Xuyên Không Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 20: 20: Cuộc Chiến Bắt Đầu Rồi


Ngay hôm thứ 6 khi tốp lính phục kích đánh chiếm trại cướp gặp 2 người trinh sát dưới chân đường nơi di vào trại cướp, 1 người trinh sát này đã chỉ dẫn cho họ vị trí chỗ đám cướp và vị trí có thể ẩn núp 1 ngày trước khi xông vào trại cướp.

Đám lính 40 người này có 1 đội trưởng tên Hợi là 1 trong 4 người con của lão Lương, tính bộc trực thẳng thắn, cáo tài chỉ huy quân đội, năm nay đã 25 tuổi rồi.

Vì học theo mọi người nên trên cằm đã có râu mọc rậm, về thời hiện đại chắc ối thanh niên 30 gọi là anh.

Khi Bân ra lện mới là tóc tai, râu tóc gọn gàng , cắt tỉa hết thì hắn cũng tạm biệt bộ râu quý giá của mình nhưng hắn là là người ủng hộ quyết định này nhất.

Hơn ai hết hắn hiểu độ ngứa ngáy khi bị ghẻ lở hắc lào và chấy rận.

Bộ râu quý thật đấy nhưng đã ngứa vẫn hơn, cạo xong bộ râu, cắt ngắn tóc, tắm trong cái xà phòng thơm của chúa công làm hắn yêu đời hơn bao giờ hết, nhẹ nhàng, thoải mái, người như trút được mấy cân.

Tối về vợ và con cứ mân mê tóc và người hắn, đêm ngủ vợ cứ ôm sau lưng hít hà ngửi hơi khiến hắn lại phải cỳ bừa đến gần sáng.
Hợi biết về đám lính đặc công này vì toàn người quen cả, võ vẽ chỉ có thêm 2-3 chiêu thức khá là đơn giản và cũng gọi là nguy hiểm.

Tuy nhiên theo nhận xét của Hợi thì chúa công có vẻ cho đám này bộ quần áo và đôi giày rốt quá.

Hắn đã thử xem bộ này rồi, trong balo còn nhiều cái tốt hơn, đồ rất tốt, bền ấm, không sợ cây cỏ trong rừng cào xước người, hắn hấy đám này đi qua bụi cây xấu hổ như không ý, không đau hay xót gì.

Đám này có quần áo không biết bằng vải gì hay nhuộm màu gì mà nó cứ như hòa lẫn vào cây cỏ vậy, Hợi phải đến gần rồi thấy bụi cỏ động đậy mới nhận ra.Hắn còn đang tính sau trận này xin 1 bộ về đi săn, bộ này đi săn thì tuyệt.

Giày đám này được dùng vải gì bền chắc lắm, hắn có dùng dao khứa qua nhưng không rách, đã thế đôi giày đi lại khá êm chân, đi đường rất bám đất đường không sợ trơn trượt, mỗi tội đi lại nhiều đau chân phết, dưới đế còn khắc nhiều hoa văn kì lạ nữa.
Nhưng vũ khí của đám này thì chúa công ki bo quá, cả lũ thấy có mấy con dao nhìn sắc bén và cứng lắm đâm thấy máu không cầm được luôn.

Cái dao này dùng để gắn vào cái cây gậy sắt dùng làm giáo, mà cái gậy này có cò nên chắc là nỏ.

1 cái nỏ có thẻ gắn dao làm giáo luôn, vậy là đám cung thủ không sợ đồ sát khi lên chiến trường rồi.

Mà khoan đã tên đâu, cái nỏ không có tên thì dùng làm gì, bọn này khi đi toàn để chúi đầu nỏ xuống dưới , có thằng còn chọc cái que sắt vào nòn xong rút ra.

Đúng vậy không có tên, đã thế cái nỏ này còn có hình dạng kì quái không dễ sử dụng đâm chọc đánh như giáo,hết sức vướng víu khó xoay xở.

Thằng cầm cái gậy sắt dài nhất , hình dáng kì lạ nhất thì bảo rằng súng của nó không gắn dao được, vũ khí bảo vệ có thêm 1 cái búa sắt.

Hắn có thấy mấy viên đồng hình dáng kì lạ mà đám này gọi là đạn lắp vào cái hộp sắt mỏng sau dó bảo bắn cái viên này đi.

Hợi cười nhạt vì nghĩ chắc vũ khí bọn này bán như bắn nỏ nhưng sẽ gần hơn còn không bằng cung tre vì sợ kẻ địch đến quá gần do bọn này đi trinh sát.

Mũi tên tụi nó tuị bằng đồng nhưng bé và ngắn thế kia cơ mà.
Câu chuyện coi thường vũ khí và chỉ khen quần áo đã ở khắp các nhóm lính, do hạn chế vì tri thức nên mọi người nên không ai biết sự nguy hiểm của nó ngoài trừ bân và các dặc công.

Hắn cũng cấm nhóm này thử đồ biểu diễn cho đám lính xem khi chưa vào trận chiến vì sợ lộ hoặc đám này máu lên đổi sang súng hết khi chưa được huấn luyện bài bản.

Nhưng thứ đồ hiện đại duy nhất mà Bân cho tất cả lính của mình dùng là cái Mũ sắt M1 của Mĩ và cái khiên chống bạo động của cảnh sát tùy theo tình hình của từng dơn vị như cung thủ hay giáo mác, gươm đao, mà chiếc khiên có hình cầu lồi hay vuông.

Bân thì đang ngồi trong chiếc xe trâu kiểu thời Tùy đường ngồi bên trong với lão Lâm Và Tùng , hắn ngồi để trả lời điện đàm cho các vị trí báo cáo và đánh gía tình hình bàn chiến lược với 2 lão trên cái bản đồ đầy tính trừu tượng nhưng đơn giản thời cổ đại với nhiều nét vẽ đại khái.

Hắn thề 1 câu rằng mấy cái bản đồ trong SGK về các trận đánh trong lịch sử còn dễ nhìn hơn cái này.

Bân muốn thay cái bản đồ nhưng anh ko muốn mang thứ mà chỉ có mình hiểu được và có thể địa hình có nhiều thay đổi.
Bân nói :
-Theo như các nhóm báo về thì trại nạn dân dạo này phòng thủ có nhiều lỏng lẻo vì tập trung mấy hôm có nắng ấm này làm đất, cả dân lẫn lính.

Trại cướp thì chỉ có tăng cường huấn luyện cũng như chuẩn bị nhiều cung tên, cuốc, quân đội không có sự di chuyển.

thám báo của địch chạy về hướng làng Đoài và Hến liên tục.

Bọn chúng còn đặt 5 kẻ trinh sát đoạn đường mà chúng ta đi qua chúng, chỉ ngồi đấy không đi đâu.

Hai vị có ý kiến gì không.
Lão Tùng nói :
-Chúa công, bọn chúng chắc chắn nhắm vào đoàn buôn lão Phần rồi.

theo kinh nghiệm của tôi khi còn làm lính.

Tôi có đi tiễu trừ cướp thì tôi có tham gia chục lần.

Bọn cướp thường hay lăn đá, cây để chặn đường thương buôn lúc về.

vì lúc này đoàn thương buôn chở rất nhiều hàng, nhiều xe nên lực lượng bị dàn mỏng.
-Khi đoàn thương buôn phải phân người đi dọn dẹp thì lực lượng mỏng nữa, lúc này bọn chúng mới nhảy vào cướp bằng phục kích.

Việc này giúp cho bọn chúng có thể tiêu diệt lượng ngươi nhiều nhất có thể mà không bị thiệt hạn nhân mạng bằng ưu thé bất ngờ và số đông.

Những người sau đoàn xe sẽ bị đánh đầu tiên, sau đó đi lên, đoàn thương buôn có lẽ lúc này đã dồn quân tụm lại 1 chỗ thì bọn chúng sẽ cho đội phục kích phía sau tấn công.

Đoàn buôn loạn sẽ bị 2 đầu công kích nên khả năng cao bị tiêu diệt.
Cả 3 người trầm ngâm suy tư 1 lúc, lão Lâm nói:
-Nhưng bọn chúng sẽ phải tấn công cả trại nạn dân, phân binh tấn công thì không ổn.

Chưa kể bọn chúng phải phái người phục kích đằng sau nữa.
-Tấn công đoàn xe lão Phần ít nhất cũng phải 100 - 150 người, còn 50 người chưa đủ sức uy h**p trại nạn dân.

Chưa kể trại nạn dân này cũng không ít kẻ là tàn binh Lí Phật Tử hoặc hộ vệ các gia tộc lớn triều cũ.

Chiến lực cũng không tệ.
Bân nói:
-Cũng có thể chúng muốn ăn cả nhưng nếu chúng tấn công trại nạn dân trước sau đó mới tấn công chúng ta.
-Ukm ! Hay là chúng tấn công trại nạn dân buổi sáng.Nhất là sáng sớm, tờ mờ sáng, lúc này người dân vẫn ngủ lấy sức cho buổi sáng làm đồng, lính canh gác lúc này mệt mỏi nhất người ngủ, người không tỉnh táo.

Chúng tập kích giờ này là tuyệt nhất, lúc xông được vào trại lùng sục cũng là lúc sáng rõ, khả năng cao không có cá lọt lưới.
Lão Tùng:
-Thưa chúa công, tôi thì nghĩ khác.

Sau bao kinh nghiệm tiễu phỉ của tôi thì tôi nhận thấy là bọn cướp không có khái niệm đốt phá.

Chúng chỉ đốt phá để cầm chân người khác chứ không bao giờ đốt phá thứ sẽ là tài sản của mình.
-Ngoài ra chúng cướp làm sao trong thời gian nhanh nhất nhưng thu được nhiều lợi nhất và ít bị phát hiện nhất.

Vì chúng rất máu chiến nhưng cũng rất sợ chết và cũng rất tham lam.

Chúng sẽ không tấn công buổi sáng hay buổi chiều với những kế hoạch lên chi tiết kĩ càng mà chúng chọn thời điểm thích hợp nhất để tấn công..
-Chính vì thế mà khả năng cao chúng tấn công 2 nơi cùng lúc.

Tôi nghĩ chúng sẽ đánh trại nạn dân trước vì ở đây lực yếu chúng sẽ ít bị thiệt hại sau đó chúng vòng đánh chúng ta kết hợp với đám phục kích phía trước 2 mặt giáp công.
Lão Lâm nói :
-Lão Tùng lời ông có khả thi không đấy
-Chúng ta về buổi chiều đến chỗ bọn chúng là lúc nhập nhoạng tối, bọn chúng sẽ phải tấn công cả 2 nơi thì chúng không đủ thời gian tấn công cũng như kiểm kê , chở tài sản và người về sau đó vòng về đánh chúng ta.

Lúc đấy chúng ta đã rời đi rồi , bọn chúng sao mà đuổi kịp, cho dù chúng có đá gỗ chặn đường thì cũng không giám tập kích chúng ta phía trước.

Khi chúng quay lại thì ta cũng chạy rồi.
Lão Tùng cười :
-Bọn cướp sẽ không làm thế đâu.

Tôi nghĩ thế này
-Ông nên nhớ chúng còn đống dân ở trại chúng nữa chứ không phải chỉ có hơn 200 quân.

Việc kiểm kê hay khuân đồ có đám dân đấy và dân trại nạn dân sau khi chiếm được mang đi chúng chỉ cần cho 50 thằng canh còn lại tấn công tổng lực chúng ta là xong.

Chưa kể còn mấy chục thằng chặn trước
Bân nói:
-Cả 2 ông nói đều có lý.

Các ông quên là còn 2 cánh quân và trinh sát chúng ta ở 2 cái trại này sao.

Diễn biến thế nào thì chúng ta có mấy người họ báo về qua bộ đàm.

Giờ cứ theo kế hoạch mua đồ đã.

Kế hoạch khôi phục đất nươc chúng ta sớm hay không thì phải nhờ trận lần này cả.

khởi nghĩa sớm ngày nào thì đồng bào bớt đổ xương máu ngày đấy mà chúng ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng chống trả nguoiừ Hán và đứng vững gót chân.
Cả 2 vâng dạ đồng ý.

Lão Tùng vẫn thấy kinh sợ chúa công mình khi mang ra cái bộ đàm gì đó là thiên lí truyền tin, có thể truyền giọng nói xa cả chục, cả trăm dặm.

Chúa công bảo có loại cả ngàn dặm, sư phụ ngài còn dùng loại vạn dặm, ngàn vạn dặm.

Lão mới đầu thấy tưởng yêu quái, nhưng nghĩ sư phụ ngài là thần nen cũng nghĩ là đồ vật của thần.

Lão xin xỏ chúa công của mình cho quân đội dùng vì lão là lính nên biết rõ thông tin quan trọng thế nào trong quân đội.

Cứ dùng người hoặc chim đưa tin thì nói thật thông tin hên xui lắm, nhiều trận chiến thất bại cũng vì thông tin không lưu thông.

Lí Phật Tử mà nhận được tin các lộ quân phía nam đang kéo về cùng tập kích 2 mặt quân Tùy thì chưa chắc đã hàng.

Triệu Việt Vương mà nhận được tin tức nội gián sớm hơn về việc Lí Phật Tử đánh úp thì có khả năng nhà Triệu vẫn còn.
Tất cả mọi việc vẫn diễn ra suôn sẻ, mua bán của thương đoàn vẫn bình thường.

Lần này thương đoàn mua được khá nhiều lương thực và 20 con trâu (do đang vào mùa vỡ đất chuẩn bị cho gieo trồng vụ xuân) giá khá chát + 50 con trâu mua trên trấn giá cò cắt cổ hơn vì các thương lái biết mùa này đang rất cần trâu cày cấy nên thoải mái tăng giá nhưng lại mua được 200 con bò vàng để lấy sức kéo.

Vì Bò vàng Việt Nam là một nhóm giống bò thuộc nhóm giống bò vàng phương Nam (giống bò hình thành do lai tạo giữa nhóm Bos taurus và nhóm Bos indicus).

Giống bò vàng của Việt Nam có nguồn gốc từ nhiều giống bò của các nước lân cận như Lào, Campuchia, Mianma, Ấn Độ và Trung Quốc nhưng chủ yếu được hình thành từ hai giống bò Trung Quốc và Ấn Độ.

Qua nhiều đời tạp giao giữa các giống bò trên đã hình thành nên giống bò vàng Việt Nam.

Đó là kết quả của quá trình chọn lọc và thích nghi tự nhiên.

Bò vàng Việt Nam thuộc nhóm bò thịt, dùng để lấy thịt bò và dùng lấy sức kéo.
Bân nhìn cái mặt ngu ngu mấy con bò này bỗng dưng hắn nhớ những con bò chạy loạn ở đường ngoại tỉnh ngày rước.

Nhưng hán cũng nhớ là trong viên đá không gian vật sống có 300 con loại này, 300 con này là hàng tuyển cả , tuy không kéo cày như trâu nhưng kéo xe, làm thịt thì tuyệt.

Hắn tính sau khi chiếm 2 cái trại này thì 300 con bò này cho ra ngoài nhân giống hết, không cho bò thời này lai giống với đám bò 300 con này.
Tuy nhiên vì lấy giống tốt và qua ngàn đời lai tạp nên 300 con của hắn là tốt nhất.

Bọn bò thời này không biết lai được nhiều không nhưng chắc chắn 1 điều về mặt ADN thì 300 con bò của hắn hơn đứt đám bò trông ngu ngu kia.

Nhìn đám bò này cho về thịt, còn bò của anh sẽ là 300 chiến binh Bò SPATA thay đổi nền giống và nền chăn nuôi và vận chuyển nước nhà.

Sau này bò của các nước khi sang đây sẽ phải rụng trứng khi thấy các anh Bò Vàng Việt Nam men lỳ và tốt giống.

Có khí ối nước còn quỳ xuống dưới chân mình xin giống bò tốt, nhất là đám đông nam á nơi đầy laoif bò này.
Sáng hôm thứ 7, Lão Tùng, Lâm và hắn đã dạy từ sớm đợi các bộ phận trinh sát báo cáo.

Sau đó các thông tin đồng loạt bay về:
Đội trại nạn dân nói :
-Đội A Báo cáo không thấy có cuộc tấn công nào cả, không có bất kì cuộc tấn công nào cả, chỉ thây 5 tên thám báo của địch, cả 5 tên đều chạy ngựa.

Chúng thăm dò lính canh và ngoài đồng khi mọi người làm việc.
Đội dưới đường trại nạn dân:
-Đội B báo cáo không thấy có dấu vết quân địch
Đội trên núi trại cướp :
-Đội C báo cáo.

Có thấy tốp lính quân địch 55 người chia 2 hướng.

1 hướng về phía trại nạn dân có 5 tên đi ngựa, hướng còn lại là về đường lớn 50 tên trong đó có 20 nên mang vũ khí và 30 tên mang cuốc và rìu, sọt, gùi.
Đội dưới đường cái đi về trại cướp
-Đội D báo cáo, có tốp lính khá đông khoảng 50 tên đang tập trung trên mấy khu rừng gần đây.

Qua ống nhòm thì chúng đang hạ cây và đào đá, đất.
Bân và 2 lão ngồi xuống,họ đã hiểu bọn này quyết định ăn cả 2.

Giờ chỉ là phân quân và đợi bao giờ chúng đánh thôi.

Buổi trưa, đoàn buôn bắt đầu khởi hành đi.

Đám cướp cũng đã cho người báo về, lão Phần lúc này mang bò gửi lại mấy gia tộc mới mua bò bảo mai sẽ đến lấy vì mang nhiều đồ quá lại neo người nên không mang về hết được.

Họ cũng nhiệt tình đáp ứng, còn trâu thì Lão mang đi 70 con này để phân phát cho các làng nghèo như lời đã hứa cũng vừa phát lương thực luôn để giảm nhẹ bớt tải trọng cũng như số lượng hàng hóa.

40 con mang của làng đi thì dùng để chở đồ về làng và chúa công còn bảo bọn này cần cho ngụy trang và sử dụng cho trận chiến sắp tới, chuyển trâu và đồ đều là lệnh chúa công cả.
Bân muốn dùng súng đạn trong trận này nhưng mà khổ cái trâu thời này chưa quen tiếng súng tiếng boom nên hắn cho gửi và tặng hết.

Còn 40 con trâu cũ của làng thì hắn suốt cả tháng nay cho tụi nay nghe tiếng ồn lớn hết từ tiếng đe, búa rèn sắt đén tiếng súng, lựu đạn.

Bọn này nghe chán rồi, có nổ súng cạnh chúng nó hay ném lựu đạn bên cạnh mà bọn này dưới hố chúng cũng không sợ mà chạy loạn hay hoảng loạn, đối với chúng tiếng súng chỉ là thứ tiếng hàng ngày bình tường hay nghe mà không hại đến chúng.

3H chiều tiếng báo cáo vang lên lần nữa.
-Đội C báo cáo, đã phát hiện địch bắt đầu di chuyển từ trại cướp đi về hướng trại nạn dân, quân số gần 200 tên
-Đội D báo cáo, bọn cướp đã bắt đầu vận chuyển cây và đá xuống đường
4h chiều
-Đội A báo cáo , dã thấy địch gần khu vực trại nạn dân.

Chúng phân tách làm 2 ,1 đội 50 tên hướng cánh đồng, còn lại ở yên vị trí.
-Đội A báo cáo, chung tán công người dân ở cánh đông, họ đang chạy toán loạn.
-Chúng bắt được người dân rồi, có khoảng 30 người đã chết, 80 người bị bắt.
-Trại nạn dân đánh trống tập trung binh lực cổng trại rồi, quân số khá nhiều, ít binh khí, đa phần cầm nông cụ và gậy gộc.
Bân ngồi trong xe trâu nói với 3 người:
-Vậy là chúng tấn công trại nạn dân trước xong tấn công chúng ta.

Các vị có ý kiến gì thì nói đi.

Lão Phần, bao lâu nữa thì dén chỗ phục kích.
Lão Phần:
-Thưa chúa công khoảng 2 khắc nữa ( 1 khắc = 15p)
Bân :
-Ukm cứ giữ tốc độ này đi, Lão Tùng, với kinh nghiệm của lão thì lão có ý kiến gì về trận này
Lão Tùng :
-Thưa chúa công, Nếu như chúng bắt con tin thì chắc chắn chúng sẽ ép dụ trại kia đầu hàng.

Nếu không được thì chúng sẽ giết con tin để chọc tức đám kia phải mở cửa trại xông ra để đánh tay đôi với chúng, lúc đó chúng sẽ chiếm lợi thế và tiêu diệt cái trại này.
Bân xem ra chúng có kế hoạch khá rõ ràng tỷ mỉ để cướp cả 2 trong thời gian ngắn nhất nên mới dùng cách tuy tàn nhẫn nhưng lại nhanh chóng được việc này.

Hắn và 3 đại lão quyết dịnh nhanh chóng và ra lệnh:
-Chia quân 2 ngả, 100 người và 10 đặc công cùng lão Phần và lão Lâm tiếp tục đi, còn lại đi theo ta về trại nạn dân.
Sau đó quay sang nói với 2 lão già:
- Trận chiến bắt đầu rồi.

Lão Lâm , phía kia ông toàn quyền chỉ huy, có gì thì cứ dùng bộ đàm thông báo ta.

Mấy xe này chỉ có ít xe chở lương thôi, còn lại toàn chở lính đi cho nhanh.

ông cho lính ngồi trong chùm vải lên vừa làm giảm số lính , vừa làm tăng số xe chở đồ mà bọn cướp đỡ nghi ngờ.
- Lão Tùng ông theo ta, nhưng ông phải cho ta mở màn trước, ta sẽ cho ông biết uy lực của vũ khí của thần, nó so với nỏ Liên châu chỉ hơn chứ không kém.
- Cuộc chiến thế là bắt đầu rồi
Bân thở dài 1 hơi rồi cùng đoàn quân 70 người đi dưới ánh chiều tà.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 21: 21: Con Người


Bân tính cho bọn chúng tấn công đoàn buôn mới ra tay, nhưng hắn nghĩ mặc dù có vũ khí hiện đại trang bị và có trinh sát.

Nhưng tấn công bất ngờ dù có phòng bị tốt như thế nào vẫn bị chịu trận và có thương vong.

Hắn nghĩ nếu không kéo quân chặn trước thì ngoài thương vong còn có cá lọt lưới, chưa kể trời tối yếu tố hỏa lực bị hạn chế, nhân lúc trời còn sáng mang quân khi lúc 2 bên thiệt hại mà diệt gọn vừa phát huy tối đa hỏa lực, lại còn được lòng dân bên kia, dễ thu thập hơn.

Còn đám trong trại cướp thì không lo vì đã cso người đón lõng và bọn này quá ít quân.
Bân đang đi cùng đoàn quân , Các đặc công khác người thì Ak, người thì PK, người thì SVD, nhưng hắn lại cầm tay 1 cái hộp hình chữ nhật, người đeo túi đựng đạn của quân đội.

Đó là khẩu FMG9.

.Khẩu súng dành cho điệp viên và cơ quan bảo vệ bảo vệ nguyên thủ.

hắn đi cùng với lão Tùng 1 tay cầm đao, vai đeo điện đài
Súng tiểu liên gập FMG-9 do hãng Magpul Industries (Mỹ) chế tạo.

Khi không sử dụng, nó có thể gập lại, nhỏ gọn như phần pin của máy tính xách tay.

Nguyên liệu chế tạo chủ yếu là polymer nhẹ.Độ giật rất thấp nhưng vẫn đủ làm chệch nòng, tầm bắn hiệu quả 90m và đơn giản nó cực nhẹ với 1 đứa trẻ 10 -11 tuổi hiện đại, nó nặng có 1,1kg không băng đạn ,1,5kg nếu có cả băng đạn.

Bân dùng nó vì nó hoàn toàn phù hợp với hắn, trong hơn 1 tháng kia vì để phòng các trường hợp nguy hiểm hắn đã tập bắn súng này.
Hắn định chuyển sang khẩu KRISS vì khẩu này là một khẩu súng được thiết kế để giảm độ hất của nòng súng sau mỗi cú bắn tới 95%, cũng như độ giật về phía sau tới 60%.

Nhờ đó mà các phát đạn bắn đi sẽ chính xác hơn.

Nhưng nó nặng 2kg khi không có đạn và 2,5 kg khi có đạn.

Hắn từ bỏ vì ngoài nặng hơn nó có nhiều chỗ khá to, càm không chắc chắn, hơn nữa khẩu FMG-9 cầm vừa tay hắn tới vai.

Khẩu KRISS khi kéo báng thì hắn cầm không có độ trùng cánh tay phù hợp.
Hắn cũng trang bị cho đội đặc công thằng nào cũng có gang tay quân đội của Nga, Mĩ, Anh, Pháp dùng cả mùa hè lẫn mùa đông, bám tốt hơn và chống đâm chém.

Mấy thằng quân bên lão Tùng cũng từng chê vì dùng tay không sẽ thật tay hơn, nhưng khi bị bọn đặc công biểu diễn dùng đao kiếm đâm khứa ko sao thì cả lũ mới suýt xoa.

Đeo vào thử thì cầm kiếm ma sát tốt hơn hẳn, đã thế mùa đông không hề thấy lạnh, không thấm nước, đao, kiếm khứa vào thoải mái ko bị sao.

Chính lão Tùng còn mặt dày xin 1 cái.

Bân sợ lòng quân hoang mang nen phát cho lão tùng và các thập trưởng mỗi người 1 đôi và dặn ai lên thập trưởng sẽ có 1 đôi.

Hàng thằng khựa kia nhập vào cực nhiều , mấy nước tốp đầu công nghệ có thể kiểm soát chặt vũ khí săt thương nhưng quân trang, quân dụng, đồ bảo hộ đi kèm thì kiểm soát khá lỏng vì chúng không phải vũ khí.

Gang tay đặt bao nhiêu có bấy nhiêu, nhất là đám kia chủ phục vụ quân đội thì không đủ lợi nhuận, những cái này được bày bán công khai và không bị cấm.
Lan man đủ rồi, giờ là lúc nhân vật chính của chúng ta và lão Tùng đang di bộ đến trại nạn dân.

Với tốc độ này chắc khoảng nửa tiếng là đến, bân hỏi lão Tùng
-Lão Tùng này, sao bọn cướp không cướp trại lúc sáng sớm cho dễ mà phải đợi buổi chiều tối này.
Lão Tùng nói :
-Chúa công, theo tôi thấy thì chúng không cướp buổi sáng sớm vì lúc này vừa rét,quân đội không phát huy sức mạnh tốt nhất, mặc dù tập kích bất ngờ nhưng chắc chắn sẽ có khói lửa.

Mà có khói lửa nhưng trời chưa sáng, vì ánh lửa sẽ là báo động cho các làng khác có chuyện và chúng sẽ bị lộ phơi ra ánh sáng khi chúng chưa đủ sức thủ vững, có thể bị quân Tùy và các làng hội quân đánh giết.

Vì không ai muốn có 1 đám cướp lớn sau lưng mình cả, nhất đó là tuyến làm ăn độc đạo của mình lại bị bọn cướp mới thành lập 1 năm chặn đứng.

Quân Tùy cũng có có cớ để bắt phu và kiếm tiền .
-Nếu như đánh lúc chiều tà thì lại khác, có khói lửa nhưng không có ánh lửa, các làng không biết, lại là lúc trại nạn dân có quân phòng thủ ít nhất.

Mọi người cũng là lúc mệt moỉ nhất khi vừa cày bừa xong, lại dễ dàng bắt được người đi làm đồng về muộn làm con tin.

Chưa kể lúc này trời còn sáng, giờ này ít ai ra đường mà nhanh chóng về nhà, trời sáng cũng dễ dàng bắt người nếu chiếm trại ko có cá lọt lưới.

Cũng dễ dàng lợi dụng trời còn sáng tập kích đoàn xe chúng ta nhanh nhát.
Bân:
-Ngược với lẽ thường , nghe có vẻ ngu nhưng thực ra lại cực kì hợp lí với các trận đánh nhanh thắng nhanh, diệt gọn.

Chúng ta sẽ học hỏi chúng điểm này.
-Binh pháp tôn tử có câu “ Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ đứng sau”.

Đám cướp này là bọ ngựa , còn chúng ta là con chim sẻ thịt cả 2.
-Bảo mọi người mau tăng tốc hành quân đi.
- Alo! Các Đội báo cáo tình hình đi.
Bân muốn xác định tình hình kẻ địch để đề ra phương án tiếp theo.
-Đội B báo cáo, quân đình đã giải người dân bị bắt ra trước cổng trại và đàm phán với trại
-Đội A báo cáo tôi thấy quân địch vẫn tập trung ở cổng trại ko có bất kì ai di chuyển vị trí khác.

Có mấy tên ngồi ngựa, xem có vẻ là thủ lĩnh.
-Đội D báo cáo , 50 tên chặn đường đã vào vị trí ẩn nấp, trên người trang bị kha khá cung tên.
-Đội C báo cáo , trại kẻ địch hiện nay có rất ít quân, khoảng có 20 tên đứng trên tường trại, có vài tên có cung, 1 tên đội khăn dỏ rên đầu có vẻ là chỉ huy.
Bân :
-Các đội chú ý, tôi còn 2 khắc nữa là đến trại nạn dân, Đội A và C ngoài bắn tỉa còn trên núi ra , tất cả di chuyển xuống, nhiệm vụ các ngươi bắn chết thủ lĩnh đối phương, có bao nhiêu thằng thì bắn chết bấy nhiêu thằng.
-2 người đội A đi ra vị trí cánh đồng phòng chúng chạy trốn, kẻ nào chạy về phía 2 người bắn chết.
-2 người đội C ra chỗ dấu đội tập kích trại Cướp dẫn 2 người cầm AK đi cùng để đánh đội phục kích từ phía sau
-Đội D và B khi nào đoàn người đến thì thì cho lộ mặt hội quân.
- Đội tập kích trại cướp, khi nghe thấy tiếng súng thì bắt đầu tấn công tại, phải để đội đặc công bắn áp chế đối phương mới được xông lên.

2 thằng cầm PK nhớ chưa.
-Các đội khi ta ra lệnh tấn công thì tất cả nổ súng, các đội lính bắt đầu tấn công.
Lão Tùng đi sau nói:

-Chúa công, cho 4 người phục kích 50 người phía sau có ổn không, mặc dù quân lão Lâm có đánh lên nhưng lên đến nơi sợ 4 người kia chết hết.
Bân nói:
-Lão Tùng, lão không phải lo, 4 người họ đủ chặn cả ngàn quân.

Tý nữa khi thấy sức mạnh của súng thì lão sẽ hiểu.
Lúc này , tại trại nạn dân, mọi người đang lăm lăm trên tay vũ khí căm phẫn nhìn xuống dưới cổng trại.

Dưới cổng trại, 1 hàng dài người cả đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già dắt díu nhau đứng phía dưới, người nào cũng có vết máu, khuôn mặt hoảng sợ, quần áo xộc xệch, bẩn thỉu.

Tay Dần giọng ồm ồm nói vọng:
-Người trong trại nghe đây.

Nếu tụi mày mở cổng đầu hàng thì tao sẽ tha cho những người ở đây.

Nếu không thì tụi tao sẽ giết mấy chục người này, sau đó tấn công trại và đồ sát cả trại này.

Tao cho chúng mày 1 khắc suy nghĩ và bàn bạc, nếu như đến giờ mà chưa quyết định thì tao sẽ giết đám này.

Tao hô 1 tiếng thì đầu tiên là đám người già chết, tiếng thứ 2 là tao sẽ bảo anh em giết đám đàn bà, tiếng thứ 3 tao sẽ giết đám trẻ con.

Sau đó đồ trại.

Lúc đấy bọn tao giết mấy chục người cảnh cáo rồi đấy.
Trần vân lúc này chêm thêm lời vào :
-Mọi người trong trại không phải lo, mọi người chỉ cần đầu hàng giao vàng bạc là chúng ta sẽ là người 1 nhà.

Đại ca sẽ không làm khó mọi người, mọi người lại có được sự bảo vệ của đại ca ta.

Sau này không ai có thể ức h**p các người nữa, mọi người sẽ an toàn sinh sống không phải lo nghĩ.

Nếu không nghe lời thì CHẾT
Nói xong Trần Vân bắn 1 mĩu tên vào chân 1 người con gái khoảng 14 tuổi.

Cô gái k** r*n thảm thiết, ôm chân kêu gào nước mắt, nước mũi giàn dụa.

Lúc này đội đặc công báo cáo cho Bân tình hình, Bân ra lệnh:
-Tất cả tăng tốc, trong 1 khắc phải tới nơi.
Thời gian lúc này như chậm lại cả 2 nhóm người 2 thái cực khác nhau, trại dân đều bàn tán loạn cả lên sốt ruột mà kêu thời gian trôi nhanh quá.

Đám cướp thì kêu thời gian trôi chậm như rùa bò vậy.

Thằng Mộng nói :
-Đại ca, em nghĩ thế này ko ổn, để em treo 1 vài đứa lên giá củi rồi châm lửa đốt cho tụi nó quyết định nhanh,không quyết định hàng thì chúng sẽ nổi nổi máu điên mà xông ra khỏi trại cứu người.

Chúng ta cần giải quyết nhanh còn cướp đoàn buôn.
Dần suy nghĩ chốc lát quyết định cho thực hiện, vì hắn cũng muốn cướp đoàn buôn, Theo như chú chín nói thì đám này giàu lắm, mua nhiều lương, nhiều trâu, nhiều bò lắm,mà có 70 đứa hộ vệ, còn lại toàn là người bốc vác với nô lệ theo chở hàng.
Trong trại đang bàn bạc, thì nghe thấy ngoài kia báo vào,.

Những người đứng đầu chạy ra, họ đang thấy đám cướp kia đang dựng 1 cái cột, bắt đầu xếp rơm, củi, phía dưới có 2 người con gái và 2 đứa trẻ con bị trói dẫn đến gần đấy.

Tất cả bọn họ đều lạnh sống lưng vì họ biết bọn này định làm cái gì.

2 người hộ vệ đứng trên tường trại kêu gào
-Mình ơi! Con ơi
2 người họ dùng dằng trong những cái tay của mọi người đang ngăn cản người 2 đàn ông muốn chạy xuống cứu vợ con mình.

Phía dưới thằng Mộng đang chỉ huy người trói mấy người kia vào cột, những người dân bị ép tham gia nhóm cũng sợ hãi và tức giận.

Nhiều người trước kia là lính cảu Lí Phật Tử, cũng từng chém giết nhưng ko ai chứng kiến cảnh kinh hoàng này.

Đến đám người quan tướng cũng chỉ cho 1 nhát chém chết luôn chứ không đén nỗi làm thế này.
Họ sợ, họ sống cùng tụi này 1 năm rồi nên họ biết, ai chứ thằng Mộng thì nó dám làm thật đấy, nó không đánh được đối thủ thì nó cắn người ta 1 miếng thịt và nuốt luôn miếng thịt người đó vào bụng, còn khen ngon.

Đối thủ nó thấy vậy liền chạy mất dép, thịt người sống nó còn dám ăn thì việc gì nó không dám làm.

Nhiều người nắm chặt vũ khí, có người nhắm mắt không dám nhìn, nhiều người tay run, mồm nuốt nước bọt.

Có người sợ quá nôn ra thì bị thằng Tý chột đánh cho 1 trận
Khi mọi việc xong xuôi, 1 chồng cuiur to 3-4 người ôm, bên dưới nhét đầy rơm còn tưới cả dầu trẩu, thì thằng Mộng kêu lớn:
-Đại ca tao đổi ý rồi.

Nếu đến thời gian mà chúng mày không hàng thì tao thui 4 đứa này.

Nếu như không hàng nữa thì cứ 1 khắc tao sẽ ném 20 đứa vào nướng, gì chứ củi lửa tao đầy.

thời gian của chúng mày sắp hết rồi
Nói xong hắn đi châm lửa cây đuốc rồi tiến gần cái đoạn rơm tẩm dầu trẩu nối với đống củi cách đống củi 1 đoạn ngắn để châm lửa khỏi bùng vào người, hắn đứng im 1 chỗ tay cầm đuốc.

Hắn không biết rằng trên đỉnh núi cách đó đoạn ngắn theo đường chim bay khoảng 80 m có 1 khẩu súng bắn tỉa đã nhằm vào ngực hắn.

Người lính bắn tỉa nhìn qua ống nhòm chuyên dụng kia báo cáo với Bân với giọng vội vàng:
-Báo cáo, bắn tỉa đội A thấy bọn chúng định thiêu sống 4 người, 2 nữ, 2 trẻ con uy h**p trại đầu hàng.

Cho phép được bắn .
Bân :
-Chờ chút bọn ta sắp tới rồi, bọn ta đã hội quân với 2 trinh sát, nếu như bọn ta chưa tới mà bọn chúng định châm lửa thì cho phép nổ súng.

Nhớ bắn vào ngực thì tỷ lệ trúng và chết cao hơn, nhớ đẻ ý hướng gió và gió thổi mạnh hay yếu.

Người lính đáp:
-Rõ
Người lính bắt đầu nhớ lại bài học chúa công dạy bắt đầu chỉnh hướng súng.

Chúa công dặn rồi, nếu sợ không bắn trúng thì bắn vài phát liên tục thể nào cũng trúng.

Bên kia Bân vẫn chạy thục mạng.

Hắn không muốn đến thì nhìn cái cảnh người khác bị thiêu sống mà vẫn kêu gào.

Hắn nhìn trên phim ảnh cũng đã thấy ám ảnh rồi, mà phim ảnh còn làm bớt rồi đấy khôn bị cấm chiếu hoặc cắt cảnh, ngoài đời còn kh*ng b* hơn.
Hắn không sợ nhìn thấy người chết, hắn nhìn thấy nhiều rồi, từ bé đén lớn hắn nhìn bao cảnh tai nạn chết ngoài đời hoặc ảnh người chết vì tai nạn giao thông trên mạng, giết người trên mạng cực kì dã man và kh*ng b*.Hắn cũng từng vào nhà xác bệnh viện rồi, Hắn cũng từng cầm người bố hắn bị tay nạn máu chảy bê bết.

Hắn xem có sợ, có ám ảnh 1 vài hôm sau rồi thôi.

Bây giờ mà xem cảnh dam chém nhau trên chiến trường có thẻ hắn bị sốc nhưng không bị ám ảnh tâm lý thành tâm ma như mấy đứa trẻ 10x hay genz tâm lý yếu lúc trước.

Mà hắn nghe nói đám này còn máu chiến hơn bọn hắn, thời của hắn làm gì xấu thấy công an là chạy, bọn nó còn dám xông vào đông hành hung công an cướp người cơ.Thời hắn tâm lý vững hơn tụi trẻ thời hiện đại, bị ép học hay bố mẹ đánh, bạn bè trong lớp cô lập cũng không tự tử hay trầm cảm.
Nhưng không có nghĩa hắn là kẻ máu lạnh, ra tay giết người dù dùng súng đứng khoảng cách xa hắn cũng không dám.

Bất kì 1 ai bình thường ở thế giới hiện đại cũng không dám ra tay giết người, đánh bị thương người cũng khó chứ nói gì đến việc kia.

Nhiều người chỉ lỡ tay giết người hay làm người khác bị thương tật nặng thôi mà suy nghĩ dẫn đến trầm cảm rồi tự sát hoặc hóa điên.

Con người thời hiện đại bị rằng buộc bởi rất nhiều thứ như gia đình,đạo đức, pháp luật, giáo dục, xã hội nên khi có 1 hành vi vượt mức thì họ sẽ rơi vào trạng thái sợ hãi , ám ảnh.
Tuy nhiên, dù rằng buộc nhiều như thế nhưng bản chất con người lại là hành động thiên về cảm xúc, cảm xúc chi phối hành động con người.

Những người thành công trong xã hội cũng như những người lãnh đạo có tầm ảnh hưởng thế giưới toàn là những người dùng lí trí đứng lên, không để cảm xúc xen vào hành động của mình.
Bân hắn là người bình thường, cũng là người bị cảm xúc chi phối.

hắn thúc dục đoàn quân tiến nhanh lên để cứu những người dân kia.

Vì hắn được dạy dỗ như vậy trong xẫ hội hiện đại.

Suốt trong lúc chạy, hắn vừa chạy vừa nghĩ mình có dám ra tay giết người không.

Hắn cố gắng hạn chế giết người ít nhất có thể, hắn không muốn mình biến thành con thú mà bị mất kiểm soát bản thân.

Hắn dặn người bắn tỉa kia nếu như mà có kẻ định châm lửa thì người đó bắn chết , đám cướp kia sợ sệt mà tạm dừng hành động vì không biết kẻ giết người kia ở đâu.
Hắn có thể bỏ qua thu phục nhân tâm nhưng người phải cứu.

Hắn sợ khi hắn đến, đám người kia châm lửa thiêu sống người, hắn không kìm chế được cảm xúc mà hạ lệnh tấn công khi bên mình chưa lập dội hình.

Như vậy thì dù thắng thì bên mình cũng có thiệt hại đáng kể.

Tết này nhiều gia đình lại lâm vào cảnh tang tóc, hắn không chịu nổi.

Hắn cũng sợ cảm giác giết người khi bị thấy cảnh thiêu sống, lúc đó chắc chắn hắn sẽ gào thét mà điên cuồng xả súng vào những người bình thường kia như mấy thằng xả súng bên Mĩ.

Rồi khung cảnh địa ngục diễn ra biết bao giờ mưới thoát được, mà thoát được cũng bị ám ảnh tâm lý gây ảnh hưởng đến quyết định sau này của hắn.

Thành bại cả đời, cả dân tộc đôi khi chỉ vì 1 khoảnh khác này.
Bân biết 1 điều.

Nếu như mà gặp các lãnh đạo thời phong kiến như Tào tháo, chu nguyên chương, lưu bị, tôn quyền, Lí Nam Đế, Triệu Việt Vương vv……vv cả thế giới này.

Chắc chắn họ sẽ để cho người bị đốt, 2 bên xông vào chém nhau, bên dân kia bắt đầu thua thì họ mới nhảy vào thu dọn tàn cuộc, thu thập nhân tâm và người bằng cách đem toàn bộ cướp giết sạch.

Nhưng Bân thì không, hắn đủ lí trí để nhận ra ai là cướp, ai là dân bị ép.

Hắn không muốn người Việt đổ máu nhiều vì chúng ta có ít người quá.
Hắn đến nơi rồi.

May mắn.

Khi đến thấy bóng dáng bọn cướp phía xa, chưa thấy khói là ổn rồi, mặc dù vẫn nghe tiếng hét.

Hắn cho người của mình dừng lại , đi bộ nhẹ nhàng vào.

Hắn và 12 người lính đặc công đi trước.

tay họ lắm lăm súng, người cầm khẩu PK thì dây đạn quấn quanh người.

Bân nhìn như Rambo vậy, họ chỉ học cách Hắn chỉ mà thôi.

Bân để 2 người cầm PK 2 cánh, còn đám người cầm Ak thì đi cạnh hắn, người dùng súng bắn tỉa đã chạy lên trước rồi trèo lên cây tìm chỗ chạc 3 mà ngắm bắn.
Cả đoàn quân chậm chậm bước lên.

Lúc này bọn cướp thấy tới giờ nói ra:
-Hết thời gian rồi, tụi mày không hàng thì tao châm lửa.

Mộng châm lửa.
Mộng cười hú lên.

-Vâng đại ca.

Đjt mẹ chúng mày ,nếu chúng mày đã không hàng thì bố mày cho chúng mày xem nướng lợn sống.
Hắn cầm lấy đuốc chuẩn bị châm lửa.

1 người dân bị bắt làm cướp không chịu nổi nôn ẹo khi đang dắt ngựa cho Dần, hắn tức khí chém chết người đó.

Những người đứng sau sợ run lên.

Hôm nay những người dân bị ép kia từ lúc nãy bị Dần ép lên đầu,mấy kẻ trung thành cho đứng sau, vì hắn biết khi đốt mấy người kia thì người trong trại sẽ xông ra.

Hắn cho mấy người lòng trung thành thấp này chịu công kích đợt đàu trước, có thiệt hại, có máu me, vì cầu sống mà sẽ điên cuồng chém giết lại.Cuối cùng sau trận này bọn họ vứt bỏ phần thiện đi, nhất là khi cướp đc đống của cải và đàn bà, tâm lí làm chủ nhân trỗi dậy thì đám này sẽ cùng hắn lao vào con đường làm cướp máu lạnh ko lối thoát, phụ thuộc vào hắn mà sống.
Thấy Mộng chuẩn bị châm lửa, mấy người bị trói gào khóc, trong trại mọi người không chịu được nữa mà chửi.
-DJT ME CHÚNG MÀY.

CHÉM CHẾT MẸ CHÚNG NÓ ĐI ANH EM
Họ đỏ bừng khuôn mặt giận giữ mà mở cổng.

cả vị trại chủ cũng vậy mặc lời khuyên can của các bô lão đứng gần.

Họ biết không cản được rồi, họ cũng xách đao lên mà xông ra.
Dần, Trần Văn cười lạnh.

Bọn chúng biết đã thành công rồi, đám cướp trung thành đang ở sau đám dân bị ép làm cướp mà dương cung lên chuẩn bị bắn.

Những người dân kia bị Tý chột nhắc giơ vũ khí lên.

Mộng vẫn điềm nhiên chuẩn bị châm lửa mặc tiếng kêu gào, hăn chờ thời điểm này lâu rồi.

Hắn đá bay cái đường rơm để dẫn lửa vào, hắn nghĩ thằng ngu nào làm, không phải ném đuốc vào là được sao.

Tay phải giơ đuốc ra đằng sau láy đà ném, dân trại mới mở đc của và bắt đầu xông ra thì .
Mộng thấy hắn bị 3 cái gì đó xuyên qua người ở 3 vị trí khác nhau, bụng, ngực, vai, đau điếng.

Sau đó hắn nghe thấy 3 tiếng
-ĐOÀNG ! ĐOÀNG! ĐOÀNG
Hắn ngã ngửa ra sau,hắn đuốc rơi xuống cạnh hắn, tay muốn với tới đuốc, muốn chống tay dứng dậy nhưng hắn không có sức, hắn đau quá.

Từ thời cha sinh mẹ đẻ hắn có thấy đau như thế này đâu.

Hắn thấy máu của mình chảy nhanh, tràn ra trước mặt hắn rồi, ngước mắt lên nhìn thì thấy đại ca nhìn hắn hoảng hốt, nhị ca thì mắt đang ráo rác nhìn sung quanh mặt cũng hoảng hốt không kém, mấy con ngựa thì đang hý hoảng sợ.

Hắn vẫn cố chút sức lực cuối cùng đẩy cái đuốc vào đường dẫn rơm tẩm dầu mà hắn ghét.

Rơm bắt lửa và bắt đầu dẫn vào đống củi.Khói bốc lên.
Đám cướp vẫn đang hoang mang vì tự nhiên có tiếng động vang trời, ngựa chồm lên.

Mộng bị ngã xuống , máu ồng ộc chảy ra, Dần 1 lúc mới tỉnh hồn hô lớn:
-Thằng Mộng.
Hắn chém đạp con ngựa nhảy xuống, chạy tới thằng tiểu đệ thân thiết, Mộng lúc này thờ nấc từng cơn máu từ miệng, ngực chảy theo tiếng nấc, mắt trượn tròn rồi chết.

Dần hô lớn :
-Giết
Đám dân trại cũng bất ngờ dừng lại ngơ ngác nkhi nghe thấy tiếng vang lạ và tên cầm đuốc nằm xuống đất chết.

Khi thấy dần hô giết và đám khói lửa bốc từ đường dẫn rơm họ cũng tỉnh hồn và hô lớn :
-Chém chết mẹ chúng nó!
Dần vừa nói xong thì 1 viên đạn xuyên qua ngực hắn tiếp và hắn gục xuống.

Đám cướp chết lặng lần nữa.

tiếp theo đó tất cả các thủ lĩnh cưỡi ngựa, băng trán đỏ đều bị bán vào ngực , bụng, tay, vai,lưng, mông với tiết tấu ngày 1 nhanh.

Hắn ngã ngựa trong sự hoang mang của đám cướp.

Đến lượt Trần Văn thì 2 khẩu súng SVD hết đạn, Trần Văn nhanh chí nhảy xuống ngựa dùng khiên gỗ tròn có miếng đồng ở giữa che cho mình.

Hắn biết mình bị nhắm vào.

Nhưng hắn ko biết có 2 tay bắn tỉa và cái khiên gỗ to tổ bố và cái khăn đỏ trên dầu hắn khác nào bia ngắm.

Người trước có thể không nhìn rõ vị trí bắn nhưng người sau thì OK .
-ĐOÀNG! ĐOÀNG! TẠCH!TẠCH, TẠCH
Trần Vân trúng đạn rồi, hắn thấy mình bị 2 thứ gì đó đục thủng sau lưng ra trước.

Chắc là tên bắn nhưng hắn không thấy mũi tên đâu.

Lạ nhỉ rồi hắn chết
Bân nghe thấy tiếng súng là biết chắc bên mình hành động rồi, Hắn lại nghe thấy tiếng giết vang lên, có cột khói, có tiếng kêu gào, hắn rùng mình nghĩ đến tình cảnh người bị thiêu sống.

người lính vừa Bắn nói:
-Báo cáo 40 thằng đằng sau là cướp , bên trên toàn dân bị ép thôi
Khi còn cách mục tiêu 50m, Hắn cũng đỏ mắt nhấn bộ đàm kêu:
-TẤN CÔNG! BẮN CHẾT MẸ TỤI NÓ.

BẮN CHẾT MẤY CHỤC THẰNG ĐỨNG SAU.

BỌN NÓ LÀ CƯỚP.
2 khẩu bắn tỉa bắn đầu tiên,2 khẩu PK vang lên tiếp tục , rồi Ak.

Mấy người lính này cũng muốn bắn lắm rồi, họ từng là lính chính quy, từng giết nhiều người, tâm lý họ rát vững.

Họ luôn nhớ lời Bân bỏ ngón tay ra ngoài cò súng, chốt an toàn mở rồi, cấc bắn liên thanh mở rồi, , họ luôn mong muốn thử thứ thần khí giết người như thế nào với viên đạn nhẹ hơn mũi tên nhiều mà bay xa hơn và nhanh hơn tên.

Họ luôn mong muốn cầm khẩu súng này càn quyets quân địch.

Khi Bân ra lệnh 1 tiếng họ liên tục xả đạn, họ kẹp súng vào hông mà xả, họ tập nhiều rồi.
Bân cũng điên cuồng bấm chốt cái hộp hình chữ nhật và nó biến thành khẩu súng FMG-9.

Sau đó hắn cũng điên cuồng xả vào đám quân đằng sau.

Súng lướt đến đâu, người ngã đến đấy, nó như máy cắt lúa vậy, người gục, người đổ mà bọn cướp vẫn đứng do mọi thứ xảy ra quá nhanh.

Nhưng chiến trường đúng là kì lạ, vì chỉ thấy có mười mấy người lính xông lên bắn phá giét người với tốc độ chưa từng có.

Chính ngay lão Tùng giày dặn kinh nghiệm trận mạc cũng giật mình đứng chôn trân sau khi nghe tiếng súng và nhìn cảnh giết người nhanh chóng kinh khủng kia.

100 lính cầm đao kiếm kia cũng vậy, họ không bước nổi nữa, không phải họ mệt mà là họ bất ngờ.

Họ nhìn thấy thần tích, họ nhìn thấy khung cảnh mà cả đời họ không quên, họ thấy 1 nhúm người đang cầm cái gậy sắt mà họ khinh bỉ điên cuồng phun lửa giết người mà người chết không tránh được.

Họ gục xuống, nhanh chóng mỗi khi 1 tia sáng đứt đoạn kia quét qua, khi mà ánh lửa léo lên soi sáng phía trước, bóng người cầm súng như là ác quỷ, khi mà cái tiếng nổ to cứ đùng đoàng bên tai họ.

Đám ngựa nghe thấy tiếng súng cũng đã thoát cương chạy loạn.
Giết được vài chục người thì nhiều người hết đạn và thay băng đạn mới, còn mỗi 2 ông cầm Pk vẫn xả.

Lúc này Bân mới bình tĩnh lại, đám cướp vì 1 thoáng lặng đó mà bắt đầu chạy toán loạn.

Bân cầm loa cầm tay hô lớn:
-DỪNG BẮN, DỪNG BẮN! DỪNG BẮN.

TẤT CẢ DỪNG BẮN
-THẰNG NÀO ĐẦU HÀNG KHÔNG GIẾT!
-THẰNG NÀO ĐẦU HÀNG KHÔNG GIẾT
-THẰNG NÀO ĐẦU HÀNG KHÔNG GIẾT
-THẰNG NÀO ĐẦU HÀNG KHÔNG GIẾT
-THẰNG NÀO ĐẦU HÀNG KHÔNG GIẾT
Bân hết sức mà gào, mà hét.

Chiến trường bỗng chốc đông lại, 2 khẩu PK cũng dừng bắn, nòng đỏ lên.

Những người lính cầm súng cũng bị tác động tinh thần, tất cả họ dừng bắn khi nghe Bân hét, mấy khẩu AK vừa nạp đạn xong chưa kịp bắn phát nào.
Sau đó lại nghe thấy tiếng súng phía cánh đồng nơi mà những thằng cướp đang hớt hải chạy trốn khỏi quỷ dữ khi chúng thấy khuôn mặt chớp lóe qua ánh lửa súng.

Những người lính phía đồng nghe lời Bân,thằng nào chạy về phía đấy giét hết.

đám cướp lại chạy lại về chỗ cũ, nơi chiến trường yên tĩnh nhất ngoài tiếng kêu gào của Bân.

Tất cả mọi người đều tĩnh lặng vì cái giọng vang vọng trời xanh lần đầu tiên nghe thấy.
Khi Bân dừng nói thì toàn bộ im lặng, chỉ còn hành động dập lửa mới bén của mấy người cha, người chồng đang cứu vợ con mình trên giàn thiêu.May mà lửa mới bén chưa lan , đám cướp đều đứng hình nên 2 nguời đàn ông mới hất được chỗ củi rơm cháy không cho đám cháy lan ra.

Họ chạy lên đang cởi trói cho vợ con mình còn đang sợ hãi, kêu gào.

Khi tiếng đầu hàng không giết hết nói.

2 đứa trẻ giật mình khóc to , đánh thức toàn chiến trường.

Mọi người cả 2 phe mới tỉnh hồn mới bắt đầu nghe thấy tiếng k** r*n của những người bị đạn bắn mà sợ hãi.

Bân nói tiếp qua loa:
-Tất cả ngồi xuống, hạ vũ khí , cho 2 tay ra sau đầu.

Thằng nào còn đứng hay cầm vũ khí bắn bỏ.
Tiếng nói oang oang vang vọng mọi nơi, nó khiến 2 phe cũng giật mình.

Mọi người ào ào ào ngồi xuống, mấy tên chưa tỉnh hồn vẫn cầm đao đứng lên.

Người lính bắn tỉa trên cây bắn 1 phát thằng đó nằm gục, không may đó là người đàn ông mang tên Tý chột.

đứng thứ 6 trong nhóm cướp.

Lúc này cả lũ mới hoàn hồn rắ rắp hạ vũ khí, ngồi xuống cho 2 tay sau đầu.

Bân đi tới đến chỗ bọn cướp nằm, hắn không dám đi nữa, hắn bảo đặc công đi lên canh chừng, thằng nào dám phản kháng bắn hết.

Bân bắc loa gọi đăng sau :
-Lão Tùng! Lão Tùng đi lên đây, lên tịch thu vũ khí đám cướp này rồi trói lại.

Cả đám đằng sau nữa.

Mau lên! Đứng đực 1 chỗ làm cái gì.

Mau Lên!
Bân lại hét qua cái loa khi cái đám này cú lầm lũi tiến lên không nói lời nào, chúng đi như những bóng ma chứ không phải lính.

Khi Bân hét lên, lão Tùng mới bừng tỉnh và vững Tâm Lý nhất nói to:
-Mọi người mau lên thu dọn chiến trường,.

Chúa công quát rồi kìa.
Lúc này bọn lính mới chạy nhanh đến nơi.

Bân nghĩ :” má nó mồm lão này to như loa”.

Hắn bật đèn từ súng lên vì lúc này trời bắt đầu xẩm tối, đám đặc công thấy thế cũng bật đèn pin lên.

Hắn lúc lấy cái đèn pin siêu sáng chiếu rọi.

Hắn sợ rồi, khi thấy khung cảnh khủng khiếp này, nhiều người đang k** r*n trong vũng máu.

Đèn chiếu đến đau mọi người nheo mắt, che mắt tới đấy, dưới chân hắn bây giờ toàn là máu, máu chảy thành vũng.

1 cánh tay đầy máu bám vào chân hắn và nói:
-CỨU TÔI VỚI!
Bân lúc này mới tỉnh hồn, thoát khỏi nỗi sợ, hắn quay về tâm người thầy thuốc mà hắn từng học từng thuộc về 1 phần qua giáo dục của ông và mẹ.Hắn không sợ nữa, qua cuộc bắn giết hắn đã về lại người.

hắn cũng hét to:
-CỨU THƯƠNG! CỨU THƯƠNG ! CỨU THƯƠNG ĐÂU? MAU CHẠY NGAY LẠI ĐÂY.

LÃO SĨ ĐÂU LẠI ĐÂY , CỨU NGƯỜI.
Hắn hét to hết mức như chưa từng được hét,hét lạc hết cả giọng.

Giờ hắn là 1 con người, 1 người thầy thuốc, 1 người đang cấp cứu cho đông bào mình.
Lúc này trận chiến bên kia cũng đã có kết quả.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 22: 22: Cuộc Chiến Kết Thúc Rồi


Lúc này bên lão Lâm đã hội quân với trinh sát, nhận báo báo xong bọn hắn cho các xe dừng lại khi thấy đống gỗ đá.

Tất cả hộ vệ vác đao, dùng khiên chống bạo động bằng hợp kim nhôm sơn đen che chắn, có kính chống đạn phần trên khiên để quan sát.

Nhiều người trong đội quân khá khích những cái khiên chúa công cho, có cái bằng kim loại nhưng ko phải loại kim loại mà họ biết, có cái bằng cái gì poly gì đó trong suốt hơn Ngọc lưu ly, hình trong, hình chữ nhật hay hình thang.

Nó có thể nhìn bao quát mà vẫn che chắn cơ thể, lại rất nhẹ, chống dâm chém, đập tốt.

Lão Tùng từng thử cầm đao chém mà không xi nhê,chưa kể những chiếc khiên này được thiết kế hấp thụ lực và tản lực xung quanh nên người cầm khiên không bị dư chấn lực gây hại.

Tất cả họ đều tin thần vật này chắn chắn mình có thể sống về nhà ăn Tết.
Khi hàng phòng vệ được dựng lên, binh lính cũng bắt đầu thủ sau chiếc xe trâu, lão Lâm thì cho 12 người trong đội đặc công tiến lên trước, bắn tỉa thì cho ở vị trí cao để có lệnh có thể bắn hạ những thằng đứng đầu.

Lão Lâm tuy đã già nhưng vẫn máu chiến, đặc công khác thì dùng AK và PKM tiến lên thì lão lại dùng KRISS, vì từ tuổi tác và sức khỏe của lão nên Bân mới chọn khẩu súng này cho riêng lão từ lúc đội đặc công được thành lập.
KRISS có cỡ đạn 11,43 ly rất cso uy lực và nó chỉ nặng 2,8kg đã lắp đạn, 2kg khi không có băng đạn, nòng dài 13,97cm, với cơ cấu giảm giật chủ động,khảu này bắn cực kì uy lực trong phạm vi 100m, tốc độ 1100 phát/1p.

Nó cực kì dễ bảo dưỡng, với 2 chốt giữ tháo ra là vệ sinh xong, nó được thiết kế theo nguyên lý của KALASNICOP “ chi tiết lớn thì dễ bảo quản, bảo dưỡng , độ tin cậy cao”,chiều dài khi gập báng/mở báng là 406/617 mm, cực kì phù hợp tác chiến không gian hẹp.

KRISS sử dụng polymer cao phân tử làm vật liệu cấu tạo chính, nhưng súng có phong cách liền mạch, kết nối nhiều thành phần lại với nhau, làm cho tổng thể trở nên chắc chắn hơn.

Báng súng chỉ là một thanh polymer đơn giản gắn tấm đệm cao su dày phía sau, giúp giảm lực tác dụng vào vai khi bắn liên thanh.

Báng có thể gập về bên phải khi không sử dụng thông qua chiếc nút nhấn ở gần trục xoay.
Trong hơn 1 tháng từ ngày Bân đưa cho lão khẩu súng này, lão quý nó như bảo bối.

Đao kiếm lão vứt hết, khẩu súng này lúc nào cũng ở trong chiếc khăn thổ cẩm đầu giường lão.Vợ con lão chũng thấy bố mình điên rồi, mặc dù là đồ của chúa công nhưng cũng chỉ là là 1 cái hộp kì lạ,không nói đúng hơn là cái nỏ kì lạ.
Bố hắn bảo đây và vũ khí của thần nên phải quý trọng mà cất giữ, nó mạnh hơn tên nỏ, nó hoạt động bằng cách đập miếng sắt nhỏ vào cái viên sắt rồi viên sẽ phóng ra từ cái lỗ nòng kia.

Nếu như bố hắn bảo dùng cây trẻ lớn đập viên sắt to như nắm tay trẻ con bay xa khoảng vài chục thước thì được nhưng không xa bằng tên cung nỏ hoặc trường cung người Hán được.
Con trai Lão Lâm không tin vì hắn biết cung nỏ b*n r* mạnh như thế nào, bắn được xa bao nhiêu.

Cái hộp kia dây nỏ không có, lại còn dùng miếng sắt bé đập viên sắt bay đi, vớ vẩn quá.

Đã thế cái hộp kia ngoài cái nòng trong bằng sắt thì cả cái hộp không biết bằng vật liệu gì đó, không phải gỗ, không phải sắt, đồng, vàng bac, da động vật.

Hắn không biết nhưng khá là chắc chắn,.

Hình dáng của cái vũ khí này cúng lạ quá, hắn biết đây không phải hình dáng cung nỏ, nhìn dáng này chắc bắn được 1 mũi tên xong lại nhét vào nòng xong bắn, phiền phức quá, càng không phải hình dáng đao kiếm , chùy.
Ồ cái chuôi này đóng gập được này, chắc cái này dùng để cầm đăng chuôi đập quân địch.

Phiền quá vì nó quá ngắn, không dài đến 1 cánh tay.

Mà hắn thấy cha hắn tập luyện ở nhà toàn dùng cái chuôi này tì vào vail, tay khum khum câm vào, không thấy kéo dây vậy thì bắn ai, đập ai.
Bây giờ Hắn đang thấy bố hắn cầm cái của nợ vô dụng đó chạy lên chiến trường chuẩn bị xông lên chỗ phục kích của địch.

Bố hắn bây giờ đang đội cái mũ bảo hộ gì đó mà chúa công bảo đồ th*n d*** FULL op..

ti… sừn… gì đó của cái gì mà cảnh sát gì đó,, cha hắn đang làm 1 động tác kì lạ để đi lên.

Hắn chạy lên nói vỗ vai bố mình mình.
-Bố!Bố lớn tuổi rồi, việc đánh đấm này để bọn con, bọn con sẽ chém chết mj chúng nó.
Ông Lâm quay đầu nghe thàng con trai trai nói, thì vỗ đầu nó 1 cái :
-Thằng ranh, dám chê bố mày già à.

Để bố mày cho mày xem cái gì mới là thần khí.

Hải ( con lão Lâm) , mày lượn về sau chỉ huy anh em.

Để đấy cho tao.
Nói xong lão ra lệnh :
-Mấy đứa, khi nào ta ra lệnh thì chúng ta từ từ xông lên hiểu chưa.
-2 Thằng bắn tỉa, nếu như có thàng nào ngó đầu lên nhìn hoặc bắn tên thì chúng mày được phép bắn chết nó luôn không cần lệnh.
-Chúa công dặn khi nào ngài hạ lệnh tấn công thì mới được đánh.

Rõ chưa!
-Mấy thằng lính lão tùng nghe đây! Ở đây tao là chỉ huy, tý nữa mà chúng mày phải nghe lời tao, tao bảo đánh mới được đánh.
-Nếu quân địch xông xuống thì phải để baonj đặc công đứng sau bọn cầm khiên bắn đã.

Nếu như tụi nó đến gần quá thì bọn mày mới ddcj xông lên hiểu chưa.
-Mấy thằng cầm khiên, chúng mày cầm khiên cho chắc vào.

Mọi người ở đây có về ăn Tết dược hay không thì nhờ vào tụi mày cả đấy.
Lúc này tiếng Bân tấn công vang lên ở ta nghe của lão Lâm, tiếng súng trên mỏm đồi cũng đã vang lên, nhiều người lính cầm gươm giáo hoảng sợ, nhìn ráo rác sung quanh., tiếng nổ vang ngày càng nhiều, họ sợ kể cả thàng Hải.Trong nhóm này chỉ có Lão lâm , 12 đặc công và mấy chục con trâu là không sợ vì bọn chúng quen rồi.

Lão Lâm lúc này mới hạ lệnh :
-Tất cả tiến lên.
Trên mỏm đồi, khi bọn cướp, thằng thì ngồi, thằng thì nằm bò đợi đoàn buôn tới, , chúng không biết ràng đàng sau có 4 người cũng đang bò về phía sau chúng, trên mấy người này có 3 khẩu AK47, 1 khẩu PKM.

Người Lính cầm khẩu PKM nhìn thấy 1 thằng cướp đào hố ỉa 1 bãi , xong đó lại dùng cỏ lau và rơm lau, sau đó dùng tay lau mồm, người lính dó cũng đang ngậm 1 nhánh cỏ lau ở mồm.

Hắn chết lặng, hắn bỗng thấy mồm mình ngậm cái gì rồi, vứt cây cỏ lau ở mồm ra xung động muốn xả súng cho thằng này 1 tràng , mau mà đồng đội giữ lại.

Lúc này tiếng của Bân hạ lệnh tấn công, người cầm súng PKM đã để chân chống sẵn, lên đạn nằm dưới đất đã nổ súng:
-TẠCH ! TẠCH -TẠCH -TẠCH -TẠCH
Những người cầm AK lúc này vừa quỳ vừa bắn.

Bọn cướp đang ngồi bỗng 1 loạt đổ gục và nghe thấy tiếng nổ đàng sau, nhiều thằng quay lại thì đã bị đạn bắn gục.

Đạn sới đất, bắn tung óc người bắn nát thân cây, bắn đổ cỏ.

Nhiều thằng sợ qá mà cứ nằm im 1 chỗ 2 tay ôm đầu, vừa ôm vừa kêu gào.

Nhiều hằng cũng trốn sau thân cây mà ngồi im.

Người bắn gục ngày càng nhiều.
Thằng Hồng là thằng thứ 7 của Dần , nó chỉ huy đám này.

khi vừa thấy nhiều người bắn gục, cây cối văng tung tóe, thằng bên cạnh nó cũng bị bắn toác cổ, tia lửa bay khắp nưi, trúng ai là người đó chết, ngay cả mấy thằng cầm khiên đỡ cũng không thoát.

Nó sợ quá núp sau cây mới thoát, nó ngồi im 1 lúc khi thấy tiếng đạn giảm đi do AK hết đạn và thay thì nó thò đầu ra xem, có 4 thằng.

Mẹ nó chứ! Có 4 thằng mà làm bọn nó sợ như sợ hổ, có 1 thàng vẫn dùng cái cây gì bắn tia lửa không dứt chắc yêu thuật, nhưng được cái mấy thằng kia hết bắn rồi, chắc hết phép rồi , nó gào lên.
-Anh em là yêu thuật của bọn nó.

Bọn nó hết phép rồi, còn 1 thàng thôi, tất cả xông lên giết tụi nó đi.
Bọn cướp trong đám trung thành và dân nhiều thằng bạo gan xông lên nhưng không có Hồng.

Chúng nó hét lên rồi cầm đao, cầm giáo xông lên.

Lúc này mấy người cầm Ak thay đạn xong, kéo quylat súng và bán tiếp, bắn tếp tục vài viên 1 trong hàng tháng tập luyện.

Bọn cướp người chết người bị thương , thằng nằm thàng trốn sau cây, vừa ôm đầu vừa gào lên chửi :

-ĐJT MẸ THẰNG HỒNG.

MÀY LỪA BỐ MÀY! CHẾT JỤ MÀY ĐI!
1 người lính bán AK đã bắn hết băng đạn thứ 2 thì không lấy tiếp mà rút 1 quả lựu đạn, giật chốt ném đi.
Hắn khá thành thạo đã tập rất nhiều lần với lựu đạn tập của chúa công rồi, bọn hắn cũng được chúa công cho tập ném cả lựu đạn thật rồi, nổ to và rộng.

Cho quả này ném vào hố có con lợn, con lợn nát người luôn, ném vào hố có đàn gà nhiều con nát nười, có con chết nhưng người không sao, đến khi mổ bụng thì nội tạng vỡ hết.

Nhiều thằng khi ném sợ không giám ném đi hoặc trượt, chúa công phải kéo nó xuống hố nó mới thoát chết.

Đến khi xong việc nó mới tỉnh hồn, có thằng khóc tu tu.

Hôm sau bị đá ra khỏi đội đặc công về đội lính cũ,mấy thằng đấy bây giờ thằng thì lầm lỳ ít nói, thàng thì thấy bọn hắn đeo lựu đạn đi là chạy.
Qủa lựu đạn bay tới tới gần đấy nổ đoàng 1 tiếng to đùng , người bị mảnh lựu đạn bắn vào da thịt đau điếng kêu gao, người bị áp lực nổ đấy ngã, người thì chết, nhiều người bị thương mồm kêu gao:
-MẸ ƠI CỨU CON! MẸ ƠI!
-TAO MUỐN VỀ NHÀ
-THA CHO TÔI ĐI!TÔI ĐẦU HÀNG.
-CHẠY ĐI
Tràng cảnh hãi hùng và thứ kh*ng b* chưa thấy bao giờ, nhiều người vứt bỏ vũ khí mà chạy xuống dưới, trong lúc chạy thì cũng thêm vài người ngã xuống dưới làn đạn.

Cả Hồng cũng vậy, Hắn thấy tai ong ong, đầu choáng, hồi tỉnh 1 tý thấy mọi người chạy, hắn cũng lồm cồm chạy bằng cả 4 chi.

1 đám đám tàn binh chay xuống dưới mỏm đồi
Lão Lâm nghe thấy tiếng nổ bèn tức tốc chạy nhanh kêu đám đặc công chạy nhanh đi cùng, bỏ đám khiên chống phía trước đi.

1 đám người quần áo xộc xệch dất máu đầy quần áo cũng chạy xuống, Lão Lâm bảo đám đặc công dàn hàng chuẩn bị bắn.

Thằng Hải kêu :
-Bố, ! bố quay lại đi, chạy lên thế làm gì, nguy hiểm lắm.
Hắn vừa nói vừa chạy lên định kéo bố mình xuống.

Ông Lâm không quan tâm nhắm thẳng súng vào cái thằng đội khăn đỏ trên đầu , theo như trinh sát báo, thằng nào đeo khăn đỏ ở đầu là thằng chỉ huy.

Ông nói :
-Bắn
-TẠCH -TẠCH -TẠCH -TẠCH ĐOÀNG ĐOÀNG ĐOÀNG
Ánh lửa đỏ lại chớp lên, từng tia lửa b*n r*, dám chạy xuống lại thấy khung cảnh kinh hãi ban nãy.

Lần này không phải 4 thàng nữa mà là hơn chục thằng cùng bắn về phía chúng.Thằng Hồng là thằng được ông Lâm chiếu cố, ông Lâm mong muốn cái thần khí này giết người lắm rồi.

Trước giờ chỉ bắn bia, nay lại có người để bắn, lão sấy nhiệt tình, người đổ, đất bắn tung tóe, hết 1 băng, lão tháo ra lắp thêm băng nữa vào sấy tiếp.

đạn 11 ly trúng người thàng nào thì thằng đấy gục luôn, chúng chân tay là bay ,mất tay chân luôn.

Thằng Hồng chết rồi.

nó chưa kịp nghĩ gì thì bị ppng Lâm cho 1 viên đạn xuyên qua mồm chết không kip ngáp.

Khi tất ca nằm xuống thì ông Lâm ra lệnh:
-NGỪNG BẮN.! Hạ mũi súng xuống .
Tất cả những người đàng sau chết lặng rồi.

họ thấy mấy cái gậy sắt có hình dáng kì lạ kia phun lửa.

Tia lửa chiếu vào ai là người đó ngã xuống.

Mấy thằng cướp kia vừa mới đi mấy bước là chết cả, chưa ai xuống kịp làm gì.

Nếu mà là họ thì cũng giống như đám cướp này, chưa động vào đã chết, Bọn họ chết trân, nhiều thằng nghĩ: mẹ nó thế thì học cầm đao, cầm giáo bao năm nay làm gì, học bắn cung bao năm nay làm gì khi nó còn không bằng mấy thằng học cách dùng cái gậy sắt kia trong 1 tháng.
Thàng Hải cũng chết lặng khi thấy tràng cảnh vừa rồi.

Hắn chôn chân tại chỗ luôn, hắn thấy sợ, hắn sợ cái hộp trong tay bố hắn, cái hộp đó là hộp thần biết phun lửa giết người.

Khoảng cách xa như vậy, mỗi tia lửa là 1 mũi tên thì nó chứa bao nhiêu mũi nữa.

Hắn có nhìn thấy mũi tên rồi, bé tí được cái bằng đồng nhưng tại sao lại bắn xa như vậy.

Lão Lâm quay người xuống nhìn thấy con trai mình , vỗ vai noi/:
-Cho mọi người chạy lên xem người sống, bị thương rồi thu dọn đi.

Chúng ta đi lên trại cướp.
Hải rung lắp bắp nói:
-Bố…… cái….

Cái….

Hộp … nỏ….

vô …..
Lão Lâm:
-Đây là thần khí.

Chúng mày đi lên trại cướp thôi.

Đi nhanh lên hỗ trợ anh em trên đấy.

dẫn mấy thằng đặc công trên đó đi cùng
Lúc này trên trại cướp thằng Cơm đứng thứ 8 đang ơ nhà chỉ huy hơn 20 thằng canh trại.

Hắn buồn chán đi lại ngáp ngắn ngáp dài, thỉnh thoảng vào buồng uống chén rượu.

Khi đang đứng sưởi những tia nắng cuối cùng trước khi vào đợt rét thì
ĐOÀNG.
Ngực hắn phun máu, hắn đổ gục, người đau điếng.

hắn cố hô:
-Địch tập kích.
Rồi gục chết , bọn trên tường trại chạy vội đỡ hắn thì hắn đã chết rồi.

Bỗng dưng 1 đoàn quân mấy chục người tấn công, mấy người cầm PKM xả đạn lên tường trại 5-7 thàng gục tại chỗ.

Đám còn lại bèn cúi hết xuống tường, mấy cái tường bằng tấm gỗ và tre nứa không ngăn được đạn 7,62.54.

Chỉ vài thằng trốn sau mấy cây gỗ to hoặc chỗ có tường đất dày thì thoát.

Nhưng mấy thằng ở tường đất thì bị đục 2-3 viên cũng nằm vì tường đã vỡ.

2 khẩu tạm dừng bắn mà nhắm về cổng trại bắn đứt dây thừng treo cổng, dây đứt, đoàn quân chạy vào, 2 thàng cầm PKM đi vào vừa bắ vừa đi mở đường.

Đằng sau mấy thằng quân Lão Tùng cũng tay khiên, tay giáo, tay đao chạy vào.

Có tiếng kêu đằng sau, 2 ông cầm PK quay lại thì thấy có mấy thằng lính bên mình bị đá rơi vào đầu và tên bắn do máy thằng cướp ném và bắn xuống.

May đámn này có khiên và áo giáp, Mũ chúa công cho chắc chỉ bị thương nhẹ.

Đã bảo lúc vào là 1 thàng che trước, 1 thằng đầu , 1 thàng che sau mà không nghe.

1 ông cầm PKM xả tiếp 1 tràng vào tường trại, 1 đám lại gục.

Đội trưởng đứng đầu đám lính dùng loa của Bân cho kêu to.
-Trại của chúng mày đã bị chiếm,
-Trại của chúng mày đã bị chiếm
-Đầu hàng không giết
-Đầu hàng không giết
-Trại chủ của chúng mày đã bị giết.

khôn hồn thì đầu hàng đi.Không đầu hàng tụi ông giết cả lũ.
-AI ĐẦU HÀNG QUỲ XUỐNG, 2 TAY ĐỂ SAU ĐẦU.
Lúc sau lão Lâm chạy vào.

Trại đã chiếm xong, người dân và bọn cướp đều đang quyd và 2 tay để sau đầu, kể cả trẻ con, chỉ chừa 1 vài người đang bế con nhỏ.

Đám lính thằng Hải vài phút sau cũng tới, chỉ có 20 người, còn lại ở lại bảo vệ đoàn xe và cứu chữa những tên cướp bị thương.

Lão Lâm dựa lưng vào tường nói Hải :
-Mày huy động 1 số người dân lành này đi xuống trại vừa mang người bị thương và chết về.

Trận này nhiều người chết là dân bị ép đấy, bảo họ xuống đấy đưa thân nhân và lương thực , muối về đây.

Mấy thằng thầy thuốc cũng cứu những người bị hương tại đây đi.

Hôm nay thế là đủ rồi.
-Mấy thằng kia bật đèn chúa công đưa lên đi, bật hết lên cho sáng , trời gần tối rồi.
Lão Lâm nhìn đám người xung quanh và mấy tay thầy thuốc đang cứu người trên tường trại thở dài 1 hơi vừa v**t v* khẩu súng đã vặn chốt an toàn nói:
-Thế là cuộc chiến kết thúc rồi, trận chiến diễn ra 1 cách kỳ lạ, kết thúc nhanh cũng kì lạ.

Thời đại thay đổi rồi.

Đúng là dù chiến tranh giết chóc bằng cách gì đi nữa thì giết người cũng chả có có cảm giác gì là vui sướng cả.
-Chúa công nói đúng.

Lúc thắng trận thì vui nhưng lúc mặt trận yên bình thì con người lại thấy cảm xúc vừa rồi thật xót xa, vừa tội lỗi.

Ứơc gì không có chiến tranh.
Nói nhẩm xong lão đi đến 1 đám nhỏ đẫ được cho ngồi riêng 1 chỗ.

1 lũ vẫn đang sợ hãi, 2 tay để đằng sau đồi run rẩy.

Ông ôm 1 đứa nhỏ nhất rồi cho nó cái kẹo socola của mình,bóc ra bảo nó ăn đi.

Ông lục trong chiếc áo đặc chủng móc vài gói kẹo ra rồi chia cho đám nhỏ.

Ông dạy chúng cách boc và ăn, đây là số kẹo ông mặt dày xin chúa công để mang về cho cháu mình ăn khi ăn thử thấy quá ngon, ngon ngọt hơn tất cả loại bánh trên đời ông ăn.
Đám trẻ đang sợ răm rắp làm theo, khi ăn chiếc kẹo ngon nhất trần đời thì mắt chúng sáng lên, có đứa cười với ông.

Lão lâm mợt cũng rạng rỡ hẳn ra, lúc này mới là lúc lão trở về hình dáng 1 ông lão hiền từ rồi.

Lão nhớ Chúa công nói khi ngài chữa bệnh cho tụi trẻ con ở căn cứ :
-Trẻ con là tương lai đất nước, không được để chúng đói ăn và chịu cảnh chiến tranh tang tóc , đói ăn như người lớn chúng ta, thế hệ chúng ta.

Sau này thành nghiệp lớn ta sẽ không cho trẻ con dân tộc này không phải khổ sở như chúng ta nữa
-Bên Hán nhiều kẻ cả đời tìm chốn tiên, tìm các thiên thần để thành tiên nhưng chúng nào có biết rằng chốn tiên thực ra là gia đình chúng, ngôi nhà của chúng, thiên thần lại là những đứa trẻ con này.

Chúng đẹp hơn mọi thứ trên thế gian.
Càng nghĩ càng thấy đúng, lão nói :
-Các cháu về với bố bố mẹ đi, mọi chuyện qua cả rồi.
-Mọi người không phải sợ , chúng tôi là người Việt không cướp mọi người, chúng tôi đến giải thoát mọi người khỏi bọn cướp.

sau đây mọi người sẽ nhận được lương thực, bò, muối.

Chúa công sẽ làm chủ trại này, chúa công sẽ cho mọi người 1 cuộc sống no đủ và yên bình.
-CUỘC CHIẾN KẾT THÚC RỒI.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 23: Chương 23


Cả 2 chiến trường đều khốc liệt theo cách nhìn của người cổ đại, người chết và bị thương mỗi chiến trường đều vượt quá 50 người, tính cả mấy chục người dân bị giết trước đó thì con số còn tăng lên nhiều.

Mặc dù đã được Bân chỉ đạo nhiệt tình về cách xử lí vết thương do đạn bắn nhưng nhiều người không qua khỏi do vết thương nặng với trình độ y tế hiện tại.

Nhờ có hắn mà nhiều người tưởng chết nhưng được kéo về, hắn có chọn lọc, đưa tù binh nhạn diện những người nào là cướp ngừơi nào dân thường bị ép.

Những dân thừng bị ép thì ưu tiên cứu trước, bọn cướp thì cứu sau, nhờ vậy mà nhiều người cứu sống, có người bị thương nặng ở tay chân phải cắt chi.

1 số thứ hiện đại cũng được hắn áp dụng như huyết thanh, truyền dịch, khâu, người nặng quá thì mổ, tất nhiên ưu tiên dân lành.

Tất cả đều 1 mình hắn làm và hướng dẫn, vì hắn có quá ít thời gian dạy dỗ người sau, họ chỉ biết cách băng bó mới và khử trùng
Đó là phía bên hắn còn bên lão Lâm thì còn mệt hơn vì không có hắn.

người bị thương và chết la liệt.

Những người nào bị thương thì bên thầy thước cố gắng cầm máu cho họ, cố gắng cứu được thì cứu, còn không được thì do trời, đợi chúa công sang cứu.

Lão Lâm có nhớ lời chúa công nới là không được giết người vô cớ dù có là người xấu, họ bị thương thì cứu họ, không cứu được nhưng phải cố cứu, không được phép giết ân huệ ,vì không cứu hoặc giết thì sẽ dẫn đến sự hận thù của người thân của hắn.

Lão đang chỉ đạo mọi người cố gắng cứu chữa người bị thương, kẻ chết thì để sang 1 bên cẩn thận , không làm nhục xác họ.

Chết là hết rồi, hơn thua với cái xác làm gì, làm nhục xác họ thì chỉ tổn gây căm phẫn cho người dân ở đây mà thôi.

Những người chết kia có thể là người thân, bạn bè, chồng, bố của những người trong này, dù bị ép đi nữa thì cũng có chút tình nghĩa.
Công cuộc cứu chữa, ổn định tình hình phải nói mệt mỏi ,mất 5 ngày nữa mới xong.

May mắn ngày xuất quân mọi người đều đã cúng ông công ông táo ở nhà từ sáng trước khi xuất quân.

Hôm nay 28 Tết rồi.

Tháng 3 âm lịch quân Tùy đánh Lâm ấp, phải chuẩn bị nhanh, nhưng đèo bòng 4000 con người nữa mệt quá.

Không biết mấy truyện Tàu xuyên không kiểu gì mà trong thời gian ngắn thu mua được mấy vạn, chục vạn con người cùng 1 lòng.

Bân cũng ngất lên ngất xuống mấy lần vì mệt mỏi cứu người và các thao tác hỗ trợ y tế, hắn không có đủ người, hắn còn bé và sức khỏe còn yếu.
Những người chết trong 5 ngày này đều được Bân phân phó cho cấp dưới an táng cẩn thận, lễ lạt theo đúng truyền thống người Việt.

Không có 1 chút khinh bỉ nào, nếu có người thân đưa tiễn thì cũng được chăm lo chu đáo.

Người khiêng quan tài về với đất cũng được cũng gấp rút đóng những chiếc quan tài mới.
Ngay cả đến bộ quần áo mới mặc cho người chết cũng là quần áo của những người lính của Bân, được giặt sạch để tổ chức khâm liệm cho họ, Lão Tùng và Lâm cũng mang quần áo vợ chuẩn bị cho mình mang cho họ.

Vì tại nơi này, thời này họ cũng không có quần áo thừa, vải vóc khó kiếm, đắt,1 người có 1-2 bộ mặc cả năm, quần áo hiện mặc cũng bị đạn bắn rách hoặc loang lổ máu rồi, chết chả lẽ không có bộ quần áo mới.

Từ đó dân của cái trại cướp này thân thiện hơn với những người lính này, cũng không còn ánh mắt thù hận nữa, vì họ đã quen với cái chết của người nhà mình trong mấy năm loạn lạc rồi.
Những tên lính của Bân thì sướng như chảy hội, không phải vì được phát tiền mà bọn chúng được chúa công nhà mình ban cho đám quân phục như đám đặc công.

Nhưng là đồ mùa đông với Mũ Ushanka,giàu tất quân đội thắt lưng da , khác m,ỗi lính hiện đại dùng súng còn bọn này dùng gươm đao,giáo thay thế.

Lão Tùng cũng được 1 bộ, nhìn oách ra phết , trông như tướng lĩnh thời thế chiến 1-2.

Lão Tùng gặp Lão Lâm cũng vểnh mặt lên còn đọ xem quần áo ai đẹp hơn, uy phong hơn.

Lão Lâm cũng tức lắm vì quần áo của lão là đồ thực chiến còn Lão Tùng là đồ lễ phục nên lão Tùng đẹp hơn với thắt lưng da, khóa thắt lưng vàng chóe với ngôi sao ở giữa., áo khác choàng có lông, cùng chiếc mũ Ushanka đính ngôi Sao đỏ( vì thằng Khựa này thích biểu tượng này cũng như nó dễ làm, dễ chế tạo, chi phí rẻ) , chân đi ủng da.

Cũng từ giờ khắc này mà sau này biểu tượng của quân đội của Bân đều là dùng sao đỏ.
Lão Lâm cũng tức lắm vì lão biết đồ của lão là đồ thực chiến còn lão Tùng là lễ phục.

Lão cũng bảo Bân cho đặc công đồ lễ phục , Bân chấp thuậ và bảo về sẽ có.

Lão còn đá xoáy lão Tùng rằng đồ này hợp khi cầm với súng, vừa nói vừa v**t v* khẩu súng trêu tức lão Tùng.

Ra chiến trường là bị lão cho bị ăn đạn đầu tiên vì mặc nổi bật thế cơ mà.

Lão Tùng tức lắm xin xỏ mãi Bân mới cho khẩu K54 với túi đựng súng kiểu cũ để cho đặc công dạy lão bắn.

nổ đùng đoàng mấy ngày nay.
Hôm nay 28 Tết, hắn dẫn 1 số người trại nạn dân trong đó có các bô lão, thủ lĩnh trại sang trại cướp bàn việc, đồng thời tham gia phiên tòa xét xử đám cướp trong việc giết mấy chục người kia.

Đám cướp còn thằng Trâu lé và Lão Cửu còn sống, bên dưới thì còn hơn 10 tên cướp còn sống với đủ mọi thương tật khác nhau.

Thằng Trâu lé bị bán vào mông nên không chết, viên đạn xuyên qua nhưng chỉ làm xương bị thương tổn nên nó bị liệt 1 chân.

Lão Cửu mới bị bắt chiều tối qua do bên Mấy làng kia cho người về ăn Tết, hắn dẫn mấy thằng thân tín về cổng trại thì bị bọn người Lão Lâm bắt tại trận.

Qua đây Lão Lâm biết đây là thằng báo tin cho bọn cướp lập kế hoạch cướp mình
Trên khu đất trống gần 20 con người bị trói hoặc không trói nhưng phải nằm hay ngồi vì bọn chúng thương tật cả rồi, toàn là đám trung thành của bộn cướp.

Bọn chúng sống do bọn họ có kinh nghiệm chém giết, cũng như chạy trốn gỏi hơn mấy người dân thường bị ép.

Người không bị thương duy nhất là lão Cửu đang quỳ xuống dưới đọc nghe các tội trạng của đám anh em của mình và chính bản thân mình.

Sáng nay bọn này cho ăn 1 bát oto cơm trắng và mấy món thịt hộp ngon lành nhất mà chúng từng ăn.

Người dân ai cũng đòi giết mấy thằng này cả 2 trại, chỉ có 1 số người từ nãy vẫn quỳ lạy xin mọi người tha cho mấy người bọn họ vì đó là vợ con của mấy tay cướp kia, có người phụ nữ vừa lạy, vừa bế đứa con đỏ hỏn trong tay.
Nhiều người dân cũng xin cho 1 số thằng có vợ con vì không ai muốn 1 gia đình mất đi người trụ cột, cũng như mấy thằng cướp này đã đổi tính tốt lành hơn khi có vợ và sinh con.

Dù những người vợ này họ bị ép lấy nhưng ăn nằm với nhau có con rồi thì tình nghĩa vợ chồng giải quyết được hết, hơn nữa thời buổi loạn lạc này họ cũng cần có người làm trụ cột để dựa vào.Bân nghĩ lại cũng thấy buồn cười, đúng là thời nào cũng có Chí Phèo, giang hồ mấy nhưng khi có vợ con là khác ngay, vì chả ai muốn con mình bước vào con đường sai trái mình đi cả.

Bản án cuối cùng Bân công bố :
-Thể theo luạt pháp và ý kiến người dân cũng như qua tội trạng của mấy tên cướp này như sau.
-Có 8 trường hợp được tha bổng do có vợ con mới sinh, cũng như trong thời gian qua có biểu hiện tốt hoàn lương.

Nay trả về gia đình tự suy xét, suy ngẫm, nọi người ở trại sẽ giám sát hành động, nếu như tái phạm thì xử tội sau.
-Còn 10 tên trong đó có 2 tên Trâu lé và lão Cửu thì sau phiên xét xử mang ra tử hình với các tội danh như cướp của, giết người, h**p dâm phụ nữ trong trại trong năm vừa qua.

Bản án lập tức thi hành.
Mọi người hô to vỗ tay vui mừng.

Mấy người vợ bế con chạy tới chỗ người chồng mình đang nằm, quỳ, ngồi ôm nhau mà khóc.

Mấy thằng bị xử tử hình thì sợ hãi run rẩy kêu gào xin tha mạng, thằng sợ quá nằm vật ra đái ướt hết đũng.

Lão cửu hắn ta nhân lúc 2 người lính bế đi thì dùng dằng đạp người bỏ chạy, may mà có ,mấy người đặc công cầm súng điện Bân chuẩn bị từ hôm qua dạy họ cách dùng và thử nghiệm lên chính họ bắn hắn co giật tại chỗ.
Pháp trường được dựng lên từ sớm, mọi người thấy lạ vì Pháp trường này quá đơn giản, có mấy chiếc quan tài, mấy cái cột dựng sẵn.

nhiều người thì thầm: dựng cột làm gì, bệ gỗ để đầu người đâu, chậu đựng đâu, hay là mấy người này cho dựa cột rồi dùng tên bắn.

5 tên tử tù đầu tiên được kéo đi trói vào cột, bọn chúng được vinh dự thành người đầu tiên trên thế giới này được tử hình bằng súng.

Bọn chúng dự cột mà chân chẹo qua 1 bên do không còn lực rồi, 5 người lính đặc công, mỗi người đeo 1 khẩu AK đi đến cách 5 mét.

Lão Lâm là người chỉ huy vụ tử hình này.Lão hô:
-Vào vị trí
-Giương súng, nhắm chuẩn
-Bắn
ĐOÀNG ĐOÀNG ĐOÀNG ĐOÀNG ĐOÀNG.

Tiếng súng vang lên, Bân yêu cầu lính mình khi bắn tử hình chuyển sang chế độ phát 1 để không làm chệch đường bắn cũng như tự điều chỉnh đường bắn cho phát tiếp theo,.

Mỗi khẩu 1 tên, mỗi tên Bân thặng hắn 5 viên đạn.

Lão Lâm hô
-Hạ súng., tháo băng đạn, kiểm tra súng.
-Thầy thuốc kiểm tra
1 người thầy thuốc đến mang cái tai nghe của Bân phát cho, đi đến từng cái xác đưa ống nghe vào ngực từng tên tử tù.

Xong 5 tên người thầy thuốc làm động tác chéo 2 cánh tay hình chữ X báo là đã chết cả rổi.

5 cái xác được hạ xuống, đặt cẩn thận vào quan tài đóng náp và mang đi.
Lõa Cửu va Trâu lé đứng nhìn khung cảnh tử hình cũng kì lạ ngạc nhiên nhưng khi thấy người chết thì bọn này đều nằm xuống không đứng lên nổi.Có thằng đái ỉa ngay trong quần, có thằng người như mất hồn mà ngồi, có thằng sợ qúa ngất rồi sùi bọt mép.

Chúng đã được kéo ra trói vào cột dể đền tội ác của chúng.Lão Lâm hô:
-Thay băng đạn

-Ngắm chuẩn
-Bắn
Lại tiếng súng vang lên, bác sĩ chạy ra kiểm tra nhưng lúc này đến xác của lão Cửu thì thầy th**c l*c đầu vì thằng này tim còn đập , chưa chết.

Sau đó có thêm 2 thằng nữa cũng vậy, chúng chỉ trúng phổi, vai, bụng và chân.

Do những người lính bắn nhau bên trại cướp chỉ bắn nhau từ xa không tiến gần, giờ họ tiến gần bắn chết người mứi thấy được sự ám ảnh của nó.

Loạt đầu coi như là chưa biết gì , vãn đang trong trạng thái lúc bắn người từ xa, bây giờ đến gần biết rồi đâm ra có chút run tay.

Lão Lâm hậm hực thề khi về huấn luyện lai đám này.
Mọi người cũng dân xem hóng chuyện cũng cảm thấy đáng sợ cái gậy sắt khủng khiếp kia, trông hình dáng kì lạ nhưng giết người kh*ng b* quá.

Tiếng nổ to đùng làm họ điếc tai, trẻ con cũng sợ hãi mà khóc, bắn phát nào cũng như sấm nổ xé toạc thân thể con người.

Khi người thầy thuốc và lão Lâm nói tử tù vẫn còn sống, nhiều người xuýt xoa vì mấy thằng này mạng lớn, bắn khiếp thế vẫn còn sống.

Nhiều người nói nếu còn sống chẳng lẽ cứu chữa nó sống nữa à, thé thì nguy hiểm quá, nó sống thì có ngày nó báo thù.

Bân lên tiếng:
-Lão Lâm cho phát ân huệ đi!
Lão Lâm hiểu , cái này Bân nói từ hôm qua rồi, tuy bị bắn nhiều phát thế chắc chết nhưng không phải không có trường hợp sống, thậm chí sống dai là đằng khác.

Lão Lâm nói nhỏ trêu lão Tùng đứng gần đấy:
-Lão Tùng , phát ân huệ bằng súng K54 dí vào tái dương ông có hứng thú bắn thử không? Súng chỉ bắn bia thì chán lắm.
Lão Tùng đạo mạo nói:
-Bọn ta không giết kẻ bị bắt và đầu hàng.
Lão Lâm cười khẩy, tay run thế kia chắc vẫn bị ám ảnh mấy hôm trước rồi, gà thế, vẫn chưa khỏi sợ à, bắn tập mấy ngày nay hắng lắm mà.

Lão Lâm tiến lại gần 3 kẻ chưa chết, rút khẩu K54 từ bao đựng dúng hiện đại chuyên dụng ra dí vào thái dương từng thằng mà bắn, trước mỗi khi bắn đều nói 1 câu:
-Kiếp sau thì nên nhớ làm người tốt
Buổi tử hình kết thức để lại nhiều cảm xúc lẫn lộn lẫn tư vị khó tả trong đầu nhiều người.

Trong đó có nhiều người là lính, quan lại , con cháu các gia đình quan tướng của thời Lý Phật Tử.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 24: Chương 24


Hôm nay trong căn phòng mà tay Dần họp tụi anh em của hắn diễn ra 1 cuộc họp bất thường chiều 28 Tết.

Người tham ra cuộc họp này ngoài lão Lâm, Tùng ra còn hơn 10 người khác.

Cuộc họp nay chính xác là cuộc gặp mặt mà gần 20 vị gọi là có chữ nghĩa trong 2 trại xin vào yết kiến vị thủ lĩnh đánh thu phục 2 trại , tiêu diệt đám cướp bằng thứ vũ khí thần kì và y thuật thần kì.
Mấy ngày này quân của Bân ngoài việc an ninh cảnh giới không làm phiền cuộc sống bình thường 2 trại thì họ còn phát lương, bò, muối, vải vóc cho 2 trại này.

Ngoài ra tham gia cứu chữa người bị thương và bị bệnh cả 2 trại.

Tất cả việc này đều lọt vào mắt của các vị có tri thức lớn tại đây.
Bân nhìn bộ dáng mấy người này và thông qua kiểm tra của binh sĩ thì hắn biết mấy thằng này từ già lẫn trẻ đều là loại từ bé cầm bút, cầm gươm đao, không động chạm việc tay chân như những việc của hạ nhân.

Vì trên tay họ dù có vết trai do lao động đồng áng và xây dựng nhưng nó không được dày và cứng như những người lao động từ bé.

Chắc do họ xây dựng lại cuộc sống mới , thiếu nhân lực, thiếu ăn nên tất cả bỏ mặt mũi người đọc sách, nho sĩ , quý tộc mà lăn tay vào mà làm công việc họ cho là hạ đẳng.
Ngoài ra theo quan sát của lão Lâm và Tùng thì có mấy tên từng trong quân đội, còn lại là nho sĩ.

Đám cùng quân ngũ là dễ nhận nhất vì 2 lão này từng là quân lín lâu năm nên dễ nhận biết.Đám nho sĩ tuy cố dấu để không phát hiện ra nhưng chúng có những thói quen khó bỏ như kiểu ngồi quỳ chân, nói chuyện rõ ràng, rành mạch đâu ra đấy có trước có sau như khuôn mẫu vậy.

Ngoài ra có vài người có vẻ là từng thuộc về các gia tộc lớn, quý tộc, ngoài nói năng gãy gọn ra thì còn các các dộng tác chào hỏi dứt khoát, gặp nh sĩ chào kiểu nho sĩ, gặp người quân đội thì chào kiểu quân đội.

Chứng tỏ họ được đào tạo rất bài bản, người nhà có thể có cả 2 chức quan này mới dạy bài bản như vậy được, mà loại có thể có cả 2 loại này chỉ có thể các gia tộc lớn hoặc quý tộc mà thôi.
Bân biết ngày này sẽ đến vì theo tình báo thì ở 2 trại này chứa nhiều nạn dân.

Nạn dân hằng hà xa số nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp trộn chung với nhau.

Ngoài ra các gia tộc lớn không bao giờ có chuyện đặt chung trứng vào 1 giỏ, họ phân tán ra nhiều vùng nhiều phe, nhiều phái.

Nhưng đen cho họ là người án nói chung và quân Tùy nói riêng chưa bao giờ coi người Việt là người mà coi là nô lệ cho chúng nên những kẻ có học thức này chúng tiêu diệt toàn bộ.

Cũng may cho họ , nhờ dặc tính không bỏ chung trứng 1 giỏ nên đám này khi trốn chạy cũng chia ra nhiều đường , nhiều chi mà trốn , mỗi chi dòng họ trốn 1 đường nên đám này còn tồn tại đến bây giờ.
Cả đám hôm nay gặp mặt nhau đều chung 1 mục đích là xem vị thủ lĩnh đám quân này là người như thế nào.

Xem hắn đến đây có mục đích gì, xem có đáng để nương nhờ hay không, đáng để họ đi theo hoặc đầu tư để cho dòng họ trở lại huy hoàng thuở xưa không? Không thì cho hắn ta nhiều vàng bạc mà bọn họ cũng như bọn cướp cất dấu, cho thêm ít phụ nữ đẻ đuổi đi cho lẹ.

bọn họ sẽ làm chủ cái trại này để làm chỗ đứng chân, nếu có cơ hội thì mưu đồ đại nghiệp sau này.
Cái đám này gặp mặt chào nhau là chúng biết ngay là đối phương trước kia là thân phận gì, quý tộc, gia tộc, võ tướng hay nho sĩ dù chúng chưa từng gặp nhau trước đây.

Đây kiểu như ám hiệu đám này có kí hiệu mật riêng để nhận ra nhau, tránh cho những xung đột không đáng có giữa các phương thế lực.
Mọi người hôm nay đến chỗ từng là trung tâm bọn cướp này qua lão Lâm xin yết kiến vị thủ lĩnh đám quân này.

Vào nhà chính, đám người này được Bân cho ngồi mấy loại ghế mây tre đan mà hắn mang theo.

Đám lão già thì rất thích vì ngồi kiểu quỳ đầu gối kia khiến cái cột sống của họ bị tra tấn ,nhưng mấy tay nho sĩ có vẻ khó chịu vì ngồi kiểu này hở hết bộ hạ, và chân , những nơi bẩn thỉu, là kiểu man di mà họ đọc trong sách người Hán tuyên truyền.

Những người trẻ cũng thoải mái mà ngồi, vì họ là bên quan đội, trẻ tuổi có tự do phóng khoáng, họ cũng không thích ngồi kiểu đau lưng của đám nho sĩ.Họ thấy thảm cảnh của những người già trong gia tộc rồi, lưng còng gập xuống, lúc nào cũng đau buốt lưng không chịu nổi.
Bân ra thì cả đám đứng lên chào đủ lễ nghĩa, khá là đồng đều, Bân càng tin đám này là người có quá khứ không tồi nên mới được giáo dục nghiêm cẩn vậy.

Bân ngồi trên cái ghế da hổ của Dần, hắn nghĩ đúng cái ghế này như mô tả trong phim về thủ lĩnh các băng cướp của phim TQ , chú trọng sự thoải mái , không chú trọng sự gò bó, hoa văn hay kiểu ngồi.

Hắn nhiều lúc nhìn cái ngai vàng của vua mà thầm nhủ: “ ngồi như thế kia chẳng trách hỏng thận, đau lưng, thoái hóa khớp chết sớm cả lũ.

Nhìn cái ngai vàng của nhà Nguyễn là khác bọt hẳn, ngồi rất thoải mái, không kém uy nghi, bảo sao Hoàng tộc nhà Nguyễn có năng lực sinh sản, sinh lý vượt trên tất cả các triều đại Việt Nam cộng lại.”
Bân nói:
-Mời các vị ngồi, không cần nhiều lễ nghĩa như thế làm gì!
-Dâng trà
Sau lời hắn nói, mấy người lính lão Tùng bên ngoài mang lên mấy tích trà xanh tươi mang lên rót cho mỗi người 1 cốc trong cái chén sứ tinh mĩ và đẹp đẽ.

Cả đám đều suýt xoa về sự giàu có của Bân vì chén sứ đẹp như này, con cá xung quanh chén và chiếc tích sống động như thật, như là nó đang bơi, hiện hữu bên ngoài vậy, họ chưa từng nhìn thấy.

Đây là bảo vật, là bảo bối, họ chắn chắn đến nhà Tùy không bao giờ có vì gia tộc không có loại này..

Đây là đồ Bân lục tìm trong đống đá kia vì thằng khựa này muốn kinh thương phát triển thế lực toàn các nước xung quanh TQ nên hắn nhập rất nhiều các đồ gốm của các loại gốm sứ giá rẻ của TQ, VN , NB, HQ.

Bộ của hắn do hắn chọn cả buổi có dòng chữ “ Made in BatTrang” to đùng đáy tích, đáy chén.
Bân thoáng qua sự kinh ngạc và tròn mắt của đám này.

Lão Lâm và Tùng thì nhìn đám này với ánh mắt khinh bỉ, 2 lão ở nhà cũng có 2 bộ chúa công cho nhưng hoa văn khác.

2 lão cũng thầm nghĩ , nếu bọn này nhìn đống chai rượu và chén bằng thủy tinh lưu ly mà bọn họ hàng ngày uống thì không biết đám này có tư vị thế nào.

Bân bắt đầu phá tan cảm xúc của đám này để tạp trung vào công việc :
-E hèm! Không biết các vị hôm nay kéo đông người thế này tìm tôi có chuyện chi?
Cả đám lúc này mới bừng tỉnh , vọi đặt cái chén xuống và chuyển dời ánh mắt về phía Bân.

1 bô lão có vẻ già và kinh nghiệm nhát ở đây đứng lên nói:
-Chúng tôi đến đây trước là để cảm tạ ngài về việc ngài dẫn quân đánh tan bọn cướp, giúp dân chúng 2 trại có cuộc sống an bình không lo sợ.

Sau là muốn biết dự định của ngài về 2 trại chúng tôi.
Bân nói
-Trước khi trả lời cho tôi hỏi vị bô lão này tên họ là gì để tiện việc thưa gửi.
Ông già chắp tay nói:
-Lão họ Phùng , tự là Hỏa Phong, người dân trại hường gọi là Lão Phong.
Bân nói giọng băng lãnh trả lời:
-Ta hỏi ông là họ và tên của ông chứ không phải tự của ông.

Tên do cha mẹ đặt ra sao không dùng.
1 tay nho sĩ đứng phắt dậy nói:
-Tên do cha mẹ đặt ra há nào để cho người ngoài nói ra để rồi kẻ khác nói chửi bới cũng nói nó ra.

Đấy là bất hiếu, đại nghịch trong trong các điều răn mà thánh nhân dạy trong sách thánh hiền.
Bân hỏi lại :
-Thế điều không được dùng tên do cha mẹ đặt trong sinh hoạt hàng ngày hay đi làm việc thì điều nào trong tứ thư ngũ kinh, luận ngữ mà khổng tử viết cấm không được dùng.

Chả có điều nào cả , ngay cả Thời khổng tử thì ông ấy vẫn dùng tên mình như bình thường.
-Có họa chăng thì chỉ có các vương tôn quý tộc, hoàng gia đặt cái điều ấy thôi, chứ dân chúng bình thường ai cũng dùng tên thật cả.Giới quý tộc, hoàng thất, quan lại mới đặt ra cái tệ đấy thôi, vì họ không muốn khi họ làm sai cái gì là dân chúng nhao nhao dùng tên thật của họ mà chửi.
Nho sĩ kia chỉ tay ấm ức nói nhưng không bắt bẻ được vì trong tứ thư ngũ kinh, luận ngữ không có câu nào cấm dùng tên cha mẹ đặt cả, chính hắn còn chưa đọc hết mấy cuốn này, vì sách thời này chủ yếu vẫn bằng tre, lụa, giấy.

Giấy rất dắt dù là hàng kém lượng, sách giấy nhất là sách bằng giấy chất lượng cao đúng là chỉ nhà có tiền mới có , còn sách đủ bộ thì phải có thêm quyền.

Nên thời này không phải ai cũng có sách, mà có sách thì không phải ai cũng có đủ bộ, vì sách vở đều được hoàng tộc, thế gia ddaij tộc nắm hết rồi.

Dạy cho người ngoài dù trong vòng tròn quyền lực của mình cũng không dạy hết.

Vì vậy mà tên nho sĩ này đành bắt bẻ hắn về khổng tử:
- Ngươi … ngươi, vậy mà ngươi dám nói tên của Khổng phu tử , KhỔNG thánh nhân.

Ngươi dám vô lễ với các bậc thánh nhân tiên hiền, ngươi là kẻ thù của người đọc sách, là kẻ khiến nho sĩ muôn đời phỉ nhổ.

( cái biệt hiệu khỏng thánh nhân mình không dám nói chắc chắn là xuất hiện thời Tùy vì đến năm 1008 triều Tống Chân Tông mới truy phong ông là Đại thánh Văn Tuyên vương.

Có thể từ đây bắt đầu mới có hiệu Khổng thánh nhân, còn còn từ thời Tống Thái Tổ trở về trước có thể vẫn gọi là Khổng phu tử.

Nhưng mình kệ thế giới song song mà , kiểu gì chả được, thuận mồm là OK).
Bân mặt cười cười, vì hắn buồn cười thật với lý lẽ ngây ngô này.

Thảo nào mất nước, học cái hay của người ta mà không học tới nơi tới chốn, đấu võ mồm người Hán khác gì lấy dở đoản của mình đấu với sở trường của người ta không thua mới là lạ.

không chỉ tay nho sĩ này mà cả đám nho sĩ cùng 1 số tên thuộc quý tộc cũ cũng nhao nhao lên nói này nói nọ.

Đây là chạm nghịch lân của họ, họ nói ồn ào quá mức, ông già họ Phùng tính can ngăn thì lão Tùng cầm khẩu K54 bắn xuống nền
ĐOÀNG !
Cả hội trường im phăng phắc.

Bân cười thầm, được lắm Lão Tùng , lúc về phải tặng lão mấy cái túi xúc xích.

Bân giơ ngón cái phía Lão Tùng tán thưởng, đúng là sợ nhất kẻ cố cùng liều thân nhưng thằng liều thân lại sợ thàng có súng.

Hắn vười cười vừa nói:
-Lí lẽ nghe hay đấy.

Ta đâu có gọi tên thật cha sinh mẹ đẻ của ông tổ nho học đâu.Ông có học tới nơi tới chốn không thế, Khổng tử không phải tên thật.Ngày xưa thời xuân thu chiến quốc và các triều đại sau này người ta gọi ông ấy là Khổng tử tức là khổng phu tử hay theo tiếng Việt người thầy giáo họ Khổng.

Chứ thực ra tên ông ấy là Khổng Khâu , tự Trọng Ni.

Nếu các ông nói đúng theo kiểu nho giáo phải là Khổng Trọng Ni hay là Trọng Ni mới đúng.
-Cứ mở mồm ra là khổng phu tử, khổng thánh nhân.Tiếng Khổng thánh nhân hay khổng phu tử là thứ đẻ các ông kính ngưỡng hoặc dạy thế hệ sau, không phải để cho ngươi lúc nào cũng treo treo bên miệng, rồi cứ đem ra nói mất hết thân phận.
-Tên cha mẹ đặt cho mà không dám dùng thì đó mới là bất hiếu,
Tên nho sĩ kia cứng miệng không nói được nữa đành hậm hực ngội xuống uống hết mấy chén trà.

Máy tay từng là lính Lý Phật tử cũng bỗ bã mà kêu hay, vì bọn họ luôn cứng họng với bọn nho sĩ này, không cái lại được.

Mà bọn này nói cái gì nghe cũng đều có lý cả không bắt bẻ đâu được.

Lão họ Phùng lúc này mới hòa hoãn nói :
-Xin lỗi thưa công tử! là chúng tôi l* m*ng.

Tôi xin giới thiệu.

Tôi họ Phùng , tên Chi,họ đầy đủ là Phùng Chi, công tử gọi tôi là lão Phùng Hoặc Lão Chi đều được.
-Vị vừa nãy tên là Lý Lân, là 1 nho sĩ cương trực có gì nói nấy xin công tử lượng thứ
Bân nói:
-Ta họ Hoàng tên đệm là Đức, tên chính là Bân.

Tên họ đầy đủ là Hoàng Đức Bân
-Họ Phùng! Chảng hay lão là người nhà danh tướng Phùng Kim thời Triệu Việt Vương.
Lão Phùng ngạc nhiên nói:
-Vạy là Hoàng công tử cũng biết ông bác tôi.

Thú thật thời đó ông bác tôi theo Triệu Việt Vương, còn người em là ông nội tôi thì theo Lý Phật tử là trả ngôi vua cho nhà họ Lý.

Do vậy mà khi 2 quân chia nửa giang sơn nên 2 anh em 2 thờ 2 chủ mà chém giết nhau.

TVV mất thì ông bác tôi cũng tử trận theo, ông nội tôi theo nhà Hậu LNĐ nên 1 chi này còn tồn tại đến bây giờ.
Bân nói:
-Đúng vậy, dù Phùng Kim là người Triệu Việt Vương nhưng có công đánh giặc giữ nước nên đc dân chúng nhớ mãi.
-Còn vị kia tên Lý Lân chẳng lẽ cũng thuộc dòng danh tướng Lý Công Tuấn
Lão Phùng :
-Không ngờ công tử nhớ tới Lý Công.

Đúng vậy, vị kia thuộc dòng thứ của ngài Lý Công Tuấn
Bân :
-Òa, xem ra các vị ngồi đây đều thuộc dòng trâm anh thế phiệt cả.

đều dòng dõi những công thần danh tướng nước Vạn Xuân .
- Thất lễ ! thất lễ rồi.
-Nhưng sao các vị lại bị gặp cảnh ngộ này vậy? Để đám trộm cướp cưỡi lên đầu lên cổ như vậy? Những người khác trong gia tộc đâu hết cả rồi? hộ vệ các vị đâu rồi?
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 25: 25: Mất


Lão Chi nói:
- Quân Tùy đến núi Đô Long gặp quân Lý, Lưu Phương đánh tan hết, rồi tiến quân sang đến cạnh dinh của Lý Phật Tử.

Lưu Phương lấy dụ hàng.

Hậu Lý Nam Đế sợ hãi xin đầu hàng, bị quân Tùy bắt đưa về Trung Nguyên xử tử chết.
- Thưa hoàng công tử, bọn giặc tráo trở, lúc quân giặc kéo chân xuống kinh đô ,chúng khuyên nhà vua và chúng tôi hàng sẽ không cướp bóc giết hại, không chiến tranh nữa để cho sinh linh không đồ thán, người dân được thái bình không chụ cảnh binh đao.

Chúng tôi hàng rồi, nộp khí giới và sổ sách, để cho sinh linh không đồ thán, người dân được thái bình không chụ cảnh binh đao, vì thế quân Tùy mạnh lắm.

Mới đầu chúng không làm gì, sau đó chúng bắt đầu cho quân bố ráp, vây bóc, giết chóc.
- Mỗi gia tộc đều cho người chạy trốn theo đường hầm rồi phân tán khắp nơi.

Quân Tùy cho người truy quét, mọi người bỏ chạy toán loạn người còn người mất.
- Bọn tráo trở đấy , đã hàng rồi , còn lấy lời lẽ thánh nhân mà nói, thế mà quay ngoát đem tâm giết hại chúng tôi, gia tộc chúng tôi.

Làm người nhà chúng tôi thất tán chết gần hết.
- Nhà vua vì sợ thế giặc mạnh và sợ đân chúng lầm than trong cảnh binh đao, theo đạo thánh nhân mà đầu hàng.

Thế mà bọn chúng cũng giết ngài ấy.

Bọn tráo chở, lũ khốn nạn bội tín, bội nghĩa.

Tôi nghe nói qua các thương nhân người Hán , Lưu Phương vì bội tín bội nghĩa, hiếu sát mà bị các vị ngự sử đài và nho sĩ ở kinh đô Trường an tố cáo, sắp bị hỏi tội.
Nhiều người khác cũng nhao lên vừa khóc vừa ấm ức nói:
- Đúng là lũ tráo trở , chúng ta đã đầu hàng rồi mà
- Đúng đúng ! bọn chúng đã bảo khi đầu hàng sẽ được đảm bảo tính mạng và tài sản.
- Nhà vua vì thế quân địch mạnh quá, sợ dân chúng lầm than nên mới hàng vậy mà chúng không tha.
- Bọn khốn nạn, đọc sách thánh hiền mà làm điều xằng bậy.

Sau này xuống hoàng tuyền gặp các bậc tiên hiền thì chúng sẽ trả lời thế nào.

Chúng xứng đáng đày xuống 18 tầng địa ngục.
- Dù gì chúng ta cũng từng là người cùng 1 nước mà, chúng ta củng hưởng nền nho học, văn hóa Trung nguyên mà .
Bân khá là a cay đám này.

Đầu hàng giặc mà làm như tấm lòng bao la biển rộng trời cao lắm ý.

Tâng bốc tận trời xanh đám giặc thế không biết , văn hóa dân tộc cũng không biết, đi gặp mình mà tụ nó mặc áo nho sĩ của người Hán.

Không biết tụi nó co biết cái trống đồng là gì không nữa, vì hắn ta nhìn thấy có cái trống đồng ở trên nhà tay Dần.

Bân nói:
- Ta xin giới thiệu lại với các vị.

Ta tên Hoàng Đức Bân, là người Việt chính gốc 10 phần.

tôi là thủ lĩnh của 1 căn cứ kháng chiến chống quân Tùy của những người Việt muốn khôi phục lại đất nước.
- Ta cũng nói thẳng luôn là ta đã đánh bọn cướp khi chúng định cướp hàng hóa chúng ta.

Ta cũng nghe tin người dân 2 trại này 1 đang chịu áp bức từ bọn cướp, 2 là chuản bị bị bọn cướp tấn công giết hại, cướp bóc.

Vì vây, khi đánh đuổi chúng xong ta quyết định kéo quân lên đây tiêu diệt chúng luôn để giải cứu đồng bào.
- Vì ta ta đã chiếm 2 trại nên ta chính thức tuyên bố: ta sẽ tiếp quản 2 trại cả người lẫn của cải và đất đai.

Tài sản tư nhân của người dân ta không đụng vào, tài sản bọn cướp và tài sản chung 2 trại ta sẽ quản lý để chi tiêu cho 2 trại.

Vài ngày nữa, người của ta sẽ đến đấy lập cơ cấu quản lý trại, đội hộ vệ trại chính thức giải tán, quân lính của ta sẽ tiếp quản việc phòng thủ trại cũng như thiết lập các quy định của trại.
Đám người lúc này nhao nhao lên rồi, dám người trại cướp còn đỡ vì trước nay bọn cướp quản lý, còn đám người trại nạn dân thì khác họ trước nay là người quản lý nay bị tước quyền lực thì không chịu.

Uừ thì ông lập cơ cấu cai trị mới thì cũng được nhưng sao không dùng họ vì họ là người có trí thức, có chữ nghĩa, quen thuộc địa bàn,có uy tín với người dân.

1 tên đứng dạy nói :
- Hoàng thủ lĩnh cậu là người ngoài, không có công sức gì trong việc gây dựng 2 trại, cậu có ơn với chúng tôi trong việc giải quyết bọn cướp.

Chúng tôi có thể tặng cậu vàng, bạc, lương muối cậu nuôi quân nhưng không có nghĩa cậu có quyền thủ lĩnh 2 trại chúng tôi.

Nếu cậu ép quá chúng tôi cá chết lưới rách với cậu, không thể để cậu áp bức chúng tôi thêm nữa
Một người nữa nói:
- Đúng vậy cậu làm thế có khác gì bọn cướp như lúc trước chứ.

Bọn chúng là cọp thì cậu cũng là beo.

Làm thế khác gì bọn súc sinh kia
- Tôi thấy cậu hiểu rõ về Khổng Tử, chắc cũng là người đọc sách thánh hiền, được giáo dục từ bé tới nơi tới trốn trong nho học, chắc cậu cũng có gia thế.

Vậy mà cậu cũng như bọn súc sinh kia làm điều xằng bậy, tráo trỏ như quân Tùy.

Cậu không thấy xấu hổ với thánh nhân, với cha mẹ, với gia tộc của mình hay sao.
Lão Chi nói:
- Các vị hãy bình tĩnh đã.

Hoàng công tử, sao cậu lại ra quyết định như vậy? Dù cậu có cai trị 2 trại nhưng tại sao cậu không dùng người cũ trong đây.

Dù gì họ cũng là những người đọc sách thánh hiền có chữ nghĩa, có kinh nghiệm cai trị và xử lý công việc.

Dù cậu có người thay thế nhưng quen thuộc người dân, văn hóa, , có uy tín với người dân.

Họ nói người dân sẽ nghe theo, như vậy cậu cai trị người dân tốt hơn
- Hơn nữa cậu bảo cậu là thủ lĩnh của 1 căn cứ kháng Tùy, trong trẻ tuổi mà đã có lực lượng như vậy đúng là tuổi trẻ tài cao.

Nhưng cậu để họ quản lý thì cậu sẽ có hậu phương vững chắc cung cáp người, lương cho công cuộc kháng Tùy của cậu.
Lão Chi đã nói lên nỗi lòng củ đám người này nên tiếng phản đối im bặt.

Họ quan tâm đến quyền lợi của mình.

Vì họ biết Bân ở nơi khác đến, dù có chiếm được nhưng cũng phải về căn cứ, việc ở đây vẫn do họ quyết, người giám sát ở đây họ có nhiều cách qua mặt được.

Quyền lực họ vẫn có , mà nhìn sự phân phát của đám này thì bọn họ biết đám này rất giàu, hỗ trợ họ rất nhiều, nên họ sống sung túc hơn trước đây.

Họ còn có nhiều thần khí như kia thì sau này có 1 phen đại sự không khỏi quá khó, các nho sĩ cũng có nơi vẫy vùng.

Lúc đó họ sẽ là khai quốc công thần, quyền uy sẽ vượt nhiều so với thời vạn xuân trước đây
Bân nói:
- Ta biết tâm tư các ông nên chúng ta thẳng thắn với nhau luôn khỏi phải câu nệ lễ nghi , tiểu tiết ăn nói văn hoa làm gì.

Ta nói này, các ngươi có nghĩ rằng ta tin tưởng những kẻ đầu hàng giặc vì bị dọa trong khi mới đánh nhau thua có 1 trận làm mất nước phục vụ cho công cuộc kháng chiến giành lại đất nước không.
Cả đám câm nín không nói được gì.

Nhiều người ấm ức muốn nói nhưng không tìm được kẽ hở nào mà nói.

Tất cả những gì Bân nói đều đúng, đều đám vào chỗ đau của bọn họ mà khoét, khiến họ không phản kháng được gì.

1 người vẫn cố đứng lên nói :
- Lúc đó thế giặc mạnh như chẻ tre, quân đông hơn ta nhiều , lại tiến quân sát kinh đô nên nếu như không hàng thì chúng đồ thành, ra tay giết hại dân chúng khiến trăm họ lầm than.
Bân :
- Thé sau khi đầu hàng chúng có không giết người Việt ta không? Giết nhiều hơn đúng không.

Tuy không đồ thành nhưng tổng số người họ giết lại nhiều hơn đồ thành.

Mà bọn nó lại tập trung giết những người từng làm quan cho tiền triều, những kẻ tham mưu cho Lí Phật tử cướp ngôi cùng với đầu hàng giặc.
- Thế giặc đông mạnh.

Đúng vậy, ưu thế giặc từ xưa đến nay là đông quân, nhưng vấn đề có gì mới lạ đâu nào.

Bao đời nay ông cha ta vua Hùng, An Dương Vương, Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Nam Đế, Triệu Việt Vương đã đương đầu với bọn nhà Hán, nhà Tần, Nhà Ân Thương, nhà Lương quân đông hàng vạn, chục vạn mà vẫn đánh thắng, đánh cho giặc thất điên bát đảo đuổi chúng về nước khôi phục giang sơn bao lần.

Như vậy vấn đề không phải quân đông hay ít mà là ý chí bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta, không có ý chí này thì bao lần Người Việt đã không đánh thắng người phương bắc.

Có đúng vậy không.?
Cả đám lần này câm nín, bọn chúng chịu rồi.

chúng học bao nhiêu cái từ người Hán, Hán sử nhưng quên mất mình là người Việt.

Nhiều kẻ Coi như cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thành cuộc nội đấu vùng Trung nguyên.

Chúng học Bắc sử có khi còn thông hơn Việt sử, mặc dù Việt Sử thời này ngoài sách sử của nước Vạn Xuân ra, chỉ còn ca dao, truyện kể miệng, ngoài ra còn 1 số tư liệu lịch sử 1 số người chôn dấu thì chủ yếu đến từ thứ sách Phương Bắc nói xấu dân tộc mình và chúng tin như vậy.

Bân nói tiếp:
- Tên kia ,Ngươi bảo ngươi cá chết lưới rách với ta, mạnh miệng đấy, gan to đấy nhưng ngươi phải xem ngươi nên nhìn ngươi có sức đấy không.

Nếu như lúc quân Tùy đánh xuống ngươi và những kẻ ngồi đây có 1/10 lá gan như vậy thì chúng ta không mất nước rồi.

Ta với ngươi cũng không cần gặp mặt nhau theo kiểu này.
- Không có chúng tôi tới cứu thì cái trại nạn dân này ý, xông ra đánh tay đôi với bọn cướp thì chắc chắn không thắng nổi bọn cướp đâu, điều này ông có thể hỏi lão Chi hoặc bất kì thủ lĩnh quân sự ở đây.
Bân chỉ vào người thứ 2 nói:
- Còn ngươi , người có bộ râu còi kia.

Ngươi nói bọn ta làm thế khác gì bọn súc sinh kia.

Nực cười.

bọn kia là cướp và đàn áp thống trị mọi người 1 cách dã man, cướp đoạt mọi người từ của cải đến con người, lương thực, tính mạng.

còn ta thì giành lại cho mọi người những điều đấy.
- Ngươi bảo: Tôi thấy cậu hiểu rõ về Khổng Tử, chắc cũng là người đọc sách thánh hiền, được giáo dục từ bé tới nơi tới trốn trong nho học.

Cái gì mà không thấy xấu hổ với thánh nhân, với cha mẹ, với gia tộc của mình hay sao?.
- Vớ Vẩn!
- Đúng là ta có đọc về tiểu sử cũng như cuộc đời của Khổng tử.

ta cũng có đọc mấy bộ sách của ông ấy và nghe , tự hiểu các chú giải của ông ấy.

Nhưng xin lỗi ta không theo nho học và ta chưa bao giờ coi ông ấy là thầy của ta cũng như thầy của ta,bố mẹ ta chưa bao giờ coi ông ấy là thánh nhân hay gì gì đó.

Đơn giản ông ta là 1 nhà bác học, 1 người thầy giáo có nhiều điều đáng để học tập mà thôi.

Bố mẹ ta và ta có xuống hoàng tuyền thì cũng chả có gì phải xấu hổ cả mà đơn giản là éo quan tâm.
- Nho học cũng là tri thức của con người, chúng ta nên tìm hiểu và đọc, học nó nhưng học cũng phải biết chọn lọc ý mà học mà áp dụng vào nước ta.

Chứ không phải bê y nguyên vào.

Thời của ông ta khác, chúng ta khác.

Có thể điều này đúng với chỗ ông ta, với thời ông ta nhưng nó không áp dụng được ở nước ta, ở thời điểm của ta.Thế nên ta chả phải sợ gì ông ta cả.
- Các ngươi chỉ biết
Bân nói tiếp:
- Ông là người vừa kêu : Dù gì chúng ta cũng từng là người cùng 1 nước mà, chúng ta củng hưởng nền nho học, văn hóa Trung nguyên mà.

Vậy thì tôi nói với ông như thế này này
- Ngươi đọc sách đến lú rồi à.

Ngươi đọc sách của người Hán, không sao cả nhưng ngươi quên rằng chúng ta là ai, chúng ta là người Việt.

Chúng ta có văn hóa riêng, có lãnh thổ riêng, có tiếng nói riêng, chúng ta có đất nước riêng, lịch sử riêng.

Ai cho bọn chúng có quyền xâm chiếm đất nước ta mà ngươi nói ta và chúng nó cùng 1 nước..

Ngươi nói những kẻ xâm chiếm nước mình, nô lệ dân tộc mình, xóa bỏ văn hóa dân tộc mình, xóa bỏ ngôn ngữ dân tộc mình, ăn cướp tri thức dân tộc mình mà ngươi nói cùng 1 nước.

Nếu thế thì Lí Nam Đế lập nước Vạn xuân là phản Trắc là vứt đi à.

Ông mà nói ngoài đường thì ta chém chết ông rồi chứ ko để ông nói đâu.
Bân uống ngụm nước rồi chỉ tay vào tất cả mọi người ngồi đấy nói tiếp:
- Các ông ,lão Chi, mấy trên trẻ kia, ngươi, ngươi , cả ngươi nữa.

Tất cả các ngươi đều không có quyền gì oán trách quân Tuỳ.

Người dân có quyền oán trách nhưng các ngươi không được phép.

Dù chúng có g**t ch*t cả dòng họ các ngươi, giết cả nhà các ngươi , hãm h**p vợ và con gái các ngươi thì các ngươi thì các ngươi không có quyền oán trách chúng.

Vì đó là con đường các ngươi đã chọn.
Người thanh niên đứng đầu trại nạn dân đứng phắt dậy nói:
- Ngươi nói cái gì vậy! Nói thế mà nghe được à! Chúng ta đầu hàng vì để tránh trăm họ lần than.

Chúng ta đầu hàng rồi chúng cho người giết chóc chúng ta là chúng sai.

Đó là bất tín bất nghĩa, Lưu Phương rồi sẽ bị Hoàng Đế Đại Tuỳ xét hỏi và trị tội.
Bân vỗ bàn mạnh mẽ nói:
- Mẹ nó! Nếu trị tội thì trị lâu rồi không phải đến bây giờ hắn vẫn sống.
- Ta nói bọn giặc Tuỳ chả có làm gì sai cả.

Sai là các ngươi tin mồm bọn sài lang, cầu chúng cho đường sống nhục nhã.

Các ngươi đã bao giờ hỏi nhân dân họ có đồng sự đầu hàng không.
- Không! Họ không bao giờ Đống ý! Chỉ có các ngươi vì muốn sống hèn kém mà đầu hàng.

Còn hơn thì ko bao giờ.

Họ quá hiểu những gì người Hán làm cho họ rồi.
- Ta bảo bọn chúng ko làm gì sai cả, cướp bóc ,h**p, giết , chúng chả làm cái gì sai cả.

Vì các ngươi quên mất 2 điều thôi:
1 là các ngươi quên mất mình là người Việt đéo liên quan đến người Hán cả
2 là các ngươi, cả ngươi,mấy kẻ dòng dõi công khanh, mấy tên nho sĩ kia.

Các ngươi hãy nhớ lấy 1 điều mà khắc ghi đến lúc chết , khắc ghi cho cả đời con cháu rằng....
Bân nhưng khắp 1 lượt đám người ngồi dưới ánh mắt đỏ lên trợn to, hét lên từng chữ với âm lượng lớn nhất:
MẤT NƯỚC THÌ NHÀ TAN.

MẤT NƯỚC LÀ MẤT TẤT CẢ MỌI THỨ, MỌI QUYỀN, KỂ CẢ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG..
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 26: 26: Thu Phục


Bân nói oang oang với cái giọng chưa vỡ.

Hắn hiểu muốn thu phục được 2 cái trại này, lấy lòng dân cần quá nhiều thời gian, muốn nhanh thì phải thu phục, đập tan nhuệ khí của cái đám lãnh đạo vẫn còn tư tưởng đạo nho, tư tưởng cường hào, tư tưởng người đọc sách này.

Đó là lý do vì sao các cuộc khởi nghĩa thời trước sao mà nhanh tập hợp quân đội vậy.
Đám người phía dưới không nói được gì nữa, mấy lão học cao, tuổi cao thì mở mắt thẫn thờ nhìn trần nhà miệng lẩm bẩm.

Bân biết 1 số người đang tìm lỗi sai trong câu nói của hắn, có người đang tìm lỗi sai trong suy nghĩ của mình.

Có người trông như có vẻ đang ngộ đạo trong mấy câu chuyện tiên hiệp trung quốc.

cảm ngộ này có thể thay đổi cả 1 con người biến từ 1 kẻ tốt thành người xấu, 1 người xấu thành người tốt, 1 con quỷ thành phật, 1 vị phật nhập ma, 1 người bình thường thành 1 kẻ điên.
Bân ngồi nhìn đám này ngộ xong chắc sáng mai nên hắn lấy bộ bài lơ khơ ra cùng với 2 lão Tùng , Lâm chơi tiến lên miền bắc.

Đã thế , trong thời gian ở căn cứ hắn dạy mấy lão này bú thuốc lá, bây giờ 3 người ngồi đánh tiến lên với 1 ông uống cà phê hòa tan, 1 ông uống trà xanh trên miệng mỗi người cầm 1 điêu thăng long mà dít.

Thỉnh thoảng lại có tiếng dít mạnh khi mình bị chặn 2 hoặc tứ quý
Đám nho sĩ và mấy lão già gia tộc vẫn ngộ đạo nãy giờ, chè đc người bên ngoài thay liên tục mấy ấm rồi.

Mấy tay thanh niên thì đã ngộ xong nhưng lòng vẫn còn vướng mắc, vì đa phần họ là bên quân đội, phần ít là nho sĩ trẻ, ít kiến thức cũng như kinh nghiệm cuộc sống hơn nên ngộ nhanh nhưng không sâu xa như những người dày dặn kinh nghiệm cuộc sống.

họ định thỉnh giáo mấy người lớn tuổi nhưng mà thấy họ đang ngộ đạo sợ làm phiền nên họ không dám hỏi, nhìn sang Bân thì thấy hắn mới đầu còn cầm cái hộp bằng sắt phát sáng nghịch sau đó lại chơi trò gì đó bằng tranh vẽ trên giấy với 2 lão già đang ngậm loại thuốc gì đó với giấy bọc ngoài.
Nhìn cảnh bắn súng thị uy vừa nãy nên họ sợ không dám hỏi, họ cũng thầm nghĩ đám này giày thật đấy , thế mà dùng giấy cuốn thuốc mà hút, đốt điếu nào cháy giấy lần đấy.

Họ biết rằng giấy đắt lắm, mà đám này cuốn thuốc để hút, phá của quá.

Tay thanh niên thủ lĩnh trại là loại nghé con không sợ cọp và cũng là người trẻ sốc nổi nên liều hơn đàn anh nên chạy ra xem thử:
-2 vị tiền bối, vãn bối tên Phùng Văn Tráng, có thể cho vãn bối biết 2 vị đang chơi gì không ạ?
Lão Tùng:
-Bọn ta đang chơi tiến lên , trò mà chúa công sáng chế.

Đây là bài tú lơ khơ, 1 bộ bài này có nhiều cách chơi lắm, không chỉ có trò này.
Tráng :
-2 vị đang hút cái gì vậy, nó có vẻ không nặng như thuốc lào nhưng có vẻ công dụng tương tự.
Lão Tùng:
-Thằng nhóc này khá đấy.

đây là thuốc lá, tiện dụng hơn thuốc lào nhiều, gọn nhẹ không phải mang điếu , hút không say như thuốc lào.

Tiểu tử ngươi có muốn thử 1 tý không?
Tráng:
-Được thế còn gì bằng, đa tạ 2 vị .
Tráng nhận lấy điếu thuốc của lão Tùng cho vào mồm như những gì hắn nhìn thấy mà hút, nhưng hút mãi không ra được cái gì.

Lúc này lão Tùng mới mang 1 chiếc hộp con bằng sắt sáng loáng, mở nắp và xẹt 1 cái, 1 ngọn lửa bay lên đốt điếu thuốc của Tráng.

Tráng trợn tròn mắt, thần kì a, cái thứ bật ra ngọn lửa này thật là thần kì a, có nó không cần phải dùng đá đánh lửa hoặc cành cây khô xoay vào nhau chết mẹ ra mới nhóm 1 tý lửa nưa.

Thứ này hành quân là đại lợi khí nha.hắn hỏi tiếp:
-Tiền bối, đây là thứ gì mà thần kì vậy?
Lão Tùng:
-Đây là bật lửa, dụng cụ đánh lửa nhanh chóng mà chúa công ban cho ta.

Dùng tiện lợi hơn đá đánh lửa nhiều, khi trời mưa, có cái nắp này đóng lại thì khỏi lo ướt.

Hành quân vô cùng tiện lợi.
Tráng điên rồi, hắn thấy đám này cũng điên rồi, người toàn thần khí, quần áo bằng chất liệu gì đó cực bền chắc và không thấy vết chỉ khâu, đã thế cực đẹp nữa.Cái mũ này hình như bằng lông nhưng bằng chất liệu gì hắn không biết, giày cực kì phù hợp với hành quân, mũ sắt này, đến quân tùy trừ tướng lĩnh ra, quân lính có thằng nào được dùng mũ sắt đâu.

Lại còn cái thần khí khạc ra lửa b*n r* vỏ đồng nữa, hắn không biết là đám này dùng cái gì để phong kín lửa vào trong cái vỏ đồng kia.

Sau đó đốt giấy hút thuốc, lại có thần khí tạo lửa kia nữa.

Hắn đã có 1 suy nghĩ to gan là muốn tham gia đám này đẻ được sở hữu đống kia.

Thế rồi đám quân đội nhìn thấy gương của Tráng nên cũng lân mò theo, lúc sau cả đống cột khói bay lên trong căn phòng.
Tối rồi, Bân đói, hắn muôn thu phục đám này và mai hắn phải về cho đám lính về ăn Tết.

Hắn không có thời gian, tất cả trong hôm nay phải xong phải cho đám này thần phục triệt để.

Hắn kêu người nấu cơm, mang đống đồ hộp hắn chuẩn bị sẵn, dặn người dưới làm mấy đĩa rau muống xào tỏi và nước rau muống luộc.

Bân biết 1 điều rằng thời này không có món xào, chỉ có nướng, hấp, luộc ninh, không phải người cổ đại không muốn thay đổi thực đơn mà là không có nguyên liệu, công cụ dụng cụ nấu bếp thô sơ, ngoài dao ra, họ chỉ nấu đồ ăn bằng nồi đất hoặc đồng.

Dầu thực vật hay mỡ động vật không đủ hoặc không có, có chất lượng cũng kinh dị, vừa hôi vừa đục, phá hủy vị món ăn, rán, xào lên còn khó ăn hơn nên họ mới không làm.

Ngoài ra lúc này thịt lợn không được phổ biến do mùi gây và hôi của nó nên không ai cùng cái này nấu ăn cả.

Mỡ bò thì siêu đắt và cũng không được phép thịt.
Lúc sau bân dọn ra mỗi người 1 khay cơm có đồ ăn như cơm các quán ăn bình dân.

Mùi thơm nức mũi khiến đám người thanh tỉnh,đầu óc trở về trạng thái bình thường, nhìn vào khay đồ ăn.

Bân nói:
-Muốn nghĩ gì thì nghĩ cũng không thể để cái bụng đói được.

Làm công cuộc cứu nước, chấn hưng gia tộc hay cảm ngộ nhân sinh, làm việc lớn đi nữa thì cũng không làm với cái bụng đói được.

Ăn đi.

Ăn cho có sức mà nghĩ tiếp.
Nói xong thì hắn cùng 2 lão già đang bú thuốc cũng cắm đầu vào ăn.

Đám người kia thấy vạy cũng buông lỏng cảnh giác mà cũng bắt đầu dùng đũa và thìa ăn.

Lúc ăn Bân thấy biểu hiện của đám này giống hệt biểu hiện của mấy tay bô lão căn cứ khi lần đầu tiên ăn ngon.

Như dự đoán, họ ăn chốc lát là xong, mấy tay quân đội muốn ăn thêm nhưng Bân bảo :
-Ta biết ý các ngươi, nhưng hiện nay mọi người đang bàn việc, ăn no không suy nghĩ được gì.

Ăn xong rồi, mọi người nghỉ ngơi, nói chuyện phiếm tý rồi tiếp tục suy nghĩ.
-Phùng văn tráng , nhiều chỉ huy quân lính ở đây đề cao ngươi nhất, nếu không lầm thì ngươi là thuộc dòng danh tướng Phạm Kim nhỉ, quan hệ ngươi với lão Chí như thế nào.?
Tráng đứng dậy nói.
-Hoàng công tử, tôi là cháu trai của em trai Ngài Phạm Kim, gọi ngài Phạm Kim là ông Bác, gọi lão chí đây là chú ruột.

Dòng họ nhà tôi chỉ còn có tôi và chú ruột tôi cùng với mấy thân binh còn sống, tất cả bị quân Tùy giết rồi
Bân nói:
-Ngươi lớn hơn ta vài tuổi nên chắc cũng dễ nói chuyện với nhau hơn mấy người ở đây.

Vậy ta hỏi ngươi 1 câu nhá.

Tại sao mà quân Tùy hay những cánh Quân trước đây của người Hán lại đánh nước ta thắng dễ thế?
Tráng nói :
-Hoàng công tử theo như tôi biết thì do vũ khí chúng ta lạc hậu hơn chúng, sắt chúng ta không tốt bằng, trang bị giày mũ áo giáp chúng ta thiếu thốn, người chúng ta nhỏ con hơn người Hán.

Ngoài ra , người chúng ta ít hơn , tướng lĩnh, quân sư bọn chúng giỏi hơn, nhiều kinh nghiệm do được đọc nhiều sách vở thánh hiền như Khổng Tử, Mạnh tử, Binh Pháp Tôn Tử, Binh Pháp Tôn Tẫn.

Họ có đội kỵ binh và các đội lính tinh nhuệ hơn chúng ta nhiều .
Bân:
-Thế sao các cuộc khởi nghĩa, Lí Nam Đế, bà Trưng, Triệu Việt Vương lại thành công?
Tráng :
-Theo tôi được biết thì do quân Hán ở vùng này lâu ngày không hợp thủy thổ gây nên bệnh tật.

Chúng quen thói ức h**p dân ta , đánh bại các cuộc nổi dậy nhỏ nên sa đà ăn chơi, không chịu huấn luyện.

Nhiều kẻ xuống dưới này chỉ huy quân đội chủ yếu là tránh tội ở kinh đô hoặc con cháu quan lại xuống dưới này giết dân ta lấy tư lịch vài năm rồi về kinh đô nên vùng này không được chú trọng rèn luyện binh lực.

Vì vậy , lúc đầu khởi nghĩa chiến thắng thuận lợi nhưng sau đó quân địch mang quân tinh nhuệ xuống chiếm lại thua.
-Ngoài ra nhiều cuộc khởi nghĩa thành công bước đầu do nội bộ người Hán nội đấu như thời Bà Trưng, Bà triệu, Lí Nam đế, Triệu Việt Vương.

Hơn nữa nhiều kẻ mua chuộc làm phản nên mới thất bại.
Bân :
-Ngươi nói nhiều ý khá chính xác, nói lên nhiều vấn đề nhưng đó không phải vấn đề cốt lõi, có cốt lõi nhưng chưa đủ.
-Đầu tiên, cái quyết định cuộc khởi nghĩa có thành công hay không là sự đoàn kết của mọi người dân nước Việt.

Mới đầu thì các cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng nhưng sau đó khi người Hán mang quân đánh xuống thì thất bại rất nhanh do nội bộ không đoàn kết.

Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa 2 bà Trưng , nó thất bại quá nhanh trong khi quân Hán chỉ có 3 vạn tính cả bọn được chi viện.

Địa bàn quá chia tác, các nhóm nghĩa quân sau vài năm hào bình trở nên nghi kỵ nhau, tranh nhau về mặt lợi ích, Phép vua ko đc sâu sát, ít tiếng nói xuống các vùng thuộc địa bàn của cá lạc hầu, lạc tướng.

Vì vậy khi quân Hán tấn công địa bàn của các lạc tướng nào người nấy giữ không hỗ trợ cho nhau, chỉ khi quân triều đình mang quân đi ứng cứu, lúc này thì muộn rồi.
- Thứ 2 là con người.

Người dân đa phần không biết chữ, những người biết chữ đa phần là dòng họ các lạc hầu, lạc tướng.

Họ biết chữ Hán , biết chữ Khoa đẩu nhưng không có 1 đứa nào dạy dân thường biết cả.

Bồ chính các bộc tộc nhỏ biết chữ Khoa Đẩu, 1 ít chữ Hán nhưng không dạy cho dân làng mà chỉ dậy cho người kế nghiệp để giữ quyền lực.

Khi lão và người kế nghiệp mà chết thì cũng tuyệt tích chữ nghĩa luôn.

Đám lang cun thì càng hơn thế.
-Mẹ nó ! các ngươi có biết rằng 1 dân tộc dốt là 1 dân tộc yếu , hèn không.

Vì lợi ích cá nhân mà làm cả dân tộc trì trệ.

Lũ khốn nạn.

làm quan tướng của các vị vua trước mà chết không có ai thay, người mới lên thì năng lực không có mà dẫn đến thua trận.
-Thứ 3 ,Nhiều kẻ không đoàn kết làm tay sai cho giặc.

Đúng! do tầm nhìn hạn hẹp, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, tư thù cá nhân mà phản bội dân tộc, cung cấp nhiều tin tình báo quan trọng cho quân giặc.

Ảnh hưởng từ quan niệm của người Hán về chế độ trọng nam khinh nữ nên nhiều thù lĩnh không theo 2 Bà Trưng nên đem lòng phản bội hoặc không kết hợp nghĩa quân chống giặc.

ngoài ra địa bàn người Việt lúc này có rất nhiều người Hán di cư đến sinh sống chưa bị người Việt đồng hóa nên số này thành tay sai chỉ điểm đắc lực cho giặc.
-Thứ 4, công tác tổ chức bộ máy triều đình không tốt, không kiểm soát đc đến địa phương.

Dẫn đến tình trạng oan sai, công, tội không rõ ràng , gây oán hận nhiều người, nhất là tầng lớp quý tộc.

bất mãn, nhiều kẻ phản bội.

Cái lỗi này do chưa tạo căn cơ tốt cho thế lực bản thân, chưa xây dựng thế lực đủ mạnh, đủ sâu sát , không đủ nhân tài đã vội vàng tấn công.

Nói thật nếu như 2 Bà Trưng có thêm 5-10 năm thì chưa chắc đã thất bại.
-Thứ 5 như các ngươi nói về vũ khí thì đúng, rèn sắt ta không bằng cả về số lượng lẫn chất lượng nhưng số đó không làm nên sự khác biệt về quân sự.

Bọn lợi cái là có vũ khí bằng sắt quân đọi, quân đội được trang bị chính quy 1 loại giáp đồng vảy cá, chứ không trang bị thượng vàng hạ cám, người thi bằng da, đồng, mây tre đan hoặc chỉ áo vải như chúng ta.

Vũ khí cũng phân ra từng binh chủng cho từng loại nhiệm vụ., chúng có nhiều kỵ binh tinh nhuệ hơn chúng ta nhiều.

Nhưng các ngươi nhớ địa bàn nươc ta chủ yếu là đồi núi.

Như trận đánh núi Đô Long vừa qua, chúng có dùng tý kỵ binh nào đâu , vì kỵ binh đâu có đánh được vùng núi đâu mà vẫn bị đánh tan.
-Cuối cùng là về tổ chức quân đội.

Tất cả các cuộc khởi nghĩa , trừ của Triệu Việt Vương thì đa phần có 1 sự ngu ngốc nhất là áp dụng máy móc cách đánh, binh pháp của người Hán vào chiến thuật dùng binh nước mình, dân tộc mình.

Đúng là tụi người Hán có tổ chức quân đội tốt hơn, quân đôi tinh nhuệ hơn, vũ khí tốt hơn và tinh lương hơn chúng ta mọi mặt.

Muốn thắng được chúng thì chúng ta cũng phải có binh lính tinh nhuệ, vũ khí tốt, trang bị tốt thì mới đánh lại được chúng.

Tuy nhiên nó cũng phải dựa trên tình hình nước ta, dân tộc ta lúc đó chứ không người Hán làm gì ta làm nấy thì chỉ có thua.
-Người Hán có đội quân chính quy không thuộc bất cứ tướng lĩnh nào, đội thân binh các tướng có rất ít.

Quân lính trang bị đồng dều, huấn luyện đồng đều nên họ rất kết nối giữa các cánh quân với nhau.

Quân lệnh chủ tướng ra 1 là 1, 2 là 2.

Trong khi chúng ta thì 5 bè 7 mảng rất tách rời.

Chưa kể chiến đấu đoàn đội, đội hình phòng thủ, tấn công rất tốt, trong khi binh lính của các Bà thì chiến đấu đơn lẻ tự do phát huy sở trường của mình.

Nên ta đánh mãi nó không sao nhưng nó đánh ta phát nào chết phát đấy, 1 đội ngũ 10 người của chúng có thể giết vài chục người của ta.
-Các ngươi xem, thời 2 Bà Trưng, Bà Triệu, quân đội nước ta chỉ có binh lính của các Lạc Hầu ,lạc Tướng, không có lính chính quy triều đình nên dễ thất bại không nói tới quân đội mỗi lạc hầu, lạc tướng huấn luyện 1 kiểu.

Lúc đánh trận chỉ biết quân mình không hỗ trợ nhóm khác, quân chính quy không có nên cũng không điều quân đi hỗ trợ các nơi được.
-Thời Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương, Lí Phật tử lại khác, họ có đầy đủ các yếu tố mà người Hán mạnh.

Duy chỉ có Triệu Việt Vương là không những áp dụng đúng chính cách đánh người Việt đó là đóng quân tại những nơi hiểm yếu , sử dụng chiến thuật đánh du kích.

Tức là đánh chỗ giặc yếu, tránh chỗ giặc mạnh, không bao giờ solo, à nhầm không bao giờ 1 đánh 1, hay đánh trận theo quy cách người Hán, trường kì chiến đấu, khiến cho giặc tăng gánh nặng quân số , tiền bạc lương thực để duy trì chiến tranh đến mức không chiu nổi.

Chính vì vậy mà ngài đã đánh đuổi quân Lương thành công.
-Lí Phật tử thì lại áp dụng chính xác cách đánh người Hán, cái mà người Hán giỏi nhất thiên hạ là công thành và thủ thành, thì hắn ta lại dùng chiến thuật tập trung quân 3 thành trì trọng yếu để thủ.

Khi quân ở núi Đô Long căng mình chống địch thì hắn mặc kệ không tiếp viện, chỉ bo bo tập trung tài lực, nhân lực vào 3 thành trì kia mà ta biết chắc 1 điều chúng sẽ bị công phá vì đó là thế mạnh của người Hán.

Hắn quên 1 điều rằng là người Việt coi kinh đô chỉ quan trọng hơn các thành trì khác 1 chút thôi, mất kinh đô không có nghĩa mất nước.

Hắn thì làm ngược lại, đầu óc Hán hóa quá độ, Hán hóa đến ngu ngốc, bị dọa tý đã hàng làm tội nhân thiên cổ.
Lão Chí và đám người nghe cuộc nói chuyện của Bân và đám chỉ huy quân đội trẻ, họ lúc này như ngộ ra điều gì đó, lão Chí đứng dậy mở miệng liền hỏi 1 câu cuối cùng để giải đáp khúc mắc trong lòng :
-Theo ngài Lý Phật tử là người như thế nào?
Bân biết Lý Phật tử nhưng hắn có 1 nút thắt không hiểu tại sao mà tay này ác mới đồng bào nhưng lại đầu hàng nhanh với quân Tùy như vậy.

Kiêu hùng 1 thời, ăn mật nằm gai để hạ Triệu Việt Vương thì sao có thể hàng Tùy nhanh thế nhở.

Hắn kệ, nhức đầu lắm, đến các nhà sử học thời hắn còn chưa thông huống chi hắn.

Hắn bèn lấy câu nhận sét của nhà sử học Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét về Lí Phật Tử để nói.

Hắn chọn vậy là vì theo nhiều chuyên gia thì nó là câu nhận xét tính dân tộc hay nhất, tổng thể nhất về con người này theo nho giáo và lòng yêu nước xuyên suốt mọi thời đại.

Bân cũng muốn dùng mấy lời này vì mấy thằng ở đây toàn não đạo khổng nho cả, nói vậy cho dễ tiếp thu, dễ hiểu, dễ quy phục và không bắt bẻ gì được.

Hắn nói:
-Các ngươi muốn ta nhận xét 1 cách khách quan nhất về Lí Phật tử thì ta đành nói thế này .
-Lấy bá thuật mà xét thì Lý Phật Tử đánh Triệu Việt Vương là đắc kế, lấy vương đạo mà xét thì việc ấy đã từng không bằng chó lợn.

Sao thế ? Là vì khi Lý Nam Đế ở động Khuất Lạo đem việc quân ủy cho Triệu Việt Vương, Việt Vương thu nhặt tàn quân giữ hiểm ở Dạ Trạch bùn lầy, đương đầu với Trần Bá Tiên là người hùng một đời, cuối cùng bắt được tướng của y là Dương Sàn.

Tiên, người phương Bắc, phải lui quân.

Bấy giờ vua Lí Phật Tử trốn trong đất Di , chỉ mong thoát khỏi miệng hùm mà thôi.

May mà Bá Tiên về Bắc, Lý Nam Đế chết, mới đem quân đánh Triệu Việt Vương, dùng mưu gian trá xin hòa, kết làm thông gia.

Việt Vương lấy lòng thành đối đãi, cắt đất cho ở, những việc làm của Việt Vương đều là chính nghĩa, giao hảo phải đạo, thăm viếng phải thời, há chẳng phải là đạo trị yên lâu dài hay sao ? Thế mà Lí Phật Tử lại dùng mưu gian của Nhã Lang, vứt bỏ chính đạo nhân luân, kíp tham công lợi mà diệt nhân nghĩa, đánh cướp lấy nước, tuy rằng lấy được, mà Nhã Lang thì chết trước, bản thân cũng không khỏi làm tù, có lợi gì đâu ? Vua dùng thuật gian trá để gồm lấy nước, mới thấy bóng giặc đã hàng trước, việc làm trước sau đều phi nghĩa.
Toàn trường im lặng đến đáng sợ, không ai phản bác được, vì hắn nói quá đúng, quá chuẩn xác.

Đủ nhân, lễ , nghĩa, trí, tín, 5 điều này Lí Phật Tử không có điều nào cả, mất nước là đúng.

Nhưng hắn không mất nước tay người Việt mà đầu hàng quân Tùy, đây là bất trung.

Giặc mới đánh thắng 1 trận và dạo thì đã hàng làm mất cơ nghiệp Lí Nam Đế, đây là Bất hiếu.

Hại người đã được Lí Nam Đế trao quyền, người có công đánh giặc cứu nước là bất nghĩa.

Các việc nhân, lễ , nghĩa, trí, tín, trung, hiếu ngời này đều không có mà mình, tổ tiên mình, thế hệ trước lại đang tâm phục vụ cho hắn thì xấu hổ qua, mất mặt qua.

Sai hết rồi.

Nếu như khi quân Tùy đánh mà Triệu Việt Vương còn thì có khi giờ này nước nhà còn, gia tộc cũng không bị lâm vào cảnh hủy diệt thế này.
Nhiều kẻ mặt buồn rười rượi ngồi gục xuống , nhiều người ngửa mặt lên trời mà khóc.

Họ đã phục dịch cho loại người mà họ đọc sách thánh hiền ghét nhất, đưa kẻ đó làm vua rồi mới có bao tai hại xảy ra với đất nước, gia tộc.

Lão Chi cũng khóc , Lão chạy ra ngoài hiên , ngửa mặt lên trời hét lớn:
-Cao xanh ơi, cao xanh ơi! Gia tộc ta, cuộc đời ta lại đi phục vụ cho loài lang sói.

Vì ích kỉ mà đẩy dân tộc, đất nước, gia tộc vào cảnh nồi da nấu thịt, vào cảnh mất nước.

Buồn cười thay cuộc đời ta lại lấy đó tự hào, lấy đó làm vui sướng.

Nhục nhã thay.hahahahahahahahahahahahhahaahahhaha
Mấy tay lính của Bân đang canh bên ngoài đó là Càng và Tuất, đến giờ nghỉ ca để ăn, họ vừa ăn vừa nhìn cảnh của Lão Chi vừa khinh thường, Trâu vừa nói:
-Bố cái lũ điên, có vấn đề đơn giản vậy mà giờ mới ngộ ra.

Tâm lý yếu quá, có thế mà đã phát điên rồi, không khéo đêm nay có thằng chết bất đắc kì tử.
Càng nói:
-Tao nghe nói càng người học rộng hiểu nhiều càng suy nghĩ phức tạp, càng nghĩa nhiều.

Mấy vấn đề dễ mình nói kết quả luôn còn các bố ấy thì suy nghĩ vòng vèo như đường rừng mới nói kết quả.

Chính vì nghĩ nhiều quá nên bị tắc mà bị đả kích mạnh thì dù nghĩ thông thì kar năng cao phát điên .
Cả 2 thời dài và nói :
-Mấy thằng này đọc schs đến lú đến điên cả rồi.
Bân thấy lão này sắp điên rồi, kèo này có khi đêm về suy nghĩ mà chết bất đắc kì tử thì công cuộc thu phục cái trại này càng thêm khó khăn mất.

Hắn đang cần người, cần thời gian, nhất là mấy tay có học thức sách vở cũng như chính trị, xã hội, hành chính như này.

Bân hét quân bên ngoài;
-Quân đâu,Đưa ông ta vào đây mau.

Ông ta sắp phát bệnh rồi.

không muốn ông ta chết sớm thì mang vào đây ta hỏi chuyện.

Mau lên!
Lão Chi được cưỡng ép kéo vào trong căn phòng đặt vào chỗ ngồi, miệng lão vẫn cười, khuôn mặt ngây dại.

mọi người mớm cho ông ta 1 bát nước trè ấm để ông bình tâm nhưng vẫn chưa ổn.

Bân đi lại vỗ mặt ông mấy cái và nói:
-Lão Chi! Lão Chi! TỈNH LẠI, TỈNH LẠI! ĐÉT! Tỉnh lại nhìn rõ không, nghe rõ không? Mấy ngón tay đây.

Tỉnh dậy cho ta hỏi.
BỐP! Bân cho lão 1 phát tát mạnh để lão tỉnh luôn khỏi lòng vòng.

Bây giờ lão Chi tuy đầu hơi ong ong, mắt hơi hoa nhưng đã tỉnh rồi, không bị cơn cuông loạn khống chế nữa.

Bân nói:
-Tỉnh chưa! Đã tỉnh chưa? Tỉnh thì ngồi im uống nước chè để ta hỏi chuyện.
-Lão Chi này, đất nước cần người sống bình thường chứ không phải thêm 1 kẻ điên hoặc 1 người chết.
Lão Chi lúc này đã tỉnh hẳn, lời nói của Bân qua tai lão như gọi lão dậy từ bến mê, từ địa ngục dậy.

Lão hiểu ý hắn, hắn muốn dùng lão và những người ở đây cho đại nghiệp này.

Bân thấy mọi người đang im lặng bèn nói:
- Ta hỏi các ngươi này.

Tay bẩn thì làm sao mà sạch?
Tráng nhanh nhảu đáp:
-Tay bẩn thì lấy nước rửa sạch
Bân nói:
-Nước bẩn làm sao sạch?
Tráng nhanh nhảu đáp:
-Nước bẩn thì đổ đi lấy chậu nước sạch khác mà rửa?
Bân ngớ người, đây là đoạn hội thoại nổi tiếng của vua Thành Thái cơ mà.

Sao lại thành ra thế này.

Má nó , nói với mấy ông thẳng như phổi bò này khó nói ý lắm.

Nói bọn đọc sách kia chúng nó hiểu ngay.

Bân nói:
-Đúng đấy! nhưng nếu nước đây không phải cái thứ ngươi múc mà là đất nước thì sao? Chúng ta lấy đâu ra nước mới, chúng lấy đâu ra người Việt nữa bây giờ.
- Lão Chi , ta hỏi ngươi.

Nước bẩn lấy gì rửa cho sạch?
Lão Chi không nói được gì vì nó không có từ nào để nói.Bân nói :
-Nước bẩn thì lấy máu mà rửa thì mới sạch được.
Lúc này lão Chi và những người phía sau, cả đám quân sự đều đồng loạt quỳ xuống nói:
-Chúa công, xin ngài hãy cho những kẻ từng lầm lỗi này tham gia đại nghiệp để đền nợ nước thù nhà.
Bân nói :
-Tốt lắm! Ta đồng ý thu nhận các ngươi về dưới chướng ta.

Chúng ta cùng nhau giành lại đất nước từ tay bọn Hán.

Các ngươi sẽ 1 lòng theo ta chứ?
Tất cả đồng thanh:
-Nguyện trung thành đến chết với chúa công.
Bân:
-Ta không cần các ngươi chết, ta cần các ngươi sống.

Chỉ có kẻ sống mới làm nên đại nghiệp.

chỉ có kẻ sống mới phục hồi được đất nước, dân tộc.
Đám người hô.
-Rõ ! thưa chúa công.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 27: 27: Truyện Ngày Tết


Hôm sau đoàn người trở về, hắn hẹn là lần sau sẽ dẫn theo 1 số người gọi là thuộc tầng lớp tinh hoa và cả người trẻ về căn cứ chính với mục đích là đi học.

Hắn không để lại ai cả vì không cần thiết và Tết rồi, mọi người cũng muốn về nhà.

Bân thấy nhiều người có tố chất, đông thời hắn cũng hẹn đám này qua mấy háng đầu năm sẽ cho thầy giáo về làng dạy chữ nghĩa, nhất là chữ quốc ngữ.

Hắn biết đào tạo con người là lâu và tốn công nhất nên phải ngay từ bây giờ, sau này có người mà dùng, lớp hạ sĩ, trung, thượng sĩ quan là xương sống của chiến tranh hiện đại.

Người làm quan quản lí dân chúng cũng vậy nên cần phải đào tạo thật nhiều kẻ có đầu óc, có tri thức để 20 năm sau chống lại Lí thế dân tốt nhất,người nào mà chết thì có người thay thế luôn.
Ngoài ra hắn cũng biết các thế gia đại tộc, cường hào, quý tộc cai trị được người dân không phải vì họ giàu hay có quyền lực, đó chỉ là phần ngọn, vấn đề cốt lõi nhất là có tri thức.

cho người dân thường có tri thức bằng hoặc vượt đám người kia thì hệ thống thế gia đại tộc chính thức phá vỡ.

Cho không chỉ vài gia tộc lớn mạnh cầm quyền mà cho trăm hoa đua nở, nhưng không được cho chúng nắm đất đai và quá nhiều tri thức.

Cấm cho chúng làm vua không ngai 1 vùng đất, cố gắng tách quyền lợi cá nhân và dòng họ ra như Việt Nam hiện đại, lúc này dòng họ chỉ mang ý nghĩa tinh thần thôi.
Dòng người như thác lũ trở về.

may mắn không có người nào chết cả, chỉ bị tên bắn chúng nhưng đc cấp cứu cũng như có áo giáp chống đạn êm 1 số thằng bị gãy xương tay chân do đá.

Đoàn người mất 1 ngày để về nhà, mất lâu thời gian vì họ còn phải chia nhau đi lấy đồ ở những làng quy thuận và tặng bò, trâu, gạo nếp, lương thực, làm sao cho họ tháng giêng này không phải lo nghĩ đén cái ăn.

.

Đoàn người dắt díu nhau về, đồ dạc ít nên về nhanh, nhiều người vợ, người mẹ , con ra ôm người thân của mình.

Hắn cùng mọi người sắp xếp mọi việc để cho xong trong ngày 30.
Tết đến đây là ngày đầu tiên hắn đón cái tết ở thế giới này.

Nhớ gia đình thật đấy, bánh chưng đã lấy đc nấu hết rồi, đêm nay hắn cho mọi người về nhà, trừ mấy nười canh cổng có thêm chút café buổi tối, còn lại hộ vệ của hắn cho về nhà hết rồi.

Tết này ai cũng được ở cạnh người thân , ngoại trừ hắn mà thôi.

Đêm khuya tĩnh lặng, hắn ngồi trong nhà chính, lập cái bàn thờ giả thờ 1 bố hắn kiêm thày giả, còn lại là bàn thờ Triệu Việt Vương,con trai cả của ngài còn mấy cái ảnh của chủ tịch Hồ Chí Minh, đại Tướng Võ Nguyên Giáp, mẹ hắn.
Nhang đèn xong ngồi 1 mình hắn lấy máy tính, cắm loa bật bài Tứ Qúy, Happy new year, xuân ơi xuân đã về max volum.

Giữa khung cảnh im lặng đến đáng sợ của đêm 30 nổi lên tiếng nhạc văng vẳng, mọi người chúi đầu ra xem và nghe tiếng nhạc hay ho trong đêm.

Nó xóa hết sự tĩnh mịch trong đêm 30, Tết này họ có 1 cái tết no đủ và ấm cúng nhất từ trước đến giờ, trẻ con được áo mới, vợ chồng có áo mới ấm áp, mặc vào không sợ lạnh mà chúa công cho.

Riêng đội canh giữ trực đêm thì được Bân cho mấy cái áo tạo nhiệt của Nhật, mặc vào không sợ lạnh còn tạo ra hơi ấm, cả đám đi khoe thần vật làm ai cũng hâm mộ.

Cuối cùng , là giao thừa tới, hắn lấy mấy cây pháo hoa định bắn nhưng thôi, vì pháo hoa b*n r* là lộ vị trí.

Hắn đành lấy mấy cây pháo bông, pháo sáng, pháo khói ra chơi vậy, mấy nhà ở làng cũng được hắn cho mỗi nhà 20 cây pháo bông đốt chơi.

1 giờ sáng, sau khi cúng gia tiên xong, hắn truê ngươi bật bộ đàm rồi mở nhạc xuân này con không về cho đám lính canh nghe, nhạc nghe da diết não lòng, nhiều thằng lính ôm nhau khóc
Sáng mùng 1 hắn ngủ đến trưa, không ai làm phiền hắn cả, mọi người đều biết việc ăn uống của hắn không cần phải lo.

Trưa đến làng vẫn còn vắng hoe, chỉ có mấy người lính đi tuần và thay ca trực là còn đi lại, chứ mùng 1 ai ra ngoài.

Bân ngồi nhà, kiểm kê toàn bộ vật phẩm, kiểm tra nhật ký của tay người Mãn kia, tiện thể suy tính tương lai.

Mùng 3 Tết này phải phải cho người tiếp tế ngoài trâu bò còn đi thăm thú những làng nghèo.

Tháng 1 đên 2 là đám Lưu Phương đi bắt Phu thu thuế chuẩn bị cho đánh Lâm Ấp, những vùng miền trung như Thanh Hóa, Nghệ an, Hà Tĩnh vẫn thuộc người Việt.

Từ Quảng Bình đến Quảng Nam thuộc Lâm Âp, Lâm Ấp dìu tách ra từ vùng đất người Việt và lúc này mạn Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, dân Việt hoặc hỗn huyết còn nhiều.
Họ tiếp nhận văn hóa Ấn Độ, các loại kinh điển , kinh văn Ấn thông qua các tu sĩ, giới quý tộc ưu thích dùng nên về ngôn ngữ có nhiều khác biệt với người Việt Giao Chỉ, Tuy Nhiên đó là giơi quý tộc chứ dân nông thôn, dân nghèo hoặc dân vùng núi, nói chuyện người Việt Vẫn hiểu được, chữ Viết của họ cũng chuyển qua chữ Phạn.

Sau này Lưu Phương đánh chiếm Lâm ấp thì dồn tầng lớp tinh hoa, quý tộc, quan lại, tu sĩ, hoàng tộc, quân lính xuống phía Nam từ quảng Nam vào, lập quốc, lúc này người Việt hoặc người nói tiếng Việt ở lại đất cũ trên Quảng Nam, từ Quảng Nam trở vào người nói Tiếng Việt ít hơn người nói tiếng Cham rất nhiều, dần dà theo thời gian có sự đối lập hoàn toàn về mạt ngôn ngữ, văn hóa.
Bân cần có kế hoạch lớn đẻ tiếp quản vùng phương nam.

Hắn biết 1 điều là muốn có được Việt nam thì không được thoát khỏi 2 vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh, Bình – Trị - Thiên.

đây là vùng hậu phương vững chắc nhất, đây là nơi dân cư dũng mãnh nhất Việt Nam.

Vua chúa từ đây mà ra, danh nhân cũng từ đây mà ra.

Đinh Tiên Hoàng ngoài việc ngài có cái tài nhìn thế cục thiên hạ hơn hẳn những sứ quân khác, ai cũng biết ngài từ Hoa Lư, có nhiều hào kiệt Giao Châu đi cùng .Nhưng lúc tiếp quản quân quyền của Trần Lãm thì sự chuyển biến mạnh mẽ nhất là lúc ngài thu phục được Ngô Xương Xí làm chủ đất Thanh Hóa.

Lực lượng của ngài lúc này mạnh mẽ đến độ đánh bại sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, việc mà trước đây dù có quân Trần Lãm và ở Hoa Lư cũng không làm được.
Điều đó cho thấy công sức những người con Thanh Hóa vào thay đổi tiến trình lịch sử đất nước mạnh mẽ ra sao.

Tiền Lê cũng Thanh hóa, Lê sơ, Lê Trung Hưng, Trịnh Nguyễn cũng Thanh – Nghệ - Tĩnh.

Đến nhà Tây Sơn cũng phải ăn hành với dân vùng này, đánh mãi không được nahf Trịnh, về sau dùng kế mới thắng được.

Khi quân Tây sơn có Thanh – Nghệ - Tĩnh thì mới vô địch thiên hạ.

Trịnh – Nguyễn Phân tranh thì dân Thanh-Nghệ -Tĩnh đi đầu với nhà Lê Trịnh, trong Nam là dân Bình - Trị - Thiên đối kháng lại với nhau máu lửa , ấy vậy mà chả ai ăn ai.

Kháng chiến chống Pháp, Mĩ – Ngụy thì dân Thanh hóa, Nghệ An, hà Tĩnh, Quảng Bình đi đầu.

Nhiều quân lính, sĩ quan của Ngụy quyền Sài Gòn xuất thân từ mấy vùng Trị - Thiên thuộc nhiều binh chủng hoặc quân đoàn 1 Ngụy đánh đấm máu lửa chả kém gì quân giải phóng.
Bân hắn quá rõ điều này, tại mấy vùng Bình Trị Thiên hiện nay là kinh đô Lâm Âp, đánh nhau với người Hán nhiều, họ máu lửa chả kém gì.

Bân cần quân Tùy mở đường giúp mình để cho thế lực sâu vào mấy vùng này trong 10 năm để có hậu phương chắc chắn mở rộng ra phía Bắc hết Giao chỉ.

Đến năm 617-618 lúc Nhà Tùy suy vi thì học Khúc Thừa Dụ ép vua Đường phong Tiết độ sứ thì hắn cho người lên nhà Tùy ép phải phong hắn làm Thái Thú giao châu.

Cố gắng phát triển rong khi đám người Hán đấm nhau tơi bời đi, cuối thời Tùy có hơn 50 triệu dân, đánh đấm nhau chết cha chết mẹ, rồi cống nô cho người Mông cổ còn giảm nữa, sau này đời Lý Thế Dân mới hồi phục, phát tiển nhưng không nhiều, ngoài ra bọn này tính cả dân không phải người Hán.

Sau vài chục năm này hắn có thê tạo ra sự biến đổi công nghệ người Việt ít nhất là đến thời nhà Lê, Nhà Nguyễn, đến lúc hắn truyền ngôi cho con, Đến khi hắn chết 7-80 tuổi có khi người Việt bước vào thời kì anh Họa sĩ lên nắm quyền chuẩn bị đấm châu âu rồi.
Hắn cũng có gắng cho dân số người Việt tăng theo cấp số nhân vì hắn biết thời cổ đại ngoài dịch bệnh, chiến tranh khiến dân số giảm ra thì nguyên nhân chính dẫn dân số tăng chậm là nạn đói.

Dân số châu âu bùng nổ gấp đôi, gấp 3 sau thời kì dịch hạch dẫn đến cách mạng công nghiệp nhờ vào khoai tây chống nạn đói.

Ko đói con người có sức khỏe chống bệnh tật, người chết bệnh ít đi, dân số tăng nhanh.

Khoai tây, khoai lang, ngô hắn có, giống tốt nhất đằng khác, hắn có tự tin chỉ trong 10 -15 năm hắn sẽ cho dân Vùng Giao chỉ này tăng từ 95 vạn lên bằng dân số thời đầu nhà Lí khoảng 3,5 -4 triệu người.

Chưa kể, những đứa trẻ 1-2 tuổi bây giờ đến lúc nhà Tùy sụp cũng sẽ sinh cho hắn cả vài trăm nghìn người dân nữa, vài năm nữa thể nào cũng mỗi năm tòi 1 đứa thì có cả triệu người.

Những đứa trẻ mới sinh năm nay đến lúc quân Đường đánh vào cũng kịp sinh cho hắn cả triệu đứa trẻ.

Đến khi Lí Thế Dân lên ngôi thông nhất toàn cõi khoảng Trung Hoa khoảng 628-630 thì hắn hoàn toàn có thể khiến dân việt nam ngang thời Lê Trung hưng khoảng 15 triệu.
Hắn cũng muốn đánh lên phía Bắc vì hắn biết vùng Lĩnh Nam, ho[pự phố lúc này dân các tộc thuôc Lạc Việt, Tây Âu, Dương Việt, Mân Việt,Điền Việt, Lê Việt còn rất nhiều.

Tuy người Hán di cư xuống vùng này nhieuf nhưng chưa thay đổi có cấu xã hội, chưa chiếm đa phần đất đai, họ chỉ chiếm những những thành thị lớn và màu mỡ.

để đến năm 640 về sau thì Lí Thế Dân cho khai phá giang nam, khai phá cả vùng Lĩnh nam.

Các đời sau tiếp tục như thế, dân Hán tràn xuống đông hơn quân nguyên do người Hán dã hồi phục, dân Việt chỗ này còn lạc hậu và ít người thì lúc này vùng này mới bị đồng hóa gần như hoàn toàn trừ lưỡng quảng đồng hóa được 1 phần.

Để vậy thì sau này muốn lấy đất cạnh tranh về dân số ngày càng khó,có khi bị đồng hóa ngược một số vùng rồi mất nước.

Uy 2 Bà Trưng và các tướng lĩnh vẫn còn, uy bà Triệu vẫn còn ở nơi đó, đền thờ còn nhiều, vẫn lấy được, mặc dù dành cho con cháu chiếm nốt nhưng không phải cái gì cũng theo kế hoạch được, luôn có biến số.
Mùng 2 bắt đầu các nhà sang nhà thăm nhau chúc Tết, Bân cũng bận rộn từ sáng tới tối các bô lão kéo theo gia đình , con cháu tới thăm hỏi.

Khi đi chỉ có ít trầu cau, khi về thì mang theo đống quà bánh, nước ngọt của hắn, có vẻ như mục địch của họ và bọn trẻ con lúc này chỉ có vậy,kể cả hộ vệ nhà hắn.

Vì vậy mà Tết này nhà nào có bánh kẹo ngon hơn mật ong rừng tiếp khách thì chứng tỏ nhà đấy thân phận cao trong căn cứ.

Trẻ con mấy nhà có bánh kẹo Tết này lại có 1 đống đàn em đi sau đến từng nhà xin tiền mừng tuổi.

Đứa nào được hắn cho mấy tờ giấy bạc Cụ Hồ là mang lên treo rước bàn thờ tổ tiên trong nhà mà cúng, hãnh diện hơn hẳn với xóm làng.
Hắn cũng không biết rằng hiện tại ở nhà hắn thế giới kia thì hà hắn cũng đang thắp hương cho hắn trên cái bàn thờ có di ảnh của hắn.

Lúc hắn xuyên không thì chỗ đó có vụ nổ lớn, nguyên nhân ban đầu hắn không tìm thấy thi thể được cơ quan chức năng xác định là do nổ tan xác.

Hắn cũng không biết 1 điều là khi hắn bị tai nạn và xuyên không xong đã tắt ngúm năng lượng không còn khả năng xuyên tiếp, chỗ đó tập trung nhiều người dân hóng và công an thì có kẻ đánh bom chỗ đó.

Hắn tính ôm bom cảm tử thì bị 1 đồng chí CSGT đứng chắn không cho người dân xông vào hiện trường phát hiện đẩy hắn ngã đúng chỗ Bân xuyên cách đây vài chục phút.

Bùm 1 tiếng, người ta chỉ nhận tìm được 2 cẳng tay, 2 cẳng chân và đầu kẻ cho nổ bom còn Bân thì ngoài bộ quần áo rách nát dính máu thịt, 1 ít tóc của hắn thì không còn lại gì.

Vì vậy người ta kết luận rằng hắn nổ banh xác, 1 số phần vụn thì chắc bị cá ăn, vì cá cũng xông vào chỗ nổ đớp thịt vụn khá nhiều.

Người nhà hắn khi hạ huyệt thì bên trong cái tiểu có bộ quần áo dính máu, 1 ít tóc và 1 chai thủy tinh có chứa nước và bùn chỗ hắn xuyên.
Thủ phạm vụ nổ cũng được tìm ra nhanh chóng, ngoài trình độ công an tốt, tình báo cơ sở cực tốt do các camera chạy bằng cơm , công an xác định vụ nổ do tổ chức kh*ng b* v**t t*n đứng sau.

Khám xét bất ngờ chỗ mấy tay này ở thì phát hiện nhiều tài liệu, máy tính, điện thoại, tiền mặt, ngoài ra còn bắt được thêm 5 tên, tên chết do nhiễm HIV giai đoạn cuối chuyển sang AIDS không sống được 1-2 tháng nữa nên tình nguyện đánh bom cảm tử.

Nguyên liệu thì từ các hóa chất và phân bón dễ dàng mua từ các chợ hóa chất, kip nổ thì từ kip mìn phá đá mua chợ đen.

Vì vậy sau vụ này Việt nam siết chặt quản lý nó, nhiều tổ chức buôn bán bị phá và bắt giữ.
Sang mùng 3 Tết, hắn có họp bàn với các Bô Lão và nhiều người trẻ tuổi làm chỉ huy họp về việc thăm nom ngày Tết với mấy bản Mường và những làng nghèo.

Hắn quyết định phải làm nhanh trong vài ngày tới trước mùng 6-8 phải xong.

Không là quân Tùy đi bắt phu thu thuế là lỡ hết kế hoạch.

Mọi người tất bật chuẩn bị trong 1 ngày, lại rồng rắn kéo nhau đi.

Ở căn cứ hắn đã thông báo cho mọi người, nếu bị tấn công thì cố gắng phòng thủ, kéo dài 1 ngày chờ hắn về, nên hắn đã cho người ở đây mấy chục dàn hwacha mà thằng khựa kia có.

Mũi tên bọc thuốc nổ có cả đống, cố gắng đặt tại các vị trí cao, thuận lợi, mặc dù Bân biết 99% không có việc gì xảy ra, nhưng cẩn thận vẫn hơn, hắn dẫn 100 lính, trong đó có 30 đặc công và 70 lính thường .
Làng Bồ hiện tại chỉ dùng vũ khí cũ, kho muối và gạo đã được hắn hướng dẫn dân đào hầm ngụy trang trang cất dấu.

Trâu giống mới đã được mang về, giờ chỉ còn 20-30 con giống cũ.

Đoàn người của Bân đang từng bước đi kết nối các làng, thu hút làng người Mường để thực hiện 1 ké hoạch lớn thay đổi cả lịch sử thế giới .
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 28: 28: Đến Luc Thực Hiện Kế Hoạch Lớn


Hôm nay hắn đến bản Mường, Việt Mường là 2 dân tộc chung 1 gốc, có thể gọi họ là 1 nhánh của tộc Bách Việt.

Sau này 1 người sống vùng đồng bằng và tếp xúc với người Hán và nhiều dân tộc ngoại lai khác.

1 bên sống vùng núi với các dân tộc vùng núi nên chia tách hành 2 dân tộc khác nhau.

Hôm nay Bân lên thăm Bản Mường, các bản có hoa đào đón Tết với các ché rượu cần nhâm nhi.

Tết đến cả bản như ngày hội, nô nức vui đùa, Hôm nay hắn đi gặp Lang của bản.

Lão Phần giưới thiệu:
-Thưa chúa công, đây là ngài Phạm Trí, lang của bản này, còn đây là ngài Phạm Hưng Lang của bản bên, 2 vị là 2 anh em ruột.

Ngài Phạm Trí, Phạm Hưng đây trước kia cũng là người theo phò Triệu Việt Vương đánh quân Lương.

Khi đánh đuổi xong thì Triệu Việt Vương phong cho 2 ngài làm lang 2 bản.

Họ cũng đã được tôi cho biết chúa công.

Ngày xưa lúc lão Lương cứu công tử thì 2 vị đây cũng dẫn quân đi ứng cứu.
Bân cũng chắp tay noi:
-Ô! không ngờ tôi gặp ở đây 2 vị anh hùng đất nước, anh hùng dân tộc, tôi có sống dc đến ngày hôm nay cũng nhờ 2 vị.
Phạm Trí thở dài nói:
-Công tử nói quá lời chứ tôi có đóng góp gì mấy đâu.

Chỉ làm tròn bổn phận mình với quốc gia, dân tộc mà thôi.

Nhưng khổ nỗi sức tàn lực kiệt, hiện giờ nước nhà trong tay ngoại xâm, lòng tôi đau như cắt.
Lão vừa nói vừa rưng rưng nước mắt khi biết nước nhà trong tay ngoại xâm.

Lão tiếc xương máu bao nhiêu người, trong đó có nhiều người là anh em, bạn bè, họ hàng của lão.

Thế mà chỉ vì bị dọa mà đã vứt bỏ hết, Lí Nam Đế có sống lại cũng phải chu di tam tộc Lí Phật Tử.

Bân nói:
-Phạm Trí, Phạm Hưng các ông đừng xúc động quá mà ảnh hưởng tới sức khỏe.

Nước mất rồi thì ta đi tìm lại hình bóng đất nước.

Nước bị cướp rồi thì ta đi đòi lại, tiện thể đòi chút lãi từ bọn xâm lược, cho bọn chúng chết người 10 năm mới khôi phục được.

đánh cho chúng không dám mò mẫm đến chúng ta, đánh cho chúng thấy ta là chạy như dân Hán sợ mỗi lần các bộ tộc phía bắc sông Hoàng Hà mang theo người ngựa đánh xuống.

Đám đấy còn lạc hậu hơn dân mình nhiều mà bọn chúng vẫn đánh cho dám người Hán phải quỳ bò bao lần, phải xây vạn lí trường thánh mà phòng thủ, dân ta chả nhẽ không được.
2 lão Trí ,Hưng mặt mày kích động mà thầm nghĩ: đúng ha, nó cướp thì mình giành lại có gì là sai đâu.

Lúc này mấy lão mới nhìn bân bằng con mắt khác,1 đứa trẻ chưa trưởng thành có 1 ánh mắt quyết tam kiên định ôm 1 hoài bão to lớn.

Qua cuộc nói chuyện với Lão Phần từ trước thì nó nói lên cách cục của toàn thiên hạ, con đường phá triển của cả 1 đát nươc, cả 1 dân tộc.

Có cái nhìn cực kì khác biệt với người đương thời , thậm chí với nhiều học giả uyên bác người Hán.

Có nhiều thần khí nhưng không tự cao làm nhanh chóng mà cố gắng phát triển bản thân, phát triển thế lực.

2 lão mong rằng nếu như ngày xưa Triệu Việt Vương quyết đoán hơn trong việc tiêu diệt Lí Phật Tử, với người cháu này thì chưa chắc dã mất nước.

Nhưng tạo hóa trêu ngươi ha.

Họ lại nhìn đống quà tặng tết của Bân cho họ,nó quá quý giá.

Lưu ly trong suốt, muối trắng tinh, gạo trắng, dường trắng tinh.

Toàn những thứ họ chưa nó tốt và có hình dạng như vậy bao giờ.
Họ đã nhen nhóm ý định khởi nghĩa rất lâu rồi, giờ đã có điều kiện cần để khởi nghĩa.

Bân nói với họ là điều cần thôi, nhưng chưa đủ, bởi vì họ cần có 1 cuộc chiến với nội bộ đoàn kết chứ không phải 1 đám cát rời.

vì họ không chỉ chống Người Hán thời điểm hiện tại mà còn chống lại những cuộc xâm lược tiếp theo sẽ diễn ra trong thời gian ngắn sau khi giành lại được độc lập.

Nhất là các cuộc chiến trong nội địa vùng Trung nguyên đang vào giai đoạn khốc liệt nhưng cũng là giai đoạn cuối cùng này.

Cuộc nội chiến này không phải vì quân đội chúng yếu đi mà là do tranh chấp chính trị trong nước, quân đội cascc quốc gia sau thời kì nhà Tấn vẫn rất mạnh, không có dấu hiệu suy giảm như thời các triều đại phong kiến sau nhà Đường.
Ngày quân Tùy bắt phu thu thuế cũng đến chúng kéo người rầm rộ đi qua các làng, lính trấn chỉ giữ 1 nửa để canh phòng.

cCòn lại chia ra 50 người 1 nhóm đi thu thuế và đọc chiếu lệnh trong vòng 1 tháng nữa các làng phải tập trung dân phu về trấn để hầu việc quan, mỗi làng tùy theo dân số mà dẫn số người tương ứng.

Các quan lần này chỉ lấy đàn ông trẻ khỏe không lấy phụ nữ vì bọn chúng biết được rằng chiếm được Lâm Âp lúc đấy thiếu gì đàn bà, chưa kể còn là quý tộc, vương phi nhan sắc không tệ nữa.

Vì vậy cần bọn dân phu trẻ khỏe để vác chiến lợi phẩm về.

Làng Bồ và làng nghèo kia đã được Ban cảnh báo và cung cấp lương thực nên họ đã nộp thuế bằng lương thực cho các quan lại người Hán.

Mấy vị quan thu thuế kia thấy lạ vì sao đám này đợt này nộp thuế kinh thế, trước kia kì kè mãi mới được ít thóc, giờ nộp cả đống với lí do năm nay được mùa lớn.

Năm nay khỏe rồi, quân lương không phải lo, lại còn có cái đút túi.

Đến khi nói về chuyện đi phu thì cái vùng trường yên này tự dưng nhiều làng xin người không đi phu mà dùng trâu bò nộp.
Có làng bảo nhắm được đàn trâu rừng, có làng bảo năm nay thú rừng phát triển tốt nên xin nộp tiền thay phu, làng thì bảo năm nay được mùa nên có mua thêm trâu, làng thì bảo trâu cái trong làng đều có thai nên đã có nghé , bỏ trâu đi cũng được, vụ mùa sau trâu cày được rồi.

Thế là 1 nửa cái vùng này phía nam do trấn trưởng quản lý được lính kéo theo nhiều trâu bò, lương thực về, con trai đi phu khá ít.

May cái trâu bò kéo xe chở khỏe hơn người nhiều, khi hết chiến tranh còn bán được mớ tiền nên tuy giảm người nhưng số lượng trâu bò tăng thì cũng được thôi.
Các làng của Bân có rất ít thanh niên đi phu vì hắn cần tin tình báo trong đội phu này.

Ngoài ra với số vàng hối lộ mà hắn đưa cho lão Phần thì hắn cũng được 1 slot các đoàn thương nhân đi cùng đoàn quân để tiêu thụ hàng hóa cho đoàn quân này.

Các thương nhân đều coi chiến tranh là cơ hội hốt tiền.

tiền mà quốc gia nội tại chi chỉ chiếm 2-3 phần thôi, chủ yếu tiền bạc 7-8 phần còn lại là từ những thứ đoàn quân này cướp đc từ nước bị xâm lược.
Quân đôi các nước cũng cho đoàn thương buôn này theo để giảm gánh nặng hậu cần như số người quân lính và dân phu chở theo.

Bạn thử nghĩ bây giờ với mang 1 hòm có 100 lạng vàng bạn mua được bất kì thứ gì tương đương với 30 xe hàng hóa mà không phải chuyên trở, lính hậu cần thành lính chiến.

So với việc bạn phải mang 30 xe hàng hóa cho quân đội, bạn cần lính bảo vẹ, dân phu, lương nuôi báo cô, dó là ngân sách khổng lồ nhiều hơn cả cái hòm vàng kia đánh sập kinh tế cho bất kì quốc gia nào thời phong kiến .
Tháng 3 âm lịch, lúc này Bân nhìn thấy cảnh di chuyển quân đội thời phong kiến.

Trùng trùng điệp điệp, cả dân phu lẫn quân lính, lính có 3 vạn mà mang 2 vạn dân phu.

Bân biết số lượng dân phu này là khá ít vì theo nhiều ghi chép lịch sử các triều đại TQ, VN, HQ thì số lượng dân phu thường xấp xỉ số quân, nghĩa là 1 lính có 1 dân phu mang hộ đồ theo, còn không toàn bằng và lớn hơn số lính.

Như thế này để đảm bảo tốc độ hành quân trong thời kì mà các nước đồng văn thiếu vật cưỡi và chỏ đồ trầm trọng do còn phải phục vụ sản xuất và di chuyển trong nước.

Chuyến này ít dân phu do khoảng cách gần, số lượng trâu bò tăng, Lâm Ấp sức mạnh quá yếu và có đội ngũ thương nhân đông cả vạn người đi theo sau tháp tùng.

Lưu phương đã được Bân trong thấy , qua máy ảnh room chỉnh nét, hắn đã chụp ahr toàn bộ tướng lĩnh của cánh quân này do bọn hạ ngoài đi đầu còn có quân phục cũng như mũ khác biệt.

Hắn sẽ phát cho nhân viên thông qua máy làm ảnh siêu tốc của dân chụp ảnh dạo, máy ép plastic và dùng những cái này để điều tra từng đưá, cũng như tham chiếu cho lính bắn tỉa sau này tiêu diệt bạn này trên chiến trường và ám sát.

hắn muốn có ảnh của toàn bộ quan lại, cũng như đám tai to mặt lớn đất giao châu này đẻ tiện hành động.
Đoàn quân lầm lũi đi theo sau có cả lão Phần.

Hắn đặt mục tiêu cho lão là cố gắng mua người nhiều nhất có thể.

Vàng hắn cho nung chảy và đúc lại khuôn vàng theo mẫu nhà Tùy rồi, bạc cũng vậy, khá nhiều đủ cho lão bay nhảy.

Cố gắng mua thật nhiều người trong đợt này, lập căn cứ,người thì của cả các làng và trại không thiếu để hướng dẫn dân vùng này.

Nhiều người thuộc tầng lớp timnh hoa của các trại , làng, kể cả trại mới thu phục cũng được dẫn theo, tuy không đông nhưng làm chỗ trú chân trước , sau đó sẽ chuyển dần người vào và cho những người bị bắt ra ngoài này.

Lúc này hắn mới thấy công lớn của Thị Vân khi sau bao năm giáo dục , hắn có rất nhiều người biết chữ để đưa vào trong nam làm nhiệm vụ.

Hắn đã viết 1 sanh sách các vùng trong nam từ Thanh Hóa đến Huế những vùng nào có mỏ khoáng sản thiết yêu và quan trọng mà vùng này mà thằng Khựa kia sưu tập bằng chữ quốc ngữ và kí hiệu hóa học để không ai có thể hiểu được trên những mảnh da dê giao cho lão Phần.

Đến vùng nào để lại người nào thì trao mảnh da dê cho họ để họ có thẻ lập căn cứ hoặc vùng biển lập làng.
Mọi Việc đã xong chỉ đợi lão Phần cho người báo về nữa thôi.

Bân cho lập các chạm truyền tin trong phạm vi các máy truyền tin giọng nói thiết lập.

lamg thế để giữ bí mật và truyền tin nhanh nhất.

Hắn sẽ cố gắng trong thời gian nhanh nhất đào tạo các mật mã viên theo mã dos để tăng khoảng cách và giữ bí mật tuyệt đối nhất.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 29: 29: Thế Cục Và Phương Hướng Phát Triển


Trong tháng 2 âm lịch Lưu Phương bắt đầu đi qua các tỉnh phía nam, dân phu, quân lính các châu huyện phía nam cũng phải góp người, góp của.

Lưu Phương biết kiểm soát triều đình nhà Tùy thời Tùy Văn Đế, Tùy Dạng đế hiện thời rất mạnh.

Tuy nhiên, về danh nghĩa, Giao Châu cũng như các quận khác của nhà Tùy, trực tiếp phụ thuộc chính quyền trung ương.

Nhưng trên thực tế, như lời thú nhận của vua Tùy Văn Đế, châu Giao chỉ là đất "ràng buộc lỏng lẻo".

Vì là con cáo già chốn quan trường nên hắn biết trời cao hoàng đế xa, chỉ cần không tạo phản thì tại đây Lưu Phương hắn vẫn là hoàng đế không ngai.Không phải ngẫu hứng mà hắn trình kế hoạch Tùy dạng đế đánh chiếm Lâm Ấp với lí do rất viển vông “nghe nói đất đấy lắm của quý nên mang quân đến chiếm”.

Hắn chỉ muốn hợp thức hóa việc mở rộng lãnh thổ quản lý của mình mà thôi.
Lưu Phương biết thời đại này đang rất loạn, chả biết khi nào mới có người thống nhất thiên hạ, Nhà Tùy không biết có sụp ko nên cứ giữ cho mình 1 mảnh đất cắm dùi lập nghiệp.

Biết đâu đấy khi nhà Tùy loạn hoặc sụp thì hắn chính là hoàng đế đất này, lúc đó khia triều lập quốc cũng không phải không thể.

Chính vì vậy mà hắn cố gắng tập trung đoạn thời gian này xây dựng lực lượng, mở rộng lãnh thổ của hắn.

Nếu nhà Tùy còn và nhất thống thiên hạ thì hắn vẫn không sao cả, vẫn làm hoàng đé không ngai và công thần triều Tùy.

Nếu nhà Tùy sụp thì hắn sẽ làm vua 1 nước, có cơ sở xây dựng vũng chắc, mặc kệ bên kia đánh nhau tưng bừng, hắn có thời gian xay dựng lực lượng đẻ giữ được quốc gia hắn lập cho con cháu.
Tùy dạng đế không phải thằng ngu, 1 loạt chiến tích chiến trận sụp đổ hàng loạt quốc gia lẫn mưu quyền đoạt vị các anh em của ông ta và ông ta lên ngôi Hoàng đế thì không bao giờ có chuyện người như vậy ngu cả.

Đến ngay lịch sử TQ và cả lịch sử nhà Đường cũng không chê trách tài năng của ông ấy, họ chỉ chê trách sự tàn bạo, xây dựng các đại công trình cũng như quá ham chiến trận và thói ăn chơi xa xỉ của ông ấy khiến dân trong nước lầm than.

Không ai có thể phủ nhận tài năng quân sự cũng như chính trị hay tầm nhìn tương lai khi cho xây các đại công trình hay các trận chiến của ông ấy cả.

Ông ấy sai là do ông ta và cha ông ta muốn hoàn thành mục tiêu thế kỉ , thậm chí vài thế kỉ chỉ trong triều đại của ông ta và cha ông ta mà thôi.
Tùy Dạng Đế hiện nay cân 1 người có thể ổn định thế cục vùng mới chiếm giao chỉ nên vẫn cần có Lưu Phương.

Mà Lưu Phương cũng không có biểu hiện phản loạn nên hắn ta vẫn đc tại vị và tiếp tục cống thuế tài nguyên, vàng bạc ở đất Giao Chỉ giàu có cho kế hoạch vĩ đại của ông ta.

Chủ trương của nhà Tùy là thiết lập chế độ trung ương tập quyền, không phong cho tông thất và công thần, chỉ chuyên dùng quan lại cai trị.

Chính vì thế mà Tùy Dạng Đế không sợ kẻ nào làm phản, vì quan lại toàn người của triều đình điều xuống.

Tuy nhiên dó là quan lại cấp cao còn quan lại cơ sở thì chưa chắc.
Quay trở lại đội quân Lưu Phương, trên đoạn đường dài vài trăm km với cái con đường xấu và tăm tối như cuộc đời chị Dậu này luôn có những người đến buôn bán, tiếp tế hàng hóa cho đám thương nhân cũng như quân đội.

Họ là những tay chân các thương buôn để lại các châu huyện để buôn bán, ko 1 ai để ý đến đoàn thương buôn của lão Phẩn mỗi khi đi qua 1 châu , 1 huyện nào đó là lại vơi đi chục người và 1 vài xe hàng hóa.

Lão có mang nhiều hàng hóa, tuy nhiên với vài trăm người của lão thì cũng chỉ là thương buôn nhỏ so với đoàn người đi cả vạn kia.
Lão Phần mang nhiều nhất là tiền và vàng, bạc vì đơn giản các binh sĩ sau khi cướp được thì mang đồ quý giá đổi thành vàng bạc cho gọn nhẹ.

Chỉ trừ 1 số thứ quý giá nhưng nhỏ như trang sức nhỏ, hoặc tấm lụa đẹp chỉ hoàng tộc, quý tộc dùng muốn mạng về tặng mẹ hoặc vợ thì họ sẽ mang theo, còn đồ khác đổi thành vàng bạc hết.

Ngoài ra lão cũng mang nhiều xe hàng hóa vật tư với số lượng trâu bò lớn để cho những người ở lại có cái đảm bảo sinh tồn trong thời gian mua người và chiêu mộ lập căn cứ.
Lão Phần biết điều này, các đội thương buôn kia cũng biết điều này nên họ mang hàng hóa chủ yếu làm ăn cho nhu cầu quân đội còn lại cũng chuẩn bị cả đống tiền để đổi, sau đó mang lên Long Biên hoặc nhà Tùy thì lãi nhẹ 3-4 lần, nặng gáp 10.

Người bọn họ mang đông ngoài hộ vệ và vận chuyển ra thì cũng là còn để mở của hàng đóng chân vùng mới chiếm cũng như tiện thể cướp luôn cho lũ hộ vệ càng trung thành.
Lão Phần theo dặn dò chúa công mỗi 1 điểm khoáng sản, mỗi điểm có thể lập làng làm muối, làm cảng buôn lậu thì để lại 10-20 người.

Mỗi nhóm đều có 1-2 người biết dùng chữ quốc ngữ, nhiệm vụ của họ là đọc những gì ghi trên cuộn da dê và dạy cho những người khác.

Đồng thời lão cũng dặn dò họ chờ đợi và tìm hiểu tình hình khoảng 2-3 tháng thì nhóm thứ 2 tiếp viện sẽ xuất phát.

Nhiệm vụ của họ là học chữ, tìm hiểu địa hình, làm thân với dân chúng và tìm trí như trên bản ghi.

Sau 6 tháng họ có thể về nhà 1 tháng sau đó lại vào tiép, chúa công hứa nếu cần có thể cho vợ con họ vào đấy luôn nếu căn cứ được xây dựng hoàn chỉnh.
Đầu tháng 3 đại quân đã đến được biên giới, người khổ nhất lúc này là những người Việt vùng này nhất với những người con gái chưa chồng.

Làng nào phàn kháng thì bị diệt và bắt những người còn sống làm nô lệ, làng không bị diệt thì xác định toang bộ con gái từ 13 tuổi trở lên bị bắt, những người có chồng con hoặc góa bụa thì đc tha.

Người hiện đại cỏ vẻ như khá là lạ vì họ nghĩ gái nào cả là gái, trong quân lâu có đàn bà là đc đâu cần quan tâm xem còn hay mất.
Tuy nhiên vào thời Phong kiến hay cổ đại, các vị thống lĩnh quân đội thường có 1 tục lệ bất thành văn là trước khi đánh trận hay bước vào trận chiến hoặc chiến dịch lớn thì họ thường tìm 1 cô gái còn trinh ngủ qua đêm để giải xui.

Nếu như mà động vào đàn bà mất trinh rồi thì xẽ bị xui tận mạng , ra chiến trường sẽ bị chét đầu tiên, khả năng không về với mẹ cực cao.

Quan niệm này còn tồn tại đến thời chống Mỹ khi bộ đội kháo nhau rằng trước khi vào chiến trường mà tý toáy với đàn bà thì vào thằng nào chết thằng đấy.
Lâm Ấp trong giai đoạn 572 - 605 lúc này có vua là Phạm Phạn Chi (Sambhuvarman).

Sambhuvarman đăng cơ vào năm 572, sau khi cha ông là Rudravarman I băng hà.

Dưới sự thống trị của Sambhuvarman, xã hội Lâm Ấp đạt tới thịnh vượng, văn hóa của nó bắt đầu lan tỏa khắp Đông Nam Á.

Như phải trả giá cho sự hưng vượng, Lâm Ấp trở thành miếng mồi ngon mà các nước lân cận thèm thuồng.
Vào năm 598, nhà Tùy viện cớ Sambhuvarman xao nhãng việc tuế cống để khởi binh tiến đánh.

Quân lực ít ỏi lâu ngày không thao luyện của Sambhuvarman khó kháng cự nổi đạo quân hùng hậu của từ phương bắc.

Nhà Tùy đô hộ Bắc phần của Lâm Ấp (tương ứng khu vực Thừa Thiên trở ra Bắc), cất đặt quan thứ sử Ôn Phóng Chi và đại tướng Giao Tuấn để trấn thủ, lại chia xứ này thành ba lãnh địa Đảng Châu, Nông Châu, Xung Châu.
Tháng 3 năm Đại nghiệp thứ nhất tức đàu hè năm 605 cuộc chiến Tùy – Lâm ấp lần 2 chính thức bắt đầu, quân Tùy do Lưu Phương dẫn đầu, quân Lâm Ấp do vua Phạm Phạn Chi (Sambhuvarman) dẫn đầu.

Quân Lâm ấp cũng mắc lỗi sai lầm cố hữu của người Việt và lỗi tai hại cũ khi họ mắc phải khi đánh với quân Tùy lần 1.

Họ chỉ nghĩ lần 1 thua do quân ít và lười huấn luyện nhưng họ quyên 2 vấn đề chính, 2 vấn đề đó là đánh nhau dàn trận chính quy với người Hán và thủ thành trì.

2 thứ này thì người Hán là vô địch thiên hạ, chưa kể về mặt vũ khí, trang bị thì người Hán cũng hơn hẳn quân Lâm Ấp.

Chưa kể người Hán cao to hơn người Lâm Ấp nhiều, người Việt càng xuống phía nam thể hình càng nhỏ, nhưng bù lại sự linh hoạt và nhanh nhẹn lại tăng vọt.

Khổ nỗi Lam Ấp lúc này lại áp dụng phương thức chiến đấu phù hợp thể hình người Hán, mặt sở trường kinh nghiệm của họ, thế mạnh của Lâm Ấp lúc này chỉ có đội tượng Binh.

Vì vậy mà trong thời gian ngắn vài tháng Lưu Phương dánh bại Lâm ấp trong năm 605.
Ất Sửu năm605, Tùy Dạng Đế Quảng, Đại Nghiệp năm thứ 1,mùa xuân, tháng giêng.

Vua Tùy bèn cho Phương làm Hoan Châu đạo hành quân tổng quản, đi kinh lược nước Lâm Ấp.

Phương sai bọn thứ sử Khâm Châu là Nịnh Trường Chân đem quân bộ và quân kỵ hơn một vạn xuất phát từ Việt Thường.

Phương thân dẫn bọn đại tướng quân Trương Tốn đem thủy quân xuất phát từ quận Tỷ Cảnh (huyện của nhà Hán, thuộc quận Nhật Nam; nhà Tùy đặt quận Tỷ Cảnh).

Tháng ấy quân đến cửa biển.

Tháng 3, vua Lâm Ấp là Phạm Phạn Chi sai quân ra giữ nơi hiểm yếu, bị Lưu Phương đánh tan chạy.

Quân của Phương qua sông Chà Lê.

Quân Lâm Ấp cưỡi voi lớn từ bốn mặt kéo đến, quân của Phương đánh không lợi bèn đào nhiều hố nhỏ, phủ cỏ lên trên, cho quân khiêu chiến, đang đánh giả thua chạy.

Quân Lâm Ấp đuổi theo, voi phần nhiều ngã nhào, nhốn nháo kinh hãi, quân trở nên rối loạn.

Phương cho dùng nỏ bắn voi, voi lùi chạy, xéo giẫm vào hàng trận.

Phương nhân đó cho quân tinh nhuệ đuổi theo.

Quân Lâm Ấp thua to, bị bắt, bị chém kể hàng vạn.

Phương tiến quân đuổi theo, mấy trận đều được cả, qua phía nam cột đồng Mã Viện, đi tám ngày nữa đến quốc đô Lâm Ấp.

Mùa hạ, tháng 4, Phạn Chí bỏ thành chạy ra biển.

Phương vào thành lấy được 18 bộ thần chủ trong miếu đều đúc bằng vàng (tức là 18 đời vua), khắc đá ghi công rồi về.

Binh sĩ thũng chân, mười phần chết đến bốn năm phần.

Phương cũng bị ốm, chết dọc đường.

Chiến tranh Lâm Âp – Tùy chính thức khép lại với Phần thắng thuộc về nhà Tùy.
Tuy nhiên, Thủ đô thất thủ, quốc gia Lâm Ấp diệt vong, vua Sambhuvarman quyết bỏ kinh đô chạy ra biển xuôi thuyền vào Nam.

Tại địa phận nay là tỉnh Quảng Nam, ông dựng lại một quốc gia mới, sự kiện này được sử Champa và Việt nam sau này gọi là Biệt lập kiến quốc.

Sambhuvarman hạ lệnh gấp rút xây tân đô Simhapura( thành phố Sư Tư) nay là Trà Kiệu, cạnh sông Thu Bồn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, lại đặt tên nước là Champa, theo tên một loài hoa đẹp mọc nhiều ở Nam Trung Bộ và ngỏ ý khai sáng thời đại mới.
Chiến báo bay về tới tấp tới cho Bân.

Hắn biết kết quả này sẽ xảy ra, vì trong năm 605 đã tiêu diệt Lâm ấp nhưng nòng cốt và 1 tỉnh vẫn còn.

Không phải Lưu Phương không muốn tiêu diệt đám này mà hắn còn có 2 nguyên do,.

1 là không đủ quân vì số lính dàn trải bảo vệ vùng chiếm được đã quá nhiều, chưa kể còn phải phòng thủ Giao Chỉ vì hắn mang rất nhiều quân bố phòng ở đay đi.

Nếu như đám này khởi nghĩa vì tàn quân Lí Phật tử rất nhiều nên không thể khống chế cục diện được.

Thứ 2 là hắn muốn để 1 cây đinh phương nam để nhà Tùy tiếp tục thêm quân và thêm tiếp tế, vẫn để hắn giữ chức vì không ai hiểu phương nam này bằng hắn.

Như vậy hắn vẫn có thể cát cứ 1 phương 1 cách hợp pháp.
Bân biết sự việc không êm đẹp như vậy, vì trên đường đánh Lâm Ấp quay về, Lưu Phương mắc bệnh chết.

Sau khoảng 10 năm từ khi mất cố đô Kandapurpura, thừa thế nhà Tùy suy yếu, Sambhuvarman phát động một chiến dịch nhằm thu hồi các lãnh địa phương Bắc và thành công.

Tức là lúc nhà Tùy suy yếu sau cuộc chiến với Cao Câu Ly, Lâm ấp đã tiếp tục bành trướng lãnh thổ về phía Nam, vốn là nơi cư trú của các bộ lạc Cau.

Tuy nhiên bọn chúng vẫn nuôi dưỡng ý định đánh lên phía bắc chiếm lại đất cũ, phải đến nhà Trần mới lấy lại được qua cuộc hôn nhân lịch sử vớ sính lễ 2 châu Ô, Rí để mở đường vào nam của người Việt.

Nói cách khác là chính Vua Chiêm Thành lấy đá đập vào chân mình khi chỉ nghĩ lấy 2 châu chó ăn đá gà ăn sỏi, tiêu điều do chiến tranh vùng đệm của 2 nước suốt bao đời.

Nó là lắ chắn tự nhiên với địa hình hiểm trở , vùng đệm chiến lược để người Việt danh chính ngôn thuận tiến xuống nam mà có hậu phương vững chắc, ổn định.
Vậy tức là Bân có 10 năm để làm tất cả mọi việc để thuần phục được phía Bắc Miền Trung, nơi sẽ làm bàn đạp đánh lên phía bắc.

Sau Lưu Phương, đến Khâu Hòa được cử làm đại tổng quản,năm 618, nhà Đường lật đổ nhà Tùy, lập ra nước Đại Đường.

Khâu Hòa xin thần phục nhà Đường năm 622, Việt Nam thành thuộc địa của Đại Đường.

Nếu tiến theo đúng tiến trình lịch sử thì Khâu Hòa sẽ là Thái thú đứng đầu Phủ Đô hộ Giao Chỉ để cai trị Việt Nam.

Giao Chỉ Vẫn chia làm 3 quận Giao chỉ, Cửu chân phía Ninh Bình tới Hà Tĩnh, Nhật Nam là các quận mới chiếm được, chính thức tái lập lại quận Nhật Nam mất hồi còn nhà Hán.
Bân biết sau này Thái thú Cửu Chân là Lê Ngọc, Thái thú Nhật Nam là Lý Giáo.

2 quận này dân cư thưa thớt ít có người Hán ở đây, toàn là người Việt, 2 nơi này là địa bàn lí tưởng để thiết lập căn cứ.

Bân không có nhiều thông tin về 2 nhân vật này vì lịch sử Việt Nam lẫn Trung quốc nhắc đến khá ít, thông tin rất hiếm.

Vì 2 người này không thuộc thành phần quan trọng , Khâu Hòa còn nhắc nhiều vì hắn đứng đầu đất Giao Châu, có thẻ coi là 1 thế lực cát cứ trước triều Đường nên còn ghi.

2 vị kia chỉ là thuộc cấp và không có gì nổi trội nên chỉ ghi vài dòng vắn tắt, muốn biết rõ hơn có khi phải sang Trung quốc tra lại lịch sử và dòng họ, mà không biết dòng họ này còn không nữa.
Quá nhiều biến số, quá nhiều việc phải làm, Nhật Nam có thể còn dễ vì địa bàn mới, người Hán không có cơ sở nhưng Cửu Chân thì hơi mệt vì người Hán ở đây đã lâu, tuy ít nhưng nhân mạch là cắm rễ,thế lực các bên được xác lập.

Nhất là Lê Ngọc, ở Nhật Nam mới chiếm thì Lý Giáo có thể để thả cửa nhưng Lê ngọc tồn tại ở Cửu Chân lâu như vậy ắt hẳn là 1 con cáo già.
1 con cáo già cực kì nguy hiểm vì tại địa bàn của hắn trong lịch sử từ khi quân Tùy xâm lược đến lúc đầu hàng quân Đường thì không có cuộc khởi nghĩa nào diễn ra.

Tức là hắn giao tế tốt với các thế lực cường hào người Việt tại địa bàn và thu thuế nhẹ, không làm người dân nổi dậy Khởi nghĩa.

Không chỉ thế khi tại vị đến lúc nhà Đường nổi lên thì Thái thú Cửu Chân là Lê Ngọc có vợ là người Việt cùng các con xây thành lũy kháng cự nhà Đường mới thay nhà Tùy.

Tới năm 622, Khi Khâu Hòa đầu hàng nhà Đường thì Lê Ngọc cùng Thái thú Nhật Nam là Lý Giáo lúc này chỉ còn 1 phần nhỏ đất do bị Chiêm Thành chiếm cũng quy phục nhà Đường.

.

Điều này có nghĩa là hắn được lòng người dân vùng này.

Tuy nhiên lúc này, Lê Ngọc mới làm thái thú Cửu Chân được 2-3 năm nên chưa có được lòng dân như thời cuối nhà Tùy và nhà Đường.

Tất cả vẫn còn qua cơn bĩ cực thiết quân luật, truy sát người của Vạn Xuân cũ, Lê Ngọc cũng chưa làm gì để có lòng dân ở đây nên hoàn toàn có thể làm trái luật nhiều thứ.
Bân biết những điều này khi hắn tìm hiểu đọc các tài liệu về cuộc bắc thuộc của người Việt thông qua niềm yêu thích lịch sử cũng như tranh luận trên mạng.

Hắn đang lên kế hoạch trong 10 năm chiêu hàng Lê Ngọc hay giết tên này, vì hắn không biết Lê Ngọc là người Hán từ phương bắc xuống làm quan hay là người gốc Hán sinh sống nhiều đời ở Giao Chỉ bị đồng hóa như Lí Nam Đế.

Vì khi cưới vợ là người Việt hắn là người duy nhất xây thành lũy chống quân Đường, trong khi Lý Giáo và Khâu Hòa chỉ chăm chăm vơ vét rồi đàu hàng.

Điều này Bân cần điều tra kĩ, nhà Tùy đặt ra Phủ Đô hộ Giao Chỉ để cai trị Việt Nam.

Chủ trương của nhà Tùy là thiết lập chế độ trung ương tập quyền, không phong cho tông thất và công thần, chỉ chuyên dùng quan lại cai trị.

Chính vì thế mà quan lại vùng Giao Chỉ này là quan bổ nhiệm từ trung ương không liên quan gì đến công thần hay tông thất quý tộc.

Vì Vậy hắn đang cố gắng cho người điều tra kĩ thông tin người này, thông qua việc điều tra mua thông tin từ tầng lớp quan lại, thương nhân , để xem xét việc lôi kéo hay tiêu diệt.
Năm 605 khi trên đường hành quân về Lưu Phương bệnh mà chết.

điều này gây xáo trộn cả vùng Giao Chỉ.

Nhưng đối với Bân thì không vì hắn đã biết trước, các đợt người tiếp tế gửi đi sớm hơn, tiền vàng mang nhiều hơn, cả thủy tinh luôn.

Lưu Phương chết đã để lại khoảng trống quyền lực ko nhỏ cho hệ thống quan lại cũng như quân sự.

Bân lợi dụng điều này để thu lợi hết sức có thể.

Chủ tướng chết, các tướng lĩnh ko ai quản lý nên cũng tận thu chiến lợi phẩm, các đồ quý giá và vàng bạc của hoàng cung định trước gửi triều đình ko đc động nhưng các đồ dân gian thì thoải mái, tù binh, nô lệ thì thoải mái.
Năm 606,Các con người được được cử đi các vùng đã có báo cáo về bằng văn bản đầy đủ.

1 số vị trí khoáng sản như mỏ sắt, đồng, vàng, đá vôi ở thanh Hóa, Nghệ An.

Một số vùng mà bân biết thời chống Pháp có lập làm căn cứ kháng chiến, bây giờ có người tìm được.

Ngoài ra , Lão Phần có mua 1 lượng lớn nô lệ , trẻ mồ côi trong cuộc chiến, mua đến cạn cả tiền để có nhân lực phục vụ.

Đợt 2 với những người có tri thức hơn đến để phụ giúp cũng như tiếp tế đã đến, số người đông hơn lần trước.

Cuộc mua bán nhân sự và thu nhặt dân bị cuộc chiến làm mất nhà cửa nơi nương tựa cũng được lão Phần thu dụng.

Thu đén cạn lương phải báo về gấp, May mà đợt 2, 3 và đợt 4 có mang người và lương thực cũng như tiền bạc để cầm cự và thu nhận người tiếp.

Để thành công hơn, đợt 2, 3 lần này Bân cho mang 1 số quả cầu thủy tinh trong suốt để hối lộ quân Tùy và Lưu Phương để hắn cho Lão Phần danh ngạch mua nô lệ nhiều nhất có thể.
Số lượng tiếp tế này làm căn cứ và các trại giảm dân số rõ rệt,tuy nhiên tất cả đều đáng giá.

Khi mà trong cuộc thu mua nô lệ, tù binh, thu nhặt lưu dân lần này có rất nhiều người tài giỏi của Lâm Âp từng làm việc trong các cong xưởng triều đình cũng như dân gian nằm trong đây.

Họ đều là người Việt cả, nói và hiểu tiếng Việt, nhiều người nói được cả tiếng Phạn, bản sắc Việt chưa mất.

Bân đã may mắn có được điều này, hắn ra lệnh đưa dân vào các vùng chỉ định, đưa dân về các vùng mà họ quen nhưng phải khó người để ý, vỗ về dân chúng, ch họ ăn uống đàng hoàng, cho họ công việc tạm thời để lấp bụng đói, cho họ tránh xa đám người Hán.
Tháng 6 hắn sẽ vào mấy vùng này, hắn sẽ học trùm phát xít Hittler về chủ nghĩa dân tộc và cách diễn thuyết đầy cảm động và đi vào lòng người của kẻ đã vực dậy cả 1 dân tộc, 1 đế chế khiến cả thế giới khiếp sợ.

Hắn đi đến tất cả những nơi như Thanh- Nghệ- Tĩnh , Bình- Trị - Thiên khơi gợi lòng tự hào dòng máu Việt.

Hắn cần làm như Hittler là kết nối toàn đất nước khi bị chia thành nhiều thành bang thành chỉ 1 dân tộc Đức với thuyết người Arian xa tắp mù khơi.
Hắn cũng cần cần vực dậy tinh thần của họ những người Việt đã tách khỏi nước Âu Lạc hay thời kì Hùng Vương cũ khi bị người Hán Xâm lược là tất cả họ đều là người Việt, 1 dân tộc thần thánh và anh hùng, vực dậy họ trong cơn bĩ cực còn thê thảm hiện trạng nước Đức sau Thế chiến I.

Với đám người thuộc đất Lâm Ấp cũ phải Làm họ quên đi Lâm Ấp, làm họ chỉ coi Lâm Ấp là 1 quốc gia của người Việt tách ra khi người Hán chiếm đóng.

Các người đứng đầu Lâm Ấp xưa không chịu đồng hóa người Hán nên đám quý tộc đấy đã bỏ tổ tiên mà học người Ấn đồng hóa.

Hắn phải đề cao xuất xứ gốc Việt của họ, dạy họ biết dân tộc Việt có nền văn hóa, văn minh rực rỡ cỡ nào.

Coi những kẻ quý tộc, hoàng tộc Lâm Ấp kia cũng là những kẻ phản bội văn hóa dân tộc Việt, để tránh Hán Hóa ma chọn nền văn hóa khác đồng hóa mất di bản sắc dân tộc.

Để khi 10 năm sau đám kia đánh lên thì sẽ bị những người này đuổi về phương nam.
Đó chính là lí do vì sao từ lúc đoàn người này đi, hắn điên cuồng đào tạo nhân viên ở các trại mới chiếm và người căn cứ cũ.

Hắn cũng hằng ngày đứng trước gương và xem video , sách về Lenin, hitller, phát xít đức và các nhà diễn thuyết để học cách diễn thuyết cũng như nội dung diễn thuyết của mình làm sao cho biểu cảm , dễ hiểu, dễ nghe , dẽ đi vào lòng người.

Hắn cũng xem nguyên bộ phim : “Thank You for Smoking 2005” về nghề thuyết khách.

Hắn cũng học Hitller về việc đọc, viết, sửa bản cuốn sách “ cuộc tranh đấu của tôi” của mình ngay tại sân nhà tù để đọc cho mọi người nghe.

Hắn thì đọc tại sân làng, chỗ huấn luyện quân đội về bản thuyết trình của mình, các sĩ quan quân đội, nhân viên, binh lính nghe hắn đọc hàng ngày.

Họ bị tiêm nhiễm, họ nghe hắn say sưa.

Khi hắn kết thúc bản nháp cuối cùng thì hàng tràng pháo tay hoan hô của tất cả mọi người dân làng đang đứng xung quanh nghe hắn nói trước đống lửa đêm trước khi hắn vào Nam.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 30: Chương 30


Bâm bắt đầu di chuyển về phía nam, đêm hôm qua hắn sực nhớ: “Năm 598, nhà Tùy chiếm đóng Lâm Ấp và phân chia thành ba châu: châu Hoan (Tỷ Cảnh), châu Ái (Hai Âm) và châu Trong (Khương)”.

Giờ hắn có thể hiểu 1 phần vì sao Lí Phật Tử lại đầu hàng quân Tùy, Lí Phật Tử cũng không nhát như hắn tưởng tượng và mọi người nghĩ.

Năm 598 quân Tùy chiếm phía bắc Lâm Ấp, phần đất bị quân Tùy chiếm năm 605 chỉ là phần phía nam với hơn nửa nước Lâm Ấp lúc trước trong đó có kinh đô.

Lâm Ấp giờ còn đúng 1 tỉnh Quảng Nam mà thôi.

Bắc Lâm Ấp cũng tương đương với nam Vạn Xuân, bị vào thế kìm kẹp 2 đầu phía bắc và quân phía nam kéo lên thì thảo nào Lí Phật Tử dồn quân trong mấy thành trì tạo thế chân vạc rồi phải buộc đầu hàng.
Ở tình thế như vậy khá là khó thắng với tình hình Vạn Xuân hiện tại và với trình độ quân sự của Lí Phật Tử và đám tướng lĩnh giỏi mưu sâu chính trị nhưng khả năng quân sự ko bằng.

Đúng là lúc quân Tùy mang quân đánh Lâm Ấp phía bắc thì Lí Phật tử phải điểu quân xuống đánh hỗ trợ Lâm Ấp để tránh khỏi sau này vào thế gọng kìm, tất nhiên nếu là Lí Nam Đế và Triệu Vương thì họ sẽ hỗ trợ Lâm Ấp hết sức có thể , tiếc là lúc này người đứng đầu nước ta lại là Lí Phật Tử.

Điều này thời nhà Trần làm rất tốt, cộng với tài năng của Hưng Đạo Vương thì có lúc nước ta bị gọng kìm nhưng vẫn thoát được.

Khi Lâm Ấp bị dánh bại năm 598 thì lúc này Lí Phật tử chính thức bị bao vây mặt năm và chỉ chờ khi có đủ điều kiện thuận lợi là năm 602 cho quân phía Bắc dánh xuống là xong.

Lí Phật tử lại mắc các sai lầm chiến lược cố hữu về quân sự nên thất bại.
Nhưng từ thông tin này cho thấy, người hán bắt đầu xuống dưới phía bắc Lâm Ấp đã được 8 năm, người Hán xuống dưới đây không nhiều nhưng tâng lớp thương nhân đã xuống khai phá rồi.

Tuy nhiên nhân mạch không nhiều, người Việt vẫn là đa số, nhờ 8 năm đã bi chiếm trước nên lúc này các tỉnh bị chiếm cũ không loạn, có loạn chỉ loạn các tỉnh mới chiếm.

Bân đau đầu nhất là vùng kinh đô Lâm Ấp, càng về nam thì văn hóa người Việt càng phai nhạt và càng bị Ấn Độ hóa.

Quan trọng nhất là kinh đô cũ Kandapurpura của Lâm Ấp cũ hay Chiêm Thành mới , dân cư trong thành bị Ấn độ hóa rất cao, vì các tầng lớp tinh hoa , quý tộc,tu sĩ bị đồng hóa mạnh nhất đều tập trung ở đây.

Tuy đã chạy về phía nam hoặc chết hết nhưng dân cư ở đây bị ảnh hưởng cực kì nặng, các vùng ngoài kinh đô vẫn bị ảnh hưởng về cả ngôn ngữ lẫn văn hóa.
Dọc đường Bân nhìn thấy hàng dài người dân phu lẫn quân lính Tùy kéo nhau trở về cùng với hàng dài tù binh và nô lệ.

Ngoài ra nhiều người là thương nhân chở các cũi nô lệ, người dân thường Lâm Ấp lũ lượt kéo nhau về quê hương cũ khi hết chiến tranh.

Nhiều ngời chết dọc đường, chết đói có, chết vì giặc cướp có, chết vì chém giết nhau có.

Chiến tranh suốt gần 1 năm qua, vùng Lâm Ấp không cày cấy được gì, lương thực hết bị cướp, rồi bị phá hủy,lương thực dự trữ hoặc mang theo lúc chạy nạn cũng đã hết hoặc bị cướp.

Người chét đói nhiều, trẻ con lang thang mồ côi cha mẹ cũng tụ tập với nhau thành băng đảng để bảo vệ, đứa nào bơ vơ có khi bị bắt cóc để ăn thịt hoặc bán.

Thời hiện đại có người nói : sao không săn thú hoặc ăn cây cỏ.

Xin lỗi săn thú không có vũ khí thì ngoại trừ mấy con nhỏ ra nhưng không phải ai cũng săn được, ma người thì đông, săn xong có khi bị cướp.

Săn con to thì khác gì bồi mạng lại khi không có vũ khí.

Người cổ đại có thể chạy dc chứ người hiện đại chắc chết cả đám.
Việc Bân phải xuống Nam ngoài việc lên dây cót tinh thần cho đám người và tập hợp quần chúng thì hắn phải đẩy nhanh tiến độ.

Hôm nọ, trước khi đi 1 thời gian hắn có xem lại đống sách vở thì hắn thấy 1 đoạn lịch sử về thời Bắc thuộc lần 3 trong Đại Việt sử kí toàn thư có Viết :
-Mậu Dần 618, (Đường Cao Tổ Lý Uyên, Vũ Đức năm thứ 1).

Mùa hạ, tháng 4, Thứ sử Khâm Châu là Nịnh Trường Chân đem đất Uất Lâm và Thủy An phụ theo Tiêu Tiển.

Thái thú Hán Dương là Phùng Áng đem đất Thương Ngô, Cao Yếu, Châu Nhai, Phiên Ngung phụ theo Lâm Sĩ Hoằng.

Tiển và Sĩ Hoằng đều sai người sang chiêu dụ Thái thú Giao Châu là Khâu Hòa, Hòa không theo.

Tiển sai Trường Chân đem quân Lĩnh Nam đi đường biển đến đánh Hòa.

Hòa muốn đón hàng, Tư pháp thư tá là Cao Sĩ Liêm bảo Hòa rằng: "Quân của Trường Chân tuy nhiều, nhưng quân cô từ xa đến, lương thực ít, tất không thể cầm giữ lâu, quân giỏi trong thành cũng đủ đương được, việc gì mới nghe hơi đã vội chịu theo người".

Hòa nghe theo, lấy Sĩ Liêm làm Hành quân tư mã, đem các doanh thủy bộ đón đánh, phá tan quân.

Trường Chân chỉ chạy thoát một mình, quân lính bị bắt hết.

Hòa lại đắp tử thành (tức thành nhỏ bên trong thành), chu vi 9 trăm bước để chống giữ.

Đến khi nhà Tùy mất, Hòa hàng phục nhà Đường.

Vua Đường sai Lý Đạo Hựu mang cờ tiết sang cho Hòa làm Giao Châu đại tổng quản , tước Đàm quốc công.

Hòa sai Sĩ Liêm dâng biểu xin vào chầu.

Vua Đường xuống chiếu sai quân đi đón.
Bân sợ rồi, vậy là sớm hơn hắn nghĩ, mà vùng hắn ở lại là Giao châu, còn Cửu Chân và Nhật Nam thì đi sau.

Điều này cũng cói nghĩa khi Tùy dạng Đế bị bắt lên làm thái thượng hoàng cũng là lúc hắn dâng biểu xin thay Khâu Hòa.

Bước ngoặt cuộc chiến này là lúc nhà Tùy thất bại trong cuộc chiến với Cao Câu Ly.

Hắn cần làm gấp vì hắn hiện giờ còn 12 năm, 12 năm vừa xây dựng lực lượng khắp cả nước với diện tích có thể tương đương với Việt Nam hiện đại, nhưng cả địa phận Việt Nam và TQ, vừa đào tạo con người, vừa tạo cơ sở vật chất nhưng được cái người không đông bằng nên dễ quản lí.

Việc của Bân bây giờ là lên dây cót tinh thần, giải quyết nạn đói, giảm số trẻ em chết thấp nhất vì chúng là chiến binh tương lai khi trưởng thành và sinh đẻ thêm người.
Bân ra lệnh cho Chí , con của Thị Vân rằng:
-Ngươi cho người thu nhận tất cả những đứa trẻ mồ côi, những gia đình đang nằm vạ vật bên đường lại.

Ai có nhà để về không muốn đi thì kệ họ, cho ít lương, ai không còn nhà thì dẫn theo.
-Trẻ con thì đứa nào còn người thân thì hỏi xem có muốn thu nhận ko, họ không đồng ý thì thôi, đứa nào mất hết người thân thì mang về theo chúng ta.

Liên hệ với người của ta tại đây để tiến hành thu nhận.
Chí nói:
-Rõ thưa chúa công.

Tôi cũng muốn thu nhận tất cả những người này vì thấy họ khổ quá , nhất là trẻ con.

Tiếc rằng chúng ta lực mỏng không cứu được hết.
Bân nói:
-Không cứu được hết cũng phải cứu, nhận số người nhiều nhất có thể, thậm chí đoàn người của ta ta chỉ cần vài chục người ở lại còn lại tiếp tế, thu phục nạn dân.

Đồng bào cả, không bỏ được, chúng ta sau này đuổi quân Tùy về nước không phải cũng vì lí do này sao.

Đã không làm được mấy việc này thì đừng mong đòi lại nước..

Mau cho người xuống đi, chúng ta đi chậm 1 chút cũng chẳng chết ai.
-Nếu như được thì cho anh em ở lại hỗ trợ các vùng mà chúng ta có người từ trước ,chúng ta đang thiếu người, hỗ trợ anh em lúc nào đc thì hỗ trợ, cố gắng cứu nhiều người nhất có thể.

Tý nữa ngươi mang hết lương thực đi và cầm tiền mua lương từ chỗ đấm thương nhân và bọn quân Tùy đang về, chúng ta cần nhiều lương để thu nạn dân.

Ta chỉ cần mấy chục anh em đi cùng là được, còn lại cho mọi người hỗ trợ các phía, khi ta về thì sẽ dẫn các ngươi về.
Cuộc cứu trợ đã kéo dài chuyến đi thêm vài ngày, Bân cũng nói chuyện với các nhân viên của mình đang ở địa bàn mới này, nắm sơ bộ tình hình, dặn dò và đưa họ thêm vàng và chỗ lương hắn mang theo cho họ để cầm cự.

Tiện thể hắn cũng nhắc nhở có thêm người trong đoàn của hắn ở lại để hỗ trợ trong 1 tháng với mọi người, khi hắn về sẽ đón những người hết hạn xa nhà đợt này về.
Tối hôm cuối cùng hắn ở căn cứ cuối cùng ở xứ nghệ đi phát cháo cho mọi người, bên trong có băm thịt hươu hôm nay mới săn.

Hắn nhìn bà con lũ lượt lê thê, nhiều người phân phát lạ hoắc tay có đeo băng đỏ chứng minh là nhân viên của hắn,hắn nghĩ chắc là hàng tuyển thêm trong số các nạn dân.

Những người này trông mặt mũi hồng hào chắc được thu nhận từ đợt đầu nên mới có sức sống, những người đến trong 1 tuần đổ lại trông lếch thếch như những con zombie.

Mọi người ăn uống nhiệt tình vì trong bát chaops không chỉ có thịt còn có thêm cả rau lót thêm.
Căn cứ mới đã được xây dựng ở biển Cửa Hội, nó không phù hợp làm bãi tắm nhưng làm bãi thuyền thì Ok, đã thế còn bí mật, không ai biết vì vùng này hoang sơ.

Bân chọn nó cũng vì lí do này, vừa làm baiox buôn lậu kín đáo, vừa làm nơi làm muối mà chả ai biết.

Hắn cần mua chuộc quan viên lúc loạn lạc này để tiện làm ăn.

Ngoài ra quan quân người Hán chỉ cần có tiền và hàng cho chúng thì mội việc OK,miễn không làm phản là được, lập làng thì tốt quá, có thêm thuế má.
Thời Tùy Dạng Đế, năm 607 lại đổi châu thành quận.

Các quận đều thuộc chính quyền trung ương.

Dưới đây là chi tiết các quận thuộc Giao châu thời thuộc Tùy.
-Quận Giao Chỉ
Quận Giao Chỉ: gồm có 9 huyện, 30.056 hộ:
Tống Bình (đặt quận trị Giao Chỉ tại đây từ thời Tùy Dạng Đế): là quận Tống Bình thời thuộc Lưu Tống, tức là một phần huyện Long Biên đời thuộc Tấn được tách ra.

Vị trí được xác định là phía nam sông Hồng và sông Đuống, gồm trung tâm Hà Nội và các huyện Hoài Đức, Thường Tín (Hà Nội), Thuận Thành (Bắc Ninh), Khoái Châu (Hưng Yên).
Long Biên: trừ đi phần đất đã tách ra để lập quận Tống Bình, phần còn lại của huyện Long Biên là huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
Chu Diên: được xác định vị trí ở tỉnh Hải Dương và huyện Tiên Lữ (Hưng Yên).
Long Bình (trước là Vũ Định, đời Tùy Văn Đế đổi tên mới): được xác định tương đương vùng đất miền sông Đáy thuộc Hà Nội (Hà Tây cũ), Hòa Bình và Hà Nam
Bình Đạo (trước là Quốc Xương, đời Tùy Văn Đế đổi tên mới): được xác định vị trí tại huyện Đông Anh (Hà Nội)
Giao Chỉ: được xác định ở phía tây Hà Nội, trên đường Sơn Tây
Gia Ninh: được xác định ở miền Việt Trì, Phú Thọ
Tân Xương: được xác định vị trí tương đương huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
An Nhân (trước là Lâm Tây, đời Tùy Văn Đế đổi tên mới): được xác định vị trí tương đương tỉnh Yên Bái
-Quận Ninh Việt
Tương đương miền đông bắc Việt Nam hiện nay và một phần Khâm Châu thuộc Quảng Tây (Trung Quốc).

Không rõ các huyện và số hộ khẩu.
-Quận Cửu Chân
Quận Cửu Chân nhỏ hơn quận Cửu Chân thời Bắc thuộc lần 2, chủ yếu là các huyện thuộc Thanh Hóa hiện nay.

Chi tiết gồm 7 huyện, 16.135 hộ:
Cửu Chân: tách huyện Di Phong trước đây lập ra và đặt quận trị tại đây; được xác định vị trí ở huyện Đông Sơn và huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Di Phong: phần còn lại của huyện Di Phong cũ, được xác định vị trí là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Tư Phố: được xác định vị trí tương đương huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Long An: là huyện Kiến Sơ thời thuộc Ngô và Cao An đời thuộc Tấn; được xác định vị trí tương đương huyện Hoằng Hóa và Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Quân An: được xác định vị trí tương đương miền huyện Thiệu Hóa và Yên Định tỉnh Thanh Hóa, ở giữa sông Chu và sông Mã
An Thuận: là huyện Thường Lạc đời thuộc Tấn; được xác định vị trí tương đương huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa
Nhật Nam: được xác định vị trí tương đương các huyện Hà Trung, Thạch Thành, Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

-Quận Nhật Nam
Quận Nhật Nam thời thuộc Lương và Tiền Lý là Đức châu, Tùy Văn Đế đổi thành Hoan châu, sau gộp cả Minh châu và Lợi châu (mà Lương Vũ Đế tách) vào trở lại với Hoan châu thành quận Nhật Nam.

Như vậy quận Nhật Nam thời thuộc Tùy được dịch chuyển lên phía bắc, gồm một phần quận Cửu Chân và cả quận Cửu Đức thời Tam Quốc và Lưỡng Tấn, không bao gồm huyện nào thuộc quận Nhật Nam các thời trước.
Nhật Nam (mới) gồm có 8 huyện, 9.915 hộ:
Cửu Đức (đặt quận trị ở đây): được xác định vị trí tương đương các huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn tỉnh Nghệ An
An Viễn: Được xác định vị trí tương đương huyện Thanh Chương, Nghệ An về phía hữu ngạn sông Lam
Quang An: trước là Tây An, Tùy Văn Đế đổi tên này.

Được xác định vị trí tương đương huyện Tương Dương, Nghệ An về phía tây bắc huyện Thanh Chương.
Hàm Hoan: được xác định vị trí tương đương các huyện Anh Sơn, Nam Đàn tỉnh Nghệ An (đã thu hẹp so với thời thuộc Hán vì cắt đất để lập các huyện khác).
Phố Dương: được xác định tương đương thời thuộc Ngô và thuộc Tấn, là huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh và Nghi Lộc tỉnh Nghệ An.
Việt Thường: được xác định là tương đương thời thuộc Ngô và thuộc Tấn, tức là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Kim Ninh: tức Lợi châu thời thuộc Lương và Tiền Lý, thời Tùy Văn Đế đổi thành Tri châu, đến Tùy Dạng Đế bỏ châu.

Được xác định vị trí tương đương huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh
Giao Cốc: thời thuộc Lương đặt Minh châu, sau bỏ.

Được xác định vị trí tương đương huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh
-Quận Tỷ Ảnh
Năm 605, Tùy Dạng Đế đánh Lâm Ấp, chiếm đất đặt ra Đãng châu, sau đổi thành quận Tỷ Ảnh.

Quận này được xác định vị trí ở tỉnh Quảng Bình.
Quận Tỷ Ảnh gồm có 4 huyện, 1.815 hộ: Tỷ Ảnh, Chu Ngô, Thọ Linh, Tây Quyển.

.
-Quận Hải Âm
Tùy Dạng Đế đánh Lâm Ấp, chiếm đất đặt ra Nông châu, sau đổi thành quận Hải Âm.

Quận này được xác định vị trí ở tỉnh Quảng Trị.
Quận Hải Âm gồm có 4 huyện, 1.100 hộ: Tân Dung, Chân Long, Đa Nông, An Lạc.
-Quận Tượng Lâm
Tùy Dạng Đế đánh Lâm Ấp, chiếm đất đặt ra Xung châu, sau đổi thành quận Tượng Lâm.

Quận này được xác định vị trí ở Thừa Thiên, giới hạn ở phía bắc đèo Hải Vân.
Quận Tượng Lâm gồm có 4 huyện, 1.220 hộ: Tượng Phố, Kim Sơn, Giao Giang, Nam Cực.
-Bộ máy cai trị
Cũng như các triều đại cai trị Việt Nam trong thời Bắc thuộc lần 2, nhà Tùy duy trì cơ cấu quan liêu cai trị gồm Thứ sử đứng đầu Giao châu, tại các quận có Thái thú và Đô úy, dưới các huyện có các Huyện lệnh.
Chính vì thế mà Bân cần lợi dụng sự hiểu biết về hành chính này mà cho người của mình leo lên các vị trí hành chính.

Chưa kể cần sắp xếp lại tên gọi địa lý trên bản đồ mới, để cho người của hắn chủ động dễ xử lý.

Sau khi chiếm đc cả nước thì sau đợt tấn công đầu tiên thì hắn sẽ chuyển đổi lại để làm thay đổi bộ máy hành chính, khu vực hành chính cũng như sau này bản đồ của quân Đường có cũng vô tác dụng, trừ bản đồ khu vực nhỏ.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 31: 31: Thành Qủa Của 1 Năm Đợi Chờ P1


Chuyến di chuyến đã đến điểm cuối cùng.

Bân dự tính cho thời gian chuyến đi này là 1 năm ,khi trong 1 năm này hắn đã đào tạo được khá nhiều nhân sự, tuy mới là dạng sơ cấp nhưng nhiều người thông minh và được Thị Vân cũng như các bô lão đào tạo từ trước nên có trình độ văn hóa khá cao.

Tất cả chỉ phải học chữ mới , một số kiến thức mới nên những người này được đào tạo khá nhanh và chuyển đi công tác bên ngoài luôn.

1 số người được Bân cho học mã mos và quy định bảng chữ dùng cho mos riêng biệt trong 1 hoặc vài cuốn sách.

Bân bắt buộc phải đào tạo họ vì địa bàn của họ lúc này quá xa , bộ đàm quân sự cũng không dùng được nên bắt buộc phải có máy điện tín.

Máy điện tín Bân dùng là enigma của quân đức quốc xã và máy điện tín bộ gõ, không phải vì lí do bảo mật như trong chiến tranh mà là vì nó nhỏ gọn, dễ cất dấu, sau này hắn sẽ cho người nghiên cứu chế tạo từ máy đời đầu đến eniama nhưng có vẻ sẽ khá lâu, nhưng hiện tại không có thời gian.

Máy enigma quá hiện đại so với thời này để chế tạo nhưng dạy người dùng vẫn được vì học cách sử dụng luôn dễ hơn học cách chế tạo, một người có bằng cấp 2 hoặc 3 có thể học được cách sử dụng nó.
Thằng cha người Mãn kia thế mà nhờ những chiếc máy enigma thu được thời chiến tranh thế giới 2.

Hắn đã mở 1 công ty ma ở HAITI đặt hàng 1 công ty của Mĩ để làm bản thiết kế máy enigma, máy gõ, sau đó đặt hàng bên trung quốc 1 loạt phụ tùng theo mẫu cho 1 công ty TQ rồi chuyển về xưởng Haiti lắp ráp.

Vì Vậy mà trong cái đai có rất nhiều máy enima cũng nhưng các phụ tùng thay thế của nó.
Vậy là hắn mất thời gian từ năm 605- đầu 606 ngoài việc dạy dỗ các kiến thức mới về y học, khoa học tự nhiên, xã hội và giúp mọi người chữa bệnh, trồng trọt tăng năng suất và chăn nuôi các loại giống như bò vàng, bò sữa, trâu, dê , lợn công nghiệp.

buổi tối lúc 8h hắn dành 2-3 tiếng để chỉ dạy cho các nhân viên có đầu óc và nhanh nhạy nhất mà hắn nhìn có thể học môn khó nhằn này,học mã mos và cách sử dụng máy truyền tin từ các bản đời cũ cũng như mô hình enigma.
Bân biết máy mã mos do bố hắn dạy 1 chút để khoe con cái, hắn có lên mạng tìm hiểu và học cách sử dụng nó để truyền tin với mấy thằng bạn thân cùng lớp khi có giờ kiểm tra, mỗi thằng chỉ cần 1 môn giỏi,kiểm tra 1 môn thì mỗi thằng học 1 đoạn là ok.

Giờ hắn đã học nằm lòng cách truyền tin mã mos.
Cuối cùng sau hơn 1 năm miệt mài dạy học thì người của hắn có thể sử dụng thành thạo mã mos và có thể gõ chữ cúng như đánh máy.

Tất nhiên sử dụng với tốc độ thần sầu của lính thông tin trong các cuộc chiến tranh của người hiện đại là không thể nào, người lính truyền tin tính bằng cả trăm từ mỗi phút.

Vì trên chiến trường cuộc sống, tính mạng, quyết định then chốt chiến trường tính bằng phút bằng giây, chưa kể kinh nghiệm được truyền dạy lại qua nhiều thế hệ, người dạy lại cho tân binh có trình độ rất cao.

Việc người của hắn đạt đến trình độ này cần thời gian, giáo viên truyền dạy cũng là con gà mờ nên tốc độ như hạch.
Nếu bảo 1 cựu chiến binh việt nam thời cuộc chiến bảo vệ Biên giới Tây Nam, hay chiến tranh chống Mĩ, CTTG 2 thì người ta cười ỉa vì mày đánh tốc độ chậm như rùa, mày đánh xong chắc quân địch giết hết quân mình rồi.

Cố đánh lắm suốt thời gian qua nhưng đánh được tốc độ trung bình thấp.

Hiện tại hắn và nhân viên thông tin của mình đang nhận và gõ điện báo để báo cáo và thu báo cáo từ căn cứ để xem xét tình hình.

Chuyến này hắn có khả năng đi hơi lâu nên cần phải cóp thông tin đi theo liên tục với máy phát điện bằng tay.
Bân hiểu đạo lí sướng trước khổ sau 1 năm thay đổi rất nhiều thứ , mặc dù các công trình khoa học không có nhưng cũng làm thay đổi nhiều trong cuộc sống của người Việt tại căn cứ và các làng bản quy phục.

Trong 1 năm này lợi dụng quân Tùy lơ là cảnh giác do không đủ người vì mang quân đánh Lâm Ấp và cũng như sự nhốn nháo với các đoàn quân đi về, cũng như niềm tin chắc rằng đã bình định xứ này.

Sóng ngầm bắt đầu chảy khi hắn chuẩn bị cho chuyến đi này.
Hắn biết 1 điều Mĩ, Anh, Đức quốc xã, Nhật, TQ hiện đại, Liên Xô hoặc Nga làm bá chue thế giới hiện đại không có gì thoát khỏi ngành tình báo.

Chính vì thế hắn cũng cố gắng với lão Lão Lâm xây dựng nó, lúc này trống người nên hắn cố gắng lo lót cho những người của mình vào từ những vị trí thấp bé.

Đừng nghĩ những vị trí thấp bé là vô dụng vì những thông tin cần kíp đều từ nó mà ra, nó lại khó phát hiện, chi phí xây dựng rất thấp, nbos được rất nhiều cơ quan tình báo từ cổ đến hiện đại sửu dụng.

Ai có tài thì từ từ vị trí thấp bé đi lên vị trí cao lúc đấy sẽ không bị nghi ngờ, còn không thì cứ ở vị trí thấp nhưng thu nhặt những thông tin bên lề hay thông tin mật giới hạm người xem nhưng lại có thể từ đó điều tra kế hoạch lớn.
Trong hơn 1 năm này hắn cố gắng nhất có thể do có nhiều việc, hắn cũng cố gắng vài năm mệt nhọc và đào tạo nhân sự thay mình làm những việc lặt vặt và 1 số việc lớn.

Sau đó, dễ thở mà sống vì hắn còn quá bé, nếu làm việc nặng nhọc thế này tim hắn không chịu nổi.

Lại giống Nguyễn Hiền trạng nguyên trẻ nhất Việt nam tí tuổi đầu nhưng lại làm chức quá cao,.

Lượng công việc khổng lồ vắt kiệt sức lực của ông, 13 tuổi trạng nguyên , 18 tuổi thượng thư 1 bộ , cuối cùng chết bất đắc kì tử năm 21 tuổi chỉ trong ít năm ngắn ngủi cống hiến.

Do phát huy quá sớm cũng như sức khỏe không cho phép, tý tuổi đầu làm đủ việc lớn như đắp đê, đi sứ, đánh giặc,nếu như ông tầm 18 tuổi mới ra triều làm quan thì có khả năng sẽ không chết sớm như vậy.
Bân không muốn vào vị trí đó, hắn cần sống thọ ít nhất cũng được như thế giới hiện đại người Việt.

Chính vì thế hắn cố gắng làm việc và sinh hoạt điều độ, luyện tập hợp lí, may mắn thời này không khí trong lành không ô nhiễm cũng với đống đồ hiện đại thì chắc hắn sẽ để cho hắn và con hắn sống thọ.
Trong căn cứ và các trại và làng mới thu phục ngoài 1 số vị trí trồng lúa giống cũ ra thì còn lại dùng toàn giống mới.

Vụ mùa bội thu, 3-4 tháng thu hoạch 1 lần, sản lượng cao ngoài giống lúa còn có cách canh tác mới, ngoài ra còn công cụ bằng sắt, sản lượng tăng hơn 3 lần.

Bân cùng người của mình đi khắp các vùng mình quản lý, tìm hiểu đời sống, chữa bệnh , bắt các cách sinh hoạt mới.

Phân phát trâu bò giống mới để nuôi , tiện thể xem các chỗ có làm đúng như hắn chỉ dẫn về chuồng trại không.

Chưa kể còn có lợn lai kinh tế và gà hắn mới chỉ cho lợn là căn cứ, 2 trại thu phục và 2 bản Mường nuôi.

Vì mấy chỗ này có sự bí mật và dễ tập trung để sản xuất số lượng lớn , còn gà thì thoải mái.

Mọi công việc diễn ra thuận lợi, chỗ lúa cũ thì mang nộp thuế, lúa mới dùng để ăn và tiếp tế cho các khu vực mở căn cứ mới.

Hắn cần vùng hậu cần ổn định để sản xuất quân lương và trang bị vì nó là thứ then chốt hắn phục quốc sau này.
Ngoài ra các xưởng mộc và luyện thép cũng có những bước tiến đáng kể.Người Việt thiếu sắt nhưng không thiếu đồng, thực sự sắt luyện từ quạng thiếu vô cùng thiếu vô cùng.

Nền công nghiệp của người Việt trong thời gian trăm năm có lẽ có chút khởi sắc từ sau khi nhà Tấn bị phân chia ra thời kì thập quốc nhưng thực tế vẫn là đi sau người Hoa Hạ.

Nền công nghiệp lạc hậu tiểu thủ công không thể đám ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Không nói sắt chỉ nói đồng thôi, nếu hiện tại chỉ dùng cho sản xuất đồ dùng và đồ thủ công mĩ nghệ thì ok.

Tuy nhiên nếu sang chiến tranh và lập quốc thì con số đó không đủ vì còn phải chế tạo vũ khí như áo giáp, phụ kiện vũ khí, đúc tiền.

Đó là con số khổng lồ, đó là lí do vì sao mà Hồ Qúy Ly và các triều đại phong kiến các cuộc chiến tranh người Việt họ phải bắt đổi tiền và phá tượng phật, đồ thờ cúng cũng như dồ gia dụng để đúc súng, đạn pháo.

Đó mới là đồng thôi đấy , sắt còn kinh khủng hơn nhiều
Đất Việt Nam thiếu mỏ sắt, không hề,Việt Nam là một vùng rộng lớn với nhiều tài nguyên.

Riêng mỏ sắt được phát hiện trải dài từ bắc vào nam lãnh thổ Việt Nam.

Quặng sắt là không thiếu nhưng sắt tinh luyện thành phẩm lại thiếu thốn vô cùng.

Đây là vì công nghệ nung rèn kim loại của người Việt lúc này vẫn còn thua người Hán, thua ở quy mô, thua ở công nghệ, thua ở quản lý và tổ chức.

Dẫn đến người Việt thiếu thiết nghiêm trọng, đó cũng là lí do mà các triều đại sau nhà Tấn của họ Tư Mã nới lỏng lệnh cấm sắt cho người Việt.

Vừa tăng sản lượng quặng sắt khai thác, lại có thằng làm công đoạn nung rèn thô cho mình, về đến đất người Hán thì rèn lại tý là xong, bớt bao nhiêu nhân lực mà vẫn có nhiều thép phục vụ cho mình, ngu gì không làm.
Quan sát lò nung quặng sắt của xưởng vẫn chỉ là các lò lẻ được đắp bằng đất, cao lanh cao tầm 1m đường kính 40-50cm.

Mỗi lò như vậy cả công tác chuẩn bị và đốt thì cả tuần mới cho ra được 10-15 kg sắt gọi là non.

Tuy nói có hiện đại hơn lò thép sử dụng của triều đại nhà Hán hay Tam Quốc nhưng còn lâu mới bằng người Hán bây giờ.Vì chiến tranh và để đáp ứng nhu cầu nên họ đã cải tiến khá nhiều trong vài trăm năm qua.

Nói trắng phớ là hiện tại công nghệ người Việt rất lạc hậu so với họ, cho dù dựng cả chục cả trăm lò như vậy thì tốc độ vẫn là rất chậm.

Thêm vào đó chất lượng sắt của mỗi lò là không đồng đều, có lò may mắn chất lượng tốt, lò không đúng chất lượng tồi, tạp chất nhiều.

Công việc loại bỏ tạp chất bằng rèn gò lại tốn rất nhiều công đoạn và thời gian, chưa kể họ còn cho các phụ phẩm vào để tăng độ cứng của sắt vốn đã đầy tạp chất.Bân quyết tâm phải cải biến tình hình này, công nghiệp hóa hiện đại hóa không thể thiếu đi sắt thép cơ bản.

Nếu không giải quyết được nguyên liệu sắt thép thì hắn đừng mong nghĩ tới những điều khác.
Tiểu thuyết mạng xuyên không bên Tàu thì Bân cũng có đọc qua nhất là các loại về quá khứ, không nói đến hiệu ứng cánh bướm nhưng những quả phát kiến khoa học chỉ bằng lời nói thì thật là vãi chưởng.

Các nhân vật hiện đại cứ xuyên về là xây dựng lò cao luyện thép sau đó sẽ thành công và bá chủ.

Nhưng khi Bân chính thức bắt tay vào thiết kế và chuẩn bị một dây truyền luyện thép thì hắn mới biết được rằng các tiểu thuyết gia thực sự là viễn vông và lười nhác.
Không phải cứ xây dựng một cái lò thật bự sau đó ném than , quặng sắt vào thì kết quả sẽ cho ra thiết tinh.

Kẻ nào nghĩ chuyện này đơn giả thì đó chính là thằng ngu, thằng đần.thách thằng nào dám đứng cạnh mấy cái lò đấy, đảm bảo sẽ bị nổ lò và đi về lòng đất luôn.

Đấy là hắn còn cho mấy tay thợ lúc này chỉ có mấy việc vặt làm đồ gia dụng nên có thời gian đọc tư liệu xây dựng lò cũng như vi deo xây lò hay các video nung rèn sắt ở các lò trung quốc, phương tây và cả Việt Nam rồi đấy.

Cũng cho họ xem các tai nạn nổ lò, đám đấy khi làm lò mới và cho nguyên liệu mà cứ run cầm cập, hắn đành cho xây tường bao dày xung quanh lò và đào hào có nắp che để giảm nhẹ thiệt hại nếu nổ lò.
Ấy vậy mà có tới 4 cái lò nổ, may mắn những người có kinh nghiệm đã nhìn thấy dấu hiệu và bảo mọi người tránh kịp nên chỉ có 1 số người thương nhẹ, nếu không chết cả đám.

Cái lò mới phải cho lò đốt cháy liên tục trong 5 ngày với nhiệt độ cao nhất xong mới cho nguội từ và cho người xem xét trong ngoài mới công nhận nó đã qua thử nghiệm.

Tiếp tục các mẫu thử tiếp theo, chọn cái lò nào tốt nhất, ngoài ra Bân còn làm kiểu công nghiệp đó là phân cái nào làm đồ dân dụng , đồ phụ kiện, lò nào làm vũ khí để tối đa hóa nguyên liệu, đỡ công nung rèn tăng chi phí mà các lò vẫn sản xuất theo kiểu công nghiệp được.
Bân cùng mấy người thợ rèn sắt vắt óc thức trắng đêm 4 ngày liên tục mới tạm thời cho ra được sơ bộ bản vẽ kế hoạch về lò cao luyện kim.

Hắn giờ đây bắt đầu công cuộc chuẩn bị, hàng trăm thợ rèn thợ mộc được vơ vét từ khắp nơi xung quanh căn cứ và mấy vùng chiếm được cũng như nô lệ có nghề rèn mua về trong đợt chiến tranh này.

Vì vậy có cả người Lâm ấp, Việt, người châu Âu da trắng mắt xanh, người da đen, da lai, Ả rập, ấn độ.
Nhiều vùng đất đang thời kì loạn lạc, nhiều vùng đất đang tranh chấp, nhiều quốc gia chưa định hình như thời thế kỉ 15 nên nô lệ đủ loại từ thợ thuyền, thợ thủ công Mĩ Nghệ, thợ dệt may, quý tộc,binh lính thậm chí thương nhân bị thất bại hoặc bị cướp bị bán làm nô lệ.

Do Bân chỉ trong nội địa chưa có cảng biển nên hắn không mua được nhiều nô lệ, chỉ cho người lên các thành lớn mua, ngoài ra chỗ Giao Châu nghèo rớt mùng nơi này ít có thương buôn , chủ yếu là lấy sản vật địa phương mà phía bắc không có hoặc dưng lại tiếp tế lương thực, nước ngọt sau đó bay hết lên các vùng đất người Hán để trao dổi buôn bán
Thời này các thương nhân đã có đi biển ven bờ buôn bán, ngoài ra còn có con đường tơ lụa, buôn bán nô lệ vẫn có rất nhiều, dù thế giới đã chuyển sang chế độ phong kiến nhưng vẫn còn chế độ nô lệ.

Thời gian này Lão Phần đã cố gắng đi buôn bán nơi xa hơn như long biên hay biên giới các châu quận phái bắc, chưa kể lão còn lập được thêm 1 thương đoàn nữa để làm những công việc khác.

Bân đã bảo lão khi nào lập được 3-4 thương đoàn là có thể ngồi 1 chỗ mà quyết sách rồi,Bân cũng tẩm bổ cho lão này nhiều thứ hiện đại.
Quay về việc lò sắt của Bân, thực tế lò cao cấu tạo không phức tạp, kể tử cao đến thấp đó chính là miệng lò, chính là nơi nguyên liệu như than, quặng sắt được quẳng vào, Thân lò thuôn nhỏ sẽ chứa đầy than được đốt nóng trong quá trình luyện sắt, Bụng lò hơi phình lớn là nơi chứa nhiều nhiên liệu than nhất và cũng là nơi có nhiệt độ tích trữ cao nhất, phía đáy của Bụng lò sẽ có hai cửa để thổi không khí giàu oxy vào, Nồi lò thu hẹp là phần kết nối với Bụng lò, giữa nồi lò và bụng lò là nững ống thông như hình than tổ ong để gang thiết nóng chảy từ bụng lò chui xuống nồi lò.
Nồi lò có hai cửa thông ra ngoài, cửa phía trên cao để tháo sỉ và tạp chất ra ngoài, cửa thấp để tháo gang sắt thuần khiết đi ra.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 32: 32: Thành Qủa 2


Bân đã đọc nhiều tài liệu luyện sắt Việt Nam và trên thế giới, khá thú vị.

các cách luyện rèn sắt TQ và trên thế giới khá nhiều, nhưng thời phong kiến thì đúng là người TQ đi đầu từ nhà Hán đến nhà Thanh.

Những phát hiện cho thấy nghề rèn sắt và rèn kim loại phía Việt Nam có phần trội hơn so với người Hán thì chỉ được phía Việt Nam công nhận nhưng không được thế giới công nhận.

Do cái bóng quá lớn của TQ, do các tộc khác khi chiếm đất nước 1 tộc nào đó thường vẫn để lại sách vở và các bản ghi chép.
Tuy nhiên với người TQ thì khác, ngoại tộc chiếm nước họ như nhà Nguyên hay Mãn Thanh vẫn giữ lại nguyên vẹn toàn bộ.

Khi người Hán chiếm nước khác thì các sách khoa học kĩ thuật và binh pháp cũng như luật pháp, triết học thì bị lấy chở về TQ, người tài giỏi bị bắt hết đi, sách sử thì bị tiêu hủy hết để đồng hóa.

Sau đó họ nhận vơ lại là do mình nghĩ ra, vì các dân tộc kia không còn tư liệu ghi chép nên sau này không chứng minh được là do mình sang tạo.

Cho dù cóa thì số sách vở đó cũng đi sau sự kiện đấy rất nhiều năm nên bằng chứng không có sức thuyết phục.
Theo truyền thuyết, kiếm có từ thời nhà Chu Trung Quốc, đến đời Xuân Thu Chiến Quốc thì cực thịnh.

Thời này là giai đoạn mà người Trung Hoa mới tìm ra sắt, lại thêm một số kỹ thuật mới được dùng trong việc luyện kim nên khí cụ thời đó cứng hơn đồ đồng.
Đồ đồng của Trung Hoa là một hợp kim bao gồm đồng, kẽm và chì.

Có khi họ còn pha cả vàng, bạc.

Mỗi đời từ đời Thương (thế kỷ 16-11 trước công nguyên), sang đời Tây Chu (thế kỷ 11-8 trước công nguyên), Xuân Thu (770-476 trước công nguyên), họ lại phát triển những phương thức khác nhau.

Cuối đời Chiến Quốc, khi chuyển sang thời đại đồ sắt, người ta đã trải qua hàng ngàn năm kinh nghiệm trong việc đúc đồ đồng, và áp dụng những kỹ thuật đó vào việc đúc đồ sắt.

Việc tìm ra những loại kim khí mới cứng chắc hơn đồ đồng khiến cho họ càng cố công rèn đúc những loại binh khí sắc bén.
Kỹ thuật mỗi ngày một thêm phức tạp.

Sách Thiên Công Khai Vật thời Minh phân chia nhiều phương pháp, nhiều kỹ thuật khác nhau trong việc rèn đúc đồng sắt, bao gồm đúc đỉnh, đúc chuông, đúc búa, đúc tượng, đúc súng, đúc kính, đúc tiền.
Theo sách vở, phương pháp của người Trung Hoa rèn đúc thường qua năm giai đoạn:
-Tạo hình mẫu
- Dùng hình mẫu chế tạo khuôn
-Nấu chảy hợp kim, đổ vào khuôn
- Đợi cho kim loại đông đặc, lấy ra khỏi khuôn

- Chạm khắc hay tu sửa mặt ngoài
Các loại hợp kim pha trộn thông thường bao gồm sắt, đồng, thiếc, vàng, bạc.

Theo tài liệu ngày nay, thép là sắt có chứa từ 0,1 – 1,8% carbon, dưới 0,06% là sắt non mềm dễ uốn nhưng không cứng và không đàn hồi, và trên 1,8% là gang, tuy cứng nhưng giòn, dễ vỡ.

Ở châu âu, thời kỳ đồ sắt bắt đầu từ khoảng 1300 trước công nguyên nhưng ở Trung Hoa dường như sắt chỉ thịnh hành vào khoảng thế kỷ thứ 7 trước công nguyên.

Sắt nếu chứa ít carbon (sắt và thép), chỉ cần nung đỏ lên đã có thể dùng búa đập, rèn thành hình.

Nếu như có nhiều carbon (gang), lại cần phải nấu chảy thành chất lỏng mới đúc được.
Các nhà khảo cổ đều cho rằng trước khi tiến đến trình độ đúc gang, nhân loại phải qua giai đoạn rèn sắt (nung đỏ rồi đập cho thành hình).

Cứ theo những di chỉ thời Chiến Quốc khai quật được, cho tới thời này người ta chưa đúc được gang nên mới chỉ đến giai đoạn rèn sắt mà thôi.

Tuy nhiên, khi khai quật một số khí vật bằng sắt, người ta lại đi đến kết luận là việc đúc sắt có thể có trước, vì thừa kế được kỹ thuật đúc đồng và làm đồ gốm, và kỹ thuật rèn sắt lại phát triển sau.
Qua đời Hán, người Trung Hoa nghĩ ra ống bễ đôi, có thể quạt liên tục nên nhiệt độ cao hơn loại bễ có từ thời Chiến Quốc và đã biết cách pha trộn nhiều loại kim khí khác nhau để gia tăng độ cứng và độ dẻo của kim loại.

Họ cũng khai thác quặng mỏ nên sản xuất được nhiều và biết cách hàn hai loại thép cứng và mềm với nhau để làm lưỡi kiếm hay các loại vũ khí, mặc dù nhiều học giả cho rằng phát kiến này có thể bắt nguồn từ khu vực Trung Á, sau truyền sang cả Đông và Tây.
Việc dùng các khuôn để đúc hàng loại những dụng cụ, khí giới, phối hợp việc rèn thép đã khiến cho đồ sắt trở nên thông dụng, và khí giới thép đã vượt trội các loại khí giới bằng đồng.
Trong khi đó, phải tới thời Trung Cổ, người châu âu mới biết đúc sắt, và việc luyện thép còn sau hơn nhiều.
Về phương pháp rèn sắt, người ta nung nóng cục sắt lên rồi dùng búa đập cho thành hình thù vật mong muốn.

Theo sử sách, ngay từ trước công nguyên, người Trung Hoa đã tìm ra được cách tạo nên những lưỡi đao, lưỡi kiếm rất cứng nhưng cũng bền chắc để không bị gẫy khi chiến đấu.

Việc pha trộn sắt và carbon, cũng như thay đổi nhiệt độ để đúc kiếm là một công phu hết sức phức tạp.
Mọi loại kim khí đều cấu tạo bởi những tinh thể giao kết với nhau, và bố cục của những tinh thể này có ảnh hưởng đến cơ năng của kim loại.

Nếu rèn nhiều quá, tuy sắt có cứng hơn nhưng lại dễ gẫy, tương tự như chúng ta bẻ một sợi dây thép bằng cách bẻ qua, bẻ lại nhiều lần.

Vì thế việc đúc kiếm, người thợ phải đo lường được tiến trình rèn sắt, không ít quá vì sắt chưa đủ cứng, nhưng nếu rèn quá lâu, sắt trở thành giòn.

Hoặc cũng có phương pháp “quán cương” nghĩa là dùng thép non ghép chung với thép già để thành một khí cụ cứng nhưng vẫn dẻo.
Nhiều học giả cũng cho rằng người Trung Hoa cũng là dân tộc đầu tiên biết rút carbon từ gang ra để có được thép.

Trễ lắm là thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, họ đã biết nguyên tắc này và cũng nhờ đó mà sau này vào thế kỷ thứ 19, một người phương Tây đã theo để luyện kim.

Việc loại trừ được carbon trong thép và gang đã được áp dụng để có sắt non dùng trong việc xây cầu và đúc ống dẫn nước.
Họ biết cách thổi hơi qua sắt nóng chảy gọi là bách luyện.

Phương pháp thứ hai dùng để luyện kim là trộn sắt non và gang để thành thép cũng đã được họ thực hiện từ thế kỷ thứ 5 sau công nguyên.

Những năm gần đây, tại xưởng chế tạo thép ở Corby bên Anh, người ta đã thử nghiệm lại và thành công.
Sau này, ngoài những phương pháp thông thường, ba phương pháp tương đối cầu kỳ hơn đã được áp dụng để chế tạo một thanh kiếm tốt.

Phương pháp thông dụng nhất là sau khi rèn xong, người ta nung lên một nhiệt độ thấp rồi cho nguội từ từ món vũ khí.

Những người sành sỏi chỉ cần nhìn nước thép, cấu trúc của lưỡi kiếm là có thể định được tài nghệ của người rèn kiếm.
Phép tôi sắt là sau khi rèn xong, kim loại chưa cứng hẳn người thợ nhúng vào nước hay dầu để cho thép cứng hơn.

Tuy nhiên, nhiều khi phải để cho nhiệt độ hạ từ từ vì nếu hạ quá nhanh, thanh thép sẽ cứng nhưng giòn.

Trong khi phương pháp đúc kiếm có thể bị người khác bắt chước, phương pháp tôi thép lại được giữ rất kín như một kỹ thuật bí truyền.

Tôi bằng dung dịch gì, độ nóng ra sao, cách thức thế nào là những bí mật.

Thợ rèn ít cho ai xem cách họ tôi thép như thế nào, và việc tò mò tìm biết là một cấm kỵ, nhất là đối với những thợ rèn Nhật Bản.
Cuối đời Chiến Quốc, người Trung Hoa đã phát triển việc khai thác quặng mỏ, phối hợp việc đúc đồng với đúc sắt và việc sử dụng vũ khí đã khá phức tạp.

Nhiều lò đúc mướn đến hơn 200 công nhân và nhiều người trong kỹ nghệ này trở nên giàu có lớn, đóng một vai trò quan trọng trong xã hội.

Theo những di chỉ, hơn 2000 năm trước, người Trung Hoa đã đúc được những dụng cụ rất tinh xảo, và có thể nói là nhất thế giới.

Đó là theo di chỉ tìm được .
Trung Quốc được cho là cũng là nước nâng việc đúc sắt lên hàng kỹ nghệ, nghĩa là vừa bỏ công để thực hiện những cơ sở có tầm vóc lại tập trung công tác này trong tay triều đình và ấn định tiêu chuẩn các loại đồ sắt.

Việc sản xuất qui mô đó đóng góp đáng kể vào việc phát triển kinh tế cũng như binh bị.

Đời Hán, triều đình đã độc quyền sản xuất và phân phối hai món hàng chính là đồ sắt và muối, ngoài thuế má đánh trên nông phẩm để có đủ chi phí cho guồng máy hành chánh và quân sự.
Vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, đã có ít nhất là 46 xưởng đúc sắt “quốc doanh” trên toàn nước và người ta đã tìm ra những khối quặng còn sót lại nặng đến 25-30 tấn, một trọng lượng mà phải đến thế kỷ thứ 18 Châu âu mới đạt tới.

Các loại binh khí, cuốc, liềm … đều có tiêu chuẩn nhất định.

Họ cũng chế tạo những lưỡi cày bằng thép, gắn trên cán gỗ và chế ra những loại máy vừa khoan lỗ, gieo hạt thay vì phải gieo lúa bằng tay, một kỹ thuật mà sau này Châu âu phải bắt chước.

Phương pháp thổi hơi nóng qua các khối thép lỏng để tinh luyện kim loại cũng là một kỹ thuật phức tạp mà người Trung Hoa sử dụng từ 20 thế kỷ trước đây tương tự như những lò luyện kim của Henry Bessemer hồi thế kỷ thứ 19.
Tại sao người Trung Hoa lại biết đúc sắt sớm như thế? Một số yếu tố được đưa ra làm giả thuyết cho sự phát triển này.

Thứ nhất, nước này có những loại đất sét tốt dùng làm vách cho những lò luyện kim.

Thứ hai, họ biết cách đưa độ nóng chảy của quặng sắt xuống thấp để việc đúc được thuận tiện hơn.

Chính sự phát triển trong ngành luyện kim, sau này thời phong kiến đã đưa đến những tiến bộ trong nông nghiệp, việc sử dụng lưỡi cày một cách rộng rãi hơn và phát minh thêm nhiều nông cụ khác.
Về phía người Việt , cho đến nay, các nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử cho thấy người Việt cổ luyện kim thành thạo từ sớm, với những dấu vết của luyện kim đồng thau ngay từ giai đoạn kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên (niên đại 4000-3500 năm cách ngày nay).

Đối với đồ sắt, các phát hiện khảo cổ học gần đây cũng cho thấy dấu hiệu của nghề luyện sắt từ thế kỷ 2-3 trước Công nguyên với những vết tích lò luyện sắt, hòn quặng sắt, xỉ sắt hình giọt nước tại di chỉ Đồng Mỏm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Các hiện vật sắt, gỉ sắt không rõ hình dạng, chức năng cũng được phát hiện tại di chỉ Đường Mây, Cổ Loa, Hà Nội.

Các nhà khảo cổ học, lịch sử vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những minh chứng mới về nghề luyện sắt của người Việt cổ.
Hiện nay nhiều người cho rằng tổ tiên nước ta không biết nghề luyện sắt và sản phẩm này là do văn minh Trung Hoa trong quá trình ngàn năm Bắc thuộc truyền sang.
Theo truyền thuyết Thánh Gióng thì tổ tiên ta đã biết dùng sắt rèn ngựa cho Thánh Gióng đánh giặc Ân, (khoảng 1000 năm TCN).

Truyền thuyết thì khó tin.

Lịch sử thành văn của nước ta thì lúc đó có thể chưa có hoặc nếu có cũng bị người Hán tiêu hủy sau mỗi lần chúng cất quân xâm lược nước ta.
Nhưng có thể là nghề luyện sắt của ta có từ trước thời Bắc thuộc.

Thời đó dân ta chưa biết dùng chữ Hán.

Trong chữ Hán sắt gọi là thiết , thép gọi là cương , nếu sắt thép là do người Trung Hoa truyền vào sau thời Bắc thuộc thì tất nhiên dân ta phải gọi như là chữ Hán là Thiết, Cương.

Nhưng người Việt lại gọi là sắt thép.

Sắt là một chữ thuần Việt, đọc là sắt theo chữ nôm, chữ này ngay từ điển chữ Hán thời phong kiến cũng không có, mặc dù chữ Hán cũng có chữ đọc là sắt nhưng để chỉ cây đàn sắt có 50 dây (Mang tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ - Truyện Kiều Nguyễn Du).

Thép cũng là một từ thuần Việt, chữ nôm viết đọc là thép, chữ này hoàn toàn không có âm và chữ tương tự trong Hán ngữ.
Như vậy, người Việt phải biết đến kỹ thuật sắt thép, có thể các kỹ thuật luyện kim khác, như vàng, bạc, chì kẽm trước thời Bắc thuộc và vẫn tiếp nối phát triển, nên mới có tên gọi riêng của mình như vậy.

Có ý kiến dựa trên Sử ký của Tư Mã Thiên, Nam Việt liệt truyện có chép , Nam Việt giáp giới với quận Tr**ng S* ,Thời Cao Hậu (Lã Hậu 241 TCN – 180 TCN), quan đương sự xin cấm không cho người Nam Việt vào mua đồ sắt.” để nói rằng Nam Việt không tự chế được sắt.

Thời Cao Hậu Nam Việt vương Triệu Đà mới chỉ chiếm được Phiên Ngung (vùng Quảng Đông).

Sau khi Cao Hậu chết mới chiếm được Mân Việt và Tây Âu Lạc nên không có sắt là tất nhiên, điều đó không chứng minh là Âu Lạc không luyện được sắt.

Có người lấy lý do không tìm thấy di tích khảo cổ về sắt trên đất nước ta để kết luận rằng cha ông ta không biết chế tạo sắt thép.
Nên nhớ rằng, khác với đồ đá và đồ đồng, đồ sắt để lại rất ít trong các di tích khảo cổ trên thế giới.

May chăng còn có cột sắt ngàn năm ở gần Dehli Ấn Độ là còn tồn tại đến ngày nay, mà các nhà khoa học hiện đại cũng chưa giải mã được bí mật.

Bởi chưng kim loại sắt bị oxy hóa mạnh, dù có bị chôn vùi dưới bao lớp đất cũng bị hủy hoại.

Ngay cả ở nước ta, Đại Việt sử ký toàn thư chép Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo sau đó đóng cọc gỗ nhọn bịt sắt cắm xuống sông Bạch Đằng thì các cọc đó ngày nay phát hiện được cũng không thấy có sắt nữa.
Sử sách của nước ta bị quân Minh cướp và đốt hết từ năm 1407 nên không có cơ sở nào biết được trước đó có chép gì không.

Nhưng sau khi quân Minh chiếm nước ta, lập thành quận huyện của Trung Hoa thì người Minh đã có ghi chép nhiều chi tiết về tổ chức kinh tế, xã hội, địa chí, sản vật của Giao Chỉ.
Trong quyển An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng đời Minh đã ghi chép khá tỉ mỉ như Nhà Minh đã lập ra 6 Cục Kim Trường để lo về việc luyên kim ở Giao chỉ.

Về sắt sách này chép “ Phủ Nghệ An, tại huyện Thổ Hoàng (tỉnh Hà Tĩnh ngày nay) có núi Quặng là nơi sản xuất sắt… tại huyện Đông Thành ( vùng Núi Thiên Nhận-Hồng Lĩnh ven sông Lam ngày nay) có núi Sắt cũng là nơi sản xuất sắt”.

Những ghi chép này cho ta thấy, ít nhất từ thời Trần nghề luyện sắt của người Việt đã khá phát triển.

Chẳng những là luyện sắt, mà việc chế tác sắt (làm vũ khí) thời bấy giờ đã đạt được trình độ cao, có thể vượt cả kỹ thuật của phương Bắc.
Những địa điểm luyện sắt như trong Nam Việt Chí Nguyên đã chép ở trên tập trung chủ yếu ở vùng Hà Tĩnh.

Đặc biệt là vùng thung lũng sông Ngàn Sâu thuộc Huyện Thổ Hoàng ngày xưa vốn nổi tiếng với nghề luyện sắt ít nhất từ đời Trần và cho đến trước khi có kỹ thuật phương Tây.
Tuy bằng chứng còn ít ỏi, nhưng từ truyền thuyết, đến ngôn ngữ, sử sách Đông Tây và của cha ông ta, đã cho thấy rằng không còn nghi ngờ gì nữa.

Tổ tiên, ông cha dân Việt chúng ta đã đồng hành cùng nhân loại trong lịch sử thời đại đồ sắt, biết chế tạo, chế tác sắt thép từ ngàn xưa với chất lượng cao.

Cũng không phải là ngẫu nhiên mà sử sách lại ghi chép vùng Nghệ Tĩnh là cái nôi của nghề luyện sắt và chế tác sắt thép của người Việt từ thuở xưa đến nay.
Chính vì những điều được biết trên nên nên hắn muốn từ giờ đến năm 622, người của hắn phải có khả năng đúc súng thần công, không được như thời nhà Lê, Lê Trung Hưng hay Tây Sơn nhưng bét nhất cũng phải được như thời Hồ Qúy Ly.

Vì kiến thức thời phong kiến từ thời kì Trần - Hồ hoàn toàn có thể áp dụng vào thời đại này do hàm lượng khoa học kĩ thuật không cao nhưng cũng khá là nặng đô vì sản xuất kim loại thời Trần – Hồ hơn hẳn thời Ngũ đại- Thập quốc thậm chí nhà Đường.

Nhưng nếu sau khoảng hơn chục năm nghiên cứu cùng với lượng kiến thức bổ sung của hắn cũng như số lượng thợ rèn có tay nghê tốt ngày 1 cao thông qua đào tạo học hỏi kinh nghiệm từ các nô lệ.
Chưa kể đến hắn muốn xuống các tỉnh phía nam còn vì mục đích lập căn cứ bí mật cũng như trồng nguyên liệu làm các sản phảm như rượu, giấy.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 33: Chương 33


Giấy thì dễ vì ngoài bã mía ra còn có tre làm bột giấy.

Thời kháng chiến chống pháp, trong khu kháng chiến,người Việt Nam dùng bột tre làm giấy, hắn có tìm hiểu tại bảo tàng hay tư liệu trên mạng các loại giấy làm bằng bột tre.

Giấy là thứ tối quan trọng và đắt đỏ thời này, đến thời nhà Tống mới có bước nhảy vọt về công nghệ giấy, còn trước thời đường thì công nghệ giấy vẫn chỉ có năng xuất thấp mà thôi.

Ngoài tre còn rất nhiều loại nguyên liệu phù hợp như cây dó, cây dâu, cây gai dầu, rơm rạ, cây bụp mì, bời lời, sầu đâu với nhiều loại giấy chất lượng cao và nổi tiếng qua nhiều thế kỉ phong kiến.
Bân muốn buôn bán giấy, thứ này thời này có giá trị quá lớn, giấy tuyên thành bên TQ có vẻ tốt đấy nhưng không bằng , mà hắn cũng có công thức và cách làm giấy này.

Bân cũng sẽ làm giấy Tuyên Thành bên trung quốc để bán kiếm lời và dễ trà trộn thị trường mà không ai biết hắn sản xuất giấy lậu mà xông vào bắt chẹt.

Ngoài ra hắn còn muốn bán nhiều loại giấy khác nữa vì món lợi này quá lớn so với thời kì cả thể giới chỉ có TQ và Ai cập có giấy bằng thực vật.

Trong đó TQ có sản lượng và chất lượng tốt nhất hiện nay.

Bân tính khi có nguyên liệu và bến cảng lậu thì hắn sẽ buôn lậu bằng đường biển với các thương nhân Ấn độ và trung đông có lịch sử chạy đường biển giao thương với các vùng này.

Chỉ cần họ đi qua bến lậu này thôi là kiếm đầy bồn đầy bát rồi.

Chưa kể còn sử dụng danh nghĩa các nước này mà có thể giữ bí mật hàng mà hắn cung cấp, thay tên mấy nước kia là xong.

Đám người Hán đang đánh nhau túi bụi nên lười quản, nhà đường cũng chả biết được.

đến khi đất nước hùng mạnh thì lúc đấy bung lụa sau.
Giấy thì cũng có nhiều loại nhưng nó sẽ được gọi tên theo vùng sản xuất ra nó, công dụng của nó hoặc nguyên liệu sản xuất nó.

Nhưng tựu chung nó chỉ có mấy loại sau :
-Giấy Bản: dùng in sách và viết (loại giấy cơ bản, dùng phần vỏ trắng của vỏ cây).
-Giấy Moi, giấy Phèn: loại này mặt thô ráp (do nguyên liệu xấu hơn, phần vỏ ngoài của vỏ cây, dùng để gói hàng).
-Giấy Xuề: loại dùng nguyên liệu bằng những “đầu mặt” (còn gọi là Xề, Xề là những mắt vỏ cây).
-Giấy Thô: dùng phất quạt.
-Giấy Quỳ: dùng để dát vàng quỳ (loại này chỉ sản xuất được ít vì nguyên liệu hiếm: đó là những cây niết mọc tự nhiên, còn gọi là cây dó chuột, loại cây mọc ở vùng đồi núi tốt hơn ở bờ biển”.
-Giấy Lệnh: loại này khổ rộng, đẹp dùng để viết lệnh chỉ.
-Giấy Nghè: loại giấy quý, trên nền có nổi lên lờ mờ hình rồng phun mây.

Giấy này được giành riêng để viết sắc phong cho các quan lại và thần linh (“Nghè” ở đây chỉ thao tác cuối cùng để hoàn thiện mặt hàng – khi giấy đã làm xong, lên màu còn phải dùng vồ đập vào giấy trải trên mặt đá.

“Nghè” là một từ chuyên môn, vì vậy làng Nghĩa Đô có tên Nôm là làng Nghè).
-Giấy Nhũ tương: loại này lại có thấy óng ánh những hạt màu vàng, màu bạc, thường dùng để ghi các câu đối hay có lúc giấy Nhũ tương là hàng xuất khẩu.
-Giấy Mật hương: làm bằng gỗ trầm: mặt giấy màu trắng, có vân như vẩy cá, mùi rất thơm, bỏ xuống nước không nát.
-Giấy Trắc lý: làm bằng rong rêu lấy ở dưới biển.
-Giấy Điệp: làm bằng vỏ cây dâu để in tranh khắc gỗ dân gian
Tất nhiên không phải cùng một lúc có ngần ấy loại giấy, mà đây là cả một quá trình hình thành lâu dài.

Thí dụ: đầu tiên chỉ có thể là loại giấy thô sơ như giấy Moi, giấy Phèn dùng để gói, giấy Bản loại thường để viết.

Tiếp đến, do nhu cầu sử dụng ngày một cao, đòi hỏi ngày một khác (nhất là yêu cầu của Nhà nước quân chủ) nên nghề giấy phải vươn lên về mặt chất lượng với các loại giấy tốt, giấy quý như giấy Nghè, giấy Nhũ tương… để sử dụng làm các sắc phong, lệnh chỉ… Nhất là với độ ăn chơi của Tùy Dạng Đế và thời Trinh Quán chi trị nhà đường
Đồng thời vẫn phải có những loại giấy để phục vụ các ngành nghề khác như nghề làm quạt, nghề dát vàng… Ở mỗi làng có nghề giấy, các nghệ nhân đã sản xuất ra một loại giấy đặc biệt, như giấy Điệp dùng cho các làng tranh: tranh Đông Hồ, tranh Kim Hoàng.
Chưa kể vấn đề cảng bến bãi nữa chứ, cảng hiện nay đa phần là cảng của sông,tuy dễ giao thương dễ phát hiện.

Hắn luôn lục tìm trong trí nhớ các bãi biển nước sâu nào có thể làm cảng mà không cần phải ở cửa sông hay không.
Bân tính vùng Kỳ Hoa – Cửa Khẩu (Hà tĩnh), vì đây là cảng nước sâu kín gió tuyệt vời hiện đại vẫn sử dụng.

Tuy nhiên, hắn nhớ khi xem cuốn “ các thương cảng ven biển Bắc Trung Bộ” thì hắn mới phát hiện ra cửa này chả phải bí mật gì cả, mà nó còn là con mồi mà champa, nhà đường, người Việt thèm khát vì vị trí tự nhiên thuận lợi của nó.

Sử sách ghi chép là vào thời thuộc nhà Tùy, tháng giêng năm Ất Sửu (605), Hoan Châu đạo hành quân, tổng quân Lưu Phương và bọn đại tướng Trương Tốn đem quân từ cửa biển quận Tỵ Ảnh (có thể cửa Sót) vào đánh Chiêm Thành, quân đến nghỉ tại cửa Hải Khẩu.
Người Chăm Pa từ khi lập quốc, thường đưa thuyền vào cửa Khẩu và cửa Nước Mặn (nay đã bị vùi lấp) cướp phá, bắt người.

Trong các đợt vượt Hoành Sơn lấn chiếm đất người Việt như năm 803, quân Hoàn Vương (Chăm Pa) tràn sang đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường, chiếm hai châu Hoan, Ái (Thanh Nghệ Tĩnh), đến năm 808 tướng nhà Đường là Trương Chu mới đẩy lùi được.

Năm 907 - 910, người Chiêm Thành lại đánh chiếm vùng Bắc đèo Ngang ra đến tận núi Nam Giới và đặt quan cai trị 70 năm, đến năm 981 Lê Đại Hành mới lấy lại được.
Những lần người Chăm Pa đánh ra Bắc Hoành Sơn thì Kỳ Hoa Hải Khẩu là cửa biển đầu tiên bị chiếm đóng.

Và trong những thời gian ấy, cửa Khẩu là điểm rất quan trọng đối với người Chiêm.

Thuyền chiến, thuyền lương của họ qua lại, tập kết ở đây để phục vụ cho việc tiến thoái, phòng ngừa và cai trị vùng chiếm đóng.
Bân cũng thấy đen thế, cảng tốt thế mà bị cuỗm mất, ai bảo người xưa không có tầm nhìn thì chết hết đê.

Ngoài ra sau khi tìm hiểu hắn cũng thấy có nhiều bến cảng cửa sông bị dịch chuyển hoặc biến mất với thời hiện đại.

Điều này do sự bồi đắp phù sa và sói mòn dẫn đến tình trạng các cửa sông sau 1000 năm có sự thay đổi.

Các của sông có núi thì có sự biến động gần như không có như Kỳ Hoa.
Chưa kể nếu như cần thiết thì hắn có thể biến 1 hải đảo gần bờ thành cảng lậu, lúc này dễ che mắt người khác hơn, cũng dễ lập cảng hơn.

Nhưng lập ở đấy cũng phải cẩn thận vì mỗi thương đoàn trên biển thường có 1 nghề tay trái đi kèm là cướp biển.

Điều này có thể rõ ràng nếu như ai đã xem bộ phim Hải thần cổ trang Hàn Quốc thì thấy rõ ( Hải thần dựa theo cuốn tiểu thuyết của tác giả Choi In Ho, nói về cuộc đời của một nhân vật có thật trong lịch sử Hàn Quốc: thương gia giàu có Jang Bogo trong triều đại Unified Shilla 676-935 ).

Nhiều thương đoàn phản diện trong phim vẫn buôn bán như thường nhưng kiêm thêm nghề cướp biển đóng căn cứ ở các đảo gần bờ từ đất liền tới đảo chỉ trong vài ngày.

Đây có thể là thứ hắn nên học tập.
Nhà Tùy sẽ bắt đầu với các cuộc xây dựng lớn và chiến dịch quân sự lớn thất bại khiến nó diệt vong như đánh Cao Câu Ly 4 lần và xây thành Đông Đô, đào kênh Đại Vận Hà.

Nó sẽ kéo sụp nhà Tùy, khi bọn Tùy Dạng đế thất bại tại lần chinh chiến Cao Câu Ly lần cuối cùng.

Lúc này khởi nghĩa nông dân nổ ra, nhiều tường làm phản, cũng là lúc hắn chính thức đánh mấy thứ sử và dâng biểu xin làm Thái Thú vùng Giao châu.
Cùng với lượng lương thực, vàng bạc, khí giới sang cống lúc nhà Tuỳ khốn khó, tài chính rỗng tếch có đống đồ này thì đảm bảo Tùy Dạng đế cũng phải công nhận hắn.

Mà không công nhận hắn cũng mặc kệ, nhà Tùy lúc này đang sứt đầu mẻ chán với các cuộc khởi nghĩa nông dân và các tướng quân làm phản nên không coi trọng vùng đất Giao chỉ nhỏ bé này.

Hắn càng rảnh tay thu phục các vùng đất , củng cố lực lượng, xây dựng các vùng đất chiếm được, thu phục long người.
Tùy dạng đế có công nhận hắn hay không, không quan trọng, không công nhận thì hắn vẫn để lại lẽ vật, vì mục đích chính lần đầu xin biểu này là hà hơi tiếp sức cho nhà tùy lúc khốn khó.

Để nhà Tùy tồn tại lâu hơn, để bọn chúng có lực mà bớt huy động sức dân, nhất là dân chỗ hắn hay dân các vùng hắn định chiếm làm bàn đạp, đánh các vùng làm phản Đến năm 618 vào cuối nhà Tùy hắn sẽ đi xin lần nữa, lúc này có 2 lựa chọn là Tùy dạng đế có hậu thuẫn Vũ Văn Hóa Cập hay Tùy Cung Đế có hậu thuẫn của Lí Uyên.

Bân thì chọn Tùy dạng đế vì thằng này được các phương thế lực công nhận mặc dù lên thái thượng hoàng, còn Tùy cung đế chỉ có Lí Uyên mà thôi.

Bân cho người đi xin biểu lần 2 này chắc chắn hắn sẽ tặng lễ hậu còn hơn lần 1 nhiều, vì hắn biết cuối năm 618 Vũ Văn Hóa Cập sẽ tạo phản thành công.

Số lễ hắn tặng chỉ khiến Vũ Văn Hóa Cập làm phản quyết tâm hơn mà thôi, vì hawnsw không phản nhanh với số lễ đó Tùy Dạng đế xây dựng lực lượng, thu phục thế gia, động binh nhưng không động chạm tiền tài nhân dân bằng cách tăng thuế thường thấy thì hắn còn lâu mới làm vua được.
Tùy Dạng đế khi nghe tấu sớ dâng biểu của hắn thì chắc chắn lúc này sẽ cho, vì với trí tuệ của hắn thì hắn thừa biết ngày tàn của mình, chắc chắn hắn sẽ đồng ý với điều kiện của Bân.

Hắn sẽ trả thù những kẻ phản bội hắn bằng cách khuấy vũng nước đục này loạn xì ngầu lên.

Các ngươi phản ta thích cát cứ thì ta sẽ cho cát cứ 1 đống để các ngươi chém giết lẫn nhau, các trung thần, cận thần của hắn sẽ chém giết nhau mà chết hết là hắn có thể trả được thù.

Sau này ai làm vua hắn không quản được nữa rồi.
Cuối cùng hắn đã đến nơi cuối cùng phải đến, thời gian vừa qua đến bất cứ căn cứ nào hắn cũng diễn thuyết trước rất nhiều người dân.

Tất nhiên là lúc này những nạn dân đã được ăn nvài ngày và ổn định về mặt sức khỏe và tinh thần.

Cả người Việt, người Lâm Ấp nhưng cũng là người Việt gốc, con người không hề khác nhau, chỉ khi Lâm Ấp bị người Hán đẩy xuống phía nam hỗn huyết nhưng không chiếm đa số với những người đông nam á thuộc dòng Môn - Khơ me có nước da ngăm, nhỏ con hơn, nhưng linh hoạt và có sức bật tốt hơn nên sau này dân chiêm thành hay Champa mới nhìn khác hơn so với người Việt .
Mỗi trại lập ra lại có hắn diễn thuyết, từng cử chỉ động tác học như hitle, như lenin về dòng máu lạc hồng, về tổ tiên , về bọc trăm trứng,về sự tách ra của của Lâm Âp, về đồng bào cùng người Việt giữa văn lang và Lâm Âp, về sự sai lầm của giới quý tộc cầm quyền Lâm ấp khi vứt bỏ văn hóa dân tộc mà dùng thứ văn hóa ngoại lai.

Về sự tàn ác người Hán, về âm mưu thâm độc của những kẻ cầm quyền người Hán đẻ xóa bỏ và đồng hóa dân tộc của bọn chúng.

Cho họ mơ tưởng về 1 tương lai tươi sang, thông qua lương thực thực phẩm và các loại giống mới , cách canh tác mới tang năng suất.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 34: 34: Công Cuộc Kháng Chiến Không Dễ


Bân cảm tháy may mắn khi mình ở tại thời nhà Tùy chứ vào giữa thời Trinh Quán Hoặc thời Lý Trì và Võ Tắc Thiên thì mệt, thời gian giành độc lập tăng lên nhiều năm, chưa xây dựng đất nước xong có khi chết.

Vì thời cực thịnh nhà Đường thì nông nghiệp đã khá toàn diện, ngoài lúa ,hoa màu, cây công nghiệp , cây thuốc, thì chăn nuôi, thủ công nghiệp , đánh bắt thủy hải sản đã khá phát triển và có nhiều mặt hàng xuất khẩu.

Nhà đường lúc này đang cực thịnh, các cường hào sĩ tộc của cả khu Lĩnh Nam của người Việt và khu của người Hán, Mông cổ, vvv..vv đều quy phục.

kinh tế, chính trị , nhân tài đều đạt đến cực thịnh.
Nền thương mại quốc tế đã thâm nhập sâu rộng vào Việt Nam thời nhà đường.

Tàu thuyền buôn các nước trong khu vực và ấn độ cũng như trung đông mang hàng đến buôn bán , trao đổi tấp nập.

Tiền tệ và hàng hóa lưu thông và phổ biến rộng rãi, đường bộ và đường thủy phát triển hơn những thế kỉ trước, cuộc sống dân chúng mới đầu có phần dễ thở hơn trước.

Tuy nhiên vẫn bị bị bọn quan lại người Hán và tầng lớp quý tộc, cường hào và đại thương nhân người Hán thao túng kinh tế và và chiếm ruộng đất, người dân vẫn phải bán thân làm nông nô, tá điền.
Hắn hiện tại dang bị sốt do nhiều đêm lạnh đứng trên bục cao đón gió diễn thuyết cho những người dân nghèo, những nạn dân mất đất, bị bắt phu.

Người run lên cầm cập, may mắn hắn có mang theo thuốc, giờ chỉ nằm nghỉ thôi là OK.

Đêm trong rừng tĩnh lặng, với tiếng người nhưng muỗi thì nhiều vô kể, vo ve suốt đêm, may mắn hắn mang theo màn và thuốc chống muỗi.

Xung quanh các trại nạn hắn đã bày cách cho dân vùng này làm những cái bẫy muỗi đơn giản, nhưng muỗi nhiều quá, con nào cũng to như con ruồi, mnuooix thành từng đàn, người phục vụ hắn thỉnh thoảng lại phải thay cái chậu nước bẫy muỗi bên trên đen đặc xác muỗi.

Hắn nhìn phát sợ, nằm ở rừng 1 đêm có khi hôm sau còn cái xác khô, nhất là loại thịt trắng mềm, thơm ngon như hắn.

Từ lúc vào đây, hắn dã phòng bị muỗi rồi, thuốc bôi, thuốc diệt chăn màn đủ cả, chưa kể thuốc trị sốt rét nữa, trong rừng toàn sốt rét ác tính mới tý tuổi mà bị sốt rét này thì đoản thọ sớm.

Các lớp dạy chữ được mọc lên rất nhiều tại các căn cứ, các căn cứ cũng vỡ đất trồng lương thực và chăn nuôi, dựng nhà.

Một số căn cứ đã có những vụ thu hoạch đầu tiên, tuy sản lượng thấp do đất mới nhưng chắc chắn năm sau không cần tiếp tế lương thực nữa.

Tại căn cứ cũ hắn đã xây dựng đội tuyên truyền, các trại , các bản nghe theo mình nhất, ngoài ra còn có 10 bản làng nghèo nhất khi được hắn thông não và bày phương thức canh tác cũng như con giống thì cực trung thành với hắn.

Nhiều người được phân vào các thành trấn ở xa và các cơ quan của triều đình nhà Tùy, hay các gia tộc lớn hoặc là chi nhánh của các gia tộc người Hán hay người Việt.

Hắn có nhiều thời gian xây dựng nên cứ phân họ vào vị trí thấp rồi từ từ leo lên lấy sự tin tưởng.
Hắn quyết định phải lấy lại toàn bộ đất Nam Việt cũ, không phải vì hắn coi Nước của Triệu Đà hay coi Triệu đà là 1 phần nước Việt.

Hắn không bao giờ quan niệm như vậy, Triệu đà là kẻ đã xâm lược Âu Lạc mà còn kẻ đặt vết tích đầu tiên cho việc xóa bỏ văn hóa Việt nam thông qua việc cấm chữ khoa đẩu, chỉ dùng chữ Tần, bắt người Việt mặc quần áo, để đầu tóc Người Hán, bắt dân ta thay đổi nhiều văn hóa tập quán cưới hỏi, ma chay người Việt.

Hắn làm vậy để lấy lại cái biên giới 1 cách chính thống, hắn làm vậy để có thêm dân và lực lượng của các tộc người Việt chưa bị đồng hóa như Mân, điền, dương, âu, lạc, lê v.v..v quy thuận.

Hắn muốn có thêm sức mạnh để phục vụ cho công cuộc độc lập, có thê, đất để phát triển dân số và kinh tế, có nơi hiểm yếu để chống lại người Hán, cũng như có thêm bàn đạp lấn đất người Hán mà trước đây thuộc người Việt.
Những vùng này nguời Việt bị đồng hóa nhiều, nhưng vẫn có những tộc người Việt như Dương Việt, Điền Việt vẫn chưa đồng hóa nhiều do vài trăm năm ngũ hồ thập quóc của người Hán nên họ vẫn giữ đc bản sắc và tiếng nói.

Hắn cần để có thêm sức mạnh, phên dậu chống đỡ người Hán thời thịnh trị nhà Đường cũng như chính sách khai phát Giang Nam của Lí Thế Dân chắc chắn sau này.

Cũng chính thời kỳ khai phát giang nam và thịnh trị nhà Đường sau loạn An- Sử,công cuộc di cư về Phía Nam thời nhà Bắc Tống, Nam Tống, mới triệt để đồng hóa toàn bộ tộc người Việt từ Phúc Kiến trở ra.
Hắn mệt rồi, tất cả đều quá sức quá, theo tuổi cơ thể thì hắn có 11, nội tạng đang gánh áp lực rất lớn.

cần phải nghỉ ngơi bồi bổ vài tháng.

Hắn luôn thầm nhủ chuyến này về bố mày phải nghỉ xả hơi cả tháng, chỉ dạy học không làm gì khác, không nghỉ chắc kèo này chưa kịp lập quốc đã hẹo.

Trời đã vào thu, không khí mát mẻ xoa dịu cái oi nóng gió Lào thổi của dải đất bắc trung bộ.

Bân luôn lo lắng lương thực, mặc dù trong đá không gian hắn còn nhiều nhưng miệng ăn núi lơ chẳng mấy mà hết.

Lương thực luôn là bài toán muôn thủa, con người không chỉ ăn mãi mỗi gạo được, phải có ngô khoai sắn gia giảm, có rau, thịt cá, trứng tiếp them.

Như vậy mới đủ chất, mỗi miếng thịt lại bớt miếng cơm, them 1 miếng thịt là thêm 1 phần sức, bớt 1 phần gạo, nhờ vậy mới không tăng gánh nặng lương thực lên cánh đồng lúa cũng như nỗi lo của hắn.
Thóc các căn cứ cũ thì đã vận chuyển vào đây , vừa làm giống, vừa làm lương thực, mặc dù khu trồng lúa các vùng này cũng gọi là rộng nhưng để cung cấp cho bao nhiêu con người của các căn cứ mới lập này cũng không đủ.

Số lượng này chỉ đủ cho mọi người rau cháo qua ngày nên hắn tạm thời cho toàn bộ thóc trừ số làm giống và nộp thuế cung cấp cho tiền tuyến, còn hắn phải cung cấp lương cho số người căn cứ.

May mắn là chăn nuôi và các loại cây trồng ăn kèm như khoai lang, ngô có kết quả nên mọi người vẫn đủ cái ăn nhưng hắn không phải cung cấp quá nhiều.

Hắn có đội ngũ chuyên tính toán lương thực, mặt ai cũng cau mày, số gạo trong kho vẫn đủ nhưng mỗi khi xuất gạo vẫn khó chịu.

Chưa kể bây giờ mới tháng 7 âm cô hồn mà đã phải tính số thóc gạo chuẩn bị cho mọi người ăn Tết.

Bân hạ lệnh cấm ai động chạm tới gạo nếp, trừ lúc có đám ma hoặc giỗ, tất cả vì chuẩn bị cho cái Tết còn xa tít mù khơi.
Khi hắn trên đường về lại lôi them 1 đám trẻ con nữa về căn cứ mới.

Thật sự là giáo dục trong môi trường hiện đại hắn không chịu nổi cảnh những đứa trẻ vật vở vì đói trong cái không khí này.

Trẻ con dễ đào tạo, dễ thuần phục, chúng là tương lai đất nước, là chiến binh Tương lai.

Bạo chúa Liberia từng nói: “ viên đạn b*n r* từ đứa trẻ 14 tuổi nó cũng giết người được như viên đạn b*n r* từ người 40 tuổi”.

Đó cũng là lí do vì sao Châu Phi lắm lính trẻ con vậy.
Ngoài ra Bân cũng tính lập 1 lực lượng như biệt động thành thời chống Mĩ, Chống Pháp với nhiệm vụ hỗ trợ quân chính quy chiếm đô thị, phá hoại hậu phương và ám sát thủ lĩnh đối phươn .Lực lượng này sau chiến tranh có thể biên chế vào lực lượng cảnh sát luôn,phải xây dựng cả thành thị lẫn nông thôn.Đỡ mất công đào tạo và có lực lượng giữ gìn an ninh luôn, chưa kể những người này toàn những người nắm vững địa bàn hoạt động.
Bân tính đi thế đéo nào mà đang tính về nhà nghỉ xả hơi mấy tháng mà công việc lại nhiều hơn thế này.

Hắn lắc đầu ngao ngán quá, thôi nghĩ làm mẹ gì cho mệt đầu, càng nghĩ càng lắm việc, càng nghĩ càng mệt óc.

Tính ra đọc lịch sử vẫn tốt hơn đọc truyện của mấy thằng xuyên không Tàu.

Người ta thay triều đổi đại hay đánh quân xâm lược.

lập quốc tính bằng chục năm hay vài chục năm nhẫn nhịn nằm vùng không khiến mình thành tâm điểm thiên hạ, sau đó mới vùng lên được mọi người biết đến.

Đằng này đọc truyện nào truyện nấy cũng theo mô tuýp làm quan rồi làm rạng danh thiên hạ là kẻ mọi mũi dùi phản diện chĩa vào, mà thế éo nào lập quốc , thay triều đội đại trong vài năm.
Căn cơ nhiều gia tộc cả vài trăm đến nghin năm, thậm chí hơn nghìn năm mà toàn những thằng vừa đến trong 1- vài năm diệt hết cả gốc lẫn ngọn.

Đến Lí Thế Dân và Võ Tắc Thiên, Lí Trì phải chia nhau mỗi đời diệt 5 gia tộc ngàn năm có quyền thế nhất lúc bấy giờ.

Chưa kể họ chỉ có thể diệt những thằng cốt cán có nhiều quyền lực, diệt sạch chi trưởng của gia tộc này.

Họ cố gắng hết mức chỉ làm giảm ảnh hưởng của họ tới triều đình và dân chúng thôi chứ có diệt được đâu, trong dân gian và các chức quan thấp dòng họ của họ vẫn phát triển ầm ầm,thỉnh thoảng vẫn có người tài giỏi làm quan cao trong triều.
Có tiêu diệt được hết đâu.

Trong khi đọc lịch sử các hoàng đế khai quốc bằng thay triều đổi đại trong hòa bình hay chống ngoại xâm, hay lật đổ triều đại cũ bằng bạo lực của cả Việt Nam và các nước Đông Á, cả thế giới đều rất gian nan và thời gian rất dài, thậm chí không danh chính ngôn thuận hay không phải người hợp cách thì không làm đc.

Thường thì phải mất nhẹ nhàng trên 10 năm hoặc vài chục năm có khi mấy đời người.VD
- như dòng họ Tư Mã, họ từ từ nắm quyền, đến cuối đời Tư Mã Ý khi hoàng tộc nhà Ngụy suy yếu , họ phải mất 3 đời mới lật đổ được.
- Lê Thái Tổ đánh giặc phải mất 20 năm nuôi dưỡng lực lượng và đấu tranh mới giành lại đất nước.

Chưa kể ông còn là địa chủ, cường hào lớn tại Thanh Hóa, ruộng đất vạn mẫu, gia nô hàng ngàn, thế lực cực lớn
-Nhà Trần muốn lật đổ nhà Lí cũng phải bắt đầu từ năm 1209-1225 và dùng cuộc hôn nhân lịch sử mới thay triều đổi đại.

Đến khi có các cuộc cải cách đưa nước nhà hùng cường và 3 lần đánh Nguyên mông mới đứng vững chân.

Nhà Trần cũng là thế lực lớn nhất vùng Hải Ấp- Thiên Trường, giàu có nhất vùng, quân đội tư nhân hàng đống
-Nhà Lí thì Lí Thái tổ cũng phải xây dựng từ thời trẻ tới khi làm vua khi Lê Long Đĩnh chết, cũng mất gần 20 năm và phải dời đô để tránh ảnh hưởng triều đại trước thì mới thành công.

Vua Lí công Uẩn có hậu thuẫn là các quốc sư 3 triều đại như Vạn Hạnh, đồng thời tạo thế lực trong triều mới thành công lên làm vua
-Vua Jumong lập ra nước Cao Câu Ly, ngoài mất cả hơn chục năm thành lập thế lực hùng mạnh thì còn được thế lực lớn của Hoàng Hậu Cao Câu Ly hỗ trợ phía sau.

Điều này làm ông đỡ mất mấy chục năm, thậm chí vài đời nỗ lực khi mà quân Đamun của ông sau hơn 10 năm nỗ lực, mà mới chỉ có vài ngàn quân.

Sau khi có vợ thời gian ngắn thì lập quốc luôn.
Tóm lại muốn thay triều đổi đại, lập quốc thì bạn phải mất nhiều năm, thậm chí nhiều đời và quan trọng bạn có thế lực tự thân lớn hoặc thế lực lớn với cực nhiều tiền và năng lực sản xuất đỡ đầu.

Còn không có hoặc chỉ có vài năm từ con số không thì mơ đi, thời nào cũng vậy .
Nói qua như vậy ta mới thấy việc lập quốc, kháng chiến hay thay triều đổi đại nó khó khăn cỡ nào.

Phải có kiến thức cực kì nhiều và có bộ tham mưu tầm cỡ , cùng với những vấn đề khác nhau thì mới thành công, mà thành công cũng do hên xui vì tỉ lệ người đạt đc thành công cực kì thấp.
Bân ngồi trên chiếc xe trâu mà ngồi ngáp ngắn ngáp dài, may mà hắn có cái điện thoại ngồi chơi game và mấy cuốn sách mang theo, nhưng nó vẫn buồn ngủ vãi đái dù ở ngoài cửa thiên nhiên rất đẹp.
Hắn ngáp vài cái rồi nói với người hộ vệ bên cạnh :
-Ê! Hoành, ông có nhận tin tức mới nào về công tác ở mấy căn cứ chúng ta không.
Hoành đáp :
-Chúa công! Chả có tin tức gì quan trọng lắm! chỉ có mấy người của chúng ta đã thâm nhập thành công vào 1 số cơ quan quan trọng của triều đình dù vị trí thấp.

Như kho bạc, kho lương, người hầu làm dọn dẹp ở quan phủ.
-Mấy lại vụ mùa đợt này được mùa lớn, chăn nuôi cũng Ok và việc nghiên cứu của bên thợp rèn và thợ mộc cũng như gốm, thủ công có sự phát triển vượt bậc do họ tự mày mò nghiên cứu khi không có kiến thức chúa công dạy.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 35: 35: Cướp Đây


Nghe báo cáo thì Hắn cũng hơi ngớ người, khi không có mình dạy thì họ lại có tiến bộ vượt bậc, ảo ma Canada thế.

Hắn rất nhanh suy nghĩ lại thì thấy cũng đúng, vì hắn dạy họ liên tục nên họ trong quá trình nhồi nhét kiến thức, khi không có hắn dạy thì họ ko có kiến thức mới bổ sung nên bắt đầu rảnh tay áp dụng kiến thức mới vào thực tiễn nên có những sự phát triển vượt bậc.

Đúng là học phải đi đôi với hành, học 1 hành 3 thì mới nắm vững kiến thức được, đồng thời mới có đột phá tạo nền móng cho sự phát triển về sau.
Tính ra hắn cứ đi chậm thôi để cho đám kia chơi chán đi rồi hắn mới về, chứ hắn về lúc này thì hắn bị đám này hỏi cho nổ não.

Xe cứ chầm chậm mà về, đi theo hắn còn có 20 người vì 10 người còn lại ở lại 1 số căn cứ để huấn luyện quân sự và chọn 1 số người có tư chất và lòng trung thành tham gia đội đặc công.

Người của Lão Lâm cũng đã đi xuống để tuyển 1 số người cho tình báo các tỉnh phía nam.

Tất nhiên là cả 10 người ở lại mỗi căn cứ 2 người và 20 người đi bảo vệ Bân được trang bị tận răng.

Hiện tại 20 người bảo vệ Bân, Quần áo của họ được bọc lớp ngoài quần áo rộng thùng thình của người Hán, vũ khí của họ cũng được che dấu ở vị trí thuận tiện dễ lấy ra nhất.
Nhìn bên ngoài trông họ giống doàn buôn bình thường vừa đi ngựa thồ , vừa đi xe , vừa đi bò kéo.

Nhưng khổ nỗi họ là đoàn người mang súng với đủ chủng loại từ vũ khí của Nga đến của Mĩ hay Đức.

Trong mấy cái xe ngựa và bò lúc ra khỏi các đồn đóng quân Tùy thì họ mang ra các khẩu trung liên, cả RPD, Súng máy đa chức năng như Pecheneg,MG3, Negev được vải bạt phủ lên.

Lúc ở đồn lũy thì nó đã được tháo rời và cất giữa 2 tấm ván dưới gầm và thành xe như cách biệt động Sài Gòn giấu vũ khí mang vào nội đô hồi năm 68.

Trong xe trâu của Bân được bọc gỗ lim dày nhưng vẫn bọc bên ngoài lớp mây tre đan ngụy trang với 2 con trâu, bên trong nó có 1 khẩu FMG9 và 2 khẩu FN Five-seven bên hông.

Hắn chọn bọn này vì trọng lượng nhẹ ,khẩu FN thì có đạn 5,7×28 mm nên sức giật giảm và bắn chính xác cũng như xuyên giáp tốt.

Chúng rất phù hợp với hắn, người còn nhỏ và với sức lực không lớn, ít chịu được độ giật cao của súng ngắn.
Thời loạn giặc cướp như rươi, may mắn họ chưa gặp bọn cướp nào do lúc vào đi theo có nhiều đoàn quân Tùy tiến về.

Lúc ra thì đi đường lớn thông thoáng cũng gặp nhiều đoàn quân Tùy cuối cùng về lại phía Bắc nên hiện tại chưa gặp.

Bân thấy đường không có ai buồn chán bèn bật mấy bài nhạc thời thế giới cũ đeo 1 bên tai nghe, nghe cho đỡ chán.
Những người hộ vệ thì ngoài mang súng bên người thì họ mỗi người đeo 1 tấm khiên bằng mây tre đan ở lưng phòng giặc cướp bắn tên còn có cái mà đỡ, mặc dù họ ặc áo chống đạn Dragon Skin.

Tuy nhiên gáy và dưới thắt lưng vẫn lộ thiên do áo không tới những chỗ này và dùng khiên để chống những cú chém từ đao hay vũ khí lạnh tầm cực gần do vị trí phục kích quá thuận lợi hoặc địch quá đông, khi mà lúc này súng trong phạm vi hạn chế nhất.

Đầu họ thì đội mũ loại mã lôi cải tiến khi mà ngoài là lớp lá hoặc mây tre đan bọc còn bên trong là mũ M1 có bọc vải.

Bân tính cho họ mặc 1 số loại áo giáp toàn thân chống vũ khí lạnh nhưng kiểu dáng chúng hiện đại quá , không phù hợp giấu đồ, chưa kể nếu như bọn cướp có vũ khí quân dụng như cung mạnh tầm xa và mũi tên sắt thì áo này không đỡ được dẫn đến thương vong không cần thiết và giảm hỏa lực.
Bân ngồi buồn chán nói chuyện phiếm với mấy hộ vệ, hắn nói:
-Nghe nói vùng đất này có khí hậu khá khô nóng, con đường này nghe nói nhiều giặc cướp do là con đường độc đạo buôn Bán với Lâm Ấp.

Thế mà chúng ta cả đi và về đều không gặp tên cướp nào thế nhỉ.
Bân nói điều này hoàn toàn có lý, vì càng chiến tranh thì trộm cướp càng lắm, chưa kể thế đạo này nhiều cường hào địa phương hoặc quan lại cấu kết với cướp.

Nhất là những vùng đất thuộc Lâm Ấp cũ, vùng này sẽ có nhiều tàn quân Lâm Ấp bỏ chạy lên rừng núi lập căn cứ hoặc làm cướp.

Đám này cực kì nguy hiểm vì chúng được đào tạo chính quy về quân sự, Lâm Ấp mất 1 năm rồi nên khá loạn, Quân Tùy rút đi thì bọn cướp này kể cả xuất thân quân đội hay giang hồ thảo khấu phải hoạt động chứ, sao vẫn chưa thấy vậy, quá yên bình rồi.
Ngày xưa, thời Việt nam độc lập thời phong kiến thì vùng bình trị thiên và nghệ an, hà tĩnh nổi lên có nhiều giặc cướp, lúc mà các triều đại suy yếu hay chiến tranh nội chiến liên miên.

Các vùng vùng thanh hóa, huế hết cướp cũng nhờ 2 nơi này được chọn làm kinh đô và nơi hoàng tộc ở.

Bân nghĩ cướp vùng này thành đàn ý, nhất là phải có cảnh ma mới bắt nạt ma cũ vì đám cướp cũ sẽ phải đánh nhau giành địa bàn với đám cướp mới do tàn quân Lâm Ấp lập nên.

Bân vừa nói khỏi mồm xong thì
PHẬP! COONG
Một mũi tên xé gió bắn ngay cạnh hắn, 1 mũi khác bắn trúng mũ sắt đội đầu 1 người hộ vệ làm người này ngã xuống.

Mọi người giật mình bèn chuẩn bị sẵn sàng tư thế chiến đấu, súng tuy tiểu liên chưa mang ra nhưng khiên đã đc che trước mặt, tay đã đặt bên hông cầm súng ngắn,vì họ biết trong trường hợp giáp lá cà hoặc tầm gần thì súng ngắn có lợi hơn.

Súng ngắn của họ nhiều loại, Bân cho họ chọn theo sở thích cũng như sự thuận tiện của mình, chỉ mấy người hộ vệ quanh xe Bân thì dùng các loại súng tiểu liên nhỏ gọn dùng cho cảnh sát hay đặcu nhiệm tác chiến trong không gian hẹp.
Nhiều người chạy vào trong xe hàng có che chắn như các xe chở hàng của châu âu thời trung cổ mà mọi người nhìn thấy qua phim ảnh hoặc trong anime, manga của Nhật , trong những cái xe ấy có mấy nòng súng chĩa ra.

Bên trong đấy họ còn dùng các tấm khiên chống bạo động che chắn phần lưng cho mình.

Bân trong xe cũng đã đội mũ sắt đeo cái khiên tròn chống bạo động sau lưng tay lắm lắm khẩu FMG9 chĩa về phía mũi tên b*n r* qua cái cửa sổ bé tý bằng cái 2 bàn tay người lớn.
Một nhóm người băm trợn có, nhỏ thó có, trọc đầu có, răng sún có , hôi nách có, râu dê có, râu xồm có, lông nách rậm có..vvv..v.v.v.

1 tên thấp nhất trong đội đầu đội mũ và áo giáp của tướng lĩnh của Lâm Ấp dẫn theo gần 5-60 tên cướp mặc đủ loại quần áo từ quần áo người Việt, Lâm Ấp, Hán, đồ quân đội các quốc gia xông ra đánh.

Bọn chúng không cần gọi tên như mấy bộ phim Tàu Khựa hay Hàn quốc hô cướp đây.

Cướp chú trọng nhanh nên chúng bắn mũi tên báo hiệu là cả lũ nhất tề xông lên với đủ loại vũ khí như đao, giáo, kiếm, , mấy thằng bên trên đang giương cung bắn cung tên yểm trợ.
Bọn cướp này bao vây 3 mặt, chỉ chừa đường đằng sau, không phải tụi nó cho nạn nhân 1 con đường sống.

Mục đích của chúng là cướp hang chứ không phải giết người, vì nếu bao vây 4 mặt, con mồi sẽ liều chết chống cự, chúng sẽ bị thiệt hại nặng về người và vũ khí.

Nhưng nếu mở cho chúng 1 con đường thoát thì bọn này đánh bình thường rồi chuồn và bỏ hàng lại, lúc này chúng chỉ nhàn nhã mang hàng về.

Đây là cách thức cực kì thông minh vì vừa đỡ tốn nhân mạng và vũ khí trong khi vẫn có được thứ mình cần cướp.

Thực tế trong lịch sử cũng không thiếu chuyện các bang cướp diệt sạch cả đoàn người nhưng nếu xét theo tỉ lệ các băng cướp hoạt động trên số băng cướp giết hết đoàn người thì vẫn khá ít.
Nhưng đen 1 cái thì băng cướp này cướp ai không cướp lại cướp đoàn xe của Bân.

Nó giống kiểu mấy bộ phim có vài cảnh hài hước khi 1 thằng cầm kiếm đi dọa thằng cầm súng vậy.

Bọn này cũng vậy, đám người cổ đại thời kì cung tên là vũ khí xa nhất thì có ai biết súng là gì đâu.
Thằng cầm đầu hét lớn với giọng nói lanh lảnh to tướng ngược với thể hình của nó:
-Đường này do ta mở, cây này do ta trồng, đất này ta làm chủ, thằng nào muốn yên lành thì để lại tiền bạc và hàng hóa.

Nếu không tao cho chúng mày về gặp ông bà.
Hoành cười thương hại bọn này vừa cười, vừa hét vọng lại, tay vẫn cầm khẩu UZI khuơ khươ:
-Ông bà tao còn sống và đang ở quê mày ơi! Nếu được hộ tống bố mày về quê yên lành thì tốt quá.

Ha Há
Cả đám người của Bân khúc khích cười, mấy thằng cướp mặt nghệt ra , thằng cầm đầu giận giữ quát:
-Cha chả đám khốn khiếp, tụi mày dám nói đểu ông à! Anh em đâu thông đít tụi nóa……….

À nhầm …….

Chém chết mẹ bọn nó cho tao!
Thế là đám cướp tấn công 3 mặt vào đoàn xe,đường rộng do nơi này từng con đường để chở hàng hóa giao thương giữa Lâm Ấp và Vạn Xuân.

ĐÔị quân hò hét xông thẳng vào mục tiêu như những gì chúng hay làm.

Khi chúng chạy xuống đường thì Hoành nghe theo lệnh của Bân ném quả lựu đạn vào đám bọn cướp , mỗi mặt 1 quả M67.
ẦM !
3 tiếng nổ nối tiếp nhau bọn cướp thằng nằm gục chết luôn, thằng bị thương kêu gào, có thằng đứng chôn chân tại chỗ mặt trắng bệch không tự chủ mà đái ướt hết quần, có thằng nằm dưới đất im thin thít.

Mấy thằng đứng đầu xông lên đầu tiên cũng đã nằm lại dưới đất sau tiếng nổ, tính ra bọn giặc cũng bị phế vài chục người do đứng gần nhau mà xông lên.

Giờ tụi nó về mặt sức khỏe chỉ còn lại 1 nửa quân số có thể chiến đấu, nhưng về mặt tinh thần thì là con số không tròn chĩnh.

Bân hạ lệnh :
-Cho người lên tiếp quản bắt trói tù binh, mấy người đằng sau cho súng ngắm lên trên chỗ bọn cung thủ xem chúng nó còn đấy không.

Nhớ đề phòng tụi nó phản kích, thằng nào manh động bắn bỏ luôn đi.
Đoàn chục người chậm rãi chĩa súng tiến lên mang sẵn theo dây thừng bắt tụi này lại lấy tin tình báo.

Bân bắt mấy thằng cắc ké thay cho đám thủ lĩnh đã chết dẫn về căn cứ của chúng.

Thế là có 1 mớ tiền và cứu được mấy người làm nô lệ từ mấy vụ cướp trước, còn lại là người nhà đám cướp này, những người là người Việt nhưng thuộc biên chế quân đội Lâm Ấp cũ, chỉ có máy tay chỉ huy là người thuộc Hoàng tộc Lâm Ấp.

Chúng cố gắng cướp bóc để tạo thế và lực khi di chuyển xuống phía Nam khi chúng biết tin vua của chúng đã rút về đây và thành lập quốc gia mới tên Chăm Pa.
Lại thêm vài trăm người nữa phải bao nuôi, lại tăng gánh nặng công việc.

Lại mất 1 phen diễn thuyết, lại mất them mớ lương thực nhưng đổi lại có mớ tiền.

Bân tính cho mấy chục người mang danh chuyên gia vào đây lập căn cứ vì nó quá đẹp, Nếu như hắn không nhầm thì đây thuộc địa bàn tỉnh Quảng trị, nơi cực kì tuyệt vời lập căn cứ kháng chiến của của quá khứ lẫn tương lai.

Nhiều triều dại cũng như quân giải phóng thời chống pháp cũng lập căn cứ vùng rừng núi quảng trị.

Hắn cần tạo ra 1 thông tuyến đi đường rừng như các cán bộ giải phóng thời chiến tranh chống mĩ trong khu vực Nam Bộ hay chống Pháp ở ATK ( an toàn khu).

Lúc đấy vừa an toàn vừa đảm bảo bí mật, ngày trước thời chống Pháp và Mĩ hiện đại mà các khu này bị đào lên đào xuống mà vẫn coi là vùng an toàn, các cán bộ vẫn đi lại bình thường, thời phong kiến chưa hết nô lệ này thì bố của an toàn.

Bảo sao ngày xưa khởi nghĩa như nấm vậy, người Việt khởi nghĩa liên tọi mà nguồi TQ ko biết .
Bân quyết định khi về phải xây dựng tuyến đường này ngay, nếu có nó thì khởi nghĩa thành công chỉ trong thời gian ngắn, lại còn dễ dàng đánh chiếm các tỉnh.Bân tiếp tục chuyến đi sau khi ổn định trại, trao cho họ lương thực và nông cụ, ngoài ra hắn cũng đc 1 thống tin tình báo về.

Bân được biết hắn còn đối mặt ít nhất 20 toán cướp nữa
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 36: Chương 36


Bân nghệt mặt khi biết còn ít nhất 20 bang phái giang hồ làm cướp chưa kể còn cả đống đám nhỏ.

Bân biết mình khuyết thiếu tình báo nên lần này trở về hắn phải thiết lập thêm nhiều trạm tình báo, cũng như thậm nhập hệ thống tình báo của mình lên toàn bộ khu vực.

Hắn cũng cần tình báo để lập lại tuyến đường xuyên rừng an toàn cho hệ thống an toàn khu xuyên suốt chiều dọc biên giới giáp Lào.

Để nhân viên của hắn có thể thoải mái đi lại trao đổi tin tức công việc, chưa kể an toàn cho công tác, lúc này chỉ cần đối mặt với hiểm họa núi rừng như thú giữ mà thôi.

Chuyện này tuy khó và cần thời gian lâu, thời chống Pháp ngoài số lượng người lớn còn vũ khí mà vẫn có hiện tượng người bị thú dữ tấn công chết mất xác.
Lại vài chục cuộc chiến diễn ra với các cuộc tấn công từ 50 -100 người, ít thì có 20-30, gần như tất cả đầu hàng khi bị 3-5 quả lựu đạn đánh bại, tất cả chúng đều nghĩ là kẻ này là thầy pháp nên biết phép thuật.

Duy chỉ có 2 trận đánh là trận dánh của tướng cướp Trần Cung và Hổ Chột.

Khi đánh 2 tướng cướp này vì khi ném mấy quả lựu đạn xong tưởng chúng đã tan hàng nhưng lại không g**t ch*t được thằng cầm đầu.

Với bản tính không sợ chết và kinh nghiệm chém giết đầy mình, chúng đã không bị chết.
Khi đánh với 2 tướng cướp thì ném mấy quả lựu đạn xong mặc dù chúng đứng yên nhưng lính của Bân lại không ném tiếp.

Chính vì vậy tên tướng cướp nghĩ bọn này hết phép nên hô hào tiếp tục xông vào, lúc này bắt buộc lính của Bân phải sử dụng súng.

Người lính của Bân đã sử dụng khẩu MG3 được phủ bạt kéo 2 đường như phim cánh cổng chiến tranh lúc đánh ITALICA vào phía trước, mấy người lính còn lại thì chĩa súng sang bên đường xả đạn ,.

M4,AK47, uzi, mp5, AKM… thi nhau xả.

Lúc này đám người của 2 băng cướp mới dừng lại và quỳ xuống chịu thua , vì chúng nghĩ những người này là pháp sư.

Vì sử dụng 1 cây gậy sắt khạc lửa liên tục và g**t ch*t chúng bằng thứ mắt thường không nhìn thấy.
Lần này bọn hắn khi bắt hết đám này , về căn cứ thì thấy thảm cảnh của những người dân bị bọn chúng đối xử như nô lệ.

Bân liền ra lệnh xử tử cả đám, khi đi có 21 người, khi về có cả mấy trăm người rồng rắn nhau đi lặng lẽ.

Đoàn người đi lại chậm rãi nhưng khuôn mặt lại vui mừng vì họ đã được tự do và được cung cấp ăn uống đầy đủ.

Ngoài ra Bân bắt những người dân và lính của mình ra nhặt hết toàn bộ vỏ đạn không thiếu cái nào về để tái chế và không để lộ vũ khí.
Qua điện báo hắn đã báo cáo sự việc xảy ra, nói mọi người chuẩn bị chỗ ở và công việc cho những người này.

Cuối cùng mất mấy tháng Bân và đoàn người đã về tới căn cứ.

Mọi người mệt nhọc về nhà của mình sau khi bàn giao đám người , còn mình thì bay về nhà thăm gia đình.

Còn Bân thì cũng phải mất 1 lúc lâu, sau khi bàn giao công việc và chào hỏi mọi người, sau đó hắn mặc kệ và ngủ .
Sáng hôm sau, Bân tỉnh dạy với các thói quen thường ngày.

Sau đó hắn đi xem người dân mới được chuyển đến, hắn muốn xem xét những người này sống thế nào vì họ là trường hợp dặc biệt , nhiều khả năng có thể cung cấp được tin tình báo cũng như hoạt đ*ng t*nh báo do hiểu và nắm vững địa bàn các vùng.

Chưa kể nhiều người ở đây có hộ tịch và giấy tờ tùy thân thời phong kiến được ghi lại trong sổ sách.

Hắn sẽ cố gắng nuôi béo, tẩy não những người này để làm việc cho mình.

Việc này vừa là long thương người và vừa là tình đồng báo hắn được dạy hồi thế giới cũ nhưng cũng kiêm mục đích riêng.
Đến thế giới này , mặc dù hắn có kinh nghiệm chiến trường nghìn năm và dữ kiện lịch sử thông qua sách.

Tuy nhiên mỗi thé giới sẽ có biến số khác nhau và ngay cả hiện tại cũng có nhiều biến số.

Chưa kể, diễn biến chiến trường, xã hội, chính trị có nhiều tình tiết biến hóa mà sác vở không ghi chép hoặc có ghi nhưng không chi tiết hay bị hủy.

Nó biến hóa vô thường không ai có thể dự đoán được.

Nếu thế giới cũ bạn có thể biết trước nó sẽ xảy ra nhưng thế giới này quá khứ của hắn là hiện tại của thế giới này, nó có quá nhiều biến hóa mà ta không biết được.

Để 1 con mọt sách ra chiến trường không kinh nghiệm thì giỏi lắm thắng được trận đầu hoặc mấy trận con con , về sau là thua toàn tập.
Các cuộc chiến luôn dai dẳng tại thời đại này, cho đến thời hiện đại.

Thế giới này hay thế giói cũ hắn đều biết rằng có những cuộc chiến sống còn giữa các dân tộc, tộc người chẳng biết vì sao mà thành kẻ thù của nhau.

Người Hán thì có cuộc chiến sống còn của họ với các bộ tộc du mục người Mông cổ, dân Liêu đông, người Trung Á, người tây Á.

Người Triều tiên hay Hàn quốc hay Cao Ly thì với người Nhât, người Hán và dân Trung Á.

Người Việt thì chém giết nhau với Người Hán, người Chăm và dân Đông Nam Á lục địa.

Đánh nhau với nhiều lí do như éo thích nhau, khác biệt về tôn giáo- văn hóa- chủng tộc, khác nhau về đường lối chính sách, vì đất đai, tài nguyên hay vì mối hiểm họa có thể xảy ra trong tương lai.
Ngoài 1 tháng Bân dùng nghỉ ngơi lại sức và ngâm cứu sách vở, ăn đồ bổ não, bổ cơ thể, phục hồi sau bao ngày bôn ba cũng như vắt kiệt sức làm việc, vì hắn không muốn hẹo sớm, hắn muốn sống dến 70-80 tuổi.

Còn lại trong suốt thời gian cuối thu đầu đông đến 28 tết năm 606 hắn cùng với người trong bộ tham mưu và nhiều người trẻ nắm vị trí cao bàn bạc tình thình và phương hướng phát triển tương lai.
Hắn cũng ra giải dáp thắc mắc của đám thợ rèn và thợ mộc cũng như thợ gạch, gốm, các ngành nghề thủ công nghiệp của những người căn cứ cũ và 2 trại mới cũng như Bản Mường hắn thu phục.

Còn mấy làng nghèo kia thì thôi đê, vì bọn này chưa đủ tầm để hiểu.

Cái Bản Mường và 2 cái trại cũ cũng rất khá khi họ chạy nạn nhờ thế gia tộc mà thu lưu nhiều người có tay nghề các ngành thủ công nghiệp.
Họ sau được Bân thu thì đã được du học tại căn cứ 1-2 năm, sau đó về phổ biến kiến thức cho người trẻ, rồi từ trong đó chọn ra nhữn người có tư chất ngành nghề mình sang năm du học tiếp trong thời gian như trên rồi lại về rồi lại chọn người.

Bân tính lập làng ở những vùng có cao lanh và đất sét nổi tiếng thời xưa để cho họ lập làng, lập ấp làm nghề gốm sứ, hắn muốn toàn thế giới biết gốm người Việt kinh khủng mức độ nào.
Làm giấy.

làm đường cũng vậy, hắn sẽ lên các vùng như Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Hà Nam, vùng đồng bằng sông Hồng trồng mía, trồng củ cải đường vì tầm quan trọng của đường với kinh tế, quân sự.

Nhất là cái thời kì chỉ có gia vị ít ỏi, đường cũng chỉ có cách bánh đường đen mà người hiện đại ko gọi là đường được và mật đường, mật ong tạo gia vị ngọt, muốn ngọt nữa chỉ có hoa quả.

1 nhóm người đang tập trung nghiên cứu làm giấy, ngoài những loại giấy đơn giản thì còn lại tạp nham lắm.Khi hắn không có nhà họ tự lập 1 cái bảng chất lượng giấy cực kì buồn cười đó là dùng mãu của từng loại giấy mà hắn đưa làm bảng biểu chất lượng.

Giấy làm bằng bằng rơm hay vỏ cây theo công nghệ cũ là loại hạ đẳng.

Trung đẳng là giấy Tuyên Thành và các loại giấy dó cổ truyền của người Việt cũng như người Hán.

Còn thượng đẳng là mấy loại giấy hiện đại mà hắn mang tới có giấy vở viết, giấy vẽ.

Mục tiêu của họ là giấy thượng đẳng sản xuất số lượng lớn, cồn mấy loại trung hay hạ đẳng là hàng luyện tập trước khi có thể làm được giấy thượng đẳng
Còn về luyện kim cũng có phát triển vượt bậc khi mà với lò cao và các cách thức luyện kim của các triều đại PK sau này, cùng với các ống bễ thổi khí nhiều oxi nhưng vẫn có lỗ thoát phù hợp không gây quá nóng dẫn đến nổ lò.

Các người thợ rèn bậc thấp trước kia so với người Hán ( 1 số cao hơn), nhưng giàu kinh nghiệm của đủ mọi dân tộc đã tiến lên thợ bậc cao.

Bằng các kiến thức, hình ảnh, video nhồi nhét bao ngày và tự chơi bao ngày khi không có hắn.

Ngoài những công cụ, dụng cụ hắn cho họ làm như cày, cuốc thuổng, xà beng, thì trong thơi gian nghịch ngợm kiến thức thì họ đã rèn được loại sắt non.

Chính xác sắt non thuần là phôi sắt sau khi nung quặng ra thành phẩm trước khi cho sang bên luyện thành phôi thép không tạp chất để luyện thành thép hoặc các vật dụng công nghệ thấp.

Tất nhiên nếu như nhìn phôi sắt này những người luyện quặng thời hiện đại sẽ bảo : “ mày luyện ra sắt chất lượng cao hay sắt để bán sắt vụn.

Phôi của mày còn không bằng mấy tay thợ chuyên nấu nồi nhôm ngoài đường.

sắt này chỉ bán làm sắt vụn cho mấy ông chuyên rèn cày cuốc thôi.

Tuy nhiên, chỉ vậy thôi nó đã hơn hẳn công nghệ thời đại này mà sản lượng còn cao hơn 5-7 lần rồi.

Từ phôi sắt này nếu như đem rèn bặc cách nung đỏ sau đó đập nhiều lần thành sắt ít tạp chất, sau đó thích làm cái gì tùy phụ phẩm vào là thành cái đó.
Bân đến thăm lò và xem xét 1 lượt, hắn khá sốc khi đám này dùng lò đã luyện ra gang và bắt đầu xào gang như cách hắn bảo để ra thép với phương pháp bách luyện.

Gang từ lò tốt hơn và đồng đều hơn những gì mà những người thợ cả người ViỆT lẫn thợ ngoại tộc nhìn thấy.

đó là việc khi hắn mới đi, còn bây giờ sau gần 1 năm thì họ đã luyện được phôi sắt rồi.

Mặc dù phải đập chết mẹ mới có phôi sắt nhưng thế đã là tiến bộ rất lớn.

Họ làm vậy chỉ để xem sắt tinh khiết là như thế nào thôi, ngoài ra họ làm vậy để thí nghiệm các loại phụ phẩm thêm vào ảnh hưởng đến chất lượng thép như thế nào để phù hợp cho từng mục đích sử dụng , còn không thì toàn đập 1 số lần nhất định ra thép ưng ý mà thôi.
Chưa dừng lại ở đó họ đã thí nghiệm thành công công thức sản xuất thép làm vũ khí tốt hơn cách nhà Đường rèn Đường đao, nó sánh ngang với thép thời Minh hoaw2cj nhà Lê rồi.

Thép thời nhà Đường bây giờ họ sản xuất ngon ơ và nhanh chóng, họ còn xếp vào loại hàng cho các công nhân học việc.

Thép đầu thời Minh có thể sản xuất số lượng lớn theo cách dây truyền của chúa công nhưng thời cuối minh đầu nhà Thanh hoặc thời Lê - Nguyễn Việt Nam thì không sản suất được nhiều bằng dù có làm theo kiểu dây truyền, sản xuất chậm hơn rất nhiều.

Âu cũng là quá đỉnh cao khi mà bạn đã đi trước thế giới rất nhiều năm rồi, mặc dù hàm lượng kĩ thuật cũng chưa phải cao cho lắm.

Tuy nhiên với thời kì rèn bằng sức người thì đó là 1 sự nhẩy vọt về số lượng cũng như chất lượng.

Nó gióng như ông chạy bộ hay đi bộ mà chuyển thẳng đi xe đạp vậy.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 37: 37: Ngu Nhưng Mà May


Đó là về sắt thép, còn về nông nghiệp thì có những sự phát triển vượt bâc hơn do người dân đã có kiến thức sẵn và cực kì cao về trồng trọt cũng như chăn nuôi.

Tuy nhiên, những thứ hắn dạy quá mới và giống mới nên họ mới chỉ tiêu hóa hết được mớ kiến thức mà hắn dạy mà thôi.

Cho dù vậy cũng làm năng suất tăng cao 1 cách đáng sợ, lúa thì không nói vì giống Khang Dân sản lượng rất cao.

Tất nhiên ko phải 11-12 tấn/ha như thời hiện đại, nhưng nó cũng rơi vào khoảng 7-8 tấn/ha, đó là 1 con số không tưởng của cái thời kì mà gạo chỉ có sản lượng 1-1,5 tấn/ha, thiếu trâu bò cày và nông cụ cũng như thời tiết sâu bệnh thì còn 900-1,2 tấn/ha.

Tất nhiên có 4 làng thu phục xa xôi nghèo đói được giao nhiệm vụ trồng toàn giống cũ để nộp thuế cho các làng còn lại trên 1 diện tích rộng lớn với lượng trâu cày cung cấp rất nhiều.
Bân đã bỏ thêm 1 nửa số trâu còn lại để các làng mang ra cấy cày và gây giống với các chuyên gia căn cứ chính trợ giúp.

Tất cả mọi người dân hắn quản lý ngầm đều thấm nhuần 1 nguyên tắc sống và làm việc đó là không được để trâu và giống mới lộ ra ngoài, nếu như lộ thì người Hán sẽ kéo quân giết cả lũ.

Chính vì vậy mà các làng giấu Trâu như mèo giấu cứt, trâu cũ thì đặt ở chỗ cổng để cho dễ thấy, còn trâu mới thì giấu ở chỗ bí mật, khi nào sử dụng mới mang ra, có biến thì đốt lửa tín hiệu đầu làng mà báo cho nhau đi dấu trâu.Hiện tại hắn chỉ còn 600 con trong đai không gian.
Với gà thì có cuộc bùng nổ thực sự khi mà gà của họ nuôi không chỉ để ăn như trước mà còn mang bán, tất nhiên là bán cho hắn.

Người dân được học cách làm lò ấp trứng của người Ai Cập cổ, được điều chỉnh nhiệt dộ chính xác thông qua nhiệt kế.

Chỉ với lò đất và ống khói, với chiếc nhiệt kế mà 2 cái trại và căn cứ chính cộng với bản mường đã cung cấp được số lượng gà khổng lồ trống mái có thể kiểm soát được.

Tỷ lệ ấp nở ra gà con là 70-80%, cao hơn rất nhiều cách ấp bằng gà mái truyền thống chỉ có 30-40 %.

Gà thịt thì không bao giờ đẻ được do dã qua tuyển chọn và nuôi đặc biệt khiến buồng trứng chúng không phát triển, teo nhỏ, chưa kể còn được xử lý bằng tia cực tím và quy trình hiện đại nên khỏi lo có con đẻ được.

Mà cho dù có sót thì xử lý bước cuối cùng là cho gà trống vào đàn gà quây kín, sau đó cách li từng con trong chuồng công nghiệp từng con.

Con nào đẻ thì tức là không đạt yêu cầu mang ra nuôi nhốt riêng để bổ xung con giống cho đàn gà thịt hoặc mang đi thịt cho anh em trang trại.
Người dân không thiếu thịt gà, trứng gà.

Trẻ con không còn suy dinh dưỡng như trước vì đã đủ gạo thịt rau cho chúng, nuôi được gà siêu trứng và gà siêu thịt.

Mọi người làm việc nhiều hơn, đêm đêm buồn vợ chồng làm việc nhiều hơn, đẻ nhiều con hơn do có đủ dinh dưỡng cũng với việc không thiếu ăn.
Về y tế cũng có những bước chuyển biến lớn khi mà đội ngũ y tế được đào tạo bào bản thông qua hắn cũng như số sách thuốc của hắn suốt 2 năm qua cộng với các bài thuốc bí truyền cũng như mọi người thu thập được.

Hắn đã lập ra khoa dược và khoa y điều trị riêng biệt nhưng 2 khoa vẫn có sự kết nối với nhau như về nhận mặt cây thuốc và tác dụng, chưa kể các khoa này còn chia ra thành các phòng nhỏ hỏ hơn như phối dược, điều chế, ngoại nội, thú y.

Điều này đã giúp cho tốc độ đào tạo bác sĩ và dược sĩ của hắn tăng lên nhanh chóng, những người được học tập thường xuyên thăm khám, chữa bệnh cho nhân dân để thực hành và tích lũy kinh nghiệm.

Vì thời này con người có nhiều bệnh vặt hoặc những bệnh vặt nguy hiểm thời này nhưng thời hiện đại không còn là mối lo.

Chưa kể đám này chuiwax được bệnh mà thời này không chữa được thông qua các bài thuốc đông y và phẫu thuật dạng tieeuir phẫu đơn giản, cũng như thuốc tây hắn cấp do bệnh cần cứu gấp.

Chưa kể hắn đầu tư dùng các mô hình bằng nhựa và silicon về các bộ phận cơ thể người và động vật.

Xác đám cướp cũng được hắn tận dụng để ngâm vào bể foocmon cho sinh viên thực tập, nhìn đúng cấu tạo con người cũng như phẫu thuật thử..

Thế là sinh viên cũ và giáo viên đã mở ra 1 luật bất thành văn chơi khăm cho những tay lính mới vào nghề rèn tính can đảm : là chọc tay vào hậu môn xác chết ngâm, chọc ngón chỏ nhưng m*t ngón giữa.

Đầu têu trò này chính là hắn.

Nhờ y tế phát triển mà uy tín hắn vững như bàn thạch.
Về mặt thương nghiệp thì hắn giờ là tay buôn cung cấp gà, trứng và gạo cho đám buôn bán cho các vùng.

Đám buôn từ các thành khác giao dịch trên trấn cực kì thích gà của hắn vì nặng kí nhiều thịt , số lượng nhiều, gạo cũng thế, Thịt gà không mềm như gà công nghiệp hiện đại do ăn thóc và ngô khoai, côn trùng cũng như nuôi trồng trong môi trường bán công nghiệp.

Đám thương nhân này đòi cả gà trống lẫn mái, nhưng hắn chủ yếu cấp gà mái, Gà trống hắn cũng cung cấp mạnh nhưng hắn cho 1 làng xa trong 10 cái làng kia nuôi gà giống cũ bằng phương pháp công nghiệp.

Lão Phần và Bân biết thừa đám lõi này nghĩ gì, chuyện này người thường cũng nghĩ ra được huống chi đám cáo già ruộng đất ngàn mẫu này.

Chúng muốn nhân giống giống gà cua bọn họ để ăn cắp giống, sau này tự nuôi khỏi mua.

Tuy nhiên bọn chúng quên là Bân có khâu tuyển chọn giống cực kì nghiêm ngặt nên không để sót.

Vậy nên cho dù có cả mái cả trống thì bọn này cũng chả làm nên cơm cháo gì do gà mái đẻ không được, gà trống thì nhiều con nuôi công n ghiệp nên tịt, con đẻ được thì cũng chỉ là giống cũ, thế hệ sau ko dược chăm sóc như thế hệ đầu thì cũng chỉ như gà thường mà thôi.

Đám này không dưới 10 lần nuôi gà của hắn nhưng lần nào cũng thất bại.
Theo điện tín hắn hắn thông báo về từ trước, Lão Lâm cho 1 đám học sinh mới tốt nghiệp lớp tình báo của mình đi đến những nơi mà Bân đã đánh dấu thông qua Bản đồ.

Những người này đã tản đi khắp chỗ đánh dấu, mỗi nhóm 10 người.

Mới đầu, hắn tính lên vùng Mường Thanh điện Biên nhưng nhớ lại lịch sử thì người Mường sống ở đây từ thời Hủng Vương cơ nên đành bỏ.

Chính vì vậy Mà bản đồ ATK thời chống Pháp được sử dụng, mặc dù vẫn phải có dân bản địa dẫn đường do thời gian xa xôi địa hình đồi đất thay đổi nhưng núi đá thì không, cũng tiện việc vẽ lại bản đồ, để tìm vị trí lập căn cứ.

Các vị trí như thác bản giốc hay khu Pắc Bó đêu được hắn yêu cầu cố gắng tìm hiểu để lập làm bàn đạp.
Tết đến rồi, hắn lại ở căn cứ đêm 30 bật nhạc, mừng năm mới, người dân cũng dóng tai nghe nhạc hắn phát, quân lính cũng được nghe thông qua loa như là hình thành 1 thói quen từ năm 2 năm nay.

Họ rất vui khi lại được nghe những giai điệu vui tươi, có lúc êm ais, có lúc giật gân thần kì này.Lại bài hát năm mới, hắn không bật bài xuân này con không về, năm nay có nhiều người xa nhà vào nam rồi , bật lên thì khóc hết nước mắt, năm mới phải vui chứ.
Trong tháng giêng, hắn nghỉ ngơi làm việc nhẹ, bồi bổ cơ thể mà hắn cho là tàn tạ của mình.

Sang tháng thứ 2 hắn tập trung vẫn phát triển dội ngũ tri thức của của mình và lên kế hoạch các đại lão về vận chuyển hàng hóa cũng như huấn luyện.

Tất cả công việc đã vào guồng, công việc lặp lại và thêm vài tình huống phát sinh, lính của hắn cũng tham gia nhiều việc không cần hắn quyết.

Giờ chỉ mệt cái việc thành lập 1 căn cứ bí mật có thể là trên dảo hoặc đất liền tiến hành buôn laauj và sản xuất muối.
Thông tin này hắn phải mất thêm 3 tháng, đến tháng 5 âm lịch thì phía nam mới có thông báo về những vị trí đẹp để thiết lập căn cứ.

Để có được thông tin này ngoài tự mình tìm hiểu, hỏi dân địa phương, người của căn cứ mới, các thương nhân các thương cảng hiện đang hoạt động nhộn nhịp đất Lâm Âps cũ.

Tháng 6, các đoàn báo cáo tức tốc báo cáo mang theo bản đồ đánh dấu những vùng không người mà có vị trí đẹp có thể làm cảng thông qua bản đồ.

Khi Bân nhìn thấy, hắn tức tốc mang bản đồ to ra xem và phát hiện nhiều cảng thời hiện đại có, nhiều chỗ là các vùng hõm mà trước kia hắn có du lịch đi qua.
Hắn đã đi theo lối mòn khi chỉ chăm chăm tìm các cảng biển thời Việt Nam Phong kiến độc lập mà quên các cảng hiện đại , chưa kể là các khu du lịch nổi tiếng.

Hắn lại tức tốc lôi cái bản đồ đánh dấu những khu du lịch, bãi biển đẹp, ra xem.

Xem xong mới ngã ngửa ra là mình quá ngu, tương lai là bãi biển đẹp, hải đảo du lịch quốc phòng với nghề đánh bắt hải sản nổi tiếng.

Nhưng quá khứ nó là vùng đất hoang chó ăn đá gà ăn sỏi, không thích hợp làm cảng do biển nông cũng như địa hình cắt xẻ.

Chưa kể các hải đảo gần bờ không có người do quá khứ không có công nghệ xây cảng cũng như tìm nước ngọt.
Bân chửi thầm : “ má nó! Ngu vãi ra.

Thời xưa không có dân cư và điều kiện khoa học kĩ thuật mới để hoang, mình cứ chăm chăm tìm những cái không đâu.

Tốn bao nhiêu công sức, tiền của, cuối cùng mới tìm ra đáp án ngay chân mình.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 38: 38: Thiếu Nhân Sự


Hắn nhớ 1 loạt khu công nghiệp và các đảo gần bờ mà địa lí kín gió cũng như là khu du lịch mà lúc này các cảng thời cổ chỉ là cảng cửa sông do không có điều kiện làm đường xá nên không khai thác được.

Các vùng này toàn là vùng hẹp ven biển cùng núi đá, đáy biển xấu, nông hoặc lắm đá ngầm, không có đường nên không có ai ở cũng như mở cảng.

Chưa kể vùng này kín gió , bí mật nên thoải mái đê.
Vị trí hắn chọn chủ đạo có rất nhiều nhưng hắn phân ra 2 loại, 1 là hải đảo gần bờ, 2 là bến cảng heo hút cách xa cửa sông.

Hiện tại, số căn cứ của bọn hắn toàn ở trong nội địa.

Hải đảo hắn chọn các đảo là Hòn mê , Cồn Cỏ, Cô tô, đảo Vân Hải thuộc quần đảo Vân đồn, Long Châu, Cát Bà…...!Những đảo hắn chọn toàn loại có khoảng cách dưới 20 hải lí nhưng lại có đất và nước ngọt.

Còn bờ biển thì chọn các vùng bờ biển như Vũng áng, nghi sơn, đồng minh, Cửa hiền, Bãi lữ, hòn la,…..
Tất nhiên hắn không làm hết 1 lúc mà chọn những vị trí nào nhiều người Việt nhưng không có người, vị trí đẹp làm cảng hay bãi tắm làm muối, thủy tinh.

Hắn sẽ làm từ từ, phân người từ từ, vì hắn còn kế hoạch ATK , người hắn không đủ để xây dựng nhiều thứ như thế, nhất là các nơi hải đảo dù gần bờ.

Người mới hắn thu lưu trong cuộc chiến Lâm Ấp – Tùy chưa đủ tin tưởng vì tam giáo cửu lưu rất nhiều, không biết có đứa nào phản bội không nữa.cái gì cứ phải từ từ ăn chắc.

Lâm Âp 10 năm nữa mới đánh lên chiếm lại mấy vùng này trừ thanh hóa, Nghệ An.

Hắn còn 10-12 năm để đấm nhau với 2 thằng Hán và Chămpa.

Chưa kể mùa này theo kinh nghiệm thì là mùa mưa bão, người dân đoán bão về theo sự biến đổi khí hậu hoặc kinh nghiệm dân gian nên không biết bão về lúc nào mà tránh, Hắn cũng chưa muốn người của hắn ra bờ ngay lúc này.

Bỗng hắn lóe lên 1 ý tưởng, Hắn nói:
-Thông báo Tất cả các người đứng đầu lại đây, ta có chuyện quan trọng muốn nói.

Bảo họ chiều mai vào căn cứ họp
Người hộ vệ tức tốc thông báo tới các vị thủ lĩnh của từng chỗ thông qua bộ đàm và điện đài.

Trưa hôm sau mọi người đã đến, sau khi đánh chém 1 bữa no nê với tài nấu nướng mà Bân đã dạy cho các đầu bếp, 2h chiều cuộc họp bắt đầu.

Bân nói:
-Hôm nay, đã mời các vị ngồi đây đều biết kế hoạch của ta để bắt đầu độc lập sau 10-12 năm.

Tuy nhiên , vì lí do có nhiều thông tin mới mà chúng ta thay đổi 1 chút ít kế hoạch.

Chính vì vậy mới có cuộc họp hôm nay .
Nói xong Hắn chiếu hình ảnh bản dồ lên máy chiếu thông qua kết nối với cái máy tính bảng.

Màn hình chiếu sang, mọi người đã quen với nó nên không ai thấy lạ.

Trên bản đồ là các chấm màu đò, cam trên cái bản đồ 3 màu của dải đất miền Trung , chỗ nào có chấm màu đỏ là chỗ đấy có người của họ ở, chấm cam là vị trí tương lai hắn sẽ cho người đến khai phá.Bân nói:
-Thưa mọi người, theo như trinh sát chúng ta báo về thì các chỗ chấm đỏ dân cư đã ổn định, nhiều chỗ đã tự túc được lương thực, chỉ còn muối là khó khăn, vẫn cần chúng ta trợ cấp.

Khu vực dân cư mới lập đã lập thành các trại, mỗi trại có vài trăm đến 2000 người.

Thỉnh thoảng chúng ta có nhận thêm 1 số người lang thang gia nhập.
-Thực ra có thể nhận thêm nhưng do chúng ta mới vào chưa đủ vật tư cung ứng, mang nhiều quá lại sợ bị cướp hoặc bị quân Tùy thu mất.

chưa kể trình độ quản lý của chúng ta còn yếu, dân cư tạp nham nhiều thành phần.

Cung ứng lương thực, vật tư của chúng ta với họ còn nhiều khó khăn do đường xá và khí hậu.

- Nhân viên các mặt nông nghiệp , giáo dục, y tế còn nhiều thiếu thốn, trình độ chưa cao.

Thuốc men còn nhiều hạn chế, nhất là các loại thuốc ta mang từ chỗ thầy ta cũng thiếu trầm trọng vì mỗi lần cung ứng không mang được nhiều.

Lần trước đi vào ta cung ứng cho 1 số lớn những loại thuốc cơ bản như cảm, kháng sinh, sốt rét, tẩy giun….

Tuy nhiên họ phải tiết kiệm.

Thuốc nam thì trong đấy có nhiều loại thuốc quý, tuy nhiên nó lại ở sâu trong rừng nguy hiểm, nhiều loại có ở bên ngoài nhưng cũng thiếu rất nhiều loại mà ở phía bắc này có.
-Ngoài ra còn nhiều nguyên liệu thô mà không phải qua chế biến quặng như các loại nguyên liệu trên đất chỉ có biển mới có độ tinh khiết cao.Ví dụ như muối.

Chỉ cần có muối là bài toán muối của các căn cứ và buôn lậu cũng như mở rộng căn cứ sang vị trí khác để thực hiện kế hoạch khác chắn chắn thành công.
-Tất cả là do chúng ta có bờ biển, cảng và thuyền đi biển,để thu thập chúng.
-Đây là các chấm màu cam thể hiện các vị trí bãi biển, vùng đất thích hợp làm cảng hay hải đảo gần bờ không người mà chúng ta có thể làm cảng hoặc căn cứ bí mật, làm muối, huấn luyện quân, sản xuất.
-Giờ mọi người cho ý kiến của mình đi
Lão Phần là 1 thương nhân chính gốc đứng lên nói:
-Thưa chúa công , 2 năm qua tôi nghe theo lời chúa công đi lên các cảng biển, cảng sông vùng Vân Đồn, , Nhị Hà tìm hiểu mua thuyền đi biển hoặc thuyền sông.

Các thuyền đi biên chỉ có thể đi được gần bờ, cách bờ vài chục dặm thì được chứ ra xa hơn sợ sóng đánh vỡ Tàu.
Bân nói:
-Không sao , chúng ta chưa thể lập căn cứ hải đảo nhưng những căn cứ lập bờ biển cảng lậu thì hoàn toàn có thể.

Qua thông tin bên dưới truyền về thì chúng ta có thu lưu nhiều người từng là thợ mộc , đóng tàu biển tàu đánh cá của Lâm Âp nên chúng ta sau này có thể tự đóng, bảo dưỡng tàu.

Chưa kể không chỉ người Hán biết đóng tàu Biển, Người Việt cũng biết mà, chúng ta sẽ mua tàu gần bờ của các xưởng đon gs tàu người Việt.

Tất nhiên nhiều kích cỡ , loại lớn nhất dành cho thuyền buôn mà dân chúng được phép đóng cũng mua.

Chúng ta thứ không thiếu nhất là tiền.
Lão Lương nói:
-Chúa công, những căn cứ chúng ta lập lúc này đã ổn định, bây giờ lại phải rời đi chỗ khác thì tôi sợ nhân tâm không ổn.

Chưa kể những vùng chưa ổn định mà bây giờ lại bắt đi thì ho0j chưa hồi phục lại sức lực.

Nhiều người lo sợ mà chạy trốn thì chúng ta bị lộ.
-Chưa kể người chúng ta điều đi đã rất nhiều để làm công tác quản lý những căn cứ này, người ở dưới có trình độ cao không còn nhiều, người đã học xong hoặc đang học bậc cao thì chưa có kinh nghiệm.
Lão Tùng nói:
-Thưa chúa công ngoài vấn đề người quản lý hành chính còn cả vấn đề về nhân lực của quân đội nữa.

Trong thời gian qua chúng ta cho nhiều thannh niên tình nguyện của các làng , trại tham gia quân đội, thậm chí cả các làng chúng ta thu phục.

Hiện tại, thực sự thì chúng ta không có người để điều đi thêm, quân số vẫn thường trực 500 nhưng các vùng khác cũng cần bảo vệ.

Sau 2 năm chúng ta có tăng quân số nhưng phải đi vào căn cứ mới nên quân số các làng vẫn y nguyên.
-Giờ có điều đi thì đám lính mới tuyển không huấn luyện kịp.

Chẳng may bị tấn công không đủ người bảo vệ làng và căn cứ mới.

Tôi nghĩ chúng ta nên tuyển lính từ các căn cứ ổn định mới lập thành đội bảo vệ trang bị vũ khí như chúng ta.

Nếu như lính của chúng ta tại căn cứ dùng vũ khí mà chúa công cho đám Cục 2 của lão Lâm dùng thì tôi đảm bảo có thể điều hơn nửa lượng lính vào nam với trang bị đao kiếm như giờ.

Đám ở nhà dùng vũ khí chúa công cho đám cục 2 thì thừa sức bảo vệ căn cứ chính..

Hề Hề…
Lão Tùng nởi nụ cười khả ố, nói rõ ý định của mình nhằm vào số thần binh kia.

Lão Lâm nói luôn:
-Tùng, ông khôn nó vừa vừa thôi! Nói đi nói lại ông vẫn nhằm vào đám vũ khí của chúng tôi chứ gì.

Mơ đi !
-Chúng tôi neo người lại phải hoạt động độc lập không hỗ trợ nên cần đống thần binh kia.

Ông có cả biển người mà đòi, lỡ đánh nhau mà đống kia rơi vào tay địch thì đúng là thảm họa.

Mới cả ông có 1 đống nỏ liên châu cũng như nỏ bắn nhiều mũi batixta, nỏ bắn tên tự động rồi còn gì.

Cho đám lính của ông mang đống đấy theo thì bao đủ.
-Thưa chúa công nhân việc Lão Tùng đây thì tôi cũng đồng ý việc chúng ta neo người quá, các làng , các trại vùng Trường Yên này chúng ta có tổng người quản lí là 1 vạn.

Chúng ta giởi lắm tổng động viên khoảng 3000 người làm lính, nhưng bình thường thì là 1,5 nghìn.

Bên cục 2 chúng tôi mỗi năm tuyển được 50-70 người, thêm đám nhóc 15 tuổi đổ lên để đào tạo trước thì mới có 100 người 2 năm qua số người được đào tạo bài bản đều được phân ra bên ngoài hết rồi.

Giờ bên trong chỉ có hơn 100 người, số mới tuyển huấn luyện ít là 30 tổng có 130 người , giờ phân ra thực sự khó.
-Lão Tùng còn có cách lấy người căn cứ mới làm dân binh, chứ chỗ tôi không phải ai cũng vào được nhất là độ trung thành thấp như mấy người tại căn cứ mới lập.

Nói thật, chuyến này mà đưa vào trong nữa thì cố gắng lắm đưa 30 người, trong đó 1 nửa mới tốt nghiệp, 1 nửa có kinh nghiệm là hết sức.

Số còn lại phải công tác tại đây và xử lí thông tin cũng như huấn luyện đám mới.
Thị Vân nói:
-Chúa công, chúng tôi cũng thế, người được đào tạo có đủ trình độ của chúng ta mang vào trong giờ sẽ không còn bao nhiêu , mà lượng công việc giờ ngày càng nhiều.

Số còn lại chưa được đào tạo xong, 1 số đào tạo xong nhưng chưa tiếp xúc công việc lấy kinh nghiệm, chưa kể còn phải phân ra cho các bộ phận khác, họ cũng cần người làm văn thư, tính toán.
Bân nói:
-Chung quy lại chúng ta thiếu người trầm trọng.
 
Khẩu AK Ta Bá Chủ Thế Giới Song Song Cổ Đại
Chương 39: 39: Biến Động May Mắn


Bân nói:
-Thế này đi,những căn cứ ổn định thì thôi, cứ để chúng tiếp tục phát triển, những vùng chưa ổn định thì ta báo với họ là sẽ di chuyển đến vùng không còn quân Tùy.

Mấy ngày nay tăng khẩu phần ăn của họ để họ nhanh chóng lại sức, dù gì cũng nghỉ ngơi hơn 2 tháng rồi.

Tất cả người điều đi lần này sẽ tập trung vào mấy căn cứ chưa ổn định, những vùng ổn định thì chỉ cần hỗ trợ 1 số thuốc men và muối thôi.
-Ngoài ra theo như Lão Tùng nói ta sẽ tuyển thêm 1 số lượng người khu căn cứ đã ổn định làm dân binh , tham gia huấn luyện bảo vệ căn cứ, nhờ vậy chúng ta có thể điều bớt người hoặc cho đám dân binh mới này tham gia hộ tống.
-Đội lão Lâm lần này điều 20 người thôi, lão Tùng và các trại sẽ góp người khoảng 3-400 người đi vào nam là công tác an ninh và bảo vệ.
-Khoan đã, đừng vội nghe ta nói hết đã.

Ta sẽ cho lính bính thường dùng súng và sẽ huấn luyện chúng dùng súng hiệu quả thông qua ta và quân lão Lâm.

Tuy nhiên, ta cấm hung khi xuống phía nam phô súng ra ngoài, chỉ khi nào hộ tống đoàn người ra vùng đất mới mới đc cho lộ ra, lúc đi đương lớn cấm lộ.

Tất nhiên vũ khí của các ngươi có chút khác biệt với vũ khí của đám lão Lâm.

Tất nhiên uy lực cũng như tính năng vẫn thế.
Lão Tùng quỳ xuống hô:
-Đa tạ chúa công, chúa công đúng là sáng suốt.
Vừa nói vừa quay sang cười đểu với lão Lâm với suy nghĩ : Từ nay bố đếu sợ mày rồi nhá”.

Lão chỉ dám xin cho đám ở nhà , nhưng chúa công lại cho cả đám đi vào nam, lão không gì sướng bằng.

Tuy nhiên lão Tùng không biết là bên lão Lâm không chỉ có súng và lựu đạn , còn có RPG và cối 60, mìn claymo, mìn phá tường.

Đó là những thứ mà lão Lâm ko cho lão Tùng biết , cũng là thứ mà bọn hắn tập suốt 2 năm qua.

Tất nhiên là Bân dùng đạn tập và đạn đồ chơi, mìn tập, thậm chí thuốc nổ đen theo đúng tỉ lệ vàng để nổ mà đám nghiên cứu chuyên biệt Bân tạo ra.

Thuốc nổ có nhiều loại mà mỗi công thức thay đổi tỷ lệ hoặc thêm chất phụ gia sẽ làm nhiệm vụ chuyên biệt như nổ phá đá, nổ phụt hay nổ mạnh phân mảnh hay nổ phóng.

Ví dụ mìn Claymo phiên bản fake của bọn hắn có tấm đồng đằng sau, thuốc nổ đen loại phụt, bi đồng nhỏ, cuối cùng là tấm giấy dầu dính bằng hồ dán vài - lớp hong khô chứ không phải nhựa hoặc tôn mỏng như hàng chính hãng, kích nổ bằng dây cháy chậm.

mặc dù hình dáng giống đấy nhưng nổ thì cũng được, yếu, và tầm xa cùng sức phá hoại kém hơn nhiều so với chính hãng, đủ làm hàng luyện tập.

Tuy sau này đi đánh nhau phải mang quả cỡ DH60 hoặc to hơn để tấn công tập kích quân địch, nếu như sản xuất thành công với thuốc nổ đen.
Cối và RPG thì người bây giờ chịu thua rồi, đành phải lấy khẩu thật ra để bắn nhưng đạn cũng là đạn hơi để tập bắn trên đất mềm.

Cả lũ sẽ được chứng kiến uy lực nổ khi cho phép sử dụng đạn thật, tất nhiên là mỗi 1 khóa sẽ cho phép bắn 3 quả thật lúc cho học viên xem, còn lại là đạn hơi.

Tất cả để tiết kiệm đạn dược dù nó được lấp đầy 2 ô không gian.

Vì đơn giản hắn cần cho thế hệ sau của hắn dùng nếu như hắn chết mà chưa nghiên cứu ra được thành công.

Cuộc đời biến thiên chả biết lúc nào có thể theo ý mình.
Lão Lâm hậm hực nhưng cũng chả làm được gì, nhưng lão cũng đành thôi vì trong tay lão đồ ngon hơn nhiều, mà đám kia chắc cũng chỉ có súng đạn bình thường thôi.

Lão Lâm tin là chỉ với số người ít ỏi của lão thừa sức cho đám lão Tùng ăn hành dù đông người hơn.
Bân nói tiếp:
-Tiếp theo là vấn đề về kinh tế cũng như công cuộc chế tạo phỏng theo những gì ta cung cấp và dạy mọi ngườiTheo như các bộ phận báo cáo thì Chúng ta hiện nay có 1 số sản phẩm mới có tính vượt bậc , có thể buôn bán thu lợi lớn.

Tuy nhiên hiện tại ta chưa giao lão Phần mang đi bán vì
-Đầu tiên là xà phòng làm từ mỡ lợn, thứ này nó như cái thư ta đang cung cấp cho các ngươi.

Tuy nhiên ta tính buôn đám này cho bọn nhà giàu và đám người Hán cũng như Lâm Âp và các nước lân cận như Phù Nam, Nam Chiếu, Thổ Phồn, Cao Câu Ly, mới kiếm được nhiều nhất.
-Thứ 2 là giấy, chúng ta đã làm được khá nhiều loại giấy từ hạ đẳng đến trung đẳng, tất nhiên hiện tại nó chưa thể bằng loại giấy tốt nhất thế giới Tuyên Thành của Nhà Tùy nhưng cũng không kém bao nhiêu
-Thứ 3 là các mẫu bàn ghế gỗ mà ta đã thiết kế cho đám lão LÃO ThẢO làm và đã thử mài bóng cũng như sơn vecni, sơn mài lên gỗ khá đẹp, còn được khảm đá, xà cừ nữa, sau này có thể bán cho đại tộc giá cao.
-Chưa kể tổ thủ công Mĩ nghệ đã làm được các loại đèn, đèn lồng, đèn kéo quân, ghế mây tren đan, gùi, bồ, giỏ,làn khá đẹp, tiện dụng theo mẫu ta đưa, cũng như xử lý vật liệu theop cách ta đưa
-Thủy tinh thì khỏi đi do các ngươi mới dùng cát thường nung nóng nên chất lượng cũng như màu sắc không được đẹp, chỉ có đám thủy tinh vỡ của ta cho các ngươi là tạm được.

Coi như luyện tập.

sau này có căn cứ bờ biển chúng ta lấy cát trắng về luyện thì lúc đấy mới là thủy tinh chính gốc.
-Nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa đã có những bước phát triển lớn khi mà khung cửi của chúng ta đã được Lão Thảo chế tạo thành công với con thoi bay và khung cửi dệt kiêu mới khiến cho sản lượng dệt tăng gấp 4 lần.

Chưa kể cách nuôi tằm mới khiến tằm ít bị chết cũng như năng suất cao hơn.

( Năm 1733 John Kay đã phát minh ra "thoi bay".

Phát minh này đã làm người thợ dệt không phải lao thoi bằng tay và năng suất lao động lại tăng gấp đôi.

Khung cửi dệt vải thủ công là loại đã cải tiến mới nhất mà các làng nghề như Vạn Phúc dùng, không phải như loại thời nhà Tùy hay nhà Đường dùng giống như các dân tộc thiểu số dùng, laoij các các làng nghề Việt anm hay trung quốc dùng hiện đại và phức tạp hơn.

) chúng ta cần tìm chỗ trồng vùng nguyên liệu và tìm đầu ra.
-Đội xây dựng cũng có thành tựu khi khai thác đá vôi sẵn có của địa phương, đá vôi khi nghiền nát bón vào đất 1 lượng thích hợp làm cải tạo đất trồng, khiến năng xuất hiện nay tăng vọt.

Ta đã phổ biến cách này cho các căn cứ khác, vùng nào không có đá vôi sẽ được chuyển đến.

ngoài ra theo cách ta chỉ chúng ta đã trộn cát với đá vôi và nung tạo ra xi măng thô hay còn gọi là vữa thô, điều đó khiến các công trình bền chắc hơn.

Cái này là bí mật, khi nào chúng ta có nó loại xi măng mới thì sẽ công bố loại này cho dân chúng.
Bân thầm cảm thấy mình may mắn khi đọc truyện và xem anime khi hắn ta rất mê bộ Dr stone.Vì bộ truyện tranh này nói về các kiến thức khoa học cơ bản, khoa học thưởng thức, các kiến thức khoa học phòng thí nghiệm timd được xung quanh chúng ta 1 cách đơin giản trong điều kiện thời nguyên thủy.
Lão Lương nói :
-Chúa công, xà phòng là thứ tốt nhưng sao không bán cho người Việt dùng mà phải bán cho đám lang sói kia.

Nó phòng chống bệnh khá tốt, lại tẩy sạch ô uế cũng như vết thương.Người Việt không dùng mà chop bọn Hán dùng thì chúng ta khác gì giao trứng cho ác
Bân nói:
-Ta đồng ý với ông , nhưng khổ nỗi nó làm từ mỡ lợn là loại nhiều mỡ nhất, tuy ta có cho cả dùng mỡ gà lẫn mỡ bò nhưng không đủ.

Viof mỡ không chỉ dùng làm xà phòng mà còn làm cái để cho mọi người xào , rán, nấu đồ ăn, ngươi không thấy hằng ngày nhà ngươi dùng mỡ làm đồ ăn đấy à.

Mặc dù ta cung cấp thêm dầu đậu nanh, dầu mè, dầu đậu tương nhưng đó là dùng cho quân đội và các nhà các ngươi.

Còn dân vùng này chuyển sang mỡ lợn, gà hết rồi, nhà nào cũng có 1 hũ.
- Lợn tại trại lợn chúng ta cung cấp cho người dân còn thừa 1 ít, do cung cấp cho người dân cực kì hạn chế, người dân không phải hôm nào cũng có mỡi lợn mà ăn.

1 tháng ăn được 10 ngày là giỏi, còn lại thay bằng mỡ gà, thay thế mà còn không đủ kia, giờ 1 tháng họ có 15 ngày ăn mỡ 1 cách dè sẻn nhất.

1 ít này thử nghiệm thôi, đang sản xuất để găm hàng số lượng lớn mang ra bán, sợ là khi bán được hàng thì khỏi cho dân ăn mỡ lơn luôn.

Lúc này dân chỉ có ăn mỡ gà, ta cũng tính cắt nửa khẩu phần dầu ăn của quân đội và các ngươi để cung cấp cho người dân để họ khỏi loạn do ít được ăn đồ ăn ngon.

Dân ăn sướng quen rồi, lúc ăn khổ không chịu được đâu.
-Ta đang tính khi nào có căn cứ cạnh biển thì chúng ta có được nguồn nguyên liệu thay thế để khỏi phải dùng mỡ lợn làm xà phòng, lúc này mới có xà phòng rẻ cho người dân Việt được.

Mà khi chúng ta bán được xà phòng rẻ cho người dân cũng là lúc chúng ta độc lập cho dân tộc, cho đất nước.
Lão Lương noi:
-Tôi đã hiểu thưa chúa công.
Bân nói tiếp:
-Chúng ta cần đất trồng cây lương thực hoặc bán lương thực, tại các vùng đất đã ổn định.

Ta sẽ cho người ngoài ruộng lúa ra thì sẽ trông thêm các loại cây công nghiệp để phục vụ cho kế hoạch sản xuất những thứ của chúng ta.
-Chúng ta không chỉ cần người mà còn vùng đất rộng lớn để trồng cấy cây nguyên liệu cho sản xuất, chưa kể chúng ta còn cần người khai thác mỏ sắt, đồng, vàng, các loại nguyên liệu khoáng sản khác nữa .
-Chúng ta cần người,Lưu dân mất đất, nhà cửa qua chiến tranh giờ ko còn nữa, lưu dân mất đất bị địa chủ, người Hán chiếm đất khá là bập bõm.

Một trong những cách nhanh nhất có người là mua nô lệ, nô lệ mua bằng đường bộ không được nhiều cũng như vận chuyển khó khăn, tốn thời gian.

Vì vậy chúng ta mua nô lệ bằng đường thủy hoặc biển thì nhanh hơn , ít tốn kém hơn.
-Tóm lại chúng ta thiếu người và tàu thuyền, kiểu này giáo dục là tiên quyết, năm nay cố gắng đào tạo các nhân viên về giáo dục, khoa học kĩ thuật.

Năm nay, dừng toàn bộ hoạt động mở rộng, có gì sau Tết chúng ta bàn tiếp.

Năm nay dồn toàn lực vào củng cố nội bộ, củng cố các địa bàn để đứng vững chân, các chỗ căn cứ có được.

Ngoài việc di chuyển căn cứ mới thì toàn bộ tạm dừng mở mới căn cứ, chỉ thu nhận thêm lưu dân vãng lai.
Tất cả đồng thanh hô:
-Vâng thưa chúa công.
Bân nói chuyện này là thật, giờ công việc hắn bộn bề rất nhiều , các máy điện tín đi xa đến 1-1,5k KM đã được phân bố cho mọi người tại các căn cứ.

Hắn trao rất nhiều quyền cho nhân viên ở tại chỗ, cũng như hiện tại nhà của hắn thành cái trung tâm truyền tin rồi.

Hắn đang tính lập 1 trung tâm điện đài cũng như phòng làm việc riêng,không thì nhà hắn không đủ chỗ cũng như còn làm nhiều việc khác, máy móc cứ rè rè lien tục nhức hết cả đầu.

Hắn tính cho 3 cái trại mới lập nhất vào mấy chỗ ven biển vì không có người,mà trại cũng không có lớn, tổng 3 cái có 2000 người, lần này dủ các thể loại .Nhân viên vào trong hỗ trợ cũng được 500 -600 người đủ sức hỗ trợ đến khi ổn định thì điều bớt về, nhưng cũng phải hết mùa mưa bão này đã.

Tháng 10 âm lịch thì điều người vào, lúc này hết bão, thời tiết cũng đã dịu mát hơn , trong đó cũng không lạnh như ngoài này nên dân cư đi lại thoải mái.
Bây giờ là tháng 6 âm lịch tức tháng 7 dương chưa hết mùa bão lũ, điện hắn báo là trong đấy nhân viên cố gắng cùng bà con làm công tác phòng chống bão, nhất là hỏi ý kiến của mấy người già ở trại.

Vì họ là người có kinh nhgieemj nhất trong việc dự đoán bão, dù có sai cũng phải chuẩn bị không chết cả đám.
Học qua manga Ds.

Stone hắn bắt đầu cày bộ truyện và phim này , cùng với việc xem các video khoa học, hắn trong mấy tháng này bắt đầu dồn sức vào mấy cái thid nghiệm với đống nguyên liệu sẵn có cũng như được lão Phần mang về để tiến hành thực nghiệm khoa học với giáo viên cũng như học sinh và người làm các ngành công nghiệp.

Hắn cố gắng thực hiện các thí nghiệm, câc bước sản xuất các mẫu
Chưa kể HẮN huấn luyện quân dội sử dụng vũ khí mới cũng như các phương án tác chiến chiến tranh quiy ước cũng như chiến tranh du kích , đào hào, hầm cho đội quân lão Tùng và các trại.

Nhiều chiến thuật có khác hơn so với đám cục 2 lão Lâm nhưng cơ bản huấn luyện giống nhau nên hắn không cần mất quá nhiều sức với đám này, có việc gì thì đám Cục 2 của lão Lâm huấn luyện cho.

Hắn cũng sử dụng đạn tập hoặc mô hình thay thế , sau đó mới cho 1 ngày bắn đạn thật làm quen, đến lưỡi lê, dao quân dụng tập cũng chỉ là hàng mà đám lão Tượng rèn theo mẫu để tập hoặc bằng gỗ.
Tóm lại làm mọi cách tiết kiệm hết sức có thể, cái gì chứ súng đạn lúc chiến tranh tiêu bao nhiêu cho đủ.

VD 1 triệu viên đạn nói thì to chứ thời hiện đại bắn 1- vài trận là hết, đến chiến tranh thời napoleon sung hỏa mai bắn 3 phát / phút hết cỡ trận Oa-tec-lo, 1 trận đánh lớn ngày đầu tiên mà mất cả triệu viên huống chi súng ống hiện đại bắn liên thanh.

Vì vậy sau khi huấn luyện sử dụng, đâm lê dánh báng, tháo lắp, vệ sinh súng, hắn chỉ cho phép lính của mình 5 ngày tập bắn 1 lần, mỗi lần 10 viên.

Gần đến hạn đi vào nam thì hắn cho đám chuẩn bị đi tập nhanh hơn xuống thành 3 ngày với 2 viên đầu bắn phát 1, 8 viên sau liên thanh bắn 2 viên.
Khi Bân đang đắm chìm trong thế giới bản thân và xây dựng căn cứ thì ở Phương Bắc nhà Tùy cũng có những thay đổi khi Tùy Dạng đế lên ngôi.

Bắt đầu thời kì hưng thịnh cuối cùng sớm nở tối tàn cuối cùng của nhà Tùy thông qua chính sách xây dựng đế quốc nhanh chóng của Tùy Dạng đế.
Ngày 21 tháng 8 năm 604, Dương Quảng lên ngôi, đổi niên hiệu là Đại Nghiệp, tức là Tùy Dạng Đế.

Em trai út của Dạng Đế là Hán Vương Dương Lượng, đang làm Tổng quản Tĩnh châu, cai quản 52 châu phía bắc Hoàng Hà, từ khi thấy Dương Dũng và Dương Tú bị Dương Quảng hãm hãi, trong lòng rất lo lắng.

Đến khi Văn Đế băng hà, Dạng Đế sai Khuất Đột Thông đến chỗ Dương Lượng báo tin.

Dương Lượng biết rằng Dương Quảng chủ mưu, bèn theo lời khuyên của Vương Khuể và Tiêu Ma Ha, cất quân làm phản, đuổi Khuất Đột Thông về Trường An.

Thứ sử Lam châu Kiều Chung Quỳ và 19 châu đem quân hưởng ứng Dương Lượng, thanh thế rất lớn.

Nghe tin Dương Lượng tạo phản, Dượng Đế sai Hữu Vệ Tướng quận Khâu Hòa làm Thứ sử Bồ Châu, trấn giữ Bồ Tân để đề phòng.

Nhưng không bao lâu sau, Dương Lượng dùng kế chiếm được Bồ châu, Khâu Hòa phải chạy về Trường An.

Nhân đà thắng lợi, Dương Lượng sai 3 vạn quân đánh tới Đại châu, nhưng sau đó bị đại bại.

Đúng lúc này, Dương Quảng sai Dương Tố đem 5000 quân tinh nhuệ tập kích Bồ châu, giành thắng lớn.

Dượng Đế bèn xuống chiếu phong Dương Tố làm Tĩnh Châu Đạo hành quân Tổng quản, Hà Bắc Đạo An phủ sứ, tiếp tục dẫn hơn vạn quân công đánh Dương Lượng.

Lý Tử Hùng ở Bột Hải cũng đem quân hưởng ứng, liên tiếp đánh bại Dương Lượng.

Lượng hoảng sợ, lại dẫn 10 vạn quân ra giao chiến với Dương Tố ở Hao Thạch, cũng bị thua phải lui về Thanh Nguyên.

Sau cùng, Lượng bị Dương Tố bắt sống ở Tấn Dương.

Dượng Đế không giết, nhưng giáng làm thứ nhân và giam vào ngục đến chết.
Từ cuối năm 604, thầy cúng Chương Cừu Thái Dực dâng tấu nói rằng kinh đô Trường An có phong thổ không thích hợp cho Tùy Dạng Đế, do đó ông chuẩn bị dời sang Đông Đô Lạc Dương, để thái tử Dương Chiêu ở lại trấn thủ Trường An.

Tháng 3 năm 605, Dạng Đế sai Thừa tướng Dương Tố, Nạp ngôn Dương Đạt và Tương tác Đại tượng Vũ Văn Khải nhận lệnh xây dựng Đông Đô Lạc Dương, yêu cầu tháng 1 năm sau phải hoàn thành.

Khi xây Đông Đô, cần số nhân công rất lớn, mỗi tháng lại trưng thêm hơn 200 vạn người, số người chết do quá sức đến 4, 5 phần, đội thu xác chết phải dùng xe chở tử thi, chết ở hướng đông thì đem chôn ở Thành Cao, chết ở hướng tây thì chôn ở Hà Dương, liên tiếp không dứt.

Sau khi xây xong Đông Đô, Tùy Dạng Đế chuyển hẳn sang đấy và rất ít khi trở về Trường An, mặc dù trên danh nghĩa vẫn giữ Trường An là kinh đô của đế quốc.
Dạng Đế lại ra lệnh đào hố rãnh có chu vi lớn quanh Đông Đô để tiện việc phòng thủ.

Đến khi hoàn thành, Đông Đô có chu vi hơn 50 dặm, chia làm hơn 1000 phố, ba chợ buôn lớn là Phong Đô, Đại Đồng, Thông Viễn.

Riêng chợ Phong Đô có 120 dãy, hơn 3.000 cửa hiệu, hơn 400 căn khách sạn, hao tốn tiền bạc và nhân công không kể xiết.

Sang tháng 5, Tùy Dạng Đế cho xây Tây uyển, chu vi 200 dặm, xây biển nhân tạo hơn 10 dặm trong vườn, bên trong lại cho dựng các núi Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu, vượt cao khỏi mặt nước hơn trăm thước, đền đài miếu vũ la liệt trên núi.

Ở cung Duyên Cừ, có tới 16 viện, mỗi viện do một Tứ phẩm Phu nhân làm chủ, quy mô hết sức xa hoa tráng lệ.
Năm 605,Tùy Dạng Đế lại sai đào Thông Tê Cừ, tiếp nối công trình kênh đào Đại Vận hà dưới thời Tùy Văn Đế.

Đoạn tây bắt nguồn từ Tây Giao Lạc Dương hiện nay dẫn nước Cốc Thủy và Lạc Thủy nhập vào Hoàng Hà.

Đoạn đông bắt đầu từ Tỉ Thủy Huỳnh Dương, theo đường của Ngô Phù Sai cho đào khi xưa, dẫn nước Hoàng Hà qua Biện Thủy, Tứ Thủy thông đến Hoài Hà; qua các thành thị là Biện châu, Tống châu, Túc châu, Tứ châu.

Cùng năm, triều Tùy lại huy động hơn 10 vạn dân Hoài Nam một lần nữa xây dựng Sơn Dương độc.

Từ bấy giờ đường từ Sơn Dương đến Trường Giang không còn phải vòng qua hồ Xạ Dương mà có thể tiến thẳng theo dòng nước mà đến.
( Đại Vận Hà thời Tùy-Đường đóng vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương nằm ven tuyến, sau khi hoàn thành thì đóng vai trò là tuyến đường liên kết chính trị, kinh tế, văn hóa bắc-nam Trung Quốc trong 600 năm sau đó, xúc tiến giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các châu huyện nằm ven tuyến.

Tổng chiều dài của hệ thống kênh đào này vào thời kỳ đó là khoảng 2.500 km).
Cùng trong năm 605, tướng Tùy Lưu Phương vốn được lệnh Tùy Văn Đế đánh chiếm vùng Giao Châu năm 602, lại tiến xuống nước Lâm Âp, bị quân của Lâm Ấp đánh bại theo quan niệm của người Trung quốc.

Thực chất quân Tùy đánh bại Lâm Ấp, nhưng đầu não và tài sản cùng với hệ thống quân đội, quý tộc của Lâm Ấp vẫn còn giữ được vùng đất cuối cùng là tỉnh Quảng Nam ngày nay.

Theo quan niệm Trung quốc phải diệt được hẳn nước, giết vua và đầu não mới tính là thành công, việc Lưu Phương không diệt được vua và triều đình, cũng như quân đội , chưa chiếm được hết nước coi như không đạt được mục đích chiến lược đề ra, quân số lại bị thiệt hại nặng nên tính là thất bại.

Lúc này , lại thêm dịch bệnh tràn lan, mười người chết hết 4,5.

Lưu Phương cũng chết trên đường về nước.

Tuy vậy, xét theo nghĩa thời chiến tranh hiện đại thì nhà Tùy đã đánh bại Lâm Ấp, vì Lâm Ấp lúc này mất đến 80% đất đai cũng như 60-70% dân số.

Bắt buộc họ phải mở rộng về phía Nam, tấn công những vùng đất của các bộ tộc người Lào, Phù Nam, người Tây Nguyên để có thêm đất đai, tyaif nguyên cũng như dân số.

Để rồi hơn 10 năm sau, sau khi bình định yên ổn và phát triển những vùng đất chiếm được cũng như đã dưỡng đủ sức thì họ tấn công lên phía bắc, đánh bại quân Tùy lấy lại vùng đất đã mất đến mãi Hà Tĩnh mới chịu ngừng.
Cũng trong năm 605, Tùy Dạng Đế cho đào kênh Thông Tế Cừ nối Lạc Dương đến bờ sông Hoàng Hà.

Sau đó ông tiếp tục cho đào kênh đào Hàn Câu nối sông Hoài với sông Dương Tử.

Đây là hai dự án kênh đào quan trọng được xây dựng dưới thời nhà Tùy, tuy nhiên lại phải tốn một nguồn kinh phí vô cùng lớn, gần một nửa số nhân công bị chết trong giai đoạn đào kênh.

Sau đó, để phục vụ cho sự lãng phí xa hoa, Dạng Đế lại ra lệnh xây 40 hành cung khắp cả nước để tiện việc tuần du.

Mùa thu năm 605, Tùy Dạng Đế đem theo nhiều cung nhân xuôi dòng từ Lạc Dương tới Giang Đô tuần du bằng một chiếc thuyền lớn, trên thuyền có sẵn các gian phòng theo lối kiến trúc như các cung điện.

Sang tháng 8 cùng năm, Dạng Đế đến được Giang Đô và lưu lại ở đấy một thời gian
Tùy Dạng Đế đã xây dựng bộ mặt cho đế quốc mới phục vụ cho triều đình cũng như hoàng tộc và các đại công trình phục vụ cho quân sự, kinh tế giao thông cả nước trong vòng có 2 năm trên 1 vùng đất rộng lớn.Vì việc xây cung điện và kinh đô mới 1 cách nhanh chóng cũng như quá lớn cũng như quá xa hoa , chưa kể lúc này nhà Tùy vừa mới xong cuộc nội chiến anh em hoàng tộc.

Lúc này đã bòn rút gần như toàn bộ nhân lực, vật lực, ngân sách nhà Tùy.
Các công trình xây dựng trên nền tảng bắt phu, tăng thuế, chưa mang hoặc không mang lại lợi ích thiết thực cho người dân khiến lòng dân đã xuất hiện bất mãn.

Nhất là khi nhìn thấy đống công trình xa hoa cũng như số người bị bắt phu và chết khổng lồ, nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển kinh tế cũng như thu thuế má vẫn còn tính trên đầu ruộng của người dân khi mà người lao động chính của nhiều gia đình bị bắt phu và chết.

Nhà Tùy cũng chủ chương xây dựng 1 quân đội mạnh đông đảo nhưng kinh tế chưa theo kịp, nó khoét rỗng quốc khố nhà Tùy .
Biện pháp vẫn là tăng thuế, tuy nhiên nếu đội quân này chỉ ở trong nước giải quyết nội loạn hoặc ngoại xâm nước ngoài thì vẫn trong khả năng chịu đựng của dân chúng và quốc khố nhà Tùy.
Chính nhờ những lí do này mà Bân có thời gian phát triển yên ổn của mấy năm đầu khó khăn khi xây dựng căn cứ cũng như lực lượng.
 
Back
Top Bottom