Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HÀN THẾ TRUNG ĐÁNH CHẶN QUÂN KIM


Quân Kim tiến xuống phía nam, đánh suốt tới tận bờ biển Minh Châu.

Dọc đường liên tục vấp phải sự tập kích của nghĩa quân do dân chúng tự động tổ chức lại.

Tướng Ki Ngột Truật biết quân Tống còn nhiều lực lượng ven Trường Giang nên không dám ở lâu, sau khi cướp bóc vơ vét, liền lui quân về bắc.

Năm 1130, Ngột Truật dẫn 10 vạn quân Kim lui về đến gần Trấn Giang thì gặp đại tướng Tống là Hàn Thế Trung đem quân chặn lại.

Hàn Thế Trung là 1 tướng lĩnh thuộc phái chủ trương kháng chiến.

Ông rất căm phẫn trước hành động xâm lược của Kim nên quyết tâm đánh mạnh nhân cơ hội quân Kim phải rút.

Ngột Truật tới bờ sông, dò biết Hàn Thế Trung ngăn không cho qua sông, liền cử sứ giả đến trại Tống đưa chiến thư, thách đánh.

Hàn Thế Trung chấp nhận ngay, còn hẹn rõ ngày quyết chiến.

Lúc đó, quân Kim có 10 vạn, nhưng quân Tống dưới quyền Hàn Thế Trung cộng lại chỉ có 8000, lực lượng 2 bên chênh lệnh rất nhiều.

Hàn Thế Trung biết rõ rằng, muốn đánh thắng trận này phải dựa vào sĩ khí.

Ông bàn với vợ là Lương Hồng Ngọc, 1 nữ tướng rất có kiến thức, lại giỏi võ nghệ.

Bà ủng hộ kế hoạch của chồng và cùng tham gia chiến đấu.

Hàn Thế Trung lại bàn với các bộ tướng và nói: "Địa thế ở đây, hiểm yếu nhất phải kể tới Long Vương miếu trên Kim Sơn (ở tây bắc Trấn Giang).

Ta dự đoán quân Kim nhất định sẽ cử người lên đó trinh sát!".

Vì vậy, ông cử 1 tướng dẫn 200 bihn sĩ lên Long Vương miếu mai phục.

Quả như dự đoán của Hàn Thế Trung, 1 ngày sau có 5 tên lính Kim cưỡi ngựa lên Kim Sơn, tới trước Long Vương miếu đứng quan sát quân Tống.

Quân Tống đang mai phục, đợi cho quân Kim tới gần, liền thúc trống xông ra chém giết.

Năm tên lính Kim thấy có mai phục, liền quay ngựa chạy, quân Tống đuổi theo, bắt được 2 tên lính Kim, còn 3 tên khác nằm rạp trên mình ngựa chạy miết.

1 tên trong số đó mặc chiến bào đỏ, thắt đai lưng ngọc, trong lúc vội vã, ngã khỏi ngựa rồi lại cố nhảy lên trốn chạy.

Quân Tống tra hỏi tù binh mới biết đó chính là Ngột Truật, chủ soái quân Kim.

Giờ quyết chiến đã đến, 2 bên dàn trận bên bờ sông tiến hành 1 cuộc quyết chiến.

Hàn Thế Trung mặc áo giáp, phu nhân Lương Hồng Ngọc mặc nhung trang, đứng trên chiến thuyền dưới sông, khua vang trống trận.

Tướng sĩ Tống thấy chủ soái phu nhân ra trận trợ chiến, tinh thần ai cũng bội phần hăng hái, ào ạt xông lên giết giặc.

Quân Kim tuy đông nhưng kỷ luật lỏng lẻo, lại hành quân đường xa mệt nhọc, không chống lại nổi đội tinh binh của Hàn Thế Trung.

Qua trận chiến đấu kịch liệt, quân Kim tử thương nhiều không kể xiết, ngay cả con rễ của Ngột Truật là Long Hổ đại vương cũng bị bắt sống.

Ngột Truật vội phái sứ giả tới trại Tống, xin hoàn lại mọi của cải cướp được ở Giang Nam, đổi lấy việc quân Tống để họ an toàn qua sông.

Hàn Thế Trung không chịu, Ngột Truật lại xin tặng Hàn Thế Trung con tuấn mã của mình, nhưng vẫn bị cự tuyệt.

Ngột Truật không vượt được sông, đành dẫn quân dùng thuyền nhỏ lui tới Hoàng Thiên Đãng (nay ở đông bắc thành phố Nam Kinh).

Ngờ đâu Hoàng Thiên Đãng là 1 nhánh sông cụt, không có đường ra.

Chính trong lúc tiến thoái lưỡng nan, thì có kẻ hiến kế nói: "Tại đây trước kia vốn có một con sông có thể đi tới Kiến Khang, nhưng lâu ngày bị bồi lấp.

Nếu sai binh sĩ khơi lại sông thì có thể thoát khỏi sự truy kích của quân Tống!".

Ngột Truật lập tức ra lệnh cho quân Kim khơi lại dòng sông.

Quân Kim đông đúc, đào suốt 1 đêm, khai thông được đoạn sông dài 50 dặm.

Ngột Truật vội hạ lệnh cho quân Kim rút về Kiến Khang.

Không ngờ mới nửa đường lại gặp tướng Tống là Nhạc Phi dẫn quân đánh chặn.

Ngột Truật đành lui quân trở về Hoàng Thiên Đãng.

Quân Kim bị quân Tống vây ở Hoàng Thiên Đãng trong 48 ngày, tình cảnh hết sức khốn khổ.

Lúc đó, quân Kim từ Giang Bắc cũng phái quân đến tiếp ứng.

Ngột Truật muốn dùng thuyền nhỏ vượt sông, Hàn Thế Trung đã chuẩn bị sẵn, cho bố trí câu liêm và xích sắt trên thuyền lớn, đợi khi thuyền quân Kim vượt sông, liền phóng câu liêm giữ lại rồi kéo xích sắt, làm cho thuyền nhỏ bị lật, quân Kim cùng với thuyền đều chìm dưới đáy sông.

Ngột Truật vô cùng nôn nóng, xin Hàn Thế Trung ra trước trận nói chuyện, van nài ông để cho quân Kim vượt sông.

Hàn Thế Trung nói: "Muốn qua cũng không khó, chỉ cần các ngươi trao trả mọi đất đai đã chiếm thì ta sẽ cho qua sông".

Ngột Truật trở về trại Kim, bàn với các tướng về cách đối phó.

Truật buồn rầu nói: "Quân Tống dùng thuyền thành thạo như chúng ta cưỡi ngựa, đi lại nhanh như bay.

Chúng ta làm sao mà vượt sông được?".

Một bộ tướng nói: "Tình hình hiện nay rất gấp rút, nên treo thưởng thật cao để tìm người hiến kế thì mới có hy vọng".

Ngột Truật hạ lệnh yết bảng treo thưởng, quả nhiên có 1 Hán gian tới hiến kế, nói: "Thuyền lớn của quân Tống phải dựa vào buồm mới đi được.

Nếu ta chọn ngày không có gió để vượt sông thì thuyền lớn của Tống không đuổi được".

Hắn còn dạy Ngột Truật cách dùng hòa công để đánh bại quân Tống.

Mấy ngày sau, trời thanh gió lặng, mặt sông êm ả.

Quân Kim lặng lẽ lên thuyền nhỏ, chia từng toán lần lượt vượt sông.

Hàn Thế Trung toan dùng thuyền lớn đuổi theo chặn lại.

Nhưng vì không có gió, thuyền lớn chèo đi rất chậm, không đuổi kịp thuyền nhỏ.

Chính trong lúc đó, quân Kim lại bắn tên lửa sang như mưa, làm buồm trên thuyền Tống bốc cháy, lan ra toàn thuyền.

Quân Tống trên thuyền lao nhao rơi xuống nước.

Hàn Thế Trung đành bỏ thuyền lớn, chuyển sang thuyền nhỏ, lui quân về Trấn Giang.

Ngột Truật thoát khỏi Hàn Thế Trung, đưa quân về Kiến Khang, ra sức cướp bóc rồi chuẩn bị rút về bắc.

Đến Tĩnh An Trấn (nay ở tây bắc Giang Ninh, Giang Tô), lại bị quân Nhạc Phi tập kích, bị đánh tơi bời, phải ôm đầu tháo chạy.

Nhạc Phi đuổi được quân Kim, thu phục lại Kiến Khang.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NHẠC GIA QUÂN ĐẠI PHÁ NGỘT TRUẬT


Nhạc Phi, người đã thu phục Kiến Khang, là 1 danh tướng trong cuộc kháng chiến chống Kim của Nam Tống, 1 anh hùng dân tộc của Trung Quốc.

Nhạc Phi là người quê quán ở Thang Âm, Tương Châu (nay là Thang Âm, Hà Nam).

Năm ông sinh ra, Hoàng Hà đổi dòng, quê nhà gặp thủy tai lớn, gia đình rất khốn khổ.

Từ nhỏ, Nhạc Phi đã khổ công học hành, đặc biệt thích đọc binh pháp.

Ông rất khỏe, năm 19 tuổi đã kéo được cung lớn có sức căng 300 cân (=150kg).

Nghe nói người đồng hương là Chu Đồng có võ nghệ cao cường, Nhạc Phi liền tô Chu Đồng làm sư phụ, học được tài bắn cung, bách phát bách trúng bằng cả 2 tay.

Sau đó, Nhạc Phi tòng quân.

Khi quân Kim đánh xuống phía nam, ông làm 1 chức quan võ nhỏ ở Đông Kinh.

Một lần, ông dẫn hơn 100 kỵ binh luyện tập ở ven Hoàng Hà, bỗng trước mặt xuất hiện rất nhiều quân Kim.

Các binh sĩ đều sợ hãi, nhưng Nhạc Phi bình tĩnh nói: "Quân địch tuy đông, nhưng chúng không biết ta có bao nhiêu người.

Ta có thể đánh bại chúng trong lúc chúng không chuẩn bị".

Nói xong, liền dẫn quân xông sang trận địch, chém chết 1 tướng Kim.

Quân lính được Nhạc Phi cổ vũ, đều hăng hái xông lên, quả nhiên đánh cho quân Kim tan tác.

Từ đó, Nhạc Phi nổi tiếng về lòng dũng cảm.

Mấy năm sau, ông trở thành 1 viên tướng dưới quyền Tông Trạch.

Tông Trạch rất coi trọng ông, thường nói: "Tướng quân thật là trí dũng song toàn, dù các danh tướng thời xưa cũng chỉ như thế mà thôi.

Nhưng nếu chỉ dựa vào tài xung hãm trận, cũng không phải là biện pháp bảo đảm thường thắng".

Ông giao cho Nhạc Phi 1 bản trận đồ thời cổ, và nói: "Tướng quân hãy cầm lấy và chịu khó nghiên cứu, học tập".

Nhạc Phi tiếp nhận bản trận đồ, cảm tạ Tông Trạch rồi nói: "Tác chiến theo trận đồ là quy tắc thông thường của binh pháp, còn việc vận dụng linh hoạt, tùy cơ ứng biến lại cần sự khôn ngoan của tướng lĩnh!".

Tông Trạch nghe nói, gật đầu tán thưởng kiến giải của viên tướng trẻ. giống như Tông Trạch, Nhạc Phi xem việc chống Kim là trách nhiệm của mình.

Sau khi Tống Cao Tông lên ngôi, ông dâng lên 1 sớ tấu, mong Cao Tông thân dẫn quân Tống bắc phạt để cổ vũ sĩ khí, khôi phục Trung nguyên.

Ông còn phê phán chủ trương của phái chủ hàng Hoàng Tiền Thiệm, Uông Bá Ngạn.

Sớ tấu dâng lên, Tống Cao Tông không những không nghe theo mà còn cho Nhạc Phi là 1 viên tướng nhỏ mà dám lạm bàn đại sự, liền cách chức ông.

Sau khi Tông Trạch chết, Nhạc Phi thuộc quyền chỉ huy của quan trấn thủ Đông Kinh là Đỗ Sung.

Quân Kim tiến công ào ạt, Đỗ Sung chạy xuống Kiến Khang.

Ngột Truật tiến đánh Kiến Khang, Đỗ Sung lại đầu hàng nhục nhã.

Quân tướng dưới quyền Đỗ Sung đều tan rã, chỉ có đội quân của Nhạc Phi vẫn còn kiên trì chiến đấu quanh vùng Kiến Khang.

Nhân lúc Ngột Truật rút lui, ông bèn phối hợp với Hàn Thế Trung đánh cho Ngột Truật đại bại.

Sau khi quân Kim rút về bắc, Tống Cao Tông từ Ôn Châu trở về Lâm An.

Triều Kim liền dựng lên 1 hoàng đế bù nhìn là Lưu Dự cai quản Trung nguyên, lấy quốc hiệu Đại Tề, để làm tay sai cho triều Kim, quấy rối Nam Tống.

Nhạc Phi nhiều lần dẫn quân đánh lui liên quân Kim - Tề, lập nhiều chiến công.

Đến năm 32 tuổi, ông đã từ địa vị 1 tướng nhỏ được thăng lên chức Tiết độ sứ, ngang hàng với các danh tướng Hàn Thế Trung, Lưu Quang Thế, Trương Tuấn.

Chính vào thời kì này, ông đã viết 1 bài từ, điệu "Mãn Giang Hồng" được truyền tụng đời đời.

Bài từ nói lên ý chí chống Kim hùng tráng của ông.

Đoạn đầu bài từ viết:

"Nộ phát xung quan, bằng lan sứ, tiêu tiêu vũ yết,

Đài vọng nhãn, ngưỡng thiên trường khiếu, tráng hoài kịch liệt.

Tam thập công danh trần dữ thổ, bát thiên lý lộ vân hòa nguyệt.

Mạc đẳng nhàn bạch liễu thiếu niên đầu, không bi thiết".

Dịch:

"Lửa giận sục sôi, tựa lan can, trời mưa vừa ngớt,

Phóng tầm mắt, ngửa mặt thét dài, tuôn trào nhiệt huyết,

Ba mươi tuổi công danh lầm bụi đất.

Tám ngàn dặm dãi dầu đầu mây với nguyệt

Chớ phí hoài, bạc uổng mái đầu xanh.

Ôi bi thiết!".

Nhạc phi 1 lòng khôi phục Trung nguyên, ông hết sức nghiêm khắc với bản thân mình.

Tống Cao Tông sai người xây cho ông 1 tòa dinh thự.

Ông từ chối, nói: "Quân thù còn chưa tiêu diệt được, sao đã vội lo đến nhà?".

Có người hỏi ông: "Thiên hạ đến bao giờ có thể thái bình?".

Nhạc Phi trả lời: "Quan văn không tham tiền, quan võ không sợ chết thì thiên hạ mới có hy vọng thái bình".

Nhạc Phi thường xuyên chú ý rèn luyện quân đội.

Ông thường dẫn tướng sĩ mang theo khôi giáp leo dốc, vượt hào, yêu cầu như khi đánh trận.

Một lần, con ông là Nhạc Vân cưỡi ngựa xông lên dốc núi, vì ngựa trượt chân, bị ngã lăn xuống đất.

Nhạc Phi biết chuyện, trách mắng Nhạc Vân rất nghiêm khắc.

Các binh sĩ thấy chủ tướng đối với con cũng nghiêm như vậy, đều ra sức luyện tập chăm chỉ.

Trong Nhạc gia quân (quân đội dưới quyền Nhạc Phi), kỷ luật đặc biệt nghiêm.

Một lần, 1 tên lính tự tiện lấy bó gai của dân để bó củi, bị Nhạc Phi phát hiện, trừng phạt nặng.

Khi Nhạc gia quân hành quân qua làng, đến đêm đều ngủ ven đường.

Dân chúng mời vào nhà, cũng không ai dám vào.

Trong Nhạc gia quân có 1 khẩu hiệu: "Chết rét cũng không dỡ nhà dân, chết đói cũng không cướp bóc".

Đối với tướng sĩ, Nhạc Phi vừa yêu cầu rất nghiêm, vừa quan tâm săn sóc.

Binh lính nào ốm, ông đến tự tay chăm sóc thuốc thang.

Khi cấp dưới ra trận, ông bảo vợ đến chăm nom gia đình họ.

Tướng sĩ nào hy sinh trên chiến trường, vợ con đều được nuôi dưỡng.

Khi được cấp trên ban thưởng tiền bạc, ông đều đem chia hết cho tướng sĩ, không giữ lại chút gì cho gia đình.

Được rèn luyện và chăm sóc như vậy nên Nhạc gia quân tinh thần hăng hái, chiến đấu dũng mãnh.

Trước khi tác chiến, bao giờ Nhạc Phi cũng triệu tập tướng lĩnh, cùng bàn bạc phương án chiến đấu rồi mới xuất phát.

Vì vậy, trong chiến đấu, không trận nào không thắng, chưa hề bị thất bại.

Tướng sĩ Kim hễ thấy Nhạc gia quân là đều run sợ.

Trong quân Kim lưu truyền 1 câu nói: "Núi lớn dễ lay, Nhạc gia quân khó chuyển".

Nam Tống có được những danh tướng như Nhạc Phi , Hàn Thế Trung, lại thêm sự phối hợp của các đội nghĩa quân do dân chúng tổ chức nên, vốn có đủ điều kiện để đánh lui quân Kim.

Nhưng Tống Cao Tông bất chấp sự phản đối của các tướng lĩnh, một mực cầu hòa nhục nhã với Kim.

Năm 1139, còn hèn hạ tới mức xưng thần với Kim và phải tiến cống hằng năm 25 vạn lạng bạc và 25 vạn tấm lụa.

Bù lại, triều Kim trả lại vùng đất Thiểm Tây, Hà Nam cho Nam Tống.

Tháng 10 năm 1140, triều Kim lại xé bỏ hòa ước, điều động quân tinh nhuệ trong toàn quốc, cử Ngột Truật làm tướng soái, chia quân làm 4 đường tiến đánh Nam Tống.

Không tới 1 tháng, vùng đất được trao trả lại bị quân Kim chiếm.

Vương triều Nam Tống đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt.

Tống Cao Tông bất đắc dĩ phải hạ chiếu, kêu gọi quân các lộ cùng chống lại.

Nhận được mệnh lệnh, Nhạc Phi 1 mặt cử các bộ tướng Vương Quí, Ngưu Cao, Dương Tái Hưng chia đường xuất quân, 1 mặt cử người lên liên lạc với thủ lĩnh nghĩa quân ở Hà Bắc là Lương Hưng, yêu cầu Lương Hưng lãnh đạo nghĩa quân quấy rối hậu phương địch ở Hà Đông, Hà Bắc.

Nhạc Phi đóng quân ở Yển Thành để chỉ huy chung.

Chỉ trong mấy ngày, các cánh quân dồn dập báo tin thắng lợi, đã lần lượt thu phục được Dĩnh Xương (nay ở phía đông Hứa Xương, Hà Nam), Trần Châu (nay là Hoài Dương, Hà Nam).

Ngột Truật, thống soái quân Kim đang ở Đông Kinh nghe tin Nhạc Phi tiến quân thì hết sức lo sợ, vội triệu tập các tướng dưới quyền tới bàn đối sách.

Tất cả đều xôn xao, nói nếu là tướng Tống khác thì dễ đối phó, riêng với Nhạc gia quân thì hùng mạnh khó địch nổi.

Nhưng đã trót tới đây, đành phải tập trung lực lượng, cùng Nhạc gia quân đọ sức 1 phen.

Ngột Truật liền cùng Long Hổ Đại Vương, Cái Thiên Đại Vương đem đại quân tấn công Yển Thành.

Ngột Truật tới Yển Thành, 2 bên Tống - Kim dàn thành trận thế.

Nhạc Phi cử con là Nhạc Vân dẫn đội kỵ binh tinh nhuệ làm tiên phong.

Ông nói với Nhạc Vân: "Trận đánh này, chỉ cho phép thắng.

Nếu đánh không thắng, ta sẽ chém đầu ngươi!".

Nhạc Vân "dạ" 1 tiếng rồi dẫn quân xông lên, dũng mãnh giết địch.

Quân Tống theo sau Nhạc Vân, đánh cho quân Kim tan tác, phơi thây đầy chiến trường.

Ngột Truật bị thua trận đầu, liền dùng "Thiết phù đồ" để tiến công.

"Thiết phù đồ" là đội kỵ binh được huấn luyện đặc biệt.

Đội quân này dùng khôi giáp chắc, chia thành từng tốp 3 người ngựa, xung phong vào trận đối phương.

Hai bên đội quân này lại có 2 đội kỵ binh bảo vệ bên sườn, dùng toàn kỵ binh nhẹ, gọi là "quải tử mã" (ngựa bên sườn).

Nhạc Phi nhằm đúng nhược điểm của "quải tử mã", liền hạ lệnh cho tướng sĩ mang theo đao búa, đợi khi ngựa địch xông tới thì quỳ xuống, dùng đao búa chặt chân ngựa.

Ngựa bị chém đổ, quân Kim ngã lăn xuống, bị quân Tống xông lên, đánh cho "thiết phù đồ", "quải tử mã" tơi bời, tan tác.

Ngột Truật thấy tình cảnh đó, khóc rống lên, nói: "Từ ngày ta cất quân, đều dựa vào "quải tử mã" giành thắng lợi.

Bây giờ thì toi hết rồi!".

Nhưng hắn còn chưa cam tâm thất bại, mấy ngày sau lại đốc thúc 12 vạn quân tiến công mãnh liệt vào quân Tống.

Nhạc Phi cử Dương Tái Hưng dẫn 300 kỵ binh tuần tra trước trận, thấy quân Kim tới liền xông vào đánh, giết hơn 2000 địch.

Dương Tái Hưng cũng bị trúng tên, hy sinh.

Tướng Tống Trương Hiến từ phía sau đưa quân lên tiếp ứng, đánh tan quân Kim.

Ngột Truật buộc lòng phải rút chạy.

Thất bại ở Yển Thành, Ngột Truật đổi sang đánh Dĩnh Xương.

Nhạc Phi đã dự đoán trước, liền cử Nhạc Vân đem quân cứu Dĩnh Xương.

Nhạc Vân dẫn 8000 kỵ binh xông pha đánh giết, quân Kim không chống đỡ nổi.

Tiếp đó, bộ binh Tống lại phối hợp với nghĩa quân bao vây từ 2 phía tả, hữu, đánh cho quân Kim thua 1 trận lớn.

Lúc đó, nghĩa quân ở Thái Hàng Sơn do Lương Hưng lãnh đạo cùng với các cánh nghĩa quân 2 bên bờ Hoàng Hà cũng sôi nổi hưởng ứng.

Họ giương cờ Nhạc Phi, vận chuyển lương thực của chúng.

Quân Kim lâm vào tình cảnh nơm nớp sợ hãi.

Nhạc gia quân đánh thắng hết đợt này tới đợt khác, tới tận Chu Tiên Trấn, cách Đông Kinh bốn năm chục dặm.

Nghĩa quân Hà Bắc nghe tin Nhạc gia quân đánh tới Chu Tiên Trấn, đều hân hoan phấn khởi, vượt Hoàng Hà tới hợp lực với Nhạc gia quân.

Dân chúng nô nức dùng xe cộ chở lương đến úy lạo Nhạc gia quân, có người còn bưng bát hương tới đón tiếp.

Ai nấy mừng vui rơi nước mắt.

Chứng kiến tình hình đó, Nhạc Phi không nén được sung sướng.

Ông khuyến khích cấp dưới: "Chúng ta hãy cố gắng giết địch.

Đợi đến khi phá tan Hoàng Long Phủ (đại bản doanh quân Kim), sẽ cùng với anh em các cánh quân khác cùng uống rượu mừng!".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TÊN GIẶC BÁN NƯỚC TẦN CỐI


Nhạc Phi thắng lớn tại Chu Tiên Trấn, tiến sát Đông Kinh Ngột Truật thấy khó giữ được Đông Kinh, liền quyết định vượt Hoàng Hà, lui về bắc.

Khi hắn dẫn quân Kim về Đông Kinh, thì có 1 thư sinh đứng chắn trước ngựa, nói: "Đại vương đừng đi, Nhạc Thiếu bảo (Thiếu bảo là quan tước của Nhạc Phi) sắp rút quân rồi.

Đông Kinh không nguy hiểm gì nữa!".

Ngột Truật lấy làm lạ, hỏi: "Nhạc Phi chỉ huy năm trăm vạn kỵ binh, đánh bại mười vạn đội quân của ta.

Dân chúng ngày đêm mong hắn đánh tới., Đông Kinh làm sao giữ được?".

Thư sinh đó nói: "Trong triều có quyền thần thì đại tướng sao có thể lập công ngoài chiến trường.

Tiện nhân này thấy tính mạng của Nhạc Thiếu bảo cũng khó giữ được, chứ đừng nói tới chuyện lập công".

Ngột Truật nghe nói, bừng tỉnh, lập tức quay ngựa trở lại Đông Kinh.

"Quyền thần" mà thư sinh đó nói, chính là Tần Cối, lúc đó là tể tướng trong vương triều Nam Tống.

Tần Cối vốn là 1 đại thần thời Bắc Tống.

Khi Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông bị quân Kim bắt, Tần Cối và vợ là Vương thị cũng bị giải về kinh đô Kim.

Tần Cối ra sức quị lụy, nịnh nọt Kim Thái Tông, được Kim Thái Tông cho là có tài năng,, liền cử làm tham mưu quân sự dưới quyền đại tướng Đại Lạt.

Đến lúc này, triều Kim phát hiện thấy lực lượng chống Kim ngày càng mạnh, lại có các đại tướng Hàn Thế Trung, Nhạc Phi kiên quyết chủ trương kháng chiến, rất khó đối phó, liền quyết định thả Tần Cối về để làm tay trong.

Năm 1130, Đại Lạt đánh Sở Châu (nay là Hoài An, Giang Tô), liền bố trí "cuộc trốn thoát" của Tần Cối và vợ là Vương thị trở về Nam Tống.

Tần Cối tới xin gặp Tống Cao Tông ở hành cung Việt Châu, bịa ra rằng hắn đã giết lính gác ở Sở Châu, đoạt lấy thuyền trở về.

Lúc đó, có rất nhiều đại thần hoài nghi, vì từ Sở Châu về Việt Châu đường xá xa xôi, sao quân Kim lại không đuổi bắt được?

Thêm nữa, dù cho quân Kim trông coi sơ sài, để hắn chạy thoát, thì trong lúc vội vã như vậy, làm sao đưa được Vương thị cùng đi?

Nhưng tể tướng lúc đó là Phạm Tông Doãn, vốn là bạn cũ của Tần Cối, ra sức biện hộ giúp Tần Cối trước Tống Cao Tông, nói Tần Cối vừa đáng tin cậy, vừa là 1 nhân tài hiếm có.

Tống Cao Tông xưa nay vốn ngày đêm mong muốn giảng hòa với Kim, nghe nói Tần Côi từng ở bên Kim, biết rõ nội tình của Kim, nên lập tức triệu tới.

Ngay lần đầu triều kiến Tông Cao Tông, Tần Cối đã khuyên Cao Tông giảng hòa với Kim, còn dâng lên 1 thư cầu hòa do hắn dự thảo sẵn cho triều đình.

Sau khi tiếp kiến Tần Cối, Tống Cao Tông thấy chủ trương của hắn hợp ý mình, liền nói với các đại thần: "Tần Cối rất mực trung thành.

Có được ông ta, trẫm mừng rỡ suốt đêm không ngủ được".

Ông lập tức phong Tần Cối làm Lễ bộ thượng thư, 3 tháng sau lại thăng lên làm phó tể tướng, nửa năm sau lại thăng lên làm tể tướng kiêm Khu mật sứ.

Thế là Tần Cối đã nắm được đại quyền về quân sự, chính trị của Nam Tống.

Được làm tể tướng, Tần Cối liền ráo riết thực hiện hành động bán nước cầu hòa.

Nhưng do gặp sự phản đối của rất nhiều đại thần, có lúc Tần Cối đã bị cách chức tể tướng.

Tuy vậy, Tống Cao Tông u mê, vẫn coi Tần Cối là 1 người tâm phúc, mấy năm sau lại dùng Tần Cối làm tể tướng.

Lợi dụng quyền lực và địa vị của mình, Tần Cối ra sức câu kết với triều Kim dùng trăm phương ngàn kế, phá hoại mọi hoạt động của các tướng lĩnh phe kháng chiến.

Lần này, nghe tin Nhạc Phi liên tiếp thắng lợi, chuẩn bị tiến thẳng tới Hoàng Long Phủ, hắn hết sức sợ hãi.

Vì triều Kim mới thực là chủ của hắn, triều Kim mà thua, thì hắn cũng không giữ được địa vị ở Nam Tống.

Do đó, Tần Cối liền xúi giục Tống Cao Tông ra lệnh cho Nhạc Phi rút quân từ tiền tuyến trở về.

Đột nhiên nhận được lệnh rút quân, Nhạc Phi không hiểu được đầu đuôi ra sao.

Ông cử người đem sớ tấu dâng lên Cao Tông, nói: hiện nay quân Kim đã suy sụp tinh thần, còn sĩ khí quân ta đang dâng lên cao.

Thắng lợi đang ở trước mắt, thì không nên bỏ lỡ.

Ông thỉnh cầu Cao Tông rút bỏ lệnh rút quân, cho phép ông tiếp tục tiến quân.

Tầm Cối nhận được sớ tấu của Nhạc Phi, liền dùng thủ đoạn thâm độc: trước hết hắn ra lệnh cho các đại tướng Trương Tuấn, Lưu Quang Thế rút quân khỏi tiền tuyến Hoài Bắc, rồi nói với Cao Tông là hiện nay quân đội của Nhạc Phi ở Trung nguyên đã trở thành 1 toán cô quân, không thể tiếp tục ở lại được, xin cao Tông hạ lệnh khẩn cấp, dùng kim bài hạ lệnh Nhạc Phi rút quân về.

Nhạc Phi đang nóng lòng chờ lệnh tiến quân của hoàng đế, ngờ đâu lại liên tiếp nhận được kim bài khẩn cấp hạ lệnh lui quân.

Đang do dự khi nhận được kim bài thứ nhất thì ngựa trạm lại tới, từ sáng tới tối, liên tiếp có 12 đạo kim bài.

Nhạc Phi biết rằng không còn hy vọng gì lay chuyển được ý định của Cao Tông, uất giận trào rơi nước mắt, nói: "Thế là công lao suốt mười năm, bỏ đi trong một buổi!".

Tin tức về Nhạc Phi sắp rút khỏi Chu Tiên Trấn được truyền xa, dân chúng vùng lân cận đều kinh hoàng, xôn xao tụ tập khắp phố phường.

Họ ngăn ngựa của Nhạc Phi lại, khóc lóc: "Chúng tôi đã từng bưng bát hương, chở lương thực đến đãi tiếp quân đội triều đình.

Những việc đó, người Kim đều biết rõ.

Ngày nay tướng công lại rút về, thì chúng tôi chỉ còn con đường chết".

Thấy tình hình đó, Nhạc Phi không cầm được nước mắt.

Ông gọi binh sĩ đem chiếu thư của Cao Tông tới cho mọi người xem, rồi nói: "Triều đình gửi kim bài khẩn cấp hạ lệnh rút quân, tôi không thể tự quyết định ở lại đây được nữa."

Dân chúng thấy không thể bắt giữ được Nhạc Phi, đều òa lên khóc.

Quân sĩ cũng che mặt khóc theo.

Toàn thành Chu Tiên Trấn rền vang tiếng khóc.

Nhạc Phi trong lòng không nỡ, liền tuyên bố hoãn lui quân 5 ngày để cho những người tình nguyện theo quân Tống có thời gian chuẩn bị.

5 ngày sau, khi Nhạc gia quân bắt đầu rút, nhân dân địa phương họp thành từng đoàn đi theo quân đội xuống phía nam.

Sau đó, Nhạc Phi tâu lên triều đình, để số dân đó có chỗ khai hoang lập nghiệp.

Ngột Truật được tin Nhạc gia quân đã rút, liền chấn chỉnh lại đội ngũ, tiến công xuống miền nam.

Rất nhiều châu huyện ở Hà Nam do Nhạc Phi thu phục được, chỉ trong 1 thời gian ngắn, lại mất sạch.

Tần Cối và Tống Cao Tông 1 lòng cầu hòa với Kim.

Họ sợ Nhạc Phi và Hàn Thế Trung ngăn trở, liền điều 2 người về kinh, phong Hàn Thế Trung làm khu mật sứ, Nhạc Phi làm khu mật phó sứ, về danh nghĩa là thăng chức nhưng trên thực tế là tước bỏ binh quyền của họ.

Tần Cối đoạt binh quyền của Nhạc Phi, xong liền cử người cầu hòa với triều Kim.

Năm 1141 vào tháng 11, triều Kim cử phái đoàn đến Lâm An đưa ra những điều kiện giảng hòa.

Kết quả là Tống - Kim kí kết hòa ước: phía đông lấy Hoài Hà, phía tây lấy Đại Tản Quan (nay ở tây nam Ngọc Kê, Thiểm Tây) làm ranh giới; Tống xưng thần với Kim; mỗi năm tiến cống 25 vạn lạng bạc và 25 vạn tấm lụa.

Lịch sử gọi hòa ước nhục nhã này là "Thiệu Hưng hòa nghị" (Thiệu Hưng là niên hiệu của Tống Cao Tông trong thời gian 1131-1163).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NHẠC PHI BỊ VU CÁO, HÃM HẠI


Sau hòa ước Thiệu Hưng, Ngột Truật cử sứ giả gửi thư mật cho Tần Cối, nói: "Ông luôn cầu hòa với chúng ta, nhưng vẫn để Nhạc Phi thì chúng ta không yên tâm được.

Nhất định phải nghĩ cách trừ bỏ hắn đi".

Tần Cối liền tuân theo ý chủ, tiến hành hạ độc thủ với Nhạc Phi.

Trước hết, hắn xúi giục đồng đảng là giám sát ngự sử Mạch kỳ Tiết dâng sớ lên triều đình, công kích Nhạc Phi kiêu căng tự phụ và dựng nên chuyện khi quân Kim tiến công Hà Tây, Nhạc Phi đã ngồi yên không cứu, bỏ mặc đất đai.

Sau phát pháo tiến công đầu tiên của Mạch Kỳ Tiết, 1 số đồng đảng khác của Tần Cối hùa nhau dâng sớ công kích Nhạc Phi.

Biết Tần Cối không buông tha mình, Nhạc Phi liền chủ động xin từ chức khu mật phó sứ, Cao Tông lập tức phê chuẩn.

Nhưng sự việc không kết thúc ở đó, đại tướng Trương Tuấn nguyên là cấp trên của Nhạc Phi, sau đó Nhạc Phi lập công lớn được thăng cấp nên Trương Tuấn đem lòng ghen ghét.

Tần Cối biết tình hình đó, liền câu kết với Trương Tuấn, đồng thời xúi giục 2 bộ tướng của Nhạc Phi là Vương Quí, Vương Tuấn dựng chuyện vu cáo 1 bộ tướng khác là Trương Hiến muốn chiếm Tương Dương, nổi dậy để giúp Nhạc Phi giành lại binh quyền; đồng thời còn bịa đặt rằng Nhạc Vân, con Nhạc phi đã liên lạc với Trương Hiến để bí mật xếp đặt kế hoạch đó.

Dựa vào sự vu cáo của Vương Quí, Vương Tuấn, Tần Cối trước hết cho bắt giam Trương Hiến vào nhà giam Đại lý tự, dùng hình cụ tra tấn nặng nề, nhưng Trương Hiến thà chết không chịu nhận.

Sau đó, Tần Cối lại tâu xin Tống Cao Tông bắt cha con Nhạc Phi đưa Đại lý tự thẩm vấn.

Khi bị quan lại đến bắt, Nhạc Phi cười tự tin, nói: "Trên có trời, dưới có đất, đủ chứng minh rằng Nhạc Phi này không có tội!".

Khi Nhạc Phi, Nhạc Vân bị giải tới Đại lý tự, thì Trương Hiến đã bị khảo đả tới mức thịt da bết máu, không còn hình dạng con người nữa.

Nhìn thấy tình cảnh đó, Nhạc Phi vô cùng thương xót và căm giận.

Mạch Kỳ Tiết là kẻ trực tiếp thẩm vấn Nhạc Phi.

Hắn đưa đơn tố cáo của Vương quí, Vương Tuấn cho ông xem và quát lớn: "Triều đình đâu có bạc đãi các ngươi.

Tại sao các ngươi mưu phản?".

Nhạc Phi nói: "Tôi không phạm lỗi gì với quốc gia.

Các ông là người nắm phép nước, không nên vu cáo người trung lương".

Những quan lại xung quanh nhao nhao phụ họa với Mạch Kỳ Tiết, đổ riệt cho Nhạc Phi tội mưu phản.

Nhạc Phi biết bọn này đều là đồng đảng của Tần Cối, có phân trần cũng chẳng ích gì, liền than dài nói: "Ngày nay ta rơi vào tay gian tặc tuy có tấm lòng son trung nghĩa, cũng không có cách gì trình bày được!".

Tần Cối lại cử viên Ngự sử trung thừa là Hà Đào đến thẩm vấn.

Nhạc Phi không thèm trả lời 1 câu, mà cởi áo, vạch lưng ra cho Hà Đào xem, thấy trên lưng Nhạc Phi có xăm 4 chữ lớn là "Tởn trung bái quốc", dấu xăm rất sâu.

Hà Đào thấy vậy, hết sức xúc động, không dám phỏng vấn nữa, liền đưa Nhạc Phi trở lại nhà giam, rồi xem xét những hồ sơ liên quan, thấy không có chứng cớ gì để buộc tội Nhạc Phi mưu phản, đành đem sự thực báo cáo Tần Cối.

Tần Cối thấy Hà Đào đồng tình với Nhạc Phi, không cho ông thẩm vấn nữa, lại giao cho Mạch Kỳ Tiết thêu dệt tội trạng.

Mạch Kỳ Tiết cứ một mực bám lấy chuyện Nhạc Vân viết thư cho Trương Hiến, bàn kế hoạch giành binh quyền để mưu phản, nhưng hắn không đưa ra được tang chứng, liền nói bừa rằng thư đó đã bị Trương Hiến đốt đi rồi.

Mạch kỳ Tiết liên tục khảo đả Nhạc Phi, Nhạc Vân và Trương Hiến, nhưng trước sau không ai chịu nhận tội.

Một hôm, Mạch Kỳ Tiết đưa giấy cho Nhạc Phi, yêu cầu viết lời cung.

Nhạc Phi cầm bút, viết luôn 8 chữ: "Thiên nhật chiêu chiêu, thiên nhật chiêu chiêu" (Mặt trời sáng tỏ, mặt trời sáng tỏ).

Vụ án kéo dài suốt 2 tháng, thẩm vấn không có kết quả gì.

Các quan chức trong triều đều biết Nhạc Phi bị oan, có người mạnh dạn dâng sớ minh oan cho Nhạc Phi nhưng lập tức bị Tần Cối hãm hại.

Lão tướng Hàn Thế Trung không chịu được, trực tiếp gặp Tần Cối, hỏi Tần Cối căn cứ vào đâu mà nói Nhạc Phi mưu phản, có chứng cớ gì không.

Tần Cối ngang ngược trả lời: "Lá thư của Nhạc Vân gửi Trương Hiến tuy không có để làm chứng, nhưng việc đó có thể có".

Hàn Thế Trung nổi giận nói: "Ba chữ "có thể có" làm sao khiến cho thiên hạ chịu phục được!".

Ông hết sức đấu tranh, nhưng không có kết quả gì, liền dâng sớ, xin từ chức khu mật sứ.

Một hôm, Tần Cối từ triều đình về nhà, ngồi uống rượu với vợ là Vương thị ngoài hiên.

Tần Cối cầm 1 quả cam, vì tâm thần bất định nên cứ dùng ngón tay vạch lăng nhăng trên vỏ cam.

Vương thị là kẻ còn thâm độc hơn Tần Cối, biết chồng đang băn khoăn do dự về việc có nên giết ngay Nhạc Phi không, liền cười nhạt nói: "Lão già này, sao không quyết đoán gì cả.

Nên biết rằng bắt hổ thì dễ, nhưng thả hổ thì khó đấy".

Nghe lời Vương thị, Tần Cối quyết tâm hạ độc thủ, liền viết 1 mảnh giấy, bí mật giao cho tay chân trong nhà ngục, ra lệnh thủ tiêu Nhạc Phi.

Vào 1 đêm tháng giêng năm 1142, vị anh hùng dân tộc mới 39 tuổi đã bị giết hại trong nhà ngục.

Nhạc Vân, Trương Hiến cũng đồng thời bị hại.

Sau khi Nhạc Phi bị giết, 1 lính canh ngục là Quí Thuận liền lén đem chôn cất di cốt của ông.

Đến sau khi Tống Cao Tông chết đi, vụ án oan của Nhạc Phi mới được xem xét và minh oan.

Người ta đem di cốt của Nhạc Phi mai táng trên Thê Hà Lĩnh ven Tây Hồ.

Sau đó, lại xây dựng Nhạc Miếu ở phía đông mộ đó.

Ngày nay, trong tòa điện lớn của ngôi Nhạc miếu trang nghiêm hùng vĩ, có 1 pho tượng Nhạc Phi mặc võ phục, phía trên treo 1 bức hoành phi viết 4 chữ lớn theo đúng bút tích của ông: "Hoàn ngã hà sơn" (trả lại sông núi của chúng ta), khiến mọi người trào dâng niềm tôn kính.

Đối diện với mộ Nhạc Phi, còn dựng 4 bức tượng đúc bằng gang của 4 tên gian tặc Tần Cối, Vương thị, Mạch Kỳ Tiết và Trương Tuấn ở tư thế quì, 2 tay bị trói quặt ra sau, tỏ rõ lòng khinh ghét, căm giận đối với lũ gian tặc bán nước.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CHUNG TƯƠNG, DƯƠNG YÊU KHỞI NGHĨA


Vương triều Nam Tống 1 mặt chịu nhục cầu hòa với Kim, 1 mặt tăng cường bóc lột nhân dân, thu thuế má nặng nề, khiến đời sống nhân dân vô cùng khổ cực.

Năm 1130, quân Kim đánh chiếm Đàm Châu, thả sức cướp bóc rồi rút đi.

Sau đó, lại có 1 tên Đoàn luyện sứ của triều Tống là Khổng Ngạn Chu, sau khi bị quân Kim đánh thua tan tác, liền dẫn tàn binh tới đây cướp bóc, đòi thu tô lúa.

Nhân dân địa phương không chịu nổi liền vùng lên khởi nghĩa dưới sự cầm đầu của Chung Tương.

Chung Tương là 1 người quê quán ở Vũ Lăng thuộc Đỉnh Châu (nay là Thường Đức, Hồ Nam).

Trong khi quân Kim tiến xuống phía nam, ông đã từng tổ chức dân binh chống lại, nhưng không được triều đình ủng hộ.

Ông liền về quê hương, tổ chức đội tự vệ nông dân, dùng hình thức tôn giáo để tuyên truyền trong quần chúng.

Chung Tương tự xưng là "Thiên đại thánh", có thể giải cứu nhân dân khỏi tai họa.

Ông nói: "Luật của triều đình hiện nay chia người ta ra làm giàu nghèo sang hèn, như thế không tốt.

Luật do ta thực hiện là không phân biệt giàu nghèo sang hèn, mọi người đều bình đẳng".

Dân chúng đã từng khổ sở vì quan lại, địa chủ; nghe nói như vậy, không ai không vui mừng.

Mọi người đều hết sức kính trọng ông, số người xin đi theo "phép" của ông ngày càng nhiều.

Khi cuộc cướp bóc của Khổng Ngạn Chu khiến nhân dân căm phẫn, Chung Tương liền tuyên bố khởi nghĩa.

Ông tự xưng là Sở vương, xây dựng chính quyền riêng.

Nhân dân các huyện lân cận nô nức tham gia nghĩa quân.

Chung Tương mang quân đi đánh chiếm các thành trì, đốt phá dinh quan, đánh phá các hào phú.

Không đầy 1 tháng, nghĩa quân đã chiếm được 19 huyện xung quanh Động Đình Hồ.

Triều đình Nam Tống hết sức hốt hoảng, liền phong Khổng Ngạn Chu làm Tróc sát sứ để trấn áp nghĩa quân.

Khổng Ngạn Chu biết rằng nếu dùng sức mạnh thì không địch nổi Chung Tương, nên đã sử dụng bọn gian tế, giả làm dân nghèo, trà trộn vào hàng ngũ nghĩa quân.

Tháng 3 năm 1130, Khổng Ngạn Chu mở cuộc tiến công, bọn gian tế làm nội ứng, nghĩa quân trở tay không kịp nên bị đánh bại.

Chung Tương và con là Chung Tử Ngang bị bắt, rồi bị giết hại.

Sau khi Chung Tương bị hại, quân khởi nghĩa liền cử Dương Yêu làm thủ lĩnh để tiếp tục chiến đấu chống triều đình.

Dương Yêu vốn tên là Dương Thái, vì tuổi còn trẻ nên được dân chúng địa phương gọi 1 cách thân mật là Dương Yêu.

Dưới sự lãnh đạo của Dương Yêu, quân khởi nghĩa xây dựng doanh trại ven Động Đình Hồ và tập trung nhiều thuyền bè tại các bến trong hồ, lúc thường thì đánh cá, khi quân triều đình tới thì chiến đấu.

Nghĩa quân ngày càng lớn mạnh.

Triều Nam Tống lại cử Trình Xương Ngụ làm trấn phủ sứ để đàn áp nghĩa quân.

Trình Xương Ngụ tới Đỉnh Châu, bỏ ra nhiều công sức chế tạo hàng loạt xa thuyền lớn, mỗi xa thuyền chứa được 1000 lính, dùng bàn đạp để chuyển động cánh quạt nước, đẩy thuyền đi.

Trình Xương Ngụ dùng đội xa thuyền đó để tiến công thủy trại của nghĩa quân.

Thủy trại được dựng ở vùng nước cạn ven bờ, nên xa thuyền lớn mắc cạn, không tiến lui được.

Nghĩa quân thừa cơ phản công, quan quân triều đình phải bỏ thuyền lớn chạy trốn.

Toàn bộ đội thuyền lớn lọt vào tay nghĩa quân.

Cứ điểm Động Đình Hồ của nghĩa quân Dương Yêu thu hút tới 20 vạn người, phạm vi chiếm lĩnh ngày càng mở rộng.

Tháng 4 năm 1133, Dương Yêu lập con Chung Tương là Chung Tử Nghi làm thái tử, tự mình xưng là Đại Thánh Thiên Vương, tuyên bố phế bỏ mọi lao dịch và thuế má trong vùng nghĩa quân chiếm lĩnh.

Đời sống nhân dân nhờ thế ngày càng hưng vượng.

Vương triều Nam Tống coi cuộc khởi nghĩa Dương Yêu là mối họa lớn từ bên trong không thể để yên.

Vì vậy, Tống Cao Tông liền cử Vương Nhiếp đem 6 vạn quân đánh dẹp.

Vương Nhiếp không dám dùng thuyền lớn nữa, mà đổi lại dùng thuyền nhỏ.

Nghĩa quân lại dùng xa thuyền lớn nghinh chiến, nhưng xa thuyền này cao tới mấy trượng, đi lại như bay.

Xung quanh thuyền lớn lại trang bị cần bắn đá, mỗi khi thuyền quân triều đình tới gần, liền bị đá bắn ra, đánh chìm.

Trên xa thuyền lớn còn có những cây gỗ vát nhọn, gọi là "quạ gỗ", phóng ra cùng với tên nỏ, khiến quân triều đình không sao chống đỡ nổi.

Một hôm, ven Động Đình Hồ bỗng xuất hiện mấy xa thuyền lớn, trên thuyền không thấy có cờ quạt, vũ khí và binh lính.

Quân lính của Vương Nhiếp thấy thế, tưởng rằng nghĩa quân ở thượng lưu đã bị quan quân đánh thua và những xa thuyền lớn đó bồng bềnh trôi dạt đến đây, liền đua nhau tới gần, leo lên để chèo đi.

Ngờ đâu, khi tới giữa hồ, bỗng thấy trong lòng thuyền vang dậy tiếng trống trận và tiếng thét, nghĩa quân bật nắp thuyền xông lên chém giết và đạp guồng, điều khiển thuyền lớn đâm chìm mấy trăm thuyền nhỏ của quân triều đình, làm 2 quân tướng triều đình và rất đông quân lính bị chìm dưới lòng hồ.

Trong lúc đó, số quân triều đình đóng ven bờ cũng bị nghĩa quân tiến công mãnh liệt.

Kết quả, ngày hôm đó, nghĩa quân tiêu diệt được 1 vạn quân triều đình, tước đoạt rất nhiều vũ khí, khôi giáp.

Trong lúc Vương Nhiếp đang ngồi trong đại bản doanh đợi tin tức, bỗng thấy hơn 100 quân nông dân mặc quần áo mới, vừa đi vừa đánh trống, thổi sáo, gõ vào các khí cầu, phía sau còn có người gánh theo 1 gánh giấy tờ.

Quan quân ngỡ đó là số nghĩa quân đến hưởng ứng lệnh chiêu an, mang thư hàng tới, liền đón họ vào.

Tướng Tống mở giấy tờ ra xem, thì ra đó là những cáo thị và ấn chương của quân quan bị nghĩa quân thu được.

Nghĩa quân thấy quân triều đình mắc lừa, đều cười rộ nói: "Một vạn thủy quân của bọn ngươi tối qua đã bị chúng ta giết sạch.

Toàn bộ khôi giáp, đao thương, cờ hiệu, lương tiền đều bị chúng ta thu hết rồi!".

Nói xong lại đánh trống, thổi sáo đi ra.

Vương Nhiếp nghe tin, tức uất người, nhưng đã muộn.

Một viên quan chính quyền Tề của Lưu Dự tên là Lý Thành nghe tin nghĩa quân liên tục thắng lợi, liền cử người đem thư và lễ vật tới đại trại của Dương Yêu liên lạc, mời nghĩa quân liên hợp với Tề để chống lại Tống.

Lý Thành dụ dỗ là nếu đánh chiếm được châu, huyện thì sẽ phong người của nghĩa quân làm tri châu, tri huyện.

Nghĩa quân cự tuyệt lời dụ dỗ đó.

Lý Thành lại cử 1 phái đoàn gồm 35 người mang theo sắc phong, cẩm hào và đại ngọc tới dụ hàng.

Nghĩa quân nổi giận dùng rượu chuốc say các sứ giả Tề rồi đem giết hết.

Việc đánh dẹp, dụ hàng của cả Nam Tống và chính quyền cát cứ Tề đều không khuất phục được Dương Yêu.

Tới năm 1135, tức là năm thứ 6 sau khi phát động khởi nghĩa, Tống Cao Tông cử tể tướng Trương Tuấn thân tới đốc chiến, lại gọi quân đội Nhạc Phi từ tiền tuyến kháng Kim trở về tiến đánh.

Vì có kẻ phản bội trong hàng ngũ nghĩa quân, nên đại trại của Dương Yêu bị đánh chiếm, Dương Yêu bị bắt và giết hại.

Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 6 năm bị thất bại.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
THƯ SINH NGU DOÃN VĂN ĐÁNH LUI ĐỊCH


Sau hòa ước Thiệu Hưng, 2 bên Tống - Kim trong 20 năm không xảy ra xung đột.

Tống Cao Tông và 1 số đại thần thuộc phái đầu hàng hoàn toàn thỏa mãn với cục diện nép mình ở phía nam, cho xây dựng nhiều cung điện dinh thự hào hoa tráng lệ ở Lâm An, sống cuộc sống vàng son, không nghĩ gì đến việc thu phục lại vùng lãnh thổ bị chiếm đoạt.

Trong thời gian đó, trong nội bộ tập đoàn thống trị triều Kim có xung đột.

Quí tộc Hoàn Nhan Lượng giết Kim Hy Tông rồi tự lập làm vua, lịch sử gọi là Hải Lăng Vương.

Hoàn Nhan Lượng dời kinh đô Kim từ Thượng Kinh xuống Yên Kinh (Bắc Ninh ngày nay) để theo đuổi cuộc chiến tranh tiêu diệt Nam Tống.

Một hôm, Nhan Lượng nằm mơ, thấy mình lên thiên cung, thiên đế hạ lệnh cho ông thảo phạt triều Tống.

Ông ta nói lại giấc mơ đó cho các đại thần nghe.

Một số kẻ xu phụ đều nói đó là điềm tốt và sụp lạy chúc mừng hoàng đế.

Hoàn Nhan Lượng liền quyết định cử quân tiến đánh miền nam.

Tin tức về việc Hoàn Nhan Lượng chuẩn bị khởi binh truyền tới Lâm An.

Một số đại thần đề nghị triều đình chuẩn bị chống lại nhưng đều bị Tống Cao Tông quở trách là bày đặt, sinh sự.

Sau đó, triều Kim phái sứ thần Thi Nghi Sinh đến Lâm An, Tống Cao Tông cử đại thần là Trương Đào tiếp đón.

Trương Đào biết Thi Nghi Sinh vốn là quan cũ của triều Tống nên muốn Thi Nghi Sinh cho biết tin tức.

Thi Nghi Sinh cũng muốn báo tin, nhưng bên cạnh luôn có quan chức người Kim nên rất khó nói thẳng.

Thi Nghi Sinh đành nói bóng gió: "Hôm nay gió bắc thổi ghê gớm quá!", rồi vỗ bàn nói: "Bút lai!

Bút lai!". (Đưa bút đến đây!

Âm Trung Quốc chữ "bút" và chữ "tất" đồng âm.

"Bút lai" có thể hiểu là "tất lai", tức "đều đến cả").

Trương Đào được Thi Nghi Sinh tiết lộ cho biết tin tức, vội tâu với Tống Cao Tông là quân Kim sắp tiến công lớn.

Nhưng Tống Cao Tông vẫn coi như gió thoảng ngoài tai.

Tháng 9 năm 1161, Hoàn Nhan Lượng chuẩn bị xong, liền huy động 60 vạn quân, tổ chức thành 32 đạo, đưa toàn lực tiến công Nam Tống.

Trước giờ xuất phát, Hoàn Nhan Lượng huênh hoang tuyên bố với các tướng lĩnh: "Trước kia Lương vương (tức Ngột Truật) tiến công triều Tống, tốn bao thời gian mà không dành được thắng lợi.

Lần này ta xuất chinh, lâu là một trăm ngày, chóng là một tháng nhất định sẽ bình định phương nam!".

Đại quân của Hoàn Nhan Lượng tới sát bờ bắc Hoàng Hà.

Chủ soái trấn thủ Giang Bắc là Lưu Kỳ đang ốm nặng, liền cử phó soái là Vương Quyền tới Thọ Xuân ở Hoài Tây tổ chức phòng thủ.

Vương Quyền là kẻ tham sống sợ chết, nghe tin quân Kim đánh xuống, thì kinh hoàng bạt vía, không dám chống cự.

Hoàn Nhan Lượng đưa quân vượt Hoài Hà, Vương Quyền nhìn thấy bóng quân Kim đã bỏ chạy 1 mạch qua Trường Giang, tới tận Thái Thạch mới dừng lại.

Tống Cao Tông nghe tin Vương Quyền thua trận, bắt đầu lo sợ.

Ông cách chức Vương Quyền và cử Lý Hiển Trung lên thay, đồng thời cử tể tướng Diệp Nghĩa Vấn lên thị sát tình hình trong quân phòng thủ Giang Hoài.

Diệp Nghĩa Vấn cũng là kẻ nhát gan, không dám tự mình ra tiền tuyến, liền cử viên Trung thư xá nhân (1 chức quan văn) tới úy lạo các tướng sĩ Tống ở Thái Thạch.

Ngu Doãn Văn tới Thái Thạch thì Vương Quyền đã đi rồi, còn người thay thế là Lý Hiển Trung thì chưa tới.

Quân Kim bên kia bờ đang chuẩn bị vượt sông, quân Tống bên này không có chủ tướng; lòng người xốn xang, trật tự rối loạn.

Ngu Doãn Văn tới bờ sông, thấy binh lính Tống ủ rũ, ngồi tụm 5 tụm 3 bên vệ đường, yên ngựa và khôi giáp vứt ngổn ngang bên cạnh.

Ngu Doãn Văn hỏi: "Quân Kim sắp vượt sông, các ngươi còn ngồi đây đợi gì?".

Binh lính ngẩng đầu lên nhìn thấy là 1 quan văn, thì chán nản đáp: "Các tướng đều bỏ chạy cả, chúng tôi còn đánh chác nỗi gì!".

Thấy hàng ngũ quân đội rã rời như vậy, Ngu Doãn Văn giật mình, thấy nếu đợi Lý Hiển Trung tới thì không kịp, liền lập tức triệu tập các tướng sĩ Tống lại, nói với họ: "Ta được lệnh triều đình tới đây úy lạo quân đội.

Các vị cố gắng lập công, ta nhất định sẽ tâu lên triều đình để ban thưởng".

Mọi người thấy Ngu Doãn Văn đứng ra cầm đầu, cũng lấy lại tinh thần, họ nói: "Chúng tôi chịu mọi nỗi khổ do quân Kim gây ra, ai cũng muốn chống lại.

Nếu nay ngài đứng ra cầm đầu, chúng tôi xin tình nguyện liều mình chiến đấu".

Có viên quan đi theo Ngu Doãn Văn thấy thế, liền nói: "Triều đình cử ngài đến đây úy lạo quân đội, chứ không phải để đốc chiến.

Nay người khác làm cho tình hình nát bét thế này, ngài hà tất phải ôm lấy gánh nặng ấy".

Ngu Doãn Văn nổi giận nói: "Sao lại nói như vậy?

Hiện nay nước nhà đang nguy cấp, sao ta lại có thể so đo được mất cho cá nhân để lảng tránh trách nhiệm?".

Ngu Doãn Văn chỉ là 1 thư sinh, chưa từng chỉ huy chiến đấu bao giờ, nhưng lòng yêu nước đã giúp ông tăng dũng khí.

Ông lập tức hạ lệnh cho bộ binh và kỵ binh chỉnh đốn đội ngũ, dàn thành trận thế, lại phân thuyền bè trên sông thành 5 đội: 1 đội ở giữa sông, 2 đội bố trí ven bờ thuộc 2 bên đông tây, còn 2 đội ẩn dấu trong bến, dùng làm lực lượng dự bị.

Quân Tống vừa bố trí xong thì quân Kim bắt đầu vượt sông.

Hoàn Nhan Lượng đích thân vung lá cờ đỏ nhỏ chỉ huy phía sau.

100 chiến thuyền lớn của Kim chở đầy quân lính tiến sang bờ nam.

Chẳng bao lâu sau, quân Kim bắt đầu leo lên bờ.

Ngu Doãn Văn ra lệnh cho bộ tướng Thời Tuấn dẫn bộ binh xuất kích, hăng hái xông vào đánh.

Từ ngày quân Kim tiến quân, chưa từng gặp sự chống trả nào, nay bỗng nhiên gặp phải đối thủ mạnh như vậy, liền tan vỡ.

Chiến thuyền Tống ở trên sông cũng xông vào đánh thuyền quân Kim.

Thuyền quân Tống tuy nhỏ, nhưng rất bền chắc, xông vào thuyền trận quân Kim như những mũi dao thép sắt nhọn, làm tan vỡ đội hình thuyền Kim.

Rất nhiều thuyền Kim bị đánh chìm, nửa số quân địch chết đuối dưới sông, số còn lại vẫn ngoan cố chiến đấu.

Mặt trời xuống núi, trời tối dần mà cuộc chiến đấu trên sông vẫn chưa kết thúc.

Vừa may, có 1 toán lính Tống từ Quang Châu (nay là Hoàng Châu, Hà Nam) chạy về tới Thái Thạch.

Ngu Doãn Văn yêu cầu liền yêu cầu họ chỉnh đốn đội ngũ rồi phát cho họ rất nhiều quân kỳ và trống trận, để họ phất nhiều cờ và thúc trống từ sau núi tiến ra bờ sông.

Quân Kim trên sông thấy bờ phía nam vang lừng trống trận, cờ xí rợp trời đang tiến ra, thì cho là đại quân Tống tới tăng viện, liền cuống cuồng tháo chạy.

Bị thảm bại bất ngờ, Hoàn Nhan Lượng nổi giận đùng đùng, sai bắt số quân lính trốn chạy về đánh đập cho đến chết.

Biết Hoàn Nhan Lượng không chịu thất bại, ngay đêm đó, Ngu Doãn Văn chia chiến thuyền làm 2 đội, 1 đội di chuyển lên thượng lưu, 1 đội ở lại bến.

Tờ mờ sáng hôm sau, quả nhiên Hoàn Nhan Lượng lại thúc quân Kim vượt sông.

Ngu Doãn Văn chỉ huy cả 2 đội thuyền đánh ép lại.

Quân Kim đã nếm đòn của Ngu Doãn Văn, chỉ hoang mang chống đỡ.

300 thuyền lớn bị ùn lại giữa sông và bến vượt, bị quân Tống cho 1 mồi lửa, bốc cháy toàn bộ.

Hoàng Nhan Lượng không vượt được sông ở Thái Thạch, lại trút giận lên binh lính, đem giết 1 số lớn, rồi dẫn quân tới Dương Châu, toan vượt sông ở đó.

Sau khi quân Tống thắng lớn ở Thái Thạch, chủ tướng Lý Hiển Trung mới đem quân tới.

Sau khi tìm hiểu diễn biến chiến đấu dưới sự chỉ huy của Ngu Doãn Văn, Lý Hiển Trung tỏ ra rất khâm phục.

Ngu Doãn Văn nói với Lý Hiển Trung: "Sau khi bị thua ở Thái Thạch, quân địch nhất định sẽ tìm cách vượt sông ở Dương Châu.

Trấn Giang đối diện ở Dương Châu chưa được chuẩn bị tình hình rất nguy hiểm.

Ngài lưu lại đây, để tôi tới đó xem tình hình ra sao".

Lý Hiển Trung lập tức cấp cho Ngu Doãn Văn 1 số người ngựa, để ông dẫn tới Trấn Giang.

Trấn Giang vốn do lão tướng Lưu Kỳ trấn giữ.

Lúc đó, Lưu Kỳ đã ốm liệt giường.

Khi tới nơi, Ngu Doãn Văn liền tới thăm ông.

Lưu Kỳ nằm trên giường, nắm chặt tay Ngu Doãn Văn, nói với tâm trạng nặng nề: "Nước nhà nuôi quân ba mươi năm mà khi cần đến lại chẳng làm được gì.

Ngờ đâu lập công lớn lại là một thư sinh như ông.

Là một vị tướng, tôi thật cảm thấy hổ thẹn".

Ngu Doãn Văn an ủi ông rồi trở về trại quân.

Ông ra lệnh cho thủy quân diễn tập bên sông.

Quân Tống có 1 số lớn xa thuyền, do các thủy binh điều khiển, đi lại như bay, tuần tra xung quanh Kim Sơn.

Quân Kim ở bờ bắc thấy thế rất đỗi kinh hoàng, vội báo gấp với Hoàn Nhan Lượng.

Hoàn Nhan Lượng nổi giận, sai đánh cho tên lính đó 1 trận.

Lúc đó, quân Kim sau khi thua mấy trận, tâm trạng hốt hoảng.

Một số tướng sĩ ngầm bàn nhau bỏ trốn.

Hoàn Nhan Lượng phát hiện, liền hạ lệnh: nếu lính trốn thì tướng chỉ huy sẽ bị tội chết; nếu tướng trốn thì chủ tướng thì chủ tướng sẽ bị tội chết.

Đồng thời hạ lệnh: ngày mai vượt sông, kẻ nào chùn lại sẽ bị chém ngay.

Tướng sĩ Kim không chịu đựng được sự tàn bạo của Hoàn Nhan Lượng, không đợi tới lúc ông ta hạ lệnh vượt sông, ngay đêm đó đã xông vào đại doanh, giết chết Hoàn Nhan Lượng.

Hoàn Nhan Lượng bị giết, quân Kim liền rút lên phía bắc.

Trong khi Hoàn Nhan Lượng dẫn quân xuống phía nam, thì nội bộ triều Kim xảy ra biến động.

Một số đại thần không hài lòng với sự thống trị của Hoàn Nhan Lượng, liền tôn Hoàn Nhan Ung lên ngôi hoàng đế.

Đó là Kim Thế Tông.

Sau trận Thái Thạch, để ổn định tình hình nội bộ, Kim Thế Tông cử người sang giảng hòa với Nam Tống.

Chiến tranh Tống - Kim tạm thời được đình chỉ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TÂN KHÍ TẬT BẮT SỐNG KẺ PHẢN BỘI


Khi Hoàn Nhan Lượng rầm rộ kéo quân xuống phía nam, nhân dân ở miền bắc và Trung nguyên nhân lúc hậu phương Kim bỏ trống, đều nổi dậy khắp nơi.

Ở phủ Tế Nam có 1 nông dân là Cảnh Kinh, tụ tập mấy chục người 2 huyện thành là Lai Vũ và Thái An (đều thuộc tỉnh Sơn Đông ngày nay).

Hàng ngũ nghĩa quân dưới sự lãnh đạo của Cảnh Kinh nhanh chóng tăng lên tới 2 vạn người, trở thành đội quân khởi nghĩa lớn nhất trong toàn quốc.

Đi theo cuộc khởi nghĩa của Cảnh Kinh đại đa số là dân nghèo bị triều Kim bóc lột tàn khốc, nhưng cũng có 1 tri thức yêu nước là Tân Khí Tật.

Tân Khí Tật là 1 văn học gia kiệt xuất thời Nam Tống.

Ông quê ở Tế Nam.

Khi sinh ra, thì quê hương đã nằm trong tay lực lượng xâm lược Kim.

Ông nội của Tân Khí Tật là Tân Tán tuy có giữ 1 chức quan địa phương dưới triều Kim trong mấy năm, nhưng tấm lòng luôn hướng về triều Tống.

Tân Tán luôn kể lại cháu nghe về lịch sử diệt vong bi thảm của Bắc Tống và dẫn Tân Khí Tật trèo lên núi cao, ngắm nhìn non sông tươi đẹp của tổ quốc, gây những ấn tượng vô cùng sâu sắc trong lòng chàng trai Tân Khí Tật.

Khi trưởng thành, vì có văn tài xuất chúng, Tân Khí Tật được quan chức triều Kim ở Tế Nam cử lên Yên Kinh tham gia kì thi tiến sĩ.

Trước khi lên đường, Tân Tán dặn dò cháu là dọc đường đi, cần chú ý quan sát địa thế và thăm dò tình hình nội bộ triều Kim.

Tân Khí Tật tới Yên Kinh, không đỗ tiến sĩ, nhưng đã thực hiện tốt lời dặn của ông nội.

Ba năm sau, ông lại lên Yên Kinh dự thi, nên càng tìm hiểu rõ tình hình nội bộ triều Kim.

Tân Tán mất đi, không chờ được tới ngày triều Tống thu phục Trung nguyên.

Tân Khí Tật quyết tâm thừa kế di chí của ông nội.

Năm sau, Hoàn Nhan Lượng phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm phương nam, chàng trai 22 tuổi Tân Khí Tật thấy cơ hội đã đến, liền tổ chức đội ngũ khởi nghĩa hơn 2000 người, đi theo Cảnh Kinh.

Trong hàng ngũ nghĩa quân Cảnh Kinh, người có văn tài như Tân Khí Tật rất hiếm.

Thấy ông tới, Cảnh Kinh hết sức vui mừng, cử ngay ông giữ công việc văn thư và quản lý quả ấn của nghĩa quân.

Tân Khí Tật cho Cảnh Kinh biết là vùng phụ cận Tế Nam có 1 cánh quân khởi nghĩa, thủ lĩnh là 1 hòa thượng hiểu biết binh pháp tên là Nghĩa Đoan mà ông quen biết.

Cảnh Kinh nghe nói rất phấn khởi, liền cử Tân Khí Tật đến liên lạc.

Mấy hôm sau, Nghĩa Đoan dẫn lực lượng của mình đến gia nhập nghĩa quân của Cảnh Kinh.

Nghĩa Đoan đến nơi, dựa vào tình hình quen biết với Tân Khí Tật, nên thường xuyên gần gũi với ông, Tân Khí Tật cũng không nghi ngờ gì.

Ngờ đâu, Nghĩa Đoan mang lòng bất lương, một buổi tối nhân Tân Khí Tật không đề phòng, hắn liền lấy trộm quả ấn của nghĩa quân rồi trốn sang với quân Kim.

Cảnh Kinh thấy Tân Khí Tật dẫn gian tế vào hàng ngũ, thì nổi giận, sai đem ông ra chém.

Tân Khí Tật khẩn khoản nói: "Nghĩa Đoan lấy trộm ấn trốn đi, tôi đương nhiên phải chịu trách nhiệm.

Xin ngài cho tôi một thời gian là ba ngày để tôi theo bắt hắn về.

Nếu không bắt được, tôi xin tình nguyện chịu hình phạt".

Được Cảnh Kinh đồng ý, Tân Khí Tật phóng ngựa về phía trại Kim.

Sau 1 đoạn đường, quả nhiên đuổi kịp Nghĩa Đoan.

Tên phản bội run rẩy xin tha mạng.

Tân Khí Tật đùng đùng nổi giận rút gươm chém phăng đầu hắn rồi đem đầu cùng quả ấn về trình Cảnh Kinh.

Cảnh Kinh không trách phạt ông, mà ngược lại càng coi trọng ông hơn trước.

Sau đại chiến Thái Thạch, quân Kim rút lên phía bắc.

Kim Thế Tông 1 mặt giảng hòa với Tống, 1 mặt sử dụng biện pháp vừa chiêu dụ vừa trấn áp các cánh quân ở miền bắc để dập tắt lực lượng kháng chiến.

Nghĩa quân Cảnh Kinh bị uy hiếp nặng nề.

Tân Khí Tật bàn với Cảnh Kinh: "Để chống Kim, chúng ta nhất định phải bắt liên lạc với triều đình, để nam bắc cùng phối hợp với nhau.

Nếu vạn nhất chúng ta không trụ lại được ở đây thì có thể đưa binh mã rút xuống phía nam".

Cảnh Kinh đồng ý với Tân Khí Tật, liền cử Tổng đề lĩnh nghĩa quân là Giả Thụy đi Kiến Khang triều kiến Tống Cao Tông.

Giả Thụy là 1 võ tướng không biết chữ, không hiểu lễ nghi trong triều, nên xin Cảnh Kinh cho Tân Khí Tật cùng đi.

Cảnh Kinh đồng ý.

Năm 1162, Giả Thụy, Tân Khí Tật cùng hơn 10 tùy tòng tới Kiến Khang.

Tống Cao Tông thấy nghĩa quân Sơn Đông đến góp sức thì rất phấn khởi, lập tức tiếp họ tại hành cung.

Tân Khí Tật tháp tùng Giả Thụy vào triều kiến, dõng dạc đọc sớ tấu do ông khởi thảo cho nghĩa quân, báo cáo trước triều đình về tình hình nghĩa quân chống Kim ở miền bắc.

Tống Cao Tông liền phong cho Cảnh Kinh làm Thiên bình quân Tiết độ sứ, phong quan chức cho Giả Thụy, Tân Khí Tật và sai họ trở về báo cáo với Cảnh Kinh.

Giả Thụy và Tân Khí Tật hoàn thành nhiệm vụ, phấn khởi từ giã Kiến Khang trởlên miền bắc.

Nào ngờ, khi tới Hải Châu (nay là Liên Vân Cảng, Giang Tô) thì nghe được tin dữ: sau khi họ rời khỏi nghĩa quân 1 thời gian, Cảnh Kinh đã bị giết hại. kẻ giết hại Cảnh Kinh là Trương An Quốc, 1 tướng trong nghĩa quân.

Trương An Quốc vì ham giàu sang, đã câu kết với 1 bộ tướng của Cảnh Kinh, nhân lúc ông không phòng bị, xông vào trong trướng giết hại ông.

Sau khi Trương An Quốc ra hàng triều Kim, hắn được cử làm quan cai trị Tế Châu (nay là Cự Dã, Sơn Đông).

Nghĩa quân mất thủ lĩnh, lại không cam tâm đầu hàng quân Kim nên đã giải tán, bỏ đi.

Nghe tin đó, Tân Khí Tật vừa đau lòng vừa căm uất, quyết tâm diệt từ kẻ phản bội, báo thù cho Cảnh Kinh.

Ông đem bàn việc đó với tướng giữ trấn Hải Châu, nhiều tướng sĩ yêu cầu được cùng đi với ông để trừ gian.

Tân Khí Tật liền dẫn 50 dũng sĩ, cùng phóng ngựa đi Tế Châu.

Đoàn của Tân Khí Tật đi tới dinh quan ở Tế Châu, tên phản bội Trương An Quốc đang chiêu đãi khách, nghe tin ông đến, có phần hoang mang.

Nhưng vì chưa rõ ý định của ông nên hắn bảo lính canh cho đoàn của ông vào. tân Khí Tật và các dũng sĩ ùa vào sảnh đường, thấy Trương An Quốc và 1 số kẻ phản bội khác đang tiệc tùng vui vẻ thì bừng bừng nổi giận.

Họ không nói không rằng, xông lên bắt trói Trương An Quốc, lôi ra khỏi nha môn.

Tới khi quân lính ở Tế Châu chạy tới, thì Trương An Quốc đã bị trói trên lưng ngựa.

Thấy thần sắc uy nghiêm của Tân Khí Tật, số quân lính này không dám động thủ.

Tân Khí Tật tuyên bố: "Đại quân triều đình sẽ tới đây ngay bây giờ.

Những ai tình nguyện chống Kim, hãy tham gia vào hàng ngũ chúng ta".

Đa số quân lính ở Tế Châu vốn trước kia từng theo Cảnh Kinh, nay Tân Khí Tật hiệu triệu, có hơn 1 vạn người tình nguyện đi theo.

Tân Khí Tật lập tức dẫn đầu nghĩa quân, áp giải tên phản bội, hành quân xuống miền nam.

Tới Kiến Khang, triều đình Nam Tống xét rõ tội trạng của Trương An Quốc, lập tức cho chém đầu thị chúng.

Tân Khí Tật được triều Tống cử đi làm quan ở Giang Âm.

Ông không nề hà chức vụ thấp, nhiều lần đề xuất chủ trương chống Kim lên triều Tống, nhưng đáng tiếc là đều không được chấp nhận.

Sau đó, tuy đã làm quan ở mấy địa phương, lại đã từng lập ra đội "phi hổ quân", nhưng ông vẫn không thực hiện được nguyện vọng bắc phạt Trung nguyên.

Năm 42 tuổi, ông lại bị bọn gian thần bức bách, buộc phải về hưu.

Suốt cuộc đời, Tân Khí Tật đã viết nhiều bài từ đầy khí phách hào hùng và nồng nàn yêu nước.

Từ của ông chiếm địa vị cao trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Chính trong năm Tân Khí Tật xuống miền nam, Tống Cao Tông thoái vị, cháu là Triệu Thận lên nối ngôi hoàng đế.

Đó là Tống Hiếu Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
BÀI THƠ LÚC LÂM CHUNG CỦA LỤC DU


Khi vừa nối ngôi, Tống Hiếu Tông quyết tâm thay đổi chính sách cầu hòa nhục nhã, rất muốn làm nên sự nghiệp lớn là khôi phục Trung nguyên.

Năm 1163, ông cử 1 lão tướng rất có danh vọng là Trương Tuấn làm khu mật sứ.

Trương Tuấn quyết định đưa quân bắc phạt, và xin triều đình hạ chiếu, hiệu triệu nhân dân Trung nguyên vùng lên chống địch, phối hợp với quân triều đình để khôi phục đất đai đã mất.

Trong khu mật viện lúc đó có viên quan tu là Lục Du, rất có văn tài.

Trương Tuấn liền sai Lục Du khởi thảo tờ chiếu đó.

Lục Du là nhà thơ yêu nước nổi tiếng thời Tống.

Ông là người vùng Sơn Âm, Chiết Giang, sinh ra vào lúc Bắc Tống diệt vong.

Khi quân Kim tiến xuống Giang Nam tàn sát, cướp bóc, cậu bé Lục Du đã nếm đủ điều đau khổ vì quốc nạn, và đã mắt thấy tai nghe rất nhiều câu chuyện chồng Kim hào hùng và bi tráng.

Trong tâm não thơ trẻ của ông đã hình thành tình yêu sâu sắc với tổ quốc và dân tộc.

Lớn lên, Lục Du chuyên cần học tập trở thành 1 tài năng văn học xuất sắc.

Năm 29 tuổi, ông tham gia khoa thi ở vùng Lưỡng Triết, được lấy đỗ đầu.

Khóa thi đó có cháu củaTần Cối là Tần Huân cùng dự.

Trước khi thi, Tần Cối đã nói riêng với quan chấm thi, yêu cầu lấy cháu hắn đỗ đầu.

Nhưng quan chấm thi không làm theo ý hắn, vẫn theo phép công, chọn Lục Du.

Việc đó là Tần Cối rất tức giận.

Năm sau, Lục Du lên kinh đô Lâm An thi.

Quan chủ khảo thấy văn Lục Du xuất sắc, đã toan lại để ông đỗ đầu.

Tần Cối phát hiện, liền ngang ngược hạ lệnh cho quan chủ khảo hủy bỏ tư cách thí sinh của Lục Du và còn truy cứu trách nhiệm của quan chấm thi vùng Lưỡng Triết.

Từ đó về sau, Tần Cối cố ý vùi dập Lục Du, không cho ông làm quan trong triều.

Chỉ tới sau khi Tần Cối mất đi, ông mới được tới Lâm An làm quan biên tu trong khu mật viện.

Lục Du nhiệt tình ủng hộ cuộc bắc phạt.

Nhưng Trương Tuấn là thống soái quân đội lại thiếu tài năng quân sự và 2 viên tướng dưới quyền lại bất hòa với nhau, luôn hục hặc va chạm.

Quân Tống vừa ra quân, đã bị thua 1 trận ở Phù Ly (nay ở phía bắc huyện Túc, An Huy), toàn tuyến nao núng phải lùi lại.

Cuộc bắc phạt không thành.

Những đại thần xưa nay một mực chủ hòa liền ra sức công kích Trương Tuấn, và còn nói là cách dùng binh của Trương Tuấn là do Lục Du đưa ra.

Do đó, Trương Tuấn bị gạt khỏi triều đình và Lục Du bị bãi chức về quê ở Sơn Âm.

Bị quân Kim uy hiếp, quyết tâm chống Kim của Tống Hiếu Tông bị lung lay.

Tới năm sau, Tống phải ký với Kim 1 hòa ước nhục nhã nữa.

Từ đó về sau, Tống không còn dám nói tới việc bắc phạt.

Khoảng 10 năm sau, Vương Viên, 1 viên tướng phụ trách quân sự vùng Tứ Xuyên, Thiểm Tây, nghe danh Lục Du, liền mời ông tới Hán Trung làm việc dưới quyền mình.

Hán Trung tiếp giáp với tiền tuyến chống Kim.

Lục Du thấy tới Hán Trung có thể có cơ hội tham gia việc chống Kim, liền vui vẻ tới nhận chức.

Đến nơi, ông nhiều lần cưỡi ngựa tới Đại Tản Quan, xem xét vùng do quân Kim chiếm đóng.

Sống tại nha môn của Vương Viên, ông thường trực tiếp tiếp xúc với nhân dân vùng bị chiếm, không quản nguy hiểm, tới cung cấp tin tức quân sự cho quân Tống.

Tình hình đó khiến ông tràn đầy hy vọng vào tiền đồ cuộc kháng chiến chống Kim.

Sau khi khảo sát tường tận, ông nêu 1 kế hoạch với Vương Viên, là muốn khôi phục Trung nguyên thì trước hết phải khôi phục Trường An, đề nghị Vương Viên tích lũy lương thảo, huấn luyện quân ở Hán Trung, làm tốt mọi việc chuẩn bị để gặp thời cơ thì mở cuộc tiến công.

Nhưng triều đình Nam Tống lúc đó không hề có ý định bắc phạt, các tướng lĩnh vùng Xuyên – Thiểm đa số đều kiêu căng, thối nát.

Vương Viên không có cách nào thuyết phục được triều đình và chỉ huy cấp dưới thì nói gì đến việc thực hiện kế hoạch của Lục Du.

Hy vọng của ông cũng tiêu tan.

Không lâu sau, Vương Viên bị điều đi, Lục Du cũng bị đưa về Thành Đô làm quan tham nghị cho An phủ sứ Phạm Thành Đại.

Phạm Thành Đại là bạn cũ của Lục Du, nên tuy không cùng cấp, 2 người không câu nệ nhiều đến lễ tiết.

Ý nguyện chống Kim của Lục Du không được thực hiện, nên trong lòng buồn giận, thường uống rượu làm thơ, thổ lộ tình cảm yêu nước của mình.

Một số quan chức khác không ưa tính cách đó của ông.

Thường chỉ trích ông coi thường lễ tiết, tác phong phóng túng.

Lục Du nghe hết những lời đó, bực mình, lấy luôn biệt hiệu "Phóng ông" (ông già phóng túng).

Người đời sau, vì vậy gọi ông là Lục Phóng Ông.

Lại hai, ba chục năm nữa, vương triều Nam Tống thay đổi 2 hoàng đế khác, lần lượt là Tống Quang Tông Triệu Đôn và Tống Ninh Tông Triệu Khuếch, nhưng trước sau không hề có quyết tâm khôi phục lãnh thổ.

Lục Du sống mãi cuộc đời nhàn cư, chỉ có cách gửi gắm nhiệt tình yêu nước vào thi ca.

Năm 1206, Hàn Thược Trụ làm tể tướng, phát động 1 cuộc bắc phạt quy mô lớn.

Điều này khiến Lục Du vô cùng phấn khởi, nhưng cuộc bắc phạt không được chuẩn bị đầy đủ, lại thêm trong triều có nhiều phe phái chống đối nhau, nên lần bắc phạt cuối cùng này lại thất bại.

Tống Ninh Tông và 1 số đại thần thuộc phái chủ hàng liền giết Hàn Thược Trụ, nộp thủ cấp cho triều Kim, lại ký 1 hòa ước khuất nhục.

Nguyện vọng mãnh liệt suốt đời của Lục Du là khôi phục lãnh thổ, thống nhất tổ quốc không thực hiện được.

Ông chỉ còn cách dùng thi ca để nói lên nhiệt tình yêu nước và nỗi buồn đau trước số phận dân tộc.

Suốt cuộc đời sáng tác, ông để lại hơn 9000 bài thơ.

Trong số nhà thơ các đời, khối lượng sáng tác của ông là phong phú nhất.

Năm 1210, nhà thơ yêu nước 86 tuổi ốm nặng.

Tới lúc lâm chung, ông vẫn không quên việc khôi phục Trung nguyên.

Ông gọi con cháu tới bên giường, đọc cho nghe bài thơ cuối cùng xúc động tâm can – bài "Thị Nhi" (dặn con).

"Tử khứ nguyên tri vạn sự không,

Đãn bi bất kiến Cửu châu đồng.

Vương sư bắc định Trung nguyên nhật

Gia tế vô vong cáo nãi ông".

Tạm dịch:

"Chết đi là hết còn đâu,

Đau lòng chẳng thấy chín châu một nhà.

Khi nào khôi phục sơn hà,

Các con nhớ khấn cho ta biết cùng".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
THÀNH CÁT TƯ HÃN THỐNG NHẤT MÔNG CỔ


Khi Hàn Thược Trụ bắc phạt, nội bộ triều Kim đã rất thối nát.

Tộc Mông Cổ ở phương bắc nhân cơ hội đó xây dựng lực lượng ngày 1 lớn mạnh.

Năm 1206, hội nghị các thủ lĩnh bộ tộc Mông Cổ đã long trọng tiến hành bên bờ sông Ônôn, tôn Tê-mu-jin (Thiết Mộc Chân) làm đại hãn Mông Cổ với danh hiệu Trin-ghit-khan (Thành Cát Tư Hãn – hãn mạnh nhất).

Tê-mu-jin vốn là con trai tù trưởng Y-ê-xu-gây của bộ lạc Ta-y-tri-út.

Khi ông còn nhỏ, bọn thống trị thuộc vương triều Kim thực hiện chính sách thống trị tàn bạo đối với người Mông Cổ.

Giữa các bộ lạc Mông Cổ cũng thù hận chém giết lẫn nhau, nên đời sống nhân dân rất cực khổ.

Ông tổ của Tê-mu-jin cũng bị hoàng đế Kim giết hại.

Năm Tê-mu-jin lên 9 tuổi, cha ông dẫn ông tới nhà 1 người bạn để làm lễ đính hôn cho ông với cô con gái nhà đó.

Người cha để Tê-mu-jin ở lại và đi về một mình.

Tới nửa đương, Y-ê-xy-gây thấy đói bụng, vừa thấy 1 bộ lạc Tác-Ta đang mở tiệc.

Theo phong tục, ông xuống ngựa, vào tham gia tiệc rượu.

Y-ê-xu-gây không nghĩ tới điều quan trọng, là bộ lạc Tác-Ta có mối thù oán cũ với bộ lạc của ông.

Người trong bộ lạc đó nhận ra ông, liền lén cho thuốc độc vào thức ăn.

Trên đường về, Y-ê-xu-gây đau bụng dữ dội và vừa tới nhà thì chết.

Y-ê-xu-gây chết đi, bộ lạc Ta-y-tri-út mất thủ lĩnh, đều tản mát đi.

Những ngưới ra đi đều mang theo súc vật và lều trại.

Ngoài ra, bộ lạc Thái Diệc Xích trước kia vốn quy phục Y-ê-xu-gây, nay cũng tách ra và chiếm theo nhiều nô lệ và súc vật.

Gia đình Tê-mu-jin chỉ còn trơ trọi đơn độc, cuộc sống ngày càng khó khăn.

Thủ lĩnh bộ lạc Thái Diệc Xích sợ khi lớn lên, Tê-mu-jin sẽ báo thù nên phái người ngựa đi truy lùng để giết chết ông.

Tê-mu-jin được tin, vội lủi trốn vào rừng sâu.

Ông trốn suốt 9 ngày đêm, không có gì ăn uống, phải mò ra, thì bị bắt.

Dân tộc trong bộ lạc Thái Diệc Xích đóng gông Tê-mu-jin , đưa về giam trong lều.

Một hôm, toàn bộ lạc ra bờ sông Ônôn tổ chức yến tiệc, trong lều chỉ còn lại 1 lính gác trẻ tuổi.

Tê-mu-jin trong lúc bất ngờ, dùng gông đánh người gác ngất xỉu rồi trốn chạy.

Sau khi gặp lại mẹ và các em, Tê-mu-jin là đưa gia đình trốn vào núi, sống bằng cách đào hang bắt chuột, cuộc sống rất cực khổ.

Để khôi phục sự nghiệp của cha, chàng trai Tê-mu-jin đã dùng mọi biện pháp kiên trì tập hợp lại được những người thân thuộc và dân chúng trong bộ lạc cũ.

Qua giao chiến với các bộ lạc khác, ông thường giành thắng lợi, nên lực lượng dần lớn mạnh.

Tê-mu-jin kết bạn với Trác Mộc Hợp cũng là thru lĩnh 1 bộ lạc.

Hai người thường cùng ăn, cùng ngủ, thân mật như anh em.

Nhưng sau này, lự lượng của Tê-mu-jin lớn mạnh lên, bộ hạ của Trác Mộc Hợp có nhiều người bỏ sang theo Tê-mu-jin, khiến Trát Mộc Hợp rất bực mình.

Một lần, con trai Trát Mộc Hợp đánh cướp đàn ngựa của Tê-mu-jin, bị bộ jaj của Tê-mu-jin giết chết.

Hai bên xảy ra xung đột.

Trát Mộc Hợp tụ tập lực lượng của 13 bộ lạc dưới quyền mình gồm 3 vạn người ngựa, tiến đánh Tê-mu-jin.

Tê-mu-jin liền chia 3 vạn người ngựa của mình thành 15 đội, chống lại cuộc tiến công đó.

Hai bên triển khai 1 trận đánh lớn bên sông Ônôn, Tê-mu-jin không chống nổi phải rút lui.

Trát Mộc Hợp cho tàn sát hết tù binh, điều này khiến những những người dưới quyền bất mãn, bỏ sang theo Tê-mu-jin.

Vì vậy, tuy thua trận mà thực lực của Tê-mu-jin lại lớn mạnh thêm.

Tê-mu-jin không quên mối thù với bộ lạc Tác-Ta đã giết cha mình.

Không lâu sau, vì thủ lĩnh bộ lạc Tác-Ta làm phật ý triều Kim, triều Kim sai thừa tướng Hoàng Nhan Tương họp với Tê-mu-jin phối hợp đánh Tác-Ta, tiêu diệt toàn bộ quân Tác-Ta, bắt được rất nhiều người, gia súc và thu mọi của cải lương thực.

Triều Kim cho rằng Tê-mu-jin đã lập công nên phong cho ông chức tư lệnh tiên phong.

Sau đó, Tê-mu-jin cũng tiến hành nhiều cuộc chinh phạt, lần lượt tiêu diệt các bộ lạc trên cao nguyên Mông Cổ.

Cuối cùng đã thống nhất toàn Mông Cổ.

Ông được thủ lĩnh các bộ lạc Mông Cổ tôn làm đại hãn, tức Trin-ghít-khan (Thành Cát Tư Hãn) mà sau này cả thế giới đều biết tiếng.

Sau khi nắm quyền đại hãn, Tri-ghít-khan đã xây dựng hoàn chỉnh chế độ quân sự và chính trị, cho đặt ra và sử dụng chữ Mông Cổ, làm cho Mông Cổ trở thành 1 hãn quốc lớn mạnh.

Nhưng triều Kim vẫn coi Mông Cổ là 1 nước phụ thuộc, bắt Trin-ghít-khan phải tiến công.

Trin-ghít-khan quyết định thay đổi địa vị phụ thuộc nhục nhã đó.

Sai khi Kim Chương Tông chết, thái tử Hoàn Nhan Vĩnh Tế lên nối ngôi, phái sứ giả tới Mông Cổ.

Sứ giả tới, yêu cầu Trin-ghít-khan phải quỳ xuống nghe chiếu thư.

Trin-ghit-khan hỏi sứ giả xem hoàng đế mới là ai.

Sứ giả đó trả lời: đó là Hoàn Nhan Vĩnh Tế.

Trin-ghit-khan khinh miệt, nhổ nước bọt, nói: "Ta cứ tưởng rằng người làm chủ Trung nguyên phải là người trời, chứ một kẻ tầm thường bất tài như thế cũng đáng làm hoàng đế sao?".

Nói xong, ông bỏ mặc sứ giả Kim đứng đó, lên ngựa phóng đi.

Từ đó về sau, Trin-ghit-khan công khai đối địch với triều Kim.

Năm 1211, Trin-ghit-khan mở cuộc tiến công vào nước Kim.

Ông trèo lên núi cao, khấn trời: "Hoàng đế nước Kim đã giết hại tổ tiên của con là An Ba Cai, xin cho phép con báo mối thù này!".

Sau đó, ông lựa chọn 3000 kỵ binh tinh nhuệ, tiếnxuống phía nam.

Tướng Kim là Hồ Thiếu Hổ dẫn 30 vạn quân chống lại, bị quânMông Cổ đánh cho tan tác.

Hai năm sau, quân Mông Cổ lại đánh vào Cư Dung Quan,vây đánh Trung Kinh của triều Kim (ở Bắc Kinh ngày nay).

Trin-ghit-khan cùng 4con chia làm mấy cánh quân, tung hoành trên vùng bình nguyên rộng lớn của Hà Bắc,đánh đâu thắng đó.

Lúc đó, nội bộ triều Kim vô cùng hỗn loạn, hoàng đế HoànNhan Vĩnh Tế bị giết, hoàng đế nối ngôi là Kim Tuyên Tông buộc lòng phải xinhòa hoãn với Trin-ghit-khan, đem nhiều vàng bạc, vải lụa hiến choTrin-ghit-khan, kèm theo 1 cô công chúa, Trin-ghit-khan mới rút quân về nước.

Sau khi đánh bại triều Kim, binh lực của Mông Cổ rất mạnh.

Năm 1219, 1 đoàn thương nhân Mông Cổ được Trin-ghit-khan cử sang phương tây, đến Khôrexmơ (nay là khu vực thuộc các nước Kazakhstan và Uzebekistan), bị quân lính ở đây giết hại.

Trin-ghit-khan liền thân dẫn 20 vạn đại quân tiến đánh Khôrexmơ.

Sau đó, lại đánh thẳng sang phía tây, chiếm các nước thuộc vùng Trung Á hiện nay.

Toán quân đi đầu của Mông Cổ còn đánh tới phía đông Châu Âu và phía bắc Iran rồi mới quay về.

Khi Tri-ghit-khan dẫn quân tây chinh có yêu cầu Tây Hạ đem quân phối hợp, nhưng Tây Hạ từ chối và lại kí minh ước với Kim.

Sau khi trở về, Tri-ghit-khan quyết tâm tiêu diệt Tây Hạ.

Trong khi vây đánh Tây Hạ, đến giờ phút cuối, ông mắc bệnh nặng.

Biết mình không qua khỏi được, trên giường bệnh, Trin-ghit-khan trăn trối lại cho các tướng lĩnh và con cái: "

Sau này ta đánh Kim, cầu mượn đường nước Tống.

Triều Tống và triều Kim có thù oán rất sâu, nhất định họ sẽ cho ta mượn đường".

Sau khi Trin-ghit-khan chết, con ông là Ô-gô-đây (Oa Khoát Đài) nối tiếp ngôi đại hãn.

Ô-gô-đây làm theo di chúc của Trin-ghit-khan, mượn đường nước Tống để bao vây kinh thành Khai Phong của Kim.

Năm 1233, Kim Ai Tông chạy đến Thái Châu (nay là Nhữ Nam, Hà Nam).

Quân Mông Cổ lại liên hợp với Tống bao vây Thái Châu.

Kim Ai Tông cử sứ giả đến cầu hòa với Tống Lý Tông (con kế vị của Tống Ninh Tông, tên là Triệu Vân), và trình bày: "Nếu Kim bị diệt, thì tiếp theo sẽ đến lượt Tống.

Quí quốc liên hợp với chúng tôi chống Mông Cổ, thì hai nước đều được lợi"

Tống Lý Tông không thèm để ý đến lời cầu hòa đó.

Kim Ai Tông hết đường chạy, đành tự sát.

Năm 1234, dưới sự giáp công của Mông và Tống, triều Kim diệt vong.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
GIẢ TỰ ĐẠO LÀM HẠI NƯỚC


Sau khi Mông Cổ và Tống liên hợp với nhau diệt xong triều Kim, Nam Tống liền đem quân muốn thu hồi Khai Phong và vùng Hà Nam.

Ô-gô-đây lấy cớ Nam Tống phá hoại hiệp nghị, liền mang quân tiến công.

Từ đó về sau, giữa 2 bên liên tục xảy ra chiến tranh.

Sau khi cháu Ô-gô-đây là Mông Ke lên nối ngôi đại hãn, liền cử em là Khu-bi-lai (Hốt Tất Liệt) và đại tướng U-ri-ang-kha-đai (Ngột Lương Hợp Thai) tiến quân xuống Vân Nam, khống chế vùng tây nam.

Năm 1258, Mông Ke chia quân làm 3 đường tiến công Nam Tống.

Bản thân Mông Ke dẫn quân chủ lực tiến đánh Hợp Châu (nay là Hợp Xuyên, Tứ Xuyên); Khu-bi-lai tiến đánh Ngạc Châu (nay là Vũ Xương, Hồ Bắc), U-ri-ang-kha-đai tiến đánh Đàm Châu (nay là Trường Sa, Hồ Nam), chuẩn bị sau khi hội quân, sẽ cùng tiến chiếm Lâm An.

Khi cánh quân Mông Ke đánh Hợp Châu, tướng Tống là Vương Kim và quân dân toàn thành ra sức chống cự, giữ vững thành Điếu Ngư ở phía đông Hợp Châu.

Quân Mông Cổ vây thành Điếu Ngư suốt 5 tháng mà không hạ được.

Trong khi vây thành, Mông Ke lại bị máy bắn đá bắn trúng, bị trọng thương, về tới đại doanh thì chết.

Khu-bi-lai đang tiến quân về Ngạc Châu, còn chưa vượt sông thì được tin Mông Ke chết.

Có người khuyên ông ta nên nhanh chóng trở về miền bắc để tranh đoạt ngôi đại hãn.

Khu-bi-lai nói: "Ta phụng mệnh đánh triều Tống, sao có thể trở về tay không?".

Khu-bi-lai quan sát tình hình ven sông, rồi phái mấy trăm người trong đội cảm tử làm đội tiền phong, vượt Trường Giang.

Quân Tống không phòng bị, quả nhiên tan vỡ.

Quân Mông Cổ liền ồ ạt vượt sông, vây chặt Ngạc Châu.

Tin cấp báo nối tiếp truyền về Lâm An, làm rung động triều Tống.

Tống Lý Tông hạ lệnh cho các lộ quân tới cứu Ngạc Châu, lại hạ lệnh cho Giả Tự Đạo làm Hữu thừa tướng kiêm Khu mật sứ, đến Hán Dương đốc chiến.

Giả Tự Đạo là 1 kẻ phóng túng bất học vô thuật, dựa vào thế lực người chị là sủng phi của Tống Lý Tông mà leo lên chức cao.

Khi được phong quan, hắn không làm gì hết, chỉ thường xuyên cùng kĩ nữ uống rượu, ca hát trên Tây hồ.

Một buổi tối, Tống Lý Tông lên lầu cao trong cung ngắm ra, thấy trên Tây hồ đèn đuốc sáng rực, liền nói với các thị thần: "Đây nhất định là thằng nhóc Giả Tự Đạo rồi!".

Các thị thần đều biết là Tống Lý Tông cưng chiều Giả Tự Đạo, liền nói hùn vào: "Chớ nghĩ là tuổi trẻ ham chơi, ông ta có tài năng lớn lắm đó".

Lần này Tống Lý Tông ra lệnh cho Đạo ra tiền tuyến đốc chiến, Đạo đành gắng gượng đi.

Một lần, Đạo nghe nói phía trước có 1 toán quân Mông Cổ, thì run cầm cập, cuống quýt nói: "Làm sao bây giờ?

Làm sao bây giờ?".

Sau, quân Mông Cổ cướp 1 số của cải rồi đi, Giả Tự Đạo mới hoàn hồn.

Khu-bi-lai đánh thành ngày càng dữ dội, Giả Tự Đạo thấy tình căng quá, liền giấu triều đình, lén phái 1 tên thân tín sang trại Mông Cổ xin hòa, tỏ ý nếu Mông Cổ lui quân thì triều Tống xin tình nguyện xưng thần và tiến cống vàng bạc,vải lụa.

Khu-bi-lai đang thắng thế, chưa chịu nghe theo thì vừa nhận được thư mật của vợ từ miền bắc gửi xuống, cho biết 1 số quí tộc đang chuẩn bị cử em Khu-bi-lai là Aric-bu-ke (Alý Bất Kha) lên làm đại hãn.

Khu-bi-lai vội trở về để tranh đoạt ngôi đại hãn, liền chấp nhận lời cầu xin của Giả Tự Đạo, 2 bên kí mật ước với nhau.

Giả Tự Đạo chấp nhận cắt vùng đất Giang Bắc (bờ bắc Trường Giang) nhường cho Mông Cổ và mỗi năm tiến cống 20 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa.

Thỏa thuận xong, Khu-bi-lai liền rút quân về bắc.

Giả Tự Đạo trở về Lâm An, giấu biệt chuyện kí kết hòa ước, và đưa mấy tên tù binh Mông Cổ ra khoe khoang là quân Tống thắng lớn, không những là đã đuổi được Mông Cổ ra khỏi Ngạc Châu, mà còn quét sạch toàn bộ quân Mông Cổ dọc Trường Giang.

Tống Lý Tông rất tin vào sự khoác lát của Giả Tự Đạo, cho là Đạo đã lập công lớn, nên lập tức xuống chiếu khen ngợi Đạo đã phấn đấu quên mình, chỉ huy tài giỏi và gia phong quan tước cho hắn.

Khu-bi-lai về tới miền bắc, được đại đa số quí tộc ủng hộ, liền lên ngôi đại hãn.

Ông ta nhớ tới hòa ước đã kí với Giả Tự Đạo, liền phái sứ giả đến Nam Tống, yêu cầu thực hiện những điều đã kí.

Sứ giả đến Chân Châu (nay là Nghi Trưng, Giang Tô), liền cử phó sứ mang thư đến cho Giả Tự Đạo.

Giả Tự Đạo nghe nói sứ giả sắp tới Lâm An, sợ bại lộ việc lừ bịp, vội cử người tới Chân Châu, bắt giữ sứ giả lại.

Khu-bi-lai được tin, nổi giận đùng đùng.

Nhưng lúc đó, nội bộ Mông Cổ có xung đột, Aric-bu-ke đem quân chống lại Khu-bi-lai, giữa 2 anh em nổ ra chiến tranh.

Khu-bi-lai đành tạm thời gác việc Nam Tống lại.

Giả Tự Đạo dựa vào thủ đoạn lừa bịp, giữ được chức tể tướng trong mười mấy năm.

Sau khi Lý Tông chết, thái tử Triệu Kỳ kế vị, tức là Tống Độ Tông.

Tống Độ Tông phong Giả Tự Đạo làm thái sư, tước Ngụy quốc công, chiếm địa vị cao vót so với các đại thần khác.

Để làm cao, Giả Tự Đạo ra vẻ cố ý xin cáo lão về nhà, 1 mặt lại cho tay chân rêu rao là quân Mông Cổ sắp đánh xuống.

Tống Độ Tông vừa lên ngôi, sợ hãi, cố cầu khẩn hắn ở lại.

Vì vậy mà uy quyền Giả Tự Đạo ngày càng cao.

Tống Độ Tông cho xây riêng cho hắn 1 biệt thự hào hoa tráng lệ ở Tây hồ.

Ngày ngày, Giả Tự Đạo vui chơi trong biệt thự.

Mọi việc quốc gia đại sự, đều phải cử các quan chức đến tận nơi để xin ý kiến quyết định của hắn.

Sau khi đánh bại Aric-bu-ke, ổn định được nội bộ; vào năm 1271, Khu-bi-lai liền xưng đế, đổi quốc hiệu là Nguyên.

Đó là Nguyên Thế Tổ.

Nguyên Thế Tổ lấy cớ Nam Tống không thực hiện hòa ước, liền phái các đại tướng Lưu Chỉnh, A Truật tiến đánh Tương Dương.

Quân Tống liên tiếp thất bại, thành Tương Dương bị vây suốt 5 năm liền.

Giả Tự Đạo ra sức bưng bít tin tức chiến tranh ở tiền tuyến, không cho Tống Độ Tông biết.

Có 1 viên quan dâng sớ cáo cấp lên Tống Độ Tông, sớ tấu rơi vào tay Giả Tự Đạo, viên quan đó lập tức bị cách chức.

Một hôm, Giả Tự Đạo vào triều, Độ Tông hỏi hắn: "Nghe nói thành Tương Dương đã bị quân Mông Cổ vây suốt mấy năm nay.

Làm thế nào bây giờ?".

Giả Tự Đạo làm ra vẻ kinh ngạc, nói: "Quân Mông Cổ đã bị ta đánh lui từ lâu rồi.

Bệ hạ nghe từ đâu tin tức đó?".

Độ Tông nói: "Trẫm vừa nghe một cung nữ nói".

Tan triều, Giả Tự Đạo cho tra xét rõ người cung nữ đó, liền tạo 1 cớ mang giết.

Từ đó, Độ Tông không còn được biết gì về tình hình tiến công của quân Mông Cổ nữa.

Tương Dương bị vây lâu ngày, tình hình mỗi lúc một nguy cấp, nhưng Giả Tự Đạo cứ vùi đầu chơi bời trong biệt thự.

Một lần, một quan chức thân tín đến tìm ông ta, thấy Đạo đang bò xoài dưới đất chơi trò chọi dế với mấy thị nữ.

Viên quan đó gõ gõ vào vai Giả Tự Đạo, hỏi: "Đây phải chăng cũng là quốc gia đại sự?".

Giả Tự Đạo đang mải vui, cũng chẳng để ý gì đến điều đó.

Cuối cùng, Tương Dương bị quân Nguyên phá vỡ.

Triều đình Nam Tống rung chuyển.

Đến lúc này, Giả Tự Đạo không còn bưng bít được nữa, liền trút trách nhiệm đó cho viên tướng giữ Tương Dương, cách chức viên tướng đó cho qua chuyện.

Nguyên Thế Tổ thấy rõ Nam Tống thối nát như thế, liền quyết định đánh thẳng 1 mạch để tiêu diệt Nam Tống.

Ông cử Tả thừa tướng Bá Nhan dẫn 20 vạn quân chia làm 2 đường tiến quân, 1 đường từ phía tây đánh Ngạc Châu, 1 đường từ phía đông đánh Dương Châu.

Lúc đó, Tống Độ Tông ốm chết, Giả Tự Đạo lập 1 chú bé 4 tuổi là Triệu Hiển lên làm hoàng đế.

Bá Nhan hạ thành Ngạc Châu, tiến đánh Lâm An.

Giả Tự Đạo 1 mặt phái 7 vạn quân ra giữ Vu Hồ, 1 mặt cử người sang trại Nguyên xin hòa.

Bá Nhan cự tuyệt và ra lệnh cho quân Nguyên tiến công trên toàn tuyến.

Quân Tống tan vỡ khắp nơi.

Giả Tự Đạo chạy về Dương Châu.

Đến lúc này thì tình hình diệt vong của Nam Tống không còn cách gì cứu vãn được nữa.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VĂN THIÊN TƯỜNG KHỞI BINH


Quân Nguyên thừa thắng tiến xuống miền nam, tới sát Lâm An.

Hoàng đế Triệu Hiển mới 4 tuổi, chỉ ngồi làm bù nhìn.

Tổ mẫu của hoàng đế là Tạ thái hậu bàn bạc với các đại thần, gấp rút hạ chiếu gọi quân các địa phương về cứu triều đình.

Chiếu thư đã gửi đi, nhưng không mấy người hưởng ứng, chỉ có quan cai trị Cống Châu là Văn Thiên Tường và tướng giữ Ảnh Châu (nay là Chung Tường, Hồ Bắc) là Trương Thế Kiệt lập tức khởi binh.

Văn Thiên Tường là anh hùng dân tộc nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Ông là người ở Lư Lăng, Cát Châu (nay là Cát An, Giang Tây), từ nhỏ đã ham đọc truyện ký về các trung thần liệt sĩ trong lịch sử , quyết tâm học tập noi gương họ.

Năm 20 tuổi, ông tới Lâm An tham gia khoa thi tiến sĩ.

Trong quyển thi, ông hùng hồn nêu rõ chủ trương cứu nước của mình, được các quan chấm thi tán thưởng, lấy đỗ trạng nguyên.

Sau khi được làm quan trong triều, ông phát hiện Giả Tự Đạo và 1 số hoạn quan chỉ là lũ gian thần hại dân, hại nước.

Một lần, khi quân Mông Cổ tiến đánh, hoạn quan Đổng Tống Thần khuyên vua Tống bỏ Lâm An rút chạy.

Văn Thiên Tường liền dâng sớ, xin chém ngay Đổng Tống Thần để yên lòng dân.

Vì việc đó, ông bị cách chức.

Sau, ông lại được điều về kinh giữ việc khởi thảo chiếu thư, nhưng vì Giả Tự Đạo, bị buộc phải về hưu vào năm 37 tuổi.

Mãi tới khi triều Tống đứng trước nguy cơ diệt vong, ông mới được gọi ra làm quan cai trị Cống Châu.

Nhận được chiếu thư của triều đình, Văn Thiên Tường lập tức chiêu mộ 3 vạn người ngựa, chuẩn bị tiến về Lâm An.

Có người khuyên ông: "Nay quân Nguyên ào ạt đánh vào, ngài lại mang số ít người ngựa mới chiêu mộ được ra chống lại, có khác gì xua đàn dê ra đánh nhau với mãnh hổ, rõ ràng là sẽ thất bại.

Sao lại gánh lấy cái vạ đó?".

Văn Thiên Tường thản nhiên đáp lại: "Điều đó sao tôi lại chẳng biết.

Nhưng nhà nước nuôi quân trong bao nhiêu năm nay, nay Lâm An nguy cấp mà không có một người lính nào mang sức ra giúp nước thì thật là đau lòng!

Ta biết rõ lực lượng của mình có hạn, nhưng tình nguyện hiến thân vì nước.

Chỉ mong người trung nghĩa trong thiên hạ thấy được như thế mà cùng dấy lên, người đông thế mạnh, thì mới có hy vọng cứu nước được".

Văn Thiên Tường gạt bỏ mọi trở ngại, dẫn quân tới Lâm An.

Hữu thừa tướng Trần Nghi Trung phái ông tới Bình Giang (nay là Tô Châu, Giang Tô) phòng thủ.

Lúc đó, thống soái Bá Nhan của triều Nguyên đã dẫn quân vượt Trường Giang, chia quân làm 3 cánh tiến công Lâm An.

Một cánh trong đó xuất phát từ Kiến Khang, vượt qua Bình Giang, nhằm thẳng Độc Tùng Quan (nay là Dư Hàng, Triết Giang).

Trần Nghi Trung lại ra lệnh cho Văn Thiên Tường lui giữ Độc Tùng Quan.

Văn Thiên Tường rời khỏi Bình Giang thì Độc Tùng Quan đã bị quân Nguyên đánh chiếm, muốn quay trở lại Bình Giang, thì Bình Giang cũng đã mất rồi.

Văn Thiên Tường rút về Lâm An, bàn bạc với Trương Thế Kiệt từ Ảnh Châu tới, rồi kiến nghị với triều đình xin cho tập trung toàn bộ lực lượng quyết tử chiến với quân Nguyên.

Nhưng Trần Nghi Trung nhát gan, nhất định không đồng ý kế hoạch đó.

Bá Nhan đem quân tới Cao Đình Sơn, cách Lâm An chỉ có 30 dặm.

Một số đại thần hèn nhát, bao gồm cả Tả thừa tướng Lưu Mộng Vân liền bỏ trốn.

Tạ thái hậu và Trần Nghi Trung vô cùng hoảng hốt, vội phái 1 viên quan mang quốc ấn và biểu đầu hàng tới trại quân Nguyên.

Bá Nhan yêu cầu thừa tướng Nam Tống phải tự đến bàn.

Trần Nghi Trung sợ bị giữ lại, không dám tới trại quân Nguyên, nên vội chạy xuống miền nam.

Trương Thế Kiệt không chịu đầu hàng, nổi giận dẫn quân lên thuyền đi ra biển.

Tạ thái hậu không biết làm thế nào, đành phong Văn Thiên Tường giữ chức Hữu thừa tướng thay cho Trần Nghi Trung, và yêu cầu ông tới trại quân Nguyên đàm phán việc đầu hàng.

Văn Thiên Tường đồng ý tới trại quân Nguyên nhưng có tính toán riêng.

Ông dẫn phái đoàn gồm các đại thần Ngô Kiên, Giả Dư Khánh tới trại Nguyên.

Khi gặp Bá Nhan, Văn Thiên Tường không hề đề cập tới việc cầu hòa, mà nghiêm chỉnh chất vấn: "Rút cuộc, các ông muốn hòa hảo hay cố ý tiêu diệt Tống?".

Bá Nhan nói: "Ý của hoàng thượng chúng tôi rất rõ ràng, không hề muốn tiêu diệt triều Tống!".

Văn Thiên Tường nói: "Nếu như vậy thì xin các ông rút quân đội về Bình Giang hoặc Gia Hưng.

Nếu các ông nhất định muốn tiêu diệt chúng tôi, thì quân dân miền nam sẽ chiến đấu đến cùng, các ông vị tất sẽ được lợi gì đâu".

Bá Nhan sầm mặt, đe dọa: "Nếu các ngươi không ngoan ngoãn đầu hàng, chúng ta sẽ không tha!".

Văn Thiên Tường hiên ngang nói: "Ta đường đường là tể tướng triều Tống.

Nay nước nhà nguy hiểm, ta đã chuẩn bị lấy cái chết để báo đáp quốc gia; dù có rừng đao biển lửa, ta đâu có sợ!".

Giọng nói vang rền, lời lẽ nghiêm trang của Văn Thiên Tường trước Bá Nhan khiến các quân Nguyên đứng xung quanh sửng sốt, kính phục.

Sau cuộc gặp, Bá Nhan cho các sứ thần khác về tâu với Tạ thái hậu, nhưng giữ Văn Thiên Tường lại.

Biết Bá Nhan có ý xấu, Văn Thiên Tường kháng nghị.

Bá Nhan làm ra vẻ không có chuyện gì, nói: "Ngài đừng nóng, việc lớn giữa hai nước cần có ngài ở lại để tiếp tục thương lượng".

Ngô Kiên, Giả Dư Khánh về Lâm An, tâu lại với Tạ thái hậu về việc Văn Thiên Tường cự tuyệt đầu hàng.

Tạ thái hậu quyết đầu hàng, nên thay Giả Dư Khánh làm hữu thừa tướng, phái tới trại Nguyên xin hàng.

Văn Thiên Tường nổi giận chửi mắng Giả Dư Khánh thậm tệ, nhưng việc đầu hàng không thể thay đổi được nữa.

Năm 1276, Bá Nhan đưa quân vào chiếm Lâm An, Tạ thái hậu và Triệu Hiển ra khỏi cung xin hàng.

Quân Nguyên áp giải Triệu Hiển về Đại Đô (nay là Bắc Kinh).

Văn Thiên Tường cũng bị giải về Đại Đô.

Trên đường, ông luôn tìm cách trốn thoát khỏi tay địch.

Khi qua Trấn Giang, ông bàn với mấy người tùy tòng, nhân lúc quân Nguyên không chú ý, trốn khỏi trại Nguyên, lên 1 chiếc thuyền nhỏ đi tới Chân Châu.

Tướng giữ Chân Châu là Miêu Tái Thành thấy Văn thừa tướng tới thì rất phấn khởi, vội mở cửa thành đón vào.

Miêu Tái Thành được Văn Thiên Tường cho biết Lâm An đã thất thủ, liền tỏ ý tình nguyện theo Văn Thiên Tường, cùng thu thập binh lực vùng đông tây Hoài Hà để chống lại quân Nguyên.

Văn Thiên Tường vừa kịp mừng thì tướng chỉ huy giữ Dương Châu, kiêm chủ soái quân Tống là Lý Đình Chi vì tin theo lời gièm, cho là Văn Thiên Tường đã đầu hàng, được quân Nguyên phái tới Chân Châu làm nội ứng, nên hạ lệnh cho Miêu Tái Thành bắt ông giết đi.

Miêu Tái Thành không tin rằng Văn Thiên Tường có thể là kẻ phản bội, nhưng không dám làm trái lệnh của Lý Đình Chi, đành cho ông xem lệnh của Lý Đình Chi rồi bảo ông mau trốn đi.

Văn Thiên Tường toan đến Dương Châu trình bày, nhưng tới ngoài thành, thấy yết thị treo thưởng cho người bắt được mình thì không dám vào thành nữa.

Ông phải thay đổi tên họ, cùng 12 người tùy tòng cải trang đi theo đường nhỏ, ra phía biển, tìm thuyền đưa về miền nam.

Dọc đường, ông bắt gặp 1 toán quân Nguyên, nhưng nhờ tránh được vào bờ thành đất, không bị phát hiện.

Trải qua nhiều ngày đêm lặn lội khổ cực, được sự giúp đỡ của nông dân địa phương, Văn Thiên Tường tới được Ôn Châu.

Tới đây, ông nghe tin Trương Thế Kiệt và Trần Nghi Trung đã lập hoàng đế mới ở Phúc Châu, liền quyết định tìm tới Phúc Châu.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRƯƠNG THẾ KIỆT TỬ THỦ NHAI SƠN


Trương Thế Kiệt và Trần Nghi Trung làm sao tới được Phúc Châu?

Nguyên do là sau khi Lâm An bị chiếm, hoàng đế Triệu Hiển bị bắt đi Đại Đô, thì 2 người anh của Triệu Hiển là Triệu Tự 9 tuổi, và Triệu Bính 6 tuổi được hoàng tộc Nam Tống và đại thần Lục Tú Phu hộ tống chạy đi Phúc Châu.

Lục Pú Tu cử người đi tìm Trương Thế Kiệt và Trần Nghi Trung, mời họ tới Phúc Châu.

Ba đại thần bàn bạc, quyết định tôn Triệu Tự lên làm hoàng đế, tiếp tục giương ngọn cờ triều Tống để chống lại triều Nguyên.

Văn Thiên Tường được tin, cảm thấy có hy vọng, liền vội vã tới Phúc Châu, và đảm nhận chức khu mật sứ trong triều đình mới.

Ông đề nghị với Trần Nghi Trung là tiến công quân Nguyên từ ngoài biển để thu phục vùng Lưỡng Triết.

Nhưng Trần Nghi Trung cho rằng làm như vậy thì quá mạo hiểm, nên không đồng ý kế hoạch của Văn Thiên Tường.

Văn Thiên Tường đành thay đổi chủ trương, tới Nam Kiến Châu (nay là Nam Bình, Phúc Kiến) lập đô đốc phủ, chiêu mộ người ngựa, chuẩn bị phản công.

Năm sau, Văn Thiên Tường tiến quân về Giang Tây, phối hợp với các cánh nghĩa quân khác, liên tục đánh bại quân Nguyên, thu phục được Hội Xương và nhiều huyện thành khác.

Lúc đó, 1 cánh quân Nguyên đã tiến xuống đánh Phúc Châu.

Quân Tống liên tục thua trận.

Trần Nghi Trung thấy không còn hy vọng khôi phục, liền dùng thuyền đi ra biển mất tăm.

Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu hộ tống Triệu Tự lên thuyền, chạy xuống Quảng Đông.

Không may gặp sóng to gió lớn, Triệu Tự sợ hãi quá, phát ốm rồi chết.

Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu lại tôn Triệu Bính lên ngôi hoàng đế, rồi di chuyển đến Nhai Sơn (nay ở phía nam Tân Hội, Quảng Đông).

Đại tướng triều Nguyên là Trương Hoằng Phạm tấu trình với Nguyên Thế Tổ là nếu không nhanh chóng bóp chết cái triều đình nhỏ đó của Tống thì sẽ có nhiều người Tống hưởng ứng.

Nguyên Thế Tổ liền phong Trương Hoằng Phạm làm nguyên soái, Lý Hằng làm phó soái, dẫn 2 vạn tinh binh, chia 2 đường thủy bộ tiến xuống.

Trước hết, Trương Hoằng Phạm cho quân đánh Văn Thiên Tường ở Triều Châu, Văn Thiên Tường binh ít, thế cô buộc phải di chuyển tới 1 ngọn núi hoang ở Hải Phong.

Quân Nguyên bất ngờ tiến đến, Văn Thiên Tường bị bắt sống.

Quân Nguyên giải Văn Thiên Tường tới đại doanh của Trương Hoằng Phạm.

Hoằng Phạm làm ra vẻ ân cần, cởi trói cho Văn Thiên Tường, rồi giữ ông trong trại và hạ lệnh tập trung thủy quân tiến đánh Nhai Sơn.

Quân Nguyên đến Nhai Sơn, Trương Hoằng Phạm sai người dụ hàng Trương Thế Kiệt.

Trương Thế Kiệt trả lời: "Ta biết rằng nếu đầu hàng triều Nguyên thì không những giữ được tính mạng, mà còn có thể giàu sang.

Nhưng ta thà mất đầu, chứ không để mất khí tiết".

Trương Hoằng Phạm biết thường ngày Trương Thế Kiệt rất khâm phục Văn Thiên Tường, liền yêu cầu Văn Thiên Tường viết thư khuyên Trương Thế Kiệt đầu hàng.

Văn Thiên Tường cười nhạt: "Bản thân ta đã không cứu được cha mẹ, lẽ nào lại khuyên người khác phản bội lại cha mẹ?".

Trương Hoằng Phạm sai người đem bút mực tới, ép ông viết thư.

Văn Thiên Tường lập tức cầm bút, viết luôn 2 câu thơ:

"Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh".

Dịch:

" Người vốn xưa nay ai chẳng biết,

Giữ tấm lòng son rạng sử xanh."

(đây là 2 câu thơ trong bài 8 câu thơ do Văn Thiên Tường viết trên biển khi đang đi tìm triều đình).

Binh lính đưa 2 câu thơ đó cho Trương Hoằng Phạm xem, hắn chỉ còn biết cười gượng.

Thấy khuyên hàng không có xong, Trươn Hoằng Phạm liền thúc quân đánh ráo riết.

Nhai Sơn nằm trong vùng ven biển Quảng Đông, sau lưng là núi, trước mặt là biển, địa thế rất hiểm yếu.

Trương Thế Kiệt dùng hơn 1000 chiến thuyền dàn hàng ngang trên biển, dùng thừng chão liên kết các thuyền lại với nhau, xung quanh thuyền dựng các chòi cao, quyết tâm tử chiến với quân Nguyên.

Quân Nguyên dùng thuyền nhỏ chở đầy cỏ khô, tưới dầu, phóng hỏa, nhờ sức gió đưa vào toan đốt thuyền quân Tống.

Trương Thế Kiệt đã chuẩn bị sẵn, cho trát đất bùn dày ngoài thuyền để chống cháy và dùng các sào dài ngăn hỏa thuyền của quân Nguyên, không cho tiến sát.

Phương pháp hỏa công thất bại, Trương Hoằng Phạm liền dùng thuyền phong tỏa chặt Nhai Sơn, cắt đứt đường thông với lục địa của Trương Thế Kiệt Quân Tống chỉ còn lương khô, ăn xong lại uống với nước biển; vừa mặn, vừa đắng nên rất nhiều người đau bụng, nôn mửa.

Hai bên cầm cự 1 thời gian.

Lúc đó, phó soái quân Nguyên là Lý Hằng mang quân từ Quảng Châu đến tăng cường cho Trương Hoằng Phạm.

Quân Nguyên tổ chức lại cuộc tiến công, chia quân làm 4 cánh, vây chặt quân Tống.

Khi nước triều xuống, quân Nguyên đánh từ mặt bắc, khi nước triều lên lại đánh từ mặt nam lên.

Quân Tống bị đánh 2 mặt, chống đỡ rất vất vả.

Bỗng nghe từ thuyền chỉ huy của Trương Hoằng Phạm nổi lên tiếng âm nhạc.

Quân Tống tưởng lầm rằng phía Nguyên tổ chức yến ẩm vui chơi, nên có phần lơi lỏng.

Ngờ đâu đó chính là ám hiệu tổng công kích của quân Nguyên.

Quân Nguyên ồ ạt thúc thuyền tiến lên dưới sự yểm trợ của làn tên bắn như mưa về phía thuyền Tống, cướp được 1 số thuyền trong hàng rào bảo vệ.

Các cánh quân Nguyên dũng mãnh xông lên, cuộc chiến đấu diễn ra suốt từ trưa tới tối, sóng biển sục sôi, tiếng hô giết vang trời.

Trương Thế Kiệt đang chỉ huy chiến đấu, bỗng thấy 1 chiếc thuyền Tống hạ cờ xuống, ngừng chống cự; 1 số thuyền khác cũng làm theo.

Biết trận đánh đã thất bại, ông vội tập trung tinh binh về trung quân, rồi phái thuyền nhỏ đi đón Triệu Bính, chuẩn bị phá vây.

Thuyền của Triệu Bính do Lục Tú Phu chỉ huy quân bảo vệ.

Thấy thuyền nhỏ tới, ông không rõ là thật hay giả, sợ hoàng đế rơi vào tay quân Nguyên, nên nhất định không cho đón mang đi.

Tới lúc nguy cấp, Lục Tú Phu nói với Triệu Bính: "Đất nước đã tới nước này, bệ hạ cũng đành hiến thân cho nước, chớ để rơi vào tay địch".

Nói xong, liền cõng ấu chúa nhảy xuống biển, cùng chìm trong sóng lớn.

Trương Thế Kiệt không đón được Triệu Bính, đành chỉ huy chiến thuyền, lợi dụng trời tối, phá vây lui tới Hải Lăng Sơn.

Ông kiểm điểm lại lực lượng, hơn 1000 chiến thuyền chỉ còn lại hơn 10 chiếc.

Vừa lúc đó, trời nổi gió lớn, có người khuyên Trương Thế Kiệt lên bờ tránh sóng gió, nhưng ông không chịu.

Cuối cùng, sóng lớn làm lật thuyền.

Vị dũng tướng 1 lòng kháng chiến đã hy sinh.

Năm 1279, triều Nguyên thống nhất Trung Quốc.

Nam Tống hoàn toàn diệt vong.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CHÍNH KHÍ CA


Sau khi quân Nguyên đánh chiếm Nhai Sơn, Trương Hoằng Phạm mới các tướng lĩnh tới dự tiệc mừng công, Văn Thiên Tường cũng được mời tới.

Trong tiệc rượu, Trương Hoằng Phạm nói với Văn Thiên Tường: "Nay triều Tống đã diệt vong, thừa tướng đã hết nghĩa vụ một trung thần rồi.

Nếu thừa tướng hồi tâm chuyển ý, qui thuận hoàng thượng Đại Nguyên của chúng tôi, thì ngài vẫn có thể giữ chức thừa tướng".

Văn Thiên Tường rưng rưng nước mắt nói: "Nước mất nhà tan, tôi là một đại thần triều Tống, đã không cứu vãn được, chết đi còn mang tội, sao còn có thể tham tiếc mạng sống nữa".

Trương Hoằng Phạm cố gắng khuyên hàng ông không có kết quả, đành cử người áp giải Văn Thiên Tường về Đại Đô.

Nửa năm sau, Văn Thiên Tường về tới Đại Đô.

Triều Nguyên đưa ông tới nhà khách triều đình, cung cấp cho ông đủ của ngon vật lạ.

Mấy hôm sau, thừa tướng Nguyên là Pô La cử viên quan đầu hàng là Lưu Mộng Viêm đến khuyên.

Văn Thiên Tường từ lâu đã căm giận tên phản bội này, nay lại thấy hắn vác mặt đến khuyên hàng thì đùng đùng nổi giận, chưa kịp để cho hắn mở miệng, liền chửi mắng thậm tệ khiến hắn không dám ngẩng mặt lên, vội tiu nghỉu chuồn mất.

Triều Nguyên thấy khuyên hàng không được, liền đưa ông xuống trại lính, cùm xích tay chân giam vào nhà lao.

Một tháng sau, Pô La cho dẫn Văn Thiên Tường tới khu mật viện, tự mình thẩm vấn.

Văn Thiên Tường bị lính đưa tới đại sảnh của khu mật viện, thấy Pô La ngồi chót vót trên cao, mặt đằng đằng sát khí.

Văn Thiên Tường không thèm nhìn, cứ ưỡn ngực đi thẳng.

Tả hữu ồ lên, quát bắt Văn Thiên Tường quì xuống, ông dứt khoát không chịu.

Pô La thẹn quá hóa giận, sai lính ra tay.

Bọn lính hầu đứa kéo đứa đẩy, ấn Văn Thiên Tường ngã quay ra đất.

Pô La hỏi: "Ngươi còn gì để nói nữa không?".

Văn Thiên Tường thản nhiên nói: "Từ xưa tới nay, quốc gia lúc hưng lúc vong, đại thần bị bắt, bị giết, triều đình nào mà không có.

Ta là bày tôi triều Tống, nay đã thất bại, chỉ mong sớm được chết mà thôi!".

Pô La sợ cuộc thẩm vấn đi vào bế tắc, cố lấy giọng hòa nhã, nói: "Từ thời Bàn Cổ tới nay, có bao nhiêu đế vương, ngươi hãy nói ta nghe?".

Văn Thiên Tường "hừm" 1 tiếng, nói: "Mười bảy bộ sử, biết nói từ đâu.

Hôm nay ta tới đây không phải để dự thi.

Còn lòng dạ nào để nói chuyện phiếm". (cho tới nay Trung Quốc đã có 25 bộ chính sử, mở đầu là bộ Sử ký của Tư Mã Thiên.

Vào thời điểm này, mới có 17 bộ sử).

Pô La cụt hứng, liền xoay sang trách hỏi Văn Thiên Tường tại sao lại bỏ chạy khỏi Lâm An, tại sao lại tự tiện lập nên 2 vua (chỉ Triệu Tự, Triệu Bính).

Văn Thiên Tường dùng lý lẽ bác bỏ từng điều.

Cuối cùng, ông khảng khái tuyên bố: "Văn Thiên Tường ta hôm nay nằm trong tay các ngươi, đã chuẩn bị đón nhận cái chết từ lâu, hà tất phải dài lời nữa?".

Pô La nổi giận, sai lính lôi Văn Thiên Tường trở lại nhà giam.

Hắn toan giết ông đi, nhưng Nguyên Thế Tổ sợ làm như vậy thì lòng dân không phục, nên không cho giết.

Văn Thiên Tường bị giam trong 1 căn nhà đất, vừa thấp vừa chật, tối tăm ẩm thấp.

Gặp ngày mưa, nước tràn đầy nền nhà; gặp trời nắng mặt đất bốc hơi, càng oi nóng ngột ngạt.

Cạnh buồng giam 1 bên là nhà bếp của lính, 1 bên là kho lương thực cũ, nên luôn nồng nặc mùi ẩm mốc và khói bếp.

Ngoài ra còn mùi phân người, mùi chuột chết, cực kì khó chịu.

Văn Thiên Tường bị giam ở đây gần 3 năm trời, hoàn cảnh khắc nghiệt làm tiều tụy thân thể, nhưng không lay chuyển được ý chí của ông.

Ông tin rằng, chỉ cần giữ được chính khí hạo nhiên yêu nước yêu dân, thì có thể chiến thắng mọi hoàn cảnh.

Trong nhà lao, ông đã viết nên tác phẩm bất hủ "Chính khí ca", được ngàn đời truyền tụng.

Trong tác phẩm thơ dài này, ông nêu lên 1 số tấm gương của các trung thần nghĩa sĩ trong lịch sử, đã giữ vững chính nghĩa, không sợ hy sinh và cho đó là biểu hiện của chính khí.

Trong thơ, ông viết:

"Thiên địa hữu chính khí,

Tạp nhiên phú lưu hình.

Hạ tắc vi hà nhạc,

Thượng tắc vi nhất tinh.

Vu nhân viết hạo nhiên,

Bái nhiên tắc thương mình.

....

Thời cùng tiết nãi hiện,

Nhất nhất thùy đan thanh."

(Trong khoảng trời đất có 1 loại chính khí, biểu hiện thành các loại vật thể.

Ở dưới đất là núi sông, ở trên trời là tinh tú.

Ở trong thân thể con người thì biểu hiện thành khí hạo nhiên, lấp đầy trong vũ trụ...Tới lúc nguy cấp, mới biểu hiện khí tiết của con người.

Sự tích của họ, đều được ghi trong sử sách).

Văn Thiên Tường bị giam tới năm thứ 3, thì tại phủ Trung Sơn, Hà Bắc nổ ra 1 cuộc khởi nghĩa nông dân.

Lãnh tụ quân khởi nghĩa tự xưng là dòng dói hoàng thất nhà Tống, tụ tập mấy ngàn người ngựa, kêu gọi dân chúng đánh vào Đại Đô, cứu Văn thừa tướng ra.

Sự kiện này khiến triều Nguyên lo sợ.

Nếu không giết Văn Thiên Tường đi, e sẽ sinh loạn lớn.

Nhưng đến lúc này, Nguyên Thế Tổ Khu-bi-lai vẫn còn nuôi ảo vọng chiêu hàng, liền quyết định đích thân gặp Văn Thiên Tường.

Một hôm, Văn Thiên Tường được dẫn từ nhà lao vào thẳng trong cung.

Thấy Nguyên Thế Tổ, ông không chịu quì lạy mà chỉ vái.

Nguyên Thế Tổ hỏi ông có cần nói gì nữa không.

Văn Thiên Tường nói: "Tôi là tể tướng Đại Tống, đã hết lòng hết sức phù trợ triều đình.

Nhưng đáng tiếc là bọn gian thần bán nước khiến người anh hùng như tôi không có đất dụng võ.

Tôi không những không khôi phục được lãnh thổ, mà còn bị bắt và chịu nhục.

Dù có chết đi, tôi vẫn chưa cam lòng".

Nói rồi, nghiến răng kèn kẹt, không ngừng đấm vào ngực mình.

Nguyên Thế Tổ hòa nhã nói: "Lòng trung thành của khanh, trẫm rất hiểu.

Nay tình hính đã khác, nếu khanh đổi ý tình nguyện làm tôi triều Nguyên, trẫm sẽ vẫn để khanh làm thừa tướng, ý khanh thế nào?".

Văn Thiên Tường khảng khái nói: "Tôi là thừa tướng triều Tống, sao có thể phục vụ hai triều.

Nếu tôi không nhận lấy cái chết, thì còn mặt mũi nào gặp lại các trung thần liệt sĩ dưới suối vàng".

Nguyên Thế Tổ nói: "Khanh không muốn làm thừa tướng, thì làm Khu mật sứ (là chức quan đứng đầu văn võ trong triều), khanh thấy thế nào?".

Văn Thiên Tường trả lời như dao chém đá: "Tôi chỉ xin được chết.

Ngoài ra không còn gì để nói nữa!".

Nguyên Thế Tổ biết rằng không thể khuyên hàng, liền sai thị vệ dẫn Văn Thiên Tường ra.

Hôm sua, liền hạ lệnh mang ông ra xử tử.

Hôm đó, gió bắc thét gào, mây đen dày đặc, pháp trường được bố phòng nghiêm ngặt.

Dân chúng Đại Đô nghe tin Văn Thiên Tường sắp tựu nghĩa, liền tự động tập trung quanh pháp trường, trong chốc lát đã có hàng vạn người vây kín.

Văn Thiên Tường đeo xiềng xích, thần sắc ung dung, được dẫn tới.

Ông hỏi dân chúng xung quanh đâu là phương nam.

Được dân chúng chỉ cho biết, Văn Thiên Tường hướng về phương nam, lạy mấy lạy, rồi ngồi ngay ngắn, nói với quan giám trảm: "Việc của ta đã xong rồi!".

Tháng giêng năm 1283, vị anh hùng dân tộc 47 tuổi đã oanh liệt hy sinh, biểu hiện chính khí hạo nhiên trong giờ phút nguy vong của dân tộc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
QUÁCH THỦ KÍNH SỬA LỊCH PHÁP


Trước khi lên ngôi,Nguyên Thế Tổ Khu-bi-lai đã hết sức coi trọng việc sử dụng các trí thức người Hán giúp mình vạch ra và thực hiện các chính sách.

Ông trọng dụng 1 mưu sĩ người Hán là Lưu Bỉnh Trung.

Việc xưng đế và đặt quốc hiệu là Nguyên của Khu-bi-lai đều do Lưu Bỉnh Trung gợi ý.

Sau đó, Lưu Bỉnh Trung còn tiến cử với Khu-bi-lai 1 số bạn hữu và học trò của mình, đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong thời kì đầu của triều Nguyên.

Trong số đó có nhà khoa học nổi tiếng đời Nguyên là Quách Thủ Kính.

Quách Thủ Kính quê ở Hình Châu (nay là Hình Đài, Hà Bắc).

Ông nội ông là Quách Vinh có học vấn uyên bác, không những tinh thông kinh điển Nho học, mà còn nghiên cứu toán học, thiên văn, thủy lợi.

Khi còn trẻ, Quách Thủ Kính nhờ ảnh hưởng của ông nội đã rất đam mê khoa học.

Lúc đó, Lưu Bỉnh Trung đang cùng người bạn là Trương Văn Khiêm dạy học ở Tử Kim Sơn, phía tây nam Hình Châu.

Quách Vinh liền đưa cháu đến đấy theo học.

Tại đây, Quách Thủ Kính làm quen với rất nhiều bạn bè yêu thích khoa học, nên học vấn được tăng tiến rất nhanh.

Sau khi Khu-bi-lai thống nhất được miền bắc, liền quyết định sửa sang thủy lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp.

Để làm việc đó, ông có ý tìm kiếm nhân tài hiểu biết rộng về ngành này.

Trương Văn Khiêm tiến cử Quách Thủ Kính.

Khu-bi-lai lập tức triệu kiến Quách Thủ Kính ở Khai Bình (sau đổi là Thượng Đô, nay ở đông nam Dolon-nor, khu tự trị Nội Mông).

Quách Thủ Kính vốn rất am hiểu tình hình thủy lợi ở miền bắc, nên đã đưa ra 6 biện pháp sửa sang thủy lợi.

Sau khi nghe kế hoạch Quách Thủ Kính, Khu-bi-lai tỏ ý rấ hài lòng, liên tục gật đầu tán thưởng.

Sau cùng, ông cảm khái nói: "Trao công việc cho những người như thế này thì mới tránh được việc tốn cơm nuôi những kẻ bất tài nói suông".

Sau khi tiếp kiến, Khu-bi-lai liền trao cho Quách Thủ Kính chức "đề cử các lộ hà cừ", phụ trách công việc về sông ngòi, thủy lợi.

Hai năm sau, quách thủ Kính lại được phái tới Tây Hạ để làm thủy lợi.

Qua nhiều năm chiến tranh, sông ngòi ở đây ứ tắc, đất đai hoang vu sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng.

Quách Thủ Kính đến Tây Hạ, tiến hành khảo sát tỉ mỉ, rồi huy động người nạo vét số sông ngòi cũ, đào thêm 1 số sông ngòi mới.

Không đầy 1 năm, hơn 9 triệu mẫu ruộng ở đây được tưới nước đầy đủ, lương thực dồi dào, đời sống nhân dân được cải thiện.

Để mở mang việc giao thông từ Đại Đô đến Giang Nam, Khu-bi-lai lại phái Quách Thủ Kính đi khảo sát tình hình giao thông trên tuyến đó.

Qua khảo sát, thiết kế, không những đã nạo vét vận hà cũ, mà còn đào thêm Thông Huệ hà từ Đại Đô đến Thông Châu.

Như vậy, vận tải đường thủy từ Giang Nam tới Đại Đô được hoàn toàn thông suốt.

Sau khi diệt Nam Tống, Nguyên Thế Tổ càng coi trọng việc khôi phục sản xuất nông nghiệp.

Sản xuất nông nghiệp cần dùng đến lịch.

Trước kia, Mông Cổ sử dụng lịch do triều Kim ban hành.

Loại lịch này có nhiều sai lầm, cả đến những ngày tiết dùng cho nông nghiệp cũng không được xác định đúng.

Sau khi triều Nguyên chinh phục được Giang Nam, thì vùng này lại đang sử dụng 1 loại lịch khác.

Lịch của 2 miền nam bắc không giống nhau, dễ tạo thành sự hỗn loạn.

Nguyên Thế Tổ quyết định đặt ra 1 loại lịch thống nhất, nên ra lệnh thiết lập 1 cơ quan làm lịch, gọi là Thái sử cục (sau đổi thành Thái tử viện).

Người phụ trách Thái sử cục là Vương Tuân, bạn học của Quách Thủ Kính.

Vì Quách Thủ Kính tinh thông thiên văn, lịch pháp nên cũng được triều đình điều từ ngành thủy lợi sang Thái sử cục, cùng với Vương Tuân phụ trách việc sửa lịch.

Vừa bắt đầu công việc, Quách Thủ Kính liền nêu ý kiến, là nghiên cứu lịch pháp trước hết cần coi trọng việc quan sát thiên văn, mà muốn quan sát cần có công cụ.

Cỗ máy hỗn thiên nghi đồ sộ thời Tống dùng để quan sát thiên văn được vận chuyển từ Khai Phong (tức Đông Kinh của Bắc Tống) tới đã quá cũ kỹ, lạc hậu, không cung cấp được số liệu đáng tin cậy.

Quách Thủ Kính liền chế ra 1 cỗ máy mới, kết cấu giản đơn hơn máy cũ nhưng chia độ tỉ mỉ hơn, vì vậy mà cung cấp được số liệu chính xác hơn trước nhiều.

Có được công cụ tốt, nhưng còn cần tổ chức việc quan sát thật tỉ mỉ, khoa học nữa.

Năm 1279, Quách Thủ Kính xin Nguyên Thế Tổ cho Thái sử cục lập 1 đài thiên văn mới, đồng thời tổ chức việc quan sát thiên văn trên qui mô toàn quốc.

Kế hoạch mạnh dạn đó lập tức được Nguyên Thế Tổ chuẩn y.

Vương Tuân và Quách Thủ Kính nghiên cứu đặt 27 điểm quan sát trên toàn quốc.

Điểm cực bắc tại Tia lơ (nay thuộc lưu vực I-ê-ni-xây thuộc Xibia, Liên bang Nga), điểm cực nam đặt tại biển nam, phái các quan chức tới các nơi đó quan sát và ghi chép.

Bản thân Quách Thủ Kính đích thân dẫn người tới quan sát ở 1 số điểm quan trọng.

Toàn bộ số liệu quan sát được đều được gửi về Thái sử cục.

Căn cứ vào các số liệu đó, Quách Thủ Kính bỏ ra 2 năm trời, soạn ra 1 bộ lịch mới, là lịch Thụ Thời.

Lịch mới này chính xác hơn lịch cũ nhiều.

Nó tính ra 1 năm có 365.2425 ngày, so với thời gian vận động của trái đất quanh mặt trời chỉ sai có 26 giây.

Loại lịch này so với lịch Gơrêgoa thông dụng hiện nay có độ chính xác tương đương, nhưng lịch Thụ Thời do Quách Thủ Kính lập ra đã ra đời sớm hơn công lịch do Châu Âu xác lập tới 302 năm.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
MARCO.POLO TỪ CHÂU ÂU TỚI


Khi Nguyên Thế Tổ tại vị, đế quốc Mông Cổ rộng lớn được sáng lập từ thời Trin-ghit-khan đã phân liệt thành 4 hãn là hãn Kim Trướng (hãn Lều Vàng), hãn Ba Tư, hãn Tragatai, đại hãn Nguyên.

Về danh nghĩa, hoàng đế triều Nguyên là đại hãn của cả 4 hãn quốc.

Nhưng trên thực tế, các hãn quốc khác không có mấy liên hệ và chịu sự chi phối gì của đại hãn.

Thời kỳ đó, Trung Quốc là 1 nước lớn mạnh và giàu có nhất thế giới.

Sứ thần, thương nhân, ngời du lịch từ khắp các nước đều tìm đến Trung Quốc.

Trong số đó, người nổi tiếng nhất là MarcoPolo.

Cha của MarcoPolo là Nicolai Polo và em ruột của mình vốn là thương nhân ở Vơnidơ (nay thuộc Italya).

Hai anh em thường ra nước ngoài buôn bán.

Sau vì ở đây có chiến tranh, nên họ phải lánh tới Bukhara, 1 thành thị vùng Trung Á.

Một hôm, sứ thần của Khu-bi-lai đi qua Bukhara, thấy 2 người lái buôn Châu Âu, cảm thấy hiếu kì, liền nói với họ: "Đại hãn của chúng tôi chưa được thấy người Châu Âu.

Nếu các ông cùng đi với tôi về triều kiến đại hãn, thì nhất định sẽ được giàu sang.

Vả lại, cùng đi với chúng tôi về Trung Quốc thì không gì an toàn hơn".

Anh em Polo vốn là những người thích du lịch, nghe nói được đi gặp đại hãn Trung Quốc thì quá vui mừng, liền đi theo sứ giả đến Thượng Đô.

Khu-bi-lai nghe nói có 2 người khách từ Châu Âu tới thì quả nhiên rất phấn khởi, lập tức tiếp kiến họ trong hành cung, hỏi han mọi việc 1 cách nhiệt tình.

Hai anh em Polo không có ý định ở lại Trung Quốc, Khu-bi-lai sau khi nghe họ nói về tình hình Châu Âu, liền nhờ họ mang thư gửi giáo hoàng La Mã, mời giáo hoàng cử người sang truyền đạo.

Hai người từ biệt Khu-bi-lai, trở về Châu Âu.

Họ đi mất 3 năm mới về tới Vơnidơ.

Lúc đó, vợ Nicolai đã mất, chỉ còn lại cậu con trai là MarcoPolo, năm ấy đã 15 tuổi.

Marco Polo nghe cha và chú kể lại cảnh tượng phồn hoa ở Trung Quốc thì hết sức hâm mộ, nài xin cha cho sang Trung Quốc.

Nicolai cũng không yên tâm để lại con ở nhà, liền đồng ý cho Marco Polo cùng đi.

Sau khi yết kiến giáo hoàng, 2 anh em Nicolai dẫn theo Marco Polo trở lại Trung Quốc.

Lại mất hơn 3 năm nữa, họ mới tới Trung Quốc vào năm 1275.

Lúc đó, Khu-bi-lai đã là hoàng đế triều Nguyên.

Nghe tin anh em Nicolai trở lại, ông lập tức cử người đón họ từ rất xa tới Thượng Đô.

Anh em Nicolai dẫn theo Marco Polo vào cung yết kiến Nguyên Thế Tổ.

Nguyên Thế Tổ thấy có 1 cậu bé thiếu niên đi cùng, thì ngạc nhiên, hỏi cậu ta là ai.

Nicolai vội đáp: "Muôn tâu bệ hạ, đó là đứa con trai của hạ thần, cũng là một tôi tớ của bệ hạ".

Thấy Marco Polo hình dung tuấn tú, Nguyên Thế Tổ luôn miệng nói: "Tốt lắm, tốt lắm.

Ngươi tới đây là rất tốt!".

Ngay tối hôm đó, Nguyên Thế Tổ mở tiệc thết đãi họ trong hoàng cung và giữ họ lại giúp việc cho triều đình.

Marco Polo rất thông minh, học tiếng Mông Cổ và tiếng Hán rất nhanh.

Nguyên Thế Tổ thấy Marco Polo tiến bộ nhanh, rất khen ngợi.

Một thời gian sau, liền cử chàng thanh niên đó xuống Vân Nam làm việc.

Nguyên Thế Tổ vốn thích tìm hiểu phong tục tập quán các địa phương.

Trước kia các sứ thần được cử đi thị sát, khi trở về, không trình bày được rõ ràng.

Lần này, Marco Polo được cử đi, tới nơi nào, ông cũng chú ý tìm hiểu phong tục tập quán.

Khi trở về Đại Đô, kể lại tường tận lại cho Nguyên Thế Tổ.

Vì vậy, Nguyên Thế Tổ hết lời khen ngợi và tín nhiệm ông.

Từ đó, hễ có việc gì quan trọng là cử Marco Polo đi.

Marco Polo ở Trung Quốc suốt 17 năm, được Nguyên Thế Tổ cử đi thị sát nhiều nơi trong nước và đi sứ các nước thuộc vùng biển nam.

Ông đã từng ở Dương Châu 3 năm, nghe nói còn giữ chức Tổng quản ở đó.

Dần dần, 3 người Châu Âu thấy nhớ quê hương, nhiều lần xin Nguyên Thế Tổ cho họ về nước.

Nhưng Nguyên Thế Tổ rất yêu quí Marco Polo, không muốn để họ ra đi.

May sao lúc đó, 1 vương phi của 1 hãn quốc bị chết, hãn nước đó cử sứ giả sang cầu hôn với công chúa Nguyên.

Nguyên Thế Tổ chọn 1 thiếu nữ trong hoàng tộc là Khoát Khoát Chân gả cho hãn nước đó.

Sứ giả thấy đưa dâu về theo đường bộ sẽ rất bất tiện, lại biết Nicolai rất thông thạo đường biển, nên xin Nguyên Thế Tổ cử Nicolai cùng em và con cùng đưa vương phi về nước.

Nguyên Thế Tổ đành phải đồng ý.

Năm 1292, anh em Nicolai cùng Marco Polo đi theo sứ thần rời Trung Quốc, dùng thuyền đi vòng Ấn Độ Dương, đưa nàng Khoát Khoát Chân tới hãn quốc, sau đó trở về Vơnidơ.

Hành trình của họ kéo dài đằng đẵng mất 3 năm.

Tới lúc đó, họ đã xa cách Vơnidơ suốt 20 năm.

Dân địa phương đã rất lâu không được tin tức gì về họ, đều cho rằng họ đã chết ở nước ngoài.

Nay bỗng nhiên thấy họ trở về, ăn mặc theo kiểu phương đông, lại thấy nói họ đã qua Trung Quốc và mang về rất nhiều vàng ngọc và báu vật, thì đều xôn xao náo động.

Mọi người liền đặt cho Marco Polo 1 biệt hiệu là "Triệu Phú Marco".

Không lâu sau, giữa Vơnidơ và thành bang Giênoa (Geanoa) có xung đột, quân đội 2 bên giao chiến trên Địa Trung Hải.

Marco Polo bỏ tiền của mình ra mua 1 chiến thuyền, tự mình điều khiển, tham gia vào hạm đội Vơnidơ.

Kết quả cuộc xung đột đó, Vơnidơ bị thua, Marco Polo bị bắt làm tù binh, giam tại nhà lao Giênoa.

Dân chúng liền đua nhau đến nhà lao thăm ông, yêu cầu ông kể chuyện về phương đông và Trung Quốc.

Cùng bị giam trong lao với Marco Polo có 1 nhà văn.

Ông ta ghi chép lại chuyện kể của Marco Polo thành 1 cuốn sách.

Đó là cuốn "Du ký của Marco Polo", còn gọi là "Ghi chép về những điều tai nghe mắt thấy ở phương đông".

Trong cuốn du ký này, Marco Polo đã giới thiệu hết sức chi tiết về những thành phố lớn của Trung Quốc như Đại Đô (Bắc Kinh), Dương Châu, Tô Châu, Hàng Châu; ca ngợi sự giàu có và nền văn minh Trung Quốc.

Việc xuất bản cuốn sách này đã thúc đẩy người Châu Âu hướng về Trung Quốc.

Vì Marco Polo trở nên nổi tiếng, nên người Giênoa liền tha ông ra.

Từ đó về sau, việc giao lưu giữa Trung Quốc với Châu Âu và các nước Arập càng thêm mật thiết.

Các tri thức về thiên văn, toán học và y học của Arập bắt đầu truyền tới Trung Quốc.

Ba phát minh lớn của Trung Quốc thời cổ: kim chỉ nam, nghề in và thuốc súng cũng được truyền sang Châu Âu vào thời kì này. (Một phát minh lớn khác là nghề làm giấy của Trung Quốc đã được truyền sang Châu Âu trước đó).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NỖI OAN NÀNG ĐẬU NGA LÀM CẢM ĐỘNG CẢ TRỜI ĐẤT


Do Nguyên Thế Tổ thực hiện nhiều chính sách khuyến khích sản xuất, nên tình hình kinh tế, xã hội đầu đời Nguyên hết sức phồn vinh.

Nhưng sự phồn vinh đó chỉ có lợi cho vương công quí tộc Mông Cổ và tầng lớp địa chủ quan liêu.

Để thỏa mãn cuộc sống cực kì xa xỉ của quí tộc Mông Cổ và nhu cầu về quân sự, Nguyên Thế Tổ sử dụng 1 số đại thần lo việc tài chính, giúp triều đình huy động tiền bạc và của cải trong dân chúng.

Những đại thần đó lợi dụng chức vụ của mình, câu kết với quan lại địa phương, ra sức vơ vét không từ 1 thủ đoạn nào.

Triều Nguyên còn thực hiện chính sách áp bức dân tộc, chia dân trong nước thành 4 đẳng cấp.

Đẳng cấp thứ 1 là người Mông Cổ, đẳng cấp thứ 2 là người Sắc mục, tức là người thuộc các dân tộc Tây Vực và Tây Hạ; đẳng cấp thứ 3 là người Hán, gồm những người Hán, Khiết Đan, Nữ Chân trước kia sống dưới sự thống trị của Kim; đẳng cấp thứ 4 là người Nam, là nhân dân các dân tộc sống dưới sự thống trị của Nam Tống trước kia.

Địa vị chính trị và quyền lợi kinh tế của người thuộc 4 đẳng cấp được phân biệt khác nhau, đặc biệt là người Hán và người Nam chịu sự kỳ thị rất nặng nề.

Dưới sự áp bức giai cấp và áp bức dân tộc nặng nề, nhân dân các dân tộc đã sống những ngày bi thảm.

Nạn tham nhũng hoành hành, án oan nhiều không kể xiết.

Nguyên Thế Tổ chết đi, cháu là Thiết Mục Nhĩ nối ngôi, đó là Nguyên Thành Tông.

Thời Nguyên Thành Tông, tệ nạn tham nhũng và lộng quyền càng tệ hại hơn.

Chỉ 1 lần tra xét, đã phát hiện số quan lại có hành vi tham ô là 1 vạn 8000 người, số án oan có hơn 5000 vụ.

Lúc đó, ở Đại Đô lưu hành rộng rãi 1 hình thức sân khấu, gọi là tạp kịch.

Một số tri thức chính trực bất mãn với nền thống trị đen tối, lợi dụng hình thức tạp kịch để vạch trần tội ác của quan trường và những hiện tượng bất công trong xã hội.

Ở Đại Đô, có 1 tri thức tên là Quan Hán Khanh từ nhỏ đã yêu mến âm nhạc và ca kịch, biết đàn sáo và ca múa.

Quan Hán Khanh từng làm quan trong Thái y viện ở kinh thành, nhưng ông không có hứng thú với nghề làm thuốc, mà hết sức say sưa sáng tác kịch bản.

Thời đó, địa vị của những người làm nghề ca kỹ rất kém, nhưng Quan Hán Khanh lại rất chan hòa với họ, có lúc còn lên sân khấu sắm vai.

Vì ông rất tinh thông âm nhạc và nghệ thuật sân khấu nên kịch bản do ông viết ra đều có trình độ cao.

Ở Đại Đô, quí tộc và dân thường đều thích xem ca kịch.

Những vở do Quan Hán Khanh viết ra không chỉ để cho quí tộc giải trí mà thường nói lên tình cảm của nhân dân.

Ông đã đưa những điều tai nghe mắt thấy về cảnh ngộ bi thảm của nhân dân vào trong kịch bản của mình.

Vở ca kịch "Nỗi oan nàng Đậu Nga" là 1 tác phẩm kiệt xuất tiêu biểu của ông.

Nhân vật chủ yếu trong vở ca kịch là 1 người con gái nhà nghèo vùng Sở Châu, tên là Đậu Nga.

Mẹ nàng mất khi nàng còn nhỏ, cha nàng là Đậu Thiên Chương không có tiền trả nợ, lại vội lên kinh dự thi, không có tiền lộ phí, liền bán nàng cho 1 bà góa là Thái Bà làm con dâu nhỏ (tức là con dâu mua từ lúc nhỏ, khi lớn lên phải làm vợ con trai người mua).

Đậu Nga tới nhà họ Thái chưa được 2 năm, thì cậu con trai họ Thái bị bệnh mất, chỉ còn nàng và bà góa họ Thái sống nương tựa vào nhau.

Trương Lư Nhi là 1 tên lưu manh ở Sở Châu, cùng với bố là Trương Lão Nhi thấy nhà họ Thái chỉ có 2 người phụ nữ, liền đến ở lỳ đó, rồi ép lão bà lấy Trương Lão Nhi.

Thái Bà thế cô, đành ưng chịu.

Trương Lư Nhi lại ép Đậu Nga thành thân với hắn.

Đậu Nga cương quyết cự tuyệt và chửi rủa hắn thậm tệ.

Trương Lư Nhi căm tức, liền nghĩ kế trả thù.

Mấy hôm sau, Thái Bà bị ốm, sai Đậu Nga nấu cháo.

Trương Lưu Nhi lén bỏ thuốc độc vào trong bát cháo, rắp tâm giết chết Thái Bà rồi sẽ ép buộc Đậu Nga.

Đậu Nga bưng cháo cho Thái Bà, bỗng Thái Bà thấy buồn nôn, không muốn ăn nữa và chuyển bát cháo cho Trương Lão Nhi ăn.

Trương Lão Nhi trúng độc, lăn lộn dưới đất rồi tắt thở.

Trương Lư Nhi đã đổ tội đầu độc cho Đậu Nga, bắt nàng giải lên quan cai trị Sở Châu.

Tri phủ Sở Châu là Đào Ngột, 1 viên quan nổi tiếng tham nhũng, nhận tiền đút lót của Trương Lư Nhi, bắt Đậu Nga ra thẩm vấn, ép nàng nhận tội đầu độc.

Đậu Nga bị đánh đập chết đi sống lại, nhất định không chịu nhận tội.

Đào Ngột biết Đậu Nga rất hiếu thuận với Thái Bà, liền đem Thái Bà ra đánh đập trước mắt Đậu Nga.

Đậu Nga thương Thái Bà tuổi già, không chịu nổi cực hình, đành chịu nỗi oan mà nhận tội.

Tên tham quan Đào Ngột đã đã dùng mọi thủ đoạn ép được cung, liền khép nàng vào tội chết, giải nàng ra pháp trường xử tử.

Đậu Nga thấy không biết kêu oan vào đâu, lòng tràn đầy bi phẫn, nguyền rủa trời đất: "Đất kia sao ngươi không biết phân biệt tốt xấu, trời kia sao không biết phân biệt người lành kẻ dở; thì làm trời đất làm gì!".

Trước khi chịu hình phạt, nàng thề nguyền 3 điều: 1 là, khi đầu lìa khỏi cổ, máu phun ra sẽ được hứng trên lụa bạch; 2 là trời sẽ xuống tuyết phủ kín thi thể; 3 là vùng Sở Châu sẽ bị đại nạn 3 năm liền.

Lời thề nguyền đó của Đậu Nga đã làm cảm động cả trời đất.

Khi đó, đang là tháng 6 nóng nực, mà khi lưỡi dao của đao phủ vừa lướt qua, trong khoảnh khắc trời đất tối xầm, tuyết xuống như trút.

Tiếp đó, vùng Sở Châu suốt 3 năm liền bị hạn nặng.

Về sau, cha của Đậu Nga là Đậu Thiên Chương thi đỗ, làm quan của triều đình, án oan cả nàng được chiêu tuyết.

Hung thủ giết người Trương Lư Nhi bị xử tử, tham quan Đào Ngột cũng bị trừng trị thích đáng.

Sự việc và người nêu trong vở kịch không hẳn là chuyện có thật.

Trời xuống tuyết tháng 6, càng là 1 tưởng tượng mang tính thần thoại.

Nhưng nó đã phản ánh nguyện vọng mãnh liệt được minh oan và báo thù của vô số người dân bị oan ức khổ đau dưới ách thống trị phong kiến.

Vì vậy, sáu bảy trăm năm nay, vở ca kịch đó vẫn được mọi người yêu thích và tán thưởng.

Quan Hán Khanh trở thành 1 kịch tác gia được nhân dân ca ngợi.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGƯỜI ĐÁ MỘT MẮT


Triều Nguyên, kể từ khi Thánh Tông trở đi, còn truyền được 9 hoàng đế nữa.

Nội bộ hoàng thất đấu tranh giành giật nhau rất kịch liệt, nền chính trị càng ngày càng thối nát, nhân dân cực khổ trăm bề.

Sau khi hoàng đế cuối cùng là Thỏa Quán Thiếp Mục Nhĩ (tức Nguyên Thuận Đế, còn gọi là Nguyên Huệ Tông) lên ngôi, lại càng hoang dâm tàn bạo khiến cho kho tàng trống rỗng, vật giá lên cao, nhân dân chịu không nổi, rất nhiều địa phương nổ ra khởi nghĩa nông dân.

Vùng Hà Bắc có 1 nông dân tên là Hàn Sơn Đồng.

Tổ phụ của ông từng là 1 ông đồ dạy học, đã lợi dụng hình thức truyền giáo để bí mật tổ chức nông dân chống lại triều Nguyên, bị quan địa phương phát hiện, bắt đi sung quân ở Vĩnh Niên (nay ở đông bắc Hàm Đan, Hà Bắc).

Khi Hàn Sơn Đồng trưởng thành, liền tiếp tục tổ chức Bạch Liên hội (1 hội đoàn bí mật của Bạch Liên giáo - tôn giáo lấy bông sen trắng làm biểu tượng), tụ tập rất nhiều nông dân nghèo khổ, cùng thắp hương cầu Phật.

Hàn Sơn Đồng nói với họ: nay thiên hạ đại loạn, Phật Tổ sắp cử Phật Di Lặc xuống trần cứu vớt trăm họ.

Truyền thuyết ấy nhanh chóng lan khắp miền Hà Nam và Giang Hoài.

Dân chúng đều mong ngóng tới ngày Phật Di Lặc xuống trần.

Vừa đúng lúc đó, đê Bạch Mao của Hoàng Hà bị vỡ, trời lại liên tiếp đổ mưa suốt hơn 20 ngày, nước dâng mênh mông, dân 2 bên gặp thủy tai nghiêm trọng.

Có người kiến nghị với triều đình là nên lấp chỗ đê vỡ lại, rồi khơi 1 dòng nước ở Hoàng Lăng Cương (nay ở tây nam huyện Tào, Sơn Đông) cho nước thoát đi.

Năm 1351, triều Nguyên điều động 15 vạn dân công ở Biện Lương (nay là Khai Phong, Hà Nam) và Đại Danh cùng với 2 vạn binh sĩ, tới Hoàng Lăng Cương đào sông.

Công trình đào sông bắt đầu, dân công bị thúc ép lao động suốt ngày đêm dưới mưa rào, nắng gắt.

Thế mà, kinh phí do triều đình cấp phát lại bị quan lại bớt xén, dân công ăn không đủ no, tiếng oán thán vang dậy khắp nơi.

Hàn Sơn Đồng quyết định nắm cơ hội đó để phát động quần chúng.

Ông cử mấy trăm hội viên đi làm dân công, truyền bá trên công trường 1 câu ca dao:

"Thạch nhân nhất chích nhãn

Khiêu động Hoàng Hà thiên hạ phản"

Dân công không hiểu rõ câu ca dao đó có ý nghĩa gì, nhưng thấy trong đó có 3 chữ "thiên hạ phản" thì cảm thấy sắp được đổi đời.

Đoàn dân công đào tới Hoàng Lăng Cương, bỗng phát hiện thấy 1 hình người bằng đá.

Mọi người đều hiếu kỳ, moi lên xem xét, thấy trên mặt người đá đó chỉ có 1 con mắt, đều đứng ngây ra.

Sự việc nhanh chóng được đồn đại khắp trong mười mấy vạn dân công.

Ai nấy đều nghĩ: lời trong câu ca dao thế là ứng nghiệm rồi!.

"Người đá có 1 mắt, thúc giục dân Hoàng Hà đứng lên làm phản", thật là ý trời rồi.

Bây giờ người đá đã đào thấy, ngày đứng lên làm phản đã tới.

Tất nhiên, hình người đá 1 mắt đó là do Hàn Sơn Đồng lén chôn xuống chỗ đó từ trước.

Ý thức quần chúng đã được khơi dậy.

Một người bạn của Hàn Sơn Đồng là Lưu Phúc Thông nói với ông: nay triều Nguyên áp bức dân chúng ta là quá tàn tệ, mọi người còn tưởng nhớ triều Tống.

Nếu ta giương ngọn cờ triều Tống thì sẽ có nhiều người ủng hộ.

Hàn Sơn Đồng tán thành chủ trương đó, liền tuyên bố với mọi người là Hàn Sơn Đồng vốn không phải họ Hàn, mà là họ Triệu, cháu đời thứ 8 của Tống Huy Tông, còn Lưu Phúc Thông cũng là dòng dõi đại tướng Lưu Thế Quang thời Nam Tống.

Họ dựng câu chuyện 1 cách có đầu có đuôi, khiến ai cũng tin là sự thực.

Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông liền chọn ngày tụ tập 1 số người ngựa, giết 1 con ngựa trắng, 1 con trâu đen để tế cáo trời đất.

Mọi người tôn Hàn Sơn Đồng làm lãnh tụ, lấy tên hiệu là "Minh Vương", và định ngày khởi nghĩa ở Dĩnh Thượng, Dĩnh Châu (nay là Dĩnh Thượng, Cao Dương, An Huy), lấy khăn đỏ quấn đầu để làm dấu hiệu.

Trong lúc đang quệt máu ăn thế thì có kẻ làm lộ tin tức, quan địa phương liền phái lính tới bắt Hàn Sơn Đồng, giải lệnh nha rồi giết đi.

Vợ Hàn Sơn Đồng mang theo con trai là Hàn Lâm Nhi chạy thoát được khỏi sự truy bắt, tới ẩn náu ở Vũ An (nay thuộc tỉnh Hà Bắc).

Lưu Phúc Thông chạy thoát được cuộc bao vây, triệu tập các nông dân đã hẹn ước, đánh chiếm 1 số cứ điểm ở Dĩnh Châu.

Dân công đang đào sông ở Hoàng Lăng Cương được tin, tới tấp tham gia đội ngũ của Lưu Phúc Thông.

Vì trên đầu quân khởi nghĩa đều quân khăn đỏ nên nhân dân gọi họ là Hồng quân, lịch sử gọi họ là Hồng Cân quân (quân khăn đỏ).

Không tới 10 ngày, Hồng Cân quân phát triển tới hơn 10 vạn.

Triều Nguyên thấy quân của Lưu Phúc Thông thanh thế lừng lấy thì hết sức hoảng sợ, vội điều động 6000 quân Sắc mục và mấy đội quân Hán tới trấn áp Hồng Cân quân.

Quân Sắc mục vốn là 1 đội quân tinh nhuệ của triều Nguyên, nhưng tới lúc đó đã hết sức thối nát, tướng lĩnh chỉ quen rượu chè hưởng lạc, binh lính thì thường xuyên cướp bóc của dân.

Vừa tiếp xúc với Hồng Cân quân, chưa kịp giao phong thì chủ tướng đã vung roi quất ngựa tháo chạy, mồm còn hô lớn "Chạy thôi!

Chạy thôi!".

Binh lính thấy vậy, cũng tan chạy khắp nơi.

Qua 1 tháng, Hồng Cân quân của Lưu Phúc Thông đã liên tục đánh chiếm 1 số thành trì.

Nông dân miền Giang Hoài từ lâu đã chịu ảnh hưởng của Bạch Liên giáo, nghe nói Lưu Phúc Thông khởi nghĩa, liền nô nức hưởng ứng như các toán quân của Từ Thọ Huy ở Kỳ Thủy (nay là Hy Thủy, Hổ Bắc), Quách Tử Hưng ở Hào Châu (nay là Phương Dương, An Huy) đều giương cờ Hồng Cân để nổi lên.

Ngoài ra, còn các toán nghĩa quân khác không giương cờ Hồng Cân quân như Trương Sĩ Thành ở miền bắc Giang Tô.

Năm 1354, Nguyên Thuận Đế phái thừa tướng Thoát Thoát tập trung người ngựa của chư vương và các tỉnh, huy động cả binh lực ở Tây Vực và Tây Phiên, nói phao lên là có 100 vạn, vây đánh quân khởi nghĩa Trương Sĩ Thành đang chiếm Cao Bưu. thành Cao Bưu bị vây chặt, quân khởi nghĩa đang gặp nguy cấp thì vương triều Nguyên phát sinh nội loạn.

Nguyên Thuận Đế hạ lệnh cách chức Thoát Thoát.

Quân Nguyên không còn thống soái nên không đánh mà rối loạn, tan tác toàn bộ.

Sau khi quân Nguyên tan vỡ, quân khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông ở miền bắc nhân cơ hội mở cuộc tiến công, đánh tan quân Nguyên ở đó.

Tháng 2 năm sau, Lưu Phúc Thông đón con trai Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi về Hào Châu (nay là huyện Hào, An Huy), chính thức tôn làm hoàng đế, hiệu là Tiểu Minh Vương, lấy quốc hiệu là Tống.

Sau khi Hàn Lâm Nhi, Lưu Phúc Thông xây dựng chính quyền ở Hào Châu, liền chia quân làm 3 cánh tiến hành bắc phạt.

Cánh quân phía tây do Lý Vũ, Thôi Đức dẫn đầu, đánh chiếm Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ, Tứ Xuyên; cánh quân phía đông do Mao Quí dẫn đầu từ Sơn Đông, Hà Bác tiến thẳng tới uy hiếp kinh thành Đại Đô, cánh quân giữa do Quan Tiên Sinh, Phá Đầu Phiên dẫn đầu, từ Sơn Tây đánh tới Liêu Đông, phối hợp với cánh quân phía đông đánh Đại Đô.

Ba cánh quân bắc phạt tiến rất nhanh.

Cánh phía đông của Mao Quí đánh tới chân thành Đại Đô, Lưu Phúc Thông đích thân dẫn đại quân đánh chiếm Biện Lương, đón Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi về, lấy nơi đây làm đô thành.

Thanh thế Hồng Cân quân rất mạnh, khiến vương triều Nguyên vô cùng sợ hãi, phải tụ tập lực lượng vũ trang của địa chủ đem đi trấn áp.

Ba cánh quân bắc phạt lần lượt thất bại, Biện Lương cũng bị quân Nguyên chiếm lại.

Triều Nguyên lại dùng quan cao bổng hậu để chiêu hàng Trương Sĩ Thành.

Lưu Phúc Thông bảo hộ Tiểu Minh Vương chạy về An Phong (nay là huyện Thọ, An Huy), lại bị Trương Sĩ Thành tập kích.

Năm 1363, Lưu Phúc Thông hy sinh trong chiến đấu.

Quân khởi nghĩa ở miền bắc qua 12 năm chiến đấu, cuối cùng đã thất bại.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HÒA THƯỢNG LÀM NGUYÊN SOÁI


Trong khi Hồng Cân quân của Lưu Phúc Thông tiến lên phía bắc, thì cánh quân Hồng Cân quân của Quách Tử Hưng càng phát triển lớn mạnh.

Quách Tử Hưng nguyên quán là 1 tài chủ ở Định Viễn (nay thuộc An Huy), vì xuất thân thấp kém nên thường bị quan lại địa phương chèn ép hạch sách.

Ông bực bội, liền tham gia Bạch Liên hội, đem hết tiền của trong nhà, mở tiệc rượu, kết giao với anh hùng hảo hán, chỉ chờ cơ hội là giết bọn tham quan ô lại cho bỏ tức.

Năm 1352, tức là năm thứ 2 sau khi cuộc khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông, Quách Tử Hưng thấy thời cơ đã chín, liền cùng 4 người bạn dẫn đầu mấy ngàn thanh niên, nhân đêm tối đánh vào thành Hào Châu, giết quan châu, chiếm lấy Hào Châu, tuyên bố khởi nghĩa.

Quách Tử Hưng và 4 người bạn đều xưng là nguyên soái.

Đại tướng Nguyên là Triệt Lý Bất Hoa đem quân vây đánh Hào Châu.

Triệt Lý Bất Hoa sợ Hồng Cân quân nên không dám đánh thành, chỉ hạ trại ngoài xa, rồi sai quân lính đi bắt 1 số dân ngoài thành, giả làm tù binh, nộp lên cấp trên lĩnh thưởng.

Dân ngoài thành gặp tai họa, sống không nổi, liền đua nhau vào thành theo Quách Tử Hưng.

Vì vậy, đội ngũ của Quách Tử Hưng ngày càng lớn mạnh.

Một buổi tối, Hồng Cân quân Hào Châu đang đi tuần cạnh cửa thành, bỗng thấy 1 nhà sư trẻ đi tới, nói xin đi theo Hồng Cân quân.

Lính canh cửa ngờ đó là gian tế do quân Nguyên phái tới thám thính, liền trói lại, rồi báo cáo với Quách Tử Hưng.

Quách Tử Hưng nghĩ đó có thể là 1 hảo hán tới xin gia nhập nghĩa quân, liền đích thân cưỡi ngựa ra cửa thành xem xét.

Ông thấy nhà sư bị trói, tuy quần áo rách rưới, nhưng người cao lớn vạm vỡ, mày rậm mắt sáng.

Nhìn thấy thế, Quách Tử Hưng đã có cảm tình, lập tức hạ lệnh cởi trói rồi dẫn vào nguyên soái phủ.

Nhà sư trẻ tuổi đến theo Quách Tử Hưng đó, tên là Chu Nguyên Chương, cha ông là 1 nông dân nghèo khổ ở Chung Ly, Hào Châu (nay là phía đông Phượng Dương, An Huy).

Năm Chu Nguyên Chương 17 tuổi, vùng Hà Bắc bị hạn hán và sâu hoại nghiêm trọng, tiếp sau đó là nạn dịch tràn lan.

Cha, mẹ và người anh lớn của Chu Nguyên Chương đều chết vì mắc bệnh dịch, chỉ còn lại Chu Nguyên Chương và người anh thứ 2, không có tiền mua áo quan.

May nhờ có hàng xóm thương tình giúp đỡ, mới mai táng được cho cha, mẹ và anh.

Mồ côi cha mẹ, Chu Nguyên Chương không còn chỗ nương tựa.

Một người hàng xóm khuyên ông nên tới chùa Hoàng Giác làm chú tiểu để kiếm cơm ăn.

Chu Nguyên Chương liền xuất gia.

Làm chú tiểu trong chùa thực chất là kẻ bị sai phái làm mọi việc vặt.

Hàng ngày, Chu Nguyên Chương phải hầu hạ sư phụ, sư huynh, thức khuya dậy sớm, quét tước, thắp hương, đánh chuông, làm bếp.

Cuộc sống rất vất vả.

Nhưng, trong những ngày đó, muốn kiếm cơm ăn trong chùa Hoàng Giác cũng không phải dễ.

Vì chùa Hoàng Giác sống nhờ việc thu tô của dân, mà năm đó thiên tai nghiêm trọng, không thu được tô.

Chu Nguyên Chương vào chùa được 50 ngày thì chùa hết lương, sư phụ và các sư huynh phải lần lượt phải rời chùa đi khất thực.

Chi Nguyên Chương cũng được cử đi, mang theo mõ gỗ và bát đi xin ăn lang thang khắp vùng Hoài Tây.

Ba năm sau, tình hình thiên tai ở Hào Châu dịu xuống, ông mới trở về chùa Hoàng Giác.

Một năm sau nữa, khởi nghĩa Hồng Cân quân bùng nổ.

Ở trong chùa, Chu Nguyên Chương liên tục nghe mọi tin đồn từ bên ngoài, nào là Lưu Phúc Thông đã chiếm Dĩnh Châu, nào là Chi Ma Lý đã chiếm Từ Châu.

Đến cuối năm, lại nghe tin Hào Châu cũng bị Hồng Cân quân chiếm.

Từ lâu, Chu Nguyên Chương đã nghe nói tới câu chuyện Phật Di Lặc sắp xuống trần cứu nhân độ thế, nay lại thấy Hồng Cân quân nổi dậy khắp nơi, quân Nguyên thua trận chạy dài, thì nghĩ: ngày người nghèo đổi đời đã tới.

Ông liền rời chùa Hoàng Giác, tới Hào Châu theo Quách Tử Hưng.

Quách Tử Hưng hỏi chuyện Chu Nguyên Chương, thấy ông ăn nói lanh lợi thì rất yêu mến, lập tức bảo ông cởi bỏ áo tu hành, thay mặc binh phục, giữ luôn bên cạnh làm thân binh trưởng.

Sau khi tham gia quân khởi nghĩa, Chu Nguyên Chương tỏ rõ ngay tài năng của mình.

Ông đánh trận vừa dũng cảm vừa có mưu kế, Quách Tử Hưng coi ông là người tâm phúc, trước mỗi trận đánh bao giờ cũng bàn bạc với ông.

Danh tiếng của Chu Nguyên Chương trong nghĩa quân dần dần lên cao.

Quách Tử Hưng có người bạn thân họ Mã bị ốm chết năm Quách Tử Hưng khởi binh.

Trước khi chết, ông Mã nhờ Quách Tử Hưng coi sóc cô con gái mồ côi.

Quách Tử Hưng đem cô gái về, giao cho vợ là Trương phu nhân nuôi dưỡng, coi cô như con đẻ.

Quách Tử Hưng vốn có ý định chọn cho cô 1 người chồng tốt.

Lần này thấy Chu Nguyên Chương là 1 nhân tài, liền bàn với Trương phu nhân, muốn gả cho Chu Nguyên Chương.

Phu nhân cũng hết sức tán thành.

Thế là, chú tiểu chùa Hoàng giác liền trở thành con rễ Quách nguyên soái, địa vị hoàn toàn đổi khác.

Trong quân khởi nghĩa, Chu Nguyên Chương được mọi người gọi là "Chu công tử".

Nghĩa quân Hồng Cân ở Hào Châu, kể cả Quách Tử Hưng, tổng cộng có tới 5 vị nguyên soái, không phân biệt cao thấp, không ai chỉ huy được ai.

Ngoài Quách Tử Hưng, 4 vị nguyên soái còn lại đều ít nhiều có tính cách giang hồ, không chú ý đến kỷ luật.

Dần dần, Quách Tử Hưng thấy không hợp với họ, họ cũng không ưa Quách Tử Hưng.

Càng về sau, mâu thuẫn càng gay gắt, 4 người kia liên kết với nhau, chống lại Quách Tử Hưng.

Một lần, suýt nữa Quách Tử Hưng bị bọn họ giết chết, may nhờ Chu Nguyên Chương biết tin cứu được.

Chu Nguyên Chương thấy mấy tướng soái trong nghĩa quân bụng dạ hẹp hòi, nếu làm việc dưới quyền họ thì khó thành sự nghiệp, liền bỏ về nhà, tự chiêu binh mãi mã.

Những bạn ông thời thiếu niên như Từ Đạt, Thnag Hòa nghe nói Chu Nguyên Chương đã làm tướng trong Hồng Cân quân, đều tới xin theo.

Không tới 10 ngày, đã chiêu mộ được 700 người.

Sau đó, họ lại tập kích quân Nguyên và chiêu hàng được 1 số.

Khi đã có trong tay 1 lực lượng đáng kể, Chu Nguyên Chương liền chỉnh đốn kỷ luật, tăng cường huấn luyện, khiến đội quân của mình trở thành 1 đội ngũ có sức chiến đấu rất cao.

Thanh thế vì vậy ngày càng lớn.

Ở Định Viễn có 1 nhà văn là Lý Thiên Trường, đa mưu túc kế, cũng tìm đến theo Chu Nguyên Chương.

Chu Nguyên Chương biết ông rất có học vấn, liền dùng làm mưu sĩ trong quân khởi nghĩa.

Một hôm, Chu Nguyên Chương hỏi Lý Thiên Trường: "Nay khắp nơi trong nước đều đánh nhau.

Đến bao giờ thì nước thái bình?".

Lý Thiên Trường nói: "Cuối triều Tần, cũng đã từng loạn lạc thế này.

Hán Cao Tổ xuất thân từ người bình dân, nhưng vì có chí khí và độ lượng lớn, biết sử dụng nhân tài, không giết người bừa bãi, nên chỉ mất năm năm đã thống nhất được thiên hạ.

Nay chính trị triều Nguyên hỗn loạn, thiên hạ đều rời rã cả, ngài có thể học tập Hán Cao Tổ được không?".

Từ đó trở đi, Chu Nguyên Chương quyết 1 lòng học theo Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Chu Nguyên Chương dẫn đội quân của mình liên tục đánh chiếm được Từ Châu, Hòa Châu.

Năm Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi xưng đế ở Hào Châu thì Quách Tử Hưng mất vì bệnh.

Tiểu Minh Vương liền phong con trai Quách Tử Hưng là Quách Thiên Thúc làm đô nguyên soái, Chu Nguyên Chương làm phó nguyên soái.

Quách Thiên Thúc không có kinh nghiệm chỉ huy, lại thêm đại đa số tướng sĩ trong Hồng Cân quân đều là thân tín của Chu Nguyên Chương, nên Chu Nguyên Chương tuy về danh nghĩa là phó nguyên soái, nhưng trên thực tế lại nắm toàn bộ thực quyền.

Không lâu sau, trong khi tiến đánh Tập Khánh (nay là Nam Kinh, Giang Tô), Quách Thiên Thúc bị kẻ phản bội giết chết, Chu Nguyên Chương liền chính thức làm nguyên soái.

Sau khi 1 mình nắm binh quyền, Chu Nguyên Chương liền dẫn đại quân đánh tan thủy quân của triều Nguyên, vượt sông tiến đánh Tập Khánh.

Hơn 50 vạn quân dân Tập Khánh đầu hàng.

Chu Nguyên Chương vào Tập Khánh, treo bảng an dân, đổi Tập Khánh thành Ứng Thiên Phủ.

Từ đó về sau, Chu Nguyên Chương lấy Ứng Thiên Phủ làm căn cứ địa, phát triển lực lượng khắp miền Giang Nam.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐẠI CHIẾN PHIÊN DƯƠNG HỒ


Khi thế lực của Chu Nguyên Chương phát triển về miền nam, thì trước hết vấp phải ngay 1 đối thủ mạnh là Trần Hữu Lượng.

Trần Hữu Lượng nguyên là bộ tướng của nghĩa quân Từ Thọ Huy.

Sau, Lượng mưu sát Từ Thọ Huy, tự lập làm vương, lấy quốc hiệu là Hán.

Trần Hữu Lượng chiếm giữ 1 dải Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc; đất rộng quân đông, hình thành 1 chính quyền cát cứ lớn mạnh.

Năm 1360, Trần Hữu Lượng dẫn đội thủy quân mạnh từ Thái Thạch theo Trường Giang xuôi xuống phía đông, tiến công Ứng Thiên Phủ, toan thôn tính vùng đất của Chu Nguyên Chương.

Chu Nguyên Chương vội triệu tập cấp dưới đến bàn bạc cách đối phó với quân Hán.

Các bộ tướng, người thì nói lực lượng quân Hán rất lớn mạnh, chi bằng sớm đầu hàng.

Người thì nói, nên chạy vào Chung Sơn (nay tại Nam Kinh) cố thủ.

Cũng có người chủ trương quyết 1 trận tử chiến, nếu thất bại thì rút chạy cũng chưa muộn.

Mọi người hăng hái tranh cãi, bàn luận xôn xao, chỉ có mưu sĩ mới nhập nghĩa quân là Lưu Cơ đứng bên cạnh là im lặng, không nói năng gì.

Chu Nguyên Chương còn do dự, chưa quyết định được.

Tan họp, Chu Nguyên Chương giữ riêng Lưu Cơ lại hỏi xem ông có ý kiến gì.

Lưu Cơ nói: "Tôi thấy những ai chủ trương đầu hàng bỏ chạy đều đáng chém".

Chu Nguyên Chương hỏi: "Xin tiên sinh cho biết dùng biện pháp gì để đánh bại địch?".

Lưu Cơ trả lời: "Kẻ địch từ xa tới xâm phạm đất ta.

Ta lấy quân được nghỉ ngơi đối phó với quân mệt nhọc, lo gì mà không thắng?

Nếu nguyên soái ban thưởng hậu cho tướng sĩ, rồi cho bố trí phục binh, đánh mạnh vào điểm yếu của địch thì nhất định sẽ đánh thắng được Trần Hữu Lượng".

Nghe Lưu Cơ nói,Chu Nguyên Chương mừng rỡ, liền cùng Lưu Cơ bàn thêm chi tiết rồi vạch ra kế hoạch tác chiến.

Bộ tướng Khang Mậu Tài của Chu Nguyên Chương là người quen cũ của Trần Hữu Lượng.

Chu Nguyên Chương gọi Khang Mậu Tài đến nói: "Lần này Trần Hữu Lượng tới, ta muốn đánh lừa hắn, cần đến sự giúp đỡ của ông.

Ông hãy viết một bức thư cho Trần Hữu Lượng, giả làm đầu hàng, xin làm nội ứng cho hắn, cung cấp cho hắn một số tin tức giả, yêu cầu hắn chia quân làm ba cánh tới đánh Ứng Thiên Phủ để phân tán lực lượng của hắn ra".

Khang Mậu Tài nói: "Việc này không khó.

Nhà tôi có một lão bộc từng làm tôi tớ cho Trần Hữu Lượng, nếu cử ông ta đi, Trần Hữu Lượng sẽ không nghi ngờ gì!".

Khang Mậu Tài về nhà, viết 1 bức thư theo lời dặn của Chu Nguyên Chương, bảo người lão bộc đem thư tới, quả nhiên Lượng tin ngay.

Hắn hỏi người lão bộc: "Khang công hiện ở đâu?".

Người lão bộc trả lời: "Khang công hiện dẫn một đại quân đóng ở cầu Giang Đông để chờ đại vương tới".

Trần Hữu Lượng vội hỏi: "Cầu Giang Đông có hình dáng thế nào?"

Lão bộc nói: "Đó là một chiếc cầu gỗ, rất dễ nhận ra".

Trần Hữu Lượng hỏi han 1 hồi rồi sai người mang rượu thịt chiêu đãi rất hậu, sau đó giao cho ông ta mang thư trả lời.

Trước khi người lão bộc lên đường, Trần Hữu Lượng còn dặn thêm: "Ngươi nói với Khang công rằng.

Tới nơi, ta sẽ gọi "Lão Khang!

Lão Khang", xin ông ta tiếp ứng ngay!".

Người lão bộc trở về, báo cáo đầy đủ với Chu Nguyên Chương.

Chương lập tức sai người gỡ bỏ cầu gỗ trong đêm và tha vào đó là 1 cầu đá.

Qua 1 tên lính đào ngũ của Trần Hữu Lượng, Chu Nguyên Chương nhận được tin tức đầy đủ về đường tiến quân của hắn, liền phái các tướng Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân đem quân mai phục tại mấy cửa quan trọng yếu ven sông.

Đích thân Chu Nguyên Chương dẫn đại quân trấn giữ Lư Long Sơn (nay là Sư Tử Sơn, Nam Kinh), cho quân sĩ chuẩn bị đầy đủ cờ đỏ và cờ vàng, qui ước rằng khi giương cờ đỏ là tín hiệu báo địch đang tới, khi giương cờ vàng là mệnh lệnh xuất kích.

Mọi việc chuẩn bị xong, Chu Nguyên Chương ung dung chờ quân Trần Hữu Lượng tới chui đầu vào lưới.

Sau khi người lão bộc về, Trần Hữu Lượng lập tức ra lệnh cho toàn quân xuất phát.

Đích thân ông ta dẫn đầu toán quân đi tới cầu Giang Đông, nào ngờ khi tới điểm đã hẹn, không thấy cầu gỗ, chỉ thấy có chiếc cầu đá.

Trần Hữu Lượng và các bộ tướng sinh nghi, nhưng không có cách nào khác, đành tìm cách đi gặp Khang Mậu Tài.

Lượng dành tới chân cầu đá lớn tiếng gọi "Lão Khang!

Lão Khang!".

Không ai trả lời, Trần Hữu Lượng biết đã mắc lừa, vội vàng hạ lệnh lui quân.

Chu Nguyên Chương lập tức giương cờ vàng phát động tổng công kích.

Trong chớp mắt, trống trận vang trời, quân mai phục xông ra chém giết, quân thủy từ các khe ngòi cũng tiến ra phối hợp.

Bị tập kích bất ngờ, mấy vạn quân Trần Hữu Lượng hỗn loạn.

Số bị giết và chết nhiều không kể xiết.

Hơn 2 vạn quân và hơn 100 chiến thuyền bị bắt sống.

Trần Hữu Lượng nhờ có các bộ tướng hộ vệ, nhảy lên 1 chiếc thuyền nhỏ, chạy thoát.

Trận đánh đó làm Trần Hữu Lượng tổn thất nặng, lực lượng suy giảm nhiều và thanh thế của Chu Nguyên Chương ngày càng vang dội.

Trần Hữu Lượng rất căm, ra sức chấn chỉnh lực lượng để báo thù trận bại nhục nhã đó.

Ba năm sau, ông ta chuẩn bị 1 đội chiến thuyền lớn, đem 60 vạn đại quân tiến công Hồng Đô (nay là Nam Xương, Giang Tây).

Chu Nguyên Chương đích thân dẫn 20 vạn quân tới cứu Hồng Đô.

Trần Hữu Lượng rút bỏ vòng vây, lui toàn bộ thủy quân về hồ Phiên Dương.

Chu Nguyên Chương liền phong tỏa chặt lối vào hồ Phiên Dương, nhốt chặt thủy quân Trần Hữu Lượng trong đó và quyết chiến trong hồ.

Thủy quân Trần hữu Lượng có nhiều thuyền vừa to vừa cao, xếp thành hàng ngang dài tới mười mấy dặm.

Còn thủy quân của Chu Nguyên Chương chỉ gồm 1 số thuyền nhỏ, so sánh về thực lực thì thua kém nhiều!

Hai bên đánh nhau liên tục 3 ngày, quân Chu Nguyên Chương đều thất bại.

Bộ tướng Quách Hưng nói với Chu Nguyên Chương: "Binh lực hai bên quá chênh lệch, không thể dùng sức mạnh mà thắng.

Phải dùng hỏa công thôi!".

Chu Nguyên Chương lập tức hạ lệnh dùng 7 thuyền nhỏ, chứa đầy chất cháy, mỗi thuyền lại kéo theo 1 xuồng nhỏ, cơ động nhẹ nhàng.

Một đêm, trời nổi gió đông bắc, Chu Nguyên Chương phái đội cảm tử điều khiển 7 thuyền chở chất cháy, châm lửa xông thẳng vào đội thuyền Trần Hữu Lượng.

Lửa to gió mạnh, chỉ trong chốc lát, toàn bộ đội thuyền quân Hán đã thành 1 biển lửa, chiếu đỏ rực mặt hồ.

Quân tướng của Trần Hữu Lượng kẻ thì chết cháy, kẻ thì bị bắt làm tù binh.

Trần Hữu Lượng dẫn tàn binh bại tướng chạy ra cửa hồ, toan phá vây chạy, lại gặp quân Chu Nguyên Chương đang chờ sẵn.

Dưới làn tên bắn như mưa, Trần Hữu Lượng trúng tên tử trận.

Sau khi tiêu diệt xong thế lực cát cứ lớn nhất ở miền nam của Trần Hữu Lượng, Chu Nguyên Chương liền xưng là Ngô Vương.

Từ khi Lưu Phúc Thông hy sinh, Chu Nguyên Chương đón Tiểu Minh Vương về Từ Châu và chịu sự lãnh đạo của Tiểu Minh Vương về danh nghĩa.

Tới lúc này, tư tưởng làm hoàng đế của Chu Nguyên Chương trỗi dậy, ông cảm thấy Tiểu Minh Vương làm 1 trở ngại.

Năm 1366, ông dùng thuyền đón Tiểu Minh Vương về Ứng Thiên Phủ, khi thuyền đi qua Trảo Bộ (nay ở đông nam Lục Hợp, Giang Tô) liền cử người lén đục thuyền, dìm chết Tiểu Minh Vương.

Năm sau, Chu Nguyên Chương lại tiêu diệt lực lượng cát cứ của Trương Sĩ Thành.

Sau đó, phong Từ Đạt làm Chinh lỗ đại tướng quân, Thường Ngộ Xuân làm phó tướng quân, dẫn 25 vạn đại quân bắc phạt.

Chỉ trong mấy tháng, cánh quân của Từ Đạt liên tục thắng lợi, chiếm được Sơn Đông.

Tháng giêng năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng đế ở Ứng Thiên Phủ, lấy quốc hiệu là Minh.

Đó là Minh Thái Tổ.

Quân Minh hừa thắng tiến quân, quân Nguyên liên tục rút lui.

Tới tháng 8, Từ Đạt dẫn đại quân đánh Đại Đô.

Nguyên Thuận Đế chạy lên Thượng Đô.

Triều Nguyên qua 97 năm thống trị Trung Quốc, cuối cùng đã bị lật đổ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LƯU BÁ ÔN CẦU MƯA


Trong chiến tranh thống nhất Trung Quốc, Minh Thái Tổ đã dựa vào số tướng lĩnh anh dũng thiện chiến để tranh thành cướp đất, đồng thời cũng sứ dụng những mưu sĩ tài giỏi để giúp ông bày mưu đặt kế.

Trong số những mưu sĩ đó, nổi tiếng nhất là Lưu Bá Ôn.

Lưu Bá Ôn tên là Lưu Cơ, Bá Ôn là tên tự.

Ông vốn là quan chức triều Nguyen, không hài lòng với nền chính trị thối nát, nên thường viết văn thơ châm biếm chúng.

Vì vậy, bị bãi chức về quê ở Thanh Điền (nay thuộc Triết Giang).

Khi quân Chu Nguyên Chương đánh tới Triết Đông, Chu Nguyên Chương mời ông ra hợp tác với nghĩa quân, làm mưu sĩ cho mình.

Trong những cuộc chiến với Trần Hữu Lượng, Lưu Cơ đã góp nhiều công sức.

Vì ông đa mqu túc trí nên được Minh Thái Tổ rất tín nhiệm, thường ví ông với Trương Lương thời Tây Hán.

Không những giỏi về mưu lược, Lưu Cơ còn tinh thông thiên văn.

Thời xưa, người ta quan niệm rằng hiện tượng thiên nhiên có quan hệ mật thiết với sự lành dữ của con người.

Lưu Cơ nhờ sự quan sát, nghiên cứu tỉ mỉ tình hình chính trị xã hội trong nước, suy xét chu đáo mọi mặt nên dự đoán mọi việc thường chuẩn xác.

Nhưng mọi người lại cho rằng đó là do ông giỏi thiên văn đoán được mệnh trời.

Truyền thuyết dân gian coi Lưu Bá Ôn là người "chưa bói đã biết".

Khi Chu Nguyên Chương làm Ngô vương, miền Giang Nam có đại hạn.

Vì Lưu Cơ nắm việc thiên văn, Chu Nguyên Chương liền hỏi ông tại sao lại sinh ra đại hạn, làm thế nào để cho trời mưa xuống.

Lưu Cơ nói: "Trời không chịu mưa, là vì trong nhà lao giam giữ một số người bị oan!".

Chu Nguyên Chương tin lời, liền cho kiểm tra lại các phạm nhân bị bắt.

Lưu Cơ tra xét, quả có 1 số án oan.

Ông tâu với Chu Nguyên Chương, xin sửa những án oan đó, và thả những người bị oan ra.

Cầu mưa và sửa án oan vốn là 2 việc không liên quan gì đến nhau.

Lưu Cơ cũng không có pháp thuật gì để cầu mưa.

Chẳng qua, ông hiểu thiên văn, có thể dự đoán được sự thay đổi của thời tiết; liền mượn việc đó, khuyên Chu Nguyên Chương sửa lại 1 số án oan mà thôi.

Quả nhiên mấy hôm sau, mây đen đầy trời rồi mưa như trút nước.

Lưu Cơ nhân lúc Chu Nguyên Chương phấn khởi, liền khuyên ông định ra pháp luật, lấy đó làm căn cứ, tránh việc giết nhầm người vô tội.

Sau khi Minh Thái Tổ lên ngôi, phong Lưu Cơ làm ngự sử trung thừa, phụ trách công tác tư pháp.

Lưu Cơ tiến hành công việc rất nghiêm minh.

Một lần, 1 người thân tín của thừa tướng Lý Thiên Trường phạm pháp.

Lý Thiên Trường là khai quốc công thần của triều Minh, lại là đồng hương của Minh Thái Tổ, có thế lực rất lớn.

Nhưng Lưu Cơ không đếm xỉa gì đến sự ngăn trở của Lý Thiên Trường, cứ tâu lên Minh Thái Tổ, cho xử chém kẻ phạm pháp đó.

Việc này khiến Lý Thiên Trường thâm thù ông.

Vừa gặp dịp vào năm đó, kinh thành lại bị hạn hán, Minh Thái Tổ rất lo lắng.

Lưu Cơ nhân dịp đó tâu với Minh Thái Tổ: các chiến sĩ tử vong trong chiến tranh, vợ con họ cần được chăm sóc; những thợ thuyền tử vong trong khi xây đắp thành trì, xương cốt còn rải rác trên đồng ruộng, không ai mai táng.

Nếu giải quyết những việc đó, trời có thể mưa.

Minh Thái Tổ 1 lòng mong mưa, tất nhiên nhanh chóng thực hiện lời khuyên của Lưu Cơ: cử người chăm sóc vợ con tử sĩ, chôn cất di cốt thợ thuyền.

Lưu Cơ tuy đã làm được mấy việc tốt trên, nhưng chỉ dựa vào ý trời để khuyên vua, không phải lúc nào cũng trôi chảy.

Lần này, điều dự đoán của ông không ứng nghiệm, mọi việc đã tiến hành xong mà hơn 10 hôm sau, trời vẫn nóng như thiêu đốt, không có 1 giọt mưa nào.

Điều này làm Minh Thái Tổ tức giận, lại thêm lời gièm pha của Lý Thiên Trường, khiến Lưu Cơ cảm thấy không yên.

Lúc đó, bà vợ ông bị bệnh mất ở quê nhà, Lưu Cơ liền nhân cớ đó xin nghỉ việc về nhà.

Nhưng Minh Thái Tổ vẫ đặc biệt coi trọng ông.

Một lần, hoàng đế tỏ ý phong ông làm thừa tướng, Lưu Cơ vội tìm cách thoái thác: "Muôn tâu bệ hạ, chọn thừa tướng quan trọng như chọn đòn nóc một tòa nhà, cần chọn gỗ lớn và tốt.

Nếu chọn gỗ nhỏ và xấu, e sẽ có nguy cơ đổ sập".

Sau khi triệt chức thừa tướng của Lý Thiên Trường, Minh Thái Tổ lại 1 lần nữa muốn ông làm thừa tướng.

Lưu Cơ nói: "Hạ thần có tính nóng vội và cứng cỏi, khó dung được kẻ xấu.

Thêm nữa, tuổi tác đã cao, không gánh vác nổi trách nhiệm nặng nề.

Trong thiên hạ có nhiều nhân tài, mong bệ hạ lưu tâm chọn lựa".

Lưu Cơ về Thanh Điền, sống đời ẩn cư, không bao giờ nhắc tới công lao trước kia.

Huyện lệnh Thanh Điền nhiều lần xin gặp, đều bị Lưu Cơ khéo léo từ chối.

Một hôm, viên huyện lệnh hóa trang làm người dân thường đến xin gặp Lưu Cơ.

Ông đang rửa chân, thấy 1 người lạ, liền vội đi giày, mặc áo ra tiếp, nhiệt tình mời vào nhà, giữ lại ăn cơm.

Lưu Cơ hỏi họ tên người khách, viên huyện lệnh đành nói thực, mình là quan địa phương tìm đến xin thỉnh giáo.

Lưu Cơ giật mình, vội đứng dậy vái chào, tự xưng mình là dân dưới quyền cai trị.

Từ đó về sau, ông không bao giờ gặp lại viên huyện lệnh nữa.

Lưu Cơ ở quê nhà, nhưng vẫn quan tâm đến chính sự trong triều.

Một lần, Minh Thái Tổ cử người đến Thanh Điền hỏi Lưu Cơ về điềm lành dữ của hiện tượng.

Lưu Cơ nói: "Sương tuyết mùa đông vừa qua tiếp theo đó sẽ là mùa xuân ấm áp.

Nay nước nhà đã an định, mong bệ hạ hãy khoan hòa trong chính sự".
 
Back
Top Bottom