Cập nhật mới

Khác [Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ

[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 20: Yêu


Chương 20: Yêu

Lý Hạo nắm chặt Trần Thị Dung đè lên ngực, như sợ rằng bàn tay nàng biến mất hắn sẽ chết ngay lập tức vậy.

Hắn cố biến đôi mắt của hắn trở nên long lanh.

Đối với những diễn viên chuyên nghiệp thì chuyện khóc lóc đã trở thành chuyện nhỏ như con thỏ.

Lý Hạo lại vượt cấp cả diễn viên chuyên nghiệp.

Hắn mà sang HollyWood đóng phim, có khi được xếp vào hàng diễn viên hạng A cũng chưa biết chừng.

Chỉ nghe Lý Hạo bắt đầu trổ tài miệng lưỡi: “Ái phi đừng buông tay.

Nàng mà buông tay trẫm cảm thấy như trẫm sẽ rơi vào một cái hố sâu không đáy.

Trẫm chỉ biết nhắm mắt lại và cảm nhận sự khủng khiếp đó.

Không ai có thể cứu vớt được trẫm.

Trẫm ở dưới hố chỉ biết lần mò từng bước trong vô vọng.

Trẫm không biết đi đâu về đâu, nếu không có nàng.”

Thấy Trần nguyên phi mở miệng định nói, hắn lấy hai ngón tay chặn lên miệng nàng, âu yếm bảo: “Nàng không cần nói gì cả, trẫm hiểu.

Nếu sống thiếu nàng, trẫm thật không biết làm sao nữa.

Mọi chuyện là do mẫu hậu của trẫm sắp đặt.

Trong tâm khảm của trẫm thực không muốn chút nào.

Suốt cuộc đời này, nàng chỉ cần biết, nàng là người mà trẫm yêu thương nhất.”

Tiếp theo, hắn nói rất nhiều lời đằm thắm chân tình nữa cho đến khi hắn cảm nhận được cơ thể nàng run rẩy, hắn thấy đôi mắt nàng ngấn lệ.

Hắn biết thời cơ đến rồi.

Không chút chậm trễ, hắn ôm Trần nguyên phi, siết chặt cơ thể mềm mại không xương vào lòng.

Lý Hạo nhích người cao lên, hôn nàng, môi chạm môi, hai đầu lưỡi quấn chặt.

Hắn nhẹ nhàng bồng cơ thể tuyệt mĩ, đặt xuống giường.

Xuân sắc tràn ngập khắp phòng.

Tiếng rên rỉ truyền ra khe khẽ như hòa vào điệu nhạc của cơn gió ngoài hiên, tạo thành một bản hòa tấu động lòng người.

Hắn từng nghe nói người phụ nữ cực kỳ nhạy cảm.

Dù cho ngươi có hóa trang thành một người khác giống đến đâu, tài giỏi đến cỡ nào.

Một khi ngươi quan hệ với vợ của kẻ đó, thì nàng sẽ ngay lập tức nhận ra ngươi chính là kẻ giả mạo.

Chính vì nguyên nhân như vậy, Lý Hạo đã không dám phóng túng, mà cẩn thận chú ý từng động tác, để không rơi vào hoàn cảnh sai lầm, vạn kiếp bất phục.

Phải chú ý đến động tác này cử chỉ kia trong thú vui hoan lạc, thì còn gì gọi là hoan lạc nữa.

Hắn rất bi ai.

Nhưng hắn phải cố gắng kiên trì.

Hắn không thể chết và hắn đã quyết tâm giữ lấy tất cả những gì thuộc về hắn, kể cả giai nhân đang uyển chuyển hầu hạ hắn trong lúc này.

Hắn không thể vì hứng thú nhất thời, mà làm hỏng đại sự.

Chuyện đó cũng không phải là không có cách giải quyết.

Hắn có thể dần dần thay đổi các động tác theo thói quen vốn có của hắn.

Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả.

Khi đó Trần nguyên phi sẽ chấp nhận với con người thực sự của hắn, con người của Lý Hạo.

Mây mưa tan đi, hai cơ thể trắng bóng lặng lẽ cuốn lấy nhau.

Lý Hạo chưa hề thỏa mãn, tuy nhiên hắn không dám vọng động, đè Trần nguyên phi ra mà đưa nàng lên đỉnh vu sơn lần nữa.

Hắn đang ngầm khinh bỉ kẻ hắn chiếm thân xác: “Nhóc con quá yếu đuối.

Mới bắn một phát đã không cử động nổi.

Chú mày đi chết là phải lắm rồi.”

Một tiếng nói nũng nịu kéo dài cất lên, cắt đứt luồng tà hỏa đang thiêu đốt cơ thể Lý Hạo: “Hoàng thượng, thiếp muốn tối mai hoàng thượng vẫn ôm thiếp như thế này.”

Hắn không trả lời, mà hỏi nàng: “Ái phi biết tình yêu có nghĩa là gì không?”

Trần nguyên phi vẽ từng vòng tròn trên bộ ngực Lý Hạo, nàng thỏ thẻ: “Tình yêu là giống như tình cảm của hoàng thượng và thần thiếp.

Loại tình cảm không thể chia lìa.

Khi thiếp ở xa hoàng thượng, thiếp rất nhớ hoàng thượng.

Có lẽ đó là tình yêu chăng?”

Một tay hắn vuốt ve gò bồng đảo tròn trịa hồng hào đang vươn cao ngạo nghễ, hắn lắc đầu trả lời: “Đúng mà không đúng.

Tình yêu là hệ quả của sự kết hợp giữa bản năng và trí tuệ của con người.

Tình yêu còn là một loại tình cảm giữa người và người, hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ.

Bản năng con người được nhìn nhận là những hành động suy nghĩ sẵn có từ trong tự nhiên trong đó có việc giao hoan để duy trì nòi giống.

Trong thế giới con người phát triển, với bộ óc thông minh, hay trong đây gọi là "trí tuệ" cho phép con người không chỉ dừng lại ở việc kết hợp hay giao hoan đơn thuần như ở động vật mà còn hình thành vô số những biểu hiện quan tâm, chăm sóc, bảo vệ lẫn nhau.

Đấy tình yêu là như vậy đấy.

Nàng có hiểu không?”

Quan sát gương mặt mờ mịt, phảng phất lạc vào sương mù của nàng, hắn biết chắc chắn nàng không hiểu, ngay cả hắn cũng chả hiểu đang nói gì nữa là.

Hắn thở dài thật sâu coi bộ suy tư nhiều lắm, chốc lát sau hắn ngâm nga:

Yêu là chết trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà đã được yêu

Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu

Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt

Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!

Yêu, là chết trong lòng một ít

Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt

Những người si theo dõi dấu chân yêu

Và cảnh đời là sa mạc cô liêu

Và tình ái là sợi dây vấn vít

Yêu, là chết ở trong lòng một ít

Hắn ngâm xong bài thơ, mắt nhắm lại trầm tư như chẳng đáng, như cho cả thế gian biết hồn của hắn giờ đã phiêu diêu nơi chốn nào.

Thật lâu sau, đợi cho Trần nguyên phi tự lẩm nhẩm một mình, thấm thía bài thơ, hắn mới buông lời tựa thế ngoại cao nhân: “Ái phi đã hiểu chưa?

Yêu là phải biết hy sinh đó.”

Từ trong mộng tưởng do bài thơ mang lại, Trần Thị Dung nghiến răng, cấu năm đầu ngón tay xuống ngực hắn: “Thần thiếp đã biết là hoàng thượng muốn cái gì mà.

Được rồi đó, hoàng thượng đi đi.

Nhưng nhớ hôm sau phải về ngay với thần thiếp.”

Trong đêm khuya thanh vắng, một tiếng hét thảm thiết vang lên, kinh động khắp hoàng cung.

Chú thích:

Bài thơ “Yêu” của nhà thơ Xuân Diệu.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 21: Lời Hứa Của Lý Hạo


Chương 21: Lời Hứa Của Lý Hạo

Trần nguyên phi vui vẻ quan sát vết hằn nằm trên ngực Lý Hạo do năm đầu móng tay tạo thành: “Cái này là thần thiếp đánh dấu.

Hoàng thượng không được xóa đi.

Hắn nhăn nhó, xoa xoa vào năm vệt lõm xuống, hình như rướm máu luôn rồi.

Hắn không ngờ sự ghen tuông của đại mĩ nữ lại lớn tới vậy, cam chịu nói: “Ờ, trẫm sẽ không xóa đi, nhưng nó mà tạo thành vết sẹo, trông xấu lắm.

Trẫm anh tuấn, phi phàm như thế này mà lại có sẹo trên ngực.

Chẳng hay ho chút nào.”

Nàng cười khúc khích nói: “Hoàng thượng biết không?

Thần thiếp đang rất nghi ngờ.

Hoàng thượng có phải là hoàng thượng trước đây hay không?”

Lý Hạo giật mình đánh thót, không biết nàng dựa vào đâu để có thể nhận biết được, tuy nhiên nàng đã nói ra, chắc chắn sẽ không nghiêm trọng, hắn ngạc nhiên hỏi: “Tại sao nàng lại nói vậy?

Trẫm vẫn là trẫm, có gì thay đổi đâu cơ chứ?”

Trườn mình lên người Lý Hạo, nàng cạ mũi của nàng lên má hắn: “Hoàng thượng trước kia cũng nói những lời âu yếm với thần thiếp, nhưng chưa bao giờ lôi cuốn, hấp dẫn và làm cho thần thiếp rung động đến thế.

Những lời của hoàng thượng ẩn chứa rất nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Cả bài thơ mà hoàng thượng vừa ngâm nữa, lại tuyệt vời nhường ấy.

Thần thiếp chưa từng biết tới bài thơ đó trước kia.

Là hoàng thượng mới làm ra hay sao?”

Bởi vì Trần nguyên phi đang áp má vào Lý Hạo, cho nên không hề nhận ra đôi mắt của hắn đảo quanh một vòng, hắn ngầm chửi rủa bản thân: “Con bà mày Lý Hạo, ham hố biểu hiện quá mà?

Thấy người đẹp thì sáng mắt lên.

Giờ thì hay rồi, tự đào hố chôn mình.

Sung sướng quá hả?”

Hắn cân nhắc thật kỹ, rồi mới trả lời: “Những lời nói đó, cả bài thơ nữa, không phải là trẫm tự nghĩ ra đâu.

Làm sao mà trẫm đủ khả năng tạo ra một tuyệt tác như thế.

Trẫm học được từ cổ thư ở ngự thư phòng vào tối qua đấy.

Trong cổ thư còn rất nhiều kiến thức tuyệt vời, thần bí khác nữa.

Cả đêm qua trẫm say sưa đọc, quên cả thời gian, khiến cho trẫm vào trễ buổi điện chầu sáng nay, thực là mất hết mặt mũi mà.”

Ngước đầu nhìn hắn, nàng reo lên: “Có cả cổ thư uyên thâm như vậy sao?

Hay quá, ngày mai hoàng thượng đem về cho thần thiếp đọc với.”

Lý Hạo toát mồ hôi, mau mải kiếm lời thoái thác: “À...

à...

Cái này không được.

Trong tổ huấn nằm ở ngay trang đầu của cổ thư có ghi như thế này.

Những kiến thức trong đây chỉ được truyền lại cho con cháu trực hệ của gia tộc họ Lý.

Chỉ có vua mới được đặc quyền học tập cổ thư, không ai khác được phép học.

Nếu ai trái lời cứ theo gia pháp mà xử lý.

Giết chết không tha.”

Trần nguyên phi uốn éo người đẩy đưa, bộ ngực sữa của nàng đong đưa qua lại trên cơ thể hắn, nàng nũng nịu, giọng nói của nàng nhão đến có thể làm chảy đá tan vàng: “Hoàng thượng cứ lén đem cho thần thiếp xem, không ai biết đâu mà sợ.

Đi mà hoàng thượng... hoàng thượng...”

Trong hoàng cung này là ổ chứa hồ ly tinh thì phải.

Gặp ai cũng nắm giữ mị thuật, quyến rũ lòng người.

Cơ thể Lý Hạo nóng ran, hắn vô cùng ham muốn xông pha thêm trận nữa.

Ngôn ngữ cơ thể và ngôn ngữ âm thanh được Trần Thị Dung kết hợp khéo léo tới tuyệt đỉnh, không bút mực nào có thể tả xiết lực hấp dẫn chết người đó.

Nếu như Lý Hạo có quyển cổ thư tào lao kia, chắc là hắn ngay lập tức đi lấy về mà dâng tận tay cho nàng.

Lý Hạo thấy mình giống như đang rơi vào hoàn cảnh của Mị Châu, Trọng Thủy.

Nhưng mà bây giờ hắn là Mị Châu, còn Trần Thị Dung là Trọng Thủy.

Hắn thấy Trọng Thủy đang quỳ trước mặt hắn, van xin cầu khẩn hắn dẫn đi xem vũ khí tối thượng, nỏ thần trong truyền thuyết.

Bất quá, hắn chả phải nàng Mị Châu ngây thơ, với lại hắn cũng chả có nỏ thần gì sất.

Kết cuộc, dưới sự kiên quyết từ chối một cách tàn nhẫn của Lý Hạo, Trần nguyên phi đành phải thở dài tiếc nuối mà rằng: “Vậy thôi đi, tiếc thật, thiếp muốn tìm hiểu thêm nhiều điều mới lạ nữa.

Hoàng thượng biết đấy, hàng ngày thần thiếp chỉ biết ở trong phòng, không có chuyện gì để giải khuây, buồn chán lắm.”

Nghe Trần Thị Dung than thở, hắn cũng có cảm giác thương hại.

Phụ nữ thời phong kiến, chỉ có thể ở nhà học cầm, kỳ, thi, họa.

Họ không thể và không được quyền làm gì khác.

Hắn rất đồng tình và cảm thông những người phụ nữ thời xưa.

Nếu có thể nắm đại quyền trong tay, có lẽ hắn sẽ làm điều gì đó để giải phóng họ khỏi chế độ trọng nam khinh nữ lạc hậu này.

Lý Hạo hít mạnh một hơi, nắm chặt bàn tay nàng, gương mặt trở nên cương quyết: “Ái phi yên tâm, sẽ có một ngày trẫm không để nàng luôn cảm thấy buồn chán nữa.

Những ngày tháng của nàng, sẽ ngập tràn tiếng cười hạnh phúc, trẫm hứa.

Thôi, ngủ đi, khuya rồi.”

Đây là lời hứa, lời hứa của Lý Hạo.

Giữa đêm khuya, ngoài tiếng gió thổi, còn nghe tiếng trò chuyện râm ran của đôi nam nữ lúc có lúc không:

À mà quên, sáng mai nhớ gọi trẫm dậy sớm, cuối canh năm là tốt nhất.

Trẫm học được trong cổ thư bài tập dưỡng sinh hay lắm.

Có tác dụng rất tuyệt vời, chẳng những giúp cường thân kiện thể, mà còn có tác dụng một người khỏe, hai người vui nữa kìa.

Một người khỏe, hai người vui?

Đúng thế, nghĩa là như thế này này.

A... hoàng thượng đáng ghét.

Ấy, ái phi đừng véo vào mạng sườn, đau chết được.

Cho hoàng thượng chết luôn, cả gan chọc ghẹo thần thiếp.

Trẫm sai rồi, trẫm nhận lỗi, lần sau không dám nữa.

Trẫm sẽ cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ một người khỏe hai người vui.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 22: Thị Sát


Chương 22: Thị Sát

Cuối canh năm, Lý Hạo được Trần nguyên phi đánh thức.

Hắn tỉnh dậy, ra ngoài sân bắt đầu luyện tập bài quyền Long Hổ Song Sát.

Hoàn tất bài quyền, cũng gần tới giờ lên triều, hắn sửa soạn lại cho tươm tất.

Sau đó cùng với lão thái giám Lê Việt Tiến tới điện chầu.

Vẫn như thường lệ, hắn giả ngây giả dại quan sát diễn biến của buổi điện chầu.

Tình hình đấu đá giữa các quan lại hôm nay cũng chẳng khác hôm qua là mấy.

Tô Trung Từ hống hách thành tính, gạt ngang mọi ý kiến phản đối hắn.

Lý Hạo thật muốn đi xuống dưới mời hắn ngồi lên ngai vàng luôn cho rồi.

Việc nhỏ không nhẫn, tất hỏng chuyện lớn.

Hắn bỏ qua hết thảy.

Tiếp tục làm quen với lối sống mới.

Lối sống hưởng thụ của vị vua.

Trong giấc ngủ trưa, hắn mơ thấy mình được làm một ông vua của đất nước thái bình, thịnh trị.

Không có quyền thần, không có loạn đảng, không có sứ quân nổi loạn cát cứ khắp nơi.

Hắn bình an thoải mái, tay trái ôm mĩ nhân, tay phải ôm mĩ nữ mà sống hết quãng đời còn lại.

Đang mơ giấc mơ êm đềm, tiếng gọi the thé như tiếng gà trống thiến lại cất lên đưa hắn trở về thực tại.

Lý Hạo bực bội gắt: “Lão thái giám chết tiệt, không để trẫm ngủ thêm một lúc được à?”

Giọng nói eo éo từ ngoài cửa lại vọng vào: “Bẩm hoàng thượng, đã tới giờ duyệt tấu chương rồi ạ?”

Lý Hạo ngạc nhiên khi nhận ra giọng nói không phải của Lê Việt Tiến.

Lý Hạo bước nhanh ra cửa, thấy người thái giám đang đứng khom mình là một người trẻ tuổi.

Nhìn kỹ lại mới nhớ ra đây là nghĩa tử của Lê Việt Tiến, tiểu thái giám này là Lê Việt Công.

Lê Việt Tiến thấy hắn thông minh tháo vát, cho nên Lê Việt Tiến mới coi trọng hắn, nhận làm nghĩa tử cách đây vài tháng.

Trước kia hắn chỉ làm những việc lặt vặt trong hoàng cung, vì vậy Lý Sảm rất ít khi chạm mặt hắn.

Giữa trưa lão thái giám đã đi đảm nhận chức quản vụ thái giám, người đứng đầu toàn bộ thái giám, cung nữ trong hoàng cung.

Công việc chủ yếu của Lê Việt Tiến là chỉ đạo chung mọi hoạt động của thái giám và cung nữ.

Cho nên, lão không thể ngày đêm kề cận bên cạnh Lý Hạo như trước kia nữa.

Lão đành phải cho nghĩa tử của mình đến phụng thị Lý Hạo.

Lê Việt Công cung kính cúi người một cách vừa phải, không kiêu ngạo, không siểm nịnh nói: “Bẩm hoàng thượng, nô tài phụng lệnh nghĩa phụ đến hầu hạ hoàng thượng.

Nếu như nô tài có gì sai sót, khẩn xin hoàng thượng trách phạt.”

Hài lòng quan sát Lê Việt Công, Lý Hạo gật gù: “Tốt, Lê Việt Tiến có nghĩa tử như khanh thực đáng mừng.

Đợi trẫm một chút, trẫm thay y phục rồi cùng khanh tới điện Trường Xuân.”

Giải quyết xong đám tấu chương dày cộp, hắn nghĩ tới nghĩ lui mà không biết làm gì.

Chẳng lẽ lại về ngự thư phòng tiếp tục nghiên cứu cổ thư, hay là đi thăm Đàm thái hậu.

Ài, lựa chọn khó khăn.

Thôi thì đi dạo vòng quanh các cung điện xem nào.

Hắn lững thững đi dọc các cung điện, từ điện Văn Minh tới điện Giảng Võ.

Hai điện này được chọn để lục bộ làm việc.

Vào thời Lý đã có đủ lục bộ gồm: Hộ, Lễ, Lại, Binh, Hình và Công.

Các bộ Hộ, Lễ, Lại thì đặt ở điện Văn Minh.

Còn các bộ Binh, Hình, Công thì được đặt ở điện Giảng Võ.

Lý Hạo đi tới chỗ nào cũng đánh trống khua chiêng, rình rang khắp chốn.

Địa điểm thị sát tiếp theo của Lý Hạo là khu mật viện nằm ở điện Diên Phúc.

Khu mật viện có từ thời Lý Thái Tổ, có chức năng tham mưu cho hoàng đế và thái phó các việc cơ mật.

Đứng đầu khu mật viện là khu mật sứ; có tả sứ và hữu sứ.

Cả hai người tả sứ và hữu sứ đều là tay chân thân cận của hoàng đế.

Tới đó hắn thấy các vị quan trên đang ngồi chơi hóng mát rất thảnh thơi.

Kế tiếp, hai tên béo ục ịch chạy ra, quỳ lạy khấu đầu tung hô vạn tuế.

Họ tự nhận là tả khu mật sứ và hữu khu mật sứ, người bên trái tên là Lý Quang Huy, kẻ bên phải gọi là Lý Công Minh.

Lý Hạo cố nán lại trò chuyện với hai gã béo thuộc hoàng tộc xem có hy vọng gì không.

Rốt cuộc, hắn đành phải tán thưởng không thôi trước cái sự khoác loác vô địch thủ của hai vị đại nhân trước mặt.

Mang lòng thất vọng ê chề, Lý Hạo lê bước tới điện Tuyên Đức.

Chỗ này được coi như phòng văn thư giúp việc bên cạnh vua.

Sảnh và hàn lâm viện được đặt ở đây.

Sảnh là cơ quan giúp việc cho hoàng đế.

Nhà Lý có hai sảnh là thượng thư sảnh và trung thư sảnh.

Đứng đầu các sảnh là chức viên ngoại lang.

Hàn lâm việnđược lập ra đầu tiên ở nước ta bắt đầu từ thời Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông, và đứng đầu hàn lâm viện là chức quan hàn lâm học sĩ.

Hàn lâm viện có nhiệm vụ trông coi việc soạn thảo những chế, cáo và chiếu biểu của vua.

Triều đình đã tổ chức thi cho những người có văn tài trong nước, ai trúng tuyển được sung vào làm quan ở hàn lâm viện.

Phòng văn thư của một đất nước có khác.

Không khí hoàn toàn bất đồng với khu mật viện.

Ai nấy đều bù đầu bù cổ, chạy đôn chạy đáo mà làm việc.

Cũng phải thôi, bao nhiêu văn từ, tấu chương đều tập trung cả hết vào đây, thì làm sao mà không vất vả cho được.

Lý Hạo rất hứng thú với mọi người ở đây.

Đi từng bàn mà tay bắt mặt mừng, hỏi han từng người về công việc.

Hắn xem như bước đầu giao lưu tình cảm giữa ông chủ với đám nhân viên văn phòng.

Hắn quyết định kiếm một chiếc bàn nằm ở một góc dễ quan sát nhất.

Sau đó, tuyên bố từ giờ về sau chỗ này trở thành nơi hắn duyệt tấu chương, cái bàn này chính là chỗ hắn đặt văn thư.

Hắn yêu thích được làm việc cùng mọi người hơn là ngồi ru rú một góc mà thực hiện công việc nhàm chán, đóng dấu tấu chương.

Ngoài ra, hắn còn một mục đích khác, hắn muốn tìm kiếm nhân tài ở đây.

Ở chỗ này không chỉ những người thuộc dòng dõi hoàng tộc, quan lại.

Mà còn có cả những nhân tài thông qua các kì khoa cử của triều đình, được tuyển vào làm việc ở hàn lâm viện và sảnh.

Chỉ có những nơi như vậy, con người mới bộc lộ được một phần tính cách và tài năng.

Tuy nhiên, đòi hỏi hắn phải có óc quan sát và nhận xét cực kỳ tinh tế.

Nếu không, cũng chỉ như tìm trăng trong nước, tìm bóng trong gương mà thôi.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 23: Hoàng Hậu Đàm Ngọc Trúc


Chương 23: Hoàng Hậu Đàm Ngọc Trúc

Mặt trời ngả dần về tây, Lý Hạo trở về hoàng cung.

Hắn thấy thời gian đã trễ nên quyết định hôm nay không đến thăm Đàm thái hậu nữa.

Hắn đi thẳng tới cung Long An.

Lý Thông đã đứng đợi hắn ở đó từ lúc nào.

Lý Hạo thay bộ y phục đơn giản.

Hắn bắt đầu luyện tập võ công với Lý Thông.

Lúc đầu, hắn giả vờ không biết chút gì về võ công.

Được Lý Thông dạy các bước đơn giản nhất.

Từ đứng trung bình tấn, đến nắm tay thành nắm đấm, chuyển động của eo hông.

Tiếp theo Lý Thông hướng dẫn hắn các thế võ cơ bản và yêu cầu hắn lặp đi lặp lại liên tục những động tác nhàm chán đó.

Hắn đều ngoan ngoãn tuân theo, không than vãn nửa lời.

Khiến Lý Thông khen ngợi về lòng kiên nhẫn của hắn không ngừng.

Tông sư võ học Lý Hạo mà không có lòng nhẫn nại, thì cũng chẳng biết tìm đâu ra ai có lòng nhẫn nại.

Hắn từng nằm gai nếm mật suốt mấy năm trời, để rồi quật khởi thì như gió giật mưa sa, làm cho đối thủ không tài nào chống đỡ.

Hắn yêu thích cách giết chết địch nhân đơn giản nhất, một kích tất sát.

Về điểm này, hắn và sư phụ đồng ý với nhau, mặc dù hai thầy trò luôn khắc khẩu ở mọi vấn đề.

Hắn khinh thường những cách đánh vờn vờn như mèo vờn chuột.

Đã động thì phải đánh tới cùng, mà đã đánh thì phải giết cho địch nhân không còn đường sống.

Lý Hạo ghét những kẻ ra vẻ quân tử, vào trận tử chiến, đã chiến thắng địch nhân không đội trời chung, lại bày đặt nhân nghĩa đạo đức, tha cho tên kia một mạng, để rồi kẻ đó cứ mãi lẽo đẽo theo đuôi dây dưa không dứt.

Ngu ngốc, cực độ ngu ngốc, mỗi khi xem phim tới cảnh đó, hắn rất muốn đập nát tivi, nhất là phim Đài Loan, Hàn Quốc, thường hay có cái kiểu quân tử dở người này.

Lý Hạo đấm mạnh về phía trước một cách dũng mãnh, rồi thu tấn, thở ra, hoàn thành buổi tập chiều hôm nay.

Lý Thông tán thưởng: “Hoàng thượng rất giỏi.

Hạ thần chỉ nói qua một lần, ngài đã nắm được cái yếu lĩnh trong đó.

Người như hoàng thượng, hạ thần mới thấy lần đầu.”

Vuốt ve ngón tay út, Lý Hạo khiêm tốn nói: “Đa tạ điện tiền chỉ huy sứ sư phụ có lời khen tặng.

Còn cần sư phụ dạy bảo nhiều.”

Lý Thông mỉm cười: “Hoàng thượng lão nhân gia, có phải ngài muốn giết hạ thần hay không mà xưng hô kiểu đó.

Vi thần gánh không nổi tội khi quân phạm thượng đâu.”

Tiếng cười sảng khoái vang lên, Lý Hạo bước tới vỗ bả vai Lý Thông, nói: “Ha ha ha, Lý ái khanh sao lại không có tính hài hước như thế?

Sợ sợ sệt sệt là bản tính của ái khanh đó hả?

Nam nhi chi chí, ăn miếng thịt to, uống chén rượu lớn, nói lời hào sảng thì chém với giết cái gì?”

Lý Thông siết chặt hai bàn tay, khâm phục tiếp lời: “Hoàng thượng, thứ lỗi cho vi thần nói thẳng.

Trước kia, vi thần đã nhìn lầm ngài.

Đến bây giờ, vi thần mới hiểu được chí hướng rộng lớn của ngài.

Vi thần bội phục.”

Đứng đối diện với Lý Thông, Lý Hạo nắm thật chặt một bàn tay Lý Thông, siết mạnh, một tay giơ nắm đấm đang hằn lên từng làn gân xanh, bảo: “Trẫm không cần những lời nói nhảm.

Hãy dùng hành động thực tế để chứng minh bản lĩnh của khanh.

Trẫm chỉ cần Lý khanh nắm thật chặt túc vệ quân trong lòng bàn tay.”

Quỳ gối xuống đất bằng một chân, đầu cúi thấp, Lý Thông phủ phục nói: “Hoàng thượng yên tâm.

Vi thần nguyện lấy đầu bảo đảm.”

Lý Hạo nở nụ cười nửa miệng hài lòng: “Tốt, về thôi.”

Anh hùng trọng anh hùng, hảo hán không cần những lời hoa mĩ dễ nghe, cái họ cần là sự hào sảng.

Lý Hạo muốn vị dũng tướng này thần phục triệt để, thì hắn phải tỏ rõ khí phách của bậc đế vương.

Lý Thông có mộng tưởng của hắn.

Hắn ao ước được tung hoành chốn sa trường.

Hắn kỳ vọng được chém đầu tướng địch lập công huân.

Hắn mong muốn đền nợ nước, báo ơn vua.

Và hắn tin rằng vị vua trẻ tuổi này sẽ giúp hắn thực hiện lý tưởng đó.

* * * * * * * * * *

Đây là lần thứ hai Lý Hạo tới cung hoàng hậu.

Nhìn gương mặt hồi hộp, lo lắng của Đàm Ngọc Trúc mà hắn cảm thấy buồn cười.

Nàng có dáng người mảnh mai, thanh tao.

Gương mặt nàng tuy không mĩ lệ bằng Trần Thị Dung.

Nàng cũng không có vẻ quyến rũ như chị em sinh đôi Xuân Lan, Thu Nguyệt.

Ở nàng hắn nhìn thấy sự ngây thơ.

Một thiếu nữ trong sáng hiếm thấy ở chốn thâm cung.

Thành thử nàng không có khả năng tranh sủng.

Ở chốn hậu cung đầy rẫy âm mưu và thủ đoạn.

Một thiếu nữ hồn nhiên, không hiểu chuyện đời có thể tồn tại được sao.

Những người như thế chỉ có thể tiếp nhận số phận bi thương, đau khổ.

Lý Hạo ngồi trên ghế, phì cười nhìn gương mặt sáng như trăng rằm của Đàm Ngọc Trúc, bảo: “Hoàng hậu làm gì mà cứ đứng đó vân vê y phục như thế.

Lại đây, ngồi bên cạnh trẫm.”

Nói đoạn Lý Hạo kéo ghế lại sát chỗ hắn đang ngồi.

Đàm Ngọc Trúc ngập ngừng đi lại ngồi lên ghế.

Điệu bộ của nàng run run như sợ rằng làm điều gì đó có lỗi sẽ khiến hắn không vui.

Nàng lặng thinh cúi đầu.

Hắn cười cười nói: “Tại sao hoàng hậu lại ngồi im không nói gì?

Ngước đầu lên nhìn trẫm.”

Đôi mắt long lanh của Đàm Ngọc Trúc khẽ liếc lên, hơi ngẩng đầu lén nhìn hắn, nàng lo lắng sẽ làm hắn phật ý bỏ đi không bao giờ trở lại nữa.

Nàng khẽ nhấc bình trà rót sang chén của hắn, môi mấp máy, âm thanh nhỏ như muỗi kêu: “Bẩm hoàng thượng, mời hoàng thượng ngự trà.”

Hương vị thơm ngát của chén trà thoang thoảng bay ra, hắn cầm lên hít nhẹ, nhấp một ngụm, vui vẻ hỏi: “Trẫm có phải cọp đâu mà nàng sợ như vậy?

Cười lên nào, nếu như nàng cứ bày ra điệu bộ khó coi đó, trẫm sẽ bỏ đi ngay.”
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 24: Thái Úy Đỗ Kính Tu


Chương 24: Thái Úy Đỗ Kính Tu

Đàm Ngọc Trúc nghe thấy thế, kinh hoảng quỳ rạp xuống lạy lục liên hồi: “Hoàng thượng, thần thiếp có tội.

Thần thiếp có tội.”

Lý Hạo há mồm nhìn vị hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ đang lạy như tế sao, nghĩ thầm: “Ặc, tội quái gì vậy.

Con bé này hoảng sợ quá độ dẫn đến bệnh hoang tưởng rồi.

Ha hả, Hạo ta phải xuất thủ chữa trị mới được, bảo đảm căn tiêu bệnh tán.”

Hắn khẽ vươn hai tay nắm lấy vùng eo thon của Đàm hoàng hậu, miết nhẹ vài lần, đỡ nàng đứng lên.

Rồi một tay vòng qua, ôm luôn nàng vào lòng, kéo nàng đến bên cạnh cửa sổ, nói: “Trẫm có quà tặng cho hoàng hậu, tới đây.”

Gương mặt Đàm Ngọc Trúc ửng hồng, khi bàn tay Lý Hạo ôm lấy nàng, mùi hương đặc trưng của đàn ông xộc vào mũi nàng.

Lần đầu tiên tiếp xúc với cơ thể người khác giới, trái tim thiếu nữ đập càng lúc càng nhanh, tạo cho nàng cảm giác xúc động lạ thường.

Chỉ tay lên bầu trời đêm, Lý Hạo ghé vào tai Đàm Ngọc Trúc mà nói như thở: “Món quà của trẫm là cả bầu trời đầy sao này, nàng xem có đẹp không?”

Ngước nhìn trời cao, từng làn gió thổi mái tóc Đàm hoàng hậu bay bay, nàng thủ thỉ: “Thần thiếp đã nhiều lần ngắm sao trời, nhưng lần này thần thiếp có cảm giác rất khác lạ so với trước kia, bầu trời đêm nay đẹp thật.”

Vuốt ve mái tóc dài bóng mượt của nàng, Lý Hạo khẽ nói: “Những ngôi sao ở xa kia, ái hậu có thấy không?

Rất lộng lẫy, rất đẹp.

Nhưng vẫn không bằng tuyệt đại mỹ nhân đang ở bên cạnh trẫm đây.”

Đàm hoàng hậu mỉm cười, ngả đầu lên vai hắn, đôi mắt nàng từ từ trở nên mông lung.

Lý Hạo cùng nàng tâm sự rất nhiều chuyện.

Từ những chuyện thời còn thơ ấu tới lúc trưởng thành.

Hắn kể cho nàng nghe những câu chuyện lạ kỳ mà nàng chưa bao giờ được biết.

Và cả hai ở bên nhau, mãi đến lúc hắn bảo khuya rồi.

Nàng e lệ cùng hắn hoàn tất buổi động phòng còn dang dở.

* * * * * * * * * *

Trên con đường lớn dẫn đến điện Trường Xuân, cái bóng chập chờn của lão thái úy Đỗ Kính Tu trải dài trên nền đất.

Sau buổi chầu lúc sáng, Đỗ Kính Tu được tiểu thái giám Lê Việt Công mật truyền ý chỉ, phải diện kiến long nhan vào đầu giờ mùi.

Đỗ Kính Tu lo âu nghĩ mãi vẫn không ra lý do vua cho gọi mình.

Từ linh cảm của bản thân, lão tiên đoán có đại sự sắp xảy ra.

Từ khi Lý Sảm đăng cơ đến nay, hắn chưa bao giờ gặp riêng Đỗ Kính Tu.

Bởi vậy, Đỗ Kính Tu ngạc nhiên cũng phải.

Lão là công thần dưới thời Lý Cao Tông, từng lập nhiều công lớn cho triều đình.

Lúc vua Lý Cao Tông còn nhỏ, thái hậu Chiêu Linh từng muốn gạt vua Lý Cao Tông xuống đài, để thay đổi Lý Long Xưởng là con ruột của bà lên ngôi.

Nhờ có Đỗ Kính Tu dẫn đầu quan viên triều đình cực lực phản đối, khiến cho thái hậu Chiêu Linh sợ hãi bỏ qua.

Lão thái úy còn từng lập nhiều công lao đào kênh, đào mương các vùng để giải trừ nạn lũ lụt cho dân chúng, nên rất được lòng dân.

Có một lần Đỗ Kính Tu cầm quân ra trận đi đánh bọn nổi loạn ở vùng Đại Hoàng nhưng không được.

Cầm đầu cuộc nổi loạn là Phi Long vốn là một quan chức cùa triều đình, từng vạch tội thái úy Đàm Dĩ Mông đục khoét nhân dân nên bị Đàm Dĩ Mông âm mưu sát hại.

Phi Long trốn về quê ở vùng Đại Hoàng rồi cùng nhân dân khởi nghĩa.

Khi Đỗ Kính Tu đem quân tới, Phi Long ra trước ngựa phân trần.

Cảm thông với hoàn cảnh của Phi Long, Kính Tu giao chiến chiếu lệ rồi thu quân.

Việc này đã mang lại hậu họa cho lão.

Đàm Dĩ Mông ôm hận, cùng với Đàm hoàng hậu thường xuyên buông lời gièm pha Đỗ Kính Tu trước mặt Lý Cao Tông.

Lý Cao Tông nghe lời sàm tấu khép tội, giáng chức của lão thái úy, khiến cho Đỗ Kính Tu lạnh lòng với triều Lý từ ngày ấy.

Về sau, Lý Cao Tông nhận ra sai lầm, rất hối hận.

Trước lúc băng hà, Lý Cao tông đã tin tưởng giao cho Đỗ Kính Tu nhận di chiếu lập Lý Sảm làm vua, tức Lý Huệ Tông.

Sau đó, Lý Huệ Tông đã thăng chức quan thái phó Đỗ Kính Tu làm thái uý theo lời vua cha Cao Tông.

Nhưng Đỗ Kính Tu vẫn luôn tỏ thái độ không mặn không nhạt với vị vua mới đăng cơ này.

Thái úy Đỗ Kính Tu bước vào điện Trường Xuân, thấy Lý Hạo đang cầm bút nghiên viết gì đó trên bức hoành phi.

Lão quỳ lạy tung hô xong, được Lý Hạo cho phép đứng lên, nhưng Lý Hạo vẫn chẳng mảy may để ý tới lão.

Đỗ Kính Tu bình thản như chưa có gì xảy ra, lặng yên đứng đợi, không hề nóng vội.

Lý Hạo đặt nét bút cuối cùng đoạn cười vang ha hả, cầm bức hoành phi đặt ngang trước ngực, giơ lên cho Đỗ Kính Tu xem, hắn nói: “Ha ha, Đỗ ái khanh nhận xét thế nào về bức hoành phi này?”

Dòng chữ “Lãng Tử Hồi Đầu” trên bức hoành phi đập vào mắt thái úy Đỗ Kính Tu.

Lão nhíu mày nhìn chằm chặp vào dòng chữ, chốc lát sau cơ thể run nhẹ, rồi bất động ngay, lão chậm rãi đáp: “Bẩm hoàng thượng, bút lực của hoàng thượng vẫn đẹp như ngày nào.

Có điểm khác biệt, chính là ở chữ mạnh, lão thần cảm nhận được sự mạnh mẽ qua những nét hằn xuống của đầu bút.

Trước kia nét bút của ngài bay bổng, nhẹ nhàng hơn nhiều, không giống bây giờ.

Thời gian quả thực có thể thay đổi nhiều điều.”

Đặt bức hoành phi xuống bàn, Lý Hạo sảng khoái nói: “Bàn về thư pháp, trẫm còn phải học hỏi ở Đỗ ái khanh rất nhiều.

Thật không dám múa rìu qua cửa lỗ ban.

Chẳng lẽ ái khanh chỉ có bấy nhiêu nhận xét về bức hoành phi.”

Môi Đỗ thái úy mấp máy hai lần rồi thôi, thản nhiên trả lời: “Bẩm hoàng thượng, lão thần ngu muội, chỉ hiểu có vậy.”

Lý Hạo lộ vẻ ngạc nhiên, nói lớn: “Chẳng lẽ Đỗ thái úy Đỗ đại nhân, tiếng tốt lan xa, vang danh thiên hạ, lại có lúc buông lời dối trá?

Chuyện này mà truyền ra ngoài, không biết dân chúng sẽ cảm nhận ra sao đây?”
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 25: Thần Phục


Chương 25: Thần Phục

Đỗ Kính Tu nhíu mày chốc lát, khom người cung kính nói: “Bẩm hoàng thượng, lão thần tự cảm thấy, chưa từng làm chuyện gì sai trái, hổ thẹn với lương tâm.”

Lý Hạo cảm khái, giọng không nhanh không chậm như tự nói với chính mình: “À... thì ra trẫm nhìn lầm khanh.

Coi như trẫm chưa từng nói qua điều gì.

Bất quá, trẫm thật ngạc nhiên.

Đỗ đại nhân, lão đại trung thần, một người từng được xưng tụng như một trong bốn đại công thần của triều Lý từ khi lập quốc đến nay.

Công đức vô lượng, có thể sánh ngang với các bậc thánh hiền.

Hùng tâm tráng chí khi xưa của khanh, đã bay biến đi đâu hết rồi.”

Thở dài một hơi, đôi mắt mờ đục già nua của Đỗ Kính Tu nhìn vào cõi xa xăm: “Đời người như phù vân.

Công danh như bọt nước.

Được, mất, thắng, thua, coi như đã trải qua đủ cả.

Bây giờ, lão thần chỉ còn là một lão già chuẩn bị nhắm mắt xuôi tay, bàn gì đến hùng tâm tráng chí.”

Không ngờ rằng, lão già cổ hủ kia lại cố chấp đến thế, Lý Hạo cắn răng ngả bài: “Dòng chữ trên bức hoành phi kia, hẳn là khanh đã hiểu ý nghĩa của nó.

Trẫm biết khanh có nỗi khổ riêng, cả trẫm cũng vậy.

Khanh cũng như trẫm, gọi như thế nào cho phải đây?

Ẩn giấu, thu mình hay nhẫn nhịn.

Tất cả chỉ là ngụy biện, đó chính là nhục nhã.

Nỗi ô nhục của triều Lý, nỗi ô nhục của hoàng tộc, nỗi ô nhục đối với những ai được ca ngợi là trung thần.

Chẳng lẽ ngày tàn của triều Lý đã tới thật rồi hay sao?”

Thái úy Đỗ Kính Tu rùng mình.

Khuôn mặt ai oán, trách móc của vị huynh trưởng kết nghĩa kim lan ngày xưa, Tô Hiến Thành, chợt hiện lên trong đầu lão đại thần.

Tô Hiến Thành là vị tể tướng tài năng và đức độ của nhà Lý.

Ông từng lập được nhiều công lao hiển hách như mở mang bờ cõi, bình định phản loạn, khai hoang lấn biển, trừ diệt gian thần.

Cả hai người Tô Hiến Thành và Đỗ Kính Tu có nhiều điểm rất giống nhau.

Đặc biệt là, nếu Tô Hiến Thành nhận di chiếu của Lý Anh Tông lập Lý Long Trát làm vua, tức Cao Tông thì Đỗ Kính Tu nhận di chiếu của Lý Cao Tông lập Lý Sảm làm vua, tức Lý Huệ Tông.

Trước lúc lâm chung Tô Hiến Thành đã cầm tay Đỗ Kính Tu, nhắn nhủ: “Hiền đệ, nhớ, chúng ta là thần tử của triều Lý.

Trọng trách gánh vác giang sơn, ngu huynh đành phải giao cho hiền đệ rồi.

Đừng phụ lòng ngu huynh.”

“Ngu đệ, đã nhớ.”

Hồi tưởng lại ký ức bị lãng quên, bây giờ chợt ùa về như đang xảy ra trước mắt, lão do dự bất quyết: “Lời hứa ấy văng vẳng bên tai Kính Tu chưa bao giờ dứt.

Trọng trách ấy Kính Tu chưa bao giờ quên.

Đạo tam cương, Kính Tu thấm tận ruột gan, hai chữ trung hiếu luôn để trên đầu.

Nhưng thời thế đổi thay, Kính Tu đành lực bất tòng tâm.

Lòng vua khó đoán, ý quân vương khó dò.

Vua tin tưởng gian thần, sủng ái nguyên phi.

Có chắc chắn vị vua này sẽ quyết chí tới cùng, hay lại giữa đường buông tay?

Mạng của Kính Tu là nhỏ.

Vận mệnh của gia tộc, Kính Tu làm sao gánh nổi đây?”

Quan sát trạng thái mông lung, chần chờ, nửa muốn nửa không, ẩn hiện trong đôi mắt của vị đại nhân có thể ảnh hưởng đến cục diện tương lai.

Lý Hạo dứt khoát xuất chiêu bài cuối cùng.

Một thanh âm nặng nề vang lên, “Bụp”, Lý Hạo làm ra hành động kinh người.

Hắn bước ra khỏi bàn, quỳ sụp xuống trước mặt Đỗ Kính Tu, cúi đầu chạm đất, hô lớn: “Đây là một lạy của trẫm, để tạ tội cho những lỗi lầm trước đây mà phụ hoàng đã gây ra.

Mong Đỗ ái khanh hãy vì bách tính trăm họ, vì an nguy của giang sơn xã tắc, mà nhận một lạy này của trẫm.

Trẫm thề, từ giờ trở đi trẫm sẽ là một minh quân sáng suốt, yêu nước thương dân.

Đỗ ái khanh, hãy giúp trẫm giành lại giang sơn.”

Vô cùng kinh ngạc, Đỗ Kính Tu lập cập chạy lại, vươn hai tay đỡ Lý Hạo nâng lên, run rẩy nói: “Hoàng thượng, tội tình gì phải thế.

Lão thần thực không gánh nổi.

Lão thần vẫn luôn khắc cốt ghi tâm bốn chữ trung quân ái quốc.

Đạo tam cương ngũ thường vẫn canh cánh không quên.

Nào dám có lòng riêng, phản trắc bao giờ.

Nay hoàng thượng đã hạ mình coi trọng lão thần, lão thần nguyện vì ngài tận lực, xuất thân khuyển mã.”

Cầm hai cánh tay Đỗ Kính Tu dìu lão ngồi xuống ghế, Lý Hạo đau lòng cảm thán như đứt từng khúc ruột: “Trẫm biết khanh vẫn còn oán hận trong lòng.

Những việc sai lầm của phụ hoàng trước kia, quả thực đã khiến cho những bậc trung thần nguội lạnh.

Trẫm nguyện rằng có thể làm gì đó để đền bù lại mất mát xưa kia.

Khanh cũng biết rõ tình thế hiện nay, tiếng dân ai oán ngập trời, giặc giã nổi lên khắp nơi, quyền thần lộng hành giữa chốn triều đình.

Trẫm cảm thấy rất đau lòng, như xé nát tâm can, hàng đêm trằn trọc không sao ngủ được.

Nhưng trẫm có lòng mà không có lực, trẫm thực không còn cách nào có thể vãn hồi cục diện.

Chỉ đành muối mặt cậy nhờ Đỗ ái khanh.”

Lão đại thần được Lý Hạo đỡ ngồi, lại đứng lên ngay, cuống quýt thưa: “Bẩm hoàng thượng, mời hoàng thượng về ghế ngồi, lão thần không dám đảm đương.

Chuyện lão thần đã đáp ứng qua, không bao giờ từ bỏ.

Mời hoàng thượng về ghế ngồi ạ.”

Nghe đến đó, Lý Hạo biết có thể dừng, không cần phô diễn thái quá, chẳng may khéo quá hóa vụng, lại được không bằng mất.

Hắn đi về bàn đặt tấu chương, ung dung ngồi xuống.

Tuy nhiên, vẻ mặt vẫn hồi hộp, không yên, chăm chú nhìn Đỗ Kính Tu, tựa như sợ lão chạy mất, bồi thêm liều thuốc an thần: “Trước nay, trẫm luôn hiểu rõ đại cuộc.

Chỉ vì đại kế trăm năm, trẫm phải ủy khuất các vị trung thần.

Khanh hãy hiểu cho trẫm.

Trẫm coi trọng Đàm Dĩ Mông cũng chỉ là quyền biến nhất thời.

Còn đêm qua, trẫm đã ngủ ở cung hoàng hậu.

Có lẽ từ giờ trở đi trẫm sẽ ghé qua cung điện của các phi tần khác.”

Những ý nghĩa sâu xa trong từng câu nói của Lý Hạo, Đỗ Kính Tu sao có thể không hiểu.

Lão ngầm gật đầu thán phục, lại nghi hoặc băn khoăn, chẳng lẽ con mắt nhìn người của bản thân cũng có khi sai lầm.

Không sao ngờ được, vị hoàng đế trẻ tuổi kia lại biết ẩn mình sâu đến vậy.

Lão cung tay, thành thật tán thán: “Có được vị minh quân như hoàng thượng, đại nghiệp tất thành.

Lão thần bội phục.”

Hài lòng trước thái độ của lão thái úy, Lý Hạo vồn vã hỏi: “Tình thế giờ đây như lửa xém lông mày, Đỗ ái khanh hãy giúp trẫm vạch ra đường sáng, thoát khỏi bến mê.”
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 26: Luận Bàn Kế Sách


Nhất Thống Thiên Hạ

Tác giả: sheepboy

Chương 26: Luận Bàn Kế Sách

Suy nghĩ thật lâu, Đỗ Kính Tu chậm rãi hồi đáp: “Khải bẩm hoàng thượng, thần trộm nghĩ, hoàng thượng đã rõ thế lực triều đình bị Tô Trung Từ thâu tóm vào tay.

Từ lâu, lão thần đã vạch ra kế sách đại khái.

Mặc dù chưa thể gọi là chu toàn, tuy nhiên để giải quyết vấn đề trước mắt, tạm thời có thể coi như một trong những thượng sách.

Đầu tiên, chúng ta phải toàn lực giành lại quyền lực về mình.

Khi hoàn toàn kiểm soát kinh thành, lập tức giết chết những người cầm đầu thuộc gia tộc họ Trần.

Kế đó, chúng ta phải đối mặt với những thế lực cát cứ ở địa phương.”

Nói đến đây, Đỗ Kính Tu ngưng lời, ngước nhìn Lý Hạo.

Trầm ngâm chốc lát, Lý Hạo nói: “Không khác biệt lắm so với những dự định của trẫm.

Gồm có những thế lực nào?”

Lão đại thần tiếp lời: “Bẩm hoàng thượng, chỉ có thể dùng từ hỗn loạn để hình dung.

Cơ bản có ba thế lực lớn.

Đó là Đoàn Thượng ở phía đông, khu vực Hồng Châu.

Nguyễn Nộn ở phía bắc, khu vực Bắc Giang , và gia tộc họ Trần ở phía nam, vùng Hải Ấp.

Ngoài mấy lực lượng lớn, còn có những thế lực nhỏ ở các địa phương.

Một thế lực cát cứ khá quan trọng là Đô Kim hầu Lý Bát ở đất Đô Kim.

Ở Quy Hóa, dọc sông Hồng có họ Hà, cha truyền con nối cai trị đất trại này.

Ngoài ra, còn họ Phạm ở Nam Sách.”

Lý Hạo ngây người lúc nghe được những thông tin trên, tựa hẳn lưng vào thành ghế, lẩm bẩm: “Quá hỗn loạn.

Thật không ngờ, đất nước Đại Việt thái bình thịnh trị, lại có ngày chia năm xẻ bảy tới vậy.”

Hắn nghiêng người về phía trước, gối cánh tay phải lên bàn, nhíu mày hỏi: “Nếu như Đỗ ái khanh có thể tường tận nhường ấy.

Có phải đã chuẩn bị kế sách chu toàn đối phó với cục diện này?”

Giọng nói già nua nhưng sự tự tin vẫn bộc lộ trong từng câu nói của lão thái úy: “Bẩm hoàng thượng, chu toàn thì lão thần không dám nói.

Tuy nhiên, lão thần có một kế, khả dĩ đối phó được tình hình hiện tại.”

Ánh mắt Lý Hạo le lói tỏa ra ánh sáng, cất tiếng: “Kế gì?”

“Hợp tung.”

Hai từ đơn giản, mà tràn đầy khí thế bật thốt ra từ miệng Đỗ Kính Tu.

Nở nụ cười như đã hiểu, Lý Hạo nói: “Diệu kế.

Nghe có vẻ bình thường, nhưng biết áp dụng sẽ mang lại hiệu quả lớn lao.

Trẫm thật bội phục khanh.

Nói, hợp tung như thế nào?”

Tới thời điểm này, không ngờ Đỗ Kính Tu lại lắc đầu thở dài: “Bẩm hoàng thượng.

Hợp tung.

Nói thì dễ, thực hiện lại khó.

Chỉ một nước sai lầm, sẽ dẫn đến thua cả ván cờ.

Lão thần có thể đi được đến bước đường ngày nay, công ơn của một vị cố nhân là không thể không nhắc tới.”

Đang bàn về kế sách hợp tung, lão già Đỗ Kính Tu lại quay ngang đi ôn chuyện cố nhân.

Thật tức cười!

Lý Hạo ngồi dựa lưng vào ghế, vuốt ve ngón tay út, thờ ơ nói: “Ồ, vị cố nhân?

Có liên quan đến kế sách diệt địch hay không?”

Đỗ Kính Tu mỉm cười: “Hoàng thượng trẻ tuổi khí thịnh.

Lão thần có thể hiểu.

Nhưng hấp tấp cũng là thói quen không tốt cần chỉnh sửa.”

“Trẻ tuổi?

Lão già coi thường mình trẻ tuổi, nông cạn, dễ bồng bột.

Không biết lão lớn hơn ta được bao nhiêu?

Muốn kiểm tra đức tính tiếp nhận lời chỉ trích ngay thẳng của trung thần.

Cái đó bổn lão gia có thừa.

Mà nói chuyện với những lão già kiểu này quá nguy hiểm.

Sập bẫy lúc nào không hay.”

Lý Hạo cười khẩy trong lòng, ngoài mặt ra vẻ hối lỗi, ân cần nói: “Cám ơn Đỗ ái khanh đã có lời răn dạy.

Trẫm sẽ cố gắng khắc ghi.”

Lão đại thần gật gù, hài lòng trước thái độ khiêm nhường, không vì chút mặt mũi bề ngoài mà nổi giận với lão.

Nếu như Lý Hạo chỉ cần nhíu mày phật ý, có thể Đỗ Kính Tu sẽ tìm lời thoái thác, phủi đít bỏ đi ngay lập tức.

Dù gì Đỗ Kính Tu đã có dớp bị hoàng đế bạc đãi một lần, như chim sợ cành cong, luôn lo lắng thờ sai minh chủ.

Nói rằng lão coi trọng lễ quân thần là không sai, nhưng vị quân vương trước mặt lão bây giờ chỉ như một con hổ giấy, có thể làm ra được trò mèo nào nữa đây.

Muốn làm vua phải có thực lực.

Một tên vua bù nhìn, so với một gã dân đen còn thống khổ hơn gấp trăm lần.

Dù cho Đỗ Kính Tu ngay lúc này vỗ mông ra về, Lý Hạo cũng chẳng làm được gì lão.

Bài kiểm tra vừa rồi, chính là một trong những bài kiểm tra mà Lý Hạo cần phải vượt qua.

May mắn thay, hắn đã hoàn thành xuất sắc.

Đổi lại là một Lý Hạo nông nổi khi hai mươi tuổi, có lẽ đã thất bại thảm hại trong việc chiêu mộ lão đại thần mất rồi.

Đỗ Kính Tu tươi cười nói: “Bẩm hoàng thượng, lão thần nhắc về vị cố nhân đó, vì người này có ảnh hưởng rất lớn đến kế sách hợp tung.

Người ấy là Tô Hiến Thành.”

Kinh ngạc trước câu trả lời của lão đại thần, Lý Hạo ngắt lời: “Tể tướng Tô Hiến Thành.

Chẳng phải ông ấy đã chết rồi ư?

Sao có thể giúp trẫm được?”

Lắc đầu tiếc nuối, Đỗ Kính Tu thở dài: “Tể tướng Tô Hiến Thành chính là người anh kết nghĩa kim lan với lão thần.

Nếu anh Hiến Thành còn sống, chắc có lẽ cục diện nước Đại Việt ta đã không tới nông nỗi như vầy.

Mặc dầu anh ấy đã mất, nhưng ảnh hưởng to lớn của anh ấy vẫn còn.

Anh Hiến Thành là một người văn võ toàn tài, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, không gì không biết, không gì không hiểu.

Một tay anh ấy đã dìu dắt lão thần từng bước đi lên.

Lão thần xem anh ấy như anh ruột, cũng xem như người thầy.”

Kiên nhẫn lắng nghe lão đại thần ca ngợi vị tể tướng quá cố tựa thần minh, Lý Hạo cố gắng nuốt từng lời của lão như đang uống từng giọt nước cam lộ ngọt ngào.

Hắn vui vẻ, hứng khởi ra mặt theo những chiến tích của vị đại thần Tô Hiến Thành.

Nào là cầm quân ra trận, đánh tan quân phản loạn.

Tiếp theo là mở rộng cương thổ Đại Việt về phía tây bắc.

Chống lại cuộc xâm lăng của Chân Lạp, chinh phạt Chiêm Thành ở phương nam.

Để rồi, bắt buộc Đại Tống phải công nhận Đại Việt là một quốc gia độc lập.

Sự nghiệp làm quan văn của Tô Hiến Thành cũng hiển hách không kém.

Trong đó công lao lớn nhất của ông là việc ông tổ chức khai hoang lấn biển các vùng ven biển thuộc các lộ Thanh Hóa và Hải Đông.

Lý Hạo thầm cảm thán: “Nếu ta có một vị hiền thần như thế, kiếp này chỉ cần kê cao đầu mà ngủ.

Tội tình gì phải vắt óc bày mưu tính kế, tổn hao chất xám tới nhường này.

Ông Trời khốn kiếp!”
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 27: Chính Thức Thần Phục


Nhất Thống Thiên Hạ

Tác giả: sheepboy

Chương 27: Chính Thức Thần Phục

Tường thuật hầu như toàn bộ chiến tích huy hoàng của tể tướng Tô Hiến Thành, cho đến khi không còn gì để kể nữa.

Lão thái úy Đỗ Kính Tu mới tạm thời thỏa mãn, dừng công việc khoe khoang thần tượng, lão tiếp tục nói: “Bẩm hoàng thượng, lão thần kể nhiều như vậy, mục đích duy nhất để khẳng định vị thế của tể tướng Tô Hiến Thành.

Những người nhận ân huệ của Tô tể tướng rất nhiều.

Trong đó có Phạm Lãi, tộc trưởng của gia tộc họ Phạm ở Nam Sách.

Con người Phạm Lãi quang minh chính trực, luôn ghi nhớ ơn cứu mạng của tể tướng.

Bởi vì từng đắc tội tiên đế, mới lập binh tạo phản, đứng riêng một cõi.

Lão thần cùng với Phạm Lãi có tình bằng hữu thâm giao.

Lão thần nguyện tới vùng Nam Sách để làm thuyết khách, múa ba tấc lưỡi khuyên bảo Phạm Lãi chấp nhận liên minh với hoàng thượng.”

Lý Hạo mừng rỡ, lên tiếng: “Tốt, trăm sự nhờ Đỗ ái khanh.”

Đỗ Kính Tu bình thản nói tiếp: “Hà Cao, tộc trưởng của gia tộc họ Hà, là hào trưởng ở vùng Quy Hóa.

Con người này hào sảng, phóng khoáng từng là học trò Tô tể tướng.

Hắn luôn sùng bái, tôn kính anh ấy.

Ngày tang lễ của anh Hiến Thành, Hà Cao một mạch dong thuyền trên sông Hồng, kiêm trình ngày đêm để kịp dự đám tang của thầy.

Lão thần định bụng dựa vào đoạn tình nghĩa thầy trò này, để khơi dậy lòng trung quân ái quốc, thức tỉnh hắn đầu nhập dưới trướng hoàng thượng.”

Ngưng lại giây lát, Đỗ Kính Tu cất tiếng: “Đối với Đô Kim hầu Lý Bát thì có chút khó khăn.

Lý Bát là con người cương trực, thẳng thắn, nhưng có phần kiêu ngạo, cố chấp.

Mặc dù ông là người hoàng tộc, được tiên đế Anh Tông cắt đất phong hầu từ xưa.

Nhưng về sau tiên đế Cao Tông hủ bại, có một lần nhục mạ Lý Bát, khiến Lý Bát giận dữ quay về đất phong, đóng cửa không hỏi chuyện thế sự.

Về sau chiến loạn nổi lên, Lý Bát vẫn nhớ mối hận năm xưa, nên chưa bao giờ đem quân trợ giúp tiên đế Cao Tông.

Nhờ vào lực lượng quân đội tương đối hùng mạnh và địa hình miền núi, dễ thủ khó công.

Cho nên vẫn không bị các thế lực to lớn hơn thôn tính.”

Nhăn mày trầm tư, Lý Hạo băn khoăn: “Chẳng lẽ phải bỏ qua Lý Bát?”

“Bẩm hoàng thượng, cũng không phải không có cách.

Tuy nhiên, cách này tương đối khó khăn.

Có lẽ phải ủy khuất hoàng thượng ngự giá thân chinh.”

Đỗ Kính Tu hồi đáp.

“Ha hả, Đỗ ái khanh thật biết nói đùa, trẫm làm sao có thể rời khỏi kinh thành đi lên tận vùng núi rừng xa xôi đó được?

Với lại trẫm mà đi, chắc là không còn mạng để về.”

Lý Hạo mở miệng cười.

Đỗ thái úy hỏi: “Tại sao hoàng thượng chắc chắn sẽ chết?

Nếu bọn tặc tử đó giết hoàng thượng, chúng sẽ mất đi quân cờ hoàng tộc để hiệu triệu lòng dân.”

Cười gằn một tiếng, Lý Hạo trả lời: “Đỗ ái khanh đã quên mất một người.”

“Bẩm hoàng thượng, thần nghĩ không ra là người nào.”

Đỗ Kính Tu suy nghĩ một lát, đoạn nói.

“Hoàng đệ của trẫm, Lý Thầm.

Giả sử chúng giết trẫm thành công, chúng sẽ giá họa cho Đô Kim hầu Lý Bát phái người giết trẫm.

Ngay lập tức, đưa hoàng đệ của trẫm lên vương vị.

Tiếp theo kích động lòng người, quang minh chính đại dẫn quân đi thảo phạt Lý Bát, diệt tận gốc hoàng tộc Lý triều.

Về phần hoàng đế mới Lý Thầm ư?

Quân cờ vẫn chỉ là quân cờ.”

Lý Hạo nở nụ cười nửa miệng.

Lão thái úy Đỗ Kính Tu có hai đức tính tốt, chính trực và lòng nhân từ.

Những công lao của ông trong quá khứ đã hoàn toàn chứng minh hai phẩm chất đó.

Thế nhưng đối với chính trị gia, đó lại là họa hại.

Chính vì vậy, ông không ngờ được về sau ông lại bị người nhà bán đứng, dẫn đến kết cục bị Tô Trung Từ tận tay dìm chết dưới hồ.

So về cái nhìn đại cuộc, Lý Hạo không bằng Đỗ Kính Tu.

Tuy nhiên so về âm mưu, thủ đoạn thì chắc chắn Lý Hạo hơn xa lão thái úy.

Lý Hạo khinh thường những kẻ tự xưng anh hùng, thích đâm đầu vào chỗ chết trong khi biết rõ con đường đó là tử lộ.

Đối với hắn, kết quả cuối cùng chính là chân lý.

Đỗ Kính Tu khinh thường sử dụng tiểu xảo.

Ông chưa bao giờ làm vậy và khinh thường những kẻ sử dụng âm mưu để giành thắng lợi.

Về điểm này là thuộc về bản chất, không thể thay đổi được.

Tuy thế, có thể khẳng định rằng, hai người một già một trẻ này kết hợp với nhau đã tạo thành một tổ hợp tuyệt vời.

Ngạc nhiên nhìn Lý Hạo, Đỗ thái úy cẩn thận đánh giá lại cách nhìn mới về người trẻ tuổi đang ngồi trước mặt.

Giờ đây, lão cảm nhận được trên người Lý Hạo đang tỏa ra khí thế mà trước kia lão đã từng được chứng kiến qua, phảng phất như tiên đế Lý Anh Tông, khí thế của bậc Vương giả.

Khi nãy, Lý Hạo quỳ xuống van xin Đỗ Kính Tu trợ giúp.

Có lẽ một phần bị ảnh hưởng bởi tư tưởng nho gia, một phần chịu trách nhiệm bởi lời hứa năm xưa, Đỗ Kính Tu mới chấp thuận lời thỉnh cầu của Lý Hạo.

Tuy nhiên, cho đến giờ lão thái úy đã chính thức đưa ra quyết định.

Đỗ Kính Tu quỳ gối cúi đầu, giọng vang vọng không chút già nua: “Thực không ngờ, hoàng thượng có thể tính đến kỳ chiêu ấy.

Lão thần chưa bao giờ nghĩ tới vấn đề đó.

Thứ tội cho lão thần nói thẳng.

Tính cách của lão thần bộc trực.

Kính mong hoàng thượng khai ân.

Vừa rồi lão thần còn có lòng riêng, nhưng từ thời khắc này, hàng ngàn con cháu gia tộc họ Đỗ, nguyện sống chết cùng hoàng thượng.”

Thả lòng toàn thân, đến hiện tại Lý Hạo đã chính thức có được sự thần phục của lão đại thần đương triều.

Hắn gian nan cực khổ, đấu trí cân não với Đỗ Kính Tu từ lúc bắt đầu gặp mặt cho đến giờ phút này mới thành công.

Nếu hắn có một chút sai sót, hắn sẽ phải trả giá bằng tương lai tối tăm, mù mịt, hoặc có thể bằng cả mạng sống của hắn.

Chỉ khi hắn bộc lộ ra tài năng mưu lược mới khuất phục được lão.

Thực lực, chỉ có thực lực mới giải quyết được vấn đề.

Hắn càng ngày càng khao khát thực lực.

Phải làm thế nào để có được thực lực hùng mạnh đây?

Hắn còn phải nỗ lực thật nhiều, thật nhiều nữa.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 28: Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân


Nhất Thống Thiên Hạ

Tác giả: sheepboy

Chương 28: Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân

Lý Hạo ân cần bảo: “Đỗ ái khanh, mau bình thân, không cần đa lễ.

Mọi chuyện đã qua, hãy cứ để cho qua.

Điều cần thiết nhất của quân thần chúng ta lúc này là đồng lòng đồng dạ.

Chỉ cần trẫm còn sống, kiếp này trẫm sẽ không bao giờ phụ khanh.

Được rồi.

Bàn chuyện chính sự.

Chẳng lẽ không còn cách nào lung lạc được Lý Bát hay sao?”

Đỗ Kính Tu đứng dậy, cúi đầu trầm tư suy nghĩ thật lâu.

Lý Hạo cũng không gấp gáp thúc giục, lẳng lặng ngồi một chỗ, xoay xoay ngọc tỷ mát lạnh trên bàn tay.

Khoảng một lúc sau, Đỗ thái úy ngẩng đầu nói: “Bẩm hoàng thượng, lão thần nghĩ đến một người…

Tuy nhiên …

Hoàng thượng cũng phải đích thân đi mời.”

“Trẫm không nề hà gì cả.

Bất quá, người đó ở nơi nào?”

Lý Hạo bình thản cất tiếng.

“Bẩm hoàng thượng, người đó ở không xa, ngay tại kinh thành.”

Đỗ Kính Tu ngập ngừng đáp.

“Kinh thành thì tốt.

Trẫm có thể đi.

Mà có gì uẩn khúc ở đây, khiến cho khanh cứ mãi ấp úng không nói được?”

Lý Hạo chợt có cảm giác hứng thú về người được Đỗ Kính Tu tiến cử.

Lý Hạo nhận thấy ngón trỏ ở bàn tay phải của Đỗ Kính Tu giật giật ba lần, sau đó lão thái úy mới trả lời: “Người đó là Trần Trung Tá.”

Cố gắng lật ngược trí nhớ trong đầu của mình, Lý Hạo cũng không hề có chút thông tin gì về con người này, ngờ vực nói: “Tại sao lại là người của gia tộc họ Trần?”

Đỗ thái úy lắc đầu mà rằng: “Tuy cùng là người họ Trần, nhưng ông ấy là người của nhánh khác, không thuộc nhánh của gia tộc họ Trần ở vùng Hải Ấp.

Trần Trung Tá trước kia là quan đồng liêu với lão thần.

Thực ra người mà tể tướng Tô Hiến Thành coi trọng là Trần Trung Tá.

Tô tể tướng lúc bệnh nặng sắp qua đời, đã đề bạt đưa ông ấy lên làm thái úy phụ chính.

Nhưng thái hậu Chiêu Linh có dã tâm phế lập ngôi vua, hòng đưa ngoại thích lên nắm quyền hành.

Nên bà bỏ ngoài tai lời dặn của Tô tể tướng, mà đưa lão thần lên làm thái úy phụ chính.”

Thở dài một tiếng, lão thái úy hồi tưởng lại quá khứ: “Rốt cục, thái hậu Chiêu Linh lại tính sai nước cờ.

Lão thần lên làm thái úy phụ chính vẫn chi trì tiên đế Cao Tông.

Thái hậu từ đấy từ bỏ việc phế lập, rút lui khỏi chính trường.

Còn Trần Trung Tá sau này lại bị Đàm tộc chèn ép, ông ấy chán ngán chốn quan trường, cáo lão từ quan.

Hiện nay, đang cư ngụ ở phủ đệ được tiên đế Anh Tông ban cho lúc xưa tại kinh thành.”

“Nói như thế, Trần Trung Tá còn có điểm đặc biệt hơn Đỗ ái khanh.”

Lý Hạo cười cười ngắt lời Đỗ Kính Tu.

Ngước nhìn Lý Hạo, Đỗ Kính Tu gật mạnh đầu: “Bẩm hoàng thượng, đúng vậy, nếu luận về tài trị quốc an bang, lão thần so với Trần Trung Tá chỉ như đom đóm so với trăng rằm.”

Kinh ngạc trước lời nhận xét thẳng thắn của Đỗ Kính Tu, Lý Hạo cảm thán: “Thực có người như vậy?

Hay là Đỗ ái khanh thổi phồng quá lên.”

Mỉm cười, lão thái úy nói với giọng tán dương: “Người được anh Hiến Thành thưởng thức, há có thể là người bình thường cho được.

Dòng sông lịch sử vô cùng khắc nghiệt, dù cho người đó có tài năng thiên bẩm tới đâu, mà không có đất dụng võ, cũng sẽ bị cuốn trôi đi mất.

Bẩm hoàng thượng, nếu như Trần Trung Tá gặp được minh quân, có thể thi thố tài năng, chắc là đất nước sẽ không rơi vào loạn lạc như bây giờ.

Còn một điều nữa, ông ấy chính là bằng hữu chí cốt thâm giao với Lý Bát.

Lão thần nói tới đây, có lẽ hoàng thượng đã hiểu.”

Vỗ mạnh lên bàn, Lý Hạo sảng khoái cất tiếng: “Hiểu, trẫm đã hiểu.

Con người này, trẫm nhất định phải mời cho bằng được.

Kế sách hợp tung, cơ bản đã định.

Về phần ba thế lực hùng mạnh còn lại phải đối phó như thế nào?”

“Về phần ba thế lực còn lại, lão thần vẫn chưa có kế hoạch nào cụ thể.

Nếu như tới lúc chúng ta liên minh các thế lực nhỏ yếu thành công.

Lão thần dự đoán ba thế lực lớn sẽ nghĩ tới kế sách liên hoành.

Điều chúng ta cần phải làm, là phá hủy kế sách này từ trong trứng nước.

Để thực hiện được những kế đó, tất yếu sẽ trải qua muôn vàn khó khăn.

Mặc dầu vậy, lão thần trộm nghĩ, kế sách khả thi nhất mà chúng ta có thể thực hiện được là kế ly gián.”

Đỗ Kính Tu chầm chậm nói.

“Hợp tung, liên hoành, ly gián.

Cao thâm quá.

Khanh cứ từ từ nói, trẫm từ từ tiếp thu.”

Lý Hạo đưa tay xoa lên hai bên huyệt thái dương, chớp chớp mắt để cho đầu óc tỉnh táo hơn.

Lão thái úy nói với giọng không nhanh không chậm: “Bẩm hoàng thượng, thời gian trước, lão thần vừa làm quan vừa làm nghề dạy học.

Qua bao năm tháng, số lượng học trò của lão thần có rất nhiều, có những học trò được lão thần đề bạt tiến cử làm quan viên địa phương ở nhiều nơi.

Có thể nói môn sinh của lão thần trải rộng khắp thiên hạ.

Đó là một trong những điều khiến lão thần cảm thấy tự hào, đã một phần giúp ích cho giang sơn xã tắc.”

“Hoàng thượng đừng coi thường những kẻ thư sinh trói gà không chặt.

Dù họ không có khả năng cầm đao cầm kiếm ra trận, nhưng họ có sự hữu dụng rất lớn.

Tuy rằng họ chỉ là những người yếu đuối, nhưng trong đáy lòng họ có sự kiệt ngạo của bậc nho sinh.

Lão thần sẽ bí mật gửi thư cho những môn sinh trung thành với hoàng thất, đưa ra lời hiệu triệu.

Lão thần chắc rằng với tư tưởng nho gia thấm nhuần trong mỗi con người nho sinh này, họ sẽ đáp ứng.

Từ đó họ sẽ trở thành lực lượng ngầm, chủ yếu thực hiện những việc kích động lòng dân, xúi giục nổi loạn, hoặc là loan truyền tin đồn ở những vùng cát cứ của ba thế lực lớn.”

Đỗ Kính Tu càng nói càng hăng say như muốn thể hiện tất cả hoài bão đã ôm ấp trong lòng của lão bấy lâu.

Lý Hạo gật gù với vẻ huyền bí lên tiếng: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân.”

Đỗ Kính Tu ngây người, chìm vào suy nghĩ câu nói vừa rồi của Lý Hạo, lát sau than thở: “Hoàng thượng còn trẻ mà đã hiểu được đạo lý này, thật hiếm có.”

Chú thích:

“Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”

Câu nói của Tuân Tử, là một nhà Nho, nhà tư tưởng của Trung Hoa vào cuối thời Chiến Quốc.

Sau này, được danh nhân Việt Nam là Nguyễn Trãi trích lại.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 29: Luận Bàn Về Tô Trung Từ và Trần Tự Khánh


Nhất Thống Thiên Hạ

Tác giả: sheepboy

Chương 29: Luận Bàn Về Tô Trung Từ và Trần Tự Khánh

Lý Hạo thấy câu nói kinh điển của danh nhân Nguyễn Trãi thời hậu thế đã mang lại hiệu quả, hắn bồi thêm: “Đúng vậy, nhân dân chính là gốc rễ của một đất nước.

Một đất nước có dân chúng giàu có, người người an cư lạc nghiệp, chính là một đất nước hùng mạnh.

Đây là tâm nguyện từ xưa đến nay của trẫm.

Trẫm sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành tâm nguyện ấy.”

Đỗ Kính Tu hoan hỉ ứng tiếng: “Bẩm hoàng thượng, lão thần tin rằng lý tưởng của hoàng thượng sẽ trở thành sự thật.

“Về phương hướng của kế ly gián, trẫm thấy rất được.

Còn kế hoạch cụ thể chắc là phải tùy cơ ứng biến, chuyện này để bàn sau.

Yêu cầu trước mắt của chúng ta bây giờ, là làm thế nào để giành lại quyền kiểm soát kinh thành.

Nếu ngay cả chuyện này cũng không thực hiện xong, thì tất cả những kế sách kia sẽ tan thành bọt nước.”

Lý Hạo nheo mắt bảo.

“Lão thần hiểu.

Lão thần mạn phép hỏi hoàng thượng, mấu chốt của kế sách giành lại kinh thành nằm ở đâu ạ?”

Đỗ Kính Tu nghĩ ngợi rồi hỏi.

Phất nhẹ tay, Lý Hạo khẽ cười: “Vấn đề đơn giản như vậy mà còn phải hỏi trẫm sao?

Chính là nằm ở Tô Trung Từ, chỉ cần có thể khống chế được Tô Trung Từ là đại công cáo thành rồi.”

Chớp mắt hai cái, Đỗ Kính Tu lắc đầu, lộ vẻ tiếc rẻ: “Hoàng thượng sai rồi.

Khống chế được Tô Trung Từ không thể nào khống chế được toàn bộ cục diện.”

“Tại sao vậy?

Chẳng phải Tô Trung Từ là người đứng đầu gia tộc họ Trần hay sao?

Chỉ cần giết chết hắn, đám người gia tộc họ Trần ở kinh thành sẽ như rắn mất đầu.

Lúc đó chúng ta có thể tiêu diệt toàn bộ những kẻ còn lại.”

Lý Hạo ngẩn người, hắn không phải là thần, cũng có lúc tính sai là chuyện đương nhiên.

Trở nên nghiêm nghị, Đỗ Kính Tu trả lời: “Bẩm hoàng thượng, bắt đầu từ khi gia tộc họ Trần đánh chiếm kinh thành.

Lão thần đã cho người điều tra về gia tộc họ Trần.

Hiện tại, lão thần đã có một số tai mắt trong phủ đệ của họ.”

“Tốt, rất tốt.

Trẫm cũng định bụng nhắc nhở khanh cho người điều tra và cài đặt nội gián trong phủ đệ họ Trần.”

Lý Hạo tán dương.

“Hoàng thượng quá khen.

Dù gì lão thần cũng là người trải qua sóng gió, có một số chuyện cũng nên tự mình lĩnh ngộ.

Bẩm hoàng thượng, ngài có để ý một điều là Tô Trung Từ họ Tô chứ không phải họ Trần hay không?”

Đỗ Kính Tu chăm chú nhìn Lý Hạo hỏi tiếp.

Lý Hạo vừa nghĩ vừa trả lời: “Họ Tô...

Đúng thế…

Trẫm thật quá hồ đồ.

Đỗ ái khanh tiếp tục nói đi.”

Trong lòng hắn thầm nghĩ: “Lão già ngươi thì biết cái quái gì?

Ta mới đến có hai, ba hôm làm sao mà rành hết được.

Ta mà biết được tận cả mấy cái mối quan hệ thân tộc lằng nhằng này, thì ta một cước đá bay tất cả bọn chúng từ lâu rồi.

Còn phải nhờ đến ngươi chỉ điểm cho ta à?”

Giọng Đỗ Kính Tu không nhanh không chậm: “Bẩm hoàng thượng, tộc trưởng của gia tộc họ Trần bây giờ là Trần Tự Khánh.

Họ Tô và họ Trần bề ngoài thì đoàn kết, nhưng bên trong họ đang ám đấu không ngừng.

Cái này là nhờ vào những tai mắt của lão thần điều tra được.”

Lý Hạo cười âm hiểm: “Vậy ta châm thêm mồi lửa đi.

Đỗ ái khanh đánh giá như thế nào về hai kẻ này?”

“Bẩm hoàng thượng, cả hai đều là đấng kiêu hùng đương thế.

Tuy nhiên, lão thần cho rằng Trần Tự Khánh hơn hẳn Tô Trung Từ một bậc.

Có lẽ hoàng thượng cũng đã nhận ra.”

Nói tới đây Đỗ Kính Tu mỉm cười nhìn Lý Hạo.

Lý Hạo biết Đỗ Kính Tu đang muốn xem cách nhìn người của hắn như thế nào.

Lý Hạo không thể không tỏ ra một chút bổn sự, trầm tư bảo: “Tô Trung Từ là một người tài giỏi, tinh thông binh pháp, hiểu đạo trị quốc, giỏi thủ đoạn, nhưng hắn quá ngông cuồng, tự đại.

Hắn luôn cho rằng tới đây đã không còn ai hơn được hắn, nên kiêu ngạo càn rỡ, những kẻ có tính cách này không thể lập nên nghiệp lớn.

Thấy Đỗ Kính Tu gật gù tán đồng, Lý Hạo tiếp lời: “Về phần Trần Tự Khánh, do Đỗ ái khanh nói về chuyện hai nhà Tô, Trần đang ám đấu, trẫm mới để ý đến những biểu hiện trước giờ của hắn.

Vì thế trẫm chỉ có đôi lời nhận xét về hắn.

Con người này thâm sâu khôn lường, biết đạo tiến thoái, chính là cường địch của trẫm, đối phó với hắn không dễ chút nào.”

Ánh mắt Đỗ Kính Tu trở nên sắc bén: “Những gì hoàng thượng vừa nêu ra hoàn toàn chính xác.

Có một điểm ở Tô Trung Từ mà lão thần muốn bổ sung.

Tô Trung Từ còn là một kẻ háo sắc.”

Bất ngờ trước ý kiến của Đỗ Kính Tu, Lý Hạo lẩm bẩm liên hồi: “Háo sắc... háo sắc... háo sắc...”

“Ha ha ha ha...

Ta nhớ ra rồi, trời giúp ta, đúng là trời giúp ta.”

Hắn ngửa đầu cười vang không ngớt.

Cười chán chê, Lý Hạo nghiến răng: “Đỗ ái khanh, từ giờ trở đi Tô Trung Từ thuộc về trẫm, khanh đừng làm chuyện gì gây kích động Tô Trung Từ.

Phải cẩn thận, bí mật, án binh bất động, ghi nhớ lời trẫm.

Cho trẫm sáu tháng, Tô Trung Từ tất phải chết.”

Đỗ Kính Tu nghi hoặc đáp ứng: “Bẩm hoàng thượng, lão thần tuân mệnh.

Hoàng thượng dựa vào đâu mà khẳng định như vậy?”
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 30: Hoàng Thành Thăng Long


Nhất Thống Thiên Hạ

Tác giả: sheepboy

Chương 30: Hoàng Thành Thăng Long

Híp mắt ra vẻ thần bí, Lý Hạo lên tiếng: “Thiên cơ bất khả lộ.

Đỗ ái khanh, đa tạ khanh về những thông tin mà khanh đã cho trẫm biết.

Nhờ đó mà trẫm đã có thể vạch ra kế sách chu toàn để giành thế chủ động.

Kinh thành Thăng Long là của nhà Lý, cuối cùng phải thuộc về nhà Lý.

Đỗ ái khanh, kế sách hợp tung, trẫm giao toàn quyền cho khanh, đừng phụ lòng trẫm.

Bây giờ, trẫm cần mượn lực lượng ngầm của khanh để thực hiện một số trò hay.”

Đỗ Kính Tu cung kính lắng nghe những lời dặn dò của Lý Hạo.

Ban đầu biểu hiện của lão còn bình tĩnh, nhưng càng về sau lão càng cảm thấy run sợ, mồ hôi ướt đẫm lưng áo lúc nào không hay.

Âm hiểm, cực độ âm hiểm, đó là lời nhận xét của lão về vị vua đang cười cợt, vui vẻ lúc này.

Những âm mưu hiểm độc như thế mà lại có thể xuất ra từ trong miệng của một người trẻ tuổi, ăn trắng mặc trơn, cả ngày chỉ biết chơi bời lêu lổng, sa đọa trong vòng tay mĩ nữ.

Điều đó lại có thể xảy ra hay sao?

Tất cả những biểu hiện của Lý Hạo trong buổi chiều hôm nay đã đánh vỡ hoàn toàn nhận thức của Đỗ Kính Tu từ trước tới giờ.

Những cử chỉ, lời nói của Lý Hạo cho thấy tâm lý của hắn biến đổi liên tục chỉ trong thời gian ngắn.

Khiến Đỗ Kính Tu không thể nhận ra đâu mới là con người thật sự của Lý Hạo.

Cảm giác của lão hiện nay là bảy phần vui mừng, ba phần sợ hãi.

Lão vui mừng vì đây mới là bậc đế vương, Lý Hạo hội tụ đủ mọi yếu tố để trở thành bậc đế vương chân chính, vua của muôn dân trăm họ, đấng chí tôn bễ nghễ giang sơn.

Lão sợ hãi bởi nếu như Lý Hạo giữ vững ngôi vua, thì một đại công thần như lão sẽ có kết quả gì?

Lịch sử đã chứng minh, những khai quốc công thần, những vị đại quan công cao lấn chủ, có ai lại được hạ tràng tốt đẹp?

Có khi nào?

Mọi biểu hiện trên cơ thể và nét mặt của Đỗ Kính Tu đều rơi vào mắt Lý Hạo.

Hắn hiểu rõ lý do làm cho lão đại thần đang sợ hãi.

Hắn ngầm tự trách bản thân lại vạch ra những mưu kế đó để Đỗ Kính Tu đi thực hiện.

Tuy thế, hắn có nỗi khổ không nói thành lời.

Ngoài việc nhờ cậy Đỗ Kính Tu ra, thì hắn chẳng biết tìm ai để giúp đỡ.

Nói không ngoa chứ, dù hắn đang làm vua rất oai phong, thực sự hắn chỉ có hai bàn tay trắng, không có lấy một đội ngũ lính lác trung thành nào cả.

Lỡ rồi đành phải chữa cháy thôi.

Lý Hạo nhanh chóng vắt óc nghĩ cách để cho Đỗ Kính Tu uống thêm liều thuốc an thần.

Phân phó xong mọi chuyện.

Đỗ Kính Tu khom mình, chầm chậm lui ra ngoài cửa.

Khi lão đi gần tới cửa, Lý Hạo nói vọng theo: “Loại việc chim hết bẻ cung, thỏ hết giết chó, trẫm khinh thường làm.

Chỉ cần Lý triều còn, gia tộc họ Đỗ vĩnh viễn hưng thịnh, không bao giờ suy tàn.

Trẫm sẽ ghi vào tộc quy để con cháu đời sau của hoàng tộc phải đời đời ghi nhớ.”

Đỗ Kính Tu không ngờ Lý Hạo có thể đưa ra lời hứa sâu dày tới vậy.

Lão xúc động run rẩy cả thân hình, hai hàng lão lệ chảy dài xuống từ khóe mắt.

Lão quỳ mọp dưới đất tung hô: “Lão thần đội ơn hoàng thượng.

Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.”

* * * * * * * * * * *

Lý Hạo thấy đã không còn sớm, sau cả buổi chiều động não liên tục, hắn cảm giác vô cùng mệt mỏi.

Bèn sai Lê Việt Công và đám thái giám mang một số văn thư qua bên điện Tuyên Đức, để ở đó trước.

Chiều mai hắn mới sang đó duyệt tấu chương và tìm kiếm nhân tài ở đó.

Còn lúc này hắn cần nghỉ ngơi, tự thưởng cho việc thành công chiêu mộ Đỗ Kính Tu.

Trên gác Long Đỗ, hắn uể oải đặt mình trên chiếc ghế nằm được chế tạo từ loại gỗ sưa đen quý hiếm, mặt gỗ trơn bóng mát rượi, có những lằn vân màu đỏ, vàng xen kẽ nhau rất đẹp, lại tỏa mùi thơm mát thoảng hương trầm.

Thời phong kiến, vua chúa dùng gỗ sưa để đóng đồ nội thất cao cấp trong cung đình, vì nó vừa là hương liệu vừa là dược liệu.

Ở thời hiện đại, giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô săn lùng gỗ sưa để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế Trung Quốc trước đây.

Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ sưa có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy.

Ngoài ra, gỗ sưa thường gắn với các điển tích của Phật giáo, do đó ngày nay người ta làm những xâu tràng hạt gỗ sưa với giá hàng nghìn USD.

Theo Giáo sư Đỗ Tất Lợi thì gỗ cây này còn được sử dụng cùng với dạ dày nhím làm vị chính trong đơn thuốc chữa bệnh đau dạ dày.

Có ý kiến cho rằng ở Trung Quốc người ta chiết suất một số chất có trong gỗ sưa này để chế thuốc chữa ung thư dạ dày...

Hiện gỗ sưa ở Việt Nam đang được các thương lậu Trung Quốc thu mua với giá cả rất cao và ảnh hưởng đến sự khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.

Đặc biệt, gỗ sưa đen rất hiếm gặp, người ta gọi là tuyệt gỗ.

Những làn gió thổi xoay thành từng vòng, vờn quanh trên gác, Lý Hạo mơ màng quan sát cảnh vật bên dưới gác Long Đỗ.

Hắn thấy bên dưới, từng tốp lính gác đi đi lại lại tuần tra khu vực Hoàng thành.

Ở phía xa xa những bức tường thành cao dày hùng vĩ đang sừng sững đón gió.

Giờ này như có một khoảng lặng để Lý Hạo nhìn lại những ý nghĩa lịch sử của tòa cổ thành này.

Đây là trung tâm quyền lực của đất nước Việt Nam trong hơn một ngàn năm lịch sử và là một minh chứng có một không hai về sự tiến hoá của nền văn minh dân tộc Việt Nam, trong lịch sử phát triển của nhà nước quân chủ vùng Đông Nam Á và Đông Á.

Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay Kinh thành, bao quanh toàn bộ kinh đô và men theo nước của 3 con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu.

Kinh thành là nơi ở và sinh sống của dân cư.

Vòng thành thứ hai, ở giữa, là Hoàng thành, là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan lại trong triều.

Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm thành, nơi chỉ dành cho vua, hoàng hậu và những cung tần mỹ nữ.

Hoàng thành là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.

Vào lúc 6 giờ 30 ngày 1/8/2010 theo giờ Việt Nam, Ủy ban di sản thế giới đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới.

Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi ba đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.

Và hắn, Lý Hạo lại có được những giây phút thưởng thức toàn bộ Hoàng thành một cách trực tiếp nhất, sống động nhất.

Từng công trình kiến trúc với các đặc điểm kỹ thuật, từng đường nét hoa văn trang trí, từng di vật một mặt phô bày những giao thoa văn hoá khu vực, mặt khác nổi bật trên hết vẫn là khác biệt không trộn lẫn vào bất cứ một nền văn hoá nào khác.

Tất cả đều phô bày một nội lực tiềm ẩn và mạnh mẽ, một nội lực mà nhờ đó dưới ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá, mà bản sắc Việt Nam vẫn được duy trì và phát triển.

Trên cái nền nội lực mạnh mẽ và giàu bản sắc đó, bấy nhiêu nguồn ảnh hưởng văn hoá, cộng thêm nguồn ảnh hưởng từ Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo của văn hoá phương Đông, tất cả đều để lại dấu ấn trên nghệ thuật kiến trúc cảnh quan và khả năng biểu đạt văn hoá của Hoàng thành Thăng Long.

Chú thích:

Giáo sư Đỗ Tất Lợi (sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 - mất ngày 3 tháng 2 năm 2008) là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng, “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 31: Ký Ức


Nhất Thống Thiên Hạ

Tác giả: sheepboy

Chương 31: Ký Ức

Bên trong dãy kiến trúc Hoàng thành Thăng Long, các đời vua còn lần lượt xây dựng hàng loạt đền đài, lầu các.

Ở phía xa xa, Lý Hạo trông thấy cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư trên ao xây đình Ngoạn Y.

Ba mặt đình có trồng hoa thơm cỏ lạ nước thông với sông.

Ngoài ra các cung điện khác cũng được xây dựng liên tiếp nhau.

Mỗi cung điện thường đều có tường bao xung quanh và làm cửa thông với cung điện khác.

Nhiều vườn ngự cũng được dựng nên trong Hoàng thành.

Đó là các vườn Quỳnh Lâm, vườn Thắng Cảnh, vườn Xuân Quang và vườn Thượng Lâm.

Giữa vườn có đào một cái hồ lớn, trong hồ chất đá làm núi, trên bờ hồ trồng thông, trúc và nhiều thứ kỳ hoa diệu thảo khác thêm vào đấy là chim quý thú lạ.

Bốn mặt hồ lại khai mở cho sông nước thông vào, gọi hồ ấy là Lạc Thanh Trì.

Về phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng một tòa điện gọi là điện Lạc Thanh.

Xung quanh có các hồ nhỏ khác, nước mặn ở hồ được người Hải Đông chở đến đổ đầy vào hồ ấy, để nuôi các loài hải sản như đồi mồi cá biển và các loại ba ba.

Rồi người Hóa Châu bắt cá sấu thả vào đấy.

Lại có hồ Thanh Ngư để nuôi cá Thanh Phụ, là loại cá diếc đuôi đỏ vảy biếc...

Lý Hạo vừa ngắm phong cảnh xung quanh vừa đắm mình trong cảm giác bồng bềnh, phiêu dật.

Rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào cũng không hay...

* * * * * * * * * *

Trong khu rừng bạt ngàn, có một mái nhà tranh vách lá.

Ở trước mái nhà tranh, hai người một già, một trẻ đang luyện võ.

Chỉ thấy ông già đang đứng trong vòng tròn thoải mái tránh né, đỡ đòn.

Ông già có bộ dạng rất tấu hài, mặc quần áo rách nát như ăn mày, khuôn mặt nham nhở, luôn miệng cười hềnh hệch, nói năng lảm nhảm gì đó tựa như đang chế giễu.

Còn cậu bé lại càng ăn mày hơn nữa, mặc độc cái quần cụt, thân ở trần, hung hăng tung ra những đòn quyết liệt về phía ông già.

Hai người đối chiến với nhau hồi lâu, chợt cậu bé phóng lên cao, chộp xuống một trảo như sấm sét.

Ông già khẽ nhìn lên, rồi nhảy ra khỏi vòng tròn.

Cậu bé chộp vào khoảng không, hai chân vừa chạm đất, liền trúng một đạp vào mông, ngã dúi dụi về phía trước, úp cả mặt xuống nền đất bụi, khiến cho khuôn mặt lem nhem hết cả.

Cậu bé giận dữ lớn tiếng phản đối: “Sư phụ chơi ăn gian, đã hứa là không rời khỏi vòng tròn, sao tự nhiên lại nhảy ra?”

Ông già cười ha hả: “ Nhóc con ngu ngốc.

Chẳng lẽ nhóc đánh nhau với đối thủ sinh tử cũng tin hắn sẽ tuân thủ lời hứa à?”

Nhổ một bãi nước bọt, cậu bé khinh bỉ nói: “Nhưng ông là sư phụ của con mà, có phải kẻ thù gì đâu.”

Lắc lắc đầu ngón tay, ông già cười cười: “Đây là một trong những bài học quý giá của ông, nhóc phải cố mà ghi nhớ, tiếp chiêu.”

Vừa dứt lời, ông già chụm tay thành hình đầu rắn mổ thẳng vào cổ cậu bé.

“Ê, đánh lén, chơi không đẹp.”

Cậu bé hét toáng lên, hụp đầu xuống thật nhanh, đoạn nằm rạp người sát đất, cuốn mình lăn vòng tròn ra thật xa.

Ông già thừa thế liên tục, dậm chân xuống sát sạt theo những vòng lăn người của cậu bé, dù rằng sát bên người nhưng khoảng trống vừa đủ, không hề có cú dậm nào trúng người của cậu bé.

Lăn một mạch hơn chục vòng, cậu bé nhảy nhổm người dậy, cong đuôi chạy ra xa, vừa quay đầu vừa chửi mắng không ngừng.

Ông già lộ vẻ hậm hực, đỏ mắt tía tai, đuổi theo phía sau cậu bé.

Hai thầy trò cứ thế mà đùa giỡn với nhau đến khi mệt lả, mới lăn ra hai tảng đá dưới tàng cây cổ thụ, ngồi thở dốc.

Ngồi thở một lát, cậu bé hỏi: “Sư phụ, tại sao ông đặt tên con là Lý Hạo?”

“Ném đại mấy cái que nó nhảy ra tên này thì ông lấy thôi.”

Ông già đứng lên, hai tay chống nạnh vặn vặn sườn, hờ hững đáp.

“Sao lại là ném que?

Con tưởng ông phải nghiền ngẫm nhiều lắm cơ.”

Không cam lòng với đáp án đơn giản như thế, cậu bé hỏi tiếp.

“Thì ông có biết sơ sơ thuật bói toán, ngũ hành, xăm quẻ.

Ném đại mấy cái que kia cả chục lần nó đều nhảy ra tên của thằng nhóc mày.

Ông đành phải lấy thôi.

Thực ra đúng của nó là Lý Hạo Sảm.

Nhưng sư phụ anh minh, thần võ của con thấy cái tên đó sàm quá, nên vứt mẹ nó luôn, chỉ lấy mỗi Lý Hạo.

Sao mình bội phục mình quá, ha hả.”

Ông già vừa xoa đầu cậu bé, vừa tán dương bản thân.

“Tên Sảm?

Sàm thiệt.

Đổi là đúng rồi.

Sư phụ ơi, ông tên gì, sao chưa bao giờ cho con biết vậy?

Sư phụ có phải họ Lý không?”

Chớp chớp đôi mắt hồn nhiên, cậu bé cất tiếng.

“Tên của mình, ông không hề biết thì làm sao mà nói cho con.

Từ lúc ông nhận thức, ông thấy mình đi theo một đám trẻ bụi đời, lê lết từ con phố này qua ngõ nhỏ khác kiếm đồ ăn xin, hoặc ăn trộm, hoặc ăn cướp, giành giật nhau từng miếng cơm manh áo.

Lúc bấy giờ, mọi người chỉ gọi theo biệt danh.”

Ông già dõi ánh mắt xa xăm nhìn về phía chân trời, hồi tưởng lại ký ức.

Cậu bé níu ống tay của ông già gặng hỏi: “Thế biệt danh của ông là gì?”

“À …

à …

ờ, là Vô Danh, biệt danh của ông là Vô Danh.

Ai cũng gọi ông vậy, riết thành quen.

Thôi, để ông kể về những chuyện phiêu lưu của ông trước đây nhé.”

Ông già ậm ừ, rồi đánh lạc hướng chủ đề.

Ông già giấu biệt danh cũng phải, bởi vì đám bụi đời thuở xưa thường hay gọi ông với cái tên mĩ miều, Cu Đen.

“Hoan hô sư phụ, kể nhanh đi.”

Cậu bé rất háo hức khi thấy ông già nói kể chuyện, quên ngay luôn vấn đề tên, tuổi của mình hay của ông già.

Sau đó, cậu bé say mê nghe ông già kể mãi, kể mãi...
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 32: Biến Hóa Vi Diệu


Chương 32: Biến Hóa Vi Diệu

Lý Hạo mở bừng mắt, chồm dậy, dáo dác ngó xung quanh, tay sờ loạn lên người.

Hắn nhún vai, nở nụ cười nửa miệng, thầm nghĩ: “Ông già không chịu chết kia lại hiện hồn cả vào trong giấc mơ của ta.

Không biết ông già thế nào rồi...

Bỏ đi, hiện tại vẫn là hiện tại.

Lý Hạo ta vẫn phải tiếp tục sống.”

Hắn trở về cung, dạo một vòng theo lịch trình, đi thăm Đàm thái hậu, luyện võ cùng với Lý Thông.

Đến tối, trở về với vòng tay êm ái của đệ nhất mỹ nhân Trần Thị Dung.

Tất nhiên, hắn không dễ dàng qua cửa.

Bị nàng giận dỗi đủ đường, hắn phải xuất ra các loại tuyệt kỹ tán gái thời hiện đại để an ủi, dỗ dành nàng.

Nói tuyệt kỹ thì cũng quá đáng, mấy trò lừa gạt con gái nhà lành của hắn xưa như Diễm rồi, chỉ có thể gọi là kỹ năng bình thường mà thôi.

Nhưng đem ra sử dụng với thiếu nữ thời cổ đại vẫn rất thành công.

Nhắc đến Diễm Xưa, hắn mới nhớ tới nhạc Trịnh Công Sơn.

Thời này mà đem nhạc Trịnh ra lừa gái thì ngon phải biết.

Mỗi tội hắn hát thuộc dạng xoàng xoàng, gần với vịt đực một tý, dù rằng giọng của thằng nhóc Lý Sảm kia nghe có vẻ êm tai, bất quá chốt lại hát dở vẫn là hát dở.

À, mà phải chi hắn biết tạo ra đàn ghi ta, chắc có thể lấy thêm điểm trong mắt Trần hoàng hậu.

Nghĩ tới đàn ghi ta, hắn lại rơi vào tình trạng nhớ nhung, đau khổ.

Kiếp trước, hắn có một thằng con trai mê nhạc từ bé, biết chơi đàn, đánh đàn, hát rất hay, lại biết chế tạo cả nhạc cụ nữa.

Hắn định bụng khi rảnh rỗi đi nghe nhạc cung đình cho thoải mái.

Vua cha của hắn, Lý Cao Tông, là một hôn quân chính hiệu.

Cả ngày chỉ thích những trò tiêu khiển như vui chơi, săn bắn và rất thích nghe nhạc.

Thậm chí, các triều vua trước đem quân đi đánh Chiêm Thành, bắt được một số nhạc công, thỉnh thoảng phải trình bày để cho các quan xem, thì Cao Tông liền bắt nhạc công trong cung theo đó mà chế ra khúc nhạc Chiêm Thành.

Điệu nhạc này tiếng ai oán buồn rầu, người nghe phải chảy nước mắt.

Một vị sư là Nguyễn Thường nhận xét: "Âm thanh của nước loạn, nghe như ai oán giận hờn.

Nay vua thích nhạc này thì là điềm dân loạn, nước nguy, đó là triều bại vong".

Lý Cao Tông không quan tâm tới ý kiến đó, cứ bắt tấu nhạc Chiêm Thành để nghe cho sướng.

Có lẽ khúc nhạc ấy có điểm đặc biệt nhiều lắm, mới khiến Lý Cao Tông đam mê tới vậy, chẳng biết so với nhã nhạc cung đình Huế sau này thì ra sao?

Tự hỏi, nhưng không tự trả lời được.

Vốn dĩ, Lý Hạo là một tên mù tịt về âm luật.

Hắn quyết định vứt quách vấn đề nhức óc ấy sang một bên, ôm người đẹp ngủ vùi.

* * * * * * * * * *

Trên điện chầu, buổi sáng hôm nay, không khí có chút dị thường.

Trước đây, lão thái úy Đỗ Kính Tu luôn chống đối với thái úy phụ chính Tô Trung Từ ở mọi vấn đề.

Bây giờ, hoàn toàn ngược lại, từ đầu đến cuối, Đỗ Kính Tu nhắm nghiền mắt, ngủ gà ngủ gật giữa điện chầu, lão mặc kệ mọi chuyện đang xảy ra, dường như tất cả những diễn biến xung quanh lão đều là hư ảo.

Về các cuộc tranh chấp lợi ích giữa hai phe Đỗ Kính Tu và phe Tô Trung Từ, xuất hiện chuyển biến một cách vi diệu.

Dường như, các miếng mồi ngon béo bở đều rơi cả vào tay Tô Trung Từ, còn những người thuộc gia tộc họ Trần chỉ vớt vát được chút ít.

Những quan viên cựu triều, thuộc vây cánh của Đỗ Kính Tu, không biết vô tình hay cố ý, lâu lâu lại ủng hộ Tô Trung Từ.

Tuy nhiên, chỉ có vài người thuộc tầng dưới là đứng ra góp lời.

Còn những quan đại thần triều cũ, đều học theo bộ dáng của Đỗ Kính Tu, thực hiện chính sách ba không, không nghe, không nhìn, không nói.

Lý Hạo ngồi trên ngai vàng, ngờ nghệch xem diễn biến bên dưới, thiếu điều chảy nước dãi bên khóe miệng, là y hệt người mới từ trại tâm thần chuyển ra.

Tuy đôi mắt không cảm xúc, nhưng nó đang thực hiện công việc vô cùng quan trọng, chuyển thông tin chi tiết lên bộ não của chủ nhân.

Hắn thấy Tô Trung Từ hả hê, ngoác miệng cười đến không ngậm lại được, Trần Thừa đỏ mặt tía tai, hai tay siết chặt, và Trần Tự Khánh thoáng nhíu đôi lông mày, rồi cung cung kính kính, nhìn thẳng phía trước, như không hề biết được chuyện gì.

“Trần Tự Khánh, làm sao để có thể thắng được ngươi đây?”

Lý Hạo thở dài trong lòng.

* * * * * * * * * *

Cầm trên tay tờ tấu chương giả vờ đọc rất chăm chú, mà con mắt Lý Hạo liếc ngang liếc dọc xem xét những vị quan đang làm việc trong Sảnh.

Săn tìm nhân tài là nhiệm vụ không dễ dàng, đòi hỏi người thực hiện phải có óc quan sát, sự tinh tế, nhạy bén và lòng kiên nhẫn.

Suốt từ đầu buổi tới giờ, hắn đã khoanh vùng được hơn chục người, chỉ còn đợi thời gian để khẳng định sự lựa chọn.

Hết giờ làm việc, các quan viên đã chuẩn bị ra về, hắn vẫn ngồi nguyên tại chỗ.

Thấy hắn không đi, ai cũng rụt rè không dám về trước, hắn phải tươi cười khuyên khích mãi mới đuổi được họ về.

Hắn cố nán lại chỉ với một mục đích, xem cách đám nhân viên văn phòng thu dọn chỗ làm của mình trước khi ra về.

Có thể là hành động này không mang lại ý nghĩa nhiều lắm, tuy nhiên hắn không muốn bỏ sót chi tiết nào, dù là nhỏ nhặt nhất.

Lịch trình của hắn hôm nay có chút thay đổi vào buổi tối, không đến cung hoàng hậu, chẳng đến cung nguyên phi, hắn đến chỗ một vị cung tần khác.

Đời người có là bao, vua nhiều vợ mà không hưởng, sau này có trở về tương lai, đám đàn em mà biết được, thì chúng cười cho thối mũi.

Nghĩ là làm hắn đến cung quý phi Đặng Phương Thảo.

Quý phi Đặng Phương Thảo là con gái của quan gián nghị đại phu Đặng Tất Dung, sắc đẹp mặn mà, có dáng người tròn trịa, nhỏ nhắn, khuôn mặt bầu bĩnh, đáng yêu.

Đối với phụ nữ, Lý Hạo luôn giở chiêu bài tán tỉnh trước, hoan ái sau.

Hắn chẳng có hứng thú khi ôm một khúc gỗ vào lòng, nếu không thể làm cho nàng có tình cảm, thì hắn để giành lần sau cũng được, đi đâu mà vội mà vàng cơ chứ, từ từ cách mạng sẽ thành công.

Thực sự mà nói, hắn không để ý tới một điều, tất cả những cung tần, mỹ nữ trong hoàng cung đều là vợ của hắn.

Được hoàng đế tới tận nơi sủng ái, đã vui mừng tới chết đi sống lại rồi.

Những vị vua thời xưa, đa số chẳng phải đi lung tung như thế, muốn chọn cung tần nào cứ chấm vào người ấy, thái giám sẽ quấn đệm quanh người, dâng tận tay vua một thiếu nữ không mảnh vải che thân, vua chỉ việc cầm cương xông trận mà gieo long tinh lên người các nàng.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 33: Phi Tần


Chương 33: Phi Tần

May mắn cho Lý Hạo, vua thời Lý không như mấy Hoàng đế Đại Tống đòi hỏi cái gì mà ba ngàn cung tần mỹ nữ trong hậu cung.

Nếu hắn phải đi an ủi tới tận bằng đó bà vợ thì chẳng biết tới ngày tháng năm nào mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ cao cả ấy.

Những vị vua Đại Việt không thu nạp nhiều phi tần đến thế.

Triều nhà Lý quy định số hậu phi và cung nữ như sau, hoàng hậu và phi tần mười ba người , ngự nữ mười tám người, nhạc kỹ là một trăm người.

Theo quy chế hậu cung nhà Lý, nguyên phi là tước hiệu đứng đầu các phi tần, kế dưới còn có thần phi, quý phi, đức phi, thục phi, hiền phi, các thứ phi và các phu nhân.

Con số phi tần này, có thể nói là không nhiều không ít, nhưng đi đủ mỗi người một đêm, cũng phải rất lâu, như vậy xem ra quá bất tiện.

Hắn ao ước sau này có thể xây một phòng thật lớn, trong đó đặt một cái giường thật rộng gom hết cả vào đấy, một đêm ôm được chục mỹ nhân thì sướng biết mấy.

Các bà phi, cung tần đa số là con cháu các đại thần trong triều.

Khi đến tuổi gả chồng, cha dâng lên biếu vua.

Có một ban tuyển chọn đánh giá tài sắc của mỗi ứng viên.

Được nhận vào cung, mỗi cô ở một cung điện riêng biệt.

Một viên thái giám quản lý thời khắc biểu của từng người và đề nghị dâng vua.

Cũng có cung nữ xuất thân dân thường.

Huyện trưởng, hương trưởng chọn các cô gái đẹp nhất trong làng xã làm danh sách tâu lên.

Triều đình sẽ tổ chức chọn lọc theo những tiêu chuẩn nhất định như thi hoa hậu ngày nay, mà phần thưởng là được chung chăn gối với vua trên long sàng.

Theo truyền thống và tục lệ, mỗi đêm, vua chọn một bà trong đám phi tần, mặc dù lượt các bà phi chính thức đến nhanh hơn.

Tất cả các bà đó chỉ như người bạn tình ân ái trong chốc lát.

Sau khi "thưởng ngoạn" xong, nhà vua lăn ra ngủ một mình, các bà phải rời khỏi long sàng theo thái giám về cung mình.

Không phải người nào, vua cũng biết mặt.

Có nhiều cung tần, dù được đưa vào hầu, nhưng vua cũng không cần nhìn dung nhan.

Chỉ có viên thái giám là biết rõ tên tuổi cung tần nào tối nay được đưa vào cho nhà vua.

Để tránh mưu sát, cung tần phải cởi hết quần áo, choàng người bằng tấm vải đỏ do thái giám đưa cho và viên thái giám ghi rõ tên tuổi cung tần, ghi ngày, thậm chí cả giờ "hầu" vua vào một tấm thẻ tre để kín đáo trên bàn ăn của nhà vua.

Có rất nhiều giai thoại kể về cách vua chọn cung tần, bởi vì vua có nhiều vợ quá, không biết chọn ai, có ông vua sau nhiều ngày lao tâm khổ tứ, đã nghĩ ra một kế.

Vua cho người đóng một cỗ xe do dê kéo.

Mỗi ngày, khi tới lúc chọn phi tần hầu ngủ, vua lại ngồi lên chiếc xe dê này cho dê kéo đi.

Khi con dê dừng lại ở cung của phi tần nào thì đêm hôm đó, vua sẽ ngủ lại ở cung của phi tần đó.

Các phi tần trong hậu cung thì ai cũng muốn được hoàng đế sủng hạnh, sinh được hoàng tử để sau này vẫn giữ được cuộc sống vinh hoa phú quý một khi hoàng đế qua đời.

Chính vì vậy, các phi tần trong hậu cung của vị vua ấy đã tìm mọi cách để “dụ dỗ” con dê kéo xe chạy tới phòng của mình.

Có người bỏ các loại cỏ thơm, có người bỏ lá trúc, có người lại dùng nước muối trộn với rượu,…

để ở trước cửa phòng để dụ con dê của hoàng đế dừng lại.

Cho nên, người ta mới nói đùa với nhau rằng, người được sủng hạnh nhiều nhất trong chốn hậu cung của vua, có thể không phải là người xinh đẹp nhất nhưng chắc chắn phải là người giỏi dụ dê nhất.

* * * * * * * * * *

“Năm nay, những học trò ở đây có ai xuất sắc hay không?”

Lý Hạo chắp hai tay sau lưng, ngực ưỡn ra phía trước, ngẩng cao đầu, uy nghiêm hỏi.

“Bẩm hoàng thượng, theo như đánh giá của thần, có hơn chục học trò được xem là xuất sắc, những học trò còn lại đều bình thường, không có gì nổi trội.”

Một trong hai vị đứng sau Lý Hạo cẩn thận trả lời.

“Tạm được, học trò đều là tương lai của đất nước, các khanh phải cố gắng dạy dỗ sao cho thật tốt, để sau này họ đủ tài năng, bản lĩnh giúp dân giúp nước.”

Lý Hạo nhìn vào lớp học đang có một thầy giáo ngồi ở trên cầm sách đọc, học sinh ở dưới chú ý lắng nghe, chốc chốc lại xoay đầu ra chiều hiểu biết.

Hắn giữ bộ mặt kẻ cả, lên tiếng chỉ bảo hai vị đại nhân đứng sau lưng.

Hôm nay, Lý Hạo quyết định đi thăm Bộ giáo dục hay còn có thể gọi là trường Đại học đương thời, Văn miếu - Quốc tử giám.

Nơi đây được thành lập vào thời vua Lý Nhân Tông, là cơ quan có nhiệm vụ trông coi về việc giáo dục trong nước.

Cơ quan này còn có chức năng dạy học, tuy nhiên chỉ dành riêng cho con vua và con các hoàng tộc, quý tộc và quan lại.

Đứng đầu Quốc tử giám là quan tế tửu tương đương với hiệu trưởng trường đại học, quan tư nghiệp tương đương với hiệu phó.

Hắn đi thăm thú các nơi trong Văn miếu, vừa đi vừa trò chuyện râm ran với hai vị đứng đầu Quốc tử giám.

Tế tửu có tên là Chu Sĩ Trung, còn tư nghiệp có tên Trịnh Phi Tấn.

Lúc luận bàn tới vấn đề nho giáo, hai vị đại học sĩ như cá gặp nước, thao thao bất tuyệt những lý luận vô cùng thâm thúy, dù cho hắn vận động não hết công suất cũng chẳng hiểu được một chút phần da lông bên ngòai, nói chi tới phần xương ở bên trong.

Lúc đến thăm nơi dạy học của Quốc tử giám.

Hắn dừng trước một lớp học trong Quốc tử giám, đứng ngoài quan sát không khí học tập đó.

Trong quá trình nhìn cách dạy học của thầy giáo, hắn thầm lắc đầu ngán ngẩm, nhưng không nói ra.

Cách dạy học thời xưa hay còn gọi là cách dạy học truyền thống, quả thật không gây nhiều hứng thú cho học trò.

Sự thật rõ ràng trước mắt hắn, những học trò bên dưới, đứa thì ngủ gật, đứa thì nói chuyện, có đứa cũng ra vẻ chăm chú lắm, nhưng nhìn kỹ lại mới nhận ra hồn của mấy thằng nhóc đang phiêu dạt nơi chốn nào.

Bàn về phương pháp dạy học, cái nào hay, cái nào dở, vẫn còn gây nhiều tranh luận không ngớt.

Nhưng chung quy, ai cũng có cùng một quan điểm chung, dù là phương pháp dạy học nào đi chăng nữa, nếu học trò không chủ động tìm tòi kiến thức, trau dồi bản thân, thì mọi chuyện đều là công cốc.

Vì vậy đòi hỏi người thầy phải biết cách hướng dẫn học trò hứng thú với môn học, tự tìm tòi, sáng tạo, và tập luyện thói quen tự học của riêng mình.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 34: Lời Đồn


Chương 34: Lời Đồn

Nhà Lý là triều đại đầu tiên tạo dựng nền giáo dục khoa cử có hệ thống.

Từ thời Bắc thuộc, nhà Hán đã truyền bá chữ Nho, mở trường học ở Đại Việt, hồi đó Đại Việt có tên là quận Giao Chỉ, với quan niệm làm công cụ đồng hóa.

Đến thế kỷ thứ X, chữ Hán đã trở thành chữ viết chính thức, nhưng số người biết chữ Nho rất ít ỏi.

Các nhà sư thường là lớp trí thức quan trọng bên cạnh các viên chi hậu, viên ngoại lang.

Sang thời Lý, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng nhà Văn Miếu ở kinh thành Thăng Long, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, tứ phối bảy mươi hai người hiền của đạo Nho.

Sau đó vua Lý Nhân Tông lập ra Quốc Tử Giám.

Đây là trường học công đầu tiên do triều đình chính thức đứng ra tổ chức, thể hiện sự quan tâm đối với việc học hành của hoàng tộc, còn trường học tư được hình thành trước đó.

Trường học tư đầu tiên là trường Bái Ân của Lý Công Ân, một tông thất nhà Lý không ra làm quan mà ở nhà dạy học.

Ông sống ở thôn Bái Ân, là một học trò của sư Vạn Hạnh, cũng là một tín đồ Phật giáo như nhiều người đương thời nhưng ông vẫn mở trường dạy học truyền thụ kiến thức Nho giáo.

Nhìn đám con ông cháu cha đang xoay đầu trong lớp học, Lý Hạo ngầm mong mỏi ngày hắn thống nhất đất nước.

Khi ấy hắn sẽ chính thức phát triển nền giáo dục Đại Việt, để tất cả mọi người đều có thể được vào Quốc Tử Giám học tập.

Khi ấy hắn sẽ phá bỏ những rào cản phân biệt giới tính, phân biệt tầng lớp trong xã hội.

Có lẽ tương lai ấy không xa.

Lý Hạo bước vào lớp học, mỉm cười đàm đạo với thầy giáo và học trò hồi lâu.

Trước khi rời khỏi lớp học, hắn thiết tha căn dặn học trò: “Non sông Đại Việt có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Đại Việt có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc lân bang được hay không, chính là nhờ một phần vào công học tập của các khanh.” (1)

* * * * * * * * * *

Thời gian như cơn gió thoảng, Lý Hạo chuyển thế đã hơn một tuần.

Mọi chuyện cứ diễn ra bình thường như vậy.

Buổi sáng lên điện chầu, buổi chiều duyệt tấu chương, buổi tối ôm người đẹp.

Nghĩ lại, đúng là làm vua sướng thật.

Chỉ có mấy ngày đầu hơi cực khổ, mệt mỏi vì chưa quen.

Dần dần khi mọi chuyện đã vào guồng, hắn lại trở nên rảnh rỗi.

Vào mỗi tối trong tuần qua, hắn thay phiên đi các cung điện của phi tần, nhưng cách một hôm lại trở về với nguyên phi Trần Thị Dung, qua hôm khác lại đến với hoàng hậu Đàm Ngọc Trúc.

Hai nàng là hai đối tượng cần phải chăm sóc đặc biệt, với Đàm hoàng hậu thì có phần dễ hơn, còn Trần nguyên phi lại tương đối khó khăn.

Muốn hoàn toàn chinh phục được Trần Thị Dung ngoài các tuyệt kỹ tán tỉnh thông thường, còn phải sử dụng chiêu mưa dầm thấm lâu, mưa sâu thấm đất.

Qua các tin tình báo của lão thái giám Lê Việt Tiến, hắn biết được đôi khi nàng còn sai cung nữ liên lạc với gia nhân ở Trần phủ.

Dù sao đi nữa nàng là người của gia tộc họ Trần, không thể hoàn toàn cắt đứt với họ được.

Nhiều khi tâm sự với Trần nguyên phi, hắn bóng gió vấn đề lựa chọn, hắn muốn nàng sẽ toàn tâm toàn ý với hắn.

Bởi vì hai nhà Trần, Lý chắc chắn phải có một nhà diệt vong, một núi không thể có hai hổ.

Mỹ nhân hắn cần, nhưng giang sơn hắn không thể mất, mất giang sơn, hắn sẽ tiêu đời, sao có thể ôm người đẹp được nữa.

Hắn nhận ra sự đắn đo, giằng xé trong tâm hồn nàng, những lúc như thế, hắn chỉ biết ôm nàng vào lòng mà an ủi.

Hắn thề rằng hắn sẽ giữ được nàng, vĩnh viễn mang lại cho nàng hạnh phúc.

Lời thề của hắn có thực hiện được hay không?

Hắn không dám chắc.

Còn Đàm thái hậu dạo này cực kỳ yêu thích đứa con thân sinh.

Mỗi lúc trò chuyện với hoàng nhi, nàng cảm thấy nó luôn biết cách làm cho nàng vui vẻ.

Hình như nàng không thể cự tuyệt những yêu cầu của nó.

Nàng mơ hồ nhận ra, hoàng nhi muốn sắp xếp lại vị trí của các quan viên bên họ Đàm, và phảng phất địch ý với cậu em trai của nàng.

Chẳng lẽ hoàng nhi đã trưởng thành?

Đó là phúc hay là họa?

Không khí trong buổi điện chầu lại càng thay đổi rõ nét hơn.

Những quan viên phe cánh Đỗ Kính Tu lần lượt quy thuận Tô Trung Từ.

Cổng phủ đệ của Tô Trung Từ đã muốn dập nát bởi đám quan viên tới bái phỏng.

Những ai tới viếng thăm, Tô Trung Từ đều đích thân tiếp đãi, tay bắt mặt mừng.

Gia tộc của Tô Trung Từ đã có xu thế phát triển thành một thế gia vọng tộc.

Có thể không lâu nữa, kinh thành sẽ xuất hiện gia tộc lớn mạnh bậc nhất, áp đảo mọi gia tộc khác, gia tộc họ Tô.

Phe họ nhà Trần trở nên đìu hiu hơn bao giờ hết, ở những cuộc tranh chấp lợi ích, họ luôn chịu phần thua thiệt, có thể nói là vớt vát được chút cơm thừa canh cặn mà Tô Trung Từ không thèm để ý.

Tuy vậy, lực lượng của phe họ nhà Trần vẫn rất hùng hậu.

Những chuyện đang xảy ra, không hề ảnh hưởng gì tới căn cơ của họ.

Dân chúng kinh thành đang kháo nhau các loại tin đồn càng ngày càng lan rộng, chủ yếu liên quan đến Tô Trung Từ.

Chẳng hạn như hôm qua Tô Trung Từ mới tuyên bố vạch rõ giới tuyến với gia tộc họ Trần, từ nay về sau gia tộc họ Tô và gia tộc họ Trần không liên hệ gì hết, nước sông không phạm nước giếng.

Và có tin đồn khác như Tô Trung Từ là quan đại thần khuynh đảo triều chính, một tay che trời, quyền lực dưới một người trên vạn người, chèn ép hết thảy mọi quan viên phe phái khác.

Còn nữa, đám người rỗi hơi chuyên ngồi quán rượu, nhậu nhẹt qua ngày, khi lên cơn say ngà ngà, còn rỉ tai nhau.

Đi ra đường mà gặp kẻ nào mặt vênh vênh váo váo, vác tới tận trời, đó chính là gia đinh của Tô phủ.

Nếu chẳng may, ngươi đụng phải họ, thì lập tức dập đầu xin tha tội.

Bằng không, chúng có đánh gãy chân của ngươi, ngươi cũng chẳng biết đi đâu mà kêu oan.

Không biết ai đã truyền tin những sự kiện trong buổi chầu ra ngoài dân gian, khiến cho mấy tên bợm nhậu càng có nhiều chuyện ngồi bốc phét.

Có tên bị rượu xông não, còn đứng ra giữa quán đóng kịch, khua tay múa chân y hệt Tô Trung Từ quát tháo, mắng chửi người gia tộc họ Trần.

Rồi giả bộ dạng Trần Tự Khánh khúm núm cúi đầu, co ro sợ sệt trước uy phong của Tô đại nhân.

Làm cho cả quán rượu vang lên tiếng cười sặc sụa, nồng nặc mùi cồn.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 35: Nhân Tài


Chương 35: Nhân Tài

“Bẩm hoàng thượng, thần có chuyện cần khải tấu.”

Trung thư thị lang Cao Quang Viễn cao giọng xin thưa.

Kể từ lần trước đến nay, Cao Quang Viễn mới lại đứng ra bẩm tấu.

Lý Hạo khoát tay, hờ hững nói: “Chuẩn tấu.”

Cao thị lang bước ra, lên tiếng: “Bẩm hoàng thượng, thần mới nhận được tin cấp báo, ở lộ Hồng đột nhiên bùng phát dịch bệnh đáng sợ, những người mắc bệnh bị triệu chứng nóng sốt liên tục, khắp người nổi lên mụn nước, mẩn đỏ.

Dân tình ở đó hiện nay đang rất hoang mang.

Tin cấp báo dồn dập gửi về, khẩn xin triều đình cứu trợ nhân dân.”

Tỏ vẻ bàng hoàng, Lý Hạo gấp gáp hỏi: “Lại có dịch bệnh đáng sợ như thế?

Bây giờ phải làm sao?

Các khanh mau nghĩ cách để giải quyết vấn đề.”

Thái úy phụ chính Tô Trung Từ dõng dạc cất tiếng: “Vấn đề này cần phải hỏi thượng thư bộ lễ mới phải.

Huỳnh thượng thư, ngài có cao kiến gì, mau nói ra để mọi người cùng bàn bạc.”

Thượng thư bộ lễ Huỳnh Xuân Trinh lập cập đi lên: “Bẩm hoàng thượng, dịch bệnh này có thể là bệnh truyền nhiễm lạ mới xuất hiện.

Vấn đề cấp bách hiện nay, là phải cử ngay người của viện Thái y mau chóng tới vùng bệnh để kịp thời chữa trị, ngăn ngừa căn bệnh lan rộng trong toàn dân.

Và đội ngũ đi cứu chữa cần phải có người dẫn đội đủ danh vọng, để chủ trì những chuyện phát sinh ngoài ý muốn.”

“Được, các ái khanh, có ai nguyện ý đi xử lý chuyện này?”

Lý Hạo hồ hởi nói.

Cả điện chầu im phăng phắc, không một ai đáp ứng lời đề nghị.

Đùa à?

Tới vùng có bệnh truyền nhiễm.

Đầu óc ngươi bị nhúng nước hay gì?

Đi làm chuyện dại dột như vậy, trừ phi ngươi ngại sống quá lâu.

Đời là thế!

Chuyện tốt thì ai cũng nhảy vào tranh nhau sứt đầu mẻ trán.

Chuyện nguy hiểm, không lợi lộc thì ai cũng từ chối lắc đầu, đùn đẩy cho nhau.

Ngay lúc Lý Hạo định nói vài câu khuyến khích, một âm thanh khàn đục, già nua chợt vang lên: “Khụ khụ, bẩm hoàng thượng thần nguyện lĩnh đội đi tới vùng bệnh, khụ khụ, cứu chữa bệnh dân.”

Lão Thái úy Đỗ Kính Tu ở tuổi gần đất xa trời, đã lâu không phát biểu lời nào, đột nhiên ôm ngực ho khan, bước ra gánh vác trách nhiệm nặng nề.

Quả thực khiến cho những quan viên đương trường phải đỏ mặt xấu hổ.

“Đỗ ái khanh, ngài đã già như vậy, đâu cần phải đi tới vùng xa xôi, lại còn nguy hiểm, để chịu cực chịu khổ.”

Lý Hạo lo lắng bảo.

Gương mặt Đỗ Thái úy tiều tụy xanh xao như tàu lá chuối, nhưng giọng điệu cương quyết: “Bẩm hoàng thượng, sức khỏe thần vẫn còn rất tốt, thần làm quan chỉ mong góp sức giúp đời.

Nay dân chúng gặp tai ương, bệnh dịch, thần xin đi tận nơi thị sát tình hình, góp chút tài mọn.

Thần mong mỏi hoàng thượng đáp ứng thỉnh cầu.”

Bất đắc dĩ lắc đầu, Lý Hạo thở dài: “Được rồi, ý khanh đã quyết, trẫm cũng không cản nữa.

Trẫm hạ chỉ, Thái úy Đỗ Kính Tu toàn quyền chỉ huy vấn đề phòng trừ bệnh dịch ở lộ Hồng.”

“Tạ ơn hoàng thượng, thần lĩnh chỉ.”

Lão thái úy run rẩy đáp lời.

Không ai để ý đến một chuyện, vùng đất Nam Sách do Phạm Lãi cai trị, nằm ở lộ Hồng.

* * * * * * * * * *

Sau hơn một tuần quan sát, cuối cùng Lý Hạo đã tìm được hai nhân tài đang làm việc ở Sảnh.

Người thứ nhất tên là Lý Văn Quý, thuộc một nhánh nhỏ của gia tộc họ Lý.

Cha mẹ của hắn mất từ sớm, may có thầy đồ ở cạnh nhà thương tình nhận làm con nuôi.

Thuở nhỏ, Lý Văn Quý nổi tiếng là người ham học, thông minh, có trí nhớ tốt, học một biết mười.

Năm lên mười tuổi, hắn đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi.

Năm hai mươi tuổi, hắn đã học khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử.

Đỗ đạt cao trong kỳ khoa cử, hắn được bổ nhiệm làm chức quan Vệ đại phu.

Tiếc thay, bởi vì tính tình bộc trực, không có khiếu lăn lộn chốn quan trường, Lý Văn Quý đắc tội một Thị lang họ Lý thuộc dòng dõi hoàng tộc.

Nên hắn bị đẩy vào Sảnh, làm chân lóc cóc leng keng, sắp xếp văn thư ở đó, đến tận khi gặp được Lý Hạo.

Và hắn không ngờ con đường quan lộ của hắn đã bước sang trang mới kể từ cái ngày định mệnh ấy.

Người thứ hai tên là Ngô Công Tài, tính tình cẩn thận, chu đáo, thông minh, tháo vát.

Hắn được sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo khổ, bằng cả ý chí nỗ lực vươn lên, hắn học hành thành tài, lặn lội tới kinh thành, đi thi khoa cử do triều đình mở.

Hắn không hiểu tại sao bài thi của hắn làm rất tốt, điểm đạt rất cao, thế nhưng hắn vẫn không được cắt cử chức quan nào, lại bị đẩy vào Sảnh để làm những công việc nhàm chán từ ngày này qua tháng khác.

Ngô Công Tài cứ ngỡ vận mệnh của hắn đến đây là hết, có lẽ suốt đời này hắn chẳng biết hai chữ “thăng quan” được viết như thế nào.

Ấy vậy mà, khi niềm tin của hắn suy sụp đến mức thấp nhất, hắn lại gặp được người ấy.

Người đã thắp lên hy vọng cho hắn, người đã làm cho hắn hiểu lẽ sống nghĩa là gì, người đã cho hắn thấy tương lai rạng rỡ của đất nước, tương lai huy hoàng của dân tộc Đại Việt.

Người ấy chính là đương kim hoàng đế Đại Việt, Lý Huệ Tông.

Ngài đã triệu hắn đến điện Trường Xuân và trò chuyện rất lâu cùng hắn.

Ngài hỏi mọi chuyện về thân thế, quá khứ của hắn.

Từ ánh mắt sắc bén của ngài, hắn cảm giác như ngài có thể hiểu thấu mọi suy nghĩ trong lòng hắn.

Không dám giấu diếm nửa lời, hắn thành thực kể lại toàn bộ quá khứ của bản thân.

Ngài rất thích thú trước những chuyện hắn kể, luôn miệng tán dương không ngớt.

Rồi ngài hạ chỉ cho hắn làm việc bên cạnh ngài, cùng với hắn còn có một người nữa, cũng là đồng liêu với hắn ở Sảnh, Lý Văn Quý.
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 36: Dạo Phố


Chương 36: Dạo Phố

Lý Hạo mừng rơn khi tìm được hai nhân tài ưng ý.

Trước khi quyết định chọn hai người Lý Văn Quý và Ngô Công Tài, hắn đã khoanh vùng ra mười người.

Sau quá trình điều tra cặn kẽ về thân thế và quá khứ của họ, hắn liền chọn hai người này.

Cho vời hai người vào điện Trường Xuân, phỏng vấn cả hai hết một buổi chiều, hắn cực kỳ hài lòng trước biểu hiện của họ, quyết định cho họ nhận chức vụ đặc biệt mà hắn mới quy định, chức thư ký.

Đối với việc hắn hạ chỉ đề xuất chức quan thư ký, Tô Trung Từ chẳng buồn phản đối.

Đây là chức vị hữu danh vô thực, không có chút quyền hành nào, chức thư ký so với mấy tên thái giám ẻo lả cũng không khác nhau là mấy.

Nhiệm vụ hàng ngày của Lý Văn Quý và Ngô Công Tài là chủ yếu sắp xếp lại văn thư, tấu chương cho Lý Hạo.

Ngoài ra, Lý Hạo còn yêu cầu họ một nhiệm vụ tuyệt đối bí mật, duyệt tất cả những tấu chương hàng ngày mà Lý Hạo đã đóng dấu qua.

Cả hai phải sao chép ra một bản tấu chương khác.

Đối với mỗi tấu chương, hai người sẽ thảo luận và nêu ra những ưu, khuyết điểm, phương hướng giải quyết, rồi ghi lại ý kiến của mỗi người vào bên dưới bản tấu chương sao chép.

* * * * * * * * * *

Chắp hai tay sau đít, lững thững đi dạo trong ngự hoa viên, Lý Hạo thở phào nhẹ nhõm, thỏa mãn với những bố trí, sắp xếp của mình.

Cơ bản, mọi chuyện đã tiến triển theo đúng kế hoạch đã đề ra, chỉ còn một số vấn đề cần phải giải quyết nữa.

Bước đi không mục đích hồi lâu, hắn cảm thấy nhàm chán.

Mọi nơi trong Hoàng cung hắn đều đã dạo qua hết rồi, không còn nơi nào để thăm thú nữa.

Thế là Lý Hạo quyết định đổi gió, rảo bước tiến về phía cổng Hoàng thành.

Lý Thông đang cưỡi ngựa đi nước kiệu dẫn theo một đội lính khoảng ba mươi người, trông thấy Lý Hạo chậm rãi tiến về phía hắn, Lý Thông vội vã xuống ngựa, nhanh chóng đi lên hành lễ: “Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.”

“Các khanh bình thân.

Lý Thông đi với trẫm.”

Lý Hạo vừa nói vừa tiến về phía cổng Hoàng thành.

Đám lính đồng loạt đứng dậy, Lý Thông bước theo phía sau Lý Hạo, cất tiếng hỏi: “Bẩm hoàng thượng, có chuyện gì vậy?”

“Buồn chán, muốn ra khỏi bức tường vô vị này, tham quan kinh thành xem có gì hứng thú hay không?”

Lý Hạo bình thản trả lời.

“Hoàng thượng dự định đi vi hành sao?

Hoàng thượng đợi một lát, để thần sai người kiếm vài bộ quần áo dân thường đã.”

Lý Thông ngẫm nghĩ đoạn nói.

“Ha ha, không ngờ kẻ thô kệch như khanh lại là một người chu đáo.

Đợi thì đợi.”

Chăm chú nhìn Lý Thông, Lý Hạo cười cười nói.

Sau khi thay y phục dân thường, Lý Hạo cùng với Lý Thông, Lê Việt Công và bốn cao thủ Túc vệ quân rời Hoàng thành, hòa mình vào đời sống nhộn nhịp của phố phường Thăng Long.

Lúc đầu, Lý Thông định mang theo đội lính ba mươi người để bảo vệ Lý Hạo.

Nhưng Lý Hạo cật lực phản đối, bảo rằng đi cả đám rình rang như thế sẽ mất cảm giác thú vị khi dạo chơi, rốt cuộc Lý Thông đành khuất phục mà chiều theo ý của hắn.

Phố phường ở kinh thành Thăng Long vốn là khu dân cư sinh hoạt và buôn bán sầm uất, nằm ở phía đông của Hoàng thành Thăng Long ra đến sát sông Hồng.

Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố ở Thăng Long là các phố nghề.

Dân tài tứ xứ kéo về kinh thành, họ cọ xát, đua trí, đua tài tạo nên nét tài hoa độc đáo chỉ có ở người Thăng Long, ở đất Thăng Long, đó là cách sành mặc, sành chơi, sành ăn, sành làm.

Thương nhân và thợ thủ công sống rải rác trong tất cả các phố phường.

Các thuyền buôn có thể vào giữa phố để buôn bán trao đổi, khiến các phố nghề càng phát triển.

Và chính sản phẩm được buôn bán trở thành tên phố, với chữ "Hàng" đằng trước, mỗi phố chuyên môn buôn bán một loại mặt hàng.

Các phố được ngăn với nhau bởi những chiếc cổng lớn xây như bức tường mà bề rộng chiếm cả mặt đường, ban đêm được đóng một cách nghiêm ngặt.

Trong mỗi phố là những dãy nhà san sát làm theo kiểu chồng bao diêm.

Các dãy nhà này vừa là nhà ở lại vừa là cửa hiệu.

“Việt Công, ngươi nhìn xem, dãy nhà này toàn là bán nón, những cái nón ở đây ngộ nghĩnh thế nhỉ.”

Lý Hạo vờ vịt cầm cái nón rộng vành đang bày bán trên gian hàng lên quay ngang, quay dọc, giống hệt một thằng nhóc ăn mày mới lượm được cái đùi gà bị cắn dở.

Hắn thừa sức biết về những khu phố trong kinh thành Thăng Long, nhưng lần đầu ngắm cảnh phố phường cổ xưa vẫn tạo cho hắn cảm giác lạ lẫm.

“Bẩm hoàng... thiếu gia, khu phố này gọi là phố Hàng Nón, những thứ buôn bán chủ yếu ở đây là nón ạ.”

Lê Việt Công bình thản trả lời.

“Bà chủ, bán nón.”

Hắn dự định mua vài cái nón về nịnh vợ, tuy rằng không phải món đồ quý giá nhưng biết cách tặng, biết cách lấy lòng thì đối với nữ giới, cái gì cũng sẽ trở thành ngôi sao trên trời.

Vàng, bạc, châu báu, các phi tần đâu có thiếu gì những món đó, hiện tại các nàng chỉ thiếu những món đồ lạ mắt mà thôi.

Một người phụ nữ khoảng tam tuần, đi từ trong gian hàng ra, tươi cười đon đả: “Chào cậu chủ, cậu muốn mua chiếc nón nào, ở quán của tôi có rất nhiều loại nón.

Cậu muốn mua nón để làm gì?

Quán chúng tôi nón nào cũng có, dùng để đi lễ, hay đội để đi làm, quán chúng tôi còn mới chế tạo ra loại nón đội khi đi cày giữa trưa nắng nữa kìa.”

Lý Hạo khá vui vẻ khi nghe bà chủ quảng cáo về những mặt hàng trong quán.

Thực kỳ lạ, dân Việt thời xưa đã biết cách chào hàng rất điệu nghệ rồi, hắn trả lời: “Bán cho ta loại nón đẹp nhất, tốt nhất, mới nhất của quán, cứ mang ra, ta mua hết.”

Bà chủ quán khẽ nhíu mày liếc ngang liếc dọc Lý Hạo.

Nhìn bộ quần áo của hắn và những người đi theo đang mặc, bà chủ nghĩ vỡ đầu cũng không ra hắn có thể là một đại phú ông.

Có ai đời một phú ông lại đi mặc bộ quần áo bình thường tới như vậy ra đường bao giờ.

Bộ quần áo hắn đang mặc chắc chỉ khoảng 10 đồng.

Một gã mặc bộ quần áo 10 đồng lại dám vênh vang đòi mua hết những cái nón tốt nhất của quán.

Thế sự đổi thay mà!
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 37: Bà Chủ Quán Đanh Đá


Chương 37: Bà Chủ Quán Đanh Đá

Bà chủ quán ưỡn ẹo, phẩy tay, nói: “Cậu chủ cứ đùa.

Chắc là cậu chủ mới ở quê lên kinh thành chơi chứ gì?

Cậu không biết chứ, quán của tôi là quán nón có thương hiệu lâu đời nhất ở phố Hàng Nón.

Đến đời tôi có thể nói là đời thứ ba làm nón ở kinh thành Thăng Long này.

Nón của cửa hiệu chúng tôi bán ra đều là hảo hạng bậc nhất.

Bởi vậy giá tiền có hơi đắt một chút.

Cậu hiểu ý tôi chứ.

Hay là cậu cứ xem mấy chiếc nón ở ngoài gian hàng đi, thấy cái nào ưng ý thì cậu cứ chọn.

Vừa nhìn thấy cậu tôi đã cảm mến rồi, tôi bán giảm cho cậu hai phần ba giá tiền.”

Mặc dù ngoài mặt bà chủ quán nịnh bợ, đong đưa tuy nhiên trong lòng thầm cười nhạt: “Hừ, đồ nhà quê, tưởng có tí tiền cũng bày đặt chơi sang, tao mà không chém cho mày đứt cổ, thì làm sao có thể xứng với biệt danh Chuyên Gia Chặt Chém của phố Hàng Nón chứ hả.”

Lý Hạo cười khẩy xem bà chủ quán đang diễn xiếc trước mặt hắn như một con khỉ, hắn hất hàm nói: “Ê, Lý Thông, hình như bà già sắp rụng răng này khinh thường chúng ta không có tiền thì phải.”

“Có lẽ vậy, cậu chủ muốn tôi xử lý con mụ này như thế nào, đánh chết hay đập quán?”

Lý Thông thờ ơ đáp.

“Khà khà, quá bạo lực, có cách nào nhẹ nhàng hơn không hả Lê Việt Công?”

Lý Hạo lắc đầu cảm thán trước sự hiếu chiến của tên hổ đói Lý Thông, quay sang hỏi vị thái giám đứng bên trái.

“Theo ý tiểu nhân, nên giảm bảy thành giá tiền phải trả xuống mới phải đạo.”

Lê Việt Công hồi đáp với giọng eo éo như gà mái.

“Ồ... ngươi rất có năng khiếu làm con buôn đấy.

Hay là ta tặng ngươi cái tiệm nón này, để ngươi ở đây mà phát triển khả năng thiên phú của mình.”

Lý Hạo hài hước nói.

“Dạ, tiểu nhân không có hứng thú với việc ấy, được theo hầu thiếu gia là phúc phận của tiểu nhân.”

Lê Việt Công hoảng hốt trả lời.

Thấy mấy thằng nhà quê buông lời phỉ báng thẳng thừng, kẻ tung người hứng không xem mình vào đâu, bà chủ quán nổi cơn tam bành, tốc ngược váy lên, chỉ thẳng vào mặt Lý Hạo mà mắng: “Mấy thằng ranh con chúng mày ở cái xó xỉnh nào chui ra mà bố láo, bố toét vậy hả?

Dám chửi bà là bà già rụng răng à?

Còn đòi đập phá quán của bà nữa.

Muốn chết à, bay đâu, đánh gãy chân bọn này cho tao.”

Ngay tức thì, mười mấy người ở trong nhà vọt ra ngoài, bao vây đám người Lý Hạo vào giữa.

Bà chủ quán thấy con cháu trong nhà xông ra, máu nóng dâng lên, tiếp tục xỉa tay vào mặt Lý Hạo, gào lớn: “Đánh, đánh gãy chân bọn láo lếu này cho bà...

A...”

Lý Hạo uốn tay như gió chộp lấy ngón tay của bà chủ quán, siết mạnh một cái, kéo thẳng xuống.

Bà chủ quán bị mất đà, ngã dúi dụi tới phía trước, chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, ăn thêm một tát vào mặt, bay thẳng vào gian hàng nón, cả gian hàng đổ sụp, những chiếc nón bay tán loạn khắp nơi.

Hình như trong đám nón hỗn loạn đó, có lẫn vài cái răng hàm mới bị rơi từ trong miệng của bà chủ quán.

Xem ra hắn vẫn còn nhẹ tay, quả đấy mà hắn đẩy ngược ngón tay của bà chủ quán về phía trước, thì ngón tay không tóe máu, lòi xương trắng mới là chuyện lạ.

Những kẻ bao vây đứng như phỗng, há hốc mồm nhìn bà chủ quán bị đánh bay người.

Kế tiếp, mới có một cậu bé ở trong đám bao vây chạy lại, đỡ bà chủ quán, khóc lóc gọi mẹ liên hồi.

Đám người nhà của bà chủ quán vừa định nhào vào Lý Hạo thì một tiếng quát vang lên: “Tất cả dừng tay.”

Một người đàn ông khoảng lục tuần, khom lưng chống gậy đi ra.

Ông già bình tĩnh quan sát mọi diễn biến đang xảy.

Trước tiên ông nhìn đứa con gái đang nằm ôm mặt, mếu máo không nói được câu nào.

Tiếp theo nhìn tới mấy người Lý Hạo.

Ông giật mình, sửng sốt khi nhận ra khí chất âm u, lạnh lẽo tỏa ra từ trên người Lý Thông và bốn cao thủ Túc vệ quân.

Ông già có thể nhận ra điều đó, vì ông cũng là một người học võ, tự lượng sức mình chỉ đấu được với một người trong năm người bọn họ.

Nếu cả năm người cũng xông lên?

Ông không dám nghĩ nữa.

Quét ánh mắt tới Lý Hạo, bởi vì ông già ở trong nhà, đoạn sau mới chạy ra, ông không được chứng kiến cú ra đòn chớp nhoáng của Lý Hạo, nên ông không nhận ra điều gì đặc biệt ở chàng trai trẻ này.

Nhưng hắn có tới năm cao thủ đi bảo vệ, chắc chắn không phải là người bình thường, ít nhất ông không thể đắc tội với hắn.

Đánh giá cẩn thận tình hình, ông già lớn giọng ra lệnh: “Các con đi vào nhà hết đi, đứng cả ở đây còn ra thể thống gì nữa, bế cả con bé ngu ngốc kia vào nhà mà chữa trị.”

Ông già khom lưng cúi đầu hối lỗi: “Các vị đại nhân, con bé nhà tôi còn non dại, có mắt không tròng.

Kính mong các vị tha thứ cho nó, mong các vị hãy bỏ qua cho cửa hiệu của chúng tôi.”

Lý Hạo lạnh nhạt bảo: “Được, ông rất thức thời, coi như chưa có chuyện gì xảy ra.

Đem hết những cái nón có giá trị nhất của quán ra đây, tôi mua hết.”

“Nào dám, nào dám.

Các vị đại nhân cứ lấy, sao tôi có thể lấy tiền của các vị được.”

Ông già xua tay, cười cầu tài, ngoái cổ vào trong nhà gọi: “Hùng, Bảo mau lấy các loại nón quý nhất của nhà chúng ta ra đây.”

Một tiếng đáp ứng từ trong nhà vọng lại, rồi hai gã thanh niên mang ra khoảng vài chục chiếc nón đủ loại màu sắc, kiểu dáng khác nhau.

Lý Hạo thấy vậy, nói với Lê Việt Công: “Ngươi trả tiền nón cho ông chủ đi, thêm tiền phí tổn thuốc thang cho bà già rụng răng kia nữa.”

“Vâng, cậu chủ.”

Lê Việt Công đáp lời, đoạn dúi vào tay ông già một túi tiền đồng.

Ông già rối rít từ chối không nhận, mãi đến khi Lý Thông bực mình túm cổ ông già lên bắt nhận tiền, lúc đấy ông ta mới chịu nhận cho.

Bị sự kiện ở quán Hàng Nón làm cho cụt hứng, Lý Hạo không còn tâm tình bát phố.

Hắn quyết định quay về Hoàng cung, trên đường về hắn hí ha hí hửng cầm hết chiếc nón này tới chiếc nón kia để nhìn ngó.

Trong lòng thầm tính toán phân chia những chiếc nón cho các phi tần yêu dấu của hắn.

Đêm nay, lại một đêm điên cuồng nữa, chọn cung của phi tần nào đây?

Nhiều vợ là sướng hay là khổ đây?

Hắn chọn đáp án là khổ.

Chứ sao?
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 38: Gã Công Tử Bột


Chương 38: Gã Công Tử Bột

Đang mải mê cầm chiếc nón tròn tròn, xinh xinh có quai màu hồng bằng tơ lụa, Lý Hạo giơ lên trước mặt để ngắm nghía, hắn không để ý phía trước có một đám người đang đi ngược đường.

Khi hắn vừa dán mắt vào chiếc nón, vừa chuyển hồn về Hoàng cung, mà tưởng tượng tối nay sẽ sử dụng tư thế nào để đưa ái phi lên đỉnh vu sơn, bất chợt hắn tông mạnh vào một người.

Bịch!

“Mắt chó không biết nhìn người à!”

Kẻ bị Lý Hạo đụng phải rít lên.Thì ra đám người đi ngược đường với Lý Hạo là một gã công tử bột gầy như que củi, con trai của một thương gia giàu có ở kinh thành, cùng với sáu tên gia đinh trong nhà.

Gã công tử có thói quen đi bên trái đường, ra ngoài lúc nào hắn cũng đi bên trái, hắn luôn quan niệm đi bên phải đường sẽ toàn gặp điềm gở, còn đi bên trái sẽ luôn mang lại chuyện hoan hỉ cát tường.

Hắn nghe nói ở lầu Mộng Xuân mới xuất hiện một ca kỹ đẹp tuyệt trần, tối nay sẽ ra mắt, vì thế ngay xế chiều hắn vội vội vàng vàng dẫn theo đám gia đinh tới lầu Mộng Xuân để giành ghế, hắn sợ tới trễ chỉ có nước đứng ngoài đường ngáp gió đông.

Đúng là chí lớn gặp nhau, hai kẻ đang có tư tưởng dâm dật trong đầu, đều không để ý tới phía trước, thế là đụng rầm vào nhau.

Tuy nhiên, có lẽ gã công tử bột ấy không nên sùng bái quan niệm đi đường trái, đường phải, thì hắn sẽ không phải trả một cái giá đắt tới như vậy.

“Hỗn Xược...”

Lê Việt Công cong ngón tay chỉ tới, eo éo quát.

Lý Thông siết chặt hai nắm đấm bước lên nửa bước.

Đúng lúc đó, Lý Hạo giơ hai tay giật ngược Lê Việt Công và Lý Thông ra phía sau.

Hắn cúi đầu, nịnh nọt: “Vâng vâng, tiểu nhân đáng chết, lúc nãy tiểu nhân mải suy nghĩ quá, không nhìn thấy công tử, mong công tử thứ lỗi cho.”

Gã công tử khinh bỉ nhìn Lý Hạo bằng nửa con mắt, gằn giọng: “Bổn công tử đang có chuyện bên người, nếu không bổn công tử sẽ khiến ngươi muốn viết chữ chết cũng không xong.

Cút!”

Lý Hạo rối rít cúi đầu liên tục như gà mổ thóc, dạt sang một bên, vừa cúi đầu vừa nói: “Vâng vâng, tiểu nhân cút, tiểu nhân cút.”

Hắn giơ tay ra sau lưng vẫy vẫy, đẩy đám người Lý Thông về phía sau.

Họ hậm hực tuân theo ý muốn của Lý Hạo, không cam lòng gườm gườm nhìn gã công tử.

Đợi cho đám người gã công tử đi được một đoạn, Lý Hạo chuyển sang bộ mặt lạnh lùng, nghiến răng nói: “Các ngươi đi về cuối con phố, đợi trẫm ở đó, không được đi đâu, đây là ý chỉ của trẫm.”

Đám người Lý Thông chần chừ nhìn nhau rồi đứng nguyên tại chỗ, không ai chịu dời bước.

Lý Hạo gầm lớn: “Đi nhanh, các ngươi muốn kháng chỉ?”

Lý Thông nhìn thẳng vào mắt Lý Hạo, kế đó quay đầu đi trước, bốn người lính Túc vệ quân lục tục theo sau, thái giám Lê Việt Công lắc mông đi cuối cùng.

Sải chân thật dài, Lý Hạo chạy theo ngã rẽ mà đám người gã công tử vừa đi.

Thấy bóng dáng đám gia đinh khi nãy, hắn đi chậm lại, chầm chậm theo sát.

Một lúc lâu sau, chọn được địa điểm ưng ý, ánh mắt lóe lên tia sáng, hắn vuốt ve ngón tay út trên bàn tay trái, hộc tốc chạy tới, gọi: “Công tử ơi công tử, xin dừng bước.”

Gã công tử ngoái đầu nhìn lại, nhận ra thằng nông dân hèn hạ khi nãy đụng phải mình đang gọi, bực bội nói: “Chuyện gì?

Bổn công tử không rảnh kết giao với ngươi, đừng có giở thói quen thấy người sang bắt quàng làm họ.

Mau cút đi.”

Lý Hạo trưng ra bộ mặt hèn mọn, hổn hển nói: “Là chuyện tốt... công tử hãy... nghe tiểu nhân nói.”

“Nói nhanh lên, nếu không phải chuyện tốt, bổn công tử vả gẫy răng ngươi.”

Gã công tử ngửa mặt lên trời không thèm nhìn Lý Hạo, một tay đặt ngang sau lưng, một tay cầm quạt phe phẩy, khệnh khạng đi.

“Là em gái của tiểu nhân muốn gặp công tử, nó là tuyệt sắc mỹ nhân nổi tiếng kinh thành.”

Lý Hạo cười hềnh hệch tiếp lời.

“Cái gì?

Tuyệt sắc mỹ nhân?

Thằng ngu, e hèm, người anh em, cậu bảo cậu có một cô em gái xinh đẹp nổi tiếng kinh thành hả?”

Gã công tử dừng phắt ngay lại, chộp lấy hai vai Lý Hạo hỏi dồn.

“Đúng thế.

Tiểu nhân có một đứa em gái vô cùng xinh xắn, có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, như chim sa cá lặn, như sắc nước hương trời.

Được cả kinh thành xưng tụng là tuyệt thế mỹ nhân, thế gian hiếm có, trông nó hệt như tiên nữ hạ phàm, bồ tát giáng lâm.”

“Có người con gái đẹp đến thế sao?

Tại sao ta lại không biết nhỉ?

Làm sao mà nàng lại muốn gặp ta?

Anh rể, nàng đang ở đâu, anh rể mau mau đưa em đi gặp nàng” Gã công tử không phát hiện ra bên khóe miệng hắn, nước miếng đang nhiểu thành dòng.

“Từ từ đã công tử, để tiểu nhân nói hết lời.

Rất lâu trước đây, thật là lâu trước đây, tiểu nhân không nhớ rõ ngày tháng năm nào, có một lần tiểu nhân thấy đứa em gái cứ mãi ngẩn ngơ, tiểu nhân gặng hỏi, nó mới cho biết là đã thầm thương trộm nhớ công tử.

Nó vừa thấy công tử đã cảm mến ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Phải chăng đây chính là tình yêu sét đánh trong truyền thuyết?

Tiểu nhân luôn tự hỏi trong lòng...”

Lý Hạo bắt đầu huyên thuyên nhằm câu chết con cá ngu xuẩn này.

“Dừng, dừng, dừng, thằng ngu, tao bảo mày nói mấy cái thứ tào lao này à?

Em gái mày đang ở đâu?”

Nắm chặt vai Lý Hạo bằng cả hai tay, gã công tử rống vào mặt Lý Hạo, kèm theo cơn mưa phùn mùa hạ.

Vuốt vuốt mặt, phẩy tay văng đống nước bọt hôi hám nhễ nhại đi, Lý Hạo chỉ tay về phía con hẻm ở góc khuất vắng tanh, ra vẻ thần bí nói: “Em gái của tiểu nhân đang sốt ruột đợi chờ công tử ở con hẻm nhỏ đằng kia, mời công tử quá bộ sang gặp gỡ đứa em gái khờ dại của tiểu nhân ạ.”

Gã công tử hứng khởi như nhặt được vàng: “Sao không nói sớm, nãy giờ toàn nói vớ vẩn, làm tốn thời gian ngọc ngà của bổn công tử.”

Dứt lời, gã công tử nhanh chóng đi tới con hẻm ấy, sáu tên gia đinh lẽo đẽo theo sau.

Lý Hạo chợt bước lên chắn trước mặt sáu tên gia đinh, giơ tay ngăn lại: “Các vị đại nhân, công tử nhà các vị chỉ có thể đi một mình, các vị không thể đi theo.”

Một tên dợm bước đi lên, lớn tiếng hỏi: “Tại sao bọn tao không thể đi theo, mày là cái thá gì hả, tránh ra.”

“Ê, ê, công tử, nếu mà em gái của tiểu nhân thấy nhiều người quá, nó sẽ sợ và chạy mất đấy.

Công tử chỉ có thể đi một mình.”

Lý Hạo ngoái cổ, gọi với theo gã công tử đang xăm xăm đi về con hẻm.

Nghe thấy Lý Hạo nói như thế, gã công tử cuống quýt mắng: “Mấy thằng khốn kia, định phá chuyện tốt của bổn công tử hả?

Đứng tại đó, không có lệnh của bổn công tử, không được đi theo.”

Lý Hạo hừ lạnh trong lòng, nhìn đám gia đinh đứng bên góc đường, quay lưng, cười gằn một tiếng, hấp tấp chạy theo gã công tử, giọng như hụt hơi: “Công tử...

đợi với...”
 
[Lịch Sử - Xuyên Việt] Nhất Thống Thiên Hạ
Chương 39: Ác Ma


Chương 39: Ác Ma

Trời lúc này đã xẩm tối, ánh mặt trời chỉ còn le lói vài tia sáng yếu ớt chiếu xuống kinh thành.

Gã công tử bước nhanh vào con hẻm vắng tanh không người.

Vừa rẽ vào ngõ, gã liền hắng giọng: “Khụ khụ, mỹ nữ, bổn công tử hào hoa phong nhã, ngọc thụ lâm phong đã tới rồi đây.”

Đáp lời gã công tử chỉ là khoảng không gian tĩnh lặng rợn người, hắn ngạc nhiên nhìn quanh, ngay cả bóng dáng của một con chuột cũng không thấy, chứ nói gì đến bóng hồng người đẹp.

Mắt tóe lửa, gã công tử quay lại trông thấy Lý Hạo tươi cười đi đến, gã rít qua kẽ răng: “Em gái của ngươi đâu?

Ngươi có biết hậu quả của việc giỡn mặt bổn công tử là gì không hả?”

“Có, tao biết.”

Từ “biết” vừa rời khỏi miệng thì Lý Hạo dậm mạnh chân phóng tới chỗ gã công tử đang đứng.

Lý Hạo vươn tay bóp lấy cổ gã, đẩy mạnh vào tường, dần dần siết chặt.

Gã công tử ú ớ, đỏ bừng mặt, tay chân quờ quạng loạn xạ.

“Tao rất bội phục mày, hơn ba mươi năm qua, chưa có ai dám sỉ nhục tao.

Mày rất can đảm.”

Lý Hạo hoàn toàn biến thành con người khác, đôi mắt vằn vện những lằn đỏ, cả người tỏa ra khí chất lạnh lẽo tựa hồ đóng băng cả vùng không khí quanh cơ thể, cánh tay đang bóp cổ gã công tử như cái gọng kềm nung lửa hằn lên những đường gân xanh kinh khủng.

Gã công tử hoảng hốt dùng cả hai tay khua loạn, chụp cánh tay đang bóp cổ mình, cố gỡ ra, gã cảm giác như đang nắm phải một thanh sắt cứng rắn.

Bất lực, gã dùng chân đá, đạp loạn lên người thằng nông dân ti tiện lại cảm giác như đá phải thân cây cổ thụ sừng sững.

Gã công tử tuyệt vọng nhận ra gã đã chọc phải một tên ác ma, một ác ma tàn bạo.

“Cái cảm giác bị sỉ nhục ấy, tao cũng đã từng trải qua.

Hà hà, đã lâu lắm rồi, những hình ảnh ấy cứ mãi đeo bám linh hồn tao như một con đỉa hút máu.

Tao còn nhớ như in, lúc đó cô ấy ở bên cạnh tao, cô ấy yếu đuối, cô ấy mong manh.

Tao quá cao ngạo, tao quá tự tin có thể bảo vệ được cô ấy, tuổi trẻ mà.

Nhưng, ha ha ha, tao đã làm được gì hả, tao lại để cô ấy chết trước mặt tao.

Mày có biết vì sao không?

Vì sao không hả?

Đó là vì mấy thằng công tử khốn nạn như bọn mày, cô ấy đã chết, chết rồi, chết trong đau đớn, ha ha ha...”

Lý Hạo cười sằng sặc, âm thanh của hắn biến âm vặn vẹo, nghe như tiếng ken két của cánh cửa lâu ngày không mở.

Hắn vung tay tát mạnh vào mặt gã công tử.

Chát!

Môi gã công tử bật máu, gã muốn hét lên, tuy nhiên gã hét không được, cổ họng của gã bị bóp nghẹt.

Ánh mắt tràn ngập sự đau đớn, hãi hùng, gã kiệt lực cầu xin: “Th... a...

ư...

ư... tha...”

Lý Hạo vừa gầm gừ trong miệng, vừa nắm cổ gã công tử như nắm một con gà, dộng mạnh cả người gã uỳnh uỵch vào tường theo từng câu nói: “Mắt chó không biết nhìn người à?

Ở cái thế giới khốn nạn này, Tô Trung Từ có thể huênh hoang trước mặt tao, Trần Tự Khánh có thể đùa giỡn tao, nhưng một con chó ghẻ như mày mà cũng dám ở trước mặt tao sủa loạn hả?

Để tao coi mắt chó của mày đáng mấy đồng tiền.”

Rơi vào trạng thái điên loạn, hai ngón tay Lý Hạo tạo thành hình cái kéo chọc thẳng vào tròng mắt gã công tử, ngoắc lại móc ra hai con mắt bầy nhầy máu tươi, bóp mạnh bàn tay, cặp mắt vỡ vụn tràn ra ngoài theo kẽ bàn tay Lý Hạo.

Tay chân gã công tử co giật liên hồi như bệnh động kinh, cả người hắn run lẩy bẩy.

Hai dòng máu từ đôi mắt trống huơ trống hoác chảy ròng ròng xuống má, xuống cánh tay Lý Hạo, rơi từng giọt tong tong xuống nền đất.

Hơi thở của gã trở nên yếu dần, tay chân thõng xuống.

Không nhận ra gã công tử đã sắp nói lời vĩnh biệt thế gian tươi đẹp.

Lý Hạo vẫn bóp cổ gã, vừa mắng chửi vừa đấm liên hồi vào ngực bụng của gã:

“Một đấm này là cho ông trời khốn nạn.”

Huỵch.

“Một đấm này là cho tia sét khốn kiếp.”

Huỵch.

“Một đấm này là cho thằng chó chết Tô Trung Từ.”

Huỵch.

“Một đấm này là...

Hừ, mới ba đấm đã chết, thằng yếu đuối.”

Thấy máu tươi trào ra từ hốc mắt, khóe miệng, lỗ tai gã công tử, còn hơi thở đã tắt tự lúc nào, Lý Hạo tức giận ném cơ thể mềm oặt của gã công tử vào góc tường.

Hắn lật gã công tử nằm úp sấp mặt xuống đất, xé roẹt một miếng vải trên áo gã, lau chùi vết mau loang lổ trên hai tay.

Hà hơi thở ra thật sâu, điều chỉnh lại vẻ mặt, Lý Hạo chạy ra ngoài hẻm, nhảy như con choi choi, vẫy tay lia lịa mà réo: “Các vị đại nhân, các vị đại nhân, chuyện không hay rồi, công tử đột nhiên bất tỉnh, các vị tới nhanh lên.”

Sáu tên gia đinh hoảng hồn hoảng vía chạy như bay tới, cả đám vô cùng lo lắng.

Nếu mà công tử có mệnh hệ gì thì ông chủ ở nhà sẽ róc da lột xương mất.

Sáu gã chạy nhanh vào hẻm, phát hiện công tử nằm sõng xoài trên mặt đất.

Hai gã chạy tới chỗ gã công tử đang nằm, lay nhẹ, hai gã đứng ở phía sau thất thần nhìn chằm chằm công tử, còn hai gã chạy sau cùng vừa tới nơi chưa hiểu chuyện gì xảy ra, một trong hai gã hỏi Lý Hạo đứng sát bên cạnh: “Có chuyện gì xảy ra?”

Gã gia đinh ấy vừa dứt lời, Lý Hạo lướt tới, quàng hai tay lên đầu bẻ thật mạnh, gã cất tiếng hỏi chết ngay tức khắc.

Lý Hạo không chần chừ xòe tay thành trảo như sư tử vồ mồi, bóp chặt cổ họng gã gia đinh đang trợn mắt nhìn hắn.

Lý Hạo lắc mạnh cổ tay, gã gia đinh chưa kịp kêu tiếng nào đã hồn du địa phủ.

Hai gã gia đinh đứng quay lưng về phía Lý Hạo, vẫn không hay biết nguy hiểm cận kề, hồi hộp nhìn đồng bọn lay tỉnh công tử.

Khi gã gia đinh lật người công tử thì một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp đập vào mắt bốn gã.

Công tử vừa nãy còn quát tháo bọn họ, bây giờ đã trở thành một cái xác không hồn, kinh khủng hơn là những dòng máu ở các bộ phận trên khuôn mặt công tử vẫn còn ri rỉ máu tươi chảy ra, hình ảnh hốc mắt trống rỗng sâu thẳm xoáy sâu vào tâm linh bọn họ.

Một gã gia đinh đang ngồi kế cái xác, mặt mũi tái xanh, ộc ra toàn bộ bữa cơm chiều, ói đến cả mật xanh mật vàng.

Hai gã gia đinh đang đứng thất hồn lạc phách, tay chân run run như sắp ngã.

Chỉ có duy nhất gã gia đinh vừa mới lật cái xác, là một cao thủ võ lâm thực sự, gã nhíu mày suy nghĩ chốc lát, mường tượng ra được tình hình, gã quay ngoắt đầu lên hét: “Coi chừng phía sau.”
 
Back
Top Bottom