Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
SẤM VƯƠNG LÝ TỰ THÀNH


Năm 1628, tức là năm thứ 2 đời Sùng Trinh, vùng Thiểm Tây lâm vào nạn đói nghiêm trọng.

Dân chúng không có lương thực, đã đào hết rễ cỏ, bóc hết vỏ cây, đành phải ăn cả đất trên núi.

Nhưng quan lại địa phương vẫn cứ đốc thúc thu thuế, trong khi dân chúng không có gì giao nộp.

Chịu không nổi, nhiều người nổ ra khởi nghĩa nông dân.

Mùa đông năm đó, triều Minh điều 1 số quân từ Cam Túc lên Bắc Kinh.

Quân tới huyện Kim (nay là Du Lâm, Thiểm Tây), không được phát tiền lương, liền ào vào làm nháo động nha môn.

Tướng cầm đầu đứng ra ngăn cản, 1 người lính trẻ phẫn nộ, hô hào mọi người xông tới giết luôn viên tướng và quan huyện.

Người lính đó là Lý Tự Thành.

Lý Tự Thành quê ở Mễ Chi, Thiểm Tây, sinh trong 1 gia đình nông dân.

Khi còn ít tuổi, đã thích cưỡi ngựa bắn cung, luyện tập võ nghệ.

Sau, cha mất đi, cảnh nhà bần cùng, Lý Tự Thành phải tới dịch trạm Ngân Xuyên làm phu giữ ngựa.

Ông cư xử với mọi người đều chí tình nên được mọi phu trạm yêu mến.

Gia đình Lý Tự Thành từ lâu vẫn làm sai dịch đi thu thuế cho quan địa phương.

Vùng Mễ Chi mất mùa mấy năm liền, nông dân không nộp được tô thuế.

Một địa chủ họ Ngải ở địa phương thừa cơ cho vay lãi cao để bóc lột dân nghèo.

Lý Tự Thành thấy mọi người không nộp được thuế, liền đứng ra vay lãi cao nộp thuế thay cho tất cả.

Thời gian sau, tên địa chủ họ Ngải bắt Lý Tự Thành phải trả nợ.

Ông không kiếm được tiền trả, bị hắn trình quan, bắt ông lên đánh 1 trận thừa sống thiếu chết, rồi cùm xích lại, mang ra phơi nắng, không cho ăn uống gì.

Dân chúng và lính trạm thương xót, khẩn cầu quan huyện cho ông đứng dưới bóng cây và cho ăn uống.

Quan huyện không thuận.

Quần chúng bừng bừng phẫn nộ, hùa nhau xông vào tháo cùm xích cho Lý Tự Thành rồi đưa ông cùng trốn khỏi Mễ Chi, tới Cam Túc xin đăng lính.

Lần này, Lý Tự Thành cầm đầu giết quan tướng, rồi dẫn mấy chục bạn lính đi theo nghĩa quân do Vương Tả Quải lãnh đạo, được làm 1 đầu lĩnh.

Tổng đốc Dương Hạc thấy nghĩa quân ngày càng đông thì vô cùng sợ.

Ông ta vừa mang quân trấn áp vừa dùng quan cao lộc hậu để chiêu hàng tướng lĩnh nghĩa quân.

Vương Tả Quải nghe lời chiêu dụ, liền đầu hàng.

Lý Tự Thành buộc phải đi tìm toán nghĩa quân khác.

Sau, nghe tin có đội nghĩa quân lớn, thủ lĩnh là Cao Nghinh Tường, tự xưng là "Sấm Vương", liền quyết tâm đi theo Cao Nghinh Tường.

Thấy Lý Tự Thành đem lực lượng đến theo, Cao Nghinh Tường cả mừng, lập tức phong ông làm tướng, phụ trách 1 toán quân.

Mọi người gọi ông là "Sấm tướng".

Cao Nghinh Tường liên hợp với các nghĩa quân khác, chiến đấu lưu động trong phạm vi 5 tỉnh vùng Sơn Tây, Hà Bắc, thanh thế ngày càng lớn. quân triều đình đi đánh dẹp, đều bị đánh bại.

Sùng Trinh Đế giận quá hóa khùng, điều động hạ lệnh quân đội các tỉnh tới bao vây quân khởi nghĩa, toan đánh 1 đòn quyết định.

Để đối phó lại cuộc bao vây lớn đó, Cao Nghinh Tường triệu tập thủ lĩnh 13 nghĩa quân tới họp tại Huỳnh Dương để bàn đối sách.

Trong hội nghị, mọi người tranh luận sôi nổi, có người cho là quân triều đình quá mạnh, chi bằng chuyển về căn cứ cũ ở Thiểm Tây lẩn tránh 1 thời gian rồi tính kế sau.

Có người phản đối chủ trương đó, nhưng lại không nêu được chủ trương gì hay.

Lúc đó, Lý Tự Thành đứng dậy nói: "Một người lính dám liều mình còn có thể chiến đấu giết địch một trận kịch liệt.

Nay chúng ta có mười vạn đại quân, địch tới bao vây, sao chúng ta lại không chống lại được?".

Cao Nghinh Tường hỏi, giọng tán thưởng: "Vậy theo ý tướng quân, chúng ta nên làm thế nào?".

Lý Tự Thành nêu lên chủ trương: cần phân lực lượng làm mấy cánh, cùng đánh ra, phá vỡ vòng vây của địch.

Mọi người nghe nói có lý, liền bàn luận chi tiết, phân toán quân làm 6 cánh, cánh thì kìm giữ địch, cánh thì tác chiến lưu động.

Cao Nghinh Tường, Lý Tự Thành cùng đội nghĩa quân do Trương Hiến Trung lãnh đạo đánh về hướng đông, phá vòng vây, tiến chiếm Phượng Dương thuộc miền Giang Hoài.

Phượng Dương là quê hương của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương.

Sau khi Minh Thái Tổ chết, nơi đây trở thành Trung Đô của triều Minh.

Quân nông dân đánh vào Phượng Dương, tức là đánh vào nơi tượng trưng oai linh của triều Minh.

Đội quân của Cao Nghinh Tường, Trương Hiến Trung tiến đánh, thế như chẻ tre, không đầy 10 ngày đã hạ được Phượng Dương, đốt trụi khu lăng miếu các hoàng đế Minh và ngôi chùa Hoàng Giác, nơi trước kia Chu Nguyên Chương đã tu hành.

Đòn đánh đó làm toàn thể triều đình rung động.

Được tin, Sùng Trinh Đế vừa buồn vừa giận, lập tức hạ lệnh xử tử tuần phủ Phượng Dương.

Cao Nghinh Tường và Lý Tự Thành lại dẫn quân về Thiểm Tây, lưu động tiến đánh quân triều đình, khiến quân quan triều Minh luống cuống không sao đối phó nổi.

Sùng Trinh Đế và các đại thần trong triều đều coi đội quân của Cao Nghinh Tường là cái gai trong mắt, tìm trăm phương nghìn kế hòng tiêu diệt.

Một lần, Cao Nghinh Tường dẫn quân tiến công Tây An, tuần phủ Thiểm Tây là Tôn Truyền Đình đem quân mai phục trong hẻm núi thuộc Châu Chí (nay là Chu Chí, Thiểm Tây).

Cao Nghinh Tường không phòng bị, qua kịch chiến, bị bắt và hy sinh.

Lý Tự Thành dẫn số quân còn lại thoát được vòng vây.

Các tướng sĩ mất chủ soái, hết sức đau buồn.

Mọi người thấy Sấm tướng Lý Tự Thành là người xưa nay được Sấm Vương Cao Nghinh Tường tin yêu nhất, lại có võ nghệ cao cường, chiến đấu dũng cảm, liền tôn ông lên thay Cao Nghinh Tường, làm Sấm Vương.

Từ đó về sau, danh tiếng của Lý Sấm Vương được truyền khắp gần xa.

Danh tiếng Lý Sấm Vương càng cao thì vương triều Minh càng sợ hãi và căm ghét.

Sùng Trinh Đế hạ lệnh cho tổng đốc Hồng Thừa Trù và tuần phủ Tôn Truyền Đình chuyên đối phó với Lý Tự Thành.

Lý Tự Thành rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn.

Nhờ nghĩa quân chiến đấu dũng cảm và Lý Tự Thành đa mưu túc trí, nên nhiều lần nghĩ quân phá được vòng vây, hoạt động suốt dải Tứ Xuyên, Cam Túc, Thiểm Tây, liên tục tiến đánh quân triều đình.

Trong hoàn cảnh khó khăn đó, thủ lĩnh 2 cánh nghĩa quân là Trương Hiến Trung, La Nhữ Tài đều về hàng triều đình, 1 số tướng dưới quyền Lý Tự Thành cũng bỏ trốn.

Những sự kiện đó càng làm cho hoàn cảnh của Lý Tự Thành thêm khó khăn.

Năm 1638, Lý Tự Thành từ Cam Túc di chuyển về Thiểm Tây, chuẩn bị đánh Đồng Quan, thì quân Minh từ 2 bên núi, dựa vào ưu thế địa hình, xông tới hết lớp này đến lớp khác.

Nghĩa quân anh dũng chống lại, xung sát liên tục trong mấy ngày đêm, hàng vạn nghĩa quân hy sinh, số còn lại bị đánh tan tác.

Lý Tự Thành và bộ tướng Lưu Tông Mẫn cùng 16 bộ tướng khác đánh lui nhiều đợt quân địch, mới vượt khỏi vòng vây.

Họ trèo đèo lội suối, khắc phục biết bao khó khăn, tới được vùng núi Thương Lạc ở đông nam Thiểm Tây, lẩn trốn ở đó.

Quân Minh từ Đồng Quan, phái nhiều kỵ binh trinh sát đi lùng truy bắt Lý Tự Thành.

Nhưng truy lùng suốt mấy tháng, vẫn không có tăm hơi gì.

Sau có người nói rằng, Lý Tự Thành bị trọng thương trong chiến đấu, đã bị chết, quân Minh mới dần lơi lỏng việc truy lùng.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LƯ TƯỢNG THĂNG CHẾT TRẬN CỰ LỘC


Trong khi Lý Tự Thành và 17 bộ tướng đang chỉnh đốn đội ngũ ở vùng núi Thương Lạc, thì ở biên giới phía đông bắc triều Minh đang trong tình hình rất căng thẳng.

Sau khi Hùng Đình Bật, Viên Sùng Hoán bị giết oan, triều Minh không còn tướng tài nào để trấn giữ vùng biên cương đó.

Quân Hậu Kim nhiều lần đột nhập cùng trong cửa quan giết người, cướp gia súc.

Năm 1638, Thanh Thái Tông phái Thân vương Đa Nhĩ Cổn dẫn đại quân tiến hành cuộc viễn chinh lần thứ 4.

Quân Thanh tiến thẳng tới ngoại vi Bắc Kinh, kinh thành lâm nguy.

Nội bộ vương triều Minh mỗi người một ý, người chủ trương chống lại, kẻ chủ trương giảng hòa.

Sùng Trinh Đế không có chủ kiến dứt khoát, vừa gọi binh lực các nơi về cứu kinh sư, vừa sai Binh bộ thượng thư Dương Tự Xương và hoạn quan Cao Khởi Tiềm phái người lên đông bắc thăm dò việc cầu hòa với triều Thanh.

Nghe nói Lư Tượng Thăng, tổng quản việc quân sự vùng Tuyên Phủ, Đại Đồng là 1 tướng tài, Sùng Trinh Đế liền triệu ông về kinh thành, hạ lệnh cho ông thống lĩnh việc quân trong toàn quốc.

Lư Tượng Thăng tới Bắc Kinh, Sùng Trinh Đế lập tức triệu kiến, hỏi ông nên đối phó với quân Thanh như thế nào.

Lư Tượng Thăng sớm biết việc triều đình đang bí mật nghị hòa, liền nói thẳng với Sùng Trinh Đế: "Bệ hạ giao cho thần chỉ huy quân đội, thần chỉ biết đánh trận, không biết đến việc gì khác".

Sùng Trinh Đế thấy trong lời nói có ý chỉ trích, không được vui, phải phân trần: "Nghị hòa là ý kiến của một số đại thần, còn triều đình chưa từng có quyết định nghị hòa".

Ông yêu cầu Lư Tượng Thăng đi bàn bạc với Dương Tự Xương về biện pháp đối phó với quân Thanh.

Dương Tự Xương thấy Lư Tượng Thăng cản trở việc nghị hòa do mình chủ trương thì rất bực bội, liền trao cho Cao Khởi Tiềm làm tổng giám, chỉ huy 1 nửa trong số 4 vạn viện binh từ các nơi đến.

Như vậy, Lư Tượng Thăng về danh nghĩa là thống soái, nhưng trên thực tế chỉ nắm được 2 vạn binh mã.

Quân Thanh tiến theo 8 đường, đánh sâu vào nội địa.

Khi đánh tới Cao Dương, nguyên binh bộ thượng thư Tôn Thừa Tông, người từng ủng hộ Viên Sùng Hoán, nay đã nghỉ hưu tại quê nhà, nghe tin quân Thanh đánh tới, liền dẫn cả gia đình gồm mười mấy người lên thành chống lại.

Quân Thanh đánh chiếm được Cao Dương, cả gia đình Tôn Thừa Tông đều hy sinh anh dũng.

Lư Tượng Thăng dẫn quân tới Bảo Định, đang chiến đấu chống quân Thanh, thì Sùng Trinh Đế lại tin theo lời vu cáo của Dương Tự Xương, cho rằng ông chỉ huy kém cỏi, hạ lệnh giáng chức ông, buộc ông lập công chuộc tội ở cương vị thấp hơn.

Dương Tự Xương liền chia số quân hiện dưới quyền Lư Tượng Thăng, trao 1 nửa số quân cho người khác chỉ huy.

Lư Tượng Thăng đến Cự Lộc, trong tay chỉ còn 5000 quân.

Lúc đó, số quân của Cao Khởi Tiềm chỉ đóng cách Cự Lộc 50 dặm.

Lư Tượng Thăng cử người cầu cứu Cao Khởi Tiềm, nhưng Cao Khởi Tiềm từ chối.

Lư Tượng Thăng đơn độc tác chiến, lâm vào tình thế rất khó khăn.

Mặt khác, Dương Tự Xương lại cố tình gây khó dễ, lương thực tiếp tế không đủ, tướng sĩ đều đói lã.

Một buổi sáng, Lư Tượng Thăng bước ra cửa doanh trại, cúi mình vái toàn bộ tướng sĩ xung quanh, rồi nói: "Chúng ta chịu ơn sâu của nhà nước, chỉ lo không thể vì nước hy sinh, chứ không lo gì giữ mạng sống của mình".

Các tướng sĩ nghe nói, đều xúc động rơi nước mắt, thề quyết tâm tử chiến.

Lư Tượng Thăng chia 5000 quân còn trong tay thành 3 cánh, giao cho 2 tướng Hổ Đại Uy và Dương Quốc Trụ đảm nhận 2 cánh tả, hữu, tự mình phụ trách trung quân, kịch chiến với quân Thanh, đánh lui 1 đội quân đối phương.

Nửa đêm hôm đó, xung quanh trại Minh bỗng vang rền tiếng thanh la của quân Thanh, mấy vạn kỵ binh Thanh tiến tới vây chặt trại Minh.

Hổ Đại Uy dẫn quân phá vây, bị quân Thanh đánh bật lại.

Lư Tượng Thăng thét lớn: "Hổ tướng quân!

Đây là giờ phút chúng ta tận trung báo quốc!".

Tướng sĩ nhất tề hưởng ứng, tiếng hô giết vang trời dậy đất.

Cuộc chiến đấu diễn ra suốt từ sáng đến tối.

Lư Tượng Thăng trúng 4 phát tên và bị đâm trúng 3 chỗ, vẫn xông xáo chiến đấu như 1 người bằng máu, còn giết được mấy chục lính Thanh rồi mới ngã xuống.

Cao Khởi Tiềm không đợi tới khi cuộc chiến phía trước kết thúc, đã nhổ trại chạy.

Đa Nhĩ Cổn dẫn quân Thanh đánh tới tận Tế Nam, Sơn Đông, cướp được rất nhiều chiến lợi phẩm rồi mới rút ra ngoài cửa quan.

Thanh Thái Tông đánh Minh nhiều lần, lần nào cũng thắng, nhưng không dừng chân chiếm giữ Trung nguyên.

Những thị trấn quan trọng ngoài cửa quan như Ninh Viễn, Cẩm Châu vốn nằm trong tay quân Minh nhưng có nguy cơ bị cắt đứt phía sau khi quân Thanh vào sâu.

Sau cuộc lui quân lần thứ 4, Thanh Thái Tông liền quyết tâm đánh chiếm Cẩm Châu.

Năm 1641, quân Thanh vây đánh Cẩm Châu, Sùng Trinh Đế phái tổng đốc Hồng Thừa Trù dẫn 30 vạn quân tới Cẩm Châu cứu viện.

Quân Minh mới tới Tùng Sơn, Thanh Thái Tông liền đích thân thống lĩnh đại quân bao vây Tùng Sơn cắt đứt đường tiếp lương phía sau quân Minh.

Năm sau, thành Tùng Sơn bị phá vỡ, Hồng Thừa Trù bị bắt làm tù binh.

Tướng giữ Cẩm Châu nghe tin Tùng Sơn thất thủ, cũng đầu hàng quân Thanh.

Hồng Thừa Trù bị áp giải tới Thịnh Kinh, Thanh Thái Tông cử người đến khuyên hàng.

Lúc đầu, Hồng Thừa Trù tỏ ra rất kiên quyết dù thuyết khách nói thế nào cũng không thèm để ý.

Mấy hôm sau, Thanh Thái Tông đích thân đến thăm, ân cần hỏi han sức khỏe, lại cởi áo lông điêu ra, khoác cho Hồng Thừa Trù.

Hồng Thừa Trù mềm lòng, liền quì xuống xin hàng.

Thu phục được Hồng thừa Trù, Thanh Thái Tông vô cùng phấn khởi, ngoài việc ban thưởng vàng bạc, của cải, còn cho tấu nhạc diễn trò để chúc mừng.

Tướng lĩnh Thanh thấy Thanh Thái Tông coi trọng Hồng Thừa Trù như vậy, đều thắc mắc.

Thanh Thái Tông liền hỏi: "Các khanh ngày ngày xông pha mưa gió đánh trận hiểm nguy vất vả như thế, là để làm gì?".

Các tướng trả lời: "Đều là nhằm mục đích chiếm lấy Trung nguyên cho Đại Thanh ta!".

Thanh Thái Tông cười nói: "Chúng ta tiến vào Trung nguyên, như người mù đi đường.

Nay ta kiếm được người dẫn đường, sao lại không phấn khởi cho được?".

Sau đại chiến Tùng Sơn, Cẩm Châu, toàn bộ vùng phía bắc Sơn Hải Quan đều bị quân Thanh khống chế.

Quân Thanh muốn vào Trung nguyên, chỉ còn vướng Ninh Viễn và Sơn Hải Quan thôi.

Chính đang lúc Thanh Thái Tông nuôi bão lớn, đánh vào Sơn Hải Quan, thì đột nhiên bị bệnh mất.

Con ông là Phúc lâm mới 6 tuổi lên kế vị.

Đó là Thanh Thế Tổ, cũng gọi là Thuận Trị Đế.

Thuận Trị Đế nhỏ tuổi, do 2 chú là Thân vương Đa Nhĩ Cổn và Tế Nhĩ Cáp Lang phụ chính.

Chính trong thời gian đó, tình hình Trung nguyên có những biến chuyển đột ngột.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRƯƠNG HIẾN TRUNG KỲ TẬP TƯƠNG DƯƠNG


Năm 1639, Trương Hiến Trung lại nổi dậy khởi nghĩa ở Cốc Thành, Hà Bắc.

Nguyên do là trước kia, Trương Hiến Trung nhận lệnh chiêu an ở Cốc Thành không phải là thực lòng đầu hàng, mà là để ngầm tích lũy lương thực cho cuộc nổi dậy sau này.

Các tướng Minh phát giác được ý đồ đó, chuẩn bị đem quân tới đàn áp.

Trương Hiến Trung ra tay trước, giết luôn huyện lệnh của triều Minh ở Cốc Thành, đốt cháy dinh quan, rồi giương cờ khởi nghĩa.

Không lâu sau, La Nhữ Tài cũng khởi nghĩa hưởng ứng.

Tổng binh triều Minh là Tả Lương Ngọc đem quân tiến công, bị Trương Hiến Trung đánh cho bại trận, chỉ còn mấy trăm tàn binh bại tướng chạy thoát.

Sùng Trinh Đế nổi giận, lập tức cách chức chủ soái Hùng Văn Xán và tổng binh Tả Lương Ngọc, rồi cử binh bộ thượng thư Dương Tự Xương tới Hồ Quảng vây đánh Trương Hiến Trung.

Dương Tự Xương mang theo Thượng Phương bảo kiếm của Sùng Trinh Đế, dẫn 10 vạn người ngựa oai phong lẫm liệt tiến tới Tương Dương.

Xương cử Tả Lương Ngọc và 1 số tướng khác dẫn quân bao vây chặt nghĩa quân.

Khi Trương Hiến Trung dẫn quân di chuyển tới núi Mã Não, trong hàng ngũ có 1 tên gian trà trộn vào, dẫn nghĩa quân vào vòng vây, bị quân Tả Lương Ngọc đánh thua, tổn thất nhiều lực lượng, cả vợ và con của Trương Hiến Trung cũng bị bắt.

Trương Hiến Trung dẫn 1000 kỵ binh, từ Hồ Bắc di chuyển tới Tứ Xuyên, Dương Tự Xương bám sát truy kích, dời sở chỉ huy đến Trùng Khánh, chuẩn bị tiêu diệt nghĩa quân tại Tứ Xuyên.

Xương cho yết bảng khắp nơi, nói ai bắt được Trương Hiến Trung sẽ được thưởng 1 vạn lạng vàng và phong tước hầu.

Ngờ đâu hôm sau, ngay tại sở chỉ huy của Dương Tự Xương, xuất hiện rất nhiều biểu ngữ, viết: "Ai chém được đầu Dương Tự Xương, sẽ được thưởng ba tiền". (Ý khinh bỉ, nói chiếc đầu của hắn không đáng giá gì).

Dương Tự Xương phái quân đi khắp nơi truy lùng, nhưng quân khởi nghĩa của Trương Hiến Trung lúc ở phía đông, lúc ở phía tây khiến quân triều đình loay hoay vất vả, luôn xoay như chong chóng.

Mãi tới đầu năm sau, quân triều đình mới đối mặt với nghĩa quân ở huyện Khai.

Khi các tướng Minh là Mãnh Như Hổ và Lưu Sĩ Kiệt dẫn toán quân mệt nhọc đuổi tới thì nghĩa quân của Trương Hiến Trung lại vòng ra đằng sau, từ trên núi hò hét xông xuống.

Toàn bộ quân triều đình tan tác, Lưu Sĩ Kiệt bị giết, còn Mãnh Như Hổ khó khăn lắm mới chạy thoát.

Nghĩa quân đánh lui kẻ địch, cùng nhau vỗ tay cao giọng hát:

"Trước có Thiệu tuần phủ (chỉ tuần phủ Tứ Xuyên Thiệu Tiệp Xuân)

Xoay quanh như khiêu vũ.

Sau có Liêu giám quân (chỉ giám quân Liêu Đại Hanh)

Bám theo ta từng lũ

Dương Các Bộ tài cao (chỉ binh bộ thượng thư Dương Tự Xương)

Chỉ cách ta ba bộ".

Bài ca đó truyền tới tai quân Minh, khiến Dương Tự Xương dở khóc dở cười.

Năm 1641, Trương Hiến Trung phát hiện Dương Tự Xương bố trí quân chủ lực ở cả Tứ Xuyên, còn Tương Dương rất mỏng yếu, liền bất ngờ dẫn quân rời Tứ Xuyên, di chuyển về phía đông với tốc độ hành quân ba, bốn trăm dặm trong 1 ngày đêm, bỏ đại quân Dương Tự Xương tụt lại phía sau rất xa.

Tới Tương Dương thuộc Hồ Bắc, gặp 1 toán quân Minh cản đường.

Trương Hiến Trung để La Nhữ Tài đối phó , còn mình dẫn quân tinh nhuệ vượt thẳng tới Tương Dương.

Dương Tự Xương đang ở Trùng Khánh nhận được tin, vội phái người tới Tương Dương, truyền lệnh cho quân Minh ở đó phải bố phòng nghiêm mật.

Ngờ đâu, phái viên đi nửa đường đã bị nghĩa quân bắt giữ.

Nghĩa quân khám thấy trong người phái viên có lệnh bài, công văn, trên có đóng đại ấn của Dương Tự Xương.

Trương Hiến Trung gọi con nuôi là Lý Định Quốc tới, sai hóa trang làm phái viên của Dương Tự Xương, dẫn mấy "tùy tùng", đem lệnh bài, công văn về Tương Dương.

Bọn họ tới thành Tương Dương lúc đêm tối, liền gọi quân giữ thành mở cửa.

Quân giữ thành thấy nói là phái viên của Dương Các bộ, lại thấy có đủ lệnh bài, công văn nên không nghi ngờ gì, liền cho họ vào thành.

Ngay đêm hôm ấy, những người ấy lẻn đi đốt lửa ở mấy nơi trong thành.

Dân trong thành nửa đêm đang ngủ say, thấy lửa cháy khắp nơi, thì hoảng hốt, rối loạn.

Nhân tình hình đó, quân khởi nghĩa mở cửa thành, đưa đại đội binh mã tiến vào.

Quân triều đình không sao đối phó được nữa.

Sau khi chiếm được thành, nghĩa quân mở cửa nhà giam, cứu được nhiều binh lính và người nhà nghĩa quân bị giam giữ.

Một cánh quân tới ngay Tương Vương phủ, bắt sống Tương vương Chu Dực Minh.

Trương Hiến Trung ngồi trong đại sảnh của Tương Vương phủ, gọi lính giải Chu Dực Minh tới.

Chu Dực Minh sợ run cầm cập, quì dưới đất xin tha.

Trương Hiến Trung nói: "Ta không cần cái gì khác, chỉ cần cái đầu ngươi, có việc?".

Chu Dực Minh nghe nói bị đem giết thì dập đầu lia lịa, van xin: "Trong cung của tôi có nhiều vàng bạc châu báu, cúi xin Thiên tuế sử dụng, chỉ xin tha cho cái mạng hèn này!".

Trương Hiến Trung cười ha hả, nói: "Ta đã chiếm được Tương Dương, thì vàng bạc, châu báu chẳng lẽ lại không thuộc về ta?

Có điều, không có cái đầu của ngươi thì Dương Tự Xương chết sao nổi?".

Nói xong, thét binh sĩ lôi Chu Dực Minh xuống thềm, chém đầu.

Sau đó, Trương Hiến Trung cho đi kiểm kê, thấy vô số lương thực, binh khí do Dương Tự Xương tàng trữ ở đó.

Ông hạ lệnh đem mười mấy vạn lạng bạc trong Tương Vương phủ phân phát cho dân nghèo.

Trăm họ thấy Tương vương tàn ác đã bị xử tội, đều hân hoan phấn khởi, ca ngợi nghĩa quân.

Tin Tương Dương thất thủ truyền tới Tứ Xuyên, Dương Tự Xương sợ hãi rụng rời.

Toàn bộ kế hoạch vây diệt nghĩa quân mà ông ta tốn bao công sức sắp đặt đã hoàn toàn sụp đổ.

Đặc biệt là hành động nhanh chóng, xuất quỷ nhập thần của Trương Hiến Trung diễn ra ngay trước mũi mình, khiến 1 cứ điểm quan trọng bị mất, 1 phiên vương bị giết, thì biết trình bày với Sùng Trinh Đế sao đây?

Dương Tự Xương kinh hồn lạc phách, từ Tứ Xuyên chuồn về Hồ Bắc, vừa tới Sa Thi, lại nhận được 1 tin dữ nữa: quân khởi nghĩa của Lý Tự Thành rời vùng núi Thương Lạc, chỉnh đốn lại đội ngũ, nhân lúc Hà Nam không có binh lực phòng thủ, tiến chiếm Lạc Dương, giết chết Phúc vương Chu Thường Tuân.

Sự kiện này khiến Dương Tự Xương vừa kinh ngạc vừa sợ hãi.

Ông ta nghĩ đi nghĩ lại, không tìm ra đường thoát, đành tự sát.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ NHAM VÀ HỒNG NƯƠNG TỬ


Khi Lý Tự Thành rời Thương Lạc, tới Hà Nam thì vùng Hà Nam đang bị hạn hán lớn, hàng ngàn hàng vạn dân đói lang thang trên đường.

Khi Lý Tự Thành vừa tới, dân nghèo nghe nói Sấm Vương đã xuống núi, đều đua nhau tới xin theo.

Một hôm, 1 toán dân đói dẫn đầu là 1 thanh niên có dáng thư sinh đi tìm Sấm vương, Lý Tự Thành hỏi han biết được thanh niên đó là Lý Nham (còn có tên là Lý Tín), vừa được mọi người cứu ra khỏi nhà lao huyện Kỷ.

Lý Nham vốn là 1 con nhà giàu ở huyện Kỷ.

Mấy năm trước, trong vùng có thiên tai nặng, nhiều nông dân không có lương ăn.

Lý Nham lấy lương thực trong gia đình ra tiếp tế cho họ.

Hành động đó là ít thấy đối với 1 người nhà giàu.

Vì vậy, người nghèo kính trọng nhân cách của ông, đều gọi ông là "Lý công tử".

Huyện Kỷ gặp thiên tai liên tiếp, người nghèo bị dồn tới mức khó mà sống nổi.

Nhưng quan huyện vẫn cử sai dịch tới bắt họ nộp tô, nộp thuế.

Lý Nham sợ xảy ra chuyện không hay, liền đến gặp viên quan huyện họ Tống, khuyên ông ta tạm dừng việc thu thuế và trích 1 số lương thực của công ra cấp cho dân nghèo.

Quan huyện trả lời: "Cấp trên thúc ta nộp gấp lương nuôi quân, mà thúc rất gấp, ta không thu tô thu thuế thì lấy gì để nộp.

Thêm nữa, lương thực trong kho công đã cạn, lấy gì mà cấp cho dân đói.

Nếu thương họ, thì mấy nhà giàu các anh mở kho ra mà cho họ".

Lý Nham thấy quan huyện không chấp nhận đề nghị, liền về nhà, mở kho lương thực, chia hơn 200 thạch (thạch = 103,35 lít) lương cho dân đói.

Dân đói thấy Lý công tử cho lương, đều rất phấn chấn, nhưng người đói nhiều, chỉ riêng lương thực của nhà họ Lý cũng chẳng giải quyết được bao nhiêu.

Có người nảy ra ý, tụ tập mấy chục người tới 1 nhà giàu khác, đề nghị họ làm theo gương nhà họ Lý.

Những căn nhà đó không chịu cho, lấy cớ là trong nhà không sẵn lương thực.

Dân đói nổi khùng, hò nhau xông vào nhà, cướp lương thực đem chia nhau.

Các nhà giàu hoảng sợ, kéo lên huyện tố cáo.

Quan huyện hỏi: "Thế thì chúng làm loạn à?".

Liền phái mấy sai dịch cầm lệnh bài đi ngăn cản và đe dọa, nếu còn tụ tập đi vòi vĩnh, sẽ nghiêm trị.

Dân đói đang hăng, sợ gì lệnh quan huyện.

Họ túm lấy sai dịch, giằng lệnh bài ném xuống đất giẫm nát, rồi kéo lên nha môn, hò hét: "Chúng tôi không có lương ăn, trước sau gì cũng chết.

Chi bằng liều với các ngươi một phen!".

Quan huyện thấy dân đói toan bạo động, sợ hãi núp trong nha môn không dám ló ra.

Ông ta nghĩ, Lý Nham có quan hệ tốt với dân đói, liền vội cử người đi mời Lý Nham tới, đề nghị ông nghĩ giúp biện pháp.

Lý Nham nói: "Nếu ngài không muốn để xảy chuyện thì chỉ có cách ngừng ngay việc thúc thuế và khuyên các nhà giàu bỏ lương thực ra".

Quan huyện không có cách nào khác, đành miễn cưỡng tỏ ý ưng thuận.

Dân nghèo đứng đợi bên ngoài, nghe nói Lý Nham đã thuyết phục được quan huyện, mới nguôi giận.

Có người nói: "Chúng ta cứ về đi, nếu trong mấy ngày họ không bỏ lương ra, thì chúng ta sẽ tính sổ với họ".

Nào ngờ, khi dân đói vừa giải tán, huyện lệnh liền thay đổi ý kiến.

Ông ta nghĩ, không thúc thuế của dân đói thì tuy gỡ được cái vướng trước mắt, nhưng trên vẫn thúc thì xử trí ra sao, liệu mình còn giữ được chiếc mũ cánh chuồn trên đầu không?

Ông ta suy đi tính lại, thấy căm tức Lý Nham, cho rằng dân đói dám làm như vậy, đều do anh chàng họ Lý này đầu têu ra.

Ông ta lập tức sai viết 1 cáo trạng gửi lên cấp trên, vu cáo Lý Nham mua chuộc lòng người, chuẩn bị tạo phản.

Tin đó lộ ra, ai cũng lo cho Lý Nham.

Trong khu rừng gần đó, có 1 đội nghĩa quân, đứng đầu là 1 cô gái, chuyên mãi võ giang hồ, mọi người gọi cô là Hồng Nương tử.

Hồng Nương tử nghe nói tới chuyện Lý Nham quyên góp lương thực cứu đói, hết sức khâm phục.

Nay thấy Lý Nham có nguy cơ bị bức hại, liền tới nhà Lý Nham, đưa chàng lên núi.

Lý Nham ban đầu không hiểu bản ý của Hồng Nương tử.

Sau thấy Hồng Nương tử muốn chàng ở lại, tham gia nghĩa quân, thì không muốn, nên 1 thời gian sau tìm cách trốn về nhà.

Lý Nham vừa tới nhà, bọn sai dịch đầu trâu mặt ngựa mang cùm xích đã đợi sẵn, lập tức bắt chàng điệu về nha môn thẩm vấn.

Trăm họ trong huyện Kỷ nghe tin Lý Nham bị bắt, đều nói: "Lý công tử bị giam trong nhà lao, chẳng lẽ chúng ta chỉ giương mắt nhìn công tử chịu khổ mà không cứu sao?".

Hồng Nương tử được tin, cũng dẫn quân tới.

Đám đông dân đói đi theo nàng, người cầm dao, kẻ cầm gậy, xông vào đánh phá nha môn huyện. quan huyện và lũ sai dịch thấy nghĩa quân và dân đói đông đảo, mạnh mẽ, liệu thế không chống nổi, đều trốn lủi hết.

Hồng Nương tử và dân đói phá nhà giam, cứu Lý Nham ra.

Đến bước này, Lý Nham biết rằng không thể về nhà được nữa, bèn nghe theo lời khuyên của Hồng Nương tử, cùng đi theo dân khởi nghĩa đi tìm Sấm vương.

Lý Tự Thành nghe chuyện, biết Lý Nham tuy là 1 thư sinh con nhà giàu nhưng cũng là người bị bức hại; thêm nữa, nghĩa quân đang cần tìm 1 mưu sĩ, nên giữ Lý Nham lại với nghĩa quân.

Lý Nham từ lâu đã nghe danh Lý Tự Thành là người anh hùng có hoài bão lớn, nên 1 lòng 1 dạ giúp Lý Tự Thành đánh đổ triều Minh.

Khi đội ngũ nghĩa quân lớn mạnh, Lý Tự Thành liền bắt tay vào việc chấn chỉnh tổ chức, tăng cường kỷ luật, đồng thời tiếp thu kiến nghị của Lý Nham, nêu ra khẩu hiệu "quân điền miễn phí" (chia đều ruộng, miễn thuế).

Lý Nham cử 1 số binh sĩ giả trang làm thương nhân thâm nhập vào vùng do quân triều đình đóng giữ, rỉ tai với mọi người: "Quân đội của Lý Sấm vương giữ kỷ luật rất nghiêm, không giết người, không cướp bóc của dân!".

Dân chúng vốn đã giận thấu xương trước hành động giết người cướp của của quân triều đình, nay thấy quân của Lý Sấm vương có kỷ luật nghiêm minh, nên không ai bảo ai, đều tự động hướng theo nghĩa quân.

Nhân dân địa phương còn truyền nhau câu ca dao do Lý Nham đặt ra:

"Quan đòi hết đấu đến thăng

Dân nghèo sớm tối khó lòng sống qua

Mau mau mở cửa đón "vua" (Sấm vương)

Mọi người được sống chan hòa, ấm no

Sấm vương như mẹ như cha

Hết cho cơm gạo lại cho áo quần

Mau mau mở cửa đón quân

Sấm vương đã tới thì dân đổi đời".

Quân khởi nghĩa của Lý Tự Thành được nhân dân ủng hộ, sau khi giết Phúc vương Chu Thường Tuân, lại liên tiếp đánh thắng mấy trận lớn ở Hà Nam.

Năm 1643, Lý Tự Thành đánh phá Đồng Quan, giết chết thống soái triều Minh là binh bộ thương thư Tôn Truyền Đình.

Không lâu sau, liền tiến chiếm Tây An (tức cố đô Trường An thời Hán, Đường).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGÔ TAM QUẾ MƯỢN QUÂN THANH


Năm 1644, Lý Tự Thành chính thức xây dựng chính quyền ở Tây An, lấy quốc hiệu là Đại Thuận.

Sau đó, ông thống lĩnh 1 triệu quân, vượt qua Hoàng Hà, chia làm 2 cánh tiến đánh Bắc Kinh; 2 cánh quân thế như chẻ tre, tiến nhanh như vũ bão, chỉ tới tháng 3 năm đó đã hội quân ở chân thành Bắc Kinh.

3 đội quân tinh nhuệ nhất của triều Minh đóng tại ngoài thành đều đầu hàng.

Quân khởi nghĩa đánh phá mãnh liệt vào thành Bắc Kinh.

Đến tối ngày hôm sau, Sùng Trinh Đế trèo lên Môi Sơn (ở phía sau hoàng cung, nay là Cảnh Sơn, Bắc Kinh) nhìn ra xung quanh, thấy lửa sáng rực trời, biết là tình thế nguy cấp, liền chạy về cung, ra sức gõ chuông, muốn triệu tập các quan tới bảo vệ.

Nhưng gõ chuông mãi, chẳng thấy 1 ai.

Ông biết ngày tận số đã tới, liền chạy lên Môi Sơn, treo cổ tự sát trên 1 cây hòe cạnh Thọ Hoàng Đình.

Triều Minh từng thống trị Trung Quốc trong 227 năm, tới đây kết thúc.

Quân Đại Thuận phá vỡ thành Bắc Kinh, đại tướng Lưu Thông Mẫn dẫn quân vào thành trước tiên.

Sau đó, Đại Thuận vương Lý Tự Thành đầu đội nón tre, mình mặc áo vải xanh, cưỡi tuấn mã, thong thả đi vào Tử Cấm thành.

Dân chúng Bắc Kinh vui mừng như trong ngày hội, treo đèn kết hoa đón chào quân khởi nghĩa.

Chính quyền Đại Thuận vừa treo bảng yên dân, kêu gọi mọi người an cư lạc nghiệp, vừa trừng trị nghiêm khắc bọn hoàng thân quốc thích, tham quan ô lại triều Minh.

Lý Tự Thành cử Lưu Tông Mẫn và Lý Quá đi tra xét, buộc bọn quyền quý đó phải nộp mọi tài sản do bóc lột dân chúng mà có, sung làm quân phí của nghĩa quân.

Bọn nào chống lại không nộp, đều bị nghiêm trị.

Số hoàng thân quốc thích nào bị dân chúng căm giận cao độ đều bị đưa ra chém đầu.

Một đại thần là Ngô Tương bị Lưu Tông Mẫn đến khám nhà và bắt giữ để truy hỏi về tài sản.

Có người nói với Lý Tự Thành rằng con trai Ngô Tương là Ngô Tam Quế hiện làm tổng quân triều Minh ở Sơn Hải Quan, trong tay còn mấy chục vạn quân.

Nếu chiêu hàng được Ngô Tam Quế, sẽ giải trừ được mối uy hiếp lớn đối với chính quyền Đại Thuận.

Lý Tự Thành thấy có lý, liền bảo Ngô Tương viết thư cho con trai, khuyên Ngô Tam Quế về hàng quân khởi nghĩa.

Ngô Tam Quế vốn được triều Minh phái ra ngoài cửa quan để chống Thanh, đóng tại Ninh Viễn để phòng giữ từ xa.

Khi nghĩa quân tiến tới gần Bắc Kinh, Sùng Trinh Đế liên tiếp ra lệnh gọi Ngô Tam Quế về ứng cứu.

Ngô Tam Quế về tới Sơn Hải Quan, thì Bắc Kinh đã bị nghĩa quân chiếm mất.

Mấy hôm sau, nhận được thư cha khuyên hàng, Ngô Tam Quế do dự cân nhắc.

Đương nhiên, ông ta không muốn đầu hàng quân khởi nghĩa, nhưng nếu không đầu hàng thì khó chống lại được lực lượng mạnh mẽ đông đảo, anh dũng thiện chiến của nghĩa quân.

Thêm nữa, ở Bắc Kinh còn có tài sản và người thân thuộc, khó mà từ bỏ.

Nay có thư chiêu hàng của Lý Tự Thành, ông ta liền quyết định về Bắc Kinh 1 chuyến xem sao.

Ngô Tam Quế dẫn quân về tới Loan Châu, gần Bắc Kinh thì gặp 1 số người từ Bắc Kinh trốn ra, nói cho biết cha ông đã bị bắt, gia sản bị tịch thu.

Ông ta nghiến răng căm giận, lại nghe nói ca nữ được ông ta sủng ái nhất là Trần Viên Viên cũng bị nghĩa quân bắt đi thì nổi giận bừng bừng, lập tức dẫn quân quay lại Sơn Hải Quan, và lệnh cho toàn tướng sĩ đổi sang mặc khôi giáp màu tang, tỏ ý quyết báo thù cho Sùng Trinh Đế.

Lý Tự Thành được tin Ngô Tam Quế không chịu đầu hàng, liền thân dẫn 20 vạn quân tiến đánh Sơn Hải Quan.

Ngô Tam Quế vốn sợ nghĩa quân, nghe tin đó thì lo cuống quýt, không nghĩ gì tới lợi ích và danh dự dân tộc, Ngô Tam Quế liền viết thư, sai người đi gấp ra ngoài cửa quan, xin triều Thanh giúp mình trấn áp.

Đại thần phụ chính triều Thanh là Đa Nhĩ Cổn, nhận được tin thư cầu cứu của Ngô Tam Quế, cảm thấy đây là cơ hội tốt, lập tức đồng ý.

Sau đó, ông ta thân dẫn mười mấy vạn quân Thanh, đi suốt mấy ngày đêm tới Sơn Hải Quan.

Quân Thanh tới Sơn Hải Quan, Ngô Tam Quế vội vàng dẫn 500 thân binh ra đón Đa Nhĩ Cổn, quị lụy cầu khẩn, xin Đa Nhĩ Cổn giúp báo thù.

Đa Nhĩ Cổn tất nhiên đồng ý.

Ngô Tam Quế mời Đa Nhĩ Cổn vào cửa quan, giết trâu trắng ngựa trắng, tế lễ trời đất, kết thành minh ước.

Đại quân Lý Tự Thành tiến tới gần Sơn Hải Quan, dựa vào thế núi, thế biển, dàn thành thế trận hùng điệp, chuẩn bị tiến công.

Đa Nhĩ Cổn vốn là kẻ nhiều mưu mô xảo quyệt, đứng trên thành thấy thế nghĩa quân vững chắc, liệu bề khó đối phó, liền sai Ngô Tam Quế làm tiên phong, lệnh cho quân Thanh mai phục, còn bản thân cùng mấy tướng Thanh đứng trên núi phía sau quan sát.

Cuộc chiến đấu bắt đầu, Lý Tự Thành cưỡi ngựa, lên Tây Sơn chỉ huy tác chiến.

Ngô Tam Quế vừa dẫn quân tới, nghĩa quân từ 2 cánh trái phải tiến ra, vây chặt quân Ngô Tam Quế lại.

Quân Minh tả xung hữu đột vẫn không thoát nổi vòng vây; trong khi nghĩa quân hăng hái chiến đấu, tiếng hô giết vang trời dậy đất.

Chính lúc 2 bên đang chiến đấu quyết liệt thì 1 trận cuồng phong bất ngờ từ ven biển nổi lên, làm đất bụi mù mịt.

Trong khoảng khắc, trời đất tối tăm, đối diện cũng không nhìn rõ mặt người.

Đa Nhĩ Cổn nắm ngay thời cơ đó, hạ lệnh cho mấy vạn quân Thanh đang mai phục sau trận địa nhất tế xuất phát, xông thẳng vào đội hình nghĩa quân.

Nghĩa quân không hề phòng bị, không rõ kẻ địch từ đâu tới, trong lòng hoang mang, trận thế trở nên rối loạn.

Tới khi trời trở lại quang đãng, mới nhìn rõ đối thủ chính là quân Thanh để bím tóc dài.

Lý Tự Thành từ trên Tây Sơn phát hiện thấy quân Thanh đã vào cửa quan, muốn chấn chỉnh lại thế trận để chống lại, thì không kịp nữa, đành truyền lệnh rút lui.

Đa Nhĩ Cổn phối hợp với Ngô Tam Quế trong ngoài cùng đánh ép, khiến nghĩa quân thất bại nặng nề.

Lý Tự Thành dẫn tướng sĩ vừa đánh vừa lui, Ngô Tam Quế dựa vào thế yểm trợ của quân Thanh, truy đánh ráo riết.

Nghĩa quân lui về tới Bắc Kinh, binh lực đã tiêu hao rất nhiều.

Sau khi về Bắc Kinh, Lý Tự Thành tiến hành lễ tức vị long trọng trong hoàng cung, tiếp nhận sự triều kiến của các quan chức triều đình mới.

Sớm hôm sau, Lý Tự Thành dẫn quân khởi nghĩa rời Bắc Kinh, rút về Tây An.

Ngày thứ 3 sau khi Lý Tự Thành rút khỏi Bắc Kinh, Đa Nhĩ Cổn dẫn quân Thanh, diễu võ dương oai tiến vào thành đã bỏ trống.

Tháng 10 năm 1644, Đa Nhĩ Cổn đón Thanh Thuận Đế từ Thẩm Dương về Bắc Kinh, lấy nơi đây làm quốc đô triều Thanh.

Từ đó về sau, vương triều Thanh bắt đầu thiết lập sự thống trị tại Trung Quốc. năm sau, quân Thanh chia làm 2 cánh tiến đánh Tây An.

Một cánh do A Tế Cách, Ngô Tam Quế và Thượng Khả Hỷ dẫn đầu; 1 cánh do Đa Đạc và Khổng Hữu Đức dẫn đầu.

Lý Tự Thành chống cự lại ở Đổng Quan.

Qua nhiều trận đánh kịch liệt, cuối cùng nghĩa quân phải rút khỏi Tây An, di chuyển về Tương Dương.

Mấy tháng sau, nghĩa quân bị lực lượng vũ trang của địa chủ tập kích ở Cửu Doanh Sơn thuộc huyện Thống Sơn, Hồ Bắc.

Lý Tự Thành thua trận, hy sinh.

Sau khi Lý Tự Thành rút khỏi Bắc Kinh, Trương Hiến Trung xưng đế ở Tứ Xuyên, lấy quốc hiệu Đại Tây, tiếp tục chống lại quân Thanh.

Năm 1647, quân Thanh tiến vào Tứ Xuyên, trong 1 trận chiến đấu ở Phượng Hoàng Sơn thuộc Tây Xung vùng Xuyên Bắc, Trương Hiến Trung bị trúng tên hy sinh.

Như vậy, 2 đội quân khởi nghĩa nông dân lớn nhất cuối đời Minh đều đã thất bại.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
SỬ KHẢ PHÁP TỬ THỦ DƯƠNG CHÂU


Tin Sùng Trinh Đế treo cổ tự sát trên Môi Sơn truyền tới bồi đô (kinh đô dự bị) Nam Kinh.

Các đại thần ở đó rất hoảng hốt.

Họ liền tìm lập 1 người trong hoàng tộc chạy trốn xuống đó là Chu Do Tung làm hoàng đế, dựng 1 chính quyền ở Nam Kinh.

Lịch sử gọi chính quyền này là Nam Minh và gọi Chu Do Tung là Hoằng Quang Đế.

Hoằng Quang Đế Chu Do Tung là kẻ ham mê tửu sắc, cực kỳ đồi trụy.

Tổng đốc Phượng Dương Mã Sĩ Anh và 1 số dư đảng của Ngụy Trung Hiền lợi dụng sự ngu tối của Hoằng Quang Đế, thao túng mọi việc trong triều.

Hoằng Quang Đế và Mã Sĩ Anh không hề nghĩ tới việc chống lại quân Thanh mà chỉ lao vào cuộc sống hoang dâm xa xỉ.

Bộ binh thượng thư của triều đình Nam Minh là Sử Khả Pháp vốn không tán thành để Chu Do Tương lên ngôi hoàng đế, nhưng sợ xảy ra mâu thuẫn nội bộ, mới miễn cưỡng đồng ý.

Sau khi Hoằng Quang Đế lên ngôi, Sử Khả Pháp chủ động xin ra tiền tuyến thống soái quân đội.

Lúc đó, tại bờ bắc Trường Giang có 4 đạo quân Minh, gọi là tứ trấn.

Các tướng lĩnh của tứ trấn đều hoành hành ngang ngược, cát cứ địa bàn, tranh đoạt lẫn nhau, mặc cho quân lính tàn sát nhân dân.

Sử Khả Pháp có uy tín cao trong số tướng sĩ miền nam.

Ông tới Dương Châu, các tướng lĩnh ở đó không thể không nghe theo mệnh lệnh.

Sử Khả Pháp đích thân tìm gặp từng người, khuyên họ không nên xâu xé nhau nữa, rồi cử họ đóng giữ xung quanh Dương Châu, tự mình đóng tại Dương Châu chỉ huy chung.

Mọi người đều gọi ông là Sử Đốc Sư.

Đốc sư Sử Khả Pháp luôn gương mẫu, đồng cam cộng khổ với binh sĩ, được các tướng sĩ yêu mến.

Trong đêm 30 tết năm đó, Sử Khả Pháp cho các tướng sĩ đi ngủ hết, 1 mình ngồi trong dinh phê duyệt công văn.

Tới nửa đêm, cảm thấy tinh thần mỏi mệt, liền gọi đầu bếp mang rượu và thức nhắm tới.

Đầu bếp vội thưa: Theo lệnh tướng quân, hôm nay nhà bếp đã chia hết số thịt cho tướng sĩ ăn tết.

Trong bếp không còn gì để làm thức ăn nhắm.

Sử Khả Pháp nói: "Vậy mang cho ít muối và nước chấm vậy!".

Nhà bếp mang rượu lên, ông liền ngồi dựa vào bàn uống rượu.

Sử Khả Pháp vốn có tửu lượng cao, nhưng từ khi đến Dương Châu làm đốc sư, đã bỏ rượu.

Hôm đó, vì để phấn chấn tinh thần nên mới phá lệ toan uống 1 ít.

Nâng chén rượu, ông nghĩ tới nạn nước đang tới gần, lại nghĩ tới việc triều chính thối nát, vừa uống vừa rơi nước mắt, không còn biết đã uống bao nhiêu nữa.

Cuối cùng, vừa mệt vừa say, gục xuống bàn ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, các quan văn võ ở Dương Châu theo thường lệ kéo nhau tới dinh đốc sư làm việc, thấy cửa vẫn đóng chặt.

Mọi người lấy làm lạ, vì ngày thường đốc sư dậy sớm.

Sau, 1 tên lính bước ra nói: "Đêm qua đốc sư có uống rượu, đến giờ vẫn chưa tỉnh".

Tri phủ Dương Châu Dân Dục nói: "Hằng ngày đốc sư làm việc quá vất vả.

Đêm qua được ngủ một giấc ngon, là việc ít có.

Chúng ta không nên làm kinh động đến ngài, để ngài nghỉ ngơi thêm một chút".

Ông ta còn gọi người đánh trống canh tới, yêu cầu anh ta đánh lại trống canh tư 1 lần nữa (trống canh tư là tỏ rằng trời chưa sáng).

Sử Khả Pháp tỉnh dậy, thấy trời sáng từ lâu mà nghe tiếng trống canh, thấy đánh là canh tư thì đùng đùng nổi giận, cho gọi 1 người lính tới hỏi: "Kẻ nào dám đánh trống canh bậy bạ, vi phạm quân lệnh của ta?".

Người lính canh kể lại việc làm của tri phủ, Sử Khả Pháp không nói gì nữa, vội mời các quan chức vào làm việc.

Từ hôm đó, Sử Khả Pháp quyết tâm không uống rượu nữa.

Không lâu sau, quân Thanh do Đa Đạc soái mang quân tiến ào ạt xuống phía nam.

Sử Khả Pháp chỉ huy tướng lĩnh tứ trấn chống lại, thắng 1 số trận.

Nhưng nội bộ triều Nam Minh lại lục đục.

Tướng Tả Lương Ngọc giữ Vũ Xương muốn tranh quyền với Mã Sĩ Anh, nên đem quân tiến đánh Nam Kinh.

Mã Sĩ Anh sợ hãi, vội gọi quân tứ trấn từ Giang Bắc về để đối phó.

Ông ta còn dùng danh nghĩa Hoằng Quang Đế triệu tập Sử Khả Pháp đem quân về Nam Kinh bảo vệ mình.

Sử Khả Pháp hiểu rõ rằng quân Thanh đã áp sát, không nên rời Dương Châu.

Nhưng để dẹp cuộc tranh chấp nội bộ, ông bất đắc dĩ phải dẫn quân về Nam Kinh.

Vừa vượt qua Trường Giang, được tin Tả Lương Ngọc đã bị đánh thua, ông vội vã quay trở lại Giang Bắc, thì quân Thanh đã áp sát Dương Châu.

Sử Khả Pháp ban hịch khẩn cấp, kêu gọi tướng lĩnh các trấn tập trung về giữ Dương Châu.

Nhưng mấy ngày trôi qua, vẫn không thấy 1 cứu binh nào.

Sử Khả Pháp hiểu rằng trong tình thế này, chỉ còn có thể dựa vào lực lượng bản thân của quân dân Dương Châu mà thôi.

Quân Thanh đến chân thành Dương Châu, Đa Đạc trước tiên cử người vào thành khuyên Sử Khả Pháp đầu hàng.

Liên tiếp 5 lượt thuyết khách vào thành, đều bị Sử Khả Pháp cự tuyệt.

Đa Đạc thẹn quá hóa khùng, hạ lệnh bao vây Dương Châu trùng trùng lớp lớp.

Thành Dương Châu lâm vào tình thế vô cùng nguy cấp, 1 số tướng lĩnh nhát gan hết sức sợ hãi.

Ngày hôm sau, đã có 1 tổng binh và 1 giám quân ngầm dẫn quân 2 bản ra ngoài thành đầu hàng quân Thanh.

Hành động đó khiến lực lượng giữ thành càng thêm mỏng yếu.

Sử Khả Pháp triệu tập các quan thành, khuyến khích họ đồng tâm hiệp lực chống lại quân Thanh; đồng thời cắt cử từng người đảm nhận từng việc vụ thể trong việc giữ thành.

Ông phân tích tình hình, thấy cửa tây là nơi xung yếu nhất, liền đích thân dẫn quân tới giữ cửa tây.

Các tướng sĩ thấy Sử Khả Pháp kiên định, trầm tĩnh, đều xúc động tỏ quyết tâm sát cánh cùng đốc sư, thề chết chống giặc.

Đa Đạc hạ lệnh cho quân Thanh đánh thành liên tục suốt ngày đêm.

Quân dân Dương Châu anh đũng đánh lui hết đợt tiến công này tới đợt tiến công khác.

Quân Thanh chết lớp này, lại đưa lớp khác lên thay thế, tình hình càng ngày càng nguy ngập.

Đa Đạc quyết tâm dùng phương pháp quyết liệt nhất, đưa pháo lớn bắn vào thành.

Ông ta biết cửa tây được phòng thủ nghiêm ngặt nhất, lại do đích thân Sử Khả Pháp chỉ huy, liền hạ lệnh cho bắn mạnh vào góc tây bắc.

Từng trái pháo rơi xuống cửa tây, mỗi lúc 1 dày đặc.

Tường thành dần dần sụp đổ, cuối cùng vỡ ra 1 khoảng lớn.

Sử Khả Pháp đang chỉ huy quân lính bịt cửa thì quân Thanh đã xông vào đông như kiến. sử Khả Pháp không thể giữ thành được nữa, liền rút bội đao toan tự đâm vào cổ.

Tướng lĩnh tùy tùng vội giữ chặt tay ông, giằng lại đao.

Sử Khả Pháp còn muốn đứng tại chỗ tiếp tục chiến đấu tới cùng thì mọi người vừa khuyên vừa kéo ông về phía cửa đông.

Lúc đó, 1 toán quân Thanh xông tới, thấy Sử Khả Pháp mặc quan phục triều Minh, liền thét hỏi tên họ.

Sử Khả Pháp sợ liên lụy tới người khác, liền lớn tiếng đáp: "Ta là Sử đốc sư, các ngươi mau giết ta đi!".

Tháng 4 năm 1645, thành Dương Châu bị hạ, Sử Khả Pháp hy sinh.

Đa Đạc thấy quân Thanh bị thương vong quá lớn trong khi đánh chiếm Dương Châu, lòng đầy căm hận, liền ra 1 mệnh lệnh vô nhân đạo là giết hết dân chúng trong thành.

Cuộc đại tàn sát kéo dài suốt 10 ngày.

Lịch sử gọi cuộc thảm sát đó là "Dương Châu thập nhật".

Sau cuộc đại thảm sát, con nuôi của Sử Khả Pháp là Sử Đức Uy vào thành tìm kiếm di thể cha.

Nhưng vì xác chết quá nhiều, lại gặp thời tiết nóng nực nên đều thối rữa, không sao nhận ra được.

Mọi người đành đem chiếc áo bào và hốt ngà mà ông thường dùng hằng ngày, đặt trong áo quan mai táng trên Mai Hoa Lĩnh ngoài thành Dương Châu.

Đó là ngôi "Y quan mộ" (mộ áo cũ) của Sử Khả Pháp còn tồn tại đến ngày nay.

Sau khi Dương Châu thất thủ mấy ngày, quân Thanh tiến đánh Nam Kinh.

Các triều thần ở Nam Kinh, kẻ thì đầu hàng, kẻ thì chạy trốn.

Chính quyền Hoằng Quang Đế bị tiêu diệt.

Quân Thanh tiếp tục tiến xuống phía nam và hẹn trong 10 ngày, toàn thể dân chúng phải theo phong tục Thanh, nhất loạt cắt hết phần tóc phía trước, để 1 bím tóc phía sau gáy.

Mệnh lệnh qui định: ai trái lệnh sẽ bị chém, thực hiện khẩu hiệu "muốn giữ đầu phải cắt tóc, muốn giữ tóc phải chặt đầu".

Mệnh lệnh đó làm bùng lên tinh thần phản kháng của nhân dân Giang Nam.

Dưới sự dẫn đầu của điển sứ (1 viên chức nhỏ trong nha môn huyện) Diêm Ứng Nguyên, quân dân Giang Nam đã chống lại cuộc bao vây của hơn 20 vạn quân Thanh, giữ vùng huyện thành trong hơn 80 ngày.

Toàn bộ già trẻ trai gái trong thành không 1 ai đầu hàng.

Quân Thanh tử thương nặng nề.

Quân dân Gia Định của kiên trì chống lại quân Thanh trong 3 tháng, bị quân Thanh tàn sát 3 lần, hy sinh hơn 2 vạn người.

Lịch sử gọi cuộc thảm sát này là "Gia Định tam đồ" (3 lần sát hại ở Gia Định).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HẠ HOÀN THUẦN GIẬN MẮNG HỒNG THỪA TRÙ


Sau khi chính quyền Hoằng Quang Đế tan rã, lực lượng chống Thanh ở miền duyên hải vẫn tiếp tục chiến đấu.

Tháng 6 năm 1645, 1 số đại thần triều Minh là Hoàng Đạo Chu, Trịnh Tử Long liền lập 1 triều đình mới ở Phúc Châu, tôn Đường vương Chu Duật Kiện lên ngôi.

Lịch sử gọi ông là Long Vũ Đế.

Một số đại thần khác là Trương Quốc Duy, Trương Hoàng Ngôn ở Thiệu Hưng, lại tôn Lỗ vương Chu Dĩ Hải làm giám quốc.

Như vậy, 2 chính quyền Nam Minh đồng thời tồn tại.

Để đối phó với lực lượng chống Thanh, triều Thanh liền cử Hồng Thừa Trù, người đã đầu hàng trong chiến dịch Tùng Sơn, làm tổng đốc, đi chiêu phủ miền Giang Nam.

Lúc đó, tại Tùng Giang (nay là thành phố Thượng Hải) có 1 số nhân sĩ đang nhen nhóm lực lượng chống Thanh; đứng đầu số đó là Hạ Doãn Di và Trần Tử Long.

Hạ Doãn Di có 1 con trai mới 15 tuổi là Hạ Hoàn Thuần, lại là học trò của Trần Tử Long.

Từ nhỏ, Hạ Hoàn Thuần đã đọc nhiều sách vở, giỏi văn thơ.

Chịu ảnh hưởng của cha và thầy dậy, chàng cũng tham gia cuộc đấu tranh chống Thanh.

Muốn tổ chức chống Thanh mà chỉ có mấy người trí thức thì không đủ.

Hạ Doãn Di có 1 học trò là Ngô Chí Quì, làm tổng binh Ngô Tùng, trong tay có 1 số binh lực.

Họ liền thuyết phục Ngô Chí Quì cùng chống Thanh.

Ngô Chí Quì nhận lời và mang quân tiến đánh Tô Châu.

Bước đầu vô cùng thuận lợi, đội tiên phong vào được thành Tô Châu; nhưng Ngô Chí Quì lâm trận thiếu quyết đoán, không kịp thời tăng viện nên số nghĩa quân lọt được vào đã bị bao vây tiêu diệt, số quân chủ lực của Ngô Chí Quì ở ngoài thành cũng bị đánh bại.

Không lâu sau, quân Thanh vây đánh Tùng Giang, cha con Hạ Doãn Di cùng với Trần Tử Long vượt được vòng vây, chạy về nông thôn ẩn náu.

Quân Thanh truy lùng khắp nơi, còn mong dụ Hạ Doãn Di về tự thú.

Hạ Doãn Di không chịu để lọt vào tay quân Thanh, liền lao xuống sông tự sát.

Ông để lại di chúc, mong con là Hạ Hoàn Thuần nối chí chống Thanh của mình.

Cái chết của cha khiến Hạ Hoàn Thuần vô cùng đau đớn, lại càng căm thù sâu sắc quân Thanh.

Chàng và Trần Tử Long bí mật trở lại Tùng Giang, tổ chức quân khởi nghĩa.

Lúc đó, họ nghe tin tại Trương Bạch Đăng thuộc Thái Hồ có 1 đội nghĩa quân chống Thanh do Ngô Dị lãnh đạo, đang chấn chỉnh đội ngũ.

Hạ Hoàn Thuần bán hết gia sản, quyên góp cho nghĩa quân làm quân phí, và làm tham mưu dưới quyền Ngô Dị.

Chàng còn viết 1 tấu chương, cử người mang tới Thiệu Hưng đưa lên Lỗ vương, xin Lỗ vương kiên trì chống lại quân Thanh.

Lỗ Vương nghe nói người dâng tấu chương là 1 thiếu niên, hết sức khen ngợi và phong cho chàng chức Trung thư xá nhân.

Thủy quân của Ngô Dị khi ẩn khi hiện bên Thái Hồ, đánh cho quân Thanh tối tăm mặt mũi.

Nhưng sau vì có kẻ phản bội, nghĩa quân bị thất bại, Ngô Dị cũng hy sinh.

Một năm sau, Trần Tử Long lại bí mật vận động Ngô Thắng Triệu, đề đốc của quân Thanh ở Tùng Giang chống lại Thanh.

Lần binh biến này chẳng may bị thất bại, Ngô Thắng Triệu bị giết, Trần Tử Long cũng bị quân Thanh bắt.

Trần Tử Long không chịu nhục, trên thuyền áp giải tới Nam Kinh, đã giằng khỏi dây trói, lao đầu xuống sông tự tử.

Hạ Hoàn Thuần đang bàng hoàng đau xót trước sự hy sinh của thầy học, thì bị bắt do có kẻ tố giác.

Quân Thanh cử nhiều binh lính áp giải chàng về Nam Kinh.

Hạ Hoàn Thuần bị giam trong nhà lao suốt 80 ngày, chàng viết cho bạn bè rất nhiều bài thơ hào hùng và bi tráng.

Sự uy hiếp của thần chết không làm chàng sờn lòng, chỉ đau lòng về nỗi không thực hiện được tráng chí bảo vệ dân tộc, khôi phục Trung nguyên.

Cuộc thẩm vấn Hạ Hoàn Thuần bắt đầu.

Kẻ thẩm vấn chính là Hồng Thừa Trù, vị quan to được triều Thanh trao trọng trách chiêu phủ Giang Nam.

Hồng Thừa Trù biết Hạ Hoàn Thuần là 1 "thần đồng" nổi tiếng khắp vùng Giang Nam, nên muốn dùng thủ đoạn mềm mỏng buộc Hạ Hoàn Thuần khuất phục.

Ông ta hỏi: "Nghe nói cậu gửi tấu chương lên Lỗ vương, có việc đó không?".

Hạ Hoàn Thuần ngẩng đầu lên trả lời: "Chính là chữ viết của ta!".

Hồng Thừa Trù lấy giọng ôn hòa, nói: "Ta xem cậu còn nhỏ tuổi, vị tất đã có thể khởi binh làm phản, hẳn là bị người khác xúi giục.

Chỉ cần cậu chịu quay về theo Đại Thanh, ta sẽ cho cậu làm quan".

Hạ Hoàn Thuần làm ra vẻ không biết kẻ đang thẩm vấn mình là Hồng Thừa Trù, lớn tiếng đáp: "Ta nghe nói triều Minh ta có tiên sinh Hồng Hanh Cửu (tên tự của Hồng Thừa Trù) là người hào kiệt.

Năm nọ, trong trận đánh Tùng Sơn, ngài đã hy sinh vì nước, làm xúc động trong ngoài.

Ta khâm phục sự trung liệt của ngài, nên tuy còn ít tuổi vẫn quyết hy sinh báo thù, sao chịu thua kém".

Câu nói đó làm Hồng Thừa Trù hổ thẹn dở cười dở khóc, toát hết mồ hôi.

Binh lính đứng bên cạnh tưởng rằng Hạ Hoàn Thuần không biết Hồng Thừa Trù, vội nhắc nhở: "Đừng nói càn!

Ngồi trước mặt ngươi chính là Hồng đại nhân đó!".

Hạ Hoàn Thuần "phì" 1 tiếng, nói tiếp: "Hồng tiên sinh hy sinh vì nước, khắp thiên hạ ai mà không biết.

Sùng Trinh Đế còn lập đàn tế, bách quan trong triều đều khóc lóc viếng tang.

Còn tên phản bội này sao dám mạo làm tiên liệt, ô nhục đến trung hồn".

Tiếp đó, chàng chỉ mặt Hồng Thừa Trù, không ngừng chửi mắng.

Hồng Thừa Trù mặt xám như tro, không còn dám thẩm vấn gì nữa, vội vỗ bàn thét lính lôi Hạ Hoàn Thuần ra ngoài.

Tháng 9 năm 1647, vị thiếu niên anh hùng vừa 17 tuổi đó đã bị sát hại tại Tây Thị, Nam Kinh.

Đến nay, phía tây thành Tùng Giang, vẫn còn ngôi mộ chung của 2 cha con liệt sĩ Hạ Doãn Di, Hạ Hoàn Thuần.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRỊNH THÀNH CÔNG THU PHỤC ĐÀI LOAN


Sau khi Long Vũ Đế xây dựng chính quyền ở Phúc Châu, đại thần Hoàng Đạo Chu vốn là người thực lòng chống Thanh, quyết tâm muốn phò tá Long Vũ Đế dẫn quân bắc phạt.

Nhưng Trịnh Chi Long, người nắm giữ binh quyền, lại chỉ muốn bảo toàn thực lực, không chịu xuất binh.

Một năm sau, khi quân Thanh tiến tới Phúc Kiến, liền cử người tới gặp Trịnh Chi Long khuyên hàng.

Vì ham giàu sang, Trịnh Chi Long liền bỏ Long Vũ Đế, sang hàng triều Thanh.

Chính quyền Long Vũ Đế diệt vong.

Trịnh Chi Long có người con trai là Trịnh Thành Công, sinh tại Nam An, Phú Kiến lúc đó là 1 tướng trẻ mới 22 tuổi.

Khi Trịnh Chi Long đầu hàng triều Thanh, Trịnh Thành Công ra sức khuyên cha.

Thấy cha mê mẩn công danh, không chịu nghe lời nói phải, Trịnh Thành Công giận dữ, liền bỏ xuống đảo Nam Áo, chiêu mộ được mấy ngàn người, kiên quyết chống Thanh.

Vương triều Thanh biết Trịnh Thành Công là 1 tướng tài, nhiều lần cử người đến dụ hàng, nhưng ông kiên quyết cự tuyệt.

Tướng Thanh lại cử người em đem theo thư của Trịnh Chi Long đến khuyên hàng.

Người em nói: "Nếu anh không chịu hàng, thì tính mạng của cha khó lòng giữ được".

Trịnh Thành Công không dao động, viết 1 phong thư tuyệt tình với Trịnh Chi Long.

Binh lực của Trịnh Thành Công dần lớn mạnh, xây dựng được 1 đội thủy quân ở Hạ Môn.

Ông liên hợp với tướng chống Thanh là Trương Hoàng Ngôn, dẫn đội thủy quân 17 vạn người từ ngoài biển đi vào Trường Giang, phân 2 cánh thủy bộ tiến đánh Nam Kinh, tới sát chân thành.

Nhưng quân Thanh dùng kế trá hàng, là quân Trịnh Thành Công vào nơi mai phục sẵn rồi đánh bại.

Trịnh Thành Công phải rút ra Hạ Môn.

Trịnh Thành Công về tới Hạ Môn thì quân Thanh đã chiếm đại bộ phận Phúc Kiến.

Họ buộc dân ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông lùi sâu vào phía trong 40 dặm, tiến hành phong tỏa, triệt đường tiếp tế cho quân Trịnh Thành Công, định đẩy họ vào chỗ chết vì thiếu đói.

Trịnh Thành Công gặp khó khăn lớn trong việc chiêu binh và tiếp tế, liền quyết định phát triển ra Đài Loan.

Từ cuối triều Minh, người Hà Lan từ Châu Âu tới đã chiếm Đài Loan, xây dựng thành lũy, bắt nhân dân địa phương phải nộp thế.

Nhân dân Đài Loan nhiều lần chống lại, đều bị chúng đàn áp.

Khi còn nhỏ tuổi, Trịnh Thành Công đã có lần theo cha tới Đài Loan, tận mắt nhìn thấy cảnh nhân dân chịu cực khổ, đã có ý định thu phục Đài Loan.

Lần này, ông hạ quyết tâm đánh đuổi kẻ xâm chiếm phương tây nên hạ lệnh cho tướng sĩ sửa sang chiến thuyền, chuẩn bị lương thảo, sẵn sàng vượt biển.

Vừa gặp dịp lúc đó, 1 người tên là Hà Đình Bân, từng làm phiên dịch cho quân đội Hà Lan, tới Hạ Môn tìm gặp Trịnh Thành Công, khuyên ông nên thu phục Đài Loan.

Anh ta cho biết nhân dân Đài Loan bị quân xâm lược Hà Lan ức hiếp, từ lâu đã muốn chống lại.

Nếu đưa quân tới, nhất định nhân dân địa phương sẽ cùng phối hợp để đuổi người Hà Lan đi.

Hà Đình Bân còn biếu Trịnh Thành Công 1 tấm bản đồ Đài Loan, có ghi đầy đủ điểm bố phòng của quân Hà Lan.

Có được nguồn tin và sự giúp đỡ đáng tin cậy đó, quyết tâm và lòng tin vào thắng lợi của Trịnh Thành Công càng nâng cao.

Tháng 3 năm 1661, Trịnh Thành Công để con là Trịnh Kinh và 1 số quân ở lại giữ Hạ Môn, còn bản thân dẫn 2 vạn 5000 tướng sĩ, dùng mấy trăm chiến thuyền rầm rộ xuất phát từ Kim Môn.

Họ xông pha sóng gió, vượt qua eo biển Đài Loan, nghỉ mấy ngày tại quần đảo Bành Hồ để chuẩn bị tiến thẳng ra Đài Loan.

Lúc đó, 1 số tướng sĩ nghe nói người phương tây có nhiều pháo lớn rất lợi hại, có phần ngại ngùng e sợ.

Trịnh Thành Công liền đưa thuyền chỉ huy của mình dẫn đầu, khuyến khích tướng sĩ: "Pháo Tây Dương của người Hà Lan không có gì đáng sợ.

Các người cứ nối theo thuyền của ta mà tiến tới".

Quân Hà Lan nghe tin đoàn thuyền lớn của Trịnh Thành Công sắp tiến công vào đảo thì rất kinh hoàng.

Họ tập trung quân đội vào 2 thành Đài Loan (nay là vùng Đông Bình, Đài Loan) và Xích Khảm (nay ở vùng Đài Nam) vì ở đó có pháo đài và công sự, đồng thời cho đánh chìm nhiều thuyền cũ trên lối vào cảng nhằm ngăn trở đoàn thuyền của Trịnh Thành Công đổ bộ.

Trịnh Thành Công cử Hà Đình Bân làm hoa tiêu, lợi dụng lúc thủy triều lên, tiến vào Lộc Nhĩ Môn, đổ bộ lên đảo.

Nhân dân địa phương biết quân Trịnh Thành Công tới, nô nức mang xe thuyền tiếp tế, úy lạo quân đội.

Quân Hà Lan ẩn nấp trong pháo đài rất tức tối, cử hơn 100 lính xông ra.

Lệnh của Trịnh Thành Công vừa phát ra, quân Trịnh đã bao vây chặt, xông tới chém chết tên chỉ huy, số còn lại tan chạy.

Hà Lan liền điều tới 1 quân hạm lớn nhất, hùng dũng tiến tới, ngăn không cho những thuyền còn lại vào bờ.

Trịnh Thành Công trầm tĩnh quyết đoán, điều 60 thuyền lớn tới bao vây chặt quân hạm, nhất tề khai pháo, khiến quân hạm bốc cháy đùng đùng, lửa chiếu sáng rực mặt biển.

Quân hạm lớn nhất dần dần chìm xuống đáy biển, 3 quân hạm nhỏ còn lại thấy tình thế bất lợi, đành bỏ chạy.

Quân Hà Lan thảm bại, co cụm trong 2 pháo đài không dám ứng chiến; một mặt họ cử người ngầm đi thuyền tới Patauây (nay là Gia va, thuộc Indonesia) cầu viện, 1 mặt cử người ra đàm phán, nói nếu quân Trịnh rút khỏi đảo, họ sẽ tình nguyện nộp 10 vạn lạng bạc trắng để úy lạo quân đội.

Trịnh Thành Công nghiêm chỉnh tuyên bố: "Đài Loan là lãnh thổ của ta.

Nay việc thu hồi lại là lẽ đương nhiên.

Nếu các người cứ ở lỳ không chịu rút, ta sẽ dùng sức mạnh đuổi các người đi".

Trịnh Thành Công quát đuổi sứ giả, rồi phái quân đánh mạnh vào Xích Khảm.

Quân Hà Lan chống cự mãnh liệt, nhất thời chưa hạ được.

Một người dân địa phương mách cho quân Trịnh biết là nước dùng trong thành Xích Khảm đều từ 1 điểm cao ngoài thành chảy vào.

Nếu cắt đứt nguồn nước, thì quân địch không bị đánh cũng rã.

Trịnh Thành Công làm theo kế đó, quả nhiên 3 ngày sau, quân Hà Lan ngoan ngoãn mở cửa thành đầu hàng.

Số quân Hà Lan còn giữ thành Đài Loan toan tiếp tục chống cự để chờ viện binh.

Trịnh Thành Công cho quân vây chặt.

Sau 8 tháng, Trịnh Thành Công hạ lệnh tổng công kích.

Quân Hà Lan không còn cách nào khác, đành giương cờ trắng đầu hàng.

Đầu năm 1662, người đứng đầu quân Hà Lan phải tới bản doanh của Trịnh Thành Công kí vào văn bản đầu hàng, rồi lủi thủi dẫn nhau rời khỏi Đài Loan.

Do có công thu phục Đài Loan từ tay quân chiếm đóng Hà Lan, Trịnh Thành Công trở thành 1 anh hùng dân tộc kiệt xuất.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ ĐỊNH QUỐC CHIẾN ĐẤU LƯU ĐỘNG Ở TÂY NAM


Sau khi 2 chính quyền Nam Minh của Long Vũ Đế và Lỗ vương lần lượt bị tiêu diệt, quân Thanh liền chia 3 cánh đánh xuống Tây Nam.

Một đại thần triều Minh là Cù Thức Tự giữ vùng Lưỡng Quảng liền lập Quế vương Chu Do Lang lên ngôi ở Triệu Khánh, lấy niên hiệu là Vĩnh Lịch.

Lịch sử gọi ông là Vĩnh Lịch Đế.

Tháng 11 năm 1647, tướng Minh là Hà Đằng Giao dựa vào lực lượng còn lại của chính quyền Đại Thuận (tức của Lý Tự Thành) đánh bại quân Thanh ở Toàn Châu.

Cù Thức Tự cũng đánh lui quân Thanh ở Quế Lâm.

Thanh thế quân Nam Minh lại lừng lẫy.

Nhưng do nội bộ chính quyền của Quế vương lủng củng nên Hồ Quảng và Quảng Tây lại bị quân Thanh chiếm lĩnh.

Hai năm sau, Hà Đằng Giao bị bắt ở Tương Đàm rồi bị giết hại, Cù Thức Tự cũng hy sinh trong trận quân Thanh đánh chiếm thành Quế Lâm.

Trong giờ phút chính quyền Quế vương đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt thì nghĩa quân Đại Tây dưới sự lãnh đạo của Lý Định Quốc đảm nhận trọng trách chống Thanh, tiếp tục chiến đấu hơn 10 năm nữa trong vùng Tây Nam.

Lý Định Quốc là 1 trong 4 dũng tướng dưới quyền Trương Hiếu Trung, đồng thời lại là 1 trong 2 con nuôi của Trương Hiếu Trung, sau Tôn Khả Vọng.

Sau khi Trương Hiếu Trung hy sinh, năm, sáu vạn quân khởi nghĩa còn lại dưới quyền chỉ huy của Tôn Khả Vọng và Lý Định Quốc tiến xuống miền Quí Châu, Vân Nam.

Họ cử người tới đề nghị với Vĩnh Lịch Đế là tình nguyện cùng liên hợp chống Thanh.

Trải qua mấy lần thất bại, Vĩnh Lịch Đế thấy tình hình đã rất nguy cấp, đành phải dựa vào quân Đại Tây và phong Tôn Khả Vọng làm Tần vương.

Tôn Khả Vọng là người nuôi dã tâm, ông ta khống chế chặt Vĩnh Lịch Đế và tác uy tác phúc ở Quí Dương, độc đoán chuyên quyền, không chú ý gì tới việc chống Thanh cả.

Lý Định Quốc thì 1 lòng chống Thanh, bỏ ra 1 năm huấn luyện được 3 vạn tinh binh ở Vân Nam, và xúc tiến việc chế tạo vũ khí khôi giáp.

Ông còn tìm 1 số người dạy voi, lập được 1 đội voi chiến.

Sau khi chuẩn bị chu đáo, ông quyết định đem quân tiến công quân Thanh.

Quân đội của Lý Định Quốc có tinh thần chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm.

Từ Vân Nam, Quí Châu, họ đánh tới tận Hồ Nam, liên tục thắng trận, thu phục được mấy trọng trấn.

Sau đó, lại từ 3 phía tiến công Quế Lâm.

Tướng Thanh giữ Quế Lâm là Khổng Hữu Đức mấy lần đem quân nghinh chiến, nhưng chưa giao đánh thì binh lính đã bỏ chạy.

Khổng Hữu Đức phải đích thân dẫn quân tới Nghiêm Quan, đối diện với quân Minh.

Đại quân Lý Định Quốc tới, đi đầu là đội tượng binh lừng lững, tiếp sau là quân sĩ oai hùng.

Khi lâm trận, voi trận hý vang làm ngựa chiến của quân Thanh sợ hãi chạy tán loạn.

Lúc đó, trời mưa lớn, sấm sét vang rền, tượng binh thừa cơ xông lến, quân Thanh đại bại.

Quân Minh anh dũng truy kích, đánh cho quân Thanh tan tác.

Khổng Hữu Đức vội vã rút quân vào trong thành Quế Lâm, đóng chặt cổng để cố thủ.

Lý Định Quốc vây chặt thành Quế Lâm, ngày đêm đánh phá mãnh liệt.

Khổng Hữu Đức đứng trên thành lầu quan sát, bị quân Minh bắn tên như mưa, trúng giữa trán.

Lúc đó, ông ta lại được tin ngọn núi phía bắc thành đã bị quân Lý Định Quốc chiếm, liền đốt lửa rồi lao vào lửa tự sát.

Lý Định Quốc dẫn quân vào thành Quế Lâm, vừa truy quét tàn binh vừa an định dân chúng, đón các quan nhà Minh phải bỏ trốn trước kia trở về.

Một hôm, Lý Định Quốc ở tiệc ở cạnh Thất Tinh Nham, mời các quan tới dự.

Ông nói: "Tình hình hiện nay giống như những năm cuối đời Nam Tống.

Các vị chắc hẳn đều khâm phục các tiên liệt Văn Thiên Trường, Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt.

Lòng trung trinh và hào khí của các vị đó cố nhiên là lưu truyền sử sách.

Nhưng chúng ta tận trung báo quốc, nhất định không muốn có kết cục như vậy".

Mọi người nghe nói, đều rất khâm phục khí khái anh hùng đó của Lý Định Quốc.

Vĩnh Lịch Đế nhận được tin thắng trận, liền phong Lý Định Quốc làm Tây Ninh vương.

Tiếp đó, Lý Định Quốc còn đem quân đánh chiếm Vĩnh Châu, Hành Dương, Trường Sa, ép sát Nhạc Châu.

Triều Thanh rung động, vội phái thân vương Ni Khám dẫn 10 vạn quân phản công vào Trường Sa.

Lý Định Quốc biết lực lượng địch rất mạnh, liền chủ động rút khỏi Trường Sa, nhưng bố trí phục binh trên đường tới Hành Dương.

Ni Khám đích thân dẫn quân truy kích, rơi vào vùng mai phục của quân Minh, bị chém chết tại trận.

Thắng lợi của Lý Định Quốc khiến Tần vương Tôn Khả Vọng kèn cựa.

Tôn Khả Vọng vờ mời Lý Định Quốc tới bàn quốc sự, toan ám hại ông.

Lý Định Quốc phát hiện được quỷ kế đó, đành đem quân rời Hồ Nam, về Vân Nam.

Tôn Khả Vọng muốn đề cao uy tín của mình, liền đích thân dẫn quân tới Hồ Nam tiến công quân Thanh, nhưng lại bị đại bại.

Tôn Khả Vọng có ý muốn ép Vĩnh Lịch Đế nhường ngôi, ông ta biết rằng muốn đạt được mục đích đó thì phải trừ bỏ Lý Định Quốc, liền dẫn 14 vạn quân tiến đánh Vân Nam.

Ngờ đâu, các tướng sĩ dưới quyền ông ta vô cùng căm giận hành động chia rẽ đó.

Lúc lâm trận, họ đều quay giáo, đứng về phía Lý Định Quốc.

Toàn bộ quân đội của Tôn Khả Vọng tan rã.

Tôn Khả Vọng lủi thủi chạy về Quí Dương, lại bị các tướng sĩ Quí Dương chống lại.

Cùng đường, Tôn Khả Vọng liền chạy về Trường Sa đầu hàng quân Thanh.

Triều đình Nam Minh qua cuộc nổi loạn của Tôn Khả Vọng, lực lượng bị yếu đi nhiều.

Năm 1658, quân Thanh do các hàng tướng Ngô Tam Quế, Hồng Thừa Trù dẫn đầu chia làm 3 cánh đánh xuống Vân Nam, Quí Châu.

Lý Định Quốc chia quân đánh chặn từng cánh, nhưng đều bị thất bại, buộc phải rút về Côn Minh.

Vĩnh Lịch Đế cùng mấy tay chân thân tín hoảng hốt rụng rời, bỏ chạy sang Miến Điện (nay là Mianma).

Sau khi Vĩnh Lịch Đế chạy sang Miến Điện, Lý Định Quốc tiếp tục thu thập lực lượng ở vùng biên giới Vân Nam, đánh lại quân Thanh, chuẩn bị khôi phục lại cơ đồ.

Ông nhiều lần cử người sang Miến Điện mời Vĩnh Lịch Đế về nước, nhưng hoàng đế này không dám trở về.

Tháng 12 năm 1661, Ngô Tam Quế dẫn 10 vạn tinh binh tiến vào Miến Điện, buộc Miến Điện phải giao nộp Vĩnh Lịch Đế, dẫn về Côn Minh.

Về tới Côn Minh, Vĩnh Lịch Đế bị Ngô Tam Quế bức tử.

Chính quyền cuối cùng của Nam Minh tới đây hoàn toàn bị diệt vong.

Lý Định Quốc kiên trì chống Thanh trong hơn 10 năm mà không thực hiện được nguyện vọng.

Ông ôm mối hận, mắc bệnh rồi mất.

Trước khi mất, ông nói với con và các bộ tướng: "Thà chết nơi hoang dã, chứ không thể đầu hàng!".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
KHANG HY ĐẾ BÌNH ĐỊNH TAM PHIÊN


Vào năm chính quyền cuối của Nam Minh diệt vong, Thuận Trị Đế đã chết, con ông là Huyền Diệp lên ngôi.

Đó là Thanh Thánh Tổ, niên hiệu Khang Hy (suốt 61 năm tại vị, Thánh Tổ chỉ sử dụng 1 niên hiệu Khang Hy nên lịch sử thường gọi ông là Khang Hy Đế).

Khi lên ngôi, Khang Hy Đế mới có 8 tuổi.

Theo di chiếu của Thuận Trị Đế, 4 đại thần tộc Mãn giúp ông xử lý việc triều chính, gọi là 4 đại thần phụ chính.

Trong 4 đại thần đó, có Ngao Bái dựa vào cương vị nắm binh quyền, lại coi thường hoàng đế nhỏ tuổi, chuyên quyền độc đoán, đại thần nào trái ý đều bị âm mưu hãm hại.

Sau khi vương triều Thanh dời vào Trung nguyên, liền dùng biện pháp cưỡng bách, khoanh chiếm đất đai của nông dân, chia cho quý tộc 8 "kỳ".

Sau khi Ngao Bái nắm quyền, ông ta lại cậy thế mở rộng thêm vùng đất đã khoanh chiếm, còn lấy đất xấu của mình ép các kỳ khác đổi cho mình lấy đất tốt.

Việc làm đó gây oán giận trong dân Hán và cả giới quý tộc thuộc các kỳ khác.

Ngao Bái liền vu cáo các quý tộc đại nghịch bất đạo, đem xử tử 3 quan chức quý tộc địa phương.

Năm vừa 14 tuổi, Khang Hy Đế tự mình chấp chính.

Lúc đó, 1 đại thần phụ chính khác là Tô Khắc Tát Cáp có tranh chấp với Ngao Bái.

Ngao Bái nuôi lòng thù hận, liền câu kết với đồng đảng, vu cho Tô Khắc Tát Cáp phạm đại tội, tâu xin Khang Hy Đế xử tử ông ta.

Khang Hy Đế không phê chuẩn.

Ngao Bái công khai tranh cãi với Khang Hy Đế giữa triều chính, lại dám hung hăng xắn tay áo, giơ nắm đấm, làm ầm ĩ.

Khang Hy Đế vô cùng tức giận, nhưng thấy Ngao Bái có thế lực lớn, đành tạm thời nín nhịn, chịu để cho ông ta giết Tô Khắc Tát Cáp.

Sau chuyện đó, Khang Hy Đế quyết trừ bỏ Ngao Bái.

Ông cử người tuyển chọn 1 số con em quý tộc mười mấy tuổi vào làm thị vệ.

Những thiếu niên đó đều có sức khỏe tốt, luôn được giữ bên cạnh Khang Hy Đế, hằng ngày luyện tập môn đánh vật.

Ngao Bái vào cung, thường thấy những thiếu niên đó ồn ã tập luyện trong vườn ngự uyển, chỉ coi là trò trẻ con, không hề chú ý.

Một hôm, Ngao Bái nhận được lệnh của Khang Hy Đế, yêu cầu vao cung 1 mình để bàn việc quốc sự quan trọng.

Như thường lệ, Ngao Bái nghênh ngang đi vào.

Vừa bước qua cửa cung, bỗng bọn thiếu niên đó xông tới vây chặt, người níu cánh tay, người lôi chân.

Ngao Bái tuy xuất thân võ tướng, có sức khỏe nhưng số thiếu niên đó đông đảo, lại đã được luyện môn vật.

Ngao Bái không địch nổi, chỉ 1 thoáng đã bị quật lăn quay dưới đất.

Mặc ông ta lớn tiếng kêu cứu, nhưng làm gì có ai trong đó!

Ngao Bái bị nhốt trong đại lao, Khang Hy Đế lập tức triệu tập đại thần, yêu cầu điều tra và luận tội.

Mọi người đều cho rằng Ngao Bái lộng quyền, giết người tùy tiện vô cớ, tội ác chồng chất, cần phải xử tử.

Khang Hy Đế khoan dung, chỉ cắt hết chức tước của ông ta.

Khang Hy Đế dùng kế trừ được Ngao Bái khiến toàn thể triều đình vui mừng.

Một số đại thần vốn khá ngang ngược, biết ông hoàng đế trẻ tuổi này là người có bản lĩnh cũng không dám buông tuồng như trước kia nữa.

Sau khi tự mình chấp chính, Khang Hy Đế ra sức chỉnh đốn triều chính, khuyến khích sản xuất, trừng trị tham nhũng, khiến vương triều trong buổi đầu kiến lập dần dần cường thịnh lên.

Lúc đó, chính quyền Nam Minh tuy đã diệt vong, nhưng vẫn còn 3 phiên vương ở miền nam khiến Khang Hy Đế luôn lo lắng.

3 phiên vương đó nguyên là các tướng Minh về hàng quân Thanh.

Người thứ nhất là Ngô Tam Quế, đã dẫn quân Thanh vào cửa quan.

Hai người kia là Thượng Khả Hỷ và Cảnh Trọng Minh.

Vì họ có công giúp triều Thanh tiêu diệt triều Minh và đàn áp quân nông dân, nên vương triều Thanh phong Ngô Tam Quế làm Bình Tây vương, trú phòng tại Vân Nam, Quí Châu; Thượng Khả Hỷ làm Bình Nam vương, trú phòng tại Quảng Đông; Cảnh Trọng Minh làm Tĩnh Nam vương, trú phòng tại Phúc Kiến. cả 3 được gọi là "Tam phiên".

Trong 3 phiên vương, Ngô Tam Quế có lực lượng mạnh nhất.

Sau khi được phong phiên vương, Ngô Tam Quế hết sức ngạo nghễ, không những năm binh quyền ở địa phương mà còn khống chế cả tài chính, tự bổ nhiệm các quan lại, không coi triều Thanh ra gì.

Khang Hy Đế thấy muốn thống nhất chính lệnh, thì Tam phiên là trở ngại lớn nhất, phải chọn thời cơ tước bỏ thế lực của họ.

Vừa gặp dịp, Thượng Khả Hỷ vì già yếu muốn về quê tại Liêu Đông, dâng sớ tấu xin để con là Thượng Chi Tín kế thừa tước vị tại Quảng Đông.

Khang Hy phê chuẩn cho Thượng Khả Hỷ cáo lão về hưu, nhưng không cho con ông ta kế thừa tước vị Bình Nam vương.

Sự việc này gây rung động tới Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung (cháu của Cảnh Trọng Minh).

Để thăm dò thái độ của Khang Hy Đế, cả 2 giả vờ xin chủ động giải trừ tước vị phiên vương để trở về miền bắc.

Tấu chương gửi tới triều đình, Khang Hy Đế triệu tập các đại thần tới bàn.

Rất nhiều đại thần cho rằng sớ tấu xin giải trừ chức phiên vương của bọn Ngô Tam Quế không thật lòng.

Nếu phê chuẩn lời thỉnh cầu đó, nhất định Ngô Tam Quế sẽ nổi loạn.

Khang Hy Đế nói rất quả đoán: "Ngô Tam Quế có dã tâm từ lâu.

Giải chức sẽ làm phản, không bằng ta ra tay trước".

Sau đó, ông hạ lệnh chiếu trả lời Ngô Tam Quế, chấp nhận lời cầu xin giải chức phiên vương.

Chiếu lệnh vừa ban xuống, quả nhiên Ngô Tam Quế nhảy dựng lên tức tối.

Ông ta tự cho mình là khai quốc công thần triều Thanh, thế mà bây giờ vị hoàng đế non trẻ này lại dám tước quyền của mình.

Thật lòng không chống lại thì không chịu nổi.

Năm 1673, Ngô Tam Quế khởi binh ở Vân Nam.

Để lung lạc mọi người, ông ta cởi bỏ mọi trang phục mang tước vị triều Thanh, đổi sang khôi giáp triều Minh, vờ vịt khóc lóc 1 hồi trước mộ Vĩnh Lịch Đế, thề sẽ báo thù trả hận cho triều Minh.

Nhưng mọi người còn nhớ rất rõ, là kẻ rước quân Thanh vào Sơn Hải Quan là Ngô Tam Quế, kẻ giết chết Vĩnh Lịch Đế cũng là Ngô Tam Quế.

Bây giờ ông ta lại giương lá cờ khôi phục triều Minh, còn lừa bịp được ai?

Thế lực của Ngô Tam Quế ở Tây Nam rất mạnh.

Lúc đầu, quân nổi loạn thắng liên tiếp, đánh tới tận Hồ Nam.

Ông ta còn cử người đi liên lạc với Thượng Chi Tín ở Quảng Đông và Cảnh Tinh Trung ở Phúc Kiến, hẹn họ cùng nổi dậy.

2 phiên vương này được Ngô Tam Quế khuyến khích, cũng nổi loạn.

Lịch sử gọi sự kiện này là "loạn Tam phiên" (Tam phiên chi loạn).

Ba phiên vương cùng nổi loạn, toàn bộ vùng miền nam đều bị lực lượng làm phản chiếm lĩnh.

Khang Hy Đế không hề sợ hãi.

Ông vừa điều khiển binh tướng, tập trung binh lực đánh Ngô Tam Quế, vừa đình chỉ việc giải trừ tước vương của Thượng Chi Tín và Cảnh Tinh Trung để giữ yên 2 mặt đó.

Thượng Chi Tín, Cảnh Tinh Trung thấy tình hình của Ngô Tam Quế bất lợi, liền xin đầu hàng.

Ngô Tam Quế lúc đầu thắng 1 số trận, sau quân Thanh kéo tới ngày càng nhiều, đánh càng mạnh, lực lượng Ngô Tam Quế tiêu hao dần, lâm vào tình cảnh hết sức cô lập.

Qua 8 năm chiến tranh, ông ta không đứng vững được nữa, vừa căm tức vừa hối hận, mắc bệnh nặng rồi chết.

Năm 1681, quân Thanh chia 3 hướng đánh vào Côn Minh thuộc Vân Nam.

Cháu Ngô Tam Quế là Ngô Thế Phồn tự sát.

Cuối cùng, quân Thanh dẹp được thế lực phản loạn, thống nhất miền nam.

Nhưng, trong lúc triều đình ăn mừng thắng lợi dẹp yên phản loạn ở miền nam thì từ biên giới Đông Bắc lại truyền về tin tức nước Nga Sa hoàng xâm phạm biên cương.

Sự kiện này khiến Khang Hy Đế phải lập tức chuyển sự chú ý lên biên giới Đông Bắc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
THẮNG LỢI YAKESA (NHÃ KHẮC TÁT)


Nguyên nhân dẫn tới việc nước Nga sa hoàng xâm chiếm miền đông bắc, là do cuối triều Minh, triều Thanh mãi lo tiến xuống Trung nguyên, để lơi lỏng việc phòng thủ biên giới phía bắc.

Nước Nga sa hoàng nhân cơ hội đó, xâm phạm vùng Hắc Long Giang.

Họ cướp đoạt của cải, giết hại nhân dân, nên gặp phải sự chống cự của nhân dân địa phương.

Sau khi chiếm xong Trung nguyên, triều Thanh phái quân lên đánh đuổi lực lượng xâm lược, thu phục lại Yakesa ở bờ bắc Hắc Long Giang (nay ở phía bắc Hô Mã, phía đông Mạc Hà thuộc tỉnh Hắc Long Giang).

Khi Khang Hy Đế điều số lớn binh lực xuống phía nam để bình định Tam phiên, có 1 tù phạm Nga vượt ngục dẫn theo 84 tên phỉ chạy tới Yakesa, xây dựng công sự, pháo đài ở đó rồi đi cướp đoạt vùng xung quanh.

Chúng đem da điêu cướp đoạt được dâng lên Sa hoàng.

Sa hoàng không những xá tội cho tên cầm đầu mà còn phong hắn làm quan, cai trị vùng Yakesa, muốn vĩnh viễn chiếm cứ vùng đó.

Khang Hy Đế vừa bình định xong loạn Tam phiên, nghe tâu biên giới phía bắc bị xâm phạm thì cả giận.

Để nắm vững tình hình địch, ông đích thân lên Thịnh Kinh, 1 mặt phái các tướng Bành Xuân, Lang Đàm lấy cớ đi săn, lên biên giới trinh sát; 1 mặt ra lệnh cho quan địa phương chế tạo chiến thuyền, xây đắp thành lũy, chuẩn bị đánh địch.

Sau khi hoàn thành mọi việc, Khang Hy Đế cử người mang thư tới cho người đứng đầu quân Nga, buộc họ phải lập tức rút khỏi Yakesa.

Quân Nga không những không chịu rút, mà còn tăng viện, tỏ ý sẵn sàng đối địch.

Thấy không còn khả năng giải quyết hòa bình, Khang Hy Đế liền hạ lệnh tiến quân.

Năm 1685, Khang Hy Đế cử Bành Xuân làm thống soái, dẫn 1 vạn 5000 quân bộ và quân thủy, rầm rộ kéo tới dưới thành Yakesa, vây chặt ngôi thành nhỏ này.

Qua mấy năm chuẩn bị, quân Nga đã xây dựng nơi đây rất kiên cố.

Sau khi quan sát địa hình, Bành Xuân cho đắp núi đất phía nam, để binh sĩ đứng trên núi đất bắn tên vào thành.

Quân Nga lúc đầu tưởng lầm rằng quân Thanh sẽ tấn công vào phía nam thành, liền điều binh lực đến đó.

Nào ngờ quân Thanh giấu sẵn hỏa pháo ở phía bắc, nhân lúc việc phòng thủ phía bắc lơi lỏng, đột nhiên bắn mạnh.

Đạn pháo xé không khí bay tới tấp vào thành, lầu thành bị trúng đạn, bốc cháy ngùn ngụt.

Trời sáng dần, quân Thanh lại xếp củi, chuẩn bị đốt thành.

Quân Nga hoảng sợ, vội giương cờ trắng đầu hàng.

Theo lời dặn từ trước của Khang Hy Đế, Bành Xuân tha toàn bộ hàng binh, buộc họ rút ngay về nước.

Tên chỉ huy cúi đầu lủi thủi dẫn tàn binh bại tướng rút đi.

Sau khi quân Nga rút, Bành Xuân ra lệnh cho binh sĩ san phẳng mọi thành lũy, công sự ở Yakesa, biến thành đồng ruộng cho dân trồng trọt, rồi dẫn quân về thành Ái Huy.

Nhưng tên đầu sỏ quân Nga là Tuốc-pu-chin không cam chịu.

Sau khi nghe tin quân Thanh đã rút đi, hắn lại dẫn đồng bọn lẻn về Yakesa, xây dựng lại thành lũy kiên cố hơn trước.

Tin cấp báo từ biên giới gửi về Bắc Kinh, Khang Hy Đế quyết định triệt để tiêu diệt bọn xâm phạm.

Mùa hè năm sau, tướng giữ Hắc Long Giang là Tát Bố Tố lại tiến quân lên Yakesa.

Tướng sĩ Thanh thấy kẻ địch đã được tha, bây giờ lại dám tới, thì đều giận dữ muốn tiêu diệt ngay.

Lần này, hỏa lực pháo binh của quân Thanh càng mãnh liệt hơn.

Quân Nga mấy lần xông ra khỏi thành toan chống lại, đều bị quân Thanh đánh lui.

Tên đầu sỏ giữ thành là Tuốc-pu-chin trúng đạn chết, số còn lại buộc phải rút xuống hầm ngầm.

Nhưng chỉ mấy ngày sau, kẻ thì ốm, kẻ thì chết, cuối cùng còn lại chỉ có 150 người.

Chính phủ Nga sa hoàng vội phái sứ giả tới Bắc Kinh, đề nghị đàm phán, Khang Hy Đế mới hạ lệnh ngừng đánh thành.

Năm 1689, phía Trung Quốc cử đại biểu là Sách Ngạch Đỗ, phía Nga cử đại biểu Cơ-lê-ven tiến hành hòa đàm, vạch đường biên giới giữa 2 nước, khẳng định 1 vùng rộng lớn thuộc lưu vực Hắc Long Giang và sông Út-xu-ri đều là lãnh thổ Trung Quốc.

Đó là "điều ước Ni-bu-su".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
BA LẦN ĐÁNH GÁC-ĐAN


Sau thất bại ở Yakesa, chính phủ Nga chưa cam chịu.

Năm thứ 2 sau khi kí điều ước Nibusu, họ liền xúi giục thủ lĩnh bộ tộc Trugac (Chuẩn Cát Nhĩ – 1 chi của tộc Mông Cổ) là Gác Đan tiến đánh vùng Mạc Bắc Mông Cổ.

Lúc đó, tộc Mông Cổ phân làm 3 bộ phận ở Mạc Nam, Mạc Bắc và Mạc Tây.

Ngoài bộ phận Mạc Nam từ lâu đã qui phục triều Thanh, 2 bộ phận khác cũng đã tỏ ý thần phục.

Trugac là 1 chi Mông Cổ ở Mạc Tây, sống du mục ở vùng Y Ly.

Từ khi Gác Đan làm thủ lĩnh Trugac, ông ta có ý đồ trước hết kiêm tính các bộ lạc Mông Cổ khác ở Mạc Tây, sau lại tiến công bộ phận Mông Cổ ở Mạc Bắc.

Bộ phận Mông Cổ này chống trả nhưng thất bại, mấy chục vạn người chạy xuống Mạc Nam xin triều đình Thanh bảo vệ.

Khang Hy Đế phái sứ giả đến gặp Gác Đan, yêu cầu ông ta trả lại những vùng đã chiếm cho bộ phận Mông Cổ Mạc Bắc.

Gác Đan cho rằng mình được nước Nga sa hoàng nâng đỡ nên rất ngạo nghễ, không những không chịu lui quân, mà còn lấy cớ truy kích Mông Cổ Mạc Bắc, ồ ạt xâm phạm Mạc Nam.

Khang Hy Đế triệu tập các đại thần tuyên bố sẽ ngự giá thân chinh đánh Gác Đan.

Ông cho rằng Gác Đan hung hăng, dã tâm không nhỏ, đã đánh vào Mạc Nam thì cần phản kích.

Năm 1690, Khang Hy Đế chia quân làm 2 cánh, cánh trái do Phủ Viễn đại tướng quân là Phúc Toàn thống lĩnh, từ Cổ Bắc Khẩu tiến ra; cánh phải do An Bắc đại tướng quân Thường Ninh thống lĩnh, từ Hỷ Phong Khẩu tiến ra; Khang Hy Đế thân dẫn quân chỉ huy phía sau.

Cánh quân Thanh phía phải tiếp xúc với quân Gác Đan trước, bị đánh thua.

Gác Đam dẫn quân tiến sâu vào, tới tận Nhan Bố Thông (nay là Khơ Sơ Khơ Thăng Xỉ thuộc khu tự trị Nội Mông), cách Bắc Kinh khoảng 700 dặm.

Gác Đan dương dương đắc ý, còn cử người sang đòi quân Thanh phải giao kẻ thù của ông ta đang nương nhờ bên Thanh.

Khang Hy Đế hạ lệnh cho Phúc Toàn phản kích.

Gác Đan tập trung mấy vạn kỵ binh dưới chân Đại Hồng Sơn, phía sau có rừng cây che chở, phía trước lại có sông ngăn cản.

Ông ta dùng hơn 1 vạn con lạc đà, trói chặt 4 chân phục xuống đất, trên lưng lạc đà có các hòm gỗ lớn, được bọc kín bằng chăn đệm ướt, xếp thành 1 bức thành lạc đà dài dằng dặc.

Quân của Gác Đan ẩn nấp trong những hòm đó bắn tên và súng ra, ngăn cản sự tiến công của quân Thanh.

Quân Thanh dùng pháo và sùng bắn đạn lửa bắn tập trung vào 1 đoạn thành lạc đà.

Tiếng pháo và súng nổ vang trời dậy đất.

Bức thành lạc đà bị vỡ 1 mảng, bộ binh và kỵ binh Thanh nhất tề xông lên chém giết.

Phúc Toàn lại phái quân vòng ra cánh rừng phía sau đánh bọc lại, khiến quân Gác Đan tan tác, phải bỏ doanh trại tháo chạy.

Gác Đan thấy tình thế bất lợi, vội cử 1 lạt ma đến trại Thanh xin hòa.

Phúc Toàn ngừng truy kích, đồng thời tâu lên Khang Hy Đế.

Khang Hy Đế hạ lệnh: "Mau tiếp tục truy kích!

Đừng để trúng quỷ kế của giặc!".

Quả nhiên, Gác Đan cầu hòa chỉ là kế hoãn binh.

Khi quân Thanh được lệnh tiếp tục truy kích, thì Gác Đan đã dẫn tàn binh chạy về Mạc Bắc rồi.

Gác Đan chạy về Mạc Bắc, bề ngoài tỏ ý qui phục triều Thanh, nhưng vẫn ngầm chiêu binh mãi mã.

Năm 1694, Khang Hy Đế hẹn Gác Đan tới hội kiến để lập minh ước.

Gác Đan không những không tới mà còn ngầm cử người xuống Mạc Nam xúi giục phản loạn.

Ông ta rêu rao là đã mượn được của nước Nga sa hoàng 6 vạn khẩu súng, sắp mở cuộc đại tiến công.

Thân vương các bộ tộc ở Nội Mông Cổ tới tấp gửi thư cáo phát về Khang Hy Đế.

Năm 1696, Khang Hy Đế ngự giá thân chinh lần thứ 2.

Ông chia quân làm 3 cánh, Hắc Long Giang tướng quân là Tát Bố Tố tiến quân từ phía đông; đại tướng quân Phí Dương Cổ dẫn quân Thiểm Tây, Cam Túc xuất quân từ phía tây để chặn đường phía sau của Gác Đan; Khang Hy Đế tự dẫn cánh trung quân từ Độc Thạnh Khẩu tiến vào.

3 cánh quân có kế hoạch giáp công theo kỳ hẹn đã quy định.

Cánh trung quân của Khang Hy Đế đến Khoa Đỗ, gặp quân tiên phong của địch, nhưng 2 cánh đông tây chưa tới kịp.

Lúc đó có người nói nước Nga sẽ đem quân giúp Gác Đan.

Một số đại thần đi theo có phần sợ hãi, khuyên Khang Hy Đế đem quân trở về Bắc Kinh.

Khang Hy Đế nổi giận nói: "Lần này trẫm xuất chinh chưa thấy quân phản tặc đã lui quân, thì nói với thiên hạ thế nào.

Thêm nữa, cánh giữa mà lui, phản quân sẽ đem toàn lực đối phó với cánh tây, cánh tây chẳng sẽ gặp nguy hiểm sao?".

Sau đó, Khang Hy Đế quyết định tiến quân tới Lỗ Luân Hà, rồi phái sứ giả đi gặp Gác Đan, báo cho ông ta biết tin Khang Hy Đế thân chinh.

Gác Đan đứng trên núi quan sát, thấy cờ vàng tung bay, trận thế nghiêm chỉnh, vội rút bỏ doanh trại chạy ngay trong đêm đó.

Khang Hy Đế vừa truy kích vừa thông báo gấp cho đại tướng Phí Dương Cổ ở cánh tây nhanh chóng đánh chặn.

Gác Đan dẫn quân chạy suốt 5 ngày đêm, tới Chiêu Mạc Đa (nay ở đông nam Ulanbato, Mông Cổ) thì vừa gặp quân của Phí Dương Cổ.

Chiêu Mạc Đa nguyên là 1 rừng cây lớn, phía trước có 1 dải đất rộng, vốn là chiến trường vùng Mạc Bắc.

Phí Dương Cổ làm theo kế hoạch của Khang Hy Đế, bố trí mai phục trong vùng rừng rậm thuộc 1 ngọn núi nhỏ, và phái 400 quân ra nhử, vừa đánh vừa lui, dẫn phản quân vào vùng mai phục.

Lúc đầu quân Thanh xuống ngựa đánh bộ, khi nghe hiệu tù và, liền nhảy lên ngựa, xông lên chiếm đỉnh núi.

Phản quân tiến công lên đỉnh núi, quân Thanh từ trên đỉnh núi bắn tên và đạn xuống, 2 bên kịch chiến.

Phí Dương Cổ lại phái 1 toán quân tập kích vào đoàn xe tải lương của phản quân, rồi trước sau đánh ép lại.

Phản quân số chết, số đầu hàng.

Cuối cùng Gác Đan chỉ còn có mấy chục kỵ binh, phá vây trốn thoát.

Sau 2 trận đánh lớn, tập đoàn phản quân của Gác Đan tan rã.

Khang Hy Đế buộc Gác Đan đầu hàng, nhưng Gác Đan vẫn ngang ngạnh chống lại.

Năm sau, Khang Hy Đế lại dẫn quân vượt Hoàng Hà thân chinh.

Lúc đó, Y Ly, căn cứ địa cũ của Gác Đan đã bị người cháu là Sách Vọng A Na Bố Đản chiếm mất.

Thân tín dưới quyền nghe tin quân Thanh kéo tới, liền lũ lượt đầu hàng, xin dẫn đường cho quân Thanh.

Gác Đan cùng đường, liền uống thuốc độc tự sát.

Từ đó về sau, triều Thanh lại khống chế được bộ phận Mông Cổ Mặc Bắc ở phía đông dãy An Tai, phong cho các quý tộc Mông Cổ tước phong và quan chức, đồng thời còn phái tướng lĩnh tới U-ly-y-a-su-tai để cai quản bộ phận Mông Cổ Mạc Bắc.

Về sau, cháu của Gác Đan là Sách Vọng A Na Bố Đản đánh chiếm Tây Tạng.

Năm 1720, Khang Hy Đế lại phái quân viễn chinh Tây Tạng, đuổi Sách Vọng A Na Bố Đản đi, hộ tống Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 6 về Tây Tạng.

Sau đó, triều Thanh lại đặt đại thần trú tại La Sa, thay mặt triều đình cùng với Đạt Lai và Ban Thiền cùng quản lý Tây Tạng.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CỐ VIÊM VÕ VIẾT SÁCH, LẬP THUYẾT


Sau khi dẹp xong loạn Tam phiên, nền thống trị của vương triều Thanh ở Trung Quốc bắt đầu ổn định.

Nhưng còn 1 điều khiến Khang Hy Đế không thật yên tâm, đó là 1 số nhân sĩ cũ của triều Minh không phục.

Do đó, ông dùng 1 biện pháp, là mở ra "Khoa Bác Học Hồng Từ", ra lệnh cho các đại thần trong triều và các quan địa phương tiến cử người có học vấn lên triều đình, phong ngay cho họ làm quan.

Biện pháp này quả nhiên rất hiệu nghiệm, nhiều học giả, văn nhân nổi tiếng trong toàn quốc hưởng ứng lệnh triệu, tới kinh thành nhận chức.

Nhưng vẫn có 1 số học giả cho rằng mình là thần dân triều Minh, ra làm quan cho triều Thanh là mất khí tiết.

Họ thà chịu chém đầu chứ nhất định không theo lệnh triệu.

Trong số đó có nhà tư tưởng nổi tiếng Cố Viêm Võ.

Có người muốn tiến cử ông vào Khoa Bác Học Hồng Từ, ông viết thư trả lời: "Tôi là một ông lão đã bảy mươi tuổi, còn ham muốn gì nữa?

Chỉ có cái chết đang chờ tôi.

Nếu nhất định buộc tôi theo lệnh triệu, tôi đành chọn cái chết mà thôi!".

Cố Viêm Võ quê tại Côn Sơn, Giang Tô, xuất thân trong 1 dòng họ lớn ở Giang Nam.

Tổ phụ của ông là 1 trí thức nổi tiếng, cho rằng đọc sách cần phải đồng thời nghiên cứu thực tế.

Chịu ảnh hưởng tổ phụ, từ nhỏ Cố Viêm Võ đã thích đọc "Tư trị thông giám", "Sử ký" và "Tôn Ngô binh pháp", đồng thời rất quan tâm đến thời sự.

Sau 1 lần thi không đỗ, ông liền quyết tâm từ bỏ khoa cử, vùi đầu đọc mọi thư tịch lịch sử các triều đại, nghiên cứu địa phương chí các vùng trong cả nước và mọi tấu chương của danh nhân các đời.

Sau đó, bắt tay vào viết tác phẩm lịch sử-địa lý quan trọng là "Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư".

Chính trong lúc ông tập trung tâm lực vào nghiên cứu học thuật thì triều Minh diệt vong, quân Thanh tiến xuống miền Nam, nhân dân các địa phương thuộc Giang Nam đều tổ chức chống cự.

Cố Viêm Võ và 2 người bạn thân cũng tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Côn Sơn.

Sau khi kịch chiến với quân Thanh trong 21 ngày, vì lực lượng quá chênh lệch, quân nhân Côn Sơn đã thất bại.

Khi thành Côn Sơn bị mất, bà mẹ của Cố Viêm Võ bị lính Thanh chém đứt cánh tay phải.

Bà mẹ kế, người đã nuôi nấng ông trưởng thành, nghe tin quân Thanh đánh chiếm Thường Thục, liền nhịn ăn mà chết.

Trước khi mất, bà nói với Cố Viêm Võ: "Ta tuy là một người đàn bà, nhưng chết theo nạn nước cũng là lẽ đương nhiên.

Mong con sau này chớ làm thần tử triều Thanh, thì dù ta có chết đi cũng yên tâm nhắm mắt".

Cố Viêm Võ khóc rống lên đau đớn, sau khi an táng kế mẫu, liền rời khỏi làng quê.

Ông toan đi đường biển tới theo Lỗ vương, nhưng chưa thực hiện được ý định thì chính quyền Lỗ vương đã bị tiêu diệt.

Cố Viêm Võ thay tên đổi họ, đi khắp dải nam bắc Trường Giang, muốn tổ chức 1 đội nghĩa quân chống Thanh, nhưng do thế cô, sức mỏng nên không thực hiện được.

Lúc đó, ở miền ven biển và Thái Hồ còn 1 số lực lượng lẻ tẻ chống Thanh.

Nhưng quân Thanh đề phòng rất nghiêm, hễ phát hiện thấy ai có chút hiềm nghi là ghép cho tội "tư thông với phản quân" rồi bắt giam.

Tại Côn Sơn, có 1 địa chủ kiêm quan lại tên là Diệp Phương Hằng, muốn chiếm ruộng đất của gia đình Cố Viêm Võ, liền mua chuộc lũ gia nhân nhà họ Cố, vu cáo Cố Viêm Võ "tư thông với phản quân".

Diệp Phương Hằng bắt Cố Viêm Võ tới, tự lập công đường, buộc ông tự sát.

Một số bạn bè của Cố Viêm Võ muốn cứu ông, liền đi tìm Tiền Khiêm Ích đang làm quan đang làm quan cho triều Thanh nhờ giúp đỡ.

Tiền Khiêm Ích vốn là Lễ bộ thượng thư trong triều Nam Minh của Hoằng Quang Đế, lại là 1 văn học gia có tiếng.

Khi quân Thanh xuống Giang Nam, ông ta liền đầu hàng, mất hết thanh danh.

Tiền Khiêm Ích tỏ ý, nếu Cố Viêm Võ chịu nhận là học trò của ông ta, thì ông ta sẽ bảo lãnh cho ra khỏi nhà giam.

Người bạn biết Cố Viêm Võ không chịu nghe theo điều kiện đó, liền tự quyết định, viết 1 danh thiếp của Cố Viêm Võ, đưa cho Tiền Khiêm Ích, nhờ giúp đỡ.

Cố Viêm Võ biết việc đó, trách mắng người bạn, buộc phải đòi danh thiếp về.

Người bạn không chịu làm theo, Cố Viêm Võ liền dán bố cáo ngoài phố, nói rõ tấm danh thiếp ấy là giả, khiến Tiền Khiêm Ích lâm vào cảnh khó xử.

Nhờ nhiều bạn bè chạy vạy, Cố Viêm Võ mới được tha ra.Diệp Phương Hằng vẫn chưa chịu thôi, cử người theo dõi ông.

Một hôm, Cố Viêm Võ đi qua Thái Bình Môn của thành Nam Kinh, bị bọn côn đồ xông ra đánh, bị thương nặng ở đầu, may nhờ có người cấp cứu mới thoát được nguy hiểm.

Ông thấy không thể ở lại Giang Nam được, liền quyết tâm đi du lịch miền bắc.

Tới miền bắc, Cố Viêm Võ nhằm 2 mục đích: 1 là khảo sát địa thế và phong tục tập quán địa phương, 2 là tìm kiếm, kết giao với những bạn bè cùng chí hướng để tổ chức hoạt động chống Thanh.

Trong hoàn cảnh rong ruổi đường xa gian khổ, nhưng Cố Viêm Võ không bao giờ lơi lỏng việc nghiên cứu học thuật.

Trên đường, ông đem theo 2 con ngựa, 4 con lừa để thồ sách vở.

Qua những nơi quan ải hiểm yếu, đều hỏi han những lão binh đã giải ngũ, tìm hiểu phong tục tập quan địa phương, nếu thấy trong sách không ghi chép đúng như vậy, đều đối chiếu, sửa chữa lại.

Do đó, tri thức của ông càng phong phú thêm.

Cho đến năm 45 tuổi, Cố Viêm Võ bỏ ra 25 năm đi khảo sát khắp vùng Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Bắc, Giang Nam.

Hầu như 1 nửa số thời gian trong năm, ông trú trong các lữ quán.

Ông còn cùng 1 số bạn bè khai khẩn đất hoang ở vùng Nhạn Bắc.

Những năm cuối đời, ông mới định cư ở Hoa Âm thuộc Thiểm Tây.

Từ nhỏ, khi đọc sách, Cố Viêm Võ đã có thói quen là khi có gì tâm đắc liền ghi chép lại.

Sau nếu thấy có sai lầm, lại lập tức sửa chữa.

Nếu phát hiện thấy mình trùng lặp những điều của người xưa, cũng lập tức xóa bỏ.

Cứ tích lũy năm tháng như vậy, cộng thêm những tư liệu thu thập được qua khảo sát, điều tra, ông soạn thành 1 bộ có nội dung cực kỳ phong phú, bao quát các mặt chính trị, kinh tế, lịch sử, địa lý, văn nghệ, đặt tên là "Nhật Tri Lục" (ghi chép những tri thức thu lượm được từng ngày).

Bộ sách này được công nhận là 1 trước tác rất có giá trị học thuật.

Trong "Nhật Tri Lục", ông viết 1 đoạn văn lời lẽ rất sâu sắc, thấu triệt.

Ông cho rằng đạo đức, phong tục xã hội mà bại hoại, thì sẽ mất thiên hạ.

Để giữ được thiên hạ, thì mỗi người bình thường dù ở địa vị thấp cũng đều cần gánh lấy trách nhiệm (nguyên văn: "Bảo thiên hạ giả, thất phu chi tiện dữ hữu trách yên nhĩ hĩ").

Câu danh ngôn "Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách" (sự hưng vong của thiên hạ, có trách nhiệm của người dân thường) là xuất phát từ đoạn văn trên của Cố Viêm Võ.

Những nhà tư tưởng cùng thời đại với Cố Viêm Võ, còn có Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hy.

Họ đều tham gia cuộc đấu tranh chống Thanh, trước sau không chịu theo lệnh triệu ra làm quan dưới triều Thanh.

Họ đều có thành tự lớn về học thuật.

Lịch sử gọi gộp cả 3 người là "Thanh sơ tam tiên sinh" (Ba bậc thầy đầu đời Thanh).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VĂN TỰ NGỤC


Đối với các văn nhân của nhà Minh còn lại, những người tự thấy triều đình Thanh vừa dùng biện pháp vỗ về, đồng thời mặt khác lại dùng những thủ đoạn trấn áp rất tàn ác đối với những ai không chịu phục sự thống trị của họ.

Vào năm thứ 2 sau khi Khang Hy Đế lên ngôi, do có cáo giác của quan chức, được biết ở Hồ Châu, Triết Giang có 1 văn nhân tên là Trang Đình Long đã tự tiện chiêu tập 1 số văn nhân để biên tập bộ "Minh sử".

Trong bộ sử này đã có những lời lẽ đả kích những người thống trị triều đình Thanh, hơn nữa lại còn dám sử dụng niên hiệu của nhà Nam Minh.

Vào lúc đó, tuy Trang Đình Long đã chết, nhưng triều đình vẫn ra lệnh cho bật quan tài, băm chém thi hài; đồng thời xử tội người con trai ông cùng với tất cả những người viết lời nói đầu cho cuốn sách; người khắc chữ, người đi bán sách, người in ấn và cả các vị quan chức địa phương ở đó; kẻ thì bị tử hình, người thì bị đi đày.

Toàn bộ vụ án liên can đến trên 70 người.

Đầu năm 1711, lại có người cáo giác rằng trong bộ văn tập của 1 vị quan hàn lâm là Đới Danh Thế đã có những chỗ tỏ thái độ đồng tình với chính quyền nhà Nam Minh, lại còn dùng niên hiệu Vĩnh Lịch Đế của nhà Nam Minh.

Xét tội đó, triều đình đã ra lệnh tống giam Đới Danh Thế vào nhà lao và xử tử hình.

Vụ án này liên lụy đến những người thân của Đới Danh Thế và những người làm công việc khắc chữ, in ấn văn tập đó.

Tất cả có tới trên 300 người.

Những vụ án đó đều từ chuyện văn chương gây nên, cho nên gọi nó là "vụ án văn chương" (Văn tự ngục).

Khang Hy làm hoàng đế được 61 năm thì chết già.

Người con trai thứ 4 của ông tên là Dận Trinh lên ngôi, tức là Thanh Thế Tông, còn gọi là Ung Chính Đế.

Ung Chính Đế tính vốn tàn bạo, lại là người đầy lòng nghi kỵ.

Dưới sự thống trị của ông, các vụ án văn chương ngày càng nhiều, càng nghiêm trọng.

Nổi tiếng nhất là vụ Lã Lưu Lương.

Lã Lưu Lương cũng là 1 học giả nổi tiếng.

Sau khi nhà Minh bị diệt vong, ông đã từng tham gia cuộc đấu tranh chống Thanh, nhưng không thành công.

Ông liền ở nhà dạy học.

Có người tiến cử ông vào "Khoa Bác Học Hồng Từ", nhưng ông đã cự tuyệt thẳng thừng.

Giới quan chức khuyên thế nào ông cũng chẳng nghe, dọa dẫm cũng không ăn thua.

Sau đó ông đã dứt khoát vào chùa, cắt tóc đi tu.

Các quan chức chịu bó tay, không thu nạp nổi ông.

Đi tu chẳng qua là Lã Lưu Lương trốn trong chùa viết sách, lập thuyết.

Trong sách ông viết có nội dung chống lại sự thống trị của nhà Thanh.

Vừa hay, ngay sau khi viết xong, sách còn chưa kịp lưu hành thì Lã Lưu Lương mất, như vậy càng chẳng có ai chú ý đến việc này.

Có 1 người Hồ Nam tên là Tăng Tĩnh bất ngờ biết đến văn bản của Lã Lưu Lương, vô cùng khâm phục học vấn của ông, bèn sai 1 học sinh của mình là Trương Hy đi từ Hồ Nam tới tận Triết Giang quê cũ của Lã Lưu Lương để tìm xem có bản thảo nào còn sót lại không.

Vừa mới đặt chân đến đất Triết Giang, Trương Hy đã nắm ngay được tin tức về bản thảo, lại còn tìm được 2 môn sinh của Lã Lưu Lương.

Trương Hy nói chuyện với họ rất tâm đầu ý hợp.

Sau khi về kể lại với Tăng Tĩnh, được Tăng Tĩnh cho hẹn gặp mặt 2 môn sinh đó.

Thế là cả 4 người cùng nhau bàn luận về sự thống trị của nhà Thanh và họ đều cùng tỏ ra căm tức, bí mật bàn bạc tìm cách lật đổ vương triều Thanh.

Họ đều cho rằng, nếu chỉ dựa vào mấy kẻ thư sinh thì không thể làm nên việc lớn.

Sau, Tăng Tĩnh dò biết được về 1 vị đại thần người Hán tên là Nhạc Chung Kỳ, hiện đang làm tổng đốc ở Thiểm Cam.

Ông này nắm binh quyền rất lớn, do từng lập được chiến công trong dẹp loạn ở vùng biên giới nên được Ung Chính Đế trọng dụng.

Tăng Tĩnh bèn nghĩ, nếu như thuyết phục được Nhạc Chung Kỳ đứng lên chống lại nhà Thanh, thì sẽ có nhiều hy vọng thành công.

Tăng Tĩnh viết 1 lá thư, sai Trương Hy đưa đến Nhạc Chung Kỳ.

Nhạc Chung Kỳ tiếp kiến Trương Hy, xé thư ra xem thấy trong thư khuyên ông chống Thanh, ông rất đỗi kinh ngạc, liền hỏi Trương Hy: "Nhà ngươi ở đâu đến đây, dám đưa bức thư hết sức phản nghịch và vô đạo như thế này?".

Trương Hy không hề đổi sắc mặt đáp: "Tướng quân có mối thù truyền kiếp với nhà Thanh, lẽ nào không muốn báo thù ư?".

Nhạc Chung Kỳ nói: "Nhà ngươi kiếm chuyện này ở đâu ra?".

Trương Hy nói: "Tướng quân họ Nhạc, chính là hậu duệ của Nhạc Trung Vũ Vương (tức Nhạc Phi) của nhà Nam Tống, còn tổ tiên của hoàng đế nhà Thanh hiện nay vốn là người Kim.

Năm ấy Nhạc Vương bị nhà Kim câu kết với Tần Cối giết hại, mối oan này lưu thiên cổ.

Hiện tướng quân có nhiều người ngựa trong tay, chính là một dịp rất tốt có thể báo thù cho Nhạc Vương!".

Nhạc Chung Kỳ nghe vậy lập tức ngoảnh mặt đi, hét lên, cho tống giam Trương Hy.

Ông còn lệnh cho quan địa phương phải xét hỏi Trương Hy xem ai là người sai Trương Hy đến đây.

Hy chịu mọi cực hình, nhưng vẫn 1 mực nói rằng: "Các ngươi muốn giết, muốn băm vằm ta cũng được, nhưng hỏi ai sai phái ta thì không có đâu!".

Nhạc Chung Kỳ nghĩ bụng: Trương Hy là 1 anh chàng cứng cổ, nếu chỉ dùng cứng thì không thể trị nổi anh ta.

Liền nghĩ ra 1 biện pháp mềm dẻo khác.

Hôm sau ông cho thả Trương Hy ra và bí mật tiếp kiến.

Nhạc Chung Kỳ giả mặt bình thường như không, nói rằng: cuộc xét hỏi đêm qua chẳng qua là để thăm dò thử xem sao, nghe lời Trương Hy ông thấy vô cùng xúc động và quyết tâm dấy binh chống Thanh, rất mong Trương Hy giúp đỡ cho chủ trương.

Thoạt đầu Trương Hy không tin, nhưng sau thấy Nhạc Chung Kỳ làm bộ trịnh trọng như thật, lại thề thốt có thần linh chứng giám, nên tỏ lòng tin.

Hai người bàn bạc với nhau suốt mấy ngày liền, rất mực hào hứng.

Trương Hy nói ra bằng hết, kể lể hết cả chuyện về thầy Tăng Tĩnh đã dặn dò và giao nhiệm vụ cho mình như thế nào.

Nhạc Chung Kỳ nắm được tình hình do Trương Hy cung cấp, 1 mặt cử người về Hồ Nam tróc nã Tăng Tĩnh, 1 mặt lập ngay bản sớ tâu vua.

Báo cáo trình bày rất đầy đủ mọi chi tiết mưu đồ làm phản của Tăng Tĩnh, Trương Hy như thế nào cho Ung Chính Đế biết.

Nhận được báo cáo, Ung Chính Đế vừa giận vừa nổi nóng, cho bắt ngay Tăng Tĩnh, Trương Hy giải về Bắc Kinh, dùng hình phạt nghiêm khắc để xét hỏi.

Đến lúc đó, Trương Hy mới vỡ lẽ ra là mình đã bị mắc lừa to của Nhạc Chung Kỳ, nếu không thừa nhận cũng không xong.

Ung Chính Đế tiếp tục tra xét và biết thêm Tăng Tĩnh còn đi lại với 2 học sinh của Lã Lưu Lương nữa.

Thế là vụ án liền dính đến nhà Lã Lưu Lương.

Lúc này, Lã Lưu Lương đã chết, Ung Chính Đế cho đào mả lên và bật quan tài ra.

Vẫn chưa hả dạ, Ung Chính Đế còn xử chém đám con cháu và 2 môn sinh của Lã Lưu Lương ngay trước cửa nhà.

Cũng còn không ít học sinh tin theo Lã Lưu Lương đều bị liên lụy và bị đày đi nơi xa.

Trong các vụ án, có 1 số thực sự là những hoạt động chống lại triều đình Thanh.

Ngoài ra, còn nhiều vụ án văn chương được xử tràn lan hết sức gán ghép.

Người ta bới lông tìm vết những sai sót trong văn chương, chỉ vì 1 câu thơ, thậm chí 1 chữ cũng dẫn đến tai họa.

Có 1 lần, trong văn bản tấu lên trên của Từ Tuấn, 1 vị quan hàn lâm, viết 2 chữ "bệ hạ" lại sai mất chữ "bệ" (tức chữ "bệ" là thềm cung vua, viết thành chữ "bệ" có nghĩa là ngục tù).

Ung Chính Đế nhìn thấy, lập tức cách chức ngay.

Sau đó lại cho người đến khám nhà và tìm thấy trong tập thơ của Từ Tuấn có 2 câu thơ "Thanh phong bất thức tự, Hà sự loạn phiên thư?" (Gió mát không biết chữ, lật trang sách làm gì?).

Đem bới chữ "Thanh phong" cho rằng có nghĩa ám chỉ nhà Thanh, thế là Từ Tuấn bị kết tội phỉ báng triều đình Thanh, và bị xử tử.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HOÀNG ĐẾ CÀN LONG CẤM SÁCH VÀ SOẠN SÁCH


Vương triều Thanh thống trị Trung Quốc, trải qua 2 đời Khang Hy và Ung Chính Đế cai trị, nền kinh tế phát triển rất mạnh.

Đến đời con của Ung Chính, Thanh Cao Tông Hoằng Lịch (tức là hoàng đế Càn Long lên ngôi), thì đất nước cường thịnh, tài chính dồi dào.

"Văn trị, võ công" (sự thống trị văn hóa và vũ lực) vào sơ kỳ nhà Thanh đã làm cho đất nước lúc đó đạt đến trình độ cường thịnh.

Vào năm 1757 công nguyên, 1 quý tộc ở vùng Trugac tên là A Mu Sa Na vốn trước đây đã quy phục nhà Thanh, nay lại nổi loạn.

Hoàng đế Càn Long phái 2 đạo quân tiến công vào Y Ly (còn gọi là Y Ninh) để đánh dẹp.

Bình định xong toàn vùng Trugac thì có 2 thủ lĩnh tộc Uygua vốn bị bắt làm tù binh ở Trugac là Tru Mu anh (còn gọi là Bu Na Đan) và Tru Mu em (còn gọi Hua Chi Tran) bỏ chạy về khu vực nam Thiên Sơn, Tân Cương, dấy binh chống lại nhà Thanh.

Hai anh em Tru Mu đàn áp dân trong vùng 1 cách vô cùng tàn ác; người Uygua căm thù đã vùng lên đấu tranh, ủng hộ nhà Thanh.

Vì thế, quân Thanh đã dẹp loạn 2 anh em Tru Mu rất dễ dàng.

Năm 1762 công nguyên, triều đình Thanh đặt ra 1 cấp tướng quân ở Y Ly (Tân Cương) nhằm tăng cường cai trị cả 2 phần bắc và nam Thiên Sơn.

Cũng giống như vua ông và vua cha, hoàng đế Càn Long ngoài việc dùng vũ công, ông còn rất coi trọng văn trị.

Một mặt ông cho tiếp tục mở "Khoa Bác Học Hồng Từ" chiêu tập các văn nhân, học giả để biên soạn các loại thư tịch; mặt khác ra sức xét xử các vụ án văn chương, đàn áp các văn nhân bi nghi ngờ mưu chống nhà Thanh.

Các vụ án văn chương thời Càn Long rất nhiều, vượt xa số lượng của cả thời Khang Hy và Ung Chính.

Nhưng hoàng đế Càn Long hiểu ra rằng, nếu chỉ dựa vào các vụ án văn chương để cai trị văn hóa thì sẽ không thể đạt được tới mức triệt để được.

Hàng ngàn hàng vạn thư tịch vẫn còn đang tàng trữ trong dân gian, nếu trong những đống thư tịch đó lại có những nội dung không lợi cho sự thống trị của nhà Thanh thì sẽ giải quyết ra sao?

Cuối cùng, ông đã tìm ra được 1 cách, tức là tập trung tất cả các sách tàng trữ trong cả nước lại, cho biên tập thành 1 bộ tùng thư đồ sộ chưa từng thấy.

Làm vậy thì vừa lôi kéo thêm được 1 số trí thức, tỏ ra hoàng đế rất coi trọng văn hóa, lại vừa có dịp để thẩm tra soát xét tất cả các sách hiện đang được cất giữ trong dân gian.

Thật nhất cử lưỡng tiện.

Năm 1733 công nguyên, hoàng đế Càn Long chính thức ra lệnh lập Tứ khố toàn thư quán.

Ông đã cắt cử 1 số thân vương trong hoàng thất và đại học sĩ làm tổng tài.

Các vị hoàng thân quốc thích phần lớn chỉ là nêu danh và giữ vai trò giám sát, còn những vị thực sự làm công biên soạn là 1 số học giả nổi tiếng thời đó như Đới Chấn, Diêu Nại, Kỷ Vận.

Bộ tùng thư ấy được đặt tên là "Tứ khố toàn thư".

Trung Quốc thời cổ thường chia sách thành 4 loại lớn: kinh, sử, tử, tập.

Bộ Kinh bao gồm các trước tác kinh điển của các Nho gia từ trước đến nay (như "Kinh thi", "Luận ngữ", "Mạnh Tử") và những sách nghiên cứu âm vận văn tự; bộ Sử gồm các sách lịch sử các loại, địa lý, truyện ký; bộ Tử bao gồm các trước tác về học thuyết của bách gia chư tử, các trước tác khoa học kỹ thuật như nông học, y học, thiên văn, lịch pháp, toán pháp, nghệ thuật; bộ Tập bao gồm các tổng tập và chuyên tập về văn học.

Tất cả các loại sách nói trên được tập trung lại và gọi là "tứ khố" (4 kho sách).

Muốn biên soạn 1 bộ tùng thư có qui mô to lớn như thế, trước hết phải thu thập thư tịch.

Càn Long ra lệnh bắt quan các tỉnh phải đi sưu tầm, thu mua các loại sách, các tập bản đồ và nộp lên trên.

Ông còn đặt ra các hình thức khen thưởng, yêu cầu các tư nhân hiến sách, hiến càng nhiều thưởng càng to.

Lệnh đó vừa ban ra, quả nhiên các sách, bản đồ gửi về Bắc Kinh như 1 dòng chảy vô tận.

Chỉ trong vòng 2 năm đã thu thập được tới trên 2 vạn loại, thêm vào đó là số lớn sách có sẵn trong cung đình, tổng cộng đạt được 1 số lượng rất khả quan.

Sách đã thu thập xong, Càn Long ra lệnh cho các vị quan biên soạn của Tứ khố toàn thư quán phải kiểm tra thật kỹ lưỡng các sách đó.

Hễ là các câu chữ có tính chất "ngang trái" (tức là không có lợi cho những người thống trị), nhất là luật đều phải xóa bỏ.

Qua tra xét, phát hiện vị đại thần Tần Chương Lý ở hậu kỳ triều Minh có viết về đời trước của hoàng tộc nhà Thanh với lời lữ không lấy gì làm tôn trọng cho lắm.

Thí dụ, ông đã nêu ra rằng, chính các người đới trước của hoàng tộc đã từng nhận chức quan và sắc phong của triều Minh.

Điều này xem ra làm cho hoàng đế Càn Long bị mất thể diện.

Thế là Càn Long ra lệnh đốt sạch các sách đó.

Còn trước tác của các văn nhân chống Thanh như Lã Lưu Lương, Hoàng Đạo Châu thì không cần phải bàn.

Sau đó, qua những rà soát tiếp tục, lại thấy trong trước tác của những người triều Tống cũng có nhiều nội dung chống lại Liêu, Kim, Nguyên.

Những nội dung ấy rất dễ làm cho người ta liên tưởng đến việc chống lại vương triều Thanh.

Tất cả những loại sách như vậy đều phải tiêu hủy toàn bộ hoặc 1 bộ phận.

Còn có 1 cách nữa, tức là gặp những câu vào loại đó thì phải gạch xóa, bôi mực đen; như vậy thì tuy vẫn giữ được sách nhưng trông chẳng còn ra mặt mũi sách vở thế nào cả.

Càn Long phải nặn óc suy nghĩ quanh việc này.

Theo thống kê chưa đầy đủ, khi biên soạn bộ "Tứ khố toàn thư" đồng thời cũng thiêu hủy và cấm lưu hành có tới trên 3000 loại sách.

Dù cho động cơ của hoàng đế Càn Long như thế nào thì cuối cùng bộ "Tứ khố toàn thư" đồ sộ đã biên soạn xong và được cất giữ cẩn thận.

Các học giả biên soạn "Tứ khố toàn thư" phải bỏ ra công sức tới 10 năm trời để biên tập, hiệu đính, sao chép, sửa chữa 1 số lượng lớn sách và bản đồ.

Năm 1782, việc biên soạn chính thức hoàn thành, toàn bộ số sách ấy là 3503 loại, gồm 79.337 Cuốn. lúc đó, bộ toàn thư này được chép thành 7 bộ sách, đem cất giấu ở các nơi: hoàng cung, vườn Minh Viên, hành cung Nhiệt Hà (tức Thừa Đức, Hà Bắc ngày nay), Phụng Thiên (Thẩm Dương ngày nay), Hàng Châu, Trấn Giang, Dương Châu (trong đó có 3 bộ bị đốt trong chiến tranh).

Đây là 1 di sản văn hóa phong phú giúp cho người đời sau nghiên cứu thời cổ đại Trung Quốc, một cống hiến to lớn, vô cùng quý báu.

Còn số sách bị cấm và bị đốt, tuy có gây nên tổn thất cho văn hóa Trung Quốc, song chúng cũng không bị cấm 1 cách triệt để.

Hồi đó có không ít người yêu chuộng văn vật dám chịu gặp nguy hiểm phải vào tù, bị chém đầu, cố giữ và cất giấu rất nhiều sách có giá trị.

Đến những năm mạt kỳ nhà Thanh, rất nhiều sách cấm lại lần lượt xuất hiện.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TÀO TUYẾT CẦN VIẾT HỒNG LÂU MỘNG


Hoàng đế Càn Long lao vào việc dùng binh hết năm này đến năm khác, chi phí quân sự rất lớn.

Ông lại còn đi tuần du Giang Nam tới 6 lần, hết sức phô trương lãng phí.

Thêm vào đó các quan lại quen thói tham ô, phung phí khiến nhà nước dần dần suy yếu.

Chính vào lúc đó, tại đất kinh thành lưu truyền 1 cuốn tiểu thuyết mang tên "Hồng lâu mộng".

Thoạt đầu, người ta không biết tác giả là ai, sau tìm hiểu mới biết đó là Tào Tuyết Cần.

Tào Tuyết Cần vốn là con em của 1 gia đình quý tộc, cụ của ông là Tào Tỷ, từng được Khang Hy Đế tin yêu, được cử xuống phía nam tổ chức nghề may dệt ở Giang Ninh.

Giang Ninh vốn là 1 vùng đất giàu có ở phía nam, nghề dệt may ở đây được huy động để may các trang phục cho hoàng tộc.

Đó là 1 việc làm hái ra tiền.

Sau khi cụ Tào Tỷ mất, ông của Tào Tuyết Cần là Tào Dần và bố là Tào Phủ tiếp thu được nghề đó.

Ba đời của 1 gia đình làm chức quan trông coi việc may dệt kéo dài tới 60 năm.

Gia sản ngày càng giàu có và trở thành 1 hào phú.

Sau khi Ung Chính Đế lên ngôi, do nội bộ hoàng thất rối ren, việc có liên quan đến nhà họ Tào.

Ung Chính Đế cho rằng nhà họ Tào đã từng chống lại mình, do đó cách chức Tào Phủ, đồng thời ra lệnh lục soát cả nhà ông.

Lúc bấy giờ Tào Tuyết Cần mới chỉ là 1 cậu bé 10 tuổi nhưng đã có hiểu biết, thấy cảnh nhà mình bị hoạn nạn lớn như vậy, tâm hồn bé nhỏ của cậu bị thương tổn nặng nề.

Bố bị mất chức quan, không thể sống tiếp ở đất Giang Ninh này nữa, đành phải trở về nhà cũ ở Bắc Kinh.

Cuộc sống ngày càng khó khăn gian khổ, hoạn nạ cứ dập vào liên tiếp 2-3 lần.

Đến khi bố chết, đời sống Tào Tuyết Cần càng khó khăn hơn, ông đành dọn đến Tây Giao, Bắc Kinh, ở tạm trong ngôi nhà mấy gian đơn sơ để đi học.

Nhiều lúc cơm không đủ ăn, chỉ đành húp 1 chút cháo loãng cho đỡ đói.

Do Tào Tuyết Cần sống ở vùng ngoại ô, môi trường đã thay đổi, ông tiếp xúc với đám dân chúng cùng khổ, liên tưởng đến cảnh sinh hoạt hào hoa hồi nhỏ ở nhà mình không khỏi có nhiều cảm xúc.

Sau đó, ông quyết tâm dựa vào những điều chính mình đã trải qua để viết ra 1 bộ tiểu thuyết phản ánh sinh hoạt xã hội đương thời.

Đó là bộ tiểu thuyết "Hồng lâu mộng"

Trong "Hồng lâu mộng", Tào Tuyết Cần đã viết lên câu chuyện về 1 đại gia đình quí tộc từ lúc hưng thịnh cho đến suy vong.

Trong gia đình ấy, phần lớn là bọn người ăn bám, lũ ký sinh trùng chỉ đòi hưởng thụ, lao vào cuộc ăn chơi hoan lạc, cho vay lấy lãi, có 1 số người thì ngoài mặt làm ra vẻ đứng đắn đạo mạo, còn nội tâm thì bẩn thỉu đê tiện.

Những vai chính trong tiểu thuyết là công tử Giả Bảo Ngọc của nhà họ Giả cùng với cô em họ của chàng là Lâm Đại Ngọc, họ là đôi thanh niên chán ghét thói sống quí tộc, phản đối lễ giáo phong kiến.

Từ trong hoàn cảnh như vậy, họ đều muốn thoát ra khỏi sự trói buộc của lễ giáo cũ, nhưng không có lối thoát.

Rút cuộc Lâm Đại Ngọc chịu mọi sự khinh rẻ mắc bệnh ốm chết.

Còn Giả Bảo Ngọc thì phải bỏ nhà ra đi.

Cả 1 đại gia đình quí tộc sau khi tận hưởng mọi vinh hoa phú quý, rồi như 1 tòa lâu đài mục nát, dần rệu rã sụp đổ xuống.

Tào Tuyết Cần đã dùng ngòi bút đầy sự đồng tình sâu sắc viết về đôi thanh niên nam nữ và 1 số người hầu gái chịu mọi nỗi áp bức và lăng nhục.

Nhưng, đồng thời cũng dùng ngòi bút với đầy lòng căm phẫn, vạch trần tất cả những mục nát và tội ác của giai cấp phong kiến thống trị.

Trong "Hồng lâu mộng", có 1 đoạn văn viết về câu chuyện "bùa hộ mệnh của quan", chính là để bóc trần những thủ đoạn của bọn quan liêu và hào phú câu kết với nhau, lừa dối áp bức dân chúng như thế nào.

Trong tiểu thuyết có nó đến ở phú nhà họ Giả có 1 nhà họ Tiết là chỗ thân thích, vị công tử Tiết Bàn của nhà họ Tiết vì tranh giành 1 cô hầu gái mà hành hung đánh chết người.

Người ở của kẻ bị hại cáo giác lên tận Phủ Ứng Thiên, tri phủ Giả Vũ Thôn cũng đang định cho công sai đến nhà họ Tiết để tróc nã hung thủ, thì người hầu của ông ta có rỉ tai rằng đừng nên làm như vậy.

Sau khi bãi đường, Giả Vũ Thôn giữ người hầu đó ở lại, hỏi tại sao lại ngăn ông tróc nã hung phạm.

Người hầu đó móc trong túi ra 1 tờ giấy, trên đó có chép 1 bài dân ca "Bùa hộ quan" lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian:

"Giả không giả, bạch ngọc làm nhà, vàng làm ngựa

Cung A Phòng ba trăm dặm, không sánh nổi nhà Sử ở Kim Lăng

Đông Hải thiếu giường Bạch Ngọc, Long Vương phải đến mượn Kim Lăng Vương

Trời xuống tuyết lớn, trân châu như đất, vàng như sắt".

Giả Vũ Thôn đọc xong nhưng không hiểu, sau khi nghe người hầu giảng giải mới biết ở đất Nam Kinh có 4 đại phú hào: nhà họ Giả là hoàng thân quốc thích, nhà họ Sử và Vương đều là đám đại quan liêu ở Kim Lăng (tức Nam Kinh); chữ "Tuyết" và chữ "Tiết" đồng âm (phát âm theo Trung Quốc) là chữ 1 nhà phú thương họ Tiết ở vùng đó.

Bốn nhà này kết thân với nhau, câu kết thành 1 thế lực lớn.

Đã làm quan thì phải biết giữ chắc lấy cái chức quan của mình, không nên để đắc tội với 4 nhà hào phú đó.

Người hầu nọ còn nhắc Giả Vũ Thôn rằng, hung phạm giết người lần này chính là công tử nhà họ Tiết, nếu đụng chạm đến họ thì không những mất chức quan mà ngay như tính mạng cũng khó được bảo toàn.

Nghe lời người hầu, Giả Vũ Thôn giật thót mình, lập tức bỏ ngay ý nghĩ muốn tróc nã hung phạm.

Không những thế, ông còn theo kế người hầu, đi phao tin lên rằng người bị đánh chết ấy chính là chết vì bệnh cấp tính.

Một vụ án mạng đã khép lại 1 cách tùy tiện và hồ đồ đến như vậy.

Tào Tuyết Cần đã bỏ ra 1 thời gian dài 10 năm, ngồi tại Tây Giao, Bắc Kinh để cố viết xong cuốn tiểu thuyết này.

Lao động vất vả và bệnh tật đã dày vò làm ông suy nhược.

Lúc ông viết đến hồi thứ 80 thì đứa con yêu quý của ông bị bệnh, chết yểu.

Tào Tuyết Cần không chịu nổi bất hạnh lớn lao này, đành phải bỏ dở trước tác chưa hoàn thành mà lìa đời.

Sau khi Tào Tuyết Cần chết, bản thảo cuốn tiểu thuyết của ông được các bạn bè truyền tay nhau chép, dần dần được lưu truyền rộng ra.

Nhiều người đọc xong cuốn tiểu thuyết này vừa tán thưởng, vừa cảm động.

Nhưng, 1 trước tác kiệt xuất như thế mà không được hoàn thành trọn vẹn, cũng là 1 sự vô cùng đáng tiếc.

Sau này, có 1 văn học gia tên là Cao Ngạc đã viết tiếp 40 hồi nữa khiến "Hồng lâu mộng" trở thành 1 bộ tiểu thuyết kết cấu hoàn chỉnh.

Tiểu thuyết "Hồng lâu mộng" cứ truyền tay để chép, in ấn, lưu truyền ngày càng rộng rãi.

Cho đến ngày nay, mọi người đều công nhận nó là 1 cuốn trường thiên tiểu thuyết kiệt xuất nhất của thời cận đại.

Người ta không những thưởng thức nghệ thuật cao siêu của cuốn tiểu thuyết, mà còn thông qua nó để hiểu được tình hình xã hội và lịch sử của chế độ phong kiến Trung Hoa vào lúc sắp suy tàn.

Đến tận nay, ở cả Trung Quốc cho đến các nước trên thế giới đều có nhiều học giả nghiên cứu, khảo chứng bộ trước tác vĩ đại này.

Người ta đã gọi môn học chuyên ngành này là "Hồng học".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐẠI THAM QUAN HÒA THÂN


Càn Long làm hoàng đế 60 năm, về phương diện "Văn trị võ công" đều giành được thắng lợi.

Ông lấy làm đắc chí và trở nên kiêu ngạo, tự xưng là 1 "ông già thập toàn".

Ông ngày càng thích nghe những lời ca tụng.

Thế là có kẻ liền dùng thủ đoạn nịnh nọt, chiếm được lòng tin yêu của hoàng đế và nhờ vậy làm đến chức quan to, nắm quyền lớn.

Có 1 lần, hoàng đế Càn Long chuẩn bị đi ra khỏi cung để tuần sát, bèn gọi các quan tùy tùng đến chuẩn bị cờ quạt, xa giá và hộ vệ.

Ngay trong 1 lúc, các quan không tìm ra được chiếc lọng vàng để dùng cho để dùng cho nghi thức chuyến đi.

Mọi người đều cuống lên không biết làm thế nào.

Hoàng đế Càn Long rất nóng nảy hỏi: "Kẻ nào chịu trách nhiệm việc này?".

Các quan nghe thấy lời trách hỏi của hoàng đế, đều sợ run lên, nói không ra lời.

Lúc đó ở phía bên có 1 hiệu úy trẻ tuổi ung dung nói: "Người đảm đương công việc không được phép đùn đẩy trách nhiệm".

Hoàng đế Càn Long ngoảnh lại trông, thấy viên hiệu úy đó mặt mày sáng sủa, thái độ trấn tĩnh, trong lòng lấy làm vui vẻ, liền quên ngay chuyện về lọng vàng, quay sang hỏi họ tên anh ta.

Hiệu úy trẻ tuổi đó thưa tên là Hòa Thân.

Hoàng đế Càn Long lại hỏi tình hình gia đình anh ta, hỏi anh ta đã học những sách gì.

Hòa Thân nhất nhất trả lời trôi chảy.

Hoàng đế Càn Long vô cùng hài lòng Hòa Thân, lập tức tuyên bố giao cho Hòa Thân tổng phụ trách công việc nghi thức.

Về sau còn cho Thân làm quan Ngự tiền thị vệ.

Hòa Thân là 1 con người rất lanh lợi, hoàng đế Càn Long cần gì, Hòa Thân đều thực hiện đúng ý.

Hoàng đế Càn Long rất thích nghe những lời nói ngọt, Hòa Thân toàn nói những lời như rót vào tai.

Ngày tháng trôi qua, hoàng đế Càn Long coi Hòa Thân là người thân tín, anh ta dần bước lên cao.

Không đầy 10 năm mà từ chức thị vệ được đề bạt đến chức Đại học sĩ.

Sau này hoàng đế Càn Long còn gả con gái là công chúa Hòa Hiến cho con trai của Hòa Thân.

Hòa Thân đã trở thành gia đình thân thích của hoàng đế, quyền hành cực lớn.

Càn Long tuổi đã già, sức đã yếu, các việc trọng đại trong triều tự nhiên rơi vào tay Hòa Thân.

Hòa Thân nắm được quyền to, các đại sự khác Thân không thèm ngó ngàng, chỉ 1 mực vơ vét của cải.

Ông ta không những nhận hối lộ, mà còn công khai đòi lấy tiền; không những tham ô ngấm ngầm, mà còn tước đoạt trắng trợn.

Các cống phẩm của quan địa phương dâng lên hoàng đế đều phải qua tay Hòa Thân.

Trước hết, Hòa Thân chọn lấy những thứ cực kỳ quý hiếm, tinh xảo dành cho mình, còn thừa lại mới đưa vào cung.

Hoàng đế Càn Long được cái là chẳng hỏi han gì cả, còn những người khác thì chẳng có ai dám cáo.

Lòng tham của Thân ngày càng lớn.

Một lần, có 1 vị đại thần là Tôn Sĩ Nghị từ phương nam trở về Bắc Kinh, chuẩn bị triều kiến hoàng đế Càn Long, thì vừa hay gặp Hòa Thân ở ngay cửa cung.

Hòa Thân thấy tay Tôn Sĩ Nghị cầm 1 chiếc hộp, liền hỏi: "Cái gì trong tay nhà ngươi thế?".

Tôn Sĩ Nghị trả lời: "Chẳng có gì cả, chỉ là cái bình đựng thuốc hít thôi!".

Hòa Thân sấn lên, hoàn toàn không khách sáo, chộp ngay lấy chiếc hộp, vừa mở ra xem thì thấy cái đựng thuốc hít ấy được trạm trổ từ 1 viên ngọc lớn.

Hòa Thân cứ mân mê mãi cái đựng thuốc, ngắm nghía, luôn miệng khen rồi nói rất trơ trẽn: "Đúng là vật báu!

Thôi, cho ta đi, thế nào?".

Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt, nói: "Ôi, không được đâu!

Vật báu này là để dâng hoàng thượng, hôm qua tôi đã tấu rõ với hoàng thượng rồi".

Hòa Thân sa sầm mặt, ấn thẳng chiếc bình đựng thuốc vào tay Tôn Sĩ Nghị, rồi cười nhạt nói: "Chẳng qua ta đùa với ngươi thôi, làm gì mà phải như là cái anh nghèo khổ vậy?".

Tôn Sĩ Nghị dâng hộp thuốc cho hoàng đế Càn Long.

Được vài ngày thì ông lại gặp Hòa Thân, thấy Hòa Thân dương dương đắc ý nói: "Hôm qua ta cũng lấy được một vật báu.

Nhà ngươi xem đây, có phải cái là hôm nọ ngươi cống hoàng thượng không?"

Tôn Sĩ Nghị bước đến gần, thấy đúng là chiếc hộp mình dâng cho hoàng đế Càn Long.

Tôn Sĩ Nghị nói qua loa vài câu ứng phó, bụng nghĩ thầm, làm sao vật báu đó lại rơi vào tay Hòa Thân được nhỉ.

Nhất định là hoàng đế Càn Long cho ông ta.

Sau này, ông lén dò la mới biết là Hòa Thân đã mua chuộc thái giám để lấy cắp từ trong cung ra.

Hòa Thân lợi dụng quyền lực, địa vị để tìm trăm phương nghìn kế vơ vét của cải.

Một số triều thần và các quan địa phương biết thói xấu của ông ta, đã ra sức đi vơ vét của cải châu báu để đến cầu thân với Hòa Thân.

Đại quan ép tiểu lại, tiểu lại nặn bóp dân chúng, đời sống dân chúng đương nhiên ngày càng khốn khó.

Sau khi trị vì tròn 60 năm, hoàng đế Càn Long truyền ngôi cho thái tử Ngung Viêm lên ngôi, tức là Thanh Nhân Tông, còn gọi là Gia Khánh Đế.

Gia Khánh Đế sớm biết tình hình Hòa Thân tham lam bẩn thỉu.

Ba năm sau khi Càn Long chết, Gia Khánh Đế lập tức cho bắt Hoà Thân, buộc ông phải tự sát, đồng thời cho lục soát, tịch thu toàn bộ gia sản của Hòa Thân.

Sự giàu có của Hòa Thân vốn đã nổi tiếng, nhưng kết quả của sự tịch thu gia sản còn làm cho mọi người kinh ngạc hơn.

Bản tịch biên gia sản rất dài, ghi đủ các thứ vàng bạc châu báu, gấm vóc...không thể nào đếm xuể.

Chỉ tính sơ sơ riêng số bạc ước chừng có đến 800 triệu lạng, tính ngang với số thu nhập của triều đình trong 10 năm.

Sau này nghe nói, số lớn của cải châu báu tịch thu được đều được Gia Khánh Đế cho người đến chuyên chở về cung.

Vì thế trong dân gian có câu nói châm biếm vần miệng là: "Hòa Thân bị đổ, Gia Khánh vớ bở".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NỮ ANH HÙNG VƯƠNG THÔNG NHI


Thời Hòa Thân cầm quyền, vương triều Thanh vô cùng thối nát, các quan lại địa phương tham ô ngang ngược, tiếng kêu oán thán của dân chúng vang khắp nơi.

Vào lúc đó thì Bạch Liên giáo lại rất thịnh hành ở vùng Hồ Bắc, Hà Nam.

Có 1 người tên là Lưu Tùng, người An Huy, đến Hà Nam truyền giáo.

Ông ta lợi dụng việc chữa bệnh cho dân, khuyên họ nhập giáo.

Sau bị quan phủ phát hiện, ông ta bị đày đi ở Cam Túc.

Đồ đệ của Lưu Tùng là Lưu Chi Hiệp và Tống Chi Thanh trốn về Hồ Bắc, tiếp tục truyền giáo.

Họ tuyên truyền nhà Thanh sắp diệt vong, trong tương lai sẽ xuất hiện 1 thế giới mới, những người nhập giáo đều được chia ruộng đất.

Đám nông dân nghèo khổ trong vùng đã chịu đựng không biết bao nỗi khổ bị địa chủ bóc lột, họ mong muốn được chia ruộng đất, nên khi nghe những lời tuyên truyền ấy, liền lũ lượt tham gia Bạch Liên giáo.

Tin ngày càng có nhiều người theo Bạch Liên giáo làm kinh động đến hoàng đế Càn Long.

Ông ra lệnh cho các quan phủ ở các tỉnh phải tróc nã các giáo đồ.

Bọn quan lại vốn rất giỏi đục khoét, nặn bóp dân đen trắng trợn, nhân cơ hội bèn cho bọn sai dịch đi mò từng nhà, từng hộ tiến hành tra vấn, không kể là giáo đồ hay không, cứ đều phải bỏ ra 1 số tiền "kính biếu" chúng.

Những người có tiền thì bỏ tiền ra đổi lấy mạng, còn những người nghèo khổ không có tiền thì bị bắt vào tù, bị đánh đập, thậm chí mất mạng.

Ở Vũ Xương có 1 viên quan mưu mô đục khoét dân chúng.

Việc không thành, ông ta liền bịa đặt ra 1 loạt tội trạng và vu cáo cho nhiều người khác.

Vì thế, việc này liên lụy đến hàng mấy nghìn người.

Thế rồi chẳng kể họ là giáo đồ hay chưa nhập giáo cũng đều bị bức hại đến tan nhà nát cửa.

Dân chúng càng nghiến răng căm giận bọn cầm quyền.

Thủ lĩnh Bạch Liên giáo là Lưu Chi Hiệp tới đất Tương Dương, triệu tập các giáo đồ lại bàn bạc.

Mọi người nói: "Cái lối đời như hiện nay đúng là quan bức thì dân phải chống lại.

Thế thì cứ dứt khoát làm phản cho xong".

Qua trao đổi 1 hồi, họ đi đến 1 quyết định dùng khấu hiệu "Quan đã bức thì dân chống lại" để phát động quần chúng nổi dậy, đồng thời cử các giáo đồ chia ngả đi các nơi tuyên truyền.

Năm 1796, là năm Gia Khánh Đế lên ngôi, các giáo đồ Bạch Liên giáo khởi nghĩa ở Nghi Đô, Chi Giang (Hồ Bắc).

Ngay tại Tương Dương cũng có thủ lĩnh Bạch Liên giáo là Tề Lâm, định khởi nghĩa vào đúng tết hoa đăng của đêm Nguyên Tiêu, chẳng dè bị lộ, đám quan phủ đến đánh úp, Tề Lâm và đồng bọn có đến trên 100 người bị sát hại.

Tề Lâm có 1 người vợ trẻ tên gọi Vương Thông Nhi, nguyên là 1 người con gái mãi võ giang hồ, từ nhỏ đã dày công tập luyện võ nghệ.

Cô quyết tâm báo thù cho chồng và những người tham gia khởi nghĩa.

Vì thế, cô cùng với đồ đệ của Tề Lâm là Diêu Chi Phú cùng nhau chỉnh đốn lại đội ngũ nghĩa quân.

Không đầy 5 tháng đã tổ chức xong 1 đội quân tới 400 vạn người.

Vương Thông Nhi và các thủ lĩnh khác cùng chỉ huy đội ngũ tấn công khắp nơi, trừng trị bọn tham quan ô lại.

Khi Vương Thông Nhi khởi nghĩa ở Hồ Bắc thì các giáo đồ Bạch Liên giáo ở Tứ Xuyên, Thiểm Tây cũng nổi dậy hưởng ứng.

Ngọn lửa khởi nghĩa đã lam rộng ra 1 vùng rộng lớn gồm 3 tỉnh, 1 số dân nghèo và dân tự do đã đến tham gia vào hàng ngũ nghĩa quân.

Tướng Minh Lượng nhà Thanh hiến cho Gia Khánh Đế 1 kế sách độc ác, bắt các địa chủ ở các địa phương phải tổ chức các dân đoàn vũ trang, xây thành lũy và tường vây.

Khi nghĩa quân đến thì đẩy dân vào bên trong vùng xây thành, khiến nghĩa quân không có sự giúp đỡ của quần chúng, không được cung cấp lương thực, kế này được gọi là "vườn không nhà trống".

Gia Khánh Đế bắt các địa phương đều phải áp dụng kế sách đó, quả nhiên các hoạt động của nghĩa quân ngày càng khó khăn.

Quân Thanh bao vây Vương Thông Nhi trên vùng Xuyên Bắc.

Vương Thông Nhi mở lối thoát ra khỏi vòng vây của quân Thanh, trực tiếp chỉ huy 2 vạn người ngựa đánh vào Tây An.

Không ngờ ở Tây An bị bọn quân quan đánh bại, đến lúc quay trở lại Hồ Bắc thì bị tướng Minh Lượng chỉ huy quan quân truy kích sát gót.

Nghĩa quân gặp thế bí, đằng sau là bọn quan quân nhà Thanh, đằng trước là cả đám dân đoàn vũ trang của địa chủ đánh chặn, cuối cùng bị lọt vào vòng vây của địch ở vùng Tam Xá Hà thuộc phía tây huyện Vẫn (tức là địa phận tỉnh Hồ Bắc ngày nay).

Vương Thông Nhi trong nguy hiểm không hề run sợ, bình tĩnh chỉ huy nghĩa quân lui vào rừng rậm ở Mao Sơn chuẩn bị tổ chức phá vây.

Quân quan nhà Thanh phát hiện, liền vây chặt Mao Sơn, chúng ùn ùn xông lên từ trước và sau núi.

Nghĩa quân chống cự rất ngoan cường, cuối cùng chịu thất bại.

Vương Thông Nhi và Diêu Chi Phú thấy việc không thành, đành rút lên đỉnh núi lao mình xuống vực, hy sinh anh dũng.

Sau khi vị nữ anh hùng Vương Thông Nhi hy sinh, nghĩa quân ở các nơi vẫn tiếp tục chống lại bọn quân quan.

Vương triều Thanh phải mất 9 năm trời mới trấn áp xong cuộc khởi nghĩa lan rộng đó.

Thế nhưng, sau khi bị đòn nặng đó, vương triều Thanh như bị vấp ngã không gượng dậy được.

Gia Khánh Đế chết đi, con trai của ông là Mân Ninh kế vị, đó là Thanh Tuyên Tông, còn gọi là Đạo Quang Đế.

Sau khi Đạo Quang Đế lên ngôi, vương triều Thanh ngày càng suy yếu, các quốc gia tư bản chủ nghĩa phương tây tranh thủ thời cơ gấp rút xâm lược, nguy cơ của dân tộc ngày càng nghiêm trọng.

Đến năm 1840, cũng là năm thứ 20 kể từ lúc Đạo Quang Đế lên ngôi thì bùng nổ chiến tranh thuốc phiện.

Kể từ đó về sau, Trung Quốc từ 1 xã hội phong kiến đã từng bước dần biến thành xã hội nửa thực dân nửa phong kiến.

Nhân dân Trung Quốc anh dũng triển khai cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ, không chịu bị khuất phục, chống lại tư bản chủ nghĩa đế quốc, chống lại ách thống trị của phong kiến, người trước ngã, người sau tiếp tục tiến lên.

------------------------------------------------------------------HẾT----------------------------------------------------------------

Lề: thế là mình đã cop xong hết 261 chương, 3 quyển trong tác phẩm "Lịch sử Trung Quốc 5000 năm" của tác giả Lâm Hán Đạt và Tào Dư Chương.

Mình xin cảm ơn mọi người đã đọc, nhấn thích và cmt tác phẩm này, hy vọng bộ sách này đã mang lại kiến thức bổ ích cho mọi người.

Nhưng mình thấy tác phẩm này còn thiếu đi 1 vài nhân vật Trung Quốc thời xưa, mà không thấy người biên dịch đề cập tới.

Sau này, mình sẽ tìm kiếm nhiều tác phẩm hay và chia sẻ cho mọi người cùng xem.

Ở cuối bộ sách này là những niên biểu thời gian và mốc lịch sử lớn cho mọi người dễ nhớ, nhưng mình không cop; nhưng nếu có ai cần thông tin hay muốn đọc thì cmt cho mình, mình sẽ cop lại cho các bạn.

Một lần nữa mình xin cảm ơn những ai đã đọc, đang đọc, và sẽ đọc bộ tư liệu lịch sử này.

Thân!
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NIÊN BIỂU CÁC SỰ KIỆN LỚN (TẬP 1)


-Khoảng hơn 4000 năm về trước : thời kì Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ trong truyền thuyết

-Khoảng 21 thế kỉ TCN : kiến lập vương triều Hạ

-Khoảng 16 thế kỉ TCN : Thương Thang diệt Hạ, kiến lập vương triều Thương

-Khoảng 14 thế kỉ TCN : Bàn Canh dời đô về Ân

-Khoảng 11 thế kỉ TCN : Vũ Vương diệt Ân, bắt đầu thời kì Tây Chu

-Năm 841 TCN : Quốc nhân bạo động, nền hành chính cộng hòa.

Lịch sử Trung Quốc bắt đầu có các mốc năm tháng chắc chắn

-Năm 771 TCN : Khuyển Nhung đánh vào Hạo Kinh, Chu U Vương bị giết, kết thúc Tây Chu

-Năm 770 TCN : Chu Bình Vương dời đô về Lạc Ấp, bắt đầu thời kì Đông Chu, Xuân Thu

-Năm 685 TCN :Tề Hoàn Công lên ngôi, cử Quản Trọng làm tướng quốc

-Năm 684 TCN : trận Trường Thược giữa Tề với Lỗ

-Năm 656 TCN : Tề Hoàn Công thống lĩnh liên quân 7 nước Lỗ, Tống...đi đánh Sở

-Năm 638 TCN : trận Hoằng Thủy giữa Tống và Sở, Tống Tương Công bị bại trận

-Năm 632 TCN : trận Thành Bộc (đất Hà Nam) giữa Tấn và Sở.

Quân Sở đại bại, Tấn Văn Công xưng bá.

-Năm 623 TCN : Tần Mậu Công xưng bá ở Tây Nhung

-Năm 597 TCN : trận đánh ở Tất (đất Hà Nam) giữa Tấn và Sở.

Quân Tấn đại bại, Sở Trang Vương xưng bá

-Năm 551 TCN : Khổng Tử ra đời

-Năm 506 TCN : Ngô Vương Hạp Lư đánh Sở

-Năm 496 TCN : Việt Vương Câu Tiễn thắng quân Ngô ở trận Túy Lý, Hạp Lư trọng thương rồi chết.

Ngô vương Phù Sai lên ngôi

-Năm 475 TCN : bắt đầu thời kì Chiến quốc.

Trung Quốc bước bào thời kì phong kiến

-Năm 473 TCN : Việt vương Câu Tiễn diệt Ngô

-Năm 403 TCN : 3 nhà Triệu, Ngụy, Hàn được lập thành chư hầu

-Năm 359 TCN: bắt đầu có biến pháp Thương Ưởng ở Tần

-Năm 341 TCN: trận Mã Lăng

-Năm 307 TCN: Triệu Vũ Linh Vương thực hành "Hồ phục kỵ xạ"

-Năm 284 TCN: Nhạc Nghị thống lĩnh liên quân 5 nước đi đánh Tề

-Năm 283 TCN: Lạn Tương Như "hoàn Bích quy Triệu" (bảo toàn ngọc bích cho nước Triệu)

-Năm 279 TCN: Điền Đan dùng trâu lửa tấn công nước Yên, khôi phục nước Tề

-Năm 278 TCN: Khuất Nguyên nhảy xuống sông Mịch La tự tử

-Năm 270 TCN: Phạm Thư vào Tần, Tần thực hiện kế "viễn giao cận công"

-Năm 260 TCN: tướng Tần Bạch khởi quân đại phá Triệu Quát

-Năm 257 TCN: Ngụy Tín Lăng Quân cứu Triệu, đại phá quân Tần

-Năm 256 TCN: Tần diệt Chu

-Năm 238 TCN: Tần Vương Chính trực tiếp cầm quyền

-Năm 227 TCN: Kinh Kha ám sát Tần Vương bị thất bại

-Năm 230 đến 231 TCN: Tần diệt 6 nước

-Năm 221 TCN: Tần Vương Chính xưng Thủy Hoàng Đế, lập ra chế độ quận, huyện

-Năm 213, 212 TCN: Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn sống Nho sĩ

-Năm 210 TCN: Tần Thủy Hoàng chết; Lý Tư, Triệu Cao lập Hồ Hợi làm Tần Nhị Thế

-Năm 209 TCN: khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng; Lưu Bang, Hạng Lương dấy binh

-Năm 207 TCN: trận Cự Lộc, Hạng Vũ đại phá quân Tần

-Năm 206 TCN: Lưu Bang diệt Tần, Lưu Bang được phong làm Hán vương, bắt đầu niên kì Tây Hán

-Năm 202 TCN: chiến tranh Sở-Hán kết thúc, Hạng Vũ tự sát, Lưu Bang xưng đế

-Năm 200 TCN: Hán Cao Tổ bị vây tại Bạch Đăng

-Năm 196 TCN: Hán Cao Tổ giết Hàn Tín, Bành Việt

-Năm 188 TCN: Lã thái hậu lâm triều

-Năm 180 TCN: sau khi Lã thái hậu chết, Trần Bình và Chu Bột đưa Hán Văn Đế lên ngôi

-Năm 167 TCN: Đề Vinh dâng thư, Hán Văn Đế bãi bỏ tội nhục hình

-Năm 154 TCN: loạn Thất quốc Ngô, Sở

-Năm 138 TCN trước năm 119: Trương Khiên 2 lần đi sứ Tây Vực

-Năm 133 TCN: Hán Vũ Đế lừa nhử quân Hung Nô vào Mã Ấp, bắt đầu chiến tranh Hán-Hung Nô

-Năm 119 TCN: Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh đánh bại Hung Nô.

Hung Nô rút về vùng đại sa mạc Tây Bắc

-Năm 100 TCN: Tô Vũ đi sứ sang Hung Nô, bị bắt giữ (sau 19 năm trở về Hán)

-Năm 99 TCN: Tư Mã Thiên vào tù

-Năm 87 TCN: Hán Chiêu Đế lên ngôi, Hoắc Quang phụ chính

-Năm 33 TCN: vua Hung Nô Hô Hàn Nha đến Trường An.

Vương Chiêu Quân sang Hung Nô

-Năm thứ 8 TCN: Vương Mãng kiến lập triều Tấn, Tây Hán diệt vong

-Năm 17-27 CN: khởi nghĩa Lục Lâm, Xích Mi

-Năm 23 CN: trận Côn Dương, Lưu Tú đại phá quân Vương Mãng, triều Tấn diệt vong

-Năm 25 CN: Lưu Tú kiến lập Đông Hán

-Năm 67 CN: sứ giả nhà Hán đi lấy Kinh Phật từ Thiên Trúc trở về nước

-Năm 73 CN: Ban Siêu đi sứ Tây Vực lần thứ 1

-Năm 132 CN: Trương Hành chế tạo thiết bị đo động đất

-Năm 166 CN: sự kiện "đảng cố" lần thứ 1

-Năm 169 CN: sự kiện "đảng cố" lần thứ 2.

Lý Ưng, Phạm Bàng... bị giết

-Năm 184 CN: Trương Giác lãnh đạo quân Khăn Vàng (Hoàng Cân) khởi nghĩa

-Năm 189 CN: Đổng Trác vào Lạc Dương

-Năm 190 CN: các châu quận Quan Đông khởi binh dẹp trừ Đổng Trác

-Năm 196 CN: Tào Tháo đón Hán Hiến Đế dời đô về Hứa Thành

-Năm 200 CN: trận Quan Độ, Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NIÊN BIỂU CÁC SỰ KIỆN LỚN (TẬP 2)


-Năm 208 CN: trận Xích Bích, liên quân Lưu Bị - Tôn Quyền đại phá quân Tào

-Năm 214 CN: Lưu Bị đánh chiếm Ích Châu

-Năm 220 CN: Tào Tháo chết, Tào Phi xưng đế, lấy quốc hiệu là Ngụy, Đông Hán diệt vong

-Năm 221 CN: Lưu Bị xưng đế, lấy quốc hiệu là Hán, sử gọi là Thục Hán

-Năm 222 CN: trận Di Lăng (Hào Đinh), Lưu Bị thua Lục Tốn

-Năm 225 CN: Gia Cát Lượng bình định Nam Trung.

7 lần bắt Mạnh Hoạch

-Năm 229 CN: Tôn Quyền xưng đế, lấy quốc hiệu là Ngô

-Năm 234 CN: Gia Cát Lượng đóng quân Ngũ Trượng Nguyên, sau đó ốm rồi chết

-Năm 249 CN: Tư Mã giết Tào Sảng

-Năm 263 CN: Chung Hội, Đặng Ngải đánh Thục, Thục diệt vong

-Năm 265 CN: Tư Mã Viêm phế truất Ngụy đế.

Kiến lập Tây Tấn, Ngụy diệt vong

-Năm 280 CN: Đỗ Dự, Vương Tuấn dẹp Ngô.

Ngô diệt vong

-Năm 291-306: loạn Bát vương

-Năm 301 CN: người tộc Để Lý Đặc thống lĩnh lưu binh khởi nghĩa

-Năm 308 CN: người Hung Nô Lưu Uyên xưng đế

-Năm 316 CN: Hung Nô Lưu Diệu đánh chiếm Trường An, Tây Tấn diệt vong

-Năm 317 CN: Tư Mã Ý lên ngôi ở Kiến Khang, mở đầu nhà Đông Tấn

-Năm 319 CN: người tộc Kiệt, Thạnh Lặc xưng Triệu vương

-Năm 354 CN: Hoàn Ôn bắc phạt đến Bái Thượng

-Năm 376 CN: tiền Tần, Phù Kiên thống nhất phương bắc

-Năm 383 CN: trận Phì Thủy, Phù Kiên mở cuộc đại tấn công Đông Tấn, bị đại bại

-Năm 399 CN: Tôn Ân khởi nghĩa

-Năm 420 CN: Lưu Du kiến lập triều Tống (Lưu Tống).

Đông Tấn diệt vong, bắt đầu Nam Bắc triều

-Năm 439 CN: Bắc Ngụy thống nhất phương bắc

-Năm 462 CN: Tổ Xung Chi làm ra lịch Đại Minh

-Năm 479 CN: Tiêu Đạo Thành xưng đế, kiến lập Nam Tề, Tống diệt vong

-Năm 493 CN: Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế dời đô về Lạc Dương

-Năm 502 CN: Tiêu Diễn xưng đế, kiến lập triều Lương, Nam Tề diệt vong

-Năm 523 CN: Lục Trấn khởi nghĩa

-Năm 534 CN: Bắc Ngụy phân liệt thành Tây Ngụy và Đông Ngụy

-Năm 548-522 CN: loạn Hầu Cảnh

-Năm 550 CN: Cao Dương kiến lập Bắc Tề, Đông Ngụy diệt vong

-Năm 557 CN: Trần Bá Tiên xưng đế, kiến lập triều Trần.

Nhà Lương diệt vong.

Vũ Văn Giáp kiến lập Bắc Chu, Tây Ngụy diệt vong

-Năm 581 CN: Dương Kiên xưng đế, kiến lập triều Tùy, Bắc Chu diệt vong

-Năm 589 CN: Tùy diệt Trần, thống nhất Trung Quốc

-Năm 605 CN: Tùy lập Đông Đô, khai thông Đại Vận Hà

-Năm 611 CN: cuối đời Tùy, các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân bắt đầu

-Năm 613 CN: Tùy Dạng Đế 2 lần tiến đánh Cao Ly bị thất bại.

Dương Huyền Cầm chống Tùy

-Năm 617 CN: quân Ngõa Cương chiếm Lạc Thượng.

Lý Uyên khởi binh ở Thái Nguyên

-Năm 618 CN: Lý Uyên xưng đế, kiến lập triều Đường.

Tùy Dạng Đế bị giết, nhà Tùy diệt vong

-Năm 621 CN: Lý Thế Dân bình định Đông Đô

-Năm 626 CN: cuộc chiến ở Huyền Vũ môn.

Đường Thái Tông lên ngôi

-Năm 629 CN: Huyền Trang đi Thiên Trúc lấy kinh

-Năm 630 CN: Đường diệt đông Đột Quyết.

Các vị chúa các tộc tôn xưng Đường Thái Tông là "Thiên khả hãn"

-Năm 641 CN: công chúa Đường Văn Thành kết hôn với Tùng Tán Can Bố

-Năm 683 CN: Đường Cao Tông chết.

Võ Tắc Thiên lâm triều

-Năm 690 CN: Võ Tắc Thiên xưng đế, đổi quốc hiệu là Chu

-Năm 712 CN: Đường Huyền Tông lên ngôi, năm sau phong cho Diêu Sùng làm tẻ tướng

-Năm 755 CN: An Lộc Sơn làm loạn, Nhan Quá Khanh, Nhan Chân Khanh phát binh chống lại

-Năm 757 CN: Trương Tuần, Hứa Viễn giữ Tuy Dương.

Quách Tử Nghi lấy lại Trường An, Lạc Dương

-Năm 762 CN: thi nhân Lý Bạch chết

-Năm 763 CN: loạn An Sử kết thúc

-Năm 770 CN: thi nhân Đỗ Phủ chết

-Năm 783 CN: loạn Chu Thứ

-Năm 805 CN: Vương Thú Văn cải cách (Vĩnh Trinh cách tân)

-Năm 817 CN: Bùi Độ, Lý Sóc bình định Hoài Tây (tây An Huy)

-Năm 824 CN: văn học gia Hàn Dũ chết

-Năm 835 CN: sự biến Cam lộ

-Năm 846 CN: thi nhân Bạch Cư Dị chết

-Năm 874 CN: Vương Tiên Chi khởi nghĩa

-Năm 880 CN: Hoàng Sào tiến vào Trường An, kiến lập chính quyền Đại Tề

-Năm 907 CN: Chu Ôn xưng đế, kiến lập nhà Hậu Lương.

Triều Đường diệt vong, bắt đầu thời kì Ngũ Đại
 
Back
Top Bottom