Tiên Hiệp Không Tỉnh

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Không Tỉnh
Chương 100


Chuyện Đệ Tam Mộng chính là Hoàng Nhưỡng, một tối truyền ra.

Mà tất thảy thiên hạ đều biết, còn có chuyện Đệ Tam Mộng đã dấn thân vào triều đình, trở thành Ti học Huyền Vũ Ti Ti Thiên giám.

Dân chúng khua chiêng gõ trống, vui mừng hớn hở, chạy đi bẩm báo.

Uy tín triều đình, đúng là nước lên thì thuyền lên.

Mà bổng lộc của Hoàng Nhưỡng, không giống như bọn Bảo Võ có thể dùng bạc hàng tháng mà tính. Triều đình dứt khoát cho nàng một vạn lượng lương tháng, đồng thời lợi ích từ tất cả hạt giống với danh nghĩa nàng, từ chỗ triều đình tiêu thụ giùm, cũng chia ba bảy thành với nàng.

Lúc Hoàng Nhưỡng ký khế ước, chưa hề ý thức rằng mình đã trở thành một cự phú thế nào!

Mà cự phú này, vừa về tới Ti Thiên giám đã bị Viện Giám Tông Tử Côi đuổi đánh một trận.

Hoàng Nhưỡng thật vất vả trốn khỏi Viện Gầy giống, lại đụng phải Miêu Vân Chi nổi giận đùng đùng.

Nàng thấy là phải chạy khỏi Ti Thiên giám rồi đó, kết quả bị Hà Tích Kim và Khuất Man Anh bắt được.

Cuối cùng mấy phương hội sư, Miêu Vân Chi và Tông Tử Côi ở một bên đổ thêm dầu vào lửa. Khuất Man Anh cầm cây chổi, thân thiết “ân cần thăm hỏi” cái mông của Hoàng Nhưỡng.

Ngay cả Hà Tích Kim luôn bao che cho con cái nhất mà còn nói câu: “Nên, nên nên đánh, cho, cho, hết nghịch!”

Ti Thiên giám gà bay chó chạy, còn bầu không khí Ngọc Hồ Tiên Tông lại nghiêm trọng.

Tạ Linh Bích và Tạ Hồng Trần ngồi đối diện, Tạ Linh Bích nói: “Cô Hoàng Nhưỡng này, sao có thể sử dụng Tâm Kiếm?”

Tạ Hồng Trần nói: “Đệ tử đang điều tra. Nàng ta là con gái Hoàng Thự, sinh ra trong thôn Tiên Trà, cũng không có gốc gác từ Tông ta. Chuyện Tâm Kiếm đúng là kỳ quặc.”

Tạ Linh Bích trầm giọng: “Không chỉ là Tâm Kiếm, mà nó đối với kiếm đạo của Ngọc Hồ Tiên Tông lại rõ như lòng bàn tay. Tu vi như thế, tuyệt đối không phải nhánh phụ, nhất định là đệ tử thân truyền.”

Tạ Hồng Trần nói: “Đệ tử sẽ kiểm chứng.”

Lúc nói câu này, hắn thoáng nhìn Tạ Linh Bích — ông ấy luôn không hỏi thế sự, đột nhiên lại chú ý đến chuyện của Hoàng Nhưỡng. Hơn nữa.. Lúc ấy Hoàng Nhưỡng là vì gặp chuyện mới triển lộ Tâm kiếm.

Lúc ấy Tạ Linh Bích cũng không có mặt, lại biết thật rõ ràng.

Thật kỳ quái.

Tâm tư Tạ Hồng Trần vốn nhạy bén, phát hiện điều dị thường cũng không nói rõ.

Lai lịch của Hoàng Nhưỡng, Tạ Hồng Trần liên tục kiểm chứng, đúng là không chút liên can đến Ngọc Hồ Tiên Tông.

Tám tuổi nàng được vợ chồng Hà Tích Kim đón đi, nhưng cũng chưa từng ở Như Ý Kiếm tông tu tập qua kiếm pháp. Mà là năm đó đã đi Viện Gầy giống Thượng Kinh.

— nàng không tu võ đạo, sao có thể sử dụng kiếm đạo chí cao của Ngọc Hồ Tiên Tông nhỉ?

Rõ ràng cũng không có bao nhiêu kinh nghiệm gầy giống, sao có thể lấy danh Đệ Tam Mộng, gây áp lực đến Tức Hoài Nghị, gầy ra thiên hạ danh chủng?

Tạ Hồng Trần liên tục nghiên cứu Hoàng Nhưỡng, thật sự đầy điểm khả nghi, không nói ra được chỗ kỳ lạ.

Mà Hoàng Nhưỡng thì sau khi được các trưởng bối “thân thiết ân cần thăm hỏi”, chuyện chung thân của nàng c*̃ng được đem ra bàn bạc.

Triều đình đối với chuyện thành thân của Hoàng Nhưỡng và Đệ Nhất Thu không có bất kỳ ý định trở ngại nào.

— phù sa không chảy sang ruộng người ngoài nha, hàng năm nàng ta có bao nhiêu bạc?

Thế là, trả lời của triều đình nhanh chóng gửi đến bộ Lễ.

Bộ Lễ từ lâu đã bị Giám Chính thúc giục đến tê cả da đầu, vừa nhận câu trả lời lập tức chuẩn bị chu toàn, đến Như Ý Kiếm tông cầu hôn.

Giám Chính đại nhân một chuyến lại một chuyến đi tới đi lui giữa Như Ý Kiếm tông và Ti Thiên giám.

Hoàng Nhưỡng c*̃ng không rảnh rỗi, mọi thứ đích thân đi làm, bắt đầu từ áo cưới đến việc thu xếp ở cùng Đệ Nhất Thu.

Ngoại ô Thượng Kinh, trong thôn trang.

Tức Âm mở bức thư Khuất Man Anh gửi tới, Khuất Man Anh báo cho bà biết chuyện của Hoàng Nhưỡng. Bà một năm một mười, kể từ chuyện Hoàng Nhưỡng là Đệ Tam Mộng, lừa một đám trưởng bối tranh nhau khấu đầu, đến chuyện cưới của con bé và Đệ Nhất Thu.

Tức Âm thấy khóe miệng mình cong cong lên.

Cuối thư, Khuất Man Anh hỏi thăm phải chăng bà sẽ quay về Như Ý Kiếm tông. Dù sao thì bà cũng là người mẹ thân sinh của Hoàng Nhưỡng. Hoàng Nhưỡng thành thân, hẳn bà nên ở đây.

Tức Âm gấp thư lại cười, hồi lâu sau, đang định hồi âm, bỗng ngoài cửa có một toán người bước vào.

“Tức Âm!” Một giọng nghiêm khắc nói.

Tức Âm ngẩng nhìn, cả người như bị đánh đòn cảnh cáo, ngẩn nguyên tại chỗ.

Người tới chính là Tức lão gia tử — phụ thân của bà.

Tức Âm đứng dậy, sau lưng Tức lão gia tử, là Tức lão phu nhân đứng đấy, cũng là mẫu thân thân sinh của Tức Âm.

Đương khi gương mặt quen thuộc nhất trong trí nhớ lại xuất hiện trước mắt, Tức Âm cảm thấy sợ hãi.

Thời gian vô tình quá, năm đó lúc bà rời nhà, hãy còn là quý nữ thế gia, là thiên kim tiểu thư không rành thế sự. Mà bây giờ trùng phùng với người một nhà, đã là trăm đổi ngàn dời, vật cũng như người đều không phải.

“Nghịch nữ! Nhiều năm vậy rồi, ngươi còn không biết sai sao?!” Giọng Tức lão gia tử vẫn lạnh lùng, mà bên cạnh ông ta, Tức lão phu nhân lại đỏ mắt.

” m à…” Tức lão phu nhân liên tục thở dài, nói: “Còn không qua đây!”

Tức Âm bước tới hai bước, sau đó từ từ dừng lại.

Nội dung bức thư của Khuất Man Anh mới rồi, một lần nữa lại xuất hiện trong biển não bà.

— Hoàng Nhưỡng là Đệ Tam Mộng, mà con bé sắp thành thân với con trai của Sư Vấn Ngư.

Tức Âm dốc hết sức lực, khống chế nước mắt của mình.

Bà cố gắng đứng thẳng, nói: “Phụ thân, mẫu thân, sao các người lại tới đây?”

Tức lão phu nhân thở dài: “Con xem con đang ở chỗ nào đây? Đế cả kẻ hầu hạ cũng không có một tên. Hoàng Nhưỡng Hoàng Quân tốt xấu gì cũng lớn rồi, cứ thế mà đối xử với mẹ thân sinh ra mình vậy ư?”

Tức Âm cụp mắt, nói: “Ở đây rất tốt, là tự con thích thanh tĩnh, nên không thuê người.”

Tức lão gia tử hừ lạnh, nói: “Năm đó là chính ngươi quyết tâm, nhất định phải đi theo cái ngữ thấp hèn Hoàng Thự kia! Cả đời gian nan long đong, cũng chỉ có thể trách chính ngươi!”

Tức Âm nói: “Phụ thân dạy rất đúng. Năm đó… Là nữ nhi nông cạn ngu muội.”

Tức lão gia tử nói tiếp: “Thôi, nhiều năm rồi, hẳn con cũng được dạy đủ. Giờ thì thu dọn hành trang, về đi. Gì thì gì con cũng là con gái nhà họ Tức, ở chỗ này, ăn nói thế nào?!”

Nói xong, ông ta xoay người, chỉ chờ Tức Âm ngoan ngoãn theo ông ta về.

Nhưng, Tức Âm dừng hồi lâu, bà hít một hơi thật sâu, chợt cười nói: “Phụ thân, nữ nhi đã gả cho người, há lại có đạo lý về nhà ngoại? Ở đây rất tốt, nữ nhi… không phiền phụ thân và mẫu thân phí tâm nữa.”

“Ngươi nói cái gì?” Tức lão gia tử giận dữ! Tức lão phu nhân c*̃ng hùa theo khuyên: ” m à! Lẽ nào đã qua nhiều năm, con chịu khổ còn chưa đủ sao? Đến lúc này, con còn muốn ngỗ nghịch cha mẹ sao?”

Tức Âm sợ cha, song lại nghe lời mẹ.

Bà nguyên là một người hiền lành dịu dàng ngoan ngoãn nhất, sau bị Hoàng Thự mê hoặc mới làm ra chuyện mất hết thể diện nhà mẹ đẻ ấy.

Nhưng lúc này, hông eo bà thẳng tắp, cả đời này của bà, chưa từng kiên quyết như vậy.

Bà nói: “Bẩm phụ thân, mẫu thân, m đã gả vào Hoàng gia, đời này chính là vợ của nhà họ Hoàng. Không còn dám quấy rầy phụ huynh!”

” m à!” Tức lão phu nhân rơi lệ, chữ chữ bi thương, “Con của ta, sao con hồ đồ vậy hả! Giờ con cũng đã làm mẹ người rồi, con cũng đã biết con gái của con sắp thành thân mà? Như Ý Kiếm tông kia đang giăng đèn kết hoa, thế nhưng con xem chỗ này của con xem, có ai để ý tới người mẫu thân là con không?”

Tức Âm ngẩng đầu, nhìn mẹ mình.

Hồi lâu sau, bà nhẹ nói: “Mẹ à, con chưa bao giờ ý thức được rõ ràng như hôm nay, con là một người mẹ.”

Tức lão phu nhân bỗng dưng im lăngj.

Tức Âm chăm chú nhìn vào mắt bà, nói: “Trước đây, con luôn cảm thấy nếu không phải vì A Quân, con sẽ không đến mức phải lấy Hoàng Thự. Về sau con nghĩ, nếu bé Nhưỡng là con trai, con sẽ không đến mức nhận hết trào phúng. Bao nhiêu năm nay, con chưa hề ý thức được, con là một người mẹ. Nhưng giờ thì, con biết rồi.”

Vì là mẹ, nên không thể về lại nhà họ Tức.

Nếu bà quay về, Hoàng Nhưỡng cũng chỉ có thể rơi vào bàn tay của nhà họ Tức.

Những lời này, tất cả đều chưa hề nói.

Chuyện trong lòng biết rõ, cần gì phải chọt thủng?

Song Tức lão gia tử cười lạnh, nói: “Cứ tưởng là ngươi nếm qua đau khổ, sẽ lanh lợi hơn chút. Nào ngờ ngươi vẫn ngu dốt thế, thật không có thuốc chữa.”

Nói xong, lão vung tay lên, nói: “Người đâu, lôi nó về!”

Tức Âm thầm cả kinh, có mấy người bước lên, định trói người.

Đúng lúc này, có một tiếng nói: “Đây là Tức lão gia tử muốn cướp người à?”

Tất cả đám Tức lão gia tử và lão phu nhân đều giật mình, hai người cùng quay đầu, chỉ thấy ngoài cửa một tay vũ phu cao lớn tráng kiện chậm rãi bước vào.

Anh ta mặc áo lông cừu dày, hông đeo kim đao, trong tay còn ôm một con mèo con ư ử lông xám.

Mèo thì quá nhỏ, anh ta thì quá cao to, thực chẳng hài hòa.

“Bảo Võ?!” Tức lão gia tử ngó anh ta một cái, thật nổi giận thấu tim: “Ngươi tới đây làm gì?!”

Bảo Võ đi đến trước mặt Tức Âm, tiện tay đưa mèo con cho bà. Con mèo thật sự quá bé, đói đến mức tiếng cũng yếu ớt đến đáng thương.

Tức Âm vội đón vào trong tay, hỏi: “Nhỏ như vậy, ngài lấy đâu ra thế?”

Bảo Võ thuận miệng: “Nhặt được. Nếu cô thích thì đút ăn nó đi.”

Tức Âm đáp một tiếng, tìm chút gì cho mèo con ăn.

Tức lão gia tử nhìn hai người, rõ ràng là rất quen thuộc nhau, ngay tức khắc tức giận trong lòng: “Tiện phụ! Không ngờ ngươi lại câu dẫn tên vũ phu này?!”

Bảo Võ xùy một tiếng, nói: “Tức lão gia tử, nếu ngài hết chuyện rồi thì mau mau rời đi. Nếu không đừng trách Bảo mỗ đắc tội!”

“Ngươi dám!” Tức lão gia tử cả giận nói, “Lão phu đến đây đưa con gái đi, liên can gì tới ngươi? Mà ngươi một tên đàn ông xa lạ, lén xông vào chỗ con gái nhà người ta, ý định làm gì?”

“Ý thế nào à?” Bảo Võ phối hợp múc một bát nước, uống hai hớp trước, mới nói: “Vậy Bảo mỗ phải để Tức lão gia tử nhìn xem, ý ta là thế nào!”

Nói xong, anh ta trực tiếp bước lên!

Mấy gia nô mà Tức lão gia tử mang đến đối phó Tức Âm, làm sao là đối thủ của anh ta chứ?

Anh hai ba phát đánh đám này lăn ra đất, sau đó trói Tức lão gia tử lại, bắt vào đại lao Bạch Hổ Ti. Lý do là trắng trợn cướp đoạt dân nữ.

Mặc Tức lão phu nhân khóc trời đập đất.



Nhà họ Tức tức giận, đến Ti Thiên giám náo loạn rất nhiều lần.

Nhưng chỗ điền trang của Tức Âm là sản nghiệp của Giám Chính đại nhân. Tức lão gia tử cưỡng ép bắt người, thật ra không có lý.

Dù thế, Giám Chính đại nhân vẫn khoan dung. Nhà họ Tức náo loạn, y bèn phái Bảo Võ xin lỗi.

Bảo gia là tay vũ phu, cũng không phân rõ phải trái, cũng không cần mặt mũi.

Xin lỗi thì có gì mà quan trọng?!

Tức lão gia tử tức đến hộc máu, song chỗ của Tức Âm cuối cùng cũng lấy lại yên tĩnh.

Hôm ấy, khi Bảo Võ tới, Tức Âm đang hồi âm cho Khuất Man Anh.

Con mèo con màu xám được tắm sạch sẽ, đã thành màu trắng. Giờ nó ăn cơm, ngủ trong lòng Tức Âm.

“Nấu cơm rồi, còn nóng trong nồi.” Tức Âm vừa hồi âm, vừa nói.

Bảo Võ à đáp, tự đi xới cơm.

Anh ta cũng chả quan tâm Tức Âm đang viết gì.

Đợi ăn cơm xong, Bảo gia lại trở thành thợ chẻ củi, thợ gánh nước, thợ tưới vườn. Tức Âm ở bên cạnh nhìn ra ngoài một hồi, chợt nói: “Bể cá ở hướng Đông khu vườn bị mẻ một góc, ta định đánh lại một cái.”

Bảo gia đáp một tiếng, lại trở thành một ông thợ đập đá.

Hai tay anh ta để trần, tạc khối đá thành bể cá, mồ hôi đầm đìa, không nói không rằng.

Tức Âm đi vào trong viện, bày rộng đồ thêu, từ tốn thêu một chiếc chăn cho giường hỉ.

Mèo con nằm ở một góc chăn hỉ đo đỏ, thi thoảng duỗi duỗi chân ngắn nho nhỏ.

Tức Âm một kim một chỉ, thêu đến vui vẻ trong lòng.

— con bé kia, cũng muốn thành thân nữa nhỉ.

Ti Thiên giám.

Hoàng Nhưỡng và Giám Chính cùng đi may hai bộ cát phục. Giám Chính đại nhân tự tay đánh bộ trang sức đầu mặt cho phu nhân.

Hai người tận sức moi móc trong đám phế liệu của Chu Tước Ti, có thể không bỏ tiền thì không bỏ tiền.

Khuất Man Anh chuẩn bị đồ cưới cho Hoàng Nhưỡng thật phong phú, bà và Hoàng Quân may gấp đồ mới cho Hoàng Nhưỡng. Cả đồ dùng trong nhà cũng sắm xong.

Sau đó, mọi người phát hiện thế mà Hoàng Nhưỡng và Đệ Nhất Thu cũng không tính mua thêm nhà mới!

Khuất Man Anh tất bật đuổi tới Ti Thiên giám, kéo Hoàng Nhưỡng đang may giày cho phu quân sang một bên.

Hoàng Nhưỡng thưa: “Dì?”

Khuất Man Anh vội la lên: “Chuyện thành thân đại sự vậy, sao không mua thêm căn nhà chứ?!”

Hoàng Nhưỡng không hiểu lắm: “Không quá mệt mỏi sao ạ. Hơn nữa, ở quan xá không cần bỏ tiền.”

“Mi keo kiệt cho chết đi!” Khuất Man Anh khí khái hào hùng cười, “Quan xá ấy… rất không tiện mà?”

Hoàng Nhưỡng khoan thứ cho lòng bà, nói: “Quan xá do triều đình cung cấp, hơn nữa, còn bố trí sai vặt. Có gì mà không tiện? Dì không cần phải lo lắng!”

Khuất Man Anh há hốc mồm, như muốn giải thích, thật lâu sau, nói: “Được rồi, dù sao thì sớm tối mi cũng sẽ biết.”

“Con biết dì quan tâm con.” Hoàng Nhưỡng ôm eo bà, vùi đầu lên đầu vai bà, nũng nịu.

Khuất Man Anh còn cách gì?

Bà đành nói: “Mi… hầyyyy, tóm lại mấy đứa vẫn nên đi coi căn nhà sớm chút đi, hai tên đần ạ!”

Đợi đến ngày thành thân ngày càng gần, Hoàng Nhưỡng quay về Như Ý Kiếm tông đợi gả.

Hôm ấy, Như Ý Kiếm tông lại có một vị khách quý hiếm gặp đến.

— Tạ Tông chủ lại đến nhà.

Hà Tích Kim Khuất Man Anh cùng tiếp khách, vốn chỉ muốn, Hoàng Nhưỡng sắp xuất giá, lại có câu chuyện cầu hôn trước đó nên không cho nàng ra mặt nữa.

Nhưng hiển nhiên là Tạ Hồng Trần đến vì Hoàng Nhưỡng, nói không chừng, cũng chỉ vì cùng nàng mà tới.

Tạ Hồng Trần ngồi ngôi khách quý, vẫn ôn nhã hữu lễ như thế.

Hoàng Nhưỡng bồng bềnh cúi đầu chào hắn, tiện tay dâng thiệp mời, nói: “Tông chủ đến thật đúng lúc, hai hôm nữa là ngày đại hỉ của tiểu nữ tử, mời Tông chủ đến uống chén rượu nhạt.”

Con bé này…

Tạ Tông chủ tạo nghiệt gì thế… Khuất Man Anh Hà Tích Kim đều không đành lòng nhìn thẳng.

Tạ Hồng Trần rũ mắt, nhìn chằm chằm thiệp mời như lửa đỏ muốn thiêu đốt trong tay nàng. Hồi lâu sau, hắn đưa tay tiếp nhận, nói: “Tất nhiên phải vậy.”

Hoàng Nhưỡng bèn vui vẻ ngồi xuống, tiền mừng của Tạ Hồng Trần, hẳn sẽ không ít.

Con người hắn, thật ra luôn hào phóng.

Tạ Hồng Trần cất thiệp mời vào trong tay áo, nói: “Hà chưởng môn, Hà phu nhân, hôm nay Bổn tông chủ tới đây, là muốn hiểu rõ kiếm pháp của Nhưỡng cô nương. Lần trước gặp qua, Tạ mỗ thấy cực kỳ tương tự kiếm đạo của bổn tông. Xin cho hỏi lai lịch kiếm đạo của Nhưỡng cô nương.”

Hắn ngoài miệng hỏi thăm, chữ chữ lý trí, song tay phải lại giấu trong tay áo trắng tuyết, lòng bàn tay nhẹ v**t v* phong thiệp mời.

Nàng muốn thành hôn.

Thiệp mời đỏ tươi, như đốt phỏng hắn.

Nhưng hắn vẫn mỉm cười, lộ một khuôn mặt ôn hòa thanh nhã.

Tông chủ Ngọc Hồ Tiên Tông Tạ Hồng Trần, không có tư cách mất mát hay bi thương. Hắn chỉ có thể tỉnh táo bình tĩnh như vậy, dù rằng hoang vu trong lòng.
 
Không Tỉnh
Chương 101


Rốt cuộc Tạ Hồng Trần cũng đã hỏi tới chuyện Tâm Kiếm!

Vẻ mặt Hà Tích Kim và Khuất Man Anh lập tức đầy nghiêm túc, cùng ngó sang Hoàng Nhưỡng.

— nhóc con nhà mình quá có tiền đồ, dạo này lại tất bật chuyện chung thân của con bé, hai người cứ thế quên béng chuyện này.

Hoàng Nhưỡng chăm chú nhìn Tạ Hồng Trần, mãi mới lên tiếng: “Chuyện này nhắc đến thì rất kỳ quặc. Lúc nhỏ tôi nằm mơ, trong mơ, tôi từng bái Tạ Tông chủ làm thầy. Kiếm đạo của Tâm Kiếm đều là do đích thân Tạ Tông chủ truyền thụ.”

“Chuyện này…” Tạ Hồng Trần nhíu mày, rất hiển nhiên rằng hắn không tin.

Khuất Man Anh Hà Tích Kim cũng không tin.

Sao lại có câu chuyện quỷ dị vậy chứ?

Hoàng Nhưỡng vẫn nhìn Tạ Hồng Trần, nói: “Trong mơ, tôi đã bái xin vào dưới trướng Tông chủ, có duyên phận thầy trò trăm năm với Tông chủ.”

Tạ Hồng Trần kinh ngạc, hồi lâu nói: “Lời của Nhưỡng cô nương thật khó mà tin được.”

Hoàng Nhưỡng nói: “Đúng vậy. Nhưng mà… sự thật đúng là vậy. Trong giấc mơ đó, Tạ Tông chủ ở điện Duệ Vân của ngọn Điểm Thúy. Tôi thường tập võ ở sân tập sau vườn, giữa sân có một gốc ngô đồng. Tôi luyện kiếm dưới tán ngô đồng, kiếm hòa quyện vào lá cùng bay.”

Tạ Hồng Trần đứng dậy, Hoàng Nhưỡng nói: “Bởi vì Tông chủ thích hoa lan, nên tôi đã đặc biệt gầy dưỡng một chậu tặng Tông chủ. Tông chủ rất thích nó, đặt ở cạnh bàn sách.”

Nàng từ tốn kể lại tình cảnh của giấc mơ thứ hai, miêu tả mối duyên phận thầy trò vô cùng tỉ mỉ.

Lòng Tạ Hồng Trần chấn kinh muôn phần.

Mà Hoàng Nhưỡng nhẹ cúi đầu với hắn, nói: “Nếu Tông chủ không tin thì có thể thử công pháp của tôi.”

Tạ Hồng Trần nói ngay: “Hà chưởng môn, xin mượn dùng sân luyện công một lát.”

Chuyện nào có đáng gì? Hà Tích Kim c*̃ng hết sức tò mò, đáp: “Mời!”

Ông dẫn hai người đi thẳng vào nội viện. Bên trong đặc biệt mở ra một vùng bằng phẳng chuyên dành cho đệ tử nhập môn tu tập kiếm pháp.

Tạ Hồng Trần dùng tâm kiếm sp chiêu với Hoàng Nhưỡng. Nhưng ăn ý giữa hai người vượt xa dự liệu của hắn.

Hắn có thể tin chắc, Tâm Kiếm của Hoàng Nhưỡng là do chính hắn thân truyền.

Hoàng Nhưỡng không hề khẩn trương, bởi thật sự ra thì nàng cũng không tính là nói dối.

Nàng với Tạ Hồng Trần thật sự có duyên thầy trò trăm năm, hơn nữa quan hệ e là còn thân mật hơn cả hiện giờ Tạ Hồng Trần có thể đoán nổi.

“Tông chủ… Không phải, giờ sư tôn chịu tin rồi ạ?” Hoàng Nhưỡng đổi xưng hô.

Tạ Hồng Trần chỉ thấy biển não hỗn loạn tưng bừng — sao lại thế được?

Hắn nhẹ giọng hỏi: “Trong giấc mơ, cô và ta… chỉ là truyền nghề sao? Đấy là chuyện khi nào?”

Hắn bắt đầu truy cứu quãng thời gian và chi tiết, Hoàng Nhưỡng c*̃ng sẵn lí do thoái thác: “Từ năm lên tám, từ lúc gặp được Tông chủ ở thôn Tiên Trà lần đầu.”

Hà Tích Kim cùng Khuất Man Anh nhìn nhau, trong mắt cả hai đầy hoang mang.

Tạ Hồng Trần hỏi: “Thế sao bao năm qua, cô chưa hề nhắc đến với ta?”

Hoàng Nhưỡng nói: “Bởi tôi tự biết rằng, dù có nhắc đến, Tạ Tông chủ cũng sẽ nghi ngờ đủ kiểu tra hỏi đủ câu, không phải sao?”

Tạ Hồng Trần im lặng.

Hoàng Nhưỡng nói: “Thật không ngờ rằng may mắn được Tông chủ truyền dạy trong mơ, ngược lại đã cứu tôi một lần. Nhưỡng bái tạ Tông chủ.”

Qua hồi lâu, Tạ Hồng Trần mới nói: “Vậy thì… sao trước đây cô lại từ chối lời ta cầu thân chứ?”

Đây quả thực không giống như một câu đến từ cửa miệng hắn.

Giọng hắn yếu ớt dần, lại nói tiếp: “Nếu đã truyền dạy trăm năm trong mơ, quan hệ hai ta hẳn phải càng gần gũi, không phải sao?”

Hắn nói vậy, thật làm vợ chồng Hà Tích Kim lộ vẻ xấu hổ.

Hoàng Nhưỡng suy tư một lát, nói: “Nhưng đương khi tôi dần lớn lên, tôi hiểu thứ tôi muốn tìm là một bạn lữ cùng nhau yêu thương, chứ không phải một người đàn ông có thân phận tôn quý.” Nàng nhìn Tạ Hồng Trần, dịu dàng cười với hắn: “Hai người ấy khác nhau.”

Tạ Hồng Trần rơi vào trầm tư, Hoàng Nhưỡng tiếp lời: “Nếu Tạ Tông chủ có thể tin tôi, vậy thì tôi còn một việc muốn nói cho Tông chủ. Có điều… phải chờ tới sau khi tôi kết hôn đã.”

“Bây giờ cô có thể nói đi.” Tạ Hồng Trần nói.

Hoàng Nhưỡng cười nói: “Hiện giờ thì không được, phải sau khi kết hôn.”

“Vậy thì, Bổn Tông chủ sẽ chờ đến lúc cô nương đã kết hôn.” Tạ Hồng Trần ngẩng nhìn Hoàng Nhưỡng. Đón lấy ánh mắt hắn là nụ cười hiền hòa ấm áp của Hoàng Nhưỡng.

Ngay khoảnh khắc này, thậm chí Tạ Hồng Trần đã nghĩ, nếu như hắn c*̃ng giống Đệ Nhất Thu, mở miệng cầu xin. Liệu Hoàng Nhưỡng sẽ đổi chủ ý chăng, c*̃ng kéo dài hôn kỳ, đợi thêm một thời gian?

Thế nhưng hắn không.

Hắn và Đệ Nhất Thu, cơ bản là không giống nhau.

Nửa tháng sau, Giám Chính Đệ Nhất Thu cùng Ti Học đại nhân Hoàng Nhưỡng thành thân.

Triều đình rất coi trọng cuộc hôn nhân này, đội ngũ nghi trượng đã đến Như Ý Kiếm tông xa xôi, ngàn dặm đón dâu.

Đến cả Hộ bộ luôn móc mỉa cũng cắn răng đến chảy máu, chuẩn bị rất nhiều kẹo mừng, tiền mừng, rải đầy dọc bên đường.

Hơn nửa đêm, Hoàng Nhưỡng bị Khuất Man Anh lôi dậy, rửa mặt trang điểm.

Hoàng Quân lôi đồ cưới của Hoàng Nhưỡng ra kiểm đi kiểm lại. Hà Túy và Hà Tích Kim sáng sớm đã ra chào hỏi khách khứa, Hà Đạm thì cứ hết lần này rồi lần khác đi tìm hiểu kiệu hoa đón dâu tới đâu rồi.

Tất cả bận tối mày tối mặt, Như Ý Kiếm tông hỉ đỏ đầy một màu.

Giám Chính đại nhân mặc cát phục ngồi trên lưng ngựa, nghi trượng đi rất chậm, chậm muốn tiêu tan cả trái tim y.

“Cứ vầy thì há không phải đón tân nương tử về phải tới sang năm sao?!” Giám Chính đại nhân oán thán với bà mai bên cạnh.

Bà mai dáng tươi hơn hớn, nói: “Quan tân lang chớ sốt ruột, ra khỏi Thượng Kinh xong tất nhiên sẽ có thể dùng xe ngựa đi đường rồi.” Nói xong, bà lại dùng khăn tay che miệng, “Bà già đây làm nhiều đám cưới vậy rồi mà, lần đầu mới thấy gấp gáp như khỉ vậy á.”

Lúc nói câu này bà đâu ngờ, ngay sau đó bà sẽ còn đụng phải tân nương tử gấp gáp như khỉ đâu.

Nghi trượng ngang qua chỗ đông người thổi sáo đánh trống, náo náo nhiệt nhiệt. Qua khỏi phố xá sầm uất, quả nhiên lên xe ngựa luôn, đi nhanh cả chặng đường.

Cứ thế xuyên châu qua quận, rốt cuộc đã vào đến Như Ý Kiếm tông.

Giám Chính đại nhân ngẩng lên, lúc nhìn thấy chuôi bảo kiếm chống trời, tim vẫn còn đang run!

Cuối cùng đã chờ đến hôm nay.

Vậy mà giờ này, cổng lớn của Như Ý Kiếm tông lại đóng chặt, hai ông anh vợ cộng thêm cả Hoàng Quân nữa cản ở cửa, cũng không mời y đi vào.

Hà Túy nói: “Muội phu tương lai à, biết luật lệ đón dâu chứ hả?”

Giám Chính đại nhân nhíu mày: “Luật gì nhỉ?”

Hà Tích Kim Khuất Man Anh mỉm cười đứng nhìn, dù sao thì cũng là ngày đại hỉ, cho phép bọn nhóc quậy.

Hà Túy nói: “Chỗ phu lang mà muội muội ta gả về chắc chắn phải là người tài hoa uyên bác rồi. Ta chỉ cần kiểm tra cậu tí thôi!”

Giám Chính đại nhân móc pháp bảo ra rồi cất lại, cau mày nói: “Nguyên là bổn tọa đã chuẩn bị hai món pháp bảo Trữ đồ này để tặng. Ai ngờ chỉ cần tài hoa thôi. Thế thì, tới luôn đi!”

Chỉ nghe kẹt một tiếng, cửa phủ mở ra.

Anh em Hà Túy, Hà Đạm tranh nhau xông vô: “Tài hoa gì chớ, vốn cũng đâu nhất thiết phải vậy…”

Hai anh em tranh nhau đoạt pháp bảo trong tay y, c*̃ng không quên kín đáo đưa một cái cho Hoàng Quân, sau đó vì thế mà bắt đầu nhiệt tình chỉ đường.



Giám Chính đại nhân cả một đường có tiền mừng của Hộ bộ phân đất phong hầu mở đường, thuận thuận lợi lợi tiến vào phủ viện.

Hoàng Nhưỡng được đỡ đến trước mặt vợ chồng Hà Tích Kim, Khuất Man Anh, hai người đều vô cùng xúc động.

“Lúc đến đây mới bao lớn chứ…” Khuất Man Anh kéo tay Hoàng Nhưỡng, mãi mới nói: “Kết hôn xong đã là người lớn rồi. Phải yêu quý chồng, kế thừa việc quản gia, không thể nghịch ngợm gây sự nữa đấy.”

Nhưng thật ra, Hoàng Nhưỡng đã là lần thứ ba khoác lên áo cưới.

Lần đầu xuất giá, Tức Âm đã chết, Hoàng Thự thì chỉ thấy sính lễ Ngọc Hồ Tiên Tông và vinh quang khi con gái gả vào vọng tộc đầy mắt, lấy đâu ra nửa câu dặn dò?

Lần thứ hai, nàng biết rõ là cảnh giả, tất nhiên không hề xem là thật.

Chỉ duy nhất lần này, nàng về trong vòng tay Khuất Man Anh, có một loại cảm giác muốn rơi lệ.

Ở bên cạnh, Hà Tích Kim nói: “Nếu, nếu nếu có gì ấm, ấm ức. Mà muốn về, về nhà. Con, con con còn có phụ, phụ huynh, tự, tự tự làm, làm làm chủ cho, cho con!”

Hai tay Hoàng Nhưỡng ôm chặt của hai vợ chồng, hồi lâu mới nghẹn ngào nói: ” Nhưỡng biết rồi ạ.”

Khuất Man Anh vỗ về tay nàng, nói: “Mẹ con không đến, nhưng Nhưỡng này, là cô ấy không muốn gây thêm phiền phức cho con. Đừng ghi hận cô ấy.”

Hoàng Nhưỡng lắc đầu, thế sự từ đầu đâu còn có hận thù gì.

“Đi, xuất giá đi!” Khuất Man Anh dắt nàng, chậm rãi bước ra cánh cửa.

Đệ Nhất Thu đứng ngay cổng, nhìn người kia một thân áo cưới rực đỏ, như một vầng mặt trời, đi về phía y. Y chậm rãi giang hai tay, giống như đang ôm lấy mặt trời thuộc về riêng mình.

Hoàng Nhưỡng được Đệ Nhất Thu dẫn dắt, rốt cuộc bước lên kiệu hoa.

Hỉ nương lại phát một đợt tiền mừng, cuối cùng trong tiếng pháo nổ đinh tai nhức óc, kiệu hoa được nâng lên, đội nghi trượng thổi sáo đánh trống, quay về Thượng Kinh.

Hoàng Nhưỡng ngồi trong kiệu, lặng lẽ nhấc một góc khăn cô dâu, lén nhìn ra ngoài.

Đệ Nhất Thu ngồi trên ngựa, chỉ lờ mờ thấy được một bóng lưng thẳng thớm.

Nàng như ngậm một viên đường, vui khôn xiết.

Đệ Nhất Thu, hôm nay cuối cùng bà đây cũng lấy được chàng rồi!

Triều đình như cố ý vì khoe khoang, buổi đón dâu ngang qua đặc biệt nhiều thành trấn.

Pháo cả đường cùng vang, kẹo mừng ném vung, khắp chốn cùng chung vui.

Giám Chính thúc giục mấy lần, hỉ nương che miệng nói: “Ui chao Giám Chính yên tâm, tân nương tử ấy, không chạy được đâu.”

Đúng lúc này, màn kiệu hoa bị nhấc lên một góc, tân nương tử nhỏ giọng thầm thì: “Ta tuy chạy không được, nhưng ta c*̃ng chờ không kịp nha!”

Không ngờ đám trong đội nghi trượng cũng có chút tu vi, cả đám nghe rõ ràng. Bên ngoài cười vang.

Hỉ nương vội vàng chạy lại, cười nghiêng ngả, bà ép thả màn xuống: “Ui chào, tân nương tử mau mau chớ nói nữa!”

Sau ba ngày, cuối cùng kiệu hoa vào tới Thượng Kinh.

Bá tánh đều biết đây là đám cưới của Đệ Tam Mộng và Giám Chính đại nhân, dân chúng vây xem chật ních hai bên phố.

Nghi trượng che chở kiệu hoa, một đường thổi sáo đánh trống tiến vào nội thành, vào Ti Thiên giám, trực tiếp đưa tân nương vào… quan xá của Giám Chính đại nhân.

Nói cho cùng, đến hỉ nương còn thấy chỗ này thật sự là quá đơn sơ.

Căn phòng động phòng nhỏ hẹp này phối hợp với cuộc hôn nhân hoành tráng thế kia, thật đúng là một cái bô xí viền vàng mà.

Đương nhiên, c*̃ng đâu ai dám nói.

Dù sao thì tân lang tân nương đều không ngại, mấy bà hơi đâu mà già mồm?

Mọi người theo lễ giúp hai người uống rượu hợp cẩn.

Giám Chính đại nhân ra ngoài xã giao khách khứa bạn bè.

Hoàng Nhưỡng ngồi bên mép giường, tiện tay sờ trong màn hồng một hạt đậu phộng, không kìm được bóc vỏ, ném vào trong miệng.

Hôm nay thành thân, không biết thu được bi nhiêu tiền lễ nhỉ.

Hẳn Tạ Hồng Trần cũng đến nhỉ?

Hồi trước hắn cho mình bi nhiêu sính kim ta?

Hoàng Nhưỡng nghĩ mãi mà chẳng ra con số cụ thể. Nói cho cùng, tiền lúc ấy c*̃ng chưa đến túi nàng đã bị Hoàng Thự lấy đi.

Nàng đợi trọn vẹn một canh giờ, cuối cùng Giám Chính đại nhân cũng trốn về động phòng.

Tiếng khách khứa cười vang bên ngoài có thể nghe rõ, Giám Chính đến thể diện cũng không thèm, quay người khép cửa phòng lại!

Tim Hoàng Nhưỡng đập thình thịch, dưới ánh nến đỏ nhảy múa, rốt cuộc sắc mặt nàng cũng ửng đỏ.

Nàng đổi hướng ngồi, chìa lưng sang Giám Chính đại nhân.

Giám Chính đại nhân tìm khăn tay, lau hai tay sạch sẽ xong mới nắm vai nàng xoay người nàng lại. Y nhẹ nhàng gỡ khăn cô dâu của Hoàng Nhưỡng, dưới ánh đèn mỹ nhân như ngọc, rung động lòng người.

Cuống họng Giám Chính đại nhân khẽ nhúc nhích, một ánh liếc nhìn ngưng đọng này, đủ để khắc ghi ngàn đời suốt kiếp.

“Ta…” Y nghĩ mãi, nghĩ chẳng ra từ gì hay ho, đành nói: “Phu nhân, chúng ta ngủ đi.”

Trực tiếp quá rồi! Hoàng Nhưỡng e thẹn hết xiết, Giám Chính ôm nàng, thấy hương thơm đầy cõi lòng.

Khoảnh khắc này, cứ như máu huyết y đã thức tỉnh, ý say thần mê hôn vành tai như ngọc trắng của nàng.

Khuôn mặt Hoàng Nhưỡng đỏ như nắng chiều, đấm nhẹ y, hỏi: “Hôm nay chúng ta thu được bao nhiêu tiền mừng thế?”

Đôi tay Giám Chính không rảnh, đang hấp tấp c** đ* giúp phu nhân, nói: “Không biết.” Y lại thơm nhẹ lên môi Hoàng Nhưỡng một cái, nói, “Mai rồi đếm.”

Đúng lúc này, sát vách có người nhỏ giọng nói: “Bạc trắng tám mươi chín vạn lượng, còn đồ cổ, tranh chữ khác thì vô số.”

“…” Hoàng Nhưỡng và Giám Chính cùng tái mặt!

Ơ này, ơ này…

Mãi, Hoàng Nhưỡng mới ra khẩu hình, hỏi: “Tông Tử Phức?”

Giám Chính gật đầu — hắn ta phụ trách ghi danh lại tiền mừng.

Mịa nó, ông thật đúng là xứng chức đó!

Rốt cuộc Hoàng Nhưỡng đã biết ở sát vách quan xá của Đệ Nhất Thu là ai ở.

Hai người nhìn nhau, Giám Chính đại nhân lại muốn ôm nàng vào lòng, ai dè bị đôi bàn tay trắng như phấn đập về.

— Hoàng Nhưỡng xem như có thủ đoạn thế nào nữa, điều kiện này c*̃ng không cho phép mà!

Mua nhà! Mai mua nhà ngay!

Nếu không tía má nó chứ, ban đêm kể chuyện cười, hai vợ chồng còn chưa kịp cười, sát vách đã cười trước rồi!

Thật… thật là bảo người ta làm sao dám nhìn ai chứ! Hai người hận ghê gớm!
 
Không Tỉnh
Chương 102


Đêm động phòng hoa chúc, Giám Chính và Ti Học phát hiện vách tường còn mỏng hơn cả giấy.

Hai người vừa bực mình vừa buồn cười, mà rốt cuộc cũng chẳng thể làm gì, lòng ngứa ngáy một đêm.

Hôm sau, Giám Chính trang điểm giúp phu nhân, hai người cùng vào cung tạ ơn.

Trong giấc chiêm bao này, đây là lần đầu Hoàng Nhưỡng tiến cung.

Nàng đi theo Đệ Nhất Thu, thẳng qua cung đạo quen thuộc. Tự dưng nhớ đến giấc mơ trước, Đệ Nhất Thu bị trúng độc Hủy Xà, đúng là ở chỗ này phát cuồng chạy gấp.

Chuyện xưa rõ mồn một trước mắt, nàng không khỏi nắm chặt tay Đệ Nhất Thu.

Trước Tháp Viên Dung.

Hoàng Nhưỡng nhìn quanh tòa tháp cao chính tầng, mãi lâu, đột nhiên hỏi: “Tháp này xây dựng vào lúc nào thế?”

Đệ Nhất Thu đáp: “Rất lâu rồi, trước khi ta sinh ra đã có.”

Hoàng Nhưỡng ồ lên, từ lần đầu tiên gặp Sư Vấn Ngư, nghe ra giọng lão, Hoàng Nhưỡng đã âm thầm suy đoán nhiều lần.

— Ông ta là ai, sao có thể ban thưởng trà châm trong suốt dẫn mình vào mộng kia?

Hai người đợi ngoài tháp, Phúc công công vào thông bẩm, chỉ chốc lát nói luôn: “Giám Chính, Ti Học, mời hai vị đại nhân theo lão nô.”

Hoàng Nhưỡng đi theo Đệ Nhất Thu, chậm rãi bước vào tháp.

Nhiệt độ trong tháp dễ chịu, trên tường vẽ đầy bích hoạ các loại.

Hai người lên thẳng tầng thứ chín, Phúc công công ra hiệu cả hai quỳ đợi.

Hoàng Nhưỡng đành cùng Đệ Nhất Thu quỳ gối ngoài bức màn. Cách một lớp màn tơ mờ ảo, chỉ thấy bên trong khói thuốc lượn lờ. Tựa như Sư Vấn Ngư đang đọc một bản kinh thư.

Chờ mãi đến khi giọng hắn như dừng lại, Phúc công công mới nói: “Bệ hạ, Giám Chính và Ti Học đại nhân đến đây tạ ơn.”

Sư Vấn Ngư cất quyển kinh, nói: “Vào đi.”

Phúc công công vén rèm, Đệ Nhất Thu dẫn Hoàng Nhưỡng vào, hai người tham bái lần nữa.

Sư Vấn Ngư vẫn một bộ đạo bào trắng đen xen kẽ, tóc vấn thành búi, nhìn qua rất giống một tiên sĩ của đạo môn.

“Ti Thiên giám đã thấy quen thuộc chưa?” Lão thuận miệng hỏi.

Này càng khiến Hoàng Nhưỡng vô cùng vững tin, người mình thấy dưới tháp, đúng là ông ta.

Đệ Nhất Thu nói: “Nếu bệ hạ hỏi vi thần, tất nhiên đã quen. Nếu hỏi vợ thần, thì đổi lại có vất vả chút.”

Sư Vấn Ngư khẽ cười, nói: “Xem kìa, vừa thành thân đã học cách bao che khuyết điểm rồi.” Lão điềm nhiên như không, Hoàng Nhưỡng đương nhiên tò mò — ông ta có ký ức không nhỉ?

“Hạ thần không khổ, có điều đêm về nhiều mộng, thường xuyên hoảng hốt, thậm chí khó phân thật giả.” Lời nàng có hàm ý.

Đệ Nhất Thu không hiểu, Sư Vấn Ngư lại nói: “Có mơ cũng tốt, người trẻ tuổi đều thích mơ mộng. Còn nữa, nếu là giấc mơ đẹp thì sao phải phân thật giả chứ?”

Xem ra, ông ta biết thật.

Hoàng Nhưỡng càng hiếu kì trong lòng, song nàng không dám vọng động.

Việc này quả là ly kỳ, nếu nàng nói thẳng ra, Đệ Nhất Thu sẽ tin chăng?

Nếu Đệ Nhất Thu không tin, mình chứng minh thế nào đây?

Lòng Hoàng Nhưỡng rối rắm, Sư Vấn Ngư lại nói: “Đã tạ ân xong, vậy về sớm đi.” Nói xong, lão còn bồi thêm một câu, “Mua nhà đi.”



Hoàng đế này, cứ như chân không bước ra khỏi tháp, mà biết cả mọi chuyện.

Hoàng Nhưỡng đi theo Đệ Nhất Thu, như chạy trốn đi ra khỏi tòa tháp.

Mãi đến khi nhìn thấy bầu trời bên ngoài, nàng mới thở một hơi dài.

Đệ Nhất Thu hỏi: “Đêm nàng hay gặp mơ, sao ta không rõ nhỉ?”

Hoàng Nhưỡng kéo cánh tay y, nói: “Mấy chuyện ấy nói sau, ôi đi mua nhà đi! Vừa nghĩ đến việc chúng ta về lại quan xá, da mặt em muốn bốc cháy luôn rồi!”

Mua! Nhà nhất định phải mua!

Giám Chính dẫn theo phu nhân, bắt đầu đi xem trạch viện.

Nội thành có chỗ đình dán thông báo, trên đình dán rất nhiều bản cáo thị mua bán.

“Nhà chúng ta ấy, chắc chắn phải Nam Bắc thông suốt, yên tĩnh tránh người, còn phải ở gần Ti Thiên giám nữa… chỗ đất này tốt đó, nhưng giá ở nội thành cũng đắt quá.” Hoàng Nhưỡng xem từng tờ một, “Căn nhà cổ của em ở ngoại thành kia, giờ đã không còn tác dụng, bù lại có thể bán đổi thành tiền.”

Bỗng Giám Chính chỉ vào một tấm thông báo, thì thầm: “Căn nhà này do chủ nhà nhảy giếng mà chết, gia quyến nguyện bán giá thấp này.”

Hoàng Nhưỡng sáng mắt, hai người nhìn nhau, lúc lâu, trăm miệng một lời: “Đi!”

Đôi này vợ chồng mới cưới đi thẳng đến thành Tây, gần đến nội thành sông Hộ Thành. Sông Hộ Thành thông đường thuỷ vận, thuyền hàng qua lại trên ấy vô cùng náo nhiệt.

Hai người đi theo dọc theo bờ sông. Cái lạnh mùa xuân tháng ba chưa cởi, dương liễu mới chớm xanh. Ánh nắng dìu dịu như vải sa, Hoàng Nhưỡng như muốn treo cả lên người Đệ Nhất Thu.

Giám Chính ôm nhuyễn ngọc ôn hương trong lòng, dĩ nhiên là tình nồng tràn ngập.

Nếu có thể cả đời thế này, đời người còn sợ gì?

Mà đúng lúc này, bỗng nghe tiếng người ồn ào trên thuyền hàng. Hoàng Nhưỡng nghiêng tai nghe ngóng, nghe người trên thuyền nhao nhao hô: “Không ổn rồi, thuyền sắp chìm!”

Tiếng la lớn dần, hai người dừng bước, từ hàng rào đá trắng nhìn lại lòng sông.

Quả nhiên, một con thuyền chở hàng đã ngậm sâu vào nước, thân thuyền dần nghiêng lệch.

Thuyền hàng gần đấy nhìn thấy cũng đành hô: “Nhanh cứu người!”

Thân thuyền nghiêng nửa, thấy sắp lật úp vào dòng sông, người trên thuyền bắt đầu nhảy xuống nước, bơi tới thuyền hàng gần nhất. Chỉ còn chủ thuyền và chủ buôn hàng khóc trời đập đất, không chịu nhảy thuyền giữ mạng.

Giám Chính đại nhân buông tay Hoàng Nhưỡng, nói: “Chờ ta ở đây.”

Hoàng Nhưỡng ngạc nhiên: “Chàng còn sửa thuyền sao?”

Hỏi câu ngu xuẩn gì thế? Giám Chính đại nhân quay lại nhìn nàng, thật lâu, búng nhẹ vào cái đầu dưa của nàng.

Hoàng Nhưỡng thấy y vượt xuống dưới đê, dùng một sợi dây thòng lọng chụp lấy cột buồm chiếc thuyền đang đắm trong lòng sông.

Sau đó, Giám Chính đại nhân thân nhẹ như yến, đạp trên dây thừng, thẳng vào thuyền đắm.

Hoàng Nhưỡng ngắm nhìn sắc tím lên tới boong tàu, không biết y nói gì, giọng chủ thuyền và chủ buôn hàng nhỏ dần.

Sau đó, y tự vào khonang thuyền. Người chung quanh bàn tán ầm ĩ, vẫn nên bảo toàn tính mạng cho chủ hàng và chủ thuyền trước. Mãi đến khi có kẻ hô: “Lo lắng vớ vẩn cái gì, vị vừa nãy là Giám Chính đại nhân Ti Thiên giám đấy!”

Nghe thấy, âm thanh chung quanh ngừng bặt.

Thậm chí thuyền chung quanh còn xôn xao định neo thuyền, tất cả lên boong thuyền, nhướng cổ nhìn qua thuyền đắm.

Chừng hai khắc, thân thuyền hết nghiêng lệch, chủ thuyền hô lớn: “Đám khỉ gió đâu, mau lên thuyền nào! Giám Chính đại nhân đã sửa xong giúp chúng ta rồi!”

Sau chốc lát sau, toàn bộ thủy thủ, thương đội chạy thoát bơi lại về thuyền.

Bóng tím nhạt từ khoang thuyền đi tới, y đứng trên boong tàu, bỗng bấm niệm pháp quyết với pháp bảo Trữ Đồ bên hông, một chiếc thuyền nhỏ xuất hiện trên sông. Y đạp trên thuyền nhỏ, thuận gió cập vào bờ, vẫy tay với Hoàng Nhưỡng đứng sau tường rào.

Hoàng Nhưỡng nhảy xuống đê, bồng bềnh chao liệng, rơi vào lòng thuyền.

Có người hô: “Là Giám Chính và tiên sinh Đệ Tam Mộng tiên sinh ư?”

Tiếng la liên hồi, Đệ Nhất Thu phất tay với đám người, xem như đáp lại. Chung quanh ầm vang, kêu la các loại.

Có người chúc bọn họ sớm sinh quý tử, c*̃ng có kẻ tán dương ơn sâu đức dày của họ.

May mà thuyền Đệ Nhất Thu dưới chân nhẹ xuôi dòng, nhanh chóng tránh khỏi đám người.

Hoàng Nhưỡng trốn vào khoang thuyền, vừa ngó đã thấy quan phục của Đệ Nhất Thu ướt sũng

Nhớ đến chiếc thuyền vừa nãy đúng là chìm đến lợi hại. Nàng kéo Đệ Nhất Thu vào, Giám Chính đại nhân nói: “Hàng hóa của Ti Thiên giám vận chuyển qua lại tấp nập, gần đây ta đang muốn rèn đúc một chiếc bảo thuyền. Tốt nhất là trên có thể ngự gió, dưới có thể xuống nước. Chiếc thuyền này chỉ là hình hài ban đầu.”

Nói xong, y nhìn Hoàng Nhưỡng, hỏi: “Thấy sao?”

Hoàng Nhưỡng nói: “Em nhìn không hiểu.”

Giám Chính đại nhân khẽ cười, Hoàng Nhưỡng lại nói: “Nhưng em thấy nó rất lợi hại.” Nàng xích lại gần Giám Chính, nhéo nhéo vạt áo ướt của y, nói: “Em cảm thấy phu quân nhà em rất lợi hại.”

Giám Chính đại nhân nói: “Phu nhân khiêm nhường rồi.” Nói xong, y lấy pháp bảo Hong khô đồ ra, đang định hong y phục thì Hoàng Nhưỡng nói: “Em từng nằm mơ, thấy được ngủ chung giường với phu quân.”

Giám Chính đại nhân chợt ngừng tay, hỏi ngay: “Rồi sau đó?”

Hoàng Nhưỡng nói: “Em không thể nói, cũng không thể động đậy. Phu quân thường xuyên giúp em thay quần áo, rửa mặt. Còn… tắm rửa giúp em.”

“Có việc đó nữa à?” Giám Chính đại nhân nhíu mày, hỏi: “Sao nàng lại không thể nói, không thể động?”

Đây là điểm chính ư?

Hoàng Nhưỡng thì thầm: “Không biết nữa. Nhưng lúc ấy thật ra thì em vẫn muốn hỏi phu quân, em có trắng không?”

Giám Chính gác pháp bảo Hong khô qua một bên, Hoàng Nhưỡng lại xích lại gần hơn, đôi mắt đẹp hớp hồn. Nàng dẫn người Giám Chính, nhẹ chạm vào vạt áo mình: “Em muốn hỏi phu quân, eo của em có nhỏ nhắn không… Chân có dài không…”

Giám Chính đại nhân dán mắt vào cổ trắng ngần thon dài của nàng, hầu kết khẽ nhúc nhích, y mất cả tiếng: “Thế… ta phải nhìn kỹ xíu.”

Nói xong, y quay lại đóng cửa khoang.

Thuyền nhỏ trôi dạt theo dòng nước, chìm nổi lênh đênh.

Giám Chính đại nhân nghiêm túc, tỉ mỉ nhìn liên tiếp nhiều lần, cuối cùng cũng không thể cho ra một đáp án.

Đầy mắt y, đều là đào nguyên tiên hương. Trong khoảnh khắc, thần hồn giạt trôi, tựa như hòa quyện vào nước, không biết mình đang về đâu.

Còn Hoàng Nhưỡng nghe tiếng nước bên tai, nước chảy róc rách, xuyên qua cuộc đời trăm năm của nàng.

Khoang thuyền lênh đênh trong tầm mắt, bóng lưng chập trùng, như toàn bộ nhiệt liệt nhất cả đời này.

“Đệ Nhất Thu, giấc mơ này, chúng ta đừng thức tỉnh, được không?” Giọng nàng vỡ vụn triền miên.

Mà Đệ Nhất Thu không trả lời, giọng mũi nặng nề, mồ hôi như mưa, cơ bản chả thể nào đáp lại.

Ngọc Hồ Tiên Tông, La Phù điện.

Tạ Linh Bích xếp bằng trên giường, tay nâng một lọ thuốc hít. Từ chiếc lọ chuôi dài, khói đen từng vòng từng vòng dũng mãnh bay ra. Lão hấp thụ cả, một luồng sương đen từ từ bốc lên sau đầu lão, hóa thành hình khô lâu, lộ răng nanh ra ngoài, như muốn xé xác tất thảy có thể chạm vào.

Khô lâu một hóa hai, hai thành ba, giãy giụa trong màn sương đen.

Còn khói đen trong lọ thuốc hít dần dần tiêu hao hết.

Tạ Linh Bích mở choàng mắt, màn sương đen liền biến mất hầu như không còn.

Lão giơ bình ngọc trong tay lên, bỗng đập xuống đất. Chỉ nghe một tiếng choang, ngọc vỡ văng khắp nơi.

Đệ tử ngoài cửa cũng không dám vào bên trong, lão đưa tay lật đổ bàn con trên giường.

“Thật là một cái xác vô dụng!” Lão cúi nhìn cơ thể mình, trong giọng nói đều là vẻ căm ghét!

Trên tường, trong con mắt Thấu Sự đời, Tạ Hồng Trần đang ở bên ngoài ngọn núi.

Căn cốt hắn nhanh nhẹn xinh đẹp, không chỉ ở kiếm thế mà còn ở mỗi giơ tay nhấc chân. Hắn từng bước một, như đạp gió trong, tay áo phát sáng.

Tạ Linh Bích vươn tay, cách con mắt Thấu Sự đời chạm nhẹ đến hắn, hồi lâu mới lẩm bẩm: “Vẫn là ngươi tốt. Vẫn là ngươi tốt. Hồng Trần, vi sư thực sự… cực kỳ thích cơ thể này của ngươi.”

Mà động thế con mắt chấn nhiếp chỗ, Tạ Hồng Trần vừa đi, vừa có tâm sự.

— Hoàng Nhưỡng thành thân.

Cùng con trai của Sư Vấn Ngư.

Thật không ngờ cuộc đời này còn có cô gái cự tuyệt mình. Giờ này nàng ấy đang làm gì?

Nàng nói trong giấc mơ, từng có duyên thầy trò trăm năm với mình, có không nhỉ?

Nếu có thật, thì không thể tưởng tượng nổi. Nếu không, chuyện Tâm Kiếm sao mới phải?

Bước chân hắn như có linh thức, đi thẳng vào điện La Phù. Chưa thông bẩm, đã có tiếng từ bên trong truyền đến: “Vào đi.”

Tạ Hồng Trần cất bước đi vào, ngồi đối diện với Tạ Linh Bích.

Tạ Linh Bích hỏi: “Chuyện Tâm Kiếm của con nha đầu kia, tra thế nào rồi?”

Tạ Hồng Trần nói: “Nàng ấy chỉ nói kỳ ngộ trong mơ, không chịu nói thật.”

“Kỳ ngộ trong mơ!” Tạ Linh Bích hừ lạnh, “Nếu con nhỏ không thể trả lời nguồn gốc công pháp, thừa dịp ăn cắp thượng pháp Tông môn, phải trừng trị!”

“Trừng trị?” Lòng Tạ Hồng Trần chợt chùng xuống.

Tạ Linh Bích cười lạnh: “Không phải sao? Lén học trộm nghệ, lẽ nào Ngọc Hồ Tiên Tông không có tông quy sao?”

“Có.” Tạ Hồng Trần do dự, nói, “Kẻ lén học trộm nghệ, đem phế công thể, loại bỏ linh căn. Khiến vĩnh viễn cả đời không được vào tiên môn nữa.”

“Vậy con còn do dự chuyện gì?” Tạ Linh Bích nói, “Còn không đi mau?!”

Tạ Hồng Trần: “Nhưng nàng hiện giờ dù sao cũng là Ti Học của triều đình. E là Sư Vấn Ngư…”

“Sư Vấn Ngư!” Tạ Linh Bích vừa nghe đến ba chữ này, âm lượng to lên không ít: “Buồn cười! Ngọc Hồ Tiên Tông ta chấp hành tông quy, từ bao giờ phải hỏi hắn?”

Tạ Hồng Trần đành đáp: “Vâng.”
 
Không Tỉnh
Chương 103


Thượng Kinh, nội thành.

Hoàng Nhưỡng và Đệ Nhất Thu biến mất một ngày một đêm — chủ yếu là hơi mất tập trung, thuyền bay xa. E hèm.

Lúc Đệ Nhất Thu giong thuyền nhỏ về lại Thượng Kinh, Hoàng Nhưỡng vẫn còn ngủ lấy sức.

“Nàng cứ ngủ đi, ta đi thành Tây xem nhà.” Đệ Nhất Thu nói.

Hoàng Nhưỡng đang ngủ mơ màng, chẳng nghe thấy y nói gì, qua loa đáp.

Đệ Nhất Thu khẽ vuốt tóc lòa xòa trên trán nàng, nói: “Trong thuyền có kết giới phòng thủ, nàng đừng xuống thuyền nhé, biết chưa?”

Hoàng Nhưỡng ừm, Giám Chính thấy nàng ngủ mê man không nỡ phá giấc, bèn rời thuyền đi.

Đến khi Hoàng Nhưỡng tỉnh lại, ngoài thuyền đã có một người đang chờ.

Nàng mở ra cửa khoang thuyền, mãi mới tin vào mắt mình: “Tạ Tông chủ?”

— ngươi thật đúng là một khắc c*̃ng không muốn chờ thêm vậy!

Tạ Hồng Trần đang ở ngoài thuyền, không biết đã chờ bao lâu. Thấy Hoàng Nhưỡng, hắn hơi nghiêng người sang, nói: “Nhưỡng cô nương cuối cùng đã tỉnh.”

Khụ. Hoàng Nhưỡng bỗng lùi về khoang thuyền, bắt đầu sửa sang tóc tai y phục.

— ở trước mặt phu quân không ra sao còn được, nhưng ở trước mặt chồng trước, dung nhan phải nhất định chỉnh tề được không!

Mãi lâu, nàng mới lại xuất hiện ở khoang thuyền, tiện tay dừng thuyền nhỏ lại.

Tạ Hồng Trần lúc này mới nói: “Ngọc Hồ Tiên Tông có Tông quy, người tự lén học trộm nghệ phải bị phế công thể. E rằng các trưởng lão không chấp nhận cách nói cô học nghệ trong mơ.”

Nghe hắn nói, Hoàng Nhưỡng thầm hiểu rõ.

Nàng nói: “Là Linh Bích lão tổ phái Tông chủ tới, chấp hành Tông quy. Đúng không?”

Tạ Hồng Trần nói: “Sư phụ đúng có ý này. Nhưng… tất nhiên là ta cũng muốn điều tra rõ chân tướng.”

“Tông chủ muốn biết chân tướng, thế thì không còn gì bằng.” Hoàng Nhưỡng xuống thuyền, nói: “Trùng hợp tôi có một chân tướng đây, mong Tạ Tông chủ chóng được biết.”

Ánh mắt Tạ Hồng Trần khẽ chớp, Hoàng Nhưỡng nói một lời kinh người: “Thân thế của Tạ Tông chủ, không phải như lời Linh Bích Lão tổ!”

“Cái gì?” Tạ Hồng Trần muôn vàn không ngờ nàng sẽ nói thế, lập tức nhíu mày.

Hoàng Nhưỡng chặn lời luôn trước khi hắn kịp nói ra miệng: “Tạ Tông chủ nghe tôi nói đã. Theo lời Linh Bích Lão tổ, Tổ tiên họ Tạ nhà ngài ở quận Tử Đồng, tại trời đông giá rét đầu hai trăm ba mươi sáu năm trước đương khi chạy nạn bị cha mẹ vứt ở cổng dưới núi Ngọc Hồ Tiên Tông, đúng không?”

Thân thế của Tạ Hồng Trần không phải là bí mật gì.

Kỳ tài ngút trời như hắn, dù chỉ là một việc tí xíu không quan trọng cũng sẽ nhận mọi sự chú ý.

Thế nên, ngày sinh thần của hắn, thậm chí là cha mẹ, quê quán, sau đều bị điều tra tỉ mỉ.

Tạ Hồng Trần sinh ở quận Tử Đồng, vào một ngày đầu tháng giêng. Tháng Năm năm ấy, quận Tử Đồng gặp họa thủy tai, cha mẹ hắn ôm theo hắn chạy nạn. Đến cuối năm, cha chết bệnh, mẹ thực không thể đủ ăn đành bỏ hắn khi chưa tròn tuổi ở phía dưới núi Ngọc Hồ Tiên Tông.

Lúc ấy đương là mùa đông khắc nghiệt, Tạ Linh Bích đúng lúc gặp được nhặt về, nuôi đến nay.

Mà cha mẹ của hắn, tất nhiên Tông môn cũng đã điều tra.

Đôi vợ chồng kia, nam tên Giải Tỉnh, nữ gọi Phỉ Phương.

Hai người không thoát nạn đói, sau khi Giải Tỉnh chết bệnh, Phỉ Phương từng giặt đồ may vá thuê qua ngày.

Nhưng tuổi thọ người phàm ngắn ngủi, lúc Tạ Hồng Trần còn chưa lộ tài hoa, Phỉ Phương c*̃ng đã bệnh cũ mà chết.

Quận Tử Đồng ấy, vì là quê hương của Tông chủ, đã luôn có phần được chiếu cố.

Trong quận c*̃ng đặc biệt bố trí từ đường cho vợ chồng Giải Tĩnh, bên trong sắp rất nhiều vật xưa cũ năm đó.

Nhìn tất thảy, cũng nào có bất cứ vấn đề gì.

Tạ Hồng Trần nói: “Thì sao? Có chỗ nào khả nghi à?”

Hoàng Nhưỡng nói: “Trong giấc mơ, vì để hiểu Tạ Tông chủ hơn, tôi đã đặc biệt đi quận Tử Đồng một lần.”

Tạ Hồng Trần ngẩn ra, Hoàng Nhưỡng nói: “Rồi tôi phát hiện, hằng năm chuyến sơ si* đệ tử của Ngọc Hồ Tiên Tông là bắt đầu từ tháng Ba. Từ trẻ con vừa ra đời đến thiếu niên mười tám tuổi đều không hề bỏ sót. Quận Tử Đồng cũng giống vậy.”

<i>(*) sàng lọc lần đầu, sơ cấp nhất.</i>

Tạ Hồng Trần thầm giật thót, lập tức hiểu ý nàng: “Ý cô nói, nếu ta sinh vào tháng Giêng xuất sinh, như vậy tháng Ba sẽ từng trải qua khảo thí linh căn của đệ tử Ngọc Hồ Tiên Tông?”

Hoàng Nhưỡng tán thưởng: “Đúng vậy. Với căn cốt tư chất của Tông chủ, không thể nào đến việc được chọn làm đệ tử mà cũng không đạt. Cho nên, nếu xét theo thân thế của Tông chủ, ắt hẳn đã được chọn vào Tiên Tông từ rất sớm, chứ không phải là theo cha mẹ chạy nạn.”

Tạ Hồng Trần trầm ngâm hồi lâu, nói: “Đôi khi bỏ sót, cũng có khả năng.”

Hoàng Nhưỡng nói: “Lúc đầu, tôi cũng nghĩ thế. Nhưng rồi sau đó, trong lúc rảnh rỗi, tôi có giúp chỉnh lý pháp quyển. Pháp quyển về đệ tử sơ si quản lý lỏng lẻo nhất, tôi thấy quyển của quận Tử Đồng, đề cập riêng đến Tông chủ, mới tiện tay lật sách.”

Nàng vô cùng khẳng định: “Tôi có đọc được cái tên Giải Tĩnh trên ấy! Vào năm Tông chủ ra đời, đúng là Ngọc Hồ Tiên Tông có làm đệ tử sơ si với đứa bé. Nhưng nó không đạt!”

“Sao có thể chứ?” Tạ Hồng Trần sửng sốt.

Hoàng Nhưỡng nói: “Lúc ấy tôi cũng muôn phần chấn kinh, thế là tìm một cơ hội, gặp Tông chủ nói.”

“Rồi sao nữa?” Tạ Hồng Trần hỏi.

Hoàng Nhưỡng chán nản: “Vừa mở lời, đã bị Tông chủ khiển trách một đỗi. Tông chủ nói…” Ánh mắt nàng xa xăm, nhớ lại đoạn căn nguyên, “Đây không phải là chuyện cô nên hỏi. Cô thân là vãn bối, sau lưng bàn tán về tôn trưởng, còn không phải là khơi mào ư. Hoàng Thự dạy cô thế sao?”

Nàng học ngữ điệu của Tạ Hồng Trần, giống như đúc.

<i>(*) chỗ trên là lúc xưng hô giữa vợ chồng ngoài đời thật nên đáng lý gọi là nàng nhưng vì HN giấu ko kể rõ cho THT nên mình để là cô cho tiện.</i>

Tạ Hồng Trần ngây ra.

Hoàng Nhưỡng nói tiếp: “Sau đó, cũng không lâu lắm, Linh Bích Lão tổ đột nhiên xông vào chỗ ở của tôi, đích thân thi hình Bàn hồn Định cốt châm với tôi. Tôi đã bị nhốt ở mật thất sâu trong điện La Phù, tối tăm không thấy mặt trời.”

Tạ Hồng Trần chậm rãi lùi một bước, thật lâu không nói.

Hoàng Nhưỡng nói: “Đến giờ tôi cũng không nghĩ ra, là ai mật báo chứ. Tôi luôn cảm thấy, dẫu Tạ Tông chủ không tin, song tóm lại c*̃ng sẽ không nhắc chuyện này với ông ấy.”

Hồi lâu sau Tạ Hồng Trần mới hỏi: “Cô nói, cô từng kiểm tra lại pháp quyển đệ tử sơ si Tử Đồng quận năm đó thật à?”

“Đúng vậy.” Hoàng Nhưỡng nói, “Tôi xác định trên ấy có tên của vợ chồng Giải Tỉnh.”

Nhịp tim Tạ Hồng Trần nhanh dần, hồi lâu mới nói: “Mỗi một quyển Pháp quyển của Ngọc Hồ Tiên Tông đều có thuật Lưu nhớ ảnh. Sẽ ghi chép bất kỳ từng người nào mở ra nó. Nhưng… đệ tử bình thường đều không biết.”

“Ồ…” Hoàng Nhưỡng giật mình, hồi lâu mới bất đắc dĩ cười cười: “Đa tạ đã giải mối nghi ngờ. Vậy cuối cùng tôi cũng hiểu chỗ quỷ rồi.”

Nàng đã hiểu, đổi lại Tạ Hồng Trần thì không.

— nếu thân thế mình là giả, vậy mình là ai? Sao Linh Bích Lão tổ lại dựng lên thân thế của mình?

Hắn đành hỏi: “Ngoài những việc này, cô có thực tế gì chứng minh nữa không?”

Hoàng Nhưỡng không dám nhắc tới nhiều thêm, hiện tại nàng là Ti Học triều đình. Nếu một vị đi công kích Tạ Linh Bích, sợ là Tạ Hồng Trần càng không tin.

Nàng chỉ có thể nói: “Nếu pháp quyển của Ngọc Hồ Tiên Tông có thuật Lưu nhớ ảnh, thì Tạ Tông chủ luôn có cách mở ra mà, phải không?”

Tạ Hồng Trần không nói gì. Phương pháp tất nhiên là hắn có, nhưng nếu như hắn cho là thật đi mở, nghĩa là đối với ân sư mình hắn đã sinh lòng ngờ vực.

Mà hết thảy chuyện này, chỉ vì mấy câu nói của một cô gái.

Hoàng Nhưỡng thấy hắn lặng thinh, đành nói: “Lời tôi nói câu nào cũng là thật, nhưng quả thực không biết làm sao để Tông chủ tin tưởng.”

Nhưng, Tạ Hồng Trần lại đáp: “Ta sẽ nghiệm chứng lời cô.”

Hoàng Nhưỡng ngẩn ra, Tạ Hồng Trần nhìn thẳng nàng, nói: “Ta sẽ nghiệm chứng. Nhưng nếu là giả, ta sẽ lại tới tìm cô, chấp hành tông quy.”

“Ha.” Hoàng Nhưỡng bật cười, “Tôi thật là được thương mà lo.”

“Được thương mà lo?” Tạ Hồng Trần nhíu mày.

“Đúng thế mà.” Hoàng Nhưỡng khẽ nói, “Nếu trước đây Tông chủ c*̃ng ăn nói như vậy, nói chung tôi cũng không đến mức… ngậm hờn nửa đời.”

“Hoàng Nhưỡng,” cuối cùng Tạ Hồng Trần cũng hỏi ra: “Giữa chúng ta đến cùng đã xảy ra chuyện gì vậy?”

Vì sao mới quen đã thân? Vì sao tâm tâm niệm niệm? Vì sao chỉ vỏn vẹn mấy câu, đã dao động tâm trí ta?

Hoàng Nhưỡng cười nói: “Thoảng qua như mây khói thôi. Tôi đợi hồi âm của Tông chủ.”

Nói xong, nàng lại duỗi dài lưng mỏi, nói: “Chậm thêm chút nữa, e là phu quân tôi sắp về. Chàng ấy à, xưa nay chua ngoa hẹp hòi, Tông chủ không muốn gặp chàng đâu nhỉ.”

Nàng xưng người kia, là “Phu quân”.

Hai chữ này, như hai mũi gai nhọn.

Tạ Hồng Trần quay đi.

Thành Tây, Đệ Nhất Thu bước vào căn trạch viện.

Căn nhà rất không tệ, vào cổng gặp bức bình phong xây ở cổng, đi tiếp vào trong là một căn Tứ hợp viện tinh xảo. Trong viện sương phòng đầy đủ, đình đài chen nhau. Phía sau nữa, còn có cả hậu viện.

Hậu viện không hề được chăm sóc, mọc chút cỏ dại.

Chủ hộ là một quản sự, đi theo y giải thích mãi, nói: “Chỗ này trống trải, đại nhân chỉ cần chăm sóc lại chút, là chỗ ngồi đẹp rồi.”

Giám Chính đại nhân nhìn quanh tả hữu, đã nghĩ luôn đến rất nhiều phương pháp làm cho phu nhân vui vẻ.

Y ừm đáp, lại tiếp tục nhìn ra chỗ khuất, trong ấy có vết tích chôn lấp. Y hỏi: “Ấy là cái giếng đó đó hả?”

Quản sự lau mồ hôi rịn ra trán, nói: “Không dối đại nhân, chính phải. Sau khi lão gia xảy ra chuyện, mọi người cảm thấy không may mắn cát, mới lấp giếng.”

Thấy hắn ăn nói ngay thật, Đệ Nhất Thu thuận miệng hỏi: “Xem đình viện vầy vốn cũng của nhà giàu trong kinh. Sao lão gia ông lại nhảy giếng thế?”

Quản sự thở dài, nói: “Đại nhân nói vậy, đúng ngay chuyện thương tâm. Lão gia nhà ta, thật sự là phú hộ trong kinh. Vốn dĩ kinh doanh chút ít vải vóc, đồ sứ, cũng thịnh thịnh vượng vượng. Song dưới gối lão gia vẫn trống, mãi đến bốn mươi chín tuổi trời mới ban cho một đứa con trai. Người trong nhà yêu như trân bảo, nâng trong tay sợ bay, ngậm trong miệng sợ tan.”

Đệ Nhất Thu nhíu mày: “Cho nên?”

Quản sự nói: “Nhưng ai ngờ, tiểu thiếu gia vừa qua sinh nhật tuổi thứ ba, đã không thấy.”

“Mấy đứa nhóc lạc đường cũng khác phổ biến.” Đệ Nhất Thu lơ đễnh.

Quản sự nói: “Đại nhân nói đúng. Nhưng cậu chủ nhà ta vốn chưa từng rời người. Đêm đấy cậu bé ngủ trong phòng, bà vú trông coi ngay bên cạnh. Kết quả đến chừng bà vú tỉnh dậy lại không thấy tăm hơi cậu bé. Đại nhân không biết chứ, bà vú biết cậu chủ là bảo bối cưng của cả nhà, bình thường rất tỉnh táo. Xem như chỉ ngủ trong giây lát…”

Hắn lắc đầu, thở dài: “Cả nhà tìm khắp nơi cả, hai năm qua đi, vẫn sống không thấy người, chết không thấy xác. Lão gia nhà ta… nhớ nhung thành bệnh. Ông bảo cậu chủ ở trong giếng, ta mới phái người tát cạn cả giếng, nào có bóng người? Sau đó, lão gia nhà ta phát cuồng, cuối cùng nhảy giếng mà chết.”

Đệ Nhất Thu hỏi: “Không đi báo quan sao?”

Quản sự nói: “Sao không báo chứ? Lão gia nhà ta đổ không biết bao nhiêu bạc, nhưng hoàn toàn không chút tin tức. Cậu chủ nhà ta, bình thường trắng tròn đáng yêu, hoạt bát lanh lợi. Giống như tan biến vào hư vô. Ngài nói xem… ôi, cửa nát nhà tan mà.”

Đệ Nhất Thu theo hắn đi vào căn vườn, trong lòng thực sinh nghi.

Nội thành Thượng Kinh được đi tuần sâm nghiêm.

Sao lại xuất hiện việc này?

Y nói: “Một đứa trẻ ba tuổi đi chẳng được bao xa, trong nhà đã đi tìm cả rồi?”

Quản sự đã thôi không ôm hy vọng về chuyện này từ lâu, nói: “Đừng nói căn nhà này, toàn bộ nội thành cũng đã đào sâu ba thước, mỗi một chỗ đều tìm cả. Đáng thương cho lão gia nhà ta, gần như là tiêu tan hết cả gia tài. Sau khi ông ấy chết, người nhà ai đi thì đi, chia lìa cả. Chỉ còn căn nhà này, nhưng cũng vì tin đồn rầm rộ mà chả bán được mấy đồng.”

Đệ Nhất Thu gật đầu, nói: “Viết khế sách rồi, tự đi Ti Thiên giám lĩnh tiền đi.”

Quản sự cả kinh: “Đại nhân không hề mang bạc ư?”

Giám Chính thản nhiên đáp: “Hôm qua bổn toạ mới lấy vợ.” Thấy quản sự vẫn nghệch mặt, y bồi thêm một câu, “Trong nhà vợ giữ tiền.”

Quản sự hiểu ngay.

Đợi viết khế sách xong, trong lòng Giám Chính vẫn thủy chung đeo lấy chuyện này.

Y ở trong căn trạch viện, tới tới lui lui mấy lần.

Trong nhà có ngựa gỗ, xích đu, thang trượt vân vân mà tụi nhóc con thích chơi nhất.

Sương phòng vẫn còn giữ vẻ chốn trẻ nít, trong đó còn có trống bỏi bác sóng, hổ vải đồ chơi dù đã xám vì bám bụi, song có thể thấy rõ ràng.

Đứa bé ấy đi đâu nhỉ?

Ti Thiên giám.

Hoàng Nhưỡng vừa quay về, thì gặp quản sự đến lĩnh tiền. Hoàng Nhưỡng xem khế sách, trên đó viết hai trăm lượng bạc trắng.

Mức giá này ở nội thành kinh thành lại còn là một tòa trạch viện như vậy, thật sự là tìm không ra căn thứ hai.

Hoàng Nhưỡng mừng khấp khởi trả tiền, Tông Tề Quang ở bên cạnh ngó lướt qua, do dự nói: “Ti Học, là căn nhà có ma đó.”

“Đi đi đi, không phải nhà có ma thì ta đâu có mua chứ.” Hoàng Nhưỡng phất tay đuổi người đi.

Sa Nhược n kế bên cười nói: “Giám Chính với Ti Học tiết kiệm vậy, sao không ở quan xá luôn đi? Một lượng bạc cũng không cần tốn.”

Hoàng Nhưỡng bị giẫm trúng chỗ đau, không khỏi trợn mắt: “Cậu thì biết cái gì? Nhóc khắm thối!”

Đúng lúc này, trùng hợp Tông Tử Phức đi ngang qua.

Hoàng Nhưỡng mới thấy ông, mặt muốn bốc cháy luôn. Còn ông vẫn cứ thản nhiên —— nói thiệt, lão già này còn tính là phúc hậu. Nếu còn chờ đến sau khi hai người động phòng mới lên tiếng, Hoàng Nhưỡng không phải xấu hổ muốn chết ư.

Ông lướt qua văn khế, cũng nói: “Các người thật sự lmua căn nhà ư.”

Hoàng Nhưỡng bất ngờ: “Sao Tông Thiếu giám cũng biết?”

Tông Tử Phức nói: “Là căn hung trạch nổi tiếng ở Thượng Kinh, Tề lão gia đó, nhắc tới cũng xem như là một thương nhân có tiếng trong kinh thành.” Ông lắc đầu, “Con bị lạc mất tử, sinh ra mất hồn, không còn lòng dạ nào kiếm sống, cuối cùng nhảy giếng mà chết. Thật sự là, thế sự vô thường.”

Hoàng Nhưỡng nhìn khế sách trên tay lần nữa — căn nhà này, không bị quỷ quậy thật đấy chứ?!
 
Không Tỉnh
Chương 104


Từ không trung nhìn xuống, địa thế nơi này với chân núi trải dài liên miên ra hai bên, lưng núi ở chính giữa cao ngất, tựa như một cánh chim loan đang giương cánh bay lượn, nên mới có tên gọi như thế. Loan Đạo, bắt đầu từ chỗ “đầu chim” kéo dài ra phương Bắc là một con đường thông tự nhiên dài tới mấy chục dặm. Trước đây, nơi Tả Xương Vương từng đóng giữ là một tòa phương bảo ngay vị trí “đầu chim”, tường thành được xây dựa lưng vào núi, có cửa có ngõ, trấn giữ Nam Bắc.

Phía đối diện, binh Địch với số lượng lớn nhanh chóng không ngừng ào tới, song lại bị ngăn cản ở đầu Loan Đạo. Người ngựa càng tụ càng nhiều. Ngựa hí cuồng, binh Địch giận mắng, bụi đất tung bay mờ mắt, tiếng giết rung trời.

Đối lập rõ ràng với cảnh tượng đó, tướng sĩ quân Ngụy sau lỗ châu mai ban đầu tập trung bất động, mãi đến khi quân địch dần dần tiến vào tầm bắn cung, viên quan chỉ lệnh phát lệnh đột ngột, tiễn trận cùng phát, vút vút bắn đến đối diện, vượt qua rào cản tấm chắn của mấy hàng quân Địch trước nhất, không chịu nổi trận mưa tên dày đặc, chúng thử phóng ra mấy lần xông tới, người ngã ngựa đổ, bị ép lui lại, mà tiếng mắng chửi càng sâu.

Một lá Vương kỳ hoa lệ cao tới mấy trượng cực kỳ dễ thấy từ sau cuốn tới. Dưới cờ, Sí Thư xuất hiện giữa đám kỵ binh mặc giáp chen chúc. Mặt gã lộ vẻ giận dữ, nghiêm nghị quát: “Khương Hàm Nguyên, kẻ chủ mưu ám sát ta hôm tế thiên quả nhiên là ngươi! Ả đàn bà quỷ kế đa đoan! Nếu thật sự có bản lãnh, thì ra đây! Đánh! Ta cho ngươi biết, đừng tưởng cứ dựa vào chỗ này là có thể chiến thắng! Mau mau đầu hàng, thì may ra ngươi còn đường sống, nếu không, đến lúc phá trận rồi thì chớ trách ta không cho ngươi cơ hội!”

Khương Hàm Nguyên lạnh lùng nhìn khuôn mặt gã cuồng nộ, lù lù bất động.

Tiếng mắng chửi và giáp kỵ của quân địch theo gã cùng đến, nhanh chóng biến thành tiếng gào thét cuồng nhiệt.

Vô số binh Địch giơ mã đao trong tay, cùng hò hét: “g**t ch*t người Ngụy! g**t ch*t người Ngụy!” Tiếng gào như sấm, ập tới trận địa đối diện, chui vào trong tai mỗi người.

Khương Hàm Nguyên quay sang Thôi Lâu đứng bên cạnh, khẽ gật đầu.

Thôi Lâu giương cung, phát một mũi tên về phía đối diện.

Mũi tên xé gió, ôm theo tiếng rít trầm thấp mà bén nhọn, bắn thẳng đến Sí Thư. Mười mấy thân vệ lập tức nâng bia, khép quanh người gã, định lập thành bức tường chắn bảo vệ gã phía sau.

Sí Thư hét lớn tránh ra, người không những không lùi mà ngược lại còn ruổi ngựa ra phía trước, rút mã đao gác trước người, đợi kình tiễn đang phóng đến mình.

Không ngờ mục tiêu của mũi tên cũng không phải là gã.

“Vút”, nó vượt qua tên không trung cách đỉnh đầu gã mấy thước, xuyên thủng cột cắm Vương kỳ phía sau gã.

Cột cờ kẽo kèn kẹt rồi gãy.

Cùng với lá Vương kỳ từ không trung chao đảo rơi xuống, tiếng trống reo hò của Địch doanh dần biến mất, còn quân Ngụy đột nhiên ầm vang tiếng ủng hộ. m thanh ấy từng cơn tiếp từng cơn, cơn sau cao hơn trước, rồi, như sóng lớn miên man trong biển rộng, với thế không thể ngăn chặn, chèn ép hoàn toàn âm thanh từ đối diện.

Ánh mắt Khương Hàm Nguyên vượt qua địch thủ, nhìn đám binh Địch cầm đao như rừng đầy khắp núi đồi, từ tốn nắm chặt trường thương trong tay, cảm thụ sát khí mãnh liệt như đang rung động ầm ầm muốn hóa rồng bay lên trời của nó.

Cô biết, lại có một trận chém giết đến. Máu trong người cô đang chậm rãi sôi trào, trong lồng ngực cô như có đống lửa thiêu đốt.

Cô đã chuẩn bị sẵn sàng. Chờ đợi, chính là thời khắc này.

Nửa tháng sau, Trường An thu được chiến báo liên quan tới trận chiến ở Loan Đạo.

Bắc Hoàng Sí Thư ngự giá thân chinh, dẫn tinh binh mạnh mẽ tấn công mấy ngày, lại không tiến lên được nửa bước.

Cùng lúc đó, Triệu Phác lĩnh quân tiến vào U Châu, Chu Khánh và tướng sĩ tám Bộ chờ đã lâu nhận được chỉ lệnh, vượt qua sông Lộ. Hai tuyến đại quân từ hai hướng Đông Tây đồng thời tiến công quận Yến.

Sau khi Sí Thư rời quận Yến, ở đấy được Khâm Long mãnh tướng đệ nhất Bắc Địch trấn giữ. Binh Địch còn lại dưới tay gã ở quận Yến quận bấy giờ, cộng thêm số lượng mà Tấn đế xuất ra, xem như cục diện tạm thời ngang hàng.

Cuộc đại chiến toàn diện vậy là bộc phát. Đây cũng là thời điểm mấu chốt quyết định kết quả cuối cùng của cuộc chiến.

Từ cái ngày Nhiếp Chính Vương chém chết Cao Chúc trên triều, toàn bộ triều đình đã hoàn toàn yên tĩnh trở lại.

Ngoại trừ trường hợp cần thiết, đa số quãng thời gian còn lại Thiếu đế cực kỳ hiếm khi lộ diện, bình thường càng không nghe bất kỳ tiếng động gì từ ngài. Toàn bộ triều chính là từ một tay Nhiếp Chính Vương một tay điều khiển.

Nghe nói, Thiếu đế là bị Nhiếp Chính Vương giam lỏng.

Hoàng đế còn vậy, huống chi hạ thần.

Chớ nói ai khác, đến Phương Thanh, cũng thấy dần dần không hiểu thấu Nhiếp Chính Vương.

Lúc băng đảng Cao Chúc còn gây sóng gió, chửi bới ngài có ý đồ dùng chiến nuôi công, mưu đồ làm loạn, Phương Thanh chỉ thấy hoang đường. Ông kiên quyết nhận định, Nhiếp Chính Vương không phải là người như vậy.

Nhưng tình trạng giờ đây lại xấu đến bực này: Triều đình như trở thành một cõi của Nhiếp Chính Vương, bản thân ngài ấy hình như cũng hoàn toàn không định che giấu. Trong khi đó, có lẽ Thiếu đế bị hành động chém chết trọng thần của triều đình của ngài ấy hù đến sợ mà tinh thần sa sút, trên người không còn nhuệ khí và sắc sảo của bậc Quân Vương thiếu niên đương có.

Tất thảy ông đều nhìn rõ ràng.

Ông lo lắng không thôi, nên trước hết tự mình tìm đến Hiền Vương thăm dò ý của ngài về chuyện này. Song Hiền Vương chỉ dùng im lặng đáp lại. Sau đó ông cũng không thể không mở miệng trước mặt Nhiếp Chính Vương, uyển chuyển nhắc nhở hậu quả xấu nếu ngài còn tiếp tục.

Với sáng suốt của Nhiếp Chính Vương, không thể nào không nghe ra khuyên nhủ. Nhưng ngài lại cứ tỉnh bơ như không, nghe xong chỉ cười trừ.

Đến tận đây, Phương Thanh không thể không bắt đầu hoài nghi, phải chăng Nhiếp Chính Vương có mưu đồ khác. Đợi chiến sự phương Bắc thắng lợi rồi, việc thay thế ngôi vị Thiếu đế cũng chỉ là một vấn đề sớm hay muộn.

Thế là ông cũng trở nên trầm tư. Trong triều đình không còn nửa câu tạp âm. Đề cập đến chiến sự chỉ bảo tất thắng. Đề cập đến nữ soái, chỉ thổi phồng công lao, không có ngoại lệ.

Tình huống cứ thế kéo dài từ dạo đấy, đến khi được tin nước Tấn thành lập lại, ngoài chuyện phê phán bên ngoài, còn một luồng tai tiếng khác c*̃ng bắt đầu lan truyền nhanh chóng.

Là lời đồn nhảm bịa đặt.

Không biết bắt đầu từ đâu, có tin đồn rằng đương kim nữ soái Đại Ngụy, Nhiếp Chính Vương phi Khương Hàm Nguyên và dư nghiệt Hoàng Phủ Dung của Tấn thất có dan díu không rõ, quan hệ giữa hai người không hề sơ sài, rằng lúc hắn ta còn là Vô Sinh, quay về từ chuyến Tây du, mấy năm biến mất kia vốn dừng chân ở thành Vân Lạc, còn Khương Hàm Nguyên biết rõ thân phận hắn mà giấu giếm không báo, không chỉ thế, còn thu hắn làm trai lơ. Việc này, Vân Lạc ai ai cũng biết.

Nay Vô Sinh hoàn tục, đầu quân vào vào Bắc Địch lập lại cố quốc, mượn danh vọng xưa kia của hắn mê hoặc người Tấn phương Bắc, là kẻ địch của Đại Ngụy. Chưa nói đến mối e ngại rằng nàng ta có vì tư tình mà thông đồng với địch hay chăng, chỉ riêng chuyện này nếu truy cứu tới, nàng ta phải chịu tội không nhẹ.

Dĩ nhiên, trong triều, dưới áp lực nặng nề, không ai dám can đảm hé ra nửa câu, ngoài mặt vẫn tĩnh lặng như trước.

Còn tại dân gian, tin tức lại lan truyền đến rồ.

Người đời không thiếu kẻ thiện lương và chính nghĩa, song cũng không tránh khỏi đám ngu muội, nghe gió thành mưa, luôn bảo sao hay vậy, tin đồn cứ hết lần này đến lần khác cuốn vào, vòng đi vòng lại không biết mệt. Bấy giờ không những ở phong nguyệt nam nữ còn là chuyện phiếm nhân lúc vui vẻ mà say sưa mà còn liên quan đến mấy nhân vật có thân phận bực đó. Trong tích tắc dư luận xôn xao, càng về sau tin đồn càng thêm mắm thêm muối đến khó nghe.

Dĩ nhiên Lan Thái hậu c*̃ng đã sớm nghe thấy, cuối cùng cũng thu được tí an ủi sau một thời gian dài bị u ám tuyệt vọng đè đầu.

Bà ta cũng biết, Cao Chúc vừa chết, Lan Vinh chỉ có thể giữ mình, bức di chỉ trong tay con trai cũng xem như bằng không. Với mức khống chế triều đình trong tay của Thúc Thận Huy hiện giờ, tin đồn có ác liệt thế nào đi nữa, e là trong phút chốc cũng khó thay đổi tình thế.

Nhưng mà, dù thế nào, xem như cũng có thể trút cơn giận.

Không chỉ thế, chuyện tình trăng gió của Khương Hàm Nguyên và dư nghiệt Tấn thất giờ đây thế nhân đều biết. Kệ cho Thúc Thận Huy ngoài mặt có mây trôi nước chảy thế nào, tình thế này chắc chắn cũng ảnh hưởng đến quan hệ giữa hắn ta và Khương Hàm Nguyên.

Chỉ cần hai người đó bất hòa thì với con mình đều là chuyện tốt. Bà ta chỉ ước gì tai tiếng đó không thể càng lớn càng tốt.

Hôm đó Lý Thái phi sau khi ngất xỉu tỉnh lại, bán thân bất toại, thái y chẩn bệnh đã trúng cơn gió dữ, hiện giờ từ từ có chỗ khôi phục song vẫn hành động bất tiện, nói chuyện ú ớ.

Bà ta là nhân chứng duy nhất trong di chỉ của Minh Đế, Lan Thái hậu hy vọng tương lai sẽ có ngày bà có thể ra mặt làm chứng lần nữa nên đích thân chăm sóc tận tâm. Buổi chiều tỉnh giấc, đang định sang cung Đôn Ý thăm viếng thì nghe tiếng cung nhân truyền báo, Hoàng đế tới.

Bà thầm vui mừng, định ra đón thì cậu con đã sải bước vào, cho người lui, mở miệng hỏi luôn: “Tin đồn về tướng quân Trường Ninh và hoàng tử Tấn thất, phải chăng là do mẫu hậu làm?”

Lan Thái hậu đối diện ánh mắt con trai, nghe mùi chất vấn trong lời cậu, sửng sốt, lập tức cuống quýt kêu oan, luôn miệng phủ nhận, “Kẻ kia chuyện gì cũng làm ra được! Khắp cung đều là tai mắt của hắn. Mẫu hậu sợ chọc hắn sinh nghi gây bất lợi cho con, đến cả chỗ của con cũng không dám đến gần một bước, miễn khiến hắn nghĩ là con và cậu con đang âm thầm thông đồng.” Tự rũ sạch xong, lại vội giải thích giúp Lan Vinh: “Cũng tuyệt đối không phải là cậu con đâu! Mẫu hậu dám đem tính mạng ra đảm bảo! Ông ấy một lòng vì con, hiện giờ chịu nhục, chỉ mong tự vệ trước đã, huống chi cho đến giờ ông ấy còn chưa khỏe hẳn trong người!”

Nói xong, thấy con nhìn mình không lên tiếng, một cơn thương cảm từ trong lòng tuôn ra, không kìm được than thở: “Tiển Nhi à, mẫu hậu thật không hiểu… lẽ nào đối với chúng ta, việc này không phải là chuyện tốt hay sao? Đến Cao Chúc hắn còn giết, sau này sẽ đối phó con thế nào, có thể nghĩ! Sao mẫu hậu lại thấy con giống như còn lên tiếng giúp cô con gái họ Khương kia thế? Tiển Nhi đừng quên, cô ta là người bên cạnh kẻ kia…”

Thúc Tiển không đợi Lan Thái hậu nói xong, quay đi.

Cậu bước trên con đường trong cung, chẳng có mục đích, ngơ ngẩn.

Hôm đó kinh biến triều đình qua đi, có lẽ tất cả đều nói mình đã bị thúc ấy dọa sợ.

Có lẽ đúng là vậy. Cứ như một thanh chùy nặng nề từ trời rơi xuống, trong nháy mắt nện tất thảy vỡ nát. Cả người cậu chìm vào trong cơn chán nản uể oải cực lớn.

Cậu cũng nghĩ không ra, lời cuối mà người ấy nói, rằng đến cuối cùng sẽ cho cậu một sự giao phó hài lòng, đến cùng ám chỉ chuyện gì.

Sau hôm đó, cậu chẳng muốn nghĩ đến thứ gì, chẳng muốn làm gì. Càng không muốn nhìn thấy bất kì khuôn mặt kẻ nào, gồm cả người kia. Tâm tình như ngọn sóng bị hóa cứng. Dù sao thì mọi chuyện ngoài dự kiến, kể cả bất lợi của chiến sự phương Bắc thì người kia cũng tự có thể xử trí. Cứ thế, cậu cứ ngây ngây ngẩn ngẩn như chẳng đếm xỉa đến, mãi đến gần đây nghe được tin đồn đại này.

Nó khiến cậu cảm nhận được cơn phẫn nộ cực lớn từ rất lâu.

Nửa điểm cậu cũng không tin câu chuyện đang đồn đãi ngoài kia liên quan đến thím và tay hoàng tử nước Tấn. Không hề nghi ngờ, là bịa đặt.

Đến giờ, cậu vẫn còn nhớ cảnh tượng trong vườn mai phủ Hiền Vương lúc mới quen biết thím ấy không lâu. Khi đó cậu vô tình ngửi thấy hơi thở tỏa ra từ người thím ấy. Ấy là hương vị thế nào nhỉ? Rất khó hình dung. Không phải mùi son phấn, mà giống như hương cỏ xanh ngào ngạt tỏa ra dưới ánh mặt trời. Cậu chưa từng ngửi qua một hương vị đơn giản mà khiến tinh thần sảng khoái đến vậy, nên đã khắc thật sâu vào ký ức, chưa từng quên.

Người như thím, cũng như hương vị cậu khó quên kia, không cho phép bất kì nhơ bẩn nào khinh nhờn. Cậu không thể nào dễ dàng tha thứ, khi mà đương lúc thím ấy giết địch nơi phương Bắc, ở Trường An, kẻ vô tri lại rải lời đồn khắp, hủy đi danh dự của thím.

Thúc Tiển không biết mình đã bước vào Văn Lâm Các thế nào. Đến khi giật mình tỉnh lại, cậu phát hiện đôi chân mình đã dừng ở bên ngoài.

Đây là lần đầu tiên sau ngày triều biến, cậu đến đây.

Một tiểu hầu bên ngoài có lẽ không ngờ đột nhiên cậu xuất hiện, vội rối rít cúi lạy, định chạy vào thông báo, bị cậu cản lại, ngay sau đó tiếp tục cất bước.

Cảnh vật nơi đây cậu không thể quen thuộc hơn nữa. Cửa sổ đón gió, đình mộc u thanh. Nhưng những kẻ hầu mà trước đây cậu từng quen mặt đều không còn thấy. Nghe nói là đi Giang Nam. Cảnh còn người mất, có lẽ là như thế.

Thúc Tiển bước vào, nhìn thấy viên tinh quan trẻ tuổi Lục Thiên Nguyên c*̃ng ở đấy, đang thấp giọng nói chuyện gì đó với y. Y một thân triều phục, ngồi ngay ngắn sau bàn, cẩn thận lắng nghe. Vẻ mặt y nghiêm túc mà chuyên chú, dáng người cao quý mà trầm tĩnh.

Thúc Tiển bỗng thấy mình thật l* m*ng, nhẽ ra không nên xuất hiện. Lại bi ai nghĩ tiếp, trước mặt người này, dù là mười năm nữa, e rằng mình cũng chỉ xứng đứng dưới bóng ngài, ngẩng đầu ngước nhìn mà thôi.

Thúc Tiển nhịn ý nghĩ quay lại chạy trốn, ngừng bước, thấy y để ý đến mình, bèn ra hiệu Lục Thiên Nguyên tạm dừng, lập tức đứng dậy.

Lục Thiên Nguyên bước lên hành lễ: “Bệ hạ, điện hạ, tiểu thần xin được cáo lui trước.”

Thúc Tiển như không nghe thấy, không nhúc nhích. Cậu khẽ gật.

“Mời bệ hạ ngồi.” Sau khi Lục Thiên Nguyên rời khỏi, y mời Thúc Tiển ngồi vào chỗ.

Thúc Tiển không nhúc nhích, đứng thẳng tắp nói: “Ngoài kia đã lưu truyền nhiều lời đồn đãi vậy, sao thúc lại chẳng nghe chẳng hỏi? Tướng quân không phải người như vậy đâu!”

Đúng vậy, tin đồn lan truyền đã nhiều ngày, đến mình còn biết. Lúc đầu còn nhịn xem y sẽ có phản ứng thế nào. Nhưng lại không thấy y có bất cứ động tĩnh gì.

“Mấy ngày qua, ta suy nghĩ rõ ràng, tương lai thúc muốn gì cũng được cả, hiện giờ ta cũng không có ý nhúng tay vào chuyện của ngài. Nhưng mà triều đình, nhất định phải giữ gìn danh dự của thím ấy.”

“Ngọn nguồn của lời đồn này, hoặc là từ Đại trưởng công chúa, hay chí ít, không tránh khỏi có liên quan đến bà ấy.”

“Vai ác này, nếu như thúc không muốn làm, thì để ta làm. Trừng trị bà ấy một tội danh xong, ta lại phái người của ta, xuống dân gian bắt người dám can đảm tiếp tục tung tin đồn, trừng trị một cảnh cáo trăm, ắt sẽ dừng lại!”

Thúc Thận Huy như hơi bất ngờ, dừng mắt trên mặt cậu, lát sau, từ từ nhoẻn cười.

“Nếu tướng quân Trường Ninh biết được, chắc chắn sẽ cảm tạ bệ hạ đã tin tưởng. Chuyện này, thần c*̃ng đã có cân nhắc, đang định báo cáo với bệ hạ.”
 
Không Tỉnh
Chương 105


Chừng một năm trước, trong một gian thiên lao của Thiên Môn Ti, một tù nhân được bí mật đưa tới.

Đó là một vị sư trẻ tuổi, người khoác áo đay, chân mang giày cỏ. Lúc vừa được đưa đến, dáng vẻ chàng như vừa bệnh nặng mới khỏi, cơ thể cực kỳ suy nhược, nằm ở đây hơn nửa tháng mới từ từ khôi phục tinh thần.

Đây là chỗ bí mật, toàn bộ chỉ nhốt trọng phạm đặc biệt. Những kẻ xưa giờ được đưa vào, hoặc là im ắng chết vào đêm khuya nào đó, cứ thế biến mất, xóa sạch mọi vết tích trên đời, hoặc bị mang đi, từ đấy biệt tăm tích.

Chưa từng có kẻ nào có thể ra ngoài.

Hẳn vị sư này cũng thế. Trong mắt quan coi ngục, chàng chẳng khác nào người đã chết, c*̃ng không ai muốn biết chàng là ai, vì sao bị đưa đến đây. Điểm khác biệt duy nhất, là những kẻ khác sau khi vào tới, thường thường lúc đầu sẽ trở nên nóng nảy, sao đó là tuyệt vọng, cuối cùng biến thành cái xác không hồn.

Còn chàng thì không phải. Từ ngày đầu bước vào đã lộ vẻ bình tĩnh lạ thường.

Sau khi cơ thể khôi phục dần, một ngày nọ, chàng ra thỉnh cầu, hy vọng có thể trả lại quyển kinh lúc trước cho mình, xin được ban bút mực. Quan coi ngục báo cáo lên. Ngay lập tức, thỉnh cầu được cho phép, rất nhiều quan coi ngục nhìn kinh thư viết đầy giun dế không hiểu nổi được đưa vào. Cùng lúc đó, quan coi ngục cũng nhận được một lệnh cấp trên rằng, sẽ thỏa mãn mọi nhu cầu hàng ngày của vị sư ở đây.

Nhưng, khiến quan coi ngục thấy bất ngờ là, vị sư tù nhân này không hề yêu cầu tí đãi ngộ gì. Từ hôm đó, chàng bắt đầu vùi đầu vào bút mực.

Trong tù tối tăm không ánh mặt trời, thế giới của chàng c*̃ng không chia ngày đêm, mỗi ngày thức giấc lại viết, mệt thì đi ngủ, không thấy sớm chiều, không phân nóng lạnh. Mục đích sống duy nhất của chàng dường như là quyển kinh trên tay. Sau mấy tháng, quyển kinh xếp chồng bên tường từ từ cao dần, theo đó, cơ thể chàng còn muốn suy yếu hơn cả lúc vừa đến. Trong thiên lao âm u lạnh lẽo ẩm ướt, lâu dài không thấy nắng trời, cộng thêm ngày ngày chàng hết ngày đến đêm dịch kinh, lại đổ bệnh lần nữa. Quan coi ngục chỉ sợ trách nhiệm bèn báo cáo lên, mấy ngày sau, người được chuyển ra ngoài.

Ấy là một đêm khuya bình thường.

Chùa Hộ Quốc ở phía Tây thành, trong góc nhà tứ hợp tăng lư đơn sơ vắng vẻ phía sau chùa, tiểu hòa thượng Vô Tình lại thấy phò mã đương triều Đô úy Trần Luân đến lần nữa.

Ba ngày trước, Đô úy từng một mình đến đây, không biết cùng người bên trong nói gì, sau khi Đô úy đi, vô tình nhìn thấy chàng sau khi tĩnh tọa một lát, lại lập tức không ngủ không nghỉ, ngồi vào trước bàn tiếp tục dịch kinh, một khắc cũng không nghỉ.

Vị pháp sư trẻ này là năm ngoái được phò mã Đô úy bí mật đưa đến. Sau đó, chàng trọ lại chốn này, chưa từng ra ngoài nửa bước, mà người bên ngoài c*̃ng không thể vào đến. Toà tăng lư này, thực ra là một phòng giam, không ai biết đến sự tồn tại của tù tăng này. Chỉ mỗi Vô Tình ra vào, phụ trách đưa cơm cho chàng.

Trước đó Vô Tình quét dọn trong kinh các, lúc không có gì làm thường đọc kinh thư. Từ từ quen rồi có khi cũng giúp tù tăng chép ít kinh văn chàng dịch ra. Cậu phát hiện, kinh vị tù tăng có lai lịch bí ẩn này dịch, pháp lý tinh diệu, tu từ uyển chuyển, toàn bộ xưa giờ cậu chưa từng gặp, chưa từng nghe thấy.

Đêm nay, sau ba ngày ba đêm liên tiếp dịch kinh, tù tăng dường như cuối cùng cũng đã làm xong mọi chuyện, sắp xếp lại quyển kinh xong, người cũng đầy mệt mỏi, không lâu sau thiếp đi.

Dưới người chàng là tấm chiếu trải, người quay mặt vào tường, đưa lưng ra cửa, sườn phải ngủ nằm, gối đầu lên cánh tay phải, chân trái xếp trên chân phải.

Vô Tình đương nhiên biết, lúc các sư nghỉ ngơi, ngoài ngồi thì đây là một tư thế ngủ thường dùng. Nghe nói, là để giữ cho trong lành cả trong giấc mơ, là một phương thức tu hành.

Vị tù tăng bình thường không nói, như bị câm bẩm sinh, song lại làm Vô Tình cảm thấy ngưỡng mộ từ trong lòng, cảm giác chàng cũng không phải là người phàm tục. Đêm nay, phò mã Đô úy lại xuất hiện, song không đi một mình mà cùng với một người khác. Dưới ánh đèn lồng nhảy nhót chao liệng, Vô Tình ban đầu không nhìn rõ dáng người, chỉ thấy y choàng một lớp áo choàng, đội mũ trùm che quá nửa khuôn mặt, bước chân không nhanh không chậm, thả xuống đất im ắng, đợi đến gần, Vô Tình mới nhận ra, đúng là Nhiếp Chính Vương điện hạ đương triều mà năm trước mình ngẫu nhiên gặp mặt một lần trong chùa, không khỏi đầy sợ hãi.

Cậu cứ cảm thấy có chuyện không ổn sắp giáng xuống người vị tù tăng kia.

Nhưng mà, ấy không phải là chuyện cậu ta nên quan tâm. Nhất ẩm nhất trác, hẳn đã định sẵn. Người người đều có mệnh định của mình, bao gồm cả vị tù tăng kia.

Cậu không dám nhìn nhiều, mở khóa cổng ra viện lạc, ngay sau đó tránh đi.

Thúc Thận Huy bước vào, tới trước tăng lư, không vào ngay.

Y dừng lại, xuyên qua cánh cửa nửa mở, nhìn vào thế giới phía sau.

Ánh đèn như hạt đậu, soi sáng căn tăng lư ngăn nắp. Dựa vào góc tường khô ráo, quyển kinh xếp đống ngay ngắn. Đối diện cánh cửa, trải một tấm chiếu ngủ, một người đang nằm ngủ, quay lưng ra ngoài.

Người ấy khoác áo gai, nằm thế sư tử tọa, bóng lưng yên tĩnh, có vẻ như ngủ rất say.

Cuối thu hai năm trước, từ miệng Hiền Vương y nghe được cái tên Vô Sinh. Ở Tiền Đường tháng sáu năm ngoái, cũng vì người này, y và Khương Hàm Nguyên chia lìa trong không vui. Lúc ấy y lệnh Lưu Hướng bảo thủ hạ Trình Xung chữa khỏi bệnh đối phương, tránh sau này sinh chuyện ngoài ý muốn, lại cho đưa người về Trường An, cầm tù trong thiên lao.

Sau đó, khi y và nàng ấy tách ra đã lâu, lại nghe hắn ta bị bệnh, tự dưng nhớ lại lời hứa với nàng, cảm thấy phiền muộn, bèn theo lời hứa bí mật chuyển tới đây, đổi hình thức cầm tù.

Nhưng nếu không có gì bất ngờ, cuộc đời của hắn ta, sẽ cứ thế trôi qua.

Đã lâu đến vậy, Thúc Thận Huy từng không chỉ một lần nhớ đến người tên là Vô Sinh này, nhưng đây là lần đầu tiên, cuối cùng y đã tới, đích thân cùng đối phương gặp mặt.

Y lẳng lặng đứng trước cửa nhà lao một lát, nhìn thấy bóng lưng kia hơi nhúc nhích, tỉnh lại, sau đó, từ tốn ngồi dậy, xoay người.

Ánh đèn ảm đạm soi rọi một gương mặt gầy gò, còn mang nét mệt mỏi, song dù người ở tù thất nhưng ánh mắt vẫn sáng rõ.

Vị sư trẻ tuổi trước mặt này, chính là Vô Sinh. Thúc Thận Huy từng hiểu lầm hắn ta là người trong lòng nàng, sau mới biết, hắn ta là tri giao của nàng — nếu không phải vì xuất thân đã có tội trong chú định, thì là loại tri giao mà nàng ấy sẽ vì hắn không tiếc mạng sống.

Thúc Thận Huy trong ánh mắt đối phương nhìn mình, cất bước đi vào, cởi mũ trùm.

“Như thế nào, nghĩ xong chưa?” Y mở miệng đã hỏi.

Vô Sinh thu ánh mắt, cúi đầu, kính cẩn nhấc tay chắp dọc trước ngực, hành lễ xuất gia.

“Ba hôm trước phò mã Đô úy đã thông báo hết tình hình. Tội nghiệt là ở ta. Tiểu tăng vốn là người dư thừa, không nên sống tạm trên đời, huống hồ giờ đây vì ta mà sinh ra rất nhiều sự cố, tội nghiệt trùng trùng. Tiểu tăng càng không muốn vì ta mà liên luỵ đến thanh danh của Tướng quân.”

“Tất thảy, tiểu tăng tùy ý Nhiếp Chính Vương an bài.”

Lúc chàng nói ra câu ấy, trong ánh mắt không chút ý miễn cưỡng nào. Thần sắc chàng ung dung, giọng điệu như thường.

Thúc Thận Huy mặt không lộ vẻ, quan sát chàng thật lâu.

“Tốt lắm. Trước khi đi, ngươi có yêu cầu gì, cứ nói, bổn Vương chắc chắn sẽ thỏa mãn.”

Vô Sinh nhìn quanh một vòng tù thất, cuối cùng dừng mắt trên quyển kinh.

“Đúng là có một chuyện muốn nhờ.”

“Trong bốn năm, từ lúc tiểu tăng Tây du quay về cho đến giờ, đến nay qua bao phen trắc trở, trước sau mất nhiều năm, cuối cùng cũng đã dịch xong toàn bộ kinh thư mang về.”

“Tiểu tăng xuất thân từ chùa Già Lam Lạc Dương, tiên sư Động Pháp dù đã đi, song trong chùa vẫn còn đồng môn, hẳn là họ vẫn luôn chờ tiểu tăng trở lại. Làm phiền Nhiếp Chính Vương, mai sau thay mặt tiểu tăng đưa kinh văn đến Già Lam chùa giao cho bọn họ.”

Thúc Thận Huy gật đầu: “Được.”

Nói xong, không hề ngừng lại, y đội lại mũ trùm, quay ra ngoài.

Vô Sinh chăm chú nhìn theo bóng người cho đến khi biến mất, cuối cùng từ tốn xếp bằng, ngồi xuống.

Ba ngày sau, điện Tuyên Chính, cử hành một buổi triều hội đặc biệt.

Ngày triều biến hôm ấy, chẳng những trấn áp lòng người mà còn thay đổi rất nhiều chuyện, ngay cả quy định triều hội từ thời bổn triều khai quốc đến giờ luôn chấp hành cũng có chỗ sửa đổi, chỉ giữ lại Đại nghị năm ngày một lần. Cho đến Đại nghị mà Thiếu đế c*̃ng không tham gia, Nhiếp Chính Vương bèn trực tiếp hủy bỏ Đại nghị, đại thần đến Văn Lâm các bàn chuyện.

Nơi đây đã lâu không thăng điện. Song hôm nay chẳng những khôi phục, Thiếu đế Nhiếp Chính Vương cùng có mặt, toàn bộ Vương công đại thần đều trình diện, mà đến tất cả các quan ở kinh thần dưới lục phẩm trước đây không có tư cách vào triều cũng phải vào triều.

Gần ngàn người đứng đầy đại điện. Ngay lúc trước khi triều hội bắt đầu, đa số cơ bản không không thể nào biết được triều hội đặc biệt hôm nay là vì chuyện gì. Nhớ đến hôm Nhiếp Chính Vương chính tay đâm Cao Chúc ngoài dự liệu, đều sợ hãi.

May mà có quan viên nhanh tin đã thả ra nội tình, rằng triều hội hôm nay là có liên quan đến hoàng tử Tấn thất Hoàng Phủ Dung hiện giờ đang tạo sóng lớn ở U Châu.

Nghe nói Hoàng Phủ Dung ấy thực tế là kẻ mạo danh Sí Thư cố chấp đẩy ra, còn Hoàng Phủ Dung chân chính, là hòa thượng Vô Sinh của chùa Già Lam trước đây, mấy năm trước sau khi Tây du quay về, không hỏi thế sự, dốc lòng dịch kinh, năm ngoái vào tới Trường An, vào Hộ Quốc tự xưa kia từng mời chàng thuyết pháp. Ở trong chùa chàng tiếp tục dịch kinh, để tránh bị quấy rầy đã không đưa tin ra ngoài. Giờ đây được biết có kẻ mạo danh thay thế, bại hoại thanh danh, quyết ý đứng ra chứng minh trong sạch.

Tin tức này đánh động bao lớn, có thể tưởng tượng được. Sau một trận nín thở đè hơi yên tĩnh chờ đợi qua đi, rốt cuộc, vị sư đã xuất hiện ở trước mặt mọi người.

Chàng mặc một bộ tăng bào sạch sẽ, mắt sáng rực, trong vô số ánh nhìn chăm chú đi vào đại điện, đến chỗ Thiếu đế và Nhiếp Chính Vương hành lễ, tự xưng là Hoàng tử Tấn thất Hoàng Phủ Dung, đó chính là Vô Sinh đến từ chùa Già Lam.

Vẻ mặt Vô Sinh đầy tự nhiên, giải thích xong, mới nói: “Trước kia ta xuất thân từ Tấn thất, hiện giờ xuất gia nhiều năm, không hỏi thế sự, nhưng thủy chung cũng là người nhà Hán, hai chữ đại nghĩa thật không dám quên, sao lại nép mình thờ thủ lĩnh quân địch làm chủ chứ? Kẻ mang danh phục quốc phương Bắc kia chính là kẻ mạo danh không còn nghi ngờ, mong bệ hạ bố cáo thiên hạ, chớ để người dân phương Bắc bị người Địch che mắt.”

“Ngày Lạc Đô xảy ra biến, Tấn đế từng phó thác quốc tỷ cho ta, dặn ta giữ lấy mạng. Bao năm qua, ta quy y pháp môn, vật này không dám tự tiện xử lý, hôm nay tiến hiến bệ hạ. Từ nay về sau, trên đời không còn Tấn, vạn dân về một mối, Đại Ngụy thái bình thịnh thế, tạo phúc cho bá tánh, âu là may mắn của tiểu tăng, tội lỗi tạm cởi bỏ.”

Chàng lấy một chiếc hộp nhỏ bốn góc quấn trong tấm vải, quỳ gối, hai tay giơ cao khỏi đầu. Điện thị dùng mâm nhận lấy, sải bước đưa đến trước mặt Thiếu đế mở ra. Thiếu đế xem xong, lệnh chuyển cho Nhiếp Chính Vương. Y nhìn qua, lệnh bá quan truyền xuống. Trong đó có quan Thái Sử kiến thức, xem xét kỹ xong bèn hô: “Bệ hạ! Nhiếp Chính Vương điện hạ! Đây không còn nghi ngờ, đúng là quốc tỉ của Cố Tấn!”

Quần thần nhao nhao quỳ xuống, sơn hô vạn tuế.
 
Không Tỉnh
Chương 106


Ngày đó, chuyện liên quan tới buổi triều hội được rõ ràng truyền ra.

Vô Sinh hiến tỉ xong, nói lời kinh người, tự xin chết.

Đầu tiên là chàng giải thích vì sao năm ấy mình Tây du.

Lúc Sư phụ Động Pháp của chàng từ Tây Vực đi về Lạc Dương, từng mang theo tám mươi mốt bộ quyển kinh, nửa đường bị hư tổn, đến nơi chỉ còn lại không đến một nửa, điều đó trở thành tiếc nuối suốt đời của Động Pháp. Sau khi ông viên tịch, chàng nhân cơ hội bù đắp lại ý chí cả đời không trọn vẹn của thầy mới lên đường Tây du. Cả một quãng đường chàng nhìn thấy chúng sinh bi thảm, đến khi chính mình c*̃ng trải qua cửu tử nhất sinh trở về, ngang qua gần Vân Lạc, theo một đội buôn bị kỵ binh người Địch bắt được, nhận hết trừng phạt, bản thân bị trọng thương, lúc tính mạng treo trên sợi tóc thì được tướng quân Trường Ninh cứu, mới sống sót.

Trải qua đại kiếp, chàng cảm giác được sâu sắc nỗi khổ nhân gian, trong khi bản thân vẫn chưa ngộ đạo, thế là xem kiếp nạn này coi như là buổi khảo luyện, vì đại ngộ, vì minh tâm, cũng vì sớm ngày hoàn thành di nguyện của tiên sư mà dừng chân ở một hang đá trong núi tu hành dịch kinh. Không ngờ, bản thân nghiệp chướng nặng nề, cho đến nay không những không thể tu thành chính quả mà ngược lại còn biến thành lá bùa để cho người khác làm ác cho đời, gieo hại vô tận.

Động Pháp nhận chàng truyền y bát, năm ấy chàng từng lập tâm nguyện, sau khi Tây du tìm đủ quyển kinh về sẽ truyền bá rộng rãi, giải rõ chân nghĩa.

Hiện giờ chàng đã dịch xong kinh, y bát của Động Pháp không đến mức thất truyền, chàng sắp khai đàn thuyết pháp, xong xuôi sẽ vào lửa tự thiêu, trừ tất thảy tội nghiệt, chứng minh đại đạo.

Tin này đã tạo cơn náo động xưa nay chưa từng có. Không những ở Trường An, tin tức c*̃ng đến Lạc Dương.

Năm đó cái tên Vô Sinh mọi người Lạc Dương đều biết. Vô số tín đồ không ngại đường xa, từ bốn phương tám hướng tiến về Trường An. Dân chúng đến đây mới giật mình, thì ra hoàng tử nước Tấn ở phương Bắc nhộn nhịp vui mừng kia chẳng những là kẻ mạo danh từ đầu đến đuôi, mà Bắc Hoàng Sí Thư càng gian trá ti tiện đến tận cùng. Trên chiến trận đánh không lại nữ tướng quân, bèn phái gian tế rải tin đồn, trắng trợn nói xấu hòng dao động lòng người. Nếu chẳng may vì thế mà nữ tướng quân bị người một nhà công kích, thậm chí lòng quân dao động, thì không phải đã sa vào ý muốn của người Địch rồi sao? Người của Đại Ngụy ta tuyệt đối không thể mắc lừa.

Nếu nói rằng, bấy giờ vẫn còn kẻ bán tín bán nghi về câu chuyện thuyết pháp, thì mấy hôm sau, khi Vô Sinh trai giới xong xuôi, lộ diện ở kinh đàn được bố trí ở vùng đồng nội phía Tây Trường An, khai đàn giảng pháp, mọi ngờ vực vô căn cứ đã toàn bộ biến mất.

Kinh đàn cao tới mấy trượng, như ngọn tháp, hôm ấy, chàng khoác khiết y, xếp bằng ngồi trên đỉnh đàn. Dân chúng thấy diện mạo chàng tuấn mỹ, sắc mặt trang nghiêm, người như tự có ánh thần quang, không thể khinh nhờn, không khỏi tự thấy mình dơ bẩn mấy phần trước, cho đến chừng chàng mở lời, diệu âm không dứt, làm người say mê, đám người xung quanh ban đầu chỉ là vây xem náo nhiệt c*̃ng dần dần nghe đến nhập thần. Sau đó, người hoặc như si như say, hoặc thể hồ quán đỉnh, hoặc được an ủi từ tận sâu, như nỗi khổ nhân gian rốt cuộc đã đạt đến cứu rỗi.

Vô Sinh thuyết pháp bảy ngày bảy đêm, thiện nam tín nữ từ các nơi lục tục chạy đến, chen kín vùng đồng hoang ngoại ô.

Nghe tin đồn rằng, vào ngày cuối cùng, ngài sẽ tự thiêu tiêu nghiệt.

Ngày ấy, cuối cùng đã tới.

Ngày cuối tháng sáu năm Thiên Hòa thứ ba, muôn người Trường An đều đổ xô ra đường. Ngoài đám tín đồ, từ sáng sớm, dân chúng bình thường c*̃ng xôn xao chạy tới vùng ngoại ô phía Tây. Không chỉ thế, triều đình c*̃ng phái quan viên Lễ bộ tham dự.

Đất hoang không có gió, hôm nay thời tiết cực kỳ trong lành. Bóng mặt trời chiếu đến chính Bắc, mặt trời lên đến giữa trời hướng chính Nam.

Đang giữa trưa, Vô Sinh đang đi cùng một đám tăng nhân chùa Già Lam Lạc Dương, xuất hiện ở trước mắt người đời.

Chàng vẫn bộ dáng ấy, áo tăng vải lĩnh, bước đến kinh đàn giữa đất trống, giống như những hôm trước, chàng ngồi trên cao, tiếp tục thuyết pháp.

Song, hôm nay có khác biệt.

Giờ phút này, khi lớp vải phủ ngoài kinh đàn đã được tháo dỡ, đám người mới phát hiện, bên dưới đã chất đầy củi.

Thì ra, bảy ngày đã đến, khi ngài không biết mệt mỏi tuyên giảng nghĩa kinh ở trên, bên dưới chỗ ngài ngồi, củi đã chất lớp lớp.

Người xung quanh đều lộ vẻ xúc động.

Vô Sinh đón gió, đi đến dưới kinh đàn, không chút dừng lại, vẫn như thường lệ cất bước bắt đầu trèo l*n đ*nh đàn, cuối cùng, chàng bước đến nơi kết liễu đời này, xếp bằng ngồi xuống.

Chẳng bao lâu, ở dưới người chàng, lửa rực sẽ l**m lên, tiếp theo nuốt chửng chàng.

Chàng hơi cúi đầu, khép mắt.

Bắt đầu từ giây phút ấy, chàng như cô lập tất thảy xung quanh mình. Gió thổi từng cơn nơi đồng hoang, âm thanh tín đồ lục tục ngồi xuống theo chàng, tiếng củi chất ở bên dưới được nhen nhóm, phát ra tiếng tí tách nhỏ xíu, cũng bắt đầu vọng vào tai chàng… mà tất thảy, chẳng liên can đến chàng — dù cho chàng đã bắt đầu cảm nhận được hơi nóng đến từ ngọn lửa dưới người, khói đen cuộn lên vây quanh chàng, có cả tiếng ồn ào càng lúc càng lớn, thảng như còn cả tiếng phụ nữ đang khóc… thảng như nước ngoài biển khơi, ma quỷ từ bốn phương tám hướng ngoài kia tụ về, như muốn nuốt chửng lấy chàng.

Chàng vẫn không hề nhúc nhích.

Thân phận chàng đã được công bố, là dư nghiệt tiền triều, đã lay lất đến bước này, chết, là giải pháp duy nhất.

Với chàng mà nói, càng là một loại giải thoát.

Hôm nay dùng cách này để kết thúc cuộc đời, cũng nào phải ai ép buộc. Là lòng chàng cam nguyện.

Cho đến cuối đời, chàng đều khổ cực tu hành, theo đuổi thứ gọi là cảnh giới thấu triệt. Có thể chết như thế này, là chết có ý nghĩa, giờ phút này chính là viên mãn mà chàng theo đuổi, chàng vui vẻ chịu đựng, thản nhiên nghênh đón.

Chàng không suy nghĩ bất kì điều gì, để biển não hóa thành hư không, chờ đợi viên mãn đến. Một lát sau, trong khói lửa đang dần dâng lên, tiếng ồn ào đầy tai, bỗng dưng chàng như nghe được tiếng tụng kinh từ các vị sư tụng vì chàng vọng đến từ bốn phía kinh đàn, chàng cũng thả lòng theo, yên lặng tụng niệm kinh văn đang tràn vào trong đầu mình.

Bỗng, chàng hơi giật mình, khựng lại.

Chàng phát hiện ngay lúc này mình đang tụng, đúng là bản kinh mà chàng tụng cho cô nghe vào cái đêm trước khi cô ấy gả vào Trường An tìm tới từ biệt chàng!

Không chỉ một lần ấy, mà trước đó nữa, chàng tụng cho cô, cũng là bản này — bởi vì lần đầu chàng tụng cho cô nghe, cô nói, nghe cực kỳ êm tai, rất thích nghe, nên chàng nhớ rõ, về sau cứ mỗi lần cô đến thăm, chàng lại tụng bản kinh văn ấy.

Bởi một câu tán thưởng của cô, nên ở chỗ chàng, không biết bắt đầu từ bao giờ, bản kinh văn bình thường còn hơn những kinh văn bình thường này, cũng đã trở thành bản chàng thích nhất, tụng niệm qua vô số lần, nên đến giờ phút này cứ thế nhảy ra.

Trong đầu Vô Sinh hiện lên cảnh ở hang đá, trong tiếng mình tụng kinh, cô ấy thiếp đi trong yên bình…

Lúc nước mất đào vong, chàng đã biết chuyện, sau đó mai danh ẩn tích, từ Hoàng Phủ Dung biến thành Vô Sinh. Trong rất nhiều năm đó, nhớ đến, có lẽ chỉ có đoạn thời gian được cô cứu ở lại trong động đá của ngọn núi hoang vu kia, mới là những năm tháng mà nội tâm chàng chân chính thu hoạch được yên bình và vui vẻ.

Chàng từng tự nói với chính mình, chờ đến một ngày sau này, khi cô không còn cần mình tụng kinh cho nghe, chàng sẽ rời đi. Song chàng không lừa được chính mình. Trước thanh đăng kinh Phật, sao chàng chưa từng thầm suy nghĩ chứ, hy vọng ngày ấy vĩnh viễn không đến.

Lần này đi, nếu có kiếp sau, chàng sẽ không làm hoàng tử, không làm hòa thượng.

Chàng tưởng nhớ đến ngọn núi ngoại thành Vân Lạc, mặt hồ ấy, vệt ban mai, vạt trời chiều kia. Cho dù cô không biết đến sự tồn tại của chàng, cũng không sao, chàng có thể từ từ đợi nàng đến, lặng lẽ đưa nàng đi, đời đời kiếp kiếp, năm năm tháng tháng, sớm sớm chiều chiều.

Ngay một giây ý nghĩ này thoáng hiện, tâm linh chàng bỗng chấn động, trong nháy mắt, tim đập loạn, mồ hôi túa ròng ròng.

Thế lửa mỗi lúc một lớn, bắt đầu thiêu đốt làn da lộ ra bên ngoài, gió nóng ép áo bào trên người nhảy múa, chàng bắt đầu cảm thấy đau đớn, mà bên tai, tiếng tụng kinh của tăng nhân cùng tiếng khóc của tín đồ cũng càng lớn…

Chàng hoàn toàn tỉnh táo lại!

Chàng là một người xuất gia, ngày đầu tiên vào Không môn, tất cả khổ trì và tu hành, cũng là vì nhảy khỏi luân hồi, thoát ly bể khổ!

Cuối cùng, đến giây phút này, lửa lớn sắp thiêu người, chàng lại không cắt dứt trần thế, mơ ước kiếp sau? Như vậy trước đây, những thứ từng chèo chống cùng chàng đi tới tín ngưỡng, đến cùng là gì?

Trong khoảnh khắc, tựa như sống núi sụp đổ, chàng chỉ cảm thấy biển não ầm ầm rung động, máu huyết sôi trào trong lồng ngực, người lung lay sắp đổ, mấy lần muốn nôn ra máu, hoàn toàn không để ý rằng ngay phía trên đỉnh đầu chàng, mặt trời rực đỏ kia bỗng như bị thứ gì cắn một miếng, đột nhiên thành lu mờ.

Không có bất kỳ báo hiệu nào, mặt trời ẩn nấp mất, trời đất đen tối, gió lớn lồng lộng khắp nơi, trong ngoài Trường An như chìm vào đêm tối, chỉ mỗi kinh đàn đang bén lửa rực sáng, múa may theo gió, sáng loá!

Cùng với nỗi sợ bóng đêm vĩnh hằng như đột nhiên giáng lâm thế giới, tăng nhân ngừng tụng kinh, quan viên thất kinh, ngựa tránh khỏi trói buộc, chạy tán loạn, dân chúng trong vùng đất hoang cũng kịp tỉnh ngộ, bắt đầu lên tiếng năn nỉ, cúi lạy dưới đất, không dám ngẩng đầu.

Duy chỉ có Vô Sinh còn đang đau khổ vùng vẫy trong thế giới của mình là không hề hay biết tất thảy. Trong bóng đêm đột nhiên ập tới, một luồng khói đặc xoắn tới trước mặt chàng, chỉ thấy tối sầm, mất đi ý thức.

Đến khi Vô Sinh chậm rãi tỉnh lại, chàng vẫn từ từ khép mắt, cảm thấy trên người hình như còn đang mơ hồ chịu nỗi đau bị lửa thiêu.

Chàng chậm rãi mở to mắt, tầm mắt ổn định dần. Hình như mình đang nằm trong một chiếc xe ngựa, đang di chuyển.

Trong khoảnh khắc ấy, chàng không biết mình còn sống hay đã chết, đang đi về đâu.

Chàng chậm rãi ngồi dậy. Xe ngựa dừng lại, cửa được mở từ bên ngoài, một người đứng trước mặt.

Là Trình Xung.

Là tay vũ phu ngày đó đưa chàng rời Vân Lạc, bí mật đưa đến Trường An.

Thái độ đối phương c*̃ng không còn thô bạo xưa kia, vẻ rất cung kính, nói, lúc kinh đàn bốc cháy, vừa hay có nhật thực.

Ý trời đã thế, Nhiếp Chính Vương điện hạ liền thuận theo dân ý, không cho phép chết.

“Điện hạ lệnh cho ti chức chuyển cáo, từ nay về sau, ngài được tự do, có thể đi bất kì nơi ngài muốn đi, ở bất kì chỗ ngài muốn ở lại, làm bất kì chuyện gì ngài muốn làm.”

“Điện hạ còn nói, vùng đất Bắc có người tri giao của ngài, cô ấy hẳn là rất muốn gặp mặt ngài. Trước đó, ti chức sẽ đưa ngài đi gặp trước.”

Nói xong, Trình Xung thi lễ với Vô Sinh rồi đóng cửa xe. Chốc lát, xe ngựa tiếp tục lên đường, nhanh chóng chạy theo hướng Bắc.
 
Không Tỉnh
Chương 107


Môn Bắc tiến, Khương Hàm Nguyên triệu tập quân, rời Loan Đạo, đi về phương Bắc, hướng về Nam Đô Bắc Địch.

Trong cuộc chiến Loan Đạo trước đây, Sí Thư vì đoạt lại cửa ngõ quan trọng, bất cứ giá nào hết lần này lại lần khác phát động tấn công điên cuồng, song lần nào cũng đều bị đánh bật về. Cùng lúc đó, Khâm Long ở quận Yến cũng chịu sức ép binh địch cực lớn, đỡ trái hở phải. Không chỉ thế, khắp U Châu còn lan truyền, cái danh nghĩa “phục quốc” của vị hoàng tử Tấn thất trước đây không lâu chính là một âm mưu từ đầu đến đuôi. Còn Vô Sinh chân chính hiện giờ đang ở Trường An, hiến quốc tỷ cho Ngụy đế, sau khi biểu lộ thần phục ngài đã cam nguyện tự thiêu, cầu chứng đạo.

Sức mạnh công kích của tin tức này có thể tưởng tượng được, Lục Khang tự vận. Ông ta và Lý Nhân Ngọc nhiều năm qua vẫn luôn được coi là tinh thần trụ cột của người Tấn ở đất Bắc, giờ đây một kẻ đã đầu hàng Đại Ngụy, kẻ kia đã chết, binh mã từng xuất ra đã trực tiếp đầu hàng trước trận đánh, một số lớn dân phu trên đường chạy trốn. Dưới cục diện đó, tiền tuyến còn có thể dựa vào nỗ lực của Địch chống chọi thêm một thời gian, nhưng hậu cần chiến sự của quận Yến đã nhanh chóng đi đến tan vỡ. Khâm Long giết con rối giả mạo Vô Sinh đã hoàn toàn trở nên vô dụng, vì thoát khỏi khốn cảnh đã bắt một lượng lớn người Tấn bình dân chèn vào chỗ khuyết. Gã vốn mang tiếng ác, cử động lần này khiến càng nhiều dân chúng chạy trốn, dưới cái ác tuần hoàn, quận Yến tràn ngập nguy hiểm, thành phá trong một sớm một chiều.

Chuyển biến sau cùng, ở ngày cuối tháng. Biến nhật thực kia đã trở thành cọng rơm cuối cùng áp đảo lạc đà*.

<i>(*) xuất phát từ ngụ ngôn Ả Rập, cọng rơm cuối đè chết con lạc đà, kiểu giọt nước tràn ly. Sự việc đã đến điểm tới hạn, chỉ cần thêm bất kỳ một nhân tố nào cũng sẽ hỏng bét.</i>

Liên quan đến trận thiên biến này, trước đó Khương Hàm Nguyên đã nhận được nhắc nhở từ Thúc Thận Huy. Y bảo, Ti Thiên thai có một viên quan tinh thông thiên văn, đo đạc tính toán được hôm ấy sẽ có biến nhật thực, sai lệch trong một khắc, cố ý thông báo để cô vững tâm lý.

Trên dưới trong quân đã được báo trước dự báo, ngay một khắc xảy ra nhật thực, không ai kinh hoảng, thừa cơ trời đất tối sầm quân Địch quân thất kinh mà đánh bại địch thủ.

Sau khi liên tục gặp thất bại, cuối cùng Sí Thư cũng bình tĩnh lại sau cơn cuồng nộ ban đầu.

Ở thành Đại Hưng Nam Đô Bắc Địch, gã vẫn còn một đội quân trung thành với thân tín của gã, sức chiến không thể khinh thường, nhưng lại không thể điều tới đây tham chiến. Đấy là vùng đất sau cùng phương Bắc của gã ở Trung Nguyên, không thể bỏ trống không phòng.

Hiện giờ bản thân đã không còn hy vọng đoạt lại Loan Đạo, nếu còn dây dưa, chờ đến phía Khâm Long hết chống cự nổi, thành quận Yến phá, thì mình nguy hiểm không thể thủ, nếu chỉ chăm chắm đánh trận, đợi đội quân Ngụy kia tiến ra Bắc cùng Khương Hàm Nguyên nam bắc tụ hợp, hình thành giáp công, từng bước xâm chiếm xong lại đẩy mình dần về chỗ trống, đến chừng đó có muốn đi c*̃ng đi không được.

Gã quả nhiên là kẻ dứt khoát ngoan độc. Sau khi tỉnh táo nhìn rõ thế cục, đã ra một quyết định khiến Khương Hàm Nguyên cũng không khỏi không bội phục.

Như lúc trước gã có thể tự chặt một tay đánh đổi cơ hội sống, lần này, gã quả quyết buông bỏ quận Yến mà gã đã vun vén nhiều năm, chủ động từ bỏ U Châu như gân gà hiện giờ của gã, lệnh cho Khâm Long chấp hành kế sách thanh dã, phóng lửa thiêu trụi thành quận cùng tất cả những gì không mang đi được, giết hết thanh niên trai tráng trong thành, thu thập binh mã quay về phương Bắc, về phần mình c*̃ng lặng lẽ lui binh, vòng qua Loan Đạo, thừa lúc quân Ngụy chưa thể đuổi tới ngăn cản đã từ một con đường khác lui về Nam Đô.

So với bị vây chết tại U Châu, chi bằng lui về giữ Nam Đô, chỉnh đốn cờ trống, đợi quân địch mệt sẽ đánh lại, giành cơ hội phản sát mà thắng.

Khương Hàm Nguyên biết, một trận đại chiến sau cùng, đó là quyết chiến, đã sắp đến.

Đang hành quân ra Bắc được nửa đường, cô ra lệnh đại quân đóng quân chỉnh đốn, đợi hậu quân đến.

Ngày quân Địch rút đi, đã trút lớp da người, lộ ra bộ mặt hung thú và ác quỷ, chẳng những phóng hỏa đốt thành mà còn tới nơi đồ sát cướp bóc, quận Yến như biến thành địa ngục trần gian. May có Triệu Phác và Chu Khánh sớm nhận được tin tức, tấn công mãnh liệt vào đến, quân Địch mới hốt hoảng rút lui. Nhưng dù thế, lửa lớn vẫn lan khắp toàn thành. Hai người họ chỉ huy người dập lửa, sau nhiều ngày, cuối cùng dập tắt hoàn toàn lửa lớn, dân chúng bỏ trốn cũng dần dần quay về. Cuối cùng lão tướng quân Triệu phác ở lại giải quyết hậu quả, còn Chu Khánh dẫn quân tiếp tục tiến về phía Bắc.

Khương Hàm Nguyên muốn đợi Chu Khánh đến, sau khi hai quân tụ hợp sẽ chỉ huy tiến ra Bắc, kiếm chỉ Nam Đô.

Nhớ lại trận chiến, từ khi quân tướng ra khỏi Nhạn Môn, trải qua rất nhiều khó khăn trắc trở, thậm chí cô đã mất cha. Trận quyết chiến kế tiếp là cơ hội phản công cuối cùng của Sí Thư, nhất định gã sẽ dốc toàn lực ứng phó, chắc chắn không hề là một cuộc chiến nhẹ nhàng. Song tướng sĩ dưới trướng, không những không hề e sợ cuộc quyết chiến sắp tới mà ngược lại còn tràn đầy hưng phấn, mong ngóng trận chiến cuối cùng sẽ đến.

Cô cũng thế.

Đợi đến ngày phá được Nam Đô, chính là chiến thắng sau cùng của trận đánh ra Bắc Nhạn Môn trù tính đã lâu này, Đại Ngụy thu phục các môn hộ phương Bắc, mở sâu rộng bờ cõi Bắc cảnh.

Mùi vị này, thanh kiếm sắc tự treo trên đầu Đại Ngụy mấy mươi năm từ khi lên ngôi đến nay sẽ được tháo xuống, uy h**p gót sắt xuyên phá Nhạn môn xuôi Nam của người Địch phương bắc c*̃ng một đi không trở lại.

Hiện giờ cô còn hưng phấn hơn cả binh sĩ, cố đè lại hưng phấn bên trong để giữ cái đầu tỉnh táo bên ngoài. Đây là tình trạng một thống soái nên có trước cuộc đại chiến.

Nhưng sự thực là, cảm xúc gần đây của cô, cực kỳ sa sút.

Thúc Thận Huy lạnh nhạt, còn có thể lấy lý do nước có đại chiến mà y không rảnh bận tâm vào mà giải thích, cộng thêm chính cô cũng bận rộn quân vụ, mỗi ngày không tác chiến thì là nhổ trại hành quân trên đường, nào rảnh rỗi suy nghĩ nhiều chuyện riêng.

Nhưng theo tin của Vô Sinh truyền đến, cô không thể khống chế không suy nghĩ nhiều.

Sao Vô Sinh lại tự thiêu, cô quá rõ ràng.

Nếu như không Sí Thư thao túng con rối múa vở kịch hài phục quốc, không có lời đồn đãi liên quan đến mình và hắn, thì không cần công báo thân phận hắn ra khắp thiên hạ, cả đời này hắn có khi sẽ vĩnh viễn có thể dùng cái tên Vô Sinh mà bình an đến già. Nhưng, không có nếu như.

Xảy ra chuyện như thế, chỉ cần hắn biết thì nhất định hắn sẽ đứng ra — Thúc Thận Huy c*̃ng không cho hắn không đứng ra. Mà một khi thân phận đã rõ, chết, là kết cục duy nhất của hắn.

Mất đi tự do, im ắng từ từ chết già trong cầm tù, hoặc là, lấy danh nghĩa tu hành chứng đạo, ngẩng đầu chết trước mắt người trong thiên hạ.

Khương Hàm Nguyên không biết với hắn mà nói, cái nào mới là sở cầu của hắn. Có lẽ cái sau hợp với tâm nguyện của hắn hơn. Song, dù có thật là hắn hoàn toàn cam tâm tình nguyện, sao cô có thể yên bình trong lòng được chứ?

Đại quân đã trú đóng bảy tám ngày ở vùng đất hoang này. Mấy ngày nữa, Chu Khánh sẽ dẫn quân đến.

Đêm dần khuya, Khương Hàm Nguyên như thường lệ tuần doanh về, một mình ở đại trướng. Tiếng ồn ào doanh phòng ngoài trướng dần biến mất, tướng sĩ về ngủ. Cô cũng đã tắt đèn, để nguyên quần áo nằm trên giường. Nhưng qua hồi lâu vẫn không buồn ngủ.

Cô lại nhớ đến cảnh lần cuối mình gặp mặt Vô Sinh. Cô đi tìm hắn, bảo mai phải lấy chồng, bảo hắn tụng kinh cho mình nghe.

Lúc ấy, cô đâu biết, lần gặp mặt ấy sẽ là lần cuối cùng.

Hắn đã chết. Là cô hại hắn. Nếu lúc ấy cô không đi tìm, sẽ không có lời đồn đại, có lẽ Thúc Thận Huy c*̃ng sẽ vĩnh viễn không biết sự tồn tại của hắn.

Giờ thì tất thảy đã trễ rồi.

Một cảm giác bi thương tuôn trào trong lòng cô. Cô lại nhớ tới cha, cậu. Những người thân trên đời này của cô, từng bước từng bước rời cô đi. Giờ đây, người bạn duy nhất cũng đi mất. Lửa đỏ thiêu người mà chết.

Cô bị cảm giác bất lực bi thương xâm chiếm, lại kìm không đặng nhớ đến lời oán chú của cậu em thốt ra trước khi bị cô giết, cô là một người chẳng lành. Tự dưng cô lại nghĩ tới một người khác, rằng y cũng đã dần biến thành người xa lạ, như vị khách qua đường sống nơi đất khách quê người, đến, gặp, rồi đi xa, trong tích tắc, cảm giác cô độc vô biên vô tận lại ùn ùn kéo đến cô. Cô lại cảm thấy mình giống như quay lại thời xưa, thời thiếu nữ mà cô không muốn quay lại. Đến cuối cùng, chỉ thấy trong ngực buồn bực đến không thể thở nổi, mắt chua nóng vô cùng.

Cô cố sức nhịn cảm xúc muốn rơi lệ xuống, trong bóng đêm, nhắm mắt càng chặt hơn.

Cuối năm ngoái vì đám tang của cậu mà gặp người kia ở Vân Lạc, đêm đó, cô thút thít trước mặt y, từ sau khi chia xa, cô phát hiện hình như mình đã trở nên mỗi lúc một yếu đuối.

Cô không thích bản thân mình như thế. Không nên, cũng không thể.

Cô là một chiến sĩ. Tướng sĩ dưới trướng cô, không cần một thống soái không thể khống chế cảm xúc.

Cô lại im lặng khép mắt chốc lát, chậm rãi bình phục tâm tình, cuối cùng quyết định đứng dậy ra doanh tuần đêm lần nữa, đến khi mệt dĩ nhiên quay về sẽ có thể chìm vào giấc ngủ.

Vừa ra đại trướng, một thân binh vội bước tới, thấp giọng thông báo một câu.

Trong thoáng chốc Khương Hàm Nguyên kinh ngạc ngẩn cả người, có phần không tin, đợi hồi thần, thậm chí không chờ đưa người vào đã sải bước ra ngoài. Cô càng đi càng nhanh, đến cuối cùng, gần như thành chạy, một hơi thẳng ra cổng đại doanh.

Một bóng người, đang đứng yên bên ngoài cổng doanh.

Người kia nhìn thấy nàng, gỡ mũ trùm của áo khoác xuống, chắp tay trước ngực, thấp giọng nói: “Từ lúc chia tay đến giờ Tướng quân vẫn khỏe chứ?”

Là Vô Sinh!

Ánh trăng chiếu xuống khuôn mặt đang mỉm cười, đúng là Vô Sinh.

Hắn không chết. Chẳng những không chết mà bây giờ lại còn đến đây!

Khương Hàm Nguyên khựng một lát, nhìn chàng, từ từ, đôi ngươi lại nóng lên, cuối cùng, bằng giọng có mấy phần nức nở, cô nói: “Ta rất khỏe. Còn ngài thì thế nào?”

Vô Sinh đáp: “Ta cũng khỏe vô cùng. Lần này đến đây, là đặc biệt bái biệt.”
 
Không Tỉnh
Chương 108


Dưới nến sáng, Khương Hàm Nguyên và Vô Sinh ngồi đối diện nhau, lúc này mới nhìn thấy rõ, chàng gầy vô cùng, như đã trút bỏ hình dáng, không chỉ thế, dung nhan c*̃ng bị tổn thương, một bên gò má còn lưu lại dấu vết bị lửa thiêu đốt qua.

Chàng không còn vẻ đẹp ngày xưa, nhưng trên mặt chàng, vẫn thủy chung mang theo ý cười.

Nếu ví chàng trước đây như một đỉnh núi tuyết cao xa xa, siêu nhiên xuất trần, khiến người bất giác sinh cảm giác ngưỡng vọng trong lòng, thì chàng hiện tại như đã bước xuống chỗ ngồi trên cao. Khương Hàm Nguyên cảm thấy chàng không còn Vô Sinh trước kia nữa. Mà giờ đây chàng như một người sống sờ sờ, chân thực, có máu thịt, hơi thở và nhiệt độ. Lúc nói chuyện với cô, chàng c*̃ng không còn xưng bằng tiểu tăng.

“Tội lỗi của ta, chết muôn lần không đủ để chống đỡ. Nhưng ta vốn có thể lựa chọn cách thức khác, hỏa thiêu, là chính ta sở cầu. Đạo ngã của ta là khám phá nỗi khổ của nhân gian, cam tâm tình nguyện dùng cách chứng đạo này để cầu cho tu hành viên mãn. Nhưng, đến một khắc liệt hỏa thiêu thân, ta mới rốt cuộc hiểu ra, ta chỉ là một kẻ phàm tục mà thôi.”

“Lúc bé ta may mắn trốn thoát, được Động Pháp thu làm môn hạ, từ đấy nhận được che chở. Ta xem như đã thoát khỏi hồng trần, một lòng khổ tu, nhưng nỗi lo sợ từ đầu đến cuối chưa từng rời xa ta, mãi về sau, ta càng rơi vào nghiệp chướng, chấp mê bất ngộ.”

“Một khắc ấy, ta chợt nhận ra, ta chẳng qua là muốn mượn phương thức đó để cầu một giải thoát thôi, một cách tầm thường nhất. Ta nhìn như xuất gia, thật ra là kẻ phàm tục, nom như tu hành, thật ra là né tránh cuộc đời, chết đi như thế, ta sẽ rơi vào A Tỳ, vĩnh viễn bị cướp lấy hết…”

Nói đến đây, chàng bỗng dưng nhắm mắt, ngừng lại.

Khương Hàm Nguyên nhìn chàng, im lặng lắng nghe, không cắt lời. Trong đại trướng đầy im ắng.

Chốc lát, chàng chậm rãi mở mắt: “Ta càng không ngờ rằng, Nhiếp Chính Vương cuối cùng đã thả ta, cho ta tự do.”

Lúc nói đến “tự do”, ngữ điệu có phần lớn hơn.

“Lúc liệt hỏa đốt ma chướng xông vào tim ta, đúng lúc trời có biến, Nhiếp Chính Vương mượn danh thiên ý, miễn chết. Tướng quân, không gạt cô, ngay tích tắc ta mở mắt phát hiện ta còn sống, ta bỗng như đạt được thấu hiểu trước đây cầu mãi mà không được. Ta cảm thấy may mắn, may mắn cả đời này chưa bao giờ có. Ta chính là một kẻ phàm nhân, thế gian vẫn còn nhiều khổ, tâm ma cũng khó trừ, nhưng sinh mà tử, tử mà sinh, trải qua đại kiếp, ta còn có cơ hội tiếp tục tu hành, cầu đến viên mãn chân chính.”

“Trời cao đối đãi ta không tệ.”

Nghe Vô Sinh kể lại, Khương Hàm Nguyên như bị lôi cuốn theo, lòng từ từ cũng dâng tràn cảm giác vui mừng và cảm động. Cô biết lúc này mỗi một câu hắn nói, đều phát ra từ phế phủ. Cô thực sự lấy làm vui cho hắn.

“Vậy thì, sau này ngài định đi về đâu?”

“Ta sẽ xuôi theo con đường ta từng đi qua, ra Tây quan, lại đi Tây Vực.”

Khương Hàm Nguyên khẽ giật mình.

Vô Sinh giải thích: “Lần trước ta quyết ý Tây hành, ban đầu dự tính là vì hoàn thành tâm nguyện của thầy, bổ túc sách kinh, nên vội vàng lên đường, có chỗ tiếc nuối. Nhớ năm đó có những vùng bảo địa mà ta từng bái lạy, nhiều cao tăng tinh thông phật lý. Lần này, ta đi vì chính mình, nếu may mắn có thể nguyên vẹn đến đấy, ta đem Pháp học chờ khi quay về, sẽ kết thúc cuộc đời ở chùa Già Lam, ta sẽ ở đấy tiếp tục phát dương phương pháp của thầy.”

Khương Hàm Nguyên cảm thấy tôn kính: “Chùa Già Lam tương lai chắc chắn sẽ trở thành bảo địa vì ngài. Ta đợi ngài trở về! “

Vô Sinh cười tạ ơn cô, ngay sau đấy đứng dậy: “Đời này có thể kết bạn tướng quân là may mắn của ta. Lần này có thể cùng tướng quân nói chuyện thật lâu, không còn gì tiếc nuối.”

“Ta phải đi, xin bái biệt từ đây.”

Khương Hàm Nguyên tiễn chàng ra trướng, định đưa tiếp một đoạn thì chàng chắp tay: “Tướng quân dừng bước, hết sức bảo trọng.”

Khương Hàm Nguyên không cố đưa tiễn nữa, cô ngừng bước, đứng trước màn cửa, thấy chàng bước mấy bước, tựa như chần chừ một lúc, bỗng dừng lại, chậm rãi xoay người.

Khương Hàm Nguyên biết chàng còn có lời muốn nói, mỉm cười nhìn sang.

Vô Sinh dừng mắt trên mặt cô, yên lặng nhìn một lát, bỗng lên tiếng: “Lúc còn ở Vân Lạc, có lần rảnh rỗi, ta từng xuống thăm hồ nước dưới núi tuyết. Lần này, ta cũng đã gặp được mặt Nhiếp Chính Vương.”

“Tướng quân cô nói không sai, y quả nhiên là dung mạo thần tiên. Tướng quân và y, là một cặp bích nhân trời tạo. Tiểu tăng mặc dù nhỏ bé, nhưng nguyện vọng là phát ra từ trái tim bồ đề Đại Thừa. Tiểu tăng sẽ vì hai người đốt đèn quang minh, cầu đại phúc báo.”

Chàng chắp tay hành lễ với Khương Hàm Nguyên lần nữa rồi xoay người đi, không hề dừng lại.

Thân binh thừa lệnh, tiễn chàng ra doanh. Khương Hàm Nguyên đưa mắt nhìn theo bóng hình chàng rời đi, mờ dần dưới ánh trăng trong, cho đến khi biến mất hoàn toàn.

Cô lặng yên đứng đó dưới ánh trăng một lúc lâu mới từ từ quay vào trướng.

Lời trước khi Vô Sinh đi hơi có vẻ không đầu không đuôi. Cô suy nghĩ một lát, cuối cùng nghĩ ra.

Đúng vậy, đó chính là câu cô từng nói. Ngay đêm trước khi cô gả về Trường An, cô đã miêu tả thiếu niên kia với Vô Sinh.

Cô nói, nếu ngài từng thấy cảnh tượng lúc trời nắng, gió từ núi tuyết thổi gợn sóng lăn tăn hồ Gương. Đó chính là dáng vẻ khi hắn cười rộ.

Thì ra sau này Vô Sinh thật sự đi ngắm hồ nước dưới núi tuyết. Mà, khi hắn gặp được người kia, c*̃ng giống như nàng, cảm nhận giống nhau.

Khương Hàm Nguyên xuất thần chỉ chốc lát, từ từ, một cảm giác chua nóng tuôn ra trong lòng, hốc mắt lại nóng lên. Nhưng lần này hoàn toàn khác với ban nãy. Cô rõ ràng cảm thấy, trong lòng mình, tràn đầy cảm xúc hỗn tạp, kiêu ngạo, vui mừng, lại cảm động, êm dịu vô cùng.

Cuối cùng chàng vẫn đưa bằng hữu của cô đến chào.

Từ nay về sau, Vô Sinh sẽ bước trên con đường hắn muốn đi, sống thành dáng vẻ hắn ước nguyện. Khương Hàm Nguyên biết, tương lai sẽ có một ngày, toà cổ tháp ở Lạc Dương chắc chắn sẽ vì hắn mà trở thành thánh địa của người trong thiên hạ.

Trong đêm yên tĩnh này, cô đưa tiễn bạn bè, lại ở trong đại trướng quân doanh ở vùng đất hoang nhớ đến chàng. Còn chàng thì sao, giờ phút này chàng đang ở đâu, làm gì, suy nghĩ chuyện gì?

Trong tích tắc, tưởng niệm như nước thủy triều cuốn tới cô.

Cô thừa nhận, cô nhớ chàng, phi thường nhớ. Cô cũng muốn biết, đến cùng là vì sao mà từ sau khi tách ra, chàng lại như đổi thành người khác. Rõ ràng trước đó, quãng thời gian ở Vân Lạc kia, chàng còn từng dịu dàng bầu bạn cùng cô cơ mà. Mấy ngày bên nhau trong thung lũng kia, đến giờ nhớ tới, vẫn như một giấc mơ.

Không buồn ngủ. Cô kìm lòng không đặng lại lôi cây đao sính lễ ra.

Thanh đao dù hoa lệ, vỏ đao nạm văn ngọc bảo thạch, nhưng vốn là dao găm Võ Đế dùng thường ngày nên khi chế tạo đã suy tính kỹ về tiện dụng mang theo người. Lần trước sau khi Vương Nhân thừa lệnh y đem nó đến chỗ cô lần nữa, cô vẫn luôn mang bên người thành dao găm hộ thân, cắm sau thắt lưng như chủy thủ, rất gọn gàng, đi đến đâu đều mang bên người.

Mỗi ngày không phải đánh trận thì là hành quân, từ chỗ này bôn ba đến chỗ kia, cả ngày bụi đất tung bay, thân đao c*̃ng nhiễm bụi, bảo thạch mờ mịt không phát sáng.

Cô ngồi dưới đèn ngắm một lát, cực kỳ cẩn thận dùng giẻ lau bóng, đến cả một vết lõm hoa văn nhỏ trên vỏ đao c*̃ng không tha. Hồi lâu, vỏ đao đã sạch, bèn cầm đao lên.

Cô lau lưỡi đao, cuối cùng là chuôi đao. Sau khi lau xong đang định tra vào vỏ thì chợt thấy chỗ nối tiếp giữa chuôi đao và thân đao còn vương một vật lạ mảnh như sợi tóc.

Mặt ngoài chuôi đao c*̃ng bọc một lớp chỉ tơ vàng, là dùng kim tuyến cực nhỏ tết thành.

Nói thật, tại phần chuôi đao mà thiết kế thế này ngoài việc làm tăng vẻ hoa lệ bên ngoài gấp đôi thì không có chỗ dùng. Không chỉ thế, nếu lòng bàn tay người cầm đao dính máu hoặc đổ mồ hôi còn dễ trượt, nắm tốn sức.

Thế nhưng, cân nhắc đến thân phận chủ nhân vốn có của thanh đao này thì không có gì kì lạ. Lúc chế đao tất nhiên trước tiên phải nghĩ đến việc tô đậm thân phận tôn quý.

Là một cọng bờm ngựa kẹt giữa khe hở.

Phóng ngựa mang bội đao, vỏ đao cọ vào da thịt ngựa, bờm ngựa vương lên thôi. Ban đầu cô không để ý, dùng giẻ lau đi, xong kiểm tra lại mới thấy không đúng.

Dưới đám chỉ vàng chỗ nối giữa vỏ và chuôi đao hình như còn có thứ gì khác.

Khe hở cực nhỏ, cộng thêm vị trí ngay chỗ giao nối, nếu không phải đêm nay kiểm tra kỹ thì bình thường không thể nào phát hiện.

Khương Hàm Nguyên giơ chuôi đao lại gần ánh nến, càng thêm xác định, dưới lớp chỉ vàng bọc lấy chuôi đao đúng là có thứ gì khác. Cô suy nghĩ một lát, cuối cùng lấy chủy thủ bắt đầu từ chỗ hở cạy lớp áo bọc bằng chỉ tơ vàng.

Lúc mới bắt đầu, cô còn chưa xác định, sợ làm hư chuôi đao mà động tác cực kỳ nhẹ và chậm. Nhưng theo chỉ tơ vàng không ngừng thuận lợi mở ra, động tác càng lúc càng nhanh, cuối cùng, một chút bóc ra lớp áo bọc, lộ ra chuôi đao ban đầu. Không những thế, một tấm vải lụa được cuốn lại rơi ra, dường như là một bức thư lụa.

Tuyệt đối không ngờ, trong chuôi đao này lại giấu huyền cơ.

Khương Hàm Nguyên mở ra, khi đọc rõ nội dung trong thư, trong phút chốc kinh ngạc ngây người.

Đây đúng là một bức thư hoà ly do Thúc Thận Huy viết, rằng ký kết cuộc hôn nhân này hoàn toàn là từ góc nhìn gắn liền với cuộc quốc chiến, đợi ngày cuộc chiến kết thúc, chính là lúc giải trừ quan hệ, đi con đường chính mình, hai người không thể đi chung.

Chữ trên thư, không còn nghi ngờ, là từ tay y. Rải rác mấy lời, ý tứ lại đầy rõ ràng.

Hay là nói, đây không thể gọi là giấy hoà ly. Ngày lạc khoản của nó, còn trước cả khi Hiền Vương đem thanh đao đến Nhạn Môn cầu thân.

Khương Hàm Nguyên mới đầu không tin sẽ có chuyện này.

Trước khi y phái Hiền Vương đi Nhạn Môn cầu thân, đã giấu bức thư lụa trong thanh đao đính ước!

Mặc dù ngay từ đâu Khương Hàm Nguyên đã biết mục đích y cưới mình, cũng thản nhiên tiếp nhận nó. Song ngay phút này, sau cơn kinh ngạc qua đi, thì phẫn nộ và thất vọng không tránh khỏi quấn lấy cô.

Cô từng trong tình cảnh hoàn toàn không hề hay biết trả cây đao này lại cho y. Là y về sau cố ý phái người đưa đao lại đến tay cô.

Lúc Vương Nhân đưa đao đến, cô nghĩ mãi không thông, mục đích y là gì.

Hiện giờ cô đã rõ.

Y vốn không phải đưa đao. Là đưa bức thư lụa này!

Cô c*̃ng đã rõ, vì sao nửa năm qua, thái độ y đối với bỗng dưng thay đổi cực lớn, lạnh nhạt đến thế.

Cô không trách chuyện y sớm sắp xếp xong xuôi tất thảy.

Cô hận chính là, một mặt y kế hoạch lâu dài, trước khi cầu thân, đã rõ ràng là lợi dụng cô, muốn rũ sạch liên quan với cô, một mặt sau khi cưới về lại ra vẻ có tình, trêu chọc tim cô.

Trên đời sao lại có người vô sỉ như thế.

Khương Hàm Nguyên từ từ bóp thành quyền, khớp xương kêu răng rắc, ước gì không thể lập tức vọt tới trước mặt y, một đao đâm vào tim y, móc nó ra xem đến cùng là màu gì.

Cô hít thở thật sau, bắt mình tỉnh táo lại, nhưng trong ngực lại buồn bực đến trào cả máu, cuối cùng bèn đứng lên, ra cửa doanh, đứng ở bên ngoài.

Đỉnh đầu trăng sáng giữa trời, gió lớn vùng hoang vắng không ngừng thổi như lửa đốt khuôn mặt cô. Cô nhìn áng trăng, chợt nhớ đến đêm ấy, ở ngoại thành Vân Lạc, y đưa cô đang khóc mệt lả cưỡi chung một ngựa, từ hang núi về nội thành.

Cô thật không thể nào tin, người nam tử có thể đối đãi mình như thế, nói cũng đã nói, hôn cũng đã hôn, thế mà toàn bộ đều là hư tình giả ý.

Cô cứ thế hơi ngửa mặt, bình tĩnh nhìn trăng sáng, một ý niệm trong đầu chầm chậm nổi lên.

Cho dù ngay từ đầu y thật sự hạ quyết tâm mai sau muốn thoát khỏi cô, cũng đâu cần phí sức trắc trở lớn thế.

Làm như vậy, hoàn toàn không hợp với lẽ thường.

Đến cùng là vì cái gì, mà trước khi cầu thân, y lại dùng ngay chính thanh đao đính ước mà nhét bức thư lụa này?

Đến cùng là chàng cân nhắc chuyện gì?

Đương khi phẫn nộ và thất vọng bị gió thổi tan, lo nghĩ dâng lên trong lòng.

Cô quay lại trong trướng, cầm tấm lụa lên, xem đi xem lại, đương lúc ý nghĩ rối ren, chợt nghe có tiếng nói ngoài trướng. Dường như là Dương Hổ tới, đang thấp giọng hỏi thăm thân binh, phải chăng cô đã đi nằm.

Khương Hàm Nguyên nén lại tâm sự, thu bức thư bằng lụa, đứng dậy vén màn cửa ra ngoài, hỏi chuyện gì.

“Mới có tin từ phía Trần Thích sứ gửi đến, rằng phần lương thảo quân nhu cần thiết cuối cùng của đại quân đã chuẩn bị xong xuôi, lý ra sớm đã đưa đến, nào ngờ trên đường gặp phải một toán binh Địch muốn cướp, chậm trễ ít lâu. Cũng may hữu kinh vô hiểm, ông ấy đã thoát khỏi binh Địch, hiện giờ theo đường vòng chạy đến, tầm vài ngày đến nơi. Chỉ là trì hoãn hơi lâu sợ Tướng quân lo lắng nên phái người cưỡi ngựa nhanh chóng đưa tin tới, để Tướng quân yên tâm. Tôi thấy đêm dài, cũng không phải chuyện gì lớn, sợ quấy rầy Tướng quân nghỉ ngơi, vốn định sáng mai đến bẩm.”

Khương Hàm Nguyên nói: “Không sao, có việc cứ đến báo là được.”

“Còn nữa, người đó nói, đi cùng lần này còn có một kẻ hầu tên là Trương Bảo, nói là đến từ Trường An, tìm tướng quân.” Dương Hổ lại nói.

Khương Hàm Nguyên khẽ giật mình: “Trương Bảo?”

Dương Hổ gật đầu: “Phải. Trần Thích sứ đích thân đưa cậu ta tới.”

Tim Khương Hàm Nguyên đột nhiên đập nhanh: “Ai phái cậu ta đến?”

Dương Hổ lắc đầu: “Không biết. Hay là Nhiếp Chính Vương điện hạ?”

Khương Hàm Nguyên lập tức lệnh cậu dẫn người đưa tin đến, hỏi vài câu, nghe miêu tả dáng vẻ người tiểu hầu Trường An kia, đúng là Trương Bảo.

Cô cũng không thể chờ đợi, giao phó mọi việc xong, đến chập tối liền dẫn một đội quân ra doanh trong đêm, đích thân đi tiếp bọn Trần Hành.
 
Không Tỉnh
Chương 109


Từ hôm Trương Bảo xuất phát, dọc đường có thể nói là màn trời chiếu đất, chịu nhiều đau khổ. Lúc sắp đến Nhạn Môn, theo lời dặn, đầu tiên tìm Thích sứ Trần Hành ở Tịnh Châu, vùng tiếp giáp. Cũng không phải cậu sợ chết. Mà phía trước là vùng lửa chiến, bất kể chuyện gì cũng có thể xảy ra, Vương phi đâu phải ở yên một chỗ, chắc chắn sẽ di chuyển theo cuộc chiến, nếu kẻ như mình không có người biết đường dẫn đường, nhỡ gặp sự cố mất mạng thì không sao, song làm không xong việc được giao vậy thì đúng là chết muôn lần cũng không hết tội. Lại nghĩ tới cảnh Nhiếp Chính Vương từng chịu phỉ báng và bôi xấu, cậu càng ước gì có thể chắp cánh lập tức gặp được Vương phi, kể hết cho ngài. Ai ngờ trời không toại lòng người. Đầu tiên là không gặp được Trần Hành ngay, chậm trễ một chút, khó khăn lắm mới gặp được người, khi đối phương nghe rõ ý đồ đến bèn dẫn cậu chạy ra phía Bắc theo tuyến đường Vương phi hành quân tác chiến. Vất vả lắm cuối cùng đã tiếp cận, thì đại đội lại chạm mặt một đội quân Địch mấy ngàn nhân mã rút lui khỏi quận Yến quận trong ngõ hẹp, may mà Trần Hành túc trí, thuận lợi đánh văng Địch binh. Sau khi thoát hiểm, biết cậu gấp như lửa đốt, bèn đích thân dẫn cậu rời đại đội đi trước.

Hôm qua, khi đoàn người ngang một chỗ quan trọng được che chắn ở Loan Đạo, đến đêm bèn cắm trại ở ngoài trời, sau khi yên vị, cậu nghĩ, ra ngoài đã lâu, không biết tình hình Trường An hiện giờ thế nào, phải chăng cha đã đến Tiền Đường, tâm phiền ý loạn, càng muốn gặp được Vương phi ngay, trong phút chốc không ngủ được mới bước ra ngoài trướng, nhìn thấy Trần Hành còn một mình ngồi trước đống lửa còn chưa tắt, lật đật đi tới. Lúc lại gần mới phát hiện, ánh mắt ông vượt qua đống lửa, nhìn mảnh đất hoang tối om trước mặt như ôm tâm sự, bóng người đầy tập trung.

Trần Hành này rất có lai lịch, đến Trương Bảo cũng từng nghe rằng từ thời Võ Đế sau khi ông đạt đến vinh hoa tột cùng đột nhiên ra kinh sống cuộc sống vô danh phẳng lặng, ở trước mặt đối phương vốn nào dám khinh thường, giờ nhìn thấy ông như có tâm sự nặng nề, vẻ mặt sầu lo, bèn không dám bước lên quấy rầy, đang định lặng lẽ lùi ra thì đối phương đã cảm thấy, thu mắt, nhìn lại.

Trương Bảo đành tiến tới hỏi phải bao lâu mới đến, nghe còn cách chỗ Vương phi không xa, nhanh thì bốn năm ngày, mới thấy an tâm chút, vô cùng cảm kích ông, bèn cảm tạ: “Đoạn đường này nhờ Thích sứ chăm sóc, còn đích thân đưa nô tỳ đi, xin nhận một cúi đầu!” Nói xong bái tạ thật sâu, không ngờ đối phương đột nhiên đứng dậy, lùi qua một bên né lễ, mỉm cười nói: “Mấy ngày liền đi đường, chắc hẳn tiểu công công c*̃ng mệt mỏi, nghỉ ngơi đi. Sáng sớm ngày mai còn phải lên đường.”

Đoạn đường này đúng là Trương Bảo vô cùng mệt mỏi, cộng thêm lo sợ, giờ mới yên tâm, bèn đi thẳng vào trướng, ngả lưng liền thiếp đi, ai ngờ đến trong mơ cũng phải đi đường, mơ thấy cặp đùi mình không ngừng chạy, mỏi như rót chì, ước gì tê liệt ngã xuống đất luôn, song nhớ đến vật mang theo người, đành tiếp tục tiến lên. Đang cắn răng liều mạng phi nước đại tới trước, thình lình dường như có người đẩy cậu, cậu bừng tỉnh, cặp giò còn đạp lung tung trong không trung, trong miệng reo lên: “Đi ra! Vương phi! Ta muốn gặp Vương phi —” bỗng im bặt.

Lúc mơ mơ màng màng mở mắt, cậu đối mặt một đôi mắt nhìn xuống mình.

Miệng cậu trương tròn, khựng lại, ngẩn người một lát, đột nhiên quay đầu nhìn trái nhìn phải.

Còn ở trong trướng, đang nằm trên tấm trải trên mặt đất.

Cậu hung tợn cắn đầu lưỡi mình một tẹo, đau đến úi da, lần này tỉnh hẳn, trong nháy mắt vui như điên, gào to “Vương phi”, gần như muốn lộn nhào, trượt xuống đến trước mặt cô.

“Vương phi! Thật là ngài ư? Sao ngài lại tới đây? Không phải Thích sứ bảo rằng phải mấy ngày nữa mới đến được chỗ ngài sao — “

Khương Hàm Nguyên xoay người bắt lấy, cản cậu đang dập đầu, nhẹ mỉm cười: “Ta nhận được tin của Thích sứ, bảo rằng cậu cũng tới, ta bèn đến đón.”

“Nơi này còn đang đánh trận. Cậu không ở Trường An đợi, tới tìm ta có chuyện gì?”

Trương Bảo nhìn khuôn mặt mỉm cười của cô, vô số tủi thân ngay tích tắc này xông lên đầu, đột nhiên ôm chặt lấy chân cô, gào khóc tại chỗ, nghe cô hỏi làm sao, có bị thương chỗ nào, mới lắc đầu nức nở nói: “Không phải, nô tỳ không sao cả…”

Mới rồi, ngay lúc nhìn thấy Vương phi, không biết tại sao, toàn bộ tủi thân giùm Nhiếp Chính Vương rốt cuộc không khống chế nổi tất cả bùng lên. Cậu khóc mấy bận, chợt nhớ đến chính sự, vội chùi nước mắt, cởi chiếc túi đến đi ngủ cũng không rời người ra dâng lên, nói: “Đây là vật mà cha của nô tỳ lệnh nô tỳ chuyển cho Vương phi. Cha nói, so với mạng của tất cả mọi người cộng lại, còn quan trọng hơn bội!”

Khương Hàm Nguyên khẽ giật mình, nhận lấy mở ra, bên trong là một chiếc hộp, nom như là dùng vàng tinh rèn đúc mà thành, hẳn vì mục đích nước lửa không xâm nhập mà phía trên trừ một lỗ nhỏ hình chữ thập, còn lại bịt kín hoàn toàn thành một khối. Trong phút chốc không biết mở ra thế nào. Trương Bảo lấy ra một chiếc chìa khoá, bằng phương pháp Lý Tường Xuân dạy c*m v** lỗ khóa, chậm rãi di động qua trái trước, rồi phải, lại di dời trên dưới mấy lần.

Cùng với một tiếng cụp nhỏ, giữa thân hộp hiện ra một cái khe, mở ra.

Thì ra giữa nắp và thân hộp khe hở quá kín, nên trước khi mở khóa bằng mắt thường khó mà phân biệt, tạo ảo giác thành một thể.

Khương Hàm Nguyên mở nắp hộp, nhìn thấy bên trong là một ấn phù lớn chừng bàn tay, ánh màu vàng đen, đúc thành hình chiếc đỉnh, mặt trước khắc “Như trẫm thân lâm”, mặt sau là “Thiên Khải tường thụy”.

Xưa nay cô chưa từng thấy qua chiếc ấn phù này, nhưng đúc thành hình chiếc đỉnh, lại có chữ kia, xuất phát từ nơi nào, không cần nói cũng biết.

Thiên Khải là niên hào của Cao Tổ bản triều.

Nhờ ánh nến, cô ngó ấn phù hơi nặng trong tay, ngay lập tứ nhớ tới một chuyện cũ.

Năm ấy Cao tổ lệnh Võ Đế thay ngài tứ xuất chinh phạt, từng ban cho một lệnh bài nghe nói là dùng hòn đá từ trên trời rơi xuống đúc thành, gọi là Thiên Đỉnh. Tướng chấp lệnh có thể điều tất thảy binh mã thiên hạ để bản thân sử dụng. Còn quan nhận lệnh có quyền phán quyết, thậm chí nắm quyền sinh sát trong tay, tất cả đều như là từ ý bề trên.

Sau khi Võ Đế về trời, nghe nói tấm ấn phù ngang với quốc khí này c*̃ng hạ táng theo, từ đấy không còn trên đời.

Giờ ấn phù trong tay mình, lẽ nào chính là tấm lệnh phù Thiên Đỉnh?

Khương Hàm Nguyên giật mình không thôi, nhìn Trương Bảo.

Trương Bảo nhìn ấn phù trong tay cô, trong mắt là vẻ kính sợ, quỳ thụp xuống đất, cung kính dập đầu, rồi thấp giọng nói: “Cha lệnh cho nô tỳ chuyển cáo Vương phi, vật này năm đó không được Thánh Võ Hoàng đế mang đi, mà để lại chỗ Trang Thái Hoàng Thái phi. Thái Hoàng Thái phi lão nhân gia xuất kinh trước, lệnh cho cha đảm bảo nó, vào lúc quan trọng, chuyển lên Nhiếp Chính Vương điện hạ.”

“Đây là ý của Thánh Võ Hoàng đế.”

Khương Hàm Nguyên đầy kinh ngạc, bình tĩnh nhìn lệnh bài tự dưng tựa như ngàn cân trong tay, đột nhiên hoàn hồn: “Chuyện này không thể xem thường! Cha cậu đã lấy ra, sao lại không giao cho điện hạ?”

Hỏi xong, nhìn thấy hai mắt Trương Bảo đỏ bừng, nhìn mình vẻ muốn nói lại thôi, tim bỗng giật thót, đột nhiên cô hiểu ra tất thảy, nhưng, nhưng lại không thể tin nổi.

Đến cùng đã xảy ra chuyện gì?

“Vương phi, ngài không biết sao? Từ đầu năm sau khi ngài lãnh binh Bắc thượng, trong triều đã xảy ra rất nhiều chuyện!”

Trương Bảo nói xong, sực tỉnh, “Nô tỳ biết rồi! Nhất định là điện hạ không muốn để ngài biết, sợ ngài phân tâm!”

Khương Hàm Nguyên gằn từng chữ từng chữ: “Cậu nói cho ta! Toàn bộ! Một chút cũng không được bỏ sót!”

Trương Bảo vâng lệnh, bắt đầu từ Đại triều hội đầu năm, Cao Chúc xuất hiện trở lại, thái độ của Thiếu đế với trận chiến; tin đồn khắp nơi, Nhiếp Chính Vương bị nói xấu thế nào song vẫn chủ trương cố gắng tác chiến, nửa bước không chùn; rồi biến Tây quan, những người phe phản chiến trong triều mượn cơ hội công kích hai cha con Đại tướng quân đã khuất và cô, còn bày ra cục diện ám sát ngài trên đường, may mà ngài dự đoán trước, cùng ngày giết ngược lại Cao Chúc trong đại điện, trấn áp bá quan.

“Từ sau dạo đó, cuối cùng mới yên tĩnh chút, trong triều không còn ai dám can đảm có ý cản trở chiến sự.”

“Còn nữa! Nô tỳ tuyệt đối không ngờ rằng, lúc tiên đế tại thế, ngoài mặt tin tưởng điện hạ vô cùng, ngồi chung chỗ mặc cùng áo, trước khi lâm chung, còn cởi đai lưng giao phó Thiếu đế cho điện hạ, nào ngờ ngài ấy…”

Trương Bảo đỏ bừng mặt, nghiến răng nghiến lợi, ngừng đoạn, rồi nói ra: “Nào ngờ ngài thầm đề phòng điện hạ từ sâu xa, để lại di chỉ, rằng điện hạ mưu đồ làm loạn, muốn trừ điện hạ. Cũng vì bức di chỉ ấy mà bọn Cao Chúc mới gây sóng gió! Nếu không phải cuối cùng điện hạ trấn áp hết bọn chúng, giờ thật sự không biết tình hình sẽ như thế nào nữa!”

Cậu hiển nhiên cố nhịn lắm mới không mở lời kiêu ngạo, nhưng vẫn không giấu nổi cơn phẫn nộ ghét bỏ trong giọng.

“Bệ hạ đâu! Ngài cũng cùng đám Cao Chúc đấy, đối địch với Nhiếp Chính Vương ư?”

Khương Hàm Nguyên nghe mà hãi hùng, không thể tưởng tượng, Hoàng đế thiếu niên kia đến cùng là đối địch với Thúc Thận Huy đến mức nào, mới khiến Lý Tường Xuân lấy ra đỉnh lệnh này.

Đề cập đến Thiếu đế, vẻ mặt Trương Bảo trở nên chán chường: “Tiên đế thì thôi, có lẽ vì ghen ghét điện hạ trong lòng song mặt ngoài vẫn bất đắc dĩ đi. Song nô tỳ thật không hiểu, điện hạ là ai chứ, lẽ nào bệ hạ không biết sao? Sao điện có thể gây bất lợi cho ngài ấy chứ? Dẫu ngài ấy không công khai gì cả, song lại mặc cho đám Cao Chúc kia trong tối nói xấu và công kích điện hạ! Nếu bệ hạ có thể cùng điện hạ đồng tâm thì sao điện hạ bị dồn đến bước này? Vương phi có chỗ không biết, quãng thời gian ấy, lời phỉ báng thật sự là dậy trời động đất. Miệng lưỡi con người xói chảy cả vàng, nô tỳ thật sự lo lắng cho điện hạ…”

Cậu nói đầy đau lòng, nhớ đến gian nguy lúc đó, không kìm được nước mắt chực trào.

Thì ra trong lúc cô chẳng biết tí gì, ở Trường An sau lưng cô, đúng là mưa gió toàn thành, mây đen áp đỉnh.

Cô rốt cuộc hoàn toàn hiểu ra, vì sao dạo đầu năm, chiến lệnh hẳn phải đến lại chậm chạp không đến Nhạn Môn; vì sao từ sau khi đưa chiến lệnh đến, thái độ của chàng đối với mình bắt đầu chuyển sang lạnh nhạt, và vì sao, sau này chàng còn lệnh Vương Nhân cố ý đưa mình thanh đao sính lễ mà chàng đã chuẩn bị xong từ trước kia — tính thời gian, hẳn là ngay sau khi chàng chém Cao Chúc xong.

Chàng giết Cao Chúc, trong miệng Trương Bảo là gấp gáp không có chuẩn bị, cứ như là một hành động lâm thời để trả thù việc ám sát mình.

Song Khương Hàm Nguyên biết, đấy hẳn là quyết định chàng đã nghĩ sâu tính kỹ. Chàng biết rõ mọi hậu quả việc ấy có thể sẽ đưa đến.

Có lẽ bắt đầu từ dạo ấy, chàng đã suy nghĩ kỹ tất thảy, nên mới cắt đứt sạch sẽ với mình.

Khương Hàm Nguyên c*̃ng rõ, vì sao Lý Tường Xuân không giao đỉnh lệnh đại diện đại cho ý chí của Thánh Võ Hoàng đế cho Thúc Thận Huy, mà là chuyển cho mình.

Lão thái giám theo chàng nhiều năm, hiển nhiên cực kỳ hiểu rõ chàng, biết chàng sẽ lựa chọn gì, mới chuyển vật này tới chỗ mình.

Cô tự dưng giận không kìm được, lông tóc dựng ngược, nắm thật chặt lệnh bài trong tay, quay người sải bước đi.

Dương Hổ đi cùng cô, mới rồi đang canh giữ bên cạnh, thấy vẻ giận dữ trên mặt cô, khẽ giật mình, lập tức vội bước tới, thấp giọng hỏi: “Có chuyện gì thế?”

Khương Hàm Nguyên không giấu cậu ta, thuật lại chuyện xảy ra ở Trường An nửa năm qua.

Dương Hổ giận tím mặt, không cần nghĩ ngợi, mở miệng nói luôn: “Nhiếp Chính Vương là phu quân của Tướng quân, há có thể ngồi nhìn ngài ấy gặp bất trắc? Tướng quân định như nào? Chỉ cần cô mở miệng, có phản, bọn tôi chắc chắn đi theo!”

Khương Hàm Nguyên hít một hơi thật dài, đè xuống cơn tức giận mãnh liệt trong lồng ngực, quay đầu nhìn bầu trời đêm hướng chính Bắc.

Nơi đó, là Nam Đô Bắc Địch.

Cô nhìn hồi lâu, chậm rãi nói: “Những lời như thế này, sau này không được phép nói nữa. Tướng sĩ chiến đấu vì thứ gì chứ? Là để biên cương được bình yên lâu dài. Vì dân chúng Đại Ngụy ta về sau không còn gặp nỗi khổ chiến loạn.”

Dương Hổ dừng lại: “Vậy Tướng quân về Trường An trước sao?” Ngữ điệu cậu có phần lo lắng.

Khương Hàm Nguyên trầm tư một lát, quay đầu lại nói: “Chiến sự quan trọng. Mọi thứ chờ đánh xong Nam Đô lại nói. “

Dương Hổ còn định mở miệng, cô khoát tay áo, “Cứ thế đi. Sáng mai chúng ta quay về.”

Dương Hổ bất đắc dĩ tuân theo.

Cô đứng yên nguyên tại chỗ thật lâu, đi tìm Trần Hành.

Ông còn chưa ngủ, một mình đứng bên bờ đất hoang trong đêm khuya, như đang bọn người.

Cô bước đến chỗ ông, cuối cùng dừng bước sau lưng ông: “Trần thích sứ, Nhiếp Chính Vương từng nói với cháu, nếu có việc, cứ việc tìm ngài.”

Trần Hành chậm rãi quay lại, cung kính thi lễ với cô: “Đa tạ Nhiếp Chính Vương tín nhiệm.”

“Cháu từng nghe tiên phụ bảo, chờ thu về phương Bắc, Thích sứ sẽ về Trường An, đệ đơn xin từ chức lên triều đình, quy ẩn sơn lâm?”

Trần Hành mỉm cười nói: “Đúng vậy.”

Khương Hàm Nguyên gật đầu: “Giải ngũ về quê, nhàn vân dã hạc, từ đây gửi tình vào sơn thủy, tiêu diêu tự tại, cuộc đời nào còn có gì tiếc nuối? Cháu xin chúc mừng Thích sứ. Trận chiến cuối cùng này, cháu c*̃ng có ý niệm tất thắng. Làm phiền thích sứ, có thể khởi hành đi Trường An được chăng?”

Trần Hành nhìn cô chăm chú: “Nếu Vương phi có chuyện, cứ việc phân phó.”

Khương Hàm Nguyên móc lệnh bài giao ra.

Trần Hành nhận lấy, ban đầu không hiểu, đợi thấy rõ, tất nhiên ông nhận ra là vật gì, giật mình, lập tức quỳ xuống hai tay dâng cao.

“Ngoài vật này, cháu còn có món đồ, đợi cháu cầm tới giao cho Thích sứ, phiền ngài giúp cháu đưa tận tay Nhiếp Chính Vương. Ngoài ra, giúp cháu truyền một câu, nói…”

Cô quay lại, nhìn lên bầu trời đêm đen vô biên vô tận hướng Trường An.

“Hãy nói, bất kể cuối cùng chàng lựa chọn ra sao, tự có nguyên do của chàng. Cùng chàng vợ chồng một quãng đời, cháu tôn trọng suy nghĩ của chàng, cháu c*̃ng sẽ không ngăn cản. Đợi đến chừng đánh xong Nam Đô, cháu sẽ đến vùng đất năm cháu mười ba từng dẫn đường cho một thiếu niên, chờ thiếu niên ấy đến.”

“Cháu hy vọng đến hôm ấy, cháu có thể đợi được chàng tới.”

Cuối cùng, cô chậm rãi nói.
 
Không Tỉnh
Chương 110


<b>ại thắng</b>

Cuối tháng sáu, lúc quân Ngụy tiến lên phía Bắc, hậu phương gặp phải nhiều lần công kích. Đều là đám quân phục kích mà trước kia Sí Thư rút khỏi quận Yến đồng thời an bài, mục đích chủ yếu để cắt đứt đường lương của quân Ngụy, thiêu hủy lương thảo. Nhưng đối thủ vững như Thái Sơn, thong thả đáp trả, đến đầu tháng bảy, đại quân của quân Ngụy tụ hợp xong, tiến gần Nam Đô, cuối cùng ở một vùng đất trống trải ngoài Nam Đô vài trăm dặm đụng mặt quân Địch quân, chiến sự bộc phát.

Đối với trận đánh cuối cùng này, Khương Hàm Nguyên chẳng những chuẩn bị kỹ, mà còn có niềm tin cực lớn. Tả Xương Vương xưa nay luôn có uy vọng, lão lại bỏ đất ban đêm trốn mất, chắp tay nhường ra Loan Đạo, trực tiếp dẫn đến việc Sí Thư không thể không từ bỏ vùng U Châu mà xưa nay gã tỉ mỉ đầu tư, nó đã đả kích đến sĩ khí đủ để dùng từ trí mạng để hình dung. Điểm này, binh sĩ và sĩ quan cấp dưới trong quân Địch rõ ràng hơn cả.

Trước cuộc đại chiến đã phát sinh mấy trận đánh chạm mặt ở quy mô nhỏ, thái độ phách lối trước đây của quân Địch không còn, đối mặt với quân Ngụy, trong ánh mắt của bọn chúng không còn thấy vẻ hung tàn và ngang ngược của thú dữ không kịp chờ đợi muốn nhào về phía con mồi nữa, mà bọn chúng quan sát đồng đội, đợi dịp mà ra — một tướng lĩnh kiệt xuất có thể gầy nên phẩm cách một đội quân, làm đội quân có thể đạt tới giới hạn cao nhất, mà sức chiến đấu và tâm tính của binh sĩ cấp trung và cấp dưới lại quyết định thực lực của đội quân; ở trong cuộc dã chiến vùng đất rộng lớn này, hai bên không chia ưu khuyết về địa thế, không có thành luỹ lưng núi để dựa vào, toàn bộ kế sách dịch chuyển tiến thoái đều không có chỗ dụng võ lớn, trùng sát là Vương đạo, dũng khí không sợ chết là sức lực đạt đến thắng lợi.

Sí Thư hẳn cũng ý thức được điểm ấy. Khương Hàm Nguyên nghe nói, trước cuộc chiến vì cổ vũ sĩ khí, gã đã lôi toàn bộ của cải vơ vét được bao gồm cả vàng bạc châu báu trong hoàng cung Nam Đô trước khi rút khỏi quận Yến ra, dùng xe chứa, đổ đầy mấy trăm chiếc xe quân nhu kéo đến trước mặt binh sĩ, lên tiếng chia thưởng bằng công lao. Ngoài vàng bạc còn có mỹ nhân, ngoài ra, nghe nói gã còn tuyên bố trước chúng, chỉ cần có ai bắt sống nữ soái quân Ngụy, ngoài đất phong vạn hộ, gã còn ban thưởng cả phi tử đẹp nhất của mình.

Cho dù được của cải mỹ nhân k*ch th*ch, quân Địch đỏ cả mắt cuồng nhiệt lên, song dưới khí thế như núi lửa như cầu vồng sắc bén không thể đỡ của quân Ngụy trước mặt, chỉ tính ý chí chiến đấu đã thấy như là phù dung sớm nở tối tàn.

Trải qua những trận tác chiến lẻ tẻ tiến dần sát vào nhau, mùng mười tháng bảy hôm đó, chủ lực hai bên chạm mặt. Kỵ binh va chạm, bộ binh theo sát phía sau, cuối cùng chém giết cận kề. Từ trên cao nhìn xuống, đầy khắp núi đồi, quân Ngụy trải rộng thiên quân vạn mã, nhìn như không có thứ tự, thực ra ngang dọc đan xen, một chỗ bị trống thì phía sau nhanh chóng bổ khuyết. Ấy cũng là chỗ phát huy uy lực của một đội binh được huấn luyện nghiêm chỉnh trong trận dã chiến quy mô lớn. Quân Ngụy như một con thần thú thời Thượng cổ nằm rạp trên mặt đất với vẻ ngoài to lớn vô cùng, chậm chạp, lại không ngừng di chuyển tới trước, nuốt chửng tất cả vật thể lạ trên đường. Mà quân Địch kia sau một trận kỵ binh đối kháng qua đi, bước vào chiến trận sáp lá cà vật lộn thì chiến tuyến bị kéo ra lỗ hổng, mà không được kịp thời bổ sung như phe đối địch, kẻ đơn độc nào rớt lại đều bị quân Nguỵ xung quanh nhiều hơn mình mấy lần g**t ch*t. Một, rồi hai, cho đến khi ngày càng nhiều lỗ hổng, giống như giáp sừng bị từ từ nhổ đi, vết thương chồng chất, thế thắng bại đã lộ manh mối.

Trận đại chiến kéo dài từ sáng sớm đến hoàng hôn. Khâm Long chết, trở thành điểm chuyển biến cao trào của chiến trường. Chu Khánh theo bố trí trước đó, trong lúc đối chiến giả vờ không địch lại mà rút lui, Khâm Long tự phụ là vô địch, giết đến hứng chí đuổi theo không rời, mạnh mẽ thọc tới, đánh đến đâu thắng đến đó, quân Ngụy rối rít né tránh, chờ đến lúc dẫn gã rời xa đại đội, mới theo một lệnh kỳ cao cao phất lên, đám quân Nguỵ vừa né tránh kia xúm lại xông lên, Khâm Long nhìn thấy lão Chu Khánh quay đầu lại phóng ngựa vọt tới mình, lúc này mới giật mình đã rơi vào cạm bẫy. Người bên cạnh ít dần, nhiều lần phá vây bị ép lui về, cuối cùng bị vây trong trận bố ráp chặt chẽ của quân Ngụy. Nhưng dù là vậy, quân Ngụy bình thường cũng không thể đến gần gã, bị gã chớp cơ hội lại giết ra một lỗ hổng, thừa cơ phá vây. Gã phóng ngựa quay đầu, thấy Chu Khánh dẫn người tiếp tục đuổi theo không bỏ, tức giận rống to: “Có bản lĩnh đơn đấu! Thì cùng ta đại chiến một trận!”

Kẻ thù gặp nhau đỏ ngầu cả mắt. Nếu là ngày thường, chắc chắn Chu Khánh sẽ đáp trả. Nhưng lần này trước khi ra trận, chủ soái đã nhiều lần nhấn mạnh không cho phép ông hành động theo cảm tính cậy anh hùng, yêu cầu duy nhất chính là bắt buộc phải nhanh chóng g**t ch*t kẻ này trên chiến trường.

Chu Khánh rất hiểu dụng ý mệnh lệnh này. Kẻ này mang tiếng xấu trong lòng dân chúng Yến U, là một tên đồ tể, nhưng ở trong mắt binh sĩ quân Địch lại là một viên hãn tướng dũng mãnh vô địch, chủ tâm cốt trên chiến trường. Giết hắn, quân Địch quân sẽ như rắn mất đầu.

Chu Khánh không nói không rằng, quyết tâm thúc ngựa chỉ lo truy sát. Khâm Long thấy binh Ngụy lại tập hợp, nghiến răng nhìn đúng một chỗ yếu, đang muốn thử trùng sát một lần nữa, bỗng binh Ngụy tự động tách ra, một viên tướng Nguỵ trẻ tuổi mặt nhuốm đầy máu nhuộm đầy hung quang phóng ngựa xông vào đối diện, chính là Dương Hổ, trường kích trong tay vùn vụt mang gió, đập vào đầu. Khâm Long lùi ra, vừa ngăn trường kích thì sau lưng Chu Khánh c*̃ng đã giết tới, trường đao chặt xuống.

Khâm Long có dũng mãnh đi nữa c*̃ng ngăn không được Dương Hổ và Chu Khánh trước sau tấn công, cuống quýt tránh né, té khỏi lưng ngựa. Đương còn đợi té xuống thì thừa cơ chém đùi ngựa đối phương cầu sinh, nào ngờ một chân bị kẹt quấn vào chân đạp ngựa, tình thế cấp bách không tránh khỏi, bị treo ngược trên mặt đất kéo ra mấy chục bước, đến khi giãy giụa rơi xuống, nằm ngửa lên trời thì một chiếc vó ngựa như thiết chưởng từ trên không rơi xuống, nặng nề giẫm lên ngực gã.

Chiến mã khoẻ mạnh, băng băng phóng tới, một vó nặng tựa vạn cân, gã quát to một tiếng, xương sườn đã bị tổn thương trước đó gãy răng rắc, miệng phun máu tươi, đang che ngực giãy giụa hòng đứng lên, thì vô số chiến mã từ đối diện đã vọt tới, vó ngựa đạp bụi mù cuồn cuộn, mấy chuyến vừa đi vừa về dẫm gã đến thất khiếu chảy máu, như đống bùn nhão — viên mãnh tướng thanh danh hiển hách đệ nhất quân Địch, đã chết dưới loạn vó như thế.

Cùng tiếng gió hoang gào thét, binh phụ trách quan sát của quân Ngụy rống to, truyền tin này khắp chốn, cước trận quân Địch càng thêm rối loạn.

Chạng vạng tối hôm sau, lúc trời chiều lặn xuống phía tây, ánh tà dương bao phủ vùng chiến trường máu chảy.

Trận đại chiến kéo dài hai ngày đã kết thúc.

Nam Đô tựa một hòn đảo hoang trong ánh tà dương đỏ như máu mê ly, nơi chân trời phương Bắc dần dần lộ ra dáng hình của nó.

Trận quyết chiến này, tiến hành dễ hơn nhiều so với tiên đoán của Khương Hàm Nguyên. Đến nửa sau, chiến trận càng như tồi khô lạp hủ, ở trong đó, Hữu Xương Vương c*̃ng giúp một tay. Nghe nói sau khi ngưng chiến đêm qua, lão thấy đại thế đã mất, muốn bắt chước Tả Xương Vương, giả bày trận chuẩn bị ngày mai tái chiến mà lẩn trốn trong đêm, định đoạt trước Sí Thư, một bước lui về Vương Đình phương Bắc tìm đất ổn định tự lập, bị Sí Thư nghe ngóng được, hai bên bùng lên nội chiến, Hữu Xương Vương chạy trốn, hôm nay, lòng quân quân Địch tan rã, từ trên xuống dưới không còn tâm trí chiến đấu, đối mặt với đột kích của quân Ngụy vừa đánh vừa lui dần về phương Bắc.

Quân Ngụy đại phá Nam Đô, thành này đổi chủ.

Với Bắc Địch mà nói, bắt đầu từ ngày biến Tây quan chưa thoả mãn, từng bước bị động, trận đại chiến thất bại đã là kết cục định sẵn.

Trái lại, quân Ngụy trên dưới đồng lòng, sát khí tung hoành, khí thế như hồng, sao không thể thắng?

Khương Hàm Nguyên dẫn quân tiếp tục càn quét đất Bắc, quét sạch quân Địch còn sót lại. Cùng lúc đó, chiến báo đại thắng phá Nam Đô, thu U Yến c*̃ng trên đường ngày đêm không ngừng, dùng tốc độ nhanh nhất truyền về. Tin chiến thắng về tới Nhạn Môn, rồi bay tới Trường An.

Mười ngày sau, vào buổi chiều hôm ấy, tiếng trống hoàng cung quanh quẩn trên không thành Trường An, vang vọng khắp phố. Dân chúng nghe tiếng trống xôn xao ra khỏi nhà, nghe tin tức truyền ra, người người sôi trào. Quần thần chạy tới trong cung, tham dự triều hội lâm thời.

Bắt đầu từ thời Thánh Võ Hoàng đế, đến Minh Đế, lại đến Nhiếp Chính đương triều, thu về môn hộ phương bắc, đề trình lên triều đình Đại Ngụy. Mưu đồ nhiều năm, mai kia công thành!

Trận chiến kéo dài hơn nửa năm, hôm nay, giấc mơ này cuối cùng có thể thực hiện.

Đương khi điện hầu tuyên đọc tin chiến thắng đến từ phương bắc, Hiền Vương kích động đỏ hốc mắt, xoay mặt sang hướng Bắc mà bái. Quần thần cũng mừng hớn hở, rối rít quỳ lạy, đồng thanh chúc mừng Thiếu đế — hôm nay trong triều hội lâm thời do tin đại thắng đưa đến mà lập, Thiếu đế ngồi triều, song Nhiếp Chính Vương không hề lộ diện.

Nói thật, có thể có đại khánh hôm nay, công lao quyết chí của Nhiếp Chính Vương thật vĩ đại, về điểm này, người người rõ ràng trong lòng. Trận chiến bắc ra Nhạn Môn này mấy năm qua ngài khổ tâm trù tính một tay thúc đẩy không nói, từ đầu năm nay sóng ngầm cuồn cuộn phong vân biến ảo trong triều đình, nếu không có ngài trụ cột vững vàng, cứng như bàn thạch, dốc hết sức làm chủ, chỉ e trận này đã nửa đường đứt gánh, không giải quyết được gì.

Hôm nay vào lúc hân hoan đánh dấu quan trọng như này, ngài lại không xuất hiện. Quần thần mặt ngoài không ai nói ra như chẳng hề lưu ý, nhưng sau khi ca tụng công đức Thiếu đế một hồi, bãi triều xong, ngờ vực vô căn cứ không ngừng dâng trong lòng.

Thúc Tiển từ đại điện về lại ngự thư phòng, đóng cửa một mình ngồi đến trời tối. Cậu không nhúc nhích như nhập định, mãi đến khuya Giả Hưu đến, cậu như vừa tỉnh giấc, chậm rãi nhướng mắt.

“Ngày hôm nay Tam hoàng thúc làm gì?” Cậu hỏi.

“Khởi bẩm bệ hạ, từ đầu giờ chiều Vương phủ đã đóng cửa, không thấy Nhiếp Chính Vương đi ra, ti chức không thể biết được.”

“Đám đại thần thì sao? Sau khi bãi triều, họ bàn tán chuyện gì?”

“Có bàn mấy lời về Nhiếp Chính Vương điện hạ.” Giả Hưu chần chừ một lúc, thấp giọng đáp, giọng điệu mập mờ.

Thúc Tiển cũng không gặng hỏi nữa, cậu dừng mắt trên ánh nến nhảy nhót trên bàn, chăm chú nhìn chốc lát, nói: “Chỗ Trẫm, có ba chuyện, ngươi thay trẫm đi làm.”
 
Không Tỉnh
Chương 111


<b>âng lễ mừng chiến thắng cho tướng quân Trường Ninh</b>

Màn đêm buông xuống, một thớt ngựa trong đêm xuất kinh, phi nhanh đến Hoàng lăng.

Cùng lúc đó, trong đêm khuya, Nam Khang Đại Trưởng công chúa bị ác mộng đè người, hô to thành tiếng choàng tỉnh, cảm thấy nóng nảy bất an, ngồi một mình trên giường, thật lâu cũng chưa định thần được.

Thật ra, từ hôm Cao Chúc bị chặt đầu, bà cả ngày lo sợ ngờ vực, ăn không ngon, ngủ không yên, ngày ngày từ sớm đến tối trong lòng chỉ ôm niềm hy vọng lớn nhất là trận chiến phương Bắc đang tiến hành kia sẽ kết thúc trong thất bại; nữ tướng có danh hào Trường Ninh kia từ đây thân bại danh liệt; đương nhiên, nếu cuối cùng bỏ mình cùng cha cô ta là không còn gì bằng. Nhưng điều bà ngầm trông ngóng cuối cùng vẫn rơi vào hư không. Hôm nay, đương khi toàn thành Trường An sôi trào vì đại thắng, ngay tích tắc bà ta nghe tin, như cha mẹ chết.

Bà vĩnh viễn không quên được tình cảnh chạm mặt với đối phương trong cung hôm ấy, dù qua đã lâu, cho đến nay vẫn rõ mồn một trước mắt.

Cô gái họ Khương này sẽ không bỏ qua cho mình. Sớm muộn sẽ có một ngày, chắc chắn cô ta sẽ xuống tay với mình.

Về điểm này Đại Trưởng công chúa cực kỳ khẳng định. Lúc cô ta còn ở biên tái xa xôi, chỉ là một nữ tướng l* m*ng không làm gì được bà. Nhưng, từ cái ngày Thúc Thận Huy cưới cô ta, tất thảy đều trở nên khác biệt.

Cùng rất nhiều người trong triều, bà chưa hề cũng không hề tin rằng Thúc Thận Huy không từng có ý nghĩ thay vào ngôi vị của đứa cháu. Xưa kia y vẫn chưa có hành động gì chẳng qua là thời cơ chưa tới thôi. Có điều ai làm Hoàng đế c*̃ng không liên quan lắm tới bà, dù gì địa vị bà cũng cách biệt, không bị ảnh hưởng — nhưng, đều là chuyện đã qua. Từ lúc con gái họ Khương gia lấy thân phận Nhiếp Chính Vương phi đột nhiên xâm nhập Trường An, mà rõ ràng là, tương lai Thúc Thận Huy chắc chắn còn phải nể trọng cô ta vì mưu đồ hoàng vị, lập trường Đại Trưởng công chúa không thể không đổi. Vì kế sách tương lai của mình, bà bắt đầu tiếp cận Cao Chúc, Lan Vinh, âm thầm qua lại. Ngày Tây Quan biến loạn, Trường An lâm nguy, dư luận ầm ĩ bao vây tấn công Khương gia tứ phía, mà Thúc Thận Huy vẫn còn kiên trì để cho cô gái họ Khương tiếp nhận ngôi soái, bà bèn chuyển đến Mi Viên ngoại ô thành Bắc, khiến người Trường An nghe ngóng làm theo, trật tự rối loạn. Ấy là bà dò ý của Thiếu đế mà nghĩ, lợi dụng cách thức này gây áp lực cho Thúc Thận Huy. Bà tuyệt đối không ngờ rằng, tiếp đó Cao Chúc chết thảm, tình thế triều đình nhanh chóng đảo ngược, tất cả im hơi, Thúc Thận Huy chân chính càn cương độc đoán, bà không thể không rụt lại, từ đây không dám hành động thiếu suy nghĩ, mãi đến cách đây không lâu, lại có tin về tên hòa thượng Vô Sinh đang phục quốc ở U Châu.

Cô gái họ Khương xưa kia từng qua lại với tên hòa thượng Vô Sinh ở Vân Lạc, tin này Đại Trưởng công chúa biết từ rất sớm. Sau chấn kinh khi nghe chuyện hôn sự, bà mới nhớ ra chuyện năm xưa ngoài ý muốn mà bà vốn quên bẵng kia, cảm thấy bất an mới âm thầm phái người đi Nhạn Môn và Vân Lạc nghe ngóng chuyện cô gái họ Khương để thêm phần nắm chắc. Lúc nhận được tin, bà từng nghĩ sẽ truyền ra bêu xấu thanh danh cô ta song sau khi suy tính, đã từ bỏ. Thanh danh cô gái kia vốn đã đủ đáng sợ mà Thúc Thận Huy vẫn còn muốn cưới cô ta, nghĩa là mục đích của y không ở cưới người, mà là những gì đạt được sau khi cưới người. Với tiền đề đó, thả ra tin tức này không những không có chỗ dùng gì lớn mà nhỡ bị Thúc Thận Huy biết do mình gây ra thì ngược lại tự rước lấy phiền phức. Nhưng nếu Vô Sinh không phải là một tên hòa thượng bình thường mà là hoàng tử nước Tấn, còn được Sí Thư nâng đỡ phục quốc, thì ý nghĩa lại hoàn toàn khác. Nên sau đó mới có lời đồn đãi toàn thành.

Nhưng, tất thảy đều được chứng minh là đã phí công.

Ý nghĩa trận đại chiến này thế nào, Đại Trưởng công chúa rất rõ. Giờ cô gái họ Khương đã thắng trận, Thúc Thận Huy c*̃ng đã đạt được thắng lợi xưa nay chưa từng có do một tay y sáng lập, uy vọng đạt đến đỉnh cao. Y c*̃ng không còn che giấu dã tâm, chém giết Cao Chúc, không khác gì công khai quyết liệt với Thiếu đế. Có lẽ chẳng mấy chốc y sẽ ra tay với Thiếu đế thôi. Còn cô gái họ Khương kia muốn đối phó mình, càng dễ như trở bàn tay.

Sợ hãi từ tận đáy lòng lan tràn khắp người. Đại Trưởng công chúa bị nỗi sợ hoàn toàn chi phối, tim đập thình thịch, không ngừng đi tới đi lui như một con kiến bị nhốt trong nồi, mà dưới đáy nồi, củi lửa đã bắt đầu chất.

Bà ta biết mấy năm qua Lan Vinh âm thầm bồi dưỡng không ít thế lực, trừ Trường An, các nơi đều có. Thậm chí bà ta còn ngờ rằng, Lan Vinh tuyệt đối không phải chỉ muốn làm một vị ngoại thích đơn giản thế. Trước đây lúc Cao Chúc dẫn người đối đầu với Thúc Thận Huy, hắn ta cực ít khi công khai lên tiếng, chưa tính những kẻ theo hắn. Cẩn thận đã giúp hắn tránh được thanh toán sau khi Cao Chúc rớt đài.

Hiện giờ chỗ cậy vào lớn nhất của bà chính là thời điểm này Lan Vinh có hành động, bà cũng tin rằng Thiếu đế c*̃ng sẽ không ngồi chờ chết. Bà đoán sẽ chẳng bao lâu, Trường An sẽ có một cơn gió bão giáng xuống.

Bà không thể ở lại chỗ nguy hiểm này. Chi bằng đi đất phong lánh mặt, xem tình huống. Nếu cuối cùng là Thiếu đế hay là Lan Vinh nắm được cục diện thì không còn gì bằng. Còn ngộ nhỡ, nếu Thúc Thận Huy như dự kiến thuận thế lên ngôi…

Bà bèn nghĩ đến một người, Trần Hành.

Ông là trượng phu trên danh nghĩa của bà, cho đến giờ tất cả người bên ngoài cũng còn nhận định thế, song ngoài vẻ ngoài ngay từ đầu đã hữu danh vô thực, sự thực là, trước khi Võ Đế qua đời đã hạ mật chỉ cho bà thu lại lệnh ban hôn năm đó. Còn vì sao năm ấy ngài ban hôn, rồi lại vì sao sau đó thu lại, nguyên nhân bà cũng từ từ ngộ ra từ lâu. Có lẽ chẳng qua chỉ là một sự trừng trị Trần Hành của một đế vương cao ngạo trong cơn nóng giận, vừa lúc bản thân mình lại gây tai họa cần mau chóng thành hôn giữ gìn thể diện của Hoàng gia thế là biến thành công cụ cho Võ Đế dùng.

Chuyện xưa liên can đến Thánh Võ Hoàng đế và thanh danh cực quý của người khác trong cung đình, bà cũng biết chỗ kiêng kị, giả điếc vờ câm xem như không biết. Nhưng sau này, nếu chuyện không thể cứu vãn thì vẫn còn một con đường cuối cùng, đó chính là dùng nó làm chuôi, bảo Trần Hành đổi cho mình một tấm bùa hộ thân ở chỗ Thúc Thận Huy. Đoán rằng giữa hai người này, sẽ không thể hoàn toàn không chỗ cố kỵ gì với chuyện này.

Cuối cùng Đại Trưởng công chúa cũng thấy thoáng định thần lại chút.

Sau khi Cao Chúc chết, một hôm bà hoảng sợ hết nhịn nổi, vội vã bảo đưa con đi xem đất phong, mấy hôm trước cố không gây chú ý, lặng lẽ ra khỏi thành, ở lại Mi Viên ngoại thành này. Giờ chỉ cần xe ngựa chuẩn bị xong, không cần chờ đến hừng đông, là bà có thể rời Trường An trong đêm.

Đại Trưởng công chúa bị ý nghĩ này thúc giục, trong phút chốc vội vã xiêm áo, sải bước ra khỏi phòng ngủ gọi nô bộc, lệnh cho lập tức gói ghém của cải châu báu. Hạ nhân bị xáo trộn nháo nhào, cái này phải xách đi, chỗ kia cũng không thể bỏ, chậm tay chút thì bị quát mắng, trên sàn phòng ngủ rơi vãi rất nhiều tơ lụa váy hoa không mang hết, đầy hỗn độn. Cuối cùng chất đầy mấy rương lớn, chắc xe ngựa cũng chở không hết, Đại Trưởng công chúa mới xem như thôi, gọi hộ vệ, vội vàng chạy ra cổng chính, vừa ra tới cổng, bỗng khựng bước.

Ngoài cổng lửa trượng chao động, Giả Hưu dẫn theo một toán người chẳng biết đến từ lúc nào, đang chắn ngang bên ngoài, chẳng những chặn cửa mà còn ngăn xe ngựa dừng ở ven đường của bà lại.

Đại Trưởng công chúa sửng sốt.

Từ sau khi Lưu Hướng tự nhận tội đi canh gác hoàng lăng, tên này trở thành tâm phúc trước mặt Thiếu đế. Đại Trưởng công chúa rất bất ngờ, sao tự dưng hắn lại đến Mi Viên. Chưa kể, nom điệu bộ kia như là không có điềm lành.

Dù trong mắt bà đám đấy cũng chỉ là gia nô, song hiện giờ đâu còn như xưa. Bà nén nỗi bực bội trong lòng, cau mày hỏi: “Ngươi đây là ý gì?”

“Đêm hôm khuya khoắt, quấy rầy Đại Trưởng công chúa, xin hỏi ngài đây là đang định đi đâu?” Giả Hưu vẫn nở nụ cười trên mặt.

Đại Trưởng công chúa lạnh lùng nói: “Ta có việc muốn ra cửa. Tránh ra!”

Giả Hưu không cho, phất tay ra hiệu người sau lưng, một đội Cấm Vệ quân như sói như hổ bèn đi lên, rút đao ép đến Đại Trưởng công chúa. Bà bị ép lùi vào trong cửa, không nén không được lửa giận, quắc mắt trừng trừng, quát: “Ngươi muốn làm gì? Dám can đảm đối xử ta thế hử?”

Giả Hưu nói: “Bắt đầu từ bây giờ, xin Đại Trưởng công chúa yên tâm ở lại Mi Viên, không được ra ngoài. Người ngoài, bao gồm cả đưa lương thực gánh củi c*̃ng không được phép bước vào nửa bước, ai vi phạm giết không luận tội. Người còn trong viên nếu muốn đi thì toàn bộ đi ra ngay lúc này! Chậm chân cổng khóa, đừng trách ta không cho cơ hội.”

Vừa dứt lời, những người lanh lẹ nhanh chóng hiểu rõ. Đây là muốn nhốt Đại Trưởng công chúa trong Mi Viên cạn kiệt lương thực mà hết đường, từ từ chết đói?

Vị Đại Trưởng công chúa này xưa nay ương ngạnh, đối xử nô tài không đánh thì mắng, ở bên cạnh cũng không mấy ai tử trung chân chính. Hạ nhân trong viện ai cũng sợ hãi, dù không rõ cho lắm, song đã có cơ hội chạy trốn thì nào ai chịu bị nhốt chung một chỗ chết đói? Ngay lập tức, toàn bộ hạ nhân, bao gồm cả hộ vệ, tranh nhau chạy trốn ra ngoài.

Đại Trưởng công chúa thất sắc, c*̃ng định phóng ra ngoài thì bị hai Cấm quân cầm đao cản lại. Bà ta quát: “Tên điêu nô Giả Hưu này! Hẳn ngươi cũng là người của Thúc Thận Huy hử? Cút! Ta muốn đi gặp bệ hạ!”

Ý cười cũng lặn khỏi mặt Giả Hưu, lạnh lùng: “Cũng báo Đại Trưởng công chúa biết, đây chính là lễ khải hoàn mà bệ hạ giành cho tướng quân Trường Ninh.”

Đại Trưởng công chúa như gặp sét đánh tại chỗ, trợn mắt: “Ta không tin! Bệ hạ sao lại làm thế? Ta chính là con gái của Cao Tổ! Thánh Võ Hoàng đế là hoàng huynh của ta! Mi Viên này còn là do chính Cao Tổ xây cho ta! Sao bệ hạ lại dám đối xử với ta như vậy! “

Lúc này người trong viên đã trốn sạch, một Mi Viên to lớn đến thế chỉ còn lại một mình Đại Trưởng công chúa. Giả Hưu từ chối không nghe, dẫn người rời khỏi. “Ầm”, cổng viên khép kín. Đại Trưởng công chúa liều lĩnh xông lên, ra sức muốn mở cổng, song theo sát đấy là tiếng khóa cổng từ bên ngoài, cổng khép chặt, không thể kéo ra.

Đại Trưởng công chúa gào lên một tiếng, quay người chạy như điên ra cổng sau, song cổng đã bị khóa khoài từ lâu. Trong lúc bà la hét, nghe tiếng Giả Hưu vọng đến, sai binh sĩ canh chừng, nếu người bên trong dám vượt tường, thì bắn tên ngăn cản.

Đại Trưởng công chúa tuyệt vọng hoàn toàn, chửi ầm: “Thúc Tiển ngươi là con quỷ đoản mệnh tim đen! Giờ ta đã nhìn ra ngươi, không phải thứ gì tốt! m hiểm độc ác, hèn hạ vô sỉ! Ngươi cho rằng làm thế này Thúc Thận Huy sẽ buông tha ngươi, giữ được hoàng vị của ngươi à? Mơ giấc mơ xuân thu đi… “

Trong tiếng nguyền rủa oán độc từ bên trong vọng ra, Giả Hưu quay người rời đi.
 
Không Tỉnh
Chương 112


Đi con đường nào

Đến bình minh, Thúc Tiển nhận được hồi báo, ba chuyện cậu sai bảo, hai chuyện đầu — phái người đón Lưu Hướng từ Hoàng Lăng về, cầm tù Đại Trưởng công chúa — đã làm xong xuôi. Song còn chuyện thứ ba liên quan đến Lan Vinh, lại có điểm ngoài dự kiến.

Hẳn là ông ta đã nhận được tin sớm, bỏ trốn trong đêm, dùng lý do trong người có chuyện khẩn cấp cần giải quyết lệnh mở cổng thành, Môn lại tin là thật, ông ta đã trốn khỏi thành, không rõ tung tích.

Gió từ cửa sổ im hơi lặng tiếng âm thầm tràn vào, dưới ánh nến tàn chập chờn chưa tắt, Thúc Tiển đứng dậy, từ trong hốc tối lấy ra một vật, chậm rãi mở ra trên bàn, cúi nhìn đăm đăm một lát rồi ngẩng lên vẫy tay với cung nữ Đoạn Nhi đứng hầu bên cạnh. Cậu chỉ vào vật trên bàn, nói: “Đây là di chiếu tiên đế để lại cho trẫm. Biết trẫm muốn xử lý nó thế nào không?”

Đoạn Nhi ngây ra, chần chừ đoạn, cuối cùng ỷ vào được đối đãi hơn kẻ khác một bậc, đánh bạo nói: “Tiểu tỳ không biết. Bệ hạ định xử lý thế nào?”

“Trẫm muốn đốt nó.”

“Ngươi đi bẩm báo với Thái hậu đi chứ.”

Cung nữ kịp phản ứng, sắc mặt trắng bệch, run rẩy quỳ xuống dập đầu, miệng cầu xin tha, bảo là lệnh của Thái hậu, trước đây đưa nàng ta quay lại là muốn nàng ta nghe lén động tĩnh bên này, nàng ta không dám không nghe theo.

Thúc Tiển Nhin cung nữ sợ đến run lẩy bẩy cả người trên mặt đất, mắt lộ ra mấy phần bi ai: “Quả nhiên người trong cung đều là kẻ vô tâm vô tình. Ngay cả một kẻ có thể nói chuyện, c*̃ng tìm không thấy.”

Cậu nhìn quanh tòa điện thất hoa lệ.

“Nhưng mà, sao trẫm không phải như thế chứ?”

“Xét về vô tâm, luận về vô tình, trẫm vẫn xếp thứ nhất.”

Cậu như đang nói với cung nữ, lại như đang nói một mình.

Cung nữ nghe không rõ, chỉ lệ tuôn dào dạt không ngừng, mặt như hoa lê ngậm mưa, chỉ lo năn nỉ xin tha. Thần sắc Thúc Tiển chuyển sang lạnh lùng và chán ghét.

“Đều là người đáng thương, thân bất do kỷ. Trẫm không giết ngươi.” Cậu hờ hững nói xong, không hề nhìn đến cung nữ, sai người kéo ra ngoài.

Trong cung Đôn Ý, Lý Thái phi bán thân bất toại ngôn ngữ không tiện, tính tình cũng trở nên nóng nảy, có khi tinh thần thậm chí không tỉnh táo, cả đêm không ngủ, chửi bới r*n r*, dù nghe hàm hàm hồ hồ nhưng cũng phân biệt được, miệng đầy bất kính, trong đêm khuya lọt vào tai như quỷ dữ, người xung quanh đều sợ hãi. Lan Thái hậu sợ lỡ đến tai Thúc Thận Huy gây hoạ, nơm nớp lo sợ, ban đầu còn đích thân trông nom bên cạnh, sau đấy hết có thể kiên nhẫn, lệnh cho Thái y cắt thuốc hạng nặng cho bà ta, trộn vào chỗ thuốc uống thường ngày. Đêm qua cũng vậy, Lý Thái phi đã mê man một đêm, Lan Thái hậu hiện tại vội vã chạy đến, sai người thức tỉnh bà, song thuốc quá nặng, mặc cho kêu gọi cách nào, thần chí của Lý Thái phi vẫn không tỉnh. Lan Thái hậu mới lệnh Thái y dùng kim châm thức tỉnh.

Thái y chạy tới, thấy Thái hậu đang nôn nóng đi qua đi lại trước giường Lý Thái Hoàng Thái phi, mặt trắng bệch, hai mắt đỏ rực, cả người còn như hơi run rẩy nom rất doạ người, không dám không nghe theo, vội vàng lấy kim châm, định huyệt vị mà hạ châm. Dưới k*ch th*ch, quả nhiên Lý Thái phi tỉnh lại, trong cổ họng phát ra một âm thanh ú ớ mơ hồ, mí mắt lật lên lật xuống mấy lần, nhưng cuối cùng mở không lên. Thử mấy lần đều như thế. Thái hậu không ngừng thúc giục, Thái y tâm hoảng ý loạn, lau mồ hôi giải thích, rằng dược tính đang nặng, xin bà yên tâm chờ dược tính tan đi bớt là có thể tỉnh lại.

“Cút!” Lan Thái hậu đỏ mắt nhào tới, bỗng chụp lấy hai vai Lý Thái phi giật nửa người bà ta ngồi dậy, dốc hết sức bình sinh hung bạo lắc, vừa lắc vừa nghiến răng: “Tỉnh lại! Bà tỉnh lại cho ta!”

Thái phi bị bà lắc xõa tung cả tóc, cổ bị lắc mạnh muốn rớt cả đầu. Một lát sau, cùng với tiếng rên đau đớn trầm thấp, mí mắt cụp xuống từ từ mở, nhìn rõ là Lan Thái hậu, trong mắt lộ vẻ tức giận, cố hết sức nâng cánh tay còn động đậy được, xỉa ngón ta vào bà ta, miệng phát ra âm thanh ú ớ: “Ngươi…”

“Trận đã đánh xong! Bệ hạ đã ban chết cho Lan Vinh! Chắc chắn là do bệ hạ sợ Thúc Thận Huy hãm hại, bất đắc dĩ mới làm vậy! Sao nó có thể giết cậu ruột của nó được chứ? Nhất định là Thúc Thận Huy buộc nó! Nó là vì tự vệ!”Lan Thái hậu một mặt điên cuồng lắc Lý Thái phi, một mặt khàn giọng gào thét, “Bà nói mau! Ngoài Cao Chúc, trước khi tiên đế ra đi, phải chăng đã sắp xếp ai khác nữa, hay là còn cách gì khác! Ta phải nhanh báo cho bệ hạ!”

Cổ họng Lý Thái phi phát ra tiếng khùng khục, vẻ mặt cực kỳ đau đớn.

“Nói! Bà mau nói cho ta!” Lan Thái hậu như phát điên, tiếp tục lắc không ngừng, cứ như làm vậy sẽ có cách cứu mạng.

“Mẫu hậu đang làm gì vậy?” Sau lưng bỗng nghe một giọng nói truyền đến.

Lan Thái hậu dừng lắc, thở hồng hộc quay lại. chẳng biết Thúc Tiển tới đây tự lúc nào, đứng sau lưng bà, kẻ hầu chung quanh đều đã quỳ xuống, không dám ngẩng đầu.

Bà thở hổn hển mấy hơi, hất Lý Thái phi ra, quay lại chạy đến bên Thúc Tiển.

“Tiển Nhi con đến thật đúng lúc, mẹ cũng đang muốn đi tìm con! Con không thể đối xử với cậu con thế! Ông ấy một lòng bảo vệ con mới đắc tội kẻ kia! Hiện giờ phương Bắc thắng trận, con có biết rằng, rất nhiều đại thần trong triều đã sớm âm thầm viết xong chúc biểu, đợi chừng tranh vị giành công ủng hộ đầu tiên hay không! Cao Chúc đã không còn, con mà còn giết Lan Vinh thì sau này thật sự tứ cố vô thân, trên đời không còn kẻ nào có thể trợ lực! Mẫu hậu biết đây không phải là bản tâm của con, con thả Lan Vinh đi, mẫu hậu van xin con…”

Thúc Tiển tựa như chưa từng để lọt vào tai, gỡ bàn tay đang níu ống tay áo mình của Lan Thái hậu, bước thẳng tới trước giường Lý Thái phi, hơi cúi người nhìn bà ta.

“Hôm đó, bà mượn danh tiên đế, giả di chiếu bày ra cho trẫm, là định thế nào?” Mặt cậu không lộ vẻ, chậm rãi nói.

Lý Thái phi trừng to mắt, chằm chằm nhìn Thúc Tiển, thấy cậu nói xong, lấy trong tay áo ra một vật.

Chính là di chỉ của Minh Đế bà giữ nhiều năm kia. Ngay phút này, Thúc Tiển đưa nó đến đám nến trước giường.

Ngay lập tức, một góc lụa bén lửa. Ngọn lửa bén lên, rừng rực một đường nhanh chóng l**m lên cao. Thúc Tiển buông tay, bức di chỉ như món đồ không đáng một đồng bị vứt bỏ, bị lửa l**m quanh, bay xuống đất.

“Tiển Nhi con điên rồi!” Lan Thái hậu lấy lại tinh thần, ré lên the thé, vọt tới nhấc chân ra sức dập lửa, không sợ phỏng tay, chụp món đồ dưới đất, đã thấy nó bị đốt chỉ còn một góc, trước mắt tối sầm, ngã ngồi xuống đất.

Lý Thái phi thì muốn nứt cả mắt, đưa tay muốn chụp đến, song nào được, chỉ chòng chọc nhìn bức di chỉ bị đốt trụi chỉ còn khung sừng, mấp máy bờ môi, đột nhiên, phát ra một tiếng ú ớ oán hận đầy không cam lòng: “Trời cao —” hô xong hai chữ, người té thẳng từ trên giường xuống, đổ xuống đất, bất động.

“Tiển Nhi, Tiển Nhi! Mi đến cùng muốn làm gì —— “

Trong tiếng khóc tuyệt vọng đến tê tâm liệt phế của Lan Thái hậu sau lưng, Thúc Tiển bước ra cung Đôn Ý.

Tin tức liên tiếp đã một lần nữa chấn động triều thần.

Thì ra vào đêm đại hôn của Nhiếp Chính Vương gặp chuyện trước đây, Lan Vinh cũng là một trong đám chủ mưu. Không chỉ thế, hắn cùng Sí Thư trong ngoài cấu kết, đổ thêm dầu vào lửa vào Cao Chúc, cản trở chiến sự; mà làm người không ngờ tới là còn âm thầm che chở cho dư đảng của Cao Vương Thành Vương. Hắn tự biết tội ác bại lộ, đêm qua đã chạy án. Thiếu đế đã hạ lệnh đuổi bắt, cũng triệu hồi Lưu Hướng từ Hoàng lăng về, lệnh cho tiếp chưởng Địa môn ti.

Chưa hết, khiến bá quan khiếp sợ nhất là, di chỉ của Tiên đế hôm Đôn Ý Thái Hoàng Thái phi từng tuyên bố mà không ai quên được kia nghe nói thì ra là giả mạo chỉ dụ của vua. Đêm qua Thiếu đế chính mắt nhìn ngụy chiếu thiêu hủy, mà Đôn Ý Thái phi một tay tạo ra nguỵ chiếu kia e rằng cũng không còn sống lâu trên đời.

Trước đây người người thầm rõ trong lòng, chờ đến chừng chiến sự phương bắc kết thúc, giữa Thiếu đế và Nhiếp Chính Vương e không thể nào tiếp tục duy trì hiện trạng. Tình trạng hiện giờ khó bề phân biệt thật giả, Thiếu đế làm vậy, đến cùng là từ ý của chính ngài, hay tất thảy đều do Nhiếp Chính Vương ép buộc, Thiếu đế có chỗ bất đắc dĩ?

Triều đình Đại Ngụy mai này, đi theo con đường nào?

Đám đại thần còn đắm chìm trong niềm vui mừng đại thắng phương Bắc hôm qua, trong lòng lại bồi thêm nỗi lo lắng âm thầm vô hạn. Người người im lặng, chỉ thầm dõi theo toà Vương phủ đóng kín cửa từ hôm qua kia.

Trời lại tối.

Lúc Hiền Vương từ cửa hông yên lặng vào Vương phủ, Thúc Thận Huy còn đang yên giấc.

Đã hồi lâu y không cảm giác một giấc ngủ ngon. Hôm qua, khi tin đại thắng phương Bắc đưa đến, y không gặp ai, không đi bất kì đâu, chợp mắt ngủ. Một giấc này, ngủ thật dài mà sâu.

Tri sự Vương phủ đến, trong tiếng gõ cửa, y đang mơ thấy một cô gái. Nàng ấy đang tung vó chiến mã, trải ngang thiết sơn. Gió lớn thổi váy nàng múa cuồng, bóng ảnh dần đi xa, biến mất trong trời đầy cát vàng. Đương khi y phiền muộn vô hạn, nàng đột nhiên thu tay trên lưng ngựa, nhoẻn má lúm yêu kiều. Trong mơ y chỉ thấy một cảm giác cuồng loạn, trong tích tắc nhiệt huyết sôi trào, đợi phóng ngựa đuổi sát, cảnh trong mơ bị âm thanh hỗn tạp bên tai mà dừng bặt.

Y choàng mở cặp mắt phiếm hồng, phát hiện mình vẫn còn nằm trong tẩm đường. Ngoài cửa sổ trời lại biến đen, trong hoảng hốt, y có cảm giác mờ mịt như không biết năm nào tháng nào làm sao. Chân thực duy nhất, chính là nhịp tim đập mãnh liệt do giấc mơ kia mang lại.

Y ngồi trong bóng đêm một lát, đợi nhịp tim từ từ khôi phục, thở một hơi dài hơi, châm nến, qua mở cửa.

Tri sự thi lễ với y, báo Hiền Vương tới.

Sau ngày chém chết Cao Chúc, y và Hiền Vương, không hề có bất kỳ qua lại riêng nào.

Thúc Thận Huy lệnh tri sự mời Hiền Vương đến Chiêu Cách đường. Một lát sau, y thay quần áo xong xuôi, xuất hiện trước mặt Hiền Vương với nụ cười mỉm trên mặt, tinh thần sáng láng, nom chẳng có gì khác với thường ngày.

Hiền Vương thì khác. Trên mặt ông cũng ôm nụ cười, nhưng nụ cười ấy lại có vẻ có phần miễn cưỡng. Sau khi ngồi xuống, ông nhìn Thúc Thận Huy, mấy bận định nói lại thôi, càng lộ vẻ tâm sự nặng nề.

“Hoàng bá tổ có việc, cứ nói thẳng.”

Hiền Vương ngập ngừng đoạn, rốt cuộc mở miệng: “Điện hạ, tối nay ta đến, là nhận bệ hạ nhờ cậy.”

“Bệ hạ có việc, bảo ta chuyển đạt.”
 
Không Tỉnh
Chương 113


Thiếu đế đối với Hiền Vương mà nói, ngôi vị Hoàng đế của cậu ta vốn may mắn mà đoạt được, không phải thiên mệnh, dù miễn cưỡng ngồi ngôi nhưng chung quy bản tính gian ngoan, tư chất ngu dốt, lực không thể bằng, không chỉ thế, đức không xứng vị, họa người hại mình.

Thiên hạ bấy giờ lấy bậc năng giả làm gốc, đạo lý này, cho tới bây giờ cậu ta mới hiểu, mất bò mới lo làm chuồng, chỉ mong chớp thời gian không muộn. Cậu ta xem như thiêu huỷ di chỉ, thề với trời, thù tất thảy mọi người cũng sẽ không có việc gì.

Năm đó Hiền Vương thoái vị nhường Thánh Võ Hoàng đế, sáng lập một đoạn giai thoại đường lê sinh huy, châu ngọc phía trước, hẳn cậu ta muốn bắt chước.

Ngữ điệu Hiền Vương vốn nhát gừng, nói đến đây, ông ngừng lại, nhìn sang Thúc Thận Huy.

Ánh nến hắt ra một khuông mặt yên lặng lắng nghe.

Hiền Vương lấy lại bình tĩnh, đứng dậy, đi đến trước mặt y, lấy một bức thư mang đến, khom người hai tay dâng lên.

“Đây là chiếu thư thoái vị, bệ hạ ủy thác ta chuyển lên điện hạ. Bệ hạ nói, Tam hoàng thúc của ngài còn thích hợp làm Hoàng đế thiên hạ này hơn ngài. Về công việc, bao gồm khi nào công bố thiên hạ, tất thảy xin điện hạ định đoạt, ngài ấy đều tuân theo.”

Hiền Vương nâng thư, đợi Thúc Thận Huy tiếp nhận.

Thúc Thận Huy không hề nhúc nhích: “Xin đem vật này trả lại cho bệ hạ, chuyển lời đến bệ hạ, chớ tự coi nhẹ mình. Ta biết năng lực của ngài, trị được thế, tể được dân*.” (cứu giúp)

“Mặt khác, ta c*̃ng có một thứ, Hoàng bá phụ đã tới, phiền ngài trình giúp đến bệ hạ— “

Y đứng dậy, đem một quyển tấu chương đến, “Đây là tấu từ chức mà Đại triều hội Nguyên đán ta từng trình lên, hẳn Hoàng bá phụ còn nhớ lúc ấy bệ hạ chưa chuẩn, thu lại. Cũng vì nhận ân của bệ hạ, cho phép ta nhiếp chính đến nay. Quốc chiến đã thắng, ngôi vị Nhiếp Chính Vương này của ta, đã tới lúc thật sự gỡ bỏ.”

Y lại mang tới một chiếc hộp, đặt xuống mở ra. Hiền Vương nhìn là nhận ra ngay, trong đó đựng đai lưng bằng vàng ngọc chín vòng mà năm xưa Minh Đế trước khi lâm chung tự tay thắt bên hông y. Lúc ấy Hiền Vương ở bên cạnh, chính mắt nhìn thấy toàn bộ quá trình, huynh đệ tình thâm, cảm động bực nào.

“Đai lưng làm tin cho nhiếp chính. Hôm nay ta đã từ chức, vật này, nên trả lại.”

Y từ tốn nói.

Nhưng tâm tình Hiền Vương đã càng thêm ảm đạm.

Trên đời này có một loại người, như mặt trời treo trên trời không, chói mắt bẩm sinh, sáng chói rực rỡ không thể nào che giấu. Nhưng hoa lệ sáng chói này rơi vào mắt người, sẽ trở thành mũi nhọn có thể cắt đến mình.

Người cháu này của ông, chính là như thế.

Y là cháu của Cao Tổ, con của Thánh Võ Hoàng đế, có thiên tư long phượng, biểu lộ như mặt trời, có tài kinh vĩ, năng lực trị thế.

Hôm nay dù tin tức truyền ra rằng đêm qua Thiếu đế chỉ Đôn Ý Thái Hoàng Thái phi giả truyền ngụy chiếu, thiêu huỷ ngay trước mặt bà. Nhưng sự thực thế nào, lòng Hiền Vương biết rõ.

Di chiếu ấy nhất định là thật. Còn trước khi Minh Đế lâm chung, vì sao một mặt thân tặng đai lưng, một mặt để lại di chỉ, Hiền Vương c*̃ng quá rõ — Minh Đế không tin hoàng đệ của mình không có ý đồ dòm ngó hoàng vị.

Đến ngài mà còn vậy, huống chi kẻ khác.

Nhưng mà, từ đầu đến cuối, Hiền Vương thủy chung tin tưởng, đứa cháu này chưa từng có nửa ý niệm chiếm hữu ngôi vị trong điện Tuyên Chính kia. Cho dù là sau khi chém chết Cao Chúc ngay trước mặt Thiếu đế và bá quan, Hiền Vương cũng giữ nguyên nhận định.

Sự kiện hôm đó, ở trong mắt người khác, là Nhiếp Chính Vương trừ bỏ thế lực ủng hộ Thiếu đế, độc tài đại quyền, đối lập triệt để với Thiếu đế.

Nhưng với Hiền Vương, ông như cảm nhận được một loại quyết tuyệt nào đó về số mệnh đi đến chỗ không lối về.

Ông thật sự hy vọng là mình cả nghĩ quá, dự đoán sai lầm.

Hiền Vương đứng khựng một lát, bỗng hoàn hồn, như muốn cứu vãn thứ gì, vội giải thích: “Điện hạ! Bệ hạ làm chuyện gì có lẽ ngài còn chưa biết. Ngài ấy đã hạ lệnh triệu hồi Lưu Hướng, lệnh cậu ấy tiếp chưởng Địa môn ti. Di chiếu tiên đế gì đó, cũng chỉ là do Lý Thái phi giả mạo chỉ dụ vua, bệ hạ đã đốt rụi! Còn Lan Vinh nữa! Bệ hạ đã ban chết, tuy hắn ta may mắn trốn thoát, nhưng mà đền tội là chuyện sớm muộn. Điện hạ, bệ hạ thật sự biết sai rồi, ngài muốn đền bù! Huống chi, điện hạ c*̃ng đã nhận định bệ hạ nên tiếp tục tại vị, thế thì đừng nên tháo gánh nặng sớm như vậy. Hiện giờ dù quốc chiến đã thắng, nhưng triều đình trống rỗng, bệ hạ còn cần điện hạ phụ tá —— “

Hiền Vương đang nói đến đây, nhìn thấy bức chiếu thư thoái vị chính mình mang đến, bỗng đáy lòng rét run, giọng từ từ tiêu mất.

Đêm nay mình đưa tới, nếu thật sự không phải thuật lòng người của đế vương, mà là đến từ thấu hiểu của thiếu niên kia?

Thúc Thận Huy nói: “Bệ hạ lôi lệ phong hành, ta nhìn không sai, tương lai tất thành anh chủ.”

“Điện hạ — “

Thúc Thận Huy mỉm cười nhẹ gật đầu cùng Hiền Vương: “Làm phiền Hoàng bá phụ. Cháu không tiễn.”

Hiền Vương đi rồi, Thúc Thận Huy ngồi lại, lát sau, đi tới chỗ thư phòng cất giữ sa bàn và địa đồ sau tấm màn vải, gỡ dư đồ đã treo trên tường từ rất lâu xuống, cẩn thận xếp ngay ngắn, cất kỹ, rồi phủ một lớp áo chống bụi bọc kín sa bàn, xong xuôi, cuối cùng y nhìn quanh một vòng rồi ra ngoài, quay về tẩm đường, lúc ngang qua Trì Viên trên đường, gió đêm chầm chậm, đưa hương sen thoang thoảng đến.

Y chậm rãi ngừng bước, đứng ở mép nước. Nhớ đến đêm đại hôn với nàng ấy.

Đêm đó cháu trai tìm đến, cô đi từ phòng động phòng ra ngoài, xong chuyện, y đưa cô về, hình như cũng qua con đường tắt này, để làm dịu xấu hổ chung đụng giữa cả hai mà y mở miệng giới thiệu Trì Viên này, bảo khi hoa sen nở, cô có thể đến đây tiêu khiển ngày hè.

Hiện giờ hoa đã nở, nàng đã không còn, đã đi đến vùng trời đất có thể khiến nàng giục ngựa phi nhanh, bẩm sinh thuộc về.

Y đứng đó một lúc lâu, mới tiếp tục quay lại Phồng Chỉ đường, sắp xếp lại mấy trang chữ tập viết mà y đã không xe đi xem lại không biết bao nhiêu lần, mang về lại thư phòng mà ban đầu y phát hiện chúng, thả lại vào vại đựng tranh chữ, trả tất thảy khôi phục lại dáng vẻ ban đầu.

Y bước ra, dừng bước ở đình viện, quay lại, nhìn tẩm đường y từng ở đây cưới nàng lần cuối, quay đi.

Cuối cùng đêm ấy, y gõ cổng phủ công chúa Vĩnh Thái.

Năm ngoái Vĩnh Thái có thai, trước đây không lâu vui đón một bé trai, trong mắt người ngoài, gần đây Trần Luân cũng giao bớt công sự cho thủ hạ, bản thân hiếm khi ra ngoài, hầu như chỉ ở nhà bầu bạn cùng mẹ con công chúa. Vợ chồng chợt thấy đêm y đến, vui vẻ không thôi, chào đón y ở Bảo Hoa tạ tẩm cư nghỉ ngơi ngày hè.

Thúc Thận Huy cười nói: “A tỷ vui đón Lân nhi ta vẫn chưa đến thăm hỏi, đêm nay mạo muội đến nhà, mong không quấy rầy vợ chồng chị.”

Vĩnh Thái công chúa nói: “Cậu nói gì thế? Chị trông cậu đến còn không được! Vừa mới cùng phò mã nói về cậu với Trường nương của ta này. Cậu còn nhớ chứ, năm ngoái chính là ở chỗ này, ta tiễn Vương nữ Tám Bộ, Trường Ninh cũng đến, cậu te te chạy tới đón nàng ấy, đến mà không vào, thành thành thật thật chờ một bên, cả đám bọn ta cười không hết, chưa từng thấy cậu trung thực vậy nha! Thoắt cái, không ngờ đã lâu vậy rồi! Mau vào đây!”

Thúc Thận Huy bước vào, thăm thằng bé trước, nom cực kỳ đáng yêu, vừa ăn no sữa, say sưa ngủ. Y đưa lễ gặp mặt xong, ra ngoài, xoay qua công chúa: “A tỷ à, đêm nay ta mời Tử Tĩnh uống rượu. Rượu ta đã mang cả đến, mong chị thả người.”

Công chúa ngạc nhiên: “Hôm nay là ngày tốt gì vậy, cậu còn chủ động đến mời ổng uống rượu?” Nói xong, bỗng vỗ trán, “Phải rồi nhỉ! Ngày đại hỉ! Trường Ninh đại thắng, sắp khải hoàn, quả là đáng ăn mừng! Các người cứ việc đi đi! Uống một đêm, ta c*̃ng tuyệt đối không nhiều nửa chữ!”

Thúc Thận Huy cười ha hả: “A tỷ nói rất đúng! Là ngày đại hỉ! Nên nâng ly hát vang, không say không nghỉ!”

Công chúa lập tức sai gia nô kê bàn bày rượu bên thủy tạ, xong xuôi, lệnh gia nô rời đi, cười bảo hai người tự nhiên, mình c*̃ng lui ra.

Nàng dừng ở cổng, quay lại thoáng nhìn bóng Thúc Thận Huy, nụ cười vẫn luôn trưng trên mặt cũng biến mất, cau mày, tự tay nhẹ nhàng đóng kín cổng.

Trong thủy tạ, chỉ còn Thúc Thận Huy và Trần Luân ngồi đối diện. Đêm hè, gió mát phất phơ bên mép nước thật khiến người thư thái cả người. Thúc Thận Huy tự tay rót rượu cho Trần Luân, anh ta vội đứng dậy định ngăn cản, lại nghe y cười nói: “Không cần giữ lễ tiết. Anh có còn nhớ năm ngoái đi săn ở hành cung, đêm đó ngủ trại ở ngoài trời, anh và ta đối ẩm tâm tình chứ. Hôm ấy hai ta đã hẹn lại uống. Đêm nay mượn dịp ngày vui phương Bắc đại thắng, ta đến thực hiện.”

Trần Luân khẽ giật mình, không ngờ một lời thuận miệng hôm ấy mà ngài lại nhớ đến đêm nay.

“Lúc trước hai ta có thể tính là ngang hàng, giờ anh đã làm cha, lợi hại hơn ta nhiều, ta kính anh một chén trước!”

Đã lâu không thấy y cao hứng như thế, nghe y nói vậy, Trần Luân cười uống, đáp lễ: “Lần này phương Bắc đại thắng, Vương phi lập được công lao hãn mã, điện hạ cũng công cán to lớn, thần kính điện hạ và Vương phi!”

Thúc Thận Huy nói: “Dẫn tướng sĩ đánh trận là Trường Ninh, giết địch, cũng là Trường Ninh, ta có công gì mà nói. Anh nói nhầm rồi.”

Trần Luân muốn tranh biện, ngó y một cái bèn dừng lại, thuận theo lời y: “Điện hạ nói đúng. Vậy đều là công của Vương phi, chúc mừng điện hạ!”

Thúc Thận Huy lúc này mới mỉm cười uống. Hai người anh tới tôi đi, trong lúc nói cười vô tình đã mang theo ý say. Trần Luân đang tâm sự một bụng, ban nãy không dám mở miệng, đêm nay đích thân y đã đến, rốt cuộc kìm không được hỏi: “Chiến sự đã xong, sau này điện hạ có tính toán gì không?”

Thúc Thận Huy tự rót tự uống, cười nói, “Tất nhiên là nên đi chỗ ta nên đi rồi.”

Trần Luân khựng một lát, rồi ỷ chếnh choáng, nghiến răng thấp giọng: “Điện hạ, chỉ cần điện hạ cần, Trần Luân muôn lần chết không từ! Không dối điện hạ, gần đây tôi đã có chuẩn bị. Không chỉ có tôi, mà trên dưới triều đình, không ít người hiện giờ đều đang đợi điện hạ. Chỉ cần điện hạ một câu, nhất định nhất hô bách ứng! “

Thúc Thận Huy cười cười: “Tử Tĩnh, anh và ta quen biết nhiều năm, nếu ta có ý nghĩ ấy, còn cần đợi đến hôm nay ư? Lời như vậy, sau này không được nhắc nữa.”

“Điện hạ!” Trần Luân còn tính mở miệng, thấy y đặt ly rượu xuống nụ cười biến mất, bèn đứng dậy chậm rãi quỳ xuống, cúi đầu: “Thần có tội, điện hạ thứ tội.”

Thúc Thận Huy lặng thinh một lát, đi đến trước mặt đỡ anh ta dậy: “Tử Tĩnh, trận chiến đã xong, Trần Hành thúc phụ của anh ít lâu nữa sẽ vào triều, từ ngôi vị Thích sứ. Chỗ ta có một phong thư, đợi khi ông ấy tới, anh giúp ta chuyển cho ông ấy.” Y lấy ra bức thư đã viết xong, đưa tới.

Trần Hành là cháu gọi bằng chú họ xa của Trần Luân. Anh từ tốn nhận lấy, thấp giọng đáp: “Điện hạ yên tâm, tôi chắc chắn sẽ chuyển giao.”

Thúc Thận Huy chăm chú nhìn anh, mỉm cười gật đầu: “Thiếu niên kết giao, chân thành cởi mở với nhau, có người bạn như anh, thật quá hân hạnh. Đêm nay con của anh ta đã gặp, rượu còn thiếu, cũng đã uống, ta đã đủ hài lòng, nên đi rồi.”

Y ngừng đoạn, “Bệ hạ đã nhận lời, mọi người sẽ không sao cả, ngài sẽ làm được. Tương lai ngài ấy nhất định là quân chủ đến nơi đến chốn, Đại Ngụy thịnh thế là điều có thể. Sau này anh phải trung thành với ngài, trợ giúp việc lớn quốc gia, cùng hưởng vinh quang.”

“Cáo từ, không cần đưa tiễn.” Y gật đầu mỉm cười, quay người rời đi.

“Điện hạ!”

“Tam đệ!”

Công chúa Vĩnh Thái hết nhịn nổi, ban nãy vẫn còn nép mình vào chỗ tối ngoài cổng, vội chạy ra cùng Trần Luân đuổi theo, lớn tiếng gọi y, thấy y nghe tiếng dừng bước, quay lại mỉm cười ôm quyền xa xa hướng về phía bên này làm lễ bái tạ, ra hiệu hai người dừng bước, lập tức quay người sải bước rời đi, dần mất bóng.

Y đã xong việc không còn lo lắng, chỉ duy nhất còn có lỗi với một người, chính là mẹ y, e rằng sau này không thể tận hiếu dưới gối.

Thư y để lại cho Trần Hành, cầu xin Trần Hành, chiếu cố đến quãng đời còn lại của nàng.

Còn nhớ năm ấy, người hoàng huynh kia trước khi chết phong y làm nhiếp chính, tự y đã nhận lời xong. Không lâu sau y nhận được tin, quãng thời gian ấy mẹ y thường xuyên trắng đêm mất ngủ, thường đi chùa lễ Phật cầu nguyện.

Bà sinh ra trong Vương thất, sau này còn vào cung làm phi, có lẽ lúc ấy bà đã biết, khi mình bước vào con đường này, muốn kết thúc yên lành cần phải có phúc duyên cực lớn — trước đây, y đã chiếm hết phú quý nhân gian, e là đã tiêu hết quà tặng trong định mệnh, sao may mắn có thể có phúc duyên thế được.

Lúc bà còn là Vương nữ, vốn cùng Trần Hành lưỡng tình tương duyệt, thậm chí còn đề cập đến cưới xin. Song chỉ vì phụ hoàng vô ý bắt gặp bà lúc đó, bị rung động bởi vẻ đẹp của bà, vận mệnh của bà đã thay đổi, vào cung làm phi.

Năm ấy, sau khi phụ hoàng qua đời không lâu bà xuất cung quay về quê hương, cũng không phải do chính bà nói ra. Là phụ hoàng y trước khi lâm chung hạ lệnh, lệnh cho bà quay về nơi chốn của bà năm ấy.

Dụng ý của ông, lúc ấy Thúc Thận Huy mười bảy tuổi cũng chưa phải đã hiểu rất rõ. Bởi trước đó y từng bất cẩn khám phá chỗ không vui của phụ hoàng và mẫu thân từ sớm, tưởng tình cảm của phụ hoàng đối với mẫu thân đã lạnh nhạt nên mới biếm bà đuổi ra hoàng cung, không cho phép bà ở lại trong cung ngồi trên ngôi cao cùng Lý Thái phi để trừng trị bà.

Phải sau này, y mới dần dần lĩnh ngộ.

Phụ hoàng tất nhiên cách một người hoàn mỹ rất xa, cả đời duy ngã độc tôn, song trước khi lâm chung đã sắp xếp vậy, dụng ý là gì, không cần nói cũng biết.

Đây không chỉ là tâm nguyện của y, cũng là tâm nguyện của Thánh Võ Hoàng đế phụ hoàng y.

Chỉ mong rằng nàng ấy có thể thông cảm với mình, chớ quá độ bi thương, về sau có người bầu bạn đi khắp thiên hạ, cùng chung quãng đời còn lại.

Trong tẩm đường phủ Công chúa, Trần Luân ôm lấy công chúa Vĩnh Thái đang lặng lẽ rơi lệ.

“Vì sao lại thế chứ? Cậu ấy không thể đi sao?” Nàng nghẹn ngào hỏi chồng mình.

Là chính ngài ấy không muốn đi.

Ngài công cao che chủ. Lúc trước Thiếu đế và ngài không có chỗ nghi ngờ, dĩ nhiên ngài có thể công thành lui thân. Nhưng đã như bây giờ, ngài đã không còn đường lui. Ngài chỉ có hai con đường, hoặc là lên ngôi như theo ý nghĩ của mọi người, hoặc là thành toàn Thiếu đế, người thiếu niên do một tay ngài nâng đỡ đến hôm nay.

Với hiểu biết của Trần Luân về ngài ấy, chỉ cần ngài ấy nhận định thiếu niên kia có thể trở thành một quân chủ Đại Ngụy hợp cách, ngài nhất định sẽ thành toàn.

Còn về phần công chúa nói, đi, là ngài có thể, nếu ngài muốn. Nhưng những người như ngài, cao ngạo như ngài, nếu bảo ngài sống cả đời trong nghi kỵ thì với ngài mà nói, sống không bằng chết.

Ngài ấy càng không muốn bởi vì một mình ngài mà liên luỵ tất cả những người trước giờ từng gặp ngài.

Anh không biết nên mở miệng thế nào để giải thích tất cả cho công chúa.

“Không được! Dù Cẩn Mỹ không muốn, ta cũng phải vào cung! Ta muốn đi gặp bệ hạ! Cái đồ trứng thối không có lương tâm — “

Công chúa Vĩnh Thái đột nhiên rời lồng ngực Trần Luân, lung tung quẹt nước mắt, khoác áo định gọi người.

“Công chúa! Phò mã!”

Đúng lúc này, có tiếng gia nô gọi ngoài tẩm đường. Trần Luân mở cửa, được biết, mới rồi, một người tự xưng là Thích sứ Tịnh Châu Trần Hành đến, nói là có việc gấp cầu kiến.

Anh ta và công chúa liếc mắt nhìn nhau, vội chạy ra ngoài, nhìn thấy một người đàn ông trung niên đầy bụi trần mệt mỏi đứng trong nhà khách, đang nóng lòng bất an đi tới đi lui.

Trần Luân không ngờ, đêm nay Thúc Thận Huy vừa đề cập đến, trùng hợp sao ông ấy lại như từ trên trời rơi xuống.

“Thúc phụ!” Anh ta chào một tiếng, chưa kịp nói gì thêm đã thấy Trần Hành sải bước tới mình.

“Ta vừa vào thành tìm đến phủ Nhiếp Chính Vương, hạ nhân bảo ngài ấy đến chỗ các người.”

“Ngài ấy đâu rồi? Ta nhận Vương phi nhờ vả, có việc gấp tìm ngài ấy!”
 
Không Tỉnh
Chương 114


Trần Luân nhanh chóng được thủ hạ hồi báo, Môn lại cửa Tây bẩm, vào hai khắc trước, Nhiếp Chính Vương đã ra khỏi thành từ đó.

Bên ngoài cửa Tây là một vùng đồng nội rộng lớn, song ngoài mười dặm có một nơi, chùa Hộ Quốc.

Trực giác nói cho anh biết, ngài ấy có thể đi đâu.

Trong hoàng cung, Hiền Vương được lệnh, đem đai lưng, tấu chương và cả chiếu thư thoái vị của Thiếu đế dâng lên toàn bộ.

Trên đường xuất cung, bước chân ông chậm dần, cuối cùng ngừng lại.

Vết rách giữa Thiếu đế và Nhiếp Chính Vương dần sâu, sau khi Cao Chúc chết, triều đình yên tĩnh, chiến sự phương Bắc c*̃ng vững bước thúc đẩy, thắng lợi trong tầm tay. Ông biết đến chừng tin chiến thắng truyền đến, yên tĩnh giữa Thiếu đế và Nhiếp Chính Vương chắc chắn sẽ bị đánh phá, sẽ có một trận đại biến. Ông lo rằng Trần Luân gây tai hoạ, thừa cơ hội Vĩnh Thái sinh con, nghiêm lệnh cậu ta xin nghỉ ở nhà, tránh bị cuốn vào.

Dự cảm của ông quả nhiên thành hiện thực.

Đêm nay Thiếu đế gọi mình đi truyền lời, ông muôn vàn không muốn, nhưng, thiếu niên kia là Hoàng đế, có thể từ chối chăng.

Trước mắt ông hiện ra dáng vẻ một lát trước của Thiếu đế khi nhận được hồi báo. Cậu ta nhìn vật trình lên, cụp mắt, không nói không rằng, đến mình cũng không nhìn ra nửa phần cảm xúc trong lòng cậu ta ngay lúc đó. Nếu trước đây ông từng cảm thấy song không chắc, thì vào thời khắc ấy, ông đã xác định. Lại nhớ tới trong vòng một đêm nhốt Đại Trưởng công chúa, bức giết Lan Vinh, còn xử lý bức di chiếu kia. Đủ loại hành động, hiển nhiên không phải tiến hành lâm thời mà thiếu niên Hoàng đế đã chuẩn bị trước, chỉ nín nhịt không phát mà thôi.

Đâu đấy cũng giờ này năm ngoái, cậu ta còn từng l* m*ng tự ý xuất cung, ngắn ngủi chưa tới một năm, thay đổi lớn đến thế, làm Hiền Vương có chỗ không rét mà run.

Hoàng vị thật sự có thể đem một người, biến thành một thanh đao có hình người.

Ông cả đời bo bo giữ mình, không nói nửa câu không nên nói, không làm một chuyện không nên làm, có được danh hào Hiền Vương và địa vị được tôn sùng.

Hiền Vương đứng một lát, chậm rãi quay lại.



Thúc Tiển đứng trong thần điện Thái miếu.

Đối diện cậu, là thần vị của Cao tổ, Võ Đế và Minh Đế.

Nơi đã từng khiến cậu cảm thấy âm trầm bức người, là chỗ đáng sợ nhất trong hoàng cung, giờ cậu một thân một mình, đứng thật lâu trong căn đại điện trống trải.

Cậu sớm biết, trong hoàng cung đáng sợ nhất, không phải quỷ thần.

Nhớ lần đầu tiên cậu nhìn thấy di chiếu của Minh Đế, cậu sợ hãi vì phụ hoàng mình tâm cơ. Nhưng giờ đây, sao mình không giống thế chứ.

Là bắt đầu tự bao giờ, đối với ngôi vị, cậu không muốn thua?

Là năm ngoái cậu ra ngoài, nhìn thấy đủ thứ, trận tế lễ kia, vạn người trong quân hô to Hoàng đế bệ hạ, cậu vì đó mà nhiệt huyết sôi trào, sau khi cảm nhận được trách nhiệm, d*c v*ng mãnh liệt muốn đứng trên vạn người cũng thức tỉnh?

Không, có lẽ vì hoàng cung mà cậu phí hết tâm tư chạy ra ngoài nhưng lại mơ thấy mình bị chặn ngoài cửa cung không về được mà bừng tỉnh, trong tiềm thức của cậu trước đó, đã sớm nhận định, đấy là vị trí thuộc về cậu. Xem như lúc ấy cậu đã từng không muốn ngồi, nhưng vị trí này, cũng không thể bị ai thay thế.

Cho tới nay, cậu một bên kháng cự trách nhiệm và áp lực trên người mình từ vị trí này, một bên lại hưởng thụ kh*** c*m và thoả mãn mà chí cao vô thượng mang đến.

Cậu và phụ hoàng, bẩm sinh chính là người như thế, nội tâm ích kỷ cực kì, c*̃ng máu lạnh cực kì.

Đã từng không chỉ một lần cậu nghĩ tới, Tam hoàng thúc dốc lòng dạy bảo mình vậy, sao có thể có mưu đồ khác. Nhưng một giọng nói khác lạnh lùng nói cho cậu biết, ngôi vị này tốt vậy, sao trên đời thực sự sẽ có người không động tâm, nếu năm đó, Hiền Vương có năng lực tranh chấp cùng Võ Đế, ông ấy sẽ cam tâm nhường ra ư?

Cậu cứ thế, dao động và do dự mãi đến hôm nay.

Đại quân đánh hạ Nam Đô, giữa cậu và hắn Tam hoàng thúc, cũng nên có kết quả.

Cho đến hôm nay, cậu sớm biết mình thua hoàn toàn, không thể đối kháng ngang hàng với Tam hoàng thúc của cậu.

Cậu cũng biết, giữa triều đình nom như đang yên bình này, có không ít người âm thầm đang chờ Tam hoàng thúc có hành động, sau đó ủng hộ ngài ấy lên ngôi.

Nghe nói có mấy người, đã viết xong chúc biểu.

Cắt cử Hiền Vương làm việc, là canh bạc sau cùng.

Giờ cậu đã thắng, vốn nên thấy may mắn vô cùng, nhưng cậu lại bị nỗi chán chường và mờ mịt trong lòng lại trào ra bao phủ lấy.

Thì ra trên đời này thật sự có người không giống cậu, và phụ hoàng.

Cậu đem giải đai lưng treo bên cạnh trên thần vị của Minh Đế, không nhìn thêm, đi qua bên cạnh, đứng trước thần vị Thánh Võ Hoàng đế.

Cậu hơi ngửa đầu, nhìn thần vị trang nghiêm tĩnh lặng này, một lát sau, lẩm bẩm: “Hoàng tổ phụ, thật sự là con sai rồi sao?”

Sau lưng có tiếng bước chân. Thúc Tiển chậm rãi quay lại, nhìn thấy Hiền Vương, từ trong bóng tối bên ngoài thần điện bước vào điện, cất bước vào trong.

Thúc Tiển thấy ông tới gần, cung kính hành lễ với thần vị của Cao Tổ và Võ Đế xong, xoay qua mình, mở miệng: “Bệ hạ, ngài sai rồi!”

“Năm ấy khi phụ hoàng của ngài còn là Thái tử, hiểu thánh ý, rất sợ bị phế, gắng sức giao hảo cùng Tam hoàng thúc ngài. Năm Tam hoàng thúc ngài mười lăm tuổi, có lần mượn say, bảo cơ thể do cắt thịt tổn thương, ốm yếu nhiều năm, sợ không đảm đương nổi chức vị Thái tử, định giao lại cho Tam hoàng thúc ngài, ngài ấy phát lời thề độc với trời, hết sức phò tá.”

“Nếu bệ hạ cảm thấy chuyện đã quá xưa cũ, thì ngay năm ngoái, bệ hạ tự xuất cung, gây đại loạn trong triều đình, lúc ấy Tam hoàng thúc ngài còn đang Nam tuần, nghe tin chạy về, ngài ấy làm gì nhỉ? Đêm gặp đại thần, trách cứ đám người đang vặn hỏi ở ngay điện Tuyên Chính, giúp ngài đè xuống cục diện, sau đó tìm kiếm khắp nơi. Ở bờ sông Vị phát hiện một xác chết trôi, tuổi tác và dáng người cùng cỡ với bệ hạ. Lúc ấy người người xúc động, đều nhận định chính là bệ hạ. Là Nhiếp Chính Vương đến, phân biệt xong bác bỏ tin. Sau đó cũng là vì ngài ấy nghi ngờ bệ hạ có lẽ đã đi Nhạn Môn, mới giao chuyện triều chính cho ta, trong đêm rời Trường An, cuối cùng mới tìm được bệ hạ trở về.”

“Bệ hạ! Ta đoán vị kia của cung Đôn Ý chắc hẳn đã bảo bệ hạ từ trước, Nhiếp Chính Vương sở dĩ ẩn nhẫn bất động là sợ tổn hại thanh danh. Ba người thành hổ, e rằng sau này bệ hạ cũng sẽ nghĩ thế. Tam hoàng thúc ngài là Nhiếp Chính Vương, phàm nếu y có nửa điểm muốn gây bất lợi cho ngài thì, lúc ấy cơ hội trời cho ấy, sao y không thuận theo lao? Chỉ cần nhận xác chết trôi là bệ hạ, thì y đã có thể danh chính ngôn thuận lên ngôi, cần chi phí công lớn, mượn trận chiến phương Bắc tích công đoạt vị chứ?”

Hiền Vương nói đến đây, quỳ xuống dập đầu với Thúc Tiển: “Bệ hạ! Ngài ấy từng ký thác kỳ vọng vào ngài, không muốn tranh chấp với ngài, càng không muốn vì nghi kỵ của bệ hạ với y mà gây họa đến người khác. Lão thần thẹn chức vị cao, vốn là người vô năng, có điều thực sự không thể ngồi nhìn bệ hạ có ý nghĩ sai lầm, mắc phải sai lầm lớn!”

“Nếu ngài ấy như vậy mà còn không có kết cục yên lành, kẻ sĩ trung thành trong thiên hạ há không thất vọng đau khổ sao? Tướng sĩ vì Đại Ngụy ta dục huyết phấn chiến thu về môn hộ Nhạn Môn, bọn hắn an tâm thế nào đây?”.

Thúc Tiển bình tĩnh nhìn Hiền Vương, ngẩn người, đột nhiên, cậu nhớ tới hôm ấy, sau khi Tam hoàng thúc giết Cao Chúc ở đại điện, từng nói với mình.

Thúc ấy nói mình phạm vào tội chết không tha, xin cho mình ít thời gian, chờ tướng quân Trường Ninh đánh giặc xong, thu về U Yến, thúc hoàn thành nguyện vọng của Thánh Võ Hoàng đế xong, đến chừng đó, chắc chắn sẽ cho mình một giao phó hài lòng.

Thúc Tiển rùng mình, tỉnh táo lại.

Cậu bỗng xoay người, bỏ mặc Hiền Vương, hô người tới, gấp gáp chạy đi.



Thúc Thận Huy vào nửa đêm, đi đến Hộ Quốc tự, vào cổng sau núi.

Trong núi u ám yên tĩnh, chùa chiền được màn đêm bao phủ, bên tai yên lặng như tờ.

Rừng tháp nơi đây, vì chính giữa có xá lợi của cao tăng, gom góp không ít bia đá thư pháp của mọi người nhiều triều đại, thời niên thiếu, lúc còn si mê thư pháp y thường đi vẽ. Cùng di cốt yên giấc bên cạnh, có khi một lần đến mấy ngày, là một chỗ thanh tịnh cực kỳ tốt. Có điều sau này công việc ngày càng bận rộn, rốt cuộc chưa hề đặt chân.

Lúc xưa cô tập viết chữ, y đã từng nghĩ đến, đợi chừng rảnh rỗi sẽ đưa cô cùng đến đây, dạy cô phỏng đoán chỗ tinh diệu của bia sách người đi trước. Nơi đây tuy là vùng đất mai cốt, nhưng với tính tình của cô, hẳn cũng sẽ thích.

Hiện giờ y quay lại, là tình cảnh thế này. Nhưng, nếu ngủ ở nơi đây, cũng xem như là hợp tâm cảnh thời thiếu niên.

Hôm đó giảo sát Cao Vương ở La Hán điện, lời nguyền rủa của Cao Vương như còn rõ ràng bên tai. Ngang qua gần Tàng Kinh Lâu, bước chậm lại, ngừng bước.

Nơi đây, cũng từng là lần đầu tiên y gặp cô, dù lúc ấy chỉ là cô nhìn thấy y, còn y không hề hay biết.

Y đứng lặng bên ngoài Tàng Kinh Lâu chốc lát. Sư chùa theo sau c*̃ng dừng lại.

“Điện hạ muốn đi vào ạ?”

Y thấy vị sư Vô Tình nghe hỏi vội vàng chạy đến, mở cửa. Y chần chừ một lúc, cuối cùng cũng bước vào, giơ ánh nến, dọc theo kệ kinh từ từ bước vào, tưởng tượng ngày đó nàng ấy có thể ẩn thân ở nơi nào mà mình không hề hay biết. Cuối cùng y đi tới chỗ tối góc các Tây Bắc, thấy một xó hẻo lánh, mạng nhện giăng, giữa lưới nhện, một con nhện to lớn ngồi xổm.

Sư tiếc sâu kiến, chưa từng quét dọn mạng nhện trong xó này, lưới này cũng không biết dệt ở đây bao lâu, tầng tầng lớp lớp, cực lớn.

Một trận gió đêm từ góc tối trong Các tràn vào, thổi mạng nhện không ngừng rung động, con côn trùng như tỉnh lại, bắt đầu chạy trên đó.

Thúc Thận Huy đứng trong xó xỉnh, mượn ánh nến không rõ ngắm con nhện bận rộn, nhả tơ dệt lưới như không biết mệt mỏi, dần dần bừng tỉnh, nghe một tràng bước chân dồn dập bên ngoài truyền đến.

“Điện hạ có đó không?” Y nghe một giọng quen thuộc ở ngoài lâu vọng vào.

Cùng một tiếng “két” đẩy cửa, Trần Luân gấp gáp chạy vào, nhìn thấy Thúc Thận Huy cầm nến trong tay đứng trong góc, nhẹ thở phào, chạy vội lên.

“Điện hạ, thúc phụ tôi vừa đến! Vương phi có vật, nhờ ông ấy chuyển giao cho điện hạ!”

Thúc Thận Huy có phần ngơ ngẩn, giương mắt.

Trần Hành cởi chiếc túi tùy thân mang theo, lấy ra một chiếc hộp, hai tay dâng lên.

Thúc Thận Huy hoàn hồn hoàn toàn.

Y không cần mở ra, vừa thấy đã biết bên trong là vật gì. Y hơi kinh ngạc, nhận lấy, thì thấy Trần Hành lại lấy ra một chiếc túi nhỏ khác, dâng lên nói: “Điện hạ, mặt khác Vương phi còn lệnh cho thần truyền giúp ngài ấy một câu.”

Ông đem lời Khương Hàm Nguyên hôm ấy thuật lại một lần.

“…. chờ đến chừng đánh xong Nam Đô, ngài ấy sẽ đi đến điểm đích mà năm ngài ấy mười ba tuổi từng dẫn đường cho một thiếu niên, chờ thiếu niên ấy đến.”

Trong thoáng chốc Thúc Thận Huy kinh ngạc ngẩn cả người, dường như không thể tin vào tai mình, tim y nhảy thình thịch, lát sau tỉnh táo lại, dừng mắt ở chiếc túi nhỏ trong tay Trần Hành.

Nó cực nhỏ, không to hơn bàn tay, dùng vải thô đay dùng để may đồ mùa đông trong quân chịu mài mòn, bám bụi bẩn, nhìn rất cũ kỹ, hẳn đã nhiều năm rồi.

Y bỗng một phát chụp lấy, nhanh chóng mở dây buộc miệng túi, một vật từ bên trong rơi ra, rớt vào lòng bàn tay y.

Ấy là một viên ngọc bội, chất ngọc mát dịu, chạm trổ tinh xảo, xem long văn điêu khắc thì là đồ trang sức mà nam tử hoàng thất Vương tộc mới có tư cách dùng, hình như từng quen thuộc…

Trần Luân thấy y nhìn chằm chằm viên ngọc trong tay, bất động, mới liếc một cái, sửng sốt, chần chừ một lúc rồi bật thốt: “Điện hạ, đây không phải là ngọc bội lúc xưa ngài ở Nhạn Môn ban cho tiểu tốt dẫn đường sao? Thần c*̃ng có một viên, nhớ là nguyên tiêu trong cung ban tặng, sao lại ở chỗ Vương phi?”

Đột nhiên anh nghĩ đến câu Trần Hành vừa nói, chấn kinh vô vàn: “Hẳn Vương phi chính là tiểu tốt năm xưa dẫn đường?”

Hốc mắt Thúc Thận Huy hơi phát nóng, từ từ siết chặt ngọc bội trong tay, lấy lại bình tĩnh, giọng khàn khàn: “Các người ra ngoài cả đi.”
 
Không Tỉnh
Chương 115


<i>Sơn, y cựu hảo</i>

<i>Nhân, tiều tụy liễu.</i>

Nàng chính là tiểu tốt qua đường năm kia từng dẫn đường cho y.

Đương khi Thúc Thận Huy nghe câu nói của nàng từ miệng Trần Hành, y sực tỉnh. Song y không thể tin được chuyện ấy sẽ xảy ra trên người mình, mãi đến khi y nhìn thấy ngọc bội.

Viên ngọc bội là của y, vừa liếc đã nhận ra được. Dây kết màu vàng tím, trên thêu hai chữ An Nhạc, chỉ mình y sở hữu. Chẳng qua với y mà nói, nó cũng không phải vật trân quý đặc biệt gì, năm đó lúc bắc tuần mang theo trong người, hôm đó chợt nảy ý, lấy ra, ném cho một tiểu binh Nhạn Môn ngẫu nhiên gặp được, tạ ơn dẫn đường.

Sao có thể chứ? Tiểu tốt sau ngày đó y chưa từng nhớ tới, lại chính là nàng ấy.

Y có đức hạnh gì, vật tiện tay ném ra lại khiến nàng cất giấu nhiều năm, mãi đến hôm nay.

Y sao lại may mắn thế, thì ra “hắn” mà nàng say trong mộng từng làm y ghen ghét thật lâu, gã thiếu niên nàng gặp lúc mười ba tuổi mà năm ngoái ở cổ đạo Vân Lạc nàng kể lúc chia tay, lại chính là bản thân y!

Lầu kinh tịch mịch, xung quanh tối đen, chỉ còn một ánh nến lẳng lặng cháy, soi sáng ra một góc lờ mờ, nhện vẫn dệt lưới bên cạnh, y nắm chặt ngọc bội trong lòng bàn tay, trong đốm sáng góc Các Tây Bắc ngồi phịch xuống đất, dựa đầu vào tường, từ từ khép cặp mắt đã đỏ.

Từ rất sớm, năm y mười bảy, bọn họ đã từng gặp nhau.

Người trong lòng nàng ấy, không phải ai khác, chính là y.

Ý niệm này như ngọn sóng, không ngừng từng cơn tuôn ra từ trong lòng y, gột rửa trong ngực y, trong não y, nổi lên dáng vẻ tiểu tốt năm xưa, là dáng vẻ nàng ấy năm mười ba tuổi.

Đen gầy, im lặng, chỉ cao tới lưng ngựa của y, song lại có một đôi mắt trong trẻo, mang theo vài phần thanh tú.

Giờ khi y đem người trong trí nhớ liên hệ tới cô, y không thể tưởng tượng, sau khi cô trưởng thành, đầu ngẩng cao, khí chất thay đổi cực lớn, trong tích tắc y vẫn không sao liên hệ đến tiểu tốt năm xưa, song ngày ấy, sao y lại nhận lầm cô là một thiếu niên?

Còn nhớ lúc ấy, y gọi cô đang ở phía đối diện chạm mặt phải, cô đang đi dọc theo con đường nhỏ đến trước ngựa y, hơi ngẩng lên nhìn y.

Đối mặt với một đôi mắt thanh tú không thể che giấu hết, y lại không nhận ra, người mình gọi tới, là một cô bé.

Y thật sự mù quá mù!

Khoé môi Thúc Thận Huy bất giác lại nhoẻn lên mấy phần, khóe mắt lại càng thêm đỏ.

Y nhớ đến chuyến đi cung Tiên Tuyền, buổi tối cắm trại trong chuyến đi săn, y và Trần Luân nói chuyện, đề cập đến chuyến đi Linh Khâu năm đó, có cả tiểu binh dẫn đường. Lúc ấy cô đang ở phía đối diện, chỉ cách y đống lửa thôi.

Người xưa gần ngay trước mắt, y không mảy may hay biết, thậm chí còn than thở năm tháng làm cho già đi — giờ chỉ nghĩ tới y đã thấy xấu hổ, lúc ấy nàng nghe được, không biết nghĩ thế nào trong lòng. Nhớ đêm đó, y rất có hứng, tâm tình cũng — có lẽ là tâm tình y đang tốt, cũng vì có cô bên cạnh, bởi khi ấy, trong vô thức y đã bị cô hấp dẫn, nom như rằng đang cùng Trần Luân uống rượu nói cười, thật ra là âm thầm để ý cô, khi y và cô chạm mắt, cô luôn nhanh chóng dời mắt đi, sao y không muốn lấy cơ chứ, mà thật ra lúc ấy, y đã là người trong lòng của cô — ngay từ khi cô mười ba tuổi gặp y, từ đó về sau đều chưa từng quên.

Con nhện bầu bạn cùng y, im lặng bận bịu trên đỉnh đầu. Cảm giác ban đầu như thủy triều tấn công qua đi, một cảm giác im ắng hạnh phúc kì dịu, c*̃ng như ánh nến tĩnh mịch nơi xa vắng này, bao phủ lấy cả người y.

Y cứ nhắm mắt thế, ngồi dựa trong xó đầy mạng nhện, không biết bao lâu, cho đến khi ngoài lâu có tiếng động mới truyền đến, dường như Thiếu đế Thúc Tiển c*̃ng đến.

Y không nhúc nhích, khóe môi hơi cong, chậm rãi thả xuống.

Nàng ấy đưa viên ngọc bội ngày xưa, và lời hẹn — không phải cho y, mà là gửi đến thiếu niên kia, thức tỉnh lại ký ức phủ bụi đã lâu của y.

Y mới chợt nhớ, thì ra mình đã từng có quãng đời khí phách tung bay như thế.

Song y ngày hôm nay, đã không phải thiếu niên ngày xưa, càng không thể tìm về trái tim lúc trước. Lòng y đầy mệt mỏi, già cỗi mùa thu, một khuôn mặt chính y c*̃ng chán ghét.

Núi vẫn đẹp như xưa. Thiếu niên hôm qua, hôm nay đã già.

Thúc Thận Huy y, còn có cơ hội làm lại mình mười bảy tuổi ngày xưa, ngựa đạp máu kẻ thù, ngang dọc Thiên Sơn, làm lại thiếu niên có thể làm nàng ấy gặp một lần sẽ chưa từng quên ư?

Ngoài Kinh Lâu, Trần Luân nhìn thấy Thiếu đế gấp gáp chạy vào, vẻ mặt hoảng hốt hỏi thăm Nhiếp Chính Vương, nhất thời kinh ngạc, không biết tự dưng ngài ấy lại tới đây ý định ra sao, bèn nói ngay người đang ở trong Kinh lâu. Anh ta thấy Thiếu đế thở phào một hơi, sải bước phóng di, đẩy cửa, định tiếp tục vào trong, đến chừng nhìn thấy bóng đen ngồi ở góc Các mới dừng lại, cuối cùng, chậm rãi lui ra, đóng cửa.

Cậu đứng yên ngoài cửa thật lâu, cúi đầu, chậm rãi bước đi.

Trời dần sáng. Tiếng chuông sớm réo rắt du dương từ xa truyền đến, dư âm quanh quẩn, chim ngụ trong núi như bị thức tỉnh trong một chớp mắt, tranh nhau líu lo, hình dáng Kinh Lâu giữa sương mù trong ánh ban mai dần trở nên rõ ràng.

Bên trong vẫn không có động tĩnh, không thấy Kỳ Vương xuất hiện.

Trần Luân đứng ngoài gác một đêm, dần dần lo lắng, Trần Hành cũng sốt ruột, thấy trời đã sáng, rốt cuộc kìm không được, định gõ cửa, lúc này, cùng một tiếng kẽo kẹt của trụ cửa, cửa mở, Thúc Thận Huy xuất hiện sau cánh cửa.

Mặt y nom hơi tái nhợt, đáy mắt c*̃ng hiện một lớp tơ máu nhàn nhạt, song ánh mắt lại cực kỳ sáng tỏ, Trần Luân đã lâu không gặp được ánh mắt y từng có như thế.

Anh thở phào nhẹ nhõm.

Thúc Thận Huy khẽ gật đầu với anh ta, chuyển sang Trần Hành, cũng gật đầu cảm tạ rồi cất bước ra ngoài. Y ngang qua Kinh Lâu, đến trước La Hán đường, nhìn thấy dưới nhánh bách già, có bóng hình một thiếu niên.

Nom như cậu ta đã dừng ở nơi này hồi lâu. đang cúi đầu bồi hồi, bỗng ngẩng lên, bắt gặp mình từ Kinh lâu bước ra. Cậu cất bước, chạy sang bên này, lúc gần tới, chậm bước lại, cuối cùng dừng ven đường.

“Tam hoàng thúc…” Thiếu niên lí nhí gọi y, mặt đầy vẻ xấu hổ, há miệng, như có rất nhiều lời muốn nói, song đối đầu với ánh mắt y lại không dám, cúi đầu, ngừng lại.

Thúc Thận Huy đứng một lát, bước ngang qua trước mặt thiếu niên tiếp tục bước đi, đến khi sắp ra ngoài, thiếu niên kia đuổi theo.

“Tam hoàng thúc! Ta sai rồi — ” Cậu đuổi theo mấy bước, cao giọng hô to về phía bóng lưng kia, thả hai gối quỳ xuống đất.

Thúc Thận Huy chậm rãi dừng bước, đứng yên chốc lát, quay lại nhìn thiếu niên đang quỳ gối xa xa sau lưng.

“Quản tốt triều đình. Biên cương Đại Ngụy, ta đi giữ.”

Y cất bước, càng chạy càng nhanh, cuối cùng bóng người biến mất trong sương sớm.

Tờ mờ sáng hôm ấy y rời Trường An thẳng lên phương Bắc, lúc y ra đi, Trường An đang chính hạ, đến gần Nhạn Môn, sương khói trời nồng, thu lặng lẽ chớm.

Hôm nay, y đã tới Nhạn Môn.

Chiến sự phương Bắc đã xong, một phần đội quân đã lùi về, đám tướng sĩ tiền tuyến đầu tiên đã về đến Nhạn Môn. Phàn Kính c*̃ng thừa lệnh Khương Hàm Nguyên, quay về từ Tây Quan, tạm thời tiếp nhận quản việc quân chính.

Những ngày gần đây, tòa biên thành cư dân tổng cộng chưa đến một vạn này náo nhiệt như ngày lễ, bầu không khí vui vẻ tốt lành.

Đúng vậy, đã bao nhiêu năm rồi, nơi đây vẫn luôn là tuyến đầu giằng co giữa Hoàng đình Trung Nguyên và cường địch phương Bắc. Loạn chiến đối với những người dân ở đây mà nói đã thành một phần của cuộc sống. Gia viên bị lửa chiến thiêu hủy lần lượt được xây dựng, như không nhìn thấy được điểm tận cùng của sinh ly tử biệt. Người có thể đi đều đã đi, đi không được, chỉ có thể chịu đựng.

Từ rày về sau, nơi đây không còn là vùng biên cương, không còn chiến loạn, không cần lo bị cướp bóc. Họ có thể yên lòng dựng chuồng heo cùng lều dê, đến chỗ xa hơn khai khẩn thêm ruộng đồng, cưới vợ sinh con dưỡng cái, trải qua ngày tháng bình an, sao không mừng như điên được? Quân sĩ đang đi trên đường, cũng bị dân chúng giữ chặt, có người đưa lên nhà mình ăn uống đóng giày mới, có kẻ nghe ngóng ngày nào tướng quân Trường Ninh sẽ trở về.

Thúc Thận Huy đội nón lá, người mặc thường phục, đi giữa người qua đường, không chút thu hút, không ai để ý đến y.

Y muốn đi tìm Phàn Kính, hỏi vị trí cụ thể hiện giờ của Khương Hàm Nguyên, lúc sắp đến chỗ trú đóng của Nhạn Môn, ngang qua đầu phố, nghe binh sĩ đang kể với người chung quanh về tướng ninh Trường Ninh túc trí đa mưu, xung phong đi đầu trên chiến trường thế nào, kìm lòng không đặng, dừng bước.

Tài ăn nói của tay binh sĩ rất tốt, kể sinh động như thật, làm người thấy như lâm vào cảnh thật, như nhìn thấy thiên quân vạn mã loạn chiến, làn tên mũi giáo không dứt, tướng quân Trường Ninh cưỡi ngựa đi đầu, dũng cảm tiến tới. Người chung quanh nghe đến cả kinh, khi thì mướt mồ hôi cho nữ tướng quân, khi thì nhiệt huyết sôi trào, nghe tới đoạn cuối cùng công phá trận địa, đoạt được Nam đô, bèn cao giọng reo hò lớn tiếng như sấm vỗ khen hay.

Thúc Thận Huy mỉm cười dưới nón lá, cảm thấy vinh yên thật lớn.

Dù trong lòng y từ đầu đến giờ hơi có phần sợ hãi, thậm chí rằng, càng đến gần nàng ấy y càng cảm thấy e ngại không dám gặp. Biết mình bây giờ không phải chỗ nàng yêu, càng không xứng với nàng ấy. Nhưng mà mảnh đất dưới chân đã cách nàng ấy không xa, khát vọng muốn lại gần nàng đột nhiên càng thêm vội vàng.

Dù chỉ là có thể nhìn nàng từ xa xa, y c*̃ng đủ hài lòng.

Lệnh sở ngay phía trước mặt.

Y cất bước, đang định đi tiếp, thì một thớt khoái mã từ sau vụt đến, trên ngựa hẳn là từ tiền tuyến đường xa chạy tới, chở ống tin, cao giọng quát người qua đường nhường đường, phi nhanh đến trước cổng lệnh sở, ngựa chưa kịp dừng hẳn thì người đã phóng xuống, vội vàng chạy vào trong.

Thúc Thận Huy ngẩng lên, nhìn tên lệnh binh vừa chạy vào sau cổng, ý cười dần biến mất.

Y có một dự cảm, có lẽ đã xảy ra chuyện ngoài dự kiến.

Y không do dự, lập tức cất bước vội đi theo.
 
Không Tỉnh
Chương 116


Lệnh binh đưa tới một tin đột phát.

Sí Thư không cam lòng thất bại, trên đường lùi về phương Bắc, bắt được liên lạc với Tả Xương Vương đã quay lại lãnh địa từ trước, lấy kế hoạch vực dậy mai sau cùng trị làm điều kiện điều tạm binh mã, thừa lúc quân Ngụy không sẵn sàng, giết ngược trở về*.

<i>(*) sát hồi mã thương: quay đầu lại bất ngờ đâm ngọn thương vào kẻ địch</i>

Mục tiêu của gã không phải đoạt lại Nam Đô, cũng không phải U Yến. Vị Hoàng đế Bắc Địch này dù từng nổi cơn tam bành vì thua trận, song cuồng nộ qua đi, đầu gã cũng không hề hoàn toàn bị ngọn lửa tức giận làm cho mê man. Hiện giờ binh lực quân Ngụy mạnh hơn, cộng thêm vừa thắng trận đại chiến, nhuệ khí đang không thể đỡ, còn mình binh bại như núi đổ, dù có điều tạm binh mã thì trong ngắn hạn muốn tranh đoạt lại vùng đất U Yến không khác gì kẻ si nói mộng, mà nếu như U Yến không nằm trong tay thì dẫu có đoạt lại Nam Đô thì cũng không phải vùng đất vững chắc lâu dài, không có bất kỳ ý nghĩa thực tế nào.

Ở phía Bắc Nam Đô cách mấy trăm dặm có một đầm nước lớn vắt ngang từ Đông sang Tây, vào mấy thập niên trước khi Bắc Địch chưa xuôi Nam đóng đô, mấy trăm năm qua, nơi đây luôn được coi là chỗ Giới hà (sông giáp ranh) giữa người Địch và hoàng triều Trung Nguyên, song phương luôn đứt quãng tranh đoạt quanh vùng ranh giới, từ rất lâu Hoàng triều Trung Nguyên đã xây dựng cứ điểm dọc theo hai bên bờ Giới Hà, về sau dần dần hình thành rất nhiều quân trấn, trong đó hai quân trấn Chấn Minh, Tây Nhu có quy mô lớn nhất, vị trí cũng mấu chốt nhất.

Mục tiêu của Sí Thư là muốn giữ vững Giới hà, việc này còn liên quan đến tôn nghiêm sau cùng của gã — U Yến Nam Đô vốn không thuộc cả về người Địch, mất thì mất rồi, nhưng vùng đất phía Bắc Giới hà lại là chỗ tổ tiên người Địch yên nghỉ, nếu ngay cả một tấc vuông cuối cùng này cũng không giữ được thì dù gã có quay trở lại Bắc Đình, cũng e là không còn cách nào phục chúng. Mà tình cảnh hiện giờ của Tả Xương Vương so với gã cũng chả tốt là bao. Nói trước đây là vì một ý nghĩ sai lầm của lão trực tiếp dẫn đến tổn thất U Yến là chưa đủ. Người Địch trọng kẻ vũ dũng, xem thường hèn yếu, mấy mươi năm qua, dù rằng quý tộc và quân đội Nam Đô vì hưởng lạc mà có chỗ buông thả, song tục lệ vẫn thế. Sau khi trốn về lãnh địa, lão liền bị đám quý tộc còn lại âm thầm chế nhạo, danh dự tổn hao rất nhiều, giờ nhận tin từ Sí Thư, sau khi cân nhắc, để cứu lấy danh dự, cũng là vì suy tính đến tương lai, bèn đồng ý cho mượn binh.

Cứ thế, sau khi vượt qua Giới hà chạy tiếp vài trăm dặm, Sí Thư một lần nữa tổ chức binh mã, quay lại tập kích, giết ngược.

Tin gửi đến quân Nhạn Môn đến từ Nam Đô.

Sau khi đánh hạ Nam Đô, Khương Hàm Nguyên càn quét biên cảnh, đánh thẳng đến gần vùng Giới hà, biết giặc cùng đường chớ đuổi mới dừng truy kích. Thời gian va chạm với Sí Thư không ít, đối với tính cách kẻ địch cũng có chỗ hiểu biết, biết gã phàm là có nửa điểm khả năng cũng sẽ không dễ nhận thua, bèn cẩn thận đề phòng, cô đích thân ở lại Giới hà tiếp tục phòng thủ, quan sát động tĩnh, lúc nhận được tin khẩn cấp thám tử đưa đến, cô đang dẫn một đội binh mã trú tại Tây Nhu Tắc phía Bắc Giới hà, phái người phát ra cấp báo, lệnh lập tức điều quân đến giúp, rồi lệnh Chu Khánh đề phòng ở Chấn Minh Tắc, một cứ điểm quan trọng khác ở phía Nam Giới hà, đồng thời gửi thư về Nhạn Môn, lệnh cho Phàn Kính chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh mọi lúc, phòng vạn nhất.

Phàn Kính mới từ Tây Quan trở về không lâu, ngày ngày bề bộn nhiều việc quân, hôm nay cũng không ngoại lệ, nhận được tin chiến sự lại lên ở Lệnh sở, đang hạ lệnh triệu đủ sĩ quan cấp cao truyền đạt lệnh cấp trên, thì binh sĩ giữ cửa vào thông báo rằng có người tìm ông, bước ra, nhìn thấy một người mặc thường phục đội nón lá đứng bên ngoài, dáng vẻ nom quen quen, đợi đến gần nhận ra, kinh ngạc không thôi: “Điện hạ?”

Ông vội sải bước ra đón.

Cùng ngày, Thúc Thận Huy cầm lộ bài thông hành Nhạn Môn phát ra tiếp tục tiến ra phương Bắc.

Lúc xảy ra trận chiến tám Bộ, Khương Hàm Nguyên dẫn đội khinh kỵ chạy đường vòng quanh co, còn phải ngày nằm đêm đi, cần tầm mười ngày mới đến được U Châu. Hiện giờ vùng đất U Yến đã hoàn toàn thuộc về Đại Ngụy, từ Nhạn Môn đến Nam Đô có thể đi thẳng, ngựa y không dừng vó đi cả ngày lẫn đêm, chưa tới ba bốn ngày đã tới quận Yến, không hề ngừng nghỉ, đổi ngựa đi tiếp đến Nam Đô, nhanh chóng đến Chấn Minh Tắc nằm ở hạ lưu bờ Nam.

Y muốn tiếp tục đi Tây Nhu Tắc.

Hôm y đến nơi, dọc theo đoạn Giới hà này, chiến sự đã đánh. Chấn Minh Tắc là cứ điểm quan trọng vùng hạ du, cuộc chiến tranh đoạt càng thêm khí thế hừng hực.

Mấy hôm trước, một đội kỵ binh người Địch tầm mấy vạn khí thế hung hăng giết tới, lội qua đoạn ranh giới sông nước sâu đến bụng ngựa, tấn công mãnh liệt vào Chấn Minh Tắc.

Đội kỵ binh người Địch này có chủ lực đến từ dưới trướng Tả Xương Vương. Khác với đội quân bị đánh bại nhiều lần mà có chỗ e sợ trước đây, bọn hắn chưa từng nghênh chiến đã lui hết về phương Bắc, vẫn cảm thấy không phục, hiện giờ có cơ hội, từng tên đỏ mắt, ước gì không thể một hơi giết về quận Yến rửa sạch nhục nhã, để tiện bề trước mặt khoe quân công. Chu Khánh biết Địch kỵ xâm phạm khó đối phó, không dám xem thường, trước đó đã chia ra dựng công sự ở ba mặt Bắc Tây Đông của Chấn Minh Tắc, đồng thời bố trí binh lực ứng chiến. Ông phán đoán binh Địch sẽ theo trọng điểm tiến công hướng Bắc, đích thân đóng giữ, để thủ hạ là tướng tài đắc lực chia ra đề phòng hai mặt. Bố trí ấy vốn không có chỗ sơ suất, mấy ngày liên tiếp, thủ giữ Chấn Minh Tắc kín kẽ không một khe hở, quân Địch đến đám nào, ăn đám ấy.

Nào ngờ ba hôm trước, thời tiết chợt thay đổi, mưa như trút nước, nước sông chảy xiết, mực nước tăng vọt tràn bờ, phá hủy công sự bờ Tây Chấn Minh tắc. Đến khi Chu Khánh nhận được tin biết không ổn thì đã trễ, toàn bộ chủ lực còn thừa lại của quân Địch dồn về phía bờ Tây Tắc, phát động tấn công mạnh mẽ, Chu Khánh lãnh binh đến tiếp ứng. Bình thường nửa ngày đã đến, song hiện giờ đường đầy bùn lầy, đất lồi lõm tích đầy nước mưa, vó ngựa và hai chân binh sĩ lún sâu trong bùn, bước tiến gặp trở ngại cực lớn, chí ít một ngày mới đến.

Quân trú đóng Tây Tắc ứng đối bỗng gặp một đội quân Địch gấp bội phe mình, viên phó tướng biết trách nhiệm trọng đại — nếu quân Địch đánh ra lỗ hổng từ chỗ mình mà xâm nhập, từ phía sau bọc đánh, thì toàn bộ quân trấn Chấn Minh đều lâm vào nguy hiểm — trên người hắn dù bị thương nhiều chỗ cũng không dám nhượng bộ nửa bước, dẫn binh sĩ anh dũng thủ Tắc. Đương lúc chém giết, ngựa bị tên lạc bắn ngã, không kịp xoay xở, ngã ngựa, lại họa vô đơn chí, một chân bị vó ngựa đạp trúng gãy ngay tại chỗ, trong chốc lát không thể đứng dậy, một quân lính và sĩ quan người Địch đang vây công hắn bắt lấy cơ hội, một trước một sau, hung tợn đánh tới. Hắn té ngửa ra đất, chịu đựng cơn đau kịch liệt, chém ngã tên binh Địch trước người, cùng lúc đó, một thanh đao khác c*̃ng đã từ sau rơi xuống đầu, hắn hết lực tránh. Bên cạnh, binh lính của hắn cũng đang bận chém giết phần mình, tình thế gian nan, chủ tướng rơi vào hiểm cảnh cũng không cách nào thoát thân cứu giúp.

Lúc hắn sắp bỏ mạng dưới đao, một thớt chiến mã như chớp như ảnh, từ góc nghiêng bên cạnh xông tới, người lập tức một kiếm gọt đến, kiếm khí lướt gió, bàn tay bao gồm cả cổ tay cầm đao của người trên đỉnh đầu bị chặt đứt, rớt xuống đất.

Cùng với tiếng kêu thảm thiết của viên sĩ quan người Địch và mưa máu xối xả đầu đầy, viên phó tướng trở về từ cõi chết, mờ mịt ngẩng đầu, một khuôn mặt thanh niên anh tuấn cúi người, chụp lấy mình. Hắn được kéo lên lưng ngựa, người kia lại giết ra trận địa, buông hắn ra.

Viên phó tướng không nhận ra người tới, nhưng đã cứu mình chắc chắn là bạn không phải địch, hoàn hồn ngẩng nhìn trận chiến mình phụ trách phía trước, lo rằng mình không ở đấy lòng quân bất ổn, không màng tới cái chân bị gãy, vùng vẫy định đứng dậy quay lại, lại bị người này cản trở, nghe y nói một câu, không khỏi sáng mắt, vui đến phát cuồng, thu hết hơi, hướng phía trước la lớn: “Các tướng sĩ nghe đây! Hắn là do Chu Tướng quân phái tới đưa tin! Tướng quân đang nhanh chóng lãnh binh đến! Giết cả cho ta, đứng vững —” hô xong, người thả lỏng, không gượng được nữa, hôn mê bất tỉnh.

Tướng sĩ lấy ít địch nhiều, lọt vào vòng vây điên cuồng vốn đang dần hết chống đỡ nổi, đột nhiên nghe tin, lại thấy thanh niên mới cứu chủ tướng đã phóng ngựa giết ngược trên trận địa, đón đầu quân Địch, được cổ vũ, tinh thần cực kỳ hưng phấn, cắn răng đỏ mắt ra sức chém giết theo.

Đương khi Chu Khánh lãnh binh rốt cuộc đuổi tới, cục diện đã đảo ngược, đường lui của binh Địch bị cơn hồng thủy cắt đứt, vô số kẻ nhảy xuống đầm, chết đuối. Chiến sự kết thúc, ông nghe có người tự xưng là do mình phái tới, chẳng những cứu được viên phó tướng thủ hạ đắc lực của ông, về sau còn bắn chết chủ tướng quân Địch, ổn định cục diện, đang chờ mình, mà hình như trong ngàn quân chẳng ai nhận ra, bèn không khỏi hiếu kì cho người dẫn đi gặp. Đến nơi, thấy người kia cả người nhuốm máu, đứng bên bờ ranh sông hồng thủy đang tràn, ngắm mây đen trên kia bày ra trận hồng thủy mà nhíu mày, vẻ mặt nom như đang thầm lo lắng.

“Ngươi là ai? Công lao lần này không nhỏ! Xưng tên đi, bổn tướng quân thay ngươi đến thỉnh công trước mặt tướng quân Trường Ninh— ” Chu Khánh cười ha hả, sải bước tới người kia, chợt khựng lại, trợn to mắt.

“Điện hạ!”

“Mạt tướng không biết là Nhiếp Chính Vương điện hạ đến! Điện hạ thứ tội!” Ông cuống quýt đổi giọng, bước lên thi lễ chào hỏi.

Thúc Thận Huy xoay người, bước tới lệnh cho Chu Khánh đứng dậy: “Nay ta đã không còn là Nhiếp Chính Vương, không cần đa lễ.”

Binh sĩ xung quanh vừa mới thấy y khí độ không tầm thường, vẫn đang tò mò dò xét, nhìn thấy cảnh này đều kinh ngạc ngớ người.

Nhiếp Chính Vương chính là phu quân của tướng quân Trường Ninh, trong quân không ai không biết, đợi tỉnh táo lại vội vàng quỳ cả theo.

Thúc Thận Huy lệnh mọi người đứng dậy cả.

Chu Khánh mừng rỡ không thôi: “Sao điện hạ lại đến đây?”

Thúc Thận Huy hỏi thăm Khương Hàm Nguyên, Chu Khánh vội nói: “Mấy hôm trước Tướng quân vẫn ở Tây Nhu Tắc, Sí Thư dẫn binh đánh lén, nhưng vấn đề không lớn, viện quân phát ra hẳn giờ này đã kịp đuổi tới, xin điện hạ yên tâm —”.

Đột nhiên, ông ngừng bặt, đưa mắt nhìn mực nước đầm bên cạnh đang dâng cao mấy ngày nay, biến sắc.

Tây Nhu Tắc ở vùng thượng du bờ bên kia, cách Chấn Minh Tắc mấy trăm dặm, bình thường phát binh qua, bốn năm ngày là đến, nhưng lần này gặp lũ thượng du, hai bên bờ gần như không có chỗ đặt chân, con đường đội quân vừa xuất phát nhiều ngày trước bị chặn, rốt cuộc chỉ đuổi tới chỗ vốn là bến đò; phát hiện cầu nổi đã bị lũ đánh gãy, bị ngăn lại ở bờ Nam, không cách nào qua sông.

Đương khi Thúc Thận Huy đuổi tới bến đò, nhìn nước sông vẩn đục mang theo cây cối và xác động vật từ thượng du lao xuống, tuôn chảy không dứt, sắc mặt cực kỳ khó coi.

Phụ trách dẫn đầu cánh viện quân chạy tới Tây Nhu Tắc là Trương Mật.

Mấy ngày qua, vì để qua sông, ông đã thử mọi cách có thể nghĩ ra, song đều phí công. Ông nhìn Thúc Thận Huy đứng nghiêm bất động bên bờ, quỳ xuống thỉnh tội: “Mạt tướng vô năng! Mạt tướng đã nhiều lần thử lệnh cho tướng sĩ nối đuôi nhau xuống nước, nhưng căn bản chân đứng không vững, lòng sông cực sâu, nước lại xiết, nếu không phải đoán trước buộc thừng trên người, người cũng muốn bị cuốn đi —”.

Thúc Thận Huy nhìn bờ bên kia, đứng yên, bóng lưng không nhúc nhích.

Chân trời nơi xa xa âm u, quân trấn Tây Nhu Tắc ở cách bờ Bắc mấy chục dặm, từ đây không thể nhìn thấy, nhưng ở đó tổng cộng chỉ có không đến hai ngàn binh mã, mà Sí Thư lại là có chuẩn bị mà đến, tập kích quân trấn, tình huống bên ấy hiện giờ thế nào là có thể nghĩ, bị kẹt là tất nhiên, thậm chí, khả năng xấu nhất…

Trương Mật không dám tưởng tượng, nghiến răng, bỗng đứng bật dậy, quay đầu lớn tiếng gọi binh cảm tử, đang định lệnh người kết thành bức tường lần nữa xuống nước, chợt thấy Thúc Thận Huy sai người nhấc một khúc gỗ tròn vốn định dùng để dựng cầu nổi, lệnh đẩy xuống nước. Ban đầu Trương Mật không rõ cho lắm, mà không dám hỏi nhiều, chỉ bảo binh sĩ làm theo. Lúc thả khúc gỗ xuống nước, ngay lập tức đã bị dòng lũ ập tới lăn lộn không ngừng, sóng cuộn trào mãnh liệt, chìm nổi, xoay chuyển mòng mòng.

“Điện hạ?” Ông vẫn chưa hiểu ra dụng ý. Muốn dựa vào khúc gỗ nổi để qua sông vốn là chuyện không thể nào. Vừa hỏi, Thúc Thận Huy đã thả người nhảy xuống nước, bám vào khúc gỗ nổi, ngay lập tức, người theo khúc gỗ bị đánh ngược trở lại trên mặt nước, trôi vào lòng sông.

“Điện hạ!”

Trương Mật và bọn Chu Khanh vừa tới cuối cùng đã hiểu ý đồ của y.

Mặt sông sóng lớn mãnh liệt, nhưng ở đáy nước, hẳn dòng nước sẽ tương đối nhẹ nhàng. Y đang muốn dựa vào sức mình, lặn xuống nước qua sông.

Thật là một hành động nguy hiểm biết chừng nào, nước sông vẩn đục như bùn, dưới nước không thể thấy gì, chưa nói còn có mạch nước ngầm và xoáy nước, chỉ không cẩn thận một tí e sẽ có bất trắc.

Đám người nhìn thấy y vừa xuống nước, lập tức theo khúc gỗ bị sóng ập tới đánh chìm, trong tích tắc không nổi lên, không khỏi hoảng sợ, cao giọng la to, một lát sau, nổi lại lên mặt nước, đã ngoài mấy trượng.

“Điện hạ! Điện hạ!”

Trương Mật Chu Khánh dọc theo bờ sông đuổi theo một đoạn, chỉ thấy khúc gỗ trong mặt nước rộng lớn chìm nổi bao nhiêu bận, y c*̃ng chìm nổi từng ấy bận theo.

Lần cuối cùng, khúc gỗ nổi lên lần nữa nhưng không thấy y.

“Điện hạ —— “

Trương Mật Chu Khánh sợ đến hồn phi phách tán, quỳ gối xuống đất, trợn to mắt nhìn đầm nước đục phía trước, nhưng chỉ thấy mênh mông, nào còn có thể tìm được bóng dáng của y?



Sau khi Khương Hàm Nguyên phái người đưa tin, bèn đụng phải đại đội binh mã của Sí Thư tập kích đến. Cô dẫn theo hai ngàn binh sĩ lui về trấn ở một tòa Tắc lũy hoang phế từ lâu, chia lớp phòng thủ cổng vào.

Theo cô tính toán, chỉ cần phòng thủ bốn năm ngày, đội quân sẽ có thể đến. Nhưng nào ngờ mãi không thấy. Cô đoán mưa to mấy ngày liên tiếp gây lũ, cản lối giao thông. Hiện tại, cô và tướng sĩ thủ hạ đã bị nhốt ở đây bảy ngày bảy đêm, c*̃ng đã huyết chiến bảy ngày bảy đêm. Mới chạng vạng tối nay, sau nửa ngày gian nan huyết chiến, cuối cùng đã một lần nữa đánh lui tiến công bên ngoài, mấy lối vào đều chất đầy xác binh Địch bị giết.

Không khí trong Tắc lũy đầy mùi hôi thối của xác rữa hòa cùng máu tanh, nghe đủ muốn nôn mửa. Nhưng với Khương Hàm Nguyên và tướng sĩ đã chiến đấu nhiều ngày thì sớm đã không còn cảm giác. Vấn đề lớn nhất họ sắp gặp phải, không phari là trận huyết chiến tiếp đến, mà nước bẩn có thể uống được sắp không còn, lương khô có thể no bụng, cũng tiêu hao hầu hết. Bị nhốt thêm đôi ngày nữa, không cần bên ngoài đánh vào, nơi này đã hoàn toàn mất đi sức chiến đấu.

Ngoài Tắc lũy, mùi thịt thơm binh Địch nướng thoảng bay vào. Các binh sĩ không một ai nói chuyện, có người im lặng lung tung xử lý vết thương trên người, có kẻ ngồi dựa một góc tường khuất nhắm mắt gà gật, còn có người thấp giọng nhai miếng lương khô cuối cùng mình còn sót lại, lầm bầm nguyền rủa kẻ địch bên ngoài.

Khương Hàm Nguyên bỗng đứng lên, hỏi binh lính chung quanh: “Vì sao mọi người lại đầu quân?”

Các binh sĩ ngẩn ra nhìn cô, mới đầu nhìn lẫn nhau, chẳng ai mở miệng. Khương Hàm Nguyên chỉ Trương Tuấn ngồi một mình trên đất gần đó: “Cậu nói trước đi.”

Trương Tuấn ngập ngừng, “Người nhà tôi chết sạch, để có bữa cơm ăn mới dấn thân vào quân ngũ.”

Khương Hàm Nguyên gật đầu, hỏi một sĩ binh cạnh cậu: “Còn cậu?”

Binh sĩ kia cười hắc hắc: “Tôi muốn dành ít tiền, mai này về nhà có thể cưới cô vợ trẻ mập.”

Xung quanh đều cười nhạo ra tiếng, binh sĩ sờ đầu không phục: “Bọn mi cười cái gì? Ai trong bọn mi dám nói không nghĩ tới đi?”

Tiếng cười càng lớn, bầu không khí đang ngột ngạt cũng trở nên thư thái hơn. Ngay sau đó, binh sĩ bắt đầu cướp lời nói. Người thì muốn kiến công lập nghiệp, kẻ muốn rạng rỡ tổ tông, dễ bề khoe trước mặt hàng xóm. Lao nhao, gì cũng nói.

Khương Hàm Nguyên gật đầu cười nói: “Cho dù mục đích đầu quân của các ngươi là gì, mỗi người các ngươi đều là hảo nhi lang, chiến sự sắp kết thúc, các ngươi sắp có thể về nhà, cưới vợ sinh con dưỡng cái, xây nhà làm ruộng, triển vọng biết chừng nào nhỉ!”

Giọng cô vừa buông, các binh sĩ đều ngẩn người mê mẩn. Nhưng ngay sau đó, nhớ đến hiện trạng, bầu không khí lại chùng xuống, không ai lên tiếng.

Khương Hàm Nguyên đổi chủ đề: “Đêm nay, có một cơ hội có thể phá vây, dù khó song còn tốt hơn là bị vây chết ở chỗ này. Giờ các ngươi tranh thủ ăn chút gì, nghỉ ngơi đi, dưỡng tốt tinh thần, đến chừng đó nghe lệnh, chuẩn bị phá vây!”

Nỗi sợ của đám binh sĩ là vô vọng, cuối cùng chết khốn ở đây. Chỉ cần có hy vọng phá vây, khổ sở chẳng ai e ngại. Huống hồ, trước mặt họ là viên nữ tướng cực kỳ tín nhiệm. Ngài đã nói vậy thì nhất định sẽ có cơ hội.

Trong ánh lửa ảm đạm, từng một gương mặt, trong thoáng chốc hưng phấn lên, quét đi mệt mỏi và chán chường trước đó.

Khương Hàm Nguyên nhìn quanh một vòng, cuối cùng ra hiệu Dương Hổ Thôi Lâu theo mình đến một góc tối không người.

“Vừa rồi Tướng quân có ý gì? Cơ hội phá vây ở đâu?” Dương Hổ không chờ kịp hỏi.

Khương Hàm Nguyên nói: “Ngày mai sẽ hết lương thực, hết nước uống, tên cũng sắp hết rồi, e rằng trong phút chốc viện quân không thể đến kịp. Sí Thư hận ta tận xương, đêm nay hai cậu tổ chức binh sĩ, dùng tiễn trận mở đường cho ta, ta sẽ đoạt ngựa trùng sát ra ngoài, chắc chắn Sí Thư sẽ phái trọng binh đuổi theo ta, đến chừng đó hai cậu dẫn quân thừa cơ phá vây. Lúc trước có thăm dò địa hình, ở hướng Tây Bắc có một vùng đầm cỏ lau, các cậu dẫn người đến đó. Mấy hôm nay mưa đã ngớt, chỉ cần kiên trì thêm dăm ba ngày, đợi nước lũ hơi ổn định, viện quân chắc chắn sẽ đến.”

Sắc mặt cô bình tĩnh, nhả lời không nhanh không chậm, vẻ đã nghĩ sâu tính kỹ.

Lời còn chưa dứt, Dương Hổ Thôi Lâu đã giãy nãy: “Tuyệt đối không thể!”

Ý cô sao cả hai không rõ chứ? Sao đồng ý được?

Khương Hàm Nguyên nhìn Dương Hổ Thôi Lâu: “Nếu biện pháp này của ta là không được, vậy thì các cậu có biện pháp tốt hơn chăng?”

Hai người lặng thinh.

Tình hình nơi này thế nào bọn hắn quá rõ. Biết rằng nếu dùng cách của nữ tướng quân, có lẽ còn có thể dẫn người giết mở một đường máu, bằng không thì…

“Kéo dài nữa, toàn bộ sẽ chết.” Cô lạnh lùng nói.

“Vận may không thể lúc nào cũng ở bên ta được. Lúc này chính là lúc trời muốn tuyệt đường ta, ta không thể nhận mệnh được! Tâm nguyện các binh sĩ các cậu cũng nghe cả rồi đấy. Họ tin tưởng vào cha ta, tin tưởng ta, tình nguyện đi theo cha con họ Khương huyết chiến đến cùng, hiện giờ sắp có thể thực hiện tâm nguyện, về lại quê hương sinh sống, rõ ràng còn có cơ hội có thể giết ra ngoài, dựa vào đâu lại bắt họ chết chung cùng ta ở chỗ này chứ?”

“Tôi theo tướng quân!” Dương Hổ không chút do dự nói.

Khương Hàm Nguyên thản nhiên nói: “Một mình Thôi Lâu e là không thể dẫn đội phá vây, cậu và cậu ấy phải phối hợp lẫn nhau, dẫn đội riêng mình! Đây là mệnh lệnh! Ta không cần người đi cùng, thêm một người là thêm một phần vướng víu.”

“Tướng quân!” Ánh nước lóe ra trong mắt Dương Hổ, run giọng gọi. Khương Hàm Nguyên thảng như chẳng nghe thấy, xoay sang Thôi Lâu đang im lặng.

Cậu chậm rãi, quỳ xuống trước cô, dập đầu liên tục, trầm giọng nói: “Mạt tướng nhất định dốc hết toàn lực, không phụ tướng quân nhờ vả!”

Cô lại nhìn sang Dương Hổ, Dương Hổ nắm chặt quyền, cắn răng, rồi cũng từ từ quỳ xuống.

Khương Hàm Nguyên ra hiệu hai người đứng dậy, vạch ra trên mặt đất tuyến đường mình muốn trùng sát ra, và tuyến đường hai người họ sẽ phá vây. Xong xuôi, lệnh cho cả hai tiến hành sắp xếp cùng đám binh sĩ.

Dương Hổ Thôi Lâu đi vào giữa đám binh, bàn giao lại kế hoạch của cô, chỉ không nói tới việc cô đơn thương độc mã trùng sát ra, các binh sĩ tưởng đã có sắp xếp khác, chẳng ai sinh nghi.

Đám binh này phần lớn đến từ Thanh Mộc Doanh, nuôi dưỡng chiến thuật cực cao, kỷ luật nghiêm minh, ngay lập tức hiểu rõ hành động tiếp theo, ghi nhận xong vội xôn xao chuẩn bị, ai cũng kích động.

Khương Hàm Nguyên ngồi dưới đất nhắm mắt dưỡng thần, lát sau, mở mắt.

Dương Hổ quay lại, yên lặng dừng trước mặt cô.

“Tất thảy đều theo lời dặn của Tướng quân, sắp xếp xong.” Cậu thấp giọng.

Khương Hàm Nguyên gật đầu: “Cậu cũng đi nghỉ ngơi đi, chuẩn bị ác chiến.”

Dương Hổ cúi đầu, chậm rãi quay đi.

“Chờ một chút.”

Khương Hàm Nguyên chợt gọi giật, im lặng một lát, rồi rút ra một thanh đoản đao vẫn kè kè bên hông đưa tới, mỉm cười: “Phiền cậu, sau này nếu có thể gặp được Nhiếp Chính Vương, thay ta trả thanh đao này lại cho chàng. Nói rằng— “

Cô dừng lại.

Lời muốn nói, như rất nhiều rất nhiều, vào giây phút này toàn bộ dâng lên trong lòng. Nhưng nghĩ lại, không biết nên nói câu nào.

— nếu như còn có kiếp sau, tiểu tốt kia, tình nguyện dẫn đường cho chàng lần nữa.

Trong lòng cô tự dưng nhảy ra câu này, hơi ngây ra.

“Là Nhiếp Chính Vương! Lần trước ở thành Phong Diệp tám Bộ tôi từng gặp ngài! Chính là Nhiếp Chính Vương!”

“Không sai! Chính là ngài ấy!”

“Hình như ngài ấy bị thương! Trán đang chảy máu!”

“Sao hình như chỉ có một mình ngài ấy!”

Binh có thể được tuyển làm vọng binh có ánh mắt vô cùng tốt. Cùng với tiếng hắn liên tục hô, còn có tiếng hỗn loạn bên ngoài, có vẻ như binh Địch đang gấp rút kết đội, ngựa hí vang, không khí khẩn trương.

Tim Khương Hàm Nguyên bỗng giật thót, tỉnh táo hẳn, nhảy bổ lên vội chạy qua chỗ binh sĩ, thò người ra miệng ngắm nhỏ bốn phương của Tắc lũy, nhìn ra ngoài.

Bên ngoài, lửa đuốc vây quanh Tắc luỹ giữa quân trận sáng tỏ, cô nhìn thấy trên đỉnh đồi cách chưa đến một bước tên, một thớt chiến mã đang dừng ở đó, trên lưng ngựa, một người ngồi cao cao, một tay giơ đuốc lửa, tay kia nắm lấy cương ngựa. Gió đêm cực lớn, thổi lửa bó đuốc như ù ù rung động, tia sáng nhảy nhót, phản chiếu tóc trên đầu chàng ướt sũng, khuôn mặt có phần tái nhợt.

Quả nhiên là Thúc Thận Huy!

Vọng binh nói không sai, một bên thái dương chàng đọng vết máu, có vẻ như là đơn thương độc mã, thậm chí ngựa của chàng, nhìn từ bí yên* để phán đoán, tựa như cũng là chiến mã của người Địch.

<i>(*) bộ hàm thiếc, dây cương và yên ngựa</i>

Sao chàng lại tới đây? Chàng xông tới, cách quân Địch gần đến thế, là muốn làm gì?

Cô sợ ngây cả người, tim đập thình thịch, còn chưa hồi thần hẳn đã nghe y cất tiếng cười to.

“Sí Thư! Còn nhớ bổn Vương chứ? Đại Ngụy Nhiếp Chính Thúc Thận Huy! Trường An từ biệt, hôm nay lại gặp! Hôm ấy ngươi rơi vào trong tay bổn Vương, bị chó cắn xé, sống không được, chết cũng không xong, bày trò hề, cuối cùng như thằn lằn tự chặt một tay mới may mắn chạy thoát. Nghe nói sau này cánh tay cụt của ngươi khảm nối thiết trảo, dùng làm binh khí, không biết dùng có tiện không? Nếu không tiện, bổn vương có thể chế tạo giúp ngươi, xem như đền tội! “

Y ở trên cao nói, tập trung mười phần khí, ai nấy đều nghe rõ rành rành, tiếng cười theo gió đêm truyền khắp bốn phía, tràn ngập ý khinh miệt. Đương lúc tiếng cười chưa dứt, thấy y tiện tay ném bó đuốc trong tay về phía đối diện, bỗng cầm cung tên treo bên yên ngựa, kéo căng dây cung, bắn tới một mũi.

Vũ tiễn như mang theo sức lực ngàn quân, bay vút đến Sí Thư. Mấy thân vệ bên cạnh nhào tới, một phát đẩy Sí Thư ngã nhào xuống đất, một sĩ quan phía sau gã không tránh kịp, chưa kịp phản ứng thì mũi tên đã đâm vào yết hầu, xuyên thủng mà ra. Hắn bị bắn ngã ra đất, che cổ họng ré lên ú ớ đau đớn.

“Đại Ngụy Nhiếp Chính Vương!”

Binh Địch nhao nhao kinh hô. Sí Thư vì tránh tên, không khỏi chật vật, thấy người chung quanh xôn xao quay lại nhìn mình, ánh mắt xói vào cánh tay trái của gã, càng thêm mặt đỏ tía tai.

Một chuyện như chuyện hôm ấy đương nhiên gã không để kẻ nào biết được, nào ngờ lại bị giễu cợt trước đám đông, nổi cơn khùng, hận ngó đăm đăm bóng người trên dốc núi đối diện, lại quay sang toà Tắc luỹ sắp công phá sau lưng, đang do dự không quyết, một binh sĩ vừa nãy lặng lẽ đến gần điều tra chạy vội về, vừa chạy, vừa rống lớn: “Hắn chỉ có một mình! Hắn chỉ một mình! Phía sau không có binh mã ——” lời còn chưa dứt, Thúc Thận Huy lại phát một tên, binh Địch ngã nhào xuống đất.

Trong quân Địch dấy lên cơn xôn xao.

Với thân phận của đối phương đơn thương độc mã đến khiêu chiến, trong phút chốc bọn chúng sao dám hành động thiếu suy nghĩ, chỉ e có trá. Giờ đã xác định không ngờ Nhiếp Chính Vương Đại Ngụy này lại thật sự đến một mình, lập tức bạo dạn hơn.

Nếu bắt sống được Đại Ngụy Nhiếp Chính Vương — đừng nói bắt sống, cho dù là g**t ch*t, đừng nói đến công lao, danh vọng to lớn từ đây, có thể nghĩ.

Trong mắt người người, b*n r* tia hưng phấn đầy tham lam.

Mối hận ngày ấy bị chó cắn xé, nỗi nhục tên bắn xuyên ngực, đẩy đến nỗi đau mất tay, từng việc một hiển hiện trong lòng, cặp mắt Sí Thư đỏ ngầu, không do dự nữa, cho người tiếp tục vây quanh, tự mình lên ngựa dẫn theo một toán quân nhanh chóng đuổi đến dốc núi đối diện.

Thúc Thận Huy dừng ngựa ở đỉnh dốc, lù lù bất động, đón gió đêm từ trên cao nhìn xuống, từ đầu đến cuối lặng lẽ nhìn phía trước, mãi đến khi Sí Thư dẫn người đuổi tới dưới dốc núi, loạn tiễn cùng phát l*n đ*nh dốc, mới hơi xoay mặt, ngắm nhìn toà Tắc lũy được bóng đêm bao phủ, lập tức giục ngựa, trầm thấp quát to một tiếng “giá”, quay đầu, phóng ngựa xuống dốc.

Bóng người trên đỉnh dốc núi đột nhiên mất dạng.

Khương Hàm Nguyên đứng ở miệng ngắm nhìn ra bốn bề nho nhỏ kia, siết hai tay thật chặt, tim muốn nhảy vọt khỏi cổ họng, yết hầu nấc nghẹn.

Khoảng cách này, chàng sẽ không thể nào thấy mình. Song cô biết, cái thoáng quay đầu nhìn sau cùng, chính là nhìn mình —— chàng đang nhìn cô.

Cô cũng biết chàng muốn làm chuyện gì.

Cứ như thần giao cách cảm.

Chàng làm chuyện mà cô vốn muốn làm.

Suy nghĩ chực nhảy vào trong đầu khiến cô tỉnh táo lại. Chàng đã tạo cho cô cơ hội, cô không thể bỏ qua!

Cô buộc phải nhanh chóng dẫn binh trùng sát ra ngoài, sau đó, đi tiếp ứng chàng.

Cô nhanh chóng ép hơi nóng trong mắt xuống, bỗng quay lại, cao giọng quát toán binh sĩ: “Toàn bộ chuẩn bị! Theo kế hoạch mới, giết ra!
 
Không Tỉnh
Chương 117


Ngày hôm nay, y chìm nổi xoay chuyển theo khúc gỗ trong dòng nước lũ, ban đầu người hoàn toàn không thể tự điều khiển, mấy lần bị va đập vào khúc gỗ suýt tuột tay, mãi đến khi trôi ra vài dặm mới bắt được cơ hội, trong dòng chảy nhẹ nhàng hơn trôi theo dòng nước đục, dạt vào bờ, sau đó lại đuổi mấy chục dặm đường, cuối cùng cũng đuổi đến đây.

Ngựa này là y đoạt được từ một tên lính Địch đang tuần tra gần Tắc lũy, sức chạy vốn chỉ bình thường, nhưng dưới khống chế của y, mới đầu, Sí Thư và đại đội nhân mã dẫn theo mãi vẫn không cách nào tiếp cận. Sau một hơi dùng tốc độ cao nhất phi nước đại ra mấy chục dặm, ngựa dần dần mất sức, không thể giữ nguyên tốc độ.

Khoảng cách ngày càng gần, tiếng rít hưng phấn binh Địch binh c*̃ng càng rõ.

Sí Thư hô quát binh sĩ vượt qua, bắn tên, ép y chuyển qua hướng Tây. Dần dần, mặt đất càng mềm và ẩm ướt, vó ngựa càng lúc càng lún sâu vào bùn, tiến lên chậm chạp.

Vùng này vốn là vùng đầm cỏ lau. Sí Thư quen thuộc địa hình, định bủa vây y bắt sống. Y bỏ ngựa, lần theo một dải địa thế cao kéo dài có chỗ đặt chân vững chắc tiếp tục bôn ba một đoạn, cuối cùng, ngừng lại.

Phía trước đã hết đường. Dưới sườn núi là một mảnh đen ngòm, vài ngọn cây thấp lè tè thưa thớt, qua khỏi, là lau sậy mênh mông vô bờ, cỏ lau tươi tốt, cao hơn đỉnh đầu người, dưới ánh trăng, mặt nước hiển lộ một lớp màu mực sâu khiếp người.

Đại đội binh Địch nhanh chóng đuổi tới, Sí Thư cưỡi ngựa vọt tới, chỉ huy binh sĩ vây quanh y.

Ánh đuốc rực lên, lộ ra những khuôn mặt đằng đằng sát khí. Sí Thư ngồi trên lưng ngựa chằm chằm nhìn bóng người cuối ánh lửa phía trước, gằn từng chữ từng chữ: “Bắt hắn lại!”

Thúc Thận Huy đoạt một thanh đao từ trong tay tên lính Địch trước nhất, trở tay chém xuống. Tên lính Địch bị chém đi nửa đầu, máu đen tuôn khắp, trong nháy mắt bao trùm khuôn mặt đầy tham lam hung tàn dưới trán rồi ngã xuống dưới chân y.

Y không ngừng lặp lại, một đao lại một đao.

Trong máu bắn tung tóe cùng tiếng hô quát không dứt, tiếng gào thảm thiết, từng tên tiếp từng tên lính Địch ngã xuống. Nhưng, giết không xuể. Một tên ngã xuống thì lại càng nhiều tên tiếp tục nhào tới, kẻ trước ngã xuống, kẻ sau tiến lên, chen lấy nhau.

Y từng là người cao quý nhất Đại Ngụy, thanh danh hiển hách, ngồi trên mây cao bễ nghễ nhìn xuống Trường An dưới chân. Y chính là vàng bạc vạn lượng mà binh Địch tha thiết ước mơ, đứng đầu vạn hộ. Máu đen tanh nóng từ thân thể đồng đội phun ra chẳng những không thể dọa lui chúng, ngược lại càng thêm k*ch th*ch mắt mũi của chúng, cả đám như đám sói đói cùng bủa vây tấn công con vua sư tử ở chính giữa, ai cũng muốn dùng nanh vuốt của mình xé rách khối máu thịt tươi mới tiếp theo kia.

“Ta đánh trúng lưng hắn này!”

“Là ta! Làm chân hắn bị thương!”

Cùng với tiếng đau đớn của đồng đội ngã xuống phát ra không ngừng, từ từ, tiếng vui mừng tranh công hỗn tạp nối tiếp nhau, thi thoảng vang lên.

Sí Thư nhìn cảnh cuối ánh lửa, ngó kẻ kia vấy máu trên người mỗi lúc một nhiều, một lớp che phủ một lớp, là máu người mà y giết, cũng chính là máu từ vết thương cơ thể y không ngừng tuôn chảy. Thân hình y mỗi lúc một cứng nhắc, cánh tay vung đao cũng chậm chạp dần — thế là vẻ cau có méo mó vì cơn hận trên khuôn mặt gã từ từ buông lỏng, thậm chí còn hiện nét vui vẻ.

“Giữ lại mạng hắn!”

Gã hạ lệnh, tiếp đó, lấy một bầu rượu từ trong túi trên lưng ngựa mở nắp, vừa uống rượu, vừa thưởng thức đối thủ của mình đang vô vọng chó cùng rứt giậu —, chỉ phí công tranh đấu.

Nuối tiếc duy nhất hiện giờ của gã chính là không thể để ả Khương Hàm Nguyên kia c*̃ng nhìn thấy cảnh này, thấy gã đàn ông của ả, kẻ quyền lực nhất nước Ngụy, lại vật lộn cầu sinh thế nào dưới tay mình.

Nhưng không sao, chờ hừng đông quay về, sẽ chóng thôi. Gã biết, toà Tắc lũy kia sắp bị mình công phá.

Một sống đao lại lần nữa đánh mạnh lên trên lưng kẻ kia. Y lảo đảo hơi nhào tới trước, búng một ngụm máu.

“Dừng tay! Lùi cả đi!” Sí Thư quát to.

Binh Địch chậm rãi lui lại.

Gió hoang gào thét, ánh lửa bị gió giật múa quay cuồng. Ngổn ngang trên đất tầm chục thi thể, cộng thêm bảy tám kẻ bị thương đang giãy giụa. Máu, tốc tốc theo kẽ ngón tay Thúc Thận Huy không ngừng nhỏ xuống, y vẫn siết thật chặt thanh đao đã cong, chống mũi đao xuống đất đỡ lấy người mình, không chịu ngã xuống. Không chỉ thế, từ từ, thậm chí y còn đứng thẳng dậy, đứng ở cuối ánh lửa, hai tia nhìn như nhiễm máu, bắn thẳng đến Sí Thư đối diện.

Sí Thư híp mắt, ngửa cổ uống xong ngụm rượu cuối cùng trong túi rồi ném đi, lập tức cầm lấy cung tên, nhắm chuẩn, bắn tới bóng dáng kia.

Cùng một tiếng “phụt” ngột ngạt, tia sáng lạnh lẽo lóe ra sắc bén đâm vào ngực phải người kia — đúng như hắn từng làm với gã, vết sẹo trên ngực Sí Thư vẫn còn lưu.

Thúc Thận Huy không gượng được nữa.

Núi non chao đảo, y ngã xuống giữa vũng máu, mắt nửa mở nửa khép, máu từ khóe miệng trào ra.

Sí Thư nhảy xuống lưng ngựa, rút đao bên hông đi tới trước mặt người nằm trên mặt đất.

“Biết tiếp theo ta sẽ làm gì không?”

“Bốp”, gã đá một cước bay đao đi, dừng mắt lên cánh tay trống trải nhuộm đầy máu, mỉm cười: “Ta sẽ tự tay chặt cánh tay này của ngươi, đưa đến Trường An, để Hoàng đế, bá quan và cả bá tánh các ngươi đều nhìn thấy, nói cho ta nghe, một cánh tay của ngươi, rốt cuộc đáng giá bao nhiêu!”

Sí Thư chằm chằm nhìn người bị thương nặng đang thoi thóp, mắt lấp lánh tia hưng phấn và lãnh khốc, nâng đao, ngay tích tắc ấy, Thúc Thận Huy trong vũng máu mở ra một đôi huyết nhãn, tia sáng mãnh liệt b*n r* từ đáy mắt, một cước quét tới, đá mạnh vào đùi Sí Thư.

Sí Thư không hề đề phòng, té ngay xuống đất —- song gã đã phản ứng cực nhanh, dưới cơn chấn kinh ban đầu, phòng đao bị đoạt, nhanh chóng ném đi, ngay sau đó vung tay, định dùng thiết trảo phản kích, Thúc Thận Huy không chút do dự, bàn tay nhuốm máu rút một mũi tên còn dính máu thịt bầy nhầy trước ngực mình ra, c*m v** phía cuống họng của Sí Thư.

Sí Thư kinh hãi, thu ngang thiết trảo cản lại bảo vệ cổ họng, không ngờ Thúc Thận Huy thuận thế chuyển cánh tay.

“Phụt”, đầu mũi tên vừa hung ác vừa chuẩn, đâm thẳng vào tai gã.

Một chiêu thành công, không chừa cho đối phương bất kỳ chỗ trống để tránh thoát, Thúc Thận Huy dốc hết sức, cánh tay tiếp tục đẩy tới, mũi tên trong tích tắc xuyên qua đầu Sí Thư, từ tai trái đâm qua tai phải trực tiếp ra ngoài.

Sí Thư chỉ thấy trước mắt tối sầm, sao vàng bay loạn, trong cơn đau đớn mãnh liệt, người co rút không thể mở mắt. Trong cơn cuồng loạn, gã gào một tiếng thật dài tê tâm liệt phế, vô thức quơ thiết trảo loạn xạ.

Bả vai và sau lưng Thúc Thận Huy bị chém be bét, xương trắng như thấp thoáng hiện song chẳng mảy may buông tay.

Đáy mắt y như đang rỉ máu, hàm răng nghiến chặt, trước khi đám binh Địch xung quanh kịp phản ứng nhào tới, y dùng một tay đè thiết trảo của Sí Thư đánh thẳng vào chính diện mình, sau đó ôm chặt lấy gã, lăn xuống sườn núi.

Binh Địch đuổi tới đầu dốc núi, nhìn thấy cảnh hai người cuộn tròn lăn mỗi lúc một nhanh như con quay, rớt xuống đáy dốc, ngã vào đám cỏ lau, theo quán tính lại tiếp tục lăn tới, bị đám cỏ sát bờ cản ngược, người lăn qua rồi chậm rãi lăn về.

Cách mấy trượng kia là một màu đen ngòm chẳng thể nhìn thấy gì. Sau đám cỏ có tiếng vật lộn giãy giụa. Nhưng ngay sau đó, âm thanh ấy cũng ngừng lại, chỉ còn một giọng nói khàn khàn mơ mơ hồ hồ: “Người đâu — kéo ta ra — “

Là giọng của Sí Thư, vỡ vụn, đầy đau đớn vô tận và sợ hãi.

Binh Địch từ trên sườn núi nhao nhao phóng xuống, nhưng chưa đến gần đầm lầy, chân vừa chạm bùn thử đi tới mấy bước đã bị lún, trong khoảnh khắc đã đến đầu gối.

Binh Địch biết đầm cỏ lau rất đáng sợ, cuống quít co cẳng lùi lại, đua nhau lên bờ.

“Người đâu — người đâu— “

Sau bụi cỏ, cách mấy trượng, lại nghe văng vẳng tiếng kêu cứu lặp đi lặp lại của Sí Thư.

Một quý tộc người Địch đi cùng để thử độ sâu, bèn sai người dẫn ngựa tới xua xuống, con ngựa mới đi ra khỏi bờ chưa đến một trượng đã bị lún sâu vào vũng bùn, trong giãy giụa bị chìm rất nhanh. Thớt ngựa cao to trước mặt toàn bộ bao người chìm vào vũng bùn, biến mất tăm.

Địch binh nhìn mà khiếp hãi, trong lúc ấy, sau đám lau sậy, lại có tiếng rên đau đớn tuyệt vọng của Sí Thư: “Người ——” lời còn chưa dứt, âm thanh đột nhiên bị nghẽn, như có thứ gì tràn mạnh vào trong miệng chặn lại, rồi biến mất.

“Bệ hạ! Bệ hạ!”

Binh Địch đứng bên bờ, kêu to vọng ra phía trước.

Một trận gió đêm thổi qua, tiếng cỏ lau huyên náo, gió qua, bốn phía tĩnh mịch, không còn nghe thấy gì.

Binh Địch nhìn nhau, ai nấy biết rõ trong lòng, chắc chắn Hoàng đế hiện giờ đã cùng Nhiếp Chính Vương nước Nguỵ chìm vào đầm lau sậy, không thoát khỏi mà chết.

Thật ra đừng nói rơi vào đầm lau, dù không có, ngài đã bị đối phương dùng tên đâm mạnh vào lỗ tai vậy nhất định cũng không có khả năng sống sót. Đáng tiếc duy nhất là, tay Nhiếp Chính Vương nước Nguỵ kia c*̃ng bị chôn thây trong vũng bùn cùng, làm uổng một cơ hội thật tốt có thể dương danh lập công.

Sí Thư đã chết, bọn hắn và đám quân Tả Xương Vương hiện còn vây quanh Tắc lũy xưa nay bất hòa. Không quay lại, lỡ Tắc lũy bị họ phá, vậy thì thất bại cả hai đầu.

Tướng đầu mục gọi thủ hạ lại bàn một lát, nhanh chóng ra quyết định lập tức quay về.

Binh Địch bên bờ rời đi, tạp âm biến mất.

Thúc Thận Huy bị kẹt lún trong đám lau sậy, nước bùn chưa đến hông y, y túm lấy một bụi lau lớn bên cạnh, cố hết sức ngửa người ra sau mới không nhanh chóng bị chìm xuống hẳn. Nhưng bụi lau cũng không chịu nổi sức kéo của y. Y có thể cảm giác được mình đang tiếp tục từ từ lún xuống.

Dưới chân, có một vòng xoáy tối thui không đáy, mở miệng lớn chờ nuốt chửng y.

Ngay một chốc trước, bằng cặp mắt nhuộm đầy máu y lạnh lùng nhìn Sí Thư bên cạnh, giãy giụa rất dữ dội, nên càng chìm nhanh. Ngay tích tắc mũi miệng của gã bị nước bùn chặn lấy, mắt c*̃ng sắp chìm xuống vũng bùn, trên khuôn mặt méo mó vì đau đớn mãnh liệt kia, Thúc Thận Huy thấy được vẻ tuyệt vọng và không cam lòng vô cùng, ở khắc cuối cùng, thần chí vì quá đau mà trở nên cuồng loạn c*̃ng tỉnh táo lại, ra sức giơ hai cánh tay lên cao, qua khỏi đỉnh đầu, nên khi cả người gã biến mất, hai cánh tay vẫn còn duy trì tư thế chỉ lên trời — thảng như chỉ cần làm thế, sau một khắc, trời cao sẽ có thể xuống cứu rỗi.

Nhưng trời cao không cứu. Dưới ánh trăng ảm đạm lờ mờ, Thúc Thận Huy dời mắt khỏi đôi tay còn không ngừng nắm chặt lộ ra vô cùng quỷ dị kia.

Y bị thương cực nặng, đau đớn khắp người, đau đến gần như chết lặng. Máu vẫn chảy khiến y cảm thấy vô cùng mệt mỏi, giờ đã muốn mê man, ngủ một giấc, rốt cuộc không cần tỉnh lại.

Song y không chịu cứ thế mà thiếp đi. Y dùng răng cắn đầu lưỡi, dùng cảm giác đau đớn rõ ràng buộc mình tỉnh táo, cố hết sức gắng gượng. Nước bùn bao trùm lấy, như cản lại tốc độ mất máu của y một chút. Từ từ, cố hết sức ngẩng nhìn bầu trời đêm trên đỉnh đầu.

Nhất định nàng ấy có thể dẫn tướng sĩ của nàng trùng sát ra ngoài, an toàn thoát hiểm.

Rất nhanh sau đó, một tay thu lại vùng đất Bắc. Mà y, có lẽ sẽ không còn cơ hội có thể gặp lại.

Y lại dừng mắt ở bàn tay sắt vẫn còn quật cường chỉ lên trời đang từ từ chìm xuống kia, lòng thầm nghĩ.
 
Không Tỉnh
Chương 118


Chương bị khóa, mong độc giả thông cảm!
 
Không Tỉnh
Chương 119


Chương bị khóa, mong độc giả thông cảm!
 
Back
Top Bottom