Ngôn Tình Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 59: Vượt Vạn Trùng Khơi Nhạn Bay Về 4


Tối đó, người của lãnh sự quán Pháp kịp thời tìm đến, là nhờ bút tích của Tạ Vụ Thanh.
Chuyện này làm cô liên tưởng đến chuyện mình 17 tuổi ở tô giới Pháp Thiên Tân, khi ấy cô gọi điện thoại nhờ Tạ Vụ Thanh giúp đỡ, Tạ Vụ Thanh bất chấp nguy hiểm xuất hiện.

Hai người bọn họ bén duyên trong tô giới Pháp.
Từ lúc đó, cô cố tình truyền tin ra ngoài, danh thiếp bái phỏng không dứt.
Cô viện cớ tâm trạng không tốt để khéo léo từ chối, toàn tâm toàn ý đặt lên người Kế Thanh, qua 10 ngày, Khấu Thanh dè dặt nhắc nhở cô đã quen biết Tư Niên nhiều năm, con gái tuổi nhỏ tâm tư nhạy cảm, nếu để con bé phát hiện vì sự xuất hiện của em trai khiến mẹ lạnh nhạt mình, e rằng sẽ đau lòng lắm.
Hà Vị không trả lời, chỉ bảo Khấu Thanh chuẩn bị bàn cơm phong phú, tối nay Triệu Ứng Khác đến nhà.
“Triệu công tử lại tới ạ?” Khấu Thanh kinh ngạc.
“Là ta mời hắn đến”.
Trong lòng Khấu Thanh nghi ngờ, cảm thấy có ẩn khúc gì đó.
Triệu Ứng Khác mang theo quả hải đường yên đài.
Hắn quan sát dáng vẻ mừng rỡ của Hà Vị khi trông thấy quả hải đường yên đài, giống như quay về thời thơ ấu, cô đọc cổ văn trong thư phòng, vừa cắn quả vừa hỏi hắn, từng đến Yên Đài chưa.

Bản thân hắn sinh ra thuộc dòng dõi thư hương, mà môn quốc văn của cô lại rất tệ, lần đầu tiên gặp gỡ, bạn thân Hà Nhữ Tiên bảo cô đừng buông tha nhân tài, phải bái thầy học hỏi.

Cô gái mặc váy dài xanh lục, ban đầu không chịu, đợi khi hắn cùng Hà Nhữ Tiên rời khỏi chính phòng, bóng dáng xanh lục mới đuổi theo, cô đứng dưới hiên nhà, gấp gáp gọi hắn: “Triệu tiên sinh, Triệu tiên sinh.

Triệu Ứng Khác, Triệu Ứng Khác, anh đứng lại”.
Hắn và Hà Nhữ Tiên bước đến chỗ hòn non bộ, nhìn nhau bật cười.

Hai người thanh niên tài giỏi đồng thời quay đầu.
Cô có sự kiên trì của mình, một mực không chịu bước ra ngoài mái hiên nửa bước, nhưng vẫn nhỏ giọng lầm bầm: “Anh tôi bảo anh là tài tử, vậy anh nhất định là đại tài tử.

Nếu anh không chê, thì đến đây dạy tôi học hai ngày, đợi qua khỏi kì thi này là được”.
Triệu Ứng Khác nhìn cô gái chắp hai tay sau lưng, ngượng ngùng mỉm cười, hắn cũng cười đáp: “Được thôi”.
“Đứa em gái này của tôi giỏi yeutruyen.net nhất là khẩu thị tâm phi, thật ra nó đang chột dạ”, Hà Nhữ Tiên nói trước, “Nó chỉ ước có một giáo viên giỏi dạy mình.

Nếu không, làm sao qua được kì thi cuối kì chứ, vậy thì không cách nào theo ta đi Nam Dương”.

Trên bàn ăn, ánh nến phản chiếu cái bóng của thuỷ tinh ngũ sắc.
Triệu Ứng Khác nhìn sắc mặt Hà Vị, hơi an tâm: “Đêm đó tôi về lại Nam Kinh, lo lắng em say rượu sẽ tổn hại thân thể.

Hôm nay gặp lại, xem như yên lòng rồi”.
“Tôi có một chuyện phải làm”, Hà Vị nói, “Cần nhờ Triệu uỷ viên giúp đỡ”.
Triệu Ứng Khác cười: “Giữa hai chúng ta, không cần nói nhờ vả, có việc cứ bảo tôi”.
Hắn sợ vượt quy củ, lại bổ sung: “Nể mặt Nhữ Tiên, nếu giúp được tôi sẽ giúp”.
“Cần mượn xe anh, thay tôi đưa Kế Thanh cùng bác sĩ lên tàu”, cô nhẹ giọng nói, “Sau đó bạn của Tạ Vụ Thanh sẽ đến đón đứa nhỏ.

Con tàu này di chuyển bằng đường biển, đến Quảng Châu thì chuyển sang cảng tỉnh, đến Hồng Kông”.
“Đứa bé còn chưa đầy tháng, đã đưa đi như thế…” Triệu Ứng Khác muốn nói lại thôi, “Em đành lòng sao?”
Cô lắc đầu: “Tôi không biết.

Toàn bộ suy nghĩ của tôi đều để vào việc sắp xếp hành trình, không dám nghĩ đến việc chia ly”.
Dưới ánh mắt dòm ngó xung quanh, nuôi nấng một hứa trẻ “không tồn tại” thì sớm muộn gì cũng sẽ bại lộ.

Cô phải nhanh đưa ra quyết định.
“Khi nào?” Triệu Ứng Khác hỏi.
“Ngay tối nay”.
Triệu Ứng Khác trầm mặc một lát: “Được”.
Triệu Ứng Khác nhấc đũa, gắp thức ăn cho cô: “Cả đêm tâm sự nặng nề, không thấy em ăn gì cả.

Nếu đã quyết định, thì trước tiên cứ lo ăn cơm đã”.

Chiếc đũa trắng ngà tron tay người đàn ông, hắn gắp đồ ăn không ngừng, lần trước cùng nhau ăn tối, chính là cái đêm sinh nhật thứ 18 của cô.
“Anh giúp tôi nhiều quá, không biết cảm ơn thế nào”.

Cô áy náy.
“Không phải vừa nói sao, vì Nhữ Tiên, tôi sẽ cố sức”, hắn đáp, “Không cần nghĩ nhiều”.
Dứt lời, Triệu Ứng Khác mỉm cười nói: “Hơn nữa, ít nhiều gì tôi cũng từng là thầy em mấy ngày, xét trên mối quan hệ này vẫn nên giúp đỡ”.
Như giúp cô đỡ buồn, Triệu Ứng Khác lại bảo: “Huống hồ, lúc trước tôi ở nhà em ba ngày, hại em bị người khác đồn nhảm.

Hiện giờ làm được chút chuyện, xem như bồi thường đi”.
Nhiều năm qua đi, đột nhiên Triệu Ứng Khác nhắc đến chuyện cũ.
Hà Vị định mở miệng, hắn đã nói trước: “Cả đời tôi lo trước lo sau, bị gia tộc trói tay, lại bị lễ nghĩa ép buộc, mấy ngày đó hoàn toàn để mặc bản thân, ở cạnh em mấy ngày mới thôi.

Tuổi trẻ nhiệt huyết sai lầm, không bận tâm thanh danh của một cô gái như em, cũng xem như sám hối.

Vị Vị, vì lỗi lầm này, em đừng nói lời cảm ơn với tôi”.
“Chuyện quá khứ, tôi sớm quên rồi”.
Tiếng chuông ngoài cửa vang lên.
“Tôi đi bế Kế Thanh”.

Cô rời bàn ăn.
Giường đồng nằm giữa, Kế Thanh được bọc trong chăn nệm đang ngủ say.
Hà Vị không bật đèn, sợ đánh thức con.

Cô bám vào bóng tối, im lặng hôn lên vầng trán nhỏ nhắn của con.

Hương sữa toả ra từ người, thấm vào tận cốt tuỷ cô.

Cô nén nước mắt, vén chăn ôm con trai bé bỏng vào lòng.
Sau này, có một chuyện phong lưu truyền ra ngoài.

Triệu uỷ viên cố ý muốn chấm dứt hội nghị sớm, vó ngựa không ngừng từ Nam Kinh chạy đến biệt thự của cô hai Hà.

Dưới sự giới thiệu của cô hai, hắn cùng khách quý ở lãnh sự quán Pháp kết bạn, ba người trò chuyện rất vui vẻ.
Giữa đêm, xe cảnh sát mở đường, Triệu uỷ viên đích thân đưa bạn mới quen đến cảng lên tàu.
Kế Thanh đi rồi, cô đứng lặng trên ban công.

Trong phòng vắng ngắt, hoa viên cách vách đang ca múa tưng bừng, giống như hai thế giới đối lập.
Ánh trăng bàng bạc chiếu lên hàng rào, một đôi tay nhỏ bé ôm eo cô: “Vẫn còn một ‘Thanh’ nữa.

Con vẫn ở đây”.
Cô cúi đầu: “Dẫn con ra ngoài chơi được không?”
Tư Niên kinh ngạc, vui mừng gật đầu.
Từ lúc đến Thượng Hải, cô và Tư Niên ẩn cư trong một toà biệt thự khiêm tốn, đây là lần đầu tiên bước ra khỏi viện.

Con đường nhỏ khuất sau bóng cây ngô đồng xanh biếc, trong căn biệt thự cổ bên cạnh là hậu duệ của trọng thần triều Thanh – Lý Hồng Chương, vào trong, có hậu nhân của Tứ đại môi giới Thiên Tân, bên cạnh là dương lâu của người nhà Viên Thế Khải.

Phố xá yên tĩnh, đường mòn nhỏ hẹp, nhưng người nổi tiếng lại đông.
Tư Niên ngửa đầu, nhìn cây ngô đồng dưới ánh đèn: “Mấy cây này nhìn từ trong nhà khác hẳn với khi đi phía dưới chúng”, cô bé quan sát, “Cây ở phương Nam đều thấp vậy ạ?” So với dương liễu ở phương Bắc, cành lá xanh tươi, thân cây thô ráp, giống như một cây dù xanh chắn nửa bầu trời.
Chiếc Buick đen chạy qua, có vẻ rất gấp.

Hà Vị kéo tay Tư Niên, trốn sang bên cạnh.
Xe dừng trước cổng sắt khép kín, một bóng dáng bước xuống, bước nhanh đến cổng lớn, vội vàng gõ cửa.

Cả đời Tư Niên gặp nhiều chuyện kinh hãi, cô bé tò mò với người thiếu bình tĩnh trong xe, dừng bước nhìn theo.
Cửa vừa mở, một người đàn ông mặc âu phục thở hổn hển nói nhỏ: “Quan ngoại xảy ra chuyện rồi, mau vào đây”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Cổng lớn lại đóng chặt, hốt hoảng đến mức quên khoá cửa, để chừa một khe hở, có thể thấy người vừa vào trong đã gấp gáp chạy đi.
Đây là cảm giác khi màn đêm ngày 18 tháng Chín yeutruyen.net buông xuống ở Thượng Hải.
Buổi tối, thống soái quân Đông Bắc đang ở Bắc Bình mời đại sứ nước Anh xem Mai tiên sinh diễn, sau khi đọc xong điện báo thì vội vàng rời đi, sau đó không xuất hiện nữa.

Một mệnh lệnh không cho phép chống cự được hạ xuống, quân Đông Bắc rút về quan nội.
Năm đó đi đường vòng qua Tế Nam, hiện giờ ba tỉnh Đông Bắc không chống cự, sức lực yếu ớt như nhất mạch tương thừa [1]
[1] Ý chỉ cha truyền con nối, cùng một huyết thống, đi theo một quy luật đã định sẵn.
“Không ai nguyện chiến đấu vì nước sao ạ?” Tư Niên đột nhiên hỏi.
Cô đưa tờ báo đang đọc cho Tư Niên, trên đó có một bài viết về công cuộc kháng chiến chống Nhật ở Đông Bắc.
Sau khi mệnh lệnh không cho phép chống cự được ban hành, rạng sáng ngày tiếp theo, có tướng lĩnh quân Đông Bắc kháng lệnh: “Quân địch xâm chiếm lãnh thổ nước ta, tấn công doanh trại của ta, nếu nhẫn nhục vì lòng riêng, thì tư cách với quốc gia không còn nữa, hơn hết, hiện tại toàn quân oán thán, tất cả đều nguyện ý sống chết với Bắc đại doanh”.
Đây là phát súng đầu tiên cho cuộc kháng chiến chống Nhật Bản.
Có tướng lĩnh thoát ly khỏi quân đội, cố thủ quê hương.

Còn có người dân vì bảo vệ quê nhà không màng cầm súng chống giặc, và những người cộng sản từng bị chính phủ Nam Kinh vây bắt, tổ chức quân đội du kích ở ba tỉnh Đông Bắc để chống quân Nhật xâm lược.
Có người rút lui, thì sẽ có người ở lại.

Người Trung Quốc không ngừng lên phía Bắc chi viện.
Bình – Tân giáp với Đông Bắc, nằm ở rìa chiến trường, tình thế xoay chuyển khó lường.
Ngoại trừ tin tức của Tạ Vụ Thanh và Kế Thanh, điều khiến cô lo lắng nhất lúc này là văn phòng ở Bình Tân.

Vào tháng 10, cô nhận được bức điện tín từ Bắc Bình: Nhà họ Hà tố cáo Hồ Thịnh Thu lén lút liên lạc với hồng khu, khiến văn phòng ở Bắc Bình bị niêm phong.
Hôm sau, một bức điện tín gửi từ Thiên Tân nói: Chú chín bệnh nặng, không thể quán xuyến, văn phòng ở Thiên Tân cũng bị niêm phong.
Văn phòng Bình – Tân, cảng Hải Hà ở Thiên Tân đóng vai trò trung tâm của tuyến đường hàng hải phía Bắc của Hà gia.

Cũng là tâm huyết nhiều năm của chú hai.
Cô ngồi mãi trong phòng ngủ, đến rạng sáng hôm sau, cô đến sảnh giao dịch của Cục Điện báo Thượng Hải.
Trước cửa Cục Điện báo Thượng Hải nằm trong khách sạn Hoà Bình, cô bước xuống xe hơi, được một đứa bé trông cửa dẫn vào cổng xoay.

Trong sảnh giao dịch ở tầng một, có hàng trăm điện tín viên, họ nói tiếng phổ thông, có người dùng tiếng địa phương, vừa tiếp nhận, phân luồng người dân đến hỏi thăm, vừa báo cáo công tác.

Tầng hai là toà soạn báo quốc tế và tô giới, cô men theo cầu thang lót thảm vàng kim, đi thẳng lên lầu.
Đứng trước quầy giao dịch, cô cởi chiếc mũ rộng vành, báo tên địa chỉ, phát đến lãnh sự quán Pháp ở Quảng Châu.
“Gửi điện tín này thì đến lãnh sự quán Pháp ở tô giới sẽ nhanh hơn”.
“Hôm nay ở đó nhiều người quá”.

Cô nói khẽ.
Ở đây có hàng trăm điện tín viên, mỗi giây mỗi phút đều thu nhận phát ra vô số điện báo, chính là nơi an toàn nhất.

Đối phương thấy cô là một tiểu thư phú quý, không hề nghi ngờ, liền ghi nhận nội dung điện báo của Hà Vị.
Bên trong điện báo viết ngắn gọn: Hành trình xuôi Nam gặp biến, phải trở về Bắc.

Em gái.
Vừa gửi xong điện báo, cô quay về nhà thu dọn hành lý.
Khấu Thanh sốt ruột lo lắng, mấy lần muốn khuyên cô nhưng ngẫm nghĩ nếu tiểu thư nhà mình đã hạ quyết tâm thì không ai có thể lay chuyển, càng không nhiều lời.

Chỉ là thật đáng tiếc, chuyến đi xuôi Nam lần này đã đến được Thượng Hải, chờ thêm một chút, có lẽ sẽ lên tàu đến Hồng Kông.

Lúc này quay về Bắc, nỗ lực hơn nửa năm đều công cốc, nếu lại muốn đi, chỉ e càng khó.
Điều an ủi duy nhất là Kế Thanh đã đến nhà họ Hà ở Hồng Kông, được Liên Phòng đang ở văn phòng thường trú Hồng Kông chăm sóc, không phải lo lắng nhiều.
Vé tàu từ Thượng Hải đến Nam Kinh đã bán hết.
Khi cô đặt vé thì Triệu Ứng Khác hay tin, lập tức gọi điện đến biệt thự hỏi rõ lý do, nghe xong Hà Vị giải thích, hắn trầm tư một lúc lâu: “Để anh cử xe đến Nam Kinh đón em.

Trực tiếp qua sông, xuất phát từ Phổ Khẩu”.

Cơn mưa đầu mùa đông đến bất chợt, gột rửa hai hàng cây ngô đồng Pháp, bọn họ đội mưa, bước lên hai chiếc xe.
Kim Lăng hiện giờ là thủ đô, trong lúc hỗn loạn thường xuyên tiến hành tra xét.
Triệu Ứng Khác đích thân đến cổng thành Kim Lăng, chờ đón cô vào thành.

Sau khi thấy bóng xe, thư ký của Triệu Ứng Khác lập tức giương ô, mở cửa xe giúp hắn, cả người hắn mang theo hơi nước, ngồi vào hàng ghế sau.

Hắn thầm hỏi: “Thiếu tướng quân biết không?”
“Đã gửi điện báo cho anh ấy”.

Cô khẽ đáp.
Xe băng qua cổng Chính Dương Môn, cô ngẩng đầu nhìn cổng thành chìm trong màn mưa Kim Lăng: “Cửa này tên gì?” Người bình thường không quá để tâm thứ này, nhưng cô từ nhỏ đã thích tường thành, chính là những thứ tương tự cổng thành.
Triệu Ứng Khác nhìn xuyên qua cửa sổ đầy dấu mưa, nhìn ra ngoài: “Chính Dương Môn”.
Thì ra Kim Lăng cũng có một thứ gọi là Chính Dương Môn.
Quốc gia rộng lớn, hàng ngàn năm lịch sử, thủ đô di chuyển vô số.

Mà đến tột cùng có bao nhiêu Chính Dương Môn, cũng chưa ai thật sự đếm qua.
“Nam Kinh muốn cách chức thống lĩnh quân Đông Bắc, các tướng quân phía Bắc đều phản đối, chỉ e không thực hiện được”, Triệu Ứng Khác tóm tắt thế cục ở kinh thành cho cô nghe, “Sau khi em về Bắc Bình, quân Đông Bắc hẳn vẫn còn đó.

Nhưng Trịnh gia không xuất hiện, sau khi bọn họ ra mệnh lệnh không cho phép chống cự, thì Trịnh gia cũng thoát ly khỏi đại doanh, kiên quyết ở lại Đông Bắc kháng Nhật”.
Cũng đúng.

Cô ba Trịnh gia vừa nhìn liền biết là người như thế.
“Nam Kinh vẫn một mực vây bắt hồng khu, tạm tha ba tỉnh Đông Bắc”, Triệu Ứng Khác lại nói tiếp, “Bên Tạ Vụ Thanh, chỉ sợ nhất thời không thể lo cho em.

Hôm nay em về Hoa Bắc, đừng nói là hắn, ngay cả anh cũng chưa chắc đã lo được.

Nếu em vẫn ở Thượng Hải, gần Kim Lăng, ít ra anh vẫn có biện pháp xử lý.

Một khi em về Bắc, chỉ có thể dựa vào quan hệ của chính mình cùng kế sách lâu dài”.
Hắn thấy Hà Vị không mở miệng, lo lắng nói: “Mấy ngày nay, tất cả nhóm cựu quân phiệt ở Bình – Tân, ngoài ra còn có các lão chính khách đến cầu xin anh sắp xếp cho họ xuôi Nam, ngược lại chỉ có em là muốn ra Bắc”.
“Tôi cũng không ngờ, đi nửa đường lại phải quay về Bắc”.
Cũng giống như, chưa bao giờ có ai dự đoán được, một ngày quân Nhật xâm chiếm Trung Hoa, khiến đất nước chôn vùi.
“Anh tôi năm đó từng nói”, Hà Vị nhìn Chính Dương Môn của Kim Lắng phía xa xa, “Nhìn những người thời đại của chú hai, tuy rằng đối mặt với liên quân tám nước nhưng trước mắt ít nhất không có xâm lăng…” Cô nói nhỏ, “Lúc anh ấy nói lời này, nhất định không ngờ được thế cục đất nước sau khi mình ra đi lại ngày càng tệ hại như thế”.
Thế hệ của chú hai, bất lực chịu cảnh liên quân tám nước là nỗi nhục của lịch sử nước nhà.

Đến đời anh trai cô mà nói, chính là tô giới mọc lên khắp nơi.
Nhưng đến thời của cô, chưa bao giờ nghĩ có một ngày ba tỉnh Đông Bắc phải rơi vào tay giặc.
“Thiếu tướng quân còn ở phương Nam, lúc này em lại ra Bắc…” Triệu Ứng Khác muốn nói lại thôi.
Lần này bỏ qua cơ hội tiếp tục xuôi Nam.

Chỉ e ngày hai người gặp lại càng thêm khó.
“Cũng không hẳn vì vận tải đường thuỷ.

Từ ba tỉnh Đông Bắc đi xuống một chút chính là Trường Thành”, nửa khuôn mặt của cô bị vành nón rộng che khuất, nhìn không rõ hai mắt, “Bên trong Trường Thành chính là Bắc Bình.

Mà Bắc Bình là quê hương tôi.

Anh ấy sẽ hiểu vì sao tôi quyết định quay về”.
Cũng giống như những người lựa chọn ở lại sau khi mệnh lệnh không chống cự được ban hành, chỉ vì họ muốn bảo vệ quân dân ba tỉnh Đông Bắc.
Quê hương khó bỏ.

Mà nay quê hương đang gặp nạn, càng không thể rời đi..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 60: Vượt Vạn Trùng Khơi Nhạn Bay Về 5


Tàu hoả đến Bắc Bình, trên nhà ga có rất đông người đến đón tiếp.
Cô vén rèm cửa, nhìn dòng người lũ lượt bên ngoài, giữa mũ dạ đen tuyền, xen lẫn mũ quân đội cùng mũ quả dưa bằng da nâu sẫm, trên lá cờ nhỏ viết tên của phái cựu quân phiệt.
“Suốt nửa tháng nay, đám cựu quân phiệt vào kinh không ít, tất cả đều muốn Đông Sơn tái khởi [1] từ Bắc Bình, Hoa Bắc”.
[1] Ý chỉ một người hay phe phái sau thời gian dài thất thế phải lui về ở ẩn có ý định quay lại khôi phục quyền lực, địa vị.
Sau khi quan ngoại sụp đổ, phía Nam Kinh thường xuyên thay đổi.
Tưởng Uông cùng con trai của Tôn tiên sinh luân phiên lên đài, tranh đấu không dứt.

Hoa Bắc trở thành cái tổ của đám cựu quân phiệt, quốc gia lâm nạn, có người lập kế cứu nước, cũng có người ý đồ tìm cơ hội, một lần nữa bước lên sân khấu lịch sử.

Náo nhiệt vô cùng.
Trên nhà ga ngoại trừ đám người tiếp đón các cựu quân phiệt, còn có người của lãnh sự quán ở hẻm Đông Giao Dân, họ đến chờ kiều bào Nhật.
Mấy người đàn ông trung niên thân mặc kimono mang guốc gỗ nối đuôi nhau xuống tàu, thu hút sự chú ý của đám đông.

Sự thoả hiệp nhượng bộ của chính phủ Nam Kinh đã cổ vũ cho cái gọi là “niềm tự hào dân tộc Yamato”.

Trên toa ăn của tàu hoả, Hà Vị từng nghe tiếng người Nhật reo hò ăn mừng, những hành khách trên toa tàu ấy đều mang sắc mặt khó coi, nhưng đành bất lực.
Chính phủ đã chấp nhận đàm phán, quân đội thì thoái lui.

Dân thường dù trong lòng có căm phẫn thế nào cũng không có chỗ phát tiết.
Tư Niên trông thấy cảnh ấy, tức giận mắng chửi đám văn nhân có quan hệ với chính phủ Nam Kinh, thu dọn những bản tin về việc người dân Đông Bắc tổ chức kháng Nhật, kẹp trong sách.

Cô bé hỏi Hà Vị: “Tạ thiếu tướng quân nhất định sẽ chống Nhật đúng không ạ?”
Hà Vị gật đầu.
Chỉ cần bọn họ có thể thuận lợi thoát khỏi vòng vây của chính phủ Nam Kinh, đó nhất định là những người lính đầu tiên đứng lên chống Nhật.

Xe đón họ trở về Hà nhị phủ.
Khi ở Thượng Hải quyết định về kinh thành, cô đã gửi một bức điện tín cho Quân Khương, tìm lại những người lớn tuổi đã giải tán trước kia, lần nữa chuyển về sống trong Hà nhị phủ.

Cùng lúc đó, cô gọi điện thoại đến Thiên Tân, bảo hai người thím thu dọn những món đồ linh tinh rồi nhanh chóng đến Bắc Bình.
Xe dừng trước cánh cổng sơn son, hai người gác viện đi qua, xắn tay áo, đội gió lạnh, tưới nước nóng cọ rửa sạch sẽ hai tượng sư tử đá trước cửa.

Hơi nóng bốc lên, tản ra khói trắng.
Hai người trông thấy Hà Vị, gương mặt vui cười: “Cô hai”.
“Ừm”, cô hỏi, “Cả nhà Cửu gia đến chưa?”
“Sáng sớm đã đến rồi ạ, đang thu dọn bên trong”.
Hà Vị nắm chặt tay Tư Niên, bước lên thềm đá, đi vào nhà.
Người trong nhà tay chân nhanh nhẹn, chỉ mất một ngày một đêm đã thu xếp toàn bộ đồ đạc trong nhà gọn gàng.
Cô giao Tư Niên cho Khấu Thanh, bản thân đến Đông viện thăm chú chín.
Chú chín mở rộng đại thư phòng, biến phòng trà thành phòng ngủ, có điều không thay đổi bố cục là mấy.

Cô vòng qua bức bình phong, thấy chú chín đang nghiêng người nằm trên giường, cô thoáng hoảng hốt vì cứ ngỡ là bóng dáng của Hà yeutruyen.net Tri Hành.
Thím nhỏ thu dọn chén thuốc, chú chín cảm khái nhìn cô: “Nếu không phải Thiên Tân có chuyện, ta cũng không phát điện tín cho con”.
Cô kéo chăn qua đầu gối chú chín: “Trên đường con đã nghe nói, Thiên Tân không yên bình như Bắc Bình”.
Chú chín kể sơ lược cho cô nghe chuyện người Nhật cấu kết với người trong tô giới Nhật âm thầm đưa hoàng đế Tốn Thanh ra ngoài, chuẩn bị nâng đỡ giật dây một vị hoàng đế bù nhìn ở ba tỉnh Đông Bắc: “Cách cách trước kia của triều đình nhà Thanh, liên hợp với Thanh bang tạo nên cục diện rối rắm, sau đó dùng rương chở đồ bí mật đưa hoàng hậu Tốn Thanh đến quan ngoại”, chú chín thở dài, “Sau khi có đủ đôi đế hậu này, bọn chúng thật muốn lần nữa tổ chức đại điển đăng cơ”.
Đối diện với sự lựa chọn của hoàng đế Tốn Thanh, những lão thần tiền triều chia thành hai phe, một bên trong lòng vẫn có quốc gia, không ủng hộ hoàng đế đi làm bù nhìn cho người Nhật, đã rời khỏi Thiên Tân không ít, từ bỏ giấc mộng khôi phục quyền lực từ nỗi nhục mất nước; nhưng vẫn có người nghĩ đây là kế hoãn binh, chuyện Đại Thanh khôi phục đã gần kề.
“Những người bỏ đi, ngược lại vẫn còn mấy phần cốt khí”.

Chú chín đánh giá.
Hai chú cháu bọn họ, nói từ chuyện ba tỉnh Đông Bắc đến tình hình Thiên Tân, sau lại nhắc đến vận tải đường thuỷ.
“Trong các bang phái giang hồ có người chủ trương kháng Nhật, cũng có kẻ cấu kết với Nhật Bản, người một nhà náo loạn cả lên.

Cảng Thiên Tân lại là cảng biển lớn nhất phương Bắc, tuy ở bên trong nhưng thế lực người Nhật lớn, không cách nào ứng phó”, chú chín nhíu chặt mày, thấp giọng nói, “Con phải nghĩ kỹ, lỡ như Thiên Tân rơi vào tay giặc thì phải làm thế nào”.
Cô hiểu ý tứ của chú chín, sớm muộn gì cũng phải đưa ra quyết định.
“Hà gia sẽ không làm ăn trong vùng bị chiếm đóng”, cô đáp lời, “càng không giúp người Nhật vận chuyển hàng hoá.

Nếu cả Thiên Tân và Bắc Bình đều rơi vào tay giặc, tuyến đường vận tải đường thuỷ của Hà gia ở phương Bắc sẽ hoàn toàn đóng cửa”.
Chú chín khẽ gật đầu, ngón cái đeo nhẫn ban chỉ hơi gõ lên tay vịn: “Nếu anh hai ở đây, hẳn cũng làm như thế”.
“Nhưng trước khi trường thành bị phá nát, vận tải đường thuỷ vẫn sẽ hoạt động”.

Cô tiếp lời.
Hà Tri Khanh bệnh nặng chưa khỏi hẳn, nguyên khí lại bị tổn thương, nói đến đây đã không còn sức lực.
Ngày phòng làm việc ở Thiên Tân bị niêm phong, Hà Tri Khanh đã nhờ một người bạn cũ mang tất cả tài liệu của vận tải đường thuỷ trong tầng hầm ở biệt thự Thiên Tân chuyển đến đây, hiện giờ đang chất đầy khắp thư phòng Tây viện.
Hà Vị đi vòng qua rương gỗ lim cao nửa người, ngồi xuống giường, nhìn về một góc đa bảo cách ngăn giữa cái rương và bức tường, phía trên đó có một cái đồng hồ báo thức mua từ lúc còn nhỏ, vẫn luôn đặt ở đó.

Không hiểu sao, trong đầu cô lại nghĩ đến hình ảnh đêm đó Tạ Vụ Thanh sai người tặng mấy chậu hoa hải đường cùng câu nói “lấy mạng báo đáp”, hai bên đều nắm chặt điện thoại trong im lặng.
“Tạ Vụ thanh”, cô nhìn chăm chú vào đồng hồ báo thức, dừng một lúc, lại nhỏ giọng nói, “Anh Thanh”.
Cô quay đầu, trông về chiếc điện thoại kiểu cũ… tưởng tượng bộ dáng của Tạ Vụ Thanh.

Anh đứng trong phòng ngủ ở Bách Hoa Thâm Xử, tay treo bội đao và quân phục, đưa lưng về phía rèm châu.

Đó là chàng thiếu tướng quân anh tuấn của riêng cô.

Dưới ánh trăng, Tạ Vụ Thanh đầu đội mũ nỉ, thân mặc như một người công nhân, anh mang theo hai cảnh vệ cũng ăn mặc tương tự, hoà cùng dòng người ở nhà ga, bước vào bến tàu.
Ở bến tàu cách mười sáu trạm về phía Nam ngoại thành Thượng Hải, Tạ thiếu tướng quân đang bị chính phủ Nam Kinh truy nã, thuận lợi lên một con tàu chở khách của Hà gia.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên

Phòng ở khoang hạng ba chỉ kê một cái giường sô pha đôi có thể kéo ra.

Đèn sợi đốt phủ một lớp bụi vàng.
“Sau nửa đêm có khách đến”, Tạ Vụ Thanh thấp giọng dặn dò, “Các cậu chuẩn bị chút đi”.
Hai cảnh vệ lắp súng sẵn sàng.
“Không cần, chỉ là một người bạn già”.

Anh nói.
Sau khi tàu rời cảng, cảnh vệ theo ý muốn của Tạ Vụ Thanh, lần lượt ra khỏi phòng.
Trên hành lang, mỗi người mỗi vẻ tụ tập trước từng phòng riêng, giọng nói mang đặc trưng của từng vùng, họ tán gẫu về cuộc sống sau khi đến Hồng Kông.

Hai cảnh vệ dùng chất giọng địa phương hoà nhập với đám người, hỏi han tình hình trên đường đi.

Đúng 10 giờ, đèn trên hành lang tàu bất chợt tắt ngúm, các nhóm khách khứa oán giận đồng loạt quay về phòng.
Người thưa thớt dần, đến khi không còn một ai ở đây.

Một vị tướng trung niên mặc quân phục của chính phủ Nam Kinh, quân hàm trên người khiến ai nhìn thấy cũng khiếp sợ đang bước xuống thang cuốn.
Hắn đẩy cánh cửa cuối hành lang.
Vì đèn trên hành lang đã tắt nên trong phòng cũng không còn nguồn sáng.

Ánh trăng chiếu xuyên qua khung cửa bằng kính, kéo theo một tia sáng duy nhất thuộc về thế gian.
Tạ Vụ Thanh ngồi trên ghế, chỉ vào giường sô pha có thể kéo ra: “Vết thương cũ ở chân tái phát, không đứng lâu được.

Ngại quá, ngồi trước”.
Tôn Duy Tiên nương theo ánh trăng, nhìn Tạ Vụ Thanh “nghèo túng”.
Ngày xưa khi mới ra Bắc, Tạ Vụ Thanh mặc áo khoác màu lam, trên áo có đeo huân chương cao cấp, bóng lưng cao lớn đỉnh đạt, bất luận là xuất hiện ở bến tàu, Lợi Thuận Đức của Thiên Tân, hay khách sạn Lục Quốc, khách sạn Bắc Kinh, thậm chí ở nhà ga Chính Dương Môn, đều là Tạ thiếu tướng quân khiến người khác không dám nhìn thẳng.

Mà đêm nay, người đàn ông trước mặt, bên ngoài mặc áo khoác kiểu Trung cùng quần vải xám màu, thêm một đôi giày vải cũ giẫm dưới chân.

Mặc dù phải cải trang thành bộ dạng rách nát nhưng trên tay vẫn kẹp điếu thuốc vô cùng tiêu sái, rất có cảm giác phong trần sương gió.
Hai người bạn cũ nhìn nhau.
“Nhìn dáng vẻ này của cậu, thật không tưởng tượng nổi đây là người đàn ông từng được xưng là “ngộ khanh”.

Tôn Duy Tiên cảm khái thay anh, ngồi xuống sô pha, “Chỉ cần cậu thay đổi chủ ý, bất cứ lúc nào cũng có thể đến chính phủ Nam Kinh nhậm chức”.
Tạ Vụ Thanh cười cười.
“Người như cậu, một khi đã quyết tâm thì khó thay đổi, tôi biết rõ”, Tôn Duy Tiên nói trước, “Nhưng tôi vẫn muốn thử một lần.

Những lần vây bắt trước, các cậu may mắn thoát nạn, nhưng sau này sẽ không dễ dàng như vậy.

Binh số ngày càng nhiều hơn, một khi những nhóm quân phiệt kia đạt được thoả thuận với Nam Kinh, cùng nhau phối hợp vây bắt thì các cậu sớm muộn cũng sẽ nhận thua’.
Tạ Vụ Thanh vẫn mỉm cười như cũ, không lên tiếng.
Tôn Duy Tiên không ngờ có ngày hai người sẽ đứng ở hai đầu chiến tuyến, trước kia khi còn đi học, mỗi lần tranh luận về vấn đề duy tân, bọn họ lúc nào cũng đứng cùng một phe… “Tôi không giống mọi người.

Họ là do cậu một tay dạy dỗ, nhìn thấy cậu tất nhiên sẽ lo sợ, nhưng chúng ta là xuất thân từ chiến trường.

Trong mắt tôi, cậu không phải anh Thanh, mà là Tạ Vụ Thanh, Tạ Sơn Hải”.
“Tạ Sơn Hải”, Tôn Duy Tiên nghiêm túc hỏi anh, “Cậu đã quên mất mục đích ban đầu lật đổ chính quyền nhà Thanh rồi sao? Chỉ vì tranh đấu của hai chủ nghĩa, có đáng giá không?”
Tạ Vụ Thanh nhìn người bạn cũ, mở miệng nói: “Nếu cậu thấy trận chiến này chỉ có thế, vậy các người nhất định sẽ thất bại.

Tôi hỏi cậu, trước Cách mạng Tân Hợi, vì sao có lục quân tử Mậu Tuất? Xa hơn một chút, vì sao những tướng sĩ Giáp Ngọ chiến đấu trên biển phải bỏ mạng dưới vực sâu? Trước nữa, Nhạc Phi là thế nào? Còn Ban Siêu là thế nào? Tướng sĩ đều vì bảo vệ lãnh thổ dân tộc, các cậu ủng hộ chủ nghĩa của các cậu, lại quên mất quê hương đất nước”.
“Các đời tướng soái Trung Hoa, có người không chiến mà xua quân địch, nhưng không một ai không đánh đã để mất nước”, anh cũng nghiêm túc nhìn Tôn Duy Tiên, “Bắc phạt gián đoạn, là các người bất nghĩa với bạn bè.

Ở Hoàng Phố lại bắt giết giáo viên của mình, là các người bất nghĩa với học trò.

Chuyện Sơn Đông Tế Nam, chọn đi đường vòng, ba tỉnh Đông Bắc không chống cự, liền rút quân vào Sơn Hải Quan, là các người bất nghĩa với quốc gia dân tộc.

Bất kể là nghĩa lớn nghĩa nhỏ, đều vứt bỏ không từ, không phải tôi quên mất ước nguyện ban đầu, mà là chính các người”.
Anh vô cùng bình tĩnh, giống như những lần tranh luận với giáo viên ở trường trong quá khứ về việc giữ lại bím tóc, tranh luận về tô giới, tranh luận về các điều khoản của nỗi nhục mất chủ quyền đất nước.
Nguyện lấy thân này báo yeutruyen.net đáp tổ quốc, cần chi bước vào Ngọc Môn Quan.
Đây là không lâu trước đó, chính hai người dùng bút lông mực đen, từng nét từng nét viết những từ ngữ hào hùng lên vách tường trường học.
“Khi các người sống sót bước vào Sơn Hải Quan, đất nước của các người đang ở đâu?” Đáy mắt Tạ Vụ Thanh ẩn chứa phẫn nộ, “Vừa rồi cậu nhắc đến Tạ Sơn Hải, vậy Tạ Sơn Hải vì cái gì vứt bỏ gia đình sự nghiệp để bước lên chiến trường?”
Là vì “sơn”, vì “hải”, vì giành lại từng tấc đất lãnh thổ của Hoa Hạ.
Khuya hôm đó, người bạn cũ rời đi.

Anh vẫn dựa lưng vào khoang tàu, ngồi trên giường sô pha, nhắm mắt nghỉ ngơi.
Quanh năm Tạ Vụ Thanh chiến đấu trong núi rừng, vùng đất ẩm ướt khiến vết thương trong xương cốt anh tái phát, sau đó lại vượt sông Li vào đêm tối, càng khiến thương thế thêm trầm trọng.

Anh không muốn rời khỏi chiến trường, nhưng với một vị tướng, đôi chân cực kỳ quan trọng.

Nhân lúc đại thắng vòng vây của địch, anh lặng lẽ rời khỏi hồng khu, từ con đường bí mật đi đến Hồng Kông để điều trị vết thương cũ.
Vì che giấu hành tung, đợi khi tàu cập cảng Hồng Kông, Tạ Vụ Thanh mới liên hệ với người ở văn phòng vận tải Hà gia.

Liên Phòng nhận được điện thoại, giọng nói run rẩy, báo địa chỉ cho Tạ Vụ Thanh.

Nằm trên đường Queen.
Tạ Vụ Thanh mặc quần áo không thích hợp gọi xe kéo, anh hỏi người phụ trách trạm giao thông bí mật mượn chiếc xe đạp, sau đó cưỡi xe đạp đến khu thương mại phồn hoa.

Trước một căn hộ nhỏ, Liên Phòng đỏ mắt nhìn Tạ thiếu tướng quân cả người nhiễm bụi đường mệt mỏi đẩy xe đạp dựng bên tường đỏ dưới lầu.
“Thiếu tướng quân…” Liên Phòng nhìn anh, “Ngài như vậy… tiểu thư thấy…”
“Cô ấy không thấy được”, anh mỉm cười, bước chân chậm rãi lên bậc thang, “Kế Thanh còn ngủ hay đã thức?”
“Vừa thức dậy, điện thoại vừa ngắt thì tỉnh”.

Liên Phòng nén nước mắt, giúp anh đẩy cửa sắt chung cư, bên trong có hai hộ, một hộ là khách cũ của vận tải đường thuỷ Hà gia, hộ còn lại để Kế Thanh và Liên Phòng ở.
Chung cư nhỏ nên không có người ngoài, vú nuôi đã được Liên Phòng viện cớ tránh mặt.
Bé con còn chưa biết ngồi, đang nằm trong nôi, hai mắt nhìn món đồ chơi treo trước mặt, tay phải huơ huơ, trong miệng lại “nha nha” mấy tiếng.

Bé sờ không tới, cũng không với được, nhưng vẫn rất kiên trì, giống như khẳng định bản thân có ngày sẽ chạm được.
“Đây là tiểu thư bỏ vào trong túi quần áo của Kế Thanh, mang theo đến đây, tôi thấy vậy nên cột một sợi dây đỏ để trong nôi cho bé chơi”, Liên Phòng giải thích, “Tôi đã lau chùi sạch sẽ rồi ạ”.
Sợi dây đỏ mảnh dẻ, cột lấy một ông thọ nho nhỏ..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 61: Trăng Sáng Rọi Cố Hương 1


Sau khoảnh khắc yên tĩnh, Tạ Vụ Thanh hỏi: “Có phòng tắm không?”
Trẻ con quá nhỏ, anh chỉ có thể đứng từ xa nhìn.

Mấy ngày qua Tạ Vụ Thanh ở trong khoang hạng ba, không có điều kiện tắm gội, sau khi xuống bến tàu, phải đi bộ đến trạm giao thông bí mật, ngoại trừ khử trùng vết thương ở chân, anh cũng không cọ rửa quanh người, nên không dám tới gần con trai.
Liên Phòng dẫn đường đến một phòng tắm nhỏ.
Trên giá kim loại cạnh bồn tắm là áo sơ mi trắng và quần quân đội mà anh hay dùng lúc trong kinh.

“Tiểu thư dặn tôi chuẩn bị, nếu tướng quân đến cũng có quần áo thay”.
Sau khi Tạ Vụ Thanh vệ sinh sạch sẽ, anh ngồi cạnh bồn tắm bằng sứ trắng.
Bên cạnh cái gạt tàn màu xám gạch là thuốc lá cùng hộp diêm.

Anh xé giấy niêm phong mỏng tanh, mở gói thuốc, lòng bàn tay nhẹ lấy một điếu trắng mịn.
Anh vẫn nhớ ở Tây Phủ Hải Đường sâu trong con ngõ Bách Hoa Thâm Xử, trên ngăn tủ của đa bảo cách là một cái đĩa sứ bày mấy hiệu thuốc lá.
Có vợ thế này, đời còn gì bằng.
Tạ Vụ Thanh hút một nửa, gác điếu thuốc lên gạt tàn, anh lấy dao cạo, cạo sạch ria trên hai gò má.

Sau đó nhìn vào gương, hai tay vuốt tóc mái về sau, lộ ra đôi mắt sáng ngời.
Liên Phòng không có trong phòng, để hai cha con họ lần đầu gặp có không gian riêng tư.

Tạ Vụ Thanh đi dép lê bằng da, ra khỏi phòng tắm, hơi tựa vào đầu giường, ngắm nhìn bé con được bế ra từ trong nôi.
“Mẹ rất nhớ con, có biết không hả?” Anh khẽ hỏi Kế Thanh.
“Sau này, con phải hiếu thảo với mẹ”, anh nói câu thứ hai với con, “Chăm sóc cô ấy”.
Đứa trẻ nắm ngón tay anh, ra sức kéo chặt.
Hai người một lớn một nhỏ không hề ngăn cách, lúc này đều đang đắm chìm trong một loại quan hệ huyết thống không thể tách rời.

Tạ Vụ Thanh không tài nào tưởng tượng được, sao Vị Vị sinh được đứa trẻ lớn thế này.

Anh cúi người, hôn khẽ lên gò má con, mùi sữa thơm phức thấm vào tận xương tuỷ.
Chiến trường tàn khốc, anh không thể mang theo đứa nhỏ bên mình.
Người ở chiến khu đều tìm cách đưa vợ con đến nơi an toàn.

Nếu cả hai vợ chồng đều muốn chiến đấu trên chiến trường, thì sẽ phó thác bạn bè, hoặc gửi đồng hương ở hồng khu nuôi dưỡng… Có người từ đó về sau không còn nhìn thấy đứa con ruột thịt của mình nữa, cốt nhục chia lìa.

So với họ thì Kế Thanh rất may mắn, có thể gửi nhờ nhà họ Hà ở Hồng Kông săn sóc.
“Chờ chiến tranh kết thúc, cha sẽ đưa con về Quý Châu”, anh nhỏ giọng nói, “Đến xem gia đình mình”.
Kể từ sau chiến tranh thuốc phiện giúp nước Anh chiếm được nơi này, người Hồng Kông không còn nhận mình là con dân của Đại Thanh, cũng không xem mình là người Anh, họ vẫn giữ gìn văn hoá tập tục của người Quảng Châu.

Mấy năm gần đây, người đến nơi này trừ bỏ tị nạn còn vì muốn kiếm sống qua ngày.
Nhân lúc Kế Thanh thiếp đi, anh rời khỏi căn hộ, một mình lang thang trên Đại lộ Queen phồn hoa bậc nhất Hồng Kông.
Kéo xe ở đây thích đội mũ to tướng, mặc áo ngắn vải bố cùng quần dài đến mắt cá chân, họ tụ tập một chỗ chờ kiếm ăn.
Người Anh thuê lính Ấn Độ thổi kèn diễu hành giữa đường.

Do khí trời nóng bức ở Hồng Kông nên binh lính Ấn Độ đầu đội mũ giáp, mặc quân phục ngắn tay, chân trần mang giày ống cao, đi theo tiếng trống điểm bước, sĩ quan ra hiệu bằng tiếng Anh, toàn đội, nghiêm!
Dân chúng vây kín xung quanh đứng xem, Tạ Vụ Thanh lẫn trong đám đông, nghe có người đứng dưới cột đá nói về quan ngoại, họ đang bàn luận về cuộc chiến ở quan ngoại.

Trước khi Bắc phạt, anh từng sống ở Quảng Châu, đối với tiếng Quảng Đông cũng xem như thành thạo nên nghe hiểu được.

Anh chắp tay sau lưng, nghe người dân ở tô giới lo lắng liệu trong nước có giống Ấn Độ, hoàn toàn biến thành thuộc địa hay không, nói một lúc lại bắt đầu tranh cãi xem làm thuộc địa của nước Anh hay bị người Nhật chiếm đóng sẽ tốt hơn.

(E b o o k T r u y e n.

N e t)
Thanh niên trẻ tuổi đội mũ dạ xuất hiện ngay cạnh cột đá.
“Cậu”.

Ngô Hoài Cẩn thấp giọng gọi.
“Ừm”.

Tạ Vụ Thanh nhìn đoàn binh Ấn Độ nghiêm chỉnh bước đi, thay người Anh tuần tra đất đai của Trung Quốc.
Vừa nảy Ngô Hoài Cẩn cũng có mặt, hắn biết rõ vì mấy lời bàn tán của dân chúng khiến Tạ Vụ Thanh âm trầm nên chỉ dám đứng bên cột đá cùng cậu mình.
“Ở châu Âu có một kiểu gọi là sở thú nhân loại”, Tạ Vụ Thanh nhỏ giọng lầu bầu, “Bọn họ xâm chiến lãnh thổ, bắt người dân bản xứ nuôi nhốt không khác gì động vật để kẻ khác chiêm ngưỡng.

Mất đi nhà cửa đất đai, kết quả chỉ có một, không phân biệt tốt xấu”.
Anh xoay người, nhìn vết sẹo trên khuôn mặt cháu trai.
Từ nhỏ Ngô Hoài Cẩn rất sùng bái cậu, khi bị Tạ Vụ Thanh nhìn chăm chú, mặt mày nóng lên, cười xòa: “Mẹ bảo vết sẹo này cũng không tệ.

Nếu không sẽ rất giống dáng vẻ của cậu trong quá khứ, không phân biệt được”.
Hai cậu cháu lâu ngày gặp lại, đứng cạnh cột đá, bàn chuyện từ Thượng Hải đến Hồng Kông, Sán Đầu và Thanh Khê đã bí mật thông đường.

Lúc sau, Ngô Hoài Cẩn lấy ra một con dấu sư tử bằng ngọc bích xanh biếc từ trong túi áo: “Ngày trước nhận được, trên đó khắc tên em ấy.

Nếu có cơ hội, cậu thay con tặng cho người”.
Ngô Hoài Cẩn vội bổ sung: “Chỉ gặp một lần đó đã dọa em ấy sợ phát khóc, lòng con thật sự băn khoăn”.
Tạ Vụ Thanh cầm trong tay.

Hiếm thấy thằng nhóc này lấy lòng ai bao giờ.
Mười ngày sau, Tạ Vụ Thanh lặng lẽ rời cảng.
Anh vẫn mặc áo vải thô cùng quần bố như cũ rời khỏi Hồng Kông.

Đây là một trong những cảng biển lớn nhất nơi này chủ yếu neo đậu thuyền buồm cùng thuyền đánh cá, trước khi Tạ Vụ Thanh theo một con thuyền đánh cá rời đi, mưa phùn rợp trời.
Hàng trăm chiếc thuyền buồm gỗ đậu ven bờ, cách một cánh buồm trắng, anh hướng mắt về nơi xa.

Lá cờ của nước nào đang tung bay trong gió, trông vô cùng chói mắt.

Hà nhị phủ lần nữa có mùi vị khói lửa, Hà Vị nhất thời thay đổi thói quen thâm nhập giản xuất [1], thường ra vào khách sạn Lục Quốc cùng xã trường.
[1] Một câu thành ngữ của TQ, ý chỉ lời lẽ, nếp sống thâm sâu nhưng được trình bày, thể hiện ra ngoài một cách giản dị
Cô vừa trở về, văn phòng Bắc Bình đã có tâm phúc.
Nên dùng tiền thì dùng tiền, nên khơi thông quan hệ thì khơi thông quan hệ, rất nhanh Hà Vị đã cứu được Hồ Thịnh Thu từ trong ngục ra ngoài.

Nhưng vì xuất hiện tin đồn vận tải đường thuỷ có qua lại bí mật với hồng khu nên rất nhiều nhân viên nòng cốt đều xin từ chức rời đi, thiếu nhân tài để trọng dụng.
Hiện giờ lửa sém lông mày, quan trọng nhất là tuyển người để duy trì hoạt động vận tải.

Còn về chuyện của Hà gia, hồi sau xử trí.
Suốt ngày hôm nay, cô ở trong phòng sách, sửa soạn lại mấy rương tài liệu còn sót, sau đó dùng khoá kim loại khoá chặt, còn dặn dò người khác dán giấy niêm phong kỹ càng rồi chuyển tới Hồng Kông.
“Triệu công tử của Triệu gia đang đứng ngoài cửa chờ gặp ạ”.

Khấu Thanh vén màn lên.
Hắn?
Hà Vị dặn Khấu Thanh chuẩn bị trà bánh.

Bước vào cửa văn phòng không chỉ có Triệu Ứng Thăng mà còn có vị bạn học cũ lúc trước từng mắc hoạ, rốt cuộc cả 2 đều bị Hà Vị giấu vào trong cung.

Không hiểu vì sao lúc nhìn thấy Hà Vị, bọn họ vẫn có chút xấu hổ, đường đường 2 người đàn ông cao lớn lại chậm chạp không chịu mở miệng.

Ngược lại Hà Vị mỉm cười chào hỏi: “Hai người nghe văn phòng vận tải tuyển nhân sự nên muốn đến giúp đỡ à?”
Cô thấy đáy mắt họ loé lên tia vui mừng, như đã biết trước, bèn tiếp lời: “Đoán đúng thì tốt.

Chuyện quá khứ đã qua không cần nhắc lại, trước tiên cứ làm quen trước đã.

Hai người đều là dân có học thức, cũng dễ bắt đầu”.
Cô gọi điện thoại cho văn phòng, bảo Hồ Thịnh Thu đến đón người.
“Cô hai xem vậy mà có quan hệ rộng”, Hồ Thịnh Thu nghe thấy có 2 người đến giúp đỡ, trong lòng vui mừng không thôi, cười nói, “Ngay cả tuyển người cũng dễ như thế”.
“Đây là chuyện cũ”, cô nói, “Không chỉ có công lao của tôi mà còn liên quan đến một vị thiếu tướng quân”.
Tối nay, Cửu gia của Hà gia bao trọn Quảng Đức Lâu để tổ chức sinh nhật cô hai Hà.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Trong đó dành hẳn 3 phòng riêng cho các chi ở Hà gia.
Một mình Hà Chí Trăn chiếm luôn một phòng.

Cô vốn đi theo một vị sĩ quan cao cấp của quân Đông Bắc, không khác gì bước lên mây, địa vị như diều gặp gió, trở thành quý nhân trong mắt các phòng ở Hà gia.

Hiện tại quân Đông Bắc đã sớm lui về Sơn Hải Quan, sống tại Bắc Bình, tuy bị người dân chọc vào xương sống nhưng vẫn như cũ là một nhánh quyền thế bậc nhất Bắc Bình.
Hà Vị đến trễ mười phút, cô vẫn mặc váy dài bằng nhung trắng toát cùng choàng cổ hồ ly tiến vào Quảng Đức Lâu.
Đào hát nổi danh khắp Kinh Tân đều đến góp vui, những tên tuổi nức tiếng dán đầy ngoài cửa Quảng Đức Lâu.

Cảnh tượng thế này đã lâu không thấy.
Bên cạnh sân khấu là những nhóm đào hát lớn nhỏ đang nghỉ ngơi, bọn họ liên tục đứng dậy đi về hướng này, vừa trông thấy Hà Vị liền chào theo lễ cũ, đồng thanh gọi: “Cô hai”.
“Các vị tối nay đều nể mặt đến Quảng Đức Lâu góp vui, quả thật khó có được”, Hà Vị cảm kích, “Sau này đến Thái Phong Lâu, tôi cùng các vị uống rượu đàm đạo suốt đêm”.
Một trong số đó là Chúc Tiểu Bồi nhoẻn miệng cười với Hà Vị, dịu dàng đáp: “Cô hai cùng Cửu tiên sinh đã cố tình tạo ra cục diện này, để chúng ta vì nước góp chút sức lực, chúng ta nên nói lời cảm ơn mới phải”.
Hà Vị cười với Chúc Tiểu Bồi.

Hai người đang nói chuyện thì từ ngoài cửa có một người đàn ông bộ dáng thư sinh vội vã bước đến.
Chúc yeutruyen.net Khiêm Hoài đích thân mang theo trang phục bước vào, dưới ánh mắt khác thường của quan quân, những vị quan to chức trọng cùng các tiểu thư nổi danh, hơi thở dồn dập đi đến trước mặt Hà Vị, khẽ gật đầu, ôm quyền chào hỏi.

Đế giày da của hắn hơi bẩn, vì hiện giờ hắn chỉ làm một giáo viên cỏn con, không có người chu cấp xe hơi hay xe kéo, vì muốn tiết kiệm ít tiền lẻ nên quyết định đi bộ đến đây.
“Chúc tiên sinh không nói sớm, để tôi gọi một chiếc xe đến đón anh”.

Hà Vị nhẹ giọng nói.
“Không sao, không sao”, Chúc Khiêm Hoài không để ý, ngược lại hơi ngượng ngùng, “Chúc mỗ từ lâu đã chẳng còn tiếng tăm gì, nhận được thiệp mời của cô hai… Còn sợ khiến cô hai mất thể diện”.
Lời nói hắn mờ mịt, chỉ biết cúi đầu cười xin lỗi, lần lượt bước vào trong.
“Tôi cho rằng anh ấy sẽ không tới”.

Chúc Tiểu Bồi nhẹ giọng cảm thán.
Người từng có quan hệ với Chúc Khiêm Hoài thuộc nhóm lão Phụng hệ.

Mà hôm nay tại đây lại ngồi đầy quân Đông Bắc.

Áp lực lên sân khấu của hắn nhiều hơn bất kỳ ai.

Nhưng rốt cuộc vì quyên tiền kháng Nhật, hắn vẫn đến.
“Chư giới đệ nhất nhân”
Bắt đầu mở màn.
Ông chủ Quảng Đức Lâu đích thân đón tiếp cô, hướng lên lầu hai, bất ngờ đụng phải Hà Chí Trăn đang kéo cánh tay mẹ từ từ bước xuống.

Cả mẹ lẫn con đều dừng chân.
Hà Vị định mở miệng gọi tiếng “mẹ” nhưng ánh mắt của bà đã chuyển về phía sân khấu.
“Chú chín thương nhất là em, khiến người ta không thể không ngưỡng mộ”.

Hà Chí Trăn nhắm đến Hà Vị, “Đêm nay lại có kịch hay”.
“Sinh nhật chỉ là vỏ bọc bên ngoài”, Hà Vị nhìn chị ruột mình, “Những người hôm nay tới cũng không phải vì nể mặt tôi hay chú chín, mà là vì kháng Nhật.

Chồng của chị xuất thân từ quan ngoại, hiện giờ quê hương khó khăn, còn hy vọng hắn có thể hào phóng đóng góp quyên tiền nhiều một chút”.
Hà Chí Trăn giống như bị chọc trúng chỗ hiểm.
“Cô hai, mời lên lầu trước, còn có một vị khách đang chờ”.

Ông chủ Quảng Đức Lâu cắt ngang cuộc trò chuyện của hai người.
Hà Vị không nán lại lâu hơn, bèn theo ông chủ lên lầu hai.
Người ngồi sau rèm châu vắt chéo chân uống rượu chính là Trịnh Độ.

Trịnh Độ nay không còn mặc quân phục của quân đội Đông Bắc, hắn tuỳ ý khoác một chiếc áo vest màu xám đậm, uống đến say chếnh choáng.
“Tôi chưa từng nghĩ có một ngày lại đổi thành tôi giúp cậu”.

Cô đến cạnh Trịnh Độ ngồi xuống ghế tựa.
“Cái đó gọi là thế sự khó lường”.

Trịnh Độ vẫn bộ dáng cũ, vừa đứng đắn lại âm thầm mang theo mấy phần hài hước.
“Tình hình chiến đấu thế nào rồi?” Cô nhẹ giọng hỏi, không có ý vui đùa.
Trịnh Độ thu lại nụ cười, trầm ngâm hồi lâu, khẽ lắc đầu.
Rơi vào tay người Nhật đâu chỉ có đất đai mà còn có xưởng công nghiệp quân sự lúc trước của Phụng hệ.

Hắn từng dẫn Tạ Vụ Thanh đến tham quan nhà xưởng ấy, còn có xe bọc thép trong nước tự sản xuất, tất cả đều vứt xó theo ba tỉnh Đông Bắc.
“Tối nay mời cậu tới không chỉ vì quyên góp quỹ cho nghĩa quân của các cậu chống Nhật”, Hà Vị nhẹ giọng tiếp lời, “Có người tổ chức đội cứu hộ, muốn đến bệnh viện thương binh của các cậu chi viện”.
Trịnh Độ bất ngờ: “Quan ngoại nguy hiểm như vậy…”
“Chính vì quan ngoại nguy hiểm nên mới nhờ cậu giúp nghĩ cách, cùng chúng tôi đưa những người này đến bệnh viện thương binh an toàn.

Còn có nhóm phụ nữ cứu hộ, tất cả đều là những cô gái tự nguyện đăng ký tham gia”, Hà Vị nói tiếp, “Mọi người đều biết các cậu thiếu thốn nhân viên y tế”.
Từ lúc rời khỏi quân Đông Bắc để gia nhập nghĩa quân kháng Nhật, Trịnh Độ luôn tự nhận bản thân một mình chiến đấu anh dũng.
Rốt cuộc chính phủ Nam Kinh đã từ bỏ quê hương của hắn.
Giờ đây Hà Vị lại nói với hắn, có rất nhiều người không biết tên họ là gì lại muốn ra Bắc, vượt qua cửa khẩu đến chi viện chiến trường… Hắn bảo vệ quê hương, bởi vì đó là quê nhà của hắn, mà những người cứu hộ kia liều chết ra Bắc, mới thật sự không biết sợ hãi.
Trịnh Độ vừa nãy uống say, thật sự trong lòng không thoải mái.
Hắn từ chiến trường quan ngoại đến đây, trong Quảng Đức Lâu gặp lại rất nhiều bạn bè, anh em quân Đông Bắc thuở trước.

Mọi người nhìn thấy Trịnh Độ, ai nấy đều bày ra vẻ mặt phức tạp cùng ánh mắt đánh giá quan sát.
Ngày trước quân hàm của Trịnh Độ không thấp, hiện tại cởi bỏ quân trang để gia nhập nghĩa quân kháng Nhật do dân gian tổ chức, đã tính đến chuyện nhỡ may chết trận cũng không có thanh danh lưu lại.

Sau ngày 18 tháng Chín, từng có người khuyên hắn nên rút lui về Sơn Hải Quan.

Lúc đó hắn mang tính khí của tiểu thiếu gia nhà họ Trịnh ra trào phúng đối phương: “Ngay cả con chó cũng biết trông nhà, bảo Trịnh Độ tôi lui về Sơn Hải Quan cùng các người? Chẳng phải là nói tôi đến con chó cũng không bằng sao?”
Kẻ khuyên hắn như bị chạm vào điểm yếu, không nhiều lời thêm.
Hôm nay Trịnh Độ nhập biên, nhìn thấy Chính Dương Môn vẫn đông đúc người qua kẻ lại, trên đường lớn ngoài Đức Thắng Môn vẫn dòng xe nườm nượp như cũ, thậm chí đến giờ giấc viện bảo tàng Cố Cung đóng mở cũng không thay đổi… Lòng hắn thê lương.
Hắn kháng Nhật đã lâu, sau lưng không có viện binh, biết rõ sớm muộn gì cũng yeutruyen.net có ngày không binh tốt không vũ khí.

Chỉ biết để bảo vệ quê hương thì một ngày còn sống hắn cũng phải chiến đấu tới cùng.

Nếu bảo trong lòng không oán trách thì chính là giả dối.
Quan ngoại từ lâu đã khói lửa khắp nơi, hơn trăm huyện thị đều bị vây khốn.

Vậy mà trong kinh thành, cuộc sống lại phồn hoa thế kia…
Hắn không cam lòng, vì sao ba tỉnh Đông Bắc phải bị từ bỏ.
Lòng trai nghẹn đầy một hơi, tiểu công tử Trịnh gia ngày xưa thay một bộ âu phục đắt nhất mấy năm trước ở kinh thành, xuất hiện tại Quảng Đức Lâu.

Hắn không muốn để đám người nhu nhược trong kinh nhìn thấy khí thế hắn suy sụp, cho dù cả nước đều biết nghĩa quân vừa thiếu người vừa thiếu tiền, càng thiếu thốn nhân vật lực y tế ngoài tiền tuyến.
Trịnh Độ che đáy mắt, trong lòng thổn thức.
Hắn đứng thẳng dậy, hai tay đút vào túi quần, nhìn về sân khấu bên ngoài rèm trúc chưa có người: “Chiến trường quan ngoại, không đơn giản như các người nghĩ, vẫn để những quan quân như chúng tôi ở lại thì hơn.

Đó là chiến trường, là a tì địa ngục”.
Hà Vị không tiếp xúc nhiều với Trịnh Độ, nhưng phỏng chừng hắn là một người đàn ông nội tâm trong sáng, khôn khéo tránh xa thế tục.

Mà phàm là người tránh xa thế tục, cũng có khí phách đối đầu với kẻ thù bên ngoài.
“Kẻ thù xâm lăng, không ai nghĩ đơn giản.

Chính phủ Nam Kinh từ bỏ, tất cả chúng tôi đều hận thấu xương”, cô nói, “Trịnh tướng quân, sông Tùng Hoa, cũng là con sông của chúng tôi”..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 62: Trăng Sáng Rọi Cố Hương 2


Trịnh Độ hồi lâu không đáp.
Một bàn tay khẽ nâng rèm sân khấu, dáng vẻ thanh tú, vốn nên là một đào hát nổi danh có cuộc sống an nhàn sung sướng, chỉ vì cả năm nay miệt mài cầm bút viết bảng viết sách, thêm công việc đồng áng nuôi sống trường học, khiến các khớp xương trở nên thô to, không còn dáng vẻ tinh tế văn nhã như trước.
Chúc Khiêm Hoài thay trang phục diễn kịch bước ra.
Không chỉ có hắn, theo sau là những đào hát, diễn viên theo thứ tự lần lượt xuất hiện.
Dù là những vị khách ngồi trước sân khấu hay trong phòng riêng ở lầu hai đều vô cùng an tĩnh, điều này không hợp quy tắc chút nào, cho dù chào bế mạc thì theo lẽ phải do đào hát diễn cuối đến cảm ơn.

Chứ không phải cảnh tượng thế này.
Chúc Khiêm Hoài khẽ tiến lên nửa bước, hơi khom người vái chào rồi thẳng lưng hướng về phía phòng riêng của Hà Vị trên lầu hai, nói: “Chúng tôi nghe nói hôm nay có tướng quân kháng Nhật ở quan ngoại đến, đều muốn phá quy tắc một lần, tất cả đều lên sân khấu diễn”.
Hắn nói xong, Chúc Tiểu Bồi cũng cao giọng: “Vị tướng quân kia, ngài chỉ cần muốn nghe khúc nào.

Hôm nay tất cả bạn tốt ở Lê viên hai chốn Kinh Tân, bất luận đán hay sinh [1] đều nguyện vì tướng quân hát khúc ấy”.
[1] Trong hí kịch, nếu người hát là nữ được gọi là “đán”, nếu người hát là nam thì gọi là “sinh”
Dứt lời, cảnh tượng càng yên tĩnh.
Hôm nay Trịnh Độ đến đây, ngoại trừ người quen cũ trong quân Đông Bắc thì không ai hay biết.
Mà lúc này, dù mọi người có nghi ngờ cũng không dám sai thân tín đi thám thính.

Tướng quân kháng Nhật, là người có quan hệ thân thiết với hồng khu, cũng chính là kẻ thù của chính phủ Nam Kinh.

Nếu có kẻ dám để lọt ra ngoài, tất sẽ bị truy đuổi…
Người có mặt nơi đây không hẹn mà cùng quyết định không hỏi đến, không nghĩ ngợi, chỉ cần xem tối nay là một giấc mộng đêm đêm tàn ở kinh hoa.
“Trịnh tướng quân, mời chọn”.

Hà Vị nhỏ giọng nhắc nhở.
Bên ngoài rèm châu, ông chủ Quảng Đức Lâu dâng một tờ danh sách các vở diễn, lẳng lặng chờ đợi.
Sau khi im bặt một lúc lâu, hắn mới nói khẽ: “Tôi sinh ra lớn lên ở Phụng Thiên, cũng không thường vào kinh.

Ngày đó lần đầu tiên gặp cô hai Hà ở Quảng Đức Lâu, cũng là lần đầu tôi đến xem diễn kịch…” Thanh âm của hắn khẽ run yeutruyen.net lên, như đang đè nén, dùng ngữ khí khó kiềm chế để che đi sóng biển dưới đáy lòng, “Chi bằng cô hai thay Trịnh mỗ chọn một khúc, thế nào?”
“Trong ngày đại hôn của Tốn Thanh hoàng đế, Thái bình thự diễn liên tục ba ngày ba đêm, tổng cộng hát 34 vở”, cô nói, “Trong có có một vở tên gọi “Dốc Trường Bản” của ông chủ Du.

Nếu tướng quân không chê thì thử nghe một lần xem sao”.
Dốc Trường Bản.

Triệu Tử Long một mình một ngựa cứu chủ, dùng thân mình địch lại vạn quân, một trận thành danh.
“Được”, Trịnh Độ cười khoái chí, “Vậy thì chọn “Dốc Trường Bản” đi.

Hoàng đế tiền Thanh từng hưởng thụ, vậy chúng ta cũng hưởng thụ một chút”.
Xuyên qua rèm châu, Hà Vị lấy bút lông chấm mực, viết xuống giấy đỏ mấy chữ “Dốc Trường Bản”.
Ông chủ Quảng Đức Lâu nhận được lệnh, mang theo giấy đỏ chạy xuống thang lầu, lần đầu phá lệ cất cao giọng với mọi người nơi đây: “Mở màn, diễn “Dốc Trường Bản”.
Có người nhận lấy giấy đỏ từ trong tay ông chủ, mang theo vở diễn mở màn dán bên ngoài.

Các đào hát lần lượt rời khỏi sân khấu, lần đầu tiên bất luận là chủ phối hay phân chia nhân vật dưới hậu đài, đều tất bật tháo trang sức, hoá trang, đổi trang phục.
Tiếng chiêng trống vang lên, đánh thẳng vào lòng người.
Hà Vị cùng Trịnh Độ ngồi xuống ghế bành phủ lụa màu đỏ sậm, đối diện với mành trúc, chờ đợi vở kịch hay.
Lời Trịnh Độ nói tất nhiên không phải sự thật.

Nhiều năm qua kinh kịch lưu hành rộng khắp phương Bắc, còn nhớ năm đó Quan Đông của Nhật Bản bị động đất, Phụng hệ vì gây quỹ đã cho nam thiếu soái cải nữ trang, đích thân lên sân khấu, giúp quyên tiền cho người Nhật.
Sao hắn không biết, chỉ e là không muốn nhớ lại chuyện cũ này nên không nghĩ tới.
Phía sau rèm châu đích thân ông chủ Quảng Đức Lâu canh giữ, đĩa gỗ mun như nước chảy lũ lượt đưa đến, lúc nào cũng có ngân phiếu bên trên, lúc thì vòng ngọc bích được ai đó nhất thời tháo ra từ cổ tay, hay là khuyên tai bằng cẩm thạch trắng.

Không đề tên, không để họ, không mang theo khí phách quyên góp cho đào hát hàng ngày, bề ngoài ở đây, không ai muốn so sánh hơn thua.
Trên sân khấu, có người độc thoại: Khởi bẩm thừa tướng, tiểu tướng mặc áo bào trắng kia chính là Thường Sơn Triệu Vân.
Có người độc thoại khác: Oa! Hắn chính là Thường Sơn Triệu Tử Long! Thật tốt, đúng là vị tướng anh dũng!

Hơi nước dâng đầy hai hốc mắt Trịnh Độ.
Trên đài, Triệu Vân đang độc thoại, hắn cũng bất giác thì thầm theo: “Chúng tướng Tào doanh nghe lệnh, kẻ nào đủ can đảm, chỉ cần đến đây…”
Lát sau, hắn lại học theo lời thoại của Triệu Vân trên đài: “Chúng tướng Tào doanh nghe lệnh, kẻ nào không sợ chết, chỉ cần tiến lên!”
Hà Vị cúi đầu, nhấc nắp chén nhẹ nhàng gạt đi mấy lá trà trôi lơ lửng.

Cô nhìn chằm chằm vào nước trà trong chén, nước mắt suýt nữa rơi xuống.
Trên bàn thấp trong phòng riêng từ lâu đã chất đầy châu ngọc.
Những thứ được mang vào sau đều phải rải trên sàn nhà.

Cảnh tượng này rất giống những vị công tử quyền quý trong Tứ Cửu Thành trước kia, chỉ là ngày nay không phải tướng quân trang nghiêm trong ánh đèn lồng mà chỉ là một tướng lĩnh vô danh ngồi trong phòng riêng.
“Đóng thùng đi”.

Cô nhẹ giọng nhắc nhở ông chủ đứng ngoài rèm châu.
Ông chủ nhận lệnh, sai người khiêng chín cái thùng gỗ ở căn phòng trống sát vách đến, sắp xếp châu báu mã não cùng đồ cổ phỉ thuý.

Những thứ này sẽ được tàu vận tải của Hà gia đưa đến Hỗ Thượng [1], Hồng Kông, sau đó đổi lấy vật dụng cùng thuốc men và súng ống đạn dược.
[1] Cách gọi khác của Thượng Hải.
Sau khi kiểm kê hoàn tất, vở kịch hạ màn.
Ông chủ hỏi, Trịnh tướng quân có muốn gặp mặt họ không.
“Không cần đâu”, Trịnh Độ cười đáp, “Hiện giờ tôi không khác gì Triệu Tử Long bị quân Tào đuổi đánh, hai mặt giáp địch, nhiều người càng thêm phiền toái.

Đợi ngày sau khi bọn Nhật rời khỏi biên giới, Trịnh Độ sẽ mở tiệc chiêu đãi tất cả những vị lên sân khấu biểu diễn hôm nay”.
Ông chủ khom người rời đi.
Trịnh Độ thở dài một hơi.
“Sông Tùng Hoa, chúng tôi nhất định sẽ không vứt bỏ”, hắn nói, “Nghĩa quân ở bên ngoài Sơn Hải Quan, vì người Bắc Bình các cô, quyết tâm bảo vệ phía Bắc của Vạn Lý Trường Thành, ngày nào còn sống sẽ thủ vững ngày ấy”.
Dứt lời, hắn cùng men say chếch choáng rời khỏi ghế ngồi.
Vở kịch thứ hai đã bắt đầu.
Trịnh Độ không trì hoãn thêm, hắn nói miệng phương thức liên lạc bí mật, cách này dùng để đưa đón đội cứu hộ cùng những người phụ nữ muốn hỗ trợ nghĩa quân.

Cô cố gắng nhớ kỹ, sau đó vén rèm châu đưa Trịnh Độ ra ngoài.
Hạt châu trắng vờn quanh cánh tay Trịnh Độ, hắn cười hất ra, vừa nhấc mắt đã trông thấy vị quan quân trở về từ Sơn Hải Quan liền hỏi cưới đại tiểu thư Hà gia.

Ý cười trên môi hắn không hề giảm, hắn vươn một tay, giống như muốn chào hỏi cố nhân, nhưng sau khi đối phương định vươn tay phải ra, thì tay trái của hắn nhanh như chớp vòng ra sau thắt lưng, mở túi súng trên đai lưng, rút súng khỏi người.
Hà Chí Trăn sững sờ trong thoáng chốc, họng súng đen ngòm đã chĩa thẳng vào giữa trán của vị quan quân kia.
“Anh Trịnh quá chén rồi”, quan quân mặc dù kinh hãi nhưng dẫu sao cũng từng kinh qua sa trường, hiểu được thói quen ăn chơi trác táng của Trịnh Độ thường không để lại mặt mũi cho bất luận kẻ nào, cố gắng tươi cười mở lời, “Này là cố tình đùa giỡn em trai đây?”
“Ở Trịnh gia tôi là nhỏ nhất”, Trịnh Độ ngoài mặt tươi cười, bên trong lạnh lẽo, hắn trào phúng nói: “Còn em trai nào khác nữa à?”
Một tay hắn lên đạn, người kia biến sắc.
Hà Vị ngừng thở.
“Trịnh Độ”, đồng nghiệp phía sau muốn ngăn cản nhưng sợ bị liên luỵ nên không dám tiến lên, chỉ có thể khuyên nhủ, “Mọi người đều biết cậu trong lòng không thoải mái nhưng chúng tôi đều nghe lệnh lui quân…”
“Bằng” một tiếng, súng cướp cò.
Trong tĩnh lặng, không người nào ngã xuống.

Tất cả đều một phen lo lắng.
Hà Vị cùng Hà Chí Trăn đều giữ chặt người bên cạnh.

Hà Chí Trăn siết mạnh cánh tay chồng mình, sắc mặt trắng bệch, hai chân mất hết cảm giác, vẫn còn sợ hãi không thôi, tâm tình hoảng hốt; Còn cánh tay Hà Vị lại chắn trước mặt Trịnh Độ, dùng nửa thân người ngăn cản hắn.
Chỉ có mỗi Trịnh Độ, giống như trêu chọc đùa vui.
“Ở quan ngoại, trên nền tuyết trắng”, Trịnh Độ nói với người kia, “Người thân của các người đều đứng dưới họng súng như thế, điều duy nhất khác biệt chính là, bên trong nòng súng chứa viên đạn có đường kính 7.92”, hắn chỉ vào trán mình, “Xuyên qua chỗ này, thế là hết”.
“Ở thị trấn nhà các người”, hắn nói tiếp, “Trẻ con đã bắt đầu học tiếng Nhật”.
Không ai đáp lời.
“Còn phải trồng nha phiến, nuôi chính bọn Nhật Bản đã giết người thân họ”.

Cuối cùng hắn kết luận.
Trịnh Độ thu hồi súng: “Một trò đùa nhỏ, đã quấy nhiễu tâm trạng của cô hai.

Xin lỗi”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Hắn bày ra tư thế quý ông lịch lãm, hướng về thang lầu, nhường cho Hà Vị đi trước.
Hà Vị vịn lan can trên cầu thang, như thể chưa từng phát sinh chuyện gì, tuần tự đi xuống lầu.

Trịnh Độ đứng sau lưng cô, nhìn một vòng đầy khách khứa, cười nói: “Năm xưa cô hai từng nói, đãi khách cần chú ý ngày lành tháng tốt, nay hiếm khi tìm được một ngày lành, nên mới gửi thiệp mời cho Trịnh mỗ”.
Cô cũng mỉm cười, lặng người trước tấm bình phong: “Chuyện này lỗi tôi”.
Trịnh Độ cởi áo khoác ngoài tây trang.

Hôm nay hắn vắt áo khoác trên vai, giống như một tấm chiến bào.

Quần áo trước kia được cắt may theo số đo cơ thể, chỉ vì mấy tháng chống địch nên đường may ở vai đã không vừa, đây cũng là nguyên nhân duy nhất khiến hắn khoác áo ngoài tây trang.
Hắn giao áo ngoài cho Hà Vị: “Đường may trên vai không còn hợp nữa, làm phiền cô hai tìm một tiệm may vá, giúp tôi sửa lại’.
Hà Vị nhận lấy áo khoác, gấp gọn rồi ôm phía trước người.
Trịnh Độ chụm đầu ngón cái và ngón trỏ tạo thành một khe hở: “Thu lại thế này, là vừa đủ”.
Cô cười: “Được, sẽ không phụ mệnh lệnh”.
Trịnh Độ cũng cười trừ: “Ngày đánh đuổi quân Nhật, tôi sẽ tới lấy”.
Hà Vị khẽ gật đầu.
‘Trịnh tướng quân”, cô nhìn theo bóng Trịnh Độ khuất sau bình phong, đột ngột lên tiếng: “Hôm nay vì cậu chọn vở ‘dốc Trường Bản’, mà tôi lại vô tình thích một câu nói trong tam quốc”.
Trịnh Độ hơi dừng bước, qua đầu nói: “Rửa tai lắng nghe”.
“Huyết nhiễm chinh bào thấu giáp hồng”, cô ngừng một lúc, mỉm cười, “Đương Dương thuỳ cảm dư tranh phong” [2].
[2] Đây là 2 câu nói trong Chương 41 của “Tam quốc diễn nghĩa”.

Tạm dịch là “Máu nhuộm áo choàng như hồng giáp/Ở Đương Dương nào ai dám tranh” – đây là lời khen ngợi Triệu Tử Long người duy nhất dám xông lên giúp chúa trong lúc nguy cấp
Trịnh Độ nghiền ngẫm, khẽ gật đầu: “Trịnh mỗ thích nửa câu đầu”.
Huyết nhiễm chinh bào thấu giáp hồng.
Đó là quyết tâm của toàn bộ tướng sĩ nơi quan ngoại, cũng là tương lai mà bọn họ lựa chọn sẵn.
Đầu năm 1932, tại biên cảnh, toàn quân ba tỉnh Đông Bắc bị vây khốn.

Cũng đầu năm đó, cuộc kháng chiến ở Thượng Hải bùng nổ, lộ quân 19 chống trả quyết liệt, thắp lên ngọn lửa hi vọng của cuộc đấu tranh.
Sau cuộc chiến, chính phủ Nam Kinh ký tên vào hiệp nghị đình chiến, hạ lệnh khiến ai cũng run sợ: Tiêu diệt toàn bộ những cuộc vận động kháng Nhật trên cả nước, điều động lộ quân 19 rời khỏi Thượng Hải, quy định bao nhiêu khu vực tại Thượng Hải được phép cho quân đội Trung Hoa đóng quân…
Ngày cô gặp lại Đặng Nguyên Sơ, Đặng Nguyên Sơ đã từ chức.
“Cũng có lúc anh Thanh tính sai rồi”, Đặng Nguyên Sơ đứng trong thư phòng của cô, nhìn toàn bộ kỳ trân dị bảo trên đa bảo cách đều mất dạng, tất nhiên hiểu rõ chúng đã bị bán đi để đổi lấy tiền mặt, mua vật dụng cho cuộc chiến kháng Nhật, “Nhìn thấy thứ hiệp nghị đình chiến kia, tôi không cách nào làm việc tiếp nữa.

Toàn bộ lộ quân 19 đều bị điều đi, bao vây tiêu diệt hồng khu”.
Tư Niên bưng một đĩa sủi cảo nóng hầm hập đi vào, đưa cho Hà Vị.
Đặng Nguyên Sơ kinh ngạc: “Không phải đến Tết mới ăn sao?”
Cô lắc đầu: “Sơ phục sủi cảo nhị phục mì” [3].
[3] Trích từ một câu truyền miệng của người dân Bắc Kinh xưa.

Tạm dịch là “Sơ phục ăn sủi cảo, nhị phục ăn mì, tam phục ăn bánh kếp trứng gà”.

Theo lịch dân gian của TQ, tháng 6 âm lịch được xem là tháng nóng nhất trong năm, 30 ngày được chia thành 3 giai đoạn gọi là sơ phục (10 ngày đầu), nhị phục (10 ngày tiếp), tam phục (10 ngày cuối).

Người TQ xưa quan niệm, ăn đồ nóng (sủi cảo, mì nóng, bánh kếp nóng) vào mùa nóng nhất trong năm có thể giúp xua đuổi tà khí, giải độc giải bệnh…
“Còn có câu này nữa à?”
“Ừm”.
“Còn tưởng cô đoán biết tôi muốn xuôi Nam nên mời tôi ăn Tết sớm”.
Tư Niên không vui lẩm bẩm: “Muốn mời… cũng là mời thiếu tướng quân, không cho ngài”.
Đặng Nguyên Sơ nghẹn họng nhìn trân trối, sau một lúc lâu nghiền ngẫm lời này, nói: “Đứa nhỏ này đang ăn “dấm chua” dùm người khác”.
Tư niên quay đầu, không nhiều lời lườm Đặng Nguyên Sơ một cái rồi rời đi.

“Tối hôm qua, Khấu Thanh trêu chọc tôi, nói về tin đồn tôi qua lại với cậu ở kinh thành, bị con bé nghe thấy”, Hà Vị nhỏ giọng giải thích, “Cứ tưởng thật nên giở tính cáu kỉnh thôi”.
Đặng Nguyên Sơ bỏ thêm dấm tỏi, lấy khăn lông chùi tay, bóc vỏ rồi cho vào miệng.
“Lão Bạch đi về phương Bắc”, hắn nói thẳng, “Hắn đi theo quân Tây Bắc, kiên quyết kháng Nhật, sau bị chính phủ Nam Kinh bức ép lui về, rồi lại đưa ra nước ngoài.

Năm nay chỉ vừa bí mật về nước, liên hệ hồng khu, hẳn đã chuẩn bị xong công tác kháng Nhật rồi”.
“Có tin gì của anh Thanh không?” Đặng Nguyên Sơ cười hỏi cô.
Cô khẽ lắc đầu.

Vì sợ bại lộ hành tung nên không cách nào liên hệ.
Đặng Nguyên Sơ ăn sạch cả mâm sủi cảo, cũng không hỏi chuyện cô và Triệu Ứng Khác.
Trong mắt người ngoài, mối quan hệ giữa Hà gia và Triệu gia từng bị xa cách do những lời đồn vớ vẩn, còn hiện tại, vì chiến sự nên hai nhà đã nối lại nhân duyên.

Còn đối với những người bạn chí cốt, Hà Vị và yeutruyen.net Tạ Vụ Thanh đã sớm trở thành vợ chồng, dù không thể thông báo cho thiên hạ thì có làm sao?
“Nghe mọi người đồn đãi, ai cũng cho rằng Tạ Thanh đã đến”, Đặng Nguyên Sơ cười, thấp giọng nói, “Đây là tên khác của anh ấy”.
Cô nhấp môi, thưởng thức.

Giống như khen tướng soái đẹp trai.
“Đúng là tên nhiều thật”.

Cô “khẩu thị tâm phi” mà nói, không muốn để lộ tình cảm tương tư trước mặt người quen.
Đặng Nguyên Sơ lắc đầu than thở: “Chị dâu nghĩ gì thì cứ nói, không cần che giấu làm gì.

Nếu tôi là phụ nữ, gặp được người như anh Thanh, đã không đến lượt chị có ngày hôm nay”.
Hà Vị không quan tâm lời trêu ghẹo của hắn.
Cô thấy Đặng Nguyên Sơ thích ăn sủi cảo, bèn kêu Khấu Thanh mang một mẻ mới lên, rán thêm ít hương thung.
“Trịnh Độ khoẻ chứ?” Cô biết rõ Đặng Nguyên Sơ liên hệ mật thiết với Trịnh Sính Tích, thế nên hỏi, “Hắn cũng là thần long thấy đầu chẳng thấy đuôi.

Đội cứu nạn đã được đưa đến cảng Thiên Tân, tôi đã hỏi quan quân lính phụ trách liên lạc nhưng không ai nói chính xác hắn đang ở nơi nào”.
Đặng Nguyên Sơ cầm đũa trúc trên tay, hơi sững lại.
Hà Vị cảm thấy có chuyện rồi!
Đặng Nguyên Sơ gắp một đũa hương thung rán: “Chị hắn khóc rất dữ, không dám hỏi thêm”.
“Vậy mà tôi…” không thu được chút tin tức nào.
“Nghĩa quân không phải tổ chức thuộc chính phủ”, hắn đoán được suy nghĩ của cô, an ủi, “Không phải quân đội chính quy nên khó nắm được tin tức”.
Trong lòng cô nghẹn ứ, lấy tập giấy trên vách ngăn đa bảo cách, quay lưng về phía Đặng Nguyên Sơ lật xem.
Trước khi Tạ Vụ Thanh rời đi, hình như linh cảm được gì đó, anh đã giao toàn bộ tập tài liệu cho cô.

Nội dung bên trong bao quát, gồm cả bản thiết kế của xe thiết giáp thuộc xưởng công nghiệp chế tạo quân sự Phụng Thiên.

Anh từng dặn dò, đây là của Trịnh Độ, hắn đưa cho vì muốn kết giao bằng hữu, sau này cũng coi như có một đường lui, kiếm chút tiền.
Năm xưa Trịnh Độ ở Phụng hệ, không hề hứng thú với giao tranh, nhận một quân hàm cao cấp, để chặn miệng người nhà cùng chị gái mình.
Hắn trước kia nhất định là một người rất để tâm, chỉ riêng việc sửa cầu vai tây trang cũng nói rõ được kích thước mong muốn.

Không sai một li.

Về Trịnh Độ, cũng chỉ có cô ba Trịnh gia mới biết rõ tung tích.
Có thể nhìn ra, người duy nhất đứa em trai út Trịnh Độ để trong lòng, chỉ có chị gái hắn mà thôi.
“Nghĩa quân vẫn hăng hái tắm máu trên chiến trường”.

Đặng Nguyên Sơ từ phía sau nói vọng lên.
“Vẫn còn”.

Hắn nhấn mạnh..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 63: Trăng Sáng Rọi Cố Hương 3


Năm 1933, không quân Nhật tấn công vào Sơn Hải Quan.
Quân canh giữ chống cự quyết liệt, lấy nợ máu cố thủ.

Không lâu sau, Sơn Hải Quan bị vây khốn.

Cùng năm đó, Nhiệt Hà cũng rơi vào thế giằng co.
Trên bàn làm việc của công ty vận tải đường thuỷ có một tập báo.
Trang nhất in tấm ảnh trắng đen Sơn Hải Quan bị quân địch oanh tạc, bên cạnh là chính phủ Nam Kinh ký kết “Hiệp ước Đường Cô” bao gồm những điều khoản giống như nỗi nhục đất nước mất chủ quyền, cho phép phi cơ của người Nhật Bản tuần tra quanh Vạn Lý Trường Thành, không khác gì đang chắp tay dâng ba tỉnh Đông Bắc và Nhiệt Hà cho chúng.
Cô nhớ đến Trịnh Độ.

Lần này vận chuyển vật tư kháng chiến đến trường thành có gặp được người trong nghĩa quân.

Họ nói Trịnh Độ đối mặt với quân Nhật điên cuồng tiến công, nhưng binh lực yếu ớt, trong khoảnh khắc cuối cùng vẫn nửa bước không lui, hắn vứt bỏ quân trang, chỉ còn độc sơ mi trắng, nắm chặt súng nhảy vào trận địa quân địch.
Nếu hắn nhìn thấy cảnh tượng ba tỉnh Đông Bắc và cả Nhiệt Hà bị vây khốn thì không biết sẽ nghĩ thế nào.
Hà Vị xếp gọn tập báo, thả vào một ô vuông nâu đỏ.

Giá để sách báo được chuyển đến từ Bách Hoa Thâm Xử.
“Trên trường thành tướng sĩ hy sinh nhiều như vậy, xương cốt chưa lạnh mà bọn họ đã ký hiệp ước đình chiến, muốn dâng Nhiệt Hà cho người ngoài”, cô nhỏ giọng nói, “Cắt đất nhanh hơn bất kỳ ai khác”.
“May mắn có tin tốt, trong lần thứ tư bao vây tiêu diệt địch thì hồng quân thắng lớn.

Họ kêu gọi tạm dừng nội chiến, sẽ ra bắc kháng chiến chống Nhật”.

Triệu Ứng Thăng nói.
Quả thật chỉ có duy nhất một tin tốt.
Tháng Sáu bước vào đầu hạ.
Trong thành Bắc Bình một màu xanh mơn mởn bao trùm, cô một mình bước ra từ căn tứ hợp viện của công ty vận tải, lúc này trời đã về khuya.

Nương theo ánh trăng, cô nhìn chằm chằm sư tử đá điêu khắc trước cửa viện, viên châu ngậm trong miệng đã sớm bị đám trẻ con sờ đến trơn bóng.

Xe dừng trước mặt, cô ngồi vào trong: “Đến Bách Hoa Thâm Xử đi”.
Lúc nãy khi xem báo, trong đầu cô liên tục nhớ đến căn viện nhỏ ở Bách Hoa Thâm Xử.
Xe đi qua cổng Đức Thắng Môn, cô hơi tựa vào ghế ngồi, nhìn bóng thành cao lớn dưới ánh trăng.
Phía nam trường thành, chính là Bắc Bình.
“Bắc Hoa Thâm Xử không có ai, cô hai có muốn gọi vài người đến không?”
“Không cần đâu”, cô nhẹ giọng đáp, “Lâu rồi không đến, chỉ muốn yên tĩnh ngủ một đêm ở đó”.
Tài xế không nhiều lời.
Dáng vẻ ngõ nhỏ vẫn không đổi, con đường đất hẹp dài bên trong không một ánh đèn.

Ngược lại khiến bóng trăng càng thêm sáng rõ.
Cô nhớ mỗi lần đi qua con đường này, luôn có một khoảng sân mở rộng cửa, giống căn nhà hiếu khách.

Tối nay cũng thế, cô hứng thú dừng bước trước nhà, trông thấy bóng dáng một người vợ trẻ đầu búi tóc, tay ôm đứa bé sơ sinh, hỏi vọng vào phòng người chồng, có ra ngoài giếng lấy nước chưa?
Cô quên mất, nếu không ai nói, cô cũng phải một mình ra ngoài giếng lấy nước.
Hà yeutruyen.net Vị lấy chìa khoá từ ngực áo, đến trước sân nhà mình, mở cửa.
Đẩy cổng viện, bên trong một mảnh im lìm.
Năm ngoái ông bác mất.

Biết được nguyên quán ở Thừa Đức nên cô cố tình sai người đưa di hài ông bác hồi hương.

Thừa Đức nằm ở Nhiệt Hà, nay đã rơi vào tay Nhật, muốn tảo mộ cũng khó khăn.
Chỗ này hiện không ai sinh sống, đúng giờ Quân Khương sẽ tạt qua để quét tước dọn dẹp.
Cô vào phòng chính, đang định chốt cửa thì chợt nhớ ra, cổng viện đã khoá, cũng không cần khoá thêm một lớp làm gì.

Thế nên tiện tay cô lấy cái ghế gỗ chặn trước cửa.
Không chỉ lười tắm mà đến quần áo cũng chẳng buồn thay, chỉ ngủ một đêm, sáng mai quay về Hà phủ rồi tính tiếp.
Hà Vị ôm gối đầu cùng chăn gấm trong rương ra ngoài, trải phẳng trên giường.

Sau đó pha một tách trà nhuận họng, nằm xuống đệm chăn.
Mấy ngày qua vì bận sắp xếp vận chuyển các bác sĩ ở bệnh viện và thương binh nên không ngủ đủ giấc, mặt vừa áp xuống gối đã đi vào mộng.

Trong mơ hồ cô bị đẩy đến hồ sen ở Tích Thuỷ Đàm, chú hai đang phe phẩy quạt giúp cô thổi hơi nóng, dịu dàng nói: “Tứ Cửu Thành này, lúc nào cũng có kẻ muốn chiếm giữ, ngày xưa là người man di, hiện tại là liên quân tám nước.

Họ cho rằng đây là thủ đô, chỉ cần chiếm đóng, đốt sạch, phá bỏ là có thể rút hết căn cơ của Hoa Hạ chúng ta.

Nhưng thật đáng tiếc, bọn chúng không hiểu người Trung chúng ta biến hoá thích nghi không ngừng, mấy ngàn năm qua, có nơi nào là chưa từng trở thành thủ đô? Thủ đô ở đâu không quan trọng, thứ quan trọng nhất chính là huyết mạch đời đời”.
Gió thành cổ hoà lẫn hương sen, thổi mát rượi khuôn mặt cô gái nhỏ.
Lâu rồi Hà Vị không nằm mơ thấy chú hai, trong lòng biết rõ là mộng nhưng vẫn không muốn tỉnh.

Cho dù mơ màng lim dim, chỉ thấy chăn quá nóng, cô lại mang hồn phách của mình nương náu vào thân thể lúc bé, mỉm cười nhìn chú hai.
“Loảng xoảng” vang lên, cô bừng tỉnh giấc, từ trên giường bật dậy.
Bên ngoài rèm châu, có bóng lưng cong cong đang nâng ghế ngã dưới đất.
Hà Vị ngừng thở, nhờ ánh trăng mỏng manh bên ngoài, cách một tấm rèm châu im ắng, nhìn chằm chằm người đang dọn cái ghế đằng kia.
“Tướng quân?” Có người bên ngoài hỏi han, lo lắng an nguy.
“Không sao”, anh đáp lời người đó, “Vợ tôi để đồ sai vị trí thôi”.
Anh không chú ý phòng trong, đi theo hướng quen thuộc đến bức tường dán đầy ảnh chụp để tìm đèn bàn.
Lần trước khi Hà Vị chuyển nhà đã mang hết đèn trong phòng đi.

Anh tất nhiên không tìm được, chỉ đứng tại chỗ vài giây rồi cởi áo khoác tây trang đặt lên ghế, sau đó đi về phía rèm châu.
Hà Vị như thể còn trong mộng, hoặc cô không dám xác thực đây là mơ hay tỉnh, cô muốn ghi nhớ hết thảy những gì đang xảy ra.
Tay của anh, giống như trong quá khứ, lặng lẽ vén rèm châu.
Khắp phòng ngập tràn ánh trăng, anh thong thả dừng bước.

Diện mạo mờ mịt nhưng cũng thật rõ ràng, cô có thể cảm nhận được ánh mắt của anh, giống như trong quá khứ, dán chặt lên người mình.
Giống như Sát Hải vẫn tồn tại trong Tứ Cửu Thành, không đổi thay, ánh sáng trong đôi mắt của anh chưa bao giờ suy suyển.
Hà Vị hít thở nhẹ nhàng, không chớp mắt, nước mắt chực trào ra.
“Vừa nãy…” Cô nghẹn ngào, giọng đặc quánh, “Cứ tưởng…”
Nước mắt rơi trên người.

Tạ Vụ Thanh trầm mặc, đi đến cạnh giường, Hà Vị đột nhiên bừng tỉnh, xốc chăn, mặc kệ chân trần đón lấy cánh tay của Tạ Vụ Thanh vươn tới, ôm thật chặt.
Toàn bộ nước mắt cô thấm ướt áo sơ mi của anh, hít một hơi thật sâu, rất muốn kìm nén xúc động nhưng lại không cách nào ngăn được.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Hơi thở đàn ông phả lên mặt cô, giọng nói trầm thấp: “Vốn định sớm mai mới đến tìm em”.
Hiện tại đã 5 giờ, chỉ còn chưa đầy nửa tiếng thì trời sáng.
Hà Vị ôm anh, hoàn toàn không còn dáng vẻ của một Hà nhị tiểu thư nắm quyền cao chức trọng trong tay, nước mắt không ngừng trào ra, nửa ngày không nói nên lời.

Tạ Vụ Thanh cũng siết chặt cô, nhẹ nhàng vỗ lưng an ủi: “Là anh không tốt, không nên đợi tắm rửa, cạo râu sạch sẽ rồi mới đến gặp em.

Đáng lẽ anh nên đi thẳng đến Hà phủ tìm người mới phải”.
“…Anh đến Hà phủ”, cô nức nở, giọng oán trách, “Mới không gặp được em đấy”.
Anh bị cô trêu cười rộ lên, tiếng cười ẩn thấp vô cùng vui vẻ.
Hà Vị ngẩng đầu, quan sát mặt anh.
Nương theo ánh trăng, chăm chú nhìn kỹ, người đàn ông này quả thật hao gầy hơn nhiều.

Khuôn mặt râu lún phún chưa kịp cạo sạch, vẫn mang dáng vẻ của một lữ khách trải qua mưa gió đường xa trở về.

Theo thời gian dài sinh sống ngoài chiến trường, từ trong cốt cách anh tỏa ra sức uy h**p ngày càng nặng nề, nhưng chung quy vẫn gầy vô cùng.

Chính vì khuôn mặt gầy nên hốc mắt càng sâu, lộ ra sóng mũi cao thẳng.
Tạ Vụ Thanh bị cô nhìn chăm chú mà bật cười: “Mỗi lần em nhìn như thế đều làm anh có cảm giác như trở về thời hai mươi mấy tuổi”.
Năm đó khi mới quen biết cô, anh vẫn là một tướng quân tuổi thanh niên.
“Nói đúng hơn là, mỗi lần cô hai nhìn Tạ mỗ đều khiến Tạ mỗ không nói nên lời”, anh nhỏ giọng, “Giống năm đó mới gặp gỡ, lúc nào cũng phải đắn đo xem nên nói điều gì mới thu hút sự chú ý của em, mà không khiến em ghét bỏ anh”.
Hà Vị mềm lòng, lần nữa siết chặt anh, vùi mặt vào cổ anh.
Ngoài cửa sổ gió thổi tới sau lưng lạnh toát.
Khi nãy gặp lại nhau, vì quá khẩn trương khiến mồ hôi đổ đầy lưng.
“Trời còn chưa sáng, ngủ thêm chút đi”.

Anh thì thầm.
Cô cho rằng Tạ Vụ Thanh bôn ba đường dài nên mệt mỏi, liền gật đầu đồng ý, cùng anh nằm xuống giường.

Trong bóng tối, tay người đàn ông men theo mành giường tìm kiếm dây treo.
Dây thừng đong đưa trong tay, chưa bao lâu, hai bên mành giường đều bị buông xuống.
Hà Vị mê man chỉ biết mở to mắt nhìn anh hôn khẽ lên môi mình, ôm chặt eo thon, cô ngã xuống chăn gấm, thầm nghĩ, sao không hỏi han anh một câu, hỏi xem rốt cuộc chuyến này vì sao anh lại về, khi nào đến, khi nào lại đi… Nhưng cô mơ hồ nghĩ, vợ chồng xa cách lâu ngày gặp lại, dù sao cũng phải thân mật một chút.

Tướng quân nghiêm khắc đến đâu, cũng chỉ là cơ thể máu thịt.
Tạ Vụ Thanh vừa ôm vừa hôn cô, cảm nhận được cánh tay Hà Vị chủ động vòng qua sau cổ.

Anh nương theo chút ánh sáng mỏng manh xuyên qua mành giường, nhìn người phụ nữ đã lâu không gặp.

Máu trong người bất chợt dâng trào, là biểu hiện của một người bình thường có thất tình lục dục, mái tóc dài thơm hương của cô ngày càng lan toả, chiếm trọn lòng anh.
“Sao lại ngủ ở đây?” Giọng anh khàn khàn, cọ chóp mũi quanh mày cô.
Anh quan sát cách bày biện trong phòng, không giống như có người thường xuyên ở, đoán có lẽ cô nhất thời nảy sinh hứng thú.
Hà Vị không đáp, chỉ im lặng nhìn anh, xem xét một lát, thân mật nhắm mắt lại.
Bởi do chiến sự.

Cô sợ ngày sau Bắc Bình bất ổn, bản thân cô không thể không theo tàu chở khách đến Hồng Kông, Ma Cao trú tạm.

Sợ rằng không hẹn ngày gặp lại.
Tạ Vụ Thanh và cô giống như quay về đêm tân hôn đầu tiên.
Đến khi chân trời nhuộm một màu trắng, ánh mặt trời hửng sáng, chăn gấm đều đã bị vò nhăn nhúm khó coi.

Cô vươn cánh tay ra ngoài, muốn lấy tách trà đặt trên ghế nhỏ cạnh giường.

Cô nhớ tối hôm qua mình có đặt nó ở đó.
Tạ Vụ Thanh nhanh hơn cô một bước, đặt tách trà bên môi cô.
Hà Vị nhấp ngụm nhỏ, lười nhác mỉm cười nhìn anh, nhỏ giọng thầm thì: “Lúc này mới có cảm giác được gả cho người ta”.

Anh cũng cười, đặt tách trà xuống chỗ cũ: “Uống một ngụm nước đã vui vẻ thế này à?”
Hà Vị nửa đùa nửa thật “Vâng” một tiếng, nói nhỏ: “Câu này không thể lọt ra bên ngoài, không ai biết chúng ta kết hôn.

Cũng không thể nói với người nhà, bọn họ sẽ lo lắng cho em.

Hình như chỉ có thể nói với anh… Lúc trước anh rời đi, em có xuống phía Nam, trên đường đi nghĩ, từ lúc chúng ta kết hôn đến nay, cũng chưa từng có một ngày chung sống đúng nghĩa.

Đợi khi gặp lại, nhất định phải bù đắp”.
Tay Tạ Vụ Thanh còn đặt trên ghế nhỏ, hơi sững lại rồi rút về.
Ngón tay cái của anh v**t v* khuôn mặt cô: “Lúc trước từng muốn cho em danh phận.

Hiện tại danh phận đã cho, nhưng vẫn làm em thiệt thòi nhiều”.
Hà Vị híp mắt, quan sát người đàn ông gần ngay trước mặt.
“Không thiệt thòi”, cô nói, “Ngược lại em thấy anh thật vất vả, vừa có vợ vừa có con lại muốn một mình sống trên chiến trường”.
Trong mắt Tạ Vụ Thanh hiện lên ý cười.

Suốt một năm qua anh luôn hướng về chiến sự phía Bắc, trong lòng trăm mối sầu lo, từ lâu đã không nhớ vui sướng là cảm giác thế nào.
Vừa có vợ vừa có con, nguyên nhân khiến anh càng thêm muốn chiến đấu một trận.
Trong quá khứ anh xông pha vì nước vì dân, hiện nay là vì nước vì dân, cũng vì gia đình.

Vì bản thân, vì vô số vợ con của những người nô lệ mất nước.
Hà Vị thấy trời đã sáng, cho rằng tất cả cấp dưới của anh đều ở trong viện, mà tướng quân lúc này không rời giường thì thật kỳ cục.
Không ngờ Tạ Vụ Thanh ở cạnh cô chỉ biết tuỳ ý chính mình, chưa bao giờ thay đổi.
Anh theo thói quen xuống giường, đi đến đa bảo cách ở góc tường, tìm được thuốc lá và hộp diêm trong dĩa sứ trắng.

Sau đó quay lại hút nửa điếu thuốc rồi trở về trên giường.

Hà Vị lim dim, trên môi phảng phất độ ấm nhè nhẹ, cô cảm nhận rõ ràng anh đang cúi xuống hôn cô, đè nặng hai cánh môi.
Giống như năm đó ở Thái Phong Lâu, anh dịu dàng từ tốn dừng lại trên môi cô, dùng hơi thở ấm áp bao lấy toàn bộ tâm hồn cô.
Hà Vị chờ một lát, chờ đến mất kiên nhẫn, vừa định mở mắt ra, Tạ Vụ Thanh dường như đọc được suy nghĩ trong lòng cô, anh cười.
“Sự kiên nhẫn của cô hai, giống hệt trong quá khứ”.

Anh cúi xuống bên tai cô, thấp giọng cười nói.
Hà Vị không muốn mở miệng.

Anh bèn thấp người, hoàn toàn chiếm lấy môi cô, dẫn dắt cô chìm đắm trong từng cái m*t mát của nụ hôn… Ánh sáng xuyên qua rèm giường len lỏi vào khoảng không, chiếu xuống mi mắt cô.

Giống như một vầng hào quang ảo diệu của những sắc vàng, sáng, tối đen xen tr*n tr** sau lưng anh.
Tạ Vụ Thanh hôn xong, im lặng ôm cô, chờ một lát mới mở miệng: “Trên đường ra Bắc, lúc đến trạm giao thông ở Thượng Hải từng bắt gặp Đặng Nguyên Sơ.

Hắn nói sủi cảo em gói rất ngon”.
Sao đột nhiên lại nhắc đến sủi cảo?
Chờ Tạ Vụ Thanh lần nữa rời giường, ra ngoài gọi cảnh vệ chuẩn bị nước tắm, cô nằm trên chăn gấm suy nghĩ dần rõ ràng, từ lúc kết hôn đến nay, Tạ Vụ Thanh chưa từng ăn thử sủi cảo do đích thân cô làm.
Không phải vì luyến tiếc một đĩa sủi cảo, mà vì sợ rằng sinh ly tử biệt bất cứ lúc nào không còn cơ hội thưởng thức.
Một người đàn ông thuở thiếu thời tòng quân, từ lâu yeutruyen.net đã quên mất cách biểu đạt tình cảm mềm mại nơi đáy lòng.

Đây là nỗi nhung nhớ mà anh không cách nào nói ra ngoài miệng..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 64: Trăng Soi Sơn Hải Quan 1


Tạ Vụ Thanh xách thùng gỗ đi vào: “Họ nói phòng tắm chưa quét dọn.

Ông bác đâu rồi?”
Hà Vị nắm cúc vải trên áo: “Năm ngoái mất rồi”.
Ngoài cửa, cảnh vệ ôm bồn tắm đã được cọ rửa sạch sẽ đứng nghiêng bên cạnh, nhỏ giọng gọi “Tướng quân”.

Hoảng hồn Tạ Vụ Thanh bừng tỉnh, tay vén rèm châu, nhận lấy bồn tắm đặt ở giữa nhà chính.
Trên bệ cửa sổ, hoa hải đường còn chưa nở.

Lá xanh rậm rạp.
“Năm đó khi chú thím vừa đi, trong nhà không ai vào kinh, mọi chuyện hậu sự đều do một tay bác ấy xử lý”, bên ngoài lần lượt đặt mấy thùng nước đá, Tạ Vụ Thanh tất bật trong ngoài rèm châu để chuẩn bị nước tắm cho cô.
Những chuyện liên quan đến hậu sự của ông cụ, anh đều không hỏi, cũng không cần thiết phải hỏi.

Vì Hà Vị sẽ lo liệu thoả đáng tất cả.
Lúc mới đến thấy cửa son khoá trái, cạnh giường có trà, không đoán được ông bác đã mất.

Vừa nãy khi ra ngoài nhìn thấy bể nước trống không, liền nảy sinh dự cảm không lành, rốt cuộc đã được cô chứng minh.
“Nước trà em chuẩn bị à?” Anh nhỏ giọng hỏi.
Cô khẽ gật đầu đáp vâng: “Mỗi ngày đều có người đến đổi bình thuỷ, cứ cách ngày thì sẽ đổi trà cũ thành trà mới”.
Đèn tường không bật, trong ánh nắng đan xen, không rõ ai sáng ai tối.
Tạ Vụ Thanh hạ thấp eo, dùng tay thử nhiệt độ nước.
Cô ngày qua ngày đều chuẩn bị tươm tất, lại không biết chính xác khi nào người thân mới quay về.

Đoá hoa hải đường của anh, cô hai phú quý bậc nhất Tứ Cửu Thành đang tựa lưng vào ghế cao, hai chân bắt chéo, giày cao gót dệt kim treo lơ lửng trước ngón chân.

Cô thảnh thơi ngồi gõ nhịp, chờ nước ấm chuẩn bị.
Quần dài của Tạ Vụ Thanh tối qua cô nằm đè lên, nếp gấp rõ ràng, mới vừa rồi đi ra ngoài bị cấp dưới nhìn trúng.
Sương khói mờ mịt, cô đi đến trước mặt anh.
Tạ Vụ Thanh nói: “Em tắm trước.

Còn lại để phần anh”.
“Có ai lại tắm nước cặn bao giờ”.

Cô lẩm bẩm.
Tạ Vụ Thanh cúi đầu: “Tạ mỗ rất vui lòng”.
Hai người đứng đối diện.
Hà Vị thật ra muốn hỏi lần này anh vào kinh là vì điều gì.
Đồng hồ báo giờ trên ngăn tủ bất ngờ reo lên, chạm vào đáy lòng khiến cô thay đổi chủ ý.
Chọn gả cho một người lính giữa thời chiến loạn, chính là phải học cách tự tìm niềm vui.

Thôi để sau vậy.
“Trên đường đi có gặp khó khăn gì không?” Cô đặt tay lên vai anh, áo sơ mi trượt xuống khuỷu tay, cởi luôn ống tay áo được anh xắn lên cao.
Tạ Vụ Thanh cười không nói gì.
Hà Vị mở từng cúc áo vừa được anh cài xong ban nãy.

Anh chỉ im lặng dung túng cô.

Hà Vị treo áo sơ mi lên lưng ghế, sờ thấy vật cộm lên trong túi áo, giống một mảnh giấy nhưng khá cứng.
Ban đầu cô tưởng là điện tín bí mật, cho đến khi sờ thấy tờ giấy ảnh chụp.
Rút ra xem.
Tạ Vụ Thanh tuổi trung niên khoác lên người bộ quân phục mà anh từng mặc năm 18 tuổi thành danh, một tay đút túi quần, còn tay kia bế một đứa trẻ mới sinh.

Người đàn ông trung niên không nhếch cằm như thuở thiếu thời, mà mang một khuôn mặt nghiêm túc, ánh mắt nhìn thẳng vào màn ảnh.
Lòng chứa trăm sông nghìn núi, quốc gia lâm nạn.
Năm ấy khi anh vượt mọi nguy nan đến Hồng Kông tìm thầy chữa bệnh, bất ngờ tìm được một phần tâm ý từ trong tủ quần áo của vợ mình.

Sau khi Tạ gia thất bại, kẻ địch cũ nhân cơ hội phóng hoả thiêu rụi toàn bộ nhà cửa gia sản.

Lúc đó anh còn bị giam lỏng trong ngục tối, nghe nói Tạ gia ở Quý Châu bị lửa thiêu cháy mấy ngày liên tiếp.

Trong ngọn lửa hung tàn ấy, đừng nói là ảnh chụp anh mặc quân trang tuổi thiếu niên, ngay cả bức ảnh chụp cả nhà họ Tạ quý giá nhất cũng không thể giữ được…
Quân phục trong tủ quần áo đều do Hà Vị dựa theo ảnh chụp lúc trước của anh rồi tìm thợ may làm lại nguyên trạng.
Thiếu tướng quân trong lòng cô, vĩnh viễn sống mãi tuổi mười tám, là một Tạ Vụ Thanh lòng mang phong ba vạn dặm.
Tại căn chung cư ở Hồng Kông, anh khoác lại quân trang, nhìn bản thân trong gương bạc, như thấy chính mình sau ngày Cách mạng Tân Hợi.
Một bức thư nhà được gửi đến trường Bảo Định.
Nửa đêm, anh lẻn vào ký túc xá của giáo viên để thu thập hành lý.

Phía sau có Thiệu tiên sinh đang chờ đưa anh đưa đến trạm xe lửa.

Ngoài ra còn có mấy giáo viên khác nghe nói Tạ lão tướng quân đang bị quân phiệt vây khốn, bọn họ đều là đàn ông phương Bắc, vốn không hiểu biết nhiều về tình hình quân phiệt phương Nam, già trẻ lớn bé đều muốn trấn an, ghé đầu vào một chỗ không nói nên lời.
Tạ Vụ thanh xách theo rương da trên tay, nói lời tạm biệt mấy người đồng nghiệp.
Anh bước ra khỏi ký túc xá giáo viên, đi ngang lớp học, bị một tiếng “cảm ơn thầy” níu chân.

Tạ Vụ Thanh dừng bước, quay đầu, một nửa học viên trong học kỳ này đều có mặt ở bãi đất trống bên ngoài phòng học.

Bọn họ so với anh nhỏ hơn có, lớn hơn cũng có, ngưng đều bày tỏ lòng tôn kính với người thầy này.
Có người hành quân lễ, còn lại xôn xao giơ tay lên.
Anh năm 18 tuổi, trong lòng nhiều cảm thương.

Thiếu niên tâm cao khí ngạo, ngoại trừ nôn nóng muốn nhanh về nhà cứu cha, chỉ còn sót nỗi lo lắng về tương lai của nước nhà, cùng chí hướng phản Viên.

Một tay anh xách rương hành lý, tay kia nghiêm cẩn hành quân lễ chào lại học viên.
“Mọi người”, anh buông tay, nhìn thẳng đồng bào dưới ánh trăng, “Khôi phục đại nghĩa, chấn chỉnh non sông, chúng ta ngàn chết vạn chết cũng không từ”.
Đây là lời tuyên thệ ngày xưa của anh và Triệu Dư Thành lúc mới tòng quân, cũng là suy nghĩ của hàng triệu quân nhân trong Cách mạng Tân Hợi.
Trong âm thanh chấn chỉnh non sông, anh bước ra khỏi cánh cổng sắt màu đen của trường quân đội, quay lưng về phía khẩu hiệu trường, lên xe rời khỏi Bảo Định.

Sau này quả thật có rất nhiều người, thật sự nhớ rõ lời thề đó: Ngàn chết vạn chết cũng không từ.


Ngón tay Hà Vị lướt qua khuôn mặt nho nhỏ của Kế Thanh, hơi nước dâng đầy mắt.
“Không dám mang theo ảnh chụp của cô hai”, Tạ Vụ Thanh cười nói sau lưng cô, “Bên người chỉ có mỗi cái này”.
“Không ai nhìn thấy… hỏi anh đứa trẻ này là ai sao?” Giọng mũi cô khản đặc.
“Tạ mỗ”, anh cười, dùng giọng điệu trêu ghẹo trước đây của mình nói, “Nợ tình khắp nơi”.
Cô đặt ảnh chụp cẩn thận vào túi áo anh.
Tưởng tượng trên chiến trường máu lửa, chỉ có mỗi tấm ảnh chụp này là niềm an ủi của anh.
Hà Vị trở lại bên cạnh bồn tắm, cởi đai súng trên eo Tạ Vụ Thanh.

So với quá khứ, dường như nó cũ hơn nhiều, có lẽ chưa từng thay đổi.
Tạ Vụ Thanh tính người tiết kiệm, ở đâu cũng thấy được.
“Loại da này dùng chắc thật”.

Cô nhỏ giọng nói, hai tay vòng ra sau eo anh, tháo rời khẩu súng từ trên người đặt lên áo sơ mi.
“Đồ cũ nhưng tay nghề rất tốt”.

Anh thấp giọng đáp.
“Anh chê bản thân chưa đủ già sao? Lúc nào cũng nhấn mạnh trước kia thế này, trước kia thế nọ”, cô cởi lưng quần anh, bị Tạ Vụ Thanh nắm chặt, “Có điều… cũng không còn trẻ nữa”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Tạ Vụ Thanh đột nhiên cúi người, bế Hà Vị lên.
Cả người Hà Vị đều ngâm trong nước ấm.

May mắn bên trong có mặc áo lót nhưng cũng không thoát khỏi cảm giác ướt sũng bao lấy cơ thể, giống như bị trói chặt, giãy giụa thế nào cũng không thoát.

Tạ Vụ Thanh lặp lại những hành động của cô vừa rồi, cởi bỏ tầng tầng lớp lớp quần áo trên người cô.
Không giống cô thích luyên thuyên, toàn bộ quá trình, ngoại trừ động tác thuần thục, anh đều không mở miệng.
Khăn lông nhúng nước, chà lên lưng cô.
Hà Vị nhắm mắt hưởng thụ: “Anh Thanh”.
“Ừm”.
Mặt cô tựa vào mép chậu gỗ, mượn hơi nước ngước nhìn Tạ Vụ Thanh trần nửa người, chỉ mặc mỗi quần dài.

Anh cũng rất cao hứng, kéo một cái ghế tới, ngồi phía trên, hai chân tách ra đặt hai bên chậu gỗ.
“Lúc ở Hồng Kông anh tắm cho Kế Thanh cũng giống như vậy”, anh vắt khăn lông để nước chảy lên mái tóc dài của cô, sau đó nắm trong lòng bàn tay, từ tốn gội sạch, sau lại hướng lên trên, kiên nhẫn xoa bóp, “Vốn định dạy con gọi mẹ.

Nhưng không dạy kịp, thời gian gấp quá”.
Hà Vị không dám mở mắt, cố gắng kìm nén nước mắt vào trong.
So với nhiều người khác, cả nhà đều bình an đã là may mắn rồi.
Ăn cơm trưa, đúng như ý muốn, cô tự tay làm sủi cảo.
Tổng cộng có 5 đĩa, nào là thịt heo tẩm gia vị, thịt heo trộn cải trắng, thịt kê củ cải, rau hẹ trứng gà, có cả thịt vịt.
“Lần trước chỉ có thịt heo trộn cải trắng”, cô thì thầm, “Lần này làm đủ rồi”.
Tạ Vụ Thanh cầm đũa trúc, thích thú nhìn một bàn đầy đồ ăn rượu thịt, thêm một bình dấm tỏi, từ từ chậm rãi thưởng thức.
“Trở về lần này có chuyện quan trọng sao?” Cô ăn xong, bắt đầu hỏi anh, “Có cần em giúp gì không?”
Cuộc tấn công vừa kết thúc, bọn họ dùng 7 vạn quân đánh thắng 40 vạn quân của chính phủ Nam Kinh.

Chuyện chiến trường cô vốn không hiểu nhưng ít nhất cũng rõ thế nào là lấy ít địch nhiều, dù gì các tướng sĩ cũng cần thời gian nghỉ ngơi dưỡng sức.

Hiện tại anh vào kinh, hẳn không chỉ vì chuyện tư.
Chẳng lẽ muốn gom góp vật tư hay vũ khí?
Tạ Vụ Thanh đối diện cô.
Hà Vị thấp thỏm, chỉ sợ là tin xấu.
Anh rót rượu trắng: “Lần này trở về, vì kháng Nhật”.
Hà Vị ngơ ngác, nhìn chằm chằm anh.
Tạ Vụ Thanh mỉm cười, nhìn lại cô.
Chính phủ Nam Kinh vừa mượn tiền các nước khác, chuẩn bị mua một lượng lớn súng ống đạn dược, mời thêm chuyên gia và cố vấn quân sự của nhiều quốc gia khác, chuẩn bị triển khai đợt tập kích thứ năm với hồng khu… Mà hồng quân nhiều nhất cũng chỉ có 10 vạn người.

Hung hiểm vô cùng.
Chưa bàn đến chuyện triển khai tập kích, hồng quân ở phương Nam làm sao có thể băng qua trăm sông ngàn núi để hướng về phía Bắc kháng Nhật đây?
“Dân quân Tây Bắc, quyết tâm kháng Nhật”, Tạ Vụ Thanh nhìn thấu băn khoăn của cô, thấp giọng giải thích, “Nhiều tướng quân liên hợp với nghĩa quân Đông Bắc, cuối tháng trước thành lập quân đồng minh chống Nhật.

Tổng chỉ huy mặt trận kiêm quân trưởng quân đoàn 2, là người của hồng quân”.
Cô hít thật sâu, tim như ngừng đập, cảm giác máu nóng toàn thân đều đang dâng trào.
“Chúng ta phải giành lại Nhiệt Hà”.

Anh nói.
Giữa trưa trời không gió, ánh mặt trời tháng sáu xuyên qua cửa sổ rơi trên cánh tay, phủ xuống bả vai, toả ra hơi nóng.
Nhưng lửa đốt trong lòng, còn nóng hơn hết thảy.
Kháng chiến Trường Thành bắt đầu từ mùng 1 tháng yeutruyen.net Giêng, từng là hy vọng của cả nước.
Sau khi Sơn Hải Quan bị vây khốn, chính phủ Nam Kinh ngày càng mạnh tay đàn áp các cuộc kháng chiến chống Nhật trong nước, đưa quân đến trước Trường Thành, giằng co trực diện với quân tiến công.

Mấy tháng ấy, nhiều thành phố quyên tiền vật tư, từ người già đến trẻ nhỏ, tất cả đều quyết tâm chống Nhật.

Đoàn dân quân, đoàn phụ nữ cứu viện, nhân viên y tế, đều từ khắp mọi nơi đổ về Trường Thành…
“Mấy tháng Trường Thành kháng chiến… rất nhiều quân lính đã hy sinh”, cô nói, “Những tướng quân vì nội chiến vào Trường Thành, đều không phải vô thức, mà là liều mạng”, nội chiến kéo dài, không ít người nghẹn đắng, phóng mắt ra quan ngoại, cuối cùng cũng chờ đến ngày phát động mặt trận kháng chiến ở Trường Thành, đều là cốt khí của người quân nhân, “Mấy tháng kiên trì lại liên tục thất bại, cuối cùng cũng chờ được quân cứu viện đến”.
Kháng chiến chống Nhật ở phương Bắc không ai chi viện, trong khi 40 vạn quân lính miền Nam chỉ lo bao vây tiêu diệt hồng quân.
Tạ Vụ Thanh im lặng chốc lát rồi nói: “Trong kháng chiến Trường Thành, có không ít người quen cũ của anh.

Ngày xưa từng cùng nhau tham gia Bắc phạt”.
Chưa đầy 10 năm kể từ ngày Bắc phạt, nhưng cứ ngỡ cách cả một thế hệ.
Năm đó trước khi xuất quân Bắc phạt từng lập lời thề, cố gắng hướng đến tương lai nam bắc thống nhất, chưa từng nghĩ tới có một ngày quốc gia bị chia cắt thế này.
“Sau khi rút quân, người dân địa phương âm thầm chôn cất thi thể của các quân lính”, cô dịu giọng, “Dưới chân Trường Thành”.
“Dân chúng Nhiệt Hà đều tiếp tục kháng chiến”, cô thuật lại những mật báo lúc trước, “Rất nhiều người trong họ nhập ngũ tại đó, kháng chiến chống Nhật, còn có nhiều hộ nông dân đem ván cửa, nhà ở phá bỏ, chỉ để dựng chiến hào…”
“Họ không muốn quê hương rơi vào tay giặc”.

Cô nói nhỏ.
Tạ Vụ Thanh gắp sủi cảo mọng nước từ đĩa thịt dê củ cải, chậm rãi đưa vào miệng.

Anh nâng chung rượu, ngửa đầu một hơi uống cạn.

Chuyến ra yeutruyen.net Bắc của Tạ Vụ Thanh lần này được bảo mật tuyệt đối, chỉ mang theo hai cảnh vệ lạ mặt.
Một trong đó là người vùng Nhiệt Hà, biết tiếng Mông Cổ.
“Trong liên minh kháng Nhật có đội vũ trang của dân tộc Mông Cổ chúng tôi”, người cảnh vệ ngồi trong sương phòng nói với Khấu Thanh và Quân Khương, “Ngay cả thổ phỉ ở địa phương cũng bị chúng tôi thuyết phục tham gia quân kháng Nhật”.
Cảnh vệ nói xong, nhận lấy tách trà từ tay Khấu Thanh, nhấp một ngụm, giống như có tâm sự, hắn trầm mặc một lát: “Trà sữa Nhiệt Hà chúng tôi rất ngon.

Chờ ngày giành lại Nhiệt Hà sẽ mời các cô nếm thử”.
Trong lòng Quân Khương nghẹn lại, lấy cây quạt hương bồ quạt gió cho người cảnh vệ.
Khấu Thanh dịu dàng nói: “Thật ra tôi biết làm trà sữa, mặc dù không bằng quê nhà của anh nhưng có thể uống một chút cho đỡ nhớ nhà”.

Cô nói xong bèn rời khỏi sương phòng, tay chân thoăn thoắt vì cảnh vệ muốn xông pha tiền tuyến mà bắt đầu nấu trà sữa.
Sau khi kháng chiến Trường Thành thất bại, mỗi lần Khấu Thanh và Quân Khương bắt gặp người mặc kimono đi guốc gỗ trên phố đều thao thức trong lòng.
Các cô ấy không nghĩ sâu xa như Hà Vị hay Cửu tiên sinh, mắt thấy 3 tỉnh Đông Bắc cùng Nhiệt Hà lần lượt rơi vào tay giặc, trong lòng lo lắng mai sau quê hương của họ cũng bị chiếm đóng.

Hiện tại nghe nói thành lập liên quân kháng Nhật mới có chút hy vọng về tương lai.
Hai người bọn họ hầu hạ cô hai nhiều năm, cũng quen biết Tạ Vụ Thanh, lúc nào cũng tôn sùng kính ngưỡng vị thiếu tướng quân của Tạ gia.
Thiếu tướng quân Tạ gia đã nói muốn kháng Nhật thì nhất định họ có thể giành thắng lợi.

Các cô luôn tin chắc như thế!.
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 65: Trăng Soi Sơn Hải Quan 2


Bọn họ ở Bách Hoa Thâm Xử một ngày, ban đêm khoảng 4 giờ sáng, hai bóng người đi bộ đến Cổ Bắc Khẩu ở quan nội [1].
[1] Cổ Bắc Khẩu là cửa ải quan trọng của Trường Thành, nằm tại trấn Cổ Bắc Khẩu, huyện Mật Vân (thành phố Bắc Kinh).

Cửa ải này nằm giữa 2 ngọn núi đứng thẳng nên địa thế hiểm trở.

Còn “quan nội” là khu vực nằm ở miền tây Sơn Hải Quan, TQ.
Xe riêng của Hà gia quá bắt mắt, Hà Vị không để xe đến gần Trường Thành.
Tạ Vụ Thanh xuống xe, ngửa đầu nhìn tường thành Cổ Bắc Khẩu dưới ánh trăng.
Vài tháng trước, đây từng là chiến trường khốc liệt nhất cuộc kháng chiến Trường Thành.

Tường thành bị máy bay oanh tạc không toàn vẹn, đất đá chất đầy, trong ánh trăng lạnh lẽo nhợt nhạt có thể những nấm mồ không bia khắc kéo dài tít tắp.
“Chiến sự ở Cổ Bắc Khẩu thảm khốc nhất”, cô chỉ tay về một hướng, “Lúc đó quân Nhật tấn công, có một tiểu đội gồm 7 người mất liên lạc nên không nhận được lệnh rút binh.

Khi nhìn thấy máy bay địch nã pháo hạng nặng, 7 người quyết trấn thủ đến cùng, đạn dược lương thực cạn kiệt, vẫn giằng co nghênh địch, tất cả bọn họ, đều hy sinh ngay trên cao điểm”.

Nếu không có lệnh dừng chống cự, những tướng sĩ ấy, căn bản sẽ không bỏ mặc 3 tỉnh quan ngoại và Nhiệt Hà.
“Trịnh Độ có thể nhắm mắt rồi”.

Giọng Tạ Vụ Thanh trầm thấp.
Không phải tất cả quân lính đều hèn nhát yếu đuối.

Chỉ điều này đã đủ an ủi vong linh anh dũng.
Tạ Vụ Thanh lấy một món đồ nhỏ bọc vải thô từ trong ngực áo.
Anh ngồi xổm xuống, kéo sợi chỉ phía trên mở ra, bên trong vẫn là một cái túi vải dầu khác.

Lại mở tiếp, dưới tầng tầng lớp lớp bảo vệ chính là một nắm đất.

Anh rải nắm đất ấy lên những tảng đá vụn.
“Một đồng liêu”, anh thì thầm, “Người Cáp Nhĩ Tân.

Hắn nói, không cần chôn cất ở quê nhà, chỉ cần rải xuống mảnh đất phương Bắc là được”.
Anh nhặt hòn đá đè chặt bao vải.

Tạ Vụ Thanh nhìn tường thành đổ nát xa xa, trầm mặc hồi lâu, không nói lời nào, men theo đường đi trở về.

Những nơi bị công phá đất đá khô cằn, hiện lên hai màu vàng đen khác biệt, bên dưới lớp đá xám đen bị nổ bom như lộ ra màu máu, để lại dấu vết cuối cùng của cuộc kháng chiến kia.
“Chị gái của Trịnh Độ”, anh ngồi vào xe, “Sẽ đến Bắc Bình trong 2 ngày”.
“Chị ta nói, em trai mình có gửi lại một bộ tây trang ở nơi này nên muốn nhận về”, Tạ Vụ Thanh hạ giọng, “để cùng mai táng”.
“Có cần em giúp vào kinh không?”
Tạ Vụ Thanh khẽ lắc đầu: “Chị ấy tự có cách, lần này đến Bắc Bình thật ra muốn thương lượng một chuyện với em”.
Anh không nhiều lời, Hà Vị nghĩ có lẽ chỗ này không tiện nói nên cũng không hỏi thêm.
Lúc nhỏ, cô là đứa trẻ bất chấp tất cả, cái gì cũng phải hỏi đến cùng, theo tuổi tác ngày càng lớn, cô biết được người thường có những chuyện không thể nói.

Hoặc do thời cơ chưa tới, hoặc còn băn khoăn, cô cảm thấy Tạ Vụ Thanh không nói rõ mọi chuyện chắc vì có liên quan đến cô.
Về Bắc Bình, trời vừa hửng sáng.

Hà Vị dặn tài xế lái xe đường vòng đến An Định Môn.
Cửa thành vừa mở, một đội lạc đà đến từ phía Nam mang theo những túi vải bố cũ kỹ, dàn thành một hàng như Trường Thành thu nhỏ di động kéo dài không dứt.

Chiếc xe đỗ cạnh cổng thành.
Hà Vị định nói, lần này quay lại nên xuống xe nhìn xem An Định Môn.
Cô thoáng thấy Tạ Vụ Thanh nghiêng mặt, thần sắc nghiêm nghị, theo tầm mắt nhìn về cổng thành.

Trên đó sừng sững 3 chữ lớn: An Định Môn.
Hà Vị định mở miệng, mu bàn tay đã bị Tạ Vụ Thanh nắm chặt.
Lúc còn trẻ, ngón yeutruyen.net tay anh thon dài, lớp da dưới lòng bàn tay nhẵn nhụi, ngoại trừ vết chai ở ngón trỏ vì quanh năm cầm súng, những chỗ khác không có dấu vết của năm tháng mài lưng trên chiến trường.

Lần này trở về đã khác.

Lòng bàn tay Tạ Vụ Thanh giống như bị giấy nhám chà sát, vừa thô ráp lại nóng bỏng.
“Đi thôi”.

Anh nói.
Đất nước bị xâm lăng, anh không mặt mũi xuống xe bước qua cánh cổng An Định Môn.
Hà Vị theo Tạ Vụ Thanh về nhà.

Cô giành thư phòng phía tây cho anh dùng.
Lò hương hình hạc trong thư phòng lớn vẫn để đây.

Hạc tiên cao nửa người đứng một chân ở đó, từng làn hương khói từ miệng hạc bay ra, không khác gì Hà nhị phủ trước kia.

Điều duy nhất thay đổi là con người, trong sương khói lượn lờ không còn là chú hai mà là anh.
Tạ Vụ Thanh mặc sơ mi trắng quần tây, nằm ngửa trên giường.

Bôn ba đường dài ra Bắc không ngủ ngon giấc, vừa ngả lưng lên giường bát bộ của cô, cơn mệt mỏi ập tới, không chờ cô đến đã ngủ say.
Hà Vị vào cửa, cẩn thận tắt hết đèn vì sợ làm anh thức giấc, cô đứng cách 2 bước trước giường bát bộ, sau đó đến gian phía tây.
Cô ra ngoài, cửa phòng bị một bàn tay nhỏ đẩy ra.
Tư Niên lặng lẽ nhìn vào trong phòng, làm cô buồn cười.

Hạ Vị rón rén kéo cửa, vẫy tay về phía cô bé, Tư Niên lập tức lùi về sau 2 bước, mang dép lê nên suýt chút nữa không đứng vững, được Hà Vị ôm vào lòng.
Cô cúi người, dịu dàng hỏi: “Tới tìm ta à?”
Tư Niên hé miệng cười, gật gật đầu rồi nhìn cửa phòng.
Hà Vị trở tay, khép cửa lại.
“Thiếu tướng yeutruyen.net quân mệt lắm ạ?” Tư Niên thì thầm vào tai cô.
“Đúng vậy”.

Cô cười.
“Con ở đây được không ạ?” Tư Niên chỉ tay về chiếc giường trong gian phía tây.
Hà Vị gật đầu, nắm tay cô bé, một mẹ một con ngồi xuống giường.

Tư Niên mặc chiếc áo bông ngắn tay cùng quần dài, ngồi khoanh chân trên giường, đối diện với Hà Vị.

Cô bé mỉm cười, Hà Vị cũng cười đáp lại.
“Ngài ấy ngủ bao lâu ạ? Còn đi nữa không? Hôm nay đi à? Con tan học về có thể gặp ngài ấy sao?” Hết chuyện này đến chuyện khác, Tư Niên vô cùng mong chờ, cố tỏ ra hiểu chuyện nói, “Nếu gấp đi cũng không sao, lần tới trở về cũng được ạ”.
Hà Vị nhỏ giọng nói: “Không đi nữa”.
Tư Niên nắm tay Hà Vị, mân mê đầu ngón tay cô, rầu rĩ cười.
“Lát ngài ấy tỉnh dậy, con đến gọi cha đi”.

Hà Vị nói nhỏ.
Tư Niên ngẩng đầu, đôi mắt nhìn cô chăm chú.

Hà Vị lại cười, khẽ gật đầu, xem như khẳng định.
“Sẽ phiền lắm”, Tư Niên đè nén mong đợi, lắc đầu, “Không cần đâu ạ”.
“Gọi đi”.

Hà Vị nói.
Dứt lời, cô nói tiếp: “Ngài ấy không được nghe gọi một tiếng cha, con cứ thuận theo ngài ấy, gọi mấy tiếng là được”.
Cuối cùng Tư Niên cũng an tâm, vui vẻ gật đầu.
“Thiếu tướng quân về để thăm chúng ta ạ?” Tư Niên hỏi.
Hà Vị thì thầm: “Ra Bắc, để kháng Nhật”.
Tư Niên kinh ngạc, thần sắc trên khuôn mặt bé nhỏ bỗng thay đổi.

Trước cuộc kháng chiến Trường Thành, cô gái nhỏ tràn ngập niềm tin chống quân xâm lăng, thế nhưng trải qua mấy tháng Bắc Bình loạn lạc, nhìn những binh lính rút lui, thương binh ngày một tăng lên, số lượng học sinh và đoàn dân binh chen chút đầy bệnh viện, cô bé đã không còn suy nghĩ tích cực đó nữa.

Chính tình thân đã khơi dậy nỗi sợ chết chóc trong lòng một đứa trẻ.
“Ở… Trường Thành ạ?”
“Không phải”, cô lắc đầu, “Là ở quan ngoại”.
“Chú Triệu nhỏ có nói…” Tư Niên do dự, “Số lính của họ ngày càng nhiều, lúc trước là 40 vạn, lần này là 100 vạn… chỉ để đánh 10 vạn lính hồng quân”.

Vô cùng nguy nan.
Chắc hẳn Triệu Ứng Thăng không thể loại bỏ được sự chú ý của Tư Niên với hồng khu, bị cô bé lừa khai thật.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Tất nhiên, điều này bắt nguồn từ phương thức giáo dục thẳng thắn và không che giấu của Hà Vị.

Trẻ con thời buổi loạn lạc, cô gái tương lai tiếp quản sự nghiệp vận tải đường thuỷ, nhất định phải trưởng thành thật sớm, nhất là trực tiếp đối mặt với mọi chuyện.

Bỗng dưng cô cảm thương cho Tư Niên, thế cục tương lai kháng chiến chống Nhật, không ai biết trước kết quả, thế hệ trẻ như Tư Niên sau này phải đối mặt với chuyện gì, ngay cả cô hay Tạ Vụ Thanh đều không dám khẳng định.
Hà Vị lạc trong suy nghĩ về tương lai của bọn trẻ, lòng bắt đầu lo sợ.
“Nhiệt Hà bị chiếm đóng, chính phủ chỉ biết điều binh đi đánh người trong nhà, đám người thiếu tướng quân bị bao vây tập kích… Đối mặt với sự tấn công của 100 vạn quân địch, đều phải ra quan ngoại chống Nhật”, Tư Niên giống như đang cố tìm một lý do chính nghĩa để che giấu nỗi sợ hãi vì cha sắp ra quan ngoại, “Đây là đại nghĩa, ông trời sẽ che chở cho họ”.
Tư Niên nhìn Hà Vị, mong mỏi được cô đáp lại.
“Đúng vậy”.
Theo lời Tư Niên nói.

Họ vất vả lắm mới hợp thành một đội, không xuôi Nam chi viện cho hồng khu mà lựa chọn ở lại quan ngoại chống Nhật… Đội quân đó, nếu thua thì…
Cửa phòng ngủ bị kéo ra từ bên trong.
Tạ Vụ Thanh ngủ một lúc, nhận thấy thiếu vắng hơi thở của Hà Vị bên cạnh nên bất chợt tỉnh giấc.
Quần áo trên người anh khác hẳn lúc lên tàu ở cảng Thiên Tân năm ấy.
Trong ấn tượng của Tư Niên lần cuối nhìn thấy Tạ Vụ Thanh, lúc đó anh mặc áo choàng mang giày ống quân đội.

Mà người đàn ông hôm nay khuôn mặt mệt mỏi, phảng phất như say rượu chưa tỉnh, một bộ âu phục màu xanh cùng áo sơ mi chưa được là thẳng, đơn độc một mình với khẩu súng vắt sau lưng.
Đập vào mắt Tạ Vụ Thanh là cảnh: Trong ánh nắng ban mai, đôi mẹ con ngồi đối diện nhau trên giường, đang châu đầu ghé tai thì thầm gì đó.
Nụ cười ẩn nhẫn không đổi bấy lâu đột nhiên biến mất.
Tạ Vụ Thanh vẫy tay, nói với Tư Niên: “Đến đây nào”.
Dứt lời, anh kéo cái ghế gần đó ngồi xuống.

Tư Niên tay chân thoăn thoắt nhảy xuống từ trên giường, chạy chân trần hai ba bước đã đến trước mặt anh.

Nhác thấy Tư Niên giẫm chân lên sàn nhà, một tay anh bế con gái đặt ngồi lên đùi không bị thương.
Lúc nhỏ Tư Niên không hiểu đàn ông mập ốm thế nào, chờ đến khi hiểu chuyện, mỗi lần nhớ đến dáng người của Tạ Vụ Thanh, hình ảnh Tạ thiếu tướng quân trong bức ảnh cũ, cảm thấy cha mình quanh năm chinh chiến không quá quý trọng thân thể, hiện tại đã rất gầy.
Cô bé nhớ cha nhiều năm, lúc này vừa thấy lại ngại ngùng không nói nên lời.
“Đọc sách đến đâu rồi?” Tạ Vụ Thanh mỉm cười hỏi.
Tư Niên c*n m** d***, cúi đầu lẩm bẩm một lúc mới nói nhỏ: “Không bằng cha ạ”.
Tạ Vụ Thanh chưa bao giờ được người ta gọi bằng “cha” một cách nghiêm túc như thế, trong lòng nảy sinh cảm giác chua xót.

Cô gái nhỏ tuy không phải do anh và Hạ Vị sinh ra nhưng từ lúc bắt đầu hiểu chuyện đã xem anh như cha ruột.

Cảm giác áy náy vì xa nhà quanh năm bất chợt dâng trào khi anh nghe cách xưng hô mới lạ này.
Anh vuốt tóc Tư Niên, dịu dàng nói: “Chuyện đọc sách, mỗi người mỗi kiểu, có người hiểu sớm nhưng cũng có người hiểu chậm một chút.

Chỉ cần cố gắng chăm chỉ thì sẽ không sợ thất bại”.
Tư Niên “Vâng” một tiếng.
Tạ Vụ Thanh muốn hỏi tiếp.

Lúc này, Khấu Thanh hốt hoảng mang theo cặp sách cùng váy vải màu lam chạy vào gian phía tây, trông thấy Tạ Vụ Thanh ôm Tư Niên nhất thời không biết làm sao.
“Hôm nay xin nghỉ đi”, Hà Vị nói, “Hiếm khi có một ngày”.
Khấu Thanh không nhiều lời, quay đầu bỏ đi: “Em đi pha sữa bò ca cao cho thiếu tướng quân”.
Tạ Vụ Thanh bất ngờ, còn Hà Vị cúi đầu nhịn cười.
“Gút mắc” này nếu không phải bị Bạch Cẩn Hành và Đặng Nguyên Sơ vạch trần trong phòng riêng ở nhà hát Thiên Tân thì với tính tình của Tạ Vụ Thanh, có lẽ cả đời này cô cũng không biết được sự thật.
“Dì nói, lúc cha mới đến Hà phủ đã uống hết ba ly bột ca cao pha với sữa bò”.

Tư Niên nói đúng trọng tâm.
Ngược lại Hà Vị ngạc nhiên, chăm chú quan sát Tạ Vụ Thanh.
Thời gian họ xa cách nhiều hơn ngày tháng bên nhau, mọi người sợ cô buồn nên không bao giờ nhắc chuyện quá khứ.
Tạ Vụ Thanh vờ như không nghe thấy, tay xách ấm trà bằng gỗ cây tùng có khắc vân lên, định rót trà nhưng ấm trống không.
Ngại trẻ con có mặt, Hà Vị chỉ mím môi cười, tay phải chống cằm, khuỷu tay đặt lên bàn thấp trên giường.
Tạ Vụ Thanh bị cô nhìn chăm chú cười rộ lên.
“Con còn phải học bài”.

Tư Niên nhảy xuống khỏi đùi Tạ Vụ Thanh, thấp giọng giải thích.
Đến tận khi bóng dáng bé nhỏ biến mất khỏi gian phía tây, Hà Vị vẫn duy trì tư thế cũ, vừa chống cằm đánh giá anh: “Biết Tạ thiếu tướng quân thích uống ca cao sữa bò nhưng không ngờ lại thích đến mức độ ấy”.
Tạ Vụ Thanh cúi đầu cười, vân vê chơi đùa chun trà cùng bộ với cái ấm bằng gỗ cây tùng có khắc vân.
“Sao anh biết em thích uống sữa bò? Chỉ vì lần đó bảo anh nếm thử thôi sao?”
“Ngày ấy”, trong mắt anh ẩn ý cười, “Lúc vào gian phía tây vô tình nhìn thấy nửa ly sữa bò”.
Ngày ấy.
Khấu Thanh và Quân Khương nhắc nhở có cô gia đính hôn tìm đến nhà, đang chờ ở thư phòng.

Khấu Thanh vội vàng đưa cho cô ly sữa nóng, trong hơi nóng bốc lên nghi ngút, cô chậm rãi nhấp nửa ngụm, miễn cưỡng đồng ý gặp mặt.

Cô dự định đến nói chuyện vài câu rồi tỏ ý tiễn khách, từ phòng ngủ đi xuyên qua gian phía tây, đẩy hai bên rèm châu, đi đến gian phía đông rồi tới thư phòng.
Trong trí nhớ, giống như có tiếng bước chân hòa cùng tiếng chiêng trống, còn có người trầm trồ khen ngợi.

Cô như bị vận mệnh giục giã, bước lên sân khấu, không biết vở kịch kia là chương nào hồi nào, mờ mịt vươn tay, vén rèm đỏ thêu chỉ vàng.
Vừa lộ diện đã nhận lời khen ngợi không dứt, đồng bạc cùng phỉ thuý châu ngọc được ném về phía sân khấu.
Trên sàn nhà, âm thanh như mưa rào.

Cô lại vô thức không biết làm sao, chưa từng nghe qua tiếng chiêng trống, cũng chưa từng thấy qua cách cổ vũ của đám hậu duệ quý tộc, mà người đáp diễn [2] với cô lại không lộ mặt, càng không biết tên họ là gì.
[2] Người đáp diễn là một thuật ngữ trong diễn kịch.

Nếu nhân vật chính đang diễn trên sân khấu/ống kính nhưng cảm xúc chưa đạt thì sẽ có một người đối thoại hoặc giao tiếp bằng ánh mắt với người đó, nhưng người này sẽ không xuất hiện trên máy quay hay lộ mặt.

Đó gọi là người đáp diễn.
Rèm che phía sau bỗng bị vén lên, người đàn ông bước lên sân khấu, trên người khoác áo choàng, không rõ dung mạo thế nào, thậm chí còn không phân thiện ác.

Trong tiếng hối thúc của chiêng trống cùng lời khen ngợi trầm trồ, nhìn người xa lạ kia.
Cảnh tượng ấy, rõ ràng là ngay trên sân khấu, bên trong rạp hát, hình ảnh cũ kỹ mờ nhạt, lại mang theo khói thuốc súng tràn ngập hơi thở.

“Nếu”, cô dịu giọng hỏi, “Ngày ấy em không gặp hai người, anh có còn đến không?”
Tạ Vụ Thanh ngồi trên ghế cao, đối diện với ánh mắt cô.
Hà Vị đoán được, anh sẽ nói điều gì.
Đến khi anh khẽ lắc đầu, công bố đáp án: “Tạ mỗ vốn không muốn liên luỵ cô hai, nếu ngày ấy em không xuất hiện, chắc hẳn là ông trời sắp đặt, nhất định sẽ không đến làm phiền em nữa”.
Cô cười.

Không ngờ vị thiếu tướng quân thành danh khi cô còn nhỏ lại tin tưởng câu nói cửa miệng “ông trời sắp đặt” lan truyền đầu đường cuối phố.
Tạ Vụ Thanh cũng cười.
Nói cách khác, thế gian gọi đây là: Vận mệnh..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 66: Trăng Soi Sơn Hải Quan 3


Những hòn sỏi lát gạch đá xanh nông sâu khác biệt, giống như mang theo hương thơm của cây văn trúc.
“Là em cam tâm tình nguyện muốn giúp anh”, cô nói khẽ, “Đối với anh lúc đó em không hề có suy nghĩ khác”.
Tạ Vụ Thanh không khỏi buồn cười.
“Có gì đáng cười đâu”.
“Có chút hiếu kỳ”, Tạ Vụ Thanh mở miệng, “Không biết từ lúc nào cô hai bắt đầu có suy nghĩ khác với Tạ mỗ”.
“Chắc chắn muộn hơn anh”.
“Vậy à”.
Tạ Vụ Thanh hơi gật đầu, đứng dậy khỏi ghế, đi đến cạnh giường Hà Vị ngồi xuống.

Tay phải anh chống trên gối, mỉm cười nhìn Hà Vị.

Hà Vị quan sát mặt anh, vươn tay ra, từ từ chạm vào hàng mày, tóc mai.

Sau tai anh đã bắt đầu có mấy sợi bạc: “Ngoại trừ tóc bạc cũng không đổi nhiều”.
“Lúc trước anh chờ em trong căn phòng này, có từng nghĩ đến một ngày hai chúng ta sinh một đứa con không?” Cô thì thầm.
“Lúc mới vào kinh nguy hiểm trùng trùng”, anh đáp, “Không dám mơ ước”.
Tạ Vụ Thanh chưa từng đến văn phòng làm việc của công ty vận tải đường thuỷ Hà gia.

Khi ăn cơm sáng xong, anh lên xe cùng Hà Vị đi đến chỗ công ty vận tải đường thuỷ Tuyên Nam.

Đó là một căn tứ hợp viện không lớn lắm, nhưng khác hẳn Bách Hoa Thâm Xử.

Ngoài cổng chính có treo tấm biển địa chỉ bằng đồng, trên trần nhà cũng có bảng hiệu, do đích thân Hà Tri Hành đề bút: Vận tải đường thuỷ Hà gia.
Trong viện dựng lều trú mưa, hai bên đường đá đều là hồ nước.
Cá koi sắc đuôi vàng trắng, đỏ thẫm bơi lội qua lại dưới đường lát đá.

Mặc dù lời đồn về cô hai trong Tứ Cửu Thành xuất hiện khắp nơi nhưng trước nay cô chưa bao giờ dẫn đàn ông vào phòng làm việc.

Ngay cả đại công tử của Triệu gia tới cũng phải trịnh trọng đưa danh thiếp, sau đó theo trình tự sắp xếp mời vào.

Bỗng hôm nay có một người đàn ông lạ mặt, vóc dáng cao gầy chầm chậm thả bước trên đường đá, mắt ngắm đàn cá koi, thu hút sự chú ý của đám người trẻ tuổi trong văn phòng, họ nấp sau cửa kính lén lút thò đầu nhìn trộm.
“Lúc nhỏ khi chú hai chưa mua nhà, em với ông và anh trai đều sống ở chỗ này”.

Cô thấp giọng.
Hà Vị dẫn anh đến một khoảng sân, ở đó có dựng một cái thang đen bằng sắc hướng thẳng lên nóc nhà.

Tứ hợp viện ở Bắc Bình đều có thể ngắm cảnh từ nóc nhà.

Tạ Vụ Thanh cùng cô lên đó, nhìn thấy một cái ghế mây dài lẻ loi dưới ánh nắng đầu hạ.

Hà Vị không mở miệng, anh cũng đoán biết được đây là di vật của Hà Tri Hành.
Sau thời gian một chén trà, hai người đàn ông chạy đến dưới lầu, trong lòng nôn nóng nhưng vẫn cố giữ phép tắc tối thiểu người đọc sách, không muốn thất lễ trước mặt đối phương.
“Thiếu…” Triệu Ứng Thăng đứng trên bậc thang lên nóc nhà, hai mắt phiếm hồng, kích động đến rơi lệ.

Hắn nuốt ngược tiếng “tướng quân” vào trong.

yeutruyen.net Hai tay Triệu Ứng Thăng nắm chặt phía trước.
Một người đàn ông trưởng thành hơn cũng như thế.

Hồ Thịnh Thu mấy lần định mở miệng nhưng đều bị cảm xúc lấp kín cổ họng.

Cuối cùng hắn đành lắc đầu, cười nói: “Bình an là tốt, thiếu… Tạ tiên sinh có thể bình an là tốt rồi”.

(E b o o k T r u y e n.

N e t)
Hà Vị như thấy phía sau hai người, một kẻ thuở thiếu thời từng bị đóng gói trong thùng hàng đưa đến Thiên Tân, gặp được Tạ Vụ Thanh trong phòng khách sạn ở tô giới Pháp.

Thiếu niên trải qua hoạn nạn, bị quân phiệt đuổi giết, bị thái giám già của triều đình Tốn Thanh tra tấn không còn mảnh giáp, vì hận thù cả thế gian mà trong mắt chẳng còn thấy ánh sáng.

Kẻ còn lại không trốn thoát khỏi Tứ Cửu Thành, bị ép đến khách sạn Lục Quốc ẩn nấp, cùng mấy người đồng nghiệp mang chí hướng, lo sợ mình không còn tương lai…
Mà hôm nay, cả hai người họ đều sống sờ sờ đứng đây, trở thành nòng cốt trung tâm phụ trách vận tải hàng hoá, vật tư kháng chiến giữa thời buổi chiến tranh loạn lạc.
“Bọn họ vừa hoàn thành xong chuyến vận tải đến cảng Thiên Tân”, Hà Vị cười nói, “Di chuyển giữa thời chiến, còn có vận tải hàng hoá, binh lính và dân thường đều phải xuất phát đúng giờ từ một bến tàu nhỏ, vốn không phải chuyện dễ dàng.

Mọi công tác lập kế hoạch đều là một môn học cần nghiên cứu”.
“Là do cô hai dạy tốt”.

Hồ Thịnh Thu tức khắc nói.
“Đúng vậy, đúng vậy”.

Triệu Ứng Thăng phụ hoạ.
Dưới lầu có người bật cười.
Hà Vị vô cùng quen thuộc với âm thanh này, đám người tiến lên, hốt hoảng nhìn một lúc mới nhận ra là khuôn mặt Bạch Cẩn Hành lún phún râu.

Hắn chiến đấu ở quan ngoại nên nhìn già nua hơn cả người cùng tuổi là Tạ Vụ Thanh.

Mặc dù nuôi râu nhưng đôi mắt hắn vẫn sáng ngời như hồ sen giữa hạ.

Hắn đứng ở một góc cầu thang, nơi bóng cây cùng ánh nắng giao hoà tạo thành một vệt đen mờ hắt xuống chân hắn.
Bạch Cẩn Hành đến làm hai người từ lâu luôn đem lòng ngưỡng mộ những vị “thiếu niên” tướng quân càng khó bình tĩnh, họ nấu nước pha trà, đẩy xe đạp ra ngoài mua loại bánh mứt nổi tiếng nhất Bắc Bình.

Hà Vị giữ lại một người trong số họ để dặn dò dăm ba câu rồi mới để bọn họ rời đi.
“Hai người kia thật nhiệt tình”.

Bạch Cẩn Hành dở khóc dở cười trước thái độ của họ.
Tạ Vụ Thanh không tiếp lời, hỏi Bạch Cẩn Hành ngồi đối diện: “Tình hình ở Nhiệt Hà thế nào?”
“Tốt vô cùng”, nét tươi cười rộ lên trên khuôn mặt Bạch Cẩn Hành, “Tốt hơn cả mong đợi.

Có mấy vị tướng quân phất cờ khởi nghĩa, tuyên bố thành lập liên quân đồng minh kháng chiến chống Nhật, đã gom được khoảng 7-8 vạn người”.
Quân đồng minh kháng Nhật tập kết ở Trương Gia Khẩu, Bạch Cẩn Hành cũng chuyển từ 3 tỉnh Đông Bắc đến Hà Bắc.

Lúc trước hắn từng đi theo một vị tướng lĩnh họ Cát, cũng chính là tổng chỉ huy của mặt trận Bắc Lộ.

“Năm đó ông ấy bị chính phủ Nam Kinh khống chế, ra lệnh bao vây tập kích hồng quân, bản thân ông cực lực phản đối nội chiến, chỉ chủ trương chống Nhật nên sau đó bị cách chức, đàn áp đưa ra nước ngoài giám sát”, Bạch Cẩn Hành kể, “Sau kháng chiến Tùng Hộ 128 [1], vì tức giận phẫn nộ nên ông về nước, gia nhập đảng và bắt đầu quyết tâm kháng Nhật”.
[1] Kháng chiến Tùng Hộ 128 là chỉ ngày 28/1/1932, ở Thượng Hải xảy ra một sự biến và kết thúc bằng việc phi quân sự hoá toàn thành phố.

Vụ cuối cùng còn châm ngòi cho cuộc chiến Sự biến Lư Câu Kiều.

Quân Nhật lúc này lấy cớ là binh sĩ của họ mất tích ở đây để mở cuộc tấn công với lực lượng lớn nhằm vào cầu Marco Polo – khu vực nằm giữa Trung – Nhật bấy giờ.
Hà Vị và Đặng Nguyên Sơ từng nghe nhắc đến vị tướng quân này một lần, sau đó vì ngưỡng mộ cùng hiếu kỳ nên bảo Hồ Thịnh Thu mua cuốn sách “Hoàn cầu thị sát ký”.

Lúc đó Hồ Thịnh Thu có nói, trước khi tướng quân xuất ngoại từng nhậm chức chủ tịch tỉnh Ninh Hạ, có tình cảm sâu sắc với mảnh đất Tây Bắc, thế nên ông ấy muốn viết sách để đánh thức nhân dân chính quyền trong nước, khôi phục và xây dựng Tây Bắc.
Võ tướng đi hết nửa vòng thế giới, vì thức tỉnh người trong nước mà viết sách, vì kháng chiến mà quay về, hiện giờ đang ở Trương Gia Khẩu.
Bạch Cẩn Hành tràn đầy lòng tin với quân đội Tây Bắc, chỉ trong thời gian ngắn đã quy tụ 7-8 vạn quân.
Hắn càng nói càng hưng phấn, nhiệt huyết sôi trào.

Gió đầu hạ thổi bay vạt áo của hắn, lộ ra đôi giày cao cổ.
“Bỏ được thói quen mang ủng quân đội rồi”, Tạ Vụ Thanh giễu cợt hắn, giải thích với Hà Vị, “Sau khi hắn rời khỏi quân đội Tây Bắc thì không chạm qua ủng quân đội dưới đáy rương”.
“Muốn mượn binh từ tay quân phiệt khắp nơi cần phải tự tin”, Bạch Cẩn Hành cười, “Bình thường không mang được, hơn nữa ở quan ngoại gió tuyết phục kích đánh giặc, càng không thể cố chấp mang ủng quân đội”.
Tiếng bước chân phá tan bầu không khí.
Hồ Thịnh Thu xách yeutruyen.net theo hộp gỗ màu nâu đỏ đựng thức ăn, leo lên nóc nhà.

Hắn quan sát tình huống, buông hộp thức ăn xuống, khiêm tốn mỉm cười với 2 vị tướng quân rồi trở xuống đất.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
“Cái này là…” Cô mở nắp hộp đồ ăn.
“Hoa quả khô”.

Bạch Cẩn Hành liếc mắt nhìn 3 cái chén sứ trắng nhỏ bên trong.
Hà Vị kinh ngạc: “Sao anh đoán được?”
“Người nào đó thường nói với cấp dưới”, Bạch Cẩn Hành thấp giọng kể, “Tứ Cửu Thành có câu, ngày hạ ăn hoa quả khô, đông đến uống canh ruột dê”.
“Nơi này chính là quê hương thứ hai của hắn”, Bạch Cẩn Hành nói tiếp, “Nhớ nhà cũng mong vợ, lại không tiện treo bên mép miệng vì sẽ làm quấy nhiễu lòng quân, một người cô đơn lẻ loi đến đáng thương, đành phải dùng ẩm thực của Bắc Bình trong ký ức để an ủi nỗi tương tư”.
Tim Hà Vị nảy lên, lườm anh.
Tạ Vụ Thanh bật cười, vừa thở dài vừa lắc đầu ngao ngán.

Đôi anh em khác họ này mỗi lần gặp mặt đều phải lôi chuyện cũ lẫy lừng của Tạ Vụ Thanh để bàn luận.
Lần này Bạch Cẩn Hành đến Bắc Bình là để gặp gỡ cấp dưới của những lão quân phiệt, từ đó thuyết phục đối phương tiếp tục duy trì liên minh kháng Nhật, sẵn tiện mang theo mật báo cho Tạ Vụ Thanh.

Mật báo vừa tới, ăn thêm hai miếng hoa quả khô liền buông thìa.

Hương vị con gái yêu thích vốn không thuộc sở thích của hắn, càng không phải khẩu vị của Tạ Vụ Thanh.

Ngọt đến ngấy, giống như đôi vợ chồng mắt qua mày lại trước mặt hắn lúc này.
Bạch Cẩn Hành liếc Tạ Vụ Thanh, Tạ Vụ Thanh cười đáp: “Đúng là món ăn chính gốc, hạnh khô nấu với bánh hồng ngọt cùng nước đường”.
“Đúng vậy, là món ăn chính gốc”, bạn già cười nói, “Chỉ có thể nếm được ở Bắc Bình”.
Sau khi Bạch Cẩn Hành bỏ đi, để lại hai người họ trên mái nhà.
Hiếm khi Tạ Vụ Thanh hưởng thụ một ngày thanh nhàn, anh đứng thẳng người, men theo sào phơi đồ trên mái nhà đi đến một góc khác.

Trên sào phơi đồ có treo mấy bộ âu phục được giặt sạch, là phẳng phiu, đung đưa trong ngọn gió, phần lớn là đồ của nhân viên văn phòng.
“Phía Bắc ít mưa”, Tạ Vụ Thanh chầm chậm bước đến một góc khác của mái nhà, phóng tầm mắt ra xa nhìn thấy những mái ngói xám xịt của Tuyên Nam nối dài tít tắp.

“Nếu là ở miền Nam phơi đồ không ai trông coi, rất dễ bị một trận mưa đổ xuống ướt sũng”.
Cô vươn tay ôm eo anh, mặt dán chặt trên lưng áo sơ mi: “Mấy năm nay anh sống ở đâu?”
“Khu vực gần Tương Giang”.
Tương Giang sao.

Cô còn chưa đến bao giờ.
Chiều hôm ấy, Tạ Vụ Thanh ngồi trên mái nhà lợp ngói xám ở Bắc Bình, chiêm ngưỡng Tuyên Nam, nhớ đến liên quan chống Nhật cảm thấy thư thả thoải mái, bèn nói chuyện Tương Giang với cô.

Trong lòng cô tưởng tượng.

Hơn một năm qua, mấy vạn quân lính của hồng quân đều bị chính phủ Nam Kinh tiêu diệt trong những cuộc tập kích, máu nhuộm đỏ cả khúc sông Tương Giang.

Những nơi lưu vực sông Tương Giang đẫm máu chảy qua đều lưu truyền câu vè bi tráng “Ba năm không uống nước Tương Giang, mười năm không ăn cá Tương Giang”.
Mỗi một con sông trên đất Hoa Hã đều mang theo linh hồn của những tướng sĩ.

Chỉ cần một ngày con sông còn chảy thì câu chuyện oai phong của những người anh hùng ấy sẽ không biến mất.
“Anh từng đến Li Giang”, cô tiếc nuối, “Em chưa từng đến đó.

Còn có Quế Lâm mà anh thường nhắc”.
Ngắm nhìn núi xanh vạn dặm, chiêm ngưỡng hoa quế khắp thành.
“Người ở đó thích một loại trà”, anh nói, “Nhất định em chưa từng nhìn thấy, thường gọi là trà dầu.

Lá trà nấu với hành, gừng, tỏi, rắc thêm một ít gạo nếp, sau đó khử sạch hơi ẩm”.
Tạ Vụ Thanh đột nhiên cao hứng: “Để nấu em thử một chén”.
Anh xuống nóc nhà, bước vào gian bếp nhỏ của văn phòng.
Đèn trong bếp dùng lâu ngày nên không còn sáng tỏ, bụi mờ phủ kín bên ngoài lớp chụp bằng pha lê khiến ánh sáng trở nên đục ngầu.
“Để thay bóng đèn cho anh”.

Cô tựa vào mép cửa, khẽ nói.
Tạ Vụ Thanh lắc đầu, cười cười.
Nhiều chỗ trong hồng khu không cấp điện, ai cũng châm đèn dầu, ánh sáng còn kém hơn thế này, anh cũng đã quen.

Nguyên liệu pha trà không phức tạp, anh nhớ đại khái, nấu thành một ấm trà bốc hơi cay.

Sau đó anh rót ra chén sứ trắng đưa cho cô.

Hai tay Hà Vị nâng chén trà, đưa mũi ngửi.

“Gạo nếp không dễ làm, cần phải phơi khô gạo nên không kịp chuẩn bị, em nếm thử mùi vị xem sao”.

Anh giải thích.
Hà Vị vốn không mấy tin tưởng vào tài nấu ăn của anh, cân nhắc một chút, hành gừng tỏi và lá trà đều không phải đồ khó dùng, hơi nhấp một ngụm.

Cảm giác nóng hổi, cay xè tràn vào khoang miệng… Nước trà theo cổ họng chảy dọc xuống dạ dày.
Trong lòng Hà Vị đủ thứ đan xen, nhìn biểu cảm nghiêm túc của Tạ Vụ Thanh, không tiện nói nhiều: “Thật ra… có chút đặc biệt”.
Một cảnh vệ ló đầu vào, trông thấy thứ trên tay Hà Vị liền nói: “Trà dầu trước tiên phải xào mỡ lợn với tỏi gừng, sau đó tráng qua lá trà… còn phải bỏ muối”.
Cảnh vệ bị không khí tĩnh lặng trong gian bếp làm cho hoảng sợ, hành lễ nói nhỏ: “Điện tín của quan ngoại, nói cô ba Trịnh đã vào thành”.
Dứt lời, hắn nhanh chóng lùi hai bước về sau, thay hai người khép cửa gian bếp.
Tay Hà Vị vẫn bưng chén trà.

Đây là lần đầu tiên Tạ Vụ Thanh tận tâm tận lực pha trà cho cô, có chút luyến tiếc.
Một tay Tạ Vụ Thanh đút túi quần, nhìn chằm chằm chén trà hành gừng cay nồng, im lặng thoáng chốc rồi tự cười bản thân: “Lần tới vẫn nên uống trà hoa quế thì hơn”.
Cô nhịn cười, khẽ đáp “vâng”, lại nâng chén sứ trắng nhấp thêm một ngụm: “Cái này cũng không tệ, khá đặc biệt”.
Tạ Vụ Thanh cảm thán, đứng chắn phía trước cô, nhận lấy chén trà rồi ực một hơi uống cạn.
Hà Vị vội ngăn cản: “Sao lại uống hết rồi?”
Nhìn thấy cô tiếc nuối chén trà, không bằng để anh uống sạch.
Tạ Vụ Thanh vặn mở vòi nước, rửa sạch chén sứ trắng rồi đặt lại lên kệ bếp.

Trong ánh nước chảy dọc theo thành chén, có một loại an yên thuộc về gia đình, bình lặng đến mức khiến người ta không muốn rời đi..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 67: Trăng Soi Sơn Hải Quan 4


3 ngày sau, Trịnh Sính Tích lẳng lặng đến Bắc Bình, có kẻ đưa danh thiếp cho người gác cổng phòng làm việc.
Người muốn gặp mặt mỗi ngày không ngớt, đều do người gác cổng chọn lựa cẩn thận rồi mới phân loại trình lên.

Hà Vị nhận danh thiếp kia, trong lòng chấn động, cô biết tên này chính là cô ba nhà họ Trịnh.
Trên danh thiếp đề: Trịnh Tùng Thầm.
Còn nhớ năm đó Trịnh Độ đưa bộ tây trang nhờ cô sửa lại, sau khi tìm được chất liệu nguyên bản, cô lập tức gửi đến hiệu may.

Khi nhận lại đồ, trong túi áo có một tờ hoá đơn do sư phụ hiệu âu phục giữ lại, tờ giấy mỏng đến mức ánh sáng có thể xuyên thấu, trên đó có viết chữ “Trịnh Tùng Thầm”.

Cô nghi ngại hỏi người kia thứ này là gì? Đối phương chỉ đáp là của công tử Trịnh gia.
Hà Vị lật qua lật lại danh thiếp mấy lần, giống như Trịnh Độ hiện giờ vẫn còn sống, quay trở lại Bắc Bình.
“Địa chỉ là cung thân vương phủ?” Cô nhìn kỹ địa chỉ viết tay, hỏi Hồ Thịnh Thu đang đứng bên cạnh.
“Đúng vậy, hiện tại đổi tên thành Đại học Phụ Nhân rồi”.
“Đổi cả số nhà, chả trách không nhận ra”.

Cô đáp.
Một trong bốn trường đại học nổi tiếng nhất Bắc Bình.
Năm xưa tiểu vương gia vì muốn gom góp chi phí khôi phục nên thế chấp một phần quyền sở hữu vương phủ cho giáo đường Tây Thập Khố.

Năm ngoái, giáo hội La Mã mua lại quyền sở hữu đất từ giáo đường với giá 108 thỏi vàng.

Thế nên hiện giờ, vương phủ kia thuộc sở hữu của Đại học Phụ Nhân.

Nhắc đến vị tiểu vương gia này, đã từng được người Nhật Bản đón đến quan ngoại, giả vờ muốn nâng đỡ để hắn xưng vương, khiến hoàng đế Tốn Thanh nâng cao cảnh giác.

Cuối cùng hoàng đế Tốn Thanh vì không cam tâm vuột mất cơ hội nên lập tức đồng ý ra nước ngoài, bằng lòng trở thành con rối trong tay người Nhật.
Những kẻ ấy giống như đang sống ở thế kỷ trước, chiến tranh và giặc xâm lăng lãnh thổ dường như không liên quan đến họ.
“Danh tiếng Trịnh lão tướng quân ở Đông Bắc rất tốt, người Nhật muốn mượn nhà họ để thu phục quân dân”, Hồ Thịnh Thu giải thích, “Lão tướng quân tất nhiên từ chối, ông ấy viện cớ thân thể nguy kịch nên dọn đến Thiên Tân.

Toàn bộ gia sản của nhà họ Trịnh ở quan ngoại đều bị tịch thu”.
Nếu nói vậy Trịnh Sính Tích nhân lúc chăm sóc cha bệnh mới tranh thủ thời gian đến Bắc Bình.
Núp dưới cái danh Đại học Phụ Nhân cũng là biện pháp không tồi.
Đại học Phụ Nhân chưa thu hồi toàn bộ đất đai của vương phủ.
Vì để tránh tai mắt của người khác, Hà Vị đi bộ đến Sát Hải, vòng qua cổng rạp hát ở cung thân vương phủ.

Trước kia nơi này thường có hội đường, người xe như mắc cửi, mà hiện tại trên đường chẳng thấy bóng ai.
Cô nói với người gác, muốn tìm Trịnh tiểu thư, người kia lập tức dẫn đường.
Dưới ánh mặt trời chói chang, hòn giả sơn trước sân khấu vẫn như xưa.

Hà Vị sợ nóng, trốn dưới bóng râm của tán cây và hòn giả sơn, nghĩ đến những lời bông đùa cùng cô bảy khi nhắc tới Ngũ Tử Tư, lại bàn đến vị danh tướng yêu thích…
Đáy mắt cô ẩn ý cười, nghĩ đến Tạ Vụ Thanh, không biết anh có được xem là danh tướng không.
Có tiếng bước chân phía sau, không giống là một người.
“Năm xưa anh ở phương Nam đánh quân phiệt, cô hai Hà từng khuyên tôi nên mua lại vương phủ này”, sau lưng có tiếng cười nói của đàn ông, “Thật đáng tiếc.

Nếu lúc đó tôi mua nó thì hiện giờ rao bán cũng đủ tiền mua ít súng ống đạn dược”.
Cô quay đầu lại.
3 người đang tiến tới.

Tạ Vụ Thanh là người đầu tiên.
Vẫn là áo sơ mi và quần tây trăm năm như một, giống như áo sơ mi và quần quân đội khi xưa.

Đi bên cạnh là Trịnh Sính Tích mặc sườn xám màu trắng, còn có một Đặng Nguyên Sơ mặc áo khoác đen đứng bên cạnh, nhìn thế nào cũng giống một đôi tình nhân.
“Anh nói…” Đi đón một vị khách.
Tạ Vụ Thanh mỉm cười thay trả lời.
Hà Vị không tính toán với anh, cũng không có cơ hội tính toán, vì Trịnh Sính Tích đã tiến lên mấy bước, dùng sức ôm chặt cô.

Hơi thở phụ nữ phảng phất khuôn mặt, chị ấy mỉm cười: “Cảm ơn em, cảm ơn em vì đã đưa phụ nữ cứu viện rời khỏi chiến khu an toàn.

Nếu không, với tính cách của bọn người Nhật…” Trịnh Sính Tích không nói tiếp.
Trước khi Nhiệt Hà bị chiếm, tình thế của nghĩa quân Đông Bắc đã nguy hiểm cực kỳ, bị mấy trăm ngàn quân Nhật tập kích đánh tan tác.
Trịnh Sính Tích không muốn nhớ lại cảnh tượng đó, đối với chị ấy mà nói, mỗi một khoảnh khắc trong quá khứ đều là tra tấn.
Hà Vị siết chặt Trịnh Sính Tích: “Chị ba bình an trở về đã là có phúc”.
Hai người phụ nữ đứng ôm nhau, Đặng Nguyên Sơ lộ vẻ mặt tươi cười: “Từ lúc đón cô ấy ở Thiên Tân đưa đến Bắc Bình, dọc đường đi đều rất sợ gặp cô.

Không ngờ khi gặp được rồi lại ôm ấp thắm thiết như vậy”.
Đón? Cô nhìn Đặng Nguyên Sơ.
Đôi mắt Đặng Nguyên Sơ phía sau gọng kính còn linh động hơn nhiều so với những cô gái bình thường, trong mắt hiện ra ý cười như xác nhận suy nghĩ của cô.

Với loại người quen dùng nụ cười cứng nhắc để đẩy người khác ra xa, cảm giác đó không còn nữa.
Hà Vị nhìn thấu, khẽ nói: “Chúc mừng nhé”.
Trịnh Sính Tích giật mình, đưa tay vén tóc, mỉm cười không đáp.
Giữa trưa ngày càng nóng, bọn họ đi đến dãy hành lang màu đỏ ngồi xuống.
Cô ngồi cạnh Tạ Vụ Thanh, gấp gáp hỏi chuyện Trịnh Sính Tích: “Chị ba đến Bắc Bình lần này để tìm em sao?”
Ngoại trừ cô, cả 3 người kia đều im lặng.

Ngay cả Tạ Vụ Thanh cũng thế.
Trong lòng Hà Vị bất an, hỏi nhỏ: “Có chuyện quan trọng”.
“Chuyện này để tôi nói…” Đặng Nguyên Sơ tiếp lời.
“Để em nói”, Trịnh Sính Tích nhẹ nhàng cắt ngang, “Vốn là chuyện can hệ phía quan ngoại, không liên quan đến anh”.
“Sao lại không liên quan”.

Đặng Nguyên Sơ phản bác.
Trịnh Sính Tích hơi mím môi, Đặng Nguyên Sơ cúi đầu hắng giọng, không tranh cãi thêm.
Trịnh Sính Tích liếc về phía Tạ Vụ Thanh trước, sau đó mới nhìn Hà Vị: “Ngày xưa cha chị từng rất xem trọng 2 người, có thể nói 2 người đó với quân Đông Bắc đều là bậc kỳ tài quân sự, do một tay cha đề bạt tiến cử, tin tưởng giao trọng trách nặng nề.

Sau đó, một người đi theo Trịnh Độ từ bỏ quân tịch, gia nhập nghĩa quân, giờ đã…” Chị ấy thoáng dừng lại.

Khí nóng mùa hạ thổi vào hành lang uốn khúc.
Làn váy dưới chân Hà Vị khẽ phất phơ.

Cô dùng ánh mắt trấn an nỗi bi thương khó nén của Trịnh Sính Tích.
“Một người khác lúc đầu không chống cự, chỉ ly khai 3 tỉnh Đông Bắc, sau thất bại ở Nhiệt Hà, hắn thay tên đổi họ gia nhập vào nguỵ quân.

Hiện tại đang giữ chức vị quan trọng…” Trịnh Sính Tích bất ngờ dừng lại lần nữa, giống như đang sắp xếp câu từ.
“Chính là chồng thứ hai của chị gái em”.

Tạ Vụ Thanh thay Trịnh Sính Tích đáp lời.
Hà Vị sững người.
“Không phải đã đồng ý trong điện báo là để tôi nói hết sao?” Trịnh Sính Tích khẽ oán trách.
“Vị Vị là người hiểu lý lẽ”, Tạ Vụ Thanh nói thêm, “Ai nói cũng không quan trọng”.
Hà Vị im lặng thoáng chốc, khẽ khàng đáp: “Lúc Trịnh Độ đến Bắc Bình nhận quyên góp, từng động tay với người đó”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Lúc ấy cả 3 người họ đều không ở Bắc Bình nên không rõ chuyện này.
Trịnh Sính Tích thầm than, trong mắt ánh lệ.
Hà Vị đột nhiên hỏi: “Mọi người tính làm gì?”
Dứt lời, cô lập tức nói: “Không phải ngẫu nhiên hẹn ở chỗ này, còn kể lại tường tận chuyện quá khứ, đã sắp xếp ổn thoả rồi ư?”
“Mọi người đã bày thiên la địa võng ở Bắc Bình”, Tạ Vụ Thanh giải đáp thắc mắc của cô, “Nhưng chuyện này có liên quan đến chị gái em, còn có mẹ ruột em nữa”.
Không ai rõ hơn anh về chấp niệm của Hà Vị muốn được mẹ ruột yêu thương thế nào.
Trước sinh nhật 18 tuổi, một cô gái mong mỏi được mẹ để mắt tới, muốn được nghe mẹ chúc mừng sinh nhật, nhưng cô ấy cứ thế đứng cô đơn trước tiệm cơm, tay vịn nắm cửa bằng đồng, mắt xuyên qua kính pha lê nhìn bóng dáng ẩn trong đêm đen… Anh chưa từng quên khoảnh khắc đó.
“Sắp xếp thế nào?” Cô từ tốn hỏi.
“Anh ấy muốn nhân ngày giỗ của cha ruột cô đến chùa tổ chức pháp hội.

Đích thân đón mẹ con chị gái cô đi”.

Đặng Nguyên Sơ tiếp lời.
Lúc kết hôn với Triệu Ứng Khác, chị gái không hề có con.
Sau khi Hà Chí Trăn tái giá sinh được 3 người con, trong số đó có một đôi song sinh.

Đứa nhỏ không lớn lắm, do một tay mẹ ruột của Hà Vị nuôi dưỡng, nghe nói rất được cưng chiều.

Năm đó phòng lớn của Hà gia trong một đêm sụp đổ, Trịnh Độ nể mặt Triệu Ứng Khác nên giữ lại căn nhà cho họ.

Mặc dù Triệu Ứng Khác giữ chức vị cao cấp trong bộ máy chính phủ nhưng không tham ô, chỉ đi theo con đường làm quan liêm khiết.

Sau khi ly hôn, toàn bộ tiền tiết kiệm đều cho Hà Chí Trăn mà không than một lời.

Mỗi lần người ở phòng lớn Hà gia nhắc đến Triệu Ứng Khác đều mắng hắn giả vờ thanh cao, chỉ giỏi làm khổ người trong nhà.
Phòng lớn Hà gia xuất thân từ tiền trang vào cuối thời nhà Thanh nên trước giờ luôn xem trọng đồng tiền.

Sau này Hà Chí Trăn tái giá cũng lựa chọn người có địa vị cao nhất quân Đông Bắc ở Bắc Bình, muốn mượn địa vị nhà chồng để lấy uy.
Trong mắt người phòng lớn, Hà Chí Trăn là đứa con biết suy nghĩ cho gia tộc, 2 lần gả đi đều mang lại may mắn cho cả nhà.
Còn Hà Vị thì ngược lại, từ nhỏ đã nổi loạn, nhiều lần dây dưa không rõ với đảng cách mạng hại cha mình bị tống giam.
Người phòng lớn đều hận cô thấu xương, bao năm không lui tới.
Hà Chí Trăn vốn là người làm ăn, mọi chuyện đặt lợi ích hàng đầu, để hợp tác với cô, hiếm khi lấy lòng.

Chị gái sẽ khuyên mẹ cùng người hầu đến, gọi cô ra khỏi thành đến ở trong chùa 2 ngày.

Cô đồng ý.
“Pháp hội đó, em sẽ đến”.

Hà Vị khẽ nói.
Không những đến mà cô còn mượn danh nghĩa mẹ để chi tiền, nhất định phải làm càng lớn càng tốt.
“Đến lúc ấy, để xem tình hình em sẽ… tránh đi”.
Cô thấy cả 3 yeutruyen.net người đều không đáp, nói tiếp: “Vừa nãy em im lặng là vì đau lòng cho bọn trẻ, tuổi còn nhỏ như vậy đã không có cha”.

Sau này còn phải mang danh Hán gian ô uế trên lưng.
Đứa lớn nhất trong đó, cũng trạc tuổi Kế Thanh.
Hà Vị ngẩng đầu, nhìn đèn lồng đỏ treo dài trên hành lang cũ kỹ.
Đều là dấu ấn thuộc về triều đại trước.

Đêm đến, tâm thần cô không yên nên lên giường sớm.
Tạ Vụ Thanh đi chân trần, giẫm nhẹ bậc giường ngồi xuống trước người cô.

Anh cẩn thận kéo rèm, muốn lấy móc cài lại bị Hà Vị giữ chặt.

“Còn xem cái này”.

Cô giơ sổ sách trong tay.
Tạ Vụ Thanh nhìn cô, hiểu thấu suy nghĩ.
Sổ sách Hà Vị cầm bị anh cướp mất, đặt trên bàn thấp ở đầu giường.
Bên trong tấm rèm xanh nhạt, Tạ Vụ Thanh tháo đai súng để cạnh gối nằm.
Từ năm 1911 đến nay, anh chưa từng ngừng đánh giặc.

Bắt đầu lật đổ triều đình nhà Thanh, đến hỗn chiến quân phiệt, rồi hôm nay là kháng chiến chống Nhật.

Súng trên eo chưa từng rời khỏi người, ngay cả lúc ngủ cũng không dám c** đ* vì sợ lúc nào cũng phải lẩn trốn khỏi ám sát hoặc chuẩn bị ra chiến trường.
“Hôm nay ngồi ở hành lang kia còn nhớ không?” Tay cô vòng ra sau lưng, ôm lấy eo anh, “Lần đầu rời kinh, lúc hội đường anh nói lời tạm biệt em… ở nơi đó”.
Ngẫm nghĩ, cô lại nói: “Lúc đó anh còn là một quân nhân phe cách mạng muốn chống lại quân phiệt, nhưng lại cùng quân phiệt ngồi trong vương phủ của tiểu vương gia nghe diễn kịch, cảnh tượng còn đặc sắc hơn trên sân khấu”.
Dường như không cần Tạ Vụ Thanh đáp lời, cô nói tiếp: “Chúng em đều là chị em ruột do cùng một mẹ sinh ra, vì sao suy nghĩ và hành động lại khác biệt nhau như thế?”
Tạ Vụ Thanh vỗ nhẹ mu bàn tay cô, khẽ hỏi: “Đau lòng à?”
Hà Vị áp mặt sau lưng anh, cách lớp áo sơ mi cảm nhận được độ ấm trên cơ thể người đàn ông này.
“Khi nam bắc đàm phán, đoàn đại biểu ra bắc đã đồng ý quyết tâm thống nhất hai miền nam bắc, cứu nước giúp dân”, Tạ Vụ Thanh khẽ nắm tay cô, nói nhỏ: “Sau này mỗi người một hướng, mỗi người mặc quân phục khác nhau, con đường lựa chọn cũng khác”.
Trong đoàn đại biểu ra Bắc năm xưa, có người sau này vẫn kiên trì mục tiêu cứu nước; có người vì nước không tiếc hy sinh thân mình ngã xuống ở Tế Nam; cũng có người nhún nhường quân địch, liên tục ký kết những hiệp định ngừng chiến không khác gì hai tay dâng lãnh thổ cho kẻ thù.
Tận mắt nhìn thấy bạn tốt ngày xưa giờ biến thành địch thủ, anh cũng cảm thấy mất mát, đau lòng.
“Mọi người đánh giặc thế nào?” Cô thì thầm hỏi.
“Chúng ta?” Anh miên man nhớ, “Luôn lấy ít địch nhiều”.
Hà Vị bật cười: “Nói nhiều hơn đi, trên báo chỉ có tin của chính phủ Nam Kinh thôi”.
“Các tướng sĩ vô cùng gian khổ, thiếu thốn vật tư trang thiết bị”, bọn họ không giống chính phủ Nam Kinh có thể chìa tay mượn tiền các quốc gia khác để sắm sửa trang bị hay mời chuyên gia chỉ để đánh nội chiến, “Đôi khi có mấy trận lớn, mắt thấy thất bại, không còn súng đạn để dùng.

Lúc đó có một sư trưởng xắn tay áo, cầm thương dài, nói với mọi người, nã đạn xong thì chúng ta dùng thương đánh tiếp! Phải đánh cho chúng khiếp vía!”
Hà Vị kìm lòng không được ôm chặt eo anh.
Tạ Vụ Thanh cười: “Để anh nằm trước đã”.
“Ôm một chút thôi”, cô dịu dàng nũng nịu, “Chưa từng ôm anh thế này”.
Vì thân hình Tạ Vụ Thanh gầy hơn nên khi cô ôm từ phía sau bất giác cảm nhận được lớp da dán chặt trên người, lộ ra cột sống.

Từng đoạn từng đoạn yeutruyen.net nổi lên vô cùng cứng cáp, thẳng đứng.
“Đoạn xương này của anh thẳng thật đấy”.

Cô rụt tay, v**t v* chỗ xương đó.
Anh bật cười.
Lưng của quân nhân làm sao không thẳng? Thân người của bọn họ chính là lá chắn vững chắc bảo vệ dân tộc và mảnh đất thiêng liêng quê hương..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 68: Hồn Anh Hùng Máu Tế Đỏ 1


Người Hà gia từ cuối triều Thanh đã thích Hương Sơn.
Lần này làm pháp sự cũng chọn chùa Bích Vân ở Hương Sơn.

Nơi đây cách xa Tứ Cửu Thành, lọt thỏm giữa núi rừng hoang vu, thích hợp che giấu hành tung để chạy thoát đến quan ngoại.
Hà Chí Trăn chủ trương lớn, bao thầu mười mấy chiếc xe ngựa, khôi phục cảnh tượng hưng thịnh nhất khi Hà gia đi ngắm cảnh lá rơi mùa thu vào những năm cuối thời nhà Thanh.

Những người chị em xưa kia giờ đã lớn tuổi, để che đi dấu vết của năm tháng nên mặt trát phấn rất dày.

Trên đầu họ cài đầy trâm ngọc, đong đưa giữa mái tóc đen nhánh.

Mỗi khi xe ngựa xóc nảy tựa như phản chiếu ánh sáng chói mắt.

Bọn họ ngồi ngay ngắn trong xe, hưởng thụ ánh mắt ngưỡng mộ của người dân ven đường.
Hà Vị cố tình đến trễ, sau buổi trưa mới tới nơi.
Cô xuống xe, cùng Khấu Thanh bước lên cầu thang đá.

Chùa Bích Vân hai mặt giáp núi, ở chỗ lối vào có mấy người kéo xe, gã sai vặt cùng nhóm tỳ nữ Hà gia đang tụ lại một chỗ, đưa mắt hiếu kỳ nhìn hai người các cô.
Đàn ông trong dòng tộc đều đứng tụm dưới bóng cây tùng bách trăm năm, thi thoảng vang lên tiếng cười sang sảng.

Chỗ này không có bóng phụ nữ, cho dù hiện tại người nữ nắm quyền cao nhất của phòng lớn là Hà Chí Trăn, có lẽ cũng đang ở phía sau Phật đường, nghỉ ngơi cùng nữ quyến, không tiện lộ diện.
Trên xe bước xuống, tóc dài buông sau gáy, mấy sợi tóc mái lơ thơ chạm vào đầu mày, cô mặc sườn xám ngắn tay màu trắng, dưới chân đi giày lụa cùng màu.

Là người còn sót lại của phòng thứ, cô bình thản hướng về cánh cửa điêu khắc trước thềm đá, hơi gật đầu chào mọi người.

Người lớn, thanh niên đều ở đây, có người xấu hổ, có người im lặng, cũng có người hiếu kỳ, rất nhiều ánh mắt đảo quanh cô.
Bỗng có tiếng gọi.
“Hà Vị à”, một người chú ở phòng ba mở miệng nói, “Mấy năm nay người còn sót lại của phòng thứ quá ít ỏi.

Dù sao đi nữa đều là người nhà họ Hà, cùng máu mủ ruột rà, không thể xa cách mãi”.
Mọi người đồng loạt nói theo.
“Máu mủ một nhà, không thể tách rời”, Hà Vị mỉm cười, “Trước lúc lâm chung chú Hai từng trối lại, dù sao phòng thứ vẫn là một nhánh của Hà gia, các vị chú bác nếu có gì khó xử thì cứ việc lên tiếng, Hà Vị có thể giúp đều sẽ không từ”.
Thế cục Hoa Bắc còn chưa rõ ràng, Hà Vị có quan hệ với Triệu Ứng Khác thuộc chính phủ Nam Kinh, trong tay còn có tuyến đường vận tải, người bà con thân thích thế này tất nhiên không ai muốn đắc tội.

Nhưng lúc trước ngại với cha ruột của Hà Vị, không tiện lấy lòng, hiện giờ Hà Vị tự mình mở lời, tất nhiên bọn họ không bỏ qua cơ hội tốt này.
Nhóm chú bác vô cùng nhiệt tình, không khác gì nước sông chảy xiết, vây Hà Vị ở giữa.

Bọn họ khen cô hỗ trợ vận chuyển vật tư đến quan ngoại, duy trì kháng chiến Trường Thành, sau lại ca ngợi công ty vận tải đường thuỷ không quên trọng trách to lớn với dân tộc.
Hà Vị đáp lại hai ba tiếng, cười nói: “Trước khi dùng bữa phải chào hỏi mẹ đã.

Sau đó chúng ta nói tiếp”.
Vừa vào cửa sơn son điêu khắc, một sư phụ khoác áo vàng dẫn cô đến chính điện.
Bên trong, Hà Chí Trăn sai người dọn bàn ghế, nhóm nữ quyến ngồi tụm lại một chỗ, ăn bánh uống trà với lão phu nhân Hà gia.

Điểm tâm chay không dầu mỡ, trắng trắng hồng hồng chất đầy đĩa.
“Ngày xưa thường có mấy buổi thưởng hoa”, một người cô nói, “Ngắm mẫu đơn ở chùa Sùng Hiệu, nhìn thược dược ở chùa Thiên Ninh, ngửi đinh hương ở chùa Pháp Nguyên, còn có… cái gì ấy nhỉ?”
Một người cô họ khác trông thấy Hà Vị đến, khuôn mặt tươi cười: “Vị Vị đến rồi, hỏi Vị Vị đi, cô ấy hiểu biết rộng rãi”.
Cả phòng đàn bà phụ nữ lúc này mới chú ý đến Hà Vị.
“Còn có hoa hải hường”, Hà Vị tiếp lời, “Hải đường ở chùa Hoa Chi”.
“Đúng rồi, chính là chùa Hoa Chi”.
Cô đến trước mặt mẹ ruột: “Mẹ”.
Từ lúc chồng qua đời, lão phu nhân giống như bị rút hết toàn bộ linh khí, hai tròng mắt bà vẩn đục nhìn Hà Vị, không đáp một lời.

Không lâu sau, bàn tay già nua nhấc ống thuốc phiện đặt qua một bên.

Hà Vị quẹt que diêm thắp đèn đốt, giúp mẹ châm thuốc: “Bệnh phong thấp của ta nặng quá rồi, không thể trị được”.

Bà nói với Hà Vị, ngầm giải thích cho việc sử dụng thuốc phiện.
“Ngồi đi”.

Hà Chí Trăn bày ra bộ dáng trưởng nữ của phòng lớn.
Có người mang thêm ghế đến cho Hà Vị, cô cùng Hà Chí Trăn lần lượt ngồi 2 bên trái – phải hầu hạ mẹ.
Nhóm cô họ nói từ việc ngắm hoa đến trà lâu, rồi nhắc đến bữa cơm chay tối nay.
Hà Chí Trăn thỉnh thoảng thất thần nhìn đèn đốt, tâm thần không yên.
Hà Vị nhận tách trà từ tỳ nữ, khẽ mở nắp, một giọt nước ngưng đọng trong suốt rơi xuống váy cô.
“Thiếu gia cùng tiểu thư thức dậy chưa?” Hà Chí Trăn hỏi tỳ nữ bên cạnh.
“Vừa tỉnh ạ”.
Hà Chí Trăn “ừm” một tiếng.
“Cha con…” Mẹ Hà Vị tay cầm ống thuốc đen nhánh, miệng thuốc phiếm vàng, bụi bẩn có thể chà lau nhưng dấu vết hút thuốc phiện thì làm sao cũng không thể xoá nhoà, “Lúc ông ấy mất, con không xuất hiện, cũng không canh giữ linh cữu ông ấy, thật bất hiếu”.
Hà Vị không nói chuyện, chỉ nhìn mẹ mình.
“Pháp hội hôm nay tổ chức như vậy cũng xem như chịu bỏ công sức.

Lát nữa quỳ trước bài vị của cha con một đêm đi, xem như tận hiếu một lần”, mẹ than thở, “Sau này để ta bàn bạc với nhóm chú bác, trả lại bài vị của Nhữ Tiên.

Không tính toán, càng không muốn so đo với các người…”

“Tính tình mẹ rộng lượng, lúc nào cũng xem cô như con gái ruột của mình”, Hà Chí Trăn nói, “Dù cô chưa bao giờ làm tròn đạo hiếu”.
Nhóm đàn bà phụ nữ không ai dám lên tiếng, đây không phải chuyện riêng họ nên xen vào.
Từ lúc biết Hà Vị muốn đến chùa làm pháp hội, hơn nữa còn bỏ ra một nửa tiền thuê xe ngựa cho mọi người, các phòng đều dặn dò kỹ lưỡng nhóm nữ quyến, cần phải khách sáo với Hà Vị, tuyệt đối không thể đắc tội vị quý nhân giàu có này.
Hà Vị giống như đoán trước sự khó xử của mẹ, chỉ mỉm cười, buông tách trà xuống: “Từ lâu con đã được Hà gia ở Hồng Kông nhận làm con thừa tự theo di nguyện của cha quá cố, nếu tuỳ tiện quỳ canh giữ linh cữu ở đây thì thật khó lòng giải thích với bên kia”.
“Dù sao cô cũng là con gái ruột của cha mẹ, không lẽ đến tận giờ phút này cũng không chịu báo hiếu sao?” Hà Chí Trăn không vui nhìn cô.
“Cái danh bất hiếu này, đã theo tôi từ lúc mười mấy tuổi đến giờ, quen rồi”, Hà Vị vẫn duy trì nụ cười, đôi mắt long lanh nước, dù sao vẫn quyến luyến mẹ mình, không thể phủ nhận sự thật cô đích thực do mẹ sinh ra, “Nhưng hai chữ trung – hiếu từ xưa đã khó toàn vẹn”.
Mọi người không hiểu vì sao Hà Vị lại nhắc đến chữ “trung”.
Ngón tay mẹ nắm ống thuốc phiện khẽ run rẩy.

Hà Chí Trăng cũng sửng sốt.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Chính điện im ắng giống như chốn không người.
Lư hương khói bốc nghi ngút, toả ra mùi thơm của đàn hương.

Trên bệ lư hương có thể nhìn thấy lớp rỉ sắt loang lổ, là dấu vết năm này qua tháng nọ.

Một kiệt tác nhuốm màu thời gian, giống ngôi chùa mấy trăm năm tuổi này đây, cũng giống như thành trì ba ngàn năm tuổi.
Hà Vị khẽ nói: “Cuộc đời này, tôi chỉ làm tròn đạo hiếu với một người.

Vì con trai, đỉnh thiên lập địa, vì cha mình, từ thiện chính trực, vì quốc gia, cúc cung tận tuỵ, vì dân tộc, không màng tư tâm”.
Cô nói tiếp: “Trước kia cha tôi Hà Tri Hành từng than tiếc về thế cục hiện tại, ông ấy đã viết một lá thư để lại cho con gái, là một câu nói của người xưa.

Chị Chí Trăn và tôi từ nhỏ đã học thuộc lòng câu nói đó, lúc ấy chị 7 tuổi còn tôi 5 tuổi, tiên sinh dạy học cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, chị còn chê tiên sinh dong dài, nói mình đã nhớ rõ từ lâu.

Bây giờ, chị có đoán được là câu gì không?”
Cô quan sát khuôn mặt bối rối của Hà Chí Trăn: “Đãn bi bất kiến cửu châu đồng, gia tế vô vong cáo nãi ông”[1].
[1] Trích từ bài thơ “Thị nhi” của nhà thơ Lục Du thời nhà Tống.

Nguyên văn 4 câu thơ trong bài là “Tử khứ nguyên tri vạn sự không/Đãn bi bất kiến cửu châu đồng/Vương sư bắc định Trung Nguyên nhật/Gia tế vô vong cáo nãi ông”.

Bài yeutruyen.net thơ diễn tả cảnh trước khi Lục Du qua đời vẫn còn tiếc nuối vì Trung Quyên chưa thống nhất.

Vì vậy ông trối lại với con cháu, khi nào “cửu châu” quy về một mối thì nhớ thắp hương nói cho ông biết
Hà Chí Trăng hoảng sợ vô cùng, cảm thấy có lẽ bản thân chọn loại đàn hương mùi nồng quá nên đốt lên khiến huyệt Thái Dương của cô nhảy thình thịch.
“Vị Vị à…” Mẹ lo sợ, cố gắng can ngăn, “Cần gì phải nói lời đó”.
“Vừa nãy nhắc đến chuyện làm trọn đạo hiếu nên mới nhớ đến”.

Hà Vị đáp.
Cô lần nữa nhấc tách trà lên, nhấp ngụm nhỏ, thích thú thưởng thức.
Khí chất bao năm cô rèn giũa trên thương trường “người lừa ta gạt” không phải là điều mà những đàn bà phụ nữ ngồi trong chính điện này có thể trấn áp.

Mọi người nhác thấy cô uống trà, cảm thấy không khí thoải mái tươi mới, nên rần rần cầm tách trà của mình lên học theo cô nhấp một ngụm.
Tuy Hà Chí Trăn đã mở lại tiền trang nhưng chỉ dám âm thầm hoạt động, phải nhờ đến sự trợ giúp của chồng sau nên không đủ khí độ.

Chưa đợi Hà Vị nhấp ngụm trà thứ hai, cô ấy nhanh chóng gọi tỳ nữ dặn dò cho con trai cùng con gái nhỏ của mình dùng bữa trước.
“Hình như chị chưa từng đến Hà nhị phủ”, Hà Vị bất ngờ nói, “Chi bằng đêm nay chị dẫn theo bọn trẻ đến ở đó một đêm, chị em chúng ta cũng tiện ôn chuyện cũ, chị thấy thế nào?”
Hà Chí Trăn ngẩn người, chợt cười nói: “Tiếc quá, đêm nay ta ở lại chùa”.
Cô đáp: “Linh tính trẻ con rất nhạy, ở lâu trong núi chỉ e không ổn, vẫn nên quay về thành sẽ tốt hơn”.
Chỉ bằng quan hệ chị em ruột thịt, Hà Chí Trăn nhìn được chuyện gì đó từ ánh mắt của Hà Vị.

Theo bản năng Hà Chí Trăn đứng dậy khỏi ghế, cô sợ hành động gấp gáp nên đành phải cố trấn an nỗi sợ lan tràn dưới đáy lòng.
“Lần trước vội vã lướt qua anh rể, cũng không kịp chào hỏi”, Hà Vị giống như trò chuyện, nhớ lại lúc trước, “Hình như trước lúc Sơn Hải Quan bị tập kích, phải không?”
“Đúng”, Hà Chí Trăn chống cự, khẽ nói, “Trí nhớ cô thật tốt.

Hiện tại hắn đã rời đi… cởi bỏ quân phục làm người kinh doanh buôn bán, không bàn chuyện chiến trường”.
“Mặc dù có lỗi với công ơn bồi dưỡng của Trịnh lão tướng quân dành cho hắn nhưng mỗi người mỗi chí hướng, không thể cưỡng cầu”, Hà Vị nhìn vào mắt Hà Chí Trăn, “Chung quy vẫn tốt hơn đám súc sinh cầm đầu địch ở quan ngoại.

Máu tươi nhuộm đỏ Trường Thành, rồi sẽ có một ngày dùng để tế sống đám Hán gian”.
Nhóm đàn bà phụ nữ đồng thanh, chỉ cần nhắc đến quân b*n n**c thì họ cùng chung kẻ thù.
Những cô gái trẻ nghe Hà Vị nhắc đến Trường Thành, chủ động kể lúc kháng chiến, họ cũng đi tìm kiếm thi thể của các tướng sĩ, khiêng người bệnh vào thành Bắc Bình.
Có cô gái lớn mật nói với Hà Vị: “Cô Hà Vị ơi , chúng ta thật lòng rất ngưỡng mộ cô, có thể giúp vận chuyển vật tư ra ngoài”.
Hà Vị cười cười.
“Hà gia nhiều đời làm ăn, hưởng phú quý vinh hoa mà người bình thường không có được, những lúc cần góp sức thì không thể tránh né”, Cô cười nói với đứa trẻ ấy, “Nếu cháu có tâm thì tới công ty vận tải đường thuỷ của cô làm việc, cô sẽ sắp xếp ổn thoả”.
Cô gái ấy vui sướng đồng ý.
Điếu thuốc trên tay mẹ đã sớm tắt nhưng chẳng ai để ý, bà ngồi giữa 2 cô con gái do mình sinh ra, nhưng một chữ đều không thốt nên lời.

Bất kể đối với con gái lớn được yêu thương chiều chuộng muôn phần hay con gái nhỏ từ lâu đã đưa cho người khác nhận nuôi… bà đều không thể quản thúc.
Cửa chính điện bị đẩy ra, tỳ nữ của Hà Chí Trăn đi vào nhỏ giọng: ‘Thiếu gia và tiểu thư đã dùng xong bữa rồi ạ”.
Hà Chí Trăn vẫn còn hoảng hốt, khẽ đáp: “Biết rồi”.
“Tuy tôi không nhiều con như chị nhưng từ khi có Tư Niên thì cũng hiểu tâm tình của người làm mẹ”, cô nhìn Hà Chí Trăn, “Tư Niên thường hỏi tôi, khi nào mới có người ra quan ngoại đánh Nhật, khi yeutruyen.net nào thì giặc xâm lăng mới bị đuổi về.

Con bé tuy còn nhỏ nhưng có nhận thức rõ ràng về trách nhiệm của bản thân và trọng trách với đất nước, còn bọn trẻ nhà chị, nghĩ thế nào về việc chống Nhật?”
“Chúng nó…” Hà Chí Trăn né tránh ánh mắt cô, “Tuổi còn nhỏ, không hiểu chuyện như Tư Niên”.
Hà Vị hơi thở dài, nói: “Đám Tư Niên cũng xem như tốt số, sinh ra ở Hà gia Bắc Bình, tuy trong nhà không có công trạng nhưng ít nhất đều dốc sức duy trì kháng chiến chống Nhật.

Những đứa trẻ trong nhà đám Hán gian thật đáng thương làm sao khi có cha mẹ nhu nhược.

Nhưng trẻ con sinh ra trên đời làm sao có thể tự chọn cha mẹ cho mình chứ? Một khi cha chú phản quốc, con đường sau này biết đi thế nào? Thân là một người mẹ, đúng là đau lòng, tội nghiệp cho bọn trẻ”.
Lúc nãy Hà Chí Trăn còn ôm tâm lý ăn may trước lời nói của Hà Vị, nhưng sau khi nghe xong câu này, giống như châm dầu vào lửa… Cô ta bất giác nhìn lại, đáy mắt gợn sóng khó che giấu.
Ngược lại Hà Vị hướng mắt ra ngoài chính điện, nhìn màn đêm dần buông.
“Trời sắp tối, người lớn ở lại trong núi thì không sao”, Hà Vị nói, “Nhân lúc trời còn sáng đưa bọn trẻ vào thành, cũng là tốt với chúng”.
Trên mặt cắt không còn giọt máu.
Hà Vị nhỏ giọng khuyên nhủ đầy thiện ý: “Tôi là người thân của chúng, chị giao chúng cho tôi, có thể yên tâm”.
Lục phủ ngũ tạng Hà Chí Trăn như bị thiêu đốt.

Làn da nóng hổi, khuôn mặt đỏ như máu.

Cô ta khó khăn hít thở, giống như đang giãy giụa…
“Nếu chị vẫn không yên tâm, có thể cùng tôi quay về”, Hà Vị nói tiếp, “Đành vậy, bọn nhỏ cũng không muốn rời khỏi mẹ chúng”.
Cuối cùng cô bảo: “Nếu chẳng may mệt mỏi, không nhìn thấy mẹ bên cạnh, nhất định sẽ sợ hãi”..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 69: Hồn Anh Hùng Máu Tế Đỏ 2


Hoàng hôn buông xuống, ánh sáng hắt vào chính điện càng thêm u ám.
“Có cần thắp đèn không?” Một người cô hỏi.
Lời nói khiến Hà Chí Trăn bừng tỉnh, hộp diêm trong tay đã sớm bị bóp nát, méo mó lõm xuống.
“Không cần đâu”, Hà Vị đáp thay cô ấy, “Chuẩn bị ra ngoài dùng bữa chay rồi”.
Nhóm trẻ con đứng ngồi không yên, thấp giọng trò chuyện với nhau, bọn họ nóng lòng muốn ăn thử món chay này.

Cả đám ngồi suốt 2 giờ trong chính điện, đã không còn nhẫn nại.

Mẹ Hà Vị lại giống như pho tượng bằng đất bày trí trong những ngôi miếu ở kinh thành, nhận hết hương đăng trà qủa nhưng lại im phăng phắc không tiếng động.
“Đốt thêm đi”.

Mẹ nhỏ giọng.
Hà Chí Trăn ngạc nhiên nhìn mẹ, đây không khác gì kéo dài thời gian ngăn cản cô rời đi.
“Đốt đi”.

Mẹ lặp lại.
Hai tay Hà Chí Trăn nắm chặt hộp diêm.
Hà Vị nhấc ấm trà, chậm rãi rót vào tách.
Nhóm thiếu nữ không chịu nổi sự buồn tẻ trong chính điện, mắt liếc nhau, ngầm hiểu ý đứng dậy, một trong số đó định mở miệng, hai tiếng súng vang lên bất ngờ phá tan sự tĩnh lặng.
Hộp diêm rơi trên chân, sắc mặt lập tức thay đổi.
Trong chính điện vô cùng hỗn loạn, nhóm đàn bà phụ nữ chấn động, nhanh chóng rời khỏi ghế, hoảng hốt nhìn về phía cửa, lại không dám nhúc nhích.

Hai cánh cửa chính điện khép kín, giống như có thể ngăn cách nỗi sợ hiện tại, không ai dám chạy ra ngoài, càng sợ có bóng người lao tới.

Ngoại trừ lão phu nhân đi lại bất tiện, còn có Hà Vị buông ấm trà, những người khác không ai không hoảng.
Hà Chí Trăn kìm lòng không đặng bước lên 2 bước.
“Lúc mới lên núi nghe nói có người muốn tiêu diệt thổ phỉ”, Hà Vị mở miệng, “Đám thổ phỉ ở quan ngại nhân lúc Nhiệt Hà bị chiếm đã trốn vào trong này”.
Hà Chí Trăn quay đầu, lo sợ nhìn chằm chằm Hà Vị.
“Biết tin này sớm, tôi đã thuê người bảo vệ chùa Bích Vân, không cần quá lo”, Hà Vị đối diện Hà Chí Trăn, “Mấy tên đạo tặc hèn nhát cũng không sợ gây nên sóng gió gì”.
Hôm nay Hà Vị đến đây không son phấn, quanh người trắng muốt không đeo trang sức, khác yeutruyen.net biệt hoàn toàn với đám phụ nữ trong chính điện.
Mà giờ phút này, trong ánh chiều tà hoàng hôn buông xuống bên cửa sổ chính điện, phảng phất như mặt trời đang vẽ một tầng phấn hồng trên mặt cô, đẹp như hoa đào, tròng mắt trong trẻo linh động: “Chị đừng đứng sợ như vậy, không bằng ngồi xuống để lòng an ổn hơn”.
“Lúc này tuỳ tiện xông ra ngoài, lỡ như không may bị liên luỵ, lại ảnh hưởng đến bọn trẻ”.

Cô nhẹ giọng khuyên.
Tay chân Hà Chí Trăn tê dại, đã lường trước những gì Hà Vị nói.
Đầu gối cô cứng nhắc, không cách nào động đậy, không thể đi lên càng không cam tâm ngồi tại chỗ.
Cửa chính điện bị đẩy ra, một gã sai vặt chạy vào, nói bên ngoài có lệnh nhóm phụ nữ cứ ở trong chính điện, không được đi lại lung tung.

Đám người đứng đầy chính điện lúc này mới quay lại chỗ ngồi.

Cũng không dám trò chuyện vui vẻ như trước, bọn họ im phăng phắc, trầm mặc nhìn nhau.
“Thắp đèn đi”.

Hà Vị phân phó.
Bọn tỳ nữ cũng sợ hãi, vội vàng chạy đến giá cắm nến, thắp từng ngọn đèn.
Ánh lửa nảy lên, soi sáng những bức bích hoạ Đức Phật treo đầy vách tường chính điện.

Trong luồng sáng đong đưa, dung nhan tượng Phật tựa như biến hoá, uy nghiêm dõi mắt quan sát chúng sinh.
Ngoài điện lặng tiếng súng.
Mấy lần Hà Chí Trăn định châm thuốc cho mẹ nhưng tay run phát sợ.

Dưới ánh nến lung linh, Hà Vị bình thản nhấp trà, uống xong một tách, cửa điện lại mở ra, một gã sai vặt tiến thẳng đến trước mặt Hà Vị, cung kính nói: “Ông ba mời cô hai qua đó”.
Hà Vị gật đầu, đi theo gã sai vặt.
“Hà Vị”.

Hà Chí Trăn bất chợt gọi tên cô.
Hà Chí Trăn dõi theo bóng cô, mãi một lúc không nói.

Cô không cách nào nói ra lời đại nghịch bất đạo trước mặt người trong điện.
Nhưng đối với em gái ruột thịt, nhiều năm qua cô vẫn không cam lòng.

Nhớ lúc nhỏ khi cô và Hà Vị quen biết Triệu Ứng Khác, yeutruyen.net trong mắt người ngoài, cậu cả Triệu gia nổi danh khắp kinh thành đem lòng yêu sâu sắc em gái cô, vốn tưởng định sẵn sẽ trở thành em rể, không ngờ duyên nợ thế nào lại biến thành chồng cô, trong chuyện đó cô tính toán không ít… Vợ chồng chung sống bao lâu, cũng không bằng thanh mai trúc mã mấy năm…
Hà Chí Trăn nhìn dáng vẻ Hà Vị, lại nhìn cái bóng dưới đất của cô, đan xen nhiều bóng đen hỗn loạn của đám người trong điện.
Tuy lòng cô không mưu tính nhiều như Hà Vị nhưng ít ra lúc này cô đoán được, cha của đám trẻ đã hung hiểm vô cùng.

Thế cục đã định, cô cắn răng, chỉ có thể thừa nhận cha bọn trẻ đã cởi quân trang, rời quân đội thành thương nhân…
Nương theo ánh trăng cùng bóng nến, Hà Vị rời khỏi chính điện.
Cô bước ra từ cửa son khắc hoa, nhìn nhóm chú bác các phòng Hà gia đều tụ lại một chỗ, mấy người họ bình thường đau ốm liên miên do hút thuốc phiện quá nhiều, đứng cùng nhau trông càng thêm uể oải, dù là béo gầy hay mặt dài ngắn đều mang dáng vẻ giống hệt nhau.
Bất chợt Hà Vị nhớ lại lúc nhỏ lần đầu gặp chú Hai, ông cũng đứng sau cánh cửa khắc hoa.

Lúc đó chú Hai vừa du học nước ngoài trở về, đang đứng “nghe” trưởng bối dạy bảo.

Còn cô nấp phía sau cánh cửa màu đỏ nhìn chăm chú cậu Hai khác hẳn những người trong gia tộc… và cả sự tích kinh thiên động địa của ông.
Lúc chú Hai qua đời, di nguyện là được đưa vào từ đường của Hà gia.
Trong hậu viện ở công ty vận tải đường thuỷ Hà gia có một căn nhà nhỏ, đặt bài vị của chú Hai và anh trai, có hai người bầu bạn cùng nhau cũng xem như từ đường nhỏ của phòng thứ Hà gia.
Trước đềm đá, chú Ba và chú Tư liếc mắt nhìn nhau một cái.
Chú Ba mở miệng: “Bên ngoài rất đông người, nói là người của cô Hai”.
“Phải”, Hà Vị gật đầu, “Người của tôi”.
“Vậy thì tốt, vậy thì tốt”.
Trong lòng hai chú đều lo lắng, không dám dò hỏi.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
“Đường xuống núi xa xôi, đã bày sẵn tiệc chay ở trên núi rồi”, cô quan sát hai người chú không thốt nên lời, dặn dò, “Nếu người lớn không sao thì đừng kinh động đến bọn trẻ”.
Cô không hứng thú nói chuyện với người Hà gia, đại khái mấy câu liền rời khỏi chùa.
“Vẫn là cô hai mềm lòng”.

Khấu Thanh đánh giá.
Bức tường vàng hạnh bao lấy ngôi chùa, dưới bóng trăng như viết nên đôi lời của Đức Phật.

Hà Vị cùng Khấu Thanh đi xuống bậc thang đá, đến lối vào đầu tiên, chậm rãi dừng bước.
Tạ Vụ Thanh khoanh tay đứng đó, ngay bên ngoài lối đi, như đã đợi cô từ rất lâu.
Tối qua cô hỏi anh, có thể cho cô một cơ hội khuyên bảo chị mình cùng bỏ trốn, hoặc ít nhất bảo vệ được đám trẻ.
“Cái đêm anh rời khỏi cung thân vương phủ từng nói với em, lý do vì sao anh không thể dừng tay”.

Tạ Vụ Thanh nhắc nhở cô.
Anh từng nói, những năm qua điều khiến anh sợ hãi nhất chính là nhìn thấy cảnh trẻ con phải cầm súng, sợ nhìn cảnh bọn nhỏ vây lấy thương binh chờ chết để soát đồ có thể mang về nhà…
“Đối với những đứa trẻ vô danh ấy chúng ta đều muốn che chở, huống hồ là những người có quan hệ huyết thống với em”, Tạ Vụ Thanh ngồi trong rèm giường xanh biếc, tựa vào gối nằm, nói với cô, “Chúng ta đều đã làm cha mẹ, suy nghĩ này của em anh có thể hiểu”.

Cô băng qua mấy bậc thềm liên tiếp, chạy đến trước Tạ Vụ Thanh: “Mọi chuyện thuận lợi chứ?”
Tạ Vụ Thanh khẽ gật đầu: “Tin tức từ quan ngoại truyền đến, dùng máu tươi tế đồng bào”.
Giọng anh uy nghiêm, không gì có thể ngăn cản hay che lấp.

Hà Vị giữ chặt tay anh, không chờ hỏi lại, Tạ Vụ Thanh đã trở tay bao lấy cô, đan xen không rời.
Trong lòng anh, Hà Vị vĩnh viễn mang theo dáng vẻ thiếu nữ tuổi 17, một mình gắng gượng duy trì lòng tự tôn trước mặt người Hà gia.

Tạ Vụ Thanh thương cô chịu uỷ khuất, dù rằng hiện tại người trước mắt đã trưởng thành hơn trước nhiều.
“Khi nãy ngồi trong chùa…” Cô thì thầm, “Bỗng nhớ đến chú Hai”.
Dứt lời, cô tiếp tục: “Còn có anh trai”.
Tạ Vụ Thanh lẳng lặng nhìn cô, mãi lúc sau mới tiếp lời: “Xuống núi trước đã”.
Buổi tối, cảnh vệ chuyển rương hành lý của Tạ Vụ Thanh đến gian phòng phía tây.
Nhiều năm qua đi, cái rương đan từ cây cọ theo anh xuôi nam ra bắc, chưa bao giờ thay đổi.

Bốn góc cạnh bị mài mòn đến mức có thể thấy ván gỗ dưới đáy rương.
Hà Vị lo Tư Niên nhìn cảnh Tạ Vụ Thanh thu dọn hành lý lại đau lòng nên bảo Khấu Thanh dỗ con gái ngủ trước, cô ngồi một bên, yên tĩnh nhìn Tạ Vụ Thanh xếp hai bộ quần dài cùng áo sơ mi, thêm thắt lưng để vào rương.
“Lần này chắc không xa lắm”, cô nhỏ giọng, “Chỉ cách một cái Trường Thành”.
Tạ Vụ Thanh đóng nắp rương, ngồi xuống cạnh cô: “Kể chuyện anh trai em đi”.
Hà Vị sửng sốt.

Vì sao bỗng hỏi chuyện này, hôm nay thật kỳ lạ.
“Người thân của em, ngoại trừ Hà Tri Hành tiên sinh, anh chỉ biết mỗi người này”, anh giải thích, “Hình như anh chưa từng nghe em nghiêm túc nói đến”.
Hà Nhữ Tiên.
Vừa là học trò bác Tấn tự hào nhất, vừa là quan ngoại giao vô danh bỏ mạng tại Nam Dương.

Không khác gì những người Giáp, Ất, Bính Đinh nào đó vì nước hy sinh nơi sa trường, không kịp lưu danh sử sách, không chiến công không bù đắp, càng không được hậu nhân nhớ đến ca tụng…
“Anh em sao”, Hà Vị ngồi dưới ánh nến trong đêm đen, từ từ nhớ lại bóng dáng kia, “Là một quan ngoại giao không ai biết đến”.
“Anh ấy… có lẽ không phải là con trai của cha em.

Ý em là, nhiều khả năng anh ấy không phải con trai ruột của Hà Tri Nghiễm”, cô dừng lại, như từng bước vén mở quá khứ đã phủ đầy bụi bặm, “Khi còn trẻ, Hà Tri Nghiễm cưới rất nhiều vợ nhỏ, sau này có người đồn đoán về lai lịch bất minh của con trai bà năm (ý chỉ vợ thứ năm của Hà Tri Nghiễm), mà những chuyện không bằng không chứng, một đồn mười – mười đồn trăm, lâu dần ai cũng tin”.
Hà Tri Nghiễm vì không muốn thừa nhận chuyện vợ lẻ tư thông với người hầu nên không buồn nhìn đến đứa trẻ vừa sinh ra, nhưng đồng thời cũng không dễ dàng tha thứ cho một đứa con hoang sống trong nhà, vì thế liền đưa cho Hà Tri Hành của phòng thứ làm con thừa tự.
“Sau đó Hà Tri Nghiễm sợ nếu lỡ anh trai em thật sự không phải con ruột mình, tương lai không nghe lời, thế nên trăm tính vạn tính, cuối cùng chọn em đi theo”, Hà Vị nói nhỏ, “Em là người phòng lớn, là con gái của vợ cả, trong mắt bọn họ tất nhiên đáng tin hơn một kẻ không biết có phải là con ruột mình hay không”.
Cuối cùng Tạ Vụ Thanh đã hiểu, vì sao cùng là con gái của bà cả nhưng người thân kẻ lạ khác biệt.

Người phòng lớn đã tính toán rất kỹ, một khi Hà Nhữ Tiên qua đời, công ty vận tải đường thuỷ Hà gia tất nhiên rơi vào tay Hà Vị.
Không ngờ, quân cờ tưởng như đã sắp xếp ổn thoả lại là một người đối chọi gay gắt.
“Nói chuyện anh em đi, không nói người Hà gia nữa”, Hà Vị mỉm cười, “Nhớ lúc anh em mới đến Bộ Ngoại giao không lâu liền bị điều tới Nam Dương.

Nguyên nhân là vì một lần diễn thuyết trên giảng đường đại học.

Hôm đó, đồng nghiệp ở Bộ Ngoại giao có việc gấp không thể tới, anh ấy đã lên bục…”
Cô nhìn vào mắt Tạ Vụ Thanh: “Anh ấy nói phải phản quân phiệt”.
Trong số người nhậm chức ở chính phủ Bắc Dương, dám giương cao ngọn cờ tuyên truyền phản quân phiệt, cũng chỉ có mỗi Hà Nhữ Tiên.

Vì khí phách thư sinh nhất thời sảng khoái, lại khiến một thanh niên tài tuấn bị trục xuất đến Nam Dương.
“Lúc em đến Nam Dương cùng anh ấy, không có phòng làm việc.

Một nửa nhân sự trong văn phòng vận tải đường thuỷ đều bị anh ấy điều đi”, cô kể, “Anh ấy vốn là tiến sĩ ngành Luật, nếu không vì lần diễn thuyết hôm đó, nhất định thành tựu đạt được càng lớn hơn”.
“Cả người anh ấy đều toát lên khí chất của một thân sĩ, chưa từng nổi giận với bất kỳ ai”, Hà Vị như mở ra cánh cổng hồi ức, muốn nói rất nhiều nên câu cú hỗn loạn, không theo trình tự, “Ngay cả chú Hai cũng từng nổi nóng với người khác nhưng anh em không có”.
Không giống cô hai Hà gia, cậu cả Hà gia là một thanh niên thích cả ngày trong nhà, không muốn xuất đầu lộ diện trước mọi người.
Sau khi anh ấy du học về nước liền bị điều đến Nam Dương, rất nhanh đã qua đời.

Một thanh niên như thế nếu được nhắc đến trong miệng người dân cũng chỉ làm người khác cảm thán mấy câu, không có thêm gì khác.
Nhưng Hà Vị nhớ rất rõ, anh cô là một tài tử tuyệt đỉnh thế nào, khát vọng cao cả trong lòng ra sao.

“Anh ấy cũng giống anh, từng tự mình viết sách, liên quan đến ngoại giao”, Hà Vị tiếc nuối, “Nhưng chưa kịp mang về từ Nam Dương”.
“Có điều, anh ấy cũng không hoàn toàn giống anh, không có danh tiếng bên ngoài”, cô nhẹ giọng than thở, “Một quan ngoại giao không tên tuổi viết sách, có ai muốn xem chứ”..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 70: Hồn Anh Hùng Máu Tế Đỏ 3


Gian phía tây không châm đèn, chỉ đốt một ngọn đèn dầu bằng gốm men trắng.
Tuy Hà gia có nhà máy điện nhưng mỗi khi ở một mình, cô vẫn thích châm đèn dầu soi sáng, đây là thói quen từ nhỏ.
Ngọn lửa đung đưa trên bấc đèn, vàng vọt bao lấy chút xanh trắng.
Màu xanh ấy khiến cô nhớ đến ngày đêm ở Nam Dương, như ngửi được mùi vị ẩm ướt, oi bức của gió biển thổi vào mặt.
Hòn đảo nơi anh trai gặp nạn từng là lãnh địa của Tây Ban Nha, vị trí gần biển nên không khác gì nhà tù dưới nước.

Khi thuỷ triều dâng cao, dòng sông Pasig cũng theo con nước dâng lên, tràn vào nhà tù, khiến người trong ngục đứng chìm trong làn nước.
Tất cả những thứ liên quan đến nhà tù dưới nước kia đều do sau này cô vô tình nói chuyện với nhóm khách quý từ Nam Dương mới biết.

Bọn họ nghẹn ngào vì nhóm Hoa kiều năm đó bị nhốt trong ngục, nhắc đến quan ngoại giao từng bỏ mạng tại nơi này.

Cô ngừng thở lắng nghe, chuyện năm xưa Triệu Ứng Khác chưa từng nói đến.

Trong tiếng thở dài thườn thượt của nhóm khách quý công ty vận tải đường thuỷ, cảnh tượng mang màu sắc chân thật nhất trước lúc anh cô qua đời đã được tái hiện.
“Trước lúc anh ấy bị bắt đã nhận được tin tức, giữa trưa gọi điện thoại cho Triệu Ứng Khác ở chung cư, sau đó đưa em lên một chiếc tàu nhỏ rời khỏi cảng biển”, Hà Vị thì thầm, “Anh ấy nói mình sẽ lên con tàu kế tiếp, chỉ chậm hơn em một chuyến mà thôi”.
Cô lúc nhỏ không hiểu một khi sinh ly chính là tử biệt.
Mặt trời chói chang thiêu đốt, bãi cát trắng chạy dài đến cuối bến tàu, tấm ván gỗ trên cảng bị sóng biển vỗ ướt sũng.

Một trận mưa vừa xong, nước mưa mang theo mùi tanh ngọt của biển cả, cô ngồi xổm trên ván gỗ lục lọi tập giấy trong túi vải, bị anh sờ đầu hỏi: “Tìm gì vậy?” Cô không buồn quay đầu, chỉ nôn nóng nói có một quyển ghi chép hoá học không thấy nữa.
Lập tức một quyển sổ xuất hiện.
Hà Nhữ Tiên đưa lưng về phía ánh mặt trời, đôi mắt sáng quắc dưới gọng kính màu vàng, anh cười bảo: “Tối qua anh giúp em bổ sung mấy chỗ”.

Trong vở kịch, cảnh chia tay luôn diễn ra vào đêm khuya, ai ngờ được dưới ánh sáng chói chang của mặt trời chính là lần cuối cùng anh em họ gặp mặt.
Trên linh đường của anh trai ngày ấy, chú Hai đặt toàn bộ ảnh chụp của anh từ lúc mới biết đọc sách đến khi tốt nghiệp.

Người đến phúng viếng đều là khách hàng giao thiệp với Hà nhị gia và công ty vận tải đường thuỷ, sau đó có mấy người trí thức.

Trước khi bọn họ rời đi, một trong số đó đưa phong bì màu trắng gấp đôi cho Hà Vị đứng tiễn khách khứa.

Cô mở phong bì ra, bên trong là một tấm thiệp đỏ thẫm viết dòng chữ “Hà Nhữ Tiên tiên sinh”.
Cách một lớp giấy, cô chạm vào tấm ảnh.

Rút ra mới biết là cảnh giảng đường nhỏ của trường đại học.
Hà Nhữ Tiên đặt tây trang trên lưng ghế sau bục giảng, hình như anh đang nói đến chỗ quan trọng, giày da giẫm lên mép bục… Đó là lần hiếm hoi cậu cả Hà gia cam tâm tình nguyện xuất đầu lộ diện, trước mặt mọi người giảng về tiền đồ quốc gia, gọng kính kim loại vàng trên ảnh chụp không có màu sắc, nhưng giống như đang khúc xạ ánh sáng.
Tối hôm đó, cô đặt ảnh chụp vào khung hình, đưa cho chú Hai xem.

Hai tay chú Hai nắm chặt khung hình, nước mắt cố nén suốt cả ngày từng giọt lăn dài, ông khẽ thở dài nói: “Đây là lần duy nhất Nhữ Tiên tự làm theo ý mình”.

“Anh ấy… Vì bên kia xảy ra bạo động nên không thể đi.

Anh ấy là quan ngoại giao, phải bảo vệ người Hoa cùng Hoa kiều”.
Hà Vị rơi vào trầm mặc, giống như bị thuỷ triều bao phủ, dù cố gắng hít thở thế nào cũng không ra hơi.
“Anh trai em”, Tạ Vụ Thanh thấp giọng nói, “Từng gửi điện báo cho anh”.
Đèn dầu như bị làm ngã, ngọn lửa thiêu đốt khuôn mặt cô.

Cô cố gắng trấn định, giương mắt quan sát Tạ Vụ Thanh.

Cô rất muốn hỏi khi nào, ở đâu, tình thế lúc đó ra sao.
Những câu hỏi liên tiếp như sắp bật ra nhưng trong nhà vẫn im lìm đến mức không tiếng động.
Cô không thốt nên lời, chỉ nhìn anh.
“Sau đợt bạo động”, Anh đáp, “Lúc anh ở phương nam từng nhận được một bức điện báo, là thư cầu cứu gửi từ Nam Dương”.
Tạ Vụ Thanh sợ lần này tiến về phía bắc Trường Thành sẽ không thể quay về, càng không muốn giữ chặt đoạn ký ức đã đóng bụi.

Những cấp dưới biết chuyện, từng cùng anh đến cứu viện Hoa kiều ở Nam Dương đã không còn ai, nếu lần này anh không nói, chỉ sợ chẳng người hay biết.
“Điện báo gửi cho Tạ Sơn Hải”, Tạ Vụ Thanh nhìn cô trong ánh lửa lập loè, “Bức điện báo đầu tiên anh em gửi rất ngắn gọn, chỉ lấy danh vận tải đường thuỷ Hà gia xin giúp đỡ, cái tên Tạ Sơn Hải từng hợp tác với Hà gia, tất nhiên cũng rất tin tưởng.

Có điều Nam Dương là chỗ nào, mấy người từng đến đó, anh chỉ đành đích thân đi một chuyến mới có thể yên tâm”.
Lúc bấy giờ Tạ Vụ Thanh vừa quay về Vân Quý để che giấu hành tung, lẩn trốn ám sát, quân đội trong tay Lâm Đông không lúc nào không đảo quanh giám sát Vân Quý, nếu muốn cải trang rời đi bằng đường biển là vô cùng khó khăn.
Bức điện báo của Hà Nhữ Tiên trở thành vấn đề nan giải.

Trên đó đề hai địa chỉ, chia thành hai đảo nhỏ.
May mắn Tạ Vụ Thanh từng đến Nam Dương dưỡng thương một năm nên cũng xem như hiểu rõ địa thế.

Anh gửi điện báo cho vị quan ngoại giao họ Hà này, nói rõ phương nam lâm vào thế hỗn chiến quân phiệt, muốn ra biển cứu người vô cùng khó khăn.

Trước tiên yêu cầu hắn phải tìm cách gom Hoa kiều ở hai hòn đảo đến một nơi an toàn mới có cách giải cứu toàn vẹn.
Đêm xuống, Hà Nhữ Tiên gửi điện báo đến, xoá mất một địa chỉ.
“Sau 2 bức điện báo đó, chúng ta không còn liên lạc.

Cho tới lúc đến Nam Dương, trông thấy nhóm Hoa kiều ẩn nấp nhiều ngày mới biết thì ra ở bức điện báo thứ hai, anh trai em đã giữ lại nơi lẩn trốn của Hoa kiều, xoá mất địa chỉ công tác của mình”.
“Anh bảo cấp dưới hộ tống những người Hoa và Hoa kiều đang lẩn trốn lên thuyền an toàn.

Sau đó mới dẫn theo hai người khác đi tìm anh em.

Khi đến nơi đã không thấy ai.

Hỏi thăm người dân bản xứ mới biết người bạo động ở đây đều bị trói đi hết, nhốt vào trong nhà tù dưới nước, nếu không lấy được tiền chuộc thì sẽ… xử tử”.
Cô đối diện Tạ Vụ Thanh.

Địa chỉ công tác kia đích thực là nơi cô sống với anh trai.
Lúc đó chú Hai lấy thuyền là vì đám người trói họ đi chỉ muốn tiền chuộc của Hoa kiều, nếu không nhận được tiền thì sẽ giết người.

Chú Hai mang rất nhiều bạc trắng, suốt đêm đóng gói hành trang chỉ mong chuộc được người về, nhưng rốt cuộc vẫn không kịp.
Chỉ đổi được một cặp mắt kính.
Hà Vị hoảng hốt nghe xong, trên mặt nước mắt giàn dụa.
“Mọi người đều nói…” Cô nghẹn ngào, “Nói anh em xui xẻo, mạng không tốt nên không gặp yeutruyen.net may.

Có tài năng thì thế nào, cũng bị điều đến Nam Dương không ai xem trọng.

Sau lại gặp bạo động, không có khả năng trốn thoát.

Ngay cả chú Hai có tiền cũng không cứu được…”
Nước mắt theo khuôn mặt chảy xuống cổ tay, nhỏ lên mu bàn tay.
“Ra không phải vì mạng xấu”.

Cô lắc đầu.
Đều không phải do vận mệnh, là do lựa chọn của chính Hà Nhữ Tiên.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Khấu Thanh bưng trà bánh vào đến nơi, thấy Hà Vị nước mắt đầm đìa, cứ nghĩ cô đau lòng vì sắp chia xa với Tạ Vụ Thanh nên biết điều lặng lẽ lui ra ngoài.
Tạ Vụ Thanh vươn tay giúp cô lau nước mắt.
Hà Vị cúi đầu, áp mặt lên hõm vai anh, để mặc nước mắt thấm ướt vai áo.

Tạ Vụ Thanh thấy nơi đầu vai dịu dàng man mác, sau khi vải áo bị thấm ướt mang đến hơi lạnh.
Cả đời Tạ Vụ Thanh đối diện với quá nhiều lần “bất lực”.
Từ người thân, bạn bè, còn có Hà Nhữ Tiên chỉ có duyên nói chuyện qua 2 bức điện báo, nửa đời trước của anh quả thật đếm không xuể.

Anh chưa từng thấy cảnh tượng Hoa Hạ hưng thịnh trong quá khứ, từ lúc sinh ra đã liên tục đối mặt với nỗi khổ dân tộc, kẻ địch xâm lăng, nội chiến kéo dài không ngừng nghỉ… Trong miệng Tạ lão tướng quân, 4 chữ “thù trong giặc ngoài” đã lặp đi lặp lại cả đời, đến thế hệ của anh, thế cục vẫn khốn đốn không lối thoát.
Tạ Vụ Thanh sờ thấy hộp thuốc lá trong túi quần tây, rút một điếu đưa đến dưới chụp đèn gốm men trắng, ngọn lửa từ từ thiêu cháy.

Trong mắt anh, tất cả đều là Hà Vị.
Thuốc đã đốt, Hà Vị vẫn tựa đầu trên vai anh.

Tạ Vụ Thanh không hút thuốc, sợ làm phiền đến tâm trạng cô.
“Anh Thanh”.
Vì sao không sớm nói cho cô biết.

Cô muốn hỏi như thế.
“Đây là nỗi đau của em”, Tạ Vụ Thanh thẳng thắn đáp, “Không biết nên mở lời thế nào”.
Nếu không cần thiết, anh tuyệt đối không muốn nhắc lại.
“Không cứu được anh em, trong lòng anh luôn hổ thẹn”.

Anh nhỏ giọng nói.
Hà Vị khẽ lắc đầu, nhắm chặt hai mắt: “Không trách anh, không ai trách anh cả”.
Tạ Vụ Thanh thấy cô khóc mệt, dập tắt điếu thuốc, bế bổng cô đi vào phòng ngủ.

Trên giường bát bộ, Hà Vị nằm sát vào trong, Tạ Vụ Thanh không c** q**n áo, nằm nghiêng sau lưng, dịu dàng ôm lấy eo cô.
Ánh sáng phảng phất phía sau, Hà Vị chìm trong bóng dáng đó: “Anh nói gì đi”.
Hà Vị chờ mãi vẫn không có động tĩnh.
Sau một lúc, đỉnh đầu truyền tới chất giọng khẽ khàng: “Trước lúc vào Bách Hoa Thâm Xử, anh từng do dự, liệu có nên gặp mặt em một lần không.

Vốn định chờ lão Bạch đến trước rồi mới vào, kể lại ngọn nguồn mọi chuyện ở Nam Dương cho hai người nghe.

Không ngờ lúc vào phòng lại thấy em một mình đứng trước bức tường treo kín ảnh chụp… Sau đó em quay đầu mỉm cười với anh”.
Anh ôm chặt người trong lòng, khẽ nói: “Cô hai Hà gia, em gái của Hà Nhữ Tiên, hoá ra lớn lên thế này”.
Lúc đó Tạ Vụ Thanh đã nghĩ như thế.

Lúc Tạ Vụ Thanh nhúc nhích, cô cảm giác nhiệt độ cơ thể và độ ấm sau lưng cũng biến mất.
Cô trở mình, sờ tay qua, trượt đến đùi Tạ Vụ Thanh: “Trời tối sao?”
“Còn tối”.

Anh thấp giọng đáp.
Cô im lặng một lát, nhẹ nói: “Lại gần em chút”.
Tạ Vụ Thanh ngồi ở mép giường, hơi cúi đầu, tiến sát gần cô.

Hà Vị nhìn vào đôi mắt anh: “Mỗi lần anh đi, chúng ta đều nói chuyện đạo lý lớn lao, nếu không thì anh dùng mấy câu bông đùa để an ủi em”.
Tạ Vụ Thanh không đáp, chờ cô nói tiếp.
Hà Vị choàng tay qua cổ anh, hôn lên môi anh.

Tạ Vụ Thanh có chút bất ngờ, nhưng rất nhanh đã đáp trả cái hôn của cô.

Hai người im hơi lặng tiếng hôn nhau hồi lâu, Hà Vị vẫn không chịu rời xa anh.
Hơi nước nóng hổi bắt đầu trào dâng, cô định buông tay vì sợ nước mắt rơi xuống khiến Tạ Vụ Thanh đau lòng.
Không ngờ bàn tay anh giữ chặt eo cô, không muốn buông ra.
Hô hấp hai người hoà vào nhau.
“Lời vừa rồi của cô hai còn chưa nói xong”.

Anh nhắc nhở.
“Không muốn anh đi”, cô muốn tuỳ ý chính mình một lần, không liên quan đến đại nghĩa nước nhà, chỉ có tình cảm yêu thương, “Từ lúc bắt đầu ở cung thân vương phủ đến đêm nay, mỗi lần nghĩ tới cảnh phải tiễn anh đi, em vẫn rất sợ.

Sợ không còn ngày gặp lại”.
Tạ Vụ Thanh ẩn trong bóng tối, như mỉm cười.
Anh dùng nụ cười che đi sự thổn thức vì sắp phải rời xa.

Anh cúi đầu, tựa trán lên khuôn mặt cô, mặc kệ bản thân rơi vào mê đắm không bỏ, tất cả đều là nỗi quyến luyến gia đình.
Đồng hồ báo giờ reo vang, tiết tấu không nhanh không chậm như nhắc nhở bọn họ, đã đến lúc.
“Ở thêm mười phút nữa”, anh kiềm chế cảm xúc, “Chờ em ngủ”.
Trên người anh có vị thuốc trung y, cùng với tiếng hít thở áp lực, tất cả như lởn vởn xung quanh cô.
Hà Vị nhắm mắt không thấy đồng hồ, ước chừng đã mười phút trôi qua, giống như yeutruyen.net chỉ mới giây lát.

Tạ Vụ Thanh liếc nhìn đồng hồ đã nhảy qua mười phút.

Anh vẫn không động đậy, ôm chặt Hà Vị, lại chờ thêm mười phút nữa mới buông người trong lòng.
Hà Vị hít thở nhẹ nhàng, ra vẻ ngủ say, lắng nghe tiếng bước chân anh dần rời đi..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 71: Nguyện Thống Nhất Cửu Châu 1


[1] Nguyên văn là “Cửu Châu đồng”, lấy từ ý thơ bài “Thị nhi” của Lục Du (từng chú thích ở chương 68), đại khái chỉ việc thống nhất lãnh thổ.

Tháng 6 năm 1933, quân đồng minh kháng Nhật bắt đầu phản công.
Chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi đã liên tiếp thu phục được trấn Khang Bảo, Bảo Xương, Cô Nguyên.

Tin tức này truyền vào trong nước khiến đầu đường cuối ngõ ở Bắc Bình tràn ngập cảm xúc vui mừng thầm lặng.
Khắp quán trà, tiệm ăn lớn nhỏ đều xuất hiện nhóm học sinh ôm theo xấp giấy tuyên truyền ủng hộ liên quan chống Nhật.

Bọn họ phát mỗi bàn một tờ, chỉ bỏ lại một câu “Bảo Xương đã giành lại!” hay “Đánh thắng ở Cô Nguyên!”… Đối với dân cả nước mà nói những địa danh kia thật mới lạ, có lẽ cả đời này họ cũng chưa từng nghe đến nhưng trong một tháng nay lại đánh động tâm thần mọi người.
Trong nhà, Tư Niên cũng không khác thế, lúc nào cũng bận tâm chiến sự.
Dù là ngày hay đêm, mỗi lần có thời gian rảnh liền hỏi mẹ về Nhiệt Hà và quân đồng minh chống Nhật.

Cô gái nhỏ có thể thành thạo phác hoạ lại bản đồ Nhiệt Hà, vẽ ra những nơi mà quân đồng minh kháng Nhật đoạt lại, suy đoán hiện tại cha đang ở nơi nào.
Cô bé luyên thuyên không ngừng, kể cả lúc ăn cơm, đi đường, làm bài tập, thậm chí là đến bệnh viện gặp nha sĩ cũng không bỏ.

Phải đợi đến khi bác sĩ cho ngậm bông trong miệng thì mới yên tĩnh một lát.
Bác sĩ ra hiệu cho Hà Vị phối hợp thu hút sự chú ý của trẻ con để thuận tiện nhổ răng.
“Hôm nay trên lớp giáo viên giảng về liên quân kháng Nhật à?” Hà Vị cười hỏi.
“Đúng vậy ạ”, Tư Niên ngậm bông trong miệng ậm ừ trả lời, “Lần trước thầy nói xong liền bị lam y xã [2] cảnh cáo.

Lần này lúc bọn họ đang tuần tra ngoài lớp học, thầy chúng con không nói một chữ mà chỉ viết lên bảng.

Thầy viết 3 tỉnh Đông Bắc kháng Nhật, quân đồng minh Sát Cáp Nhĩ kháng Nhật, sau đó còn vẽ bản đồ 3 tỉnh Đông Bắc, Nhiệt Hà cùng Sơn Hải Quan—”
[2] Tam Dân chủ nghĩa lực hoành yeutruyen.net hội, hay còn được gọi là Lực lượng đồng chí cách mạng chủ nghĩa Tam Dân, viết tắt là “lam y xã”.

Lần đầu tiên được một số sinh viên trường Quân sự Hoàng phố thành lập để tuyên truyền sự ủng hộ với chính quyền Tưởng Giới Thạch.

Nhóm người này dựa trên triết lý “hành động mạnh mẽ”, bắt chước chủ nghĩa phát xít để khống chế và đàn áp người dân.

Năm 1938, lam y xã bị giải thể vì “phát triển quá lớn và làm mất vai trò vốn có của nó”, đây cũng là sự khởi đầu của cuộc kháng chiến chống Nhật Bản.
Nha sĩ canh đúng thời gian, nhổ đi răng cũ.
Tư Niên lắp bắp sợ hãi, một cục bông trắng mới lập tức được trám vào lỗ hổng.
Nha sĩ vẫn chưa ném răng sữa vào khay y tế, nhỏ giọng nhắc nhở: “Ở chỗ chúng tôi cũng có người của lam y xã, nói chuyện phải cẩn thận”.
Tư Niên ngậm chặt cục bông, ngoan ngoãn gật đầu.
Quan ngoại kháng chiến chống Nhật, bên trong quan nội cũng xảy ra nội chiến, đặc vụ ẩn thân trong thành Bắc Bình nhiều vô số, không chỗ nào là không có.

Đối diện với thế cục quỷ dị này, người có lương tri đều không hẹn mà cùng học cách giữ im lặng.

Dùng tĩnh tại để bảo vệ lực lượng chống Nhật.
Từ Bệnh viện Hiệp Hoà về nhà, vì ảnh hưởng của việc nhổ răng nên Tư Niên ít nói hơn mọi khi.
Trước lúc đi ngủ, cô gái nhỏ vẫn còn sợ hãi, liên tục quấn lấy cô đòi ngủ cùng.

Hà Vị đồng ý, sau khi bận rộn ở thư phòng, rửa mặt xong mới trở lại phòng ngủ, cô thấy Tư Niên tụt xuống khỏi giường, tủm tỉm cười nhìn cô: “Con đi sương phòng đây”.
Tư Niên mang dép lê, vui sướng chạy như bay ra ngoài.
Hà Vị cảm thấy có gì đó không đúng lắm, nhưng cũng không nghĩ nhiều, mặc kệ bọn trẻ.
Đầu giường bát bộ chất đầy tài liệu về những hành khách của tuyến cảng tỉnh, phải xem xong trong tối nay.

Cô đẩy xấp giấy vào trong rồi leo lên giường.
Từ đầu năm, ngày càng có nhiều Hoa kiều ở Nam Dương muốn về nước cứu quốc, trong đó không ít người đi thẳng đến hồng khu.

Đặng Nguyên Sơ từng cho cô xem thử danh sách, cô ghi nhớ trong lòng, sau đó tự mình kiểm tra đối chiếu, tuỳ tình hình sắp xếp tàu thuyền.
Hà Vị cầm quyển sổ trên cùng mở ra, bất ngờ nhìn thấy một tờ bản thảo mỏng đến mức ánh sáng có thể xuyên thấu.

(E b o o k T r u y e n.

N e t)
Tờ giấy trông giống như có người cố ý nhét ở đây để chờ cô phát hiện.

Vừa nhìn đã biết đây là trò mèo của Tư Niên.
Hà Vị nhìn nét chữ trên giấy:
Cha nói, nếu chiến thắng liên tiếp thì đưa cho mẹ xem.

Bên dưới gối đầu.
Tạ Vụ Thanh sao?
Lòng Hà Vị nhảy dựng, vội vàng sờ dưới gối.

Ngón tay chạm phải một lớp da mềm mại giống da dê.
Cô xốc gối lên, một quyển sổ yên tĩnh nằm đó, so sánh kích thước rất giống quyển sổ nhật ký ngày xưa cô nhờ người gửi cho anh.
Hà Vị cầm quyển sổ, lật qua lật lại xem xét, mang theo niềm vui giống trẻ con trước lúc mở quà.

Đúng là quyển sổ kia không sai biệt, chẳng qua lúc gửi đi lớp bao bên ngoài bằng da trâu, nói vậy thứ này đã theo anh vào nam ra bắc không biết bao lần, bìa sổ ban đầu đã hỏng từ lâu nên anh mới cố ý bao thêm một lớp da dê? Thật có lòng.
Dưới ánh đèn tường, cô mở bìa sổ.
Trang đầu chỉ có một câu:
Lần đầu gặp mặt ở Bách Hoa Thâm Xử nhận lầm là ý trung nhân, cô hai Hà thứ tội.

Để lại một quyển thư nhà, xem như bù đắp.

Tạ Sơn Hải.
Hà Vị ngạc nhiên, bỗng nhớ đến đêm gặp mặt đó cùng tờ giấy kia, không khỏi bật cười.
Hoá ra anh còn nhớ rõ.
Cô nhìn thoáng qua hai chữ “Lâm Đông”, đoán chừng lúc anh về phương Nam không lâu, khoảng năm 1925—
“Ngày 16 tháng Tư, đêm trước trận chiến với Lâm Đông.

Chân núi tích tụ hơi ẩm, đang vào mùa mưa, chỉ sợ ngày mai mưa to khó qua sông, thuỷ triều dâng cao, sẽ làm ảnh hưởng đến thời gian qua sông.

Vừa qua tiết Thanh Minh, nếu chiến thắng trận này cũng xem như an ủi vong linh tướng sĩ đã bỏ mạng nơi núi rừng”.
Vì để tiết kiệm giấy, Tạ Vụ Thanh chỉ cách 2 dòng, sang ngày tiếp theo.
“Tên quân phiệt họ Trần kia nhận được không ít viện trợ từ chính quyền thực dân Hồng Kông, hơn vạn khẩu súng, trăm vạn đạn dược, còn có rất nhiều tiền mặt.

Lực lượng địch ta chênh lệch rất lớn, chắc lại là một trận ác chiến”.
“Ngày 14 tháng Mười, đã liên tiếp 4 ngày căng thẳng.

Đoàn trưởng Trung đoàn 4 đã hy sinh, toàn bộ tướng sĩ dưới trướng đều bỏ mạng, ngoại trừ lính hậu cần lo việc bếp núc, số lượng quân ta chỉ còn sót lại mấy người”.

Anh giống như biến quyển nhật ký thành tuỳ bút hành quân, từ Quế Lâm đến Quý Châu, rồi đông chinh đến Quảng Đông.

Đặt bút chỉ viết chuyện chiến đấu, không chút dấu vết sinh hoạt cá nhân.

Hà Vị đọc một hồi lại nghĩ đến nửa đời trước của Tạ Vụ Thanh đúng thật như thế, cuộc sống buồn tẻ, chỉ có khoảng thời gian vào kinh mới được trở thành công tử đào hoa được mọi người vây quanh.
Nói vậy, lúc đó anh cải trang thật vất vả.

Đến năm 1926.
Bắt đầu là tin vui — “Năm mới, toàn bộ Quảng Đông thống nhất.

Người một nhà đoàn tụ”.
Nét mực đậm đặc, giống như lúc viết câu này, anh đã đặc biệt mở một lọ mực mới.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Hà Vị nhấm nháp lời anh.
Khi đông chinh kết thúc cũng là lúc chuẩn bị bắc phạt, người một nhà đoàn tụ… chắc là trong căn hộ nhỏ.
Hà Vị nhớ đến căn chung cư của Tạ gia ở thành Quảng Châu, phòng khách nhỏ nối liền với thư phòng, đó là lần duy nhất cô cả Tạ gia lộ diện, người phụ nữ mặc sườn xám màu trắng, đi giày đế bằng, nhẹ nhàng gỡ mắt kính; cô ba Tạ gia nổi danh khắp nơi đang tựa vào sô pha, tư thái giống hệt Trịnh Sính Tích, xinh xắn mỉm cười, không quên trêu ghẹo em trai… còn cô hai thì không chắc, vì khi đông chinh thắng lợi cũng là lúc bản đồ làm ăn của cô hai mở rộng khắp nơi.
Trước mặt họ là một bức tường treo kín ảnh chụp gia đình.

Tạ gia xem trọng người thân, phàm là những nơi cô từng đến đều bắt gặp ảnh chụp chung lớn nhỏ khác nhau, từ căn hộ ở Quảng Châu, Bách Hoa Thâm Xử đến căn hộ ở Thiên Tân đều như vậy.
Gia đình xa cách quanh năm, chỉ có thể gửi nỗi nhớ nhung qua những tấm ảnh chụp treo tường.
“Còn đốt hương không ạ?” Khấu Thanh đứng ngoài giường bát bộ ân cần hỏi.
Cô đáp “ừm”.
Long Tiên Hương lẳng lặng cháy trong lư hương.
Ngày đông chinh toàn thắng là khoảnh khắc vui sướng nhất của Tạ Vụ Thanh trước khi bắc phạt.

Cô dừng rất lâu ở trang giấy kia, như thể thấy được chữ viết ở trang sau.

Cô lót gối đầu dưới thắt lưng, hy vọng giảm bớt cảm xúc nặng nề của cuộc bắc phạt tiếp đến…
Gió thổi trang giấy lật qua, thời gian dừng lại vào tháng Bảy năm 1926.
“Ngày 9 tháng Bảy, đọc lời tuyên thệ trước khi xuất quân bắc phạt.

Tâm nguyện nhiều năm chỉ trong một đêm đã thành sự thật.

May mắn làm sao”.
Hà Vị hít sâu, sững lại trước những lời này, cổ họng nghẹn ứ như lửa đốt.
Ánh đao sáng loáng, gom quân ra bắc.

Khoái chí biết bao.
Không chỉ riêng Tạ Vụ Thanh, đây cũng là tâm nguyện của bao người.

Những người bước trên con đường hợp tác với đảng cộng sản, thúc đẩy quan hệ, xúc tiến thành lập trường Quân sự Hoàng Phố, cổ vũ đông chinh… Cho đến ngày bắc phạt, tất cả đều chờ mong khoảnh khắc đó.
Tr**ng S*, Bình Giang, Nhạc Dương, Hán Dương, Hán Khẩu, Võ Xương…
“Ngày 24 tháng Ba, Kim Lăng”.
Tất cả ghi chú vào năm 1927 đều dừng lại ở đây.
Cô nghĩ, sau khi Tạ Vụ Thanh cố ý cho quân vào Kim Lăng trong cuộc bắc phạt đã dừng viết nhật ký, mà thay vào đó là gửi bức điện tín kia.

Tháng Tư hoa hoè ở Kim Lăng nở rộ, ngóng trông vô cùng.
Lúc đó, hai người chia xa 2 năm, cách nhau muôn sông nghìn núi.
Anh giữ lời nói trong lòng, che giấu hành tung, hẹn cô đến Kim Lăng gặp mặt.

Chiến trường tàn khốc, anh đã viết kín suốt 2 năm nhưng lại dừng bút tại đây, chờ đến khi Kim Lăng chiến thắng thì thật vừa vặn.
Đồng hồ báo thức bỗng vang lên, đã là 2 giờ khuya.
Bình thường, cô có thói quen tắt báo thức trước khi đi ngủ, để tránh bị đánh động.

Nhưng tối nay quên mất.
Bên ngoài trời đang mưa.

Nước mưa rơi xuống cửa kính, vệt nước lăn dài.

Cô như cảm nhận được sự lạnh lẽo khi giọt nước gột rửa tấm pha lê.
Đến Kim Lăng, nhật ký đã dùng hết 2 phần 3.
Cô đánh giá thấp việc Tạ Vụ Thanh kể chuyện chiến sự ở phương Nam trên giấy, ngược lại Tạ Vụ Thanh đã dự đoán trước nên mới dùng 2 dòng ngăn cách mỗi đoạn để cố gắng gói gọn toàn bộ cuộc sống của mình trong một quyển sổ duy nhất.
Trang tiếp theo là gì, khi nào viết?
Hai ngón tay cô kẹp tờ giấy mỏng manh, khẽ lật qua.
Nhìn nét chữ có thể thấy mực viết không còn nhiều.
“Hôm qua bạn cũ rời đi, không lưu lại một chữ.

Tối nay có ba người bị hành hình, người thứ nhất mỉm cười nói với bạn tù, xin lỗi, tôi không hầu các vị tiếp được.

Hắn là một người trí thức, trước khi đi còn mang quần áo và mắt kính chia ra tặng lại cho các bạn tù khác, chỉ mặc mỗi quần đùi đến pháp trường.

Khí tiết thế này khiến người ta khâm phục, nếu có một ngày gặp lại dưới cửu tuyền, thật muốn kết giao tri kỷ”.
Dòng kế tiếp, hình như anh muốn viết cho cô, chỉ đoạn ngắn vẫn có thể nhận ra, nhưng nhanh chóng dừng bút.
Vì không muốn liên luỵ cô nên hết sức cẩn trọng.
Tạ Vụ Thanh che giấu cách xưng hô, dường như đây chỉ là một lời di ngôn cuối cùng với người vô danh mà anh yêu.
“Anh không biết đang ở đâu, hôm nay là ngày nào, cũng không biết con đường phía trước sẽ đến đâu, là sống hay chết.

Chỉ mong học trò ngày xưa có thể đem vật kia đến phương Bắc.

Trong lòng Vụ Thanh, bắc phạt không thành, đến chết cũng không nhắm mắt, cả việc chưa từng nắm tay em cũng là nỗi tiếc nuối của cuộc đời này”.
Mực ngày càng nhạt, không còn nét chữ.
Đèn tường chao nghiêng sau lưng cô, giống như phản chiếu hai dòng chữ đó vào bóng tối của ngục tù.
Một tướng quân từ nam ra bắc, trải qua gió lửa bom đạn, chỉ vì thống nhất yeutruyen.net non sông không tiếc nhuốm máu sa trường, trong chiến thắng liên tiếp lại bị người bên cạnh lột bỏ quân trang, mặc vào đồng phục của kẻ phạm tội, tống giam vào phòng tối không biết phương hướng.
Cô không dám tưởng tượng, người cao ngạo như Tạ Vụ Thanh sao có thể cúi đầu trước cảnh ngục, dùng nhân tình ngày xưa từng dạy dỗ để xin lại thứ này, giống như đang hoàn thành bức di thư, cũng là hoàn thành câu chuyện bắc phạt của chính anh.
Lòng không cam trong đó, đâu chỉ thể hiện qua mấy chữ “chết không nhắm mắt”.
Hà Vị khó khăn hít thở, lồng ngực nhói đau.
Cô khép quyển nhật ký, hai tay đè chặt trước ngực.

Nơi này cất giấu toàn bộ chiến công hiển hách của Tạ Vụ Thanh trong 2 năm kia.
Lúc đó anh một lòng vì nước nhà, chỉ khi Quảng Đông thống nhất mới nhắc đến cảnh gia đình đoàn tụ, sau khi bị tống giam mới quyến luyến gửi lại di ngôn cho vợ mình… Người như thế, lại bị thương nặng như vậy.
Mà sau khi anh bị thương, máu vẫn đỏ sẫm, nóng hừng hực như lửa đốt..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 72: Nguyện Thống Nhất Cửu Châu 2


Kể từ khi thành lập quân đồng minh, chính phủ Nam Kinh liền nghĩ cách chặt đứt con đường vận chuyển đến Sát Cáp Nhĩ, niêm phong đạn dược, lương thực cùng vật tư y tế, càng không cho phép bất kỳ đội ngũ tiếp tế nào tiếp cận khu vực này.
Người dân trong Sát Cáp Nhĩ không khác gì hòn đảo bị cô lập.
Nhóm người Tạ Vụ Thanh dù liên tiếp giành thắng lợi nhưng không có tiếp tế.

Sau khi đánh chiếm 3 huyện thị, liên quân kháng Nhật trải qua nhiều ngày mưa dầm, chịu đói chịu rét tiến gần đến bờ sông Loan chờ đợi thời cơ tấn công thị trấn sầm uất về thương nghiệp – Đa Luân.
Tạ Vụ Thanh đối kháng với chính phủ Nam Kinh nhiều năm, sớm đã quen với ngày tháng khổ ải vì bị “cô lập”, anh nhận lấy cái bánh nang [1] từ một người lính hậu cần, ngồi cạnh bờ sông Loan chờ Lâm Kiêu đến hội quân.
[1] Bánh nang là một loại bánh truyền thống của người Duy Ngô Nhĩ

Ước chừng khi trăng nhô lên cao, Lâm Kiêu mang theo bụng rỗng đến cạnh bờ sông, không cần nói một chữ đã bị Tạ Vụ Thanh nhét nửa cái bánh vào tay, ý bảo hắn ăn trước.
7-8 giờ qua Lâm Kiêu không ăn gì, lúc này hắn không khách sáo, ngấu nghiến ngoạm bánh.
“Sông này chảy thẳng vào Bột Hải, dài hơn 800 kilomet”, Tạ Vụ Thanh chỉ vào sông Loan, nói với Lâm Kiêu, “Đây là sông nổi tiếng nhất nơi này”.
Lâm Kiêu gật đầu, phủi vụn bánh trên tay, lắng nghe anh nói.
Hắn vừa trở về từ nghĩa quân Đông Bắc, không hiểu biết nhiều về tình hình quân đồng minh bên này.
“Tiếp theo phải đánh Đa Luân, ngay trên mặt sông này, địa thế vô cùng hiểm yếu”, Tạ Vụ Thanh nhìn bóng trăng dưới lòng nước, “Nơi đó là đầu mối giao thông quan trọng giữa Sát Cáp Nhĩ và Nhiệt Hà.

Từ xưa tới nay thường xuyên xảy ra giao tranh.

Người Nhật xem Đa Luân là thị trấn chiến lược quan trọng giữa 2 tỉnh, binh đồn trú cùng vũ khí đạn dược cung cấp không ngớt, hơn nữa còn có sự hỗ trợ từ không quân.

Chúng ta ở đây không có bất kỳ vũ khí hạng nặng, ngay cả một khẩu đại pháo cũng không”.
Ý của Tạ Vụ Thanh nói, đây chính là trận đánh ác liệt.
Dù khó khăn hơn nữa thì Đa yeutruyen.net Luân nhất định phải giành lấy.

Lâm Kiêu “rõ”, xem như đã hiểu.
Tạ Vụ Thanh quan sát khuôn mặt sương gió của hắn, bật cười, nhéo hai má hắn: “Chú cứ thế này chờ đến khi đánh giặc xong quay về chắc không ai chịu lấy”.
Lâm Kiêu ngượng ngùng cười, không đáp lời.
“Để ta xem, có còn cái bánh nang nào cho chú không”, Tạ Vụ Thanh nói, “Nhìn như chú không được ăn no vậy”.
Xa xa dân Mông Cổ đang phát lương khô, nghe thấy Tạ Vụ Thanh nói có người còn chưa ăn, một đội trưởng đội dân quân chất phác mỉm cười, đưa đến miếng bánh lớn cho Lâm Kiêu.
Lực lượng đồng minh lần này đều là người khắp nơi đến đầu quân, có quân nhân ở lại sau khi Nhiệt Hà thất thủ, cũng có dân quân thuộc bộ tộc Mông Cổ, và cả người dân địa phương.

Tạ Vụ Thanh giữ một chức vụ trong đại quân, mọi người đều không phải xuất thân từ quân đội chính quy nên không có quân phục thống nhất, mặc gì cũng được, đội ngũ này giáp mặt với đội ngũ khác thường xuyên không hiểu ngôn ngữ của nhau, khoa tay múa chân một lát lại cười rộ, cứ thế trở thành anh em tác chiến.
Tạ Vụ Thanh đã quen dần với việc nhận tiếp tế của họ, còn Lâm Kiêu vốn hay ngại ngùng nên sửng sốt một lúc lâu.

Hắn nhìn bên kia có mấy trăm người, chỉ lo lương thực không đủ, dè dặt không dám nhận.
Đối phương thấy Lâm Kiêu không chịu nhận bánh, lập tức đanh mặt, tức giận vung tay một cái.
“Cầm đi, đều là người một nhà”.

Tạ Vụ Thanh bật cười.
Lâm Kiêu đành phải nhận, sau đó hắn tặng cho đối phương chai rượu trắng mang về từ Cáp Nhĩ Tân, vốn muốn cảm ơn nhưng vì không cùng ngôn ngữ nên phải dùng sức ôm chặt đối phương để thể hiện tấm lòng.
Bất ngờ là đối phương hiểu tâm tư của Lâm Kiêu, cũng mạnh mẽ vỗ lên lưng hắn, cười sảng khoái buông ra rồi đi thẳng.
Tạ Vụ Thanh đợi đối phương đi khỏi mới hỏi Lâm Kiêu: “Người không biết uống rượu nay đã học uống rồi à?”
Lâm Kiêu cúi đầu, tiếp tục ăn bánh nang: “Ở quan ngoại thời tiết khắc nghiệt, mùa đông không muốn mấy ngụm thì thật không chịu nổi”.
Tạ Vụ Thanh cười, đến chỗ nước cạn bên bờ sông Loan.
Anh ngồi xổm trước mặt nước, nhặt một hòn đá, bắt chước điệu bộ thiếu niên, cong eo ra sức ném hòn đá lên mặt sông, nước gợn lăn tăn tản ra bốn phía không sao dứt được.
“Ta và lão Triệu quen biết nhau tại sông Loan”.

Anh nhỏ giọng.
Triệu Dư Thành, một người đã ở lại mãi mãi trong thời đại hỗn chiến quân phiệt.
“Hắn cũng là người Nhiệt Hà”.

Tạ Vụ Thanh lại nói.
Sông Loan dưới trăng mênh mông tĩnh lặng.
Tạ Vụ Thanh đứng trên quê hương của người anh kết nghĩa, chỉ cảm thấy gánh nặng đè chặt.

Hoặc cũng có thể là do non sông trấn áp.
Anh im lặng một lúc nói tiếp: “Nhớ trước kia đánh quân phiệt, chúng ta từng chiến đấu bên bờ Li Giang rồi đến Tương Giang, khi bắc phạt lại đánh tới sông Trường Giang, không trận nào dễ dàng nhưng chúng ta đều giành thắng lợi.

Hiện giờ nếu để thua ở sông Loan thì thật không tốt.

Chú nói có phải không?”
Lâm Kiêu không biết đáp sao cho phải, chỉ gật đầu.
“Nghỉ ngơi 1 giờ, chúng ta sẽ là đội tiên phong”.

Tạ Vụ Thanh ra lệnh.
Ngày 7 tháng Bảy, quân đồng minh kháng Nhật tiến công vào Đa Luân.

Cuộc chiến đẫm máu kéo dài mấy ngày mấy đêm, hai bên giằng co không dứt.
Quân đội Nhật Bản cho máy b** n*m b*m phá tan trận địa của quân đồng minh, thương vong không đếm xuể.

Nhưng quân đồng minh vẫn trụ vững, nhất quyết không chịu lùi bước.

Tổ chức quân cảm tử 3 lần mạnh mẽ tấn công thành trì, chiếm được trận địa ngoại thành, bức ép quân Nhật rút vào bên trong.
Ngày 10 tháng Bảy, quân đội Nhật Bản tiếp tục cho máy bay luân phiên bắn phá vào các vị trí quan trọng, trong khi quân đồng minh không có một khẩu đại pháo, không thể chống cự với sự oanh tạc của phi cơ, người chết và bị thương vô số.

Trước tình thế chênh lệch binh lực quá lớn giữa ta và địch, Cát tướng quân thuộc Bộ chỉ huy ra quyết định cho một nhóm người cải trang thành dân thường lẻn vào trong thành, nội ứng ngoại hợp tiêu diệt giặc.

Rất nhanh, 40 tướng sĩ do các tướng lĩnh cầm đầu đã tạo thành mấy đội quân cải trang, lần lượt tiến vào thành.
Tạ Vụ Thanh cùng với một cảnh vệ hiểu tiếng Mông Cổ giả dạng thành nguỵ quân chạy trốn từ Bảo Xương, Cô Nguyên, thành công lẻn vào trong thành Đa Luân.

Hai người vừa đến nơi, dựa vào ngôn ngữ quê nhà của cảnh vệ, an toàn lẩn trốn vào nhà một người đồng hương ở trong huyện thành Đa Luân.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
“Thay cái này”, người đồng hương lấy quần áo cũ trong nhà đưa cho hai người, “Để tôi dẫn các người vào miếu”.
Với sự giúp đỡ của người đồng hương, hai người cải trang thành dân thường, ẩn náu trong miếu Mã Vương.
Những nhóm khác cũng giả dạng vào thành Đa Luân, có người cải trang thành dân tộc Hồi, nấp trong nhà thờ Hồi giáo, tự mình tìm hiểu tình huống của nguỵ quân Nhật Bản, lựa chọn địa điểm thích hợp để chất đầy cỏ khô rồi ngồi chờ thời cơ đến.
Rạng sáng ngày 12 tháng Bảy, lực lượng quân đồng minh ngoài thành phát động cuộc tấn công.

Các tướng sĩ hợp thành đội quân cảm tử, cùng người trong thành nội ứng ngoại hợp, nhất thời ánh lửa bùng lên cùng tiếng súng nổ ra khắp phía, họ nhanh chóng đoạt lấy quyền chủ động ở các cửa thành.
Bên ngoài, đội kỵ binh của nghĩa quân Đông Bắc thừa thắng xông lên, truy kích nguỵ quân Nhật Bản bỏ chạy tán loạn…
Đến trưa ngày 12, dưới ánh mặt trời rực rỡ, tiếng súng dần lắng xuống.
Thành Đa Luân trải qua 72 ngày bị chiếm đóng và 5 ngày chiến đấu anh dũng, cuối cùng đã được quân đồng minh giành lại.
Hôm đó, tin tức truyền ra khắp nơi khiến lòng dân cả nước sục sôi.
Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc giành lại cứ điểm trọng yếu sau khi nó bị chiếm đóng trong sự kiện ngày 18 tháng Chín.

Đây cũng là chiến thắng oanh liệt đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Nhật Bản trên khắp cả nước.

Khi màn đêm buông xuống ở Đa Luân, hàng chục xe tải chở bột mì, rau dưa cùng thịt heo được vận chuyển từ Trương Gia Khẩu.

Đây đều là lương thực do dân chúng Trương Gia Khẩu quyên yeutruyen.net tặng cho quân đồng minh trong lúc chiến sự cấp bách.
Từ trước tới nay, vũ khí đạn dược cùng lương thực vật tư đều do quân đồng minh tự chuẩn bị, hoàn toàn không có hậu phương tiếp tế, hiếm khi một lần nhận nhiều thức ăn như vậy, nhưng nếu chia cho mấy vạn quân lính thì cũng như muối bỏ biển.

Tạ Vụ Thanh mang theo mấy cân thịt heo mình được chia, đến nhà người đồng hương để cảm ơn.

Không ngờ anh bị họ ép giữ lại, mười mấy tên đàn ông đã lâu không được rượu thịt, ngồi vây quanh giường đất trong nhà thưởng thức bát mì thịt heo.
Người đồng hương trò chuyện cùng bọn họ, đầu tiên hỏi quê ở đâu, trời nam biển bắc đều có đủ, lại nói nhìn Tạ Vụ Thanh là biết người nhà binh, hỏi anh có quen ăn mì của phương bắc không? Tạ Vụ Thanh ôm bát mì đáp lời: “Tôi có mấy năm học ở Bảo Định”.
“Bảo Định là quê tôi a”, người đồng hương cười ha hả nói tiếp, “Ở đó có một trường quân đội, cũng chính là trường quân đội nổi tiếng nhất.

Đáng tiếc hai năm nay đã đóng cửa, rất nhiều tướng lĩnh nổi danh đều xuất thân từ đó”.
Tạ Vụ Thanh gật đầu: “Đúng vậy, là một nơi rất tốt”.
“Có cơ hội lại đến”.
Tạ Vụ Thanh cười: “Nhất định”.
Anh ăn xong bát mì, gắp phần thịt còn thừa bỏ vào bát của Lâm Kiêu rồi gác đũa.
Một cảnh vệ tiến vào, đưa cho anh tờ danh sách, nhỏ giọng báo cáo: “Những người bị thương đều đã đưa đến bệnh viện ở Bắc Bình và Thiên Tân, phía Bắc Bình cũng đồng ý thu nhận.

Còn những người hy sinh ngày đó dự định an táng ở Trương Gia Khẩu, chỗ này có một nghĩa trang liệt sĩ”.

Tạ Vụ Thanh nhìn kỹ những cái tên trong danh sách.
Người phía trên, mới 5 ngày trước còn đứng bên bờ sông Loan, dưới bóng trăng phân phát lương khô cho mọi người, kiểm binh chia thành 3 đường tấn công vào Đa Luân.

Rất nhiều người đến hỗ trợ, đều không phải dân địa phương…
“Cứ an táng ở đây đi, mỗi một tấc đất đều là quê hương”.

Tạ Vụ Thanh nói.
Nơi Tạ Vụ Thanh đưa quân đồn trú cũng chính là miếu Mã Vương anh từng ẩn náu trước khi tấn công vào thành.
Số thương binh chờ đưa đi vào ngày mai được sắp xếp nghỉ ngơi dưới mái hiên ngoài điện.

Tạ Vụ Thanh hỏi mượn Lâm Kiêu cái đèn dầu, ngồi ngay ngưỡng cửa trước chính điện, gấp mấy tấm bản đồ tác chiến đặt lên đùi, sau đó rút một tờ giấy viết thư từ trong những tấm bản đồ kia.
Lực lượng quân đồng minh bị cô lập ở Sát Cáp Nhĩ nên muốn gửi điện báo ra bên ngoài là điều không dễ dàng, cũng không an toàn.
Từ lúc anh bắt đầu cuộc chiến đến nay cũng chưa từng báo bình an cho Vị Vị.
Nhân dịp thương binh được đưa đến Bắc Bình, anh muốn viết một lá thư đàng hoàng cho cô.
Ngọn lửa lập loè trong chụp đèn khiến anh nhớ đến đêm trước khi rời khỏi Bắc Bình.
Kết hôn nhiều năm nhưng mỗi lần trò chuyện vẫn là vấn đề làm khó anh.

Nếu bảo Tạ Vụ Thanh viết một bức điện tín kêu gọi khởi nghĩa, hay phát điện báo vận động cấp dưới cũ khắp cả nước, anh sẽ không suy nghĩ sâu xa đã có thể múa bút thành văn.

Nhưng đối với Vị Vị thì…
Anh xoay bút trong tay mấy vòng, cuối cùng đặt bút xuống tờ giấy:
Đa Luân thắng lớn, ngày về gần kề.

Sau khi Hà Vị đến thăm người bệnh ở bệnh viện Hiệp Hoà, cô nhận được một lá thư nhà.
Cô cẩn thận cất giữ, đợi đến khi về công ty vận tải đường thuỷ, chưa kịp mở ra xem đã bắt gặp tấm danh thiếp từ người gác cổng, không ai khác chính là bạn cũ trở về từ Nam Kinh – Triệu Ứng Khác.
“Mau mời Triệu tiên sinh vào”.
Hà Vị đặt thư lại chỗ cũ, cô có chuyện quan trọng hơn cần làm, phải hỏi rõ ràng trước khi đọc lá thư này.
Triệu Ứng Khác dẫn theo một người thư ký đi vào.

Hắn bảo thư ký cầm rương hành lý màu nâu đứng chờ ngoài phòng tiếp khách, chỉ mình hắn đi vào trong thư phòng.

Hà Vị đóng cửa lại, mời hắn ngồi xuống bàn làm việc cách xa cửa phòng.
“Anh có nhận được điện báo của tôi không?” Hà Vị khẽ hỏi, “Rốt cuộc chính phủ Nam Kinh muốn cô lập Sát Cáp Nhĩ đến bao giờ? Tôi có không ít lô đạn dược cùng thuốc thang y tế, còn có lương thực cần vận chuyển đến đó, nhưng căn bản không cách nào lấy được giấy thông hành”.
Dứt lời, cô lại lo lắng nói: “Lúc trước họ vừa chiếm được 3 huyện thị, lương thực cùng vũ khí đã hao tốn không ít, hiện tại tấn công dồn dập vào Đa Luân, nếu không có chi viện cùng tiếp tế thì không tài nào duy trì được”.
“Phía 3 tỉnh Đông Bắc cũng không phong toả nghiêm ngặt như vậy.

Trong khi bọn họ là quân đồng minh kháng Nhật, là muốn đánh đuổi người Nhật, không ủng hộ thì thôi đi, đã vậy còn muốn phong toả nguồn chi viện lương thực, không cho phép các đoàn tiếp tế xã hội tiếp cận, đây là có ý gì, là muốn bức chết đội quân chống Nhật sao?”.
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 73: Nguyện Thống Nhất Cửu Châu 3


Tin Đa Luân được giành lại chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi đã lan khắp thế giới, khiến mọi người khiếp vía.
Không ai tưởng tượng được cảnh một đội ngũ quân đồng minh lâm thời kháng chiến chống Nhật, trong hoàn cảnh không vũ khí, không đạn pháo, phải đối mặt với sự tàn phá của máy b** n*m b*m, lại giành lại thành phố lớn thứ hai Sát Cáp Nhĩ.
Người từ Bắc Bình trở về mang theo tờ báo.
Câu văn sôi sục, chứa đựng sự mong chờ của người dân cả nước đối với tình hình ở Sát Cáp Nhĩ.
Tạ Vụ Thanh gấp tờ báo trong tay.
Mái ngói xám xịt của miếu Mã Vương bị nước mưa thấm đen, sau nhiều ngày chà lau rốt cuộc cũng rửa sạch khói bụi chiến tranh.

Trong ánh mặt trời, từng giọt mưa rơi trước người anh.

“Quân đồng minh bị cho là phiến quân”, Lâm Kiêu nói, “Rất đông chính khách và thuyết khách đã đến Sát Cáp Nhĩ”.
Không cần nói cũng biết, bọn họ tới để phân tán và chia rẽ nội bộ quân đồng minh.
“Có mấy tướng lĩnh lúc trước thuộc quân đội đang chuẩn bị rời khỏi tổng bộ Trương Gia Khẩu”, Lâm Kiêu nói tiếp, “Không rõ mục đích là gì”.
Phần lớn quân đồng minh đều tập hợp từ lực lượng quân đội tan rã sau khi Nhiệt Hà thất bại, trong đó có không ít người xuất thân từ quân Tây Bắc.

Những vị tướng từng có công trạng đều một lòng kháng Nhật, nhưng hiện tại bị cho là phiến quân nổi loạn, lại thêm tình hình lương thực cạn kiệt, không thể không nản lòng thoái chí, khiến lòng người dao động.
“Còn có một mật báo khác”, Lâm Kiêu nói ngắn gọn, “Phía Nam Kinh ra lệnh, điều Tấn Tuy quân [1] đến phía bắc Sơn Tây, ngoài ra còn có quân đội trung ương và quân Tây Bắc cũng xuất phát đến đây, sẵn sàng chuẩn bị khai chiến với chúng ta bất cứ lúc nào”.
[1] Tấn Tuy quân hay còn gọi Tấn quân, Diêm quân, là quân đội trực thuộc quân phiệt Tấn hệ.

Tấn quân được thành lập từ hệ quả phong trào tự trị sau Cách mạng Tân Hợi, phạm vi hoạt động chỉ giới hạn trong tỉnh Sơn Tây.

Người nắm quyền cao nhất Tấn quân là Diêm Tích Sơn, luôn giữ thế trung lập đến trước cuộc Chiến tranh Bắc phạt.

Tấn quân mất dần vùng tự trị sau Chiến tranh Trung – Nhật.
Tạ Vụ Thanh đáp một tiếng: “Người Nhật cũng điều binh đến đây”.
Sắp tới quân đồng minh sẽ rơi vào thế “hai mặt thụ địch” [2].
[2] Ý nói một đội quân phải chịu sự tấn công từ 2 phía kẻ thù, tình thế nguy hiểm vô cùng
Tiếng mưa rơi róc rách không ngừng, như sông Loan ngày đêm chảy xiết.
Tạ Vụ Thanh thong thả gấp tờ báo lại lần nữa, xếp thành một tập dài.

Anh nhìn vũng nước đọng trước miếu, trầm tư chốc lát rồi nói với hai cảnh vệ cùng Lâm Kiêu: “Thị trấn Đa Luân có nhiều chỗ các chú còn chưa ghé thăm, ra ngoài dạo một chút”.
Anh nhỏ giọng nhắc nhở: “Nhớ mặc quân phục, nhất định phải trấn an lòng dân”.
Dứt lời, anh lại bảo: “Đêm nay chúng ta cũng phải về Trương Gia Khẩu”.
Thân tín trước mặt lần lượt giải tán.
Tạ Vụ Thanh nhìn chăm chú vũng nước mưa đến thất thần.
Bọn họ không phải quân đồn trú ở Đa Luân, phải sớm quay lại quân doanh Trương Gia Khẩu.

Mà thế cục hiện tại ra sao, ngay cả Tạ Vụ Thanh cũng không chắc chắn.

Nói đúng hơn là trải qua năm tháng thăng trầm, sự mong đợi trong anh vẫn không mai một, lúc nào cũng mang một tia ảo tưởng với người bên cạnh.
Trên đường hành quân, mưa dầm không dứt.
Sau khi quân đội tới Trương Gia Khẩu, Tạ Vụ Thanh bất ngờ nhận được tờ điện báo.
Nội dung điện báo vô cùng đơn giản, lập trường quân sự của nhóm cựu quân phiệt lung lay, đang gây sức ép cho tổng bộ quân đồng minh ở Trương Gia Khẩu, yêu cầu giải tán lực lượng đồng minh kháng chiến chống Nhật.

Mà trong nội bộ quân đồng minh, một số tướng lĩnh nổi danh đều trực tiếp hoặc gián tiếp muốn quy phục chính phủ Nam Kinh.
Tạ Vụ Thanh khó lòng bình tĩnh, anh thay quân phục thành thường phục, rảnh rỗi đi dạo trên phố ở Trương Gia Khẩu, theo sau là Lâm Kiêu và một người cảnh vệ không nhanh không chậm.
Lâm Kiêu hiểu rõ tính tình Tạ Vụ Thanh, tuy không đọc được nội dung điện báo, nhưng đoán biết có liên quan đến tình hình chiến sự.

Trong khi người cảnh vệ kia lại lo lắng bất an, nhất là vết thương ở chân của Tạ Vụ Thanh.
Mấy ngày chiến đấu liên miên, kế hoạch kín kẽ tuyệt đối, ngày đêm hành quân gấp gáp, bụng đói vẫn phải đi tiếp trong mưa.

Lúc trước chân Tạ Vụ Thanh từng bị thương, vết thương động đến xương nên khó lành, nói không bị ảnh hưởng là nói dối.
Mỗi lần tiến quân anh đều làm gương cho các tướng sĩ, lúc nào cũng là người rút súng xung phong trước tiên…
Lúc này, Tạ Vụ Thanh đi phía trước bọn họ tốc độ ngày càng chậm, như đang cố hết sức.
“Thương binh đều được đưa đến Thiên Tân, Bắc Bình, tướng quân cũng nên đi gặp bác sĩ xem một chút”, cảnh vệ trẻ tuổi nhịn không được nhắc nhở, lại nói với Lâm Kiêu, “Lúc trước anh nói tướng quân từng đến Thiên Tân chữa trị vết thương ở chân phải không? Hay cứ tìm người bác sĩ lúc đầu đến xem thử”.
Lâm Kiêu không đáp.
Nay đã khác xưa, năm đó Tạ Vụ Thanh có thể đến Thiên Tân khám bệnh, ít nhiều đều nhờ vào sự giúp đỡ của Trịnh gia.

Hiện tại Trịnh gia không còn, thế lực người Nhật ở Thiên Tân ngày càng bành trướng không khác gì ở Nhiệt Hà và 3 tỉnh Đông Bắc.

Người của hồng khu cùng quân đồng minh đều mang lệnh truy nã, làm việc càng phải cẩn thận hơn bình thường, trong tình huống này đến Thiên Tân không khác gì tự chui đầu vào rọ.
Tạ Vụ Thanh bỗng dừng bước.
Hai chân anh đau nhói, nhưng không muốn bị người phía sau nhìn thấy, thế nên cố tình đưa tay vỗ vào vách tường, như đang cảm thán, cũng tựa như nghỉ ngơi: “Lúc còn học ở Bảo Định có mấy học trò là người Trương Gia Khẩu…”
Vốn định nói với những người cấp dưới cũng đến từ phương nam đang đứng phía sau, thì ra quê hương trong miệng bọn họ là thế này.

Nhưng lời nói đến cổ họng lại trôi ngược vào trong.

Người đã qua đi, cần chi nhắc lại.
Tạ Vụ Thanh chạm tay lên mặt tường, không hiểu sao lại nhớ đến gạch đá ở Bách Hoa Thâm Xử.

Ngón tay anh khảy mấy cái, lau sạch lớp bùn đen dính trên khe gạch, v**t v* mặt tường.

Những căn nhà trên phố đều vô cùng bình thường, chính là nơi ăn chốn ở của người dân.

Chắc hẳn người xây nên bức tường này, lúc bắt đầu cũng chỉ cầu mong cả nhà bình an, hết thảy thuận lợi.
Nếu toàn bộ quân đồng minh kháng Nhật đều rút lui, Nhiệt Hà sẽ lần nữa rơi vào tay người Nhật, tiếp theo chính là Bắc Bình, Trương Gia Khẩu…
Bất kể là Bách Hoa Thâm Xử sâu trong con hẻm nhỏ hay đường phố không biết tên gọi này, đều lưu lại dấu chân của người Nhật đi qua, tay cầm lưỡi lê, từng người phá cổng…
Non xanh nước biếc, đất đai trù phú, huyết mạch ngàn đời, nếu không giữ được sẽ bị bầy lang sói bâu vào xâu xé.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Lâm Kiêu chờ thật lâu, không thấy Tạ Vụ Thanh nhúc nhích, trong lòng thầm lo lắng, muốn tiến lên hỏi han.
Tạ Vụ Thanh lắc đầu, ý bảo Lâm Kiêu không cần đi lên.
Trước mặt cấp dưới, anh không muốn để lộ bộ mặt yếu đuối.

Nhất là mấy năm gần đây ngày càng cẩn thận.
Có điều Tạ Vụ Thanh cũng là người thường, một khi là người thường thì cũng có nỗi vướng bận riêng.

Nhà của anh ở phía nam đã sớm bị thiêu rụi trong ngọn lửa hừng hực, chỉ còn mỗi nhà ở Bắc Bình.

Cầu vợ và con trai đang ẩn náu ở Hồng Kông được bình an, nên nói là…
Bọn họ bỏ lại gia đình vượt qua Trường Thành, ra bắc chống Nhật đều chỉ là những con người bình thường.
Mấy ngày giáp mặt với máy b** n*m b*m của quân địch, bao nhiêu người chết không toàn thây.

Chỉ mới 10 ngày ngắn ngủi, vết máu của đồng bào vẫn nhuộm đỏ mảnh đất, ấy vậy mà những vị tướng lĩnh cầm đầu tiến công giành lấy thành trì lại lựa chọn buông bỏ, thậm chí là làm phản.
“Lâm Kiêu, mấy năm qua, chú có từng hối hận không?” Tạ Vụ Thanh hỏi.
Nói xong, anh lại tiếp lời: “Có sợ không? Sợ bị người ta phản bội”.
“Nói sợ thì chưa”, Lâm Kiêu im lặng chốc lát, “Nhưng trái tim từng nguội lạnh”.
Tạ Vụ Thanh khẽ gật đầu, hơi cười: “Trái tim nguội lạnh, vậy tự mình sưởi ấm nó đi”.
Lâm Kiêu sửng sốt, bật cười theo: “Lần nào chả vậy?”
Tạ Vụ Thanh rụt tay về, cả lòng bàn tay và mu bàn tay đều dính nước bùn, không khác đế giày quân đội là bao.
Dường như người vừa rồi thất thần không phải là anh, nhanh chóng lấy lại bình tĩnh: “Lúc nãy đi qua con đường kia phát hiện có nhiều người lạ mặt, tác phong không giống dân thường”.
Anh nói nhỏ: “Đặc vụ không chỗ nào không có, để ý một chút”.
Chưa đầy mấy ngày sau, lại có thêm tướng lĩnh quy phục chính phủ Nam Kinh.
Người trong tổng bộ Trương Gia Khẩu hoảng sợ.

Điện báo lúc này truyền đến tin tức, quân đội Nhật Bản đã đến nơi, muốn đối mặt chiến đấu với quân đồng minh.
Quân đội vũ trang trong quân đồng minh tập hợp, trước tình thế “hai mặt thụ địch”, lại thêm từng người rời đi, lòng quân tan rã.

Tướng lĩnh ở hồng khu cùng tướng sĩ thể hiện thái độ kiên quyết, thề sống chết phải kháng Nhật, nhưng vì quân số ít ỏi nên có quá nhiều nguy cơ rình rập.
Bọn họ cần chi viện, cần thêm binh lực thì mới có thể nâng cao phần thắng.
Tạ Vụ Thanh dặn dò Lâm Kiêu ở lại Trương Gia Khẩu, đích thân dẫn theo cảnh vệ chuẩn bị cải trang lên tàu trở về Bắc Bình gặp mặt mấy người bạn cũ, trong đó từng có cấp dưới yeutruyen.net của nhóm quân phiệt ngày xưa, muốn nhân cơ hội gom được càng nhiều quân lực và lương thực càng tốt.

Ngoài anh còn có vài vị tướng lĩnh cũng đến ga tàu đến Bắc Bình, Thiên Tân, Thượng Hải.

Mục đích của mọi người đều giống nhau, muốn cố gắng thuyết phục những vị tướng quân, nhóm cựu quân phiệt nắm trong tay quân đội, có thể suy nghĩ cho vận mệnh quốc gia giúp đỡ mượn quân lực.
Lúc anh đến trước nhà ga, đang định nói lời tạm biệt với mọi người thì phát hiện một kẻ từ xa cưỡi ngựa như bay đến chỗ mình.

Tạ Vụ Thanh nhận ra đó là Lâm Kiêu, dự cảm không lành dâng lên trong lòng.
Lâm Kiêu gấp gáp giật dây cương, xoay người phóng xuống ngựa.

Khuôn mặt hắn trắng bệch, thấp giọng báo cáo: “Tướng quân Đặng Văn bị sát hại”.
Ngày cuối cùng của tháng Bảy năm 1933, vị tướng lĩnh tham gia kháng chiến chống Nhật liều chết giành lại mảnh đất quê hương, đã bỏ mạng trong vụ ám sát tại Trương Gia Khẩu.
Một cái chết im lìm.
Tạ Vụ Thanh cải trang thành thương nhân tay xách hành lý, khẽ gật đầu với Lâm Kiêu.

Sau đó anh cùng cảnh vệ kia bước vào trong sân ga.

Lâm Kiêu đứng lặng tại chỗ, cố gắng đè nén hơi thở gấp gáp cùng nỗi lo lắng về hành trình Tạ Vụ Thanh đến Bắc Bình.
Con ngựa cọ đầu vào cánh tay Lâm Kiêu khiến hắn bừng tỉnh.
Đến lúc hắn dõi theo tìm kiếm thì đã thấy bóng dáng Tạ Vụ Thanh khuất trong đám đông hành khách, không còn nhìn rõ.
Sau khi chiến tranh nổ ra ở Trương Gia Khẩu, sân ga không được tu sửa.
Người chờ lên tàu đều đứng tụ lại ở khoảng đất bùn bên cạnh đường ray, đợi đến khi xe lửa dừng hẳn liền chen chúc lên tàu.

Tạ Vụ Thanh lẩn trong dòng người, tìm được chỗ ngồi ở toa tàu hạng ba.
Khi quân Nhật và quân đội chính phủ Nam Kinh tiếp cận, tình hình trong – ngoài thành Trương Gia Khẩu vô cùng hỗn loạn.
Bất kể là nông dân, công nhân hay thương nhân, chỉ cần là người có khả năng đều không muốn ở lại, rất nhiều kẻ không mua vé cũng chen lấn lên tàu.

Chỗ ghế ngồi và hành lang đầy ắp người, cảnh vệ vốn định tìm một chỗ nghỉ chân, lại bị Tạ Vụ Thanh giữ chặt.
Tạ Vụ Thanh nhìn thấy đứng đằng kia là một khuôn mặt quen thuộc vừa biến mất ít ngày trước, anh từng gặp hắn lúc ở Trương Gia Khẩu.
Cùng lúc đó, người đứng cạnh cửa sổ bày ra khuôn mặt kinh ngạc.

Hai người họ từng là tướng lĩnh liều mạng với máy b** n*m b*m của quân địch trong trận chiến ở thành Đa Luân, giờ phút này đối diện nhau giữa biển người trôi nổi, giữa mùi hôi thối, ẩm mốc của mồ hôi và bùn đất.
Đối phương không đoán được Tạ Vụ yeutruyen.net Thanh lên tàu là có ý đồ quy phục hay vì mục đích gì khác; Từ ánh mắt người kia, Tạ Vụ Thanh nhìn thấy sự chột dạ và cố tình né tránh, anh hiểu rõ đây là muốn rút lui.
Hai người không hẹn mà cùng dời mắt đi, không để tâm đến sự tồn tại của đối phương.
Tạ Vụ Thanh đè thấp vành nón đen, giữ chặt bàn tay đang cầm súng của cảnh vệ: “Hắn không biết chuyện của chúng ta, cứ xem trước đã”.
Nhận được tin tướng lĩnh bị ám sát trước khi lên tàu càng khiến Tạ Vụ Thanh cảnh giác hơn.
Anh đứng dưới tàu một lát, định bụng tìm chiếc xe bò thay thế đi đường bộ nhưng nghĩ kỹ lại đổi ý.

Hiện giờ khắp nơi đều là người tháo chạy khỏi Trương Gia Khẩu, tránh đám đông càng xa càng tốt.

Anh dọc theo hướng đường ray, đưa cảnh vệ đi về phía Bắc Bình.

Vì vết thương cũ ở chân nên tốc độ không quá nhanh, từ sáng sớm đến hoàng hôn, cuối cùng anh cũng trông thấy bóng dáng xa xa của Chính Dương Môn.
Vẫn là vẻ nguy nga, đồ sộ dưới ánh hoàng hôn, cũng giống như toà thành cổ Bắc Bình này vậy..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 74: Nguyện Thống Nhất Cửu Châu 4


Để tìm cách vận chuyển vật tư ra tiền tuyến, Hà Vị mấy ngày liên tiếp bày tiệc thiết đãi khách quý, hậu duệ quý tộc đã sớm ở ẩn tại kinh thành.

Sau khi chếnh choáng, đầu cô đau như búa bổ, phải uống thuốc bổ khí Khấu Thanh chuẩn bị, sau đó lên giường xử lý công việc ở công ty vận tải đường thuỷ rồi mới mê man thiếp đi.
Cái nóng khiến cả người bứt rứt, cô mở mắt choàng tỉnh, phát hiện trời đã tối.
Khấu Thanh không đến đánh thức, miệng lưỡi Hà Vị khô khốc, hai tay mềm nhũn chống trên thành giường, cô bước chân trần xuống đất.

Do trước giường bát bộ có rào chắn nên phải đến khi cô ra ngoài hành lang mới trông thấy ánh đèn nhàn nhạt xuyên qua gian phòng khu phía tây.
Anh đã về.
Ý nghĩ này trào dâng không cách nào cản lại, như khí nóng ập vào trước mặt.
Tuổi tác càng lớn, mỗi lần Tạ Vụ Thanh xuất hiện ở Bình Tân đều không hề báo trước.

Chỉ có đêm nay, cô không hề nghi ngờ, rằng người cách một cánh cửa đằng kia chính là anh.
Cô mặc chiếc quần dài màu xanh nhạt, chất vải mỏng manh mùa hè.
Mặc kệ chân trần, cô tiến về trước vài bước, tim đập càng lúc càng nhanh, bỗng quay đầu đi đến trước tủ áo, như sợ anh nghe thấy, cô kéo cửa tủ vô cùng chậm rãi, lục lọi tìm tòi bộ váy chỉn chu hơn.
Không lâu sau, chiếc quần dài mỏng manh bị ném lên ghế thái sư, làn váy bằng lụa nhẹ nhàng buông xuống từ thắt lưng.

Cô ngắm nghía người trong gương, bỗng nhớ vừa nãy tỉnh giấc chỉ sợ trên mặt vẫn lem nhem.

Cô bước đến chậu rửa bằng gỗ đỏ, táp nước sạch rồi trở lại trước gương.

Cô lấy hộp son, dùng bông trắng thoa đều lên môi.
Hít một hơi lấy lại bình tĩnh, cô lê dép đến cạnh cửa, khẽ đẩy ra.
Dưới ánh đèn, Tạ Vụ Thanh một mình yên tĩnh ngồi đó.

Anh mặc âu phục cải trang của thương nhân, một tay gác lên thành ghế, hai mắt híp lại như đã đợi mấy canh giờ.
Đàn ông trở về từ chiến trường không chuẩn bị kỹ lưỡng.

Áo sơ mi nhàu nhĩ vừa nhìn đã biết vội vàng mặc vào.
Anh nghe thấy động tĩnh, mở to mắt.
Hà Vị đối diện mỉm cười với anh, mắt đỏ quạch.

Trong mắt anh toàn tơ máu, đầy vẻ mệt mỏi nhưng lại mỉm cười dịu dàng.
“Đã về còn không vào phòng ngủ?” Cô thầm trách.
Anh bảo: “Em ngủ không sâu, sợ gây tiếng động đánh thức em”.
“Thà bị anh đánh thức còn hơn”.

Hiếm có dịp gặp nhau, tất nhiên mỗi giờ mỗi khắc đều muốn ở cạnh anh.
Anh bật cười, ngồi thẳng lưng.
Hà Vị chú ý chân phải của anh cử động khó khăn, đoán biết anh không dễ chịu.

Cô vờ như chưa yeutruyen.net thấy gì, đi đến bên cạnh: “Hai đầu báo ở Bình Tân đều ca ngợi công lao của quân đồng minh”, cô ngồi trên ghế, nghiêng đầu tựa sát vào anh, “Văn thơ cổ động tinh thần chiến đấu của mọi người, Tư Niên đều đã nằm lòng”.
Dứt lời, lại nói tiếp: “Người dân mọi tầng lớp đều hết mực ủng hộ kháng chiến.

Không biết lúc anh ở Sát Cáp Nhĩ có từng nghe qua đoạn thơ của Hà tiên sinh chưa, bà ấy chính là goá phụ nhà Liêu tiêu sinh, lời thơ mắng chửi sảng khoái vô cùng”.
Sau khi hợp tác Quốc Cộng bị phá vỡ, Liêu tiên sinh bị ám sát, người goá phụ được gọi là Hà tiên sinh đã từ bỏ mọi chức vụ, quanh năm hết lòng nghĩ cách cứu thoát tù nhân chính trị, kêu gọi đứng lên kháng chiến chống Nhật, tiên phong trong việc quyên góp tiền và vật tư y tế cho chiến trường.

Không những thế, bà còn tập hợp nhóm phụ nữ góp sức cho công cuộc cứu quốc, chi viện tiền tuyến, ra sức mắng chửi những người ngày xưa mang lòng phản bội.

Uổng cho chí nam nhi, nhục khi làm nô lệ, không quyết chiến sơn hà, muôn đời ôm nỗi thẹn.
Nhóm phụ nữ chúng ta, thề chết hướng sa trường, cùng khăn soa che mặt, đổi lấy màu quân trang.
Tạ Vụ Thanh khẽ gật đầu: “Nghe rất hay”.
“Báo chí ở Thiên Tân cũng khen mọi người hết lời, nói là từ 1918 đến nay chỉ toàn tin cắt đất cho giặc, vậy mà chỉ một trận chiến của các anh ở Sát Cáp Nhĩ đã có yeutruyen.net thể lấy lại uy phong cho nước nhà”.
Tạ Vụ Thanh chỉ mỉm cười quan sát cô.
Nhiều năm ở chung, từ lâu anh đã hiểu rõ tấm lòng.

Nhìn vẻ mặt gấp gáp của Hà Vị như muốn nói với anh, còn có hàng vạn người đứng phía sau, bằng lòng duy trì cuộc kháng chiến chống Nhật.
“Lần này trở về là vì súng ống hay thuốc thang thế anh? Lương thực thì sao?” Hà Vị như có rất nhiều lời muốn nói, “Bọn em vẫn đang nghĩ cách vận chuyển đến cho mọi người”.
“Đêm nay không bàn chiến sự”.

Tạ Vụ Thanh thì thầm.
Anh cầm tay cô, trong lòng mang theo tâm sự, ch*m r** v**t v* lòng bàn tay như cảm thụ độ ấm của cơ thể người mình yêu.
Hà Vị chưa từng nhìn thấy dáng vẻ này của anh.
Cô nhớ lại quyển thư nhà anh cho mình, chỉ bằng đôi ba câu đã thấu rõ nỗi thất vọng, bi ai, phiền não của một vị tướng không nhìn thấy tương lai nước nhà.

Nỗi mất mát của Tạ Vụ Thanh luôn bị đè nén dưới mối sầu lo vì Hoa Hạ bị chia năm xẻ bảy.
“Vậy… kể chuyện Quý Châu”.

Là quê nhà của Tạ Vụ Thanh.
“Quý Châu”.

Tạ Vụ Thanh lặp lại.
Anh xa quê đã lâu, lúc này bất chợt nhắc đến khiến trước mắt như bừng sáng ánh đèn lấp lánh không khác gì sao đêm ở Miêu Trại cách nơi đóng quân không xa.
“Muốn nghe kể gì?” Anh hỏi.
“Gì cũng được, anh là rể đất kinh thành, còn em là dâu của Quý Châu”, cô dịu dàng, “Không được danh chính ngôn thuận gả vào Tạ gia là nỗi tiếc nuối lâu nay của em”.

“Quý Châu sao…” Tạ Vụ Thanh nhúc nhích chân bị thương như khơi thông máu huyết, “Đó là địa phương thứ sáu tuyên bố độc lập, tách khỏi sự kiềm chế của nhà Thanh.

Nơi ấy có rất nhiều tre trúc, cây trẩu [1], thuốc lá sấy, hạt cải dầu, sau này vì bị quân phiệt chiếm dụng nên trở thành nơi kinh doanh thuốc phiện”.
[1] Cây trẩu hay còn được gọi là cây du đồng.

Dầu được chiết ra từ hạt của loài cây này sẽ được tận dụng để thắp đèn trong văn hoá TQ xưa.

Ngoài ra, dầu của cây trẩu còn được dùng như một loại sơn để xảm thuyền, đánh bóng đồ gỗ gia dụng.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Mỗi tháng quân lính được phát 6-7 đồng tiền, trong khi họ cần nhiều hơn thế.

Quân đội địa phương đông đảo, mỗi năm chi tiêu lên đến hàng trăm vạn, kinh phí đó đến từ đâu? Đặc sản địa phương không cung cấp hết, tất cả đều nhờ vào tiền thu được từ việc trồng và bán thuốc phiện.
Đáy mắt Tạ Vụ Thanh ánh lên tia sáng, hắt từ ngọn đèn trên bàn.
“Mỗi lần trong nhà đãi khách hay các ngày lễ tết thì mọi người thường ăn gì?”, cô cắt ngang hồi ức của anh, “Hoặc là sẽ nấu món nào trong… tiệc cưới?”
Tạ Vụ Thanh không khỏi bật cười nhìn cô.
“Nếu anh cưới em ở Tạ phủ Quý Châu thì sẽ thế nào nhỉ?”
“Cha anh quen sống tiết kiệm nên trong nhà không thuê đầu bếp phục vụ như những gia đình quyền quý khác”, Tạ Vụ Thanh chầm chậm kể, “Nhưng nếu là cưới cô hai Hà thì tất nhiên sẽ mượn đầu bếp từ nhà bạn bè chú bác, phân công chuẩn bị chu toàn”.
Anh thấy Hà Vị chăm chú lắng nghe, bèn buông tay cô, tựa khuỷu tay thành ghế, nét mặt nhẹ nhõm: “Chỗ chúng ta thuộc vùng đồi núi nên rất hiếm hải sản ven biển.

Từ trước đến nay mỗi lần thiết đãi khách quý đều dùng thuỷ sản địa phương thay thế.

Những thứ như bào ngư, vi cá, hải sâm gì đó đều rất quý giá, người vùng núi cả đời khó có dịp nếm thử.

Nếu là tiệc cưới của chúng ta thì cũng có thể mời những quân lính có công trạng trong doanh đến tham dự”.
Hà Vị bất giác mỉm cười, giống như đang tự tay chuẩn bị mọi thứ trong Tạ phủ đã bị thiêu rụi.
“Có rất nhiều người trong số họ, cả đời cũng chưa từng rời khỏi quê nhà”, Tạ Vụ Thanh kể tiếp, “Nhưng vẫn bằng lòng tin tưởng cha anh, theo đuổi tư tưởng phản quân phiệt, ủng hộ cấm thuốc phiện”.
Hai cái ghế cách nhau một bàn nhỏ, ngọn đèn lung linh chiếu rọi.
Khuôn mặt anh chìm trong ánh sáng, nhìn cô: “Từ khi lãnh quân năm 18 tuổi đến nay, chưa một ngày từ bỏ, chỉ sợ phụ lòng bọn họ”.
Anh cả Tạ Vụ Thanh từng nói, không thể vì chú có tầm nhìn rộng mở mà so đo với những kẻ tòng quân chỉ vì mấy đồng bạc lẻ, họ cũng muốn kiếm cái ăn nên mới chọn đi theo quân phiệt.

Trong rất nhiều người đó, hầu như không ai từng có cơ hội chiêm ngưỡng toàn bộ bản đồ lãnh thổ rộng lớn.

Họ xem mảnh đất họ lớn lên chính là quê cha đất tổ, đối với họ mà nói, đây cũng chính là nơi cả đời này họ gắn bó.
Lúc đó anh hai của Tạ Vụ Thanh tiếp lời, trên con đường cứu nước cứu dân, người có tầm nhìn xa phải giữ thân trong sạch, làm gương cho binh lính, thề dùng máu trải đường.
Hai người đối diện rất lâu.
Hà Vị nắm chặt tay anh, sờ thấy miệng vết thương nho nhỏ, còn có dấu vết từng bị thương lúc trước.

Cô lật lòng bàn tay, phát hiện thêm một vết thương mới.

Nghe nói trong trận chiến ở thành Đa Luân, quân ta dùng thân xác đối đầu với họng súng hạng nặng và máy b** n*m b*m, cuối cùng, không ít tướng sĩ rút đao xung phong, vừa thảm thiết vừa anh dũng.

Cô chớp mắt nhìn thấy cảnh tượng đó, trong lòng không đành.
Hà Vị ra ngoài, tìm được một cây kéo nhỏ trong phòng ngủ.

Cây kéo làm bằng đồng, được sơn vàng với kỹ thuật điêu khắc phức tạp, đặc biệt tay cầm có hình chú bướm đang giương cánh.

Tạ Vụ Thanh thoáng chần chừ, bỗng nhớ ra năm đó trong khách sạn tô giới Pháp ở Thiên Tân, anh từng thấy qua cây kéo giống hệt thế này.
Hà Vị giữ ngón tay anh, kê lớp khăn bên dưới, tập trung cắt móng tay.
Cánh bướm lấp ló trong tay cô, lung linh dưới ánh sáng nhàn nhạt.
“Cây kéo này”, Tạ Vụ Thanh chìm trong sự dịu dàng, khẽ nói, “Rất quen mắt”.

Hà Vị sửng sốt, ngước mắt nhìn thấy tia trêu ghẹo trong mắt anh.

Cô hơi nhấp môi nhưng không hé lời.

Mặc dù đã có con với anh nhưng mỗi khi gặp lại người này, nhìn vào ánh mắt đó, tim cô không khỏi đập nhanh hơn.
Tạ Vụ Thanh bắt gặp dáng vẻ thẹn thùng của Hà Vị cũng cười rộ.
“Lúc ở khách sạn từng dùng một lần, sau lại thấy trên phố nên mới mua về”.

Cô đáp.
Tạ Vụ Thanh chỉ cười không nói, bất chợt cúi đầu dán sát mặt cô.
“Chờ em cắt xong đã”, mặt cô nóng hầm hập, “Sẽ nói anh nghe”.
Hà Vị giả vờ câm điếc, từ từ cắt gọn móng tay anh.

Lúc này, anh vẫn tràn đầy hứng thú chờ cô mở lời.
“Ngày đó sau khi bị thương, lúc anh tỉnh lại”, cô nhỏ giọng, “Cứ nhìn em chằm chằm, em cảm nhận được”.
Khi ấy, cô thoáng cúi đầu, ngồi sát mép giường, trong tay là cây kéo nhỏ, cảm nhận được có gì đó khiến mình mất tự nhiên.

Từ nhỏ cô đã theo chú hai đi khắp nơi học xã giao, lúc nào cũng nhạy cảm với cái nhìn của người khác.

Trong bầu không khí kì lạ ấy, nếu cô ngẩng đầu sẽ khiến đôi bên ngại ngùng, mà cúi đầu mãi cũng không xong.

Trong lúc bất an, tim đập như trống bổi, cô chỉ biết chăm chú hướng mắt về phía rèm cửa đong đưa sáng, giả vờ tập trung cắt móng tay út.
Lúc đó, thiếu tướng quân Tạ gia đối với cô mà nói chỉ là một ân nhân cứu mạng không quen không biết.
Ma xui quỷ khiến thế nào để cô gặp lại cây kéo nhỏ này trong một cửa hàng kim loại, kiểu dáng rất giống nhau, thế nên cô mua về cất giữ mấy năm nay.
Ngọn lửa từ đèn dầu nhảy múa, trong ánh vàng đỏ sáng soi.
Hai người ngồi trong đêm khuya, giống như bị hồi ức cuốn về những ngày tháng chống quân phiệt.
Thời gian trôi qua tai, ngọn gió đêm ào ào thổi tới, kéo theo cái lạnh giá của trời đông tháng Chạp.
Một người đàn ông ở phương Nam biến mất lâu ngày, may mắn thoát được kiếp nạn sau cuộc hỗn chiến ở thành Quảng Châu.

Lúc ấy bụng anh bị thương nặng, tịnh dưỡng suốt mới có thể xuống giường, liền triệu tập cấp dưới mở cuộc họp.

Thư phòng anh bỗng nhận được một bức điện tín khẩn cấp.

Khi ấy anh khoác áo choàng của hộ quốc quân, tay trái là báo cáo về tình hình quân lương, quân phục trong doanh, tay phải cầm lá thư ngắn ngủn mấy chữ: Cô tư Tạ và con trai bị bắt vào kinh.
Tạ Khanh Hoài nắm chặt điện tín, từ sau phản Viên anh đã quyết định sẽ trụ lại phương Nam để duy trì lệnh cấm thuốc phiện, chưa từng nghĩ đến trước ngày Bắc phạt lại không thể không ra bắc một chuyến.
Anh gấp tờ giấy kẹp vào giữa quân báo, hỏi phó quan bên cạnh: “Từng đến Bắc Kinh chưa?”
Thiếu niên Lâm Kiêu ngơ ngác.

Điện tín là tư liệu cơ mật, không ai được phép xem, bao gồm cả phó quan tâm phúc bên người.
“Trong Tứ Cửu Thành tôi có một căn nhà, từng là nhà cũ của chú thím, nằm trong…” Anh suy ngẫm một hồi, không thấy rõ biểu cảm buồn vui trên mặt, giọng nói bình tĩnh cất giấu sự ẩn nhẫn, cẩn trọng khi chuẩn bị đối mặt với sinh tử, “Một con ngõ gọi là Bách Hoa Thâm Xử”..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 75: Nguyện Thống Nhất Cửu Châu 5


Ngày thứ hai sau khi Tạ Vụ Thanh về Bắc Bình, Hà Cửu gia đã gửi thiệp mời đến những gia đình có căn cơ ở Bình Tân.
Sau khi những tướng quân lớn nhỏ theo phái quân phiệt ở Bắc Bình và Thiên Tân quyết định cởi bỏ quân phục để ẩn cư, nhiều người trong số họ đầu tư vào các ngành công nghiệp Bình Tân, khai quật mỏ than, mở ngân hàng cũng như gia nhập các lĩnh vực khác.

Bọn họ tiếp nhận lời mời của Cửu gia tất nhiên vì nể mặt quý nhân, bảo gã sai vặt đáp lời rằng, nhất định sẽ đến.
Hà Vị và chú chín đến nơi.

Cô đẩy xe lăn men theo hành lang tiến vào bên trong.
“Từ lúc Bắc Kinh đổi tên thành Bắc Bình, chỉ có Thái Phong Lâu này hình như chưa bao giờ thay đổi”.

Hà Tri Khanh mở lời.
Hà Vị đáp “vâng”.

Trong tiếng “ròng rọc” của trục lăn bánh xe, hai người lướt qua những vị khách bên cạnh.
Thái Phong Lâu hôm nay được bao trọn.

Những người xuất hiện mặc dù không diện quân trang nhưng nhìn giày da dưới chân cùng tư thế nện bước trên sàn đều có thể nhận ra bóng dáng quân phiệt xưa kia.

Đàn ông đứng lại cùng nhau, nhỏ giọng bàn luận tình hình chiến sự ở phía bắc Vạn Lý Trường Thành, nghe không rõ nội dung.

Chỉ biết thỉnh thoảng họ nhắc đến “Sát Cáp Nhĩ”, “Đa Luân” và “Bảo Định”.
“Không ít người bên Bảo Định quy phục”, có kẻ nói, “Chỉ có phía hồng quân là kiên trì không lui”.
“Quân đội Nhật Bản ngày càng tiến gần, phía chính phủ Nam Kinh vẫn ra lệnh tập kích”, một người khác phụ hoạ, “Nếu không quy phục, không lẽ chờ chết sao?”
“Cửu gia”, ông chủ Thái Phong Lâu từ xa nhìn thấy Hà Tri Khanh và Hà Vị xuất hiện liền hồ hởi chào đón, chắp tay với Hà Vị, “Cô hai đến rồi”.
“Mọi chuyện ổn cả chứ?” Hà Tri Khanh hỏi.

“Cửu gia căn dặn, tôi không dám để xảy ra sơ suất”, ông chủ báo cáo, “Đã chuẩn bị xong phòng riêng ở yeutruyen.net phía đông sảnh lớn, mượn ngày lành hôm nay, chúc chuyện tốt của Cửu gia thành công thắng lợi”.
Ông chủ đích thân dẫn đường.

Đám đàn ông bàn luận sôi nổi lập tức dừng lại.

Bọn họ trông thấy có 2 người lạ mặt không có tuỳ tùng hay nha hoàn.

Một kẻ trong đó từng nghe Hà Cửu gia có tật ở chân nên không đi đứng tự nhiên, liền đoán biết họ chính là chủ nhân bữa tiệc.

Hắn lập tức tiến lên gật đầu niềm nở: “Cửu gia”.
Nhất thời, hết đợt này đến đợt khác tiếng chào “Cửu gia” vang lên, che lấp những nghi ngại về quân đồng minh vừa nãy.
Theo thông lệ nơi đãi tiệc thường được ngăn cách bởi bức bình phong.
Lúc này khách cũng đến đông đủ, khắp nơi người qua kẻ lại không ngừng lên đồ ăn cho những gian phòng.

Ở phía đông có một gánh hát đang chuẩn bị tiết mục.

Thời buổi hiện giờ, lớp người trẻ đều yêu thích rạp chiếu bóng và vũ trường, chỉ có nhóm người xưa là vẫn đam mê kinh kịch truyền thống.
Đối với những người xưa, khi đãi tiệc không có gánh hát chính là không hiểu quy củ.
Hà Vị đẩy chú chín vòng qua bức bình phong, dừng lại cạnh giá sơn màu trắng, bên trên ông chủ trải đầy hoa dâm bụt, mắt gà trống [1], long đảm cùng hoa lan.

Trên bàn tròn gần bình phong có một người trung niên mặc áo lụa xanh, vắt chéo chân thư thả nghịch chén trà trong tay.

Hắn vừa ngẩng đầu thấy Hà Tri Khanh, sự lạnh lùng trong đáy mắt thoáng ấm áp: “Anh chín đến muộn rồi”.
[1] Mắt gà trống là một loại thực vật thân thảo thuộc họ Cúc, tên khoa học của nó là “Sanvitalia procumbens”.
Hà Tri Khanh khoát tay: “Trước khi ra ngoài phải uống thuốc, đã làm mọi người chờ lâu”.
Nói đoạn, ông kéo Hà Vị đến trước xe lăn: “Những vị ở đây đều là tiền bối định cư lâu năm ở tô giới Thiên Tân, trước nay ít khi xuất hiện”, dứt lời, ông hướng mắt nhìn mọi người, “Còn đây là cháu gái hai của ta”.
Một vị khách mặc áo dài nâu, râu tóc bạc phơ mỉm cười: “Là con gái của chú hai Hà sao?”.
“Đúng vậy, chính là nó”.

Hà Tri Khanh nói.
Lúc Hà Vị danh chính ngôn thuận tiếp nhận công ty vận tải đường thuỷ đã là thời hậu chiến quân phiệt.
Cô vốn không phải người thuộc thế hệ của chú hai, chú chín.

Đối với những người quen cũ của họ, cô vẫn là hậu bối, sau khi giới thiệu xong thì nên rót rượu ra mắt.

Nhận được cái nhìn ám hiệu của chú chín, cô cầm bình rượu cẩn thận đổ vào từng chén nhỏ trên bàn.

Đến chén thứ ba thì nghe phía sau bình phong có tiếng thì thầm.
Tay cô hơi chững lại.
Phía sau bình phong, bóng dáng cô độc của một người đàn ông bước vào.
Hôm nay anh không mặc quân phục, trên người chỉ có áo sơ mi cùng quần dài, trên tay là áo khoác tây trang.

Để tránh tai mắt của mọi người, anh đeo kính râm che nửa khuôn mặt, tóc vuốt hết ra sau, không khác gì bộ dạng của một công tử đào hoa đang đi dạo ở Lưu Ly Xưởng [2] hay phố Yên Đại Tà [3] bất chợt ghé ngang nếm rượu thưởng hoa đến nửa đêm mới về.
[2] Lưu Ly Xưởng (từng được nhắc đến ở chương 28) là tên gọi một khu phố buôn bán những món hàng thuộc văn hoá truyền thống nổi tiếng ở Bắc Kinh.

Mặt hàng phổ biến nhất nơi này là tranh chữ cổ, văn phòng tứ bảo, trang sức ngọc bích.

Chính vì thế đây là nơi các văn nhân công tử có thú vui thi từ ca phú thường đến chơi.

[3] Phố Yên Đại Tà cũng giống ngõ Nam La Cổ, là một trong những con đường có tuổi thọ lâu đời nhất Bắc Kinh.

Vào những năm 1920-1930 cuối thời Thanh, phố Yên Đại Tà bán nhiều ống tẩu và thuốc phiện khô cùng nhiều mặt hàng khác như đồ cổ, tranh vẽ, văn phòng phẩm, đồ ăn vặt…
Căn phòng chìm vào yên tĩnh.
Cô vờ như không thấy, đè nén ý muốn ngẩng đầu, rót xong chén rượu thứ tư.
Ông lão mặc áo dài nâu bỗng nhiên cười, đứng dậy đưa hai tay nhiệt tình ôm lấy bóng người đàn ông cao lớn dưới ánh đèn chói lọi, luôn miệng gọi “cháu trai ngoan”.

Những người còn lại nước mắt lưng tròng nói, không nghĩ đứa nhỏ này có thể sống sót quay về, hết lần này đến lần khác cảm thán, đàn ông Tạ gia quả nhiên thật vất cả…
Hà Vị rót xong 7 chén rượu, khẽ lướt qua mắt anh.
Kể từ lúc Tạ Vụ Thanh bị giam lỏng đến nay, cô chưa từng tiếp xúc với những người có quan hệ với anh.

Hiện tại, cũng xem như gặp một lần.
Chỗ này có bạn cũ của Tạ lão tướng quân, cũng có chủ mưu đứng đằng sau vụ bắt cóc cô tư Tạ giam lỏng ở kinh thành năm đó, bọn họ nhìn thấy người cháu trai may mắn toàn vẹn trở về trong cuộc kháng chiến chống Nhật, không giấu được xúc động, xót xa.

Cả đám người vừa ngồi vừa đứng bao quanh hỏi han Tạ Vụ Thanh ân cần.
Tạ Vụ Thanh gỡ kính râm, khiêm tốn đáp lại từng người, lúc nào cũng mỉm cười lễ phép.
Ông lão mặc áo dài nâu ngồi xuống bên cạnh Tạ Vụ Thanh, không biết bất chợt nghĩ đến điều gì, hết nhìn anh lại nhìn Hà Vị cười: “Cô hai cũng là người quen cũ của cháu trai tôi đúng không”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Hà Vị và Tạ thiếu tướng quân từng có một đoạn quá khứ, không ai không biết.
Chỉ là không rõ quan hệ thế nào, sự thật ra sao.
Hà Vị cười yeutruyen.net nhạt: “Đúng ạ, là người quen cũ”.
Tạ Vụ Thanh đưa áo khoác cho cảnh vệ phía sau, bình tĩnh đáp: “Từ lâu cháu và cô hai đã là tri kỷ.

Hôm nay gặp lại các vị chú bác, cũng nhờ sự giúp đỡ của em ấy và Cửu tiên sinh”.
“Nếu cháu muốn gặp mọi người, còn cần người khác sắp xếp sao?”.

Có người đính chính.
“Quan hệ của Tạ gia với chúng ta cũng không kém Cửu gia.

Mọi người ở đây đều là chiến hữu cũ với cha cháu”, một người khác tiếp lời, “Cuối nhà Thanh, lúc ta bị bao vây ở Tương Giang, may mắn có cha cháu đưa binh đến cứu”.
Hà Vị ngồi cạnh chú chín, đối diện Tạ Vụ Thanh, cách anh một sân khấu dài 2 mét.
Cô thoáng thấy người trung niên áo lụa phất tay, gánh hát lập tức im bặt, lần lượt lui ra ngoài.
Người đó bật cười, hai tay chống lên gối, hơi cúi người về trước quan sát Tạ Vụ Thanh.
“Tuổi tác chúng ta cùng lứa, cha ta từng nói, Tạ gia có ân tình với nhà mình”, người trung niên tiếc nuối, “Hiện tại người Tạ gia không còn bao nhiêu, nếu có thể ra tay giúp đỡ, chúng ta không thể bỏ mặt từ chối”.
Hắn tuy nhỏ tuổi nhưng địa vị cao, giọng nói bình tĩnh đầy khí phách.
Những kẻ ngồi đây có ai không phải lão hồ ly cáo già, nếu không sao có thể vượt qua vạn ngày chiến đấu để bình an đến tận hôm nay.

Tạ Vụ Thanh mượn yến tiệc của chú chín Hà để xuất hiện ở Thái Phong Long Bắc Bình, tất nhiên không phải ngẫu hứng.
Ý muốn của anh, những kẻ ngồi đây đều tự tính toán trong lòng, cân nhắc thiệt hơn.
Có điều, bọn họ không hẹn mà cùng duy trì sự hoà nhã trên mặt.
Tạ Vụ Thanh cũng cười đáp: “Tạ mỗ vừa trở lại từ Sát Cáp Nhĩ”.
Người đàn ông trung niên mặc áo lụa hơi bất ngờ: “Đa Luân?”
Tạ Vụ Thanh gật đầu.
“Trận đánh ở Đa Luân hừng hực ý chí”, người trung niên đáp, “Phẩm chất của Tạ tướng quân thật khiến người khác khâm phục.

Có điều…” Người kia như đang lo lắng cho tình cảnh của Tạ Vụ Thanh, thương tiếc nói, “Quân đồng minh hôm nay đã không còn đường lui”.
Trong lòng Hà Vị đanh lại.
“Tuy hai người chúng ta mới gặp lần đầu, vốn không nên quá thẳng thắn, nhưng dựa vào quan hệ thân thiết của hai nhà, chỉ sợ một mai xuống cửu tuyền không còn mặt mũi gặp cha”, người trung niên vén áo lụa lên, lộ ra quần dài cùng giày vải.

Hắn nghiêm túc nhìn Tạ Vụ Thanh, “Tình hình thực tại còn trầm trọng hơn so với những gì đồn đãi bên ngoài, quân báo cũng không tỉ mỉ đến thế.

Phía chính phủ Nam Kinh lệnh một vị tướng quân họ Hà dẫn theo 16 sư đoàn đến để đối phó với các người”.
Hắn nói xong, thấp giọng cười giễu: “Là 16 sư đoàn đó, chỉ có nhiều hơn chứ không thể kém đi”.
Cô từ xa quan sát Tạ Vụ Thanh, mặc dù mọi người ở đây đều có cùng suy nghĩ nhưng bị một kẻ lạ mặt nói thẳng thừng như vậy, nỗi đau này… dù cô không phải người trong cuộc nhưng trái tim không khác gì bị dao cứa.
“Cháu trai”, ông lão áo dài nâu thấy Tạ Vụ Thanh không nói lời nào, thở dài thườn thượt: “Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt, câu này tuy cũ nhưng không sai.

Người Nhật Bản không thể đánh lui trong 1-2 ngày, cần phải bàn bạc xem xét kỹ lưỡng”.
Tiếng chiêng bỗng vang lên, ngày càng gấp gáp, từng tiếng “keng keng” như gõ vào lòng người.
Gánh hát vừa rồi bị đuổi ra ngoài không biết được phòng nào gọi vào, bắt đầu vở kịch.
Người trung niên áo lụa nhíu mày, không thích tiếng ồn nhưng lại nghĩ trong tình hình nói chuyện cơ mật, để tránh tai mắt của người khác thì cứ mặc kệ cấp dưới hưởng thụ.
Hắn thấy Tạ Vụ Thanh vẫn im ắng, tự mình cầm bình rượu, rót cho anh một chén dạ quang bôi.

Chất lỏng trong suốt, sóng sánh đầy cái chén màu xanh, mỏng như cánh ve, đẹp đến mức người khác phải cảm thán: “Trận đánh ở Đa Luân, quả thật đã khơi gợi lại lòng quân.

Nhưng các người không có chi viện, lương thực đạn dược ngày càng thiếu thốn, có thể chịu đựng được bao lâu? Bản thân tôi từng dẫn binh hiểu rõ gian khổ của các người.

Anh Vụ Thanh, tôi có thể sắp xếp cho anh đến ẩn cư ở Thiên Tân, đảm bảo khắp Hoa Bắc không ai động đến anh.

Để mặc em trai thoả sức hưởng thụ mấy năm, không cần tự làm khó chính mình”.
Tạ Vụ Thanh thong thả nhấc chén rượu, uống cạn nửa ly,
Hà Vị cảm nhận được vị cay nồng của rượu phương bắc chảy xuống từ yết hầu, xộc thẳng đến lục phủ ngũ tạng.
“Lần này Tạ mỗ tới”, một tay anh cầm dạ quang bôi, xuyên qua thành chén còn lại một nửa, giống như cố định không hề dao động, “Chỉ muốn hỏi mượn binh trong tay các vị”.
Từ lúc Tạ Vụ Thanh bước vào căn phòng này, trong lòng hiểu rõ thứ mình đối mặt là gì, kiên trì là vì sao.
Với bản tính anh trong quá khứ, nghe những lời nói bác bỏ lập trường tự tôn dân tộc kia, anh đã không ngồi đây đến tận giờ phút này mà đã quay lưng bỏ đi từ lâu.

Nhưng hiện tại, anh đến đây để yêu cầu sự giúp đỡ, muốn mượn binh từ bọn họ.
“Mượn binh để đánh đuổi bọn Nhật”.

Tạ Vụ Thanh nhấn mạnh.
“Về quân chi viện chúng tôi có thể nghĩ cách sau”, Tạ Vụ Thanh nói tiếp, “Nhưng sau khi những tướng lĩnh và quân sĩ đầu hàng, lúc này trong doanh đang thiếu người, không thể cố thủ thành quách.

Chúng tôi rất khó khăn, bán sống bán chết giành lại được lãnh thổ, không thể để người Nhật cướp đoạt lần nữa”.
Cuối cùng anh nói: “Quả thật kháng chiến chống Nhật không phải chuyện một sớm một chiều.

Nhưng nếu bảo tôi buông tay giao ra Đa Luân, tôi không còn mặt mũi nhìn những tướng sĩ đã hy sinh.

Một trận ở Đa Luân ác liệt kéo dài rất lâu, cuối cùng quân ta đều anh dũng cầm đao xông pha… Người bỏ mạng dưới cổng thành, máu vẫn chưa tan, bảo tôi sao có thể… để Đa Luân bị chiếm đóng lần nữa”..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 76: Nguyện Thống Nhất Cửu Châu 6


Ông lão áo dài nâu nghịch nhẫn đeo ngón cái.
Nhẫn bích ngọc che kín nếp nhăn, theo tiết tấu xoay vòng: “Đã đến mức này, ta cũng có một câu thật lòng vốn không nên nói với cháu”, con ngươi ông xám xịt, bình tĩnh quan sát bộ dạng mạo danh công tử kinh thành của Tạ Vụ Thanh, “Quân Tây Bắc không chịu nổi, sớm muộn gì cũng tan rã.

Đến lúc đó chỉ còn lại mấy ngàn người hồng quân các cháu… Cháu à, phải sớm tính toán cho mình đi”.
Bên ngoài là quân đội Nhật Bản được trang bị đầy đủ súng ống, đạn pháo cùng máy b** n*m b*m, bên trong lại là 16 sư đoàn được huấn luyện kỹ lưỡng.

Những kẻ ngồi đây đều từng là quân phiệt đánh chiếm khắp nơi, sao không nhìn ra được phía trước chính là đường chết, không thể toàn thây.
Hà Vị hít vào một hơi, cổ họng bỏng rát.
Cô định đứng dậy rót rượu, lại bị chú chín đè chặt tay.

Chú chín khẽ lắc đầu, thân là một người đàn ông, lúc này ông có thể hiểu được tình cảnh của Tạ Vụ Thanh.

Những kẻ kia mượn lời nói thức tỉnh để tránh né chuyện mượn binh, cố gắng đánh thẳng vào tình thế khó khăn, vốn đã không muốn giúp đỡ.
Người họ Hà xuất thân làm ăn buôn bán, không am hiểu chuyện quân doanh.

Hai người chú cháu bọn họ không thể xen vào.
“Từ sau loạn lạc cuối triều Thanh, biết bao danh tướng xuất hiện?” Ông lão nói, “Bắc Ngô Nam Thái, một người bị cấp dưới ám sát, một người phải tha hương xứ người rồi bỏ mạng khi còn rất trẻ, bọn họ dốc hết tâm sức, quyết lật đổ nhà Thanh, nhưng kết cục thế nào? Viên Thế Khải lên ngôi tự xưng hoàng đế, các tướng lĩnh khắp nơi khởi nghĩa vũ trang, khi đó xác thực là thời đại của quân nhân chúng ta, là thời điểm tốt nhất để chúng ta tiến thân, nhưng quay đầu nhìn xem, những người trước kia thế nào, nếu không phải chết nơi xứ người thì cũng sống ẩn dật ở Thiên Tân.

Người trẻ mà, ai chẳng mang nhiệt huyết, quyết xông pha chiến trường để lập công, nhưng già rồi mới hiểu, dù là công lao to tướng thế nào cũng không tránh khỏi số mệnh nghiệt ngã biết bao thế hệ.

Cháu trai, cháu cần mở to mắt mà nhìn, những người có thể sống sót đến hiện tại, đều là cầu mà không đặng.

Cả cháu, cả ta, cả mọi người ở đây đều như vậy”.
Dứt lời, ông lão thở dài: “Binh lính trong tay chúng ta đều phải đề phòng Nam Kinh, đó cũng là tài sản cuối cùng mà chúng ta nắm giữ, không ai dám động vào.

Không giấu gì cháu, chính phủ Nam Kinh ra lệnh cho chúng ta xuất quân tập kính quân đồng minh, chúng ta đã lấy cớ từ chối, đó là điều duy nhất mọi người có thể làm vì các cháu”.
“Bọn gián điệp Nhật Bản từng muốn gặp mọi người ngồi đây để khuyên chúng ta đến quan ngoại làm việc nhưng chúng ta chưa từng đồng ý”, người trung niên áo lụa tiếp lời, “Đây là sự tận trung mà chúng ta có thể làm vì quốc gia dân tộc”.
Tạ Vụ Thanh lấy bao thuốc lá từ túi sơ mi, chỉ còn sót lại 3 điếu.
Anh không thể phản bác, chỉ vì anh sợ.
Giống như lời ông lão nói, những quân phiệt cựu hệ trong tay nắm binh quyền rải rác khắp Hoa Bắc, lúc nào cũng có thể nghe theo mệnh lệnh của chính phủ Nam Kinh, tiến công đánh vào trận địa của quân đồng minh ở Trương Gia Khẩu.

Tuy ông ấy đã đồng ý án binh bất động, nhưng đó là hiện tại, còn ngày sau thế nào chẳng ai biết trước được.
Bắt đầu là phản Viên, sau này là Bắc phạt, khởi nghĩa kháng chiến, Tạ Vụ Thanh chưa bao giờ thấy sợ hãi.

Mà chỉ trong đêm nay, anh không thể làm liên luỵ những người ở đây, liên luỵ đến bạn cũ của Tạ gia.
Người trung niên áo lục thấy bao thuốc của anh trống trải, liền đưa đến một bao mới.
Tạ Vụ Thanh xua tay.

Anh ngồi cạnh bàn, hai ngón tay kẹp điếu thuốc, lấy que diêm cạnh gạt tàn rồi cúi đầu bật lửa châm thuốc.
Anh hít sâu, ngẩng đầu, sương khói vờn quanh khuôn mặt vô cảm.

Cánh tay đặt trên thành ghế, trong khói thuốc mơ màng, lãng đãng quanh đầu tay.

Anh bày ra tư thế an nhàn, thả lỏng trong phòng riêng.
Quan ngoại, Đa Luân và những người ở đây đều không liên quan đến nhau.
Ông lão phất tay ra hiệu với phó quan đứng chờ bên ngoài, người kia tiến vào, ông khẽ căn dặn bên tai hắn mấy câu.

Phó quan nhận lệnh rời đi, không bao lâu, bên ngoài lại náo nhiệt lần nữa, nhóm quân phiệt ngày xưa lần lượt giơ chén rượu kính nhau tới tấp.
Tạ Vụ Thanh không cự tuyệt.
Rượu ngon thịt thơm đều sánh ngang với khẩu phần ăn mấy mươi ngày của binh lính ở Đa Luân.
Trước kia, sau khi bọn họ giành được một huyện thành nhỏ đã hành quân ngày đêm đến Đa Luân, tất cả tướng sĩ đều bụng rộng đói meo, trèo đèo lội suối giữa thời tiết mưa gió, chỉ vì muốn chiếm được tiên cơ [1]…
[1] Chiếm được tiên cơ là một cách nói trong hành quân đánh giặc, ý chỉ bên nào đến sớm hơn thì sẽ có nhiều sự chuẩn bị hơn và sẽ có phần thắng cao hơn.
Mình anh ngồi bất động, chờ người khác đến kính rượu.

Ăn uống linh đình, người tới lui như đèn kéo quân mãi không dứt, mỗi người mang sắc mặt, quần áo khác nhau nhưng ai cũng đều mơ hồ không rõ.
“Tôi cũng tốt nghiệp từ trường Bảo Định, năm 1917, tiếc là không theo kịp thiếu tướng quân”, một người cao lớn xuất hiện, “Ký túc xá tôi ở trước kia từng thuộc về thầy Tạ”.
“Vậy à”.

Tạ Vụ Thanh đáp gọn lỏn.

(E b o o k T r u y e n.

N e t)
Anh cắn điếu thuốc, tự mình rót rượu, nói thầm: “Cạn chén nào”.
Đối phương kinh ngạc nhưng cũng ngửa đầu uống cạn.
“Bao nhiêu tuổi?” Tạ Vụ Thanh uống xong rượu, hỏi bóng người mơ hồ.
“36 rồi”.

Đối phương cười.
“Đội trưởng quân đoàn 14 của chúng tôi tên Triệu Bác Sinh, tốt nghiệp Bảo Định năm 1917, đã hy sinh trong lần phản công tập kích thứ 3”, Tạ Vụ Thanh bật cười, giống như đang tán gẫu, “Sau sự kiện 918, hắn từng quyết liệt đòi kháng chiến chống Nhật, vì bị từ chối nên mới cởi quân trang, gia nhập hồng quân.

Hắn… cũng là cùng khoá với cậu hửm?”
Nụ cười trên mặt đối phương cứng đờ.
“Còn cậu tốt nghiệp ở đâu?” Tạ Vụ Thanh nhìn về phía khác.
“Giảng võ đường Vân Nam”.
“Đội trưởng quân đoàn 5 của liên quân kháng chiến chống Nhật ở Đông Bắc cũng xuất thân từ nơi đó”, anh tiếp lời, “Sinh ra lớn lên ở Vân Nam, người dân tộc Bạch, hiện đang giằng co với quân Nhật tại quan ngoại”.

“Còn cậu từ đâu đến?” Tạ Vụ Thanh lại quay sang một người bên cạnh hỏi.
“Hoàng Bộ”.
“Khoá mấy?”
“Khoá thứ nhất”.
Tạ Vụ Thanh cười trừ: “Đàm Kỳ Kính cũng là tốt nghiệp khoá thứ nhất tại Hoàng Bộ, hẳn là bạn cùng khoá với cậu, nhưng tiếc là hắn đã hy sinh năm 27 tuổi.

Lúc hắn còn đi học từng viết —” Anh nhìn người nghe chăm chú, nhả ra từng chữ, “Một ngày quốc gia còn chưa yên, ngày đó dân ta còn mất quê nhà”.

Tạ Vụ Thanh lần lượt hỏi hết một vòng.

Càng về sau, anh càng hăng say.

Mỗi lần mở miệng nói đều chụp tay lên vai người nọ, vỗ nhẹ mấy cái như cổ vũ sĩ khí.
Anh say rồi.
Hốc mắt Hà Vị cay xè, cố gắng đè nén không để rơi xuống.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Anh vẫn tiếp tục hỏi nhưng chẳng có tiếng trả lời.
“Cháu say quá rồi”.

Ông lão lẳng lặng đuổi khéo đám thân tín đến kính rượu.
Hà Vị đứng dậy ra ngoài bình phong, cô gọi ông chủ đến dặn mang lên vài món hải sản.
Chưa bao giờ cô cảm thấy bất lực như lúc này.

Hà Vị quay lưng với mọi người, đứng tựa bức bình phong điêu khắc sơn thuỷ.

Cách lớp ván gỗ, cô giơ tay giả vờ phủi mấy lọn tóc con nhưng thực chất là lau khoé mắt ngấn lệ.
“Sao thế?” Bỗng có tiếng đàn ông trầm khàn vang lên bên cạnh.
Tay cô run lên, quay đầu nhìn vào mắt đối phương.
Tạ Vụ Thanh vẫn ngậm chặt điếu thuốc chưa châm lửa.

Anh thư thả tựa vào bình phong, bày ra tư thế vô cùng ung dung nhàn nhãn, hơi cúi đầu thủ thỉ hỏi: “Không khoẻ sao?”
Có lẽ do chất cồn đậm đặc, xông lên mắt anh ươn ướt.
“Hiếm có dịp cùng dự tiệc với anh”, cô nhỏ nhẹ, “Có chút không quen”.
Cô đang lảng tránh vấn đề, như thể mọi chuyện chưa từng xảy ra.
Tạ Vụ Thanh bị yeutruyen.net lời nói dối của cô chọc cười, đôi mắt chăm chú nhìn cô.

Anh hơi cúi đầu, cách ngày càng gần: “Cô hai đau lòng hửm?”
Bọn họ không khác gì tình nhân cũ gặp lại… giống như chưa từng kết hôn.
Tạ Vụ Thanh không bao giờ có cử chỉ thân mật với cô trước mắt người ngoài, lúc này anh như thế quả thật đã quay bí tỉ.
“Sao không nói chuyện?” Giọng anh mê luyến.
Áo khoác vắt vẻo trên khuỷu tay, cổ áo sơ mi nửa kín nửa hở, trong tay là kính râm.

Cả người anh tựa vào bình phong, men say chếnh choáng… Dường như bọn họ quay trở lại năm ấy, thời điểm nam bắc hòa đàm, anh dẫn theo phó quan cùng một nhóm tướng lĩnh từ phương nam oai phong bước vào cửa khách sạn Lợi Thuận Đức.
Lúc đó tuy Tạ thiếu tướng quân phải đối mặt hiểm nguy khi ra bắc nhưng trong tay nắm giữ binh hùng tướng mạnh, lại là danh tướng lừng lẫy phương Nam.
Mà cô không có may mắn được nhìn thấy dáng vẻ thiếu niên ấy, nghĩ đi nghĩ lại, thời điểm nam bắc hoà đàm là lần duy nhất cô chiêm ngưỡng bộ dáng phong độ nhất của anh.

Vừa có binh lính, có hoà đàm, có chiến hữu cùng chung giấc mộng…
Trong 9 năm ngắn ngủi, chiến hữu phản bội, nước nhà tan tác.
Ông chủ đứng chờ bên cạnh, xa xa là nhóm phục vụ đang dọn món ăn.
“Đang suy nghĩ xem, có nên gọi thêm rượu ngon cho anh không”, cô nói, “Thiếu tướng quân đường xá xa xôi, chỉ sợ mấy bình rượu vừa rồi không đủ dùng”.
“Tôi ngày xưa nắm trong tay binh quyền của hai tỉnh lại không đổi được cái gật đầu của cô hai”, anh nói khẽ, “Hiện giờ không có nổi một quân một tốt, vậy mà được cô hai thiết đãi một bình rượu, quả là vinh hạnh của Vụ Thanh”.

Hà Vị dặn ông chủ chuẩn bị một phòng riêng, thêm bình rượu cùng mấy món nhắm.
Tạ Vụ Thanh đeo kính đen, che khuất tầm mắt, sóng bước cùng cô đi về phía cuối góc đường.

Tiếng 144 quân bài ngà voi được vô số đôi tay xào qua xào lại, có người xếp bài, có người ném bài, còn có tiếng cười đùa, tiếng giễu cợt náo động một vùng.

Họ bước qua âm thanh hỗn tạp của thế gian, vén rèm châu bước vào phòng.
Bàn giữa phòng trống không, chỉ có 2 viên xúc xắc cùng 4 hàng bài xanh biếc được xếp gọn gàng.
“Mấy người bọn họ”, Tạ Vụ Thanh xuyên qua thời gian, nhìn thấy bóng người trong phòng này ít năm trước, “Đêm đó thua không ít”.
Vậy mà hiện giờ, mọi thứ đều đã qua.
Tạ Vụ Thanh bước thẳng vào trong.

Trên giường La Hán bày đầy thức ăn cùng rượu ấm.

Anh đến gần bình rượu, là loại đơn giản nhất, dường như không hợp với khung cảnh nơi Thái Phong Lâu xa hoa truỵ lạc này.
Hà Vị định châm đèn, anh nhỏ giọng: “Đừng đốt”.
Tạ Vụ Thanh ngồi bên bàn thấp, tựa vào một bên sạp La Hán, cẩn thận tháo kính đen.

yeutruyen.net Trong ánh sáng le lói từ hành lang hắt vào phòng, anh nhấc đũa nhưng không gắp đồ ăn.

Hà Vị lẳng lặng rót rượu, bị anh đè tay lại: “Vị Vị”.
Cô trầm mặc chờ anh tiếp tục.
“Có lời này, nếu đêm nay không nói rõ ràng, sợ sau này khó mở lời”, giọng nói anh nhiễm hơi men, mang theo chút dịu dàng êm dịu lại trầm khàn, “Là anh phụ em”.
Anh không cho Hà Vị cơ hội đáp lời, nói tiếp: “Tạ gia ngày trước nắm trong tay quân đội chủ lực.

Hiện tại cái gì cũng không có.

Không binh không tốt, đến cả căn nhà ở Thiên Tân mua cho em cũng bán đi”.
Anh thủ thỉ: “Bán để mua súng”.
Hà Vị cố nén nước mắt, cúi đầu một giọt rơi trên mu bàn tay.

Cô khẽ lắc đầu, không biết bắt đầu từ đâu.
Tạ Vụ Thanh im lặng lúc lâu, trầm mặc ngồi dựa tường.
Tay anh cầm chén rượu, chợt buông ra lại lục tìm trong túi thuốc lá nhưng mãi không thấy gì.

Thì ra hộp thuốc lá bị anh bỏ lại trong phòng lúc nãy, cho dù tìm được anh cũng không buồn hút.
“Chưa nói với em”, anh nhỏ giọng, “Mẹ anh vốn là người Quế Lâm.

Quế Lâm xem như quê hương thứ hai của anh, lúc còn ở phương Nam, nơi thường sống nhất cũng là Quế Lâm, có đôi lúc… rất muốn quay về nhìn một lần”.
Hà Vị nức nở không thành tiếng, cô bịt chặt miệng mũi không muốn ai nghe thấy, nhất là những kẻ phía ngoài vách tường.
Có ai không nhớ đất tổ, không thương quê nhà.
Từ Li Giang đến sông Tùng Hoa, ngàn dặm xa xôi là thế, từ tít tắp núi xanh đến tuyết trắng quanh năm đỉnh núi, nếu không vì đất nước, liệu có ai muốn rời xa quê nhà, ngày đêm hành quân, chôn thây giá lạnh vẫn không từ?!.
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 77: Hoa Hạ Thiên Thu Muôn Đời 1


Hành lang ồn ào theo thời gian dần lắng lại.
Tạ Vụ Thanh trong phòng ngủ miên man chìm vào giấc ngủ.
Hà Vị lấy đôi đũa trúc Tạ Vụ Thanh vừa dùng, gắp mấy cọng hương xuân cho vào miệng.

Chầm chậm nhấm nháp, lông mi ướt nhẹp.

Cô quan sát Tạ Vụ Thanh ngủ không sâu, khẽ cất đũa, cúi người cẩn thận cởi cúc áo sơ mi giúp anh.
“Mấy giờ rồi?” Tạ Vụ Thanh tỉnh dậy.
Trong mơ màng, anh hỏi như bao ngày trước.
“Giờ Mão, canh ba”.

Cô đáp.
Trầm mặc một lúc, anh nói: “Trời sắp sáng rồi?”
“Sắp sáng”.
Hà Vị lắng nghe tiếng hít thở của anh, sau khi xác định anh đã say giấc mới rời giường.
Trên hành lang trong Thái Phong Lâu chỉ còn sót lại mấy gian phòng sáng đèn, bài bạc đều tan hết, chỉ còn những vị khách say khướt giống Tạ Vụ Thanh được người dìu đỡ ra ngoài.

Hà Vị vòng qua chỗ rẽ, trông thấy cảnh vệ của Tạ Vụ Thanh đang tránh né những hậu duệ quý tộc chếnh choáng ở kinh thành.

Hắn bắt gặp cô liền vội vàng chạy đến hỏi: “Tướng quân vẫn ở trong ạ?”
“Ừm.

Có chuyện quan trọng sao?” Cô hỏi.
Cảnh vệ gật đầu.
Hà Vị dẫn cảnh vệ vào phòng ngủ.

Tạ Vụ Thanh vừa chống người ngồi dậy, khuỷu tay đặt trên bàn thấp, tự rót tách trà nhuận giọng.

Anh nhướng mắt, nhìn thấy cảnh vệ do dự không biết mở lời thế nào.
“Nói đi”.

Tạ Vụ Thanh nhỏ giọng nhắc nhở.
“Sau khi trời sáng, Trương Gia Khẩu sẽ… phát điện tín toàn quốc, thông báo Phùng tướng quân rút lui”.
“Nói tiếp”.

Anh kiên trì.
Tạ Vụ Thanh nhấc tách trà trên bàn, vô cùng bình tĩnh.

Cử chỉ thản nhiên của Tạ Vụ Thanh khiến cảnh vệ lấy lại điệu bộ chuyên nghiệp, ném hết những thấp thỏm cùng lo âu ra sau đầu.

Hắn muốn học theo tướng quân, không màng thắng thua, không chùn bước trước khó khăn, không hoảng sợ trước nguy nan: “Sau khi Phùng tướng quân rút lui, tổng bộ quân đồng minh kháng chiến chống Nhật ở Trương Gia Khẩu sẽ tan rã”.
Tạ Vụ Thanh gật đầu, phất tay ra ngoài, ý bảo cảnh vệ đi trước.
Tổng bộ ở Trương Gia Khẩu tan rã, Phùng Ngọc Tường rút lui, không khác gì lệnh giải tán toàn bộ quân đội đồng minh kháng chiến chống Nhật.
Hà Vị khẽ khép cửa, quay đầu nhìn anh: “Tỉnh rượu rồi?”
Tạ Vụ Thanh ngẩng đầu, mỉm cười với cô: “Tỉnh hẳn thì chưa.

Có điều tối qua đã cảm nhận được thế nào là sống mơ màng giữa thời cuộc”.
“Khó trách chú hai quý anh như thế, lúc trước ông từng nhắc đến chuyện sống mơ màng giữa thời cuộc”, cô đến gần anh, ngồi xuống cạnh bàn thấp, cởi giày cao gót đặt ven tường, “Ông ấy bảo, sinh giữa thời buổi loạn lạc, say sẽ sống, tỉnh mộng ắt sẽ chết”.
Tạ Vụ Thanh chiêm nghiệm câu nói này, gật đầu tán thành: “Chú hai sáng suốt”.
“Sau khi Liên quân tám nước đốt thành Bắc Kinh, lương thực trong thành cạn kiệt, dân chúng khắp nơi ăn không đủ no.

Cha ruột em lúc đó có tiền nhưng không chịu phát ngân phiếu mua lương thực giúp đỡ, đích thân chú hai cùng vài người bạn của ông phải mạo hiểm vận chuyển lương thực từ ngoài vào thành để cứu tế dân đen.

Sau chuyện đó, chú hai có chút danh tiếng, lại bị kẻ khác ghen tức đổ oan đầu cơ trục lợi lương thực, bức ép tống giam”, Hà Vị nhớ lại chuyện xưa, “Năm đó, ông ấy mới hơn hai mươi tuổi”.
“Em từng kể chuyện này”.

Tạ Vụ Thanh đáp.
“Còn có một chuyện, anh trai lén nói cho em biết”, cô nói khẽ, “Chú hai thầm thích một cô gái, là học trò của ông.

Khi ông ấy du học từng làm gia sư trong một gia đình người Hoa.

Khi chú hai ra tù thì không còn liên hệ nữa”.
“Lúc chú hai còn trẻ, rất nổi tiếng ở kinh thành”, cô tiếp tục kể, “Không kém gì Tạ thiếu tướng quân đây”.
“Diện mạo thần thái của chú hai Hà, quả thật khiến Tạ Vụ Thanh phải ngưỡng mộ”.

Tạ Vụ Thanh đệm thêm.
“Nếu em là cô gái ấy, từng nảy sinh một đoạn tình cảm với chú hai, chỉ e sau này khó lòng để ý ai khác”, cô chăm chú nhìn Tạ Vụ Thanh, “Tối qua lúc anh say rượu, em sợ nói anh cũng không hiểu.

Tạ Vụ Thanh, đúng là anh đã phụ lòng em, lúc ở Bách Hoa Thâm Xử, anh không nên xuất hiện trước mặt em, không nên để em nhìn thấy anh”.
Hai người đối diện.
Cô cười: “Cũng không nên không bằng lòng ngoan ngoãn ở trường quân đội, lại lén lút trốn ra ngoài, tham gia Cách mạng Tân Hợi.

Không nên, đánh giặc giỏi như thế, nổi tiếng như thế khiến ai cũng e sợ”.
Tạ Vụ Thanh bị chọc cười: “Là Tạ mỗ sai rồi”.
“Không nên để em mới 7-8 tuổi đã nghe đến cái tên Tạ Vụ Thanh”.
“Phải”, Tạ Vụ Thanh mềm giọng, “Tạ mỗ sai”.
“Ngày đó khi biết anh là Tạ Vụ Thanh…” Hà Vị hạ giọng oán trách, “Em mất ngủ cả đêm”.
Tạ Vụ Thanh bình tĩnh nhìn cô.
Mãi lúc sau, cô mới tiếp tục: “Trong nhà mọi người đều có tên đệm [1], sau khi em được chú hai nhận con nuôi mới sửa tên.

Chắc anh không đoán được ý nghĩa của tên em nhỉ”.
[1] Nguyên văn là “tự bối”, ý chỉ tên đệm (tên lót) trong văn hoá đặt tên của người Hán.

Thông thường, trong một gia tộc lớn hoặc những gia đình có truyền thống lâu đời đều rất xem trọng cách đặt tên có đủ 3 thành phần là Họ – tên đệm – tên (Ví dụ Nguyễn Văn A thì “Văn” là tên đệm).

Thậm chí, có nhiều gia đình còn có sẵn những quy cách đặt tên đệm để phân biệt các nhánh, chi, dòng trong gia tộc hoặc phân biệt giữa người đời trước với người đời sau.

Lấy ví dụ như cha chú của Hà Vị đều lấy chữ “Tri” làm tên lót, đến đời của Hà Vị thì dùng chữ “Chí” làm tên lót.
Anh lắc đầu.

Quả thật nghĩ không ra.
Hà Vị chăm chú nhìn anh, thấp giọng: “Không biết con đường phía trước thế nào, chỉ biết vì sao mình theo đuổi”.
Ánh nến lập loè, không gian yên tĩnh.
Tạ Vụ Thanh như nhìn thấy rất nhiều chuyện quá khứ lướt qua trước mắt, chuyện lớn chuyện nhỏ, nhiều vô số kể.
“Chính là hai chữ “vì sao” ấy”.

Cô chốt lại.
Ngày 5 tháng Tám, dưới áp lực của quân Nhật và chính phủ Nam Kinh, Phùng Ngọc Tường phát thông báo cả nước, tuyên bố tổng bộ quân đồng minh kháng chiến chống Nhật tan rã.
Chỉ 3 ngày sau, nguỵ quân tấn công quy mô lớn khiến thành Đa Luân lần nữa rơi vào tay địch.
Tướng quân Cát Hồng Xương duy trì quân đội kháng Nhật, dẫn theo mấy nghìn người còn sót lại, quyết chiến tới cùng với quân Nhật, quân đội chủ lực trong ngoài Trường Thành, cuối cùng thất bại thảm hại.
Ngày thứ 5, người từng đưa quân đoạt lại thành Đa Luân – Tướng quân Cát Hồng Xương bị ám sát trong nhà tù lục quân Bắc Bình.

Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
“Lần đầu Cát tướng quân bị bắt, trên đường áp giải về Bắc Bình, ông đã giảng về chiến trường kháng chiến chống Nhật ở quan ngoại, lời lẽ bi hùng cảm động người lính áp giải nên được hắn lén thả ra ngoài.

Sau đó bị người ta đặt bẫy hãm hại ở tô giới Pháp Thiên Tân, tống giam vào nhà tù lục quân Bắc Bình”.
Hà Vị ngồi trong toa riêng trên xe lửa, chậm rãi vén rèm cửa sổ, nói với sĩ quan từ Nam Kinh tiếp đón: “Trước khi Cát tướng quân qua đời có để lại một bài thơ”.
“Ti chức có nghe nói”.

Sĩ quan nghiêm túc đáp.
Hận không giết sạch Nhật, ôm hổ thẹn muôn đời.

Từng mảnh đất tàn phá, chẳng tiếc cái đầu chi.
Bài thơ của danh tướng đại diện cả thế hệ, từng câu từng chữ như mang theo máu, không ai không từng nghe.
Sau sự kiện ở cầu Lư Câu, Bắc Bình bị chiếm đóng.
Ngày qua ngày, số lượng các hộ công nghiệp ở phương Bắc quyết định xuôi Nam nhiều vô số.
Tổng biên tập tờ Kinh Báo – bà Thang cũng bỏ lại toàn bộ gia nghiệp, rời khỏi Bắc Bình, từ đó Kinh Báo chính thức ngừng xuất bản.
Công ty chế biến muối tinh luyện Thiên Tân Cửu Đại, người đầu tiên xuất khẩu bao muối tinh luyện ra nước ngoài, người doanh nhân mang theo tinh thần lãng mạn in hình sao Hải Vương trên bao bì muối, vì sự xâm lược của quân Nhật ở Bình Tân nên quyết định đóng cửa nhà máy sản xuất muối, vận chuyển toàn bộ thiết bị xuống phía Nam.

Hà Vị tuân theo lời hứa năm đó, một khi Bắc Bình bị chiếm đóng, di dời cả nhà, quyết không giữ lại bất kỳ con tàu vận chuyển nào để người Nhật lợi dụng.
“Vận mệnh gia quốc nhiều nguy nan, gieo rắc khổ ải xuống phàm trần.

Xuôi nam người Tấn đều rơi lệ, như kẻ khát nhớ màu suối trong”.

Dưới tiếng ầm ầm của bánh xe kim loại trên đường ray, Tư Niên nhỏ giọng đọc bài thơ trong sách.
“Câu thơ này ý chỉ Y quan Nam độ [2]”, Hà Vị giảng, “Trong lịch sử nhiều lần sĩ phu phía Bắc cùng học trò phải lánh nạn ở phương Nam do bị ngoại địch xâm lấn hoặc chiến tranh loạn lạc”.
Tư Niên nghiền ngẫm bốn chữ “Y quan Nam độ”.
[2] Bài thơ Tư Niên đọc có tên là “Vĩnh Gia loạn y quan nam độ lưu lạc nam tuyền làm nhớ tích ngâm” (tạm dịch là “Ngâm khúc nỗi nhớ nhung của y quan nam độ lạc đến suối nam sau loạn Vĩnh Gia”).

Ngoài ra, “y quan nam độ” còn mang ý chỉ chiến sự hỗn loạn cuối thời Tây Tấn khiến các sĩ tộc Trung Nguyên chạy về phía Nam để ẩn thân.

Sau này, mỗi khi phía Bắc có biến, những người yêu nước, nhà văn hoá, công nghiệp… xuôi Nam lánh nạn được gọi là yeutruyen.net “y quan nam độ”.
Ngoài toa tàu có người gõ cửa, sĩ quan bước đến mở ra một khe hở, thì thầm vài câu với người bên ngoài rồi quay đầu báo cáo với cô: “Đã tới sân ga Kinh Hán rồi ạ”.
“Đến Vũ Hán rồi sao?” Tư Niên nhỏ giọng lặp lại.
“Đúng vậy, đến Vũ Hán rồi”.

Cô đáp.
Vũ Hán, một nơi cô chưa từng đặt chân.
Cuộc kháng chiến toàn dân nổ ra, Quốc Cộng lần nữa liên hợp, chính phủ Nam Kinh đã di chuyển đến Vũ Hán từ cuối tháng Mười, ngay cả bốn ngân hàng lớn cùng các đại sứ quán quốc gia ở Trung Quốc cũng dời đến Vũ Hán.

Giang Thành trở thành trung tâm kinh tế, chính trị lớn nhất cả nước trong thời chiến.
Cùng thời điểm, tất cả người dân thuộc mọi tầng lớp xã hội tham gia kháng chiến chống Nhật cứu nước đều tập trung về “ngã rẽ chín tỉnh” [3].
[3] Cách gọi khác của Vũ Hán.

Nguyên nhân do vị trí địa lý nằm ở phía đông đồng bằng Giang Hán, trên ngã ba sông Dương Tử với phụ lưu lớn nhất của nó – sông Hàn nên được gọi là “ngã rẽ chín tỉnh”.

Trên chuyến tàu xuôi nam lần này không chỉ có sĩ quan, quân lính, doanh nhân, mà còn có các danh nhân trong giới văn nghệ sĩ, hay những người tiên phong trong báo giới cùng những sinh viên tạm rời bỏ quê hương để lánh nạn.

Cách một cánh cửa, cô nghe thấy tiếng ồn ào xôn xao sát vách toa xe.

Trong lúc thu dọn hành lý để chuẩn bị xuống tàu, tiếng tranh luận nói chuyện của những người trẻ tuổi làm náo động khắp cả khoang.
Tư Niên giống như bị ảnh hưởng, nhanh chóng thu dọn sách vở vào cặp để chuẩn bị xuống tàu.
Tuy Hà Vị không nói với Tư Niên nhưng cô gái nhỏ vẫn cảm giác đến Vũ Hán có thể gặp lại cha đã xa cách bấy lâu, còn có em trai từ khi sinh ra đã được đưa đến Hồng Kông nuôi dưỡng…
“Em trai gọi con là chị đúng không ạ?” Cô bé thấp giọng hỏi, tay nhanh nhẹn đeo cặp lên vai.
Hà Vị hơi gật đầu: “Tất nhiên rồi, còn biết đọc sách ngâm thơ, nhưng em nhỏ tuổi hơn con nhiều”.
Bọn họ theo dòng người xuống tàu.
Nhà ga Kinh Hán được xây dựng vào năm Quang Tự triều Thanh, là trạm cuối phía nam của tuyến đường sắt được khánh thành đầu tiên.

Lúc đó Hà Vị còn nhỏ, theo chú yeutruyen.net hai xuống phía nam đã hỏi ông, chúng ta đi đâu? Chú hai đứng giữa sân ga Chính Dương Môn, chỉ tay về hướng nam nói: Đến cực nam của tuyến đường sắt này.
Bây giờ, cô đã tận mắt chứng kiến toà kiến trúc Pháp vĩ đại.
Cô dắt tay Tư Niên, bước ra từ cổng chính sân ga.

Phía trên cổng đá có một con diều hâu đang giương cánh, dõi mắt nhìn xuống biển người.
Bên ngoài nhà ga đông đúc, Hà Tri Hân mặc quần dài màu xanh thiên thanh cùng áo ngoài, mái tóc dài được tết bím thả sau đầu.

Cô ấy khoanh tay đứng cạnh chiếc xe hơi màu đen, từ xa trông thấy Hà Vị và Tư Niên.
Tư Niên chạy bước nhỏ đến gần, ôm chặt eo Hà Tri Hân, phấn khởi gọi: “Bà cô bảy”.
Hà Tri Hân không nhịn được cười, vuốt mái tóc cô gái nhỏ, sai bảo nhân viên của văn phòng vận tải đường thuỷ Lưỡng Giang sắp xếp hành lý của Hà Vị lên xe.

Cô kể sơ tình hình vận chuyển hàng hoá và lưu lượng hành khách tại các bến tàu ven sông Trường Giang, đến khi ngồi lên xe mới nghiêm túc quan sát mặt Hà Vị: “Nhìn ta hiện tại hẳn rất khác lần trước nhỉ? Năm năm tháng tháng người cũng già đi”.
Hà Vị ngẩn người, khuôn mặt cô bảy lộ vẻ uể oải, bỗng nhớ đến lúc trước khi rời khỏi Bắc Bình, nhìn thấy Chúc tiên sinh trong tiểu viện ở ngoại ô: “Có một vị tiên sinh, được người Nhật năm lần bảy lượt tìm đến mời hắn trở lại.

Nhưng người đó nói chỉ muốn trồng rau nuôi cá, không muốn mặc áo choàng lên sân khấu nữa”.
Cô bảy sững sờ, sau đó mỉm cười.
“Hắn là người hát Phàn Lê Hoa”, Hà Tri Hân nói khẽ, “Sao có thể vì người Nhật mặc áo choàng chứ?”
Phàn Lê Hoa là binh mã đại nguyên soái tây chinh ngày xưa, chỉ bằng một thanh đao Cửu Phượng Triều Dương đã có thể bình định quân xâm lăng Tây Bắc.
“Con hỏi hắn, có chuyện gì muốn nhắn người không”.
Hà Tri Hân cười nói: “Thật tốt quá, vừa gặp mặt đã nhắc người xưa”.
“Chúc tiên sinh nhấp nửa chung trà, sau đó nhờ con hỏi người, mọi chuyện thuận lợi chứ.
Hà Tri Hân nghẹn một lúc, hiếm khi lộ ra biểu cảm e thẹn của thiếu nữ, hạ tầm mắt nhớ đến quá khứ: Khi hai người bái sư học nghệ, vì không cùng một thầy nên luyện tập khá vất vả, cơ hội gặp mặt cũng không nhiều, mỗi lần vô tình nhìn thấy nhau trên hành lang tối om, Chúc Khiêm Hoài đều cố gắng duy trì cử chỉ đấng nam nhi dưới lớp hoá trang của con gái, thắt lưng hắn thẳng tắp, chăm chú nhìn hai mắt cô, lúng túng hỏi: “Mọi chuyện… thuận lợi chứ?”
Xe hơi bon bon chạy trên đường, ghế sau đã rơi vào trầm mặc.
Hà Vị không muốn quấy rầy suy nghĩ của cô bảy, tay nắm chặt túi, cách một lớp đệm trân châu như sờ được mảnh giấy bên trong.

Đó là một bức điện báo:
Giang Thành đông rét đẫm hương mai, mong nhớ em mỗi ngày..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 78: Hoa Hạ Thiên Thu Muôn Đời 2


“Tiệc tối nay có hai bên quan quân, còn có ông trùm tài chính của bốn ngân hàng lớn, người trong ngành vận tải cùng người thương hội các nơi và giới học thuật đều xuất hiện”, Hà Tri Hân nói ngắn gọn, “Thời buổi chiến tranh nên chỉ làm gọn gàng, không có sân khấu biểu diễn”.
Hà Vị đáp “vâng”.
Trước khi đến, cô đã nói chuyện điện thoại với cô bảy về buổi tiệc tối này.
Chiến tranh lan rộng khắp Hoa bắc, tình hình ngày càng cấp bách.

Chỉ sợ hai bờ sông Dương Tử sẽ trở thành chiến trường tiếp theo, những người gặp mặt đêm nay đều sẽ phối hợp kháng chiến nhưng vẫn đảm bảo duy trì kinh tế và học sinh mọi lứa tuổi đều phải đặt việc học làm đầu trong thời điểm này.
Ngành vận tải có nhiệm vụ to lớn, vừa phải phối hợp chiến đấu, vừa phải sắp xếp di chuyển học trò, người dân, lương thực cùng vật tư của quân đội và các gia tộc công nghiệp.
“Không biết người đó có đến Vũ Hán không”, cô bảy nói nhỏ, “Có điều hiện tại Quốc Cộng liên hợp, hành trình của bọn họ cũng không quá nguy hiểm”.

Ít nhất không cần một bên kháng Nhật, một bên đề phòng ám sát.
“Anh ấy nói, có lẽ trong 2 ngày sẽ đến Vũ Hán”.

Hà Vị bảo.
Nội dung điện báo ngắn gọn, cũng không đề cập đến buổi tiệc tối nay.
Bất quá cô đoán hành trình của Tạ Vụ Thanh ít nhiều cũng liên quan đến lần gặp mặt này.
Địa điểm tổ chức tiệc tối ở hội quán Sơn Thiểm.
Cô bảy cho một chiếc xe về nơi ở trước, sau đó cùng Hà Vị đi thẳng đến hội quán.

Xe dừng trước cổng lớn khắc đá, Hà Vị và cô bảy xuống xe, bảo tài xế tìm chỗ đỗ, còn mình đi bộ vào sân trong.

Người tiếp tân hỏi danh tính hai người, tìm kiếm dòng chữ “công ty vận tải đường thuỷ Hà thị” trong danh sách rồi dẫn bọn họ vào sảnh lớn.
Hai người đến muộn, toàn bộ bàn tiệc đều đầy người.
Hà Vị và cô bảy bước vào từ cửa hông, được đưa đến bàn ăn cạnh người của thương hội.

Lâm Trĩ Ánh nhìn thấy Hà Vị, tạm dừng cuộc nói chuyện với người bên cạnh, hướng về phía cô gật đầu chào hỏi, xong xuôi mới ngồi xuống an vị.
Thức ăn đã bày sẵn trên bàn, hôm nay là tiệc chay, không có sơn hào hải vị, nhưng có đãi rượu.
Mười cái bàn phía đông vẫn để trống, chờ nhóm người cuối cùng xuất hiện.
“Hôm nay phát hiện gián điệp Nhật Bản ở nhà ga”, ông chủ công ty vận tải đường thuỷ Đỗ thị giải thích, “Có mấy chuyến tàu đều bị trì hoãn”.
Lời còn chưa dứt, bên ngoài cổng đá đã có tiếng nói chuyện huyên náo.
Mấy chục quân nhân từ ngoài bước vào.

Tối nay tề tựu rất đông người từ mọi giới, đàn ông đều mặc áo dài hoặc tây trang, những quân nhân kia cũng được chuẩn bị sẵn áo sơ mi và quần dài, không khác gì thành phần trí thức cùng thương nhân ở đây.
Hà Vị tìm kiếm bóng dáng Tạ Vụ Thanh từ những khuôn mặt xa lạ, đáng tiếc không thấy.

Cảm xúc mất mát dâng trào trong lòng, nhưng cô rất nhanh đã lấy lại bình tĩnh, nếu đêm nay anh không đến thì 2 ngày nữa cũng sẽ xuất hiện thôi…
“Anh Vụ Thanh”.

Ngoài cổng đá có người nhỏ giọng nghênh đón.
Tim Hà Vị run lên.
Dưới cổng xuất hiện thêm mấy vị tướng quân, người có mặt cuối cùng là Tạ Vụ Thanh, bên cạnh không ai khác chính là bạn cũ Tôn Duy Tiên vừa chào hỏi.

Một người đến từ Duyên An, người kia vừa từ Tr**ng S* trở về.
Lâu rồi Tạ Vụ Thanh mới mặc âu phục, áo khoác không vừa người.

Gò má anh gầy hơn hẳn so với quá khứ, vì tuổi tác ngày một lớn mà đôi mắt càng thêm thâm thuý, tĩnh lặng như phủ thâm một tầng sương gió của năm tháng.
Trải qua từng đợt phản công cùng trường chinh, anh không khác gì tướng sĩ 8 lộ quân nơi này, từ khuôn mặt đến cử chỉ điệu bộ đều lộ vẻ tang thương hơn so với những tướng lĩnh quốc quân.

Dấu vết của những cuộc hành quân kéo dài khắc sâu trên khuôn mặt họ.
Hà Vị từ xa ngắm nhìn anh.

Tạ Vụ Thanh ngồi vào ghế trống.
Nhiều năm không gặp, hai người tương phùng trong một buổi tiệc công khai, làm cô có cảm giác an tâm hơn hẳn.
“Từ 1927 đến giờ đã qua 10 năm”, cô bảy nhỏ giọng, “10 năm đó, bọn họ bị tàn sát, đuổi bắt, cho đến tận hôm nay, vẫn có thể bình thản tự tại ngồi xuống, cùng những kẻ đã sát hại đồng bào mình ăn một bữa cơm…”
Cô bảy chậm lắc đầu, khẽ thở dài: “Tư duy của họ, chính phủ quốc dân còn lâu mới sánh bằng”.
“Vì kháng chiến chống Nhật”, Hà Vị đáp lời, “Khi đối mặt với ngoại địch, không gì không thể bỏ qua”.
Người chủ trì buổi tiệc là một ông lão râu tóc bạc trắng.

Ông đến từng bàn trò chuyện, giới thiệu những người có mặt làm quen.
Chờ thức ăn được dọn lên đầy đủ, ông lão cầm chung rượu đầy, đi đến bàn cuối cùng, nhìn mọi người một vòng, nói: “Chư vị, chén rượu này, tôi xin tế bái đồng bào gặp nạn ở Nam Kinh”.
Dứt lời, mọi người khắp phòng đều đứng dậy, im lặng nâng chén.
Ông lão đổ chén rượu xuống nền đá xanh, toàn bộ mọi người cũng làm theo.

Rượu chảy đầy đất, thấm xuống sàn nhà, có người đến từ Nam Kinh không nén được rơi nước mắt.
Tiếng nức nở đè nén, vang vọng trong sảnh đường yên tĩnh.
Tháng Bảy, quân Nhật tiến công vào thành Bắc Bình.

Tháng Mười Hai, Nam Kinh bị chiếm đóng.
Từ “an bang”, lấy ý “Tuân theo mệnh trời, an bang trị quốc”.

Trong lúc Nam Kinh gặp thảm hoạ tàn sát, tại Bắc Bình lại xuất hiện dòng chữ “Chúc Nam Kinh sụp đổ”.
Lúc cô nhìn thấy tấm ảnh đăng trên báo chí, nước mắt chảy thành dòng.

“Chúc kháng chiến thắng lợi!” Ông lão tuy chống gậy nhưng bóng lưng thẳng tắp.
Chúc kháng chiến thắng lợi.

Từng tiếng hô vang hết đợt này đến đợt khác.
Bữa tiệc bắc đầu ở Nam Kinh, tập trung vào Vũ Hán, hết thảy mọi người nơi đây đều hiểu rõ sớm muộn gì Vũ Hán cũng nổ ra cuộc chiến lớn.

Rất nhiều kẻ đêm nay gặp mặt, nhưng có thể ngày mai sẽ được sắp xếp xuôi nam, chuẩn bị trước cho chiến sự gần kề.
Hà Vị bàn chuyện kinh doanh tàu chở hàng và tàu chở khách với mấy người quen cũ trong nghề, nửa sau buổi tiệc, khi cô nói xong, phóng mắt về phía xa đã không thấy Tạ Vụ Thanh ngồi đâu.
Cô rời khỏi chỗ, ra ngoài cổng đá, nhìn Tạ Vụ Thanh, Tôn Duy Tiên cùng Đặng Nguyên Sơ dưới ánh trăng, giống đang bàn bạc chuyện bí mật.

Khuôn mặt anh trầm lắng, im lặng nghe Tôn Duy Tiên và Đặng Nguyên Sơ tranh cãi.
Rất nhanh, Tạ Vụ Thanh như phát giác điều gì, quay đầu chạm vào mắt cô.
Không biết ai là người bật cười trước, trên mặt Hà Vị không nén được vui sướng, mà biểu cảm của Tạ Vụ Thanh lúc này cũng thả lỏng nhẹ nhàng.
Đặng Nguyên Sơ nhìn theo ánh mắt Tạ Vụ Thanh, hơi mỉm cười với Tôn Duy Tiên: “Chúng ta ra chỗ khác nói tiếp”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Tôn Duy Tiên cũng phát hiện Hà Vị đứng gần đó, không nhiều lời, bước theo Đặng Nguyên Sơ trở về sảnh lớn.
Hà Vị muốn đến chỗ anh nhưng nghĩ không ổn, trong lúc do dự, Tạ Vụ Thanh đã đi tới cạnh cô.
Đến trước mặt, anh dừng bước mỉm cười.
Có người lướt qua bên cạnh, nhưng toàn bộ tinh thần và thể xác cô đều đặt trên người anh, vốn không phát hiện.
Tạ Vụ Thanh nắm lấy cánh tay cô, nhẹ kéo về phía mình, khoảng cách giữa 2 người rất gần.

Nhiệt độ vừa quen thuộc, vừa xa lạ trên tay, cách một lớp vải như hung nóng người cô.
“Đến lúc nào”.

Cô dịu giọng.
“Khoảng 1 giờ trước”.

Tạ Vụ Thanh đáp.
Tay anh không buông, nắm càng lúc càng chặt.

Mọi suy nghĩ trong đầu đều thể hiện qua hành động.
Mắt cô nhức nhói không chịu nổi, thầm oán trách: “Hiếm có dịp gửi điện báo, trước giờ chỉ nói chuyện tốt, không nhắc chuyện xấu.

Vất vả đến mấy cũng không kể, có điều thật sự muốn hỏi chuyện trồng rau…”
Tạ Vụ Thanh bỗng kéo mạnh cô vào lòng, bàn tay xoa nhẹ lên lưng cô, ôm chặt không rời.
Cô đứng trong tiếng mọi người rộn ràng, cảm giác bàn tay Tạ Vụ Thanh di chuyển đến sau đầu, nhẹ đặt lên ót, áp sát mặt cô vào ngực anh.
“Vừa rồi…” Cô nghẹn ngào yeutruyen.net nức nở, “Chỉ sợ anh lại đây”.
Mười năm qua, nếu anh không bị tống giam thì chính là cải trang ẩn nấp, để quang minh chính đại đứng cùng cô dưới ánh trăng “ôn chuyện” thế này, đều chỉ là suy nghĩ viển vong.
Lúc nãy khi Tạ Vụ Thanh bước đến, theo bản năng cô vờ như tình nhân cũ gặp lại… Mà bây giờ nằm trong vòng tay của anh, cô mới bàng hoàng nhớ ra, không đặc vụ nào có thể gây nguy hiểm cho anh nữa.
Cô đoán, Tạ Vụ Thanh đang cười.
Hà Vị ngửi thấy mùi nước giặt quần áo bình dị trên người anh, cố nén nước mắt, mỉm cười: “Tạ tướng quân không sợ chuyện tối nay đồn ra ngoài lại thành chuyện phong lưu của ngài sao?”
Anh cúi đầu, nhẹ hôn trán cô: “Người đến Vũ Hán lần này đều biết anh đã sớm có gia đình”.
Trong mắt Hà Vị ánh lệ, không biết nên trả lời thế nào.
“Chờ giành lại Bắc Bình”, anh nói, “Trước tiên sẽ đăng báo”.
Hà Vị khẽ gật đầu.

Cô nghĩ đến quê hương đang bị chiếm đóng, tim như dao cắt.
“Năm đó từ nam đánh ra bắc, hiện tại cũng vậy”, anh kể, “Nam Kinh, Hoa Bắc, hướng thẳng ra cực bắc cùng 3 tỉnh Đông Bắc, tất cả đều phải giành lại”.

Hai người trầm mặc lúc lâu.

Tạ Vụ Thanh buông người trong lòng, vươn tay giúp cô vén tóc mái.
“Tối nay anh làm gì?” Cô hỏi.
“Sau tiệc tối không còn gì khác”, Tạ Vụ Thanh đáp, giọng nói mang ý trêu ghẹo, “Mặc cô hai sắp xếp”.
Hà Vị cười, khẽ nói: “Vậy đến nhà cô bảy đi, tối nay ngủ ở đó”.
“Được”.
Tạ Vụ Thanh bảo cô chờ bên ngoài, còn mình vào sảnh lớn.

Khi anh quay lại, trên tay là âu phục bị ném lại trên ghế và áo khoác lông dê cùng túi xách của cô.

Anh cẩn thận khoác áo giúp cô.
Hà Vị nhận túi trân châu, theo anh bước ra ngoài.
Trên đường có người nhận ra Tạ Vụ Thanh, chào một tiếng thầy Tạ hoặc Tạ tướng quân.

Những người đến từ Duyên An đều biết chuyện, thân thiện gật đầu với Hà Vị.
Cô luôn dành sự kính trọng với những anh hùng xa lạ, gật đầu mỉm cười đáp lại từng người.
Chỗ ở của cô bảy nằm cùng toà văn phòng công ty vận tải đường thuỷ.
Hà Vị chưa từng đến đây, chỉ biết địa chỉ, sau khi được tài xế chở về, cô và Tạ Vụ Thanh không khác gì những lữ khách xa lạ, theo người gác cổng xuyên qua lầu một không còn nhân viên.
“Trên lầu chính là chỗ ở của Thất tiên sinh”.

Người gác cổng chỉ điểm.
Tạ Vụ Thanh sóng vai cùng cô lên lầu, đèn phòng khách đã tắt từ lâu, chỉ còn chút ánh sáng nhu hoà hắt ra từ thư phòng.

Bóng dáng 2 đứa trẻ một cao một thấp kéo dài trên nền đất.
Tạ Vụ Thanh như đoán biết, bước chân chậm dần.

Hà Vị chậm hơn anh nửa nhịp, cũng đột nhiên dừng lại.
Cô như ngừng thở, chỉ sợ quấy nhiễu 2 đứa trẻ trong phòng.

Lúc nãy khi bước lên lầu, cô vội vàng chỉ muốn gặp mặt con trai.

Chính là đứa bé từ lúc sinh ra đã rời khỏi vòng tay cô.
Gần ngay trước mắt, chỉ cần bước vào thư phòng liền có thể nhìn thấy con mình, chạm vào người nó, nhưng lúc này cô lại không dám động đậy…
Có bóng dáng khom người, bế lên đứa nhỏ, sau đó hai cái bóng hoà vào nhau.
“Nói chị nghe”, Tư Niên bế em trai, “Đợi ba mẹ trở về, em muốn gọi ba trước hay gọi mẹ trước?”
Tư Niên không chờ em trai đáp yeutruyen.net lời, tiếp tục dịu giọng dỗ dành: “Gọi mẹ trước được không? Mẹ chưa từng gặp em đấy”.
Hà Vị che chặt miệng, nước mắt len lỏi qua kẽ tay rơi xuống đất, rớt dài trên vạt váy.
Chỉ vì bóng người nhỏ bé trong thư phòng lên tiếng: “Được ạ”..
 
Back
Top Bottom