Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VỤ ÁN HỒ DUY DUNG


Minh Thái Tổ là người xuất thân từ nông dân, ít nhiều hiểu được đời sống nông dân.

Sau khi lên ngôi, ông chú ý thực hiện chính sách nuôi dưỡng sức dân, luôn răn đe quan lại: "Nay thiên hạ vừa an định, trăm họ đều nghèo khổ, giống như con chim mới tập bay, không được vặt lông của nó; như cái cây mới trồng, không được làm đứt rễ của nó".

Ông yêu cầu quan lại phải liêm khiết, tuân thủ pháp luật, không được tham nhũng lạm quyền làm tăng sự đóng góp của dân.

Sau đó, ông lại chiêu tập nông dân lưu tán, cho khai khẩn đất hoang, miễn trừ lao dịch và thuế khóa cho hạn 3 năm; lại yêu cầu quân đội mở đồn điền khẩn hoang, tự túc lương thực.

Ngoài ra còn sửa sang thủy lợi, khuyến khích trồng bông trồng đay.

Vì vậy, nông nghiệp đầu đời Minh phát triển mạnh mẽ, triều đại mới dần dần được củng cố.

Nhưng mặt khác, Minh Thái Tổ lại nơm nớp lo ngại đối với các công thần khai quốc, sợ họ có mưu đồ kia khác.

Ông lập ra 1 cơ cấu đặc vụ mang tên "Cẩm y vệ", chuyên dùng để giám sát, thăm dò hoạt động của các đại thần.

Đại thần nào có hoạt động gì ở bên ngoài hay bên trong gia đình, ông đầu nhận được tin tức rất rõ ràng.

Ai bị phát hiện có hành động đáng ngờ đều có nguy cơ bị bỏ tù, thậm chí chém đầu.

Minh Thái Tổ đối đãi với các quan rất tàn bạo.

Khi vào triều, đại thần nào nói năng gì khiến ông nổi giận, liền bị nọc ra đánh gậy giữa triều đình, gọi là "đình trượng".

Cách làm đó khiến các đại thần nơm nớp lo âu, mỗi ngày khi vào triều đều buồn rầu từ biệt gia đình.

Nếu hôm đó bình an vô sự, thì người thân đều mừng rỡ vì đã may mắn sống được thêm 1 ngày.

Năm 1380, thừa tướng Hồ Duy Dung bị cáo giác mưu phản.

Minh Thái Tổ lập tức hạ lệnh chém chết cả nhà, đồng thời truy cứu các đồng đảng.

Lần truy cứu đó, liên quan đến văn võ bá quan, tổng cộng hơn 1 vạn 5000 người.

Minh Thái Tổ nhẫn tâm, đem toàn bộ những người bị tình nghi đó ra chém.

Học sĩ Tống Liêm là người cùng với Lưu Cơ được Minh Thái Tổ trọng dụng trong thời khởi nghiệp.

Sau này, ông còn là thầy dạy thái tử.

Tống Liêm là người thận trọng, nhưng Minh Thái Tổ cũng không yên tâm về ông.

Một hôm, Tống Liêm mời mấy người bạn đến uống rượu.

Hôm sau vào triều, Minh Thái Tổ hỏi ông đêm qua có uống rượu không, mời những ai, ăn những món gì.

Tống Liêm trả lời đúng sự thực.

Minh Thái Tổ cười nói: "Khanh đã không nói dối trẫm".

Thì ra, khi Tống Liêm mời khách, Minh Thái Tổ đã ngầm cử người theo dõi.

Sau đó, Minh Thái Tổ khen Tống Liêm trước triều đình: "Tống Liêm phục vụ trẫm trong mười chín năm, chưa hề nói dối trẫm một lần nào, cũng chưa hề nói xấu ai một câu, thật là một người hiền!".

Năm 68 tuổi, Tống Liêm cáo lão về hưu.

Minh Thái Tổ còn tặng ông 1 tấm gấm và nói: "Hãy giữ lấy, đợi ba mươi hai năm nữa, may một tấm áo mừng trăm tuổi".

Khi xảy ra vụ án Hồ Duy Dung, cháu của Tống Liêm là Tống Thận cũng bị tố cáo là phe cánh Hồ Duy Dung.

Minh Thái Tổ ra lệnh đội Cẩm y vệ bắt Tống Liêm từ quê nhà ở Kim Hoa đưa về kinh thành, muốn xử tử ông.

Mã hoàng hậu biết việc đó, liền khuyên Minh Thái Tổ: "Nhà dân thường thuê thầy dạy con mình, còn đối đãi cung kính, huống chi là gia đình hoàng đế.

Vả lại, Tống tiên sinh ở quê nhà, sao biết được việc làm của cháu ở đây!".

Minh Thái Tổ đang cơn giận, không chịu tha Tống Liêm.

Hôm đó, Mã hoàng hậu ăn cơm cùng Minh Thái Tổ.

Bà ngồi ngây người bên bàn ăn, không uống rượu cũng không ăn thịt.

Minh Thái Tổ lấy làm lạ, hỏi nguyên do.

Mã hoàng hậu buồn rầu nói: "Tống tiên sinh phạm tử tội, thiếp rất buồn lòng, đang cầu phúc cho tiên sinh đây!".

Mã hoàng hậu là người vợ từ thời trẻ đã chung mọi hoạn hạn với Minh Thái Tổ nên được ông tôn trọng.

Nghe bà nói thế, ông có phần cảm động, miễn tội chết cho Tống Liêm, đổi thành hình phạt sung quân đi Mậu Châu (nay là huyện Mậu, Tứ Xuyên).

Ông già Tống Liêm 71 tuổi, sợ hãi và đau xót, đã chết trên đường phát vàng.

7 năm sau, lại có người cáo giác Lý Thiên Trường từng qua lại mật thiết với Hồ Duy Dung, biết rõ Hồ Duy Dung mưu phản mà không tố giác, còn giữ thái độ chờ xem, phạm tội đại nghịch vô đạo.

Lý Thiên Trường là khai quốc công thần hàng đầu, lại có quan hệ thông gia với Minh Thái Tổ.

Khi Minh Thái Tổ phong chức cho hàng loạt công thần, đã từng cấp cho Lý Thiên Trường 2 "thiết quyển" (miễn xử tử tội chết nếu chẳng may sau này phạm pháp).

Năm nay, Lý Thiên Trường đã 77 tuổi, nhưng Minh Thái Tổ đã nuốt lời hứa, đem cả gia đình Lý Thiên Trường hơn 70 người ra xử tử.

Tiếp sau đó, hoàng đế lại hạ lệnh truy cứu tiếp phe cánh của Hồ Duy Dung, xử tử tiếp hơn 1 vạn 5000 người nữa.

Sau vụ án Hồ Duy Dung, Minh Thái Tổ thấy không yên tâm khi trao đại quyền chính trị, quân sự cho các đại thần liền thủ tiêu chức thừa tướng, đích thân hoàng đế đảm nhận nhiệm vụ thượng thư các bộ lại, bộ, lễ, binh, hình, công.

Đồng thời cũng phế bỏ đại đô đốc phủ nắm quyền chỉ huy quân sự, thay vào đó là 5 đô đốc phủ tả, trung, hữu, tiền, hậu; chia nhau phụ trách việc luyện binh.

Khi cần điều quân ra trận, sẽ do hoàng đế trực tiếp hạ lệnh.

Như vậy, quyền lực của hoàng đế trở nên tập trung chưa từng thấy.

Sự việc chưa kết thúc ở đó.

3 năm sau, Cẩm y vệ lại cáo phát đại tướng Lam Ngọc mưu phản.

Minh Thái Tổ liền giết Lam Ngọc và truy cứu kẻ đồng mưu.

Lại có hơn 1 vạn 5000 người liên quan bị giết.

Hai vụ án đó hầu như đã làm hết sạch mọi công thần triều đình.

Sự chuyên chế và tàn bạo của Minh Thái Tổ vì vậy đã nổi danh trong lịch sử.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
YÊN VƯƠNG VÀO NAM KINH


Minh Thái Tổ 1 mặt giết nhiều đại thần giữ chức vị cao, 1 mặt phong cho 24 người con làm vương, trấn giữ các địa phương.

Trong số đó, 1 số phiên vương có quân đội riêng.

Minh Thái Tổ cho rằng làm như vậy có thể giữ vững được vương triều do mình dựng lên.

Nào ngờ đâu làm như vậy, lại gây ra mối họa lớn sau này.

Khi Minh Thái Tổ ngoài 60 tuổi, thái tử Chu Tiêu bị bệnh mất, con của Chu Tiêu là Chu Doãn Văn, cháu đích tôn của Minh Thái Tổ được lập làm hoàng thái tôn.

Phiên vương ở các địa phương đại đa số đều là chú của Chu Doãn Văn, thấy địa vị kế thừa ngôi hoàng đế rơi vào tay đứa cháu, đều thấy không hài lòng.

Đặc biệt là Chu Đệ, con thứ 4 của Minh Thái Tổ, được phân phong cầm quân giữ Bắc Bình (nay là Bắc Kinh) với tước Yên vương.

Ông ta đã từng lập nhiều chiến công, nên càng không phục Chu Doãn Văn.

Trong số con của Minh Thái Tổ, Chu Đệ là người thông minh, tài giỏi hơn cả.

Theo kể lại, 1 lần Minh Thái Tổ ra cho Chu Doãn Văn 1 vế đối là "Phong suy mã vĩ thiên điều tuyến" (Gió thổi đuôi ngựa tung ngàn sợi (lông)).

Chu Doãn Văn đối lại là "Vũ đả dương mao nhất phiến thiện" (Mưa xuống lông dê bốc mùi hôi).

Minh Thái Tổ thấy câu đối dở quá, liền sầm mặt lại.

Lúc đó, Chu Đệ đứng bên cạnh, liền nói: "Con cũng nghĩ được câu đối".

Minh Thái Tổ bảo ông ta đọc lên nghe thử.

Chu Đệ đọc "Nhật chiếu long lân vạn điển kim" (Nắng chiếu vẩy rồng muôn đốm vàng).

Vế đối của Chu Đệ rõ ràng nhằm nịnh nọt Minh Thái Tổ, khiến ông nức nở khen hay.

Chu Đệ từ đó càng không coi Chu Doãn Văn ra gì.

Tuy thật thà, nhưng Chu Doãn Văn vẫn thấy thái độ coi thường của Chu Đệ đối với mình.

Trong đông cung của hoàng tôn, có 1 viên quan gần gũi là Hoàng Tử Trừng, thường giúp Chu Doãn Văn đọc sách.

Một hôm, Chu Doãn Văn ngồi 1 mình bên cửa phía đông, cau mày thở dài.

Hoàng Tử Trừng thấy Văn có điều gì u uất, liền hỏi điện hạ có điều gì buồn.

Chu Doãn Văn nói: "Hiện nay trong tay mấy thúc phụ đều có binh quyền, sau này làm sao kiềm chế họ được?".

Hoàng Tử Trừng liền kể chuyện đời Tây Hán bình định cuộc loạn 7 nước như thế nào, rồi nói: "Lúc đó, chư hầu bảy nước như Ngô, Sở lớn mạnh như vậy; nhưng khi họ nổi loạn, Hán Cảnh Đế xuất quân, họ đều tan hết.

Điện hạ là cháu đích tôn của hoàng thượng, sau này sợ gì họ làm phản".

Chu Doãn Văn nghe nói, phần nào yên tâm hơn.

Năm 1398, Minh Thái Tổ mất, hoàng tôn Chu Doãn Văn lên ngôi.

Đó là Minh Huệ Đế, lịch sử còn gọi là Kiến Văn Đế (Kiến Văn là niên hiệu của Minh Huệ Đế).

Trong kinh thành có lời đồn đại là mấy vị phiên vương đang liên lạc với nhau, chuẩn bị mưu phản.

Kiến Văn Đế nghe tin, rất sợ hãi, tìm Hoàng Tử Trừng đến nói: "Tiên sinh còn nhớ lời nói ở cửa phía đông không?".

Hoàng Tử Trừng nói: "Xin bệ hạ yên tâm, hạ thần làm sao quên được!".

Hoàng Tử Trừng ra khỏi cung, liền tìm 1 đại thần thân tín khác là Tề Thái cùng bàn bạc.

Tề Thái cho rằng trong chư vương, Yên vương có binh lực nhất, lại có dã tâm lớn nhất, nên trước hết tìm cách trừ bỏ quyền lực của ông ta.

Hoàng Tử Trừng không tán thành ý kiến đó, là cho rằng, Yên vương đã có chuẩn bị, nếu ra tay với ông ta trước sẽ làm rung động đến các vương khác, chi bằng hạ thủ các phiên vương vùng xung quanh trước.

Chu Vương Chu Tiên là em Yên Vương Chu Đệ, có đất phong ở vùng Khai Phong.

Nếu trừ bỏ Chu Vương thì không khác gì chặt đi 1 cánh của Yên vương, bước tiếp theo trừ bỏ Yên vương sẽ không khó nữa.

Hai người bàn bạc xong, liền tâu với Kiến Văn Đế.

Kiến Văn Đế rất tán thành, liền tạo 1 cớ, phái quân tới Hà Nam bắt Chu vương Chu Tiên giải về Nam Kinh, tước bỏ vương vị, bắt đi Vân Nam sung quân.

Sau đó, lại tra xét hành vi phạm pháp của 3 phiên vương khác, đều tước bỏ vương vị của 3 người đó.

Yên vương từ lâu đã ngấm ngầm luyện binh, chuẩn bị mưu phản.

Để làm Kiến Văn Đế mất cảnh giác, ông ta vờ mắc bệnh thần kinh, suốt ngày nói năng lảm nhảm, có lúc còn nằm quay ra đất, mấy ngày liền không trở dậy.

Kiến Văn Đế cử sứ thần đến thăm bệnh, lúc đó đang vào mùa nóng, Yên vương lại ngồi sưởi bên lò lửa, luôn mồm kêu rét.

Sứ thần về tâu lại, Kiến Văn Đế cho rằng ông ta có bệnh thật.

Nhưng Tề Thái và Hoàng Tử Trừng vẫn ngờ ông ta giả vờ.

Một mặt họ cử người lên Bắc Bình bắt hết gia đình của Yên vương, 1 mặt ngầm hạ lệnh cho Đô chỉ huy sứ Bắc Bình là Trương Tiến đem quân tới bắt Yên vương, còn hẹn 1 số quan chức trong vương phủ của Yên vương làm nội ứng.

Không ngờ, Trương Tiến lại đứng về phe Yên vương, nên đem mọi tình hình báo cho Yên vương.

Được tin, Yên vương cho bắt hết các quan chức trong vương phủ làm nội ứng cho Kiến Văn Đế rồi tuyên bố khởi binh.

Là 1 người thông minh, Yên vương biết rằng Kiến Văn Đế là hoàng đế hợp pháp, nếu công khai chống lại sẽ mang tiếng làm phản, không lợi cho mình.

Ông ta liền lấy lý do "Thanh quân trắc", tức giúp Kiến Văn Đế thanh trừ các gian thần lộng quyền cạnh hoàng đế là Hoàng Tử Trừng, Tề Thái.

Lịch sử gọi cuộc nội chiến này là "Tĩnh nạn chi biến" (tức sự biến "dẹp loạn").

Yên vương vốn giàu kinh nghiệm trận mạc, dưới quyền lại có nhiều tinh binh được huấn luyện tốt.

Ông ta tiến xuống miền nam, nhanh chóng chiếm được 1 số cứ điểm, quan lại nhiều châu chuyện đua nhau ra hàng.

Kiến Văn Đế hoảng sợ, liền cách chức Tề Thái, Hoàng Tử Trừng, mong Yên vương lui quân, nhưng Yên vương vẫn tiếp tục tiến.

Cuộc nội chiến đó kéo dài khoảng 3 năm.

Đến năm 1402, Yên quân gặp quân do triều đình cử lên tăng viện, đánh nhau kịch liệt tại Hoài Bắc, 1 số tướng lĩnh chủ trương tạm thời lui binh.

Yên vương nói: "Lần tiến quân này, chỉ có tiến, không thể lui".

Không lâu sau, quân Yên cắt đứt đường tải lương của quân triều đình và mở cuộc tiến công ồ ạt.

Quân triều đình thua tan tác.

Quân Yên thế như chẻ tre, tiến sát tới thành Ứng Thiên.

Kiến Văn Đế thấy tình hình nguy cấp, 1 mặt động viên tướng sĩ ra sức giữ thành, 1 mặt cử người gặp Yên vương xin hòa, tình nguyện cắt nhường đất đai, xin Yên vương lui quân, nhưng Yên vương cự tuyệt.

Mấy hôm sau, đại tướng giữ kinh thành là Lý Cảnh Long mở cửa thành đầu hàng, kinh thành lọt vào tay quân Yên.

Yên vương dẫn đầu vào thành, thấy hoàng cung bốc cháy đùng đùng, vội sai người đi dập lửa.

Rất nhiều người đã bị chết cháy.

Ông ta cho tìm tung tích Kiến Văn Đế.

Có người báo: trước khi quân Yên vào thành, Kiến Văn Đế hạ lệnh đốt cung điện rồi cùng hoàng hậu nhảy vào lửa tự sát.

Yên vương Chu Đệ lên ngôi.

Đó là Minh Thành Tổ.

Đến năm 1421, Minh Thành Tổ dời đô lên Bắc Kinh.

Từ đó về sau, Bắc Kinh trở thành Kinh Đô của cả 2 triều Minh, Thanh.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TAM BẢO THÁI GIÁM XUỐNG TÂY DƯƠNG


Minh Thành Tổ dùng vũ lực đoạt ngôi hoàng đế từ tay cháu, nhưng vẫn băn khoăn nghi ngại 1 điều.

Đó là sau khi hoàng cung bị cháy, cho người kiểm tra các xác chết, vẫn không thấy thi thể của Kiến Văn Đế.

Thế thì quả thật là Kiến Văn Đế bị chết thật hay chưa?

Trong kinh thành có nhiều lời đồn.

Có người nói rằng Kiến Văn Đế không tự sát, mà nhân lúc cung điện bốc cháy hỗn loạn, đã dẫn mấy thái giám tùy tòng theo đường ngầm chạy thoát ra ngoài thành.

Tin tức từ địa phương truyền về càng ly kì hơn, nói Kiến Văn Đế đã tới nơi này, nơi khác, về sau đã cắt tóc đi tu.

Chuyện nào cũng thêu dệt nhiều chi tiết rất cụ thể, làm Minh Thành Tổ càng thêm lo lắng.

Ông ta nghĩ, nếu Kiến Văn Đế chưa chết thật, mà ẩn náu chờ thời, rồi triệu tập binh mã ở 1 nơi nào đó, dùng danh nghĩa chính thống tiến đánh thì thật đáng ngại.

Để tra xét cho rõ sự kiện này, Minh Thành Tổ cử 1 số đại thần đi các nơi bí mật dò xét tung tích của Kiến Văn Đế, nhưng không tiện nói rõ lý do mà lấy cớ là đi cầu thần tiên.

Cuộc tìm kiếm đó kéo dài vài ba chục năm.

Minh Thành Tổ lại nghĩ, phải chăng Kiến Văn Đế đã chạy ra biển?

Lúc đó, nghề hàng hải ở Trung Quốc bắt đầu phát triển.

Minh Thành Tổ lại nghĩ nếu cử người ra biển để biểu dương quốc uy, đồng thời trao đổi buôn bán với người nước ngoài, tìm mua 1 số châu báu, tiện thể thám thính về tung tích của Kiến Văn Đế, thì thật là nhất cử lưỡng tiện.

Nghĩ vậy, ông bèn tổ chức 1 đoàn đi sứ ra nước ngoài, nhưng người được cử đi nhất thiết phải là người tâm phúc.

ông liền nghĩ tới 1 hoạn quan từng theo ông nhiều năm, đó là Trịnh Hòa, người thích hợp nhất với nhiệm vụ này.

Trịnh Hòa họ Mã, tên từ nhỏ là Tam Bảo, xuất sinh trong 1 gia đình tộc Hồi ở Vân Nam.

Đời ông và cha của ông đều theo đạo Hồi, đã từng hành hương tới thánh địa La Mec Cơ nay thuộc Ả rập Xê út).

Từ nhỏ, Trịnh Hòa đã được cha kể cho nghe tình hình ở nước ngoài, sau này ông vào làm thái giám ở trong cung Yên vương, vì tỏ ra thông minh, tháo vát nên được Yên vương, sau là Minh Thành Tổ yêu mến.

Cái tên Trịnh Hòa là do Minh Thành Tổ đặt cho ông.

Nhưng dân gian quen gọi tên thật của ông là "Tam Bảo thái giám".

Trong sử sách sau này, cũng có sách vẫn dùng tên "Tam Bảo thái giám".

Tháng 6 năm 1405, Minh Thành Tổ chính thức cử Trịnh Hòa làm sứ giả, dẫn theo 1 đoàn thuyền đi sứ "Tây Dương".

Tên "Tây Dương" mà thời đó sử dụng, không phải để chỉ Châu Âu như sau này, mà là chỉ vùng biển phía nam và phía tây Trung Quốc, tức Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương ngày nay.

Đoàn thuyền của Trịnh Hòa chở hơn 2 vạn 7 ngàn 800 người.

Ngoài binh lính có thủy thủ, còn có nhân viên kĩ thuật, phiên dịch viên, thầy thuốc.

Họ đi trên 62 con thuyền lớn.

Loại thuyền này dài 44 trượng (tương đương 44x3,33=147m), rộng 18 trượng (=60m), là loại thuyền lớn ít thấy thời đó.

Đoàn thuyền xuất phát từ Lưu Gia Hà, Tô Châu; đi qua ven biển Phúc Kiến rồi giương buồm đi xuống ở phía nam.

Trước hết, Trịnh Hòa ghé vào Chiêm Thành, sau đó tới Gia va-Xumatơra, Xơri Lan Ka.

Ông đem theo nhiều vàng bạc, của cải tới mỗi nước, đều đệ trình thư của Minh Thành Tổ và đưa nhiều lễ vật ra biếu, mong được cùng qua lại hữu hảo.

Nhiều nước thấy Trịnh Hòa đem theo nhiều thuyền lớn như vậy, lại có thái độ hòa nhã, không có ý uy hiếp, đều nhiệt tình tiếp đãi.

Lần đi sứ này của Trịnh Hòa kéo dài tới 3 năm 9 tháng mới về nước.

Quốc vương các nước nhân chuyến về nước của Trịnh Hòa, đều cử sứ giả mang theo nhiều lễ vật về cùng, tới thăm Trung Quốc.

Trên đường, tuy gặp mấy lần có gió to sóng lớn, nhưng nhờ có những thủy thủ nhiều kinh nghiệm nên không có sự cố gì.

Chỉ có 1 việc phiền toái xảy ra khi thuyền về qua 1 cảng của Xumatơra.

Nơi đây có 1 tên cầm đầu bọn giặc biển, tên là Trần Tổ Nghĩa.

Hắn chiếm 1 hòn đảo nhỏ, tụ tập 1 số tay chân, chuyên cướp bóc của cải của thương dân đường biển.

Lần này nghe tin đoàn thuyền của Trịnh Hòa đem theo nhiều của cải thì nổi lòng tham, liền cùng đồng bọn vờ làm vẻ tiếp đón, rồi nhân lúc không phòng bị, xông lên cướp bóc.

Kế hoạch đó được 1 người địa phương biết được, liền báo tin cho Trịnh Hòa.

Trinh Hòa nghĩ, trong tay mình có 2 vạn quân lính, sợ gì bọn cướp nhỏ.

Nhưng chúng đã tới, thì phải cho chúng 1 bài học.

Ông liền ra lệnh cho các thuyền tản khai, bỏ neo ngoài cửa cảng, và chuẩn bị đầy đủ thuốc súng, đao thương, sẵn sàng nghênh chiến.

Đêm khuya, sóng biển yên lặng, Trần Tổ Nghĩa dẫn bọn giặc biển dùng mấy chục chiếc thuyền nhỏ xông vào cảng, chuẩn bị tập kích.

Bỗng thấy 1 tiếng pháo nổ trên thuyền chỉ huy của Trịnh Hòa, các thuyền xung quanh đều lướt tới, vây chặt đoàn thuyền của bọn giặc biển.

Quân Minh đông hơn, lại có chuẩn bị, nên bọn giặc biển đại bại.

Đạn lửa trên thuyền lớn phóng xuống làm thuyền của bọn giặc biển bốc cháy.

Trần Tổ Nghĩa muốn chạy nhưng không thoát, đã bị bắt sống.

Trịnh Hòa trói Tổ Nghĩa lại, giải về Trung Quốc, tới kinh thành dâng nộp tù binh cho Minh Thành Tổ, đồng thời dâng nhiều lễ vật của các nước.

Minh Thành Tổ thấy Trịnh Hòa làm xuất sắc nhiệm vụ đi sứ thì vô cùng phấn khởi.

Sau này, Minh Thành Tổ tin rằng Kiến Văn Đế chết thật rồi, không cần thiết đi tìm nữa.

Nhưng việc đi sứ nước ngoài, vừa đề cao được uy tín quốc gia, vừa xúc tiến được quan hệ buôn bán với các nước Tây Dương, có rất nhiều cái lợi.

Vì vậy, sau lần đó, Minh Thành Tổ vẫn tiếp tục cử Trịnh Hòa dẫn thuyền đội đi Tây Dương.

Từ năm 1405 đến 1433, trong gần 30 năm, Trịnh Hòa trước sau đã 7 lần dẫn đội thuyền đi qua Ấn Độ Dương, tới thăm hơn 30 quốc gia, xa nhất là Xô Ma Li thuộc Châu Phi.

Sau chuyến đi lần thứ 6 về nước, Minh Thành Tổ bị bệnh chết, con là Chu Cao Chức nối ngôi.

Đó là Minh Nhân Tông.

Không đầy 1 năm, Minh Nhân Tông chết.

Kế thừa hoàng vị là 1 chú bé mới đầy 9 tuổi là Chu Chiêm Cơ.

Đó là Minh Tuyên Tông, niên hiệu Tuyên Đức, do bà nội là Từ thái hậu và 3 lão thần nắm quyền.

Các đại thần thấy Trịnh Hòa đã 7 lần đi sứ, tốn nhiều tiền của quốc gia, nên đã đình chỉ việc hàng hải.

7 lần ra biển của Trịnh Hòa, đã tỏ ra tinh thần dũng cảm trong việc thám hiểm của người Trung Quốc và chứng tỏ kĩ thuật hàng hải của Trung Quốc lúc đó đã đạt tới trình độ cao.

Qua việc đi sứ của Trịnh Hòa, đã xúc tiến được việc trao đổi kinh tế văn hóa giữa Trung Quốc với với nhiều nước Á Phi.

Tới tận bây giờ, tại các nước đó còn lưu truyền nhiều sự tích về Tam Bảo thái giám.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRẬN THẢM BẠI THỔ MỘC BẢO


Khi Minh Thái Tổ trị vì, ông rút kinh nghiệm việc hoạn quan chuyên quyền dẫn tới tình hình hỗn loạn trong các triều đại trước, nên đã ban bố 1 quy định không cho phép hoạn quan tham gia vào chính sự.

Ông viết quy định đó trên 1 tấm gang lớn, treo trong cung, yêu cầu con cháu đời sau phải tuân theo.

Nhưng đến đời Minh Thành Tổ, quy định đó bị phế bỏ.

Vì đã cướp ngôi hoàng đế từ tay cháu, Minh Thành Tổ luôn lo ngại bị các đại thần phản đối, chỉ tin tưởng vào các hoạn quan ở gần mình.

Sau khi dời đô lên Bắc Kinh, ông cho thiết lập "đông xưởng" ở ngoài Đông An Môn, chuyên dùng để do thám các đại thần và dân chúng, phát hiện những ai có biểu hiện mưu phản.

Ông sợ các đại thần ngoài hoàng cung không đáng tin cậy, nên trao cho các thái giám thân tín làm đề đốc đông xưởng.

Vì vậy, quyền lực các hoạn quan ngày càng lớn.

Đến đời Minh Tuyên Tông, ngay đến việc phê duyệt sớ tấu, cũng do hoạn quan viết thay hoàng đế, gọi là "Tư lễ giám".

Quyền lực của hoạn quan lại càng lớn hơn.

Vào 1 năm, hoàng cung tuyển chọn 1 loạt thái giám.

Một tên lưu manh ở Úy Châu (nay là huyện Úy, Hà Bắc) tên là Vương Chấn, hồi trẻ có được học hành chút ít, đi thi mấy lần không đỗ, chỉ làm chức giáo quan ở huyện.

Sau, hắn phạm tội, đáng ra phải sung quân, nhưng nghe nói trong cung tuyển thái giám, liền tình nguyện xin hoạn để vào cung.

Trong cung, rất ít thái giám biết chữ, chỉ có Vương Chấn là tương đối biết chữ nghĩa nên được bọn thái giám gọi là Vương tiên sinh.

Sau, Minh Tuyên Tông cử hắn giúp thái tử Chu Kỳ Chấn đọc sách.

Chu Kỳ Chấn tuổi trẻ ham chơi, Vương Chấn liền bày ra đủ trò vui để chiều ông hoàng đế tương lai.

Vì vậy, hắn được Chu Kỳ Trấn rất yêu mến.

Minh Tuyên Tông chết, Chu Kỳ Trấn nối ngôi khi vừa tròn 9 tuổi.

Đó là Minh Anh Tông.

Vương Chấn liền được phong làm Tư lễ giám, giúp Minh Anh Tông phê duyệt mọi sớ tấu.

Minh Anh Tông chỉ 1 mực say mê hoan lạc, không hỏi han gì tới quốc sự, Vương Chấn nhân cơ hội đó, nắm đại quyền về quân sự chính trị trong tay.

Các quan trong triều ai làm hắn phật ý, thì nếu không bị cách chức, cũng bị sung quân.

Nhiều vương công quí thích xúm vào nịnh nọt Vương Chấn, gọi hắn là "Ông phụ" (tức coi như cha, ông).

Quyền lực của Vương Chấn lên tới tuyệt đỉnh trong triều.

Lúc bấy giờ, bộ lạc Ngõa Lạt của Mông Cổ ở phía bắc Trung Quốc rất lớn mạnh.

Năm 1449, thủ lĩnh Ngõa Lạt là Dã Tiên dẫn sứ đoàn 3000 người tới Bắc Kinh, đem tiến cống 1 số ngựa và yêu cầu ban thưởng vàng bạc.

Vương Chấn phát hiện thấy Dã Tiên báo gian số người, nên giảm bớt tiền thưởng.

Dã Tiên cầu hôn con gái triều Minh cho con trai hắn, cũng bị Vương Chấn cự tuyệt.

Điều này làm Dã Tiên nổi giận, liền dẫn kỵ binh Ngõa Lạt tiến công Đại Đồng.

Tướng Minh giữ Đại Đồng đem quân chống lại, bị quân Ngõa Lạt đánh cho đại bại.

Quan chức phòng thủ biên giới gửi công văn cáo cấp lên triều đình.

Minh Anh Tông hoảng hốt triệu tập các đại thần lại bàn.

Đại Đồng ở cách Úy Châu, quê hương của Vương Chấn không xa.

Ở đó có nhiều ruộng nương của Vương Chấn.

Hắn sợ Úy Châu bị quân Ngõa Lạt xâm chiếm, nên tìm mọi cách xin Anh Tông dẫn quân thân chinh.

Thượng thư bộ binh là Quảng Dã và Thị lang bộ binh Vu Khiêm đều cho rằng triều đình chưa chuẩn bị đầy đủ, không thể để hoàng đế ngự giá thân chinh được.

Minh Anh Tông vốn không có chủ kiến, Vương Chấn nói gì cũng nghe theo.

Vì vậy, mặc cho các đại thần khuyên ngăn, Anh Tông hấp tấp quyết định thân chinh.

Minh Anh Tông để em là Thành vương Chu Kỳ Ngọc cùng Vu Khiêm ở lại giữ Bắc Kinh; còn mình cùng Vương Chấn, Quảng Dã và hơn 100 quan chức, dẫn 50 vạn đại quân xuất phát từ Bắc Kinh, rầm rộ tiến lên Đại Đồng.

Lần ra quân này không được chuẩn bị kỹ lưỡng, kỷ luật quân đội lỏng lẻo, trên đường lại gặp mưa to gió lớn, mới đi được mấy ngày, lương thực đã không được tiếp tế đủ.

Binh sĩ vừa đói vừa rét, nên vừa chạm trán với quân Ngõa Lạt, đã kêu khổ gầm trời.

Tới gần Đại Đồng, quân lính thấy trên đồng ruộng ngoại vi phơi đầy thi thể quân Minh, thì càng mất tinh thần.

Có đại thần thấy tinh thần quân lính xuống thấp, liền khuyên Anh Tông lui quân, bị Vương Chấn chửi mắng thậm tệ, lại phạt quì 1 ngày.

Mấy hôm sau, đội tiền phong của quân Minh bị quân Ngõa Lạt tiêu diệt hoàn toàn ở bên thành Đại Đồng.

Các cánh quân Minh vội vã lùi lại.

Tới lúc đó, Vương Chấn cảm thấy tình hình nguy cấp, mới hạ lệnh lui quân về Bắc Kinh.

Lẽ ra, đã lui quân thì cần càng nhanh càng tốt, nhưng Vương Chấn lại muốn vênh vang với quê hương Úy Châu, nên khuyên Anh Tông về Úy Châu đóng lại mấy ngày.

Mấy chục vạn tướng sĩ rời Đại Đồng, đi 40 dặm tới Úy Châu.

Lúc đó, Vương Chấn nghĩ lại, thấy để số quân đông như thế về Úy Châu, sẽ xéo nát hết hoa màu trên đồng ruộng của hắn, nên vội vàng hạ lệnh quay lại.

Vì đi quanh co như thế nên đã kéo dài thời gian hành quân, bị quân truy kích của Ngõa Lạt đuổi kịp.

Quân Minh vừa chống đỡ, vừa rút lui tới tận Thổ Mộc Bảo (ở phía đông Hoài Lai, Hà Bắc ngày nay).

Lúc đó, trời đã xế chiều, có người khuyên Anh Tông nên nhân lúc trời chưa tối, đi gấp tới thành Hoài Lai gần đó rồi hãy nghĩ, đề phòng khi quân Ngõa Lạt đánh tới, đã có thành quách cố thủ.

Nhưng Vương Chấn thấy mấy ngàn cỗ xe chở tài sản của hắn chưa tới kịp, nên nhất định bắt toàn quân dừng lại ở Thổ Mộc Bảo.

Thổ Mộc Bảo tuy gọi là "bảo" (có nghĩa là thành quách, pháo đài) nhưng thực ra không có thành quách gì.

Đại quân Minh, cả người và ngựa đi suốt mấy ngày, khát cháy cổ nhưng không tìm ra nguồn nước.

Cách Thổ Mộc Bảo 15 dặm có 1 con sông, đã bị quân Ngõa Lạt chiếm.

Quân lính phải đào giếng lấy nước, nhưng đào sâu tới 2 trượng (6,6m) vẫn không thấy nước.

Hôm sau, trời vừa mờ sáng, quân Ngõa Lạt tới Thổ Mộc Bảo, vây chặt quân Minh lại.

Minh Anh Tông biết khó phá được vây, đành cử người sang gặp Dã Tiên xin hòa.

Dã Tiên biết Minh còn nhiều quân, nếu chỉ dùng sức mạnh thì sẽ bị thiệt hại, liền giả vờ đồng ý nghị hòa, cho ngừng tiến công.

Minh Anh Tông và Vương Chấn ngỡ là thực, rất vui mừng, liền ra lệnh cho quân lính ra vùng xung quanh tìm nước.

Quân lính tranh nhau tìm tới các hào rãnh và ngòi lạnh, tất cả ồn ào hỗn loạn, các tướng không thể ngăn lại được.

Lúc đó, quân Ngõa Lạt từ các nơi mai phục ở 4 phía ào ạt xông tới, vung trường thương đại đao thét lớn: "Kẻ nào đầu hàng sẽ không giết".

Quân Minh bị bất ngờ, cuống cuồng vứt bỏ khôi giáp, chạy thục mạng tan tác.

Quân Ngõa Lạt đuổi theo sát, số quân Minh bị bắt bị giết nhiều không kể xiết.

Binh bộ thượng thư Quảng Dã cũng chết trong đám loạn quân.

Minh Anh Tông và Vương Chấn được cấm quân hộ tống, mấy lần muốn phá vây, nhưng không ra được.

Vương Chấn thường ngày tác uy tác phúc, lúc đó sợ hãi run như cầy sấy.

Tướng lĩnh cấm quân là Hàn Trung xưa nay vốn đã căm giận tên hại nước hại dân đó, phẫn nộ xông tới nói: "Ta vì nhân dân trăm họ, phải giết tên gian tặc là mày!".

Nói xong, vung búa lớn trong tay nện thẳng vào đầu Vương Chấn, kết thúc tính mạng của hắn.

Hàn Trung giết xong Vương Chấn, liền xông vào giao chiến dữ dội với quân Ngõa Lạt, cuối cùng hy sinh giữa trận.

Minh Anh Tông thấy không còn hy vọng chạy thoát, liền xuống ngựa, ngồi dưới đất chờ chết.

Các đại thần phù tá đều bị quân Ngõa Lạt xông vào chém giết (trong số đó có Trương Phụ, viên tướng tàn bạo đã từng cầm quân xâm chiếm Việt Nam thời Hồ).

Minh Anh Tông bị quân Ngõa Lạt bắt làm tù binh.

Lịch sử gọi sự kiện đó là "Thổ mộc chi biến" (sự biến Thổ Mộc).

Qua cuộc chiến đó, 50 vạn quân Minh bị tổn thất 1 nửa.

Lực lượng triều Minh thương tổn nặng nề.

Thủ lĩnh Ngõa Lạt là Dã Tiên càng thêm ngang ngược.

Kinh thành Bắc Kinh bị uy hiếp nghiêm trọng.

Công việc phòng thủ Bắc Kinh trở thành của Chu Kỳ Ngọc và Vu Khiêm.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VU KHIÊM BẢO VỆ BẮC KINH


50 vạn đại quân Minh đại bại ở Thổ Mộc Bảo, tin dữ truyền về Bắc Kinh khiến thái hậu và hoàng hậu lăn khóc thảm thiết.

Họ cho lấy trong kho nội cung rất nhiều vàng bạc châu báu, lụa là gấm vóc rồi ngầm sai thái giám đi tìm quân Ngõa Lạt, xin chuộc Anh Tông về.

Kết quả tất nhiên là không đạt được..

Thương binh từ Thổ Mộc Bảo chạy về, người cụt tay, kẻ mất chân, lũ lượt xuất hiện trên đường phố Bắc Kinh, khiến dân kinh thánh càng hoang mang sợ hãi.

Không ai biết tung tích của hoàng đế ở đâu.

Mặt khác, trong kinh thành còn rất ít quân mã, lỡ quân Ngõ Lạt tới thì biết làm thế nào?

Để yên lòng dân, hoàng thái hậu ra chiếu ủy thác Thành vương Chu Kỳ Ngọc làm giám quốc (tức thay thế chức quyền hoàng đế), đồng thời triệu tập các đại thần, bàn bạc đối phó với quân Ngõa Lạt.

Các đại thần mỗi người 1 ý, không biết nên làm thế nào.

Đại thần Từ Hữu Trinh nói: "Quân Ngõa Lạt rất mạnh, không sao chống nổi.

Thần xem thiên tượng, thấy kinh thành sẽ gặp nạn lớn.

Chi bằng chạy xuống miền nam, tạm tránh một thời gian, rồi sẽ tính sau".

Binh bộ thị lang Vu Khiêm lập tức nghiêm mặt, tâu với thái hậu và Thành vương: "Ai chủ trương bỏ chạy, nên đem chém!

Kinh thành là cái gốc của quốc gia, nếu triều đình chuyển đi thì đại cục sẽ hỏng.

Chẳng lẽ mọi người quên bài học triều Tống hay sao?".

Chủ trương của Vu Khiêm được rất nhiều đại thần tán thành.

Thái hậu liền quyết định trao cho Vu Khiêm nhiệm vụ chỉ huy quân dân giữ thành.

Vu Khiêm là anh hùng nổi tiếng thời Minh, quê tại Tiền Đường, Triết Giang (nay là Hàng Châu).

Từ nhỏ, ông đã có chí lớn.

Tổ phụ của ông có giữ 1 bức họa Văn Thiên Tường.

Vu Khiêm vô cùng khâm phục người anh hùng đó, liền treo bức họa đó lên tường học, tỏ ý nhất định noi theo tấm gương Văn Thiên Tường.

Khi trưởng thành, ông thi đỗ tiến sĩ, làm quan ở mấy địa phương.

Ở đâu, ông cũng giữ nghiêm pháp luật, chính trực liên khiết, hết lòng vì việc công.

Sau ông làm tuần phủ Hà Nam, đã khuyến khích sản xuất, cứu tế dân bị thiên tai đói kém, luôn chú ý chăm lo đời sống nhân dân.

Khi Vương Chấn chuyên quyền, tệ tham nhũng lan tràn, mỗi khi quan địa phương lên kinh tâu việc, bao giờ cũng phải đem bạc nén lên đút lót cấp trên.

Chỉ riêng Vu Khiêm không bao giờ đem lễ vật.

Có người khuyên ông: "Ngài không mang theo vàng bạc châu báu, lẽ nào lại không đem theo một ít thổ sản?".

Vu Khiêm phẩy 2 cánh tay áo rộng, cười nói: "Ta chỉ có gió lành mà thôi!".

Ông còn viết 1 bài thơ, tỏ thái độ của mình.

Hai câu thơ cuối của bài thơ như sau:

"Thanh phong lưỡng tụ triều thiên khứ,

miễn đắc la diêm thoại đoản trường".

Tạm dịch"

"Hai tay áo rỗng chầu thiên tử,

khỏi để dân gian nói thị phi."

Vì Vu Khiêm cương trực không xu nịnh, nên đã làm Vương Chấn phật ý, hắn liền xúi giục đồng đảng vu cáo Vu Khiêm, giam ông vào nhà lao, toan xử ông vào tội chết.

Các quan lại và dân chúng vùng Hà Nam, Sơn Tây được tin Vu Khiêm bị vu cáo, liền tụ tập hàng ngàn hàng vạn người ký đơn thỉnh nguyện lên Minh Anh Tông, xin tha Vu Khiêm.

Bọn Vương Chấn thấy sự phẫn nộ của đông đảo dân chúng là đáng gờm, mặt khác cũng không có chứng cớ gì cụ thể, đành tha Vu Khiêm và trả lại chức vụ cho ông.

Sau đó, ông được điều lên kinh thành làm Bộ binh thị lang.

Lần này, trong giờ phút kinh thành nguy cấp, Vu Khiêm dũng cảm đứng ra đảm nhận việc giữ thành.

Một mặt, ông điều binh khiển tướng, tăng cường binh lực phòng thủ kinh thành và các cửa quan trọng yếu; 1 mặt chỉnh đốn nội bộ, lùng bắt bọn gian tế làm tay trong cho quân Ngõa Lạt.

Một hôm, giám quốc là Thành vương Chu Kỳ Ngọc lâm triều, các đại thần xôn xao yêu cầu công bố tội trạng của Vương Chấn.

Chu Kỳ Ngọc không dám làm việc này.

Tên hoạn quan Mã Thuận, là đồng đảng của Vương Chấn, thấy các đại thần không chịu lui triều, liền lớn tiếng muốn đuổi họ ra.

Hành động của hắn khiến các đại thần nổi giận, 1 người xông lên túm lấy hắn, mọi người hùa theo, xúm lại đấm đá, làm Mã Thuận chết tại chỗ.

Chu Kỳ Ngọc thấy triều đình đại loạn, toan chạy trốn vào nội cung.

Vu Khiêm ngăn lại nói: "Vương Chấn là tên đầu sỏ gây nên thất bại trong cuộc chiến tranh vừa rồi, không công bố rõ ràng tội trạng thì không dẹp yên được sự căm phẫn của nhân dân.

Nếu giám quốc đại vương công bố rõ tội trạng của hắn, thì các đại thần mới yên tâm!".

Chu Kỳ Ngọc nghe theo ý kiến Vu Khiêm, hạ lệnh tịch thu gia sản Vương Chấn, trừng phạt 1 số đồng đảng của hắn.

Lòng dân kinh thành nhờ thế mà an định lại.

Thủ lĩnh Ngõa Lạt là Dã Tiên sau khi bắt sống được Minh Anh Tông, không giết mà giữ lại làm con tin, thường xuyên quấy phá biên giới.

Thấy triều đình không thể thiếu vua, Vu Khiêm và 1 số đại thần liền tâu xin thái hậu chính thức đưa Chu Kỳ Ngọc lên ngôi hoàng đế, còn Minh Anh Tông đang bị bắt, được gọi là Thái thượng hoàng.

Chu Kỳ Ngọc được chỉ định lên làm hoàng đế.

Đó là Minh Đại Tông (còn gọi là Cảnh Đế).

Dã Tiên biết triều Minh quyết tâm chống lại Ngõa Lạt, liền lấy cớ đưa Minh Anh Tông trở về, để mang quân đội tiến về Bắc Kinh.

Tháng 10 năm đó, quân Ngõa Lạt nhanh chóng đánh tới chân thành Bắc Kinh, hạ trại ở ngoài Tây Trực Môn.

Vu Khiêm liền triệu tập các tướng bàn đối sách.

Đại tướng Thạch Hanh cho rằng quân Minh thiếu binh lực, nên rút vào trong thành cố thủ, lâu ngày có thể quân Ngõa Lạt phải lui.

Vu Khiêm nói: "Kẻ địch hung hăng như vậy, nếu chúng ta tỏ ra mềm yếu thì chỉ làm cho chúng thêm hung hãn.

Chúng at cần chủ động đưa quân ra, đánh cho chúng một đòn đích đáng".

Sau đó, ông phái 1 số tướng đem quân ra khỏi thành, bày thế trận.

Sau khi Vu Khiêm bố trí xong trận thế, ông liền đích thân dẫn 1 cánh quân ra trấn giữ ngoài Đức Thắng Môn, bảo tướng giữ thành đóng chặt các cửa thành lại, tỏ rõ quyết tâm chỉ tiến không lùi.

Đồng thời, ông hạ 1 quân lệnh, quy định nếu tướng lĩnh nào ra trận mà bỏ đội ngũ lui về thì sẽ bị chém; binh sĩ nào không nghe chỉ huy, khi lâm trận bỏ chạy, thì tướng sĩ phía sau được quyền chém.

Các tướng sĩ được cổ vũ bởi tinh thần kiên quyết dũng cảm của Vu Khiêm, đều cảm động hăng hái, quyết tâm giao chiến với quân Ngõa Lạt, bảo vệ kinh thành.

Lúc đó, quân Minh từ các địa phương nhận được mệnh lệnh của triều đình, đều lục tục kéo về chi viện cho Bắc Kinh.

Quân Minh ngoài thành tăng lên tới 22 vạn.

Quân Minh có thanh thế mạnh, bố trí phòng bị nghiêm chỉnh, nên Dã Tiên mở mấy cuộc tiến công, đều bị quân Minh dũng cảm đánh chặn.

Dân chúng cũng phối hợp với quân đội, trèo lên mái nhà, bờ tường, dùng gạch ngói ném vào kẻ địch.

Qua 5 ngày kịch chiến, quân Ngõa Lạt tổn thất nghiêm trọng.

Dã Tiên đứng trước tình thế bất lợi, lại sợ đường lui quân bị cắt đứt, không dám chiến đấu nữa, phải đem theo Minh Anh Tông và tàn binh bại tướng rút lui.

Vu Khiêm đợi cho Minh Anh Tông đã đi xa, liền dùng hỏa pháo bắn mạnh, sát thương thêm số quân Ngõa Lạt.

Cuộc chiến đấu bảo vệ Bắc Kinh giành được thắng lợi rực rỡ.

Vu Khiêm lập công lớn, được quân dân kinh thành vô cùng yêu mến.

Minh Đại Tông hết sức tôn trọng ông.

Thấy nhà ở của Vu Khiêm quá sơ sài, chỉ đủ che mưa che gió, Dại Tông liền xây cho ông 1 phủ đệ; nhưng Vu Khiêm từ chối.

Ông nói: "Nay là lúc nước nhà gặp nạn, sao thần có thể nghĩ tới việc hưởng thụ được".

Sau thất bại, Dã Tiên thấy giữ mãi Minh Anh Tông cũng chẳng có ích gì, liền tha cho Minh Anh Tông về Bắc Kinh.

Vu Khiêm 1 lòng bảo vệ quốc gia, nhưng Từ Hữu Trinh, kẻ đã chủ trương bỏ chạy trong lúc Bắc Kinh nguy cấp, bị Vu Khiêm lên án nặng nề; và đại tướng Thạch Hanh, đã có lần bị Vu Khiêm quở trách, vẫn ôm mối hận trong lòng, ngấm ngầm tìm thời cơ để trả hận.

Anh Tông về Bắc Kinh được 7 năm, tức vào năm 1457 thì Minh Đại Tông ốm nặng.

Từ Hữu Trinh, Thạch Hanh câu kết với 1 số hoạn quan, đem quân xông vào hoàng cung, lại tôn Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn lên làm vua.

Lịch sử gọi sự kiện này là "đoạt môn chi biến" (sự biến chiếm đoạt cửa cung).

Ít lâu sau, Minh Đại Tông chết.

Minh Anh Tông trở lại ngôi hoàng đế, vốn đã tức giận Vu Khiêm giúp em mình lên ngôi hoàng đế trong lúc ông bị bắt, lại thêm lời vu cáo Từ Hữu Trinh, Thạch Hanh, liền dụng tâm độc án, ghép Vu Khiêm vào tội "mưu phản" và giết hại ông.

Nhân dân Bắc Kinh nghe tin Vu Khiêm bị giết 1 cách oan uổng, thì già trẻ gái trai đều đau đớn khóc ròng.

Người ta lưu truyền bài thơ "Vịnh vôi" mà ông làm lúc còn trẻ

"Thiên chùy bách tạc xuất thâm sơn,

Liệt hỏa phần thiêu nhược đẳng nhàn.

Phấn cốt toái thân hồn bất phạ,

Yến lưu thanh bạch tại nhân gian".

Dịch thơ:

"Đục phá người mang khỏi núi non,

Lửa hừng thiêu đốt chẳng sờn gan.

Tấm thân tan nát không hề sợ,

Thanh bạch còn lưu tại thế gian".

Mọi người đều cho rằng, những câu thơ đó đã miêu tả hết sức đúng cuộc đời của Vu Khiêm.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
DƯƠNG NHẤT THANH DÙNG KẾ TRỪ LƯU CẨN


Sau sự kiện Thổ Mộc Bảo, vương triều Minh bắt đầu đi xuống.

Mấy hoàng đế sau Minh Anh Tông đều tối tăm hủ bại.

Họ không rút được bài học từ vụ Vương Chấn làm hại nước, vẫn một mực dựa vào hoạn quan.

Tình hình hoạn quan lũng đoạn triều chính càng ngày càng nghiêm trọng.

Khi Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm (con của Anh Tông) tại vị, hoạn quan Uông Trực chuyên quyền, ngoài "đông xưởng" thiết lập từ trước, còn lập thêm "tây xưởng" tăng cường bộ máy đặc vụ, giết oan rất nhiều người.

Năm 1505, Minh Vũ Tông Chu Hậu Chiến lên ngôi.

Cạnh ông ta có 8 hoạn quan, thường hầu hạ ông ta cưỡi ngựa, đánh cầu, đuổi hươu,, săn thỏ.

Tên đứng đầu số hoạn quan đó là Lưu Cẩn.

Minh Vũ Tông chỉ ham chơi, thấy bọn Lưu Cẩn luôn chiều theo ý mình quý chuộng chúng.

8 tên hoạn quan đó dựa thế hoàng đế, tha hồ ra ngoài cung làm mọi chuyện phi pháp.

Dân gọi chúng là "bát hổ".

Một số đại thần khuyên can Vũ Tông, xin Vũ Tông trừ bỏ 8 con hổ dữ đó.

Bọn Lưu Cẩn được tin, liền khóc lóc với Vũ Tông.

Minh Vũ Tông không những không nghe lời can gián của đại thần, mà còn thăng Lưu Cẩn lên chức Tư lễ giám và cho 2 tên đồng đảng của Lưu Cẩn làm đề đốc đông xưởng và tây xưởng.

Nắm quyền lớn trong tay, Lưu Cẩn liền tập hợp các đại thần, bắt quì trước Kim Thủy Kiều, công bố ghép tội 1 loạt đại thần là "gian đảng" và đuổi khỏi triều đình.

Hàng ngày, bọn Lưu Cẩn bày ra đủ trò vui thú cho Vũ Tông, đợi tới khi Vũ Tông ham chơi, mới đưa hàng loạt sớ tấu của đại thần xin Vũ Tông phê duyệt.

Minh Vũ Tông bực mình nói: "Ta nuôi các ngươi để làm gì?

Có mấy việc vặt thế này bắt ta tự làm hay sao?".

Nói xong, quẳng các sớ tấu cho Lưu Cẩn.

Từ đó, bất kì việc lớn việc nhỏ, Lưu Cẩn đều không trình lên nữa.

Hắn chuyên quyền độc đoán, giả truyền ý chỉ hoàng đế cho các đại thần.

Bản thân Lưu Cẩn không thông thạo chữ nghĩa, nên đọc không hiểu nội dung các sớ tấu, liền mang về nhà cho đồng đảng và thân thích xử lý.

Một số vương công đại thần biết rằng sớ tấu của mình không được tới tay Vũ Tông, nên mỗi lần muốn tâu việc gì, chỉ đưa bản sao cho Lưu Cẩn, còn bản chính thì đưa ra trước triều đình.

Dân gian lưu truyền 1 câu nói: "Trong thành Bắc Kinh có hai hoàng đế, một hoàng đế ngồi, một hoàng đế đứng; một Chu hoàng đế, một Lưu hoàng đế".

Sợ bị chống lại, Lưu Cẩn phái đặc vụ của đông xưởng, tây xưởng đi do thám khắp nơi.

Hắn còn đặt thêm 1 "nội hành xưởng" do tự mình quản lý, giám thị cả công việc của đông xưởng, tây xưởng.

Người nào bị bộ máy đó bắt bớ, đều chịu hình phạt tàn khốc.

Số người bị bức hại lên tới mấy ngàn.

Tiếng kêu than, oán giận của dân chúng vang dậy kinh thành.

Lưu Cẩn còn lợi dụng quyền thế, hạch sách bóp nặn, đòi đưa hối lộ.

Các quan địa phương tới kinh thành triều kiến, sợ Lưu Cẩn gây khó dễ, đều phải đưa lễ vật trước mặt hắn, mỗi lần có tới 2 bạn lạng bạc.

Có viên quan vào kinh, không mang đủ nhiều tiền như thế, phải đi vay nặng lãi của các nhà hào phú trong kinh thành, sau khi về địa phương sẽ thu góp gửi trả.

Tất nhiên, khoản tiền đó, lại bổ xuống đầu nhân dân lao động.

Năm 1510, An Hóa vương Chu Chí Phiên lấy danh nghĩa chống Lưu Cẩn, khởi binh mưu phản.

Minh Vũ Tông cử Dương Nhất Thanh là võ quan tổng quản vùng Ninh Hạ, Diên Tuy đem quân thảo phạt Chu Chí Phiên, đồng thời cử hoạn quan Trương Vĩnh làm giám quân.

Dương Nhất Thanh nguyên là thống soái quân sự vùng Thiểm Tây, đã lập nhiều công trong việc huấn luyện quân đội, tăng cường lực lượng biên phòng.

Vì ông là người chính trực, không phụ họa Lưu Cẩn nên bị Lưu Cẩn vu cáo, bức hại.

Nhờ các đại thần nói giúp, ông mới được tha và đuổi về quê.

Lần này, Minh Vũ Tông cần người dẹp loạn, mới triệu ông về kinh.

Dương Nhất Thanh đến Ninh Hạ thì cuộc phản loạn đã được 1 bộ tướng cũ của ông dẹp yên.

Dương Nhất Thanh và Trương Vĩnh giải Chu Chí Phiên trở về, dâng tù binh lên hoàng đế.

Từ lâu, Dương Nhất Thanh đã có ý muốn trừ Lưu Cẩn.

Ông dò biết Trương Vĩnh vốn là 1 thành viên trong "bát hổ", nhưng từ khi Lưu Cẩn đắc thế.

Trương Vĩnh có mâu thuẫn với Lưu Cẩn, liền lôi kéo Trương Vĩnh về phía mình để thực hiện ý định đó.

Trên đường về kinh, Dương Nhất Thanh mật đàm với Trương Vĩnh, nói: "Lần này nhờ Trương Công cùng ra sức, mới dẹp yên được phản loạn, thật là một việc vui mừng.

Nhưng trừ một phiên vương còn dễ, còn trừ nội hoạn mới thật khó.

Biết làm thế nào?".

Trương Vĩnh kinh ngạc hỏi: "Ngài nói nội hoạn là việc gì vậy?".

Dương Nhất Thanh ghé sát vào tai Trương Vĩnh, dùng ngón trỏ tay phải viết vào lòng bàn tay trái 1 chữ "Cẩn".

Trương Vĩnh nhíu mày nói: "Kẻ đó hàng ngày ở bên mình hoàng thượng, lại nhiều tai mắt, muốn trừ hắn đi rất khó!".

Dương Nhất Thanh nói: "Ngài cũng là thân tín của hoàng thượng.

Lần này khải hoàn về kinh, hoàng thượng nhất định sẽ triệu kiến ngài.

Nhân dịp đó, ngài tâu rõ nguyên nhân khiến Chu Chí Phiên mưu phản, nhất định hoàng thượng sẽ giết Lưu Cẩn.

Đại sự mà thành công thì tên tuổi của ngài sẽ lưu truyền hậu thế".

Trương Vĩnh do dự 1 lát, rồi nói: "Lỡ ra không thành công thì sao?".

Dương Nhất Thanh nói: "Nếu hoàng thượng không tin, ngài có thể khóc lóc trình bày lòng trung thành với hoàng thượng, thì nhất định hoàng thượng sẽ nghe theo.

Có điều việc này phải làm thật nhanh, nếu để chậm e rằng việc sẽ bị tiết lộ".

Trương Vĩnh vốn có hiềm khích với Lưu Cẩn, nay được Dương Nhất Thanh nêu ra và thúc giục, liền thấy vững dạ và quyết tâm thực hiện.

Đến Bắc Kinh, Trương Vĩnh làm theo kế hoạch của Dương Nhất Thanh, ngay trong đêm vào gặp Vũ Tông, tố cáo Lưu Cẩn mưu phản.

Minh Vũ Tông liền hạ lệnh cho Trương Vĩnh dẫn cấm quân đến bắt Lưu Cẩn.

Lưu Cẩn không phòng bị gì, đang ngủ say, bị cấm quân xông vào trói lại, đưa vào nhà lao.

Minh Vũ Tông sai cấm quân đến khám xét và tịch thu gia sản của Lưu Cẩn, phát hiện được 24 vạn nén vàng, 5 triệu nén bạc và vô số ngọc ngà châu báu.

Ngoài ra, còn khám xét thấy long bào, đai ngọc, khôi giáp, vũ khí.

Minh Vũ Tông lúc đó mới giật mình, lập tức xử tử Lưu Cẩn.

Lưu Cẩn tuy bị giết, nhưng tình trạng ngu tối hủ bại của Vũ Tông đã nghiêm trọng tới mức không thể nào sửa được.

Sau khi giết Lưu Cẩn, ông ta lại sùng bái 1 võ quan là Giang Bân.

Giang Bân xúi giục hoàng đế, nhiều lần rời Bắc Kinh lên tìm thú vui chơi ở Tuyên Phủ (nay là Tuyên Hóa, Hà Bắc) để mọi quyền quân sự, chính trị cho Giang Bân giải quyết.

Giang Bân vì vậy tha hồ tham nhũng, đòi hối lộ, bài xích người tốt.

Do sự thống trị thối nát của vương triều Minh, đất đai tập trung cao độ vào tay địa chủ, thuế má và lao dịch trút lên đầu nhân dân lao động rất nặng nề, nên các cuộc khởi nghĩa nhân dân liên tiếp nổ ra.

Năm 1510, vùng phụ cận Bắc Kinh nổ ra cuộc khởi nghĩa do Lưu Lục, Lưu Thất lãnh đạo.

Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 2 năm, nghĩa quân hoạt động trong phạm vi 8 tỉnh thuộc Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, 4 lần tiến tới gần Bắc Kinh, giáng 1 đòn nặng nề vào vương triều Minh thối nát.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
DƯƠNG KẾ THỊNH LIỀU CHẾT VẠCH TỘI NGHIÊM TUNG


Sau khi Minh Vũ Tông chết, người em họ là Chu Hậu Thông lên ngôi hoàng đế.

Đó là Minh Thế Tông (niên hiệu Gia Tĩnh).

Khi mới lên ngôi, Minh Thế Tông có thực hiện 1 số biện pháp cải lương về chính trị, như hạn chế quyền lực của hoạn quan, chỉnh đốn lại việc thu thuế...Nhưng về sau, ông lại mê tín Đạo giáo, lập đàn cầu tiên trong cung, dần dần không chú ý hỏi han đến triều chính nữa.

Trong các đại thần, hễ ai tán thành việc tín ngưỡng Đạo giáo thì đều được trọng dụng.

Đại học sĩ Nghiêm Tung vì giỏi viết các bài văn cầu thần tiên nên dần dần leo lên chức Thủ phủ nội các (tương đương tể tướng).

Nghiêm Tung không có thực tài gì, chỉ giỏi xu nịnh phụ họa.

Hắn cùng với con là Nghiêm Thế Phiên tổ chức bè đảng, làm mọi việc phi pháp để kiếm lời, không kiêng dè 1 việc xấu xa nào.

Một số triều thần thiếu nhân cách đều vào hùa với chúng, có 30 người nhận Nghiêm Tung làm cha nuôi.

Có đủ vây cánh, hắn càng lộng quyền, lũng đoạn mọi việc triều chính.

Khi Nghiêm Tung nắm quyền, bộ lạc Đạt Đán (1 nhánh của tộc Mông Cổ) ở phía bắc dần lớn mạnh, thống nhất các bộ lạc Mông Cổ, tạo thành nỗi uy hiếp lớn với triều Minh.

Nghiêm Tung không những không tăng cường chuẩn bị về quân sự, mà còn tham ô tiền quân lương, khiến binh sĩ chịu đói rét.

Thủ lĩnh Đạt Đán là Yểm Đáp mấy lần đem quân tiến công vào lãnh thổ Trung Quốc, quân Minh đều không đủ lực lượng chống lại.

Năm 1550, Yểm Đáp đem quân tiến rất sâu, tới tận ngoại ô ở Bắc Kinh.

Minh Thế Tông cử 1 đồng đảng của Nghiêm Tung là Cừu Loan làm đại tướng quân.

Chỉ huy viện quân các lộ bảo vệ kinh thành.

Nghiêm Tung sợ Cừu Loan bị thua, liền bảo Cừu Loan không được chống lại.

Kết quả, quân Đạt Đán cướp đi rất nhiều người , súc vật và tài sản, chất đầy xe rồi chở đi.

Mười mấy vạn quân Minh xung quanh kinh thành vẫn không động tĩnh gì.

1 năm sau, Cừu Loan lại câu kết với Yểm Đáp, chuẩn bị giảng hòa với Đạt Đán.

Sự kiện đó khiến 1 số đại thần chính trực căm phẫn, đặc biệt là binh bộ viên ngoại lang Dương Kế Thịnh.

Dương Kế Thịnh, quê ở Dung Thành, Bảo Định, xuất thân nghèo khó.

Năm ông lên 7 tuổi thù mẹ mất.

Bị mẹ kế rất nghiệt ngã, bắt ông đi chăn bò.

Khi chăn bò qua 1 trường tư thục, thấy các bạn nhỏ cùng thôn được đọc sách thì rất thích.

Về nhà, ông nài nỉ người anh cho mình đọc sách.

Người anh nói: "Em còn bé quá, đọc được sách gì?".

Dương Kế Thịnh nói: "Em chăn bò được, sao lại không đọc sách được?".

Cha ông thấy ông có chí, liền cho ông vừa học chữ, vừa chăn bò.

Quả nhiên, ông tiến bộ rất nhanh.

Sau này, ông dự thi, đỗ tiến sĩ, được nhiều đại thần trong kinh thành quý trọng.

Dương Kế Thịnh vốn nhân cách chính trực, thấy hành động làm mất chủ quyền, nhục quốc thổ của Nghiêm Tung, của Cừu Loan thì không sao chịu nổi.

Ông dâng sớ lên Minh Thế Tông, chống lại việc nghị hòa, mong triều đình xây dựng lực lượng, luyện binh tuyển tướng để chống lại Đạt Đán.

Minh Thế Tông xem sớ tấu, có hơi suy nghĩ, nhưng bị bọn Cừu Loan xúc xiểm.

Liền giáng chức và điều Dương Kế Thịnh đi làm điển sứ ở Địch Đạo (nay là Lâm Thao, Cam Túc).

Dương Kế Thịnh đến Địch Đạo, không hề chán nản.

Thấy dân ở đây là dân tộc thiểu số, không biết chữ, ông liền chọn hơn 100 thanh niên, tập trung lại mời thầy dạy chữ cho họ.

Học sinh nào không có tiền, ông bán cả ngựa và quần áo của vợ con mình lấy tiền giúp đỡ họ.

Nhân dân địa phương vô cùng yêu quý ông, đều gọi ông là "Dương phụ" (cha Dương).

Sau khi Dương Kế Thịnh bị biếm trích, triều Minh và Đạt Đán giảng hòa, cùng thông thương.

Nhưng không lâu sau, Yểm Đáp phá hoại hòa ước, nhiều lần tiến quân vào biên giới.

Mật mưu của Cừu Loan bị bại lộ, hắn sợ hãi phát bệnh rồi chết.

Lúc đó, Minh Thế Tông mới thấy ý kiến Dương Kế Thịnh là đúng, liền triệu ông về kinh.

Nghiêm Tung muốn lôi kéo Dương Kế Thịnh, nhưng ông còn căm ghét hắn hơn cả Cừu Loan nữa.

Sau khi về kinh 1 tháng, ông dâng sớ lên Minh Thế Tông, đàn hặc Nghiêm Tung, vạch ra 10 tội lớn của hắn, mỗi tội đều có chứng cớ cụ thể.

Ông nói trong sớ tấu, là Nghiêm Tung có 10 tội lớn, nhưng vẫn giấu giếm được hoàng thượng là do có "5 loại gian" giúp hắn, đó là bọn gián điệp, vây cánh, thân thích, tay sai, tâm phúc được bố trí dày đặc xung quanh Thế Tông.

Sớ tâu đó vạch đúng những điểm yếu của Nghiêm Tung.

Hắn cuống cuồng khóc lóc, phân trần vu cáo lại Dương Kế Thịnh với Minh Thế Tông.

Minh Thế Tông hồ đồ, nổi giận, sai đánh Dương Kế Thịnh 100 trượng, giam vào đại lao.

Dương Kế Thịnh bị đình trượng tím bầm thân thể, 2 đùi nát bét, ngay cả lính coi ngục cũng thương xót.

Nhưng Dương Kế Thịnh vẫn bình thản, coi như không có chuyện gì.

Người thân và bạn bè thấy ông bị thương nặng, liền nhờ lính coi ngục chuyển vào cho ông thuốc mật rắn để điều trị.

Dương Kế Thịnh từ chối không nhận nói: "Bản thân tôi cũng có mất, không cần dùng tới thứ đó".

Dương Kế Thịn bị giam trong ngục suốt 3 năm, nhưng triều đình không tra xét ra tội gì.

Một số người muốn tìm cách cứu ông ra khỏi ngục.

Đồng bọn của Nghiêm Tung nói với hắn: "Ngài không giết Dương Kế Thịnh thì khác gì nuôi hổ để nuôi hậu hoạn về sau?".

Nghiêm Tung liền rắp tâm độc ác, xúi giục Minh Thế Tông hạ lệnh giết Dương Kế Thịnh.

Trong 21 năm nắm quyền binh, Nghiêm Tung đã cài phe cánh vào khắp các chức vị quan trọng trong triều đình, nên quyền hành ngày càng lớn.

Minh Thế Tông dần dần chán ghét hắn.

Một lần, Minh Thế Tông mời đạo sĩ Lam Đạo Hành lên đồng, Hành mượn ý chỉ của thần tiên, khuyên Thế Tông trừ bỏ Nghiêm Tung.

Minh Thế Tông hơi xao xuyến, ngự sử Trâu Ứng Long nghe biết việc đó, thấy đây là cơ hội tốt để đánh đổ Nghiêm Tung, nhưng nghĩ tới chuyện Dương Kế Thịnh lại có phần do dự.

Sau khi suy đi tính lại, ông quyết định trước hết hãy bắt đầu từ con Nghiêm Tung là Nghiêm Thế Phiên đã.

Nghiêm Thế Phiên dựa vào quyền thế của cha, làm nhiều điều xằng bậy.

Sớ tấu vạch tội Nghiêm Thế Phiên của Trâu Ứng Long vừa tâu lên, quả nhiên Minh Thế Tông lập tức hạ lệnh trị tội, bắt sung quân tới Lôi Châu, đồng thời buộc Nghiêm Tung nghỉ hưu.

Nghiêm Thế Phiên và đồng đảng của hắn là bọn lưu manh liều mạng, vừa tới Lôi Châu, hắn liền lẻn trở về nhà, thu nạp thêm 1 số giặc cướp giang hồ, lại cấu kết với tên Hán gian là Uông Trực và giặc biển, chuẩn bị chạy trốn sang Nhật Bản.

Sự việc đó lại bị 1 ngự sử khác là Lâm Nhuận tố giác.

Minh Thế Tông nhận được tin đó, hết sức kinh sợ, lập tức hạ lệnh bắt Nghiêm Thế Phiên và đồng đảng đem ra chém đầu thị chúng và cách chức Nghiêm Tung làm dân thường.

Tên quyền thần lớn nhất triều Minh cuối cùng đã bị đánh đổ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HẢI THỤY CƯƠNG TRỰC KHÔNG XU NỊNH


Trong những năm tháng Nghiêm Tung chuyên quyền, không những cha con hắn, mà ngay cả bọn tay chân bên dưới, không tên nào là không dựa thế làm càn, tác uy tác phúc.

Trên từ đại thần trong triều đình, dưới đến quan lại các địa phương, không ai là không kiêng dè chúng.

Nhưng tại huyện Thuần An tỉnh Triết Giang có 1 viên tri huyện, cứ làm việc theo phép công, không hề sợ đồng đảng của Nghiêm Tung.

Viên tri huyện đó là Hải Thụy.

Hải Thụy quê ở Quỳnh Sơn tỉnh Quảng Đông.

Cha ông mất khi ông còn nhỏ, được mẹ nuôi dưỡng tới lúc trưởng thành, cảnh nhà rất túng bấn.

Năm hơn 20 tuổi, ông đỗ cử nhân, làm thầy giáo trường huyện, dạy dỗ học sinh rất nghiêm túc chu đáo.

Ít lâu sau, ông được điều về huyện Thuận An tỉnh Triết Giang làm tri huyện.

Trước kia các quan huyện khi xử án đều nhận hối lộ, tùy tiện định án.

Hải Thụy tới Thuần An, xét xử rất nghiêm minh, chu đáo.

Vụ án nào ông xử cũng đều được điều tra đầy đủ không bao giờ để người vô tội bị hàm oan.

Nhân dân địa phương đều gọi ông là "Thanh Thiên" (trời xanh).

Tổng đốc Triết Giang là Hồ Tông Hiến, cấp trên của ông là đồng đảng của Nghiêm Tung ý thế có người đỡ đầu trong triều đình, nên thả sức vòi vĩnh hạch sách.

Ai dám trái lệnh hắn là gặp tai vạ.

Một lần, con trai Hồ Tông Hiến dẫn 1 lũ tùy tùng đi qua Thuần An, trú tại trạm khách của huyện.Nnếu là ở 1 huyện khác, quan huyện thấy công tử của Tổng đốc đại nhân tới thì sẽ ra sức hầu hạ cung phụng.

Nhưng ở huyện Thuần An, Hải Thụy đã có quy định là bất kì người quyền quý nào qua lại, cũng đều tiếp đãi như khách bình thường.

Tên công tử con Hồ Tông Hiến quen được tôn kính, hầu hạ, nay thấy nhân viên dịch trạm đưa cơm thường lên, cho là coi thường mình, liền nổi giận hất đổ cơm và hét tùy tùng trói nhân viên lại treo lên xà nhà.

Nha dịch trong trạm vội báo với Hải Thụy.

Hải Thụy vốn đã biết Hồ công tử qua địa phương mình tất sẽ đem tới điều phiền toái.

Nay thấy hắn treo nhân viên của mình lên, buộc phải ra tay.

Nghe xong báo cáo, Hải Thụy làm vẻ trấn tĩnh nói: "Ngài tổng đốc vốn là một đại thần thanh liêm.

Ngài từng căn dặn ta là chiêu đãi quan lại đi qua không được phô trương lãng phí.

Nay lại xuất hiện loại công tử ăn chơi làm điêu làm bộ, kiêu ngạo hống hách như thế thì nhất định không phải công tử con Hồ đại nhân đâu.

Tất là có kẻ xấu ở nơi nào đó mạo xưng là công tử, để khoe khoang phách lối đánh lừa chúng ta đó thôi".

Nói xong, ông đem theo 1 số sai dịch tới trạm khách bắt giữ con Hồ Tông Hiến và lũ tay sai đem về huyện nha thẩm vấn. lúc đầu, Hồ công tử còn dựa thế cha, quát tháo ầm ĩ; nhưng Hải Thụy cứ đổ riệt cho hắn là giả mạo và dọa sẽ dùng trọng hình xử phạt, hắn hoảng sợ phải xuống giọng phân trần.

Hải Thụy cho khám hành lý của hắn, phát hiện mấy ngàn lạng bạc, liền cho sung công, rồi quở trách về hành vi làm náo loạn nhà khách và đuổi hắn đi khỏi huyện Thuần An.

Khi tên công tử về tới Hàng Châu, khóc lóc tố cáo với cha, thì báo cáo của Hải Thụy đã đệ lên dinh Tổng đốc, nói có kẻ mạo xưng là công tử, đánh đập dịch lại 1 cách phi pháp.

Hồ Tông Hiến thấy rõ con mình đã bị hớ, nhưng trong công văn.

Hải Thụy vẫn khẳng định đó không phải là công tử, nếu nay làm to chuyện ra thì lại tự làm mất thể diện, đành phải nuốt giận lờ đi.

Không lâu sau, lại có 1 quan ngự sử là Yên Mậu Khanh do triều đình phái tới Triết Giang thị sát.

Yên Mậu Khanh là con nuôi của Nghiêm Tung, chỉ giỏi việc hạch sách vòi vĩnh.

Đến nơi nào quan địa phương không ngoan ngoãn dâng lên 1 khoản tiền lớn, thì hắn không buông tha.

Quan lại các nơi hễ nghe tin Yên Mậu Khanh sắp tới thị sát thì đều lo hoảng.

Nhưng Yên Mậu Khanh luôn làm ra vẻ chí công vô tư, giữ nghiêm pháp luật.

Hắn thông tri cho các địa phương, nói là xưa nay hắn chỉ thích giản dị, không muốn đón tiếp linh đình.

Hải Thụy nghe tin Yên Mậu Khanh sắp tới Thuần An, liền viết cho hắn 1 bức thư.

Trong thư viết: "Chúng tôi nhận được thông tri cần tiếp đón đơn giản.

Nhưng chúng tôi được biế, mỗi lần ngài tới nơi khác đều có yến tiệc linh đình, khiến chúng tôi rất khó nghĩ!

Nếu làm theo thông tri, thì sợ phạm lỗi quá sơ sài với ngài, nếu lại phô trương rầm rộ như các địa phương khác, lại sợ làm trái lệnh của ngài.

Vậy xin ngài chỉ bảo cho biết chúng tôi nên làm như thế nào?".

Yên Mậu Khanh thấy lá thư có ý lật tẩy mình thì nghiến răng giận dữ.

Nhưng hắn cũng biết từ lâu rằng Hải Thụy là người cứng rắn, thiết diện vô tư, lại biết tin con Hồ Tông Hiến đã bị Hải Thụy cho 1 trận thích đáng thì có ý chờn, đành thay đổi ý định, bỏ quan Thuần An, đi sang địa phương khác.

Vì việc đó, Yên Mậu Khanh rất căm Hải Thụy, nên đã xúi đồng đảng vu cáo Hải Thụy với Minh Thế Tông.

Cuối cùng, Hải Thụy bị cách khỏi chức vụ tri huyện Thuần An.

Sau khi Nghiêm Tung bị bãi chức, Yên Mậu Khanh cũng bị sung quân nơi xa, Hải Thụy mới được khôi phục quan chức, sau lại được điều lên kinh.

Hải Thụy tới kinh thành, càng thấy tận mắt sự ngu tối của Minh Thế Tông và tình hình thối nát của triều đình.

Tới lúc đó, đã hơn 20 năm Minh Thế Tông chưa từng thiết triều, chỉ ở lỳ trong cung với bọn đạo sĩ.

Triều thần không ai dám nói năng gì.

Riêng Hải Thụy, tuy giữ 1 chức quan nhỏ nhưng đã dũng cảm viết 1 tấu chương dâng lên Minh Thế Tông.

Ông vạch trần mọi hiện tượng thối nát trong vương triều Minh.

Trong đó ông viết: "Hiện nay quan lại tham nhũng, hoành hành ngang ngược, dân không sống nổi.

Bách tính trong thiên hạ đều bất bình với bệ hạ!".

Sau khi đưa tấu chương lên, Hải Thụy biết rằng xúc phạm Minh Thế Tông như vậy, sẽ khó bảo toàn được tính mạng.

Trên đường về nhà, tiện đường ông mua 1 cỗ quan tài.

Vợ con thấy thế, đều rụng rời kinh ngạc.

Hải Thụy nói câu chuyện trên với người nhà và dặn dò kỹ lưỡng mọi việc sau khi mình chết, cho mọi tôi tớ ra về, rồi chuẩn bị sẵn sàng chờ người đến bắt mang đi xử tử.

Quả nhiên, bản tấu chương của Hải Thụy khiến cả triều đình rung động.

Minh Thế Tông xem xong vừa giận vừa căm, ném ngay xuống đất, nói với tả hữu: "Mau bắt ngay tên đó lại, không để hắn chạy trốn!".

Một hoạn quan đứng bên cạnh, vốn nghe tiếng Hải Thụy từ lâu, liền tâu với Minh Thế Tông: "Con người này là một kẻ mọt sách.

Hắn biết rằng xúc phạm đến bệ hạ sẽ không sống được, nên đã lo toan mọi việc hậu sự.

Hắn sẽ không trốn đâu!".

Sau đó, Minh Thế Tông vẫn ra lệnh bắt giam Hải Thụy, giao cho Cấm ý vệ dùng cực hình tra tấn.

Tới khi Minh Thế Tông chết, Hải Thụy mới được thả ra.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
THÍCH QUANG KẾ ĐUỔI GIẶC BIỂN NHẬT


Thời Minh Thế Tông, 1 bọn giặc biển Nhật thường quấy nhiễu miền ven biển đông nam.

Chúng liên kết với bọn thổ hào, gian thương, giết người cướp của khắp nơi, khiến miền duyên hải không còn an ninh.

Lịch sử gọi bọn đó là "Nụy khấu" (giặc cướp Nhật).

Năm 1553, bọn chúng câu kết với bọn Hán gian Uông Trực, Từ Hải, tập trung mấy trăm hải thuyền đổ bộ lên vùng ven biển Triết Giang, Giang Tô, phân thành mấy chục toán, tới cướp bóc ở hàng chục thành phố, thị trấn.

Quan lại và binh sĩ ven biển không dám chống lại, hễ thấy chúng tới là bỏ chạy.

Sự quấy nhiễu của chúng ngày càng nghiêm trọng khiến Minh Thế Tông xưa nay vẫn ru rú trong cung cũng không thể không lo lắng, liền gọi Nghiêm Tung tới bàn cách đối phó.

Đồng đảng của Nghiêm Tung là Triệu Văn Hoa nghĩ ra 1 "cao kiến", là muốn dẹp được bọn giặc biển Nhật, cần cầu xin vị thần ở Đông Hải phù hộ.

Minh Thế Tông tin theo, liền sai hắn tới Đông Hải cầu xin thần linh.

Tất nhiên việc làm đó chẳng có tác dụng gì, triều đình phải cử 1 lão tướng không thuộc miền biển là Du Đại Du tổ chức lực lượng phòng chống.

Du Đại Du tới Triết Giang, đánh thắng liền mấy trận.

Nhưng không lâu sau, Tổng đốc Triết Giang là Trương Kinh bị Triệu Văn Hoa hãm hại, Du Đại Du cũng bị liên lụy, bị bắt giam.

Việc phòng thủ ven biển không có người chỉ huy, nên hoạt động của bọn giặc biển càng càn rỡ hơn.

Triều đình phải điều Thích Kế Quang, tướng chỉ huy ở Sơn Đông về Triết Giang, mới giải quyết được tình hình đó.

Thích Kế Quang là anh hình dân tộc trong lịch sử Trung Quốc, quê tại Phùng Lai, Sơn Đông.

Khi tới Triết Giang, kiểm tra quân đội, thấy kỷ luật quá lỏng lẻo, không thể đánh trận được.

Ông liền chiêu mộ người, thành lập 1 đội quân mới.

Lệnh chiêu mộ vừa ban ra, lập tức được nhiều người vốn đã khổ vì sự quấy nhiễu của giặc biển, gồm nông dân và phu khai mỏ tới tình nguyện gia nhập, 1 số địa chủ có vũ trang cũng đưa lực lượng tới xin sáp nhập.

Quân số tăng nhanh chóng lên tới 4000 người.

Thích Kế Quang là 1 tướng lĩnh tinh thông binh pháp.

Ông hiểu rằng nếu quân kính không được huấn luyện nghiêm túc thì không thể ra trận được.

Căn cứ vào địa hình miền nam có nhiều đầm ao, ông nghiên cứu tìm ra cách đánh thích hợp, huấn luyện quân lính sử dụng thông thạo các loại vũ khí.

Qua 1 thời gian rèn luyện, đội quân mới của ông có sức chiến đấu rất mạnh.

Tiếng tăm của "Thích gia quân" được đồn đại khắp gần xa.

Mấy năm sau, bọn giặc biển lại tập kích vào Đài Châu (nay là Lâm Hải, Triết Giang).

Thích Kế Quang dẫn quân tới.

Thấy giặc quấy phá vùng nào, ông liền dẫn quân tới vùng đó.

Bọn cường đạo ô hợp địch sao nổi đội quân được chỉ huy chặt chẽ như Thích gia quân?

Lần giao tranh nào, đội quân của Thích Kế Quang cũng giành thắng lợi.

Cuối cùng, bọn giặc biển không trụ nổi trên bờ, buộc phải rút xuống thuyền.

Thích Kế Quang lại dùng pháo lớn bắn mạnh, thuyền bọn giặc bốc cháy, 1 số lớn giặc chết cháy hoặc rơi xuống biển, số còn lại trên bờ đành ngoan ngoãn đầu hàng.

Bọn giặc biển thấy Triết Giang được phòng thủ nghiêm mật, không dám xâm phạm nữa.

Năm sau, chúng chuyển sang hoạt động vùng biển Phúc Kiến.

Chúng chia làm 2 toán, 1 toán từ Ôn Châu đi xuống phía nam, chiếm cứ Ninh Đức; 1 toán khác từ Quảng Đông đi lên phía bắc, chiếm cứ Ngưu Điền.

Hai toán giặc hỗ trợ lẫn nhau, thanh thế rất lớn.

Tướng giữ Phúc Châu không chống nổi, vội cáo cấp lên triều đình.

Triều đình lại cử Thích Kế Quang dẫn quân cứu viện.

Thích Kế Quang dẫn quân tới Ninh Đức, thấy sào huyệt bọn giặc đóng tại đảo Hoàng Dữ, cách Ninh Đức 10 dặm.

Nơi đó 4 phía là nước, địa hình rất hiểm yếu.

Bọn giặc biển xây dựng doanh trại tại đảo này, nên quân tại địa phương không dám tiến đánh chúng.

Thích Kế Quang đích thân điều tra địa hình hòn đảo này, biết được đường thủy ra đảo vừa hẹp, vừa nông.

Ngay trong đêm đó, ông hạ lệnh cho binh sĩ mang theo mỗi người 1 bó cỏ rải xuống thành 1 con đường.

Thích gia quân theo con đường đó, xuất hiện như trên trời xuống, ào ạt tiến đánh vào doanh trại bọn giặc.

Qua 1 trận chiến đấu kịch liệt, toàn bộ hơn 2000 giặc biển trên đảo bị tiêu diệt.

Đánh xong Hoàng Dữ, Thích gia quân lập tức tiến đánh Ngưu Điền.

Tới gần Ngưu Điền, Thích Kế Quang hạ lệnh: "Ta đã hành quân đường dài, người ngựa mỏi mệt, hãy nghỉ ngơi tại chỗ rồi sẽ tính sau".

Tin đó nhanh chóng truyền tới tai bọn giặc.

Chúng tin là Thích gia quân ngừng lại thật nên lơ là việc phòng bị.

Nhưng ngay tối hôm đó.

Thích Kế Quang hạ lệnh tổng công kích vào Ngưu Điền.

Bọn giặc biển không chuẩn bị ứng chiến, nên chống sao nổi sức tiến công mãnh liệt của Thích gia quân, đều trốn chạy tan tác.

Tên đầu sỏ dẫn tàn binh chạy đến Hưng Hóa, Thích Kế Quang dẫn quân truy đuổi suốt đêm, đánh tan hơn 60 cứ điểm của giặc, tiêu diệt hầu hết số giặc chạy trốn.

Khi trời sáng rõ, Thích gia quân tiến vào thành Hưng Hóa, dân trong thành mới biết bọn giặc biển vùng xung quanh đã bị tiêu diệt.

Mọi người vô cùng phấn khởi, đua nhau giết trâu, dọn rượu mang tới quân doanh úy lạo tướng sĩ.

Năm sau, bọn giặc biển lại xâm phạm Phúc Kiến, đánh chiếm Thanh Hóa.

Lúc đó, Du Đại Du đã được phục chức.

Triều đình liền cử Du Đại Du làm Tổng binh Phúc Kiến, Thích Kế Quang làm phó tổng binh.

Hai danh tướng hợp tác với nhau, đánh bại giặc biển, thu lại Hưng Hóa.

Năm 1565, 2 ông lại phối hợp đánh cho quân giặc tan tác.

Từ đó, Nụy khấu được căn bản diệt trừ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ THỜI TRÂN LÊN NÚI HÁI THUỐC


Minh Thế Tông ở ngôi hoàng đế hơn 40 năm, chỉ ăn chơi hưởng lạc.

Ông ta chỉ lo mình càng ngày càng già yếu.

Tới lúc nào đó chết đi, không còn được hưởng sung sướng nữa.

Vì vậy, vị hoàng đế tìm mọi cách để kiếm được phương thuốc trường sinh.

Năm 1336, triều đình hạ lệnh các địa phương tiến cử danh y lên phục vụ hoàng đế.

Sở vương lúc đó được phong đất ở Vũ Xương, liền tiến cử Lý Thời Trân đang làm thầy thuốc trong vương phủ của mình lên Thái y viện.

Lý Thời Trân quê ở Kỳ Châu (nay là Kỳ Xuân, Hồ Bắc), đời ông và cha đều làm thầy thuốc.

Cha ông là Lý Ngôn Văn từng nghiên cứu sâu về dược thảo, có ảnh hưởng lớn đối với xu hướng của con trai.

Từ nhỏm Lý Thời Trân thường cùng các bạn nhỏ lên núi hãi các loại dược thảo.

Lâu dần, ông nhận biết được khá nhiều loại thảo mộc cùng tên gọi từng loại, còn biết được loại nào trị được bệnh gì.

Tri thức về y dược của ông ngày càng phong phú.

Nhưng vào thời đó, làm 1 thầy thuốc bình thường không được tầng lớp trên, trong xã hội coi ra gì.

Bản thân Lý Ngôn Văn là thầy thuốc, nhưng lại bắt Lý Thời Trân đọc sách để theo đường khoa cử.

Do sự đôn đốc của cha, năm 14 tuổi Lý Thời Trân đi thi, đỗ tú tài; nhưng sau đó thi tiếp 3 lần đều không trúng cử nhân.

Mọi người đều tiếc cho ông, nhưng ông không vì thế mà buồn.

Chí nguyện của ông là làm 1 thầy thuốc chữa bệnh cho dân.

Từ đó, Lý Thời Trân 1 lòng 1 dạ theo cha học nghề y.

Đúng vào năm đó, quê ông gặp thủy tai lớn, sau khi nước rút thì nạn dịch tràn lan.

Người mắc bệnh đều là dân nghèo.

Gia đình ông không lấy gì làm sung túc, nhưng cha con ông đều hết lòng vì người nghèo.

Ai đến xin trị bệnh, họ đều hết lòng, không tính tới thù lao.

Dân chúng thấy cha con ông có y thuật cao minh, lại nhiệt tình với bà con, đều hết lòng cảm kích.

Để đi sâu vào y thuật, Lý Thời Trân đọc rất nhiều sách.

Từ thời cổ, Trung Quốc có đã có nhiều y thư.

Người thời Hán đã viết nên "Thần Nông bản thảo kinh".

Trong hàng ngàn năm sau đó, không ngừng xuất hiện nhiều tác phẩm y học.

Lý Thời Trân thường xem bệnh cho các vương công quý tộc địa phương, trong nhà họ thường có nhiều sách vở.

Vì quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân nên Lý Thời Trân thường mượn sách vở của họ về xem.

Nhờ vậy, học vấn của ông ngày càng uyên bác, y thuật cũng ngày càng tinh thông.

Tiếng tăm của Lý Thời Trân càng ngày càng vang dội.

Bệnh nhân được ông chữa khỏi ca ngợi và truyền bá tiếng tăm của ông đi khắp nơi.

Vì vậy, người ở các châu huyện khác cũng tới xin ông chữa bệnh..

Một lần, con trai Sở vương mắc bệnh động kinh.

Trong vương phủ tuy cũng có thầy thuốc nhưng không ai chữa khỏi được.

Cậu bé đó là con trai nối dõi của Sở vương, nên ông lại càng lo lắng.

Nhờ có người mách, Sở vương lập tức cho mời Lý Thời Trân đến vương phủ.

Lý Thời Trân quan sát sắc mặt và xem mạch, biết bệnh của cậu bé là do ruột và dạ dày gây ra.

Ông kê 1 đơn thuốc điều trị rồi cho người đến hiệu lấy thuốc cho cậu bé uống.

Quả nhiên chỉ ít hôm, cậu bé hoàn toàn khỏi bệnh.

Sở vương hết sức phấn khởi, khẩn khoản mời ông ở lại vương phủ.

Không lâu sau, tiếp được lệnh trưng triệu nhân tài của triều đình.

Để lấy lòng Minh Thế Tông, Sở vương liền cử Lý Thời Trân lên Thái y viện.

Thái y viện là cơ quan chữa bệnh tối cao của quốc gia, nhưng lúc đó Minh Thế Tông không hề coi trọng y học chân chính, mà chỉ mê tín 1 số phương sĩ bịp người, cho dựng phòng giảng đạo, phòng luyện đan; hòng dùng những pháp thuật đó để đạt tới trường sinh bất lão.

Lý Thời Trân là 1 thầy thuốc chân chính, không chịu được hoàn cảnh sặc mùi nhảm nhí lộn xộn đó, nên ở Thái y viện được 1 năm, ông liền xin từ chức.

Sau khi từ quan, trên đường về nhà, tiện đường ông ghé thăm nhiều danh sơn thắng cảnh.

Ông lên núi không phải chỉ để thưởng ngoạn phong cảnh, mà là để hái thuốc, nghiên cứu thêm tính chất các loại thảo mộc.

Một lần, ông lên núi Vũ Đương Sơn thuộc Quân Châu (nay là huyện Quân, Hồ Bắc), nghe nói ở đây có 1 loại lang mai, ăn vào có thể cải lão hoàn đồng, ai cũng gọi đó là "quả tiên".

Giới quý tộc trong cung đình coi thứ quả đó như 1 loại bảo bối, yêu cầu quan lại địa phương hàng năm phải tiến cống, và cấm dân thường không được hái.

LÝ Thời Trân vốn không tin có loại quả tiên đó.

Để làm rõ sự việc, ông phải mạo hiểm, leo trèo lên vách núi dựng đứng, cố hái lấy 1 trái lang mai đem về nhà.

Nghiên cứu kỹ lưỡng, ông thấy loại mai đó chẳng qua cũng giống các loại mai khác, chỉ có tác dụng giải khát, chứ chẳng thể giúp người ta trường sinh bất lão.

Qua quá trình chữa bệnh và nghiên cứu dược lý lâu dài, Lý Thời Trân thu thập được rất nhiều tư liệu về dược vật.

Ông phát hiện ra nhiều sai lầm trong các phẩm y dược cổ.

Ngoài ra, trải qua nhiều thời đại, người ta còn lần lượt phát hiện ra nhiều loại dược thảo chưa từng được ghi trong sách vở.

Ông xác định quyết tâm biên soạn 1 bộ sách hoàn bị về dược học.

Sau khi từ chức về nhà, ông bỏ ra gần 30 năm, viết nên bộ "Bản thảo cương mục" (Phân loại cây cỏ) nổi tiếng.

Bộ sách này ghi chép cả thảy 1892 loại cây cỏ, trình bày tính năng từng loại và đưa ra hơn 1 vạn bài thuốc.

Tác phẩm lớn này là 1 cống hiến vĩ đại về y dược học, đã góp phần phát triển quan trọng đối với nền y học và dược học Trung Quốc và thế giới.

Sau khi "Bản thảo cương mục" xuất bản (năm 1590), đã nhanh chóng lưu truyền tới nhiều nước.

Đã có các bản dịch sang tiếng Nhật, Đức, Anh, Pháp, Nga và nhiều ngôn ngữ La tinh khác.

Tác phẩm đã chiếm địa vị quan trọng trong giới y học thế giới.

Còn Minh Thế Tông, vị hoàng đế mê tín thuật luyện đan để mong trường sinh bất lão, thì không những chẳng được trường sinh, mà lại chết vì uống phải "kim đan" có chất độc.

Minh Thế Tông chết, con là Chu Tải Hậu lên ngôi.

Đó là Minh Mục Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRƯƠNG CƯ CHÍNH PHỤ CHÍNH


Khi Minh Mục Tông lên ngôi, đại học sĩ Trương Cư Chính vì có tài năng xuất chúng, rất được Mục Tông tín nhiệm.

Năm 1572, Mục Tông bị bệnh mất, thái tử Chu Hủ Quân lên nối ngôi.

Đó là Minh Thần Tông.

Mục Tông để lại di chiếu, trao cho Trương Cư Chính và 2 đại thần khác làm phụ chính.

Sau khi Minh Thần Tông lên ngôi, Trưowng Cư Chính là người đứng đầu các đại thần phụ chính.

Căn cứ lời dặn dò của Mục Tông, Trương Cư Chính đối đãi với Thần Tông như thầy dạy đối với học trò, dạy bảo cặn kẽ cho Minh Thần Tông lúc đó mới 10 tuổi.

Ông biên soạn 1 cuốn sách lịch sử cho minh họa bằng hình vẽ, đặt tên là "Đế giám đồ thuyết" để hàng ngày giảng giải cho Thần Tông.

Thần Tông thấy cuốn sách có cả hình vẽ thì rất thích, nên hào hững nghe Trương Cư Chính giảng.

Một hôm, Trương Cư Chính giảng tới Hán Văn Đế tới úy lạo quân đội ở Tế Liễu, rồi nói: "Bệ hạ nên chú ý tới việc quân bị.

Nay thiên hạ thái bình đã lâu, việc quân bị càng ngày càng lơi lỏng, cần được kịp thời chấn chỉnh".

Minh Thần Tông liên tục gật đầu khen phải.

Lại một lúc khác, Trương Cư Chính giảng về chuyện Tống Nhân Tông thích dùng châu ngọc làm đồ trang sức.

Minh Thần Tông nói: "Đúng thế!

Làm vua thì phải coi hiền thần làm bảo bối, chứ châu ngọc có tác dụng gì?".

Trương Cư Chính thấy cậu bé 10 tuổi mà nói được những câu như thế thì rất phấn khởi, liền nói tiếp: "Các bậc vua hiền đều coi trọng lương thực mà coi thường châu ngọc.

Vì trăm họ sống bằng lương thực, còn châu ngọc thì đói không dừng để ăn được, rét không dùng để mặc được".

Đối với Minh Thần Tông, Trương Cư Chính dạy dỗ hết sức nghiêm khắc, Thần Tông cũng coi Trương Cư Chính như 1 vị nghiêm sư, vừa tôn kính, vừa sợ sệt.

Lại được sự ủng hộ của thái hậu và hoạn quan Phùng Bảo, nên mọi việc lớn trong triều đều do Trương Cư Chính chủ trương.

Trương Cư Chính là 1 chính trị gia tài giỏi của triều Minh.

Sau khi nắm được thực quyền, ông cương quyết chỉnh đốn lại các mặt quân sự, chính trị, kinh tế.

Lúc đó, "nụy khấu" miền duyên hải tuy đã được dẹp yên; nhưng ở phía bắc, quý tộc Đạt Đán vẫn thường vào quấy nhiễu, tạo nên mối uy hiếp lớn với vương triều Minh.

Trương Cư Chính điều danh tướng Thích Kế Quang lên miền bắc trấn thủ Kế Châu (nay ở miền bắc tỉnh Hà Bắc).

Thích Kế Quang cho xây dựng hơn 3000 pháo đài dọc theo trường thành từ Sơn Hải Quan đến Cư Dung Quan.

Thích gia quân do có kỷ luật nghiêm minh, trang bị tốt, nên nhiều lần đánh bại được cuộc tiến công của Đạt Đán.

Thủ lĩnh Đạt Đán là Yểm Đáp phải đồng ý giảng hòa, cùng nhau thông thương.

Trương Cư Chính tâu lên hoàng đế, phong Yểm Đáp làm Thuận Nghĩa vương, trong khi qua lại thông thương với Đạt Đán, vẫn đưa biên phòng lên lập đồn điền để tăng cường phòng thủ.

Từ đó, trong khoảng hai ba chục năm, giữa triều Minh và Đạt Đán không xảy ra chiến tranh, các dân tộc ở miền bắc được sống yên ổn.

Lúc đó, đê Hoàng Hà nhiều năm không tu sửa, nước sông thường dâng tràn, nhiều đồng ruộng bị chìm ngập, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và giao thông.

Trương Cư Chính liền cử Phan Lợi Thuần là viên quan chuyên lo việc thủy lợi, đứng đầu trông coi việc xây dựng công trình thủy lợi Hoàng Hà.

Phan Lợi Thuần cho gia cố đê điều, đắp lại những chỗ bị vỡ, nên nước Hoàng Hà không còn tràn ngập như trước, giao thông được thông suốt, sản xuất nông nghiệp được khôi phục và phát triển.

Từ lâu, do triều chính thối nát, đại địa chủ thâu tóm đất đai, trốn đóng thuế, số phú hào địa chủ càng ngày càng giàu, kho tàng nhà nước cạn kiệt dần.

Trương Cư Chính cho đo lại ruộng đất, phát hiện thấy rất nhiều ruộng đất bị hoàng thân quốc thích, phú hào địa chủ giấu giếm chiếm đoạt.

Biện pháp đó đã kiềm chế được hành động phi pháp của chúng và tăng thu cho ngân khố quốc gia.

Sau khi đo lại ruộng đất, Trương Cư Chính lại cho gộp các loại thuế má và lao dịch thành 1 khoản, qui đổi thành tiền để thu vào ngân khố.

Biện pháp này được gọi là "nhất điều tiên pháp" (Luật "một ngọn roi").

Qua việc cải cách thuế má, đã ngăn ngừa được việc thông đồng kiếm lợi của quan lại; tăng thu nhập cho quốc gia và ít nhiều giảm nhẹ được đóng góp của nhân dân.

Trương Cư Chính đã thực hiện những cải cách mạnh dạn trên trong 10 năm, khiến triều Minh từ chỗ vô cùng thối nát đã có sự khởi sắc về chính trị.

Dự trữ lương thực của nhà nước khá dồi dào, có thể chi dùng trong 10 năm.

Nhưng công cuộc cải cách đó đã đụng chạm tới lợi ích của tầng lớp quý tộc và phú hào, khiến chúng tuy bề ngoài phải phục tùng, nhưng trong lòng thì căm giận Trương Cư Chính đến bầm gan tím ruột.

Năm thứ 5 khi Trương Cư Chính cầm quyền, cha ông vì già ốm nên mất tại quê nhà.

Theo lễ giáo phong kiến, ông phải từ quan về cư tang 3 năm.

Trương Cư Chính sợ rằng nếu mình rời bỏ chức vụ, thì việc cải cách đang tiến hành sẽ bị ảnh hưởng.

Do Minh Thần Tông và 1 số đại thần cố lưu giữ, ông cho con thay mình về cư tang, còn bản thân vẫn ở lại kinh thành đảm đương nhiệm vụ.

Không ít kẻ mượn cớ Trương Cư Chính không về chịu tang khi cha chết, ra sức bới móc, dâng sớ lên Minh Thần Tông vạch lỗi của ông.

Thậm chí, có kẻ còn dán cáo bạch ngoài phố công kích Trương Cư Chính, làm xôn xao cả kinh thành.

Minh Thần Tông phải hạ lệnh: kẻ nào còn chống lại việc Trương Cư Chính lưu nhậm, sẽ nhất loạt xử tử.

Việc công kích vì thế mới dẹp yên được.

Trương Cư Chính tập trung hết quyền lực.

Minh Thần Tông dần trưởng thành, nhưng không có việc gì để làm, 1 số thái giám thân cận liền bày ra các loại trò vui cho ông tiêu khiển.

Một hôm, hoàng đế uống rượu say, vô duyên vô cớ đánh 2 tiểu thái giám dở sống dở chết.

Thái hậu biết việc đó, lập tức gọi Minh Thần Tông tới trách mắng rồi gọi tả hữu mang "Hán thư – Hoắc Quang truyện" tới cho Thần Tông đọc.

Thời Tây Hán, khi Hoắc Quang phụ chính, chẳng phải có sự kiện Xương Ấp vương Lưu Hạ bị thái hậu và Hoắc Quang phế bỏ hoàng vị đó sao?

Trương Cư Chính hiện nay có địa vị như Hoắc Quang trước kia.

Thần Tông nghĩ tới điều đó thì sợ run lẩy bẩy, quì trước thái hậu xin tha tội.

Sau đó Trương Cư Chính liền cho đuổi hết số thái giám đã bày ra những chuyện nhảm nhí để rủ rê Thần Tông tham gia.

Thái hậu còn sai Trương Cư Chính khởi thảo cho Thần Tông một "tờ chiếu tự kể tội mình".

Việc đó rồi cũng qua đi, nhưng từ đó, Minh Thần Tông chuyển thái độ từ sợ hãi sang căm tức Trương Cư Chính.

Năm 1582, Trương Cư Chính bị ốm chết, Minh Thần Tông thân chấp chính.

Những đại thần trước kia vốn bất mãn với Trương Cư Chính đua nhau công kích ông đã chuyên quyền ngang ngược.

Năm sau, Minh Thần Tông lại hạ lệnh tước bỏ mọi quan tước của Trương Cư Chính, rồi cử người đến tịch thu tài sản.

Mười mấy người trong gia đình bị nhốt trong nhà, đều chết đói.

Người con lớn bị khảo đả, đã tự sát.

Toàn bộ biện pháp do Trương Cư Chính tiến hành cũng bị phế bỏ.

Nền chính trị của vương triều Minh vừa khởi sắc đã bị vùi dập và lại đi xuống.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CÁT HIỀN ĐÁNH QUAN THU THUẾ


Minh Thần Tông là 1 hôn quân tham lam vô độ.

Ông ta chạy theo cuộc sống hưởng lạc, mải mê thu thập vàng bạc châu báu, tiêu hết cả ngân khố quốc gia, rồi tùm mọi cách bòn mót, bóc lột dân chúng.

Thời kì đó, sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp đang phát triển; tại vùng ven biển đông nam, thương nghiệp cũng phát đạt.

Đặc biệt là tại Tô Châu, nghề dệt phát triển rất mạnh.

Những hộ dệt vải lụa giàu có bắt đầu mở xưởng dệt, thuê mướn thợ dệt.

Toàn thành Tô Châu có tới mấy ngàn thợ.

Cảnh tượng phồn vinh của thành phố thương nghiệp đó thấy triều Minh có thể kiếm lời.

Để thu được nhiều tiền, Minh Thần Tông liền phái hoạn quan tới 1 số thành thị thu thuế.

Loại quan thu thuế đó được gọi là thuế giám.

Bọn thuế giám không những thu tăng mọi thứ thuế mà còn hạch sách vòi vĩnh, khiến dân chúng rất khổ sở.

Năm 1601, Minh Thần Tông phái thuế giám Tôn Long tới Tô Châu thu thuế.

Tôn Long tới Tô Châu, liền câu kết với bọn thổ phỉ lưu manh, lập các trạm gác trên các ngả đường.

Mỗi khi có vải vóc tơ lụa qua lại, đều đánh thuế rất nặng.

Lái buôn không đủ tiền nộp thuế thì không dám vào thành buôn bán.

Năm đó, lại có mưa dầm suốt 2 tháng, Tô Châu bị thủy tai, bãi dâu ngập nước, nghề nuôi tằm dệt lụa đình đốn.

Bọn Tôn Long vẫn cứ đòi các hộ dệt phải nộp thuế, qui định mỗi cố máy phải nộp thuế 3 tiền, mỗi tấm lụa phải nộp 5 phân.

Vì vậy, nhiều hộ dệt phải đóng cửa, thợ dệt bị thất nghiệp.

Một hôm, có 1 người thợ dệt tên là Cát Hiền đi qua Phong Môn, thấy bọn tay sai của Tôn Long đang xúm lại đánh đập 1 người bán dưa.

Cát Hiền hỏi ra mới biết người nông dân đó gánh dưa vào thành bán, bọn chúng đòi nộp tiền thuế.

Người đó không có tiền, bị chúng thu 1 số dưa.

Đến khi bán được dưa mua 1 số lúa mang về, lại bị chúng bắt nộp thuế lúa.

Người đó không chịu nộp, liền bị chúng đánh thậm tệ.

Cát Hiền vốn thâm thù bọn thuế giám, nay thấy thế thì không nhịn được, liền hoa chiếc quạt cầm trong tay, kêu gọi mọi người đánh bọn côn đồ.

Dân chúng qua đường hưởng ứng, ào ào xông tới trạm thuế Phong Môn.

Tên thuế lại Hoàng Kiến Tiết toan chạy nhưng không thoát, bị quần chúng vây kín, người ném đá, kẻ liệng ngói khiến tên côn đồ đó vỡ đầu toác trán, chết tại chỗ.

Lúc đó, dân chúng tụ tập mỗi lúc một đông, tinh thần phản kháng bốc cao hừng hực.

Cát Hiền thấy mọi người đã đánh chết tên Hoàng Kiến Tiết, biết đã sinh chuyện lớn, liền bảo mọi người cùng tới Huyền Diệu quán bàn bạc.

Mọi người thấy đã không làm thì thôi, đã làm thì làm tới cùng, liền cử Cát Hiền và 1 số khác làm thủ lĩnh, cùng kéo nhau đi tính sổ với tên thuế giám Tôn Long.

Bọn Cát Hiền chia nhau kéo tới nhà 12 tên côn đồ, tay sai của thuế giám, châm lửa đốt nhà chúng.

Quần chúng còn lại rầm rộ kéo tới nha môn của thuế giám Tô Châu, tìm bắt Tôn Long.

Trong chốc lát, tiếng hô hét vang trời dậy đất.

Tôn Long sợ hãi rụng rời, vội trèo qua tường sau, chạy trốn về Hàng Châu.

Sau khi Tôn Long đã chạy trốn, tri phủ Tô Châu hạ lệnh tróc nã những người tham gia bạo động.

Được tin đó, Cát Hiền sợ liên lụy tới mọi người, liền tự đến nha môn Tô Châu, nói: "Chỉ một mình tôi là người cầm đầu, muốn chặt đầu mổ bụng cũng chỉ một mình tôi chịu, không liên quan gì đến người khác!".

Viên tri phủ đang lo không bắt được kẻ đầu sỏ, nay thấy Cát Hiền đến nhận, vội giam ngay vào nhà lao.

Ngay khi Cát Hiền phải vào nhà lao, hàng ngàn hàng vạn thị dân Tô Châu tụ tập lại chảy nước mắt tiễn đưa ông.

Khi đã nằm trong nhà lao, lại có hàng ngàn người mang rượu thịt quần áo đến úy lạo, thăm hỏi.

Cát Hiền chối từ không nhận thì họ nhất định không chịu về.

Cát Hiền đành nhận lấy mọi thứ và đem chia cho các bạn tù.

Bọn thống trị triều Minh thấy tình cảm quần chúng như vậy, không dám giết Cát Hiền, sau khi giam giữ 2 năm, phải thả ông ra.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NỖ NHĨ CÁP XÍCH XÂY DỰNG HẬU KIM


Nền chính trị của triều Minh ngày càng thối nát, công việc biên phòng cũng ngày càng lơi lỏng.

Trong lúc đó, 1 chi tộc của Nữ Chân – chi Nữ Chân Kiến Châu ở phía đông bắc, nhân cơ hội đó mở rộng thế lực và dần lớn mạnh lên.

Lãnh tụ của họ là Ái Tân Giác La Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích xuất thân trong 1 gia đình quý tộc thuộc chi Nữ Chân Kiến Châu.

Ông nội là Giác Xương An và cha là Tháp Khắc Thế, đều là quý tộc trong chi đó, nên được triều Minh phong là Tả vệ Kiến Châu.

Từ nhỏ, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã luyện tập cưỡi ngựa bắn cung và các môn võ thuật.

Năm 18 tuổi mẹ đẻ mất, mẹ kế đối xử tệ bạc.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích buộc phải rời gia đình, cùng các bạn nhỏ đi săn, đào nhân sâm, nhặt quả thông, hái nấm trong rừng rậm, rồi đem bán lấy tiền tự nuôi thân.

Chợ Phủ Thuận rất đông đúc, người Nữ Chân thường tới đây trao đổi lâm sản lấy đồ sắt, lương thực, muối và vải vóc.

Tại Phủ Thuận, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tiếp xúc với nhiều người Hán nên học được chữ Hán, đọc được sách Hán Văn.

Ông rất thích đọc các tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử.

Tộc Nữ Chân Kiến Châu có nhiều bộ lạc, thường đánh giết nhau.

Tổng binh triều Minh là Lý Thành Lương lợi dụng mâu thuẫn giữa các bộ lạc để cai trị.

Năm Nỗ Nhĩ Cáp Xích 25 tuổi, người đứng đầu thành Thổ Luân là Ni Kham Ngoại Lan dẫn quân Minh đánh Hà Đài là người đứng đầu Cổ Lặc Trại.

Vợ Hà Đài là cháu Giác Xương An.

An được tin, liền cùng Tháp Khắc Thế đến Cổ Lặc Trại thăm cháu.

Đúng lúc đó, quân Minh đang đánh Cổ Lặc Trại, Giác Xương An và Tháp Khắc Thế đều bị quân Minh giết chết trong khi hỗn chiến.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích gào khóc đau đớn, chôn cất ông và cha.

Nhưng thấy lực lượng quân Minh quá mạnh, ông chưa dám đánh trả mà trút mọi căm thù lên Ni Kham Ngoại Lan.

Ông tới nói với quan lại Minh: "Ni Kham Ngoại Lang là kẻ đã giết chết ông và cha tôi.

Nếu các ngài trao Ni Kham Ngoại Lang cho tôi thì tôi sẽ không động binh chống lại các ngài".

Quan lại Minh không chịu.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích uất giận trở về nhà, lấy 13 bộ khôi giáp mà cha để lại phân phát cho thủ hạ, rồi tiến đánh thành Thổ Luân.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích anh dũng thiện chiến.

Ni Kham Ngoại Lang không đánh nổi, phải chạy trốn.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích chiếm thành Thổ Luân rồi tiếp tục truy kích, thừa cơ chinh phục luôn 1 số bộ lạc Nữ Chân Kiến Châu khác.

Ni Kham Ngoại Lang trốn lủi khắp nơi, cuối cùng chạy tới Ngạc Lặc Hồn (nay ở gần Tề Tề Cáp Nhĩ – tức Xi Xi Kha Rơ) xin quân Minh bảo vệ.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích đuổi tới nơi.

Quân Minh thấy ông có thái độ quyết liệt, sợ xảy ra chiến tranh, nên để Nỗ Nhĩ Cáp Xích giết chết Ni Kham Ngoại Lang.

Sau khi diệt được Ni Kham Ngoại Lang, thanh thế Nỗ Nhĩ Cáp Xích trở nên vang dội.

Mấy năm sau, ông thống nhất các bộ lạc Nữ Chân Kiến Châu.

Điều này, khiến các chi Nữ Chân khác sợ hãi.

Tộc Nữ Chân lúc đó có 3 chi, ngoài Nữ Chân Kiến Châu, còn có Nữ Chân Hải Tây và Nữ Chân Dã Nhân.

Trong chi Nữ Chân Hải Tây có bộ lạc Diệp Hách là mạnh nhất.

Năm 1593, bộ lạc Diệp Hách liên hợp với 9 bộ lạc Nữ Chân và Mông Cổ, tập hợp được 3 vạn quân, chia làm 3 đường tiến đánh Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích nghe tin 9 bộ lạc tiến đánh, đã chuẩn bị nghinh chiến chu đáo.

Ông cho mai phục quân tinh nhuệ trên đường và bố trí gỗ đá trên các sườn núi.

Mọi việc thu xếp xong, ông bình thản đi ngủ.

Vợ ông thấy thế rất lo, đánh thức ông dậy nói: "Quân của chín bộ lạc kéo đến đánh mà ông còn đi ngủ được sao?

Chẳng lẽ vì sợ quá mà đâm lú lẫn chăng?".

Nỗ Nhĩ Cáp Xích cười nói: "Nếu ta sợ, thì sao còn ngủ được?".

Hôm sau, thám tử về báo là quân địch rất đông, tướng sĩ nghe nói đều có vẻ sợ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, liền giải thích: "Đừng sợ!

Hiện nay chúng ta đã chiếm địa hình hiểm yếu.

Quân địch tuy đông nhưng là lũ ô hợp, nhất định sẽ trông chờ, dựa dẫm lẫn nhau.

Nếu toán nào xông lên trước, ta giết một vài tên cầm đầu, là tất cả bọn chúng phải rút chạy thôi!".

Quân của 9 bộ lạc tới Cổ Lặc Sơn, quân Kiến Châuđã bố trí nghiêm chỉnh trên núi sẵn sàng đối phó.

Trước hết, Nỗ Nhĩ Cáp Xíchcho hơn 100 kỵ binh ra khiêu chiến.

Một thủ lĩnh bộ lạc Diệp Hách xông tới, bịcọc gỗ làm ngựa ngã lăn quay, quân Kiến Châu xông lên chém giết hắn tại trận, 1thủ lĩnh khác thấy vậy sợ quá ngất xỉu.

Liên quân 5 bộ lạc vì vậy mất chỉ huytan tác trốn chạy.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích thừa thắng cho truy kích, đánh tan quân DiệpHách.

Mấy năm sau, về cơ bản, ông đã thống nhất được toàn thể các bộ lạc NữChân.

Trong quá trình thống nhất tộc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích phân Nữ Chânthành 8 "kỳ".

Kỳ vừa là đơn vị hành chính, vừa là tổ chức quân sự.

Dưới mỗi kỳcó nhiều "ngưu lục".

Mỗi ngưu lục gồm 300 người, thời bình làm ruộng, săn bắn,thời chiến thì đánh trận.

Cách tổ chức như vậy vừa thúc đẩy sản xuất, vừa tăngcường lực lượng chiến đấu.

Để làm cho triều Minh tê liệt cảnh giác, Nỗ Nhĩ CápXích vẫn triều cống xưng thần.

Triều Minh thấy thái độ Nỗ Nhĩ Cáp Xích cungkính phục tùng, liền phong ông làm Long Hổ tướng quân.

Ông còn nhiều lần tới BắcKinh, tận mắt quan sát mọi tình hình triều Minh.

Năm 1616, thấy thời cơ đãchín, liền lên ngôi hãn ở Hách Đồ A Lạp (nay ở gần Tân Tân, Liêu Ninh) với sựnhiệt tình ủng hộ của quý tộc cả 8 kỳ, lấy quốc hiệu là Đại Kim.

Để phân biệt vớitriều Kim trước kia, lịch sử gọi triều đại này là Hậu Kim.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐẠI CHIẾN SÁC XUY


Sau khi lập nên Hậu Kim, Nỗ Nhĩ Cáp Xích để ra 2 năm tiến hành chỉnh đốn nội bộ, phát triển sản xuất, mở rộng binh lực.

Năm 1618, Nỗ Nhĩ Cáp Xích triệu tập thủ lĩnh và tướng lĩnh 8 kỳ tới làm lễ thệ sư, tuyên bố có 7 mối thù với triều Minh, gọi là "thất đại hận".

Mối thù thứ nhất là triều Minh đã vô cớ gây sự, giết mất ông và cha Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Để trả mối thù ấy, cần khởi binh chinh phạt triều Minh.

Hôm sau, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đích thân dẫn 2 vạn người ngựa tiến đánh Phủ Thuận. trước hết, ông viết thư cho tướng Minh giữ Phủ Thuận, gọi hàng.

Tướng Lý Vĩnh Phương thấy thế quân Kim quá mạnh, liệu sức không chống đỡ nổi, phải đầu hàng.

Quân Kim bắt được người ngựa và gia súc tới 30 vạn.

Tuần phủ Liêu Đông của triều Minh cử quân tới cứu Phủ Thuận, bị quân Kim đánh chặn tan tác giữa đường.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích ra lệnh phá hủy thành Phủ Thuận, đem toàn bộ chiến lợi phẩm về Hách Đồ A Lạp.

Tin tức truyền tới Bắc Kinh, Minh Thần Tông cả giận, cử Dương Cảo làm kinh lược Liêu Đông để thảo phạt quân Kim.

Dương Cảo vội vã điều binh khiển tướng, tập trung được 10 vạn người ngựa.

Năm 1619, Dương Cảo chia quân làm 4 cánh do 4 quan tổng binh dẫn đầu nhằm Hách Đồ A Lạp tiến phát.

Cánh giữa bên trái do tổng binh Sơn Hải Quan là Đỗ Tùng chỉ huy, cánh giữa bên phải do tổng binh Liêu Đông là Lý Như Bá chỉ huy, cánh bắc do tổng binh Khai Nguyên là Mã Lâm chỉ huy, cánh nam do tổng binh Lưu Dương là Lưu Đĩnh chỉ huy.

Để hư trương thanh thế, triều Minh phao lên là đại quân gồm 47 vạn.

Dương Cảo đóng đại bản doanh tại Thẩm Dương để chỉ huy toàn cục.

Lúc đó, binh lực quân Kim, cộng cả 8 kỳ lại cũng chỉ có hơn 6 vạn.

Một số tướng lĩnh Kim nhận được tin đại quân Minh tiến đánh, hơi tỏ vẻ lo ngại, liền tìm đến Nỗ Nhĩ Cáp Xích xin ông nghĩ cách đối phó.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích bình tĩnh nói: "Đừng sợ!

Mặc chúng tới từ mấy hướng, ta cứ đón đánh một hướng đã!".

Qua trinh sát, Nỗ Nhĩ Cáp Xích biết quân Minh ở cánh giữa phía trái là quân chủ lực do Đỗ Tùng chỉ huy, từ Phủ Thuận đang tiến tới, liền tập trung binh lực đối phó trước.

Đỗ Tùng là 1 danh tướng đã trải qua bách chiến.

Sau khi xuất phát từ Phủ Thuận, gặp trời xuống tuyết lớn, nhưng ông ta muốn lập công đầu nên mặc cho khí hậu khắc nghiệt, vẫn đôn đốc tướng sĩ hành quân.

Trước hết, ông ta đánh chiếm Sác Xuy (nay ở phía đông Phủ Thuận, Liêu Ninh), sau đó chia quân làm đôi, một nửa ở lại giữ Sác Xuy, tự mình dẫn số tinh binh còn lại tiến đánh thành Giới Phiên của Kim (nay ở tây bắc Tân Tân).

Thấy Đỗ Tùng phân tán binh lực, Nỗ Nhĩ Cáp Xích mừng thầm, liền tập trung binh lực của 8 kỳ, đánh chiếm lại Sác Xuy, cắt đứt đường lui của Đỗ Tùng.

Sau đó, ông cho hành quân gấp tới cứu Giới Phiên.

Quân Minh đang đánh Giới Phiên, thấy bị bọc phía sau, lòng quân đều nao núng.

Quân Kim đang giữ Giới Phiên, từ trên núi đánh ép xuống, khiến quân Đỗ Tùng tan tác.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích dẫn đại quân tới, vây quân Minh trùng trùng lớp lớp.

Đỗ Tùng tả xung hữu đột mong phá vây, bị 1 mũi tên bắn trúng đầu, ngã lộn xuống chết dưới chân ngựa.

Quân Minh bị giết phơi thây khắp núi, máu chảy thành sông.

Thế là cánh quân thứ nhất bị tiêu diệt toàn bộ.

Cánh quân phía bắc của Mã Lâm xuất phát từ Khai Nguyên (nay thuộc Liêu Ninh) vừa tới cách Sác Xuy 40 dặm, thì nhận được tin Đỗ Tùng đã thảm bại, liền cuống cuồng đổi thế công thành thế thủ, dựa vào núi, dựng doanh trại, đào 3 vòng hào để phòng thủ.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích dẫn quân 8 kỳ hành quân liên tục từ Giới Phiên tới, đánh phá tan tành doanh trại Minh.

Mã Lâm liều chết mở đường tháo chạy trở về Khai Nguyên.

Thế là cánh quân thứ 2 cũng thất bại.

Dương Cảo đang ngồi tại Thẩm Dương chờ tin thắng trận, nào ngờ liền trong 2 ngày đều được tin thảm bại.

Tới lúc đó, ông ta mới biết lực lượng Nỗ Nhĩ Cáp Xích là ghê gớm, vội phái ngựa trạm đi phi báo cho 2 cánh quân còn lại ngừng tiến quân.

Lý Như Bá, tổng binh Liêu Đông chỉ huy cánh giữa bên phải, vốn là kẻ nhát gan, hành động chậm chạp, vừa nhận được lệnh Dương Cảo, liền cho lui quân.

Có lần, 20 quân Kim đi tuần tiễu phía xa, thấy quân Minh rút, liền thét to dọa dẫm.

Quân Lý Như Bá ngỡ phía sau có nhiều quân Kim đuổi theo, liền chen nhau chạy dẫm đạp lên nhau, tự làm bị thương 1 số lớn.

Còn lại cánh quân phía nam của Lưu Đĩnh đã dẫn quân vào sâu trận địa quân Kim, không hề biết tin các cánh quân khác thua trận.

Lưu Đĩnh là mãnh tướng nổi tiếng của quân Minh, sở trường sử dụng 1 thanh đại đao nặng 120 cân (=60kg), múa nhanh như chớp, có biệt danh là "Lưu đại đao".

Quân Lưu Dĩnh có kỷ luật nghiêm minh, trang bị tốt.

Sau khi vào sâu đất Kim, cánh quân này liên tục chiếm được mấy doanh trại.

Biết Lưu Đĩnh là tướng kiêu dũng, Nỗ Nhĩ Cáp Xích không sử dụng sức mạnh, mà dùng mẹo lừa.

Ông dùng 1 hàng binh Minh đóng vai hạ bộ của Đỗ Tùng, mang thư đến cho Lưu Đĩnh, báo tin Đỗ Tùng đã tới chân thành Hách Đồ A Lạp, chỉ đợi Lưu Đĩnh tới là hợp sức đánh thành.

Lưu Đĩnh vì không nhận được lệnh của Dương Cảo, tưởng thật, sợ 1 mình Đỗ Tùng lập được công, liền hạ lệnh hỏa tốc tiến quân.

Con đường này chật hẹp, không, không thể đi hàng đôi, chỉ có thể đi từng người một.

Lưu Đĩnh vừa đi 1 đoạn, bỗng thấy bốn bề nổi lên tiếng hô "giết", phục binh Kim đầy núi đầy khe đang xông tới chém giết.

Lưu Đĩnh đang hoảng hốt, lại thấy 1 toán quân mặc khôi giáp Minh, mang cờ Minh, giả làm quân của Đỗ Tùng đến cứu.

Lưu Đĩnh không nghi ngờ, dẫn quân tiến vào giữa đám quân Minh giả đó.

Quân Kim phối hợp trong ngoài từ mọi phía đánh tới khiến hàng ngũ quân Minh rối loạn.

Lưu Đĩnh tuy dũng cảm, võ nghệ cao cường, đánh giết được 1 số quân Kim, nhưng cuối cùng không thể chống nổi quân Kim đông đảo, 2 cánh tay đều bị thương ngã nhào xuống chết tại trận.

Cuộc chiến tranh đó chỉ diễn ra trong 5 ngày, 10 vạn quân dưới quyền Dương Cảo bị tiêu diệt quá nửa, 300 quan văn võ bị giết.

Đó là "Trận Sác Xuy" nổi tiếng trong lịch sử.

Sau trận Sác Xuy, thực lực triều Minh suy giảm nhiều, quân Kim tiếp ép từng bước.

Hai năm sau, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lại dẫn đại quân 8 kỳ, liên tiếp đánh chiếm 2 cứ điểm quan trọng vùng Liêu Đông là Thẩm Dương và Lưu Dương.

Tháng 3 năm 1625, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dời đô tới Thẩm Dương, đổi tên Thẩm Dương thành Thịnh Kinh.

Từ đó về sau, Hậu Kim trở thành mối uy hiếp với triều Minh.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TỪ QUANG KHẢI NGHIÊN CỨU TÂY HỌC


Bốn cánh quân do Dương Cảo thống lĩnh hầu như bị tiêu diệt tại Sác Xuy khiến toàn thể bá quan văn võ triều Minh chấn động.

Tất cả tề tựu ngoài cửa cung, kêu xin Minh Thần Tông chiêu mộ quân, tăng quân phí để chống lại triều Kim.

Từ Quang Khải, 1 quan chức trong Hàn Lâm Viện liên tục dâng lên 3 bản tấu chương, trình bày kế sách giữ nước.

ông cho rằng muốn cứu vãn đất nước thì cần tuyển chọn nhân tài, huấn luyện tân binh và xin tình nguyện đảm nhận việc huấn luyện binh đó.

Minh Thần Tông nghe nói Từ Quang Khải hiểu biết việc quân, liền cử ông tới Thông Châu luyện binh.

Từ Quang Khải là người Thượng Hải.

Trước khi ông ra đời, vùng này bị nụy khấu quấy nhiễu cướp phá nặng nề. khi ông còn nhỏ, đã nghe cha kể lại chuyện nhân dân anh dũng đánh lại giặc như thế nào, nên đã sớm nảy sinh lòng yêu nước.

Khi trưởng thành, Từ Quang Khải học tập và đi thi, dọc đường qua Nam Kinh, nghe nói ở đó có 1 giáo sĩ truyền giáo từ phương tây tới, tên là Li Ma Tâu, thường truyền bá các tri thức khoa học phương tây.

Giới trí thức ở Nam Kinh thích nói chuyện với giáo sĩ.

Từ Quang Khải nhờ người khác giới thiệu, làm quen với giáo sĩ này.

Ông nghe những điều giảng giải, cảm thấy đó là những tri thức chưa từng được nói tới trong sách cổ.

Từ đó về sau, ông có hứng thú sâu sắc với khoa học phương tây.

Vị giáo sĩ phương tây truyền bá kiến thức khoa học nhằm mục đích mở đường cho việc truyền giáo.

Ông ta thấy muốn mở rộng việc truyền giáo thì phải được sự ủng hộ của hoàng đế.

Lúc đó, triều Minh không cho các giáo sĩ tới truyền giáo ở Bắc Kinh.

Ông ta muốn nhờ 1 đại thần tâu xin giúp với Minh Thần Tông, đồng thời còn tìm cách chạy chọt qua 1 hoạn quan là Mã Đường, gửi dâng Minh Thần Tông 1 cuốn kinh thánh, 1 tấm hình Đức Bà và mấy chiếc đồng hồ kiểu mới có thể tự động đánh chuông theo giờ.

Minh Thần Tông không hiểu kinh thánh, cũng không biết Đức Bà là ai, nhưng lại rất thích mấy chiếc đồng hồ kiểu mới.

Hoàng đế liền hạ lệnh cho Mã Đường dẫn vị giáo sĩ phương tây vào bệ kiến.

Trong buổi tiếp, Minh Thần Tông hỏi kỹ về phong tục tập quán phương tây.

Li Ma Tâu vốn là người Italia, nhưng để lòe bịp khoe khoang, ông ta tự xưng mình là người nước "Đại Tây Dương".

Đại thần trong triều mở bản đồ ra tra cứu, không thấy nước Đại Tây Dương ở đâu, cho rằng ông ta có lai lịch bất minh, nên tâu xin Minh Thần Tông đuổi đi.

Nhưng Minh Thần Tông không nghe theo, lại thưởng cho vị giáo sĩ nọ tặng phẩm và tiền bạc, cho phép ông ta lưu lại Bắc Kinh truyền giáo.

Nhờ sự cho phép của hoàng đế, quan hệ của giáo sĩ với các quan trong triều trở nên dễ dàng hơn.

Mấy năm sau, Từ Quang Khải thi đỗ tiến sĩ, cũng về Bắc Kinh nhận chức tại viện Hàn Lâm.

Ông cho rằng học tập khoa học phương tây là việc có ích cho sự cường thịnh của quốc gia, liền quyết tâm nhận Li Ma Tâu làm thầy, học ở vị giáo sĩ này các kiến thức về thiên văn, toán học, đo lường và phương pháp chế tạo vũ khí.

Một hôm, Từ Quang Khải đến thăm vị giáo sĩ, qua trò chuyện, được biết ở phương tây có 1 cuốn sách toán học do nhà toán học cổ đại Hy Lạp Ơclit viết ra, có tên "Cơ sở hình học".

Đáng tiếc, việc dịch sang tiếng Hán rất khó, ngoài khả năng của vị giáo sĩ đó.

Từ Quang Khải nói: "Cuốn sách hay như thế, tiên sinh vui lòng giảng giải, thì dù có khó thế nào, tôi cũng sẽ cố gắng phiên dịch".

Từ đó, chiều chiều, sau khi rời khỏi Viện Hàn Lâm, Từ Quang Khải lại tới nhà vị giáo sĩ, cùng hợp tác với ông để dịch cuốn "Cơ sở hình học".

Giáo sĩ dùng lời lẽ, cử chỉ và hình vẽ để trình bày vấn đề.

Từ Quang Khải lĩnh hội và viết thành Hán văn.

Thời đó, chưa từng có ai dịch thuật trước tác toán học nước ngoài, nên muốn truyền đạt lại nguyên tác cho thật chuẩn xác, thật không đơn giản.

Từ Quang Khải bỏ ra hơn 1 năm, cân nhắc từng câu từng chữ, viết đi sửa lại, cuối cùng đã hoàn thành việc phiên dịch 6 quyển đầu của "Cơ sở hình học".

Ngoài cuốn "Cơ sở hình học", Từ Quang Khải còn hợp tác với Li Ma Tâu và 1 giáo sĩ khác phiên dịch 1 số trước tác về đo lường và thủy lợi.

Sau đó, ông lại dựa trên cơ sở nghiên cứu lịch pháp cổ đại Trung Quốc, hấp thụ những tri thức khoa học mới nhất của Châu Âu về lịch pháp và thiên văn, tiến hành công tác nghiên cứu đạt tới trình độ khá cao.

Từ Quang Khải không những ham thích khoa học, mà còn rất quan tâm tới nỗi khổ của dân chúng.

Năm cha ông mất, ông về Thượng Hải chịu tang.

Mùa hè năm đó, miền Giang Nam gặp thủy tai lớn, nước làm ngập hết ruộng lúa nước và cánh đồng lúa mạch.

Sau khi nước rút, đồng ruộng xơ xác không thu hoạch được gì.

Từ Quang Khải rất lo lắng.

Ông nghĩ, nếu không trồng bổ sung 1 số hoa màu thì tới mùa xuân nạn đói sẽ lan tràn.

Vừa may lúc đó, 1 người bạn ở Phúc Kiến có mang tới 1 số mầm khoai lang.

Từ Quang Khải trồng thử, thấy khoai mọc rất nhanh.

Sau đó, ông viết 1 cuốn sách nhỏ phổ biến rộng rãi cách trồng khoai lang.

Vì vậy, khoai lang vốn chỉ được trồng ở Phúc Kiến, đã được di thực khắp vùng Giang-Triết.

Lần này, Từ Quang Khải đề xuất chủ trương luyện binh, được Minh Thần Tông phê duyệt nên tràn đầy hy vọng, mong nhanh chóng xây dựng được 1 đội quân mới, tăng cường lực lượng quốc phòng.

Ngờ đâu, bộ máy hành chính thối nát, làm cản trở mọi việc.

Cơ quan luyện binh thành lập đã 1 tháng, Từ Quang Khải xin người không được người, xin tiền cũng chẳng có tiền, không tiến hành được việc gì.

Sau đó, ông chạy vạy vất vả xin được 1 ít tiền, vội đến Thông Châu kiểm tra số người đã chiêu tập.

Trong 7000 tân binh, đại đa số đều là già yếu, thương tật; chỉ có 2000 người tạm đủ tiêu chuẩn, nếu tuyển lựa kỹ thì chẳng được bao nhiêu.

Ông hết sức thất vọng, liền xin từ chức.

Năm 1620, Minh Thần Tông chết, con là Minh Quang Tông Chu Thường Lạc vừa nối ngôi cũng chết luôn.

Cháu Thần Tông là Chu Do Hiệu kế vị.

Đó là Minh Hy Tông.

Từ Quang Khải trở lại kinh thành.

Ông thấy Hậu kim càng ngày càng uy hiếp nghiêm trọng, liền ra sức tâu xin triều đình cho chế tạo nhiều pháo lớn theo kiểu phương tây.

Vì chuyện này, ông va chạm với Binh bộ thượng thư và bị chèn ép bật khỏi triều đình.

Từ Quang Khải trở về Thượng Hải, đã là 1 ông già ngoại 60.

Ông vốn rất có hứng thú về nghiên cứu nông nghiệp, nên về tới quê nhà, lại tự tham gia lao động, tiến hành 1 số thí nghiệm.

Sau đó, ông tập hợp thành quả nghiên cứu của mình, viết nên tác phẩm "Nông chính toàn thư".

Trong tác phẩm này, ông đã ghi chép tỉ mỉ về nông cụ, thổ nhưỡng, thủy lợi, bón phân, chọn giống, chết ghép cây.

Vì vậy, tác phẩm "Nông chính toàn thư" của ông đáng được coi là 1 cuốn bách khoa toàn thư về nông nghiệp thời cổ của Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TẢ QUANG ĐẨU VÀO NGỤC


Cuối đời Minh Thần Tông, có 1 viên quan là Cố Hiến Thành, vì mạnh dạn can ngăn thẳng thắn, đắc tội với Thần Tông, bị cách chức.

Ông trở về quê nhà ở Vô Tích (nay là Vô Tích, Giang Tô) hợp tác với mấy người bạn cùng chí hướng mở 1 trường học ở cửa đông, đặt tên là Đông Lâm thư viện. thư sinh quanh vùng đó nghe danh ông là người có học vấn cao, liền đua nhau tới Vô Tích nghe ông giảng sách.

Cố Hiến Thành rất căm ghét nền chính trị thối nát đương thời, nên trong khi giảng sách, đôi lúc có đề cập tới triều chính và phê phán 1 số đại thần đương thời.

Những người nghe giảng đều thấy Cố Hiến Thành là nghị luận xác đáng.

Một số đại thần trong triều đồng tình với ông.

Tiếng tăm của Đông Lâm thư viện ngày càng lớn.

Một số quan liêu quý tộc bị phê phán thì vô cùng căm tức ông.

Chúng gọi những người ủng hộ Đông Lâm thư viên Đông Lâm đảng nhân.

Khi Minh Hy Tông vừa lên ngôi, 1 số đại thần ủng hộ Đông Lâm đảng nắm quyền, có uy tín nhất trong số đó, phải kể tới Dương Liên và Tả Quang Đẩu.

Một lần, triều đình cử Tả Quang Đẩu tới vùng phụ cận kinh thành tiến hành thị sát, đồng thời phụ trách giám khảo cuộc thi ở đó.

Một hôm, gió bấc nổi mạnh, tuyết bay mù mịt.

Tả Quang Đẩu uống mấy chén rượu, bỗng nổi hứng, dẫn mấy tùy tòng cưỡi ngựa ra vùng ngoại ô chơi tuyết.

Họ tới 1 ngôi chùa cổ, khung cảnh rất u tĩnh, Tả Quang Đẩu liền quyết định vào đó nghỉ 1 lát.

Họ xuống ngựa, đẩy cánh cửa khép hờ, bước vào chùa, thì thấy trong gian phòng cạnh hành lang bên trái, có 1 thư sinh đang gục xuống bàn ngủ gà ngủ gật, trên bàn để mấy quyển văn đầy chữ.

Tả Quang Đẩu tới gần, cầm lên xem kỹ.

Mấy quyển văn đó không những chữ viết đẹp đẽ mà văn chương lại rất hay.

Tả Quang Đẩu vừa xem vừa khen thầm.

Ông đặt mấy quyển văn xuống, định quay ra, liền chợt nghĩ, ngoài trời đang xuống tuyết lớn, thời tiết rất lạnh mà chàng thư sinh này chỉ có 1 tấm áo mỏng, nằm ngủ dễ bị cảm lạnh lắm.

Ông không do dự, cởi ngay tấm áo khoác lông chồn, nhẹ nhàng đắp cho chàng.

Tả Quang Đẩu đi ra, khép cửa lại, bảo mấy người tùy tòng tới hỏi các nhà sư, mới biết chàng thư sinh đó tên là Sử Khả Pháp, vừa tới kinh thành chờ dự thi.

Ông thầm ghi nhớ lấy cái tên đó.

Đến ngày thi, Tả Quang Đẩu vào trong sảnh đường.

Một tiểu lại đang đọc to danh sách thí sinh.

Khi gọi đến tên Sử Khả Pháp, Tả Quang Đẩu chú ý theo dõi người lên nộp quyển thi, thì thấy đúng là chàng thư sinh trong chùa hôm trước.

Trong cuộc thi đó, Sử Khả Pháp được Tả Quang Đẩu lấy đỗ đầu.

Sau kỳ thi, Tả Quang Đẩu tiếp Sử Khả Pháp trong dinh mình, khuyên Sử Khả Pháp nên tiếp tục cố gắng, rồi dẫn vào nhà trong chào Tả phu nhân.

Ông khen ngợi Sử Khả Pháp trước Tả phu nhân: "Mấy đứa trong nhà ta đều không có tài.

Kế thừa sự nghiệp của tôi sau này, chỉ trông mong vào chàng trai này thôi!".

Từ đó về sau, Tả Quang Đẩu đối đãi với Sử Khả Pháp theo tình thầy trò rất thân mật.

Gia đình Sử Khả Pháp rất nghèo, Tả Quang Đẩu bảo chàng tới ở trong dinh mình, tự mình hướng dẫn chàng đọc sách.

Có lần, tuy đã làm việc công tới đêm khuya nhưng Tả Quang Đẩu vẫn tới phòng Sử Khả Pháp, 2 người hào hứng trao đổi về học thuật, quên cả ngủ.

Tả Quang Đẩu và Dương Liên 1 lòng 1 dạ lo chỉnh đốn lại triều chính.

Nhưng Minh Hy Tông là 1 ông vua cực kỳ ngu tối, chỉ nghe theo lời tên hoạn quan nham hiểm là Ngụy Trung Hiền, cho Ngụy Trung Hiền chỉ huy cơ quan đặc vụ - đông xưởng.

Dựa vào đặc quyền trong tay, Ngụy Trung Hiền kéo bè kết đảng, mua quan bán tước, làm đủ chuyện xấu xa.

Một số quan chức xưa nay vốn chống lại Đông Lâm đảng liền hùa theo Ngụy Trung Hiền.

Lịch sử gọi bọn này là "Yêm đảng" (Yêm: thiến, hoạn).

Dương Liên phẫn nộ trước hành động của "Yêm đảng" liền mạnh dạn dâng 1 tấu chương vạch ra 24 tội của Ngụy Trung Hiền. tả Quang Đẩu cũng hết lòng ủng hộ ông.

Thế là các ông đã rước họa vào thân.

Năm 1625, Ngụy Trung Hiền và Yêm đảng của hắn đã cấu kết với nhau công kích Dương Liên, Tả Quang Đẩu là Đông Lâm đảng rồi thuê dệt tội trạng, bắt họ giam vào nhà ngục, dùng cực hình buộc phải cung khai.

Sau khi Tả Quang Đẩu bị bắt, Sử Khả Pháp bối rối không biết làm thế nào.

Mỗi ngày từ sáng tới chiều, chỉ quanh quẩn trước nhà lao, tìm cơ hội vào gặp thầy dạy của mình.

Nhưng Yêm đảng giam giữ Tả Quang Đẩu rất nghiêm ngặt, không cho ai thăm hỏi.

Trong nhà ngục, mặc dù chịu mọi cực hình, Tả Quang Đẩu vẫn kiên quyết không khuất phục. sử Khả Pháp nghe nói Tả Quang Đẩu bị tra tấn dã man sắp chết, liền không quản nguy hiểm, đưa 50 lạng bạc cho tên coi ngục, khẩn khoản xin hắn cho vào gặp thầy dạy lần cuối cùng.

Xiêu lòng trước mối lợi và lời cầu khẩn khoản, tên cai ngục liền tìm cách giúp ông.

Tối hôm đó, Sử Khả Pháp mặc bộ quần áo rách rưới cải trang làm người đi nhặt phân, đi giày cỏ, khoát sọt đựng phân, tay cầm xẻng, đi theo ngục tối vào phòng giam.

Tới phòng giam, Sử Khả Pháp thấy Tả Quang Đẩu ngồi trong 1 góc, khắp người thương tích, mặt đã biến dạng, không nhận ra nổi, chân trái bị gãy lòi xương ra.

Sử Khả Pháp thấy vậy, quá đau lòng, tiến tới quỳ xuống ôm Tả Quang Đẩu, khóc ròng.

Tả Quang Đẩu mặt mũi sưng vù, không mở được mắt, nhưng nghe tiếng khóc, biết là Sử Khả Pháp.

Ông dùng tay cố sức vạch mắt ra, 2 tròng mắt giận dữ như bốc lửa, lớn tiếng mắng: "Đồ ngu xuẩn!

Ngươi đã biết đây là nơi thế nào mà còn tìm đến! sự thể đất nước đã đến bước này, ta đã không làm gì được nữa, ngươi lại liều thân tới đây, lỡ chúng phát hiện được thì công việc sau này trông cậy vào ai?".

Sử Khả Pháp vẫn khóc lóc sụt sùi.

Tả Quang Đẩu giận dữ nói" "Ngươi không cút ngay ra thì ta cho ngươi chết ở đây, khỏi cần tới bàn tay bọn gian thần nữa!".

Nói xong, ông giơ cao xiềng xích trong tay, làm như sắp bổ xuống đầu Sử Khả Pháp.

Sử Khả Pháp không dám nói gì nữa, đành nén đau thương, lui ra.

Mấy hôm sau, Tả Quang Đẩu và Dương Liên bị bọn Ngụy Trung Hiền giết hại.

Sử Khả Pháp lại bỏ ra 1 món tiền, nhờ ngục tốt giúp đỡ mới nhận được thi thể Tả Quang Đẩu mang về chôn cất.

Nhớ lại tình cảnh trong nhà ngục, ông rớt nước mắt nói: "Tấm lòng của thầy ta thật là gan thép".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
MỘ NĂM NGƯỜI


Ngụy Trung Hiền giết hại Dương Liên, Tả Quang Đẩu xong, lũng đoạn hoàn toàn về quân sự, chính trị.

Hắn thăng chức cho 1 loạt các quan chức trong bè đảng và cả lũ con cháu của chúng vào các chức vụ quan trọng trong triều.

Trong số đó, kẻ thì bày mưu đặt kế, kẻ thì chuyên làm việc dò xét, giết người.

Dân gian đặt cho chúng những biệt hiệu, nào là "ngũ hổ", "ngũ bưu" (bưu: hổ con), "thập cẩu", nào là "thập hài nhi", "tứ thập tôn".

Quyền lực của Ngụy Trung Hiền lớn tới mức, bất kì quan chức trong triều hay tại địa phương, hễ muốn giữ được địa vị, đều phải xu phụng chúng.

Khi Ngụy Trung Hiền ra khỏi nhà, bao giờ cũng trưng cờ kiệu như hoàng đế, mọi người cũng phải đối đãi với hắn như với hoàng đế.

Thời phong kiến, hoàng đế được xưng "vạn tuế", Ngụy Trung Hiền không phải là hoàng đế, đương nhiên không thể xưng "vạn tuế".

Một viên quan liền gọi Ngụy Trung Hiền là "Cửu thiên tuế".

Hắn nghe gọi thế thì rất phấn khởi, liền trọng thưởng cho kẻ khéo nịnh đó.

Từ đó về sau, Ngụy Trung Hiền liền trở thành "Cửu thiên tuế".

Có viên tuần phủ Triết Giang muốn lấy lòng Ngụy Trung Hiền, liền xây cho hắn 1 ngôi từ đường.

Nói chung, từ đường là đền thờ người đã chết, nay Ngụy Trung Hiền còn sống, mà làm từ đường, nên gọi là "sinh từ" (đền thờ sống).

Việc kỳ quái đó xuất hiện, có 1 số người có ý kiến phản đối, lập tức họ bị Ngụy Trung Hiền cách chức.

Quan lại địa phương khác sợ đắc tội với Ngụy Trung Hiền, liền đua nhau xây sinh từ cho hắn.

Lúc đó, khắp triều đình đều là các quan chức thuộc Yêm đảng hoặc hùa theo Yêm đảng.

Những ai có chút lòng chính trực không chịu xu phụng chúng, đều xin từ chức.

Một viên quan là Chu Thuận Xương không chịu được sự lộng hàng của chúng, liền cáo quan về nhà ở Tô Châu.

Năm 1626, Ngụy Trung Hiền lại tiến hành 1 cuộc bắt bớ lớn những người mà hắn cho là thuộc Đông Lâm đảng.

Khi quan lính áp giải 1 viên quan thuộc Đông Lâm đảng đi qua Tô Châu, Chu Thuận Xương liền mở tiệc tiễn ông.

Trong bữa tiệc, Chu Thuận Xương chỉ đích danh Ngụy Trung Hiền, chửi mắng hắn thậm tệ.

Khi về kinh, bọn lính bẩm lại với Ngụy Trung Hiền.

Hắn nổi giận, lệnh cho đông xưởng phái quân lính, do tuần phủ Nam Kinh Mao Nhất Lộ dẫn đầu tới Tô Châu tróc nã Chu Thuận Xương.

Tin tức về quân đông xưởng tới bắt người được truyền đi, làm rung động cả dân thành Tô Châu.

Hơn 20 năm trước, dân Tô Châu dưới sự lãnh đạo của Cát Hiền đã từng đấu tranh chống thái giám.

Nay bọn đặc vụ của Ngụy Trung Hiền lại đến đây bắt người, sao chẳng khiến cho mọi người phẫn nộ.

Vả lại, Chu Thuận Xương chỉ vì phản đối Yêm đảng mà bị bức hại, ai cũng đồng tình với ông.

Vì vậy, đúng hôm quân lính của đông xưởng tới Tô Châu, thì hàng vạn thị dân đã đổ ra đường, ủng hộ Chu Thuận Xương.

Mọi người ngăn kiệu của Mao Nhất Lộ, cử mấy người có chữ nghĩa đứng ra thỉnh nguyện, yêu cầu hủy bỏ lệnh bắt Chu Thuận Xương.

Thấy thanh thế quần chúng lớn mạnh, Mao Nhất Lộ sợ toát mồ hôi, ném cùm xích sắt xuống đất, lớn tiếng dọa: "Chúng ta là quân đông xưởng đây, kẻ nào dám ngăn trở!".

Cùm xích kêu loảng xoảng, càng làm cho quần chúng nổi giận. có người xông lên bắt bẻ: "Các ngươi chẳng vừa nói là phụng thánh chỉ của hoàng thượng tới bắt người sao?

Hóa ra là trò quỷ của đông xưởng!".

Quân lính chưa lịp trả lời, thì quần chúng đã ồ cả lên: "Thì ra là bọn gian tặc ở đông xưởng".

Mọi người vừa reo hò, vừa xông tới đám quân lính và Mao Nhất Lộ, tiếng hò hét như trời long đất lở.

Bọn quân lính ngày thường cậy thế hiếp người, hoảng sợ chạy tứ tán, toan thoát khỏi vòng vây.

Quần chúng phẫn nộ đuổi theo, túm lấy chúng, đánh đấm túi bụi.

Một tên lĩnh bị đấm trúng vùng tim, ngã quay ra đất, lăn lộn mấy vòng rồi tắt thở.

Số còn lại vỡ đầu chảy máu, vừa bò vừa chạy thoát khỏi vòng vây.

Quần chúng chưa chịu thôi, liền tìm Mao Nhất Lộ, toan tính sổ với hắn.

Tên này cũng ranh ma, đã sớm chui ra khỏi kiệu, nhân lúc hỗn loạn, cởi bỏ áo mũ tuần phủ, theo 1 ngõ hẽm chuồn đi.

Thấy phía trước có 1 hố phân, hắn chảng quản gì thể diện, chẳng quản mùi hôi thối nồng nặc, nhảy xuống nép vào 1 góc.

Mãi tới khi quân chúng tản mát đi hết, bọn tùy tòng mới tìm thấy ngài tuần phủ đã ngất xỉu, liền lôi từ đống phân lên.

Bọn đặc vụ đông xưởng chạy về khóc lóc tố cáo với Ngụy Trung Hiền.

Hiền đâu chịu bỏ qua, lại ra lệnh cho Mao Nhất Lộ dẫn quân tới Tô Châu đàn áp.

Chúng bắt 5 người cầm đầu vụ bạo động của thị dân là Nhan Phụng Thư, Dương Niệm Như, Mã Kiệt, Thẩm Dương, Chu Văn Nguyên đưa vào nhà giam, khép tội xúi giục bạo loạn và xử tội chết.

Khi 5 người bị giải tới hình trường, thần sắc họ vẫn thản nhiên, còn chửi rủa Ngụy Trung Hiền và Mao Nhất Lộ.

Sau khi họ hy sinh, nhân dân tự bỏ tiền ra, xin lĩnh thi thể họ từ tay bọn đao phủ, rồi an táng họ ven núi phía đông Hổ Khâu.

Sau đó, nhân dân còn dựng bia, trên khắc dòng chữ "Ngũ nhân chi mộ" (mộ 5 người).

Lần bạo động đó tuy bị trấn áp, nhưng từ đó về sau, bọn đặc vụ đông xưởng thấy lực lượng quần chúng ghê gớm như vậy, không dám tùy tiện tới các nơi bắt người nữa.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VIÊN SÙNG HOÁN ĐẠI CHIẾN NINH VIỄN


Trong khi Yêm đảng của Ngụy Trung Hiền làm cho nhà Minh nát bét, thì đại hãn Hậu Kim Nỗ Nhĩ Cáp Xích không ngừng tiến công quân Minh ở Liêu Đông.

Sau đại chiến Sác Xuy, triều Minh phái 1 lão tướng là Hùng Đình Bật ra ngoài cửa quan để chỉ huy quân sự ở Liêu Đông.

Hùng Đình Bật là 1 tướng rất có tài, nhưng tuần phủ Quảng Ninh (nay là Bắc Trấn, Liêu Ninh) là Vương Hóa Trinh khi thấy Hùng Đình Bật tới sẽ ảnh hưởng đến quyền lực của mình, nên tìm mọi cách cản trở việc chỉ huy của ông.

Năm 1622, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tiến đánh Quảng Ninh, Vương Hóa Trinh dẫn đầu các quan chức bỏ chạy vào trong cửa quan.

Hùng Đình Bật không thể ngăn cản được việc đó, đành yểm hộ dân chúng lui vào trong Sơn Hải Quan.

Quảng Ninh thất thủ, vương triều Minh không điều tra rõ nguyên nhân, liền bắt cả Hùng Đình Bật và Vương Hóa Trinh tống giam.

Ngụy Trung Hiền nhân cơ hội đó hạch sách, vòi vĩnh, đòi Hùng Đình Bật phải nộp 4 vạn lạng bạc thì mới tha tội chết.

Hùng Đình Bật là người chính trực, liêm khiết, sao có số tiền đó được, nên đương nhiên cự tuyệt.

Yêm đảng liền tố cáo ông đã tham ô quân phí, đưa ông ra xử tử.

Giết mất tướng giỏi là Hùng Đình Bật rồi, triều Minh chưa tìm ra người thay thế.

Bộ binh đang lo lắng vì điều đó thì lại xảy ra sự kiện là chủ sự (tên 1 chức quan) Viên Sùng Hoán bỗng nhiên mất tích.

Người trong bộ tới hỏi gia đình ông, nhưng người nhà cũng không ai biết ông đi đâu.

Mấy ngày sau, Viên Sùng Hoán mới trở về.

Thì ra, do thấy tình hình nguy cấp, ông đã 1 mình cưỡi ngựa ra ngoài Sơn Hải Quan trinh sát.

Viên Sùng Hoán nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình trong ngoài Sơn Hải Quan, rồi trở về báo cáo với binh bộ thượng thư Tôn Thừa Tông.

Ông nói: "Chỉ xin cấp cho hạ quan người ngựa và quân phí, hạ quan có thể đảm nhận được việc giữ Liêu Đông!".

Các đại thần trong triều đang run sợ trước thế tiến công của quân Kim, nay thấy Viên Sùng Hoán tự đứng ra nhận nhiệm vụ, thì đều tán thành cử ông đi xem sao.

Minh Hy Tông phê chuẩn, cấp cho ông 20 vạn lạng bạc quân phí và cử ông ra chỉ huy quân Minh ngoài cửa quan.

Qua mấy năm chiến tranh, vùng ngoài cửa quan trở nên hoang phế, khắp nơi là di cốt tử sĩ, lại thêm băng tuyết bao phủ, dã thú hoành hành, hoàn cảnh hết sức gian khổ.

Tới nơi, Viên Sùng Hoán dẫn các tùy tùng, cưỡi ngựa đi suốt đêm qua khắp vùng hoang vắng, tới đồn điền Ninh Viễn (nay là Hưng Thành, Liêu Ninh) trước khi trời sáng.

Tại đấy, ông chiêu tập nạn dân, xây dựng thành lũy.

Trước dũng khí và nghị lực của ông, các tướng sĩ đều vô cùng khâm phục.

Qua khảo sát thực địa, Viên Sùng Hoán quyết định dẫn quân lên đóng tại Ninh Viễn, tăng cường công sự phòng thủ.

Báo cáo về ý định đó của ông lập tức được Tôn Thừa Tông ủng hộ.

Tại Ninh Viễn, Viên Sùng Hoán cho xây tường thành cao 3 trượng 2 thước (3.2 x 3.33 = 10.65m), rộng 2 trượng (2 x 3.33 = 6.66m) và trang bị các loại súng và pháo.

Tôn Thừa Tông còn phái mấy toán quân tới đóng ở Cẩm Châu, Tùng Sơn gần Ninh Viễn để chi viện cho Ninh Viễn.

Viên Sùng Hoán quy định hiệu lệnh nghiêm minh, kỷ luật chặt chẽ khiến quân dân đều mến phục.

Thương nhân các vùng ngoài cửa quan nghe nói việc phòng thủ Ninh Viễn đã được củng cố, đều tấp nập tới Ninh Viễn buôn bán.

Tình hình nguy cấp ở Liêu Đông nhanh chóng được cứu vãn.

Trong lúc công việc bố trí phòng thủ của Tôn Thừa Tông, Viên Sùng Hoán đang tiến triển thuận lợi thì Ngụy Trung Hiền lại nghi ngờ.

Hắn xúi giục tay chân nói xấu Tôn Thừa Tông, buộc ông phải từ chức.

Sau khi loại bỏ được Tôn Thừa Tông, Ngụy Trung Hiền liền đưa đồng đảng của hắn là Cao Đễ lên nhận chức chỉ huy quân sự vùng Liêu Đông.

Cao Đễ ngu dốt, bất tài, vừa tới Sơn Hải Quan, hắn liền triệu tập các tướng đến họp, nói quân Hậu Kim rất lợi hại, không thể phòng thủ ngoài cửa quan, mà phải rút toàn bộ quân đội vào trong Sơn Hải Quan.

Viên Sùng Hoán kiên quyết phản đối việc rút quân.

Ông nói: "Chúng tôi hết sức khó khăn mới đứng chân được ngoài cửa quan, sao lại dễ vứt bỏ đi như vậy được?".

Cao Đễ nhất định bắt Viên Sùng Hoán bỏ Ninh Viễn.

Viên Sùng Hoán cả giận, nói: "Chức vụ của tôi là phòng thủ Ninh Viễn.

Cần chết thì cũng chết ở đó, quyết định không rút về phía sau!".

Cao Đễ đành để Viên Sùng Hoán giữ lại 1 số quân Minh ở Ninh Viễn, nhưng lại hạ lệnh cho các toán quân Minh khác ngoài cửa quan phải rút về trong Sơn Hải Quan theo kỳ hạn quy định.

Mệnh lệnh được ban bố hết sức đột ngột, các toán quân không hề được chuẩn bị, vội vàng lui quân, bỏ lại hơn 10 vạn tạ lương thực (= 5000 tấn).

Nỗ Nhĩ Cáp Xích thấy quân Minh rút lui lếch thếch như vậy, cho rằng đây là 1 đối tượng không đáng ngại.

Vì vậy, năm 1626, ông dẫn 13 vạn đại quân vượt qua Liêu Hà, tiến đánh Ninh Viễn.

Lúc đó, quân Minh ở các cứ điểm xung quanh đã rút hết, thành Ninh Viễn chỉ còn hơn 1 vạn quân, ở vào thế hoàn toàn cô lập.

Nhưng Viên Sùng Hoán không nao núng.

Ông cắn ngón tay, lấy máu viết 1 bức huyết thư thề chết chống quân Kim, đưa cho tướng sĩ xem và động viên khuyến khích mọi người quyết chiến.

Tướng sĩ cảm động, sôi trào nhiệt huyết, thề quyết 1 lòng theo Viên tướng quân tử thủ Ninh Viễn.

Tiếp đó, Viên Sùng Hoán ra lệnh cho cư dân ngoài thành đem theo lương thực, tài sản rút vào trong thành, rồi cho đốt hết nhà cửa ngoài thành, không để cho quân Kim có chỗ trú.

Ông trao nhiệm vụ rõ ràng cho từng quan chức trong thành, người lo tiếp tế quân lương, người phụ trách dò xét nội gian.

Ông còn gửi thư cho tướng giữ Sơn Hải Quan, yêu cầu nếu phát hiện thấy binh sĩ nào trốn chạy về thì xử trảm ngay tại chỗ.

Lệnh ban ra, lòng người trong thành Ninh Viễn đều chỉ tập trung vào việc giữ thành giết địch, không hề phân tán lo toan việc gì khác.

20 ngày sau, quân Kim do Nỗ Nhĩ Cáp Xích thống lĩnh rầm rộ kéo tới chân thành Ninh Viễn.

Đoàn quân đông đúc đó dùng thuẫn che đầu, liều mạng xông pha dưới rừng tên, mưa đạn của quân Minh, tìm mọi cách phá thành.

Quân Minh tuy chống cự anh dũng, nhưng quân Kim vẫn xông lên, lớp này ngã xuống, lớp sau lại tiếp lên, khí thế rất hung hãn.

Trong lúc nguy cấp, Viên Súng Hoán liền cho điều số đại pháo đã chuẩn bị sẵn, bắn mạnh vào quân Kim.

Tiếng pháo vang rền, khói lửa mù mịt; binh sĩ Kim bị pháo bắn, xương thịt bay tung, đội hình tan tác, buộc phải lui lại.

Hôm sau, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thân ra đốc chiến, tập trung đông đảo binh lực đánh thành.

Viên Sùng Hoán đứng trên đài quan sát tại lầu thành, trầm tĩnh theo dõi hành động của quân Kim tới sát tường thành, mới hạ lệnh bắn pháo vào nơi quân Kim chen lấn dày đặc nhất.

Loạt pháo đó khiến quân Kim thương vong nặng nề.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích đang cưỡi ngựa đốc chiến tại phía sau cũng bị trọng thương, đành hạ lệnh rút lui.

Viên Sùng Hoán thấy quân Kim rút lui, liền thừa thắng mở cửa thành truy kích, đuổi theo suốt 30 dặm, mới đắc thắng quay về thành.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích bị trọng thương, về tới Thẩm Dương, nói với bộ hạ: "Ta từ thuở hai mươi lăm tuổi đã đánh đâu thắng đó, không ngờ tòa thành Ninh Viễn con con này lại không hạ nổi".

Ông ta vừa giận uất vừa đau lòng, lại thêm vết thương quá nặng, nên mấy ngày sau là tắt thở.

Người con thứ 8 của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Hoàng Thái Cực thay cha, lên ngôi đại hãn Hậu Kim.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HOÀNG THÁI CỰC LẬP MẸO PHẢN GIÁN


Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích chết vì trọng thương, Viên Sùng Hoán muốn thám thính tình hình Hậu Kim, liền phái sứ giả đến Thẩm Dương điếu tang.

Hoàng Thái Cực vô cùng căm giận Viên Sùng Hoán, nhưng vì Hậu Kim vừa thua trận, cần nghỉ ngơi chỉnh đốn, lại cũng muốn thăm dò thái độ triều Minh, nên không những vẫn tiếp đãi sứ giả mà còn cử sứ đoàn tới Ninh Viễn đáp lễ.

Bề ngoài, 2 bên tỏ ra hòa hoãn, nhưng bên trong đều ngấm ngầm chuẩn bị cho cuộc chiến tiếp sau.

Năm sau, Hoàng Thái Cực lại thân dẫn đại quân tiến đánh quân Minh.

Quân Kim chia làm 3 cánh tiến xuống, trước hết bao vây chặt thành Cẩm Châu.

Viên Sùng Hoán phán đoán mục tiêu chủ yếu của Hoàng Thái Cực là Ninh Viễn, nên quyết định tự mình lưu lại Ninh Viễn, chỉ phái bộ tướng dẫn 4000 kỵ binh tới cứu Cẩm Châu.

Quả nhiên, viện binh chưa xuất phát thì Hoàng Thái Cực đã cử quân tới đánh Ninh Viễn.

Viên Sùng Hoán đích thân trèo lên mặt thành đôn đốc tướng sĩ giữ thành, dùng pháo lớn bắn mạnh vào quân Kim.

Quân Minh đóng sẵn ở ngoài thành cũng phối hợp với quân trong thành đánh ép quân Kim, buộc quân Kim rút lui.

Hoàng Thái Cực lại điều quân tới Cẩm Châu nhưng quân Minh giữ Cẩm Châu hết sức nghiêm ngặt, lại thêm tiết trời chuyển sang nóng nực, sĩ khí quân Kim xuống thấp.

Hoàng Thái Cực đành phải lui quân.

Thế là Viên Sùng Hoán lại 1 lần nữa giành thắng lợi.

Nhưng bọn Yêm đảng của Ngụy Trung Hiền lại giành công ấy cho mình, còn trách cứ Viên Sùng Hoán là không đích thân tới cứu Cẩm Châu.

Viên Sùng Hoán biết Ngụy Trung Hiền rắp tâm kiếm chuyện, đành xin từ chức.

Năm 1627, vị hoàng đế ngu tối Minh Hy Tông ốm chết, em là Chu Do Kiểm lên nối ngôi.

Đó là Minh Tư Tông, cũng gọi là Sùng Trinh Đế (Sùng Trinh là niên hiệu của Minh Tư Tông).

Sùng Trinh Đế từ lâu đã biết Ngụy Trung Hiền là kẻ lộng quyền làm bậy khiến dân chúng oán giận, nên vừa lên ngôi, liền vạch tội Ngụy Trung Hiền, bắt hắn sung quân tới Phượng Dương.

Ngụy Trung Hiền biết là khó sống nổi, nên tới nửa đường đã tự sát.

Sau khi trừng trị Yêm đảng, Sùng Trinh Đế sửa lại án oan, khôi phục danh dự cho Dương Liên và Tả Quang Đẩu, đồng thời có ý muốn chỉnh đốn lại triều chính.

Rất nhiều đại thần xin triệu Viên Sùng Hoán trở về triều đình, Sùng Trinh Đế nghe theo lời tâu đó, triệu Viên Sùng Hoán về, phong làm bộ binh thượng thư, phụ trách việc quân toàn vùng Hà Bắc, Liêu Đông.

Sùng Trinh Đế còn đích thân triệu kiến Viên Sùng Hoán, hỏi xem ông có kế hoạch gì.

Viên Sùng Hoán tâu: "Chỉ xin bệ hạ trao cho thần quyền chỉ huy, các bộ trong triều nhất trí phối hợp, thì không quá năm năm có thể khôi phục được Liêu Đông!".

Sùng Trinh Đế rất hài lòng, ban cho Viên Sùng Hoán thanh Thượng Phương bảo kiếm, cho phép ông toàn quyền tiến hành công việc.

Viên Sùng Hoán trở lại Ninh Viễn, tuyển chọn tướng tài, chỉnh đốn đội ngũ, giữ nghiêm quân lệnh, khiến sĩ khí lên cao.

Tổng binh Đông Giang là Mao Văn Long đánh trận thua, vẫn mạo báo quân công, không phục tùng sự chỉ huy của Viên Sùng Hoán.

Ông liền sử dụng Thượng Phương bảo kiếm chém Mao Văn Long.

Hoàng Thái Cực thua trận, rất cay cú.

Biết Ninh Viễn, Cẩm Châu phòng giữ nghiêm ngặt, liền đổi hướng tiến công.

Sau khi chuẩn bị chu đáo, năm 1629, Hoàng Thái Cực thống lĩnh mấy chục vạn quân từ Long Tĩnh Quan, Đại An Khẩu (nay ở phía bắc Tuân Hóa, Hà Bắc) đi vòng tới Hà Bắc, tiến thẳng đến kinh thành Bắc Kinh.

Hành động đó nắm ngoài dự đoán của Viên Sùng Hoán.

Ông vội vàng cất quân toan chặn quân Kim giữa đường, nhưng không kịp.

Quân Kim tiến vào nơi không có phòng thủ, tới tận ngoài thành Bắc Kinh.

Viên Sùng Hoán lòng như lửa đốt, dẫn quân Minh đuổi theo 2 ngày đêm liền không nghỉ, lao vào cuộc chiến đấu kịch liệt với quân Kim.

Các cánh quân Minh khác cũng lần lượt về cứu kinh thành, phối hợp với nhau chống lại quân Kim.

Quân Kim đột nhiên tiến đánh Bắc Kinh khiến toàn kinh thành chấn động.

Sùng Trinh Đế lại càng hoảng hốt, không biết xử trí thế nào.

Sau nghe nói Viên Sùng Hoán đã mang quân về kịp, mới trấn tĩnh lại.

Nhưng số dư đảng của Ngụy Trung Hiền lại phao tin là lần này quân Kim đi vòng đường tiến vào được, nhất định là có âm mưu mờ ám gì bên trong.

Sùng Trinh Đế là người đa nghi, nghe những lời đó cũng có chút ngờ vực.

Chính vào lúc đó, 1 thái giám bị quân Kim bắt, tìm cách trốn về được, tâu với Sùng Trinh Đế là Viên Sùng Hoán đã có mật ước với Hoàng Thái Cực, bán rẻ Bắc Kinh cho Kim.

Nguồn tin đó như sét nổ giữa trời quang, khiến Sùng Trinh Đế ngây người kinh sợ.

Nguyên do là, sau khi 2 viên thái giám triều Minh bị quân Kim bắt đi, đem giam trong trại Kim, thì 1 đêm, viên thái giám họ Dương chợt tỉnh, thấy 2 lính gác Kim đang trò chuyện to nhỏ với nhau.

Một tên nói: "Hôm nay, quân ta đang giao chiến lại có lệnh lui quân, hoàn toàn là do chủ ý của hoàng thượng (chỉ Hoàng Thái Cực).

Mày có hiểu không?".

Tên kia hỏi: "Mày hiểu thế nào?".

Tên thứ nhất trả lời: "Vừa rồi tao nhìn thấy hoàng thượng một mình một ngựa đi sang phía doanh trại Minh, từ trong trại Minh có hai người cưỡi ngựa đi ra, nói chuyện với hoàng thượng rất lâu rồi hai bên mới từ biệt.

Nghe nói hai người đó là do Viên tướng quân cử ra.

Tướng quân đã có mật ước với hoàng thượng chúng ta.

Xem ra, đại sự thành công đến nơi rồi..."

Viên thái giám họ Dương nghe lỏm được mấu đối thoại đó, rồi nhân lúc lính gác không chú ý, liền lẻn trốn ra, chạy về phía quân Minh, sau đó về kinh thành tâu lại với Sùng Trinh Đế.

Sùng Trinh Đế cho là thật, chứ đâu biết rằng màn kịch đó là do Hoàng Thái Cực bày đặt ra để làm kế ly gián.

Sùng Trinh Đế lập tức triệu Viên Sùng Hoán vào cung.

Nhận được lệnh triệu, Viên Sùng Hoán không biết có việc gì, vội vàng vào cung.

Sùng Trinh Đế vừa thấy, đã vênh mặt quát hỏi: "Tại sao nhà ngươi dám tự tiện giết Mao Văn Long?

Tại sao quân Kim tới sát Bắc Kinh mà ngươi lần lữa mãi mới mang quân về?".

Viên Sùng Hoán kinh ngạc, không biết nên trình bày từ đâu.

Ông đang chuẩn bị tâu trình thì Sùng Trinh Đế đã quát cẩm y vệ tới trói ông lại đưa vào đại lao.

Có đại thần thấy Viên Sùng Hoán xưa nay vẫn tận trung với nước, cảm thấy vẫn đề có uẩn khúc, liền tâu xin Sùng Trinh Đế: "Cuối xin bệ hạ nên suy xét thận trọng".

Sùng Trinh Đế xẵng giọng: "Thận trọng cái gì!

Thận trọng chỉ làm hỏng việc!"

Mặc cho các đại thần tâu xin, Sùng Trinh Đế ngả theo lời xúc xiểm của dư đảng Ngụy Trung Hiền, năm sau liền hạ lệnh xử tử Viên Sùng Hoán.

Hoàng Thái Cực dùng mẹo phản gián trừ được đối thủ Viên Sùng Hoán, liền lui quân về Thịnh Kinh.

Từ đó, Hậu Kim ngày càng lớn mạnh.

Năm 1635, Hoàng Thái Cực đổi tên Nữ Chân thành Mãn Châu.

Năm sau, liền xưng đế ở Thịnh Kinh, đổi quốc hiệu là Thanh.

Đó là Thanh Thái Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TỪ HÀ KHÁCH VIỄN DU THÁM HIỂM


Trong khi vương triều Minh đang nát bét, thì tại vùng Giang Âm có 1 thanh niên, bất mãn với triều chính thối nát, không chịu theo con đường khoa cử để làm quan, mà nuôi chí đi du lịch khắp núi cao sông lớn của tổ quốc, tìm tòi phát hiện những bí mật của tự nhiên.

Từ Hà Khách có tên thực là Từ Hoằng Tổ, Hà Khách chỉ là biệt hiệu.

Từ nhỏ, ông đã ham đọc sách lịch sử, địa lý.

Khi học trong trường tư thục, thầy đồ đôn đốc ông đọc tứ thư ngũ kinh, ông thường giấu sách địa lý bên dưới, nhân lúc thầy không chú ý thì lấy ra đọc trộm, đọc tới mức mê mải say sưa.

Năm 19 tuổi, cha ông mất.

Ông vốn đã muốn đi khảo sát khắp sông núi trong nước, nhưng vì nghĩ tới bà mẹ đã già, không có ai trông nom nên không dám nêu ý muốn đó ra.

Tâm sự của ông cuối cùng cũng được bà mẹ biết đến.

Bà hiểu rõ nguyện vọng chính đáng của ông, liền nói: "Tài trai chí ở bốn phương, sao lại vì mẹ mà cứ ru rú ở nhà như con gà trong lồng, con ngựa trong chuồng!".

Bà chuẩn bị hành trang đầy đủ cho ông, lại còn khâu cho ông chiếc mũ chuyên dùng để đi xa.

Được mẹ khuyến khích, Từ Hà Khách liền quyết tâm lên đường viễn du.

Năm 22 tuổi, Từ Hà Khách lên đường.

Ông lần lượt đi thăm Thái Hồ, Động Đình Hồ, Thiên Đài Sơn, Nhạn Đãng Sơn, Thái Sơn, Vũ Di Sơn và Ngũ Đài Sơn, Hằng Sơn ở miền bắc.

Mỗi lần về qua nhà, ông đều kể lại cho bạn bè thân thích nghe các phong tục lạ và những cảnh nguy hiểm khi du lịch.

Nhiều người nghe nói thì tròn mắt kinh sợ, nhưng bà mẹ lại thấy rất hứng thú.

Sau khi mẹ mất, Từ Hà Khách dốc toàn tinh lực vào công cuộc du lịch và khảo sát.

Năm 50 tuổi, ông tiến hành cuộc du lịch xa nhất, lâu nhất.

Trong suốt 4 năm, ông đi qua Hồ Nam, Quảng Tây, Quí Châu, Vân Nam, tới tận Đằng Xung thuộc miền biên giới.

Ông vượt suối trèo non, tới nhiều địa phương chưa từng có dấu chân người, leo lên các vách đá, khảo sát mọi đỉnh núi và hang động.

Một lần, tại Đằng Việt, ông vượt qua 1 đỉnh núi chót vót, phát hiện bên vách núi có 1 cửa động, không có đường nào tới được.

Ông không quản nguy hiểm tới tính mạng, leo trèo trên vách núi như khỉ vượn, cuối cùng tới được cửa hang.

Lại 1 lần khác, ông tới Trà Lăng thuộc Hồ Nam, nghe nói ở đó có 1 động tên là Ma Diệp Động, trong đó có thần long và yêu quái, ai không có pháp thuật thì không thể vào được.

Từ Hà Khách không tin vào thần thánh ma quỷ.

Ông bỏ tiền thuê người địa phương dẫn đường để vào động khảo sát.

Lúc sắp tới cửa động, người dẫn đường hỏi ông là người thế nào.

Khi biết ông chỉ là 1 người bình thường, người dẫn đường sợ hãi nói: "Tôi tưởng ngài là một pháp sư mới dám cùng ngài vào động.

Nếu ngài chỉ là một người đọc sách bình thường, tôi không thể liều mạng đi với ngài!".

Từ Hà Khách không chịu bỏ ý định, thuê người đốt đuốc đi vào trong động.

Người trong thôn nghe nói có người vào động, đều kéo nhau đến cửa động, chờ xem sự thể ra sao.

Từ Hà Khách khảo sát trong đó rất lâu, mãi tới khi hết đuốc mới chịu đi ra.

Mọi người thấy ông trở ra an toàn, đều hết sức kinh ngạc nói: "Chúng tôi đợi mãi, cứ tưởng rằng ngài bị yêu tinh ăn thịt mất rồi!".

Từ Hà Khách đi thăm miền Tây Nam, ngoài 1 gia bộc đi theo, còn có 1 hòa thượng tên là Tĩnh Văn cùng đi.

Một lần, khi bọn họ đi thuyền trên Tương Giang thì gặp 1 bọn cướp, toàn bộ tiền bạc và hành lý bị bọn chúng cướp sạch.

Hòa thượng Tĩnh Văn bị đánh trọng thương, đi tiếp tới giữa đường thì chết.

Cuối cùng, chính người gia bộc cũng bỏ ông mà đi.

Mặc dù lâm vào hoàn cảnh đó, ông vẫn không lay chuyển quyết tâm tiếp tục cuộc thám hiểm.

Trên đường đi, mỗi tối trước khi đi ngủ, Từ Hà Khách đều ghi chép tỉ mỉ những điều tai nghe mắt thấy trong ngày.

Ngay dù trong ngày phải ngủ trong rừng hoặc trên đường, ông đều giữ nếp ghi nhật ký.

Năm 1641, sau khi ông qua đời, số nhật ký để lại rất nhiều.

Đó là những ghi chép hết sức quý giá trong quá trình khảo sát địa lý của ông.

Qua việc khảo sát thực địa, ông đã cải chính lại rất nhiều sai lầm được ghi trong sách vở trước kia và phát hiện, bổ sung nhiều điều chưa từng được ghi chép.

Thí dụ như trường hợp sách địa lý cũ ghi rằng Mân Giang là đầu nguồn của Trường Giang.

Qua khảo sát thực địa, Từ Hà Khách đã phát hiện thấy đầu nguồn của Trường Giang không phải là Mân Giang, mà là Kim Sa Giang.

Lại thí dụ như khi khảo sát Ưng Sơn thuộc Đằng Xung, Vân Nam, ông đã phát hiện thấy những dấu tích trên núi lửa từ thời xưa.

Trong khi thám hiểm, ông từng khảo sát rất nhiều dung nham.

Tại Thất Tinh Nham thuộc Quế Lâm, ông đã khảo sát và ghi chép hết sức tỉ mỉ về các dạng thạch nhũ thiên hình vạn trạng trong hang.

Đây là những trang ghi chép sớm nhất thế giới về hiện tượng thạch nhũ.

Sau này, người ta dùng những nhật kí của ông để biên soạn cuốn "Từ Hà Khách du ký".

Bộ sách này không những là tài liệu quí về địa lý học thời cổ, mà còn xứng đáng được coi là 1 tác phẩm văn học ưu tú của Trung Quốc.
 
Back
Top Bottom