Ngôn Tình Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 19: Ban ngày thấy gió lửa (1)


Cô có linh cảm Tạ Vụ Thanh sắp quay lại rồi.

Cảm giác này ngày một mãnh liệt, đến nỗi toàn bộ hành trình đi công tác ở tỉnh ngoài trước tết đều bị cô dời lại hết.

Đến cuối tháng 11, người quản lý bộ phận vận hành tàu chở khách hỏi cô, mùa đông năm nay ấm áp, liệu có thể kéo dài chuyến tàu cuối năm đến giữa tháng 12 không. Hà Vị hỏi lại mấy công ty phụ trách vận tải đường thủy lớn, sau đó thống nhất thời gian, cùng nhau trì hoãn đến tháng 12.

Theo quy luật từ trước đến nay của cô, chuyến tàu chở khách cuối cùng xuất bến tại Thiên Tân sẽ do cô đích thân đến tiễn, chuyện này không gì thay đổi được.

Cô cố gắng rút ngắn thời gian, buổi chiều tới khách sạn Lợi Thuận Đức.

Hà Vị dẫn theo Quân Khương đến thang máy nhà hàng để về phòng, nhưng vì khách quá đông, bọn họ đi tới đi lui cũng mất hai chuyến. Quân Khương đứng bên cạnh kể về Thiên Tân, nhắc lại lần trước Liên Phòng về có tặng cho họ mấy cái mũ thời thượng, nhưng đến giờ vẫn chưa có dịp đội.

Cô mỉm cười nói: “Nếu là mũ hình chuông, thì phải để tóc ngắn…”

Đoàn người đẩy cửa kính ra.

Cô đón lấy ánh sáng từ đại sảnh tầng một, nhìn thấy Tạ Vụ Thanh cùng mấy vị tướng lĩnh cấp cao đang đi tới, trên người anh vẫn là chiếc áo khoác màu lam. Bức họa giấy dán tường hai bên như không có điểm cuối… Những người bên cạnh anh cũng không ngừng lùi về phía sau. So với trong trí nhớ, anh càng tôi luyện càng thanh tuấn hơn, có điều sắc môi rất nhạt, có lẽ do trời quá lạnh.

Tạ Vụ Thanh tháo găng tay xuống, đang định nói gì đó với người bên cạnh thì chậm chạp dừng lại



Cô như nghẹn đắng, cố gắng giữ bình tĩnh nhìn rõ ngũ quan anh, khuôn mặt anh. Chỉ sợ bản thân nhận lầm, sợ rằng người trước mặt không phải anh.

Tạ Vụ Thanh từ từ gấp găng ta lại, đưa cho một phó quan trẻ tuổi trước nay cô chưa từng gặp đứng bên cạnh, ánh mắt vẫn luôn đặt trên người cô.

Những vị tướng quân vừa xuống tàu mang đầy vẻ phong trần mệt mỏi, họ lệnh cho phó quan của mình kiểm kê hành lý, sắp xếp chuyện ngủ nghỉ và lịch canh gác cho những binh lính đi theo.

Vị tướng lĩnh trung niên từng được Tạ Vụ Thanh cứu nhìn quanh khách sạn Lợi Thuận Đức trứ danh: “Nghe kể trước khi hoàng đế nhà Thanh bị đuổi khỏi Tử Cấm Thành, ông ta đã từng sống ở đây à?” Người quản lý khách sạn đứng một bên cung kính giải thích: “Không có ở đây ạ. Nhưng ông ấy thường đến sảnh khiêu vũ The Times và nhà hàng Tây dùng cơm”.

Tạ Vụ Thanh cùng mấy vị tướng quân bước vào thang máy.

Tay Hà Vị vẫn run bần bật, từ lúc nhìn thấy anh, máu huyết trên tay như không thể lưu thông được nữa, vô cùng tê dại. Chân cũng thế, không giống như đang đứng, lúc này không còn cảm giác đạp lên lớp băng mỏng, mà như thể đi trên mặt nước, cả người nhẹ bẫng không còn trọng lượng.

“Lão Tạ nhận phòng chưa?” Một vị tướng khác hỏi anh, “Hay đến nhà hàng Tây ăn chút gì trước đi”.

Tạ Vụ Thanh không đáp lời người bên cạnh, đôi ủng quân đội vững vàng giẫm lên tấm thảm lông mềm mại.

“Cô hai Hà”, anh nhẹ giọng gọi, “Đã lâu không gặp”.

Cô cũng hơi gật đầu cười nói: “Tạ tướng quân, <i>biệt lai vô dạng</i>” [1].

<i>[1] “Biệt lai vô dạng” là một câu thành ngữ, kiểu chào hỏi phổ biến giữa những người đã lâu rồi mới gặp lại. Mang nghĩa là “Từ lần cuối chúng ta gặp nhau, bạn vẫn khỏe chứ?” Cũng có thể hiểu là “lâu rồi không gặp”, hay “rất vui được gặp lại bạn”</i>

Hai người nhìn nhau.

Bên trong như có dòng nước ngầm chảy xiết, bất ngờ ập đến khiến cô mờ mịt, cũng làm mấy vị tướng quân khác nhận ra manh mối gì đó.

Tạ Vụ Thanh ngoại trừ trị quân nghiêm khắc cùng nói chuyện quân vụ không biết mỏi mệt, thứ người ta thích bàn luận về anh nhất chính là chuyện phong lưu. Bọn họ đều đến từ phương Nam, trước đây chưa từng gặp Hà Vị, nhất thời chưa liên tưởng tới người đứng đầu Hà gia vận tải đường thủy, chỉ lo đắm chìm trong ánh mắt giao hòa giữa Tạ Vụ Thanh cùng giai nhân, không cần nghĩ sâu xa cũng biết “cô hai Hà” này cùng anh ắt hẳn chuyện cũ khó nói.

“Cô hai đến Thiên Tân để tiễn tàu chở khách xuất cảng à?” Đây là câu hỏi thứ hai của anh sau khi bọn họ gặp lại.

Cô nhẹ nhàng “vâng” một tiếng.

“Lần này ở phòng nào?”

“Vẫn là ở…” căn phòng lúc trước. Cô im bặt, sợ quá mập mờ, không nói hết câu.

Tạ Vụ Thanh vậy mà gật đầu, tỏ ý đã hiểu.

Các vị tướng quân dựa vào ba chữ kia của cô, liền biết thì ra lần trước hai người họ đã ở chỗ này cùng nhau.

Hà Vị đang định hỏi anh ở đâu, đương lúc do dự thì cửa thang máy ào ào mở ra.

Tạ Vụ Thanh dời nửa bước chân, ý bảo Hà Vị đi vào trước. Hà Vị tiến vào, Tạ Vụ Thanh cũng đến đứng cạnh chỗ cô, sau đó những vị tướng quân khác mới lục tục nối đuôi nhau bước tới. Sợi dây xích chậm chạp ầm ầm xoay vòng, thang máy bắt đầu đi lên, Hà Vị hít thở nhẹ nhàng, cố gắng bày ra dáng vẻ hỏi thăm bạn cũ lâu ngày gặp lại, nhắc đến chuyện mà cô quan tâm nhất hiện tại: “Tướng quân lần này đến Thiên Tân định ở lại mấy ngày?”

Tạ Vụ Thanh cúi đầu nhìn cô, dừng lại vài giây đáp: “Ngày mai phải đi rồi”.

Nhanh vậy sao?

Hà Vị che giấu sự mất mát, nói khẽ: “Đường dài bôn ba tất vất vả, mong tướng quân tự bảo trọng thân thể”.

Tạ Vụ Thanh thấp giọng trả lời: “Cảm ơn cô hai quan tâm”.

Chớp mắt mới nói được vài câu, cửa thang máy mở ra. Cô gật đầu tạm biệt Tạ Vụ Thanh, đưa Quân Khương rời khỏi thang máy. Đợi đến lúc cửa thang máy lần nữa khép lại rồi ầm ầm kéo đi, cô vẫn giật mình đứng đó, thất thần hồi lâu, nhìn chằm chằm cửa thang máy vừa biến mất.

Trái tim cô cũng như thang máy này, thẳng hướng đi lên, không có hồi kết.

Bên ngoài cửa thang máy ở tầng ba, từ sớm đã có người chờ sẵn, thang máy vừa mở ra, người đàn ông đeo kính đứng tựa vào cánh cửa phía trước chính là thư ký đại diện cho chính phủ lâm thời Bắc Kinh. Vị thư ký này cùng với hai người trợ lý đi cùng, tiến lên đón tiếp đám người Tạ Vụ Thanh. Đối với vị công tử Tạ gia ấy, người thư ký có nghe danh nhưng chưa từng được diện kiến.

Những kẻ trước đây giam lỏng Tạ Vụ Thanh sau khi thua thảm hại trong trận chiến giữa Phụng – Trực hệ, đều đã chạy trốn. Trong số quân mới đến, người từng gặp qua Tạ Vụ Thanh thật sự rất ít.

Có đều thư ký cũng sớm được người khác âm thầm nhắc nhở, vị công tử Tạ gia này thích ở cùng phụ nữ. Bọn họ đều đã chuẩn bị xong xuôi.

Phía sau có hai vị tướng quân bước ra, thư ký đeo kính hơi cúi người: “Các vị tướng quân từ xa đến, trên đường vất vả rồi”. Hắn nhìn hai người đi trước, tuổi đã lớn, không giống.

Trên áo khoác của người đi sau hai vị tướng quân có đeo huy chương cao cấp, cả người trầm mặc bước ra khỏi thang máy, dáng vẻ cao lớn, quân phục vừa vặn ôm sát trên thân. Giữa đầu mày anh không giấu được sự mỏi mệt, nhưng vẫn lịch sự gật đầu với thư ký. Người thư ký chỉ nhìn được một bên mặt, ấn tượng lưu trong đầu về anh là một người đàn ông lông mày sâu, đôi mắt càng sâu hơn, hệt như lớn lên từ non xanh nước biếc. Nhưng nước sâu không thấy đáy, núi rừng lại tĩnh mịch, không dễ thân cận.

Bình thường đàn ông thế này khi gặp phụ nữ sẽ bày ra một khuôn mặt khác. Thư ký thầm nghĩ.

Vì tầng ba không cao lắm nên những sĩ quan đi theo đều trực tiếp dùng thang bộ.

Đầu tiên là mười lăm, mười sáu sĩ quan trung cấp sắp xếp phòng họp, trong tay mỗi người đều cầm theo cặp táp da đen.

Thư ký muốn nói nhiều hơn với họ cũng không có cơ hội, mọi người đi đến phòng sinh hoạt chung. Các sĩ quan trung cấp bắt đầu chuẩn bị, máy đánh chữ cùng thiết bị chống nghe trộm lần lượt được bày ra. Có người điều chỉnh máy đánh chữ, có người kết nối nguồn điện, có người đặt lên bàn một cái hộp gỗ màu nâu đỏ, dài chừng nửa cánh tay, mở ra mới biết là máy phát điện cầm tay.

Thiết bị quân dụng của họ đều không phải tối tân nhất, hai người sau lưng thư ký đều nhận ra cái máy đánh chữ kia là loại kiểu cũ của Đức, tỏ ý khinh thường… Nghe nói phía Quảng Đông bên kia lúc mở trường quân sự vô cùng khó khăn, tiền ăn ngày hôm sau phải đến hỏi mượn trước từ quân phiệt, quả thật không sai.

Thư ký so với hai trợ lý của mình thì có tầm nhìn rộng hơn, hắn thấy được sự chuyên nghiệp cùng nghiêm cẩn của nhóm quan quân này.

Hầu hết những người lính cách mạng ở đây đều nhận được nền giáo dục quân sự hiện đại, một phần cũng vì quân cách mạng thích trọng dụng người trẻ cùng các phái tân sĩ quan. Không giống với quân phiệt đều là những đương gia lão thành theo phái hủ lậu, là <i>“tửu nhục huynh đệ” [2]</i> trên chiến trường thiên hạ.

<i>[2] “Tửu nhục huynh đệ” (dịch thô: Anh em rượu thịt), ý chỉ những người bạn thân thiết kết giao chỉ biết tụ tập ăn uống vui chơi.</i>

Đám người này sắp xếp mọi thứ quá chu toàn, khiến thư ký cùng đám người trẻ đến đón tiếp cũng không biết xen vào đâu. Chờ cho mười mấy vị tướng quân đều có mặt đông đủ, lúc này Lâm phó quan cũng ôm một chồng điện tín vừa nhận được đi đến, đặt trước chỗ ngồi của Tạ Vụ Thanh: “Đây đều là điện báo nhận được lúc trưa”.

Tạ Vụ Thanh khoác áo lên thành ghế, nhìn thấy mấy gã đàn ông đeo kính vẫn còn ngơ ngác đứng đó không biết nên làm gì, anh bảo Lâm Kiêu: “Đi mời thư ký tiên sinh đến nhà hàng Tây uống cà phê trước”.

“Không cần, không cần đâu”, thư ký xấu hổ cười, “Các vị là khách, lý nào để các vị mời ngược lại chúng tôi?… Là tôi đã quấy rầy mọi người rồi, chư vị tướng quân, Tấn mỗ xin phép cáo từ”.

Cánh cửa được khép lại.



Hà Vị quay về phòng, trong lòng có vô vàn nghi vấn, lại không biết hỏi ai.

Giám đốc bộ phận quản lý hành khách vừa vặn đến đối chiếu danh sách người đi tàu vào sáng mai, cô vờ như vô ý, nói mình có một người bạn đến Thiên Tân, liệu có thể tra được hành trình đi đường cụ thể không?

Sau khi quản lý biết người kia là một vị tướng quân, bởi vì nam bắc hòa đàm nên sĩ quan đi tàu thủy và đường bộ vô cùng nhiều, một con số khổng lồ, hơn nữa còn là tướng lĩnh cấp cao như Tạ Vụ Thanh, hành trình càng thêm bí ẩn… Trong giây lát rất khó tra xét.

Hà Vị cũng không hỏi kỹ, kêu Quân Khương tiễn quản lý xuống tầng. Sau khi mọi người rời đi, cô ngồi một mình trên ghế sô pha, nhưng trong lòng sóng biển cuộn trào.

Xem ra Tạ Vụ Thanh vừa đến Thiên Tân, nên nghỉ ngơi một lát, sau khi gặp được người quan trọng liền trực tiếp rời đi. Trong thang máy không dễ nói chuyện, còn có đồng liêu của anh… Cô đoán chắc, có lẽ trạm tiếp theo anh sẽ đến Bắc Kinh, hoặc đi ba tỉnh Đông Bắc? Dù sao lần hòa đàm này cũng có quân Phụng hệ.

Đang nghĩ đến các loại khả năng có thể xảy ra, điện thoại bên tay bất ngờ đổ chuông.

Cô bị tiếng chuông inh ỏi làm cho ngẩn người, tim đập dồn dập, như dự cảm được người gọi đến chính là Tạ Vụ Thanh. Cô nhấc ống nghe, đầu ngón tay mềm nhũn. Phải mất chừng vài giây mới áp được ống nghe lên tai.

Cô kìm nén hô hấp, khẽ “a lô” một tiếng.

“Không ngờ vẫn là Lợi Thuận Đức”, người đàn ông bên kia đầu dây nói thẳng, “Xem ra nơi này đúng là đất lành”.

Mũi Hà Vị chua xót… cúi đầu cười.

“Vốn định hẹn gặp em ở An Định Môn”. Anh thì thầm.

“Em biết”, giọng nói cô chua chát, khẽ lặp lại, “Em biết mà”.

Hai người đã lâu không nói chuyện, có rất nhiều thứ muốn hỏi, nhưng không biết bắt đầu từ đâu.

Phó quan bên kia nhỏ giọng nhắc nhở: Khách đã đến.



Đầu dây truyền đến tiếng động ma sát, cô đoán chắc là cổ áo của anh.

“Em nghe thấy rồi”, Hà Vi dịu dàng nói, “Anh đi đi”.

Cô không muốn làm lỡ chuyện của anh, chuyện quan trọng của Tạ Vụ Thanh không giống việc xã giao của những người đàn ông bình thường khác, nếu chậm trễ thì thật không xong.

Tạ Vụ Thanh nói với phó quan: Giờ qua đây.

Có một giây cô đã do dự, liệu hỏi anh về chuyến đi lần này qua điện thoại có thỏa đáng chăng?

“Lát nữa cùng ăn tối được không?” Anh hỏi.

Hà Vị giật mình, như bị đoán trúng tâm tư, khuôn mặt hơi nóng.

Cô nhẹ nhàng “vâng” đáp lời.

“Sáu giờ gặp lại”. Anh nói câu cuối.

Lúc Quân Khương quay về, cô vẫn còn cầm ống nghe. Thấy Quân Khương kỳ quái nhìn mình, mặt cô lại nóng lên, đem thứ trong tay gác lại chỗ cũ.

“Khi nãy em xuống tầng có nói chuyện với quản lý khách sạn”, Quân Khương cười nói với cô, “Hai ngày nay người đến đây đều là các vị tướng quân ở ba tỉnh Đông Bắc, còn có cả những vị tướng quân đến từ phương Nam, Tạ tướng quân chắc cũng nằm trong số đó”.

Cô khẽ gật đầu: “Anh ấy gọi điện cho chị rồi”.

Quân Khương kinh ngạc, ngồi xuống ghế sô pha đôi, kề sát cô nói: “Em cứ nghĩ cô hai đã sớm quên ngài ấy”.

Cô không lên tiếng, trong đầu suy nghĩ lát nữa nên mặc gì.

“Cho dù lần này thật sự ra Bắc nhưng ngài ấy rồi sẽ quay về”. Quân Khương mù mờ khuyên cô, “Dù sao nhà ngài ấy vẫn ở phía Nam”.

Cô cũng không đáp lại, đứng dậy đi vào phòng tắm. Cô ngồi nghiêng cạnh bồn tắm lớn, vặn mở vòi nước màu vàng, nhìn dòng nước không ngừng chảy ra đến khi đầy bồn, trái tim như được dòng chảy ấm áp lấp kín.

Trước bữa tối, quản lý hành khách đi tàu gọi điện tới, hỏi cô có muốn đặt chỗ trong nhà hàng Tây không? Hay muốn ăn bên ngoài khách sạn? Gần đây rất đông khách khứa, chỉ sợ muốn tìm một chỗ trong nhà ăn cũng khó, cô sợ Tạ Vụ Thanh chưa kịp đặt bàn, trước tiên bảo quản lý giữ chỗ trước, đợi đến sáu giờ tối nói tiếp.

Đúng sáu giờ, không hơn không kém một giây, cửa phòng gõ vang.

Hà Vị một tay mở cửa, ngoài ý muốn lại nhìn thấy Lâm Kiêu đứng bên ngoài: “Lâm phó quan”.

“Cô hai”, Lâm Kiêu cười nói, “Công tử bảo tôi đến mời cô sang”.

“Đến nhà hàng à?”

“Ở ngay bên cạnh ạ”. Lâm Kiêu chỉ căn phòng phía bên phải.

Anh cũng ở gian phòng lần trước.

Phòng trong Lợi Thuận Đức rất khó đặt sẵn, ít nhất phải sớm mười ngày. Hai người bọn họ không hẹn mà mười ngày trước lại cùng nhau đặt hai căn phòng mình từng ở.

Nếu ngay phòng bên cạnh thì cô cũng không cần lấy áo khoác, lướt qua những binh lính canh gác bên ngoài hành lang. Hồi chiều Quân Khương có nói với cô chuyện người thuê phòng cách vách được binh sĩ canh gác nghiêm ngặt đến mức cơn gió cũng khó lọt qua, nhất định là người quan trọng, dặn cô đừng ra ban công, để tránh đúng lúc người ta đang bàn chuyện… Khi đó cô chỉ mang tâm tư muốn gặp anh, nào có nghiêm túc suy nghĩ.

Lâm Kiêu đưa cô đến trước cửa.

Hà Vị đi vào, cánh cửa sau lưng khép lại.

Trước mắt là một gian phòng họp theo lối mở, bên bàn hội nghị lớn bày đủ loại thức ăn. Tất cả đều là đồ miền Nam, bốn món một canh.

Tạ Vụ Thanh bước ra từ phòng ngủ, áo khoác ngoài đã sớm không còn, cổ áo sơ mi trắng hơi hé mở. Vì anh vừa rửa tay xong nên vẫn đang xắn cao tay áo. Lần trước anh đến đang là mùa đông, vì chú ý không muốn để lộ nhiều da thịt nên cô cũng chưa từng nhìn thấy mấy vết thương cũ trên cánh tay anh.

Tạ Vụ Thanh bắt gặp ánh mắt cô nên kéo tay áo xuống: “Ban đầu vốn định đặt chỗ ở nhà hàng em thích”. Anh nói, “Sau đó lại nghĩ muốn ở một mình với em nên liền bảo người nấu vài món”.

Đồ ăn đều do nhóm đầu bếp theo họ ra Bắc chuẩn bị. Chuyến đi lần này là đến ở đất người ta, vạn sự đều phải cẩn thận, ăn mặc đều do người đi theo họ sắp xếp, nồi cỗ cũng tự chuẩn bị, chỉ mượn phòng bếp của khách sạn để nấu mấy món ăn gia đình đơn giản này.

Anh đến trước mặt cô, muốn thử chạm vào tóc cô. Nhưng cảm giác xa cách hai năm khiến anh thoáng dừng lại.

“Đầu bếp không quen nấu mấy món phương Bắc, sợ làm không đúng”, anh nói khẽ, “Chỉ làm vài món quê nhà, cũng thay đổi khẩu vị một chút”.

— HẾT CHƯƠNG 19 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 20: Ban ngày thấy gió lửa (2)


“Ăn gì không quan trọng”, cô nói khẽ, “Em chỉ sợ một mình ăn cơm ở đây, người khác sẽ nghĩ nhiều”.

Tạ Vụ Thanh nhìn cô: “Nghĩ nhiều gì?”

“Lần này không cần tránh người khác sao?” Cô sợ mình không nắm rõ tiêu chuẩn.

Tạ Vụ Thanh cười, không buồn để tâm hỏi: “Ở Kinh Tân này, chúng ta từng có quan hệ gì, còn có ai không biết?”

Hà Vị cũng không khỏi bật cười.

Tình cảnh khó xử khi xa cách lâu ngày gặp lại bị đánh tan, như thể Tạ Vụ Thanh anh trước nay chưa từng rời đi, vĩnh viễn là bộ dạng <i>tự thị nhi phi [1]</i>, luôn thích trêu ghẹo cô.

[1] “Tự thị nhi phi” là một thành ngữ Trung Quốc, mang ý “tưởng thật mà lại là giả”, “như đúng như sai”

“Đó là chuyện hai năm trước”, cô hiếm khi có dịp đùa anh, “Tạ tướng quân đi lâu như vậy, sao biết em vẫn giống như lúc trước, nguyện ý làm chuyện vô nghĩa với anh chứ?”

“Chuyện vô nghĩa”, Tạ Vụ Thanh lặp lại lời cô nói, “Thì ra mọi chuyện quá khứ trong mắt cô hai đây, đều là vô nghĩa”.

Đôi mắt kia của anh như muốn vây hãm người khác.

“Cũng không phải”, cô nói nhỏ, “Nghe nói tướng quân Tạ Khanh Hoài ở phương Nam chiến công vang dội, so với Tạ thiếu tướng quân còn lợi hại hơn nhiều. Có thể làm bạn với người như thế, sao lại vô nghĩa chứ?”

Tạ Vụ Thanh đi đến cửa, khóa trái lại.

Một tiếng khóa rất nhỏ vang lên, cô nghe xong lại đỏ mặt. Hai năm trôi qua, cô thoáng nghĩ đến chuyện hoang đường trong gian phòng nhỏ lúc trước… Cô từng nhiều lần ngẫm lại, nếu lúc ấy Tạ Vụ Thanh không rời đi, hai người ở cạnh nhau thêm một tháng nữa, liệu có phải sẽ thật sự sẽ đi đến bước cuối cùng không. Nhưng nghĩ thì cũng chỉ thế thôi, cô quả thật không hiểu được tâm tư của người đàn ông này.

Tạ Vụ Thanh hai mươi tám tuổi cô còn không nắm chắc được, huống hồ hiện giờ anh đã sắp ba mươi… Cô càng không hiểu thấu.

Tạ Vụ Thanh đến trước mặt cô. Hai bàn tay cô nắm chặt, cả người tê dại.

“Mỗi lần ở cạnh cô gái nào anh cũng khóa cửa trước sao?” Cô khẽ hỏi.

Anh cũng đáp nhỏ: “Còn phải xem cô gái đó có quan hệ gì với anh đã”.

“Ví dụ như?”

Tạ Vụ Thanh không đáp lời.

Hai người cách nhau quá gần.

“Để anh nhìn em”. Anh dịu dàng nói.

Không hiểu vì sao, chỉ một câu nói ngắn ngủi đã khiến hai mắt cô đỏ ửng. Cô lắc đầu, cúi mặt không muốn anh nhìn thấy nước mắt của mình.

Cô cảm giác Tạ Vụ Thanh cầm lấy tay mình, dùng sức giữ chặt, anh kéo cô qua ôm chầm lấy, người cô chạm vào lồng ngực anh. Trên áo sơ mi anh là mùi hương chỉ thuộc về riêng người đàn ông Tạ Vụ Thanh bao lấy cô…

Cô chớp mắt, giọt lệ lặng lẽ rơi vào trong cổ áo sơ mi anh.

Tạ Vụ Thanh cảm nhận được có dòng nước từ xương quai xanh trượt xuống, đậu trên thắt lưng. Anh siết chặt người, hôn lên tóc cô.

“Để anh nhìn một chút”. Anh thì thầm, ngay trên tay cô.

Cô mơ màng, nhưng vẫn hiểu được anh muốn làm gì… Hà Vị không muốn để anh trông thấy, đầu vẫn cúi gằm. Hai tay vòng qua eo anh, bàn tay chạm đến vỉ ngoài bao súng trên thắt lưng, ngón trỏ khẽ khàng v**t v* vỏ súng.

Tạ Vụ Thanh cúi đầu, nhẹ giọng hỏi: “Cũng không phải chưa từng hôn, sợ gì chứ?”

Hơi thở nóng rực của anh phả lên trán cô, khiến mặt cô càng nóng: “Cách đã lâu rồi… từ lần trước”.

Tạ Vụ Thanh vờn quanh vành tai cô: “Đã lâu rồi”.

Hà Vị bị anh hôn lên tai, cơ thể mẫn cảm bất giác cứng đờ. Bàn tay Tạ Vụ Thanh luồn ra sau gáy, hơi nâng đầu cô lên.

Anh hôn cô rồi, cô cảm giác được môi anh di chuyển từ khuôn mặt đến trên cánh môi cô. Như thể có từng tiếng từng tiếng tạp âm vang lên trong phòng chiếu, còn cô thì đang xem thước phim đen trắng của mình với anh… Rõ ràng nhận thấy bờ môi Tạ Vụ Thanh đang ngậm lấy cánh môi trên của cô, anh bắt đầu hôn xuống, mang đến cho cô nhiệt độ cùng hơi thở thuộc về một người đàn ông.

Cánh môi Hà Vị bị anh c*n m*t đến tê rần, hai tay mơ hồ nắm lại ôm lấy sau eo anh.



Hai người vừa hôn vừa ôm nhau vào phòng ngủ.

Hà Vị ngã lên giường, theo bản năng giữ chặt bao súng trên eo anh.

Tạ Vụ Thanh thành thục cởi bỏ khẩu súng trên thắt lưng, ném cả súng và bao da lên trên gối nằm của cô. Dưới môi anh vẫn khi6ng ngừng nghỉ, có điều tiết tấu còn nhanh hơn trước rất nhiều. Hà Vị nhận ra mái tóc dài của mình đã tàn loạn bên mặt, mới bất tri bất giác phát hiện tóc mình từ lâu đã được anh xõa ra, mấy sợi tóc cọ cọ bên má cô, khiến người cô thấy ngứa, trong lòng cũng ngứa ngáy không thôi.

Cô thở hổn hển, dịu giọng hỏi: “Lúc trước anh cũng thế này sao? Nhất định phải tháo súng mới chịu hôn…”

Anh cười, bờ môi lần nữa áp xuống.

Hà Vị lại nghĩ, lần này anh quay về Bắc Kinh khó tránh sẽ gặp lại những mối tình trước đó, liệu anh có vì không chịu nổi cám dỗ mà bằng lòng ôn lại mộng cũ hay không? Khi anh ôm cô gái khác sẽ thế nào? Là cô gái của quá khứ… hay là trong hai năm qua?

Tạ Vụ Thanh nhận ra cô hôn không tập trung lắm liền rời khỏi cánh môi cô, hôn nhẹ lên vành tai bé nhỏ: “Không phải”.

Sao? À, là chuyện tháo súng…

Suy nghĩ tiếp theo khiến cô không thoải mái.

Hà Vị không muốn để anh nhìn thấu tâm tư mình, đang định nói gì đó, môi Tạ Vụ Thanh trên vành tai cô đã áp vào lỗ tai, âm sắc khàn đục: “Sợ súng cướp cò sẽ làm em bị thương”.



Môi Tạ Vụ Thanh vẫn quanh quẩn bên tai cô: “Lần trước cũng vậy”.

Hà Vị bỗng chốc bị kéo về gian phòng tắt đèn tối om, trước mặt là đa bảo cách, còn bên ngoài kê một cái bàn lót tấm lụa đỏ, bài mạt chược dưới mười đầu ngón tay lanh lảnh vang lên.



Đèn phòng ngủ không bật, chỉ có thể mượn ánh sáng từ phòng họp bên ngoài.

Tạ Vụ Thanh nhìn khuôn mặt cô, ngắm nghía trước mặt cô: “Có muốn ăn cơm trước không?”

Cô nhẹ gật đầu, nhìn anh chống người ngồi dậy.

Đôi môi tê dại, cô nhịn không được cắn nhẹ.

Anh muốn nhắc cô đừng cắn môi nhiều quá, lát đi ra ngoài người ta sẽ nhìn thấy. Chuyện lần trước trong gian phòng nhỏ cũng như thế, trong lúc anh đang ăn cháo mùng 8 tháng Chạp thì có mấy người gõ cửa hỏi chuyện, Hà Vị vì muốn thể hiện hai người trong sạch không có làm gì nên vô cùng phấn chấn mở cửa. Tạ Vụ Thanh muốn kéo cô lại cũng không kịp… Đêm đó sau khi cô đi rồi, anh bị mấy kẻ khác cười nhạo một phen, nói Tạ thiếu tướng quân e rằng quen ở trên chiến trường, hoàn toàn không hiểu thế nào là thương hoa tiếc ngọc.

Tâm trạng cô vẫn còn lâng lâng chưa dứt, không có xúc cảm chân thật, cô nhác thấy Tạ Vụ Thanh cứ nhìn môi mình, trong lòng càng thêm mềm nhũn.

Tạ Vụ Thanh nhìn thấy thần sắc cô, cuối cùng không nói gì cả, bước xuống giường. Anh lắp súng vào, đi ra cửa.

“Anh Thanh”. Hà Vị bất ngờ nhỏ giọng gọi anh.

Bước chân Tạ Vụ Thanh dừng lại, quay đầu nhìn cô.

“Em muốn nói chuyện con tàu”, cô nghiêm túc nhìn anh, “Đó là quà sinh nhật em tặng anh, cũng là chút đóng góp nhỏ nhoi cho công cuộc cách mạng”.

Sau khi Ta Vụ Thanh rời đi, cô thường xuyên để ý đến mấy tin tức liên quan đến tình hình chiến sự. Nghe nói người Nhật vẫn luôn ủng hộ quân Phụng hệ, họ mua từ châu Âu hàng trăm vạn súng ống, hàng trăm rương đạn pháo cùng mười mấy khẩu đại bác… rồi bán lại cho quân phiệt, còn giúp xây dựng nhà máy quân sự… Những thứ này trước kia cô chưa bao giờ để tâm đến, lâu ngày nghe nhiều, cô cũng bắt đầu thấy lo, sợ rằng trang thiết bị của quân miền Nam không theo kịp bọn họ. Cô nghe người ta nói, quân miền Nam muốn mở trường quân sự đều phải thấp giọng hỏi han cánh quân phiệt để góp tiền, càng thêm lo lắng cho đám người Tạ Vụ Thanh, thế nên mới nghĩ ra cách mượn cơ hội vận chuyển vật tư cứu trợ để đưa hàng hóa cùng con tàu kia đến, xem như tận lực vì cách mạng.

“Cảm ơn em”. Giọng điệu Tạ Vụ Thanh nghiêm túc.

“Không cần anh cảm ơn… Thôi bỏ đi, cứ xem là quà tặng sinh nhật anh vậy. Thật ra nếu năm nào cũng mang món quà lớn thế này, e là em cũng không tặng nổi”, Hà Vị mỉm cười, cố gắng xoa dịu bầu không khí, cô dịu dàng nói, “Không ngờ trước năm ba mươi tuổi anh đã quay lại, vốn định tổ chức tiệc sinh nhật lần thứ ba mươi cho anh”.

Thật ra anh cũng không ngờ, mình có thể quay lại sớm như thế.

Anh nhìn Hà Vị ngồi trên giường không chút ánh sáng, hai tay ôm gối, đầu ngón tay còn đang vô thức nắm lấy bao gối màu vàng… Lần này gặp lại cô vẫn chưa lập gia đình, xem như là ông trời thương xót.

Tạ Vụ Thanh im lặng đi đến chỗ giá gỗ treo quần áo nằm cạnh cửa ra vào.

Hà Vị thấy anh đút tay vào trong quân phục, đoán chắc anh muốn tìm điếu thuốc hút.

Anh sờ trúng một hộp sứ trắng lạnh lẽo, yên tĩnh trôi qua.

Hà Vị biết anh đã tìm được thứ gì đó, nhưng khi rút tay về lại trống không, cô hơi khó hiểu. Chẳng lẽ không có thuốc ư?

Cô nhác thấy Tạ Vụ Thanh quay về giường, trong chốc lát không nén được nhìn anh chăm chú: “Có muốn gọi phó quan vào không? Bảo Lâm Kiêu đưa thuốc tới cho anh”.

Tạ Vụ Thanh lắc đầu, ngồi lên giường, khuôn mặt nghiêm túc như có lời muốn nói.

“Lần này ra Bắc, tất cả mọi người đều mang tâm lý sống chết liều một phen, chỉ e có người giăng bẫy hãm hại, dù sao chỗ này cũng là đất của người ta”. Nếu thật sự là một cái bẫy, hoặc giả kết cục hòa đàm thất bại, những người đến từ miền Nam như bọn họ có thể cũng bị bắt giữ, tệ hơn là thủ tiêu toàn bộ. Thế nên mọi người đều mang theo suy tính hậu quả tồi tệ nhất một mực tiến ra Bắc.

“Em biết”, cô nói khẽ, “Trong hai năm qua, em đã đọc rất nhiều tin về tình hình chiến sự, kể từ lúc nghe được chuyện Bắc Kinh gửi điện báo mời người phương Nam đến, em rất vui, cũng rất muốn được gặp lại anh. Mặt khác em lo sợ anh sẽ thật sự ra Bắc…”

Hà Vị biết anh chuyến này mạo hiểm ra Bắc, trong lòng nặng nề: “Chúng ta cứ như lúc trước cũng tốt, anh cũng không cần ngày ngày đến tìm em hay gặp mặt em”, cô nói xong, đứng từ góc độ của mình an ủi anh, “Thật ra như thế đối với em cũng ổn thoả… Dù sao Hà gia cũng không thể qua lại quá thân cận với bên nào”.

Tạ Vụ Thanh khẽ gật đầu.

Anh vẫn còn vài lời, là chuyện riêng.

“Nửa đời trước của anh tuy có công trạng, nhưng lại rất ít quan tâm đến cha mẹ anh chị trong nhà, tự thấy bản thân nợ họ quá nhiều…” Tạ Vụ Thanh thấp giọng nói tiếp, “Trước đây anh đi theo chú ruột mà trưởng thành, lúc ấy chú cũng thường nói mình nợ người nhà, nợ thím anh quá nhiều. Khi đó anh ít trải đời, chờ khi tuổi lớn hơn một chút mới sâu sắc cảm nhận được những lời nói đó. Sau này, anh luôn muốn giảm bớt gánh nặng cho người khác, nhưng không biết làm sao cho phải, chỉ có thể tự kiềm chế bản thân, không để mình có thêm nhiều món nợ ân tình, cũng giúp mình yên tâm hơn. Vì thế mà trước nay anh chưa từng thật tâm nghĩ đến việc gần gũi người khác”.

Hà Vị như nhìn thấy được từ trong mắt anh là gió lửa chinh chiến suốt ba mươi năm qua… Trong khói lửa mịt mù, có quốc gia thiên hạ, nhưng dưới tro bụi lụi tàn, chỉ còn lại hụt hẫng cùng vô vàn áy náy với người thân được chôn giấu kỹ càng.

Cô không thể nói ra hết những đau khổ trong lòng: “Em cũng không ép buộc anh làm gì, chỉ muốn hạnh phúc được ngày nào hay ngày đó thôi. Thế hệ của anh có lẽ không quen với kiểu yêu đương tân thời… Cảm thấy thật l* m*ng. Nhưng mỗi lần anh tới chỉ ở lại một lúc ngắn, cũng chỉ kịp nói mấy chuyện yêu đương thôi”.

Tạ Vụ Thanh nghe xong thì bật cười.

“Tuy rằng lần trước không tính là có quan hệ gì, nhưng hôm nay thì khác”, cô bị anh cười trêu có chút quẫn bách, “Em không phải… ai cũng có thể hôn”.

Ý cười trên mặt anh càng sâu: “Cô hai Hà là tiểu thư cao quý, tất nhiên không phải ai cũng có thể hôn rồi”.

Mặt cô ửng đỏ, so với lúc nảy bị anh hôn càng hồng hơn.

“Vị Vị”. Anh bỗng nhiên gọi cô.

Mỗi khi anh gọi nhũ danh của cô liền khiến trái tim này như nhũn ra lập tức: “Vâng”.

“Những lời vừa rồi, là quá khứ đã qua”. Tạ Vụ Thanh nói.

“Lần này ra Bắc, anh cũng không biết khi nào sẽ quay về, nhưng vẫn muốn hỏi em”, anh dịu giọng, “Muốn hỏi xem em nghĩ gì về chuyện hôn nhân đại sự”.

— HẾT CHƯƠNG 20 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 21: Ban ngày thấy gió lửa (3)


Hà Vị ngồi đó bất động, mắt nhìn anh.

Như thể bọn họ đã quay lại lúc mới gặp nhau trong Bách Hoa Thâm Xử, bên cạnh là chậu than đỏ cháy lách tách, cổ áo choàng bằng đuôi hồ ly khiến mặt cô ngưa ngứa, khi nãy cô đã cởi áo khoác ngắn bên ngoài, vừa xoay lưng liền bắt gặp người đàn ông một tay vén rèm châu, gió bấc lùa vào trong cửa. Hai người đối diện nhau chốc lát, rèm châu sau lưng anh lắc lư… Cô không thể không vươn tay về phía anh để che giấu sự sợ hãi trong lòng, khẽ nói: “Em là Hà Vị”.



Đêm đó, có nằm mơ cô cũng không nghĩ đến việc họ sẽ đi đến ngày hôm nay.

Cô cúi đầu nhìn đường thêu chỉ vàng trên chăn gấm, trái tim càng mềm nhũn.

Trong giây phút yên tĩnh, Tạ Vụ Thanh và cô đều không lên tiếng.

“Khi anh quyết định ra Bắc, vừa mong em gả cho người khác, cũng vừa mong em còn lưu luyến anh”, cuối cùng anh nói, dừng lại một chút tiếp tục, “Vị Vị, anh thật sự không thể buông tay em”.

Bốn phía tĩnh lặng hơn bao giờ hết.

Tạ Vụ Thanh tiếp lời: “Nhưng em không phải một cô gái bình thường, đối với chuyện hôn nhân đại sự chắc hẳn đã có chuẩn bị sẵn. Nếu anh không được, sẽ làm em chậm trễ. Đây cũng không phải điều anh mong muốn”.

Hai bức điện báo anh đã đặt trước dưới đáy hành lý, chờ một khi hoà đàm thành công sẽ đưa cho cô. Nếu giữa chừng đàm phán có bất trắc gì thì không biết con đường mịt mù phía trước còn phải đợi bao lâu…

Hà Vị nhìn anh chăm chú. Cô đối với chuyện chung thân của mình từng suy nghĩ rất nhiều, cũng thoả hiệp rất nhiều, tất cả là vì di nguyện của anh trai, vì tâm nguyện của chú hai, vì sản nghiệp của vận tải đường thuỷ. Lúc mười bảy tuổi, cô đã bắt đầu tỉ mỉ sắp xếp kế hoạch cuộc đời, nhân lúc chú hai còn sống mà sinh thêm một hai đứa bé có thể đảm đương cơ nghiệp gia đình. Thậm chí cô còn tính toán mời mấy vị tiên sinh đức cao vọng trọng đến dạy dỗ con mình, dạy những gì trọng yếu nhất, làm sao để tránh đi vào vết xe đổ của bản thân, nuôi nấng đứa trẻ ấy thành một doanh nhân kiệt xuất hơn hẳn bao người…

Quân Khương từng không ngớt lời cảm thán, nói cô không phải đang lập gia đình, mà chỉ muốn tìm người cha tốt nhất cho hậu nhân kế nghiệp của Hà gia thôi.

Nếu là vì hậu nhân kế nghiệp Hà gia thì Tạ Vụ Thanh không thích hợp. Tình cảnh của anh quá nguy hiểm, không thể sinh con…

Mặt Hà Vị bỗng dưng nóng lên, nghĩ xa thế làm gì.

Cô không muốn Tạ Vụ Thanh ôm đồm quá nhiều trách nhiệm lên người, lắc đầu nói: “Dù cho anh muốn kết hôn ngay lúc này, em cũng không thể theo anh vào Nam được. Nếu nói chậm trễ, là em làm lỡ chuyện của anh”.

Tạ Vụ Thanh bình tĩnh đáp: “Hai chuyện này không giống”.

“Giống chứ, như lần cuối chúng ta gặp nhau đã từng nói, ai cũng có khó xử của riêng mình”, giọng cô mềm mại, “Lúc này khó khăn quá”. Có lẽ chờ khi thời cuộc ổn định, những băn khoăn ấy cũng không phải vấn đề nan giải. “Chờ lúc đó bàn lại sẽ tốt hơn”.

Tạ Vụ Thanh cùng cô nhìn nhau.

Cô say sưa đắm chìm trong mắt anh, nghĩ anh có thể trở lại thì thật tốt.



“Em đói rồi”. Cô kéo tay anh.

Tạ Vụ Thanh để mặc cô lôi kéo.

“Thầy Tạ à”. Cô thì thầm.

Tạ Vụ Thanh không khỏi bật cười: “Nghiêm túc nào”.

Cô mặt ủ mày chau, liếc nhìn anh.

Tạ Vụ Thanh khẽ thở dài, đứng dậy khỏi giường rồi đi ra ngoài.

Hà Vị cũng cười, sửa sang lại váy áo rồi mới theo anh bước ra. Tạ Vụ Thanh quay lưng về phía cô, khui một chai rượu vang trắng. Cô đi đến cạnh anh, nhận ra dấu mực màu đỏ trên nhãn chai.

Tạ Vụ Thanh xoay người ở một bên: “Đầu bếp sợ tay nghề không tốt, không hợp khẩu vị em. Nhưng ông ấy vẫn muốn làm một bữa mời em nếm thử, cảm ơn em vì đã quyên góp con tàu cho bọn anh”.

“Sao trên chai rượu của anh lại dùng bút đỏ đánh dấu vậy?” Hà Vị đứng bên cạnh hiếu kỳ hỏi.

Anh xoay chai nửa vòng, nhìn vào dấu mực: “Thói quen của Lâm phó quan, có lẽ loại sản xuất năm này có mùi vị tốt”.

Hà Vị âm thầm nhớ rõ năm sản xuất của rượu. Nếu anh đã thích, sau này có thể chuẩn bị nhiều hơn.

Tạ Vụ Thanh phát hiện cô cứ nhìn chằm chằm vào năm sản xuất trên vỏ chai, như thấu rõ tâm tư cô. Thực ra dấu mực này chỉ có nghĩa là không chứa thành phần độc hại và có thể dùng ngay.

Trước mặt người ngoài, Tạ Vụ Thanh không thường động đũa, nhưng hôm nay lại khá khẩm hơn một chút, ăn cùng cô hay miếng.

Món ăn của đế kinh đều có đủ, nhưng vì khẩu vị hai miền Nam – Bắc khác biệt nên nêm nếm cũng thay đổi một chút theo đặc trưng phương Bắc. Cô hiếm khi ăn ngon đến thế, <i>canh chua đề hoa [1]</i>, gà xào phù trúc, ngỗng rút xương… Hương thơm nồng nàn giữa món ăn <i>Kiềm [2]</i> và món ăn Tứ Xuyên giống hệt nhau, có điều trong vị cay mang theo chút chua ngọt lạ miệng.

<i>[1] Canh chua đề hoa là một món canh có vị chua ngọt nấu cùng móng giò</i>

<i>[2] Kiềm – tên gọi khác của Quế Châu, Trung Quốc</i>

Cô thấy anh ăn không nhiều, uyển chuyển hỏi thăm: “Không có khẩu vị sao?”

Tạ Vụ Thanh lắc đầu, gắp thêm đồ ăn cho cô: “Tối nay có xả giao, phải chừa bụng”.

Đã lâu không dùng món ăn quê nhà chính gốc, đối với anh mà nói, tối nay đã nếm đủ vị chua cay k*ch th*ch rồi.

Tạ Vụ Thanh thấy cô có vẻ rất thích ăn mấy món này, càng vui vẻ, uống cũng không ít. Nhưng lạ là anh không thấy váng đầu, có lẽ vì có chuyện vui nên người cũng không say được.

Chờ đến tối muộn, chư vị tướng quân cùng nhau đến phòng anh.

Lúc Tạ Vụ Thanh mở cửa, cô vừa rửa tay xong, nhìn thấy toàn những tướng lĩnh trẻ tuổi khoảng hơn ba mươi bốn mươi, cô thấy hối hận vì không tết gọn bím tóc. Vốn dĩ nó đã bị anh xoã ra sau một hồi hoang đường khi nảy.

Lần này quay lại, anh thật sự là khách quý, hoàn toàn không còn mang thân phận con tin, tất nhiên cũng tuỳ ý hơn nhiều.

Trong ánh nhìn sáng quắc của các tướng quân, anh giới thiệu: “Vị này là cô hai Hà của vận tải đường thuỷ Hà gia”.

Vừa rồi ở đại sảnh đều đã gặp qua, có lòng cười một tiếng, lần lượt bắt tay cô, trực tiếp nói: Hân hạnh.

Hồi trước chưa biết Hà Vị, ai cũng nghe qua Tạ Vụ Thanh từng được vận tải đường thuỷ Hà gia tặng một con tàu, từ lâu ngầm hiểu quan hệ thân thiết giữa hai người họ, mà đến lúc gặp mặt lại nhìn thấy tiểu thư nhà người ta không thèm mặc áo khoác qua lại ở phòng anh… Trong lòng càng thêm khẳng định chuyện riêng của hai người.

Phần lớn hồng nhan tri kỷ của Tạ Vụ Thanh đều chỉ nghe qua mấy lời đồn truyền miệng, lần này khó có dịp xuất đầu lộ diện thế này.

Cô muốn rời đi cũng không xong, mọi người ai cũng rất nhiệt tình, mượn cớ vì vừa ra Bắc nên muốn tìm hiểu thêm phong tục tập quán ở địa phương, rốt cuộc giữ cô lại phòng họp. Một mình cô đối diện với các vị tướng quân cũng không quá sốt sắng, kể chuyện từ tô giới ở Thiên Tân đến các sảnh khiêu vũ lớn, rồi lại nhắc tới những cuộc khẩu chiến kịch liệt khua môi múa mép của các phe phái bảo thủ, cuối cùng là chuyện hoàng đế tiền Thanh muốn chuyển vào tô giới Nhật Bản ở Thiên Tân, cùng người Nhật qua lại mật thiết…

Nói một hồi, Hà Vị cũng muốn hỏi thăm vài câu về tình hình chiến sự ở phương Nam.

Mọi người định nói, lại bị ánh mắt Tạ Vụ Thanh ngăn cản, chỉ sợ cô nghe xong thêm lo lắng. Cô quay đầu lại, oán trách nhìn Tạ Vụ Thanh.

“Tôi và anh Thanh đều học cùng trường”, có người lên tiếng đúng lúc, khiến bầu không khí lần nữa sôi sục hẳn lên, “Cô hai có muốn biết những chuyện trước kia của anh ấy trong trường quân sự không?” Người đang nói tên Tôn Duy Tiên, hắn mang một cặp kính, giọng điệu chậm rãi.

“Muốn biết có phải anh ấy lúc nào cũng được con gái yêu thích không?” Cô nói đùa.

Mọi người bật cười, có kẻ hỏi cô: “Anh Thanh có bao nhiêu tên gọi, cô hai đều biết à?”

Hà Vị khẽ gật đầu.

“Tạ Vụ Thanh, Tạ Ngộ Khanh. Trước kia anh ấy đúng là có không ít <i>khanh khanh giai nhân [3]</i> bên cạnh”, một người trêu chọc anh.

<i>[3] “Khanh” là từ dùng để gọi người khác một cách thân mật (như người yêu, vợ chồng). Thường có câu “khanh khanh ta ta” cũng mang ý như thế.</i>

“Tạ Khanh <i>Hoài</i>, Tạ Khanh <i>Hoài [4]</i>. Cho dù bỏ lỡ khanh khanh giai nhân vẫn khiến người ta hoài niệm đến giờ, nhớ mãi không quên”. Lại có người cười nói thêm.

<i>[4] “Hoài” (1) trong tên Tạ Khanh Hoài của Tạ Vụ Thanh, có nghĩa là tên sông Hoài. Còn chữ “Hoài” (2) có nghĩa là hoài niệm nhớ nhung trong lòng.</i>

Cô lườm anh, trong đầu ong ong suy nghĩ.

Tạ Vụ Thanh thực sự không còn cách nào với mấy cái miệng trêu chọc không nể tình của đồng liêu, đặt tay lên vai cô: “Để anh đưa em về?”

Tạ Vụ Thanh cầm lấy lá thư trên bàn, dẫn cô đi ra, khép hờ cửa lại.

Binh lính canh giữ bên ngoài có không ít người từng theo anh đến Thiên Tân vào hai năm trước. Đêm đó ở trước cửa tô giới, nguyên nhân thiếu tướng quân lại cam tâm tình nguyện vì cô hai đây tháo bỏ súng ống, người mang thương tích một mình đi vào hang hổ, ký ức đó trong đầu bọn họ đến giờ vẫn còn mới nguyên… Mọi người hôm nay còn chưa gặp Hà Vị, đều ngầm khẳng định người cách vách chính là cô hai nhà họ Hà. Thế nên khi thấy Tạ Vụ Thanh đi ra, không ai hé răng nửa lời, chỉ chăm chăm nhìn thẳng hai người họ.

“Hai ngày nay, những bên có liên quan hoà đàm đều sẽ đến Thiên Tân”, anh đứng trước phòng cô, thấp giọng dặn dò, “Sáng sớm mai em quay lại đi, ở Bắc Kinh dù sao cũng an toàn hơn”.

Cô đồng ý, thì thầm nói: “Vậy ngày mai anh đi đâu?”

“Phụng Thiên, ba ngày sau sẽ về”, anh nói, “Cuối tháng đến Bắc Kinh”.

Vậy cũng tốt. Cô che giấu sự hụt hẫng vì phải lần nữa chia xa: “Em bảo người đến Bách Hoa Thâm Xử dọn dẹp nhà cửa một chút, sắp đến Tết rồi, ít nhất cũng phải sơn sửa lại cổng lớn”. Cô muốn anh cảm nhận được bầu không khí năm mới vui vẻ ở Bắc Kinh.

“Được”. Tạ Vụ Thanh đưa lá thư cho cô, ý bảo cô vào trong phòng hẵng đọc.

Hà Vị dõi theo bước anh về phòng, sau đó cũng bước vào phòng mình. Cô mở bìa thư, lấy ra một xấp giấy, là danh sách chi tiết sắm sửa hàng hoá. Cô tính sơ qua tổng giá, liền biết là khoản tiền thu được sau khi bán con tàu kia.

Số tiền ấy, một xu anh cũng không giữ lại cho mình, toàn bộ đều dùng mua quân nhu cùng dược phẩm. Những vật tư quân nhu này chia theo cấp bậc từ trên xuống dưới, từ sư đoàn đến ban ngành cụ thể đều được dùng mực đánh dấu rõ ràng.

Như thể không cần chờ cô kịp giải thích ý đồ quyên góp con tàu, anh đã chuẩn bị sẵn cho cô một câu trả lời thoả đáng.

Anh sẽ không để con tàu của Hà gia đi một chuyến vô ích, từng li từng tí đều cống hiến trên chiến trường.

Lúc Tạ Vụ Thanh quay về phòng, bàn hội nghị đã được dọn dẹp sạch sẽ. Sau khoảnh khắc thư giãn ngắn ngủi, là một cuộc họp thâu đêm suốt sáng.

Lâm Kiêu biết anh không ăn được những món kia, có điều vì muốn cô hai Hà vui vẻ nên mới bảo người làm, giờ phút này có lẽ đã thấy đói, rất nhanh hắn liền bưng lên một bát mì chay cùng ít muối trắng. Tạ Vụ Thanh khuấy đũa mì trong bát, mở một nửa cửa ban công.

Bầu trời bên ngoài như Hải Hà lấp lánh đêm đen, trong bóng tối lộ ra chút thanh sắc, ngược lại càng khiến vầng trăng thêm sáng ngần.



Sáng hôm sau, mới năm giờ, Hà Vị đã tỉnh dậy, cách một lớp cửa kính ngoài ban công nhìn sang phòng bên, có thể thấy đèn vẫn còn sáng.

Lúc này mây mù trên trời thưa thớt, mặt trăng chiếu rọi cả khoảng không xanh lam. Cảnh sắc khiến cô nhớ đến “hang ổ” với bốn bức tường bị thấm nước ở Nam Dương, khi ngọn đèn hắt lên vách phòng cũng mang theo dáng vẻ thế này, óng ánh xanh lam.

Nghĩ đến Tạ Vụ Thanh cũng từng sống ở Nam Dương, khoảng thời gian học tập ở Nam Dương kia đối với cô cũng có chút khác biệt.

Tạ Vụ Thanh để lại một phó quan trẻ để tiễn cô.

Trước khi đi, cô bỗng đổi ý, khó có dịp gặp nhau một lần, cô vẫn muốn ở lại Thiên Tân chờ anh, ít nhất ở cùng khu vực hai người còn có thể gọi điện cho nhau.

Hà Vị mời người phụ trách phòng làm việc của Hà gia tại Thiên Tân đến, cùng với vị tiên sinh phòng thu chi đối chiếu sổ sách cuối năm, quyết định kế hoạch vận hành cho năm sau. Hai ngày kế tiếp, cô để lại số điện thoại liên lạc cho phó quan trẻ đó, còn mình đến nhà chú chín ở nhờ.

Trong nhà ngoại trừ chú hai, cũng chỉ có cô bảy cùng chú chín là yêu thương cô. Mỗi khi cô rảnh, cô sẽ đến Thiên Tân thăm chú chín.

Thiên Tân sớm phát triển, lại có cảng tàu biển lớn nhất phía Bắc, ngoài ra còn mọc lên không ít tô giới, chính vì vậy mà những chính trị gia có tiếng ở đây cũng rất nhiều. Trước có vương công hầu tước nhà tiền Thanh, không thiếu quân phiệt thất thế và quan viên hèn yếu, sau có các lực lượng đại quân phiệt cùng nhiều thế gia danh môn.

Chú chín đến đây từ sớm, sau khi phân nhà thì được chia một căn biệt thự có sân vườn, không lâu sau cả gia đình cũng chuyển tới theo. Chú chín từ nhỏ đi lại khó khăn, hai chân tàn tật, sau này cưới một thê một thiếp, tất cả đều được chuộc thân từ chốn trăng hoa. Dù ngày thường chú chín ít khi ra ngoài, nhưng vì nhà mẹ đẻ có thân phận địa vị cao nhất Hà gia nên không ít kẻ muốn nhanh chóng làm thân với chú. Tuy không có nắm đấm cứng rắn nhưng danh vọng rất cao, tin tức từ bạn bè xung quanh cũng nhiều.

“Vị Vị à, có phải con muốn hỏi chuyện gì không?” Chú chín hơi nhấc môi, để cô đích thân châm thuốc cho mình.

Hà Vị đốt cho chú một điếu Kim Hoa, cười hỏi: “Không phải chú thích loại Phi Thuyền hơn ạ?”

Chú chín thở dài: “Thím con không thích mùi của Phi Thuyền”.

Cô cười.

“Hỏi đi”. Chú chín xắn tay áo sơ mi lên cao.

“Hai bên hòa đàm thế nào rồi chú?” Cô trực tiếp thắc mắc.

“Con quan tâm việc này làm gì?” Chú chín đáp, “Hoà đàm cũng không phải chỉ là lớp nguỵ trang”.

Chú chín lại tiếp: “Đại quân phiệt người ta không tiếc ném bạc trắng ra ngoài, sau khi đánh xong một trận đại thắng cần gì chứ, tất nhiên là muốn thu về nhiều hơn. Người ta không ngốc, làm gì có chuyện tặng đồ ngon cho đám người ra Bắc đàm phán?”

“Con biết”, cô cười khổ, “Con cũng không ngốc”.

Tạ Vụ Thanh anh cũng không ngốc. Bọn họ đều biết rõ, dù chỉ còn tia hy vọng nhỏ nhoi, vẫn muốn đến một lần.

“Được rồi, để ta kể con nghe”, chú chín cầm trên tay chuỗi tràng hạt Phật, chậm rãi nói, “Đám người ra Bắc e là phải thất vọng rồi. Lần này họ đến phương Bắc, đưa ra một đề xuất cấp thiết là bãi bỏ tất cả những hiệp ước bất bình đẳng, điều đó vấp phải sự phản đối kịch liệt từ các quốc gia khác. Lúc họ tới Thượng Hải đã gặp phải tranh luận công kích từ Anh và Pháp, đi đến đâu cũng không dễ dàng”.

Hà Vị khẩn trương hỏi: “Nhóm quân phiệt nói thế nào ạ?”

“Đương nhiên là trấn an các quốc gia kia, đảm bảo lợi ích của cường quốc bọn chúng ở Trung Quốc”. Chú chín cười lạnh.

Trong lòng Hà Vị càng thêm khổ sở: “Con cho rằng, ít nhất trong việc bãi bỏ hiệp ước bất bình đẳng… mọi người sẽ có cùng chí hướng”.

Chú chín lắc đầu: “Kẻ muốn thăng quan phát tài, người muốn cứu quốc độ dân, từ trong xương máu đã khác biệt, không có khả năng đàm phán thành công”.

Cô nghe thấy tin này mà trái tim quặn đau.

Hình như mỗi lần anh ra Bắc đều giống loài ưng giương cánh, bị người ta đánh gãy, chưa bao giờ một đường thuận lợi cả.

Mấy người thím của cô sau khi dạo phố xem quần áo trở về thì hai người cũng không nói thêm.

Hai thím thần thần bí bí dẫn cô lên lầu. Một người khen tầm mắt của cô tốt, nhất định bắt cô phải chọn vải vóc tơ lụa, một người khác lại bảo cô phiên dịch tạp chí thời trang nước ngoài giúp mình. Quan hệ giữa Hà Vị cùng hai người thím này rất tốt, cô thường lấy số tạp chí thời trang mình có cho các thím xem, các thím vốn yêu thích cái đẹp, ngược lại có thêm động lực học tiếng Anh, vì để đọc hiểu ngôn ngữ ngoại quốc đã mời một cô gia sư du học từ nước ngoài về, mỗi tuần đều đến dạy theo những gì có trong tạp chí.

Thím lớn tì cằm lên vai cô: “Thật ra chú của con từ sớm đã biết con đang yêu đương với ai rồi, chỉ là ông ấy không nói thôi”. Thím nhỏ cắn quả hạch đào: “Ông ấy không tiện ra ngoài, nếu không đã chạy đi xem cháu rể tương lai của mình từ lâu rồi”.

Hà Vị không đáp, giả vờ như đang chọn vải.

“Nếu con không lên tiếng, vậy thì không nói cho con biết hôm nay ai tới”. Thím lớn thấp giọng cười bên tai cô.

Cô hơi giật mình.

Thím nhỏ cắn răng rắc vỏ quả hạch đào vận chuyển từ phía Nam: “Lúc nảy khi chúng ta vừa về nhà, nhìn thấy bên ngoài biệt thự đỗ mấy chiếc xe, bốn phía đều là người mặc quân trang, vốn tưởng là quân đội đồn trú của Thiên Tân. Quản gia còn bảo là xe bọn họ dừng ở đây đã bốn tiếng rồi, thật doạ người mà, ta liền gọi họ qua hỏi thử xem có phải đi nhầm nhà không”.

Thím lớn nói tiếp: “Ai ngờ người ta lại khách sáo nói, không sai, họ đang chờ cô hai Hà”.

Là Tạ Vụ Thanh?

Khó trách hai người giả thần giả quỷ, mờ mờ ám ám, chính vì muốn kéo cô lên lầu.

Hà Vị không để ý đến tiếng cười trêu ghẹo của mấy thím mình, bước chân vội vã chạy xuống tầng, đi về phía tiền sảnh.

Chưa vào tiền sảnh đã thoáng thấy khuôn mặt nghiêng nghiêng của Tạ Vụ Thanh. Quân mũ cùng găng tay đều được phó quan cầm hộ, còn anh thì ung dung ngồi trên ghế gỗ lim có lưng tựa, nhận lấy một tách trà sứ trắng từ cô hầu.

Chú chín cười nhìn anh: “Hai năm trước cậu có dịp ghé ngang Thiên Tân nhưng không nhìn được, hôm nay cuối cùng cũng gặp nhau rồi”.

Tạ Vụ Thanh lễ phép đáp lời: “Lần trước đến, cháu cũng nghe danh Cửu tiên sinh, đáng tiếc khi ấy đi gấp, không kịp tới bái lễ. Xin thứ tội”.

Chú chín cười nói: “Tôi chỉ lớn hơn cậu có mấy tuổi, đừng bày ra vẻ trưởng bối với con cháu làm gì”.

Tạ Vụ Thanh khẽ cười, không lên tiếng.

… Anh trẻ hơn chú nhiều. Hà Vị bất giác nghĩ. Có điều cũng không thể không thừa nhận, tuổi tác hai người đàn ông trước mặt quả không khác biệt lắm.

Nghĩ thế, anh kết hôn đúng là hơi muộn, người trong nhà cũng không sốt ruột. Không biết đã gặp qua bao nhiêu bà mối rồi.

“Cậu với tôi có duyên, tôi là Tri Khanh, cậu là Ngộ Khanh, chung quy đều không thoát khỏi một đạo <i>khanh khanh giai nhân</i> này”, chú chín Hà Tri Khanh trêu đùa anh, lập tức thở dài, “Không biết Tạ công tử có còn nhớ cô ba Ngụy gia ở Thiên Tân không?”

Tạ Vụ Thanh cũng không kiêng dè: “Có chút ấn tượng”.

Chú chín nhìn bóng của góc váy Hà Vị phía xa xa: “Ngày đó cô ấy vừa gặp cậu đã thân thiết, nhờ một vị quý nhân làm bà mối, muốn cùng cậu <i>kết duyên Tần Tấn [5]</i>. Chuyện này có phải không?”

<i>[5] Nguyên văn là ‘Tần Tấn chi hảo” – một câu thành ngữ chỉ việc kết thông gia, định hôn sự giữa hai nhà.</i>

Tạ Vụ Thanh không phủ nhận: “Đúng thật như thế”.

Chú chín nhẹ “À” một tiếng: “Ngụy tiểu thư này lai lịch không vừa, lại yêu cậu đến không thể cứu vãn, nói từ nhỏ đã nghe về chiến công của cậu, vô cùng ái mộ cậu. Năm đó cô ấy biết trong lòng cậu có Vị Vị, còn muốn hẹn Hà Vị gặp nhau, bàn tính chuyện cùng gả cho cậu”.

Còn có chuyện này sao? Hà Vị đứng một bên nghe trộm.

“Vị Vị con bé này, ở phương diện ấy rất chậm chạp, chỉ sợ nó thật sự cho rằng mình chia rẽ cậu với Ngụy tiểu thư nhà người ta. Cậu nên cảm ơn tôi, giúp cậu giải quyết một rắc rối”.

… Ai chậm chạp chứ?

Tạ Vụ Thanh đáp: “Nên cảm kích ạ”.

“Có điều, Tạ công tử thật sự không khiến người khác bớt lo, được lần này sẽ có lần sau. Tôi ở đây cũng không yên lòng, nghĩ muốn hỏi cậu một câu, sau này cậu có ý định nạp thiếp không?”

Tạ Vụ Thanh lắc đầu: “Chưa bao giờ nghĩ”.

Chú chín lại “Ồ” lên: “Không bằng ký tên xác thực?”

Tạ Vụ Thanh gật đầu: “Được ạ”.

Anh ngược lại càng phấn chấn, trực tiếp đặt tách trà xuống bàn, dặn dò phó quan chuẩn bị thư chứng.

“Chú chín”. Hà Vị thật không trốn được nữa, bước vào phòng khách. Chú chín tủm tỉm cười với cô.

Tạ Vụ Thanh quay lại, bất ngờ thấy cô xuất hiện trong <i>bộ váy màu vỏ cua, phía trên là áo ngoài xanh ngọc [6],</i> cổ áo cao cao ôm lấy khuôn mặt nhỏ bé. Hà Vị bị anh nhìn chăm chú đến mức tim đập như trống bỏi… Thường xuyên xa cách cũng có chỗ hay, mỗi lần gặp lại đều như ngày đầu tiên quen biết.

<i>[6] Đây là một loại ‘váy áo’ đặc trưng của triều nhà Thanh, thường được phụ nữ thời Dân Quốc yêu thích. Một bộ ‘váy áo’ bao gồm phần váy dài hơi xoè ra (có thể có xếp li) cùng với một áo tay dài mặc bên ngoài (ảnh minh hoạ)</i>

Cô bước đến trước mặt Tạ Vụ Thanh: “Anh đi theo em”.

Tạ Vụ Thanh giương mắt, nhìn cô cười.

“Đưa anh đi dạo”. Cô nói khẽ.

Thấy anh vẫn bất động, cô nhẹ nhàng dùng mũi giày đá vào góc ủng quân đội của anh, giận dỗi lười anh.

Tạ Vụ Thanh lúc này bật cười, đứng dậy, nói với Hà Tri Khanh: “Cửu tiên sinh, lát sau gặp”.

“Lúc nãy tôi có sai người dọn dẹp phòng cho khách rồi, hôm nay cứ ở lại đây đi”, chú chín cười nói, “Lợi Thuận Đức dù có tốt hơn nữa, cũng không tốt bằng nhà mình”.

… Hà Vị khó tin nhìn chú chín.

“Còn không đi à?” Chú chín thúc giục.

Cô không phải chủ nhân ở đây, không thể phản bác, đành dẫn theo Tạ Vụ Thanh ra ngoài.

Trời đông giá rét, không thích hợp đi dạo vườn hoa. Cô đưa Tạ Vụ Thanh đến chỗ cầu thang bí mật, đi xuống tầng hầm.

Chỗ này là phòng chứa sách dùng để tiếp khách, toàn bộ sổ sách làm ăn của Hà nhị gia đều cất ở đây, cô thường xuyên đến dọn dẹp nên cũng xem là quen thuộc. “Chú em rất ghét tô giới, bọn họ lại chia cho chú căn biệt thự ở tô giới”, cô cười, đám người của cha ruột cô giỏi nhất chính là làm chuyện khi dễ người khác, “Người trong nhà xem thường hai thím em, nên chú mới chuyển đến Thiên Tân sống”.

Tạ Vụ Thanh ngắm nhìn ba bức tường đều là giá sách gỗ tối màu cũ kỹ, còn có những cái rương gỗ màu nâu sẫm, mỗi ngăn tủ đều dán giấy nhãn ghi chú rõ ràng.

Hà Vị biết chuyện đàm phán của anh khó khăn, không muốn nhắc đến công việc, chỉ định nói chuyện phiếm.

“Em có để số liên lạc cho phó quan, hắn không đưa cho anh sao?” Cô thấy lạ, sao anh không gọi điện mà lại trực tiếp tìm đến tận nhà.

Tạ Vụ Thanh nói chuyện so với khi nãy ấm áp hơn, dịu dàng đáp: “Mấy ngày không gặp, muốn đích thân đến đón em về”.

Hà Vị trong lòng mềm nhũn: “Đã tới thì phải kêu cửa chứ, nếu không cứ đứng đợi vô ích bên ngoài”.

“Đợi cũng có cái vui của đợi”. Anh nói khẽ.

“Không phải đợi đến bực bội à?”

Anh hơi lắc đầu: “Không đâu”.

Loại chờ đợi này còn có điểm cuối.

Chỉ cần biết cô đang ở trong phòng, nghỉ ngơi vui vẻ sớm muộn gì cũng sẽ đi ra, lên xe cùng anh quay về Lợi Thuận Đức. Lúc chờ đợi nhắm mắt dưỡng thần cũng vô cùng hài lòng, không giống hai năm qua, dù anh muốn chờ cũng không biết đi đâu để chờ cô.

Tạ Vụ Thanh nương theo ánh đèn trước mắt nhìn cô chăm chú, tóc mái ngang trán được cắt chải gọn gàng, dừng ngay trên mí lông mày, mặt cô nhỏ nhắn tinh xảo, không khác biệt lắm so với lúc trước, vẫn y hệt vị tiểu thư được nuôi dưỡng bên trong khuê phòng của quá khứ.

Hà Vị bị anh nhìn đến <i>tâm viên ý mã [7]</i>, đánh mắt sang một bên, đôi mắt này của anh chỉ sợ đã từng tu luyện qua… khiến người ta nhớ đến <i>mê hương động [8]</i>.

<i>[7] “Tâm viên ý mã” ý chỉ tâm tư rất loạn, không khống chế được</i>

<i>[8] Một cách gọi mỹ miều của nhà thổ, nơi “trêu hoa ghẹo nguyệt”</i>

Tạ Vụ Thanh lần lượt cởi quân trang bên ngoài, mở rộng cổ áo sơ mi. Anh thoáng thấy cô nghiêng đầu, tóc mái ngang trán lay động sượt qua, lộ ra vầng trán trắng nõn… Anh phát hiện mình lại muốn hôn cô rồi.

Loại yêu đương kiểu mới này thật sự là… dễ khiến người ta l* m*ng.

— HẾT CHƯƠNG 21 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 22: Ban ngày thấy gió lửa (4)


Anh tiện tay cầm lấy một quyển sách cũ, muốn dùng thứ này để phân tâm.

Quyển sách cất quá lâu, chân sách đã sớm bị mài đến đổ lông, khi sờ tay vào có thể nhận ra người xưa khi đọc quyển sách này dụng tâm thế nào. Anh nhớ đến khoảng thời gian ở Nam Dương nghỉ ngơi dưỡng thương, không thể ra khỏi phòng, anh liền mời người Đức cùng người Pháp đến nhà dạy ngoại ngữ. Xấp giấy ghi chú của anh rất dày, mép sách bị lật giở nhiều lần còn nát hơn cả quyển trên tay.

“Hai chữ Ngộ Khanh lúc trước”, trong không khí ám muội, Hà Vị dịch bước chân, đi đến cạnh lò sưởi lát gạch men xanh trên tường, “chỉ vì ‘không nói lời nào’ sao?”

“Hàm ý cũng giống như Tạ Vụ Thanh”, anh lật trang sách trong tay, “Vì mong thanh bình thịnh thế”.

Thật ra cô hiểu, đó chỉ là câu bông đùa.

Cô đang định nói tiếp thì thím nhỏ ngoài cửa gọi một tiếng, nói có khách đến, muốn xin gặp mặt Tạ Vụ Thanh.

Tin tức Tạ Vụ Thanh ở đây, sao lại truyền ra ngoài nhanh như thế?

Cô khó hiểu nhìn anh, ngược lại Tạ Vụ Thanh không có vẻ bất ngờ.

Bọn họ từ tầng hầm trở lại phòng trà ở tầng trệt. Hai người đàn ông trung niên ngồi ngay ngắn phía sau rèm trúc của phòng trà, trên người mặc kiểu trường bào truyền thống, người ngồi bên ngoài có khuôn mặt chữ nhật điển hình, bởi vì tuổi đã cao nên hốc mắt trũng sâu, người còn lại trông tinh tế hơn nhiều, trên mặt dù có nếp nhăn nhưng có thể nhận ra được chăm sóc rất tốt. Hà Vị phát hiện, hai người này đều xuất thân từ triều đình Tốn Thanh. Phàm là người của triều đình nhà Thanh tự khắc mang theo ngạo khí đã quá vãng, dù là khom gối cầu chuyện ai cũng khiến người ta cảm thấy sự khiêm tốn ấy là giả, hai bờ môi mỏng kia có thể nhả ra vài câu châm chọc chỉ sau một khắc.

Chú chín thấy Tạ Vụ Thanh xuất hiện, mở lời giới thiệu: “Vị này chính là Tạ công tử”.

Hai người trước sau đứng dậy, người ngồi ngoài có khuôn mặt chữ nhật chào hỏi một câu “Tạ công tử”, người còn lại không lên tiếng. Tạ Vụ Thanh khẽ gật đầu, cũng không nói gì, ngồi xuống đối diện hai người họ. Hà Vị đến cạnh chú chín, ôm lấy con mèo ngồi lên sạp, nghe một lát mới biết, thì ra hai người kia mượn lý do “bái phỏng riêng” để hỏi xin Tạ Vụ Thanh giúp đỡ.

Chuyện kể từ mấy tháng trước, vị quân phiệt họ Phùng đã đuổi hoàng đế Tốn Thanh ra khỏi Tử Cấm Thành, lấy cớ không thực hiện ước định lúc trước, đại loại là thế. Người mặt chữ nhật vốn làm việc trong Nội vụ phủ, còn người kia là một lão thái giám, bọn họ đều theo hoàng đế đến Thiên Tân. Nguyên lai họ muốn trở lại Tử Cấm Thành lần nữa, nhưng một số quân phiệt thuộc quân Phụng hệ không để tâm đến họ, vậy nên họ mới nghĩ nhờ đến sự giúp đỡ từ phái đoàn ra Bắc hoà đàm, hy vọng có thể thông qua đàm phán, đưa họ trở về Tử Cấm Thành.

Hà Vị ôm mèo trong tay, nghe xong trong lòng liền thấy khó chịu. Phái đoàn ra Bắc mang theo chí hướng muốn bãi bỏ toàn bộ hiệp ước bất bình đẳng, mà trong số đó có ít nhất chín mươi phần trăm là những điều khoản các người đã ký… Thế mà ngược lại các người chỉ lo nghĩ làm sao để trở về cung điện của mình.

Đây là lần đầu tiên Hà Vị nhìn thấy cảnh tượng Tạ Vụ Thanh xả giao với khách, cũng không khác lắm so với tưởng tượng của cô.

Chỉ cần anh không muốn để tâm, bất cứ ai cũng đừng hòng nghĩ cách ép anh hé miệng nửa lời. Có điều anh đối với bên ngoài vẫn có tiết chế, chỉ ngồi yên lắng nghe, đối phương nói đi nói lại mấy trăm lần, anh cũng không bày ra vẻ mềm lòng hay bất kỳ tia mất kiên nhẫn nào, thi thoảng ngẫu nhiên gật đầu cho có lệ…

Đợi đến một lúc sau, khi hai người kia đều moi sạch ruột gan trong bụng nói xong, mỗi người cầm tách trà, uống liền mấy ngụm.

Con mèo trong ngực cô rất nhanh đã thiếp đi.

“Tạ công tử”, có người đặt tách trà xuống, “Chuyến đi này của các cậu thật sự nguy hiểm trùng trùng. Nếu các cậu không ngại, có thể chuyển đến ở tô giới Nhật, chúng tôi sẽ sắp xếp toàn bộ cho các cậu”.

Tạ Vụ Thanh khẽ ngước mắt lên, nhìn người đang nói chuyện: “Vốn nghe nói hai vị có quan hệ thân thiết với người Nhật, xem ra không sai”.

Hai người kia lộ ra nụ cười khiêm tốn, trong khiêm tốn có chút tự đắc mơ hồ.

“Nhắc đến Nhật Bản, khó tránh nhớ tới Lữ Thuận và Đại Liên”, Tạ Vụ Thanh giống như nói chuyện phiếm, “Trên đường chúng tôi ra Bắc từng đến Nhật Bản, cũng từng cùng họ thảo luận về hai nơi này. Người Nhật từ trước đến nay vẫn không muốn trả lại cho chúng ta”.

Dứt lời, anh lại nói tiếp: “Tô giới Nhật cũng không phiền sắp xếp, các tướng lĩnh thế hệ tôi từ lâu đã giao tính mạng bản thân cho quốc gia dân tộc, sống chết mặc ông trời định đoạt. Nếu hai vị đây đã có mối quan hệ mật thiết với người Nhật như thế, không bằng cố gắng hết sức mình, thuyết phục bọn họ trả lại quốc thổ cho chúng ta”.

Tạ Vụ Thanh nói xong một hơi, trong phòng chỉ còn lại ba chỗ động, một là con lắc đồng hồ, hai thứ còn lại là cái đuôi mèo phe phẩy cùng bàn tay cô v**t v* bộ lông nó.

Người của Nội vụ phủ vừa định mở miệng tiết lộ chuyện Thiên hoàng Nhật Bản rất coi trọng Hoàng đế của mình, liền nuốt ngược trở về.

Hà Vị vốn muốn phối hợp diễn với chú chín, làm ra một màn thân thể chú chín không khoẻ nên cô đành phải tiễn khách. Không ngờ Tạ Vụ Thanh lại trực tiếp đánh đuổi người ta đến thất thố như thế, bọn họ không có ý định nói thêm nữa.

Hai vị khách không mời mà đến, chủ động đứng dậy cáo từ, Hà Vị thay chú chín tiễn đến ngoài cửa lớn.

Không nghĩ tới vị thái giám kia trước khi bước lên xe kéo còn cố ý nhìn cô một cái, cười nói: “Ngọc Như Ý mà lần trước cô hai mua, không ngờ là đồ tốt hàng thật giá thật”. Vị thái giám thở dài tiếc nuối, “Có điều lại tặng không đúng người rồi”.

Lão thái giám hành lễ qua loa, lên xe ra về.

Hà Vị đứng bất động tại chỗ, đưa mắt nhìn hai chiếc xe kéo một trước một sau cùng mấy tên tiểu thái giám lất xấc chạy theo dần biến mất, trong lòng bất an, không dám quay đầu nhìn Tạ Vụ Thanh.

Đến khi về lại phòng trà, chú chín đã nhận lấy trà nóng súc miệng, ông hớp một ngụm, sục vài cái rồi nôn vào chậu đồng. Ông ngồi nghe chuyện đến tận lúc này quả thật uể oải, vì thế dặn dò Hà Vị ở lại tiếp đãi Tạ Vụ Thanh, còn ông cùng với thím lớn về phòng.

Chờ chú chín đi rồi, Hà Vị mới ôm con mèo ngồi xuống cạnh anh, thấp giọng nói: “Cảm ơn anh, kiên nhẫn như thế”.

Tạ Vụ Thanh căn bản có thể quay mặt bỏ đi, không giữ thể diện cho bọn họ, nhưng chú chín là người sống ở Kinh Tân, nếu Tạ Vụ Thanh đắc tội người khác trong nhà của ông, những kẻ đó tất nhiên sẽ đem toàn bộ nợ nần tính hết lên đầu chú chín.

Anh mỉm cười, không nói thêm.

Cô không yên lòng v**t v* con mèo, không biết có phải vì tâm sự chồng chất hay không mà cô luôn có cảm giác Tạ Vụ Thanh cũng trầm mặc không kém.

Không ngờ còn kéo thêm rắc rối về Ngọc Như Ý. Lúc trước khi hoàng đế tổ chức đại hôn từng đem mấy chục rương báu vật chuyển đến ngân hàng Hối Phong, đồng thời cũng tuồn ra bên ngoài không ít bảo bối trân phẩm nhằm mở rộng các mối quan hệ, chuôi Ngọc Như Ý kia cũng là một trong số đó.

Hà Vị vất vả lắm mới hỏi được người mua, mang đến Triệu phủ làm lễ vật đính hôn cho Triệu Ứng Khác. Từ trước đến nay cô luôn thích mọi chuyện vẹn toàn, dù sao Triệu Ứng Khác cũng ở cạnh cô từ nhỏ đến lớn, lại là tri kỉ của anh trai cô, còn từng có ân cứu mạng cô. Hai người dù không thể kết hôn nhưng vì tình nghĩa quá khứ, tặng một phần lễ vật xem như kết thúc mối nhân duyên này cũng không quá đáng. Hai người quyết định dừng chân giữa đường cũng không làm tổn thương hoà khí của nhau, chuyện chấp nhận sống cùng một nhà trong ba ngày cũng vì nguyên nhân khác. Cho đến khi xảy ra việc của Triệu Ứng Thăng, cô cùng Triệu Ứng Khác mới trở mặt, Hà Vị vì bị hiểu lầm đau lòng, từng bỏ đến sống với chú chín ở Thiên Tân một thời gian.

Cho đến trong cung tổ chức đại hôn, cô mới quay lại Bắc Kinh sắp xếp kế hoạch tàu chở khách, sẵn tiện hoàn thành chuyện của Triệu Ứng Thăng… Tối đó cô chờ ngoài cửa cung, tuy không gặp được công sứ Nga nhưng lại nhận được một chuôi Ngọc Như Ý mà mình từng tặng cho Triệu Ứng Khác.

Cũng trong tối đó, cô được đưa đến Bách Hoa Thâm Xử, gặp gỡ Tạ Vụ Thanh.



Chuyện của cô và Triệu Ứng Khác luôn được rất nhiều người bàn tán trong những buổi trà dư tửu lậu. Hiện tại việc làm ăn của vận tải đường thuỷ Hà gia ngày càng hưng thịnh, mà Triệu Ứng Khác đi theo quân Phụng hệ cũng trở thành người nắm quyền lực lớn trong tay, vô hình chung, hai người lần nữa trở thành tiêu điểm chú ý của đám đông.

Dù cho cô thản nhiên không để tâm nhưng cũng không chịu nổi bị người ta thêm thắt bịa chuyện.

“Vừa rồi người kia nhắc đến Ngọc Như Ý, vốn là em mua để làm quà kết hôn tặng Triệu Ứng Khác”. Cô thì thầm.

Cái đuôi trắng tinh của con mèo quét qua cổ tay anh, Tạ Vụ Thanh cúi đầu nhìn nó, chầm chậm gãi gãi hai cái lên sống lưng mèo. Loài mèo này bình thường rất thích dính người, hễ ai v**t v* nó đều bị nó dính chặt làm nũng, không biết vì Tạ Vụ Thanh là tướng quân người nhuốm đầy máu tươi, hay còn nguyên nhân gì khác mà con mèo cũng không buồn nhúc nhích, chỉ mở to đôi mắt màu hổ phách nhìn chằm chằm anh.

“Sau đó vì xảy ra chút chuyện nên hiện tại vẫn còn ở nhà em”. Cô mơ hồ giải thích ngắn gọn mọi chuyện.

Tạ Vụ Thanh khẽ gật đầu, không hỏi thêm.

Cô thà rằng anh hỏi tiếp, cũng tốt hơn bây giờ muốn nói lại thôi. Có điều ngay cả tâm tư riêng hay <i>ngẫu đoạn ti liên [2] </i>gì đó cô đều không có… Cũng không biết sao lại chột dạ thế này.

<i>[1] “Ngẫu đoạn ti liên” là thành ngữ ý chỉ “tình cảm nam nữ bề ngoài thì cắt đứt liên hệ nhưng bên trong vẫn còn vương vấn nhau”.</i>

Chú chín cùng Tạ Vụ Thanh vừa gặp đã thân, lúc dùng cơm tối cũng uống không ít. Tạ Vụ Thanh ngồi tàu suốt đêm từ Phụng Thiên trở về nên ngủ không ngon giấc, mượn men say muốn đến phòng khách nghỉ ngơi. Còn chú chín cùng thím lớn thì đi giải rượu.

Hà Vị ngồi trong phòng thím nhỏ như mất hồn thất vía, lật xem mấy trang tạp chí thời trang tiếng nước ngoài, nghĩ đến vừa nãy. Khóe mắt anh vốn giương lên, tự rót tự uống không ngẩng đầu, chỉ thỉnh thoảng vô tình liếc nhìn cô một chút, anh chìm trong hương rượu cùng khói trà tuỳ lúc mặc người ta trêu chọc… Không đúng, là tuỳ lúc muốn trêu chọc người ta…

Thím nhỏ đột nhiên nói: “Sao lại ngủ sớm thế? Ta cũng không gọi con sang mà”.

“Gọi con sang cái gì…”, cô giật mình bừng tỉnh.

Thím nhỏ nhìn cô buồn cười, tiếp tục gặm quả hạch đào nho nhỏ của mình: “Con gái nói chuyện đều <i>úp mở lấp lửng [2]</i>”.

<i>[2] Nguyên văn là “mại quan tử”, có nghĩa là nói chuyện úp mở, lấp lửng, gây khó dễ, bắt chẹt…</i>

Thím nhỏ nằm xuống giường, hỏi hai người họ đã thân mật đến mức nào rồi.

Hà Vị ấp úng một lúc lâu, mới nói qua loa hai câu.

Thím nhỏ cười nói: “Ngược lại giống chú chín con, người ta đều nói ông phong lưu thành tính, nhưng thật ra là người vô cùng bảo thủ. Là trái tim bảo thủ”.

Năm đó Hà Tri Khanh bị người ta lừa đến <i>mê hương động</i>, lại bị ép buộc nhét vào lòng một cô gái. Mấy kẻ đó ai cũng muốn nhìn cảnh cậu chín nhà họ Hà từ nhỏ tàn tật phải xấu hổ mất mặt, đoán chắc ông sẽ không làm được. Đêm đó không ai biết trong phòng đã phát sinh chuyện gì, sau khi chú chín về đến nhà liền tổ chức cưới hỏi đàng hoàng đưa người của mình vào Hà gia.

Thím nhỏ được chính tay thím lớn cứu ra ngoài, nếu không được cứu, có lẽ đã bệnh chết trên đường Anh Đào Tà rồi. Thím lớn nói, không thể không rõ ràng minh bạch mà ra ngoài, muốn được chuộc thân cũng không thể không danh phận, sẽ bị người khác cười nhạo cả đời. Vì vậy liền chiếu theo cách thức nạp thiếp để nhận người, nếu ngày sau có ý định tái giá cũng tiện hơn. Ai ngờ chuyện tái giá này nói từ cuối thời Thanh đến Dân quốc cũng không quyết định được, từ chốn trăng hoa người ta đã nhìn thấu hồng trần rồi.

Thím nhỏ với chú chín vốn không có tình cảm gì, cũng chưa hề xảy ra bất kỳ quan hệ nào, ngày thường thím nhỏ giúp hai vợ chồng họ chăm sóc gia đình, bầu bạn bên cạnh thím lớn.

“Chú chín con gặp được chị ấy vào lúc khó chịu nhất, đây chính là nhân duyên. Loại nhân duyên thế này, chỉ có thể gặp mà không thể cầu”.

Cô không yên lòng “vâng” một tiếng.

Hơn một giờ sáng, ngọn nến trên giá cắm đã cháy phân nửa, sáp dầu ban đầu chảy xuống đáy cũng sớm đông lại.

Cô bước ra khỏi phòng thím, quay về phòng khách của mình.

Bình thường phòng khách đều nằm dưới tầng, còn phòng ngủ của chủ nhà thì ở trên, nhưng vì chú chín đi đứng bất tiện nên thiết kế trong biệt thự này cũng bị đảo ngược. Hà Vị vừa lên tầng đã nghe thấy hai binh lính bên ngoài phòng dành cho khách thấp giọng nói chuyện với nhau, giọng địa phương cô nghe hiểu, họ đang bảo Tạ Vụ Thanh còn chưa ngủ, bàn xem có nên gọi Lâm phó quan đến hay không.

Hà Vị bước đến trước mặt họ.

Hai người đứng nghiêm ngay ngắn, đột nhiên hành quân lễ chỉnh tề với cô.

Hà Vị lịch sự mỉm cười, lướt qua hai người lính rồi khẽ vặn chốt mở cửa tiến vào.

Trong phòng tối đen, bóng dáng Tạ Vụ Thanh đứng bên cửa sổ. Một tay anh đút vào túi quần, quay lưng về phía cô, ánh mắt xuyên qua màn đêm ngắm nghía tô giới bên ngoài biệt thự. Nghe thấy động tĩnh đóng cửa, anh hơi xoay người nhìn về phía này.

Hà Vị nhẹ nhàng nói: “Là em”.

Tạ Vụ Thanh không đáp lời, anh kéo rèm cửa xuống, khiến chút ánh sáng thiên nhiên cuối cùng trong phòng cũng tắt ngúm. Bóng đêm đặc quánh đến mức không nhìn rõ năm đầu ngón tay, Hà Vị khẽ nói: “Sao còn chưa ngủ? Không quen à?”

Thảm trải sàn nuốt mất tiếng bước chân.

Khả năng thích ứng bóng tối của Hà Vị không tốt như người thường xuyên hành quân trong đêm như anh, lại thêm rèm cửa nhà chú chín nặng nề che chắn toàn bộ ánh sáng bên ngoài.

Cô mơ hồ nhận thấy hình như anh từ cửa sổ đến cạnh giường, nghĩ rằng anh muốn bật đèn. Không ngờ Tạ Vụ Thanh khác xa so với suy nghĩ của cô, sau khi rời khỏi giường liền chậm chạp tiến đến phía trước: “Có khát không?” Cổ họng của anh như bị rượu thấm ướt, mềm mại không rõ dáng hình, “để anh gọi người pha trà cho em”.

Ngoại trừ nhịp điệu từ tốn do say rượu, còn lại anh đều không có gì khác thường.

Cô trấn tĩnh lại bản thân, dịu dàng nói: “Em không khát”.

Anh đứng trong bóng tối, nhìn cô chăm chú nửa ngày, khàn giọng hỏi: “Mấy giờ rồi?”

Chuyện này… đột ngột quá.

Hà Vị không rõ ràng đáp: “… Hơn một giờ thì phải”.

“Hơn một giờ còn đến tìm anh”, chỉ một câu nói bị Tạ Vụ Thanh phân thành hai đoạn, hỏi cô, “Muốn làm gì?”

“Hồi chiều em còn chưa nói xong”, cô nhanh chóng đáp, “hắn vốn là bạn thân nhất của anh trai em, cùng lớn lên với em, cũng từng cứu em. Ngọc Như Ý… xem như là báo đáp hắn”.

Hơi thở nóng bỏng của anh phả lên cánh mũi cô, khuôn mặt lại mơ hồ không rõ.

“Đến tìm anh, chỉ vì Ngọc Như Ý thôi sao?” Người đàn ông trầm giọng hỏi.

Trong phòng phút chốc chỉ còn lại một âm thanh duy nhất, là tiếng chuông tự động ở góc đông bắc trong phòng, một trái một phải kêu lên. Phòng khách có mùi hương nước hoa, là thím nhỏ cố ý dặn người ta xịt vào, vốn định mang đến chút cảm giác mới lạ, nhưng thím lớn lại mùi hương khó ngửi, lo lắng công tử xuất thân từ phương Nam non nước trong lành sẽ không chịu được mùi nước hoa Tây Dương quá nồng nên lại sai người chuẩn bị đàn hương. Lò hương không biết đặt ở đâu, giống như bị ngâm trong nước, hơi ẩm không ngừng bốc lên, hun đến mức người ta say sưa mê đắm, cứ một mực đâm đầu vào chỗ không nên đi.

Cô nhớ đến cái đuôi mèo trắng ngần cứ vung vẩy tới lui, nghĩ đến chuyện thím nhỏ dạy cô rất nhiều cách thân mật…

Nhớ đến thím nhỏ còn nói, đàn ông bảo thủ không phải là không thể, mà là biết kiềm chế.

Nhưng cô… lờ mờ nhận thấy hình như anh sắp không khống chế được nữa rồi.

Ngón cái của Tạ Vụ Thanh lướt qua hàng cúc vải trên cổ áo cô, hai ngón tay v**t v*, liền cởi ra một cúc.

Lúc anh ra ngoài xã giao đã nhìn thấy rất nhiều lần, nhất là trong thời đại cũ – mới đối lập thế này, những kỹ viện lúc trước vẫn còn mở cửa, mà phòng khiêu vũ cũng san sát theo sau, có kẻ vì muốn lưu lại chút phong thái ngày xưa, luôn thích châm một ống thuốc phiện khói bốc nghi ngút trong kỹ viện bàn chuyện, đôi tay thỉnh thoảng dạo chơi trên người phụ nữ, còn những người quảng bá cho tư tưởng tân thời, vì để biểu hiện bản thân chán ghét hôn nhân do gia đình sắp đặt, lại càng thích nói mấy lời thảo luận về quan hệ nam nữ trong thời cuộc mới. Cái cũ cái mới hoà quyện một chỗ, anh đã bắt gặp quá nhiều lần khói xám cùng màu sữa trắng xen lẫn vào nhau, bị bóng dáng buông thả ấy quấy nhiễu.

Thời niên thiếu thường sống trên chiến trường, sau đó trọng thương đến Nam dương, lại đi châu Âu nhập học trường quân sự, trở về lần nữa lên tiền tuyến. Giống như anh vậy, nếu không phải nhuốm mình trong máu tanh đỏ rực của mưa bom bão đạn, thì cũng nguỵ trang thành dáng vẻ khách làng chơi ra vào chốn phong nguyệt, đàn ông đương tuổi tráng kiện như anh, lại trầm mình trong tuyết trắng, đắm chìm trong phấn son, những gì nên thấy cũng nhìn thấu từ lâu. Đối với cô, tất nhiên cũng từng nghĩ đến.

Ngón tay của Tạ Vụ Thanh thon dài, vì chất cồn thấm vào máu, ngón tay còn mềm mại ấm áp hơn so với bình thường.

Anh khiến cô nhớ đến hồi trước khi còn đi học ở Nam Dương, có một nữ sinh nắm vai cô, cười nói, cơ chỗ này của cậu không đủ chắc, e là tiết quần vợt không đạt thành tích cao… Sau đó khi học bơi, mọi người trong lớp đều có nước da sẫm màu tự nhiên, lúc cô đến cạnh bể nước, trong đầu còn đang nghĩ nếu mình nhảy xuống có thể nổi lên không, thì một nữ sinh người địa phương đã đặt tay sau thắt lưng cô, hỏi cô ăn thứ gì tốt thế, có thể dưỡng da trơn mượt như vậy, vừa trơn mượt còn mềm mại nhẵn nhụi. Khi ấy các nữ sinh ở cùng ký túc xá với cô đều rần rần một phen, bỗng dưng có một đàn chị trong ký túc xá sờ ngực cô, giữa tràng cười vui vẻ nói: Này, từ trong thơ cổ đều yêu thích kiểu nhỏ nhắn nhưng tinh xảo, khác biệt hoàn toàn với gu thẩm mỹ của người châu Âu, nhưng với dáng vẻ này của cậu dù có đến châu Âu vẫn không hề gì.



Chuông tự động của đồng hồ này đã được cải tiến lại, khi đúng giờ sẽ không rung lên mà chỉ có tiếng lạch cạch rất nhỏ báo hiệu. Cô bị hai tiếng động nhỏ ấy dọa sợ… Tạ Vụ Thanh nhận ra cô bất tri bất giác thẹn thùng từ chối, liền cúi đầu hôn xuống tóc mái ngang trán cô: “Ổn rồi”.

Giống như đang trấn an, cũng giống như đang v**t v* an ủi.

Anh rời đi một lát, khoá cửa phòng lại.

… Lúc này khoá cửa làm gì. Hà Vị cúi đầu, cài lại cúc vải từ dưới lên trên.

Anh rất nhanh đã quay lại, giúp cô cài lại hai cúc hạt trước ngực, lại đột nhiên dừng tay. Ban đầu cô không hiểu lắm, sau đó mới ngộ ra thị lực trong bóng tối của anh rất tốt, hiểu được anh đang nhìn cái gì. Nếu lúc này có thể thấy được thần sắc, chắc hẳn trên mặt cô không chỉ đỏ như cái bánh táo hấp chín…mà là mảnh vải vừa lấy ra từ trong lò nhuộm đỏ của phường dệt, được treo lên sào trúc để phơi nắng.

“Em đi pha trà cho anh, giúp anh tỉnh rượu”. Lòng cô rất loạn, muốn quay đầu đi, lại bị anh giữ chặt cổ tay.

“Không cần đâu”, anh v**t v* mặt cô, dịu dàng nói, “Anh rất tỉnh táo”.

— HẾT CHƯƠNG 22 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 23: Ban ngày thấy gió lửa (5)


Rõ ràng đã say như thế.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười.

Anh kề sát tai cô, nhẹ giọng nói: “Cho dù có uống thêm nữa, anh cũng sẽ không say rượu làm loạn”.

Giống như có cơn gió khẽ nhấc mành vải đỏ tươi vắt vẻo trên sào trúc phơi dưới nắng mặt trời, phất phơ trong lòng bàn tay. Cô không thể tưởng tượng được khuôn mặt mình giờ đã đỏ thế nào. Cô chạm vào cổ áo, nhận ra cúc vải trên cùng vẫn chưa cài hết. Tạ Vụ Thanh chỉ nhìn cô cài lại cúc áo.

Chờ cài xong, cô bình tĩnh hỏi anh: “không bật đèn à?”

“Người bên ngoài ai cũng cho rằng chúng ta đã đi ngủ từ lâu, nếu lúc này bật đèn, e là không ổn lắm”, anh dịu dàng đáp lời.

Cách một cánh cửa, còn ai có thể nhìn thấy chứ?

Tạ Vụ Thanh chỉ ngoài sân, nếu đứng trong hoa viên sẽ nhìn thấy rất rõ.

“Hiện giờ đi ra ngoài, bị đám người hầu bắt gặp cũng không tốt”, anh nói tiếp, “Chi bằng chờ đến hừng đông hẵng đi, lúc đó mọi người đều đã say giấc rồi”.

Chờ đến hừng đông ư?

“Vậy trước hừng đông nên làm gì?” Cô hỏi.

Trong mắt anh lộ ra ý cười, lướt qua cô rồi đi đến ghế sô pha ngồi xuống, rèm cửa sổ lúc này đã được kéo ra một nửa. Ánh trăng chiếu vào phòng, cô liền phát hiện giữa ghế sô pha là một bàn cờ vây, như bắt được cọng rơm cứu mạng, cô lập tức ngồi vào vị trí trống ở đầu kia bàn cờ.

Tạ Vụ Thanh chẳng qua chỉ muốn tìm chỗ ngồi, không ngờ cô lại tự nhiên mở hộp cờ: “Có muốn đánh một ván không?”

Không phải anh đến ngồi trước sao?

Cô nhận ra mình đã hiểu lầm ý anh, vì vậy liền tìm một cái cớ để nói, “Chí ít cũng đánh vài đường đi. Sáng mai phó quan có tới, nhìn thấy bàn cờ cũng biết cả đêm chúng ta ở trong phòng làm gì”.

“Bọn họ đều biết em, cũng hiểu em là ai, quan hệ thế nào với anh”, Tạ Vụ Thanh nói thẳng, “Không cần cố tình che giấu làm gì”.

Trong lòng cô vô cùng vui vẻ, cười cười nhặt lên hai quân cờ: “Cứ giả vờ đi, để người hầu xem một chút cũng tốt”, cô đặt một quân cờ xuống bàn, mượn chơi cờ tuỳ ý hỏi chuyện: “Anh đánh giặc thế nào?”

Người đàn ông ngồi đối diện đáp: “Mỗi lần đánh đều khác nhau”.

“Nói em nghe một chút đi”. Cô thật sự muốn nghe anh kể chuyện.

Khuỷu tay anh đặt trên góc bàn cờ, lựa chọn tư thế thoải mái nhất: “Có lần một tên tư lệnh nghèo mang binh chạy đến. Anh nghe nói bên dưới bọn họ đều là đám binh <i>‘thủ đầu khẩn’ [1]</i>, nên sai người mua mấy rương thuốc lá loại tốt rải xuống trận địa, đám lính ấy không chịu nổi cám dỗ, người nhặt người gom rồi bỏ trốn hơn phân nửa, cứ vậy mà tan tác”.

<i>[1] “Thủ đầu khẩn” là một thuật ngữ dùng để chỉ người có tiền nhưng không đủ tiêu.</i>

“Cứ thế mà thắng à?” Cô có chút khó tin.

“Những tên tư lệnh lớn nhỏ kia trong mắt chỉ có lợi ích riêng, hôm nay liên hợp cùng đánh một phía, ngày mai gió đổi chiều liền đánh ngược về, chỉ cần là chuyện có lợi cho bản thân mình, tự tay đâm chết chú bác anh em cũng không phải nói đùa. Những kẻ như thế dù mang binh tới, một khi không thấy tư lợi thì tự giác sẽ trở mặt không nhận người quen”, anh bình luận một câu, “người làm tướng, nếu trong lòng không có lời thề sống chết bảo vệ tín ngưỡng của mình, thì cũng không khác gì đám thủ lĩnh sơn tặc cả”.

Cô đánh giá: “Có điều em nhận ra, anh hư thật sự”. Chỉ cần vài rương thuốc lá đã khiến đội ngũ người ta tan tác.

Tạ Vụ Thanh tất nhiên hiểu cô nói anh “hư” là muốn ám chỉ việc anh tính kế người khác.

Anh phụ hoạ thêm: “Anh vốn cũng không phải người tốt hoàn toàn”.

Nói đoạn, anh mở hộp cờ, nhặt lên mấy quân cờ đen, giúp cô bày lên bàn: “Không cần nghĩ anh quá tốt, sợ khiến em thất vọng”.

Đây là lời người vô cùng dịu dàng thường thích nói, giống như chú hai của cô. Nếu không phải từ nhỏ cô đã đi theo kiểu người thế này lớn lên, chắc sẽ không nhìn thấu ý tứ đằng sau câu nói ấy: Không cần quá xem trọng ta, nhưng ta sẽ cố hết sức đối xử tốt nhất với người.

Bọn họ cách nhau một bàn cờ vây, dưới theo ánh trăng nhìn nhau chăm chú.

Anh thấp giọng hỏi: “Sao em biết chuyện anh đánh cờ?”

“Từng nghe nói”, cô thấp giọng đáp, “Ai muốn bái phỏng Tạ Khanh Hoài, trước tiên phải học đánh cờ”.

Anh nói: “Chỉ là mượn cớ thôi, có thể giúp anh ngăn được hai phần ba mấy cuộc gặp gỡ xã giao”.

Anh dứt lời, lại nói tiếp: “Mạng lưới quan hệ của cô hai thật rộng, biết không ít chuyện của anh”.

“Chiến công Tạ tướng quân nổi như cồn, tự khắc người khác bàn luận nhiều”, cô dịu giọng nói, “Đặc biệt còn có không ít quan hệ với các <i>khanh khanh giai nhân</i>”.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười: “Sao anh lại nghe nói, Tạ Khanh Hoài không mê đắm nữ sắc?”

Anh ném quân cờ đen trong lòng bàn tay về hộp, cứ ném như thế, va chạm phát ra không ít tiếng động sắc bén: “Chuyện nam nữ hồng trần cùng xương trắng chất đống chung quy chỉ hơn kém nhau một lớp da thịt, tham luyến cái này, thật cũng không thú vị”.

Anh ném xong quân cờ của mình, lại lật mở lòng bàn tay cô, lấy đi từng quân cờ trong đó: “Anh sinh ra trên chiến trường, lớn lên bởi gió lửa, không bì được với người trẻ tuổi các em, về mặt tình cảm không đủ linh động”.

Nương theo ánh trăng, anh kéo cô lại gần, đặt cô ngồi trên đùi phải của mình.

“Nhưng được cái tự khắc biết khống chế, chỉ sợ khiến cô hai phiền lòng”. Anh đè thấp giọng.

Đàn hương mà thím đốt quả thật quá nồng, hun đến đầu óc cô choáng váng trì độn, mồ hôi trên lưng vã như tắm. Hồi còn bé, cô cũng thường được người ta ôm vào lòng, có điều anh lại bắt đầu cởi cúc áo trên người cô, cô gạt tay anh, nhỏ giọng nói, vất vả lắm mới cài lại được… Ngăn anh không xong, cô lại nói, anh kéo rèm cửa vào trước đã… Nhưng hình như anh đều không nghe thấy.

Hộp cờ suýt nữa rơi xuống đất, bị một bàn tay anh đỡ được, lại sợ nó rơi xuống lần nữa nên trực tiếp đặt lên thảm trải sàn.

Cô mang một đôi giày lụa trắng bạc, mũi giày khẽ cọ giữa chân anh. Trên mũi giày còn thêu hai đoá hải đường, hôm nay cũng chính nó đã đá vào góc ủng quân đội của Tạ Vụ Thanh. Anh thấy rõ, theo vầng sáng của ánh trăng, áo lót mặc trong của cô cũng mang màu sắc hoa hải đường. Anh bất giác nhớ đến có một loài hoa tên gọi “Nhất Bổng Tuyết”, trước kia anh luôn cảm thấy đóa hoa ấy không xứng với cái tên ấy, ngược lại giờ phút này cùng với người ngồi đây lại thích hợp với ba chữ đó hơn hẳn.

“Anh vừa nãy còn nói…”

“Nói cái gì?” Anh hỏi bên tai cô, hơi thở phả ra, bao lấy cả người cô.

Hà Vị nhen nhóm hơi nóng, lại được anh ôm chặt, không động đậy tì cằm trên bả vai anh, cố gắng nhắm mắt. Nhớ đến vừa rồi, anh còn nói, chuyện nam nữ hồng trần cùng xương trắng chất đống chung quy chỉ hơn kém nhau một lớp da thịt… Nói tới nói lui, tham luyến vẫn là tham luyến.

Anh nhẹ véo cằm cô, để mặt cô đối diện mặt mình, hơi thở nóng rực ẩm ướt rơi xuống trên môi, giữa người cô.

“Anh Thanh”.

Tạ Vụ Thanh m*t mát cánh môi cô, trong lúc hơi buông ra, khẽ hỏi: “Sao vậy?”

Cô lắc đầu, khuôn mặt bỏng rát dán vào bên mặt anh, cô hôn lên cằm anh.

Anh nhận ra cô đang thẹn thùng, thấp giọng hỏi: “Có muốn lên giường không?”

Cái gì cũng bị anh đoán trúng.

Tạ Vụ Thanh rời khỏi giường, là vì sợ cô không quen, càng thêm ngượng ngùng quẫn bách. Vốn anh chỉ định ôm cô ngồi suốt đêm như vậy, chỗ này ánh sáng tốt, nhìn thấy cũng rõ ràng. Cô nhỏ giọng lẩm bẩm: “Chói quá”. Thứ khiến cô sốt ruột nhất không phải là bị anh nhìn, mà là nhất cử nhất động của anh, cô đều thấy được…

Tạ Vụ Thanh một tay ôm ghì lấy cô, một tay kéo rèm cửa xuống, phút chốc che giấu toàn bộ căn phòng vào bóng tối.

Đêm đó, cô gác trên cánh tay Tạ Vụ Thanh ngủ suốt hai tiếng đồng hồ.

Tối hôm trước, anh vì uống nhiều rượu nên sau nửa đêm lại muốn ngồi dậy hớp ngụm nước, ai ngờ vừa rời đi lại bị cô siết lấy, nằm lên đùi anh. Tạ Vụ Thanh sợ quần quân phục của mình thường mặc bên ngoài, không sạch sẽ, đành phải bế cô lên, thả cánh tay về chỗ cũ, cho cô làm gối đầu.

Chờ đến tờ mờ sáng, Lâm Kiêu gõ cửa, đưa điện báo khẩn đến cho anh, cô mới bị đánh thức. Trên giường lộn xộn. Tạ Vụ Thanh mặc lại áo sơ mi, cài cúc đàng hoàng định ra ngoài. “Em còn chưa mặc xong”. Cô nhẹ giọng gọi anh về.

Anh dừng bước, đợi cô. Sau khi thấy Hà Vị đã khoác xong áo choàng, anh mới mở cửa, từ dưới cánh tay anh, cô vọt chạy ra ngoài, nhìn Lâm Kiêu vội vàng gật đầu một cái rồi nhanh chóng biến mất.

Một bên vai Tạ Vụ Thanh ê ẩm, cũng không kiêng dè, đứng trong phòng nhìn Lâm Kiêu mang điện báo tới, hơi cử động bả vai. Lâm Kiêu nhìn chằm chằm anh nửa ngày. Tạ Vụ Thanh gấp bức điện báo lại, trả về cho Lâm Kiêu: “Sao vậy?”

Lâm Kiêu vừa nhận điện báo, vừa nghĩ, sau này có tiểu công tử rồi, vì đảm bảo an toàn, hắn nhất định phải tự mình trông đứa trẻ ấy.

Cảm xúc Hà Vị chưa ổn định, chạy vào phòng thím nhỏ ở tầng một, cả người cô nhiễm khí lạnh chui tọt vào trong chăn. Thím nhỏ bị khí lạnh làm tỉnh giấc, kêu một tiếng, tiểu tổ tông của ta ơi, rồi xoay người ôm lấy cô, sờ xuống dưới: “Cái eo nhỏ này của con, thật khiến người ta yêu thích mà”.

Cô nghĩ, thật ra eo của anh mới thon.

Lúc Hà Vị tỉnh lại lần nữa, mặt trời đã lên cao ba sào.

Cô vùi mặt vào chăn bông, nhắm mắt lại nghĩ đến Tạ Vụ Thanh. Một bên mặt anh đắm chìm trong ánh trăng như bước ra từ bức hoạ, hai mí mắt sâu hoắm… sống mũi thẳng tắp…

Có người ngoài chăn chạm vào cô, cô hơi nghiêng đầu nhìn, thì ra là thím. Thím kề sát gần, thì thầm: “Triệu Ứng Khác đến rồi”.

Trong phòng trà, Tạ Vụ Thanh vén rèm bước vào.

“Tạ thiếu tướng quân”. Triệu Ứng Khác đứng trong phòng khách, nhìn anh gật đầu.

Tạ Vụ Thanh cũng hơi gật đầu đáp lại: “Tôi không phải chủ nhà ở đây, không cần khách sáo”.

Anh để phó quan canh giữ ngoài cửa, ngồi xuống đối diện Triệu Ứng Khác, giống hệt mãnh hổ và sơn thạch trên bức bình phong bên cạnh.

Tạ Vụ Thanh nhìn người trước mặt: “Không biết Triệu công tử muốn gặp tôi, là vì chuyện gì?”

“Chuyện riêng”, Triệu Ứng Khác nói, “Là vì Vị Vị”.

Tạ Vụ Thanh trầm mặc nhìn hắn.

“Vốn không định quấy rầy thiếu tướng quân, nhưng mấy ngày nay tôi mới biết, thì ra người tên Tạ Khanh Hoài thực chất là Tạ Vụ Thanh, nghĩ vẫn nên đến gặp mặt một chút”, Triệu Ứng Khác thận trọng hỏi anh, “Không biết thiếu tướng quân có từng nghe qua người tên Hà Nhữ Tiên không?”

“Là anh trai của Vị Vị”. Tạ Vụ Thanh trực tiếp trả lời.

“Tôi và cậu ấy vốn có sinh tử chi giao, năm đó khi tai nạn ập đến, tôi từng nghe cậu ấy nhắc đến cái tên Tạ Khanh Hoài”, Triệu Ứng Khác nói, “Lần ấy vì để cứu Hoa Kiều ở Nam Dương, Nhữ Tiên từng nhờ một vị tướng quân yêu nước ở Vân Quý giúp đỡ, người đó chính là thiếu tướng quân đây”.

Hắn không hỏi anh, Tạ Vụ Thanh cũng không đáp lại, xem như ngầm thừa nhận.

“Tôi hộ tống Vị Vị từ Nam Dương về lại Bắc Kinh, còn Nhữ Tiên thì qua đời ở Nam Dương…” Triệu Ứng Khác dừng lại thật lâu, như đang nhớ chuyện quá khứ. “Còn những kiều bào cùng công nhân nhờ có thiếu tướng quân bảo vệ, nên mới bình an quay về cố hương. Tất cả những chuyện này, nếu hôm nay tôi không biết rõ ràng, có phải thiếu tướng quân cũng sẽ không nhắc lại đúng không?”

Triệu Ứng Khác vừa dứt lời, lại nói tiếp: “Tôi từng thăm dò Vị Vị, cô ấy cái gì cũng không biết. Vì sao ngài không nói cho cô ấy?”

Nếu có thêm một tầng quan hệ này, việc theo đuổi Hà Vị càng dễ dàng hơn, vậy mà Tạ Vụ Thanh vẫn không hé môi nửa chữ.

Sau một hồi im lặng, Tạ Vụ Thanh cuối cùng cũng mở miệng: “Tôi cùng Hà Nhữ Tiên trước đó không có giao tình thân thiết, chỉ từng qua lại hai bức điện tín, ngoại trừ một câu nhờ vả cùng đồng ý phối hợp, cũng không còn gì khác. Tôi vì vận tải đường thuỷ Hà gia nên tin tưởng cậu ấy, còn cậu ấy lại vì quân đội cách mạng tin tưởng tôi, chỉ có như vậy thôi”.

Anh nói tiếp: “Triệu công tử đây trước khi làm phụ tá cho quân phiệt, sự am hiểu về tình hình chiến sự các tỉnh thành chỉ có thể xem trên mặt báo. Mà tôi mỗi ngày đều phải đối mặt với những thứ ấy, giết địch, cứu người, hộ tống dân chúng bình an quay về cố hương, đây đều là những việc mà một quân nhân như tôi phải làm, không đáng nhắc đến. Huống hồ trong sự việc này, anh trai Vị Vị đã qua đời, đây là nỗi đau của em ấy, tôi không nghĩ ra lý do gì để mình nhắc lại chuyện cũ khiến em ấy càng thêm thương tâm”.

Năm đó có một bức điện báo đánh tới, nói rằng phía Nam Dương xảy ra chuyện xin anh giúp đỡ, bên kia còn có kiều bào cùng rất nhiều công nhân đang gặp nguy khốn. Cái tên Tạ Sơn Hải này quá nổi tiếng trên chiến trường, anh sợ ra ngoài nói lên sẽ gặp phiền phức, vì thế dùng tên Tạ Khanh Hoài gửi điện báo trả lời, đồng ý sẽ giúp đỡ… Anh cải trang thành dân thường, đưa theo thân tín của mình đến Nam Dương. Khi ấy, Tạ Khanh Hoài chưa từng ra tiền tuyến, đó cũng là lần đầu tiên anh dùng cái tên này, ở Nam Dương tất nhiên chẳng ai biết anh, càng không biết anh đã làm gì, câu chuyện cũ ấy vốn nên chôn chặt trong quá khứ.

Căn phòng chìm trong im lặng mất một lúc lâu.

“Tướng quân đến Nam Dương… có từng gặp Nhữ Tiên không?”

Tạ Vụ Thanh khẽ lắc đầu: “Lúc tôi đến, Hà Nhữ Tiên đã hy sinh thân mình vì đất nước rồi”.

Hương đốt hôm nay dùng là Long Tiên Hương. Cũng chính là hương liệu đốt khi ra biển, khiến người ta nhớ đến cơn gió đại dương ẩm ướt của Nam Dương.

Hà Vị vội vàng vào phòng trà, bên trong yên tĩnh đến lạ.

Con mèo ngồi xổm trên chiếc ghế trống bên cạnh Tạ Vụ Thanh, ngón tay anh gãi gãi lưng mèo. Con mèo thích chí, phát ra tiếng kêu khò khè. Người ngồi đối diện là Triệu Ứng Khác đã lâu không gặp.

“Ngủ ngon không?” Tạ Vụ Thanh hỏi, đưa tay về phía cô.

“Vâng”. Hà Vị nhẹ nhàng bước qua, bị anh tóm chặt, kéo ngồi xuống ghế trống chỗ con mèo, cô ôm con mèo vào ngực. Đột nhiên được anh hỏi thăm ngược lại có cảm giác anh là chủ nhà, còn cô là khách đến chơi.

“Anh thức dậy lúc nào thế?” Cô nhẹ giọng thì thầm.

Anh cười, thủ thỉ vào tai cô: “Sớm hơn cô hai đây”.

Bầu không khí giữa hai người rất giống cảnh tượng <i>yến nhĩ tân hôn [3]</i>.

<i>[3] Xuất phát từ câu “yến nhĩ tân hôn” trong Kinh Thi, ý chỉ nàng dâu mới cưới, vợ mới cưới; sau này còn được dùng để chúc mừng tân hôn, ngợi ca bầu không khí vui vẻ lúc mới kết hôn.</i>

Triệu Ứng Khác ngồi đối diện, lại giống như cách bọn họ cả dãy ngân hà trên bầu trời Thiên Tân.

Hà Vị chào tạm biệt chú chín cùng hai người thím, cất bước theo Tạ Vụ Thanh rời khỏi nhà chú chín.

“Nếu còn thời gian, em định dẫn anh đi gặp một vị trưởng bối”, cô ngồi trong xe anh, thấp giọng nói, “Ông ấy vẫn luôn muốn được gặp anh, chỉ là không có cơ hội”.

Tạ Vụ Thanh xem thời gian thấy vẫn còn kịp nên theo cô đến tô giới Pháp.

Thầy giáo của anh trai cô sống trên một con đường khiêm tốn trong tô giới Pháp, trước cửa nhà có một hàng rào sắt cùng vai bảo vệ trông coi. Cô nói muốn gặp chủ nhà họ Tấn của họ. Một tên bảo vệ chạy vào hỏi, không lâu sau đã xuống mở cổng sắt cho hai người, nặng nề nhắc nhở cô đúng bảy giờ tối khoá cổng, phải ra khỏi đây trước lúc đó.

Tấn lão nhìn thấy cô tới vô cùng vui vẻ, đánh giá vị tướng quân trẻ tuổi đi theo sau Hà Vị: “Người đây chính là tiểu tướng quân của Tạ gia đúng không?”

Cũng chỉ có người như ông ở độ tuổi này mới gọi anh là “tiểu tướng quân” thôi. Cô nghe thấy thì cười thầm trong lòng.

Cháu gái của Tấn lão cũng sống ở đây chăm sóc ông, cô ấy giúp họ châm trà, sau đó ra ngoài không quên khép cửa lại, chừa chỗ cho họ bàn bạc chính sự.

Tấn lão thở dài thườn thượt, cảm khái nhìn Tạ Vụ Thanh: “Chắc các em cũng nhận được tin, chính phủ lâm thời đã ra <i>‘Tuyên ngôn Ngoại Sùng Quốc Tín’ [4]</i>, hàm ý chính là tôn trọng lợi ích của các quốc gia trên lãnh thổ Trung Quốc. Chủ trương của những người khác đều không có kết quả”.

<i>[4] Tháng 10/1924, chính phủ quân phiệt Trực hệ bị Phùng Ngọc Tường lật đổ. Dưới sự ủng hộ của Phùng Ngọc Tường và những người khác, ngày 24/11, Đoàn Kỳ Thuỵ đảm nhiệm chức vụ “nhà cầm quyền tạm thời của Trung Hoa Dân Quốc”, và sau đó ban hành “Tuyên ngôn Ngoại Sùng Quốc Tín” vào ngày 6/12 nhằm bảo vệ quyền lợi cho các cường quốc trên lãnh thổ Trung Quốc, đồng thời quyết định mở cuộc họp phục hồi chức năng để phản đối chủ trương triệu tập hội nghị các quốc gia do Tôn Trung Sơn đưa ra, bảo vệ quyền thống trị của quân phiệt Bắc Dương. </i>

Tạ Vụ Thanh không tỏ vẻ bất ngờ.

Tấn lão nói tiếp: “Vì tránh hoà đàm ta mới đến Thiên Tân dưỡng bệnh. Mấy năm nay các cậu ở phía Nam, kiên trì vô cùng vất vả, ta không muốn trở thành cọng rơm đè nặng lên người các cậu”.

Tạ Vụ Thanh cười cười, trái lại còn trấn an ông lão: “Đối với những chuyện xảy ra, tôi đã sớm có chuẩn bị, lão tiên sinh không cần quá phiền muộn”.

Tấn lão buồn bã cười, hình như nghĩ ra cái gì đó, ông đứng dậy, đi ra ngoài mang theo một cái túi trở về.

“Đây là chút lòng thành của ta”.

Tạ Vụ Thanh cùng Hà Vị bất ngờ.

“Thưa thầy, những thứ này đều là của thầy để dưỡng lão… để chúng em lo được rồi ạ”. Cô muốn ngăn lại.

Tấn lão xua tay: “Là ta tặng tiểu tướng quân”, ông mở túi vải, bên trong đúng là có mấy xấp vàng lá được bó lại thật dày. Vừa nhìn đã biết toàn bộ đều được đặc biệt tìm người nấu chảy rồi đúc lại. Vàng lá rất tiện mang theo bên người, vừa mỏng nhẹ còn có thể gấp vào, nhét trong sách hay quần áo rồi khâu kín rất dễ dàng. Thầy tích cóp được ngần này quả thật vất vả, nhưng đều lấy ra toàn bộ.

Tạ Vụ Thanh không nhận, Tấn lão nói dù sao cũng phải đưa cho anh: “Lần này là đánh nhau với quân phiệt đấy, cậu không thấy sao, Không quân dưới trướng bọn họ có bao nhiêu phi cơ, bọn họ có tiền, còn mời cả trăm phi công từ <i>Bạch Nga [5]</i> đến. Ta nhìn thấy mà sốt ruột, sợ các cậu chịu thiệt. Cầm lấy đi, tiểu tướng quân, đây là của cá nhân ta, là cá nhân quyên góp cho các cậu”.

<i>[5] Bạch Nga, một cách gọi khác chỉ những người Nga nhập cư vào Trung Quốc trong những năm 1920</i>

Tấn lão nói xong, vỗ lên mu bàn tay của Tạ Vụ Thanh: “Ta làm ngoại giao hơn nửa đời người, ngoại trừ mấy chuyện nhẫn nhịn nhún nhường, cái gì cũng không làm được, ta sợ đời này mình cũng không còn hy vọng gì. Chờ các cậu đánh thắng quân phiệt, có thể tiếp tục nói chuyện bãi bỏ hiệp ước, thu hồi quốc thổ. Tiểu tướng quân, trông cậy vào các cậu”.

Tạ Vụ Thanh trước mặt khép chặt hai chân, lưng thẳng tắp, hành một cái quân lễ đầy kính trọng với ông lão này.

Anh nghiêm mặt nói: “Khôi phục đại nghĩa, chấn chỉnh non sông, chúng ta vạn chết cũng không từ”.

Đây là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh cùng người khác bàn chuyện quốc gia.

Khuôn mặt Tạ Vụ Thanh chìm trong ánh hoàng hôn, ửng lên một tầng đỏ. Bên sườn mặt anh cũng giống nguồn sáng kia, chiếu rọi chói mắt còn hơn cả trời chiều. Cô tưởng tượng ra cảnh, trên chiến trường phủ ánh tà dương, anh đứng trông theo bóng dáng khuất xa của vạn dặm núi xanh.

Thật ra anh càng giống thứ ánh sáng nhu hoà trong đêm đen, như sương lại như tuyết, là người thích trầm mặc, mà người như vậy hết lần này đến lần khác lại trở thành tướng quân.

— HẾT CHƯƠNG 23 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 24: Vẻ say đối bách hoa (1)


Trời vào đông rét đậm, gió lạnh Thiên Tân ngấm vào xương, giống như thế cục hiện giờ.

Ngày đó quay về Lợi Thuận Đức, cô mới biết chuyện, Tạ Vụ Thanh hôm trước tâm tình xuống cấp uống rượu say, chính là vì nhìn thấy mấy chữ ‘Tuyên ngôn Ngoại Sùng Quốc Tín’ trong điện báo. Tờ tuyên ngôn này khiến ý định “bãi bỏ hiệp ước phản đế’ của bọn họ trở thành lời nói suông.

Nam bắc thống nhất một mối đã không thể nữa.

Hà Vị biết rõ, hai miền nam bắc nhất định phải chiến đấu một phen, e là bắc phạt cũng ngày càng gần.

Các tướng lĩnh theo Tạ Vụ Thanh đến đây, một nửa đã lên tàu hoả quay về Quảng Châu. Nửa kia tiếp tục ở lại để giải quyết hệ quả cho êm xuôi. Tạ Vụ Thanh ngày ấy sau khi rời khỏi nhà của thầy, đã đi thẳng đến Phụng Thiên.

Anh vẫn như cũ, để lại một phó quan ở Lợi Thuận Đức bảo vệ cô. Phó quan kia âm thầm nói cho Hà Vị biết, thì ra hai ngày đó tướng quân vốn nên nghỉ ngơi, lại ngồi tàu suốt đêm quay về, cách một ngày tiếp tục ngồi tàu cả tối để trở lại. “Lâm phó quan nói, khi tướng quân về đều không nỡ ngủ, nhìn thấy cô hai liền vui vẻ”.

Cô hối hận vì sao đêm đó không nhận ra anh đang mệt mỏi, có thể để anh ngủ nhiều thêm một chút.

Đồng liêu của anh đều rời đi hết cả, còn cô vẫn từng ngày đợi anh từ Phụng Thiên trở về. Đến gần cuối tháng, cô thật sự không thể chờ thêm nữa, Hà Vị gửi điện báo qua cho anh, chỉ có ngày tháng và lịch tàu rời bến, cũng chính là thời gian cô về kinh.

Tạ Vụ Thanh gửi điện báo hồi âm, chỉ có bốn chữ: “<i>Tuế hàn [1]</i>, bảo trọng”.

<i>[1] Tuế hàn là thời điểm lạnh nhất năm</i>

Hà Vị sau khi nhận điện báo của anh thì suy ngẫm hồi lâu, cũng không chắc anh có quay lại, theo cô trở về kinh hay không.

Ngày cô đi ngay dịp năm mới, rời ga tàu ở Thiên Tân. Giám đốc văn phòng của vận tải đường thuỷ Hà gia ở Thiên Tân là được điều từ Bắc Kinh tới, cũng có giao tình mấy năm với Hà Vị, đã quen với bộ dạng ôn hòa điềm đạm của cô, lúc này thấy tâm tình cô trước sau không tốt, đoán có lẽ cô hai đang gặp chuyện buồn lòng, cố ý sắp xếp màn tiễn biệt long trọng, mời đến tận bảy tám vị giám đốc, vây quanh cô chính giữa, hấp dẫn không ít ánh mắt hiếu kỳ của người qua đường trên sân ga.

Hà Vị lúc trước làm việc luôn cố diễn sao cho càng nhiều người biết đến cô càng tốt. Cô tuổi nhỏ, tư lịch yếu, cần dùng rất nhiều thủ đoạn khác thường để nổi tiếng. Mà mấy năm nay tên tuổi của cô trong giới làm ăn không ít kẻ nhận ra, đối với bên ngoài cô càng ít phô trương thanh thế, lần này bị giám đốc cố ý sắp xếp một màn này, ngược lại có chút mất tự nhiên.

Khi cô bắt gặp Tạ Vụ Thanh, thì Tạ Vụ Thanh từ sớm đã nhìn thấy cô.

Bên cạnh anh lúc này rất ít người, chỉ có một vị tướng lĩnh, cùng Lâm Kiêu và ‘đọc sách’ đi theo, còn lại là hai mươi mấy sĩ quan trung cấp và các lão binh. Hà Vị vừa trông thấy anh đã cười rộ lên, ánh mắt Tạ Vụ Thanh cùng cô giao hoà, một mình đi tới cạnh chỗ cô.

Giám đốc văn phòng không biết người này là thần thánh phương nào, nhưng thấy trên môi Hà Vị treo một nụ cười, liền biết điều lên tiếng: “Cô hai, đi đường bình an”. Nói xong, hắn dẫn theo người rời khỏi sân ga.

Hai tay Hà Vị đút trong túi áo khoác, mặt giấu vào cổ áo xù lông, nhìn thấy anh đi tới trước mặt mình, tim đập cực kỳ chậm: “Tạ tướng quân đi đâu?”

“Tất nhiên là về Nam”.

Cô bị hai từ “về Nam” đâm vào người, ý cười cứng lại.

Tạ Vụ Thanh nhìn mặt cô, lại nói tiếp: “Có điều nghe nói cô hai ngồi chuyến tàu này, nên cố ý đổi vé, định ở lại kinh thành đón năm mới rồi đi sau”.

Anh chưa bao giờ nói đến chuyện đón năm mới…

“Em còn tưởng rằng, anh phải đi ngay lập tức”. Cô thở ra khói trắng, phả vào một bên mặt, khi dày khi mỏng.

Tạ Vụ Thanh cười, ngẩng đầu nhìn cầu vượt dành cho hành khách trên sân ga, dịu dàng nói: “Ít nhất cũng muốn ăn tết cùng em”.

Đường sắt Tân Phổ là tuyến đường sắt nối liền nam bắc, vì thế nên rất đông khách, ở chốn đông người, bọn họ không thể nói quá nhiều chuyện quan trọng. Sáng sớm ngày đông ánh sáng xanh trắng chiếu rọi, Hà Vị cùng anh ngắm nhìn bầu trời: “Đáng tiếc là đường sắt chỉ có thể xây dựng vì quốc gia”, nếu không thì cũng xây dựng vì quân phiệt, “Không bằng sau này chờ em kiếm đủ tiền, già rồi, sẽ xây dựng một tuyến đường sắt xuyên bắc nam”.

Tạ Vụ Thanh quay đầu lại, nhìn Hà Vị.

“Em thật sự đã nghĩ tới”. Hà Vị nghiêm túc nói.

Từ Quý Châu đến Bắc Kinh, không, là từ cực nam đến cực bắc, một đường xuyên tỉnh.

Về già nếu có thể đi một chuyến như thế, cũng coi như an ủi những tướng sĩ vì nó mà trả giá hết thảy.

Đến lúc đó, khi các tướng sĩ lão thành ngồi trên tàu hoả, nhìn ra phong cảnh ven đường không ngừng thụt về sau, chạy suốt mấy ngày mấy đêm thì thật tốt. Có điều… chỉ sợ tới ngày ấy, toa tàu đều trống không.

Sau khi lên tàu, cô cùng Tạ Vụ Thanh bước vào một toa độc lập.

Lâm Kiêu mở cửa phòng riêng giúp họ, bên trong có lót thảm sàn, cạnh cửa sổ có hai chỗ kê ghế sô pha, phía bắc có một cái giường nghỉ. Trước khi họ lên tàu, ‘đọc sách’ và Lâm Kiêu đã kiểm tra toàn bộ phòng vệ sinh cùng khắp mọi ngóc ngách xung quanh. Đợi sau khi bọn họ đóng cửa, Hà Vị liền cởi áo khoác, Tạ Vụ Thanh đứng phía sau vươn tay nhận lấy, giúp cô treo áo lên cái giá trên thành tàu.

Hà Vị nghĩ đến việc có thể ở chung với anh suốt thời gian dài liền vô cùng vui vẻ, xoay người, nhìn chằm chằm mặt anh bật cười.

Tàu hoả từ từ lăn bánh, âm thanh nghiền nát dưới đường ray lấp đầy cả toa.

Cô thấy anh kéo rèm cửa xuống, ngăn lại phong cảnh bên ngoài, cô muốn ôm anh, lại ngại cửa toa tàu không khoá, nên chỉ nghĩ mà thôi.

“Không ai vào đâu”, anh nhìn thấu tâm tư cô, “Nhiều năm dẫn binh, trị lính dưới tay mình vẫn rất nghiêm”.

Tạ Vụ Thanh thấy ánh mắt cô mờ mịt, đoán cô có lẽ đang nhớ lại đêm đó hai người dịu dàng tâm sự thế nào.

Trên chuyến tàu đến Phụng Thiên, từ đầu chí cuối anh vẫn nghĩ về tối hôm ấy. Người của cô, cơ thể đó, còn có dáng vẻ khi ngủ của cô nữa.

Đáng tiếc trong toa tàu không phải một chỗ tốt để thân mật, trên đường đi thường xuyên xóc nảy, lúc nào cũng có thể bị người khác bắn lén. Anh kéo rèm cửa là vì giữ an toàn. Chỉ là anh không muốn nói rõ, không định khiến Vị Vị cả đoạn đường đều lo lắng bất an.

Tàu hoả lắc lư, Hà Vị cùng anh lần lượt ngồi vào chỗ.

Trong tay Tạ Vụ Thanh là bức điện báo hôm nay phó quan nhận được cùng mấy tờ báo mới mua ở Thiên Tân. Hiện giờ nghiệp báo hưng thịnh, các tờ báo lớn nhỏ xuất hiện khắp nơi cũng không ít, mỗi chỗ đều có cái hay riêng, anh hiếm khi đến Kinh Tân một chuyến, mỗi ngày đều đọc vài lần, cũng giúp anh hiểu rõ thêm về tình hình biến động của chính phủ Bắc Dương.

“Còn tưởng anh không kịp quay lại”. Cô nói.

“Không quay lại, sợ có kẻ tranh giành đi lĩnh cháo cầu phúc với cô hai đây”. Anh cười.

Cả ngày nay cô chỉ lo quan tâm đến chuyện anh có xuất hiện không, thế mà quên mất ngày mai là mùng 8 tháng Chạp.

Hôm nay là đầu năm mới, ngày mai là mùng 8 tháng Chạp, ngày mốt là sinh nhật cô.

Rất nhiều năm sau, khi cô nhớ về năm mới 1925 này, vẫn còn cảm thán thật trùng hợp, ba ngày lành liên tiếp nhau.

Trên đường đi, thỉnh thoảng ngoài toa tàu vang lên tiếng gọi, có người muốn gặp thiếu tướng quân, người ngoài cửa đều chỉ đáp lại giống nhau: Đang nghỉ ngơi. Tàu dừng mấy lần, mà cửa toa tàu chỉ kéo ra đúng một lần duy nhất, Lâm Kiêu đích thân đưa thư tay, Hà Vị nhìn thấy trên bìa thư viết “Đọc xong tiêu huỷ”, có nghĩa là thứ quan trọng, xem xong thì lập tức đốt để huỷ đi.

Anh đọc thư, còn cô thì nhìn anh. Chờ anh trả thư cho Lâm Kiêu.

Cô ngồi trong toa tàu xóc nảy, không ngừng cảm khái nhìn anh: “Lúc anh ở phương Nam, em thường tiếc nuối vì không biết nhiều về anh”.

Tạ Vụ Thanh nhìn vào mắt cô: “Hiện tại tìm hiểu, vẫn còn kịp”.

Cô thì thầm: “Anh thích ăn món gì?”

Anh ngẫm nghĩ trả lời: “Lúc trước thích ăn món quê nhà, mấy năm nay ăn không nhiều nữa. Trong chế độ ăn uống cũng khá kiêng kị”.

“Ngày thường anh dậy lúc nào, bao lâu thì ngủ?”

“Mỗi năm đều hành quân, ngủ thức không có quy luật cụ thể. Cho dù có ngủ, cũng không thể sâu giấc”.

Đêm đó ôm cô ngủ, chỉ cần cô hơi cựa mình, anh sẽ tỉnh dậy. Cuối cùng anh dứt khoát không ngủ nữa, chỉ nằm tựa vào đó, trong đầu không ngừng vẽ ra bản đồ đông chinh chiến đấu, tự mình bày binh bố trận. Sau đó mấy ngày nhàn rỗi ở Phụng Thiên, anh nghĩ đến ngày sau khi hai người ngủ cùng giường cũng là một chuyện nan giải, có điều vấn đề là ở bản thân anh, không phải do Vị Vị, nên cần từ từ điều hoà lại.

“Trước khi vào Bảo Định, anh học trường gì?”

“Trường học Quan Triều”, anh đáp, “Hiện giờ không thấy nữa”.

Tạ Vụ Thanh nhớ lại kể: “Khi đó trong trường, thường có nhiều giáo viên ở khắp nơi đến, họ mang rất nhiều báo về phản Thanh và cách mạng dân chủ. Trong nhà cũng có mời đến một giáo viên dạy anh về lịch sử và địa lý các quốc gia nước ngoài. Lớn hơn mười tuổi thì vào quân đội để cha anh huấn luyện, sau đó đến Bảo Định”.

“Hai anh trai của anh cũng như thế sao? Lúc còn nhỏ cũng vào quân đội huấn luyện”.

Anh gật đầu: “Cha anh cả đời chiến đấu trên lưng ngựa, làm người đơn giản, gia huấn cũng chỉ có tám chữ: Con cháu tòng quân, tận trung vì nước”.

“Mẹ anh không đau lòng sao? Nhất là…” Nhất là cả nhà anh đều thật sự tận trung hết mình.

“Lần nào cũng vô cùng khổ sở”. Anh thấp giọng.

Tàu lần nữa lăn bánh.

“Còn có chuyện này”.

Tạ Vụ Thanh chờ cô hỏi.

Cô thủ thỉ với anh: “Trước đây anh từng có bạn gái chưa? Là kiểu chính thức ấy”.

Anh sống suốt hai mươi bảy năm không có quan hệ gì với cô, trải qua quá nhiều mùa xuân ấm áp cùng trời thu mát mẻ, hạ nóng đông lạnh. Tuy Tạ Vụ Thanh từng đại khái kể cho cô nghe phần lớn mọi việc, nhưng lại chưa từng nhắc chi tiết liên quan đến tình cảm.

Thế mà anh thật sự đang hồi tưởng.

Cần phải nhớ lâu vậy sao? Có rất nhiều à?

“Năm anh mười tám tuổi, chị hai có sắp xếp để anh gặp gỡ một cô gái”, năm ấy là lúc danh tiếng anh vang dội nhất, “Sau này, cha của cô ta lập kế hoạch ám sát anh, sau nữa thì anh đến Nam Dương”.



Cô giống như vô ý cắn phải một quả mơ chua, chua đến răng ê ẩm.

“Gặp nhau vài lần ư?” Cô chua chua hỏi.

“Hai lần”.

“Cô ấy thích anh sao? Thật sự rất thích?”

“Cũng không rõ lắm”. Anh vậy mà đáp lại cô.

Chắc là thích. Thiếu tướng quân Tạ gia quyền uy một phương, công lao sự nghiệp vừa mới bắt đầu. Năm anh mười tám tuổi, khí phách hiên ngang đến thế, chỉ cần nhìn thấy bộ dáng anh lúc đó, muốn không động lòng cũng khó… Hơn nữa anh còn là vị hôn phu mà hai nhà đã thương lượng kỹ càng.

Tàu hoả hú còi hai tiếng, chậm rãi dừng lại trong một sân ga nhỏ tí vốn không có trong hành trình.

Tiếng gõ cửa phá vỡ bọn họ.

Lâm Kiêu bước vào, thấp giọng báo cáo: “Là vị thư ký tiên sinh kia”.

Tạ Vụ Thanh suy nghĩ một chút, gật đầu bảo người dẫn vào. Hà Vị trông thấy một người đàn ông xa lạ đeo kính bước tới, cô duỗi tay, âm thầm hỏi mượn Tạ Vụ Thanh một tờ báo. Tạ Vụ Thanh liền lấy cho cô xấp “Kinh báo”, ngoài toa tàu có bóng dáng một người đàn ông khác lặng lẽ đứng yên, Hà Vị đưa tay nhận tờ báo được một nửa thì hơi khựng lại. Là Triệu Ứng Khác.

Ngày đó trước khi rời khỏi nhà chú chín, thím đã nói với cô, Triệu Ứng Khác lần này đến Thiên Tân mang thân phận là một trong những đại biểu đàm phán, đặc biệt được căn dặn tiếp đãi Tạ Vụ Thanh cùng các tướng lĩnh kia. Vì hắn cũng là cháu rể của chú chín nên lúc đi công tác tiện đường mang theo lễ vật mừng năm mới đến nhà chú chín, muốn chúc Tết trước.

Thím nói những chuyện này, xong liền dò hỏi cô có còn để ý quá khứ với Triệu Ứng Khác không.

Chuyện của cô và Triệu Ứng Khác, hình như đều phải giải thích rõ ràng một phen với từng người. Thật ra ngoại trừ kiện tụng với cha ruột và đăng báo đoạn tuyệt quan hệ với gia đình, mỗi một lời đồn đãi trên người Hà Vị đều không giống vẻ bên ngoài.

Lúc trước khi Triệu Ứng Khác mạo hiểm vòng một đường từ Nhật Bản đến Nam Dương đưa cô về nước, không lâu sau truyền đến tin anh trai cô qua đời. Lúc này Triệu Ứng Khác lập tức cùng người nhà âm thầm bàn chuyện hôn ước, Triệu gia đối với Hà Vị cũng không có ấn tượng xấu gì, hai người lại quen biết từ nhỏ, nên bàn bạc với Hà Tri Hành, chờ khi cô tròn mười bảy tuổi sẽ tổ chức kết hôn.

Mối hôn sự vốn không một gợn sóng, cho đến khi Hà Vị quyết tiệt cùng Hà gia, ầm ĩ khiến cả thành xôn xao, Triệu gia liền kín đáo phê bình. Ý tứ của Triệu gia chính là, trong bách thiện lấy chữ hiếu làm đầu, Hà Vị làm thế thật sự khiến nhà chồng tương lai mất hết mặt mũi, cần phải đăng báo nhận sai. Hà Vị tất nhiên không chịu. Sự việc giằng co đến khi cô đủ mười bảy tuổi, Hà Vị lấy ra một bản hiệp định thuộc sở hữu tài sản do luật sư soạn thảo, bên trên ghi vô cùng rõ ràng của hồi môn có bao nhiêu, số còn lại đều thuộc về hậu nhân của phòng thứ Hà gia, không hề liên quan gì đến nhà họ Triệu. Bản hiệp định sở hữu tài sản kinh thiên động địa này vừa xuất hiện đã khiến cha của Triệu Ứng Khác vô cùng tức giận, Triệu gia nhà họ cũng không phải kẻ tham tài, nhưng loại hành vi này của Hà Vị trước đây chưa từng thấy, làm mặt mũi cha Triệu Ứng Khác như bị người ta chà đạp, cho rằng con dâu tương lai ngầm nhận định Triệu gia có mưu đồ độc chiếm cơ nghiệp vận tải đường thuỷ của Hà gia…

Trước tiên là đăng báo đoạn tuyệt quan hệ với bậc cha chú trong dòng tộc, sau lại đến một tờ hiệp nghị, làm cha Triệu Ứng Khác không tài nào tiếp nhận được người con dâu tương lai này. Cho dù Triệu Ứng Khác muốn ký vào phần hiệp nghị, cha hắn cũng nhất quyết không cho phép cưới Hà Vị. Triệu Ứng Khác không muốn buông tay, một hồi tranh chấp không có kết quả.

Cô thấy Triệu Ứng Khác vô cùng khổ sở, liền nói, không bằng quên chuyện hôn sự đi.

Đêm đó ngồi trong thư phòng ở tây viện, Triệu Ứng Khác nghe xong lời cô, không lên tiếng, ước chừng ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ, uống mấy hớp trà lạnh liền rời đi. Nửa tháng sau, hắn bảo một gã sai vặt trong nhà đến truyền lời, nói rằng hôn sự đã giải quyết ổn thoả, chỉ có một tâm nguyện duy nhất, mong được sống ở Hà gia cùng cô trong ba ngày.

Hà Vị cảm thấy mình đã phụ lòng hắn, dù biết chuyện này tất sẽ làm dấy lên đồn đãi không hay, nhưng vẫn đồng ý. Ba ngày đó, hai người không làm bất cứ chuyện gì vượt lễ nghĩa, chỉ giống như lúc ở Nam Dương, cùng nhau ăn cơm, cùng nhau đọc sách, xem báo, mạnh ai nấy bận chuyện người ấy, xong việc thì tự đi nghỉ ngơi.

Cô thậm chí còn không biết vì sao Triệu Ứng Khác lại đính hôn với chị gái mình. Nhưng chị cô từ nhỏ đã thích hắn, cô cũng sớm nghe chú chín nhắc qua.

Nào là Triệu Ứng Khác vứt bỏ cô, chọn Hà Chí Trăn, còn có Hà Chí Trăn nằm nhà khóc lóc… những lời đồn đãi đó, đều là kiệt tác của Hà gia, vì muốn nâng cao danh tiếng của con gái lớn mà hạ thấp Hà Vị. Cô không đào sâu suy nghĩ chuyện này, chỉ muốn tránh né căn nhà đó càng xa càng tốt.

Nhưng đối với Triệu Ứng Khác, cô luôn có cảm giác mắc nợ hắn.

Sau lại thêm chuyện Ngọc Như Ý. Bởi vì cứu Triệu Ứng Thăng khiến hắn hiểu lầm cô, cô cũng không quá tức giận với hắn.

Hà Vị khẽ gật đầu với Triệu Ứng Khác, xem như chào hỏi, rồi lật xem báo của mình. Cô nhìn chằm chằm một bài quảng cáo đến ngẩn người, “Hàng nội trứ danh, có thể mua một cái dùng thử, còn hơn mua nhiều xà phòng ngoại để dùng”… Đây là vì chống Nhật mà kêu gọi làn sóng sử dụng hàng quốc nội, dần phổ biến trở thành một câu tuyên truyền.

“Thì ra tướng quân thích đọc ‘Kinh báo”, thư ký tán gẫu, “Chủ biên của tờ báo này rất sùng bái Cách mạng Tháng Mười, còn từng mắng vài nhân vật lớn”. Kinh báo Bắc Kinh, Trình báo Thượng Hải, hai tờ báo nổi tiếng nhất, không chút lưu tình mà công kích trực diện chính phủ quân phiệt.

“Nếu làm việc có căn cứ, sợ gì lời người khác nói”. Tạ Vụ Thanh đánh giá một câu.

Thư ký ghé sát vào tai Tạ Vụ Thanh, thì thầm hai lời.

Tạ Vụ Thanh hơi trầm ngâm, hắn nhẹ giọng bảo Hà Vị: “Em ở đây đợi anh”. Ý tứ chính là cô đừng ra khỏi toa tàu này.

Tạ Vụ Thanh đứng dậy, bước theo thư ký rời đi.

Triệu Ứng Khác ngược lại không nhúc nhích, hắn đứng ở cửa phòng, lo lắng Tạ Vụ Thanh đi rồi, một mình Hà Vị ngồi trong này liệu có nguy hiểm không. Bình thường thì thôi, nhưng hôm nay cô lại ngồi trong phòng riêng của Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh nhìn thoáng qua Triệu Ứng Khác, rời khỏi toa tàu trước, Lâm Kiêu đứng một bên thấp giọng nói với Triệu Ứng Khác: “Người của tướng quân sẽ bảo vệ cô hai, không nhọc công Triệu tiên sinh lo lắng”.

Lâm Kiêu tỏ ý đuổi khách, Triệu Ứng Khác nghe ra được. Hắn ngẫm lại thấy mình quả thật quan tâm quá mức rồi, Tạ Vụ Thanh ra Bắc mấy ngày nay làm không ít đại sự, cuối cùng vẫn bình an trở về, chẳng lẽ không còn không bảo vệ được Vị Vị? Hắn cười tự giễu rồi cũng bỏ đi.

Vị thư ký kia là <i>nhân tinh [2]</i>, lặng lẽ quan sát cô gái đang nghiêng người dựa vào sô pha đọc báo, đoán cô chính là… tình cũ của Tạ tướng quân và hôn thê trước đây của Triệu tiên sinh. Này đúng là trùng hợp.

<i>[2] “Nhân tinh”, ý chỉ một người có khả năng quan sát thời cuộc, đặc biệt là khả năng tính kế, cư xử khôn khéo, không dễ bị lừa và không để bản thân chịu thiệt</i>

Hà Vị sớm đã quen với việc tàu dừng vô cớ, không cảm thấy khác thường.

Tàu hoả một khi đi xuyên tỉnh sẽ tiến vào lãnh địa của những người khác nhau, thường bị buộc phải dừng tại sân ga nhỏ để chờ kiểm tra. Tính ra, hai chỗ Kinh Tân bởi vì liên quan chặt chẽ nên cũng xem như nối liền một chặng đường thông thuận.

Nơi này là giao giới giữa Kinh Tân.

Đám người Tạ Vụ Thanh đi về phía một khung đường sắt bỏ hoang nằm sau sân ga nhỏ, ở đó đỗ một chiếc xe tải, người trên xe tải đều là sĩ quan cùng binh lính ở quan ngoại. Mà người Tạ Vụ Thanh dẫn theo lại đang giằng co với họ.

Giữa hai phe có một người đang ngồi đó, tay chân bị trói chặt, miệng bịt kín, đúng là lúc Tạ Vụ Thanh đến Phụng Thiên làm việc quan trọng đã sai người bắt về. Kẻ này ngày xưa là chủ mưu tính toán ám sát Triệu Dư Thành, sau khi phe Trực hệ đại bại vẫn luôn lẩn trốn ở vùng quan ngoại. Chuyến này Tạ Vụ Thanh xuất quan, thuận lợi bắt người áp giải về, mang đến Thiên Tân, đổi lên chuyến tàu hoả này.

Đám quan quân trên xe tải đường xá xa xôi đuổi theo, chỉ vì muốn đoạt người về.

Lúc ở Phụng Thiên, Tạ Vụ Thanh cùng tư lệnh bọn họ đã đàm phán ổn thoả, đối phương vì giữ thể diện, hiên ngang lẫm liệt thả người đi, sau lại lén lút sai người ngăn cản vài lần muốn bắt về, nhưng không cướp được. Mắt thấy tàu hoả sắp vào địa phận Bắc Kinh, càng đi về phía Nam, bọn họ càng không có hy vọng.

Thế nên bọn họ liều một phen, ngăn cản ở đây, bày ra trận thế nhất định phải cướp được người về.

Thư ký đứng một bên cười giả lả: “Ngày ấy chúng tôi ở Phụng Thiên đã đắc tội nhiều, mọi người đều tưởng thiếu tướng quân bắt nhầm người… Sau đó điều tra, mới phát hiện chuyện của tham mưu Triệu Dư Thành. Cái này cũng khó trách, khó trách thiếu tướng quân lại làm khó dễ một nhân vật nhỏ bé như thế”.

Thư ký thấy Tạ Vụ Thanh không nói lời nào, lại tiếp tục: “Tham mưu Triệu Dư Thành vì nước vì dân, bị hại chết oan uổng, người này chúng tôi quả thật khó giữ lại. Chỉ là… vẫn muốn nói nhiều một câu, vị này là thân thích của tư lệnh”.

Thư ký nhấn mạnh hai chữ cuối cùng, nhìn chằm chằm Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh hơi gật đầu: “Lâm Kiêu”.

Anh không hành quyết ngay tại quan ngại, chính là vì không muốn làm mọi chuyện quá tuyệt tình. Hiện giờ anh đã vào đến đây, nếu muốn người, cũng chỉ còn lại một con đường duy nhất.

Sau lưng Lâm Kiêu có hai khẩu súng, hắn tháo một khẩu ra, đưa cho Tạ Vụ Thanh.

“Đưa áo khoác cho tôi”. Tạ Vụ Thanh nói.

Lâm Kiêu ngầm hiểu, liền cởi áo khoác ngoài đưa cho Tạ Vụ Thanh. Hắn biết tướng quân không muốn cô hai nghe thấy tiếng súng, nên muốn tìm thứ gì đó cách âm.

Thư ký nhìn Tạ Vụ Thanh nhận súng, vội vàng khuyên can: “Thiếu tướng quân xin hãy cẩn thận nghĩ lại, hà tất vì một người thấp cổ bé họng mà đắc tội lão tư lệnh? Người chết cũng đã chết, sau khi chết còn sót lại gì chứ? Chi bằng kết giao thêm một người bạn sẽ có đường sống, hà cớ lại ầm ĩ ra nông nỗi ta chết ngươi sống thế này?”

“Vạn sự quý nhất là nghĩa”, Tạ Vụ Thanh cho súng lên nòng, “Đại nghĩa quốc gia, tình nghĩa đồng bào, đều là những lời lập thân lập mệnh cơ bản của một tướng soái. Triệu tham mưu vì đại nghĩa quốc gia mà chết, lại là đồng bào của tôi, nếu các người là tôi, làm sao để chọn?”

Anh dùng quần áo của Lâm Kiêu quấn vào tay và nòng súng.

Thư ký nào dám ngăn cản một vị danh tướng bước ra từ núi biển nhuộm đầy máu tươi, theo bản năng lùi về sau hai bước, kinh hãi nhìn phía các sĩ quan đứng cách đó không xa. Trong số quan quân có người rút súng, có người bị đồng liêu đè lại, tư lệnh đã dặn dò “đoạt người không để mất hoà khí, dù có bị thương vài tên cũng không sao, đừng để động gân động cốt ầm ĩ căng thẳng là được”…Mọi người bỗng dưng không có kế sách đối phó, không nghĩ tới Tạ Vụ Thanh lại quyết đoán như vậy, đích thân xử tử.

Họng súng của Tạ Vụ Thanh đối diện người nọ, nhìn thẳng vào cặp mắt run rẩy hoảng sợ kia, nhẹ nhàng nói: “Đường xuống Hoàng Tuyền đừng quay đầu lại, kiếp sau làm một người đường hoàng chân chính”.

Một tiếng súng nặng nề chìm trong tiếng còi hơi phản lực của tàu hoả. Sống lưng người bàng quan như Triệu Ứng Khác cũng phải cứng đờ.

Giống như có mùi vị của máu, xen lẫn trong gió thoảng.

Tạ Vụ Thanh quay lại toa tàu, sai Lâm Kiêu bưng một chậu nước lạnh tới.

Lâm Kiêu như thường lệ đổ vào chậu đồng một ít canh thuốc đông y đã nấu chín. Tạ Vụ Thanh cẩn thận rửa sạch hai tay, kéo cửa toa tàu. Nhìn thấy cô gái đang ngồi trên sô pha đã lật sang một tờ báo khác. Hà Vị nhận ra Tạ Vụ Thanh trở về, trong mắt lấp lánh, nằm sấp trên tay vịn sô pha, ôn nhu nói: “Đồ ăn trên tàu không tệ lắm, sau này anh nếm thử đi”.

Anh mỉm cười, nhẹ gật đầu: “Được”.

Tạ Vụ Thanh ngồi xuống một cái sô pha khác, khí lạnh trên người vẫn chưa tan.

Hà Vị muốn nắm tay anh, lại bị anh nhẹ nhàng rụt lại, dịu dàng nói: “Bên ngoài gió lớn, tay lạnh rồi”.

Dứt lời, anh lại bổ sung thêm: “Sợ làm em lạnh”.

Anh không muốn cô chạm vào đôi bàn tay vừa tước đi tính mạng người khác.

— HẾT CHƯƠNG 24 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 25: Vẻ say đối bách hoa (2)


Nhác thấy đến giờ cơm trưa, Tạ Vụ Thanh lấy áo khoác cho cô, giúp Hà Vị mặc vào.

“Trên người anh lúc nào cũng có mùi thuốc đông y”. Cô ngửi được.

“Trên đường từ Phụng Thiên về có uống một chén thuốc”. Anh giải thích như thế.

Trong toa ăn uống có mấy bàn khách ngồi, đều là người vì nam bắc hoà đàm mà đến.

Nam bắc hoà đàm không chỉ là cuộc đàm phán giữa đám người ra Bắc với chính phủ lâm thời Bắc Kinh, mà còn vì chuyện triệu tập “Hội nghị Quốc dân”, mời đến các tướng lĩnh quân phiệt, quan liêu môi giới, ngoài ra còn có chính khách thuộc nhiều tỉnh thành và những vị quan văn nhận tiền quân lương mà sống. Lần này đi cùng chuyến tàu với anh còn có phó hội trưởng của thương hội Thượng Hải, người nọ nhận ra Tạ Vụ Thanh, nhưng thấy bên cạnh anh không ít quan quân canh giữ nên không tuỳ tiện đến chào hỏi.

Lâm Kiêu sai người canh giữ trước sau ở cửa. Tạ Vụ Thanh chọn chỗ ngồi trong góc, nhường cô một bên không có cửa sổ, còn mình tự ngồi cạnh ô cửa. Anh vẫn như cũ, kéo rèm vải xuống kỹ càng, dùng móc bạc cố định lại.

Hà Vị thấy đám người Lâm Kiêu bày sẵn tư thế như chuẩn bị phòng địch… Ý thức được bốn phía trong phòng ăn đều là cửa sổ vây quanh, hai bên thông với lối đi, không cách nào đảm bảo toa xe hoàn toàn an toàn được.

“Em không có kinh nghiệm, chưa từng nghĩ tới chỗ này lại không dễ thủ”. Cô thấp giọng nói.

“Là anh muốn đi cùng em, không phải em yêu cầu anh”, Tạ Vụ Thanh khẽ đáp trấn an cô, “Không cần bận tâm làm gì”.

Anh hỏi xin thực đơn, muốn nếm thử mấy món mà cô nói.

“Cà phê và bánh mì đi”, cô chủ động đề xuất những món đơn giản nhất, “Anh muốn ăn gì, đợi tới Bắc Kinh rồi lại nói”.

Tạ Vụ Thanh nhìn vào mắt cô, thầm nghĩ, vẫn khiến cô chịu thiệt rồi.

Anh thuận theo ý Hà Vị, gọi hai món cà phê cùng bánh mì đơn giản nhất. Anh nhìn phong cảnh mùa đông ngoài cửa sổ toa tàu, trong đầu nhớ đến lần đầu tiên đi học trường quân sự cao cấp ở châu Âu. Nếu Hà Vị quen biết anh ở đó, mọi chuyện cũng bình đạm hơn nhiều. Ở nơi ấy không ai biết Tạ Vụ Thanh là ai, cũng không ai ủng hộ anh, càng không có kẻ hận anh, muốn một phát bắn anh chết.

“Thiếu tướng quân”, cửa toa ăn có người phóng viên bị ngăn lại, hắn ta nhìn thấy Tạ Vụ Thanh liền không ngừng kích động vẫy tay, “Là tôi”.

Tạ Vụ Thanh nhận ra người đó, bảo Lâm Kiêu buông tay.

Phóng viên cởi mũ quả dưa màu vàng đất đội trên đầu, khom người thật sâu chào Tạ Vụ Thanh: “Thiếu tướng quân, lại gặp nhau rồi”. Xưa nay các văn nhân cùng phóng viên thường lấy việc khiêu khích nhóm quân phiệt làm trò vui, nay lại cúi đầu trước người mặc quân trang, quả thật là lần đầu tiên cô nhìn thấy.

Hà Vị có cảm giác trông người này rất quen, cô thường làm ăn kinh doanh nên cũng nhớ được nhiều gương mặt khác nhau. Trong đầu thầm nghĩ ngợi, nhớ đến lần gặp mặt công sứ Nga ở khách sạn Lục Quốc năm đó, trên bàn ăn trong nhà hàng Tây hình như có bảy tám người trẻ tuổi co quắp ngồi lánh nạn… trong số họ có khuôn mặt này.

“Năm ấy chúng tôi gây thêm phiền phức cho thiếu tướng quân, vẫn chưa kịp nói lời cảm ơn. Sau hai năm, cuối cùng cũng nói được lời cảm tạ này”. Người phóng viên xúc động khi nhìn thấy ân nhân.

Còn nhớ năm đó những bài viết đăng trên Kinh báo đắc tội với không ít người, bọn họ đều đã cùng đường, nghe nói thiếu tướng quân Tạ gia vào kinh, mạo muội xin giúp đỡ. Tạ Vụ Thanh đối mặt với những người trẻ tuổi bồng bột, dặn dò người ta trả tiền phòng ở khách sạn Lục Quốc, cho bọn họ vào lánh nạn, sai hai binh lính canh giữ an toàn. Chờ tiếng gió qua đi, anh lại lựa thời cơ tốt nói hai câu cầu tình cho họ, mới khiến mọi chuyện êm xuôi.

Sau đó những phóng viên trẻ rời khỏi khách sạn, muốn nói cảm ơn anh nhưng lại không có cơ hội gặp mặt Tạ Vụ Thanh.

Vừa rồi khi phóng viên từ toa tàu hạng hai đi lên, nghe người ta bàn tán Tạ thiếu tướng quân từ Phụng Thiên đã trở về, ngồi cùng chuyến tàu này vào kinh, nên hắn đặc biệt vượt qua mấy toa xe đến tìm gặp ân nhân.

“Tướng quân lần này mạo hiểm ra bắc, chúng tôi đều biết cả”, biểu tình phóng viên trịnh trọng, nhẹ giọng nói, “Mong tướng quân vì quốc gia, tự bảo trọng chính mình”.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười gật đầu.

Từ đầu chí cuối, đám người Lâm Kiêu đều đề phòng phóng viên này, đối với bọn họ mà nói, bất luận là kẻ nào cũng có thể tiềm ẩn nguy cơ. Phóng viên là người hiểu lý lẽ, không muốn để các sĩ quan khẩn trương, cúi đầu một cái thật sâu rồi chào tạm biệt rời đi.

Đợi khi vị phóng viên Kinh báo đi rồi, cô mới hỏi: “Anh là con tin, làm thế nào còn giúp người ta cầu tình?”

Tạ Vụ Thanh cười cười: “Con tin như anh vô cùng quan trọng, vẫn có vài phần mặt mũi”.

Cô cười. Đúng là vậy.

Quay về phòng riêng, trong lòng Hà Vị vẫn còn cảm khái.

“Anh biến mất suốt chín năm, mà vẫn có người nhớ anh là người tốt, cầu xin anh giúp đỡ. Chỉ e bọn họ còn chưa từng gặp qua anh, đều nhất mực tin tưởng anh rồi”.

Tạ Vụ Thanh đáp: “Cô hai đây không phải cũng thế à”.

Anh đang ám chỉ lần đầu Hà Vị tặng vé tàu cho mình.

“Em cùng bọn họ có chút giống nhau, nhưng không phải tương tự”. Cô nhỏ giọng nói.

Cô thời thơ ấu thường đọc sách nghe kịch, không thích vương hầu, chỉ yêu danh tướng.

Đặc biệt là tướng lĩnh cả đời rong ruổi trên lưng ngựa, mang chính nhiệt huyết cùng hoài bão trong lòng. Khát vọng ấy không chỉ vì ‘phong vương bái tướng’, mà còn là núi xanh vạn dặm, trăm sông chảy xuôi, là vì nam nữ trú mưa trong miếu cầu phúc trên núi, cũng vì người già, phụ nữ và trẻ nhỏ chờ hai bên bờ sông… Từ xưa đến nay, tướng lĩnh có thể lưu danh sử sách được mấy người, phần lớn đều chôn thây dưới thành trì luỹ quách, vùi lấp hài cốt vô danh dưới gió tuyết rét căm.

Lớn lên rồi, cô nhìn thấy quân phiệt tranh đấu, càng cảm nhận được những vị tướng quân một lòng trao cho dân tộc mới là trân bảo hiếm có.

Ngày đó đứng trong thư phòng ở tây viện nhà mình, biết được người chờ bên cạnh chính là Tạ Vụ Thanh, cô vừa kinh ngạc vừa vui mừng, chỉ sợ đón tiếp không chu đáo, làm chậm trễ việc lớn của trung lương, khi ấy cô tuyệt đối không dám nghĩ… sau này anh ở trong sảnh The Times đàn một khúc ca, cô rốt cuộc âm thầm tưởng tượng, nhưng cũng chỉ dám giữ trong lòng, sợ bị người khác nhận ra…

Tạ Vụ Thanh ôm cô lên giường nghỉ ngơi, nệm giường làm bằng lông ngỗng, cô vừa nằm lên đã lún xuống, đợi đến lúc thân thể Tạ Vụ Thanh áp tới lại càng lún sâu hơn. Cô theo thói quen nhắm mắt chờ, hơn nửa ngày cũng không có động tĩnh, sau đó nghĩ, có phải anh muốn cởi súng ra trước không?

Nhưng lúc này cởi súng hình như không thích hợp lắm, sắp phải xuống tàu rồi… Có điều thấy anh bất động, cô cũng hiểu ý, tự giác vươn tay vòng ra sau lưng anh tìm bao súng.

“Làm gì vậy?” Có tiếng anh hỏi, “Còn mười phút nữa đến trạm rồi, cởi ra lại phải lập tức đeo vào”.

Nói cứ như cô gấp gáp chờ không được muốn tháo súng của anh vậy.

Cô nhẹ mở mắt, thấy anh cười nhìn mình, giống như không có ý muốn hôn. Cô thẹn thùng định đứng dậy, lại bị anh ấn vai xuống.

Hà Vị đỏ mặt, đẩy anh không nhúc nhích, đầu cô vừa vặn áp lên quân phục anh.

“Ngẩng đầu lên đi”. Anh dịu dàng nói. Sợ phù hiệu cào cô bị thương, anh hơi kéo quân trang ra ngoài. Trên quân phục có mùi vị của anh, trên người anh cũng có mùi hương này, hơi thở đàn ông bao bọc cô, dần dần nảy sinh tia lửa không thể nói giữa bọn họ.

Ban đầu cô không ý thức được, là vì chưa từng có kinh nghiệm trong quá khứ, sau đó thấy anh điều chỉnh tư thế ôm mình, còn cố ý tránh né… Liền nghĩ đến lúc trước có đọc trong sách nói, mà trước đó thím cũng từng trắng trợn kể với cô về cơ thể của đàn ông.

“Anh Thanh”. Cô giống như nỉ non.

Anh “ừm” một tiếng, thật trầm.

“Còn vài phút nữa sẽ đến?” Cô cố duy trì bình tĩnh.

Tạ Vụ Thanh thấy vành tai cô đã đỏ hết lên, cười nhưng không nói.

“…Có nhanh quá không?” Cô tựa hồ nghe được tiếng người cười nói với nhau khi đón tiếp hành khách trên sân ga.

Cô muốn nói rất nhanh sẽ xuống tàu, khuyên anh đừng động tà niệm…

Tạ Vụ Thanh bị cô bé có hai vành tai phiếm hồng nằm trong ngực chọc đến bật cười, nói khẽ vào tai cô: “Nói ít thôi, đừng lộn xộn”.

Hà Vị thu lại hô hấp, nghe lời anh không động đậy nữa.

Cô đối với bên ngoài, lúc nào cũng suy nghĩ thấu đáo, luôn bày ra bộ dáng thành thục với mọi người. Có điều khi ở cạnh anh lại không giả vờ được như thế, giống như lần đầu gặp cô, mang dáng vẻ nghiêm trang, thế nhưng sự ngượng ngùng đằng sau ánh mắt vẫn thuộc về một cô bé mới mười bảy tuổi.

Tiếng còi bất ngờ vang lên, thật sự đến nơi rồi.

Vào mùa đông, ghế cùng toa hạng nhất đều nằm gần đầu tàu, vì để sưởi ấm nên tiếng còi tất nhiên cũng rõ ràng nhất. Trên người mất đi trọng lượng, anh xuống giường, Hà Vị còn chưa kịp hoàn hồn, ngây ngô nhìn về phía anh, nở nụ cười.

Ngoài cửa, có tiếng gọi của Lâm Kiêu: “Trên sân ga có người đến đón tiếp, hai đại biểu đã lên tàu”.

“Biết rồi”. Anh thấy Hà Vị đứng dậy, cầm lấy quân phục cô gối đầu nãy giờ, nếp nhăn trên áo rất rõ, mặc vào dễ khiến người khác nhìn ra. Anh đơn giản khoác áo lên cánh tay phải, trước khi mở cửa, quay đầu hỏi cô: “Sau khi anh đi, em chưa từng đến Bách Hoa Thâm Xử đúng không?”

Cô bị hỏi có chút bất ngờ, lắc đầu.

Tạ Vụ Thanh không nói gì thêm, đi ra bên ngoài trước để gặp đại biểu tiếp đón.

Thư ký đón tiếp Tạ Vụ Thanh đã sớm chờ ngoài cửa Chính Dương Môn, giống như những việc phát sinh trên đường Kinh Tân chưa bao giờ xảy ra, sau khi lễ phép chào hỏi thì mở cửa xe hơi giúp Tạ Vụ Thanh. Trước khi lên xe, Tạ Vụ Thanh thoáng nhìn qua chỗ cô một cái, dặn dò Lâm Kiêu hai câu. Lâm Kiêu đi tới trước mặt cô, thấp giọng báo: “Công tử gia mời cô hai về nhà trước, bận việc xong sẽ đến gặp người”.

“Mau đi đi”, Hà Vị khẽ đáp lại, “Lâm Kiêu cậu cũng vất vả rồi. Trên đường không thấy cậu nghỉ ngơi”.

Lâm Kiêu cúi đầu chào cô một cái, chạy đến bên cửa xe, ngồi vào ghế lái phụ.

Hà Vị vừa nghĩ đến lần này có thể cùng Tạ Vụ Thanh đón năm mới, về đến nhà khắp mặt đều tràn đầy ý cười.

Cô tắm xong, Liên Phòng giúp cô lau tóc, hỏi cô lần này gặp lại Tạ Vụ Thanh có phải muốn nối tiếp duyên tình không? Con gái trong viện, chỉ có Liên Phòng biết rõ Hà Vị thích Tạ Vụ Thanh. Vì bản tính Liên Phòng nhu thuận nên không nói nhiều, Hà Vị rất thích tâm sự cùng cô bé, còn Quân Khương lại giống chị lớn trong nhà, Khấu Thanh thì quá mức đơn thuần.

“Anh ấy…” Hà Vị thì thầm: Anh ấy cởi áo ôm chị, còn hôn lên người chị.

Liên Phòng trợn to mắt, ngẩn người một lúc lâu, lẩm bẩm một câu, kỳ cục quá, làm sao cho tốt đây.

Khấu Thanh ngoài cửa gọi: “Khách quý Tạ, Tạ gia tới rồi. Lão, lão gia đang đích thân đón tiếp ạ”.

Nhanh như vậy đã đến rồi sao?

Hà Vị vui vẻ, đến đông viện.

Vừa vào thư phòng, qua tấm bình phong truyền đến tiếng cười, là phụ nữ.

Chẳng lẽ không chỉ có anh tới ư? Cô vừa vòng qua, nhìn thấy một cái ghế đặt song song bên cạnh lò hương hình hạc trống không, chỉ có một người phụ nữ ngồi trên ghế đối diện. Cô nhẹ nhàng dừng bước. Người phụ nữ kia mặc chiếc áo sơ mi lụa màu vàng nhạt, trên khuôn mặt hình trứng ngỗng là đôi mắt thon dài, có chút quyến rũ. Hà Vị vừa xuất hiện, đối phương liền ôn nhu nhìn lại, sau đó mỉm cười.

“Đây là Vị Vị”. Hà Tri Hành ôn hoà nói.

“Hà Vị tiểu thư, xin chào”, Tạ Sính Như cười gật đầu, “Ta là chị hai của Tạ Vụ Thanh”.

Ra là chị gái của anh.

Hà Vị cũng gật đầu, dịu dàng đáp lại: “Cô hai Tạ, xin chào”.

“Không cần xa lạ với chị như thế”, Tạ Sính Như nhìn cô, giống như nhìn thứ trân bảo quý hiếm nhất so với bất kỳ món đồ nào trong Tử Cấm Thành, dịu giọng nói, “Sau này đi theo chú út Thanh, gọi chị một tiếng chị hai là được rồi”.

Mặt Hà Vị nóng lên.

Cô muốn hỏi vì sao Tạ Vụ Thanh không tới, nhưng lại ngại hai người vừa mới giới thiệu với nhau, dù sao cũng phải hàn huyên một chút mới hợp lẽ…

“Đi đi”, Tạ Sính Như đột nhiên lên tiếng, “Nó ở trong Bách Hoa Thâm Xử chờ em đấy”.

Hà Vị nhìn về phía chú hai.

Hà Tri Hành khẽ cười, nói: “Cô hai Tạ là khách của ta, ta sẽ tiếp đãi thật tốt. Con đi đi”.

Hà Vị nhẹ giọng nói một câu: “Vậy cô hai Tạ, hẹn gặp lại”.

Tạ Sính Như cười đáp: “Lần sau gặp lại, hy vọng em có thể mở miệng gọi chị một tiếng chị hai”.

Hà Vị rời khỏi thư phòng, trong lòng chùng xuống.

Vậy mà anh chưa nói… chị của mình cũng vào kinh.

Cô sai người chuẩn bị xe, chạy về Bách Hoa Thâm Xử. Lúc đi ngang Đức Thắng Môn, ánh mặt trời vẫn chưa lặn hoàn toàn.

Vừa lúc gặp phải một đoàn lạc đà băng ngang đường, chắn trước xe, Hà Vị ngồi trong từng hồi chuông lục lạc đinh đang, nghĩ đến cô hai Tạ vừa nhìn thấy ban nãy. Có gì đó nảy nở, giống như cách một cửa sổ thuỷ tinh phủ đầy sương mù, chỉ cần cô vươn tay một cái lau sạch sẽ, liền có thể nhìn thấy diện mạo chân thật… Cô dựa vào bên cửa xe, ngẫm nghĩ một lúc, mặt lại nóng lên, không biết xấu hổ suy nghĩ sâu xa.

Lâm Kiêu đã chờ sẵn ngoài đầu ngõ, lúc dẫn đường cho cô thì nhẹ hỏi: “Cô hai từ sau khi công tử rời đi chưa từng đến Bách Hoa Thâm Xử à?”

Cô lắc đầu. Sao phó quan cũng hỏi câu tương tự anh vậy?

Lâm Kiêu muốn nói lại thôi, nghĩ một lúc, cũng không cần phải nói, sau này cô tự khắc sẽ nhìn thấy.

Hà Vị đạp lên ánh hoàng hôn, nhẹ nhàng bước lên hai bậc thềm, đẩy cửa viện đang khép hờ.

Trong sân, ‘đọc sách’ dẫn theo mấy sĩ quan dọn dẹp. Cô hoảng hốt như nhìn thấy quá khứ, các quan quân người xách thùng nước còn bốc khói, giội lên mặt băng trên nền đất lạnh. Trong làn khói trắng ấy, mọi người thấy cô liền nở nụ cười, quay đầu nhìn tướng quân nhà mình đang chờ ngoài cửa chính phòng. Tạ Vụ Thanh mặc áo khoác, như đã đợi được một lúc lâu.

“Đứa trẻ này rốt cuộc cũng tới rồi”, ông lão tóc bạc trông coi viện nhìn thấy Hà Vị tới, “Năm ngoái cậu ấy viết câu đối, tự mình dán lên, nói muốn cho cháu xem, ta chờ trái mong phải cũng không thấy cháu đến, còn tưởng rằng nha đầu cháu xảy ra chuyện”.

Ông lão không nhận ra ai là thiếu tướng quân, ai là cô hai Hà, chỉ nhận ra cháu trai của vị tướng quân ngày xưa cùng cô gái trong lòng anh.

Hà Vị nhìn câu đối tân xuân dán bên ngoài khung cửa, bởi vì hai năm nắng mưa nên màu giấy đỏ sẫm đã phai thành hồng nhạt, lời viết đều là những câu nói chúc tụng vui vẻ, không nghĩ tới Tạ Vụ Thanh có thể nhập gia tuỳ tục viết những lời như thế.

Một câu đối quá đỗi bình thường, lại làm vành mắt cô nóng lên: “Viết lại lần nữa đi, sắp đến năm mới rồi”.

“Được”. Anh mỉm cười đáp.

Hà Vị muốn mở cửa, phát hiện mọi người đều đang nhìn mình…

Ý cười của Tạ Vụ Thanh không rõ ràng, cuối cùng vẫn là ông lão sốt ruột: “Cháu gái mau vào đi”.

Cô không hiểu gì, nhẹ đẩy cửa.

Đập vào mắt, dưới ánh đèn, khắp phòng đều là hải đường tây phủ, rải đầy trên nền đất cùng mặt bàn.

Không cần nghĩ cũng biết đã chuẩn bị xong từ hai năm trước… Đáng tiếc gặp phải cô gái chậm chạp trì độn như cô, không nghĩ ở đây có gì khác lạ, cũng không đến xem qua.

“Ta thật sự không nuôi hải đường nữa”. Ông lão phía sau oán giận nói, “Sợ nuôi hỏng rồi, không đợi được cháu đến xem… Bị hai vợ chồng son các cháu giày vò vất vả”. Ông lão mang tư tưởng cũ, không có khái niệm yêu đương, nhìn thấy Hà Vị mấy lần, từ lâu đã nhận định hai người là đôi vợ chồng mới cưới.

Mắt Hà Vị nóng đến chua xót, không muốn bị người sau lưng phát hiện, cúi đầu bước vào phòng.

Trước tầm mắt cô, toàn bộ căn phòng đều được phủ bởi mấy tấm vải đỏ hồng xanh xanh, e là do ông lão trông coi viện làm ra, sở thích màu sắc của những người lớn tuổi thường giống nhau. Trên giường không lót đệm, chỉ sót lại tấm ván gỗ. Cô đi vào trong: “Không dọn dẹp một chút, đêm nay anh ngủ ở đâu, trời sắp tối rồi”. Cô biết Tạ Vụ Thanh đi theo sau mình.

Trên bàn làm việc có một tờ giấy, dưới ánh trời chiều bị nghiên mực đè lên, không thấy rõ chữ, đều bị bụi bặm che mờ.

Cô ngẩn người, chẳng lẽ hai năm trước anh để lại?

Cô quay lưng về phía Tạ Vụ Thanh, đến trước bàn làm việc, bên trên quả nhiên có một dòng chữ, ngắn vô cùng. Cô cầm lấy tờ giấy đó, tự tay phủi bụi, làm dòng chữ hiện lên rõ ràng hơn:

<i>Thời thanh niên từng nói, núi cao biển rộng mà không toàn, vứt bỏ thây này có há chi. Mà nay càng thêm kiên định sau này, sông nước chưa sạch, thề không vãng sanh.</i>

Núi cao biển rộng mà không toàn, vứt bỏ thây này có há chi.

Sông nước chưa sạch, thề không vãng sanh.

Tạ Vụ Thanh từng ngồi trong căn phòng này viết nên vô số lời tiễn biệt người khác, chỉ có hai câu này là để lại cho chính anh.

— HẾT CHƯƠNG 25 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 26: Vẻ say đối bách hoa (3)


“Anh mười bảy tuổi đến Bắc Kinh, từng đi qua Đức Thắng Môn”. Tạ Vụ Thanh nói sau lưng cô.

Khi đó anh vừa rời trường Bảo Định, một mình lên tàu hoả đến Bắc Kinh. Tối hôm ấy anh đứng dưới Đức Thắng Môn, nhìn ngắm cánh cổng người xưa mỗi lần ra trận đều đi qua mà nghĩ, trận chiến này nhất định phải thắng, sau khi lật đổ Thanh triều trở về, anh sẽ dẫn binh đi dưới Đức Thắng Môn, đi một cách vui vẻ thống khoái.

“Nửa câu đầu trên tay em là viết vào ngày hôm đó”, anh nói, “còn nửa câu sau bị bỏ trống. Cho đến buổi tối năm kia sau khi rời khỏi Cung Vương Phủ, anh đi thẳng đến An Định Môn, mới viết nửa câu còn lại”.

Là cô nói cho anh biết, Bắc Kinh không chỉ có Đức Thắng Môn, còn có An Định Môn khi người chiến thắng oanh liệt trở về. Bất kể là đất nước hay gia đình, đều mong mỏi người xuất chinh có thể bình an quay lại.

Cách mười năm, anh cuối cùng cũng hoàn thành câu nói này, tại đây có quốc gia cùng chí hướng, cũng có tên cô.

Tạ Vụ Thanh đứng cách một bức rèm châu, thấy cô xoay người nhìn mình, anh vén rèm bước vào phòng ngủ. Dây châu rơi lả tả xuống sau lưng, những hạt châu trắng ngần không ngừng va chạm vào nhau, lắc lư đong đưa.

“Em… cho rằng”, trong tiếng cười đùa cùng âm thanh vụn vặt của quân quân thổi lửa nấu cơm, giội nước phá băng ngoài cửa sổ, cô mấy lần nghẹn ngào, rất nhiều chuyện bỗng trở nên rõ ràng, còn có những điều trước nay cô chưa từng nghĩ tới, “Cho rằng, anh không thích em nhiều như vậy”.

Trong mắt Tạ Vụ Thanh đongđầy ý cười, nhẹ giọng trêu ghẹo cô: “Thích em bao nhiêu, anh không dám nói. Cũng không so sánh”.

Cô lập tức nhớ đến cái ngày hai người hôn nhau lần đầu tiên, anh hỏi cô có còn thấy thiệt thòi không? Bản thân cô cũng đáp lại anh như thế.

Anh nhớ rõ những lời cô từng nói.

Không chỉ nhớ rõ, ngẫm lại, cho tới bây giờ Tạ Vụ Thanh đều theo tâm ý cô, nếu là vì cô, anh đều có thể làm mọi thứ.

Hôm nay ở sân ga, trước khi Tạ Vụ Thanh bước xuống tàu, anh để lại mấy binh lính canh giữ bên trên. Cách rèm cửa, cô thấy anh được mấy ngàn người vây quanh, bắt tay học sinh và các vị đại biểu tiến bộ, đôi mắt dưới quân mũ mang theo vẻ lịch sự lễ phép cùng ý cười. Cô nhìn đến cảm xúc lâng lâng, vì anh mà vui vẻ, cho dù mục đích chuyến ra bắc của anh không thể đạt được, nhưng các giới vẫn vô cùng ngưỡng mộ và khâm phục tướng lĩnh yêu nước như bọn họ.

Chỉ là cảm động không duy trì được bao lâu, khi cô vừa quay đầu đã hoàn toàn biến mất. Cô nhác thấy binh lính đứng bên cửa sổ giơ tay bóp cò, từ ô cửa nhìn ra bên ngoài theo dõi những kẻ đến gần Tạ Vụ Thanh. Bọn họ không rảnh cảm động, chỉ sợ có người lợi dụng thời cơ ám sát anh.

“Sân ga xưa nay là nơi đông người phức tạp, dễ có người bắn lén đứng lẫn trong đó”, một người trong số họ giải thích với cô, “Toàn bộ hành trình của tướng quân đều được bảo mật, không nên được tiếp đón nồng hậu ở sân ga thế này. Đây là — lần duy nhất, ngài ấy biết rõ hành trình bị tiết lộ, vẫn tiếp tục ngồi chuyến tàu này’.

Một lão binh khác sợ Hà Vị lo lắng liền an ủi: “Người nam bắc đều ở Bắc Kinh, chắc sẽ không có nhiều nguy hiểm”.



Hà Vị bước tới trước mặt Tạ Vụ Thanh, trong lòng vẫn còn sợ hãi, lo lắng bên trong đội ngũ đón tiếp thật sự có kẻ muốn lấy mạng anh.

“Hôm nay bọn họ có nói, đây là lần đầu tiên anh có người tiếp đón”, cô vô cùng áy náy, “Em không có kinh nghiệm với mấy chuyện lẩn trốn ám sát, lần sau anh cứ nói thẳng với em, ngàn vạn lần đừng chiều theo ý em bất cứ điều gì”.

“Không sao đâu”, Tạ Vụ Thanh ngắm nhìn mắt mày cô, dịu dàng nói, “Trước nay anh luôn cẩn thận, đột nhiên mạo hiểm đến, những kẻ đó đều sợ là cái bẫy, không dám xuống tay”.

“Hơn nữa, anh cũng có tâm tư riêng của mình”, anh nhẹ giọng nói tiếp, “Tạ Vụ Thanh trên lưng ngựa chiến đấu nửa đời, thanh danh tích cóp bấy lâu cũng chưa từng dùng tới, anh muốn ít nhất cũng để em nhìn thấy một lần”.

Ít nhất để cô nhìn thấy thanh danh tốt nhất của anh một lần, chứ không phải chỉ có lẩn trốn ám sát, từng bước gian nan còn phải tỏ vẻ ngày đêm thâu hoan, <i>thanh sắc khuyển mã [1]</i>.

[1] “Thanh sắc khuyển mã” là tập hợp những thú vui của người xưa, bao gồm “Thanh” là sênh ca, khiêu vũ; “Sắc” là sắc đẹp, sắc dục; “Khuyển” là thú chơi nuôi chó của người giàu; “Mã” là cưỡi ngựa. Sau này được dùng như một câu thành ngữ phê phán cách sống ăn chơi truỵ lạc, hoang dâm vô độ của giai cấp thống trị thối nát thời phong kiến.

Mắt Hà Vị phiếm đỏ, cô quay đều sang chỗ khác, nhìn khắp phòng.

Trong tiếng va chạm khe khẽ, hạt châu trắng xâu thành từng chuỗi dài trên rèm đung đưa không ngừng.

“Chị của anh, ở nhà em”. Cô thì thầm.

Anh gật đầu: “Anh biết rồi”.

Tạ Vụ Thanh ban đầu không đồng ý để chị hai đến. Sau khi trở về khách sạn Bắc Kinh, anh gọi một cuộc điện thoại rất dài cho chị hai, sau khi cân nhắc kỹ càng, vẫn để chị hai đến Hà nhị phủ. Hiện giờ hai miền nam bắc còn chưa khai chiến, vẫn có cơ hội gặp mặt một lần. Tình thế ngày sau còn chưa rõ, người Tạ gia nếu muốn chính thức hẹn gặp người Hà gia chỉ e cũng vô cùng khó khăn. Hà Vị là một cô gái đàng hoàng, đã tính đến chuyện kết hôn, tất nhiên lễ vật không thể thiếu, gặp trước rồi bàn tiếp, xem như vì ngày sau nói chuyện.

Huống hồ cô vốn hiếu thảo với chú hai, nếu sau này vì đủ loại nguyên nhân mà cuối cùng không thể gặp được, chỉ sợ khiến cô hối tiếc cả đời.

“Người nhà anh đều tương đối cổ hủ”, anh giải thích với cô, “Trước kia anh trai chị gái đều theo lệnh của cha mẹ, cùng lắm trước khi kết hôn gặp mặt nhau hai lần, đến lượt anh đã được xem tân tiến nhất. Cha anh trên người có vết thương cũ nên không thể đi đường xa, nhờ chị hai đến, hy vọng chú hai em sẽ không để ý”.

“Dù sao cũng phải gặp”, anh nói tiếp, “Đây là đạo lễ, cũng là thành ý của Tạ gia”.

Trái tim Hà Vị chậm rãi đập, mím môi không thốt lời nào.

Trong tay cô không có thứ gì nắm được, cô không ngừng gấp tờ giấy kia.

Tạ Vụ Thanh yên tĩnh chờ cô.

“Em muốn hỏi anh một chuyện, hỏi lời trong lòng anh”, cô nói ra tâm sự của mình, “Anh có bao giờ để ý chuyện trước kia của em không?”

“Chuyện trước kia gì?” Anh dịu dàng hỏi lại.

“Là… tin đồn của em”.

Anh ngẫm nghĩ, thừa nhận nói: “Từng cảm thấy không thoải mái”.

Tâm tư Hà Vị chùng xuống, anh vẫn để tâm.

Tạ Vụ Thanh nhìn bóng dáng cô cúi đầu, tóc mái khẽ vén ra, nghĩ đến lần đầu gặp cô trong căn phòng này. Một cô gái còn nhỏ như thế lại dám nhìn thẳng vào mắt anh, hỏi anh có nha hoàn thông phòng hay không, hoặc có thiếp thất trong nhà chưa… Anh có thể ngó lơ cô, nhưng rốt cuộc vẫn trả lời.

Cô luôn có bản lĩnh buộc anh phải nói ra những lời trong lòng mình.

“Là cơn ghen của một người đàn ông”, Tạ Vụ Thanh thấp giọng nói, “Nên không thoải mái”.

“Chuyện còn lại”, anh nghiêm túc, “Đối với Tạ Vụ Thanh mà nói, không đáng nhắc tới”.

Cô cúi đầu, nước mắt lần nữa trào dâng.

Cô từ lúc mười bốn tuổi sau khi anh trai mất, chú hai bệnh không dậy nổi, một mình cô đối mặt với sự bao vây của chú bác dòng tộc Hà gia, ban ngày giả vờ đáng thương, ban đêm nằm trong chăn ấm ức khóc, cô sợ chú hai cứ vậy mà đi, sợ không giữ nổi vận tải đường thuỷ Hà gia. Đến năm mười sáu tuổi, cô bị nhiều lời đồn đãi quấn thân, chưa từng có ngày nào thanh tịnh… Cô từng lặng lẽ nghĩ, hôn nhân sau này của mình sẽ không có kết quả tốt, có ai lại không để ý đến mấy lời đồn đãi bên ngoài chứ? Cho dù ban đầu tình thâm nghĩa trọng đến đâu, lâu ngày dài tháng cũng bị tin đồn mài mòn hết kiên nhẫn, từ từ xa cách… Vì vậy cô luôn tự nhủ với bản thân mình, hôn nhân là hôn nhân, không liên quan gì đến cảm xúc, đều là lợi ích của gia tộc mà thôi.

Cô không quan trọng người khác nhìn mình thế nào, chỉ thật sự để tâm đến suy nghĩ của anh. Sợ anh nói ra những lời không hay.

Bên ngoài đèn dầu đã thắp, trong viện ánh sáng ngập tràn, chiếu đến trong phòng tối om, tạo thành dáng vẻ khác. Thân hình Tạ Vụ Thanh tiến lại gần cô.

“Vị Vị”. Anh gọi cô nhỏ nhẹ.

Cô cúi đầu “vâng” một tiếng.

“Em vẫn còn cơ hội lựa chọn”, Tạ Vụ Thanh nói, “Còn anh đã quyết thế rồi”.

Đôi mắt cô đỏ hồng, nhìn bóng đen trên mặt đất, nhẹ mỉm cười.

Gặp được Tạ Vụ Thanh, làm gì còn có lựa chọn nào khác.

Hai năm vật đổi sao dời, nhưng không có cảnh còn người mất. Cô vẫn giống như đêm đó, từ Cung Vương Phủ trở về Bách Hoa Thâm Xử, mang một bầu rượu ngon ấm nồng, đối với hải đường trắng ngần vươn đầy phòng, tình cảm sâu nặng, bàn chuyện chung thân.

“Chúng ta —”, cô ngừng hồi lâu, nhẹ nhàng nói, “Quyết định hôn sự đi”.

Anh cười.

Cô ngước mắt nhìn anh.

“Được”, Tạ Vụ Thanh dịu dàng đáp, “Chúng ta cứ định hôn sự vậy đi”.

Hương hải đường tràn ngập trong phòng, bóng dáng anh như núi cao, rơi xuống người cô.

Hà Vị muốn nói chuyện, bị Tạ Vụ Thanh nắm chặt hai tay. Cô giữ lấy tờ giấy đã sớm bị gấp thành mảnh nhỏ, Tạ Vụ Thanh lại kéo tay cô. Đó là lần đầu tiên cô cảm nhận được thì ra bàn tay của một người đàn ông có thể chuyển từ lạnh sang nóng hầm hập như thế.

Hai người tuy không nói lời nào, lại giống như chất chứa rất nhiều tâm sự.

Tạ Vụ Thanh cúi đầu, như ngọn núi bất ngờ đè xuống.

“Chúng ta có nên về nhà nói chuyện với chú hai không? Nhân lúc chị hai anh còn ở đây?” Cô hỏi.

“Chị hai đã đi rồi”, đôi môi anh rất ấm, hôn xuống môi cô, “Chuyến tàu đêm nay”.

Lời nói của Tạ Vụ Thanh như kéo cô về với thực tại, tình cảnh giằng co hai miền nam bắc vẫn còn, cô hai nhà họ Tạ mạo hiểm nhập kinh. Lần này Tạ Sính Như một phần vì chuyện công, nửa kia vì chuyện tư, trừ bỏ làm việc quan trọng, sau khi gặp gỡ xong khách nước ngoài, liền mang theo thành ý lớn nhất, đến bái phỏng Hà Tri Hành.

Người Tạ gia xem cô là trân bảo, không muốn chậm trễ mọi chuyện.

Tạ Vụ Thanh hôn cô áp lên bàn làm việc, rút mảnh giấy trong tay cô đi, đặt lại lên bàn.

Hà Vị ngồi tựa vào bàn làm việc, bị anh hôn ngấu nghiến, lại cảm giác giống cảnh tượng lúc anh ôm mình trên tàu hoả. Có điều lúc này Tạ Vụ Thanh không còn né tránh. Cô nghĩ, có lẽ đây là sự khác biệt giữa trước lúc đính hôn và sau khi quyết định hôn sự? Nhưng lúc trước đính hôn, cũng chưa từng bị như vậy.

Bộ váy liền thân hôm nay cô mặc vốn không dài lắm, bên hông xẻ cao, lúc này váy hơi vén ra, để lộ tất dài màu trắng kéo cao đến đầu gối cùng đôi chân của cô. Da cô trắng ngần, trong bóng tối vẫn sáng ngời, cô thấy ánh mắt Tạ Vụ Thanh dừng trên đùi mình, mặt càng nóng hơn.

Có thể cảm nhận được cơ thể đàn ông biến hoá vô cùng rõ ràng, mặt cô đỏ ửng, nghĩ cách né tránh lại bị Tạ Vụ Thanh giữ chặt eo.

Hồi lâu Tạ Vụ Thanh không hôn nữa, chỉ chăm chú nhìn người trong lòng.

“Không bật đèn, e là người bên ngoài sẽ thấy kỳ lạ”. Cô nhẹ giọng nói.

Anh cười, cũng không đáp lời.

Tạ Vụ Thanh kéo ghế bên bàn làm việc ra, đổi thành anh ngồi trước mép bàn, ủng quân đội bên phải giẫm lên ghế, ôm cô đặt lên người. Hà Vị không biết làm sao cho phải, hai tay cũng lúng túng không biết nên đặt ở đâu.

Quay lưng về phía ánh trăng khiến bóng dáng anh càng nặng nề hơn, giống bóng đêm đè áp từ trên xuống dưới.

“Trên đường đến Phụng Thiên, anh đều nghĩ về em”, anh thủ thỉ, “không chỉ một lần”.

Cô muốn hỏi anh nghĩ gì?

Vừa ngẩng đầu nhìn vào mắt anh, liền sáng tỏ.

Hơi thở của cô dần nóng lên, giống hệt đêm đó. Nhưng hoàn cảnh tối ấy bên ngoài không có người chờ đợi, cũng không có tiếng cười đùa náo nhiệt, không có cơm nước củi lửa bình dị, hâm rượu chuẩn bị thức ăn, lúc nào cũng có thể có người đến gõ cửa mời họ dùng bữa tối.

“Em cũng… nghĩ tới”. Cô không biết có nên thừa nhận không, nhưng rốt cuộc vẫn nói.

Tạ Vụ Thanh nhìn cô: “Nghĩ tới cái gì?”

“Anh”. Cô dịu dàng nói.

“Nghĩ đến anh sao?” Giọng của anh càng trầm hơn.

Căn phòng tối như mực ngăn chặn bọn họ với thế giới bên ngoài. Anh khẽ hôn tai cô, xoã tóc dài sau lưng cô, mái tóc mềm mại trượt xuống trên lưng, phủ qua hai vai cô. Ở phương diện này cô biết không nhiều lắm, thân thể đàn ông cô từng biết qua cũng chỉ có Tạ Vụ Thanh, nhưng đêm đó anh vẫn kiềm chế bản thân, quần dài từ đầu chí cuối vẫn nằm trên người anh, đến thắt lưng cũng chưa từng cởi.

Cô thấy anh cởi bao súng sau eo, nín thở nhìn, anh đặt bao súng đặt ra sau bàn sách, bắt đầu c** th*t l*ng.

“Em… không hiểu lắm”, cô vùi mặt vào vai anh, “Như vậy có phải sẽ có con không?”

“Sẽ không đâu”, anh nhỏ giọng đáp lời, “Anh sẽ không để em mạo hiểm mang thai con”.

Cô giống như bị kim đâm vào người.

Cô cúi đầu, bất động không nói lời nào.

Tạ Vụ Thanh phát giác có điều khác thường, dừng động tác c** th*t l*ng. Anh nương theo ánh trăng, nâng khuôn mặt cô lên nhìn: “Sao vậy/”

“Những kẻ đó… đều không sợ, vì sao em phải sợ chứ”. Những tên quân phiệt kia động một chút là có đến mười mấy bà vợ, con cái thành đàn, bất luận hoang đường thế nào, chỉ cần nắm binh quyền trong tay, cho dù là cưỡng đoạt nữ sinh cũng biến thành chuyện phong lưu trong miệng đám người khác. Nhưng Tạ Vụ Thanh là người trọng tình nghĩa, tình cảm lại quá mức trong sạch, một lòng vì quốc gia, muốn có con cái lại chỉ có thể nghĩ đến mấy chữ “mạo hiểm”, cô nghe vô cùng đau khổ.

Cô thì thầm: “Vừa rồi hỏi anh, là vì em chưa từng trải qua chuyện… nam nữ”, giống đêm tân hôn thấp thỏm bất an, “Em chưa từng lo lắng có con với anh. Ngay cả lúc trước khi ở Thiên Tân, anh hỏi em nghĩ thế nào về hôn nhân, em đã nghĩ đến những đứa con của mình… Khi đó dù không suy nghĩ kỹ, nhưng em chỉ sợ đứa nhỏ gặp nguy hiểm, nhất định phải bảo vệ nó thật tốt”.

Hà Vị càng nói càng đau lòng: “Chứ không phải sợ bản thân mình gặp nguy hiểm”.

Tạ Vụ Thanh yên lặng nhìn cô, nhẹ nhàng xoa mái tóc dài của cô: “Đừng khóc nữa”.

Hà Vị kinh ngạc phát hiện trên mặt mình có nước mắt, cô vốn không phải người thích khóc, vừa rồi nhìn thấy hoa hải đường, lại đọc được mảnh giấy kia, cô cũng không rơi một giọt lệ… Cô ấn mu bàn tay lên mặt chặn dòng nước mắt.

Tạ Vụ Thanh cười, dịu dàng nói xin lỗi: “Đều trách anh, là anh nói sai rồi”.

Căn bản không phải là nói sai.

Cô biết đây là suy nghĩ chân thật của Tạ Vụ Thanh, nên mới đau lòng như thế.

Anh cười bên tai cô, nói: “Anh cái gì cũng chưa làm, em lại vì đứa bé khóc một hồi. Có phải nghĩ hơi sớm rồi không?”



Mắt cô rưng rưng nước, lại bị những lời anh nói chọc cười.

“Em không phải không nghĩ ý tứ…” Cô thấp giọng, “Đều đã quyết định, không có chuyện không muốn”.

Tạ Vụ Thanh đeo lại thắt lưng, cười cười rời khỏi bàn làm việc.

“Anh đi đâu vậy?”

“Lạnh quá, lấy thêm hai chậu than ấm”.

Chỉ chốc lát sau, Lâm Kiêu bưng chậu than tiến vào.

‘Đọc sách’ cũng bê một chậu đồng đến, bên trong có nước sạch. Chậu đồng được đặt trên mặt đất bên ngoài rèm châu, trước tiên Tạ Vụ Thanh vắt khô khăn vải trắng trong nước sạch, lau sạch giá treo quần áo, xong xuôi mới cởi quân phục phơi lên giá áo. Anh tiếp tục xắn tay áo sơ mi lên, Hà Vị tỉnh ra, là anh muốn dọn dẹp phòng ngủ. Trước đó mấy ngày, cô dặn dò chú Mậu đưa người đến thu dọn sạch sẽ giúp anh, lúc ấy ông lão quay về, nói không cần, cô cứ ngỡ nơi này đã được thu xếp ổn thoả.

“Bên ngoài nhìn rất sạch, sao chỗ này không được người ta dọn dẹp gọn gàng vậy/” Cô nhìn ngắm bốn phía.

Cho dù đêm nay dọn xong, cũng phải hông gió phơi khô.

“Không phải anh đã nói rồi sao? Chuyện của anh trước nay đều tự mình làm”, anh lặp lại lời từng nói, “Phòng ngủ này, từ lúc anh vào ở, em là người thứ hai bước vào”.

Lúc trước cô cứ tưởng anh nói cho qua chuyện, không nghĩ là thật.

Hà Vị mấy lần muốn giúp anh, đều bị anh ngăn lại. Tạ Vụ Thanh từ nhỏ đã không phải kiểu người sống hưởng phúc, từng rèn luyện trong quân doanh và trên chiến trường, làm mấy chuyện vặt vãnh này có là gì. Anh biết Hà Vị chưa từng làm mấy việc này, muốn để cô ra ngoài tìm một quyển sách đọc chờ mình.

Hà Vị trước nhìn chậu than đỏ lửa, sau lại nhìn bóng dáng loay hoay của anh sau rèm châu: “Để em làm cho anh hai món nhắm rượu, tuy là… không có gì đặc sắc, nhưng hôm nay là ngày đặc biệt, muốn làm cho anh nếm thử”.

Không đợi Tạ Vụ Thanh đồng ý, cô liền lấy áo khoác để trên giường, rời khỏi chính phòng.

Cô từng học nhiều thứ, duy chỉ có mấy chuyện như nấu ăn dọn dẹp nhà cửa là không giỏi, cũng chưa từng có ý định nghiên cứu sâu. Lúc vận tải đường thuỷ Hà gia vừa mới khởi sắc, cả nhà bọn họ còn ở trong một căn tứ hợp viện nhỏ. Chú hai cùng anh trai ngày đêm bộn bề, khẩu vị không tốt, chú Mậu có tìm một đầu bếp nấu ăn ngon, nhưng bọn họ đều không ăn quá hai đũa, Hà Vị vì muốn ép hai người họ ăn uống đàng hoàng, nên đã học qua mấy món ăn gia đình đạm bạc nhất, bất luận thế nào ít nhất bọn họ cũng phải nâng niu thành quả của chính cô. Về sau gia nghiệp càng làm càng lớn, thỉnh thoảng lễ tết cô cũng sẽ làm một ít món ăn, giúp chú hai nhắm rượu.

Hà Vị biết rõ tài nấu nướng của mình không tốt, bảo Quân Khương đang chờ trong sương phòng ra ngoài mua loại rượu ngon nhất về.

Chờ Tạ Vụ Thanh dọn dẹp phòng ngủ xong cũng vừa đúng lúc đồ ăn dọn lên bàn.

Tạ Vụ Thanh cùng cô lần lượt ngồi xuống bàn, anh cầm đũa trúc, nhìn một bàn đầy thức ăn trước mặt yên lặng.

“Cái này không phải món theo mùa”, Hà Vị chỉ món hương xuân rán trên đĩa sứ trắng, giải thích qua, “Đây là do bác Tần cất trữ trong kho đông lạnh”.

Anh khẽ gật đầu, cầm chén sứ lên.

Hà Vị lần đầu thấy anh ăn món mình làm, chống cằm nhìn anh, trước mắt tưởng tượng đến cảnh không thích hợp ban nãy. Mới vừa rồi…

Phòng ngủ bẩn như vậy, khắp nơi đều là bụi bặm, anh ngồi bên cạnh bàn c** th*t l*ng, làm thế nào để hoàn thành chuyện viên phòng.

Cô ngẫm nghĩ, đổi tay chống cằm, nhìn hàng mi dài thật dài của anh, lại nhớ đến, có phải mình hiểu sai ý anh rồi không?

Tạ Vụ Thanh nhấc dạ quang bôi lên, uống một hợp rượu, mắt thấy cô chìm sâu vào trầm tư: “Đang nghĩ gì vậy?”

Cô bị hỏi bất ngờ có chút đỏ mặt, mơ mơ hồ hồ nói: “Nghĩ xem thức ăn có ngon không”.

Tạ Vụ Thanh ôn nhu cười nhìn cô.

“Vừa rồi…’

Tạ Vụ Thanh dừng đũa, giương mắt nhìn cô.

“Em không phải người thích khóc đâu”. Cô giải thích với anh.

“Anh biết”.

Hà Vị tiếp tục chống cằm nhìn Tạ Vụ Thanh dưới ánh đèn, tầm mắt dời xuống, nhìn thắt lưng căng chặt trên quần quân đội của anh. Tạ Vụ Thanh vừa ngước mắt, cô liền chuyển hướng nhìn sang ánh đèn trắng sáng trên tường, nhìn từng khóm hải đường mọc đầy trên giàn. Lời kịch viết không thấu rõ, phần lớn chỉ là tình ý trong cảnh, ngược lại ngẫu nhiên trong sách có nói, đều là trên giường.

Ngẫm nghĩ lại, cô xuyên qua tấm rèm châu nhìn về phía ván giường gỗ phòng ngủ, bên trong đã được quét dọn sạch sẽ, mấy tấm mành xanh đỏ lục hồng đều bị tháo xuống. Chỉ không có đệm chăn trải lên.

Hay là… không cần lên giường vẫn làm được?

— HẾT CHƯƠNG 26 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 27: Vẻ say đối bách hoa (4)


Tạ Vụ Thanh gắp một đũa hương xuân rán cho vào miệng, từ từ nhấm nháp.

Ông lão từng nói, lúc trước phu nhân biết tướng quân thích ăn món này, vì để mùa đông vẫn có cái dùng nên từ mùa thu đã trồng mấy cây, mỗi tháng tích lại một ít, vừa đủ ăn đến tháng Chạp, nếu dùng kho đông lạnh cất trữ thì có thể dùng đến qua Tết Âm lịch. Dù chú thím đã đi rồi nhưng ông lão vẫn như cũ, năm này qua tháng nọ, thói quen không thay đổi.

Cô thấy anh ăn nhiều thêm hai đũa, càng vui hơn: “Nếu anh có thể ở lại tới mùa xuân thì tốt rồi, mùa xuân mới là mùa đẹp nhất”.

Tay Tạ Vụ Thanh cầm đũa lần nữa dừng lại.

Hà Vị lập tức nói thêm vào: “Không phải em có ý giữ anh lại đâu”.

Tạ Vụ Thanh theo ánh đèn tường, âu yếm nhìn mặt mày cô, nhẹ giọng nói: “Lần sau đi, lần sau anh sẽ ở lại tới mùa xuân”.

Anh thấy Hà Vị cười rất tươi, tâm tình càng thêm phức tạp, tay nâng dạ quang bôi, một hơi cạn sạch.

Hà Vị nhìn chén dạ quang bôi mỏng như cánh ve, nhớ đến hộp gỗ còn cất trong tủ nhà mình, thì ra, đây thật là một đôi chén.

Cái còn lại nằm trong Bách Hoa Thâm Xử.

Tạ Vụ Thanh cười cười, nhai thức ăn: “Có phải không xem kỹ cái chén kia không?”

“Xem qua rồi”. Cô lập tức cướp lời.

Cô luôn không đến Bách Hoa Thâm Xử đã phụ tâm ý của anh, lại không thể thừa nhận vừa nhìn thấy cái chén này sẽ nghĩ đến anh, nên cô không dám ngắm lâu, liền khoá trái lại trong tủ ở nhà.

Tạ Vụ Thanh nhẹ ngước mắt, cười nhìn cô.

Hay là… cái chén này có gì đặc biệt? Là cống phẩm ngày xưa? Hay giá trị liên thành? Hoặc là gì khác?

Tạ Vụ Thanh lật cái chén nhỏ lại, phía dưới quả nhiên khắc mấy chữ.

Hà Vị kinh ngạc, muốn lấy cái chén xem kỹ, cái chén trong tay anh lật trở về, đặt xuống bàn bát tiên. Tạ Vụ Thanh có ý không muốn cô nhìn thấy rõ ràng chữ khắc dưới đáy.

Tạ Vụ Thanh cười liếc cô, mặt Hà Vị lập tức nóng lên, suy đoán dưới đế hai cái chén đều có khắc chữ. Cô nếu từng nhìn qua, chắc chắn sẽ không phản ứng thế này… Cô đành phải thừa nhận: “Em chỉ xem qua một lần. Năm ấy anh đi, em sợ sau này không còn gặp lại, nhìn vật nhớ người, nên nhanh cất đi rồi”.

Dứt lời, cô lại chân thành giải thích thêm: “Hơn nữa khi đó em không biết anh thích em, cứ nghĩ tự bản thân ảo tưởng… Càng không dám nhìn đồ anh để lại quá nhiều. Sợ lỡ như sa vào rồi, ngày gặp lại… gặp lại anh đã sớm kết hôn”.

Tạ Vụ Thanh ngưng mắt nhìn cô, một lúc sau, anh cười.

Anh cầm lấy bình muốn rót rượu, bàn tay cô gái ấn chặt miệng chén: “Anh cho em xem trước đã”.

“Anh tự mình khắc”, anh thấp giọng nói, “Trên đế chén này có dòng chữ <i>‘Hà vi sơn hải</i>’ [1] ”.

<i>[1] “Hà vi sơn hải” nguyên văn là “何为山海” có nghĩa là “Sơn hải thế nào?”, cũng đồng âm với tên của Hà Vị và Sơn Hải.</i>

Sơn hải thế nào? Đây chẳng phải là Hà Vị cùng Sơn Hải sao?

“Đế chén kia thì sao?”

Anh mỉm cười: “Nhân gian khói lửa”.

Sơn hải thế nào, là nhân gian khói lửa.

Nếu cô nhìn thấy, nhất định có thể rõ ràng…

Hà Vị thấy anh rót đầy chén dạ quang bôi, cảm xúc vừa trấn tĩnh ban nãy giờ lại ùa về, như từng hồi sóng triều bao lấy cả người cô.

Tạ Vụ Thanh bỗng dưng cảm thấy như vậy cũng không tệ, có thể tận mắt nhìn thấy biểu tình của cô khi từ biệt. Thật ra anh từng tưởng tượng vô số lần, có điều vẫn không bằng trực tiếp gặp mặt.

Ví như, giờ phút này Hà Vị ngồi đó, hai tay không ngừng xoắn xít nếp váy mình, còn mím chặt môi, bộ dạng này của cô khiến anh cảm thấy hết thảy đều đáng giá.

“Anh Thanh”. Cô thấp giọng gọi anh.

Anh nhìn cô.

“Vì sao anh lại… đối tốt với em như thế?” Hà Vị nhịn không được hỏi.

“Anh thích em, em cảm nhận được”, cô nhẹ giọng nói tiếp, “Chỉ là không nghĩ tới anh lại nghiêm túc thích em như thế”.

Tạ Vụ Thanh cười, tay cầm chén rượu, cách một cái bàn chăm chú nhìn cô.

“Trước đây anh từng nói rồi”, anh đáp, “Anh không bì được với người trẻ các em, về mặt tình cảm không có nhiều biến ảo linh động. Một khi bắt đầu chính là đã quyết định. Đến khi tình cảm sâu nặng… Hiện tại vẫn chưa dám nói hy vọng cùng em giống chú thím anh, một người đi rồi, người kia cũng không muốn ôm tình cảm ở lại một mình. Hai người họ có mười năm vợ chồng cùng vượt qua hoạn nạn, chờ năm dài tháng rộng sau này, chúng ta cũng có thể đi đến bước kia”.

Cô đá nhẹ mũi giày vào chân bàn, cúi đầu không lên tiếng.

Tạ Vụ Thanh thấy cô vô tình lộ ra vẻ thẹn thùng, cũng không quấy rầy, ngắm cô xong lại rót đầy chén rượu.

Hà Vị thấy bóng dáng anh rót rượu, nhìn anh cởi bỏ một nửa cúc áo sơ mi, lộ ra xương quai xanh, hai chân anh còn hơi mở, ủng quân đội tách rời, thậm chí gai ngựa bằng đồng trắng trên đôi ủng anh bị ánh đèn chiếu vào phản quang… Bỗng dưng cô cảm thấy người đàn ông này càng thêm chân thật, không phải Tạ thiếu tướng quân người đầy công danh kia, cũng không phải cái tên từ năm cô tám tuổi đã nghe thấy người ta hết lời khen ngợi.

Tạ Vụ Thanh, là người nói muốn kết hôn với cô.

Hơn nữa cô tin, mặc kệ mối hôn sự này đến khi nào mới thành, anh vẫn sẽ giống như lời anh nói, quyết định thế rồi, là bất biến không đổi.

Tạ Vụ Thanh khó có dịp nếm thử tay nghề của cô, vốn định ăn thêm hai đũa, đáng tiếc Hà Vị là một cô gái rất biết cách chăm sóc người khác, mỗi phần đều làm rất ít, giống như sợ anh ăn nhiều. Anh uống thêm hai chén rượu nhỏ, nhìn thấy bàn tay cô đặt trên đầu gối, anh khẽ nắm lấy.

Ngón tay Hà Vị nằm gọn trong lòng bàn tay anh, hơi nhúc nhích, như thể bất an.

Anh mỉm cười hỏi cô: “Định khi nào về?”

Tim Hà Vị đập thình thịch, thấy sóng mắt anh chuyển động, đang nhìn thẳng vào mình.

Cô nhẹ đáp lời: “Không vội ạ”.

Tạ Vụ Thanh: “Vậy để anh bảo người mang chăn đệm vào trước?”

“… Hiện giờ sao?”

Anh không ý kiến.

Mặt Hà Vị hơi nghiêng ra ngoài cửa sổ, thấp giọng nói: “Cái này hình như không ổn? Mọi người đều đang ăn cơm, chúng ta tự dưng lại đòi chăn đệm…” Không phải sẽ khiến người khác biết tỏng họ muốn làm gì ư.

Tạ Vụ Thanh mở chiếc khăn gấp thành hình tam giác, lau tay sạch sẽ, rồi đứng dậy đi ra ngoài, cô muốn ngăn anh lại cũng không kịp.

Chỉ lát sau, người đàn ông ôm chăn đệm quay về, xuyên qua tiền sảnh tiến vào phòng ngủ, đơn giản trải chăn lên giường. Toàn bộ quá trình Hà Vị đều ngồi ngoài bàn bát tiên, chỉ nhìn mà không hiểu. Đợi đến lúc Tạ Vụ Thanh vén rèm châu bước ra, đến cả súng trên người cũng cởi bỏ.

Tạ Vụ Thanh đứng bất động trước mặt cô, muốn nói gì đó, nhưng ngẫm lại, vẫn quên đi thì hơn.

Anh mặc dù là giáo viên, học trò rải rác khắp trong quân, nhưng lại không muốn thao thao bất tuyệt với cô vợ tương lai của mình, không định đàm luận cổ kim với cô. Anh khom người, từ phía sau vòng lấy cô: “Nào, để anh ôm em vào”.

Anh dễ dàng bế trọn cô trên ghế, bước đến rèm châu.

Hạt châu trắng lướt qua mặt cô, cô chôn chặt mặt mình lên vai anh, cho đến khi ngồi lên giường. Đèn bên ngoài không tắt, đèn trong phòng lại không bật, toàn bộ ánh sáng đều từ ngoài rèm hắt vào, còn có ánh trăng ngoài cửa sổ.

Tạ Vụ Thanh cởi từng cúc áo sơ mi, Hà Vị c*n m** d***, ngước nhìn anh.

Người bên ngoài đặt bếp nấu trong sân viện, hiện đang xào món ăn, những binh lính ngày thường vốn quen hành quân, dù trời lạnh thế nào cũng không sợ, chỉ thích ăn cơm dưới ánh lửa bập bùng. Vô cùng náo nhiệt.

Anh buông nửa rèm xuống, che lại ánh sáng bên ngoài.

Tạ Vụ Thanh cúi người, cởi giày da trên chân cô, vừa định sờ đến tất dài của cô, Hà Vị đã lùi vào trong nửa tấm rèm kia. Rèm giường màu trầm hương, treo một cái tua dài đỏ sẫm, dọc hai bên mép giường.

Tạ Vụ Thanh ngồi trong rèm, thấy cô dựa vào một góc, đôi mắt sáng lấp lánh nhìn anh chăm chú, không khỏi nở nụ cười.

“Anh cười gì vậy?” Cô thủ thỉ.

“Nhớ đến lúc ở Phụng Thiên”. Anh hơi cúi đầu.

Từ cái đêm lần đầu tiên thấy cơ thể cô ở Thiên Tân, anh luôn muốn nhìn hết thảy, chỉ ngại cô không gật đầu đồng ý chuyện hôn sự, nên không có hành động nào khác.

Sau đó đến Phụng Thiên, anh cùng mấy tướng lĩnh đứng trong gió tuyết hút thuốc, kết thúc chuyến tham quan nhà máy quân sự, bước đi trong nền tuyết dày đến đầu gối, quay lại khách sạn, trực tiếp đối diện với bóng dáng <i>y hương tấn ảnh [2]</i> trong buổi xã giao. Anh ngồi trên sô pha, ngửi thấy từng mùi thơm ngát, trong đầu nghĩ tất cả chính là hương thơm trên áo lót của Hà Vị.

<i>[2] “Y hương tấn ảnh” là thành ngữ miêu tả phụ nữ đẹp.</i>

Tối đó, có người trêu anh, nói Tạ thiếu tướng quân bần thần ngây ngẩn, là đang nhớ đến vị tiểu thư xinh đẹp nào.

Mọi người lấy tên “Ngộ Khanh” ra đùa, anh hiếm khi tâm tình tốt đến thế, bảo còn xem là gặp gỡ vị tiểu thư nào, nếu đúng người đáng theo đuổi, thì không phải “Ngộ Khanh”, mà là “Vụ Thanh”. Cả đám bật cười, suy đoán tiểu thư nhà ai có thể khiến Tạ Vụ Thanh lưu luyến không rời, người quen cũ ở Kinh Tân lập tức nhớ lại, trong rất nhiều tin đồn phong lưu của Tạ Vụ Thanh hai năm trước, có một vị tên gọi cô hai Hà là nổi danh nhất.

Vì thế trong tiệc rượu ở Phụng Thiên, tên Hà Vị trở thành đề tài bàn luận.

Toàn bộ đều biết, cô chính là người khiến Tạ thiếu tướng quân cầu mà không được, là người duy nhất sau khi anh nếm trải trăm hoa vẫn nhớ thương mà không cách nào đoạt về.

“Nhớ đến, cô hai đây”, Tạ Vụ Thanh lẫn trong rèm giường tối tăm khiến người ta choáng váng, trước mặt cô nói, “Là Tạ mỗ cầu mà không được”. Làm chuyện thân mật nhất, lại còn dùng kính ngữ.

Cô nhìn khuôn mặt anh ẩn trong bóng tối.

“Tối đó… không phải anh muốn nhìn sao?” Cô cúi đầu, từ từ kéo đôi tất khỏi đầu gối mình.

Váy áo con gái được gấp thành từng xấp đặt trong góc giường, có cái màu trắng, màu hường, hồng nhạt, cô không dám ngẩng đầu đối diện với anh, chỉ chuyên tâm cẩn thận gấp y phục của mình. Cuối cùng, cô kéo tấm chăn bạc tới, chắn lại khí lạnh.

Toàn bộ quá trình Tạ Vụ Thanh không nhúc nhích, chỉ chăm chú quan sát động tác của cô.

Cô vén góc chăn gấm lên, che đi đôi chân anh, dịu dàng nhìn anh cười.

“Vị Vị”, giọng nói của anh như hơi nước bốc lên trong ánh khói, “Anh không nghĩ đêm nay sẽ thế nào”.

Cô nhìn vết thương cũ trên cánh tay anh, bị thương khi ở Lợi Thuận Đức của Thiên Tân: “Anh không nói lời thật lòng rồi”.

Dứt câu, cô thấp giọng bổ sung: “Đêm đó anh đã nghĩ như vậy”.

Tạ Vụ Thanh bị cô chọc cười, nhếch môi, khẽ thở dài.

Tay phải anh v**t v* mặt cô, trượt xuống cằm cô, dùng ngón tay giữ lấy, để cô quay mặt nhìn mình.

Bên ngoài có kẻ đổ nước sôi vào chảo dầu, tiếng nổ vang cùng ánh sáng ập tới. Binh lính đều cười, họ dùng tiếng địa phương mắng mấy tên đổ nước.

Tạ Vụ Thanh hôn môi cô, như bóng núi áp tới.

Vì mới uống rượu xong nên môi anh không có cảm giác khô ráp như nụ hôn đầu, lúc này ẩm ướt, còn mang theo độ ấm mềm mại. Hà Vị được anh hôn một lúc, giống như bị bóng anh đè đến không thở nổi.

Hà Vị vừa nghĩ đến vô số đêm anh từng ngủ trên chiếc giường này, máu trong người đều bị nhiệt độ thiêu đốt.

Anh hôn không thấy chán, giống như chỉ muốn hôn cô thôi.

Hà Vị cuối cùng không phân biệt được, hơi mở mắt ra, chống lại ánh mắt anh.

Đêm mùa đông, dù chậu than đỏ lửa, căn viện này vẫn vô cùng lạnh lẽo, rốt cuộc nơi ở của cô được thiết kế theo kiểu <i>noãn các [3]</i>. Không ngờ phòng ngủ có thể lạnh thế này, cô nhìn đôi mắt đen của Tạ Vụ Thanh, giống như bước đến ngày hè bên bờ Sát Hải, trong cái nóng oi bức ban ngày chưa tan, nhìn ngắm hồ nước dưới cái nắng đổ lửa không một gợn sóng…

<i>[3] Noãn các là một loại phòng có thiết kế lò sưởi bên trong, thường rất ấm áp.</i>

Cô khẽ mấp máy môi, muốn hỏi, hỏi anh khi nào… thì bắt đầu?

Tạ Vụ Thanh hôn lên mặt cô, phả hơi thở vừa nóng vừa ẩm bên tai cô, nhẹ giọng nói: “Từ từ đã”.

“Em không gấp…”

Anh cười, cách tấm chăn ôm lấy cô: “Lần đầu nên chậm một chút”.

“Ở Thiên Tân…” Không phải cũng làm qua rồi sao.

“Cái kia không giống”, anh thủ thỉ bên tai cô, “Kém hơn rất nhiều”.

Môi anh trượt tới môi cô, lần này nụ hôn như đang tán tỉnh, lúc gần lúc xa dày vò cánh môi cô. Hà Vị chờ càng lúc càng lâu, đột nhiên nghĩ, anh quả thật kiên nhẫn… Lúc cô muốn nói gì đó, phát hiện bản thân bất giác đang cắn răng, không biết đã như thế bao lâu rồi. Cô khẩn trương, mà Tạ Vụ Thanh vẫn còn đang hôn, nhất định anh sớm đã nhận ra.



Bàn tay anh cầm súng đã hơn mười năm, từng cưỡi ngựa, cũng từng dùng đao, giờ phút này quấn quanh lọn tóc cô, lần mò sau tai cô, liên tục v**t v*.

Anh trở tay kéo tấm rèm đang treo cao phía bên kia. Mành lụa vừa buông xuống, ánh sáng bên ngoài đều bị chặn lại.

Hà Vị không tự chủ được đè nặng hơi thở, nghĩ đến hoa văn trên chăn gấm nhìn không rõ ràng lắm, như phảng phất nghe thấy tiếng vải vóc cọ xát nhau, sau đó bị ném vào góc giường. Đợi đến khi đôi cánh tay cách chăn gấm ôm chặt cô lần nữa, trong tấm rèm màu trầm hương, đôi tay dừng trên khuôn mặt cô, mắt mày cùng cánh môi Hà Vị bắt đầu trầm mê. Cô và anh không ngừng m*t mát môi nhau, mơ mơ hồ hồ nghĩ, một tướng quân sống trong núi đao biển lửa, một người đàn ông cưỡi ngựa uống máu, sao có thể dịu dàng thế này…

Hà Vị nhớ đến lúc anh ngồi trong thư phòng nhà mình, dưới đôi ủng quân đội đều là tuyết tan chảy, một tay chống lên chỗ vịn ghế, uể oải trầm mặc ngước mắt nhìn, chằm chằm quan sát bộ dáng cô. Nhớ đến tóc anh hay vuốt ra sau đầu, để lộ ngũ quan rõ ràng, lịch sự lễ phép nói “Cảm ơn, cô hai Hà”… Vào lúc đó, hai người vẫn còn xa lạ.

Cô chưa bao giờ nghĩ có thể ở cạnh nhau, đầu ấp tay gối bên nhau giống như vậy.



Tạ Vụ Thanh tìm được cái áo sơ mi của mình trong phòng ngủ tĩnh lặng, chỉ có tiếng than lách tách còn cháy.

Anh dùng áo sơ mi lau qua loa một lần cho cô, cuối cùng cọ nhẹ chóp mũi đầy mồ hôi lên cánh môi cô, giọng khàn khàn: “Tối nay không thể qua đêm ở đây, để anh đưa em về”.

Cô nhẹ nhàng “vâng”, dựa vào vai anh, nhắm mắt lại: “Em buồn ngủ”.

“Vậy ngủ chút đi”. Anh dịu dàng đáp lời.

Cô ngủ thiếp đi một lúc.

Tạ Vụ Thanh mặc quần áo vào, rút ra một chiếc khăn tay sạch sẽ trong túi quần quân đội, lau sạch mồ hôi trên mặt và tóc cô, cảm thấy không có gì khác lạ. Sau lại đem từng xấp váy áo được cô gấp gọn trong góc giường, cẩn thận giũ ra trải trên đệm, chờ cô tỉnh dậy có thể mặc vào.

Anh đến vách ngăn chỗ đa bảo cách, muốn lục tìm thuốc lá, lại phát hiện bởi vì bày biện giàn hoa nên sắp xếp bên ngoài đã sớm thay đổi. Anh đứng trước khóm hoa, nhìn hải đường nở rộ trong đêm, gạt ra cành lá bên trong.

Cuối cùng vẫn rời khỏi chính phòng.

Hà Vị tỉnh giấc, bị thứ ấm áp trên mặt quấy nhiễu giấc mộng, vừa mở mắt đã nhìn thấy Tạ Vụ Thanh ngồi trong bóng tối, tay cầm một cái khăn lau cho mình. Cô lười nhác duỗi tay phải, Tạ Vụ Thanh khẽ mỉm cười, nắm lấy bàn tay mềm mại của cô, giúp cô lau sạch mấy ngón tay.

“Sáng mai, vẫn đến lúc bốn giờ ạ?” Giọng cô ấm ách, hỏi nhỏ.

“Nếu em thức nổi, sớm một chút cũng không sao”. Anh thủ thỉ.

“Vậy ba giờ”, cô nằm bò trên đùi anh, “Hay là hai giờ đi”.

Tạ Vụ Thanh cúi đầu trong bóng tối nhìn cô.

“Hình như có hơi sớm”, cô gác trên đùi anh khẽ thì thầm, “Bằng không anh đừng mặc quân phục, tối nay về nhà với em. Em có thể để anh trốn trong sân”.

Anh dịu dàng cười: “Lần sau đi, đêm nay anh còn có việc”.

Cô nhẹ “ồ” một tiếng, xoay người lại, đối diện với ánh mắt Tạ Vụ Thanh, cô vươn tay: “Anh cúi xuống một chút”.

Tạ Vụ Thanh hơi khom người, Hà Vị như ý nguyện sờ được mái tóc ngắn của anh, sợi tóc đen nhánh mềm mại trượt qua lòng bàn tay. Cô học theo thói quen trước giờ, hơi vuốt tóc trên trán anh ra sau đầu, nhìn khuôn mặt anh lộ ra rõ ràng.

Nếu lúc này là mười năm sau, hay hai mươi năm sau thì tốt quá. Bọn họ đã trải qua đủ loại ly biệt, chiến loạn, họ vẫn còn sống, ở trong Bách Hoa Thâm Xử kể cho nhau nghe về một kiếp người. Cô hơi nheo mắt, tưởng tượng bộ dáng lúc anh già đi.

Cô đưa hai bàn tay cho anh. Tạ Vụ Thanh cười, cúi người xuống, vòng qua eo ôm lấy cô.

Đây là lần thứ tư cô bước vào trong viện của Bách Hoa Thâm Xử, giống như mỗi lần trở lại đều đáng để khắc ghi cả đời.

— HẾT CHƯƠNG 27 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 28: Đêm tuyết soi chiếu kinh hoa (1)


Tạ Vụ Thanh đưa cô đến cổng, Lâm Kiêu chuẩn bị thêm một chiếc xe khác, theo sau Hà Vị về tận nhà.

Cô chỉ mong có thể chậm vài phút, rất có nhã hứng đi dạo nửa vòng sân. Trên con đường lát đá nhỏ bên ngoài cửa lớn có một bụi trúc tía. Hà Vị giẫm lên từng chiếc lá rơi, không nỡ rời đi, nhìn chằm chằm cánh cổng.

Cuối cùng vẫn quên sơn lại.

Có điều như vậy cũng tốt, trong khe hở tróc sơn có chút tuyết đọng còn chưa tan, là cảm giác sinh hoạt bình dị. Lúc cô đang ngẩn người, cơ thể được áo khoác của anh bọc lấy, không hề che giấu sự thân mật của đôi bên, khiến người ta có cảm giác ỷ lại.

Anh thấy cô không đành, cười nói: “Bấy nhiêu đã là anh cầu mà không được, cô hai cứ xem như không chút lưu luyến, ném anh ở Bách Hoa Thâm Xử, trở về tự do tự tại đi”.

Cô bỗng dưng rất buồn, giống như cô thật sự ném anh ở đây vậy.

Tạ Vụ Thanh đi bộ tiễn cô ra ngoài đầu ngõ, đưa mắt nhìn cô lên xe. Hà Vị quay đầu, xuyên qua ô cửa phía sau từ đầu chí cuối vẫn thấy anh đứng trước ngõ, nhìn bóng xe rời đi.

Vừa vào trong viện, Hà Vị mượn cớ bên ngoài gió cát lớn, muốn tắm gội. Liên Phòng kỳ quái nhìn cô, sao chỉ mới một ngày đã muốn tắm tận hai lần, trước nay cô không có thói quen ấy, bên cạnh bồn tắm thu dọn váy áo bẩn, hết đếm lại đếm, tra xong lại tra, sao vẫn thiếu một cái nhỉ, là áo lót mặc bên trong…

Hà Vị tỏ ra khó hiểu, Liên Phòng ôm một chồng y phục hết sầu lại lo.

Công tử Tạ gia thật sự phong lưu thành tính. Mới lần thứ hai gặp mặt đã cởi xiêm y rồi, không thể quy củ ngồi uống với nhau một tách trà sao?

“Liên Phòng”, Hà Vị ngâm mình trong bồn sứ trắng nhẹ giọng gọi, “Lúc này chị thật sự muốn kết hôn”.

“Trước kia một người quan trọng là <i>sơ gả tòng phụ, tái giá tòng thân [1]</i>… Cả hai lần trước cô hai đều tuân theo ý tứ của người nhà, đến lần thứ ba mới tự mình lựa chọn, Nhị tiên sinh tuyệt đối sẽ không ngăn cản”, Liên Phòng tuy nói thế nhưng trong lòng khó tránh thấp thỏm, “Thật là vị công tử họ Tạ kia sao?”

<i>[1] Đây là quan điểm lâu đời của dân gian ta, cho rằng “lần đầu con gái gả ra ngoài phải nghe theo ý kiến của cha mẹ, đến khi tái giá lần hai mới được tự quyết định theo ý mình”.</i>

Trên mặt cô bị hơi nóng hun đến ửng hồng, nhẹ nhàng “ừm” một tiếng.

Cô xoay người nằm sấp trên bồn tắm, nghĩ đến mấy vết thương cũ trên đùi, trên lưng anh.

Đêm nay cô ngủ không yên, đến rạng sáng hai giờ liền xuống giường bật đèn tường. Khấu Thanh ngủ ở giường đối diện cũng tỉnh giấc, nhẹ giọng hỏi: “Khát ạ?” Hà Vị dỗ cô ngủ tiếp, quấn áo choàng cổ lông bạch hồ đến thư phòng.

Khấu Thanh ôm chăn gấm tới. Cô lật sách xem đến bốn giờ, nghĩ anh sắp qua, quyết định chịu đựng một chút, không đi ngủ nữa.

Trời tờ mờ sáng vẫn còn tĩnh mịch, tiếng chuông điện thoại chốc lát lại vang lên trong thư phòng, tim cô đập như sấm giật, tiếng động có thể đánh thức toàn bộ người trong viện. Cô kéo điện thoại đến gần, nhấc máy.

“A lô?” Cô thấp giọng hỏi, tim vẫn đập thình thịch.

“Là anh, Tạ Vụ Thanh”.

Đúng như dự đoán, thật là anh.

Cô nhẹ nhàng “vâng” một tiếng.

“Sao nghe máy nhanh vậy?” Anh ở đầu dây bên kia hỏi, “Điện thoại chắc là để trong thư phòng”.

“Em ngủ không được nên đến đọc sách, không để ý thời gian tới giờ”, cô gần như lặng lẽ nói, “Nghĩ anh sắp đến, cũng không định trở về ngủ nữa”.

Bên kia bất ngờ im lặng.

“Có phải có chuyện gì không?” Cô nhẹ giọng hỏi.

Qua lúc lâu, Tạ Vụ Thanh rốt cuộc nói: “Sợ là hôm nay phải lỡ hẹn rồi”.

Cô thấy hơi mất mát, cũng không phải vì hôm nay là mùng 8 tháng Chạp, mà đặc biệt do hôm qua, từ khi cô về nhà đều muốn nhanh gặp lại anh.

Toàn bộ cuộc gọi của anh trong kinh thành đều bị người khác nghe lén, điều đó hai người đã biết từ lâu.

Giờ phút này cũng không thể nhiều lời.

Bên kia Tạ Vụ Thanh có không ít người, anh cũng không nói nhiều, liền cúp điện thoại.

Một cuộc gọi điện khiến cô không còn lòng dạ nào đến Ung Hoà Cung nhận cháo. Trong thư phòng, cô không ngừng do dự, có nên hỏi thăm một chút về cuộc hoà đàm bắc nam cùng Hội nghị Quốc dân không.

Nhưng nghĩ lại thôi đi, lập trường của cô không nên quan tâm mấy chuyện đó, vẫn cẩn thận thì hơn.

Không ngờ, người đầu tiên báo tin cho cô, chính là Triệu Ứng Khác đúng giờ Ngọ đến bái phỏng chú hai.

Từ khi Triệu Ứng Khác làm phụ tá cho quân phiệt, hai người cũng ít giao tiếp qua lại. Có điều Triệu Ứng Khác vẫn trước sau như một, đối với chú hai vô cùng kính trọng, chỉ cần hắn ở kinh thành, ngày lễ hay tiệc năm mới đều luôn đến thăm hỏi một tiếng. Gặp chú hai xong, Triệu Ứng Khác lại đề nghị đến tây viện xem Hà Vị.

“Để anh ấy vào đi”. Hà Vị nghĩ một lúc, liền đồng ý.

Trực giác nói cho cô biết, Triệu Ứng Khác sẽ nói chuyện cô muốn nghe lúc này.

Cô sai người chuẩn bị trà, vừa dặn dò xuống thì Triệu Ứng Khác đã bước vào tây viện. Đông viện của Hà nhị gia do chú hai cùng đại công tử sinh thời ở, một trong ba toà viện lớn nhất là tây viện chỉ thuộc về một mình cô. Khi cô còn nhỏ, Triệu Ứng Khác thường xuyên lui tới, đối với từng kết cấu, cây cỏ hòn giả sơn trong sân đều vô cùng quen thuộc, hôm nay hắn vừa bước chân vào cửa viện, chuyện xưa chôn chặt bỗng như ùa về, hắn hoảng hốt đứng lại hồi lâu, cho đến khi Khấu Thanh đến mời hắn vào chính phòng, hồn phách hắn mới quay lại, lần nữa thẳng lưng đi vào.

Triệu Ứng Khác tới cửa, muốn cởi áo khoác tây trang, lại nghĩ lúc đi trên đường ra không ít mồ hôi, sợ áo sơ mi trong ướt đẫm sẽ không đứng đắn, vì thế bỏ qua ý nghĩ này, ngồi xuống cái ghế bên cạnh Hà Vị.

Khấu Thanh bưng một chén trà long nhãn hạt sen bước vào, Triệu Ứng Khác nhận lấy: “Thoáng cái lại đón năm mới, cũng sắp tới sinh nhật em rồi”.

Cô mỉm cười: “Anh đặc biệt đến tìm em, có phải có chuyện gì muốn nói không?”

Triệu Ứng Khác khẽ gật đầu, trước đặt chén cháo sang một bên.

“Những lời này trên đường đến đây anh đã nghĩ rất lâu”, Triệu Ứng Khác nói, “Vị Vị, em biết tính anh đó, anh luôn muốn nói thẳng”.

Cô gật đầu: “Được, anh nói đi”.

“Em nên khuyên Tạ Vụ Thanh nhanh chóng rời kinh”, Triệu Ứng Khác nói, “Càng sớm càng tốt”.

Hà Vị sửng sốt.

“Đêm qua có một chuyến tàu xuống phía Nam bất ngờ bị chặn lại, một vị tướng quân tên Tôn Duy Tiên đã mất liên lạc”. Triệu Ứng Khác nói tiếp.

Hà Vị nhớ ra vị tướng quân này, lúc ở Thiên Tân, hắn đã trêu chọc Tạ Vụ Thanh.

Cô còn nhớ người đó đeo một cặp kính, lúc nói chuyện luôn cười tủm tỉm, Tạ Vụ Thanh nói hắn đang du học ở trời Âu, vì hưởng ứng lời kêu gọi bắc phạt, vừa mới vất vả từ nước ngoài quay về tổ quốc…

“Lần này nam bắc hoà đàm không thành công, người trong mọi tầng lớp, từ chính trị gia thương nhân hay văn nhân, phàm là không ủng hộ quân phiệt đều lặng lẽ rời kinh, bao gồm cả các tướng lĩnh cùng ra bắc với Tạ Vụ Thanh”, Triệu Ứng Khác tiếp lời, “Nam bắc khai chiến là tất yếu, Tạ Vụ Thanh tay nắm trọng binh, từ lâu đã là cái tên nằm đầu danh sách ám sát. Hắn vốn có thể về thẳng từ Phụng Thiên, chứ không cần quay lại Bắc Kinh”.

Cô biết Triệu Ứng Khác sẽ không lừa mình. Nhưng cô không hiểu, vì sao Triệu Ứng Khác lại quan tâm đến an nguy của Tạ Vụ Thanh.

Cô nhìn Triệu Ứng Khác: “Vì sao lại mạo hiểm nhắc nhở anh ấy?”

Triệu Ứng Khác đảo mắt sang Hà Vị, trầm mặc hồi lâu mới nói: “Quan hệ giữa anh cùng Tạ Vụ Thanh có chút sâu xa, hắn đã giúp đỡ một người bạn thân thiết của anh. Hôm đó anh đến Thiên Tân gặp hắn ở nhà Cửu tiên sinh cũng vì muốn xác thực chuyện này. Mấy năm nay làm phụ tá cho quân phiệt, anh tự có tính toán của mình, nhưng trong lòng anh, vẫn tuyệt đối không tin người tay nắm quân quyền. Những tướng quân tư lệnh, ai cũng nói bản thân vì đại nghĩa quốc gia, nhưng chẳng một ai thật lòng. Có thể nói đến tận giờ phút này, anh đối với vị Tạ thiếu tướng quân kia cũng không hoàn toàn tin tưởng. Nhưng ít nhất vì người bạn thân ấy, anh không muốn trơ mắt nhìn hắn chết ở đây”.

Hà Vị nhẹ gật đầu, không nói một lời.

“Vị Vị”, Triệu Ứng Khác thấp giọng gọi, “Em không tin anh sao? Thế nên, không muốn nói thêm gì khác?”

Cô ngẫm nghĩ, nói lời thật trong lòng: “Em tin lời anh nói. Nhưng em không chắc mình phải nói gì, không nên nói gì”.

Triệu Ứng Khác biết cô từ nhỏ đã đi theo Hà Tri Hành và Hà Nhữ Tiên, được dạy dỗ theo kiểu người thừa kế, làm việc luôn cẩn thận tỉ mỉ. Hắn hơi gật đầu, cầm chén sứ trắng lên, chậm rãi uống cạn đáy.

Đợi dùng hết cháo, người cũng cáo từ rời đi.

Sau khi Triệu Ứng Khác đi rồi, cô lăn qua lộn lại nghĩ đến tình cảnh của Tạ Vụ Thanh. Tuy nói cô luôn tin Tạ Vụ Thanh tính tình cẩn thận, nhưng cô vẫn lo lắng cho hành trình cùng an nguy của anh ở Bắc Kinh, cơm trưa cũng không ăn được hai miếng đã buông đũa.

Buổi chiều, chú hai sai người mang một tấm thiệp mời đến tây viện, là của thương hội Thượng Hải mời người trong Hà nhị phủ. Chiều thì đến Ngọc Hồ Trà Xuân Lâu ở Thanh Vân Các, tối đến Quảng Đức Lâu, bút lực cũng thật lớn.

“Gần đây trong kinh có rất nhiều khách quý đến đãi tiệc”, Quân Khương hỏi, “Cô hai có muốn đi không?”

Cô lắc đầu. Cô rất ít khi đến Thanh Vân Các, nơi đó đông người phức tạp, không đơn giản như rạp hát hay những vũ hội bình thường.

“Vẫn là nên đi ạ, tiên sinh nói, lần này có mời cả công tử Tạ gia nữa”. Quân Khương cười nói.

Cô ngẩn ra.

“Tiên sinh còn nói, hai người muốn gặp nhau không dễ, nếu có thể thì cứ đi đi”. Quân Khương học theo khẩu khí của Hà Tri Hành, ôn hoà nói, “Cho dù không có cơ hội nói chuyện, vẫn có thể thay đổi tâm tình”.

Cũng đúng, có thể gặp nhau đã là tốt lắm rồi.

Thanh Vân Các là nơi các nhóm khách văn nhã rất thích đi.

Vì nó cách Lưu Ly Xưởng không xa, rất nhiều người đến Lưu Ly Xưởng dạo xem xong sẽ đến Thanh Vân Các, thưởng trà dùng cơm, thỉnh thoảng còn có thể bắt gặp những vị giác nhi nổi tiếng trong hí khúc đến trà lâu biểu diễn. Ở đó có nhà hàng, câu lạc bộ sách, những cửa hàng cũ. Thưởng trà đến Ngọc Hồ Xuân, đãi khách đến Phổ Trân Viên, đây là hai nơi nổi tiếng nhất, trà lâu hôm nay được đặt bao hết chính là Ngọc Hồ Xuân.

Xe hơi chạy đến đường Dương Mai Trúc Tà, chính là cửa sau Thanh Vân Các.

Cô để hai gã sai vặt đợi ở bên ngoài, còn mình dẫn theo Quân Khương vào trong trà lâu. Khách mời đến đa phần là nam, phụ nữ rất hiếm gặp, con gái một mình đến đây như cô lại càng đếm trên đầu ngón tay. Trên sân khấu kịch của trà lâu đang xướng vở “Phàn Lê Hoa”.

“Cô hai muốn dùng Long Tỉnh hay vẫn là Bích Loa ạ?” Người phục vụ hỏi cô.

“Trà hoa quế đi”. Cô tự giác ngồi xuống bàn dành cho mình.

Không lâu sau, phó hội trưởng thương hội Thượng Hải đích thân đến đón: “Cô hai, ngưỡng mộ đã lâu”.

Hà Vị mỉm cười dịu dàng, đứng dậy chào hỏi: “Thương hội Thượng Hải là khách hàng lớn của chúng tôi, là tôi nên nói ngưỡng mộ đã lâu mới đúng”.

“Mới vừa rồi tôi còn cùng Tạ thiếu tướng quân nói về cô hai”, vị phó hội trưởng kia cười nói, “Trên chuyến tàu từ Thiên Tân trở về tôi đã muốn đến làm quen cô hai đây, chỉ tiếc ngày đó bên cạnh tướng quân có quá nhiều binh lính, không tiện hàn huyên”.

“Tạ công tử cũng ở đây sao?” Cô ra vẻ ngạc nhiên.

“Đang gặp khách”. Phó hội trưởng chỉ vào gian phòng nghỉ.

Hà Vị từ xa liếc nhìn gian trong một cái, muốn chờ anh gặp khách xong rồi nói tiếp.

Phó hội trưởng nói thêm hai câu, liền đi đón tiếp khách mới đến.

Lâm Kiêu tình cờ từ phòng nghỉ bước ra, Hà Vị sai Quân Khương đến gọi một tiếng. Lâm Kiêu nhìn thấy Hà Vị, lộ vẻ kinh ngạc vui mừng.

“Cô hai”. Lâm Kiêu đến cạnh bàn.

“Anh ấy đang gặp khách đúng không? Tôi chờ anh ấy xong việc rồi đến”.

Lâm Kiêu đè thấp giọng nói: “Cô hai nếu có cách ngăn cản thì càng tốt, công tử gia không muốn nhìn thấy mấy vị khách này”.

Hà Vị ngẩn người, thấy trong mắt Lâm Kiêu lo lắng, đoán được phía Tạ Vụ Thanh đã xảy ra chuyện gì, hẳn anh muốn ngồi một mình.

“Trong kia là ai?”

“Có hai đầu lĩnh phái quân phiệt, thêm phụ tá của bọn họ đưa một cô gái đến, còn có một vị vừa xuống đài…” Lâm Kiêu vốn không nghe hí khúc, không biết hình dung những kép hát nổi tiếng như thế nào, “Hí khúc tiên sinh, đang uống rượu trong đó”.

Hà Vị suy nghĩ một lúc, e là có người muốn giới thiệu kép hát nổi danh cho Tạ Vụ Thanh, anh không muốn tiếp xúc, nên mới bảo Lâm Kiêu nghĩ cách.

Cô tháo khuyên tai hồng ngọc của mình xuống: “Tìm một cái đĩa đi”.

Trong phòng nghỉ, Tạ Vụ Thanh không yên lòng cầm chén rượu, tay kia đút nghiêng trong túi quần quân đội.

“Một trong những người diễn ‘Phàn Lê Hoa’ nổi tiếng nhất chính là vị trước mắt đây”, một người phụ tá của quân phiệt cười nói, “Tối nay vốn định đến khách sạn Lục Quốc, tướng quân nếu muốn giữ hắn lại, chỉ cần nói một tiếng”.

Người đàn ông mặc trang phục diễn tuồng hai tay cầm một cái thương ngọc, đang muốn kính rượu Tạ Vụ Thanh, Lâm Kiêu liền bước vào, nâng cái đĩa sứ trắng lên, bên trong có một cái khuyên tai hồng ngọc.

Mọi người không hiểu gì.

Trong mắt Tạ Vụ Thanh chứa ý cười, cầm lấy khuyên tai kia, bỏ vào túi quần dài: “Đi mời cô hai đến đây”.

Lời này vừa thốt ra, mọi người đều vỡ lẽ, đúng là cái vị cô hai nhà họ Hà đã tới. Khuyên tai này tất nhiên là vì cô hai ghen tuông nên sai người đưa đến cho Tạ thiếu tướng quân thầm oán trách.

Lâm Kiêu thấy mọi người có ý muốn đi, trong lòng thầm khen, vẫn là phu nhân tướng quân tương lai có bản lĩnh.

Lâm phó quan cũng lui ra ngoài.

Rất nhanh, một mình Hà Vị vén rèm châu, chầm chậm bước vào.

Cô vừa nhìn thấy Chúc tiên sinh xướng khúc “Phàn Lê Hoa”, bất giác nở nụ cười, vị kép hát nổi tiếng này cô có quen biết, chính là bạn tốt của cô bảy. Ý cười của Hà Vị còn chưa tan, nhìn thấy một cô gái hơi nghiêng người đứng sau Tạ Vụ Thanh, tay cầm chén bạch ngọc, da dẻ trắng trẻo mịn màng, vô cùng thanh tú, ngay cả trang điểm cùng ăn mặc trên người cũng đều thuần một màu trắng…



Cô vừa ngước mắt, nhìn Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh âm thầm thở dài.

Anh bảo Lâm Kiêu nghĩ cách đuổi đám người này đi, là vì bọn họ mang theo một cô gái như vậy đến. Tạ Vụ Thanh sợ chuyện này truyền đến tai Hà Vị, sẽ chọc cô không vui. Lâm Kiêu ngược lại “chăm sóc tận tình”, trực tiếp gọi Hà Vị đến cứu viện.

Một phụ tá vội vàng giải thích: “Đây là một người em gái bà con xa của tôi, luôn ngưỡng mộ thiếu tướng quân nên muốn gặp một lần. Mong cô hai đừng hiểu lầm tướng quân”. Bọn họ muốn kết bạn với Tạ Vụ Thanh, không phải muốn gây thêm phiền phức.

“Cô hai đã tới rồi, vậy chúng tôi đi trước đây’.

Mấy kẻ trong phòng dù không muốn cáo từ, cũng không thể không đi.

Lâm Kiêu đóng cửa giúp hai người.

Bọn họ đối diện nhau.

“Mấy kẻ đó từng nghe kể về em lúc ở Phụng Thiên”, Tạ Vụ Thanh mở lời, “Tự ý suy đoán sở thích của anh nên mang cô gái kia đến. Chuyện này, anh thật sự không biết”.

“Thiếu tướng quân thật có phúc”. Cô nhẹ giọng nói, nhìn như bình tĩnh nhưng thật ra trong lòng ngoài ghen tuông thì không còn gì khác.

Tạ Vụ Thanh ngồi xuống ghế.

Cô lườm anh.

Tạ Vụ Thanh nói: “Trước lúc em tới, anh đang nghĩ cách làm sao tống cổ bọn họ đi”.

Hà Vị ngồi xuống cạnh anh, mang theo lòng ghen tị đáp lại: “Nếu em đến trễ một chút, không chừng chén rượu kia anh đã uống rồi”.

Dứt lời không thấy anh lên tiếng, cơn ghen càng đậm.

Tạ Vụ Thanh nhìn cô, muốn nói gì đó, còn chưa nghĩ xong. Lâm Kiêu đã bưng trà hoa quế đi vào, nhìn thấy hai người đều không mở miệng, nhỏ giọng nói với Hà Vị: “Tướng quân bị thương”.

Tạ Vụ Thanh không kịp ngăn lại, Hà Vị hoảng sợ, nhìn chằm chằm anh.

“Cô hai đau lòng thương ngài, đừng tức giận”.

Lâm Kiêu lập tức ra ngoài.

“Sao lại gạt em?” Cô không còn lòng dạ ghen tuông, muốn tìm vết thương của anh.

Tạ Vụ Thanh nhẹ nắm cổ tay cô: “Không nghiêm trọng lắm”.

Trong mắt Hà Vị vừa đau lòng lại vừa khổ sở, Tạ Vụ Thanh không cách nào che giấu nữa, anh cởi bỏ quân phục, lộ ra áo sơ mi bên trong. Cách một lớp vải mỏng, có thể nhìn rõ băng gạc trắng quấn quanh thắt lưng anh thành nhiều vòng.

Đêm qua bị tập kích ở khách sạn Bắc Kinh, anh dùng vết thương này đổi lấy mạng của một người đồng liêu, cũng không tính thiệt thòi. Chuyện đó anh không muốn lừa dối Hà Vị, cũng không giấu được cô, chỉ muốn đợi qua hai ngày tịnh dưỡng cho thương tích lành lặn một chút sẽ nói cho cô biết.

Tạ Vụ Thanh nhác thấy trong mắt Hà Vị đỏ hồng, thấp giọng an ủi: “Lẩn trốn mưu sát đối với anh mà nói là chuyện bình thường, không có gì quan trọng. Lần sau sẽ cẩn thận một chút”.

Cô đau lòng nhìn thắt lưng anh, làm sao cẩn thận? Muốn cẩn thận thế nào?

Có bao nhiêu người một lòng vì nước đến chết cũng không rõ ràng… Có kẻ muốn giết anh, ngày đêm tìm sơ hở, rồi sẽ có lúc thành công.

Anh thấy Hà Vị khổ sở không chịu nổi, trấn an cô: “Nếu lỡ không may cũng không có cách nào phòng ngừa vẹn toàn, chỉ cần nghĩ đến, bọn họ có thể cải trang thành công nhân, nông dân hay học sinh gì đó, lẩn trốn vào bất kỳ chỗ nào cũng được cả. Nhưng anh không thể cái gì cũng không làm, người nào cũng không gặp, nơi nào cũng không đi. Đã bước lên con đường này, không thể lựa chọn được”.

“Anh là đang an ủi người khác sao?” Cô uỷ khuất hỏi anh, trong lòng càng thêm buồn khổ.

Hình như đúng thế, không giống an ủi người khác.

Tạ Vụ Thanh hiểu ra, ngược lại cười: “Nào”.

Anh định ôm cô ngồi lên đùi.

Hà Vị biết anh muốn cô quên đi chuyện này, nhẹ đẩy tay ra: “Anh đang bị thương”.

Anh giữ chặt tay cô, Hà Vị sợ ảnh hưởng đến miệng vết thương của anh, không dám rút mạnh về, cẩn thận ngồi xuống đùi anh, tựa lưng vào mép bàn, cố gắng không đụng đến thắt lưng anh.

“Đêm qua để quên thứ gì trên giường?” Anh cười hỏi cô.

Hà Vị không lên tiếng… Là cô cố tình, để lại một cái áo lót cho anh.

“Vị Vị hình như quen thói để quên đồ của mình trong phòng anh hửm?”

“Không phải bây giờ”. Cô nhỏ giọng đáp.

“Vậy à”. Anh lại cười.

Anh nói theo: “Nghĩ lại đi”.

Hà Vị nghĩ thế nào cũng không ra, lắc đầu. Đoán chừng Tạ Vụ Thanh đang trêu ghẹo cô.

Tạ Vụ Thanh cười, không nói tiếp.

“Anh chuẩn bị khi nào đi?” Cô không muốn để Tạ Vụ Thanh biết Triệu Ứng Khác tìm cô nói chuyện, chỉ mượn cớ anh bị thương để bàn bạc, “Nơi này không thể ở lâu, vẫn nên nhanh chóng quay về cho an toàn”.

Tạ Vụ Thanh nhìn vào mắt cô, cười hỏi: “Tối qua để lại áo lót, hôm nay đã muốn đuổi anh đi rồi à?”

“Nói chuyện nghiêm túc”. Cô lo lắng sốt ruột.

Anh hơi trầm ngâm, giải thích với cô: “Về công về tư, bây giờ anh đều không thể đi. Về công việc, đoàn đại biểu cùng chính phủ quân phiệt không thể nói chuyện được nữa. Quân phiệt đang chuẩn bị cho Hội nghị Quốc dân, mà đoàn đại biểu cũng phải lo liệu Hội nghị Quốc dân. Vì chuyện này, anh phải ở lại thêm một thời gian nữa”.

Cô nhẹ gật đầu.

“Về chuyện riêng, anh muốn cùng em ăn tết”. Anh cuối cùng nói.

Ngày tết quan trọng nhất của người Trung Quốc, năm nay so với mọi năm càng đặc biệt hơn, hai người vừa mới quyết định chuyện hôn sự, anh không muốn vội vàng rời đi.

Ngoài cửa có người cười hỏi Lâm Kiêu, có phải Tạ thiếu tướng quân đang gặp cô hai không, quên mất còn rất nhiều khách khứa bên ngoài.

Hà Vị biết anh phải mở cửa tiếp khách, lại không nỡ để anh phải mang thương tích đi nói chuyện xã giao.

Hai tay cô siết chặt bàn tay Tạ Vụ Thanh, đau lòng chà sát vào nhau, sau đó áp lên mặt mình. Tạ Vụ Thanh dán mu bàn tay lên mặt cô, nhẹ giọng nói: “Đừng đau lòng, anh không sao đâu”.

Ai nói không sao chứ. Cô cúi đầu, lần nữa nắm chặt tay anh.

“Tối nay đến Quảng Đức Lâu xong, anh sẽ về viện em ở”, anh khoác áo choàng tướng quân bên ngoài, che lại áo sơ mi cùng băng gạc trắng bên trong, mỉm cười nói, “Có điều hôm nay cả người thương tích, chỉ có thể ôm em ngủ một đêm thôi”.

— HẾT CHƯƠNG 28 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 29: Đêm tuyết soi chiếu kinh hoa (2)


Nói một hồi lại nhắc đến chuyện này.

“Trời tối thì phải ngủ”, cô buông anh ra, “Không ngủ, còn muốn làm gì”.

Tạ Vụ Thanh nhẹ nhướng mày, lúc cô định đứng dậy thì lần nữa giữ chặt eo cô: “Cũng không phải không thể làm gì”.

Anh xã giao cả buổi chiều, thưởng trà xong thì uống rượu, ngửi được là trà hoa nhài. Lẫn trong mùi hoa nhài… Cô cẩn thận hít vào, chủ nhân vì tiếp đãi riêng anh đã chuẩn bị cả rượu ủ của người Kiềm. Ngửi kỹ một chút, là rượu nóng <i>Mao Đài ở Nhân Hoài [1].</i>

<i>[1] Nhân Hoài là một thành phố thuộc Tuân Nghĩa, tỉnh Quý Châu; là nơi nổi tiếng sản xuất rượu Mao Đài vang danh của TQ</i>

Tạ Vụ Thanh ôm người cô, để mặc cô hít hà mùi rượu trên mặt mình.

Cô bất giác nghĩ, lo sợ anh bày ra bộ dáng thế này trong đống phấn son, diện mạo như ngọc lạnh, vẻ say càng thêm đậm, khiến người ta nảy sinh ý muốn được anh ôm vào lòng, được anh hôn một cái, nhưng anh vĩnh viễn lúc gần lúc xa, chỉ giữ lại duy nhất dáng vẻ này.

Hà Vị giúp anh chỉnh lại cổ áo quân phục, mở nắp bình rượu ra, từ tốn đổ trà hoa quế vào rượu Mao Đài: “Rượu ngon Quý Châu ủ trước nay nổi tiếng, tướng quân là người lớn lên từ trong rượu tốt, không sợ anh say. Có điều hôm nay trên người anh bị thương, vẫn nên pha một chút nước vào rượu thì hơn”.

Thả chén trà về chỗ cũ, Tạ Vụ Thanh vẫn siết chặt cô.

Hai người nhớ đến mảnh tối tăm trong rèm giường đêm qua, diễn ra một màn hoang đường. Anh ôm cô, l*t s*ch váy áo từ trên xuống dưới của cô, mà quần áo anh cũng rải rác dưới gầm giường, chỉ sợ cô sẽ mang thai, làm gì cũng thu lại một bước cuối. Cô nhìn cằm anh, xuống dưới là xương quai xanh, nghĩ đến thắt lưng cùng cơ thể anh. Thân mật đến mức độ này, bất quá cũng giống như vợ chồng rồi.

Tạ Vụ Thanh muốn hôn cô, nhìn thấy màu son trên môi cô, lại sợ lúc ra ngoài người ta phát hiện son môi bị ăn hết. Nên không động đậy nữa.

Trong tiếng trêu đùa ầm ĩ bên ngoài, anh cười nói với cô: “Khanh khanh giai nhân, thật khiến người khác hiểu lầm”.

Cuối cùng anh buông tay: “Đi thôi”.

Tạ Vụ Thanh cùng Hà Vị mở cửa. Tốp người đứng gần trong trà lâu nhìn thấy cô hai Hà bước ra khỏi phòng riêng của Tạ Vụ Thanh, y phục tươm tất, tóc tai không rối, son môi vẫn còn nguyên. Mọi người nghĩ, cô hai Hà ấy vậy mà tuổi trẻ có bản lĩnh độc đáo, làm người khác không thể chạm vào một đầu ngón tay, lại có thể khiến vị thiếu tướng quân công lao trăm trận phải đầu hàng.

Tạ Vụ Thanh lúc nào cũng vui vẻ giúp cô có được tiếng thơm.

Chuyện của anh ở Kinh Tân luôn được người người chú ý, mà cô gái nhà Hà nhị gia khiến anh khó quên lại là một truyền kỳ.

Chờ khách đi vào, cô mới hỏi Lâm Kiêu, chuyện đêm qua anh bị tập kích đến tột cùng xảy ra thế nào? Lâm Kiêu áy náy xin lỗi, nói không bảo vệ tốt cho tướng quân. Tối qua sau khi Hà Vị rời khỏi Bách Hoa Thâm Xử, thiếu tướng quân liền quay về khách sạn Bắc Kinh, cùng đến khách sạn còn có một vị tướng quân khác cùng hai vị đại biểu đến kinh thành chuẩn bị cho Hội nghị Quốc dân. Vết thương trên người Tạ Vụ Thanh là vì anh bảo vệ cho hai vị đại biểu một nam một nữ ấy. Thế mạnh của anh từ khi còn ở trường quân sự chính là tiết học ám sát, đầu tiên phát hiện mai phục, lập tức đẩy một người ra, người còn lại vì không kịp cảnh báo nên chỉ có thể dùng cơ thể ngăn cản.

Tạ Vụ Thanh an ủi đám người Lâm Kiêu, nói là do bản thân sơ suất.

Tất cả mọi người đều hiểu, hai vị tướng quân đến cùng một chỗ mang theo cả trăm người, trong Tứ Cửu Thành bị quân phiệt khống chế muốn bảo vệ mình khó khăn thế nào, căn bản không phải do sơ suất của các tướng lĩnh, mà vì bọn họ đều đang ở trong miệng hùm răng sói.

Lâm Kiêu càng nói càng lo lắng, cuối cùng biến thành Hà Vị trấn an ngược lại hắn.

Cô thầm hối hận vì đã hỏi, sợ Lâm Kiêu xem cô như đang “trách cứ” hắn, vì thế tháo khuyên tai hồng ngọc bên kia xuống, dẫn dắt sự chú ý của hắn đến đề tài khác: “Anh cầm lấy khuyên tai này, sau đó giống lúc trước, đưa vào một lần nữa đi”.

Dứt lời, cô lại ôn nhu nói: “Uống rượu còn nói nhiều như thế sẽ hại thân, trước khi anh ấy đến Quảng Đức Lâu, dù sao cũng phải tìm cơ hội ăn hai miếng cơm. Lát nữa tôi đến Thái Phong Lâu đặt phòng riêng, cần anh giúp đỡ ‘cứu’ anh ấy tới đó dùng cơm chiều”.

Lâm Kiêu lập tức nhận lấy: “Ti chức nhất định làm được”.

Hà Vị để Lâm Kiêu đi, trở về bàn trà của mình.

Chúc tiên sinh vừa rồi còn ở trong phòng nay đã thay một bộ âu phục màu be, đang chờ ở nơi đó.

Lại kể đến, hai người quen biết nhau chính là trong Cung Vương Phủ, ngày đó Tạ Vụ Thanh vừa đi, trong lòng cô vô cùng đau khổ, liền đến hành lang ngắm nhìn phong cảnh trong sân. Cô vốn không biết Cung Vương Phủ có quy định, phàm là khách ngoài sẽ từ bên cạnh núi giả đi thẳng đến rạp hát, còn hành lang chỉ dùng cho người trong phủ cùng khách quý qua lại, không có Tạ Vụ Thanh dẫn đường, người trong phủ nhác thấy một vị tiểu thư lạ mặt đứng trong hành lang, liền muốn đến gần khuyên cô rời đi, không ngờ bị Chúc tiên sinh này ngăn lại.

“Vị này là người nhà của Hà Thất tiên sinh”. Chúc Khiêm Hoài lúc đó đã giải thích với người của Cung Vương Phủ như thế.

Thoáng cái hai năm qua đi, Chúc tiên sinh không thay đổi chút nào, người đàn ông sau khi tẩy trang mang dáng dấp thư sinh cùng khuôn <i>mặt phù dung [2]</i>, vừa ngồi xuống cạnh bàn liền khiến người ta không ngừng từ xa nhìn lại. Đẹp thì có đẹp nhưng vẫn giữ thái độ nho nhã hữu lễ, duy trì bản sắc vốn có của người đàn ông.

<i>[2] “Mặt phù dung” hay “phù dung diện” là một cách nói để khen ngợi nhan sắc đẹp mỹ miều, dụ hoặc.</i>

“Tiếp theo tiên sinh muốn đến nơi nào?” Cô cũng ngồi xuống.

“Quảng Đức Lâu”, Chúc tiên sinh cười đáp, “Vẫn là tiệc của thương hội Thượng Hải. Vừa nãy cảm ơn cô hai đã giải vây giúp tôi”.

Giải vây? Cô mỉm cười: “Vừa rồi tiên sinh bị gây khó dễ ư?”

“Cũng không phải gây khó dễ, chỉ là thân mang trọng trách, muốn lôi kéo vị thiếu tướng quân Tạ gia kia. Tôi vốn định giở một chút công phu qua loa bên ngoài, cô hai đây vừa đến, cũng tiết kiệm được chút công phu gì đó”.

Hà Vị rót trà cho Chúc tiên sinh: “Anh ấy không dễ lôi kéo, công lao trăm trận, rất kiêu ngạo. Lần trước ở Thiên Tân, có hai người thuộc hoàng thất Tốn Thanh đến nói hai câu cầu xin anh ấy giúp đỡ, anh ấy không chịu nhưng không đáp gì, còn bảo người ta giúp mình hỏi người Nhật Bản để đòi lại Lữ Thuận và Đại Liên”.

Chúc tiên sinh bất ngờ: “Là một tướng quân như vậy sao?”

“Chúc tiên sinh nghĩ rằng, anh ấy là tướng quân thế nào?”

“Tôi với vị tướng quân này không biết nhiều lắm, chỉ nghe kể hắn mười mấy tuổi đã ‘giết người thủ đoạn ôm lòng cứu nước’, đáng tiếc từ khi hắn nắm giữ binh quyền liền đánh mất ý định ban đầu, dùng kế giả chết, mang trọng binh tới Vân Quý, chín năm đằng đẵng không chịu xuất hiện, càng không muốn xuất binh vì dân. Lần trước quay về kinh, chuyện phong lưu của hắn cũng không ít, mà ngày nay ra bắc”, Chúc tiên sinh nhẹ giọng, “Thái độ với tình cảnh hai miền bắc nam càng mập mờ, mang lập trường đứng núi xem hổ đấu”.

Đầu tiên cô ngạc nhiên, nghĩ lại, quả thật Tạ Vụ Thanh hiếm khi lộ diện một lần, lúc trước xuất hiện lại ra vào động son phấn, lần này đến chỉ trong ‘y hương tấn ảnh’ mới gặp được anh, khó trách người khác hiểu lầm.

Cô giống như nhìn thấy bản thân trong mấy lời đồn trên phố, không nhịn được bật cười: “Nhưng hôm qua ở sân ga, vẫn có không ít văn nhân cùng học sinh tiến bộ đến đón tiếp anh ấy, sẵn lòng tin tưởng anh ấy”.

Chúc tiên sinh mỉm cười không tranh cãi, vẻ mặt giống như nói: Đó là vì Tạ Vụ Thanh thành danh từ thuở thiếu thời, mà nay Tạ Vụ Thanh đã không còn như thế. Chúc tiên sinh ngày thường tiếp xúc với quân phiệt cùng không ít nhân vật tiếng tăm, lời nói của hắn cũng là sự hiểu biết của đám người đó với Tạ Vụ Thanh, cũng không trách được Chúc tiên sinh hiểu lầm, đây chính là ảo tưởng mà Tạ Vụ Thanh cố tình phơi bày ra ngoài.

Hà Vị không giải thích nhiều, chỉ cười cười.

“Có điều đối với một vị Tạ tướng quân khác ở phương Nam, Chúc mỗ thật lòng ngưỡng mộ”. Chúc tiên lại nói.

Tạ sao? Không lẽ là Tạ Khanh Hoài?

“Vị tướng quân đó tên Tạ Khanh Hoài, không xu nịnh quyền thế, không say đắm thanh sắc, càng không hô hào công danh”, Chúc tiên sinh vô cùng thưởng thức, “Đáng tiếc hắn không rời phương Nam, nếu có một ngày tôi đến Hồng Kông biểu diễn, ngược lại muốn đến bái phỏng hắn một lần”.

Hà Vị cố nén cười, tay nâng chén trà nhấp một ngụm.

“Tôi nói sai gì sao?” Chúc tiên sinh cảm giác được cô buồn cười.

Cô dịu giọng nói: “Hai vị tướng quân này đều là bạn của nhau. Chúc tiên sinh nếu có thể buông bỏ thành kiến, thử làm quen với Tạ thiếu tướng quân trong phòng riêng, nói không chừng sau này sẽ có cơ hội gặp gỡ vị tướng quân không ra Bắc tên Tạ Khanh Hoài kia”.

Chúc tiên sinh kinh ngạc, vì câu ‘yêu ai yêu cả đường đi’ nên đối với Tạ Vụ Thanh cũng nảy sinh vài phần hảo cảm.

Uống xong một lượt trà hoa, có người đến hỏi Chúc tiên sinh có tiện đến phòng riêng khác không, có khách muốn mời hắn một chén trà.

Khi Chúc tiên sinh muốn đi, Hà Vị hỏi một câu: “Đặng công tử còn ở hội quán Hồ Quảng sao?”

“Vẫn còn”. Chúc tiên sinh nhẹ giọng đáp, sợ người ngoài nghe thấy.

Chúc tiên sinh đi rồi, cô ngồi đó suy đi tính lại, quyết định đến Thái Phong Lâu trước, xem có cơ hội mời Đặng Nguyên Sơ đến một chút không.

“Thanh Vân Các luôn náo nhiệt như thế”. Quân Khương giúp cô khoác áo.

Đúng vậy, chỗ này từ ngày cô còn bé đến hiện tại đều náo nhiệt thế rồi. Nơi đây từng tiếp đón <i>Khang Hữu Vi cùng Đàm Tự Đồng, ngay cả Thái Ngạc [3]</i> cũng đến, hiện giờ người đi trước đều đã qua đời, Thanh Vân Các lại nghênh chào càng nhiều người hơn.

<i>[3] Khang Hữu Vi là nhà văn, nhà tư tưởng tư sản, lãnh tụ phái Duy Tân ở TQ vào cuối thế kỷ XIX. Khang Hữu Vi cùng Lương Khải Siêu là 2 nhà duy tân nổi bật nhất cùng dâng sớ lên vua Quang Tự yêu cầu cải cách đa dạng lĩnh vực để chống lại sự xâm chiếm của Nhật Bản. Khang Hữu Vi cũng là người nhắc nhở vua Quang Tự cần đánh đổ phe cánh của Từ Hi Thái hậu nhưng sau đó không thành. Về sau, ông cùng những người thân cận phái Duy Tân đến Nhật Bản, Cách mạng Tân Hợi thành công thì về nước hoạt động văn hoá. </i>

<i>Đàm Tự Đồng là nhà văn, nhà thơ, nhà cách mạng TQ thời cận đại. Sau khi nghe Lương Khải Siêu kể về tài năng và khí phách của Khang Hữu Vi khiến ông bái phục và gia nhập vào phái Duy Tân. Sau khi vụ việc lật đổ Từ Hi Thái hậu không thành, ông không chịu trốn sang Nhật Bản nên bị phe cánh Thái hậu ám sát cùng với 5 người nữa, sử sách gọi là Lục quân tử. </i>

<i>Thái Ngạc là chính trị gia – quân sự gia kiệt xuất cuối đời Thanh, từng có công lớn trong cuộc Cách mạng Tân Hợi. Ông là quân phiệt thế lực lớn ở Vân Nam, giữ vai trò thủ lĩnh lực lượng chống Viên Thế Khải, được xưng tụng là “Hộ quốc Đại tướng quân” (Về cuộc đời của Thái Ngạc vô cùng nổi tiếng bởi chiến công, mọi người có thể lên Google tìm đọc thêm chi tiết nếu muốn nhé, vì dài quá mình không tóm hết được).</i>

Ngày thường cô ít khi đến Thanh Vân Các, chủ yếu vì nơi này là trung tâm của <i>Ngõ Bát Đại [4]</i>, có hơn trăm ngàn kỹ viện cùng chốn phong nguyệt mở cửa, người qua kẻ lại vô cùng phức tạp. Cô từng nhìn thấy bạn học cũ cùng mấy anh lớn trong nhà đến trêu hoa ghẹo nguyệt, nhìn mấy cảnh tượng v* v*n tán tỉnh nhau, so với người khác càng lúng túng hơn nên dứt khoát không lui tới.

<i>[4] Ngõ Bát Đại chỉ tám con ngõ lớn ở Bắc Kinh, là nơi tập trung nhiều thanh lâu kỹ viện từ thời phong kiến nên thường gọi chung như vậy chứ không phải tên riêng.</i>

Nhưng đối với những tửu lầu rạp hát bên cạnh, cô lại là khách quen.

Hoàng thành Bắc Kinh có bốn cổng lớn, nội thành có chín cổng nhỏ, hợp lại tạo thành Tứ Cửu Thành, triều trước đa phần là cho vương công quý tộc ở, trước đây những chỗ giải trí như rạp hát hí kịch hay trà lâu đều bị cấm. Mà căn nhà Hà nhị gia mua chính là dinh thự của quan lại trong quá khứ, cùng với Bách Hoa Thâm Xử đều ở trong nội thành.

Mà ra khỏi cổng Chính Dương Môn là dân chúng nườm nượp không ngừng, phố xá phức tạp, vừa có lâu, vừa có viện, lại có cả cửa hàng. Rất nhiều học sinh trước đây khi vào thành thi cử, những quan viên tỉnh lẻ khác vào kinh đều tụ tập ở chỗ này, dừng chân trong hội quán, bởi vì thương nghiệp phát triển phồn thịnh, cửa hiện lâu đời mọc san sát nhau nên trở thành “ổ tiêu tiền” nổi tiếng.

Chỉ nói riêng tám đại lâu danh tiếng hàng đầu dùng để đãi tiệc đã có năm căn ở chỗ này, bảy cái rạp hát lớn thì có một nửa mở nơi đây. Những hậu nhân giới quý tộc sau khi ăn cơm xong sẽ đến rạp hát nghe các giác nhi nổi tiếng diễn xướng, xem kịch xong thì đến chốn phong nguyệt gần đó, xã giao như vó ngựa cứ đến không ngừng cho đến khi mặt trời mọc đằng đông. Bạc chảy ra ào ào như nước, dù người có gia tài bạc vạn cũng có một ngày tiêu tiền đến mệt nhoài.

Hà Vị đến Thái Phong Lâu đặt một gian phòng nhỏ, sai người đưa tờ giấy đến hội quán mời Đặng Nguyên Sơ. Không bao lâu, gã sai vặt quay về nói, Đặng gia công tử còn đang say rượu, chờ tỉnh hẳn rồi sẽ đến.

Kết quả chờ đến khi Tạ Vụ Thanh tới nơi, Đặng Nguyên Sơ vẫn không có mặt.

Chuyện này nằm trong dự đoán của cô.

Người ta giác ngộ, thế cục thay đổi trong chớp mắt. Sau một hồi chiến tranh giữa Trực hệ cùng Phụng hệ khiến Đặng gia thất thế.

Lúc trước, khi thế lực Đặng gia còn lớn, gây thù chuốc oán với nhiều người, sau này rớt đài, sợ chuốc hoạ nên mang theo gia sản cùng con cái đến tô giới Thiên Tân và Thượng Hải lánh nạn. Đặng Nguyên Sơ không chịu đi nên ở lại. Chuyện may mắn nhất của hắn chính là lúc trước đến Bộ Ngoại giao làm việc, đây là bộ phận không chịu sự chi phối của bất kỳ phe phái quân phiệt nào, chỉ tôn trọng việc cống hiến vì tổ quốc. Nhưng cũng bởi kẻ thù nhắm đến nhà hắn quá nhiều, cho dù có thầy Tấn bảo vệ, hắn vẫn bị cưỡng chế thành người giữ chức vụ nhàn rỗi.

Đối với việc này thầy Tấn vô cùng nghẹn ngào, hắn lại là một người trẻ có tài học cùng tham vọng nhưng bị nhốt trong đấu đá của quân phiệt, cả đời học tập không cách nào thể hiện, hoài bão tràn đầy trong lòng cũng chỉ là lời nói suông.

Đặng Nguyên Sơ không muốn ở lại Bộ Ngoại giao liên luỵ thầy Tấn, sau khi xin phép nghỉ bệnh xong, bàn làm việc của hắn đến giờ vẫn trống không. Hà Vị nghe người ta bảo hắn chuyển đến hội quán Hồ Quảng, sống cùng một nữ đào hát nổi tiếng. Mà nữ đào hát kia lại có quen biết với Chúc tiên sinh nên cô mới tranh thủ vừa rồi hỏi qua hắn.

Tạ Vụ Thanh đến trễ, uống một nửa chén cháo lĩnh vào ngày mùng 8 tháng Chạp.

“Hiếm khi thấy em thất thần lúc ăn cơm với anh”. Anh đặt thìa sứ trắng xuống.

“Em vốn muốn anh gặp một người”, cô nói, “Đáng tiếc hắn không chịu tới”.

“Đặng Nguyên Sơ à?” Bạn bè mà hai người cùng biết cũng chỉ có Đặng Nguyên Sơ.

“Anh cũng định gặp cậu ta, cùng cậu ấy tính toán chuyện sau này, không nghĩ tới em lại còn sốt ruột hơn cả anh”, Tạ Vụ Thanh gọi Lâm Kiêu vào, “Gọi điện thoại đến hội quán Hồ Quảng, bảo Đặng Nguyên Sơ đến Quảng Đức Lâu gặp tôi”.

Lâm Kiêu nhận lệnh.

“Anh hung dữ như vậy, hắn càng không dám đến”. Cô oán trách anh.

Tạ Vụ Thanh cầm lấy khăn trắng, lau qua tay: “Bài học đầu tiên của cậu ấy ở Bảo Định là do chính anh dạy, nếu anh không gọi được cậu ấy tới, là do bản thân cậu ta không muốn mặc quân trang nữa, ngày sau cũng không cần gặp lại”.

Nhìn thấy Hà Vị lo lắng, Tạ Vụ Thanh thả khăn tay xuống, thấp giọng nói: “Cậu ấy sẽ đến thôi”.

Quảng Đức Lâu nằm gần đó, chỉ lái xe một đoạn ngắn.

Hà Vị cùng anh ngồi ở ghế sau, nhìn thấy cổng lớn Chính Dương Môn trong đêm, vì cửa sổ xe hạn chế tầm nhìn nên không thể quan sát ngưỡng cao nhất của Chính Dương Môn, chỉ cảm thấy cửa thành kia cao quá, cao đến mức như chạm vào bầu trời.

Đây là con đường trước kia nhất định phải qua nếu muốn vào nội thành, là cánh cổng mà biết bao sĩ tử ôm ấp hy vọng đạt thành công danh tìm đến.

“Có mang theo son không?” Anh thấp giọng thủ thỉ bên tai cô.

Cô sửng sốt, nghiêng đầu nhìn Tạ Vụ Thanh, bị bóng dáng khuôn mặt anh bao trùm.

Bị thương còn muốn làm chuyện này là thế nào.

“Có mang theo”, cô liếc tài xế cùng Lâm phó quan, thì thầm nói, “Trong xe có người”. Trước mặt anh, cô luôn mang theo sự trong sáng của một nữ sinh.

Về phương diện tình cảm, cô hiểu rõ, quả thật mình luôn ngây thơ thẹn thùng.

Tạ Vụ Thanh nhấc chân bắt chéo nhau, cũng nhìn về phía cổng Chính Dương môn bên ngoài ô cửa, ý cười trên mặt chưa tan.

Lúc Hà Vị cùng Tạ Vụ Thanh đến nơi, dưới lầu ở hàng ghế đại biểu đã sớm đầy.

Từ lúc cô còn nhỏ, rạp hát thường không cho phụ nữ ra vào. Sau khi anh trai qua đời, tư tưởng trào lưu mới đã phá vỡ không ít truyền thống về phái nữ, trong bảy rạp hát lớn ở kinh thành, nơi cô đến đầu tiên là Quảng Đức Lâu, ngồi vào phòng riêng mà anh trai thường ngồi, nghĩ đến lời anh trai từng nói: Thế tình là vở kịch, hư danh như cỏ rác.

Anh trai cùng chú hai chiếm được căn cơ của vận tải đường thuỷ Hà gia, đem hết thảy vinh hoa phú quý để lại cho cô. Anh trai tuy là cậu cả của vận tải đường thuỷ Hà gia thì thế nào, trong kinh từ lâu đã chẳng còn ai còn nhớ đến. Giống như chính anh từng nói, thanh danh đều là sương sớm trên ngọn cỏ ngoài đường, thoáng cái xuất hiện rồi biến mất.

Trên cầu thang tầng hai.

Bên cạnh một cái bàn vuông dài ngồi đầy binh lính giữ trị an trong lâu tối nay, ông chủ rạp hát móc ra một xấp lì xì, lần lượt phát cho họ, nói rằng, hôm nay là ngày mùng 8 tháng Chạp, mà qua mùng 8 tháng Chạp sẽ đón năm mới, là một ngày tốt lành. Ông chủ kia vừa thấy Hà Vị liền cười tủm tỉm đi lại, bái một lễ, nhẹ giọng gọi cô hai.

Quân Khương đưa cho ông chủ phong lì xì, chúc một câu làm ăn phát đạt. Ông chủ cảm ơn, thăm dò thân phận khách quý lần này mà Quân Khương đưa đến.

“Là Tạ thiếu tướng quân”. Quân Khương nhỏ giọng nói.

Lần trước anh lên kinh, mỗi lần xuất hiện đều là tiêu điểm của mọi người, đã sớm vang danh khắp Tứ Cửu Thành.

Ông chủ lập tức hiểu ra, trên mặt đầy ý cười, đang muốn mở miệng, mấy vị công tử xuất thân nhà tướng đến từ phía Bắc đã bước xuống thang lầu, cười chào hỏi: “Anh Vụ Thanh ở Phụng Thiên đi vội quá, ngay cả một câu chào cũng không có. Thế là không được, mọi người đều vì anh nên mới đuổi đến tận Bắc Kinh này”.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười, cởi găng tay, bắt tay tượng trưng với một người trong số đó.

Bọn họ đi xuống thì trông thấy Hà Vị mặc áo choàng, nhìn chóp mũi cùng đôi môi của cô gái trẻ bị cổ áo hồ ly che khuất, lộ ra chiếc cằm nho nhỏ, đều hoảng hồn một phen, muốn thử vén lớp lông hồ ly chướng mắt kia lên, nhìn rõ khuôn mặt cô gái này. Có điều bọn họ cũng chỉ dám nghĩ, người của Tạ Vụ Thanh chẳng ai dám không chào mà bắt chuyện.

“Vị này là?” Người bắt tay cười hỏi.

Tạ Vụ Thanh cười mà không đáp, chạm tay lên vai cô, nhỏ giọng nhắc nhở: “Nơi này đông người, em đến phòng riêng đợi anh trước”.

Hà Vị đó giờ luôn được người khác giới thiệu đã thành quen, hiếm khi nếm thử mùi vị bị “giấu giếm” thế này, mím môi cười, khẽ gật đầu đáp lại, dẫn theo Quân Khương lên lầu. Cô đi được nửa đường, từ trên cầu thang nhìn anh một cái, thấy Tạ Vụ Thanh cũng nhìn mình, như thể không tận mắt thấy cô vào phòng sẽ không yên tâm.

Cô mềm lòng, đi vào căn phòng đầu tiên.

Vì khách đến hôm nay đều mang thân phận đặc biệt, lo sợ bị ám sát nên phòng riêng xem kịch đều được bố trí mành trúc treo kín trước lan can gỗ, không để người dưới lầu quan sát toàn cảnh.

“Hình như Đặng công tử đến”. Quân Khương giúp cô cởi áo choàng, từ khe hở trên mành trúc nhìn dưới lầu.

Hà Vị cũng nhẹ kéo mành ra, trông xuống dưới.

Đặng Nguyên Sơ thật sự đã lâu không xuất hiện, hắn vẫn đeo cặp kính đồi mồi, râu trên mặt đều được cạo sạch, áo sơ mi và tây trang thay mới trước khi đến gặp Tạ Vụ Thanh. Trên mặt hắn vẫn mang theo nụ cười trước sau không đổi, mất đi một chút khí phách hăng hái, nhiều thêm vài phần công tử kinh thành phong lưu trôi dạt giữa dòng. Đây là chuyện thường thấy ở chốn kinh hoa, nhất là những vương công quý tộc triều trước cùng công tử quân phiệt sau khi rớt đài mất đi quyền thế, ngồi ôm gia tài, không bàn tiền đồ, là hơi thở của người cả ngày chỉ biết đắm mình trong hương châu ấm áp.

Tạ Vụ Thanh bị vây quanh, nhất thời khó dứt ra được.

Hai tay Đặng Nguyên Sơ đút trong túi quần, buồn chán nhìn trong ao, ngẩng đầu lướt qua dãy sương phòng, bất ngờ đối diện với ánh mắt Hà Vị. Hắn cười, không đợi nữa, bước lên tầng trước.

Vào phòng riêng, Đặng Nguyên Sơ trước tiên xin lỗi: “Đêm qua say quá, lúc cô đến gọi, tôi còn chưa tỉnh được”.

Trên người hắn căn bản không có mùi rượu, nhưng Hà Vị không vạch trần. Hắn nói xong, lại mang theo áy náy: “Lúc trước anh Thanh giao cô cho tôi, chút chuyện nhỏ này vẫn không làm xong, lại để cô dùng quan hệ của mình với Bộ Ngoại giao giúp đỡ tôi, việc đó đến giờ còn chưa kịp cảm ơn cô, hôm nay mới có dịp nói”.

Ngoài mành trúc, một đôi ủng quân đội xuất hiện, Tạ Vụ Thanh nói với Lâm Kiêu cùng hai quan quân theo cùng: “Bất kỳ ai đến đều nói tôi đang gặp khách”.

Đặng Nguyên Sơ nghe tiếng Tạ Vụ Thanh, xoay người, nhìn Tạ Vụ Thanh đứng sau tấm mành.

Anh vén mành trúc bước vào, trông thấy Đặng Nguyên Sơ, khẽ thở dài một tiếng.

Mắt Đặng Nguyên Sơ hơi đỏ lên, dù lúc này mặc âu phục nhưng hai chân khép chặt, hành quân lễ: “Thầy Tạ”.

Tạ Vụ Thanh gật đầu, cởi áo khoác ngoài, ném lên ghế xem kịch. Anh không nói lời nào cứ thế cởi áo quân phục tướng lĩnh đã trùm trên người mấy tiếng qua, vết thương ở thắt lưng không thoáng khí, khiến người ta không thoải mái.

Buổi chiều anh uống rượu pha loãng nước trà, trước mắt là hương rượu Mao Đài ấm nóng cùng trà quế hoa trộn lẫn một chỗ, đè áp được mùi thuốc phiện tích tụ lâu ngày trong căn phòng này. Mắt anh như ẩn chứa hương rượu chưa tan hết, khuôn mặt đặc biệt trắng, khoé môi hơi mím lại, thấp thoáng sự nghiêm túc cùng bình tĩnh mà một giáo viên Bảo Định nên có: “Vốn định chọn ngày một mình đến gặp cậu. Vị Vị lại quá sốt ruột, đợi không nổi”.

Tạ Vụ Thanh đứng trước mặt Đặng Nguyên Sơ, chăm chú nhìn hắn: “Có phải ở Bắc Kinh đã gặp phiền phức gì không?”

— HẾT CHƯƠNG 29 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 30: Đêm tuyết soi chiếu kinh hoa (3)


Mắt Đặng Nguyên Sơ càng đỏ hơn.

Tiếp đến là thầy trò bọn họ nói chuyện.

Cô tìm cớ, rời khỏi phòng riêng, nhường chỗ cho hai người từ từ bàn bạc.

Ông chủ chờ trên cầu thang tầng hai nhìn thấy Hà Vị đi ra, cười giả lã: “Gần đây không thấy cô hai lui tới nhiều, có phải thường xuyên đến Quảng Hoà Lâu, quên mất chúng ta rồi không?” Cô cười: “Cuối năm ngoái đến Thiên Tân, ở lại nhà chú chín một thời gian”.

“Cửu gia vẫn tốt chứ?” Ông chủ vừa nghe đến Cửu tiên sinh Hà Tri Khanh, ý cười trên mặt càng đậm.

“Rất tốt”, cô đáp lời, “Chơi chim nuôi mèo, còn có thím ở cùng, so với sống trong kinh thành thì tự do tự tại hơn nhiều”.

“Như vậy tốt quá rồi”, ông chủ hàn huyên, “Thời trẻ lúc tôi mới đến thành Bắc Kinh, nhà Cửu tiên sinh mỗi ngày đều đãi tiệc như nước chảy, bốn mùa quanh năm không ngơi nghỉ, mặc kệ người tới là ai, phú quý hay nghèo túng, chỉ cần tìm đến cửa đều được cho một đôi đũa cùng một chén rượu, khung cảnh như thế đến nay không gặp được nữa. Hiện giờ người vinh hiển không giống người vinh hiển, vẫn thích dáng vẻ xưa cũ của Cửu tiên sinh hơn”.

“Hiếm có người còn nhớ chuyện này, thời đó ai cũng bảo chú chín tôi ngốc”. Cô cười một tiếng.

“Họ thích nói cứ để họ nói, miễn có người nhớ rõ Cửu tiên sinh tốt thế nào là được. Đến giờ tôi vẫn nhớ ngày ấy mình đói đến mức không ăn được một hạt cơm, đến phủ của chú chín cô hai đây lại được ăn chân giò hầm tương, cả đời khó quên”.

Ông chủ thấy cô đảo mắt nhìn xung quanh, nhiệt tình hỏi: “Cô hai ra ngoài này, là có chuyện muốn căn dặn sao?”

“Bọn họ đang nói chuyện bên trong, nên tôi ra ngoài”, Hà Vị nhìn hàng ghế bày rải rác phía sau phòng riêng, “Muốn tìm chỗ ngồi một lát”.

Ông chủ cười cười: “Nếu để cô hai Hà ngồi ở đây, ngày mai truyền ra ngoài, chính là chọc vào lưng tôi. Để tôi đi xem trước có phòng nào là người quen của cô hai không, sau đó đưa cô hai đến ngồi một chút. Nói không chừng còn có thể kết một mối làm ăn”.

“Làm phiền ông”. Cô cảm ơn.

Trong lúc nói chuyện, phó hội trưởng thương hội Thượng Hải bước tới: “Cô hai nếu không ngại, đến phòng bên cạnh ngồi cũng tốt. Nơi đó chỉ có người trong thương hội chúng tôi, vẫn còn chỗ, chỉ thiệt thòi cho cô hai ngồi đợi trước, chờ Tạ thiếu tướng quân một lát”.

“Sao có thể nói thiệt thòi chứ”, cô cười đáp, “Chỉ ngại quấy rầy người thân của ngài”.

“Cũng không có gì, vợ của hội trưởng chúng tôi cũng ở đó. Cô hai đi qua, có lẽ nói chuyện được”.

Phó hội trưởng nhiệt tình mời mọc, Hà Vị cũng không tiện làm chủ tiệc mất mặt, đến phòng bên cạnh ngồi.

Trong phòng bên sớm đã đầy ắp nam nữ, bốn chỗ tốt nhất phía trước vẫn còn trống mà chỉ có một vị phu nhân ngồi. Phó hội trưởng giới thiệu Hà Vị, phu nhân kia không chút kiêng dè, trước sau chỉ nhìn Hà Vị chăm chú.

Cô bị nhìn không được tự nhiên, dù trước giờ đi xã giao đã quen bị người khác nhìn chòng chọc, thế nhưng ánh mắt người này thật sự không hề che giấu.

“Vị này là vợ của hội trưởng thương hội chúng tôi”. Phó hội trưởng giới thiệu.

Hà Vị lễ phép quan sát đối phương hai lần.

Cách ăn mặc của vị phu nhân này có chút giống Hà Vị, đều là váy dài liền thân theo phong cách thời trang thịnh hành nhất châu Âu hiện nay, trên đầu còn thắt một dây thêu cột tóc đính trân châu. Cô ấy sinh ra đã có một đôi mắt cong như trăng non, tự khắc mang theo ba phần ý cười, ánh mắt ấm áp, có điều thỉnh thoảng nhìn chằm chằm Hà Vị mang theo vài phần ý tứ khiến người ta không thấu: “Cô hai Hà, ngưỡng mộ đã lâu”.

Hà Vị gật đầu một cái lịch sự.

“Tôi là đồng hương của Tạ thiếu tướng quân”. Đối phương bỗng dưng mở miệng.

Lời nói không đầu không đuôi… nhưng cô không phải kẻ ngốc, cân nhắc vài giây, mơ hồ đoán được người này không chỉ là “đồng hương” mà còn từng có gì đó với Tạ Vụ Thanh.

Hà Vị mỉm cười: “Vậy lát nữa anh ấy đến, hai người có thể hàn huyên rồi”.

Phó hội trưởng sợ Hà Vị ở đây buồn chán, nên cùng cô ngồi xuống hàng ghế đầu tiên. Ba người bình an vô sự nghe kịch, cũng không nói chuyện nhiều.

Chờ người trên sân khấu hát xong, ông chủ đứng đợi ở tầng hai chào hỏi ngoài cửa: “Tạ thiếu tướng quân, Đặng công tử”.

Mành trúc phòng riêng bị ông chủ vén ra, Hà Vị và phó hội trưởng cùng lúc rời khỏi ghế, vị phu nhân kia cũng theo bản năng đứng dậy, nhìn xuống sau mành, khẽ cúi đầu né tránh Tạ Vụ Thanh đang đứng cạnh cửa.

Tạ Vụ Thanh lướt qua người ngồi đầy trong phòng, nhìn chỗ hàng ghế tốt nhất phía trước, mắt thấy vợ của hội trưởng thương hội, giống như bất ngờ, lại giống như rất nhanh đã thông suốt.

Người phụ nữ kia nhìn Tạ Vụ Thanh: “Thiếu tướng quân, đã lâu không gặp”.

Tạ Vụ Thanh hơi gật đầu: “Cô tư Lâm”.

“Mới vừa rồi phu nhân còn nói với cô hai chuyện hai người là đồng hương”. Phó hội trưởng cười khơi chuyện, “Xem ra quả thật là quen biết lâu rồi”. Vừa mở miệng đã gọi nhau như hàng con cháu bên nhà mẹ đẻ, tuổi tác quen biết chắc cũng không ít.

Cha của Lâm Trĩ Ánh là Lâm Đồng, từng giữ chức đốc quân hai tỉnh, hiện giờ là một trong những quân phiệt lớn nhất, cũng là kình địch của Tạ Vụ Thanh.

Ánh mắt Lâm Trĩ Ánh không rời, như muốn tìm lại chút bóng dáng của quá khứ trên mặt Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh không nhìn cô ta nữa, ngược lại quay về phía Hà Vị: “Cô hai nếu nhàn rỗi thì chúng ta đến một chỗ thanh thịnh”.

Vì vừa rồi Tạ Vụ Thanh lộ ra tia “ngoài ý muốn”, trong lòng cô chua xót, nhìn về sân khấu kịch nói: “<i>Chiết [1]</i> tiếp theo nghe bảo không tồi, không bằng Tạ thiếu tướng quân ở đây xem đi”.

<i>[1] Cách gọi một màn/cảnh trong vở diễn</i>

Tạ Vụ Thanh giống như không quan tâm đến việc vở diễn có đặc sắc hay không, chỉ đồng ý với giai nhân là Hà Vị: “Nếu cô hai muốn ở lại, Tạ mỗ cũng đành theo”.

“Mang hai cái ghế đến đây”, Tạ Vụ Thanh sai bảo, “Cái của tôi đặt phía sau chỗ cô hai”.

Mặc dù bên ngoài có tin đồn anh theo đuổi cô, nhưng trước mặt người lạ, hiếm khi anh biểu hiện rõ ràng như thế. Đừng nói những kẻ hâm mộ đứng một bên xem náo nhiệt, ngay cả Hà Vị cũng không quen với việc anh quá chu đáo.

“Cần gì phiền phức thế”. Phó hội trưởng khách sáo chỉ cái ghế trống giữa Hà Vị và Lâm Trĩ Ánh, “Nơi này còn một chỗ”.

Lâm Trĩ Ánh chậm rãi lùi ra, chừa lại lối đi cho anh.

Hà Vị không nói gì, mắt hướng về sân khấu kịch dưới tầng.

Cô nhớ lại vừa rồi khi họ nhìn nhau, trong lòng không tự nhiên lắm, chậm rãi xoay xoay cái vòng hồng ngọc trên cổ tay xuống khớp xương.

Tạ Vụ Thanh đứng cạnh Hà Vị, cúi đầu nhìn cô, thấp giọng hỏi: “Đang giận anh à?”

Anh cố tình thì thầm lộ rõ sự thân mật, nhưng ở một nơi không gian hạn hẹp như phòng riêng thế này, cũng đủ để mỗi người họ đều nghe thấy.

Hà Vị đối diện mắt anh, thầm nghĩ, đến bản thân cô cũng không biết mình giận cái gì…

Đặng Nguyên Sơ đứng một bên tựa vào cạnh cửa, tháo gọng kính xuống, cười nói: “Phó hội trưởng không cần sốt sắng. Hai người họ lát nữa còn có tiệc xã giao, không thể ngồi nghe đến cuối được”.

Phó hội trưởng không hiểu bầu không khí kỳ quái trong phòng riêng, vừa nghe Đặng Nguyên Sơ nói xong, ông đã rõ ràng, cũng không quản nữa.

“Nếu em muốn đứng, anh đứng cùng em không sao. Có điều đứng ở chỗ này, cản trở tầm nhìn của khách khứa phía sau thì thật bất lịch sự”. Tạ Vụ Thanh nhỏ giọng nói chuyện với cô.

Cô không đáp lại, trong mắt nhìn của Lâm Trĩ Ánh, lướt qua Tạ Vụ Thanh đi ra ngoài.

Lúc cô qua cửa phòng riêng, Tạ Vụ Thanh tự giác vươn tay, giúp Hà Vị vén rèm châu. Hà Vị bước xuống tầng, Quân Khương ôm áo choàng toan đuổi theo, lại bị Tạ Vụ Thanh cản lại. Anh nhận lấy áo, khoác lên vai Hà Vị.

Hà Vị nghĩ thầm, anh thật bình tĩnh, chuyện không đáng nói cũng sẽ không giải thích.

Khi bọn họ xuống lầu, vị công tử nhà tướng quân đến từ Phụng Thiên bước đến chào hỏi: “Anh Vụ Thanh muốn đi sao?” Trong lúc nói chuyện, hắn rốt cuộc cũng có cơ hội nhìn rõ mặt Hà Vị, vô cùng hứng thú gật đầu với cô.

Hà Vị lịch sự cười chào lại.

“Tối qua ở khách sạn Bắc Kinh, đã khiến anh Vụ Thanh kinh hãi rồi”, người nọ thấp giọng nói, “Có người nhờ em chuyển lời, nói lần này vốn không định nhắm vào thiếu tướng quân. Đã đắc tội nhiều, mong thiếu tướng quân thông cảm”.

Dứt lời, đối phương lại nhỏ giọng tiếp: “Sau này đối với mấy chuyện kia, thiếu tướng quân chỉ cần khoanh tay đứng nhìn là được, không cần bảo vệ bọn họ”.

Tạ Vụ Thanh từ lâu đã đoán biết những lời này, đáp lại: “Tôi ở khách sạn Bắc Kinh, điều đó không ai không biết, bọn họ lại dám ra tay ngoài cửa khách sạn, muốn người chết trước mắt tôi, loại chuyện này một khi truyền ra ngoài, tôi còn biết nhìn mặt người phương nam thế nào nữa?”

“Là họ muốn bớt việc”. Đối phương cười giả lã.

Anh mở miệng: “Cậu cũng thay tôi trả lại họ một câu, thời cuộc loạn lạc, đường sống hôm nay cũng chính là lối thoát sau này. Dù gì thì cũng không ai có thể cả đời không xuống phía nam”.

Vị công tử kia im lặng, thấp giọng đáp: “Nhất định sẽ truyền lời lại”.

Anh trùm mũ áo choàng lên đầu Hà Vị.

Vì để hoà hoãn không khí, người nọ nhìn về phía Hà Vị, muốn bắt chuyện hai câu để làm dịu đi sự không vui của Tạ Vụ Thanh.

“Kẻ hèn tôi đây họ Trịnh”, công tử Trịnh gia cười nói với Hà Vị: “Vừa rồi không biết là bà chủ nhỏ của vận tải đường thuỷ Hà gia, là Trịnh mỗ có mắt như mù, mong cô hai không để trong lòng. Ngày khác tôi mở tiệc tạ tội, kính mong cô vui lòng đến dự”.

“Khách từ xa đến kinh thành, nên để tôi đãi tiệc mới đúng”, Hà Vị cười đáp, “Có điều đãi tiệc cũng cần chú ý ngày lành tháng tốt, chờ tôi tìm được một ngày thích hợp, nhất định sẽ đưa thiệp đến —”

“Khách sạn Lục Quốc”. Công tử Trịnh gia tiếp lời.

Hà Vị vén lớp lông hồ ly trên mũ lên cao, để lộ ý cười trong mắt với hắn, sẵn tiện cẩn thận nhớ rõ diện mạo người này.

Tạ Vụ Thanh đưa tay qua, Hà Vị rũ lông hồ ly xuống, nắm tay Tạ Vụ Thanh.

Hai người ngồi vào ghế sau xe.

Cô tháo mũ trùm đầu xuống, Tạ Vụ Thanh liếc nhìn cô một cái.

“Lúc anh ra bắc, có người nói với anh, em là vị tiểu thư chờ gả phú quý nhất trong kinh này”. Anh giống như trêu ghẹo.

Hà Vị thấp giọng đáp: “Không dám nhận”.

Tạ Vụ Thanh cười, xoa lọn tóc phía sau đầu cô, giống như đối với một đứa trẻ.

“Thay tôi chuẩn bị một bộ quần áo bình thường mang đến Hà nhị phủ”. Anh nói với người ngồi phía trước.

Lâm Kiêu nhận lệnh, căn dặn phía ngoài cửa xe.

Chiếc xe rất nhanh rời khỏi Quảng Đức Lâu.

Hai người giẫm lên ánh trăng quay về Hà Nhị phủ, lúc này đã hơn nửa đêm. Chú hai đã sớm nghỉ ngơi ở đông viện.

Suốt một năm qua Hà Tri Hành không bước khỏi giường, hôm đó nhìn thấy cô hai Tạ gia đến nên cố lấy tinh thần, nếu là bình thường, khách lạ đều khó gặp mặt ông. Hà Vị không muốn người khác quấy rầy chú hai, dẫn anh vào thẳng tây viện.

Từ rạp hát trở về, hai người ít nói chuyện, cô cũng không chắc Tạ Vụ Thanh có thật sự muốn đến chỗ này không. Vốn định về nhà nói với chú Mậu, cùng người giữ cửa… Cô ngồi trên giường trong thư phòng, nhìn Tạ Vụ Thanh tựa lưng vào ghế, bắt chéo chân thong thả thưởng trà, bất giác nhớ đến vị phu nhân của hội trưởng kia, đôi mắt cong như vầng trăng non, thực sự rất đẹp.

Trong lòng Hà Vị vẫn còn ghen tuông, thấy anh đối với cô tư Lâm kia tránh né không nói, càng chua không chịu nổi.

Cô nghĩ ngợi, nhớ đến đủ loại quan hệ tình nhân sau kết hôn. Lúc trước trong kinh thường có một cách nói là ‘phương tiện môn’, những vị phu nhân của quan to khách quý nếu muốn cùng tình nhân vui vẻ một đêm, sẽ dặn dò xe ngựa nhân lúc khuya khoắt đưa người vào nhà, trong gian phòng tối đen như mực không thấy năm đầu ngón tay ‘<i>vu sơn vần vũ’ [2] </i>một phen…

<i>[2] cách nói mỹ miều của làm chuyện chăn gối</i>

Hiện giờ cũng có những phu nhân cùng cách cách triều Thanh cũ, ở bên ngoài l*m t*nh nhân cho các công tử nhà quân phiệt.



Đồng hồ báo giờ tí ta tí tách chậm rãi trôi qua, Tạ Vụ Thanh buông chén trà xuống, ngước mắt nhìn cô: “Định bao giờ mới ngủ?”

“Chờ anh đi em sẽ ngủ”. Cô khẩu thị tâm phi nói.

Tạ Vụ Thanh bị cô chọc cười, nhìn thẳng vào mắt cô.

Hà Vị bị anh nhìn đến chột dạ, nhưng vẫn khó tránh khỏi cơn ghen, anh hết lần này tới lần khác đều không giải thích gì. Cô lấy ra hồ sơ vé của bến cảng Thượng Hải và Quảng Châu từ dưới bàn thấp, tháo nắp bút máy, bắt đầu xem qua.

“Anh phải thay quần áo, đến phòng ngủ của em, hay là chỗ nào khác?” Anh hỏi.

Thay quần áo làm gì? Cô nghi hoặc nhìn anh, suy đoán: “Muốn đổi thuốc trị thương sao?”

“Cứ xem là vậy”. Anh đáp qua loa.

Hà Vị buông bút xuống, lần nữa bị nỗi lo lắng che lấp cơn ghen: “Đến phòng ngủ đi”.

Cô dẫn Tạ Vụ Thanh đi qua gian phòng phía tây, đẩy cửa phòng ngủ.

Tạ Vụ Thanh gọi Lâm Kiêu vào, mang theo quần tây cùng áo sơ mi đơn giản đặt trong phòng ngủ, chuẩn bị thay quần áo. Anh dặn Lâm Kiêu đưa quân phục của mình cho một phó quan có dáng người không khác biệt lắm mặc vào, ngồi xe hơi quay về Bách Hoa Thâm Xử.

Sau khi anh thay quần tây cùng áo sơ mi đơn giản xong thì quay về phòng ngủ, nhìn Hà Vị vẫn còn mặc váy dài.

Hà Vị lắng nghe tiếng bước chân của anh, đột nhiên trong phòng ngủ của mình có thêm một người đàn ông, cảm giác này rất diệu kỳ. Giường cô ngủ là kiểu giường bạt bộ cũ mua lúc cô còn bé, giống như một gian nghỉ nhỏ nhắn trong phòng ngủ vậy.

Bên ngoài thành giường có chỗ đạp chân, bước lên chỗ đạp là một hành lang nho nhỏ vây quanh, bên trái lan can có đặt một cái tủ, còn bên phải là bàn trang điểm vô cùng tinh xảo, đi vào trong mới đến khung giường.

“Đây là giường bạt bộ”, cô nhẹ giọng giải thích với anh, “Ngày đông kéo tấm sa trù bên ngoài lại, bên trong đóng kín rèm lần nữa, vô cùng ấm áp. Lúc tỉnh dậy cũng không cần bước xuống giường, có thể tự lấy đồ đạc trong ngăn kéo tủ, tự chải đầu trang điểm”.

Cô không thể xấu hổ nói, loại giường này trong nhà phú quý bình thường vốn là giường tân hôn…

Chỉ vì cô cảm thấy đẹp, lại tiện lợi, mùa đông chân trần xuống giường có thể giẫm lên tấm thảm đặt trên hành lang nhỏ: “Bên cạnh em còn đặt một cái đèn tường bé xíu, không cần rời giường vẫn có thể đọc sách”.

Trước kia thỉnh thoảng cô sẽ nghĩ hai người ngủ trên giường này, mà đêm nay Tạ Vụ Thanh ở ngay bên cạnh, cô ngẫm, bọn họ có thể đóng tấm sa trù, lại kéo kín rèm trong. Ăn bánh uống trà đều tuỳ ý sai người đưa tới, bày trên tủ gỗ lim trên hành lang xung quanh, mấy ngày không bước xuống giường cũng không hề gì.

“Em gọi Quân Khương chuẩn bị nước”. Mặt cô nóng dần, đi ra ngoài, tạm thời không nghĩ đến cái giường nữa.

Cô tắm rửa trước, ngượng ngùng thay áo ngủ, tìm một bộ quần áo tiêu sam nhẹ nhàng vẫn mặc trong phòng vào mùa hè, vải vóc mỏng tanh thích hợp đi ngủ. Tạ Vụ Thanh rửa mặt xong, mặc vào áo sơ mi cùng quần tây vừa nãy, nhìn thấy cô nằm sấp trên gối thêu, ôm áo gấm chờ mình, như thể anh xông nhầm vào một khuê phòng mà mình không nên tới.

Hà Vị bật đèn tường, lật xem sách, từ lâu đã nghe tiếng chân Tạ Vụ Thanh, thấy anh để dép lê bên ngoài chỗ đạp, đóng tấm bích sa gần đó, giẫm lên hành lang, đi đến cạnh giường.

“Lúc ngủ thích mặc quần áo à?” Anh thả một bên màn xuống.

“Có lúc mặc, có lúc không”. Cô thấp giọng đáp.

“Anh vẫn luôn mặc”, Tạ Vụ Thanh bắt đầu thả luôn tấm màn bên kia, “Nếu em thấy không quen, cứ nói với anh”.

Cô nhẹ “vâng” đáp.

Họ giống như những đôi vợ chồng mới cưới do cha mẹ sắp đặt, có thói quen thủ thỉ khi lên giường.

Tạ Vụ Thanh rút sách dưới cánh tay cô, đặt cạnh bàn trang điểm, buông hết màn xuống. Tấm màn trong suốt như hồ thu, lộ ra chút ánh sáng của đèn tường.

“Thì ra giường của con gái là như vậy”. Anh cất giọng nói.

“Cũng không phải đều thế… Khi em còn nhỏ từng nhìn thấy kiểu giường này, vô cùng thích, em năn nỉ chú hai đặt làm cho em”, cô thủ thỉ với anh, “Một cái giường làm mất hai năm trời”.

Nhìn hết tầng này đến tầng khác đều được điêu khắc hoa văn, phải cẩn thận làm rất lâu.

Anh nhìn chỗ hoa văn chạm khắc bên cạnh lan can: “Xem ra sau này trước khi em xuống phía nam, phải nói trước, bằng không sẽ không kịp đặt làm”.

Xuống phía nam?

Cô tưởng tượng phương nam không lạnh giống miền bắc, không cần thiết hứng chí đặt làm một cái giường lớn như vậy: “Nếu em đi, chỉ cần ngủ trên giường kiểu Tây là được rồi”.

Cô thấy anh c** q**n, giọng càng nhỏ hơn: “Không phải anh thích mặc quần áo đi ngủ sao?”

“Hiện giờ còn chưa muốn ngủ”. Anh đáp.

Những kẻ lần đầu nếm thử mùi vị da thịt thân cận, luôn tham luyến mới mẻ, muốn lần nữa s* s**ng tìm hiểu. Lần đầu anh vào khuê phòng của con gái cũng thấy lạ lẫm, dựa vào đầu giường, thấy cái bóng màu xanh nhạt phảng phất chiếu lên người cô, nhìn cơ thể cô được bọc trong bộ tiêu sam.

Cô bị anh nhìn đến tâm thần không yên, ôm chăn ngồi ngay ngắn, như thể biết anh muốn làm gì.

Anh cười, cởi áo sơ mi.

Tạ Vụ Thanh yên tĩnh kéo cô gái ngồi thẳng thớm đến bên người, Hà Vị nhẹ đẩy anh, lại sợ chạm đến miệng vết thương, muốn kiểm tra băng gạc trên thắt lưng anh trước nhưng bị Tạ Vụ Thanh cười ngăn lại.

Anh ôm eo cô, hôn lên môi cô.

Sau bữa tối vào trong xe, anh cũng không làm gì, giờ phút này ngồi trên chiếc giường bạt bộ của cô, ẩn trong màn giường xanh nhạt có thể triệt để làm điều mình thích. Tay Tạ Vụ Thanh giữ sau đầu cô, một tay c** q**n áo trên người cô, cánh môi vẫn day dưa không ngừng. Hà Vị bị anh m*t đến đầu lưỡi tê dại, lại không dám đẩy anh ra, vừa tránh vừa né dựa vào vách ngăn khắc hoa cạnh giường.

“Cô tư Lâm kia…” Cô thở hổn hển, giọng điệu ghen tuông thì thầm: “Không chỉ là đồng hương đúng không?”

Tạ Vụ Thanh mỉm cười, nhìn chăm chú vào mắt cô, thấp giọng đáp: “Ăn dấm chua đến giờ còn chưa hết sao?”

Cũng không chỉ vì chuyện này, còn có cô gái áo trắng buổi chiều, thêm một cô ba Nguỵ gia hết lòng ái mộ anh mà chú chín từng nhắc tới… Chưa từng phai nhạt. “Tiếng thơm đồn xa, không ai không biết”, cô lẩm bẩm nói, “Hôm nay được tận mắt chứng kiến, sau này vẫn không đi xã giao cùng anh sẽ tốt hơn”.

Ngón tay anh quấn quýt lọn tóc dài của cô, cười nghe cô oán trách.

“Cô ấy là bạn học cũ của anh, hay là người ấy? Cái người từng gặp hai lần?”

“Là người chị hai từng tác hợp”.

Đúng thật là người đó.

Hà Vị không cho anh hôn nữa.

“Cô ấy chắc không phải vì anh mới đến Quảng Đức Lâu chứ?”

“Hôm nay cô ta là chủ tiệc, không nhất thiết là vì anh”. Anh nói, “Trong rạp hát có quân phiệt đến từ Phụng Thiên, cũng có người đến từ Tây Bắc, thương hội các nơi làm ăn đều cần những người này chiếu cố”.

Nhưng dựa vào trực giác của phụ nữ, cô dám khẳng định là vì anh.

Thương hội Thượng Hải bao hết bàn, vị cô tư kia lại là chủ ở đó, nhất định biết rõ phòng riêng cách vách là Tạ Vụ Thanh. Cô ta vẫn cố tình ngồi ở phòng bên cạnh, chứ không phải phòng riêng của quân phiệt Đông Bắc hay Tây Bắc.

“Cho dù thật là vì anh, cũng không phải đến đó để bàn chuyện tình cảm”. Tạ Vụ Thanh nói.

Cuối cùng anh cũng thừa nhận. Cô thầm nghĩ.

“Cô ấy nhìn qua không tệ, lúc trước nhất định anh rất hài lòng với mối hôn sự này”.



Tạ Vụ Thanh hôn môi cô, lướt qua rồi dừng lại, để cô có thể nói chuyện, buông lời ghen tuông, âu cũng là một loại tình thú. Tay Tạ Vụ Thanh lần xuống gối đầu, tìm được món đồ vừa rồi đặt trên giường.

Cô thấy anh không trả lời, bất mãn gọi: “Sao không nói chuyện?”

Tạ Vụ Thanh nở nụ cười: “Nói gì đây”.

“Anh… từng hôn cô ấy chưa?”

Anh lắc đầu: “Hai lần gặp mặt đều có người của gia đình bên cạnh”.

“Nhưng đúng là trịnh trọng”.

Tạ Vụ Thanh dừng hôn.

Không lẽ nói trúng rồi ư?

“Sinh nhật vui vẻ”. Anh thủ thỉ nói.

Tay phải Tạ Vụ Thanh lấy ra một cái đồng hồ dưới gối. Cây kim trên mặt đồng hồ đã điểm 12 giờ.

Sinh nhật tuổi hai mươi của cô đến.

Kim đồng hồ tất nhiên sẽ không dừng lại vì cô, vẫn từng nhịp từng nhịp trôi qua, trong màn giường yên tĩnh lặng ngắt, một phút này dường như kéo dài vô tận. Hà Vị ngồi trong tiếng tích tắc của đồng hồ, nhìn người đàn ông đang ôm mình trên giường.

“Tối qua sau khi bị thương vẫn chưa dám lên giường, sợ ngủ thiếp đi sẽ bỏ lỡ thời gian”, anh ngồi trong ánh sáng màu xanh nhạt, mỉm cười, “Hiếm có dịp đến đây một lần, không muốn bỏ lỡ sinh nhật em”.

— HẾT CHƯƠNG 30 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 31: Đêm tuyết soi chiếu kinh hoa (4)


Tấm màn xanh nhạt óng ánh bóng đèn như hồ nước, cô như ngồi trong làn thu ấy, vầng sáng lấp lánh gợn lên mắt mày Tạ Vụ Thanh, khiến khuôn mặt anh lung linh biến ảo. Vừa rồi còn nghĩ đến ‘phương tiện môn’. Anh đã thay quân phục, ẩn nấp trên giường bạt bộ trong viện này, còn không phải là ‘phương tiện môn’ sao? Nghĩ đến đây cô bất giác mỉm cười.

Cô thủ thỉ nói với anh: “Hình như mỗi lần anh tới, đều vì chúc mừng sinh nhật em”.

“Em ước muốn gì?” Anh dịu dàng hỏi.

Cùng một vấn đề.

“Lời thật lòng của Tạ Vụ Thanh”. Cô cười đáp.

Tạ Vụ Thanh bảo: “Lúc này, thật không đoán được em muốn nghe gì”.

“Không thể để Tạ Vụ Thanh và Tạ Khanh Hoài là một, anh có tiếc nuối không?” Cô không thích người khác hiểu lầm anh.

Anh vậy mà cười: “Hoàn bích tuy tốt, nhưng thói đời khó dung”.

Anh bổ sung thêm: “Một khi vẫn còn nhược điểm, sẽ có cơ hội bị mua chuộc. Nếu giết anh rồi, binh trong tay anh cũng không thể thuộc về bọn họ, kết đồng minh với anh mới là điều họ muốn. Nếu anh là Tạ Vụ Thanh, hiểu rõ chuyện bo bo giữ mình, đối với người phương Bắc mà nói sẽ có cơ hội lôi kéo, bọn họ liền giảm ý định muốn giết anh, giúp anh thuận lợi quay về nam. Nếu anh là Tạ Khanh Hoài, ngay lần trước vào kinh đã chết trong nhà lao rồi”.

“Trước Cách mạng Tân Hợi, hai vị tướng quân bắc Ngô nam Thái là nổi danh nhất. <i>Ngô Lộc Trinh [1]</i> ở phương Bắc trước chống giặc Oa sau lại phản Thanh, hùng tài vĩ lược, vậy mà một đời tướng lĩnh yêu nước lại bỏ mạng vì ám sát. Anh từng gặp gỡ vị trưởng bối này, nếu ông ấy còn sống, Tây Bắc hôm nay sẽ có một cảnh tượng khác”.

<i>[1] Ngô Lộc Trinh là một trong những tướng quân cuối thời nhà Thanh, trên thực tế, ông là đảng viên Đảng Cách mạng “nằm vùng” trong triều Thanh. Sáng sớm ngày 7/11/1911, Ngô Lộc Trinh đang ở bến xe Thạch Gia Trang của Bộ Tư lệnh soạn thảo thư mời liên quan Trương Triệu Tăng vào kinh ứng cứu, vừa mới viết xong mực còn chưa kịp khô đã bị Mã Huệ Điền dẫn theo một đám côn đồ xông vào g**t ch*t. </i>

“Thanh danh không quan trọng”, anh nói, “Những tướng lĩnh như chúng ta đều thề chết trên chiến trường, vì quốc gia hy sinh không tiếc, mà không phải tuỳ tiện xả thân trước họng súng của bất kỳ ai”.

Giọng anh lúc êm đềm, lúc dịu dàng, có thể cảm hoá lòng người.

Tạ Vụ Thanh tắt đèn.

Anh nói tiếp: “Phụ nữ đến tìm anh, cũng không chỉ vì nói chuyện tình cảm, rất nhiều người đều đến để đưa tiền”.

Hà Vị bị chọc cười, âm thầm nói: “Vậy anh còn không mau đi, đừng ở trong viện của em nữa, ra ngoài gặp mấy người giai nhân của anh. Vài lần nhìn mặt liền có được mấy trăm khẩu súng, biết đâu không thoả lại gặp được bà nhỏ hào sảng của tên quân phiệt nào đó, liền có một chiếc máy b** ch**n đ**”.

Tạ Vụ Thanh giả vờ suy nghĩ: “Cô hai không hổ là người làm ăn kinh doanh, khoản tiền này tính rất tốt”.

Hai người nhìn nhau cười.

Tạ Vụ Thanh buông lỏng áo sơ mi, nằm thẳng xuống giường. Anh rất mệt, cần ngủ một giấc. Chờ người nằm xuống rồi, vừa nhắm mắt anh lại nghĩ, chúc mừng sinh nhật đơn giản như vậy không biết có thể làm cô vui vẻ không.

Hô hấp anh dần yên tĩnh.

Cô nằm trong chăn gấm, chạm vào vạt áo sơ mi của anh, muốn kiểm tra xem có phải anh thật sự thiếp đi rồi không, liền thử cởi cúc áo trắng của anh, từng cúc từng cúc một. Cô thoáng ngửi thấy mùi kem đánh răng trên mặt anh, lặng lẽ in dấu môi xuống chiếc cằm của anh.

Anh mười bảy tuổi đến Tứ Cửu Thành, đứng dưới cổng Đức Thắng Môn sừng sững giữa đêm tối, trong lòng chỉ mong có thể lật đổ vương triều nhà Thanh, mong khôi phục đại nghĩa, mong hồi sinh non sông… Không hề biết nữ nhi tình trường là gì, nên không tưởng được cảnh mười mấy năm sau, bản thân nằm trong một gian nhà cao cửa rộng ở thành Bắc Kinh, có một cô gái ở bên cạnh, cởi bỏ áo sơ mi anh từng chút một…

Đêm nay hương Tô Hợp càng đốt càng nồng.

Áo sơ mi Tạ Vụ Thanh rất trơn, không biết làm từ chất liệu gì, ngược lại trắng thuần sạch sẽ, cô sờ vào cổ áo anh, cuối cùng dời lên hai tấc, chậm rãi áp cánh môi mình lên đôi môi mềm mại của anh.

Cô tự giác nhắm chặt mắt, không phát hiện Tạ Vụ Thanh đã nhìn cô tự lúc nào.

Đợi đến khi có cảm giác tay người đàn ông giữ sau gáy mình, môi tách ra hôn đáp lại, cô giống như bị điện giật, cả người tê tái. Tay Tạ Vụ Thanh trượt xuống, cách một lớp áo mỏng giữ eo cô.

Anh muốn ngủ, là vì để tránh đụng chạm thân mật thường xuyên.

Nhưng cô gái mình thích đang cởi áo anh, từ từ hôn anh, bất kỳ người đàn ông nào cũng không thể ngăn lại phản ứng tự nhiên của cơ thể.

Tạ Vụ Thanh đè chặt eo cô, khẽ khàng hôn. Tay kia ôm lấy tay cô, càng lúc càng nóng.

Chốc lát sau, Tạ Vụ Thanh nghiêng đầu, kề sát tai cô thủ thỉ: “Không muốn ngủ à?”

Mặt cô rất nóng, thật ra cô chỉ muốn hôn anh thôi.

Anh mỉm cười, chạm vào vành tai nóng bỏng của cô: “Đêm nay thật sự rất mệt. Nếu làm chuyện khác, chỉ sợ quá sức sẽ không quan tâm đến cảm xúc của em. Chờ thêm hai ngày rồi nói tiếp”.

Lúc này Tạ Vụ Thanh thật sự thiếp đi.

Phòng thứ hai phía tây chỉ cách nơi này một cánh cửa.

Cô mơ hồ nghe thấy Khấu Thanh lắp bắp nói chuyện với Liên Phòng, bên ngoài tuyết rơi rồi, cô bé từ nhỏ lớn lên ở phương nam, sau khi vào kinh mỗi năm thấy tuyết đầu mùa đều vui sướng nhảy nhót một hồi. Liên Phòng thấp giọng nhắc nhở, bên trong đều đã ngủ, bảo cô bé nhỏ tiếng một chút.

Cuộc nói chuyện này, đêm tuyết này, giống như đã từng xảy ra. Là vào cái đêm lần đầu tiên cô gặp anh.

Nhân sinh trên đời, cùng lắm là ngày này qua ngày khác, năm này tiếp năm kia. Ngày rồi đêm, năm nào cũng có tuyết. Cô nằm sấp trên gối đầu, sợ ngủ quá say sẽ lật người đè lên vết thương của anh, cố tình dùng chăn gấm dựng thành một tấm chắn, ngăn giữa hai người.

Lúc tỉnh giấc, tuyết vẫn bay đầy trời, như không bao giờ kết thúc.

Tạ Vụ Thanh không có trong phòng. Quân Khương bảo anh được nhị tiên sinh mời tới đông viện rồi.

Cô tìm đến thư phòng.

Chú hai đang uống thuốc, Tạ Vụ Thanh theo thường lệ ngồi vào chỗ ghế cao bên cạnh lò hương, hẳn là mới đến không bao lâu, dưới ủng quân đội vẫn còn đọng vệt tuyết. Anh nói chuyện với Hà Tri Hành về sự hưng vượng của ngành công nghiệp:

“Quốc lực là nền tảng. Tôi từ trước đến nay luôn kính nể những vị tiên sinh cống hiến cho nền công nghiệp. Quân nhân thế hệ chúng tôi tuy có thể xua đuổi giặc ngoại xâm, kết thúc chiến tranh loạn lạc, nhưng công cuộc khôi phục Hoa Hạ, vẫn còn phụ thuộc vào giáo dục và công nghiệp”.

Hà Tri Hành cười cười: “Nếu nói công nghiệp, Hương soái mới là người tiên phong, hậu bối chúng ta chỉ cầu mong có thể kéo dài, không thể phụ tâm huyết người đi trước”.

Nhóm tổng đốc triều Thanh hồi trước thường được gọi là “soái”, hết soái này đến soái kia, chỉ có vị <i>Hương soái Trương Chi Động [2]</i> mới là danh xứng với thực. Đường sắt cùng nhà máy sản xuất súng ống, sợi bông, lưới sắt… Còn có xây dựng các trường đại học, đều là vì giữ lại tài phú đa dạng cho lớp hậu bối.

<i>[2] Trương Chi Động là một viên quan và chính trị gia nổi tiếng cuối triều Thanh, là người ủng hộ phái cải cách một cách thận trọng. Ông đỗ đạc Tiến sĩ và từng giữ nhiều chức vị quan trọng. Thành tựu lớn nhất đời ông là ủng hộ phát triển công nghiệp địa phương, canh tân quân đội, gây dựng công binh xưởng Hán Dương và nhiều đóng góp vào công cuộc giáo dục cho đất nước.</i>

Bọn họ đàm đạo không bao lâu, Lâm Kiêu đứng ngoài nhắc nhở, đã tới giờ phải rời đi.

Tạ Vụ Thanh chờ Lâm Kiêu bước ra mới buông chén trà.

“Hà nhị tiên sinh”, Tạ Vụ Thanh đứng thẳng người, “Tạ mỗi hôm nay tới, là vì muốn trực tiếp bàn chuyện hôn sự cùng Vị Vị. Trong điện báo chị hai tôi có nói, ngày đó tiên sinh không gật đầu”.

Hà Vị kinh ngạc, đứng trong khói hương từ lò hạc nhìn chú hai chăm chú.

Hà Tri Hành cười nói: “Có một số lời phải giáp mặt hỏi rõ ràng, sau đó sẽ để con bé tự quyết định”.

Hà Tri Hành nói tiếp: “Tướng quân thành danh từ thời niên thiếu, nắm trong tay trọng binh hai tỉnh, quyền cao chức lớn, nhìn từ góc độ nào cũng không thiệt thòi cho Vị Vị, đối với mối hôn sự này ta vô cùng hài lòng. Tuổi tác Vị Vị cũng đúng lúc nên gả đi rồi, anh chị em trong nhà bằng tuổi con bé đều đã sớm có con đầu lòng, ta không lý nào ngăn cản con bé. Chỉ có điều hai người một nam một bắc, sau khi kết hôn ở chung thế nào?”

Tạ Vụ Thanh nhìn Hà Tri Hành đáp: “Chờ bắt phạt chấm dứt, hai miền nam bắc thống nhất, tôi tự khắc sẽ ra bắc, sống luôn ở Bắc Kinh”.

Hà Tri Hành cười: “Vậy nếu bắc phạt thất bại thì làm sao bây giờ?”

Căn phòng yên tĩnh.

Tạ Vụ Thanh trầm mặc hồi lâu, thấp giọng nói: “Hôm nay ở trước mặt tiên sinh, Tạ Vụ Thanh tôi xin lập lời nguyện. Trong cuộc hôn nhân giữa tôi cùng Vị Vị, cô ấy có toàn bộ quyền tự chủ. Vị Vị có thể tuỳ lúc kết thúc mối quan hệ này, không cần hỏi ý kiến tôi, Tạ gia cũng tuyệt đối không có dị nghị, càng không ngăn cản”.

“Còn Tạ tướng quân thì sao? Nếu cậu thân bất do kỷ, phụ lòng con bé thì thế nào?”

Trong phòng lại lần nữa tĩnh lặng.

Thật ra chỉ có mấy giây, mà hệt như một đời.

Tạ Vụ Thanh chăm chú nhìn đôi mắt cô, quả quyết nói: “Quốc gia cùng người, đều có thể bỏ tôi, nhưng tôi tuyệt không bao giờ phụ bạc họ”.

Cô thu lại hơi thở, nhìn thẳng vào anh.

Hà Tri Hành khẽ thở dài, tay chống xuống giường muốn đứng dậy, Hà Vị định đỡ ông liền bị ông xua tay: “Chờ ở đây”. Ông chậm rãi thả chân, để đầu gối quen với việc cơ thể đứng thẳng, sau đó đi đến cạnh bàn làm việc, tự mình mài mực.

Cô cùng Tạ Vụ Thanh đến bàn ông.

Cho đến khi chú hai viết xong một tờ giấy, thổi khô mực giao cho Tạ Vụ Thanh: “Đây là bát tự ngày sinh của Vị Vị, cậu mang về trước. Sau khi bắc phạt xong thì đến <i>hạ sính [3]</i>”

<i>[3] “Hạ sính” là một trong những lễ phải làm để kết hôn vào thời xưa, lễ hạ sính là nhà trai mang sính lễ đến nhà gái để định hôn, lễ này đến nay vẫn còn, gọi nôm na là “đưa sính lễ”.</i>

Đây là gạt bỏ ý định bọn họ kết hôn ngay lúc này.

“Được”. Tạ Vụ Thanh gật đầu đồng ý.

Anh nhận lấy tờ giấy trong tay, gấp lại kỹ càng rồi cất vào quân phục.

Vì vụ ám sát ở khách sạn Bắc Kinh nên hành lý của Tạ Vụ Thanh đều được chuyển đến khách sạn Lục Quốc.

Hà Vị tiễn anh đến cổng lớn, đứng trong cánh cửa chào tạm biệt: “Chú hai chuyện gì cũng nghĩ cho em, anh đừng để ý lời ông nói”.

Tạ Vụ Thanh giống như không để tâm chuyện vừa rồi, ngược lại bảo: “Ở Thiên Tân anh có một căn hộ nhỏ, vốn định từ Phụng Thiên trở về sẽ đưa em tới xem”. Anh dừng lại một chút rồi nói tiếp, “Là quà tặng sinh nhật tuổi hai mươi của em”.

Cô ra vẻ thoải mái trêu chọc anh: “Xem ra anh có không ít bất động sản ở phương bắc. Sau này em phải cẩn thận tra kỹ mới được”.

Anh cười. Chỉ có hai chỗ, bây giờ đều là của cô.

Cô không nỡ nhìn theo Tạ Vụ Thanh bước qua cửa lớn, đứng ngoài cửa chờ đến khi hơn mười mấy sĩ quan vây quanh anh lên xe.

Ngoài cổng tuyết lớn sớm đọng dày thành lớp, chú Mậu dẫn người đến xúc tuyết, thấy xe Tạ Vụ Thanh muốn rời đi, chạy đến chào hỏi bảo bọn họ đợi một lát. Lâm Kiêu tính tình rất tốt bèn đứng cạnh xe, nói không sao, chờ chút là được.

Trong mắt người ngoài, Tạ Vụ Thanh chỉ vừa đến hồi sáng này, không kẻ nào biết người qua đêm ở tây viện tối hôm trước là ai.

Tạ Vụ Thanh dựa vào sau ghế, nhắm mắt dưỡng thần.

Lâm Kiêu lên xe ngồi.

Tạ Vụ Thanh nhẹ giọng dặn, không cần chờ, cứ đi đường vòng. Nếu không, Vị Vị vẫn đứng trong cửa đợi nhìn xe rời đi, lạnh cô lắm.



Trở về thư phòng, Hà Tri Hành hỏi cô: “Trách chú hai sao?”

Cô nhẹ lắc đầu: “Nếu chú hai không gật đầu, con sẽ không gả”.

Hà Tri Hành dịu giọng nói: “Cậu ta không giống Triệu Ứng Khác hay Bạch Cẩn Hành. Chú hai không phản đối hai đứa nói chuyện tình cảm, nhưng hiện giờ nếu kết hôn sẽ gây ra nhiều phiền phức, thậm chí là họa sát thân”.

Nhìn thấy cô đau lòng, chú hai thở dài, nói tiếp: “Nếu vẫn khăng khăng muốn kết hôn, ít nhất phải chờ nam bắc khai chiến, xem tình thế thật sự thế nào đã”.

Chú hai còn chưa nói hết, thật ra ông cũng muốn nhìn thử xem quyết tâm của Tạ Vụ Thanh muốn cưới cô.

Lần trước anh mang thân phận con tin, những lão cáo già kia ngoài mặt vẫn phải giả vờ tốt bụng, hiện giờ anh bạo gan đến tận đây, liền bị thương ngay khách sạn mới cao cấp nhất Bắc Kinh. Nghe nói chuyện này, ngay cả Tạ gia cùng nhà chồng của bốn vị tiểu thư, còn có những người liên quan gọi điện đến trách mắng.

Một trong số đó chính là kẻ chủ mưu năm ấy ở Bắc Kinh giam cầm Tạ Vụ Thanh, sau khi từ chức thì chuyển đến tô giới Thiên Tân dưỡng lão. Hồ ly cáo già đặc biệt gửi điện tín, “lời lẽ chính đáng” chỉ trích hành vi ám sát tướng lĩnh yêu nước của nhóm quân phiệt, như thể quên mất trước kia mình từng làm gì.

Trong tờ Kinh báo, hôm qua cũng có một bài viết lên án nặng nề vấn đề này. Bút lực của văn nhân, súng ống của quân phiệt, đều đã giằng co ở Bắc Kinh nhiều năm qua, lần này quân phiệt vừa lên đài, đối với tiếng gió trong dân gian vô cùng để tâm. Nghe nói hôm ấy có người mang theo một số tiền lớn, đi đến ngõ Nguỵ Nhiễm, định mua chuộc phóng viên hòng bịt miệng, có điều lại bị đuổi ra ngoài.

Hà Vị lật xem tờ Kinh báo trong phòng khách, nhớ đến người phóng viên mình từng thấy trên tàu hoả.

Hình minh hoạ của bài viết là bên ngoài khách sạn Bắc Kinh. Mặc dù có tên của Tạ Vụ Thanh cùng danh tính hai vị đại biểu bị ám sát, thế nhưng lại không thấy ảnh của họ. Với sự cẩn thận của anh, hẳn sẽ không để lại ảnh chụp trên mặt báo này.

“Hôm nay là sinh nhật cô hai đúng không? Vẫn đến làm việc à?” Giám đốc bưng trà tiến vào.

“Không có việc gì làm nên đến đây”.

“Ngày sinh nhật nên đi giải khuây”.

“Mỗi ngày đều cùng người ta giải khuây, hôm nay không muốn đi”, cô khép lại tờ báo, “Sau này trong văn phòng không cần giữ lại báo nữa, chuẩn bị thêm một ít sách không quan trọng là được. Bằng không nếu để người có tâm tư nhìn thấy, sẽ tìm chúng ta gây phiền toái”.

Giám đốc cẩn thận đáp lại, nhận lấy tờ báo: “Nhân viên đến toà soạn giao vé tàu, thuận tiện mang về thôi”.

Công ty vận tải đường thuỷ nằm trong một căn tứ hợp viện, là nhà cũ của Hà nhị gia, sau khi chú hai mua lại căn nhà quan mới thì dùng nơi này làm văn phòng chung, cách chỗ toà soạn ở Tuyên Nam không xa. Vùng Tuyên Nam nổi tiếng khắp cả nước là nơi văn nhân hội tụ. Trước đây còn có câu <i>“Tuyên Nam sĩ hương” [4]</i>, phàm là sĩ tử nhập kinh để chuẩn bị thi cử đều đến sống ở đây, mà hiện giờ, nơi ấy cùng Trình báo trên phố Vọng Bình ở Thượng Hải, chính là hai trung tâm báo chí lớn nhất của Trung Quốc.

<i>[4] Tuyên Nam, phía nam của Tuyên Vũ Môn, lấy xưởng Lưu Ly cùng cầu Hổ Phường làm trung tâm, các nhà nghiên cứu sau này còn lại là “Tuyên Nam sĩ hương”, tức nơi hội tụ của các văn nhân sĩ phi nhà Thanh, là nguồn gốc của sự hình thành văn hoá Tuyên Nam.</i>

Tờ báo nổi tiếng nhất thành Bắc Kinh là Xã hội nhật báo và Kinh báo, hai vị tổng biên tập nếu không phải thường xuyên đi dạo một vòng trong tù thì cũng bị người ta hạ lệnh g**t ch*t.

Cô ở nhà tâm trạng hỗn loạn nên muốn đến văn phòng tìm chút việc gì đó để làm.

Văn phòng ở Bắc Kinh đã bỏ trống một tháng, hiện giờ công việc bề bộn chồng chất. Ngoại trừ kế toán, toàn bộ sổ sách trong đó cũng chỉ có cô xem hiểu.

Trước kia cô từng rất đau đầu mỗi khi học cái này, một ngày nọ, lão tiên sinh trong phòng sổ sách nói với cô, những vương gia triều Thanh trước đó, những gia đình quan lại tai to mặt lớn đều bại sản vô cùng nhanh, nguyên nhân là vì sinh hoạt xa hoa lãng phí, một phần khác cũng do bản thân bọn họ không biết số học, thường bị phòng thu chi trong nhà có cớ lừa gạt. Những công tử văn nhân trong xã hội cũ đều tự hào vì không sờ vào bàn tính, đối với bọn họ mà nói, đôi bàn tay kia chỉ dùng để lật sách viết chữ, nâng chén cầm đũa mà thôi.

Cô nghe xong lời của lão tiên sinh phòng sổ sách, ngược lại có hứng thú học tập, dần dần nghiệm ra được vấn đề.

Cô cầm bàn tính hạt châu làm bằng ngọc tinh xảo, xem sổ sách nhập tâm đến khi giám đốc gõ cửa, nói trong nhà gọi điện đến văn phòng. Hà Vị lúc xem sổ sách luôn thích an tĩnh, có thói quen rút dây cắm điện thoại ra.

Cô cắm lại xong, lại gọi về, người nhận điện thoại không phải Liên Phòng hay Quân Khương, mà là cô bảy.

Cô bảy nghe máy chỉ nói vỏn vẹn một câu: “Về nhà trước, ngay lập tức về”.

Điện thoại ngắt, cô không dám chậm trễ, liền cầm túi xách vội vàng rời khỏi văn phòng, bước lên xe.

Dọc đường đi cô vẫn khiếp hồn bạt vía, hối hận vì không hỏi thêm một câu, thế nên căn bản không biết rốt cuộc xảy ra chuyện gì.

Hà Vị giục xe nhanh lên, xe trượt hai lần trên đường, cô trấn tĩnh lại nói: “Chạy bình thường đi”. Lỡ như đụng phải gì đó, sợ càng chậm trễ thời gian về nhà.

Vừa bước vào phủ, nhìn thấy hai mắt Liên Phòng đầy nước, đi lên nắm lấy tay cô: “Nhị tiên sinh…”

Hà Vị thấy cô bé như thế, lòng nóng như lửa đốt, bỏ lại Liên Phòng chạy nhanh về phía đông viện.

Cô vừa chạy, vừa đoán có lẽ vì chuyện của mình và Tạ Vụ Thanh mới khiến chú hai phát bệnh, tim đau như dao cắt. Không ngờ lúc đến đông viện thì nhìn thấy người chật ních trong sân, đều là mấy gã sai vặt trong dòng tộc Hà gia. Mà những chủ nhân khác của bọn họ đều đang ngồi đầy trong chính phòng của chú hai, Hà Vị bước vào, mắt thấy cha ruột mình liền biết mọi chuyện là do ông mà ra. Cô vừa định đến phòng ngủ, thoáng bắt gặp bài vị đặt trên sảnh lớn của chính phòng, trên đó viết “Hà Nhữ Tiên”.

Trong lòng cô chấn động, muốn chất vấn cha ruột vì sao lại đem bài vị đặt ở chỗ này, bị cô bảy đứng trước cửa phòng ngủ gọi đến: “Vị Vị, lại đây”.

Hà Vị cố ép mình phải bình tĩnh, cô bảy giúp cô vén rèm cửa, để cô vào trong.

Trong tấm rèm vàng sậm, chú hai vô tri vô giác nằm trên giường, sắc mặt tái nhợt như tờ giấy, một bên là lão trung y trong nhà, còn có chú Mậu và Quân Khương. Hai mắt Hà Vị đỏ lên, nước mắt đều rơi xuống.

Cô muốn nắm tay Hà Tri Hành, nhưng lại sợ tay mình lạnh lẽo, chỉ ngồi cạnh giường nhỏ giọng kêu: “Chú hai”.

“Bây giờ không nghe được”, lão trung y thấp giọng nói, “Chờ đến bình minh, có lẽ sẽ tỉnh dậy”.

Trong ánh sáng đèn tường.

Cô nhìn sắc mặt Hà Tri Hành, nước mắt lăn đầy trên má, trong phòng không ai dám lên tiếng, đều lo lắng cho Hà Tri Hành.

Mà cách một bức tường, bên ngoài lại vô cùng náo nhiệt, giống như sinh hoạt ngày thường trong dòng tộc. Có người hỏi, khi nào chuẩn bị cơm tối, là gọi giao đến nhà ăn, hay đặt bàn ở tửu lầu. Có kẻ giả mù sa mưa đáp lại “Anh hai còn chưa tỉnh, ăn trong nhà đi”…

Cô bảy đóng cửa phòng ngủ lại, chặn chút ồn ào bên ngoài.

Hà Vị cố nén nước mắt, thấp giọng hỏi: “Bọn họ đã làm gì?”

“Đám người đó mang bài vị cậu cả đến đây, nói trước mặt tiên sinh, cậu cả là một nghịch tử, không cần bài vị này nữa”, chú Mậu nói bằng giọng mũi nghẹn ngào, “Tiên sinh lý luận với họ, bọn họ liền nói, đứa con trai này là của đại lão gia, dù có vứt bài vị đi cũng không ai quản được. Nếu muốn đưa bài vị vào từ đường chỉ có một cách, đó là mang toàn bộ tài sản thuộc về cậu cả chuyển hết cho đại lão gia. Tiên sinh lập tức nổi giận công tâm…”

Lúc trước khi xảy ra chuyện ở Nam Dương, vốn dĩ chú hai có thể đưa tàu đến đón anh trai cô về, nhưng vì khi ấy hai phòng Hà gia cùng Hà nhị gia đấu đá quá lớn, bên kia dùng quan hệ giữ lại toàn bộ tàu ở bến cảng. Chú hai cầu xin mấy ngày, mới có thể gặp mặt cha ruột Hà Vị, vừa xuất hiện ông ta đã yêu cầu chú hai trả con trai cho mình, cha ruột luôn nghĩ chú hai không con không cái, không ai tranh giành gia sản vận tải đường thuỷ giúp ông. Chú hai không hề do dự, ngay ngày hôm đó ký vào giấy tờ trả anh trai về cho cha ruột cô.

Nhưng cuối cùng vẫn chậm một bước.

— HẾT CHƯƠNG 31 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 32: Đêm tuyết soi chiếu kinh hoa (5)


Hà Vị đứng trong cánh cửa, nghe bên ngoài có kẻ căn dặn Liên Phòng chuẩn bị thức ăn.

Cô nhẹ kéo chăn gấm lên trên, vém kín cho chú hai. Trong tĩnh lặng, cô chậm rãi túm gọn mép chăn gấm. Cô sờ thử tay chú hai, có chút lạnh. Cô đến bên chậu đồng, vắt sạch khăn nóng, quay lại lau tay giúp chú hai.

Sau đó cô vuốt sạch nước mắt trên mặt, đưa khăn lông cho chú Mậu, bản thân đi về phía cửa.

Cô nhẹ giọng nói: “Gọi tất cả người giữ viện của chúng ta tới đây, mang theo súng”.

Cô nhìn cô bảy đang lo lắng, cười với cô bảy, khẽ lắc đầu, ngầm nói không sao đâu.

Chú Mậu mở cửa, bước nhanh đi ra, cô đứng nép một bên, không sốt ruột ra ngoài, tính toán thời gian chú Mậu đi gọi người giữ viện.

Bên kia rất nhanh đã yên ắng hơn, có lẽ chú Mậu đưa người tới rồi.

Cha ruột Hà Vị ra cửa, trầm giọng gọi: “Hà Tri Hành, chú không cần nằm lì trên giường mặc kệ cái gì cũng không hỏi tới, nhìn xem đám người làm nhà chú đi, đều rút súng ra hết? Nhà các chú là quân phiệt Bắc Kinh à? Muốn giết hết chúng ta hay bắt nhốt lại đây?”

Hà Vị vén rèm cửa lên, đi về phía cha ruột đang đứng giữa.

“Cha tôi đang ngủ”, cô nói, “Chư vị nếu có việc gì có thể nói với tôi”.

Cha ruột thấy Hà Vị đỏ mắt, khăn lông có thể chùi sạch lệ ướt nhưng không thể che giấu sắc đỏ trong đôi con ngươi vừa mới khóc xong: “Mày không thể làm chủ chuyện này”.

Cô đáp: “Cha tôi bệnh nặng, trong nhà mọi chuyện do tôi làm chủ, không có người thứ hai”.

Hà Tri Nghiễm nhìn Hà Vị, trầm giọng nói: “Thật đúng là bị Hà Tri Hành chiều hư. Được thôi, hôm nay sẽ để mày làm chủ, có liên quan đến bài vị cùng chuyện phân nhà —”

Hà Vị cắt ngang lời cha ruột, hỏi thẳng: “Các người muốn bao nhiêu tiền mới đồng ý trả lại anh trai cho tôi?”

Một câu khiến những người có mặt đều kinh ngạc.

Người ở nơi này đa phần đều biết qua chuyện trước đó Hà Vị kiện tụng với người nhà, hiểu rõ tính tình cô không giống với những khuê các tầm thường ngoài kia, nhưng không đoán được một lần lại một lần càng lúc càng hoang đường.

Hà Vị nhìn vào mắt cha ruột: “Không ra giá được à? Hay vì vẫn không biết giá trị của vận tải đường thuỷ nhiều ít thế nào, sợ nói thiếu?”

Cô cùng cha ruột đối diện…

“Vớ vẩn!” Hà Tri Nghiễm trầm giọng răn dạy.

“Hôm nay chúng ta tới đây, bất quá vì đòi lại những thứ thuộc về Hà Nhữ Tiên”, có một người chú nói, “Nên cần phòng hai các người phân nhà. Chuyện này, e là cháu không thể làm chủ được”.

Cô trực tiếp đáp: “Phân nhà, là chuyện tuyệt đối không thể. Hỏi tôi sẽ nói vậy, hỏi cha tôi, cũng là những lời này”.

Hà Vị đảo qua hết những người trong nhà mình, cha ruột còn có đám chú bác đều đang nhìn cô.

Cô khẽ nói: “Nếu không chịu ra giá, vậy bài vị kia”, cô lấy lại bình tĩnh hồi lâu mới tiếp tục, “Tuỳ các người xử trí”.

Tất cả ở đây, ngay cả cô bảy đều bất ngờ nhìn Hà Vị.

Hà Vị lại nói: “Anh trai tôi là người hiếu thuận, tuyệt đối sẽ không muốn nhìn thấy cảnh cha vì một tấm bài vị bị ép đến tức chết. Thế nên hôm nay tôi thay anh làm chủ”, cô nhìn cha ruột cùng mấy chú bác đứng sau, “Bài vị này, nhà chúng tôi từ bỏ, tôi sẽ tự lập một tấm mới, còn cái kia xin các người xử trí hộ cho”.

Trong phòng yên tĩnh đến doạ người.

Sắc mặt cha ruột lúc này vô cùng khó coi, có người đứng sau nhắc nhở Hà Vị: “Cháu có biết, đây không chỉ là chuyện về một tấm bài vị… Hôm nay cháu nói những lời này, sẽ khiến anh trai ruột của mình không thể nhập vào từ đường nữa không?”

Hà Vị chậm rãi đáp: “Tôi biết”.

Cô nhìn cha ruột Hà Tri Nghiễm nói: “Ông có mười mấy phòng vợ lẽ, thứ không thiếu nhất chính là con cái, nhưng ông chưa từng xứng đáng làm cha. Lúc trước anh trai từ chối giúp ông, mẹ ruột anh ấy bệnh nặng đến chết, ông đến tột cùng vẫn không cho anh ấy nhìn mặt lần cuối. Đây là lòng hiếu thảo của mấy người sao, chỉ cần con cái không giúp cha mẹ làm chuyện ác, chính là đại nghịch bất đạo, đều phải chết”.

“Anh trai tôi chưa bao giờ thiếu ông cái gì, tôi càng không nợ nần gì ông”, cô nói tiếp, “Từ nay về sau, tôi sẽ không bước chân vào từ đường, càng không đến trước cửa Hà gia. Nếu muốn gặp tôi, xin mời mang danh thiếp đến đây, còn muốn cướp cái gì, tìm luật sư tới thưa kiện. Những thứ khác, không cần bàn nữa”.

Cuối cùng cô kết luận: “Chú Mậu, tiễn khách”.

Cô nhìn Hà Tri Nghiễm.

“Được… Được lắm!” Hà Tri Nghiễm trầm giọng, “Hôm nay tao sẽ theo ý mày!”

Cô trông theo cha ruột tiến đến gần bài vị, trái tim co rút đau đớn. Cô đoán được cha ruột muốn làm gì, lúc đưa ra quyết định này, cô đã chuẩn bị đối mặt với hết thảy. Nếu anh trai có ở đây, chắc chắn cũng chọn như thế. Người sống, so với một cái bài vị, hay gia phả gì đó đều quan trọng hơn. Chú hai lúc này đã không chịu nổi giày vò thêm nữa…

Dưới ánh đèn chói mắt, Hà Tri Nghiễm cầm bài vị, bước từng bước một. Trong lòng ông ta phẫn nộ vô cùng, hạ quyết tâm, ném mạnh bài vị xuống đất.

Một tiếng vỡ tan. Hà Tri Hân thất thanh kêu “Anh cả”.

Mảnh gỗ văng tứ tung vào mặt Hà Vị, một tấm bài vị mỏng manh gãy lìa thành hai đoạn.

“Cậu cả!” Chú Mậu giận dữ, lập tức giơ súng lên, chạy vọt tới, ôm bài vị gãy đoạn vào trong ngực. Mười mấy người giữ viện phía sau ầm ầm rút súng, nhắm thẳng về phía trước.

Trong phòng một cảnh náo loạn.

Chú ba, chú tư đã lớn tuổi từng đoạn tuyệt quan hệ với Hà Vị trên báo, cũng không sợ ầm ĩ, chạy đến đỡ cha ruột, chỉ vào Hà Vị nổi trận lôi đình mắng cô bất hiếu bất nghĩa, ép cha mình đập vỡ bài vị của anh ruột.

Mấy chú bác nhỏ tuổi hơn không định đắc tội hai bên, đành khuyên anh cả, cũng khuyên nhủ Hà Vị. Tuy bọn họ không muốn Hà Vị chiếm thế thượng phong nhưng tốt xấu gì cô cũng là người quản lý của vận tải đường thuỷ hiện tại, chỉ cần không trở mặt, ngày sau bọn họ thất thế, cô cũng có thể giúp đám chú bác này một tay.



Hà Vị vẫn bất động. Không ngại móng tay cắm chặt vào da thịt, cô chỉ đứng tại chỗ, bình tĩnh nhìn cha ruột của mình, hai mắt hằn đầy tia đỏ. Cổ họng như thể bị lửa thiêu đốt, răng cắn chặt sắp chảy máu.

“Vị Vị à! Người một nhà cớ gì ầm ĩ đến nông nỗi này chứ, cha ruột cháu cũng vì quá nóng giận mới che mờ lý trí!” Có chú bác khuyên cô.

“Từ sớm đã nói rồi, nha đầu này đúng thật tâm tư thâm độc!” Hà Tri Nghiễm được một người chú dìu, thở hổn hển không ngừng.



“Chú Mậu”, mắt Hà Vị đỏ ngầu, nhả ra từng chữ, “Đuổi khách”.

“Cút! Cút hết đi!” Chú Mậu cũng đỏ mắt.

Dưới sự thúc ép của mười mấy họng súng, nhóm chú bác vội vàng bỏ chạy, từng người được mấy tên sai vặt của mình vây quanh, mất hứng rời đi.

Từ cửa ngoài đến cửa trong, đến cả cửa viện cũng bị đóng lại thật mạnh.

Trong nhà quay về vẻ tĩnh lặng.

Hà Vị nhận lấy tấm bài vị của anh trai trong tay chú Mậu, ngồi xổm xuống đất, cẩn thận từng chút nhặt nhạnh mấy mảnh vỡ nhỏ, quay lưng về người trong viện cùng cô bảy, đi đến thư phòng phía đông. Cô giơ tay kéo cửa lại, chốt khoá.

Sau đó chậm chạp khuỵu gối xuống, ngồi bệt dưới đất, đặt bài vị trong tay lên nền nhà.

Cô ngồi từ bình minh đến hoàng hôn, tới khi trời tối.

Không một ai đến làm phiền cô.

Nước mắt trên mặt vừa khô lại lần nữa chảy xuống, cứ lặp đi lặp lại mấy lần như thế, cuối cùng cũng không còn giọt lệ nào, chỉ cảm thấy mệt vô cùng. Căn phòng này thật sự rất lạnh… ngồi dưới đất lại càng lạnh hơn.

Phía sau vang lên tiếng gõ cửa.

Cô không nhúc nhích, muốn hỏi là ai cũng không còn sức lực.

Tiếng gõ cửa vẫn văng vẳng bên tai, như thể người gõ nhận ra bóng dáng cô, biết cô đang ngồi tựa lưng.

“Vị Vị”. Giọng nói của Tạ Vụ Thanh cách một cách cửa cất lên, là anh đang gọi cô.

Tay chân cô bỗng dưng tê dại, hẳn là từ sớm đã mất đi cảm giác, cho đến khi Tạ Vụ Thanh kéo ý thức trong cô quay về. Cô cúi đầu, nước mắt lần nữa rơi.

“Có phải ngồi lâu nên mệt rồi không?” Giọng anh càng mềm mại.

Cô nhẹ đáp “vâng” một tiếng, giống đứa trẻ chịu uỷ khuất.

“Đừng nhúc nhích, anh vào đây”.

Trên cửa xuất hiện một thanh chuỷ thủ mỏng như cánh ve xuyên qua, lập tức cắt đứt chốt cửa. Tạ Vụ Thanh đẩy một cái, cửa liền mở ra, tuyết đọng trên ủng quân đội của anh rơi hết xuống sàn nhà. Anh ngồi xổm trước mặt, im lặng vòng hai tay ôm lấy cô.

“Anh trai em…” Cô sợ anh vấp phải bài vị dưới sàn nhà.

Tạ Vụ Thanh rút trong ngực ra một cái khăn, gói gọn những mảnh vỡ nhỏ vụn của bài vị. Lúc này mới cẩn thận ôm lấy eo cùng chân cô, bế cô từ trên nền đất lạnh lẽo đứng dậy, đi đến bên cạnh giường kê trong thư phòng, khẽ khàng đặt cô xuống.

Anh tìm thấy công tắc của đèn chụp hoa sen trên bàn, cởi quân trang che đi một nửa có thể làm chói mắt cô. Giữ một lại bên sáng, anh cẩn thận nhặt từng mảnh vỡ của bài vị, đặt lên bàn sách.

Hà Vị nhìn anh làm xong hết thảy, quay lại bên người mình, bàn tay bị Tạ Vụ Thanh nắm lấy.

Tạ Vụ Thanh vội vàng chạy tới trong ngày tuyết rơi, tay anh lạnh vô cùng, anh cũng không cởi bao tay, cách một lớp vải mỏng, nhẹ nắm bàn tay lạnh buốt của cô.

“Em để bọn họ… đem anh trai em…” Nước mắt cô lăn xuống, không thốt nên lời.

Tay anh đè chặt sau lưng cô, rốt cuộc mặt cô cũng gục xuống vai anh, cắn môi khóc thành tiếng.

Từ khi Tạ Vụ Thanh quen cô, liền biết tính tình cô không thích khóc, giờ nghe tiếng rấm rứt nấc nghẹn của cô, chỉ cảm thấy máu nóng trong người từ từ chuyển lạnh.

Hà Vị không ăn không uống, lại chịu đả kích mạnh thế này, khóc xong liền thiếp đi trong lòng anh.

Tạ Vụ Thanh bảo Quân Khương ôm chăn gấm tới, mang theo chậu than vào thư phòng, chờ đến khi cô ngủ say, anh mới đi đến khoảng sân trong đông viện, đứng bên cạnh giàn hoa tử đằng cùng một khóm trúc tía, hỏi Lâm Kiêu điếu thuốc, anh ngậm thuốc trên môi, quẹt diêm châm lửa. Chút ánh sáng loé lên giữa kẽ ngón tay. Hút xong một điếu lại nhận tiếp một điếu khác.

Lâm Kiêu muốn hỏi anh, có nói với Hà Vị chưa, nhưng ngẫm nghĩ một hồi, cảm thấy giờ phút này không nên nhắc chuyện ấy.

Hồi chiều có người nghe lén cuộc điện thoại giữa quân phiệt Tây Bắc cùng kẻ thù Lâm Đông của Tạ Vụ Thanh. Bọn họ biết được quân cách mạng đang muốn đi về đông, tính đến việc ít ngày tới Tạ Vụ Thanh sẽ về lại phía nam, đã bày bố sẵn tử cục.

Đối với kẻ thù của Tạ Vụ Thanh mà nói, những tướng lĩnh như anh, lại chịu rời khỏi quân đội cùng binh sĩ của mình đến một nơi khó kiểm soát, loại chuyện ấy đúng là ngàn năm có một. Hiện giờ các tướng soái quân phiệt có binh lực mạnh nhất của Phụng hệ cũng không dám mạo hiểm xuống nam, ấy vậy mà Tạ Vụ Thanh lại ra bắc tận hai lần, nếu lần thứ hai này còn không thể lấy mạng anh, quả thật lãng phí cơ hội trời cho.

Trước đó Lâm Đông từng thất bại mấy bận, dịp này hạ quyết tâm, nhất định không thể để Tạ Vụ Thanh còn sống về phía nam được.

Tạ Vụ Thanh không cách nào tiếp tục ở đây nữa, cùng tâm phúc của mình bàn định kế sách <i>‘kim tiền thoát xác’ [1]</i>, quyết định ngay trong tối nay lấy lý do ra bắc đến Phụng Thiên, trước tiên đi thẳng tới Liên Xô, sau lại nghĩ cách quay về Quảng Châu.

<i>[1] Là một kế dùng người giống mình hoặc dàn dựng cảnh giả chết để thoát thân</i>

“Lâm Kiêu”. Tạ Vụ Thanh thấp giọng gọi hắn.

Lâm Kiêu đang định đáp lời.

Anh đã nói nhỏ câu tiếp theo: “Lùi chuyến đi lại hai ngày”.

Rừng trúc sàn sạt, gió bắc cuốn theo ánh tuyết, rơi vào mặt Tạ Vụ Thanh, còn trên tay là tàn thuốc đỏ sậm.

Lâm Kiêu không nói gì. Chuyện liên quan đến sống chết của Tạ Vụ Thanh, hắn không thể trả lời, cũng không cách nào khuyên ngăn.

Tạ Vụ Thanh rút khẩu súng từ sau thắt lưng, kéo ra hai viên đạn.

Anh đưa chúng cho Lâm Kiêu: “Tìm hai phong thư, một viên đạn đưa cho thư ký đại biểu của chính phủ lâm thời, phong thư rỗng kia đưa cho Trịnh Độ ở khách sạn Lục Quốc. Tối nay cậu dẫn người đến Thiên Tân, thuê một toa tàu, mời Cửu tiên sinh về kinh”.

Lâm Kiêu đi theo Tạ Vụ Thanh nhiều năm, vừa nghe anh gọi tên vị quân phiệt trọng yếu cùng một công tử vừa mới quen biết, liền hiểu Tạ Vụ Thanh muốn ra tay rồi. Tạ Vụ Thanh am hiểu nhất là chiêu ‘mượn dao’ của quân phiệt, trừ khử kẻ muốn trừ. Ở phương diện này, anh không thích hao tổn nhân lực cùng lợi ích của mình, càng không nhờ vả bạn bè thân thiết, sợ làm bẩn tay của người thân cùng bạn bè anh.

Mà mỗi lần ‘mượn dao’, Tạ Vụ Thanh còn có một thói quen, chính là thích chọn quân phiệt có thời gian quen biết ít nhất với mình. Con dao bén nhất là con dao mới, người vừa mới quen biết thường nóng lòng, nên luôn làm việc nhanh gọn nhất.

Lâm Kiêu nhận viên đạn, vội vã rời đi.

Tạ Vụ Thanh lại gọi một võ quan khác tới, nhỏ giọng thì thầm, dặn dò chuyện thứ ba rồi để võ quan ra ngoài.

Cuối cùng, anh sai người ra xe mang tài liệu sắp xếp ổn thoả rồi chờ đợi khách tới cửa.

Chưa đầy một giờ sau, thư ký đại biểu đến trước.

Thư ký đại biểu vừa nhìn thấy viên đạn, tức khắc nghĩ ngay đến chuyện tàu hoả bị chặn lại ở Thiên Tân, từ ngày Tạ Vụ Thanh trực tiếp g**t ch*t kẻ phạm tội, hắn ngày đêm tâm trạng bất an, hối hận vì đã giúp vị tư lệnh kia khuyên ngăn Tạ Vụ Thanh, chỉ cảm thấy cái đầu cũng không còn trên người mình nữa. Vừa nhìn thấy viên đạn, hắn tự biết khó giữ mệnh, bất cứ giá nào cũng phải đến gặp vị Diêm Vương đòi mạng này, chỉ cầu mong một con đường sống.

“Ngồi đi”. Tạ Vụ Thanh chỉ vào ghế tựa.

Tạ Vụ Thanh gọi người mang hai tập văn kiện đưa đến trước mặt hắn, thư ký lật xem hai trang, sắc mặt ngày càng trắng bệch, tất cả đều là bằng chứng vài năm trước hắn qua lại với mấy đại quân phiệt ở phương nam… Hậu quả còn đáng sợ hơn cả cái chết.

Tay thư ký đè chặt trên hai tập văn kiện: “Nếu vì chuyện ngày đó ở sân ga, thiếu tướng quân chỉ cần sai người truyền lời một câu, ty chức sẽ trực tiếp làm thiếu tướng quân hả giận, cần gì phải lấy những thứ này…”

Tạ Vụ Thanh chỉ cười mà không nói, khẽ vung tay một cái.

Sĩ quan mang hai xấp văn kiện bằng chứng kia đặt cạnh chậu than, ngồi xổm xuống, từ từ cởi dây cột giấy.

Tạ Vụ Thanh nói: “Tình thế nam bắc thay đổi khó lường, cậu vì bản thân tính toán nhiều đường lui, về tình có thể tha thứ”.

Sĩ quan bắt đầu đốt từng tờ.

Thư ký như được đại xá, nhìn chằm chằm chậu than cháy hừng hực từ từ nuốt trọn xấp văn kiện, nhỏ giọng đáp: “Là tướng quân đại nghĩa! Tướng quân nếu không chê, sau này tôi là một người bạn của ngài, vĩnh viễn sẽ không thương tổn bạn bè ngài. Chỉ cần tướng quân dặn dò, dù là núi đao cũng có thể san bằng, biển lửa vẫn có thể lấp đất”.

‘Đọc sách’ bưng trà tiến vào, thư ký thụ sủng nhược kinh.

Thư ký tiếp tục bày tỏ lòng trung thành của mình; “Tất nhiên, nhận làm bạn của thiếu tướng quân là tôi trèo cao. Chỉ là có rất nhiều chuyện vặt, căn bản không đáng để tướng quan lo lắng, giao cho tôi xử lý tốt là được”.

Tạ Vụ Thanh tay nâng chén trà, như lơ đãng hỏi: “Hà gia nếu có biến động, bằng hiểu biết của cậu, kẻ nào sẽ nhúng tay vào?”

Thư ký lập tức hiểu rõ, là ân oán cũ của cô hai cùng cha ruột.

Thư ký đáp: “Trước kia Hà gia kinh doanh chủ yếu là tiền trang, hiện giờ không còn nữa. Bọn họ nổi danh nhất là phòng hai và phòng chín, cũng chỉ có hai phòng này mới thật sự quen biết thân thuộc. Nếu chỉ thay đổi bình thường, còn có người nhúng tay, nhưng nếu nguy hiểm đến tính mạng —”, thư ký khẽ lắc đầu. Trong thời buổi loạn thế, ốc còn không mang nổi mình ốc, nếu không phải quan hệ sinh tử thì liệu có ai muốn bị kéo vào đâu.

Tạ Vụ Thanh hơi gật đầu: “Cậu nói tôi đều biết rõ”.

Thư ký tỉnh ngộ, câu hỏi này của Tạ Vụ Thanh, vốn không phải vì để hỏi han tình huống, mà muốn hắn xứ lý.

Thư ký lập tức buông chén trà, nói chắc nịch: “Cho dù trời đất biến đổi, tôi đều đảm bảo mọi người chỉ xem náo nhiệt, tuyệt đối không ai quan tâm!”

Vị thư ký từ lúc đến đều cảm thấy cả đường tính mạng mình treo lơ lửng, khi trở ra giống như nhặt lại một đời, trong lòng vui sướng đều biểu lộ trên mặt.

‘Đọc sách’ lại đổi chén trà khác.

Một người tham mưu mặc quân phục Phụng hệ được đưa đến thư phòng, người nọ vừa nhìn thấy Tạ Vụ Thanh liền luôn miệng xin lỗi, nói công tử Trịnh gia say rượu đến bất tỉnh, tham mưu đành tự làm chủ đến thỉnh tội trước.

Đây chỉ là lấy cớ, Tạ Vụ Thanh mang một phong thư rỗng ruột giao tới cửa, ai cũng không đoán được tâm tư anh, Trịnh Độ nào dám rời khỏi khách sạn Lục Quốc.

Tạ Vụ Thanh bảo phó quan ôm một xấp tư liệu khác, đặt trước mặt tham mưu. Đây là chứng cứ về những giao dịch tiền bạc giữa Hà Tri Nghiễm và các quân phiệt ngày xưa đắc thế, bây giờ đã nghèo túng, một con số hối lộ rất lớn. Anh đối với phòng lớn Hà gia từ lâu đã có suy tính trừ khử, mặc kệ là vì Vị Vị, hay là vì vận tải đường thuỷ, cha ruột của Hà Vị cũng không thể giữ lại.

Nhưng lại ngại Vị Vị vẫn luôn chiếu cố mẹ ruột mình, thế nên anh trước giữ mấy thứ này, từ đó đến nay không nhúc nhích, muốn chờ đến khi không thể không động vào lại nói tiếp. Tối nay, anh dâng miếng thịt mỡ Hà gia đến miệng công tử Trịnh gia, chỉ cần cắn vào chính là khối bạc bóng bẩy, cắn một lần trúng một lần. Bất kể là tống giam xét nhà, hay niêm phong tiền trang, muốn ăn thế nào thì ăn thế ấy.

“Ti chức không rõ lắm, cầu mong thiếu tướng quân nói thẳng”, tham mưu thăm dò thử nói, “Nếu không công tử gia hỏi đến…”

“Đây là chút quà mọn tặng cho cô ba Trịnh gia”, Tạ Vụ Thanh nhẹ nhàng bâng quơ nói, “Sau này nếu ra bắc, chỉ cần đãi một bữa cơm là được”.

Tham mưu liên tục đồng ý, xem như lúc về có lời để báo cáo.

Đây là nguyên nhân nhẹ nhất, cũng không phiền phức nhất, mà đằng sau vốn không phải chuyện một tham mưu như hắn nên hỏi.

Sau khi tham mưu rời đi không lâu, có một cuộc gọi đến từ khách sạn Lục Quốc.

Vị công tử Trịnh gia mà tham mưu nói say rượu đến bất tỉnh kia đang ở đầu dây điện thoại cười nói: “Chỉ là chuyện nhỏ như hạt vừng, lý nào để anh Vụ Thanh phải đặc biệt đưa tin tới. Có điều em biết số người muốn làm việc cho anh Vụ Thanh không đếm xuể, anh đây là cho em một cơ hội để thể hiện tình cảm của mình”.

Tạ Vụ Thanh không đáp lời, chờ Trịnh Độ nói tiếp.

Hiện giờ Bắc Kinh đều là Phụng hệ, cũng là lúc tiện lợi cho họ làm việc nhất. Trong một đám người anh lại chọn công tử nhỏ của Trịnh gia, là vì biết Trịnh Độ ham tài, tất nhiên sẽ đánh nhanh thắng nhanh, chỉ sợ miếng thịt mỡ từ trên trời rơi xuống này vào miệng người ngoài.

Tạ Vụ Thanh cần nhất lúc này chính là nhanh, anh phải thấy phòng lớn Hà gia sụp đổ mới có thể yên tâm rời đi.

Trịnh Độ lại nhẹ giọng nói: “Em vừa rồi đã hỏi qua, người nhà này mở mấy cái tiền trang, nhưng vẫn liều mạng bám riết lấy thân phận phú quý của cô hai Hà. Anh Vụ Thanh yên tâm, tối nay em sẽ giải quyết mọi chuyện ổn thoả”.

Trịnh Độ kết luận trong điện thoại: “Nghe nói hôm nay là sinh nhật của cô hai, em sẽ bảo người chuyển quà đến phủ, mong anh Vụ Thanh có thể thay em giao cho họ”.

Tạ Vụ Thanh thả ống nghe điện thoại trong thư phòng về chỗ cũ.

‘Đọc sách’ trên người đầy tuyết chạy vào, thấp giọng nói với anh, cô hai đã tỉnh rồi.

Bên trong thư phòng.

Hà Vị nhìn chén cháo thanh đạm trên bàn, dần nghe thấy tiếng ủng quân đội giẫm lên sàn nhà, mắt cô sưng đỏ, nhìn người đi tới.

Vừa rồi người ở phòng ngủ nói tình hình chú hai đã ổn định lại, tâm trạng cô cũng thả lỏng không ít, vì trong lòng thoải mái nên cũng ăn một chút cháo. Chỉ là sự áy náy khó phai, vì không bảo vệ tốt bài vị của anh trai.

Tạ Vụ Thanh ngồi xuống cạnh cô, bưng chén sứ trắng lên, dùng thìa khuấy mấy lần rồi đưa qua. Hà Vị nhấp một ngụm nhỏ.

“Sao không đến tìm anh?” Tạ Vụ Thanh hỏi, “Ít nhất phải gọi điện báo anh trước một tiếng?”

Cô khẽ lắc đầu. Từ lâu đã có thói quen đối mặt với mọi chuyện, không nghĩ đến việc nhờ anh giúp đỡ.

Tạ Vụ Thanh chậm rãi khuấy cháo để nhanh hạ nhiệt: “Có nóng không?”

Cô nhẹ gật đầu.

Tạ Vụ Thanh lại múc một thìa khác, tự mình thổi nguội, đưa đến bên môi cô.

Ăn non nửa chén cháo, trên người cô dần ấm áp.

Hà Vị tựa trước ngực anh, cảm giác động tác của Tạ Vụ Thanh giống như đang dỗ dành một đứa nhỏ, nhẹ vỗ lưng cô. Có điều cách này thật sự hiệu quả, cô dựa người anh rất nhanh liền mơ màng. Trong lúc mờ mịt, tựa như Tạ Vụ Thanh nói chuyện với cô, giọng nói rất khẽ, giống hệt giấc mộng sau khi thiếp đi. Anh nói: “Nếu không phải chú hai em còn ở đây, thật sự muốn đưa em về phía nam sống”.

— HẾT CHƯƠNG 32 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 33: Đêm tuyết soi chiếu kinh hoa (6)


Ban đêm Quân Khương đến, nói thư phòng lớn ở đông viện có điện thoại tìm Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh giao Hà Vị đang ngủ say cho cô bé xem chừng, còn mình đến thư phòng lớn.

Anh đứng trong căn phòng không bóng người, nhấc ống tai nghe: “Tôi là Tạ Vụ Thanh”.

“Em hiện giờ đang ở nhà bạn, không có ai nghe trộm”, giọng Lâm Trĩ Ánh cất lên, “Ở Quảng Đức Lâu đông người, có mấy lời khó nói rõ”.

Cô ta lại tiếp: “Năm đó vì em hại anh, một câu xin lỗi đến nay vẫn không có cơ hội nói”.

Năm ấy Lâm Đông đưa một đứa con gái tới, đầu tiên là muốn kết thân, sau lại nhốt con gái lại làm mồi nhử, dụ dỗ Tạ Vụ Thanh. Tạ Vụ Thanh vốn không có tình cảm gì đặc biệt với vị tiểu thư này, nhưng vì cô là con gái bạn thân của cha, dù không có chuyện kết thân, anh cũng không thể thấy chết không cứu, thế nên mới sập bẫy.

“Chuyện lúc đó là ân oán giữa tôi và cha cô”, anh nói, “Giữa hai chúng ta, cũng không có hận thù gì”.

Điện thoại yên tĩnh hồi lâu.

Lâm Trĩ Ánh nhẹ giọng hỏi: “Nếu có cơ hội… thiếu tướng quân có bằng lòng buông bỏ quá khứ không?”

Anh và Lâm Đông dù có bỏ qua ân oán cá nhân cũng không thể hoà hoãn, Lâm Đông chỉ là một tên quân phiệt lúc nào cũng nghĩ muốn chiếm tỉnh làm vua, bản chất hai người vốn bất đồng. Nhưng bằng sự hiểu biết của anh với Lâm Đông, cuộc đối thoại lúc này chắc hẳn Lâm Đông đã biết, hoặc là Lâm Đông cố ý làm lộ tin tức cho con gái mình để thăm dò hay dụ dỗ anh.

“Vậy phải xem lệnh tôn có bao nhiêu thành ý”, anh giống như đang bàn chuyện làm ăn, “Có lẽ chúng ta còn có dịp ngồi xuống nói chuyện. Bất quá phải đợi một tháng sau, khi tôi rời kinh về nam mới lại bàn tiếp chi tiết gặp mặt”.

Lâm Trĩ Ánh vui vẻ đồng ý.

Ngắt điện thoại.

Sau khi Tạ Vụ Thanh xác định mình sẽ dùng cách ‘kim tiền thoát xác’ bèn xuống tay trước, tối giác một tên quân phiệt Tây Bắc vốn quy phục bên cạnh Lâm Đông đã phản bội ông ta. Hy vọng chuyện này cùng tin tức của Lâm Trĩ Ánh có thể khiến ông ấy lơ là hai ngày. Chỉ hai ngày là đủ rồi.

Sáng sớm hôm sau, Hà Tri Hành tỉnh dậy.

Hà Vị cho Hà Tri Hành uống thuốc. Lão trung y vì giúp cô thả lỏng mà nói, đây chính là trở về từ quỷ môn quan.

Cô vui vẻ không ít, dặn Quân Khương chuẩn bị đồ ăn sáng phong phú một chút, cùng Tạ Vụ Thanh tắm mình trong ánh nắng xanh ngắt sớm ngày đông, nằm trên giường trong thư phòng, tựa vào bàn dùng bữa.

Anh thấy tâm tình cô không tệ, liền nói: “Có chuyện trước muốn nói với em”.

Cô nghi hoặc nhìn anh.

“Hà Tri Nghiễm hối lộ nghị viên, tiền trang đã bị niêm phong vào tối qua, hiện tại ông ấy bị giam lỏng trong nhà”.

Cô bất ngờ, tâm trạng bỗng dưng phức tạp.

Nhiều năm qua, cô lúc nào cũng trông mong cha ruột bị trừng phạt vì những chuyện đã làm trước kia, nhưng nghĩ đến cuộc sống của mẹ sau này…

“Tội danh hối lộ của Hà Tri Nghiễm là sự thật”, Tạ Vụ Thanh nói với cô, “Là do ông ta gieo gió gặt bão. Sai lầm của ông ấy vốn không liên quan gì đến em”.

Tạ Vụ Thanh có rất nhiều cách, chọn lựa một cách giúp cô dễ dàng tiếp nhận, cũng có lợi với cô nhất. Hối lộ ngồi tù là tất yếu, bất kể kẻ nào tố giác đều giống nhau, Hà Vị sẽ không bị người khác chỉ trích quá nhiều.

“Về phần phòng lớn của Hà gia, vẫn có Triệu Ứng Khác ở đó’, Tạ Vụ Thanh lại nói tiếp, “Hắn sẽ nghĩ cách giữ lại một ít đồ cho bọn họ”.

Đây là chuyện thứ ba Tạ Vụ Thanh dặn dò võ quan làm, đến báo tin cho Triệu Ứng Khác biết. Triệu Ứng Khác là một kẽ hở mà Tạ Vụ Thanh cố tình giữ lại, có thể khống chế mọi việc trong phạm vi có thể chấp nhận được. Anh sợ một khi mình đi rồi, Trịnh Độ hành động quá tuyệt tình, hoặc có người nhân lúc cháy nhà chạy đến hôi của, liên luỵ thêm nhiều người, ngược lại cuối cùng lại khiến Vị Vị áy náy với mẹ ruột cùng Hà gia.

Mà Triệu Ứng Khác là chàng rể danh chính ngôn thuận, có thể xử lý chuyện này, cũng có khả năng lo chu toàn mọi việc.

Hơn nữa dựa theo gia quy của nhà họ Triệu, Triệu gia tuyệt đối sẽ không giúp Hà Tri Nghiễm. Tình thế của Hà Tri Nghiễm đã như ván đóng thuyền, trốn không thoát.

Hà Vị nghe anh nói xong, cũng yên tâm phần nào.

Ngày xưa có quá nhiều chuyện khiến cô sớm lạnh lòng… Nhưng cô vẫn muốn mẹ mình sống tốt.

Cô cắn thành tách thuỷ tinh, nhìn anh: “Anh dường như, cái gì cũng tính ổn thoả cả”.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười: “Em cho rằng anh thường giành thắng lợi trong quá khứ, đều vì may mắn ư?”

So với trên chiến trường, bấy nhiêu chỉ là chút chuyện vặt.

Ánh mặt trời càng lúc càng chói.

Anh có thể thấy rõ tóc mái cô khẽ phất phơ trên thái dương, lay động trong nắng sáng, giống như lông tơ mềm mại.

‘Đọc sách’ lúc này đi vào nói, công tử Trịnh gia sai vị tham mưu thiếu tá đêm qua mang theo không ít binh lính tới, bảo là nghe công tử Tạ ở thành Bắc Kinh muốn ở lại một tháng nên đưa hộ vệ đến.

Tạ Vụ Thanh không bất ngờ chút nào, sau cuộc gọi đêm qua, tin giả anh ở lại Bắc Kinh thêm một tháng đã truyền ra ngoài.

Cô hiếu kỳ: “Là công tử Trịnh gia ở Quảng Đức Lâu ngày đó sao?”

Anh gật đầu: “Đúng vậy, hắn tên Trịnh Độ”.

“Hắn có đáng tin không?”

“Không đáng tin”, Tạ Vụ Thanh không để tâm lắm, “Nhưng thật sự có tài, có thể làm việc giúp mình. Chị ba của hắn là bạn học của chị ba anh khi còn đi du học, có thể tin cậy”.

Cô gật nhẹ đầu, nhớ kỹ.

“Tối nay chính phủ lâm thời có mở một vũ hội ở khách sạn Lục Quốc”, anh nói, “Anh phải đến khách sạn lúc sáu giờ”.

Đoán chừng ngày mai gặp lại.

“Khi nào xong sẽ về ngay”, anh nói, “Bất luận muộn thế nào, cũng sẽ trở lại”.

Tạ Vụ Thanh nhìn cô vui sướng nở nụ cười, trong lòng cũng thoải mái.

Anh muốn nói chuyện mình phải đi trễ một chút, thời gian hai người ở bên nhau không nhiều, chỉ cần vui vẻ thêm một giờ khắc nào cũng đều tốt.

“Ban ngày không có việc gì làm, hay chúng ta ra ngoài phơi nắng đi?” Cô hỏi anh.

‘Đọc sách’ lập tức khẩn trương, lúc Lâm Kiêu rời đi từng dặn dò, nếu có thể không ra khỏi cửa thì không nên ra ngoài làm gì.

“Được”. Tạ Vụ Thanh đồng ý ngay.

“Có điều chú hai còn trong nhà, chỉ có thể đi dạo trong thành một chút. Anh muốn đến chỗ nào?”

“Muốn xem thứ”, anh ngẫm nghĩ rồi nói, “Chưa từng nhìn thấy”.

Chưa từng nhìn thấy?

Cô nhíu mày: “Anh đến đây hai lần đều mang danh nghĩa khách quý, còn có chỗ nào chưa từng nhìn thấy ư?”

Anh cười: “Muốn xem thử chuyện chân chính mà mấy năm nay cô hai làm”.

“Chuyện chân chính…” Cô nhớ lại, “Để em dẫn anh đi xem một nơi không liên quan đến vận tải đường thuỷ, cũng không dính líu đến chú hai”.

Hà Vị bảo lái xe của Tạ Vụ Thanh trước cứ ra ngoài đã.

Tạ Vụ Thanh không hỏi nhiều, chờ cô tiết lộ.

Vòng ra trước cửa, trước mắt nhìn thấy nào là xe kéo, xe đạp mấy loại, còn có đoàn người dắt lạc đà đi trên phố, kiên nhẫn ngồi chờ trong xe. Chờ một lát, liền nhìn thấy một chiếc xe chạy dọc theo đường ray sắt trên mặt đất.

“Đi theo nó”. Hà Vị nói.

Xe của hai người chậm rãi chạy đi, theo sau chiếc xe đang chật ních khách kia, một chốc sau xe liền dừng lại ven đường, người đứng đợi xe không ngừng bước lên. Nhân viên soát vé mặc áo choàng vải xanh, trên cổ đeo một cái túi vé, cầm trên tay hai cây bút màu đỏ và xanh, kiểm tra từng tấm vé một. “Cái này có cổ phần của em”, cô nói với Tạ Vụ Thanh, “Vừa mở không bao lâu nên chỉ có một tuyến này. Chờ nó vận hành một thời gian trước rồi mới mở thêm tuyến mới. Đến lúc đó cả thành Bắc Kinh đều có tiếng đinh đang đinh đang, mọi người cũng không cần chen chúc như vậy. Chúng ta có thể lên đó, im lặng ngồi xem”.

Công ty xe điện do quan chức hợp tác cùng một số thương nhân.

Vào lúc ban đầu, khi nói muốn mua loại xe này của tô giới Pháp, bọn họ đều rất nhiệt tình.

“Anh đừng cho rằng nó chỉ là một cái xe điện, để có thể vận hành được phải xây một nhà máy điện cho riêng nó đấy”, cô nói chuyện mang theo một bụng đắng ngắt, “Em thật sự không nghĩ đến việc chỉ muốn làm một chiếc xe như vậy, lại cần quan tâm đến vấn đề nguồn phát điện”.

Cô nhận ra Tạ Vụ Thanh nghe rất chăm chú, liền kể rõ ràng tỉ mỉ: “Muốn xây nhà máy điện phải có nước, nhưng Bắc Kinh chỗ này không có nhiều nguồn nước như phương nam, nếu muốn trước hết phải mời chuyên gia đến dò tìm nguồn nước, sau mới phát hiện dù có đào giếng cũng không thể hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của nhà máy điện này, lúc chọn địa điểm cũng có rất nhiều hạn chế, chỉ có thể tìm đến những vùng ven sông”, nói đến việc này thật cay đắng, “Chờ đến lúc chọn xong chỗ xây rồi, đất cũng mua luôn, lại bất ngờ xảy ra chuyện. Thôn dân lân cận không biết gì về nhà máy điện, cũng e sợ thứ này, những vị hương thân phụ lão tưởng chúng em muốn bơm dầu từ nó nên kêu gọi mọi người cùng phản kháng chống lại. V<i>ăn phòng Kinh Triệu Doãn [1]</i> chỉ có thể ở giữa giảng hoà, bọn họ khiếu nại, chúng em biện hộ, ồn ào đã nhiều năm nay”.

<i>[1] Kinh Triệu Doãn là một cơ quan nhà nước được đặt ra từ thời Tần, giữ nhiệm vụ quản lý về hành chính và trị an ở kinh thành. Ngày nay tương đương với chức Thị trưởng thủ đô.</i>

Cô cười bất lực: “Cuối cùng ai cũng thấy phiền, hỏi em có thể không xây nhà máy điện này không, hay là đổi sang một nơi khác. Em nói nếu đổi đến một nơi không có nguồn nước, nhà máy không thể phát điện, chẳng lẽ dùng để nuôi đại bàng ư?”

Những lão nhân gia kia lúc nào cũng lấy chuyện nuôi đại bàng làm thú vui giải trí, nghe cô nói xong liền cười.

“Em nói tường tận với họ, nếu không có nhà máy phát điện, chúng ta cùng lắm chỉ có thể vận hành được mấy chiếc xe. Mà trong thành Bắc Kinh này có bao nhiêu người chứ?” Cô chỉ vào đuôi xe phía xa, “Anh nhìn xem hiện giờ cũng là vậy, số lượng xe quá ít, người đứng phía ngoài đuôi xe nguy hiểm biết bao. Chờ nhà máy điện xây xong rồi, thì có thể bố trí nhiều tuyến đường hơn, cũng có thêm nhiều xe, giống hệt ở tô giới”.

Những lão nhân gia kia đùa với nhau, bảo cô lúc nào cũng có lý cả.

“Bọn họ cười hỏi em, Hà gia không phải cũng có một nhà máy điện sao? Em nói, nhà máy điện của Hà gia là loại nhỏ, đến cung cấp điện phát đèn còn không đủ. Bọn họ lại nói, hiện tại phí sử dụng điện đắt như thế, cô hai lại chú ý chuyện này, có phải muốn xây thêm nhiều nhà máy, kiếm nhiều tiền không”.

Tạ Vụ Thanh nghe xong thì cười.

Cô cũng phì cười: “Em nói, người khác tôi không biết, nhưng Hà gia làm ăn kinh doanh tất sẽ muốn kiếm tiền, không có tiền làm sao khai thác thị trường lớn hơn được? Em chỉ vào bóng đèn trong Quảng Đức Lâu hỏi bọn họ, các ông biết có nhiêu nhiêu hộ dân ở Bắc Kinh và cả nước có thể lắp bóng đèn điện này không? Lắp bóng đèn không đắt, nhưng chi phí dùng điện lại cao vô cùng, nhà bình dân không kham nổi. Mà sở dĩ tiền điện hiện giờ đắt, còn không phải vì ít nhà máy điện? Phàm là đồ vật thì càng thiếu lại càng quý, số lượng điện cung ứng không đủ, tất nhiên tiền điện phải đắt. Nếu có nhiều nhà máy điện hơn thì có lẽ tiền điện cũng giảm xuống”.

Tóm lại là vô vàn khó khăn: “Cuối cùng, tranh luận thuyết phục ổn thoả. Cũng lãng phí mấy năm trời”.

Cô nói tới đây, nhận ra trong xe tĩnh lặng rất lâu, đến cả lái xe cũng say sưa lắng nghe.

“Bọn họ thật sự quan tâm đến việc này sao?” Cô trầm mặc hỏi Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh gật đầu, nhẹ giọng nói với cô: “Em không nói, anh còn không biết, thì ra muốn vận hành xe điện còn phải xây dựng nhà máy phát điện trước”.

Chuyện này giống như việc muốn mở cửa hàng thịt kho, trước tiên phải tự mình xây trại chăn nuôi, nếu muốn bán quần áo, phải trồng được loại bông của riêng mình, khiến người ta không thể tưởng tượng nổi. Nói đến cùng vẫn do nền tảng yếu, mà công nghiệp phải từng bước phát triển, cần có người tiên phong gia cố nền tảng ấy, không thể gấp gáp được.

Mấy năm nay mỗi khi cô muốn khai thác cái gì đó, đều có thể cảm nhận sâu sắc được sự gian nan của chú hai cùng anh trai lúc xây dựng vận tải đường thuỷ năm ấy.

“Chờ nam bắc thống nhất, cô hai có thể đến phương nam xây nhiều nhà máy điện hơn”, ‘Đọc sách’ nhìn chiếc xe đã khuất xa nói, “Chúng tôi vì cô hai thống nhất hai miền nam bắc, để cô hai xây dựng nhà máy. Chỗ chúng tôi sông ngòi nhiều, nước lại càng nhiều hơn”.

“Được”, cô cười, “Một lời đã định”.

Xe chạy đến đường Yên Đại Tà, Hà Vị bảo lái xe dừng lại.

Lái xe cùng ‘Đọc sách’ ngồi phía trước khẩn trương, lo lắng Tạ Vụ Thanh sẽ xuống xe.

“Anh trên xe chờ em một chút được không?” Đến những chỗ náo nhiệt, cô ngược lại có chút đề phòng.

Tạ Vụ Thanh tự mở cửa xe, bước xuống.

Anh đến Bắc Kinh ba lần, đầu tiên vội vàng đi đánh giặc, chỉ trông thấy tường thành của Đức Thắng Môn sừng sững giữa đêm khuya, lần thứ hai cũng gấp gáp đi đánh giặc, đành giương mắt nhìn An Định Môn trong bóng tối.

Mà lần thứ ba này, lại phải nhanh chóng quay về đánh giặc… Anh muốn lần cuối có thể cùng cô đi dạo dưới ánh mặt trời trong Tứ Cửu Thành.

Vùng lân cận này đều là “xưởng nhỏ Lưu Ly” trong kinh, khi triều Thanh vừa diệt, những vương công quý tộc kia không có bổng lộc cũng không có tiền đồ, càng không biết kinh doanh buôn bán, đều đến chỗ này bán tranh chữ cổ. Những thái giám trong cung cũng thường trộm bảo vật mang ra đây bán, hình thành văn hoá chơi đồ cổ ở nơi này.

Có điều cô đến là vì muốn đi Tấn Bảo Trai mua hộp thức ăn chú hai thích nhất.

Bên trong hộp gỗ được chạm khắc tinh xảo có đủ loại chân giò hun khói, khô gà vịt hun lò, còn có mấy món dạ dày bê. Chủ yếu là những văn nhân trước kia, ngoài ra là quan lại đến đãi khách, luôn thích gọi một hộp thức ăn nhắm rượu.

Kinh Thành có rất nhiều loại hộp thức ăn thế này, mỗi chỗ lại có điểm đặc sắc riêng, cô thích chỗ này nhất, muốn Tạ Vụ Thanh nếm thử món ăn mới.

Tấn Bảo Trai nằm gần một cửa hàng bán giấy bút, có không ít thanh niên mặc đồng phục vải xanh của học sinh ra ra vào vào.

Trước lúc Hà Vị đến Tấn Bảo Trai, có hai nam sinh đứng trên bãi đất trống trải trước cửa hàng giấy bút, phát biểu luận văn cứu nước. Chuyện này không hiếm gặp ở Bắc Kinh, những sinh viên tiến bộ thường chạy ngẫu nhiên đến trung tâm thành phố kêu gọi, tuyên truyền tư tưởng chống quân phiệt chống phong kiến, tới khi cảnh sát tuần tra quản lý trật tự đến mới lập tức giải tán, sau đó đi chỗ tiếp theo.

Cô bảo Tạ Vụ Thanh đợi bên ngoài, còn mình vào trong cửa hàng.

Hai nam sinh ấy phát biểu vừa khẳng khái vừa kích động, hoàn toàn không coi những người đi ngang qua là gì, có kẻ đứng lại xem náo nhiệt, cũng có vài nam nữ học sinh tiến bộ vây quanh, lắng nghe họ nói. Tạ Vụ Thanh đứng sau đám người, anh sợ những quan quân đi theo quá đông sẽ làm phiền hai nam sinh tuyên truyền phản quân phiệt, anh bảo những người đi cùng mình, để tham mưu Trịnh gia dẫn người cách xa một chút, giữ lại bốn sĩ quan bên người.

Có một nam sinh nhận ra Tạ Vụ Thanh, giữ chặt người đang nói.

Những học sinh đó vốn dĩ không phân biệt được quân phục ở những nơi khác nhau, Tạ Vụ Thanh tất nhiên bị bọn họ gộp chung với đám quân phiệt.

Nam sinh phát biểu được một nửa, người tụ tập xem rất đông, giờ phút này nếu để những người kia bắt gặp hắn vì một tên tướng lĩnh quân phiệt đến phải co chân bỏ chạy, chẳng phải sẽ bị chê cười sao. Người thiếu niên chỉ dựa vào dũng khí để chống đỡ, nhìn thẳng vào Tạ Vụ Thanh đứng ngoài đám người.

Những kẻ vây xem đều tự giác tránh đường, cho rằng mấy nam sinh này hôm nay nhất định không chạy thoát. Có ba nữ sinh bên cạnh, trên người mặc váy vải xanh lặng lẽ đứng chắn phía trước, muốn bảo vệ những nam sinh yêu nước này thoát thân.

Người xa kẻ gần, giờ khắc này đều yên tĩnh.

Hà Vị tay cầm một cái hộp gỗ điêu khắc tinh xảo, bước ra khỏi Tấn Bảo Trai, nghe được giọng nói dõng dạc mang theo dũng khí có chết không lùi của người thiếu niên: “Vị tướng quân này, nếu ông đã nghe thấy, tôi muốn hỏi ông… Hỏi ông nghĩ gì về tình thế hiện tại trong cuộc hoà đàm nam bắc? Ông có cho rằng những kẻ ra bắc đang mơ mộng hão huyền? Liệu họ có thất bại? Bại dưới tay Phụng hệ cùng chính phủ lâm thời ư?”

Hà Vị nhìn về phía Tạ Vụ Thanh.

Trong ánh mặt trời, toàn bộ tuyết đọng đều bị quét dạt dưới chân tường của hai bên cửa hàng, con đường chính giữa thông thoáng người qua kẻ lại không một hạt tuyết, chỉ có bùn đất lầy lội hoà cùng băng tan. Giày của mọi người đều bẩn, mà dưới ủng quân đội của Tạ Vụ Thanh cũng dính đầy bùn đất.

Anh là khách phương xa, vượt ngàn dặm đường xá xa xôi đến nơi này, lần đầu tiên bị người khác hỏi thẳng, các người có thất bại không?

Tạ Vụ Thanh từ tốn đưa hai tay sau lưng, cố tình để đám học sinh nhìn thấy anh không có ý định rút súng, giảm bớt nỗi sợ trong lòng họ.

“Người ra bắc đã thất bại”, Tạ Vụ Thanh nói sự thật, “Hoàn toàn thất bại”.

Đám người càng yên lặng hơn.

Tạ Vụ Thanh tiếp lời: “Nhưng chỉ khi hoàn toàn thất bại, bọn họ, thậm chí là những người có chí trên dưới quốc gia mới nhận ra, nhìn rõ, không một quân phiệt nào đáng tin cả. Chuyện này chưa hẳn đã xấu”.

Nam sinh chất vấn Tạ Vụ Thanh kinh ngạc, chậm chạp phản ứng lại, vị tướng quân cao gầy này đứng dưới ánh nắng mùa đông ấm áp, quân trang thẳng tắp, giống tư thế của một thầy giáo, hẳn là người ra bắc đàm phán…

Nam sinh không kìm lòng đặng muốn tiến lên một bước, nhưng lập tức bị hai sĩ quan ngăn lại. Tham mưu Trịnh gia đứng phía xa cho rằng người ta gây khó dễ cho Tạ Vụ Thanh, một tay cầm súng, vừa định gọi người liền bị Tạ Vụ Thanh giơ tay từ chối.

“Tướng quân là người ra bắc sao? Đến đây vì hoà đàm?” Nam sinh kia nhìn anh chằm chằm, trong con mắt đen như mực sáng rực trước nay chưa từng có, thậm chí còn có ánh nước, “Cho dù các ông thất bại, chúng tôi vẫn sẽ ủng hộ các ông…”

Nam sinh dứt lời, chủ động lùi về sau hai bước, như thấy không đủ, lại lùi thêm ba bước nữa.

Cậu nói bằng giọng run rẩy: “Tướng quân yên tâm, tôi không phải người muốn ám sát ông, tôi không uy h**p ông. Tuyệt đối sẽ không”.

Nam sinh hận nhất là quân phiệt, người thân trong nhà cậu đều bị quân phiệt bắt đi lính, đưa đến chiến trường, sau đó bị máy b** ch**n đ** của Phụng hệ ném bom nổ chết tại Sơn Hải Quan. Đây là lần đầu tiên trong đời, cậu cam tâm tình nguyện giang rộng hai tay, hướng về một vị tướng lĩnh mặc quân trang, ý nói mình hoàn toàn vô hại, trong tay cậu không hề giấu vũ khí, dù cho bên người vị tướng quân ấy có đến hàng chục khẩu súng đang lăm le chĩa vào cầu.

Tạ Vụ Thanh đứng cách cậu hơn mười bước chân, nhìn người thiếu niên, còn có những học sinh khác là bạn bè của cậu, ngay cả những nữ sinh vì cậu muốn che chắn bảo vệ từ trước. Đây chính là những mầm non thế hệ mới, không hề yếu đuối so với đám người Tạ Vụ Thanh năm đó.

“Tôi không sợ một học sinh yêu nước”, anh mở miệng, “Tránh xa tôi một chút, cậu sẽ an toàn hơn”.

Dù sao thì súng đạn không có mắt, nếu thật sự có kẻ muốn ám sát anh, người đứng bên cạnh đều đối mặt với nguy hiểm vô vàn.

Lời nói ấy vừa bình thản vừa đau lòng như thế.

Hà Vị từ trong đám người chen tới, một tay đè chặt chiếc mũ rộng vành của mình, tay kia xách hộp thức ăn, trước mắt bao người đi đến cạnh Tạ Vụ Thanh. Bàn tay nắm mũ buông xuống, nhẹ duỗi ra đan vào khuỷu tay Tạ Vụ Thanh, ôm chặt anh nói: “Em mua xong rồi, chúng ta về nhà thôi”. Cô nhỏ giọng thì thầm.

Dù cho hiểm nguy lớn ra sao, cũng có người luôn đứng bên cạnh anh, hơn nữa không chỉ một mình em, vĩnh viễn không chỉ riêng mình em.

— HẾT CHƯƠNG 33 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 34: Trăng thành cổ thiên thu (1)


Lúc bọn họ về đến nhà, chú chín Hà đã chờ sẵn trong đông viện.

Nhà của Hà Tri Khanh trong thành Bắc Kinh không ai ở, ông cũng lười đến quét dọn, chỉ sai người sắp xếp lại thư phòng lớn của sân viện bên kia, định bụng ở lại Bắc Kinh qua mấy tháng. Chờ khi sóng gió Hà gia qua đi thì nói tiếp.

Khi người khác vừa đến, hai thím của cô cũng vào tới nơi, mang theo con mèo, có cả trà thơm. Chú chín bình thường thích rất nhiều thứ lặt vặt, toàn bộ đều được vận chuyển đến đây. Lúc Hà Vị bước vào thư phòng lớn, thím nhỏ cô vừa mới treo rèm châu ngày thường hay dùng…

Cô hơi hoảng hốt, nghĩ mình đang ở biệt thự Thiên Tân.

Hà Tri Khanh không tiện đi lại, ngồi xe lăn nhìn về phía cô: “Cháu rể chú đâu?”

Tạ Vụ Thanh đi theo Hà Vị vào phòng.

“Ta thật sự không nghĩ sẽ làm trưởng bối. Nếu không phải vì cậu định cưới cháu gái ta, thật muốn xưng hai tiếng anh em với cậu”, Hà Tri Khanh khẽ thở dài, “Chung quy cũng vì chúng ta không có duyên làm anh em của nhau”.

Thím lớn nghe không lọt tai nữa, đá một cái vào bánh trước xe lăn.

Ông bảo Tạ Vụ Thanh và Hà Vị ngồi xuống: “Chuyện của Hà gia là chuyện nhà, trong đó còn quanh co vòng vèo quá nhiều thứ, ta cũng lười nói tới. Có điều nếu ta đã ở đây, không thể loạn được”.

Nói cho cùng, một chi nhỏ của Hà gia có thể lập nghiệp ở Bắc Kinh, chính nhờ nhà mẹ ruột của Hà Tri Khanh.

Mẹ Hà Tri Khanh sinh ra trong một gia đình phú quý, nhưng vì từng có con riêng với người ngoài nên không thể không gả cho Hà gia, của hồi môn của bà mang theo giúp Hà gia có của ăn của để, sau này mới sinh ra Hà Tri Khanh. Thế nên địa vị của phòng chín Hà gia từ trước đến nay luôn rất cao.

Thuở nhỏ Hà Tri Khanh được cha yêu thương hết mực, trước thời khắc lâm chung, ông từng đồng ý với cha, vì sự hưng thịnh của Hà gia tuyệt đối không tranh giành với phòng lớn, vì vậy nhiều năm trôi qua dù bị kìm kẹp tay chân, hay bị ép đến sống ở Thiên Tân, ông cũng cố nhẫn nhịn.

Hiện tại những trói buộc kia đều bị Tạ Vụ Thanh tháo gỡ.

“Thật ra những đứa cháu trai cháu gái này đối với ta mà nói, giống như lòng bàn tay mu bàn tay đều là thịt cả, cũng không chỉ vì lời dặn dò của cha trước lúc qua đời, ta nghĩ đến cảnh một khi Hà Tri Nghiễm rớt đài, những đứa trẻ của phòng lớn ấy…” Hà Tri Khanh thở dài, “Bất quá đó đều là những gì ông ấy đáng nhận. Cậu làm rất tốt, làm được chuyện quan trọng mà ta không thể làm bao lâu nay, những thứ khác đều là nhỏ nhặt”.

Trong mắt Hà Tri Khanh, những chuyện sau này đều không đáng nói, trước mắt ông lại quan tâm một thứ còn quan trọng hơn.

“Lúc ta từ Thiên Tân tới bị trễ một chuyến tàu, đã gặp người của <i>Thanh bang [1]</i>”, Hà Tri Khanh nói, “Bọn họ đến tìm ta, nói có tin tức liên quan đến cậu. Lại nói cậu phải cảm ơn Vị Vị đấy, nếu không phải bọn họ nghe thấy cậu và Vị Vị đang ở bên nhau, cũng không nghĩ đến chuyện dâng một đao đến Hà gia, bán tin tức này cho ta”.

<i>[1] Thanh bang là tên của một tổ chức bí mật của Trung Quốc, sau này là tổ chức phản động, hay còn gọi là băng nhóm xã hội đen nổi danh ở Thượng Hải và Hồng Kông những năm Dân quốc.</i>

Thế lực lớn nhất của Thanh bang nằm ở Bến Thượng Hải và Thiên Tân. Chính vì Thiên Tân là đầu mối giao đường thuỷ và đường bộ, bang hội ngoại trừ kinh doanh thuốc phiện kỹ viện cùng sòng bạc, thì phần lớn nguồn thu đều nhờ vào việc làm ăn của vận tải hàng hoá, ví như dỡ hàng ở bến tàu, dỡ hàng ở sân ga, còn có vận chuyển hàng hoá về kho chứa, thậm chí là bốc dỡ hàng hoá trong nhà xưởng, tất cả đều phải nộp tiền cho họ. Hà gia làm nghề vận chuyển, đương nhiên là miếng thịt mỡ quanh năm mà họ nhắm đến.

Mấy chuyện bề nổi này, vẫn là Hà Tri Khanh thay Hà Vị xử lý.

“Tạ tướng quân à”, chú chín Hà cười, nhẹ giọng nói, “Khách sạn Lục Quốc tối nay là chỗ chết của cậu”.

Hà Vị sửng sốt.

“Có quân phiệt ở phía nam mua đứt một tên sát thủ, sai người đó vào khách sạn Lục Quốc ám sát cậu. Cậu nghe ta nói một chút, kẻ này muốn xuống tay với cậu ngay khách sạn Lục Quốc, có thể thấy hận thù với cậu nhiều thế nào, đến cả việc mạo hiểm đắc tội với sáu nước cũng muốn cậu phải chết”. Chú chín Hà nhỏ giọng nói, “Cậu nên cảm ơn Vị Vị chúng ta, Thanh bang bọn họ vì muốn kiếm chút tiền từ nhà ta nên sẽ không động tay vào chỗ đó. Chỉ cần lúc này đổi thành cậu ngồi trong một khuê phòng của vị tiểu thư nào khác, e đã sớm nằm bất động trên giường đầu lìa khỏi thân rồi”.

Tạ Vụ Thanh mỉm cười.

“Ta hiểu mà, trong lòng cậu đang nghĩ, muốn giết cậu thật không dễ như thế”, chú chín Hà thay anh nói, “Nhưng cho dù là mèo, cũng chỉ có chín cái mạng. Cậu đã chết mấy lần rồi? Tự mình tính toán xem? Còn có thể chết được bao nhiêu lần nữa đây?”

Chú chín Hà ngừng lại nhìn Tạ Vụ Thanh, trên mặt vẫn trêu chọc không thôi, nhưng trong mắt ánh lên vẻ nghiêm túc quan tâm.

Lời vừa rồi ông nói là thật lòng, nếu không phải vì Hà Vị, ông thật sự sẽ xưng hô anh em bạn bè với Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh đành phải nói thẳng: “Chuyện này cháu đã biết. Vốn định đêm qua sẽ rời đi, mục đích cũng vì tránh né buổi vũ hội ở khách sạn Lục Quốc này, nhưng hiện tại cháu còn ở Bắc Kinh, không lý gì không đến”.

Nếu anh không đi sẽ bị đối phương phát hiện, khi đó chờ đợi anh chính là đường chết liên tiếp. Lần này Thanh bang còn xem xét nể mặt Hà nhị gia, sau lỡ như trở mặt không quan tâm thể hiện Hà nhị gia nữa, nhất định sẽ liên luỵ đến Hà Vị.

“Tối nay ta sẽ đặt bàn ở Quảng Đức Lâu”, Hà Tri Khanh nói thẳng, “Khách sạn Lục Quốc là chỗ của người nước ngoài, hẻm Đông Giao Dân không phải nơi thuộc về chúng ta. Nhưng bên ngoài hẻm Đông Giao Dân, bên trong Tứ Cửu Thành, đều là đất của người Trung Quốc”.

Hà Tri Khanh dõng dạc nói: “Chú chín Hà gia quay về thành Bắc Kinh, đãi khách trong Tứ Cửu Thành. Mời Tạ thiếu tướng quân vui lòng đến dự”.

Đây là cái cớ để Tạ Vụ Thanh không đến vũ hội ở khách sạn Lục Quốc.

Ngược lại anh cũng không sợ đắc tội với <i>chính phủ Đoàn thị [2]</i>, chuyến này trở về chính là ngày khai chiến, còn lo đắc tội hay không làm gì.

<i>[2] Ý chỉ chính phủ lâm thời do Đoàn Kỳ Thuỵ đứng đầu vào giai đoạn này</i>

“Còn một câu nữa ta phải nói”, Hà Tri Khanh tiếp lời, “Nếu xác định phải đi, vậy tối nay liền đi ngay, ông chủ rạp hát kia từng nợ ta một ân tình. Ta có thể bảo ông ấy hộ tống cậu ra khỏi thành. Con đường còn lại, ta tin Tạ thiếu tướng quân có thể tự lo liệu tốt hơn ta”.

Hà Vị đến giờ vẫn trầm mặc, cuối cùng cũng hiểu rõ ngọn nguồn, anh vốn phải rời đi vào tối qua, nhưng vì cô mới ở lại tận hôm nay.

“Ta nói xong rồi”, Hà Tri Khanh biết chuyện níu chân Tạ Vụ Thanh là gì, nháy mắt về Hà Vị, “Các cháu nói đi”.

Hà Tri Khanh cùng thím lớn rời khỏi phòng, nhường lại không gian cho họ trò chuyện.

Cô nhỏ giọng hỏi: “Vì sao không nói thật với em?”

Tạ Vụ Thanh định mở miệng.

“Để em nói trước đã”, cô chậm rãi tiếp lời, “Em biết khi đoàn đại biểu dừng chân ở Thượng Hải, từng bị nhà báo nước Anh gây khó dễ, sau còn bị cản lại không cho vào tô giới. Đến Thiên Tân, đoàn đại biểu gặp người trong Phụng hệ, nghe họ khuyên nên từ bỏ chủ trương… Em cũng biết, chính phủ lâm thời sai nhóm đại biểu tiếp đón qua loa cho có lệ với các anh, thật ra từ lâu đã bàn bạc ổn thoả với công sứ các nước”.

Toàn bộ cô đều biết được từ miệng người khác, anh thật không dễ dàng.

“Anh Thanh, em hy vọng sau này, đây là những điều do chính anh nói với em”, cô thì thầm, “Em cũng muốn biết chuyện trên chiến trường của anh, anh thắng ai, bị thương chỗ nào. Mỗi ngày anh đối mặt với điều gì, chỉ cần không phải chuyện cơ mật, cho dù cách xa mấy ngàn dặm, em đều muốn biết hết. Em không sợ biết mọi chuyện, điều em sợ nhất là mơ hồ không rõ… Cái gì cũng không biết đến khi anh biến mất không tăm hơi”.

Tạ Vụ Thanh nhìn cô chăm chú, không đáp một lời.

Cuối cùng cô nói xong, nhìn về phía anh: “Em đảm bảo với anh, em sẽ không vì anh chết mà chết theo anh. Cho dù anh thật sự hy sinh vì nước, em vẫn có thể tự sống tốt. Cùng lắm thì, kiếp sau em sẽ đến tìm anh”.

Tạ Vụ Thanh trầm mặc, đứng thẳng người bên cạnh cô.

Áo khoác quân phục trước đó đã được đưa cho phó quan, anh xốc rèm châu ra ngoài, tay cầm áo khoác trở về. Anh kéo một cái ghế cao đến trước cô, ngồi xuống mặt đối mặt với cô.

Từ trong túi áo khoác, anh lấy ra một hộp sứ trắng mà con gái hay dùng, trên mặt hộp phấn in hoa lá đỏ đỏ xanh xanh, giữa đám hoa lá vây quanh có một chữ “Hỉ” hồng rực.

“Hè năm ngoái, quân đội bạn lâm trận phản bội, anh dẫn theo người đột phá vòng vây, bị tách khỏi bộ đội chủ lực. Hơn một ngàn người, cuối cùng trở về chưa đầy một trăm”, anh cầm hộp sứ trắng kia, “Lúc đó trong doanh trại thương binh có hai nữ y tá, các cô ấy biết anh có bạn gái, lần nọ cải trang đến trấn lân cận mua thuốc trị thương, một trong hai người mang về thứ này đưa cho anh, nói là… đồ cô dâu hay dùng”.

Anh im lặng một lúc lại nói, “Sau đó, người ấy chết trận”. Chết trận như những binh lính bình thường khác.

Lúc ấy anh sai người bảo vệ hai nữ y tá đi trước, nhưng người y tá đó nói với anh, trước kia tướng quân không muốn thu nhận chúng tôi vào đội ngũ của mình, chỉ vì lo sợ chúng tôi là phụ nữ, dễ bị người khác bắt nạt khinh khi, luôn lo lắng chúng tôi rơi vào tay địch, nếu đến tận hôm nay tướng quân vẫn còn e ngại chúng tôi là phận con gái, ưu tiên để chúng tôi đi, vậy thì có khác gì chúng tôi trở thành gánh nặng của hơn một ngàn người nơi này. Bọn họ còn bảo, tướng quân từng nói chúng tôi là hai đấng cứu thế của những thương binh ấy, đấng cứu thế sao có thể bỏ đi được?

Mắt cô nóng lên: “Người còn lại còn sống không?”

“Đến học ở trường y tá rồi”.

Tạ Vụ Thanh kéo tay Hà Vị, đặt cái hộp sứ trắng vào lòng bàn tay cô.

“Chiến trường tàn nhẫn”, anh thấp giọng nói, “Sau này anh sẽ cố gắng viết thư nhà cho em”.

Cô nắm chặt hộp sứ trắng kia, gật nhẹ đầu.

Hai người bốn mắt nhìn nhau.

“Tối nay anh đi đi”, cô nhỏ giọng thủ thỉ, “Đây là cơ hội tốt nhất”.

Hà Vị gọi món chính từ tửu lầu, cùng với những hộp thức ăn mua sẵn bày đầy một bàn.

Món cơm mộc tê chú chín thích ăn nhất do đích thân cô xuống bếp chuẩn bị, thật ra là một phần cơm chiên trứng. Mộc tê vốn là hoa quế, vì trứng chiên lẫn trong cơm đẹp mắt, nhìn sắc trứng óng ánh nho nhỏ giống hệt quế hoa.

“Đây là món sở trường của Vị Vị, ngay cả tám đại lâu cũng không bằng”. Chú chín đắc ý nói.

Tạ Vụ Thanh cầm đũa, nhỏ giọng hỏi cô: “Thích hoa quế à?”

Lúc ở Ngọc Hồ Xuân, cô pha lẫn trà hoa quế cùng rượu Mao Đài.

Cô gật đầu: “Từ nhỏ đã thích rồi”.

Căn nhà này, từ lúc anh trai cô mất, đây là lần đầu tiên có nhiều người cùng vây quanh bàn cơm gia đình như thế.

Hà Vị đưa cho Tạ Vụ Thanh một bát cơm đơm đầy: “Anh ăn nhiều một chút, tối còn phải uống rượu”.

“Vị Vị làm riêng cho cậu đấy, cơm hấp mềm hơn”. Thím nhỏ nói.

Tạ Vụ Thanh dưới ánh mắt của cô, chậm rãi ăn hai đũa, hình như trong cơm mộc tê thoáng ngửi thấy mùi hoa quế.

Mấy phó quan của Tạ Vụ Thanh cũng được mời vào sương phòng dùng cơm. Những cô gái nhìn thẳng Lâm phó quan đã quen biết từ lâu và ‘Đọc sách’ trắng trẻo gọn gàng.

“Tên anh là gì?” Quân Khương hỏi ‘Đọc sách’.

“Vương… Cẩn”. ‘Đọc sách’ chưa bao giờ bước vào một căn nhà lớn thế này, cũng chưa từng gặp nhiều cô gái hiền lành xinh đẹp đến vậy.

“Khẩn trương gì chứ”, Quân Khương cười nói, “Sau này đều trở thành người một nhà”.

Chờ Quân Khương đi rồi, Vương Cẩn thấp giọng hỏi Lâm Kiêu: “Lâm phó quan… Mấy ngày nay tôi vẫn muốn hỏi ngài, gốc gác tướng quân rốt cuộc thế nào? Nhà vợ tương lai phú quý như vậy”.

Từ lúc Vương Cẩn đi theo Tạ thiếu tướng quân đã biết Tạ Khanh Hoài, nhưng không phải trên chiến trường, mà ở trường quân đội, cũng chưa từng đến căn hộ của anh hay thành Quảng Châu. Đến tận khi ra bắc mới biết tướng quân còn có một cái tên khác, thuộc về người nhà của anh. Tính ra hắn là người mới nhất bên cạnh Tạ Vụ Thanh, tuy mọi chuyện đều như sương mù, nhưng hắn không dám hỏi, sợ lỡ nói sai điều gì, chỉ dám suy đoán lung tung, nhịn đến hôm nay cuối cùng mới hỏi.

“Thiếu tướng quân”, Lâm Kiêu cười, “Là một công tử thế gia đàng hoàng, xứng đôi vừa lứa với cô hai”.

Vương Cẩn sửng sốt một lúc: “Ngài ấy thật biết đánh đàn dương cầm?”

“Tất nhiên rồi. Công tử gia đàn dương cầm, không chỉ dễ nghe, mà còn khá…”

Đẹp mắt.



Chú chín Hà từ thuở thiếu thời đã thích tự mình thiết <i>tiệc lưu thuỷ [3]</i> trong phủ, từ sáng sớm đến tận chiều tối, bày nào là rượu thơm cùng thức ăn ngon để chiêu đãi những người bôn ba xa xôi vào kinh vì tiền đồ, trong đó không thiếu văn nhân cùng võ tướng, có người bước ra từ giang hồ, cũng có người làm chính trị… Sự khẳng khái trước kia của chú chín xuất phát từ tấm lòng, mọi người đều nhận thấy và phân biệt rõ ràng, cũng vì thế nên bạn bè thân thiết thật tâm đối xử tốt với ông nhiều không kể xiết, có người đến giờ vẫn nghèo túng, nhưng nhiều nhất vẫn là những kẻ thăng quan tiến chức. Vừa nghe nói chú chín mở tiệc, có người tự bỏ tiền túi bao trọn cả căn Quảng Hoà Lâu bên cạnh, đón tiếp chú chín về kinh.

<i>[3] Tiệc lưu thuỷ là tên gọi những bữa tiệc bày sẵn thức ăn, chờ khi khách đến đủ số người của một bàn thì bắt đầu nhập tiệc, cứ như vậy nối tiếp nhau.</i>

Nhìn bề ngoài giống như mọi người đang chuẩn bị tẩy trần cho chú chín, thật ra là sắp xếp đường lui cho anh.

Phong quang vô hạn như thế, cũng xem là phù hợp với Tạ Vụ Thanh.

Cách tấm mành trúc, người đứng trên sân khấu kịch là một cô đào nổi tiếng, giọng hát ngọt ngào, đang diễn Hồng Nương của <i>Tây Sương Ký [4]</i>.

<i>[4] “Tây Sương Ký” tên gọi đầy đủ là “Thôi Oanh Oanh đãi nguyệt Tây Sương Ký” (tạm dịch: Truyện về Thôi Oanh Oanh chờ trăng dưới mái Tây), là một vở tạp kịch của Vương Thực Phủ, kể về câu chuyện tình yêu vượt mọi khuôn giáo môn đăng hộ đối và lễ nghi phong kiến giữa nàng Thôi Oanh Oanh và chàng thư sinh Trương Quân Thuỵ</i>

Cô đào này là người nổi danh nhất kinh thành, có điều những người hôm nay có mặt ở đây không ai không tiếng tăm lừng lẫy, đều do nể mặt chú chín nên mới mời được. Những quan lại khách quý vì ủng hộ cô nên không ở phòng riêng, tất cả đều ngồi dưới khán đài…

Hà Vị nép sau mành trúc nhìn xuống sân khấu, đến tận khi Tạ Vụ Thanh đi một vòng tiếp rượu trở về.

Bên ngoài tiếng trầm trồ ngợi khen không ngừng vang lên, âm thanh như sóng triều khó dứt.

Sau khi bóng dáng anh khuất trong rèm châu, mành vải mới được buông xuống.

Tạ Vụ Thanh hơi chếnh choáng, anh cởi quân trang, chuẩn bị thay quần áo. Quân trang trên giá đỡ, còn cả bội đôi tuỳ thân, tất cả đều treo lên móc áo, chờ xếp gọn vào rương hành lý. Bên cạnh để sẵn bộ tây trang áo sơ mi được là ủi thẳng thớm.

Anh mặc sơ mi trắng, khoác thêm áo choàng, lần nữa đeo súng lên thắt lưng.

Như thể cài cúc áo mãi không xong, từ sơ mi trong đến áo choàng, rồi đến áo khoác ngoài…

“Thiếu tướng quân không biết kiêng dè gì cả, thay quần áo ngay trước mặt cô gái chưa xuất giá”. Cô thủ thỉ trêu chọc anh.

Thời khắc chia tay sắp đến, cô cố gắng tỏ ra thoải mái, mỉm cười tiễn bước chân anh.

Anh cũng trêu ghẹo lại cô: “Mỗi lần cô hai gặp anh đều vào buổi đêm, e là muốn kiêng dè cũng khó”.

Anh cài từng cúc áo khoác ngoài tây trang, nhìn cô đứng bên cửa sổ. Hôm nay cô mặc một chiếc váy nhung trắng dài, sắc trắng trên thân dường như không giống nhau, dùng ngọc trai trắng và mã não cao thấp luân phiên thêu lên cổ áo, tay áo và vùng eo. Trên vai khoác một lớp lông hồ ly trắng mềm mại, là sắc trắng tinh khôi nhất, nhưng tất cả đều không thuần khiết bằng cổ thon mặt ngọc của cô.

Lần này ra đi không hẹn ngày về, không biết đến khi nào mới có thể nhìn thấy đôi mắt trong veo ánh nước của cô lần nữa.

Tạ Vụ Thanh đến gần, cô bỗng không thốt nổi lời vui đùa.

Chỉ nghĩ mình phải cố nhìn nhiều một chút, nhớ kỹ anh một chút.

Có tiếng gõ cửa, phía sau mành vải.

Ông chủ Quảng Đức Lâu tự mình mang đến một hộp lớn mứt hoa quả, ngầm ám chỉ đã đến lúc Tạ Vụ Thanh phải đi. Mí mắt ông chủ không buồn nhướng lên, cứ thế bước vào rồi lẳng lặng lui ra ngoài, chỉ để lại một câu: Đây là yêu cầu của thiếu tướng quân.

Tạ Vụ Thanh cầm lấy hộp mứt hoa quả ấy, bên dưới có tờ giấy đỏ, lại mở ra…

Là một tờ hôn thư bỏ trống.

“Bọn người Lâm Kiêu không quen thuộc chỗ này, chỉ đành nhờ ông chủ chuẩn bị”, anh lấy một cây bút máy từ trong túi ngoài tây trang, mở nắp bút, đặt tờ hôn thư lên bàn.

Hà Vị nhìn đầu bút máy: “Anh Thanh…”

Anh đặt bút phía dưới hai chữ “chú rể”, nhẹ nhàng như nước chảy mây trôi viết ra ba chữ “Tạ Vụ Thanh”.

Ký tên xong, anh lại lấy cái hộp kim loại nho nhỏ trong túi áo tây trang, mở nắp, là một con dấu vô cùng tinh xảo. Thứ này chỉ dùng cho những văn kiện trọng yếu, có thể điều động trọng binh hai tỉnh, còn có thuộc hạ cũ của cha anh… Ngoài hai lần ra bắc, Tạ Vụ Thanh phải xuất đầu lộ diện trước mọi người, còn lại hiếm khi anh dùng thân phận thật của mình để ra mặt, suốt mười mấy năm qua đều nhìn thấy văn tự như thấy người.

Con dấu nhẹ ấn, ngay phía trên ba chữ Tạ Vụ Thanh.

Một vết đỏ hình vuông nhỏ bé, như khảm sâu vào lòng.

Làm xong, anh cất con dấu cùng bút máy đi, đưa tờ hôn thư vẫn còn trống một chữ ký cho cô.

Anh thấp giọng bảo: “Nếu có chuyện nguy hiểm mạng sống, hãy lấy nó ra. Nếu vì anh mà liên luỵ em gặp hiểm cảnh đến tính mạng, hãy thiêu huỷ nó”.

Mắt cô ngần ngận đỏ.

Tạ Vụ Thanh đưa cho cô tờ hôn thư còn trống một chữ ký, lại nói với cô nếu không may gặp nguy thì đốt nó đi.

“Trong mắt của anh, em là người tham sống sợ chết như thế sao?” Cô nghẹn giọng hỏi.

“Là anh”, Tạ Vụ Thanh đáp, “Là Tạ Vụ Thanh này sợ em chết”.

Cô đỏ mắt, đối diện nhìn anh.

Anh trêu đùa cô: “Người theo đuổi cô hai vô số, Tạ Vụ Thanh chỉ là một trong số đó, không đáng để cô hai dùng nước mắt để tạm biệt”. Anh lúc nào cũng thế, dùng khuôn mặt vui vẻ nhất để chia ly, giống như sáng nay hai người đường chia đôi ngã, ngay ngày mai liền có thể gặp lại nhau.

Anh cười nói tiếp: “Anh dùng công danh nửa đời mình, cùng trọng binh hai tỉnh, lại không đổi được một cái gật đầu của em cùng anh xuôi nam, lần này là Tạ Vụ Thanh cầu mà không được”.

Cô bị anh nói đến nước mắt đong đầy trong mắt, cứ như đó là sự thật vậy.

Ngoài cửa lại vang lên tiếng gõ dồn dập.

Muốn giục anh nhanh lên đường.

Tạ Vụ Thanh phải đi rồi, Hà Vị nhỏ giọng gọi anh lại: “Anh Thanh”.

Yết hầu cô như bị cái gì nghẹn ứ.

Có người vén rèm giúp anh, ông chủ cười nói: “Vừa rồi vị khách kia thật bất cẩn, làm đổ đầy rượu lên quần áo của thiếu tướng quân. Cậu nhìn xem, thật là, còn phiền tướng quân phải vào trong thay bộ đồ khác”.

Đặng Nguyên Sơ đứng ngoài rèm chờ Tạ Vụ Thanh rời đi.

Cô cảm nhận được bàn tay Tạ Vụ Thanh chạm khẽ vào gò má mình, ngón tay anh ch*m r** v**t v* mặt cô: “Bảo trọng”.

Sau khi Tạ Vụ Thanh ra ngoài, trong bóng rèm châu lắc lư, liếc mắt nhìn cô lần cuối.

Từng chuỗi hạt châu trắng ngần dưới bóng đèn cung đình mờ ảo, hắt lên khuôn mặt mơ hồ của anh, chỉ có đôi mắt kia vẫn hệt bóng đêm bên bờ Sát Hải, phảng phất như đong đầy ánh trăng sáng ngời của cả kinh hoa, phản chiếu lại bóng hình cô.

— HẾT CHƯƠNG 34 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 35: Trăng thành cổ thiên thu (2)


Đặng Nguyên Sơ bước vào, nhẹ giọng nói: “Anh Thanh sợ cô đau lòng nên bảo tôi đến ngồi cùng cô một lát”.

Hà Vị cầm danh sách liệt kê những loại mứt khô, đặt tờ hôn thư ở giữa, sợ chốc lát lấy ra bị người khác chú ý. Chuyện kia cũng thường thấy… ít nhất là mỗi lão nhân gia chỗ này đều từng chứng kiến hay trải qua.

Cô biết Tạ Vụ Thanh vẫn còn trong toà lâu, không thể vừa ra khỏi phòng riêng đã biến mất, cần phải vượt qua nhiều đường. Cũng không biết trong tràng cười đùa ồn ào xung quanh, nơi nào có anh.

“Anh Thanh là người dạy tiết học đầu tiên của tôi ở Bảo Định”, Đặng Nguyên Sơ ngồi trước mành trúc, tán gẫu với cô, giúp cô giảm bớt tâm sự trong lòng. “Bài đó nói rằng, ở trên chiến trường cần phải có lòng dũng cảm không tiếc hy sinh thân mình vì nước, cũng nên biết trước, vì đại cục, vì đồng bào, vì cuộc sống an ổn, lúc nào cũng có thể bị bỏ rơi. Nhiều khi vì bảo toàn chuyện lớn, đúng lúc ở nơi không thể tiếp viện, đánh đến cuối chỉ còn lại một mình, sau đó là chết trận”, hắn ngừng một lát nói tiếp, “Những thứ kia, cần phải nhìn thấu mới có thể đến chết không hối tiếc”.

Cô bỗng nhớ đến anh từng nói “Quốc gia cùng người, đều có thể phụ tôi”… Chung quy từ đó mà ra.

“Khi ấy tôi đã nghĩ, thầy giáo này rốt cuộc có gì chứ. Không chỉ dựa vào chiến công mới được giữ lại trường”.

“Tiết thứ hai là gì?” Cô muốn biết chuyện quá khứ của anh, càng nhiều càng tốt.

“Tiết thứ hai…” Đặng Nguyên Sơ nhớ lại, “Giảng về — <i>thượng binh phạt mưu [1]</i>, tiếp đến là <i>phạt giao</i>, rồi lại <i>phạt binh [2]</i>, sau cùng hạ thành”.

<i>[1] Thượng binh phạt mưu, ý chỉ dùng mưu kế, sách lược để đánh hạ kẻ địch.</i>

<i>[2] Phạt giao, ý chỉ phá vỡ sự liên kết của kẻ thù với xung quanh; Phạt binh, ý chỉ phá tan phòng tuyến của binh lính giặc</i>

Đặng Nguyên Sơ nhớ đến liền cười: “Nghe anh ấy giảng xong, tôi liền biết bài học này. Năm đó tôi hỏi anh ấy, liệu tôi có năng lực đến làm việc ở Bộ Ngoại giao không, anh ấy trả lời là, ‘Những người từng lãnh binh đánh trận đều hiểu được đạo lý, mưu trước giao sau, tiếp đến mới dụng binh, đây vốn là môn học bắt buộc, có gì không thể?”

Hắn lại nói: “Giao tiếp để giành lấy hoà bình, là một loại năng lực mà những tướng lĩnh cấp cao cần phải có. Nếu không giỏi chuyện này, cũng không xứng làm học trò của Tạ Vụ Thanh. Cho tới bây giờ, anh Thanh trên chiến trường luôn là một lão hồ ly, so với những kẻ ngày xưa giam lỏng anh ấy ở đây không biết cao hơn bao nhiêu bậc, đúng thật là tính kế tàn nhẫn”.

Hà Vị cười, mọi khổ sở trong lòng đều bị lời này xua tan hết.

“Vẫn là anh ấy hiểu anh”, cô hỏi Đặng Nguyên Sơ, “Chuẩn bị quay về Bộ Ngoại giao sao?”

Đặng Nguyên Sơ ngầm thừa nhận.

“Bác Tấn không con không cái, nhưng quan hệ rộng khắp, cũng rất thích anh. Chú chín đã trở lại, để tôi bảo chú ấy thay hai người làm chứng, giúp anh nhận cha nuôi. Đây cũng là ý định của bác Tấn, ông muốn để lại các mối quan hệ của mình cho anh. Nếu anh còn muốn làm ngoại giao —”

Rèm cửa được vén lên, cô dừng lại.

Có quan quân tiến vào, lấy rương quân trang của Tạ Vụ Thanh đi, đây đều là đồ Tạ Vụ Thanh phải thay khi ra khỏi thành.

“Thay tôi nhắn với tướng quân”, cô nhẹ giọng nhắc nhở, “Sau khi Liên Xô thành lập luôn bị các quốc gia khác cô lập, đường biển sang đó không dễ đi chút nào. Hơn nữa giờ đang là mùa đông, không thể đi được. Hà gia sẽ mở chuyến tàu sớm nhất, vào tháng Ba”.

“Ti chức hiểu ạ”.

Quan quân thẳng lưng, chào theo kiểu quân lễ với cô rồi mang rương da ra ngoài.

Dưới lầu vô cùng náo nhiệt, là cô đào sắp sửa diễn áp trục tối nay bước ra, trang điểm kỹ càng, theo người giới thiệu đến chào các vị khách quý.

Cô đào này tên gọi Chúc Tiểu Bồi, cũng chính là người ở chung với Đặng Nguyên Sơ trong hội quán.

Hà Vị xuyên qua rèm cửa nhìn thấy ông chủ của Quảng Đức Lâu, còn có mấy người đàn ông không biết mặt đứng phía trên, bọn họ hộ tống Tạ Vụ Thanh đi ra sau sân khấu… Thiếu tướng quân của cô, đi thật rồi.



Năm mới này, phòng hai và phòng chín ở cùng nhau.

Hai anh em thân thiết sau khi uống rượu một hồi liền ngủ gà ngủ gật. Thím lớn thím nhỏ cùng vô trở về phòng, ba người chen chúc trên cái giường Bạt Bộ, mở cái hộc tủ trên vách gỗ. Thím nhỏ lấy ra một cây nến sinh nhật, mỉm cười: “Mộc mạc thế”.

Thím lớn thấy lạ hỏi: “Cây nến này từng đốt chưa?” Đỉnh lõi bông vẫn còn vệt màu đen.

Thím lớn theo thói quen định tìm cây kéo, muốn cắt đỉnh lõi bông nhòn nhọn kia.

Hà Vị vừa trông thấy đã đoạt lại: “Cái này không thể cắt đâu ạ”.

Hai người thím của cô trước đây từng sống những ngày phải xem sắc mặt người ta để đoán ý, tất nhiên biết được nến sinh nhật này có liên quan đến vị Tạ thiếu tướng quân kia rồi.

Hà Vị gói kỹ nến sinh nhật trong khăn tay trả về chỗ cũ.

Thím lớn thím nhỏ uống chút rượu nên đi ngủ sớm, cô ngược lại ngủ không yên, bèn xuống giường ra ngoài dạo.

Trong phòng Tây, Khấu Thanh ôm quyển sách tiếng Anh đánh vần, ngẩng đầu trông thấy Hà Vị liền muốn hỏi han, nhưng cố gắng nhíu mày không lên tiếng, nghẹn một lúc lâu mới bật ra nửa câu: “Cô hai sao còn chưa ngủ ạ?”

Hiếm khi cô bé không nói lắp. Tật xấu này của Khấu Thanh vốn không phải bẩm sinh, lão trung y từng nói cô bé không có dị tật, chỉ do tâm bệnh, khi bản thân muốn sửa liền sửa được thôi. Vì thế đôi khi cô bé vẫn có thể nói một câu hoàn chỉnh không lắp bắp.

Nhưng tất nhiên, để nói được một câu trôi chảy như thế, Khấu Thanh đã sửa đi sửa lại suốt nửa tháng.

Mỗi lần đều nghẹn đến đỏ mặt…

“Em rốt cuộc bị thứ gì đả kích?” Cô xốc góc chăn, ngồi xuống cạnh Khấu Thanh, lưng tựa vào thành giường, “Sao bỗng nhiên muốn sửa vậy?”

Khấu Thanh lại nín thở.

Thôi được, cô kiên nhẫn chờ chút.

“Em, em nói lắp tiếp vậy… cái này cũng không thể một hai ngày là có thể sửa ngay”.

Quân Khương xoay người, ngồi trên giường đối diện lên tiếng: “Để em nói thay cho”.

Đêm giao thừa, mọi người đều không quen ngủ sớm, ai cũng tỉnh rụi.

“Có một lần Khấu Thanh nói chuyện cùng Lâm Kiêu, em ấy nghe Lâm Kiêu bảo, Tạ thiếu tướng quân mưu lược hơn người, không chuyện gì không giải quyết. Khấu Thanh liền chạy đi xin giúp đỡ, cầu mong Tạ thiếu tướng quân cho em ấy một lời khuyên, làm sao thoát khỏi tật xấu này”.

Hà Vị không nghĩ Tạ Vụ Thanh còn quản cả mấy chuyện kia.

“Tạ thiếu tướng quân nói với Khấu Thanh là, nếu sau này có một ngày cô hai của các cô phải lẩn trốn che giấu tung tích, mang theo cô sẽ vô cùng nguy hiểm. Vì đặc điểm nhận dạng của cô quá rõ ràng, dù có thay đổi khuôn mặt cũng vô ích”, Quân Khương ngồi dậy, chỉ vào Khấu Thanh, “Nha đầu này nghe thấy liền lập tức hạ quyết tâm”.

Khấu Thanh liên tục gật đầu.

Quân Khương nhớ lại: “Thiếu tướng quân lúc ấy còn nói, vì Khấu Thanh thật lòng thật dạ muốn đối tốt với cô hai, đây là động lực lớn nhất. Chỉ cần lòng người có chỗ hướng về, càng dễ thành công”.

Lòng người có chỗ hướng về, càng dễ thành công.

Cô lẩm bẩm những lời này, phảng phất như nhìn thấy bộ dáng của Tạ Vụ Thanh khi nói chuyện.

Quân Khương cũng chen vào: “Lúc nào cũng phản quân phiệt, phản quân phiệt, thật ra em không hiểu lắm. Thiếu tướng quân rốt cuộc vì cái gì liều mạng như vậy?”

Hà Vị cười khổ.

Tạ Vụ Thanh là tướng quân, với anh mà nói, thời buổi loạn lạc bất kỳ ai cũng có thể cầm súng đứng lên, tuỳ lúc bỏ mạng.

Cô thấp giọng đáp: “Quân phiệt ở các tỉnh một khi giành thắng lợi liền thu thuế, nếu thua cuộc thì bắt trai tráng nhà dân đi lính. Rất nhiều gia đình không có tiền, cũng không có người lao động, toàn bộ đều phải ra ngoài đánh giặc…”

Mà Hà gia xuất thân là thương nhân, đối với chính sách thu thuế hiểu rõ nhất, trong chuyện này mọi người khổ đến thế nào.

Cô lại tiếp lời: “Anh trai trước kia từng làm ở Bộ Tài chính, chỉ có mấy tỉnh thành là thật sự nộp thuế, còn những quân phiệt các tỉnh còn lại vì xưng vua một cõi nên không chịu nộp thuế cho quốc gia. Đất nước làm cái gì cũng không đủ tiền, mà bọn họ lại rặt một đám <i>phú khả địch quốc [3]</i>, ở các tỉnh đó, cái gì cũng có thể đánh thuế được, chỉ có chuyện các em không tưởng nổi chứ không có chuyện bọn họ không dám làm. Nếu thu thuế lương thực không đủ, vậy thì nộp thêm thuế cày cuốc, đến cả việc lên núi hốt phân súc vật mang về bón cây cũng bắt nộp thuế phân. Chưa kể còn có các loại quyên tiền, nào là quyên tiền kết hôn, quyên tiền uống trà, quyên tiền xem kịch, làm hoà thượng cũng phải quyên tiền. Những tư lệnh đó còn sợ không đủ, bắt phải thu thuế trước và sau mấy chục năm, có quân phiệt một lần thu đến năm 2050, thuế của một trăm năm sau đều thu xong hết rồi. Nếu không thể nộp thuế thì làm sao bây giờ? Chỉ còn cách bán con bán cái, cả nhà đói chết la liệt đầu đường”.

<i>[3] Phú khả địch quốc, ý chỉ một người/hộ/nhóm giàu ngang ngửa một quốc gia</i>

Thậm chí có thứ còn khủng khiếp hơn, chính là thuốc phiện. Đây cũng là điều khiến cô và Tạ Vụ Thanh thống hận nhất.

Cô nhẹ nhàng nói: “Quân phiệt các nơi vì muốn mở rộng quân đội, nghĩ cách để nông dân trồng thuốc phiện. Anh Thanh nhiều năm chinh chiến bên ngoài, càng cảm nhận sâu sắc”, thế nên việc Tạ Vụ Thanh muốn cấm thuốc, quả thực là l**m máu trên mũi dao, Hà Vị có thể tưởng tượng được có biết bao kẻ ôm hận vì anh, bởi lẽ đây chính là nguồn thu huyết mạch của đám người đó, “Có quân phiệt còn phát minh ra thuế lười, chuyên trừng phạt những “người lười biếng” không chịu trồng thuốc phiện. Năm đầu tiên Dân quốc, thuốc phiện chỉ chiếm 3 phần đất canh tác, mà nay đã gấp năm, sáu lần”.

Có người đùa rằng, từ khi Dân quốc tới nay, cuộc chiến của quân phiệt là một phiên bản khác của chiến tranh thuốc phiện, các nhóm quân phiệt tranh đoạt đất đai, nhằm chiếm giữ đất canh tác trồng thuốc phiện, chỉ vì muốn thu được nhiều tiền, mua thật nhiều vũ khí tối tân…

Không một quốc gia nào có thể giàu mạnh trong tình cảnh như thế.

Cũng không một người dân thường nào lại muốn sống trong xã hội như vậy, nếu không phải bị bóc lột đến tiền của đời cháu chắt thì chính là chịu cảnh lúc nào cũng có thể bị người ta kéo ra ngoài đánh giặc, sau đó bị g**t ch*t, bị nổ chết trên mảnh đất quê hương mình… Nếu không thì đem toàn bộ cương thổ của Hoa Hạ gieo trồng thuốc phiện.

Một khi không người quản thúc, đám quân phiệt này tương lai sẽ thành dạng gì?

Đều nói <i>“nhất tướng công thành vạn cốt khô” [4]</i>, hài cốt ấy nên là thây xác của những kẻ xâm lấn lãnh thổ trên chiến trường, chứ không phải đạp lên tính mạng của người dân bình thường để xây dựng thành trì.

<i>[4] Nghĩa đen là mỗi một vị tướng thành công đều phải đánh đổi bằng vạn bộ xương cốt của binh lính chết khô; nghĩa bóng là vinh quang của các bậc vua chúa tướng lĩnh đều phải trả giá bằng tính mạng của rất nhiều người.</i>



Mùng Một Tết, Quân Khương mang đến một lá thư.

Hà Vị thấy Quân Khương nén cười, như đoán được điều gì đó, tim đập thình thịch.

Cô vội cướp lá thư từ tay Quân Khương, tìm một cây kéo bạc nhỏ, cẩn thận tỉ mỉ cắt bì dán.

Rút một tờ giấy được gấp làm bốn, cô chậm rãi mở ra, nhìn nét chữ là của Tạ Vụ Thanh:

<i>Em thân yêu,</i>

<i>Nay đã đến nước ngoài, rất nhớ nhung. Mấy ngày gần đây lo lắng tình hình chiến sự phương Nam, ba đường hai ngả đông chinh đều là thuộc hạ cũ của quân phiệt, sợ rằng có dị tâm, cùng quân phản nghịch ngầm trao đổi tin tức. Nhưng, thân đang ở đất Bắc, bị bó buộc tay chân, chỉ đợi mùa đông qua lập tức có thể xuôi Nam. Đông chinh vì thống nhất toàn bộ Quảng Đông, một khi Quảng Đông được củng cố, mới có thể bắc phạt, vì vậy trận chiến này phải thắng, hơn nữa nhất định phải thắng lợi vẻ vang.</i>

<i>Nhớ lại ngày đó chú hai từng hỏi, về chuyện bắc phạt, rất nhanh sẽ đến. Nhiều năm nay tâm nguyện của Thanh chính là bắc phạt, nhưng cũng không chỉ có vậy.</i>

<i>Cường quốc dùng tô giới như một nước trên đất ta, ôm theo tâm tư lang sói, một ngày quốc thổ còn chưa vẹn toàn, thuốc phiện khó được diệt trừ, kéo dài như cá trong ấm nước chờ đun, ngày đêm bất an. Chí hướng trong lòng này, chưa bao giờ thay đổi, vì cứu nước độ dân là thiên chức của người hành quân, đến chết không hối hận. Mà anh độc thân hơn 30 năm, cuối cùng cũng có em làm tri kỷ, chắc vì cứu nước cứu dân, nên được trời xanh thương tình.</i>

<i>Ngày cuối năm, nhớ nhà cũng mong em.</i>

<i>Nhớ đến áo cơm của bốn trăm triệu đồng bào, cũng là nhớ chuyện cơm áo của em, mong cầu cho đất nước của bốn trăm triệu đồng bào, cũng cầu mong em tuổi mới vô ưu vô lo.</i>

<i>Thanh,</i>

<i>Ngày 13 tháng Một.</i>

Cô phát hiện thư có hai mặt, mặt thứ hai chỉ có một hàng chữ:

<i>Từ thời niên thiếu Thanh đã vào Liễu doanh, câu văn không giỏi, cầm bút chỉ viết chuyện chiến tranh, đặt bút chỉ lo bày binh bố trận. Bản thân trên chiến trường buồn chán không thú vị, may mắn có em thân yêu, không chê không bỏ. </i>

Cô bất giác mỉm cười.

Dường như khi anh viết xong mặt trước, cảm thấy không ổn lắm, nên mới viết thêm một mặt nữa.

Cô cầm trên tay phong thư nhà đầu tiên anh gửi, xem đi xem lại đến khi trên mặt cảm giác lành lạnh, vừa ngẩng đầu mới biết là tuyết rơi rồi.

Hà Vị ngửa đầu cười, nhìn bông tuyết lả tả rơi xuống.

Nghe nói phương nam ít tuyết, cũng không biết có thể nhìn thấy tuyết lớn như thế không. Cô chưa từng đến Quảng Châu, nghe bảo ở đó điểm tâm sáng rất ngon. Còn có Quý Châu… Cô nhớ đến bình rượu Mao Đào pha lẫn với trà hoa quế, trước lúc kết hôn, cô nhất định phải đến quê hương anh một lần, tận mắt nhìn ngắm vùng đất anh lớn lên từ thuở bé xíu.

Cô lại nghĩ cái tên Tạ Khanh Hoài lừng danh ở phương nam, nghe bảo không phải trên chiến trường, mà chính là ở trường quân đội. Anh cũng lâu rồi không về quê cũ… Có điều đối với người như anh mà nói, quốc gia chính là quê hương. Bất kể đông tây nam bắc, dân tộc là nhà.



Ngày 1 tháng Hai, chính phủ của Đoàn Kỳ Thuỵ tổ chức thành công hội nghị khắc phục hậu quả sau chiến tranh.

Tại hội nghị khắc phục hậu quả này, quân phiệt các tỉnh Tây Nam một lần nữa đưa ra chủ trương “tự trị liên tỉnh”, bắt chước phương Tây, thành lập một hệ thống nhà nước liên bang.

Đối với chuyện đó, Tấn lão từng đánh giá một câu với cô: “Chưa cần nói tốt xấu, chỉ nhìn từ đời Ngu Hạ Thương Chu, mấy ngàn năm qua chúng ta luôn kiên trì giữ vững bốn biển quy về một mối. Tự trị liên tỉnh ư? Nếu đúng thật thì chẳng ai có thể quản nổi bọn họ, toàn bộ đất nước này trên dưới đều là ruộng thuốc phiện”.

Ngày 1 tháng Ba, Hội nghị Quốc dân tổ chức tại Bắc Kinh.

Trên báo đăng rất nhiều người nổi tiếng đến tham dự hội nghị, ví như Lý Đại Chiêu, Vương Tẫn Mỹ, Triệu Thế Viêm.



Tết năm nay, Tạ Vụ Thanh ở Liên Xô.

Giữa tháng Ba, Tạ Vụ Thanh nhìn thấy Bạch Cẩn Hành du học nước ngoài mấy năm trời, đã nhiều năm không gặp, Bạch Cẩn Hành thành thục không ít. Hai người bạn cũ ôm chào nhau, sau đó buông ra đánh giá đối phương.

“Cậu đến đây khi nào?” Tạ Vụ Thanh hỏi hắn, ý bảo ngồi nói chuyện.

“Lúc ở châu Âu, rất nhiều du học sinh Trung Quốc bị khi dễ, bộ phận của chúng ta ở châu Âu đã giúp những du học sinh này đến Liên Xô, tôi cũng theo tới đây”. Bạch Cẩn Hành cười ngồi xuống.

Bạch Cẩn Hành được cô cả Tạ gia giới thiệu gia nhập Đảng, vừa gặp được Tạ Vụ Thanh càng có nhiều lời muốn nói.

Hai người nói từ chuyện đông chinh đến cuộc chiến bắc phạt sau này, không có hồi kết.

Kể từ lúc quốc cộng hợp tác, có rất nhiều người ở phe họ hoặc đang làm giáo viên, hoặc đang làm học sinh ở Học viện Quân sự Hoàng Phố, lập tức dẫn binh đông chinh, chiến đấu hăng hái vì Quảng Đông thống nhất, cũng là vì công tác chuẩn bị cho cuộc chiến bắc phạt trong tương lai.

Danh tướng như mây, mưu lược như mưa, không một ai cá biệt.



Đêm đó.

Tạ Vụ Thanh vốn đã thiếp đi, lại bị tiếng gõ cửa đánh thức, cấp dưới lúc nào cũng cố gắng đảm bảo việc nghỉ ngơi của anh, trừ phi có chuyện nguy hiểm đến tính mạng, bằng không sẽ không quấy rầy. Anh xoay người ngồi dậy, mở cửa, Bạch Cẩn Hành đứng bên ngoài đưa cho anh một phần điện báo.

<i>Tôn Văn [5]</i> bệnh chết ở kinh thành.

<i>[5] Tôn Văn là tên gọi khác của Tôn Trung Sơn</i>

Tạ Vụ Thanh nhìn mấy chữ ít ỏi, trong lúc đó nhớ lại rất nhiều chuyện. Đều là chuyện của quá khứ. Những người trong cuộc Cách mạng Tân Hợi lần lượt rời đi, năm tháng chiến đấu trên tiền tuyến đời trước của anh dường như trôi qua trước mắt.

Sau nhiều phút trầm mặc, anh gấp điện tín lại rồi ra ngoài.

Trong căn phòng tĩnh lặng đứng đầy tướng lĩnh, Tạ Vụ Thanh thấp giọng nói: “Đêm nay các vị thu dọn hành lý cẩn thận, chúng ta phải quay về rồi. Tìm cách đi đường bộ”.

Mà hành trình trên lưng ngựa chiến của anh nửa đời sau chỉ vừa mới bắt đầu.

Tình hình sau đó, giống như những lời Lý Đại Chiêu tiên sinh đã nói trong điếu văn:

“Trung Hoa là nơi mà các cường quốc thế giới đến tranh giành, từ châu Âu tới Nhật Bản, cướp đoạt chính trị, xâm lăng kinh tế, thậm chí âm mưu liên minh với nhau, chỉ để đoạt được đất nô lệ đem về làm trâu ngựa”.

Vô số tiền nhân đã ra đi, vô số hậu nhân hết người này đến người khác lần lượt ngã xuống.

Thử hỏi kế tiếp là ai? Ắt có người kế nghiệp của Hoa Hạ muôn đời hùng mạnh.

— HẾT CHƯƠNG 35 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 36: Nhớ nhà cũng mong em (1)


Tạ Vụ Thanh bôn ba về Nam.

Lúc bước vào Quảng Tây, có người mang theo một phong thư, quyển sổ nhật ký cùng một chiếc đồng hồ đưa cho anh.

Đồng hồ vàng kiểu mới, cái hộp được cô dùng tơ đỏ quấn quanh mấy vòng, chắc vì lấy may mắn. Đây là thư nhà đầu tiên của cô, lưu lạc suốt hai tháng mới đến tay anh:

<i>Anh Thanh,</i>

<i>Năm nay tuyết lớn, thật hối hận vì trước lúc anh đi không dẫn anh đến Điện Thái Hoà. Nơi ấy mấy năm gần đây không tổ chức điển lễ [1], cỏ dại mọc cao, khi trời đổ tuyết rất đẹp. Có điều từ lúc Hoàng đế Tốn Thanh rời đi, đã có người bắt đầu kiểm kê đồ đạc trong cung. Nghe bảo mùa thu sẽ cho xây dựng bảo tàng cổ vật và thư viện. Anh về trễ chút cũng được, vừa về kịp đến xem.</i>

<i>Một tướng quân, phải có đồng hồ tốt, dù va chạm thế nào cũng không hỏng, chiến cơ quan trọng, ăn uống cũng gấp gáp.</i>

<i>Thêm một quyển nhật ký để lại cho người thân. Ngoài ra, hải đường trong Bách Hoa Thâm Xử em đã mang về nhà rồi. Ông bác nói, tuỳ em xử lý. Mong anh cũng như hải đường, sau khi quay về, tuỳ em xử lý.</i>

<i>Em Vị Vị</i>

<i>Ngày 16 tháng Hai.</i>

<i>[1] Điển lễ là cách gọi những nghi thức long trọng, lễ nghi lớn được cử hành trong hoàng cung </i>

Thư cũng có hai mặt, ở mặt thứ hai có một hàng chữ:

<i>Trong nhà bận rộn làm ăn, mỗi ngày gấp không thở được, hết ngày lại đêm đều bàn chuyện với bên ngoài, không nói được nhiều với anh. Mặt khác, hiện giờ thịnh hành bạch thoại [2], anh có thể thử xem, biết đâu tìm được điều thú vị mới.</i>

<i>[2] Bạch thoại là một hình thức sử dụng phương ngữ để viết thành văn</i>

Tạ Vụ Thanh xoa mấy cái lên mặt sau thư, nhìn hồi lâu.

Cuối cùng cũng có một quan quân giải đáp thắc mắc của anh, quan quân tuổi trung niên kia là người chăm sóc anh lúc dưỡng thương tại Nam Dương, cũng từng nói chuyện yêu đương tân thời với con gái, bảo những sinh viên thích dùng thứ này bày tỏ nụ hôn môi.

“Ti chức chỉ từng nghe qua, đây là lần đầu nhìn thấy”. Quan quân nghiêm túc nói.



Tạ Vụ Thanh gấp thư cẩn thận.

Bằng sự hiểu biết của anh với Vị Vị, e là cô cũng có ý này.



Chỗ đóng quân của Tạ Vụ Thanh nằm trong núi.

Khi lộ trình cách nơi đóng quân chỉ còn hai giờ, xe chạy khó khăn, anh dẫn theo Bạch Cẩn Hành cùng các sĩ quan dọc theo đường núi đi bộ về phía trước, lại gặp tham mưu của trung đoàn Hai nôn nóng đuổi theo, mang đến một phần quân báo khẩn, chuẩn bị trình lên.

Nội dung quân báo ngắn gọn: Lâm Đông đích thân mang bảy vạn binh chủ lực, vây quanh khu vực rừng núi áp sát.

Tham mưu trung đoàn Hai không ngờ Tạ Vụ Thanh lại gấp quay về sớm như thế, nhất thời không biết nên vui hay buồn.

Vui chính là, thiếu tướng quân cuối cùng cũng trở lại, được cứu rồi; Buồn chính là, thiếu tướng quân đã bắt kịp kiếp nạn sinh tử.

Trận chiến lần này vô cùng hung hiểm.

Nơi đóng quân ở đây chỉ có bảy trung đoàn, không đến một vạn năm trăm binh lính, may mắn họ đều là quan quân nòng cốt tinh nhuệ, toàn bộ xuất thân từ học sinh ở giảng võ đường mà anh từng dạy, cũng xem như cấp dưới trực tiếp của Tạ Vụ Thanh.

Tạ Vụ Thanh giữ lại quân báo, nhờ tham mưu ra khỏi núi gửi một bức điện tín mới có nội dung tương tự như trên, thông báo đến những quân phiệt khu vực lân cận, nói rằng anh và Lâm Đông sẽ chiến một trận với nhau. Là trận chiến sinh tử.

“Bọn họ sẽ giúp cậu sao?” Bạch Cẩn Hành hỏi.

“Tất nhiên là không”, Tạ Vụ Thanh đáp lời, “Nhưng sẽ tranh nhau phân chia thành quả”.

Bọn họ sẽ chờ khi Tạ Vụ Thanh và Lâm Đông chiến đến ta chết ngươi sống mới đi lo liệu phân chia thành quả.

Tạ Vụ Thanh là một tướng lĩnh của quân cách mạng, không tiền nong, không mỏ dầu, không thuốc phiện, chỉ có súng pháo, nếu thất bại cùng lắm thuận lợi cho bọn họ bớt đi một người quấy nhiễu trồng thuốc phiện. Mà quân phiệt phương Nam đó giờ đều hiểu rõ đạo lý hôm nay hợp tác với quân cách mạng, ngày mai có thể trở mặt thành thù, cũng không cảm thấy tướng lĩnh cách mạng uy h**p quá lớn. Nhưng Lâm Đông đối với bọn họ lại mang một tầng nghĩa khác, chỉ cần Lâm Đông bại trận, bất luận là binh lực hay tài sản trong phủ viện, ruộng thuốc phiện, còn có cả địa bàn chiếm đóng đều là miếng thịt béo bở người người muốn tranh.

Tạ Vụ Thanh không thể tiêu diệt hoàn toàn binh lực của Lâm Đông ngay ngày mai. Anh cần người chia chác thành quả, chặt đứt hết thảy đường lui của Lâm Đông.

Tạ Vụ Thanh đến nơi đóng quân, những trung đoàn trưởng trông thấy anh đều hoảng hốt, tranh nhau hỏi anh vì sao lại quay về?

Trận chiến này ác liệt ai nấy đều hiểu, họ nhìn Tạ Vụ Thanh tự xông vào tình thế hiểm nguy, không khỏi sốt ruột.

Tạ Vụ Thanh không nhiều lời, dẫn mọi người vào lều trại, đêm khuya thắp đèn.

Từng trung đoàn trưởng báo cáo tình hình lộ binh của quân địch. Trọng điểm là đối phương mang theo một trung đoàn pháo binh có mười tám khẩu đại pháo. Mà họ nơi này chỉ có một tiểu đoàn tầm sáu khẩu.

“Hiện tại họ đóng quân ở đâu?” Tạ Vụ Thanh hỏi.

“Bên kia bờ sông”.

“Lâm Đông là người cẩn thận, khi đến chỗ không quen thuộc, tất sẽ chờ rạng sáng mới tiếp tục hành quân”, Tạ Vụ Thanh gọi mọi người đến cạnh sa bàn, “Trước khi trời sáng, chúng ta phải vượt sông, cướp được tiên cơ”.

“Tôi cho cậu ba trung đoàn binh trấn giữ”, Tạ Vụ Thanh nói với Bạch Cẩn Hành trước, “Nắm lấy hai vạn binh ở cánh tả của Lâm Đông”, anh chỉ vào chỗ rừng núi trên sa bàn, “Không cần trực diện đối địch, cứ bám theo bọn họ. Cậu mang một trung đoàn tham mưu đi, họ quen thuộc nhất là địa hình rừng núi. Rừng chỗ này chướng khí mù mịt, nghĩ cách dẫn dụ bọn người kia vào”.

“Còn có cả trận pháp khí độc?” Bạch Cẩn Hành bất ngờ với phương pháp đánh giặc đa dạng của người phương Nam.

Tạ Vụ Thanh cười cười: “Lần này mệnh chúng ta tốt, chướng khí âm u trong rừng núi chỉ xuất hiện sau thanh minh mỗi năm, tiết sương giá vừa buông, hiện giờ đúng lúc cần dùng”. Tết Thanh minh vừa đi qua, đúng là thời điểm chướng khí nặng nề.

Tạ Vụ Thanh sai người mang toàn bộ trang bị chống độc giao cho Bạch Cẩn Hành.

Trước khi kiểm kê trang bị, Bạch Cẩn Hành còn cảm thấy kỳ quái vì sao tạ Vụ Thanh không cho rút binh, đến khi xem xét trang bị chống độc, hắn đã hiểu, hết thảy trang bị cũng chỉ đủ cho hai trung đoàn sử dụng.

Con đường sau lưng là vách đá cheo leo, mặt bên là rừng núi chướng khí dày đặc. Phía trước đã bị Lâm Đông chặn đứng, chỉ còn cách đối mặt với trận chiến này.

“Ba giờ chiều, cậu dẫn theo một trung đoàn rút về, từ phía sau tập kích Lâm Đông”. Tay Tạ Vụ Thanh đè chặt lên vai Bạch Cẩn Hành, “Trước lúc mặt trời lặn, tất cả chúng ta, hoặc là cùng nhau chết, hoặc cùng nhau ăn mừng”.

Bạch Cẩn Hành cười đáp: “Tôi không muốn chết cùng cậu, cậu có người mình muốn hợp táng, tôi cũng có của riêng mình”.

Tạ Vụ Thanh hơi bất ngờ, nhìn về hắn.

Từ hai năm trước, Bạch Cẩn Hành đã biết Hà Vị và Tạ Vụ Thanh yêu nhau, mà ý trung nhân của bị lão huynh này, ngược lại chưa nghe nhắc bao giờ.

“Hơn tôi mười tuổi, đang chờ ở Nam Kinh”, Bạch Cẩn Hành cười nói, “Những thứ khác, đợi quay về rồi nói”.

Tạ Vụ Thanh gật đầu. Anh tháo đồng hồ trên cổ tay xuống, ước lượng chính xác thời gian cùng Bạch Cẩn Hành.

Bạch Cẩn Hành trịnh trọng cúi chào, quyết đoán rời đi.

Tạ Vụ Thanh cũng đáp lại bằng quân lễ nghiêm trang, nhìn hắn cất bước.

Anh gọi một đoàn tham mưu đang định ra ngoài, thấp giọng dặn dò, nếu trước ba giờ chiều đối mặt với quân địch thất bại, pháo binh sẽ phát tín hiệu. Đến lúc đó nhờ tham mưu ngăn cản Bạch Cẩn Hành, không cần quay lại cứu người: “Đưa hắn cùng các anh em còn lại theo hướng rừng núi rậm rạp trốn đi, nếu trang bị chống độc không đủ, còn có mấy hang động đá vôi nhỏ có thể ẩn nấp mấy trăm người”.

Một đoàn tham mưu nhận quân lệnh, hành quân lễ đầy kính trọng với Tạ Vụ Thanh, nhìn thoáng qua từng vị đoàn trưởng trong đội của mình, khổ sở quay đầu.

“Nhìn dáng vẻ lưu luyến không rời kìa”, đoàn trưởng trung đoàn Hai cười giễu từng người, “Đó là tham mưu hay là vợ chúng ta vậy”.

“Có thể lựa lời nói dễ nghe chút không?” Một trung đoàn trưởng cười mắng.

Bạch Cẩn Hành vừa đi, Tạ Vụ Thanh không cười nữa, anh nhìn thuộc cấp còn lại của mình.

Bốn trung đoàn, tổng cộng tám ngàn người, phải nghênh đón năm vạn quân chủ lực của Lâm Đông. Phần thắng cao nhất cũng chỉ được năm – năm, năm phần tự tin này xuất phát từ những sĩ quan trung cấp nhận được sự giáo dục của nền quân sự hiện đại.

“Lúc này là một giờ sáng, mười phút sau chúng ta xuất phát. Đến sáu giờ, binh đoàn Bốn vòng đến đây”, Tạ Vụ Thanh kiểm tra bên ngoài thôn xóm Giang Đông không người ở trên sa bàn, “Bọc lốp đánh họ từ cánh phải, giữ chân một vạn quân. Lâm Kiêu dẫn theo trung đoàn Ba, đúng sáu giờ, tập kích tại nơi này, ngăn chặn một vạn quân khác”.

Tạ Vụ Thanh hạ tối hậu thư: “Tôi cùng trung đoàn Hai, qua sông, trực diện đối địch”.

Các tướng lĩnh tuân lệnh, đồng thời cúi chào rời đi chuẩn bị.

Tạ Vụ Thanh đeo đồng hồ, bên người chỉ còn sót lại Vương Cẩn.

Anh lấy từ túi quần hai cái bánh khô quân dụng được nén nhỏ, đưa cho Vương Cẩn một cái: “Có thể chết trận nhưng để đói chết thì thật không đáng”.

Trên người anh thường mang theo lương khô dạng này hoặc những thanh chocolate, nhiều thứ ăn không được, nhiệt độ lại cao, dễ chịu đói.

Vương Cẩn ngẩn người, đáy mắt bất chợt đỏ, nửa ngày trước lúc bọn họ ngồi xe, vì đường núi xóc nảy nên vị phó quan nhỏ tuổi này cảm thấy buồn nôn, không ăn được gì. Hắn không ngờ Tạ Vụ Thanh còn để tâm đến cả chuyện đó…

Tạ Vụ Thanh tự rót cho mình một cốc nước ấm, bảo Vương Cẩn ra ngoài báo cho các trung đoàn tập hợp ngoài trướng.

Anh ở lại lều trại im ắng, mở quyển nhật ký còn chưa kịp viết gì, tìm thấy bút máy, đầu bút dừng lại hồi lâu trên mặt giấy, nghĩ xem nên viết thế nào.

Ngày thường anh luôn cẩn thận, ngoại trừ điện báo phải viết khá nhiều, anh luôn cho rằng từ ngữ câu văn của một người đều có thể để lộ thông tin che giấu, thế nên Tạ Vụ Thanh không thích viết chữ, không muốn để người ta tìm được chút manh mối nào từ bản thân.

Anh nhấp ngụm nước ấm, dùng hình thức bạch thoại mà Hà Vị thích, viết vài chữ đơn giản:

Ngày 16 tháng Tư, trước đêm chiến đấu với Lâm Đông. Chân núi vô cùng ẩm ướt, đang vào mùa mưa, sợ rằng ngày mai trước khi vượt sông trời mưa lớn, nếu nước dâng cao, sẽ ảnh hưởng đến thời gian qua sông. Thanh Minh vừa qua, trận chiến này nếu có thể thắng, cũng xem như an ủi phần nào vong linh của các tướng sĩ đã chôn thây nơi núi rừng.

Tạ Vụ Thanh đóng quyển nhật ký lại, thay một bộ quân trang gọn nhẹ, kiểm tra thanh chuỷ thủ, súng lục của mình rồi mới ra khỏi lều lớn.

Ngoài trướng, đã có mấy chục sĩ quan đứng sẵn.

Tạ Vụ Thanh nương theo ánh trăng quan sát từng khuôn mặt của những tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng và các tham mưu: “Liệt vị. Trận chiến hôm nay, trung đoàn Một và trung đoàn Hai là quân chủ lực. Chúng ta bốn ngàn người cùng một đội pháo binh, đối phương có ba vạn quân cùng một đoàn pháo binh”.

Anh nghiêm túc nhìn mọi người: “Các vị đều là tinh nhuệ nhất trong quân đội, và sắp đối mặt với quân địch cũng thuộc loại tinh nhuệ nhất. Đây là một trận chiến có ý nghĩa quyết định, nếu thành công, tất sẽ thừa thắng xông lên, tiêu diệt toàn bộ quân phiệt Lâm Đông. Nếu thất bại, thì tất cả năm binh đoàn yểm hộ của chúng ta, đều phải chôn thây. Trung đoàn Một Hai đều là quân tinh nhuệ, cũng là anh em của năm trung đoàn chúng ta, nhất định phải nắm chắt trận chiến này!”

Mọi người nghiêm thẳng, không đáp một lời.

Cuối cùng Tạ Vụ Thanh nói: “Đi chuẩn bị đi, đúng sáu giờ vượt sông”.

5 giờ 30 phút sáng, mưa to tầm tã.

Tạ Vụ Thanh lo lắng nước dâng cao, trước nửa giờ vượt sông, tìm được nửa căn nhà bỏ hoang, dựng tạm bộ chỉ huy. Bảy giờ sáng, đã nhìn thấy quân địch bố trí phòng thủ, trung đoàn Ba truyền đến tin tức xấu: Gặp mai phục, không địch nổi.

Nhiệm vụ yểm trợ của trung đoàn Ba thất bại.

Nói cách khác, quân địch bên bờ sông đã tăng đến bốn vạn người.

“Nói với tiểu đoàn trưởng của trung đoàn Hai, quân địch tăng thêm một vạn binh”, Tạ Vụ Thanh dặn dò người liên lạc, “Tôi sẽ cho họ thêm một tiểu đoàn, năm trăm người”.

Nói đoạn, anh tiếp tục: “Báo thêm với tiểu đoàn trưởng trung đoàn Hai, kéo dài đến <i>chính ngọ [3]</i>, nhất định sẽ có tiếp viện”.

<i>[3] Chính ngọ: Giữa trưa 12 giờ</i>

Bình minh lên, đại chiến bắt đầu sau phát súng thứ nhất nổ ra tại một thôn làng hoang vắng.

Tiểu đoàn Một trung đoàn Một cùng tiểu đoàn Một, tiểu đoàn Hai trung đoàn Hai đồng thời xuất kích, hai bên trận thế rất nhanh đã giao hoả, chỉ trong vòng nửa giờ đã bắt đầu đao thương chém giết.

Thừa dịp những anh em của mình dùng thân thể máu thịt để tranh thủ từng giây từng phút, tiểu đoàn Ba của trung đoàn Một chiếm giữ vị trí đất cao của địch, quân chủ lực Lâm Đông bị bức lui về phía Đông.

“Nã pháo!” Pháo binh nhìn thấy quân địch liên tục tiến vào tầm ngắm, thay phiên nhau khai hoả.

Tiếng đạn pháo oanh tạc khắp nơi, chấn động cả đất trời.

Trong tiếng pháo nổ đinh tai nhức óc, hai tiểu đoàn binh của địch tan tác.

Lâm Đông vốn định đánh nhanh thắng nhanh, không ngờ sau mấy lần xung phong tiến quân đều không thành, còn bị mất một chỗ đất cao, ông ta càng tức tối, nhanh chóng tăng thêm binh lực. Mỗi lần quân địch tăng thêm hơn một ngàn người, mà bên Tạ Vụ Thanh mỗi lần thêm người chỉ có thể được vài chục… Số lượng quân địch áp đảo chiếm ưu thế, tuy nói Tạ Vụ Thanh cùng quan quân thuộc nhóm tinh nhuệ lấy một địch mười, nhưng vì đối phương không ngừng bổ sung nên quân số cũng bị bức ép gắt gao.

Hai giờ sau, bốn tiểu đoàn của trung đoàn Hai đều xông pha chiến trường, trung đoàn Một cũng chỉ còn sót lại một tiểu đoàn súng lục quân chờ lệnh.

Khắp nơi trên tiền tuyến nhuốm máu đỏ thẫm và những con người không ngừng điên cuồng vật lộn.

Trong suốt buổi sáng, hết lần này đến lần khác xuất kích, bọn họ đã trải qua thời khắc dài đằng đẵng nhất cuộc đời, đối diện với quân địch gấp mười lần mình, cật lực chống đỡ…

Mười hai giờ trưa.

Cánh trái bất ngờ xuất hiện một cỗ xe tăng, là trung đoàn Ba. Cuối cùng Lâm Kiêu cũng mang theo hai ngàn người quay về.

Trung đoàn Ba tiếp viện bước vào trận chiến, vừa nhìn thấy thi thể chất đầy đất của các anh em trung đoàn Hai, đôi mắt đỏ quạch, không ngừng triển khai phản công như muốn báo thù quân địch. Lâm Đông sau cùng bị bức đến phải rút lui triệt để.

Tạ Vụ Thanh từng ra lệnh cho trung đoàn Ba và trung đoàn Bốn, nếu có biến cố xảy ra, không cần kéo dài, lập tức rút quân, nghĩ cách vòng về từ trên núi. Đúng mười hai giờ trưa là tử lệnh, cho dù bò lết cũng nhất định phải quay lại.

Nhiệm vụ đầu tiên sau khi trở về là phải bắt được tiểu đoàn pháo binh của quân địch.

Lâm Kiêu để lại hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn Ba để hỗ trợ Tạ Vụ Thanh, bản thân dẫn theo những người còn lại tấn công tiểu đoàn pháo binh. Mười tám khẩu đại pháo là trọng yếu, cho dù không đoạt được, nổ mất xác cũng phải phá nát những khẩu pháo kia.

“Tổng đội dự bị!” Tạ Vụ Thanh cởi áo ngoài quân trang ném lên ghế, rút súng.

Anh bước ra từ trại quân được dựng tạm bằng tấm vải rách, dẫn theo một tiểu đoàn súng lục quân cùng tổng đội dự bị, dọc theo bờ sông truy kích Lâm Đông. Súng lục quân vốn là lực lượng mũi nhọn, nhất định phải nhắm thẳng vào tim kẻ thù.

Mọi người xung quanh ngã xuống mảnh đất nhuốm máu.

Tạ Vụ Thanh giống như giết chóc đến đỏ mắt.

Một giờ tiếp theo, tiếng súng ầm ầm rền vang, truyền từ trận địa của pháo binh phía quân địch.

Tiểu đoàn pháo binh của quân địch bị bắt giữ.

Mất đi tiểu đoàn pháo binh, phòng tuyến tâm lý của Lâm Đông bị phá vỡ, ông ta hạ lệnh tạm thời rút lui.

Tạ Vụ Thanh truy đuổi không ngừng, không để Lâm Đông có cơ hội hít thở và lui binh…

Một bên rút lui rất nhanh, một bên truy sát còn nhanh hơn, không ngừng có binh lính ném vũ khí xuống đất, ngồi xổm đầu hàng. Tạ Vụ Thanh đuổi đến một thôn xóm hoang phế kế đó, hậu phương quân địch cuối cùng cũng truyền đến tiếng chém giết.

Ba giờ chiều, Bạch Cẩn Hành đích thân mang theo hai ngàn binh đúng hẹn quay về, xông thẳng vào phòng tuyến hậu phương của quân địch…

Trong tiếng giết chóc xa xôi, Tạ Vụ Thanh dẫn dắt súng lục quân lần nữa tiên phong. Dưới từng đợt lửa đạn mãnh liệt yểm trợ, không ngừng tiến lên. Lâm Đông bốn phía thụ địch, nghe tiếng pháo lửa liên miên, tâm thần đại loạn, hạ lệnh toàn bộ tiền tuyến rút về.



Chỉ cần vừa lui, dưới sự tấn công dồn dập từ pháo binh, quân chủ lực Lâm Đông tan rã thành cát.

Hoàng hôn hôm nay, trên mảnh đất nhuốm máu, tù binh ngồi xổm khắp nơi…

Trung đoàn tham mưu đỏ mắt quỳ xuống trước thi thể được che mặt của đoàn trưởng mình, khóc thành tiếng.

Trên quân trang của Tạ Vụ Thanh đều là máu, anh đứng cạnh bờ sông, nghe trung đoàn trưởng lần lượt báo cáo tình trạng thương vong. Đáy mắt anh cũng ửng hồng.

Có trung đoàn trưởng hy sinh trong trận chiến, còn tiểu đoàn trưởng chết hơn phân nửa, đại đội trưởng hy sinh hơn mười người, những sĩ quan, binh lính khác chôn thây vô số. Trải qua quá nhiều chiến tranh, đối với khung cảnh nơi tiền tuyến, giống như chỉ còn sót lại bốn chữ đầy bất lực – “Chiến trường tàn khốc”.

Sau trận này, thế lực Lâm Đông nhanh chóng bị tan rã và nuốt chửng.

Khi đại bản doanh bị quân bộ đội chủ lực của Tạ Vụ Thanh vây quét, Lâm Đông mang theo tàn binh giành giật suốt mấy tháng, sau đó bị tiêu diệt gần như toàn bộ, dùng súng tự sát.



Đầu năm 1926, sau hai lần đông chinh, toàn bộ Quảng Đông được thống nhất.

Tết Âm lịch vừa qua, Hà Vị lập tức xuôi Nam đến Hồng Kông.

Chuyến đi này vì để hoàn thành một chuyện xưa mà chú hai từng nhận lời với người Hà gia ở Hồng Kông.

Lúc trước Hà Vị được làm con thừa tự của một chi ở Hồng Kông, chú hai đã từng hứa hẹn, Hà Vị cũng sẽ nhận một đứa trẻ thừa tự ở đây để làm đáp lễ. Phía Hồng Kông bên kia cũng không đưa ra yêu cầu quá khắt khe với họ, gia tộc trọng nhân thân, phàm là người hưng thịnh đều nhận nuôi một đứa nhỏ nghèo trong tộc để báo đáp, chuyện lập con thừa tự cũng phổ biến thường thấy.

Trong một xấp ảnh đưa đến, Hà Vị chọn cô bé nhỏ nhất. Chỉ mới hai tuổi, dáng vẻ giống cô.

Hà gia bên kia gửi điện báo xác nhận đáp lại, nói mẹ ruột của đứa bé này mắc bệnh mất vào năm ngoái. Đứa nhỏ sợ người lạ, hy vọng Hà Vị có thể đích thân đến đó, nhìn xem thử thật sự có duyên hay không.

Hà Vị sảng khoái đồng ý.

Lúc cô đến Hồng Kông, nhìn thấy một bé gái mặc váy áo màu xanh lá đứng trong hoa viên của toà nhà lớn, cô ngồi xổm xuống, mỉm cười với cô bé, thế nhưng đứa bé ấy lại chủ động đi đến ôm lấy cổ cô. Một người bên cạnh bảo bé gái gọi mẹ, bé gái ngơ ngác không lên tiếng.

Hà Vị cười, nói với người bên cạnh: “Gọi là cô nhỏ đi”.

Bản thân Hà Vị cũng như thế, chỉ khi có người ngoài mới gọi chú hai là cha. Nếu không quen gọi thì cũng không cần thiết sửa lại làm gì.

Bé gái tên Hà Tư Niên, mẹ ruột của bé họ Tư, thế nên chọn luôn tên này. Hà Vị cũng không thay đổi.

Hà Vị sợ hành trình bị lộ, trước lúc xuôi Nam không gửi điện báo cho Tạ Vụ Thanh, sau khi đến Hồng Kông mới dùng danh nghĩa công ty phát điện tín đến Quảng Châu. Cô dành một tuần ở Hồng Kông để xử lý giấy tờ pháp lý nhận con thừa tự, nhưng chờ mãi không thấy Tạ Vụ Thanh hồi âm.

Điều này nằm trong dự liệu của cô, mấy tháng nay Tạ Vụ Thanh vẫn luôn diệt phỉ ở ngoài.

Những năm qua, hầu hết những vùng đất bên ngoài phương Nam đều trở thành thuộc địa nước Pháp. Giữa người Pháp cùng dân bản địa tranh đấu không ngừng, kẻ nhập cư trái phép không ít, cùng với những người vì nội chiến loạn thế phải làm giặc cỏ lưu lạc đến vùng rừng núi biên cảnh, trở thành bọn phỉ hung hăng.

Thế nên, diệt phỉ cũng là chuyện mà Tạ Vụ Thanh phải làm mỗi năm.

Tuy vậy, Hà Vị vẫn ôm theo tia hy vọng, đến thành Quảng Châu.

Cô nhờ bạn bè giúp mình che giấu thân phận đến Quảng Châu, sau đó phải theo bạn bè quay về Hồng Kông, cùng lắm chỉ có thể ở lại một đêm.

Trước khi đến, cô đã sớm hỏi thăm chỗ ở của tướng quân Tạ Khanh Hoài, dắt theo Tư Niên đến căn hộ nhỏ. Sau mấy lần ấn chuông, cuối cùng cũng có một ông bác đi tới mở khoá sắt, từ trong ô cửa nhìn ra. Hà Vị nói muốn gặp tướng quân Tạ Khanh Hoài, đối phương lắc đầu, nói tướng quân không có nhà, liền lập tức đóng cửa.

Tạ Vụ Thanh từng nhắc với cô, nói căn hộ ở Quảng Châu là của chị hai anh, người coi sóc cũng là của cô hai Tạ gia, Hà Vị hiểu người này nhất định biết Tạ Vụ Thanh cũng chính là Tạ Vụ Khanh Hoài. Cô lấy ra một quyển sổ cứng từ trong túi, đưa cho ông bác, nói dù anh không có ở nhà, đêm nay cô cũng muốn ở lại đây.

Ông bác khó hiểu, vừa lật quyển sổ kia ra thì sửng sốt, đúng là một bức hôn thư được ép lại bằng tờ nhựa, sau khi nhìn rõ chữ ký và con dấu ở góc trái dưới cùng, lúc này ông bác mới khép quyển sổ, lập tức mở xích khoá, hai tay dâng trả giấy tờ cho Hà Vị.

Hà Vị bế Tư Niên lên, nói với lái xe cùng thư ký đang chờ bên đường, sáng mai bảy giờ hãy đón.

Cô ôm bé gái, đi theo ông bác vào căn hộ.

Trước nay luôn là Tạ Vụ Thanh vào kinh, xâm nhập vào thế giới của cô, còn hôm nay, cô giống như bước vào vùng đất chỉ thuộc về riêng anh. Một căn hộ nho nhỏ, tầng một có phòng khách và thư phòng, tầng hai mới là phòng ngủ cùng một gian cho khách.

“Tướng quân thích hải đường, tôi không dám động vào… sợ nuôi không tốt sẽ chết hoa”, ông bác chỉ vào những chậu hải đường đặt trong thư phòng, không ngừng lẩm bẩm, “Trong nhà đã lâu không ai về, tôi không chăm sóc chúng… À, đúng rồi, tháng trước tướng quân có sai người từ Quảng Tây mang đến mấy túi cam quýt, vẫn còn, để tôi đi lấy. Cam quýt trồng trên núi, ngọt nước vô cùng”.

Hà Vị thả Tư Niên xuống đất, bị mấy tấm ảnh chụp trên kệ sách thu hút ánh nhìn.

Cô cầm lấy một bức ảnh Tạ Vụ Thanh diện quân trang kiểu cũ, nhìn qua, có lẽ là dáng vẻ anh lúc mới được xưng thiếu tướng quân, chỉ tầm mười bảy mười tám tuổi. Đây là lần đầu Hà Vị trông thấy Tạ Vụ Thanh thiếu niên, từ bức ảnh cũ kỹ có thể nhận ra ánh mắt sáng ngời của anh.

Có điều theo tuổi tác dần lớn, trải qua nhiều bận sinh tử, nguyên khí tổn hại nhiều, nếp gấp trên mí mắt sâu dần, hốc mắt cũng sâu hoắm, ánh sáng trong đáy mắt bị năm tháng che giấu, khuất lấp.

Tư Niên đến chỗ lạ cảm thấy sợ, hai cánh tay vòng qua đùi cô, ngửa đầu nhìn.

Cô ngồi xổm xuống, chỉ vào người đàn ông mặc quân trang áo cổ đứng, chân mang ủng quân đội trong bức ảnh, nói với Tư Niên: “Đây là dượng nhỏ”.

Tư Niên mở to đôi mắt tròn xoe nhìn chăm chú ảnh chụp.

Đây là cha ư.

Tư Niên nghĩ thế, càng nhìn kỹ lưỡng.

— HẾT CHƯƠNG 36 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 37: Nhớ nhà cũng mong em (2)


Lúc Quảng Đông thống nhất, Phụng hệ trở thành quân phiệt nắm quyền.

Quân phiệt Phụng hệ vì chiến sự thất bại, từng cầu xin người Nhật giúp đỡ, sau đó, Quang Đông Nhật Bản tăng cường binh lực đến Phụng Thiên, hỗ trợ Phụng hệ giành chiến thắng. Chuyện này từng bị giới báo chí kinh thành vạch trần, gây nên một hồi sóng gió.

Cùng năm, tổng biên tờ Kinh báo và tổng biên tờ Xã hội Nhật báo lần lượt bị quân phiệt Phụng hệ xử bắn.

Sau khi Kinh báo đình bản, vị phóng viên kia đến tìm Hà Vị.

Hai người nhắc đến cảnh tổng biên Thiệu trên pháp trường, hướng về phía người giám hình nói một câu “Các vị không cần tiễn”, dứt lời liền cười to rồi tắt thở.

Nói xong, phóng viên mắt đỏ hoe. Cô nghe thấy càng thêm đau lòng.

“Cô hai”, phóng viên Hồ Thịnh Thu nói với cô, “Lần này chúng ta không cách nào hợp tác được”.

Năm nay cô định nhúng tay vào mảng radio và vô tuyến điện, khổ nỗi không tìm được thị trường, vốn muốn cùng Kinh báo bắt tay hợp tác mở một chương trình phát sóng radio, trước tiên thử thúc đẩy thị trường.

Vì chuyện này cô còn soạn sẵn nội dung phát sóng, buổi sáng là tin tức tiền tệ, buổi tối sẽ phát thời sự, muộn hơn một chút thì mở đĩa nhạc…

Bây giờ báo chí đình bản, chuyện này chỉ có thể tạm gác lại.

“Đến làm việc cho tôi đi”, Hà Vị nói với hắn, “Giúp tôi làm mảng radio”.

Cô giảng giải: “Có ngàn vạn con đường để đất nước phát triển, công nghiệp cũng là một trong số đó. Hiện giờ trên thị trường toàn là máy tây dương, một ngày người tây dương không bán cho chúng ta nữa, không phải sẽ rơi vào thế bị động hay sao. Nếu chúng ta có thể tự mình sản xuất thì không còn gì đáng lo”.

Chờ khi phát triển hưng thịnh, mỗi nhà đều có một cái.

“Có điều cần ít nhất mười năm mới nhìn thấy được sự phồn vinh của ngành sản xuất này”, cô nghiêm túc nói, “Để có cây phải kiên nhẫn trồng”.

Cô nhìn trúng tầm nhìn của một người phóng viên như Hồ Thịnh Thu, muốn nhờ hắn để mở rộng thêm ngành sản xuất mới.

Đối với Hồ Thịnh Thu mà nói, đây là một thế giới khác hoàn toàn, hắn chưa từng nghĩ đến phương diện này.

“Quay về suy nghĩ hai ngày, sau đó hẵng trả lời tôi”. Cô bảo.

Hai ngày sau, Hồ Thịnh Thu lần nữa đến Hà nhị phủ, hạ quyết tâm, bước chân vào ngành công nghiệp sản xuất.

Đêm vừa buông, cô nhận được một tin tốt, bắc phạt bắt đầu rồi.

Quân Khương thấy cả đêm cô vui vẻ vô cùng, chống cằm nhìn Tư Niên luyện chữ, đợi Tư Niên ngủ say, cô lại đem từng tờ giấy Tuyên Thành trắng tinh đã khô mực xếp vào trong rương, vẫn một mặt tươi cười, đương nhiên vì cô cao hứng. Quân Khương trước nay tính tình chững chạc hiếm khi nhiều lời, khó nhịn được hỏi một câu không đầu không đuôi: “Vì sao nhà mình không xuôi Nam ạ?”

Cô cười: “Chị chuyển hướng kinh doanh vận tải đường bộ, đúng là có dự định xuôi Nam”.

Mấy năm nay bận rộn đủ thứ cũng là vì chuyển đến phía Nam.

<i>“Cường long không áp địa đầu xà” [1]</i>, kinh doanh cũng như thế. Vận tải đường thuỷ của Hà gia rất lớn, đến phương Nam tranh bát cơm của người ta sẽ khiến kẻ khác khinh thường, cũng vô cùng nguy hiểm. Cô không muốn khiến người ta nghĩ mình mở rộng địa bàn để độc chiếm thị trường, thế nên hai năm nay luôn cố gắng lấy lòng người khác, phân chia đường biển của phương Bắc cùng tuyến hải ngoại cho những ông lớn trong ngành, lại thay đổi tài nguyên nguồn lực phía Nam.

<i>[1] Nghĩa đen là con rồng dù mạnh đến đâu cũng không thể đàn áp được rắn đất trong địa bàn của nó. Nghĩa bóng thường được dùng tương tự câu “Lệnh vua thua lệ làng”, “nhập gia tuỳ tục”.</i>

“Có điều nếu muốn chuyển toàn bộ thì rất khó”, cô cười khổ, “Làm ăn buôn bán, đặc biệt là sản nghiệp càng lớn, lại càng khó di dời địa bàn. Không riêng gì nhà chúng ta, bất kể tỉnh thành nào cũng không muốn buông tha nguồn thu nhập thuế từ những gia đình giàu đó trong vùng. Chuyện này không đơn giản như chuyển nhà”.

Nhưng ít nhất cô muốn tìm một thành phố lớn cùng loại, để phát triển ngành công nghiệp nhẹ.

Ví như, Nam Kinh.



Quân bắc phạt tiến vào Vũ Hán.

Người từ phương Nam mang theo một hộp mây đan đến văn phòng Bắc Kinh. Hộp vuông đựng lon trà bằng sắt hoạ tiết <i>Cảnh Thái lam [2]</i>, phía trong có một cái nút gỗ, khi kéo ra hoa quế khô vung vãi khắp nơi. Còn thêm một tờ giấy: Quế mọc thành rừng, gọi là Quế Lâm.

[2] Một dạng thức thủ công mỹ nghệ nổi tiếng của TQ, thường được ứng dụng vào đồ men sứ, đồ gốm hoặc đồ đồng

(hình minh hoạ)

Cô ngửi hương hoa quế, đoán đây là quà Tạ Vụ Thanh gửi từ Quế Lâm đến Vũ Hán.

Người này thật lãng mạn, anh tắm máu trên chiến trường, vừa vào thành Vũ Hán, đáng lẽ nên gặp mặt nhân tài. Ấy vậy mà ngàn dặm xa xôi chuẩn bị lễ vật, gửi đến chỗ cô trước tiên.

Thế cuộc bắc phạt như chẻ tre, không đến mười tháng, từ Vũ Hán đến <i>Giang Chiết [3]</i>, rất nhanh đã kéo đến Thượng Hải, Nam Kinh.

<i>[3] Giang Chiết chỉ khu vực hạ lưu sông Dương Tử, bao gồm hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang</i>

Một bức điện tín từ phương Nam gần như cùng lúc gửi đến nhà chú chín ở Thiên Tân, nội dung rất ngắn: Tháng Tư Kim Lăng hoa hoè xum xuê, một hồi trông mong.

Đây đúng là những gì cô muốn làm.

Vì sợ trên đường đi gặp nguy hiểm, Hà Vị quyết định không dẫn theo Tư Niên xuôi nam. Tư Niên vất vả cả đêm, vô cùng nghiêm túc viết một trang <i>“Hà thanh hải yến, thời hoà tuế phong” [4]</i>, sau đó cuộn tròn cẩn thận rồi cất vào trong ống bìa cứng, nhờ cô đưa tận tay người cha chưa từng gặp mặt nhưng đã sớm khắc ghi trong lòng.

<i>[4] Ý nghĩa “Đất nước thái bình, mùa màng bội thu”</i>

Hà Vị mang theo món quà nhỏ ấy, đầu tháng Tư khởi hành đến Kim Lăng.

Khi cô vừa xuống tàu hoả, liền gắt gặp thư ký của cô hai Tạ gia.

“Cô hai Hà có từng đến thành Nam Kinh chưa?”

“Hồi trước từng tới, có điều đi bằng tàu thuỷ, không phải ngồi tàu hoả”. Cô đáp lời.

Cô đứng nhìn mái vòm hình tròn trên hành lang sân ga, thật xinh đẹp làm sao.

Xe ô tô chở cô đến một toà nhà nhỏ nằm trên đường Di Hoà.

Người chờ sẵn trong thư phòng không phải cô hai Hà – chủ nhân của toà nhà, mà là chị cả của Tạ Vụ Thanh. Cô cả vừa tiễn một người khách đi, nghe thư ký báo Hà Vị đã đến, lại nói mình muốn đi rửa mặt sạch sẽ, chải tóc gọn gàng quay lại sau, khiến bản thân cô cũng có chút khẩn trương.

Tiếng giày cao gót theo nhịp bước chậm rãi truyền đến từ ngoài thư phòng. Hà Vị tức khắc lễ phép đứng dậy, chỉ trông thấy cô cả Tạ gia mặc sườn xám dài tay sắc trắng, nhận lấy tách trà của thư ký vừa chuẩn bị, đích thân mang vào.

“Mau ngồi đi”, cô cả Tạ gia vừa gặp mặt liền nói, “Chị định đeo kính, không nhớ đã để ở thư phòng này”.

Cô cả Tạ đặt khay trà xuống, cầm lấy gọng kính trên một quyển sách gần đó, đeo lên mắt, xoay người liền cười tủm tỉm nhìn Hà Vị: “Nghe tên em đã lâu, quên mất đây là lần đầu chúng ta gặp gỡ”.

Tuổi tác cô cả Tạ không còn nhỏ, nhưng khí khái trong đôi mắt phượng vẫn không hề thuyên giảm. Nếu hỏi chị ấy và Tạ Vụ Thanh giống nhau ở điểm nào, hẳn là đôi mắt ấy, đuôi mắt lúc nào cũng khẽ nhếch, mang theo ánh nhìn sâu thẳm không khác biệt.

Hai người ngồi đối diện.

Tuổi Hà Vị chỉ bằng một nửa chị ta, tuy nói bọn họ ngang hàng, nhưng lại không khác gì gặp mặt trưởng bối.

Cô cả Tạ vươn tay, chủ động sáp lại gần, ôm chặt cô: “Như vậy tốt rồi, không cần khẩn trương”.

Chỉ một cái ôm đã xua tan tất thảy không quen cùng câu nệ.

Trong lòng cô cả Tạ từ lâu đã xem cô như người một nhà, rất nhanh nhắc đến chuyện bắc phạt, chưa đầy hai câu thì dừng lại.

“Không bàn chuyện công nữa, nói chuyện em với chú út Thanh trước đi”, cô cả Tạ cười nói, “Nó đang trên đường từ Vũ Hán về đây. Hành trình của đứa em trai này trước nay đều được bảo mật, đến bản thân chị cũng không rõ lắm. Em kiên nhẫn chờ thêm hai ngày nhé”.

Cô cả Tạ như sợ cô không đợi được, lại nói: “Nhiều nhất cũng chỉ hai ngày sẽ về, nó cũng gấp muốn được gặp em”.

Hà Vị khẽ cười, gật đầu.

“Lần này hai đứa cẩn thận bàn bạc lại xem, đừng chờ đợi nữa. Vợ chồng trong cách mạng mỗi người một nơi là chuyện thường tình, cuộc sống này vẫn phải tiếp diễn, em nhìn em Ba của chị còn không phải thế sao? Chị với nó âm dương cách biệt với tiên sinh của mình, nhớ lại quá khứ, thường hối hận vì không sớm kết hôn”.

Cô cả sợ cô đau lòng theo nên giải thích: “Đều đã qua rồi, chị chỉ sợ hai đứa ôm tiếc nuối mới nhắc nhở một chút”.

Cô gật nhẹ đầu: “Trước lúc đi, chú hai của em cũng từng nói thế”.

“Vậy thì tốt”. Cô cả vui vẻ hẳn lên.

Không hiểu sao, khi cô vừa gặp người nhà Tạ gia liền thấy thân thiết vô cùng, như thể gặp người thân thật sự của mình.

Ngẫm lại, đúng là cô và Tạ Vụ Thanh đã chờ đợi thật lâu. Năm nay anh cũng ba mươi hai tuổi rồi.

Sau khi cô cả gặp mặt cô liền rời khỏi Nam Kinh.

Thư ký của cô hai Tạ tiếp đón cô, sắp xếp cho cô ở lại toà nhà này để chờ Tạ Vụ Thanh.

Vị thư ký kia hỏi ý cô có muốn đi dạo Nam Kinh không, cô cười đáp, không gấp, phải giải quyết chuyện làm ăn trong nhà đã.

Tháng trước, Hồ Thịnh Thu đã đến Nam Kinh, từ đó đến nay vẫn luôn ngơ ngác trong nhà máy sản xuất linh kiện nhỏ vừa mua lại. Khu xưởng này vốn chuẩn bị sản xuất máy thu thanh và vô tuyến điện, hiện vẫn đang ở giai đoạn chế tạo linh kiện nhỏ, ví như bản mạch điện và cuộn dây. Cô có kế hoạch trong vòng ba năm sẽ sản xuất máy biến thế và tụ điện, bắt đầu từ các loại linh kiện chủ chốt, từng chút đi lên.

Chạng vạng hôm sau, Hồ Thịnh Thu cùng hai người kỹ sư mang theo bản vẽ kết cấu lõi, phấn chấn tìm đến toà nhà cô ở, ngồi trong thư phòng tiếp khách ở tầng trệt giải thích cho cô hiểu.

Vì trời tối sớm nên cô bật đèn điện. Bất ngờ đèn tắt ngúm.

Trong căn phòng tối om, mọi người đều sửng sốt.

Đèn đường bên ngoài vẫn sáng, Hồ Thịnh Thu đẩy cửa sổ, thấy bên kia đường và mấy căn hộ lân cận còn cháy đèn.

“Chắc do mạch điện gặp vấn đề”. Một kỹ sư trong nhà máy nói.

Hồ Thịnh Thu bất ngờ đóng chặt cửa, sắc mặt hơi biến đổi: “E là gặp phiền phức rồi”.

Bên ngoài có mười mấy người lạ mặt, toàn thân mặc đồ đen chờ sẵn trước cửa, ngoài ra còn có ô tô quân dụng. Nhiều năm Hồ Thịnh Thu luôn có qua lại cùng các thế lực quân phiệt, hắn vô cùng nhạy cảm với những chuyện này.

Quản gia trong nhà thắp đèn dầu, vừa đến phòng khách, cửa lớn đã bị người khác đẩy ra.

Hà Vị đứng trong thư phòng, nhìn bóng dáng mười mấy người nhanh chân đi vào, kẻ cầm đầu nhận ra cô: “Là cô hai Hà?”

Hồ Thịnh Thu gặp phải cảnh này, cố gắng bình tĩnh, mỉm cười giành lời: “Các vị có biết đây là nhà riêng không?”

“Tất nhiên là biết”, đối phương đứng trong bóng tối đáp lại, “Kim Lăng có biến động lớn, chúng tôi lo lắng an nguy của cô hai Hà nên đặc biệt đến đây, đón cô hai đến một nơi an toàn”.

Thư ký cô hai Tạ nghe tiếng động liền chạy tới phòng khách.

Thư ký tiến lên, nói: “Đây là khách của cô hai nhà chúng tôi —”

Người đàn ông nói chuyện nãy giờ cũng bước đến, móc ra một khẩu súng.

Thư ký không đoán được loại chuyện này lại có thể xảy ra ở đây, sợ làm Hà Vị bị thương, không dám nhúc nhích.

“Bất kỳ ai muốn gặp tôi”, Hà Vị nhìn người đàn ông cầm súng, “đều không cần làm bị thương những người ở đây. Đặc biệt là nhóm kỹ sư trong nhà xưởng và toàn bộ người có mặt trong phòng”.

Trước mắt cô xem Hồ Thịnh Thu như kỹ sư, lại nói thư ký không khác gì người quản gia coi nhà, cố tình giảm nhẹ thân phận của họ.

Chỉ cần hai người kia không bị dẫn theo, có thể nhanh chóng truyền tin ra ngoài.

Đối phương không nhiều lời, hơi nghiêng người, làm một động tác “mời”.

Hà Vị nhờ Hồ Thịnh Thu đưa mình áo khoác, cô mặc vào liền bước theo bọn họ.

Lúc cô và tiên sinh áo đen xuống thềm, cảm thấy may mắn vì không dây dưa quá lâu, số người trước cửa nhìn qua nhiều hơn họ gấp hai ba lần, căn bản vài người trong toà nhà này không thể đối phó nổi.

Đối phương xem như khách sáo, dẫn cô đến một nhà dân cạnh sông Tần Hoài, để lại hai tên canh chừng trong phòng, số còn lại rút đi hết. Lúc tới nơi, Hà Vị thấy xe chạy vài vòng mới rẽ vào đây, trong đầu nghĩ, nơi này nhà dân đông đúc, nước sông sóng sánh, mà cô bị giam trong một gian phòng nhỏ giống như đá vụn ném xuống biển lớn, cho dù có người đến tìm cô, nhất thời cũng không phát hiện.

Cuối cùng có chuyện gì xảy ra?

Là vì Hà gia, hay do Tạ gia?

Cho dù là kẻ thù Hà gia, cũng không có thế lực lớn như thế ở Kim Lăng. Nếu là Tạ gia… hiện giờ ở đây là đất của quân bắc phạt, vốn dĩ Tạ gia phải an toàn nhất mới đúng.

Hai người được giữ trong phòng trông coi, một tấc không rời.

Cô ngồi trên ghế sô pha vải bố cũ kỹ, suy nghĩ mấy giờ đồng hồ, không tìm ra manh mối.

Rạng sáng hơn năm giờ.

Cả đêm Hà Vị không ngủ, đúng lúc đầu đau như búa bổ, bị tiếng mở cửa làm bừng tỉnh.

Cô vừa nhướng mắt, lại gặp một người đã lâu không thấy, là Tôn Duy Tiên.

… Sau khi hoà đàm thất bại, đây là vị tướng quân đã biến mất không dấu vết trên đường xuôi nam.

Tôn Duy Tiên cùng một người đàn ông lạ mặt khác bước vào, họ bảo nhóm người kia canh chừng ngoài cửa. Người ấy vừa nhìn đã biết là cùng thứ bậc với Tôn Duy Tiên, cũng là một tướng lĩnh cấp cao, chẳng qua hai người họ không mặc quân phục.

Tôn Duy Tiên bước đến trước mặt cô: “Cô hai”.

Cô muốn đứng dậy, Tôn Duy Tiên liền ra hiệu, bảo cô không cần nhúc nhích.

Hắn kéo ghế tựa, ngồi xuống đối diện Hà Vị, bày ra tư thế muốn bàn chuyện trọng đại. Mà một người khác lại ngồi trên ghế cạnh cửa, giống như đang theo dõi họ nói chuyện.

“Chúng tôi tôn trọng nhà công nghiệp dân tộc như cô hai”, Tôn Duy Tiên tỏ thái độ trước, “Đồng thời cũng hy vọng cô hai có thể phối hợp với chúng tôi, tìm Tạ Vụ Thanh”.

Cô hốt hoảng, tiêu hoá lời hắn nói: “Tôi không hiểu ý anh”.

Tôn Duy Tiên chăm chú nhìn cô: “Lần này cô hai xuôi nam, chỉ e không phải vì làm ăn buôn bán, mà là muốn gặp mặt Tạ Vụ Thanh đúng không?”

Hà Vị không phủ nhận: “Vốn định vậy”.

Cô nói tiếp: “Có điều mấy ngày trước gặp được chị anh ấy, sợ rằng anh không kịp về Nam Kinh”.

Tôn Duy Tiên trầm mặc vài giây, nhắc nhở cô: “Cô hai vẫn nên nói thật thì hơn”.

Cô không đáp lời. Tôn Duy Tiên lại đối diện nhìn cô.

Người đàn ông trung niên ở cửa bất ngờ đứng dậy, cắt ngang bọn họ: “Nếu cô hai không muốn hợp tác, vậy ở đây đợi mấy ngày. Chờ mọi chuyện lắng xuống, chúng ta lại bàn tiếp”.

Hai người kia rất nhanh đã đi.

Cô như đứng trong màn sương mù sâu hun hút, không nhìn thấy con đường phía trước, cũng không tìm được đường lui, trong căn nhà nhỏ xứ lạ, chỉ biết chờ đợi. Gian nhà này không đối diện bờ sông, ban ngày yên tĩnh vô cùng. Đến đêm, tiếng đàn hồ xa xăm trên sông Tần Hoài cùng ánh sáng phát ra từ đèn măng-sông khiến cô càng thêm nóng ruột.

Bọn họ không bỏ đói cô, nhưng vẫn giữ vài người lại trông chừng, không nói chuyện cũng không cho cô biết bất kỳ tin tức hữu dụng nào.

Khuya hôm sau, Tôn Duy Tiên cùng bị quan quân lần trước lại đến, nhưng chuyến này đổi thành người sĩ quan ấy nói chuyện với cô.

“Hiện giờ đại cục đã định, tôi cũng không ngại tiết lộ cho cô biết”, người đàn ông kia nói, “Mấy ngày qua ở Thượng Hải và Quảng Châu chết không ít người. Bất luận là quân bắc phạt, trường quân sự Hoàng Phố hay những kẻ có địa vị cao trong xã hội, chúng tôi quyết không nương tay, tất yếu phải thanh trừ hết thảy từ trong ra ngoài những ai có quan hệ với chủ nghĩa cộng sản”.

Hắn dứt lời lại tiếp: “Tạ gia bối cảnh thế nào, cho dù cô hai không rõ chắc cũng nên biết. Cô là người làm ăn, phải hiểu thế cục hiện thời, ai cũng không trốn thoát được”.

Hà Vị nhìn người đàn ông đối diện, hoàn toàn không thốt nên lời.

Bắc phạt chỉ mới đánh được một nửa, người từng sóng vai tác chiến bất ngờ đổi ngược họng súng ư? Trực tiếp sát hại sao?

Trong đó có bạn bè từng học ở Hoàng Phố, huấn luyện viên dốc hết tiền của vì họ, còn có các chiến hữu bắc phạt chinh chiến…

Người đàn ông im bặt, mang theo uy h**p nhìn chòng chọc Hà Vị. Còn Tôn Duy Tiên trước sau vẫn trầm mặc, không nói gì.

Hà Vị nhác thấy cổ họng trong phút chốc như xộc mùi máu tươi, cô có trấn áp.

Thật lâu sau, rốt cuộc cô mở miệng: “Vị tiên sinh này, dù những lời ngài nói là sự thật… Ngài có nghĩ tới, nếu thời cuộc nguy cấp như thế, Tạ Vụ Thanh sao còn đến gặp tôi?”

Cô thản nhiên nhìn người đàn ông kia: “Hai năm qua tôi không gặp anh ấy, lần này xuôi nam quả thật ôm lòng muốn nối lại tình xưa. Có điều Tạ Vụ Thanh từng qua lại với không ít cô gái, hẳn các ngài cũng rõ. Anh ấy đặt tôi trong lòng, điều này không giả, nhưng tôi cũng không phải vợ anh ấy, càng không phải bạn gái anh ấy, chỉ là một mối tình cũ. Anh ấy tuyệt đối sẽ không vì tôi mà sa đầu vào lưới, càng không bỏ mạng vì tôi”.

Cuối cùng cô nói: “Các ngài tất nhiên có thể giam giữ tôi, nhưng tôi muốn nhắc nhở hai vị tiên sinh đây, người các ngài bắt không phải một con nhóc không tên không tuổi, Hà gia cũng không phải một hộ nghèo khó. Nếu các ngài nhốt tôi càng lâu, sẽ càng gặp thêm phiền phức”.

Người đàn ông im lặng, nhìn cô một chốc, lại nở nụ cười: “Người ta thường nói “thạch lựu váy hạ mệnh nan đào”, kẻ hèn này ngược lại muốn xem thử vị công tử Tạ gia phong lưu kia đến cuối cùng là kẻ bạc tình hay là người thâm tình đây”.

Người ấy nói xong liền rời đi.

Tôn Duy Tiên nhìn cô một cái, giống như cố ý. Hà Vị không rõ Tôn Duy Tiên là bạn hay thù, nhưng vẫn muốn tìm kiếm một tia hy vọng từ trong ánh mắt hắn — cô mong mỏi tình thế hiện tại không tệ như vậy, những gì tên kia nói chỉ là phóng đại mà thôi…

Tôn Duy Tiên như biết cô muốn xác thực điều gì, khẽ lắc đầu.

Thế cuộc trước mắt chưa từng có, chỉ biết còn xấu hơn những gì cô nghe được.

Hà Vị đột nhiên hoảng loạn.

Nhìn cánh cửa trước mặt đóng lại.



Tại sân ga Phổ Khẩu, hai mắt Lâm Kiêu đỏ quạch, nhìn Tạ Vụ Thanh.

Những gì nên nói đã nói xong.

Từ lúc biết tin Hà Vị bị bắt, Tạ Vụ Thanh vẫn hoà nhã đối đãi với mọi người. Anh không giải thích gì với cấp dưới, đây là chuyện nhà anh. Duy chỉ đối với Lâm Kiêu, một phó quan đã theo anh nhiều năm, được anh xem như em trai ruột thịt trong nhà, thầm nói trong lòng: Tạ Vụ Thanh trên chiến trường không chỉ có một mình, trên anh vai còn gánh vác tính mạng của mấy vạn tướng sĩ. Nếu thật sự có ngày ấy, anh chỉ đành để Hà Vị đi trước một bước, đánh xong trận này, anh tự giác sắp xếp hậu sự ổn thoả, rồi xuống dưới gặp cô.

Nhưng hiện giờ không phải trên chiến trường, Tạ Vụ Thanh chỉ gánh một cái mạng của bản thân mình, do dự trước sự an nguy của Hà Vị.

Đêm đó, mấy người Lâm Kiêu đứng lẫn vào đám đông, nhìn theo bóng dáng Tạ Vụ Thanh băng qua hành lang hình vòm vắng vẻ người qua lại. Lúc Tạ Vụ Thanh vừa xuất hiện, một đám chờ sẵn trên hành lang liền rút súng bao vây.

Dưới vô số họng súng, anh bước lên một chiếc xe quân dụng.

Trong xe, Tôn Duy Tiên chờ đóng cửa, hỏi anh, chuyện cuối cùng muốn làm là gì?

Tạ Vụ Thanh im lặng một lúc, nói muốn nhìn thấy cô.

— HẾT CHƯƠNG 37 —
 
Kinh Thành Về Đêm (Dạ Lan Kinh Hoa)
Chương 38: Nhớ nhà cũng mong em (3)


Khoảng 9 giờ tối đêm nay, đám người trông coi bước vào, mở khoá vàng trên cửa sổ cho cô.

Người đó nói, Tôn tướng quân để cô hai hít thở, ngắm cảnh sông Tần Hoài. Cô không biết Tôn Duy Tiên có ý gì, bước đến cửa sổ.

Từ chỗ này có thể nhìn thấy một bên ngõ nhỏ thông đến bờ sông Tần Hoài. Xa xa, có ca nữ đứng trước khoang thuyền, nương theo ánh sáng vàng rực của ngọn đèn măng-sông pha dầu, cất cao giọng, hỏi người gần bờ, thuyền hoa hay thuyền gỗ có muốn tấu một bài không.

Bỗng nhiên có tiếng động cơ ô tô vang lên. Hà Vị nhìn đầu kia của con ngõ nhưng chẳng thấy chiếc xe nào.

Có thể là người đi ngang mà thôi.

Sau đêm đó, không còn ai đến tìm cô nói chuyện nữa.

Lại qua mấy ngày, cô nhận thấy người canh giữ không còn nghiêm cẩn như lúc trước.

Hôm nay, Nam Kinh mưa lớn.

Cô nhìn cánh hoa hoè bị gió mưa thổi rơi đầy, bao phủ trắng xoá dưới đất.

Ngoài cửa có người mở khoá, cô vội vàng xoay người, trông thấy Triệu Ứng Khác một thân tây trang màu xám bước vào.

Có người lạ mặt nói: Triệu tiên sinh dẫn cô đi trước. Bây giờ các tỉnh loạn lạc, chỗ này không nên ở lâu.

Triệu Ứng Khác nhận lấy áo khoác của cô, đưa cô ra khỏi gian nhà.

Cô luôn tìm cách lợi dụng sơ hở để trốn thoát, thế nên chưa từng cởi giày cao gót, lúc này dưới chân sưng đau, giẫm lên mặt đất như bị mũi dao cứa ngang. Có điều cô không dám chậm lại dù chỉ nửa phần, cho đến lúc ngồi lên chiếc xe màu đen của Triệu Ứng Khác.

“Hiện tại chúng ta ngồi tàu hoả. Quân phiệt Phụng hệ mượn chuyện Thượng Hải – Quảng Châu, bắt giữ Đảng viên khắp nơi tại Bắc Kinh, giờ không thể về Bắc Kinh nữa, đi Thiên Tân trước”, Triệu Ứng Khác thấp giọng nói, đặt áo khoác lên chân cô, “Chân em bị sao thế? Bọn họ động tay à?”

“Ai bảo anh tới? Là chú hai em?” Cô không rảnh đáp lời anh, vội hỏi, “Tạ gia sao rồi? Có tin tức của Tạ Vụ Thanh không?”

Triệu Ứng Khác im lặng một lúc, nhỏ giọng đáp: “Cô cả Tạ gia mất tích không rõ, cô ba vì chống cự lệnh bắt người nên bị đánh chết tại chỗ, nói với bên ngoài là ngô thương mà mất. Cô hai Tạ ở tô giới đóng cửa không ra. Còn Tạ Vụ Thanh… không có tin tức”.

Cô như bị năm ngón tay từ trong bóng tối vươn ra bóp chặt trái tim, sững sờ tại chỗ, lại không thốt được bất kỳ âm thanh nào.



Cô nghe chính mình hỏi: “Anh có thể nghĩ cách… giúp tôi hỏi thăm nơi ở anh ấy không?”

Không gặp được Tạ Vụ Thanh, sao cô đi được đây.

“Người của tôi ở đây năng lực có hạn. Cửu tiên sinh cũng nghĩ rất nhiều cách nhưng lần này bọn họ thật sự đã sử dụng hết mọi mối quan hệ từ Thanh bang đến tô giới cật lực truy lùng, ai cũng phối hợp với họ. Bọn họ quyết tâm không nương tay với người của mình, phàm là những kẻ <i>hợp tác Quốc Cộng [1]</i>, đều bị đuổi bắt khắp nơi, em đã quên Liêu Trọng Khải tiên sinh chết thế nào sao?”

Ông ta bởi vì một mực hợp tác Quốc Cộng nên bị người trong Quốc dân đảng ám sát.

<i>[1] Quốc cộng hợp tác chỉ sự liên minh giữa Trung Hoa Quốc dân đảng và Trung Quốc Cộng sản đảng ở giai đoạn 1924-1927 và 1937-1945, sự liên minh này được Liên Xô và Hoa Kỳ đứng sau thúc đẩy.</i>

Triệu Ứng Khác thì thầm: “Rồi sẽ có tin tức. Điều quan trọng nhất hiện giờ là phải ra Bắc, nếu em ở lại đây, ngoại trừ trở thành uy h**p đối với hắn, thì không giúp ích được gì”.

Cuối cùng hắn chốt lại: “Lần này là thảm sát xưa nay chưa từng có”.

Những chuyện sau đó, đúng như lời Triệu Ứng Khác đã nói, thảm sát xưa nay chưa từng có.

Tháng Tư năm nay là một tháng máu nhuốm đỏ thẫm với những nhà cộng sản cùng người theo chủ nghĩa cách mạng.

Ở phương Nam, bắc phạt chỉ mới tiến hành được một nửa, mũi nhọn lại bất ngờ đảo ngược nhắm vào bên trong. Chỉ trong vòng một tháng, Thượng Hải hy sinh mấy trăm người, Quảng Đông lên đến hai ngàn người bỏ mạng, số bị bắt nhiều vô kể.

Trong khi ở phía Bắc, vào cuối tháng Tư, các quân phiệt Phụng hệ hạ lệnh g**t ch*t hàng chục người, bao gồm cả Lý Đại Chiêu tiên sinh.

Tháng này, cả Nam Bắc đều đạt được sự “thống nhất” đẫm máu trước nay chưa từng có.

Nhưng tháng Tư chỉ là khởi đầu.

Sau đó tại mấy tỉnh thành khác, mức độ tàn sát ngày càng nghiêm trọng. Tính riêng Tr**ng S* đã hy sinh hàng vạn người.

Tiếp đến, lại đưa ra sách lược “Thà rằng giết lầm 3.000 người, quyết không bỏ sót một người”.



Tháng Bảy năm ngoái, chính là lúc tuyên thệ trước khi xuất quân bắc phạt.

Chớp mắt đến tháng Bảy năm nay, máu chảy thành sông lại là nhóm người cách mạng từng đứng cùng hàng ngũ tuyên thệ sống chết.



Ngày đó tại sân ga Phổ Khẩu, cô và Triệu Ứng Khác bị giữ lại để tra hỏi.

Nhiều năm qua Triệu Ứng Khác làm việc giữa các phe phái quân phiệt luôn ổn thoả, vốn dĩ lần này mượn mặt mũi của một quân phiệt để xuôi Nam, giờ đây lại bị chặn trước ga tàu hoả. Hai bên kéo dài giằng co, sắc mặt Triệu Ứng Khác tuy không vui nhưng cũng không tiện trở mặt, rời khỏi Kinh Lăng mới là chuyện quan trọng.

Mưa càng lúc càng lớn, mặt đất bên ngoài hành lang hình vòm đều đẫm nước.

Một chiếc xe chuyên dụng dừng lại, bước xuống là người đàn ông xa lạ, hắn đội mưa đi đến, thấp giọng răn dạy đám sĩ quan trung cấp, bảo họ lập tức thả người.

Hà Vị không biết kẻ này là ai, người nọ cũng không chào hỏi gì cô, vội vàng đưa hai người vào trong sân ga.

“Cô hai không nên chậm trễ, xin hãy một đường ra thẳng phía Bắc”, người đàn ông kia dùng tiếng Nga nhẹ giọng nói với cô, “Chúng tôi vẫn đang nghĩ cách cứu thầy”.

Cô vừa nghe câu này, trong lòng an ổn.

Đến khi tàu hoả tiến vào địa phận tỉnh Bắc, Triệu Ứng Khác mới đổi một toa tàu mới, sai người mang nước ấm đến, nhúng khăn mặt vào thau đồng rồi vắt khô đưa cho cô. Hà Vị lo cho an nguy của Tạ Vụ Thanh, lúc nhận khăn bất cẩn làm rơi xuống đất.

Trái tim cô như rơi xuống theo, giật mình định khom người nhặt lên.

“Tôi xuôi Nam đón em là do học trò của Tạ Vụ Thanh gửi điện báo đến”, Triệu Ứng Khác thay cô nhặt khăn mặt, “Vừa nãy em cũng thấy đó, hắn có thể biết chuyện chúng ta bị chặn lại ở trạm kiểm soát, lại giúp chúng ta giải vây, chứng tỏ hắn không gặp chuyện gì”.

Cô không đáp lời.

Lúc ấy cô không hề biết, tất cả đều do Tạ Vụ Thanh hai tay chịu trói đổi về.

Từ lúc bị ngăn lại tra hỏi ở sân ga đến khi được giúp đỡ, đều là Tạ Vụ Thanh nhờ học trò của mình sắp xếp một tuồng kịch. Những người đó đã tìm thấy Tạ Vụ Thanh, cũng không cần vây khốn Hà Vị làm gì.

Mà chỉ khi trải qua những chuyện vừa rồi mới khiến cô nảy sinh ảo giác: Anh vẫn nắm rõ đường đi nước bước của cô, anh vẫn có thể bày mưu lập kế giúp cô thoát nguy, chỉ là mấy ngày qua không tiện lộ diện mà thôi…

Cả đời Tạ Vụ Thanh đa mưu, nhưng đối với cô, anh chưa từng lừa gạt.

Duy chỉ có hôm nay, một lúc tính toán, một hồi diễn kịch, chỉ muốn để cô an tâm về phương Bắc.

Họ đi thẳng từ Nam Kinh đến Thiên Tân.

Trước khi Triệu Ứng Khác xuôi Nam, từng đưa người già trẻ nhỏ trong Hà nhị phủ đến căn hộ của Cửu tiên sinh ở Thiên Tân.

Hà Vị vừa bước vào căn nhà kiểu tây dương, đã thấy sảnh lớn ngồi đầy người, có chị gái Hà Chí Trăn, mẹ cô, còn có cha mẹ chú bác của Triệu Ứng Khác.

Chị gái Hà Chí Trăn vừa thấy Hà Vị và Triệu Ứng Khác đến lập tức đứng dậy.

“Hôm nay em dẫn theo cha mẹ anh cùng mẹ ruột em đến đây”, Hà Chí Trăn nhìn chằm chằm Triệu Ứng Khác, “Triệu Ứng Khác, anh nên biết nó quan hệ cùng ai bên ngoài, Tạ gia bây giờ đã xong đời rồi, nó cũng bị liên luỵ. Anh không muốn sống nhưng em còn muốn giữ mạng mình!”

Hà Vị vì chuyện của Tạ Vụ Thanh và Tạ gia đã thất hồn lạc phách, kiên trì trở về nơi này cũng do trách nhiệm với chú hai và Tư Niên… Cô đã không còn sức lực ứng phó với người họ Hà, bao gồm cả mẹ cô.

“Cảm ơn anh đưa tôi về”. Giọng cô khàn khàn.

Hà Chí Trăn muốn ngăn Hà Vị lại, liền bị thím từ trong bước ra quát dừng tay.

“Chú chín nói, trong nhà có người bệnh, không được làm ồn. Mời các vị đi trước, Triệu Ứng Khác cũng đưa cha mẹ đến Lợi Thuận Đức đi, chúng tôi đã đặt phòng xong hết rồi”, thím ôm lấy Hà Vị, “Đi thôi, chúng ta lên lầu”.

Lúc ở trên tàu hoả cô từng dùng nước ấm lau sơ người, nhưng đến Thiên Tân mới thật sự được tắm gội.

Thím giúp cô mang váy áo tới, nhỏ giọng nói: “Hai ngày trước có khách đến, nói chuyện Trương Tác Lâm hại chết Lý Đại Chiêu tiên sinh, chú hai con tức đến mức bệnh nặng hơn, sốt suốt mấy ngày liền. Chúng ta cũng không dám kể với ông ấy tình hình ở phía Nam, một lát qua đó, con xem như chưa xảy ra chuyện gì cả nhé”.

“Vâng”, cô nói bằng giọng mũi, “Con hiểu rồi”.

Cô đắp khăn ấm lên mắt, lại đánh phấn, thoa son cho khuôn mặt nhuận sắc một chút.

Trong phòng chú hai, mùi thuốc nồng nặc.

Không biết vì sao, cô nhớ lại trên người Tạ Vụ Thanh lúc nào cũng có mùi thuốc trung y này, mắt càng đau nhói. Cô đến mép giường, dựa vào đó ngồi xuống, mắt chú hai gần đây không nhìn thấy gì, nhưng khi ngón tay chạm đến làn váy của cô, vẫn mỉm cười.

“Về nhanh vậy”, chú hai dịu dàng nói, “Nên ở lại thêm hai ngày”.

Cô nhỏ giọng đáp: “Trước mắt chiến sự gấp gáp, ở lâu lại không tốt lắm”.

“Cũng đúng”, chú hai đáp, “Vẫn là bắc phạt quan trọng hơn. Đánh đến đây thì có thể cấm thuốc phiện rồi”.

Lấn trước Hà Tri Hành phát bệnh cũng vì quân phiệt Phụng hệ cất trữ quân lương, hạ lệnh trồng thuốc phiện bên ngoài quan ngoại.

Năm đó ông đi theo con đường cách mạng, chính vì chán ghét thuốc phiện, khi còn trẻ ông từng tranh cãi với mọi người về tác hại của thuốc phiện trong quán trà ở Tuyên Nam. Có rất nhiều người từ lâu đã muốn cấm thuốc phiện vì phòng ngừa bạc trắng chảy vào túi ngoài, cũng có rất nhiều người dựa một tẩu thuốc phiện để sinh tồn, không cảm thấy khói thuốc có gì không tốt… Nhoáng cái tóc mai điểm sương, đã đi đến tận cùng của sinh mệnh.

“Có bàn chuyện hôn sự chưa?” Chú hai ôn tồn hỏi.

“Vâng”. Trước mắt cô đầy ánh nước, không dám nói nhiều, chỉ sợ chú hai nhận ra.

Chú chín đứng bên cạnh, lấy ra một chiếc khăn tay từ trong ngực áo, đưa cho cô.

Cô không tiếng động xua tay.

“Ngẫm lại, cậu ấy đã ba mươi hai rồi”, Hà Tri Hành than, “Chú sợ không nhìn thấy hai đứa đám cưới. Tri Khanh, chú phải thay anh chủ trì hôn sự này đấy”.

Hà Tri Khanh cười nói: “Anh cứ yên tâm dưỡng bệnh, ít ngày nữa bắc phạt sẽ thành công. Con rể anh lập tức mang theo công danh đến cửa rước Vị Vị, em cũng không dám thay anh gả con gái đâu”.

Sau khi chính phủ Quốc dân thành lập tại Nam Kinh, chú chín lo lắng Bắc Kinh bị ảnh hưởng, giữ cả nhà Hà nhị đến tận mùa hè.

Hôm nay, Tư Niên đứng trong tầng hầm của biệt thự tây dương tìm được mấy tờ báo, đọc “Tin tức Quốc dân Hội nghị được thúc đẩy tổ chức tại Bắc Kinh”. Hà Vị gặp lại ba cái tên trên đó, Vương Tận Mỹ tiên sinh bệnh mất năm ấy, mà Lý Đại Chiêu tiên sinh cùng Triệu Thế Viêm tiên sinh đều hy sinh trong kiếp nạn lớn này.

Ngoài cửa tầng hầm, thím nhỏ gọi cô.

Hà Vị để Tư Niên ở lại tiếp tục xem báo, bước lên bậc thang, xuyên qua rèm châu, nhìn thấy một người phụ nữ ngồi trong phòng thì giật mình, bất chợt tim đập như trống bổi. Là cô hai Tạ gia, Tạ Sính Như.

Chị ấy nhìn qua vô cùng tiều tuỵ, nhưng trong ánh mắt vẫn sáng ngời như trước. Vốn mang khuôn mặt nghiêm cẩn, vừa nhìn thấy cô lại lộ ra nụ cười dịu dàng. Hà Vị nhìn thấy khăn tang trên quần áo chị, bước chân chững lại.

“Cha chị qua đời”. Tạ Sính Như nhỏ giọng giải thích.

Hai mắt cô nóng lên, khẽ khàng đáp: “Mong cô hai nén đau thương”.

Tạ Sính Như hơi gật đầu, đặt tách trà xuống: “Chị chỉ có mấy phút, không nói lời khách sáo nữa. Chú út Thanh…”

Hà Vị dừng tay, trấn tĩnh nhìn Tạ Sính Như.

Tạ Sính Như không biết nên nói thế nào, ngẫm một lát mới lên tiếng: “Chị tới gặp em, một phần nguyên nhân là do di nguyện trước lúc lâm chung của cha. Cha bảo chị đến Hà gia nói lời xin lỗi, ông ấy còn nói, cô hai Hà tuổi nhỏ, người ngoài không biết chuyện hôn sự, lúc này Tạ gia gặp biến cố lớn, không thể so với trước kia, mai sau cũng không thể liên luỵ họ…”

“Anh Thanh thế nào ạ?” Cô cắt ngang lời Tạ Sính Như, “Anh ấy hiện giờ đang ở đâu?”

“Chị cũng không rõ”. Tạ Sính Như lắc đầu.

Không biết anh ở đâu, càng không biết sống chết ra sao.

Tim Hà Vị chùng xuống.

“Hồi tháng Tư có một vị phó quan của chú út Thanh đến tô giới tìm chị, phó quan đó nói, anh Thanh muốn nhờ chị giúp một chuyện. Chờ sóng gió tạm lắng, tận mắt đến nhìn em có ổn không, nếu em không việc gì, thì nói với em”, Tạ Sính Như im lặng hồi lâu, thấp giọng nói, “Vụ Thanh bất tài, không thể thực hiện hôn ước. Mong cô hai… <i>nên bỏ thì bỏ [2]</i>”.

<i>[2] Nguyên văn là “đương xả tắc xả”, ý nói việc nào nên bỏ được thì hãy vứt bỏ, chỉ khi vứt bỏ rồi thì mới nhận được điều tốt hơn.</i>

Nước mắt cô lăn dài.

Không phải vì chữ “nên bỏ thì bỏ”, mà bởi câu “Vụ Thanh bất tài”…

Tạ Sính Như nâng tay nhìn đồng hồ, che giấu tâm tình khổ sở khi nói những lời ấy, cô khẽ đứng dậy khỏi ghế, đến trước mặt Hà Vị: “Những câu này không phải lấy thân phận chị hai của Tạ Vụ Thanh nói, chỉ vì chị lớn tuổi hơn em rất nhiều, lại là một người phụ nữ đã kết hôn nên muốn khuyên em, Vị Vị, đường đời còn dài, bản thân em cùng người nhà là quan trọng nhất”.

Tạ Sính Như nói tiếp: “Từ lúc em mười tám đến hai mươi hai tuổi, là lứa tuổi đẹp nhất đời người, em đều dành để đợi nó. Sau này, hãy sống cho bản thân mình đi. Tạ gia không muốn níu chân em”.

Lúc Tạ Sính Như nói cũng tràn ngập thương xót.

Hiện giờ Tạ gia… đã không còn bao nhiêu người.

Trung môn hỡi trung môn, là vì bảo vệ đất nước không tiếc xương trắng chất chồng, mà những gia tộc dòng dõi góp xương máu ấy, sớm muộn gì cũng sẽ biến mất không còn vết tích.

Tạ Sính Như nhớ đến lúc tán gẫu với em ba từng nói, con người chỉ sống một lần trong đời, chúng ta như vậy có phải bị người khác cười nhạo ngốc nghếch không?

Em ba đáp, ài, chính vì cả đời chỉ sống một lần, quản miệng người ta làm gì chứ.

Tạ Sính Như lại hỏi, em nói xem, nếu kiếp sau đầu thai, hai chị em chúng ta ở hai quốc gia khác nhau, làm sao bây giờ?

Em ba trả lời, chị bảo vệ đất nước của chị, em che chở người dân của em. Mỗi người chúng ta chiến đấu vì lãnh thổ dân tộc mình, nếu chị đầu hàng em, em sẽ khinh thường chị, nhưng nếu chị chết dưới đao của em, em sẽ kính trọng chị như một bậc anh hùng, sẽ chôn cất chị tử tế.

Tạ Sính Như đỏ mắt, xoa đầu Hà Vị. Lâu rồi cô không dám nghĩ đến em ba, hôm nay trông thấy Hà Vị lại nhắc đến nỗi đau sâu kín nhất trong lòng.

“Giữ gìn sức khoẻ”. Tạ Sính Như ôn nhu dặn dò.

Tạ Sính Như đi rồi, cô vẫn ngồi bất động trong phòng.

Nhớ đến những lời anh nói, nước mắt rơi trên váy.

Nửa đời trước của anh, như thể đều trải qua cảnh bị bạn bè, đồng minh phản bội.



Mùi hương của Long Tiên Hương nồng đậm trong không khí.

Cô thấy mình quay về Nam Dương, gió biển nóng bức mang theo hơi ẩm, là ấn tượng sâu sắc nhất của nàng thiếu nữ về bờ biển đó.

Tưởng tượng ở vùng biển đảo kia, cô đạp xe băng qua dãy nhà dân bình dị, trong đó có một gian nhà phía trước trồng đầy bụi chuối tây tàu lá xanh mướt, mở cửa nhà bước vào trong, là một căn phòng bày bộ ghế mây sờn cũ… Có một vị thiếu tướng quân nằm đó, ngửa đầu ngắm bầu trời đêm nơi xa xứ.

Mà hiện giờ, thiếu tướng quân của cô đã bị bắt đến đâu…

Tư Niên ôm một chồng báo đi đến, nhỏ giọng nói: “Ông chú chín bảo con đến tìm người hỏi về <i>khởi nghĩa Nam Xương [3]</i>”.

Năm ấy, sau nhiều tháng tàn sát đẫm máu, bọn họ cuối cùng cũng cầm vũ khí đứng lên, bắn phát súng đầu tiên bắt đầu cuộc nổi dậy vũ trang ở Nam Xương.

<i>[3] Khởi nghĩa Nam Xương do người trong Đảng Cộng sản TQ lãnh đạo nhằm chống lại cuộc thanh trừng đẫm máu của Quốc dân đảng đối với người cách mạng, nổ ra tại Giang Tây, mở đầu cho cuộc chiến Quốc – Cộng. Ngày 1/8/1927, quân khởi nghĩa chiếm được thành phố Nam Xương nhưng đến ngày 5/8 vì không giữ được phải rút về Cương Sơn, dọc đường bị tấn công thiệt hại nặng nề. Tuy khởi nghĩa thất bại nhưng có ý nghĩa mở đầu quan trọng, sau này ngày 1/8 được lấy làm kỷ niệm thành lập Quân giải phóng Nhân dân TQ.</i>

Cô không muốn để trẻ con nhìn thấy hai mắt mình đẫm lệ, cúi đầu, v**t v* con mèo ngồi bên cạnh.

“Ông chú nói”, Tư Niên cố gắng kể lại tình cảnh sinh động đó, “Muốn khởi nghĩa phải lén lút chuẩn bị, bởi vì lúc nào cũng có kẻ địch lăm le bên người, phải căn thời gian chuẩn xác nhất, sau đó bất ngờ đánh úp”.

Thật ra Tư Niên muốn hỏi, cha có ở nơi đó không.

Như thể cảm nhận được nỗi đau của Hà Vị, cô bé đem lời muốn thốt ra cất lại trong lòng. Cô bé bước đến, học theo cô, đưa tay gãi lưng cho mèo, lông tơ trơn mượt, bồng bềnh dưới ngón tay, lại luồng qua kẽ tay mình.

Giọng nói non nớt của trẻ con cất lên: “Ông chú nói, trước khởi nghĩa, có người hát quốc tế ca”.

Tư Niên tiếp tục: “Ông chú còn bảo, trong cuộc khởi nghĩa Nam Xương để phân biệt người phe mình, sẽ dùng khẩu lệnh. Người đoán xem khẩu lệnh là gì?”

Cô khẽ lắc đầu.

Tư Niên cười ngọt ngào, nhẹ giọng nói: “Non sông thống nhất”.

Non sông thống nhất.

Sau khi máu chảy thành sông, vẫn có người vạn chết không từ, bước ra từ máu thịt, mang theo những lời này.

Bọn họ vốn không quen biết lẫn nhau, nhận ra nhau, cũng chính là xác nhận tình anh em sinh tử, chỉ dựa vào một câu không ngừng vang lên trong lòng: Núi sông thống nhất.



Tiết học lịch sử:

Dưới chương này tác giả có đề cập giảng lược về trận chiến nhắc đến trong truyện. Sau khi đọc xong và kết hợp research trên mạng thì mình biết sử sách được gọi là “Nội chiến Trung Quốc” hay “Quốc – Cộng nội chiến”. Mọi người có thể tìm hiểu trên Google để biết thêm chi tiết. Lần nội chiến này kéo dài từ tháng 4/1927 đến tháng 5/1950 (sau khi TQ đánh thắng NB) nên có rất nhiều thông tin, còn trong truyện chỉ đề cập đến giai đoạn đầu của nội chiến (1927-1937).

Tóm tắt để mọi người hiểu:

Năm 1925, sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, Tưởng Giới Thạch được nâng lên giữ vai trò tổng chỉ huy quân đội Cách mạng Quốc gia, tiến hành Bắc phạt.

Năm 1926, Quốc dân đảng có sự phân hoá thành 2 phe cánh, gọi là phái tả và phái hữu. Bao gồm người thuộc Quốc dân đảng và người theo lý tưởng Cộng sản trong Quốc dân đảng.

Năm 1927, tranh chấp nảy sinh giữa 2 phe cánh khi ra quyết định chuyển thủ đô của chính phủ Quốc dân. Trong khi người ủng hộ Cộng sản trong Quốc dân đảng muốn chuyển từ Quảng Châu về Vũ Hán – nơi đảng Cộng sản ảnh hưởng mạnh nhất, thì TGT cùng các tướng quân phiệt lại muốn chuyển đến Giang Tây.

Đầu tháng 4/1927, TGT lấy lý do kinh tế kiệt quệ, xã hội rối loạn để tạm dừng cuộc cách mạng quốc gia. Ngày 12/4/1927, TGT quay ngược xử lý những người theo phe Cộng sản tại Thượng Hải. Hàng trăm đảng viên Cộng sản bị bắt giữ hoặc hành quyết. Để ngăn chặn những khả năng có thể xảy ra, TGT còn liên thủ với 3 ông trùm Thanh bang là Đỗ Nguyệt Sanh, Hoàng Kim Vinh, Trương Tiêu Lâm đưa đàn em giả dạng là công nhân lẫn vào nhóm công nhân biểu tình chống đối đàn áp, sử gọi “chính biến Thượng Hải” hay “biến cố ngày 12 tháng 4”.

Cuối năm 1927, TGT nắm toàn bộ chính quyền. Tháng 6/1928, TGT chiếm được Bắc Kinh – Kết thúc nội chiến giai đoạn 1.

— HẾT CHƯƠNG 38 —

<i>Lời của tác giả:</i> Mọi người ơi, đến đây là chúng ta đã đi được 1 nửa chặng đường với Tạ Vụ Thanh và Hà Vị rồi đó. Hiện tại vì lý do cá nhân nên tần suất mình dịch khá chậm so với trước đây. Nhưng mọi người yên tâm là mình không drop truyện đâu nhá vì mình yêu nhân vật trong này lắm.

Bối cảnh truyện khá rộng, đa phần bám vào lịch sử thời dân quốc nên mình phải research nhiều, nếu trong quá trình edit có lỗi sai gì thì mọi người cứ bình luận cho mình biết nhé, kể cả lỗi chính tả lẫn lỗi kiến thức ạ. Hiện giờ mình cũng sắp hoàn thành bộ này rồi, mong nhận được sự ủng hộ của mọi người.

P/S: Truyện hay lắm mọi người ạ, edit mà nhiều đoạn cũng xúc động theo nhân vật. Cảm ơn vì mọi người vẫn luôn theo dõi nha
 
Back
Top Bottom