Cập nhật mới

Khác Lịch sử các loại vũ khí

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
347372450-256-k55396.jpg

Lịch Sử Các Loại Vũ Khí
Tác giả: MyDarling4
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

zuikaku​
 
Lịch Sử Các Loại Vũ Khí
Lịch sử tàu sân bay


Tàu sân bay hay hàng không mẫu hạm là loại chiến hạm phục vụ như một sân bay di động trên biển.

Tàu có đường băng để máy bay cất hạ cánh.

Các tàu sân bay của Hoa Kỳ sử dụng máy phóng để khởi động máy bay, một số quốc gia khác lại sử dụng đường băng kiểu nhảy cầu.

Máy bay hạ cánh trên tàu sân bay bằng cách sử dụng móc ở đuôi để bám vào cáp hãm đà căng trên đường băng.

Một số máy bay lại có thể hạ cánh thẳng đứng như các tiêm kích hạm F-35B, AV-8B Harrier.

Bên trong tàu sân bay có nhà chứa và khu bảo dưỡng cho máy bay, biến nó thành một căn cứ không quân nổi trên biển.

Tính đến năm 2022, có 41 tàu sân bay đang hoạt động trong hải quân 13 quốc gia trên thế giới.

Trong đó, Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều tàu sân bay nhất với 11 hàng không mẫu hạm đang hoạt động.

Đối với nhiều lực lượng hải quân trên thế giới, tàu sân bay là biểu tượng của "uy tín và quyền lực", giống như các thiết giáp hạm trước đó.

Tuy nhiên, một số nhà phân tích đặt câu hỏi tàu sân bay có phải là công cụ chiến tranh hiệu quả, hay chúng đơn giản chỉ là "con voi trắng" đắt tiền?

***

Các bản ghi chép về việc sử dụng một con tàu đầu tiên cho các hoạt động trên không xảy ra vào năm 1806, khi đô đốc Thomas Cochrane của hải quân Hoàng gia Anh cho thả một chiếc diều từ khu trục hạm HMS Pallas để thả truyền đơn.

Những tuyên bố chống lại hoàng đế Napoléon Bonaparte viết bằng tiếng Pháp được gắn liền vào chiếc diều và các dây diều.

Khi các dây diều bị đốt cháy, những tờ truyền đơn sẽ được tự động thả lên đất Pháp.

Ngày 12/7/1849, chiến hạm Vulcano của đế quốc Áo được sử dụng để tung ra những cuộc tấn công trên không đầu tiên.

Một số bóng khí cầu nóng Montgolfiere được tung ra với ý định oanh tạc bằng bom vào thành phố Venice của Ý.

Mặc dù phần lớn những cố gắng này đã không thành công do gió đẩy các khí cầu bay ngược trở lại phía con tàu, một quả bom đã được kích nổ trên bề mặt thành phố.

Sau đó, trong nội chiến Hoa Kỳ, Liên bang miền Bắc (The Union) đã dùng những khinh khí cầu đốt bằng khí để thực hiện những phi vụ trinh sát vào các vị trí của phe Liên bang miền Nam (Confederate States) ở Virginia.

Các trận đánh nhanh chóng chuyển sâu vào vùng nội địa, nơi có những cánh rừng rậm rạp.

Tuy nhiên, đây lại là nơi mà những bóng khí cầu từ bên ngoài không thể bay vào được.

Chiếc xà lan mang tên Parke Custis đã được dọn sạch tất cả mọi thứ nằm trên boong tàu để chứa các máy phát điện và máy móc của khí cầu.

Từ chiếc xà lan này, giáo sư Thaddeus Lowe - cơ khí trưởng của quân đoàn bóng khí cầu Liên bang miền Bắc đã cố gắng tiến hành chuyến bay đầu tiên của ông ngược lên phía sông Potomac để gửi tín hiệu.

Sự kiện này đánh dấu sự thành công đầu tiên của một chuyến viễn thám trên không được tiến hành từ một tàu chạy dưới nước.

Những kinh khí cầu được thả từ các con tàu đã dẫn đến sự ra đời của một phương tiện chiến tranh mới: tàu mang bóng kinh khí và tàu tiếp liệu bóng kinh khí.

Trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, những loại tàu này được phát triển không ngừng bởi lực lượng hải quân của các quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nga và Thụy Điển.

Khoảng 10 tàu chuyên chở bóng khí cầu đã được chế tạo, mục tiêu chính của chúng là tung ra những chuyến trinh sát từ trên không.

Chiến hạm mang thủy phi cơ

Phát minh về thủy phi cơ của người Pháp vào năm 1910 đã dẫn đến sự phát triển của một loại chiến hạm mới được thiết kế để mang máy bay: trong tháng 12 năm 1911, hải quân Pháp cho ra mắt chiến hạm Foudre - chiếc tàu đầu tiên mang được thủy phi cơ và là chiến hạm đầu tiên được biết đến như là một tàu sân bay.

Foudre hoạt động như một tàu tiếp liệu cho các thủy phi cơ và mang những chiếc máy bay được lắp phao ở nhà chứa máy bay trên boong chính.

Từ đó, các thủy phi cơ được hạ xuống mặt biển bằng một chiếc cần cẩu.

Con tàu này đã tham gia các bài tập chiến thuật tại Địa Trung Hải trong năm 1912.

Tàu Foudre tiếp tục được nâng cấp trong tháng 11 năm 1913 với một mặt sàn dài 10 mét trên boong để cất cánh các thủy phi cơ.

Học hỏi nước láng giềng Pháp, chiếc HMS Hermes của hải quân Anh được tạm thời chuyển đổi như là một tàu sân bay - tàu chở thủy phi cơ thử nghiệm trong tháng 4 năm 1913.

Hermes ban đầu được hạ thủy như một tàu buôn nhưng được chuyển đổi thành tàu sân bay, trong khi đang được chế tạo thành một tàu sân bay thì nó lại được chuyển đổi một lần nữa thành một tuần dương hạm và cuối cùng lại chuyển ngược thành một tàu sân bay trong năm 1914.

Số phận ngắn ngủi của HMS Hermes kết thúc bằng việc bị đánh chìm bởi tàu ngầm Đức vào tháng 10 năm 1914.

Tàu chuyên chở phi cơ có boong phẳng

Năm 1909, nhà phát minh người Pháp Clément Ader công bố trong cuốn sách của mình: "L'aviation Militaire" mô tả về một con tàu dùng để vận hành máy bay ở trên biển với một sàn đáp phẳng, một khu thượng tầng cách biệt của con tàu, sàn tàu có các thang máy và một nhà chứa máy bay bên dưới:

"Một tàu chở máy bay là tuyệt đối cần thiết.

Loại tàu này được chế tạo cho một kế hoạch rất khác với những loại chiến hạm hiện đang được sử dụng.

Đầu tiên là tất cả sàn tàu phải được dọn sạch tất cả các cản trở.

Sàu tàu càng bằng phẳng, càng rộng càng tốt nhưng không được gây nguy hiểm cho khả năng đi biển của thân tàu, và chúng sẽ giống như một khu vực để cất-hạ cánh."

Rất nhanh sau ý tưởng của Ader, một số chuyến bay thử nghiệm đã được thực hiện để kiểm chứng ý tưởng này.

Eugene Burton Ely trở thành phi công đầu tiên trong lịch sử cất cánh từ một con tàu tĩnh trong tháng 11 năm 1910.

Ely cất cánh từ một cấu trúc cố định trên phần trước của tuần dương hạm USS Birmingham tại Hampton Roads, bang Virginia và hạ cánh ở gần đó trên mũi đất Willoughby Spit sau 5 phút bay trên không.

Ngày 18/1/1911, Ely tiếp tục trở thành phi công đầu tiên hạ cánh trên một chiếc tàu tĩnh.

Ông cất cánh từ đường đua Tanforan và hạ cánh trên một cấu trúc tạm thời tương tự ở phía sau của thiết giáp hạm USS Pennsylvania lúc này đang thả neo tại cảng San Francisco.

Máy bay của Ely sau đó đã bị quay tròn trên sàn đáp và không thể cất cánh được nữa.

Ngày 9 tháng 5 năm 1912, Charles Rumney Samson của hải quân Hoàng gia Anh trở thành phi công đầu tiên cất cánh từ một tàu chiến đang di chuyển.

Samson cất cánh từ chiếc thiết giáp hạm HMS Hibernia trong khi nó đang chạy ở tốc độ 15 knot (28 km/h).

Tàu sân bay trong Chiến tranh Thế giới thứ Nhất

Cuộc tấn công đầu tiên từ một tàu sân bay diễn ra ngày 5/9/1914: tàu vận chuyển thủy phi cơ Wakamiya Maru của Nhật Bản đã tung ra những chiếc máy bay Maurice Farman tiến hành không kích nhắm vào tuần dương hạm Kaiserin Elisabeth của Áo-Hung và pháo hạm Jaguar của Đức ở Thanh Đảo.

Tại mặt trận châu Âu, đợt không kích đầu tiên của hải quân diễn ra vào ngày 25/12/1914 khi 12 thủy phi cơ xuất phát từ các tàu Anh tấn công căn cứ Zeppelin tại Cuxhaven (Đức).

Cuộc tấn công bằng tàu sân bay này đã thể hiện tính khả thi của các cuộc đột kích bằng máy bay xuất phát từ tàu sân bay tại chiến trường châu Âu và cho thấy tầm quan trọng chiến lược của loại khí tài chiến tranh mới này.

Chiếc HMS Ark Royal được cho là tàu sân bay hiện đại đầu tiên.

Nó ban đầu được hạ thủy như một tàu buôn nhưng được chuyển đổi trong khi chế tạo thành một tàu chuyên chở cả máy bay lẫn thủy phi cơ với một máy phóng khởi động.

Ra mắt vào ngày 5/9/1914, nó phục vụ trong chiến dịch Dardanelles và trong suốt Thế chiến thứ Nhất.

Cuộc tấn công bằng tàu sân bay thành công nhất trong Thế chiến thứ Nhất là cuộc tấn công một mục tiêu trên đất liền diễn ra ngày 19/7/1918.

7 chiếc tiêm kích Sopwith Camel được phóng từ tàu sân bay HMS Furious tấn công căn cứ Zeppelin của Đức với hai quả bom 50 pounds trên mỗi máy bay.

Nhiều khí cầu và bóng khí của Đức bị phá huỷ nhưng vì tàu sân bay không có cách nào để thu hồi máy bay một cách an toàn, hai phi công đã phải bỏ máy bay trên biển cạnh con tàu trong khi những người khác bay tới quốc gia Đan Mạch trung lập.

Những năm giữa hai cuộc Chiến tranh Thế giới

Hiệp ước hải quân Washington năm 1922 đã đặt ra giới hạn về trọng tải của thiết giáp hạm và tuần dương hạm chủ lực cho hải quân của các cường quốc sau Thế chiến thứ Nhất.

Các giới hạn không chỉ về tổng kích thước của các tàu sân bay mà còn về tải trọng tối đa là 27.000 tấn cho mỗi chiếc.

Tuy nhiên, trong khi các cường quốc hải quân lớn vượt quá kích thước đối với những thiết giáp hạm thì họ không vượt kích thước đối với các tàu sân bay.

Vì thế, nhiều thiết giáp hạm và tuần dương hạm đang được chế tạo (hay đang được sử dụng) đã được chuyển đổi thành tàu sân bay.

Chiếc tàu sân bay đầu tiên có sàn phẳng trên toàn bộ chiều dài là chiếc HMS Argus, việc hoán cải nó hoàn thành vào tháng 9 năm 1918.

Nối gót hải quân Anh, năm 1920, hải quân Hoa Kỳ hoán cải thành công chiếc tàu tiếp than USS Jupiter thành tàu sân bay USS Langley.

Chiếc tàu sân bay đầu tiên: HMS Hermes

Chiếc tàu sân bay thực sự đầu tiên được thiết kế và đặt thân lườn là chiếc HMS Hermes vào năm 1918.

Đế quốc Nhật Bản cũng bắt đầu chế tạo tàu sân bay IJN Hōshō trong năm tiếp theo.

Tháng 12 năm 1922, chiếc Hōshō trở thành chiếc tàu sân bay thuần túy đầu tiên trên thế giới được đưa vào hoạt động, trong khi chiếc HMS Hermes bắt đầu làm nhiệm vụ vào tháng 7 năm 1923.

Thiết kế của Hermes có trước và tạo ảnh hưởng lên Hōshō, và công việc chế tạo nó thực sự được bắt đầu trước nhưng do có quá nhiều bài test, thí nghiệm và xem xét về mặt ngân sách nên quá trình hoàn thành nó bị trì hoãn.

Vào những năm cận kề Thế chiến thứ Hai, tàu sân bay trên khắp thế giới thường mang ba kiểu máy bay: máy bay phóng ngư lôi, máy bay ném bom bổ nhào và tiêm kích đánh chặn dùng để bảo vệ hạm đội và làm nhiệm vụ hộ tống máy bay ném bom.

Do không gian bị giới hạn trên các tàu sân bay, tất cả các máy bay đều là loại nhỏ, loại có một động cơ duy nhất và thông thường với cánh có thể gấp đôi để tạo điều kiện thuận lợi trong việc cất trữ.

Trong cuối những năm 1930, hải quân Anh cũng phát triển khái niệm giáp sàn tàu sân bay, kèm theo các móc áo trong một hộp bọc thép.

Chiếc tàu sân bay đầu tiên mang thiết kế này là HMS Illustrious và bắt đầu làm nhiệm vụ vào năm 1940.

Tàu sân bay trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai

Tàu sân bay đóng một vai trò quan trọng trong Thế chiến thứ Hai.

Với 7 tàu sân bay, hải quân Anh có một lợi thế đáng kể ở giai đoạn đầu cuộc chiến khi cả người Đức lẫn người Ý đều không có tàu sân bay của riêng mình.

Tuy nhiên, tính dễ tổn thương của các tàu sân bay so với những thiết giáp hạm truyền thống khi lọt vào tầm pháo đã nhanh chóng được minh họa bằng việc tàu sân bay HMS Glorious bị kết liễu bởi hai thiết giáp hạm Scharnhorst và Gneisenau của hải quân Đức trong chiến dịch Na Uy tháng 6 năm 1940.

Điểm yếu rõ ràng của các thiết giáp hạm cũng bắt đầu được để lộ trong tháng 11 năm 1940 khi tàu sân bay HMS Illustrious phát động một cuộc tấn công tầm xa vào hạm đội Ý tại Taranto và báo hiệu sự kết thúc của kỷ nguyên các thiết giáp hạm được coi như là tàu chiến chủ lực trong một hạm đội.

Trận đánh này đã loại khỏi vòng chiến đấu 3 trong số 6 thiết giáp hạm đang thả neo tại cảng với tổn thất của hạm đội Anh chỉ là 2 trong số 21 chiếc máy bay phóng ngư lôi Fairey Swordfish tham gia tấn công.

Tàu sân bay HMS Illustrious

Tàu sân bay cũng đóng một phần quan trọng trong việc tăng cường bảo vệ đảo Malta bằng cách vận chuyển máy bay và bảo vệ đoàn công voa để gửi đồ cung cấp đến hòn đảo đang bị Ý bao vây này.

Việc sử dụng các tàu sân bay đã ngăn không cho hải quân Ý và các máy bay Đức xuất phát từ sân bay trên đất liền thống trị chiến trường Địa Trung Hải.

Trong hai ngày 24 và 25/5/1941, hai tàu sân bay HMS Victorious cùng HMS Ark Royal tham gia truy đuổi thiết giáp hạm Bismarck trong vùng biển nước Pháp và góp công giúp đánh chìm chiếc thiết giáp hạm danh tiếng này vào sáng ngày 26 tháng 5.

Sau này, trong toàn bộ cuộc chiến, tàu sân bay hộ tống các đoàn công voa đã chứng tỏ giá trị của chúng khi canh gác xuyên qua Đại Tây Dương và vùng biển Bắc.

Những trận đánh tàu sân bay lớn nhất lại diễn ra tại mặt trận Thái Bình Dương.

Đế quốc Nhật Bản bắt đầu cuộc chiến với 10 tàu sân bay, đây là hạm đội tàu sân bay lớn nhất và hiện đại nhất trên thế giới tại thời điểm đó.

Hoa Kỳ có 6 tàu sân bay lúc bắt đầu chiến tranh Thái Bình Dương, mặc dù chỉ 3 trong số chúng hoạt động tại Thái Bình Dương.

Ngày 7/12/1941, hải quân Đế quốc Nhật Bản bất ngờ phát động cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng, hủy diệt gần như hoàn toàn hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Đây là một minh chứng rõ ràng về khả năng power projection có được từ một lực lượng lớn các tàu sân bay hiện đại: tập trung 6 tàu sân bay hạm đội thành một đơn vị tác chiến duy nhất đã đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử hải quân, không quốc gia nào khác ngoài Nhật Bản làm được điều tương tự trên chiến trường tính tới thời điểm đó.

Đế quốc Nhật Bản bắt đầu các bước tiến của mình qua vùng Đông Nam Á.

Thiết giáp hạm HMS Prince of Wales và tuần dương hạm HMS Repulse bị đánh chìm bởi máy bay Nhật Bản xuất phát từ sân bay Sóc Trăng làm nảy sinh cho sự cần thiết phải có loại tàu chống lại các cuộc tấn công từ trên không để bảo vệ hạm đội.

Tàu sân bay Akagi

Tháng 4 năm 1942, sáu tàu sân bay Nhật Bản là Akagi, Sōryū, Hiryū, Shōkaku, Zuikaku và Ryujo tấn công hạm đội Phương Đông của hải quân Anh ở Ấn Độ Dương, đánh chìm và đánh hỏng nhiều chiến hạm, bao gồm cả việc đánh chìm chiếc tàu sân bay hạng nhẹ HMS Hermes.

Các hạm đội nhỏ hơn của quân Đồng Minh không có sự bảo vệ tốt về phòng không bị buộc phải tháo chạy hoặc bị tiêu hủy.

Tuy nhiên, trận oanh kích Doolittle làm người Nhật buộc phải thu hồi lực lượng tấn công của Nhật Bản về vùng biển nhà.

Ngày 4/5/1942, tại biển San Hô, hạm đội Hoa Kỳ và hạm đội Nhật Bản đã tạo nên trận hải chiến tàu sân bay đầu tiên trong lịch sử, nơi mà chiến hạm bên này không thể nhìn thấy tàu của phía bên kia.

Chiếc tàu sân bay hạng nhẹ Shōhō trở thành tàu sân bay đầu tiên của Nhật Bản bị đánh chìm trong chiến tranh Thái Bình Dương, tàu sân bay Shōkaku trúng bom và mất hiệu năng chiến đấu, còn Zuikaku khôn ngoan ẩn mình trong cơn giông nên không bị tấn công.

Đổi lại, hạm đội Hoa Kỳ là bên thua cuộc trong trận chiến với việc tàu sân bay USS Yorktown ôm thương tích chạy trốn, còn USS Lexington vùi mình dưới đáy biển sâu.

Trong trận Midway ngày 4/6/1942, cả 4 tàu sân bay Nhật Bản tham gia trận đánh đều bị đánh chìm trong khi người Mỹ chỉ mất duy nhất tàu sân bay Yorktown.

Trận Midway được xem là bước ngoặt của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, hải quân Đế quốc Nhật Bản từ đây không bao giờ có thể hùng mạnh trở lại được nữa.

Sau đó, với tiềm lực khủng khiếp của mình, Hoa Kỳ đã có thể đóng một số lượng lớn tàu sân bay theo một hỗn hợp các tàu sân bay hạm đội, hạng nhẹ và các tàu sân bay hộ tống, đặc biệt là việc đưa vào hoạt động lớp tàu sân bay Essex trong năm 1943.

Những con tàu này và những tàu xung quanh chúng đã tạo nên các lực lượng tàu sân bay đặc nhiệm của hạm đội 3 và hạm đội 5, chúng đóng một phần quan trọng trong chiến thắng của Đồng Minh trong chiến tranh Thái Bình Dương.

USS Philippine Sea - một tàu sân bay tiêu biểu thuộc lớp Essex

Trận chiến biển Philippines năm 1944 là trận chiến tàu sân bay lớn nhất trong lịch sử: 24 tàu sân bay được cả hai bên sử dụng.

Chiến thắng quyết định của hạm đội Mỹ cũng đánh dấu cục diện không thể xoay chuyển được nữa của chiến tranh Thái Bình Dương.

Triều đại mà các thiết giáp hạm là thành phần chính của một hạm đội cuối cùng đã đi đến hồi kết khi tàu sân bay đánh chìm những thiết giáp hạm lớn nhất mà con người từng chế tạo được.

Siêu thiết giáp hạm Musashi chìm vào năm 1944 trong khi chiếc Yamato cũng ra đi vào năm kế tiếp.

Quá cay đắng, Nhật Bản quyết định chế tạo chiếc tàu sân bay lớn nhất của cuộc chiến: chiếc Shinano, đây là một chiếc tàu lớp Yamato chuyển đổi trước khi hoàn thành nửa chừng để thay thế những mất mát tai hại trong trận Midway.

Nó bị đánh chìm bởi tàu ngầm tuần tra Mỹ USS Archer-Fish trước khi được trang bị đầy đủ để đưa vào hoạt động trong tháng 11 năm 1944.

Những cải tiến thời chiến

- Mũi chống bão: một mũi chống bão là một boong chứa máy bay hoàn toàn kín, lần đầu tiên được nhìn thấy trên chiếc tàu sân bay thuộc lớp Lexington, nó đi vào hoạt động năm 1927.

Kinh nghiệm chiến đấu đã chứng minh nó là cấu hình hữu ích nhất của mũi tàu sân bay so với những loại khác đã được thử nghiệm, bao gồm cả sàn bay thứ hai và một khẩu đội pháo phòng không.

Tính năng này được tái kết hợp vào các tàu sân bay Mỹ thời hậu chiến.

Chiếc tàu sân bay Nhật Bản đầu tiên có kết hợp một mũi chống bão là chiếc Taihō.

- Đường băng chéo: trong chiến tranh, máy bay phải hạ cánh trên một đường băng song song với trục dài của thân tàu.

Máy bay nào đã đỗ trên sàn phải được cho đỗ ở mũi tàu, chỗ cuối đường băng.

Một thanh ngăn va chạm được dựng lên phía sau chúng để ngăn máy bay đang hạ cánh khỏi lao vào khu vực đó trong trường hợp móc giữ của nó móc trượt vào các dây giảm tốc.

Nếu điều này xảy ra chắc chắn sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng, thương vong hay thậm chí nếu thanh chắn không đủ chắc, còn phá hủy các máy bay đã đỗ.

Một phát triển quan trọng trong thời kỳ chiến tranh khi người Anh phát minh ra đường băng chéo, nơi đường băng được đặt chéo khoảng 9 độ so với trục thân tàu.

Nếu một máy bay không móc được cáp giảm tốc, phi công chỉ cần tăng sức lên tối đa rồi lại cất cánh lại và sẽ không đâm phải các máy bay đã đỗ bởi vì đường băng chéo góc hướng ra ngoài biển.

USS Enterprise (CVN-65) - tàu sân bay hạt nhân đầu tiên

Tháng 8 năm 1950, đô đốc Forrest Sherman - tham mưu trưởng hải quân Hoa Kỳ yêu cầu nghiên cứu tính khả thi về một tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân.

Các nhà khoa học đã phát triển một lò phản ứng hạt nhân trên bờ để thử nghiệm.

Lò phản ứng A1W thử nghiệm thành công và được cấp phép.

Kinh phí cho việc chế tạo tàu sân bay hạt nhân được phê duyệt trong năm 1958.

Nhà sản xuất Newport News Shipbuilding chỉ mất 2 năm để hoàn thiện tàu sân bay dài nhất mà con người từng chế tạo được.

Chiếc tàu sân bay USS Enterprise được bàn giao cho hải quân Mỹ vào tháng 10 năm 1961.

Tàu dài 342 mét, rộng 78,4 mét, lượng choán nước 93.248 tấn.

Tàu được trang bị 8 lò phản ứng hạt nhân A2W (phiên bản cải tiến của A1W), cung cấp năng lượng cho 4 turbine hơi nước với tổng công suất 280.000 mã lực, truyền động cho chân vịt 4 trục, tốc độ tối đa 35 knot/giờ.

Tàu được vận hành bởi thủy thủ đoàn 5.500 người, bao gồm cả nhân viên hàng không.

Tàu sân bay Enterprise

Enterprise có thiết kế tương tự các tàu sân bay trước đó như Kitty Hawk và Constellation.

Tàu có 4 máy phóng hơi nước, 4 thang máy.

Cấu trúc thượng tầng độc đáo của tàu được ví von là "tổ ong".

Tàu được gọi với biệt danh "Big E".

Enterprise còn là tàu sân bay đầu tiên được trang bị radar quét mảng pha hoạt động theo từng giai đoạn cùng hệ thống tác chiến điện tử tinh vi.

Enterprise cũng là tàu sân bay đầu tiên hạ thủy mà không có vũ khí tự vệ.

Đến năm 1967, 2 bệ phóng MK25 sử dụng tên lửa Sea Sparrow mới được lắp đặt.

Năm 1980, 3 hệ thống phòng thủ tầm cực gần MK15 Phalanx 20 mm được bổ sung thêm.

Enterprise là sân bay của nhiều loại máy bay trên hạm nổi tiếng như F-4 Phantom, F-14 Tomcat, A-1 Skyraiders, A-3 Skywarrior, A-4 Skyhawk, A-7 Crusaders.

Tiêm kích hạm cuối cùng hoạt động trên Enterprise là 4 phi đội F/A-18 E/F Super Hornet.

Enterprise bắt đầu triển khai hoạt động từ năm 1962, khi tàu tham gia vào cuộc phong tỏa trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962.

Năm 1964, Enterprise cùng với tuần dương hạm tên lửa USS Long Beach, khu trục hạm USS Bainbridg và 3 tàu năng lượng hạt nhân khác thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới, vượt qua quãng đường 49.189 km trong 65 ngày, còn gọi là chiến dịch Sea Orbit.

Tháng 12 năm 1972, cùng với 5 tàu sân bay khác, Enterprise tham gia chiến dịch Linebacker II.

Neo đậu ngoài biển Đông, Enterprise đã phóng lên nhiều đợt tiêm kích hạm để hộ tống phi đội máy bay ném bom chiến lược B-52 ném bom oanh tạc Hà Nội, Hải Phòng và những cơ sở công nghiệp, hậu cần quan trọng ở miền Bắc Việt Nam.

Năm 1988, Enterprise được triển khai ở vịnh Ba Tư trong chiến tranh Iran-Iraq.

Các tiêm kích trên tàu đã đánh chìm một tàu hộ tống của Iran.

Những năm 1990, Enterprise thực thi vùng cấm bay ở Iraq và Bosnia.

Đầu năm 2000, Enterprise tiến hành các cuộc không kích chống phiến quân Taliban và tổ chức khủng bố Al Qaeda.

Tháng 12 năm 2012, sau 50 năm phục vụ, Enterprise được rút khỏi các nhiệm vụ để chuẩn bị ngưng hoạt động.

Trong suốt 50 năm hoạt động, USS Enterprise đã thiết lập nhiều kỷ lục, con tàu từng đi vòng quanh thế giới 3 lần, thực hiện 25 sứ mệnh trên khắp thế giới, 400.000 lượt máy bay cất hạ cánh thành công, hàng trăm nghìn lượt thủy thủ thay nhau làm nhiệm vụ trên tàu.

Tàu sân bay trong Chiến tranh Việt Nam

Những tàu sân bay đầu tiên của Mỹ đã được đưa tới bờ biển Việt Nam từ năm 1964, rất lâu trước khi các lực lượng bộ binh viễn chinh đầu tiên xuất hiện trên chiến trường miền Nam.

Ngày 5/8/1964, máy bay từ 2 tàu sân bay USS Constellation (CV-64) và USS Ticonderoga (CV-14) đã tấn công các mục tiêu ở miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân kéo dài 8 năm.

Tới tháng 2 năm 1965, trên biển Đông đã có 4 tàu sân bay Mỹ, mỗi tàu sân bay đều có 6 đến 8 tàu bảo vệ các loại như khu trục hạm, tàu ngầm, tàu hộ vệ chống ngầm (chưa kể các tàu hậu cần, chở dầu, cứu hộ) đi kèm.

Những cụm tàu sân bay này hoạt động tác chiến liên tục trong 30 - 45 ngày, sau đó thay nhau trở về căn cứ bảo dưỡng và nghỉ ngơi.

Các tàu sân bay được triển khai ở hai khu vực: vịnh Bắc Bộ (2 chiếc) và ngoài khơi Nha Trang (2 chiếc), di chuyển cách bờ 150 - 200 hải lý và khi máy bay chuẩn bị xuất kích thì vào sát bờ 40 - 120 hải lý.

Trong chiến tranh Việt Nam, các tàu sân bay Mỹ phải hoạt động với cường độ rất căng thẳng, tới 80% thời gian ở trên biển và chỉ còn khoảng 20% thời gian được ở căn cứ.

Tất cả các tàu sân bay Mỹ đều lần lượt tham chiến ở Việt Nam, thông thường mỗi tàu 3 tháng nhưng có khi phải kéo dài đến 6-8 tháng.

Tùy theo thời tiết, không quân trên hạm thực hiện từ 2.000-8.000 phi vụ mỗi tháng, trung bình mỗi phi công phải bay 20 giờ/tháng.

Tổn thất máy bay cũng rất nặng nề: mỗi tàu sân bay hàng tháng bị mất 10-15 máy bay khi vào đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Các tàu sân bay không bị tấn công do luôn nằm ngoài tầm bắn của các loại pháo bờ biển và phía Việt Nam chưa có tên lửa đối hạm.

Tuy vậy, cường độ hoạt động cao, kéo dài và sự mệt mỏi, căng thẳng của các nhân viên trên tàu sân bay đã không ít lần dẫn đến tai nạn cháy nổ, gây thiệt hại nặng về cả người và vũ khí, trang bị làm nhiều tàu hư hỏng lớn, phải sửa chữa kéo dài và rất tốn kém.

Nổi tiếng nhất là vụ cháy nổ trên tàu sân bay USS Forrestal xảy ra vào sáng ngày 29/7/1967 khi đang cắm chốt trên vịnh Bắc Bộ.

Nguyên nhân theo điều tra là do động cơ của quả tên lửa Zuni 127 mm treo dưới cánh chiếc tiêm kích F-4 bất ngờ hoạt động và tên lửa bắn thẳng vào thùng nhiên liệu của chiếc máy bay cường kích A-4 đang mang đầy đủ vũ khí phía trước.

Phi công John McCain - thượng nghị sĩ tương lai của bang Arizona chính là người điều khiển chiếc phi cơ A-4 Skyhawk mà tên lửa lao trúng.

Ông McCain kịp thoát ra khỏi khoang lái của phi cơ.

Dẫu vậy, nhiên liệu trên chiếc A-4 Skyhawk chuẩn bị xuất kích tràn ra khắp sàn tàu sân bay USS Forrestal, thiêu hủy nhiều máy bay xung quanh đó.

Đám cháy từ chiếc máy bay làm một quả bom 450 kg nổ, giết chết nhiều nhân viên cứu hỏa khi họ đang nỗ lực ngăn chặn ngọn lửa lan rộng ra các khu vực khác của sàn tàu.

Hàng loạt vụ nổ liên hoàn sau đó nhấn chìm một phần mặt sàn tàu sân bay USS Forrestal trong biển lửa.

Nhiều phi công chuẩn bị xuất kích không thể thoát khỏi khoang lái của máy bay do đám cháy quá dữ dội.

Đám cháy nổ dữ dội kéo dài 13 giờ liền mới dập tắt được và đã làm 134 lính Mỹ thiệt mạng, 162 lính khác bị thương cùng với 29 chiến đấu cơ bị phá hủy hoàn toàn, 42 chiếc khác hư hỏng nặng, ngoài ra, nhiều máy bay và vũ khí cũng bị ném xuống biển để tránh khả năng làm mồi cho vụ hỏa hoạn.

Tàu USS Forrestal bị loại khỏi vòng chiến đấu và phải sửa chữa kéo dài 7 tháng liền.

Tổn thất vật chất lên đến 72 triệu USD (tương đương 500 triệu USD theo tỉ giá ngày nay).

Đây là thiệt hại nặng nề nhất về người, vũ khí và trang bị của tàu sân bay Mỹ sau Thế chiến thứ Hai.

Trên thực tế, cơ chế an toàn ngăn tên lửa MK-32 Zuni không phát nổ khi hiện tượng cướp cò xảy ra.

Tuy nhiên, nó lại lao trúng thùng chứa nhiên liệu của chiếc máy bay A-4 Skyhawk, gây ra vụ hỏa hoạn nghiêm trọng.

Chỉ vài giây sau đó, các thùng chứa nhiên liệu phụ khác cũng bắt lửa, khiến lượng lớn xăng tràn ra mặt sàn tàu sân bay, kích nổ thêm nhiều chiến đấu cơ khác.

Trong toàn bộ cuộc chiến tại Việt Nam, trên các tàu sân bay Mỹ đã xảy ra 20 vụ cháy nổ lớn và trung bình, thiêu rụi hoàn toàn 60 máy bay chiến đấu các loại, làm hàng trăm lính Mỹ chết và bị thương.

Điều đó đã gây ra khá nhiều chỉ trích đối với loại căn cứ không quân nổi này nhưng cũng không thể phủ nhận được sự cần thiết của tàu sân bay trong các cuộc xung đột quân sự và chiến tranh cục bộ.

Chính từ đây bắt đầu xuất hiện chính sách ngoại giao mới trên thế giới được gọi là "ngoại giao tàu sân bay".

Ngoài những tai nạn cháy nổ, những tàu sân bay cũng phải dè chừng lực lượng đặc công, người nhái của Việt Nam đột kích bất ngờ:

USNS Card (CVE-11) là một tàu sân bay hộ tống thuộc lớp Bogue của hải quân Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ Hai.

Nó nổi bật trong vai trò chống tàu ngầm đối phương.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Card được xếp lại lớp thành một tàu sân bay trực thăng hộ tống, rồi như một tàu sân bay tiện ích.

Ngày 2/5/1964, trong khi neo đậu tại Sài Gòn để bốc dỡ máy bay, tàu USS Card bị đặc công quân Giải Phóng đặt bom và chìm tại cảng Sài Gòn.

Sau đó dù được sửa chữa và nổi trở lại, nó chỉ phục vụ thêm được 6 năm thì bị loại khỏi biên chế hải quân Mỹ và bị tháo dỡ bán sắt vụn.

Đội biệt động 65 thuộc lực lượng đặc công Sài Gòn-Gia Định là đơn vị thực hiện được kỳ tích này.

Đây là những người lính không mang quân phục, họ có thể hoá thân thành bất kỳ ai: anh công nhân bốc xếp, ông lão đạp xích lô, chị tiểu thương hay cô nữ sinh với tà áo dài.

Họ hoạt động đơn tuyến, chỉ biết người trong tổ của mình, thỉnh thoảng họp các tổ với nhau thì phải bịt mặt.

Lâm Sơn Náo, biệt danh Ba Náo là một công nhân làm việc hợp pháp tại cảng nên có điều kiện đi lại trinh sát và thông thuộc địa hình.

Cha anh cũng là một công nhân từng hàng chục năm làm thợ hồ ở cảng, thuộc làu các đường hầm, đường cống ngầm trong cảng, ông đã chỉ vẽ cho anh đường cống ngầm từ bờ sông Sài Gòn xuyên đến khu vực các tàu Mỹ thường neo đậu bốc dỡ hàng.

Một lần giả vờ xuống sông tắm, Ba Náo đã bơi vào kiểm tra lại đường cống này và thấy đây quả là một lối vào cảng rất thuận lợi để thực hiện các trận đánh.

Ngày 29/12/1963, nhận được mật báo có tàu USNS Coree chở pháo, thiết giáp M-113 và máy bay cập cảng, anh và Sáu Cậy (Nguyễn Văn Cậy) đã theo đường cống đưa khối thuốc nổ 80 kg TNT áp vào sườn tàu rồi rút lui an toàn nhưng do khối pin được kết nối quá lâu đã yếu, không đủ sức điểm hỏa nên trận đánh không thành.

Hai người phải quay lại tàu gỡ thuốc nổ đem về để giữ bí mật cách đánh.

Đêm ngày 30/4/1964, cơ sở mật trong cảng lại báo ra có tàu sân bay USNS Card sẽ cập bến ngày mai và bốc dỡ tại cảng ba ngày.

Đêm ngày 1-5, Ba Náo quyết định đưa Nguyễn Phú Hùng - một chiến sĩ trẻ cùng đi với mình.

Một tàu cảnh sát đường thủy của Việt Nam Cộng hòa còn cảnh giới cho hai người vượt sông Sài Gòn, do Ba Náo dụ dỗ được mấy người cảnh sát này để mình vào cảng "đánh lẻ" (thời này việc trộm vặt hàng Mỹ rất phổ biến), còn đưa trước cho họ một xấp tiền.

Qua được đầu cảng phía trên, hai người đưa xuồng vào đường cống.

Đi được khoảng 300 mét thì nước cạn, Náo và Hùng nhảy xuống vác khối thuốc nổ gồm 80 kg TNT và 2 kg C4 đã giấu sẵn trong cống từ trước đi về phía chiếc tàu Mỹ đang neo đậu sát bờ cảng.

3 giờ sáng ngày 2/5/1964, tàu USNS Card phát nổ và chìm xuống đáy sông Sài Gòn ở độ sâu 6 mét.

24 máy bay các loại bị phá hủy, 120 lính Mỹ trên tàu chết và bị thương.

Đội biệt động 65 được tặng thưởng huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhì.

Lâm Sơn Náo được tặng thưởng huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba, Những người vận chuyển thuốc nổ vào thành phố được tặng thưởng huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

Lâm Sơn Náo còn được chủ tịch Cuba Fidel Castro gửi tặng một khẩu súng hiệu Browning cho chiến công đánh chìm tàu Mỹ.

Những cách tiêu diệt tàu sân bay

- Người nhái đặt mìn: khi tàu sân bay neo đậu tại một cảng biển nào đó, có thể dùng người nhái lặn tới đặt mìn để đánh chìm tàu.

- Ngư lôi: trong Thế chiến thứ Hai, hải quân Mỹ đánh chìm tổng cộng 17 tàu sân bay của Nhật Bản, trong đó 8 chiếc là do ngư lôi phóng từ tàu ngầm.

Đổi lại, hải quân Mỹ cũng mất 11 tàu sân bay, trong đó 4 là do ngư lôi phóng từ tàu ngầm Nhật.

Hải quân Anh cũng mất 5 tàu sân bay do tàu ngầm Đức.

Tổng cộng trong Thế chiến thứ Hai, 17 tàu sân bay đã bị đánh chìm bởi ngư lôi (9 tàu sân tàu hạm đội, 8 tàu sân bay hộ tống và hạng nhẹ), khiến 12.500 thủy thủ thiệt mạng.

Ngư lôi kiểu cũ thời Thế chiến thứ Hai dùng cơ chế chạm nổ để xuyên thủng thân tàu và cho nước tràn vào qua lỗ thủng đó.

Trong khi đó, ngư lôi hiện đại phát nổ bên dưới đáy tàu, cách con tàu vài mét và dùng sức ép từ vụ nổ bẻ gãy con tàu làm đôi nên có thể tạo ra sức tàn phá lớn hơn nhiều.

Hải quân Mỹ từng thực hiện nhiều mô phỏng để xem cần bao nhiêu ngư lôi để đánh chìm một tàu sân bay cỡ lớn.

Vớp tàu sân bay lớp Nimitz của Mỹ, họ ước tính sẽ cần khoảng 6 ngư lôi cỡ 533 mm, ví dụ như loại MK-48 với đầu đạn nặng 300 kg để đánh chìm một tàu sân bay hạng nặng.

Để đánh chìm một tàu sân bay hạng trung như chiếc Liêu Ninh của Trung Quốc, có thể sẽ cần khoảng từ 3 đến 4 ngư lôi cỡ 533 mm.

Các tàu ngầm hiện đại đều trang bị 6 (thậm chí 10) ống phóng ngư lôi 533 mm với dự trữ 18-24 quả nên hoàn toàn đủ khả năng đánh chìm tàu sân bay nếu có thể tiếp cận đủ gần mục tiêu.

Một số loại tàu ngầm cỡ lớn của Nga còn được trang bị loại ngư lôi hạng nặng cỡ 650 mm với đầu đạn nặng 570 kg, có thể đánh chìm một tàu sân bay cỡ lớn chỉ với 2-3 quả trúng đích.

Từ sau Thế chiến thứ Hai đến nay, không một tàu sân bay nào bị đắm trong các hoạt động tác chiến, đơn giản là vì từ đó đến nay không có một cuộc xung đột trên biển cỡ lớn nào giữa các cường quốc hải quân.

Tuy nhiên, các cuộc tập trận hoặc các sự kiện chạm trán cho thấy những tàu ngầm hiện đại có thể trở thành những sát thủ thực sự của tàu sân bay khi áp dụng chiến thuật phục kích, ẩn nấp:

Năm 1956, chiếc tàu ngầm C-360 của Liên Xô từng cho nhô kính tiềm vọng ngay trước mũi tàu sân bay USS Des Moines của Mỹ.

Trong những năm Chiến tranh lạnh, Tàu ngầm K-10 của Liên Xô đã bám ngay dưới đáy tàu sân bay Enterprise của Mỹ suốt 13 tiếng đồng hồ mà tàu Mỹ không hề hay biết.

Nếu đây là trận đánh thực sự, tàu ngầm K-10 đã có thể phóng ngư lôi và dễ dàng hạ gục chiếc tàu sân bay hạt nhân đầu tiên trên thế giới.

Tháng 12 năm 2005 diễn ra cuộc tập trận mang tên "Joint Task Force Exercise 06-2" với sự tham gia của chiếc tàu ngầm Gotland của hải quân Thụy Điển được biệt phái đến Thái Bình Dương.

Sau cuộc tập trận, Thụy Điển công bố những bức ảnh chụp tất cả các tàu trong cụm tàu sân bay tấn công của Mỹ, trong đó có chiếc tàu sân bay Ronald Reagan dẫn đầu đội hình.

Chiếc tàu ngầm Thụy Điển này đã lặn xuyên qua đội hình cụm tàu sân bay và chụp ảnh từng con tàu Mỹ ở cự ly gần mà các tàu chiến Mỹ không hề phát hiện ra.

Ngày 26/10/2006, khi nhóm tác chiến tàu sân bay Kitty Hawk của Mỹ đang diễn tập gần đảo Okinawa, Nhật Bản thì một tàu ngầm Type-039 của Trung Quốc bỗng nhiên nổi lên giữa đội hình của họ, cách tàu sân bay Kitty Hawk chỉ 8 km.

Trong khi đó, Kitty Hawk được hộ tống bởi một hạm tàu nổi rất mạnh bao gồm cả tàu ngầm và tàu khu trục.

Nếu trong tình huống tác chiến, chiếc tàu ngầm Type-039 này có thể dễ dàng hạ gục tàu sân bay Mỹ bằng ngư lôi hoặc tên lửa diệt hạm.

Năm 2007, một tàu ngầm điện - diesel của hải quân Canada mang tên HMCS Corner Brook "đánh chìm" tàu sân bay Illustrious trong đợt diễn tập mô phỏng trên Đại Tây Dương.

Đầu năm 2015, tàu ngầm hạt nhân tấn công SNA Saphir của hải quân Pháp tham gia diễn tập chung với cụm tác chiến tàu sân bay số 12 của hải quân Mỹ gồm tàu sân bay Theodore Roosevelt cùng nhiều tuần dương hạm lớp Ticonderoga, khu trục hạm lớp Aegis và một tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Los Angeles.

Tàu ngầm SNA Saphir đóng vai một tàu ngầm của đối phương, nó mất nhiều ngày rình rập và đã thành công trong việc vượt qua vòng bảo vệ bên ngoài dưới sự đe dọa liên tục từ máy bay tuần tiễu chống ngầm P-3C Orion và P-8A Poseidon của hải quân Mỹ, các khu trục hạm lớp Aegis và các tàu hộ vệ chống ngầm khác.

Tàu ngầm Saphir đã tránh né được sự phát hiện của lực lượng chống ngầm, lặng lẽ áp sát chiếc tàu sân bay của hải quân Mỹ và thực hiện phóng ngư lôi giả định.

Nếu là một trận đánh thực sự, tàu ngầm Saphir sẽ đánh chìm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt và phần lớn các tàu hộ tống của nó.

- Bom và tên lửa chống hạm: trong Thế chiến thứ Hai, nhiều tàu sân bay đã bị đánh chìm bằng bom ném từ máy bay.

Ở thời kỳ này, để ném bom chính xác thì máy bay phải áp sát tàu sân bay địch, do đó cần hàng chục máy bay tấn công cùng lúc để có thể vượt qua hàng phòng thủ từ chiến đấu cơ và pháo phòng không trên đội tàu hộ tống đối phương.

Do đó, ở thời kỳ này, việc tiêu diệt một tàu sân bay bằng không quân là khá khó khăn, lực lượng tấn công thường phải chịu thiệt hại lớn về máy bay.

Hiện nay, vai trò của bom đã được tên lửa diệt hạm thay thế, nó đã trở thành loại vũ khí chính cho tác chiến trên biển.

Tên lửa diệt hạm hiện đại có tầm bắn xa, có thể lên đến cả nghìn cây số, thời gian di chuyển đến mục tiêu ngắn nhờ vào tốc độ cao, có thể dễ dàng đạt vận tốc siêu thanh.

Tên lửa cũng bay rất thấp, gần sát mặt biển (để tránh bị radar phát hiện từ xa).

Do vậy, việc đánh chặn tên lửa diệt hạm là một nhiệm vụ rất khó, ngay cả với tàu chiến có hệ thống phòng không hiện đại.

Ngoài ra, vận tốc cao giúp tăng thêm sức tàn phá của tên lửa khi va chạm vào mục tiêu.

Đa số các tên lửa diệt hạm sử dụng cơ chế xuyên phá và nổ chậm để tối đa hoá mức độ thiệt hại, nghĩa là nó dùng động năng của mình để xuyên thủng lớp vỏ ngoài của tàu và phát nổ khi đầu đạn đã ở bên trong con tàu.

Với tên lửa diệt hạm hiện đại, một phi đội gồm khoảng 10-20 máy bay (mỗi chiếc mang theo 2-3 tên lửa) có thể tiêu diệt cả một nhóm tàu sân bay đối phương một cách không quá khó khăn.

Một đợt tấn công gồm hàng chục tên lửa chống hạm phóng cùng lúc có thể chọc thủng hệ thống phòng không của các tàu hộ tống và đánh chìm tàu sân bay.

Số lượng các quốc gia có thể thực hiện điều này ngày càng tăng, do đó, nhiều chuyên gia quân sự cho rằng tàu sân bay sẽ trở nên lỗi thời trong chiến tranh hiện đại vào khoảng giữa thế kỷ 21, giống như số phận của các thiết giáp hạm cách đó một thế kỷ.
 
Lịch Sử Các Loại Vũ Khí
Lịch sử thiết giáp hạm


Có thể nhân loại sẽ không bao giờ được nhìn thấy lại một thứ vũ khí khác với quyền uy thánh thần cùng vẻ đẹp lạnh lẽo chết chóc, đem đến cảm giác choáng ngợp ngây ngất cho những ai đã từng có may mắn được diện kiến như thiết giáp hạm đã từng.

Những tòa lâu đài bọc thép đồ sộ đạp sóng lướt băng băng trên đại dương cùng những họng pháo gầm thét như sấm dậy, là người hùng của những câu chuyện lịch sử hào hùng, của những truyền thuyết được lưu truyền muôn đời và là đề tài tranh luận bất tận cho đến nhiều thế kỷ sau bởi hàng triệu tín đồ của lịch sử và khoa học kỹ thuật quân sự.

Thiết giáp hạm Dreadnought (1906)

Mặc dù đã ra đời từ lâu trước đó, thiết giáp hạm chỉ bắt đầu có sự phát triển đột phá về thiết kế lẫn kích thước từ đầu thế kỷ 20 nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự thúc đẩy của cuộc chạy đua vũ trang trước thềm Thế chiến thứ Nhất giữa các cường quốc trên thế giới.

Một trong những thiết giáp hạm nổi tiếng nhất lịch sử chính là thiết giáp hạm HMS Dreadnought của hải quân Hoàng gia Anh.

Theo lý thuyết chiến tranh ngày trước, các trận hải chiến sẽ bắt đầu bằng những cuộc so pháo tương đối thiếu chính xác ở tầm xa, sau đó tiến đến kết liễu ở tầm gần.

Ở tầm kết liễu, các loại pháo nhỏ hơn với tốc độ bắn cao sẽ nhanh chóng hạ gục đối phương hơn so với các loại pháo lớn chậm chạm.

Do vậy, mọi thiết giáp hạm thời đó đều được trang bị hai loại chủ pháo, một lớn hơn cho tầm xa và một nhỏ hơn cho tầm gần.

HMS Dreadnought đưa thiết kế của thiết giáp hạm bước sang một trang mới với việc trang bị toàn bộ bằng pháo hạm cùng cỡ thay vì nhiều loại pháo cỡ lớn nhỏ khác nhau.

Việc sử dụng một loại pháo duy nhất đem lại ưu thế vô cùng lớn cho hệ thống điều khiển bắn, việc thay thế luân chuyển vị trí pháo thủ và hệ thống cung cấp đạn dược.

Thiết giáp hạm Dreadnought có vai trò cột mốc quan trọng đến mức sau này người ta thường phân chia thiết giáp hạm ra làm hai thời kỳ, Tiền-Dreadnought và Dreadnought.

Thiết giáp hạm Dreanought cũng mở đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt trên toàn thế giới.

Chỉ sau vài năm, các thiết giáp hạm đóng mới đều có những bước nhảy vọt về thiết kế, tốc độ, hỏa lực và giáp bảo vệ vượt xa cả Dreadnought và được gọi là thế hệ thiết giáp hạm Super-Dreadnought.

Super-Dreadnought được sử dụng kéo dài từ thời Thế chiến thứ Nhất, Thế chiến thứ Hai cho đến khi thiết giáp hạm trở thành một thứ vũ khí lỗi thời vô dụng và bị loại bỏ hoàn toàn.

Thiết giáp hạm lớp South Carolina (1908)

Mặc dù không được nhiều người biết đến như HMS Dreadnought, USS South Carolina (hay thiết giáp hạm cùng lớp với nó là USS Michigan) thậm chí đóng vai trò lịch sử còn quan trọng hơn cả Dreadnought khi đó là thiết giáp hạm tiên phong đưa ra thiết kế mà sau này sẽ trở thành chuẩn mực cuối cùng của mọi thiết giáp hạm: toàn bộ chủ pháo nằm đồng trục và tháp pháo sau đặt cao qua đầu tháp pháo trước.

Thiết kế này lập tức biến mọi thiết giáp hạm đang hiện hữu trên thế giới trở nên lỗi thời, kể cả thiết giáp hạm Dreadnought lừng danh vừa ra đời hơn một năm trước.

Và chỉ một thời gian ngắn sau đó, các thiết giáp hạm với thiết kế lỗi thời kiểu Dreadnought trở về trước dần biến mất hẳn khỏi hải quân của các cường quốc.

Theo tư duy thông thường, giáp bảo vệ cho các loại khí tài chiến tranh hay ngay cả con người thường sẽ được bố trí theo phương thức: diện tích che chắn càng lớn càng tốt, trong đó, các khu vực quan trọng sống còn sẽ được bảo vệ bởi lớp giáp dày hơn trong khi các khu vực khác càng ít quan trọng thì sẽ được bảo vệ bởi lớp giáp càng mỏng.

Cách bố trí giáp này tỏ ra có hiệu quả trong thời kỳ mà hải chiến chủ yếu xảy ra ở tầm gần với cỡ pháo nhỏ.

Theo thời gian, kích thước pháo ngày càng tăng dần, cùng với đó là hệ thống điều khiển bắn ngày càng hoàn thiện khiến độ chính xác tầm xa của pháo trở nên vô cùng đáng sợ.

Một hiểm họa dần hiện rõ: do giáp sàn quá mỏng, không một thiết giáp hạm hiện hữu nào có khả năng chống nổi đạn pháo tầm xa nếu chúng rót trúng sàn tàu.

Ngoài ra, với khả năng xuyên phá ngày càng mạnh của cỡ đạn lớn, chỉ một phát đạn trúng vào khu vực tháp pháo sẽ đủ để đánh chìm cả thiết giáp hạm do nổ kho đạn.

Do trọng lượng giáp bảo vệ có tỉ lệ tương ứng với tải trọng tàu, tăng độ dày giáp sàn hay giáp tháp pháo sẽ khiến giáp ở những vị trí khác lại càng mỏng hơn.

Đứng trước bài toán hóc búa đó, các kỹ sư thiết kế Hoa Kỳ đề xuất một ý tưởng vô cùng táo bạo, đó là tăng cường tối đa giáp bảo vệ sàn tàu và những khu vực sống còn như tháp pháo, máy tàu, hệ thống điều khiển bắn...

đồng thời bỏ trống hoàn toàn những khu vực kém quan trọng hơn.

Cách bố trí giáp này đòi hỏi sự thay đổi hoàn toàn về thiết kế của thiết giáp hạm, cả bên ngoài lẫn bên trong.

Các bộ phận quan trọng phải được kéo sát gần nhau thành một cụm và số lượng tháp pháo giảm xuống tối đa để giảm thiểu diện tích cần bảo vệ.

Có thể hình dung đơn giản, kiểu giáp "tối đa hoặc bỏ trống" này là một khối bọc thép nằm trong lòng thiết giáp hạm, nơi mà các bộ phận quan trọng sống còn của tàu cùng phần lớn thủy thủ đoàn sẽ nằm trong đó.

Bên ngoài khối thép đó, giáp bảo vệ gần như không hiện hữu.

Theo lý thuyết, khi bên trong pháo đài "thép trong thép" này còn sống sót, thiết giáp hạm vẫn còn sống sót và chiến đấu được.

USS Nevada là thiết giáp hạm đầu tiên áp dụng cách bố trí giáp này cùng toàn bộ thế hệ thiết giáp hạm chuẩn của Mỹ sau đó.

Cách bố trí giáp này về sau được hải quân Hoàng gia Anh và Đồng Minh áp dụng khá triệt để trong khi hải quân Đức và Nhật Bản vẫn chọn kiểu bố trí giáp chia đều cũ.

Tính hiệu quả của cách bố trí giáp "tối đa hoặc bỏ trống" này chưa bao giờ được kiểm chứng rõ ràng trong thực tế do có quá ít các trận hải chiến giữa các thiết giáp hạm xảy ra sau đó.

Hầu hết các thiết giáp hạm đều bị kết thúc số phận bởi bom và ngư lôi từ tàu chiến, tàu ngầm hay máy bay.

Thế hệ thiết giáp hạm chuẩn (1916 - 1923)

Một vấn đề đau đầu khác của các cấp chỉ huy là hạm đội các nước thường sở hữu cùng lúc nhiều thế hệ thiết giáp hạm cũ mới khác nhau, trong đó, các thiết giáp hạm mới thường nhanh hơn, mạnh hơn.

Khi bước vào trận hải chiến, các đô đốc buộc phải phải chia lực lượng thiết giáp hạm của mình ra làm hai đội hình riêng biệt, đội hình tốc độ cao và đội hình tốc độ thấp, nếu không các thiết giáp hạm sẽ lạc đội hình khi di chuyển hay va chạm nhau khi đổi hướng.

Trong những trận đánh căng thẳng, chỉ cần một sai sót nhỏ sẽ dễ dàng gây ra hỗn loạn trong đội hình chiến đấu.

Để giành ưu thế về mặt chiến thuật, các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ quyết định mọi thiết giáp hạm của họ về sau sẽ có chung những thông số chiến thuật quan trọng như cùng tốc độ 21 dặm/giờ, bán kính quay đầu 650 mét, cách bố trí tháp pháo 2 trước 2 sau...

để cho tất cả thiết giáp hạm thuộc các lớp khác nhau đều có thể đứng chung một đội hình chiến đấu.

Thế hệ thiết giáp hạm chuẩn này bao gồm 12 thiết giáp hạm thuộc 5 lớp khác nhau được sản xuất trong khoảng thời gian từ năm 1916 đến 1923.

Theo quan điểm cá nhân thì thời kỳ thiết giáp hạm chuẩn chính là thời kỳ các thiết giáp hạm của Mỹ có thiết kế đẹp mắt nhất.

Bên cạnh đó, trừ yếu tố tốc độ hạn chế do thiết kế ban đầu, các thiết giáp hạm thời kỳ này vẫn giữ tính năng chiến đấu hầu như không thua kém những thế hệ thiết giáp hạm hiện đại hơn ra đời hàng chục năm sau đó của phe Trục.

Kỷ nguyên của thiết giáp hạm tốc độ cao (1913)

Không có cột mốc chính thức nào để xác định thiết giáp hạm tốc độ cao.

Tuy nhiên, có thể xem 3 thiết giáp hạm sau đây là những thiết giáp hạm tiên phong đã tạo bước nhảy vọt về tốc độ so với các thiết giáp hạm cùng thời, mở ra kỷ nguyên của thiết giáp hạm tốc độ cao, xóa nhòa ranh giới giữa thiết giáp hạm và tuần dương thiết giáp hạm.

Vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có giới hạn kỹ thuật, yếu tố kinh tế và cả lý thuyết chiến tranh hiện hữu, tất cả thiết giáp hạm của các quốc gia đều có chung một tốc độ tối đa là 21 dặm/giờ trong một thời gian khá dài.

Anh là quốc gia đầu tiên hạ thủy lớp thiết giáp hạm mới vượt qua giới hạn này vào năm 1913.

Để đạt được tốc độ dự kiến 25 dặm/giờ, thiết giáp hạm lớp Queen Elizabeth sử dụng toàn bộ nhiên liệu đốt là dầu thay vì kết hợp dầu và than, một quyết định liều lĩnh vì dầu khá hiếm và nguồn cung không bảo đảm trong trường hợp có chiến tranh.

Queen Elizabeth cũng là thiết giáp hạm đầu tiên trên thế giới trang bị pháo 15 inch, biến nó thành thiết giáp hạm mạnh và nhanh nhất thế giới vào lúc đó.

Tuy nhiên, do bị quá tải thiết kế, Queen Elizabeth cuối cùng chỉ đạt được tốc độ 23 dặm/giờ khi hoàn thành, tuy nhiên, đó cũng đủ để nhiều người nhận định rằng Queen Elizabeth chính là thiết giáp hạm tốc độ cao đầu tiên, mở đầu cho cuộc chạy đua về tốc độ của thiết giáp hạm.

Sáu năm sau khi Queen Elizabeth lần đầu tiên phá bỏ cột mốc 21 dặm/giờ, một thiết giáp hạm khác đến từ một quốc gia được xem là còn tương đối yếu kém và lạc hậu cả về kinh tế lẫn công nghệ: thiết giáp hạm Nagato của hải quân Đế quốc Nhật Bản đã đẩy cột mốc này lên cao hơn nữa khi đạt tốc độ lên đến 26.5 dặm/giờ.

Tuy nhiên, tốc độ thực này được hải quân Nhật Bản giữ bí mật hoàn toàn và các quốc gia khác đều tin vào tốc độ chính thức 23 dặm/giờ trên giấy tờ của Nagato trong suốt một thời gian khá lâu.

Theo một cách nào đó, có thể nói thiết giáp hạm Dunkerque của Pháp mới chính thức là thiết giáp hạm tốc độ thật sự đầu tiên.

Trong suốt hai thập kỷ, từ 1920 đến 1937, với tốc độ 29.5 dặm/giờ, Dunkerque nhanh hơn mọi thiết giáp hạm khác trên thế giới đến 7 dặm/giờ.

Đây là sự chênh lệch tốc độ khó tin giữa các thiết giáp hạm cùng thời kỳ.

Dunkerque ra đời nhằm mục đích đối đầu, truy kích những đột kích hạm lớp Deutschland của Đức.

Do thiết kế và đặc tính khác thường của mình (tốc độ cao, giáp tương đối mỏng, pháo nhỏ và chỉ có 2 tháp pháo chính đều đặt ở phía trước), Dunkerque thường được xếp vào nhiều loại tàu chiến khác nhau: thiết giáp hạm, thiết giáp hạm bỏ túi, thiết giáp hạm tốc độ cao, tuần dương hạm.

Về sau này, khi sự phát triển của thiết giáp hạm đã gần chạm đến những nấc thang cuối cùng, các thiết giáp hạm có tốc độ từ 28-29 dặm/giờ trở lên thường được xem chung là thiết giáp hạm tốc độ cao.

Khi thiết giáp hạm chạm đến và vượt qua ngưỡng tốc độ 30 dặm/giờ, đó cũng là dấu chấm hết cho sự tồn tại của tuần dương hạm.

Tuần dương hạm với trị giá tương đương, kích thước và tải trọng tương đương trong khi ưu thế về tốc độ không còn đáng kể lại có thể dễ dàng tan xác ở bất kỳ khoảnh khắc nào trong những trận hải chiến bỗng trở thành một lựa chọn quá kém thuyết phục.

Không quốc gia nào cho ra đời thêm bất kỳ một tuần dương hạm mới nào nữa sau khi thiết giáp hạm tốc độ cao chính thức lên ngôi, ngoại trừ trường hợp khá đặc biệt của Alaska, loại tàu mà đến tận ngày nay vẫn còn tiếp tục gây tranh cãi về cách xếp loại chính xác cho nó.

Thiết giáp hạm hiệp ước (1922)

Sau Thế chiến thứ Nhất, để tránh lặp lại cuộc chạy đua vũ trang khốc liệt và tốn kém đã dẫn đến cuộc chiến tàn khốc sau đó, các cường quốc quyết định ngồi lại với nhau và ký kết một hiệp ước giới hạn tải trọng và cỡ pháo của các loại chiến hạm cùng số lượng chủ hạm mà mỗi quốc gia được sở hữu.

Ba tháng thương thuyết của hiệp ước là một cuộc đấu trí đầy căng thẳng và cam go, quốc gia nào cũng muốn bẻ hiệp ước theo hướng có lợi cho nước mình nhất.

Ban đầu, Hoa Kỳ đề xuất giới hạn tải trọng thiết giáp hạm ở mức 32.500 tấn, bằng với tải trọng của lớp thiết giáp hạm Colorado mà họ đang đóng, đồng thời giới hạn cỡ pháo là 16 inch, cũng là cỡ pháo của lớp Colorado.

Nhật Bản đồng ý với cỡ pháo lớn 16 inch vì họ cũng không muốn bỏ cặp pháo 16 inch trên hai thiết giáp hạm Nagato và Mutsu sắp hoàn thành.

Anh thì ngược lại, kịch liệt phản đối cỡ pháo 16 inch, cho rằng pháo 15 inch đã là quá thừa cho một thiết giáp hạm cỡ 32.500 tấn.

Tất nhiên, nếu chọn giới hạn pháo 15 inch, nước Anh cũng sẽ rất có lợi vì toàn bộ lực lượng thiết giáp hạm của họ hiện đang xây dựng trên cỡ pháo này.

Cuối cùng, do Mỹ cương quyết đòi giữ cỡ pháo 16 inch, Anh phải đành nhượng bộ nhưng yêu cầu tăng giới hạn tải trọng lên 35.000 tấn để giáp bảo vệ có thể tương ứng với pháo 16 inch.

Cuối cùng, sau nhiều giằng co căng thẳng, hiệp ước hải quân Washington được ký kết với các điểm chính:

- Mọi thiết giáp hạm chỉ được phép có tải trọng tối đa là 35.000 tấn và pháo 16 inch.

- Đóng băng việc đóng mới thiết giáp hạm.

Các quốc gia không được đóng mới thêm thiết giáp hạm và chỉ được thay thế thiết giáp hạm hiện có khi nó đã đủ 20 năm tuổi.

- Các thiết giáp hạm hiện có cũng không được phép nâng cấp thêm ngoại trừ nâng cấp chống bom và ngư lôi.

Chính những hạn chế ngặt nghèo của hiệp ước đã dẫn đến thay đổi hoàn toàn tư duy thiết kế và công nghệ chế tạo thiết giáp hạm sau đó.

Rất nhiều sáng kiến và phát minh đã ra đời trong thời kỳ này nhằm chiến thắng giới hạn tải trọng.

Đây có lẽ chính là thời kỳ mà thiết giáp hạm có bước nhảy vọt lớn nhất về thiết kế và công nghệ.

Mọi thiết giáp hạm ra đời từ sau hiệp ước cho đến năm 1934 đều tuân thủ chặt chẽ hiệp ước này và thường được gọi chung là thiết giáp hạm hiệp ước.

Những thiết giáp hạm hiệp ước điển hình gồm có Scharnhorst của Đức, Rodney của Anh và North Carolina của Mỹ.

Thiết giáp hạm phi hiệp ước

Ức chế dai dẳng vì bị chèn ép bởi Anh và Mỹ trên hiệp ước Washington, đồng thời nhận thức rõ hiểm họa của việc để hạm đội bị khống chế từ số lượng đến chất lượng trong trường hợp xảy ra xung đột với Hoa Kỳ trong tương lai, năm 1934, Nhật Bản rút khỏi hiệp ước và bắt đầu đóng các thiết giáp hạm "phá rào" khổng lồ với ý định dùng chất lượng chống lại số lượng của hạm đội Anh - Mỹ.

Triết lý của Nhật Bản khá đơn giản, nếu không thể đối đầu với hạm đội Anh - Mỹ bằng số lượng thì mỗi thiết giáp hạm của họ phải đủ khả năng đương đầu cùng lúc với nhiều thiết giáp hạm kẻ thù để bù lại.

Trước hành động này của Nhật Bản, các nước còn lại lập tức đáp trả bằng cách kích hoạt điều khoản phụ của hiệp ước và hạ thủy các thiết giáp hạm mới với tải trọng lên đến 45.000 tấn.

Cuộc tái chạy đua vũ trang trên biển chính thức bùng phát trở lại.

Sau khi Thế chiến thứ Hai bùng nổ, tất nhiên mọi hiệp ước đều mất hết giá trị và các nước lập tức lao vào đóng mới các thiết giáp hạm lớn-nhanh-mạnh với tốc độ điên cuồng.

Các thiết giáp hạm này được gọi là thiết giáp hạm phi hiệp ước.

Những thiết giáp hạm phi hiệp ước nổi tiếng nhất gồm có Bismarck của Đức, Missouri, Iowa của Mỹ và Yamato, Musashi của Nhật Bản.

Siêu thiết giáp hạm và sự kết thúc của một triều đại

Từ khi thế hệ thiết giáp hạm tốc độ cao ra đời, thiết giáp hạm trở nên đa năng hơn và bắt đầu đảm nhận thêm nhiều vai trò mà trước đó được thực thi bởi lực lượng tuần dương hạm hay khu trục hạm như hộ tống tàu sân bay, trinh sát hạm đội, hỗ trợ phòng không, đột kích hải đoàn hay ngược lại: truy đuổi những kẻ đột kích...

Tuy nhiên, ý tưởng về một loại thiết giáp hạm tối thượng, một loại thiết giáp hạm thuần túy được thiết kế cho mục đích đọ pháo dành cho trận đại chiến quyết định giữa hai hạm đội vẫn luôn ám ảnh các bậc chỉ huy, các nhà lãnh đạo trên thế giới.

Vì vậy, dù vô cùng tốn kém với tính năng giới hạn và cơ hội sử dụng khá mập mờ, các quốc gia đều ráo riết chuẩn bị cho ra đời những thiết giáp hạm kích thước khổng lồ với vỏ giáp cực kỳ chắc chắn và kích cỡ pháo tối thượng, sẵn sàng đập tan hạm đội kẻ thù trong một trận hải chiến cổ điển giữa các thiết giáp hạm với nhau.

Những thiết giáp hạm khổng lồ này thường được gọi là siêu thiết giáp hạm.

Với Mỹ, đó là siêu thiết giáp hạm 65.000 tấn Montana trang bị 12 pháo 16 inch.

Nước Đức theo đuổi dự án siêu thiết giáp hạm H với 5 phiên bản khác nhau, trong đó phiên bản siêu khổng lồ H.44 có tải trọng hoang tưởng lên đến 131.000 tấn, trang bị 8 pháo 20 inch.

Ngay cả Liên Xô cũng không chịu đứng ngoài cuộc đua với siêu thiết giáp hạm 59.000 tấn Sovetsky Soyuz trang bị 9 pháo 16 inch.

Cuối cùng là Nhật Bản với siêu thiết giáp hạm Yamato trang bị pháo 18 inch và Super Yamato trang bị pháo 20 inch.

Trong tất cả những dự án siêu thiết giáp hạm kể trên, chỉ có Yamato là kịp hoàn thành và được đưa vào sử dụng.

Các dự án siêu thiết giáp hạm khác đều bị hủy bỏ sau khi chiến tranh nổ ra vì mọi người đều nhận ra rằng cho đến tận khi chiến tranh kết thúc, rất có thể chúng vẫn chưa kịp hoàn thành.

Một điều trớ trêu là vào năm 1941, năm mà lớp siêu thiết giáp hạm đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới rẽ sóng bước ra đại dương để chứng tỏ quyền uy tối thượng của mình thì cũng là năm mà mọi giá trị của thiết giáp hạm bị sụp đổ hoàn toàn.

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, liên tiếp 7 thiết giáp hạm bị đánh chìm bởi các phi cơ ném bom và phóng ngư lôi, trong đó có cả những thiết giáp hạm được xem như những con quái vật bất khả chiến bại trên đại dương như Bismarck của Đức hay Prince of Wales của Anh.

Càng trớ trêu hơn khi 6 trong 7 thiết giáp hạm này bị đánh chìm bởi máy bay Nhật Bản từ tàu sân bay hay đất liền thực hiện.

Nhật Bản là quốc gia đã hạ thủy thành công lớp siêu thiết giáp hạm duy nhất trong lịch sử và cũng chính Nhật Bản là quốc gia đã chỉ ra cho thế giới cái cách để có thể dễ dàng vô hiệu hóa nó.

Siêu thiết giáp hạm với sự tốn kém khủng khiếp về nguyên vật liệu, thời gian, nhân lực và trí lực để hoàn thành lại tỏ ra yếu ớt đến thảm hại trước những chiếc phi cơ nhỏ bé mang theo những quả bom hay ngư lôi mà gần như vô giá trị nếu đem ra so sánh cùng.

Siêu thiết giáp hạm Musashi bị đánh chìm vào năm 1944 bởi 17 bom và 20 ngư lôi trong khi Yamato cũng vùi mình ngoài khơi Okinawa vào năm 1945 sau khi phải nhận 6 bom và 11 ngư lôi.

Sau năm 1945, thiết giáp hạm chấm dứt hoàn toàn vai trò lịch sử của mình.

Các thiết giáp hạm đều bị xẻ ra làm sắt vụn.

Một vài chiếc hiếm hoi vẫn được các quốc gia thắng cuộc giữ lại nhưng có lẽ chỉ vì họ vẫn còn một chút luyến tiếc gì đó với những cỗ máy chiến tranh một thời lừng lẫy này.

Ngày nay, thiết giáp hạm đã biến mất hoàn toàn và chỉ còn hiện hữu trong viện bảo tàng hay trong những cuốn sách tra cứu lịch sử.
 
Lịch Sử Các Loại Vũ Khí
Tàu chiến chủ lực - những cái chết hào hùng và ngớ ngẩn


Tuần dương hạm HMS Hood (1 phát đạn pháo)

Phục vụ: Hải quân Hoàng gia (Anh)

Lớp tàu: Admiral

Trọng tải choán nước: 47.430 tấn

Độ dài: 262,3 mét

Sườn ngang: 31,8 mét

Tốc độ: 52 km/h (28 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.521 người

Biệt danh: Mighty Hood

-----------

Tuần dương hạm Hood là tàu chiến nổi tiếng nhất của Anh Quốc, đồng thời cũng là tuần dương hạm lớn nhất trong lịch sử.

Trang bị 4 tháp pháo đôi 15 inches cùng tốc độ hơn 30 dặm/giờ, Hood là nỗi sợ hãi lớn nhất của hải quân Đức, vốn chuộng sử dụng các chiến hạm cỡ nhỏ tốc độ cao để đột kích chớp nhoáng lực lượng hải quân hùng hậu của Anh.

Cả hạm đội Anh chỉ có ba tàu chiến có đủ tốc độ để truy bắt và pháo đủ mạnh để đè bẹp kiểu tàu chiến đặc biệt này của Đức, đó là các tuần dương hạm HMS Hood, HMS Renown và HMS Repulse.

Trong suốt hơn 2 thập kỷ, Hood là biểu tượng của sức mạnh hải quân Anh Quốc, thường xuyên đi khắp các thuộc địa trên thế giới để trấn áp tinh thần, biểu dương uy quyền của "mẫu quốc".

Tiếc thay, ngay trong lần đầu tiên đối đầu với thử thách thực thụ, Hood cho thấy mình chỉ là một món đồ trang trí, một con hổ giấy không hơn không kém.

Mọi hào quang được gây dựng xung quanh tuần dương hạm này nhanh chóng tan biến.

Hood nhận lấy cái chết nhục nhã nhất trong mọi tàu chiến chủ lực, chỉ sau khi dính đúng một phát đạn từ kẻ thù.

Ngày 24 tháng 5 năm 1941, nhận được lệnh ngăn "con quái vật biển" Bismarck tiến ra Đại Tây Dương tấn công các đoàn tàu vận tải của Anh, Hood và thiết giáp hạm hiện đại nhất vừa ra đời - HMS Prince of Wales lập tức lên đường.

Nhờ mạng lưới tàu chiến và radar rộng lớn được bố trí kín các đại dương, hải quân Anh nhanh chóng xác định được vị trí của thiết giáp hạm Bismarck, dẫn đường cho bộ đôi này chặn đường tại eo biển Đan Mạch.

Trong trận hải chiến nổ ra sau đó, dù có ưu thế gấp đôi: 2 tàu chiến chủ lực (Hood, Prince of Wales) + 2 tuần dương hạm hỗ trợ (Norfolk, Suffolk) đối đầu với 1 tàu chiến chủ lực (Bismarck) + 1 tuần dương hạm hỗ trợ (Prinz Eugen), các tàu chiến Anh Quốc lại nhanh chóng nhận lấy một kết cục thảm hại.

Chưa đến 10 phút giao chiến, chỉ với một phát đạn 15 inches rót trúng hầm đạn từ Bismarck, tuần dương thiết giáp hạm Hood - biểu tượng của Hải quân Hoàng gia lập tức nổ tan tành và biến mất khỏi mặt biển trong tích tắc.

Chỉ 3 trong số 1.418 thủy thủ đoàn sống sót.

Prince of Wales cũng chẳng được anh dũng mấy, vừa thấy Hood lìa trần là lập tức chạy té khói thay vì đứng lại phục thù cho bạn.

Thiết giáp hạm HMS Prince of Wales (4 ngư lôi, 1 bom)

Phục vụ: Hải quân Hoàng gia

Lớp tàu: King George V

Trọng tải choán nước: 38.031 tấn

Độ dài: 227 mét

Sườn ngang: 31,4 mét

Tốc độ: 53,9 km/h (29,1 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.521

----------

Dù là thiết giáp hạm hiện đại nhất, thuộc về quốc gia có truyền thống hải quân hàng đầu thế giới, HMS Prince of Wales lại có lịch sử chinh chiến vô cùng tệ hại.

Sau khi trốn chạy khỏi trận đối đầu với thiết giáp hạm Đức Bismarck, Prince of Wales được giao nhiệm vụ cùng tuần dương hạm Repulse và tàu sân bay Indomitable lập thành lực lượng Z điều về Thái Bình Dương nhằm răn đe Nhật Bản.

Phát hiện lực lượng Z trên hành trình nhờ tàu ngầm I-56 và máy bay trinh sát, Nhật Bản lập bẫy nhử hạm đội Anh ra vùng biển giữa Đông Dương và Malaya để lực lượng oanh tạc cơ chiến lược tầm xa thuộc Không đoàn Hải quân 22 đóng ở Sài Gòn tấn công.

Đợt oanh tạc cơ mang bom đầu tiên nhắm thẳng vào tuần dương hạm Repulse nhưng chỉ đánh trúng được một bom.

Đợt thứ hai, các oanh tạc cơ mang ngư lôi tấn công cả Repulse lẫn Prince of Wales.

Là một thiết giáp hạm hiện đại, Prince of Wales được kỳ vọng sẽ thể hiện tốt hơn so với Repulse - một cựu binh từ thời Thế chiến thứ Nhất.

Thế nhưng trong khi Repulse khéo léo tránh được toàn bộ 7 ngư lôi nhằm vào mình, Prince of Wales dính ngay một ngư lôi vào khu vực gần đuôi, phá hủy chân vịt và gây ngập buồng đốt, tắt máy.

Đây chính là quả ngư lôi kết thúc số phận của Prince of Wales.

Bị mất động lực, thiết giáp hạm Prince of Wales không còn cách nào để bơm nước ra ngoài và sửa chữa thương tích, nó đành nằm chờ chết giữa biển.

Các đợt tấn công tiếp theo, máy bay Nhật Bản chỉ phải tập trung truy sát một mình tuần dương hạm Repulse.

Mặc dù đội lái cực kỳ xuất sắc, thực hiện nhiều pha tránh né tài tình, cuối cùng Repulse cũng ngã gục dưới làn ngư lôi của các phi công Nhật Bản.

Sau khi đánh chìm được Repulse, các phi công Nhật Bản thong thả quay lại trút hết số ngư lôi và bom còn lại vào Prince of Wales, nhanh chóng kết thúc số phận của chiếc thiết giáp hạm kém cỏi này.

Không lâu sau đợt tấn công, thiết giáp hạm Prince of Wales lật úp, mang theo 327 thủy thủ đoàn.

Tàu sân bay Hiryū (4 bom)

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Sōryū cải biến

Trọng tải choán nước: 20.165 tấn

Độ dài: 222 mét

Sườn ngang: 22,3 mét

Tốc độ: 63,9 km/h (34,5 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.103 người + 23 sĩ quan chỉ huy Hạm đội Hàng không số 2

----------

Tàu sân bay IJN Hiryū - soái hạm của chuẩn đô đốc Tamon Yamaguchi có thiết kế đặc biệt với đài không lưu nằm bên trái.

Chỉ có một tàu sân bay trong lịch sử có thiết kế tương tự là Akagi.

Chỉ trong trong một khoảng thời gian ngắn từ khi Nhật Bản tham chiến, Hiryū đã lập được nhiều chiến tích xuất sắc.

Các máy bay ném bom bổ nhào và phóng ngư lôi của Hiryū đã tấn công Trân Châu Cảng, tham gia cuộc không kích Ấn Độ Dương, tiêu diệt vô số tàu chiến và phá hủy nhiều cơ sở hạ tầng, căn cứ của lực lượng Đồng minh.

Sau cuộc truy sát bất thành bộ đôi tàu sân bay Enterprise và Hornet của Mỹ, Hiryū bước vào trận đánh lớn đã làm xoay chuyển cục diện chiến tranh Thái Bình Dương: trận Midway.

Tại Midway, sau khi gửi các máy bay ném bom trinh sát truy tìm hạm đội tàu sân bay Mỹ, các chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zero của Hiryū cất cánh lập hàng rào bảo vệ hạm đội cùng với Zero từ các tàu sân bay khác.

Do phá được mật mã của Nhật Bản, Mỹ nắm rõ vị trí của Hiryū và các tàu sân bay còn lại và tổ chức tấn công ngay lập tức.

Đợt tấn công đầu tiên của hải quân Mỹ gồm 6 máy bay phóng ngư lôi Avenger nhằm vào Hiryū và 4 oanh tạc cơ Marauder nhắm vào Akagi.

Các chiến đấu cơ Zero nhanh chóng bắn hạ 5 Avenger và 2 Marauder.

Cả Hiryū và Akagi đều tránh được ngư lôi.

Bất thần, một quan sát viên thấy những máy bay ném bom bổ nhào của hải quân Mỹ từ trên mây lao xuống và giáng đòn chí tử vào lực lượng xung kích.

Cơ động tránh né rất tài tình nhưng soái hạm Akagi vẫn nhận một quả bom, tàu sân bay Kaga gần đó cũng trúng 4 quả bom.

Khói lửa bốc cao trên hai tàu sân bay bị phá hủy đã dẫn đường cho phi đội máy bay ném bom bổ nhào gồm 17 chiếc do trung tá Maxwell Leslie chỉ huy.

Xuất phát từ tàu sân bay Yorktown và đang bay chệch mục tiêu về hướng đông nam, họ bỗng trông thấy khói ở chân trời phía tây bắc.

Cả đoàn ngoặt ngay về phía đó.

Leslie dẫn đầu rồi lần lượt đến các máy bay khác lao xuống trút bom vào một trong hai tàu sân bay mà họ thoáng thấy qua lớp mây mờ.

Bị trúng cả một loạt bom, tàu sân bay Sōryū bốc cháy, ngập nước và chìm dần.

Sau 20 phút oanh tạc của 54 máy bay ném bom Mỹ, Nhật Bản mất 3 trong số 4 tàu sân bay hạm đội có mặt ở Midway.

Lúc này, hạm đội chỉ còn tàu sân bay Hiryū.

Tamon Yamaguchi hiểu rằng nếu muốn sống sót, chiếc tàu sân bay còn lại của ông phải diệt bằng được tàu sân bay địch trước khi bị nó tấn công.

Không bỏ phí thời gian, Yamaguchi tung toàn bộ máy bay trong tay bay theo phi đội Mỹ vừa rút bỏ và họ phát hiện ra Yorktown.

Dù bị đánh trả dữ dội nhưng những máy bay Nhật Bản vẫn giáng đòn xuống Yorktown và khiến nó chịu thương tích nặng nề.

Yamaguchi tin là Yorktown đã chìm hoặc chẳng mấy cũng sẽ chìm.

Sau đợt đầu, Yamaguchi tung thêm đợt tấn công thứ 2, các phi công Nhật Bản trong đợt xuất kích này nhìn thấy Yorktown nhưng lại tưởng nhầm là một tàu sân bay nguyên vẹn khác.

Tương tự lần trước, Yorktown lại bị giáng thêm những đòn đánh dữ dội, báo cáo về đã đánh chìm 2 tàu sân bay địch:

"Chúng tôi đã đánh chìm được thêm một tàu sân bay còn nguyên vẹn nữa của địch.

Chúng ta đã đánh chìm được 2 tàu sân bay rồi thưa Đô đốc."

Yamaguchi tràn trề hy vọng, ông tin tưởng mình đã lấy lại thế cân bằng cho người Nhật.

Trong tay Tamon Yamaguchi chỉ còn lại một nửa số máy bay, ông quyết định sẽ hy sinh toàn bộ để đánh gục nốt chiếc tàu sân bay còn lại của địch.

Vào khoảng xế chiều, một liên đoàn máy bay từ Yorktown đã mất hiệu năng chiến đấu cùng những máy bay từ các tàu sân bay Enterprise và Hornet được tung ra đã tìm thấy và đánh trúng Hiryū dù nó đã được các máy bay tiêm kích Zero bảo vệ rất vững chắc.

Đến lúc này, Tamon Yamaguchi biết đã không còn hy vọng xoay chuyển tình thế nữa.

Khi tất cả mọi người đã rời tàu, chuẩn đô đốc Tamon Yamaguchi cùng hạm trưởng tàu Hiryū - đại tá Tomeo Kaku cùng nhau uống rượu dưới ánh trăng vàng cho đến khi Hiryū từ từ chìm xuống đáy đại dương, mang theo người đô đốc và hạm trưởng tài năng và kinh nghiệm bậc nhất của hải quân Đế quốc Nhật Bản.

Để lại cho hậu thế câu chuyện về trách nhiệm và danh dự của người võ sĩ đạo.

Các thủy thủ sống sót của cả 4 tàu sân bay Akagi, Kaga, Sōryū và Hiryū sau đó được thiết giáp hạm Haruna và một số khu trục hạm khác cứu vớt và đưa về Nhật Bản an toàn.

Tàu sân bay USS Wasp (3 ngư lôi)

Phục vụ: Hải quân Hoa Kỳ

Lớp tàu: Wasp

Trọng tải choán nước: 19.116 tấn

Độ dài: 225,9 mét

Sườn ngang: 33,2 mét

Tốc độ: 54,6 km/h (29,5 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.800 người

----------

Thứ Ba, ngày 15 tháng 9 năm 1942, tàu sân bay Wasp cùng với thiết giáp hạm North Carolina và 10 tàu chiến khác hộ tống cho việc vận chuyển trung đoàn Thủy quân Lục chiến Số 7 đến tăng cường cho chiến dịch Guadalcanal.

Wasp đảm nhiệm vai trò tàu sân bay thường trực và đang hoạt động ở vào khoảng 150 dặm (240 km) về phía tây nam đảo San Cristobal.

Hệ thống bơm xăng của nó đang được sử dụng vì máy bay của nó đang được tiếp nhiên liệu và vũ khí cho các nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm.

Wasp ở trong tình trạng thường trực tác chiến từ một giờ trước khi mặt trời mọc cho đến khi nhóm máy bay tuần tra buổi sáng quay trở về tàu lúc 10 giờ, sau đó, con tàu quay về tình trạng cấp 2.

Họ đã không tiếp xúc được với lực lượng đối phương nào trong ngày hôm đó ngoại trừ một chiếc thủy phi cơ bốn động cơ Nhật Bản bị một tiêm kích Wildcat từ Wasp bắn hạ lúc 12 giờ 15 phút.

14 giờ 20 phút, chiếc tàu sân bay xoay ra hướng gió và phóng lên 8 chiến đấu cơ F4F Wildcat cùng 18 chiếc máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless để thu hồi 8 chiếc Wildcat cùng 3 chiếc SBD đã bay lúc giữa trưa.

Con tàu nhanh chóng hoàn tất việc thu hồi 11 chiếc máy bay rồi đổi hướng nhẹ nhàng sang mạn phải.

Lực lượng kỹ thuật trên tàu bình thản di chuyển máy bay vào hầm chứa và tiếp thêm nhiên liệu chuẩn bị cho các phi vụ buổi chiều.

Bất ngờ lúc 14 giờ 44 phút, một quan sát viên hô lớn: "Ba ngư lôi... ba điểm phía trước bên mạn phải!".

Một loạt sáu quả ngư lôi, được tàu ngầm Nhật Bản thuộc lớp I-19 bắn ra lúc 14 giờ 44 phút, tung bọt tiến đến gần không cản được.

Wasp bẻ lái gấp sang mạn phải nhưng đã quá trễ.

Ba quả ngư lôi nối tiếp nhau đâm trúng con tàu lúc 14 giờ 45 phút.

Trong một tình huống hiếm thấy, một quả ngư lôi nảy tung lên, lướt bay trên mặt biển và đâm trúng chiếc tàu sân bay bên trên mực nước biển.

Tất cả ba quả ngư lôi đều trúng gần vị trí các bồn xăng và kho đạn.

Hai quả trong loạt 6 quả ngư lôi trượt qua trước mũi chiếc Wasp và được trông thấy trượt qua đằng sau chiếc tuần dương hạm Helena trước khi một quả trúng phải khu trục hạm O'Brien lúc 14 giờ 51 phút khi chiếc khu trục hạm này đang cơ động để lẩn tránh một quả ngư lôi khác.

Quả ngư lôi thứ sáu trượt qua phía sau chiếc Wasp, suýt trúng chiếc khu trục hạm Lansdowne, xuất hiện trên màn hình radar của chiếc Wasp lúc 14 giờ 48 phút, được thủy thủ của khu trục hạm Mustin trông thấy lúc 14 giờ 49 phút, xuất hiện trên màn hình radar của thiết giáp hạm North Carolina lúc 14 giờ 50 phút và trúng phải North Carolina vào khoảng 14 giờ 52 phút.

Những vụ nổ và đám cháy bắt đầu quét qua phần trước của con tàu một cách nhanh chóng.

Máy bay trên sàn đáp và trong các sàn chứa bị ném tung vào nhau và bị rơi xuống sàn dưới với một lực mạnh đến mức các càng đáp hạ cánh của máy bay bị bẻ gãy.

Các đám cháy bùng lên hầu như cùng lúc trong sàn chứa máy bay và các hầm tàu bên dưới.

Không lâu sau, sức nóng của những đám cháy xăng dữ dội đã làm bắt nổ những quả đạn tại các khẩu đội pháo phòng không phía trước, mảnh vụn bắn tung tóe khắp phần trước của con tàu.

Thuyền trưởng Sherman giảm tốc độ tàu sân bay Wasp xuống còn 10 knots (18 km/h), xoay bánh lái sang trái nhằm tìm cách hứng gió phần mạn phải của mũi tàu, sau đó, ông cho đi lùi con tàu với bánh lái bên phải để đón gió ở mạn phải nhằm mục đích cô lập đám cháy ở phần phía trước.

Mười phút sau, Sherman tham khảo sĩ quan cao cấp của mình là Fred Dickey.

Hai người không thấy có cách nào khác ngoại trừ việc phải rời bỏ con tàu vì mọi nỗ lực chữa cháy đều không mang lại hiệu quả.

Những người còn sống sót cần được cho rời tàu nhanh chóng để tránh tổn thất nhân mạng không cần thiết.

Một cách miễn cưỡng và sau khi tham khảo cùng chuẩn đô đốc Noyes, thuyền trưởng Sherman ra lệnh bỏ tàu lúc 15 giờ 20 phút.

Những người bị thương được cho hạ xuống các bè hay thuyền cao su.

Nhiều người không bị thương buộc phải bỏ tàu ở phía sau tàu vì những đám cháy ở phía trước rất dữ dội.

Việc rời bỏ tàu mất khoảng 40 phút và đến 16 giờ, sau khi biết chắc không còn ai bị bỏ lại, thuyền trưởng Sherman đu người qua đuôi tàu và trượt xuống biển.

Khu trục hạm Lansdowne thi hành nhiệm vụ phá hủy con tàu và được yêu cầu phải ở lại cạnh con tàu cho đến khi nó chìm hẳn.

Lansdowne phóng quả ngư lôi đầu tiên ở khoảng cách 900 mét và được đặt ở độ sâu 4,5 mét bên dưới lườn tàu chiếc Wasp nhằm gây ra tổn hại cao nhất với ngòi nổ cảm ứng từ tính.

Khi không nhận thấy hiệu quả nào sau một vụ nổ xem có vẻ trúng đích một cách hoàn hảo, một quả ngư lôi thứ hai được phóng ở độ sâu lườn tàu từ khoảng cách 720 mét.

Một lần nữa, một phát trúng hoàn hảo cũng không mang lại kết quả mong muốn và Lansdowne chỉ còn lại ba quả ngư lôi.

Sĩ quan điều khiển ngư lôi của Lansdowne vô hiệu hóa ngòi nổ cảm ứng từ tính và đặt độ sâu còn 3 mét.

Cả ba quả ngư lôi đều phát nổ, nhưng Wasp tiếp tục nổi trong ánh lửa đỏ cam của một bể xăng và dầu.

Lansdowne nôn nóng chạy tới chạy lui trong ánh lửa cho đến khi Wasp chìm với mũi tàu xuống trước lúc 21 giờ.

Wasp nhận được hai ngôi sao chiến đấu vì những thành tích phục vụ trong Thế chiến thứ Hai.

Loạt ngư lôi không thể tin nổi của thuyền trưởng Takakazu Kinashi cùng thủy thủ đoàn tàu ngầm I-19 trở thành loạt ngư lôi thành công nhất trong lịch sử chiến tranh.

Chỉ với 5/6 quả ngư lôi trúng đích, họ đã hạ được tàu sân bay Wasp, tàu khu trục O'Brien và làm bị thương nghiêm trọng thiết giáp hạm North Carolina.

Sau này, thuyền trưởng Takakazu và các thành viên tàu ngầm I-19 đã được Quốc trưởng Đức Adolf Hitler vinh danh trong chuyến đi của họ đến châu Âu.

Tuần dương hạm Aoba

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Aoba

Trọng tải choán nước: 8.300 tấn

Độ dài: 185,17 mét

Sườn ngang: 17,56 mét

Tốc độ: 66,7 km/h (36 knots)

Thủy thủ đoàn: 657 người

----------

Ngày 11 tháng 10 năm 1942, hải đội Tuần dương số 6 do tuần dương hạm Aoba làm soái hạm cùng với 4 con tàu khác dưới sự chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Gotou Aritomo được giao nhiệm vụ hộ tống một đoàn tàu vận tải chở lính Nhật chuẩn bị cho trận đánh lịch sử Guadalcanal.

Mọi việc khá suôn sẻ cho đến khi máy bay trinh sát của quân Mỹ phát hiện ra đoàn tàu này, một hạm đội Mỹ do Chuẩn Đô đốc Norman Scott được giao sứ mệnh phải ngăn cản người Nhật.

23 giờ đêm ngày 11 tháng 10, người Mỹ phát hiện ra hạm đội Nhật Bản bằng hệ thống radar và bắt đầu nã pháo.

Tuy nhiên, do trời tối chưa thể xác định chính xác vị trí của đối phương nên quân Mỹ vẫn chỉ dám bắn rời rạc.

Về phía hạm đội Nhật Bản, do trời quá tối nên Chuẩn Đô đốc Gotou cho rằng hạm đội của ông đang bị đồng đội bắn nhầm nên ra lệnh cho thủy thủ bật hết đèn pha trên tàu lên để bên kia có thể dễ dàng xác định hạm đội của ông.

Đồng thời, ông cũng dùng đèn pha đánh mã Morse cho hạm đội Mỹ với nội dung: "Đây là Aoba, xin hãy ngừng bắn".

Cố nhiên là nhờ hai cái trò trên của Gotou mà giờ đây cả hạm đội ông tỏa sáng như "mặt trời chân lý" giữa màn đêm.

Các tàu chiến Mỹ ban đầu chỉ dám bắn rời rạc do vẫn chưa thể xác định rõ ràng vị trí hạm đội Nhật nay đã có thể pháo kích tập trung vào quân Nhật vốn đã lộ vị trí rõ như ban ngày.

Điều đáng phẫn nộ ở đây là mặc dù là đứa đầu têu khiến cả đám gặp nguy nhưng Aoba lại không chìm, chiếc tuần dương hạm Furutaka cùng với thủy thủ đoàn đã hy sinh thân mình che chở cho chiếc kỳ hạm này thoát khỏi hỏa lực của quân Mỹ.

Mặc dù vậy, Gotou cùng với hơn 40 thủy thủ đoàn của Aoba tử trận.

Ngoài Furataka, khu trục hạm Fubuki cũng bị người Mỹ đánh chìm trong trận hải chiến này.

Quân Mỹ giành chiến thắng về chiến thuật trong việc chỉ mất một chiếc khu trục hạm để đổi một tuần dương hạm và một khu trục hạm của địch.

Tuy nhiên, quân Nhật lại giành chiến thắng chiến lược trong cuộc hải chiến do đoàn tàu vận tải Nhật vẫn đổ bộ an toàn.

Thiết giáp hạm Mutsu (1 que diêm)

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Nagato

Trọng tải choán nước: 42.850 tấn

Độ dài: 221,03 mét

Sườn ngang: 34,59 mét

Tốc độ: 50 km/h (27 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.368 người

----------

Thiết giáp hạm Mutsu là một trong hai thiết giáp hạm lớp Nagato.

Trong suốt hơn 20 năm, Mutsu và Nagato là thanh kiếm răn đe và tấm khiên che chắn của nước Nhật cho đến khi vai trò được trao vào tay hai siêu thiết giáp hạm sau này: Yamato và Musashi.

Mutsu và Nagato có số phận kỳ lạ đến khó tin.

Trong khi toàn bộ mọi tàu chiến chủ lực của Nhật Bản và phe Trục nói chung đều chìm sâu dưới đáy biển bởi phía Đồng minh, cả Nagato lẫn Mutsu đều có kết cục khác biệt.

Nagato thoát chết trong cuộc chiến, trở thành kẻ sống sót duy nhất và bị đem đi thử bom nguyên tử sau chiến tranh.

Mutsu vào một ngày giữa năm 1943, trong lúc đang neo đậu tại cảng, bất ngờ xảy ra một vụ nổ kinh hoàng từ tháp pháo số 3.

Vụ nổ mạnh đến mức bẻ ngay chiếc thiết giáp hạm danh tiếng này ra làm đôi.

Phần thân và mũi tàu chìm ngay lập tức, mảnh đuôi nổi lập lờ trên mặt biển và chìm nhiều giờ sau đó.

1.121 thủy thủ đoàn và khách tham quan thiệt mạng.

Điều tra sau đó xác định một thành viên thủy thủ đoàn đã tự sát bằng cách châm lửa cho nổ tháp pháo, kéo theo hơn 1.000 mạng sống cùng mình.

Đây có lẽ là cái chết tức tưởi nhất trong toàn bộ tất cả các tàu chiến chủ lực trong lịch sử.

Tàu sân bay Taihō (1 ngư lôi)

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Taihō

Trọng tải choán nước: 37.866 tấn

Độ dài: 260,6 mét

Sườn ngang: 27,4 mét

Tốc độ: 61,7 km/h (33,3 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.751 người

----------

Có thể nói chiếc tàu sân bay Taihō đã thay đổi phong cách thiết kế truyền thống của tàu sân bay Nhật Bản, áp dụng nhiều thiết kế sáng tạo mới, tập trung tinh hoa công nghệ, tăng cường khả năng phòng thủ thiết giáp.

Vì vậy, hải quân Nhật Bản tự hào gọi đây là "tàu sân bay không thể chìm".

Chính vì cái biệt danh rất kêu của chiếc tàu sân bay này đã khiến rất nhiều người không khỏi tò mò bởi vào thời điểm đó có rất nhiều tàu sân bay đang bị đe dọa.

Vào một ngày đẹp trời, Phó Đô đốc Ozawa Jisaburō được giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng trên tàu sân bay Taihō.

Khỏi phải nói ông đã cảm thấy vui sướng và tự hào đến mức nào.

Thời tiết khá đẹp cho sự khởi đầu.

Ozawa Jisaburō cùng đồng đội của mình đã tận mắt chứng kiến con tàu Taihō thể hiện bản lĩnh của mình.

Tính đến thời điểm này thì tàu Taihō đã hoạt động được 3 tháng.

Quân Mỹ đổ bộ lên đảo Saipan, Nhật Bản điều hạm đội Cơ động số 1 gồm 9 tàu sân bay (đứng đầu là Taiho) và 50 tàu chiến chạy hướng Philippines.

Sáng ngày 19 tháng 6, sau khi nhận được báo cáo về vị trí hạm đội Mỹ, tàu sân bay Taihō xoay ra hướng gió và tung ra một đợt không kích.

Cùng lúc, bản thân nó bị tấn công bởi một loạt sáu ngư lôi từ chiếc tàu ngầm Mỹ Albacore.

Một trong những phi công của chiếc Taihō - Sakio Komatsu trông thấy những đợt sóng của ngư lôi khi anh vừa cất cánh và đã tự nguyện bổ nhào máy bay của mình xuống đường đi của một trong các ngư lôi, làm nó phát nổ trước khi đến đích, bốn trong số năm quả ngư lôi còn lại cũng đi trượt.

Vụ nổ của quả ngư lôi duy nhất trúng đích đã làm kẹt thang nâng máy bay phía trước của chiếc tàu sân bay, trong khi hầm tàu chứa đầy xăng, nước và nhiên liệu.

Tuy nhiên, đám cháy không phát ra và sàn đáp cũng không bị ảnh hưởng gì.

Đô đốc Ozawa tỏ ra không mấy lo lắng trước các thiệt hại và tiếp tục tung ra thêm hai đợt không kích khác.

Trong khi đó, trên tàu có một sĩ quan chưa có kinh nghiệm đảm trách công việc cứu hộ, anh ta cho rằng cách tốt nhất để giải quyết vấn đề hơi xăng là phải mở hệ thống thông khí của toàn thể con tàu để chúng phân tán.

Khi làm như vậy, hơi xăng lan tỏa khắp con tàu và trong khi không ai hay biết gì, Taihō đã trở thành một quả bom nổ chậm khổng lồ nổi trên biển.

Khoảng 15 giờ 30 chiều, Taihō rung chuyển bởi một vụ nổ lớn.

Một sĩ quan tham mưu cao cấp trên cầu tàu trông thấy sàn đáp bị nhấc lên, trong khi thành tàu bị thổi tung ra.

Chiếc Taihō bị tách khỏi đội hình và bắt đầu chìm xuống nước.

Mặc dù Phó Đô đốc Ozawa tỏ ý mong muốn được chìm với con tàu, các sĩ quan tham mưu đã thuyết phục được ông cố sống và chuyển bộ chỉ huy sang tuần dương hạm Haguro.

Mang theo tấm ảnh của Thiên Hoàng, Ozawa chuyển sang chiếc Haguro bằng một tàu khu trục.

Sau khi ông rời tàu, Taihō bị xé ra bởi một vụ nổ kinh hoàng thứ hai và chìm xuống biển với phần đuôi chìm trước, mang theo 1.650 sĩ quan và thủy thủ đoàn.

Tàu sân bay Zuikaku (9 bom, 7 ngư lôi)

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Shōkaku

Trọng tải choán nước: 32.000 tấn

Độ dài: 257,5 mét

Sườn ngang: 26 mét

Tốc độ: 64 km/h (34,5 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.660 người

----------

Zuikaku là tàu sân bay có chiến tích vẻ vang nhất trong tất cả các tàu sân bay của Nhật Bản cũng như phe Trục.

Trong lần lâm trận đầu tiên - trận Trân Châu Cảng, các máy bay ném bom của Zuikaku đánh sập hoàn toàn lực lượng không quân phòng vệ trên đảo, tiêu diệt gần như toàn bộ máy bay của Mỹ, giúp cho máy bay từ các tàu sân bay Nhật khác tự do thực hiện nhiệm vụ diệt hạm của mình.

Máy bay của Zuikaku sau đó đã đánh chìm thiết giáp hạm California.

Sau Trân Châu Cảng, Zuikaku tấn công và đập tan các căn cứ của Úc tại Rabaul và Lae.

Tháng 4 năm 1942, Zuikaku cùng Shōkaku đột kích ra Ấn Độ Dương tấn công hạm đội Anh lừng lẫy, tiêu diệt tàu sân bay Hermes cùng bộ đôi tuần dương hạm hạng nặng Cornwall và Dorsetshire.

Tháng 5 năm 1942, tại biển San Hô, Zuikaku cùng Shōkaku tham gia trận hải chiến tàu sân bay đầu tiên trong lịch sử với bộ đôi tàu sân bay Yorktown và Lexington của Mỹ.

Phát hiện vị trí của nhau gần như cùng lúc, cả hai ném toàn bộ lực lượng của mình về phía đối phương.

Zuikaku ẩn mình giữa cơn giông khiến máy bay từ Yorktown và Lexington không thể tìm thấy để tấn công.

Trong đòn đánh trả của mình, Zuikaku và Shōkaku đánh chìm Lexington và gây thương tích cho Yorktown.

Tuy chiến thắng, chính hậu quả từ trận đánh này dẫn đến thất bại then chốt của hải quân Nhật Bản một tháng sau đó ở trận Midway khi cả Zuikaku và Shōkaku - bộ đôi tàu sân bay khủng nhất của Nhật Bản đều không thể tham chiến vì các lý do khác nhau.

Sau khi bỏ lỡ trận đại chiến Midway, trong chuỗi các trận đánh kéo dài liên tục nhiều tháng trời sau đó, từ trận chiến Đông Solomon và trận hải chiến quần đảo Santa Cruz trong chiến dịch Guadalcanal, Zuikaku và Shōkaku một lần nữa chứng tỏ trình độ chiến đấu siêu hạng của mình khi đánh chìm tàu sân bay Hornet và 2 lần suýt đánh chìm chiếc tàu sân bay danh tiếng Enterprise, xóa sổ hoàn toàn lực lượng tàu sân bay của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Nhờ may mắn do khá nhiều bom và ngư lôi của Nhật Bản đánh trúng tàu nhưng không nổ cùng trình độ cứu tàu của thủy thủ đoàn mà Enterprise chỉ ôm thương tích trở về Trân Châu Cảng.

Sang năm 1943, Zuikaku nhận vai trò che chắn hỗ trợ quân Nhật rút lui khỏi đảo Guadalcanal, sau đó là nhiệm vụ phản công quân Mỹ trong trận tấn công đảo Aleutian.

Cuối năm 1943, Zuikaku lui về căn cứ ở Truk và chiến đấu với quân Mỹ đồn trú trên quần đảo Marshall.

Năm 1944, Zuikaku tham gia trận chiến biển Philippines.

Trong trận chiến này, Nhật Bản bị mất 2 trong 3 tàu sân bay xịn nhất còn lại là Taihō và Shōkaku, để lại Zuikaku là tàu sân bay chủ lực cuối cùng, đồng thời cũng là kẻ sống sót duy nhất từ thời Trân Châu Cảng.

Zuikaku cũng dính một bom trong trận này nhưng thủy thủ đoàn giàu kinh nghiệm nhanh chóng khống chế được thương tích.

"Chim hạc may mắn" Zuikaku cuối cùng cũng gục ngã trong trận hải chiến lớn nhất lịch sử - trận hải chiến vịnh Leyte, theo cái cách bất ngờ và đáng tiếc nhất.

Mất hầu hết máy bay và phi công kinh nghiệm qua nhiều trận đánh tàn khốc, Nhật Bản cuối cùng quyết định hy sinh Zuikaku, dùng tàu sân bay này làm mồi nhử kéo hạm đội Mỹ ra khỏi khu vực đổ bộ để đại quân tiến vào từ hướng khác.

Âm mưu của người Nhật thành công khi quân Mỹ dễ dàng rơi vào cái bẫy được giăng, tuy nhiên trình độ chỉ huy và khả năng hợp đồng tác chiến kém cỏi khiến người Nhật không tận dụng được cơ hội này.

Đại quân Nhật thay vì dễ dàng tiến vào đánh úp quân Mỹ thì rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng và rút lui trong khi hoàn toàn không có kẻ thù đáng kể nào trước mắt.

Zuikaku - với vai trò thu hút toàn bộ hỏa lực của Mỹ về phía mình đã thành công trong nhiệm vụ tự sát cuối cùng được giao.

Trơ trọi không có cả máy bay hay tàu chiến phòng vệ, Zuikaku đưa mình lãnh trọn đòn tấn công từ hạm đội Mỹ.

Tuy trúng ít nhất 9 bom và 7 ngư lôi, nhiều hơn bất kỳ loại tàu chiến nào khác trong lịch sử, trừ các siêu thiết giáp hạm nhà Yamato, Zuikaku hoàn toàn không bị cháy nổ tan hoang như các tàu sân bay khác.

Khi chiếc Zuikaku bị nghiêng nặng sang mạn trái, Phó Đô đốc Ozawa Jisaburō chuyển cờ hiệu của mình sang tuần dương hạm Oyodo.

Lệnh bỏ tàu được phát ra lúc 13 giờ 58 phút và cột cờ được hạ xuống.

Zuikaku lật úp và chìm lúc 14 giờ 14 phút, mang theo Chuẩn Đô đốc Takeo Kaizuka và 842 thành viên thủy thủ đoàn.

Có 862 người sống sót được vớt bởi các khu trục hạm Wakatsuki và Kuwa.

Thiết giáp hạm Yamashiro (9 ngư lôi, 1 bom, vô số đạn pháo và rocket)

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Fusō

Trọng tải choán nước: 39.154 tấn

Độ dài: 213 mét

Sườn ngang: 30,6 mét

Tốc độ: 46,3 km/h (25 knots)

Thủy thủ đoàn: 1.400 người (tiêu chuẩn)

----------

Sáng ngày 24 tháng 10 năm 1944, trên đường tiến về vịnh Leyte để tham gia trận đại chiến, Yamashiro bị tập kích bởi 27 máy bay phóng ngư lôi và ném bom bổ nhào.

Yamashiro bị trúng hàng loạt rocket khiến 20 thủy thủ đoàn thiệt mạng.

Cùng lúc đó, một quả bom đánh thủng mạn sườn của Yamashiro khiến tàu ngập nước và nghiêng 15 độ.

Sau khi làm ngập khoang đối diện để cân bằng, con tàu tiếp tục hành trình.

Tuy nhiên, Khoảng 3 giờ sáng ngày hôm sau, Yamashiro tiếp tục bị phục kích bởi các khu trục hạm Mỹ và trúng thêm 3 ngư lôi, buộc phải bơm ngập nước 2 tháp pháo đuôi để tránh nổ tàu.

Yamashiro lúc này chỉ còn 4 tháp pháo giữa và mũi là còn khả năng chiến đấu.

Chỉ ít phút sau, Yamashiro bước vào một cái bẫy khổng lồ: một mình thiết giáp hạm Yamashiro đối diện với toàn bộ 34 chiến hạm của hải quân Mỹ đang chờ ở bên kia eo biển Surigao.

Trong vòng 18 phút, với thế 1 vs 34 ấy, Yamashiro lãnh trọn cơn mưa đạn từ hàng chục tàu chiến và nhanh chóng chìm trong biển lửa.

Tuy vậy, Yamashiro vẫn kiên cường bắn trả quyết liệt.

Ít phút sau, một vụ nổ kinh hoàng xảy ra trên Yamashiro, có lẽ do nổ tháp pháo giữa thân.

Nhưng Yamashiro không hề ngừng lại, tốc độ bắn trả của Yamashiro thậm chí bất ngờ tăng vọt, tựa một con thú chống trả điên cuồng trước cái chết.

Trong lúc này, Yamashiro trúng thêm một ngư lôi.

Giữa đợt chống trả điên cuồng, các thợ máy bất ngờ lấy lại được công suất cho máy tàu và Yamashiro tăng tốc với ý định thoát ra khỏi cái bẫy.

Tuy nhiên, một thiết giáp hạm rực lửa giữa đêm tối là mục tiêu quá dễ dàng cho các tuần dương hạm và khu trục hạm Mỹ, Yamashiro lãnh thêm 6 ngư lôi và bắt đầu ngập nước không thể kiểm soát.

Lệnh bỏ tàu được đưa ra khi tàu đã nghiêng đến 45 độ, tuy nhiên, hầu như không ai rời tàu.

Yamashiro lật úp chỉ vài phút sau, kéo theo toàn bộ thủy thủ đoàn lên tới 1.650 người, chỉ có 10 người sống sót.

Tổng cộng cả trận chiến, Yamashiro lãnh trọn 9 ngư lôi, 1 bom hạng nặng cùng vô số đạn pháo và rocket trước khi gục ngã với những họng pháo vẫn đang rực lửa, biến Yamashiro thành một trong bốn thiết giáp hạm chiến đấu gan lì và có cái chết hào hùng nhất trong lịch sử.

Thiết giáp hạm Musashi (20 ngư lôi, 17 bom)

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Yamato

Trọng tải choán nước: 72.000 tấn

Độ dài: 263 mét

Sườn ngang: 38,9 mét

Tốc độ: 50,86 km/h (27,46 knots)

Thủy thủ đoàn: 2.399 người

----------

10 giờ 27 phút ngày 24 tháng 10 năm 1944, thiết giáp hạm Musashi bị 8 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Curtiss SB2C từ tàu sân bay Intrepid tấn công khi đang di chuyển với vận tốc 24 knots, "cô" bị trúng bom nhưng chỉ bị thủng một lỗ nhỏ trên thân, bom cũng rơi trúng tháp pháo số 1 nhưng không xuyên qua được trần tháp pháo.

10 giờ 29 phút, Musashi tiếp tục bị 3 chiếc máy bay phóng ngư lôi TBF Avenger tấn công, một quả ngư lôi trúng vào gần đài chỉ huy làm con tàu bị nghiêng về mạn phải 5,5 độ, Đô đốc Takeo Kurita buộc phải cho làm ngập mạn trái con tàu để cân bằng và giảm độ nghiêng xuống còn 1 độ.

2 chiếc Avenger bị bắn rơi, 1 chiếc Avenger khác của tàu sân bay Cabot không tấn công được do súng phòng không dày đặc, tuần dương hạm Myoko cũng bị trúng ngư lôi.

10 giờ 47 phút, những quan sát viên của các chiến hạm Yamato, Musashi, Chokai, Noshiro, Kishinami phát hiện những chiếc máy bay phóng ngư lôi địch đang đến.

11 giờ 57 phút, 210 chiếc máy bay khác bị radar phát hiện ở khoảng cách 80 km.

12 giờ 03 phút, đợt tấn công thứ 2 bắt đầu với 8 chiếc Curtiss SB2C, Musashi bị trúng 7 bom, quả thứ nhất xuyên qua sàn tàu và phát nổ dưới nước, quả thứ 2 rơi vào mạn tàu gần ụ súng phòng không 127 mm và phát nổ ở cabin số 10, mảnh văng cũng làm hư hỏng ống dẫn khí khiến khí siêu nóng bay ra.

Phòng máy số 10 bị bỏ lại, điều này khiến Musashi bị giảm tốc độ xuống còn 22 knots sau khi mất chân vịt phải, 2 chiếc Helldiver bị bắn rơi.

12 giờ 06 phút, 9 chiếc TBM Avenger tấn công chiếc siêu thiết giáp hạm, một chiếc trúng đạn và quay lui, 8 chiếc còn lại đánh trúng Musashi 3 lần khiến con tàu bị nghiêng 5 độ, quả đầu tiên trúng vào tháp pháo số 1, quả thứ hai làm ngập phòng máy số 2, quả thứ ba làm ngập phòng động cơ số 4, Kurita lại phải làm ngập Musashi giúp con tàu giảm độ nghiêng còn 1 độ nhưng lại bị chìm xuống 6 feet.

3 chân vịt còn lại giúp con tàu duy trì vận tốc 22 knots để bắt kịp hạm đội.

Quả ngư lôi số 1 cũng làm nổ đạn Type 3 vừa nạp vào pháo chính khiến cho bộ phận nạp hư hỏng hoàn toàn và không thể sử dụng.

13 giờ 12 phút, Đô đốc Kurita Takeo ra lệnh cho hạm đội giảm tốc xuống 22 knots để Musashi có thể bắt kịp.

13 giờ 50 phút, đợt tấn công thứ 3 kết thúc, mũi tàu bị chìm xuống 13 feet, vận tốc giảm xuống 20 knots.

14 giờ 12 phút, đợt tấn công thứ 4 bắt đầu với 12 chiếc Curtiss từ tàu sân bay Essex nhắm vào hai thiết giáp hạm Yamato và Nagato.

Musashi tiếp tục di chuyển với vận tốc 19 knots.

14 giờ 45 phút, Mayuzumi Haruo - chỉ huy của chiếc tuần dương hạm Tone đề nghị các tàu hộ tống bảo vệ Musashi.

14 giờ 55 phút, 69 máy bay từ 2 tàu sân bay Enterprise và Cabot tấn công đợt 5.

Musashi đang bị tụt lại so với hạm đội.

15 giờ 15 phút, 9 chiếc Curtiss của Enterprise ném trúng Musashi 4 quả bom.

3 quả trúng vào mũi tàu, giết chết toàn bộ đội kiểm soát thiệt hại tại đây, quả bom thứ 4 trúng vào phòng chỉ huy.

Lúc này, vận tốc của Musashi chỉ còn 16 knots rồi lại giảm xuống 13 knots sau khi làm ngập lần 3.

75 máy bay từ 3 tàu sân bay Cabot, Franklin và Intrepid đang chuẩn bị tấn công đợt 6, 35 chiếc trong số đó sẽ cùng tấn công Musashi.

15 giờ 30 phút, 7 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Curtiss tấn công Musashi, theo sau là 2 chiếc máy bay phóng ngư lôi Avenger.

Bom xuyên qua dàn súng phòng không và phát nổ trong lòng con tàu khiến khu vực gần phòng chỉ huy và đài chỉ huy bốc cháy nhưng vẫn dập được.

3 quả bom khác làm nổ tung phòng thông tin trung tâm, phòng liên lạc, phòng điện thoại, ngoài ra, vụ nổ còn làm hư hỏng phòng hơi số 4 và số 8.

2 quả bom trúng vào phần trước mũi tàu gần thượng tầng và thổi bay luôn 3 súng phòng không, quả thứ 7 trúng vào giữa ống khói và cột cờ làm hư hỏng nặng vùng quanh cột cờ, quả thứ 8 trúng vào phòng thủy thủ số 5 và phá tan bệnh viện gần đó, quả thứ 9 trúng vào trước tháp pháo số 1 và quả thứ 10 trúng vào phòng dành cho các sĩ quan.

3 quả ngư lôi trúng vào mạn phải gây hư hại nặng đồng thời làm ngập con tàu, 4 quả tiếp theo trúng vào phòng hơi số 8 và hầm đạn 25 mm ở đuôi, 3 trong 4 quả trúng vào mạn trái gần phòng máy số 4, đục thủng 30 feet thân tàu.

Musashi mất chân vịt còn lại bên trái và giảm vận tốc xuống 4 knots.

2 quả ngư lôi cuối cùng trúng vào bên trái đuôi tàu và làm con tàu bị nghiêng 10 độ, Musashi lại bị làm ngập lần 4 và giảm độ nghiêng còn 6 độ, bánh lái bị kẹt ở vị trí 15 độ phải nhưng đã được sửa chữa và Musashi tiếp tục di chuyển.

Tổng hợp lại, thiết giáp hạm Musashi đã một mình chống cự 259 máy bay, nhận 20 ngư lôi và 17 bom.

15 giờ 30 phút, Kurita cho hạm đội tiếp tục tiến lên, bỏ lại Musashi đơn độc ở phía sau.

16 giờ 21 phút, Musashi vẫn nỗ lực tiến về phía bắc trong khi đang nghiêng 10 độ với mũi tàu chìm xuống 26 feet và vẫn đang tiếp tục chìm xuống.

Đô đốc Kurita phái tuần dương hạm Tone và 3 khu trục hạm Kiyoshimo, Shimakaze, Isokaze hộ tống Musashi.

Tất cả thương binh và những người còn sống trên Musashi được dồn hết về mạn phải cùng với hàng hóa và lương thực để giữ tàu không nghiêng thêm, mỏ neo mạn trái được thả xuống.

Thuyền trưởng Inoguchi cố giữ Musashi lại nhưng con tàu đã dừng lại trước khi ông kịp làm điều đó.

19 giờ 15 phút, Musashi nghiêng 12 độ và lệnh chuẩn bị bỏ tàu được ban ra, lá cờ Húc Nhật được kéo xuống, Inoguchi vào cabin của mình và quyết định chết theo tàu.

19 giờ 30 phút, Musashi bị nghiêng 30 độ và từ từ lật úp, lệnh bỏ tàu được ban bố khẩn cấp, bức hình của Thiên Hoàng được hạ xuống, khu trục hạm Shimakaze lại gần để cứu người.

19 giờ 36 phút, Musashi lật úp về bên trái và chìm xuống độ sâu 4.430 feet, hai vụ nổ nữa diễn ra dưới nước.

1.376 người được bốn khu trục hạm Kiyoshimo, Shimakaze, Isokaze và Hamakaze cứu vớt, 1.023 người - hoặc mất mạng, hoặc đã quyết định ở lại để chìm cùng Musashi.

Thiết giáp hạm Yamato (12 ngư lôi, 7 bom)

Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Lớp tàu: Yamato

Trọng tải choán nước: 72.000 tấn

Độ dài: 263 mét

Sườn ngang: 38,9 mét

Tốc độ: 50,86 km/h (27,46 knots)

Thủy thủ đoàn: 2.800 người

----------

Để cứu vãn tình hình cho Okinawa, Bộ tư lệnh Hải quân Nhật Bản quyết định đưa thiết giáp hạm Yamato, Tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi cùng 8 tàu khu trục khác tiến hành một cuộc tấn công tự sát nhằm vào hạm đội Mỹ mà người ta vẫn hay gọi nó là cuộc hành quân Tengo.

Ngày 6 tháng 4 năm 1945, Hạm đội Nhật Bản tại cảng Kure bắt đầu nhổ neo đi chiến đấu, tuy nhiên, do tiếp liệu không đủ để đến Okinawa nên họ buộc phải quay lại, nhưng thật không may, hạm đội Nhật bị phát hiện bởi tàu ngầm và máy bay trinh sát Mỹ.

Ngay sau khi nhận được tin báo, đến trưa ngày 7 tháng 4, 286 máy bay gồm đủ loại F4U, F6F, Curtiss SB2C, Avenger... xuất phát từ các tàu sân bay của lực lượng Task Group 58 lao đến vây đánh hạm đội Nhật Bản dữ dội, các phi công Mỹ ai cũng muốn được là người đầu tiên đánh chìm chiến hạm Yamato.

Ngay trong đợt tấn công đầu tiên, chiếc Yamato đã bị đánh trúng 2 bom và 1 ngư lôi, một quả bom từ một chiếc SB2C đánh trúng phòng radar của Yamato và giết chết toàn bộ thủy thủ tại đây, 2 trong số 8 khu trục hạm cũng đã bị đánh chìm.

Đợt tấn công thứ 2 của người Mỹ tiếp tục với hơn 100 máy bay các loại nhắm vào Yamato với quyết tâm hạ bằng được nó.

Đến 2 giờ 20 phút chiều, bị 7 bom và 12 ngư lôi đánh trúng, Yamato nghiêng tới 35 độ, kho đạn trước mũi tàu phát nổ tạo thành đám khói cao tới 6 km, có thể quan sát thấy từ bờ biển Kagoshima.

Biết Yamato không chịu được lâu và sắp chìm, hạm trưởng Kosaku Aruga ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ bỏ tàu để thoát hiểm rồi nhờ một hạ sĩ quan khác lấy dây cột mình vào trụ hải bàn.

Anh này trói ông lại rồi cũng lấy dây buộc bản thân nằm cạnh đó, các sĩ quan khác thấy vậy cũng làm theo, Aruga thấy thế quát lên: "Đồ ngu, chúng mày còn trẻ, phải sống cho nước Nhật tương lai!".

Kết quả: đại tá Aruga cùng 2.500 thủy thủ và sĩ quan đã chết theo tàu.

Sau đó, Aruga được truy phong hai cấp lên quân hàm Phó Đô đốc.

Trong khi đó, phía Mỹ chỉ mất 12 máy bay và 10 phi công.

Thiết giáp hạm Yamato bị đánh chìm cũng khiến cho hải quân Nhật Bản chìm theo.

Từ đó cho đến khi chiến tranh kết thúc, hải quân Nhật Bản không thể tham gia bất kỳ một chiến dịch nào được nữa.
 
Back
Top Bottom