Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
59491439-256-k321551.jpg

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
Tác giả: riri_pipi
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Mình rất thích nghe và đọc các tài liệu lịch sử, tuy Trung Quốc thời xưa là một nước xâm chiếm Việt Nam nhưng không thể phủ nhận rằng lịch sử lâu đời của Trung Quốc rất hay và hấp dẫn.

Đây là tác phẩm mình tìm được rất hay và tâm đắc, nên chia sẻ cho các bạn, mọi người thấy có sách lịch sử nào hay có thể giới thiệu để chúng ta cùng chia sẻ...

Thích thì like, hay thì cmt ....



[đọc thêm]
[ẩn bớt]​
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
1-2


THẦN THOẠI VỀ KHAI THIÊN LẬP ĐỊA

Trung Quốc có một lịch sử lâu dài, theo truyền thuyết thì từ thời Hoàng Đế đến nay,đã ngót 5000 năm.

Trong gần 5000 năm đó, có rất nhiều câu chuyện có ý nghĩa, trong đó nhiều câu chuyện đã được ghi chép trong sử sách.

Còn về thời viễn cổ-từ 5000 năm về trước, thì chưa có văn tự ghi chép, nhưng vẫn lưu truyền lại một số thần thoại và truyền thuyết.

Thí dụ, để lý giải tổ tiên của người Trung Hoa là từ đâu tới thì xa xưa đã lưu truyền câu chuyện thần thoại về Bàn Cổ tạo nên trời đất.

Theo thần thoại này, trước khi có trời đất, vũ trụ chỉ là một khối khí hỗn độn, trong đó không có ánh sáng và âm thanh.

Lúc Bàn Cổ xuất hiện cùng một chiếc rìu bổ khối khí ra, khí nhẹ bay lên, thành ra trời, khí nặng chìm xuống thành đất.

Sau mỗi ngày, trời cao thêm một trượng, đất dày thêm một trượng, bản thân Bàn Cổ mỗi ngày cũng cao thêm một trượng.

Cứ như thế, suốt một vạn tám ngàn năm, trời cao mãi, đất dày mãi và Bàn Cổ thành một người khổng lồ đội trời đạp đất.

Sau này, Bàn Cổ chết đi, các bộ phận trong thân thể ông liền biến thành mặt trời, mặt trăng, sao, núi sông và cây cỏ.

Đó là thần thoại về truyện khai thiên lập địa.

Nhưng thần thoại là thần thoại, ngày nay không ai tin rằng đó là sự thực.

Song người ta yêu thích câu chuyện đó, mỗi khi nhắc tới lịch sử là lại nói tư ngày Bàn Cổ khai thiên lập địa đến nay, đó là vì câu chuyện đã nói lên khí phách chinh phục tự nhiên và sức sáng tạo phong phú của nhân loại.

Vậy thì lịch sử của nhân loại đúng ra là từ đâu?

Sau này khoa học phát triển, người ta đã khai quật những hóa thạch trong lòng đất, chứng minh rằng tổ tiên của loài người là một loại vượn người nguyên thủy.

Ở Trung Quốc đã khai quật hóa thạch của người vượn cách đây hơn 1 triệu năm, như người vượn Nguyên Mưu ở Vân Nam cách đây 1 triệu 70 vạn năm, người vượn Lam Điền ở Thiểm Tây có khoảng 80 vạn năm lịch sử.

Còn người vượn Bắc Kinh nổi tiếng thì cũng cách đây bốn, năm mươi vạn năm.

Người vượn Bắc Kinh sống tại vùng Chu Khẩu Điếm, lúc đó khí hậu miền bắc ấm áp và ẩm thấp hơn bây giờ, trên và dưới núi đều có rừng cây to, cỏ mọc rậm rạp, nhiều dã thú như hổ, báo, sói, gấu sinh sống.

Ngoài ra có cả voi, tê giác và hươu nai.

Sức lực của người vượn không bằng các loại mãnh thú nhưng họ khác mọi loại vật khác là biết chế tạo, sử dụng công cụ.

Những công cụ thời đó còn rất giản đơn, làm bằng gỗ và đá, qua sự đẽo gọt thô sơ của người vượn.

Người vượn sử dụng những công cụ để hái quả, đào rễ và củ, đồng thời làm vũ khí để chống thú dữ.

Nhưng vì công cụ quá giản đơn, lại chỉ dựa vào sức cá nhân nên thức ăn kiếm được không nhiều, họ đành phải sống thành bầy đàn để cùng nhau lao động và cùng nhau chống lại thú dữ nên được gọi là bầy đàn nguyên thủy.

Qua mấy chục vạn năm đấu tranh gian khổ, người động vượn gần tiến hóa.

Trong động Sơn Đỉnh ở Long Cốt Sơn thuộc vùng Chu Khẩu Điếm người ta đã phát hiện di tích của người nguyên thủy có hình dạng rất giống người hiện đại, loại người đó được gọi là"người động Sơn Đỉnh".

Công cụ lao động của người động Sơn Đỉnh đã tiến bộ rất nhiều, họ không những làm ra được rìu đá, búa đá mà còn dùng xương thú mà thành kim khâu.

Đừng nên coi thường những chiếc kim này, nhờ chúng người ta đãcó thể may da thú thành quần áo chứ không còn trần truồng như người vượn Bắc Kinh nữa.

Người động Sơn Đỉnh cũng vẫn sống thành bầy đàn, nhưng bầy đàn của họđã được chia theo huyết thống, mọi thành viên trong tập đoàn đều có chung tổ tiên, tức là cùng thuộc một thị tộc.

Như vậy xã hội loài người đã ở vào thời kì công xã thị tộc.

TRUYỀN THUYẾT VỀ DÙI CÂY LẤY LỬA

Về chuyện người nguyên thủy đã tiến hóa như thế nào từ bầy đàn nguyên thủy sang công xã thị tộc cũng có khá nhiều truyền thuyết.

Truyền thuyết thường nói tới những nhân vật lớn, vừa là thủ lĩnh vừa là nhà phát minh, đó là hình dung của người thời cổ về đời sống của người nguyên thủy.

Công cụ của người nguyên thủy thường rất giản đơn, xung quanh họ lại có rất nhiều thú dữ có thể gây nguy hiểm cho họ vào bất kì lúc nào, ở bất kì đâu.

Sau, người ta quan sát thấy chim chóc làm tổ ở trên cành cao, dã thú không chạm lên được, liền bắt chước cũng làm tổ ở trên cành cao, việc đó trên thực tế là do nhiều người quan sát và mò mẫm làm ra.

Nhưng truyền thuyết nói đó là do một người tên là Hữu Sào dạy mọi người làm.

Người nguyên thủy còn chưa biết dùng lửa, mọi thứ đều ăn sống, dù là thực vật và thịt động vật săn bắt được cứ để nguyên cả máu me lông lá thế mà ăn, sau này họ mới biết dùng lửa.

Trong di chỉ của người vượn Bắc Kinh ở vùng Chu Khẩu Điếm, đã phát hiện thấy dấu vết của lửa cho thấy thời đó, đã biết dùng lửa.

Hiện tượng lửa cháy đã sớm có trong tự nhiên: núi lửa phun ra , có lửa; sét đánh buông xuống, cây cối có thể bắt cháy, có lửa...nhưng người nguyên thủy thấy lửa lại sợ hãi, chưa biết lợi dụng.

Sau do ngẫu nhiên lượm được xác dã thú bị lửa thiêu chết, nếm thử thấy mùi thơm và vị ngon, qua nhiều lần thử thách, người ta dần dần học được cách dùng lửa để nướng chín thức ăn, và biết giữ lửa để dùng thường xuyên.

Trải qua một thời gian khá dài, người ta dùng hai khúc gỗ cứng, ra sức cọ xát vào nhau làm bật ra lửa, hoặc dùng hai viên sỏi đánh mạnh vào nhau làm tóe ra lửa, như vậy là đã biết cách tạo ra lửa.

Đó là phát minh của ai?

Đương nhiên là của tập thể người lao động, nhưng truyền thuyết cũng qui ra một người là Toại Nhân.

Việc tạo ra lửa là một phát minh lớn, từ đó người ta được ăn thức ăn chín và làm ra nhiều món ăn.

Theo truyền thuyết, Toại Nhân còn dạy dân bắt cá, ba ba, trai ốc lúc sống có mùi vị tanh rất khó ăn, nhờ có lửa đã trở thành những món ăn ngon.

Không biết trải qua thời gian bao lâu, người ta bắt đầu đan dây thành lưới và dùng lưới bắt cá, rồi lại chế tạo ra cung tên, như vậy việc săn bắn có hiệu quả hơn nhiều so với khi chỉ dùng gậy đánh và đá ném.

Từ đó người ta không chỉ săn bắt được thú trên mặt đất mà còn bắn được chim bay trên trời, và bắt được cá sống dưới nước.

Những chim, thú bắt được, số còn sống chưa ăn thì có thể giữ lại để ăn dần.

Như vậy người ta dần học được cách chăn nuôi, những công việc đan lưới, săn bắt, chăn nuôi đều là kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm của nhiều người.

Nhưng truyền thuyết lại nói là do Phục Hy hay Bào Hy phát minh ra.

Thời kì săn bắt không biết kéo dài bao lâu, nhưng nền văn minh nhân loại càng ngày càng phát triển lên.

Ban đầu người ta ngẫu nhiên đánh rơi hạt ngũ cốc xuống đất, đến năm sau thấy có cây lúa mọc lên và tới mùa thu thì thấy có nhiều bông và hạt.

Từ sự gợi ý đó, người ta bắt đầu gieo trồng.

Ban đầu người ta dùng gỗ chế ra nông cụ, cày bừa để trồng lúa, ngũ cốc; thu hoạch ngày càng nhiều.

Công việc đó, truyền thuyết lại gán cho một người là Thần Nông.

Thần Nông trong truyền thuyết còn là người nếm thử các loại cây quả và thảo mộc, không những ông tìm ra các loại thực phẩm mà còn tìm ra các loại cây cỏ làm thuốc, nhờ đó bắt đầu có nghề y.

Những nhân vật lớn trong truyền thuyết từ Hữu Sào đến Thần Nông trên thực tế không tồn tại, nhưng những sự việc như làm tổ trên cây, dùi cây lấy lửa cho đến những việc đánh cá bắt thú, phát triển nông nghiệp...đã phản ánh việc phát triển sức sản xuất của người nguyên thủy rất hợp với lý lẽ.

Năm 1952 ở thôn Bán Pha, thuộc Tây An, Thiểm Tây đã phát hiện thấy di chỉ một thôn xóm trước đây khoảng 6-7 ngàn năm.

Những đồ vật khai quật được tại di chỉ đó giúp ta biết được rằng, ở thời kì đó người ta đã biết cách chăn nuôi và trồng trọt.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
3-4


HOÀNG ĐẾ ĐÁNH XUY VƯU

Cách đây khoảng hơn 4000 năm, ở lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang có nhiều thị tộc và bộ tộc sinh sống, Hoàng Đế là một trong những thủ lĩnh bộ tộc nổi tiếng nhất trong truyền thuyết, bộ lạc do Hoàng Đế làm thủ lĩnh ban đầu sống ở vùng Cơ Thủy, thuộc Tây Bắc Trung Quốc, sau dời tới vùng Trác Lộc ( nay là Trác Lộc, Hoài Lai tỉnh Hà Bắc ) bắt đầu định cư, phát triển chăn nuôi và trồng trọt.

Viêm Đế là thủ lĩnh một bộ lạc khác đồng thời với Hoàng Đế, ban đầu cư trú tại vùng Khương Thủy ở Tây Bắc Trung Quốc.

Theo truyền thuyết, Viêm Đế có quan hệ thân tộc với Hoàng Đế.

Trong khi bộ lạc của Viêm Đế ngày càng sa sút thì bộ lạc của Hoàng Đế lại rất thịnh vượng.

Lúc đó Xuy Vưu là thủ lĩnh của bộ tộc Cửu Lê, rất hung tợn.

Truyền thuyết nói Xuy Vưu có 81 anh em đều có thân hình mãnh thú, đầu đồng trán sắt, ăn sỏi đá, hung hăng mạnh mẽ vô cùng.

Họ còn chế tạo ra các loại vũ khí như đao, kích, cung nỏ, thường dẫn bộ tộc đi xâm chiếm cướp bóc bộ tộc khác.

Có lần Xuy Vưu xâm chiếm vùng đất của Viêm Đế, Viêm Đế mang quân chống lại nhưng không địch nổi, bị Xuy Vưu đánh giết tan tác, Viêm Đế đành phải chạy đến Trác Lộc xin Hoàng Đế giúp đỡ.

Hoàng Đế vốn đã muốn tiễu trừ hiểm họa đó, liền liên kết các bộ lạc, chuẩn bị người, ngựa, vũ khí, triển khai một cuộc đại quyết chiến với Xuy Vưu trên cánh đồng Trác Lộc.

Về trận đại chiến này, có rất nhiều truyền thuyết hoang đường như nói rằng, ngày thường Hoàng Đế đã nuôi 6 loại dã thú là hùng, bi, tì, hưu, khu, hổ, khi đánh nhau thì thả chúng ra trợ chiến (có người cho rằng 6 loại dã thú trên, thực tế là 6 thị tộc mang tên các dã thú đó).

Quân của Xuy Vưu tuy hung dữ nhưng gặp phải quân của Hoàng Đế có dã thú giúp sức thì không địch nổi, liền tan vỡ tháo chạy.

Hoàng Đế dẫn quân thừa thắng đuổi theo, bỗng trời đất tối tăm, sương mù dày đặt, lại thêm cuồng phong dữ dội, sấm sét liên hồi khiến quân của Hoàng Đế không sao đuổi được.

Thì ra Xuy Vưu đã mời thần gió, thần mưa đến giúp.

Hoàng Đế không chịu kém, liền mời Thiên Nữ giúp sức.

Chỉ trong chớp mắt, trời quang mây tạnh nên Xuy Vưu đã bị đánh bại.

Lại có truyền thuyết nói rằng Xuy Vưu dùng yêu thuật, tạo ra sương mù dày đặt, làm quân của Hoàng Đế mất phương hướng, Hoàng Đế liền dùng xe có kim chỉ nam dẫn đường nhằm đúng hướng rút chạy của Xuy Vưu đuổi giết.

Kết quả đã bắt và giết được Xuy Vưu.

Những truyền thuyết trên đã phản ánh mức độ khốc liệt của cuộc chiến tranh đó.

Các bộ tộc thấy Hoàng Đế đánh bại được Xuy Vưu đều rất phấn khởi, Hoàng Đế được rất nhiều bộ lạc ủng hộ.

Nhưng sau đó hai bộ lạc của Hoàng Đế và Viêm Đế lại xảy ra xung đột.

Hai bên đánh nhau một trận ở Bản Tuyền (nay là Đông Nam huyện Trác Lộc, tỉnh Hà Bắc).

Viêm Đế thất bại, từ đó, Hoàng Đế trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc vùng Trung Nguyên.

Thời Hoàng Đế trong truyền thuyết đã có rất nhiều phát minh sáng tạo như làm nhà ở, đóng xe thuyền, may được quần áo ngũ săc...Đương nhiên những cái đó không thể là phát minh của một người, nhưng người đời sau đều quy công tất cả cho Hoàng Đế.

Theo truyền thuyết, Hoàng Đế có người vợ tên là Luy Tổ, tự mình làm mọi công việc lao động.

Từ trước, giống tằm chỉ sống trong tự nhiên, người ta không biết tác dụng của nó, Luy Tổ dạy phụ nữ nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa.

Từ đó, loài người mới có tơ lụa.

Hoàng Đế còn có một sử quan tên là Thương Hiệt, đã sáng tạo ra chữ viết thời cổ, chúng ta không được thấy chữ viết thời đó nên không có cách gì chứng minh việc này.

Trong các truyền thuyết thời cổ đại Trung Quốc, Hoàng Đế rất được tôn sùng, người đời sau đều cho rằng Hoàng Đế là thủy tổ của tộc Hoa Hạ và coi mình là con cháu Hoàng Đế.

Vì Viêm Đế và Hoàng Đế vốn là thân thuộc, sau này hai bộ lạc lại hòa lẫn vào nhau nên người Trung Quốc thường tự xưng mình là con cháu Viêm-Hoàng.

Để kỉ niệm vị tổ tiên chung đó, đời sau người ta xây dựng lăng Hoàng Đế ở Kiều Sơn, phía bắc huyện Hoàng Lăng tỉnh Thiểm Tây.

NGHIÊU - THUẤN NHƯỜNG NGÔI

Theo truyền thuyết, sau Hoàng Đế, trước sau còn có 3 thủ lĩnh liên minh bộ lạc rất nổi tiếng là Nghiêu, Thuấn và Vũ.

Họ vốn là thủ lĩnh của một bộ lạc, sau mới được bầu là thủ lĩnh của liên minh bộ lạc.

Lúc đó khi gặp việc gì lớn, thì thủ lĩnh liên minh bộ lạc đều phải bàn bạc với các thủ lĩnh bộ lạc.

Khi Nghiêu già cả, muốn tìm ra một người kế thừa chức vị của mình, liền mời thủ lĩnh bộ lạc các nơi đến họp.

Sau khi Nghiêu nêu ý kiến, có một người tên là Phóng Tề nói rằng: "Con trai ngài là Đan Chu, là một người thông minh, có thể kế thừa chức vị của ngài".

Nghiêu nghiêm khắc nói: "Không được, thằng bé đó tính không khoan hòa, chỉ thích cãi cọ với người khác".

Một người khác tên là Hoan Đâu nói: "Người phụ trách thủy lợi Cộng Công, làm việc rất tốt, được chăng?".

Nghiêu lắc đầu: " Cộng Công nói giỏi, làm việc rất giỏi, bên ngoài tỏ ra cung kính nhưng lòng dạ khó lường, trao cho người như thế ta không yên tâm".

Lần họp bàn đó chưa có kết quả, Nghiêu tiếp tục tìm kiếm người kế vị.

Sau đó ông lại triệu tập thủ lĩnh các bộ lạc lại bàn bạc, bảo họ tiến cử một người.

Hội nghị nhất trí chọn Thuấn.

Nghiêu gật đầu nói: "Đúng, ta cũng nghe nói người đó rất tốt, các ông thử nói kỹ hơn về Thuấn xem sao".

Mọi người liền kể về Thuấn: cha của Thuấn là một người rất hồ đồ, mọi người gọi ông ta là Cổ Tẩu (có nghĩa là một lão già mù).

Mẹ đẻ Thuấn chết sớm, mẹ kế là một người độc ác, mẹ kế sinh được một người em tên là Tượng, rất kiêu ngạo nhưng lại được Cổ Tẩu rất cưng.

Sống trong một gia đình như thế, nhưng Thuấn đối đãi với cha, mẹ kế và em rất mực hiếu thuận.

Vì vậy, mọi người coi Thuấn là người có đức hạnh.

Nghiêu nghe nói rất hài lòng, quyết định thử thách thêm, liền đem hai con gái của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh gả cho Thuấn, lại dựng cho Thuấn một kho lương thực, cho Thuấn nhiều bò, dê.

Mẹ kế và em thấy thế vừa thèm muốn vừa ghen tị, liền cùng Cổ Tẩu lập mưu nhiều lần muốn ám hại Thuấn.

Có lần, Cổ Tẩu bảo Thuấn lên chữa mái nhà kho.

Khi Thuấn bắc thang leo lên lên mái, Cổ Tẩu liền phóng hỏa, toan đốt cháy Thuấn.

Thuấn thấy lửa cháy, liền tìm thang thì thang đã bị lấy đi.

May mà Thuấn có mang theo hai chiếc mũ lớn che nắng, liền dùng hai tay cầm mũ, nhảy xuống như con chim, không hề hấn gì.

Cổ Tẩu và Tượng vẫn chưa cam chịu, lại sai Thuấn đi đào giếng, khi Thuấn ở dưới lòng giếng, Cổ Tẩu và Tượng ở trên đổ đất đá xuống để chôn sống Thuấn trong giếng.

Không ngờ, sau khi xuống giếng Thuấn đã đào được một ngách ngang tránh được, rồi từ đấy lại moi đất lên đi về nhà.

Tượng không biết Thuấn đã thoát hiểm, nên khi về nhà đã đắC ý nói với Cổ Tẩu: "Lần này thì anh con chắc đã chết rồi, diệu kế đó là do con nghĩ ra, bây giờ ta có thể chiếm tài sản của Thuấn rồi", nói xong liền đi về phía nhà Thuấn.

Không ngờ khi vừa bước vào, Tượng đã thấy Thuấn đang ngồi bên giường đánh đàn.

Tượng giật mình, ngượng ngùng nói: "Ôi, em nhớ anh quá", Thuấn làm như không có chuyện gì xảy ra, bảo: "Em đến thật đúng lúc, anh có nhiều việc muốn nhờ em giúp đỡ đây".

Sau đó, Thuấn vẫn đối đãi tốt với cha, mẹ kế và em như trước kia.

Cổ Tẩu và Tượng không dám ám hại Thuấn nữa.

Sau khi nghe mọi người kể và tự mình cân nhắc, Nghiêu thấy Thuấn đúng là người vừa có đức hạnh lại vừa giỏi giang, liền nhường chức vị thủ lĩnh cho Thuấn.

Việc nhượng chức vị đó, lịch sử gọi là "thiện nhượng".

Kỳ thực, trong thời công xã thị tộc, khi thủ lĩnh bộ lạc già cả, việc dùng biện pháp tuyển cử để chọn thủ lĩnh mới là một việc thường thấy.

Sau khi nhận chức, Thuấn vừa cần cù, vừa tiết kiệm, cùng lao động với mọi người, được mọi người rất tin cậy.

Mấy năm sau, Nghiêu chết, Thuấn lại muốn nhường chức thủ lĩnh cho con trai Nghiêu là Đan Chu, nhưng không ai tán thành.

Thuấn mới chính thức đảm nhận chức vị này.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
5-6


ĐẠI VŨ TRỊ THỦY

Trong khi Nghiêu còn là thủ lĩnh, lưu vực Hoàng Hà xảy ra nhiều thủy tai, khiến cho hoa màu bị ngập, nhà cửa bị đổ, dân chúng phải tránh lên trên chỗ cao, nhiều nơi còn có rắn độc và mãnh thú gây hại cho người và gia súc, nhân dân rất khổ sở.

Nghiêu triệu tập hội nghị liên minh bộ lạc, bàn về việc trị thủy, bảo mọi người hãy tiến cử một người giỏi giang phụ trách việc này.

Mọi người đều tiến cử Cổn, Nghiêu không tín nhiệm Cổn lắm, mọi người nói: "Hiện nay không ai giỏi hơn Cổn, ngài cứ thử dùng xem", Nghiêu miễn cưỡng đồng ý.

Cổn trị thủy suốt 9 năm trời mà không có kết quả gì, vì Cổn chỉ biết đắp đê và đập để ngăn nước.

Khi nước dâng cao làm vỡ đê đập, tai họa còn lớn hơn trước.

Khi Thuấn lên thay Nghiêu liền tự mình đi khảo sát việc trị thủy, ông thấy Cổn bất tài, liền giết đi và sai con của Cổn là Vũ thay cha.

Vũ thay đổi cách làm của cha, dùng biện pháp khơi thông sông ngòi, dẫn nước ra biển.

Ông cùng làm việc với mọi người, dùng mũ nan, dùng cuốc, xẻng đào đất, gánh đất, chăm chỉ miệt mài xây xát cả chân tay.

Trải qua 13 năm nỗ lực, cuối cùng đã khơi thông cho nước chảy ra biển, đồng ruộng lại trồng trọt được, Vũ mới lấy vợ.

Nhưng vì bận việc trị thủy, nhiều lần đi qua cửa nhà mình cũng không bước vào.

Có lần, vợ Vũ là Đồ Sơn thị sinh con trai là Khải đang oe oe khóc, Vũ đi qua nghe tiếng khóc, cũng dằn lòng không dám ghé thăm con.

Lúc đó ở vùng trung du Hoàng Hà có một trái núi lớn là Long Môn sơn (nay ở Tây Bắc, huyện Hà Tân, tỉnh Sơn Tây) ngăn chặn dòng chảy của sông, khiến dòng sông bị hẹp lại, nước bị nghẽn, nhiều lần tràn bờ, sinh ra thủy tai lớn.

Vũ đến nơi khảo sát, rồi dẫn đầu mọi người đục núi cho nước chảy xuyên qua.

Vì vậy chấm dứt được nạn nước tràn bờ.

Người đời sau ca ngợi công lao trị thủy của Vũ , tôn xưng ông là Đại Vũ.

Khi Thuấn già cả, cũng làm như Nghiêu là chọn người kế thừa chức vị, vì Vũ đã có công trị thủy nên mọi người đều tiến cử Vũ.

Đến khi Thuấn chết, Vũ liền kế nhiệm chức thủ lĩnh liên minh bộ lạc.

Lúc đó đã là thời kì sau của công xã thị tộc, sức sản xuất phát triển, sản phẩm do mọi người làm ra, ngoài phần cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của mình, vẫn còn dư thừa.

Thủ lĩnh các thị tộc và bộ lạc lợi dụng địa vị của mình, chiếm đoạt các sản phẩm dư thừa làm của riêng, trở thành những quý tộc trong thị tộc.

Có các sản phẩm dư thừa, giữa các bộ lạc liền xảy ra chiến tranh, khi bắt được tù binh thì không giết đi nữa mà biến họ thành nô lệ, bắt họ lao động phục vụ quý tộc.

Như vậy dần dần hình thành hai giai cấp là chủ nô và nô lệ, chế độ công xã thị tộc bắt đầu tan rã.

Do Vũ có công lao trị thủy nên uy tín và quyền lực của thủ lĩnh liên minh bộ lạc được nâng cao.

Truyền thuyết nói rằng, khi Vũ đã già, có đi thị sát miền đông và triệu tập rất nhiều thủ lĩnh bộ lạc đến Cối Kê (nay thuộc vùng Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang).

Những người đến triệu kiến đều cầm ngọc bạch, nghi thức rất long trọng.

Có một thủ lĩnh bộ lạc là Phòng Phong Thi đến muộn, Vũ cho rằng như thế là vi phạm mệnh lệnh, liền sai chém đầu Phòng Phong Thi.

Điều này chứng tỏ rằng, chức vị thủ lĩnh liên minh bộ lạc của Vũ lúc đó trên thực tế đã trở thành một quốc vương rồi.

Vũ vốn có một trợ thủ tên là Cao Giao, từng giúp Vũ làm công việc cai trị.

Sau khi Cao Giao chết, con là Bá Ích cũng là trợ thủ của Vũ.

Theo chế độ "thiện nhượng" thì đáng ra nên để Bá Ích là người kế vị Vũ.

Nhưng sau khi Vũ chết, những quý tộc trong bộ lạc Hạ của Vũ lại tôn con của Vũ là Khải lên kế vị.

Như thế chế độ tuyển cử trong liên minh bộ lạc của thời kì công xã thị tộc chính thức bị phế bỏ và đổi thành chế độ thế tập vương vị.

Triều Hạ-vương triều theo chế độ nô lệ đầu tiên của Trung Quốc đã xuất hiện.

THẦN TIỄN THỦ HẬU NGHỆ

Sau khi Hạ Khải lên làm vua, có một bộ lạc là Hữu Hộ thị không phục, Sau khi Hạ Khải lên làm vua, có một bộ lạc là Hữu Hộ thị không phục, đem quân chống lại.

Giữa Khải và bộ lạc Hữu Hộ thị xảy ra chiến tranh.

Sau, Khải tiêu diệt bộ lạc Hữu Hộ thị và biến tù binh thành nô lệ chăn nuôi gia súc.

Những bộ lạc khác thấy vậy, không ai dám phản kháng nữa.

Hạ Khải chết, con là Thái Khang nối ngôi, Thái Khang là một ông vua ngu tối không chăm lo gì đến chính sự, chỉ ham săn bắn.

Có lần, Thái Khang dẫn tùy tùng đi săn ở Nam ngạn Lạc Thủy, càng săn càng mê mải, hơn một trăm ngày không trở về.

Lúc đó, ở hạ du Hoàng Hà có tộc Di, thủ lĩnh bộ lạc tên là Hậu Nghệ, có dã tâm lớn, muốn giành quyền lực của Hạ Vương.

Thấy Thái Khang đi săn vắng, Hậu Nghệ nắm lấy thời cơ, dẫn quân đóng giữ tại bờ bắc Lạc Thủy.

Tới khi Thái Khang mang theo nhiều thú vật săn được, hớn hở về tới Lạc Thủy thì gặp quân Hậu Nghệ chắn giữ, ngăn mất đường về.

Thái Khang không còn cách gì, đành phải sống lưu vong, Hậu Nghệ vẫn chưa dám xưng vương, bèn lập người anh em của Thái Khang là Trọng Khang làm Hạ vương và nắm thực quyền trong tay.

Hậu Nghệ là tay thiện xạ thường bắn trăm phát trúng cả trăm.

Thần thoại kể rằng, thời cổ trên không có tới mười mặt trời, mặt đất nóng như thiêu, làm cháy hết hoa màu.

Mọi người xin Hậu Nghệ nghĩ cách giải quyết.

Hậu Nghệ liền giương cung bắn luôn mấy phát, làm chín mặt trời rụng xuống, chỉ để lại một mặt trời như ngày nay.

Vì vậy, khi hậu trên trái đất trở nên ôn hòa, không còn khô hạn nữa.

Lại nói thời cổ, trên các dòng sông có nhiều thủy quái, thường gây nên sóng gió tạo thành thủy tai, làm ngập hết hoa màu, nhấn chìm người và gia súc.

Hậu Nghệ lại dùng cung tên, bắn giết hết quái vật, mang lại cho dân cuộc sống yên bình.

Những thần thoại đó chứng tỏ tài bắn cung của Hậu nghệ rất cao cường, được mọi người công nhận.

Lúc đầu, Hậu Nghệ chỉ giữ vai trò trợ thủ cho Trọng Khang.

Tới khi Trọng Khang chết, ông ta liền đuổi con Trọng Khang là Tướng đi giành lấy vương vị của triều Hạ.

Hậu Nghệ ỷ vào tài bắn cung, cũng tác uy tác phúc, chỉ mải mê chơi bời săn bắn như Thái Khang, giao hết chính sự quốc gia cho người thân tín là Hàn Tróc.

Hàn Tróc có âm mưu riêng, ngấm ngầm mua chuộc lòng người.

Một lần, Hậu Nghệ đi săn về, bị Hàn Tróc sai người đến giết đi.

Giết Hậu Nghệ rồi, Hàn Tróc cướp ngôi.

Vì sợ tộc Hạ tranh đoạt, Hàn Tróc liền tìm cách bắn giết Tướng, con của Trọng Khang.

Tướng chạy đến đâu cũng bị Hàn Tróc sai người đuổi tới đó.

Cuối cùng, Hàn Tróc bắt và giết được Tướng.

Lúc đó, vợ Tướng đang có mang, bị Hàn Tróc lùng bắt gắt gao quá, liền trốn về nhà mẹ đẻ ở bộ lạc Hữu Trưng, sinh được một con trai, đặt tên là Thiếu Khang.

Khi Thiếu Khang lớn lên, làm nghề chăn nuôi gia súc cho nhà họ ngoại.

Nghe tin, Hàn Tróc lại sai người lùng bắt, Thiếu Khang phải trốn đến chỗ con cháu của Thuấn là Hữu Ngu.

Thiếu Khang lớn lên trong hoàn cảnh gian khổ nên rèn luyện được sức khỏe và tài năng.

Ông chiêu tập được nhiều người ở họ Hữu Ngu, bắt đầu tổ chức được đội ngũ.

Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của các đại thần và các bộ lạc trung thành với nhà Hạ, đã tổ chức đánh lại Hàn Tróc, giành lại được ngôi vua.

Triều Hạ từ Thái Khang đến Thiếu Khang, trải qua khoảng 100 năm hỗn chiến mới khôi phục được.

Lịch sử gọi đó là "Thiếu Khang trung hưng".

Thiếu Khang diệt được Hàn Tróc, nhưng cuộc đấu tranh giữa tộc Hạ và tộc Di vẫn chưa kết thúc.

Tộc Di có nhiều xạ thủ giỏi, cung tên của họ rất lợi hại.

Sau, con của Thiếu Khang là Trữ nối ngôi, phát minh ra được một loại áo chống được tên gọi là giáp, nên đã chiến thắng được tộc Di.

Thế lực triều Hạ lại phát triển sang phía đông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
7-8


THƯƠNG THANG VÀ Y DOÃN

Ở hạ du Hoàng Hà có một bộ lạc tên là Thương.

Truyền thuyết nói rằng, Khiết là tổ tiên của bộ lạc Thương, trong thời kỳ Nghiêu Thuấn, đã từng theo Vũ đi trị thủy.

Sau đó, bộ lạc Thương nhờ phát triển nhanh nghề chăn nuôi nên đến cuối thời Hạ, khi Thang làm thủ lĩnh thì đã trở thành một bộ lạc lớn mạnh.

Vương triều Hạ đã thống trị hơn 400 năm, đến thế kỷ XVI trước Công nguyên, ông vua cuối cùng của Triều Hạ là Kiệt, nổi tiếng là một ông vua tàn bạo.

Vua Kiệt và các quý tộc chủ nô đã bóc lột nhân dân một cách thậm tệ và ra sức trấn áp nô lệ.

Hạ Kiệt còn cho xây dựng nhiều cung điện, sống cuộc đời hoang dâm xa xỉ.

Đại thần Quan Long Bàng khuyên can Kiệt, nói: "nếu cứ tiếp tục như thế thì sẽ mất lòng người".

Hạ Kiệt đùng đùng nổi giận ra lệnh giết ngay Quan Long Bàng.

Dân chúng căm giận Hạ Kiệt, nguyền rủa: "Mặt trời kia sao không tắt ngay đi.

Chúng ta thề cùng chết với mày!".

Thương Thang thấy Hạ Kiệt vô cùng hủ bại, liền quyết tâm tiêu diệt triều Hạ.

Bề ngoài, ông tỏ ra phục tùng Kiệt, nhưng bên trong, ngấm ngầm không ngừng mở rộng thế lực.

Lúc đó, các quý tộc trong bộ lạc đều rất mê tín, coi việc tế trời đất tổ tông là việc quan trọng nhất.

Bên cạnh bộ lạc Thương có bộ lạc Cát, thủ lĩnh là Cát Bá không tế tự đúng kỳ hạn.

Thang phái người đến trách Cát Bá trả lời: "Chúng tôi rất nghèo.

Không có súc vật để tế".

Thang đưa tới một số bò dê để làm đồ tế.

Cát Bá cho làm thịt ăn hết, nhưng vẫn không tế.

Thang lại cho người đến trách.

Cát Bá nói: "Chúng tôi không có lương thực, lấy gì để tế?".

Thang lại phái người giúp đỡ Cát Bá cày ruộng và cử người già, trẻ em mang cơm cho họ.

Không ngờ, nửa đường, Cát Bá cho cướp đi hết, lại giết chết một em bé đưa cơm.

Hành động đó của Cát Bá khiến ai nấy đều tức giận.

Thang nắm lấy việc đó, liền mang quân tiêu diệt bộ lạc Cát.

Sau đó, lại liên tục đánh chiếm một số bộ lạc lân cận.

Thế lực của Thương Thang dần phát triển lớn mạnh, nhưng Hạ Kiệt ngu tối, vẫn chưa chú ý tới.

Trong những nô lệ theo vợ Thương Thang về nhà chồng, có một người tên là Y Doãn.

Truyền thuyết nói, khi Y Doãn tới nhà Thương Thang, thì làm nghề nấu ăn, phục vụ Thương Thang.

Dần về sau, Thương Thang phát hiện thấy Y Doãn không giống với những kẻ hầu người hạ khác.

Hỏi chuyện, mới biết Y Doãn cố ý tham gia vào đoàn bồi giá là để tìm gặp Thương Thang, Y Doãn đàm đạo với Thương Thang về vấn đề trị nước, được Thương Thang tán thưởng.

Vì vậy, Thương Thang lập tức dùng Y Doãn làm trợ thủ cho mình.

Thương Thang và Y Doãn bàn bạc với nhau về việc đánh Hạ Kiệt.

Y Doãn bày mưu: "Hiện nay Hạ Kiệt vẫn còn mạnh, trước hết chúng ta hãy thử bãi việc triều cống, xem thái độ thế nào?".

Thương Thang theo kế của Y Doãn, không tiến cống cho Hạ Kiệt nữa.

Quả nhiên, Hạ Kiệt nổi giận, hạ lệnh cho bộ tộc Cửu Di đem quân đánh Thương Thang, Y Doãn thấy bộ tộc Cửu Di vẫn phục tùng lệnh của Hạ Kiệt, liền tạ tội và lại tiến cống như cũ.

Một Năm sau, một số bộ lạc thuộc Cửu Di không chịu nổi sự bóc lột và trấn áp của Hạ Kiệt, dần dần rời bỏ triều Hạ, Thương Thang và Y Doãn mới quyết định mở cuộc tiến công lớn.

Từ Hạ Kiệt đến lúc đó, triều Hạ đã truyền được hơn bốn trăm năm.

Muốn lật đổ một vương triều có lịch sử lâu dài như thế, không phải là một việc dễ dàng.

Thang và Y Doãn quyết định họp các tướng sĩ, tổ chức lễ thệ sư.

Tại cuộc lễ, Thang nói: "Không phải ta muốn làm loạn, nhưng Hạ Kiệt quá tàn ác, Thượng Đế hạ lệnh cho ta phải tiêu diệt hắn, ta không dám không nghe lời".

Sau đó, ông tuyên bố về kỷ luật thưởng phạt.

Thương Thang mượn danh nghĩa Thượng Đế để động viên tướng sĩ, cộng thêm với nỗi căm giận của tướng sĩ muốn Hạ Kiệt chóng diệt vong, khiến họ chiến đấu rất dũng cảm.

Quân Hạ và quân Thương đánh nhau một trận lớn ở Minh Điều (nay ở phía bắc trấn An Ấp, huyện Vận Thành, tỉnh Sơn Tây) quân Hạ Kiệt bị đại bại.

Cuối cùng, Hạ Kiệt chạy đến Nam Sào (nay ở Tây Nam huyện Sào, tỉnh An Huy) Thang đuổi đến đó, bắt được Kiệt, đày Kiệt ở đó cho đến hết đời.

Như vậy, triều Hạ bị triều Thương thay thế.

Lịch sử gọi việc Thương Thang đánh Hạ là cuộc cách mạng Thương Thang.

Vì giai cấp thống trị thời cổ gọi việc thay đổi triều đại là sự thay đổi mệnh trời, nên gọi đó là "cách mạng".

Cách gọi đó hoàn toàn khác với khái niệm "cách mạng" ngày nay.

BÀN CANH DỜI ĐÔ

Khi Thương Thang thành lập triều Thương thì quốc đô đầu tiên đóng ở Bác (nay là Thương Khâu, Hà Nam).

Trong khoảng ba trăm năm từ đó về sau, đô thành phải chuyển dời tất cả năm lần.

Đó là do nội bộ vương tộc thường xuyên tranh đoạt ngôi vua và do vùng hạ du Hoàng Hà thường có thủy tai.

Có một thần thủy tai lớn làm chìm ngập cả đô thành, nên buộc phải dời đô.

Bàn Canh, vua thứ 20 kể từ Thương Thang, là một ông vua có tài trị quốc.

Để thay đổi cục diện xã hội không an định lúc đó, ông quyết định dời đô một lần nữa.

Nhưng đại đa số quý tộc luyến tiếc cuộc sống an nhàn, không muốn dời đô, một số quý tộc có thế lực còn xúi giục bình dân nổi dậy, gây nên tình hình căng thẳng.

Đứng trước thế lực phản đối lớn mạnh, Bàn Canh không lay chuyển quyết tâm dời đô.

Ông triệu tập các quý tộc đó lại bền bỉ thuyết phục: "Ta yêu cầu các khanh chuyển đi là để cho nước nhà được an định.

Các khanh không thấy nỗi khổ tâm của ta mà còn gây rắc rối.

Các khanh không thể làm thay đổi quyết tâm của ta đâu".

Do Bàn Canh giữ vững chủ trương dời đô, làm thất bại thế lực phản đối, nên cuối cùng đã đem theo bình dân và nô lệ, vượt qua Hoàng Hà, di chuyển đến đất Ân (nay là thôn Tiểu Đồn, huyện An Dương, Hà Nam).

Tại đây, ông đã chỉnh đốn nền chính trị, làm cho triều Thương từ chỗ suy yếu đã trở lại phục hưng.

Từ đó đến suốt hơn hai trăm năm sau, không phải dời đô nữa.

Vì vậy, triều Thương còn được gọi là Ân Thương hoặc triều Ân.

Từ đó tới nay đã hơn ba ngàn năm, đô thành cũ của triều Thương đã trở nên hoang phế.

Đến thời cận đại, người ta khai quật được ở vùng Tiểu Đồn huyện An Dương, tỉnh Hà Nam rất nhiều di vật thời cổ, chứng tỏ rằng ở đây đã từng là quốc đô của triều Thương, nên gọi nó là "Ân Khư" (di chỉ đã đổ nát thời Ân).

Từ những di vật khai quật được ở Ân Khư, có hơn mười vạn mảnh mai rùa và xương thú vật, trên đó có khắc nhiều chữ cổ rất khó đọc.

Qua nghiên cứu của các nhà khảo cổ, những chữ đó mới được làm rõ.

Thì ra, giai cấp thống trị triều Ân rất mê tín quỷ thần.

Khi tế tự, đi săn và chinh chiến, họ đều dùng mai rùa và xương thú để bói toán điềm lành điềm dữ.

Sau khi bói toán, liền khắc chữ lên trên mai rùa và xương thú về tình hình lúc đó và về kết quả bói toán.

Chữ viết thời đó khác xa chữ viết ngày nay, nên được gọi là "văn giáp cốt".

Chữ Hán sử dụng thời nay là do diễn biến từ văn giáp cốt mà có.

Trong những di vật khai quật được ở Ân Khư, còn rất nhiều đồ đồng đen gồm vò chậu và vũ khí thuộc nhiều chủng loại, chế tạo rất tinh xảo.

Trong số đó, có một chiếc đỉnh vuông, gọi là "tư mẫu tuất" nặng 875kg, cao hơn 1m30, có khắc hoa văn rất đẹp.

Loại đồ đồng đen to như vậy nói lên rằng, trong thời kỳ Ân Thương, kỹ thuật đúc đồng và trình độ nghệ thuật đã rất cao.

Nhưng ta cũng có thể tưởng tượng được, chiếc đỉnh lớn đẹp đẽ đó đã thấm đượm bao nhiêu mồ hôi và cả xương máu của nô lệ!

Các nhà khảo cổ còn khai quật được ở Ân Khư rất nhiều mộ huyệt của chủ nô thời Ân Thương.

Trong ngôi mộ lớn của một quốc vương đào được ở thôn Vũ Quan,huyện An Dương, ngoài những đồ châu ngọc xa xỉ được chôn theo, còn có rất nhiều nô lệ bị giết và tuẫn táng.

Trên đường vào ngôi mộ lớn, một bên chất nhiều bộ xương không đầu, bên kia bày toàn xương sọ.

Theo ghi chép trên các mảnh giáp cốt, khi vua chúa tế tự tổ tiên, cũng giết nhiều nô lệ làm đồ tế, lần nhiều nhất có tới hai ngàn sáu trăm người.

Đó là chứng cớ tội ác tàn sát nô lệ thời đó.

Từ văn tự giáp cốt khai quật được ở Ân Khư, chúng ta có những tài liệu tin cậy về triều Ân – Thương.

Có thể nói, lịch sử thành văn sớm nhất ở Trung Quốc là bắt đầu từ triều Ân – Thương.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
9-10


KHƯƠNG THÁI CÔNG CÂU CÁ

Sau khi Bàn Canh chết, còn truyền được 10 đời vua nữa.

Vua cuối cùng tên là Trụ.

Trụ vốn là người khá giỏi giang và có sức khỏe.

Những năm đầu, ông đích thân cầm quân, tiến hành các cuộc chiến tranh lâu dài với Đông Di.

Trụ rất có tài về quân sự, liên tục đánh thắng, cuối cùng bình định được Đông Di, đưa văn hóa của triều Thương truyền bá tới lưu vực Hoài Thủy và Trường Giang.

Trong sự kiện này, Trụ đã có vai trò quan trọng.

Nhưng do chiến tranh lâu dài, thiệt hại rất lớn, nhân dân phải đóng góp nặng nề, nên đời sống này càng khổ cực.

Trụ giống như Hạ Kiệt, chỉ biết hưởng lạc, không quan tâm đến đời sống nhân dân.

Ông ta không ngừng xây dựng cung điện nguy nga, nhất là cung "Lộc đài" rất lớn ở biệt đô Triều Ca (nay là huyện Kỳ, tỉnh Hà Nam), chứa đầy vàng bạc châu báu.

Ngoài ra, còn cho dựng một nhà kho cực lớn, gọi là Cự Kiều để chứa lương thực.

Trụ còn cho đổ rượu đầy ao và treo thịt đầy rừng cây gọi đó là ao rượu, rừng thịt.

Trụ cùng sủng phi Đát Kỷ sống cuộc sống cực kỳ xa xỉ.

Ngoài ra, còn dùng nhục hình tàn bảo để trấn áp nhân dân.

Nếu chư hầu hoặc nô lệ nào chống đối, Trụ đều cho bắt và nướng cháy trên cột đồng nung đỏ.

Hành động tàn bạo của Trụ đã đẩy nhanh sự sụp đổ của triều Thương.

Lúc đó, ở phía tây có một bộ lạc đang hưng thịnh.

Đó là bộ lạc Chu.

Chu vốn là một bộ lạc lâu đời.

Vào cuối triều Hạ, bộ lạc này sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc ngày nay.

Về sau, do bị các bộ lạc Nhưng, Địch quấy phá, thủ lĩnh bộ lạc Chu là Cổ Công Đản Phụ mang dân dời đến Kỳ Sơn (nay ở đông bắc huyện Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây) và định cư ở đó.

Đến đời cháu của Cổ Công Đản Phụ là Cơ Xương (sau là Chu Văn Vương) kế vị, bộ lạc Chu đã rất lớn mạnh.

Chu Văn Vương là một nhà chính trị tài giỏi.

Cuộc sống của ông hoàn toàn ngược với Trụ.

Trong khi Trụ thích uống rượu, săn bắn và lạm dụng hình phạt thì Chu Văn Vương cấm uống rượu, không cho phép quý tộc săn bắn, giẫm đạp lên hoa màu của nhân dân.

Ông khuyến khích nhân dân nuôi nhiều bò dê và trồng nhiều lương thực.

Ông còn khiêm tốn tiếp đãi những người có tài, vì vậy thu hút được nhiều nhân tài đi theo.

Sự lớn mạnh của bộ lạc Chu là mối uy hiếp lớn với triều Thương.

Một đại thần là Sùng Hầu Hổ nói xấu Chu Văn Vương với Trụ, nói: "ảnh hưởng của Chu Văn Vương rất lớn, nếu cứ để như thế sẽ nguy hại cho triều Thương."

Trụ liền hạ lệnh bắt Chu Văn Vương, giam ở Dĩu Lý (nay ở huyện Thang Âm, tỉnh Hà Nam).

Các quý tộc ở bộ lạc Chu phải đưa nhiều gái đẹp, ngựa tốt và châu báu đến dâng cho Trụ Vương và biếu các đại thần.

Trụ Vương thấy gái đẹp và châu báu liền cười tít mắt, nói: "Những thứ này đủ để chuộc Cơ Xương" liền ra lệnh tha Chu Văn Vương về.

Chu Văn Vương thấy Trụ Vương ngu tối, bạo ngược, không được lòng dân, liền quyết định đánh đổ triều Thương.

Nhưng bên cạnh ông thiếu một người có tài năng quân sự để chỉ huy tác chiến.

Ông ra sức kiếm tìm.

Một hôm, Chu Văn Vương ngồi xe, dẫn theo con và một số quân lính đi săn ở bờ Bắc sông Vị Thủy.

Ông nhìn thấy một ông già đang ngồi bên bờ sông câu cá.

Đoàn người ngựa đi tới, nhưng ông già đó làm như không nhìn thấy, vẫn lặng thinh ngồi câu.

Thấy lạ, Văn Vương liền xuống xe, đi tới, nói chuyện với lão già nọ.

Sau khi nói chuyện, được biết ông già tên là Khương Thượng (còn gọi là Lã Thượng, Lã là vùng đất phong của tổ tiên ông), là một người tinh thông binh pháp.

Văn Vương vô cùng phấn khởi, nói: "Khi ông nội ta còn sống, từng nói với ta là sau này sẽ có một người rất giỏi giúp đỡ tộc Chu ta hưng vượng lên.

Ngài chính là người đó.

Ông nội ta từng trông mong ngày rất lâu rồi".

Nói xong, liền mời Khương Thượng lên xe cùng về cung.

Ông già vuốt râu, rồi cùng Văn Vương lên xe.

Vì ông nội của Văn Vương được gọi là Thái Công từng mong đợi Khương Thượng từ lâu nên về sau, người ta gọi Khương Thượng là Thái Công Vọng.

Thái Công Vọng là trợ thủ đắc lực của Chu Văn Vương.

Ông vừa khuyến khích sản xuất, vừa thao luyện binh mã, khiến thế lực của bộ tộc Chu lớn mạnh vượt bậc.

Một lần, Văn Vương hỏi Thái Công Vọng: "Ta muốn đánh đổ bạo quân.

Vậy nên đánh nước nào trước?".

Thái Công Vọng nói: "Nên đánh Mật Tu trước".

Có người phản đối: "Thủ lĩnh Mật Tu rất lợi hại, sợ không đánh nổi".

Thái Công Vọng nói: "Thủ lĩnh Mật Tu ngược đãi dân chúng, mất lòng người từ lâu.

Dù hắn ra lợi hại thế nào, cũng không đáng sợ".

Chu Văn Vương đem quân đến đánh Mật Tu, còn chưa khai chiến, nhân dân Mật Tu đã nổi dậy, bắt trói Mật Tu đem nộp cho Văn Vương.

Ba năm sau, Chu Văn Vương lại đem quân đánh đất Sùng (nay là huyện Bạng Thủy, tỉnh Thiểm Tây), là một thuộc quốc lớn nhất ở phía tây triều Thương.

Sau khi diệt nước Sùng, Văn Vương liền xây đắp thành trì, xây dựng kinh đô ở đây gọi là Phong Ấp.

Mấy năm sau, bộ tộc Chu dần dần chiếm lĩnh đại bộ phận đất đai dưới quyền thống trị của triều Thương, ngày càng có nhiều bộ lạc qui phục Văn Vương.

Nhưng Chu Văn Vương không kịp hoàn thành sự nghiệp diệt Thương.

Trong khi đang sự tính tiến đánh triều Thương thì ông bị bệnh mất.

NÔ LỆ KHỞI NGHĨA

Sau khi Chu Văn Vương mất, con trai là Chu Phát lên nối ngôi, tức là Chu Vũ Vương.

Chu Vũ Vương tôn Thái Công Vọng (còn gọi là Khương Tử Nha hay Lã Vọng) làm thầy và yêu cầu các em là Chu Công Đán và Chiêu Công Thích làm trợ thủ cho mình, tiếp tục chỉnh đốn nội trị, mở rộng thế lực để chuẩn bị đánh Trụ.

Năm sau, Chu Vũ Vương dẫn quân đến Minh Tân (nay ở đông bắc Mạnh Tân, tỉnh Hà Nam) tổ chức duyệt binh, có hơn tám trăm nước chư hầu không hẹn trước cũng mang quân đến hội họp.

Mọi người đều đề nghị Vũ Vương cầm đầu cuộc diệt Thương.

Nhưng Vũ Vương nhận thấy thời cơ chưa chín, nên sau khi duyệt binh, lại đem quân trở về Phong Kinh.

Lúc đó, Trụ Vương ngày càng bạo ngược.

Các Vương tử, quý tộc triều Thương là Tỷ Can và Cơ Tử, Vi Tử hết sức lo lắng, ra sức khuyên can Trụ Vương không nên tiếp tục như vậy.

Trụ Vương không những không nghe, còn nổi giận, giết chết Tỷ Can và sai mổ phanh bụng Tỷ Can, moi gan ruột ra ngoài để xem lá gan to thế nào.

Cơ Tử phải giả điên mới thoát chết, bị giáng làm nô lệ, giam giữ trong lao tù.

Vi Tử thấy triều Thương không còn hy vọng, liền bỏ trốn khỏi biệt đô Triều Ca.

Vào khoảng thế kỷ XI trước Công nguyên, Vũ Vương nhận được báo cáo của thám tử, biết Trụ lâm vào cảnh bị chán ghét cùng cực, cho rằng thời cơ đã chín muồi, liền cử năm vạn quân, do Thái Công Vọng, người rất tinh thông binh pháp làm nguyên soái, vượt qua Hoàng Hà tiến về phía đông.

Đến Minh Tân, tám trăm nước chư hầu lại hội họp.

Chu Vũ Vương tiến hành đại hội thệ sư, tuyên bố tội trạng của Trụ, động viên mọi người đồng tâm đánh Trụ.

Trên đường tiến quân của Vũ Vương, một hôm có hai ông già ngăn đường, đòi gặp Vũ Vương.

Có người nhận ra, đó là hai người con của vua nước Cô Trúc (nay ở huyện Lư Long, tỉnh Hà Bắc).

Người anh có tên là Bá Di, người em tên là Thúc Tề.

Vua nước Cô Trúc yêu mến Thúc Tề, muốn truyền lại ngôi vua cho Thúc Tề, Bá Di biết ý cha, liền chủ động rời nước Cô Trúc; Thúc Tề không chịu nhận ngôi vua mà anh nhường cho mình, cũng bỏ đi ẩn náu.

Khi Chu Văn Vương còn sống, hai người đều đến trú tại nước Chu.

Bây giờ nghe tin Vũ Vương đi đánh Trụ, cả hai đều ra can ngăn.

Khi Chu Vũ Vương ra tiếp kiến họ, cả hai nắm chặt dây cương, nói: "Trụ Vương là thiên tử, ngài là bày tôi.

Bày tôi đánh lại thiên tử, là việc đại nghịch bất đạo".

Những người xung quanh Vũ Vương nghe nói, đều vô cùng nổi giận.

Có người rút kiếm toan giết.

Thái Công Vọng thấy hai người chẳng qua là phường mọt sách, dặn tả hữu không được làm gì, chỉ kéo họ ra.

Ai ngờ, cả hai vẫn không hiểu ra, rủ nhau lên núi Thú Dương (nay ở Tây Nam Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây) tuyệt thực đến chết.

Đại quân đánh Trụ của Chu Vũ Vương sĩ khí cao ngút, thế như chẻ tre, chẳng mấy chốc đã tới Mục Dã (nay ở Tây Nam huyện Kỳ, tỉnh Hà Nam), chỉ cách kinh thành Triều Ca bảy mươi dặm.

Trụ nghe tin, vội thu thập chắp vá được bảy mươi vạn người ngựa, tự mình chỉ huy, đến Mục Dã nghênh chiến.

Trụ nghĩ: "quân của Chu Vũ Vương có không tới năm vạn, sao chống lại bảy mươi vạn quân của mình".

Nhưng số quân đó quá nửa là những nô lệ và tù binh bắt từ Đông Di về, được tổ chức vội vàng.

Ngày thường, họ bị Trụ Vương áp bức và ngược đãi, đã căm giận Trụ từ lâu, không ai muốn bán rẻ sinh mạng cho Trụ.

Trên chiến trường Mục Dã, khi quân Chu dũng mãnh tiến công, họ liền cùng nhau quay ngược ngọn giáo, cùng quân Chu đánh vào quân của Trụ Vương, bảy mươi vạn quân Thương trong phút chốc bị tan tành tơi tả tháo chạy.

Thái Công Vọng chỉ huy quân Chu lập tức truy kích, đuổi tới tận kinh đô Triều Ca.

Trụ Vương chạy về Triều Ca, thấy tình thế không còn cứu vãn được nữa, ngay đêm đó, đã trốn vào Lộc Đài, phóng hỏa, tự sát trong biển lửa.

Chu Vũ Vương diệt xong triều Thương, liền rời quốc đô từ Phong Kinh đến Hạo Kinh, xây dựng nên vương triều Chu.

Để củng cố nền thống trị của triều Chu, từ đời Chu Vũ Vương, liền phân phong cho anh em họ hàng và công thần đi cai trị các vùng, xây dựng các nước chư hầu, như Thái Công Vọng được phong ở nước Tề, Chu Công Đán được phong ở nước Lỗ, Chiêu Công Thích được phong ở nước Yên.

Theo truyền thuyết, từ đời Vũ Vương đến đời con là Thành Vương, đã phong tất cả hơn bảy mươi nước chư hầu.

TriềuThương tuy bị diệt vong, nhưng những quý tộc và chủ nô còn lại của nó vẫn cònthế lực nhất định trong xã hội.

Để vỗ về những kẻ đó, Vũ Vương liền phong choVũ Canh, con của Trụ Vương làm Ân Hầu, lưu giữ Ân Đô, lại sai ba em của mình làQuản Thúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc đến giúp Vũ Canh.

Danh nghĩa là giúp đỡ,nhưng thực tế là giám sát, vì vậy, ba người trên được gọi là "tam giám".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
11-12


CHU CÔNG PHÒ TÁ THÀNH VƯƠNG

Xây dựng vương triều Chu mới được 2 năm, Chu Vũ Vương bị bệnh mất.

Con là Cơ Tụng kế thừa vương vị, tức là Chu Thành Vương.

Năm đó, Thành Vương mới mười ba tuổi, vương triều lại mới thành lập, mọi điển chương chế độ chưa kịp xây dựng.

Vì vậy, em Chu Vũ Vương là Chu Công Đán, cũng tức là chú ruột của Thành Vương, đã phò tá Thành Vương quản lý công việc quốc gia, thực tế là làm thay quyền thiên tử.

Lịch sử thường không gọi tên Chu Công Đán, mà chỉ gọi là Chu Công.

Đất phong của Chu Công ở nước Lỗ, nhưng vì ông phải lưu ở kinh thành để giải quyết chính sự, không thể về đất phong nên khi con ông là Bá Cầm trưởng thành, ông liền cử Bá Cầm thay ông về nước Lỗ làm quốc quân.

Khi Bá Cầm lên đường, hỏi cha có gì dặn dò, Chu Công nói: "Ta là con của Văn Vương, là em của Vũ Vương và là chú của đương kim thiên tử, con nói xem địa vị của ta thế nào?".

Bá Cầm nói: "Tất nhiên là rất cao".

Chu Công nói: "Đúng như vậy, địa vị của ta rất cao.

Nhưng khi ta đang gội đầu, gặp việc cần giải quyết gấp, thì vắt tóc lên tay mà đi làm việc, khi đang ăn cơm, nghe nói có người xin gặp, thì liền nhả cơm ra mà tiếp kiến.

Ta làm như vậy, mà vẫn còn sợ nhân tài trong thiên hạ không chịu đến.

Con tới nước Lỗ, chẳng qua chỉ là vua một nước chư hầu, nên chớ có kiêu ngạo".

Bá Cầm liên tục gật đầu, hứa xin ghi nhớ lời dạy của cha.

Chu Công toàn tâm toàn ý phò tá Thành Vương giải quyết việc nước, nhưng các em của ông là Quản Thúc, Thái Thúc ở ngoài lại phao tin, là ông có dã tâm muốn cướp ngôi vua.

Con của Trụ Vương là Vũ Canh, tuy được phong là Ân Hầu, nhưng bị triều Chu giám sát, cảm thấy rất oán giận, chỉ mong triều Chu có nội loạn để thừa cơ giành lại vương vị, liền tư thông với Quản Thúc, Thái Thúc, liên lạc với các quý tộc cũ, xúi giục mấy bộ lạc Đông Di nổi loạn.

Tin đồn đại do Vũ Canh, Quản Thúc... tung ra làm kinh đô Hạo Kinh xôn xao, ngay cả Chiêu Công Thích cũng nghi ngờ Chu Công.

Thành Vương còn nhỏ chưa hiểu việc đời, không rõ tin trên là thật hay giả, cũng đâm ra nghi hoặc ông chú là đại thần phò tá của mình.

Chu Công rất buồn, trước hết tâm sự với Chiêu Công Thích, nói ông quyết không có ý khác, mong Chiêu Công Thích nghĩ tới lợi ích chung, chớ nhẹ dạ tin vào lời đồn đại.

Chiêu Công Thích cảm động trước lời lẽ thành khẩn của Chu Công, nên xóa bỏ nghi ngờ và hợp tác trở lại với Chu Công.

Sau khi làm yên tâm trong nội bộ, Chu Công kiên quyết điều quân đi đông chinh.

Lúc đó, ở phương đông có mấy bộ lạc như Hoài Di, Từ Nhung phối hợp với Vũ Canh chuẩn bị nổi dậy.

Chu Công hạ lệnh cho Thái Công Vọng thay quyền mình, được phép đánh dẹp những bộ lạc không phục tòng triều Chu.

Như vậy, Thái Công Vọng khống chế phương Đông còn Chu Công đem toàn lực đối phó với Vũ Canh.

Mất một thời gian ba năm, Chu Công mới dẹp yên cuộc nổi loạn của Vũ Canh, giết chết Vũ Canh.

Thấy Vũ Canh thất bại, Quản Thúc không còn mặt mũi nào nhìn thấy em và cháu, liền treo cổ tự sát.

Chu Công dẹp loạn xong, liền cách chức Hoắc Thúc và bắt Thái Thúc đi sung quân.

Trong quá trình Chu Công đông chinh, nhiều quý tộc triều Thương bị bắt làm tù binh.

Vì chúng chống lại triều Chu, nên bị gọi là "ngoan dân" (dân bướng bỉnh).

Chu Công không yên tâm khi thấy chúng ở đất cũ, lại thấy Hạo Kinh ở lệch về phía tây, không tiện khống chế miền đông, liền xây dựng thêm một đô thành ở phía đông, gọi là Lạc Ấp (nay là thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam), điều các "ngoan dân" ở triều Ân tới đó và phái quân đội đến giám sát.

Từ đó về sau, triều Chu có hai đô thành, ở phía tây là Hạo Kinh, còn gọi là Tông Chu, ở phía đông là Lạc Ấp, còn gọi là Thành Chu.

Chu Công phò tá Thành Vương trong bảy năm, đã củng cố được nền thống trị của vương triều Chu.

Ông còn định ra một hệ thống điển chương chế độ cho vương triều.

Đến khi Thành vương tròn hai mươi tuổi, ông trao trả lại chính quyền cho Thành Vương.

Đời Thành Vương và đời con là Khang Vương, khoảng trong năm mươi năm, là thời kỳ cường thịnh, thống nhất của triều Chu.

Lịch sử gọi đó là "Thành Khang chi trị" (thời thịnh trị Thành Vương và Khang Vương).

QUỐC NHÂN BẠO ĐỘNG

Thời Thành Vương và Khang Vương, tình hình chính trị triều Chu khá ổn định.

Về sau, do quý tộc chủ nô bóc lột nặng nề, không ngừng phát động chiến tranh, nên tâm lý bất mãn trong dân chúng và nô lệ dần dần tăng lên.

Để trấn áp nhân dân, giai cấp thống trị triều Chu áp dụng những hình phạt rất tàn khốc.

Thời Chu Mục Vương, đã đặt ra ba ngàn điều hình luật, chia hình phạt thành năm loại, gọi là "ngũ hình", như khắc chữ lên trán, cắt mũi, chặt chân vv...

Nhưng hình phạt dù nghiêm khắc thế nào cũng không ngăn được sự phản kháng của chúng dân.

Đến đời vị vua thứ mười thời Tây Chu là Chu Lệ Vương, việc bóc lột nhân dân càng nặng nề.

Chu Lệ Vương tin yêu một đại thần là Vinh Di Công, cho thực hiện chế độ "độc quyền".

Tầng lớp quý tộc chiếm cứ hết hồ ao, sông suối, không cho dân kiếm nguồn lợi thiên nhiên.

Không những thế, chúng còn thu tài vật, ra sức ngược đãi nhân dân.

Lúc đó, những nông phu sống ngoài đồng ruộng được gọi là "dã nhân", những bình dân sống ở đô thành, được gọi là "quốc nhân".

Quốc nhân ở Hạo Kinh bất mãn với các biện pháp bạo ngược của Chu Lệ Vương, đâu đâu cũng nghe thấy lời oán giận.

Đại thần Chiêu Công Hổ nghe thấy những lời bàn luận của quốc nhân ngày càng nhiều, liền vào cung tâu với Lệ Vương: "Trăm họ không chịu nổi, nếu Đại Vương không nhanh chóng thay đổi chính sách, thì rối loạn sẽ khó mà tránh khỏi".

Lệ Vương thản nhiên đáp: "Ngươi chớ vội, ta đã có biện pháp đối phó".

Thế là Lệ Vương liền ra lệnh cấm chỉ quốc nhân bàn chuyện chính sự.

Rồi tìm từ nước Vệ về một thày bói, chuyên dò xét những người hay phê phán: "Nếu thấy kẻ nào phỉ báng ta thì ngươi phải tâu lên lập tức".

Để nịnh nọt Lệ Vương, tên thày bói liền phái rất nhiều tay chân đi khắp kinh thành.

Bọn này cậy thế hạch sách mọi người, ai không phục tòng là bị vu cáo hãm hại.

Lệ Vương tin theo tên thầy bói, giết rất nhiều người.

Quốc nhân không dám bình luận công khai nữa.

Người đi đường gặp nhau, chỉ dùng mắt làm hiệu trao đổi rồi đi thẳng.

Lệ Vương nghe lời tâu, thấy những người ta thán ít đi thì rất phấn khởi.

Một lần, Chiêu Công Hổ vào tiếp kiến, Lệ Vương dương dương tự đắc nói: "Ngươi xem, hiện nay chẳng phải là không còn kẻ nào dám phê bình triều chính rồi sao?".

Chiêu Công Hổ thở dài nói: "Ôi, làm như thế sao được.

Nút chặt miệng người ta lại không cho nói, còn nguy hiểm hơn là chặn lấp mọi dòng sông lại, không cho chảy nữa!

Trị thủy thì phải khơi thông dòng chảy, cho nước ra biển, trị nước cũng vậy, phải khêu gợi mọi người nêu ý kiến.

Nếu chặn lấp dòng chảy thì sẽ vỡ đê đập, ngăn chặn ngôn luận thì sẽ sinh đại loạn".

Lệ Vương bĩu môi không thèm nghe, Chiêu Công Hổ đành phải lui ra ngoài.

Chính sách bạo ngược của Lệ Vương và Vinh Di Công càng ngày quá quắt, nên ba năm sau, tức là 841 trước Công nguyên, quốc nhân không nín nhịn được nữa, liền tổ chức một cuộc bạo động quy mô lớn.

Quân khởi nghĩa bao vây vương cung, tìm giết Lệ Vương.

Được tin, Lệ Vương sợ hãi, liền cùng một số thân tín chạy trốn, vượt qua Hoàng Hà, đến đất Trệ (nay ở đông bắc huyện Hoắc, tỉnh Sơn Tây) và ẩn náu ở đó.

Quốc nhân tiến vào vương cung, không tìm thấy Lệ Vương, nhưng biết tin thái tử Tĩnh trốn vào nhà Chiêu Công Hổ, liền bao vây nhà Chiêu Công Hổ, đòi giao nộp thái tử.

Chiêu Công Hổ phải đem con trai mình, mạo xưng là thái tử, nộp cho quân khởi nghĩa, mới bảo vệ được thái tử.

Sau khi Lệ Vương bỏ trốn, triều đình không vua, lấy ai giải quyết việc triều chính?

Các đại thần thương nghị, cử ra hội đồng chấp chính quý tộc gồm Chiêu Công Hổ và Chu Công để tạm thời thay thế chức quyền của thiên tử.

Lịch sử gọi sự kiện đó là "Cộng hòa hành chính".

Từ năm đầu cộng hòa tức là năm 841 trước Công nguyên, lịch sử Trung Quốc mới bắt đầu được ghi chép chính xác theo năm tháng.

Nền cộng hòa hành chính duy trì được mười bốn năm, thì Chu Lệ Vương chết ở đất Trệ.

Các đại thần lập Thái tử Cơ Tĩnh lên nối ngôi, tức là Chu Tuyên Vương.

Về chính trị, Chu Tuyên Vương tương đối tiến bộ, được các chư hầu ủng hộ.

Nhưng, qua các cuộc bạo động của quốc nhân, nền thống trị của triều Chu bắt đầu suy yếu, không còn hưng thịnh được nữa.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
13-14


KHÓI LỬA LY SƠN

Sau khi Chu Tuyên Vương chết, con là Cơ Cung Niết nối ngôi, tức Chu U Vương.

U Vương không ngó ngàng gì tới việc triều chính, chỉ vui chơi hưởng lạc, phái người đi khắp nơi tìm gái đẹp.

Có một đại thần là Bao Quýnh khuyên can U Vương, ông ta không những không nghe theo, còn bắt Bao Quýnh giam vào ngục.

Bao Quýnh bị giam giữ suốt ba năm trời, gia đình tìm mọi cách cứu ông ra, bằng cách xuống nông thôn tìm mua một cô gái đẹp, dạy cho múa hát, trang điểm lộng lẫy, đặt tên là Bao Tự, rồi đem hiến cho U Vương, xin chuộc Bao Quýnh về.

U Vương được Bao Tự, vui mừng khôn xiết, liền tha Bao Quýnh ra.

Ông hết lòng chiều chuộng Bao Tự.

Nhưng từ ngày vào cung Bao Tự tỏ ra buồn bã, không lúc nào cười.

U Vương tìm mọi cách để có được nụ cười của mỹ nhân nhưng chưa tìm được cách nào có hiệu quả.

Ông liền treo giải, rằng người nào làm cho Bao Tự cười thì sẽ được thưởng một ngàn lạng vàng.

Có một kẻ nịnh nọt tên là Quắc Thạch Phụ nghĩ ra một kế lạ.

Vốn là, để đề phòng sự tiến công của bộ tộc Khuyển Nhung, vương triều Chu cho xây dựng ở vùng Ly Sơn (nay ở vùng đông nam Lâm Đồng, tỉnh Thiểm Tây) hơn hai mươi đài đốt lửa (phong hỏa đài), cứ cách mấy dặm là có một đài.

Nếu quân Khuyển Nhung tiến công thì các đài đốt khói lửa truyền tin báo động cho các nước chư hầu để họ mang quân tới cứu viện.

Quắc Thạch Phụ nói với Chu U Vương: "Hiện nay, thiên hạ thái bình, các đài đốt lửa đã lâu không dùng đến.

Tôi muốn mời đại vương và nương nương lên đó chơi ít hôm.

Đến buổi tối, chúng ta sẽ đốt lửa lên để quân chư hầu kéo tới.

Nương nương thấy quân chư hầu mắc lừa, kéo tới mà không có việc gì, thì nhất định sẽ bật cười".

Chu U Vương vỗ tay khen: "Hay lắm.

Chúng ta sẽ làm như thế!".

Họ liền lên Ly Sơn, đốt lửa ở các đài báo động.

Các nước chư hầu gần đó tưởng rằng quân Khuyển Nhung kéo đến quấy nhiễu, vội vàng mang quân tới cứu.

Không ngờ khi tới nơi, không thấy một hình bóng quân Khuyển Nhung nào, chỉ thấy trên núi đang đàn sáo vang lừng, các tướng sĩ đều ngây người ra kinh ngạc.

U Vương cử người ra bảo các nước chư hầu: "Các ngươi thật vất vả.

Ở đây không có chuyện gì, chẳng qua đại vương và vương phi đốt lửa mua vui thôi.

Các ngươi có thể đi về".

Các nước chư hầu thấy mình bị đem ra làm trò đùa, đều rất tức giận dẫn quân về.

Bao Tự không hiểu chuyện gì, chỉ thấy dưới chân núi Ly Sơn ồn ào binh mã, liền hỏi U Vương.

Sau khi nghe U Vương giải thích tường tận, Bao Tự quả nhiên thích thú, cười khanh khách.

U Vương thấy Bao Tự khi cười lại càng xinh đẹp, liền thưởng cho Quắc Thạch Phụ một ngàn lạng vàng.

U Vương say mê Bao Tự, nên đã phế bỏ Vương hậu và Thái tử, lập Bao Tự làm Vương hậu, lập con trai do Bao Tự sinh ra, tên là Bá Phục làm Thái tử.

Cha của Vương hậu là chư hầu ở Thân quốc, khi nghe tin đó liền liên kết với Khuyển Nhung, tiến công vào Hạo Kinh.

U Vương nghe tin quân Khuyển Nhung tiến công thì hoang mang sợ hãi, vội vàng hạ lệnh đốt lửa ở các đài báo động Ly Sơn.

Lửa được đốt lên, nhưng các nước chư hầu đã bị lừa một lần, không có nước nào dẫn quân tới cả.

Lửa khói ngùn ngụt suốt ngày đêm mà viện binh không tới, U Vương đành đưa một số ít quân không hề được tập luyện ra chống cự, bị quân Khuyển Nhung đánh cho tan tác.

Quân Khuyển Nhung ùa vào cung vua, giết chết Chu U Vương, Quắc Thạch Phụ và Bá Phục rồi bắt Bao Tự mang đi.

Tới lúc đó, các nước chư hầu mới biết đúng là quân Khuyển Nhung chiếm được Hạo Kinh, liền đem quân tới cứu.

Thủ lĩnh Khuyển Nhung thấy lực lượng quân chư hầu đông đảo, liền hạ lệnh cho quân lính vơ vét, cướp bóc hết của cải do nhà Chu tích lũy từ bao đời, rồi phóng hỏa đốt kinh thành và rút về.

Sau khi các nước chư hầu đánh đuổi được quân Khuyển Nhung, liền lập Thái tử cũ là Cơ Nghi Cữu lên làm vua, tức Chu Bình Vương.

Sau đó, họ đem quân về đất phong của mình.Không ngờ quân chư hầu vừa rút thì Khuyển Nhung đánh trở lại, chiếm mất nhiều đất đai ở phía tây nhà Chu.

Bình Vương lo không giữ được Hạo Kinh, quyết định dời đô về Lạc Ấp.

Năm 770 trước Công nguyên, Chu Bình Vương dời đô về Lạc Ấp.

Vì Hạo Kinh ở phía tây, Lạc Ấp ở phía đông nên lịch sử gọi là thời kỳ nhà Chu đóng đô ở Hạo Kinh là thời Tây Chu và thời kỳ nhà Chu đóng đô ở Lạc Ấp là thời Đông Chu.

NHÂN TÀI TRONG XE TÙ

Thời Đông Chu từ khi Chu Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp, lại phân làm hai thời kỳ là Xuân Thu và Chiến Quốc.

Triều đình nhà Chu ngày càng suy yếu, thiên tử nhà Chu tuy danh nghĩa là vua của các nước chư hầu, nhưng trên thực tế, lực lượng chỉ bằng một nước chư hầu trung bình.

Một số nước chư hầu lớn mạnh, dùng vũ lực thôn tính các nước nhỏ.

Các nước lớn cũng thường xuyên đánh nhau để tranh giành đất đai.

Những nước chư hầu chiến thắng, có thể hạ lệnh cho các nước chư hầu khác, được gọi là bá chủ.

Nước chư hầu đầu tiên xưng bá thời Xuân Thu là nước Tề (đô thành là Lâm Tri, nay ở Tri Bác, tỉnh Sơn Đông).

Nước Tề là đất phong cho đại công thần Thái Công Vọng đời Chu Vũ Vương, vốn là một nước lớn, lại có các nguồn lợi vùng ven biển, sản xuất khá phát triển, trở nên giàu mạnh.

Năm 686 trước Công nguyên, nước Tề phát sinh nội loạn, quốc quân là Tề Tương Công bị giết.

Lúc đó, hai con là Công tử Củ ở nước Lỗ (đô thành nay ở Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông) và Công tử Tiểu Bạch đang ở nước Cử (đô thành nay ở huyện Cử tỉnh Sơn Đông).

Cả hai đều có quân sư để bày mưu tính kế.

Quân sư của Công tử Củ là Quản Trọng, quân sư của Công tử Tiểu Bạch là Bảo Thúc Nha.

Hai công tử nghe tin Tề Tương Công bị giết, đều vội vàng trở về nước Tề để giành ngôi vua.

Vua Lỗ là Lỗ Trang Công quyết định tự mình đưa Công tử Củ về nước Tề.

Quản Trọng nói với Lỗ Trang Công: "Công tử Tiểu Bạch hiện đang ở nước Cử, gần nước Tề hơn nếu để Tiểu Bạch về được trước thì rất phiền phức.

Vậy tôi xin đem một đội quân đi chặn đường".

Đúng như Quản Trọng dự liệu, Công tử Tiểu Bạch đang trên đường trở về.

Quản Trọng đem quân chặn lại và giương cung nhằm đúng Tiểu Bạch bắn một phát.

Chỉ thấy Tiểu Bạch kêu to một tiếng và ngã vào trong xe.

Quản Trọng cho rằng Tiểu Bạch đã chết, liền ung dung đưa Công tử Củ về nước Tề.

Ai ngờ Quản Trọng chỉ bắn trúng đai lưng của Tiểu Bạch, Tiểu Bạch nhân đó vờ kêu to và ngã vào trong xe để đánh lừa Quản Trọng.

Sau đó, Tiểu Bạch và Bão Thúc Nha đi gấp về Tề.

Tiểu Bạch lên ngôi quốc vương, từ là Tề Hoàn Công.

Tề Hoàn Công lập tức mang quân đánh bại nước Lỗ, buộc Lỗ Trang Công phải giết Công tử Củ và nộp Quản Trọng để Tề xử tội.

Lỗ Trang Công đành phải tuân theo.

Quản Trọng bị nhốt trong xe tù, đưa trở về nước Tề, Bão Thúc Nha vốn là bạn cũ của Quản Trọng, biết Quản Trọng là một nhân tài hiếm có, liền tiến cử với Tề Hoàn Công.

Tề Hoàn Công nổi giận nói: "Quản Trọng đã bắn tên suýt giết chết ta.

Sao ta có thể dùng hắn được".

Bão Thúc Nha nói: "Lúc đó Quản Trọng theo phò Công tử Củ, ông ta bắn vào nhà vua chính là vì trung thành với chủ của mình.

Về tài năng, thì Quản Trọng giỏi hơn tôi rất nhiều.

Nếu chúa công muốn lập nghiệp lớn phải dùng Quản Trọng".

Tề Hoàn Công vốn là người độ lượng, nghe Bão Thúc Nha nói thế, thì không những không trị tội Quản Trọng mà còn phong ông làm tướng quốc, cai quản mọi việc.

Quản Trọng giúp đỡ Tề Hoàn Công chỉnh đốn nội chính, phát triển kinh tế, mở mỏ khai thác quặng sắt, chế tạo nông cụ.

Ngoài ra còn mở rộng nghề làm muối, đánh cá, bán cho các nước ở xa biển.

Vì vậy, nước Tề nhanh chóng giàu mạnh lên.

Tề Hoàn Công ôm hoài bão làm bá chủ để sai khiến các nước chư hầu khác và buộc họ phải tiến cống cho mình.

Ông nói với Quản Trọng: "Hiện nay ta quân nhiều, lương đủ đã có thể hội họp chư hầu để ký minh ước được chưa?".

Quản Trọng nói: "Ta lấy danh nghĩa gì để hội họp chư hầu?

Tất cả đều là chư hầu của thiên tử nhà Chu, có ai chịu phục ai đâu?

Tuy hiện nay thiên tử có thất thế, nhưng vẫn là thiên tử của các nước chư hầu.

Chúa công phải nhận lệnh của thiên tử, hội họp chư hầu, định ra minh ước, cùng nhau tôn trọng thiên tử, chống lại các bộ lạc bên ngoài.

Trong số các nước chư hầu, ai có khó khăn thì cùng giúp đỡ, ai có sai trái thì cùng trách phạt.

Đến lúc đó, chúa công có không muốn làm bá chủ thì các nước chư hầu cũng tiến cử chúa công".

Tề Hoàn Công nói: "Khanh nói đúng, nhưng nên bắt đầu thế nào?"

Quản Trọng nói: "Có cách này: hiện nay, Chu thiên tử (tức Chu Ly Vương) mới lên ngôi, chúa công có thể cử sứ giả đến chúc mừng, luôn tiện tâu là nước Tống (đô thành ở Thương Khâu, Hà Nam ngày nay) hiện đang có nội loạn, địa vị của quốc quân mới chưa vững chắc, trong nước không yên ổn.

Xin thiên tử ra chiếu, khẳng định địa vị của quốc quân mới.

Chúa công nắm lấy lệnh đó là có thể thừa lệnh thiên tử để triệu tập chư hầu.

Làm như vậy, thì không ai phản đối được".

Tề Hoàn Công thấy phải, quyết định làm theo ý kiến Quản Trọng.

Lúc đó, thiên tử nhà Chu không có thực quyền.

Các nước chư hầu mải tranh giành đất đai, chẳng còn nghĩ gì đến việc triều kiến thiên tử.

Chu Ly Vương vừa lên ngôi đã thấy sứ thần của một nước lớn là nước Tề vào chúc mừng thì rất vừa lòng, liền ra lệnh cho Tề Hoàn Công thay mặt thiên tử tới tuyên bố chức vị cho vua Tống.

Năm 681 trước Công nguyên, Tề Hoàn Công phụng mệnh Chu Ly Vương, thông tri cho các nước chư hầu đến họp ở Bắc Hạnh (nay ở phía bắc huyện Đông A, Sơn Đông) trên biên giới phía tây nam nước Tề.

Khi đó, uy tín của Tề Hoàn Công còn chưa cao, khi triệu tập, chỉ có bốn nước là: Tống, Trần, Châu, Thái đến họp.

Còn những nước khác như: Lỗ, Vệ, Tào, Trình... còn nghe ngóng tình hình nên chưa đến.

Tại hội nghị Bắc Hạnh, mọi người đều tiến cử Tề Hoàn Công làm minh chủ, cùng nhau định ra minh ước, gồm có ba điều: Một là, tôn trọng thiên tử, giúp đỡ triều đình nhà Chu.

Hai là, chống lại các bộ lạc bên ngoài, không để xâm nhập Trung Nguyên.

Ba là, giúp đỡ các nước chư hầu nhỏ và gặp khó khăn.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
15-16


TÀO QUỆ ĐÁNH LUI QUÂN TỀ

Sau khi Tề Hoàn Công lên ngôi, nhờ sự giúp đỡ của Quản Trọng, Tề đã giành được địa vị bá chủ, nhưng trong cuộc chiến tranh với nước Lỗ, lại gặp thất bại không nhỏ.

Năm thứ hai sau khi lên ngôi, tức là năm 684 trước Công nguyên, Tề Hoàn Công mang quân đánh Lỗ.

Lỗ Trang Công thấy nước Tề ỷ thế ức hiếp mình, không nhịn được, quyết liều một trận tử chiến với Tề.

Tề tấn công Lỗ cũng khiến nhân dân Lỗ căm phẫn.

Một người nước Lỗ là Tào Quệ (còn đọc là Tào Uế) đến gặp Lỗ Trang Công, xin tham gia cuộc chống Tề.

Có người khuyên Tào Quệ: "Việc quốc gia đại sự, đã có các đại thần lo toan, việc gì ông phải nhúng tay vào".

Tào Quệ nói: "Các quan đều có tầm nhìn thiển cận, chưa hẳn đã có kế gì hay, thấy nước nhà nguy cấp, sao không quan tâm cho được".

Nói xong, liền tới vương cung xin gặp Lỗ Trang Công.

Lỗ Trang Công đang lo lắng vì không có mưu sĩ, nghe nói có Tào Quệ xin vào yết kiến, liền mời vào.

Tào Quệ gặp Lỗ Trang Công đề đạt nguyện vọng của mình rồi hỏi: "Xin chúa công cho biết, dựa vào cái gì để chống lại quân Tề?"

Lỗ Trang Công nói: "Ngày thường, có thức ăn ngon, có quần áo đẹp, ta không hưởng riêng mình, bao giờ cũng chia cho mọi người cùng hưởng.

Dựa vào điều đó, ta nghĩ rằng mọi người sẽ ủng hộ ta".

Tào Quệ lắc đầu nói: "Những ân huệ nhỏ nhặt đó, số người được hưởng không nhiều.

Trăm họ không thể vì thế mà ủng hộ chúa công".

Lỗ Trang Công nói: "Khi tế tự , bao giờ ta cũng rất thành kính".

Tào Quệ cười nói: "Sự thành kính đó cũng không đáng kể gì.

Qủy thần không thể giúp được chúa công".

Lỗ Trang Công ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Khi dân chúng có kiện cáo, ta tuy không thể tra xét rõ mọi việc, nhưng đã cố gắng phân xử cho hợp tình hợp lí".

Tào Quệ gật đầu nói: "Đó là việc được lòng người.

Tôi thấy dựa vào lòng người thì có thể đánh lại nước Tề".

Tào Quệ xin được cùng theo Lỗ Trang Công ra trận.

Thấy Tào Quệ là người có ý kiến xác đáng, Lỗ Trang Công đồng ý để ông cùng đi.

Hai người cùng ngồi trên một xe trận, dẫn người ngựa ra chiến trường.

Quân hai nước Tề, Lỗ bày trận ở Trường Thược (cũng gọi là Trường Chước, nay ở đông bắc Lai Vu, tỉnh Sơn Đông).

Nước Tề cậy thế nhiều quân, vừa bắt đầu đã thúc trống trận ầm ĩ, mở cuộc tấn công.

Lỗ Trang Công định hạ lệnh phản kích, thì Tào Quệ vội ngăn lại, nói: "Thong thả đã, chưa đến lúc".

Khi quân Tề thúc hồi trống trận thứ hai, Tào Quệ vẫn bảo Lỗ Trang Công án binh bất động.

Quân Lỗ thấy quân Tề hung hăng nhe nanh múa vuốt, ai cũng muốn xông ra đánh, nhưng chưa có lệnh chủ soái, nên đành nén giận chờ đợi.

Tướng Tề thấy quân Lỗ vẫn không động tĩnh, liền hạ lệnh thúc hồi trống thứ ba.

Quân Tề cho rằng quân Lỗ nhút nhát, liền khinh địch xông lên.

Lúc đó, Tào Quệ mới nói với Lỗ Trang Công: "Bây giờ có thể hạ lệnh phản công được rồi".

Bên hàng ngũ quân Lỗ vang lên tiếng trống tiến công, tinh thần binh sĩ lên cao, xông lên như mãnh hổ.

Quân Tề bị bất ngờ, chống đỡ không nổi, bị tan vỡ.

Lỗ Trang Công thấy quân Tề thua, Toan hạ lệnh truy kích.

Tào Quệ lại ngăn lại, nói: "Chớ vội!"

Rồi nhảy xuống đất, xem kỹ vết bánh xe của quân Tề, sau đó trèo lên cột cờ, quan sát đội hình quân Tề, rồi mới nói: "Xin chúa công hạ lệnh truy kích".

Quân Lỗ được lệnh, dũng cảm thừa thắng truy kích, đuổi quân Tề ra khỏi địa phận nước Lỗ.

Quân Lỗ đại thắng.

Lỗ Trang Công thấy Tào Quệ bình tĩnh chủ động thì ngầm khâm phục, nhưng vẫn có điều vướng mắc trong lòng.

Khi về tới cung, sau khi khen ngợi Tào Quệ, liền hỏi: "Tại sao khi quân Tề đã thúc hai hồi trống, ngươi lại ngăn không cho ta hạ lệnh phản kích?"

Tào Quệ nói: "Việc đánh trận, là phải dựa vào sĩ khí.

Khi đối phương thúc hồi trống thứ nhất thì sĩ khí đang hăng.

Đến hồi trống thứ hai thì sĩ khí đã lơi lỏng.

Hồi trống thứ ba là lúc sĩ khí đã xẹp xuống.

Sĩ khí đối phương đã xẹp, mà sĩ khí quân ta dồi dào, thì sao lại không đánh thắng?"

Lỗ Trang Công lại hỏi tại sao không lập tức truy kích.

Tào Quệ nói: "Quân Tề tuy bị thua, chùn lại, nhưng Tề là nước lớn, quân đông, rất có thể nghi binh, cho quân mai phục phía sau để đánh ta.

Vì vậy, ta phải đề phòng.

Sau thần thấy quân Tề vết xe rối loạn, cờ xí ngả nghiêng, biết chắc là nó thua chạy thật, mới tâu chúa công cho truy kích".

Lúc đó Lỗ Trang Công mới hết sức khâm phục sự xét đoán của Tào Quệ.

Nhờ tài năng chỉ huy của Tào Quệ.

Nước Lỗ đánh lui được quân Tề, tình hình mới được ổn định lại.

TỀ HOÀN CÔNG CHÍN LẦN HỌP CHƯ HẦU

Tề Hoàn Công tuy thua trận Trường Thược nhưng vẫn không bị ảnh hưởng đến địa vị bá chủ sau này.

Hơn 10 năm sau, nước Yên (đô thành là Bắc Kinh hiện nay) phái sứ giả đến xin quân cứu viện để chống lại Sơn Nhung.

Tề Hoàn Công liền quyết định đem đại quân đi cứu nước Yên.

Năm 663 TCN, đại quân Tề đi đến nước Yên thì quân Sơn Nhung đã cướp tài sản, bắt một số dân và rút đi rồi, quân Tề hợp với quân Yên đuổi theo về phía bắc, không ngờ họ bị quân địch lừa vào một vùng rộng, tìm không thấy đường về.

Cuối cùng Quản Trọng nghĩ ra một mẹo, là dùng mấy con ngựa địa phương cho đi trước, quả nhiên chúng dẫn được đại quân tìm ra đường cũ.

Sau khi Tề Hoàn Công giúp nước Yên đánh đuổi Sơn Nhung, lại giúp nước Hình đánh đuổi bộ lạc Định và xây dựng lại thành trì.

Tiếp đó khi bộ lạc Định xâm lược nước Vệ, Tề Hoàn Công lại giúp Vệ xây dựng kinh đô mới ở bờ nam Hoàng Hà.

Vì những việc làm đó, uy tín của Tề Hoàn Công ngày càng lên cao.

Chỉ có nước Sở ở phương Nam (đô thành ở Tây Bắc, Giang Lăng, Hồ Bắc hiện nay) không những không phục nước Tề, mà ngược lại muốn cùng Tề tranh hơn kém.

Nước Sở ở phương nam Trung Quốc, xưa nay vốn không lai vãng tới các nước ở trung nguyên.

Lúc đó các nước ở trung nguyên coi nước Sở là man di.

Nhưng do Sở khai khẩn đất đai ở phương nam, dần dần thu phục được các bộ lạc lân cận và dần trở thành một nước lớn.

Về sau vua Sở xưng vương, không có coi thiên tử nhà Chu ra gì.

Năm 656 TCN Tề Hoàn Công tập hợp quân 7 nước: Tống, Lỗ, Trần, Vệ, Trịnh, Tào, Hứa cùng tiến công nước Sở.

Sở Thành Vương được tin liền tập hợp nhân mã để chuẩn bị chống cự.

Nhà vua cử sứ giả gặp Tề Hoàn Công nói: "Đại vương của chúng tôi bảo tôi đến hỏi ngài, nước Tề ở phương bắc,nước Sở ở phương nam, hai nước không hề lai vãng, không có quan hệ gì với nhau, tị sao các ngài lại đem binh mã đến đây?"

Quản Trọng nói: " Hai nước chúng ta tuy xa cách nhau nhưng đều do thiên tử nhà Chu phong đất, khi Tề Thái Công được phong có lệnh, ai không phục tùng thiên tử, nước Tề có quyền chinh phạt.

Xưa nay nước Sở hàng năm đều tiến cống cỏ bao mao ( một thứ cỏ dùng để ủ men rượu).

Tại sao nay không tiến cống nữa?"

Sứ giả đáp: "Đó là lỗi của chúng tôi.

Sau này sẽ xin tiến cống".

Sứ giả ra về, liên quân các nước lại tiến đến Thiệu Lăng (nay là huyện Yển Thành, tỉnh Hà Nam).

Sở Thành Vương lại phái Khuất Hoàn đến đón.

Để tỏ ra quân uy, Tề Hoàn Công bảo Khuất Hoàn ngồi lên xe để xem binh mã của trung nguyên.

Khuất Hoàn nhìn thấy, quả nhiên là binh hùng tướng mạnh, quân đội nghiêm chỉnh.

Tề Hoàn Công đắc ý bảo Khuất Hoàn: "Người xem, binh mã hùng mạnh thế này, ai có thể chống lại được?"

Khuất Hoàn cười nhạt nói: "Quân hầu nói việc đạo nghĩa, hiệp trợ thiên tử, giúp đỡ kẻ yếu thì người khác mới phục.

Nếu chỉ dựa vào vũ lực thì tuy nước tôi không mạnh, nhưng dựa vào phương thành (một thành dài của nước Sở, từ phía bắc phương thành đến đông bắc Mật Dương-Hà Nam) làm thành lũy, sông Hán thủy làm hào ngăn thì tuy ngài có nhiều người ngựa cũng chưa chắc đã chinh phục được"

Tề Hoàn Công nghe lời lẽ cứng cỏi của Khuất Hoàn, tính toán thấy khó lòng đánh bại được nước Sở, vả lại nước Sở đã nhận lỗi, chịu tiến cống cỏ bao mao thì chẳng còn lý do gì để hạch sách.

Vì vậy 7 nước chư hầu trung nguyên cùng với nước Sở lập minh ước ở Thiệu Lăng rồi đem quân về nước.

Sau đó nội bộ triều Chu xảy ra tranh chấp, Tề Hoàn Công giúp thái tử Cơ Trịnh củng cố được địa vị.

Thái tử lên ngôi, tức là Chu Tương Vương.

Để tỏ lòng biết ơn Tề Hoàn Công, Chu Tương Vương phái sứ giả đem biếu thịt tế cho Tề Hoàn Công, coi như một hậu lễ.

Nhân dịp đó, Tề Hoàn Công lại họp chư hầu ở Qùy Khâu (nay ở phía đông Lam Khảo, tỉnh Hà Nam thuộc nước Tống) để chiêu đãi sứ giả thiên tử, đồng thời định một minh ước, nội dung chủ yếu là: xây đắp công trình thủy lợi, đề phòng thủy tai, không cho phép tháo nước sang nước láng giềng, khi nước làng giềng có nạn đói thì không được ngăn chặn việc mua lương thực, các nước trong minh ước phải đối đãi hữu hảo với nhau.

Đó là lần họp chư hầu cuối cùng của Tề Hoàn Công.

Có nhiều cuộc hôi họp lớn như vậy, lịch sử gọi là "chín lần họp chư hầu" hay "cửu họp chư hầu".

Năm 645 TCN, Quản Trọng ốm chết, hai năm sau Tề Hoàn Công cũng chết.

Năm người con tranh đoạt ngôi vua, nước Tề phát sinh nội loạn.

Công tử Chiêu chạy sang nước Tống.

Từ đấy, địa vị bá chủ của nước Tề kết thúc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
17-18


SỰ NGU XUẨN CỦA TỐNG TƯƠNG CÔNG

Tống Tương Công thấy nước Tề có nội loạn, liền thông tri cho các nước chư hầu, yêu cầu họ cùng hộ tống Công tử Chiêu về Tề lên ngôi vua.

Nhưng lời hiệu triệu của Tống Tương Công không có sức mạnh.

Nhiều nước không thèm chú ý tới lời hiệu triệu đó, chỉ có ba nước nhỏ đem một ít quân tới.

Tống Tương Công dẫn quân bốn nước đến Tề.

Một số đại thần nước Tề thấy quân đội bốn nước tới liền đầu hàng Tống, đưa Công tử Chiêu lên ngôi, tức là Tề Hiếu Công.

Tề vốn là nước bá chủ chư hầu.

Nay Tề Hiếu Công phải nhờ vào Tống mới giành được ngôi vua, nên địa vị của Tống tự nhiên được nâng cao.

Tống Tương Công lòng đầy tham vọng, muốn kế thừa sự nghiệp bá chủ của Tề.

Lần này mời các nước chư hầu, chỉ có ba nước đem quân tới còn các nước lớn ở Trung Nguyên không hưởng ứng.

Tống Tương Công muốn mượn lực lượng của nước lớn để đè nén nước nhỏ, liền liên lạc với nước Sở.

Ông ta cho rằng, nếu có nước Sở hợp tác thì các nước khác phải phục tùng Tống.

Ông ta nói chủ trương đó cho các đại thần biết.

Đại thần là Công tử Mục Di không tán thành, cho rằng Tống là một nước nhỏ, làm minh chủ chẳng có ích lợi gì.

Tống Tương Công không nghe, cứ mời Sở Thành Vương và Tề Hiếu Công đến nước Tống họp, bàn việc tụ họp chư hầu lại ký kết minh ước.

Sở Thành Vương và Tề Hiếu Công đều đồng ý, quyết định trong tháng bảy năm đó (tức 639 trước Công nguyên) sẽ họp các nước chư hầu ở đất Vu.

Đến tháng bảy, Tống Tương Công lên xe đi họp.

Công tử Mục Di nói: "Lỡ Sở Vương có ý xấu, thì làm thế nào?

Chúa công cứ mang theo nhiều quân đi".

Tống Tương Công nói: "Như thế không được.

Chúng ta vì không muốn có chiến tranh mới họp nhau lại.

Sao tự mình lại có thể mang quân đi!".

Công tử Mục Di không sao thuyết phục được, đành phải tay không đi theo.

Quả nhiên, khi họp, Sở Thành Vương và Tống Tương Công đều muốn làm minh chủ, xảy ra tranh chấp.

Nước Sở có thế lực lớn, được nhiều nước phụ họa.

Tống Tương Công nổi giận, toan tiếp tục tranh cãi, thì thấy các quan lại tùy tòng của Sở Thành Vương cởi bỏ áo ngoài, lộ ra khôi giáp và vũ khí, ùa tới bắt lấy Tống Tương Công.

Sau nhờ nước Lỗ và nước Tề hòa giải đồng ý để Sở Thành Vương làm minh chủ, Tống Tương Công mới được thả về.

Khi về nước, Tống Tương Công vẫn không chịu phục, lại nhân việc vua nước Trịnh láng giềng cũng hùa theo Sở để chống lại mình, liền nổi giận, quyết đem quân đánh Trịnh trước.

Năm 638 trước Công nguyên, Tống Tương Công dẫn quân đánh Trịnh, Trịnh cầu cứu với Sở, Sở Thành Vương là người khôn ngoan, không đem quân cứu nước Trịnh, mà đưa quân đánh thẳng vào nước Tống.

Tống Tương Công không đề phòng tình huống đó, vội đem quân trở về.

Quân Tống đến bờ nam sông Hoằng Thủy (nay ở tây bắc Thạch Thành tỉnh Hà Nam) liền đóng quân lại.

Quân hai nước đối diện cách sông.

Quân Sở bắt đầu vượt sông để đánh quân Tống.

Công tử Mục Di thấy quân Sở đang tíu tít qua sông, liền dục Tống Tương Công: "Quân Sở cậy có nhiều quân, dám vượt sông ban ngày, không coi chúng ta ra gì.

Nhân lúc chúng chưa qua hết, ta nên tranh thủ đón đánh, thì nhất định thắng".

Tống Tương Công nói: "Không được.

Chúng ta là nước chủ trương nhân nghĩa.

Trong lúc kẻ địch chưa vượt sông xong mà đánh thì còn gì là nhân nghĩa".

Quân Sở đã vượt sông xong, hàng ngũ còn rối loạn, đang mải sắp xếp lại, Công tử Mục Di lại giục Tống Tương Công: "Bây giờ không nên đợi nữa, nhân lúc chúng đang lộn xộn mà không đánh thì không còn kịp nữa đâu".

Tống Tương Công nói: "Ngươi thật không nói gì đến nhân nghĩa cả.

Người ta chưa bày xong trận, làm sao lại đánh được".

Chẳng mấy chốc, quân Sở đã dàn trận xong, thúc một hồi trống, quân lính tràn sang như nước lũ, ào ạt tiến công.

Quân Tống không chống nổi, tan vỡ thua chạy.

Tống Tương Công còn cố sức chỉ huy quân lính chống đỡ, thì bị một phát tên vào đùi.

May mà nhờ các tướng sĩ xông tới cứu, mới giữ được tính mạng.

Tống Tương Công trở về đô thành Thương Khâu, mọi người bàn luận sôi nổi, ai cũng oán trách ông ta đã gây sự binh đao với quân Sở và lại chỉ huy chiến đấu dở như thế.

Công tử Mục Di đem ý kiến của mọi người nói với Tống Tương Công.

Tống Tương Công ôm vết thương nói: "Theo ta, quân đội nhân nghĩa thì phải đánh như vậy.

Thí dụ, thấy người đã bị thương thì không làm hại, thấy người già tóc bạc thì không bắt làm tù binh".

Công tử Mục Di không nén được giận, nói: "Đánh trận là để nhằm thắng quân địch.

Nếu sợ làm hại nó, thì thà rằng không đánh.

Nếu không bắt kẻ già yếu , thì thà để nó bắt mình".

Tống Tương Công vì bị trọng thương, một năm sau thì chết.

Trước khi chết, liền dặn dò thái tử: "Nước Sở là kẻ thù của ta.

Con phải báo thù này.

Ta xem nước Tấn (đô thành nay ở đông nam Ký Thành, tỉnh Sơn Tây) có Công tử Trùng Nhĩ là người có chí khí, tương lai nhất định sẽ làm bá chủ.

Khi con gặp khó khăn, nên tìm tới nước Tấn, nhất định sẽ được giúp đỡ".

CÔNG TỬ LƯU VONG TRÙNG NHĨ

Công tử Trùng Nhĩ là con của Tống Hiến Công.

Khi Tấn Hiến Công về già, sủng ái quý phi là Li Cơ, muốn lập con trai của Li Cơ là Hề Tề làm thái tử thay cho thái tử Thân Sinh đã bị giết.

Thấy thái tử bị giết, 2 người con khác của Tấn Hiến Công là Trùng Nhĩ và Di Ngô thấy nguy hiểm, liền tìm cách chạy sang nước khác lánh nạn.

Khi Tấn Hiến Công chết, nước Tấn sinh nội loạn.

Sau, Di Ngô trở về nước giành được ngôi vua, muốn tìm cách diệt trừ Trùng Nhĩ, khiến Trùng Nhĩ phải long đong trốn tránh khắp nơi.

Khi ở nước Tấn, Trùng Nhĩ là một công tử có tiếng tăm, nên nhiều đại thần tài giỏi tình nguyện theo công tử đi lưu vong.

Trước hết, Trùng Nhĩ ở nước Địch trong mười hai năm, sau phát hiện có người hành thích, liền chạy sang nước Vệ.

Nước Vệ thấy Trùng Nhĩ đang bị thất thế, không chịu tiếp đãi.

Cả đoàn đi tới Ngũ Lộc (nay ở đông nam Bộc Dương, tỉnh Hà Nam) thì quá đói, liền cử người đi xin ăn.

Nông dân dịa phương không ai chú ý đến họ, có một người còn đùa cợt, đưa cho họ một nắm đất bùn.

Trùng Nhĩ nổi giận, thủ hạ của ông muốn xúm lại trị người đó.

Nhưng Hồ Yển vội vàng can ngăn, nhận lấy nắm bùn và nói để an ủi Trùng Nhĩ: "Bùn cũng tức là đất đai, dân chúng cho ta đất đai là một điềm tốt".

Trùng Nhĩ đành gượng cười, đi tiếp.

Đoàn của Trùng Nhĩ lưu vong đến nước Tề, lúc đó Tề Hoàn Công còn sống, tiếp đãi ân cần, tặng Trùng Nhĩ nhiều xe ngựa và nhà cửa, còn đem một cô gái trong họ gả cho Trùng Nhĩ.

Trùng Nhĩ thấy vậy, rất muốn ở lại nước Tề, nhưng thủ hạ trong đoàn, ai cũng muốn trở về Tấn.

Những người tùy tòng họp riêng với nhau trong bãi dâu, bàn cách trở về nước Tấn, không ngờ có một nữ nô lệ đang hái dâu nghe lỏm được câu chuyện về nói lại với vợ Trùng Nhĩ là Khương Thị.

Khương Thị bảo Trùng Nhĩ: "Thiếp nghe nói chàng và mọi người muốn trở về Tấn, điều đó rất phải".

Trùng Nhĩ vội vàng biện bạch, nói: "Không hề có chuyện đó".

Khương Thị ra sức khuyên Trùng Nhĩ về nước: "Chàng cứ ham vui sướng ở đây thì không làm nên chuyện gì đâu".

Nhưng Trùng Nhĩ vẫn không muốn về.

Tối hôm đó, Khương Thị bàn với tùy tòng, chuốc rượu cho Trùng Nhĩ thật say rồi vực lên xe, đi khỏi nước Tề.

Khi Trùng Nhĩ tỉnh dậy, thì đã cách nước Tề rất xa.

Sau đó, Trùng Nhĩ lại tới nước Tống.

Tống Tương Công đang ốm nặng, quan lại dưới quyền nói với Trùng Nhĩ: "Chúa công tôi rất kính trọng công tử, nhưng chúng tôi không có quân đội để đưa ngài về nước".

Hồ Yển nói: "Chúng tôi hiểu rõ điều đó.

Chúng tôi sẽ không dám phiền các ngài nữa".

Rời khỏi nước Tống, đoàn lưu vong lại đến Sở.

Sở Thành Vương coi Trùng Nhĩ như khách quý, dùng nghi thức tiếp đãi các nước chư hầu để tiếp Trùng Nhĩ.

Thành Vương đối đãi tốt và Trùng Nhĩ cũng rất tôn kính trở lại, hai người liền kết làm bạn bè.

Một lần, trong khi thết tiệc Trùng Nhĩ, Sở Thành Vương hỏi vui: "Nếu sau này công tử trở về nước Tấn, thì sẽ báo đáp lại tôi thế nào?".

Trùng Nhĩ nói: "Vàng bạc của cải thì quý quốc không thiếu gì.

Tôi biết lấy gì để báo đáp lại ân đức của đại vương được?".

Sở Thành Vương cười nói: "Nói như thế, thì không báo đáp gì sao?".

Trùng Nhĩ nói: "Nếu nhờ hồng phúc của đại vương, tôi được trở về nước Tấn, thì sẽ nguyện giữ tình hòa hảo với quý quốc, để nhân dân hai nước được sống thái bình.

Nếu vạn nhất hai nước xảy ra chiến tranh, khi quân đội hai bên gặp nhau, tôi nhất định sẽ lùi nhường ba xá" (Ba xá =90 dặm).

Sở Thành Vương không để ý lắm đến câu nói đó, nhưng đại tướng nước Sở là Thành Đắc Thần thì rất giận.

Tan tiệc, khi Trùng Nhĩ đã ra về, Thành Đắc Thần nói với Sở Thành Vương: "Trùng Nhĩ nói như vậy, sau này tất là kẻ vong ân phụ nghĩa, chi bằng nhân lúc này, giết quách hắn đi để khỏi lo ngại về sau".

Sở Thành Vương không chịu.

Đúng lúc đó, có sứ thần của Tần Mục Công đến đón Trùng Nhĩ, Sở liền để Trùng Nhĩ vào nước Tần (Đô thành là Ung, nay ở đông nam Phượng Tường, Thiểm Tây).

Nguyên do là Tần Mục Công từng giúp Di Ngô, anh em cùng cha khác mẹ với Trùng Nhĩ về làm vua nước Tấn.

Không ngờ khi Di Ngô lên ngôi, lại đối địch với Tần, Hai nước xảy ra chiến tranh.

Di Ngô chết, con ông ta vẫn bất hòa với Tần.

Tần Mục Công liền quyết định giúp đỡ, đưa Trùng Nhĩ về nước.

Năm 636 trước Công nguyên, Tần dùng đại quân hộ tống Trùng Nhĩ vượt Hoàng Hà.

Sau 19 năm lưu vong, Trùng Nhĩ lại được trở về Tấn, lên ngôi vua.

Đó là Tấn Văn Công.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
19-20


TỐNG VĂN CÔNG LÙI NHƯỜNG BA XÁ

Sau khi Tấn Văn Công lên ngôi liền chỉnh đốn nội chính, phát triển sản xuất, dần dần xây dựng nước Tấn thành một nước giàu mạnh.

Ông cũng muốn làm bá chủ Trung nguyên như Tề Hoàn Công.

Lúc đó, đúng dịp vua Tương Vương nhà Chu phái người tới xin quân cứu viện.

Chu Tương Vương có người em khác mẹ là Thái Thúc Đái liên hợp với một số đại thần, mượn quân của nước Địch về toan chiếm ngôi vua.

Chu Tương Vương cùng mấy chục đại thần chạy tới nước Trịnh rồi hạ chiếu, yêu cầu các nước chư hầu mang quân giúp nhà vua trở về Lạc Ấp.

Các nước chư hầu có người đến thăm hỏi thiên tử, có người tiếp tế đồ dùng, nhưng không có ai chịu đưa quân tới đánh nhau với nước Địch.

Có người nói với Chu Tương Vương: "Trong các nước chư hầu hiện nay, chỉ có Tần và Tấn là đủ mạnh để đánh lại nước Địch, còn các nước khác thì e rằng không làm được".

Tương Vương liền sai người đến yêu cầu Tấn Văn Công hộ tống mình về nước.

Tấn Văn Công lập tức phái quân đánh bại nước Địch và giết Thái Thúc Đái cùng bộ hạ, hộ tống thiên tử về kinh thành.

Hai năm sau, con Tống Tương Công là Tống Thành Công lại đến xin cứu viện, nói tướng nước Sở là Thành Đắc Thần dẫn quân các nước Sở, Trần, Thái, Trịnh, Hứa đến đánh Tống.

Các đại thần đều nói với Tống Văn Công: "Nước Sở xưa nay vẫn ức hiếp các nước chư hầu ở Trung nguyên, chúa công nên giúp đỡ những nước có khó khăn để xây dựng nghiệp bá.

Hiện nay chính là thời cơ để làm việc đó".

Tấn Văn Công từ lâu cũng biết, muốn làm bá chủ Trung nguyên thì phải đánh bại nước Sở.

Ông liền tuyển thêm quân, tổ chức làm ba cánh, rầm rộ sang cứu Tống.

Năm 632 trước Công nguyên, quân Tấn đánh bại hai nước tay sai của Sở là Tào và Vệ, bắt sống vua hai nước đó.

Sở Thành Vương vốn không muốn đánh nhau với Tấn Văn Công, nên khi nghe Tấn xuất binh, liền cho người truyền lệnh cho Thành Đắc Thần lui quân.

Nhưng Thành Đắc Thần cho rằng sớm muộn cũng chiếm được Tống, không muốn bỏ dở liền phái người về báo cáo với Sở Thành Vương: "Tôi không dám nói là nhất định sẽ đánh thắng, nhưng quyết liều một trận sống mái".

Sở Thành Vương không hài lòng, chỉ trao cho Thành Đắc Thần một ít quân.

Thành Đắc Thần cho người đến nói với quân Tấn, yêu cầu thả vua Tào và Vệ ra.

Tấn Văn Công nói riêng với vua hai nước đó, đồng ý khôi phục ngôi vua cho họ với điều kiện họ phải đoạn giao với Sở.

Hai nước Tào, Vệ phải làm theo ý của Tấn.

Thành Đắc Thần vốn định cứu hai nước đó, không ngờ họ lại tuyệt giao với Sở, Thì nổi giận đùng đùng , nói: "Đây đúng là tên giặc Trùng Nhĩ buộc họ làm như vậy".

Liền đốc thúc quân đội đi gấp tới phía quân Tấn.

Quân Sở tiến đến, Tấn Văn Công liền hạ lệnh lui quân, một số tướng nước Tấn không thông nói: "Thống soái của quân ta là quốc quân, thống soái của đối phương chỉ là một tướng bày tôi, sao quốc quân phải nhường một tướng bày tôi?"

Hồ Yển giải thích: "Đánh trận thì phải có lý.

Lý đúng thì khí thế mới mạnh được.

Trước kia, vua Sở từng giúp chúa công ta.

Chúa công ta từng hứa trước mặt vua Sở là nếu hai nước giao chiến thì Tấn sẽ tình nguyện lui nhường ba xá.

Việc lui quân hôm nay là để thực hiện lời hứa đó.

Nếu chúng ta thất tín với Sở, thì là thua về lý.

Chúng ta đã lui quân mà họ không chịu thôi, cứ tiến lên ép ta, thì họ sẽ thua về lý, lúc đó chúng ta sẽ giao chiến cũng không muộn".

Quân Tấn lùi chín mươi dặm, về tới thành Bộc (nay ở tây nam Quyên Thành, tỉnh Sơn Đông) mới dừng lại, bố trí trận thế vững chắc.

Một số tướng Sở thấy quân Tấn lui, muốn ngừng tiến công nhưng Thành Đắc Thần không chịu, bắt đuổi theo tới thành Bộc, đối diện với quân Tấn.

Thành Đắc Thần còn cử người hạ chiến thư cho Tấn Văn Công, lời lẽ rất ngạo mạn.

Tấn Văn Công cử người trả lời: "Ân huệ của quí quốc, chúng tôi xưa nay không dám quên nên đã lùi nhường đến đây.

Nay quí quốc đã không thông cảm, thì chỉ còn cách đọ sức trên chiến trường thôi".

Cuộc chiến vừa nổ ra, tướng Tấn đã dùng hai lá cờ lớn ra hiệu cho quân lui chạy.

Họ còn buộc cành cây vào sau xe chiến làm bụi tung lên mù mịt tỏ ra là hết sức hoảng loạn.

Thành Đắc Thần xưa nay kiêu ngạo không coi quân Tấn ra gì, liền thúc quân đuổi theo.

Không ngờ quân Tấn mai phục sẵn cánh trung quân tinh nhuệ, xông ra đánh, cắt đứt quân của Thành Đắc Thần làm mấy khúc.

Hai cánh quân vờ thua cũng quay lại đánh, làm cho quân Sở tan tác.

Tấn Văn Công vội hạ lệnh, cho tướng sĩ chỉ đuổi quân Sở chứ không chém giết.

Thành Đắc Thần dẫn tàn quân bại tướng về tới nửa đường, tự thấy hổ thẹn, không biết ăn nói thế nào với Sở Thành Vương liền tự sát.

Quân Tấn chiếm được doanh trại quân Sở, tịch thu lương thực, ăn uống trong ba ngày rồi mới ca khúc khải hoàn.

Tin quân Tấn đánh thắng quân Sở truyền tới kinh đô Lạc Ấp.

Chu Tương Vương và các đại thần đều cho rằng Tấn Văn Công đã lập công lớn.

Chu Tương Vương còn thân tới Tiễn Thổ (nay ở tây nam Nguyên Dương tỉnh Hà Nam) úy lạo quân Tấn.

Tấn Văn Công nhân dịp đó, xây dựng cho vua Chu một tòa cung điện mới ở Tiễn Thổ, còn mời các chư hầu đến họp, để lập minh ước.

Do đó, Tấn Văn Công trở thành bá chủ ở Trung nguyên.

HUYỀN CAO DÙNG MƯU LUI QUÂN TẦN

Tấn Văn Công đánh bại được Sở, hội họp chư hầu.

Quốc quân các nước vốn đi theo Sở như Trần, Thái, Trịnh cũng đến dự họp.

Nước Trịnh tuy kí minh ước với Tấn, nhưng vẫn sợ Sở, nên lại ngầm kết minh với Sở.

Tấn Văn Công được tin đó, dự định lại hội họp chư hầu để đem quân đánh Trịnh.

Các đại thần nói: "Đã họp chư hầu mấy lần rồi.

Binh mã nước ta cũng đủ để đối phó với Trịnh, hà tất phải làm phiền các nước nữa".

Tấn Văn Công nói: "Cũng được, nhưng Tần đã ước hẹn với ta là có việc gì thì cũng xuất binh, nên không thể không mời họ".

Tần Mục Công đang muốn mở rộng thế lực sang phía đông, liền đích thân dẫn quân tới nước Trịnh.

Quân Tấn đóng ở phía tây, quân Tần đóng ở phía đông, thanh thế rất lừng lẫy.

Quốc quân nước Trịnh sợ hãi, vội cử một người ăn nói giỏi là Chúc Chi Vũ đến khuyên Tần Mục Công lui quân.

Chúc Chi Vũ nói với Tần Mục Công: "Hai nước Tần, Tấn cùng đánh nước Trịnh thì nước Trịnh tất sẽ mất.

Nhưng Trịnh và Tần rất xa nhau.

Nước Trịnh mất, đất đai sẽ hoàn toàn thuộc về nước Tấn, thì thế lực Tấn càng mạnh thêm.

Ngày nay, Tấn diệt Trịnh ở phía đông, ngày mai có khả năng họ lại xâm phạm Tần ở phía tây, thì có gì tốt với nước ngài?

Ngoài ra nếu nước Tần giảng hòa với chúng tôi, thì về sau, sứ giả của quí quốc qua lại, nước Trịnh sẽ tiếp đãi trân trọng, sẽ thuận lợi cho nước ngài.

Mong ngài suy xét cho".

Tần Mục Công nghĩ tới việc lợi hại đối với mình, liền đồng ý giảng hòa với Trịnh.

Ngoài ra, còn phái ba viên tướng dẫn hai ngàn quân giúp nước Trịnh giữ cửa bắc thành, còn mình dẫn số quân còn lại về nước.

Tấn thấy quân Tần rút về thì nổi giận.

Có người chủ trương đuổi theo, đánh cho một trận, có người nói nên diệt hết hai ngàn quân Tần ở cửa bắc.

Tấn Văn Công nói: "Không có sự giúp đỡ của quân Tần, ta sẽ có biện pháp khác".

Ông không đồng ý đuổi đánh quân Tần, mà tìm cách lôi kéo quân Trịnh về phía mình cùng nhau lập minh ước, rồi rút quân về nước.

Ba tướng Tần ở nước Trịnh thấy Trịnh lại ngả theo Tấn thì vô cùng giận giữ, liền cử người về tâu với Tần Mục Công, yêu cầu lại đánh nước Trịnh.

Tần Mục Công được tin, tuy rất bực bội, nhưng không muốn gây sự với Tấn Văn Công, đành tạm thời nín nhịn.

Hai năm sau, tức là năm 628 trước Công nguyên, Tấn Văn Công chết, con là Tương Công nối ngôi.

Có người lại khuyên Tần Mục Công đánh Trịnh.

Họ nói: "Vua Tấn là Trùng Nhĩ vừa chết, chưa cử hành tang lễ.

Ta nhân dịp này đánh Trịnh thì Tấn quyết không thể nhúng tay được".

Ba tướng Tần còn ở nước Trịnh cũng dâng biểu về nói: "Việc phòng thủ cửa bắc của nước Trịnh nằm trong tay chúng thần, nếu bí mật đem quân tập kích thì nhất định thành công".

Tần Mục Công triệu tập các đại thần bàn cách đánh Trịnh.

Hai đại thần có kinh nghiệm nhất là Kiển Thúc và Bách Lý Hề đều phản đối.

Kiển Thúc nói: "Điều động đại quân đi đánh một nước xa như thế, ta hành quân mỏi mệt, mà đối phương đã chuẩn bị sẵn sàng thì sao có thể thắng được, vả lại đường hành quân xa như thế thì giấu được ai?"

Tần Mục Công không nghe, liền cử con của Bách Lý Hề là Mạnh Minh Thị làm đại tướng, hai con của Kiển Thúc là Tây Khuất Truật và Bạch Ất Bính làm phó tướng đem theo ba trăm xe trận, bí mật đi đánh nước Trịnh.

Tháng hai năm sau, quân Tần đến địa giới nước Hoạt (nay thuộc tỉnh Hà Nam), bỗng có người ngăn đường, xưng là sứ thần của nước Trịnh, xin gặp tướng Tần.

Mạnh Minh Thị giật mình, tự ra tiếp kiến người đó và hỏi anh ta đến làm gì.

Sứ thần đó nói: "Tôi là Huyền Cao.

Vua nước tôi nghe tin ba vị tướng quân đến nước Trịnh, nên phái tôi mang chút lễ vật nhỏ mọn để úy lạo tướng sĩ của quí quốc, tỏ chút lòng thành của chúng tôi".

Sau đó, dâng lên bốn tấm da bò thuộc và mười hai con bò béo.

Mạnh Minh Thị vốn dự định tập kích bất ngờ trong lúc quân Trịnh không phòng bị.

Thế mà nay sứ thần nước Trịnh đã từ xa đến úy lạo quân đội, chứng tỏ rằng nước Trịnh đã biết từ lâu, yếu tố bất ngờ không còn nữa.

Mạnh Minh Thị nhận lễ vật của Huyền Cao và nói: "Chúng ta không đến nước Trịnh đâu, nước ngài không cần phải lo toan, xin hãy về đi".

Khi Huyền Cao đi khỏi, Mạnh Minh Thị nói với những người dưới quyền: "Nước Trịnh đã phòng bị, tập kích không có hy vọng thành công.

Chúng ta rút về thôi".

Nói xong, diệt nước Hoạt, rồi đem quân về.

Kỳ thực, Mạnh Minh Thị đã mắc lừa Huyền Cao.

Huyền Cao vốn là người buôn bò, đang lùa bò sang Lạc Ấp để bán thì gặp quân Tần ở giữa đường.

Ông ta thấy rõ ý định của quân Tần, nếu quay trở lại báo với nước Trịnh thì không kịp, liền nảy ra một mẹo, mạo xưng là sứ thần của nước Trịnh để đánh lừa Mạnh Minh Thị, một mặt sai người đi gấp ngày đêm về nước cấp báo.

Vua Nước Trịnh nhận được tin, vội sai người đến cửa bắc để xem động tĩnh của số quân Tần ở đó, quả nhiên phát hiện họ đang mài đao, kiếm sáng loáng, cho ngựa ăn no để chuẩn bị đánh trận.

Vua Trịnh liền không còn giữ khách khí, hạ lệnh đuổi khéo số quân Tần đó về nước, và nói: "Các vị ở nước Trịnh đã quá lâu chúng tôi thật không thể cung cấp lương ăn được nữa.

Nghe nói các vị đang chuẩn bị về nước.

Xin cứ tự nhiên".

Ba tướng Tần biết chuyện đã bị lộ, thấy không thể ở lại được nữa, liền rút quân ngay trong đêm đó.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
21-22


TRẬN ĐẠI CHIẾN HÀO SƠN

Tin đại quân Tần định đi đánh úp Trịnh trở về đã được Tấn dò biết.

Tiên Chẩn, đại tướng của Tống cho rằng đây là cơ hội tốt để đánh Tần, liền khuyên Tấn Tương Công (mới lên ngôi sau khi Tấn Văn Công) tổ chức đánh chặn ở Hào Sơn (nay ở phía bắc huyện Lạc Ninh, Hà Nam).

Tấn Tương Công tự dẫn đại quân đến Hào Sơn.

Hào Sơn là nơi có địa hình rất hiểm yếu, Tấn đã bố trí trận địa dày đặt như thiên la địa võng để chờ đợi quân Tần.

Bọn Mạnh Minh Thị rút về đến Hào Sơn, liền gặp mai phục, bị quân Tấn bao vây, trùng trùng lớp lớp, tiến lui đều khó khăn.

Quân Tần người thì chết, người thì đầu hàng.

Ba viên đại tướng Mạnh Minh Thị, Tây Khuất Truật và Bạch Ất Bính đều bị bắt sống.

Tấn Tương Công thắng trận về triều.

Mẹ ông là Văn Doanh vốn là người nước Tần, không muốn gây thù oán với Tần liền khuyên Tấn Tương Công: "Nước Tần và nước Tấn vốn là thân thích, xưa nay vẫn giúp đỡ lẫn nhau.

Bọn Mạnh Minh Thị vì muốn lập công nên làm tổn thương hòa khí giữa hai nước.

Nếu ta giết ba người đó thì mối thù giữa hai nước thì mối thù ngày càng sâu.

Chi bằng ta thả họ ra để vua Tần trừng trị họ".

Tấn Tương Công nghe mẹ nói có lý, liền ra lệnh thả họ ra.

Đại tướng quân Tiên Chẩn nghe tin ba người được tha, vội đến gặp Tấn Tương Công nói: "Các tướng sĩ xông pha nguy hiểm, không phải dễ dàng mới bắt được họ, sao nhà vua lại tha một cách dễ dãi thế?".

Vừa nói vừa tỏ thái độ hết sức tức giận.

Tấn Tương Công hơi có ý hối, liền cử tướng Dương Xử Phụ đem một số người ngựa đuổi theo.

Bọn Mạnh Minh Thị được tha, vội vã đi thật nhanh.

Đến bờ sông Hoàng Hà, đã thấy có quân Tấn đuổi phía sau.

Trong lúc nguy cấp, may thay có một chiếc thuyền nhỏ, liền nhảy xuống sông.

Khi Dương Xử Phụ đuổi tới, thì thuyền đã rời bến.

Dương Xử Phụ lớn tiếng gọi: "Xin các vị quay lại!

Chúa công tôi quên không chuẩn bị xe ngựa cho các vị, phái tôi đem tới mấy con ngựa tốt, xin các vị nhận cho"

Mạnh Minh Thị khi nào bị mắc lừa.

Anh ta đứng trên thuyền ngỏ lời cảm tạ nói: "Nhờ quốc quân tha tội đã là may lắm rồi, chúng tôi đâu dám nhận tặng phẩm nữa.

Nếu chúng tôi trở về và vẫn bảo toàn được tính mạng thì ba năm sau, sẽ xin sang báo đáp quí quốc."

Dương Xử Phụ còn định nói nữa, thì thuyền đã được chèo vun vút, đi rất xa.

Dương Xử Phụ đành trở về, báo cáo lại lời lẽ của Mạnh Minh Thị.

Tấn Tương Công hối tiếc nhưng không làm gì được nữa.

Bọn Mạnh Minh Thị về tới nước Tần, Tần Mục Công nghe tin toàn quân đã bị tiêu diệt liền mặc quần áo tang, thân ra ngoài thành đón họ.

Bọn Mạnh Minh Thị quỳ dưới đất chịu tội.

Mục Công nói: "Đó là lỗi của ta, ta đã không nghe lời khuyên của cha các ngươi, khiến các ngươi thua trận, còn trách gì các ngươi nữa?

Vả lại ta cũng không vì các ngươi có lỗi mà xóa sạch công lao trước kia của các ngươi".

Ba người cảm kích rơi nước mắt.

Từ đó về sau ra sức tập luyện quân mã để báo thù cho nước Tần.

Năm 625 TCN Mạnh Minh Thị xin Tần Mục Công phát binh để báo thù trận Hào Sơn, Tần Mục Công đồng ý.

Ba viên đại tướng do Mạnh Minh Thị dẫn đầu, đem theo 400 cỗ xe chiến đánh tới nước Tấn.

Không ngờ, Tấn Tương Công đã phòng bị, bọn Mạnh Minh Thị lại thua trận.

Tần Mục Công vẫn không trị tội họ, nhưng Mạnh Minh Thị rất áy náy, cảm thấy mình mang một món nợ lớn với quốc gia.

Ông mang hết tài sản và bổng lộc của mình chia cho các gia đình tướng sĩ tử trận, đồng thời chan hòa, cùng chịu cực khổ với binh sĩ, cũng ăn lương khô, rễ củ, hằng ngày luyện tập binh mã, quyết tâm báo thù trả hận.

Mùa đông năm đó, nước Tấn liên minh với Tống, Trịnh, Trần đánh tới biên giới nước Tần.

Mạnh Minh Thị dặn dò tướng sĩ chỉ giữ thành, không được giao chiến với quân Tấn.

Kết quả là quân Tấn lại chiếm được hai thành.

Thế là nước Tần có người nói xấu Mạnh Minh Thị, cho ông là nhát gan.

Một số nước nhỏ và Tây Nhung thấy quân Tần thua liền ba trận, liền đua nhau rời bỏ nước Tần, không chịu sự quản lý nữa.

Vào mùa hè năm 624 TCN, tức là ba năm sau trận Hào Sơn, Mạnh Minh Thị chuẩn bị đầy đủ, chọn quân tinh nhuệ trong nước điều động 500 xe chiến.

Tần Mục Công bỏ ra nhiều lương thực, vải vóc cấp phát cho gia đình tướng sĩ.

Tinh thần quân lính lên cao, sẵn sàng xuất phát..

Khi đại quân vượt Hoàng Hà, Mạnh Minh Thị nói với quân sĩ: "Chúng ta ra quân lần này, chỉ tiến chứ không lùi.

Ta muốn đốt hết thuyền bè đi, các người thấy thế nào?".

Mọi người đều nói: "Đốt đi thôi!

Thắng thì không sợ gì không có thuyền trở về.

Thua thì không về nữa".

Quân lính đã ôm mối thù hận tích lũy mấy năm nay, nhất tề xuất phát, chỉ trong mấy ngày, đã chiếm lại được hai thành bị mất trước kia, sau đó còn đánh chiếm được mấy tòa thành lớn nữa của nước Tấn.

Nước Tấn lúc đó thấy thế tiến công của Tần là ghê gớm, từ trên xuống dưới đều sợ hãi.

Tấn Tương Công bàn bạc với các đại thần, rồi hạ lệnh: chỉ cố thủ để giữ vững thành trì, không được phép giao chiến với quân Tần.

Quân Tần vì vậy tự do đi lại trên đất Tấn, không có người Tấn nào dám ra chống lại.

Có người nói với Tần Mục Công: "Nước Tấn đã chịu thua.

Họ không dám ra giao chiến, chúa công nên đến Hào Sơn chôn cất thi thể của tướng sĩ, coi như đã rửa được mối nhục trước kia".

Tần Mục Công liền dẫn đại quân đến Hào Sơn, thu nhặt xương cốt của tướng sĩ ba năm trước, chôn tại sườn núi.

Tần Mục Công cùng với bọn Mạnh Minh Thị tiến hành tế lễ long trọng, rồi rút quân về nước.

Những nước nhỏ ở phía tây cùng bộ lạc Tây Nhung, nghe tin quân Tần đánh bại được bá chủ Trung nguyên là nước Tấn, liền tranh nhau đến tiến cống Tần.

Từ đó nước Tần trở thành bá chủ phía tây.

SỞ TRANG VƯƠNG LỪNG LẪY MỘT THỜI

Sau khi Tần đánh bại Tấn, liên tục trong hơn mười năm, giữa hai nước không xảy ra chiến tranh, nhưng nước Sở ở phương nam ngày càng lớn mạnh, nuôi tham vọng giành địa vị bá chủ Trung nguyên đang nằm trong tay nước Tấn.

Năm 613 TCN, cháu của Sở Thành Vương là Sở Trang Vương lên ngôi vua Sở, nhân dịp đó, Tấn lại lôi kéo mấy nước nhỏ vốn quy phục Sở về phe mình, cùng kí kết minh ước.

Các đại thần nước Sở bực tức, khuyên Sở Trang Vương đem quân đánh Tấn để giành bá quyền.

Nhưng không ngờ, Sở Trang Vương không nghe theo, ban ngày cứ đi săn, buổi tối uống rượu, nghe nhạc, không quan tâm gì đến quốc gia đại sự.

Cứ như vậy suốt ba năm, ông ta biết các đại thần rất bất mãn với mình, liền ban xuống một mệnh lệnh: ai dám can gián sẽ xử tội chết.

Một đại thần là Ngũ Cử không chịu nhìn mãi cảnh đó, quyết tâm đi gặp Sở Trang Vương.

Sở Trang Vương đang vui đùa nghe ca nhạc, nghe nói Ngũ Cử xin gặp, liền gọi vào hỏi: "Ngươi đến làm gì?".

Ngũ Cử nói: "Có người nhờ tôi đoán một câu đố, tôi không đoán được, Đại vương là người thông minh nên nhờ Đại vương đoán hộ"

Sở Trang Vương thấy nói có câu đố, cảm thấy hay hay, liền cười nói: "Ngươi hãy nói ta nghe thử xem".

Ngũ Cử nói: "Trên ngọn núi của nước Sở có một con chim lớn, màu lông ngũ sắc, dáng điệu hùng mạnh.

Nhưng suốt trong ba năm con chim đó không bay, cũng không hót, đó là loại chim gì vậy?"

Sở Trang Vương hiểu rõ ý Ngũ Cử muốn ám chỉ ai, liền nói: "Đó không phải là loại chim thường.

Loại chim này không bay thì thôi, đã bay là lên tận trời, không hót thì thôi, đã hót là làm mọi người kinh sợ.

Ngươi lui ra, ta đã hiểu rồi".

Một thời gian sau, một đại thần khác là Tô Tòng thấy Sở Trang Vương vẫn không động tĩnh gì, liền lại đến khuyên ngăn.

Sở Trang Vương hỏi: "Chẳng lẽ nhà ngươi không biết lệnh của ta sao?".

Tô Tòng nói: "Thần đã rõ.

Miễn là Đại vương nghe được ý kiến của thần, thì thần dù có phạm cấm lệnh, chịu xử tử tội cũng cam lòng".

Sở Trang Vương cao hứng cười nói: "Các ngươi đều thực lòng muốn việc tốt cho nước nhà, sao ta lại không biết".

Từ đó trở về sau, Sở Trang Vương quyết tâm cải cách chính trị, cách chức những kẻ nịnh hót, đề bạt người dám dũng cảm khuyên can như Ngũ Cử, Tô Tòng để giúp mình xử lí quốc gia đại sự.

Một mặt ra sức chế tạo vũ khí, thao luyện binh mã.

Trong năm đó đã thu phục nhiều bộ lạc nhỏ ở phương nam.

Năm thứ sáu, đánh bại nước Tống.

Năm thứ tám lại đánh bại tộc Nhung ở Lục Hồn (nay ở đông bắc huyện Tung, tỉnh Hà Nam), đánh tới sát Lạc Ấp (kinh đô nhà Chu).

Để tỏ rõ binh uy, Sở Trang Vương tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở ngoại thành Lạc Ấp.

Việc làm đó khiến Chu thiên tử sợ hãi, vội phái đại thần là Vương Tôn Mãn ra ngoại thành, úy lạo quân Sở.

Trong khi Sở Trang Vương nói chuyện với Vương Tôn Mãn, Sở Trang Vương hỏi về chín cái đỉnh (chín đỉnh: những vật tượng trưng cho quyền lực thiên tử nhà Chu) xem lớn nhỏ, nặng nhẹ thế nào.

Chín cái đỉnh là đồ tế lễ, tượng trưng cho quyền uy của vương thất, việc Sở Trang Vương hỏi han tới chín đỉnh chính là biểu lộ dã tâm của Sở Trang Vương đối với quyền lực của thiên tử nhà Chu.

Vương Tôn Mãn là người giỏi ứng phó, ông khuyên Sở Trang Vương: "Sự cường thịnh của một quốc gia chủ yếu dựa vào đức hạnh để thu phục lòng người, không cần thiết phải hỏi han về trọng lượng của chín cái đỉnh".

Sở Trang Vương hiểu rõ lúc đó chưa có điều kiện để diệt nhà Chu, liền rút quân về nước.

Sau đó, Sở Trang Vương lại mời một ẩn sĩ nổi tiếng của nước Sở là Tôn Thúc Ngao làm lệnh doãn (chức tướng quốc) của nước Sở.

Ở cương vị này, Tôn Thúc Ngao đã cho khai khẩn ruộng đất, khơi thông sông ngòi, khuyến khích sản xuất để ngăn ngừa thủy tai, hạn hán.

Tôn Thúc Ngao cho khơi đào hệ thống thủy lợi, tưới cho hàng chục vạn mẫu ruộng, hàng năm thu hoạch thêm được rất nhiều lương thực.

Chỉ trong mấy năm, nước Sở hùng mạnh thêm gấp bội, lần lượt dẹp yên hai cuộc nổi loạn ở nước Trịnh và nước Trần.

Cuối cùng đã xung đột với Tấn là bá chủ ở Trung nguyên.

Năm 597 TCN Sở Trang Vương dẫn đại quân đánh Trịnh, nước Tấn đem quân tới cứu, hai bên đã đánh nhau một trận lớn ở Đất Tất (nay ở phía đông thành phố Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam).

Nước Tấn bị một trận thảm hại chưa từng thấy, chết mất một nửa người ngựa, số còn lại bỏ chạy về phía Hoàng Hà.

Thuyền ít người đông, binh sĩ tranh nhau xuống thuyền, một số rớt xuống sông chết, một số bám vào thuyền toan trèo lên, bị những người trên thuyền sợ thuyền bị lật dùng gươm vạt các ngón tay, rơi lả tả.

Có người khuyên Sở Thành Vương truy kích để diệt hết quân Tấn, Sở Thành Vương nói: "Nước Sở từ sau thất bại ở Thành Bộc, mãi không ngóc đầu lên được.

Lần này thắng lớn như vậy, coi như đã rửa được mối nhục cũ.

Còn cần giết người làm gì", rồi lập tức hạ lệnh thu quân mặc cho tàn quân Tấn chạy về nước.

Từ đó về sau, con chim cất một tiếng hót là khiến mọi người kinh sợ, tức Sở Trang Vương trở thành bá chủ.

Từ Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công, Tần Mục Công đến Sở Trang Vương, tất cả có năm bá chủ, lịch sử gọi họ là" ngũ bá thời Xuân thu".

Một thuyết khác cho rằng, vì Tống Tương Công trên thực tế không hoàn thành được sự nghiệp bá chủ, Tần Mục Công chỉ làm bá chủ ở phía tây, nên ngôi bá chủ Trung nguyên trước sau nên là Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô Vương Hạp Lư và Việt Vương Câu Tiễn.

Hai thuyết về "Xuân thu ngũ bá" vẫn song song tồn tại trong giới lịch sử Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
23-24


NGŨ TỬ TƯ QUA CHIÊU QUAN

Trong cuộc đấu tranh giữa các nước chư hầu lớn để tranh đoạt bá quyền nước lớn, thôn tính nước nước nhỏ để mở rộng đất đai.

Nhưng sau thắng lợi, các nước lớn không thể không cắt đất để phong cho các quan đại phu có công.

Vì vậy, thế lực của các đại phu dần lớn lên, giữa họ thường xuyên xảy ra tranh giành.

Mâu thuẫn nội bộ ở các nước lớn ngày càng gay gắt, nên chiến tranh giành bá quyền giữa các nước tạm thời lắng xuống.

Vì nguyên nhân đó, quan đại phu nước Tống là Hướng Thú đã qua lại hai nước là Tấn-Sở để điều đình, hòa giải.

Năm 546 TCN hai nước Tấn - Sở và một số nước khác đã họp "hội nghị đình chỉ chiến tranh" tại Tống.

Tại hội nghị, đại phu hai nước Tấn-Sở thay mặt cho hai tập đoàn nam-bắc đã kí kết hòa ước, quy định trừ hai nước lớn là Tề và Tần, còn các nước nhỏ khác đều phải triều cống cả hai nước Tấn và Sở.

Hai nước Tấn-Sở chia đều bá quyền.

Từ đó đến 50 năm sau, không xảy ra cuộc chiến tranh nào lớn.

Đến đời Sở Bình Vương, là cháu Sở Trang Vương lên ngôi, nước Sở dần suy yếu.

Năm 522 TCN Sở Bình Vương muốn phế truất thái tử Kiến.

Lúc đó, thái tử Kiến đang ở Thành Phụ (nay ở Tây Lương Thành, tỉnh Hà Nam) cùng với thầy học của mình là Ngũ Xa.

Sở Bình Vương sợ Ngũ Xa không đồng ý nên trước hết gọi Ngũ Xa về, sai vu cáo thái tử Kiến mưu phản.

Ngũ Xa nhất định không chịu nghe theo, liền bị giam vào ngục.

Sở Bình Vương một mặt cử người đi giết thái tử Kiến, một mặt buộc Ngũ Xa phải viết thư gọi hai con là Ngũ Thượng và Ngũ Tử Tư về để trừ diệt cả ba cha con.

Người con cả là Ngũ Thượng về tới Ảnh Đô (còn có âm là Dĩnh đô, Sinh đô, nay ở tây bắc Giang Lăng, Hồ Bắc) liền bị Bình Vương giết hại cùng với cùng với cha là Ngũ Xa.

Thái tử Kiến nghe tin, liền cùng với con là Công tử Thắng chạy sang Tống.

Người con thứ hai của Ngũ Xa là Ngũ Tử Tư cũng bỏ chạy khỏi nước Sở đến Tống, tìm thái tử Kiến.

Không may, Tống có nội loạn.

Ngũ Tử Tư lại dẫn thái tử Kiến và Công tử Thắng chạy sang Trịnh, muốn nhờ nước Trịnh giúp họ báo thù.

Nhưng quốc quân nước Trịnh là Trịnh Định Công không thuận.

Thái tử Kiến nôn nóng báo thù, liền câu kết với một số đại thần nước Trịnh để đoạt quyền của Trịnh Định Công nên bị Trịnh Định Công giết.

Ngũ Tử Tư phải dẫn công tử Thắng chạy khỏi nước Trịnh trốn sang Ngô (đô thành ở Tô Châu, tỉnh Giang Tô ngày nay).

Sở Bình Vương hạ lệnh treo thưởng cho ai bắt được Ngũ Tử Tư, cho vẽ hình Ngũ Tử Tư yết trên các cửa thành nước Sở, hạ lệnh cho quan lại tuần tra khám xét.

Ngũ Tử Tư và công tử Thắng sau khi ra khỏi nước Trịnh thì ngày ẩn, đêm đi.

Khi tới cửa quan giữa Ngô và Sở là Chiêu Quan (nay ở bắc huyện Hàm Sơn, tỉnh An Huy) thì quan lại ở đây khám xét rất nghiêm ngặt.

Truyền thuyết nói rằng Ngũ Tử Tư lo lắng không ngủ được, nên qua mấy đêm mà đầu tóc bạc trắng hết, may gặp được một người tốt là Đông Cao Công đồng tình với Ngũ Tử Tư, cho Ngũ Tử Tư ở trong nhà mình.

Đông Cao Công có một người bạn, hình dáng giống Ngũ Tử Tư, liền nói người đó giả làm Ngũ Tử Tư đi qua cửa quan.

Lính gác cửa quan bắt giữ Ngũ Tử Tư giả, còn Ngũ Tử Tư thật thì nhờ đầu tóc bạc trắng, diện mạo thay đổi khó nhận ra được nên đã trà trộn qua được cửa quan.

Qua khỏi Chiêu Quan, Ngũ Tử Tư sợ có quân đuổi theo nên đi rất gấp.

Trước mặt bỗng có con sông lớn chặn ngang.

Trong lúc lo lắng, lại nhờ có một ông lão đánh cá chèo một con thuyền nhỏ đưa Ngũ Tử Tư qua sông.

Qua khỏi sông, Ngũ Tử Tư vô cùng cảm kích, cởi thanh bảo kiếm đưa cho ông lão bán cá, nói: "Thanh bảo kiếm này là của vua Sở tặng cho ông nội tôi, giá trị tới trăm lạng vàng, xin biếu cụ để tỏ tấm lòng".

Ông lão đánh cá nói: "Để truy lùng tướng quân, vua Sở đã treo giải thưởng 5 vạn thạch lương và chức vị đại phu cho người nào bắt được.

Ta không tham giải thưởng và tước vị, có lẽ nào lại muốn lấy bảo kiếm của tướng quân".

Ngũ Tử Tư vội thu lại bảo kiếm, sụp xuống lạy tạ rồi từ biệt ra đi.

Ngũ Tử Tư đến nước Ngô trong lúc cong tử Quang đang muốn giành ngôi vua.

Với sự giúp đỡ của Ngũ Tử Tư, công tử Quang giết được Ngô vương Liêu, tự lập làm vương.

Đó là Ngô vương Hạp Lư.

Hạp Lư lên ngôi, phong Ngũ Tử Tư làm đại phu, giúp mình giải quyết việc lớn quốc gia.

Lại sử dụng Tôn Vũ, một nhà quân sự lớn, giỏi việc dùng binh.

Ngô vương dựa vào Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ, chỉnh đốn binh mã, trước hết kiêm tính mấy nước nhỏ lân cận.

Năm 506 TCN Ngô vương Hạp Lư bái Tôn Vũ làm đại tướng, Ngũ Tử Tư làm phó tướng, tự mình dẫn đại quân đánh Sở, liên tiếp thắng trận, khiến cho quân Sở tan tác, tiến thẳng tới Ảnh Đô.

Lúc đó Sở Bình Vương đã chết, con là Sở Chiêu Vương trốn chạy.

Ngũ Tử Tư uất hận Sở Bình Vương, cho đào mồ lên và đánh vào thây Sở Bình Vương.

Quân Ngô chiếm Ảnh Đô, đại thần nước Sở là Thân Bao Tư chạy sang nước Tần, xin vua Tần mang quân sang cứu.

Tần Ai Công không đồng ý.

Thân Bao Tư đứng ngoài cửa cung nước Tần gào khóc bảy ngày bảy đêm.

Cuối cùng, Tần Ai Công động lòng thương, nói: "Vua Sở tuy bạo ngược vô đạo nhưng có một người bày tôi tốt như thế thì sao ta có thể nhìn họ mất nước cho đành".

Tần Ai Công cử quân cứu Sở, đánh bại quân Ngô.

Ngô vương Hạp Lư liền rút quân về nước.

Ngô vương Hạp Lư về đến nước Ngô, qui công đầu cho Tôn Vũ.

Tôn Vũ không muốn làm quan, liền đi ẩn cư.

Ông để lại cuốn "Tôn Tử binh pháp", là một trước tác quân sự kiệt xuất sớm nhất của Trung Quốc.

KHỔNG TỬ CHU DU CÁC NƯỚC

Với sự giúp đỡ của Ngữ Tử Tư và Tôn Vũ, Ngô vương Hạp Lư đánh bại được nước Sở, thanh thế rất lớn, ngay một số nước ở trung nguyên cũng bị uy hiếp, trước hết là nước Tề.

Nước Tề từ sau khi Tề Hoàn Công mất đi, trong nước luôn mất ổn định.

Đến khi Tề Cảnh Công lên ngôi vua, dùng được một đại thần tài giỏi là Án Anh làm tướng quốc, đổi mới triều chính, nước Tề mới hưng thịnh trở lại.

Năm 500 TCN Tề Cảnh Công và Án Anh muốn lôi kéo nước Lỗ láng giềng cùng các nước chư hầu khác, xây dựng lại nghiệp bá thời Tề Hoàn Công, liền viết thư cho Lỗ Định Công, hẹn cùng nhau hội họp ở Giáp Cốc, trên biên giới Tề-Lỗ.

Lúc bấy giờ, khi chư hầu hội họp đều phải có một trợ thần làm trợ thủ, gọi là "tướng lễ".

Lỗ Định Công quyết định để quan tư khấu (quan đứng đầu ngành tư pháp) nước Lỗ là Khổng Tử đảm nhiệm công việc đó.

Khổng Tử tên là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người Ấp Trâu (nay ở đông nam Khúc Phụ, Sơn Đông).

Cha ông là một võ quan cấp thấp, đã mất khi ông mới ba tuổi.

Mẹ ông đưa ông đến Khúc Phụ, nuôi dạy ông thành người.

Theo nói lại, từ nhỏ ông đã thích học lễ tiết, khi nhàn rỗi thường học theo người lớn làm nghi thức tế lễ trời đất tổ tiên.

Khi lớn lên, Khổng Tử học hành chăm chỉ, ông hết sức sùng bái Chu Công, người đã đặt ra lễ nhạc cho nhà Chu.

Ông am hiểu lễ tiết thời cổ, tương đối tinh thông "lục nghệ", tức là lễ tiết, âm nhạc, bắn tên, đánh xe, viết chữ, tính toán (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) là những môn học chính thời đó.

Ông làm việc nghiêm túc, khi còn làm chức lại nhỏ giữ kho, không bao giờ để mất mát vật tư.

Sau lại làm chức quản lí gia súc, đã làm gia súc lớn mau, sinh đẻ nhiều.

Khi chưa đầy 30 tuổi, tiếng tăm đã dần dần lan rộng.

Có một số người muốn theo học ông, ông liền mở một trường tư, thu nhận học sinh.

Quan đại phu nước Lỗ là Mạnh Hi Tử trước khi chết đã dặn hai con là Mạnh Ý Tử và Nam Cung Kính Thúc đến học lễ ở Khổng Tử.

Dựa vào sự tiến cử của Nam Cung Kính Thúc, Lỗ Chiêu Công đã phái Khổng Tử đến đô thành nhà Chu là Lạc Ấp để khảo sát lễ nhạc của triều Chu.

Đến năm Khổng Tử 35 tuổi, Lỗ Chiêu Công bị ba quan đại phu cầm quyền là Quí Tôn Thị, Mạnh Tôn Thị và Thúc Tôn Thị đuổi đi, Khổng Tử liền sang nước Tề, xin gặp Tề Cảnh Công, nói chuyện với Tề Cảnh Công về chủ trương chính trị của mình.

Tề Cảnh Công tiếp đãi rất trân trọng và toan sử dụng Khổng Tử, nhưng tướng quốc Án Anh cho rằng chủ trương của Khổng Tử không thực tế, nên Tề Cảnh Công không dùng ông nữa.

Khổng Tử lại trở về nước Lỗ tiếp tục dạy học.

Số học sinh theo học Khổng Tử ngày càng nhiều.

Năm 501 TCN Lỗ Định Công phong Khổng Tử làm quan Tể đất Trung Đô (nay ở huyện Vấn Thượng, tỉnh Sơn Đông.

Năm sau, thăng làm quan Tư Không (chức quan đứng đầu coi việc xây dựng) rồi lại điều sang làm Tư Khấu.

Lúc đó Lỗ Định Công nói cho Khổng Tử biết việc chuẩn bị đến Giáp Cốc để hội minh với nước Tề.

Khổng Tử nói: "Nước Tề nhiều lần xâm phạm biên giới ta.

Lần này hẹn ta đến hội, ta cần chuẩn bị binh mã, xin đem theo cả hai quan Tả, Hữu Tư Mã".

Lỗ Định Công đồng ý với chủ trương của Khổng Tử, lại cử hai đại tướng đem theo binh mã, cùng ông tới Giáp Cốc.

Tại hội nghị Giáp Cốc, do Khổng Tử làm Tướng lễ, nên nước Lỗ giành được thắng lợi về ngoại giao.

Sau hội nghị, Tề Cảnh Công quyết định trao trả lại Lỗ ba vùng đất ở Vấn Dương (nay ở tây nam Thái An Sơn Đông) trước kia Tề đã chiếm của Lỗ.

Quan đại phu nước Tề là Lê Trữ cho rằng Khổng Tử làm quan nước Lỗ thì không có lợi cho Tề, liền khuyên Tề Cảnh Công gửi tặng Lỗ Định Công một đội nữ nhạc.

Tề Cảnh Công đồng ý liền chọn một đội nữ nhạc gồm 18 người gửi sang nước Lỗ.

Lỗ Định Công được đoàn nữ nhạc đó thì ngày nào cũng mài miệt vui chơi không còn chăm nom đến chính sự quốc gia nữa.

Khổng Tử muốn vào can, nhưng Lỗ Định Công đều tránh mặt.

Việc này làm Khổng Tử rất thất vọng, liền nói với học trò: "Vua Lỗ không làm chính sự, chúng ta đi thôi".

Từ đó về sau, Khổng Tử rời bỏ nước Lỗ, dẫn một số học trò đi chu du các nước, hy vọng tìm được cơ hội thực hiện chủ trương chính trị của mình.

Nhưng lúc đó, các nước lớn thì bận vào các cuộc chiến tranh để giành bá quyền, nước nhỏ thì đứng trước nguy cơ bị thôn tính, toàn xã hội đều bị biến đổi mạnh mẽ.

Những chủ trương khôi phục lễ nhạc triều Chu của Khổng Tử, đương nhiên không được ai tiếp nhận.

Trước sau, ông đã qua các nước Vệ, Tào, Tống, Trịnh, Trần, Thái, Sở.

Vua các nước đó đều không sử dụng ông.

Một lần, Khổng Tử đang ở khoảng giữa Trần, Thái, Sở Chiêu Vương cử người đến mời ông.

Quan đại phu các nước Trần, Thái sợ Khổng Tử đến nước Sở, sẽ bất lợi cho họ, nên phái quân chặn đường.

Khổng Tử bị vây khốn ở đó, hết cả lương ăn, đã mấy ngày phải nhịn đói.

Sau, nhờ nước Sở cho quân đến cứu, mới được giải vây.

Khổng Tử bôn ba các nước trong bảy tám năm, gặp nhiều gian truân, thất bại, tuổi mỗi năm mỗi già.

Cuối cùng, ông trở về nước Lỗ, dồn tinh lực vào việc chỉnh lý sách vở văn hóa cổ và giáo dục môn đồ.

Trong những năm cuối đời, Khổng Tử đã chỉnh lý những điển tịch văn hóa quan trọng thời cổ, như Kinh thi, Thượng thư, Xuân thu.

Kinh thi là một tổng tập thi ca cổ của Trung Quốc gồm 305 bài thơ ca thời Tây Chu và Xuân Thu, trong đó có nhiều ca dao phản ánh đời sống của xã hội cổ đại, chiếm địa vị rất quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Thượng thư là các tập sách về các văn kiện lịch sử cổ đại Trung Quốc.

Xuân thu là một cuốn sử được ghi chép căn cứ vào sử liệu của nước Lỗ, nội dung ghi chép sự việc lớn từ năm 722 đến năm 481 TCN.

Năm 479 TCN Khổng Tử mất, sau khi ông mất, các học trò truyền thụ học thuyết của ông, hình thành học phái Nho gia.

Khổng Tử trở thành người sáng lập học phái Nho gia.

Tư tưởng học thuật của Khổng Tử có ảnh hưởng rất lớn ở đời sau.

Ông được công nhận là nhà tư tưởng lớn, nhà giáo dục lớn thời cổ Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
25-26


CÂU TIẾN NẰM GAI NẾM MẬT

Ngô vương Hạp Lư đánh bại nước Sở, trở thành bá chủ ở phương nam.

Nước Ngô vốn bất hòa với nước láng giềng là nước Việt (đô thành ở Thiệu Hưng, tỉnh Triết Giang ngày nay).

Năm 496 TCN, Việt vương Câu Tiễn lên ngôi, Ngô vương nhân dịp nước Việt vừa có tang, liền mang quân đánh.

Hai bên giao chiến một trận lớn ở đất Túy Lý (nay ở tây nam Tây Hưng, tỉnh Triết Giang).

Ngô vương Hạp Lư tin chắc rằng mình có thể đánh thắng, nhưng không ngờ lại bị thất bại, bản thân trúng tên bị trọng thương.

Vì tuổi đã cao, khi về tới nước Ngô thì chết.

Hạp Lư chết, con là Phù Sai nối ngôi.

Trước khi chết, Hạp Lư dặn lại: "Không được quên báo thù nước Việt".

Phù Sai ghi nhớ lời dặn của cha, bảo người khác thường xuyên nhắc nhở mình, mỗi khi ra vào cửa cung, thủ hạ đều quát lớn: "Phù Sai, ngươi đã quên mối thù Việt vương đã giết cha ngươi rồi sao?".

Phù Sai chảy nước mắt trả lời: "Không, không dám quên".

Ông ta sai Ngữ Tử Tư và một đại thần khác là Bá Phỉ luyện tập binh mã chuẩn bị đánh nước Việt.

Hai năm sau, Ngô vương Phù Sai tự dẫn đại quân đi đánh Việt.

Nước Việt có hai quan đại phu giỏi là Văn Chủng và Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói với Câu Tiễn: "Nước Ngô luyện binh gần ba năm nay.

Lần này chúng quyết tâm báo thù, khí thế rất hung hãn.

Ta nên giữ vững thành, không nên ra đánh với chúng"

Câu Tiễn không đồng ý, mang đại quân ra quyết chiến.

Quân hai nước giao chiến một trận lớn ở vùng Thái Hồ, quân Việt quả nhiên đại bại..

Việt vương Câu Tiễn dẫn 5000 tàn binh bại tướng chạy về đến Cối Kê, bị quân Ngô vây chặt.

Câu Tiễn không tìm ra biện pháp gì, liền nói với Phạm Lãi: "Ta rất hối hận đã không nghe theo lời ngươi.

Bây giờ đến tình cảnh này phải làm thế nào đây?".

Phạm Lãi nói: "Phải mau cầu hòa thôi"

Câu Tiễn phái Văn Chủng sang trại quân Ngô cầu hòa, Văn Chủng tâu xin với Phù Sai cho Câu Tiễn đầu hàng.

Phù Sai toan đồng ý, nhưng Ngũ Tử Tư kiên quyết phản đối.

Văn Chủng trở về, dò biết Bá Phỉ ở nước Ngô là kẻ tiểu nhân, ham tài, háo sắc liền ngầm đưa một số mỹ nữ và châu ngọc sang biếu Bá Phỉ, nhờ hắn nói giúp với Phù Sai.

Nghe lời Khuyên của Bá Phỉ, Ngô vương Phù Sai bác ý kiến phản đối của Ngũ Tử Tư, đồng ý cho Câu Tiễn đầu hàng nhưng yêu cầu Câu Tiễn phải thân với nước Ngô.

Văn Chủng về tâu lại với Câu Tiễn, Câu Tiễn trao mọi việc trong nước cho Văn Chủng, rồi cùng vợ và Phạm Lãi sang Ngô.

Câu Tiễn đến nước Ngô, Phù Sai cho vợ chồng Câu Tiễn ở trong một gian đá, cạnh phần mộ của Hạp Lư, sai Câu Tiễn nuôi ngựa, còn Phạm Lãi làm công việc của nô lệ.

Mỗi lần Phù Sai đi xe, Câu Tiễn phải dắt ngựa hầu, cứ như thế trong 2 năm.

Phù Sai cho rằng Câu Tiễn đã thực bụng qui thuận, liền cho Câu Tiễn về nước.

Về tới nước Việt, Câu Tiễn lập chí báo thù rửa hận.

Ông sợ cuộc sống an nhàn làm tiêu tan mất ý chí, liền treo một cái mật đắng ở nơi ăn cơm.

Trước mỗi bữa ăn, đều nếm một chút mật đắng rồi tự hỏi mình: "Nhà ngươi có quên mối nhục ở Cối Kê không?".

Ông ta còn bỏ chiếu dùng cỏ cây làm đệm nằm.

Việc đó được người đời sau gọi là "nằm gai nếm mật".

Để làm cho nước Việt giàu mạnh, Câu Tiễn tự mình tham gia cày bừa, bảo vợ tự dệt vải để khuyến khích dân chúng đẩy mạnh sản xuất.

Vì nước Việt lâm vào họa mất nước, nhân khẩu giảm nhiều, ông ta liền đề ra chế độ khuyến khích sinh đẻ.

Mặt khác ông ta trao cho Văn Chủng quản lý việc lớn quốc gia, cho Phạm Lãi huấn luyện quân đội, bản thân khiêm tốn nghe theo ý kiến của mọi người, chú trọng cứu tế cho dân nghèo.

Nhân dân toàn quốc đều giúp sức để đưa đất nước bị đè nén đó nhanh chóng trở thành cường quốc.

PHẠM LÃI VÀ VĂN CHỦNG

Việt vương Câu Tiễn chỉnh đốn chính sự, khuyến khích sản xuất, làm cho thế nước dần dần giàu mạnh lên.

Ông liền cùng hai đại phu là Văn Chủng và Phạm Lãi bàn bạc về kế hoạch đánh Ngô.

Lúc đó Ngô vương Phù Sai vì đã được làm bá chủ nên trở thành kiêu căng, ham mê hưởng lạc.

Văn Chủng khuyên Câu Tiễn dâng gái đẹp cho vua Ngô.

Câu Tiễn liền sai người đi khắp nước để tìm những cô gái đẹp nhất.

Kết quả tìm được một cô gái tuyệt sắc tên là Tây Thi ở núi Trữ La (nay ở phía nam Chư Hý, tỉnh Triết Giang).

Câu Tiễn cử Phạm Lãi đưa Tây Thi sang dâng cho Phù Sai.

Phù Sai nhìn thấy Tây Thi có dung mạo tuyệt vời, như tiên nữ giáng trần, hết lòng sủng ái.

Một lần, nước Việt phái Văn Chủng sang gặp Hạp Lư, nói nước Việt mất mùa, dân chúng bị đói, xin nước Ngô cho vay một vạn thạch lương, năm sau sẽ xin trả đủ.

Phù Sai thấy có Tây Thi trước mặt, liền đáp ứng ngay.

Năm sau nước Việt được mùa, Văn Chủng lại mang một vạn thạch lương trả lại cho nước Ngô.

Phù Sai thấy nước Việt giữ tín nghĩa, rất yên tâm và cao hứng.

Ông ta vốc lúa lên xem, thấy hạt nào cũng căng mẩy, liền nói với Bá Phỉ: " Hạt lúa của nước Việt căng mẩy hơn hạt lúa của ta.

Hãy phát một vạn thạch lúa này cho dân chúng làm giống".

Bá Phỉ đem số lúa đó phát cho nông dân, hạ lệnh đem gieo trồng.

Đến mùa xuân, hạt giống được gieo xuống.

Đợi tới mười mấy ngày, vẫn không thấy nảy mầm.

Mọi người nghĩ có thể là hạt giống tốt thì nảy mầm chậm chăng, liền kiên nhẫn chờ đợi thêm.

Không ngờ, sau một số ngày nữa những hạt giống đó đều thối rửa hết.

Họ muốn thay bằng hạt giống của nước Ngô thì đã lỡ mất thời vụ.

Năm đó, nước Ngô gặp nạn đói lớn, dân chúng đều oán giận Phù Sai.

Họ đâu có biết, đó là kế của Văn Chủng, Một vạn thạch lúa đó đều đã được đem hấp chín rồi phơi khô, làm sao có thể mọc mầm được nữa.

Câu Tiễn nghe tin nước Ngô bị nạn đói, muốn nhân cơ hội đưa quân sang đánh.

Văn Chủng nói: "Vẫn còn sớm.

Một là nước Ngô tuy bị đói, trong nước vẫn chưa khánh kiệt.

Hai là, Ngũ Tư Tư còn đó, chưa dễ hành động".

Câu Tiễn thấy Văn Chủng nói có lý, lại tiếp tục cho thao luyện binh mã và tuyển thêm quân.

Năm 484 TCN Ngô vương Phù Sai muốn đi đánh Tề, Ngũ Tử Tư vội đi gặp Phù Sai can: "Tôi nghe tin Câu Tiễn nằm gai nếm mật, đồng cam cộng khổ với dân chúng, xem ra có ý muốn đánh báo thù nước Ngô.

Nếu không trừ diệt Câu Tiễn, thì sẽ là hậu họa cho nước Ngô.

Xin Đại vương đi đánh nước Việt trước".

Phù Sai không chịu nghe lời Ngũ Tử Tư, cứ đem quân đánh Tề, kết quả thắng trận đem quân về.

Văn võ bá quan đều đến chúc mừng, nhưng Ngũ Tử Tư lại nói: "Đánh bại nước Tề chỉ là mối lợi nhỏ, nước Việt lại diệt nước Ngô, mới là mối họa lớn".

Do đó Phù Sai càng ngày càng chán ghét Ngũ Tử Tử, cộng thêm sự gièm pha của Bá Phỉ, nên Phù Sai trao cho ông một thanh kiếm, buộc Ngũ Tử Tư tự sát.

Trước khi chết, Ngũ Tử Tư uất hận, nói với sứ giả của Phù Sai: "Hãy móc hai con mắt ta, treo trên cửa đông của nước Ngô để ta xem Câu Tiễn đánh vào như thế nào".

Phù Sai giết Ngũ Tử Tư rồi liền phong Bá Phỉ làm thái tể.

Năm 482 TCN, Ngô vương Phù Sai hẹn với Lỗ Ai Công, Tấn Định Công đến họp ở Hoàng Trì (nay ở tây nam huyện Phong Khâu, tỉnh Hà Nam), đem theo tất cả quân tinh nhuệ, chỉ để lại một số quân già yếu.

Khi Phù Sai dương dương tự đắc từ Hoàng Trì trở về thì Việt vương Câu Tiễn đã đem đại quân sang chiếm đô thành Cô Tô.

Quân Ngô từ xa trở về đều rất mỏi mệt, lại gặp phải quân Việt được huấn luyện lâu ngày, tinh thần hăng hái.

Hai bên giao chiến, quân Ngô đại bại.

Phù Sai không có cách nào khác, phải sai Bá Phỉ sang gặp Câu Tiễn cầu hòa.

Câu Tiễn bàn với Phạm Lãi, quyết định tạm thời chấp nhận giảng hòa, rút quân về nước.

Năm 475 TCN Câu Tiễn chuẩn bị đầy đủ, liền tiến công đại qui mô vào nước Ngô.

Nước Ngô thua trận liên tiếp.

Quân Việt bao vây đô thành nước Ngô suốt hai năm trời.

Phù Sai không còn đường thoát, than thở: "Ta không còn mặt mũi nào gặp lại Ngũ Tử Tư nữa".

Nói xong, lấy tay áo che mặt tự sát.

Việt vương Câu Tiễn diệt xong nước Ngô, ngồi tại triều đình của Phù Sai.

Phạm Lãi, Văn Chủng và các quan lại khác đều tới triều kiến.

Bá Phỉ, thái tể của nước Ngô cũng đứng ở đó để chờ phong thưởng.

Hắn cho rằng mình đã giúp đỡ Câu Tiễn rất nhiều.

Câu Tiễn nói với Bá Phỉ: "Ngươi là đại thần của nước Ngô, ta không dám nhận ngươi làm bày tôi.

Ngươi hãy đi làm bạn với quốc quân của ngươi".

Bá Phỉ nhục nhã lui ra, Câu Tiễn phái người đuổi theo giết chết.

Diệt xong nước Ngô, Câu Tiễn lại dẫn đại quân vượt qua sông Hoài, họp với các nước chư hầu Trung nguyên ở Từ Châu.

Thiên tử nhà Chu cũng phái sứ thần mang thịt tế đến tặng Câu Tiễn.

Từ đó về sau, binh mã nước Việt hoành hành suốt dải Giang-Hoài.

Các nước chư hầu đều thừa nhận Việt là bá chủ.

Câu Tiễn đắc thắng trở về, mở đại hội mừng công, khen thưởng các công thần.

Nhưng thấy thiếu mặt Phạm Lãi.

Truyền thuyết nói, ông mang theo Tây Thi, thay tên đổi họ đi tới nước khác.

Trước khi đi, Phạm Lãi để lại cho Văn Chủng một bức thư, nói: "Chim dữ đã hết thì cung nỏ tốt bị gác bỏ; thỏ đã săn hết, thì chó săn bị làm thịt.

Con người Câu Tiễn chỉ có thể chung hoạn nạn, chứ không thể chung yên vui.

Ông nên bỏ đi mau".

Văn Chủng không nghe.

Một hôm, Câu Tiễn cử người đưa tới một thanh kiếm.

Văn Chủng nhìn xem, thì đúng là thanh kiếm mà Phù Sai đã trao cho Ngũ Tử Tư.

Văn Chủng hối hận đã không tin theo lời của Phạm Lãi, đành phải tự sát.

Ngô-Việt tranh bá đã là một khúc vĩ thanh của thời Xuân thu.

Theo đà phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất và cuộc khởi nghĩa không ngừng của nô lệ, xã hội nô lệ dần dần tan rã.

Đến năm 475 TCN,bắt đầu thời kỳ Chiến quốc, xã hội Trung Quốc cũng bước sang chế độ phong kiến.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
27-28


MẶC TỬ PHÁ THANG DÂY

Vào đầu thời Chiến quốc, vua Sở là Sở Huệ Vương muốn khôi phục lại bá quyền của nước Sở, liền tăng quân, để đi đánh Tống.

Sở Huệ Vương trọng dụng một người thợ giỏi lúc bấy giờ.

Ông ta là người Lỗ tên là Công Thâu Ban, sau này người ta thường gọi là Lỗ Ban.

Công Thâu Ban sử dụng chiếc rìu rất khéo léo, ai mà muốn thi với ông về tài sử dụng rìu thì là người không biết lượng sức, nên gọi là "múa rìu qua cửa Lỗ Ban".

Công Thâu Ban được Sở Huệ Vương mời làm đại phu của nước Sở.

Ông chế tạo cho Sở Huệ Vương một dụng cụ đánh thành, còn cao hơn cả lâu xa, nhìn chót vót như lên tận tầng mấy, nên gọi là thang mây.

Sở Huệ Vương một mặt sai Công Thâu Ban gấp rút chế tạo thang mây, một mặt chuẩn bị đi đánh Tống.

Tin tức về việc nước Sở chế tạo thang mây được đồn đại đi, các nước chư hầu đều lo lắng.

Đặc biệt là Tống, nghe tin Sở sắp đến tiến công, thì cảm thấy tai họa lớn sắp giáng xuống.

Việc Sở muốn tiến đánh Tống, cũng gặp phải sự phản đối của một số người.

Người phản đối mạnh mẽ nhất là Mặc Tử.

Mặc Tử, tên là Địch, là người sáng lập ra học phái Mặc Gia.

Ông phản đối phô trương lãng phí, chủ trương tiết kiệm: ông yêu cầu các môn đồ phải mặc áo ngắn, đi giày cỏ, tham gia lao động, lấy việc chịu khổ làm hành vi cao thượng.

Nếu ai không chịu khổ, coi như đã phản bội lại chủ trương của học phái.

Mặc Tử còn phản đối các cuộc hỗn chiến vì tranh giành chiếm đất khiến dân chúng lầm than.

Lần này nghe tin nước Sở đang chế tạo thang mây chuẩn bị đi đánh Tống.

Ông liền vội vã đi tới Sở.

Đường xá xa xôi vất vả làm bàn chân phồng rộp, ứa máu, ông xé quần áo quấn lại rồi tiếp tục đi.

Đi suốt trong 10 ngày đêm, Mặc Tử tới Ảnh Đô của Sở.

Trước hết ông tìm gặp Công Thâu Ban, khuyên Công Thâu Ban không nên chế tạo thang mây giúp Sở đánh Tống.

Công Thâu Ban nói: "Không được.

Tôi đã nhận lời Sở Vương rồi".

Mặc Tử nhờ Công Thâu Ban dẫn mình tới gặp Sở Huệ Vương, Công Thâu Ban nhận lời.

Trước mặt Sở Huệ Vương, Mặc Tử thiết tha nói: "Nước Sở có đất đai rộng, chu vi năm ngàn dặm, có đủ mọi vật quí.

Nước Tống chỉ có năm trăm dặm, đất đai xấu, sản vật cũng nghèo nàn.

Tại sao Đại vương đã có xe ngựa tốt đẹp, lại còn muốn đi lấy những cổ xe rách của người khác.

Tại sao không dùng áo bào gấm vóc của mình, mà đi lấy quần áo xấu xí rách rưới của người khác"?

Sở Huệ Vương tuy thấy lời của Mặc Tử cũng có lý, nhưng vẫn không chịu từ bỏ ý định đánh Tống.

Công Thâu Ban cũng cho rằng dùng thang mây đánh thành thì nhất định thắng lợi.

Mặc Tử nói dứt khoát: "Ông biết cách đánh thì tôi biết cách giữ.

Ông không làm gì được đâu".

Ông liền cởi thắt lưng da quây dưới đất làm thành, lấy mấy miếng gỗ nhỏ làm dụng cụ đánh thành rồi cùng Công Thâu Ban diễn tập về phương pháp đánh và giữ thành.

Cứ mỗi lần Công Thâu Ban dùng phương pháp này đánh thành, ông lại dùng phương pháp khác để chống lại: một bên dùng thang mây, bên kia dùng tên lửa đốt cháy thang; một bên dùng xe húc cửa thành, bên kia lại lao gỗ đá xuống phá xe; một bên đào đường hầm, bên kia dùng khói phun.

Công Thâu Ban đưa ra chín phương pháp công thành, là hết cách nhưng Mặc Tử vẫn còn những phương pháp giữ thành hiệu nghiệm chưa dùng tới.

Công Thâu Ban ngây người, nhưng vẫn chưa chịu phục, nói: "Tôi đã nghĩ ra biện pháp để đối phó với ông, nhưng hiện nay chưa nói ra".

Mặc Tử mỉm cười nói: "Tôi đã biết là ông định dùng biện pháp gì rồi, nhưng tôi cũng không nói ra".

Sở Huệ Vương nhìn hai người nói như kiểu câu đố, không hiểu ý nghĩa ra sao, liền hỏi Mặc Tử: "Các ông đang nói gì thế?"

Mặc Tử nói: "Ý của Công Thâu Ban rất rõ, chẳng qua là muốn giết tôi đi, cho rằng tôi bị giết thì không còn ai giúp nước Tống giữ thành nữa.

Kỳ thực ông ta đã tính sai.

Trước khi tôi đến Sở, đã phái học trò tôi là bọn Cầm Hoạt Hy 300 người đến giúp nước Tống giữ thành.

Mỗi người trong bọn họ đều đã học được cách giữ thành của tôi.

Dù rằng có giết tôi đi, nước Sở cũng chẳng được lợi gì".

Sở Huệ Vương nghe Mặc Tử nói, lại đã chứng kiến bản lĩnh giữ thành của Mặc Tử, biết rằng không có hi vọng đánh thắng nước Tống, đành phải nói: "Những lời của tiên sinh nói rất đúng.

Ta quyết định không đánh Tống nữa".

Như vậy Mặc Tử đã ngăn chặn được một cuộc chiến tranh.

BA NHÀ PHÂN CHIA NƯỚC TẤN

Qua các cuộc chiến tranh giành bá quyền diễn ra lâu dài trong thời kỳ Xuân thu, rất nhiều nước chư hầu nhỏ bị nước lớn thôn tính, Trong nội bộ nhiều nước cũng sinh ra biến đổi, đại quyền dần dần rơi vào tay mấy quan đại phu. những đại phu đó vốn cũng là quý tộc chủ nô, sau họ dùng phương thức bóc lột phong kiến, chuyển biến thành giai cấp địa chủ.

Có người còn dùng biện pháp giảm nhẹ tô thuế, mua chuộc lòng người để mở rộng thế lực của mình.

Do đó thế lực của họ càng ngày càng lớn.

Nước Tấn một thời là bá chủ Trung nguyên, đến lúc đó quyền lực của quốc quân suy giảm, thực quyền rơi vào tay sáu quan đại phu, mỗi người có vùng đất và lực lượng riêng, thường đánh lẫn nhau.

Về sau, hai nhà bị đánh bại, còn lại bốn nhà là Trí gia, Triệu gia, Hàn gia và Ngụy gia.

Trong 4 họ đó, Trí gia có thế lực nhất.

Đại phu của Trí gia là Trí Bá Dao, muốn xâm chiếm đất đai của ba nhà kia, liền nói với ba đại phu Triệu Tương Tử, Ngụy Hoàn Tử, Hàn Khang Tử: "Nước Tấn vốn là bá chủ Trung nguyên, sau bị Ngô, Việt giành mất ngôi bá chủ.

Để nước Tấn hùng mạnh trở lại, ta chủ trương mỗi nhà bỏ ra 100 dặm đất và số dân ở đó để góp với cho nhà nước".

Ba quan đại phu kia đều biết Trí Bá Dao có ý xấu, muốn dùng danh nghĩa nhà nước để ép họ phải bỏ ruộng đất ra.

Nhưng ba nhà không thống nhất được về biện pháp đối phó.

Hàn Khang Tử là người đầu tiên bỏ ra 100 dặm đất và một vạn hộ khẩu cấp cho Trí gi.

Ngụy Hoàn Tử sợ mang lỗi với Trí Bá Dao, cũng phải cắt nhường đất đai và hộ khẩu.

Trí Bá Dao lại đòi Triệu Tương Tử, Triệu Tương Tử không chịu, nói: "Đất đai là sản nghiệp của tổ tiên để lại, không thể cắt cho ai được".

Trí Bá Dao nổi giận đùng đùng, liền lệnh cho hai họ Hàn , Ngụy cùng góp quân đánh họ Triệu.

Năm 455 TCN, Trí Bá Dao dẫn đạo trung quân, quân Hàn gia đảm nhiệm cánh bên phải, quân Ngụy Gia đảm nhiệm cánh bên trái, cùng tiến đánh Triệu.

Triệu Tương Tử biết rằng ít không địch nổi nhiều, liền dẫn binh mã Triệu gia lưu giữ Tấn Dương (nay là thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây).

Ít ngày sau, Trí Bá Dao dẫn quân đội ba nhà vây chặt Tấn Dương.

Triệu Tương Tử dặn dò tướng sĩ cố thủ, không được giao chiến.

Khi binh mã ba nhà xông tới đánh thành, trên thành bắn tên xuống như mưa khiến họ không tài nào tiến lên được.

Thành Tấn Dương dựa vào cung tên, giữ vững được hơn hai năm, binh mã ba nhà không có cách nào công phá được.

Một hôm, Trí Bá Dao quan sát địa hình bên ngoài thành, thấy dòng sông Tấn Thủy chảy ở phía đông bắc Tấn Dương, bỗng nảy ra một kế: dẫn nước sông Tấn Thủy vòng lại phía tây nam thành để dìm ngập thành Tấn Dương, liền sai quân sĩ đào một con sông đến sát thành và đắp đập ở thượng du để ngăn nước lại.

Lúc đó vừa đúng mùa mưa, đập nước không mấy lúc đã đầy.

Trí Bá Dao hạ lệnh mở đập, cho nước ùa vào thành Tấn Dương, tràn ngập toàn thành.

Nhà cửa trong thành bị nước ngập hết, dân chúng phải trèo cả lên mái nhà.

Bếp núc cũng chìm ngập, dân chúng phải treo nồi lên nấu cơm.

Nhưng dân thành Tấn Dương căm thù Trí Bá Dao, thà chịu chết chìm, nhất định không đầu hàng.

Trí Bá Dao hẹn Ngụy Hoàn Tử và Hàn Khang Tử cùng đi xem thế nước.

Hắn đắc ý chỉ vào thành Tấn Dương nói với hai người: "Các ngài xem, Tấn Dương sắp đi đời rồi.

Trước kia ta cứ nghĩ là Tấn Thủy giống như một bức thành, có thể ngăn được quân đội.

Nay mới biết rằng nước cũng có thể tiêu diệt được một quốc gia".

Hàn Khang Tử và Ngụy Hoàn Tử bên ngoài tỏ vẻ đồng tình, nhưng trong lòng ngầm lo sợ.

Vì đất phong của Ngụy ở An Ấp (nay ở tây bắc huyện Hạ, Sơn Tây), đất phong của Hàn ở Bình Dương (nay ở tây nam huyện Lâm Phần, Sơn Tây) đều có sông chảy bên cạnh.

Lời của Trí Bá Dao đã làm họ tỉnh ngộ.

Tấn Thủy đã có thể làm ngập Tấn Dương, biết đâu một ngày nào đó An Ấp và Bình Dương cũng lâm vào cảnh ngộ như Tấn Dương.

Sau khi Tấn Dương bị ngập, tình hình trong thành mỗi lúc một khó khăn, Triệu Tương Tử vô cùng lo lắng, nói với môn khách là Trương Mạnh Đàm: "Lòng dân tuy không sinh biến nhưng nếu nước dâng lên nữa, thì toàn thành khó mà giữ được".

Trương Mạnh Đàm nói: "Tôi thấy Hàn và Ngụy cũng không tự nguyện cắt đất cho Trí Bá Dao đâu.

Để tôi sẽ tìm cách gặp nói chuyện với họ".

Đêm hôm đó, Triệu Tương Tử cử Trương Mạnh Đàm lẻn ra khỏi thành, trước hết tìm gặp Hàn Khang Tử, sau đó tìm gặp Ngụy Hoàn Tử, hẹn với họ cùng quay lại đánh Trí Bá Dao.

Hàn, Ngụy đang lúc do dự, được Trương Mạnh Đàm bàn bạc, liền lập tức đồng ý.

Đêm hôm sau, đã quá canh ba, Trí Bá Dao đang ngủ trong doanh trại, bỗng thấy tiếng hô giết vang dội, liền vội vàng trở dậy, thấy quần áo chăn chiếu đều ướt hết.

Định thần nhìn kỹ, thì trại quân đã ngập nước.

Ban đầu hắn còn tưởng rằng đập bị vỡ, nước tràn vào doanh trại mình, liền điều binh sĩ đi sửa đập.

Nhưng chỉ trong chốc lát, nước dâng cao nhanh chóng làm ngập hết trai quân.

Trí Bá Dao còn đang hoang mang ngơ ngác thì khắp bốn phía, tiếng trống trận vang lên, quân lính của ba nhà Triệu, Hàn, Ngụy đi thuyền nhỏ và bè mảng, nhất tề xông tới đánh giết.

Quân lính của Trí gia bị chết đuối và giết chết rất nhiều.

Toàn thể quân đội của Trí Bá Dao bị tiêu diệt.

Bản thân hắn cũng bị ba nhà bắt, giết đi.

Triệu, Hàn, Ngụy diệt được Trí gia, không những chỉ thu hồi lại đất phải nộp trước kia, mà còn chia đều đất của Trí gia.

Sau đó, họ còn chia nốt những đất đai còn lại củ nước Tấn.

Năm 403 TCN, ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy phái sứ giả đến Lạc Ấp xin thiên tử nhà Chu là Chu Uy Liệt Vương phong cho họ làm chư hầu.

Chu Uy Liệt Vương thấy nếu phong cho họ cũng chẳng có hại gì, đành chấp nhận việc đã rồi, phong cho ba nước làm chư hầu.

Từ đó về sau, Hàn (đô thành ở huyện Vũ, sau lại dời đến Tân Trịnh, Hà Nam ngày nay).

Ngụy (đô thành ở tây bắc huyện Hạ, Sơn Tây ngày nay, sau lại dời đến Khai Phong, Hà Nam ngày nay).

Triệu (đô thành ở đông nam Thái Nguyên, Sơn Tây ngày nay, sau lại dời đến Hàm Đan, Hà Bắc ngày nay) đều trở thành những nước lớn ở Trung nguyên.

Cộng thêm 4 nước lớn khác là Tần, Tề, Sở, Yên được lịch sử gọi là "Thất hùng đời Chiến quốc".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
29-30


THƯƠNG ƯỞNG SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT

Trong số Thất hùng thời Chiến quốc, so với các nước chư hầu ở Trung nguyên thì nước Tần còn tương đối lạc hậu cả về chính trị, kinh tế, văn hóa.

Nước láng giềng sát cạnh là nước Ngụy mạnh hơn nước Tần, đã chiếm mất của Tần một khoảng đất lớn ở vùng Hà Tây.

Năm 361 TCN, quốc quân mới của Tần là Tần Hiếu Công lên ngôi.

Ông quyết tâm phấn đấu xây dựng đất nước giàu mạnh.

Trước hết chiêu tập nhân tài và hạ lệnh: "Không kể là người nước Tần hay hay người nước ngoài tới, hễ ai nghĩ được biện pháp làm cho nước Tần giàu mạnh lên thì sẽ phong làm quan".

Lời kêu gọi đó của Tần Hiếu Công đã thu hút được nhiều nhân tài.

Một người ở nước Vệ là quí tộc Công Tôn Ưởng (tức Thương Ưởng sau này) không được trọng dụng ở nước Ngụy, liền chạy sang nước Tần, nhờ người tiến cử, được Tần Hiếu Công tiếp kiến.

Thương Ưởng nói vớ Tần Hiểu Công: "Một quốc gia muốn giàu mạnh, cần phải chú ý đến nông nghiệp, khuyến khích tướng sĩ; muốn cai trị đất nước tốt, phải có thưởng có phạt.

Có thưởng có phạt thì triều đình mới có uy tín, mọi cải cách mới tiến hành được".

Tần Hiếu Công hoàn toàn đồng ý với chủ trương của Thương Ưởng.

Nhưng một số quí tộc và đại thần ra sức phản đối.

Tần Hiếu Công thấy những người phản đối quá nhiều, mà mình lại mới lên ngôi, sợ xảy ra rối loạn, liền tạm thời gác việc cải cách lại.

Hai năm sau, Tần Hiếu Công thấy ngôi vị đã vững chắc, liền phong Thương Ưởng làm Tả thứ trưởng (tên một chức quan của nước Tần) và tuyên bố: "Từ ngày hôm nay, sự việc cải cách chế độ hoàn toàn do Tả thứ trưởng làm chủ".

Thương Ưởng khởi thảo một pháp lệnh cải cách, nhưng sợ dân chúng chưa tin mình, không chịu làm theo pháp lệnh mới, liền sai người làm ở cửa thành phía nam một cây gỗ cao ba trượng và hạ lệnh: "Ai mang được cây gỗ này sang cửa bắc, sẽ thưởng cho 10 lạng vàng".

Trong chốc lát, rất đông người tụ tập ở cửa thành phía nam, sôi nổi bàn luận.

Có người nói: "Cây gỗ này thì ai chẳng mang được, cần gì phải dùng đến 10 lạng vàng làm phần thưởng".

Có người nói: "Đây có thể là Tả thứ trưởng bày ra trò đùa thôi".

Mọi người nhìn nhau, không ai chịu ra mang cây gỗ.

Thương Ưởng biết dân chúng chưa tin vào lệnh của mình, liền nâng mức thưởng lên 50 lạng.

Không ngờ tiền thưởng càng lên cao thì số người đến xem càng thấy vô lí, không ai chịu ra thử.

Trong lúc mọi người ồn ào bàn luận thì có một người xông ra nói: "Để tôi thử xem sao".

Anh ta nói xong liền vác cây gỗ một mạch từ cửa nam sang cửa bắc thành.

Thương Ưởng lập tức cho người mang ra 50 lạng vàng tiền thưởng, không thiếu một li.

Câu chuyện đó được lan truyền đi, làm rung động khắp nước Tần.

Dân chúng đều nói: "Mệnh lệnh của Tả thứ trưởng đã nói là làm".

Thương Ưởng thấy mệnh lệnh đã có tác dụng, liền cho công bố pháp lệnh đã dự thảo.

Pháp lệnh mới thưởng, phạt phân minh; quy định chức quan to nhỏ và chức vị cao thấp đều căn cứ vào tiêu chuẩn chiến công về quân sự.

Quí tộc không lập được công cũng không có tước vị, những người sản xuất được nhiều lương thực và vải vóc, đều được miễn sai dịch.

Những người chỉ lo buôn bán và lười biếng mà nghèo túng thì cả gia đình phải xung làm nô tì của quan lại.

Nước Tần từ sau biến pháp của Thương Ưởng, sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, lực lượng quân sự trở nên hùng cường.

Không lâu sau, Tần tiến công Ngụy, từ Hà Tây đánh tới Hà Đông và hạ cả đô thành An Ấp của Ngụy.

Năm 350 TCN Thương Ưởng lại thực hiện cuộc cải cách lần thứ hai, nội dung chủ yếu gồm:

1.

Bỏ phép tỉnh điều, tức là chia mỗi mảnh đất làm chín phần hình chữ tĩnh (#), tám gia đình xunh quanh phải chung sức làm phần đất ở giữa cho nhà nước, phá bỏ các đường ngăn giữa các thửa ruộng để mở rộng diện tích trồng trọt, đồng thời khai khẩn thêm gò đống, dựng cây, đầm, ao.

Ai khai khẩn được thf thuộc quyền sở hữu của mình, ruộng đất có thể mua bán.

2.Xây dựng cấp huyện, gộp thị trấn với làng xóm thành huyện, do nhà nước cử quan lại đến cai trị, như vậy quyền lực của trung ương càng tập trung.

3.Dời đô về Hàm Dương, để tiện phát triển về phía đông nên dời quốc đô từ Ung Thành (nay thuộc huyện Phượng Tường, tỉnh Thiểm Tây) về Hàm Dương ở phía bắc sông Vị (nay ở đông bắc thành phố Hàm Dương, tỉnh Thiểm Tây).

Những cải cách qui mô lớn đó, đương nhiên dẫn tới cuộc đấu thanh gay gắt, rất nhiều quí tộc đại thần phản đối pháp lệnh mới.

Có lần thái tử Tần phạm pháp, Thương Ưởng nói với Tần Hiếu Công: "Pháp lệnh của nhà nước đòi hỏi từ trên xuống dưới phải tuân theo, nếu người trên không tuân thủ thì dân chúng không tín nhiệm triều đình nữa.

Thái tử phạm pháp thì thầy dạy thái tử phải chịu tội".

Kết quả Thương Ưởng trị tội hai thầy dạy của thái tử là Công tử Kiền và Công tử Giả, một người bị cắt mũi, một người bị thích chữ vào mặt.

Vì vậy các quí tộc, đại thần không dám chống lại tân pháp nữa.

Sau 10 năm, quả nhiên nước Tần càng giàu mạnh.

Thiên tử nhà Chu sai sứ giả đến biếu thịt tế và phong làm "phương bá" (tức bá chủ một vùng).

Các chư hầu Trung nguyên cũng tới tấp chúc mừng, nước Ngụy buộc phải cắt nhượng đất Hà Tây và dời đô về Đại Lương (Khai Phong).

TÔN TẪN, BÀNG QUYÊN ĐẤU TRÍ

Ngụy Huệ Vương cũng học theo Tần Hiếu Công, muốn tìm một nhân tài kiểu Thương Ưởng.

Ông ta bỏ ra nhiều tiền bạc để chiêu mộ nhiều hào kiệt trong thiên hạ.

Trong đó có người trong nước tên là Bàng Quyên đến xin gặp, trình bày kế sách làm nước giàu binh mạnh, Ngụy Huệ Vương rất hài lòng, liền phong Bàng Quyên làm đại tướng.

Bàng Quyên đúng là tướng tài, ngày ngày thao luyện binh mã, trước hết đánh mấy nước nhỏ đều giành thắng lợi.

Sau lại đánh bại cả nước Tề, đến lúc đó, Ngụy Huệ Vương càng tín nhiệm Bàng Quyên.

Bàng Quyên tự cho mình là người tài giỏi, nhưng ông biết rằng bạn học của mình là Tôn Tẫn, người nước Tề còn giỏi hơn mình.

Theo truyền thuyết thì Tôn Tẫn là dòng dõi của Tôn Vũ nước Ngô khi trước, chỉ riêng Tẫn nắm được "binh pháp Tôn Tử" do tổ tiên truyền lại.

Ngụy Huệ Vương cũng nghe danh tiếng của Tôn Tẫn, nên có lần nói với Bàng Quyên về Tôn Tẫn.

Bàng Quyên cử người mời Tôn Tẫn tới cộng sự với mình, cùng phục vụ nước Ngụy.

Ngờ đâu Bàng Quyên nuôi ý xấu, ngầm gièm pha với Ngụy Huệ Vương là Tôn Tẫn tư thông với Tề.

Ngụy Huệ Vương nổi giận, liền đưa Tôn Tẫn ra xử tội, thích chữ vào mặt và tháo xương bánh chè của Tôn Tẫn.

May nhờ có một sứ thần nước Tề sang thăm Ngụy, ngầm cứu được Tôn Tẫn, đem về nước Tề.

Đại tướng nước Tề là Điền Kỵ nghe nói Tôn Tẫn là một tướng tài, liền tiến cử với Tề Uy Vương.

Tề Uy Vương cũng đang cải cách để làm cho đất nước giàu mạnh.

Sau khi đàm luận về binh pháp với Tôn Tẫn, cảm thấy rất hứng thú, lấy làm tiếc là không được gặp ông sớm hơn.

Năm 354 TCN Ngụy Huệ Vương phái Bàng Quyên tiến đánh nước Triệu, bao vây quốc đô Hàm Đan của Triệu.

Năm sau, Triệu cầu cứu với Tề, Tề Uy Vương muốn phong Tôn Tẫn làm đại tướng để đem quân cứu Triệu, Tôn Tẫn từ chối: "Tôi là một người đã bị tàn phế vì hình phạt, nếu làm đại tướng chỉ khiến người ta chê cười.

Xin Đại vương cử Điền đại phu (tức Điền Kỵ) làm đại tướng".

Tề Uy Vương liền cử Điền Kỵ làm đại tướng, Tôn Tẫn làm quân sư, mang quân đi cứu Triệu.

Tôn Tẫn ngồi trong một cỗ xe được che kín để bày mưu giúp Điền Kỵ.

Tôn Tẫn nói với Điền Kỵ: "Hiện nay Ngụy đã mang hết quân tinh nhuệ đi đánh Triệu, trong nước chỉ còn lại binh lính già yếu, hết sức trống rỗng.

Tốt nhất là ta đem quân đánh vào đô thành Đại Lương của Ngụy, Bàng Quyên nghe tin, nhất định sẽ bỏ Hàm Đan để về cứu viện.

Ta sẽ chờ ở giữa đường đánh một trận thì nhất định sẽ giành thắng lợi."

Điền Kỵ làm theo kế đó.

Quân của Bàng Quyên vừa hạ được Hàm Đan, bỗng nghe tin Tề đánh Đại Lương, liền vội vã đem quân về.

Vừa đến Quê Lăng (nay ở tây bắc Trường Đản, Hà Nam) thì gặp quân Tề.

Hai bên giao chiến, Bàng Quyên đại bại.

Quân Tề đắc thắng kéo về, thành Hàm Đan được cứu thoát.

Lịch sử gọi mưu mẹo đó của Tôn Tẫn là "vây Ngụy cứu Triệu".

Năm 341 TCN, nước Ngụy lại phái quân đánh nước Hàn, Hàn lại cầu cứu Tề.

Lúc đó, Tề Uy Vương đã chết, con là Tề Tuyên Vương phái Điền Kỵ, Tôn Tẫn đem quân cứu Hàn.

Tôn Tẫn lại dùng phương pháp cũ, không đi cứu Hàn, mà trực tiếp đánh vào nước Ngụy.

Bàng Quyên được tin cáo cấp từ trong nước, đành phải rút quân về, lúc đó quân Tề đã vào đến đất Ngụy.

Nước Ngụy dùng một số lớn quân, do thái tử Thân chỉ huy, chống lại quân Tề.

Lúc đó, quân Tề bắt đầu rút lui.

Bàng Quyên quan sát khu vực doanh trại của quân Tề, thấy rất rộng lớn.

Ông sai đếm số bếp của quân Tề, thấy có tới 10 vạn cái thì rất hoảng sợ.

Hôm sau, Bàng Quyên đuổi theo tới vị trí đóng quân thứ hai của quân Tề, sai đếm số bếp thì chỉ còn 5 vạn cái.

Ngày thứ ba, Bàng Quyên lại đuổi tới vị trí doanh trại vừa rút bỏ của quân Tề, đếm số bếp thì chỉ thấy còn lại hơn hai vạn cái.

Bàng Quyên yên tâm, cười nói: "Ta đã biết quân Tề đều là kẻ nhát gan, mang 10 vạn quân sang Ngụy, mới có ba ngày đã trốn chạy mất hai phần ba".

Ông thúc giục quân Ngụy đuổi theo quân Tề suốt ngày đêm.

Đuổi tới Mã Lăng (nay ở đông nam huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc) thì trời vừa tối.

Đường xá ở Mã Lăng rất chật hẹp, bên đường đều là chướng ngại vật.

Bàng Quyên nôn nóng muốn đuổi kịp ngay quân Tề, liền thúc giục quân Ngụy đi gấp trong đêm.

Bỗng quân lính phía trên báo về: "Đường xá đều bị cây cối ngăn chặn cả".

Bàng Quyên lên xem, quả thấy cây cối đều bị chặt ngả, chỉ còn lại một cây lớn không bị chặt.

Xem xét kĩ thấy vỏ cây đã bị lột bỏ, bên trong lờ mờ thấy một hàng chữ, vì trời tối không đọc rõ.

Bàng Quyên bảo binh lính đốt đuốc lên soi, thì thấy hàng chữ đó là: Bàng Quyên sẽ chết dưới gốc cây này.

Bàng Quyên hoảng sợ, liền ra lệnh lui quân.

Nhưng đã muộn.

Xung quanh tên bắn tới như mưa.

Quân Ngụy chết ngổn ngang.

Bốn phía bỗng vang lên tiếng hô giết, quân Tề ào ạt xông tới.

Thì ra Tôn Tẫn lập mưu, cố ý mỗi ngày giảm số bếp nấu cơm để đánh lừa khiến Bàng Quyên tưởng nhầm rằng quân Tề ngày càng giảm, chủ quan dẫn quân đuổi theo.

Tôn Tẫn tính toán biết vào thời gian đó, Bàng Quyên sẽ đến Mã Lăng nên mai phục sẵn quân cung nỏ, dặn dò quân sĩ khi thấy có ánh lửa thì cùng bắn xuống.

Bàng Quyên hết đường chạy, đành rút kiếm tự sát.

Quân Tề thừa thắng đánh tan quân Ngụy, bắt thái tử Thân của Ngụy làm tù binh.

Từ đó về sau, tiếng tăm của Tôn Tẫn truyền ra khắp các nước chư hầu.

Tác phẩm "binh pháp Tôn Tẫn" do ông viết ra còn lưu truyền tới ngày nay.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
31-32


TRƯƠNG NGHI PHÁ TAN KẾ HỢP TUNG

Từ khi Tôn Tẫn đánh bại quân Ngụy, nước Ngụy thất thế, nước Tần càng ngày càng lớn mạnh.

Sau khi Tần Hiếu Công mất, con là Tần Huệ Văn Vương nắm quyền, không ngừng mở rộng thế lực khiến sáu nước khác lo sợ, làm thế nào để đối phó với nước Tần đây?

Có một số chính khách đề xuất chủ trương cho sáu nước, khuyến khích họ kết thành liên minh, liên hợp lại để chống Tần, chủ trương đó được gọi là "hợp tung".

Lại có một số chính khách giúp Tần đi du thuyết các nước, yêu cầu họ dựa vào Tần để chống lại các nước khác, chủ trương này gọi là "liên hoàn".

Kì thực mọi chính khách đều không có chủ trương cố định, chẳng qua họ chỉ dựa vào tài ăn nói để kiếm công danh tước lộc.

Bất kể là nước nào, bất kể là chủ trương gì, miễn là họ được làm quan là được.

Trong những chính khách đó, nổi tiếng nhất là Trương Nghi.

Trương Nghi là người nước Ngụy, nghèo khổ, cùng quẫn, phải bỏ sang nước Sở.

Xin gặp vua Sở không tiếp.

Lệnh Doãn nước Sở giữ ông trong nhà làm môn khách.

Có lần, gia đình Lệnh Doãn mất một viên ngọc quí.

Lệnh Doãn thấy Trương Nghi nghèo khổ, nghi ông ăn trộm ngọc, liền bắt lại đánh một trận nhừ tử.

Trương Nghi lê lết về nhà, người vợ thấy chồng khắp người thương tích, liền xót xa nói: "Nếu chàng không đọc sách, không đi ra ngoài cầu một chức quan, thì làm sao gặp phải nỗi oan khuất thế này".

Trương Nghi há miệng hỏi vợ: "Nhìn xem lưỡi ta còn không?"

Người vợ nói: "Lưỡi tất nhiên là còn"

Trương Nghi nói: "Miễn là còn lưỡi, thì không lo không có lúc làm nên".

Sau Trương Nghi sang nước Tần, dựa vào tài ăn nói, quả nhiên giành được lòng tin của Tần Huệ Văn Vương, làm tướng quốc của nước Tần.

Lúc đó, sáu nước đang tổ chức hợp tung.

Năm 318 TCN, năm nước Sở, Ngụy, Triệu, Hàn, Yên tổ chức một đội liên quân, đánh vào Hàn Cốc quan của Tần.

Kì thực, nội bộ 5 nước cũng có mâu thuẫn, không thật đồng tâm hiệp lực, bị quân Tần phản kích, liên quân 5 nước không chống nổi, bị thất bại.

Trong 6 nước, hai nước Tề, Sở là lớn nhất.

Trương Nghi cho rằng, muốn thực hiện liên hoành thì không thể không ly gián Tề với Sở để phá liên minh hợp tung.

Ông hiến kế cho Tần Huệ Văn Vương, xin tự đi sang nước Sở.

Trương Nghi đến Sở, trước hết đem nhiều lễ vật quí đến gặp sủng thần của Sở Hoài Vương là Cận Thượng, xin cho gặp Sở Hoài Vương.

Sở Hoài Vương nghe tiếng Trương Nghi đã lâu, tiếp đãi rất chu đáo và muốn nghe ý kiến của Trương Nghi.

Trương Nghi nói: "Tần vương đặc biệt cử tôi đến để giao hảo với quí quốc, mong quí quốc đoạn giao với Tề, thì Tần không những sẽ vĩnh viễn hòa hảo với quí quốc, mà còn tình nguyện đem 600 dặm đất ở Thương Vu (nay ở tây nam huyện Tích Xuyên, Hà Nam) hiến cho quí quốc.

Như vậy vừa làm yếu thế lực của Tề, lại làm cho nước Tần tin cậy, chẳng phải là nhất cử lưỡng tiện hay sao?".

Sở Hoài Vương vốn là người hồ đồ, nghe lời ngon ngọt của Trương Nghi thì rất phấn khởi, liền nói: "Nếu nước Tần làm đúng như thế thì ta tiếc gì mà không chia tay với nước Tề".

Các đại thần nước Sở nghe nói có chuyện lợi như thế, đều chúc mừng Sở Hoài Vương.

Chỉ có Trần Chẩn nêu ra ý kiến phản đối với Sở Hoài Vương: "Tại sao nước Tần lại phải đem 600 dặm đất Thương Vu hiến cho đại vương?

Chẳng phải là vì đại vương đã ký minh ước với Tề sao?

Nước Sở có Tề làm đồng minh thì Tần mới không dám xâm phạm nước chúng ta.

Nếu đại vương tuyệt giao với Tề, thì Tần nhất định sẽ ức hiếp chúng ta.

Nếu nước Tần thực lòng cắt đất Thương Vu cho ta, thì đại vương cho người đi nhận đất đã rồi hãy tuyệt giao với Tề cũng không muộn".

Sở Hoài Vương tin lời Trương Nghi, nên cự tuyệt lời can ngăn của Trần Chẩn, một mặt tuyệt giao với Tề, một mặt cử người sang Tần nhận đất.

Tề Tuyên Vương được tin Sở tuyệt giao, liền phái sứ thần sang Tần, hẹn cùng nhau đánh Sở.

Sứ giả nước Sở đến Hàm Dương để nhận đất Thương Vu, không ngờ Trương Nghi trở mặt nói: "Làm gì có chuyện đó, chắc đại vương của ngài nghe lầm rồi, tôi nói là 6 dặm chứ đâu phải là 600 dặm, và là đất phong của riêng tôi, chứ không phải là đất nước Tần".

Sứ giả về tâu lại, Sở Hoài Vương nổi giận, liền cử 10 vạn quân sang đánh Tần.

Tần Huệ Văn Vương cũng cử 10 vạn quân nghinh chiến, đồng thời còn hẹn Tề cùng góp sức.

Nước Sở đại bại, 10 vạn quân chỉ còn sống sót có 3 vạn, không những đã không được 600 dặm đất của Tần, mà lại bị Tần chiếm mất 600 dặm đất ở Hán Trung.

Sở Hoài Vương chỉ có cách nhịn nhục cầu hòa với Tần.

Từ đó, nước Sở suy yếu đi nhiều.

Trương Nghi dùng thủ đoạn lừa bịp để thu phục nước Sở, sau đó lại lần lượt sang các nước Tề, Triệu, Yên, thuyết phục các nước "liên hoành" với Tần.

Như vậy, liên minh "hợp tung" bị Trương Nghi phá vỡ hoàn toàn.

TRIỆU VŨ LINH VƯƠNG HỌC THEO NGƯỜI HỒ

Trong lúc nước Sở bị Tần ức hiếp, thì nước Triệu ở phương bắc lại đang mưu tìm kế hoạch phát triển.

Quốc quân nước Triệu là Vũ Linh Vương có tầm nhìn xa và lòng dũng cảm, tìm mọi biện pháp để cải cách về mọi mặt.

Một hôm, Triệu Vũ Linh Vương nói với cận thần là Lâu Hoãn: "Phía đông nước ta có nước Tề và nước Trung Sơn; phía bắc có nước Yên và nước Đông Hồ; phía tây có nước Tần, nước Hàn và Lâu Phiền (tên một bộ lạc thời cổ).

Nếu chúng ta không phát triển lớn mạnh thì bất cứ lúc nào cũng có thể bị người ta diệt.

Muốn phát triển lớn mạnh thì phải cải cách.

Ta thấy y phục của chúng ta gồm áo dài, áo ngắn, lao động và đánh trận đều không tiện lợi.

Không bằng người Hồ (gọi chung các dân tộc thiểu số miền bắc) mặc áo ngắn, ống tay hẹp, chân đi giày da rất linh hoạt.

Ta dự định cải cách y phục của chúng ta, các ngươi thấy thế nào?".

Lâu Hoãn rất tán thành nói: "Chúng ta học theo cách ăn mặc của người Hồ, cũng nên học cách đánh trận của họ nữa".

Triệu Vũ Linh Vương nói: "Rất đúng!

Chúng ta đánh trận hoàn toàn dựa vào bộ binh, hoặc dùng ngựa kéo xe, nhưng không biết cưỡi ngựa chiến đấu.

Ta chủ trương học theo cách ăn mặc của họ, chính là để học cách họ cưỡi ngựa bắn cung".

Tin tức đó được truyền ra, có rất nhiều đại thần phản đối.

Triệu Vũ Linh Vương lại bàn với một đại thần khác là Phì Nghĩa: "Ta muốn dùng cách ăn mặc, cưỡi ngựa bắn cung của người Hồ để cải cách phong tục của chúng ta, nhưng có rất nhiều người phản đối.

Vậy phải làm thế nào?"

Phì Nghĩa nói: "Muốn làm việc lớn thì không thể do dự.

Do dự thì không thể làm được việc lớn.

Đại vương đã cho rằng làm như vậy là có lợi cho đất nước, thì sợ gì mọi người phản đối".

Triệu Vũ Linh Vương rất mừng nói: "Ta thấy những kẻ chế giễu ta là bọn hủ lậu.

Những người sáng suốt đều tán thành ta cả".

Hôm sau lâm triều, Triệu Vũ Linh Vương mặc quần áo người Hồ đi ra.

Các vị đại thần thấy ông mặc áo ngắn, ống tay hẹp, đều giật mình ngạc nhiên.

Triệu Vũ Linh Vương nói tới việc cải cách y phục, nhưng các đại thần đều cho đó là việc mất thể diện, không muốn làm theo.

Triệu Vũ Linh Vương có một người chú là Công Tử Thành, một người rất có uy tín ở nước Triệu, nhưng tư tưởng rất bảo thủ.

Ông nghe nói Triệu Vũ Linh Vương toan cải cách y phục, liền cáo ốm không vào chầu.

Triệu Vũ Linh Vương quyết tâm không thể không thực hành cải cách, ông biết rằng muốn thực hiện thì phải làm cho tư tưởng ông chú thông suốt, liền tự đến nhà Công Tử Thành, nói đi nói lại về cái lợi của việc cải cách y phục và phương pháp đánh trận.

Cuối cùng Công Tử Thành bị thuyết phục.

Triệu Vũ Linh Vương liền ban tặng cho ông ta một bộ quần áo người Hồ.

Các đại thần nhìn thấy Công Tử Thành cũng mặc quần áo người Hồ, thì không thể nói sao được nữa, đành phải làm theo.

Triệu Vũ Linh Vương thấy điều kiện đã chín muồi, liền hạ lệnh cải cách y phục trong cả nước.

Trong thời gian không lâu, người nước Triệu không kể là giàu nghèo sang hèn, đều nhất loạt mang y phục Hồ.

Có người lúc đầu cảm thấy chưa quen, sau dần dần thấy rõ quần áo Hồ rất tiện lợi.

Sau đó Triệu Vũ Linh Vương lại hạ lệnh cho quân dân học tập cách cưỡi ngựa bắn cung.

Năm 305 TCN, Triệu Vũ Linh Vương thân dẫn kỵ binh Triệu, đánh bại nước Trung Sơn láng giềng, lại thu phục được Đông Hồ và mấy bộ lạc lân cận.

Năm thứ 7 sau khi cải cách, Trung Sơn, Lâm Hồ, Lân Phiền đều bị thu phục, đất đai mở rộng nhiều, Triệu Vũ Linh Vương liền chuẩn bị đọ sức với Tần.

Triệu Vũ Linh Vương thường xuyên dẫn quân chinh chiến ở bên ngoài, trao việc trong nước cho con quản lý.

Năm 299 TCN, ông chính thức truyền ngôi cho con là Triệu Huệ Văn Vương.

Vũ Linh Vương tự đổi gọi là Chủ Phụ (tức là cha của nhà vua).

Để đánh bại nước Tần, sau khi thu xếp việc trong nước, Triệu Vũ Linh Vương quyết tâm tự mình đi sang nước Tần để khảo sát địa hình và xem xét tư cách của Tần Chiêu Tương Vương.

Ông giả trang thành một sứ thần của nước Triệu, đem theo mấy thủ hạ, lên đường sang Tần.

Đến Hàm Dương, Triệu Chủ Phụ lấy tư cách sứ thần bái kiến Tần Chiêu Tương Vương và nói về việc Triệu Vũ Linh Vương đã truyền ngôi cho con.

Tần Chiêu Tương Vương sau khi tiếp kiến "sứ thần", cảm thấy viên sứ thần này có cử chỉ đoan trang, uy nghiêm không giống với người bình thường, trong lòng lấy làm nghi hoặc.

Mấy hôm sau, Tần Chiêu Tương Vương cử người đến mời thì "sứ thần" đó đã đi mà không từ biệt.

Trong nhà khách chỉ còn một viên quan của nước Triệu.

Tần Chiêu Tương Vương gọi đến hỏi, mới biết "sứ thần" hôm trước là Triệu Chủ Phụ nổi tiếng.

Tần Chiêu Vương giật mình, vội sai đại tướng Bạch Khởi dẫn tinh binh đuổi theo suốt ngày đêm.

Truy binh đến Hàm Cốc quan thì Triệu Chủ Phụ đã đi khỏi từ ba ngày trước đó.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
33-34


CÁC MÔN KHÁCH CỦA MẠNH THƯỜNG QUÂN

Để phá vỡ liên minh Tề-Sở, Tần Chiêu Tương Vương dùng hai thủ đoạn: đối với nước Sở thì cứng, đối với nước Tề thì mềm.

Ông ta nghe nói đại thần có thế lực nhất của Tề là Mạnh Thường Quân, liền mời Mạnh Thường Quân sang Hàm Dương, nói là muốn cử ông làm thừa tướng.

Mạnh Thường Quân là quí tộc nước Tề, tên là Điền Văn.

Để củng cố địa vị của mình, ông chiêu tập rất nhiều khách, phàm ai đến với ông, cũng đều được giữ lại, cung phụng ăn uống.

Loại người này được gọi là môn khách hay thực khách.

Theo nói lại, trong nhà Mạnh Thường Quân thường có ba ngàn thực khách, trong đó rất nhiều người thực ra không có tài năng gì, chỉ nhằm kiếm ăn mà thôi.

Khi Mạnh Thường Quân sang Hàm Dương, mang theo rất nhiều môn khách.

Tần Chiêu Tương Vương thân hành tiếp đãi họ.

Mạnh Thường Quân biếu Tần Chiêu Tương Vương một chiếc áo lông chồn toàn màu trắng làm lễ ra mắt.

Tần Chiêu Tương Vương biết đó là loại da chồn bạc rất quí, liền vui mừng tiếp nhận và cất vào kho riêng.

Tần Chiêu Tương Vương vốn định mời Mạnh Thường Quân làm thừa tướng, nhưng có người nói với ông: "Điền Văn là quí tộc nước Tề, có rất nhiều tay chân.

Nếu ông ta làm thừa tướng thì nhất định sẽ tính toán những việc có lợi cho nước Tề, sẽ trở thành mối nguy cho nước Tần ta".

Tần Chiêu Tương Vương nói: "Nếu thế thì để cho ông ta về thôi"

Họ nói: "Ông ta ở đây đã lâu, biết hầu hết mọi việc của nước Tần, sao có thể dễ dàng để ông ta ra về được"

Tần Chiêu Tương Vương liền giam lỏng Mạnh Thường Quân lại.

Mạnh Thường Quân rất lo lắng, dò biết Tần Chiêu Tương Vương có một quí phi rất được yêu mến, liền nhờ người cầu cứu bà ta.

Quí phi đó sai người nói lại: "Nhờ ta nói giùm với đại vương thì không khó, nhưng ta thích có một áo bằng lông chồn bạc"

Mạnh Thường Quân bàn với các môn khách: "Ta chỉ có một cái áo, đã biếu vua Tần rồi, làm thế nào đòi lại được?"

Một môn khách nói: "Tôi có cách để lấy lại chiếc áo đó"

Ngay đêm hôm đó, môn khách này mò vào vương cung, ăn trộm được cái áo đó ra.

Mạnh Thường Quân đem áo lông chồn bạc biếu cho quí phi.

Nhận được áo , quí phi đó liền khuyên vua Tần tha Mạnh Thường Quân về nước.

Tần Chiêu Tương Vương đồng ý, cấp cho giấy tờ thông hành để Mạnh Thường Quân về.

Mạnh Thường Quân nhận được giấy tờ, liền vội vã đi ra Hàm Cốc quan.

Ông sợ Tần Vương đổi ý, liền thay đổi tên họ và chữa giấy thông hành.

Đến cửa quan vừa đúng nửa đêm.

Theo qui định của nước Tần, mỗi buổi sớm, chỉ đến khi gà gáy thì mới được mở cửa quan cho người qua lại.

Mọi người đang sốt ruột chờ trời sáng thì một môn khách giả làm tiếng gà gáy liên tiếp.

Toàn bộ gà vùng xung quanh đều theo đó gáy ran.

Người canh giữ nghe tiếng gà gáy, liền mở cửa quan, xét giấy tờ rồi cho bọn Mạnh Thường Quân đi.

Tần Chiêu Tương Vương quả nhiên hối lại, phái người đuổi theo, đến Hàm Cốc quan thì Mạnh Thường Quân đã đi xa rồi.

Mạnh Thường Quân về đến nước Tề, được làm tướng quốc.

Thực khách của ông ngày càng nhiều.

Ông chia môn khách làm mấy bậc: loại thứ nhất đi đâu cũng có xe ngựa, loại thứ hai ăn cơm có thịt cá, còn loại thứ ba chỉ có gạo thô và rau dưa mà thôi.

Có một ông già là Phùng Huyến, nhà nghèo không có gì ăn, liền đến nhà Mạnh Thường Quân làm thực khách.

Mạnh Thường Quân hỏi người quản gia: "Người đó có tài năng gì?"

Quản gia trả lời: "Ông ta nói ông ta không có tài gì cả"

Mạnh Thường Quân cười nói: "Thôi cứ cho ông ta ở lại".

Quản gia hiểu ý Mạnh Thường Quân, liên đối đãi với Phùng Huyến như loại thực khách thứ ba.

Mấy ngày sau, Phùng Huyến đứng dựa cột, gõ kiếm hát: "Thanh kiếm ơi, ta về đi thôi.

Ở đây ăn cơm không có cá".

Quản gia báo với Mạnh Thường Quân, ông nói: "Cho ông ta ăn thịt cá, đối đãi như loại thực khách thứ hai".

Năm ngày sau, Phùng Huyến lại gõ kiếm hát: "Kiếm ơi, ta đi về thôi.

Ở đây đi đâu không có xe ngựa".

Mạnh Thường Quân thấy vậy, bảo với quản gia: "Chuẩn bị xe ngựa cho ông ta, đối đãi như loại khách thứ nhất"

Năm ngày sau nữa, Mạnh Thường Quân hỏi quản gia: "Phùng tiên sinh còn có ý kiến gì không?".

Quản gia trả lời: "Ông ấy lại hát, là không có tiền nuôi gia đình".

Mạnh Thường Quân hỏi han, biết Phùng Huyến có một bà vợ già, liền cử người mang cái ăn cái mặc đến cho bà ta.

Từ đó, Phùng Huyến không hát gì nữa.

Mạnh Thường Quân nuôi nhiều môn khách như thế, những việc ăn, ở, đi lại nếu chỉ dựa vào bổng lộc của ông thì không đủ.

Ông liền nghĩ tới món lợi tức mà ông cho dân chúng ở đất Tiết (nay ở đông nam huyện Đằng, Sơn Đông) vay, muốn dùng số lợi tức đó để bù đắp vào số chi tiêu lớn trong gia đình.

Có một lần, ông cử Phùng Huyến đến đất Tiết để thu nợ.

Trước khi lên đường, Phùng Huyến hỏi: "Khi về cần mua theo những gì?"

Mạnh Thường Quân nói: "Ông xem đấy, thấy nhà thiếu cái gì thì mua cái đó".

Phùng Huyến đến đất Tiết, gọi những người thiếu nợ lại, bảo họ đưa giấy nợ ra đối chiếu.

Dân chúng đang lo lắng không biết lấy gì để trả nợ.

Trước mặt mọi người, Phùng Huyến giả truyền đạt quyết định của Mạnh Thường Quân: ai không trả được nợ, thì đều miễn cho hết.

Mọi người còn bán tín bán nghi thì Phùng Huyến châm một mồi lửa, đốt hết văn tự nợ.

Phùng Huyến trở về Lâm Tri, nói hết mọi chuyện cho Mạnh Thường Quân nghe, Mạnh Thường Quân cả giận nói: "Ông đốt hết văn tự nợ, thì 3000 người ở đây ăn bằng gì?"

Phùng Huyến ung dung nói: "Trước khi tôi đi, ngài chẳng đã nói rằng, ở nhà thiếu cái gì mua cái đó sao?

Tôi thấy ở đây không thiếu thứ gì chỉ thiếu tình nghĩa của dân chúng, cho nên tôi đã mua "tình nghĩa" đem về".

Mạnh Thường Quân bực bội nói: "Thôi, cho qua"

Sau này, tiếng tăm của Mạnh Thường Quân ngày càng vang dội.

Tần Chiêu Tương Vương nghe tin nước Tề trọng dụng Mạnh Thường Quân thì rất lo ngại, liền ngầm sai người sang nước Tề phao tin đồn, nói Mạnh Thường Quân mua chuộc lòng người để nhằm đoạt ngôi vua.

Tề Dẫn Vương tin theo những lời đồn đại đó, thấy Mạnh Thường Quân thanh thế quá lớn, uy hiếp địa vị của mình, liền quyết định thu hồi tướng ấn của Mạnh Thường Quân.

Mạnh Thường Quân bị cách chức, đành phải trở về đất phong của mình là đất Tiết.

Lúc đó hơn 3000 môn khách phần nhiều bỏ đi, chỉ còn Phùng Huyến và một số ít người đi theo, đánh xe đưa ông đến đất Tiết.

Khi xe còn cách đất Tiết hàng trăm dặm, đã thấy dân chúng đất Tiết, già trẻ dắt díu nhau ra đón.

Trước tình hình đó, Mạnh Thường Quân rất xúc động nói với Phùng Huyến: "Tình nghĩa trước kia ông mua cho tôi, bây giờ tôi mới thấy".

YÊN CHIÊU VƯƠNG CẦU HIỀN

Sau khi Mạnh Thường Quân bị cách chức tướng quốc, Tề Dẫn Vương lại liên kết Sở, Ngụy diệt được Tống, càng trở nên kiêu ngạo.

Ông nuôi tham vọng thôn tính các nước để làm thiên tử, do đó bị các nước chư hầu đều căm ghét, đặc biệt là nước Yên ở phía bắc, do bị chèn ép nhiều, luôn tìm cơ hội báo thù.

Nước Yên vốn cũng là một nước lớn.

Sau truyền tới Yên Vương Khoái, nghe lời xúi giục của kẻ xấu, muốn học theo phương pháp nhường ngôi của Nghiêu-Thuấn, truyền ngôi lại cho tướng quốc Tử Chi.

Các tướng nước Yên và thái tử Bình tiến đánh Tử Chi, nước Yên xảy ra loạn to.

Nước Tề mượn danh nghĩa dẹp loạn hộ nước Yên, đem quân đánh vào, khiến Yên suýt mất nước.

Sau quân dân nước Yên lập thái tử Bình lên ngôi vua, ra sức chống lại, đuổi được quân Tề ra khỏi nước Yên.

Thái tử Bình lên ngôi, tức là Yên Chiêu Vương, nuôi hoài bão làm cho nước Yên hùng mạnh trở lại, quyết tâm chọn lựa nhân tài trị nước, nhưng vẫn chưa chọn được người thích hợp.

Có người nhắc ông là lão thần Quách Nguy rất có kiến thức, nên tìm đến vấn kế.

Yên Chiêu Vương thân tìm tới thăm Quách Nguy và nói: "Nước Tề nhân lúc ta có nội loạn, đem quân xâm lược.

Ta không thể quên mối nhục đó.

Nhưng hiện nay thế nước Yên nhỏ yếu, chưa thể báo được mối thù đó.

Nếu có người hiền tài giúp ta báo thù rửa nhục thì ta xin hết lòng nghe theo.

Tiên sinh có thể tiến cử cho một người như thế không?".

Quách Nguy vuốt râu suy nghĩ một lát rồi nói: "Muốn tiến cử một nhân tài có sẵn, e rằng thần cũng không nói được, chỉ xin kể chúa công nghe một câu chuyện".

Rồi ông kể: thời cổ có một nhà vua rất thích thiên lý mã.

Có một thị thần thăm dò thấy ở nơi xa có một con thiên lý mã rất quí, liền nói với nhà vua, nếu đưa cho anh ta 1000 lạng vàng thì nhất định sẽ đi mua được con thiên lý mã đó.

Nhà vua cả mừng, trao cho viên thị thần 1000 lạng vàng để đi mua.

Không ngờ người đó tới nơi, thì thiên lý mã đã ốm chết.

Viên thị thần nghĩ, nếu về tay không thì sẽ khó ăn nói, liền lấy ra một nửa số tiền mang theo, mua bộ xương con ngựa đó mang về.

Thị thần dâng bộ xương ngựa lên cho nhà vua.

Nhà vua nổi trận lôi đình nói: "Ta sai ngươi đi mua ngựa sống, ai bảo ngươi bỏ tiền ra đi mua xương ngựa về làm gì?".

Viên thị thần bình tĩnh trình bày: "Mọi người biết tin nhà vua bỏ nhiều tiền ra mua ngựa chết, thì sao lại không mang ngựa sống tới cho nhà vua?".

Ông vua nửa tin nửa ngờ nhưng không trách mắng gì viên thị thần nữa.

Chuyện đó truyền đi, mọi người đều cho rằng nhà vua đó thực sự yêu quí thiên lý mã.

Không tới một năm sau, quả nhiên khắp nơi mang tới khá nhiều thiên lý mã.

Kể xong, Quách Nguy nói: "Đại vương nếu thực sự muốn tìm kiếm người hiền tài, thì cứ thử làm như cách mua xương ngựa xem sao".

Nghe xong, Yên Chiêu Vương thấy sáng tỏ ra rất nhiều.

Sau khi ra về, lập tức ông sai người làm ra một ngôi nhà thật lộng lẫy cho Quách Nguy, còn tôn Quách Nguy làm thầy.

Nhân tài các nước nghe tin Yên Chiêu Vương thực lòng mến mộ người tài, đều tấp nập đến xin gặp.

Trong số đó, nổi tiếng nhất là Nhạc Nghị người nước Tề.

Yên Chiêu Vương phong cho Nhạc Nghị làm á khanh, mời ông chỉnh đốn quốc chính, thao luyện binh mã.

Quả nhiên nước Yên ngày càng hùng mạnh.

Lúc đó Yên Chiêu Vương thấy Tề Dẫn Vương kiêu ngạo, ngang ngược, không được lòng người, liền nói với Nhạc Nghị: "Hiện nay vua Tề vô đạo, chính là lúc ta báo thù rửa hận.

Ta dự định đem toàn bộ quân dân nước Yên sang đánh Tề.

Khanh thấy thế nào?"

Nhạc Nghị nói: "Nước Tề đất rộng người đông, chỉ dựa vào sức của riêng nước Yên ta, sợ rằng chưa đủ.

Đại vương muốn đánh Tề, nhất định phải liên hợp với các nước khác".

Yên Chiêu Vương liền cử Nhạc Nghị sang nước Triệu, liên lạc với Triệu Huệ Văn Vương, phái người sang Hàn, Ngụy điều đình phối hợp, lại nhờ nước Triệu sang liên lạc với Tần.

Những nước này đều không ưa thái độ bá chủ của Tề, đều đồng ý cùng góp quân với Yên.

Năm 284 TCN, Yên Chiêu Vương phong Nhạc Nghị làm thượng tướng quân, thống soái binh mã 5 nước, rầm rộ kéo quân sang đánh Tề.

Tề Dẫn Vương nghe tin liên quân 5 nước kéo sang, rất lo sợ, vội đem toàn bộ binh mã ra đối địch.

Hai bên đánh nhau một trận lớn ở phía tây Tề Thủy.

Do Nhạc Nghị giỏi chỉ huy, binh lính năm nước có sĩ khí cao, quân Tề bị đại bại.

Tề Dẫn Vương phải chạy về Lâm Tri.

Các nước Triệu, Tề, Hàn, Ngụy đánh thắng trận, mỗi nước đều chiếm mấy tòa thành rồi không muốn đánh tiếp nữa.

Chỉ có Nhạc Nghị không chịu thôi, tự dẫn quân đánh sâu vào đất Tề, tới tận đô thành Lâm Tri.

Tề Dẫn Vương phải bỏ chạy, cuối cùng bị dân Tề giết chết ở thành Cử.

Yên Chiêu vương thấy Nhạc Nghị lập được công lớn, thân đến Tề Thủy để úy lạo quân đội và ban thưởng tướng sĩ, phong Nhạc Nghị làm Xương Quốc quân.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
35-36


ĐIỀN ĐAN ĐÁNH TRẬN BẰNG TRÂU LỬA

Nhạc Nghị ra quân trong nửa năm, liên tiếp đánh chiếm được hơn 70 thành trì của nước Tề, cuối cùng chỉ còn lại Cử Thành (nay ở huyện Cử, Sơn Đông) và Tức Mặc (nay ở đông nam huyện Bình Độ, Sơn Đông) là hai cứ điểm đơn độc.

Quan đại phu nước Tề ở Cử Thành lập con của Tề Vương lên làm vua, tức là Tề Tương Vương.

Nhạc Nghị sai quân đánh thành Tức Mặc, quan đại phu giữ thành đem quân ra chống cự, bị tử trận.

Thành Tức Mặc không có chủ tướng, suýt rơi vào cảnh hỗn loạn.

Lúc đó, trong thành có một người họ hàng xa với Tề Vương, tên là Điền Đan, đã từng chỉ huy quân đội.

Mọi người liền tôn ông làm tướng, chỉ huy việc giữ thành.

Điền Đan đồng cam cộng khổ cùng binh lính, đưa người trong gia đình và dòng họ mình biên chế vào đội ngũ để chống lại quân Yên.

Người Tức Mặc rất khâm phục ông, nên sĩ khí tăng lên rất nhiều.

Nhạc Nghị vây khốn Cử Thành và Tức Mặc suốt ba năm vẫn chưa hạ được.

Ở Yên có kẻ ghen tức với Nhạc Nghị, gièm pha với Yên Chiêu Vương: Nhạc Nghị có thể hạ được hơn 70 thành chỉ có trong nửa năm, tại sao mất tới ba năm mà vẫn chưa hạ được hai thành còn lại?

Không phải ông ta không làm được việc đó, mà là có ý thu phục lòng người nước Tề, để chờ dịp sẽ tự mình làm Tề Vương.

Yên Chiêu Vương rất tin Nhạc Nghị nên trả lời: "Công lao của Nhạc Nghị to lớn không thể nói hết, cho dù ông ta có làm Tề Vương thì cũng xứng đáng.

Tại sao các ngươi lại nói những lời như thế?".

Yên Chiêu Vương còn cử người sang Lâm Tri gặp Nhạc Nghị, phong Nhạc Nghị làm Tề Vương, Nhạc Nghị hết lòng cảm kích, nhưng dứt khoát cũng không nhận tước vương.

Do đó, uy tín của Nhạc Nghị ngày càng cao.

Hai năm sau Yên Chiêu Vương mất, thái tử lên nối ngôi, tức là Yên Huệ Vương.

Điền Đan được tin đó, cho rằng thời cơ tốt đã đến, liền phái người sang Yên phao tin, nói Nhạc Nghị đã lên ngôi Tề Vương.

Trước kia vì còn tiên vương (tức Yên Chiêu Vương) nên Nhạc Nghị chưa dám nhận.

Nay vua mới lên rồi, Nhạc Nghị sẽ ở lại Tề làm vương.

Nếu nước Yên cử một đại tướng khác sang thì nhất định sẽ hạ được Cử Thành và Tức Mặc.

Yên Huệ Vương vốn có hiềm khích với Nhạc Nghị, nghe tin đồn đó, liền cử Kỵ Kiếp sang làm đại tướng thay cho Nhạc Nghị.

Nhạc Nghị vốn người nước Triệu, liền trở về Triệu.

Kỵ Kiếp được phong làm đại tướng, đến thay Nhạc Nghị, các tướng sĩ Yên không phục nhưng chỉ hậm hực không dám nói ra.

Kỵ Kiếp hạ lệnh vây chặt Tức Mặc, hết vòng này đến vòng khác.

Nhưng ở trong thành Điền Đan đã chuẩn bị đầy đủ kế hoạch phản công.

Mấy hôm sau, binh tướng nước Yên thấy dân chúng đang bàn luận, có người nói: "Trước đây Nhạc tướng quân rất tốt, bắt được tù binh còn đối đãi tử tế, dân thường trong thành không phải sợ hãi gì cả.

Nếu họ cứ đem tù binh ra cắt mũi đi, thì người nước Tề còn ai dám chống cự nữa".

Có người nói: "Phần mộ của tổ tiên chúng ta ở cả ngoài thành, nếu quân đội Yên đào cả lên thì làm thế nào?".

Những lời bàn đó lọt vào tai Kỵ Kiếp, ông ta liền làm theo những lời đó, cắt hết mũi của tù binh, lại sai binh lính đào mồ mả của dân Tề ở ngoài thành lên.

Nhân dân trong thành Tức Mặc thấy quân Yên ngược đãi tù binh như thế, hết thảy đều căm thù, lại thấy phần mộ của ông cha ở ngoài thành bị đào bới cả lên thì vô cùng phẫn uất, nhao nhao đòi Điền Đan cho xuất quân, quyết một trận tử chiến với quân Yên.

Điền Đan còn phái mấy người đóng vai các người giàu có trong thành, lẻn ra gặp Kỵ Kiếp, biếu xén tiền bạc rồi nói: "Lương thực trong thành đã hết cả, chỉ mấy hôm nữa sẽ phải đầu hàng.

Khi quân đội quí quốc vào thành, xin bảo vệ cho gia đình chúng tôi".

Kỵ Kiếp phấn khởi nhận lễ vật và đồng ý với đề nghị của họ.

Vì vậy, quân Yên chỉ đợi thành Tức Mặc đầu hàng, không còn nghĩ gì đến việc chiến đấu nữa.

Điền Đan chọn ra 1000 con trâu, khoác vải ngũ sắc ra ngoài, vẽ thêm những hình thù li kì cổ quái, trên sừng có buộc dao nhọn, đuôi buộc bó lau tẩm dầu.

Điền Đan còn hạ lệnh đào đường hầm dưới thành, rồi lùa trâu vào.

Đến nửa đêm, nhất tề châm lửa vào đuôi trâu, làm chúng hoảng sợ. theo đường hầm lao ra ngoài xông thẳng vào doanh trại quân Yên.

5000 tráng sĩ cảm tử của Tề vung đại đao và trường mâu , theo sau đàn trâu, xông xáo chém giết quân Yên.

Toàn thể dân chúng trong thành từ già đến trẻ, đều trèo lên mặt thành, khua gõ nồi đồng, chậu đồng, hò reo trợ chiến.

Tiếng động và tiếng hò reo vang trời dậy đất làm quân Yên đang ngủ say phải choàng dậy, chỉ thấy thấp thoáng dưới ánh lửa hàng đàn quái vật hung dữ đang xông tới.

Binh sĩ Yên sợ run người, không còn chiến đấu được nữa.

Không kể số binh sĩ Yên bị đàn trâu húc chết và dẫm đạp, không kể số binh sĩ Yên bị 5000 tráng sĩ Tề đâm chém, riêng số cuống cuồng chạy trốn, giày xéo lên nhau mà chết cũng không tài nào tính xuể.

Tướng Yên là Kỵ Kiếp ngồi trên chiến xa, muốn mở một đường máu chạy trốn, nhưng xông được ra ngoài, lại bị quân Yên vây chặt, cuối cùng cũng chết trong đám loạn quân.

Quân Tề thừa thắng phản công.

Cả nước Tề đều vùng lên hưởng ứng.

Các địa phương bị quân Yên chiếm lĩnh nhất tề nổi dậy, giết chết tướng Yên, đón quân của Điền Đan.

Chỉ trong vòng mấy tháng, quân dân Tề đã thu phục lại hơn 70 tòa thành bị quân Yên và quân các nước Tần, Triệu, Hàn, Ngụy chiếm lĩnh.

Điền Đan liền đón Tề Tương Vương từ Cử Thành về Lâm Tri.

Nước Tề từ tình trạng hầu như mất nước, đã được thu phục lại.

KHUẤT NGUYÊN TRẪM MÌNH

Nước Sở từ khi bị Tần đánh thua, luôn bị Tần ức hiếp.

Sở Hoài Vương lại muốn liên hiệp với Tề.

Tần Chiêu Tương Vương lên ngôi, liền viết thư cho Sở Hoài Vương, lời lẽ rất khiêm tốn, mời Sở Hoài Vương đến Vũ Quan (nay ở đông nam huyện Đan Phượng, tỉnh Thiểm Tây) để họp và kí kết minh ước.

Sở Hoài Vương nhận được thư, thấy rất khó xử: nếu không đi thì sợ Tần mất lòng, nếu đi lại nguy hiểm, liền bàn bạc với các đại thần.

Đại phu Khuất Nguyên nói với Sở Hoài Vương: "Nước Tần tàn bạo như lang sói, chúng ta bị họ ức hiếp đã nhiều lần.

Nếu đại vương đến đó nhất định sẽ bị mắc lừa"

Nhưng con của Sở Hoài Vương là công tử Tử Lan lại một mực khuyên Sở Hoài Vương nên đi và nói: "Vì nước ta coi nước Tần là kẻ thù, kết quả đã chết bao nhiêu người, lại mất nhiều đất đai.

Nay nước Tần đã muốn hòa hảo với ta, tại sao ta lại từ chối họ?".

Sở Hoài Vương liền nghe theo lời công tử Lan, liền đi sang Tần.

Qủa nhiên sự việc diễn ra như Khuất Nguyên dự đoán.

Sở Hoài Vương vừa đến Vũ Quan, đã bị binh mã của Tần mai phục từ trước, chặn mất đường về.

Trong cuộc hội kiến,Tần Chiêu Tương Vương buộc Sở Hoài Vương phải cắt nhượng đất Kiềm Trung cho Tần.

Sở Hoài Vương không đồng ý, Tần Chiêu Tương Vương liền đưa Sở Hoài Vương về giam lỏng tại Hàm Dương, yêu cầu đại thần nước Sở mang đất đai đến chuộc mới tha ra.

Các đại phu nước Sở nghe quốc vương bị bắt, liền lập thái tử lên ngôi vua và cự tuyệt việc cắt nhượng đất đai.

Đó là Sở Khoảnh Tương Vương.

Công tử Tử Lan được cử làm Lệnh Doãn.

Sở Hoài Vương bị giam ở Tần hơn một năm, rất khổ sở, tìm cách trốn khỏi Hàm Dương nhưng bị vua Tần đuổi theo bắt lại.

Ông lo buồn sinh bệnh, chẳng bao lâu sau chết ở nước Tần.

Người nước Sở rất bất bình về chuyện Sở Hoài Vương bị nước Tần ức hiếp, bỏ thân ở nước ngoài.

Đặc biệt là Khuất Nguyên càng căm uất, ông khuyên Sở Khoảnh Tương Vương chiêu tập nhân tài, xa rời bọn tiểu nhân, khuyến khích tướng sĩ, thao luyện binh mã để báo thù cho đất nước và cho Sở Hoài Vương.

Nhưng những lời khuyên của ông không những không có tác dụng gì, mà lại làm cho công tử Tử Lan và Cận Thượng căm ghét.

Bọn người này ngày ngày vào vu cáo Khuất Nguyên với Sở Khoảnh Tương Vương: "Đại vương có nghe thấy lời kể tội của Khuất Nguyên không?

Ông ta luôn nói với mọi người là đại vương đã quên mất mối thù với nước Tần, là kẻ bất hiếu, các đại thần không chủ trương chống Tần, là kẻ bất trung.

Nước Sở sản sinh loại vua tôi bất hiếu bất trung đó thì làm sao mà không mất nước?

Đại vương, lời lẽ gì đó thật là khi quân phạm thượng".

Sở Khoảnh Tương Vương nổi giận, cách chức Khuất Nguyên và đày xuống vùng Tương Nam.

Khuất Nguyên ôm ấp hoài bão cứu nước cứu dân và chỉ nghĩ cách phú quốc cường dân, lại bị bọn gian thần bài xích, thì uất giận điên người.

Sau khi đến Tương Nam, ông thường đi ven bờ sông Mịch La (nay ở đông bắc tỉnh Hồ Nam), vừa đi vừa cất lên lời ca ai oán.

Những nông dân vùng đó biết ông là một đại thần yêu nước đều rất thương cảm.

Có một ông lão đánh cá trên sông Mịch La, rất khâm phục nhân cách của Khuất Nguyên, nhưng không tán thành tình cảm sầu muộn của ông.

Một lần Khuất Nguyên gặp ông lão đánh cá đó.

Ông lão nói với Khuất Nguyên: "Ngài là quan đại phu của nước Sở, tại sao phải đến nông nỗi này?"

Khuất Nguyên nói: "Rất nhiều người là kẻ bẩn thỉu, chỉ có ta là người sạch sẽ.

Rất nhiều người đều say khướt, chỉ có một mình ta tỉnh táo, cho nên ta bị đuổi đến đây".

Ông lão không cho thế là phải, nói lại: "Nếu ngài đã thấy mọi người là bẩn thỉu, thì không nên giữ cho mình là thanh cao.

Nếu nhiều người đều say, thì ngài cần gì phải tỉnh một mình".

Khuất Nguyên phản đối: "Ta nghe người ta nói rằng: người mới gội đầu, thường hay chải tóc; người mới tắm giặt, thường hay phủi bụi trên quần áo.

Ta thà nhảy xuống sông, vùi xác trong bụng cá, chứ không thể nhấn tấm thân sạch sẽ trong bùn nhơ, làm ô uế cả thân mình".

Do Khuất Nguyên không chịu trôi nổi theo thói đời, nên tới năm 278 TCN, vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch, ông ôm một hòn đá, nhảy xuống sông Mịch La trẫm mình.

Nông dân xung quanh được tin đó, đều bơi thuyền đi tìm cứu Khuất Nguyên.

Nhưng nước sông mênh mông, không tìm đâu thấy xác ông.

Mọi người mò lặn suốt ngày vẫn không có tăm hơi gì.

Ông lão đánh cá rất buồn rầu, liền lấy cơm trong giỏ rắc xuống sông, coi như hiến cho linh hồn Khuất Nguyên.

Đến ngày mồng năm tháng năm năm sau, dân ven sông nhớ tới ngày Khuất Nguyên tự trầm, liền bơi thuyền rắc cơm xuống sông để tế lễ ông.

Về sau, họ thay cơm bằng bánh trôi, thay thuyền thường bằng thuyền rồng.

Lâu dần mãi trở thành một phong tục.

Cứ đến mồng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm, gọi là Tết Đoan ngọ, họ lại tiến hành tục lệ trên.

Khuất Nguyên mất đi, nhưng ông để lại một số tác phẩm thi ca ưu tú, trong đó nổi tiếng nhất là "Ly Tao".

Trong tác phẩm ông lên án gay gắt bọn tiểu nhân bán nước, biểu lộ tình cảm yêu nước thương dân của mình, gửi gắm tình cảm vô cùng sâu đậm vào mỗi gốc cây ngọn cỏ của nước Sở.

Người đời sau đều công nhận Khuất Nguyên là một nhà thơ yêu nước kiệt xuất của Trung Quốc thời cổ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
37-38


LẠN TƯƠNG NHƯ ĐÒI NGỌC BÍCH VỀ CHO NƯỚC TRIỆU

Năm 273 TCN Tần Chiêu Tương Vương phái sứ giả đem quốc thư sang nước Triệu, gặp Triệu Huệ Văn Vương, nói nước Tần tình nguyện đổi 15 tòa thành để lấy viên "ngọc bích họ Hòa" rất quý của nước Triệu, mong Triệu vương đồng ý.

Triệu Huệ Văn Vương bàn bạc với các đại thần xem có nên chấp nhận không.

Nếu đồng ý chấp nhận thì sợ bị nước Tần lừa, lấy mất ngọc mà không giao thành, nếu không chấp nhận thì sợ nước Tần nổi giận.

Bàn bạc mãi mà vẫn không sao đi tới quyết định.

Lúc đó có người tiến cử Lạn Tương Như, nói ông ta là người rất có kiến thức.

Triệu Huệ Văn Vương liền triệu Lạn Tương Như hỏi ý kiến, Lạn Tương Như nói: "Nước Tần mạnh, nước Triệu yếu, không thể không chấp nhận".

Triệu Huệ Văn Vương nói: "Nếu ta đưa ngọc sang, nước Tần nhận ngọc mà không giao đất thì làm thế nào?".

Lạn Tương Như nói: "Nước Tần đem 15 tòa thành để đổi lấy một viên ngọc, cái giá đó là cao lắm rồi.

Nếu nước Triệu không chấp nhận thì nước Triệu sai.

Nếu đại vương cho giao ngọc mà nước Tần không giao thành thì nước Tần sai.

Thà rằng ta chấp nhận, để phần sai về nước Tần".

Triệu Huệ Văn Vương nói: "Vậy phải nhờ tiên sinh đi cho một chuyến.

Nhưng lỡ nước Tần không giữ lời hứa, thì làm thế nào?"

Lạn Tương Như nói: "Nếu nước Tần giao thành, thì tôi giao ngọc cho họ, nếu họ không giao thì nhất định tôi sẽ mang ngọc bích về cho nước Triệu"

Lạn Tương Như mang theo ngọc bích họ Hòa tới Hàm Dương.

Tần Chiêu Tương Vương đắc ý tiếp ông trong biệt cung.

Lạn Tương Như dâng ngọc lên.

Tần Chiêu Tương Vương nhận ngọc, vui mừng ngắm nghía rồi chuyển cho các đại thần tả hữu cùng xem.

Các đại thần đều chúc mừng Tần Chiêu Tương Vương, Lạn Tương Như đứng chờ mãi, không thấy Tần Chiêu Tương Vương đề xuất việc đổi thành.

Ông biết rằng Tần không thực lòng đổi thành lấy ngọc.

Nhưng ngọc đã rơi vào tay họ, làm sao mà lấy lại được?

Ông nhanh trí, tiến lên nói với Tần Chiêu Tương Vương: "Thưa đại vương, viên ngọc này tuy là nổi tiếng, nhưng vẫn có tì vết nhỏ không dễ phát hiện thấy, xin đại vương đưa tôi chỉ cho đại vương xem".

Tần Chiêu Tương Vương tưởng thật, liền bảo người hầu trao ngọc cho Lạn Tương Như.

Lạn Tương Như cầm lấy ngọc, lùi lại mấy bước, dựa lưng vào một chiếc cột lớn trợn mắt nổi giận nói: "Đại vương phái sứ giả sang nước Triệu, nói là tình nguyện đem 15 tòa thành đổi lấy ngọc.

Triệu vương thành thật sai tôi mang ngọc sang.

Nhưng đại vương không thật lòng muốn đổi thành.

Bây giờ ngọc đang ở trong tay tôi, nếu đại vương bức bách, thì tôi đành để đầu mình cùng viên ngọc đều tan nát trước cái cột này".

Nói xong ông cầm viên ngọc làm như sắp lao đầu vào cột.

Tần Chiêu Tương Vương sợ hỏng mất viên ngọc, vội xin lỗi và nói: "Tiên sinh chớ hiểu lầm, sao ta lại không giữ lời hứa".

Nói rồi ông hạ lệnh mang bản đồ ra, chỉ vào khu vực 15 tòa thành cho Lạn Tương Như xem.

Lạn Tương Như nghĩ, không nên mắc lừa ông ta một lần nữa, liền nói: "Triệu vương trước khi sai tôi mang ngọc sang Tần, đã trai giới (ăn chay và xa nữ sắc) trong năm ngày rồi tiến hành một nghi lễ long trọng tại triều đình.

Nếu đại vương thực lòng muốn đổi thành lấy ngọc, thì cũng phải trai giới năm ngày, rồi sau đó cử hành nghi lễ nhận ngọc tại triều đình.

Lúc đó tôi sẽ xin dâng ngọc lên".

Tần Chiêu Tương Vương nghĩ dù sao thì Lạn Tương Như cũng không chạy đi đâu được, liền nói: "Được, ta sẽ làm như thế", rồi sai đưa phái bộ Lạn Tương Như ra nghỉ tại nhà khách.

Về đến nhà khách, Lạn Tương Như sai một tùy tòng cải trang thành người lái buôn, giấu viên ngọc trong người, rồi theo đường nhỏ lẻn về nước Triệu.

Năm ngày sau, Tần Chiêu Tương Vương triệu tập các đại thần và sứ thần các nước trú tại Hàm Dương tới triều đình để tổ chức nghi thức nhận ngọc và triệu Lạn Tương Như tới.

Lạn Tương Như ung dung lên điện, hành lễ trước Tần vương.

Tần Chiêu Tương Vương nói: "Ta đã trai giới năm ngày.

Bây giờ ngươi đưa viên ngọc ra".

Lạn Tương Như nói: "Nước Tần từ đời Tần Mục Công tới nay, hai mươi mấy vị quốc quân, không có ai giữ sự tín nghĩa.

Tôi sợ bị lừa mất ngọc bích, mang lỗi với nước Triệu, đã cho người mang ngọc về nước, xin đại vương cứ trị tội".

Tần Vương nổi giận lôi đình nói: "Thế là ngươi lừa ta hay ta lừa ngươi?"

Lạn Tương Như bình tĩnh đáp: "Xin đại vương bớt giận nghe tôi trình bày.

Các nước chư hầu khắp thiên hạ đều biết Tần là một nước mạnh, Triệu là một nước yếu.

Chỉ có nước mạnh mới ức hiếp được nước yếu, chứ chưa từng có chuyện nước yếu ức hiếp nước mạnh bao giờ.

Nếu đại vương thực lòng muốn đổi thành lấy ngọc thì xin giao 15 tòa thành cho nước Triệu trước, sau đó phái sứ giả cùng tôi sang nước Triệu lấy ngọc về.

Nước Triệu đã được 15 tòa thành, quyết không dám không giao ngọc cho quí quốc".

Tần Chiêu Tương Vương thấy Lạn Tương Như nói năng chững chạc đường hoàng, không tiện trở mặt, đành phải nói: "Một viên ngọc chẳng qua là một viên ngọc, không nên để gây tổn thương đến hòa khí giữa hai nước".

Cuối cùng để Lạn Tương Như trở về Triệu.

Lạn Tương Như về nước, Triệu Huệ Văn Vương cho là ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh, liền phong ông làm Thượng đại phu.

Tần Chiêu Tương Vương vốn không thực lòng muốn đổi 15 tòa thành lấy viên ngọc, chẳng qua chỉ muốn mượn việc này để dò xét thái độ và lực lượng của Triệu mà thôi.

Do đó sau khi Lạn Tương Như mang ngọc trở về nước, Tần Chiêu Tương Vương không đả động gì tới việc trao đổi nữa.

LIÊM PHA TỰ TRÓI NHẬN TỘI

Tần Chiêu Tương Vương quyết tâm buộc Triệu khuất phục, liên tiếp đưa quân xâm nhập biên giới Triệu, chiếm một số đất đai.

Năm 279 TCN, ông lại giở thủ đoạn khác, mời Triệu vương tới Miễn Trì (nay ở phía tây huyện Miễn Trì, Hà Nam) thuộc đất Tần để hội kiến.

Lúc đầu , Triệu Huệ Văn Vương sợ bị bắt giữ, không muốn đi.

Nhưng đại tướng Liêm Pha và Lạn Tương Như lại cho rằng nếu không nhận lời thì tỏ ra là mình yếu.

Cuối cùng Triệu Huệ Văn Vương đành mạo hiểm nhận lời, đem theo Lạn Tương Như cùng đi, để Liêm Pha ở nhà giúp thái tử phòng thủ đất nước.

Để đề phòng bất trắc, Triệu Huệ Văn Vương còn cử đại tướng Lý Mục đem 5000 quân hộ tống, và tướng quốc Bình Nguyên Quân đem mấy vạn quân tiếp ứng ở biên giới.

Đến kì hạn, Tần Vương và Triệu Vương hội kiến ở Miễn Trì, cùng dự tiệc rượu, vui vẻ đàm đạo.

Tần Chiêu Tương Vương uống mấy cốc rượu, có ý say nói với Triệu Huệ Văn Vương: "Nghe nói nhà vua giỏi đánh đàn sắt, xin đánh một khúc để góp vui".

Nói xong bảo tả hữu đưa đàn sắt đến.

Triệu Huệ Văn Vương không thể từ chối, đành miễn cưỡng dạo một khúc.

Sử quan nước Tần liền ghi chuyện đó vào sách và đọc lên: "Ngày...tháng...năm...vua Tần và vua Triệu hội kiến ở Miễn Trì, vua Tần hạ lệnh cho vua Triệu đánh đàn sắt".

Triệu Huệ Văn Vương giận tím mặt.

Ngay lúc đó, Lạn Tương Như bưng đến một cái phẫu (một thứ đồ đựng bằng gốm, có thể dùng làm nhạc cụ gõ), quì dâng lên Tần Chiêu Tương Vương nói: "Vua Triệu nghe nói vua Tần rất giỏi chơi nhạc cụ Tần, ở đây có cái phẫu, xin mời đại vương gõ mấy cái giúp vui".

Tần Chiêu Tương Vương biến sắc, không chịu làm theo.

Lạn Tương Như phẫn nộ nói: "Đại vương đã xúc phạm người khác thái quá.

Binh lực của nước Tần tuy mạnh, nhưng chỉ trong năm bước chân, tôi có thể tưới máu mình lên người đại vương".

Tần Chiêu Tương Vương thấy khí thế của Lạn Tương Như như vậy, đành cầm dùi gõ lên cái phẫu mấy cái.

Lạn Tương Như quay lại, gọi sử quan của nước Triệu mở sách ra ghi lại sự kiện đó, nói: "Ngày...tháng...năm...Triệu Vương và Tần Vương hội kiến ở Miễn Trì, Tần Vương đã gõ phẫu cho Triệu Vương nghe".

Các đại thần của Tần Vương thấy Lạn Tương Như dám xúc phạm Tần Vương như thế, không chịu kém, cử người đứng lên nói: "Đề nghị Triệu Vương cắt 15 tòa thành làm lễ mừng thọ Tần Vương".

Lạn Tương Như lập tức đứng dậy nói: "Đề nghị Tần Vương cắt thủ đô Hàm Dương làm lễ mừng thọ Triệu Vương".

Tần Chiêu Tương Vương thấy không khí căng thẳng, lại biết được nước Triệu mang nhiều binh mã đóng gần đó, nếu sử dụng vũ lực sợ không có lợi, liền quát các đại thần: "Hôm nay là ngày hai quốc vương cùng vui với nhau, các ngươi không nên nói nhiều".

Cuộc hội kiến do đó kết thúc mà không xảy ra chuyện gì.

Lạn Tương Như hai lần sang Tần, giữ được quốc thể cho Triệu, lập công lớn.

Triệu Huệ Văn Vương hết sức tín nhiệm Lạn Tương Như, phong ông làm Thượng khanh, địa vị cao hơn đại tướng Liêm Pha.

Liêm Pha không phục, nói riêng với môn khách của mình: "Ta là đại tướng của Triệu, lập bao công lao hãn mã.

Lạn Tương Như thì có gì ghê gớm, mà lại vượt lên đầu ta.

Hầy!

Ta mà gặp Lạn Tương Như sẽ làm cho hắn ta mất mặt cho coi"

Câu nói đó tới tai Lạn Tương Như.

Lạn Tương Như liền cáo bệnh không vào triều.

Một hôm Lạn Tương Như có việc cùng môn khách ngồi xe đi ra ngoài.

Thật là oan gia tương ngộ, thấy từ xa có xe ngựa của Liêm Pha rầm rập đi tới.

Lạn Tương Như vội bảo người đánh xe rẽ quặt vào một ngõ hẽm để tránh đường, để xe ngựa của Liêm Pha đi trước.

Việc đó khiến các môn khách của Lạn Tương Như rất bực bội.

Họ đều trách Lạn Tương Như về hành động hèn nhát đó.

Lạn Tương Như hỏi họ: "Các ông xem, giữa tướng quân Liêm Pha và Tần Vương thì ai có thế lực lớn hơn?".

Mọi người đều nói: "Tất nhiên là Tần Vương có thế lực lớn hơn"

Lạn Tương Như lại nói: "Đúng như vậy, chư hầu trong thiên hạ đều sợ Tần Vương.

Thế mà ta dám trực diện trách mắng ông ta để bảo vệ nước Triệu.

Tại sao ta lại sợ tướng quân Liêm Pha?

Bởi vì ta nghĩ rằng, nước Tần lớn mạnh không dám xâm phạm nước Triệu, bởi vì có ta và tướng quân Liêm Pha.

Nếu hai người chúng ta bất hòa, nước Tần biết tin, sẽ nhân cơ hội lại xâm phạm nước Triệu.

Chính vì điều đó mà ta phải nhún nhường".

Có người đem lời nói đó nói lại cho Liêm Pha.

Liêm Pha rất hổ thẹn, liền để mình trần, quấn dây gai, tới nhà Lạn Tương Như nhận tội.

Ông nói với Lạn Tương Như: "Tôi là một kẻ thô lỗ, thiếu kiến thức, bụng dạ hẹp hòi.

Ngờ đâu lại được ngài đối xử rộng lượng như vậy, tôi rất lấy làm hổ thẹn, xin tình nguyện chịu sự trách phạt của ngài".

Lạn Tương Như vội đỡ Liêm Pha dậy nói: "Hai chúng ta đều là đại thần của nước Triệu.

Tướng quân đã thông cảm, tôi muôn phần cảm kích, đâu dám nhận lễ của tướng quân nữa".

Hai người đều cảm động rơi nước mắt.

Từ đó, họ trở thành bạn bè thân thiết.

Trong lịch sử và văn học Trung Quốc, người ta gọi điển tích đó là "Tướng tướng hòa" (Tướng võ và tướng văn hòa hợp, đoàn kết với nhau).
 
Back
Top Bottom