Tôi đã chết thêm một lần nữa.
Khi kim đồng hồ chạm đúng mười hai giờ đêm, thế giới trước mắt tôi vỡ ra rồi khép lại, đưa tôi quay về đúng thời điểm một tuần trước khi cái chết xảy đến.
Ngoài khung cửa sổ, đàn quạ đen kêu lên những tiếng thảm thiết như điềm báo quen thuộc, rồi đồng loạt đập cánh bay đi, để lại bầu không khí lạnh lẽo đến nghẹt thở.
Đây là lần thứ hai trăm sáu mươi tám.
Tôi tỉnh dậy trong căn phòng bừa bộn, nơi sách vở chất thành đống và những cuộn giấy ghi chú nằm ngổn ngang trên sàn.
Các ký hiệu méo mó, nguệch ngoạc phủ kín sổ tay, như thể được viết ra trong cơn hoảng loạn.
Không chần chừ, tôi bắt đầu ghi lại tất cả những gì còn sót lại trong trí nhớ lên một tờ giấy mới, rồi cẩn thận nhét nó vào tập hồ sơ dày cộp, thứ mà tôi tạo ra chỉ với một mục đích duy nhất: ép bản thân không quên mình là ai, và đã chết như thế nào trong những lần trước.
Mọi cái chết đều trùng khớp một cách đáng sợ.
Ngày 19 tháng 01.
Đó cũng là ngày tôi từng chạm tới đỉnh cao của đời mình: trở thành một triết gia được kính nể, có trong tay những học trò ngoan ngoãn và phục tùng, được giới học thuật nhắc đến với sự tôn trọng không che giấu.
Quan trọng hơn hết, đó là ngày tôi lọt vào tầm mắt của Giáo Hội và được giao phó trọng trách cao quý - nuôi dưỡng những mầm non của vương quốc thành những kẻ sùng đạo tuyệt đối.
Vương quốc nơi tôi đang sống tôn thờ vị thần của công bằng và luật pháp - Nữ thần Onyx.
Người ta vẫn truyền tai nhau rằng chỉ cần không xúc phạm đến ý chí của ngài, con người sẽ được ban cho giàu sang và thịnh vượng.
Vị quân vương từng trị vì mảnh đất này đã rời khỏi đất nước từ rất lâu, nhưng dân chúng vẫn tin rằng ông ta chưa từng biến mất, rằng ông vẫn âm thầm điều khiển tất cả thông qua những kẻ mang danh truyền tin của thần.
Tôi gấp tập hồ sơ lại, đặt nó về đúng vị trí quen thuộc dưới chân giường.
Hai trăm sáu mươi tám lần chết đủ để tôi thôi giật mình vì con số.
Điều khiến tôi bực bội hơn là việc mình vẫn còn nhớ chính xác cách pha trà vào mỗi buổi sáng, nhưng lại không thể nhớ nổi lần đầu tiên mình chết vì điều gì.
Tôi từng thử thống kê nguyên nhân cái chết theo phương pháp khoa học.
Sau lần thứ năm mươi, tôi nhận ra khoa học bất lực trước những thứ được gọi là "ý chí thần linh".
Đến lần thứ một trăm, tôi bắt đầu nghi ngờ không phải thần linh toàn năng, mà là họ... thiếu kiên nhẫn.
Khi mặt trời đã lên trên đỉnh núi và những tia nắng đầu tiên tràn qua cửa sổ, tôi khoác áo choàng chỉnh tề, mang theo gương mặt mà mọi người quen thuộc.
Trong giảng đường, họ gọi tôi là "bậc hiền triết của luật pháp".
Tôi gọi đó là công việc toàn thời gian của việc nói ra những điều hiển nhiên theo cách khiến người khác tưởng mình vừa phát hiện chân lý.
Buổi sáng trong giảng đường luôn bắt đầu bằng tiếng giấy sột soạt và mùi mực khô; ánh nắng chiếu xiên qua những khung cửa cao, rơi lên hàng ghế gỗ đã mòn cạnh, khiến cả căn phòng trông giống một nơi dành cho suy nghĩ và lập luận hơn là cầu nguyện.
Tôi bước vào đúng giờ, không sớm hơn để tỏ ra sốt sắng, cũng không muộn để bị xem là kiêu ngạo, một thói quen nhỏ nhưng hữu ích; khi tôi đặt cuốn sách xuống bàn giảng, tiếng trò chuyện tự động hạ thấp, như thể có ai đó vừa vặn nhỏ lại âm lượng của cả căn phòng.
"Chào buổi sáng," tôi nói.
"Tôi thấy hôm nay các em đến đông đủ.
Điều đó hoặc chứng tỏ bài kiểm tra sắp tới rất đáng sợ, hoặc các em cuối cùng cũng bắt đầu thích luật pháp."
Vài tiếng cười bật ra, không quá lớn, vừa đủ để phá tan lớp băng dè dặt; tôi mở sách nhưng không nhìn vào trang nào cả.
"Trước khi bắt đầu," tôi nói tiếp, "cho tôi hỏi một câu đơn giản.
Công lý là gì?"
Những ánh mắt nhìn nhau; một cánh tay rụt rè giơ lên.
"Thưa thầy," một học trò nói, "công lý là sự trừng phạt kẻ làm sai."
"Ồ."
Tôi gật đầu.
"Một định nghĩa rất phổ biến.
Em học từ đâu?"
"Từ giáo lý."
"Tất nhiên rồi."
Tôi đặt sách sang một bên, khoanh tay lại.
"Vậy nếu không có kẻ làm sai thì sao?
Công lý lúc đó đang nghỉ ngơi à?"
Cả giảng đường im lặng; một học trò khác lên tiếng, tự tin hơn: "Công lý là bảo vệ người vô tội."
"Hay," tôi đáp.
"Vậy ai quyết định ai vô tội?"
Cậu ta chần chừ; tôi mỉm cười, không thúc ép.
"Luật," cậu nói sau cùng.
"Và luật đến từ đâu?"
Không khí bắt đầu căng lên; tôi quay người, chỉ về phía đại sảnh phía xa, nơi bức tượng của Onyx hiện diện trong im lặng vĩnh cửu.
"Chúng ta được dạy rằng luật đến từ đó," tôi nói nhẹ nhàng.
"Nhưng đừng nhầm lẫn.
Thần ban luật, không phải để chúng ta khỏi suy nghĩ."
Một vài người ghi chép vội vàng, một vài người nhíu mày; tôi tiếp tục, giọng đều đều như đang kể chuyện, không quá to cũng không quá nhỏ, vừa đủ để họ im lặng nếu muốn nghe tôi tiếp tục.
"Công lý không phải cây gậy để đánh người xấu.
Nó là chiếc gương.
Và gương thì rất khó chịu, bởi nó không quan tâm các em muốn thấy gì."
Một tiếng cười nhỏ vang lên ở hàng ghế sau; tôi liếc qua, bắt gặp ánh mắt sáng lên vì thích thú của một nữ học trò.
"Tôi nói thế này không phải để các em sợ," một nụ cười nhẹ xuất hiện trên khoé môi.
"Ngược lại.
Luật chỉ đáng sợ với những ai không hiểu nó."
Tôi bước xuống một bậc, đứng gần hơn với học trò.
"Các em có biết vì sao kẻ ngu lại thường tin rằng mình vô tội không?"
Không ai trả lời, một số người bắt đầu ngọ nguậy vì khó chịu, số khác lại nhìn tôi bằng cặp mắt tròn xoe thích thú.
"Vì họ tin," tôi nói, "chứ không hiểu."
Giảng đường yên tĩnh đến mức tôi nghe được tiếng lật trang sách.
"Niềm tin là thứ rất dễ chịu," tôi nói tiếp.
"Nó không đòi hỏi trách nhiệm.
Nhưng hiểu thì khác.
Hiểu luật nghĩa là các em phải chấp nhận rằng có lúc... luật sẽ không đứng về phía mình."
Tôi dừng lại, để câu nói lơ lửng, rồi cười.
"Tin tốt là," tôi tiếp tục, "luật cũng không đứng về phía tôi."
Cả giảng đường bật cười lớn hơn lần trước; không khí nhẹ đi; tôi quay lại bàn giảng, cầm cuốn sách lên, lần này mới thật sự mở ra.
"Bài hôm nay," tôi nói, "không phải về trừng phạt.
Mà là về giới hạn của công lý."
Tôi nhìn quanh căn phòng, ánh mắt lướt qua từng gương mặt đang chăm chú.
"Và nếu cuối buổi," tôi nói chậm rãi, "các em cảm thấy hơi khó chịu... thì xin chúc mừng."
Tôi gõ nhẹ ngón tay lên bàn.
"Bài học đã bắt đầu."
Buổi học kết thúc trong trật tự gần như hoàn hảo, và chính sự hoàn hảo ấy khiến tôi thấy khó chịu.
Tôi rời giảng đường cùng học trò, không ai né tránh ánh mắt tôi, cũng không ai nhìn quá lâu, mọi thứ trôi qua êm ái như một kịch bản đã được duyệt sẵn từ trước.
Khi bước xuống bậc thềm đá dẫn ra đại sảnh, tôi thấy một người đàn ông đứng chờ.
Áo choàng xám nhạt, không phù hiệu, không thánh huy - kiểu người mà Giáo Hội luôn nói là "không tồn tại", nhưng ai cũng nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên.
"Bậc hiền triết," ông ta lên tiếng trước, giọng thấp và mềm như nhung, "bài giảng sáng nay rất... thú vị."
Tôi dừng lại, xoay người, giữ nét mặt lịch sự vừa đủ.
"Ngài dự thính sao?"
"Chỉ là tình cờ đi ngang," ông ta mỉm cười.
"Và nghe thấy vài luận điểm hơi... vượt ra ngoài giáo trình chính thức."
À.
Lần này họ không chờ đến ngày 19.
"Giới hạn của công lý là một chủ đề nhạy cảm," ông ta nói tiếp, bước song song với tôi về phía hành lang dài dẫn đến khu hành chính.
"Nhất là khi được giảng cho những tâm trí còn non trẻ."
"Tôi luôn tin rằng," tôi đáp, "luật pháp không yếu đến mức sụp đổ chỉ vì vài câu hỏi xuất phát từ sự tò mò đơn thuần của con người."
"Dĩ nhiên."
Ông ta gật đầu.
"Nhưng niềm tin thì khác."
Chúng tôi dừng trước bức tượng đá đen của Nữ thần Onyx.
Ánh nến hắt lên gương mặt thần thánh một vẻ lạnh lẽo tuyệt đối, công bằng đến mức vô cảm.
"Giáo Hội trân trọng đóng góp của ngài cho vương quốc," người đàn ông nói.
"Chính vì vậy, chúng tôi muốn đảm bảo rằng... những đóng góp ấy luôn đi đúng hướng."
Một lời nhắc nhở.
Không phải đe dọa.
Chưa.
"Tôi luôn giảng dạy theo luật," tôi nói.
"Luật," ông ta nhấn mạnh, "được ban xuống, không phải để diễn giải tùy hứng."
Tôi nhìn thẳng vào bức tượng.
"Ngài có bao giờ tự hỏi," tôi nói chậm rãi, "vì sao thần của luật pháp lại không bao giờ tự mình lên tiếng không?
Hay vì sao người cần đến Giáo Hội để truyền đi"
Không khí lạnh đi thấy rõ.
Người đàn ông không trả lời ngay.
Ông ta chỉ nhìn tôi, ánh mắt lần đầu tiên mất đi sự mềm mỏng.
"Có những câu hỏi," ông ta nói sau cùng, "không phải vì sai mà nguy hiểm."
Tôi mỉm cười.
"Tôi biết."
Chúng tôi chia tay ở cuối hành lang, ông ta rẽ về phía Giáo Hội, còn tôi quay lại văn phòng của mình.
Khi cánh cửa khép lại sau lưng, tôi biết rất rõ từ khoảnh khắc này, những cái chết tiếp theo sẽ không còn là tai nạn.
Tôi kéo ngăn kéo bàn, lấy tập hồ sơ cũ kỹ giấu dưới đáy lên; trên bìa, bằng nét chữ của chính tôi trong một vòng lặp nào đó, chỉ có một dòng: "Nếu Giáo Hội bắt đầu nói chuyện lịch sự, nghĩa là họ đã quyết định giết mày."
Tôi thở ra nhẹ nhõm - cuối cùng, họ cũng đã để ý.