Tuần dương hạm HMS Hood (1 phát đạn pháo)
Phục vụ: Hải quân Hoàng gia (Anh)
Lớp tàu: Admiral
Trọng tải choán nước: 47.430 tấn
Độ dài: 262,3 mét
Sườn ngang: 31,8 mét
Tốc độ: 52 km/h (28 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.521 người
Biệt danh: Mighty Hood
-----------
Tuần dương hạm Hood là tàu chiến nổi tiếng nhất của Anh Quốc, đồng thời cũng là tuần dương hạm lớn nhất trong lịch sử.
Trang bị 4 tháp pháo đôi 15 inches cùng tốc độ hơn 30 dặm/giờ, Hood là nỗi sợ hãi lớn nhất của hải quân Đức, vốn chuộng sử dụng các chiến hạm cỡ nhỏ tốc độ cao để đột kích chớp nhoáng lực lượng hải quân hùng hậu của Anh.
Cả hạm đội Anh chỉ có ba tàu chiến có đủ tốc độ để truy bắt và pháo đủ mạnh để đè bẹp kiểu tàu chiến đặc biệt này của Đức, đó là các tuần dương hạm HMS Hood, HMS Renown và HMS Repulse.
Trong suốt hơn 2 thập kỷ, Hood là biểu tượng của sức mạnh hải quân Anh Quốc, thường xuyên đi khắp các thuộc địa trên thế giới để trấn áp tinh thần, biểu dương uy quyền của "mẫu quốc".
Tiếc thay, ngay trong lần đầu tiên đối đầu với thử thách thực thụ, Hood cho thấy mình chỉ là một món đồ trang trí, một con hổ giấy không hơn không kém.
Mọi hào quang được gây dựng xung quanh tuần dương hạm này nhanh chóng tan biến.
Hood nhận lấy cái chết nhục nhã nhất trong mọi tàu chiến chủ lực, chỉ sau khi dính đúng một phát đạn từ kẻ thù.
Ngày 24 tháng 5 năm 1941, nhận được lệnh ngăn "con quái vật biển" Bismarck tiến ra Đại Tây Dương tấn công các đoàn tàu vận tải của Anh, Hood và thiết giáp hạm hiện đại nhất vừa ra đời - HMS Prince of Wales lập tức lên đường.
Nhờ mạng lưới tàu chiến và radar rộng lớn được bố trí kín các đại dương, hải quân Anh nhanh chóng xác định được vị trí của thiết giáp hạm Bismarck, dẫn đường cho bộ đôi này chặn đường tại eo biển Đan Mạch.
Trong trận hải chiến nổ ra sau đó, dù có ưu thế gấp đôi: 2 tàu chiến chủ lực (Hood, Prince of Wales) + 2 tuần dương hạm hỗ trợ (Norfolk, Suffolk) đối đầu với 1 tàu chiến chủ lực (Bismarck) + 1 tuần dương hạm hỗ trợ (Prinz Eugen), các tàu chiến Anh Quốc lại nhanh chóng nhận lấy một kết cục thảm hại.
Chưa đến 10 phút giao chiến, chỉ với một phát đạn 15 inches rót trúng hầm đạn từ Bismarck, tuần dương thiết giáp hạm Hood - biểu tượng của Hải quân Hoàng gia lập tức nổ tan tành và biến mất khỏi mặt biển trong tích tắc.
Chỉ 3 trong số 1.418 thủy thủ đoàn sống sót.
Prince of Wales cũng chẳng được anh dũng mấy, vừa thấy Hood lìa trần là lập tức chạy té khói thay vì đứng lại phục thù cho bạn.
Thiết giáp hạm HMS Prince of Wales (4 ngư lôi, 1 bom)
Phục vụ: Hải quân Hoàng gia
Lớp tàu: King George V
Trọng tải choán nước: 38.031 tấn
Độ dài: 227 mét
Sườn ngang: 31,4 mét
Tốc độ: 53,9 km/h (29,1 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.521
----------
Dù là thiết giáp hạm hiện đại nhất, thuộc về quốc gia có truyền thống hải quân hàng đầu thế giới, HMS Prince of Wales lại có lịch sử chinh chiến vô cùng tệ hại.
Sau khi trốn chạy khỏi trận đối đầu với thiết giáp hạm Đức Bismarck, Prince of Wales được giao nhiệm vụ cùng tuần dương hạm Repulse và tàu sân bay Indomitable lập thành lực lượng Z điều về Thái Bình Dương nhằm răn đe Nhật Bản.
Phát hiện lực lượng Z trên hành trình nhờ tàu ngầm I-56 và máy bay trinh sát, Nhật Bản lập bẫy nhử hạm đội Anh ra vùng biển giữa Đông Dương và Malaya để lực lượng oanh tạc cơ chiến lược tầm xa thuộc Không đoàn Hải quân 22 đóng ở Sài Gòn tấn công.
Đợt oanh tạc cơ mang bom đầu tiên nhắm thẳng vào tuần dương hạm Repulse nhưng chỉ đánh trúng được một bom.
Đợt thứ hai, các oanh tạc cơ mang ngư lôi tấn công cả Repulse lẫn Prince of Wales.
Là một thiết giáp hạm hiện đại, Prince of Wales được kỳ vọng sẽ thể hiện tốt hơn so với Repulse - một cựu binh từ thời Thế chiến thứ Nhất.
Thế nhưng trong khi Repulse khéo léo tránh được toàn bộ 7 ngư lôi nhằm vào mình, Prince of Wales dính ngay một ngư lôi vào khu vực gần đuôi, phá hủy chân vịt và gây ngập buồng đốt, tắt máy.
Đây chính là quả ngư lôi kết thúc số phận của Prince of Wales.
Bị mất động lực, thiết giáp hạm Prince of Wales không còn cách nào để bơm nước ra ngoài và sửa chữa thương tích, nó đành nằm chờ chết giữa biển.
Các đợt tấn công tiếp theo, máy bay Nhật Bản chỉ phải tập trung truy sát một mình tuần dương hạm Repulse.
Mặc dù đội lái cực kỳ xuất sắc, thực hiện nhiều pha tránh né tài tình, cuối cùng Repulse cũng ngã gục dưới làn ngư lôi của các phi công Nhật Bản.
Sau khi đánh chìm được Repulse, các phi công Nhật Bản thong thả quay lại trút hết số ngư lôi và bom còn lại vào Prince of Wales, nhanh chóng kết thúc số phận của chiếc thiết giáp hạm kém cỏi này.
Không lâu sau đợt tấn công, thiết giáp hạm Prince of Wales lật úp, mang theo 327 thủy thủ đoàn.
Tàu sân bay Hiryū (4 bom)
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Sōryū cải biến
Trọng tải choán nước: 20.165 tấn
Độ dài: 222 mét
Sườn ngang: 22,3 mét
Tốc độ: 63,9 km/h (34,5 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.103 người + 23 sĩ quan chỉ huy Hạm đội Hàng không số 2
----------
Tàu sân bay IJN Hiryū - soái hạm của chuẩn đô đốc Tamon Yamaguchi có thiết kế đặc biệt với đài không lưu nằm bên trái.
Chỉ có một tàu sân bay trong lịch sử có thiết kế tương tự là Akagi.
Chỉ trong trong một khoảng thời gian ngắn từ khi Nhật Bản tham chiến, Hiryū đã lập được nhiều chiến tích xuất sắc.
Các máy bay ném bom bổ nhào và phóng ngư lôi của Hiryū đã tấn công Trân Châu Cảng, tham gia cuộc không kích Ấn Độ Dương, tiêu diệt vô số tàu chiến và phá hủy nhiều cơ sở hạ tầng, căn cứ của lực lượng Đồng minh.
Sau cuộc truy sát bất thành bộ đôi tàu sân bay Enterprise và Hornet của Mỹ, Hiryū bước vào trận đánh lớn đã làm xoay chuyển cục diện chiến tranh Thái Bình Dương: trận Midway.
Tại Midway, sau khi gửi các máy bay ném bom trinh sát truy tìm hạm đội tàu sân bay Mỹ, các chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zero của Hiryū cất cánh lập hàng rào bảo vệ hạm đội cùng với Zero từ các tàu sân bay khác.
Do phá được mật mã của Nhật Bản, Mỹ nắm rõ vị trí của Hiryū và các tàu sân bay còn lại và tổ chức tấn công ngay lập tức.
Đợt tấn công đầu tiên của hải quân Mỹ gồm 6 máy bay phóng ngư lôi Avenger nhằm vào Hiryū và 4 oanh tạc cơ Marauder nhắm vào Akagi.
Các chiến đấu cơ Zero nhanh chóng bắn hạ 5 Avenger và 2 Marauder.
Cả Hiryū và Akagi đều tránh được ngư lôi.
Bất thần, một quan sát viên thấy những máy bay ném bom bổ nhào của hải quân Mỹ từ trên mây lao xuống và giáng đòn chí tử vào lực lượng xung kích.
Cơ động tránh né rất tài tình nhưng soái hạm Akagi vẫn nhận một quả bom, tàu sân bay Kaga gần đó cũng trúng 4 quả bom.
Khói lửa bốc cao trên hai tàu sân bay bị phá hủy đã dẫn đường cho phi đội máy bay ném bom bổ nhào gồm 17 chiếc do trung tá Maxwell Leslie chỉ huy.
Xuất phát từ tàu sân bay Yorktown và đang bay chệch mục tiêu về hướng đông nam, họ bỗng trông thấy khói ở chân trời phía tây bắc.
Cả đoàn ngoặt ngay về phía đó.
Leslie dẫn đầu rồi lần lượt đến các máy bay khác lao xuống trút bom vào một trong hai tàu sân bay mà họ thoáng thấy qua lớp mây mờ.
Bị trúng cả một loạt bom, tàu sân bay Sōryū bốc cháy, ngập nước và chìm dần.
Sau 20 phút oanh tạc của 54 máy bay ném bom Mỹ, Nhật Bản mất 3 trong số 4 tàu sân bay hạm đội có mặt ở Midway.
Lúc này, hạm đội chỉ còn tàu sân bay Hiryū.
Tamon Yamaguchi hiểu rằng nếu muốn sống sót, chiếc tàu sân bay còn lại của ông phải diệt bằng được tàu sân bay địch trước khi bị nó tấn công.
Không bỏ phí thời gian, Yamaguchi tung toàn bộ máy bay trong tay bay theo phi đội Mỹ vừa rút bỏ và họ phát hiện ra Yorktown.
Dù bị đánh trả dữ dội nhưng những máy bay Nhật Bản vẫn giáng đòn xuống Yorktown và khiến nó chịu thương tích nặng nề.
Yamaguchi tin là Yorktown đã chìm hoặc chẳng mấy cũng sẽ chìm.
Sau đợt đầu, Yamaguchi tung thêm đợt tấn công thứ 2, các phi công Nhật Bản trong đợt xuất kích này nhìn thấy Yorktown nhưng lại tưởng nhầm là một tàu sân bay nguyên vẹn khác.
Tương tự lần trước, Yorktown lại bị giáng thêm những đòn đánh dữ dội, báo cáo về đã đánh chìm 2 tàu sân bay địch:
"Chúng tôi đã đánh chìm được thêm một tàu sân bay còn nguyên vẹn nữa của địch.
Chúng ta đã đánh chìm được 2 tàu sân bay rồi thưa Đô đốc."
Yamaguchi tràn trề hy vọng, ông tin tưởng mình đã lấy lại thế cân bằng cho người Nhật.
Trong tay Tamon Yamaguchi chỉ còn lại một nửa số máy bay, ông quyết định sẽ hy sinh toàn bộ để đánh gục nốt chiếc tàu sân bay còn lại của địch.
Vào khoảng xế chiều, một liên đoàn máy bay từ Yorktown đã mất hiệu năng chiến đấu cùng những máy bay từ các tàu sân bay Enterprise và Hornet được tung ra đã tìm thấy và đánh trúng Hiryū dù nó đã được các máy bay tiêm kích Zero bảo vệ rất vững chắc.
Đến lúc này, Tamon Yamaguchi biết đã không còn hy vọng xoay chuyển tình thế nữa.
Khi tất cả mọi người đã rời tàu, chuẩn đô đốc Tamon Yamaguchi cùng hạm trưởng tàu Hiryū - đại tá Tomeo Kaku cùng nhau uống rượu dưới ánh trăng vàng cho đến khi Hiryū từ từ chìm xuống đáy đại dương, mang theo người đô đốc và hạm trưởng tài năng và kinh nghiệm bậc nhất của hải quân Đế quốc Nhật Bản.
Để lại cho hậu thế câu chuyện về trách nhiệm và danh dự của người võ sĩ đạo.
Các thủy thủ sống sót của cả 4 tàu sân bay Akagi, Kaga, Sōryū và Hiryū sau đó được thiết giáp hạm Haruna và một số khu trục hạm khác cứu vớt và đưa về Nhật Bản an toàn.
Tàu sân bay USS Wasp (3 ngư lôi)
Phục vụ: Hải quân Hoa Kỳ
Lớp tàu: Wasp
Trọng tải choán nước: 19.116 tấn
Độ dài: 225,9 mét
Sườn ngang: 33,2 mét
Tốc độ: 54,6 km/h (29,5 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.800 người
----------
Thứ Ba, ngày 15 tháng 9 năm 1942, tàu sân bay Wasp cùng với thiết giáp hạm North Carolina và 10 tàu chiến khác hộ tống cho việc vận chuyển trung đoàn Thủy quân Lục chiến Số 7 đến tăng cường cho chiến dịch Guadalcanal.
Wasp đảm nhiệm vai trò tàu sân bay thường trực và đang hoạt động ở vào khoảng 150 dặm (240 km) về phía tây nam đảo San Cristobal.
Hệ thống bơm xăng của nó đang được sử dụng vì máy bay của nó đang được tiếp nhiên liệu và vũ khí cho các nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm.
Wasp ở trong tình trạng thường trực tác chiến từ một giờ trước khi mặt trời mọc cho đến khi nhóm máy bay tuần tra buổi sáng quay trở về tàu lúc 10 giờ, sau đó, con tàu quay về tình trạng cấp 2.
Họ đã không tiếp xúc được với lực lượng đối phương nào trong ngày hôm đó ngoại trừ một chiếc thủy phi cơ bốn động cơ Nhật Bản bị một tiêm kích Wildcat từ Wasp bắn hạ lúc 12 giờ 15 phút.
14 giờ 20 phút, chiếc tàu sân bay xoay ra hướng gió và phóng lên 8 chiến đấu cơ F4F Wildcat cùng 18 chiếc máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless để thu hồi 8 chiếc Wildcat cùng 3 chiếc SBD đã bay lúc giữa trưa.
Con tàu nhanh chóng hoàn tất việc thu hồi 11 chiếc máy bay rồi đổi hướng nhẹ nhàng sang mạn phải.
Lực lượng kỹ thuật trên tàu bình thản di chuyển máy bay vào hầm chứa và tiếp thêm nhiên liệu chuẩn bị cho các phi vụ buổi chiều.
Bất ngờ lúc 14 giờ 44 phút, một quan sát viên hô lớn: "Ba ngư lôi... ba điểm phía trước bên mạn phải!".
Một loạt sáu quả ngư lôi, được tàu ngầm Nhật Bản thuộc lớp I-19 bắn ra lúc 14 giờ 44 phút, tung bọt tiến đến gần không cản được.
Wasp bẻ lái gấp sang mạn phải nhưng đã quá trễ.
Ba quả ngư lôi nối tiếp nhau đâm trúng con tàu lúc 14 giờ 45 phút.
Trong một tình huống hiếm thấy, một quả ngư lôi nảy tung lên, lướt bay trên mặt biển và đâm trúng chiếc tàu sân bay bên trên mực nước biển.
Tất cả ba quả ngư lôi đều trúng gần vị trí các bồn xăng và kho đạn.
Hai quả trong loạt 6 quả ngư lôi trượt qua trước mũi chiếc Wasp và được trông thấy trượt qua đằng sau chiếc tuần dương hạm Helena trước khi một quả trúng phải khu trục hạm O'Brien lúc 14 giờ 51 phút khi chiếc khu trục hạm này đang cơ động để lẩn tránh một quả ngư lôi khác.
Quả ngư lôi thứ sáu trượt qua phía sau chiếc Wasp, suýt trúng chiếc khu trục hạm Lansdowne, xuất hiện trên màn hình radar của chiếc Wasp lúc 14 giờ 48 phút, được thủy thủ của khu trục hạm Mustin trông thấy lúc 14 giờ 49 phút, xuất hiện trên màn hình radar của thiết giáp hạm North Carolina lúc 14 giờ 50 phút và trúng phải North Carolina vào khoảng 14 giờ 52 phút.
Những vụ nổ và đám cháy bắt đầu quét qua phần trước của con tàu một cách nhanh chóng.
Máy bay trên sàn đáp và trong các sàn chứa bị ném tung vào nhau và bị rơi xuống sàn dưới với một lực mạnh đến mức các càng đáp hạ cánh của máy bay bị bẻ gãy.
Các đám cháy bùng lên hầu như cùng lúc trong sàn chứa máy bay và các hầm tàu bên dưới.
Không lâu sau, sức nóng của những đám cháy xăng dữ dội đã làm bắt nổ những quả đạn tại các khẩu đội pháo phòng không phía trước, mảnh vụn bắn tung tóe khắp phần trước của con tàu.
Thuyền trưởng Sherman giảm tốc độ tàu sân bay Wasp xuống còn 10 knots (18 km/h), xoay bánh lái sang trái nhằm tìm cách hứng gió phần mạn phải của mũi tàu, sau đó, ông cho đi lùi con tàu với bánh lái bên phải để đón gió ở mạn phải nhằm mục đích cô lập đám cháy ở phần phía trước.
Mười phút sau, Sherman tham khảo sĩ quan cao cấp của mình là Fred Dickey.
Hai người không thấy có cách nào khác ngoại trừ việc phải rời bỏ con tàu vì mọi nỗ lực chữa cháy đều không mang lại hiệu quả.
Những người còn sống sót cần được cho rời tàu nhanh chóng để tránh tổn thất nhân mạng không cần thiết.
Một cách miễn cưỡng và sau khi tham khảo cùng chuẩn đô đốc Noyes, thuyền trưởng Sherman ra lệnh bỏ tàu lúc 15 giờ 20 phút.
Những người bị thương được cho hạ xuống các bè hay thuyền cao su.
Nhiều người không bị thương buộc phải bỏ tàu ở phía sau tàu vì những đám cháy ở phía trước rất dữ dội.
Việc rời bỏ tàu mất khoảng 40 phút và đến 16 giờ, sau khi biết chắc không còn ai bị bỏ lại, thuyền trưởng Sherman đu người qua đuôi tàu và trượt xuống biển.
Khu trục hạm Lansdowne thi hành nhiệm vụ phá hủy con tàu và được yêu cầu phải ở lại cạnh con tàu cho đến khi nó chìm hẳn.
Lansdowne phóng quả ngư lôi đầu tiên ở khoảng cách 900 mét và được đặt ở độ sâu 4,5 mét bên dưới lườn tàu chiếc Wasp nhằm gây ra tổn hại cao nhất với ngòi nổ cảm ứng từ tính.
Khi không nhận thấy hiệu quả nào sau một vụ nổ xem có vẻ trúng đích một cách hoàn hảo, một quả ngư lôi thứ hai được phóng ở độ sâu lườn tàu từ khoảng cách 720 mét.
Một lần nữa, một phát trúng hoàn hảo cũng không mang lại kết quả mong muốn và Lansdowne chỉ còn lại ba quả ngư lôi.
Sĩ quan điều khiển ngư lôi của Lansdowne vô hiệu hóa ngòi nổ cảm ứng từ tính và đặt độ sâu còn 3 mét.
Cả ba quả ngư lôi đều phát nổ, nhưng Wasp tiếp tục nổi trong ánh lửa đỏ cam của một bể xăng và dầu.
Lansdowne nôn nóng chạy tới chạy lui trong ánh lửa cho đến khi Wasp chìm với mũi tàu xuống trước lúc 21 giờ.
Wasp nhận được hai ngôi sao chiến đấu vì những thành tích phục vụ trong Thế chiến thứ Hai.
Loạt ngư lôi không thể tin nổi của thuyền trưởng Takakazu Kinashi cùng thủy thủ đoàn tàu ngầm I-19 trở thành loạt ngư lôi thành công nhất trong lịch sử chiến tranh.
Chỉ với 5/6 quả ngư lôi trúng đích, họ đã hạ được tàu sân bay Wasp, tàu khu trục O'Brien và làm bị thương nghiêm trọng thiết giáp hạm North Carolina.
Sau này, thuyền trưởng Takakazu và các thành viên tàu ngầm I-19 đã được Quốc trưởng Đức Adolf Hitler vinh danh trong chuyến đi của họ đến châu Âu.
Tuần dương hạm Aoba
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Aoba
Trọng tải choán nước: 8.300 tấn
Độ dài: 185,17 mét
Sườn ngang: 17,56 mét
Tốc độ: 66,7 km/h (36 knots)
Thủy thủ đoàn: 657 người
----------
Ngày 11 tháng 10 năm 1942, hải đội Tuần dương số 6 do tuần dương hạm Aoba làm soái hạm cùng với 4 con tàu khác dưới sự chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Gotou Aritomo được giao nhiệm vụ hộ tống một đoàn tàu vận tải chở lính Nhật chuẩn bị cho trận đánh lịch sử Guadalcanal.
Mọi việc khá suôn sẻ cho đến khi máy bay trinh sát của quân Mỹ phát hiện ra đoàn tàu này, một hạm đội Mỹ do Chuẩn Đô đốc Norman Scott được giao sứ mệnh phải ngăn cản người Nhật.
23 giờ đêm ngày 11 tháng 10, người Mỹ phát hiện ra hạm đội Nhật Bản bằng hệ thống radar và bắt đầu nã pháo.
Tuy nhiên, do trời tối chưa thể xác định chính xác vị trí của đối phương nên quân Mỹ vẫn chỉ dám bắn rời rạc.
Về phía hạm đội Nhật Bản, do trời quá tối nên Chuẩn Đô đốc Gotou cho rằng hạm đội của ông đang bị đồng đội bắn nhầm nên ra lệnh cho thủy thủ bật hết đèn pha trên tàu lên để bên kia có thể dễ dàng xác định hạm đội của ông.
Đồng thời, ông cũng dùng đèn pha đánh mã Morse cho hạm đội Mỹ với nội dung: "Đây là Aoba, xin hãy ngừng bắn".
Cố nhiên là nhờ hai cái trò trên của Gotou mà giờ đây cả hạm đội ông tỏa sáng như "mặt trời chân lý" giữa màn đêm.
Các tàu chiến Mỹ ban đầu chỉ dám bắn rời rạc do vẫn chưa thể xác định rõ ràng vị trí hạm đội Nhật nay đã có thể pháo kích tập trung vào quân Nhật vốn đã lộ vị trí rõ như ban ngày.
Điều đáng phẫn nộ ở đây là mặc dù là đứa đầu têu khiến cả đám gặp nguy nhưng Aoba lại không chìm, chiếc tuần dương hạm Furutaka cùng với thủy thủ đoàn đã hy sinh thân mình che chở cho chiếc kỳ hạm này thoát khỏi hỏa lực của quân Mỹ.
Mặc dù vậy, Gotou cùng với hơn 40 thủy thủ đoàn của Aoba tử trận.
Ngoài Furataka, khu trục hạm Fubuki cũng bị người Mỹ đánh chìm trong trận hải chiến này.
Quân Mỹ giành chiến thắng về chiến thuật trong việc chỉ mất một chiếc khu trục hạm để đổi một tuần dương hạm và một khu trục hạm của địch.
Tuy nhiên, quân Nhật lại giành chiến thắng chiến lược trong cuộc hải chiến do đoàn tàu vận tải Nhật vẫn đổ bộ an toàn.
Thiết giáp hạm Mutsu (1 que diêm)
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Nagato
Trọng tải choán nước: 42.850 tấn
Độ dài: 221,03 mét
Sườn ngang: 34,59 mét
Tốc độ: 50 km/h (27 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.368 người
----------
Thiết giáp hạm Mutsu là một trong hai thiết giáp hạm lớp Nagato.
Trong suốt hơn 20 năm, Mutsu và Nagato là thanh kiếm răn đe và tấm khiên che chắn của nước Nhật cho đến khi vai trò được trao vào tay hai siêu thiết giáp hạm sau này: Yamato và Musashi.
Mutsu và Nagato có số phận kỳ lạ đến khó tin.
Trong khi toàn bộ mọi tàu chiến chủ lực của Nhật Bản và phe Trục nói chung đều chìm sâu dưới đáy biển bởi phía Đồng minh, cả Nagato lẫn Mutsu đều có kết cục khác biệt.
Nagato thoát chết trong cuộc chiến, trở thành kẻ sống sót duy nhất và bị đem đi thử bom nguyên tử sau chiến tranh.
Mutsu vào một ngày giữa năm 1943, trong lúc đang neo đậu tại cảng, bất ngờ xảy ra một vụ nổ kinh hoàng từ tháp pháo số 3.
Vụ nổ mạnh đến mức bẻ ngay chiếc thiết giáp hạm danh tiếng này ra làm đôi.
Phần thân và mũi tàu chìm ngay lập tức, mảnh đuôi nổi lập lờ trên mặt biển và chìm nhiều giờ sau đó.
1.121 thủy thủ đoàn và khách tham quan thiệt mạng.
Điều tra sau đó xác định một thành viên thủy thủ đoàn đã tự sát bằng cách châm lửa cho nổ tháp pháo, kéo theo hơn 1.000 mạng sống cùng mình.
Đây có lẽ là cái chết tức tưởi nhất trong toàn bộ tất cả các tàu chiến chủ lực trong lịch sử.
Tàu sân bay Taihō (1 ngư lôi)
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Taihō
Trọng tải choán nước: 37.866 tấn
Độ dài: 260,6 mét
Sườn ngang: 27,4 mét
Tốc độ: 61,7 km/h (33,3 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.751 người
----------
Có thể nói chiếc tàu sân bay Taihō đã thay đổi phong cách thiết kế truyền thống của tàu sân bay Nhật Bản, áp dụng nhiều thiết kế sáng tạo mới, tập trung tinh hoa công nghệ, tăng cường khả năng phòng thủ thiết giáp.
Vì vậy, hải quân Nhật Bản tự hào gọi đây là "tàu sân bay không thể chìm".
Chính vì cái biệt danh rất kêu của chiếc tàu sân bay này đã khiến rất nhiều người không khỏi tò mò bởi vào thời điểm đó có rất nhiều tàu sân bay đang bị đe dọa.
Vào một ngày đẹp trời, Phó Đô đốc Ozawa Jisaburō được giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng trên tàu sân bay Taihō.
Khỏi phải nói ông đã cảm thấy vui sướng và tự hào đến mức nào.
Thời tiết khá đẹp cho sự khởi đầu.
Ozawa Jisaburō cùng đồng đội của mình đã tận mắt chứng kiến con tàu Taihō thể hiện bản lĩnh của mình.
Tính đến thời điểm này thì tàu Taihō đã hoạt động được 3 tháng.
Quân Mỹ đổ bộ lên đảo Saipan, Nhật Bản điều hạm đội Cơ động số 1 gồm 9 tàu sân bay (đứng đầu là Taiho) và 50 tàu chiến chạy hướng Philippines.
Sáng ngày 19 tháng 6, sau khi nhận được báo cáo về vị trí hạm đội Mỹ, tàu sân bay Taihō xoay ra hướng gió và tung ra một đợt không kích.
Cùng lúc, bản thân nó bị tấn công bởi một loạt sáu ngư lôi từ chiếc tàu ngầm Mỹ Albacore.
Một trong những phi công của chiếc Taihō - Sakio Komatsu trông thấy những đợt sóng của ngư lôi khi anh vừa cất cánh và đã tự nguyện bổ nhào máy bay của mình xuống đường đi của một trong các ngư lôi, làm nó phát nổ trước khi đến đích, bốn trong số năm quả ngư lôi còn lại cũng đi trượt.
Vụ nổ của quả ngư lôi duy nhất trúng đích đã làm kẹt thang nâng máy bay phía trước của chiếc tàu sân bay, trong khi hầm tàu chứa đầy xăng, nước và nhiên liệu.
Tuy nhiên, đám cháy không phát ra và sàn đáp cũng không bị ảnh hưởng gì.
Đô đốc Ozawa tỏ ra không mấy lo lắng trước các thiệt hại và tiếp tục tung ra thêm hai đợt không kích khác.
Trong khi đó, trên tàu có một sĩ quan chưa có kinh nghiệm đảm trách công việc cứu hộ, anh ta cho rằng cách tốt nhất để giải quyết vấn đề hơi xăng là phải mở hệ thống thông khí của toàn thể con tàu để chúng phân tán.
Khi làm như vậy, hơi xăng lan tỏa khắp con tàu và trong khi không ai hay biết gì, Taihō đã trở thành một quả bom nổ chậm khổng lồ nổi trên biển.
Khoảng 15 giờ 30 chiều, Taihō rung chuyển bởi một vụ nổ lớn.
Một sĩ quan tham mưu cao cấp trên cầu tàu trông thấy sàn đáp bị nhấc lên, trong khi thành tàu bị thổi tung ra.
Chiếc Taihō bị tách khỏi đội hình và bắt đầu chìm xuống nước.
Mặc dù Phó Đô đốc Ozawa tỏ ý mong muốn được chìm với con tàu, các sĩ quan tham mưu đã thuyết phục được ông cố sống và chuyển bộ chỉ huy sang tuần dương hạm Haguro.
Mang theo tấm ảnh của Thiên Hoàng, Ozawa chuyển sang chiếc Haguro bằng một tàu khu trục.
Sau khi ông rời tàu, Taihō bị xé ra bởi một vụ nổ kinh hoàng thứ hai và chìm xuống biển với phần đuôi chìm trước, mang theo 1.650 sĩ quan và thủy thủ đoàn.
Tàu sân bay Zuikaku (9 bom, 7 ngư lôi)
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Shōkaku
Trọng tải choán nước: 32.000 tấn
Độ dài: 257,5 mét
Sườn ngang: 26 mét
Tốc độ: 64 km/h (34,5 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.660 người
----------
Zuikaku là tàu sân bay có chiến tích vẻ vang nhất trong tất cả các tàu sân bay của Nhật Bản cũng như phe Trục.
Trong lần lâm trận đầu tiên - trận Trân Châu Cảng, các máy bay ném bom của Zuikaku đánh sập hoàn toàn lực lượng không quân phòng vệ trên đảo, tiêu diệt gần như toàn bộ máy bay của Mỹ, giúp cho máy bay từ các tàu sân bay Nhật khác tự do thực hiện nhiệm vụ diệt hạm của mình.
Máy bay của Zuikaku sau đó đã đánh chìm thiết giáp hạm California.
Sau Trân Châu Cảng, Zuikaku tấn công và đập tan các căn cứ của Úc tại Rabaul và Lae.
Tháng 4 năm 1942, Zuikaku cùng Shōkaku đột kích ra Ấn Độ Dương tấn công hạm đội Anh lừng lẫy, tiêu diệt tàu sân bay Hermes cùng bộ đôi tuần dương hạm hạng nặng Cornwall và Dorsetshire.
Tháng 5 năm 1942, tại biển San Hô, Zuikaku cùng Shōkaku tham gia trận hải chiến tàu sân bay đầu tiên trong lịch sử với bộ đôi tàu sân bay Yorktown và Lexington của Mỹ.
Phát hiện vị trí của nhau gần như cùng lúc, cả hai ném toàn bộ lực lượng của mình về phía đối phương.
Zuikaku ẩn mình giữa cơn giông khiến máy bay từ Yorktown và Lexington không thể tìm thấy để tấn công.
Trong đòn đánh trả của mình, Zuikaku và Shōkaku đánh chìm Lexington và gây thương tích cho Yorktown.
Tuy chiến thắng, chính hậu quả từ trận đánh này dẫn đến thất bại then chốt của hải quân Nhật Bản một tháng sau đó ở trận Midway khi cả Zuikaku và Shōkaku - bộ đôi tàu sân bay khủng nhất của Nhật Bản đều không thể tham chiến vì các lý do khác nhau.
Sau khi bỏ lỡ trận đại chiến Midway, trong chuỗi các trận đánh kéo dài liên tục nhiều tháng trời sau đó, từ trận chiến Đông Solomon và trận hải chiến quần đảo Santa Cruz trong chiến dịch Guadalcanal, Zuikaku và Shōkaku một lần nữa chứng tỏ trình độ chiến đấu siêu hạng của mình khi đánh chìm tàu sân bay Hornet và 2 lần suýt đánh chìm chiếc tàu sân bay danh tiếng Enterprise, xóa sổ hoàn toàn lực lượng tàu sân bay của Mỹ ở Thái Bình Dương.
Nhờ may mắn do khá nhiều bom và ngư lôi của Nhật Bản đánh trúng tàu nhưng không nổ cùng trình độ cứu tàu của thủy thủ đoàn mà Enterprise chỉ ôm thương tích trở về Trân Châu Cảng.
Sang năm 1943, Zuikaku nhận vai trò che chắn hỗ trợ quân Nhật rút lui khỏi đảo Guadalcanal, sau đó là nhiệm vụ phản công quân Mỹ trong trận tấn công đảo Aleutian.
Cuối năm 1943, Zuikaku lui về căn cứ ở Truk và chiến đấu với quân Mỹ đồn trú trên quần đảo Marshall.
Năm 1944, Zuikaku tham gia trận chiến biển Philippines.
Trong trận chiến này, Nhật Bản bị mất 2 trong 3 tàu sân bay xịn nhất còn lại là Taihō và Shōkaku, để lại Zuikaku là tàu sân bay chủ lực cuối cùng, đồng thời cũng là kẻ sống sót duy nhất từ thời Trân Châu Cảng.
Zuikaku cũng dính một bom trong trận này nhưng thủy thủ đoàn giàu kinh nghiệm nhanh chóng khống chế được thương tích.
"Chim hạc may mắn" Zuikaku cuối cùng cũng gục ngã trong trận hải chiến lớn nhất lịch sử - trận hải chiến vịnh Leyte, theo cái cách bất ngờ và đáng tiếc nhất.
Mất hầu hết máy bay và phi công kinh nghiệm qua nhiều trận đánh tàn khốc, Nhật Bản cuối cùng quyết định hy sinh Zuikaku, dùng tàu sân bay này làm mồi nhử kéo hạm đội Mỹ ra khỏi khu vực đổ bộ để đại quân tiến vào từ hướng khác.
Âm mưu của người Nhật thành công khi quân Mỹ dễ dàng rơi vào cái bẫy được giăng, tuy nhiên trình độ chỉ huy và khả năng hợp đồng tác chiến kém cỏi khiến người Nhật không tận dụng được cơ hội này.
Đại quân Nhật thay vì dễ dàng tiến vào đánh úp quân Mỹ thì rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng và rút lui trong khi hoàn toàn không có kẻ thù đáng kể nào trước mắt.
Zuikaku - với vai trò thu hút toàn bộ hỏa lực của Mỹ về phía mình đã thành công trong nhiệm vụ tự sát cuối cùng được giao.
Trơ trọi không có cả máy bay hay tàu chiến phòng vệ, Zuikaku đưa mình lãnh trọn đòn tấn công từ hạm đội Mỹ.
Tuy trúng ít nhất 9 bom và 7 ngư lôi, nhiều hơn bất kỳ loại tàu chiến nào khác trong lịch sử, trừ các siêu thiết giáp hạm nhà Yamato, Zuikaku hoàn toàn không bị cháy nổ tan hoang như các tàu sân bay khác.
Khi chiếc Zuikaku bị nghiêng nặng sang mạn trái, Phó Đô đốc Ozawa Jisaburō chuyển cờ hiệu của mình sang tuần dương hạm Oyodo.
Lệnh bỏ tàu được phát ra lúc 13 giờ 58 phút và cột cờ được hạ xuống.
Zuikaku lật úp và chìm lúc 14 giờ 14 phút, mang theo Chuẩn Đô đốc Takeo Kaizuka và 842 thành viên thủy thủ đoàn.
Có 862 người sống sót được vớt bởi các khu trục hạm Wakatsuki và Kuwa.
Thiết giáp hạm Yamashiro (9 ngư lôi, 1 bom, vô số đạn pháo và rocket)
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Fusō
Trọng tải choán nước: 39.154 tấn
Độ dài: 213 mét
Sườn ngang: 30,6 mét
Tốc độ: 46,3 km/h (25 knots)
Thủy thủ đoàn: 1.400 người (tiêu chuẩn)
----------
Sáng ngày 24 tháng 10 năm 1944, trên đường tiến về vịnh Leyte để tham gia trận đại chiến, Yamashiro bị tập kích bởi 27 máy bay phóng ngư lôi và ném bom bổ nhào.
Yamashiro bị trúng hàng loạt rocket khiến 20 thủy thủ đoàn thiệt mạng.
Cùng lúc đó, một quả bom đánh thủng mạn sườn của Yamashiro khiến tàu ngập nước và nghiêng 15 độ.
Sau khi làm ngập khoang đối diện để cân bằng, con tàu tiếp tục hành trình.
Tuy nhiên, Khoảng 3 giờ sáng ngày hôm sau, Yamashiro tiếp tục bị phục kích bởi các khu trục hạm Mỹ và trúng thêm 3 ngư lôi, buộc phải bơm ngập nước 2 tháp pháo đuôi để tránh nổ tàu.
Yamashiro lúc này chỉ còn 4 tháp pháo giữa và mũi là còn khả năng chiến đấu.
Chỉ ít phút sau, Yamashiro bước vào một cái bẫy khổng lồ: một mình thiết giáp hạm Yamashiro đối diện với toàn bộ 34 chiến hạm của hải quân Mỹ đang chờ ở bên kia eo biển Surigao.
Trong vòng 18 phút, với thế 1 vs 34 ấy, Yamashiro lãnh trọn cơn mưa đạn từ hàng chục tàu chiến và nhanh chóng chìm trong biển lửa.
Tuy vậy, Yamashiro vẫn kiên cường bắn trả quyết liệt.
Ít phút sau, một vụ nổ kinh hoàng xảy ra trên Yamashiro, có lẽ do nổ tháp pháo giữa thân.
Nhưng Yamashiro không hề ngừng lại, tốc độ bắn trả của Yamashiro thậm chí bất ngờ tăng vọt, tựa một con thú chống trả điên cuồng trước cái chết.
Trong lúc này, Yamashiro trúng thêm một ngư lôi.
Giữa đợt chống trả điên cuồng, các thợ máy bất ngờ lấy lại được công suất cho máy tàu và Yamashiro tăng tốc với ý định thoát ra khỏi cái bẫy.
Tuy nhiên, một thiết giáp hạm rực lửa giữa đêm tối là mục tiêu quá dễ dàng cho các tuần dương hạm và khu trục hạm Mỹ, Yamashiro lãnh thêm 6 ngư lôi và bắt đầu ngập nước không thể kiểm soát.
Lệnh bỏ tàu được đưa ra khi tàu đã nghiêng đến 45 độ, tuy nhiên, hầu như không ai rời tàu.
Yamashiro lật úp chỉ vài phút sau, kéo theo toàn bộ thủy thủ đoàn lên tới 1.650 người, chỉ có 10 người sống sót.
Tổng cộng cả trận chiến, Yamashiro lãnh trọn 9 ngư lôi, 1 bom hạng nặng cùng vô số đạn pháo và rocket trước khi gục ngã với những họng pháo vẫn đang rực lửa, biến Yamashiro thành một trong bốn thiết giáp hạm chiến đấu gan lì và có cái chết hào hùng nhất trong lịch sử.
Thiết giáp hạm Musashi (20 ngư lôi, 17 bom)
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Yamato
Trọng tải choán nước: 72.000 tấn
Độ dài: 263 mét
Sườn ngang: 38,9 mét
Tốc độ: 50,86 km/h (27,46 knots)
Thủy thủ đoàn: 2.399 người
----------
10 giờ 27 phút ngày 24 tháng 10 năm 1944, thiết giáp hạm Musashi bị 8 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Curtiss SB2C từ tàu sân bay Intrepid tấn công khi đang di chuyển với vận tốc 24 knots, "cô" bị trúng bom nhưng chỉ bị thủng một lỗ nhỏ trên thân, bom cũng rơi trúng tháp pháo số 1 nhưng không xuyên qua được trần tháp pháo.
10 giờ 29 phút, Musashi tiếp tục bị 3 chiếc máy bay phóng ngư lôi TBF Avenger tấn công, một quả ngư lôi trúng vào gần đài chỉ huy làm con tàu bị nghiêng về mạn phải 5,5 độ, Đô đốc Takeo Kurita buộc phải cho làm ngập mạn trái con tàu để cân bằng và giảm độ nghiêng xuống còn 1 độ.
2 chiếc Avenger bị bắn rơi, 1 chiếc Avenger khác của tàu sân bay Cabot không tấn công được do súng phòng không dày đặc, tuần dương hạm Myoko cũng bị trúng ngư lôi.
10 giờ 47 phút, những quan sát viên của các chiến hạm Yamato, Musashi, Chokai, Noshiro, Kishinami phát hiện những chiếc máy bay phóng ngư lôi địch đang đến.
11 giờ 57 phút, 210 chiếc máy bay khác bị radar phát hiện ở khoảng cách 80 km.
12 giờ 03 phút, đợt tấn công thứ 2 bắt đầu với 8 chiếc Curtiss SB2C, Musashi bị trúng 7 bom, quả thứ nhất xuyên qua sàn tàu và phát nổ dưới nước, quả thứ 2 rơi vào mạn tàu gần ụ súng phòng không 127 mm và phát nổ ở cabin số 10, mảnh văng cũng làm hư hỏng ống dẫn khí khiến khí siêu nóng bay ra.
Phòng máy số 10 bị bỏ lại, điều này khiến Musashi bị giảm tốc độ xuống còn 22 knots sau khi mất chân vịt phải, 2 chiếc Helldiver bị bắn rơi.
12 giờ 06 phút, 9 chiếc TBM Avenger tấn công chiếc siêu thiết giáp hạm, một chiếc trúng đạn và quay lui, 8 chiếc còn lại đánh trúng Musashi 3 lần khiến con tàu bị nghiêng 5 độ, quả đầu tiên trúng vào tháp pháo số 1, quả thứ hai làm ngập phòng máy số 2, quả thứ ba làm ngập phòng động cơ số 4, Kurita lại phải làm ngập Musashi giúp con tàu giảm độ nghiêng còn 1 độ nhưng lại bị chìm xuống 6 feet.
3 chân vịt còn lại giúp con tàu duy trì vận tốc 22 knots để bắt kịp hạm đội.
Quả ngư lôi số 1 cũng làm nổ đạn Type 3 vừa nạp vào pháo chính khiến cho bộ phận nạp hư hỏng hoàn toàn và không thể sử dụng.
13 giờ 12 phút, Đô đốc Kurita Takeo ra lệnh cho hạm đội giảm tốc xuống 22 knots để Musashi có thể bắt kịp.
13 giờ 50 phút, đợt tấn công thứ 3 kết thúc, mũi tàu bị chìm xuống 13 feet, vận tốc giảm xuống 20 knots.
14 giờ 12 phút, đợt tấn công thứ 4 bắt đầu với 12 chiếc Curtiss từ tàu sân bay Essex nhắm vào hai thiết giáp hạm Yamato và Nagato.
Musashi tiếp tục di chuyển với vận tốc 19 knots.
14 giờ 45 phút, Mayuzumi Haruo - chỉ huy của chiếc tuần dương hạm Tone đề nghị các tàu hộ tống bảo vệ Musashi.
14 giờ 55 phút, 69 máy bay từ 2 tàu sân bay Enterprise và Cabot tấn công đợt 5.
Musashi đang bị tụt lại so với hạm đội.
15 giờ 15 phút, 9 chiếc Curtiss của Enterprise ném trúng Musashi 4 quả bom.
3 quả trúng vào mũi tàu, giết chết toàn bộ đội kiểm soát thiệt hại tại đây, quả bom thứ 4 trúng vào phòng chỉ huy.
Lúc này, vận tốc của Musashi chỉ còn 16 knots rồi lại giảm xuống 13 knots sau khi làm ngập lần 3.
75 máy bay từ 3 tàu sân bay Cabot, Franklin và Intrepid đang chuẩn bị tấn công đợt 6, 35 chiếc trong số đó sẽ cùng tấn công Musashi.
15 giờ 30 phút, 7 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Curtiss tấn công Musashi, theo sau là 2 chiếc máy bay phóng ngư lôi Avenger.
Bom xuyên qua dàn súng phòng không và phát nổ trong lòng con tàu khiến khu vực gần phòng chỉ huy và đài chỉ huy bốc cháy nhưng vẫn dập được.
3 quả bom khác làm nổ tung phòng thông tin trung tâm, phòng liên lạc, phòng điện thoại, ngoài ra, vụ nổ còn làm hư hỏng phòng hơi số 4 và số 8.
2 quả bom trúng vào phần trước mũi tàu gần thượng tầng và thổi bay luôn 3 súng phòng không, quả thứ 7 trúng vào giữa ống khói và cột cờ làm hư hỏng nặng vùng quanh cột cờ, quả thứ 8 trúng vào phòng thủy thủ số 5 và phá tan bệnh viện gần đó, quả thứ 9 trúng vào trước tháp pháo số 1 và quả thứ 10 trúng vào phòng dành cho các sĩ quan.
3 quả ngư lôi trúng vào mạn phải gây hư hại nặng đồng thời làm ngập con tàu, 4 quả tiếp theo trúng vào phòng hơi số 8 và hầm đạn 25 mm ở đuôi, 3 trong 4 quả trúng vào mạn trái gần phòng máy số 4, đục thủng 30 feet thân tàu.
Musashi mất chân vịt còn lại bên trái và giảm vận tốc xuống 4 knots.
2 quả ngư lôi cuối cùng trúng vào bên trái đuôi tàu và làm con tàu bị nghiêng 10 độ, Musashi lại bị làm ngập lần 4 và giảm độ nghiêng còn 6 độ, bánh lái bị kẹt ở vị trí 15 độ phải nhưng đã được sửa chữa và Musashi tiếp tục di chuyển.
Tổng hợp lại, thiết giáp hạm Musashi đã một mình chống cự 259 máy bay, nhận 20 ngư lôi và 17 bom.
15 giờ 30 phút, Kurita cho hạm đội tiếp tục tiến lên, bỏ lại Musashi đơn độc ở phía sau.
16 giờ 21 phút, Musashi vẫn nỗ lực tiến về phía bắc trong khi đang nghiêng 10 độ với mũi tàu chìm xuống 26 feet và vẫn đang tiếp tục chìm xuống.
Đô đốc Kurita phái tuần dương hạm Tone và 3 khu trục hạm Kiyoshimo, Shimakaze, Isokaze hộ tống Musashi.
Tất cả thương binh và những người còn sống trên Musashi được dồn hết về mạn phải cùng với hàng hóa và lương thực để giữ tàu không nghiêng thêm, mỏ neo mạn trái được thả xuống.
Thuyền trưởng Inoguchi cố giữ Musashi lại nhưng con tàu đã dừng lại trước khi ông kịp làm điều đó.
19 giờ 15 phút, Musashi nghiêng 12 độ và lệnh chuẩn bị bỏ tàu được ban ra, lá cờ Húc Nhật được kéo xuống, Inoguchi vào cabin của mình và quyết định chết theo tàu.
19 giờ 30 phút, Musashi bị nghiêng 30 độ và từ từ lật úp, lệnh bỏ tàu được ban bố khẩn cấp, bức hình của Thiên Hoàng được hạ xuống, khu trục hạm Shimakaze lại gần để cứu người.
19 giờ 36 phút, Musashi lật úp về bên trái và chìm xuống độ sâu 4.430 feet, hai vụ nổ nữa diễn ra dưới nước.
1.376 người được bốn khu trục hạm Kiyoshimo, Shimakaze, Isokaze và Hamakaze cứu vớt, 1.023 người - hoặc mất mạng, hoặc đã quyết định ở lại để chìm cùng Musashi.
Thiết giáp hạm Yamato (12 ngư lôi, 7 bom)
Phục vụ: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp tàu: Yamato
Trọng tải choán nước: 72.000 tấn
Độ dài: 263 mét
Sườn ngang: 38,9 mét
Tốc độ: 50,86 km/h (27,46 knots)
Thủy thủ đoàn: 2.800 người
----------
Để cứu vãn tình hình cho Okinawa, Bộ tư lệnh Hải quân Nhật Bản quyết định đưa thiết giáp hạm Yamato, Tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi cùng 8 tàu khu trục khác tiến hành một cuộc tấn công tự sát nhằm vào hạm đội Mỹ mà người ta vẫn hay gọi nó là cuộc hành quân Tengo.
Ngày 6 tháng 4 năm 1945, Hạm đội Nhật Bản tại cảng Kure bắt đầu nhổ neo đi chiến đấu, tuy nhiên, do tiếp liệu không đủ để đến Okinawa nên họ buộc phải quay lại, nhưng thật không may, hạm đội Nhật bị phát hiện bởi tàu ngầm và máy bay trinh sát Mỹ.
Ngay sau khi nhận được tin báo, đến trưa ngày 7 tháng 4, 286 máy bay gồm đủ loại F4U, F6F, Curtiss SB2C, Avenger... xuất phát từ các tàu sân bay của lực lượng Task Group 58 lao đến vây đánh hạm đội Nhật Bản dữ dội, các phi công Mỹ ai cũng muốn được là người đầu tiên đánh chìm chiến hạm Yamato.
Ngay trong đợt tấn công đầu tiên, chiếc Yamato đã bị đánh trúng 2 bom và 1 ngư lôi, một quả bom từ một chiếc SB2C đánh trúng phòng radar của Yamato và giết chết toàn bộ thủy thủ tại đây, 2 trong số 8 khu trục hạm cũng đã bị đánh chìm.
Đợt tấn công thứ 2 của người Mỹ tiếp tục với hơn 100 máy bay các loại nhắm vào Yamato với quyết tâm hạ bằng được nó.
Đến 2 giờ 20 phút chiều, bị 7 bom và 12 ngư lôi đánh trúng, Yamato nghiêng tới 35 độ, kho đạn trước mũi tàu phát nổ tạo thành đám khói cao tới 6 km, có thể quan sát thấy từ bờ biển Kagoshima.
Biết Yamato không chịu được lâu và sắp chìm, hạm trưởng Kosaku Aruga ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ bỏ tàu để thoát hiểm rồi nhờ một hạ sĩ quan khác lấy dây cột mình vào trụ hải bàn.
Anh này trói ông lại rồi cũng lấy dây buộc bản thân nằm cạnh đó, các sĩ quan khác thấy vậy cũng làm theo, Aruga thấy thế quát lên: "Đồ ngu, chúng mày còn trẻ, phải sống cho nước Nhật tương lai!".
Kết quả: đại tá Aruga cùng 2.500 thủy thủ và sĩ quan đã chết theo tàu.
Sau đó, Aruga được truy phong hai cấp lên quân hàm Phó Đô đốc.
Trong khi đó, phía Mỹ chỉ mất 12 máy bay và 10 phi công.
Thiết giáp hạm Yamato bị đánh chìm cũng khiến cho hải quân Nhật Bản chìm theo.
Từ đó cho đến khi chiến tranh kết thúc, hải quân Nhật Bản không thể tham gia bất kỳ một chiến dịch nào được nữa.