Ngôn Tình Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 39: Cố đô ngày hè dài đằng đẵng (1)


Đầu hè năm 1930.

Sau khi chú hai mất, cô không còn người thân, cảm thấy Hà nhị phủ là nơi chất chứa đau thương, liền chuyển đến ở trong một căn tứ hợp viện vừa đủ.

Căn tứ hợp viện nho nhỏ nhưng hiên nhà lại rất mát mẻ.

Trần nhà tứ hợp viện ở Bắc Bình thường nối liền với phần nóc, đặc biệt vào ngày hè chỉ cần liếc mắt một cái nhìn ra ngoài đã trông thấy từng mái ngói màu xám tiếp theo nhau, xanh sẫm luân phiên không dứt, xa hơn nữa, là cửa lớn bao bọc lấy tường thành.

Cô thường kê ghế mây ngồi trên hiên nhà, nhìn những mái ngói màu xám cùng xanh sẫm nối với nhau kéo dài bất tận.

Hôm nay Đặng Nguyên Sơ đến tứ hợp viện khá sớm, ngồi trên hiên nhà uống nửa tách trà.

Cô nhìn hắn gấp tờ Kinh báo trong tay, không khỏi cười.

Năm ngoái, Kinh báo lần nữa xuất bản. Lúc cô nghe thấy tin phát hành trở lại, chỉ nghĩ đến bốn chữ “không ngừng kinh doanh”.

“Anh đọc báo phải cẩn thận một chút, không tỉ mỉ bằng giám đốc Hồ”. Cô ngồi xuống.

Tình cảm Hồ Thịnh Thu đối với Kinh báo rất sâu đậm, thường xuyên chú ý, nhưng vô cùng cẩn thận chuyên tâm, mỗi lúc quyên tiền cho toà soạn đều để nặc danh. Ngày thường đọc báo cũng phải đến nơi không người.

“Từ lúc bị tróc nã về, tôi không mong chờ gì ở thân thể này nữa”. Đặng Nguyên Sơ nhàn nhã nói.

Sau khi chính phủ Bắc Dương biến mất, nhóm quan chức ngoại giao đều được chiêu mộ vào chính phủ Quốc gia Nam Kinh, một số thì bị truy nã, không thể về nước. Hai năm trước, Đặng Nguyên Sơ cũng nằm trong nhóm người bị truy nã, mất hai năm trốn chạy mới đến được Ma Cao lánh nạn.

Sau đó cô nghe có người nhà của một quan chức ngoại giao đút lót rất nhiều tiền mới mở được đường sống. Cô lập tức nghĩ cách báo với người thân của Đặng Nguyên Sơ, bảo họ ở Thượng Hải chuẩn bị một chút, còn sợ họ không đủ tiền nên gửi luôn mấy vạn tệ chi phiếu đến giúp đỡ.

Không lâu sau, lệnh truy nã của Đặng Nguyên Sơ bị huỷ bỏ.

Lúc hắn từ Ma Cao quay về, trước sau vẫn nhớ kỹ lời dặn dò của Tạ Vụ Thanh, không nhắc đến chính trị, một lòng làm ngoại giao, dùng đối ngoại để bảo vệ đất nước. Vì thế thông qua quan hệ, hắn lần nữa dựa vào kinh nghiệm hơn người, trở về Bộ Ngoại giao làm việc.

“Hôm nay tới, cô đoán xem vì sao?” Đặng Nguyên Sơ hỏi cô.

Cô lắc đầu.

“<i>Uy Hải Vệ [1]</i> của chúng ta sắp được trả về rồi”. Đặng Nguyên Sơ cười nói.

<i>[1] Uy Hải Vệ là một thị trấn nằm ở đông bắc TQ, từng là lãnh thổ được TQ cho nước Anh thuê từ năm 1898 đến năm 1930.</i>

Cô kinh ngạc: “Đúng là chuyện vui lớn đáng chúc mừng”.

“Phải, là chuyện vui lớn”, Đặng Nguyên sơ nhấp ngụm trà, vô cùng thảnh thơi nói, “Chỉ vài tháng nữa thôi, ngày 1 tháng Mười sẽ trả về”.

Trên thực tế, hợp đồng thuê đất đã hết hạn từ lâu nhưng nước Anh vẫn luôn cố tình kéo dài.

Các nhà ngoại giao bắt đầu đàm phán từ lúc hắn hai mươi hai tuổi, thảo luận nhiều năm cuối cùng cũng chờ đến ngày này.

Hai người nói xong chuyện vui, Đặng Nguyên Sơ không khỏi cảm thán: “Về chuyện bồi thường, vẫn đang bàn bạc thêm. Không biết phải nói đến năm nào tháng nào”.

Hắn dứt lời, lại bổ sung: “Có điều hiện tại nhìn lại, tình hình trên bàn ngoại giao đã biến hoá khó lường. Cũng vì Liên Xô thành lập nên chúng ta mới được miễn phí bồi thường. Còn có nước Đức, do chúng ta thuộc phe giành thắng lợi trong thế chiến nên cũng không cần thiết trả lại. Nếu vào đời trước nói mấy lời đó, chắc chắn không ai tưởng tượng nổi, bây giờ chúng ta đã có thể thương lượng về vấn đề tiền bồi thường với một số quốc gia rồi”.

“Ngoại giao chính là cuộc thi chạy tiếp sức giữa các thế hệ quan chức đối ngoại, không có điểm kết thúc, chỉ nói quá trình”. Cô mỉm cười.

“Đúng là vậy”, Đặng Nguyên Sơ phụ hoạ thêm, “Đây vốn không phải cuộc đua có điểm dừng, khi gậy khai cuộc giơ lên, có khi gặp phải mương bùn, có lúc may mắn lên xe, dẫu đói bụng cũng phải chạy, ăn no cũng phải chạy, bị mắng nhiếc cũng phải chạy, được khen ngợi càng phải tăng tốc chạy nhanh hơn”.

“Thật ra anh rất thích hợp làm ngoại giao”. Cô vui vẻ.

“Đáng tiếc tình cảnh chung vẫn chưa đủ tốt”, Đặng Nguyên Sơ đáp lời, “Những nhà ngoại giao nữ trên trường quốc tế rất khó đả động tới. Tôi cảm thấy chú hai cùng anh trai cô cố gắng bồi dưỡng cô kinh doanh cũng vì cân nhắc đến điểm này. Ít nhất khi làm ăn, còn có thể ẩn mình phía sau”.

“Tôi cũng giúp anh một tay”, cô cười, “Chờ ngành công nghiệp phát triển, những quốc gia kia khi đối mặt với anh cũng hoà hoãn hơn”.

Đặng Nguyên Sơ bị chọc cười: “Cô hai Hà thật vất vả, tôi chờ nhận ân huệ của cô vậy”.

Hai người nhìn nhau phấn chấn.

Không có chút nào giống hai kẻ từng tránh khỏi hung hiểm, nhặt lại một mạng trở về.

Sau khi Đặng Nguyên Sơ rời đi, cô ngồi dưới cái nóng oi bức của ngày hè một lúc.

Hôm nay không hiểu sao khi nghe tiếng ve sầu kêu cũng thấy phiền, ngồi mãi không yên.

Cô bước xuống hiên nhà, về phòng đổi một cái áo ngắn tay cùng váy dài màu trắng bạc giản dị, đứng một lúc lâu trước gương lớn chọn trang sức, cuối cùng lấy ra một đôi khuyên tai hồng ngọc từ hộp châu báu đeo lên.

Cô v**t v* khuyên tai, nghĩ có lẽ do gặp Đặng Nguyên Sơ nên mới nhớ đến anh.

Ba năm đủ để muôn vàn chuyện kinh thiên động địa xảy ra.

Hiện tại Bắc Kinh đã đổi tên thành Bắc Bình.

Các nhóm quân phiệt cùng tướng lĩnh tham gia Bắc phạt lần lượt đảo ngược mũi giáo, chiến đấu với chính phủ Nam Kinh hết năm này sang năm khác.

Mà ba năm qua, anh cùng người nhà họ Tạ giống như bốc hơi.

Không lưu lại bất kỳ vết tích nào trong sinh mệnh của cô…

Hà Vị đứng trong sân sai người chuẩn bị xe, cô vốn định đến văn phòng công ty vận tải đường thuỷ, nhưng nghĩ mấy ngày nay luôn có đám phụ tá của quân phiệt tới, muốn cùng cô bàn chuyện hợp tác ở cảng Thiên Tân…

Cô thay đổi ý định: “Đến Tích Thuỷ Đàm đi”.

Hôm nay trường học của Tư Niên khai mạc hội thao nên được tan học sớm.

Cô bé khoảng sáu tuổi, mặc áo vải trúc thiển nguyệt màu trắng cùng váy đen, mang tất lụa trắng và đôi giày vải nhỏ, lưng đeo một cái túi vải trắng sạch sẽ, đang bước vào cửa viện. Vừa thấy cô muốn ra ngoài, đến cặp sách cũng không kịp cất đã vội vàng leo lên xe.

“Một số bạn cùng lớp của con đã bỏ học”, Tư Niên cất lời, nhận lấy khăn lông từ Hà Vị, “Nói muốn đến Nam Kinh. Các bạn ấy còn bảo nam – bắc rất nhanh sẽ đối đầu. Một bạn lớn tuổi nhất, con đã từng kể với mẹ, tên là Thiệu Vấn Đông, cậu ấy nói thật ra quân Đông Bắc đang quan sát tình hình, xem ai thắng thì sẽ giúp bên đó”.

“Các con còn nhỏ, chưa từng thấy qua cảnh trong vòng mấy tháng đổi một vị tổng thống. Chỉ cần nhìn thôi, không nên bàn nhiều về việc này”. Vì để bồi dưỡng tư duy logic của Tư Niên nên khi nói chuyện, cô đều xem con bé như bạn bè cùng trang lứa. Ban đầu Tư Niên nghe mãi không hiểu, chậm rãi từ từ mới theo kịp suy nghĩ của cô, tất nhiên năng lực tư duy đã vượt qua bạn bè cùng tuổi.

Cô cầm tờ báo lên đọc, trên đó có mấy bài phân tích về cuộc khủng hoảng kinh tế trong hai mươi chín năm qua tại Hoa Kỳ.

Nhà họ kinh doanh vận tải đường thuỷ ở hải ngoại nên cô cũng thường đọc một số đánh giá về tình hình nước ngoài.

Tư Niên nhìn thấy hai tấm ảnh từ sọt mây đan đựng báo, trong đó có một tấm hình các quân phiệt lớn chụp chung với nhau sau thắng lợi Bắc phạt năm đó, mỗi người đều mặc một kiểu quân phục khác biệt.

Tư Niên để ý đến đặc trưng quân phục của bọn họ.

Cô bé phân biệt một lúc, nhận ra không có ai giống ảnh chụp của Tạ Vụ Thanh lúc trước, thần sắc dần ảm đạm. Nhưng cũng chỉ trầm mặc không nói, mấy năm qua, cô bé nhớ cha, có điều đến ảnh chụp cũng không dám xem, sợ gợi nhắc đến chuyện đau lòng của Hà Vị, càng đừng nói đến mở miệng hỏi han.

Ngày hè nóng bức, họ bước vào quán trà vừa khai trương không lâu, đi lên tầng hai.

Trước kia nội thành không cho phép xây chỗ ăn chơi giải trí, hiện giờ ai cũng mở quán, cách nhà cô ở khá gần.

Chỗ này từng là hồ tắm voi của hoàng gia, sau khi bị tách khỏi kênh đào, liền biến thành một đầm nước hoang đúng nghĩa. Hiện tại, gọi là Tích Thuỷ Đàm, cách Bách Hoa Thâm Xử cũng không xa.

Hà Vị v**t v* cái khuyên hồng ngọc trên vành tai, bất chợt nhớ đến bóng dáng người đàn ông dưới bóng đèn lồng đỏ trong Cung Vương Phủ… Bình Thư tiên sinh trên đài đang kể chuyện “Thất hiệp ngũ nghĩa”, gõ phách gỗ xuống, khiến cô bừng tỉnh.

Trong tay cô cầm một cây quạt giấy, lại quạt một cái, muốn quạt hết những đau khổ trong lòng.

“Tư Niên đâu rồi?” Cô hỏi.

Sau lưng không người lên tiếng.

Cô quay đầu lại nhìn, đến Khấu Thanh cũng không thấy đâu.

Có tiếng bước chân chạy đến, Khấu Thanh chỉ xuống dưới tầng, lắp bắp nói không thành câu: “Cô, cô, cô hai… cô hai, hai, hai… cô…”

Nha đầu này mấy năm qua đều không nói lắp.

Tim cô căng thẳng, vội bật dậy, chạy nhanh xuống lầu, chỉ sợ Tư Niên xảy ra chuyện.

Dưới tầng một không có người, cô nhấc váy dài bước thẳng đến bệ cửa, nhìn về phía tây, vẫn không thấy ai, nương theo ánh mặt trời ngó sang hướng đông.

Giữa cái nắng hè gay gắt chói chang, có một bóng người mặc áo sơ mi cùng quần quân phục, cởi áo khoác tướng lĩnh, cùng Tư Niên đứng đối diện ngơ ngác một hồi.

“Sao lại chạy theo tôi đến đây?” Người đàn ông hỏi Tư Niên.

Hà Vị không thể đứng vững, vầng sáng mặt trời bao phủ quanh thân ảnh của người kia, khuôn mặt đó… Còn có hành động cúi đầu nhìn Tư Niên…

Trước mắt cô lập tức mơ hồ.

Thật giống anh, nhưng lại không phải anh.

Thiếu niên này còn quá trẻ…

Hà Vị ngẩn ngơ đứng đó, không ngăn cản bọn họ. Cô không tài nào tin được trên đời lại có chuyện người giống người như đúc.

Tư Niên cũng hệt cô, nhận lầm người, sau khi phát hiện tuổi tác chênh lệch, vẫn ngửa đầu không rời mắt khỏi vị tướng lĩnh trẻ tuổi.

Bên cạnh bóng cây xanh um, Tư Niên không để ý đến chuyện trú nắng, vẫn đứng dưới ánh mặt trời phơi đến mức da rám đỏ, mấy lần định mở miệng nhưng không thể nói thành lời…

Cậu thiếu niên nghiêm túc hỏi: “Có biết chạy theo xe của người khác rất nguy hiểm không? Người lớn trong nhà em không dạy điều này à?”

Tư Niên nhìn hắn, bất chợt rơi nước mắt.

Thiếu niên sửng sốt, nhíu mày: “Em khóc gì chứ? Liên quan đến tính mạng, không thể để mặc em náo loạn được”.

Tư Niên càng khóc to hơn, nước mắt không ngừng rơi xuống, vừa khóc vừa dùng mu bàn tay lau qua, lau xong lại khóc tiếp.



“Tướng quân, ngài nói chuyện với trẻ con phải giữ mềm giọng một chút”. Sĩ quan đứng cạnh nhịn không được nhẹ giọng nhắc nhở.

“Có phải lái xe bất cẩn cán qua đồ gì của cô bé không?” Hắn hỏi sĩ quan, “Cặp sách hay thứ gì khác?”

“Cái này cũng không để ý nữa”. Sĩ quan bị hỏi hơi chột dạ, nhìn về con đường vừa đi.

Thiếu niên càng nhíu mày sâu hơn, quay lại xem cô gái nhỏ.

“Được rồi… đừng khóc”, hắn cố gắng dịu dàng hết mức, “Nếu cán hư đồ thì tôi đền cho em”.

Tư Niên nức nở lắc đầu.

“Được”. Hắn không còn cách nào khác đành phải dịu giọng hơn nữa.

Không ngờ bàn tay đẫm nước mắt của cô bé khẽ nắm lấy tay hắn.

Hắn lần nữa kinh ngạc, cuối cùng nghiêm túc quan sát kỹ cô bé.

Lúc nãy khi ngồi trong xe, hắn được phó quan nhắc nhở có một bé gái chạy theo xe, hắn bảo lái xe dừng lại, bước xuống vốn định nghiêm khắc dạy dỗ cô bé ấy, chưa từng cẩn thận để ý vẻ ngoài của cô. Đôi mắt long lanh ánh nước này… rất giống một người.

Hắn như nhận ra điều khác lạ, cố gắng trấn tĩnh âm thanh: “Em là con cái nhà ai? Mẹ em tên gì? Họ Hà phải không?”

Tư Niên gật mạnh đầu, như tìm thấy giọng nói của mình: “Phải, phải ạ, là họ Hà…”

Cô bé gấp gáp nhìn về hướng quán trà, muốn nói mẹ đang ở trên lầu, đột nhiên bắt gặp Hà Vị đã đứng sẵn trước thềm cửa quán.

Thiếu niên thấy hai mắt cô bé phát sáng, nhìn qua theo, trong chớp mắt nhận ra Hà Vị, giống như bất ngờ, lại như trút được gánh nặng. Hắn giao áo khoác quân đội trên người cho sĩ quan bên cạnh, đi về phía Hà Vị.

Bên trong quán trà vẫn náo nhiệt như cũ, người ra kẻ vào tấp nập, vừa trông thấy một vị tướng lĩnh đến gần, phút chốc ai cũng dừng bước để nhường đường. Thiếu niên trẻ tuổi ấy mang một đôi giày quân đội sạch sẽ, sống lưng thẳng tắp đứng trước mặt cô.

“Cô hai Hà đúng không?” Cậu thiếu niên nhỏ giọng mở miệng, mang theo chút thăm dò, như sợ nhận lầm người.

Tim cô càng đập nhanh hơn…

“Kẻ hèn này”, cậu thiếu niên báo danh, “Họ Ngô, tên Ngô Hoài Cẩn”.

Cô khẽ gật đầu.

“Cậu… có biết tướng quân Tạ Khanh Hoài không?” Cô nghe bản thân hỏi hắn.

Ngô Hoài Cẩn nhìn Hà Vị.

“Tạ Khanh Hoài đã chết”, Ngô Hoài Cẩn đáp, “Chết ở Kim Lăng”.

Cô hoảng hốt, tim như ngừng đập.

“Nhưng cậu út của tôi vẫn còn sống”. Hắn khẽ nói.

Cô không khác gì người được cứu sống sau vụ tai nạn, tay nắm thành quyền không buông.

Giống như có một đôi tay giúp cô lau sạch hơi nước mờ ảo trên tròng kính, cô chợt nhớ ra khuôn mặt của cậu thiếu niên trẻ tuổi này.

Tám năm trước, trong nhà hàng kiểu Tây của khách sạn Lục Quốc… đứa trẻ có cơ thể cao gầy, mặt như bạch ngọc thoáng cái trùng khớp với bóng người trước mặt. Chỉ có thể là cậu bé ấy, cũng chỉ có thể là cháu trai của anh khi lớn lên mới giống anh đến thế.

Niềm vui bất ngờ khi nhìn thấy người nhà họ Tạ, bằng khả năng giao tiếp bao năm của chủ nhân vận tải đường thuỷ Hà gia, nhưng lúc này cô lại không tìm được lời nào để nói. Những gì cô muốn hỏi quá nhiều… muốn hỏi xem cậu út của cậu có khoẻ không?

Lời đến bên miệng lại bị đè xuống.

Ở ngoài đường, không tiện nói nhiều.

“Em và cậu út, lớn lên rất giống nhau”. Cô nhỏ giọng nói, cố gắng trò chuyện như bình thường.

“Mẹ cũng thường nói vậy”, Ngô Hoài Cẩn không còn biểu lộ sự kiêu ngạo bên ngoài như lúc xưa, dưới sự gột rửa trên chiến trường càng thêm trầm ổn và nội liễm không phù hợp với lứa tuổi, “Mẹ thường nhắc về chị”.

Tim cô mềm nhũn. Vậy là tốt rồi, mẹ cậu vẫn bình an vô sự.

Giống như Tạ Vụ Thanh từng nói, người Tạ gia luôn bảo vệ huyết mạch cuối cùng của chú hai trong nhà, che chở cẩn thận, cho dù chỉ còn một người sống sót cũng phải giữ lại cô tư Tạ.

Cô gấp đến mức không chờ được muốn biết mọi thứ về Tạ Vụ Thanh, định mời cậu đến một nơi yên tĩnh hơn tiện nói chuyện.

Cậu bất ngờ hỏi cô: “Vì sao cô hai không hỏi về cậu út?”

“Chỉ e không tiện, hơn nữa”, cô nhỏ giọng, “Chỗ này không phải nơi thích hợp để tán gẫu. Nếu em có thời gian, giờ chúng ta đến một nơi yên tĩnh hơn. Nếu em có việc cần phải làm, vậy chúng ta hẹn trước, tối nay gặp lại”.

Cô nói xong, bổ sung thêm: “Bất cứ lúc nào, bất cứ đâu, chỉ cần em chịu nói, chị đều đồng ý”.

“Em đến tìm cô hai, cũng vì chuyện này”, Ngô Hoài Cẩn nói, “Từ lúc đến Bắc Bình, em vẫn luôn tìm chị”.

Cậu đến văn phòng công ty vận tải đường thuỷ, trông thấy một người quản lý tên Hồ Thịnh Thu, hắn cho cậu địa chỉ nhà, lúc đến tứ hợp viện lại được người trông cửa báo cô hiện đang ở quán trà này.

Cứ tưởng dễ gặp nhưng không ngờ nơi đây quán trà này mọc lên san sát, thật sự không có thời gian tìm từ đầu tới cuối, cậu định đi trước, đợi đến tối xong việc mới sang tứ hợp viện tìm cô.

Nếu không phải vì bị cô bé kia đuổi theo, chỉ e cậu cũng bỏ lỡ rồi.

“Cậu út rất nhanh sẽ đến Bắc Bình”. Cậu thấp giọng nói.

Tim cô vừa khôi phục bình thường, lại nảy lên, nhanh chóng nhói đau.

“Nhanh thôi”. Hắn nhấn mạnh thêm lần nữa.

— HẾT CHƯƠNG 39 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 40: Cố đô ngày hè dài đằng đẵng (2)


Cô mím chặt môi đến mức trắng bệch.

Ngô Hoài Cẩn lễ phép gật đầu chào một cái rồi lên xe rời đi.

Cô đứng ngoài cửa, nhiệt độ nóng bừng, trên lưng toát mồ hôi.

Tư Niên đau lòng nhìn chiếc xe đã đi xa, nhỏ giọng hỏi: “Vị đó có phải là người nhà của Tạ thiếu tướng quân không ạ?”

Tư Niên rất hiểu chuyện, Hà Vị từng dặn cô bé khi ở ngoài phải gọi Tạ Vụ Thanh là Tạ thiếu tướng quân. Vừa nãy Tư Niên ở ngoài quán trà, nghe người ta gọi một tiếng thiếu tướng quân, cô bé theo bản năng xoay người, trông thấy Ngô Hoài Ngẩn liền choáng váng, chỉ lo cắm đầu chạy về phía trước…

Hà Vị mất hồn “ừm” một tiếng.

Hồ Thịnh Thu đạp xe đến quán trà trên phố này, nhìn thấy Hà Vị, vội vàng phanh gấp: “Gặp được không?”

Khấu Thanh bị chọc cười: “Nhìn Hồ tiên sinh còn sốt ruột hơn cả cô hai”.

“Cô không hiểu tâm tình của tôi”, Hồ Thịnh Thu lau mồ hôi trên tán, “Nếu là người bình thường đến hỏi, tôi sẽ không đưa địa chỉ đâu… Nhưng khuôn mặt kia, hình như rất giống thiếu tướng quân”.

Hồ Thịnh Thu trước mắt vẫn mang dáng vẻ nhiệt tình của người đội mũ quả dưa năm đó cô gặp trên tàu, đứng cách mấy quan quân, vẫy tay chào Tạ Vụ Thanh. Thời gian thấm thoắt có thể thay đổi bộ mặt của con người nhưng không thể lung lay trái tim.

Mùa hè năm nay, hết tin tốt này đến tin tốt khác tìm đến. Thím chín của cô sắp sinh em bé.

Vừa lúc đến kỳ nghỉ hè, Hà Vị liền dẫn theo Tư Niên đến Thiên Tân.

Khi nhận được tin của anh, cô không cách nào bình tĩnh được, không bằng đến ở cùng thím trước. Hai nơi chỉ cách nhau nửa ngày ngồi tàu, bất cứ lúc nào cũng có thể quay về.

Chú chín mời bác sĩ và y tá từ khoa phụ sản của bệnh viện Bắc Bình đến, giúp thím chín đỡ đẻ ngay trong nhà.

“Bắc Bình hiện tại rất loạn, các lão quân phiệt đều tụ lại đó”, chú chín nói, “Lỡ không may nổ ra chiến tranh, thím chịu không nổi”.

Thím nhỏ thấy buồn cười: “Chú chín con không ngủ suốt hai đêm rồi, con khuyên bảo chú ấy đi”.

“Tây y dự đoán ngày sinh cũng không đáng tin, họ nói là hôm qua”, chú chín ngẫm nghĩ thấy bất an, “Chú vốn không muốn thím con sinh, nhưng càng ngăn thì càng kiên trì muốn sinh” Chú chín muốn nói lại thôi, không lên tiếng nữa,

Hà Vị hiếm khi thấy chú chín như thế, trong lòng nghi hoặc, tối đó cô hỏi thím nhỏ, rốt cuộc chú chín muốn nói gì.

Thím nhỏ giải thích cho cô, lúc trước trong kỹ viện từng cho uống thuốc, rất nhiều người không thể sinh con được, thím cũng vậy. Những năm đầu không mong sẽ có con, lần này bất ngờ có, mọi người ai nấy đều khẩn trương. Chú chín sợ thím không sinh được, muốn khuyên thím bỏ đi, nhưng thím một mực kiên trì, dù vậy thỉnh thoảng thím vẫn âm thầm sợ mình lúc trẻ uống thuốc sẽ ảnh hưởng đến thai nhi, lo lắng con nhỏ sinh ra có khiếm khuyết.

Ngược lại thím nhỏ phải an ủi hai người họ, nói ông trời ban cho đứa trẻ, là <i>cát nhân ắt có thiên tướng [1].</i>

<i>[1] “Cát nhân tự hữu thiên tướng”: Xuất phát từ câu thành ngữ “cát nhân thiên tướng”, ý chỉ những người tốt bụng, may mắn sẽ được ông trời giúp đỡ</i>

Hai người nhẩm tính, có lẽ do thím quá sốt ruột nên chậm trễ thời gian dự sinh.

Khi màn đêm buông, hai người ngồi quanh thím đang nằm trên giường ở phòng ngủ, giúp thím giải sầu.

Thím nhỏ cười: “Chị kể với Vị Vị lúc mới quen Cửu gia thế nào đi, không phải Vị Vị vẫn muốn nghe sao?’

Mắt hạnh của thím lớn hơi híp lại: “Hai người đến ở cùng chị, sao lại bắt chị kể chứ?”

Hà Vị hiểu thím nhỏ muốn thím lớn nhớ đến những chuyện tốt đẹp, phụ hoạ thêm: “Kể đi mà, con muốn nghe”.

Thím lớn nhìn bóng tủ hắt dưới ánh đèn tường, thấp giọng kể: “Năm đó, chú chín con vẫn còn là một tiểu công tử”.

Ngày ấy là lần đầu thím tiếp khách.

Nhan sắc thím lớn chỉ tầm trung, nhưng tài nghệ lại không tồi chút nào, ngày đầu tiên tiếp khách được ra giá khá cao. Thím không biết là ai đã bỏ khoản tiền này, tâm nguyện lớn nhất chỉ mong lần đầu của mình không gặp phải mấy tên c**ng b**, ngược đãi người khác.

Đêm đó, thím đứng trên lầu hai nhìn xuống.

Những năm cuối triều Thanh, chú chín mang dáng vẻ giống hệt mẹ mình, lúc còn trẻ vô cùng xinh đẹp, thường bị gọi là quỷ tây dương tóc ngắn. Trên người chú mặc bộ tây trang cao cấp, tỉ mỉ phối với áo choàng ngoài. Trên ngón cái đeo nhẫn ban chỉ, thường gõ gõ vào tay vịn xe lăn… Bên cạnh công tử phú quý có vị bối lặc gia mang thân phận thông gia, cười nói, hôm nay ông làm chủ.

Vị bối lặc gia ấy chỉ vào một bức hoạ mỹ nhân, nói với Hà Tri Khanh, chính là cô gái này.

Hà Tri Khanh không buồn nhìn bức hoạ, thẳng thắn bảo: “Nếu tôi nói, tôi không thể thì sao?”

Người nọ cúi người, ôm vai ông: “Không được, cũng sẽ có cách”.

Cả đám bật cười, mỗi người ôm theo mỹ nhân của mình lên lầu.

Bọn họ muốn gây khó dễ cho ông, cố ý lừa gã sai vặt của ông ở ngoài, mang ông để lại trong đình gác dưới lầu một. Khách khứa ra ra vào vào, đều gọi một tiếng Cửu gia. Ông cứ ngồi đó, trên môi mang theo nụ cười, nhưng là cười chính bản thân mình.

Tông tộc mẹ ruột phú quý thì thế nào, cuối cùng ông vẫn là người tàn tật, vẫn bị kẻ khác trêu đùa.

Đỗ Tiểu Uyển dù chưa thất thân nhưng sống trong Tùng Trúc Quán ngày ngày nhìn những người kia ăn chơi đàn đúm, liền biết vị tiểu công tử ấy đang bị khinh khi.

“Nếu Tiểu Cửu gia thật sự không được thì cố dỗ dành thêm đôi câu. Hắn là người tốt bụng nổi tiếng trong kinh, sẽ không gây khó dễ cho cô”. Tú bà muốn trấn an một chút để cô không đắc tội với khách quý.

“Giúp tôi chuẩn bị một căn phòng ở lầu một, tiện cho hắn vào”. Cô nhỏ giọng dặn dò.

Nói đoạn, cô đẩy cửa ra ngoài.

Tùng Trúc Quán là một toà lâu nhỏ được dựng bằng gỗ lát gạch xanh theo kết cấu hai tầng, vô cùng tinh xảo, cô đẩy cánh cửa sơn son trên lầu hai, mà Hà Tri Khanh đang ngồi bên thành gỗ chạm khắc ở lầu một, ngẩng đầu nhìn về phía lầu hai.

Đó là lần đầu họ gặp nhau.



Số phận của thím nhỏ lại không may mắn như thế, thím đã sớm thất thân, lại chịu không ít hành hạ.

Những câu chuyện xa xưa về kỹ nữ nổi danh nơi trăng hoa được truyền tụng rộng khắp, nhưng trăm năm có được mấy ai? Người trên đời đều cho rằng nơi đó vô cùng kiều diễm, đâu đâu cũng là tình yêu giữa tài tử cùng những giai nhân trót lưu lạc hồng trần. Thật ra trong ngõ bát đại có biết bao nam nữ lạc chốn phong hoa, nhưng được mấy người trở thành danh kỹ? Phần lớn đều là kẻ bình thường có chút nhan sắc, tiếp đãi những gã đàn ông không biết đến từ phương nào, lên giường chỉ biết tra tấn đánh đập người khác, đến hôm sau cả người bầm tím là chuyện đương nhiên.

Danh kỹ lưu danh muôn đời, trong sử sách không được mấy người.

Số còn lại, đều là những tên làm ăn vô danh lang bạt trên phố phường trong đêm tối.

Ba người họ chuyện trò đến khuya, tay chân khẽ khàng bò xuống giường, cách một lớp chăn xoa bụng thím lớn, thì thầm nói: “Mau chào đời nào, cha mẹ con đang chờ gặp con đấy”.

Cô đi rửa mặt, đánh răng, trán toát đầy mồ hôi.

Thiên Tân vào tháng Tám, trời nóng vô cùng.

Tờ mờ sáng, cô nhìn Khấu Thanh ôm Tư Niên trong phòng khách ngủ say sưa, không muốn đánh thức họ nên một mình tìm ly sữa bò đun nóng, giẫm đôi dép lê bằng vải bông xanh lá trúc bước xuống lầu.

Khí trời nóng bức khó chịu nổi. Cô cởi cúc cổ vướng víu, nhặt một cái quạt nhỏ, khẽ phe phẩy gió, đi về tiền sảnh.

Cô lê dép trên tấm thảm nâu vàng, không một tiếng vang.

Vừa bước đến cửa tiền sảnh, cô bỗng dừng chân, đứng sững lại.

Có tiếng quản gia nói: “Các ngài đến sớm không báo trước, xin hãy ngồi ở đây chờ một lát”.

Tiền sảnh đứng đầy, ngồi cũng không ít.

Khắp nơi đều là người, nhưng giống như chỉ có khuôn mặt người đàn ông kia là chân thật.

Người ấy xuất hiện trong hồi ức của cô từ rất lâu, lâu đến mức khuôn mặt chân thật đều hoá thành mơ hồ, anh ngồi trên cái ghế đầu tiên bên phải, không mặc quân phục… Áo sơ mi cổ đứng trắng toát, cổ áo được cài cẩn thận. Tóc ngắn trên trán chải hết về sau, lộ ra đường nét thay đổi không nhiều, có điều ánh mắt trầm tĩnh hơn. Cả người gầy gò.

Cánh tay anh đặt trên tay vịn ghế, hơi tựa về sau, giống như đã ngồi một tư thế không động đậy suốt mấy giờ.

Hai người nhìn nhau.

Người đàn ông ngồi đó nhỏ giọng nói: “Cô hai Hà, đã lâu không gặp”.

Nước mắt không hề báo trước, rơi xuống ly sữa.

Cổ họng cô tắc nghẽn, thế nào cũng không thốt nên lời, không cách nào nói được câu: Tạ tướng quân, biệt lai vô dạng…

“Hôm nay không tiện đứng dậy”, anh nói, “Thật có lỗi”.

Cô lắc đầu, đáy mắt ngần ngận nước nhìn về anh: “Ở đây không câu nệ lễ nghĩa, cứ vậy đi… ngồi được rồi…”

Ly sữa cô cầm rõ ràng rất nóng nhưng cô lại không nhận ra, nắm chặt thành ly.

“Chủ nhà đến thật tốt”, một người đàn ông mặc âu phục xám sẫm đứng lên, cười nói, “Tạ tiên sinh vừa đến Thiên Tân, nói ở đây có một người bạn cũ, nhờ chúng tôi đưa anh ấy đến gặp mặt”.

Cô nhận ra là Trịnh Độ trước kia mình từng gặp.

“Hai người nói chuyện đi, tôi ra ngoài trước”. Trịnh Độ như không quen biết cô, lịch sự nói.

Mọi người ngoài sảnh đều nối gót nhau bước ra.

Không còn ai khác, nơi này im ắng như chốn không người.

“Hiếm khi nhìn thấy em mặc đồ mùa hè”. Tạ Vụ Thanh khẽ nói, phá vỡ bầu không khí yên lặng.

Nhiều năm sau, khi hai người gặp lại nhau, đầu tiên thốt ra… lại là câu này.

Có điều đúng thật, lúc trước mỗi khi nhìn thấy nhau đều vào mùa đông khắc nghiệt. Thật sự rất hiếm.

Phía sau, Lâm Kiêu giúp họ khép cửa.

“Thế nào? Không quen à?” Anh cười hỏi.

Trái tim cô đau nhói, cô dời bước đến trước mặt anh.

Hà Vị đặt ly thuỷ tinh lên bàn vuông nhỏ ở giữa, tựa sát vào người anh.

“Anh…” Giọng cô đặc nghẹt âm mũi, thì thầm, “Mấy năm qua ở nơi nào?”

Những năm ấy cô biết rất nhiều người bị nhốt trong nhà giam Lục quân, hoặc bị bắt giữ bí mật, đoán chừng anh cũng thế.

“Ở Hàng Châu”. Anh thấp giọng trả lời.

“Hiện giờ được tự do rồi sao?” Cô nhìn chân anh, “Vì sao không tiện đứng lên? Chân anh bị thương ư?”

“Bị phong thấp”, anh mỉm cười vô cùng quen thuộc hỏi, “Có phải em đang nghĩ, một người phương Nam sao lại không chịu được thời tiết mưa dầm để bị phong thấp không?”

Hà Vị đau lòng nhìn anh. Quý Châu mưa nhiều, anh lớn lên ở đó, so với người bình thường càng quen với khí hậu ẩm ướt hơn. Nếu nói thật sự bị phong thấp, những năm qua có lẽ anh sống rất khó khăn.

“Không phải không thể đi, chỉ là bác sĩ dặn thế”, anh an ủi cô, “Không nên đi lại nhiều”.

Anh là người bị thương, nhưng lại trấn an cô.

“Thiếu tướng quân từ năm mười bảy tuổi đã chinh chiến trên lưng ngựa”, cô dịu giọng nói, “Giờ dưỡng bệnh, vừa đúng lúc có thể nghỉ ngơi”.

Tạ Vụ Thanh bị chọc cười: “Trong lòng cô hai, Vụ Thanh vẫn còn được xem là thiếu tướng quân”.

Anh đã sống hơn ba mươi năm, nhân sinh đã qua nửa đời.



Nước mắt vừa bị áp xuống lại lần nữa dâng lên.

Cô nắm chặt quạt gỗ, hai mắt ửng đỏ.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười, dời mắt đi, nhìn cái quạt gỗ bạch đàn xếp lại cô giữ trong tay, men theo mấy sợi tua rua xanh nhạt dưới đuôi quạt, quan sát khớp ngón tay cô rồi đến cổ tay…

“Chúng ta…” Cô vươn tay trái đến trước mắt anh, “Từ lúc gặp lại cũng chưa nắm tay”.

Tạ Vụ Thanh sững sờ, sau đó im lặng, nắm lấy tay cô.

Nhiều năm trôi qua, hai người lại động chạm thân thể, cho dù chỉ là một cái bắt tay lịch sự nhất, cũng khiến người ta không cách nào thừa nhận. Cô cảm giác ngón tay mình bị siết lấy, có chút ê ẩm… Nhưng vẫn cười nhìn anh.

Cửa tiền sảnh mở ra. Quản gia bước vào, âm thầm nhắc nhở họ, có khách lạ đến.

Mấy ngày gần đây thím chuẩn bị sinh nở, các lão nhân trong tô giới Thiên Tân thường tạt qua xem một chút, quản gia ở cạnh Cửu gia đã lâu, biết được Tạ Vụ Thanh không tiện gặp khách, ông đã mời họ đến phòng trà trước rồi mới tới đây báo với hai người.

Lâm Kiêu cũng theo vào, nhìn như muốn giục anh đi, nhưng cũng không nỡ.

Tạ Vụ Thanh vẫn bất động.

Anh nhìn cô, cười hỏi: “Lần trước đến đây, anh có đọc một quyển sách cũ dưới hầm. Em có thể giúp anh đến tìm thử không?”

Cô cho rằng anh muốn tìm cớ để cô tránh mặt rồi âm thầm rời đi, liền phối hợp đứng dậy: “Để em đi lấy”.

Cô chạy xuống tầng hầm, tìm được sách, lúc quay lại Tạ Vụ Thanh đã không còn ở tiền sảnh.

“Công tử gia lên xe rồi”. Lâm Kiêu đứng trước cửa lớn nói.

Hà Vị nhìn ra, trông thấy Tạ Vụ Thanh được người khác dìu lên xe. Đùi phải của anh không thể dùng sức. Cô nhìn bóng dáng kia, bất giác nghĩ đến, vừa nãy Tạ Vụ Thanh bảo cô rời đi, là vì không muốn cô nhìn thấy cảnh tượng chật vật của mình…

“Cô hai không cần tiễn đâu”, Lâm Kiêu nhận lấy sách trong tay cô, “Ngoài cửa nhiều người phức tạp”.

Trong viện có không ít khách khứa đến, ồn ào nói chuyện phiếm.

“Cô hai xin yên tâm, chúng tôi cũng không gấp đi, chỉ là công tử mấy ngày nay có việc phải làm”, Lâm Kiêu nhỏ giọng bảo, “Nếu muốn tìm ngài, vẫn theo cách cũ”.

Hà Vị khẽ gật đầu.

Cô từng dùng dãy số kia để nhờ anh giúp đỡ, ba con số, như khắc ghi vào đầu.

Lâm Kiêu nhanh chân rời đi, bước lên xe của Tạ Vụ Thanh.

Cô đứng trong cửa kính, nhìn theo hai chiếc xe trước sau đi khỏi.

Những người còn lại, tất cả đều chặn xe kéo bên đường, chạy về cùng một hướng.

Xe hơi đến Thiên Tân chẳng ai quản.

Nơi này nằm ở phía tây bắc của tô giới Pháp, luật lệ tô giới không với tới, mà Sở Cảnh sát Thiên Tân cũng không thể nhúng tay, dần dần trở thành một nơi không ai quản thúc, trà viên, rạp hát, nhà nghỉ cùng chỗ bán thuốc phiện mọc lên san sát trên con phố hẹp dài.

Cuối triều Thanh, Trịnh gia nhận thấy nơi này ngày càng sầm uất, liền ra tay mua đứt một lô đất rồi xây thành dãy nhà, hiện giờ đã mở cửa cho thuê. Dãy nhà giống như một căn viện nhỏ nằm khuất sau sòng bạc. Trước khi họ đến, cô ba Trịnh đã phân phó người làm dọn dẹp sạch sẽ.

Nhóm người Tạ Vụ Thanh không phải lần đầu đến chỗ này, quen thuộc đường đi nước bước, đã an bài ổn thoả.

Bảy giờ tối, một người dẫn theo vị lão tiên sinh mặc áo ngắn xám đến, người canh cửa xác nhận thân phận mấy lần, sau đó đưa tiên sinh đến sương phòng. Lão tiên sinh vừa vào cửa, nhận ra người cần khám, chắp tay cúi đầu thật sâu, khi thẳng người lại mới dám ngước mắt quan sát người bệnh không để lộ thân phận này.

Tạ Vụ Thanh đã thay áo sơ mi đơn giản cùng quần quân đội kiểu hộ quốc quân thường mặc lúc trước. Anh ngồi trên sô pha màu nâu đỏ, như đã đợi rất lâu.

Kiểu quân trang từ lâu đã không còn ai mặc, chính là quần áo đặc trưng của quân đội phương Nam trong Cách mạng Tân Hợi…

Thời đại hiện nay đã thay đổi, lão tiên sinh bắt gặp bộ quân phục đã lâu không thấy, hơi sững sờ, cứ ngỡ mình quay về hơn mười năm trước.

“Mời tiên sinh”. Lâm Kiêu đứng một bên nhắc nhở.

Vị thầy thuốc bó xương này vô cùng nổi tiếng ở khu <i>Tam Bất Quản [2]</i>, các bang phái phương Bắc thường xuyên đánh nhau tàn khốc, xương cốt đứt lìa là chuyện bình thường, thế nên ông nhận thăm khám mấy chục năm, liền luyện được tài nghệ tuyệt diệu. Trước lúc Tạ Vụ Thanh đến, Trịnh Độ đã mời riêng vị này, chỉ đợi anh tới Thiên Tân.

<i>[2] Tam Bất Quản là danh từ thường dùng cuối nhà Thanh, chỉ khu vực hẻo lánh phía Nam thành phố Thiên Tân, không thuộc phạm vi quản lý tô giới Nhật – Pháp, cũng không do chính quyền địa phương TQ nắm quyền.</i>

Vị tiên sinh ấy xắn ống quần anh lên, kiểm tra cẩn thận, lát sau chân mày nhíu chặt: “Ngài… người nối xương trước tay nghề không tốt lắm…” Hạng người phú quý thế này, sao vết thương ở đùi lại trị qua loa thế?

Thầy thuốc bó xương chỉ liếc mắt một cái liền nhận ra người trước đó nối xương không chỉ tay nghề kém cỏi, mà còn không biết cách bó, nếu không thì chính là không muốn chữa trị cho anh.

“Bị thế này một năm rồi?” Tiên sinh lại hỏi, “Xương cốt cũng đã cứng, chậm một bước. Thế này đi, mỗi ngày ta sẽ đến xoa bóp cho ngài một canh giờ, sau nửa năm, có thể đi đứng bình thường lại. Qua thêm hai năm, không còn vấn đề gì to tát, có điều không thể dùng sức lâu được”.

Thầy thuốc bó xương nhận ra Tạ Vụ Thanh là một người cao quý, cho rằng như vậy đã đủ dùng.

Trong phòng nhất thời yên ắng.

“Tôi tìm tiên sinh, là vì nghe nói ông từng chữa khỏi cho rất nhiều người bị gãy xương”. Tạ Vụ Thanh cất lời.

“Điều ngài nói là…” Thầy thuốc bó xương nhớ lại, lắc đầu nói, “Không giống nhau, họ là những kẻ chạy chợ kiếm sống, thân thể rắn chắc, có thể chịu đựng được cách…”

“Cách gì?” Anh hỏi.

“Lần nữa đánh gãy rồi nối xương lại từ đầu”, tiên sinh ấy đáp, “Nhưng cách này có nguy cơ cao, ta không đảm bảo —”

“Vậy đánh gãy lần nữa đi”, Tạ Vụ Thanh bình tĩnh nói, “Ngay tối nay”.



Hà Vị không biết chuyến này Tạ Vụ Thanh sắp xếp thế nào, sợ Tư Niên không nhìn thấy anh sẽ thất vọng nên trước dặn người nhà không cần cho con bé biết.

Thím lớn nghe tin Tạ Vụ Thanh đã quay về, vô cùng vui vẻ, không còn lo lắng cho tiểu tổ tông trong bụng nữa, một mực yêu cầu chú chín bày bàn mạt chược ăn mừng. Khách khứa ở tiền sảnh ồn ào nhặt từng quân bài ngà voi trắng, rì rầm trò chuyện về mấy thứ ở hai nơi Bình – Tân.

Từ giữa trưa đến tận đêm khuya, tiếng huyên náo không ngừng.

Sau khi cô gặp Tạ Vụ Thanh, tâm trạng cả ngày đều bay đến bên anh, không thể nhặt về.

Tạ Vụ Thanh từng chấm nước trên đầu ngón tay, viết lên mặt bàn ba con số, giống như ba viên xúc xắc chạy tới chạy lui trong lòng, điểm màu đỏ biến ảo.

Cô chống cằm ngồi ngẩn ngơ ở phòng trà, nhìn chăm chú con lắc bằng đồng của đồng hồ cứ tích tắc tích tắc lắc lư…

Do dự tối nay có nên gọi điện cho anh không.

Chưa đến vài phút, phòng cách vách có người la lên “thập tam yêu”, rồi bảo gã sai vặt phát bao lì xì.

Trong tiếng náo động ầm ĩ, cuối cùng cô hạ quyết tâm, nhấc ống nghe.

Chuông điện thoại vang vọng, giống tiếng pháo nổ trong lòng bàn tay, cô như bị bỏng, sửng sốt mất mấy giây mới tiếp nhận.

Điện thoại được nối với tầng trên, giọng của thím nhỏ đồng thời cất lên: “Xin chào, đây là Hà công quán”.

“Xin chào”. Tiếng đàn ông trầm thấp, khàn khàn.

“Ngài tìm ai?” Trong ống nghe, thím nhỏ hỏi tiếp.

Cô ngắt lời: “Thím nhỏ, là điện thoại của con ạ”.

Thím nhỏ chậm hai giây mới hoảng hốt, không nghĩ ở tầng dưới cũng có người nhận điện thoại.

“Biết rồi, hai đứa nói chuyện đi”. Người trên tầng ngắt dây.

Trong đường dây, chỉ còn lại một mình cô.

Hai tay cô nắm chặt ống nghe, nghĩ đến hiện tại anh đang ở đầu kia điện thoại, giống như quay về quá khứ.

Trái tim sống lại, đập nhẹ trong lồng ngực, tất cả là vì anh.

“Sao không nói gì?” Cô dịu giọng hỏi.

“Đang nghĩ”, anh nói, “Quả thật đã lâu lắm rồi, hôm nay suýt nữa không nhận ra em”.

Cô không khỏi bật cười.

“Có phải đang cười không?” Trong giọng nói anh cũng mang theo ý cười.

Cô đáp khẽ “vâng”.

Tuy ngữ điệu Tạ Vụ Thanh nhẹ nhàng nhưng cô vẫn nghe ra anh đang uể oải: “Vừa đến Thiên Tân còn mệt đúng không?”

Bên kia, có tiếng vải vóc lướt qua ống nghe, mỗi lần như thế cô đều muốn hỏi, có phải Tạ Vụ Thanh có thói quen đổi tay cầm khi nghe điện thoại không, hay vẫn thích dùng mặt kẹp lấy ống nghe để châm thuốc.

Tạm thời cô chỉ nghĩ đến hai động tác này, có thể khiến vải áo sơ mi chạm vào ống nghe.

Cô lắng nghe kỹ càng, còn có tiếng hít thở của anh, lúc nặng lúc nhẹ, như đang say. Không biết có phải anh vừa uống rượu.

“Vị Vị”. Anh thấp giọng gọi tên cô.

Lòng cô mềm nhũn, tựa đầu vào giấy dán tường vàng nhạt bên cạnh: “Vâng”.

Như quay lại lúc mới quen, thầm đoán anh đang ở đâu, người cạnh anh là ai, đang làm gì, liệu ngày mai có gặp được anh.



Trong sương phòng của căn viện nhỏ, Tạ Vụ Thanh đang hút thuốc, nhưng không thể nếm được mùi vị của thuốc lá, thuốc tê trên chân anh đã tan, đau đớn từ đoạn xương bị gãy như phóng đại vô hạn.

Theo kinh nghiệm của anh, khó khăn nhất chính là đêm đầu tiên sau khi bị thương.

Tạ Vụ Thanh tựa vào lưng ghế sô pha, nắng hè chói chang, vốn dĩ rất nóng, hơn nữa còn đau đớn vô cùng, sau áo sơ mi đã toát đầy mồ hôi.

“Sao anh không nói gì thế?” Giọng cô gái trong ống nghe truyền đến.

Đốm lửa nho nhỏ cháy ở đầu ngón tay, thanh âm khàn khàn: “Uống hơi nhiều”.

Xuyên qua cửa kính rộng lớn, khung cảnh sòng bạc bên ngoài ồn ào náo nhiệt vô cùng. Nơi này người đông phức tạp, <i>tam giáo cửu lưu [3]</i> gì cũng có, chỉ cách một cái sân giống như náo loạn ngay trước mắt.

<i>[3] “Tam giáo cửu lưu” ý chỉ 3 giáo phái (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) và 9 học phái lớn thời Chiến quốc (Nho, Đạo, Âm Dương, Phật, Danh, Mặc, Tung Hoành, Tạp, Nông). Ngày nay, cụm từ này dùng để chỉ đủ mọi tầng lớp trong xã hội</i>

Căn nhà cũ của họ Tạ đã bị chị hai bán đi. Thời buổi loạn lạc, cách ba bốn năm đã thấy một thế hệ người mới.

Kiểu dáng quân trang trên người anh đã sớm sờn cũ, thời đại phản Thanh phạt Viên đã trôi qua rất lâu rồi, Bắc phạt cũng trở thành quá vãng. Anh giống như một sự lỗi thời của xã hội, vẫn tồn tại đến tận hôm nay.

Thuốc tê cùng nỗi đau khiến anh trong một giây không biết hôm nay là ngày nào, hoảng hốt sao mình lại đến đây.

Tựa như anh đang trở về năm tháng mười mấy tuổi đầu đến Thiên Tân, anh vẫn chưa vào Bảo Định, chưa học trường quân đội. Họ Tạ vẫn hưng thịnh, gia môn còn hiển hách.

— HẾT CHƯƠNG 40 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 41: Cố đô ngày hè dài đằng đẵng (3)


Hà Vị chờ hồi lâu, không nghe Tạ Vụ Thanh bên kia nói gì.

“Chỗ anh rất náo nhiệt thì phải?” Cô hỏi thăm dò, “Mới về… nên lo cho cơ thể mình, xã giao không có điểm dừng”.

Trong điện thoại anh cười dịu dàng: “Biết rồi”.

“Anh có cuộc gọi”. Anh lại nói.

“Em còn một câu”. Cô gấp gáp ngăn anh.

Thật may, anh chưa ngắt máy.

Cô nhỏ giọng bảo: “Anh đến Thiên Tân, nên ở lại nhà chú chín, nơi này dù sao cũng an toàn hơn”.

Hà Vị nắm ống nghe, chờ anh trả lời.

“Không muốn phiền Cửu tiên sinh”, anh thấp giọng, “Không nói nữa”.

“Vâng”.

Trong tiếng tút, tút, tút, cô tựa vào vách tường.

Từ lúc gặp lại cô đã cảm thấy anh xa cách, vừa nãy khi nói chuyện càng hiện rõ, cô ngờ ngợ hình như Tạ Vụ Thanh đang cố gắng áp chế, đè nén điều gì đó.

Sáng sớm hôm sau, thím lớn đột nhiên lên cơn đau kịch liệt.

Thím vừa nhịn đau, vừa vui sướng nắm chặt tay chú chín, lại nhíu mày, không ngừng “ai ui” kêu lên, chốc lát lại mỉm cười làm tim Hà Tri Khanh như muốn ngừng đập.

Từ trời sáng đến tối đen, tận lúc hửng sương đêm. Tiếng khóc nức nở cất lên, là của đứa con đầu tiên nhà chú chín Hà truyền đến. Mấy ngày nay chú chín không ngủ ngon, sắc mặt trắng bệch, người hầu muốn bế đứa nhỏ đến cho ông nhìn nhưng ông không buồn quan tâm, tự đẩy xe lăn vào phòng sinh.

Con trẻ có thể lại có, nhưng Đỗ Tiểu Uyển của Cửu gia chỉ duy nhất trên đời.

Đến khi Hà Tri Khanh tận mắt nhìn thấy thím lớn nằm trên giường chậm chạp uống sữa, tâm tình mới buông xuống.

Hốc mắt ông ươn ướt, nhìn tuy hốc hác nhưng nét mặt vui vẻ nhìn Đỗ Tiểu Uyển: “Một đêm này của ta, mất hết mười năm tuổi thọ rồi…”

Thím cười nhìn ông: “Nhân vật đại trung đại nghĩa đã đến, ông trời sẽ che chở cho nhà ta”.

Người thím lớn nhắc đến là Tạ Vụ Thanh. Hà Vị nghe thấy, lòng cũng thầm vui.

Người trong nhà tất bật cả đêm, vừa xong việc ai về phòng nấy nghỉ ngơi, cô đánh một giấc đến tận trưa mới tỉnh dậy, nghe người báo, có khách chờ ngoài tiền sảnh.

Ở Thiên Tân cô làm gì còn người khách nào?

“Có người, con từng gặp rồi”. Thím nhỏ nhẹ giọng nhắc nhở.

Hình như từ khi Tạ Vụ Thanh xuất hiện, người cũ liền lũ lượt kéo lên đài diễn.

Cô bước vào tiền sảnh, trông thấy những vị khách hôm nay. Trong số đó có một ông lão râu tóc bạc phơ, khuôn mặt chữ nhật nhìn rất quen mắt. Ông lão nhìn Hà Vị cười cười, cô nhớ mấy năm trước mình đã từng gặp bộ dạng này, lúc đó vì chuyện hoàng đế bị đuổi khỏi Tử Cấm Thành nên ông ta đến tìm Tạ Vụ Thanh.

Lúc hoàng đế Tốn Thanh đến định cư ở tô giới Thiên Tân, rất nhiều người theo tư tưởng cổ hủ cũng đi theo, vì sống dựa vào người Nhật nên không ít kẻ mặc quần áo Nhật Bản. Trên người vị quan lớn tuổi của triều đình Tốn Thanh cũng đang mặc kimono, tóc mai hai bên được cắt ngắn, chải chuốt bóng loáng, chẳng ra sao, trông thật buồn cười. Người Nhật kia mặc âu phục nước Anh, giống hệt bộ tây trang trên người lãnh sự Pháp cùng phiên dịch viên, cả đám ngồi cạnh nhau, nhìn qua cứ ngỡ mấy con rối được trưng bày trên tủ kính của tiệm bách hoá tô giới.

Bọn họ đến đây, là vì chuyện cổ phần muối trong tay Hà Vị.

Thật ra cô có thể gặp riêng từng nhóm, có điều vẫn là chú chín nhìn xa trông rộng, để cô tiếp luôn cả hai bên cùng lúc.

Như vậy, bất kể là người Nhật hay người Pháp chỉ có thể nói qua loa sơ sài, không cách nào đi sâu vào chuyện chính. Ngược lại Hà Vị càng thoải mái.

Sau Bắc phạt, từ “Cục Thương vận” ban đầu đổi tên thành “Cục Quản lý Thu nhập Thuế Muối”, nói cách khác, hình thức kinh doanh do chính phủ nắm quyền giờ là <i>quan đốc thương mại [1]</i>.

<i>[1] Quan đốc thương mại là một hình thức kinh doanh tự do được chính phủ giám sát áp dụng từ cuối thời nhà Minh, vào thời nhà Thanh và Dân quốc. Nó cho phép thương nhân phát hành cổ phiếu, sau đó chính phủ sẽ phái người xem xét quản lý.</i>

Cổ phần muối vừa tung ra đã bị cô đoạt được tiên cơ. Cô làm chuyện này vô cùng cẩn mật, không ngờ vẫn bị những kẻ này đánh hơi tới.

Hà Vị xoè cây quạt trong tay, nhẹ nhàng phe phẩy, mỉm cười: “Đối với chuyện cổ phần muối này, tôi cũng thấp cổ bé họng, không biết nói thế nào”.

Ông già mặc kimono ha hả hai tiếng, cười như không cười: “Cô hai khiêm tốn rồi. Hà gia có tàu biển vận tải tính bằng tấn chuyên để chở muối, nghĩ sao cũng thấy có ý định kinh doanh. Huống hồ đây còn là quan đốc thương mại, từ đầu đã nắm được công văn phê chuẩn cổ phần muối, còn không phải thuộc về những nhà lớn như các người sao”.

Ông lão xuất thân từ quan trường của Thanh triều, so với hai người nước ngoài cùng một phiên dịch viên kia lại rất am hiểu đạo lý đối nhân xử thế.

“Hơn nữa, nơi sản xuất muối đều thuộc cửa khẩu ven biển, ai mà không biết Hà gia quan hệ rất tốt với những vùng cửa khẩu ven biển chứ? Mối tương liên này đã có từ những năm đầu Dân quốc. Chưa kể ở Thiên Tân còn rất nhiều xưởng muối, mà xưởng muối là nguồn cung chủ yếu của cổ phần muối, tầm quan trọng thế nào không cần nói cũng biết. Địa vị Hà gia và Cửu gia ở Thiên Tân ra sao, mọi người đều rõ như ban ngày, sao lại bảo thấp cổ bé họng được”.

Hà Vị mỉm cười, tránh nặng tìm nhẹ nói: “Nếu chú chín biết mình được mọi người khen ngợi như thế, hẳn còn vui hơn nghe tin thím tôi sinh con gái”.

Phiên dịch viên kể lại lời này với người Pháp, người Pháp lập tức cười, nói chúc mừng gia đình cô.

Tên người Nhật hỏi ông lão mặt dài, ông lão miễn cưỡng thuật lại những lời ấy cho hắn nghe, người Nhật cũng học theo người Pháp, nói chuyện về đứa nhỏ.

Hà Vị đã quen “đánh Thái Cực” với đám người này, nhân cơ hội kéo câu chuyện càng lúc càng xa.

Người Nhật, người Pháp cùng người phiên dịch chẳng thấy vấn đề gì, chỉ duy nhất ông lão mặt dài không vui, nhưng ngại mọi người đều bàn về hỉ sự, không tiện ngắt lời.

Con mèo bất ngờ vọt ra khỏi phòng trà, nhảy phốc lên đùi cô.

Chú chín nuôi mèo này rất có linh tính, theo chân chú chín gặp hết khách này đến khách khác, chỉ cần chủ nhân có ý định chấm dứt buổi trò chuyện, nó sẽ chạy đến làm nũng. Lúc này cũng thế.

Cô v**t v* lưng mèo, bảo Khấu Thanh mang nước đường vừa nấu xong đến.

Thím nhỏ theo Khấu Thanh đúng lúc đi vào, cùng Hà Vị nói chuyện đông nam tây bắc với những người kia suốt một canh giờ, sau đó tiễn khách đi hết. Hà Vị ôm mèo, đi phòng trà.

Hà Tri Khanh không có tâm sự, vui vẻ tự đắc nhấp trà, nhẫn ban chỉ trên ngón tay cái theo tiết tấu lọc cọc lọc cọc gõ lên mặt bàn, trông thấy cô đến, ông đỡ lấy mèo: “Vì số cổ phần muối này mà không ít kẻ đến gặp ta. Người Anh, người Pháp, hôm nay có thêm người Nhật. Theo ta thấy, con mau dẫn Tư Niên trở về Bắc Bình đi, không cần chờ uống rượu đầy tháng đâu”.

Ở Thiên Tân và Thượng Hải có rất nhiều tô giới, người ngoại quốc cũng nhiều, thế nên kéo theo không ít phiền phức. Suy tính của chú chín, cô có thể hiểu được.

Cô lơ đãng “ừm” một tiếng.

Hiện tại Tạ Vụ Thanh đã đến Thiên Tân, sao cô có thể đi được.

Cô ngồi xuống cạnh chú chín: “Chú chín, chú có thể hỏi giúp cháu anh ấy đang ở nơi nào trong Thiên Tân không ạ?”

Hà Tri Khanh nhìn cô: “Theo ta nghĩ, cậu ấy không muốn con nhìn thấy đâu”.

“Con biết”, cô hỏi lại, “Nhưng giả dụ thím bị bệnh, không muốn chú biết, vậy chú vẫn yên tâm ở đây uống trà sao?”

Hà Tri Khanh ngẫm nghĩ, đúng là vậy.

Ông mở ngăn kéo tủ thấp đầu giường, lấy ra một quyển sổ tay danh bạ điện thoại, tìm kiếm một lát, lại gọi mấy cuộc. Hà Tri Khanh cẩn trọng đối đáp, thuận miệng hỏi thăm Trịnh gia.

Lát sau Hà Tri Khanh ngắt điện thoại, nói: “Nếu cậu ta đột ngột xuất hiện ở Thiên Tân, chắc chắn đã sắp xếp chu toàn, chưa chắc có thể tìm ra. Kiên nhẫn một chút”.

Sau giờ ngọ có tin.

Không ai biết vị Tạ tiên sinh kia, có điều gần đây chuyện về Trịnh gia lại rất nhiều.

Hà Tri Khanh kể: “Năm xưa Trịnh gia mua một miếng đất trong khu Tam Bất Quản, mở không ít cửa hàng buôn bán. Gần đây làm ăn phát đạt, phiền phức cũng nhiều, ngay chiều hôm trước có kẻ gây sự ở rạp hát, đánh nhau làm nhiều người bị thương. Mấy vị thầy thuốc giang hồ mát tay nhất tại Thiên Tân đều được mời đến, trong đó có một tiên sinh tổ truyền về thuật bó xương”.

Trực giác mách bảo cô.

Hà Tri Khanh đoán được suy nghĩ của cô: “Nếu không cho con đến đó một chuyến, e là con không bỏ qua. Lấy xe của ta đi đi, tuy không ai quản nhưng xe của Cửu gia vẫn có người biết”.

Cô “vâng” một tiếng, toan đi.

“Trước lúc cậu ấy quay về, ta không định nhắc những chuyện này, sợ hắn cũng không thể về nữa, con nghe xong càng đau lòng”, chú chín dịu giọng nói, “Ta từng hỏi thăm bạn bè, mấy năm qua Tạ Khanh Hoài bị giam cầm, có rất nhiều học sinh trong giảng võ đường ở phương Nam viết thư mong được xả thân cứu hắn. Theo ta thấy là đang hại hắn, sao đám kia có thể để một người có danh vọng cao nhường ấy sống sót ra ngoài? Ta nghĩ, hẳn cậu ấy chịu không ít khổ cực”.

“Người sinh ra trên đời, tài danh thì bạc mệnh”, chú chín kết luận, “Hiện tại cậu ta bình an trở lại, đã là chuyện không ngờ”.

Hà Vị không muốn chậm trễ, vừa lấy được địa chỉ rạp hát lập tức đến khu Tam Bất Quản.

Rất nhiều người lâu năm ở đây nhận ra xe của Cửu gia, vừa trông thấy liền sai người đưa đến trước cửa. Hà Vị mở nửa cửa xe, nói với ông chủ đứng đợi sẵn ngoài rạp: “Nói lại với người Trịnh gia, tôi đến từ Hà Cửu công quán, tìm một tiên sinh tên Lâm Kiêu”.

Lát sau, một người bước ra từ rạp hát, chính là Lâm Kiêu.

Cô xuống xe: “Lâm Kiêu tiên sinh cũng đến nghe kịch à?”

“Phải, hôm nay có vở Tây Sương Ký không tệ”, đối với người ngoài Lâm Kiêu luôn ứng phó thoả đáng, duy chỉ Hà Vị là hắn không dám ngăn cản, “Cô hai… muốn nghe không?”

“Ừm”, cô thấy tờ giấy đỏ dán ngoài rạp hát viết tên người diễn hôm nay, thuận miệng bảo, “Tây Sương Ký tôi thích nhất là diễn viên này”.

Hà Vị đội cái mũ che nắng khá lớn, nối gót theo Lâm Kiêu bước vào trong. Ban ngày rạp hát không đắt như buổi tối, chỉ có mấy tên phục vụ đang lau bàn ghế và sân khấu. Ông chủ đích thân vén một nửa tấm rèm thêu chỉ vàng cho cô, đi về phía sau ngõ nhỏ. Con ngõ nối liền với vách tường sòng bạc bên cạnh.

“Thầy thuốc bó xương nổi tiếng nhất Thiên Tân đã đến rồi?” Vừa đi, cô vừa thấp giọng hỏi han Lâm Kiêu.

Lâm Kiêu không dám đáp, chỉ gật đầu.

Đi được một quãng, cuối cùng cũng vào sân. Chỗ này rất nhỏ, vì không muốn người khác chú ý nên cố tình không sắp xếp quá hoành tráng.

Phân nửa sân là chiếu bạc cùng ghế dựa của sòng bài chất đống, nửa còn lại là cửa gỗ nho nhỏ dẫn ra một gian khác. Cửa gỗ bị khoá. Sương phòng bên kia có mấy sĩ quan trung niên ra ra vào vào sắp xếp giấy tờ.

Trước phòng chính reo rèm trúc, bên trong tĩnh lặng.

Cô quét mắt nhìn Lâm Kiêu, ý hỏi có phải phòng này không. Lâm Kiêu khẽ gật đầu.

Hà Vị đứng trước rèm trúc, lấy lại bình tĩnh, duỗi tay vén rèm.

Lâm Kiêu muốn cản nhưng không được.

… Hắn không dám.

Tay cô vừa vén rèm, bước chân lên bậc cửa.

Vì muốn hạ nhiệt trong phòng nên rèm cửa sổ đều được kéo kín mít, che đi nắng mặt trời.

Nhưng đang giữa hè, cho dù ánh sáng bên ngoài đều bị chắn lại, cô vẫn nhìn rõ mồn một những người ở trong.

Một cái quạt điện cánh màu xanh lá dài khoảng 16 tấc tái chế từ vách tường đa dụng đặt trên bàn trà, thổi gió vào chậu đá đối diện, giúp không khí trong phòng dịu lại. Giữa tiếng quạt kẽo kẹt xoay tròn, Tạ Vụ Thanh ngồi dựa trên sô pha đôi màu đỏ sẫm, trước mặt là bàn nhỏ chất đầy sách báo cùng bản thảo.

Anh xoay bút máy trên tay.

Chân bị gãy được bó lại bằng thạch cao và băng gạc, đặt nghiêng trên ghế cao hơn sô pha.

Còn có, một người ngồi trên ghế, một người tựa vào cửa sổ, thêm người khác đang cầm dao trái cây gọt táo.

Hà Vị liếc mắt quanh phòng… Tất cả đều là người quen, họ là hội học sinh Bảo Định năm đó cô từng gặp qua…

Tạ Vụ Thanh ngẩng đầu, dừng động tác trên tay.

Cô vốn ôm một bụng đau xót, còn cả nỗi uỷ khuất bị anh giấu diếm, muốn bày ra bộ dáng tức giận.

Nhưng lại bị đám người ngồi đầy phòng phá bĩnh.

“Chúng tôi phải xuất phát đến sân ga ngay”, một trong số đó là người có đôi mắt hoa đào năm ấy, hai bên tóc mai của hắn điểm bạc, nhưng vẫn mang theo nụ cười rạng rỡ năm xưa: “Phải nói tạm biệt với thầy Tạ rồi”.

Giọng điệu này, giống hệt đang báo cáo với sư mẫu.

Hà Vị mím môi, đặt túi xách ngọc trai lên tủ cửa bên cạnh: “Các anh… cứ tiếp tục đi, tôi thấy trời hơi nóng, hỏi các anh có muốn dùng ít hoa quả ướp lạnh không thôi?”



Bên ngoài rèm trúc, Vương Cẩn nói vọng vào: “Phơi nắng ở đây nghe trộm cái gì hả? Không thấy nóng à”.

Không ai đáp lời hắn.

Câu này vừa hỏi xong càng lúng túng hơn, Lâm Kiêu tất nhiên đã nghe được động tĩnh bên trong.

Cô xoay người, vén rèm trúc bước ra ngoài.

Vương Cẩn ôm một chồng điện báo, Lâm Kiêu kéo hắn sang một bên.

Vương Cẩn vừa nhìn thấy Hà Vị, hai mắt sáng rực, định gọi cô lại nhưng sững người, hắn biết trong phòng vẫn đang bàn chính sự.

Hà Vị ngó Lâm Kiêu, nhỏ giọng trách cứ: “Sao anh không nói với tôi bên trong có người đang nói chuyện?”

“…” Lâm Kiêu thầm than, dáng vẻ vừa nãy của cô hai ngoại trừ thiếu tướng quân nào ai dám ngăn cản, nhưng hắn vẫn ép xuống, thấp giọng nói ra một câu khiến người khác ưng ý, “Tôi cứ tưởng… chuyện của thiếu tướng quân, không cần giấu cô hai”.

Vậy cũng nên để cô chuẩn bị tâm lý chứ.

Vài phút sau, mấy người trong phòng lục tục đi ra.

Quần áo của họ không giống lúc họp mặt bạn bè trước đây, có một số ăn mặc như thương nhân, số khác giống người đọc sách, còn có rất nhiều kẻ mặc tây trang, khoác áo choàng theo phong cách nửa mới nửa cũ. Tuổi họ lớn hơn Tạ Vụ Thanh rất nhiều, trên dưới đều đã qua bốn mươi, nhưng mắt nhìn Hà Vị vẫn như lần đầu gặp, hoặc có khi còn sớm hơn, là lúc còn học ở trường Bảo Định… Chỉ sợ mang theo nỗi niềm gặp lại người xưa, khiến cô nhớ đến cảnh tượng hôm qua.

Vội vàng gặp gỡ, vội vàng rời đi.

Hà Vị chờ mọi người khuất hẳn, cô đứng trước cửa do dự chốc lát. Người ta bảo gióng trống lấy can đảm, lại hết sạch… Khí thế vừa rồi yếu đi không ít, cô vén rèm, bước vào trong.

Cửa gỗ đóng lại từ bên ngoài.

Người đóng cửa chắn hẳn rất gấp nên quên mất còn có lò xo, một tiếng đập mạnh chấn động khiến cô giật mình.



Quạt điện vẫn kẽo kẹt kêu, phả từng luồng khí lạnh của khối đá lên mặt cô.

Tạ Vụ Thanh ngồi trên sô pha, không thể cử động, đành chờ cô chậm chạp bước vào.

Trong cuộc đời Tạ Vụ Thanh, hiếm khi xuất hiện những chuyện “ngoài ý muốn” liên quan đến tính mạng. Anh dùng hết tâm tư, thấu hiểu một chữ “chết” là gì. Chỉ duy nhất lần ở Bách Hoa Thâm Xử nhiều năm về trước… Còn có tình huống bất ngờ hôm nay, không can hệ đến sống chết, chỉ nói chuyện trăng gió.

Anh đặt bút máy lên chồng giấy viết tay, nhẹ nhàng hỏi: “Trước khi cô hai đến nên gọi báo một tiếng”.

Vì trưa hè nóng bức nên anh mở rộng cổ áo sơ mi, kéo cao tay áo, thêm cái chân bó bột vướng víu phải xắn cả ống quần lên. Tạ Vụ Thanh ăn mặc không xốc xếch, ngồi trước mặt cô, dù có ngại ngùng cũng không thể nhúc nhích.

Cô vòng qua bàn bát tiên giữa nhà, đi đến cạnh cái chân còn nguyên vẹn của Tạ Vụ Thanh.

“Là ai trêu chọc em vậy?” Anh vẫn mỉm cười, “Trông rất giận?”

Cô nhìn anh, nhìn một hồi bỗng dưng nước mắt dâng lên.

“Em cứ nghĩ anh vừa gặp em đã vội bỏ đi là vì chính sự, em còn tự an ủi mình, nhất định anh sẽ không sao…” Cổ họng cô nghẹn đặc, thở gấp mấy hơi mới nói tiếp, “Anh bị thương sao không cho em thấy? Bọn họ ai cũng biết, lại muốn gạt em? Anh như vậy… không lẽ định giấu em cả đời ư?”

“Nếu có thể”, anh nói khẽ, “Anh thật muốn giấu em cả đời”.

Trong chớp nhoáng, nước mắt cô trào ra, như thể bù cho hôm qua lúc gặp nhau không rơi giọt nào. Thêm một lúc, nước mắt như xâu chuỗi lăn dài xuống má, rơi trên người cô, hoà vào lòng đất.

Tạ Vụ Thanh nhìn cô khóc, ý cười trên mặt dần thu lại. Anh không thể di chuyển, chỉ đành vươn người sang nắm tay cô.

Hà Vị gạt ra, tự lau nước mắt trên mặt.

“Cô hai không phải người thích khóc mà”, Tạ Vụ Thanh dịu dàng dỗ dành, “Chỉ bị thương một chân thôi, không đáng để em khóc như vậy”.



Trải qua nhiều năm vẫn không lành được nên phải đến Thiên Tân tìm thầy thuốc, sao có thể nói chỉ có một chân bị thương chứ?

Nhưng anh vĩnh viễn đều không để tâm, như thể người bị thương vốn không phải mình.

“Vì sao không đáng? Em không thể đau lòng sao, không lẽ anh muốn em cười ư? Còn phải nói đùa với anh nữa?” Cô dứt lời, nước mắt lại đong đầy, “Em hỏi anh, gãy chân có đau lắm không? Dù anh họ Tạ, dù cả nhà anh đời đời trung liệt, nhưng anh chỉ là một người sống bằng da bằng thịt…”

“Thiếu tướng quân mình đồng da sắt, dù có chết cũng ngậm cười… Nhưng ít nhất em có quyền được khóc của mình”, cô càng nói càng đau lòng, “Em cũng chỉ là người bình thường”.

Tạ Vụ Thanh buồn cười, v**t v* tay cô: “Không phải anh vẫn còn sống sao?”

Hà Vị sợ nếu mình dùng sức đẩy anh ra sẽ động đến chân bị thương của anh, chỉ đành để anh tuỳ ý nắm tay, ngã ngồi lên sô pha bằng da mềm mại. Nhiệt độ của cô gái nhỏ rất ấm, so với nắng gắt chói chang còn nóng hơn, tựa lên người Tạ Vụ Thanh càng khiến anh thấy không chân thật.

Cô khóc mãi không ngừng, khóc đến mức quên luôn ý định ban đầu.

Những lo lắng bất an suốt năm năm qua không phút nào phai nhạt… giờ phút này đều theo nước mắt trút bỏ sạch sẽ. Nhà Hà Vị đã chẳng còn ai, cô giống như đứa trẻ mồ côi, anh trai mất, chú hai qua đời, giờ chỉ còn sản nghiệp vận tải cùng Tư Niên để cô tiếp tục phấn đấu.

Chỉ cần nghĩ đến cảnh Tạ Vụ Thanh bị bắt giam trong tù, hoặc bị hành quyết từ lâu… cả đêm cô không thể ngon giấc.



Tạ Vụ Thanh quệt ngón tay gạt nước mắt trên mặt cô, chầm chậm nhẹ nhàng không chê phiền, anh chỉ sợ nếu không giúp cô lau sạch, một khi hơi ẩm thấm vào da thịt sẽ làm mặt cô sưng đỏ. Anh đút tay vào túi nhưng chẳng có gì, quần quân đội hôm nay anh mặc không có sẵn khăn lông.

Tay Tạ Vụ Thanh trong túi không tìm được gì, chậm chạp rút ra…

Anh nói bằng giọng chỉ đủ hai người nghe thấy: “Đừng khóc nữa nghe em?”

— HẾT CHƯƠNG 41 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 42: Cố đô ngày hè dài đằng đẵng (4)


Cô vẫn nức nở khóc, không thể dừng lại, người khóc nhiều quá đến mức độ nào đó sẽ tạo thành quán tính. Cô c*n m** d***, vì nghẹn ngào mà răng vô thức day day cánh môi lúc nặng lúc nhẹ, làm da môi đỏ bừng.

Tạ Vụ cúi đầu nhìn, không nên nhân lúc cô khóc lóc thương tâm lại muốn hôn cô một cái.

“Nên bỏ thì bỏ” là lời anh nhắn cho cô, nhưng lúc Tạ Vụ Thanh nói ra câu này sao không cam tâm chứ? Anh không kể với ai. Đến chị hai và chị tư cũng oán trách anh chưa biết rõ con đường phía trước đã níu kéo một cô gái.

Nhưng anh cũng là người bình thường có máu thịt, lúc không cam lòng anh từng nghĩ, cả đời Tạ Vụ Thanh chẳng có lỗi với ai, bất quá anh chỉ muốn có một cuộc sống vợ chồng bình thường như bao người khác, giống cha mẹ anh, cũng giống chú thím anh.

Trong rạp hát cạnh sòng bài, người xướng kịch bước lên sân khấu, tiếng chiêng trống vang dội, không khác gì búa tạ nện từng cái lên người, lên vai, lên lưng… rồi trong lòng.

Thế gian ồn ào náo nhiệt, ầm ĩ hỗn loạn.

Anh kề sát mặt, nghe thấy cô nấc nghẹn từng tiếng, đè nén hô hấp yếu ớt giống như trẻ con.

Tay Tạ Vụ Thanh choàng qua cổ cô.

Cô không thể nhúc nhích, ngoại trừ tiếng khụt khịt không cách nào dừng, đến hít thở cũng nghẹn lại.

Hà Vị nhận thấy độ ấm trên cánh môi anh… Dưới hơi nước mịt mờ, rõ ràng anh đang hôn mình.

Mỗi lần thân mật bên Tạ Vụ Thanh đều khiến cô có cảm giác lúc nào cũng có thể bị người khác phá vỡ, không tài nào bình tĩnh hít thở, cẩn thận lắng nghe tiếng tim đập ngày càng nhanh.

Tạ thiếu tướng quân, là giấc mộng cuối cùng của cô ở tuổi mười bảy, mộng một giấc liền không thể tỉnh lại.

Trong mơ có từng chuỗi rèm châu, có chậu than đỏ lửa, có gió bắc phất qua cửa sổ, còn có một đôi ủng đen theo bước anh tiến vào rèm.

Đôi ủng quân đội ấy đến từ máu lửa phương Nam, đặt chân xuống hồng trần.



Môi anh chạm vào cánh môi cô, khẽ m*t lấy từng chút một, ngón tay lướt qua mái tóc dài, mang theo mấy lọn tóc v**t v* vành tai, còn có làn da mềm mại sau gáy.

Hà Vị khóc đã thấm mệt, tựa vào cổ anh.

Ánh sáng ban ngày chui qua khe hở rèm cửa, hắt lên mắt cô, làm cô muốn hỏi, có thể tìm cái nghiên mực chặn rèm cửa lại không. Nhưng lúc này cô lười động đậy, cũng lười mở miệng, tay cô luồn vào áo sơ mi anh, chạm đến đầy mồ hôi. Cô không khỏi bật cười, thật mới lạ, anh cũng toát mồ hôi sao.

Anh trong trí nhớ của cô, đan xen dưới ánh đèn hỗn độn, bóng đêm dày đặc, trời đất rét căm.

Giống cảnh tượng thường thấy khi công tử nói lời ly biệt với tiểu thư mà mấy vở kịch hay hát, còn màn lén lút gặp gỡ yêu đương thân mật, lại diễn ra vào mùa hè.

Rạp hát vang lên đoạn “Tây Sương Ký”.

Trong tiếng ê a ngâm nga, cô nghĩ đến lời kịch đôi nam nữ chính lần đầu gặp ở một ngôi chùa cổ, chỉ cần liếc mắt đã ước định chuyện chung thân. Không biết thế nào mà nhớ đến ngày sinh nhật tuổi mười tám của mình, nhớ đến tấm biển đãi khách nền đỏ chữ vàng ngoài hành lang, những tên tuổi bạn bè của trường Bảo Định dày đặc xuất hiện… Đêm đó, trong phòng tiệc bày mấy chục bàn khách, dưới ánh đèn đều là quân trang các tỉnh thành.

Cô hơi hé mắt, trong ánh nắng chói chang, nhìn anh mặc quần quân đội.

Tạ Vụ Thanh cảm nhận được cô dụi mặt vào cổ mình, lại vuốt cằm cô, nước mắt đã khô rồi. Hai người cứ ôm nhau như thế không khác gì ngâm mình trong suối nước nóng, mồ hôi túa ra như nước, bao lấy hai cơ thể.

Anh sờ trán cô đều là mồ hôi, cúi đầu tì cằm l*n đ*nh đầu cô, dịu dàng nói: “Lấy chậu nước cho em rửa mặt nhé”.

Cô lắc đầu nguầy nguậy, son phấn trên mặt đều bị nước mắt lấm lem, hai mắt sưng đỏ, sao có thể để người ngoài trông thấy.

Hà Vị ngẩng đầu nhìn anh.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười, nói nhỏ: “Anh ba mươi lăm tuổi rồi, không chịu nổi cô hai chăm chú nhìn như vậy”.

Giọng anh trầm khàn sau một đêm mất ngủ.

Hà Vị cúi đầu, áp trán lên cổ anh, nhìn chòng chọc cúc áo sơ mi của anh.

Anh vừa nhắc đến chuyện tuổi tác, trong lòng cô lại nghẹn đắng.

Năm ấy, anh chưa đầy hai mươi tám… Hết năm này qua năm khác, chớp mắt nhìn tuổi cứ trôi qua.

“Hoài Cẩn nói, em có con gái”. Tạ Vụ Thanh thấp giọng.

Hà Vị chậm chạp “vâng” một tiếng.

Cánh quạt xoay mấy vòng, cô không nghe thấy Tạ Vụ Thanh đáp lời, bèn ngẩng đầu đối diện với ánh mắt như chất chứa nhiều lời muốn nói kia. Nghe cô khẳng định như thế, Tạ Vụ Thanh cũng bất ngờ, đồng thời anh nghĩ, tiếp theo nên nói gì mới phải đây.

Cuối cùng anh không nói gì cả, chỉ dịu dàng cười nhìn cô, như thể rất nhanh đã thoả hiệp với suy đoán trong lòng.

Cũng không có gì quan trọng.

“Nên gọi Lâm Kiêu mang chậu nước vào đã”, anh tránh né ánh mắt cô, quên mất trên chân còn bó thạch cao không thể đi lại, theo bản năng hít một hơi, “Những chuyện đó sau này nói tiếp. Còn rất nhiều thời gian”.

“Không phải em sinh…” Cô ôm vội lấy cổ Tạ Vụ Thanh.

Trong phòng yên tĩnh.

“Anh nghĩ là em sinh thật à?” Cô buồn cười, có điều không trách anh được, vừa nãy chính cô cũng mù mờ đáp “vâng” với anh, đúng là khóc đến ngớ ngẩn, đầu óc không theo kịp. Trong khoảnh khắc lặng thinh, không biết suy nghĩ anh đã bay đến đâu.

“Em nhận về từ Hà gia ở Hồng Kông để làm con thừa tự. Chú hai sợ sau khi ông qua đời, dưới em không còn ai thân thích sẽ bị dòng tộc bắt chia gia sản. Thế nên ông nói chuyện với họ, sắp xếp cho em nhận nuôi một đứa bé trong tộc”, Hà Vị dứt lời, cảm thấy kỳ quái, “Em từng đưa con đến nhà ở Quảng Châu đấy, họ không nói lại với anh à?”

Lúc Tạ Vụ Thanh trở về, ông lão trông nhà có nhắc đến một câu, cô hai Hà mang cháu gái tới. Anh vốn không quá để tâm. Về sau Hoài Cẩn nói Hà Vị dẫn theo một cô con gái, mọi người trong nhà đều ngầm hiểu là của Tạ Vụ Thanh.

Chỉ có anh biết rõ tình cảnh quá khứ không thể sinh con. Khi ấy anh cứ tưởng là hiểu lầm, dù sao Hoài Cẩn chỉ gặp Hà Vị một lần.

Cho dù anh thật sự nghi ngờ, cũng phải nghe chính miệng cô nói mới tin.

Tạ Vụ Thanh bật cười, khẽ thở dài.

Rạp hát lại im ắng, không biết tiếp theo sẽ diễn gì. Tiếng ve kêu râm ran ngày càng dày, giống âm thanh dồn dập của chiêng trống vừa dừng lại. Hiếm có dịp Hà Vị nhìn anh ghen tuông, có điều lần ghen này hơi quá.

“Ban đầu con sợ người lạ, không chịu gọi mẹ”, cô cười giải thích, “Sau này theo em về Bắc Kinh mới tập dần thành quen. Trí nhớ con bé khá chậm, trước ba tuổi không rõ lắm, hiện giờ chỉ biết xem em là mẹ ruột của mình, anh gặp con không nên nhắc chuyện này, sợ con chịu không nổi. Em muốn đợi con lớn thêm một chút mới nói mình nhận nuôi con”.

Tạ Vụ Thanh trầm mặc lắng nghe: “Nói thế sợ là chú hai em đã nghĩ thấu, lo lắng ông đi rồi không ai ở cạnh em”.

“Vâng”. Cô nhớ đến chú hai, không nén được đau lòng.

“Tư Niên nhận ra anh trong ảnh chụp”, cô tiếp tục nói, “Con tưởng anh là cha ruột của nó, anh cũng đừng vạch trần đó”.

Anh cười. Ngược lại suy nghĩ giống với người nhà, từ đầu đã nhận là con gái mình.

Nhưng cũng tốt, đỡ phải phiền phức giải thích. Cùng lắm thì, tuổi trẻ hoang đường vậy.

“Còn nữa”, nhắc đến Tư Niên, cô liền nghĩ một chuyện liên quan anh, “Ở căn hộ Quảng Châu của anh… em có lấy một thứ”.

Là ảnh chụp anh mặc quân trang năm mười tám tuổi, lần đầu được gọi thiếu tướng quân.

Anh nhoẻn miệng cười: “Anh biết rồi”.

Dứt lời, lại nhỏ giọng bổ sung: “Còn để lại một món”.

Mặt cô thoáng đỏ: “… Anh tìm thấy à?”

“Họ nói em đến. Anh đoán dựa theo tính cách của em, có lẽ sẽ để lại gì đó trong phòng ngủ”.

Anh từng kể mình có thói quen tự làm mọi việc, không để người ngoài vào phòng. Nếu không cô nào dám để lại.

Lúc ấy còn nhỏ, gan lớn. Giờ ngược lại thật ngưỡng mộ bản thân.



Cô vuốt mái tóc ngắn của anh, cảm giác lạ lẫm.

Hai người quen biết tám năm nhưng chẳng gặp nhau được mấy ngày. Suốt tám năm qua, có thể dùng hai chữ “gấp gáp” để khái quát, giờ nghĩ lại, bọn họ cũng giống mấy đôi vợ chồng kết hôn trong xã hội cũ, chẳng biết nhiều về nhau.

“Năm năm qua, em thường hối hận vì sao không nhân lúc anh ra Bắc tìm hiểu về anh nhiều một chút”.

Ánh mắt Tạ Vụ Thanh và cô giao nhau: “Hiện tại tìm hiểu vẫn còn kịp”.

Cô mỉm cười. Giống như một câu đã từng nghe thấy.

Tạ Vụ Thanh ôm eo cô, giữ chặt cơ thể cô trong lồng ngực. Thấy anh không lên tiếng, cô bèn ngửa đầu nhìn. Râu trên cằm anh lún phún chưa cạo sạch, cô đưa tay sờ thử, Tạ Vụ Thanh bỗng cúi đầu. Hai người ngắm nhau.

Môi anh chạm nhẹ lên trán cô, anh cười, dần lướt xuống, lần nữa hôn lên cánh môi cô.

Như gió khẽ thổi làm ngọn nến lay động, lại như bóng núi đè nặng xuống lòng sông giữa đêm. Anh hôn rất yên, lặng lẽ như có sức nặng, cuối cùng cô bị anh hôn có chút hoảng, cảm giác như trời đất tối đen, bên ngoài mưa gió càn quét, mà trong phòng lại thoang thoảng hương thơm, nếu tiến thêm một bước nữa, chỉ e khó nói nên lời.

Cô mơ màng nghĩ ngợi, hôn đã thấm mệt, tựa vào ngực anh, nghe tiếng tim anh đập loạn trong lồng ngực khiến tim cô cũng nhảy nhót theo.

Tạ Vụ Thanh đã quay về rồi.

Lâm Kiêu mang điện báo đến cắt ngang họ.

Hà Vị từ trong lòng anh thoát ra, nghiêng người tựa vào đầu kia của sô pha, vươn tay cầm lấy mấy bản phác thảo trên bàn, nhìn rất giống hình vẽ chiến xa.

Anh đưa điện báo cho Lâm Kiêu, nói hai ba câu đơn giản về chuyện ở Liên Xô, đại khái là trong nhóm học sinh vừa nãy có hai người muốn đến trường quân sự Liên Xô học thêm. Trên đường đi qua Phụng Thiên, cần có sự hỗ trợ của Trịnh gia.

“Thứ này là xe tăng, loại Renault FT-17”, anh đợi Lâm Kiêu ra ngoài mới nhỏ giọng thì thầm bên tai cô, “Người Pháp muốn dùng nó để đối phó với Liên Xô. Năm đó hai bên Trực – Phụng tranh chấp, lần đầu sử dụng”.

Xe tăng sao. Người kiến thức rộng như cô cũng chưa từng thấy. Nhưng trong hình ảnh giao tranh của Trực – Phụng đã gặp qua máy b** ch**n đ**.

Anh giải thích với cô: “Cả nước chỉ có vài chục chiếc, đều thuộc về Phụng hệ. Năm xưa khi anh đến Phụng Thiên đã được thấy”, anh lật mặt sau tờ giấy chỉ cô xem, “Đây là xe bọc thép, dùng để vận chuyển binh lính, xưởng sản xuất quân sự ở Phụng Thiên có khả năng lắp ráp được”. Năm đó anh đến Phụng Thiên cũng vì xem thứ này. Cô quan sát kỹ bản vẽ.

Anh lấy cả chồng bản thảo trên bàn đến: “Đây là anh viết. Bàn về chiến thuật, xây dựng thành trì hay tập luyện bộ binh do cha và anh nghiên cứu nhiều năm, tất cả đều nằm ở chỗ chị hai. Khi nào tiện hơn chị ấy sẽ gửi lại cho anh”.

Đây cũng là sở trường của Tạ Vụ Thanh, thời trẻ anh đến bồi dưỡng tại trường quân đội châu Âu, sau lại đến Liên Xô học hỏi, có không ít kinh nghiệm. Khi về nước đánh giặc, anh đến rất nhiều giảng võ đường để dạy học, Bảo Định là một trong số đó.

Nghĩ đến Bảo Định, anh không khỏi tiếc nuối. Cùng năm họp mặt bạn bè kia, Bảo Định đã chấm dứt vận hành trường học.

Thời gian luôn lấy đi những thứ quanh mình.

“Ở Vân Nam có một giảng võ đường vẫn còn mở, từ cuối triều Thanh đến giờ công tác rất tốt, bồi dưỡng không ít tướng lĩnh trong nước, còn có những vị tướng khác trong châu Á”, anh càng nói càng hưng phấn, bổ sung thêm mấy câu, “Nhưng hiện giờ thời cuộc biến chuyển, nếu muốn bồi dưỡng người trong nước thì rất nguy hiểm, vẫn nên đến Liên Xô trao dồi sẽ an tâm hơn”.

“Giáo dục quân sự chung quy cũng là truyền thụ kinh nghiệm từ thế hệ này đến thế hệ khác”, anh sắp xếp bản thảo lại ngay ngắn rồi kết luận, “Nhân thời gian này không thể đi lại, viết thêm mấy bản giáo án mới, sau này sẽ có việc dùng đến”.

Cô nhìn chồng bản thảo chất cao, thậm chí nghi ngờ, liệu có phải lúc anh bị tra tấn, trong đầu nảy ra suy nghĩ, đợi khi được trả tự do, ý tưởng ào ạt tuôn ra như nước liền gấp gáp sửa lại không.

Hà Vị vòng hai tay ôm lấy cổ anh: “Thầy Tạ à”.

Anh mỉm cười, chờ cô nói tiếp.

“Khó có dịp anh nói nhiều với em như vậy”. Cô nhìn vào mắt anh.

“Sợ nói nhiều quá làm em chán”. Anh đáp.

Cô cũng cười: “Dù anh chỉ nói một thế này, hai thế kia, ba thế nọ đều dễ nghe hơn người khác rất nhiều”.

Anh bật cười thì thầm vào tai cô: “Cô hai bị tình yêu mê hoặc đầu óc”.

Hai người họ nói chuyện từ giữa trưa đến tận hoàng hôn.

Vì cô dùng cớ đến xem kịch để đi nhờ xe chú chín nên không thể ở lại qua đêm, sợ khiến người khác chú ý bàn tán.

Đợi khi màn đêm vừa buông, ánh trăng xuyên qua khe cửa rơi khẽ trên vai Tạ Vụ Thanh, cô bất giác nghĩ, thì ra trăng đêm không hắt bụi bặm, còn ban ngày nắng lên lại xuất hiện từng đợt bụi vàng không ngừng xoay tròn giữa không trung rồi biến mất.

Con người phải nhàn rỗi đến mức nào mới nghĩ đến cả chuyện này, nhìn bụi khí xoay tròn dưới ánh sáng thế nào, nhìn ốc bò tạo thành từng vệt trắng đục ra sao.

Tạ Vụ Thanh thấy cô hết nhìn trái lại ngó phải, nghĩ cô đang tìm gì đó: “Em muốn bật đèn không?”

“Không cần đâu”, cô lắc đầu, kề sát tai anh, “Bật đèn nóng lắm”.

Cô không muốn phá vỡ bầu không khí thân mật trong bóng đêm, chạm môi lên cằm anh, bị râu cạ vào mặt, tuy không đau nhưng có chút ngứa. Cô không khỏi bật cười thành tiếng. Cô vừa cười, Tạ Vụ Thanh lại cúi đầu xuống hôn cô.

Cô nhận ra thể lực anh không tốt, đã có chút mệt.

Anh hôn một lúc, dừng lại rồi mới hôn tiếp. Có lẽ vì trời tối, cô bị nụ hôn không nhanh không chậm, không nặng không nhẹ khiến trong lòng tê dại, bất giác c*n m** d***, không để anh hôn nữa.

“Ăn cơm thôi”. Cô nhảy khỏi vòng ôm của anh.

Cô bật đèn, muốn gọi Lâm Kiêu chuẩn bị bữa tối.

Nhưng Lâm Kiêu đã sớm làm xong, vừa nhìn thấy đèn sáng liền bưng vào.

Cô ra khỏi chính phòng, kéo Vương Cẩn sang một bên, hỏi rõ thói quen làm việc, ăn uống hằng ngày của anh. “Mỗi buổi chiều vào hai giờ sẽ ngủ một chút, hôm nay cô hai tới nên tinh thần ngài ấy rất tốt”, Vương Cẩn nhỏ giọng báo cáo, “Ngủ đến khoảng ba, bốn giờ thức dậy dùng cơm, sau đó xử lý mấy việc quan trọng, đến mười hai giờ khuya thì uống thuốc, ngủ tới hơn bốn giờ sáng. Nếu buổi tối không uống thuốc thì không thể ngủ, một khi uống thuốc rồi, tất cả đều biết không đến quấy rầy”.

Sương phòng cách vách đã sáng đèn từ sớm, hẳn là mọi người đợi anh xử lý công việc rất lâu rồi.

Hiếm khi Tạ Vụ Thanh có một buổi chiều thảnh thơi như thế. Những người bên cạnh anh đều vô cùng ăn ý, ngoại trừ bức điện báo kia thì chẳng ai đến làm phiền.

Bọn họ đối với cô, quen thuộc có, xa lạ có, nhưng đều xem cô là người một nhà, không kiêng kị gì.

Hà Vị nhìn anh ăn không đầy hai đũa đã bị cả đám vây quanh, thầm nghĩ chuyện buổi chiều cần xử lý hẳn không ít. Cô nhân lúc anh giải quyết chuyện còn sót lại mà kéo dãn khoảng cách, đợi đám người thấp giọng bàn bạc liền đi tới sô pha, một tay cầm túi ngọc trai, tay kia vẫy vẫy với anh: “Ngày mai em lại đến thăm anh”.

Anh vươn tay phải về phía cô, cô không hiểu gì, chỉ biết nắm lấy.

Tạ Vụ Thanh lại kéo lấy tay kia của cô nắm chặt, thì thầm: “Tối mai qua đêm nhé?”



Cô như thể mới yêu, nghĩ một đằng nói một nẻo: “Chưa biết được”.

Anh không rời tay.

Cô thoáng thấy những người bên kia đang nhìn chỗ này, không thể không đưa ra câu trả lời cả hai mong muốn: “Chắc là… có thể”.

Anh ngắm nghía cô đứng đối diện, mỉm cười, thả cô về.

— HẾT CHƯƠNG 42 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 43: Rượu mạnh say đắm trăm hoa (1)


Ngày hè nắng chói chang. Tạ Vụ Thanh giữ cho cô một phòng riêng trong rạp hát khu Tam Bất Quản.

Lâm Kiêu đứng ngoài cửa, chờ đã lâu.

Hôm qua vừa về đến nhà, cô nhớ lại mấy năm quen biết Tạ Vụ Thanh chỉ thấy anh mặc đúng hai bộ tây trang, còn lại đều là áo sơ mi và quần quân đội cùng kiểu. Hôm nay trước khi vào rạp hát, cô không khỏi hiếu kỳ hỏi, Tạ Vụ Thanh trừ quân trang có thêm quần áo gì khác không.

Đúng như cô dự đoán, câu trả lời của Lâm Kiêu là: Công tử gia giống lão tướng quân, vốn quen tiết kiệm, từ năm mười tuổi thì ngoại trừ quân trang cũng chỉ có quân trang, hai bộ tây trang kia là do lần đó vào kinh phải diễn kịch trước mặt mọi người nên tìm thợ gấp gáp may tạm.

“Cô hai nghĩ xem, chúng tôi làm cách mạng lấy gì có tiền, chúng tôi không thu thuế, cũng không bán thuốc phiện, chỉ có thể dựa vào chiến tranh nuôi chiến tranh, nếu không thì tự xuất tiền túi, còn có mấy nhân sĩ yêu nước quyên góp. Cô hai nhà chúng tôi góp không ít, không phải người cũng từng làm sao?” Lâm Kiêu cười nói.

Hà Vị khẽ gật đầu.

“Trong chiến báo của quân phiệt bọn họ không thích nhắc đến chuyện thu được bao nhiêu súng ống, kích cỡ thế nào, đạn dược ra sao. Người ta cũng không thiếu mấy thứ này, chỉ có chúng tôi luôn phải ghi chép cẩn thận, cũng vì nghèo quá”.

“Lâm phó quan thích tán gẫu hơn lúc trước rồi”. Khấu Thanh cười trêu.

Lâm Kiêu nhìn Khấu Thanh, có chút kinh ngạc.

“Chào Lâm phó quan”. Khấu Thanh nhoẻn cười chào hắn.

Lâm Kiêu vội cúi đầu: “Cô Khấu Thanh”.

Hà Vị thoáng nhìn cái tên trên thiệp hồng hôm nay, vẫn hệt ngày trước, là Chúc Tiểu Bồi.

Nữ đào hát này năm mười lăm tuổi diễn khúc “Tây Sương Ký” một lần liền nổi tiếng khắp nơi, dẫn đầu lượng bình chọn trên báo chí với số phiếu tuyệt đối, những nhóm chính khách quân phiệt kia vì thể hiện sự ủng hộ của mình mà ngày ngày chạy đến tìm gặp, ngồi trong căn hộ của cô ấy suốt mấy giờ liền… Hà Vị biết vị này còn sớm hơn quen Đặng Nguyên Sơ, có điều chỉ là nghe danh chứ chưa xem cô ấy diễn bao giờ.

Ngày đó, sau khi Chúc Tiểu Bồi giúp hộ tống Tạ Vụ Thanh rời khỏi Quảng Đức Lâu, cô mới thật sự nghe vở “Tây Sương Ký” vang danh khắp Tứ Cửu Thành.

“Sao cô ấy diễn ở đây?” Khấu Thanh cũng thấy cái tên kia, hơi bất ngờ nhỏ giọng hỏi, “Đặng công tử có biết không?”

Cô khẽ lắc đầu. Chưa từng hỏi chuyện riêng của Đặng Nguyên Sơ.

Lúc trước công tử Đặng gia nghèo túng ở cùng đào hát nổi tiếng Chúc Tiểu Bồi rầm rộ khắp Tứ Cửu Thành không ai không biết, thậm chí có công tử nhà quân phiệt còn chĩa súng vào người Đặng Nguyên Sơ, ép hắn rời đi… Chớp mắt một cái, hai người kia đã mỗi người một phương.

Tạ Vụ Thanh chờ cô sẵn ở phòng riêng. Trong những trường hợp xuất đầu lộ diện, anh thường có thói quen mặc tây trang giày da.

Năm ấy anh nghĩ mình không xong nên đã an bài toàn hết thảy sau này, Hà Vị là một chuyện, chuyện còn lại là để nhà chồng của chị tư đoạt hết binh quyền. Hiện tại, Tạ Khanh Hoài đã chết, tất cả binh quyền đều nằm trong tay tiểu công tử Ngô gia – Ngô Hoài Cẩn.

Ngô Hoài Cẩn trời sinh <i>phản cốt [1]</i>, tuổi trẻ nhiệt huyết, thừa dịp sau khi Bắc phạt quân phiệt lại xảy ra hỗn chiến đã mang binh rút về rừng núi hoang vu của Vân Quý, quan sát cục diện náo loạn, ngoại trừ tiêu diệt thổ phỉ, còn để luyện binh.

<i>[1] Phản cốt là một kiểu tướng mạo trong xem tướng, người có tướng phản cốt mang 2 nghĩa, một là phản bội, hai là phản nghịch, không chịu cúi đầu trước thực tại. Theo mình hiểu ở đây tác giả hiểu theo nghĩa thứ hai.</i>

Mà anh suốt mười bảy năm qua, chỉ xuất hiện hai lần trước mặt người khác, còn lại đều là “cậu cháu xa cách, ra Bắc khuây khoả”.

Biến cố của Tạ gia ai cũng biết, cô cả bệnh mất tại Liên Xô. Hiện giờ trong nhà chỉ còn lại cô hai làm tài chính ngân hàng, cô tư ra nước ngoài lánh nạn và một Tạ Vụ Thanh. Những thứ khác đều đã là dĩ vãng.

Tạ Vụ Thanh im hơi lặng tiếng đến Thiên Tân, cũng không muốn phô trương thanh thế.

Trong phòng có hương hoa quế thoang thoảng.

Cô theo hương thơm nhìn sang, trông thấy tách trà hoa quế trên tay Tạ Vụ Thanh, còn có mấy đĩa bánh điểm tâm.

Cô đặt túi một bên, ngồi cạnh anh.

“Sáng nay muốn chuẩn bị bữa sáng cho em”, anh nói, “Chỉ mua được ở Bắc Bình. Sau đó thấy hoa quế khô trong hành lý nên mới định châm hai tách trà”.

“Cũng từ Quế Lâm sao?” Cô hỏi, nói tiếp, “Hộp trà kia anh tặng em không nỡ uống lần nào”.

“Hái cùng một đêm”. Anh đáp.

Ngày ấy đi qua Quế Lâm, chỉ dừng lại đóng quân một đêm. Trùng hợp thay hoa quế nở ngắn ngủi mấy ngày, lại được anh bắt gặp.

Rạp hát ở Thiên Tân sau buổi trưa có một tiết mục diễn <i>tướng thanh [2]</i>, đều là những đào kép đào hát nổi danh tại Bắc Bình, mà phong thuỷ Thiên Tân hình như rất thích hợp với lĩnh vực tướng thanh này, hai nơi Bình Tân, nếu muốn nổi tiếng, chỉ cần đến đây bái sư học hỏi. Giữa sân có mấy thanh niên cầm đĩa, từng người lãnh tiền, trong trận cười vang giòn giã, bạc vụn ném vào đĩa lót vải đỏ, người trên sân khấu chắp tay một cái rồi tiếp tục hát.

<i>[2] Tướng thanh là một hình thức diễn tấu bằng lời nói, người diễn thông qua những lời kịch vui đùa, hỏi đáp hài hước hoặc nói, hoặc hát, sao cho chọc khán giả cười, qua đó châm biếm thói hư tật xấu và ca ngợi người tốt việc tốt.</i>

Lát sau, Khấu Thanh từ ngoài bước vào, nhỏ giọng báo: “Tên người Nhật kia đến rồi”.

Hà vị chưa kịp phản ứng, Tạ Vụ Thanh đã nói: “Buông rèm xuống, cách mành trúc nói chuyện”.

Cô nhìn Tạ Vụ Thanh: “Anh biết ai sao?”

“Buôn muối là chuyện lớn, liên quan đến dân sinh. Trước khi đến Thiên Tân anh đã nghe người khác nhắc đến”. Tạ Vụ Thanh giải thích.

“Em vốn không muốn kinh doanh thứ này, muối – lương thực – giao thông, em đã chiếm một phần, những thứ khác không thể động vào, càng không định động vào”, cô nhỏ giọng nói, “Có điều đây là chuyện cuối cùng chú hai muốn làm trước khi nhắm mắt. Ông nói, thế hệ của ông không hiểu nên không quan tâm đến kẻ thù lăm le bên ngoài, cũng ít phòng bị. Hiện giờ khu sản xuất muối đều tập trung ven biển, nếu sau này bị chiếm, đất liền sẽ không còn muối tích trữ, vô cùng nguy hiểm. Ông biết em không muốn nhúng tay vào thứ đó, nhưng vẫn để em thử làm một phen, vận chuyển muối đi các tỉnh đồng bằng”.

Hà Tri Hành nhớ lại quá khứ sống trong thành Bắc Kinh, trải qua cảnh trước và sau khi liên quân tám nước tấn công, trong lòng không khỏi sợ hãi.

“Chú hai em quả thật suy nghĩ chu toàn”. Anh đánh giá.

Chuyện này còn liên quan đến trải nghiệm lúc nghèo quẫn của ông năm đó, cũng là quá khứ khiến ông và Bạch lão gia không thể không thoát thân.

Hôm nay có hai cố nhân đến.

Vị quan lớn trong triều đình Tốn Thanh mặc một thân kimono, chân đi guốc gỗ giống hệt ngày ấy và vị thái giám mặc áo dài kiểu Trung Quốc xưa cũ theo hầu. Bọn họ ngồi cách một tấm rèm, nhìn bóng dáng một nam một nữ bên trong.

“Mời hai vị ngồi”. Hà Vị mở lời.

Thái giám chắp tay, ngồi xuống trước, vị quan lớn tiền triều chải hai bên tóc mai ngắn cũn muốn tiến lên.

“Triệu đại nhân”, lão thái giám không vui ngăn cản, “Ngồi rồi nói”.

Cách một mành trúc, cô không thấy rõ sắc mặt của vị quan lớn kia, thở phào nhẹ nhõm.

Đối phương nói qua mục đích đến, vẫn là thương nhân người Nhật muốn góp vốn vào cổ phần muối, dựa vào bản lĩnh mấy mươi năm lăn lộn chốn quan trường, hắn nói đến mức múa lưỡi thành hoa, Hà Vị nghe hơi mất tập trung, bắt gặp Tạ Vụ Thanh nhặt một quả hạch mà đó giờ cô chưa nhìn thấy, hẳn là từ phương Nam mang đến.

Tạ Vụ Thanh “ba” một tiếng, hai ngón tay tách vỏ hạt, Hà Vị lập tức bĩu môi, anh cười cười, đưa cho cô.

“Thứ này gọi là gì?” Cô thì thầm.

Anh quay đầu lại, nhỏ giọng đáp: “<i>Dẻ thóc</i>”<i> [3]</i>.

<i>[3] Nguyên văn là “mễ chuỳ”, mình tìm được một từ Việt hoá hơn là dẻ thóc, hay còn gọi là hạt dẻ rừng. Khác với giống cây dẻ Trùng Khánh hạt to thường thấy, dẻ thóc (dẻ Lục Nam) chỉ cho hạt nhỏ cỡ đầu ngón tay út. Dẻ thóc ăn vào cũng có vị giống hạt dẻ thông thường. </i>

“Ăn giống hạt dẻ vậy”. Cô tinh tế thưởng thức.

Tạ Vụ Thanh thấy cô thích ăn, lại tách thêm mấy hạt, đặt trong đĩa sứ trắng bên cạnh tách trà.

Hà Vị nhíu mày, bĩu môi với anh.

Anh nhoẻn miệng cười, nhặt mấy hạt đút cho cô.

Dưới lầu, diễn viên tướng thanh <i>cởi bỏ thắt nút [4]</i> khiến khán giả cười vang.

<i>[4] Thuật ngữ trong lĩnh vực tướng thanh, ý chỉ diễn viên nói ra điểm mấu chốt sau những câu kịch ẩn ý để gây cười.</i>

Vị thái giám kia cũng chăm chú xem kịch, bật cười theo.

Triệu đại nhân nói đến mức miệng khô lưỡi đắng nhưng chẳng ai đáp lời, người bên trong nhàn nhã nói chuyện quả hạt, vị đồng nghiệp bên ngoài của hắn chỉ lo xem tướng thanh. Hai bên trong ngoài sót lại mình hắn lạc loài. Người nọ không vui mở miệng: “Bản lĩnh qua loa có lệ của cô hai khiến tôi nhớ đến một cố nhân. Người đó khi ra Bắc đang lúc đắc thế, đối với hai người chúng tôi cũng qua loa chậm chạp. Bây giờ chúng tôi vẫn sống tốt ở tô giới Thiên Tân, mà nay hắn cả nhà lụi tàn, không biết lưu lạc nơi nào”.

Hà Vị nghe người đó nhắc đến Tạ Vụ Thanh, thu mắt về, nhìn bóng dáng ngoài rèm trúc.

“Con người ấy mà, cơ hội chỉ đến một lần trong đời, nói không chừng, mấu chốt chính là phải nhìn được thời cuộc”, vị đại nhân kia tiếp lời, “Hiện giờ chính phủ Nam Kinh cũng phải nhượng bộ người Nhật ba phần, cô hai cần gì phải cố gắng chống đối”.

Tạ Vụ Thanh nâng tách, nhấp một ngụm trà hoa quế, khẽ vỗ mu bàn tay ý bảo cô đừng nóng giận.

Cũng may, thái giám kia lấy cớ thân thể không khoẻ, ngồi được một lát liền hối thúc trở về.

Qua thêm một lúc, Khấu Thanh giả làm Hà Vị dùng xe về nhà.

Trước lúc hoàng hôn, cô chạy đến phòng bếp của viện nhỏ, đeo tạp dề rồi đuổi hết đầu bếp ra ngoài. Mấy năm qua cô nuôi nấng Tư Niên, học được không ít món ăn cho trẻ nhỏ, tài nấu nướng cũng tăng lên đáng kể.

Khi thức ăn được dọn vào phòng, Tạ Vụ Thanh cầm đũa nhìn nồi cơm trắng vừa được hấp nóng hổi: “Không phải mộc tê cơm sao?”

“Vừa rồi em vui quá. Lỡ thêm một thìa muối”. Hà Vị buồn bã lên tiếng.

Anh bật cười: “Ngày mai làm lại đi”.

“Vâng”.

Ngày mai rồi đến ngày kia, thật tốt.

“Hôm nay ở rạp hát, lúc nghe những lời đám người đó nói, em đã không muốn bàn tiếp rồi”. Cô ngồi cạnh anh, gắp thêm thức ăn cho anh, ngẫm lại vẫn còn giận.

Tạ Vụ Thanh cười cười, cũng gắp cho cô một đũa: “Sao không thấy con gái anh đến?”



Thật ra danh xưng này sớm đã thành quen. Cô lườm anh.

“Chỗ này nếu không phải rạp hát thì là sòng bạc, sao đưa con bé đến đây được?” Cô hỏi ngược lại.

“Đúng là không ổn thật”, anh ngẫm nghĩ mới đáp, “Ngày mai anh đến tìm con”.

Hà Vị thấy anh quan tâm Tư Niên, cong môi cười.

Cơm nước xong, cô bày một cái ghế nhỏ giữa sân, cẩn thận ngồi tách vỏ dẻ thóc, nhấp ngụm trà hoa quế, loáng thoáng nghe vở kịch đang diễn xướng trong rạp hát cạnh đó. Cảm giác chỉ cách Tạ Vụ Thanh một bức tường thoải mái đến mức nói không nên lời, càng thêm kiên định.

Cô phe phẩy quạt đàn hương mấy cái để đuổi muỗi. Bỗng dưới chân xuất hiện một đĩa hương muỗi đang cháy.

Lâm Kiêu cười với cô, nhỏ giọng bảo: “Thiếu tướng quân dặn mang đến”.

Cô quay đầu nhìn, xuyên qua khe cửa sổ thấy mấy người trong phòng đi tới đi lui, nói vậy Tạ Vụ Thanh nhìn cô từ chỗ đó sao.

Trong viện nhỏ không chỉ một mình anh mà còn có thêm thuộc hạ theo hầu, không tiện bằng nhà chú chín.

Phòng tắm rất hẹp, cô tắm xong phải băng qua cái sân này mới vào được chính phòng, thế nên cô cẩn thận thay đồ lúc sáng, bước ra ngoài, tay vén mành trúc hơi sững lại. Đèn tắt rồi.

Tắt lúc nào nhỉ? Trước khi vào tắm vẫn còn sáng mà.

Tim cô đập nhẹ, khẽ vén rèm châu, cúi đầu đi vào.

Gạch đá xám xịt nhấp nhô dưới chân, không bằng phẳng, bước đến đâu cũng lắc lư.

Toàn bộ rèm đóng kín, chỉ có rèm cửa sổ được kéo lên để thông gió. Quạt điện cùng chậu băng đặt trên bàn thấp ở trước giường, không ngừng thổi lay mành giường. Đầu giường đặt một cái đèn nhỏ, dây điện màu đen nối dài từ tường ngoài, Tạ Vụ Thanh thấy cô bước vào, thu dọn mấy tờ bản thảo hỗn loạn trên đùi.

Hà Vị xoã tóc đi qua, dùng ngón tay làm lược chải chuốt tóc hai bên vai, thuận mắt nhìn quyển sách vừa khép lại, là “Bộ binh yếu lĩnh”. Cô mỉm cười.

Tạ Vụ Thanh đặt hết giấy bút và sách lên ghế.

“Muốn tìm cho em một cái móc áo”, thứ anh nói là móc áo kiểu cũ thường đặt trên đầu giường của đàn bà con gái, “Nhưng chỗ này không có”. Cô lại cười, thấp giọng thì thầm: “Khoác lên ghế là được rồi”.

Cô ngồi ở mép giường cởi cúc áo, vừa cởi xong một cái lại nhìn Tạ Vụ Thanh vẫn còn nguyên áo sơ mi và quần quân đội trên người, mặt cô nóng ran, ngượng ngùng hỏi: “Sao anh… không c** q**n áo đi?”

Dứt lời, cô chợt nhớ ra: “Hay anh vẫn thích mặc quần áo đi ngủ?”

Tạ Vụ Thanh nhoẻn cười: “Muốn đợi em đến”.



Hà Vị nhìn anh: “Đợi em làm gì…”

Chẳng lẽ muốn em giúp anh c** q**n áo sao? Nhưng cô không nói ra lời.

Hà Vị thấy anh vẫn không rời mắt khỏi mình, bất giác thấy ánh đèn màu cam nóng rực.

Tạ Vụ Thanh đột nhiên tắt đèn, bắt đầu cởi áo sơ mi.

“Anh chờ em chút”. Cô cởi giày, cuốn một bên rèm lên.

Rèm giường ở đây không giống trong nhà cô hay Bách Hoa Thâm Xử, vải dệt rất mỏng. Chỉ thả xuống một lát đã bị quạt thổi tốc toàn bộ lên người cô, tay Hà Vị gạt ra, vừa định nói, hay là cuốn rèm giường lên đi…

Tạ Vụ Thanh đỡ lấy sau gáy, hôn lên môi cô.

“Đừng để ý đến nó”. Giọng anh trầm thấp, tay lần xuống dưới giường, nghe có tiếng chốt cắm dây điện rơi trên đất, quạt ngừng quay, tấm rèm như mất trọng lượng yên ắng lại.

Hà Vị bị anh hôn một lúc, thay anh cởi cúc sơ mi sót lại.

“Vốn muốn ở Bách Hoa Thâm Xử”, anh thủ thỉ vào tai cô, “Không ngờ giữa chúng ta, lại kéo dài như thế”.

Trong lòng cô như lửa đốt, bị ánh mắt anh đun chảy.

Tạ Vụ Thanh không thích tâm sự, hiếm khi mở miệng, chính là thời điểm này.

Thật ra cô không quan tâm ở đâu tốt nhất, chỉ nghĩ là cùng ai.

Lúc mới về Bắc Kinh, đêm khuya thức giấc, cô bật dậy trên giường lớn, sờ thấy Tư Niên nằm cạnh, cứ tưởng là anh, cảm giác vui sướng tột cùng, lại bắt lấy cánh tay gầy gò bé nhỏ, tức khắc nỗi mất mát bao trùm. Sau này cô không dám ngủ cùng Tư Niên nữa, giao con bé lại cho Quân Khương và Khấu Thanh.

“Thực tế nhắm mắt lại”, cô nhỏ nhẹ, “Ở đâu cũng giống nhau”.

Tạ Vụ Thanh bật cười. Trong mắt anh, cô không hề lớn lên, vẫn thẳng thắn như thế, không che giấu lời trong lòng.

Cô nghe thấy tiếng động rất nhỏ, nghĩ ngợi nửa ngày mới nhớ ra cửa sổ còn mở, gió đêm thổi tung xấp bản thảo của anh.

“Hay để em giúp anh thu dọn đống bản thảo lên bàn trước?” Cô lo lắng cho tâm huyết anh viết.

“Không cần đâu”.

Cô gác cằm trên vai anh, ngửi một chút, nhất định vừa nãy anh uống trà hoa quế.

Người từng gặp Tạ Vụ Thanh không tài nào liên tưởng anh với hai chữ “dịu dàng”. Chỉ có một thiếu tướng quân lúc lên giường, cởi bỏ áo sơ mi cùng quần quân đội mới để cô nhận ra. Cô nghĩ, buổi tối khi Tạ Vụ Thanh đi ngủ không mặc tây trang tiếp khách như ban ngày mà thay thành quần quân đội, là vì muốn dùng thân phận Tạ Vụ Thanh chân chính đối diện với cô.

Hà Vị ôm anh, áp mặt mình lên mặt anh, nhỏ giọng gọi “anh Thanh”.

Anh vẫn mỉm cười như thế, không đáp lời.



Như lửa cháy thiêu rụi biên giới, lại giống thuỷ triều lên cao rồi rút dần. Mặt cô trượt xuống, tựa vào cổ anh, không động đậy.

Tiếng ve bắt đầu râm ran. Có lẽ vừa nãy mất tập trung nên không quan tâm, xem nhẹ mọi chuyện xung quanh.

Tạ Vụ Thanh mân mê cằm cô, cúi đầu muốn nhìn xem, cô lắc đầu. Không muốn nhúc nhích.

Ôm nhau một lát, cô thiếp đi, hô hấp chậm rãi phả lên xương quai xanh của anh.

Tạ Vụ Thanh không muốn đánh thức cô, cũng không sao động đậy, chỉ có thể vỗ về cô như một đứa trẻ, hơi dựa vào mép giường. Anh sợ cô cảm lạnh, khoác áo sơ mi lên lưng cô.

Hai người ngủ suốt một giờ, anh thấy cô chưa muốn tỉnh dậy, cũng giữ nguyên tư thế ấy nhắm mắt nghỉ ngơi.

— HẾT CHƯƠNG 43 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 44: Rượu mạnh say đắm trăm hoa (2)


Sòng bạc ngày đêm náo nhiệt, từng tiếng thét hưng phấn đánh thức Hà Vị trong mộng.

Cô nằm nghiêng trên gối, lim dim sờ người bên cạnh —

Ga trải giường nhăn nhúm, hơi ấm ẩm ướt vẫn còn sót lại. Nhưng không bóng người.

Trong lòng cô hoảng hốt, bất ngờ tỉnh táo. Đang định ngồi dậy, cô nghe thấy mành trúc trên khung cửa gỗ vang khẽ một tiếng, giống như có người cố tình đỡ lại rồi mới chậm rãi buông ra.

Bóng dáng đàn ông bước vào thư phòng.

Trước lúc Tạ Vụ Thanh đến đây đã cho người chế tạo một cây gậy chống có tay cầm bọc thép, ngày đến nhà Cửu tiên sinh không thể dùng, sợ cô trông thấy lại đau lòng. Lúc này nhân khi cô ngủ say, mới lấy ra từ cạnh giường.

Cô nằm trên giường, theo ánh trăng chăm chú nhìn Tạ Vụ Thanh chống thứ đen sì thon dài, nửa giống gậy nửa giống đao bước từng bước đến bên giường.

Quân nhân như anh, bóng lưng thẳng tắp, khí chất đỉnh đạt, cũng không đến mức chật vật, chỉ là đi đứng chậm rì.

Tim Hà Vị nghẹn ứ, nhìn thấy anh đến gần mới lần nữa nhắm mắt. Phối hợp với anh, không bị “đánh thức”.

Bên cạnh có người ngồi xuống, cô nhận ra bàn tay đàn ông sờ trán mình, còn cả lưng, nhẹ nhàng êm ái, như đang xem xét gì đó. Lúc sau, trên giường nhẹ bẫng, anh cắm chuôi điện lần nữa.

Dòng điện chạy vào khiến cánh quạt từ từ xoay tròn.

Cô bừng tỉnh, thì ra vừa nãy Tạ Vụ Thanh thấy cô toát mồ hôi, muốn thử xem cô có nóng hay không.

Cánh tay cô giật giật, lười nhác cọ mặt lên gối bằng tơ, như thể vừa thức giấc, chạm lên mu bàn tay anh, nũng nịu thủ thỉ: “Tỉnh sao? Mấy giờ rồi anh?’

Anh gác gậy cạnh giường, cúi thấp người nói: “Ba giờ”.

Hà Vị trợn mắt, không rời mặt anh trong bóng đêm, nhìn một hồi lại đưa tay lên vuốt tóc anh.

Buổi tối anh không uống thuốc, chỉ sợ ngủ không sâu.

“Đến đây đi”. Cô cúi đầu, tiếp tục làm nũng.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười. Anh điều chỉnh tư thế ngồi, đặt chân bị thương đến chỗ thoải mái an toàn hơn, nằm lên giường. Còn chưa yên vị, hai cánh tay cô gái đã bám chặt trên vai.

“Không ôm em à”. Cô ôm lấy cổ anh, nhẹ giọng oán trách.

Tạ Vụ Thanh thấy cô không định ngủ tiếp, liền cúi người, chạm vào môi cô.

Hai bóng người chồng lên nhau, tay Tạ Vụ Thanh đặt lên lưng cô, chậm rãi chuyển động xuống dưới, điều chỉnh dáng nằm. Hai người đối mặt, vừa hít thở vừa hôn nhau. Sức lực trên môi anh ngày càng nặng nề.

“Anh có từng, lúc nào muốn cưới vợ không?”, cô mờ mịt hỏi, “Nhất là… khi còn trẻ ấy”.

Tạ Vụ Thanh nhoẻn cười, giọng nói trầm khàn: “Anh luôn biết cách kiềm chế mình, hơn nữa,” anh xoã tóc cô lên gối, trên cánh môi bị anh trêu chọc khiến cô càng thêm mềm nhũn cả người, “Còn rất hiểu cách tránh sự chú ý. Trên đời này không có gì là không thể giải quyết, con người không giống động vật”.

Cánh quạt xoay không ngơi nghỉ, từng luồng gió phả xuống trên tay, trên đùi, như ngăn cách với thế giới bên ngoài.

Hô hấp Hà Vị ngày càng gấp, như mê như đắm, mặc anh trêu đùa.

Ngón tay Tạ Vụ Thanh bị lọn tóc của Hà Vị quấn lấy, lúc hôn cô, anh thích thú kéo một sợi đo thử độ dài, không ngờ lại chấm lưng. Ngày trước thân mật ở Bách Hoa Thâm Xử vẫn chưa dài đến độ ấy.

Tạ Vụ Thanh nhớ lúc mới đến kinh thành, bị bạn bè trêu chọc bước vào chốn đào nguyên tiêu dao. Mọi người cười anh: Công thành danh toại không chịu cưới vợ sinh con, hiện giờ bỏ lỡ cơ hội tự do yêu đương, lại bị ép phải thành rể hiền của quân phiệt.

Ngược lại anh khá bình thản, nếu như cần, tất thảy đều có thể hy sinh.

Bọn họ là người một lòng vì cách mạng, dùng sinh mệnh cả nhà để bảo vệ sự phồn thịnh của quốc gia. Ngay mạng sống cũng không xem trọng, há gì một cái nhíu mày chuyện hôn nhân.

Anh ngàn tính vạn tính, đến cả việc ép cưới cũng nghĩ đến, duy chỉ không tính ra nhân duyên của mình lại ở Bách Hoa Thâm Xử.

Lúc trước khi bạn thân Bạch Cẩn Hành quyết định đến Đức du học, không muốn làm trễ nãi cô gái chưa từng gặp mặt. Nhưng Tạ Vụ Thanh nhớ rõ vị quan ngoại giao vì nước quên thân kia là người Hà gia, biết cả chuyện cả nhà cô lòng mang đại nghĩa, cùng chung chí hướng với họ, anh liền tìm mọi cách khuyên bảo bạn mình không nên quyết tiệt quá, tới nhìn một lần rồi bàn tiếp.

Đêm đó Bạch Cẩn Hành vừa vào kinh đã hẹn gặp cô.

Vì lệch múi giờ nên anh đứng ở góc tối đầu ngõ hút điếu thuốc. Trước nay anh rất kiên nhẫn, cảm nhận bốn bề tĩnh lặng, có điều điếu thuốc ngày ấy anh hút chẳng bình thường chút nào. Mấy lần anh định lên xe, muốn ngày mai lại đến, nhưng đám nhỏ mặc tã không ngừng chạy nhảy đùa giỡn trước ngõ, chắn giữa anh và chiếc xe, giống như từ trong bóng tối có một bàn tay vô hình cản bước anh lại.

Cuối cùng, anh vứt điếu thuốc, bước vào con ngõ chật hẹp.

Võ quan gác viện nhận ra anh là chủ nhà, lại thêm binh lính kính sợ trưởng quan, nên không ngăn cản, trực tiếp tránh người để anh vào.

Bóng người đưa lưng về phía cửa, tay nhẹ nhàng chải tóc. Chỉ có một mình cô.



Sau màn gặp gỡ vội vàng, anh quay về khách sạn Lục Quốc, lại nhìn thấy công sứ Nga trong phòng khiêu vũ, anh ngồi trên ghế ngẫm nghĩ hồi lâu rồi rút ra tờ giấy viết mấy chữ, cũng không lộ diện.



Những thứ sau đó, không thể đoán trước.

Vận mệnh từng bước buộc chặt hai người, đi đến ngày hôm nay, cuối cùng cũng nên duyên vợ chồng.

Chóp mũi Tạ Vụ Thanh mướt mồ hôi cọ qua mặt cô.

“Uống thuốc ngủ hình như không tốt lắm”, cô m*t lấy môi anh, giữa mày cau lại, thể xác và tinh thần cô đều thuộc về anh, lúc thì giãn ra, lúc lại mím chặt, qua hồi lâu, cô mới đủ sức nói tiếp nửa câu sau, “Còn muốn sinh con”.

Cô là vợ anh. Vợ anh có kế hoạch sinh con với anh.

Anh khẽ hôn vành tai cô: “Sau này không uống nữa”.

Trước lúc bình minh, bên ngoài có tiếng người đi lại. Vẫn như thường lệ, không ai quấy rầy họ.

Lính tòng quân thức dậy rất sớm, bên ngoài ngày càng nhiều người hơn. Tạ Vụ Thanh có thói quen bốn giờ rời giường, có kẻ vào sân, không biết cô hai Hà đang trong phòng, tiếng nói chuyện vang dội, liền bị tên khác ngăn lại.

Hai người trong phòng lăn lộn trên giường, mồ hôi vẫn chưa khô, Tạ Vụ Thanh thấy cô thất thần để ý động tĩnh phía ngoài, rất nhanh đã dùng cách thức của riêng anh mang cô quay lại, đặt toàn bộ thể xác và tinh thần lên người đàn ông ôm mình.



Chờ trời gần sáng, Tạ Vụ Thanh thì thầm một câu bên tai cô: “Sau này mỗi ngày ở cạnh nhau, chỉ e không cần ngủ nữa”. Lúc nói, giọng anh nửa đùa nửa thật, anh duỗi tay muốn nhặt gậy chống đến bên bàn lấy thuốc lá.

Hà Vị thấy lạ, vì sao mới sáng sớm anh đã hút thuốc lấy tinh thần, Tạ Vụ Thanh đáp: Không phải lấy lại tinh thần, mà để phân tâm.

“Chân ra nông nỗi này, còn mạnh miệng”, cô nhỏ giọng, “Anh muốn lấy thứ gì, nói với em là được rồi”. Cô rời giường, giúp anh lấy thuốc lá, hộp diêm cùng gạt tàn bằng sứ đặt trên cái ghế tựa nâu đỏ cạnh giường.

Cô hiếm có dịp nhìn anh hút thuốc, hai tay ôm gối ngồi ở mép giường, hơi nghiêng đầu quan sát anh hút thế nào, làm sao để nhả khói.

Ngón tay anh kẹp điếu thuốc, ánh mắt dừng trên người cô, thần sắc thâm trầm. Giống hệt một tên <i>Đăng Đồ Tử [1]</i>, đêm khuya say rượu nặng nề phóng từ xe quân sự xuống, xắn cao tay áo quân phục, ngực phanh rộng, lộ ra vạt áo sơ mi, đến gặp giai nhân trong lòng công tử.

<i>[1] Đăng Đồ Tử là một nhân vật hư cấu trong tác phẩm “Đăng Đồ Tử háo sắc phú” do Tống Ngọc nước Sở thời Chiến Quốc viết. Kể về việc Tống Ngọc vô tội bị Đăng Đồ Tử gán cái danh “háo sắc”, cuối cùng đánh trả. Đây được xem là câu chuyện ngụ ngôn khuyên bảo mọi người khi bị chơi xấu phải kịp thời ngăn chặn. Sau này, Đăng Đồ Tử trở thành một điển hình chỉ người háo sắc (giống như nhân vật Sở Khanh trong “Truyện Kiều”)</i>

Một tay anh vỗ không kêu, từ trên xuống dưới đều đang khẩn cầu.

“Không phải nói mình hiểu cách kiềm chế sao”. Cô tựa vào vai anh, thậm chí có thể cảm nhận được mạch máu trong lòng bàn tay anh chảy xuôi thế nào, nóng bỏng cuốn lấy hồn cô.

Anh bật cười: “Đêm tân hôn, không giống thế”.

Anh áp người tới, che chắn ánh mặt trời trong xanh mỏng manh.

Trời đã sáng… Đêm tân hôn này hình như kéo dài quá rồi.

Hừng đông, cô không chịu nổi nữa, xoay người vào trong thiếp đi. Mặc kệ Tạ Vụ Thanh trêu chọc thế nào, cô chỉ nhắm chặt hai mắt lo đi <i>gặp Chu Công [2]</i>. Trong mơ hồ, điều duy nhất cô thấy may mắn là trời rốt cuộc cũng sáng, sòng bạc lại ầm ĩ, không ai nghe thấy tiếng động từ giường gỗ này nữa.

<i>[2] Cách nói khác chỉ việc đi ngủ</i>

Cô dính chặt trên gối ngủ say, trừ vài lần lẩm bẩm hai câu mệt mỏi khi bị anh bất chợt nhấm nháp cánh môi, còn lại đều không nhúc nhích.

Tạ Vụ Thanh cũng sợ chọc cô tỉnh giấc bực mình, khoác áo sơ mi lên người cô.

Tạ Vụ Thanh v**t v* ngón tay cô chơi đùa một lát, lại quan sát móng tay, rồi nhìn đầu ngón nhỏ nhắn xinh xắn, liền thấy vui vẻ lạ thường. Anh nghĩ, sau đêm nay, liệu con của họ có bao nhiêu phần trăm sẽ xuất hiện.

Ngay khi anh bị áp giải đến Hàng Châu, sống những ngày tháng cô lập với thế giới, lúc vừa bước ra nghe người báo cáo từng chuyện một, lời căn dặn của cha anh trước khi qua đời vô cùng nặng nề.

Lúc ấy là thời điểm khốn khổ nhất của Tạ gia. Cha không biết Tạ Vụ Thanh đính hôn với con gái người ta đến mức độ nào, sợ anh tuổi trẻ hoang đường, không nghĩ chu toàn làm người ta có con. Cha nằm trên giường bệnh cứ lặp đi lặp lại dặn dò người duy nhất canh giữ bên cạnh là chị hai, nếu thật sự có máu mủ ruột rà, nhất định không thể họ Tạ… sợ liên luỵ đến mẹ đứa trẻ.

Hiện tại nếu anh có thể sinh con, đối với phụ thân trên trời cũng xem như an ủi.

Tạ Vụ Thanh kiên nhẫn ngắm nghía mặt mày cô, thấy tóc cô ướt đẫm dính chặt trên trán.

Đêm tân hôn diễn ra trong một khoảnh viện nhỏ không tên tuổi, trời vừa nóng, ban đêm lại có hương đuổi muỗi quẩn quanh, còn tiếng thét ầm ĩ từ sòng bạc bên cạnh, ve hạ râm ran cả ngày. Làm cô chịu thiệt rồi.

Anh luôn muốn cho cô những điều tốt nhất.

Đáng tiếc Tạ Vụ Thanh có thể cho, nhưng cô cũng chẳng thiếu.

Tiếng cửa gõ vang.

Anh lặng lẽ cầm lấy gậy ở đầu giường, chống từng bước ung dung đến cửa.

Tiên sinh bó xương yên tĩnh đợi bên ngoài, nói tới thay thuốc.

Cô ba nhà họ Trịnh là bạn tâm giao của chị ba anh, từ khi chị ba mất, luôn đối xử với Tạ Vụ Thanh như em ruột của mình. Vị tiểu thư ấy đêm qua nghe nói em dâu ở lại, một mặt vui sướng, một mặt lại lo lắng ảnh hưởng đến cái chân bị thương của Tạ Vụ Thanh. Có điều vợ chồng người ta xa cách nhiều năm, không thể ngăn cản, thế nên quanh co dặn dò tiên sinh bó xương đến kiểm tra.

Anh ngồi trong sân, dưới bóng cây râm mát, để tiên sinh bó xương thay thuốc. Tiên sinh bó xương sờ qua một hồi, mới an tâm thấp giọng cười: “Nghe nói hôm qua là tân hôn của tiên sinh, xin chúc mừng”.

Tạ Vụ Thanh bất chợt nghe lời chúc, hơi sửng sốt, sau lại bật cười, như ngầm chấp nhận.

Trước khi tiên sinh bó xương đi đã cẩn thận dặn dò anh, tuy tân hôn vui vẻ nhưng dưỡng thương ở chân vẫn quan trọng hơn. Tiên sinh bó xương đã ngoài năm mươi, đối với đàn ông đương ba mươi tuổi như anh vẫn ý vị sâu xa nói mấy lời như “tương lai còn dài”, chọc Tạ Vụ Thanh dở khóc dở cười.

“Tiên sinh an tâm, tôi biết chừng mừng”. Anh đáp.

“Nhìn được ngài là người cẩn thận”. Tiên sinh bó xương ẩn ý nói.

Sau khi Lâm Kiêu tiễn tiên sinh bó xương đi, dọn bữa sáng đã chuẩn bị sẵn lên. Anh uống cạn nửa bát cháo trắng, qua khe hở rèm trúc, thấy cô không có ý định thức dậy, liền sai người thu dọn bàn gỗ sạch sẽ trong sương phòng, mang công việc dời sang phòng bên cạnh.

Khi anh ngồi trong sương phòng, phát hiện mọi người đều vui mừng hớn hở.

Đây là đêm duy nhất anh ngủ không ngon giấc nhưng ai nấy đều vô cùng cao hứng.

Tạ Vụ Thanh không quen nhìn nụ cười tươi rói như trông thấy chú rể của cấp dưới, anh gõ bút lên tập văn kiện làm mọi người nghiêm túc. Có kẻ chống lại ánh mắt đường hoàng của anh, nhỏ giọng hỏi: Đã là tân hôn, nhất định phải ăn kẹo mừng.

Lại có người hùa theo: Đi theo tướng quân đã mười năm, kẹo mừng cũng không cho ăn, đúng là không nghĩa khí. Người vào sinh ra tử, dù sao cũng phải có chút nhớ nhung, để còn hi vọng, đắc chí hoan hỉ…

Tạ Vụ Thanh trầm mặc quan sát họ.

Cuối cùng, anh nhìn Lâm Kiêu, Lâm Kiêu hiểu ý lập tức ghi chép lại: Mua kẹo mừng.



Hà Vị tỉnh giấc từ ga giường và gối đầu ướt mồ hôi cả đêm, cả người như nhũn ra.

Cảm giác này so với lúc học cưỡi ngựa, giống như cưỡi một con chiến mã vững chãi từ trên đỉnh núi xóc nảy chạy đến chân núi, thật là tra tấn. Cô thầm nghĩ, người đàn ông này ngoài miệng nói mình đã già, nhưng thật ra vẫn tinh lực tràn đầy, đúng là người hàng năm lên chiến trường nên… khác biệt chăng.

Chờ trong lòng oán than đủ rồi, cô mới sờ thấy chiếc sơ mi trắng trên người.

Mùa hè nóng như vậy, trên lớp vải mỏng manh đã bị cô ngủ ướt đẫm một nửa. Cô sờ viên cúc áo lỏng lẻo trên cổ, muốn tìm kim chỉ khâu giúp anh…

Nghĩ thế, rốt cuộc cô cũng lười biếng mặc quần áo, bước xuống giường.

Vì không có lược nên cô chỉ đành dùng ngón tay chải tóc.

Trong tiếng náo nhiệt ngoài sân, cô vén rèm trúc, ra khỏi cửa. Khắp nơi trong viện đều là người với người, chỉ duy Tạ Vụ Thanh không có mặt.

Vương Cẩn bưng một đĩa nho vừa bóc vỏ, trông thấy Hà Vị liền cười nói: “Có khách đến rạp hát tìm cô hai, thiếu tướng quân hỏi vài câu đã tự mình qua đó rồi”.

— HẾT CHƯƠNG 44 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 45: Rượu mạnh say đắm trăm hoa (3)


Người ngồi ngay ngắn trong phòng riêng của rạp hát, chính là tên người Nhật hôm qua tìm đến, hắn vẫn mặc bộ kimono như trước, cùng vị thái giám kiên nhẫn chờ. Vì chuyện cổ phần muối, xem như đã mở lời ba lần.

Chúc Tiểu Bồi diễn liên tục ba ngày nên nơi này nghiễm nhiên trở thành rạp hát náo nhiệt nhất Thiên Tân.

Thái giám nhập tâm nghe hát, vắt chéo chân, người Nhật tinh thần khó yên, bàn tay lần chuỗi hạt không ngừng, v**t v*…

Từng tiếng động không nặng không nhẹ phá vỡ bầu không khí, nghe giống âm thanh gậy chống lên cầu thang gỗ. Hai người đồng thời nhìn vào rèm trúc, chỉ thấy bóng dáng một người đàn ông đang chậm rãi bước từng bước lên lầu, trong tay cầm gậy, lướt qua tấm rèm đã được vén lên.

Nhờ sự hỗ trợ của những người xung quanh, một chiếc ghế cao được bày giữa phòng, anh yên vị ngồi đó, đặt gậy chống sang bên cạnh.

Anh tựa lưng vào ghế, nói chuyện với người ngoài rèm: “Triệu đại nhân, lâu không gặp”.

Lâm Kiêu thấy Tạ Vụ Thanh mở lời, bèn tiến lên cuốn rèm trúc.

Thoạt nhiên, hai người đối diện như mất khả năng ngôn ngữ, cứ chằm chằm nhìn Tạ Vụ Thanh.

Tiếng cười giòn vang dưới lầu như càng tôn thêm sự trầm lặng nơi đây.

Trên người Tạ Vụ Thanh vẫn là chiếc áo sơ mi trắng trong bộ quân trang vạn năm không đổi, không thể chuyển dời, càng không sao biến mất.

“Hôm qua…” Triệu đại nhân chầm chậm hỏi.

“Hôm qua ở đây, chính là Tạ mỗ”. Anh nhìn họ.

Triệu đại nhân nhất thời nghẹn họng, không biết nên mở miệng tiếp thế nào, ông ta tung hoành ngang dọc trên quan trường Mãn Thanh hơn mười năm, lại quỳ gối dưới trướng người Nhật bấy lâu, luôn biết cách tìm đường sống sót, vậy mà giờ đây lại thất bại bởi vị Tạ thiếu tướng quân trong lời đồn này, bỗng dưng cạn lời.

Tạ Vụ Thanh đánh giá trang phục của đối phương: “Nếu tôi nhớ không lầm, đại nhân đây từng nhậm chức ở Sơn Đông”.

Người kia thấy Tạ Vụ Thanh đột ngột xuất hiện, khiếp sợ đến mức câm nín, giờ lại bị Tạ Vụ Thanh hỏi như thế, trong lòng phát run, có điều ông chỉ gặp qua Tạ Vụ Thanh đúng một lần duy nhất, mà Tạ Vụ Thanh lại điều tra lý lịch làm quan của ông vô cùng kỹ càng.

“Nhắc đến Sơn Đông, tôi lại nhớ đến một mối hận cũ”, Tạ Vụ Thanh thẳng thắn, “Năm 1928 tại Tế Nam, nhà ngoại giao Thái Công Thời vì bảo vệ quân dân nên tìm người Nhật đàm phán, cuối cùng bị bắt trói gô, sau đó cắt tai mũi lưỡi, móc hai mắt, hy sinh thân mình vì nước. Việc này, hẳn đại nhân có biết?”

Người đàn ông bị hỏi không thốt nên lời.

Tạ Vụ Thanh tiếp tục: “Năm đó, Tế Nam bị người Nhật tàn sát, trước sau thương vong hơn một vạn bảy ngàn dân quân. Việc này, đại nhân cũng nên rõ ràng?”

Anh quay sang hỏi vị Triệu đại nhân kia: “Trong lòng mỗ có cừu hận, không biết trong lòng đại nhân có gì?”

Tạ Vụ Thanh chỉ nói mấy câu đã khiến vị đại nhân họ Triệu nghẹn lời, tuỳ tiện ôm quyền rồi rời đi.

Ngược lại vị thái giám ấy trước khi về đã đến trước mặt Tạ Vụ Thanh, nghiêm chỉnh hành lễ theo nghi thức cũ.

Thái giám vì chuyện của Tế Nam từng khuyên chủ tử mình ra mặt cầu tình, vì thế mất đi lòng tin của vị chủ tử dựa vào người Nhật ấy. Ông từng ôm mộng khôi phục nước Mãn Châu, không ngại vất vả bán mạng, sau mấy năm rốt cuộc cũng thông suốt, khôi phục Mãn Thanh như trước, liệu có ích gì?

Thái giám đứng thẳng dậy, chỉnh trang áo choàng của mình, đang định rời đi thì bị Tạ Vụ Thanh gọi lại. Tạ Vụ Thanh vớt ra một quả đào ngâm đá từ trong chậu sứ trắng, đưa cho lão thái giám: “Hiếm khi Chúc Tiểu Bồi hát xướng ba ngày liên tiếp, không bằng ngồi nghe một chút rồi hẵng đi”.

Vị lão thái giám không tiện khước từ, nhận lấy quả đào rồi ngồi xuống ghế. Trong lòng ông không khác gì chậu than bốc cháy, tay nắm chặt quả đào lạnh đến nóng bừng, không tài nào hiểu được ý tứ của Tạ Vụ Thanh. Nửa tiếng sau, có một gã sai vặt chạy lên, thì thầm với lão thái giám: “Triệu đại nhân… bị bắn chết, cách hai con đường”.

Ban đầu sắc mặt thái giám trắng bệch, ngay lập tức cảm thấy may mắn… nhặt về được cái mạng.

Gã sai vặt nói rất nhỏ: Vì khu là Tam Bất Quản nên không ai quản lý, cảnh sát cũng không thể làm gì. Người kéo xe vốn định bỏ mặc nhưng lại tiếc của, cuối cùng tìm người giúp đỡ mang cái xác đặt ven đường rồi kéo xe chạy mất. Xác chết phơi nắng ngoài kỹ viện, họ sợ ảnh hưởng chuyện làm ăn nên tìm người của sòng bạc mượn một tấm vải cũ, ném ra ngõ sau…

Lão thái giám bảo gã sai vặt lui xuống, kinh hồn khiếp vía quan sát Tạ Vụ Thanh mấy lần, muốn nhìn xem liệu có liên quan đến anh không.

Có điều Thiên Tân này, thế lực đan xen, mà vị Triệu đại nhân kia lại quen thói kiêu ngạo…

Chốc lát sau, gã sai vặt lại chạy tới, nhỏ giọng báo: Có tên giang hồ dán một tờ giấy ghi rõ tội trạng trong ngõ sau, liệt kê rất nhiều lần người kia bán mạng làm việc cho Quan Đông Nhật Bản, đáng bị g**t ch*t.

Sự thật là thế, lão thái giám nghĩ, sớm muộn gì quả báo này cũng đến.

Lúc tới có đôi có cặp, giờ quay về chỉ còn một mình ông, đổi lại là ai cũng không chịu nổi. Lão thái giám siết chặt quả đào nát bấy, hai chân mềm nhũn vô lực khó di chuyển, chỉ dựa vào đó, chậm rãi bóc vỏ đào.

Hà Vị lên lầu, trông thấy lão thái giám lột quả đào đến nước lênh láng, kinh ngạc sai người mang khăn ướt tới.

Khi khăn lông ướt được đưa trước mặt, lão thái giám như bừng tỉnh, vội vàng mang theo cả quả đào rồi cáo từ.

Hà Vị ngồi xuống cạnh Tạ Vụ Thanh.

“Anh đặc biệt đến đây, là vì muốn giúp em gặp ông ấy?” Cô hiếu kỳ hỏi.

“Thấy em ngủ say, không muốn kẻ khác quấy rầy em”. Tạ Vụ Thanh nói, “Tỉnh dậy lúc nào?”

“Mới tỉnh thôi”. Cô chồm người sang, nhìn chòng chọc vào cổ áo Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh cúi đầu, thấy cô v**t v* từng cúc áo lỏng lẻo.

“Đáng lẽ nên đến sớm một chút, cúc áo kia lỏng rồi”, Hà Vị tự mình nói, “Để em tháo xuống giúp anh rồi đính lần nữa, tất cả đều phải khâu lại hết”.

“Hình như hai cái cúc này không ổn”, cô ngẩng đầu nhìn anh, “Còn nữa, vừa nãy em tháo cúc ra, thấy không giống như của thợ may làm, là do anh tự đính à?”

Anh cười, xem như thừa nhận.

“Tay nghề kém chết đi được”, cô lườm anh, “Không bằng em”.

“Không ngờ em còn biết làm mấy việc này”. Anh bật cười.

“Lúc trước không biết, bây giờ đỡ hơn rồi”. Cô mỉm cười.

Nuôi dạy Tư Niên, trước nay cô vẫn tự tay chăm sóc, không thể mãi dựa vào mấy người Khấu Thanh và Quân Khương, cô phải học cách làm mọi chuyện.

Cô lại nói: “Chú hai đi rồi, em còn nghĩ, nếu nghe ngóng được tin tức của anh, em sẽ xin đến chỗ giam ở bên anh. Những món nghề thủ công học được nhờ Tư Niên cũng có đất dụng võ”.

“Nếu cô hai bị giam lỏng với anh, chính là anh có lỗi với Hà gia”. Anh cũng dịu dàng đáp.

Hai người bên này còn chưa nói xong, Lâm Kiêu đã vội chạy vào phòng riêng: “Có một vị quý nhân đến”.

Từ sau khi Tạ Vụ Thanh được tự do đã gặp gỡ rất nhiều khách quý, nhưng người khiến Lâm Kiêu sốt ruột như thế quả thật hiếm có. Anh không mở miệng, dưới lầu đã có người bế một bóng dáng nhỏ nhắn bước lên.

Khấu Thanh khom lưng, đặt Tư Niên khóc lóc đáng thương, mặt đầy nước mắt lên sàn.

Từ Nam Kinh trở về, chưa có đêm nào hai người họ không nhìn thấy nhau. “Tối qua hơn mười giờ, tiểu thư nhỏ đã hỏi em đến tận lúc này…” Khấu Thanh nghẹn giọng, cố ý kéo dài đến hiện tại mới đưa người đến đã là gắng hết sức rồi.

Mặt mày Tư Niên lấm lem nước mắt, mờ mịt tìm được vị trí của Hà Vị, chạy về trước hai bước, bỗng sững lại.

Người đàn ông ngồi trên ghế dựa đỏ son… so với trong ảnh hình như lớn hơn không ít, có điều dung mạo vẫn không thay đổi…

Tư Niên lặng thinh nhìn anh.

Chân trẻ nhỏ không dài, tiến về trước nửa bước lại dừng.

Hà Vị muốn đến ôm con, nhưng không nỡ cắt ngang lần đầu họ gặp mặt…

Tư Niên khóc rất dữ, mái tóc ướt đẫm dán chặt trên trán, hai bím tóc nho nhỏ chạm lên vai, con bé mặc bộ váy xanh nhạt, hai tay nắm chặt tà váy… Trong nháy mắt, lệ nóng lại lũ lượt lăn dài.

“Ngài là… Tạ thiếu tướng quân ạ?” Đến giờ phút này, con bé vẫn nhớ rõ những lời dặn dò của Hà Vị, chỉ có thể gọi là Tạ thiếu tướng quân.

Tạ Vụ Thanh nhìn con bé, dịu dàng mỉm cười: “Đúng vậy”.

Tư Niên như được tiếp thêm dũng khí, chậm chạp tiến đến trước mặt anh, sàn trong phòng dùng ván gỗ ghép lại, khiến con bé hơi sợ, người nhỏ bước đi cũng ngắn, phải mất đến vài chục bước mới đến gần.

“Con tên… Hà Tư Niên”. Con bé nức nở, nhỏ giọng giới thiệu.

Dứt lời, con bé cúi đầu quệt sạch nước mắt, ngẩng lên dõng dạc: “Tự là Hữu Thanh. Hữu trong <i>‘bảo hữu’ [1]</i>, Thanh trong ‘vì được thanh minh thái bình”.

<i>[1] Nghĩa là phù hộ</i>

Tạ Vụ Thanh trầm mặc rất lâu.

Hàng mi đen nhánh dưới đáy mắt anh không khác gì sóng nước Li Giang dưới mười vạn núi xanh, mang theo cuồng phong càn quét trở nên tĩnh lặng. Anh muốn cúi đầu một cái, che đi sự chấn động giữa đôi mày.

Anh vươn tay trái về phía Tư Niên, Tư Niên như lấy thêm dũng cảm, ôm chặt thắt lưng anh. Đứa trẻ mới sáu tuổi nhưng vô cùng hiểu chuyện, biết rõ vẫn còn bên ngoài nên che chặt tiếng khóc, cánh tay siết lấy lưng Tạ Vụ Thanh không buông.

Sau khi khóc xong, Tạ Vụ Thanh bế con bé lên đùi.

Tư Niên choàng cổ anh, nghẹn ngào giống hệt Hà Vị ngày đó ôm anh khóc không ngừng.

Tạ Vụ Thanh vốn định sửa danh xưng cho con bé, nhưng nghĩ rồi lại thôi, nếu đã thành thói quen, gọi thiếu tướng quân xem chừng cũng an toàn hơn.

Tư Niên rất ý tứ, mặc dù ngồi trên chân không bị thương của anh nhưng vẫn sợ anh đau, chủ động đòi xuống. Chốc lát đứa nhỏ dựa vào bên trái anh, chốc lát lại chạy sang bên phải, kéo tay anh, dè dặt hỏi: “Ngài sẽ về Bắc Bình với mọi người chứ?”

Tạ Vụ Thanh nhoẻn cười, nhẹ giọng trả lời: “Tất nhiên rồi”.

Kể từ lúc ấy, Tư Niên không khóc nữa, Hà Vị vớt quả đào ngâm đá ra để ráo nước rồi đưa cho con. Đứa trẻ nghiêm túc ngồi ngay ngắn trên ghế cao cạnh Hà Vị, hai tay cầm quả đào cắn một cái, ăn được hai ngụm lại nhếch miệng cười vui vẻ, ngẫm nghĩ một chút khoan khoái, ghé vào tai Hà Vị thủ thỉ: “So với ảnh chụp, thiếu tướng quân càng giống tướng quân hơn”.

Con bé ăn được vài miếng đào rồi trượt xuống ghế, đưa nửa quả thừa lại cho Khấu Thanh, lau sạch tay rồi cung kính cúi chào Tạ Vụ Thanh, kéo Khấu Thanh xuống lầu.

“Không ở thêm lát sao?” Hà Vị thấy lạ, cúi người thì thầm hỏi con, “Sợ à?”

Tư Niên mím môi cười, lắc đầu nói nhỏ: “Đêm nay mẹ đừng về nhà”.

Con bé nói xong, lui về sau hai bước rồi kéo Khấu Thanh xuống thang lầu.

Khấu Thanh và Lâm Kiêu hiểu, cô bé muốn nhường lại không gian riêng tư cho hai người kia.

Lâm Kiêu thức thời bế Tư Niên cùng Khấu Thanh hành lễ với Tạ Vụ Thanh rồi rời khỏi phòng riêng.

“Con bé rất giống em”. Tạ Vụ Thanh cầm lấy quả đào cuối cùng trong chậu đá, bóc vỏ ngoài.

Anh đưa quả đào đã bóc sạch cho cô.

Từ khi biết nhau đến nay, hai người họ hiếm khi tận hưởng cảm giác mỗi ngày kề cận, không lo chia lìa thế này.

Tạ Vụ Thanh để cô ngồi chờ trong rèm trúc, bản thân anh ra trước gặp khách.

Tạ Vụ Thanh vừa xuất hiện, cố nhân cũng thay nhau đến thăm, đó không phải trùng hợp, mà là tất yếu.

Tạ Vụ Thanh đến từ phương Nam, trong tay nắm giữ mối quan hệ rộng khắp mà bọn họ không có, không ai không muốn nghe ngóng tin tức từ anh. Còn Tạ Vụ Thanh lại muốn mượn tay bọn họ để cứu những người làm cách mạng giống mình đến nay vẫn còn bị tống giam.

Sau khi tiễn mấy nhóm khách khứa đi rồi, anh ngồi nghỉ ngơi một chút, sai người vén rèm trúc lên.

“Lát nữa, em sẽ được gặp một người bạn cũ”, anh ra vẻ thần bí, “Cậu ta từ sân ga Thiên Tân đến đây”.

Tâm tình Tạ Vụ Thanh như thể rất sảng khoái, tay tì lên bàn, nhìn về cửa sổ.

“Người nào vậy, khiến anh mong chờ như thế?” Cô tò mò.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười, chỉ dưới lầu.

Một người đàn ông tay xách vali bằng da, dáng vẻ phong trần mệt mỏi tháo kính râm xuống… Hắn vừa nới lỏng cổ áo sơ mi, vừa ngẩng đầu nhìn hai bên. Phía sau, một người theo hắn vào còn thong thả hơn nhiều, hai tay đút túi quần, hỏi gã sai vặt vị trí trên lầu.

Hà Vị dõi mắt nhìn hai người bước lên bậc thang, dọc theo hành lang gỗ son, dưới ánh đèn lồng đỏ thẫm tiến tới.

Cô quay đầu đối diện với khách đến.

Bạch Cẩn Hành mang theo vali da nâu bước vào phòng, chân đạp trên ván gỗ, giày da nhuộm xám đứng sững, cười nhìn về phía Hà Vị và Tạ Vụ Thanh: “Không biết nên chào hỏi vị nào trước đây?”

Đặng Nguyên Sơ lấy khăn tay lau mồ hôi trên mặt: “Cậu đi lên ôm vợ hắn một cái, hắn chẳng dám nói gì đâu”.

Tạ Vụ Thanh bật cười, tựa khung cửa sổ: “Chưa chắc”.

Hà Vị bị ba tên đàn ông trêu chọc cũng buồn cười, cô chủ động tiến lên trước, vươn tay phải về phía Bạch Cẩn Hành. Bạch Cẩn Hành cũng bắt tay cô, cảm kích vô cùng. Đợi khi Bạch Cẩn Hành buông tay ra mới nói rõ: “Năm ấy tôi ở châu Âu, đúng như lời cô nói, suýt nữa bị gạch tên khỏi hộ chiếu, may có lão Tấn giúp đỡ. Lần này tôi đến mang theo tấm lòng biết ơn, muốn nói tiếng cảm tạ cô”.

Ý cười trên mặt Hà Vị và Đặng Nguyên Sơ nhất thời nhạt đi.

“Anh chưa nói cho anh ấy biết?” Hà Vị hỏi Đặng Nguyên Sơ.

“Chúng tôi vừa gặp nhau ngoài cửa”, Đặng Nguyên Sơ giải thích, “Cô nói đi”.

Hà Vị trầm mặc một lát, nói: “Lão Tấn mất rồi, mất khi Tế Nam xảy ra chuyện”.

Chuyện Tế Nam năm ấy, sau khi tin tức về một vị quan ngoại giao đến đàm phán bị móc mắt cắt lưỡi truyền tới Thiên Tân, người bệnh tật quanh năm như lão Tấn tức giận đến mức sốt cao không hạ, cháu gái chăm sóc bên giường bệnh ông nói với Hà Vị, mấy đêm rồi lão Tấn khóc không ngừng, so với chuyện Hội nghị Paris lúc trước còn thương tâm hơn, thử nghĩ quan ngoại giao bị sát hại tàn nhẫn trên chính mảnh đất quê hương mình, đó giờ mới thấy…

Sau đó có tin quân dân bị tàn sát truyền đến lại càng đả kích nặng nề.

Sức lực chống đỡ tinh thần của lão nhân gia kể từ ấy bắt đầu bay biến, ngay trong đêm cũng qua đời.

“Trước khi đi ông hỏi đi hỏi lại… tại sao”, cô nhỏ giọng kể, “Tại sao lại như vậy”.

Lão nhân gia không cam lòng, cả đời không cam lòng, tất cả đều dồn vào một câu bình thường thế.

Trận động đất ở Quan Đông khi đó, mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội đều ra tay cứu trợ, quyên góp giúp chống chọi với thiên tai, dường như chỉ mới hôm qua.

Mà hiện giờ, thiện ý của người Trung Quốc đã sớm bị bỏ mặc.



Từ lúc bình minh đến tối muộn, bên dưới náo nhiệt không ngừng.

Trên hành lang phòng riêng có người thắp từng ngọn đèn lồng, mọi người dùng cơm chiều xong mới biểu lộ ý tứ ra ngoài, bàn về chính sự.

Lần này Bạch Cẩn Hành đến là muốn nghĩ cách cứu đồng đội bị nhốt ở Thiên Tân, cần nhờ vả quan hệ của Tạ Vụ Thanh với Trịnh gia. Thứ hai là chuyện vận chuyển một lô súng ống mua từ Hồng Kông tiếp viện. “Lính của chúng ta phần lớn đều dùng lao và đao hồng anh”, Bạch Cẩn Hành nói, “Nếu có súng thì phải dùng, cho người có tài thiện xạ tốt nhất”.

Lô súng này dùng tiền trong nhà của mấy vị tướng lĩnh mua được, có điều vận chuyển không tiện, sợ bị ngăn cản.

Chuyện trọng đại không dám nói chi tiết trong điện báo, thế nên Bạch Cẩn Hành vừa nghe tin Tạ Vụ Thanh ra Bắc, đoán anh muốn gặp Hà Vị nên lập tức vội vàng khăn gói lên đường. “Nghe nói đường hàng hải Hà gia có quan hệ ở Trường Giang? Liệu an toàn không?” Bạch Cẩn Hành không khách sáo với Hà Vị, trực tiếp hỏi.

Hà Vị hơi suy tư: “Để tôi nghĩ cách giúp anh, một cách ổn thoả nhất”.

Bạch Cẩn Hành nghe Hà Vị đồng ý liền an tâm.

Bản lĩnh của Hà Vị, lúc hắn ở phương Nam từng nghe qua.

Hai người nhìn nhau cười.

Đột nhiên nhớ tới lần đầu gặp mặt ở hậu viện của Hà gia.

Bạch Cẩn Hành bình tĩnh, có ý trêu chọc, hắn nhấc tách trà hoa quế trên bàn, “Lâu rồi không uống trà”, hắn nhấp ngụm trà nóng, cười tủm tỉm nhìn Hà Vị, “Cô có từng nghĩ, lúc nào thì tôi biết trong lòng cậu ta có cô không?”

Cô lắc đầu, Tạ Vụ Thanh thì cười bất đắc dĩ.

Đặng Nguyên Sơ giữ bộ dáng “người ngoài cuộc”, e còn chưa đủ náo nhiệt, lập tức truy hỏi: “Lão Bạch, đừng úp úp mở mở nữa. Mau nói đi”.

“Nhớ ngày ấy, cậu ta đến gian phía tây ngồi, sau đó nha hoàn nhà cô ôm một cái bình tới báo lại, Tạ tiếu tướng quân muốn uống sữa cacao, tôi liền đoán được, tên nhóc này cả ngày thúc giục tôi vào kinh, có điều cũng là vận mệnh an bài, khiến tôi trở thành bà mối”.

Đặng Nguyên Sơ ban đầu kinh ngạc, sau lại bật cười: “Đạo lý này gọi là vỏ quýt dày có móng tay nhọn, xưa nay không đổi”.

Cả đám đều là anh em thân thiết nhiều năm, có ai không biết Tạ Vụ Thanh là người không thích đồ ăn có vị sữa.

Tất nhiên, cô hai Hà ngày đó cũng không biết.

— HẾT CHƯƠNG 45 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 46: Rượu mạnh say đắm trăm hoa (4)


Trên sân khấu rạp hát ầm ĩ không chịu nổi, có người hét to “Chúc Tiểu Bồi”.

Không biết vị công tử trong phòng riêng nào tiên phong ném bạc xuống dưới, nhất thời tiếng trống thùng thùng như cuồng phong vũ bão, đồng bạc chói mắt từ trên trời rơi như mưa, bọn công tử đều sợ mình thua thiệt…

Mặc dù trên mặt Đặng Nguyên Sơ vẫn là nụ cười bất biến, nhưng cái nhếch môi chỉ hiện ngoài da mặt, vì một tiếng “Chúc Tiểu Bồi”, đôi mắt sau cặp kính thoáng hoảng hốt. Hắn do dự mấy lần, nhịn không nhìn dưới lầu.

“Chúc Tiểu Bồi này nổi tiếng thật”, Bạch Cẩn Hành không ở trong kinh nên không biết chuyện trước kia của Đặng Nguyên Sơ và Chúc Tiểu Bồi, hắn buông tách trà, cười nói, “Năm đó “Thời báo Thuận Thiên” có mở cuộc bình chọn vua giới hát xướng, có phải cô ấy đoạt quán quân không?”

Tạ Vụ Thanh gật đầu đáp: “Hồi trước ở kinh thành, quả thật là người nổi danh nhất”.

“Nổi danh ở kinh thành, sao lại đến Thiên Tân?”

Tạ Vụ Thanh khẽ lắc đầu: “Không rõ lắm”.

Dựa theo sự hiểu biết của cô với Tạ Vụ Thanh, đoàn được anh đang nói dối.

Cô thầm liếc Tạ Vụ Thanh.

Đặng Nguyên Sơ ngồi một lát, lấy cớ nói xuống lầu hít thở không khí, Bạch Cẩn Hành hiếm khi đến Thiên Tân, cũng muốn đi cùng hắn nhìn thử khu Tam Bất Quản nổi danh này, nhưng bị Tạ Vụ Thanh ngăn cản: “Để cậu ta tự đi đi”.

Bạch Cẩn Hành không phải người ngu ngốc, thấy Tạ Vụ Thanh và Hà Vị như giấu diếm gì đó, nhận thấy việc này có ẩn tình.

“Cậu ta có tâm sự à?” Bạch Cẩn Hnah2 hỏi.

Tạ Vụ Thanh cười không đáp.

Bạch Cẩn Hành nhìn sang Hà Vị. Cô nghĩ nếu không nói rõ ràng, sợ sau khi Đặng Nguyên Sơ quay lại vẫn phải nghe những lời vô thưởng vô phạt của Bạch Cẩn Hành, không khéo còn chạm vào tâm sự trong lòng, thế nên cô nói qua loa: “Cô ấy là tình cũ của Đặng Nguyên Sơ”.

Hà Vị quan sát khung cảnh náo nhiệt bên dưới, trông thấy Đặng Nguyên Sơ đi vào sau sân khấu, nhớ đến mùa xuân năm 28.

Liễu rũ đầy khắp thành, quân phiệt Phụng hệ chuẩn bị lui về quan ngoại. Bên trong Tứ Cửu Thành, nhóm quân phiệt cũ vẫn cuồng hoan không nhìn thấy ngày mai.

Chúc Tiểu Bồi lặng lẽ đến tứ hợp viện công ty vận tải, chờ gặp cô.

Chúc Tiểu Bồi sinh ra có một đôi mắt phượng, đường nét linh động, khi cô ấy xướng vở “Tây Sương Ký” liền nổi danh khắp trời nam bắc, dáng người uyển chuyển, lễ phép cẩn thận, sau khi bái lễ theo nghi thức trên sân khấu xưa với cô, nói rõ ý đồ tìm đến: Cô ấy bị một vị công tử nhà quân phiệt đeo bám, đối phương mỗi ngày đều đến Hội quán Hồ Quảng ngồi suốt một canh giờ, thề không cưới được cô sẽ không bỏ qua. Có điều đối với những con hát nổi danh như cô, loại chuyện này không hiếm gặp, người ủng hộ bọn họ rất nhiều, theo đuổi từ quan to cao quý, vương hầu tiền triều đến <i>văn nhân mặc khách [1]</i>, không ai không có, nhiều lúc điên lên thứ gì cũng làm ra được. Đặng Nguyên Sơ không nhịn được, đuổi người kia đi, lại bị mười mấy khẩu súng chĩa vào người đàn áp…

<i>[1] Những người trong giới thơ ca, văn từ. Ví dụ như nhà thơ, nhà văn…</i>

May mắn lúc đó có người trong hội quán can ngăn, nhưng hận thù cũng kết. Cô sợ vị công tử kia bị tâm ma quấy phá, làm chuyện tổn hại Đặng Nguyên Sơ, nhưng không biết cầu tình ở đâu, phàm là những người quan to vinh hiển có ai không nghĩ cách dụ dỗ cô, nghĩ tới nghĩ lui, rốt cuộc tìm đến chỗ Hà Vị.

Hà Vị đồng ý nghĩ cách, cô nhác thấy Chúc Tiểu Bồi lo lắng, liền an ủi một tiếng: “Chuyện này, tôi sẽ không nói cho Đặng Nguyên Sơ biết”.

Chúc Tiểu Bồi yên tâm, nói lời cảm ơn rồi đi mất.

Hà Vị tìm một người lớn tuổi hỏi thăm, biết được đó là đứa con trai được vị quân phiệt kia chiều chuộng nhất, bèn tìm cách dấy lên đấu đá trong nhà hắn, khiến vị công tử kia bị áp chế lại. Có điều Chúc Tiểu Bồi là đào hát gặp thời, người theo đuổi đếm không xuể, cản được một tên, sẽ còn có người thứ hai, thứ ba tìm đến… Hai tháng sau, Chúc Tiểu Bồi lại đến tìm cô, một là nói lời cảm ơn, hai là chào tạm biệt.

Chúc Tiểu Bồi ẩn ý nói, cô ấy và Đặng Nguyên Sơ sẽ tạm chia xa một thời gian.

“Lại có kẻ tuyên bố muốn giết anh ấy. Tôi lo lắng ngày nào đó sẽ thành sự thật. Giữa tôi và Đặng công tử, dù sao cũng phải có một người buông tay trước”. Chúc Tiểu Bồi rũ mắt, cười khổ nói, “Từ lúc tôi mười mấy tuổi đã bắt đầu hát “Tây Sương Ký”, trong kịch hát Trương công tử thi đỗ Trạng Nguyên, quay về cưới Thôi Oanh Oanh, không còn kẻ ác nào dám ngăn cản. Mà hiện giờ, cái gì cũng vô dụng, anh ấy cũng xem như từng có công danh, nhưng không thể dùng”.

<i>Thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội [2]</i>

<i>[2] “Thất phu” ý chỉ dân thường, “hoài bích” ý chỉ ngọc quý. Câu này xuất phát từ một điển cố xưa, đại khái nói rằng dân thường tàng trữ ngọc quý trong nhà là phạm luật, nếu không khai ra sẽ bị trị tội, nhưng lỗi không phải ở dân thường, mà do tàng trữ ngọc quý nên mới có tội. Hàm ý, trong một số việc, con người không có tội, tội của họ là vì mang thứ cao hơn thân phận và địa vị của mình. Câu này sau này còn ngầm chỉ những người có tài năng, nhan sắc thường bị kẻ khác ghen ghét, đố kị, hoặc chịu cảnh xã hội giày xéo. </i>

Năm đó Đặng Nguyên Sơ chính là một dân thường, mà Chúc Tiểu Bồi lại không khác gì Hoà Thị Bích. Trong thời buổi loạn lạc, dù cho hắn không màng tính mạng của mình, cũng không đủ sức gánh vác tình cảm này.

Chúc Tiểu Bồi muốn đặt chân đến Thiên Tân, cần Cửu tiên sinh hỗ trợ mới không bị những kẻ theo đuổi quấy rầy, tìm một nơi thanh tịnh sống ẩn dật. Trước khi đi, cô ấy để lại một phong thư cũ, là tiền thuê nhà một năm tới ở Thiên Tân, chỉ cần nhìn đã biết, về mặt tiền bạc cô ấy không cần ai giúp. Nhiều năm nổi tiếng, số tiền tích cóp cũng đủ cho cô sống an nhàn đến già.

“Lại phiền cô hai lo liệu”, cô ấy dịu dàng xin lỗi, “Nghĩ tới nghĩ lui, cũng có có cô hai mới thật tình giúp được tôi”.

“Tất thảy giao cho tôi đi”. Cô đồng ý.

Không lâu sau, Chúc Tiểu Bồi chuyển đến tô giới Thiên Tân, không quay về Tứ Cửu Thành nữa.



Đêm khuya trong viện.

Hà Vị xoã tóc dài tán loạn, nằm trong góc sô pha, gác một chân không mang tất lên chân bình thường của anh. Bàn chân lặng lẽ v**t v* vải quần quân đội của Tạ Vụ Thanh…

Trước mắt như hiện lên cảnh tượng rạp hát tàn tiệc, Đặng Nguyên Sơ ngồi một mình giữa hàng ghế dự bị đầu tiên gần sân khấu, thất thần dõi mắt lên sân khấu không bóng người.

Cách bốn mét phía sau sân khấu được kéo rèm đỏ thêu chỉ vàng, giống như đang che giấu một người, chính là vị trong lòng của tiểu công tử Đặng gia.

Ngón tay Tạ Vụ Thanh gãi lòng bàn chân cô.

Cô nhồn nhột giật mình, đang nằm đột ngột ngồi tựa vào ghế, nương theo ánh đèn nhìn anh.

“Chúc Tiểu Bồi hát ba ngày liên tiếp, hôm nay là ngày cuối, lại đúng lúc gặp mặt Đặng Nguyên Sơ”, cô rụt chân lại, kề sát anh, tì chiếc cằm thon nhọn lên vai anh, “Tất cả là do sắp xếp sao? Đặng Nguyên Sơ muốn gặp cô ấy à?”

Một tay Tạ Vụ Thanh cầm bút máy, viết loạt xoạt mấy chữ cuối cùng lên trang giấy trắng. Ngòi bút mạnh mẽ chấm một điểm.

Anh nói: “Cái đêm thím em sinh con, Chúc Tiểu Bồi tới tìm anh”.

Tạ Vụ Thanh giải thích thêm: “Em trai cô ấy đắc tội với Phụng hệ, muốn nhờ anh liên hệ Trịnh gia giúp đỡ. Trịnh gia đồng ý ra mặt, nhưng nếu muốn ổn thoả cần phải tìm một cái cớ nói chuyện, chị gái của Trịnh Độ liền bảo cô ấy diễn ở rạp này ba ngày. Đặng Nguyên Sơ nhận được thiệp mời, tự mình tìm đến”.

Tạ Vụ Thanh mở bình mực trên bàn, châm thêm mực vào bút.

Anh lấy vải bông lau sạch bút máy, ném vào sọt rác cạnh đó: “Không hỏi gì sao?”

“Cảm thấy đau lòng thay bọn họ”, cô nhỏ giọng nói, “Chỉ hai năm thôi”.

Sau khi Đặng Nguyên Sơ tị nạn trở về từ Macao, Đặng gia cũng lấy lại ý chí, lần nữa hô mưa gọi gió. Hiện giờ tiểu công tử Đặng gia lại trở thành một cái bánh chưng thơm phức, là chàng rể tương lai hiền quý trong mắt mọi nhà. Mà Chúc Tiểu Bồi năm ngoái đã gả cho người ta.

Tạ Vụ Thanh thấy tâm trạng cô ưu phiền, đóng bút máy lại.

Cổ tay anh thon gầy, đeo chiếc đồng hồ kim loại cô tặng. Bóng dáng thật dài trên chồng giấy trắng, anh đặt hai cây bút và bình mực lên, quay đầu nhìn chằm chằm cô một lúc. Cô như thể đoán được chuyện gì sắp xảy ra, Tạ Vụ Thanh muốn hôn cô. Hai ngày nay, chỉ cần không có người ngoài, anh luôn như thế, giống hệt đang làm một chuyện vô cùng bình thường trên đời.

Vì trong phòng oi bức nên Hà Vị chỉ mặc một chiếc váy lụa không tay cột dây sau cổ, lộ ra mảng lưng phía sau.

Lưng dán chặt trên ghế sô pha, dính dớp mồ hôi, khi cử động sẽ vang lên mấy tạp âm rất nhỏ. Cô có chút chột dạ, thầm nghĩ, trước kia trong tứ hợp viện, mỗi gian phòng đều ngăn cách bởi bức tường gạch đỏ, không biết cuộc sống của vợ chồng mới cưới không có tường ngăn thì thế nào, có giống anh và cô, thân mật không ngừng? Hay vẫn là ban đầu mới mẻ, sau đó thành quen.

Cô thấy Tạ Vụ Thanh cởi cúc áo, trong lòng như lửa đốt.

“Kể em nghe lúc anh bị giam lỏng đi”. Cô thì thầm.

Thời gian giam lỏng chỉ mất một tháng, sau đó là nhà tù, trong ngục tối đến mức không thấy đầu ngón tay, nước ngập đầu gối, vết thương trên chân cũng bị ngâm trong nước… Không có gì hay để nói.

“Không bằng bàn chuyện kết hôn đi”, anh mỉm cười, “Nói thế nào chăng nữa cũng phải tổ chức đám cưới”.

Anh ngẫm nghĩ, lại nói: “Chờ quay về Bắc Bình, anh dọn dẹp nhà cửa ở Bách Hoa Thâm Xử một chút, em gả từ nhà về đó, dẫn theo Tư Niên nữa”.

Nhà sao?

“Em không còn sống ở nhà trước nữa”, cô nói, “Hiện giờ ở trong một căn tứ hợp viện nho nhỏ, cách chỗ anh không xa”.

Anh im lặng một lát, nói đùa: “Trong số những người hỏi cưới em, chắc anh là kẻ vô tâm nhất”.

Đến cả chuyện cô dọn nhà cũng không biết.

Tạ Vụ Thanh dứt lời, mất tự nhiên cười lớn một tiếng, trong lòng áy náy khiến cô chậm trễ nhiều năm như thế. Anh ngồi dậy, muốn tìm hộp thuốc, Hà Vị choàng cổ ôm anh, kéo anh trở về người mình: “Ai đời bàn chuyện kết hôn, mới nói được một nửa đã bỏ đi hút thuốc đâu chứ?”

Tạ Vụ Thanh bật cười, khuỷu tay chống bên mặt cô, sờ hộp diêm.

Trước kia không thấy anh đối diện người khác hút thuốc, chắc là từ khi biến cố xảy ra, đã tạo thành thói quen này.

Cô từng gặp qua không ít người nhiều năm chinh chiến, lúc trở về hoặc vì rửa sạch cảnh tượng máu me trong đầu, hoặc khiếp sợ sau mấy lần sống sót từ tai nạn, hoặc vì vết thương cũ, đều nghiện morphine rất nặng. Tạ Vụ Thanh chỉ tuỳ lúc hút thuốc, đã rất tự chủ rồi.

Tiếng sàn sạt của hộp diêm thu hút sự chú ý của cô. Có điều ngay sau đó, cả hộp thuốc và que diêm đều bị anh ném lên chồng giấy.

Lúc này không bàn chuyện hôn sự nữa.

Hai tay Hà Vị câu cổ anh, nghĩ đến chuyện vừa rồi bọn họ nói.

Cô nhớ Đặng Nguyên Sơ bảo, lúc trước Tạ Vụ Thanh dạy ở Học viện Quân sự, chữ viết thanh tú đầy bảng đen, từng cột đều tăm tắp như dùng thước kẻ đo đạc, học sinh ngồi dưới cặm cụi chép bài cũng không bằng anh, thông thường chỉ mới viết được một nửa, trên bảng đen đã giăng đầy bài giảng. Cô lại nhớ Bạch Cẩn Hành kể, trước khi Bắc phạt, nhiều nhóm giáo viên ở các giảng võ đường vì góp tiền mở trường nên không ít người đến xin làm giáo viên ở các trường sơ trung gần đó, Tạ Vụ Thanh là thầy dạy vật lý, anh thường khuyến khích học sinh học tập, sau này chế tạo máy bay, thay đổi cục diện <i>“chỉ sửa không tạo” [3] </i>trong nước…

<i>[3] Nghĩa là chỉ sửa chữa từ những cái có trước chứ không phải tự chế tạo ra.</i>

Cô âm thầm tưởng tượng bóng lưng anh đứng trước bảng đen, nhắm mắt lại, cảm thấy chính mình nhìn thấy mặt khác của anh. Trong bóng tối, cũng chính là khuôn mặt đang ở cạnh cô.

Lăn lộn trên sô pha mấy giờ đồng hồ, Hà Vị cột gọn mái tóc, ra ngoài lấy một chậu nước ấm vào.

Giờ này không tiện vào phòng tắm, cô chỉ mặt một cái váy dây không tay, vắt khăn lông lau cổ cùng thân thể. Tạ Vụ Thanh theo ánh trăng nhìn qua, trong tiếng nước róc rách, thấy bóng dáng mảnh khảnh ngồi đó cẩn thận chà lau cánh tay rồi cái cổ thon mềm, sau đó đến mặt mày.

Hà Vị quay về giường, nằm thẳng cạnh anh, mang theo hương thơm xà phòng hoa quế, còn có hơi nước ẩm ướt trên da.

Cô lẩm bẩm nói: Thì ra kết hôn là thế này.

Giống như nũng nịu, lại giống oán trách. Không lâu sau, cô dần dần thiếp đi, Tạ Vụ Thanh nghe rõ tiếng cô hít thở. Khẽ khàng, thơm ngọt.



Cô canh cánh chuyện quan trọng Bạch Cẩn Hành nhờ vả.

Mấy ngày sau, cô đem hai chiếc xe của chú chín đến, đưa Tạ Vụ Thanh cùng Bạch Cẩn Hành tới xưởng sản xuất muối lớn nhất Thiên Tân.

Trong quá khứ, mặc dù nguồn tài nguyên biển cả phong phú, nhưng vì thiếu chuyên gia về hoá học nên vẫn dùng phương thức cũ làm muối. Không lâu sau Cách mạng Tân Hợi mới có được cánh đồng muối tinh khiết thuộc về bản thân. Cô giới thiệu với họ: “Từ lâu chú hai đã muốn em để tâm đến ngành công nghiệp, sau đó đưa em đến đây, để em tự cảm nhận, rốt cuộc ngành công nghiệp quan trọng thế nào. Lúc các anh còn hoạt động trong Cách mạng Tân Hợi, họ đã bắt đầu nghiên cứu sản xuất muối tinh luyện, muối sô-đa, những kỹ thuật đó trước đây từng bị phương Tây độc chiếm lũng đoạn, hiện giờ chúng ta đã có thể làm muối của riêng mình”.

Cô suy ngẫm, nói tiếp: “Gần như sau khi Cách mạng Tân Hợi thành công, khoảng 14-15 năm đã có xưởng muối tinh chế, không lâu sau liền có nhà máy sản xuất sô-đa”.

Quân nhân như họ không hiểu biết nhiều về ngành công nghiệp, nhưng khi liên hệ với thời gian, trong lòng nảy ra loại cảm giác đồng cảm khó nói thành lời. Trong lúc họ tắm máu chiến trường, các nhà công nghiệp bắt đầu mở xưởng nghiên cứu kỹ thuật, giúp người Trung Quốc tự sản xuất muối ăn của mình.

Trước khi xuống xe, cô nói với hai người đàn ông: “Một muối một sắt, vấn đề rất nghiêm trọng, lợi ích trong đó không phải là những thứ các anh có thể nghĩ đến, cần phải dùng mạng lưới quan hệ khổng lồ phức tạp. Hà gia có một con tàu trọng lượng vạn tấn, chuyên vận chuyển muối”.

Đây cũng chính là cách vận chuyển lô súng ống kia.

Hà Vị dẫn Bạch Cẩn Hành đến giới thiệu cho hai người phụ trách công ty chỗ này, mượn cớ kinh doanh muối muốn bàn chuyện hợp tác.

Hà Vị rời khỏi xưởng muối trước, cô đứng ở cổng lớn rút một tấm thiệp ra. Là chú chín Hà gia mừng sinh con gái, muốn tổ chức tiệc rượu đầy tháng vào tháng sau.

Đối phương nhận lấy, thấp giọng dò xét, vị Bạch công tử này lai lịch thế nào lại làm phiền cô hai Hà đích thân đưa đến đây. Một người khác thay cô tiếp lời, nói năm đó khi tô giới Pháp bị phong toả, không ai có thể ra vào, lại có một vị tướng quân đến từ Tây Bắc vì giai nhân xin được giấy thông hành.

Vị tướng quân ấy họ Bạch, người giai nhân kia họ Hà.

Cô nhoẻn cười: “Chuyện qua lâu như thế, không ngờ có người còn nhớ rõ”.

“Vậy vị kia chính là Bạch tướng quân vang danh khắp Kinh Tân sao?” Người dò hỏi kinh ngạc.

Nhiều năm trước, Tạ Vụ Thanh vô tình “cắm liễu” một lần lại giúp Bạch Cẩn Hành, dễ khiến người ngoài tin tưởng chuyện: Vì sao cô hai có thể giới thiệu đối tác làm ăn thân thiết cho công tử Bạch.

Trước nay Hà Vị vốn không quan tâm đến chuyện buôn muối, cũng không thể bày ra dáng vẻ quá mức để ý, chỉ đành để Bạch Cẩn Hành ở lại nói chuyện với họ.

Từ lúc tới đây, Tạ Vụ Thanh không bước xuống xe, vẫn một mực ngồi trong xe đỗ ngoài xưởng muối, đọc sách giết thời gian.

“Chú chín mời anh đến thăm con gái chú”, cô quay lại xe nói, “Ông còn bảo, công tử Tạ gia không hiểu đạo nghĩa, lần trước đến công quán, chưa kịp gặp mặt chủ nhà đã vội vàng đi mất, lần này ít nhất phải ở lại vài ngày mới được”.

Tạ Vụ Thanh buông sách, gật đầu đáp: “Được thôi”.

“Em định qua ít ngày đặt vé tàu về Bắc Bình”, cô hỏi, “Anh có chuyện gì chưa làm xong ở Thiên Tân không?”

Tạ Vụ Thanh kéo cửa sổ xe, “Có thể làm ở Thiên Tân, cũng làm được ở Bắc Bình”, anh nói với Lâm Kiêu ngồi ghế trước, “Ngày mốt chúng ta đặt vé, về Bắc Bình”.

Anh dùng từ “về”, là trở về nhà.

— HẾT CHƯƠNG 46 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 47: Chiều hôm sâu thẳm ở bắc bình (1)


Ga tàu Thiên Tân.

Bên cạnh cầu vượt nhà ga, một mình Trịnh Độ ngồi trên ghế chờ, hai phía khu vực chờ toa hạng nhất đều kín người canh giữ. Ở chỗ bóng râm, một người phụ nữ có đôi mắt to sóng sánh mặc chiếc áo sơ mi vải sa tanh cùng váy dài, bộ dáng được chăm sóc kỹ lưỡng nhìn như chỉ mới ngoài ba mươi. Cô ấy tò mò hỏi Hà Vị: “Anh Thanh nhà chúng tôi, ngoại trừ một chút thanh danh, còn lại đều là hai bàn tay trắng, sao lọt vào mắt xanh của cô hai thế?”

Hà Vị mặc một chiếc váy liền thân xanh nhạt dài đến mắt cá chân, mái tóc mềm được kẹp gọn sau đầu, đứng bên cạnh Tạ Vụ Thanh đang chống gậy, bất ngờ nghe hỏi như thế, không khỏi bật cười, đối diện nhìn Tạ Vụ Thanh.

“Ở thời loạn thế, công danh dễ tìm, nhưng thanh danh khó có được”, Trịnh Độ gõ điếu thuốc trên tay, “Có điều quá khứ của anh Vụ Thanh đây, so với Trịnh Độ tôi cũng kẻ tám lạng người nửa cân, thanh danh chẳng tốt mấy”.

Trịnh Sính Tích không quan tâm đến em trai út nhà mình, vui sướng quan sát đôi bích nhân trước mặt, nắm lấy tay Hà Vị: “Vị Vị nhớ kỹ trong lòng, chị chính là chị gái ruột của Tạ Vụ Thanh, sau này gặp chuyện khó khăn, cứ việc lên tiếng, chị ba sẽ giúp em”.

Hà Vị khẽ gật đầu.

Hiện tại chiến tranh khắp nơi, nhóm quân phiệt mới cùng chính phủ Nam Kinh giằng co đã mấy tháng.

Chỉ có quân Đông Bắc vẫn án binh bất động, họ đang chờ Bắc Bình và Nam Kinh phân rõ thắng bại. Chị em Trịnh gia không tiện đến Bắc Bình thời điểm này, sau khi tiễn Tạ Vụ Thanh ở Thiên Tân, cũng sẽ quay về quan ngoại.

“Cục diện Bắc Bình không rõ”, Trịnh Sính Tích nói, “Vì hai chị gái của mình, em cũng phải tự bảo trọng”.

Cô dặn dò xong, nhìn theo đoàn người của họ lên xe.

Hà Vị ngồi cạnh cửa sổ, nhìn Trịnh Sính Tích vẫn đứng trên sân ga không chịu rời đi, nhỏ giọng hỏi Tạ Vụ Thanh: “Tên của cô ba Trịnh gia này rất giống tên chị anh”.

“Sính Tích là tên chị ba anh”, Tạ Vụ Thanh xuyên qua rèm cửa vàng nhạt nhìn Trịnh Sính Tích, “Chị ba anh vừa mất, chị ấy cũng đổi tên”.

Mấy năm trước, khi anh nhìn thấy cô ba Trịnh gia ở Phụng Thiên, vẫn là mái tóc xoăn dài, hiện tại người kia đã để kiểu tóc giống chị ba anh.

Tiếng còi xông lên tận trời, bánh xe nghiền qua đường ray, mang theo những toa tàu đầy ắp người rời đi.

Trịnh Sính Tích không nỡ theo sau tàu mấy bước. Lần đầu gặp lại Tạ Vụ Thanh cô không nén được vui mừng, nhưng hiện tại từ biệt, đột nhiên cảm thấy đau lòng không khác gì năm đó, tựa như trơ mắt nhìn cô ba Tạ ra đi, nước mắt bất tri bất giác rơi xuống.

“Chị”, Trịnh Độ không muốn thấy chị ruột khóc, cất điếu thuốc vào, “Cần gì phải thế, đã nhiều năm như vậy”.

“Em nghĩ chỉ có mấy năm à…”

Đối với Tạ Sính Tích mà nói, đã hết một đời rồi.

Tàu chạy tới khúc cua, Hà Vị nhìn ra cửa sổ, không thấy ga tàu nữa, chỉ có bầu trời ẩm ướt, từng toa tàu nối đuôi nhau, đường ray xen kẽ trên đá trắng.

Vì đang mùa hè, hai bên đường sắt mọc đầy cỏ dại, cao hơn nửa người, tàu hoả chạy ngang cuốn lên gió thốc xiêu vẹo một bên.

Một trận gió mạnh mang theo hơi nóng thổi tới, gò má ê ẩm.

Hà Vị đóng cửa sổ.

Cô và Tạ Vụ Thanh mỗi người đặt một phòng riêng. Vì Tư Niên ngủ trưa cách vách nên Tạ Vụ Thanh đã lệnh quan quân mang công việc lớn nhỏ dọn hết sang chỗ này, nhường lại gian phòng kia.

Cô quan sát các quan quân lắp đặt thử máy đánh chữ, có người kết nối điện cho máy điện báo, nguồn điện được gắn vào một bộ phận phát điện tay cầm màu nâu đỏ. Trong lúc họ bận rộn, Tạ Vụ Thanh nhàn nhã ngồi trên sô pha, mở ra tấm bản đồ Bắc Bình mới nhất được ghi chú tỉ mỉ trên bàn trà bằng đá cẩm thạch.

“Lần này tới Bắc Bình vẫn ở khách sạn Lục Quốc”, anh nắm tay cô, kéo cô ngồi bên cạnh, “Điểm liên lạc của chúng ta phải đặt quanh khu vực sứ quán và lãnh sự quán mới an toàn”.

Cô “vâng” một tiếng. Hiện giờ các nhóm quân phiệt mới đều tụ về Bắc Bình, nếu anh không ở ngõ Đông Giao Dân, ngược lại càng khiến cô sầu lo.

Tàu chạy chưa đến mười phút, Thiên Tân gửi đến một bức điện báo: Thất phu già đầu, đi không nói năng.

Tạ Vụ Thanh đọc xong phì cười.

“Các anh ngày thường cũng gửi điện báo như thế à?” Cô nhoẻn miệng hỏi.

“Còn khó nghe hơn”, anh nói, “Họ biết vợ anh đang bên cạnh nên không dám nói nhiều”.

Tàu vừa vào khu vực Bắc Bình đã bị chặn lại, dừng tạm ở một trạm nhỏ chờ kiểm tra.

Lần này ra Bắc, Tạ Vụ Thanh lấy cớ dưỡng bệnh, nhờ bạn cũ xin giấy thông hành. Người kiểm tra từng toa tàu, đến chỗ nối liền hai toa đã được trình giấy thông hành, thấp giọng thương lượng một hồi mới quyết định không quấy rầy vị tướng quân đã rửa tay gác kiếm.

Lát sau, Lâm Kiêu đưa một tấm danh thiếp. Họ Chúc, tên Chúc Khiêm Hoài.

Chúc tiên sinh? Cô ngạc nhiên.

Năm ấy sau khi Phụng hệ thất bại đã lui về quan ngoại, Chúc tiên sinh cũng biến mất từ đó. Người trong kinh đồn đãi, nói Chúc tiên sinh bị một vị quân phiệt giam giữ, mang theo hắn cùng rời khỏi nơi này.

“Mời người đó vào”. Tạ Vụ Thanh lên tiếng.

Chúc Khiêm Hoài đã lâu không gặp vẫn mặc bộ tây trang vàng nhạt như trước kia, tóc vuốt bóng loáng kỹ càng, ngoại trừ đuôi mắt hằn nếp nhăn thì không thay đổi nhiều. Hắn trông thấy Tạ Vụ Thanh và Hà Vị, mỉm cười miễn cưỡng: “Ở toa xe bên kia nghe người ta nói chỗ này có Tạ tiên sinh đến từ phương Nam, lại gặp được phó quan Lâm Kiêu, tôi liền đoán hẳn là tướng quân… Không ngờ cô hai cũng ở đây, làm phiền rồi”.

“Mời tiên sinh ngồi”. Hà Vị nhường sô pha đơn cho hắn.

“Không, không cần đâu”. Chúc Khiêm Hoài càng mất tự nhiên.

Khách đến không nói rõ ý đồ, cô và Tạ Vụ Thanh chỉ đành lệnh người pha trà, kiên nhẫn đợi.

“Tiên sinh gặp khó khăn gì sao?” Cô cười hỏi, “Nếu có việc cứ nói, không cần khách sáo”.

“Nhìn cô hai liền nhớ đến Hà thất tiên sinh”, Chúc Khiêm Hoài cười hiền, nhỏ giọng bảo, “Đầu óc lung tung, thất lễ quá”.

Hắn dõi mắt quan sát Tạ Vụ Thanh: “Tôi muốn hỏi một câu, mong tướng quân chớ trách”.

Tạ Vụ Thanh hơi gật đầu, chờ hắn hỏi.

“Tướng quân Tạ Khanh Hoài…” Chúc Khiêm Hoài khẽ nói, “Đi thật rồi sao?”

Trong toa tàu nhất thời tĩnh lặng.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười hỏi lại: “Vì sao Chúc tiên sinh lại hỏi về một kẻ bị phán tội chết từ lâu?”

Chúc Khiêm Hoài nhấc tách trà, thấp giọng đáp: “Tôi chỉ muốn biết, một người tốt như thế, thật sự không sống nổi ư?”

“Hắn chết rồi”, Tạ Vụ Thanh nói, “Bị xử bắn”.

Trong thinh lặng, Chúc Khiêm Hoài thở dài, rũ mắt nhìn lá trà ngâm trong tách.

Hà Vị không muốn hai người họ chìm trong không khí tang thương, cô ôn chuyện với Chúc Khiêm Hoài, hỏi thăm tình hình gần đây của hắn.

Chúc Khiêm Hoài như biết rõ lời đồn về mình, cũng không kể nhiều quá khứ, đa phần đều chỉ nói ở hiện tại. Lần này hắn về Bắc Bình vì muốn thi tuyển vào một trường sư phạm. Hát kịch nhiều năm nên Chúc Khiêm Hoài nghiên cứu không ít về lịch sử, tài học hơn người, hắn muốn trở thành một thầy giáo. “Vị hiệu trưởng trường sư phạm kia rất tôn sùng nền giáo dục bình dân”, Chúc Khiêm Hoài giải thích, “Giáo viên trong trường đều mặc áo dài dạy học, khi tan làm thì khoác áo vải lam cùng học trò làm đồng áng, học sinh cũng toàn xuất thân từ gia đình bần hàn, vừa học vừa làm. Tôi muốn góp một phần sức”.

Chúc Khiêm Hoài cúi đầu cười, nhấp thêm hai ngụm trà rồi vội vàng rời đi.

Nhìn ra được hắn đến chỉ để nghe ngóng tin tức của vị tướng quân Tạ Khanh Hoài mà mình ngưỡng mộ.

“Lúc trước em từng nói anh và Tạ Khanh Hoài quan hệ rất tốt, hắn hẳn còn nhớ kỹ”. Cô giải thích với Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh khẽ gật đầu.

“Vừa nghe hắn nhắc đến cô bảy của em”, anh hỏi, “Có ẩn tình sao?”

“Vâng”, cô đáp, “Từ sau khi hắn biến mất khỏi Bắc Bình, nhiều lời đồn nói hắn đi theo quân phiệt. Trong lòng cô bảy luôn nhớ hắn, không tìm thấy người nên nản lòng, bỏ về Vũ Hán”.

“Có điều cô bảy đến Giang Nam, chủ yếu vì vận tải đường thuỷ Trường Giang”, cô lại kể tiếp, “Bản đồ vận tải đường thuỷ Hà gia quá rộng, dễ khiến người khác chú ý, em giả vờ cùng cô bảy náo loạn một trận, nói với người khác sẽ tách riêng, chuyển vận tải đường thuỷ Trường Giang ra ngoài”.

“Lô hàng của Bạch Cẩn Hành trước phải qua đường biển, sau đó đến hàng hải Trường Giang”, cô bổ sung, “Chuyện này quan trọng, sau khi em về kinh phải đích thân đi Vũ Hán một chuyến”.

Trong hoàng hôn mênh mông, tàu hoả đến ga Chính Dương Môn.

Trận chiến hiện tại ở Trung Nguyên đang tới hồi gay cấn, vì thế tàu hoả từ Nam chí Bắc, chỉ cần dừng ở ga Chính Dương Môn, đều mang theo không ít sĩ quan và binh lính bị thương.

Tạ Vụ Thanh chống gậy xuống xe.

Thời tiết ẩm ướt, gió nóng mang theo mùi máu tanh mà anh quen thuộc nhất trên chiến trường, cuốn qua phân nửa sân ga. Lâm Kiêu cẩn thận quan sát quân trang của tốp binh lính phía xa, sai người đi hỏi thăm tình hình bộ đội.

Danh tính bộ đội còn chưa hỏi rõ, đã có quan quân nhận ra Lâm Kiêu.

Lúc trước trên chiến trường, Tạ Khanh Hoài một đường ra Bắc, đánh đâu thắng đó không gì cản được, tuy chưa tiến vào thành Vũ Hán nhưng vị phó quan kiêm chức tham mưu tên gọi Lâm Kiêu thường xuyên ra vào toà văn phòng cùng tổng bộ thành Vũ Hán, thay tướng quân báo cáo tiến độ công việc. Lâm Kiêu trời sinh da thịt mịn màng, trông như một thư sinh, tất nhiên để lại ấn tượng sâu sắc với người khác.

Hà Vị cùng Tạ Vụ Thanh dọc theo sân ga ra ngoài, dẫn theo mấy người Hà gia. Đám người Lâm Kiêu cố tình tách riêng, đi vào một cánh cửa khác, bọn họ không mặc quân phục, chỉ diện loại áo vải bình thường nhất, xách theo vali hành lý bằng da đựng thiết bị liên lạc quan trọng.

Có mấy sĩ quan nhỏ giọng bàn tán, đó là thuộc hạ cũ của Tạ Khanh Hoài.

Người nhận ra Lâm Kiêu, kính trọng gật đầu chào hắn.

“Mọi người rất tôn kính các anh”. Cô nói.

Tạ Vụ Thanh không đáp, chỉ thoáng liếc qua những người hành quân lễ với Lâm Kiêu.

Bên ngoài ga Chính Dương Môn, một loạt xe kéo chờ sẵn.

Chỗ này để lại ấn tượng đặc biệt với cô và Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh dừng chân ngoài cổng lớn, nhìn qua khu đất vàng sẫm đỗ xe kéo, bị ánh mặt trời ngày nắng chang chang hong khô, dưới bánh xe cuốn theo từng lớp bụi đất mịt mù. Đó là nơi Triệu Dư Thành bỏ mình.

Cổng thành xám xịt nguy nga, từng đoàn lữ khách lũ lượt nối đuôi nhau, còn có chiều hôm ở Bắc Bình, đều bày ra trước mắt anh.

Qua mấy năm, anh lần nữa quay về Chính Dương Môn.



Hai chiếc xe kéo lần lượt dừng trước đầu đường mới ở Nam phố, Khấu Thanh ngồi xe sau móc ra bốn đồng tiền đưa cho hai người kéo xe.

Đáng lẽ chỉ đáng một đồng, nhưng lại cho gấp đôi. Hai người kéo xe cười rộ nói cảm ơn, không chớp mắt nhìn theo bọn họ bước vào một ngõ nhỏ, thì thầm với nhau, đoán nhóm người này hẳn là giáo sư đại học mới đến Bắc Bình.

Ông bác trông nhà tuổi tác đã cao, có cảm tình sâu sắc với hai chú cháu Tạ gia, Hà Vị sợ ông không chịu nổi cú sốc nên mấy năm qua vẫn không nói chuyện Tạ gia thất bại, Tạ Vụ Thanh không rõ tung tích. Bên trong căn viện mấy chục năm vẫn không đổi, lá trúc xào xạc, vô cùng thoải mái. Dưới giàn nho, ông bác gánh theo một thùng nước đứng nơi râm mát tưới mấy tán bạc hà mới trồng, này do một lần Quân Khương đến thăm, thấy ông bác phiền não vì quá nhiều muỗi nên dạy ông mẹo nhỏ.

Tư Niên ngồi đường xa mệt mỏi, đang thiếp đi trong lòng Lâm Kiêu, hai bím tóc rũ bên má, càng làm nổi bật khuôn mặt nhỏ nhắn như ngọc bích.

Ông bác vừa thấy họ, miệng há to, từ kinh ngạc thành bật cười sang sảng, luôn miệng nói: “Nha đầu này thật giống mẹ, rất giống nha”.

Ông bác ném gáo hồ lô vào thùng nước, đẩy cửa sương phòng phía đông: “Chỗ này mát mẻ, để con bé vào nghỉ ngơi trước”.

Lâm Kiêu bế Tư Niên đến sương phòng, Khấu Thanh theo sát bên cạnh.

Ông bác ra ngoài, lúc này mới chú ý đến gậy chống trong tay Tạ Vụ Thanh, ông vốn thân thiết với lão tướng quân, đã quen thấy cảnh này, không trách móc chỉ hỏi: “Bị thương à?”

Tạ Vụ Thanh gật đầu: “Sớm khỏi thôi”.

Anh chậm rãi đi về trước, đẩy cửa chính phòng. Dưới đất không một hạt bụi, phía sau bình phong đang bật quạt điện.

Những tấm ảnh treo đầy tường không sai biệt, đặt đâu còn nguyên đấy.

Mọi người bận rộn khuân vác hành lý Tạ Vụ Thanh vào sân.

Tuy đã hoàng hôn nhưng tiết trời oi bức không đổi, Hà Vị khép cửa lại, khuấy đều ly nước ô mai ướp lạnh từ Hà gia đưa đến rồi kề bên miệng anh.

“Buổi tối muốn ăn gì?” Cô hỏi nhỏ, như tiếng thì thầm của những đôi vợ chồng mới cưới.

Lại nói thêm: “Trời nóng gay gắt, anh vẫn còn bị thương, không thể ăn mấy món từ mỡ lợn”.

“Vậy ăn hoa quả khô thế nào?”

Tim Hà Vị nảy một cái, hơi loạn nhịp.

“Lời nói lúc nhỏ vậy mà anh còn nhớ rõ”. Cô nói khẽ, kéo một cái ghế tròn đến ngồi trước mặt anh.

“Hiện giờ cũng chả lớn hơn bao nhiêu”, anh nói, “Tuổi hai mươi tư như hoa của cô hai chỉ mới qua thôi. Mà Tạ mỗ”, tay anh đặt lên thành ghế, lần nữa xắn gọn tay áo sơ mi bị xổ ra khi di chuyển lúc nãy, “Lớn tuổi vẫn không vợ, chẳng phải gọi là <i>khoáng phu [1]</i> ư?”

<i>[1] Khoáng phu, danh từ chỉ những người đàn ông lớn tuổi mà chưa lấy vợ</i>

Hà Vị định uống nước ô mai, bị anh chọc cười không tài nào uống nổi.

Mỗi khi người này trêu đùa, luôn có cảm giác yêu đương kiểu mới. Không đứng đắn gì cả.

“Để em bảo người mang váy cưới đến đây, còn có sơ mi âu phục may riêng cho anh nữa”, cô nghịch thìa sứ trắng, nói ra ý định, “Sau đó anh mặc thử xem, chắc là không sai lệch lắm. Dựa theo số đo trước đây của anh, hiện giờ anh chẳng béo nổi, ngược lại còn gầy hơn”.

Tạ Vụ Thanh im lặng một lát, bỗng hỏi: “Chuẩn bị xong lúc nào? Âu phục cưới của anh ấy?”

Anh đi để lại nửa tờ hôn thư, mà cô lại ở nhà chuẩn bị đồ cưới.

Cô mỉm cười, không muốn làm anh buồn, đặt bát lên bàn: “Không nhớ nữa”.

Lại nói tiếp: “Nếu gả từ tiểu viện Hà gia đến đây, chỉ e sẽ khiến người khác chú ý, không bằng từ sương phòng gả qua chính phòng. Ngày mai em tìm tiên sinh ở phòng kế toán đến xem ngày lành”.

Tạ Vụ Thanh định mở miệng, cô đã dùng mũi giày khẽ đá chân anh, ngăn lại: “Không được nói em thiệt thòi”.

Tạ Vụ Thanh là người ghét bày vẽ hình thức, nhưng luôn muốn mang những thứ tốt nhất cho Hà Vị.

Có điều ngoại trừ việc tự giữ mình, bảo vệ tốt bản thân cho cô, còn lại thứ gì cũng chưa từng có.

Ngay cả một món trang sức cũng không.

“Nếu anh có lòng, đợi ngày đất nước thái bình, mở tiệc đãi khách ở tám đại lâu, đăng trang nhất những tờ báo lớn kinh thành”. Cơ nhoẻn cười.

Tạ Vụ Thanh ngồi cách cô mấy bước, dưới giày da là mảnh đất Bắc Bình… Anh sững lại hồi lâu, khẽ gật đầu: “Được. Ngày đất nước thái bình, đãi tiệc ở tám đại lâu, toàn bộ mặt báo khắp <i>Kinh – Tân – Thượng [2]</i>, đều sẽ đăng trang nhất”.

<i>[2] Bắc Kinh – Thiên Tân – Thượng Hải</i>

Lòng cô nhẹ nhõm, cười vang bảo: “Ba đầu báo lớn nhất, quý hoá quá”.

Anh cũng cười: “Tòng quân hai mươi lăm năm, chút lương bổng này vẫn tích cóp được”.

— HẾT CHƯƠNG 47 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 48: Chiều hôm sâu thẳm ở bắc bình (2)


Lâm Kiêu đang chuẩn bị cơm tối trong sân.

Cô ở cùng anh hai ngày, nhận biết hiện giờ vì để dưỡng thương nên hầu như đồ ăn anh dùng đều do Lâm Kiêu đích thân nấu. Nếu Lâm Kiêu đã xắn tay áo xuống bếp, cô đành giao cho người ta vẫn tốt hơn.

“Lúc nhỏ anh cùng chị ba vào kinh”, anh trông về bức tường, nhìn những tấm ảnh chú thím chụp chung, “Thím là người Bắc Kinh giống em. Thím dẫn mọi người từ Chính Dương Môn vào thành, khi đó thành lâu bị thiêu cháy chỉ còn lại tàn tích”.

Tạ Vụ Thanh kể chuyện trước lúc cô ra đời. Năm 1900, Chính Dương Môn bị liên quân tám nước tấn công thiêu huỷ.

Hà Vị sinh vào cuối triều Thanh, ấn tượng với Tứ Cửu Thành không sâu, chỉ nhớ mang máng các chị gái châu ngọc đầy đầu, mặt hoa da phấn, gò má lúc nào cũng ửng hồng. Cô tuổi nhỏ nên không đeo trang sức, khuôn mặt ẩn trong nguyên bảo lãnh, trên cổ mang vòng nặng trịch, mỗi lần nhúc nhích cổ đều hao tốn sức lực.

Mùa thu năm đó, để ngắm lá phong, cả nhà đi Tĩnh Nghi Viên ở Hương Sơn, xe ngựa nối đuôi nhau thành chuỗi không thấy đầu. Nơi ấy có Chiêu Tự, có tháp Phù Đồ cao bảy tầng, đặt lư hương bằng sắt rất lớn. Lần đầu cô gặp chú hai, chú mặc bộ âu phục cổ quái, đi phía sau tông thân của Hà gia, đứng giữa dàn áo dài xám cùng áo choàng vàng tím, vô cùng bắt mắt.

Những vị tông thân đội mũ da chắp tay đi qua đi lại, trong nhà ai cũng hút thuốc phiện đến mỏi mệt, bước chân yếu ớt uể oải, hai mắt híp lại chẳng có khí chất, giống như giống hệt nhau, không phân biệt được ai với ai.

Duy chỉ có chú hai rớt lại phía sau, trên mặt dịu dàng ôn hoà, trong mắt mang theo tia sáng.

Cô đứng trên thềm đá trắng, lặng lẽ nấp sau cánh cửa được khảm hoa đỏ sậm, trông ra bên ngoài. Đám tông thân bước qua dưới bậc thềm. Nha hoàn bên cạnh mẹ thì thầm bảo, đó là cậu hai vừa du học về nước. Lúc ấy ông nội vẫn còn sống, chú hai được gọi là cậu hai.

Nha hoàn lại nói, vào năm liên quân tám nước tiến đánh, cậu hai vận chuyển gạo vào thành Bắc Kinh cứu tế, bị người khác buộc tội buôn lậu thóc gạo, nhốt giam đánh đập mấy ngày đêm, hiện giờ không thể sinh con, nhóm tông thân bàn nhau cho ông nhận một người con kế tục.

Thời gian đó tiền trang của Hà gia làm ăn phát đạt, vẫn chưa mở vận tải đường thuỷ Hà gia.

Nhóm tông thân bàn tới bàn lui, không ai bằng lòng làm con thừa tự cho Hà Tri Hành, chuyện này không cách nào giải quyết.

Cô lại nghe cha ruột và mẹ nhắc về chú hai, cha cô phẫn uất nói em hai đi theo cách mạng nên rước hoạ, phải chạy ra biển lánh nạn.

Tạ Vụ Thanh ăn cơm tối xong, về phòng nghỉ ngơi.

Hà Vị khép cửa, ra ngoài sân hóng gió.

Lâm Kiêu múc chậu nước, chuẩn bị rửa mặt. Từ lúc hắn trở về Bách Hoa Thâm Xử, luôn tất bật trong ngoài, cả người toát đầy mồ hôi. Hắn vừa phát nước đã trông thấy Hà Vị, tay áo dính nước ướt đẫm rút về, qua loa chà lên áo sơ mi: “Có cần tôi vào không?”

Cô xua tay: “Anh ấy ngủ rồi”.

Lâm Kiêu thẹn thùng cười cười, muốn bưng chậu đồng trắng đến một bên tắm rửa.

“Cứ rửa đi”, Hà Vị cười nhìn hắn, “Sợ gì chứ?”

“Lâm phó quan trải sự đời”. Khấu Thanh đem váy nhỏ Tư Niên vừa thay ra, lấy thìa gỗ múc nửa chậu nước tưới lên quần áo, “Sao rửa ráy trước mặt chúng ta cũng không dám thế?”

Lâm Kiêu thấy đàn bà con gái ở đây liền đỏ mặt, trong lòng e thẹn khi bị vạch trần nhưng ngoài mặt không thể tỏ ra ái ngại. Hắn phát nước hai lần lên mặt, dùng khăn lông lau sạch.

“Để tôi giặt cho”. Lâm Kiêu nói.

“Đây là việc công của tôi, nhận lương đấy”, Khấu Thanh đáp, “Lâm phó quan là tướng lãnh đạo, mỗi người một việc mới tốt”.

Khấu Thanh không muốn ầm ĩ ảnh hưởng đến người đang ngủ, bưng chậu nước ra ngoài cổng lớn, ngồi trên băng ghế nhỏ, chà xát áo lên thềm đá.

Hà Vị kéo Lâm Kiêu đến ngồi trên ghế đá trong sân.

Nhóm người theo họ từ Thiên Tân đến, không vào Bách Hoa Thâm Xử mà đi thẳng tới ngõ Đông Giao Dân của khu lãnh sứ quán.

“Quen biết nhiều năm nhưng chưa từng nghiêm túc trò chuyện với cậu”. Hà Vị tay cầm quạt, nhìn thấy mồ hôi đầy người Lâm Kiêu nên đưa cây quạt hương bồ của ông bác trên bàn đá cho hắn.

Lâm Kiêu nhận lấy, nắm chặt quạt hương bồ, cười nhìn cô: “Tôi không thích nói chuyện, anh em quen biết hơn mười năm cũng không nói quá nhiều”.

Hắn sợ cô nhàm chán, cố gắng tìm đề tài: “Lúc nghĩ cách cứu viện thiếu tướng quân, tôi thấy tàu của vận tải đường thuỷ Hà gia ở Trường Giang rất hoành tráng”, hắn không khỏi khâm phục, “Còn có đường hàng hải ở cảng tỉnh, mấy năm qua cô hai đã giúp không ít người chúng tôi đến Hồng Kông tị nạn, người bên chúng tôi luôn nói, đó là đường thuỷ cứu mạng”.

Hình như Lâm Kiêu có rất nhiều lời khen muốn nói với cô, ngẫm nghĩ một lúc lại lo lắng hỏi: “Mấy chuyện này có khiến cô hai gặp nguy hiểm không”.

“Thời cuộc như vậy, làm gì mới không nguy hiểm?” Cô mỉm cười, nhẹ giọng nói, “Vận tải đường thuỷ Hà gia từ trước đến nay đều giúp đỡ đảng cách mạng, cậu không biết sao?’

“Thiếu tướng quân từng nhắc tới”. Lâm Kiêu không ngờ Hà Vị thẳng thắn thế.

Năm đó chú hai là người thuộc đảng cách mạng, bị bắt phải lẩn trốn ra biển, được người khác cứu giúp, từ đó nảy ra ý tưởng kinh doanh vận tải đường thuỷ. Ghi chép việc làm ăn của Hà gia đều nằm trong khối óc của ba chú cháu, nhớ lộ trình, nhớ thời gian thông quan, duy chỉ không nhớ tên họ. Vô số nhà cách mạng đã được cứu và tìm cách đưa ra ngoài suốt nhiều năm liền.

“Thiếu tướng quân từng nói, cô hai còn xem trọng vận tải đường thuỷ hơn mạng sống, không cách nào bỏ trốn cùng ngài. Ban đầu tôi còn không biết, mấy năm nay rốt cuộc cũng hiểu”.

“Thiếu tướng quân cũng xem cô hai hơn cả mạng mình”. Lâm Kiêu nói tiếp.

Cô cười. Lời này thốt ra từ miệng của người cạnh anh, ý nghĩa khác biệt.

“Năm ấy”, hai tay Lâm Kiêu siết chặt quạt hương bồ, nghĩ mãi mới nói, “Cô ba và thiếu tướng quân ở Kim Lăng. Cô ba muốn gặp cô hai, cô ba nói, một nhà bốn chị em gái, chỉ có cô ba chưa được gặp em dâu đã phải lặng lẽ ra đi”.

Nụ cười Hà Vị chững lại.

“Thiếu tướng quân luôn nghĩ cách muốn cứu cô hai, nhưng sau khi cô ba bị bắn chết, ngài không dám kéo dài nữa, trực tiếp dùng bản thân đổi người”.

Tháng tư hoa hoè rụng đầy Kim Lăng, khắp thành chìm trong màu hoa trắng.

Hà Vị quay về chính phòng.

Quần áo, sách vở Tạ Vụ Thanh mang theo đều để trong rương lớn bằng sắt, đặt bên cạnh sô pha da nâu. Cô sợ sàn nhà trơn trượt, một ngày trước khi quay về từ Thiên Tân đã gửi điện báo, nhờ quản gia mang mấy cuộn thảm xanh sẫm, trải lên đất.

Tạp âm bị thảm sàn nuốt chửng. Cô khẽ vén rèm châu, ngồi xuống mép giường.

Lúc Tạ Vụ Thanh ngủ vẫn mặc áo sơ mi gọn gàng đến khó hiểu, nhìn anh chỉnh tề như lúc nào cũng có thể khoác quân phục lên chiến trường.

Thiếu tướng quân của cô, vì cô, cam tâm chịu chết.

Người đàn ông nằm trên giường bất chợt vươn tay nắm lấy cô.

Tim Hà Vị khẽ động: “Chưa ngủ sao?”

“Vừa chợp mắt thôi”.

Hà Vị tựa sát vào anh nằm xuống. Tạ Vụ Thanh hơi dịch người, nhường nửa giường cho cô.

“Chị ba anh…” Cô nói.

Anh nhận ra cô để tâm đến chị ba mình.

“Chị ba à, là người có tướng phản cốt nhất nhà anh”, Tạ Vụ Thanh thì thầm, “Cha anh là người bảo thủ, tầm nhìn và tư tưởng đều bị hạn chế, lúc ấy ông ủng hộ phản Viên, sau khi Viên Thế Khải chết, lại không ủng hộ Nam – Bắc khai chiến. Ông cho rằng, chiến tranh quá lâu, không nên đánh tiếp nữa. Binh quyền trong tay ông ban đầu đều bị chị ba lừa đi, đặt hết vào tay anh. Sau đó, quân phiệt phương Nam ngày càng khuếch trương, thuốc phiện tràn lan khắp các tỉnh thành, lúc này cha mới nghĩ thông suốt, quyết định đánh tiếp”.

Tạ Vụ Thanh nhớ đến một năm trước khi chị ba mất: “Năm 26, cuối cùng Vân Nam cũng xây dựng thành công quốc lộ đầu tiên. Chị ba nói với cha anh, cha xem, nếu không phải thuế thu nhập đều lọt vào túi riêng của quân phiệt thì quốc lộ này đã sớm hoàn thành”.

Anh trai cô cũng từng nói, tư tưởng người ấy có hạn. Cô bỗng dưng nhớ lại.

Cả đời Tạ lão tướng quân phần lớn thời gian đều đổ vào tiền triều, ngay từ đầu giữ tư tưởng phản Thanh, đã là chuyện không dễ.

“Chị ấy từng xin đến học ở trường trung học nữ sinh <i>Bì Văn Thượng Hải [1]</i>, cách nhà khá xa, mẹ anh không cho, không ngờ chị ấy để lại một lá thư rồi ép phó quan của cha đưa mình đến Thượng Hải”, Tạ Vụ Thanh bật cười, “Phó quan của cha thầm thích chị ấy, lại bị chị ấy phát hiện, trở thành nhược điểm của hắn”. Mỗi lần cha mẹ nhắc đến chuyện này, đều không ngừng trêu chọc.

<i>[1] Trường Trung học Nữ sinh Bì Văn Thượng Hải do nhà truyền giáo Elijah Coleman Bridgman và phu nhân Grande của mình thành lập vào năm 1850. Đây là trường học dành cho nữ giới đầu tiên trong lịch sử ở Thượng Hải. Khi trường mới mở không ai đồng ý vào học, trải qua rất lâu mới dần trở thành một trong những nơi giáo dục nổi danh nhất TQ thời Dân quốc. Năm 1953, trường được đổi tên thành Trung học Nữ sinh Số 9 Thượng Hải, đến năm 1966, trở thành Trường Trung học Số 9 Thượng Hải.</i>

“Vị phó quan kia khá giống Lâm Kiêu, nhờ tài thao lược mới thành công, sớm đã thăng làm tham mưu, chỉ là hết lòng trung thành tận tâm, không muốn rời khỏi Tạ gia. Sau đó chị ấy vào trung học, ở lại trường ba năm, vị phó quan kia cũng được cử đến trường sĩ quan, nếu học thành tài quay về sẽ cưới. Ba năm trôi qua, phó quan học xong quay về, mà chị ba lại gửi một phong thư, nói mình đi du học. Chị gái quen biết cô ba Trịnh gia cũng là trong lúc du học”.

Tạ Sính Tích gấp gáp lên đường, không chờ được tàu khách, phải đi nhờ tàu chở hàng. Cô ở khoang hạng ba, trong phòng bày biện sơ sài, chỉ có một cái sô pha lớn làm giường ngủ, ngoài ra chẳng còn gì khác, may mắn còn được sử dụng nước nóng lạnh. Sau khi cô lên tàu, đêm nọ nghe thấy tiếng gõ cửa của một cô gái Trung Quốc đến xin nước nóng gội đầu. Tạ Sính Tích biết người này không mua được vé nên phải ngủ ở kho hàng, liền giữ cô ta lại, hai người nằm cùng một cái sô pha suốt hơn nửa tháng.

Khi đến châu Âu, chị ba học về hoá chất, cô ba Trịnh gia lại học mỹ thuật.

Bọn họ cùng nhau nhập học, hẹn sau khi kết thúc khoá sẽ cùng về nước. Chiến tranh Thế giới bùng nổ, du học sinh các nước phải tạm gác việc học trở về. Trịnh Sính Tích nhiễm bệnh nặng nên không thể đi, người nhà cô ba Trịnh đến đón mấy lần đều bị từ chối. Tạ Sính Tích sợ không chống đỡ nổi, đem toàn bộ nữ trang cùng tiền bạc giao lại cho cô ba Trịnh, nếu cô ấy không định về nước thì nhờ cô ấy ở đây đợi Tạ Vụ Thanh tiếp ứng, sau đó đến Quý Châu tìm Tạ gia, người Tạ gia nhất định sẽ xem cô như con gái ruột mà chăm sóc.

Một tháng sau, Tạ Vụ Thanh huỷ bỏ phong toả tìm được căn hộ nhỏ, chị ba đã khỏi bệnh.

Hai người đường dài về nước. Đôi bạn thân du học tây dương, vượt trùng khơi về lại cố hương, vừa đến nhà trở thành người thuộc hai phe Nam – Bắc đối lập. Từ đó về sau chưa từng gặp lại.

“Sau khi chị ba du học về, phó quan cũng trở thành tham mưu, khi đó trên chiến trường, phó quan kia dùng báng súng chặn xe hỏi chị ba, lời cô nói lúc mười ba tuổi có tính không. Chị ba trả lời, người Tạ gia lời hứa đáng ngàn vàng, nếu còn sống trở về, thì cứ đến hỏi cưới”.

Đèn trong sương phòng phía đông sáng lên, chiếu đến chính phòng, giống như ánh đèn hạ màn sân khấu.

Ve kêu râm ran bên tai, không ai nói một lời.

Vị tham mưu ấy hy sinh trên chiến trường Bắc phạt, còn chị ba bị bắn chết tại Kim Lăng.

Tạ gia năm ấy thất bại thảm hại, chỉ chuyên tâm lo liệu hậu sự, khách đến phúng viếng ít ỏi vô cùng, cô ba Trịnh dẫn theo em trai út Trịnh Độ, từ tận quan ngoại tìm đến, dùng mấy chục bức câu đối phúng điếu, lấp kín linh đường trống rỗng. Cô ấy ngồi suốt cả đêm ở linh đường.



Tạ Vụ Thanh vừa xuất hiện ở Bắc Bình đã thu hút rất nhiều sự chú ý.

Hà Vị cũng không hỏi chuyện của anh. Đã là bí mật quân sự, hẳn không phải trò đùa.

Tạ Vụ Thanh mang theo âu phục cách tân, đeo đồng hồ vàng cùng những thú vui của quý công tử bại hoại, mỗi ngày hết ở khách sạn Lục Quốc lại đến nhà hàng Bắc Kinh, Quảng Hoà Lâu, Quảng Đức Lâu ứng phó từng người, tựa như trở về thời điểm anh với vào kinh năm đó. Bất quá lúc này trong tay anh có thêm cây gậy chống. Khấu Thanh âm thầm nói với cô, đàn ông bị thương trên chiến trường giống một chiến công, càng thêm mê hoặc, khó trách khiến người khác lo lắng, khuyên cô nên đi theo xã giao cùng anh.

“Làm sao rảnh theo anh chứ”. Hà Vị cười nói.

Cô không chỉ bận rộn chuyện Bạch Cẩn Hành, còn phải phối hợp với việc vận chuyển lương thực cứu tế.

Bắc đầu từ năm ngoái, chín tỉnh ở Hồ Nam ngập lụt nghiêm trọng, ba tỉnh Tứ Xuyên triều cường dâng cao, Thiểm Tây lại bị hạn hán giày xéo.

Cô đọc tin tức trọng điểm trên tờ “Đại công báo” ở văn phòng, nhìn thấy một huyện chịu cảnh thiên tai nặng nề, giá gạo tăng đến 12 tệ một đấu, không khỏi lo lắng. Ở Bắc Bình, Khấu Thanh một tháng chỉ nhận 3 tệ tiền lương, một căn tứ hợp viện bình thường cho thuê cũng mất 20 tệ một tháng. Giá gạo này, chỉ có thể nói là cao ngất trời.

“Nhiều nơi gặp nạn thiên tai, Trung Nguyên chiến tranh không ngừng”, Hồ Thịnh Thu lắc đầu, “Người chịu khổ chỉ có dân đen”.

Hà Vị thầm than, gấp tờ báo lại.

Tối nay ở Quảng Đức Lâu có diễn kịch để quyên tiền cứu tế, cô phải có mặt.

Mấy buổi diễn kịch quyên tiền thế này, cần có người uy tín đến giữ thể diện, những nhóm thân hào, quân phiệt mới cùng khuê tú danh viện xuất hiện một cái, tiền cứu trợ sẽ tăng vọt, người được hưởng lợi tất nhiên là dân gặp nạn. Những năm nay cô không thường lui tới hoạt động náo nhiệt thế này, chỉ có quyên góp tiền bạc mới đến, mang theo chi phiếu, vàng lá, chi phiếu để quyên tặng, còn vàng lá tặng khách mới.

Có điều trước lúc đó, cô đã hẹn Tạ Vụ Thanh đến <i>thương xá [2]</i>. Hiếm có được nửa ngày nhàn rỗi, đi làm việc riêng.

<i>[2] Nguyên văn là “khuyến nghiệp tràng”, có nghĩa như một trung tâm mua sắm thời kỳ đầu. Đến nay ở Thiên Tân vẫn còn một toà nhà “khuyến nghiệp tràng” này gọi là Quanyechang Shopping Mall. (Mình sợ để trung tâm mua sắm thì hiện đại quá, nên sử dụng từ thương xá, nếu mọi người thấy không ổn thì bình luận nói để mình sửa nha, còn nếu không okk rồi thì cứ để vậy)</i>

Mặt trời ngả về Tây, giữa thềm đá trắng ở cửa lớn có một người đàn ông mặc âu phục giày da, tay chống gậy.

Tạ Vụ Thanh đứng một mình dưới cửa đá chạm hoa trắng, cảnh vệ trực ban tản ra hai bên, ẩn nấp trong đám người. Anh chưa từng thấy một nơi hiện đại hoành tráng thế này, so với Thanh Vân Các còn hơn bội phần, không chỉ có quý nhân quan lớn tìm đến mà còn có rất nhiều học sinh cùng thanh thiếu niên.

Cô bước vài bước lên thềm đá, cười vỗ tay anh.

Anh cúi đầu, nhìn thấy cô gái vừa qua tuổi hoa niên, váy dài liền thân màu hồng nhạt, tay áo rũ lộ ra khuỷu tay cùng cổ tay mảnh khảnh, trên người không đeo trang sức. Hiếm có dịp cô mặc đồ màu sáng thế này, Tạ Vụ Thanh bất giác nhìn thêm mấy lần.

“Kỳ lắm không?” Cô bị anh nhìn chăm chú đến bất an.

Anh lắc đầu: “Là quá đẹp”.

“Tối nay Bộ Giáo dục có đãi tiệc công ở đây, em không muốn bị người khác nhận ra, mau vào trong thôi”, cô kéo cánh tay Tạ Vụ Thanh, tiếng cười giòn vang, “Dẫn anh đi dạo xung quanh, xem chỗ đang được người trẻ yêu thích nhất”.

Lầu một thương xá bán sách cũ cùng đồ dùng hàng ngày, lầu hai bán cổ vật cùng đồ thêu thùa.

Tạ Vụ Thanh theo cô vào thang máy, lên tầng ba, nghe tiếng di chuyển có quỹ đạo của xích sắt, anh cảm nhận được hơi thở của những người xa lạ bên trong, nhưng chủ yếu vẫn là cô đang đứng chắn trước người anh. Ban ngày ban mặt, càn khôn sáng ngời, không phải đôi giày quân đội đạp lên bùn đất trên chiến trường, đối diện với thi thể khắp nơi, cũng không phải đứng dưới ánh đèn lồng đan xen, trong chốn phong nguyệt nâng chén nịnh nọt… Mà là một thương xá ồn ào.

Không ai quen họ, họ cũng không biết ai.

“Trên tầng bốn có nhà hát Tân La Thiên, những người kia đều đến xem <i>bình kịch [3]</i>”. Cô đưa anh ra khỏi thang máy tầng ba, nói về những người vẫn tiếp tục đi lên.

<i>[3] Tên loại hình kịch ở vùng Hoa Bắc, Đông Bắc.</i>

Cô chỉ về cách đó không xa: “Kia là sân bóng bàn. Anh biết chơi không?”

Tạ Vụ Thanh cười: “Một trong những môn giải trí được thích nhất trường quân sự”.

Phía cuối có một tiệm chụp ảnh Đồng Sinh.

Hà Vị cầm tấm danh thiếp trên tay, so sánh tên không sai một chữ mới yên tâm đi vào.

Bên trong có mấy người học việc đang lau cửa, thấy hai người liền hỏi, có đặt trước không. Hà Vị bảo, đặt trước rồi, người đặt là cô gái tên Khấu Thanh. Người học việc lau sạch tay, mở hồ sơ đăng ký trong tủ ra, mép trang giấy đã sớm bị mài đến hoe vàng.

“Vào đi, để tôi gọi sư phụ”, người học việc chỉ tay vào trong, “Có sẵn gương và lược, chỉnh trang một chút”.

Tạ Vụ Thanh vừa đến đây đã đoán được cô muốn chụp ảnh chung.

Cô cùng Tạ Vụ Thanh bước vào. Lúc nhỏ cô từng chụp ảnh một lần, nhưng là nhiếp ảnh gia đến tận nhà chờ cô sẵn, đây là lần đầu cô tự mình ra ngoài chụp ảnh.

“Sợ gọi nhiếp ảnh gia đến nhà sẽ đồn đãi lung tung. Chụp ở đây vẫn an toàn hơn”.

Tin đồn hai người sống chung đã lan ra, nhưng chẳng ảnh hưởng đến quan hệ xã giao bên ngoài. Nhưng những việc như chụp ảnh chung giống xác định mối quan hệ chính thức, cần phải che đậy thật tốt.

Cô đứng trước gương, không dùng lược, chỉ lấy hai tay chải sơ tóc, quay đầu lại đánh giá anh, duỗi tay, dựa theo thói quen của anh, vuốt hết tóc trước trán ra sau đầu. Trán Tạ Vụ Thanh không quá rộng, vuốt tóc về sau lại càng xán lạn đẹp mắt.

Có điều Tạ Vụ Thanh nào quan tâm đến mấy chuyện đẹp mã này.

“Lúc anh đi xã giao còn để tâm chút ít”, cô chế giễu anh, “Hẹn hò với em, chỉ qua loa cho có lệ”.

Cô nhác thấy cọng tóc bạc trên đầu anh, trong lòng nhói đau.

Tạ Vụ Thanh cúi đầu cười, thuận tay vuốt tóc, nhẹ giọng nói: “Người già rồi, làm gì cũng chậm. Chẳng quan tâm ý tứ gì cả”.

Cô nhoẻn cười: “Anh có chú tâm bao giờ?”

Anh cười đáp: “Sau khi quen em, thật ra có một đoạn thời gian cũng để ý lắm”.

“Nói cứ như em háo sắc vậy”.

Anh bảo: “<i>Lấy sắc hầu người [4]</i>, chưa hẳn không phải một loại tình thú”.

<i>[4] Ý nói dùng sắc đẹp để dỗ dành cho người khác vui vẻ.</i>

Không đứng đắn.

Sư phụ nhiếp ảnh gia đến, trông thấy bộ dạng của họ, liền hỏi thẳng: Chụp ảnh cưới lưu hiệm?

Hà Vị nhỏ nhẹ “vâng” một tiếng, trước mặt người ngoài, gò má ửng hồng. Sư phụ quan sát nhiều hạng người, hỏi Tạ Vụ Thanh có từng tòng quân không, Tạ Vụ Thanh không phủ nhận, sư phụ giúp họ thị phạm kiểu chụp của mấy đôi vợ chồng nhà lính. Một tay Tạ Vụ Thanh đút vào túi quần tây, một tay đặt trước người, không cần diễn đã có phong thái của đại tướng quân.

Tư thế của anh giống năm mười tám tuổi, có điều tay phía trước không còn nắm thành quyền, trên vai để nửa người Hà Vị tựa vào, hai người tay trong tay.

Cô cảm nhận được sức lực trên tay Tạ Vụ Thanh, tim có chút nghẹn lại.

Ánh sáng loé lên, cô căng thẳng suýt chớp mắt, may mắn kinh nghiệm che đậy. Chụp xong liền hỏi: “Tôi có cười không?”

Sư phụ nhiếp ảnh cười nói: “Có cười, chờ xem”.

Lịch hẹn có chút gấp, cô đi dạo quanh cửa hiệu đồ cổ hai giờ, liền nhận được tấm ảnh kia, giấy chụp hiệu Kodak có cảm giác rất tốt, mặc dù hơi đắt nhưng tiêu tiền đáng giá. Bối cảnh là một vòng cung đổ bóng đang thịnh hành, cô nhìn một lát, lại bị Tạ Vụ Thanh đoạt lấy. Tạ Vụ Thanh xem ảnh còn lâu hơn cô.

“Chỉ có một tấm à?” Anh hỏi.

Cô quên mất hai người nên mỗi người một tấm mới phải.

“Chỉ kịp rửa một tấm, gấp quá”, cô đáp, “Phim đã bị huỷ rồi, họ đã nói trước”.

Tạ Vụ Thanh không nhiều lời, lướt ngón tay lau mặt ảnh, cất vào âu phục.

— HẾT CHƯƠNG 48 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 49: Chiều hôm sâu thẳm ở bắc bình (3)


“Về trả lại cho em”. Cô nhắc nhở anh.

Anh chỉ cười. Từ nhỏ đã quen sống trong doanh, nhiều năm làm giáo viên, muốn dùng tuổi niên thiếu đàn áp những học sinh còn lớn tuổi hơn mình, nhất định phải có thủ đoạn cao tay. Tướng quân có thể thuần phục ngựa chứng, lại cùng cô gái tranh giành một tấm ảnh chụp, nhưng lời lẽ chính đáng không thể chối từ.

“Tối nay em đến Quảng Đức Lâu xem kịch để quyên tiền cứu tế, anh thì sao?” Cô hỏi, nhân cơ hội luồn tay vào âu phục anh.

“Nghe nói Quảng Đức Lâu diễn kịch góp tiền cứu trợ, biết cô hai sẽ đến nên anh đã thay đổi lịch trình rồi”. Anh kéo âu phục lại chỉn chu.

Kinh ngạc như thế.

Cô nghe thấy Tạ Vụ Thanh muốn đến xem kịch tặng tiền cứu tế, quên mất phải đoạt lại ảnh chụp.

Ra khỏi thương xá, hai người tách ra, ai làm chuyện nấy.

Tạ Vụ Thanh phải về ngõ Đông Giao Dân, còn cô đến Quảng Đức Lâu trước.

Vì biểu diễn quyên góp tiền nên các đào hát nổi danh thành Bắc Bình đều kéo tới, ngay cả những vị ẩn cư trong tô giới Thiên Tân cũng có mặt. Trước cửa nhà hát lớn treo một tấm biển báo tên, khi cô trông thấy tên Chúc Tiểu Bồi cùng Chúc Khiêm Hoài, trong nháy mắt thoáng hoảng hốt, như đang quay về quá khứ.

Phòng riêng không đủ. Hai bên hành lang tầng một bố trí ghế dài, mỗi gian dùng một tấm bình phong chạm gỗ khắc hoa ngăn giữa. Vì theo thời đại, năm nay trong nhà hát bày ghế cho cả <i>quan khách</i> và <i>đường khách [1]</i>, phía trước là ghế nam ngồi, phía sau dành cho nữ.

<i>[1] Quan khách, dùng để chỉ khách nam, sau này được dùng với nghĩa rộng hơn. Đường khách mang nhiều nghĩa, một là chỉ khách đi đường, hai là khách nữ, phụ nữ đã kết hôn, phu nhân, hoặc gái làm nghề m** d*m.</i>

Ông chủ Quảng Đức Lâu đưa cô tới chỗ thoáng phía sau lầu hai, mấy bàn bên cạnh đã có người ngồi, không ngừng luyên thuyên về đại chiến ở Trung Nguyên hiện nay.

“Ai cũng bảo đánh sắp xong rồi, quân Tây Bắc đã muốn thất bại”. Ông chủ Quảng Đức Lâu nhỏ giọng nói.

Ông chủ Quảng Đức Lâu thay cô vén rèm. Phòng bao cũ, chốn xưa.

“Bên dưới có không ít quân Tây Bắc”, ông chủ Quảng Đức Lâu nhắc cô, “Hôm nay nếu không có việc gì, không nên xuống dưới”.

Đối với dân bản địa ở Bắc Bình mà nói, nhìn lũ người này không khác gì đèn kéo quân cùng tiền giấy vàng mã. Mười mấy năm trôi qua, hai triều đại lên xuống, quân đội tới lui không ngừng, mỗi người đều tưởng mình khoác hoàng bào, cuối cùng lại bị kẻ khác mang pháo súng đánh đuổi ra khỏi Tứ Cửu Thành.

Sau hai màn kịch, Tạ Vụ Thanh mới đến. Anh vừa đặt chân vào phòng bao, âu phục ngoài vừa cởi, còn chưa kịp treo lên móc áo, bên ngoài ngõ Đông Giao Dân đã gửi đến một bức điện khẩn mới nhất.

Điện báo viết: Quân Đông Bắc muốn nhập quan, quyết định vào ngày 18 tháng Chín.

“Xem ra, chiến sự Trung Nguyên sắp kết thúc rồi”. Tạ Vụ Thanh gấp tờ điện báo.

Vào ngày 18 tháng Chín năm đó, quân đội Đông Bắc tiến vào, ủng hộ chính phủ Nam Kinh, chấm dứt đại chiến Trung Nguyên. Đêm ấy, chẳng ai ngờ được những gì sẽ xảy ra vào ngày này một năm sau.

Trong ngày, người nhận được tin không chỉ riêng Tạ Vụ Thanh.

Diễn kịch quyên tiền kết thúc sớm, tất cả những người mặc quân phục đều bỏ đi. Vì quyên tiền cứu trợ nên huyện trưởng vùng Tây Bắc đang gặp hạn hán cũng được mời tới.

Huyện trưởng cố ý tắm gội sạch sẽ, mặc bộ âu phục không lớn không nhỏ, ngồi ngay ngắn trên hàng ghế dài đầu tiên trước sân khấu chờ phát biểu. Ban đầu ông ta nhìn quanh phòng riêng đều là thân sĩ xuất thân danh giá, trong mắt không nén được vui mừng, nửa chừng thấy phòng bao trống trải, khách khứa bên dưới cũng lục tục kéo về, nôn nóng nhìn trong Quảng Đức Lâu ngày càng vắng vẻ.

Người phụ trách quyên tiền trong buổi diễn đến hỏi Hà Vị góp bao nhiêu. Cô hỏi con số cao nhất, cộng thêm mười vạn tiền vào đó, lại bảo với người phụ trách: “Không cần giấu tên, cứ nói số tiền này lên, có thể k*ch th*ch người ta góp nhiều hơn một chút”.

Con người bản tính đua đòi, phàm là người càng có danh vọng lại càng so đo tính toán.

Cô nhờ người phụ trách mời vị huyện trưởng kia lên lầu hai, ngồi phòng bao của Hà gia.

Hà Vị bảo Quân Khương pha trà hoa cúc cho ông, hai người tán gẫu linh tinh, huyện trưởng trước khi nhậm chức từng trải qua thi cử công khai, là một người địa phương Tây Bắc ăn học đàng hoàng. Bài thi lúc trước nói đủ thứ chuyện, từ cách mạng đến tình hình thế giới. “Nói khó cũng khó, nhưng không bằng thiên tai hiện giờ”. Người nọ cười, đáy mắt mang theo bi thương.

Năm ngoái Tây Bắc hạn hán, không một giọt mưa, vụ mùa lương thực không thể thu hoạch, lương thực không thu hoạch thì không thể gieo trồng, đến mùa đông đã thấy tai hoạ tràn lan, người người ăn <i>đất Quan Âm [2]</i>, rễ cây khắp nơi không bỏ. 92 huyện thành, không nơi nào không gặp hạn, nơi chịu ảnh hưởng nặng nhất, mười nhà đã có chín nhà bỏ không, ngàn dặm đất đai cằn cỗi, xác người chết đói la liệt, nhưng thị trường hàng dân sinh làm ăn phát đạt, giá cả đều được niêm yết rõ ràng…

<i>[2] Đất Quan Âm (Kaolinit), bắt nguồn từ truyền thuyết cổ đại, khi người dân địa phương nhiễm một loại bệnh lạ gây nôn mửa, chán ăn, thầy thuốc khắp nơi không có biện pháp, sau đó dân chúng cầu xin trời cao, được Quan Âm Bồ Tát mang đất trên thiên đường xuống, xào cùng bột mì, cho bệnh nhân uống, không quá mấy ngày, tình hình chuyển biến tốt đẹp, nên người ta gọi đất đó là đất Quan Âm. Sau này, người ta gọi một loại đất sét trắng (cao lanh) ở vùng Giang Tây, TQ là đất Quan Âm vì có dạng thức tương tự câu chuyện trong truyền thuyết.</i>

“Còn thêm nạn sói”, huyện trưởng nói, “Từng bầy sói trên sườn núi đất vàng đi xuống, rất nhiều người sợ sói cắn cổ, nửa đêm ngủ đều đeo loại vòng gắn đầy gai sắt. Từ năm Quang Tự thứ ba chưa từng gặp qua nạn hạn hán nghiêm trọng như vậy”.

Phạm vi ảnh hưởng của thiên tai quá lớn, làm gì cũng như muối bỏ biển, chỉ cầu mong ông trời đổ mưa.

Hà Vị hứa quyên góp hai xe tải muối, giao cho huyện trưởng dùng để đổi lấy lương thực.

Tạ Vụ Thanh ngồi một bên từ đầu chí cuối không mở miệng.

Nhân gian hoang đường. Phần đông quan quân dưới lầu đến từ Tây Bắc đều vì chiến cuộc hoảng sợ bỏ đi, dân chúng gặp hoạ, bọn họ chỉ lo bản thân tranh quyền.



Hôm nay, cô về Bách Hoa Thâm Xử. Vì trường học chuyển thành nội trú nên Tư Niên không thường ở nhà, trong sân im ắng.

Cô vội vàng tắm rửa, xoã mái tóc dài, lười kéo rèm ngủ, nằm thẳng xuống mép giường ngoài Tạ Vụ Thanh hay nằm, hít hà mùi thuốc đông y trên gối anh, nhắm mắt thiếp đi.

Trong mơ, chú hai sốt ruột bế cô, sợ xe kéo chậm chạp, còn bị đội lạc đà cản đường nên dứt khoát cõng cô vòng quanh con ngõ nhỏ chạy về phía Đồng Nhân Đường. Lúc đến cửa Đồng Nhân Đường, đầu chú hai toát đầy mồ hôi, người ta hỏi, cậu hai Hà, sức khoẻ ngài như vậy còn chạy mấy chuyến chắc không xuống giường nổi mất, chỉ là con thừa tự, hơn nữa còn là con gái, không đáng đâu.

Lúc đó Hà Tri Hành chưa tới ba mươi tuổi, mệt đến mức mặt trắng bệch, lo lắng nói: “Mau xem giúp con gái tôi, ngã từ mái nhà xuống”.



Cô nóng đến mồ hôi đầy người, hơi hé mắt, thấy trời sáng rồi.

Có người buông rèm, ánh sáng xuyên qua khe hở chui vào phòng, lảng vảng với tro bụi trong không khí, miêu tả từng đường nét khe gạch dưới sàn.

“Về rồi à?” Giọng cô khàn khàn.

Người đàn ông “ừm” một tiếng, vén rèm lên.

“Không thoáng gió”, cô lẩm bẩm, “Hơi ngột ngạt”.

Cánh tay Tạ Vụ Thanh vòng qua người cô.

Tiếng sấm chấn động cách một bức tường truyền tới.

“Sắp mưa sao?” Cô hỏi.

Người đàn ông đáp lần nữa. Sức lực rắn rỏi trên tay anh như chế ngự linh hồn cô, cô hơi nheo mắt, nhìn người cả đêm không về. Áo khoác âu phục sẫm màu treo trên móc áo cao ngang nửa người. Nụ hôn của anh rơi xuống cổ, cô không thấy nhột nên lười so đo, cũng không muốn tỉnh.

“Nói gì đi”.

Anh cười: “Lúc này nói gì chứ?”

Đồ lót bằng lụa tuyết thanh bao lấy cơ thể, cô hơi dịch người, lườm anh, bắt gặp khuôn mặt tuấn tú ngời ngời.

Khí nóng phả vào tai: “Chờ em thức, chờ suốt hai giờ rồi”.

“Anh vẫn ở trong phòng à?”

“Viết hai trang giáo án”.

Người đàn ông này sao có thể. Từ ngõ Đông Giao Dân, anh gặp mặt lãnh sự bàn cách cứu viện người phe mình, tay châm xì gà, trao đổi từng điều kiện sinh tử với người khác. Vừa quay về phòng ngủ bình dị trong nhà, ngồi cạnh cửa sổ, lại cầm bút hút đầy mực xanh, viết hết bản giáo án này đến giáo án khác, nào là cưỡi ngựa, đấu kiếm, bắn súng, dùng đao, dựng cầu, xây thành…

Cô lo anh cứ làm việc vất vả như thế, chân không thể lành nổi.

“Nếu từ chối được, không cần thiết xã giao thì đều từ chối đi”, cô bảo, “Ai cũng biết chuyện anh sống cùng em, chỉ cần viện cớ nói em không vui là được rồi”.

“Cô hai trói Vụ Thanh ở Bắc Bình, ép anh cởi bỏ quân phục, chuyện này từ lâu có ai không biết”.

“Bản lĩnh em lớn thế à?” Cô giả vờ kinh ngạc.

“Quả thật bản lĩnh cô hai rất lớn”. Anh bật cười.

Kể từ khi quân Đông Bắc tiến vào, Bắc Bình quay về dưới quyền kiểm soát của chính phủ Nam Kinh.

Không ít quan chức cấp cao từ Nam Kinh tới đây, muốn gặp Tạ Vụ Thanh nhưng đều bị từ chối. Anh giống hệt những tên cáo già năm mươi, sáu mươi tuổi, hay bảy tám chục tuổi gì đó, nói muốn dưỡng lão, không bàn chuyện chiến sự.

“Có một người bạn đang lẩn trốn trong văn phòng bác sĩ ở Bệnh viện Dung hợp”, anh nói, “Cần phải đưa lên tàu đến Thiên Tân”.

“Anh đưa người đến bệnh viện nước Pháp ở ngõ Đông Giao Dân đi”, cô híp mắt lại, “Hai ngày nữa có một bệnh nhân người Pháp muốn…”

Hai chữ “lên tàu” vẫn chậm chạp mắc kẹt trong cổ họng, thốt không nên lời.

Mưa trong tứ hợp viện không giống những nơi khác.

Giọt mưa rơi trên giàn nho, nước bắn tung toé lên lá nho xanh biếc, còn có khóm trúc, khe đá trắng bạc, theo từng miếng ngói đen dọc bên mái hiên rơi xuống đất. Trong lu nước to đặt ở góc đông bắc, ngày ngày được Lâm Kiêu múc đầy, nào chứa thêm được nước mưa trên trời, không ngừng tràn ra ngoài sân.

Hà Vị muốn quan sát khuôn mặt anh kỹ càng nhưng rất khó, mỗi lần đều như nửa mê nửa tỉnh.

Sau khi làm xong anh có thói quen châm một điếu thuốc, hoặc làm mấy việc lặt vặt, sau đó quay về bên giường cùng cô, nếu không có gì sẽ ngủ thêm một lát, khoảng hai canh giờ. Cũng lúc làm mấy chuyện này, cô mới thấy được bộ dáng xộc xệch của anh, nhưng chỉ cần anh bước xuống giường lấy đồ hay rót tách trà nhuận họng cho cô, đều mặc ít nhất một cái quần dài, thắt lưng để mở.

“Thầy Tạ không có việc gấp”, cô mỉm cười nũng nịu, “Cũng chẳng cho em xem”.

Tạ Vụ Thanh bật cười, nhận tách trà trên tay cô, đặt qua một bên ghế.

“Đàn ông già rồi, có gì đẹp mà xem chứ?” Anh cười hỏi.

Tay cô chạm vào bao súng dưới gối, ngón tay vân vê dây da trên bao súng. Từ khi anh về, lúc nào cũng kê thứ này dưới gối ngủ, cũng thành thói quen của cô. Anh cúi đầu nhìn cô chăm chú: “Từ lần đầu anh đã không hiểu, vì sao em lại để ý tới anh”.

Cô hơi bất ngờ, nhưng vẫn mạnh miệng: “Khi đó còn nhỏ, không hiểu chuyện. Lúc anh hôn em, em cũng không muốn tránh né”.

“Vậy à”, anh cười trêu cô, “Thật ra ý bảo anh ỷ mình lớn tuổi nên ép uổng em”.

Cô nằm sấp một bên đùi không bị thương của Tạ Vụ Thanh. Hương lan ngan ngát toả trong không khí.

Tạ Vụ Thanh bế cô dậy: “Ép thì ép vậy, hiện giờ cô hai chẳng còn đường lui nữa”.

Hai người nhìn nhau cười, cô choàng cổ Tạ Vụ Thanh, dán mặt lên nửa thân trên trần như nhộng của anh, im lặng nghe ngóng một lát, bỗng thấy lạ nói: “Tim anh đập nhanh quá. Thì ra trong sách viết, lúc nằm lên người sẽ nghe thấy nhịp tim, là sự thật”.

Tạ Vụ Thanh cười, bước xuống giường, dưỡng thương đến giờ đã chóng lành, không cần dùng gậy chống vẫn tự mình đi lại được.

Anh đến cạnh bàn sách, sửa lại giáo án viết tay vừa nãy.

Hà Vị cũng đi chân trần đến cạnh anh. Cô trông thấy những mục anh viết, đều thuộc lĩnh vực cô chưa từng nghe. Nét mực xanh của bút máy ngay ngắn in trên trang giấy trắng, mỗi chữ đều như <i>“thiết hoạ ngân câu, dung dư phong lưu”. [3]</i>

<i>[3] Trích từ “Dụng bút luận” của Âu Dương Tuân – một nhà thư pháp lớn thời Đường sơ. Âu Dương Tuân để lại cho đời nhiều quy cách viết thư pháp tuyệt tác, đặc biệt là lối viết chữ Khải của ông rất được yêu thích, người sau gọi là “Âu thể”. Trong “Dụng bút luận”, ông viết: “Bổi hồi phủ ngưỡng, dung dư phong lưu, thiết hoạ vừa vặn, mị như ngân câu”. Hậu thế sau này dùng cụm “thiết hoạ ngân câu” để hình dung bút pháp uyển chuyển, trong cương có nhu, thanh thoát như nước chảy mây trôi (đại khái là khen chữ đẹp và đều ạ ^^)</i>

Trên thanh chặn giấy thuỷ tinh trong suốt có khắc chữ, có sơn đỏ phết qua, nhưng vì anh dùng lâu nên màu sơn cũng phai bớt, chỉ còn sót lại chữ khắc.

Mở đầu là “Tặng thầy Tạ”, kết thúc bằng câu <i>“Xưa nay công danh bạc như vôi, xem nhẹ kim quan như mây trôi” [4]</i>

Hẳn là quà lưu niệm sau khi dạy học ở Bảo Định. Lời này, vừa đọc đã biết nói đến anh.

<i>[4] Nguyên văn “bình sinh nhất mỏng công danh sự, khinh thường kim quan ngọc điệp tiếp”. Giải nghĩa, công danh từ xưa đến nay luôn bạc bẽo dễ thay đổi, chỉ nên xem ấn kim quan (cách gọi ẩn dụ chỉ người làm quan/chức quan) nhẹ nhàng như nước chảy mây trôi.</i>

Hôm nay lúc Tạ Vụ Thanh về nhà tâm trạng không tệ, cô đoán, người đang ẩn náu trong Bệnh viện Dung hợp hẳn là bạn rất thân của anh. Lúc trước khi anh gặp nạn, đã nghĩ cách cứu không ít người, dù lần này ra Bắc không nói rõ nhưng hẳn cũng vì cứu viện phe mình, cô biết điều đó nên đã giúp anh sắp xếp đưa người trốn đi.

Cả hai không ra ngoài nữa.

Trên bệ cửa sổ nước đọng thành vũng, lu nước mưa nhỏ trong nhà không lúc nào vơi.

Ga giường trong phòng ngủ như mang theo hơi ẩm, mấy lần cô kéo phẳng lại bị làm rối tung, cô liền lười vuốt lại. Phòng ngủ này cũng chỉ có hai người họ ở, khi trời tối vẫn phải ngủ tiếp.

Tạ Vụ Thanh tóc ngắn nên dễ thấm mồ hôi, cô ôm cổ anh, vuốt mái tóc ngắn ra sau, che đi mấy sợi tóc bạc: “Sớm biết có ngày này, ngay lần đầu tiên gặp anh đã ở bên nhau”.

Anh cười: “Đạo lý rất đúng”.

Cô muốn ăn chân giò hun tương Thiên Phúc ở khu Tây Đơn, Tạ Vụ Thanh bèn đích thân ra ngoài mua về, bánh nướng vừng vừa bán hết, may mà Quân Khương tới đúng lúc, cùng cô nướng bánh vừng. Quân Khương cười nhạo Tạ Vụ Thanh chỉ biết mua chân giò, định làm mọi người ngán chết à, sau đó đứng trong phòng bếp rửa tay sạch sẽ rồi băm thịt, định nướng bánh nhân thịt cho họ.

Quân Khương còn mang theo một cái hộp gỗ, trước khi vào bếp đã đặt sẵn hộp lên bàn đá giữa sân, bảo: “Giám đốc Hồ nhờ người mang đến”.

Lúc đó, Tạ Vụ Thanh đang ngồi hút thuốc trên sô pha trong chính phòng.

Hà Vị khẽ gõ cửa kính, gọi anh ra ngoài, thấy anh định lấy gậy chống, cô lại khoát tay, tự mình ôm hộp gỗ vào trong: “Vốn định rủ mọi người cùng xem, thôi cho anh xem trước vậy”.

Cô mở khoá đồng, nhấc nắp gỗ, là một máy phát thanh kiểu dáng mới nhất. Không có loa ngoài.

“Hồ Thịnh Thu nói nhất định phải làm xong thứ này mới dám tới thăm anh, phải cho anh biết mấy năm qua hắn không uổng phí”, Cô mỉm cười bật máy, trong tiếng vang rè rè tìm kênh phát thanh. Chốc lát sau, tiếng kịch hát sàn sạt vang lên, chính là cái này.

“Biết thứ này có gì khác không? So với quá khứ ấy?” Cô như phát hiện kho báu, lập tức hỏi.

“Tinh xảo hơn nhiều”.

“Chính là loa thu âm, loại loa này trước đây đều nằm ở ngoài. Nên nó càng thuận tiện di chuyển, tiện mang theo bên người”.

Cô luôn thích chế tạo đồ cách tân hơn cả việc làm ăn buôn bán.

Lúc ở Thiên Tân, rất nhiều người thấy lạ vì sao cô không quan tâm việc kinh doanh muối, rõ ràng là làm ăn kiếm lợi. Nhưng với cô mà nói, đó chỉ thuần là buôn bán. Mà quá trình từ muối thô thành muối tinh luyện mới là thứ công nghiệp cô hằng theo đuổi.

Ban đầu khi chưa có kỹ thuật sản xuất muối tinh luyện, hàm lượng natri clorua có trong muối thô rất thấp, người tây dương cười chê dân trong nước ăn muối thô không khác gì cạp đất. Sau này khi bao muối tinh luyện đầu tiên xuất hiện, trên bao bì in dòng chữ Hải Vương. Đó trở thành sự lãng mạn của các nhà công nghiệp.

Cô cũng cảm nhận được sự lãng mạn ấy và muốn chế tạo những món đồ tân thời hơn.

Thời gian này, trên radio có phát một vở hí khúc, được các chuyên gia trong đài phát thanh sử dụng đĩa keo đen ghi âm lại rồi phát lên.

“Chờ khi nào anh đi tiếp thì mang theo thứ này, em sẽ đàn một khúc dương cầm phát trên radio cho anh nghe”. Cô nói, như thể đã quen với việc chiến sự cấp bách, anh thường phải xa nhà.

Ngoài cửa sổ, Quân Khương hỏi Khấu Thanh có mua hành không, nếu không có hành sao làm bánh nướng nhân thịt được, Khấu Thanh trả lời, Lâm đội trưởng đi mua rồi. Lần này vào kinh, chưa được mấy ngày Khấu Thanh đã thay đổi xưng hô với Lâm Kiêu, hiện tại hắn không còn gọi là phó quan nữa, là trở thành đội trưởng đội cảnh vệ, thế nên Khấu Thanh cũng sửa danh xưng cho đúng.

Quân Khương cười trách Khấu Thanh, sai ai không sai, lại sai một người không biết phân biệt <i>hành lá [5]</i> đi, lỡ như mua nhầm hành hương về, bánh nhân thịt sẽ hỏng mất. Khấu Thanh đáp, người ta là đại đội trưởng, không thể ngốc đến nỗi hành lá cũng không phân biệt được…

<i>[5] Theo mình tra thì, hành lá Quân Khương muốn mua là loại hành thân to (hiện nay gọi là hành baro), còn hành hương sợ Lâm Kiêu nhầm là loại hành nhỏ bình thường mình hay ăn. </i>

Hai người cười khanh khách, hàn huyên về hành lá và Lâm Kiêu.

Tạ Vụ Thanh dập tắt đầu thuốc.

Hà Vị đang chỉnh máy phát, tóc dài chấm eo, vì ngồi xổm nên ngọn tóc chạm lên mắt cá chân cô.

“Vị Vị”.

Cô nhỏ nhẹ bảo: “Thầy Tạ nói đi”.

Anh v**t v* tóc cô: “Anh hẳn đã tích rất nhiều công đức mới được em coi trọng như vậy”.

“Đúng là người già, lúc nào cũng tự ti”, cô trêu ghẹo anh, “Khi thiếu tướng quân mới vào kinh, lăn qua lộn lại trong mấy nơi son phấn, không phải dõng dạc tuyên bố — ‘nếu động tâm với tôi, chính là không có đường lui’ sao”.

Tạ Vụ Thanh bật cười, nhéo chóp mũi cô: “Đã nghe trộm người ta nói chuyện điện thoại, còn mạnh miệng thế à?”

Cô chun mũi, trả máy phát vào hộp gỗ, đây là sản phẩm đầu tiên nhà máy họ chế tạo thành công, có ý nghĩa rất lớn, không thể tuỳ tiện đặt lung tung: “Nói chuyện chẳng đứng đắn gì cả”. Đàn ông lớn tuổi đều nghĩ một đằng nói một nẻo.

Anh vừa dọn dẹp mấy đầu thuốc trong gạt tàn, ở đây không chỉ có anh mà hôm qua còn thêm mấy vị sĩ quan đến họp.

Có điều vừa nghe cô nói thế, anh đưa tay về phía hộp thuốc, gõ nhẹ một điếu: “Lời đứng đắn nói thế nào?” Anh quẹt que diêm, châm thuốc, toát ra khí chất phong lưu.

“Anh yêu em”, anh cười hỏi, “Lời này có tính không?”

Hay tay cô ôm hộp gỗ bỗng cứng đờ, cô đứng sững ở đó, như đã quên hết mọi ngôn ngữ trên đời.

Cô… chỉ đùa với anh, không ngờ anh lại nói lời này.

“Năm 1922, hai nơi Kinh Tân đều biết chuyện, Vụ Thanh cho rằng cô hai rõ ràng hơn ai hết”, anh nhìn thẳng vào cô, như phát hiện một cô gái trăm ngàn mong cầu mà không có được, anh nói tiếp, “Anh từ phương Nam đến, không biết người phương Bắc theo đuổi con gái thế nào. Năm ấy thật sự đã phí không ít công sức, lại không nắm được trọng điểm, sợ khi về Nam, cô gái ấy sẽ gả cho người khác”.

Cô bị trêu, buồn cười: “Lại nữa rồi, nói chuyện không nghiêm túc”.

Anh không rời mắt khỏi cô, cười nói: “Tất cả đều là những lời nghiêm túc”.

Tạ Vụ Thanh lấy áo sơ mi khoác trên tay vịn sô pha, mặc lên người, cài từng cúc áo ngay ngắn. Áo cổ đứng thẳng thớm, anh đỡ sô pha chầm chậm đứng dậy, nhàn nhã bước ra ngoài. Khi anh đến Tây Đơn mua chân giò cho cô, bảo xe vòng tới Tấn Bảo Trai mua thêm một hộp thức ăn.

Không nói cho cô biết, muốn tặng cô một bất ngờ.

Hà Vị nghĩ anh đến sương phòng có việc, chỗ đó có hai sĩ quan chuyên lo việc giấy tờ.

Khấu Thanh nhảy chân sáo đến trước mặt cô, ghé vào tai cô nói: “Vừa rồi Lâm Kiêu ở phòng bếp bảo với chúng em, trong lòng tiếu tướng quân rất thương cô hai, năm đó, khi cô hai gợi ý ngài dùng bạch thoại trong thư nhà, ngài liền mượn hết những bức thư từ người thân quan quân trong doanh đến trướng quan sát học hỏi”.

Gió thu thổi qua mặt, mưa phùn lộp bộp rơi trên má.

Cô đứng bên khung cửa, nhìn theo Tạ Vụ Thanh khuất sau màn mưa phùn, chậm rãi bước vào sương phòng phía đông. Anh luôn có kiêu ngạo của mình, từ lúc có thể tự đi đứng, liền không dùng gậy chống nữa.

Một vị tướng quân khắt khe với bản thân, nhưng lại dùng nhân nghĩa trị quân.

Lâm Kiêu kể, biên cảnh phương Nam lúc tiền triều gươm giáo sẵn sàng, nhưng vì người ẩn sâu núi rừng, nên khi nhà Thanh bị diệt, tin tức không kịp truyền đến. Đoàn <i>binh bím tóc [6]</i> vẫn ở đó đối đầu với quân địch, trấn thủ biên cương. Tạ Vụ Thanh dẫn người đến, giúp họ thay đổi quần áo mới, dạy họ cắt bỏ bím tóc cũ. Ngày đó anh đến trước mặt những binh lính già trẻ kia, dõng dạc tuyên bố, nếu có ai nguyện rời đi, anh vẫn sẽ biết ơn vì bao năm họ vất vả giữ gìn biên cương, dùng tiền tiếp tế của tiền triều phát quân lương, hộ tống họ một đường về quê an dưỡng, nếu có ai nguyện ở lại, ngay lập tức nhận huấn luyện quân đội kiểu mới.

<i>[6] Đoàn binh bím tóc là cách gọi chỉ bộ phận binh lính cuối triều Thanh, đầu thời kỳ chuyển giao, họ vẫn để tóc dài, thắt thành bím thả sau đầu.</i>

“Tôi tòng quân vì giữ gìn lãnh thổ quốc gia, cũng giống như các vị ở đây, không có gì khác biệt”, thiếu niên Tạ Vụ Thanh nói trước mọi người, “Nếu có một ngày Tạ Vụ Thanh mưu lợi cho bản thân, bất kỳ kẻ nào trong quân, bao gồm cả những người quyết định ở lại đây, đều có thể rút súng bắn chết tôi. Lời thề này, đến chết không đổi”.

Lâm Kiêu cũng nằm trong số những người đó, bắt đầu từ ngày ấy thề chết đi theo Tạ Vụ Thanh.

— HẾT CHƯƠNG 49 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 50: Đêm tàn xem sơn hải (1)


Sáng nay.

Tạ Vụ Thanh không có trong phòng, cô tỉnh lại một lát, liền cột tóc xuống giường, mang giày lụa mỏng bước ra ngoài.

Trời vẫn còn sớm, chỉ vừa hừng đông. Ngoại trừ hai quan quân đang trực canh, chưa ai thức dậy.

Tạ Vụ Thanh ngồi trên ghế đá, nhìn mảnh vườn nhỏ trồng rau phía dưới khóm trúc của ông bác. Dù Hà Vị bước khẽ thế nào cũng bị anh phát hiện ngay tức khắc. Anh duỗi tay ôm eo cô, đặt cô ngồi lên đùi.

Trong sương phòng phía Tây có tiếng máy đánh chữ, có lẽ ai đó đang chỉnh sửa lại tư liệu viết tay.

Hà Vị ôm cổ anh, ngồi xuống: “Thức sớm vậy, đang xem vườn rau à?”

“Xem cả cây trúc nữa”, anh nhìn khóm trúc, nhẹ nói, “Phương Bắc không có nhiều trúc, chờ sau này có cơ hội dẫn em về Nam, khắp núi mọc đầy tre trúc, sau mùa mưa, tầm khoảng thời gian này, lên núi đào được không ít măng”.

Anh hỏi cô, có từng thấy ruộng bậc thang chưa?

Chưa được mấy câu đã kể tới bản Tráng bản Miêu, bản làng nằm khuất trong núi, nhà gỗ nối tiếp nhà gỗ, khi trời tối thì thắp đèn dầu. Giống như hoán đổi vị trí với sao trời trong bóng đêm, dường như toàn bộ bản trại đều ẩn sau mây mù, từng đốm sáng lập loè ẩn hiện. “Lúc ấy có người ở Bảo Định theo anh đến Vân Quý, vừa mới vào núi, nửa đêm nghe tiếng ình ịch ình ịch, tưởng có quỷ. Lùng sục mấy ngày mới phát hiện, thì ra có người nhân lúc cả bản đi ngủ, chạy lên đồng cỏ nhuộm quần áo”.

Tạ Vụ Thanh kể vào thời mạt Thanh dân cư thưa thớt, vẫn chưa xây dựng đường bộ, phải vòng từ Hồng Kông đến Hà Nội, Việt Nam rồi mới về lại cố hương. Lại kể sau này khi anh mang binh đến Quảng Tây, vượt qua mười vạn núi cao quanh lưu vực sông Li Giang, anh nhớ mình bắt được mấy tên cướp rồi dẫn theo chúng đến Hà Nội: “Trong đội có người dân tộc Choang, tiếng nói hơi tương đồng với ngôn ngữ bên kia, có thể trao đổi vài câu”.

Cô đoán, anh đang nhớ quê.

Hà Vị ôm siết cổ anh, khẽ nói: “Nơi này cũng là nhà của anh, hôn em đi”.

Dưới ánh nắng ban mai, anh nhìn nhìn cô chăm chú, mãi lúc sau mới cúi đầu m*t lấy môi cô.

Đọc Full Tại Truyenfull.vn

Một quan quân canh trực bên ngoài xách theo thùng nước trở về, mới từ giếng nước trong ngõ nhỏ bước tới liền nghiêng người đứng trên bậc thang, nép sau cánh cửa. Để lộ một góc thùng gỗ lắc lư, nước sánh đầy thềm.

Cô thì thầm vào cổ anh: “Hiện tại tâm trạng tốt hơn chưa?”

Tạ Vụ Thanh mỉm cười, nói nhỏ: “Chỉ nhìn cây trúc một lát, ai bảo không tốt chứ?”

Không hiểu vì sao, cô linh tính được sớm muộn gì Tạ Vụ Thanh cũng phải đi, lần nữa xuôi Nam.

Rõ ràng anh chỉ liếc mắt nhìn khóm trúc trong Bách Hoa Thâm Xử, đã có thể kể mấy chuyện lúc còn dẫn binh ở phương Nam.

Nhóm quân phiệt Tây Bắc lần lượt rời khỏi Bắc Bình, chuyện diễn kịch quyên tiền cứu trợ các tỉnh phía Tây cũng không thành công.

Hôm nay, trong lúc cô ở văn phòng công ty vận tải đường thuỷ, nhìn thấy cô bảy từ Giang Chiết trở về, hai cô cháu ngồi nói chuyện vui vẻ, thư ký bỗng trình lên một tấm danh thiếp, là của vị huyện trưởng từng gặp ở Quảng Đức Lâu ngày trước.

“Là ai vậy? Chưa từng nghe con nhắc tới?” Cô bảy nhìn tên người trên danh thiếp.

“Một vị huyện trưởng ở Tây Bắc”, cô bảo thư ký mời người đó vào phòng tiếp khách bên cạnh, pha một ấm trà chiêu đãi, “Hai năm nay Tây Bắc gặp hạn, bọn họ đến Bắc Bình xin cứu trợ”.

Cô bảy thở dài, hất bím tóc suôn mượt ra sau lưng: “Ở đó đúng thật rất thảm, có người treo biển bán vợ con, giá niêm yết rõ ràng. Có người còn tự bán thân, chỉ mong không chết đói”.

Hà Tri Hân có thói quen, mỗi lần ngồi xuống đều kéo bím tóc lên vai, khi muốn đi thì hất ra sau. Cô bảy đến nay chưa lập gia đình nên không thích uốn tóc, vẫn giữ sở thích trong quá khứ, một khi tẩy trang bước xuống sân khấu, chỉ mặc kiểu áo dài cổ xưa, dáng người cùng khí chất không cần dựa vào váy áo yểu điệu của phụ nữ cũng mang lại cảm giác phong lưu.

“Con gặp khách đi, ta đi xem bạn cũ”. Hà Tri Hân nói.

“Cô có biết Chúc tiên sinh cũng đang ở Bắc Bình không?” Lúc cô bảy đẩy cửa kính, Hà Vị bất chợt hỏi.

Hà Tri Hân vịn tay cầm, kinh ngạc quay đầu.

Hà Thất tiên sinh năm xưa vang danh khắp kinh thành, ngay cả trước mặt quân phiệt nắm quyền cũng dám hất hàm kiêu ngạo, ấy vậy mà giờ vì một người xưa lại thất thần trước cháu gái. “Làm giáo viên trong một trường sư phạm”, Hà Vị bảo, “Nếu cô muốn gặp, để cháu tìm cách hẹn người đó tới”.

Hà Tri Hân yên lặng một thoáng, nhỏ giọng nói: “Lần này ta quay về Bắc Bình để bái kiến ân sư, bày tiệc linh đình không ai không biết. Nếu hắn muốn gặp ta, hẳn sẽ tự đến. Nếu hắn đã không muốn, cần gì phải dối gạt người khác?”

Dứt lời, đẩy cửa đi mất.

Hà Vị gặp vị huyện trưởng kia, bàn chuyện quyên góp muối, trong đầu vẫn miên man nhớ đến lời của cô bảy.

Nửa tháng nay Tạ Vụ Thanh không ở Bắc Bình, anh đi Phụng Thiên.

Anh rất hứng thú với xưởng sản xuất công nghiệp quân sự ở Phụng Thiên, trước kia bởi vì Nam – Bắc giằng co, cho dù có đến cũng bị người ta đề phòng, không xem đủ. Lần này vừa đi đứng lại bình thường, anh liền gấp đến chờ không nổi mà ra Bắc.

Hai người giống mấy đôi nam nữ mới yêu đương, gửi điện báo qua lại mỗi ngày. Lúc kể chuyện xưởng công nghiệp quân sự, kể về Phụng Thiên, anh bảo ở thành Phụng Thiên có miếu Hồ Tiên, nằm dưới vọng lâu Đông Nam. Cô đáp lời, ở Bắc Bình có một tháp tên Hồ Tiên, cũng nằm ở vọng lâu Đông Nam.

Trong điện báo hai người nói từ Hồ Tiên đến vọng lâu Đông Nam, cuối cùng kết luận Phụng Thiên và Bắc Bình có điểm tương đồng, âu là vì <i>Tát Mãn giáo [1]</i> từ thời Mãn Thanh.

<i>[1] Tát Mãn giáo, hay còn gọi là Shaman giáo, là một hình thức tôn giáo cổ xưa và rất thịnh hành đối với dân tộc Mãn (Đông Bắc, TQ). Thông qua người môi giới (thường gọi là thầy Vu, thầy Mo) để giao tiếp với các đấng thần linh, truyền đạt nguyện vọng và cầu xin mong muốn với họ. Đối tượng thờ cúng của họ thường là những vị thần có nguồn gốc từ động vật tu Tiên như Chuột Tinh, Gà Tinh, Rắn Tinh (Hồ Tiên Miếu ở đây là Hồ Ly Tinh ạ)</i>

Điện báo ngắn gọn hàm súc, người ngoài nhìn chẳng thấy thú vị, chỉ duy hai người họ vô cùng thích thú.

Sau khi tiễn huyện trưởng về, thư ký mang đến một bức điện tín.

Hà Vị mở tờ giấy sao chép điện tín: Ngõ Áo Tơi, cái tên này thú vị thật.

Cô sửng sốt, ý anh nói là <i>ngõ Nam La Cổ? [2]</i>

Tạ Vụ Thanh về Bắc Bình rồi?

<i>[2] Ngõ Nam La Cổ thuộc quận Đông Thành (Bắc Kinh, TQ), được xây dựng từ thời nhà Nguyên, chạy dọc theo hướng Nam Bắc, dài khoảng 800 mét. Đây được xem là con ngõ có lịch sử lâu đời nhất Bắc Kinh và được bảo toàn nguyên vẹn nhất cho tới nay. Thời trước, ngõ Nam La Cổ là nơi sinh sống của rất nhiều vương hầu, văn nhân làm quan trong triều, đến nay con ngõ vẫn giữ được khối kiến trúc tứ hợp viện hoàn chỉnh. Ngõ Nam La Cổ là một trong những địa điểm tham quan không thể bỏ qua khi đến Bắc Kinh và từng được tạp chí TIMES công nhận là 1 trong số 20 điểm đến lý tưởng khi du lịch châu Á.</i>

Suy nghĩ này vừa xuất hiện đã bị tiếng chuông điện thoại trong tay cắt đứt.

Hà Vị nhấc ống nghe, kề sát bên mặt.

Tiếng hít thở thuộc về riêng Tạ Vụ Thanh, không giống với ai khác. Cô không thể nói rốt cuộc là khác nhau ở điểm nào, chỉ biết chắc chắn là anh.

Đọc Full Tại Truyenfull.vn

“Vừa nãy đi ngang qua Bạch tháp”, giọng nói của Tạ Vụ Thanh từ đầu bên kia truyền đến, “Nghĩ lúc nhỏ em có thường đến không”.

Bạch tháp ư? Quả nhiên anh đã về Bắc Bình.

Trái tim cô phiêu đãng, nhẹ “vâng” một tiếng: “Thường đến ạ”.

“Sau đó xe chạy qua ngõ Nam La Cổ, lại nghĩ, em từng đến đó chưa”.

“Vâng, cũng thường đến”.

Hai người cả tháng không gặp mặt, cùng cầm ống nghe mỉm cười.

“Lúc trước mỗi khi rời khỏi Bắc Bình, thường nhớ tới em, nhưng có thể chịu đựng được. So với việc để em vất vả khổ cực, lưu lạc khắp nơi cùng anh, để em ở lại Bắc Bình càng ổn thoả. Nhưng lần này đến Phụng Thiên”, anh chợt im lặng một lát rồi nói tiếp, “Anh hình như không nghĩ thế nữa”.

Cô nhìn hình bóng phản chiếu khuôn mặt mình trên tủ sách thuỷ tinh, đang cười sao.

“Trước khi quen em, anh từng nghe rất nhiều chuyện, có liên quan đến quan hệ cha con giữa em với Hà Nhị tiên sinh”, anh bảo, “Khi đó, anh luôn cố đè áp ý nghĩ đưa em đi, vì biết em muốn giữ tròn chữ hiếu. Hiện tại Hà Nhị tiên sinh đã qua đời, Vị Vị, em có bằng lòng suy nghĩ một chút, cùng anh xuôi Nam không?”

Hà Vị hơi xoay người, tựa vào bàn làm việc: “Anh đến Bắc Bình rồi à? Sao không gặp mặt nói trực tiếp?”

“Phải, anh đang ở Bắc Bình”.

Tạ Vụ Thanh đáp: “Mấy năm qua, mỗi lần trực tiếp hỏi em có chịu xuôi Nam cùng anh không, đều bị cô hai từ chối. Lúc này muốn đổi cách, có lẽ, sẽ có chút hy vọng”.

Mắt cô nóng bỏng.

Nhớ lại đúng thật là cô đã không ít lần từ chối anh. Cô yêu Tạ Vụ Thanh nhưng không tài nào theo anh đi được.

“Lần trước, anh lấy công danh nửa đời, cùng trọng binh hai tỉnh cũng không lay chuyển được em”, anh bảo, “Kỳ này, muốn thử lại lần nữa”.

Cô nghẹn đắng.

Hai con người cùng ở Bắc Bình, đã xác nhận quan hệ vợ chồng, lại nói những lời như thế qua điện thoại.

Từ khi quay về Bắc Bình, cô đợi suốt trong viện nhỏ để gả cho anh, chỉ cần gả từ sương phòng đến chính phòng. Nhưng anh luôn bảo chưa phải lúc, không thể qua loa như vậy. Cô muốn kết hôn, anh lại lên kế hoạch đưa cô xuôi Nam.

“Em… chưa từng nghĩ sẽ rời khỏi Bắc Bình, từ nhỏ đã lớn lên ở đây, thành thói quen khó bỏ”. Âm thanh cô run rẩy, khó bình tĩnh lại.

“Nhưng giờ phút này, không muốn làm chậm trễ anh”, cô dịu dàng thì thầm, “Trước đây, lần nào cũng là anh ra Bắc gặp em. Sau này, em không muốn anh lại mạo hiểm nữa, ít nhất không cần vì để gặp em mà mạo hiểm tính mạng”.

Cùng Tạ Vụ Thanh, dẫn theo Tư Niên, sắp xếp lộ trình đơn giản nhất, bí mật nhất, một nhà rời đi.

Ý nghĩ này khiến tim cô đập mạnh đến mức đau ngực.

Một chốc lặng yên, như quay lại hành lang dài bên trong Cung Vương Phủ.

Anh nói, anh không thể không đi, cô bảo, cô không thể không ở lại.

Tạ Vụ Thanh im lặng rất lâu, lâu đến mức làm lòng cô hoảng hốt: “Sao không lên tiếng?”

“Anh đang ở khách sạn Lục Quốc”. Hỏi một đằng, anh trả lời một nẻo.

“Xe đón em đang chờ ngoài cửa”, Tạ Vụ Thanh bổ sung, “Ngoài cửa công ty vận tải đường thuỷ”.

Ống nghe im lặng một lúc trong tay cô. Chẳng lẽ đi ngay bây giờ? Tư Niên còn ở trường học, làm sao tới kịp.

“Anh có người thân vào kinh, muốn gặp em một lần”. Anh lại nói.

Hà Vị thoáng thả lỏng, mặc áo khoác cùng váy trắng, vội vàng chạy ra.

Một chiếc xe màu đen đã đợi từ lâu. Không biết là người thân thế nào khiến anh phái xe đến đón cô trịnh trọng như thế.

Bắc Bình vào đầu thu, trước mắt ngập sắc vàng.

Xe chạy qua đại lộ rộng rãi, rẽ ở lối vào ngõ Đông Giao Dân.

Đọc Full Tại Truyenfull.vn

Phía trước có hàng rào sắt chắn ngang, xe đưa cô đến bên ngoài ngõ Đông Giao Dân, vốn muốn chạy vào nhưng không hiểu sao lại bị ngăn lại, chỉ nói hôm nay ngõ Đông Giao Dân tấp nập, không cho xe tới lui. Trời sắp tối, có người đi bộ vào trong, muốn đến bưu cục lãnh sự quán Đức gửi thư cho người thân, Hà Vị vừa bước xuống xe bị người đó hỏi, lãnh sự quán Đức ở chỗ nào, cô liền chỉ đường cho họ.

Cô theo con đường lát đá dẫn đến cổng vào khách sạn Lục Quốc, băng qua cửa xoay.

Giày cao gót giẫm lên mặt thảm, không có tiếng động. Cửa kính sau lưng cô xoay tròn.

Cách mười mấy bước chân, người đàn ông chờ cô đang đứng đó, phía cuối thảm sàn, dưới cầu thang gỗ đỏ son. Trên người anh mặc trang phục đã lâu không dùng, là quần và ủng quân đội. Áo sơ mi trắng được là thẳng thớm, vừa vặn ôm lấy thân trên, cổ áo sơ mi không đóng, hơi mở ra… Anh vĩnh viễn giống hệt cái đêm họ lần đầu gặp gỡ, vẫn là chàng thiếu niên nổi danh năm ấy.

Tạ Vụ Thanh như đợi rất lâu, hai tay chắp sau lưng, đùa nghịch cây bút máy đen. Anh mang theo tâm sự, đầu ngón tay không ngừng đóng mở bút máy, tạp âm “lạch cạch” theo quy luật hết đóng lại mở, cứ lặp đi lặp lại vang lên từ lòng bàn tay anh.

Có chút giống tiếng đồng hồ nước, từng giọt từng giọt rơi xuống đếm thời gian.

Khoảnh khắc anh trông thấy Hà Vị, nắp bút đóng lại hoàn toàn, đưa cho một thanh niên đứng phía sau. Khuôn mặt người nọ xa lạ, có lẽ vừa từ Phụng Thiên đến.

“Bên ngoài có người chặn lại, xảy ra chuyện gì thế?” Cô cảnh giác nhẹ giọng hỏi.

“Không có gì đâu”, anh đáp, “Bạn học ở Bảo Định đến”.

Trùng hợp thế à?

Ngoài cửa phòng khiêu vũ của khách sạn Lục Quốc có đặt một tấm biển đãi tiệc, người dẫn đầu vẫn như trước là tiểu công tử Đặng gia, tên luôn đặt thứ nhất. Lúc trước khi ghi tên này lên tấm biển đã khiến ông chủ Thái Phong Lâu vốn quen tiếp khách là hậu duệ quý tộc phải khiếp sợ, hiện giờ khi cái tên ấy lần nữa được ghi lên, hắn đã sớm là một tên vô danh nghèo túng, không thể so với vị quý nhân không ai chạm được trước kia.

Sau khi trường quân sự Bảo Định đóng cửa và buổi họp mặt bạn học tan tác, cho đến nay, rất nhiều người trẻ tuổi đã quên mất ngôi trường từng đào tạo vô số tướng lĩnh lừng danh này. Nhưng khi vừa trông thấy những cái tên của hội bạn học Bảo Định trên biển, cô như được nhắc nhớ lại ngôi trường từng một thời huy hoàng ấy.

Dưới tên khách khứa, phía cuối cùng liệt kê thêm giảng võ đường Tây Giang, giảng võ đường lục quân Vân Nam cùng bảy tám cái giảng võ đường khác nhau, những nơi này hiện giờ đã sớm biến mất, hoặc may hơn thì thay tên đổi hiệu… Bày ra trước mắt, giống như chỉ mới hôm qua.

Binh lính gác trước cửa vừa trông thấy Tạ Vụ Thanh, lập tức mở cửa mời vào.

Trong phòng khiêu vũ, khắp nơi đều là đàn ông mặc quân trang, là quân trang vào mười mấy năm trước. Vì mỗi người đến từ mỗi tỉnh khác nhau nên kiểu dáng quân phục cũng không giống, có một số người sau khi tốt nghiệp bỏ việc tòng quân đi theo văn chương, giờ phải lục tìm đồng phục năm đó của trường quân sự mặc lại.

Như quay về thời điểm Cách mạng Tân Hợi diễn ra.

Mỗi một người đàn ông đang hàn huyên với nhau bên bàn tiệc trải khăn trắng, ngồi trên sô pha hay cạnh sàn nhảy, đều không hẹn mà cùng nhìn cô chăm chú, vừa mờ mịt, vừa lễ phép. Đối với họ mà nói, Hà Vị nhỏ tuổi, xem như thuộc lứa con cháu, nhưng vì cô là vợ của Tạ Vụ Thanh nên không thể thiếu lễ nghi nên có.

“Đây đều là bạn của anh sao?”

“Đồng môn ngày xưa, còn có học trò”.

Tạ Vụ Thanh khoác áo ngoài quân phục, ngồi ngay trước mặt.

Bàn tròn cạnh sàn nhảy có Bạch Cẩn Hành và Đặng Nguyên Sơ, còn có người đàn ông ném cái đồng hồ vào mâm bạc, hù doạ cha ruột Hà Vị một phen. Vị tiên sinh năm đó lớn nhất cả đám, hiện giờ đã bước sang tuổi xế chiều, ý cười trên mặt lộ rõ vẻ già nua.

Sau này mấy lần đến Cung Vương Phủ, cô từng gặp lại vị Thiệu tiên sinh này.

“Cô hai”.

“Thiệu tiên sinh”. Cô mỉm cười.

“Anh Thanh mời tôi làm người chứng hôn cho hai người”, Thiệu tiên sinh chỉnh trang quân phục đã lâu không mặc, cười nói.

Trong lòng chấn động, cô nhìn Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh hơi cười, cũng không rời mắt khỏi cô.

“Tôi bảo, hiện giờ thanh danh của cô hai rất lớn, chưa chắc chịu nhận một người rớt đài như tôi”. Thiệu tiên sinh cười nói, “Tôi có chuẩn bị sẵn bản thảo rồi, cô hai có muốn nhìn qua chút không?”

Hà Vị như quên hết mọi ngôn ngữ.

“Có hơi đơn sơ”, bàn tay dưới bàn của anh khẽ nắm lấy đôi tay đặt trên đầu gối của cô, “Nhưng chí ít cũng có người thân bạn bè đầy đủ. Vốn anh còn định mời hoa đồng, nhưng sợ phóng viên bên ngoài chụp được, nên bỏ qua bước này”.

Cô nhìn chằm chằm Tạ Vụ Thanh, nhìn thật lâu thật lâu rồi bất chợt cúi đầu, nước mắt rơi xuống.

Thiệu tiên sinh cười một cái rồi rời đi, chuẩn bị nghi thức chứng hôn.

Khách khứa cùng bạn bè lần lượt xuất hiện. Cô bảy đi vào từ cửa hông, đến bên bàn tròn, cười nhìn cô: “Chú chín con bảo, có quá nhiều người chú ý đến ông nên không tới được, để ta toàn quyền đại diện Hà gia”.

Cô không biết đáp gì cho phải, giống như bị người ta đẩy vào một giấc mộng. Là giấc mộng bên trong Tứ Cửu Thành.

“Hôm nay anh được cha giao phó, đến gả em”, Bạch Cẩn Hành cười nói, ngồi xuống cùng bàn cô bảy, “Bên gia đình mẹ ruột cô dâu”.

Mà trên bàn nhà chú rể, chỉ có một mình cô ba Trịnh gia ngồi. Có lúc Trịnh Độ ghé lại gần, ngồi xuống cạnh chị gái, lại bị chị ấy đuổi đi. Cả một bàn lớn nhưng ghế ngồi trống trơn, đều là người nhà Tạ gia.

Cách xa một chút, là những người có quan hệ tốt với cô hai Tạ như công sứ Nga, công sứ Pháp, ngồi bàn cho khách.

Giống như Tạ Vụ Thanh đã phát hết thiệp mời, chỉ chừa một mình cô dâu, còn lại không ai không biết tiệc cưới của họ.

Anh không mặc trang phục của chú rể, chỉ dùng quân phục thay thế, nhưng nhìn qua lại phù hợp với khách khứa mặc quân trang ngồi đầy ở đây, bên ngoài binh lính canh giữ. Vì là ngõ Đông Giao Dân nên phóng viên khó đi vào, tin tức cũng rất khó lọt ra, cho dù có người nhìn thấy danh sách toàn khách quý trong phòng khiêu vũ muốn trộm nghe ngóng, nhìn vào, thấy quân nhân mặc quân phục cũ kỹ ngồi đầy phòng cũng chỉ có thể suy đoán là — buổi tụ hội của những cựu sĩ quan không cam lòng rời khỏi sân khấu lịch sử.

Những nhóm quan quân từng xả thân vì cuộc Cách mạng Tân Hợi, lật đổ triều đại cũ thối nát, đều tụ về nơi này, để chứng kiến một hôn lễ không thể truyền ra ngoài.

Tạ Vụ Thanh tặng cô một lễ cưới, xa xỉ nhất cũng chỉ là công huân của những người ngồi đây. Đơn sơ như thế, nhưng đều thành tâm thành ý.

— HẾT CHƯƠNG 50 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 51: Đêm tàn xem sơn hải (2)


Thiệu tiên sinh giống hệt chủ trì lễ tốt nghiệp, từ bàn tròn giữa đi xuyên qua, đến phía sau một cái bục phát biểu nhỏ bằng gỗ ở góc đông nam sàn nhảy. Ông mở tờ hôn chứng, đặt trước mắt.

“Tôi và Tạ Vụ Thanh quen nhau ở Bảo Định, cũng giống chư vị có mặt ở đây. Có điều, tôi và cậu ấy còn có một mối quan hệ sâu xa khác, vào thời Thanh mạt, Tạ lão tướng quân mở không ít giảng võ đường, cha tôi từng là học trò của Tạ lão tướng quân”, ông ngước mắt, không cần nhìn, bản nháp kia đã sớm ghi tạc trong lòng, “Năm ấy, cậu từ phương Nam tới. Đứa con trai út của Tạ lão tướng quân, người duy nhất còn sống, những lời này đều là cha tôi nói trước khi cậu ta đến. Tôi nhận gửi gắm của cha, đến sân ga đón cậu ấy, nhưng không gặp, lúc quay về giảng đường trường học, nhìn thấy cậu đang sắp xếp giường đệm. Trong rương hành lý lúc đó, ngoại trừ hai bộ quân phục, áo sơ mi và đồ lót, toàn bộ đều là bản thảo binh thư do cha cậu viết tay, trên đường ra Bắc vẫn luôn chỉnh sửa mấy thứ này”.

Năm đó, triều Thanh chưa diệt vong, trường quân đội chưa thay tên. Tạ Vụ Thanh mới mười mấy tuổi đầu đã một mình ra Bắc.

“Lúc cậu ấy vừa vào Bảo Định, trong kinh có người đặc biệt kêu xe đón tiếp, nói muốn cậu vào kinh gặp mặt các vị chú bác quen biết. Vì là tiệc riêng nên tôi bảo, nhóc con, cậu đổi quân phục thành bộ tây trang nào mà người trẻ hay mặc đi”, Thiệu tiên sinh kể tới đây, cười rộ lên, “Cậu ta nói, tôi từ mười tuổi đến giờ chỉ biết mặc quân phục. Nói ra, bộ tây trang chỉn chu đầu tiên trong đời cậu, hẳn là do tôi tặng”.

Mọi người cười vang.

Đọc Full Tại Truyenfull.vn

“Về phần nhân duyên của cậu với cô hai Hà, những gì tôi biết cũng không hơn các vị ở đây là bao”, Thiệu tiên sinh nói tiếp, “Nhưng nhiều năm như thế, cậu và cô hai Hà vẫn một mực không đổi, chúng ta ở cạnh đều nhìn thấy rõ ràng. Năm đó khi vào trường quân đội, điều đầu tiên được dạy dỗ khắc ghi, chính là giữ chữ tín. Điểm này, thầy Tạ quán triệt hoàn hảo vô cùng”.

Cả phòng lại cười, Tạ Vụ Thanh không khỏi bật cười.

“Tôi là người hành quân, mấy lời chứng hôn gì đó viết không hay, kể ra chỉ toàn là nói nhảm”, cuối cùng Triệu tiên sinh khép tờ hôn chứng lại, sắc mặt nghiêm trang, “Hôm nay Triệu mỗ may mắn có mặt ở đây, cùng chư vị chứng kiến lễ thành hôn của tướng quân Tạ Vụ Thanh và cô hai Hà Vị, tôi cùng các vị, thuận theo ý nguyện của tôi tân nhân, tác hợp hai họ thành một nhà, chúc họ trăm năm hạnh phúc, tay trong tay một đời, đầu bạc không xa”.

Thiệu tiên sinh giống như đang đọc bài phát biểu trên bục giảng tốt nghiệp, nói xong thì hành quân lễ.

Tạ Vụ Thanh đứng thẳng, ủng quân đội khép lại, trong tiếng vang nhỏ của kim loại trên giày, đáp trả bằng quân lễ tương tự.

Giống lần đầu tiên họ gặp nhau, Tạ Vụ Thanh đứng trong khu nội trú của học sinh mới đến, sắp xếp giường đệm thẳng thớm, vừa xoay người, anh bắt gặp một đàn anh lớn tuổi khoan thai đi tới. Dưới ánh sáng yếu ớt của đèn dầu, chiếu rọi đêm đen trong trường quân đội, những khuôn mặt xa lạ nhưng tràn ngập mong chờ vực dậy núi sông, tụ lại cạnh bức tường chỗ chuồng ngựa. Những người có mặt năm ấy, có kẻ đã trở về với cát bụi từ lâu, có thể sống sót ngồi ở chỗ này, âu cũng là may mắn.

Trịnh Sính Tích nhận lấy một bó hoa, đưa đến trước mặt Hà Vị.

Hà Vị giữ chặt trong tay, sinh mệnh của loài thực vật ấy mạnh mẽ xuyên qua lớp giấy kính trong suốt, thấm đẫm vào đừng tấc bàn tay cô.

“Nghe anh Thanh nói, em thích nhất mặc váy trắng, vừa vặn đỡ phải chuẩn bị váy cưới”, Trịnh Sính Tích đội lớp sa mỏng lên đầu cô, trên mái tóc trước trán có mảnh lụa ngắn chạm đến hàng mày, “Váy em hôm nay giống như được chuẩn bị từ trước vậy”.

Hà Vị thấy ánh nước đọng lại trong đáy mắt Trịnh Sính Tích.

“Chị ba”. Cô nhỏ nhẹ gọi.

Hốc mắt Trịnh Sính Tích đỏ ửng, mỉm cười nhìn cô, kéo tay cô, đặt vào bàn tay Tạ Vụ Thanh.

Lòng bàn tay đàn ông ấm áp, bao chặt lấy tay cô.

Đọc Full Tại Truyenfull.vn

Anh nắm tay cô, dẫn đến trước mặt người chứng hôn. Nhìn thoáng qua rất giống hôn lễ kiểu phương Tây, nhưng không có đạo Cơ Đốc chủ trì, có điều nếu bảo cưới hỏi theo kiểu Trung Quốc, thì lại không có màu áo cưới truyền thống đỏ thẫm.

Quân phục Hộ quốc quân, kết hợp với tà váy trắng chấm mắt cá chân, chính là lễ phục trong ngày cưới của Tạ thiếu tướng quân vang lên bốn cõi và cô hai Hà. Người chứng hôn lấy một hộp vải nhung đỏ đã chuẩn bị sẵn trong ngực áo, mở ra, cặp nhẫn cưới thịnh hành nhất hiện nay đang đặt song song đó.

Tạ Vụ Thanh lấy một chiếc nhẫn nhỏ, cầm tay cô.

Hai người đối diện nhau.

“Một đời Tạ Vụ Thanh hành quân đánh giặc, không hiểu phong nguyệt, không rành yêu đương, có thể lấy em Hà Vị làm vợ, đúng là may mắn ba đời. Hôm nay trước mặt đồng bào chứng kiến, tôi xin thề”, anh dõng dạc nói, “Vụ Thanh cùng em, sống cùng chăn, chết cùng mộ, ngoại trừ sinh ly tử biệt, tuyệt đối không chia không rời”.

Chiếc nhẫn đeo vào ngón tay cô.

Hà Vị cảm giác như trên đầu quả tim có một sợi tơ đỏ, kéo dài đến tận xương máu da thịt.

Cô chăm chú nhìn Tạ Vụ Thanh, lấy chiếc nhẫn còn lại trong hộp vải nhung đỏ. Từ nãy đến giờ, cô không ngừng suy nghĩ, mình nên nói gì, tận lúc này, đôi môi mấp máy vài lần, nhưng vẫn đỏ mắt nhìn anh, khẽ lắc đầu. Không thể nghĩ được.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười, nhỏ giọng nói: “Nghĩ chưa xong thì về nhà từ từ nghĩ tiếp”.

Cô khẽ gật đầu, chầm chậm đeo nhẫn lên ngón áp út của anh.

Khách khứa đứng dậy vỗ tay vang dội, Tạ Vụ Thanh ôm chầm lấy cô.

Hà Vị cũng ôm chặt anh, nhắm hai mắt, trong đầu nghĩ đến cảnh lúc chú hai qua đời, vẫn không ngừng tiếc nuối nhắc mãi, xin lỗi Tạ thiếu tướng quân, xin lỗi Tạ gia, không thể nói rõ thành toàn cho hai người trước mặt Tạ Vụ Thanh…

Nước mắt Hà Vị theo cổ áo sơ mi anh rơi xuống, cô cố gắng nhắm chặt mắt cũng chẳng nén được.

Cách một cửa kính, bên ngoài lữ khách khắp nơi qua lại, có công sứ các nước, còn có người gặp nạn lẩn tránh ám sát. Vì trời tối nên bên ngoài ngày càng chú ý đến phòng khiêu vũ, Đặng Nguyên Sơ hiểu rõ, bèn để ban nhạc bắt đầu diễn tấu, đèn trong phòng bật sáng. Dưới vòng tròn xoay quanh lạ lẫm, các nhóm quân nhân cười nói với nhau, rời khỏi khu vực sàn nhảy, hôm nay khách nữ quá ít.

“Cô ba Trịnh, nể mặt tôi chứ?” Đặng Nguyên Sơ vươn tay về phía Trịnh Sính Tích theo kiểu quý ông lịch lãm, nụ cười nơi đáy mắt không đổi, “Nếu trên sàn nhảy chỉ có một đôi, sợ bồi bàn truyền ra ngoài sẽ bị người khác hiểu lầm”.

“Nhảy cùng Đặng công tử một bài cũng không sao”, Trịnh Sính Tích cười đáp, “Chỉ là nên đợi đôi tân nhân chào sân trước”.

Tạ Vụ Thanh cởi áo khoác ngoài quân phục, đưa cho Lâm Kiêu.

Hà Vị đưa tay cho anh, cùng anh bước vào sàn nhảy.

“Lúc trước ở Lợi Thuận Đức, em nhảy rất tốt”. Anh nói.

“Anh chú ý à?”

“Nếu không chú ý, sao có thể đánh ba bản Habanera cho hai người?”

Tạ Vụ Thanh ôm cô, xoay đến giữa sàn nhảy. Khách khứa xung quanh từng thấy dáng vẻ Tạ Vụ Thanh giục ngựa phi nhanh, từng thấy anh chiến đấu đẫm máu, xông lên trước người khác, nhưng rất hiếm thấy cảnh anh khiêu vũ kiểu tây dương.

Anh bảo ban nhạc chơi bài Habanera, đỡ lấy eo Hà Vị, nhảy mở màn.

Đọc Full Tại Truyenfull.vn

Hà Vị tựa đầu vào vai anh, tưởng tượng hiện giờ đất nước thái bình thịnh thế. Có lẽ họ đã già rồi, tóc điểm hoa râm. Khi bước ra khỏi khách sạn Lục Quốc, hai bên ngõ Đông Giao Dân không còn hàng rào sắt ngăn người trong nước. Trên đường lớn, xe cộ leng keng không ngừng, nườm nượp như nước chảy… Tây Bắc không còn sợ hạn hán, sản lượng lương thực chất chồng, Trung Nguyên không còn hỗn chiến của các phe phái quân phiệt mới, cây cối xanh um, không còn bất kỳ bụi rậm khô cằn nào treo thi thể thiêu cháy của binh lính.

Hà Vị chạm vào khẩu súng treo sau thắt lưng của anh, bị Tạ Vụ Thanh nhấc về, hơi ngửa ra sau. Cô lại thẳng người, nghênh đón khuôn mặt quay lưng về phía ánh đèn của anh, còn có đôi mắt đen nhánh.

“Không ngờ thầy Tạ nhảy Tango tốt như vậy”.

“Học ở châu Âu”, anh thầm thì, “Cứ nghĩ không hữu ích lắm”.

“Em thì học ở Nam Dương”, cô bảo, “Lúc theo anh trai, học cùng các phu nhân của quan ngoại giao khác”.

Tạ Vụ Thanh hơi trầm mặc, đúng lúc bản nhạc kết thúc.

Trịnh Độ sai người gọi điện mời tạm những tiểu thư nổi danh đến tham dự vũ hội của hội học sinh Bảo Định.

Dưới ánh đèn, một đôi tân nhân rất nhanh đã biến mất không dấu vết.

Hai người cho xe đỗ trước đầu phố mới trên đại lộ Nam, hiếm có dịp trong đêm tối, đi dọc theo đường vào ngõ nhỏ.

Hà Vị vốn không định nắm tay anh, lại bị Tạ Vụ Thanh kéo về trước, dưới cái nhìn chăm chú của cảnh vệ và lái xe đi sau lưng, anh dẫn nàng tiểu thư phú quý mặc váy dài, chân mang giày cao gót, rẽ vào một con ngõ không đèn chiếu sáng.

Theo ánh trăng, Tạ Vụ Thanh dùng chân đá mấy viên sỏi vụn cho cô đi, lướt qua một thanh niên gánh thùng nước giếng: “Em đoán xem, con đường này có thể thông đến Bách Hoa Thâm Xử không?”

Cô nhìn ngó xung quanh: “Có lẽ”.

Đêm khuya trong con ngõ hẹp xa lạ, thỉnh thoảng đi ngang cánh cửa gỗ cũ kỹ mở toang, ánh đèn sáng lập loè bên trong hắt ra, Hà Vị có cảm giác chột dạ như bị bắt trộm. Ở đây sân nối liền sân, hàng xóm chung quanh đều quen biết đã lâu, hiếm khi khuya khoắt có người lạ tìm đến, còn là đôi nam nữ tay nắm tay… Cô liếc nhìn quần và giày quân đội của Tạ Vụ Thanh, chỉ sợ người khác lầm tưởng anh là phe cánh quân phiệt mới ở Đông Bắc, doạ người thật thà trong nhà sợ hãi.

Bước chân anh không nhanh không chậm, trên ủng quân đội phát ra tạp âm của kim loại va chạm, trong con ngõ nhỏ lại càng thanh thuý. Trời lạnh như thế, vậy mà từ khi xuống xe đến nay anh không mặc quân trang, áo ngoài cũng khoác trên cánh tay, cứ đi thẳng về trước.

Khoảng chừng hơn mười phút, bọn họ vòng tới vòng lui, cuối cùng cũng tới chùa Hộ Quốc.

Miếu thờ ở đây gian truân, qua mấy lần bị thiêu rụi, đại diện bỏ hoang nhiều năm, lại trở thành một chỗ thảnh thơi an nhàn nhiều người tìm đến.

Từng tốp người mua bán nhỏ bám vào chợ đêm trước ngày đông, trên tay cầm theo hơn hai mươi xâu sơn trà, đến trước đám người đang vây quanh xem biểu diễn đường phố, mời chào sơn trà với xấp nhỏ đứng trên sàn gỗ.

Bên cạnh quầy sách nhỏ cạnh đó, chủ quán ôm chặt tay, hét to muốn đóng cửa, đuổi đám đông tụm năm tụm ba đang vây xem.

Người đông đúc náo nhiệt, ai cũng lo chen chân tìm đường đi, chẳng ai chú ý tới bọn họ.

“Mua một tờ báo xem không?” Anh hỏi.

“Mua ở đây ạ? Không tiện lắm”, trong tiếng ầm ĩ xung quanh, cô ghé vào tai anh nói, “Nếu anh muốn đọc báo, chờ lát nữa về nhà, em gọi người trong công ty mang đến là được. Mỗi ngày chỗ chúng em đều đặt mua báo mới nhất, đầy đủ hơn ở đây nhiều”.

Tạ Vụ Thanh hình như vẫn một mực muốn mua, nháo nhác nhìn quẩn quanh tìm người bán báo.

Thôi kệ, ai bảo hôm nay anh vui như thế, chiều lòng anh vậy. Hà Vị cũng phụ anh tìm kiếm.

Một chùm pháo nhỏ ném vào chân cô, Hà Vị suýt chút nữa bị pháo đốt xém góc váy. Tạ Vụ Thanh ôm cô đến trước người, hai tay vây lại, bảo vệ cô tránh bên này né bên kia, trốn một hồi lại chạy đến trước quầy của người kể chuyện, vừa hay nhìn thấy một đứa trẻ bán báo đứng cạnh đó, nhịp chân nghe chuyện rất vui. Mọi người cười, đứa trẻ ấy cũng cười theo.

“Em ở đây đợi anh”. Tạ Vụ Thanh kéo cô sang một bên, để cô chờ dưới gốc cây cổ thụ.

Hà Vị nhìn theo anh, thấy anh đi về phía đứa trẻ bán báo ấy, không lâu sau, móc tiền từ túi quần quân đội, hai ba câu liền xách theo túi bố của người ta về.

“Anh mua hết ư?” Cô kinh ngạc hỏi.

“Anh hỏi mua báo ở Phụng Thiên, nó nói khó tìm lắm”, Tạ Vụ Thanh đáp, “Không bằng mua hết, từ từ tìm”.

Hà Vị cảm thấy anh rất lạ, kể từ lúc anh bảo muốn tìm người mua báo, nhưng cô không rõ rốt cuộc vì sao lại kỳ lạ.

Tạ Vụ Thanh khoác quân phục lên vai cô, tự mình mở túi bố, chậm rãi tìm tòi. Hà Vị xem anh lật mấy tờ, trông thấy dòng chữ “Công báo Ba tỉnh miền Đông Bắc” lập tức rút ra: “Là cái này à?”

Hà Vị lật tờ báo lại, nhìn trang nhất, trên đó có một tấm ảnh, chính là ảnh chụp chung của hai người ở tiệm hôm đó.

Cô lặng thinh.

Đọc Full Tại Truyenfull.vn

“Hiện giờ chỉ có phần này thôi”, Tạ Vụ Thanh nói với cô trong tiếng la hét của người kể chuyện và tiếng vỗ tay khen ngợi của người xem xung quanh, “Chờ ngày đất nước thái bình, Tạ Vụ Thanh nhất định sẽ hoàn thành lời hứa với cô hai. Báo chí ở Kinh Tân Thượng, toàn bộ đều là trang nhất”.

Đây là bản giấy do đích thân anh in ấn trong xưởng in Phụng Thiên. Chỉ có một bản duy nhất, không thể công khai với mọi người.

Khó trách… từ lúc anh xuống xe đều khoác quân phục trên tay, vậy ra, bên trong tây trang cất thứ này sao.

Hà Vị nắm chặt tờ báo, nhìn ảnh chụp hai người trên đó, phía dưới còn có một dòng thông báo kết hôn —

<i>Tạ Vụ Thanh, Hà Vị thông báo kết hôn: Dưới sự đồng ý của gia đình hai bên, chúng tôi xin thông báo hôn lễ dự kiến tổ chức vào mùng Một tháng Mười Một tại khách sạn Lục Quốc ở Bắc Bình. Tình cảnh đất nước hỗn loạn, núi sông chưa yên ổn, chuyện hôn sự trọng đại, hết thảy đều đơn sơ, nhân dịp kính báo đến các vị bạn bè thân thiết.</i>

<i>Hà Vị, Tạ Vụ Thanh thân gửi.</i>

— HẾT CHƯƠNG 51 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 52: Đêm Tàn Xem Sơn Hải 2


Thiệu tiên sinh giống hệt chủ trì lễ tốt nghiệp, từ bàn tròn giữa đi xuyên qua, đến phía sau một cái bục phát biểu nhỏ bằng gỗ ở góc đông nam sàn nhảy.

Ông mở tờ hôn chứng, đặt trước mắt.
“Tôi và Tạ Vụ Thanh quen nhau ở Bảo Định, cũng giống chư vị có mặt ở đây.

Có điều, tôi và cậu ấy còn có một mối quan hệ sâu xa khác, vào thời Thanh mạt, Tạ lão tướng quân mở không ít giảng võ đường, cha tôi từng là học trò của Tạ lão tướng quân”, ông ngước mắt, không cần nhìn, bản nháp kia đã sớm ghi tạc trong lòng, “Năm ấy, cậu từ phương Nam tới.

Đứa con trai út của Tạ lão tướng quân, người duy nhất còn sống, những lời này đều là cha tôi nói trước khi cậu ta đến.

Tôi nhận gửi gắm của cha, đến sân ga đón cậu ấy, nhưng không gặp, lúc quay về giảng đường trường học, nhìn thấy cậu đang sắp xếp giường đệm.

Trong rương hành lý lúc đó, ngoại trừ hai bộ quân phục, áo sơ mi và đồ lót, toàn bộ đều là bản thảo binh thư do cha cậu viết tay, trên đường ra Bắc vẫn luôn chỉnh sửa mấy thứ này”.
Năm đó, triều Thanh chưa diệt vong, trường quân đội chưa thay tên.

Tạ Vụ Thanh mới mười mấy tuổi đầu đã một mình ra Bắc.
“Lúc cậu ấy vừa vào Bảo Định, trong kinh có người đặc biệt kêu xe đón tiếp, nói muốn cậu vào kinh gặp mặt các vị chú bác quen biết.

Vì là tiệc riêng nên tôi bảo, nhóc con, cậu đổi quân phục thành bộ tây trang nào mà người trẻ hay mặc đi”, Thiệu tiên sinh kể tới đây, cười rộ lên, “Cậu ta nói, tôi từ mười tuổi đến giờ chỉ biết mặc quân phục.

Nói ra, bộ tây trang chỉn chu đầu tiên trong đời cậu, hẳn là do tôi tặng”.
Mọi người cười vang.
“Về phần nhân duyên của cậu với cô hai Hà, những gì tôi biết cũng không hơn các vị ở đây là bao”, Thiệu tiên sinh nói tiếp, “Nhưng nhiều năm như thế, cậu và cô hai Hà vẫn một mực không đổi, chúng ta ở cạnh đều nhìn thấy rõ ràng.

Năm đó khi vào trường quân đội, điều đầu tiên được dạy dỗ khắc ghi, chính là giữ chữ tín.

Điểm này, thầy Tạ quán triệt hoàn hảo vô cùng”.
Cả phòng lại cười, Tạ Vụ Thanh không khỏi bật cười.
“Tôi là người hành quân, mấy lời chứng hôn gì đó viết không hay, kể ra chỉ toàn là nói nhảm”, cuối cùng Triệu tiên sinh khép tờ hôn chứng lại, sắc mặt nghiêm trang, “Hôm nay Triệu mỗ may mắn có mặt ở đây, cùng chư vị chứng kiến lễ thành hôn của tướng quân Tạ Vụ Thanh và cô hai Hà Vị, tôi cùng các vị, thuận theo ý nguyện của tôi tân nhân, tác hợp hai họ thành một nhà, chúc họ trăm năm hạnh phúc, tay trong tay một đời, đầu bạc không xa”.
Thiệu tiên sinh giống như đang đọc bài phát biểu trên bục giảng tốt nghiệp, nói xong thì hành quân lễ.
Tạ Vụ Thanh đứng thẳng, ủng quân đội khép lại, trong tiếng vang nhỏ của kim loại trên giày, đáp trả bằng quân lễ tương tự.
Giống lần đầu tiên họ gặp nhau, Tạ Vụ Thanh đứng trong khu nội trú của học sinh mới đến, sắp xếp giường đệm thẳng thớm, vừa xoay người, anh bắt gặp một đàn anh lớn tuổi khoan thai đi tới.

Dưới ánh sáng yếu ớt của đèn dầu, chiếu rọi đêm đen trong trường quân đội, những khuôn mặt xa lạ nhưng tràn ngập mong chờ vực dậy núi sông, tụ lại cạnh bức tường chỗ chuồng ngựa.

Những người có mặt năm ấy, có kẻ đã trở về với cát bụi từ lâu, có thể sống sót ngồi ở chỗ này, âu cũng là may mắn.
Trịnh Sính Tích nhận lấy một bó hoa, đưa đến trước mặt Hà Vị.
Hà Vị giữ chặt trong tay, sinh mệnh của loài thực vật ấy mạnh mẽ xuyên qua lớp giấy kính trong suốt, thấm đẫm vào đừng tấc bàn tay cô.
“Nghe anh Thanh nói, em thích nhất mặc váy trắng, vừa vặn đỡ phải chuẩn bị váy cưới”, Trịnh Sính Tích đội lớp sa mỏng lên đầu cô, trên mái tóc trước trán có mảnh lụa ngắn chạm đến hàng mày, “Váy em hôm nay giống như được chuẩn bị từ trước vậy”.
Hà Vị thấy ánh nước đọng lại trong đáy mắt Trịnh Sính Tích.
“Chị ba”.

Cô nhỏ nhẹ gọi.
Hốc mắt Trịnh Sính Tích đỏ ửng, mỉm cười nhìn cô, kéo tay cô, đặt vào bàn tay Tạ Vụ Thanh.
Lòng bàn tay đàn ông ấm áp, bao chặt lấy tay cô.
Anh nắm tay cô, dẫn đến trước mặt người chứng hôn.

Nhìn thoáng qua rất giống hôn lễ kiểu phương Tây, nhưng không có đạo Cơ Đốc chủ trì, có điều nếu bảo cưới hỏi theo kiểu Trung Quốc, thì lại không có màu áo cưới truyền thống đỏ thẫm.
Quân phục Hộ quốc quân, kết hợp với tà váy trắng chấm mắt cá chân, chính là lễ phục trong ngày cưới của Tạ thiếu tướng quân vang lên bốn cõi và cô hai Hà.

Người chứng hôn lấy một hộp vải nhung đỏ đã chuẩn bị sẵn trong ngực áo, mở ra, cặp nhẫn cưới thịnh hành nhất hiện nay đang đặt song song đó.
Tạ Vụ Thanh lấy một chiếc nhẫn nhỏ, cầm tay cô.
Hai người đối diện nhau.
“Một đời Tạ Vụ Thanh hành quân đánh giặc, không hiểu phong nguyệt, không rành yêu đương, có thể lấy em Hà Vị làm vợ, đúng là may mắn ba đời.

Hôm nay trước mặt đồng bào chứng kiến, tôi xin thề”, anh dõng dạc nói, “Vụ Thanh cùng em, sống cùng chăn, chết cùng mộ, ngoại trừ sinh ly tử biệt, tuyệt đối không chia không rời”.
Chiếc nhẫn đeo vào ngón tay cô.
Hà Vị cảm giác như trên đầu quả tim có một sợi tơ đỏ, kéo dài đến tận xương máu da thịt.
Cô chăm chú nhìn Tạ Vụ Thanh, lấy chiếc nhẫn còn lại trong hộp vải nhung đỏ.

Từ nãy đến giờ, cô không ngừng suy nghĩ, mình nên nói gì, tận lúc này, đôi môi mấp máy vài lần, nhưng vẫn đỏ mắt nhìn anh, khẽ lắc đầu.

Không thể nghĩ được.
Tạ Vụ Thanh mỉm cười, nhỏ giọng nói: “Nghĩ chưa xong thì về nhà từ từ nghĩ tiếp”.
Cô khẽ gật đầu, chầm chậm đeo nhẫn lên ngón áp út của anh.
Khách khứa đứng dậy vỗ tay vang dội, Tạ Vụ Thanh ôm chầm lấy cô.
Hà Vị cũng ôm chặt anh, nhắm hai mắt, trong đầu nghĩ đến cảnh lúc chú hai qua đời, vẫn không ngừng tiếc nuối nhắc mãi, xin lỗi Tạ thiếu tướng quân, xin lỗi Tạ gia, không thể nói rõ thành toàn cho hai người trước mặt Tạ Vụ Thanh…
Nước mắt Hà Vị theo cổ áo sơ mi anh rơi xuống, cô cố gắng nhắm chặt mắt cũng chẳng nén được.
Cách một cửa kính, bên ngoài lữ khách khắp nơi qua lại, có công sứ các nước, còn có người gặp nạn lẩn tránh ám sát.

Vì trời tối nên bên ngoài ngày càng chú ý đến phòng khiêu vũ, Đặng Nguyên Sơ hiểu rõ, bèn để ban nhạc bắt đầu diễn tấu, đèn trong phòng bật sáng.

Dưới vòng tròn xoay quanh lạ lẫm, các nhóm quân nhân cười nói với nhau, rời khỏi khu vực sàn nhảy, hôm nay khách nữ quá ít.
“Cô ba Trịnh, nể mặt tôi chứ?” Đặng Nguyên Sơ vươn tay về phía Trịnh Sính Tích theo kiểu quý ông lịch lãm, nụ cười nơi đáy mắt không đổi, “Nếu trên sàn nhảy chỉ có một đôi, sợ bồi bàn truyền ra ngoài sẽ bị người khác hiểu lầm”.
“Nhảy cùng Đặng công tử một bài cũng không sao”, Trịnh Sính Tích cười đáp, “Chỉ là nên đợi đôi tân nhân chào sân trước”.
Tạ Vụ Thanh cởi áo khoác ngoài quân phục, đưa cho Lâm Kiêu.
Hà Vị đưa tay cho anh, cùng anh bước vào sàn nhảy.
“Lúc trước ở Lợi Thuận Đức, em nhảy rất tốt”.

Anh nói.
“Anh chú ý à?”
“Nếu không chú ý, sao có thể đánh ba bản Habanera cho hai người?”
Tạ Vụ Thanh ôm cô, xoay đến giữa sàn nhảy.

Khách khứa xung quanh từng thấy dáng vẻ Tạ Vụ Thanh giục ngựa phi nhanh, từng thấy anh chiến đấu đẫm máu, xông lên trước người khác, nhưng rất hiếm thấy cảnh anh khiêu vũ kiểu tây dương.
Anh bảo ban nhạc chơi bài Habanera, đỡ lấy eo Hà Vị, nhảy mở màn.
Hà Vị tựa đầu vào vai anh, tưởng tượng hiện giờ đất nước thái bình thịnh thế.

Có lẽ họ đã già rồi, tóc điểm hoa râm.

Khi bước ra khỏi khách sạn Lục Quốc, hai bên ngõ Đông Giao Dân không còn hàng rào sắt ngăn người trong nước.

Trên đường lớn, xe cộ leng keng không ngừng, nườm nượp như nước chảy… Tây Bắc không còn sợ hạn hán, sản lượng lương thực chất chồng, Trung Nguyên không còn hỗn chiến của các phe phái quân phiệt mới, cây cối xanh um, không còn bất kỳ bụi rậm khô cằn nào treo thi thể thiêu cháy của binh lính.
Hà Vị chạm vào khẩu súng treo sau thắt lưng của anh, bị Tạ Vụ Thanh nhấc về, hơi ngửa ra sau.

Cô lại thẳng người, nghênh đón khuôn mặt quay lưng về phía ánh đèn của anh, còn có đôi mắt đen nhánh.
“Không ngờ thầy Tạ nhảy Tango tốt như vậy”.
“Học ở châu Âu”, anh thầm thì, “Cứ nghĩ không hữu ích lắm”.
“Em thì học ở Nam Dương”, cô bảo, “Lúc theo anh trai, học cùng các phu nhân của quan ngoại giao khác”.
Tạ Vụ Thanh hơi trầm mặc, đúng lúc bản nhạc kết thúc.
Trịnh Độ sai người gọi điện mời tạm những tiểu thư nổi danh đến tham dự vũ hội của hội học sinh Bảo Định.
Dưới ánh đèn, một đôi tân nhân rất nhanh đã biến mất không dấu vết.
Hai người cho xe đỗ trước đầu phố mới trên đại lộ Nam, hiếm có dịp trong đêm tối, đi dọc theo đường vào ngõ nhỏ.
Hà Vị vốn không định nắm tay anh, lại bị Tạ Vụ Thanh kéo về trước, dưới cái nhìn chăm chú của cảnh vệ và lái xe đi sau lưng, anh dẫn nàng tiểu thư phú quý mặc váy dài, chân mang giày cao gót, rẽ vào một con ngõ không đèn chiếu sáng.
Theo ánh trăng, Tạ Vụ Thanh dùng chân đá mấy viên sỏi vụn cho cô đi, lướt qua một thanh niên gánh thùng nước giếng: “Em đoán xem, con đường này có thể thông đến Bách Hoa Thâm Xử không?”
Cô nhìn ngó xung quanh: “Có lẽ”.
Đêm khuya trong con ngõ hẹp xa lạ, thỉnh thoảng đi ngang cánh cửa gỗ cũ kỹ mở toang, ánh đèn sáng lập loè bên trong hắt ra, Hà Vị có cảm giác chột dạ như bị bắt trộm.

Ở đây sân nối liền sân, hàng xóm chung quanh đều quen biết đã lâu, hiếm khi khuya khoắt có người lạ tìm đến, còn là đôi nam nữ tay nắm tay… Cô liếc nhìn quần và giày quân đội của Tạ Vụ Thanh, chỉ sợ người khác lầm tưởng anh là phe cánh quân phiệt mới ở Đông Bắc, doạ người thật thà trong nhà sợ hãi.
Bước chân anh không nhanh không chậm, trên ủng quân đội phát ra tạp âm của kim loại va chạm, trong con ngõ nhỏ lại càng thanh thuý.

Trời lạnh như thế, vậy mà từ khi xuống xe đến nay anh không mặc quân trang, áo ngoài cũng khoác trên cánh tay, cứ đi thẳng về trước.
Khoảng chừng hơn mười phút, bọn họ vòng tới vòng lui, cuối cùng cũng tới chùa Hộ Quốc.
Miếu thờ ở đây gian truân, qua mấy lần bị thiêu rụi, đại diện bỏ hoang nhiều năm, lại trở thành một chỗ thảnh thơi an nhàn nhiều người tìm đến.
Từng tốp người mua bán nhỏ bám vào chợ đêm trước ngày đông, trên tay cầm theo hơn hai mươi xâu sơn trà, đến trước đám người đang vây quanh xem biểu diễn đường phố, mời chào sơn trà với xấp nhỏ đứng trên sàn gỗ.
Bên cạnh quầy sách nhỏ cạnh đó, chủ quán ôm chặt tay, hét to muốn đóng cửa, đuổi đám đông tụm năm tụm ba đang vây xem.
Người đông đúc náo nhiệt, ai cũng lo chen chân tìm đường đi, chẳng ai chú ý tới bọn họ.
“Mua một tờ báo xem không?” Anh hỏi.
“Mua ở đây ạ? Không tiện lắm”, trong tiếng ầm ĩ xung quanh, cô ghé vào tai anh nói, “Nếu anh muốn đọc báo, chờ lát nữa về nhà, em gọi người trong công ty mang đến là được.

Mỗi ngày chỗ chúng em đều đặt mua báo mới nhất, đầy đủ hơn ở đây nhiều”.
Tạ Vụ Thanh hình như vẫn một mực muốn mua, nháo nhác nhìn quẩn quanh tìm người bán báo.
Thôi kệ, ai bảo hôm nay anh vui như thế, chiều lòng anh vậy.

Hà Vị cũng phụ anh tìm kiếm.
Một chùm pháo nhỏ ném vào chân cô, Hà Vị suýt chút nữa bị pháo đốt xém góc váy.

Tạ Vụ Thanh ôm cô đến trước người, hai tay vây lại, bảo vệ cô tránh bên này né bên kia, trốn một hồi lại chạy đến trước quầy của người kể chuyện, vừa hay nhìn thấy một đứa trẻ bán báo đứng cạnh đó, nhịp chân nghe chuyện rất vui.

Mọi người cười, đứa trẻ ấy cũng cười theo.
“Em ở đây đợi anh”.

Tạ Vụ Thanh kéo cô sang một bên, để cô chờ dưới gốc cây cổ thụ.
Hà Vị nhìn theo anh, thấy anh đi về phía đứa trẻ bán báo ấy, không lâu sau, móc tiền từ túi quần quân đội, hai ba câu liền xách theo túi bố của người ta về.
“Anh mua hết ư?” Cô kinh ngạc hỏi.
“Anh hỏi mua báo ở Phụng Thiên, nó nói khó tìm lắm”, Tạ Vụ Thanh đáp, “Không bằng mua hết, từ từ tìm”.

Truyện Điền Văn
Hà Vị cảm thấy anh rất lạ, kể từ lúc anh bảo muốn tìm người mua báo, nhưng cô không rõ rốt cuộc vì sao lại kỳ lạ.
Tạ Vụ Thanh khoác quân phục lên vai cô, tự mình mở túi bố, chậm rãi tìm tòi.

Hà Vị xem anh lật mấy tờ, trông thấy dòng chữ “Công báo Ba tỉnh miền Đông Bắc” lập tức rút ra: “Là cái này à?”
Hà Vị lật tờ báo lại, nhìn trang nhất, trên đó có một tấm ảnh, chính là ảnh chụp chung của hai người ở tiệm hôm đó.
Cô lặng thinh.
“Hiện giờ chỉ có phần này thôi”, Tạ Vụ Thanh nói với cô trong tiếng la hét của người kể chuyện và tiếng vỗ tay khen ngợi của người xem xung quanh, “Chờ ngày đất nước thái bình, Tạ Vụ Thanh nhất định sẽ hoàn thành lời hứa với cô hai.

Báo chí ở Kinh Tân Thượng, toàn bộ đều là trang nhất”.
Đây là bản giấy do đích thân anh in ấn trong xưởng in Phụng Thiên.

Chỉ có một bản duy nhất, không thể công khai với mọi người.
Khó trách… từ lúc anh xuống xe đều khoác quân phục trên tay, vậy ra, bên trong tây trang cất thứ này sao.
Hà Vị nắm chặt tờ báo, nhìn ảnh chụp hai người trên đó, phía dưới còn có một dòng thông báo kết hôn —
Tạ Vụ Thanh, Hà Vị thông báo kết hôn: Dưới sự đồng ý của gia đình hai bên, chúng tôi xin thông báo hôn lễ dự kiến tổ chức vào mùng Một tháng Mười Một tại khách sạn Lục Quốc ở Bắc Bình.

Tình cảnh đất nước hỗn loạn, núi sông chưa yên ổn, chuyện hôn sự trọng đại, hết thảy đều đơn sơ, nhân dịp kính báo đến các vị bạn bè thân thiết.
Hà Vị, Tạ Vụ Thanh thân gửi.
— HẾT CHƯƠNG 51 —.
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 53: Đêm Tàn Xem Sơn Hải 3


Hương mực còn sót lại trên giấy.
Hà Vị sợ người khác nhìn thấy, lần nữa nhét tờ báo vào trong túi vải, nằm lẫn lộn giữa túi báo Bắc Bình.
“Luôn khiến em chịu thiệt thòi”, Tạ Vụ Thanh khép chặt vạt áo quân phục bên ngoài giúp cô, “Không thể cho em danh phận công khai”.
Cô cười, nhỏ giọng lầu bầu: “Còn muốn công khai thế nào nữa?”
Sau khi chùa Hộ Quốc bị bỏ hoang, đường điện đều bị chia cắt.

Bán đồ núi, bán kỹ nghệ, còn có một quán trà lộ thiên và sân khấu kịch chờ hát.

Mảnh đất trống trước cửa đường Thuỵ Chi có dựng một cái lều sơ sài, bày biện mấy cái bàn gỗ, treo biển bán dương sương tràng [1].

Đêm dần tối, khách đến ăn ít ỏi.

Bên cạnh, một ông lão mặc trường bào kiểu xưa, tuy cũ nhưng sạch sẽ vô cùng, chắc thường xuyên giặt giũ.
[1] Một món ăn vặt nổi tiếng của Bắc Kinh, nhồi ruột dê rồi nấu đến khi chín, khá giống món dồi bên mình.
Ngược lại có chút giống Tạ Vụ Thanh, dù kiểu dáng quần áo không nhiều nhưng mỗi bộ đều sạch sẽ thẳng thớm.

Ông lão buôn bán rất hiểu nghệ thuật, chuẩn bị đóng cửa quán nên không buồn xã giao với khách hàng, tự mình giải trí, ngâm nga một khúc ca yêu thích.

Giọng ông lão tang thương, hừ hừ mấy tiếng không rõ là gì.

Tạ Vụ Thanh lắng nghe một chốc, Hà Vị thắc mắc: “Ông ta hát cái gì vậy?”
“Không ngờ ‘Trường hận ca’ [2] cũng hát được”.
Dứt lời, anh cũng hứng thú học theo, nghiêm túc hát lại nửa câu đầu: “Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc; Ngự vũ đa niên cầu bất tắc”, nhưng nửa câu sau lại biến thành, “Hà gia hữu nữ sơ trưởng thành; Dưỡng tại thâm khuê nhân vị thức…”
[2] “Trường hận ca”, sáng tác nổi danh của nhà thơ thời Đường – Bạch Cư Dị.

Bài thơ gồm 120 câu kể về mối tình giữa Đường Huyền Tông và Dương Quý phi.

Bốn câu cầu của “Trường hận ca” mang nghĩa: Vua nước Hán say mê sắc đẹp, muốn có một người con gái nghiêng nước nghiêng thành nhưng bao năm ở ngôi báu vẫn không tìm thấy.

Nhà họ Dương có một cô gái vừa trưởng thành, từ nhỏ nuôi dạy trong phòng the, bên ngoài chẳng ai hay biết.

(Sau đó anh Thanh sửa lại chữ “Dương gia” trong câu thơ thứ 3 thành “Hà gia” để trêu chị Hà Vị ^^)
Hà Vị không cho anh hát tiếp, có cô gái đi ngang nhìn anh chằm chằm.
Cảnh vệ theo sau họ tản ra bốn phía, đứng lẫn vào đám đông, âm thầm bảo vệ một đêm bình yên hiếm có của tướng quân.

Đêm khuya, gió Tây Bắc nổi lên, cô thấy mọi người vất vả quá, bèn móc trong túi ra mấy đồng bạc, gọi ông chủ mang những bát dương sương tràng đặt đầy bốn cái bàn.
Nước canh nóng hôi hổi, trong ruột dê rắc đầy tương vừng yeutruyen.net cùng rau thơm, thích hợp xua tan cái lạnh đêm đen.
“Không phải em từng bảo, muốn dẫn anh đi ăn khắp Tứ Cửu Thành sao?” Cô kéo anh ngồi xuống bàn gỗ đầu tiên, chủ động yên vị giữa vòng vây cảnh vệ, để họ an tâm ăn uống, “Đây là sương tràng, rót máu dê vào ruột dê, sau lại đem hầm với hoa tiêu dưới lửa lớn”.
Cô lấy đũa gạt rau thơm ra, để anh nhìn: “Ruột dê sáng trong, giống sương sớm, nên gọi là dương sương tràng”.
“Tên hay”.
Binh lính từ phương Nam tới chưa từng ăn thử món này, cảm thấy vô cùng mới lạ.
Chốc lát sau, có thêm nhóm binh lính Đông Bắc vừa đến thành Bắc Bình, ngồi đầy mấy bàn gỗ khác.

Quân trang bất đồng, khó tránh khỏi thầm đánh giá lẫn nhau, bên kia có người hỏi, các anh từ đâu tới? Quân Tây Bắc chưa rút lui ư? Lâm Kiêu đáp, từ phương Nam đến.

Hai nhóm người chưa từng gặp gỡ, lại nhắc đến thời kỳ Bắc phạt.

Năm ấy, quân đội phương Nam tiến công, phương Bắc trấn thủ, xem nhau như tử địch, mà nay lại ngồi cùng một quán ăn vặt, kể chuyện cuộc chiến Bắc phạt khi xưa, lúc quân phiệt họ Ngô liên tiếp thất bại lui binh, cầm đại đao súng máy thúc giục binh lính chiến đấu quyết liệt.
“Quân Đông Bắc chúng tôi không dám nhìn”, một người trong đó nói bằng giọng địa phương ở vùng quan ngoại, “Thật không bằng súc sinh, hạ lệnh không được rút lui, ai dám trái lệnh, đội đại đao liền chém đầu người đó, bức tử rất nhiều binh lính”.
“Đây chỉ là việc họ thường làm, tôi từng đến Vũ Hán báo cáo công tác, trên tàu trông thấy rất nhiều thi thể mắc trên cây”, Lâm Kiêu kể, “Đều là lính không dám rút lui, tự mình treo cổ chết”.
Hà Vị im lặng lắng nghe.
Quay về Bách Hoa Thâm Xử, hai người lần lượt tắm rửa.
Lúc Tạ Vụ Thanh vào phòng, Hà Vị đưa khăn lông trắng sang, anh cầm lấy lau mái tóc ướt đẫm.
“Bọn họ kể chuyện chiến trường Bắc phạt, xảy ra năm nào vậy?”
“Lúc đánh nhau ở cầu Hạ Thắng, một trung đoàn độc lập bên phe ta chiến đấu với quân trực hệ”, Tạ Vụ Thanh nói, “Quân trực hệ đánh không lại, liên tục thất bại, Ngô Bội Phu liền hạ lệnh đội đại đao và súng máy canh trên cầu, chém đầu mười lữ đoàn trưởng treo phía trên, ra chỉ thị nếu có người rút lui thì giết không tha, sau đó họ đánh không lại trung đoàn độc lập, vừa giết vừa lui về, liền chuyển đầu súng đốc thúc binh lính xông pha ra trước, nội bộ chém giết lẫn nhau máu chảy thành sông, quân Bắc phạt đại thắng”.
Hà Vị ngồi trên ghế cạnh bàn làm việc, nâng cằm nghe chăm chú.
Tạ Vụ Thanh cởi cúc áo sơ mi.
“Mấy giờ rồi?” Cô kinh ngạc, vẫn chưa đến giờ đi nghỉ mà.
Ngón tay anh sững lại, nhìn chằm chằm cô.
“… Vừa về liền tắt đèn ngủ, sẽ khiến người trong viện cười chê”.

Cô nhỏ giọng bảo.
Tạ Vụ Thanh như được nhắc nhở, tắt đèn bàn.
“Không cho anh tắt đèn mà anh vẫn tắt”.
“Muốn anh bật đèn à?” Anh đi về phía cô, “Anh cũng không sao, tuỳ ý em vậy”.
Tạ Vụ Thanh khom người, dứt khoát nhấc bổng cô lên.
“Chân anh…”
“Khôi phục rất tốt”.
Một chiếc giường rộng mấy trượng, hai người đã ngủ không ít ngày.

Anh thích để rèm nửa buông nửa vén, ẩn hiện ánh trăng ngoài cửa kính cùng bóng đèn dầu trong viện nhỏ.

Hai ngày trước, trong lúc nhiệt huyết dâng trào, cô đã đổi tấm rèm màu đỏ sẫm, giống như vận mệnh sắp đặt sẵn vì hôm nay.
“Không tháo súng sao”.

Cô chạm vào bao súng.

Anh không đáp lời.

Trong trận chiến Bắc phạt, súng luôn không rời người, có những khi nằm trong lều trại đơn sơ, bỗng nhớ tới cô, thường nghĩ cô thích cây súng này như thế.

Trong phòng khách của Cửu tiên sinh ở Thiên Tân, cô v**t v* nó dưới gối nằm, có lẽ không sợ bị cướp cò.
Ánh sáng từ đèn dầu bị thuỷ tinh chắn hơn nửa, lại bị rèm màn che khuất nửa kia, chỉ còn sót chút đốm sáng đỏ tối tăm.

Tạ Vụ Thanh hôn cô.
“Hôm nay anh nên bảo trước với em”, cô cất tiếng khi hai cánh môi hơi rời nhau, “Váy cưới ở nhà, mang đến thì tốt rồi”.
Tạ Vụ Thanh mặc kệ cô vẫn ôm tiếc nuối về lễ phục, cởi bỏ áo ngủ trên người cô.
“Sao anh không c** q**n áo mình?”
“Sạch sẽ”.

Anh bảo.
Cô ôm Tạ Vụ Thanh.

Da lưng anh căng chặt lại trơn trượt, sờ lên có chỗ nhấp nhô, dưới ánh đèn đỏ, cô quan sát từ vai anh xuống dưới, nhìn đến vết thương cũ dưới lớp áo sơ mi.

Cô mất tập trung, được anh nhẫn nại dẫn dắt về.
Váy ngủ lụa trắng bị cô đè dưới người, cô cũng mặc kệ.

Chờ ánh đèn dầu ngoài cửa sổ tắt, Tạ Vụ Thanh rời giường một chốc, anh chân trần bước đến đĩa sứ đặt trên Đa Bảo Cách tìm thuốc lá, cô cố sức kéo váy ngủ dưới người ra, ném xuống chân giường.
Mấy thứ linh tinh trong đĩa sứ chất thành chồng, anh gạt vài cây bút cùng chùm chìa khoá ở trên, chỉ lấy thuốc lá và hộp diêm.

Khi anh quay về, nắm lấy chân cô, thấp giọng thì thầm: “Đợi anh rít điếu thuốc”.
Anh vẫn chưa ngủ sao?
Tạ Vụ Thanh khẽ đẩy cẳng chân cô, để cô lăn vào sát tường, còn anh ngồi bên mép giường.
Ngọn lửa “bụp” một tiếng, toả ra ánh sáng giữa đốt tay anh.

Anh cúi đầu định châm thuốc, dừng một lúc, dập tắt que diêm, nhỏ giọng bảo: “Trước khi đi để lão tiên sinh bắt mạch”.
“Bắt mạch làm gì?” Cô hỏi xong, lập tức hiểu rõ.
Tạ Vụ Thanh sợ cô mang thai, lại vất vả bôn ba trên đường.
Cô lẩm bẩm: “Không biết xấu hổ còn nói thế”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Anh bật cười, ném thuốc lá cùng hộp diêm cạnh gối nằm: “Anh thấy giống lắm”.
Anh thấy được cái này à? Cô thầm mắng.
Lúc này Tạ Vụ Thanh c** q**n của mình, ném lên ghế cạnh giường: “Nếu vẫn chưa có, qua tối nay sẽ có thôi”.

Cô bất giác nhớ đến trong phòng khiêu vũ ở khách sạn Lục Quốc, sau khi hai người trao nhẫn cho nhau, một đám sĩ quan vây quanh họ luôn miệng chúc mừng, khi những học trò ngày xưa của anh lần nữa đối mặt, bất kể là quân hàm cao quý bao nhiêu, đều vô cùng kính trọng ân sư.

Mà thầy Tạ được người người tôn kính, lúc ở trên giường làm bằng gỗ sưa lại chẳng biết điểm dừng.
Tối nay, Tạ Vụ Thanh rời giường mấy bận, có một lần anh ra ngoài xem điện báo mới nhất, dặn dò sắp xếp hành trình xuôi Nam.

Lần cuối anh trở lại, cô đã ngủ say sưa, bị anh bế thốc lên, trong trập trùng cô tỉnh giấc.
Người đàn ông ôm chặt cô, đặt cô lên giường ngoài.
“Chăn êm nệm ấm không ngủ”.

Cô ôm cổ anh.
“Ở đây có hải đường”, anh thì thầm, “Đợi em tỉnh dậy, có thể thấy ngay”.
Cô cười, nép vào ngực anh thiếp đi.

Chuyện ở khách sạn Lục Quốc rất nhanh truyền ra ngoài, đồn là tướng quân Tạ Vụ Thanh vì muốn dỗ Hà Vị vui vẻ nên tổ chức tiệc đính hôn.

Cô hai Hà gia từ thiếu thời đã qua mấy lần đính hôn, mỗi một lần đều không bệnh mà chết, mọi người nghe xong cũng không nói thêm gì.
“Ngược lại bắt kịp lúc rồi”.

Cô bảy mở tờ “Trình báo” ra, “Triệu Ứng Khác cũng vừa đăng báo ly hôn”.
Ở một góc ngay trang ba, bài thông báo ly hôn nằm vị trí đầu tiên: Triệu Ứng Khác cùng Triệu Hà thị (tức Hà Chí Trăn) vì hai bên quan điểm bất đồng, tự nguyện ly hôn, vĩnh viễn không còn quan hệ vợ chồng.

Nhân dịp này tuyên bố công khai.
“Chí Trăn sống chung với một người thuộc quân Đông Bắc hai năm qua”, cô bảy kể, “Vẫn luôn ở Thiên Tân, còn Triệu Ứng Khác thì ở Nam Kinh, nghe bảo hai ngày trước họ hẹn gặp nhau một lần, cũng đăng báo ly hôn lúc ấy luôn”.
Sau khi Triệu Ứng Khác mất chỗ đứng vì chính phủ Bắc Dương sụp đổ, hắn liền đi thẳng đến Nam Kinh đảm nhận chức vụ quan trọng.
Triệu gia xưa nay một lòng nghiên cứu học thuật, bỗng xuất hiện một cậu cả bỏ văn chương theo chính trị, bước lên con đường làm quan, từ lúc còn ở kinh thành đến Nam Kinh hiện tại, càng đi càng thuận lợi.

Năm ngoái Triệu Ứng Khác về kinh, mặc chế phục dành cho trung tướng, có đến mười mấy quan viên Bắc Bình “tiền hô hậu ủng” bên người.
Hắn đến khách sạn Bắc Kinh, đêm đó mở tiệc rượu đón gió tẩy trần, lúc ấy Hà Vị cũng có mặt.

Quan viên không biết mối quan hệ quá khứ của họ, chủ động giới thiệu hai người với nhau: “Triệu uỷ viên, vị này là bà chủ của vận tải đường thuỷ Hà gia, cô hai Hà”.
Hai người đối diện nhau, đều mỉm cười.
Thư ký bên cạnh vị quan viên ấy vội vàng nhắc nhở, kể mối nhân duyên trong quá khứ của cả hai, quan viên lập tức lúng túng, thầm oán mình nhiều lời.
Tối đó Triệu Ứng Khác là khách quý, tới lui được rất nhiều người giới thiệu làm quen, Hà Vị chưa nói được đôi câu, hắn đã bị kéo đi đến tiệc rượu khác tẩy trần.
Một ngày sau, thư ký của Triệu Ứng Khác mang danh thiếp tìm đến công ty vận tải, mời cô tham quan viện bảo tàng Cố Cung.

Tiểu công tử Triệu gia Triệu Ứng Thăng năm ấy được Hà Vị và Tạ Vụ Thanh cứu khỏi tô giới đưa lên thuyền, sau khi anh cả làm chính trị đã lấy lại tự do, không lâu trước thì về nước, được thuê đến viện bảo tàng làm mấy chuyện như kiểm kê, quản lý văn vật hoàng đế Thanh triều để lại.
Hôm đó Triệu Ứng Khác mời cô đến, trước cổng lớn viện bảo tàng Cố Cung, Hà Vị trông thấy Triệu Ứng Thăng.

Đường đường một người đàn ông đĩnh đạc khi bắt gặp Hà Vị lại không thốt nên lời, mãi lúc sau mới cất tiếng: “Từ lúc tôi về Bắc Bình, vẫn không dám gặp cô.

Khi trước… thật sự xin lỗi”.
Triệu Ứng Khác đúng lúc cắt ngang sự quẫn bách của em trai, bảo hắn dẫn hai người đi dạo viện bảo tàng.

Triệu Ứng Thăng đứng trước quầy triển lãm không lớn không nhỏ, kiềm lòng không đặng nói: “Sau khi Tốn Thanh hoàng đế dọn đi, người Nhật đăng trên “Thuận thiên thời báo”, đòi chúng ta giao Cố Cung cho họ quản lý, lấy lý do thời cuộc chúng ta hỗn loạn, nên “để dân tộc Nhật Bản gần nhất thay mặt đảm đương trách nhiệm bảo quản”.

Sau khi đọc được bài viết này, tôi tức đến mức không ngủ được, gấp rút lên thuyền về nước.

Ban đầu chỉ chuẩn bị sổ đăng ký, làm tới hiện giờ, tuy lương bổng không nhiều nhưng làm việc có ý nghĩa”.
Người bạn học cũ này đã quên hết chuyện xưa bị lão thái giám trong cung tra tấn, nhìn chăm chú bảo bối trong tủ trưng bày, xem như trân bảo: “Lại nói các vị quản lý của Cố Cung chúng tôi đều là người quang minh lỗi lạc, vị quản lý cấp cao tên là Trang Uẩn Khoan, quả thật là người cứng cỏi, có một lần chúng tôi không được trả lương đúng hạn, khi ấy hắn không đến cầu chính phủ Bắc Dương, lại lấy danh nghĩa cá nhân vay nợ ngân hàng, trả đủ tiền lương cho mọi người”.
Cũng chính những người này, khi quân phiệt khắp nơi hỗn chiến, đã kiên cường bảo vệ Cố Cung.
Ngày đó, ba người họ ở lại viện bảo tàng đến tận 4 giờ chiều, dọc theo hành lang đến trước điện Thái Hoà.
Triệu Ứng Thăng không nhịn được, nhỏ giọng hỏi thăm: “Có tin tức gì của Tạ tướng quân không?”
Cô bị hỏi hơi sửng sốt, khẽ lắc đầu.
Đợi khi đoàn người của họ rời khỏi Cố Cung, cô và Triệu Ứng Khác ngồi ghế sau xe, Triệu Ứng Khác mới nói nhỏ với cô: “Thân phận Tạ Vụ Thanh quá mức đặc thù, ngay cả chỗ chúng tôi cũng không có tin gì của hắn”.
Lúc ấy cô muốn hỏi, anh nói xem, liệu anh ấy còn sống không?
Sau nghĩ lại, quyết định không mở miệng.

Nhất định anh vẫn còn sống, cô linh cảm thế.

Hà Vị thoát khỏi chuyện xưa, nhìn tờ “Trình báo” trên bàn.
“Chuyện của con với Triệu Ứng Khác, nói thật đến giờ ta cũng không hiểu thấu”, cô bảy cười nói, “Theo lý thuyết, thanh mai trúc mã, lại cùng chí hướng, nên thuận theo hôn ước thành thân”.
Có lẽ, ông trời để cô từ hôn, vì muốn cô quen biết Tạ Vụ Thanh.
“Định khi nào đi?” Cô bảy bỗng hỏi.
“Tối nay anh ấy đi trước”, Hà Vị báo, “Con không an tâm về đồ vật Bạch tướng quân nhờ vận chuyển, phải đích thân giám sát bốc dỡ hàng hoá, mang ra khỏi Bắc Bình.

Chúng con hẹn 10 ngày sau gặp lại ở Lợi Thuận Đức Thiên Tân”.
“Sau này con sẽ cảm nhận được cái gì gọi là rời xa quê hương”.

Cô bảy trêu ghẹo cô.
“Mặc kệ đi đến đâu, trong lòng con vẫn nhớ mãi Bạch Tháp, Tử Cấm Thành, còn có ba ngọn núi năm cái vườn”, cô mỉm cười, “Nhớ cả cô bảy nữa”.
Hà Vị về đến căn viện ở Bách Hoa Thâm Xử.

Con ngõ nhỏ ngoài cửa viện, đèn dầu vẫn như trước, nhà nhà náo nhiệt.
Trong viện chất đầy hòm gỗ, hơn một nửa số đó là đồ phát điện và máy móc gửi điện báo của các sĩ quan cùng một ít đồ dùng công vụ khác, còn lại là mấy thứ linh tinh vặt vãnh trong viện nhỏ này, có không ít thứ của chú thím Tạ Vụ Thanh.
Cô bước vào sân, nhác thấy ông bác lén lau nước mắt trước lu nước lớn, tuổi yeutruyen.net tác ông nay đã cao, nghĩ lần này từ biệt Tạ Vụ Thanh, chỉ e kiếp này khó gặp lại lần nữa, trong lòng nhớ nhung, ngoài miệng không nói nên lời, chỉ biết vỗ mép lu nước, khiến nước sánh hết ra ngoài.
Hà Vị không làm phiền ông bác, vòng qua mấy hòm xiểng, lướt ngang những quan quân bận rộn thu dọn đồ đạc, đi vào chính phòng.
Tư Niên nhón chân, tháo tấm ảnh chụp trên tường: “Vị này là ai ạ?”
Tạ Vụ Thanh ngồi xuống ghế, đem tấm ảnh vừa gỡ ra quấn vào tấm bố màu nâu đỏ: “Là ông chú của Tư Niên”.
Ông chú.
Cô gái nhỏ nâng niu khung ảnh, hết nhìn lại nhìn, ngẩng đầu đánh giá cha, không biết nghĩ thế nào lại nhoẻn miệng cười.

Cô nhóc vốn đã quên cuộc sống trước năm hai tuổi ở Hồng Kông, lần này xuôi Nam, với con bé mà nói, không khác gì chạy về quê cha đất tổ của mình.

.
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 54: Đông Lạnh Nhạn Bay Về Nam 1


Ngày rời kinh, tuyết ngập trời chẳng báo trước.
Ánh đèn hắt lên bóng tuyết, ngồi trong phòng thấy không khác gì ngàn vạn bóng đen lả tả ngoài cửa sổ.
Những gia đình bình thường trong ngõ Bách Hoa Thâm Xử vẫn đang ngủ mơ.
5 giờ rạng sáng, không gian tĩnh lặng chỉ còn tiếng tuyết rơi.
Ngoài cửa hàng “Tiệm sản xuất và sửa chữa gia dụng” treo đèn dầu, Tư Niên nhìn vào trong, trên kệ bày đồ gỗ chủ yếu màu nâu đen.

Những cửa tiệm sửa chữa đồ nội thất bằng gỗ hay quán bán đồ gỗ nằm rải rác khắp các con ngõ lớn nhỏ trong Bắc Bình, không hiếm gặp.

Tiểu nhị đứng trong cửa thuỷ tinh, nhìn đoàn người bên ngoài nhân lúc trời tuyết rời đi, khó tránh quan sát thêm mấy lần, nhưng nhác thấy quân phục trên người Lâm Kiêu, hắn lập tức thu lại lòng hiếu kỳ, tắt đèn trong tiệm.
“Tạ thiếu tướng quân không xem tuyết rơi đã đi rồi”.

Tư Niên tiếc nuối nhỏ giọng, “Ngài đã từng thấy tuyết ạ? Tuyết ở kinh thành ấy?”
“Từng thấy”, cô giúp Tư Niên đội mũ nhung trắng ngày đông, “Mỗi lần vào kinh đều là mùa đông”.
“Mỗi lần sao?”
Tư Niên sợ làm cô bi thương, không tiếp tục hỏi sâu, từ lúc Tạ Vụ Thanh rời kinh, cô bé liền bật máy hát.

Cô bé vốn an tĩnh cẩn trọng, nếu là ngày thường khi nghe đến chuyện về Tạ thiếu tướng quân, hẳn sẽ truy vấn đến cùng.
“Vào ngày đại hôn của Tốn Thanh hoàng đế, khi màn đêm buông xuống, ta cùng ngài lần đầu gặp mặt ở đây”, cô đứng trong gió tuyết kể, “Lần thứ hai là lúc nam bắc hoà đàm, nhưng hoà đàm thất bại, Tôn tiên sinh cũng bệnh mất”.
“Quan ngoại giao bị người Nhật Bản hại chết ở Tế Nam cũng tham gia nam bắc hoà đàm”, Tư Niên nói, “Mẹ từng bảo thế”.
“Ừm, năm ấy người ra Bắc rất nhiều”.
Từ Quảng Châu đến Nhật Bản, lại về Thượng Hải, Thiên Tân, cuối cùng dừng ở điểm cuối hành trình là Bắc Bình.

Có quá nhiều người mang theo tâm nguyện nam bắc thống nhất đến phương Bắc, liều chết cùng nghị đàm với quân phiệt.

Sau này, mỗi cái tên ấy, đều để lại một vết mực đen đặc trong lịch sử.
Hà Tri Hân khoác áo choàng đứng đợi đầu ngõ.
Lần này Hà Vị xuôi Nam, không biết ngày về, người làm cô trong nhà muốn đích thân tiễn họ đến Thiên Tân, sau khi yên ổn lên tàu mới an lòng.
Hà Vị đưa Tư Niên lên sau xe, Quân Khương mở cửa giúp Hà Tri Hân.
“Hà thất tiên sinh”.

Dưới rặng cây cạnh con ngõ, một người đàn ông mang khuôn mặt tuấn tú, bước ra từ trời tuyết lả tả.

Người đó vẫn giống hệt khi nổi tiếng, lịch sự văn nhã, ngoại trừ một lớp tuyết trắng xoá trên bả vai vì đợi lâu, không thấy có gì không thoả đáng.
Hà Tri Hân đối mặt với Chúc Khiêm Hoài: “Chúc tiên sinh”.
Hà Vị ngầm bảo Quân Khương đóng cửa xe trước.
Hai người tri kỷ trên sân khấu cách mấy năm không tới lui, vừa gặp lại, có chút cảm giác giống như chỉ vừa xướng diễn hồi đầu năm nay, giữa hậu đài hỗn loạn của Tam Khánh Viên ngẫu nhiên gặp gỡ.

Một bên là đàn ông cao bảy thước hoá trang thành nữ giới, một bên là cô gái xinh đẹp chưa kịp ăn diện, chỉ khoác ngoại bào của bậc tướng quân.

Hắn là đán, cô là sinh [1], hắn nổi tiếng khắp kinh thành với dung mạo xinh đẹp, hấp dẫn vô số người hâm mộ, còn cô ở cạnh bảo vệ hắn qua bao lần.

Sau đó, cô bị quân phiệt nhìn trúng, là hắn đích thân ra mặt hoà giải, vì cô đắc tội không ít người quyền quý…
[1] “Đán” (旦), chỉ vai diễn là con gái trong kinh kịch.

Dựa theo từng vở kịch khác nhau mà chia vai “đán” thành thanh y, hoa đán, võ đán, lão đán.

“Sinh” (生) chỉ vai diễn con trai trong kinh kịch, dựa theo tuổi tác chia “sinh” thành lão sinh, tiểu sinh, võ sinh.

Ngoài ra trong kinh kịch còn có vai “tịnh” (dành cho nam) – thường là người hào kiệt hoặc thư sinh, đặc trưng vẽ nhiều màu sắc lên mặt; và “sửu” (cả nam lẫn nữ) – chỉ người xấu xa hoặc hài hước lanh lợi.
Trên phố truyền tai nhau chuyện tình vụng trộm của hai người, nhưng mỗi lần có ai hỏi bọn họ đều phủ nhận, chỉ lo sợ bản thân nổi tiếng quá mức liên luỵ đối phương.

Chứng cứ duy nhất chứng minh cho quan hệ của họ, chỉ có một món đồ trang sức, là vào năm Chúc Khiêm Hoài đến tuổi cập quan [2], Hà thất tiên sinh đưa lễ vật đến tận nhà.
[2] Thời xưa, nam giới vào khoảng 20 tuổi sẽ bắt đầu đội mũ, đó là nghi thức báo hiệu họ là đàn ông trưởng thành, gọi là lễ quan tuế (cập quan)
“Thất tiên sinh chớ trách”, Chúc Khiêm Hoài áy náy nói, “Chúc mỗ nghe tin tiên sinh rời kinh, muốn đến tiễn một chút”.
Chúc Khiêm Hoài chần chờ một lát, lại hỏi: “Lần này Thất tiên sinh xuôi nam, có quay về kinh nữa không?”
Hà Tri Hân bất ngờ, không biết Chúc Khiêm Hoài nghe được tin này từ yeutruyen.net đâu.

Có điều tin tức chỉ đúng một nửa, nửa còn lại chính là, sau khi cô tiễn Hà Vị lên tàu, vẫn trở về Bắc Bình, cùng mấy phòng khác ở Hà gia đón Tết Nguyên đán.
“Nếu tôi không về kinh nữa, Chúc tiên sinh có muốn nói lời cuối với tôi không?” Hà Tri Hân lên tiếng.
Ánh mắt Chúc Khiêm Hoài hơi loé lên, rất nhanh đã ảm đạm.
Hắn nhìn thẳng vào cô.
Hà Tri Hân chờ một lúc lâu, Chúc Khiêm Hoài khẽ cười khổ, dịu dàng bảo: “Hà thất tiên sinh đáng lẽ đã lên trời xuống đất từ lâu rồi, vốn không nẹn bị trói chân trong mảnh đất kinh thành.

Chỉ là làm ăn buôn bán rất hao tổn tinh thần, sau này… phải chú ý sức khoẻ”.
Dứt lời, Chúc Khiêm Hoài dời tầm mắt, không muốn để người khác nhìn thấu tâm sự của mình: “Buổi sáng còn có tiết học, Chúc mỗ cáo từ trước.

Bảo trọng”.
Cả hai tạm biệt ở đầu ngõ, cô bảy lên tàu hoả vẫn như người mất hồn.
Đến khi đến nhà chú chín ở Thiên Tân, Hà Tri Hân viện cớ lên lầu trước.
Hà Vị thu xếp cho Tư Niên xong, ngồi ở phòng trà nhắc đến Chúc Khiêm Hoài, Hà Tri Khanh không kinh ngạc lắm, chỉ khẽ thở dài.
“Chú chín biết chuyện gì sao?” Cô hỏi.
“Có nghe người ta nói mấy câu”, Hà Tri Khanh v**t v* con mèo trong lòng ngực, thấp giọng kể, “Những năm cuối triều Thanh không cho phép hành nghề m** d*m, xung quanh Bát Đại ngõ nổi tiếng nhất là những bé trai theo học hát kịch, lúc ấy chuyện xấu để lại… có người vốn thích đàn ông, bắt trói Chúc Khiêm Hoài đi.

Ông ta nhốt Chúc Khiêm Hoài một thời gian dài, sau đó bị cấp dưới tạo phản g**t ch*t, lúc này Chúc Khiêm Hoài mới trốn thoát quay về”.
Chú chín dừng lại.
“Cô bảy…”
“Chị ấy biết.

Chị ấy từng hỏi ta, mà ta thì trả lời trung thực”.
Hà Vị phút chốc không nói nên lời.
Chú chín lại bảo: “Ngày trước khi ta còn ở kinh thành, từng gặp mặt Chúc Khiêm Hoài mấy lần, chuyện này cho dù cô bảy con có buông xuống đi nữa, chưa chắc hắn đã quên”.
Kinh Tân cả ngày tuyết rơi dày đặc, trong phòng trà không thắp đèn, ánh sáng leo loét ảm đạm.
Hai chú cháu biết tình duyên của Hà Tri Hân cũng trầm mặc một chốc.
“Trong tô giới có mấy người bạn thường tìm ta tâm sự”, Hà Tri Khanh cầm một phong thư trên bàn nhỏ, “Ở đây có mấy cái chìa khoá, bao gồm chìa khoá chung cư và địa chỉ nhà ở Kim Lăng, Hỗ Thượng [3] cùng Quảng Châu.

Trên đường đi trọ ở nhà người dân địa phương càng an toàn hơn”.
[3] Cách gọi khác của Thượng Hải
Hà Vị nói: “Lần tới gặp lại, không biết là khi nào”.
“Chờ đến thái bình, không phải có thể gặp lại sao?” Hà Tri Khanh tận mắt chứng kiến triều Thanh diệt vong cùng quân phiệt yếu nhược, trong lòng cũng thoáng hơn, “Anh hai trước khi qua đời cứ nói đi nói lại, nếu không phải anh ấy trói buộc con thì con đã xuôi nam từ lâu rồi”.
Hà Tri Khanh quan sát sắc mặt cô nhẹ nhàng, ngẫm nghĩ rồi hỏi: “Con biết vì sao cậu ấy đột nhiên muốn xuôi Nam không?”
Chẳng lẽ còn có ẩn tình?
“Biết trước nó không nói với con”, Hà Tri Khanh bảo, “Nó có một đứa cháu trai tên Ngô Hoài Cẩn, phất cờ khởi nghĩa ở phương nam, nhanh chóng bị chính phủ Nam Kinh phản công.

Trận chiến tổn thất nặng nề, hiện giờ mọi người đều phải đến Hồng Kông tị nạn.

Lúc này Tạ Vụ Thanh muốn đi, hẳn là vì điều đó”.
“Anh ấy cũng chưa nói chuyện của Hoài Cẩn”.

Cô bất giác nói.
Tạ Vụ Thanh chỉ bảo, phương Nam cần anh quay về.

Mùa đông năm nay, Hải Hà [4] đóng băng sớm.
[4] Hải Hà là con sông chảy từ Bắc Kinh, Thiên Tân đến Vịnh Bột Hải của Hoàng Hải.
Tạ Vụ Thanh và cô hẹn nhau xuôi nam, chính là chuyến tàu cuối cùng trong năm.
Đêm trước khi lên tàu, cô dọn đến Lợi Thuận Đức trọ để gần cảng hơn.
Vẫn vị trí kia, Tạ Vụ Thanh đặt sẵn ba căn phòng.
Tối đến, Khấu Thanh dỗ Tư Niên ngủ ở cách vách.

Hà Vị ngồi trong phòng, không thấy được ánh đèn bên kia, không tài nào an tâm, đến hơn hai giờ khuya, ban công đột nhiên có ánh sáng, là từ phòng cách vách chiếu sang.
Cô khoác áo choàng, đẩy cửa ra.
Trên ghế mây ngoài ban công, có một chấm đỏ ẩn hiện.

Tạ Vụ Thanh cởi áo ngoài, nằm tại chỗ, trong tay là tách cà phê bốc khói nghi ngút, dập tắt chấm đỏ ở đầu ngón tay.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Anh thấy Hà Vị đi ra, ném tàn thuốc xuống đất, còn áo ngoài treo trên ghế mây bên cạnh, đứng dậy bước đến trước mặt cô.
“Cứ tưởng em ngủ rồi”, anh nhỏ giọng nói, “Định để em ngủ đến năm giờ mới sang gõ cửa”.
“Không thấy anh đến khách sạn, em ngủ không được”.
Ngón tay Tạ Vụ Thanh khép lại, phẩy ra ngoài.

Bảo cô lùi về sau.
Anh chống tay lên rào chắn bằng đá ngoài ban công, trong bóng đêm lặng lẽ nhảy qua đầu kia lan can đến chỗ cô.

Hà Vị thấy bóng anh đáp xuống, tim đập ngày càng mạnh, nhỏ giọng trách cứ: “Mấy tuổi rồi, còn làm mấy trò nguy hiểm thế này”.
Tạ Vụ Thanh trêu đùa nói: “Ý cô hai chê Tạ mỗ già rồi sao?”
Hai người nhìn nhau cười.
Mười ngày sau hôn lễ lại ly biệt, so với quá khứ càng không thể chờ nổi.

Trong lòng chỉ trông sớm gặp lại, sớm thấy nhau.
Hà Vị phả khói trắng, phiêu đãng bên sườn mặt nhanh chóng tan đi.
“Ở quan ngoại có lạnh không?” Cô hỏi.
“So với Kinh Tân thì lạnh hơn nhiều, tuyết không qua cẳng chân”.
Tạ Vụ Thanh nắm tay cô, siết thật chặt, qua một lúc lại nói: “Lần này đến Phụng Thiên cứu được mấy người đưa đến Liên Xô, hai trong số đó từng bị bắt cùng lúc với anh”.
“May quá, có thể cứu thoát rồi”.

Cô vui vẻ cho những người xa lạ chưa từng gặp mặt.
Tuyết rơi cả ngày, đến khuya thì dừng.
Đêm tối mây đen tản mát, ánh trăng hiện ra.
Hai người ngầm hiểu không cần nói với nhau, nhưng vẫn biết chẳng ai muốn về phòng.
Hà Vị ngước nhìn bầu trời đêm phương Bắc.

Năm cô đến Nam yeutruyen.net Dương vẫn còn rất nhỏ, không hiểu nhớ nhà, hai từ “quê cũ” cũng không có ấn tượng sâu sắc.

Hiện tại đã khác.
“Anh nghĩ thời cổ đại, có người cũng gả đến nơi xa thế sao?” Cô bất chợt hỏi.
“Cổ đại?” Tạ Vụ Thanh chắp tay sau lưng, nhìn đêm đen, “Cổ đại ít người, chủ yếu sống ở Trung Nguyên, chỉ cần qua bờ Li Giang đã là nơi lưu đày”.
Đúng thật vậy.
Hà Vị vốn muốn hỏi tình hình gần đây của Ngô Hoài Cẩn, nhưng bỗng nghĩ, ngày mai sau khi lên đường họ còn cả tá thời gian hàn huyên, tối nay không gấp gáp.
Để tránh tai mắt của người khác, trời vừa sáng, hai nhóm người lần lượt xuất phát đến cảng Hải Hà.
Trên bến tàu, công nhân xưởng muối đang khuân vác muối tinh luyện.

Vì là hàng hoá quan trọng lên lô muối này được xếp cuối cùng, vừa đến Chu Sơn sẽ được bốc hàng lên bờ trước nhất.
Lúc Hà Vị tới nơi, hành khách chỉ mới lên tàu.
Cô hai Hà cứ vào chuyến tàu cuối năm và đầu xuân sẽ tự mình đến bến cảng đưa đón hành khách, đây là quy định có từ rất lâu, chẳng ai phát giác điều bất thường.

Kế hoạch của cô cũng thuận theo những năm trước, sau khi tiễn khách lên tàu xong thì lặng lẽ đi vào kho hàng.
Bên này có khách quý nhận ra cô, dừng bước hàn huyên, kéo theo sự tò mò của những hành khách khác, mọi người không ngừng suy đoán vị tiểu thư danh môn cả người trắng muốt này là con gái nhà ai, lại có thể khiến những người đeo quân hàm thượng tướng, trung tướng xem như bạn cũ đã lâu không gặp, một mặt tươi cười chào đón.
Chờ đến khi xe của Tạ Vụ Thanh chạy đến bến cảng, anh xuống xe, Hà Vị liền lộ ý cười.
“Nghe người ta bảo, khách sạn Lục Quốc ở Bắc Bình có hỉ sự?” Một vị thượng tướng bên cạnh Hà Vị cười tươi hỏi han.

“Ài”, cô ra vẻ không để tâm, “Đó chỉ là mấy chiêu dỗ dành con gái của Tạ thiếu tướng quân thôi.

Ngài xem, không phải hắn lại đi à”.
“Tạ thiếu tướng quân ra Bắc mấy bận đều vì cô hai, nhưng không cưới được cô hai về, là ngài ấy vô phúc”.
Hà Vị cười cười.
Tạ Vụ Thanh dẫn theo Lâm Kiêu, cùng một đoàn sĩ quan khiêm tốn lên tàu, lúc lên thang gỗ, anh mới tháo găng tay trắng, phất tay về hướng này, giống một công tử ăn chơi bỏ giai nhân mà đi.
Hà Vị nhìn theo anh.
Ngoài bến tàu, bốn chiếc xe liên tiếp chạy vào, theo sau còn có một xe tải quân dụng.
Trong lòng Hà Vị trầm xuống, bất an liếc mắt boong tàu, Tạ Vụ Thanh đã không thấy bóng dáng, có lẽ anh vào khoang trong rồi.
“Đi hỏi một chút, cố gắng giữ chân họ, đừng để ảnh hưởng đến tàu rời cảng”, cô dặn dò giám đốc công ty tàu thuỷ, “Càng không được liên luỵ hành khách”.
Giám đốc tức khắc dẫn theo mấy người, cùng cảnh sát tuần tra bến tàu đến tiếp đón bọn họ, lại không ngờ, người xuống xe là thương nhân Nhật Bản từng xuất hiện ở công quán của Cửu tiên sinh.

Bên cạnh vị thương nhân ấy, trừ bỏ phiên dịch viên, mấy quân nhân người Nhật cùng một gã đàn ông mặc kimono, người khác là cục trưởng Cục Cảnh sát Thiên Tân.

Trong mười mấy người, chỉ có một khuôn mặt quen thuộc, cũng là lão thái giám của Tốn Thanh hoàng thất.
Giám đốc không thể cản được, vị thương nhân người Nhật kia dẫn theo một đám người, đi đến trước mặt Hà Vị.
“Cô hai Hà”.

Phiên dịch viên thay thương nhân người Nhật chào hỏi cô.
Hà Vị mỉm cười, gật đầu.
Một quân nhân người Nhật trong số đó nói mấy câu, phiên dịch viên thuật lại: “Có người báo án, nói xưởng muối cất giấu buôn lậu súng ống”.
“Súng ống?” Ý cười trên mặt cô không giảm, “Vận tải đường thuỷ Hà gia không nhận súng ống đạn dược, đây là quy định.

Cho dù có văn bản phê duyệt tôi cũng không đưa lên tàu, huống hồ là cất giấu.

Chư vị đang nói đùa sao?”
Cục trưởng Cục Cảnh sát Thiên Tân quen biết Hà Vị, thấp giọng nói: “Cô hai không cần gánh chịu hậu quả vì người ở xưởng muối, bọn họ đã nói có, vậy để bọn họ tra xét”.
“Không thể nói như vậy”, cô lắc đầu, “Khi hàng hoá của hành khách đến bến tàu, tất cả đều được khai báo với hải quan, cũng được người của bến tàu kiểm tra kỹ lưỡng.

Bây giờ hàng hoá mang lên tàu, chỉ vì người Nhật nói một câu, lại chuyển xuống kiểm tra từ đầu, không hợp quy củ”.
Cô dứt lời, nhìn cục trưởng: “Hơn nữa, đây vốn không phải tô giới, người Nhật không có quyền kiểm tra hàng hoá”.
Lần trước phiên dịch viên có dịp đến nhà Cửu tiên sinh, từng gặp gỡ cô hai này, rất thưởng thức cách làm người của cô, vừa nghe cô nói xong, sắc mặt hắn thay đổi, nhỏ giọng khuyên bảo: “Cô hai, trên xe tải kia là binh lính Nhật Bản, cô không cho tra xét, nếu những binh lính kia xuống đây, tất sẽ cưỡng ép kiểm tra”.
Hà Vị nhíu mày, không vui nhìn bọn họ: “Các người đang uy h**p tôi à?”
Người Nhật hỏi phiên dịch viên, bọn họ trao đổi với nhau thế nào rồi, phiên dịch viên đành phải nói đại khái qua loa.
Quân nhân Nhật Bản hướng về xe tải hô một tiếng, cửa phụ lên phó lái bị đẩy ra, một sĩ quan nhảy xuống, mở cửa sau xe tải.

Trên xe không ngừng có rất nhiều binh lính Nhật Bản đi xuống, trên tay mang súng.
Hà Vị càng lúc càng bất an, nhưng trên mặt vẫn không đổi sắc.
Vốn cô đã quen nhìn đám quân phiệt ầm ĩ giương cung bạt kiếm, thật ra chẳng sợ mấy thứ này.

Đặc biệt hơn, cô còn là vợ của một tướng quân.
Cô nháy mắt với giám đốc đứng cách đó không xa, giám đốc chạy lên thang gỗ vào khoang tàu, bên này bốc hàng còn chưa xong, mấy vị thượng tướng vừa mới lên tàu đã xuất hiện, dẫn theo phó quan bước xuống.
Mà Tạ Vụ Thanh trên boong tàu hình như cũng nghe thấy tiếng gió, đưa Lâm Kiêu cùng vài vị quan quân dọc theo thang gỗ xuống tàu.
Người Nhật vốn tưởng không có gì đáng ngại, cùng lắm chỉ là mấy vị tướng quân muốn bảo vệ người đẹp.

Không ngờ ngay cả Tạ Vụ Thanh cũng xuống, người đứng ngoài bến cảng nhiều gấp mấy lần binh lính Nhật lập tức chạy tới, họ mặc thường phục, trong tay cầm súng.
Tất cả họ đều do cô ba Trịnh gia sắp xếp đến tiễn Tạ Vụ Thanh.
Khung cảnh lâm vào thế giằng co không dứt, vị thương nhân và sĩ quan người Nhật nhẹ giọng bàn bạc mấy câu, nhìn về phía cục trưởng Cục Cảnh sát.
Cục trưởng Cục Cảnh sát không thể không căng não, tiến lên cười hỏi: “Cô hai, vị này là…” Hắn không biết người này, nhưng nhận ra bộ quân phục cũ kỹ lỗi thời trên người anh.
Những người có thể mặc quân trang này, còn mang theo quân hàm trên người, đa phần đều không còn nữa.
“Vị này chính là Tạ thiếu tướng quân”, cô đáp, “Tạ Vụ Thanh”..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 55: Đông Lạnh Nhạn Bay Về Nam 2


Trên xe tải quân dụng, mui xe lót bạt xanh bị gió biển thổi bay phần phật.
Con tàu chở khách cuối cùng xuất cảng Thiên Tân, không chỉ mang theo mấy vị thượng tướng, mà còn có rất nhiều khách quý từ tô giới Thiên Tân quay về tô giới Thượng Hải.
Khách tàu tụ tập trên bến ngày càng nhiều, đều hướng mắt về phía chỗ dỡ hàng hoá.
“Tạ thiếu tướng quân, hân hạnh”.

Cảnh sát trưởng muốn bắt tay.
Tạ Vụ Thanh nhận găng tay trắng từ Lâm Kiêu, đeo vào trước mặt cảnh sát trưởng rồi mới vươn tay bắt lấy.
“Thiếu tướng quân đang định xuôi Nam à? Là đi Kim Lăng?” Cảnh sát trưởng cố tình lảng tránh chuyện muối ăn, như thể không trông thấy đám lính Nhật Bản lộn xộn ở giữa cùng những họng súng đen sì chĩa vào tứ phía.
Tạ Vụ Thanh không đáp lời, chỉ nhìn Hà Vị.
Cô mỉm cười: “Hiểu lầm nhỏ thôi”.
Cảnh sát trưởng cười rộ lên, hai nếp nhăn trên khoé mắt càng thêm đậm nét, cha nuôi của cảnh sát trưởng vốn thuộc Thanh bang, rất có tiếng ở đất Thiên Tân, ngày thường quen thói hoành hành, theo lý thuyết không nên nhìn sắc mặt của Thần Phật qua đường.

Có điều trước mắt vị Tạ thiếu tướng quân qua đường này lại xuất hiện hơn hai trăm thương súng, không ai muốn ôm cực vào thân, đành phải khom lưng cười làm lành.
“Chúng ta nhận được tin, có người cất giấu súng ống trên tàu này”, cảnh sát trưởng chủ động giải thích, “Tô giới Nhật cũng nhận được tin tương tự, Điền Trung Quân liền dẫn người đến hỗ trợ điều tra.

Cũng không phải chuyện to tát gì, chỉ cần cô hai tạo điều kiện, để chúng ta lên tàu xem xét một chút.

Như vậy chúng ta thuận lợi báo cáo công việc, mà tàu cũng dễ xuất bến”.
“Tạ mỗ là quân nhân, không hỏi chính sự, càng không muốn quản quan hệ giữa địa phương với người tô giới”, Tạ Vụ Thanh nói, “Nhưng nếu liên quan đến cô hai và vận tải đường thuỷ Hà gia thì lại khác”.
Các thương nhân và quan quân người Nhật gọi vị thái giám kia lên, dùng tiếng Nhật dò hỏi lai lịch của Tạ Vụ Thanh.

Lão thái giám khiêm tốn cúi đầu, đại khái nói học trò của Tạ Vụ Thanh trải rộng khắp quân đội trong thiên hạ.

Lão thái giám cũng mơ hồ nhắc nhở người Nhật, nhấn mạnh Tạ Vụ Thanh là danh tướng xuất thân từ phương Nam, căn cơ không ở phương Bắc, một khi phát sinh tranh chấp, người của quan ngoại cùng tô giới Thiên Tân không thể gánh nổi trách nhiệm.
Trước mặt cảnh sát trưởng là Tạ Vụ Thanh, sau lưng là người Nhật, hai bên đều không thể đắc tội.

Hắn không nghe hiểu tiếng Nhật, thấp giọng hỏi phiên dịch viên, lão thái giám cùng đám người Nhật Bản nói gì, phiên dịch viên thầm thì báo lại nguyên văn.
Lời của lão thái giám đánh thức cảnh sát trưởng, thế lực người Nhật nằm ở quan ngoại cùng tô giới Thiên Tân, hôm nay cho dù ảnh hưởng thoả thuận quốc tế nên không khai hoả, nhưng nếu bắn chết một cảnh sát trưởng thì quá dễ dàng.

Đám người lập tức lên tàu xuôi Nam, chẳng ai dám đuổi theo…
“Tạ thiếu tướng quân, cô hai Hà”, cảnh sát trưởng thấp giọng bảo, “Việc này nói trắng ra, chính là người Nhật muốn hợp tác chuyện muối ăn với cô hai nhưng không thành… Nếu trên tàu thật sự không giấu súng ống, chi bằng để họ lên đó, tra xét xong thì đuổi đi.

Còn nếu hai bên tiếp tục giằng co, khai hoả với người Nhật, náo loạn ầm ĩ lại không tốt cho nhiệm vụ ngoại giao”.
Cảnh sát trưởng nói xong, lại dịu giọng bổ sung: “Đến Nam Kinh bên kia cũng không dám đắc tội người Nhật, hà tất gì Tạ thiếu tướng quân lại ra tay chứ? Chuyện ở Tế Nam lúc trước, không phải quân Bắc phạt cũng chẳng dám chọc vào người Nhật sao”.
Tạ Vụ Thanh nhíu chặt mày.
Năm đó khi ở phương Nam, anh cùng những người bị bắt giữ hay tin dân trong thành Tế Nam bị đồ sát, không ai không cắn răng đến máu chảy đầm đìa.
Khi ấy, quân Bắc phạt cũng có mặt ở Tế Nam, lại nhiều lần nhân nhượng thoả hiệp với người Nhật, quân chủ lực đi đường vòng, chỉ để lại hai trung đoàn thủ thành.

Hai trung đoàn kia lại là nam nhi nhiệt huyết, không ngại tắm máu chiến đấu oanh liệt suốt mấy đêm dài, sau đó nghe mật lệnh rút đi, mới khiến thành Tế Nam bị diệt.
Đó là năm 1928.

Quân Bắc phạt từ lâu không còn là quân Bắc phạt năm xưa, hiện giờ đã trải qua phản bội cùng thanh tẩy.
“Tạ mỗ không phải kẻ nào đó nhu nhược ở Nam Kinh”, Tạ Vụ Thanh nghiêm túc nói, “Chiến tranh nổ ra, người dân có thể bỏ chạy nhưng quân nhân tuyệt đối không thể thối lui”.
Không xa phía sau Tạ Vụ Thanh, chính là những quan chức cấp cao của chính phủ Nam Kinh.

Các tướng quân hiểu rõ, những vị tướng thành danh từ sớm, mỗi người đều cứng cỏi, dám nói dám làm, càng có gan đâm thẳng vào sống lưng của chính phủ Nam Kinh.
Đối với những vị tướng có công lao lớn, địa vị quan trọng, ai cũng mở một mắt nhắm một mắt cho qua, chỉ vờ như không nghe thấy, không nhìn thấy, đỡ phải nhọc lòng.
Cảnh sát trưởng thấy thần sắc Tạ Vụ Thanh, nhận ra mình lỡ lời.

Hắn sợ bản thân chọc giận Tạ Vụ Thanh, quay sang cầu cứu Hà Vị.
Hà Vị khẽ lắc đầu với Tạ Vụ Thanh, thái độ nũng nịu, tỏ vẻ oán trách: “Gọi người mời anh yeutruyen.net đến, là vì trông thấy một xe tải binh lính.

Anh đến rồi ngược lại càng nói càng châm dầu vào lửa”.
Cô cười dịu dàng với Tạ Vụ Thanh: “Hôm nay là ngày lành anh xuôi Nam.

Tức giận vì người khác thật không đáng”.
“Được”, trong mắt Tạ Vụ Thanh mang theo ấm áp, ôn nhu đáp, “Làm thế nào đều theo ý em”.
Hà Vị đắn đo một lát, nói với cảnh sát trưởng: “Nhà tôi làm vận tải đường thuỷ ở Thiên Tân không phải ngày một ngày hai, hôm nay nếu không có lệnh tra xét mà cho các người lên tàu, về tình về lý e là khó giải thích”.
“Là chúng tôi không chuẩn bị chu đáo”, cảnh sát trưởng tạ tội nói, “Những quan quân dẫn theo binh lính đến đây, không thể đắc tội”.
“Hoàn cảnh của cảnh sát trưởng cũng khó bề”, cô ngẫm nghĩ lại nói, “Không bằng thế này, chúng ta mỗi người lùi một bước.

Tôi sẽ để bọn họ lên tàu kiểm tra, ngược lại các người phải giao ra kẻ cung cấp tin tức.

Nếu trong lô muối không giấu súng, nhất định phải xử lý người hãm hại chúng tôi, hơn nữa không phải do anh làm, mà là đưa đến Bắc Bình”.
Cảnh sát trưởng hơi ngẩn người, không hiểu ý tứ đằng sau.
Cô bèn giải thích: “Hôm nay tôi đưa ra điều kiện này, không phải vì chính mình, mà vì lo cho các đồng nghiệp đối tác trong kinh doanh.

Nếu mưu hại người không cần đền tội, ngày sau tất yếu sẽ có kẻ khác noi theo, vậy chuyện làm ăn của chúng tôi thật không xong rồi”.
Cảnh sát trưởng như thể bị kích động ý chí chiến đấu: “Vậy nếu trong lô muối có cất giấu súng thì sao?”
Hà Vị cười trừ: “Người của tôi ở đây, các người cứ việc bắt lấy”.
Cô lại bổ sung: “Tôi tin chắc, các vị đã chuẩn bị xong mới đến, cho dù Tạ thiếu tướng quân có mặt đi chăng nữa, cũng chẳng ai ngăn được các người”.
Phiên dịch viên báo lại với người Nhật, mấy tên Nhật Bản đổi sắc, tuy không hiểu dụng ý của Hà Vị nhưng bọn họ tin tưởng tin tức của chính mình.
Người Nhật không có hứng thú với súng ống, bọn họ chỉ cần một cái cớ để nắm được nhược điểm của Hà Vị, ép cô vào khuôn phép.

Lúc này, người Nhật không kì kèo nữa, lập tức hạ lệnh, dẫn theo binh lính hàng ngũ chỉnh tề bước lên khoang tàu.
“Các vị chờ chút”.

Hà Vị gọi bọn họ lại.

Khuôn mặt người Nhật lộ vẻ vui mừng, đoán chừng cô đã biết sợ.
“Lời tôi vừa nói, không phải tuỳ tiện nói bừa”, cô bảo, “Chỗ này không phải tô giới, để binh lính Nhật Bản lục soát tàu là không hợp quy củ.

Mong cảnh sát trưởng dẫn đường, đích thân lên tàu xem xét”.
Cảnh sát trưởng lần nữa sửng sốt, không ngờ Hà Vị lại tính toán chuyện nhỏ không đáng kể như vậy.
“Tôi vẫn nên ở đây với cô hai và Tạ thiếu tướng quân”, cảnh sát trưởng vẫy tay với thuộc hạ, mười mấy cảnh sát bước lên tàu.

Thương nhân người Nhật không yên tâm, cũng viện cớ theo sau.
Cô không hoang mang chút nào, chỉ dặn dò giám đốc báo cho khách trong khoang thượng hạng, nói cảnh sát ở bến tàu bất ngờ kiểm tra hàng hoá, chờ thêm lát nữa mới bốc hàng.
Không lâu sau, mấy vị quản gia của nhóm cựu quân phiệt xuống tàu, đi đến cạnh Hà Vị hỏi thăm tình hình.
Ở Thiên Tân có một nhóm quân phiệt cựu phái viện cớ dưỡng bệnh, sống ẩn dật nhiều năm trong tô giới, hiện giờ thấy phía bắc hỗn loạn, cùng nhau khăn gói về nam.

Hành trình của bọn họ đều qua tay Hà Vị, cực kỳ tin tưởng vận tải đường thuỷ Hà gia.

Vừa nghe nói cảnh sát bến tàu làm chậm trễ giờ khởi hành, một đám người tức giận, từ trong khoang tàu phát điện tín hỏi tội Tổng cục Thiên Tân.
Khoảng hai mươi phút sau, một chiếc xe màu đen của Ban Thư ký Tổng cục tiến vào bến tàu.
Tổng cục thư ký vừa xuống, liền nhận ra người Nhật và người Trịnh gia ở Đông Bắc đang rút súng nhắm vào nhau giữa bến tàu.

Ba tỉnh Đông Bắc và người Nhật vốn có thâm thù đại hận, chuyện này cũng không quá ngạc nhiên, kỳ lạ lại trùng hợp hôm nay, đột nhiên đối đầu ở bến tàu Hải Hà.
Tổng cục thư ký quan sát bốn phía, xa xa phát hiện Hà Vị, hai ba bước chạy đến chào hỏi: “Cô hai thứ lỗi, thứ lỗi”.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Hà Vị đáp: “Không sao.

Không phải làm ăn không thuận, người Nhật chỉ muốn tìm thứ gì đó”.
Tổng cục thư ký tháo gọng kính viền vàng xuống, nhẹ giọng nói: “Tình huống này, cũng chỉ có cô hai mới giải quyết được.

Sau khi mọi chuyện kết thúc, kính mong cô hai nể mặt, dùng một bữa cơm”.
Hà Vị cười cười, không gật đầu, chỉ nhìn Tạ Vụ Thanh.
Thư ký tay cầm kính, theo tầm mắt Hà Vị phát hiện người đàn ông bên cạnh.
Tổng cục thư ký lăn lộn nhiều năm trên quan trường, tay sững lại, giống như bất ngờ vui mừng bộc phát: “Vị này là…” Hắn bỗng thấy mình thất lễ, liền đeo kính lên, cúi người mang theo mười phần tôn kính với Tạ Vụ Thanh, “Năm ấy Nam Bắc hoà đàm, tại hạ từng có cơ may gặp mặt thiếu tướng quân.

Lúc ở Lợi Thuận Đức, tôi và thư ký Tấn từng tiếp đón nhóm người ra bắc đàm phán, không biết Tạ thiếu tướng quân có còn nhớ không?”
Tạ Vụ Thanh gật đầu với người phụ trách Tổng cục, nói nơi ở: “Lầu ba Lợi Thuận Đức”.
“Đúng vậy, đúng vậy”.
Sống trên đời này, có người liều mạng muốn người khác nhớ kỹ, muốn lưu lại một chút dấu vết trong ký ức của kẻ khác nhưng đều tốn công vô ích.

Mà có người, chỉ cần xuất hiện thoáng qua, liền khắc sâu trong sinh mệnh của tập thể, không cách nào quên lãng, cũng không thể xoá nhoà, dù cho là mười năm, hai mươi năm đi chăng nữa, vẫn không phai nhạt.
Năm ấy, Tổng cục thư ký chỉ là một trợ lý quèn, đi theo sau thư ký đại biểu của chính phủ lâm thời Bắc Kinh.

Khi cửa thang máy bằng đồng mở ra tại tầng ba của Lợi Thuận Đức, vị tướng quân này đứng sau hai vị tướng quân trung niên, trầm mặc bước khỏi cửa sắt, đi ngang trước mắt Tổng cục thư ký.
Thư ký đại biểu chính phủ lâm thời Bắc Kinh từng nhận xét, đây là một vị tướng trẻ chiến công hiển hách, không dễ kết thân.
Mà vị trợ lý nhỏ đi theo thư ký đại biểu, mặc dù đang làm việc cho chính phủ quân phiệt, nhưng lại thật lòng mong mỏi hoà đàm thành công.

Hắn luôn khâm phục vị tướng quân Tạ Vụ Thanh đến từ phương nam này.
“Mong Tạ thiếu tướng quân khoan thứ, chỉ cần trên tàu không có bất kỳ khẩu súng nào, kẻ hèn này nhất định sẽ tra xét rõ ràng”.

Tổng cục thư ký cam đoan, “Nhất định sẽ cho cô hai một câu trả lời thoả đáng”.
Hà Vị chưa bao giờ lo lắng về chuyện lô hàng.
Cô nhìn từng đợt người ở bến tàu, lại lo nghĩ về một vấn đề khác.

Trên bến tàu quá đông đúc, hơn trăm đôi mắt nhìn chòng chọc, căn bản cô không có cơ hội lên tàu.
Tệ hơn, đây lại là chuyến tàu chở khách xuất cảng cuối cùng năm nay, nếu muốn ra biển lần nữa, chỉ có thể đợi đến mùa xuân năm sau.
Rất nhanh, người phụ trách kiểm tra kho hàng trên tàu đã quay lại.
Sắc mặt người Nhật khó coi vô cùng, ngọng nghịu cứng nhắc nói xin lỗi.

Một loạt binh lính Nhật bò lên xe tải quân dụng, trong cơn gió bắc gào thét, vải bạt xanh trùm kín mui xe mang theo những khuôn mặt ngoại quốc rời khỏi bến tàu.
Tin tức người Nhật nhận được quả không sai, nhưng ngoại trừ ba người Hà Vị, Tạ Vụ Thanh cùng Bạch Cẩn Hành, và tâm phúc của Tạ Vụ Thanh, không một ai biết được lô súng ấy rốt cuộc cất giấu nơi nào — hiện giờ, ắt hẳn hai xe tải muối đang băng qua Bảo Định, do Bạch Cẩn Hành cùng huyện trưởng nhận tiền quyên góp đích thân trấn thủ, đi về hướng Tây Bắc.

Sau khi muối được chuyển đến khu vực gặp thiên tai, lô súng giấu trong muối sẽ vận chuyển từ Tây Bắc đến lưu vực sông, theo con tàu của vận tải Hà gia ở Trường Giang chuyển đến hồng khu.
Đây là ý tưởng bất ngờ nảy ra của Hà Vị tại Quảng Đức Lâu đêm đó.
Thời trẻ Bạch Cẩn Hành từng tòng quân ở Tây Bắc, nắm rõ quan ải trọng yếu của Tây Bắc trong lòng bàn tay, nhỡ đâu gặp biến cố, sẽ dễ xử lý hơn so với đi đường biển.

Vì vậy khi cô làm việc thiện, cũng mở ra một con đường áp tải súng ống.

“Tạ thiếu tướng quân yên tâm, chuyện ở bến tàu hôm nay, tôi sẽ xử lý với cô hai”.

Tổng cục thư ký thân thiện nói.
Người mưu tính như Tạ Vụ Thanh, sao không nhìn thấu tình thế trước mắt.

Hà Vị đã mất cơ hội âm thầm lên tàu.
Hắn nhìn về phía Hà Vị.
Đáy mắt cô ánh tia luyến tiếc, nhưng nhanh chóng che đậy đi.

Cô phải bảo đảm cho tàu chở khách khởi hành, để Tạ Vụ Thanh thuận lợi xuôi Nam trước.

Khuôn mặt nhỏ nhắn ẩn dưới cổ áo hồ ly trắng, càng làm nổi bật con ngươi tối đen, mang theo hơi nước không cách nào kìm nén: “Thiếu tướng quân nên xuất phát rồi, nếu tiếp tục kéo dài, chỉ e những vị khách khác sẽ ầm ĩ”.
Dứt lời, cô bổ sung: “Thiếu tướng quân danh tiếng lớn, nếu có thể thay em giải thích với mọi người trên tàu… thật tốt quá”.
Tạ Vụ Thanh thay cô gạt lớp lông hồ ly trắng, ngắm nghía kỹ khuôn mặt cô.
Hai người có quá nhiều lời muốn nói, nhưng lúc này không thể thốt thành câu.
Tạ Vụ Thanh vốn định yeutruyen.net đưa cô theo cùng, dù có kham khổ, ít nhất cô vẫn có thể biết anh nơi nào.

Hôm nay ly biệt, qua mấy tháng nữa, tình thế phía Nam ra sao, không ai biết trước được.
Tạ Vụ Thanh và cô đối mặt, trong vô số ánh nhìn chăm chú, cười nói: “Lần này, Vụ Thanh lại thất hứa rồi”.
Hà Vị khẽ lắc đầu: “Phương Nam cần tướng quân”.
Nhất là hiện tại.
Đại chiến Trung Nguyên vừa kết thúc, chính phủ Nam Kinh nuôi quân suốt mấy tháng, nay đã bắt đầu triển khai bao vây những thành phố nổi dậy chống đối.
Lúc trước khi khởi nghĩa Nam Xương, nhìn người đeo khăn quàng đỏ để nhận biết, dùng khẩu hiệu “thống nhất non sông” để tìm kiếm lẫn nhau, từ hai vạn người đánh đến cuối cùng chỉ sót lại tám trăm, thảm thiết cỡ nào, bi tráng ra sao.

Nhưng chẳng ai từ bỏ, khởi nghĩa lần lượt nổ ra, hết thành phố này đến thành phố khác hăng hái chiến đấu, chưa bao giờ dừng lại.
Hà Vị tuy sống ở Bắc Bình, nhưng từ đầu chí cuối đều nghe ngóng khởi nghĩa ở miền Nam.
Cô từng nghĩ, nếu Tạ Vụ Thanh còn sống trên đời, nhất định anh sẽ là một trong số họ.
Điều khiến cô lo nhất là an nguy của Tạ Vụ Thanh.
Giống như chú chín từng nói, con đường Tạ Vụ Thanh bước đi không dễ dàng.

Từ phản Viên, khi miền Nam còn nghèo đói, Tạ Vụ Thanh đã xuất hiện ở đó; sau này phản quân phiệt, mà bọn họ có tiền có súng, có đại pháo máy bay, binh số nhiều gấp mấy lần quân Quảng Châu, Tạ Vụ Thanh đã sát cánh bên cạnh Tôn tiên sinh; bây giờ, đổi thành chính phủ Nam Kinh có tiền có súng, có đại pháo máy bay, binh số gấp mấy lần hồng khu, Tạ Vụ Thanh lại lần nữa đứng về chiến tuyến gian nan.
Anh không bao giờ chọn lợi ích cá nhân, lúc nào cũng sống vì mục đích cứu dân dựng nước, theo đuổi lý tưởng non sông thống nhất suốt đời.
Tạ Vụ Thanh vươn cánh tay phải, ôm siết cô vào ngực.
Bàn tay sau đầu khẽ đè gáy cô, cô hoảng hốt nghĩ, đây là lần thứ hai trước mặt người ngoài, hai người hành động thân mật như vậy.

Lần trước, cũng là ở Thiên Tân, nhưng khi ấy họ đang phối hợp diễn một màn kịch.
“Em xuôi Nam chậm chút càng tốt, hiện giờ quá nguy hiểm”.

Anh thì thầm, “Vụ Thanh không phải là người có số hưởng phúc, lần này xuôi Nam, muốn cởi quân phục Hộ quốc quân, quân hàm cũng không còn.

Thiệt thòi cho em, đến hiện tại cũng chẳng hưởng được công danh gì”.
Hà Vị gác đầu lên bả vai anh, cô thích quân phục Hộ quốc quân của anh, chỉ bằng cái tên này, đã hơn ngàn vạn những thứ khác.
Cô nói thật khẽ: “Ngày xuân hoa nở ngập trời, mặc kệ anh đang nơi nào, em cũng sẽ đi tìm anh”.
“Được”.

Hơi thở người đàn ông nóng rực phả xuống gò má cô..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 56: Vượt Vạn Trùng Khơi Nhạn Bay 1


Ngày ấy sau khi tàu khởi hành, cảng Hải Hà chính thức đóng cửa.
Đó là mùa đông năm 1930.

Chiến sự phương Bắc chấm dứt, khắp nơi phồn hoa.
Sau khi Tạ Vụ Thanh xuôi Nam, cô vẫn giữ liên lạc qua điện tín với cô hai Tạ gia.
Về phần Tạ Sính Như, từ lúc nhà họ Tạ thất thế đã chuyển đến Thượng Hải, định cư ở tô giới Pháp.

Chị ấy trở thành hậu duệ duy nhất của Tạ gia không liên quan gì đến cách mạng.
Đều là phụ nữ nên họ có nhiều đề tài trao đổi với nhau.

Bất tri bất giác, Nam Tạ – Bắc Hà trở thành hai tên tuổi có tiếng tăm trong giới kinh doanh.
Thương nhân phương Nam khi ra Bắc, mỗi lần nhắc tới cô hai Tạ đều kể về phòng khách lớn bao quanh bởi tường gỗ mun, trong phòng người tới người đi nườm nượp, tiếp đãi nào là văn nhân tiến bộ, có cả chính khách về hưu.

Tết Nguyên Đán vừa rồi, có một văn nhân tiến bộ mang thư tiến cử của cô hai Tạ, tìm đến Hà Cửu phủ ở Thiên Tân.

Người ngồi trong phòng trà mang một đôi giày vải đơn bạc màu xám đậm, vừa từ ga tàu lửa chạy tới.

Hồ Thịnh Thu tiếp đón hắn, Hà Vị đứng ở cửa bên phòng trà, nghe bọn họ nói chuyện, thì ra vị văn nhân này muốn đến Bắc Bình làm báo: “Người Nhật xuất bản ‘Thuận Thiên Thời Báo’, chiếm cứ chiến trường dư luận ở phương Bắc, ý đồ đáng chết”.
Hồ Thịnh Thu xuất thân từ báo chí, nghe vậy, trong lòng khó nén xúc động, vì vị văn nhân tuổi trung niên này châm thêm trà: “Bắc Bình hiện giờ không còn gông cùm chính trị đeo bám, trở thành trung tâm văn hoá thắng cảnh du lịch, thích hợp là nơi khởi xướng nền báo chí mới.

Tiên sinh nếu có lòng, bản thân Thịnh Thu có thể hỗ trợ”.
Hai người trao đổi về báo giới ở phương Bắc, nhắc đến Tuyên Nam của Bắc Bình, từ những năm đầu Dân quốc nhìn lại cuối triều Thanh, từ báo chí nói đến học trò Tuyên Nam.

Hồ Thịnh Thu cảm thán, năm Mậu Tuất khi Lục quân tử [1] bị tử hình trước cửa chợ Tuyên Nam, bất quá cách nay cũng đã ba mươi năm.
[1] Trong sử gọi đây là “Chính biến Mậu Tuất 1898”.

Nguyên nhân sâu xa là do cuối thời nhà Thanh, dưới áp lực xâm lăng của ngoại bang, triều đình chia thành 2 phe là Hậu đảng (do Từ Hy Thái Hậu đứng đầu) và Đế đảng (do Vua Quang Tự đứng đầu).

Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng dần đầu nhóm tri thức dâng chính sách Duy Tân, khuyên Vua Quang Tự đổi mới đất nước để thoát khỏi ách xâm lược.

Vua Quang Tự nghe theo nhưng vấp phải chống đối từ Hậu đảng.

Khi Vua Quang Tự có ý định triệu Viên Thế Khải về kinh để áp chế Hậu đảng thì bị Viên Thế Khải phản bội, bí mật tố với Hậu đảng nên Từ Hy đã bắt giam Vua Quang Tự, phong trào “Bách Nhật Duy Tân” xem như chấm dứt.

Từ Hy lùng bắt những người thuộc Đế đảng, trong khi Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu trốn khỏi TQ thì Đàm Tự Đồng quyết tâm ở lại không đi.

Sau đó, Đàm Tự Đồng cùng 5 vị khác (có cả em của Khang Hữu Vi) bị tử hình.

Sau này 6 nhà trí thức Duy Tân ấy được gọi là “Lục quân tử”, phỏng theo câu chuyện “Lục tài tử” trong vụ án “Đảng Đông Lâm” vào thời nhà Minh.

(Thật ra vụ này mình tham khảo Baidu và nhiều nguồn khác thì dài lắm, bạn nào có hứng thú tìm hiểu thì xem thêm nha, mình tóm lược cho dễ cảm mạch truyện thôi ạ~)(E b o o k T r u y e n.

N e t)
Nhìn đến vận mệnh của bọn họ, thật đáng vui mừng.
Hà Vị không tiện gặp mặt thanh niên tiến bộ, chờ Hồ Thịnh Thu tiễn người đi rồi, cô mới vén mành bước vào phòng trà.
“Lời hắn nói làm tâm tình tôi rối rắm”, Hồ Thịnh Thu nói với cô, “Sức ảnh hưởng của ‘Thuận Thiên Thời Báo’ quả thật rất lớn, trước mắt thấy bọn họ đang thâm nhập vào dư luận.

Nếu không phải đi theo cô hai có thể làm nhiều việc hơn, tôi thật muốn quay về Tuyên Nam, làm một phần của báo chí, chiến đấu sống mái một trận với bọn họ”.
“Tầm nhìn của anh giờ đã xa hơn, việc phải làm cũng nhiều lên”, cô ngồi xuống ghế, “Vừa rồi nghe anh nói chuyện Lục quân tử vào năm Mậu Tuất, lúc trước tôi có nghe chú hai thường kể.

Chúng ta không chênh lệch tuổi tác là bao, không chứng kiến tình cảnh năm đó, dân chúng vỗ tay chúc mừng thế nào”.

Đúng thật đáng buồn vô cùng.
Chú hai kể cho người khác nghe về cảnh tượng khi hành hình, hai mắt đỏ trạch lặp đi lặp lại mãi.
Rau quả hôi thối không ngừng ném vào người họ, bọn họ bị mấy lá rau cải ấy đập đến đáy lòng lạnh lẽo.

Đao hành hình rất cùn, chém hơn hai mươi nhát mới xong.

Đàm Tự Đồng đến lúc chết cũng chưa từng cầu xin tha thứ, thề dùng máu nóng của mình tưới tỉnh người Trung Hoa.
Sau này, Thái Ngạc tướng quân xuất thân từ phương Nam, từng là học trò của Đàm Tự Đồng.
Lại sau đó, người của khởi nghĩa Nam Xương, cũng có học trò của Thái Ngạc.
Có rất nhiều thứ, chưa từng sợ hư hao.
Có kẻ nửa chừng quên mất, tiền nhân vì cái gì không tiếc xương máu, nhưng dù sao cũng sẽ có người tiếp nối thôi.
Rèm châu trắng đong đưa qua lại, thím nhỏ bưng hai ly rượu hoa điêu vừa ủ nóng.
Hà Vị cùng Hồ Thịnh Thu ngơ ngác, thím nhỏ cười nói: “Cửu gia bảo, hôm nay ngày tốt, tô giới Bỉ ở Thiên Tân vừa được thu hồi.

Dặn ta chuẩn bị rượu nóng chiêu đãi mọi người”.
Cô không giỏi uống rượu.

Hồ Thịnh Thu tự nhận hai ly, liên tiếp uống cạn đến khi thấy đáy.

Hắn là người Giang Tô, vì vào kinh theo cách mạng nên đến nay chưa từng về quê lần nào, rượu hoa điêu [2] này cũng thật rất lâu rồi hắn chưa nếm lại.
[2] Rượu hoa điêu là rượu đặc sản của vùng Giang Chiết

Đêm giao thừa năm 1931, cô sốt cao ở Thiên Tân.
Năm ngoái khi trời vào thu, cô từng lên cơn sốt một lần, cứ tưởng rằng đã sớm khỏi, không ngờ đến tối giao thừa vẫn tái diễn.

Giống như nghi thức vén rèm, cúi chào cảm ơn dưới sân khấu, không nào thể tránh khỏi.
Chiều trừ tịch, cô không chút hoang mang dặn Quân Khương sắt một chén thuốc trước, sau khi nốc cạn cả chén, cô quấn chăn gấm bọc cả người hệt như một cái kén ve nho nhỏ, bên ngoài đắp thêm thảm lông dê trắng tinh.

Vừa ngã đầu xuống đã thiếp đi.
Tỉnh dậy, nhưng vẫn không hạ sốt.
Chú chín mời mấy bác sĩ đến khám, mọi người tranh luận không ngừng, kê toàn phương thuốc cũ.

Đến lúc giao thừa, vẫn không chút hiệu quả, thẳng đến chiều Mùng Một, Khấu Thanh dẫn theo một ông lão lạ mặt đến bắt mạch cho cô.
“Bác sĩ mới à…” Cô mơ màng hỏi.
“Là quân y lúc trước của thiếu tướng quân ạ”, Khấu Thanh thì thầm, “Ở Thiên Tân”.
Lão quân y nấu một chén cháo trắng nóng hổi, nhìn qua không khác gì nước cháo cơm.

Khấu Thanh khuấy thìa sứ trắng, đút một ngụm nhỏ cho cô.

Cháo hãy còn nóng, cô nghĩ là Tạ Vụ Thanh bảo người chuẩn bị, cũng không khen chê, ăn rất ngon miệng.
“Cháo thuốc này gọi là cháo thạch cao”, lão quân y nói, “Thời điểm chiến tranh hộ quốc, có một bác sĩ trong quân cải tiến phương thuốc của Trương Trọng Cảnh, chữa khỏi cho rất nhiều binh lính sốt cao không hạ.

Sau này, những người từng tham gia chiến tranh yeutruyen.net hộ quốc như chúng ta đều học được phương thuốc ấy”.
Cô rất nhanh toát mồ hôi, cuối cùng cũng hạ sốt.
Lão quân y lại kê một phương thuốc phụ, giúp cô bồi bổ thân thể.
Khi hai tay giao phương thuốc cho Khấu Thanh, lão quân y rời khỏi quân đội từ lâu bỗng do dự, ông đứng cạnh mép giường hỏi một câu: “Có phải suốt ba tháng qua, cô hai vẫn không có?”
Cô khẽ gật đầu.

Nếu không, chú chín cũng không thận trọng mời bác sĩ thầy thuốc như thế, đều cân nhắc đến hai người lớn nhỏ bọn họ.
Lão quân y bật cười, trong con ngươi xám đen như tro lộ ra chút ánh sáng, như đã đoán được đứa nhỏ này là huyết mạch nhà ai, liền nói: “Đúng là tin tốt, thật sự rất tốt”.
Lão quân y muốn chắp tay, nói một câu chúc mừng cô hai, nhưng hai tay vừa chập vào nhau, lại đổi sang hành quân lễ, nói, mong cô hai bảo trọng thân thể.

Ông rời quân ngũ đã lâu, mấy năm qua chưa từng hành quân lễ với bất kỳ ai, sau khi thu tay, lại lần nữa cười rộ lên, than một câu không liên quan đến người trong phòng: “Nếu không phải vì cơ thể lão già đây vô dụng, đã sớm theo thiếu tướng quân xuôi Nam đánh giặc rồi”.
Hà Vị gọi Khấu Thanh mang bao lì xì đến cho lão quân y, dặn dò ông đừng nói với Tạ Vụ Thanh, cô muốn chính miệng báo anh biết.
Năm ngoái ước hẹn “ngày xuân về yeutruyen.net hoa nở”, chính là vì trong bụng cô đang mang đứa nhỏ, khi rời khỏi Bắc Bình, trung y trong nhà nhiều lần dặn dò, ba tháng đầu thai kỳ nguy hiểm, cần phải tĩnh dưỡng nhiều.

Nhưng cô ngồi tàu nhà mình, bên cạnh có Tạ Vụ Thanh, vô cùng an toàn.

Không ngờ nửa đường xảy ra biến cố, cô vì an toàn của mọi người, không tiện tuỳ ý khởi hành, thế nên đành nhẫn nại chờ đến Tết Nguyên Đán năm nay.
Trước lúc lão quân y rời đi, Tư Niên rửa sạch tay chân mặt mày, đi đến cạnh Hà Vị cúi người, khuôn mặt nhỏ nhắn trong suốt như quả vải tươi áp lên bụng cô, tay khẽ sờ, lặng lẽ hỏi: “Người lớn sốt cao, bé con trong bụng cũng sốt sao? Có cần ra mồ hôi không ạ?”
Chuyện này… ngược lại khiến lão quân y không thể đáp lời.


Phương Nam, khu vực dân tộc thiểu số.
“Hai lữ đoàn của bọn họ, đã năm tháng không phát lương bổng”, người đàn ông ngồi cạnh bếp lò lộ thiên, tay bưng chén cháo khoai lang gạo kê, nhấp hai ngụm, “Đợi đến cuối năm khi lòng quân dao động nhất, thừa dịp Tết Nguyên Đán, bắt lấy toàn bộ”.
Có người lĩnh mệnh.
Tạ Vụ Thanh chỉ vào phó quan của Lâm Kiêu, nói: “Cậu hiểu rõ nơi này nhất, đến lúc đó trong thành tuyên bố, khuyên những tộc người thiểu số ấy đầu hàng”.
Vị phó quan ấy nhanh chóng buông bát, rời đi.
Lâm Kiêu bắt đầu giúp mọi người dọn dẹp chén đũa, mang theo một xô nước đổ vào nồi lớn trên bếp.

Đây là bữa cơm tất niên của bọn họ, xem như ăn xong.

Tạ Vụ Thanh vỗ đất trên vải quần, đứng thẳng người dậy.
Trước khi xuất phát, Vương Cẩn mang đến một bức điện báo: Đã hạ sốt, cô hai không sao.
Anh gấp điện báo, nhét vào túi quần.
Không ai ngờ được, một tháng trước, khi công tử Tạ gia vừa xuống tàu, chị hai đã mở tiệc chiêu đãi lãnh sứ các nước tại nhà riêng.

Trong bữa tiệc, cả chủ và khách đều vô cùng vui vẻ, ánh đèn phản chiếu xuống thành ly thuỷ tinh, họ nói về tình hình kinh tế thế giới, nói về việc Ấn Độ bị biến thành thuộc địa.

Sau khi mặt trời lặn, quân trưởng được mời dự tiệc cùng mấy vị sư trưởng, sư phó của sư đoàn, phó tư lệnh Không quân, tư lệnh Hiến binh, đều bị đại đội trưởng đội cảnh vệ Lâm Kiêu dẫn theo người tước toàn bộ vũ khí, giam lỏng trong phòng khách.
Màn đêm buông xuống, thiếu tướng quân Tạ gia phát điện báo đến thuộc hạ cũ dưới trướng, tuyên bố khởi nghĩa.
Trong điện báo viết:
Nửa đời trước của Thanh, lấy mục tiêu lật đổ chính phủ Mãn Thanh, thu phục tô giới là trách nhiệm của mình, tiền nhân dùng máu tươi mở đường, hậu nhân đến chết không quên.

Nhớ Cách mạng Tân Hợi, chúng ta từng lập chí, khôi phục đại nghĩa, chấn hưng non sông, mà hiện giờ, phía trước Bắc phạt tạm dừng, phía sau Tế Nam vây khốn, đại nghĩa bị phủ bụi, non sông bị lâm nguy, quả thật là sỉ nhục với quân nhân chúng ta.
Hôm nay quyết định khởi nghĩa, không phải vì một nhà họ Tạ, mà vì con đường tương lai phía trước của Hoa Hạ.

Lời nói cùng hành động của ta, trăm triệu đồng bào chứng giám.
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Tạ Vụ Thanh
Mùng Một tháng Mười Hai, năm Canh Ngọ.

Tết Nguyên Đán vừa qua, cô đến bến cảng xem tình hình băng tan, nhìn như đang tính toán thời điểm xuất hành của chuyến tàu đầu tiên trong năm, nhưng thật ra là lên kế hoạch xuôi Nam.
Mấy năm nay băng tan chậm, sợ không kịp ngồi tàu.
Đường đường là người nắm quyền vận tải đường thuỷ Hà gia, lại lựa chọn đi đường bộ để xuôi Nam, chuyện này e là không ai lường trước được.
Mùng Năm Tết.
Cô ba Trịnh gia dùng danh nghĩa của Trịnh Độ, đặt một toa tàu trên chuyến Thiên Tân đến Phổ Khẩu ở Nam Kinh.
Trịnh Sính Tích để lại tâm phúc, tiễn cô lên tàu đi Nam Kinh.

Chị ấy lo lắng kiểm tra mọi cửa nẻo, phòng vệ sinh, thậm chí là giường ngủ, sau đó cởi bỏ găng tay bằng nhung, tự mình s* s**ng một lượt dưới ghế sô pha.
Trịnh Sính Tích nói: “Nam Kinh quá nguy hiểm.

Các em vừa đến Phổ Khẩu thì xuống tàu, đổi sang đường thuỷ đến Thượng Hải.

Sính Như sẽ tiếp ứng em”.
“Xưa đều là em sắp xếp hành trình của người khác, hiếm có dịp hưởng thụ như lần này”.

Cô mỉm cười.
“Từng đến phía Nam chưa?” Trịnh Sính Tích không cười nổi, lời nói ngập tràn lo lắng.
“Từng đến hai lần ạ”.

Một lần đi Kim Lăng, một lần đi Hồng Kông.
Tàu hoả hú còi, tiếng vang đầy trời.
Trịnh Độ mặc âu phục, tựa người vào cửa phòng, dùng ánh mắt thúc giục chị ba nhanh chóng xuống tàu.

Trịnh Sính Tích không thể ở lại, rời khỏi phòng riêng, vừa bước hai bước ra ngoài, nhác thấy Trịnh Độ không có ý định xuống tàu, liền cảnh giác nhìn hắn: “Lại muốn tìm phiền toái gì”.
Trịnh Độ dở khóc dở cười: “Tỷ tỷ đáng kính, em trai nào dám”.
Trịnh Sính Tích lạnh lùng nhìn hắn.
Trịnh Độ tốt bụng giải thích: “Em muốn đến Nam Kinh làm một chuyện, định tháng sau sẽ đi, nhưng mấy ngày qua thấy chị ăn không ngon ngủ không yên, nên tính toán một chút, để chị có thể an tâm, em trai như em sẽ đẩy nhanh tiến trình, sẵn tiện hộ tống cô hai xuôi Nam”.
Hà Vị kinh ngạc, Trịnh Sính Tích bất ngờ.
Trịnh Độ cười như không cười, chỉ vào cửa toa tàu: “Tàu chuẩn bị đi rồi”.
Trịnh Sính Tích nhìn hắn không giống đùa giỡn, lẩm bẩm: “Đến mỗi trạm phải phát điện tín cho chị”.
Trịnh Độ hơi khom người: “Tuân mệnh”.
Tàu bắt đầu khởi động, bánh xe bằng kim loại khi ma sát phát ra tạp âm rất lớn, Trịnh Sính Tích tách ra hai ba bước, vừa bước xuống sân ga.

Cách một cửa sổ, Trịnh Độ vẫy tay với chị gái, buông rèm vải vàng.
Sau khi tiếng còi vang lên lần nữa, tàu lửa vẫn không di chuyển.
Hà Vị cùng Trịnh Độ đồng thời phát hiện điểm khác thường, Trịnh Độ khẽ hất cằm với phó quan, phó quan nhanh chóng ra ngoài.

Không bao lâu, người quay về, thì thầm vào tai Trịnh Độ: “Là kiểm tra tàu, người của Tổng cục Thiên Tân, hình như đang truy đuổi một văn nhân phản động”.
Dù thủ đoạn của Trịnh Độ cứng rắn hơn nữa thì chung quy hắn vẫn là khách ngoại lai.

Hắn đắn đo mấy lần, hỏi: “Toa của Trịnh gia của kiểm tra à?”
Phó quan gật đầu.
Trịnh Độ không đoán được truy đuổi văn nhân là lấy cớ hay có mục đích gì khác.
Chuyện Hà Vị xuôi Nam tuyệt không thể để người ngoài biết, nếu không đợi ra khỏi Thiên Tân sẽ có kẻ mật báo.

Đến lúc đó dọc theo tuyến đường qua nhiều tỉnh thành, thế lực đan xen, không biết gặp phải phiền phức gì.

Căn cơ Trịnh gia ở ba tỉnh Đông Bắc, tuy hiện giờ thế lực quân Đông Bắc ngang bằng lực lượng Nam Kinh, nhưng rốt cuộc miền Nam cũng không phải phạm vi hoạt động của Trịnh gia, một khi bại lộ hành tung, nguy hiểm khôn lường.
“Để tôi đi xem thử, nếu không ổn, chỉ đành về Bắc Bình trước”.

Trịnh Độ nói.
Khấu Thanh chăm Tư Niên trên giường, đang xếp tấm bản đồ Trung Hoa.
Đây là quà sinh nhật do chính tay Tạ Vụ Thanh làm tặng Tư Niên trước khi đi, Tư Niên xem như trân bảo.
Hà Vị thấy Tư Niên vừa lắp ráp bản đồ, vừa lấy khăn tay lau vết bẩn trên đó, trong lòng lo lắng, cô sợ hành trình bỗng dưng thay đổi, Tư Niên lại thất vọng lần nữa.

Đứa trẻ này đã ngoan ngoãn chờ suốt ba tháng.

Ngoài toa tàu loáng thoáng tiếng bước chân.
Hà Vị không phân biệt được đây là tiếng giày cao gót hay giày da, cô tập trung nghe ngóng, bên ngoài vang lên giọng Trịnh Độ: “Chính phủ quân phiệt Bắc Dương khi xưa chẳng dám lục soát toa tàu của người Trịnh gia, chư vị thật cứng cỏi, so với đám quân phiệt cũ còn tài tình hơn”.
Giọng nói như đã từng nghe qua, thấp giọng hỏi, có thể trình báo người trong toa tàu là ai không?
Trịnh Độ đáp, một ngoại thất của cha tôi, xuống phía Nam thăm người thân, không tiện lộ mặt.
Ngoài cửa trao đổi lúc lâu, hai bên giằng co.
Tư Niên ngẩng đầu, tựa như đoán được có chuyện xảy ra, lo lắng nhìn Hà Vị.
Hà Vị cười trấn an cô bé, dùng khẩu hình miệng bảo: Không sao đâu.
Cô cân nhắc mãi, vẫn nên đặt an nguy của Tư Niên và đứa bé trong bụng lên hàng đầu, nếu thật sự không thể đi thì nghĩ biện pháp khác vậy.

Ngoài cửa, có tiếng động súng, cô vội vàng đi lên hai bước, khẽ đẩy cửa toa tàu.
Trên lối đi chật hẹp, Trịnh Độ cùng hai phó quan đứng đó, họ rút súng.
Mà đối diện, quả nhiên là hai cố nhân nửa quen nửa lạ.

Một người là Tổng cục thư ký, người còn lại là lão thái giám tâm phúc của thương nhân Nhật Bản, từng năm lần bảy lượt đến tìm Tạ Vụ Thanh và Hà Vị.

Bọn họ không dẫn người của mình vào toa tàu, nói đến cùng, vẫn có chút kiêng nể thể diện Trịnh gia.
Hai người không ngờ Hà Vị lại xuất hiện, vô cùng sửng sốt.
Hà Vị mỉm cười, không nói lời nào, chỉ khẽ gật đầu chào hỏi họ.
Yên tĩnh một lúc.

Mọi người đều có tư tâm.
Lão thái giám khoanh tay, nhìn về phía lối đi trong toa tàu, cũng không biết muốn tìm thứ gì.
Tổng cục thư ký nhìn Trịnh Độ, ngầm bảo Trịnh Độ động thủ.
Họng súng của phó quan Trịnh Độ nhắm thẳng vào lão thái giám.

Vừa rồi ở ngoài toa tàu, bọn họ đã giao kèo, Tổng cục thư ký thật ra không muốn đắc tội Trịnh gia, mà lão thái giám lại là người của triều đình Tốn Thanh, thường khó thoả hiệp.
Trịnh Độ đã sớm nảy ra ý tưởng, nếu phải diệt khẩu, cứ tiêu diệt lão thái giám này trước.

Về phần Tổng cục thư ký từng phụng dưỡng chính phủ quân phiệt bao đời, tinh tường nhạy bén, muốn giữ mạng sẽ không dám nói bừa.
“Nếu là ngoại thất của Trịnh lão tướng quân thì chúng ta không quấy rầy nữa”.

Lão thái giám phất tay áo, rũ mắt nói.
Ông bước từng bước nhỏ, tự mình rời đi.
Hà Vị nhìn theo bóng dáng lão thái giám, đè chặt khẩu súng trong tay phó quan Trịnh Độ: “Ông ta sẽ không nói.

Ông ấy có mối quan hệ sâu xa với thiếu tướng quân”.
Còn nhớ ngày đó ở rạp hát Trịnh gia, Lâm Kiêu kể, trước lúc cô tới, Tạ Vụ Thanh dùng hai ba câu chế nhạo quan viên của triều đình Tốn Thanh.

Vị quan viên ấy mặt trắng bệch, nhanh chóng rời đi.

Mà lão thái giám lại bất ngờ hành lễ cũ nghiêm trang với Tạ Vụ Thanh.
Hà Vị nghe xong thấy lạ, lão thái giám này không tính là người tiến bộ, lúc trước khi nam bắc hoà đàm, từng vì việc dọn về Cố Cung đến tìm Tạ Vụ Thanh.

Cô nhớ lại ngày đó, không hiểu lão thái giám kính trọng Tạ Vụ Thanh vì điều gì.

Còn cả hành lễ theo kiểu cũ là vì sao?
Tạ Vụ Thanh bảo, lão thái giám là người Tế Nam.

Hành lễ kiểu xưa không hẳn là vì Tạ Vụ Thanh, mà vì anh đã thay người Tế Nam nói những lời đó.

.
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 57: Vượt Vạn Trùng Khơi Nhạn Bay Về 2


Tàu lửa hú còi lần ba, trên lối đi hành lang không còn người qua lại.
Hơi nước bốc lên từ buồng nồi hơi ở toa đầu tiên, sương mù trắng phiêu đãng phả khắp yeutruyen.net nơi, kéo theo hơn chục toa tàu khác, dần rời khỏi Thiên Tân.
“Bốn tiếng sau đến nhà ga Chính Dương Môn”, Trịnh Độ nói, “Không dừng lại.

Nếu cô hai muốn nhìn Bắc Bình lần cuối, tôi có thể bảo phó quan để ý”.
Tàu lửa đúng giờ chạy đến Bắc Bình.
Xuyên qua khe hở từ rèm cửa sổ, Hà Vị thoáng trông thấy cổng thành Chính Dương Môn cao vút dưới ánh mặt trời, nhìn tuyết trắng đọng lại chưa kịp tan trên sân ga, còn có những lữ khách đang chờ chuyến tàu tiếp theo trong nhà chờ.

“Người Nhật muốn giữ chân cô ở phương Bắc”, Trịnh Độ sai người dọn bữa trưa kiểu Trung lên, “Điểm này hẳn cô hai đã phát hiện”.
Trịnh Độ nói tiếp: “Nếu vừa rồi không có cô hai, tôi đã trực tiếp diệt khẩu lão thái giám kia, xem như một lời cảnh cáo với hoàng thất Tốn Thanh.

Lựa chọn của bọn họ, năm xưa đưa người đến sống ở Nhật Bản, hiện tại quay về làm gian tế, vẫn luôn hoạt động giữa quan ngoại và Thiên Tân.

Chuyện Đường Cô [1], hẳn cô hai đã nghe rồi”.
[1] Năm 1931 Nhật Bản mở đầu xâm chiếm Mãn Châu, quân Quan Đông của Nhật Bản đã lập nên nhà nước bù nhìn Mãn Châu (hay còn gọi là Nguỵ – Mãn Châu Quốc).

Đến năm 1933, quân Nhật tấn công khu vực Vạn Lý Trường Thành.

Hiệp định Đường Cô được lập nên để trao quyền Nhật kiểm soát các tỉnh Nhiệt Hà và một khu phi quân sự giữa Vạn Lý Trường Thành với Kinh – Tân.
Hoàng thất Tốn Thanh luôn muốn cạy nhờ thế lực Nhật Bản để khôi phục đế chế, đây là tâm tư Tư Mã Chiêu, người qua đường ai chẳng biết.

Bất quá cô không hiểu quân Quan Đông bằng Trịnh Độ.

Ngày ấy, Trịnh Độ nói với cô về người này, sau đó mấy năm, đã làm rất nhiều chuyện khiến dân cả nước vô cùng hãi hùng, từ giúp đỡ Hoàng hậu Tốn Thanh chạy trốn khỏi Thiên Tân, đến Nguỵ – Mãn Châu Quốc, rồi chiến dịch Thượng Hải 1.28 [2], đều có hắn nhúng tay vào tính kế.
[2] Từ ngày 28/1 đến ngày 3/3/1931, quân đội TQ và NB đã chiến đấu quyết liệt để giành quyền kiểm soát thành phố Thượng Hải.

Cuối cùng kết thúc bằng biện pháp phi quân sự hoá, cấm quân đội TQ dàn quân trong thành phố.

Đối với hoàng thất Tốn Thanh cùng nhóm lão thần cựu phái, Hà Vị vẫn luôn đối xử với thái độ hoà hoãn dành cho người tiền triều, đến sau cuộc chiến kháng Nhật, cô mới nhìn rõ sự thật, da thịt thối rữa nếu không cắt bỏ triệt để, ắt trở thành mối hoạ hại nước hại dân.
“Tình cảnh lúc Tạ lão tướng quân ra đi, có ai từng kể với cô không?” Trịnh Độ bỗng nhiên hỏi.
Trong lòng vang một giọng nói, hãy ngăn những lời tiếp theo của hắn.

Nhưng bản thân là con dâu trong nhà, đối với những chuyện liên quan đến Tạ gia, cô hẳn nên tìm hiểu, đó là cha ruột của Tạ Vụ Thanh, cũng là một vị tướng quân yêu nước cô hằng kính trọng nhưng không có duyên gặp gỡ.
Trịnh Độ nhấp mấy ngụm canh nóng, dùng thìa khuấy hạt sen trong bát, thấp giọng kể: “Ông bị giam lỏng trong một căn viện nhỏ cạnh sông Li Giang, bệnh chết.

Trước khi đi, không để con cháu gặp mặt”.
Trịnh Độ nói thêm: “Chị tôi kể, một mình cô hai Tạ ở cạnh sông Li Giang, thủ hiếu suốt 49 ngày”.
Thật lâu lặng im.

Không có tiếng người nói chuyện, chỉ văng vẳng tiếng tàu lửa rền vang.
Cô bỗng nhớ, trong bức điện tín Tạ Vụ Thanh viết “Hôm nay quyết định khởi nghĩa, không phải vì một nhà họ Tạ”… Dù cho cả nhà họ Tạ thật sự bị hại, anh sẽ không khởi nghĩa chỉ vì thế.

Lời nói này, nếu do kẻ khác tuyên thệ, liền dấy lên hiềm nghi phóng đại tính cách cao khiết của bản thân.

Nhưng nếu phát ra từ miệng Tạ Vụ Thanh, chính là thản nhiên làm người khác tin phục.
Ban đêm, tàu lửa dừng ở Bạng Phụ [3].
[3] Một thị cấp thuộc tỉnh An Huy
Tân Phổ là tuyến đường sắt từ Bắc chí Nam, cũng là tuyến đường sắt nhộn nhịp nhất cả nước.

Trịnh Độ nhận được điện báo, có đoàn tàu chở quân đội xuống phương Nam, chuyến tàu của họ phải đến rạng sáng mới có thể xuất phát tiếp.
Hà Vị nhìn đồng hồ trong toa tàu.
Tư Niên chen vào g*** h** ch*n cô, nằm trong vòng tay cô, nhìn lên đồng hồ.

Cô bé cảm thấy hứng thú với chữ viết phía trên, Bạng Phụ Pengpu, Phổ Khẩu Pukow… Bắc Bình Peiping, còn Nam Kinh là Nanking.
…Đứa nhỏ tập đọc chính tả, xem như một cách giết thời gian.

Khấu Thanh mang theo thuốc từ Thiên Tân đến.

Hương thuốc trung y nồng nặc tràn ngập khắp toa tàu, cô nhấp từng ngụm nhỏ thuốc dưỡng thai, nghĩ đến người đàn ông kia từ lúc trở về, liền bắt đầu tự xưng Tạ mỗ gì đó.
Một đêm trước khi Tạ Vụ Thanh lên tàu, hai người ở khách sạn Lợi Thuận Đức đợi đến hừng đông.
Chờ mãi cũng nhàm chán, lại âm thầm đến căn hộ nhỏ mà Tạ Vụ Thanh từng tặng cho cô làm quà sinh nhật.

Căn hộ nằm trong một khu nhà kiểu cũ, chính là cái loại tầng một có hơn mười hộ gia đình sinh sống.

Đêm khuya thanh vắng, hầu như nhà nào cũng ngủ say, anh lặng lẽ mở cửa căn hộ của mình.
Trong phòng vừa chật vừa nhỏ, chất đầy báo chí cùng sách vở.

Nơi này cứ cách mười ngày sẽ có người đến dọn dẹp, không tới mức bụi bám quá dày.

Nhưng lúc này đang nửa đêm, dưới ánh trăng chiếu rọi, cô có thể trông thấy từng hạt bụi trôi lơ lửng dưới luồng sáng bàng bạc.
Hà Vị lấy tấm ảnh chụp Tạ Vụ Thanh thời niên thiếu từ trong ngăn tủ.

Khi đó ánh mắt anh sáng vô cùng, dáng mắt phượng dài rõ ràng, mí mắt không nhiều nếp nhăn.

Chỉ là anh không thích cười, hơi mím môi tạo dáng chụp ảnh có chút khinh bạc mọi thứ.
“Lúc ấy vì sao không vui vậy?” Cô hỏi.
Tạ Vụ Thanh quan sát ảnh chụp, tập yeutruyen.net trung suy nghĩ một lát, cười nói: “Không nhớ được.

Có lẽ vì nghĩ đến em lúc đó còn chưa chào đời”.
“Lời này của thiếu tướng quân có chút quen tai”.

Cô mỉm cười trêu anh.
Tạ Vụ Thanh cũng cười đáp: “Cô hai nghĩ oan cho Tạ mỗ rồi.

Nói cái gì cũng phải xem xét có liên quan đến cô gái khác không”.
“Ví như là?”
“Chuyện này, cô hai hiểu rõ nhất”.

Hà Vị cười, uống xong thuốc dưỡng thai.
Trong lúc riêng tư, Tạ Vụ Thanh vẫn là một người đàn ông có máu thịt, có tình thú, có học vấn, lại thích trêu ghẹo người khác.

So với kẻ cả đời làm công bên ngoài, học trò trải khắp thiên hạ, mỗi khi nhắc đến tên tuổi đều khiến đối phương kính phục, giống như hai người khác nhau.
Cô may mắn làm sao, đêm đó trong Bách Hoa Thâm Xử đã quen biết một con người khác của anh.
Trước lúc hừng đông, đoàn tàu tiếp tục khởi động.
Ở một trạm dừng nho nhỏ gần Phố Khẩu, xe của cô hai Tạ đã chờ sẵn.

Xe chạy qua Kim Lăng, Hà Vị chỉ vào nơi xa xa, nói với Tư Niên: “Ở đó là kinh đô nhiều triều đại của chúng ta”.
Xóc nảy hơn bảy giờ đồng hồ mới tiến vào Thượng Hải.
Buổi chiều, xe men theo một con đường nhỏ bí ẩn ở tô giới Pháp, hai bên đường ngoại trừ nhà dân, còn có mấy căn biệt thự kiểu Tây độc lập.
“Đây là đường Cao Đích”, trên ghế phụ lái phía trước là một nhà thư pháp nhận lệnh đến tiếp đón họ, “Chỗ này có một vị luật sư rất nổi danh, nghe bảo năm xưa từng đại diện cho cô hai kiện tụng”.
Quan hệ ở kinh thành rắc rối phức tạp, chủ yếu dựa vào quen biết cùng tài nguyên chính trị, mà tô giới ở Thượng Hải, khi giao tiếp với người phương Tây không chỉ dùng súng ống, còn phải quen thuộc vũ khí tối thượng của họ: Pháp luật.
Các vụ kiện nổi tiếng cả nước trong những năm gần đây, phần lớn đều bắt nguồn từ Thượng Hải.

Có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng hình ảnh, còn có phân chia tài sản của phụ nữ, và tất nhiên, khi phong trào công nhân sinh viên bùng nổ mạnh mẽ nhất, những nhóm sinh viên thanh niên tiến bộ bị giam giữ bởi người ở tô giới, nhiều người dựa vào luật sư phối hợp cùng các nhà yêu nước đến đàm phán, đạt được thoả thuận cứu thoát.

Vụ kiện nổi tiếng khắp Tứ Cửu Thành của cô lúc trước, cũng từng có một vị luật sư từ Thượng Hải được mời đến.
Người kia dặn dò: “Nếu cô hai muốn ra vào, chỉ cần bảo quản gia đến, đỡ phải đụng mặt phía trên làm lộ hành tung”.
Hà Vị hiểu ý, khẽ gật đầu.
“Cô hai tạm thời nghỉ ngơi ở đây”, nhà thư pháp dẫn đường, đẩy cánh cửa sắt đen vô cùng khiêm tốn trong khu nhà phía Tây, dọc theo đường mòn lát đá, bọn họ bước lên tầng hai của một căn hộ gạch đỏ, lấy chìa khoá mở ra, “Bất động sản do tôi đứng tên, cô hai cứ an tâm ở lại.

Mấy ngày tới, tôi có thể phụ trách nấu ăn một chút, có điều tay nghề không tốt lắm”.
“Nấu ăn thì để tôi”, Khấu Thanh cất tiếng, “Nếu tiên sinh không ngại thì ở lại dùng cơm tối, tôi sẽ cho ngài nếm thử món ăn chính quy phương Bắc”.
Quân Khương ở lại Bắc Bình, lo quán xuyến việc ở công ty vận tải đường thuỷ, cùng nhà ở và căn viện nhỏ trong Bách Hoa Thâm Xử.

Bọn họ đã bàn tính xong xuôi, chờ ông bác cùng tiên sinh phòng kế toán đi rồi, Quân Khương sẽ xuôi Nam tìm người.
Người kia tiến lên, lấy một lá thư từ trong âu phục mình.
Lá thư được xếp rất bình thường.
Nhưng tim Hà Vị bỗng chùng xuống, cảm xúc khi chạm lên mặt giấy như bị phóng đại.
Từ lúc Tạ Vụ Thanh khởi nghĩa ở phía Nam, hai người không còn liên lạc.
Chỉ có một lá thư, cũng có thể khiến cô vừa thân thuộc vừa sợ hãi.

Chờ buổi tối Tư Niên ngủ rồi, cô mới lấy thư ra, đẩy cửa sắt lồng kính trên ban công bước ra ngoài.

Cách một bức tường, toà nhà kiểu châu Âu bên cạnh hắt lên ánh đèn xa hoa, có người đang chơi dương cầm, có người tụ tập với nhau.
Trên lầu hai của sân vườn hoa lệ, cô mở lá thư gửi từ chiến khu.
Ngoài phong bì đề một cái tên xa lạ.

Tem dán màu xanh lục, có in dấu bưu điện đầy đủ.
Cô rút giấy điện tín, bên trong viết ngắn gọn:
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Đêm qua đại thắng.
Ánh trăng vọng về, nhớ em yêu mãi không báo tin vui: Là do em cố giấu, hay do Vụ Thanh đoán lầm?
Cô như nhìn thấy ý cười khi Tạ Vụ Thanh hỏi dò.
Giống hệt trong Bách Hoa Thâm Xử.
Không biết do anh đoán trúng, hay do lão quân y không nhịn được nói ra.
Hà Vị quay về phòng, thắp que diêm, đốt trụi điện báo trong tay, đến khi chỉ còn tro tàn phiêu tán.

Đứa nhỏ đầu tiên của hai nhà Hà – Tạ, cô vừa cẩn thận lại tỉ mẩn.

Lúc mơ hồ đoán được đã có thai, cô không kịp vui mừng, chỉ lo sợ người ngoài phát hiện, trong tháng nếu không cần thiết sẽ không bước chân ra ngoài.
Đêm nay đọc được điện báo của anh, trên mặt bỗng dưng có cảm giác ngượng ngùng khi bị truy vấn.
Cô ngồi xuống ghế sô pha đơn, tay chống cằm, nhớ đến anh ở xa tận chiến khu.

Tạ thiếu tướng quân 36 tuổi, rốt cuộc cũng có đứa con đầu lòng.

Đáng tiếc cô không cách nào chính miệng nói cho anh biết.
Vừa đến Thượng Hải mấy ngày, chính phủ Nam Kinh bắt đầu chuẩn bị một cuộc bao vây quy mô lớn.
Cô hai Tạ vì dính líu đến Tạ Vụ Thanh nên luôn có người giám sát, không tiện đến gặp mặt.

Chỗ dừng chân “tạm thời nghỉ ngơi” này, vì chiến sự căng thẳng, cũng trở thành nơi thường trú của cô.
Không lâu sau, Hà Vị bắt đầu lộ bụng, chủ nhà giật mình nhận ra cô mang thai lại một mình xuôi Nam, liền sốt ruột tìm bác sĩ khoa sản, nhưng bị Hà Vị ngăn cản.

“Tôi chuẩn bị sẵn rồi”.

Cô cười nói.
Nếu cô đã quyết ý lên đường, nhất định sẽ chuẩn bị chuyện che đậy bất kỳ lúc nào.
Về mặt kinh doanh, công ty vận tải đường thuỷ luôn hưng thịnh, ở Kinh – Tân có Hồ Thịnh Thu, tuyến đường sông có cô bảy lo liệu, những tuyến hàng hải cảng tỉnh Quảng Châu – Hồng Kông cũng có người phụ trách.

Mà với sinh hoạt hằng ngày, cô luôn chú trọng Tư Niên và đứa trẻ chưa chào đời.

Thế nên trong nhóm sáu người xuôi Nam, không chỉ có bác sĩ khoa sản, còn có một vị gia sư thông thạo tiếng Anh cùng số học, quốc văn thì Hà Vị có thể đích thân dạy bảo.
Nhà thư pháp khâm phục cô từ tận đáy lòng, cảm khái cô hai làm việc quả nhiên cẩn thận.
Khi Hà Vị rời Thiên Tân, dự kiến mùa hè sẽ đến Hồng Kông.
Đáng tiếc, hành trình cứ bị trì hoãn hết ngày này đến ngày khác.

Vũ hội trong vườn nhà kiểu Tây cách vách luôn không ngớt, mà chiến báo phía trước cũng không dừng truyền tới.
Kéo dài một thời gian, đến tận đầu tháng Chín, cách ngày dự sinh càng gần.
Chạng vạng tối hôm đó, Hà Vị ngồi trên ghế mây trong vườn hoa, tay lật xem báo.
Lúc còn nhỏ, cô đọc sách báo ở Bắc Bình, thường đính thành một quyển vở, mà giờ báo chí đã được in trong một xấp giấy, chỉ cần mở ra đặt trên đùi, dễ dàng tìm tin tức.
Cô hai Tạ vì bảo hộ hành tung của cô, nửa tháng trước đã ra Bắc.
“Xem lâu rồi, nên nghỉ ngơi thôi”.

Khấu Thanh bưng một chậu bột mì nhỏ, đặt lên bàn tròn bằng sắt cạnh Hà Vị, đang định nhào bột, gói sủi cảo cho bọn họ.
Từ lúc nhà thư pháp họ Trần nhận ra Hà Vị đang mang thai, thường mời những phu nhân đã sinh con đến chơi với cô.
Hà Vị khép tờ báo lại.

Ngoài cửa sắt, có người ấn chuông.
Cô và Khấu Thanh đồng thời im bặt.

Từ khi vào ở đây đến giờ, bất kể ai ra vào cửa đều có chìa khoá, chuông cửa hiếm lắm mới vang lên một lần.

Lúc trước là ngôi sao cách vách tặng kẹo mừng cưới cho hàng xóm xung quanh.
Khấu Thanh đỡ Hà Vị rời khỏi ghế mây, sau khi đóng cửa kính, lau sạch tay lên tạp dề, bước nhanh về cổng lớn.
Hà Vị đứng sau bức rèm màu trúc xanh, hướng mắt về cửa chính, thoáng thấy một chiếc xe jeep quân sự đang đỗ ngoài, hình như còn có một chiếc Buick Mỹ bốn cửa màu đen bên cạnh.
Theo bản năng cô ôm chặt bụng mình, dịch bước chân về sau.
Đến khi trông thấy Khấu Thanh tươi cười, hơi nghiêng người nhường chỗ cho khách vào nhà, sự cảnh giác mới dần tiêu tan.
Triệu Ứng Khác mặc âu phục màu xám đậm, nhanh chân đi vào.
Hắn nói mấy câu với người phía sau, trở tay khép lại cổng lớn.

Hắn nhìn xung quanh căn viện, Hà Vị khẽ đẩy cửa kính, ghé đầu để lộ nửa khuôn mặt: “Không tiện ra ngoài đón anh, vào trong đi”.
Triệu Ứng Khác dường như không bất ngờ lắm khi biết cô mang thai, sải bước dọc theo đường đá, giẫm lên bậc thang bằng cẩm thạch.

Lần trước hai người gặp nhau là ở Tử Cấm Thành, cách biệt đã hai năm.
Triệu Ứng Khác từng nói hắn nhậm chức quan không nhỏ trong chính phủ Nam Kinh, công việc có liên quan đến tình báo, hắn dặn Hà Vị nếu có xuống phương Nam, nhất định phải báo tin cho hắn để đảm bảo bình an.
Ban đầu Hà Vị không muốn làm phiền hắn, nhưng càng trì hoãn đến gần ngày dự sinh, lại càng khiến cô bất an, vì quyết định sinh con, cô vẫn âm thầm báo một tiếng cho hắn.

Triệu Ứng Khác làm việc cẩn thận giống hệt cô hai Tạ, chưa bao giờ xuất đầu lộ diện.
Mà một khi hắn xuất hiện, tất có chuyện quan trọng.
Hà Vị muốn hỏi, Triệu Ứng Khác đã lấy một chiếc khăn tay xếp chồng từ trong túi áo âu phục, lịch sự đưa cho cô.
“Ngày hè ở Thượng Hải dài đằng đẵng, lúc này ở Bắc Bình hẳn đã chớm lạnh rồi”, cô nhận khăn tay, chưa kịp lau mồ hôi đã cẩn thận hỏi han, “Anh tìm tôi, là tin tốt, hay có tin xấu?”
Thần sắc Triệu Ứng Khác không hề nhẹ nhõm, đáp lời: “Một tin tốt, một tin xấu”.
Hắn vốn không phải người thích úp mở, liền nói thẳng: “Kế hoạch bao vây của chính phủ Nam Kinh thất bại, hạ lệnh rút quân”.
Trong lòng cô vui mừng.
“Tin xấu là, đêm nay ở tô giới Pháp có tổ chức hành động truy bắt, trọng tâm không phải chỗ này.

Nhưng một khi tra xét, chỉ sợ sẽ bại lộ chuyện em ở Thượng Hải.

Tôi đến đây đón em, trốn về quê một thời gian”.
Nụ cười cô nhạt dần, khẽ gật đầu.
Hành lý của họ rất đơn giản, tiện di chuyển bất kỳ lúc nào.

Triệu Ứng Khác dặn dò bốn người kia ở cùng nhau, còn Hà Vị và Tư Niên ngồi trong xe hơi của mình.
Khấu Thanh vội tìm Tư Niên, ném chậu bột trong phòng.
Triệu Ứng Khác thấy cô cố hết sức đứng vững, liền dìu cô ngồi xuống ghế mây.

Chốc lát sau, Tư Niên theo Khấu Thanh xuống lầu, con bé trông thấy Triệu Ứng Khác, hơi sửng sốt nhưng lại chẳng quen biết.
Chuông cửa lần nữa vang lên.
Triệu Ứng Khác đích thân mở cửa, bên ngoài, sau khi nghe thư ký thì thầm vào tai, hắn hơi trầm ngâm, căn dặn: “Để mọi người đi hết, cậu cùng xe ô tô ở lại”.
Toàn bộ xe quân dụng ở ngoài lần lượt rời đi.
Hắn nặng nề khép cửa, trở lại chỗ Hà Vị, nhìn chằm chằm vào chậu bột, nói với Khấu Thanh: “Đặt hành lý về chỗ cũ, Khấu Thanh tiếp tục làm sủi cảo.

Cứ theo thời gian bình thường, đêm nay chúng ta cùng nhau ăn cơm”.
Khấu Thanh bị doạ sợ.
Triệu Ứng Khác nâng chậu bột đưa cho cô.

Tư Niên giúp Khấu Thanh nhận lấy, nắm tay Khấu Thanh quay về.
“Thời gian lục soát bị đẩy sớm, nếu hiện tại rời đi sẽ khiến người khác chú ý”, Triệu Ứng Khác cởi áo khoác ngoài, thoải mái ngồi xuống, lấy khăn tay lau bột mì vương vãi trên bàn, “Xem như tôi đến thăm em, sau đó ăn một bữa cơm gia đình”.
“Ừm”.

Cô lo lắng áp tay lên bụng nhỏ hơi nhô cao.
Dường như cảm nhận được nguy cơ trùng trùng, dưới bụng cô ê ẩm.

Cảm giác đau đớn rất nhỏ, nhưng chưa bao giờ gặp phải..
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 58: Vượt Vạn Trùng Khơi Nhạn Bay Về 3


Cô hoảng hốt nhìn về phía Triệu Ứng Khác.
Triệu Ứng Khác ở đây, không lo khó xử, nhưng nếu chuyện cô sinh con ở Thượng Hải lộ ra ngoài, đứa nhỏ phải làm sao bây giờ.

Trái tim như bị ai níu chặt, kéo theo cơn quặn thắt dưới bụng, cô nhíu mày, bất giác hít sâu một hơi: “Nhanh, đỡ tôi lên lầu…”
Triệu Ứng Khác vốn trấn tĩnh lau vết bột mì, sắc mặt lập tức biến đổi, ngay cả khăn tay cũng không kịp buông, trực tiếp nâng cô ngồi dậy, thấp giọng gọi người trong nhà.

Khắp nơi hỗn loạn, Hà Vị được dìu lên phòng ngủ ở tầng hai, giường đã chuẩn bị xong từ sớm.

Bác sĩ khử trùng tay, yeutruyen.net kéo tấm bình phong cạnh giường, kiểm tra một chút: “Quả thật sắp sinh, có lẽ nhanh thôi”.
Bất ngờ sinh con, tình thế nguy hiểm.

Bác sĩ thay cô kéo góc chăn mỏng lên người, chuẩn bị tiến hành.
Cô nhân lúc còn sức lực nói chuyện, cách một tấm bình phong hoa điểu, nói vọng ra ngoài: “Anh vào đây, chúng ta thương lượng trước”.
Triệu Ứng Khác nghe được, vòng qua chiếc giường bằng đồng sau bình phong: “Chuyện em ở đây không giấu được nữa, cũng may có quan hệ trong quá khứ của chúng ta, những thứ kia cũng dễ ứng phó.

Có điều hai đứa nhỏ, phải nghĩ cách giải thích.

Thân thế của Tư Niên, trong miệng người khác đều liên quan đến anh, về điểm này có thể xử lý ổn thoả.

Cứ bảo là con của anh đi”.

Hà Vị hít sâu, cố nhịn đau, khẽ gật đầu.
Chỉ là đứa trẻ sắp sinh, không cách nào liên hệ đến Triệu Ứng Khác, suốt một năm qua hắn vẫn qua lại Nam Kinh, Thượng Hải, trong khi Hà Vị thì ở Kinh – Tân, nếu cố lấp l**m càng dễ bị phát hiện nói dối.
“Anh ở dưới nhà, chỉ cần giữ vững cánh cửa này, tôi có thể giấu chuyện đứa trẻ”, cô thở nhẹ, kiên định nói, “Cứ bảo… tôi say rượu, không tiện gặp người khác”.
Triệu Ứng Khác lo lắng quan sát Hà Vị.
Thêm một cơn đau bất chợt ập đến, Hà Vị cố gắng xua tay, miễn cưỡng nở nụ cười.
Sau tấm bình phong, bác sĩ đã chuẩn bị xong hết, âm thầm mời Triệu Ứng Khác ra ngoài.

Hắn tất nhiên biết giờ phút phải cố kỵ, lấy một thiết bị nghe trộm màu đen từ túi âu phục, nhét vào tai trái của cô.

Hắn không nhiều lời, ngay lập tức rời khỏi phòng ngủ.
Bên ngoài, mưa bắt đầu rơi.
Nước mưa xối lên mặt thuỷ tinh, từng tiếng từng tiếng không khác gì cơn đau trong người.

Phòng ngủ vốn không chật, nhưng cảm giác quặn thắt khiến con người khó hít thở, giống như bị bốn bức tường đồng loạt áp sát.

Trên lớp kính của bàn thấp bằng rễ cây sơn mài, bác sĩ mở hộp dụng cụ y tế, vì không mang y tế hỗ trợ nên hắn tự đeo găng tay, tự mình khử trùng… Mùi thuốc sát khuẩn phả khắp khoang mũi.
“Hít sâu vào, cố gắng điều chỉnh hô hấp”.

Bác sĩ thì thầm.
Cô nhắm chặt mắt: “Làm ơn mở đĩa nhạc giúp tôi.

Mở đĩa nhạc trước”.
Bác sĩ quen biết cô nhiều năm, khi đó từng đỡ đẻ giúp thím chín của cô, hai người cũng có một sự ăn ý ngầm.

Hắn tháo găng tay, nỗ lực tán gẫu giúp cô phân tán sự chú ý: “Bình thường cô hai thích nghe nhạc gì? Hay lúc này có muốn nghe ca khúc nào đặc biệt không?”
Cô hơi nhíu mày, trong cơn đau, thấp giọng bảo: “Habanera”.
Bác sĩ đứng trước cửa kính viền đen bằng sắt, lấy máy phát từ trong ngăn kéo, tìm được đĩa nhựa đen thứ 100.

Trên mặt đĩa có dán một tờ giấy đỏ sậm, đề “Carmen”.

Vì để ngăn mùi thuốc khử trùng, bác sĩ đã cẩn thận thắp một nén hương, đặt vào lư hương bằng men xanh.
Trong sương trắng lượn lờ, có chút giống khói bếp, róc rách theo tiếng mưa rơi, lại như suối chảy.
Phỏng chừng ăn đến bát sủi cảo thứ hai, có người tiến vào.
Trong thiết bị nghe trộm ở tai trái phát ra tiếng giày da nện lên sàn nhà.
Tiếng bước chân không hỗn loạn chút nào, dựa theo chức vị của Triệu Ứng Khác, cũng chỉ có một hai kẻ mới đủ khả năng quấy rầy bữa tối của hắn.
“Triệu uỷ viên”.
“Ừm”.
“Hôm nay tô giới Pháp…”
“Cậu nghĩ tôi biết trễ hơn các cậu à?” Triệu Ứng Khác hỏi.
“Ti chức không dám”.
“Triệu mỗ đến đây cũng vì chuyện này.

Ở đó, có một người quen cũ của Triệu mỗ”.

Sinh con nguy hiểm trùng trùng, cảm giác đau đớn như xương cốt quanh người bị đứt lìa.

Lúc còn nhỏ, cô từng bị gãy chân, cũng không đau như hôm nay.

Hà Vị vừa nghe động tĩnh dưới lầu, thiết bị kết nối giấu trong âu phục của Triệu Ứng Khác sột soạt, một tay cô kéo chăn lên che mặt.

Mồ hôi lạnh thấm ướt từng tấc da thịt, toát đầy trên trán, hai tay, cả sau lưng…
Cô không chịu nổi.
Dưới nhà, Triệu Ứng Khác vì bảo vệ căn phòng trên lầu, ngược lại không dám giằng co, hắn bảo Tư Niên đến ăn sủi cảo vừa làm, để mặc bọn họ đi quanh nhà tìm kiếm.

Tư Niên vốn thông minh, miệng vừa nhai sủi cảo, vừa mơ hồ gọi một tiếng “cha ơi”.
Triệu Ứng Khác đáp lời: “Nhân sủi cảo thiếu một chút, đợi mùa đông tới, ta sẽ đưa con về Bắc Bình ăn”.
“Bật loa, lớn hết mức”.

Cô dốc sức nói chuyện.
Bác sĩ chạy như bay mở âm lượng to hết cỡ.
Ý thức của Hà Vị dần tan rã, cô liều mạng không kêu thành tiếng, cắn chặt một góc chăn.
Trong tai trái, cuộc trò chuyện dưới nhà lại tiếp tục.
“Triệu uỷ viên, có tiện cho chúng tôi lên lầu xem một chút không?”
“Không nghe thấy vị quý nhân trên lầu đang tỏ thái độ không vui à?” Triệu Ứng Khác trả lời, “Loa mở lớn thế này, tôi không bắt kịp, các cậu dám?”
“Cô hai Hà là…”
“Chuyện nhà thôi, không cần quan tâm làm gì”.
“Ti chức đã hiểu”.

Ngoài cửa sổ mưa vẫn rơi không dứt, như thể ông trời đang giúp họ.

Giông tố đan xen, chớp nhoáng không dừng.
Hà Vị lần nữa cố hết sức chống chọi với cơn đau lên đến đỉnh điểm, cuối cùng đứa nhỏ cũng được bác sĩ giữ chặt trong tay, tiếng sấm chớp cùng máy phát chồng chéo lên nhau che chặt tiếng khóc ré đầu tiên của con trẻ.

Sinh mệnh nhỏ bé được bác sĩ cắt dây rốn, ôm vào lòng, mọi người sợ bé con lại nỉ non, sẽ bị dưới lầu phát hiện.

Nhưng có vẻ đứa trẻ ấy cũng cảm giác nguy cơ rình rập, không hề ầm ĩ như tưởng tượng, bác sĩ không dám lau rửa quấy rầy, chỉ dùng vải bông quấn tạm, đặt vào ngực cô.
“Chúc mừng cô hai, là một tiểu công tử”.

Bác sĩ nhỏ giọng báo.
Hai tay Hà Vị bao bọc lấy con, áp vào lòng mình, nhưng lại không thấy đủ, cô cúi đầu hôn khẽ lên trán con.
Cả người cô mệt mỏi dán mặt vào người đứa trẻ, gắng yeutruyen.net gượng nhớ đến dáng vẻ của Tạ Vụ Thanh.
“Có Triệu uỷ viên đảm bảo, ti chức không dám hoài nghi.

Chỉ là nếu bỏ qua tầng trên, sau này lỡ…”
“Hôm nay ngươi ở đây gây khó dễ cho người nhà ta, còn bàn đến chuyện ‘sau này’ với ta à?” Triệu Ứng Khác không vui.
Niềm hân hoan chốc lát bị đè xuống.

Dưới nhà vẫn dây dưa không xong.
Tuy Triệu Ứng Khác bình tĩnh đối phó, dùng chức quan của mình áp chế kẻ khác, nhưng đối phương nắm trong tay lệnh tra xét, ngoại trừ nói chuyện xuống nước, cũng chẳng tỏ vẻ sợ hãi.

Bày ra tư thế nếu không lên lầu sẽ không bỏ qua.
Nếu tiếp tục chờ, chỉ sợ con khóc thì mọi người đều gặp nguy.
“Tìm chai rượu, nhanh lên”.

Hà Vị yếu ớt chống tay đứng dậy.
Bác sĩ không nghe thấy động tĩnh, cũng không biết tình hình dưới lầu thế nào, nhưng theo cô xuôi Nam mấy tháng, trong lòng đánh hơi được nguy hiểm.

Hắn nhanh tay mở cửa kính màu trà của tủ rượu, vặn nắp mấy chai rượu ngoại quốc nhưng đều không thành công.
Hà Vị lảo đảo vịn vào mép giường, men theo bình phong, chậm rãi đi đến chỗ bác sĩ, cô không còn sức nói chuyện, chỉ nhận lấy cái chai, đập mạnh vào chân tủ, âm thanh vỡ vụn vang lên, lại lục tung tủ kính tìm ly thuỷ tinh.
Một cái ly trong suốt đưa đến trước mặt, tay cô hơi nghiêng, chất rượu nâu sánh rót vào miệng ly, xối sạch mảnh vụn dưới đất.
Cô rót nửa ly rượu, ngửa đầu uống cạn, sau đó dựa vào vách tường, lại nhấp thêm ngụm nữa.
“Cô hai”.

Bác sĩ đỡ cô.
“Không còn đau nữa”.

Cô yếu đuối mỉm cười, “Chỉ là không có sức… giúp tôi mở cửa.

Còn anh, trốn đi”.
Bác sĩ dìu cô đến trước cửa, mở chốt khoá.
Hà Vị sờ lên tai trái, ném máy nghe trộm đi, đẩy cửa bước ra.
Giờ phút này cô thầm thấy may mắn vì bản thân yêu cái đẹp, từ nhỏ đến lớn luôn thích mặc váy dài, đến cả váy bầu cũng tận dụng kiểu váy thông thường, chỉ sửa phần thắt lưng rộng rãi hơn.

Cô đứng tựa vào hành lang, mặt dán lên tường, nhận thấy những đường vân gồ ghề kề sát mặt: “Triệu Ứng Khác… anh là tên khốn…”
Ơ động đất à, đấy là quảng cáo web đang đi lên
Cô ném ly rượu, đập mạnh vào tay vịn cầu thang.
“Xoảng” một tiếng, ly thuỷ tinh vỡ vụn, rượu đổ xuống thanh chắn.
Dưới lầu yên tĩnh.
Hà Vị vừa sinh xong, hai chân mềm nhũn, lại bị chất cồn k*ch th*ch, trời đất xoay vòng phải bám vào tường mới đi đến cầu thang.

Hai tay cô vịn thanh chắn, mắt híp lại, cổ áo bằng ren trên vai khẽ trượt xuống.
Triệu Ứng Khác bước vài bước lên lầu, vòng qua lan can đỡ người cô, thấp giọng nói: “Đã bảo em không cần đến đây mà, dáng vẻ này nếu để người khác trông thấy, truyền ra ngoài, không tốt với em”.
Cánh tay Triệu Ứng Khác vững vàng chống đỡ người cô, đau lòng dưới mắt là thật.
“Nhìn thấy rồi chứ?” Hắn quan sát mấy kẻ dưới nhà.
Hà Vị uể oải cười, mang theo “men say” chế giễu hắn: “Chức quan này của anh thật không tốt chút nào, tra một hồi lại tra đến nhà tôi.

Sớm biết như thế, còn cầu tôi xuống phía Nam làm gì?”
“Tối nay ngoại lệ”, Triệu Ứng Khác hơi tỏ vẻ “ăn nói khép nép”, dịu dàng bảo, “Vừa rồi đã giải thích với em chuyện lục soát, em uống thành thế này, nói cái gì cũng không nghe lọt tai”.
“Nếu không phải vì Tư Niên…” Chân cô thật sự đã mềm nhũn.
Triệu Ứng Khác liền bế cô lên, không quan tâm người phía dưới, căn dặn Khấu Thanh: “Chuẩn bị nước nóng tắm rửa”.
Hắn ôm Hà Vị về phòng ngủ.
Hai người dưới nhà nhất thời không biết làm sao, bên ngoài có một người đàn ông mặc đồng phục xanh sẫm bước vào: “Người của lãnh sự quán Pháp đến rồi”, sau đó thấp giọng nói, “Tối nay định đến bàn bạc thời gian chuyến tàu xuất cảng sắp tới, thấy chúng ta ở đây, nổi trận lôi đình”.
Đầu gối của chính phủ Nam Kinh lúc nào cũng vô lực, cấp dưới tất nhiên noi theo.

Tô giới của người Pháp, đến lãnh sự quán Pháp cũng đến, nếu tiếp tục giằng co chỉ sợ ầm ĩ không đáng.

Lại nói, Triệu Ứng Khác tuy là một công tử, nhưng sau lưng ai cũng bàn tán, chính phủ thay đổi mấy lần, mà hắn vẫn toàn thây rút lui, sau đó lại giữ chức vụ quan trọng trong chính phủ mới, hẳn là ngoài mặt quân tử nhưng lòng dạ Diêm Vương, nếu cứng rắn đắc tội chỉ e sẽ rước hoạ vào thân.

Bất luận thế nào, có chuyện xảy ra chỉ cần đổ hết lên người Triệu Ứng Khác là được.
Hai tên thủ lĩnh cân nhắc lợi hại kỹ càng, mới mở lời tạ lỗi cùng Khấu Thanh, sau đó dẫn người rời đi.
Hà Vị mơ mơ màng màng tựa lên vai Triệu Ứng Khác, được hắn ôm về phòng.
Đến khi cô nằm trên gối đầu, đã hoàn toàn mất đi ý thức, vừa rồi cố gắng chống đỡ cả người, lúc này suy yếu đến hai mắt nhắm chặt, không lâu sau chất cồn ngấm vào, tâm trí đều mơ hồ không rõ.

Mí mắt cô nặng tựa ngàn cân, hàng mi đè chặt, muốn nhướng mi nhưng không tài nào mở nổi.
Long Tiên Hương, phảng phất như gió biển ẩm ướt ở Nam Dương.
Bên cạnh cô có bóng dáng của bộ âu phục, trong đầu nghĩ đến anh trai, Hà Nhữ Tiên.
“Anh ơi…” Cô hít mũi, lẩm bẩm.
Cái bóng ngồi bên giường, vươn tay vén mấy sợi tóc mướt mồ hôi dính chặt trên mặt cô.
Triệu Ứng Khác tắt đèn bên giường, nói với bác sĩ: “Bế đứa bé đi, để cô ấy ngủ một chút”.
Cánh cửa che khuất tất cả nguồn sáng của thế giới.
Hắn có chuyện muốn nói với cô, nhưng có những lời cất giữ trong lòng đã lâu, giống như quên mất cách phát âm tiếng Hán, chỉ có thể dùng trái tim giãi bày, mọi ngôn ngữ nông cạn đều không thể tỏ tường.

Kể chuyện từ quán trà nhỏ ở Tứ Cửu Thành, đến Quảng Đức Lâu, sau đó là ngoài cổng trường nữ sinh Nam Dương, hay trên con tàu tháo chạy về nước.

Khoang tàu hạng ba, có đại công tử Triệu gia cùng cô hai Hà gia đang lẩn trốn, cô nói dưới đệm giường có con gián, cô nhắc về mùi xoài ở Nam Dương, lại nhớ đến món vịt nướng ở Tiện Nghi Phường.
Cuộc đời hắn trọn vẹn nhất, là những ngày tháng có hôn ước với cô hai Hà gia, là những lúc làm giáo viên dạy kinh văn ở trường Đại học Kinh sư.

Là cánh chim sao? Không phải, là tiếng chuông điện thoại.

Tại sao lại có tiếng chuông điện thoại, cô mở mí mắt bị mồ hôi thấm đẫm.
Trong căn phòng này không nên xuất hiện một cái điện thoại màu đen dưới gối, tiếng chuông như sóng to gió lớn quấy nhiễu giấc mộng, đánh thức sự sống trong cô, thôi thúc cô tỉnh dậy.

Cô cố gắng xoay người, chạm vào ống nghe, đặt nó bên mặt.
“Vị Vị”.
Cô bỗng giật mình.
“Vị Vị, là anh đây”.
Cô hơi nhếch môi, mãi vẫn không nói nên lời, lệ nóng dâng trào từ đáy lòng, xuyên qua yết hầu, xoang mũi rồi đến hai mắt.
“Anh nghe bảo, chúng ta có một đứa con trai”.
Giọng anh vừa hài hước tự giễu lại ngập tràn vui sướng.
Cô nấc nghẹn, dịu giọng “Vâng”.
Tiếng hít thở của Tạ Vụ Thanh kéo dài không dứt, từ trong ống nghe xuyên qua thời không truyền đến phòng ngủ của cô.
Đĩa nhựa màu đen trong máy phát không còn chuyển động, chỉ vươn lại một chút tạp âm nhạt nhẽo hiếm thấy, giống như đến từ chiến khu của anh, vượt qua đường dây liên lạc mấy tỉnh thành, rất ít người dám gọi.

Không biết là ai giúp anh nối thông, không chừng là điện thoại quân dụng của chính phủ Nam Kinh, thần không biết quỷ không hay để anh nói chuyện cùng cô.
Anh bảo: “Trước khi gọi cho em anh đã nghĩ, không biết nên đặt tên con là gì, đến giờ vẫn chưa nghĩ xong”.
“Kế Thanh”.

Tạ Kế Thanh.

Kế thừa thanh minh thịnh thế.
Đường dây giống như đứt quãng.
Hà Vị sợ bị ngắt liên lạc, nhanh chóng hỏi: “Không thích sao?”
“Tên này, không giống gọi con trai, có chút giống anh em ruột thịt”.

Anh thấp giọng nói chuyện.
Ngón tay cô vân vê đường viền thêu quanh chăn gấm: “Đặt cũng đặt xong rồi, không sửa được.

Giống như ai kia cưới cũng cưới rồi, không thể thay đổi”.
“Quả đúng vậy”.

Anh cười phụ hoạ.
Cho dù Tạ Vụ Thanh đang ở tiền tuyến, hai người vẫn có một sự ăn ý ngầm kéo dài suốt mười một năm qua.

Lời ít ý nhiều, chỉ nói chuyện vặt.
“Anh sao rồi? Ở đó tốt không?” Cô nhẹ giọng hỏi han.
“Rất tốt.

Mọi việc đều thuận lợi, liên tiếp giành chiến thắng”.
Chỉ nói chuyện tốt, không nói chuyện xấu, giống như thư nhà.
“Anh Thanh”, cô gọi anh, “Dù tâm nguyện chưa hoàn thành, nhưng em ở rất gần anh, so với quá khứ thì khoảng cách rất gần”.
“Anh biết”, anh yên tĩnh một lát mới nói, “Anh vẫn luôn biết rõ hành tung của em”.
Hai mắt cô đỏ lên.
Như cảm nhận được, họ sắp phải dừng cuộc gọi.
“Chỉ còn mười giây”.

Anh giải đáp suy đoán trong lòng cô.
“Mọi sự đều phải cẩn thận”.

Cô gấp gáp dặn dò, hệt như sợ một giây sau điện thoại sẽ bị ngắt.
“Trước kia mỗi khi tạm biệt, thường nói bảo trọng với người khác”, Tạ Vụ Thanh suy tư ở đầu dây bên kia, “Hôm nay cũng nói giống vậy, nhưng có chút khác”.
Anh thấp giọng: “Anh sẽ tự bảo vệ bản thân, bình an quay về”.
Điện thoại bị ngắt không lệch một giây.
Hà Vị buông tay, để mặc ống nghe rơi trên gối.

Từng tiếng vang cắt đứt cuộc gọi, như thúc giục trái tim cô.
Thượng Hải vào cuối hạ, mưa tuôn không ngừng.
Đêm khuya thanh vắng không nghe tiếng sấm chớp, chỉ có tiếng mưa rơi tí tách tí tách, giống tiếng suối chảy róc rách, cũng hệt tiếng dòng sông len lỏi qua vách núi trong chiến khu xa xôi..
 
Back
Top Bottom