô đưa ra quyết định quan trọng nhất trong đời mình: lần đầu tiên, cô lộ diện trước mặt con người, vì cũng là lần đầu tiên, cô thấy mình có một mối liên hệ với họ.

Cuộc gặp mặt hơi bất ngờ, vì Orlon đặt ra cho Poppy không ít câu hỏi hơn so với cô đặt ra cho ông, nhưng cả hơi sớm trở nên không thể tách rời.

Ông trở thành người thầy của cô, và cô trở thành người học trò trung thành của ông.

Trên sân tập, Poppy là một bạn đấu vô giá – thành viên duy nhất trong đoàn không e sợ gì khi tấn công ông.

Cô không bao giờ tỏ ra khúm núm, cô tranh luận về những quyết định của ông với sự ngây thơ con trẻ, cứ như thể cô không biết mình phải tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh.

Cô đi cùng ông tới khu định cư mới – một quốc gia đầy tham vọng được gọi là Demacia, nơi mọi người đều được chào đón, không kể đến địa vị hay xuất thân, chừng nào họ còn đóng góp cho lợi ích chung.

Orlon là hình tượng được dân chúng cả vương quốc yêu mến.

Dù rất ít người thấy ông cầm cây búa, nhưng ông luôn mang nó trên lưng, và thứ vũ khí đó nhanh chóng trở thành biểu tượng được tôn sùng của quốc gia đang phát triển này.

Mọi người rỉ tai nhau rằng nó có sức mạnh san bằng núi non và chia đôi mặt đất.

Orlon trao cây búa cho Poppy khi qua đời, cùng với nó là hy vọng về một vương quốc trường tồn.

Chỉ lúc đó ông mới kể cho cô câu chuyện về sự ra đời của thứ vũ khí này, và làm sao ông chưa bao giờ thực sự cầm nó trên tay.

Ông giải thích cho Poppy rằng cây búa được dành cho Anh hùng xứ Demacia – người duy nhất có thể giữ vững Demacia.

Khi người bạn trút hơi thở cuối cùng, Poppy thề với ông sẽ tìm ra vị anh hùng đó và đặt cây búa vào tay anh ta.

Nhưng dù Poppy có được sự kiên định, cô lại thiếu tự tin, và chưa bao giờ nhận ra rằng cô có thể là vị anh hùng Orlon đã nói.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Poppy - Người Giữ Búa II (Thợ Săn Quái Vật)


Poppy chẳng là gì so với con sói, ngoài việc nó sắp đập cô tơi bời.

Mõm nó vẫn còn nhuộm máu của kẻ vừa bị ăn thịt, và cô Yordle không muốn là người kế tiếp.

Cô đang sốt sắng tìm theo dấu vết của một thợ săn quái vật nổi tiếng, và cô không có ý định chết trước khi tìm ra người cô cho là xứng đáng.

"Ngươi nên lùi lại.

Ngươi sẽ không qua được đâu," Poppy bảo con sói, giơ cao cây búa để ngăn nó lại.

Nhưng con sói không nản chí.

Nó sải bước về phía cô, bị thúc đẩy bởi một khao khát cô không thể xác định được.

Rồi cô nhận ra đều đó ở khóe miệng nó.

Con vật không bị cơn đói hay bản năng bảo vệ lãnh thổ dẫn dắt.

Nó đang đau đớn, và muốn được giải thoát.

Con sói nhảy bổ vào cô, như thể nó đã quyết định hành động tiếp theo của mình sẽ là tiêu diệt hoặc bị tiêu diệt.

Poppy vung búa, dồn từng phân sức mạnh của mình để khiến thứ vũ khí nặng nề đó chuyển động.

Cú đánh của cô đập vào con thú, chấm dứt cơn thống khổ của nó.

Poppy chẳng vui vẻ gì với chuyện này, nhưng đó là kết cục tốt nhất, cho cả cô lẫn con sói.

Cô Yordle nhìn quanh bãi cỏ trông, nhưng không thấy dấu vết của thợ săn quái vật cô đang tìm kiếm.

Cô đã lang thang khắp nơi theo những tin đồn, hy vọng tay thợ săn thần bí này là vị anh hùng trong truyền thuyết.

Nhưng đến giờ, cô chỉ thấy có sói và rồng và kẻ cướp, và cô phải hạ gục hầu hết chúng để tự vệ.

Cô đã dành nhiều tuần đi hết nơi này đến nơi khác ở Demacia.

Cô đi nhanh hết mức sải chân ngắn ngủi của mình cho phép, nhưng tay thợ săn quái vật luôn trước cô một bước, không để lại gì ngoài câu chuyện về những chiến công ông vừa thực hiện.

Với một Yordle, thời gian không có nghĩa lý gì, nhưng ngay cả với Poppy, cô cũng bắt đầu thấy cuộc tìm kiếm này kéo dài.

Một ngày, đúng lúc cô bắt đầu nghi ngờ bản thân và sứ mệnh của mình, cô nhìn thấy một thông báo đóng trên cây cột ven đường:

"Mọi người đều được mời đến Lễ hội Thợ Săn!"

Đó là bữa tiệc để vinh danh vị thợ săn quái vật Poppy đang tìm kiếm.

Nếu có hy vọng gì để tìm ra anh hùng, cô chắc chắn sẽ tìm thấy nó ở đây.

Anh ta sẽ xuất hiện, và cô sẽ có thể đánh giá xem anh ta có xứng đáng được trao cho cây búa của Orlon không.

Viễn cảnh đó làm cô phấn chấn hơn hơn, và cô chạy vội đến bữa tiệc.

Poppy thấy hồi hộp khi đến được ngôi làng, với những biểu ngữ sặc sỡ báo hiệu một ngày tiệc tùng.

Lý tưởng đấy, cô nên đến sớm trong một sự kiện thế này và giành một chỗ bên rìa đám đông để không thu hút quá nhiều sự chú ý.

Nhưng khu chợ chính đã đầy người, và Poppy thấy khó có thể chen qua.

Cô bị ép chặt giữa chân dân làng, đa số người trong họ đều quá say xỉn để nhận thấy cô.

"Tôi sẽ mời anh ta một cốc nếu anh ta ở đây," một giọng nói lè nhè phía trên đầu cô.

"Cứu cả đàn dê của tôi khi hạ con quái vật đó."

Tim Poppy đập như như mỗi lần cô nghe thấy câu chuyện về người thợ săn.

Nếu hóa ra anh ta là người được chọn thì sao? cô nghĩ.

Nhưng sâu trong lòng, Poppy lại có một câu hỏi khác.

Cô sẽ làm gì khi trao cây búa này cho người đó?

Liệu cô có thể tìm thấy một mục đích hoàn toàn mới không?

Một Yordle mà không có nó thì thật là thảm hại.

Cô ngừng suy nghĩ lung tung và quay lại với nhiệm vụ của mình.

Nàng chiến binh nhỏ bé cuối cùng cũng có thể vòng ra phía sau chợ.

Cô tìm thấy một cột đèn cao dễ trèo và cũng khuất sau tầm mắt của đám đông.

Cô leo lên đủ cao để nhìn khắp xung quanh.

Vừa đúng lúc.

Xa xa phía bên kia, một diễn giả đang đứng trên bục cùng nhiều quan chức Demacia, phía sau ông ta là thứ gì đó cao lớn bị ẩn sau một bức màn.

Ngay cả với giác quan nhạy bén của Yordle, Poppy cũng gần như không thể nghe rõ người đàn ông đó nói gì.

Hình như là về thợ săn quái vật, anh ta đã cứu biết bao nông trại và làng mạc khỏi rồng, sói, và đạo tặc.

Ông ta nói dù vị chiến binh đã chọn không tiết lộ danh tình, nhưng điều đó cũng không ngăn họ kỷ niệm những chiến công của anh ta.

Người thợ săn xuất hiện nhiều tuần trước gần thành phố Uwendale, nơi những nhân chứng lần đầu nhìn thấy anh ta.

Sau đó, diễn giả kéo tấm màn để lộ ra bức tượng đá.

Poppy háo hức khi thấy chân dung của người thợ săn.

Anh ta là một chiến binh Demacia kiểu mẫu – cao hơn hai mét, mặc giáp nặng, và cuồn cuộn cơ bắp.

Dưới chân ông là xác con sói vừa bị hạ gục.

Khi hình ảnh đó đang ngập tràn tâm trí Poppy, cô nghe thấy giọng trẻ con cách đó không xa..

"Nhìn kìa.

Là thợ săn!

Người trong bức tượng kìa!" cô bé mắt to thốt lên.

Poppy thấy cô bé chỉ về hướng mình.

Cô ngó quanh để xem người thợ săn có đứng sau mình không.

Nhưng không ai ở đó cả.

"Không phải đâu, con yêu," cha cô bé nó.

"Không phải thợ săn quái vật đâu.

Quá nhỏ bé."

Cô bé và cha quay đi và nhập hội với dân làng trong bữa tiệc vui vẻ.

Khi đám đông trước bức tượng tản đi, Poppy đến gần để nhìn rõ hơn.

Giờ cô có thể thấy chi tiết bức tượng cẩm thạch của người thợ săn.

Tóc anh ta dài và buộc sang hai bên.

Tay anh ta chai sần vì chiến trận, và trong đó là một cây búa chiến khổng lồ giống hệt thứ Orlon đã trao cho cô.

Cô chưa từng thấy ai giống một anh hùng chân chính của vương quốc hơn anh ta.

"Anh ta phải là người đó," Poppy nói.

"Hy vọng mình không quá trễ."

Cô quay đi và rời lễ hội nhanh nhất có thể, trên con đường ngắn nhất để tới Uwendale.
 
Liên Minh Huyền Thoại
Pyke - Sát Thủ Vùng Nước Đỏ I


"Dưới đáy biển còn đầy chỗ đấy..."

- Pyke

Khi còn trẻ, Pyke khởi đầu như bao kẻ khác ở Bilgewater: trên cầu cảng sát sinh.

Hàng ngày, lũ quái vật dưới biển sâu bị kéo tới đây để xả thịt.

Hắn tìm được công ăn việc làm ở quận Cảng Máu Me, bởi kể cả thủy triều cũng không đủ sức tẩy sạch màu đỏ nhớp nhúa không ngừng chảy ra từ kè gỗ.

Hắn nhanh chóng quen việc—với cả sự ghê tởm và đồng lương còm cõi của nó.

Hết lần này đến lần khác, Pyke nhìn những túi vàng nặng trịch trao cho các thuyền trưởng để đổi lấy xác lũ thủy quái mà hắn và đồng nghiệp sẽ mổ xẻ để bán.

Hắn mong muốn có nhiều hơn là vài xu trong túi, và đã tìm cách thuyết phục một đoàn thủy thủ cho nhập bọn.

Hiếm kẻ dám săn theo phong cách truyền thống của Quần Đảo Mãng Xà: bắn mình vào mục tiêu để găm mũi móc bằng tay không, rồi bắt đầu đồ sát chúng khi chúng còn đang sống.

Can đảm và tài giỏi, Pyke nhanh chóng trở thành tay lao thủ giỏi nhất mà tiền bạc có thể mua được.

Hắn biết thịt chẳng đáng giá gì so với vài cơ quan nội tạng của lũ quái to lớn hơn, nguy hiểm hơn... thứ nội tạng cần thu hoạch lúc còn tươi.

Tuy vào độ khó của cuộc săn, mỗi con quái vật biển lại có giá riêng, và thứ được đám thương gia Bilgewater thèm khát nhất là cá quỷ.

Từ bộ hàm đầy răng sắc như dao cạo của nó, người ta lấy ra các bao sapphilite vô giá đem bán khắp Runeterra cho những kẻ muốn chưng cất linh dược, và một bình con con thứ dầu lam lấp lánh đủ sức mua mười con tàu lẫn thủy thủ đoàn trên đó.

Nhưng trong lúc đi săn cùng một thuyền trưởng thiếu tin cậy, Pyke đã học được bài học xương máu.

Sau nhiều ngày hành trình, một con cá quỷ khổng lồ xuất hiện, há to bộ hàm, để lộ hàng dãy túi sapphilite.

Chừng chục mũi lao móc giữ con vật lại, và dù nó lớn hơn bất kỳ con nào hắn từng đụng độ, Pyke vẫn nhảy thẳng vào miệng nó không do dự

Khi hắn chuẩn bị bắt tay vào làm việc, cổ họng con vật bắt đầu rung lên.

Bong bóng sôi ùng ục trên mặt biển, và một đàn cá quỷ bắt đầu lao vào con tàu.

Viên thuyền trưởng hoảng hốt cắt dây bảo hiệm của Pyke.

Thứ cuối cùng tay lao thủ xấu số nhìn thấy trước khi bộ hàm con quái khép lại là vẻ mặt kinh hoàng của các đồng đội khi trông thấy hắn bị nuốt chửng.

Nhưng đó chưa phải dấu chấm hết cho Pyke.

Dưới đáy sâu của đại dương vô danh, bị nghiền nát bởi áp lực ghê hồn, và vẫn kẹt cứng trong miệng con cá quỷ, hắn mở mắt.

Ánh sáng lam rải khắp nơi, hàng nghìn hàng nghìn đốm sáng như đang dõi theo hắn.

Tiếng vọng run rẩy của thứ gì đó cổ xưa và bí ẩn tràn ngập tâm trí hắn, đập tan nó, cho hắn thấy ảo cảnh về tất cả những gì hắn đã mất trong khi kẻ khác thì giàu sụ.

Một khao khát mới chiếm lấy Pyke, khao khát báo thù và phục hận.

Hắn sẽ chất đầy dưới đáy sâu thi thể của những kẻ đã đối xử tệ bạc với hắn.

Ở Bilgewater, không ai nghĩ gì nhiều đến mấy vụ sát hại—ở nơi nguy hiểm này, thỉnh thoảng dòng triều chuyển màu đỏ cũng chả có gì lạ.

Nhưng hết tuần đến tháng, người ta bắt đầu nhận ra quy luật.

Thuyền trưởng các con tàu bị xé xác và bỏ mặc dưới ánh bình minh.

Chủ các phòng rượu đồn đại về một kẻ sát nhân siêu nhiên, bị bỏ mặc ngoài biển, đã tìm đường trở lại.

Từng là dấu hiệu của sự kính trọng và danh tiếng, câu hỏi "Ngươi là thuyền trưởng hả?" trở thành lời cảnh báo.

Rồi thợ đóng thuyền, thuyền phó, chỉ huy thương đội, chủ ngân hàng,... bất kỳ ai có dính dáng đến chuyện làm ăn trên cầu cảng sát sinh đều chịu chung số phận.

Một cái tên mới ghim trên bảng truy nã: một ngàn kim xà cho tên Sát Thủ Vùng Nước Đỏ lừng danh.

Đi theo những ký ức bị đáy sâu làm sai lệch, Pyke đã thành công ở nơi mọi người thất bại—lan truyền nỗi sợ vào trái tim những kẻ máu lạnh ở Bilgewater.

Một thành phố tự hào về nghề săn quái vật giờ đã tìm ra một con quái vật săn đuổi nó, và Pyke không có ý định dừng lại.

 
Liên Minh Huyền Thoại
Pyke - Sát Thủ Vùng Nước Đỏ II (Rồi Chỉ Còn Răng)


Mazier nằm dài trên tấm ván mục, sóng bập bềnh vỗ vào đá dưới chân.

Tim cô chầm chập bơm máu hòa vào nước biển.

Cô nhìn không chớp mắt vào khu dân cư phía trên, và cả sao trời phía trên nữa.

Pyke ngắm nghía gương mặt cô.

Đôi mắt hấp hối của Mazier đâm thẳng vào tâm trí hắn.

Một con tàu săn cá quỷ.

Bốn cột buồm rách tả tơi.

Sóng cuộn cao như núi.

Tóc dài bay trong gió biển.

Hàng chục gương mặt trên boong.

Dõi theo.

Những cặp mắt xanh.

Đôi mắt xanh của Mazier trợn trừng vì không thể tin nổi.

Rồi chỉ còn răng là răng.

Không phải hàm răng trắng ngà của Mazier.

Những chiếc răng hôi thối, to bằng cả thanh kiếm.

Khép kín lại.

Ánh sáng mất đi.

Tối đen.

Trong miệng con cá quỷ.

Dây bảo hiểm giật một cái.

Bị cắt đứt.

Lưỡi nó quá nhầy nhụa.

Mồ hôi chảy đầy mắt.

Tay không chỗ bấu víu.

Lao vào dòng nước.

Bơi, bơi...

Răng con cá quỷ bập lại.

Cơn đau.

Rồi bóng tối.

Tàu đã đi mất.

Những cặp mắt cũng vậy.

Đôi mắt của Mazier.

Một thủy thủ lão luyện.

Ài.

Cô ta đã ở đó.

Cắt dây của ta.

Pyke lấy mũi ủng thúc nhẹ vào cái xác cho đến khi đẩy được nó ra rìa cầu cảng.

Một cú đá nữa, và Mazier trôi bồng bềnh.

Lũ cá mập ngửi mùi rất nhanh.

Lượn vòng.

Đớp rỉa.

Đại dương chẳng bao giờ lãng phí thời gian.

Hải âu kêu quang quác, tiếng chúng trải dài trong gió lúc Pyke tìm thấy Mazier, người trong danh sách.

Một dòng mực đỏ gạch tên cô khỏi tấm giấy da.

Cái tên cuối cùng trong đoàn thủy thủ của tàu Nỗi Kinh Hoàng.

Thế đó, không còn cái tên nào.

Chỉ có thật nhiều dấu gạch đỏ.

Ta lấy chỗ mực đó ở đâu nhỉ...?

Một cảm giác gặm nhấm Pyke.

Không mệt mỏi, không yên ổn, không thỏa mã.

Bụng hắn sôi sục. chưa thể xong được.

Còn quá nhiều kẻ ngoài đó, trên các cầu tàu.

Có lẽ hắn lập sai danh sách.

Hoặc danh sách cũng chẳng quan trọng gì.

Chúng mặc ta chết.

Quá nhiều người.

Quá nhiều lần.

Một âm thanh khác.

Không phải hải âu.

Không phải sóng.

Không phải tiếng răng bập lại.

Không phải giọng nói sâu trong tâm trí thét gào "Chưa xong đâu!" hết lần này đến lần khác.

Không phải thứ âm nhạc hắn nghe trên thành phố nổi suốt những năm trước.

Một âm thanh mới.

Âm thanh thực.

Ngay tại đây.

Ngay lúc này.

Bậc thang gỗ kêu kẽo kẹt dưới đôi ủng nặng nề.

Pyke nhìn ra và thấy một gã to con đang đi xuống chỗ neo thuyền.

Gã dừng lại khi thấy máu.

Tay gã cho vào áo và rút ra một khẩu súng đánh lửa, nòng súng chĩa thẳng vào ngực Pyke.

Sẵn sàng xả đạn.

Như một tên ngốc.

Pyke bước ra ánh trăng.

Gã to con trông như vừa nhìn thấy ma.

Miệng gã mím chặt còn hơn túi tiền một tay chủ nhà băng.

Mắt gã mở to, run rẩy, như một con sứa, hay một vùng nước lặng khi gió thổi qua.

"Ai đó?" gã hét lên.

Đến đây mà xem này.

Khẩu súng đánh lửa nhắm lên đầu Pyke.

Rồi chớp lửa và tiếng nổ.

Đạn vọt đi, nhưng chỉ làm gỗ tan nát bởi Pyke không còn ở nơi hắn từng đứng nữa.

Hắn đã ẩn vào sương mù.

Hắn tan ra, thành muối và nước—hoàn hảo trong sương mù.

Hắn từng nghe người ta gọi mình là bóng ma.

Cũng đúng một nửa đó.

Gã to con nạp lại đạn.

Mồ hôi đầm đìa trên trán gã.

Trong mấy giây quý giá này, Pyke đã ở khắp nơi chung quanh gã ở quãng giữa, nơi nào đó phía sau không khí, ngắm nghía gã.

Đôi mắt sợ sệt màu nâu xỉn.

Râu ria trắng bạc xồm xoàm.

Hàm lệch, mũi gãy, môi nứt nẻ, tai xể ra do bao lần đánh lộn trong quán rượu.

Trông giống một thuyền trưởng đó.

Người gã thấm đẫm nỗi sợ ngọt ngào.

Một nỗi kinh hoàng quen thuộc.

Mùi giống một thuyền trưởng đó.

Pyke phải chắc chắn.

Hắn hiện hình—luôn là một kẻ to lớn, với cái đầu hói và đôi mắt sáng rực mà biển cả ban tặng.

Cho ta biết tên ngươi, hắn gầm gừ.

Gã to con không ngờ có người xuất hiện sau lưng gã.

Chẳng ai ngờ việc đó cả.

Trong mấy câu chuyện phiếm ngoài quán rượu thì có lẽ có.

Nhưng trên thực tế, người ta hẳn phải xón ra quần và ngã sấp mặt, và tên thuyền trưởng to con này không phải ngoại lệ.

Gã trượt chân, lăn lông lốc xuống bậc thang.

Pyke chầm chậm bước từng bước.

Một con tàu Noxus đang thả neo cạnh cầu cảng.

Tàu buôn bán, hay tàu bội phản?

Có khác gì không?

Chắc là không.

Ngươi có thời gian đến khi ta bước hết bậc thang này để nói cho ta biết điều ta muốn.

Gã đàn ông thở khò khè.

Hổn hển.

Một con cá mắc cạn.

Bàn tay ú nần vươn tới.

Ta nhớ ngươi rồi...

Một bước.

Bàn tay siết chặt trên thanh vịn...

Một bước.

Gã đàn ông cố đứng vững, nhưng đầu gối gã cứ khuỵu xuống.

Một bước.

Ngươi đang nhìn.

Một bước.

Con chuột cầu cảng len lén lại gần.

Bữa tối sắp đến.

Ngươi đang cười.

Lắp bắp.

Nước mắt trào ra.

"L-làm ơn.

Tôi không biết ông nói về cái gì cả..."

Một bước.

Tên.

Ngay.

"Beke!

Beke Nidd!"

Pyke ngừng lại xem danh sách, chỉ còn một bước nữa là đi hết bậc thang.

Tất cả đều có dấu đỏ.

Tên nào cũng bị gạch ngang.

Đây.

Beke Nidd.

Chuẩn úy hải quân.

Chưa bị gạch.

Rõ như ban ngày.

Chắc gấp giấy nhầm chỗ rồi.

Beke Nidd.

Phải, ta nhớ ngươi.

Ngươi đã ở đó.

"Tôi chưa thấy ông bao giờ.

Đây là hôm đầu tiên của tôi ở Bilge—"

Người ta không thể nói dối khi móc câu kề bên má.

Họ không thể cầu xin hay trao đổi thứ họ không có.

Hàng tốt đây, lưỡi dao móc này.

Làm từ xương cá mập.

Cứng hơn cả thép.

Có thể xé cả thịt lẫn xương.

Giãy giụa chỉ làm nó cắm sâu hơn, Beke đã học được điều đó.

Mắt gã giờ thực sự đang sợ hĩa.

Cặp mắt đâm vào tâm trí Pyke.

Ký ức trỗi dậy như thủy triều, và hắn để mặc cho dòng nước ùa qua, nhấn chìm tiếng khẩn cầu nghèn nghẹt của Beke.

Một con tàu săn cá quỷ.

Bốn cột buồm rách tả tơi.

Sóng cuộn cao như núi.

Tóc dài bay trong gió biển.

Hàng chục gương mặt trên boong.

Dõi theo.

Đôi mắt nâu xỉn.

Đôi mắt xanh của Beke Nidd trợn trừng vì không thể tin nổi.

Rồi chỉ còn răng là răng.
 
Back
Top Bottom