Linh Dị Hồng Bạch Song Hỉ

Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 80


Thời gian quay ngược lại rạng sáng đêm hôm trước.

Đoàn người Mộc Cát Sinh rời khỏi Nghiệp Thủy Chu Hoa. Chu Ấm Tiêu hiện nguyên hình, chở theo hai người bay vút lên trời.

Điểm đến của họ là Bồng Lai.

Chu Tước ngày bay được vạn dặm, nên dù Bồng Lai nằm tận ngoài biển khơi xa xôi thì cũng chỉ chớp mắt là đến.

Không bao lâu sau, không khí bốn phía bắt đầu trở nên ẩm ướt. Màn đêm không còn tối tăm u ám mà lấp lánh ánh sao xuyên qua tầng mây, và từ bên dưới, tiếng sóng vỗ bờ vọng lên rì rào.

“Lão Ngũ, thả chúng tôi chỗ bến phà là được.” Mộc Cát Sinh nói: “Nguyên hình của chú to quá. Lần này chúng ta đi gây chuyện chứ không phải tới làm khách, phải đi nhẹ nói khẽ, đừng lố quá kẻo lộ lại quê.”

“Giờ là lúc nào rồi chứ.” Chu Ấm Tiêu bất lực, “Lão Tứ, anh chỉ biết chọc người ta thôi.”

Bồng Lai là núi tiên giữa biển, người thường khó mà đặt chân đến được. Nhưng cách núi không xa có một bãi đá ngầm, nơi đó dựng một bến phà, trên bến buộc một chiếc thuyền không đáy, tiện cho khách lạ ra vào.

Đêm ấy là đêm trăng tròn, bóng trăng khổng lồ phản chiếu trên mặt biển. Bãi đá ngầm nằm ngay chính giữa bóng trăng, trong vầng sáng màu trắng sữa có một chiếc thuyền nhỏ đang neo đậu.

Chu Ấm Tiêu đáp xuống bãi đá ngầm, hai người nhảy xuống từ trên không. Sài Thúc Tân cúi người tháo dây thừng, Mộc Cát Sinh vỗ nhẹ lên lông cánh Chu Tước, bảo: “Lão Ngũ, đưa đến đây là được.”

Chu Ấm Tiêu há miệng, muốn nói gì đó nhưng lại chẳng thốt lên lời. Cảnh này anh đã trải qua không biết bao lần rồi. Anh là học trò nhỏ tuổi nhất trong thư viện Ngân Hạnh, là người được mọi người che chở và cũng thường là người bị bỏ lại sau cùng.

Mỗi lần như thế, anh đều không biết phải nói gì.

May thay, người anh tiễn lần này không phải đi một mình, mà có người đồng hành bên cạnh, như hình với bóng.

Cuối cùng con chim lớn đỏ rực cúi đầu, cọ cọ vào cổ Mộc Cát Sinh.

“Lão Tứ, anh hai.”

“Chuyến này bình an nhé.”

Sài Thúc Tân chống mái chèo, tiếng sóng vỗ triền miên, bãi đá ngầm dần khuất xa. Chu Tước vẫn đứng nơi đó, hóa thành một chấm đỏ nhỏ xíu.

“Lão Ngũ cứ đứng mãi như thế, khéo lại thành hòn vọng phu đời mới mất thôi.” Mộc Cát Sinh nói, “Gió biển thì lớn, cái bộ lông chim của cậu ta không bị gió thổi trụi hết mới lạ đấy.”

Y rút chiếc tẩu Cô Vọng mượn tạm từ chỗ Ô Tất Hữu ra, ngậm lên miệng, rồi thò tay vào túi áo Sài Thúc Tân lấy một hộp diêm.

Bình thường Sài Thúc Tân không tán thành chuyện y hút thuốc, nhưng lần này hắn chỉ khựng lại một chút, không nói gì thêm.

Mộc Cát Sinh nhả ra một hơi khói, làn khói xanh quanh quẩn lượn lờ. Đã lâu lắm rồi y không đụng đến tẩu Cô Vọng. Thân tẩu làm bằng gỗ mun, miệng tẩu khảm vàng, lấp lánh ánh mờ trong đêm tối.

Y nghĩ ngợi một lát rồi buột miệng như thể đang tìm chuyện để nói, “Cái hồi còn ở thư viện Ngân Hạnh, lão Tam thực ra chẳng giỏi hút thuốc chút nào.”

Sài Thúc Tân: “Anh biết.”

“Giọng anh ta trời sinh đã hay, hút thuốc thì phí quá.” Mộc Cát Sinh ngậm tẩy thuốc, giọng y lẫn trong tiếng gió biển, mơ hồ chẳng rõ, “Hồi đó toàn em với lão Nhị lôi tẩu Cô Vọng ra nghịch miết… Động tí là gọi mấy hồn ma quỷ quái lên rửa bát nấu cơm hộ.”

Nói rồi y bật cười, “Ngày ấy lão Tam đúng kiểu quản gia kế toán chính hiệu, đến cả trong tẩu thuốc cũng mang theo một đội giúp việc, gọi là tới ngay.”

“Ngày xưa khi em đi du học, người em viết thư cho nhiều nhất thực ra không phải anh, cũng chẳng phải lão Nhị, mà là lão Tam.” Mộc Cát Sinh nói: “Bấy giờ cước phí bưu điện đắt lắm, phải tiết kiệm từng đồng một. Em tính tới tính lui, thấy lão Tam có vẻ là người ít ra khỏi nhà nhất trong đám bọn mình. Lão Nhị thì khỏi nói, cầm đao trong tay là có thể tung hoành khắp trời khắp đất. Còn anh, dù bận bịu với sự vụ của Dược gia nhưng trong thư gửi vẫn bóng gió ý định ra nước ngoài học y. Chỉ có mỗi lão Tam, bản lĩnh của Âm Dương gia có ra nước ngoài cũng không dùng được, thiên thời địa lợi khác biệt, thêm cái tính hay lo nghĩ của anh ta nữa, chắc cả đời cũng chẳng rời quê nhà được.”

“Anh ta cứ ru rú trong nhà, không bước chân ra khỏi cửa, mà em đã nước ngoài rồi, bèn viết thêm những chuyện mình thấy vào thư cho anh ta nghe.” Mộc Cát Sinh gõ nhẹ vào tẩu thuốc, nói bâng quơ: “Có giai đoạn em ở Pháp, cực kỳ thích ngồi viết thư cho lão Tam trong một quán cà phê nhỏ ở bờ trái sông Seine. Lúc đó em có một người bạn cùng lớp muốn học tiếng Trung, thế là em lấy thư của lão Tam ra dạy cô ấy nhận mặt chữ Hán. Tiếc là anh ta chẳng có tí lãng mạn gì cả, thư nào cũng dong dài lảm nhảm. Nào là ăn nhiều cơm, uống đủ nước, đừng quan hệ nam nữ bừa bãi, bạn em còn tưởng anh ta là mẹ em cơ.”

“Em viết cho vui, anh ta nghe cho có. Thế là cứ ngỡ anh ta đang cùng em rong ruổi khắp chân trời góc bể vậy.” Mộc Cát Sinh khẽ cười.

Một người kể vu vơ, một người nghe bâng quơ, cuối cùng chỉ toàn chuyện hư không trên giấy, mà bao năm tháng cũng cứ thế trôi qua.

Mỗi đời Vô Thường Tử chỉ nhồi thuốc vào tẩu một lần duy nhất, cho đến khi Vô Thường Tử qua đời, thuốc trong tẩu vẫn chưa cháy hết. Vị của tẩu Cô Vọng rất kỳ lạ, như hỗn hợp của vị thuốc lào cổ xưa hòa với mùi hương trầm cũ kỹ. Mộc Cát Sinh không biết cách bào chế của loại thuốc lá này, nhưng y biết rõ mùi hương trong đó đến từ đâu.

Đó là mùi tro cốt.

Sài Thúc Tân lẳng lẽ nghe y kể hết rồi nói: “Hồi đó anh gửi thư cho em, em bảo em không thiếu tiền mà.”

“Và với cả anh đâu có hứng thú với việc đi du học, anh chỉ muốn đi tìm em thôi.”

Mộc Cát Sinh như đang chờ sẵn câu này của hắn, lập tức cười phá lên, “Sao hả Tam Cửu Thiên, ghen với cả anh vợ mình luôn à?”

Sài Thúc Tân liếc y, vẻ mặt bất lực.

Gió biển thổi qua mặt, Mộc Cát Sinh trông rất thư thái, y nói những lời này dường như chỉ là vô tình buột miệng, nhưng thực chất là muốn làm dịu bầu không khó. Giọng điệu lại cố ra vẻ mập mờ, như vầng trăng ẩn giấu dưới làn sóng biển.

Sài Thúc Tân khuấy mái chèo xuống nước, vớt vầng trăng lên.

“Sắp tới Bồng Lai rồi.” Mộc Cát Sinh lười biếng nói: “Đừng chèo nữa, lại đây nằm cùng em một lát đi.”

Dù sao cũng là đêm đẹp trăng tròn, cảnh sắc hiếm thấy thế này, bọn họ nên hẹn hò trước rồi hẵng tính đến chuyện giết người phóng hỏa sau.

Theo cách nói của Mộc Cát Sinh, việc hủy diệt Bồng Lai chỉ như chơi lại một bản nhạc cũ, ôn bài cũ rút kinh nghiệm mới ấy mà. Sài Thúc Tân vốn là tay chơi kỳ cựu, lần một lạ lần hai quen. Lần trước hắn đốt sào huyệt của người ta thuần thục ra phết, nên lần này cũng chẳng có gì phải bàn, cứ làm như cũ là được.

Y gần như chẳng lập kế hoạch gì cụ thể. Một mặt, y và Sài Thúc Tân quá hiểu nhau, có nhiều chuyện không cần nói ra cũng ngầm hiểu.

Mặt khác, từ cuộc nói chuyện với Tiểu Sa Di trước đó, Mộc Cát Sinh đã lờ mờ cảm nhận được Họa Bất Thành dường như có thể biết được một số việc thông qua tiền Sơn Quỷ. Và chính điều này đã kìm hãm Tiểu Sa Di, buộc lão chỉ có thể úp mở vài lời bóng gió.

Hơn nữa, cái ngày y rời khỏi Bồng Lai mà không lời từ biệt, Họa Bất Thành lại chẳng hề phái người đi tìm y, thậm chí còn không một lời hỏi han, chuyện này tuyệt đối bất thường. Gã chắc chắn đã linh cảm được điều gì rồi.

Nếu đúng như vậy thì Mộc Cát Sinh chỉ còn cách giữ miệng cho kín, kẻo chưa kịp ra chiêu đã bị người ta đoán sạch nước đi.

Theo sự ăn ý của y và Sài Thúc Tân, bọn họ sẽ chia làm hai ngả khi tiến vào Bồng Lai. Sài Thúc Tân chịu trách nhiệm thu hút sự chú ý Họa Bất Thành, còn Mộc Cát Sinh sẽ bố trí tin vật của sáu nhà ở các mắt trận, cuối cùng khởi động trận pháp, một mẻ hốt trọn.

Tất nhiên, đó là kịch bản lý tưởng nhất, còn thực tế thì luôn đầy rẫy những biến số bất ngờ khiến người ta trở tay không kịp.

Ngay khi thuyền nhỏ vừa cập bến, Sài Thúc Tân đã nhận ra có gì đó không ổn, “Quá yên tĩnh.” Hắn nhíu mày.

Quả thật yên tĩnh đến lạ. Bồng Lai vốn là môn phái cường thịnh, dưới trướng có đến cả ngàn đệ tử, vậy mà xung quanh không một tiếng người, ngay cả một ngọn gió thoảng cũng chẳng thấy.

Chuyện gì đây? Lẽ nào Họa Bất Thành đoán được bọn họ sẽ đến, nên đã cuốn hết gia sản chuồn ngay trong đêm rồi?

Mộc Cát Sinh nheo mắt quan sát cổng núi phía xa, trong lòng chợt dấy lên cảm giác khác lạ.

Y lấy vài đồng tiền Sơn Quỷ ra, bói một quẻ ngay tại chỗ. Sài Thúc Tân nhìn y, “Thế nào?”

“Một tin tốt và một…”

“Tin xấu.”

“Tin xấu là Họa Bất Thành hóa điên rồi. Có lẽ gã đã nhận ra mưu đồ muốn nuốt trọn vận khí sáu nhà khác của mình đã đổ bể, nên gã quyết định chơi lớn luôn.” Mộc Cát Sinh ngừng lại, như thể đang tiêu hóa thông tin gì đó, lát sau nói tiếp: “Gã đã phong tỏa toàn bộ đảo Bồng Lai, biến nơi này thành một lò luyện đan.”

Sài Thúc Tân lập tức hiểu ý của Mộc Cát Sinh, “Ý em là, gã định luyện hóa tất cả mọi người ở đảo Bồng Lai ư?”

“Về lý thuyết thì có thể, nếu gã thực sự tham đến mức đó. Nuốt trọn hơn ngàn sinh mạng người ở Bồng lại chỉ trong một hơi, chưa biết chừng thật sự bộc phát tu vi, đắc đạo phi thăng.”

Mộc Cát Sinh hơi chấn động, “Em biết gã là kẻ trơ trẽn, nhưng không ngờ gã lại vô liêm sỉ tới vậy. Đúng là kẻ tham ăn thì chẳng bao giờ có giới hạn.”

“Gã phong tỏa đảo Bồng Lai nhưng chúng ta vẫn tiến vào được.” Sài Thúc Tân nghĩ đến một chuyện khác, “Gã đang đợi chúng ta.”

“Đúng vậy.” Mộc Cát Sinh gật đầu, “Họa Bất Thành biết chúng ta sẽ đến, hơn nữa đã có sự chuẩn bị từ trước. Nhìn cái thế này của gã, rõ ràng là muốn luyện hóa cả chúng ta luôn.”

Đối thủ đáng gờm đang chực chờ ngay trước mặt, hai người trao đổi ánh mắt, nhanh chóng phân công xong xuôi —— Mộc Cát Sinh tung tiền Sơn Quỷ lên, “Họa Bất Thành ở trên đỉnh núi, đi đường cẩn thận.”

Sài Thúc Tân khẽ gật đầu, nhìn y một cái rồi như cơn gió biến mất ngay tại chỗ.

Họa Bất Thành làm vậy, thực ra đã thuận nước đẩy thuyền giúp bọn họ một phen. Gã phong tỏa toàn bộ đảo Bồng Lai, nên một khi Bồng Lai bị hủy diệt, ảnh hưởng lan ra bên ngoài sẽ giảm đi rất nhiều.

Tuy nhiên điều này cũng có mặt trái. Nếu Họa Bất Thành luyện hóa đủ nhanh, Mộc Cát Sinh có khi còn chẳng kịp bố trí toàn bộ trận pháp, thậm chí ngay cả tín vật của sáu nhà cũng sẽ bị gã nuốt chửng.

Đến lúc đó, bọn họ sẽ không còn bất kỳ cơ hội thắng nào nữa.

Vì thế, việc cấp bách nhất lúc này là phải tranh thủ thời gian —— Sài Thúc Tân đi chặn gã điên muốn thành tiên kia, Mộc Cát Sinh thì chạy đua từng giây từng phút đi bố trí trận pháp.

Đều là những lão già sống dai như nhau, giờ chỉ xem ai nhanh tay nhanh chân hơn thôi.

Sài Thúc Tân lao vút trên đường núi, vận hết tốc lực, chưa đầy nửa canh giờ đã lên tới đỉnh Kiếm Các.

Tuyết phủ trắng xóa, biển mây cuồn cuộn.

Trên Kiếm Các, dưới vầng trăng tròn, có một hồ nước lớn màu bạc, gọi là Bạch Vân Biên.

Trong ký ức của Sài Thúc Tân, hồ nước này chỉ xuất hiện vào ngày Đại hàn. Vậy mà chẳng biết Họa Bất Thành dùng cách gì lại có thể tái hiện cảnh tượng này giữa tiết hè nóng bức.

Họa Bất Thành mặc áo trắng, đang chèo thuyền du ngoạn giữa hồ, bên cạnh là một bình rượu.

Gã nhận ra Sài Thúc Tân đã đến, nhưng vẫn không ngoảnh đầu lại. Gã ném cần câu sang bên, thả con cá chép xanh vừa mới câu được trở lại hồ, “Ngươi tới rồi.”

Sài Thúc Tân không nói một lời, bật người lao tới, đao Thỉ Hồng sắc lạnh tuốt ra khỏi vỏ, vẽ lên một đường sáng chói lóa giữa không trung, chém thẳng về phía Họa Bất Thành!

Cú chém này hắn dồn tới chín phần công lực, mạnh đến mức dù là Họa Bất Thành cũng buộc phải bật dậy né tránh. Chiếc thuyền nhỏ lập tức bị chém làm đôi, đường đao chém xuống đáy hồ, cuộn lên một đợt sóng lớn.

Màn nước bắn tung tóe, Họa Bất Thành thở dài, “Tiếc cho một bình rượu ngon.”

Sài Thúc Tân hoàn toàn mặc kệ gã nói gì thì nói, chỉ lặng lẽ ra chiêu, chiêu nào chiêu nấy cũng đều dứt khoát tàn độc. Nếu Họa Bất Thành có tài trong việc đơm đặt, dùng lời nói mê hoặc lòng người, thì đối với Sài Thúc Tân, mấy trò đó của gã chẳng khác gì múa cho người mù xem —— vô dụng cả thôi.

Về điểm này hắn lại khác hẳn Mộc Cát Sinh. Nếu người đứng ở đây là Mộc Cát Sinh, rất có thể y vừa đánh vừa diễn kịch nói với Họa Bất Thành.

Một người là Trường Sinh Tử, một người là La Sát Tử. Dù Họa Bất Thành có tính toán kỹ lưỡng, mưu sâu kế hiểm đến đâu thì Sài Thúc Tân cũng chẳng phải dạng hiền lành, dễ đối phó. Cả hai đều mang trên mình những món nợ máu chất chồng.

Thần tiên diệt ma, La Sát nuôi hổ.

Sài Thúc Tân di chuyển nhanh tới mức hóa thành bóng mờ, dưới ánh trăng chỉ có thể thấy được những luồng sáng đỏ rực lóe lên. Mỗi nhát đao của hắn đều nhắm trúng vào điểm yếu chí mạng của Họa Bất Thành, ép đối phương phải ra tay phòng ngự —— Đao Thỉ Hồng va phải một vật gì đó, vang lên tiếng rít chói tai.

Họa Bất Thành rút kiếm ra khỏi vỏ.

Sài Thúc Tân chỉ từng thấy kiếm của Họa Bất Thành trong ảo cảnh, nhưng đó đã là chuyện của cả trăm năm về trước. Hiện giờ trăm năm trôi qua, ai biết được kiếm pháp của gã đã đạt tới cảnh giới nào rồi.

Một kiếm vung lên, cuốn theo ngàn lớp tuyết, khí thế hùng tráng ngất trời.

Hai người đối đầu trên mặt hồ. Một người áo đen đao đỏ, rực rỡ choáng ngợp, một người áo trắng kiếm mảnh, phiêu diêu thoát tục.

La Sát đối đầu tu sĩ, lệ quỷ đối đầu thần tiên. Hai luồng khí thế hoàn toàn trái ngược bùng nổ trên mặt hồ, va chạm dữ dội, tạo nên một cuộc giằng co vô hình lan tỏa khắp nơi. Mặt hồ nổi sóng cao ngút tầm mắt, làm rung chuyển cả lớp tuyết đọng trên ngọn núi xa xăm.

“Ta đã nhiều năm không rút kiếm, vì chẳng có đối thủ nào xứng tầm, vậy mà ngươi lại chỉ dùng một chiêu.” Họa Bất Thành v**t v* thân kiếm, “Không hổ là học trò của sư đệ.”

Sát khí trên người Sài Thúc Tân đột nhiên bộc phát dữ dội, “Ngươi không xứng gọi thầy như vậy.”

“Gọi thế quả thật không hợp.” Nào ngờ Họa Bất Thành lại gật đầu, “Dù sao Mạc Khuynh Bôi đã không còn là người của Bồng Lai từ lâu rồi.”

Lời vừa thốt ra, Sài Thúc Tân hiểu ngay rằng chẳng cần tranh cãi gì thêm nữa. Phần ký ức mà chủ viện Ngân Hạnh để lại cho bọn họ không hề sai, Họa Bất Thành đã thực sự bị chặt đứt tâm cốt rồi.

Nếu không, làm sao gã có thể bình thản đến vậy, bình thản như hồ nước sâu thẳm ngày Đại hàn, đóng băng lạnh giá, không một gợn sóng.

Đây là thần tiên sao?

Đây là tiêu dao sao?

Sóng lớn ập ngược trở lại, như thể cả trời đất chỉ còn lại tiếng mưa dội.

Sài Thúc Tân thở nhẹ một hơi, dùng lưỡi đao rạch lòng bàn tay, máu tươi tuôn chảy nhuộm đỏ khắp trường đao. Hắn nâng mũi đao đẫm máu lên ngang chân mày, bày ra một thế khai đao cổ xưa.

Họa Bất Thành hơi sững lại, “Đao pháp Thỉ Hồng? Vậy mà Mặc Tử lại truyền cho ngươi ư?”

Không ai đáp lời, thay vào đó là những luồng đao bạo liệt cực độ.

.

Mộc Cát Sinh chạy như điên trong rừng trúc.

Trước đó, y đã rà soát toàn bộ địa hình Bồng Lai một lượt, tính toán sẵn vị trí của từng mắt trận. Đầu tiên, y chạy một vòng lớn quanh rìa đảo Bồng Lao, dùng tiền Sơn Quỷ vây khắp cả hòn đảo, sau đó y lần lượt đến từng mắt trận, đặt tín vật xuống.

Kim Đỉnh, Dao Đài, đình Quan Triều, giếng Phù Tang, cầu Tiên Nhân… Lúc đi tới cầu Tiên Nhân, Mộc Cát Sinh nhìn thấy tuyết lở từ đỉnh núi xa xa, ngay cả y cũng có thể cảm nhận được dư chấn truyền từ khoảng cách đó.

Xem ra Sài Thúc Tân đã giao chiến với Họa Bất Thành, và tình thế đang cực kỳ căng thẳng.

Cầu Tiên Nhân là một cây cầu hình chữ thập, dựa núi kề nước, nhịp cầu bắc ngang qua đầm cá. Cả cây cầu được xây dựng trong một thung lũng, xung quanh là núi xanh bao bọc. Cây cầu dài đến mức gần như ôm trọn toàn bộ thung lũng, với trục chữ thập chia ra bốn hồ nước khổng lồ.

Mộc Cát Sinh có chút ấn tượng với nơi này, trước đây y từng nghe Tùng Vấn Đồng kể rằng cầu Tiên Nhân nối liền bốn vùng đất lớn của Bồng Lai, giống như một nút mạch giao thông của toàn đảo. Nhưng điểm đặc biệt nằm ở chỗ, chất đá xây cầu là một thứ vật liệu rất kỳ lạ, lạ đến mức sau khi công trình hoàn tất, nó có thể “vẽ nên Thiên Vực”.

Cái gọi là “vẽ nên Thiên Vực” được Tùng Vấn Đồng khi đó giải thích với Mộc Cát Sinh như thế này, “Ban đêm nếu nhìn từ trên cao xuống, cậu có thể thấy bốn mặt hồ phản chiếu bốn mặt trăng.”

Thu trọn nhật nguyệt, sắp đầy sao trời. Trong mỗi một hồ nước như chứa đựng cả một đại thiên thế giới.

Tùng Vấn Đồng chẳng mấy hứng thú với cảnh tượng kỳ diệu này. Mặc gia sở hữu vô số kỹ thuật phi thường, có rất nhiều cách có thể tạo ra hiệu ứng tương tự. Và cách đơn giản nhất chính là lợi dụng phản xạ của quang ảnh với mặt nước, còn lời giải thích nghe huyền bí nhất thì là —— “Vật liệu xây cầu Tiên Nhân có thể là những mảnh đá còn sót lại sau khi Nữ Oa vá trời, bởi vậy mà thân cầu có thể cộng hưởng với bầu trời, vẽ nên cả cõi Thiên Vực.” Tùng Vấn Đồng đã nói như vậy.

Nhưng có một điều không thể phủ nhận, cầu Tiên nhân được xây dựng từ thời thượng cổ, chính điều này đã khiến Mộc Cát Sinh nhìn ra tiềm năng tăng giá cực lớn của nó.

Nó là một món hàng vô cùng đáng tiền.

Dựa theo bố trí của Mộc Cát Sinh, mắt trận ở cầu Tiên Nhân này cần đặt tín vật là máu Chu Tước, nhưng khi đến nơi Mộc Cát Sinh mới phát hiện ra vấn đề không ổn —— Bốn hồ nước, mỗi hồ phải nhỏ một giọt máu, mà trong tay y chỉ có ba giọt máu Chu Tước.

Không phải không có cách khác, nhưng từ khoảnh khắc đặt chân lên cây cầu này, Mộc Cát Sinh rõ ràng cảm nhận được một sự dị thường.

Mùi vị nơi đây thật kỳ lạ.

Đảo Bồng Lai là núi tiên ngoài biển, là chốn đất lành linh thiêng, toàn bộ hòn đảo hấp thụ tinh hoa trời đất, linh mạch ở đây cực kỳ dồi dào thông thoáng. Tuy Mộc Cát Sinh không tu tiên, nhưng ít nhiều cũng có giác quan vượt xa người thường. Linh khí khắp đảo lưu thông tự nhiên, nhưng riêng cầu Tiên Nhân thì khác.

Có thứ gì đó đang làm tắc nghẽn nơi đây.

Mộc Cát Sinh nheo mắt, lờ mờ đoán được vấn đề nằm ở đâu.

Có lẽ y đã tìm ra lõi của lò luyện mà Họa Bất Thành dùng để luyện hóa.

Suốt dọc đường đến đây, Mộc Cát Sinh không gặp lấy một đệ tử Bồng Lai nào. Nếu y đoán không sai, rất có thể tất cả mọi người đều đã bị ném xuống bốn hồ nước này.

Đây chính là bốn hố chôn vạn người.

Người xưa nói “một tướng thành danh, vạn xác khô xương”. Thật không ngờ giới tu tiên cũng chơi trò này —— dùng xương máu người sống để đắp ra thần tiên, thế thì khác gì lệ quỷ đâu chứ?

Mộc Cát Sinh thoáng chút thương cảm. Y thấy Trường Sinh Tử giống hệt một Mỹ Hầu Vương không biết lượng sức mình, bỏ Hoa Quả Sơn để tranh cái danh Bật Mã Ôn.

Y lấy đồng tiền Sơn Quỷ cuối cùng ra, bói một quẻ tại chỗ, tính ra ba hướng, sau đó nhỏ từng giọt máu Chu Tước vào trong hồ nước.

Nếu y hành động đủ nhanh thì đám đệ tử Bồng Lai kia may ra vẫn cứu được.

Đúng là chuyện quái gì không biết. Rõ ràng bọn họ hùng hổ xông tới để phá nhà cướp của, ấy thế mà cuối cùng, chính cướp phải quay sang bảo vệ tính mạng và tài sản của chủ nhà.

Mộc Cát Sinh thở dài, lắc đầu, đi tới hồ nước cuối cùng rồi nhảy ùm xuống.

Tùng Vấn Đồng từng kể với y rằng, không ai ở Bồng Lai dám nhảy xuống cầu Tiên Nhân. Cảnh thì đẹp thật đấy, nhưng lời đồn quỷ dị quá. Có người bảo nhảy xuống đó chẳng khác gì bước lên Tru Tiên Đài, toàn bộ tu vi sẽ tan thành mây khói.

Thế nhưng Mặc Tử lại chẳng tin cái chuyện quỷ quái này, với cả hắn cũng không phải người tu tiên, nên cứ rảnh là nhảy hồ, mà nhảy một hồ thôi chưa đủ, hắn nhảy một lượt cả bốn hồ luôn.

Một trong số đó chỉ là hồ nước bình thường, cá nuôi dưới hồ có hơi mập một chút, ngoài ra không có gì đặc biệt hết, “chắc là cơ sở cung cấp nguyên liệu nấu ăn cho nhà bếp”. Một hồ khác có vẻ là kho tàng bí mật của các trưởng lão Bồng Lai, là một ngọn núi nằm dưới đáy nước, trên núi có vô số hang động, “Khá giống hang Mạc Cao, nhiều cửa vô cùng, khóa khó cạy ra phết, nhưng cạy mở là phát tài”. Còn một hồ thì hơi kinh, là nơi Bồng Lai dùng để trấn áp các loại yêu ma quỷ quái, “Sạch hơn địa ngục Phong Đô một chút, nhưng cũng chẳng khá khẩm hơn là bao”.

Tóm lại, đối với người thấy nhiều biết rộng như Mặc Tử, ba hồ đầu không phải chỗ gì lạ lẫm cả, chỉ có cái hồ cuối cùng là khiến hắn không sao hiểu nổi.

Hắn chỉ nói với Mộc Cát Sinh một câu ví von mơ hồ, “Có hơi giống động Thủy Liêm”.

Trời má, dựng nguyên cái Hoa Quả Sơn thiệt luôn hả.

Sao không làm luôn Nữ Nhi Quốc cho đủ bộ đi.

Mộc Cát Sinh nhảy xuống hồ nước, y ngậm tiền Sơn Quỷ trong miệng, cảm giác như mình vừa xuyên qua một tấm màn nước.

Cảm giác ẩm ướt biến mất, rồi y đặt chân lên mặt đất bằng phẳng.

Ban đầu, mắt y chỉ nhìn thấy một màu đen kịt, tiếp đấy không gian dần dần sáng lên, ánh sáng hiện ra trước mặt.

Mộc Cát Sinh ngửi thấy một hương thơm quen thuộc. Thoạt tiên, y tưởng mình đang bị ảo giác, nhưng rồi khi thấy ánh vàng rực rỡ khắp nơi, y từ từ mở to hai mắt.

Nơi này là thư viện Ngân Hạnh.
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 81


Trận chiến trên đỉnh núi đang đến hồi kịch liệt.

Sài Thúc Tân ném phăng áo ngoài, ánh sáng đỏ rực quấn quanh lưỡi đao, lan dần lên bao phủ lấy toàn thân hắn, khiến hắn trông như một vị sát thần, sắc lạnh hung bạo, đẹp đến rợn người.

Hắn đã giao đấu với Họa Bất Thành hơn trăm chiêu, hai bên đều ngang tài ngang sức, nhưng sắc mặt Sài Thúc Tân lại chẳng chút nhẹ nhõm. Địa mạch của Bồng Lai quá bất lợi cho hắn, sát khí trong người hắn bị nơi này kìm hãm dữ dội, trong khi với Họa Bất Thành, đó lại như nguồn trợ lực trời ban dành cho gã.

Sài Thúc Tân hiểu rất rõ, đây mới chỉ là khúc dạo đầu. Mặc dù cả hai đều ra tay quyết liệt, không chút lưu tình, nhưng Họa Bất Thành vẫn chưa thật sự để lộ thực lực của mình.

Từ mặt hồ, hai người đánh tận vào trong Kiếm Các, rồi từ trong các lao ra ngoài. Kiếm đao đan xen chém giết lẫn nhau, gần như lật tung nửa tòa tháp. Sài Thúc Tân vung đao chém đôi bức tường đổ ập tới trước mặt, sau đó đạp lên đống đổ nát bật người phóng vút lên trời —— Ở phía trên, Họa Bất Thành đang cưỡi kiếm lơ lửng giữa không trung.

Bóng người Sài Thúc Tân di chuyển với tốc độ nhanh đến đáng kinh ngạc. Họa Bất Thành nheo mắt, giơ tay lên nắm vào khoảng không —— Ngay lập tức, giữa biển mây trên cao bỗng hình thành một hồ nước, từ trong hồ nước trồi lên một cái bóng đen khổng lồ, nó lớn tới mức che kín cả bầu trời!

Đó là một con Côn xanh biếc!

Sài Thúc Tân thoáng nhớ tới ảo cảnh mình từng thấy ở Thận Lâu. Năm xưa khi Mạc Khuynh Bôi và Họa Bất Thành cùng câu cá trên hồ, <i>“Ta từng nghe người ta bảo dưới hồ này có một con Côn đang ngủ.”</i>

<i>“Thật đấy, nếu ngươi đến vào ngày trời trong, có khi còn câu được cả Văn Điêu nữa đó.”</i>

Con Côn lớn đến mức không biết dài mấy ngàn dặm. Con Côn này đã ngủ say dưới đáy hồ không biết bao nhiêu năm tháng, thân hình to lớn khôn cùng.

Ánh mắt Sài Thúc Tân lạnh đến cực hạn. Hắn lặng lẽ nhìn Họa Bất Thành đang đứng giữa không trung, hai tay siết chặt chuôi đao Thỉ Hồng, rồi bất giác lao xuống đâm thẳng vào lòng hồ, khoảnh khắc mũi đao chạm mặt nước. Hắn vươn tay ra, để lưỡi đao xuyên qua lòng bàn tay, máu tươi lập tức loang khắp mặt hồ, nở rộ như sen đỏ, rực rỡ tựa lửa cháy.

Nước hồ chợt nóng rẫy, sôi sùng sục như lửa đốt, con Côn khổng lồ còn chưa kịp trồi lên hẳn mặt nước đã ngửa đầu gầm lên tiếng vang giận dữ.

Thân hình của con Côn còn to lớn hơn cả rồng bạc của cõi Thủy Thiên. Sài Thúc Tân biết, dù có thể chém chết nó thì sau đó hắn cũng chẳng còn đủ sức để làm đối thủ với Họa Bất Thành nữa. Vì thế hắn chỉ còn cách chặn nó trước khi nó rời mặt nước, dùng chính nước hồ thiêu sống nó!

Con Côn giãy dụa trong nước, Sài Thúc Tân bình thản nhìn lưỡi đao Thỉ Hồng xuyên qua lòng bàn tay, như thể hoàn toàn không cảm thấy đau đớn.

Họa Bất Thành đứng giữa không trung nhìn hắn, lạnh nhạt buông một câu: “Đồ điên.”

Đây là cách nhanh nhất để tiêu diệt con Côn, nhưng cũng có nhược điểm trí mạng. Đó là, trước khi ngọn lửa bao trùm toàn bộ mặt hồ, Sài Thúc Tân cũng sẽ bị đao Thỉ Hồng ghim chặt tại chỗ, chẳng khác nào phơi lưng cho Họa Bất Thành.

Sài Thúc Tân biết rõ điều này, nhưng hắn không hề có ý định né tránh, ánh mắt hắn sắc lạnh nhìn gã áo trắng tung bay trên không trung, còn cơ thể thì đứng vững như núi.

Họa Bất Thành vung tay áo, phất trần bay lên không trung, nhắm thẳng đỉnh đầu Sài Thúc Tân mà bổ mạnh xuống ——

Một tiếng “ầm” nổ vang trời, giữa không trung đột ngột xuất hiện một bóng người tỏa ánh vàng kim, nhẹ nhàng chặn đứng cây phất trần của Họa Bất Thành.

Họa Bất Thành biến sắc. Không chỉ gã, Sài Thúc Tân cũng ngẩng phắt đầu lên, nhìn về người đang chắn phía trước mình, vẻ kinh ngạc tràn đầy trên mặt.

“Nhóc con, ngươi coi máu mình là đồ miễn phí thật đấy à?” Đối phương quay đầu liếc hắn một cái, vẻ mặt tinh nghịch lại yêu kiều, “Lão già Chu Bạch Chi kia bị kết giới Bồng Lai chặn ở ngoài rồi. Cái thân già ấy chắc phải lọ mọ một lúc nữa mới xông vào được.”

Trên bầu trời lờ mờ hiện lên một luồng sáng đỏ lửa —— đó là chân thân của Chu Tước, rực rỡ chói lòa.

Nhưng người thực sự khiến Sài Thúc Tân sửng sốt chính là người trước mắt. Thiếu nữ búi tóc kép, mắt ngọc răng ngà, nét mặt phớt hồng, e ấp xuân thì.

“Bà lớn Ô nghiệt?!?!”

.

Mộc Cát Sinh nhìn cảnh tượng trước mắt, bỗng thấy có chút hoang mang.

Lý trí mách bảo y rằng, tất cả mọi thứ trước mắt chỉ là ảo giác, có lẽ là cơ chế phòng ngự gì đó, hoặc chính vì lý do ấy mà hồ nước này tồn tại —— để khiến người tiến vào nhìn thấy những thứ mình khao khát nhất.

Giờ y đã hiểu câu ví von của Tùng Vấn Đồng rồi, phía sau màn nước ẩn chứa một động tiên kỳ diệu khác.

“Lão Tứ! Ăn cơm!”

Mộc Cát Sinh giật mình, thấy một bóng người xuất hiện ở cuối hành lang. Tùng Vấn Đồng bưng nồi bước ra, cầm muôi gõ vào đáy nồi, “Đứng đực ra đấy làm gì? Ăn có bữa cơm mà cũng phải giục ba lần bốn lượt à? Lát nguội tôi không hâm nóng cho cậu ăn đâu!”

Mộc Cát Sinh nhìn tay mình, rồi chậm rãi đi tới, đứng cạnh Tùng Vấn Đồng, so chiều cao với hắn.

Tùng Vấn Đồng nhìn y khó hiểu, giơ nồi l*n đ*nh đầu, sợ tên xúi quẩy này chưa rửa tay đã thò vào bốc ăn vụng, “Cậu lên cơn gì thế hả?”

“Không có gì.” Mộc Cát Sinh bật cười.

Y biết đây là thời điểm nào rồi —— chính là khoảng thời gian Sài Thúc Tân ở lại thư viện Ngân Hạnh.

Đây quả thực là những năm tháng tuyệt vời nhất đời y.

Bọn họ đều lười rửa bát, ăn cơm toàn ngồi quanh nồi mà xúc, một đám người quây quần bên bếp gắp đũa lia lịa. Tùng Vấn Đồng bưng bát ngồi trước cửa, Ô Tử Hư ngồi cạnh hồ nước, Mộc Cát Sinh thì ngồi chễm chệ lên hẳn bệ bếp, vắt chân chữ ngũ, còn Sài Thúc Tân lại đứng ngoài cửa sổ.

Lúc ấy Chu Ấm Tiêu vẫn còn là một con gà lông tạp, động tác chậm chạp, tranh cơm không lại, chỉ có thể thèm thuồng đi dòm bát của từng người. Khi thì xin một miếng bên này, lúc lại ngó một miếng bên kia, nhảy qua nhảy lại giữa cả đám.

“Lão Ngũ, nhóc đừng có nhảy nữa.” Ô Tử Hư hắt xì một cái, “Lông bay tứ tung lên hết rồi kìa.”

Nói rồi anh quay sang Tùng Vấn Đồng, “Lão Nhị này, nên cạo lông cho lão Ngũ được rồi đấy nhỉ?”

“Anh tưởng đang nuôi chó hả? Lại còn cạo lông?” Tùng Vấn Đồng và cơm nhồm nhoàm, “Rồi mai mốt anh tính triệt sản cho nó luôn hay gì?”

Ô Tử Hư: “…”

Chu Ấm Tiêu vẫn lăng xăng quanh mấy người, ánh mắt mong mỏi muốn xin một miếng ăn. Có khoảng thời gian Mộc Cát Sinh chuyên tâm dạy nhóc nói chuyện, không dạy gì cao siêu, chỉ dạy mấy câu chúc tụng lấy lòng. Y còn truyền thụ cả tuyệt kỹ “xin ăn dọc đường” của phái Thiên Toán cho nhóc.

Tùng Vấn Đồng gắp một miếng sườn kho tương đỏ, ném lên không trung, Chu Ấm Tiêu vươn đầu ra, nhanh như chớp ngoạm lấy, nhai hai ba cái là xong miếng, sau đó chụm hai cánh lại làm lễ vái, sống động như người nói: “Chúc ngài phát tài phát lộc! Vạn sự như ý! Cảm ơn ông lớn đã thưởng!”

Mỗi lần Ô Tử Hư nhìn thấy cảnh này đều thấy đau cả dạ dày. Xét từ một góc độ quái đản nào đó, Mộc Cát Sinh đã dạy dỗ vô cùng thành công. Uốn nắn Tinh Túc Tử thành một giống loài kỳ dị, vừa có miệng lưỡi dẻo quẹo của chim sáo, vừa mang bộ dạng ngố tàu của cún con khi chạy quanh bàn xin ăn.

Anh chợt nhìn về phía Mộc Cát Sinh, “Lão Tứ, sao hôm nay ông im lặng thế?”

Mộc Cát Sinh gần như không động đũa mấy, y tham lam hít hà mùi thơm trong phòng bếp: thịt ướp mắm chiên, sườn kho tương đỏ, đậu phụ sốt dầu tôm, ngỗng quay chay… Còn có một vò rượu Lan Lăng nữa, chắc là lão Nhị đem từ Quan Sơn Nguyệt về, vò rượu đặt dưới bếp, bên cạnh là một giỏ ghẹ tươi.

Có lẽ định làm món ghẹ ngâm rượu.

Mộc Cát Sinh sực tỉnh, buột miệng nói đại: “Tôi thấy miếng đậu phụ trong bát Tam Cửu Thiên ngon quá, đang nghĩ cách lừa về bát mình.”

Sài Thúc Tân khựng đũa.

“Làm phiền rồi.” Ô Tử Hư cạn lời, “Coi như tôi chưa hỏi nhé.”

“Ăn trong nồi chưa hết đã thèm bát người ta.” Tùng Vấn Đồng nói: “Tích chút đức đi lão Tứ.”

Mộc Cát Sinh mặc kệ hai người họ, cười tủm tỉm nhìn Sài Thúc Tân ngoài cửa sổ, chìa bát ra, “Sài đại công tử, xin anh đấy?”

Dáng vẻ xin ăn của y đúng là khéo léo hơn hẳn Chu Ấm Tiêu, mắt mày lấp lánh ý cười, trông cực kỳ có duyên.

Sài Thúc Tân không nói gì, gạt miếng đậu hũ qua cho y, rồi tiện tay gắp sạch thịt trong bát Mộc Cát Sinh đi mất.

Được đồng xu mất cả đồng bạc, Sài Thúc Tân liếc y một cái đầy ẩn ý, đuôi lông mày hơi nhướng lên, dường như đang chờ Mộc Cát Sinh nổi đóa. Ai ngờ đối phương chẳng những không giận, lại còn cười ngọt như mật, ân cần cúi sát lại gần, nói nhỏ: “Đủ ăn không? Không đủ thì trong bát lão Nhị lão Tam vẫn còn, để tôi cướp cho anh.”

Sài Thúc Tân suýt làm rớt bát, đôi đũa rơi “cạch” xuống đất.

Mộc Cát Sinh âm thầm tung chiêu hiểm, trong lòng đã vui như mở cờ. Sau khi quậy xong một người, y lại quay đầu nhìn về phía Ô Tử Hư, “Lão Tam, kể ông nghe, hôm nay tôi đã bói một quẻ đấy.”

“Quẻ gì?” Ô Tử Hư không thèm để ý, thản nhiên đáp: “Bói xem ông lại nợ tôi bao nhiêu à? Hay hôm nay tôi thức đến mấy giờ mới được đi ngủ?”

“Không phải đâu.” Mộc Cát Sinh thong thả nói: “Tôi bói cho ông một quẻ nhân duyên.”

Ô Tử Hư phun cả ngụm cơm.

“Thật đó, ông sẽ có một cậu con trai, tính tình khó chiều, hệt như con gái, mê chơi game.” Mộc Cát Sinh nói còn hay hơn hát, “Mười sáu tuổi, không cao bằng ông, nhưng chắc cũng không lùn lắm.”

Ô Tử Hư sặc đến thở không nổi. Tùng Vấn Đồng thì phá lên cười vui vẻ, hắn đặt đũa xuống, lau miệng, “Lão Tứ, sao ông lại nghĩ đến chuyện bói cái món này?”

“Rảnh ấy mà.” Mộc Cát Sinh ra vẻ nghiêm túc, “Tôi còn bói được là chiều nay cô gái ấy sẽ đến miếu Nguyệt lão xin quẻ. Ê lão Tam, ông đi không?”

Ô Tử Hư còn chưa kịp trả lời, Tùng Vấn Đồng đã vỗ bàn chốt luôn, “Phải đi chứ! Đi ngay và luôn!”

“Lão Tứ ông đừng đùa tôi nữa, sổ sách tháng này của thư viện vẫn chưa tính xong đâu đấy.” Mặt của Ô Tử Hư đỏ lên như gan heo, “Chiều nay tôi còn nguyên một chồng công văn phải coi…”

“Sợ cái gì mà sợ?” Tùng Vấn Đồng nhướng mày: “Chờ con gái nhà người ta đến rước anh à? Hay để tôi giúp anh làm một bộ áo cưới mũ phượng nhé?”

Ô Tử Hư ngậm miệng lại.

Cả đám nhanh chóng đánh chén xong bữa cơm rồi ùa vội xuống núi, hệt như sợ thiên hạ chưa đủ loạn. Vừa đi vừa xô xô đẩy đẩy nhau suốt dọc đường, cuối cùng cũng đến được miếu Nguyệt Lão. Lúc này vừa đúng buổi chiều, khách nữ tới dâng hương đông như trẩy hội. Mấy thiếu niên tuấn tú ríu rít vào miếu, lập tức thu hút vô số ánh nhìn. Ô Tử Hư vẫn chưa sửa được cái tật “gặp con gái là run như cầy sấy”, đến cả tay chân cũng không biết đặt đâu cho phải, trông như cây chày gỗ hơ lửa đỏ bừng, cả người lóng ngóng bị Mộc Cát Sinh kéo tuột vào chính điện.

Trên vách tường bên hông chính điện có vẽ một bức bích họa, một thiếu nữ dáng người thướt tha đứng trước bích họa, mặc áo xanh váy đen, để lộ một đoạn cổ tay trắng ngần.

“Là cô ấy đấy.” Mộc Cát Sinh lén chỉ cho Ô Tử Hư thấy, thì thầm: “Tiện thể nói luôn cho ông hay. Cô ấy họ Ngô, là tiểu thư nhà họ Ngô, đang học ở trường nữ sinh, thích thơ cận thể của Tô Mạn Thù.”

Ô Tử Hư cố lắm mới nói được câu trôi chảy, “Sao ông biết rõ thế?”

Mộc Cát Sinh cười hì hì, “Chuyện cả đời của anh em mình, tất nhiên phải hỗ trợ trọn gói rồi.”

Nói xong y vỗ vai Ô Tử Hư, giơ ngón cái lên, “Yên tâm đi, duyên trời định đó.”

Cả bọn bỏ lại Ô Tử Hư một mình trong chính điện chìm trong trang thái lòng như lửa đốt. Tùng Vấn Đồng ôm Chu Ấm Tiêu, đứng dưới tàng cây bồ đề xem đủ loại thăm cầu duyên. Mộc Cát Sinh thì mua một gói kẹo sơn tra, rồi vừa tản bộ vừa hóng gió trong hành lang.

Ví tiền của Sài Thúc Tân đã bị y “mượn” mất nên chỉ đành lẽo đẽo theo sau y.

Mộc Cát Sinh ném viên kẹo lên không trung, chuẩn bị há miệng đón lấy thì Sài Thúc Tân bất ngờ lên tiếng hỏi, “Cậu nói thật đấy à?”

Mộc Cát Sinh suýt nữa ăn kẹo bằng lỗ mũi, “Hả? Anh nói gì cơ?”

“Cậu bảo cậu bói một quẻ nhân duyên.” Sài Thúc Tân nói nhẹ: “Có chuẩn không?”

“Không chuẩn không lấy tiền.” Mộc Cát Sinh nói rồi ghé lại gần, giọng trêu chọc: “Sao nào Tam Cửu Thiên, hay để tôi bói giúp anh một quẻ nhé?”

Sài Thúc Tân ngước mắt nhìn y, không đáp.

Thời điểm này, cậu thiếu niên Dược gia vẫn là một cái bầu cưa miệng, tâm tư giấu kín như bưng, Mộc Cát Sinh moi kiểu gì cũng không ra. Nhưng đạo cao một thước ma cao một trượng, y đã chuẩn bị từ trước, lấy ra một nén hương, bên ngoài bó hương được bọc giấy vàng, là hương mang từ chùa Bạch Thủy đến.

Sài Thúc Tân ngẩn ra, “Cậu định làm gì?”

“Thực ra tôi cũng muốn bói cho anh một quẻ, nhưng lại sợ làm anh giận.” Mộc Cát Sinh cười tủm tỉm nói: “Có điều, miếu Nguyệt Lão này linh lắm, nếu đã đến rồi thì cứ thắp một nén hương đi cho trọn.”

Sài Thúc Tân tỏ rõ ý từ chối trên mặt. Song chẳng để hắn kịp mở miệng nói gì, đã bị Mộc Cát Sinh kéo tay lôi đi, bước thẳng vào hương đường bên cạnh. Y dúi bó hương trong tay cho đối phương, “Nào, đến đây rồi, nể mặt tôi chút đi.”

Người này rõ ràng có chuẩn bị, hệt như sắp có một màn trêu ghẹo nữa, thế nhưng Sài Thúc Tân chỉ nhìn y một cái thật sâu, dừng lại một thoáng rồi nhận lấy bó hương trong tay y.

Trước khi cúi đầu thắp hương, Sài Thúc Tân hỏi y, “Cậu không dâng hương sao?”

“Thôi, tôi miễn.” Mộc Cát Sinh tựa vào khung cửa, ánh nắng chiều hắt từ sau lưng.

Thiếu niên khẽ cười: “Gặp được quân tử, nào màng Quan Âm.”

Thời gian trôi nhanh như chớp mắt, thoắt cái đã đến hoàng hôn.

Ô Tử Hư và tiểu thư nhà họ Ngô trò chuyện rất vui vẻ, hợp ý nhau, hai người thậm chí còn hẹn lần tới cùng đi uống trà. Thấy sắc trời đã muộn, anh muốn đưa cô về nhà, có chút ngượng ngùng nói với mấy người anh em độc thân đứng ở cửa: “À thì… các ông về trước đi nhé…”

“Mai phải đãi tụi tôi một bữa đấy.” Tùng Vấn Đồng ngáp một cái, “Tôi dẫn lão Ngũ đi ké cơm ở Quan Sơn Nguyệt đây.”

Mộc Cát Sinh hiểu ý, gật đầu với Ô Tử Hư, “Về nhớ cảm ơn tôi nha.”

“Chốt.” Gặp chuyện vui tinh thần cũng phơi phới, Ô Tử Hư đồng ý ngay, “Để tôi bao.”

Mọi người chia tay trước cổng miếu, Mộc Cát Sinh nhìn cánh cổng sơn màu đỏ thẫm, “Tam Cửu Thiên, anh còn nhớ không, trước đây tôi từng bói một quẻ cho anh ở chỗ này đó.”

Sài Thúc Tân lại đáp một nẻo, “Đến nhà tôi ăn cơm không?”

Mộc Cát Sinh nghĩ một lát, cười nói: “Hôm nay không phiền chị Sài nữa, tôi dẫn anh đi một chỗ hay ho.”

Hai người băng qua những con phố hẹp dài, đèn lồng treo trước các cửa tiệm đã thắp sáng rực. Mộc Cát Sinh dẫn Sài Thúc Tân rẽ trái ngoặt phải, cuối cùng dừng lại trước một tòa dinh thự.

Thấy đôi sư tử đá trấn cổng, Sài Thúc Tân nhận ra ngay đây là phủ tướng quân Mộc.

Phủ Mộc bình thường không có người ở, chỉ có hai bà vú giúp việc quét dọn hàng ngày. Từ lâu, Mộc Cát Sinh đã coi thư viện Ngân Hạnh như nhà mình, rảnh rỗi cũng ít khi về phủ —— vì ở phủ không có cơm ăn.

Nhưng hôm nay, y lại hiên ngang bước vào cổng phủ vô cùng tự tin. Dường như đoán được thắc mắc của Sài Thúc Tân, Mộc Cát Sinh ngoái đầu cười bảo, “Yên tâm, hôm nay cha tôi ở nhà.”

Đây là những năm tháng tuyệt vời nhất của y, tất cả mọi thứ đều mang đúng dáng vẻ mà y hằng mong ước, tuyệt đối sẽ không có bất kỳ sai sót gì.

Quả nhiên, bà quản gia nhìn thấy y, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ reo lên, “Cậu chủ về rồi! Thật khéo làm sao, hôm nay ông chủ cũng có nhà!” Nói rồi bà hô lớn vào trong phòng, “Ông chủ! Cậu chủ về rồi!”

“Thím Lý, thím đừng gạt tôi nữa.” Người đàn ông trung niên đẩy cửa bước ra, “Thằng nhóc kia ở trên núi vui tới nỗi quên cả đường về nhà, đến chùa hòa thượng cũng bị nó biến thành động Bàn Tơ rồi, chịu mò về sao?”

Tư lệnh Mộc mặc một chiếc áo sơ mi vải dệt thường, khoác ngoài một chiếc áo len mỏng màu xám, trên sống mũi đeo một cặp kính gọng vàng. Ông đang cầm một cuốn sách trên tay, trông chẳng giống một tư lệnh mà giống một giáo sư đại học.

Mộc Cát Sinh gọi một tiếng, “Cha.”

Tư lệnh Mộc khựng lại một nhịp, chậm rãi nhướng mí mắt, giọng nhàn nhạt đáp, “Sao hôm nay lại chịu mò về thế?”

“Con dẫn một người về ra mắt cha.” Mộc Cát Sinh đẩy người sau lưng ra trước rồi buông một câu gây sốc cực độ, “Con rể của cha đây.”

Sài Thúc Tân đang định cúi chào, nhưng người mới cúi được nửa chừng thì cứng đờ ngay giữa không trung như bị sét đánh, nhìn Mộc Cát Sinh với vẻ không tin nổi, “… Cậu vừa nói gì vậy?”

Tư lệnh Mộc lại chẳng lấy làm ngạc nhiên, như thể đã quen với cái kiểu nói nhăng nói cuội của Mộc Cát Sinh, vẻ mặt ông còn hơi buồn cười, “Nếu con mà tán được công tử nhà họ Sài thật, thì có bảo cha chuẩn bị luôn của hồi môn cho con cũng không thành vấn đề.”

“Thật mà, thật còn hơn cả vàng đó cha.” Mộc Cát Sinh nói chắc như đinh đóng cột, “Hai đứa bọn con vừa đi bái miếu Nguyệt Lão về xong.”

“Hồi con năm tuổi lần đầu ăn hoành thánh ở gánh hàng phía Đông thành, ăn xong liền bảo con gái nhà người ta là vợ mình, còn nói cái gì mà “ăn cơm nhà ai thì là người nhà đó”. Cha cũng không biết con moi cái logic ngớ ngẩn ấy ở đâu ra.” Tư lệnh Mộc chẳng thèm để ý đến y, nói với Sài Thúc Tân: “Cậu Sài này, đầu óc thằng con tôi không được bình thường, cậu đừng chấp nó.”

Sài Thúc Tân dường như vẫn chưa hoàn hồn sau cú sét kia, gật đầu đầy cứng nhắc.

Phủ Mộc không có đầu bếp, muốn ăn gì đều phải tự tay làm. Tư lệnh Mộc đuổi thằng con thích đang hóng hớt trong bếp ra ngoài, tự mình nấu nướng, chỉ một loáng, ông đã dọn lên cả bàn cơm tối.

“May có anh đến, chứ nhà tôi thường không có cơm tối, muốn ăn gì thì phải tự đi mà kiếm.” Mộc Cát Sinh và Sài Thúc Tân ngồi trong phòng ăn, y nói trước cho đối phương, “Cha tôi nấu ăn tùy tâm trạng, ngon hay dở là chuyện tâm linh khó đoán.”

Sài Thúc Tân: “Chắc không tệ hơn cậu nấu đâu.”

“Chưa chắc nhé.” Mộc Cát Sinh nói xong khoa tay diễn tả trên đầu, “Anh có biết cái loại mũ sắt quân dụng không? Thời xưa Thành Cát Tư Hãn cưỡi ngựa chinh chiến khắp thiên hạ, khi đánh giặc thì mũ sắt dùng để phòng ngự, xuống ngựa thì tháo ra làm nồi nấu ăn, có khi còn cắt thịt dê bỏ vào mũ đun lên, nghe bảo món lẩu cũng từ đó mà ra.”

“Rồi sao?”

“Hồi nhỏ tôi theo cha chạy khắp nơi, cái mũ sắt của ông ấy phải nói là cực phẩm luôn. Lúc uống rượu thì lấy làm chén đựng rượu, nửa đêm còn kiêm làm bô tiểu, sáng hôm sau rửa qua lại đội lên đầu. Lúc nấu cơm, trong mũ toàn mùi ôi thiu lẫn với mùi mồ hôi mùi máu dịch, còn cả tro bụi cùng mấy miếng thịt dính bết, có đôi khi cạo mãi không sạch, xối qua nước vài cái là lại dựng lên làm nồi xài tiếp.”

Mộc Cát Sinh vừa nói vừa miêu tả, thao thao bất tuyệt: “Giờ tác chiến kiểu mới có vũ khí sinh hóa, cha tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu món đó lắm. Mà theo tôi thấy, cái mũ sắt của ổng chính là vũ khí sinh hóa, đồ ăn ổng nấu cũng y chang.”

Đang tám chuyện, tư lệnh Mộc xắn tay áo bước vào, một tay bưng cái thau inox to đùng, mùi thơm của dầu ớt cay bốc lên nồng đậm, đặt lên bàn là một thau đầy ú ụ, trông như một nồi hầm thập cẩm.

Kế tiếp là một thau cơm, Mộc Cát Sinh bưng qua cho Sài Thúc Tân, “Của anh đây.”

Đó là một thau cơm siêu bự, đắp cao như núi, “Cậu không ăn à?”

“Nhà tôi ăn cơm đều dùng thau.” Mộc Cát Sinh nói, “Cả thau này của anh hết, cứ ăn thoải mái, bao no luôn.” Vừa nói y vừa như làm ảo thuật, bưng lên một thau cơm khác, còn to hơn thau của Sài Thúc Tân, chẳng kém cạnh chút nào, “Thau này là của tôi.”

Sài Thúc Tân thề, đây tuyệt đối không phải là sức ăn của Mộc Cát Sinh ở thư viện Ngân Hạnh.

“Nếu ở thư viện tôi mà ăn cỡ này, lão Nhị chắc chắn sẽ ném tôi vào chuồng heo.” Mộc Cát Sinh trợn trắng mắt, “Ăn không đủ no thì mệt, mà mệt thì ngủ nhiều đó.”

Cũng đúng thật, ở thư viện, Mộc Cát Sinh không bày trò quậy phá thì cũng lăn quay ra ngủ, thỉnh thoảng lại chạy khắp nơi kiếm cái ăn, lâu lâu thì cho nổ tung cả phòng bếp.

Tư lệnh Mộc cầm một chai rượu trắng, rót cho hai người Mộc Cát Sinh mỗi người một chén, ông phất tay, “Ăn thôi.”

Trên bàn ăn yên ắng lạ thường. Mộc Cát Sinh vốn hay ồn ào cũng ít nói hẳn. Cha con nhà họ Mộc hầu như chẳng có những cuộc chuyện trò thường ngày như các gia đình khác. Hai người đều cắm đầu ăn cơm, bao nhiêu giao tiếp tình cảm đều được gửi gắm qua việc giành đồ ăn.

Bốn chiếc đũa, hai cánh tay, gồng sức như đang chơi kéo co.

“Buông ra.”

“Con không buông.”

“Thằng nhóc này khá lên phết nhỉ, dám giành đồ ăn với cha con.”

“Cha bớt nói vài câu đi, ai chả biết đây là miếng thịt ngon cuối cùng trong bát.”

“Cha con từng ăn tươi nuốt sống, ăn nhiều hơn con một miếng thịt thì có làm sao?”

“Cha thôi đi, nhìn đống đồ ăn thừa trong nồi này là biết ngay tay nghề của Xuân Thiêu Lâu. Cha lại đi ăn quán với tham mưu trưởng nào đúng không?”

Tư lệnh Mộc thu đũa, gật đầu, “Tinh mắt đấy.”

Sài Thúc Tân ngồi nghe hai cha con đấu khẩu, lặng lẽ bới trong đống miến nấu cải thảo, moi ra được một miếng kẹo bí đao, thêm mấy sợi mứt xanh đỏ, rồi một miếng vỏ bánh sắp bị xào nát, mặt trên còn dính chút dầu ớt.

Hắn đặt mấy thứ đó lên đĩa, nhìn kỹ miếng vỏ bánh còn thấy lờ mờ vài đường hoa văn, đoán chừng đây hẳn là bánh trung thu cổ truyền của Xuân Thiêu Lâu.

Nói về hương vị, nồi thức ăn này mang đúng nghĩa “ngũ vị tạp trần”, ngọt có mặn có dầu có thịt có rau có. Cứ như gom tất cả nguyên liệu có thể tìm được rồi ném hết vào một nồi, xào lửa to, thêm nước hầm bừa cho chín, cuối cùng rưới thêm một lớp dầu ớt đặc quánh lên trên, hệt như đang trải một tấm chăn lớn lên kín cả giường, khiến cho toàn bộ hương vị đều biến mất, chỉ còn lại cái vị cay xé họng lấn át tất cả.

Theo lời Mộc Cát Sinh kể, Tư lệnh Mộc thường xuyên gói đồ ăn thừa về nhà, nên trong nồi này chẳng biết đã trộn lẫn bao nhiêu phần cơm thừa của mấy ngày với nhau. Sài Thúc Tân cắn thử một miếng hạt óc chó, hắn cũng không biết tại sao hạt óc chó lại được nấu chung nồi với rau hẹ… nhưng cắn không nổi.

Mộc Cát Sinh thì khác hẳn hắn, vừa vào mâm đã múc ngay một thìa đầy ớt, cho vào miệng ăn không luôn, như thể muốn làm tê liệt hoàn toàn vị giác của mình trước rồi mới bắt đầu lao vào ăn cơm uống rượu thả ga mà chẳng cần bận tâm gì nữa.

Có lẽ do thói quen được rèn trong quân ngũ, cha con nhà họ Mộc ăn uống đều cực kỳ “hung hãn”, quét sạch mọi thứ trên bàn như gió cuốn mây tan, vừa giành thức ăn vừa không quên chọc ngoáy nhau. Sài Thúc Tân vừa mới ăn được vài miếng thì bên Mộc Cát Sinh đã ăn hết nửa thau, đến khi hắn cố gắng ăn xong một phần tư, thau của Mộc Cát Sinh đã sạch trơn.

Y lau miệng, nhìn hắn, “Anh ăn nổi không? Ăn không nổi thì để tôi ăn hộ cho nhé?”

Tùng Vấn Đồng nói không sai, Mộc Cát Sinh tuy ăn nói hơi hỗn nhưng không hề kén ăn chút nào.

Tư lệnh Mộc đặt thau rỗng lên bàn, “Ăn xong nhớ dọn dẹp đấy.” Nói rồi ông khoác áo khoác, dường như định ra ngoài.

“Cha đi đâu vậy?”

“Tối có một cuộc họp.” Tư lệnh Mộc khẽ đáp: “Lúc về nhớ mang đèn theo, đường núi ban đêm tối lắm.”

Cửa lớn khép lại “cạch” một tiếng, Sài Thúc Tân hỏi: “Cậu không ra tiễn tư lệnh à?”

“Không cần.” Mộc Cát Sinh nói, “Nhiệm vụ của ông ấy đã hoàn thành.”

Sài Thúc Tân nhìn y đầy nghi hoặc, Mộc Cát Sinh chống cằm, “Hôm nay về nhà, chủ yếu là muốn cho anh gặp ông ấy.”

“Dù sao con rể cũng phải ra mắt cha vợ một lần chứ.” Y nâng chén nhấp một ngụm trà, tiếng cười thoáng ra kẽ răng, “Cùng nhau ngồi ăn một bữa cơm, thế là con rể được chính thức công nhận rồi.”
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 82


Lúc này Sài Thúc Tân không còn phản ứng mạnh như hồi nãy, giọng điệu bình thản: “Chuyện như vậy không nên đem ra làm trò đùa.”

Mộc Cát Sinh vẫn đang cười, y đặt chén trà xuống, ánh mắt bỗng trở nên nghiêm túc, “Nếu tôi không đùa thì sao?” Sài Thúc Tân ngẩng lên nhìn y, giọng vẫn đều đều, hỏi: “Cậu chắc chứ?”

Hai người nhìn thẳng vào nhau rồi Mộc Cát Sinh chợt nhớ ra, không biết bắt đầu từ khi nào, y đã rất ít khi bắt gặp được cảm xúc trong mắt Sài Thúc Tân.

Thuở thiếu thời gặp gỡ, Sài Thúc Tân tuy lạnh lùng sắc sảo là vậy, nhưng cứ hễ bị y bày trò chọc ghẹo lại không nhịn được mà nổi cáu. Thỉnh thoảng có đôi lúc hòa thuận bên nhau, hắn thậm chí còn cười một cái, ánh mắt linh động sáng rõ, như bông tuyết nhỏ bay lất phất, như đóa mai đỏ nở rực giữa trời đông.

Thế mà từ lúc nào không hay, Sài Thúc Tân càng ngày càng ít bộc lộ cảm xúc, tựa như một cái giếng sâu, một mặt hồ tĩnh lặng, mọi xúc cảm mãnh liệt đều bị hắn lặng lẽ giấu kín dưới đáy mắt. Ngay cả những câu chữ trong thư gửi cũng trở nên bình lặng, điềm đạm, giống như tình bạn nhiều năm, không hoa mỹ không phô trương.

Khi đó Mộc Cát Sinh chưa thực sự hiểu được sự bình lặng ấy, y ngỡ đây chính là cách Sài Thúc Tân đối đãi với bạn cũ mà thôi. Ít lời mà ăn ý, tĩnh lặng như nước sâu, chậm rãi mà vững chắc.

Nhưng giờ đây khi hai người lại ngồi đối diện nhau, y cầm sẵn trên tay cốt truyện đã bị bóc trần từ lâu, dần dần thấu tận bao điều chưa từng bày tỏ thành lời qua ánh mắt người ấy.

Giữa thời buổi loạn lạc ồn ào của trăm năm trước, y chỉ biết khoác lên mình bộ quân phục mà sải bước về phía trước. Sài Thúc Tân hiểu y, nên chỉ có thể “kề bên ở tình, dừng lại ở lễ”. Hắn chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ đứng trong vòng vây tù ngụ của riêng mình, để mặc cho tiếng pháo đạn vùi lấp hết thảy tâm tư, giúp Mộc Cát Sinh thực hiện cái gọi là “non sông vạn dặm” trong mắt y.

<i>Mẹ kiếp, sao hồi xưa mình ngu thế không biết</i>. Mộc Cát Sinh thầm nghĩ. <i>Đáng lẽ mình phải nhận ra từ sớm chứ.</i>

Cùng lúc, y lại không nhịn được mà nghĩ tiếp. <i>Nếu năm đó mình vạch trần tâm tư của Tam Cửu Thiên, hắn sẽ thế nào nhỉ?</i>

Vì vậy, y gật đầu, đáp, “Chắc, tôi nghiêm túc đấy.”

Sài Thúc Tân dùng hành động để trả lời y.

Đối phương đột ngột đứng bật dậy, vạt áo quệt vào góc bàn, ghế đổ ầm ầm như tiếng sấm rền trước cơn bão. Hắn giống như một con bạc đưa ra quyết định trọng đại sau khi cân nhắc thật lâu, vừa bình tĩnh vừa kiên định vươn tay về phía Mộc Cát Sinh, lòng bàn tay nóng rực.

Mộc Cát Sinh không né tránh, giống như một nhà cái gian lận, vừa kín đáo vừa đường hoàng. Thế rồi y bị Sài Thúc Tân kép phắt khỏi ghế, bị ép sát vào góc tường hay bất cứ chỗ nào đó, và thời khắc “lật bài” đã điểm.

Sấm rền qua đi, lũ lớn ập tới. Mộc Cát Sinh bị “đánh úp” đến mức đứng không vững, nụ hôn mãnh liệt như bão táp mưa sa.

Trong ván bài bị nhà cái gian lận, con bạc vốn không có cửa thắng, nhưng Sài Thúc Tân lại làm được. Mộc Cát Sinh bị hôn đến mềm nhũn cả chân, khó khăn lắm mới thở nổi một hơi, “Anh thắng rồi.”

Sau lại nháy mắt đầy trêu chọc, “Nhưng tôi cũng đâu có thua.”

Cả nhà cái lẫn con bạc đều được lợi, kẻ bị ghẹo chỉ có khán giả mà thôi.

Sài Thúc Tân không hiểu ý của y lắm, khẽ nhíu mày bối rối rồi lại cúi xuống muốn hôn y tiếp.

“Vừa phải thôi.” Mộc Cát Sinh nhẹ nhàng đẩy hắn ra, với tay cầm chén trà trên bàn tu ừng ực một hơi lớn để bình tĩnh lại nhịp thở đôi chút, “Nguyện vọng của tôi chỉ có bấy nhiêu đây, được ngắm lại thư viện Ngân Hạnh năm xưa, và để anh ra mắt cha tôi một lần.”

Y nhìn Sài Thúc Tân trong dáng vẻ thiếu niên, l**m l**m môi, “Tôi cũng rất muốn tiếp tục thêm nữa, nhưng cứ thế này thì tôi chịu không nổi mất. Tam Cửu Thiên ở ngoài kia đang liều mạng với Họa Bất Thành, mà tôi lại ở đây chơi trò vờn nhau… Nghĩ thế nào cũng thấy không không phải với anh ấy, dù anh ấy cũng không thua thiệt gì cả.”

Y lắc đầu bật cười, sau đó thở dài một hơi, bước đến trước ảo ảnh mà mình hằng mong nhớ, dịu dàng hôn lên môi đối phương.

Đó là một nụ hôn không mang theo chút tình cảm nào, chỉ đơn thuần là lời tạm biệt.

“Anh nên đi thôi.” Mộc Cát Sinh khẽ nói: “Nguyện vọng của tôi đã trọn vẹn rồi.”

Y nhắm mắt lại rồi mở ra.

Mọi thứ tan biến như mây khói.

Trước mặt giờ đây là một căn phòng băng không quá lớn, ba mặt tường trong suốt long lanh, lối vào là tấm rèm nước.

Nơi này mới là thứ thực sự được cất giấu trong hồ nước. Câu nói “phía sau rèm nước ẩn chứa một động tiên kỳ diệu khác” của Tùng Vấn Đồng thì tấm rèm nước có lẽ chính là ảo cảnh vừa nãy, căn phòng băng này mới đúng là động tiên kỳ diệu.

Nhưng với tính cách của Tùng Vấn Đồng, Mộc Cát Sinh đoán chắc tên đó chẳng trải qua ảo cảnh gì đâu, có khi vừa vào đã thấy ngay phòng băng rồi. Y đã phần nào hiểu được nguyên lý của trận ảo cảnh này, nó khiến những người bước vào nhìn thấy toàn bộ những gì họ khao khát nhất trong lòng. Cơ chế chống trộm kiểu này quả là ác thật, nhưng cực kỳ hiệu quả. Chỉ có hai loại người có thể thoát ra nguyên vẹn: một là vô dục vô cầu, hai là nguyện vọng đã thành.

Mà hai loại người ấy, rất ít khi vô duyên vô cớ đi trộm đồ nhà người khác.

Tùng Vấn Đồng có lẽ thuộc về loại thứ nhất, còn Mộc Cát Sinh thì thuộc loại thứ hai.

Mộc Cát Sinh nhìn quanh phòng băng một lượt, không phát hiện điều gì bất thường. Y nhổ đồng Sơn Quỷ trong miệng ra rồi thoa một giọt máu lên đó, “Đồ hòa thượng xảo trá, người ra đây coi có chuyện gì đi.”

“Đồ tôn, cuối cùng con cũng nhớ đến ta rồi à.” Giọng của Tiểu Sa Di vang lên bên tai y, “Nãy ta lo muốn chết luôn đấy, chỉ sợ con không kìm được mà chạy thẳng theo cậu Sài đi hưởng cuộc sống vui vẻ mất.”

“Người phắn mẹ đi, đừng có mà nói nhảm.” Mộc Cát Sinh nói: “Người đàn ông của con là thật hay giả, con vẫn phân biệt được.”

Tiểu Sa Di cười khúc khích, đổi giọng, “Vậy con đi một vòng quanh đây xem nào.”

Mộc Cát Sinh đi một vòng theo lời lão. Tiểu Sa Di không thể rời khỏi tiền Sơn Quỷ để hiện ra thực thể, lão chỉ có thể quan sát mọi thứ dựa vào góc nhìn của Mộc Cát Sinh.

Tiểu Sa Di trầm ngâm một lát, nói: “Hướng Ly Chính Nam, đào xuống chín thước.”

Mộc Cát Sinh bước tới vị trí mà đối phương chỉ, khép năm ngón tay lại, tập trung tinh thần dồn khí, rồi vung tay đánh xuống một chưởng.

Mặt băng vỡ vụn thành từng lớp, Mộc Cát Sinh bới đám băng vụn ra, thấy sâu bên dưới chợt lóe lên một tia sáng trong trẻo. Y cúi người thò tay xuống, lát sau vớt lên được một vật sáng lấp lánh, chạm vào lạnh buốt.

Đó là một thanh kiếm. Mộc Cát Sinh nhìn kỹ, bỗng dưng thấy hơi quen mắt. Suy nghĩ một chốc, y mới bừng hiểu vì sao thanh kiếm này lại nằm ở chỗ này.

Đây chính là thanh kiếm mà Mạc Khuynh Bôi thường đeo bên mình năm xưa.

.

Trên đỉnh núi, chớp giật liên hồi, sấm nổ rền vang.

Họa Bất Thành nhìn bóng dáng đỏ rực giữa không trung, lạnh giọng: “Không ngờ ngươi chưa chết.”

Ô Nghiệt đứng chân trần trên đầu con Côn xanh, hai tay đánh chưởng liên hoàn, suýt nữa đập con cá khổng lồ xuống tận đáy hồ. Ngay sau đó, thiếu nữ bật nhảy thật cao, vòng eo cong mềm tựa trăng lưỡi liềm, vẽ lên một đường cung uyển chuyển giữa không trung.

Bà lộn nhào một vòng trên không, đối mắt với Họa Bất Thành, bật tiếng cười khẩy đầy giễu cợt, “Trường Sinh Tử, thế ngươi còn chưa chết hả?”

Họa Bất Thành hơi nghiêng người, “Lâu rồi không gặp, Thái Tuế vẫn khỏe chứ.”

“Trông cái dạng người không ra người quỷ không ra quỷ của ngươi kìa, đúng là cho bản gia được mở mang tầm mắt.” Ô Nghiệt tung một quyền đập thẳng xuống đáy hồ, nước bắn lên tung tóe tạo thành một vòng sóng lớn, con Côn bị bà ép mạnh xuống bùn lầy, vùng vẫy điên cuồng.

“Đừng đứng ngây ra đấy! Chỗ này để gia xử lý, ngươi mau đi làm việc của mình đi!” Ô Nghiệt hét lớn về phía Sài Thúc Tân.

Sài Thúc Tân giật mình hoàn hồn, chú ý thấy bóng dáng của Ô Nghiệt có hơi mờ ảo, không phải thực thể, chỉ có vị trí trái tim ánh lên chút sắc đỏ vàng vô cùng rực rỡ, tựa như đang cộng hưởng với quầng sáng bên ngoài kết giới của Bồng Lai.

Bên ngoài kết giới là chân thân Chu Tước khổng lồ, Chu Bạch Chi đang không ngừng công phá, biết đâu còn có cả Chu Ấm Tiêu nữa.

Năm đó Sài Thúc Tân giao chuỗi hạt máu cho Chu Bạch Chi, có lẽ trải qua bao năm nuôi dưỡng, cuối cùng cũng giữ lại được chút hồn phách của Ô Nghiệt, giúp bà có thể thấy ánh mặt trời lần nữa.

Sài Thúc Tân không còn do dự, nắm chặt đao Thỉ Hồng, lao thẳng về phía Họa Bất Thành đang lơ lửng giữa không trung.

Ánh sáng đỏ rực bỗng nhiên bùng lên hừng hực, lưỡi đao va chạm với mũi kiếm, tốc độ của hai người đều nhanh tới cực hạn, hóa thành hai luồng bóng mờ khổng lồ giữa trời cao, giống như hai con mãnh thú hung tợn đang xung đột, cắn xé lẫn nhau, quyết chiến tới cùng.

Uy lực từ cuộc giao tranh kh*ng b* đến mức ngay cả Ô Nghiệt cũng buộc phải lùi lại. Bà nhìn bóng người trên không, giọng điệu phức tạp, chẳng rõ là tán thưởng hay cảm khái, “Bao năm xa cách, đã không còn là nhóc điên năm xưa nữa rồi.”

Hiện tại Sài Thúc Tân rõ ràng vẫn điên, nhưng không còn là kiểu điên cuồng nhẫn nhịn và kìm nén như ngày trước. Sự khát máu và bạo ngược của La Sát giờ đã tìm được nơi dung chứa thích hợp. Nay hắn vung đao xông tới đầy khảng khái, khí thế như sông lớn tuôn trào, dũng mãnh không gì cản nổi, nhưng tuyệt đối sẽ không mất kiểm soát mà sa vào ma đạo.

Từ cổ chí kim, những kẻ mang thân phận La Sát Tử mà có thể kiềm chế được bản tính khát máu giết chóc, e rằng chỉ có mỗi mình Sài Thúc Tân thôi.

Tiếng binh khí va chạm dần dần khuất xa, tan biến vào mây trời, thỉnh thoảng vẫn có những đường đao sắc bén từ trên trời giáng xuống, chém thẳng xuống đáy hồ.

Ô Nghiệt lắc đầu ngao ngán, dứt khoát đè chặt con Côn dưới hồ, hứng chịu mọi đòn công kích từ trên trời giáng xuống.

.

Mộc Cát Sinh sững sờ, trăm ngàn suy đoán thoáng hiện lên trong đầu, buộc y phải ép bản thân trấn tĩnh, “Thứ này là do ai lưu lại đây vậy?”

Tiểu Sa Di hiển nhiên cũng nhận ra món đồ này là của Mạc Khuynh Bôi, không khỏi chép miệng: “Không ngờ nó vẫn còn tồn tại trên đời, ta cứ ngỡ Bồng Lai đã nấu chảy nó từ lâu rồi chứ.”

“Năm đó chẳng phải chính người đã dẫn sư phụ rời Bồng Lai sao? Ông ấy không mang theo kiếm à?”

“Thanh kiếm này vốn xuất xứ từ Kiếm Các, y đã rời đi thì đương nhiên phải trả lại chủ cũ, nhưng ta vốn tưởng Bồng Lai sẽ nung chảy nó, đúc thành một thanh mới.” Tiểu Sa Di trầm ngâm nói: “Khi xưa, Khuynh Bôi tài hoa xuất chúng, thanh kiếm này lại có linh tính, chỉ nhận mình y làm chủ. Y đi rồi, thanh kiếm này cũng coi như đồ phế, người khác không thể dùng được nữa. Nhưng theo quy củ của Bồng Lai thì nó phải được cất giữ ở Kiếm Các, sao lại bị đóng băng trong cái kho lạnh hẻo lánh khỉ ho cò gáy như này?”

Mộc Cát Sinh nheo mắt, “Một là nó có công dụng đặc biệt, hai là có người sợ nó.”

Nếu là công dụng đặc biệt, có lẽ Họa Bất Thành muốn luyện hóa thanh kiếm này. Nhưng cầu Tiên Nhân có tổng cộng bốn hồ nước, mà đã có tới ba hố vạn người, chỉ dựa vào một thanh kiếm này, liệu có thể tạo được thế cân bằng với vô số sinh mạng của hàng vạn người trong ba hồ còn lại không?

Trực giác mách bảo y: không thể.

Trong căn phòng băng này chắc chắn vẫn còn thứ gì khác nữa.

Mộc Cát Sinh giờ chỉ còn lại một đồng tiền Sơn Quỷ cuối cùng, y suy nghĩ giây lát, trở tay xoay đồng tiền trên mặt đất, nhanh chóng bói một quẻ, tính ra một hướng.

Tiểu Sa Di: “Hướng Khôn Tây Nam.”

Mộc Cát Sinh sải bước tới đúng hướng mà tiền Sơn Quỷ chỉ, vung tay vẽ một vòng kiếm đẹp mắt rồi đâm thẳng kiếm xuống đất.

Lớp băng nứt vỡ răng rắc, Mộc Cát Sinh nhảy bổ xuống, lặn lội trong đống băng vụn ngập đến ngang eo, đào bới hồi lâu mới lôi lên được một chiếc hộp ngọc xỉn màu.

Mộc Cát Sinh đã lờ mờ đoán được trong hộp chứa thứ gì.

Mở ra, bên trong là một đoạn xương gãy.

Y hít sâu một hơi, bỏ ngoài tai tiếng kêu thất thanh của Tiểu Sa Di, lặng lẽ dựng lên một kế hoạch trong đầu.

Mộc Cát Sinh nhanh chóng trồi lên mặt nước, ném đồng tiền Sơn Quỷ cuối cùng xuống hồ nước, kết hợp với ba giọt máu của Chu Tước tạo thành một mắt trận, sau đó cưỡi kiếm lao vút lên không trung, bay thẳng về phía đỉnh núi

Thực ra y không biết cưỡi kiếm gì cả, chỉ dựa vào chút sức mạnh mượn từ tiền Sơn Quỷ, miễn cưỡng kích phát lực kiếm mà cưỡi gió bay đi. Chứ không, với con đường núi dài ngoằng như này của Kiếm Các, đợi y leo bộ lên tới nơi chắc bên kia cũng đánh nhau xong rồi.

Mộc Cát Sinh gắng gượng giữ thăng bằng giữa không trung. Khi đỉnh núi ở sát ngay trước mắt, y đã có thể thấy rõ từng ánh đao và đường kiếm cuồng bạo, xen lẫn trong tiếng sấm chớp vang dội, dường như còn có cả tiếng gầm thét của thứ gì đó.

Y điên cuồng lục lọi ký ức, nhớ lại bộ kiếm thuật mà chủ viện Ngân Hạnh đã truyền dạy cho mình ngày xưa. Khi ấy, thời đại của binh khí lạnh đã qua lâu rồi, y học qua loa cho xong, chỉ được dăm ba chiêu vớ vẩn. Nhưng nay bất đắc dĩ phải cầm kiếm ra trận, y chẳng còn cách nào khác đành lôi tạm ra ôn bài cấp tốc, chữa cháy phút chót.

Y đã dùng tín vật của năm nhà dựng nên phôi trận cho toàn bộ trận pháp, hiện tại chỉ còn thiếu hai mắt trận cuối cùng, lần lượt là thanh đao Thỉ Hồng trong tay Sài Thúc Tân và mệnh La Sát.

Nhìn tình hình chiến đấu trước mắt, chỉ cần đao Thỉ Hồng rời tay, Sài Thúc Tân sẽ mất đi nguồn trợ lực mạnh nhất, nên y phải tranh thủ đúng khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy để bố trí nốt mắt trận cuối cùng.

Mộc Cát Sinh thở hắt một hơi thật dài, đáp xuống đỉnh núi.

<i>Nhất định phải kịp.</i>

Lúc này, trên đỉnh núi đang vô cùng hỗn loạn, cuồng phong gào thét, sấm nổ liên hồi. Trên mặt hồ cuộn trào những cơn sóng dữ. Vậy mà giữa hồ vẫn bốc lên một đám cháy lớn ngùn ngụt, còn dưới đáy hồ thì có con cá khổng lồ đang kêu gào thảm thiết. Mộc Cát Sinh liếc nhìn, đoán đây chắc là một con Côn.

Không thể tưởng tượng được Họa Bất Thành lại dùng tới cả con vật này.

Hình như giữa hồ có ai đấy, có vẻ là đến tiếp viện, nhưng lửa cháy quá dữ dội, Mộc Cát Sinh không tài nào nhìn rõ bóng dáng đối phương, chỉ loáng thoáng thấy được trong tâm lửa lấp lánh ánh sáng màu vàng đỏ, hẳn là Tam Muội Chân Hỏa của tộc Chu.

Trước đó ở trong Thận Lâu, Chu Bạch Chi từng nói sẽ đến hỗ trợ, chắc là ám chỉ lúc này.

Mộc Cát Sinh hoàn toàn không tìm thấy Sài Thúc Tân đâu cả, đối phương dường như đã giao chiến với Họa Bất Thành lên tận giữa không trung, nhìn bằng mắt thường thì chẳng thể bắt được bóng hình nào. Y đành nhắm mắt lại, tập trung tinh thần, cẩn thận cảm nhận mọi động tĩnh xa xôi.

Y nghe thấy những tiếng va đập trầm đục như sấm dội vọng lại từ nơi chân trời xa thẳm. Có lẽ ai đó đang lao vào tấn công kết giới, rất có thể là Chu Bạch Chi, nói không chừng cái tên lão Ngũ ngốc nghếch không chịu nghe lời kia cũng đang nhảy vào góp vui. Tiếng gió, tiếng sóng, tiếng sấm và tiếng Côn kêu… rồi y nghe thấy tiếng binh khí va chạm, xen lẫn một âm thanh cực kỳ quen thuộc với mình, đó là tiếng đao xé gió của đao Thỉ Hồng.

Y lần theo nguồn âm, nhanh chóng phác họa ra hình dáng của Sài Thúc Tân trong đầu, phán đoán từng đòn ra chiêu và thu về của đối phương. Đó là một bóng hình đỏ rực, dữ tợn, được tô đậm bằng sắc lạnh diễm lệ và đầy hung dữ. Thanh trường đao trong tay đối phương vung xuống dưới ánh trăng, từ trên chém xuống, từ trái quét phải, lưỡi đao rít lên những tiếng nổ chói tai.

<i>Hắn đang chảy máu</i>, Mộc Cát sinh thầm nghĩ, <i>có lẽ còn bị thương khá nặng</i>.

Đấu với Họa Bất Thành cực kỳ hao tổn sức lực, chỉ nghe tiếng ra chiêu là y đã đoán được độ ra tay của đối phương nặng nhẹ thế nào, Sài Thúc Tân cùng lắm chỉ còn lại một nửa thể lực.

<i>Chờ chút nữa. </i>Mộc Cát Sinh cố nén sự nóng ruột trong lòng xuống, y nhất định phải giữ vững tinh thần, chờ thời cơ xuất hiện.

Sài Thúc Tân phun ra một ngụm máu, cổ họng phát ra một tràng ho khàn đặc.

Họa Bất Thành đứng cách đó không xa, cánh tay trái buông thõng vô lực, trên tay là vết thương do đao Thỉ Hồng gây ra, bị một nhát đao đâm xuyên qua xương bả vai. Nhưng vết thương của Sài Thúc Tân cũng chẳng kém phần nghiêm trọng. Một vết rạch lớn kéo dài từ vai trái xuống đến bụng phải, máu me loang lổ trong vô cùng ghê rợn. Nếu hắn không phải La Sát Tử thì chắc giờ đã không thể đứng vững ở đây.

Họa Bất Thành nhìn hắn từ xa, “Ngươi đã là nỏ mạnh hết đà rồi.”

“Giết ngươi thì vẫn đủ.” Sài Thúc Tân lạnh lùng đáp.

Họa Bất Thành khẽ cười một tiếng, rõ ràng chẳng coi lời đó ra gì. Gã đưa tay phất nhẹ qua thân kiếm, tựa như đang gảy một sợi dây đàn căng bật.

Sài Thúc Tân nín thở, dồn toàn bộ tinh lực còn lại. Hắn nhận ra chiêu thức mà Họa Bất Thành đang thi triển, nhưng chỉ có thể nắm chắc sáu phần tránh được.

Hắn phải cố mà cầm cự, Mộc Cát Sinh vẫn đang chờ hắn kéo dài thời gian.

Ngay khoảnh khắc Họa Bất Thành rút kiếm lao tới, phía chân trời bỗng vang lên một tiếng nổ kinh thiên động địa! Tiếng nứt vỡ chấn động cả không gian, theo ngay sau là những tiếng ầm ầm dữ dội, ánh lửa vàng đỏ chiếu sáng toàn bộ màn đêm —— Chân thân Chu Tước đã phá vỡ kết giới của Bồng Lai!

Con chim khổng lồ đỏ rực cất tiếng kêu dài vang vọng giữa không trung, từng quả cầu lửa cuồn cuộn như sao băng từ trên trời giáng xuống. Họa Bất Thành biến sắc, vội thu chiêu định né tránh, nhưng đúng lúc ấy, một bóng người bật lên khỏi mặt đất, đá một cú nhắm thẳng vào ngực gã, là Ô Nghiệt!

“Họ Chu kia! Con cá đó giao cho ông đấy!”

Mất đi sự áp chế của Ô Nghiệt, con Côn xanh thoắt cái thoát khỏi mặt hồ sục sôi sóng lửa, bay vọt lên không. Chu Tước kêu một tiếng ngắn, đôi cánh đỏ che kín cả bầu trời, chặn đứng đường chạy của con Côn. Hai bên nhanh chóng lao vào giao chiến kịch liệt!

Họa Bất Thành không lường trước được đòn đánh lén của Ô Nghiệt, ăn trọn một cước, thân hình loạng choạng rồi rơi thẳng từ trên cao xuống.

Trong tích tắc ấy, Mộc Cát Sinh lập tức chớp thời cơ, hét lớn: “Tam Cửu Thiên!”

Kiếm Các cũng là một mắt trận, trước đó y đã nói rõ vị trí cho đối phương, Sài Thúc Tân nghe tiếng liền hành động, hai tay nắm chặt chuôi đao, đâm mạnh về phía Họa Bất Thành đang rơi xuống! Anh mắt Họa Bất Thành lạnh đi, gã ném luôn trường kiếm, lưỡi l**m xuyên thẳng qua ngực Sài Thúc Tân!

Chiêu này hắn bỏ kiếm ra đòn, dốc toàn bộ mười phần công lực, dù có là La Sát Tử thì đây cũng là một kích trí mạng. Nhưng Sài Thúc Tân chẳng hề đổi sắc, lực đao không giảm chút nào, đao Thỉ Hồng đâm thủng ngực bụng Họa Bất Thành. Hai người cùng rơi vút xuống, đâm xuyên qua mái Kiếm Các, rớt xuống từng tầng từng một, cuối cùng bị đóng đinh cứng ngắc trên mặt đất!

Họa Bất Thành ho ra một ngụm máu, nhìn Sài Thúc Tân trước mặt, khóe miệng nhếch lên, “Ngươi đã không còn cầm nổi đao nữa rồi.”

Vết thương của gã ở ngực bụng, còn vết thương của Sài Thúc Tân ở ngay tim. So ra, gã vẫn còn đường sống, Sài Thúc Tân thì đã đến đường cùng.

Sài Thúc Tân kiệt sức buông tay, cả người ngã phịch xuống đất.

“Ngươi mang trên mình chú trời phạt, tu vi chỉ còn lại nhiều nhất bảy phần, vậy mà vẫn ép được ta vào hiểm cảnh thế này, quả không hổ là La Sát Tử.” Họa Bất Thành bình thản nói: “Tiếc là, ngươi vẫn thua thôi.”

“Ta biết các ngươi đang bày trận, nhưng trận pháp này cùng lắm chỉ hủy diệt được đảo Bồng Lai, không giết nổi ta.” Họa Bất Thành bình ổn hơi thở, “Thiên Toán Tử đánh giá thấp tu vi của ta, ta chỉ còn một bước nữa là phi thăng, lò luyện đan sắp hoàn thành rồi.”

Gã nhìn Sài Thúc Tân, “Và ngươi sẽ chết.”

“Ngươi và Thiên Toán Tử gắn kết sinh mệnh với nhau, chỉ cần ngươi chết, Thiên Toán Tử cũng sẽ chẳng sống được bao lâu. Khi đó truyền thừa của hai nhà đứt đoạn, toàn bộ khí vận thuộc về ta, và ta sẽ đạt tới cảnh giới Đại Đạo.”

Nói xong Họa Bất Thành bật cười, “Kết cục giống hệt năm xưa, không phải sao? Ván cờ giữa Trường Sinh Tử và Thiên Toán Tử, cuối cùng y vẫn thua ta một nước.”

Lời còn chưa dứt, cửa chính của Kiếm Các bị đạp tung, một bóng người xông vào, là Mộc Cát Sinh.

Sài Thúc Tân co người lại, không ngoảnh đầu nhìn.

Mộc Cát Sinh bước tới trước mặt Họa Bất Thành, “Trường Sinh Tử, thắng bại chưa phân, đừng vội nói bừa.”

“Không biết Thiên Toán Tử còn có thể lấy ra quân cờ nào…” Họa Bất Thành đang định cười thì chợt nhìn thấy món đồ trong tay y, đột nhiên ngưng bặt.

Gã nhìn thấy thanh kiếm của Mạc Khuynh Bôi.

“… Ngươi tìm thấy nó ở đâu?!”

“Chuyện này không quan trọng.” Mộc Cát Sinh đáp: “Năm xưa sư phụ từng bảo ta rằng, thanh kiếm được rèn bởi thầy đúc kiếm giỏi nhất sẽ mang linh tính của riêng nó, mà linh tính ấy sinh ra từ tâm cốt của người rèn.”

“Theo ta được biết, thanh kiếm này của sư phụ là do ngươi tặng.”

“Cũng chính tay ngươi rèn ra.”

Y rút kiếm, không đợi Họa Bất Thành kịp lên tiếng, đâm thẳng vào tim đối phương.

“Thần tiên bị thương nặng sẽ không chết được, ta biết chứ. Dẫu tim ngươi có hư tổn chí mạng, chỉ cần hồn phách còn đó, ngươi vẫn sẽ bất diệt.”

“Nhưng thanh kiếm này, có thể thay thế đoạn tâm cốt đã bị chặt đứt của ngươi.”
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 83


Tiếng xé da rách thịt vang lên, trường kiếm đâm xuyên tim của Họa Bất Thành.

Hai mắt Họa Bất Thành trợn ngược, thân kiếm tỏa ra thứ ánh sáng lập lòe lúc mờ lúc tỏ.

Trong đôi mắt vốn luôn bình lặng như mây trôi của gã giờ chỉ còn một khoảng trống rỗng. Như thể có thứ gì đó khổng lồ và mơ hồ đang tràn vào cơ thể, khiến sắc mặt gã lập tức vặn vẹo đầy đau đớn, gã co quắp lại, cổ họng bật ra tiếng gầm bị nén chặt tận sâu bên trong.

Gã bắt đầu hộc ra từng ngụm máu lớn, khóe mắt rỉ máu hòa lẫn với nước mắt, tuôn trào đầy mặt.

Mộc Cát Sinh lạnh lùng dõi nhìn hết thảy, nhìn đối phương quằn quại kịch liệt trên mặt đất, vừa đau đớn vừa như có chút hả hê, sống không bằng chết.

Áo trắng đã nhuộm đỏ máu, rách nát bẩn thỉu.

Chỉ một thoáng, vị thần tiên phóng khoáng thoát tục năm nào đã biến thành kẻ phàm tu tục tử nhếch nhác dơ bẩn, máu lệ loang ướt vạt áo, cả người lún sâu vào bùn lầy.

Không biết qua bao lâu, Họa Bất Thành cuối cùng cũng bình tĩnh lại, tóc tai rối bù, giọng khàn đặc: “Ngươi tìm được thanh kiếm này bằng cách nào?”

Mộc Cát Sinh không đáp, nhưng trong lòng chợt lóe lên một suy đoán cực kỳ mong manh và khó tin: có lẽ chính Lâm Quyến Sinh đã đặt thanh kiếm này dưới cầu Tiên Nhân.

<i>Hướng Ly Chính Nam.</i> Ngày xưa, mỗi lần muốn để lại tiền tiêu vặt cho y, Lâm Quyến Sinh đều sẽ đặt ở dưới bếp.

Ly là hỏa, mà lòng người cũng là hỏa; Ly tượng trưng cho ánh sáng, lòng người cũng hướng về ánh sáng ấy.

Hỏa bừng lửa cháy, minh toả sáng soi, quân tử giữ lòng sáng, chiếu rọi khắp muôn phương.

Mộc Cát Sinh không hiểu vì sao Lâm Quyến Sinh lại làm vậy, cũng chẳng muốn nghĩ nhiều. Y chỉ biết, nước cờ dự bị mà đối phương để lại năm xưa đã trở thành át chủ bài giúp y lật ngược thế cờ hôm nay.

Mộc Cát Sinh nhìn Họa Bất Thành, “Ngươi đã biết thanh kiếm này ở dưới cầu Tiên Nhân, sao không phá hủy nó đi?”

Vật này là điểm yếu duy nhất của gã.

“Ai mà biết.” Họa Bất Thành nhìn về khoảng không xa xăm, ánh mắt trống trải như trận tuyết trắng bao la, “Chắc là quên rồi.”

“Ta đã quên quá nhiều chuyện quan trọng.”

“Giờ nhớ ra cũng chưa muộn.” Mộc Cát Sinh nói: “Nhớ hết chuyện đời, rồi uống nốt chén rượu trường sinh.”

“Uống không nổi nữa.” Họa Bất Thành khẽ đáp: “Ta đáng lẽ đã phải chết từ lâu rồi.”

Mộc Cát Sinh quan sát gã, cảm thấy lúc này gã đã tỉnh táo hơn rất nhiều, không còn là kẻ mê muội muốn thành tiên đến phát điên kia nữa, mà thấp thoáng đâu đó bóng dáng quen thuộc của trăm năm trước.

“Ngươi biết cái giá phải trả chứ?” Họa Bất Thành nhìn y, “Dùng tín vật của sáu nhà bày trận pháp, hủy diệt đảo Bồng Lai, ta cũng sẽ tan thành tro bụi theo. Mà tín vật cuối cùng, là mệnh La Sát.”

“Ta cũng không biết mệnh La Sát rốt cuộc là gì.” Mộc Cát Sinh ngắt lời gã, “Nhưng ta không còn lựa chọn nào khác, chỉ có thể đánh cuộc một phen.”

Họa Bất Thành có chút kinh ngạc rồi chợt hiểu ra, “Quả không hổ là Thiên Toán Tử, đúng là phong cách của phái các ngươi.”

“Ta và đảo Bồng Lai vốn gắn kết tương thông, ta cảm nhận được, trận pháp đã thành hình.” Họa Bất Thành nói: “Các ngươi có thời gian một nén hương để rời đi, nếu tiện thì…”

“Những đệ tử Bồng Lai bị ngươi ném xuống dưới cầu Tiên Nhân, ta sẽ không đứng nhìn họ chết.” Mộc Cát Sinh nói: “Có hai con Chu Tước tới đó rồi, chắc sẽ chở hết.”

“Vậy đa tạ.” Họa Bất Thành gật đầu, sau đó khẽ nói thêm một câu gì đó.

Mộc Cát Sinh khựng lại, hàng mi rung lên, “Ngươi nói… thật sao?”

“Người sắp chết, lời nào cũng thật.” Họa Bất thành nhắm mắt, “Ta nợ Thất Gia Chư Tử quá nhiều rồi, coi như một chút bù đắp vậy.”

Gã bị đao Thỉ Hồng ghim chặt xuống đất, không nhúc nhích nổi, chỉ có thể gắng gượng ngoảnh đầu nhìn về dãy núi phủ tuyết trắng xóa xa xăm.

Từ phía chân trời vọng lại tiếng sóng triều cuồn cuộn, khí thế ngút trời, từng đợt chấn động truyền đến dưới chân. Họa Bất Thành nói không sai, chốn linh địa thần tiên tồn tại ngàn năm này đã bắt đầu sụp đổ từ trong ra ngoài.

Mộc Cát Sinh chạy vội đến trước mặt Sài Thúc Tân, “Tam Cửu Thiên! Anh sao rồi?”

Vừa bước vào Kiếm Các y đã thấy bóng lưng Sài Thúc Tân, nhưng đối phương không quay đầu lại —– Chỉ khoảnh khắc ấy, y đã hiểu ra ngay tất cả. Sài Thúc Tân đang dùng sự im lặng để nói với y rằng, có lẽ mình sẽ không qua khỏi.

Cô đơn lẻ bóng, một mình đối diện.

Vậy nên Mộc Cát Sinh không nhìn đối phương, hay nói đúng hơn là y không dám nhìn. Chỉ có thể dựa chút dũng khí cuối cùng trong lồng ngực, đi giết Họa Bất Thành trước.

Mọi thứ bọn họ làm đều là vì giờ phút này, quyết không thể để công sức đổ sông đổ bể.

Mà lúc này đây, y nắm lấy tay Sài Thúc Tân, đối phương đã rút kiếm ra, quanh miệng vết thương được cắm một vòng châm bạc, xem ra đã được xử lý sơ bộ, máu cũng đã ngừng chảy.

Mộc Cát Sinh đau lòng muốn chết, giọng nói nhẹ nhàng hết mức có thể, “Đứng dậy được không?”

Sài Thúc Tân mấp máy môi, dường như đang muốn giằng ra, mãi sau Mộc Cát Sinh mới nghe rõ đối phương đang nói gì, “… Đừng chạm vào, bẩn.”

Mộc Cát Sinh bó tay với hắn luôn, “Sài đại công tử à, đã lúc nào rồi mà anh còn vậy.” Vết thương trên ngực hắn cắm đầy châm bạc, không cõng được, Mộc Cát Sinh đành ôm ngang hắn lên, “Anh gắng lên chút, khó chịu ở đâu thì nói ngay với em.” Nói rồi y định bước ra ngoài.

“… Sát khí trên người anh không chống đỡ được bao lâu nữa. ” Giọng Sài Thúc Tân rất nhẹ, “Cứu người quan trọng hơn.”

“Cứu anh quan trọng nhất.” Mộc Cát Sinh ngắt lời không cho cãi, “Đừng nói nhảm nữa, gắng lên cho em. Ông đây không muốn còn trẻ như này đã phải thủ tiết đâu.”

“Ngủ đi, đừng lo lắng gì cả.” Y kề môi bên vành tai Sài Thúc Tân, thì thầm: “Em thắng cược rồi.”

Mộc Cát Sinh ôm Sài Thúc Tân bước ra khỏi Kiếm Các. Chu Bạch Chi đang đợi cách đó không xa, y cẩn thận đặt Sài Thúc Tân trên lưng Chu Tước. Đúng lúc đó, y bỗng cảm giác có người vỗ nhẹ vai mình.

Y ngoảnh đầu lại, nhìn thấy Ô Nghiệt.

Mộc Cát Sinh đứng chết trân tại chỗ, hồi lâu sau mới bật ra một tiếng hét lớn, nhào tới ôm chầm lấy người trước mặt.

Chu Ấm Tiêu dẫn theo mấy hậu bối trong tộc, đứng trên cầu Tiên Nhân đang lung lay sắp đổ, tất tả vớt người lên, liên tục không nghỉ. Có vài đệ tử Bồng Lai được vớt khỏi nước thì dần tỉnh táo lại, tuy có chút kinh hãi trước những gì đang xảy ra, nhưng cũng nhanh chóng hiểu rằng chạy thoát thân mới là việc quan trọng nhất, thế là lập tức xắn tay lao vào hỗ trợ.

Đất rung núi chuyển, cát bay đá chạy. Những tòa lầu các như ngọc như ngà lần lượt đổ sập, cả hòn đảo dần dần chìm xuống đáy biển, sóng dữ ngút trời, cuộn lên những cơn sóng thần dâng trào trên mặt biển.

Trước cổng núi, một bóng người mờ ảo đứng cuối những bậc thang dài ngoằng, chính là Tiểu Sa Di.

Bốn mươi chín đồng tiền Sơn Quỷ đều đã được dùng để bày trận, chỉ trong khoảnh khắc diệt vong này, lão mới có thể thoát ra khỏi gông xiềng cổ xưa, để có được thực thể trong chốc lát.

“Đã lâu không gặp, Bồng Lai.”

“Ngươi và ta đều sẽ hóa thành dĩ vãng.”

Lão biết rõ trận pháp mà Mộc Cát Sinh bày ra sẽ khiến tín vật của bảy nhà cùng nhau hóa thành hư không. Mà lão, một vong hồn nương nhờ tiền Sơn Quỷ để tồn tại, cũng sắp tan thành mây khói.

Hiệp ước cổ xưa chấm dứt tại đây. Ân oán tình thù, tham sân si hận, hết thảy những khúc mắc mấy ngàn năm qua cuối cùng cũng khép lại. Chết đi, cũng là một sự giải thoát.

Từ nay về sau, thần tiên không còn, La Sát biến mất, Thất Gia Chư Tử sẽ chẳng tồn tại nữa.

Lão ngẩng đầu nhìn vầng trăng tròn khổng lồ treo lơ lửng trên cao lần cuối. Muôn sự vạn vật rồi cũng chung một kết cục, đều sẽ chìm vào hư vô. Có lẽ trước khi hồn phi phách tán, Họa Bất Thành còn có thể gặp được một sợi tàn hồn đã ngủ yên từ lâu trong tiền Sơn Quỷ.

Coi như là một lần trùng phùng sau bao năm cách biệt.

“Ván cờ năm ấy với Trường Sinh Tử, chung quy vẫn là bần tăng thắng hiểm.”

Tiểu Sa Di chắp tay trước ngực, niệm một tiếng “A di đà Phật”.

<i>Ba nghìn trượng sầu vương mái tóc, nửa đời xuân mộng đã phồn hoa.</i>

<i>Bỗng trông nhà ai trong khói sớm, liễu rủ chia sương đỡ hiên tà. (1)</i>

.

Bảy ngày sau.

“Gần đây có một siêu bão đã đi vào vùng biển nước ta. Khu vực ven biển phía đông nam lượng mây phổ biến tăng nhiều, sức gió mạnh. Các cơ quan chức năng đã đưa ra cảnh báo mưa lớn…”

An Bình tắt TV, ngả người xuống ghế sofa.

Từ hôm rời đi không nói lời từ biệt ở Nghiệp Thủy Chu Hoa, cậu không còn nhận được bất kỳ tin tức gì về Mộc Cát Sinh nữa. Trong nhóm Wechat, Ô Tất Hữu và Sài Yến Yến cãi nhau om tỏi, Chu Ấm Tiêu thì offline nhiều ngày liền, không ai biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.

Mấy ngày nay, thời sự đều đưa tin về các hiện tượng thời tiết cực kỳ bất thường. Ba người họ suy đoán, chuyện này nhất định có liên quan đến Bồng Lai.

Ở đảo Bồng Lai chắc chắn đã xảy ra chuyện lớn gì rồi.

Ngày đó, khi nhìn thấy thứ Mộc Cát Sinh để lại, Ô Tất Hữu lập tức nổi điên lên, cả người như ăn phải thuốc nổ, gào lớn đến mức rung chuyển cả nóc nhà, “Lão quá đát kia còn nợ tôi cả đống tiền! Đừng hòng nghĩ đến chuyện phủi đít bỏ đi dễ thế!”

Họ đã thử thông qua Nghiệp Thủy Chu Hoa để đi tới Thận Lâu, nhưng lối đi đã bị bịt kín một chiều, rõ ràng mọi thứ đã được chuẩn bị từ trước.

Suốt bảy ngày liền, hoàn toàn bặt vô âm tín.

Lòng ai nấy đều lo lắng thấp thỏm, nhưng chẳng ai có thể làm được gì. Ngay cả Hoàng Ngưu cũng không biết tin tức ra sao, chỉ nói: “Các vị thiếu gia tiểu thư chỉ cần chuyên tâm làm việc của mình, vậy là tốt nhất rồi.”

Thế là Sài Yến Yến quay về lo chuyện làm ăn. Ô Tất Hữu xuống Phong Đô chỉnh đốn gia tộc. Còn An Bình thì vùi đầu vào biển đề thi, chiến đấu thâu đêm suốt sáng. Cả ba giả vờ như không ai nhìn thấy đôi mắt đỏ hoe của nhau.

Dạo này An Bình không nằm mơ nữa. Cậu thử đi ngủ, nhưng những chuyện cũ năm xưa chẳng mò vào giấc mộng, hết thảy mọi thứ như đã tan thành mây khói. Tỉnh lại từ giấc mộng dài, cậu vẫn chỉ là một học sinh lớp mười hai bình thường.

Ba mẹ An lại vừa đi công tác nước ngoài, trong nhà chỉ còn lại một mình cậu. An Bình vào bếp rót một cốc nước lạnh, uống một hơi cạn sạch. Ngoài cửa sổ sát đất là cảnh chiều hôm u trầm, vòi nước chưa được vặn chặt, nhỏ giọt tí tách từng tiếng đứt quãng.

Cậu lại bắt đầu ngẩn người.

Chẳng biết qua bao lâu, An Bình giật mình sực tỉnh, nghe thấy tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi.

Bốn cuộc gọi nhỡ, mí mắt cậu giật giật, toàn là cuộc gọi của Sài Yến Yến.

“Alo? Đại tiểu thư à, có chuyện gì vậy? Tôi vừa chợp mắt xong… Không, không… Hả?!” Giọng An Bình đột nhiên cao hẳn một quãng tám, cả người run bắn, suýt nữa đánh rơi điện thoại xuống đất.

Cậu kẹp điện thoại giữa má, tay chân luống cuống vớ đại một cái áo khoác mặc lên người, “Chờ tôi chút! Tôi xuống ngay đây!” Rồi cậu chụp lấy chùm chìa khóa, lao thẳng ra khỏi cửa.

Xe công vụ của Sài Yến Yến đang đỗ dưới lầu, An Bình nhảy lên xe, đóng cửa lại, còn chưa kịp thở đã hỏi: “Cô nhận được tin lúc nào thế?”

“Vừa mới nãy.” Không ngờ Ô Tất Hữu cũng có mặt ở đây, cậu ta ngồi ở vị trí lái xe, “Lối vào Thận Lâu mở rồi, giờ chúng ta qua đó luôn.” Nói xong đạp chân ga, đánh tay lái, chiếc xe gầm rú phóng ra đường lớn.

“Ê khoan đã, Ô Tất Hữu cậu đã đủ tuổi lái xe đâu?” Chuyện đến quá đột ngột khiến An Bình có chút rối bời, cả người xốc xếch, “Lái xe không có bằng là bị phạt đấy!Không phải cậu là quản lý đô thị sao?”

“Đám đứa mình làm đếch có ai có bằng? Nước sôi lửa bỏng đến nơi rồi, cậu không đi thì xéo ngay!”

“Tôi có này!”

“… Đụ má, cậu vội đến mức nào mà đi dép lê luôn hả?”

An Bình bị đánh cho u đầu, mặt mũi bầm dập, lái xe đến Nghiệp Thủy Chu Hoa. Ô Tất Hữu thì ngồi bên cạnh, khịt mũi hừ lạnh.

Sài Yến Yến chẳng thèm để ý đến hai người họ, đẩy kính râm trên mặt, xách túi mở cửa xuống xe, bước thẳng vào trong nhà hàng.

Ô Tất Hữu điều khiển thang máy, bấm một loạt nút lên xuống, buồng thang máy ầm ầm rung chuyển, từ từ hạ xuống, rồi lại đi lên, lặp đi lặp lại mấy lần như thế, cuối cùng “đinh đoong” một tiếng, cửa mở ra.

Âm thanh ồn ã tràn vào, cảnh tượng trước mắt khiến An Bình choáng váng vì kinh ngạc.

Lần này thang máy như dẫn thẳng vào bên trong Thận Lâu. Tòa tháp cao từng đổ nát tan tành giờ đã được dựng lại bộ khung. Người đến người đi tấp nập khắp nơi, không khí nhộn nhịp ngất trời.

“Chuyện đ*o gì thế này?” Ô Tất Hữu cũng sốc không kém, cậu ta nhìn mấy người đang cưỡi kiếm bay giữa không trung, “Kia là người của Bồng Lai đúng không? Môn phái của họ bị giải tán rồi hở?”

Đâu đâu cũng là đệ tử Bồng Lai, kiếm đeo sau lưng, tay vác gạch chạy tới chạy lui, “Đây là hoạt động team building kiểu gì vậy? Đến cõi Thủy Thiên sửa công trình à?”

“Bồng Lai nhiều năm không tu sửa, chẳng may bị sập mất, cả môn phái hơn ngàn người đành chạy qua đây tá túc tạm.” Một giọng nói vang lên, kèm theo tiếng cười lười biếng, “Có trả lương đàng hoàng, được đóng năm bảo hiểm và quỹ nhà ở đầy đủ, làm công trừ tiền thuê trọ luôn.”

Sài Yến Yến thét một tiếng chói tai rồi lao vọt tới, “Ông tổ ơi!”. Cô chẳng buồn giữ hình tượng gì nữa, cứ thế vùi nguyên khuôn mặt vẫn còn lớp trang điểm vào lồng ngực người trước mặt mà khóc òa nức nở.

An Bình và Ô Tất Hữu nhìn nhau. Hai người họ cũng xúc động lắm chứ, nhưng thấy Sài Yến Yến bùng nổ cảm xúc như vậy thì họ lại chẳng biết biết nên biểu lộ sao cho hợp. Chẳng lẽ cũng nhào vào lòng người ta rồi khóc như con gái hả?

Thế rồi An Bình thấy môi Ô Tất Hữu bắt đầu run run, trong lòng thầm kêu “<i>thôi toang</i>“, sau đó bèn thấy tên này không nén nổi nữa, nước mắt giàn giụa.

An Bình đứng đực ra, nhìn Ô Tất Hữu khóc như mưa ngay trước mặt mình. Cậu ta trừng mắt nhìn Sài Yến Yến đang nằm gọn trong lòng Mộc Cát Sinh, cắn chặt môi, nhất quyết không bật ra lấy một tiếng.

An Bình ngẩn người chốc lát rồi ngập ngừng dang rộng hai tay, “… Ôm một cái không?”

“Cậu biến mẹ đi.” Ô Tất Hữu lau mặt thật mạnh, đấm cho cậu một cú.

Xong rồi hai người vẫn ôm chặt lấy nhau.

Mấy người vừa khóc vừa cười, điên điên khùng khùng một hồi lâu, cảm xúc mới dần bình tĩnh lại. Ô Tất Hữu bước vội đến trước mặt Mộc Cát Sinh, “Mấy ngày nay ông đi đâu thế?”

“Ta bảo với con rồi mà, Bồng Lai nhiều năm không tu sửa nên ta qua đó phụ họ sửa gấp.” Mộc Cát Sinh cười tủm tỉm rồi kéo một người tới. Đó là một thiếu nữ thắt eo mảnh mai, đuôi mắt vẽ chút son đỏ, mang theo ánh nhìn trêu chọc quan sát Ô Tất Hữu.

Ô Tất Hữu cảnh giác nhìn đối phương, “Ai đây?”

An Bình thì biết tỏng người này là ai rồi, nhưng lúc này cậu hoàn toàn chết trân tại chỗ, không thốt nổi chữ nào, đành phải nghe Ô Tất Hữu tự đào hố chôn mình, “Con bé này chắc còn nhỏ hơn cả tôi đấy nhỉ? Lão quá đát à, từ khi nào mà ông lại ăn mặn dữ vậy? La Sát Tử có biết không?”

Thiếu nữ đập “bốp” một phát lên người Ô Tất Hữu khiến cậu lảo đảo đứng không vững, sau đó phủi tay nói: “Thằng quỷ, gia đây là tổ tông mười tám đời của nhóc đấy.”

“Bà lớn Thái Tuế, mỹ nhân tạo nghiệp.” Mộc Cát Sinh tốt bụng bổ sung: “Vị này là bà lớn Thái Tuế, Ô Nghiệt.”

Mới đầu Ô Tất Hữu còn chưa hiểu, há mồm định chửi nhưng rồi cậu ta đột nhiên nhớ ra điều gì đó, lập tức hóa đá tại chỗ.

Ô Tất Hữu bị Ô Nghiệt vặn tai lôi đi. Sài Yến Yến vội vàng đi tìm Chu Ấm Tiêu. An Bình thì đi theo Mộc Cát lên lầu, hai người thong thả bước dọc hành lang dài.

Thực ra ba người họ đều hiểu, trong bảy ngày này ắt hẳn đã xảy ra chuyện long trời lở đất gì rồi, nhưng nếu Mộc Cát Sinh không nói, họ cũng sẽ không hỏi đến cùng.

Kinh nghiệm từng trải nói với họ rằng, có những chuyện thực sự nên chôn vùi dưới dòng chảy của thời gian.

An Bình nhìn người và vật bên ngoài tòa tháp, tuy không biết đã xảy ra chuyện gì, nhưng cậu rõ ràng cảm nhận có thứ gì đó đã hoàn toàn thay đổi.

Mộc Cát Sinh nhìn cậu, như thể đã đoán được cậu đang nghĩ gì, chậm rãi lên tiếng, “Nhóc An Bình này, cậu có bao giờ nghĩ tại sao tôi lại kéo cậu vào chuyện này không?”

An Bình sửng sốt, lắc đầu. Cậu tò mò chuyện này đã rất lâu rồi, nhưng vẫn chưa có suy đoán nào tin cậy. Chẳng lẽ Mộc Cát Sinh muốn nhận cậu làm đồ đệ thật ư? Hình như cũng không giống lắm.

Mộc Cát Sinh cười nói, “Hồi tôi gặp cậu lần đầu, thấy cậu đeo một mặt ngọc khấu trên cổ.”

“Đúng rồi, đây là món đồ mẹ tôi từng đấu giá ở nước ngoài năm xưa, nghe đâu là đồ cổ.” An Bình nghe vậy, liền tháo chiếc vòng ngọc xuống, “Mẹ tôi mua về không lâu thì mang thai tôi. Người ta bảo đây là mặt khấu bình an, nên mẹ mới đặt tên tôi là An Bình.”

Cậu lật trái lật phải nhìn xem, cũng chẳng thấy có gì bất thường, “Mặt ngọc này tôi đeo từ bé rồi, nhà tôi còn có giấy giám định đồ cổ nữa đó.”

“Đây đúng là đồ cổ.” Mộc Cát Sinh lại cười, nhận lấy mặt ngọc, sau đó y quay người vỗ nhẹ lên vách tường, một chiếc bàn xoay bật ra.

Lúc này An Bình mới nhận ra Mộc Cát Sinh đã dẫn cậu đến một không gian rộng mở, nơi này dường như chưa bị đổ sập, những cơ quan nguyên bản vẫn đang vận hành.

Cậu thấy Mộc Cát Sinh đặt mặt ngọc vào rãnh lõm trên bàn xoay, và điều khó tin đã xảy ra, hai thứ khớp vừa khít vào nhau, quả thực cứ như một bộ hoàn chỉnh vậy.

Bàn xoay từ từ nâng lên, chậm rãi xoay tròn, những dòng chữ khắc màu vàng kim hiện giữa không trung, rồi tụ lại thành một quả cầu ánh sáng rực rỡ. Mộc Cát Sinh đưa tay vào chính giữa luồng sáng, lấy ra một cuốn trục.

An Bình nhìn phát ngây người, “Sao lại như thế?”

“Hôm đó khi thấy mặt ngọc của cậu, tôi thấy quen mắt quá, bèn đi hỏi lão Ngũ.” Mộc Cát Sinh vừa mở cuộn trục vừa nói: “Cậu ta bảo hồi xưa lúc ra nước ngoài cùng lão Nhị, đúng là đã đánh mất một chiếc mặt ngọc.”

“Mặt ngọc này vốn là vật gia truyền của Mặc gia.” Mộc Cát Sinh tiếp lời: “Sau đó tôi bói một quẻ, phát hiện mệnh bàn của cậu là đã bị sửa đổi.”

“Năm ấy xảy ra vài chuyện, nguyên nhân khiến truyền thừa của Mặc gia bị đứt đoạn không phải do ý trời, mà là do con người.” Mộc Cát Sinh nhìn An Bình, mỉm cười, “Nói cách khác, nếu truyền thừa của Mặc gia chưa từng đứt đoạn, cậu lẽ ra phải là Mặc Tử đời mới.”

Y trải cuộn trục ra, trên đó vẽ kín bản đồ cấu trúc phức tạp khiến người ta hoa cả mắt, “Khi xưa Mặc gia xây dựng Thận Lâu, để đề phòng mai sau xảy ra biến cố, hậu thế không thể phục dựng Thận Lâu lại như cũ, nên đã cố ý lưu lại một cuộn trục, bên trong ghi chép chi tiết cấu trúc của toàn bộ tòa Thận Lâu.”

“Chín trăm bảy mươi vạn lẻ sáu trăm sáu mươi sáu cơ quan, năm trăm tám mươi vạn bốn ngàn tám trăm sáu mươi bảy phòng, tất cả đều nằm trong bản đồ này.”

Y lướt mắt xem qua một lượt, hài lòng gật đầu, “Vậy thì tôi yên tâm rồi. Với bản lĩnh của lão Ngũ, bỏ ra vài trăm năm chắc là phục dựng được thôi.”

An Bình mất một lúc lâu mới hoàn hồn, “Sao anh lại kể tôi biết những chuyện này?” Cậu nhìn ra được, ban đầu Mộc Cát Sinh hoàn toàn không định nói cho cậu biết sự thật.

“Vì hiện tại cậu biết những chuyện này cũng không sao cả.” Mộc Cát Sinh cười đáp, “Thất Gia Chư Tử đã không còn tồn tại, thế hệ các cậu sẽ không bị kéo vào cái bóng của quá khứ ấy nữa.”

An Bình nghe mà nửa hiểu nửa không. Thất Gia Chư Tử không còn tồn tại? Sao có thể chứ?

Rốt cuộc trong bảy ngày qua đã xảy ra chuyện gì?

Cậu chợt nhận ra từ lúc họ vào Thận Lâu đến giờ, bên cạnh Mộc Cát Sinh luôn thiếu vắng một người, “Linh Xu Tử đâu rồi?”

“Anh ấy à.” Mộc Cát Sinh như nhớ ra chuyện gì đó, bật cười, “Cậu đi theo tôi.”

Đó là một căn phòng đỏ thẫm, tất cả mọi người đều đã có mặt ở đây. Mộc Cát Sinh đứng sau một tấm bình phong lụa đỏ, Chu Ấm Tiêu đang bên cạnh giúp y thay đồ.

“Ta biết mấy đứa đều rất tò mò rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.” Giọng Mộc Cát Sinh vang lên từ sau bình phong, “Nói ngắn gọn một câu thôi. Từ hôm nay trở đi, Thất Gia Chư Tử chính thức tan rã.”

Sài Yến Yến và Ô Tất Hữu có vẻ như đã được Chu Ấm Tiêu và Ô Nghiệt báo trước, nên không đến mức quá sốc, nhưng rõ ràng vẫn có rất nhiều điều thắc mắc. Ô Tất Hữu vừa định mở miệng thì lại thấy Mộc Cát Sinh giơ một tay lên, ngắt lời cậu ta.

“Có lẽ một ngày nào đó trong tương lai mấy đứa sẽ biết được sự thật, nhưng giờ không biết thì vẫn tốt hơn.”

“Vô tri cũng là một loại phúc.” Nói rồi y khẽ cười, “Nếu đủ may mắn, có khi cả đời này mấy đứa sẽ chẳng biết chân tướng đâu.”

“Con gái ngốc này, chuyện ở Phong Đô, bà lớn sẽ giúp con. Có khó khăn gì cứ nói, đều là người một nhà cả.”

“Yến Yến, La Sát gia đã giao hết cho con. Hoàng Ngưu sẽ tận tâm tận lực giúp đỡ. Con tuổi còn trẻ, cơ nghiệp lại lớn, cứ từ từ mà xử lý, không cần nóng vội.”

“Nhóc An Bình, nếu muốn làm gì thì cứ mạnh dạn làm, học hành cũng được, làm cậu ấm kế thừa gia nghiệp cũng được. Nhà họ An các cậu xưa nay vẫn luôn tự do phóng khoáng, đi đến đâu cũng phát triển được. Lúc nào rảnh thì quay về Thận Lâu thăm một chuyến là được.”

Lải nhải một thôi một hồi, Mộc Cát Sinh sắp xếp cho từng đứa nhỏ rõ ràng đâu ra đấy, chỉ đường đi nước bước hết cả. Cuối cùng y tổng kết: “Sau này nếu có nguyện vọng gì, cứ tùy theo lòng mình mà làm, không cần phải bận tâm đến trách nhiệm dòng dõi nữa. Nếu thật sự làm không nổi thì cơ nghiệp này ai thích thì lấy, không thích thì cứ bỏ.”

“Mấy đứa sẽ là những người đầu tiên trong ngàn năm qua được giải phóng khỏi xiềng xích của bảy nhà, nhớ phải sống cho thật vui vào.”

Vừa dứt lời, Mộc Cát Sinh đã bước ra khỏi bình phong. Ba người sững sờ nhìn y, ngay cả những lời vốn định nói cũng quên sạch. Ô Tất Hữu lắp bắp lên tiếng: “Ông ông ông ông ông… Ông đang mặc gì vậy?”

“Không đẹp sao?” Mộc Cát Sinh chỉnh lại cổ áo, “Đây chính là đồ cất trong kho của Thận Lâu đó, lão Ngũ lật tung khắp nơi mới tìm ra đấy.”

Y đang mặc một bộ đồ cưới.

“Nhìn tay nghề thêu thùa tinh xảo này xem.” Mộc Cát Sinh vuốt mấy sợi tua rua trên tấm khăn che mặt, “Nếu ta đoán không nhầm, đây chắc hẳn là bộ đồ năm xưa lão Nhị để lại trong Thận Lâu.” Giọng điệu mang chút cảm khái, “Hắn thiệt là, haizzz.”

“Không phải, không phải ông đã đăng ký kết hôn với người kia rồi sao?” Ô Tất Hữu trông như sắp nghẹt thở, “Mới có vài ngày thôi mà? Má nó ông lại xiêu lòng kẻ nào nữa hả trời?”

“Con gái ngốc à, ta có thể xiêu lòng ai được chứ.” Mộc Cát Sinh nói: “Ai bảo đã đăng ký kết hôn thì không được tổ chức hôn lễ nào?”

Ô Tất Hữu nghẹn lời trong cổ họng, “… Mấy lão sống dai các ông biết chơi thiệt đó.”

Mộc Cát Sinh tự tay phủ khăn che mặt lên đầu, hiên ngang bước lên kiệu hoa. Người trong Thận Lâu dường như đều đã biết trước chuyện này, tiếng chúc phúc lập tức vang lên không dứt, thậm chí còn có cả đội kèn trống. Một đàn Chu Tước bay lượn giữa không trung rải lông đỏ rực, cảnh tượng tưng bừng vui vẻ ngập trời.

Ô Tất Hữu sầm mặt theo sau đoàn đưa dâu, “Định đưa đến chỗ mẹ nào đây?”

“Ai biết.” Sài Yến Yến cầm một đống kẹo cưới, vừa đi vừa ăn, còn dúi cho An Bình một nắm hạt hướng dương.

Lối đi trong cõi Thủy Thiên đã được mở sẵn. Đoàn đưa dâu tiến vào, tiếng sáo thổi trống đánh rộn ràng cả đường đi, không khí náo nhiệt vô cùng.

Thế nhưng vừa ra khỏi lối đi, Ô Tất Hữu nhận thấy có gì đó sai sai, sao lại đến tận bên bờ sông Vong Xuyên thế này?

Làm gì có đám cưới nào tổ chức ở thành Phong Đô chứ?

Cậu ta tái mặt, định chạy liền tới trước kiệu để hỏi cho rõ, song bị Chu Ấm Tiêu ngăn lại, đối phương lắc đầu, “Đừng lo.”

Mọi người đi thẳng đến đầu cầu Nại Hà, mười điện Diêm Vương và bốn vị Phán Quan đều tề tựu đông đủ, cung kính đứng chờ hai bên.

Ở đầu cầu có một người đứng đó mà Ô Tất Hữu chỉ liếc mắt một cái là nhận ra, chính là Sài Thúc Tân.

Đối phương cũng mặc áo cưới, sát khí trên người dường như đã yếu đi rất nhiều, ánh mắt hắn chăm chú nhìn về phía kiệu hoa cách đó không xa.

Ô Nghiệt nâng rèm kiệu lên, tân nương trong bộ y phục lộng lẫy bước tới đầu cầu, dải lụa đỏ trên tay lập tức nối liền với tân lang. Thôi Tử Ngọc tiến lên một bước, vừa hắng giọng định hát mừng thì thấy Mộc Cát Sinh thẳng tay giật phăng khăn trùm đầu xuống, lao tới ôm chầm lấy Sài Thúc Tân, cười lớn rồi hôn lên môi đối phương.

Ba đứa nhỏ đồng loạt hít một hơi lạnh, Ô Nghiệt mắng: “Nhìn cái dạng hấp tấp của ngươi kìa! Lễ nghi chưa trọn, coi chừng duyên kiếp sau đứt luôn đấy!”

Ô Tất Hữu sửng sốt. Duyên kiếp sau? Ý gì đây?

“Bảy ngày trước, Trường Sinh Tử Bồng Lai qua đời, tín vật của bảy nhà hóa thành hư không. Thất Gia Chư Tử từ nay về sau không còn tồn tại.” Chu Ấm Tiêu đè chặt bả vai cậu ta, nhẹ giọng nói: “Khác với truyền thừa của các nhà khác, La Sát Tử vốn được sinh ra bởi Thất Gia Chư Tử. Duyên đến thì sinh, duyên tan thì mất. Nay bảy nhà không còn nữa, anh tôi cũng chỉ là một người bình thường bằng xương bằng thịt, không thể trường sinh bất lão.”

Ô Tất Hữu run bắn cả người, khó tin nhìn anh.

“Anh ấy và lão Tứ vốn gắn kết sinh mệnh, phúc họa cùng chung, sống chết chẳng rời.” Chu Ấm Tiêu ngừng một chút, lâu sau mới nói tiếp: “Nhờ vào chút sát khí còn sót lại trên người, cùng với y thuật của Dược gia mới gắng thêm được vài ngày này… để sắp xếp hậu sự.”

“Lần gặp cuối cùng rồi.” Giọng Chu Ấm Tiêu nghèn nghẹn: “… Cố vui lên chút đi.”

“Tôi vui thế quái nào được?!” Ô Tất Hữu gần như gầm lên. Đến lúc này cậu ta mới phát hiện, tóc của Mộc Cát Sinh và Sài Thúc Tân đều đã điểm bạc.

“Sau khi Thất Gia Chư Tử tan rã, La Sát Tử không còn tồn tại, chú trời phạt cũng theo đó mà biến mất.” Chu Ấm Tiêu hít sâu một hơi, “Trường Sinh Tử đã dùng chút tu vi cuối cùng của mình, ổn định hồn phách của hai người bọn họ. Thế nên dù thân xác có chết đi, nhưng vẫn có thể đầu thai chuyển kiếp.”

“Nếu dựa theo truyền thừa của Thất Gia Chư Tử, bất luận là Thiên Toán Tử hay La Sát Tử, chết rồi đều sẽ hồn phi phách tán.” Chu Ấm Tiêu nhắm mắt lại, “Nhưng bọn họ kết duyên ở đầu cầu Nại Hà, kiếp sau vẫn có thể ở bên nhau.”

Anh là người đã chứng kiến bọn họ bước qua cả trăm năm. Bị ép mang trên vai những gánh nặng không thể buông, những mong cầu muốn mà không thành. Ý trời khó lường, tạo hóa trêu người. Bọn họ đã nếm trải quá nhiều cay đắng và bạc bẽo, mà kiếp người buồn vui lẫn lộn này, rốt cuộc cũng sắp khép lại.

Cuối cùng bọn họ có thể buông bỏ những vết thương chồng chất và chào đón một cuộc đời mới tinh khôi, trong sạch.

Mà bên cạnh vẫn có đối phương sánh bước.

Mộc Cát Sinh và Sài Thúc Tân ôm nhau hồi lâu. Y thì thầm rất nhiều điều, Sài Thúc Tân vẫn luôn yên lặng lắng nghe, hai tay vòng lại, ôm trọn y vào trong lòng.

Đến cuối, Mộc Cát Sinh lại hôn Sài Thúc Tân một cái rồi phủ khăn trùm đầu xuống, gật đầu với Thôi Tử Ngọc, “Bắt đầu đi.”

Chu Tước đưa dâu, Phán quan chủ hôn, Diêm Vương dự lễ.

Ba mẹ của hai người đều không còn, bái lạy trời đất xong, họ quay sang hành lễ với Ô Nghiệt.

Cuối cùng phu thê giao bái, lễ thành.

Chu Ấm Tiêu hít một hơi thật sâu, hiện nguyên hình Chu Tước, bay vọt lên chốn cao nhất trong thành Phong Đô. Anh cắn đầu lưỡi, nhỏ một giọt máu xuống đài cao trên thành.

Trong chớp mắt, ánh sáng bừng lên, vô số tia lửa lan rộng, rực rỡ chói lòa.

Ba đứa nhỏ đồng loạt hít một hơi lạnh, An Bình đã từng thấy cảnh tượng tương tự trong mộng, nhưng giờ xem lại vẫn không khỏi chấn động như thuở đầu.

Chín vạn ba ngàn bảy mươi hai ngọn đèn Kim Ngô cùng lúc được thắp sáng, cả thành tràn ngập trong ánh sáng lung linh sắc màu, đèn đuốc mênh mông bất tận.

<i>Kim Ngô bất cấm dạ, ngọc lậu mạc tương thôi</i>.

“Gần trăm năm rồi mới được thấy lại.” Ô Nghiệt khẽ lẩm bẩm, sau đó bà nhìn sang Mộc Cát Sinh, “Giờ lành đã đến, chuẩn bị lên đường đi, đừng để lỡ duyên đẹp.”

Mạnh Bà đi tới, bưng một chiếc khay vàng, trên khay là hai chén rượu hợp cẩn.

Mộc Cát Sinh và Sài Thúc Tân nhìn nhau mỉm cười, mười ngón tay đan chặt, cùng nâng chén giao bôi, uống một hơi cạn sạch.

Ô Tất Hữu không nhịn được nữa, cất bước chạy ào tới, hét lớn: “Cha ơi!”

Mộc Cát Sinh khựng lại, nâng chén về phía cậu ta, “Con gái ngốc, nhớ chăm sóc bản thân thật tốt.”

“Không phải gọi ông.” Ô Tất Hữu trông như sắp khóc, nửa điên nửa dại nhìn Sài Thúc Tân, liều mạng gọi: “Cha ơi!”

Rồi cậu ta nhào vào ôm chầm lấy Mộc Cát Sinh, khụt khịt mũi, nghiến răng nói: “Ông lấy chồng rồi, an phận làm mẹ đi.”

Mộc Cát Sinh sững người một thoáng rồi bật cười thành tiếng, vỗ vỗ vai cậu ta, “Ừ, con trai.”

“Mượn men rượu nồng đưa nhau về tận, chỉ mong ý chàng cũng tựa tình ta.” Mộc Cát Sinh kéo tay Sài Thúc Tân. Hai người đi đến cuối cây cầu dài, y nhìn con đường luân hồi sâu thẳm không thấy đáy, quay đầu nhoẻn cười với đối phương, “Thầy thuốc nhỏ, kiếp sau nhớ đến cưới em sớm chút nhé.”

Sài Thúc Tân ôm y vào trong ngực, “… Quyết không phôi pha phụ niềm mong nhớ.”

Bọn họ nắm tay nhau cùng bước vào luân hồi, hình bóng dần xa rồi tan biến chẳng còn vết tích.

.

Một năm sau.

Ngày An Bình nhận được giấy báo trúng tuyển đại học, cậu quay về Thận Lâu một chuyến.

Đệ tử Bồng Lai giờ đã ổn định tại cõi Thủy Thiên. Theo bản vẽ giải chi tiết cấu trúc mà Chu Ấm Tiêu có được, việc tu sửa Thận Lâu phải mất tới ít nhất mấy trăm năm. Trong thời gian đó nhân gian sẽ không còn Chu Tước hay tu sĩ xuất hiện nữa.

Còn trăm năm sau, đã chẳng phải quãng thời gian mà cậu có thể chạm tới.

An Bình cuối cùng chọn ngành kỹ thuật. Dạo này cậu đang cắm đầu nghiên cứu những cuốn sách cổ của Mặc gia còn sót lại ở Thận Lâu. Tuy khó nhằn thật, nhưng cậu cũng đang dần nắm được.

Lời của Mộc Cát Sinh đã gieo xuống một hạt giống trong lòng cậu. Thất Gia Chư Tử dù đã tàn lụi, nhưng con đường phía trước, chung quy vẫn phải dựa vào chính họ tự mình bước tiếp.

Có những gông xiềng cổ xưa đã tan biến, nhưng có những truyền thừa, cậu vẫn hy vọng có thể giữ lại.

Trong cõi Thủy Thiên lúc nào cũng thoang thoảng mùi lẩu thơm phức. Bất kể là Chu Tước hay là tu sĩ đóng quân ở đây đều vô cùng thích gọi đồ ăn của Nghiệp Thủy Chu Hoa mang tới. Cuối cùng Ô Tất Hữu mở luôn một chi nhánh ở nơi này. Một năm trở lại đây cậu ta chỉ bận làm hai việc, một là kinh doanh ở cơ sở mới, hai là thi vào cấp hai.

Nhắc đến chuyện này là An Bình lại thấy buồn cười. Không biết suốt năm nay Ô Tất Hữu bị thứ gì k*ch th*ch, tự dưng vứt hết máy chơi game bắt đầu học tập. Thế nhưng một tên “mù chữ lớn tuổi” như cậu ta chỉ mới có bằng tốt nghiệp mẫu giáo thôi, con đường học vấn còn gian truân lắm. Có khoảng thời gian, cậu ta bắt An Bình dạy kèm cho mình. Một bài toán “gà và thỏ chung chuồng” mà giảng ròng rã mất cả tuần trời. Vậy mà nhóc xúi quẩy này còn đăng ký một lớp học toán Olympic, nghe chưa hết một buổi đã bỏ chạy, nửa tháng sau vẫn ngồi hoài nghi nhân sinh.

Nhưng An Bình thấy Ô Tất Hữu rất hợp đi học cấp hai, kiểu gì cậu ta cũng thành trùm của đám trẻ trâu trong trường cho xem. Có đúp lớp cũng chẳng sao, đằng nào cũng có kỷ lục của Mộc Cát Sinh sừng sững đó rồi, chuyện nhỏ ấy mà.

Nhắc tới Mộc Cát Sinh, An Bình lại bất giác ngẩn người.

Không biết hai người kia giờ ra sao rồi.

Cậu bước vào căn phòng vừa mới sửa xong không lâu, tạm thời bị chiếm dụng làm phòng riêng. Một năm qua họ vẫn thường tụ tập ở đây, nội thất trang trí ấm cúng, mang hơi hướng của gian nhà nhỏ vùng Giang Nam.

Vừa vào phòng cậu đã nghe thấy tiếng kêu la om sòm của Ô Tất Hữu, “Phắc phắc phắc! Tôi sắp chết rồi! Sài Yến Yến, mau buff máu cho tôi!”, “Cậu bớt chỉ tay năm ngón đi! Bà đây mới làm móng xong đấy!”

Chu Ấm Tiêu quay lưng về phía cậu. An Bình từ xa đã nhìn thấy màn hình điện thoại của anh. Ba người họ hình như đang chơi đối kháng, Sài Yến Yến tung một chiêu cuối, làm nổ tung tướng của Ô Tất Hữu.

“Nhóc An Bình, cậu tới rồi!” Cô gái thấy cậu liền chào một tiếng, vội vàng nhường chỗ, “Tôi không hầu hạ nổi thứ của nợ này nữa, cậu qua chơi với cậu ta đi.”

Dạo gần đây Sài Yến Yến thường xuyên ở nước ngoài. Nghe nói ngày trước Sài Thúc Tân từng để lại một vài dự án làm ăn bên ngoài, cô đã dành cả năm nay chạy khắp nơi gom góp về. Lần này nghe tin An Bình nhận được giấy báo trúng tuyển nên mới cố ý về nước tham gia dự tiệc mừng của cậu.

“Tới rồi à.” Chu Ấm Tiêu đứng dậy, gật đầu với cậu, “Lát nữa Hoàng Ngưu mang đồ ăn vào là có thể khai tiệc.”

Một năm qua Chu Ấm Tiêu trở nên bận rộn hơn hẳn. Hiện tại anh gần như là người có tiếng nói nhất trong nhóm bảy nhà cũ. Tuy bảy nhà đã tan rã, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn đọng phải xử lý. Anh đã đổi sang mặc đồ nam, tóc dài buộc gọn sau lưng. Một năm nay anh gầy đi trông thấy, đeo thêm cặp kính gọng bạc, trông rất nhã nhặn lịch lãm lại có chút khí chất cao quý.

An Bình ôm lấy anh, “Anh hai.”

Bây giờ ai cũng gọi anh là “anh hai” hết.

Bên phải phòng bao có một gian phòng nho nhỏ, mỗi lần tới đây An Bình đều vào đó một lát. Trong phòng đặt một tấm bình phong trắng, trước bình phong là một chiếc bàn nhỏ và một lư hương bằng đồng.

Trên bàn là hai hàng bài vị.

Mộc Cát Sinh, Sài Thúc Tân, Ô Tử Hư, Tùng Vấn Đồng, Lâm Quyến Sinh.

Còn có Mạc Khuynh Bôi và Họa Bất Thành.

Cậu thắp một nén hương, vái ba vái rồi c*m v** lư đồng.

Ngoài cửa bắt đầu vang tiếng ồn ào. Ô Tất Hữu hình như tức quá đập cả điện thoại, gào lên đòi An Bình ra giảng bài cho cậu ta. Sài Yến Yến thì nhận một cuộc gọi, có vẻ như lại là chuyện làm ăn của Dược gia. Hoàng Ngưu bưng nồi lẩu vào, Chu Ấm Tiêu chào hỏi anh ta, nghe loáng thoáng còn có cả tiếng của Ô Nghiệt và Chu Bạch Chi nữa.

Cậu nghe thấy Chu Ấm Tiêu nói, định trồng mấy cây ngân hạnh ở bên ngoài.

An Bình khẽ cười, nhìn hàng bài vị trước mặt.

Mọi người đều đang sống rất tốt.

An Bình bước ra ngoài thì thấy Ô Tất Hữu đang cầm một cuốn sách, hét loạn lên.

“Thiếu gia.” Hoàng Ngưu cúi chào cậu, đến giờ anh ta vẫn nhất quyết gọi cậu là thiếu gia, dù thế nào cũng không chịu đổi cách xưng hô. Anh ta chỉ về phía Ô Tất Hữu đang đứng trên ghế sô pha, “Cậu Ô lại phát điên gì thế?”

An Bình có chút bất đắc dĩ, đi tới trước mặt Ô Tất Hữu, “Lại có bài nào không biết làm à?”

“Không phải bài tập tiểu học của cậu ta!” Sài Yến Yến phất tay, trông cô cũng kích động không kém, “Nhóc An Bình! Cậu có biết đây là gì không?” Cô chỉ vào cuốn sách trong tay Ô Tất Hữu.

Ô Tất Hữu đập mạnh cuốn sách lên bàn, “Hôm qua tôi vừa cướp được từ chỗ Thôi Tử Ngọc đấy.”

Lúc này An Bình mới phát hiện đó không phải cuốn sách bình thường. Bìa giấy xanh thẫm, nét mực uốn lượn ngoằn ngoèo.

Chu Ấm Tiêu đứng bật dậy, Ô Nghiệt “ồ” một tiếng, “Đây chẳng phải là Sổ Chuyển Sinh sao? Thằng quỷ này gan to ha, dám tự tiện mang ra khỏi Phong Đô.”

An Bình hoàn toàn không nghe lọt nửa câu sau của Ô Nghiệt, sự chú ý của cậu đã dồn hết vào mấy chữ “Sổ Chuyển Sinh”, bàn tay phải run rẩy, không sao khống chế được.

Sổ Chuyển Sinh, cuốn sách ghi lại nơi đến của tất cả mọi người sau khi đầu thai chuyển kiếp.

Nói cách khác, chỉ cần mở cuốn sổ này ra, họ sẽ biết Mộc Cát Sinh và Sài Thúc Tân giờ đang ở đâu.

Mọi người lập tức xúm lại một chỗ, đứng vây quanh cuốn sách thành một vòng, Ô Nghiệt đảo mắt, “Này không phải chuyện nhỏ đâu, chắc chắn muốn xem chứ?”

Chu Ấm Tiêu hít sâu một hơi, “Ai mở đây?”

Mọi người nhìn nhau, tôi nhìn cậu, cậu nhìn tôi, nhìn quanh một vòng.

“Cậu mở nhé?”

——————–
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 84: HỒI PHỤ. ĐIỂM TINH PHONG HOA LỤC - Chương 84. Quan Âm


<b>HỒI PHỤ. ĐIỂM TINH PHONG HOA LỤC</b>

<b>Chương 84. Quan Âm</b>

Kính thưa chư vị quan khách!

Kẻ hèn này họ Chu, tên Ấm Tiêu, bất tài vô dụng, nhờ có anh lớn trong nhà che chở mà mới vớ được cái hư danh Tinh Túc Tử. Chẳng là gia môn bất hạnh, gần đây đứa cháu gái bất hiếu của tôi lại tư lợi mà phạm phép nước, “mượn” về từ cơ quan một món đồ kinh thiên động địa —— Nghe nói vào thời Trinh Quán nhà Đường, vật này từng được Đấu Chiến Thắng Phật đích thân đề bút lên đó, xóa bỏ tên của toàn bộ mười loại chúng sinh của chín tầng u minh trong sổ Sinh tử, khiến giống khỉ trên nhân gian đồng loạt biến thành yêu quái bất tử. Chuyện ấy vừa là đại phúc vừa là đại họa. Đám khỉ trường sinh bất tử nhưng chẳng vui sướng gì, dở điên dở dại. Đêm nào cũng nhảy xuống nước bắt trăng, nhưng nào phải bắt cái bánh tròn ánh bạc ấy mà là vì muốn chết không được.

Đám khỉ đó còn gây ra một “kỳ tích” nữa —— lừa được cả Rượu Tiên cùng chúng hưởng cái lạc thú ngu si này. Dưới ánh trăng mờ, nhà thơ nhân hứng nhảy ùm một cái, đi hưởng cái vui của riêng mình, còn kẻ khởi xướng thì bị bỏ rơi lại chốn nhân gian.

Về sau, phải đến tận đời của một vị Cao Tổ nào đó của đứa cháu gái xui xẻo nhà tôi, thắp đèn nấu dầu không kể ngày đêm thì mới khôi phục được tên của loài khỉ về lại Sổ Sinh Tử. Vì để đưa những linh hồn lỡ vận kia về đúng chỗ, đám quỷ sai Âm Ty phải kéo toàn bộ lực lượng đi đón, bày cảnh nghênh tiếp long trọng đến mức đế vương nhân gian cũng chưa từng được hưởng —— Nghe kể đám khỉ thuở ấy sống lâu quá nên chẳng biết buồn vui nữa, thế mà con nào con nấy cũng mê mẩn chốn hiền hòa nơi âm tào địa phủ. Bởi vậy mà Phong Đô suýt nữa biến thành sở thú, tiếc thay cảnh quan chỉ có mỗi núi khỉ.

Giờ đây trong tòa lầu son này, tôi nhìn một đám hậu bối tràn đầy phấn khởi muốn tái hiện những chuyện ngông cuồng thuở thiếu thời của Đại Chiến Thắng Phật. Bất giác cảm khái: lão Tứ vẫn quá mềm lòng. Một đời xông pha, vượt mọi chông gai thập tử nhất sinh, mà tới đời con cháu lại hóa thành mưa xuân gió mát, nuông chiều đến mức chẳng còn phép tắc gì cả. Chốc lát sau tôi mới ngộ ra, y lại nhét cục xương khó gặm vào miệng tôi rồi. Hệt như năm xưa ở thư viện, thứ gì khó nuốt đều nhét cho tôi, bắt tôi phải nhả ra một đống ngôn từ thối tha để làm người kia mất hứng.

Tôi xem như tốt số hơn lão Tứ, đáng lẽ phải thay y làm kẻ ác, nhưng có một điểm, y lại mạnh hơn tôi cả trăm ngàn lần.

<i>Cát sinh vu dã, cẩm khâm lạn hề, đông chi dạ, hữu quân tử thúc tân lai.</i>

<i>(Trông kia cát xanh ngoài đồng nội, rực màu khoe sắc tựa gấm thay.</i>

<i>Đêm đông giá rét sầu lạnh buốt, có chàng mang củi sưởi ấm đầy.)</i>

Đời này y gặp được một La Sát, còn tôi gặp được một Quan Âm. Thoạt nhìn tôi có vẻ đường hoàng hơn y, nhưng Đấu Chiến Thắng Phật đã tự mình nếm trải đạo lý ấy —— thứ Quan Âm ban cho, chỉ có thể là chú Kim Cô.

Giải thích thế nào nhỉ? Một câu thôi: y có quân tử mang củi sưởi ấm, còn tôi chỉ có mỹ nhân vô tình.

Thưa chư vị! Nếu tôi là tay kể chuyện trong quán rượu ngoài chợ, chắc lúc này đã làm một chuyện đại nghịch bất đạo là bịa chuyện rồi! Chư vị xem, từ thuở Tây Du khởi nguồn, đến yến hội bàn đào lần đầu quy tụ anh hùng, rồi Quan Âm vâng mệnh đến Trường An, hiển thánh hóa Kim Thiền, thu phục Trại Thái Tuế, trói buộc Hồng Hài Nhi. Từng việc từng chuyện, danh nghĩa là độ Đường Tăng, nhưng thực chất là độ Ngộ Không. Chư vị xem, người ấy nam nữ khó phân, mặt đẹp tựa phù dung, lại đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn. Há chẳng phải cũng đã thu phục trái tim của con khỉ ngỗ nghịch kia sao?

Thưa chư vị! Sao lại không phải đôi bên cùng thuận lòng chứ? Bằng không, đường đường là Tề Thiên Đại Thánh, dễ đâu cúi đầu khuất phục trước quyền quý, nhưng lại hết lần này đến lần khác ân cần chạy đến bên Bảo Liên Đài ấy làm gì?

Chư vị quan khách! Đây chính là Tây Du Ký mà tôi muốn kể! Cuốn sách này đề bút từ thư viện Ngân Hạnh trong chùa Bạch Thủy. Trải qua hơn một trăm năm, tướng quân có, La Sát có, thần tiên có, quỷ sai có, đủ loại nhân vật không thiếu một ai. Nhưng hôm nay, thứ tôi muốn kể không phải hồi náo nhiệt nhất, mà là một đoạn dã sử tình duyên được thêm vào hồi phụ sau khi màn kịch lớn đã khép: Câu chuyện về vị Quan Âm đoản mệnh và con yêu quái sống lâu nhất trên đường thỉnh kinh —— Không có mệnh lớn như khỉ đá trời sinh, chỉ là một con gà đang đợi làm thịt được nuôi thả trên núi.

Đã nói là dã sử tình duyên, dĩ nhiên phải mở đầu bằng tình tiết ly kỳ và đẹp đẽ nhất. Thưa chư vị, mọi người đã từng nghe đến chuyện minh hôn bao giờ chưa? Khéo thế nào, trong sách của tôi lại có một chuyện như vậy. Quân tử rút xương thành La Sát, ngàn kiếp nguy nan chẳng tiếc vì hồng nhan. Chỉ tại sợi tơ hồng âm dương này kéo quá dài, khiến hắn vấp phải một ván cờ mưu sâu chấn động. Ván đã đóng thuyền đành phải thay tướng giữa trận. Người quân tử vốn được ung dung tự tại thì nhận lấy món nợ máu, còn phượng hoàng lẽ ra phải tắm lửa lại rút về ổ gà, tiếp tục an nhiên làm một đứa trẻ ngây thơ dưới đài sen của Quan Âm.

Ấy là năm Dân quốc thứ hai mươi bảy. Dân quốc năm thứ hai mươi bảy là khoảng thời gian thế nào nhỉ! Chiến loạn khắp nơi, dân chúng lầm than, vậy mà lại là những năm tháng đẹp đến khó tin! Nhớ năm đó tại cõi Thủy Thiên, lầu son cao vút mọc lên giữa sóng biếc muôn trùng, Quan Âm giảng đạo trước bình phong của bảy nhà, giảng từ thuở thượng cổ cho đến ngày xưa nay, giảng tới đoạn hứng chí dâng trào còn rút đao đập cột, hát ca mà múa. Năm Dân quốc thứ hai mươi bảy, quả là một chốn Bồng Lai tiên cảnh! Chẳng biết Hán triều, chẳng lo Ngụy Tấn, chẳng bận chiến loạn hay biệt ly, chẳng màng đạo đức hay mưu tính âm dương của anh lớn. Chỉ trộm một khắc thời gian, cắt thành một mảnh x**n t*nh. Tuổi trẻ không cho phép bạc đầu, một khắc cũng đáng giá ngàn vàng.

Thế nhưng người giảng đạo ấy là ai? Là Quan Thế Âm Bồ Tát đang ngự trên đài sen! Sao Người lại không nhìn thấu chút x**n t*nh của đứa trẻ ấy được? Người chỉ nói, chỉ cười, chỉ say, chỉ giả vờ và để mặc. Trăm ngàn việc Người có thể chấp thuận, trăm ngàn mong cầu Người có thể đáp ứng, chỉ có duy nhất thứ tình cảm này không có chỗ gửi gắm —— Vậy sao con khỉ đá ấy không phá sắc giới đi? Ai bảo người nó yêu chính Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, vô biên vô lượng chứ!

Bồ Tát! Bồ Tát! A di đà Phật. Vì sao Người độ thế nhân, độ chúng sinh, hàng yêu trừ ma, nắm quyền sinh sát, mà riêng tôi vẫn chẳng được Người đoái thương?

Dù Người có giết tôi đi cũng được!

Người bảo một tấm lòng si đã trao nhầm chỗ? Nhưng tôi thậm chí còn chưa từng nói thẳng. Vì sao? Vì Phật bảo: Không thể nói!

Từ sau khi lão Tứ chết tôi mới thực sự hiểu chuyện, và điều đầu tiên tôi hiểu ra chính là không thể nói.

Quẻ bói vận nước, âm mưu chấn động, không thể nói.

Minh hôn âm dương, đám cưới đỏ trắng, không thể nói.

Không thể nói, không được nói, không cần phải nói.

Nói tức là sai, động lòng cũng là tội.

Thưa chư vị! Nghe đến đây, tưởng như chuyện cũ đã hết, chỉ còn thở dài tiếc nuối thôi ư? Đương nhiên là không rồi! Nếu thế thì làm gì có dã sử tình duyên quanh co trăm bề mà kể chứ? Hồi ấy tôi còn trẻ dại, ngông cuồng, không biết sợ là gì, dám nghĩ dám làm. Cái hay của tuổi trẻ chính là vậy đó. Xưa có con khỉ ngang ngược vì Quan Âm mà vượt chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, giờ có tôi đây đợi Người thêm trăm tám mươi năm thì có gì khó? Một chữ “tình” có thể khiến người chết sống lại, người sống sẵn lòng chết đi. Kiếp trước tôi và Người dâng nén hương đoạn tình, kiếp này lại vướng nợ cũ dài đằng đẵng, vậy có sao đâu nào? Ta hẹn nhau trăm năm, nếu ai mất trước ở tuổi chín mươi bảy thì đứng đầu cầu Nại Hà đợi thêm ba năm là được…

Tôi bèn ôm chặt một lòng kiên định như thế. Nhìn Người lễ độ hòa thuận, nhìn Người phóng khoáng trải nửa đời, nhìn Người bình thản bước vào cái chết. Cùng Người kiếp này kết huynh đệ, lại hẹn kiếp sau nối duyên xưa. Tôi thay Người hiếu kính trưởng bối, thay Người trông nhà lập nghiệp, thay Người đưa tang giữ đám. Đến ngày Người thực sự chết đi, tôi khóc đến đau thấu ruột gan rồi lại bật cười thật lớn. Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi ơi, cả đời Người độ chúng sinh, rốt cuộc cũng độ được chính mình rồi!

Tôi đứng đầu cầu Nại Hà đợi Người. Người độ thế nhân, độ quỷ, độ thần, độ Phật, độ yêu, độ ma, cuối cùng cũng đến độ tôi một lần.

Thế nhưng tôi chờ Người ba năm, ba năm rồi lại ba năm. Rồi một ngày Diêm Vương lại gả con gái, tôi đứng bên cầu nhìn mười dặm hồng trang đi ngang qua, bỗng chốc tỉnh ngộ —— Quan Âm chỉ điểm dẫn mệnh, không phải để thỏa mãn những chấp niệm phàm tục của con khỉ ngỗ nghịch, mà muốn nó trở thành Đấu Chiến Thắng Phật tự do tự tại.

Tôi thấu triệt sâu sắc, vui tột buồn tận. Giữa tiếng kèn suona vang vọng, tôi giật lấy khăn trùm đầu của tân nương, hất tung bát canh Mạnh Bà, điên cuồng hát Tây Sương suốt ba ngày ba đêm. Tôi hệt như Tinh Túc Tử năm ấy của Đại Đường. Hát hết một ngàn một trăm bài thơ Lý Bạch, uống cạn một ngàn một trăm chén rượu Trường Sinh, hát hết ba ngàn lần Tây Sương, uống cạn ba trăm chén bụi trần. Cuối cùng đến cả chúng Diêm Vương cũng kéo nhau ra cầu chỉ trỏ đủ kiểu, ra vẻ ta đây nom còn giống người hơn cả người thật. <i>Kìa xem, vị Chư Tử cuối cùng của đời này cũng hóa điên mất rồi!</i>

Sau cùng, anh lớn đích thân xuống Phong Đô. Khi đó lão Tứ vẫn chưa tỉnh. Vị La Sát lộ rõ vẻ dữ dằn, đuổi sạch đám người lố nhố vây xem, kê ghế ngồi ngay đầu cầu. Tôi hát hí, anh gảy đàn, hai kẻ cô độc nương tựa như hình với bóng. Hay cho một đôi góa bụa thân càng thêm thân.

Đợi đến khi cổ họng tôi không thể phát ra âm thanh nữa, anh mới lên tiếng, khuyên tôi về chỉ bằng một câu nói.

Anh bảo: <i>Hắn đã để lại một thứ cho cậu ở Thận Lâu.</i>

Câu ấy vừa là cọng rơm cứu mạng của tôi, nhưng đồng thời cũng là điềm báo cho nhát đao cuối cùng trước máy chém. Trong Thận Lâu có năm trăm tám mươi vạn bốn ngàn tám trăm sáu mươi bảy phòng, tôi như điên như dại tìm hết năm này qua năm khác. Con khỉ ngang ngược xô ngã đài sen, đại náo núi Lạc Già, nhưng chẳng còn thấy bóng dáng Quan Âm đâu nữa, chỉ còn lại một chiếc vòng kim cô trên đầu, siết chặt đến nỗi da thịt tôi nứt toác, hai mắt chảy máu. Về sau tôi tự tay chém phăng đầu mình. Chu Tước phải tổn thương thần hồn mới chết được, còn tôi thì chẳng mong nổi một cái chết yên lành. Thân thể này nghìn tay nghìn mắt nghìn vết thương hổng. Bạn muốn hôn đầu tôi cũng được, muốn đem đi đá bóng cũng tùy.

Về sau tôi không còn phát điên nữa. Con khỉ ngỗ nghịch rốt cuộc cũng học được chút phép tắc, đem nỗi bi khổ tham sân vẽ lên một lớp da người tạm bợ, khoác vào cái vỏ “làm người”. Tôi bắt đầu học được cách bình thản đẩy mở cánh cửa vô định tiếp theo. Thời gian như con dao cùn cắt vào da thịt, còn tôi thì chậm rãi g**t ch*t từng ngày từng đêm một. Thận Lâu cao bốn vạn tám ngàn trượng, cảnh sắc tựa gương hoa bóng nguyệt, đẹp đến hư ảo. Tôi sống chẳng tính là lâu, cũng không phải người lãng phí thời gian lâu nhất ở chốn này, càng không phải kẻ điên nhất trong số đó. So với các vị La Sát nằm dưới sáu thước đồng xanh kia, tôi cùng lắm chỉ là một kẻ bệnh mà thôi.

Người ta bảo không điên thì sống sao nổi, nên rằng anh lớn liều mình cải mệnh, chính là tự mình cứu lấy mình. Khi ấy tôi mới hiểu, hóa ra mình điên chưa đủ, bởi vậy mà muốn sống chẳng được, tìm chết chẳng xong —— Thưa chư vị! Chắc hẳn mọi người sẽ hỏi tôi, tình không biết từ khi nào mà ngày càng thêm sâu, sao không dứt khoát điên một trận cho thần hồn vỡ nát? Thưa chư vị! Đó chính là cái lạnh lùng vô tình của kẻ đứng ngoài cuộc các vị đấy! Nếu các vị từng tận mắt thấy một người rực rỡ như lửa cháy ngút trời, vàng ngọc làm da đao làm xương sống thì sẽ hiểu sao người ấy khiến tôi tự thẹn với bản thân, đến cả việc phát điên cũng hóa thành trò làm bộ. Nếu các vị từng được một người như vậy dạy dỗ, dù chỉ bị gió đao của người ấy khẽ hất mở mí mắt, thấy một thoáng nhân gian rộng lớn, các vị ắt sẽ cam tâm tình nguyện vì người ấy mà giữ gìn non sông này.

Người dạy tôi không được phép hèn nhát.

Quỳ bái trước thềm sen chín bậc, nào dám nhún mình phục tâm ma.

Thưa chư vị! Có lẽ đây sẽ là dã sử tình duyên nhạt nhẽo nhất mọi người từng xem qua, từ đầu đến cuối chỉ là lời mê sảng của một kẻ bệnh. Nhưng những cảnh huy hoàng rực rỡ nhất các vị đã xem hết rồi, hồi phụ vô vị của tôi sao dám so bì? Chắc hẳn các vị vẫn nhớ cảnh cao trào cuối màn —— Chu Tước đưa dâu, Phán quan chủ hôn, Diêm Vương dự lễ. Quả là một vở kịch hay biết bao. Nhưng hôm nay thứ tôi muốn kể không phải chuyện đôi lứa nên duyên mà là bộ áo cưới trên người tân nương —— Đó hình như là di vật cuối cùng mà Quan Âm để lại, định sẵn phải được tôi tìm thấy sau khi chuyện Bồng Lai kết thúc. Hôm đó cõi Thủy Thiên chưa từng náo nhiệt đến thế. Thái Tuế cong người tung cầu hoa, chúng sinh cười nói ầm vang. Tôi như thường lệ mở cửa vào một căn phòng mới và nhìn thấy một bộ áo cưới treo bên trong.

Tôi nhận ra nó ngay. Hồi còn chiến tranh, tôi cùng Người lánh nạn ở đây. Ngày nào Người cũng kể cho tôi nghe về giai thoại bảy nhà trên bình phong, đến đoạn cuối cùng của Mặc gia, là khi Mặc Tử đời trước gặp gỡ hoa khôi bên cầu, ấy chính là nguồn gốc của chiếc áo cưới này. Tôi vẫn còn nhớ Người bảo tôi rằng, nếu một ngày nào đó lão Tứ và anh tôi thực sự được trọn đôi đường, thì hãy tặng bộ áo cưới cho y xuất giá. Tôi vẫn nhớ giọng Người pha chút cười trêu: <i>Hào quang đều để b</i>ê<i>n thông gia chiếm hết rồi, nhà mẹ đẻ cũng phải có của hồi môn ra hồn chứ.</i>

Nhưng.

Nhưng mà.

Bộ áo cưới ấy không có mũ phượng. Ai cũng biết cả đời này Người sẽ không làm mũ phượng.

Cái lúc Người kể tôi nghe chuyện cũ của Mặc Tử đời trước, từng lấy bộ áo cưới này ra. Tôi hỏi Người có muốn làm thêm một chiếc mũ phượng không. Người cười khẩy: <i>Để phần lão Tứ bộ áo cưới là đủ rồi, y có tư cách gì mà đòi thêm</i>. Khi đó tôi đã khẽ động lòng, nghịch ngợm mặc đại bộ áo cưới lên người, giả vờ ngây ngô hỏi Người: “<i>Đẹp không?</i>” Người chăm chú nhìn tôi thật lâu, rồi chỉ đáp một câu: “<i>Vẫn thiếu một chút</i>.”

Tôi đã dùng hết dũng khí cả đời nhưng cuối cùng vẫn không thốt nổi câu hỏi ấy: “<i>Còn thiếu gì nữa?</i>”

Đến giờ phút này tôi mới hiểu được.

Trong căn phòng treo áo cưới đỏ thắm rực rỡ đến chói mắt đó lại xuất hiện thêm một chiếc mũ phượng.

Lúc ấy tôi nghĩ mình điên thật rồi, nhưng không phải vì yếu đuối hay gục ngã, mà vì Người đã từ lằn ranh âm dương bước tới đây, trả lại món nợ cũ của nhiều năm trước. Tôi tông cửa xông ra, giữa đường gặp anh lớn, anh thoáng ngẩn ra rồi bỗng như đã hiểu.

“<i>Chúc mừng</i>.” Anh nói.

Khoảnh khắc đó tôi đúng như một kẻ mất trí. Tôi đội chiếc mũ phượng vàng rực chạy như bay trên hành lang dài, nhớ đến chuyện ngày xưa lão Tứ từng cười chê tôi có cái tướng mạo kỳ quặc, là đột biến trong tộc Chu Tước. Thì đúng mà, Người là Quan Âm tôi chính là con khỉ ngỗ nghịch, Người là Mặc Tử tôi chính là Tinh Túc, Người rút về nơi bóng núi vắng lặng, tôi lần theo dấu Người mà chẳng gặp. Giờ Người tặng tôi chiếc mũ phượng này, vậy thì tôi sẽ làm phượng hoàng chân chính một lần. Ngũ sắc rợp trời, hót vang tám phương, Thận Lâu cao bốn vạn tám ngàn trượng cũng chẳng sánh bằng một chiếc lông vũ của tôi.

Tôi đáp xuống trước bình phong Mặc gia. Ngần ấy năm, tôi đã thuộc lòng từng nét khắc trên bức bình phong dài, biết rõ từng chuyện sinh tử của các vị Chư Tử được vẽ trên đó, chỉ thiếu mỗi một đoạn tôi ngày đêm tìm kiếm. Bây giờ tôi đội chiếc mũ phượng rực rỡ như ban ngày, giống hệt một cô dâu nóng lòng muốn tự hứa gả mình. Và rồi thời khắc ấy, đoạn cuối của bức bình phong cũng hé mở giữa muôn vàn tia sáng ——

Tôi bật cười rồi òa khóc nức nở.

Trên bình phong, từng vết dao khắc dìu đục hóa thành vạn nét vẽ, tạo nên một bức tranh —— đó là đầu cầu Nại Hà.

Một thoáng ấy trời cao giữ người lại, tựa giấc mộng trải muôn đầy cỏ hoa.

Thưa chư vị! Nay tôi nhìn đám hậu bối vây quanh Sổ Sinh Tử, xắn tay hăng hái muốn làm lại những chuyện ngông cuồng thuở thiếu thời của Đại Chiến Thắng Phật, chợt nhớ năm xưa mình cũng từng như thế, ôm đầy thù hận yêu ghét muốn xé nát tờ giấy xanh ấy —— Cũng như việc tôi đứng ở đầu cầu Nại Hà mà chẳng đợi nổi Người, tôi lật cả cuốn sổ đầy tên họ cũng không thấy Người đâu. Khi xưa chỉ một con khỉ ngang ngược cũng có thể xóa sạch Sổ Sinh Tử, huống chi là Bồ Tát?

Nhưng cuối cùng, cuối cùng tôi cũng đã thấy Người ở đầu cầu Nại Hà.

Dẫu là điều không tưởng, vẫn nên duyên cứu rỗi.

Người vẫn rực rỡ kiêu hùng như thế. Muốn Người thành toàn cho tôi, thì trước tiên tôi phải thành toàn cho Người. Tôi quá hiểu Người định làm gì. Đám hậu bối bây giờ như Ngân Hạnh năm đó, chúng còn cả một quãng đời dài ngút ngàn phía trước, nhưng rồi cũng sẽ đến ngày yến tiệc tàn phai, chuyện lòng khép lại, bình an già đi. Đến lúc ấy, tôi vẫn sẽ ôm bó hồng ngồi bên đầu giường Người, cùng Người đốt lò bầu bạn đêm dài, cùng Người xem lại vở Điểm Tinh Phong Hoa Lục, và đó mới là lúc tiếng phách gỗ thực sự hạ xuống ——

Đợi tôi chỉnh trang lại,

Uống cạn chén thơ rượu, lui khỏi sân khấu,

Gặp lại ở kiếp sau, khi ngân hạnh vàng lá, khi hoa chu tước nở, ngỡ chỉ thường tình thôi.
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 85: PN 1: Vạn Niên Thanh


<b>[Vạn Niên Thanh]</b>

Năm 1919, đêm Giao thừa.

Bắc Bình, Sài phủ.

“Mẹ – “

Sài Nhẫn Đông ôm một bọc gấm to chạy tọt vào bếp. Dạo gần đây cô nhóc đang trổ mã, dáng người đã cao bằng cành mai trong sân. Nếu mang thêm giày vào thì gần như cao hơn thiếu niên cùng tuổi cả một cái đầu. Nàng líu ríu như chim yến: “Mẹ mẹ mẹ mẹ ơi! Mẹ phải cứu con!”

“Thời đại nào rồi mà còn gọi mẹ là nương nương* thế hả.” Một người phụ nữ quàng khăn lông cáo đen ngồi trên chiếc ghế bát tiên, thong thả nói: “Nhà ta làm gì có hoàng thượng.”

<i>(*)Chị Sài gọi mẹ là 娘: Nương.</i>

Sài Nhẫn Đông bị khói bếp hun đen cả mặt cũng chẳng buồn lau: “Thế nào lại dám để mẹ làm nương nương chứ, không thì hậu cung còn đường sống sao?”

Trên bếp đang nấu mấy nồi lớn. Người phụ nữ vừa trông lửa vừa đọc một quyển sách tiếng Tây, thấy con gái như người chạy nạn xông vào, bà chỉ khẽ liếc mắt: “Thêm vài tuổi nữa là đến lễ thành niên rồi, đi một chuyến Thượng Hải về lại càng chẳng ra dáng.”

“Lời này của mẹ giờ không còn linh nghiệm nữa đâu. Lúc con ở Thượng Hải có nghe người ta kể, năm đó vì một đơn thuốc mà mẹ cầm dao mổ đuổi cha chạy ba vòng trên đường Nam Kinh…” Sài Nhẫn Đông đặt túi gấm vào một giỏ rau lớn, đang định tháo chạy thì nhìn thấy đồ trên bếp: “Ồ, lẩu nhất phẩm! Mẹ ơi con ăn một miếng được không?”

“Đồ cúng Tết, khuya mới được ăn.” Người phụ nữ lật một trang sách: “Nồi bên cạnh đang đun hạt dẻ.”

Sài Nhẫn Đông mừng rỡ, vén nắp nồi định thò tay bốc, chợt nghe ngoài bếp vang lên giọng đàn ông: “Đông nhi! Con lại lấy em trai ra thử thuốc phải không?”

Giọng nói không lớn, thậm chí khá ôn hòa, nhưng nền giọng lại mang theo sự uy nghiêm. Sài Nhẫn Đông rùng mình, vội cởi giày leo qua cửa sổ: “Mẹ ơi con đi đây! Chồng mẹ tới rồi, giúp con cản ông ấy một lát nhé.”

“Sài tiểu thư đi thong thả.” Người phụ nữ thản nhiên nói: “Hóa đơn bên Bát Đại Hồ Đồng vừa gửi đến. Hôm nay Tết nhất, tiết kiệm tiền cho cha mẹ cô chút đi.”

Tiếng Sài Nhẫn Đông đã xa dần: “Gió to quá con nghe không rõ!”

Tấm rèm cửa lại bị vén lên, một người đàn ông bước vào. Gương mặt ông không hẳn là quá ưa nhìn, hai bên thái dương đã điểm sương, nhưng nhờ tuổi tác mà toát lên vẻ điềm đạm trầm ổn. Ông đặt lò sưởi nhỏ vào tay người phụ nữ: “Trời lạnh, khói bếp hại thân, phu nhân việc gì phải đích thân xuống bếp.”

“Con gái anh chạy rồi.”

Người phụ nữ mải đọc sách không buồn ngẩng đầu, chỉ tay về phía giỏ rau bên cạnh bếp: “Con trai anh thì đang ngất trong đó.”

“Không ra thể thống gì.”

Giọng người đàn ông nghiêm khắc, nhưng vẻ mặt lại chẳng có ý giận dữ: “Thúc Tân mới hai tuổi, nào có chuyện đem đứa bé nhỏ như vậy ra châm kim thử thuốc. Xem ra những năm nay nuông chiều con bé quá rồi, đến nửa phần cẩn trọng cũng không học được…”

“Tôi lại thấy có mỗi anh nuông chiều đấy.”

Người phụ nữ lật thêm một trang sách: “Nhẫn Đông còn nửa năm nữa mới tròn mười sáu tuổi, vậy mà anh đã vội vàng đưa con bé đến Thượng Hải nhập dược liệu. Những chuyện ngông cuồng năm xưa bị nó nghe sạch bách rồi, giờ anh còn muốn bày giá làm cha thì khó lắm.”

Người đàn ông cúi người bắt mạch cho cậu con trai út, xác định không có gì đáng ngại mới quay sang mở nắp nồi. Động tác của hai cha con hệt như đúc từ một khuôn: “Anh thấy nồi lẩu nhất phẩm này phu nhân nấu rất khá.”

“Tôi thấy khả năng đánh trống lảng của Sài tiên sinh đây cũng chẳng kém cạnh gì.”

Người phụ nữ đặt cuốn sách xuống, chống cằm suy ngẫm một lát: “Tôi đang tính đợi khi thời tiết ấm lên chút nữa sẽ giao lại công thức món này cho Nhẫn Đông. Muốn uốn nắn con bé ấy thành dáng dấp khuê tú e là khó, nhưng những thứ bày ra cho có mặt mũi như nữ công, bếp núc thì vẫn nên học cách vờ vịt cho ra dáng một chút.”

Sài tiên sinh nghe xong trên mặt thoáng ý cười: “Phu nhân xưa nay vốn chẳng ưa làm bộ làm tịch, ấy vậy mà lại chịu hy sinh vì con bé đó sao.”

“Sao lại bảo rằng không ưa làm bộ làm tịch chứ.” Người phụ nữ ngẩng lên nhìn chồng, một cái ngước đầu đẹp đến nao lòng: “Đó chẳng qua là thủ đoạn thôi, tâm mình ngay thẳng là được.”

Hai vợ chồng họ lúc này kẻ đứng người ngồi, nếu xét về tướng mạo thì trông không mấy xứng đôi. Sài tiên sinh đã quá tuổi bốn mươi, trong khi Sài phu nhân trông như chỉ mới ngoài đôi mươi, dung mạo cực kỳ diễm lệ. Bà ăn vận theo lối của phụ nữ kinh kỳ, là kiểu dáng cũ của tiền triều, nhưng đôi môi lại được tô điểm tỉ mỉ. Không phải người Thượng Hải thì không nhận ra được, son môi bà dùng chính là loại son Max Factor chỉ có thể mua được tại cửa hàng bách hóa Vĩnh An.

Nụ cười trên gương mặt Sài tiên sinh càng sâu hơn, phảng phất nét thiếu niên. Lần này ông đưa con gái lớn đến Thượng Hải, một phần là vì muốn thăm lại chốn xưa. Năm đó ông một thân một mình đến Thượng Hải khám bệnh, bệnh nhân là một bà cụ sống trong tô giới Pháp, mắc bệnh mãn tính kéo dài nhiều năm. Vì con trai bà cưới một người vợ Trung Hoa nên sinh lòng kính trọng Trung y hơn. Trong các buổi tiệc xã giao tại dinh thự Pháp có một vị ngoại giao họ Cố, vốn có chút giao tình cũ với nhà họ Sài, liền chuẩn bị thiếp mời gửi đến Bắc Bình, lời lẽ tha thiết mong gia chủ nhà họ Sài đi Thượng Hải một chuyến.

Cùng lúc đó, gửi đến Sài phủ còn có bức thư đòi nợ của Thiên Toán Tử, đính kèm theo thư là một cành hoa đào.

Đến khi đặt chân tới Thượng Hải, ông mới hiểu rốt cuộc khoản tiền quẻ giá trên trời kia của Thiên Toán Tử là vì cớ gì. Dưới gối bà lão người Pháp có một cô cháu gái, vừa mới du học trở về nước. Sài tiên sinh được người hầu dẫn vào dinh thự, vừa bước tới sân đã thấy một cô gái đang ngồi xổm dưới đất, chăm chú giải phẫu một con chó.

“Tiểu thư, tiểu thư ơi, con chó này hôm qua phu nhân mới sai người chôn cất tử tế, sao cô lại đào lên rồi?” Người hầu hoảng hốt, vội cúi đầu hướng về phía ông: “Tiên sinh chớ trách, con chó này bị xe cán chết, tiểu thư nhà tôi lúc ở nước ngoài học Tây y…”

“Mẹ theo cha đi Paris rồi, tháng sau mới về, anh không nói thì sao bà ấy biết được.” Cô gái đứng dậy, nàng đang mặc một bộ đồ cưỡi ngựa gọn gàng, dùng chất giọng Thượng Hải có hơi vụng về hỏi ông: “Anh chính là vị đại phu đến khám bệnh cho nội tôi à?”

Người hầu vội tiếp lời: “Vị này là Sài tiên sinh.”

“Trông anh cũng bảnh bao đấy chứ.” Cô nhìn chằm chằm vào ông, ra chiều suy tư rồi gật đầu: “Mẹ nói không sai, thanh niên trong nước vẫn còn nhiều người ra dáng lắm.”

Dẫu là một câu nói mang ý x**n t*nh, thốt ra lại chẳng có vẻ khuê các. Dung sắc diễm lệ đến cực điểm của nàng tựa như một thứ vũ khí, khiến kẻ đối diện không dám lơ là. Sài tiên sinh nhìn nàng, vén tay áo, lịch sự nghiêng người chào: “Ra mắt tiểu thư.”

Sài tiên sinh tuy là Linh Xu Tử, nhưng khi lời chào ngắn gọn ấy thốt ra, âm cuối vẫn không kiềm được hơi run rẩy, như một câu thoại trong tuồng tích – <i>Ngàn dặm nhân duyên, quả là một cuộc tương phùng đẹp đẽ.</i>

Thiên Toán Tử nhiều năm không tính quẻ đào hoa, quả thực vô cùng xứng với cái giá đó.

Nhờ có quẻ bói của Thiên Toán Tử bảo chứng, hôn sự của hai người diễn ra vô cùng thuận lợi, ngay cả những bậc trưởng bối đức cao vọng trọng nhất của nhà họ Sài cũng không phản đối lời nào. Sau khi kết hôn, cô tiểu thư ấy chuyển đến Bắc Bình, ít nhiều cũng học được cách quán xuyến việc nhà.

Ngẫm lại chuyện cũ, nụ cười hiện rõ trên gương mặt Sài tiên sinh: “Năm đó anh nghe nhạc mẫu nói, phu nhân mới vào bếp tháng đầu đã làm bệ lò nổ ba lần, chẳng lẽ không sợ Đông nhi nối nghiệp mẹ sao?”

“Mặc kệ nó, cần học thì nhất định phải học. Năm xưa mẹ véo tai tôi, nhất quyết phải truyền lại công thức này, con bé kia đừng mong thoát.”

Sài phu nhân nói: “Hơn nữa tính cách Nhẫn Đông giống anh, nước lặng chảy sâu, chỉ là tuổi trẻ còn chút bốc đồng thôi. Gia nghiệp này của anh nếu không phải người vững vàng thì không gánh vác nổi, sau này để nó quản lý là tốt nhất.”

“Sao tự nhiên lại nghĩ đến chuyện xa xôi thế?” Sài tiên sinh mỉm cười: “Sau này đợi con cái lớn khôn, xem đứa nào hợp rồi hẵng tính cũng chưa muộn, còn phải hỏi ý chúng nữa.”

“Ông bạn xem mệnh của anh chẳng phải từng bảo thằng Thúc Tân này tính nết giống tôi sao?” Sài phu nhân lại rất coi trọng nhân duyên do Thiên Toán Tử se mối năm xưa, khi nhắc đến người vẫn mang vài phần kính trọng: “Giống tôi thì hỏng rồi, sau này thể nào cũng phát điên, nói không chừng còn đốt trụi cái phủ này của anh.”

“Muốn đốt thì cứ đốt.” Sài tiên sinh chẳng mấy bận tâm: “hồi trẻ anh vẫn luôn muốn đập nát mấy bức tường này để dọn ra ngoài. Các bậc trưởng bối năm xưa vì đề phòng thiếu chủ nhà mình phải ngủ ngoài đường, còn đặc biệt mua một căn phủ ở phương nam.”

“Anh đang nói đến dược trạch ở phương nam à?”

“Phải, bỏ không cũng lâu rồi, chỉ dùng để trồng Bát Trọng Hàn Hồng.” Sài tiên sinh kéo lại tấm áo lông cáo cho vợ: “Đợi sang năm việc nhà thong thả hơn, chúng ta có thể xuống miền nam đón Tết. Nghe nói hoa mai trong sân nở rộ đẹp lắm.”

“Quê gốc của mẹ tôi ở Giang Nam, hồi nhỏ tôi thường nghe bà kể về Tần Hoài Bát Diễm*.” Người phụ nữ trầm ngâm: “Nếu mà đưa Nhẫn Đông đi cùng, e là tiền công khám bệnh cả năm của anh lại đổ sông đổ biển hết thôi.”

Cả chốn kinh thành đều biết, Sài đại tiểu thư là nữ khách quen số một của Bát Đại Hồ Đồng*.

<i>(*)Tần Hoài Bát Diễm: Tám giai nhân lừng danh bên sông Tần Hoài | Bát Đại Hồ Đồng: Khu kỹ viện ở Bắc Bình.</i>

Sài tiên sinh cười bất lực: “Nhiều bệnh đàn ông khám không tiện, con bé đến đó là để xem bệnh cho các kỹ nữ thôi.”

“Tôi biết, mấy hôm trước nó còn trộm Aspirin từ trong rương của tôi mà.”

Sài phu nhân thản nhiên nói: “Nó cứ đi theo mấy cô kỹ nữ đó học cách chải chuốt trang điểm, rồi cứ phải cắm lên đầu cả đống trâm cài, tiền tiêu không ít, cũng chẳng thấy dắt về được nửa cô dâu nửa chàng rể nào. Hồi tôi ở Paris đâu có như nó.”

Tay Sài tiên sinh khựng lại: “Vốn không thường nghe phu nhân kể chuyện xưa.”

“Phu quân…”

Sài phu nhân đóng sách lại: “Lẩu nhất phẩm chắc sắp xong rồi, anh nếm giúp tôi xem mùi vị thế nào.”

Sài tiên sinh cầm đũa, gắp một miếng nấm hương: “Năm đó ở dinh thự anh có thấy một bức ảnh, nghe nhạc phụ đại nhân nói đó là khi phu nhân diễn kịch tình yêu cùng bạn ở câu lạc bộ kịch…”

Lời còn chưa trọn, một tiếng “cạch” vang lên, đôi đũa rơi xuống đất. Sài tiên sinh lịm đi, Sài phu nhân đứng dậy dìu ông chồng đang ngất ngồi tựa vào ghế, xong lại quay sang nói với cậu con trai út đang nằm gọn trong giỏ rau: “Nhóc con xem mà học hỏi đi nhé, đàn ông thì bớt ghen tuông thôi, không thì chẳng có kết cục tốt đâu.”

Kế đó, bà lại rơi vào trầm tư: “Con bé Nhẫn Đông rắc thuốc mê vào nồi từ lúc nào nhỉ?”<b>…

Phong Đô.

“Tự bốc Thanh Nhất Sắc!” Mặc Tử đẩy bài, hào khí ngút trời vỗ bàn: “Uống hết cho bà!”

Đây là sạp mạt chược trong chợ ma. Bốn người Ô Nghiệt, Chu Bạch Chi, Vô Thường Tử và Mặc Tử đang ngồi cùng bàn. Ở vị trí chủ tọa là một người phụ nữ lưng đeo hồng đao, miệng ngậm một cọng thi thảo, mày mắt phóng khoáng như nét mực tàu đầy phong lưu tự tại: “Tôi đặc biệt mang đủ loại rượu từ Quan Sơn Nguyệt tới, đều là rượu ngon cả, hôm nay không uống đến mức trời đất quay cuồng thì đừng hòng bước khỏi bàn bài này!”

Nàng quả thực mang đến rất nhiều rượu. Bốn người đang ngồi ngay trên những chum rượu xếp thành núi nhỏ, mặt bằng cao hơn hẳn so với những bàn mạt chược khác xung quanh.

“Uống thì uống, sợ ngươi à?!” Ô Nghiệt thua đến mức mặt mày tối sầm, lửa giận bốc lên, liền vớ lấy một vò rượu bên cạnh, đập tan lớp niêm phong bằng bùn rồi ngửa cổ uống cạn. Dòng rượu thơm nức chảy từ khóe miệng xuống, làm ướt lớp sơn dầu trên cổ, bị nàng tùy ý lau đi. Vẻ tà mị yêu dị ấy hòa trong không khí vui tết tháng giêng, lại toát ra vài phần đỏ rực cát tường.

Vò rượu Ô Nghiệt vừa giật lấy vốn đặt ngay dưới chỗ ngồi của Chu Bạch Chi, khiến lão Chu Tước ngã chổng vó, hai chân giơ lên trời. Vô Thường Tử vội vàng đỡ lão dậy, hạ giọng nói: “Chu trưởng lão, cọng thi thảo trong miệng Mặc Tử… Chẳng phải là thứ Thiên Toán Tử dùng để bói quẻ sao?”

Chu Bạch Chi kỹ thuật đánh bài không bằng ai, lại chẳng làm gì được Ô Nghiệt, hậm hực nói: “Cỏ Dao Trì dưới đài Côn Lôn, chắc chắn là thứ mà thằng nhóc Mạc Khuynh Bôi năm đó mang từ Bồng Lai ra. Ước chừng đã bị con bé Mặc Tử này thắng sạch sành sanh, đến mức vốn liếng dưới đáy hòm cũng phải đem ra thế chấp rồi.”

Đời trước Mặc Tử vốn là Thần Tước, thực sự là một tay cờ bạc chính hiệu, một ván bài suýt thắng sạch nửa giang sơn. Cứ ngỡ đời này sẽ khá khẩm hơn, ai dè lại càng quá quắt, vừa là con bạc vừa là con sâu rượu, thứ gì cũng tinh thông. Cứ mỗi dịp lễ tết, nàng lại đi thắng sạch từ nhà này sang nhà khác, khiến cho đến cả Trường Sinh Tử cũng phải bắt đầu đóng cửa trốn khách.

<i>(*)Thần Tước: Thần mạt chược.</i>

Cũng chỉ có Linh Xu Tử là quỷ tinh ranh, cưới được một bà vợ Thượng Hải. Phụ nữ đất Thượng Hải vốn tinh thông bài cửu, vị ấy mới thật sự là đối thủ ngang tài ngang sức với Mặc Tử.

“Lão bất tử và tiểu đoản mệnh kia đang lầm bầm cái gì đấy?” Ô Nghiệt đập vò rượu cái xoảng, ném thêm vò khác xuống trước mặt hai người: “Mau uống cho gia!”

Hai người giận mà không dám nói, khổ mà không dám than, đành im lặng uống rượu. Mặc Tử cũng chẳng khoác lác, nàng xưa nay hào sảng, lần này mang tới toàn rượu ngon. Với kiểu đánh bài thua một ván uống một vò thế này, cũng may là ở Phong Đô, chứ ở dương gian thì chắc chắn đã xảy ra án mạng.

Họ đã đánh qua rất nhiều ván, Chu Bạch Chi say đến mức sắp hiện nguyên hình, Vô Thường Tử mấy lần lăn xuống dưới gầm bàn rồi lại bị Mặc Tử túm ra.

“…Thật sự không xong rồi.” Chu Bạch Chi cố sức nhấc mắt, đôi mắt trợn ngược như chuông đồng, hỏi Vô Thường Tử: “Ngươi bảo cứu binh khi nào thì tới?”

“Vãn bối đã dặn dò Tử Hư từ sớm, khuyển tử chắc là sắp tới ngay, tới ngay…” Vô Thường Tử say khướt, lại chui tọt xuống gầm bàn lần nữa.

Mỗi Ô Nghiệt càng đánh càng hăng, một vò rượu nữa trút xuống, nàng lau miệng nói: “Tiếp!”

Mặc Tử vỗ bàn một cái: “Tiếp!”

Ngay sau đó, một giọng cười dịu dàng vang lên: “Tiếp cái gì vậy? Phu nhân nói cho em nghe với?”

Mắt Mặc Tử sáng rỡ, quẳng bài xoay người lao tới: “Nương tử! Sao nàng lại tới đây?”

“Tết đến rồi, tới thăm phu nhân.” Hoa khôi ôm lấy nàng, nháy mắt ra hiệu với Ô Nghiệt. Thái Tuế hiểu ý, lập tức đứng dậy bắt đầu nhìn lén bài của Mặc Tử, tiện tay tráo sạch bách những quân bài rồi tự thắng nốt ván cuối.

Năm đó Phong Đô có ước hẹn với Mặc Tử, cho phép hoa khôi được lưu lại đầu cầu Nại Hà năm năm. Tuy nhiên, cái gọi là gần quê lại chột dạ, Mặc Tử chẳng thường tới thăm hoa khôi. Đường đường là chủ nhân của đao Thỉ Hồng, đây có lẽ là chuyện nhu nhược duy nhất trong đời nàng. Ngay cả tết nhất cũng vậy, kéo quân rầm rộ mà tới, đánh bạc ầm ĩ, hận không thể náo loạn cả Phong Đô một phen, có lẽ cũng chỉ để nói với người ở cầu Nại Hà một câu: <i>Tôi đến ăn tết cùng nàng.</i>

Vô Thường Tử vốn giỏi nhìn mặt đoán ý, bèn mang theo đứa con trai ba tuổi xuống đây, còn dặn dò từ sớm: “Một khi dì Mặc của con bắt đầu làm loạn, hãy mau đi mời mỹ nhân tỷ tỷ ở đầu cầu Nại Hà tới.”

Ô Tử Hư vừa tròn ba tuổi, vẫn còn là một đứa trẻ bụ bẫm lanh lợi, da trắng như ngọc, bọc trong lớp áo gấm hoa hòe hoa sói, cậu nhóc giờ này đang nắm tay hoa khôi, dáng vẻ vô cùng mãn nguyện. Lúc cha dặn dò, cậu còn hỏi lại đầu cầu Nại Hà có biết bao hồng nhan đoản mệnh, ai mới là mỹ nhân tỷ tỷ mà cậu cần tìm?

Cha cậu xua tay, bảo cậu bớt hỏi đi, cứ làm theo là được.

Đợi đến khi thấy cha mình và “ông Chu” say đến mức không ra hình người, nhóc Ô Tử Hư sải đôi chân ngắn cũn chạy đến đầu cầu Nại Hà. Đúng lúc thấy trên cầu dưới cầu người ngồi đông nghịt, những vong hồn mới chết đều chẳng buồn vội vã đầu thai, mà đang vây quanh một đại mỹ nhân ôm đàn tỳ bà. Nàng đương hát khúc “Xuân Đăng Mê”, là một khúc hát đón tết ở nhân gian.

Nhóc Ô Tử Hư lập tức hiểu ra câu “cứ làm theo” của cha có ý gì. Giữa vạn nghìn vong hồn nơi cầu Nại Hà, cũng chỉ có duy nhất chị gái này mới xứng là người trong mộng của dì Mặc.

Trẻ con nhà họ Ô đều trưởng thành rất sớm. Trong khi Tùng Vấn Đồng còn nhe nanh sữa chưa mọc đủ để sủa nhau với chó hoang, thì Ô Tử Hư đã vui vẻ nắm tay mỹ nhân tỷ tỷ rồi.

“Được rồi cháu ngoan.” Ô Nghiệt véo má cậu: “Mau buông tay ra, không là con điên Mặc Gia kia chặt mất móng gà của con bây giờ.”

“Bà nghĩ tôi hẹp hòi đến thế sao.” Mặc Tử một tay dắt hoa khôi, tay kia rút đao Thỉ Hồng ra, đưa tới trước mặt Ô Tử Hư: “Nào, bé con, lì xì năm mới!”

Vô Thường Tử và Chu Bạch Chi đều thoáng kinh ngạc. Kẻ không thuộc Mặc Gia mà có thể chạm vào đao Thỉ Hồng của Mặc Tử, đó phải là một cơ duyên to lớn đến nhường nào.

Ô Tử Hư vẫn chưa hiểu đạo lý này cho lắm, nhóc thử nắm chuôi đao, nhưng thanh đao cổ quá nặng, kêu “xoảng” một tiếng rơi xuống đất. Mặc Tử thấy vậy thì cười ha hả: “Thằng nhóc, đợi đến khi nào con nhấc nổi thanh đao này thì hẵng mơ tưởng đến mỹ nhân.”

Ô Nghiệt cười khẩy mỉa mai: “Chẳng qua là cưới được vợ thôi, nhìn ngươi đắc ý kìa!”

“Đó gọi là ăn không được nho thì chê nho chua.” Mặc Tử vênh váo tự đắc: “Tôi có mỹ nhân, bà có không?”

“Đủ rồi phu nhân, nàng lại uống quá chén rồi.” Hoa khôi mỉm cười, véo nhẹ vào phần thịt mềm bên eo Mặc Tử: “Đi thôi, về nhà cho tỉnh rượu.”

Bà lớn Thái Tuế thua mạt chược cả đêm, đang tức đến đỗi tóc muốn dựng ngược, lại thêm men rượu bốc lên, bị một câu nói của Mặc Tử kích động không chịu được. Nàng túm lấy Chu Bạch Chi mà hét: “Lão bất tử, biến cho gia xem!”

“Buông tay ra cho lão phu!” Chu Bạch Chi giận dữ gào lại: “Biến cái gì?”

“Biến mỹ nhân!” Ô Nghiệt gầm lên, khí thế nuốt trọn núi sông: “Chẳng phải chỉ là mỹ nhân thôi sao, ai mà chẳng có! Đây là địa bàn nhà họ Ô ta, lẽ nào để một kẻ thuộc Mặc Gia như ngươi độc chiếm thắng thế?”

Đường đường bà lớn Thái Tuế, uy nghiêm đủ đầy, vậy mà lúc này cũng bị chọc cho tức điên. Ô Nghiệt sống ở Phong Đô hơn nghìn năm, cũng chỉ có Mặc Tử đương nhiệm mới có thể khiến nàng nổi giận đến chừng này. Vòng kim xuyến nơi cổ tay nàng leng keng kêu vang, chẳng giống tà túy Thái Tuế chút nào, trái lại hệt như một tiểu nương tử đang làm mình làm mẩy.

Chu Bạch Chi bị nàng quát đến váng đầu, nghe theo bản năng. Lão già rau tóc bạc trắng lắc mình một cái, biến ngay thành một đại mỹ nhân ngực nở mông cong.

“Eo ôi…”

Ô Nghiệt tức thì chê bai không ngớt: “Cái thẩm mỹ thời Lý Đường gì thế này, ngực nhỏ đi một chút thì chết người à?”

Chu Bạch Chi đang say mèm bị chọc đơ người, hằn học vung chiếc khăn tay: “Thích thì lấy không thích thì thôi!”

Mặc Tử phun cả ngụm rượu ra ngoài, cười đến mức thiếu chút nữa đã chui đầu vào váy hoa khôi.

“Tết nhất đến nơi rồi, tết nhất đến nơi rồi.” Vô Thường Tử bế con trai, vội vàng rút bao lì xì giải vây: “Tới nào, đây là tiền mừng tuổi cho Vấn Đồng.”

“À đúng rồi, tiền mừng tuổi.” Mặc Tử cũng nhìn về phía Chu Bạch Chi: “Chu trưởng lão, trước sau gì ngài cũng thiếu tôi không ít tiền cược rồi, hôm nay xem chừng rượu cũng uống không hết, định lấy cái gì ra thế chấp đây?”

Chu Bạch Chi nâng cao cảnh giác, đôi mắt mỹ nhân láo liên: “Không biết Mặc Tử muốn thứ gì?”

Mặc Tử phun rượu ra lần nữa, chiếc váy của hoa khôi coi như xong đời. Ngay sau đó, nàng bị vợ xách tai lôi sang một bên, dặn lần sau phải mang xấp vải mới đến đền.

Mặc Tử thở ra một hơi, rượu mạnh cháy bỏng theo cổ họng trôi xuống, rồi hóa thành một luồng nhiệt dâng lên ngực. Nàng lau nước mắt vì cười quá nhiều, nói: “Nương tử à, con trai mình giờ cao bằng ống tiêu của dì Triệu rồi.”

Hoa khôi ngẩn ra, thốt lên: “Thế chẳng phải hơi thấp rồi sao?” Nàng có chút giận dỗi nhìn Mặc Tử: “Có phải phu nhân không chăm cho Tùng nhi ăn uống tử tế không?”

“Trời đất chứng giám.” Mặc Tử giơ cả hai tay lên: “Đó là con trai của chúng ta, lẽ nào tôi lại không chăm.”

Hoa khôi nửa tin nửa ngờ nhìn nàng, lát sau thở dài, rút một chiếc trâm vàng xuống, búi lại mái tóc rối cho nàng: “Tháng giêng lạnh lắm, đừng có ngày nào cũng ăn vận như hiệp khách xuân thu nữa. Người có gia có thất rồi, nhớ khoác thêm áo ấm.”

“Vâng vâng, nương tử.” Mặc Tử gật đầu lia lịa như gà mổ thóc: “Nhớ rồi, nhớ rồi mà.”

“Em có thêu một chiếc túi thơm cho Tùng nhi, nàng nhớ mang về cho con.”

“Con nít con nôi, có bản lĩnh thì sau này tự đi lừa con gái nhà người ta tặng, nó cần cái này làm gì, tặng cho tôi đi.”

“Nàng làm mẹ người ta mà nói năng thế à, không biết ngượng sao?”

“Ngượng gì chứ, trước mặt nương tử thì tôi cần gì phải giữ mặt mũi… kìa kìa kìa, dừng tay! Tôi sai rồi! sai rồi! Đừng nhéo! Đau! Tôi sẽ mang về cho thằng ranh con đó mà! Nương tử, đừng cắn! Về nhà để dì Triệu nhìn thấy là dì ấy lại mắng tôi một trận cho xem!”

“Cất kỹ vào, đừng có mà ăn chặn đồ của con đấy. Dạo này dì Triệu thế nào rồi?”

“Còn phải nói sao, dì ấy vui hết biết, đám đàn bà con gái ở quán nhạc cứ tranh nhau may quần áo cho con trai chúng ta, may cho nó một đống váy vóc…”

Đến khi Mặc Tử từ Phong Đô trở về, dương gian đã vào đêm. Dì Triệu đứng chặn ngay cửa Quan Sơn Nguyệt trong tiếng pháo nổ đì đùng, nhìn Mặc Tử đầu bù tóc rối, chống nạnh quát lớn: “Lại đi hoang ở đâu về đấy?!”

Mặc Tử ngáp một cái: “Đi thăm vợ.”

“Ở đâu ra lại lòi thêm một cô vợ nữa hả?”

Mày liễu của dì Triệu dựng ngược: “Tùng Bách Niên! Suốt ngày cô cứ hết đi thăm người này đến người nọ, hồ ly tinh nuôi hết ổ này đến ổ khác, cô còn biết lo cho con trai mình không?”

“Không lo được không?” Mặc Tử ngoáy ngoáy lỗ tai: “Bán cho bà ba đồng một cân đấy, mua không?”

Dì Triệu thét lên một tiếng giận dữ, vớ lấy cái chổi lông gà lao đến, Mặc Tử vội vàng né tránh, chạy toáng lên lầu. Quán nhạc hôm nay cực kỳ đông khách, dì Triệu đang đuổi giết nàng giữa đường thì bị khách chặn lại, dì vội vứt ngay cái chổi đi, vuốt lại tóc mai, xoạch một cái đã trở lại vẻ mặt hoa da phấn, dịu dàng thướt tha.

Mặc Tử nhặt lại được cái mạng, nhoài người ôm lan can lẩm bẩm: “Đàn bà thật đáng sợ.”

Dưới chân nàng bỗng vang lên một tiếng: “Gâu!”

Mặc Tử cúi đầu nhìn: “Đệch! thằng ngốc này, sao con lại ở đây?”

Ấy chính là Tùng Vấn Đồng đã quá ba tuổi. Đứa con trai này của nàng trông vừa thông minh vừa khờ khạo, đã biết nói biết đi, còn có thể cầm đao Thỉ Hồng múa may vài chiêu nửa thức, nhưng từ sâu trong xương tủy của nhóc con này hình như có chút máu điên. Biết nói nhưng chẳng chịu nói cho tử tế, biết đi cũng chẳng thèm đi cho đàng hoàng, suốt ngày sủa thi với chó hoang, chân tay kết hợp vừa lăn vừa bò, ai không biết lại tưởng nàng sinh ra cái giống lạ đời.

Mặc Tử bế con trai lên, lau sạch đôi chân nhỏ cho con, rồi bắt đầu lau mặt cho thằng bé. Nhìn qua là biết vừa bị đám ca kỹ giày vò xong, khắp mặt đầy vết son môi.

“Diễm phúc của con cũng không nhỏ đâu nhé, năm đó mẹ vì muốn lấy lòng đám nương tử này mà phải ném vào cả tấn vàng bạc đấy…”

Tùng Vấn Đồng cực kỳ tinh mắt nhìn thấy cái túi thơm treo trên cổ mẹ mình, há miệng định gặm. Mặc Tử vội vàng giật cái túi thơm lại: “Cái này không được! Đổi cái khác mà gặm, cái này là của mẹ!”

Tùng Vấn Đồng trừng mắt nhìn mẹ mình: “Gâu!”

Mặc Tử nhìn đứa con trai không chịu nói tiếng người, có chút sầu não: “Tết nhất đến nơi rồi, thương lượng tí nhé, con nói tiếng người được không? Nương của con mà thấy con thế này, nàng ấy sẽ giết mẹ mất.”

Tùng Vấn Đồng chắc nghe hiểu, nhóc ngẫm nghĩ một chút, sau đó lập tức bày ra vẻ mặt cười trên nỗi đau của người khác, dường như rất đắc chí khi thấy mẹ nó bị đuổi giết, cứ thế hớn hở sủa tiếp một tràng: “gâu gâu gâu”.

Mặc Tử quá hiểu con trai mình đang nghĩ gì, nàng đảo mắt một cái rồi quẳng đứa bé ra sau lưng, mặc kệ nó ôm đao Thỉ Hồng làm thanh mài răng. Lúc này nàng đang đứng trên tầng cao nhất của quán nhạc, bỗng nghe thấy tiếng chuông gió dưới mái hiên khẽ ngân, chỉ thấy ngoài cửa sổ có một con chim chân dài mỏ đỏ vừa đậu xuống, chính là Chu Bạch Chi.

“Ồ, Chu trưởng lão, biến thành mỹ nữ vẫn chưa đã ghiền sao?” Mặc Tử đẩy cửa sổ ra: “Lần này lại biến thành cái thứ gì đây?”

Chu Bạch Chi hứ một tiếng, lão ngậm một cái lồng đặt lên bậu cửa sổ, đẩy nhẹ vào trong: “Đây là món nợ đánh bạc mà Mặc Tử muốn, lão phu ngày mai sẽ tới đón, mong Mặc Tử đối đãi cẩn thận…”

Lời còn chưa dứt, Mặc Tử đã cười phá lên, hớn hở mở cửa lồng túm ngay con gà lông tạp đang ngủ say bên trong ra: “Đây là Tinh Túc Tử đời này sao? Chu trưởng lão, ông không phải tùy tiện tới chuồng gà nhà ai trộm một con về lừa tôi đấy chứ?”

Chu Bạch Chi vốn đã uống quá chén, nghe vậy tức đến phun cả Tam Muội Chân Hỏa: “Đây là thiếu chủ Chu gia! Con nhà ngươi mới là nhặt từ ổ chó về!”

“Ngài đừng nhắc, dạo này tôi cũng hơi cảm thấy thằng nhóc nhà tôi dám thuộc giống chó thật!”

Mặc Tử vòng tay kéo thằng bé từ sau lưng lên, rồi nhét con gà lông tạp vào tay nó: “Nào, quà tết cho con đây, mẹ dùng cái này đổi túi thơm với con nhé.”

Tùng Vấn Đồng ôm con gà lông tạp to gần bằng mình, nhìn trái ngó phải, bỗng nhiên lên tiếng: “Con không cần, con muốn túi thơm.”

Mặc Tử coi như không nghe thấy, quay sang hỏi Chu Bạch Chi: “Sao đứa nhỏ nhà ông cứ ngủ mãi không tỉnh thế? Ngủ đông à?”

“Dạo này là kỳ ngủ sâu của Ẩm Tiêu, chắc chắn là không tỉnh lại được đâu, Mặc Tử nhớ phải coi sóc cẩn thận…” Chu Bạch Chi chưa kịp nói hết câu, con gà lông tạp trong lòng Tùng Vấn Đồng không biết thế nào lại mở mắt ra, thấy một đứa bé lạ hoắc trước mắt, nó lập tức mổ mạnh một phát.

Bị Chu Tước mổ là chuyện chẳng chơi, trán Tùng Vấn Đồng liền bật máu.

Chu Bạch Chi tái mặt: “Ẩm Tiêu, không được vô lễ!”

Mặc Tử thì chẳng mấy bận tâm, nàng đặt hai đứa nhỏ xuống đất, vây thành một cụm: “Được, tôi thấy ổn đấy, hai đứa tự chơi với nhau đi.”

Tùng Vấn Đồng bị mổ đau, nhìn con gà lông tạp hồi lâu, gật đầu bảo: “Công phu của mày cũng được đấy! Đi, tao dẫn mày đi đánh chó.”

Còn về việc tiểu Mặc Tử và tiểu Chu Tước đại chiến ba trăm hiệp với chó hoang ngoài phố như thế nào, rồi vì sao dì Triệu lại có thêm một cây chổi lông gà vàng chói, đó là chuyện về sau.


Thành cổ.

Mộc phủ hôm nay hiếm hoi náo nhiệt.

Gần đây quân đội chỉnh đốn, Mộc tư lệnh cuối cùng cũng được về nhà ăn tết, tiện thể dẫn theo con trai và bốn vị tham mưu trưởng. Một đám đàn ông vai u thịt bắp chen chúc nhau trong bếp.

Nhóc Mộc Cát Sinh túm gấu quần cha mình, leo lên vai ông, rồi lại nhảy sang người bốn vị tham mưu trưởng, giống như đang leo trên năm cái cây cao lớn vậy.

“Vị canh này không đúng, chua gắt chua lét.” Đại tham mưu là người Đông Bắc, quẳng cái muôi sang nồi của nhị tham mưu, la lớn: “Anh em nhìn cái muôi này đi! Tư lệnh, muôi nhà ngài dùng để nhuộm tóc à? Đen thui!”

“Đen thật.”

Nhị tham mưu bình tĩnh vớt cái muôi ra: “Nhưng vẫn trắng hơn mặt tư lệnh.”

“Ê, tôi nói này, ớt bỏ một nhúm là được rồi! Đừng có cho cả đống! Bỏ nguyên rổ ớt vào ăn cho chết hả?” Tam tham mưu quê Hà Nam, giật phắt hũ ớt trong tay tứ tham mưu: “Tôi đã bảo mấy ông Hồ Bắc không biết nấu ăn mà, né sang một bên đi!”

Tứ tham mưu người ác lời ít, trực tiếp ấn mặt tam tham mưu vào bồn nước, hai người lập tức lao vào cáu xé nhau. Nhị tham mưu lặng lẽ nhận lấy cái chảo sắp cháy khét, rồi tiện tay ném luôn mớ ớt mốc meo ra ngoài.

Riêng về phần Mộc tư lệnh, ông vốn là người sáng lập trường phái “ẩm thực dã thú” được toàn quân công nhận, đặc biệt tinh thông đao pháp hoang dã kiêm món cơm thừa trộn tạp. Mộc tư lệnh vừa bước vào bếp đã bị cấp dưới tước quyền, đày đi làm chân nhóm lửa đun nước, lúc này ông đang ôm ca tráng men thong dong uống trà.

“Cha…” Mộc Cát Sinh kéo ống quần cha mình: “Con đói, bao giờ có cơm?”

“Không gấp.”

Tư lệnh nhổ bã trà vào ca: “Mợ ba với mợ tư con mới đánh nhau, không quần nhau hai tiếng đồng hồ thì chưa xong đâu.”

Mộc Cát Sinh lập tức không thèm đếm xỉa đến cha mình nữa. Có sữa là mẹ, không cơm chẳng phải cha. Nhóc liền chạy đến kéo ống quần của nhị tham mưu, người trông có vẻ đáng tin nhất: “Mợ hai, bao giờ mới được ăn cơm ạ?”

Nhị tham mưu tốt nghiệp Trường võ bị lục quân, là nhân tài cao cấp, phong thái điềm đạm nho nhã. Nhưng câu “quân tử tránh xa nhà bếp” cấm có sai, chỉ cần bước vào bếp, kẻ trí thức cũng sớm mất hết phong độ: “Anh đừng có bỏ thêm Natri Clorua nữa!”

Nhị tham mưu quăng cái xẻng nấu ăn, gào lên với đại tham mưu: “Ăn mặn quá là chết người đấy!”

“Ối giời ơi đồ xúi quẩy này, sao chú không biết điều thế nhỉ, nấu ăn là phải bỏ muối, chú ngửi cái hương thơm này đi…”

Ba người đàn ông thì thành một vở kịch, bốn người đàn ông là một trận hỗn chiến, năm người đàn ông thì nổ tung cả gian bếp. Mộc Cát Sinh nhìn cảnh lá rau bay tứ tung, nước lửa phun loạn, còn cha cậu thì vẫn thản nhiên ôm ca tráng men đứng như xem tuồng. Cậu dứt khoát bỏ cuộc, lén thò tay vào túi quần nhị tham mưu móc tiền, tự mình chạy ra ngoài kiếm ăn.

Đêm giao thừa, hiếm có hàng quán nào mở cửa. Mộc Cát Sinh chập chững chạy khắp thành, ham chơi đến mức quên cả đói. Gánh hoành thánh ở phía đông thành vẫn còn mở, cả thành đều biết cậu là con trai Mộc tư lệnh, nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy bé con nhỏ xíu nửa đêm được thả ra ngoài chạy rông như vậy, ông chủ gánh hoành thánh cười hỏi: “Tiểu thiếu gia sao không ở nhà đón tết?”

Mộc Cát Sinh cắm cúi ăn không ngẩng đầu, lát sau mới đáp: “Phía sau nhà con cháy rồi, mấy bà vợ của cha đánh nhau, chẳng ai lo cho con cả.”

Ông chủ sững người, bụng bảo dạ: Người ta đều nói Mộc tư lệnh là kẻ si tình, vợ cả mất rồi cũng không tái hôn, mấy năm nay người đến cửa mai mối cũng ít, sao tự nhiên lại lòi đâu ra mấy bà vợ thế này?

Chưa kịp hỏi thêm, đã có một vị khách khác ngồi xuống cạnh Mộc Cát Sinh. Đó cũng là một đứa trẻ, nó bưng một cái bát sứ chứa đầy tiền đồng: “Ông chủ, phiền ông cho hai bát hoành thánh, một bát mang về.”

“Lâm thiếu gia đêm giao thừa còn xuống núi sao?” Ông chủ múc một bát hoành thánh ra, bát còn lại thì gói kỹ cho nóng: “Đây là mang về cho Mạc tiên sinh à?”

“Sư phụ có lệnh, bảo con phải đổ đầy bát này rồi mới được về.” Lâm Quyến Sinh chỉ vào cái bát sứ đầy tiền đồng trên bàn, nghiêm chỉnh bắt đầu ăn, dáng bộ ăn uống chỉnh tề đối lập hẳn với Mộc Cát Sinh đang ăn như chó đói bên cạnh.

Mộc Cát Sinh ăn nhanh, thoắt cái đã buông bát, cậu bị dáng vẻ như ông cụ non của Lâm Quyến Sinh thu hút: “Này, người lớn nhà anh cũng không cho anh ăn cơm sao?”

“Đâu chỉ là không cho ăn, tôi còn phải nấu cơm cho ông ấy nữa cơ.” Lâm Quyến Sinh thở dài, dáng vẻ như sắp khóc: “Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được người ta nhận nuôi, tết nhất thế này mà vẫn phải ra ngoài kiếm tiền…”

Lòng trắc ẩn của nhóc Mộc Cát Sinh lập tức trào dâng: “Anh là con cái nhà ai? Hay là về nhà em ăn cơm đi?”

Lâm Quyến Sinh lại thở dài: “Nếu nhà cậu có cơm ăn, thì cậu đã chẳng phải nửa đêm chạy ra đây ăn hoành thánh.”

Mộc Cát Sinh bị nghẹn họng, đúng không thể cãi được: “Vậy… vậy em có thể giúp gì được cho anh không?”

Lâm Quyến Sinh lén chấm ngón tay vào bát giấm, nhanh nhẹn quệt lên mắt, nước mắt liền chảy ròng ròng: “Tôi… nhà tôi làm nghề xem bói, tiểu thiếu gia nếu muốn giúp tôi thì xem một quẻ được không?”

Vừa nói vừa sụt sịt mũi: “Quẻ nhỏ mười văn tiền, quẻ vừa hai lạng bạc. Sư phụ nói nếu tôi xem chưa đủ ‘chỉ tiêu’ thì không cho tôi về nhà…”

Ông chủ hàng hoành thánh: “…”

“Xem, xem, xem quẻ đắt nhất.”

Mộc Cát Sinh lập tức móc tiền: “Ơ mà hai lượng bạc là bao nhiêu nhỉ, em đưa anh đồng đại dương được không?”

Nói đoạn, nhóc dốc hết sạch tiền trong túi quần đưa cho Lâm Quyến Sinh. Lúc này cậu nào biết số tiền đó đâu chỉ có hai lượng bạc, về nhà chắc chắn sẽ bị mợ hai mắng cho vuốt mặt không kịp.

“Tạ ơn thiếu gia ban thưởng, chúc cậu năm mới cát tường.” Lâm Quyến Sinh nhanh chóng vơ vét tiền bạc, cũng chẳng khóc nữa, cậu lấy ra vài đồng tiền Sơn Quỷ tung lên, rơi xuống mặt bàn thành một quẻ. Đồng tiền cảm nhận được người có duyên, phát ra tiếng rung cực thấp.

“Cái chiêu tung đồng tiền này của anh thật đẹp mắt, dạy em được không?” Mộc Cát Sinh sáp lại gần: “Đây là quẻ gì? Có tốt không?”

Lâm Quyến Sinh cúi đầu nhìn, hơi ngẩn ra một chút, lát sau mỉm cười: “Tốt, là quẻ cực tốt, mệnh của thiếu gia định sẵn sẽ gặp được quý nhân.”

Mộc Cát Sinh thầm nghĩ: <i>Quý nhân của cha mình cũng nhiều lắm, chẳng phải vẫn đang đánh nhau ở hậu viện đấy sao!</i>

Tiếng pháo nổ tanh tách, lại một năm mới sang, ánh đèn rực sáng khắp thành cổ. Lâm Quyến Sinh và Mộc Cát Sinh ngồi tụm lại một chỗ, kẻ lừa đảo đang dạy cho vị kim chủ “oan gia” của mình cách tung đồng xu sao cho dứt khoát và đẹp mắt.

Giữa thành Bắc Bình, pháo hoa rợp trời, Sài Nhẫn Đông dẫn theo một nhóm kỹ nữ trong Bát Đại Hồ Đồng trèo tường vào phủ nhà mình để ăn dược thiện.

Các cô kỹ nữ cảm thấy thân phận mình thấp hèn nên có hơi nhút nhát, Sài đại tiểu thư liền vỗ ngực bảo cứ yên tâm đi, tầm này chắc cha mẹ cô đang ngủ khò trong bếp rồi.

Phía sau bức tường, Sài phu nhân một tay bế con trai, một tay xách cổ chồng, thở dài một tiếng rồi lặng lẽ đi cửa sau rời phủ, tới nhà hàng đã đặt sẵn để ăn bữa tất niên. Chừa lại cả phủ náo nhiệt cho con gái dẫn bạn về.

Tại Phong Đô, Vô Thường Tử dẫn con trai đi dạo chợ ma xem bách hý. Thiếu

nữ đang tung cầu hoa trên mười hai tầng án mỉm cười xoa đầu đứa trẻ, đưa cho nó một quả cầu hoa để chơi. Chu Bạch Chi đứng bên cạnh thấy thế hừ lạnh: “Tu vi năm trăm năm mà lại đem ra làm trò đùa trong bàn tay con trẻ.”

Thiếu nữ đáp trả một câu khiến lão cứng họng: “Chẳng thấm vào đâu so với việc ngài đem cháu trai mình đi gán nợ đánh bạc đâu.”

Tùng Vấn Đồng đang dẫn theo con gà lông tạp đại chiến với lũ chó hoang trong ngõ nhỏ, đao Thỉ Hồng bị nó lôi đi làm gậy đánh chó. Mặc Tử đứng trên lầu cao, ung dung thổi tiêu.

Hoa khôi nơi đầu cầu Nại Hà dường như có cảm ứng, nàng xoay trục gảy đàn, từ xa họa theo, trời đất nhân gian cùng vang một khúc.

Đêm khuya, tăng nhân chùa Bạch Thủy gõ chuông cầu phúc. Lâm Quyến Sinh men theo đường núi đi lên, cuối cùng cũng trở về thư trai. Cậu nhìn Ngân Hạnh trai chủ đang nhắm mắt nghe chuông bên bờ nước, khẽ gọi một tiếng: “Sư phụ.”

“Về rồi à?” Mạc Khuynh Bôi quay đầu nhìn đệ tử, mỉm cười: “Thu hoạch hôm nay thế nào?”

Lâm Quyến Sinh ngẫm nghĩ một chút rồi đáp: “Hôm nay đệ tử gieo được một quẻ tượng rất kỳ lạ.”

“Ồ? Là dạng gì?

Lâm Quyến Sinh lấy mớ tiền Sơn Quỷ ra, bày thành một hình thù dưới đất. Mạc Khuynh Bôi nhìn sang, lát sau y cười thành tiếng.

Trong thư trai, tiếng chuông vang lên từng hồi. Lâm Quyến Sinh nghe sư phụ nói: “Đây gọi là <i>Vạn Niên Thanh</i>.”

“Vạn Niên Thanh?”

“Quẻ này hiếm lắm, cả đời sư phụ cũng chỉ gặp một lần.”

Không nhớ rõ đó là chuyện từ bao nhiêu năm về trước, khi thái bình thịnh thế, biển lặng sông trong. Tiểu sa di đến Bồng Lai ăn tết, cùng Trường Sinh Tử đánh cờ dưới trăng. Mạc Khuynh Bôi thừa dịp sư phụ đang dốc hết tâm trí chơi cờ, y rút kiếm lướt tuyết mà đi, chạy lên Kiếm Các uống rượu với Họa Bất Thành. Cao hứng, hai người đối ẩm ngâm ca, tuy chẳng thành văn chương thi pháp gì, nhưng lại là một trận say sưa hiếm có.

<i>Đem vàng dưới gối ta, dâng làm sính lễ thời gian.</i>

<i>Đúc đồng trong xương ta, tôi thành kiếm chém Chúc Long.</i>

<i>Người có thấy thần phật khép mi, đại mộng tan.</i>

<i>Ta nguyện theo việc điểm nhãn Tăng Dao, lấy máu tim làm bút.</i>

<i>Xé toạc màn đêm, nhuộm lên ánh trăng ngà.</i>

Đến câu cuối, y chợt nhớ lại quẻ bói mà Thiên Toán Tử đã gieo lúc đến, lập tức bật cười, vung bút viết nhanh.

<i>“Lấy đêm lành ta có làm cược, vay xin một thuở vạn niên thanh.”</i>

<b>[ Edit by TeiDii ]</b>
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 86: PN 2: Tu Du Kim


<b>[ Tu Du Kim ]</b>

Ngay thuở mới nhập môn, Mộc Cát Sinh từng hỏi Mạc Khuynh Bôi rằng: “Thưa sư phụ, số mệnh do Thiên Toán tính ra, nhất định là chuẩn ạ?”

Lúc ấy Mạc Khuynh Bôi đang cho cá ăn, thức ăn cá dính dớp đầy tay, đang sầu gần chết vì không có chỗ lau, thấy đồ đệ nhỏ chạy đến bèn đưa tay quẹt thẳng lên mặt nó, rồi ôn tồn nói: “Sao con lại hỏi vậy?”

Mộc Cát Sinh vốn là đứa chẳng kén chọn. Thức ăn cho cá là do lão nhị tự tay làm, mà đồ lão nhị làm thì cái gì cũng ngon. Nhóc đưa tay quệt thức ăn trên mặt xuống, cho vào mồm luôn, vừa chép miệng vừa đáp: “Vì con nghĩ bản lĩnh nhà mình lợi hại như vậy, sau này nếu con muốn hại ai đó, cứ trực tiếp tính hết nửa đời sau của người ta, rồi nói toạc ra cho họ biết, thế thì quãng đời còn lại của người đó chẳng phải sẽ chán chết sao!”

Mạc Khuynh Bôi không mắng đồ đệ nhỏ, chỉ thong dong buông một câu: “Trẻ con nói năng không kiêng kị.”

Mộc Cát Sinh cười hì hì, vừa m*t ngón tay vừa nói tiếp: “Nhưng rồi con lại nghĩ, nếu người đó tâm tính không đủ thông suốt, lỡ bị con chọc tức đến đỗi lăn ra chết luôn, vậy thì chuyện nửa đời sau của hắn làm gì có nữa? Vậy xin hỏi sư phụ, thế quẻ con tính là chuẩn, hay không chuẩn ạ?”

Mạc Khuynh Bôi nói: “Con nghĩ thế nào?”

“Con nghĩ không ra.” Mộc Cát Sinh đáp gọn lỏn: “Nên mới đi hỏi sư phụ.”

“Trẻ con nói bừa, giờ con nói những lời này thiên đạo sẽ không làm gì con.”

Mạc Khuynh Bôi cười đáp: “Nhưng vi sư thì khó nói lắm. Hôm nay con muốn cầu đáp án, hay là muốn vi sư sống lâu thêm chút nữa đây?”

Mộc Cát Sinh đảo mắt: “Vậy sư phụ thử tính xem con sẽ chọn cái nào?”

Mạc Khuynh Bôi cười sảng khoái: “Vấn Đồng chiều nay đốt lửa làm món vịt da giòn, tầm này chắc ra lò rồi đấy.”

“Ơ! Thế con đi đây!” Mộc Cát Sinh lập tức hăng hái phắn lẹ, lúc đi không quên cuỗm luôn chỗ thức ăn cho cá trong tay Mạc Khuynh Bôi, vừa chạy vừa ăn. Nếp dẻo lẫn với ngó sen dính từ chóp mũi xuống đến cằm cậu nhóc, nhìn chẳng khác nào ma nước bị lột nửa tấm da mặt.

Lúc Mộc Cát Sinh chạy ngang hành lang vừa khéo đụng mặt Ô Tử Hư, làm cậu sợ tới mức suýt ngã ngửa. Chẳng bao lâu sau, từ trong bếp truyền đến tiếng hét của Tùng Vấn Đồng: “Lão tứ, bỏ cái tay bẩn thỉu của nhà mi ra khỏi nồi của ông! Muốn chết hả?!”

Đây cũng chỉ là một khúc nhạc dạo nhỏ bé như hạt vừng trong những năm tháng tầm sư học đạo không quá dài ở Ngân Hạnh Thư Trai. Về sau học vấn ngày càng sâu, Mộc Cát Sinh cũng tự hiểu ra đạo lý trong đó. Vận mệnh cuộc đời giống như kinh tuyến và vĩ tuyến, đan xen phức tạp, nhân khác nhau sẽ dẫn đến quả khác nhau.

Nói cách khác, đời người tồn tại vô số khả năng.

Giống như lời ngây ngô lúc nhỏ của y, dù thực sự tính được nửa đời sau của một người, chẳng qua cũng chỉ là chọn lấy một tương lai khả thi từ trong dòng chảy vận mệnh bao la như biển cả để đối phương biết được mà thôi. Nếu đối phương thực sự tức chết, cùng lắm là hủy bỏ đi một loại khả năng của vận mệnh. Còn nếu người đó quá yếu vía, thì kết quả mà tiền Sơn Quỷ tính ra chỉ có thể là: <i>“Kẻ nào đó tức chết bởi Thiên Toán Tử, dương thọ đã tận.”</i>

Thế thì dễ giải quyết rồi, nửa đời sau ra sao không quan trọng, cứ bịa đại một hồi cho đối phương biết là xong, đằng nào thì người này cũng chẳng sống thọ được.

Tất nhiên làm vậy thì quá thất đức. Dẫu là loại ma đầu gây họa như Mộc Cát Sinh cũng chưa từng nảy ra ý nghĩ ấy.

Mãi cho đến khi nội bộ Dược Gia xảy ra tranh quyền đoạt vị, chẳng rõ tên hậu bối không biết nặng nhẹ nào của nhà họ Sài tìm đến tận miếu Thành Hoàng.

Mộc Cát Sinh khi ấy vừa trở về từ cõi chết chưa lâu, người ngợm hẵng còn là một cái vại thuốc di động, nửa sống nửa chết nằm thoi thóp ở sân sau phơi nắng, đang tính xem làm sao có thể thần không biết quỷ không hay hắt đổ nồi thuốc đang sắc trên bếp, nếu có thể đổ tội cho người khác được thì càng tốt.

Đang mải nghĩ, y ngước mắt lên, bỗng thấy một kẻ lén lút như trộm chó không biết từ đâu chui ra, trong tay hắn đang cầm thứ gì đó đáng ngờ hệt như ám khí, quăng mạnh về phía trước. Mộc Cát Sinh định né, nhưng không né kịp, chỉ thấy một mảng màu to đùng bổ nhào xuống trước chân mình, gào thét thảm thiết: “Thiên Toán Tử, xin ngài làm chủ cho tôi!”

Mộc Cát Sinh hoá đá tại chỗ, thầm nhủ: Mình đã chết biết bao năm rồi, sao Thất Gia Chư Tử vẫn còn thịnh hành cái lối Thanh Thiên đại lão gia* thế này?

<i>(*)Giống mấy người bị oan hễ gặp Bao Công là chạy đến ôm chân: “Bao đại nhân cứu mạng”.</i>

Cơ thể y vẫn chưa điều dưỡng xong, đầu óc mọi bề đều mơ mơ màng màng, mãi một lúc lâu sau mới lờ mờ hiểu ra đây là vị trưởng bối của Dược Gia, là cháu chắt cách mấy đời của Sài Thúc Tân… À sai rồi! không phải trưởng bối, là hậu bối.

Mộc Cát Sinh xoa xoa huyệt thái dương của cái thân xác đã ngoài năm mươi của mình. Chết quá lâu nên đầu óc không minh mẫn, y vẫn chưa quen lắm với việc đột ngột tăng thêm mấy chục tuổi đời.

Cách đây không lâu, Sài Thúc Tân khó lắm mới chịu “thả dây trói”, phá lệ dẫn y đi dạo phố.

Mộc Cát Sinh thấy một ông cụ đang đánh cờ bên lề đường, y ngứa tay không nhịn được nhào vào làm hai ván, cũng coi như có duyên.

Ông cụ bảo: “Cậu thanh niên này chắc thuộc thế hệ 8x hả?”

Mộc Cát Sinh đầu óc còn chưa nhạy, lỡ miệng bảo: “Ông nói gì thế, cháu thuộc thế hệ 1x.”

Ông cụ nghe không hiểu, hỏi lại: “1x? Là năm nào?”

Mộc Cát Sinh tiện đà nói tiếp: “Để ông cười chê rồi, cháu ước chừng hơn ông vài chục tuổi, sinh sau năm 1910.”

Đợi đến khi Sài Thúc Tân mua xong thức ăn quay lại tìm, đã thấy Mộc Cát Sinh đang cùng ông cụ thi nhau nói phét văng cả nước miếng.

Ông cụ: “Con trai tôi lái xe Ferrari ở Thiên An Môn.”

Mộc Cát Sinh: “Cháu không có con trai nhưng có con gái.”

Ông cụ: “Trông cậu có vẻ là người biết thương vợ.”

Mộc Cát Sinh vỗ bàn cái bốp: “Ông nói chí phải! Vợ cháu đức hạnh vẹn toàn, ngày nào cũng nấu cơm cho cháu ăn. Tối nay có món gà hầm nấm hương đấy!”

Sài Thúc Tân liếc mớ rau trong tay mình. Mộc Cát Sinh mới tỉnh, cơ thể không chịu được đồ tanh nồng dầu mỡ, ăn uống đa phần đều phải thanh đạm. Anh nghe Mộc Cát Sinh ba hoa chém gió tung trời, mục tiêu cuộc đời của y đã tiến tới mức “hai năm đẻ ba đứa”. Anh im lặng hồi lâu, cuối cùng quyết định quay lại chợ mua thêm một con gà.

Đương nhiên, Mộc Cát Sinh hoàn toàn không hay biết những chuyện ấy. Y chỉ nhớ rằng tối hôm đó có canh gà hầm nấm hương thật thơm, xương gà trông cũng dài dặn thanh tú, hơi giống lão ngũ lúc còn nhỏ.

Sài Thúc Tân rất ít khi nhắc tới chuyện nhà mình, sau khi Mộc Cát Sinh chết rồi sống lại thì càng như vậy, y cũng chưa tìm được thời điểm thích hợp để hỏi. Nay người nhà họ Sài đã tìm đến cửa, với thân phận Thiên Toán Tử kiêm “huynh đệ ăn bám” Sài Thúc Tân, quả thực y cũng nên thay mặt tiếp đón một chút. Dù Dược Gia năm xưa chẳng ra làm sao, nhưng nay nhà nước mới đã thành lập, theo lề lối bài trừ hủ tục cũng nên dọn dẹp mớ bòng bong cũ kỹ cho ra ngô ra khoai. Mộc Cát Sinh vừa định đưa tay đỡ người anh em đang gào khóc dưới đất kia dậy, thì chợt nghe đối phương thốt ra một câu: “…Ngài có biết La Sát Tử năm đó là tự nguyện rút khỏi Dược Gia hay không?”

Mộc Cát Sinh cảm thấy có lẽ tai mình vẫn chưa hồi phục bình thường.

“…Hả?”

Đối phương thêm mắm dặm muối, như trút ống đậu mà kể một tràng chuyện cũ năm xưa, cuối cùng chốt lại: “La Sát Tử năm đó tự nguyện từ bỏ vị trí gia chủ, đủ thấy rất hồ đồ.”

Lão nói kiểu ngâm dài giọng điệu đau xót khôn nguôi, cái dáng vẻ đó cứ như thể vừa mới đi học lỏm môn khóc tang từ Thôi Tử Ngọc về vậy. Nói xong, lão chồm người về phía trước: “Ngài nhất định phải – “

Mộc Cát Sinh rụt chân lại, khiến lão già kia ngã sấp mặt như chó ăn bùn.

Đầu vang tiếng ong ong, lượng thông tin quá lớn khiến y choáng váng đến mức nổ đom đóm mắt. Mộc Cát Sinh cố giữ bình tĩnh, hỏi lại đối phương: “Ông có thấy gian bếp phía sau không?”

Tên hậu bối kia tính theo tuổi tác cũng đã là một ông cụ, cú ngã vừa rồi khiến lão đau không chịu nổi, mãi một lúc lâu mới chống gậy bò dậy, không hiểu Mộc Cát Sinh đang giở trò gì: “Ngài nói… nói gian bếp nào cơ?”

Mộc Cát Sinh chỉ ra phía sau: “Ngay đằng sau ấy! Cái gian nhà phụ đó kìa!”

Hai người một già một trẻ, ai nấy đều mắt mờ chân chậm như nhau. Lão già loay hoay mãi mới tìm thấy gian bếp mà Mộc Cát Sinh nói, hỏi: “Thiên Toán Tử, ngài định làm gì?”

Mộc Cát Sinh loạng choạng đi tới, đứng ngay cạnh bệ bếp, ngoắc ngoắc tay: “Nào, lại đây! Thấy cái nồi đất này không?”

“Rồi, bưng cho chắc nhé, đứng lùi ra ngoài một chút, già đầu rồi đừng để va vào bệ bếp.”

Lão già bê cái nồi đất run lập cập, hoàn toàn mù mờ chả hiểu gì, ngay sau đó nghe Mộc Cát Sinh ra lệnh: “Buông tay!”

Lão già: “Hả?”

Mộc Cát Sinh: “Bảo buông thì buông đi!”

Lão già vội vàng thả tay, nồi đất rơi xuống đất cái “xoảng”, vỡ tan tành.

Ngay giây sau, chợt có tiếng gì như ai đó bất thình lình ngã xuống.

Mộc Cát Sinh thấy kế hoạch đã thành, nhưng cơ thể thực sự không chống đỡ nổi nữa, y ngã vật ra đất ngất lịm đi.

Khi Sài Thúc Tân hồn bay phách lạc lao vào gian bếp, đập vào mắt anh là cảnh tượng thế này – Chiếc nồi đất vỡ nát, một lão già đứng ngơ ngác như người mất hồn và Mộc Cát Sinh đang nằm ngay đó, thất khiếu trào máu.

Trước khi hoàn toàn ngất đi, kẻ nọ còn không quên trối lại với anh: “Tam Cửu Thiên… Nồi thuốc không phải do tôi đập đâu, là ông ta làm đấy!”

Theo hồi ức của Chu Ẩm Tiêu sau này, ngày hôm đó nhận được tin dữ, y vội vã từ Côn Luân phi thân đến, suýt chút nữa thì bị vặt cho trọc đầu. Để giữ vững thần hồn mới chắp vá của Mộc Cát Sinh, Sài Thúc Tân không hề dùng những dược liệu thông thường. Năm xưa lão nhị khuân chồng chồng lớp lớp cổ tịch từ trong Thận Lâu ra, đủ loại đơn thuốc kỳ quái đều đã thử, và phương thuốc lần này cũng không ngoại lệ. Chu Ẩm Tiêu vừa mới bước chân vào miếu Thành Hoàng, anh trai y đã ném ngay một câu lạnh lùng: “Anh cần lông Chu Tước.”

Chu Ẩm Tiêu nhìn sắc mặt của anh trai, chẳng dám ho một tiếng, tự mình vào gian phụ xoay xở hồi lâu. Lúc bước ra, dạng người của y đã gần như hóa thành kẻ hói nửa đầu: “Anh, ngần này đã đủ chưa?”

Sài Thúc Tân không nói gì, nhận lấy đồ rồi quay người trở vào phòng. Chu Ẩm Tiêu cảm thấy tình hình không ổn, lo lắng luống cuống đi tới đi lui, chợt thấy Sài Thúc Tân ôm một thanh đao từ trong phòng bước ra.

Y sững sờ.

Sài Thúc Tân đưa đao Thỉ Hồng cho y, hạ giọng nói: “Vật này giao cho cậu trông giữ trước.”

Chu Ẩm Tiêu đờ người, chậm rãi nhận lấy đao.

Y biết vì sao lão nhị giao đao Thỉ Hồng cho Sài Thúc Tân, cũng hiểu ý nghĩa việc Sài Thúc Tân đưa đao cho mình lúc này. La Sát Tử chủ về hung sát, lỡ như lão tứ không thể cứu lại được, anh trai y rất có thể sẽ mất kiểm soát, mà đao Thỉ Hồng tuyệt đối không thể rơi vào tay một La Sát Tử đang điên cuồng.

Sài Thúc Tân im lặng hồi lâu, đột ngột mở lời: “Nếu em ấy không tỉnh lại…”

Lời nói chưa trọn, thanh đao cổ đột nhiên phát ra một tiếng rung trầm đục.

Sài Thúc Tân như choàng tỉnh khỏi cơn mê, khẽ lắc đầu: “Là tôi thất thố.”

Nói rồi xoay người trở vào phòng.

Chu Ẩm Tiêu đứng giữa sân, nhìn bóng dáng bận rộn của Sài Thúc Tân in lên cửa sổ. Y ôm chặt thanh đao trong lòng, để mặc tâm trí phiêu lãng thoáng chốc. Y thầm nghĩ không hổ là Mặc Tử, dám để lại đao Thỉ Hồng cho La Sát. Thanh đao này chẳng giống hung khí, mà lại như cái vòng Kim Cô, một giới hạn cuối cùng.

Thế nhưng, kẻ bị vòng Kim Cô vây khốn đâu chỉ có mình anh trai y…
.

Đến khi Mộc Cát Sinh lờ đờ mở hé mắt thì đã là mấy tháng sau. Y tỉnh dậy rất đúng lúc, lá ngân hạnh trong sân đã chuyển vàng. Ba người bê ghế ngồi dưới gốc cây sưởi nắng, nghe Chu Ẩm Tiêu chậm rãi kể lại những chuyện đã xảy ra trong suốt những năm qua. Đầu óc Mộc Cát Sinh vẫn chưa nhạy bén lắm, thường nghe được vài câu là lại đờ đẫng, đợi đến khi chủ đề đã bay xa vạn dặm, y mới sực tỉnh, nhíu mày hỏi: “Ơ, khi nãy nói tới đâu rồi ấy nhỉ?”

Sài Thúc Tân không dám để Mộc Cát Sinh ở một mình nữa. Anh kê một cái ghế nhỏ ngồi dưới gốc ngân hạnh nấu nướng, lúc là thuốc, khi thì là cháo ngọt. Chỗ nào Chu Ẩm Tiêu kể sai hoặc quên, anh sẽ lên tiếng bổ sung.

Có hôm, thứ đang sôi trong nồi của Sài Thúc Tân không phải thuốc cũng chẳng phải cháo. Anh múc ra bát sứ đưa cho Mộc Cát Sinh, y nếm một ngụm, giật mình kêu: “Đệch?!”

Tay y run lên, suýt chút nữa đã làm vỡ bát:”Trà ngân hạnh à?”

Mộc Cát Sinh lập tức quay sang nhìn Sài Thúc Tân: “Đây là cách rang trà mà lão nhị dạy anh đúng không?”

Sài Thúc Tân định đưa cho y miếng vải mềm để lót tay, nghe vậy thì khựng lại, khẽ gật đầu.

Mộc Cát Sinh lập tức phấn chấn hẳn lên, bắt đầu quay sang trêu chọc Chu Ẩm Tiêu, kể cho lão ngũ nghe dăm ba chuyện hồi nhỏ mình đã giày vò cây ngân hạnh ra sao. Chu Ẩm Tiêu liên tưởng ngay đến tuổi thơ bi thảm của mình khi còn là một con gà lông tạp ở Ngân Hạnh Thư Trai, bị Mộc Cát Sinh bày đủ trò hành hạ mới lạ mỗi ngày, mặt mày xanh mét, chịu được một hồi cũng tìm bừa cái cớ chuồn mất.

Đợi khi bóng dáng thanh niên đã khuất sau cánh cửa, cổng miếu Thành Hoàng kẽo kẹt khép lại, Mộc Cát Sinh mới chậm rãi dựa lưng vào ghế. Y nhìn lá ngân hạnh rơi lả tả, dường như có chút buồn ngủ, liền nhắm mắt lại, trông thực sự giống một ông cụ, lẩm nhẩm ê a cất lên một đoạn ca từ:

<i>“……Chỉ trong thoáng chốc chén đĩa ngổn ngang,</i>

<i>Xe ngả về đông, ngựa rẽ sang tây.</i>

<i>Biết đêm nay người sẽ trọ nơi nao?</i>

<i>Có nằm mộng cũng khó lòng tìm thấy.”</i>

Sài Thúc Tân nghe Mộc Cát Sinh thong dong hát đến nửa chừng thì im bặt, anh lập tức ngẩng đầu nhìn sang.

Chỉ thấy y đang rũ mắt thất thần, tay vẫn bưng chén trà.

Nếu tính kỹ ra, khoảng thời gian họ ở bên nhau vừa dài lại vừa ngắn, dài là từ sống đến chết, rồi lại từ chết đến sống.

Sài Thúc Tân đã vô số lần nhìn thấy dáng vẻ người trước mặt mình nhắm mắt yên giấc, dường như cái chết chỉ là một giấc ngủ say. Nhưng nếu là thần thái linh hoạt, sống động thực sự của Mộc Cát Sinh, thì những gì anh từng thấy cũng chỉ vỏn vẹn vài năm ngắn ngủi mà thôi.

Chẳng hạn như lúc này, Mộc Cát Sinh bưng chén trà, nét mặt bày ra biểu cảm mà anh chưa từng thấy bao giờ.

Y nói: “Tam Cửu Thiên này…”

“Tôi nhớ lão nhị rồi.”

Có lẽ do vừa tỉnh dậy sau giấc mộng dài, thần hồn chưa quy vị, nhận thức về thân phận của Mộc Cát Sinh vẫn còn rất hỗn loạn. Y là người thanh niên đã khuất, là ông lão của thời đại, là hậu bối cao tuổi và cũng là bậc trưởng bối hoang mang.

Mộc tiểu tư lệnh không phải thần tiên, chí hướng kiếp này của Thiên Toán Tử lại càng muốn làm một người phàm trần đúng nghĩa. Một người bình thường đứng trước dòng thác thời đại cuồn cuộn chảy về đông, đôi khi cũng có khoảnh khắc yếu lòng như một đứa trẻ.

Nhưng cũng chỉ có đúng một lần đó thôi. Sau này, sức khỏe của Mộc Cát Sinh cuối cùng cũng dần chuyển biến tốt đẹp, Sài Thúc Tân đã đưa y đi thăm mộ Mộc tư lệnh.

Người nọ ngồi xổm xuống trước mộ như anh em bằng hữu, y vỗ vỗ lên bia mộ, buông một câu: “Ông già, biển lặng sông trong, người có thể yên tâm rồi.”

<i>“Tướng quân hãy ngủ yên.”</i>

<i>“Gối đầu lên non sông gấm vóc này.”</i>

Còn về người anh em họ Sài từng đến kêu oan năm đó, sớm đã bị cái đầu óc còn chưa linh hoạt của Mộc Cát Sinh quẳng lên tận chín tầng mây.

Song, có một hôm, y đi đón Ô Tất Hữu ở trường mẫu giáo về, không hiểu sao lại chợt nhớ tới chuyện ấy, vừa tới nhà đã hỏi Sài Thúc Tân: “Tam Cửu Thiên, chuyện năm xưa anh tự nguyện rút khỏi Dược Gia là sao vậy?”

Lúc Mộc Cát Sinh hỏi câu này, Sài Thúc Tân đang đọc báo, anh nghe xong liền lẳng lặng kéo thẳng tờ báo, giơ lên che kín mặt.

Nhất cử nhất động của Sài đại công tử đều đầy vẻ trốn tránh, Mộc Cát Sinh bật cười. Dòng chữ chi chít trên tờ báo dường như hóa ra thành: <i>Đã quên rồi, tự dưng nhắc lại chi vậy?!</i>

Thực ra chuyện này Mộc Cát Sinh biết mình chẳng có tư cách gì để can dự. Nhỏ thì là việc nội bộ Dược Gia, lớn thì là chuyện riêng của Sài Thúc Tân, quả thật chưa tới lượt một người ngoài như y lên tiếng. Ăn bám thì phải có giác ngộ của ăn bám, Mộc Cát Sinh tự thấy mình rất biết thân biết phận. Huống hồ đã cách bao nhiêu năm, toàn là chuyện cũ rích, cũng chẳng phải vợ chồng già cãi nhau tìm thú vui. Đến chết cũng chết một lần rồi, từ khói lửa ngút trời sống tới thái bình thịnh thế, còn có gì mà không buông được?

Nhưng ai bảo y rảnh quá làm chi.

Trên dưới thư trai năm xưa đều biết, loại ma đầu gây họa như Mộc Cát Sinh một khi rảnh rỗi đến phát hoảng thì ai cũng gặp nạn.

Kể từ đó, Mộc Cát Sinh say mê xem tivi, loa mở to rền trời. Sài Thúc Tân mỗi ngày dù ở ngóc ngách nào cũng nghe thấy đủ loại lời thoại phi lý của các bộ phim ngôn tình sướt mướt:

<i>“Tử Vy! Tại sao nàng lại giấu ta!”</i>

<i>“Nhĩ Khang, em không cố ý đâu!”</i>

<i>“Vậy rốt cuộc lý do là gì?”</i>

<i>“Em không muốn nói, đừng ép em nữa!”</i>

Sài đại công tử nhẫn nhịn hết mức, nhịn rồi lại nhịn, nhịn không nổi nữa thì xách đao Thỉ Hồng xuống Phong Đô ngồi chơi, khiến trên dưới Thập Điện Diêm Vương nhất thời đều mắc chứng tiểu rắt.

La Sát Tử ngày ngày đến Phong Đô làm khách, người nhà họ Ô thấp thỏm không yên, cuối cùng quyết định cử gia chủ ra làm trung gian hòa giải. Vậy là Ô Tất Hữu mới học lớp mầm đã đeo chiếc cặp nhỏ của mình tìm đến miếu Thành Hoàng.

Vừa vào sân, nó đã lao vào tranh điều khiển tivi với Mộc Cát Sinh: “Sao ông vẫn còn xem cái này? Sến súa thế không biết?!”

Mộc Cát Sinh đang cắn hạt dưa sướng miệng, dạo gần đây y xem một lèo từ phim Quỳnh Dao sang đến phim thần tượng Đài Loan, Hàn Quốc, từ <i>Kim Phấn Thế Gia</i> cho đến <i>Hoàn Châu Cách Cách</i> đều cày sạch sẽ. Kết quả là Ô Tất Hữu “cạch cạch” hai cái đã chuyển kênh phim đi mất, trong loa vang lên giọng thuyết minh lồng tiếng chuẩn chỉnh:<i> “… Những vụ án hóc búa của xã hội hiện đại, miễn là cạm bẫy do con người đặt ra, thì không có bí ẩn nào không thể giải mã.”</i>

Mộc Cát Sinh: “Ồ, cái này có vẻ hay nhỉ!”

Đến tối, khi Sài Thúc Tân vừa về nhà đã thấy hai “ông cháu” Mộc Cát Sinh và Ô Tất Hữu đang bày một cái bàn lớn giữa sân, bắt đầu diễn tuồng như thật. Mộc Cát Sinh đứng chễm chệ trên bàn, mang khí thế <i>“trời cao sấm nổ đùng đùng, ông bây xuất hiện hào quang chói lòa”. </i>Y vừa hắng giọng vừa lấy đà tạo thế. Thấy Sài Thúc Tân đã bước qua cửa, lập tức cao giọng tuyên bố:

<i>“Nước không hình dạng, gió thổi không dấu vết, tất thảy mọi suy luận đều phụ thuộc vào trái tim. Trong vụ án Linh Xu Tử rút khỏi vị trí gia chủ xảy ra tại nhà họ Sài, người duy nhất nhìn thấu chân tướng chính là thám tử lừng danh Conan – bề ngoài trông như trẻ con, nhưng trí tuệ lại vượt xa người thường…”</i>

Kẻ nọ càng nói càng hăng, cuối cùng bao nhiêu câu chữ tuôn trào đều quy lại thành tiếng gầm lớn: <i>“Sự thật chỉ có một!”</i>

Sài Thúc Tân: “…”

Hoàng Ngưu từ trong phòng bảo vệ thò đầu ra, lén lút hỏi nhỏ: “La Sát Tử, rốt cuộc là ngài ưng chỗ nào vậy?”

“Em ấy rất tốt.” Sài Thúc Tân lời ít ý nhiều, xắn tay áo lên, rút đao Thỉ Hồng tùy ý chém ra một đường, xé toạc khe nứt âm dương rồi ném thằng nhóc Ô Tất Hữu đang múa may quay cuồng dưới gầm bàn vào trong đó.

Từ dạo ấy, Mộc Cát Sinh bắt đầu bị nghiện nhập vai quá mức. Sài Thúc Tân mỗi ngày về nhà cứ như đang mở hộp mù.

Ngày kia là: <i>“Hôm nay ở trường mẫu giáo Kasukabe có chuyện gì mới? Thì ra là Sài đại công tử rút khỏi Dược Gia!”</i>

Ngày mai lại là: <i>“Sài đại công tử rút khỏi Dược Gia, ẩn sau đó là huyền cơ không ai biết. Mời xem chương trình khám phá khoa học hôm nay —”.</i>

Cứ thế mỗi ngày một kiểu như đang trị liệu tâm lý, Sài Thúc Tân dần dà tê liệt luôn rồi. Trong quãng đời mấy chục năm sống thui thủi một mình, anh chưa bao giờ cập nhật lượng lời thoại hoạt hình nhiều đến thế. Có hôm vừa bước vào cửa, Mộc Cát Sinh giơ tay làm động tác như xin phát biểu, Sài Thúc Tân lập tức tiếp lời: “Ultraman Tiga biến hình.”

Chu Ẩm Tiêu đi theo phía sau bị vấp ngay ngưỡng cửa.

Đêm hôm đó, Mộc Cát Sinh gieo một quẻ.

Tiền Sơn Quỷ của y không đầy đủ, thuật Thiên Toán lại quá hao tâm lực, vì vậy y chỉ bấm sơ qua đại khái, tính về những chuyện liên quan đến Dược Gia. Nội loạn nhà họ Sài, y lo không nổi, nhưng ít nhất cũng có thể tính xem vận thế gia tộc mấy năm nữa ra sao.

Bắt đầu từ đâu nhỉ? Mộc Cát Sinh tung đồng tiền suy nghĩ một lát, hay là cứ lấy người anh em đến tìm mình hôm trước làm quẻ đầu đi. Ai ngờ y chỉ vừa tính được mấy bước, mệnh tuyến của gã đã đứt đoạn.

Đây là một điềm báo rõ ràng, người này thọ mệnh sắp tận.

Mộc Cát Sinh chợt nhớ tới cuộc trò chuyện năm xưa giữa mình và sư phụ ở Ngân Hạnh Thư Trai.

Nhìn lại quẻ tượng, trên ấy viết rành rành: “<i>Kẻ nào đó tức chết bởi Thiên Toán Tử, dương thọ đã tận.”</i>

À há !!!

Mộc Cát Sinh khoái chí, chạy tọt sang phòng Sài Thúc Tân tìm giấy bút, ngồi bệt luôn xuống đất viết loẹt xoẹt một hồi, cho đến khi đối phương bước vào gọi y xuống ăn cơm: “Đang viết gì thế?”

“Này – Tam Cửu Thiên, mau lại đây!”

Mộc Cát Sinh mặt dính đầy mực, hăng hái đưa bản thảo vừa viết xong cho anh xem: “Đây chính là tác phẩm đúc kết tinh hoa sau khi tôi xem một đống phim truyền hình đấy! Thế nào?”

Sài Thúc Tân nhận lấy xem thử, đúng thực là một tác phẩm “tinh hoa hội tụ”.

Đầu óc Mộc Cát Sinh dạo này lún sâu vào mớ phim ngôn tình và hoạt hình không dứt ra nổi, y hào hứng phóng bút biên soạn cho vị lão gia nhà họ Sài kia nửa đời sau giật gân đến rợn người.

Nào là thân phận thực sự hóa ra là con riêng của một vị chú bác nào đó, nào là ngược luyến hào môn, kẻ ngoài cuộc thượng vị, rồi đến tranh chấp gia sản. Sài Thúc Tân nghiêm túc đọc hết, rồi hỏi một câu: “<i>Dẫn cầu chạy</i> là cái gì? Còn <i>hỏa táng tràng*</i> thì dùng để chỉ điều gì?”

<i>(*)Dẫn cầu chạy: Mang thai bỏ trốn | hoả táng tràng: Hối hận, ngược tâm, trả giá thê thảm để chuộc lỗi. (Tiếng lóng ngôn tình.)</i>

“Cái này thì anh không biết rồi.”

Mộc Cát Sinh đắc ý: “Tôi còn đặc biệt gieo một quẻ, mấy năm tới sẽ thịnh hành kiểu này đấy!”

“Viết rất hay.”

Sài Thúc Tân gật đầu, xếp giấy ngay ngắn lại rồi cất vào ngực áo: “Nhưng không được.”

“Sao không được?”

Mộc Cát Sinh cuống lên: “Tam Cửu Thiên, sao anh lại cướp đồ của người khác thế?”

Sài Thúc Tân thong thả đi về phía nhà bếp, phía sau là Mộc Cát Sinh kêu gào om sòm: “Tam Cửu Thiên! Trả đồ cho tôi!”

“Không được là không được.”

“Này, anh bao nhiêu tuổi rồi mà còn như con nít thế hả?!”

“Người xem hoạt hình và phim ngôn tình là cậu, cậu mới giống con nít.”

“Anh đang cãi chày cãi cối!”

“Đây gọi là có lý có cứ.”

Mộc Cát Sinh đòi không lại, thế là bắt đầu giãy nãy: “Anh vô tình, anh vô nghĩa, anh vô lý gây sự!”

“Lại chép lời thoại của phim nào thế?” Sài Thúc Tân thở dài: “Còn bảo mình không trẻ con.”

Hai người đứng ngoài hành lang cãi qua cãi lại, Chu Ẩm Tiêu ở trong phòng đợi cơm sắp đói chết, vừa nghe lén vừa thở dài: “Lại cãi chuyện gì nữa đây?”

Hoàng Ngưu cũng thở dài: “Vẫn là cái mớ chuyện lặt vặt hồi trước ông già Dược Gia tới mách lẻo ấy.”

“Cơ mà nói đi cũng phải nói lại, gan họ cũng to thật!” Chu Ẩm Tiêu tặc lưỡi cảm thán: “Bao nhiêu năm rồi mới thấy anh trai cãi nhau với người ta.”

“Ơ kìa — tiếng gì thế? Sao lại động tay động chân rồi? Với cái thân thể hiện giờ của lão tứ, y mà nhấc tay một cái chắc anh tôi sợ chết khiếp mất!”

Hoàng Ngưu chỉ lo đói, không buồn đáp lời, thế nên cũng quên không nói cho Chu Ẩm Tiêu biết tiếng bát đũa rơi loảng xoảng mà y nghe thấy không phải do Thiên Toán Tử và La Sát Tử cãi nhau, mà là phát ra từ căn phòng khác. Mộc Cát Sinh mở tivi cày phim ngôn tình suốt một ngày một đêm đến giờ vẫn chưa tắt.

Thật tội nghiệp cho Thành Hoàng gia, ngài cũng phải đóng tiền điện mà!

Sau cùng Sài Thúc Tân cãi hết nổi, chỉ nói một câu: “Trong bản thảo ấy cậu có thêu dệt về một người bác họ của gã, người đó cưới một cô vợ là thanh mai trúc mã từ thuở nhỏ.”

Manh mối quá ít, Mộc Cát Sinh nghĩ mãi mới nhớ ra anh đang nói tới ai, rồi lại vòng vo hồi nữa mới hiểu. Xét theo vai vế, thân phận của Sài Thúc Tân vừa khéo khớp với người bác họ kia.

“À thì…”

Hơi ngượng thật. Mộc Cát Sinh gãi gãi mặt: “Tam Cửu Thiên, anh giận à? Tôi xin lỗi.”

Thực ra y chỉ viết đúng một câu đó, còn tên tuổi thân thế của vị thanh mai trúc mã kia thì không nhắc tới.

“Hay là để tôi sửa lại cho anh nhé? Anh thích kiểu con gái thế nào?”

“Không cần sửa đâu.” Sài Thúc Tân đáp.

“Hả?” Mộc Cát Sinh hoàn toàn mù mờ: “Anh không giận chứ?”

“Tôi đâu có giận.”

“Vậy thì tốt.” Mộc Cát Sinh yên tâm: “Thế anh trả bản thảo lại cho tôi đi, tôi đã viết rất lâu đấy.”

Sài Thúc Tân liếc y một cái, rồi nghiêm túc thốt ra hai chữ: “Không trả.”

Mộc Cát Sinh: “…”

Hết cách, Mộc Cát Sinh đành phải đi viết lại bản khác. Suy đi tính lại, y bèn xóa bỏ tình tiết mà Sài Thúc Tân vừa nhắc tới. Ngày hôm sau, y trực tiếp gửi bản thảo đến nhà họ Sài. Chẳng qua mấy ngày, lão già kia đã lên đường xuống suối vàng. Ô Tất Hữu đeo chiếc cặp nhỏ đứng ở con đường âm dương, quỷ khí bốc lên ngùn ngụt: “Hôm nay khó khăn lắm mới có tiết mỹ thuật, tại sao con phải đi tiễn ông già này chứ!”

Còn về việc bản thảo gốc năm xưa bị Sài Thúc Tân cất ở chỗ nào, Mộc Cát Sinh không biết. Nhưng y vẫn nhớ rõ chuyện này.

Vào cái đêm hai người thấu tỏ lòng nhau. Người nọ đang nằm úp mặt vào gối, nửa chừng chợt vỡ lẽ: “Thanh mai trúc mã! Hóa ra là anh đợi em ở chỗ này!”

Mộc Cát Sinh nói xong thì cười đến sắp không thở nổi, lát sau ngẩng lên, ghé tai Sài Thúc Tân thổi một hơi: “Sài đại công tử, anh cao tay thật!”

Rồi y lại cười, trong tiếng cười lẫn tiếng thở dài: “Anh biết hồi đó em xem nhiều phim ngôn tình như vậy, cảm thụ lớn nhất là gì không?”

Sài đại công tử đương lúc * l**n t*nh m*, hồi lâu sau mới miễn cưỡng kéo lại chút thần trí, hỏi: “…Là gì?”

Mộc Cát Sinh ngửa cổ hôn anh: “Nhân sinh tu du, xuân tiêu thiên kim.” (Đời người ngắn ngủi, đêm xuân đáng giá ngàn vàng).

“Làm người thì phải biết mở miệng nói chứ.”

[ Edit by TeiDii ]
________________

Chủ nhà: +1 hiểu lầm được giải đáp, anh Sài đời nào đánh nhau với anh Mộc, là pé gà nghe nhầm.😂
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 87: PN 3: Giáo Xuân Hồng


<b>[ Giáo Xuân Hồng ]</b>

Sau đêm Kim Ngô bất cấm dạ, Sài Thúc Tân lấy được Bạch Ngọc Nghẹn vốn luôn tìm kiếm bấy lâu. Nỗi u uất của thiếu niên được hóa giải, gánh nặng ngàn cân trên vai tựa tuyết tan, lại thêm sự sắp xếp của Ngân Hạnh trai chủ, anh bèn ở lại thư trai một thời gian.

Điều này khiến Mộc Cát Sinh sướng rơn.

“Vụ án” Diêm Vương gả con gái là do y bày mưu sắp đặt liên hoàn, khiến mấy anh em vì đó mà vạ lây. Lão nhị ngày ngày quỳ phạt, lão tam phải theo thầy lên lớp ở thư trai, chẳng còn ai rảnh rang bầu bạn quậy phá cùng y. Thầy thuốc nhỏ này ít nói, nhiều tiền, da mặt lại mỏng, chạm cái đã đỏ, trêu vào là nổ, còn thú vị hơn so với phường chèo trên đài hát của Quan Sơn Nguyệt, lại chẳng tốn tiền mua vé, đúng là món hời trời ban.

Bước đầu tiên trong công cuộc phá hoại Sài Thúc Tân của Mộc Cát Sinh chính là kéo Tùng Vấn Đồng cùng chịu trận. Y lục tung phòng của Mặc Tử, moi ra một xấp lớn các mẫu son phấn tô vẽ, nâng niu như báu vật đem dâng trước mặt Sài Thúc Tân.

“Tam Cửu Thiên!”

Một đống giấy trang điểm chất cao ngất trên bàn, trên cùng lộ ra đôi mắt cong cong, thiếu niên hớn hở nói: “Đây đều là những mẫu tôi thích nhất, anh chọn một cái đi!”

Sài Thúc Tân vừa mới dọn vào, phòng ốc còn chưa kịp thu dọn đã bị Mộc Cát Sinh bày bừa loạn xạ. Anh nhìn đống giấy chất trên bàn: “Đây là thứ gì?”

“Hôm qua lúc đến nhà anh tôi chẳng nói rồi sao, lão nhị rất rành về hương liệu, phấn son các kiểu.”

Mộc Cát Sinh cầm một tờ giấy hoa lên, ướm vào mặt mình: “Đây là mẫu hoa do chính tay lão nhị vẽ.”

Thứ y đang cầm là mẫu vân Phúc Lộc Thọ Hỷ được vẽ bằng mực chu sa đỏ rực trên nền giấy trắng, tựa như một đóa hoa điền* rực rỡ điểm tô giữa đôi mày thiếu niên. Sài Thúc Tân há miệng, nhất thời không tìm được từ ngữ diễn tả, ai ngờ câu tiếp theo của Mộc Cát Sinh lại là: “Này, tháo găng tay ra đi. Hôm qua tôi thấy màu móng tay của anh già quá, anh chọn mẫu nào ưng nhất, tôi tô lại cho anh ngay!”

<i>(*)Hoa điền: Hoa vẽ giữa trán như quý phi ngày xưa.</i>

Sài Thúc Tân suýt thì sặc chết, nhất quyết cúi đầu thu dọn đống giấy, trả lại nguyên vẹn: “Tôi không cần.”

“Đừng mà, Tam Cửu Thiên, tay anh đẹp quá chừng, tô cái màu như bà thím thế kia phí lắm!”

“Đó là màu Giáo Chu, được chế từ hoa Bát Trọng Hàn Hồng sau ba lần chưng ba lần phơi mới giã thành bùn, niêm phong cất giữ, trải qua ba mùa đông tuyết lạnh mới chế thành.”

Sài Thúc Tân nghiêm túc giải thích: “Phương thuốc bảo vệ móng của Dược Gia chú trọng dược tính, đẹp hay không không quan trọng.”

Mộc Cát Sinh đang cơn ham chơi đâu thèm quan tâm những thứ đó: “Thế thì cải tiến một chút đi! Màu móng của anh đỏ sậm quá, tôi vẽ lại nhạt hơn xíu cho anh, tô thêm chút màu vàng, đậm nhạt hòa quyện, vẽ rồng điểm mắt, chỉ một hai nét là xong!”

“Pha vàng vào thuốc sẽ ảnh hưởng đến dược hiệu.” Sài Thúc Tân vẫn từ chối: “Không được.”

Mộc Cát Sinh bĩu môi. Sài Thúc Tân thấy vậy lập tức đề cao cảnh giác, giữ chặt găng tay, lùi về một bước: “Cậu đừng có làm bậy.”

“Tam Cửu Thiên, anh đoán ra tôi định làm gì rồi à?”

Mộc Cát Sinh nhướn mày: “Không uổng hôm qua chúng ta vào sinh ra tử một phen.”

Nói đoạn, y như tên lưu manh áp sát tới.

Bàn ghế lật đổ, trong phòng vang lên tiếng loảng xoảng không ngớt, chỉ là giật cái găng tay thôi mà y vẫn có thể làm ra động tĩnh như đang lột đồ người ta vậy. Sài đại công tử rốt cuộc vẫn là chưa đủ hiểu tính nết của Mộc Cát Sinh, nếu đổi lại là Ô Tử Hư, có lẽ ngay từ khoảnh khắc tên này lôi đống mẫu hoa kia ra đã xách dép chạy mất dạng rồi.

Đến khi Ô Tử Hư tan lớp trở vào viện sau, Mộc Cát Sinh đã đuổi theo Sài Thúc Tân giằng co mấy vòng dưới hành lang.

Lúc đuổi nhau có chạy ngang qua hương đường nơi Tùng Vấn Đồng đang quỳ phạt, Mặc Tử vốn đã áp tai vào tường nghe lỏm đầu đuôi câu chuyện, hắn vừa quỳ vừa xem kịch vui, gân cổ gào rống: “Lão tứ! Đá hắn! Đồ phế vật kia, ai bảo mi né hắn?! Đấm thẳng vào mặt luôn! Mẹ nó, lúc đánh với ông sao không thấy thân thủ nhà mi bèo nhèo thế hả?!”

Mộc Cát Sinh thành công giật phăng một chiếc găng tay của Sài Thúc Tân, nghe vậy liền ném qua cửa sổ, găng tay đập vào trán Tùng Vấn Đồng.

“Đứa nào từng bảo lật đổ quân vương là chuyện nhỏ, giết một người thầy thuốc mới là hoạ lớn? Có ngon thì nhào ra đây!”

Tùng Vấn Đồng bùng nổ: “Con mẹ nó! Chờ đấy! Chờ ông quỳ xong sẽ tẩn cả hai đứa bây một trận!”

“Thế thì chưa chắc thắng nổi đâu! Sư phụ tịch thu đao Thỉ Hồng của ông nửa năm rồi, không chừng là hai đứa tôi tẩn ông đấy!”

“Mẹ kiếp, có giỏi thì lăn vào đây ngay, ông dù có quỳ cũng đập chết nhà mi được!”

“Lão nhị, cái trò mời quân vào tròng này của ông phèn quá – “

Ô Tử Hư vừa nghe vừa lắc đầu, kéo Sài Thúc Tân đang bị bỏ quên sang một bên. Mộc Cát Sinh một khi đã cãi nhau với Tùng Vấn Đồng là không dứt ra được, toàn bộ tâm lực đều dồn hết vào việc đấu võ mồm.

“Anh Sài.” Ô Tử Hư thấp giọng gọi: “Chúng ta tạm lánh trước đã.”

Sài Thúc Tân chỉ về phía đầu của Tùng Vấn Đồng: “Mộc Cát Sinh giật găng tay của tôi.”

“Tạm lánh đi cái đã…”

Ô Tử Hư thở dài: “Lão nhị với lão tứ mà hăng máu lên là dễ vạ cá chậu chim lồng lắm, nếu anh còn đứng đây, lát nữa biết đâu bọn họ lại lôi anh vào bắt nhận họ hàng đấy.”

Sài Thúc Tân: “Nhận họ hàng?”

“Cái đó còn tùy xem họ cãi tới đâu, cha con các kiểu là bài bản thường thấy.” Ô Tử Hư tiếp tục thở dài: “Có lần chẳng biết hai người họ cãi cái gì, cứ bắt tôi phải chọn một trong hai để gả đi.”

Sài Thúc Tân: “…”

Hai người một trước một sau âm thầm rời khỏi hành lang, Sài Thúc Tân đang trầm ngâm nãy giờ bị ma quỷ xui khiến kiểu gì lại hỏi một câu: “Vô Thường Tử đã chọn thế nào?”

“Cái này gọi là cung không đủ cầu, thị trường thuộc về người bán.”

Ô Tử Hư vừa nói vừa lôi ra một chiếc bàn tính, bắt đầu đối soát chi phí tổn thất trong ngày do Mộc Cát Sinh gây ra.

“Tôi thử tính cho họ một khoản, căn cứ vào khả năng phá hoại của hai tên xui xẻo đó, cùng lắm chỉ có cửa về làm nhị phòng, tam phòng cho tôi thôi.”

Sài Thúc Tân: “…”

Tuy là một câu nói đùa, nhưng không hẳn chỉ là khoe khoang. Vài ngày sau, Sài Thúc Tân phát hiện ra rằng trong số các đệ tử của Ngân Hạnh Thư Trai, lão đại Lâm Quyến Sinh quanh năm bôn ba bên ngoài, thoạt nhìn thì như Tùng Vấn Đồng chiếm vai vế, Mộc Cát Sinh chiếm da mặt dày, Chu Ẩm Tiêu chiếm cái nhỏ tuổi, chỉ riêng Ô Tử Hư bị kẹt ở giữa, trên không tới dưới không xong, trong ngoài đều khó xử.

Thực tế thì ngược lại, nhị vị Tùng – Mộc ngày thường ăn chơi quậy phá là thế, nhưng cũng có lúc phải khép nép phục tùng ngài Ô.

Thí như bữa cơm hôm nay. Tùng Vấn Đồng vừa hết phạt quỳ liền đi cứu Chu Ẩm Tiêu. Bị Mộc Cát Sinh hành hạ mấy ngày liền, con gà lông tơ khốn khổ không chịu nổi.

Khi Tùng Vấn Đồng trở vào bếp, Sài Thúc Tân đang rửa rau.

“May mà có cậu ở đây.” Tùng Vấn Đồng nhìn thấy anh liền thở phào: “Không thì mấy ngày qua lão tứ kiểu gì cũng cho nổ tung bệ bếp rồi.”

Nhắc đến khả năng nấu nướng của Mộc Cát Sinh, Sài Thúc Tân xem như đã từng được lĩnh giáo món canh cá koi táo đỏ hành tây. Anh bưng nồi xuống, nhường ra một bếp lò cho đối phương: “Muốn làm thêm đồ ăn cho Tinh Túc Tử à? Cậu ấy vừa mới hoá hình, thể trạng của Chu Tước không giống với con người bình thường, e rằng không nên bổ sung đột ngột quá nhiều đồ bổ……”

Nửa câu sau đã bị tiếng lửa lớn và tiếng xào nấu của Tùng Vấn Đồng át đi, Sài Thúc Tân chỉ loáng thoáng nghe thấy hắn đáp: “…Không phải làm cho lão ngũ!”

Mặc Tử vào bếp cũng mang khí khái kinh thiên động địa, lay hoay một hồi đã bày ra cả bàn đầy ắp. Sài Thúc Tân nhìn thế nào cũng thấy chỉ có mỗi Tinh Túc Tử mới ăn nổi chừng ấy, ngay sau đó Mộc Cát Sinh nhảy phốc vào: “Ồ, lão nhị quỳ xong rồi à? Tôi vừa bước vào cửa đã ngửi thấy mùi thơm…”

Sài Thúc Tân ngỡ tiếp theo kiểu gì cũng có một màn tranh cướp thức ăn kịch liệt, kết quả Tùng Vấn Đồng chỉ nói một câu đã khiến Mộc Cát Sinh rụt tay lại: “Hôm nay lão tam đi Phong Đô thu tiền thuê.”

“Thế thì vất vả quá.” Mộc Cát Sinh lập tức đặt đũa xuống: “Chắc sẽ mệt lả mất, đi đi đi, mau bày bàn nhóm bếp, để lão tam nhà mình về là có đồ nóng ăn ngay.”

Họ bày bàn trong đình sưởi ấm, đêm đông có tuyết, hệ thống sưởi dưới sàn nhà được đốt lên. Sài Thúc Tân ôm Chu Ẩm Tiêu ngồi bệt dưới đất, nhìn Mộc Cát Sinh đứng trên lan can treo đèn lồng. Tùng Vấn Đồng chẳng biết đi đâu, lát sau quay lại, trên tay ôm rất nhiều vò rượu.

Sài Thúc Tân theo phản xạ định nói rượu mạnh hại thân, lại còn uống ban đêm, nhưng nơi này đâu phải Sài phủ, đành nhập gia tùy tục. Tùng Vấn Đồng như nhìn thấu nỗi lo của anh, hắn đặt đống vò rượu xuống, lôi ra một chiếc bình sứ trắng đưa sang: “Đây là của cậu và lão ngũ.”

Chu Ẩm Tiêu thích ngọt, khẩu vị thanh đạm, trong bình là rượu gạo nồng độ cực thấp. Sài Thúc Tân vừa định cảm ơn thì lại nghe Tùng Vấn Đồng bồi thêm một câu: “Hay là để tôi nhóm thêm một cái lò nữa, cậu với lão ngũ ngồi thành mâm trẻ con nhé.”

Sài Thúc Tân: “…”

“Này này, ông đừng có bắt nạt Tam Cửu Thiên nhà tôi!” Mộc Cát Sinh treo ngược người từ trên nóc đình xuống: “Thầy thuốc nhỏ thù dai lắm, cẩn thận anh ấy cho ông uống thuốc xổ bây giờ.”

Tùng Vấn Đồng: “Có phải là chưa từng cho uống đâu.”

Mộc Cát Sinh chợt nhớ chuyện cũ: “Đúng rồi! Lão nhị, ông từng kể lúc mới đến thư trai đã chẻ bàn của đại sư huynh ra làm củi đốt, còn đánh với Tam Cửu Thiên một trận nữa.” Nói đoạn y trở nên hứng thú: “Thế nào? Ai thắng?”

Sài Thúc Tân và Tùng Vấn Đồng cùng lên tiếng: “Tôi.”

Mộc Cát Sinh cười đến đỗi suýt thì rơi từ trên nóc đình xuống.

Cả bọn cứ thế hàn huyên về những chuyện xưa cũ. Tuổi thiếu niên lông bông, vốn chẳng có bao nhiêu quá khứ, nhưng nhờ bảy nhà truyền thừa thâm sâu, một chút chuyện vụn vặt lông gà vỏ tỏi quăng ra ngoài thế gian cũng đủ thành kỳ văn chấn động. Đế vương tướng soái, hưng vong xuân thu, bao nhiêu chuyện thị phi công tội đều bị đám thiếu niên đem ra làm mồi nhắm rượu.

Trăm đời sơn hà trôi xuống cổ họng, theo tiếng cười lớn quăng vào tuyết trắng, chẳng qua cũng chỉ là một nét phong lưu nơi đầu môi.

Mấy người họ uống mãi đến tận nửa đêm, vò rượu chất cao như núi, nhưng cơm canh lại chưa hề động một đũa. Ô Tử Hư trở về lúc đêm muộn, vừa đẩy cửa đã thấy cả sân đèn đuốc sáng trưng, hương rượu nồng nặc đến say người.

“Lão tam về rồi đấy à!” Mộc Cát Sinh đã ngà ngà say, đi đứng xiêu vẹo ra cửa, tay chân tuy lạng choạng nhưng ra chiêu rất chuẩn, tóm thẳng người lôi vào đình ấm.

“Lại đây lại đây…” Y cất giọng luyến láy, điệu bộ hệt như quý phi say rượu: “Mời hoàng thượng an tọa.”

Tùng Vấn Đồng lập tức nhấc nắp chiếc thố cơm lớn nhất lên, lúc này Sài Thúc Tân mới phát hiện trên lò đang hầm là một nồi canh.

Mặc Tử thích cay, Tinh Túc Tử thích ngọt, Mộc Cát Sinh thì ăn gì cũng được. Nồi canh này thiên về vị tươi ngọt đậm đà, hẳn là được nấu riêng cho Ô Tử Hư. Trước đó khi uống rượu, Sài Thúc Tân vẫn luôn lo đồ ăn để trên bếp lò hâm lâu sẽ bị dai, mất vị. Nhưng canh thì khác, càng ninh càng ngọt, lại càng hợp để đợi chờ.

Và cũng rất hợp với người trở về trong đêm gió tuyết.

Ô Tử Hư dường như đã quá quen với cảnh này, cũng chẳng từ chối, mỉm cười ngồi xuống nhận lấy bát canh từ tay Tùng Vấn Đồng: “Ái khanh có lòng.” Nói đoạn lại ấn Mộc Cát Sinh ngồi xuống: “Được rồi quý phi, đừng có nhây nữa, hôm nay trẫm không lật thẻ bài đâu.”

Mãi về sau Sài Thúc Tân mới biết cái gọi là “thẻ bài” này chỉ thứ gì, đó là thứ mỗi tháng lật một lần, tục gọi là sổ kiểm toán.

Mộc Cát Sinh lập tức tỉnh táo hẳn: “Tôi đã bảo lão tam đi chuyến này vất vả, nhắc mấy thứ ảnh hưởng tiêu hóa làm gì, nào nào nào, ăn cơm ăn cơm!”

Tuổi trẻ bụng dạ rộng rãi, cũng chẳng để tâm bữa cơm đêm đè giường. Một bàn thức ăn chẳng mấy chốc đã bị quét sạch sành sanh. Sài Thúc Tân ăn chậm, cũng để ý quan sát nhiều hơn.

Dưới con mắt của một người thầy thuốc, các món ăn này được ninh nấu trên lửa nhỏ, không phô trương cầu kỳ, không đậm mùi nặng vị, chú trọng việc dùng thực phẩm để bồi bổ. Cả nồi đều là món chay, lấy “đỉnh hồ thượng tố*” làm gốc. Khi thấy Tùng Vấn Đồng nấu nước dùng, anh mới nhận ra nước hầm trước khi bắc lên bếp có ngâm lá dâu và hoa cúc khô.

<i>(*)Đỉnh hồ thượng tố: Kiểu là món chay của nhà giàu, thanh đạm nhưng nấu nướng rất công phu.</i>

Trong gian bếp nhỏ ngoài trà ngân hạnh ra, quanh năm luôn trữ sẵn một hũ trà phối từ Sơn Thù Du và Quyết Minh Tử. Phương thuốc này là nhiều năm trước Tùng Vấn Đồng đến tìm anh để xin. Ban đầu Sài Thúc Tân không để ý, sau khi ở lại thư trai mới phát hiện loại trà này chỉ có Ô Tử Hư uống.

Lá dâu, hoa cúc, Sơn Thù Du và Quyết Minh Tử, tất cả đều có tác dụng sáng mắt, mát gan.

Anh lại nhớ đến một trong số ít những món không độc chết người của Mộc Cát Sinh chính là chè mè đen thường nấu cho Ô Tử Hư, còn đặc biệt lấy danh nghĩa là để chống hói đầu.

Tuy vậy, vẫn rất khó ăn.

Sài Thúc Tân hơi say, ngước nhìn ánh đèn lung linh trước mắt, mơ màng suy nghĩ: <i>Tuy Ô Tử Hư trông có vẻ là người vất vả nhất tại thư trai, nhưng đường đường là gia chủ Âm Dương Gia, Ngọc Diện Vô Thường, rốt cuộc cũng không thể mang cái số khổ như một bà vú được.</i>

Ngay sau đó, chẳng biết vì lý do gì mà Mộc Cát Sinh lại gân cổ cãi nhau với Tùng Vấn Đồng, một chén rượu bay ngang không trung, vạ lây cá chậu chim lồng làm văng tung tóe lên người Ô Tử Hư.

Ô Tử Hư hắt hơi một cái, làm kinh động đến Chu Ẩm Tiêu đang ngủ trên đầu Tùng Vấn Đồng. Chu Tước giật mình đập cánh bay loạn xạ rồi đâm sầm vào Sài Thúc Tân.

Lần đầu tiên Sài Thúc Tân được lĩnh giáo uy lực từ một cú vỗ cánh của Chu Tước sau khi hóa hình, trực tiếp bị vả cho úp mặt vào chậu canh.

Cuối cùng là Ô Tử Hư mang khăn mặt tới, y một tay bế lão ngũ, một tay bắt đầu dọn dẹp đống lộn xộn trước mặt. Mộc Cát Sinh từ sớm đã cùng Tùng Vấn Đồng vật nhau lăn ra nền tuyết, chớp mắt đã lăn vào xó xỉnh nào mất rồi.

<i>…Thôi được.</i>

Sài Thúc Tân vừa lau mặt vừa nghĩ: <i>Đúng là cái số bà vú rồi!</i>

Đợi anh và Ô Tử Hư dọn dẹp sạch sẽ mâm bát, Mộc Cát Sinh lại chẳng biết từ đâu lăn trở về. Trên người y lấm lem vụn tuyết, suýt chút nữa đã đâm sầm vào Sài Thúc Tân: “Tam Cửu Thiên! Lão tam! Chúng ta xuống núi đi!”

“Xuống núi?” Ô Tử Hư ngẩn người: “Tiên sinh ngủ rồi sao?” Bình thường nếu họ muốn xuống núi đều phải báo cáo với Mạc Khuynh Bôi, được thầy cho phép mới có thể rời đi.

“Không biết, mặc kệ đi.”

Mộc Cát Sinh hà hơi vào lòng bàn tay, vẫn thấy không đủ ấm, bèn nhấc vò rượu cạn đổ chỗ rượu thừa lên tay, rồi xoa mạnh cho nóng: “Sư phụ sắp thành tinh rồi, có muốn giấu cũng chẳng giấu nổi đâu. Nhưng đến giờ này mà lão nhân gia vẫn chưa dậy mắng người thì tám phần là lười quản rồi.”

Sài Thúc Tân: “Không được.”

Ô Tử Hư: “Vậy thì đi thôi.”

Mộc Cát Sinh phì cười, quàng tay khoác vai Sài Thúc Tân: “Tôi nói này Tam Cửu Thiên, đều là gia chủ, anh nhìn lão tam xem, người ta tiêu sái biết bao. Ở đây cũng chẳng có người ngoài, đừng giữ kẽ nữa, đêm lành cảnh đẹp, đi thôi lang quân…”

Sài Thúc Tân không thắng nổi y, bị kéo đi xềnh xệch: “Mộc Cát Sinh cậu buông tay ra, đó không phải tiêu sái, đó là gần mực thì đen!”

“Gần son thì đỏ à? Lão ngũ còn đỏ hơn son kìa, tôi ngày nào cũng ở cùng lão ngũ, sao Tam Cửu Thiên anh lại chẳng chịu khen tôi câu nào?” Mộc Cát Sinh vừa đẩy người đi vừa cười nói vui vẻ: “Tôi nói nhé, mấy câu gần son gần mực gì gì ấy, tầm thường quá rồi!”

Họ ở sát cạnh nhau, mùi rượu hoà với hơi tuyết trên người Mộc Cát Sinh xông tới, khiến người ta vừa lạnh lại vừa nóng. Sài Thúc Tân hiếm khi đi đường núi ban đêm, chạy đến thở không ra hơi: “…Thế thì là gì?”

Mộc Cát Sinh cười lớn, chộp một vốc tuyết nhét thẳng vào cổ áo Sài Thúc Tân, cao giọng nói: “Theo tôi thấy đáng ra phải là – <i>Gần xuân thì hoá tuyết, gần rượu thì thành tiên!</i>”

Sài Thúc Tân bị tuyết lạnh lăn vào gáy làm cho rùng mình, nhưng bọn họ chạy quá nhanh, hơi ấm trong người đã đủ dày. Anh nhìn về phía ánh đèn rực rỡ nơi cuối bậc thang dẫn xuống núi, Tùng Vấn Đồng đã đợi sẵn ở đó, bên cạnh là Ô Tử Hư đang cười bất lực. Hai người này hẳn đã dùng bí pháp nhà mình kiểu như trận rút ngắn dặm đường, nên chẳng cần phải cuốc bộ trên con đường núi dài dằng dặc này.

“Chậm chết đi được, lão tứ!” Tùng Vấn Đồng gào lên: “Nửa đêm lại tới cơn gì mà một hai cứ đòi đi bộ xuống?”

“Chắc là ăn nhiều quá nên đi bộ cho tiêu thực.” Ô Tử Hư cười nói.

“Môn hạ Thiên Toán chúng tôi nghèo rớt mồng tơi, tiền Sơn Quỷ còn chẳng tiêu được, đương nhiên không có cái khí phách đốt hương gọi kiệu như hai vị.”

Mộc Cát Sinh nói xong liền kéo Sài Thúc Tân cùng xuống nước: “Anh nói xem có đúng không, Tam Cửu Thiên?”

Sài Thúc Tân: “…Cái gì?”

“Thôi, đừng có than nghèo kể khổ nữa.” Ô Tử Hư thật sự bó tay: “Vừa đi thu tiền thuê về, tiền không thiếu.”

Mộc Cát Sinh mặt mày hớn hở: “Đi đi đi! Tầm này Quan Sơn Nguyệt đang đông vui lắm, đến đó nghe hát thôi!”

Bốn người quàng vai bá cổ nhau, Sài Thúc Tân bị kẹp ở giữa, lúc thì nghĩ đến câu <i>“gần rượu thì thành tiên”</i> của Mộc Cát Sinh, lúc lại nghĩ không biết phen này mà về các vị trưởng lão trong nhà sẽ tức đến mức nào.

Đêm nay anh quả thực đã uống quá nhiều rượu, vùng cổ cứ nóng ran từng đợt. Anh vô thức nghĩ, Vô Thường Tử trong Ngân Hạnh Thư Trai, không thể coi là bà vú, cũng chẳng phải đại chưởng quầy, vậy rốt cuộc là gì?

Mộc Cát Sinh bên cạnh không biết lại đang cười cái gì, y gào họng hát đoạn Tây Sương Ký lạc tông lạc nhịp. Tên này dường như đã uống quá chén, càng hát càng vui, cuối cùng cười đến mức không thể hát nổi nữa, tay khoác cổ Tùng Vấn Đồng cười hô hố.

Tùng Vấn Đồng thiếu chút nữa đã bị y siết chết: “Lão tứ, con mẹ mi! buông tay ra cho ông!”

Mộc Cát Sinh cười đến mức không kìm lại được, tiếng cười tan vào trong gió: “……Đừng có keo kiệt thế chứ, toàn anh em với nhau, cho mượn cái vai tựa tí thôi mà.”

“Thế này mà gọi là ‘mượn vai’ sao? Mẹ kiếp, sao nhà mi không đem lão ngũ luộc lên làm cơm luôn đi?”

“Ơ – Khỏi nói, chuyện này tôi thật sự từng làm rồi đấy…”

Lại một tràng ầm ĩ. Sài Thúc Tân nghe những lời cãi vã lăng nhăng xen lẫn tiếng cười lớn, bỗng cảm thấy mình mơ hồ nắm bắt được điều gì đó.

Là gì nhỉ?

… Là anh em.

<i>Gần xuân thì hoá tuyết, gần rượu thì thành tiên.</i>

Đêm nay, Sài Thúc Tân coi như đã lĩnh giáo trọn vẹn thế nào là <i>“gần rượu thì thành tiên”.</i>

Lúc bước vào Quan Sơn Nguyệt, anh đã buồn ngủ rũ rượi, sau đó hình như bị ai kia bế lên lầu.

Rồi dường như lại có thêm rất nhiều chén rượu, xong lại đến mớ chuyện rắc rối về Oanh Oanh và Trương Sinh. Cho đến khi hoàn toàn bị cơn buồn ngủ nuốt chửng, trong đầu anh vẫn là câu nói: <i>“Gần xuân thì hoá tuyết”.</i>

Thế nào là gần xuân thì hoá tuyết?

Ngày hôm sau tỉnh dậy, Sài Thúc Tân vẫn có chút ngẩn ngơ. Trong phòng chén đĩa ngổn ngang, có mấy người nằm ngủ lăn lóc dưới đất. Anh đau đầu ngồi dậy, men say đã tan, nhất thời không nhớ nổi đêm qua đã xảy ra chuyện gì.

Rồi anh nhìn thấy trên người mình đang khoác áo ngoài của Mộc Cát Sinh.

<i>Gần xuân thì hoá tuyết.</i>

Sài Thúc Tân không nhớ rõ những trò quậy phá sau khi đến Quan Sơn Nguyệt đêm qua, nhưng anh nhớ mình đã mơ một giấc mơ.

Trong mơ có một thiếu niên đi theo sau lưng anh, môi hồng răng trắng nụ cười như gió xuân. Người đó dùng tông giọng chuyển vần sâu lắng của điệu bình đàn, thong dong xướng một câu: <i>“Lạnh mặt chẳng lạnh tâm, người tựa hồng mai diễm. Tự là Tam Cửu Thiên.”</i>

Tùng Vấn Đồng tỉnh sớm nhất, hắn ra ngoài nấu canh giải rượu, vừa đẩy cửa trở vào đã thấy Sài Thúc Tân đang ngồi ngây người trên ghế. Hắn đi tới, búng tay cái tách trước mặt đối phương: “Tôi nói này, tửu lượng của cậu thật sự không ra làm sao cả. Tỉnh chưa? Đây là số mấy? Biết mình là ai không?”

Sài Thúc Tân: “… Tam Cửu Thiên.”

Tùng Vấn Đồng: “Hả?”

“Tôi nói, Tam Cửu Thiên sẽ có tuyết rơi.” Sài Thúc Tân đờ đẫng bổ sung: “Tôi là Tam Cửu Thiên.”

“Thôi.” Tùng Vấn Đồng đảo mắt: “Đúng là vẫn chưa tỉnh.”

Sài Thúc Tân quả thực vẫn chưa hết say hoàn toàn. Anh đón lấy bát canh giải rượu của Tùng Vấn Đồng. Mặc Tử nấu ăn nêm nếm nặng tay, vừa uống một ngụm, vị cay nồng của tiêu và gừng đã xộc thẳng lên mũi. Sài Thúc Tân bị sặc đến ho sù sụ, nước mắt suýt trào ra.

Anh nhớ Mộc Cát Sinh từng nói, Tùng Vấn Đồng nấu ăn thậm chí còn dùng đao Thỉ Hồng để thái thức ăn, mùi sắt gỉ và máu thịt trên lưỡi đao ngược lại trở thành một loại gia vị đặc biệt.

Nếm máu nơi đầu đao như l**m qua sắc hồng. Giờ khắc này, anh thực sự nếm được mùi vị của lưỡi đao ấy, ái dục yêu đương và những vọng niệm điên cuồng ập thẳng vào phổi gan, gào thét thành một ngọn lửa dữ, đảo tung hết thảy sự u uất tích tụ bao năm.

Sài Thúc Tân đột ngột đặt bát xuống, cầm lấy một vò rượu thừa rồi lao thẳng ra ngoài cửa, khiến Tùng Vấn Đồng giật mình: “Mẹ kiếp, lại chạy đi đâu đấy?!”

Anh xông ra khỏi phòng, chạy như bay trên hành lang, vừa chạy vừa ngửa cổ dốc rượu ừng ực, cuối cùng ngã nhào ra khỏi cửa lớn, cả người lẫn vò rượu nện thẳng xuống đất, vỡ tan tành. Trong cơn trời đất quay cuồng, giai điệu trong giấc mơ cứ vang vọng bên tai anh không dứt: <i>“Lạnh mặt chẳng lạnh tâm, người tựa hồng mai diễm… Tam Cửu Thiên… Tam Cửu Thiên.. Gần xuân thì hoá tuyết, gần rượu thì thành tiên…”</i>

Người đó vẫn cứ nỉ non hát bên tai anh: <i>“Tam Cửu Thiên ơi, Anh đấy à…”</i>

Sài Thúc Tân bò rạp trên đất, vươn tay ra, nắm lấy một vốc tuyết mới trước mắt.

…Rồi chậm rãi nhét vào trong miệng.

Không biết đã qua bao lâu, Sài Thúc Tân rốt cuộc cũng mở mắt ra lần nữa. Anh bò dậy, ánh mắt trở nên thanh tỉnh rõ ràng, giống như thần tiên hạ phàm, đại mộng vừa tỉnh. Anh đi đến dưới một gốc cây cách Quan Sơn Nguyệt không xa, “oẹ” một tiếng nôn thốc nôn tháo.

Trọc khí tiêu tan sạch sẽ.

Từ nay chính thức hoán xác tái sinh.<b>.

Chẳng bao lâu đã đến Tết Nguyên Đán, Mộc Cát Sinh bỗng nhận một bức thư nhà, không ngờ lại là từ người cha đã lâu không liên lạc. Thiếu niên đọc xong thư, không có phản ứng gì đặc biệt, mãi đến lúc ăn cơm tối mới tuyên bố: “Tôi có chuyện muốn nói.”

Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư lập tức buông đũa.

Sài Thúc Tân nhất thời chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, Ô Tử Hư giải thích với anh: “Hễ lão tứ bày ra bộ dạng này trên bàn ăn, thì chắc chắn có chuyện lớn rồi.” Nói xong, y lộ vẻ sống không bằng chết: “Lão tứ, lần sau cậu có thể đợi chúng ta ăn cơm xong rồi hẵng nói được không? Mỗi lần dọn bãi chiến trường cho cậu, tôi thường bị khó tiêu ít nhất ba ngày.”

Sài Thúc Tân nhận ra chuyện Mộc Cát Sinh sắp nói có lẽ thực sự không phải chuyện nhỏ.

Tùng Vấn Đồng hỏi: “Cậu đánh Diêm Vương rồi à?”

“Cút mẹ ông đi, không thể nghĩ tốt cho tôi được chút nào sao?”

Mộc Cát Sinh mắng trả, rồi bị Tùng Vấn Đồng chửi ngược lại: “Đánh Diêm Vương còn chưa đủ tốt?!”

“Đánh Diêm Vương thì tốt thật, nhưng lão tam lại rụng tóc mất!”

“Rụng thì rụng, đàn ông con trai còn sợ hói đầu chắc?”

“Đó là lão tam! Lão tam đấy! Trông gương mặt của lão tam đi, ông đành để y hói đầu đi ra ngoài à? Lâm Đại Ngọc đi làm hòa thượng hay sao?”

“Nhà mi coi tay nghề Mặc Gia ta là đồ bỏ hả? Chút tóc giả thôi mà ông không làm cho hắn nổi?”

“Đấy là tay nghề Dược Gia chứ?! Với lại ông định bắt lão tam đội tóc giả sao? Thế thì y còn gả đi được không?”

“Gả không được thì để hắn tự đẻ!”

“Này mới đúng là tay nghề của Dược Gia!”

Chớp mắt một cái, chủ đề đã bay xa mười vạn tám ngàn dặm. Mộc Cát Sinh và Tùng Vấn Đồng cãi mãi không lại nhau, cùng quay đầu nhìn về phía Sài Thúc Tân: “Tam Cửu Thiên, nói xem, bản lĩnh nhà anh có thể làm cho lão tam đẻ được không?”

Sài Thúc Tân: “… Chắc không thể.”

Nhìn lại Ô Tử Hư, trong lúc Mộc Cát Sinh và Tùng Vấn Đồng tranh cãi kịch liệt, người này đã nhanh tay lẹ mắt lấp đầy cái bụng. Lúc này y mới lấy hai cục bông gòn từ trong tai ra, gật đầu với Mộc Cát Sinh: “Được rồi, tôi ăn no rồi, lúc nãy cậu định nói cái gì?”

Mộc Cát Sinh: “Ông có thể tự đẻ được không?”

Ô Tử Hư: “…Sao cơ?”

Cuối cùng, cả đám lại vây nhau tranh luận về chủ đề “Trong Thất Gia Chư Tử, nhà nào có bản lĩnh làm cho đàn ông sinh con”, mãi đến tận nửa đêm mới giải tán. Mộc Cát Sinh trước khi rời bàn ngáp dài một cái, như sực nhớ ra điều gì, nói thêm: “À đúng rồi, cha tôi gửi thư, bảo tôi ra nước ngoài du học.”

Ô Tử Hư buồn ngủ đến mức mắt mở không lên, đầu óc vẫn còn vương vấn mấy thông tin tào lao về việc đàn ông sinh con thế nào, theo bản năng trả lời: “Đi thì đi thôi, ban ngày đi du học, buổi tối nhớ về ăn cơm là được – “

Y lấy lại phản ứng, cuối câu rẽ gấp một vòng: “Lão tứ, cậu nói cái gì? Ra nước ngoài du học?!”

Tùng Vấn Đồng im lặng một thoáng, sau đó hỏi: “Được thôi, đi đâu?”

“Trước tiên sang Pháp, rồi chắc là vòng quanh châu Âu một chuyến, có thể còn qua cả Mỹ nữa, chưa biết chừng.” Mộc Cát Sinh nghĩ ngợi một lát, rồi nói tiếp: “Cuối cùng sẽ tới Moskva.”

“Pháp sao?” Tùng Vấn Đồng lặp lại, rồi hỏi: “Thế mai ăn bông cải xanh nhé?”

Mộc Cát Sinh: “Tôi thấy được đấy.”

“Không phải, lão nhị sao ông bình tĩnh thế?” Cái tật hay lo xa của Ô Tử Hư lại tái phát: “Là nước ngoài đấy, bản lĩnh Âm Dương Gia qua bên đó chưa chắc đã dùng được đâu!”

“Không dùng được thì thôi, bản lĩnh Mặc Gia dùng được.” Tùng Vấn Đồng nói rồi nhìn sang Sài Thúc Tân: “Bản lĩnh nhà cậu cũng dùng được.”

Sài Thúc Tân im lặng hồi lâu, mới nói: “Mộc Cát Sinh xuất thân từ Mộc phủ.”

“Này, vẫn là Tam Cửu Thiên anh hiểu tôi nhất!” Mộc Cát Sinh cười ha hả, vỗ vai từng người một: “Yên tâm đi, trăng ở đâu chẳng tròn, tôi cũng không phải Chiêu Quân xuất giá, đi một thời gian là về ngay thôi.”

Y hiếm khi bày ra bộ mặt nghiêm túc, thiếu niên đêm nay không uống rượu, nhưng ánh mắt tựa như được tôi qua men say, sắc bén mà trong trẻo.

“Người của Ngân Hạnh Thư Trai chúng ta ở đâu cũng có thể đứng thẳng, sống hiên ngang, khí tiết thanh cao, trong sạch bộc trực.”

Nói thì nói vậy, người của Ngân Hạnh Thư Trai khi xuống núi chắc hẳn ai nấy đều có thể chống đỡ được một thân xương cứng, nhưng ở trên núi thì chưa chắc. Vị Mộc tiểu tư lệnh <i>khí tiết thanh cao, trong sạch bộc trực</i> kia nửa đêm tỉnh giấc, trằn trọc mãi không ngủ được, đắn đo một giây rồi quyết định tới chùa Bạch Thủy trộm một con gà về thịt.

Kết quả vừa mới mở cửa phòng, y đã nhìn thấy Sài Thúc Tân.

Đối phương đang giơ tay lơ lửng giữa không trung, làm động tác chuẩn bị gõ cửa. Mộc Cát Sinh ngẩn ra: “Tam Cửu Thiên?”

Sài Thúc Tân dường như đã liệu trước người này sẽ dậy lúc nửa đêm, nói: “Lúc nãy trên bàn ăn, cậu chỉ uống rượu.”

Ngay khoảnh khắc Ô Tử Hư lên tiếng giải thích, Sài Thúc Tân đã nhận ra đêm nay Mộc Cát Sinh hầu như không động đũa. Người này bình thường từ bữa tối đến bữa khuya, ăn thả cửa đến đỗi khiến Tùng Vấn Đồng quăng cả xẻng nấu ăn mà chửi thề, nửa đêm chắc chắn sẽ thức giấc vì đói.

Sài Thúc Tân: “Tôi có mang cháo tới.”

Đó quả thực là một nồi cháo lớn, nguyên liệu bỏ rất nhiều, có nấm đông cô, măng xắt, cá thái nấu sôi liu riu, gạo nếp ninh nhừ béo ngậy. Rõ ràng là cháo mặn, nhưng vào miệng lại có hậu ngọt. Mộc Cát Sinh chẳng khách sáo, ngồi ngay trên bàn ôm cả nồi, ăn như cuồng phong quét lá, thỏa mãn vô cùng. No nê vui vẻ, y lại bắt đầu trêu chọc người nấu: “Tam Cửu Thiên, nồi cháo này của anh, e là sau khi tôi ra nước ngoài, đêm đêm đều mong nhớ.”

Sài Thúc Tân đứng bên cạnh, lẳng lặng nhìn y ăn: “Vậy thì tốt.”

Mộc Cát Sinh buông lời trêu chọc, vốn tưởng đối phương kiểu gì cũng phải ngượng ngùng, không ngờ người ta lại vững vàng tiếp chiêu gọn ghẽ.

“Tôi nói thật đấy, cháo này ngon quá, hay là anh dạy tôi đi? Để sau này ra nước ngoài tôi đỡ phải chịu cảnh <i>gối chiếc khó ngủ.</i>“

<i>Gối chiếc khó ngủ.</i>

Sài đại công tử dao động một thoáng, nhưng cũng chỉ là một thoáng ấy thôi, rồi quay ngoắt từ chối: “…Cậu cứ nhịn đi thì hơn.”

Mộc Cát Sinh ngậm cái thìa, nhìn Sài Thúc Tân dưới ánh đèn. Y nhớ về đêm đầu tiên gặp gỡ, khoảnh khắc bắt gặp người thiếu niên khí chất như băng như ngọc nơi hành lang cửu khúc, có thể xem là cái nhìn kinh hồng thoáng qua. Đến giờ phút này, đôi mày và ánh mắt ấy vẫn vẹn nguyên như cũ. Nhưng trực giác mách bảo với y rằng, dường như có điều gì đó khan khác…

Là điều gì nhỉ?

Mộc Cát Sinh ăn quá no, lại đang buồn ngủ nên nghĩ không ra. Y xưa nay chẳng bao giờ làm khó bản thân trong mấy chuyện này, nghĩ không ra thì thôi không nghĩ nữa. Tam Cửu Thiên là người tâm tư sâu kín, nếu y thật sự đục thủng mặt băng mà đâm đầu xuống, e rằng còn lâu mới ngoi lên được. Đã muộn thế này rồi, làm khó mình mần chi, là hai gã thanh niên lớn xác, chẳng lại còn định “cùng cắt nến bên cửa sổ tây”* hay sao?

<i>(*)Cùng cắt nến bên cửa sổ tây: Thổ lộ tâm tình thâu đêm giữa những người thân thiết hoặc người yêu.</i>

Thực tình mà nói, Mộc tiểu tư lệnh vốn giỏi nhất việc công thành chiếm đất, nếu là bình thường, y nhất định sẽ đâm đầu xuống hố băng thật, mặc kệ là núi đao biển lửa hay hang sâu không đáy, y nhất định phải quấy cho người ta lộ ra chân tướng mới thôi. Thiếu niên đang tuổi phơi phới, tràn đầy nhiệt huyết, sống lưng thẳng như kiếm, chẳng bao giờ tiếc nuối việc giao phó can trường.

Anh muốn thổ lộ tâm tình, vậy thì cứ moi hết tâm phế ra đi, nói không chừng y còn vốc một nắm tuyết lót cho anh: Tim tôi còn nóng hơn, đừng để bỏng tay anh.

Nhưng ngặt nỗi, lại đương ngay lúc này.

Rất nhanh thôi, y phải đi rồi.

Mộc Cát Sinh chống cằm, cháo ngon quá khiến lục phủ ngũ tạng đều được sưởi ấm dễ chịu, y thực sự đã buồn ngủ. Kẻ nọ cân nhắc một hồi những ý nghĩ lộn xộn trong đầu, cuối cùng quyết định dùng “đao sắc chặt dây đay rối”, không nghĩ nữa, chỉ buột miệng hỏi một câu: “Tam Cửu Thiên, anh có biết ngoại ngữ không?”

Sài Thúc Tân không ngờ y lại hỏi chuyện này: “Cậu muốn học à?”

“Đúng vậy, ông già chỉ lo sắp xếp cho tôi cút xéo, ngoài ra chẳng dặn dò gì thêm, tôi phải tự tìm cách xoay sở.”

Mộc Cát Sinh ngáp dài: “Sư phụ chưa chắc đã rành ngoại ngữ, tôi nhớ nhà anh hình như từng khám bệnh cho người nước ngoài, anh có biết tiếng Tây không?”

“…Biết một chút.”

Sài Thúc Tân im lặng một lát, rồi nói: “Nếu cậu định đi Pháp trước, vậy thì bắt đầu từ tiếng Pháp đi.”

“Thế thì tốt quá, làm phiền Sài đại công tử rồi.” Mộc Cát Sinh buồn ngủ đến đỏ cả mặt, mơ mơ màng màng lăn lên giường: “Sáng mai nhớ qua gọi tôi dậy nhé, việc này không dây dưa được, tôi phải tranh thủ học gấp.”

Người bên này vừa duỗi chân đã chìm vào giấc mộng, còn Sài Thúc Tân thì đội tuyết xuống núi ngay trong đêm, anh đắn đo mãi mới đi tìm chị gái mình.

“Thúc Tân?”

Sài Nhẫn Đông rất kinh ngạc: “Muộn thế này rồi? Chẳng phải em đang ở thư trai sao?”

Nhìn thấy tuyết đọng trên vai em trai, cô theo bản năng nghĩ rằng có chuyện khẩn cấp, vừa bảo em trai vào cửa vừa định đi pha trà gừng, thì đã nghe Sài Thúc Tân gọi một tiếng: “Chị ơi…”

Sài Nhẫn Đông quay đầu nhìn anh: “Sao thế…”

Cô đương nói dở câu thì bỏ, nhìn em trai đứng lặng dưới ánh đèn.

“Ồ…” Cô chợt cười: “Để chị đoán xem nào, là chuyện của Mộc thiếu gia phải không?”

Sài Thúc Tân hơi bất ngờ, anh mím môi, rồi lại khẽ gật đầu một cái thật nhẹ: “Cậu ấy sắp ra nước ngoài…”

“Thúc Tân.”

Sài Nhẫn Đông nén cười: “Em không phải nửa đêm tìm đến chị để khóc nhè đấy chứ?”

“Chị!”

“Được rồi, được rồi.” Sài Nhẫn Đông yên tâm, ngồi xuống trường kỷ, móc ra một nắm hạt dưa: “Vậy tiếp theo em định thế nào? Có cần chị giúp gì không? Mời cậu Mộc tới nhà mình ăn lẩu nhất phẩm nhé?”

“Em muốn dạy cậu ấy tiếng Pháp.”

“Cái này được đấy.” Sài Nhẫn Đông vui vẻ cắn hạt dưa: “Vậy em đến tìm chị để lấy đồ của mẹ sao? Chị nhớ hình như trong mấy cái rương có cất sách tiếng Pháp, lát nữa chị tìm cho.”

Sài Thúc Tân nhìn vẻ mặt đầy hóng hớt của chị gái, thực sự không biết nói gì: “… Chị à.”

“Đừng có hở ra là gọi ‘chị à chị ơi’ thế nữa, chuyện này chị chỉ có thể đứng ngoài cổ vũ thôi chứ chẳng giúp được nhiều đâu.” Sài Nhẫn Đông hớn hở nói: “Nước Pháp là một nơi tốt, năm xưa mẹ ở bên đấy có không ít tình nhân cũ, cha cứ hở ra là lại ghen tuông vì chuyện này, em đừng có học theo ông ấy.”

Sài Thúc Tân: “…”

“Được rồi, không trêu em nữa.” Lâu rồi Sài Nhẫn Đông mới cười sảng khoái như vậy, cô quệt mũi em trai mình, không nhịn được mà nói: “Thúc Tân, lát nữa chị lấy sách cho em xong, hay là em bôi tí phấn nước của chị rồi hãy đi nhé.”

Sài Thúc Tân có chút bối rối nhìn cô: “Tại sao?”

“Em đi mà soi lại cái mặt mình kìa.”

Sài Nhẫn Đông cười không ngừng được: “Đang là Tam Cửu Thiên cơ đấy, thế mà mặt em giờ đã đỏ đến mức át cả hồng mai trong viện rồi!”

Sài Thúc Tân lấy một quyển thơ tiếng Pháp, từ hôm sau bắt đầu dạy ngoại ngữ cho Mộc Cát Sinh. Mộc tiểu tư lệnh vốn thông minh lanh lợi nên học rất nhanh, mới được vài ngày, trò đã bắt đầu trêu thầy: “Này, Tam Cửu Thiên, có bài thơ tình nào không? Tôi nghe nói người Pháp chơi trò lãng mạn có nghề lắm.”

“Không có.” Sài Thúc Tân trực tiếp bác bỏ: “Người Pháp không hề lãng mạn.”

“Thật hay giả vậy?”

“Thật.” Sài Thúc Tân lấy mình ra làm gương, nói: “Mẹ tôi cũng có huyết thống Pháp.”

Chuyện này làm Mộc Cát Sinh hú hồn, y la oai oái chạy đi hỏi Ngân Hạnh trai chủ, sau khi nhận được câu trả lời khẳng định vẫn thấy không thể tin nổi.

Nghĩ tới nghĩ lui, y rút ra một kết luận: “Vậy thì người Pháp chắc hẳn phải đẹp lắm!”

Sài Thúc Tân: “… Tôi trông cũng bình thường thôi. Lại đây mà học thuộc từ vựng mới của ngày hôm nay đi!”

“Đừng hung dữ thế mà.”

Mộc Cát Sinh bây giờ nhìn Sài Thúc Tân chỉ thấy người này vô cùng hiếm lạ. Ai mà ngờ được thầy thuốc nhỏ đầy cốt cách quân tử này lại còn có dòng máu Tây. Bao nhiêu ý nghĩ xoay vòng trong đầu y, hôm sau liền xuống núi tìm Sài Nhẫn Đông một chuyến.

Ngày kế tiếp, Sài Thúc Tân dạy Mộc Cát Sinh đọc thơ.

Mộc Cát Sinh đang đọc dở bỗng dưng thốt ra một câu:

“Tu es comme une rose en hiver.”
<i>(Người tựa đóa hồng ngày đông).</i>

Sài Thúc Tân sững sờ, lật đật gấp sách lại, không thể tin nổi nhìn Mộc Cát Sinh.

Mộc Cát Sinh cười đến muốn chết đi sống lại, lăn lộn xuống tận dưới chân bàn. Hôm qua y đi tìm Sài Nhẫn Đông, kiếm được một quyển thơ tình, liền học vẹt thuộc lòng mấy bài để dành lôi ra trêu Sài Thúc Tân.

“Je t’ai demandé si tu m’aimais bien…”
<i>(Ta hỏi người có thích ta không…)</i>

Sài Thúc Tân vừa nghe đã biết ngay là do chị gái mình bày trò, vừa giận vừa cuống, kèm theo vô vàn cảm xúc hỗn loạn sục sôi trào dâng, nấu thành một đoàn trong lồng ngực. Thế mà Mộc Cát Sinh vẫn còn ở đó không biết sống chết mà đọc tiếp:

“tu m’as répondu non…”
<i>(Người bảo ‘không’…)</i>

Sài Thúc Tân nhìn y chằm chặp một hồi, rồi đột ngột đứng phắt dậy, sải bước rời đi, mặc kệ Mộc Cát Sinh ở phía sau réo gọi: “Ơ kìa Tam Cửu Thiên! Tam Cửu Thiên anh đừng đi mà! Tôi khó khăn lắm mới thuộc được, vẫn chưa đọc xong đâu!”

Mộc Cát Sinh hiếm khi tìm được niềm vui lớn, trêu chọc Sài Thúc Tân không thành liền chuyển sang “đầu độc” Tùng Vấn Đồng. Trên bàn ăn, y đọc làu làu mấy bài thơ tình trước mặt Mặc Tử.

Tùng Vấn Đồng nghi ngờ tên này đang rủa mình, quay sang hỏi Sài Thúc Tân: “Nó đang nói cái gì thế?”

Sài Thúc Tân: “… Đang chửi anh đấy.”

“Tam Cửu Thiên! Làm con người không có ai chơi kiểu vậy đâu!”

Mộc Cát Sinh kêu la thảm thiết, bị Tùng Vấn Đồng tuốt đao rượt chạy trối chết.

Đêm giao thừa, đây là lần đầu tiên Sài Thúc Tân ở lại thư trai đón tết. Ngân Hạnh trai chủ vốn thích Côn khúc, theo lệ cũ tại thư trai, ngày tết lúc nào cũng phải làm vài đoạn. Đêm đó, Ô Tử Hư gảy đàn tỳ bà, Sài Thúc Tân thổi sáo Tô, Mộc Cát Sinh và Tùng Vấn Đồng đối diễn, một bộ Tây Sương Ký năm quyển hai mươi mốt chiết, cứ thế hát vang suốt cả đêm.

Lúc trời gần sáng tiệc mới tan, đám thiếu niên say nồng trong men rượu và cơn buồn ngủ, cả bọn gục xuống bàn. Sài Thúc Tân thấy người mệt lả, trong cơn mơ màng, có ai đó vỗ nhẹ vào vai anh.

Anh mở mắt, là Ngân Hạnh trai chủ.

Mạc Khuynh Bôi mỉm cười nhìn anh, đưa tới một cuốn sách: “Cái này là Cát Sinh đánh rơi trong thư phòng ta mấy hôm trước.”

“Học trò mạo muội.” Sài Thúc Tân lập tức tỉnh người. Anh chẳng rõ trai chủ có hiểu tiếng Pháp hay không, mà bên chỗ chị gái sách gì cũng có, lỡ đâu Mộc Cát Sinh vớ phải cuốn nào phóng túng quá thì lại thất thố với thầy.

Anh thấp thỏm nhận lấy cuốn sách, thấy đó là một tập thơ của Ronsard, bấy giờ mới thở phào nhẹ nhõm.

Mạc Khuynh Bôi như nhìn thấu tâm tư của thiếu niên, thong dong ngâm một câu: <i>“Lưỡng tình nhược thị cửu trường thời – ” (Đôi tình nếu đã lâu dài…)</i>

“!!!”

Mặt Sài Thúc Tân đỏ bừng: “Tiên sinh!”

“Được rồi, không trêu con nữa.” Mạc Khuynh Bôi cười tươi: “Nước Pháp là một nơi tốt, thư từ qua lại cũng chẳng quá gian nan, không cần lo lắng.”

Sài Thúc Tân hơi ngạc nhiên: “Tiên sinh cũng từng du học sao?”

“Chuyện rất lâu về trước rồi.”

Mạc Khuynh Bôi vỗ vai anh, đẩy xe lăn rời đi, vừa đi vừa ngâm nga một câu thơ: <i>“E thẹn quay đi, tựa cửa ngoảnh đầu lại, mà ngửi đóa thanh mai — “</i>

Sài Thúc Tân như bị ma xui quỷ khiến quay đầu lại nhìn, Mộc Cát Sinh đang nằm bò trên bàn ngủ say, nước miếng chảy ròng ròng.

Anh thầm thở dài, ngồi xuống cạnh đối phương, vân vê tập thơ trong tay.

Một thoáng sau, anh lật mở một trang, nhìn vết gấp trên mặt giấy, khẽ đọc:

“Je t’ai demandé si tu m’aimais bien…
<i>(Ta hỏi người, có thích ta không.)</i>

tu m’as répondu non.
<i>(Người nói ‘không’.)</i>

Je t’ai demandé si j’étais jolie…
<i>(Ta hỏi người, ta có đẹp không.)</i>

tu m’as répondu non.
<i>(Người nói ‘không’.)</i>

Je t’ai demandé si j’étais dans ton cœur…
<i>(Ta hỏi người, trong lòng có ta không.)</i>

tu m’as répondu non.
<i>(Người nói ‘không’.)</i>

Je t’ai demandé si tu pleurais si je partais loin.
<i>(Ta hỏi người, nếu ta rời đi, người có khóc không.)</i>

tu m’as répondu non.
<i>(Người nói ‘không’.)</i>

Puis tu m’as rattrapé par la main puis tu m’as dìt.
<i>(Rồi người nắm lấy tay ta, thổ lộ tất cả.)</i>

Je ne t’aime pas bien, je t’aime
<i>(Ta không chỉ thích người, ta yêu người.)</i>

tu n’es pas jolie, tu es magnifique
<i>(Người không chỉ xinh đẹp, người thật tuyệt mỹ.)</i>

tu n’es pas dans mon cœur, tu es mon cœur.
<i>(Người không ở trong tim ta, người là trái tim ta.)</i>

et je ne pleurerai pas si tu pars…
<i>(Và nếu người rời đi, ta sẽ không khóc đâu…)</i>

je mourrai.”

<i>(Ta sẽ chết.)”</i>


Nhiều năm sau, dịp xuân lại về, Chu Ẩm Tiêu đến miếu Thành Hoàng đón tết, dắt theo hai đứa nhỏ đi chợ quỷ quẩy Bar. Mộc Cát Sinh thức dậy vào sớm hôm sau, lại rảnh rỗi đến phát cuồng, y bắt đầu đào hố trong miếu để tìm mấy vò rượu không biết đã chôn từ đời thuở nào. Kết quả, lại đào được một chiếc hũ gốm màu đỏ thẫm dưới gốc cây ngân hạnh.

Mộc Cát Sinh xem đi xét lại, xác định đây không phải đồ mình chôn, bèn gọi to: “Tam Cửu Thiên!”

Sài Thúc Tân từ trong bếp đi ra: “Chuyện gì?”

“Thứ gì đây?” Mộc Cát Sinh giơ cái hũ lên hỏi: “Tôi mở xem nhé?”

Sài Thúc Tân ngẩn ra, dường như cũng quên mất món đồ này: “Đó là thứ tôi chôn từ nhiều năm trước.”

Mộc Cát Sinh cạy lớp niêm phong, bên trong không phải là rượu mà là lớp đất bùn màu đỏ tỏa ra mùi thuốc thơm nồng: “…Hình như tôi từng thấy thứ này rồi?”

Sài Thúc Tân không nói gì, im lặng nhìn y.

Mộc Cát Sinh nghĩ ngợi một lát, rồi vỗ đùi cái đét: “Tôi biết rồi! Đây chẳng phải là thứ mà người trong nhà anh dùng để sơn móng tay sao, gọi là con lợn* gì ấy nhỉ?”

Sài Thúc Tân kiên nhẫn sửa lời: “Là màu Giáo Chu.”

<i>(*) Chữ 朱 (zhū) trong ‘Giáo Chu’ đồng âm với 猪 (zhū): Con lợn.</i>

Mộc Cát Sinh vươn tay chấm chút bùn trong hũ, ngón tay đỏ son rực rỡ.

Y chép miệng tán thưởng một hồi, đột nhiên quay sang nhìn Sài Thúc Tân, cười hì hì: “Tam Cửu Thiên…”

Sài Thúc Tân biết y muốn làm gì.

Nhiều năm về trước, lúc ở thư trai, thiếu niên ấy cũng từng cầm giấy vẽ mẫu hoa đỏ cười híp mắt nói: “Tôi tô cho anh.”

Sài Thúc Tân đi rửa tay, hai người ngồi xuống dưới hiên. Mộc Cát Sinh cầm chiếc cọ mềm, tỉ mỉ tô lớp bùn đỏ lên móng tay anh, rồi dùng vải thưa trắng quấn lại, thắt một cái nút nhỏ.

Người này vừa tô vừa tấm tắc: “Tam Cửu Thiên, tay anh đẹp quá chừng…”

<i>“Này, tháo găng tay ra đi. Hôm qua tôi thấy màu móng tay của anh già quá, anh chọn mẫu nào ưng nhất, tôi tô lại cho anh ngay!”</i>

<i>“Đừng mà, Tam Cửu Thiên, tay anh đẹp quá chừng, tô cái màu như bà thím thế kia phí lắm!”</i>

<i>“Thế thì cải tiến một chút đi! Màu móng của anh đỏ sậm quá, tôi vẽ lại nhạt hơn xíu cho anh, tô thêm chút màu vàng, đậm nhạt hòa quyện, vẽ rồng điểm mắt, chỉ một hai nét là xong!”</i>

Ủ kỹ ba mùa tuyết lạnh, xuân về rót một chén hồng.

Biết bao điều lỡ dở, bao lời muốn nói lại thôi, vào giây phút này dưới gốc cây ngân hạnh, đều ủ thành rượu ngon qua năm dài tháng rộng.

Như vậy, đã là viên mãn rồi.

<b>[ Edit by TeiDii ]</b>
________________

<i>Chủ nhà: Biết anh Sài thích anh Mộc từ lúc nào rồi…</i>

<i>Tôi yêu cái Thư Trai này quá! (⁠ ⁠◜⁠‿⁠◝⁠ ⁠)⁠♡</i>
 
Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 88: PN 4: Năm Như Ý


<b>[ Năm Như Ý ]</b>

Mộc Cát Sinh tỉnh lại vào một buổi sớm.

Cây ngân hạnh trong miếu Thành Hoàng đã chuyển màu vàng rực. Y vừa ngẩng đầu đã thấy những mảng ánh sáng như lá vàng mỏng, lững lờ trôi qua trước mắt. Trong lúc thẫn thờ, y nhớ về căn phòng Thiên Tự có giá đắt nhất ở Quan Sơn Nguyệt, nơi đó cũng dát vàng khắp tầng thế này. Đôi khi y và lão nhị đến đó uống ké một chén trà nhàn, hương nhài nghi ngút, hơi nước từ miệng tách thong thả lướt qua khóe mắt tựa một thoáng mưa phùn, khiến tầm nhìn trở nên mông lung, chỉ còn lại dư ảnh lóng lánh như nước của ánh nắng xế chiều, ngỡ như đất trời đều biến thành một tấm dải lụa cũ thấm đẫm nước. Rồi sau đó bọn họ cùng cười sảng khoái, tiếng cười trong trẻo như ngọc túy va vào đĩa sứ, đợi đến khi tiếng cười lan xa, trước mắt lại tràn đầy phong quang thiếu niên.

Khi đó, cả bọn ai nấy đều rạng rỡ hăng hái, đuôi mày khóe mắt đều mang theo sự sắc bén, tự nhiên chẳng bận tâm đến phút giây xuất thần kia, thậm chí còn cảm thấy cái sắc vàng u ám đó có phần mới lạ.

Tùng Vấn Đồng nói trạng thái thẫn thờ này có chút giống mơ tỉnh, nhưng lại không hẳn là mơ. Nếu nói giấc mơ là thứ nằm kín trong chiếc hộp, thì bọn họ là những kẻ đã chạm tay vào hộp nhưng chưa mở ra, dấu tích thời gian phủ lên đó một lớp rêu xanh loang lổ, khó tránh khỏi cảm giác lạnh lẽo âm u nơi đầu ngón tay.

Mộc Cát Sinh thời thiếu niên khí huyết nóng hổi, chưa bao giờ nếm ra cái vẻ u lạnh ấy. Ngay cả khi xuống tận Phong Đô, y cũng có thể đốt một trận đèn Kim Ngô rực đỏ bên dòng Vong Xuyên lạnh nhất. Y nghĩ chắc Tùng Vấn Đồng cũng chỉ bê nguyên xi kiểu cách ví von từ sách xưa ra mà thôi. Mặc Tử một khi nổi giận thì đến cả Chu Tước thuộc hành hỏa cũng chẳng bằng, thế thì lấy đâu ra cái gọi là "u lạnh".

Nhưng vào lúc này, Mộc Cát Sinh khó nhọc ngồi dậy, dụi dụi mắt hồi lâu mới gạt sạch được những đốm sáng chớp nháy trước mặt, nhìn rõ rốt cuộc mình đang ở đâu. Đây không phải là Ngân Hạnh Thư Trai, cách bài trí sân vườn lạ lẫm, nhưng đâu đó vẫn toát ra vẻ thân thuộc khó tả.

Xung quanh rất yên tĩnh, yên đến quá mức chịu đựng. Mộc Cát Sinh ngẩn người hồi lâu mới nhận ra không phải vì chim chóc im bặt, mà có lẽ là do tai của y có vấn đề, rất nhiều âm thanh đều không nghe thấy. Y vô thức xoa xoa đầu ngón tay, đây là thói quen hình thành sau nhiều năm sử dụng tiền Sơn Quỷ. Mộc Cát Sinh có chút kinh ngạc khi phát hiện rằng mình thấy lạnh.

Không phải do mặc quá mỏng, mà là cái lạnh do cơ thể suy nhược. Lời xưa nói "mười ngón tay nối với tim", máu đầu ngón tay chính là lửa trong tim. Ngay cả khi bị thương nặng nhất, Mộc Cát Sinh cũng chưa bao giờ thấy đôi tay mình lạnh lẽo đến nhường này. Y cảm thấy có gì đó không ổn, định bụng đứng dậy, rồi lại phát hiện thêm một điều mới mẻ nữa, y không đứng lên nổi.

Người lính luôn tìm đường sống trong cõi chết, thần thức vừa hạ lệnh, tứ chi xương cốt phải xông pha trận mạc. Từ nhỏ đến lớn, đây là lần đầu tiên Mộc Cát Sinh cảm thấy ngũ tạng lục phủ đều mất kiểm soát. Y gượng sức cử động, cảm giác giống như có một ngọn lửa lớn đốt mình từ trong ra ngoài đến trơ trụi, mọi điểm tựa đều bị rút cạn, chỉ còn trơ lại lớp da bọc lấy nắm xương tàn, nói không chừng xương cũng chẳng còn, giờ đây ngay cả việc ngồi thẳng lưng đối với y cũng quá đỗi gian nan.

Thôi vậy.

Mộc Cát Sinh thở dài trong lòng, giờ thì y đã hiểu cái "u lạnh" mà Tùng Vấn Đồng nhắc đến năm xưa có nghĩa là gì rồi.

Lực bất tòng tâm, thậm chí đến cả cái "tâm" cũng chẳng còn dư dả gì.

May mà vẫn còn một khúc xương sống, một chút hơi tàn.

Mộc Cát Sinh không rõ mình đang ở đâu, phiền phức hơn là sau một hồi loay hoay, y lại muốn ngủ. Nếu đây không phải là mơ, thì cơ thể y hiện tại chắc chắn đang suy yếu đến cực hạn.

Y phân vân nên gượng tinh thần dậy hay cứ ngủ tiếp, thì bỗng nghe thấy một tiếng động khẽ khàng.

Nếu là một người có thính lực bình thường ở đây, âm thanh này có thể coi là vang vọng khắp phòng, nhưng lọt vào tai Mộc Cát Sinh lúc này thì chỉ như tiếng muỗi kêu vo ve. Y cố gắng tìm nơi phát ra âm thanh, quay đầu nhìn lại...

Sài Thúc Tân đang đứng cách đó không xa, dưới chân là những mảnh sứ vỡ vụn.

Mộc Cát Sinh chớp chớp mắt, vô thức gọi: "Tam Cửu Thiên?"

Sài Thúc Tân lặng đi trong giây lát, rồi sải bước nhanh về phía y. Đôi mắt Mộc Cát Sinh đang mờ nhoè, không nhìn rõ thần sắc đối phương. Sài Thúc Tân dường như đã đỡ lấy y, rồi nói thêm điều gì đó. Anh nắm lấy tay y, cái lạnh dần tan biến. Mộc Cát Sinh nhắm mắt lại, quyết định đi ngủ trước đã. Chừng nào Tam Cửu Thiên còn ở đây, mặc kệ là núi đao hay biển lửa, ít nhất y vẫn có chút thời gian dư dả để nghỉ ngơi dưỡng sức.

Trước khi chìm vào hôn mê, điều cuối cùng Mộc Cát Sinh nghĩ đến là: <i>Tam Cửu Thiên ăn mặc kiểu gì thế kia, trông khá tân thời... Anh ấy cắt tóc rồi...</i>

Sài Thúc Tân không ngờ Mộc Cát Sinh có thể tỉnh lại vào mùa thu năm ấy.

Anh đã chuẩn bị sẵn tâm thế cho một cuộc chờ đợi thiên trường địa cửu, dù có kéo dài đến thiên thu vạn tuế. Mười năm trước Tùng Vấn Đồng qua đời, vài tháng trước Ô Tử Hư đã cùng phu nhân bước vào con đường luân hồi. Giờ đây miếu Thành Hoàng chỉ còn lại La Sát và Chu Tước, đều là mình đồng da sắt, chịu đựng được sự mài mòn của năm tháng. Chu Ẩm Tiêu cách đây không lâu còn bảo muốn ở lại miếu một thời gian, sẵn tiện trông nom Ô Tất Hữu và Sài Yến Yến. Tuổi thọ của hai đứa nhỏ này đều không ngắn, nếu qua thêm bảy mươi năm nữa, ít nhất cũng phải phân biệt rõ vai vế trong nhà.

Kể từ khi Mộc Cát Sinh khởi quẻ tính quốc vận cho đến nay đã tròn bảy mươi năm.

Sài Thúc Tân sắp xếp ổn định cho Mộc Cát Sinh đã thiếp đi, rồi gọi điện thoại cho Chu Ẩm Tiêu, bảo y mang Ô Tất Hữu và Sài Yến Yến đang ở miếu Thành Hoàng đến chỗ khác. Mộc Cát Sinh vừa mới tỉnh, cần sự yên tĩnh, vẫn chưa đến lúc phải đối mặt với cảnh vật đổi sao dời.

Chu Ẩm Tiêu bắt máy ở Thận Lâu, không biết là do tín hiệu kém hay do cõi lòng dậy sóng mà giọng nói cứ lạc đi: "Anh, lão tứ, anh ấy... anh... anh ấy anh ấy..."

Một chuỗi chữ "anh ấy" nối tiếp nhau, cuối cùng Chu Ẩm Tiêu hít một hơi thật sâu, giọng nói hẵng còn run rẩy: "Lão tứ... thực sự tỉnh rồi sao?"

"Ừ." Sài Thúc Tân rũ mắt nhìn người trên giường, anh hơi ngập ngừng, khẽ cuộn ngón tay.

Chu Ẩm Tiêu ở đầu dây bên kia phát ra một tràng tiếng kêu quái dị, hệt như biến lại thành con gà lôi lông tạp ở Ngân Hạnh Thư Trai năm nào, cứ một điều "anh ơi" hai điều "anh à", rồi thì "trời cao có mắt", "lão tứ ơi", "lão tam, sao anh lại đi sớm vài tháng thế này", cuối cùng còn điên điên khùng khùng gào thét tên Tùng Vấn Đồng. Sài Thúc Tân đưa ống nghe ra xa một chút, đứng bên giường hồi lâu, cuối cùng hạ quyết tâm.

Anh bước tới, khẽ vươn tay, đan chặt vào năm ngón tay của Mộc Cát Sinh.

Tay của đối phương vẫn rất lạnh, nhưng sợi dây liên kết nguyên bản nhất giữa họ nói cho anh biết rằng, Mộc Cát Sinh thực sự đã trở về.

Sài Thúc Tân cầm lại điện thoại, giọng nói mang theo một tia run rẩy khó nhận ra.

"...Em ấy trở về rồi."

Trong nửa năm đầu khi Mộc Cát Sinh tỉnh lại, hầu như không có mấy lúc thần trí được tỉnh táo.

Một tuần có thể thức giấc được một hai lần đã là hiếm hoi. Ký ức của y biến thành những mảnh vỡ, có đôi khi vừa mở mắt đã hỏi lão nhị mấy giờ rồi, có lúc lại gọi sư phụ, thậm chí có lần còn nhận nhầm Sài Thúc Tân thành Mộc tư lệnh, mở miệng định gọi cha. Thân thể y lúc này hội tụ đủ mọi đặc điểm cơ bản của một người già: Thần trí mê man, mắt mờ tai ù, sống đếm ngược từng ngày. Lần này tỉnh dậy còn hỏi có phải chúng ta đang ở Bồng Lai không, các nhà khác còn làm khó không, lần sau vừa mở mắt đã vồ lấy quần áo đòi đi ra ngoài, kết quả cả người ngã nhào xuống đất. Sài Thúc Tân nghe động liền chạy đến, lại nghe thấy Mộc Cát Sinh lẩm bẩm: "Tam Cửu Thiên, chiến sự bên ngoài thế nào rồi, tôi phải đi giữ thành."

Trong suốt bảy mươi năm Mộc Cát Sinh chìm trong giấc ngủ, Tùng Vấn Đồng đã mang từ Thận Lâu ra rất nhiều sách cổ, đa phần là sách về ôn dưỡng thần hồn. Sài Thúc Tân nhờ Ô Tử Hư chỉ dẫn, dùng sát khí mạnh mẽ của La Sát Tử để trấn áp tiền Sơn Quỷ, lại dùng y lý của Dược Gia thử qua rất nhiều loại thuốc, thậm chí thêm cả bí pháp của Chu Gia, bấy giờ mới có thể giành giật lại một Mộc Cát Sinh vẹn toàn từ vực thẳm của mạch Thiên Toán. Thế nên khi Mộc Cát Sinh tỉnh lại, tuy thần trí u mê, xương cốt rệu rã, nhưng đó là tấm gương vỡ được tất cả mọi người dốc hết sức lực để ghép tròn.

Sài Thúc Tân không ngừng điều chỉnh đơn thuốc. Những lúc Mộc Cát Sinh tỉnh táo không nhiều, vậy nên anh dùng rất nhiều biện pháp từ châm cứu, tắm thuốc, đến vô vàn phương pháp khác để đút thuốc cho y.

Song, trong những lần hiếm hoi Mộc Cát Sinh tỉnh lại, anh sẽ không để y phải uống thuốc.

Mỗi lần Mộc Cát Sinh thức giấc, ký ức đều neo đậu ở một mốc thời gian khác nhau. Khi là đệ tử Ngân Hạnh Thư Trai, khi thì là Mộc tiểu tư lệnh vừa đi du học về, có khi là chàng thiếu niên lang hăng hái ở Quan Sơn Nguyệt...

Hàng trăm thân phận cũ lần lượt hiện hữu trên người, y có thể mang bất cứ thân phận nào, duy chỉ có một thân phận y không nên mang, chính là một người bệnh.

Mãi đến gần một năm sau khi tỉnh lại, thời gian Mộc Cát Sinh thanh tỉnh dần tăng lên. Có lần hai người cùng ngồi phơi nắng dưới gốc cây ngân hạnh, y thong thả ngân nga một khúc "Quải Soái". Sài Thúc Tân nghe xong liền đứng dậy vào bếp, lúc trở ra đã bưng một cốc trà gừng đường nâu.

Mộc Cát Sinh nhận lấy ca sắt tráng men, hỏi: "Tam Cửu Thiên, tôi hát thế nào?"

Sài Thúc Tân ngẫm nghĩ một chút, nghiêm túc nói: "Không sai một chữ."

Mộc Cát Sinh uống hai ngụm trà, chậm rãi ngồi thẳng dậy, nhìn anh cười nói: "Vậy thì có phải anh nên cho tôi uống thuốc rồi không?"

Sài Thúc Tân nhìn nụ cười đầy sự mỏi mệt hơn hẳn thời thiếu niên của người trước mặt, cuối cùng cũng nhớ lại lời dặn năm xưa của Ngân Hạnh trai chủ.

Muốn giấu Mộc Cát Sinh, quả thật rất khó.

"... Cậu nhớ được bao nhiêu rồi?"

"Nửa nọ nửa kia." Mộc Cát Sinh đáp: "Ký ức trong đầu tôi vẫn chưa hoàn chỉnh lắm, nhưng cũng có thể đoán được đôi chút."

Y đặt ca tráng men xuống, ngẩng đầu nhìn Sài Thúc Tân, trước mắt lại là những mảng màu nhoè vàng rực.

Sài Thúc Tân thấy y khẽ nheo mắt lại, anh lập tức bước tới gần hơn, định ngồi thụp xuống cạnh y, nhưng lại khựng bước giữa chừng.

"Đừng thế mà, đều là người già cả rồi, lòng tự trọng chẳng còn bao nhiêu đâu, nên chiều theo tôi chút nào thì cứ chiều." Mộc Cát Sinh nhìn ra tâm tư của anh, phóng khoáng xua tay: "Tôi mắt mờ chân chậm rồi, Sài đại công tử làm ơn làm phước lại gần đây chút, tôi cũng đỡ tốn sức."

Sài Thúc Tân mím môi, ghé sát bên cạnh.

Anh nghe thấy y nói: "Kể từ ngày tôi từ giã cõi đời..."

"Hẳn đã qua rất nhiều năm nhỉ?"

"Tam Cửu Thiên." Y nghe chính mình trầm giọng hỏi: "Đã bao lâu rồi?"

Sài Thúc Tân chăm chú nhìn y, đáp: "...Đã bảy mươi năm."

Hơi thở của Mộc Cát Sinh khựng lại một nhịp, trầm ngâm gật đầu.

"Một giáp thêm mười năm." Y nói: "Là quãng thời gian đẹp."

Kể từ đó, mỗi lần tỉnh lại, Mộc Cát Sinh đều phải uống thuốc. Y vẫn chưa thể ăn uống bình thường nên coi việc uống thuốc như ăn cơm. Đó là những thang thuốc cực kỳ đắng, cái đắng thấm vào tận xương tủy khiến người ta toát mồ hôi lạnh, nhưng y chỉ bình thản uống cạn, sau đó uống thêm chút nước đường nâu, cùng lắm là thêm vài ngụm trà ngân hạnh, rồi lại nheo mắt nằm trên ghế mây, nghêu ngao vài câu Tây Sương Ký, trò chuyện bâng quơ với Sài Thúc Tân.

Họ chỉ nói về những chuyện trước mắt, ví như ngày mai thời tiết thế nào, cây mai trong sân mọc ra sao, hay từng chiêu thức của bài Bát Đoạn Cẩm phải tập thế nào cho đúng. Quá khứ và tương lai đều chìm vào sự tĩnh lặng. Mộc Cát Sinh không còn nhắc tới Ngân Hạnh Thư Trai, thậm chí cũng chẳng muốn biết chi tiết về thế giới bên ngoài miếu Thành Hoàng ra sao. Có một dạo y say mê đoán bí quyết nấu món lẩu nhất phẩm, đem đủ loại nguyên liệu trên trời dưới đất ra đoán, chỉ khi y nói quá xa rời thực tế, Sài Thúc Tân mới bảo món đó khó làm, còn lại anh đều nói y đoán đúng, món nào cũng làm được hết.

Mộc Cát Sinh hát Tây Sương Ký thường xuyên quên lời, Sài Thúc Tân bèn lục ra chiếc sáo Tô dưới đáy hòm thổi đệm cho y. Nếu y nghe điệu nhạc mà vẫn không nhớ nổi, anh sẽ cất giọng hát thay, chậm rãi tiếp nối lời ca.

Đợi đến khi sức khỏe của Mộc Cát Sinh khá hơn đôi chút, không còn hôn mê mỗi ngày, y bắt đầu tập đi.

Việc này lúc đầu rất khó khăn, gần như cứ đi một hai bước là ngã. Sài Thúc Tân muốn theo sát không rời, nhưng lại sợ làm tổn thương lòng tự trọng của đối phương. Tuy nhiên, Mộc Cát Sinh không giống như anh nghĩ. Người này đi vài bước lại ngã, rồi bò dậy, đứng vững, tiếp tục đi, rồi lại ngã, cứ lặp đi lặp lại như thế. Nếu là người thường, e rằng mỗi lần làm lại đều sẽ hao tổn tinh thần, nản lòng thoái chí, huống hồ chi, y từng là chàng thanh niên hào hoa phong nhã, cưỡi ngựa xem hoa năm nào.

Nhưng Mộc Cát Sinh thì không. Y gần như hăng hái bắt đầu làm quen lại với tứ chi của chính mình. Thiên Toán Tử biết thiên mệnh, dường như cũng vì thế mà mang theo vẻ hồn nhiên giản đơn. Y thu lại tất thảy ngạo cốt và bản lĩnh hậu thiên, chỉ kiên nhẫn làm một đứa trẻ mới tập đi. Vô tri khiến người ta không sợ hãi, không sợ hãi thì sinh lòng hoan hỉ. Sài Thúc Tân đôi khi nhìn bóng dáng đầy hứng khởi ở phía xa, thấy người đó ngã xuống vẫn có thể cười ha hả, anh chợt nhận ra, đây mới chính là Mộc Cát Sinh.

Con người đã chịu bảy mươi năm âm dương sai lệch, bị ký ức gột rửa hết lần này đến lần khác ấy rốt cuộc cũng sống dậy, tươi mới trở lại.

Khi Mộc Cát Sinh đã có thể đi đứng tự nhiên, y hỏi Sài Thúc Tân: "Tam Cửu Thiên, đây là miếu Thành Hoàng phải không?"

Sài Thúc Tân gật đầu: "Sao vậy?"

"Thành Hoàng gia đâu?"

"Cậu muốn gặp ông ấy?"

"Cũng đến lúc rồi." Mộc Cát Sinh đang tập Bát Đoạn Cẩm dưới gốc cây ngân hạnh. Y đã thử rất nhiều ngày, cuối cùng miễn cưỡng cũng tập hết được một bài. Y thu công, đứng thẳng người rồi nói: "Thành Hoàng là quỷ thần hộ thành cứu dân, tôi ở đây chiếm chỗ của ngài đã lâu, e rằng lão Thành Hoàng xuống Phong Đô khó mà ăn nói với cấp trên."

Ngày hôm sau, Sài Thúc Tân dẫn theo Hoàng Ngưu đang khúm núm cúi chào đến, chậm rãi kể cho Mộc Cát Sinh nghe về sự thay đổi của Phong Đô trong những năm qua.

Khi nghe kể Ô Tử Hư có để lại một đứa con trai, Mộc Cát Sinh vui vẻ hẳn lên, hỏi Sài Thúc Tân: "Đứa nhỏ đó thế nào?"

"Nói năng lanh lợi, trông rất giống Vô Thường Tử đời trước." Sài Thúc Tân đáp: "Cậu muốn gặp nó không?"

"Vẫn chưa đến lúc." Mộc Cát Sinh lười biếng xua tay, lại hỏi thêm một câu: "Trong nhà còn có những ai?"

"Dưới gối chị gái có một đứa cháu." Sài Thúc Tân đáp: "Tinh Túc Tử vẫn còn."

"Vậy đại sư huynh?"

"Không biết."

Chắc là đang ở Bồng Lai rồi. Mộc Cát Sinh hiểu ý, sau đó mỉm cười: "Tam Cửu Thiên."

"Tôi đây."

"Hôm nào gọi lão ngũ tới ăn cơm đi."

Nói đến đây, Hoàng Ngưu vội vàng móc từ trong ngực áo ra một bình tro nhang, hăng hái thưa: "Đây là do Thôi đại nhân nhờ tôi mang tới, cũng là lễ vật của Thập Điện Diêm Vương. Dù sao thể chất của Thiên Toán Tử cũng đặc biệt, không tiện ăn uống, nhưng có thể nhận hương hỏa phụng thờ. Chỉ cần trộn tro nhang này vào đồ ăn thức uống, ngài có thể nếm được hương vị của nhân gian."

"Thôi đại nhân à..." Mộc Cát Sinh như vừa chợt nhớ ra: "Ông ấy vẫn còn hát tuồng mỗi ngày chứ?

Hoàng Ngưu nghe không hiểu: "Hát... hát tuồng?"

"Thì cái đó đó." Mộc Cát Sinh vừa nói vừa khoa tay múa chân: "Giọng điệu nói chuyện ngâm dài của ông ấy có thể dọa trẻ con tè dầm cả đêm."

Nói rồi y lại quay sang nhìn Sài Thúc Tân: "Tôi nhớ ra rồi, năm đó tôi và lão nhị đại náo Phong Đô, chính Thôi đại nhân là người ngồi trên công đường xét xử hai đứa tôi. Giọng nói của ông ấy cứ trầm bổng luyến láy làm tôi ngủ quên luôn, cuối cùng lão nhị nghe ngứa tai quá, trực tiếp xông lên đánh Thôi đại nhân một trận..."

Năm xưa ở thành cổ, Mộc Cát Sinh không mấy khi đến miếu Thành Hoàng, ngày thường lại sống trên núi nên qua lại với Thành Hoàng không nhiều. Thiên Toán Tử mang thiên mệnh trên mình, có nhiều chuyện Thành Hoàng cũng không tiện can thiệp. Giờ nhiều năm trôi qua, đây là lần đầu tiên Hoàng Ngưu thấy có người dám hành xử như vậy trước mặt La Sát Tử, lời lẽ trêu đùa, ánh mắt linh hoạt, mở miệng toàn nói ra chuyện bí mật của bảy nhà thường kiêng kỵ. Trong phút chốc, ông sực nhớ lại thời Thất Gia Chư Tử còn huy hoàng, thực tế đã từng có rất nhiều người mang khí sắc rực sáng như thế.

Một đám thiếu niên cùng xuống núi, năm ấy Vô Thường Tử chưa kết tóc, Mặc Tử chưa bạc đầu, vị quân tử lễ nghĩa nhất và đứa trẻ ngây ngô nhất đều chưa hóa điên, còn có cả chàng thiếu niên ở tướng phủ thích cười thích náo kia nữa. Khi cao hứng, cả nhóm có thể say sưa ở Quan Sơn Nguyệt suốt một ngày một đêm, nghe nói đó là thứ rượu nồng nhất thế gian.

Sài Thúc Tân bưng bát thuốc đưa cho Mộc Cát Sinh.

"Năm tháng chẳng tha cho ai..." Mộc Cát Sinh tỉnh táo trọn một ngày, ánh mắt đã nhuốm vẻ mỏi mệt. Y đón lấy bát thuốc uống cạn, sau đó nói với Hoàng Ngưu: "Ngài đi thong thả, thân già này giờ chân tay vẫn chưa nhanh nhẹn lắm, không tiễn ngài được."

Sau đó, Mộc Cát Sinh lại chìm vào giấc ngủ li bì suốt nhiều ngày. Đến khi tỉnh lại lần nữa, y nhìn thấy Chu Ẩm Tiêu đang đứng giữa sân.

Chàng thanh niên sáng sủa tựa châu ngọc nhìn y, hé miệng, dường như sợ đánh thức giấc mộng cũ. Rất lâu sau, mới khẽ gọi một tiếng...

"Lão Tứ."

"Lão Ngũ?" Mộc Cát Sinh dụi mắt, lập tức vui vẻ hẳn, y tựa vào khung cửa sổ cười đến đỗi suýt chút nữa ngã nhào: "Trời đất ơi ha ha ha ha... chú em quả không hổ là do lão nhị nuôi... mẹ ơi, tiểu lang quân ở đâu ra thế này - "

Mộc Cát Sinh cười quá sảng khoái, suýt nữa thì sặc, hồi lâu mới bình tâm lại được. Y nhận chiếc ca tráng men từ Sài Thúc Tân, vừa uống nước đường nâu vừa đi vòng quanh Chu Ẩm Tiêu tặc lưỡi khen ngợi: "Bộ đồ này của cậu còn oai hơn cả hồi anh đi du học về đấy." Y nhìn chằm chằm vào tai đối phương: "Chà - Đây là lão nhị xỏ cho cậu à?"

Chu Ẩm Tiêu mặc chiếc áo khoác đỏ rực, tóc uốn xoăn, là kiểu Hồng Kông cực kỳ thời thượng. Y đã do dự rất lâu, thậm chí từng nghĩ có nên biến lại thành hình dáng lúc nhỏ, rồi tìm một chiếc áo dài truyền thống ở Thận Lâu mặc vào hay không. Cuối cùng bị Sài Thúc Tân ngăn lại, bảo cứ ăn mặc như bình thường là được.

Mộc Cát Sinh nếu đã muốn gặp, thứ y quan tâm căn bản không phải là những thứ này. Y chỉ muốn tận mắt nhìn thấy con gà lôi lông tạp năm xưa đã trưởng thành thế nào thôi.

Chu Ẩm Tiêu đeo một đôi khuyên tai to tròn lấp lánh, đứng dưới nắng nhìn rất giống đồ mạ vàng. Mộc Cát Sinh nhìn thoáng qua đã nhận ra ngay, đây là tay nghề của Tùng Vấn Đồng.

"Đẹp lắm, gu thẩm mỹ của lão nhị từ xưa đã không chê được chỗ nào." Mộc Cát Sinh gật gù: "Hồi ở Quan Sơn Nguyệt, dì Triệu cũng thích ngắm hắn mặc đồ đỏ. Giờ cậu ăn mặc thế này, đứng với hắn quả như trời sinh một cặp."

"Người bước ra từ thư trai chúng ta ai nấy đều có diện mạo nổi bật." Mộc Cát Sinh nói rồi lại lia mắt nhìn Sài Thúc Tân, giọng điệu mang ý cười: "Anh thấy đúng không, Sài đại công tử?"

Chu Ẩm Tiêu nhìn Mộc Cát Sinh rồi lại đảo qua Sài Thúc Tân, rất muốn tự chọc mù mắt mình nhưng không dám, đành rụt cổ lại, tiếp tục làm con chim cút.

Quả không hổ là Mộc Cát Sinh, tuy vừa tỉnh lại chẳng bao lâu, ấy mà chỉ với vài câu nói đã khiến Chu Ẩm Tiêu muốn hiện nguyên hình.

"Đi thôi, khó khăn lắm mới mong được cậu tới, bình thường Tam Cửu Thiên chẳng thèm làm đồ ăn cho tôi đâu, hôm nay nói gì cũng phải bắt anh ta xuống bếp..." Mộc Cát Sinh theo thói quen định xoa đầu Chu Ẩm Tiêu, kết quả phát hiện ra việc này lại hơi quá sức, kinh ngạc nói: "Lão ngũ, sao cậu cao thế?"

Hỏi xong y tự ngộ ra câu trả lời: "À đúng rồi, tay nghề nấu nướng của lão nhị mà."

Ba mươi năm trước, Chu Ẩm Tiêu đã là người cao nhất Ngân Hạnh Thư Trai, y lại còn thích đi giày cao gót. Lắm khi cùng nhau ra ngoài, đến cả La Sát Tử cũng phải ngước mặt lên mới nói chuyện với y được. Trông vẻ mặt kinh ngạc của Mộc Cát Sinh, lão ngũ đắc ý hắng giọng: "Nhìn kỹ nhé, cho anh xem thứ còn đẹp hơn này!"

Nói đoạn, y lắc mình một cái, hóa thành một con thần điểu đỏ rực với chiếc đuôi lộng lẫy.

Lần này thì Mộc Cát Sinh không tốn sức nữa, y thuận tay v**t v* đầu Chu Tước vài cái, rồi quay ra nói với Sài Thúc Tân: "Tam Cửu Thiên, nhà mình có nồi lớn không?"

Sài Thúc Tân: "Cậu muốn làm gì?"

"Nguyên liệu tốt thế mà." Mộc Cát Sinh vỗ vỗ đầu Chu Tước: "Mau bỏ vào nồi hầm thôi!"

Dù đã qua biết bao năm, Chu Ẩm Tiêu nghe xong câu này vẫn thấy da đầu tê rần, lập tức vỗ cánh bay tót lên mái hiên.

Lão ngũ từ hôm ấy cũng ở lại miếu Thành Hoàng một dạo. Mỗi ngày Sài Thúc Tân đều nấu cả bàn thức ăn đầy ắp. Cơ thể Mộc Cát Sinh vẫn đang trong quá trình hồi phục nên ăn rất ít, nhưng theo lời y thì nhìn thức ăn thôi cũng giải tỏa được cơn thèm, thế là bao nhiêu đồ thừa đều tống hết cho Chu Ẩm Tiêu.

Nửa tháng sau, Chu Ẩm Tiêu phát hiện mình đã tăng thêm mười cân, nếu không dùng thuật biến hình thì căn bản chẳng ních nổi quần áo cũ. Y bắt đầu hoài nghi nhân sinh, thầm nghĩ tên lão tứ lòng dạ đen tối kia chắc chắn không phải muốn ngắm lại con gà lôi lông tạp năm xưa, mà là muốn ngắm một cái thùng cơm hình Chu Tước thì có.

Y đem thắc mắc này đi hỏi Mộc Cát Sinh, quả nhiên đối phương vẫn còn đang vương vấn vụ cho y vào nồi, thản nhiên nói: "Cậu thì hiểu cái gì, phải vỗ béo hầm lên mới ngon."

Chu Ẩm Tiêu nghe xong liền đau dạ dày, lập tức chẳng muốn ăn nữa. Thế nhưng đến tối, nhìn bàn thức ăn thịnh soạn bày giữa sân, y vẫn vô cùng trung thực mà bưng bát cơm lên.

Thôi thì cứ ăn vậy, dù sao chiêu trò của lão tứ xưa nay chẳng ai đỡ nổi, quan trọng là anh trai y đã rất nhiều năm không xuống bếp, mùi vị thật sự là không thể cưỡng nổi.

Một tháng sau khi Chu Ẩm Tiêu dọn vào miếu Thành Hoàng, vào lúc hoàng hôn, Mộc Cát Sinh đang nằm trên ghế mây hóng mát thì bỗng nghe thấy tiếng gõ cửa. Lúc này Hoàng Ngưu chưa đến gác cổng, Chu Ẩm Tiêu đi mua đồ, Sài Thúc Tân đang bận xào nấu trong bếp, chỉ có y nghe thấy động tĩnh.

Kể từ khi tỉnh lại, Mộc Cát Sinh chưa từng tự tay mở cổng miếu Thành Hoàng, cả ngày chỉ quanh quẩn ở sân sau. Y chậm chạp ngồi dậy, suy nghĩ một chút rồi đi tới trước cổng lớn.

Mộc Cát Sinh nhìn đôi bàn tay mình, dường như thực sự có chút cảm giác "gần quê lại chột dạ."

Tiếng gõ cửa vẫn dồn dập không ngớt, Mộc Cát Sinh chợt mỉm cười, vươn vai một cái rồi đẩy cổng ra.

Trước cửa không thấy người đâu, nhưng chân lại va phải vật gì đó: "Ái chà!"

Là một đứa nhỏ lẫm chẫm, tay nó đang ôm một con búp bê màu hồng phấn.

Nhóc con rõ ràng bị Mộc Cát Sinh dọa giật mình, nhưng vẫn rất cứng cỏi nhìn thẳng vào y, dõng dạc hỏi: "Ông... ông giấu Chim Ướp Tiêu đâu rồi?"

Mắt Mộc Cát Sinh mở to, rồi lại sáng rực. Y vô cùng thích thú ngồi thụp xuống, cười tủm tỉm hỏi: "Chim Ướp Tiêu là ai thế?"

"Chim Ướp Tiêu chính là Chim Ướp Tiêu." Đứa nhỏ lớn tiếng đáp: "Cái người vừa là anh vừa là chị ấy!"

Mộc Cát Sinh cười đến ná thở, tiếng cười vang dội như muốn thổi rụng cả lá ngân hạnh trên cây. Sài Thúc Tân bước khỏi gian bếp, thấy Mộc Cát Sinh đang chống gối đứng dậy, một tay dắt đứa nhỏ, một tay lau nước mắt vì cười quá nhiều, miệng liên tục gọi: "Tam Cửu Thiên, con trai lão tam trông giống hệt y hồi nhỏ!"

Đợi đến khi Chu Ẩm Tiêu trở về, cũng bị đứa nhỏ trong sân dọa cho hết hồn.

Y chẳng sợ trẻ con bỗng dưng xuất hiện tại đây, thứ doạ y sợ chính là việc lão tứ đang trông trẻ. Ký ức năm xưa bị ném vào vườn rau cho mổ sâu có thể coi là bóng đen tuổi thơ của lão ngũ. Ai mà yên tâm giao trẻ con cho Mộc Cát Sinh trông, kẻ đó tuyệt đối là thiếu tám đời công đức.

Kẻ "thiếu đức tám đời" Sài Thúc Tân thản nhiên gọi y đi rửa tay ăn cơm.

Trên bàn ăn, Mộc Cát Sinh nói: "Tôi nhớ ra rồi, năm đó sư phụ từng bảo nếu sau này lão tam có con, bất kể trai hay gái đều sẽ đặt tên là Ô Tất Hữu."

Y cảm thán: "Hồi đó tôi còn thấy lạ, sao sư phụ chỉ đặt tên sẵn cho mỗi con của lão tam."

Ô Tất Hữu nghe thấy tên mình, vừa lùa cơm vừa nhìn Mộc Cát Sinh: "Tên của cháu thì sao ạ?"

"Tâm tư trọn vẹn, ắt được đủ đầy." Mộc Cát Sinh nhặt hạt cơm Ô Tất Hữu làm rơi trên bàn, nhét lại vào miệng đứa nhỏ: "Tên con hay lắm phải không, con gái?"

Chu Ẩm Tiêu nghe xong suýt nữa phun cả ngụm cơm ra ngoài, sao tự nhiên lại nhận con gái thế này? Kết quả Ô Tất Hữu bên kia cất giọng lanh lảnh đáp: "Cha nói đúng ạ!"

Kẻ xướng người họa, Chu Ẩm Tiêu bị sặc đến chết đi sống lại, lồm cồm chạy đi tìm nước uống.

Mộc Cát Sinh thật sự đã nghiêm túc trông Ô Tất Hữu suốt hai ngày. Chu Ẩm Tiêu lấy làm lạ, thầm nghĩ chẳng lẽ lão tứ già rồi nên đổi tính đổi nết, muốn làm người cha hiền sao? Kết quả ngay sáng ngày thứ ba thức dậy, y đã thấy dưới mái hiên có một cái túi dệt lớn treo lủng lẳng, ngay cạnh một chùm lạp xưởng, cùng đung đưa trong gió.

Ô Tất Hữu bị nhét nguyên người vào trong túi dệt, ngủ say đến mức thổi bong bóng mũi.

Giang sơn dễ đổi bản tính khó dời, lão tứ đến cùng vẫn là lão tứ. Ma đầu gây hoạ dẫu có vượt Hỏa Diệm Sơn đi đến Tây Thiên thì vẫn giữ nguyên cái nết lưu manh. Năm đó Chu Ẩm Tiêu đã bị lão tứ dạy dỗ đến đỗi chẳng dám phá phách, Ô Tất Hữu lại càng không phải là đối thủ của y.

Một già một nhỏ ở với nhau, Mộc Cát Sinh trái lại càng giống trẻ con hơn. Có đôi khi Ô Tất Hữu bị trêu đến mức kêu la oai oái, giận quá không thèm nhìn mặt cha. Thế nhưng hôm sau, Chu Ẩm Tiêu đưa nhóc đi công viên giải trí, Ô Tất Hữu nhìn thấy kẹo bông gòn liền kéo vạt áo y, hỏi có thể mua cho cha một cái không, hình như cha thích ăn cái này.

Chu Ẩm Tiêu có chút ghen tị, hỏi nhóc: "Tôi cũng thích ăn, sao nhóc không nghĩ đến tôi?"

"Cha tốt, chú xấu." Ô Tất Hữu nhanh nhảu đáp: "Chú chẳng bao giờ cho cháu chơi tàu lượn siêu tốc."

Ô Tất Hữu còn quá nhỏ, miếu Thành Hoàng bây giờ giống như một cái viện dưỡng lão, ở vài ngày khó tránh khỏi buồn chán. Đứa nhỏ gào thét đòi xem tivi, Mộc Cát Sinh lúc này chưa biết tivi là thứ gì, chứng mắt mờ tai ù của y vẫn chưa khỏi hẳn. Sài Thúc Tân ngẫm nghĩ một chút, cuối cùng ôm tới một chiếc radio.

Chiếc radio này là đồ cũ của Tùng Vấn Đồng năm xưa, bên trong lưu trữ rất nhiều tuồng tích và truyện bình thư. Mộc Cát Sinh nghe đến mê mẩn, gần như ngày nào cũng bê bát cơm ngồi trước radio. Ô Tất Hữu không chịu nổi món này vì nghe không hiểu, nhưng nhóc lại thích bám dính Mộc Cát Sinh, thế nên hằng ngày dù ghét bỏ nhưng vẫn cứ vây lại bên radio.

Mộc Cát Sinh thuận tay xoa đầu nhóc, chậm rãi giảng giải cho nhóc đây là vở kịch nào, hồi thứ mấy, kể về câu chuyện gì, và câu hát nào hay nhất.

Cho đến tết năm sau, Chu Ẩm Tiêu trên bàn tiệc đã ngà ngà say, y gõ đũa rồi bất chợt cất giọng, chậm rãi ngâm xướng một câu hát.

Trong phút chốc, những chiếc đèn lồng treo khắp sân dường như cũng trở nên bừng sáng hơn.

Ô Tất Hữu chớp chớp mắt, lớn tiếng nói: "Cháu biết, đây là trích đoạn 'Kinh Diễm' trong Tây Sương Ký!"

Mộc Cát Sinh nhìn sang Sài Thúc Tân, cười nói: "Tam Cửu Thiên, cảnh đẹp ý hay thế này, không góp vài đoạn sao?"

Sài Thúc Tân trầm ngâm nhìn y thật lâu mới gật đầu, anh đứng dậy đi lên gác. Lúc trở xuống, trên tay cầm theo một chiếc sáo Tô và cây đàn Tam Huyền.

Mộc Cát Sinh nhận lấy đàn Tam Huyền, thử âm, âm sắc tròn đầy. Y vốn định để lão ngũ kéo đàn, nhưng cây đàn này cầm quá thuận tay, bèn trực tiếp gẩy một bộ âm điệu để lấy lại cảm giác, sau đó hất cằm về phía Chu Ẩm Tiêu: "Lên một đoạn chứ?"

"Lên thì lên!" Chu Ẩm Tiêu rõ ràng đã uống hơi quá chén: "Cùng lắm cũng chỉ năm quyển hai mươi mốt hồi thôi, nhiều nhặn gì đâu!

Mộc Cát Sinh bật cười, quay sang nói với Sài Thúc Tân: "Sài đại công tử, chúng ta bắt đầu chứ?"

Dưới ánh đèn lồng đỏ rực, đôi mắt Sài Thúc Tân như vừa được gột rửa qua men rượu. Anh đưa sáo Tô lên môi, nốt nhạc đầu tiên vang lên có chút run rẩy.

Đêm giao thừa năm ấy, dưới gốc ngân hạnh cuối cùng lại vang lên khúc Tây Sương. Cây ngân hạnh trong miếu Thành Hoàng vốn được dời từ nền cũ của thư trai về đây, trăm năm đã có linh. Ô Tất Hữu không thức khuya nổi, chẳng bao lâu cơn buồn ngủ đã ập tới. Đứa nhỏ ngáp một cái, dụi dụi mắt, trong khoảnh khắc năm tháng như gợn sóng lan tỏa, nhóc con dường như thoáng thấy một bức tranh của thời cũ hiện ra trong cơn mông lung.

Vẫn là dưới gốc ngân hạnh, có người vận bạch y thoát tục tựa trích tiên hạ phàm, một nhóm thiếu niên người ôm đàn tỳ bà, kẻ cầm đàn tam huyền. Một người mà nhóc chưa từng gặp bao giờ đang cầm chiếc quạt xếp, từng cử chỉ điệu bộ, dáng vẻ cơ hồ y hệt Chu Ẩm Tiêu.

Ô Tất Hữu chưa từng thấy người này, đó là một gương mặt với đôi mày sắc lẹm như đao. Một nốt cao vút như muốn xuyên thấu tận trời xanh, đối phương đưa mắt nhìn quanh, dường như thoáng thấy nhóc con, bèn đưa tay ra dấu "suỵt" một cái.

Ô Tất Hữu cảm thấy mình chắc đã gặp quỷ rồi. Nhóc sinh ra vốn là quỷ thai, chuyện gặp quỷ thực ra vô cùng bình thường. Nhóc vẫy vẫy tay với đối phương coi như chào hỏi, người kia mỉm cười, nghiêng người để lộ ra bóng dáng đứng phía sau.

Ô Tất Hữu lập tức trợn tròn mắt, gọi lớn: "Cha!"

Bên ngoài giấc mộng, Mộc Cát Sinh nhìn đứa nhỏ đang nằm bò ra bàn ngủ thiếp đi, cười nói: "Chà, ngủ rồi mà vẫn còn nhớ đến tôi cơ đấy."

"Lão tứ, bớt dát vàng lên mặt mình đi." Chu Ẩm Tiêu hát xong một hồi, lau mồ hôi trên mặt: "Biết đâu thằng bé đang mơ thấy lão tam thì sao."

"Đều tốt cả." Mộc Cát Sinh bế đứa nhỏ lên, để cằm nó tựa lên vai mình, nhẹ nhàng vỗ vỗ vài cái: "Tôi bế nó vào phòng trước, lát ra hát tiếp nhé."

Ô Tất Hữu bị Mộc Cát Sinh bế lên nên tỉnh lại trong chốc lát. Đứa nhỏ hé mắt, mơ màng nhìn thấy giữa sân đầy ánh đèn lấp lánh tựa sắc xuân, Sài Thúc Tân và Chu Ẩm Tiêu đang ngồi bên bàn. Thế nhưng, dường như còn có thêm ai đó nữa.

Giây tiếp theo, một bàn tay phủ lên đôi mắt nhóc, giọng nói của Mộc Cát Sinh loáng thoáng cất lên: "Xem kìa, con gái tôi buồn ngủ đến mức nào rồi! Này, nói chứ trẻ con ngủ trông thú vị thật..."

Tiếng rót rượu vang lên, Sài Thúc Tân cầm một chén sứ nhỏ, nâng ngang trước mắt.<b>.

Năm ấy Ô Tất Hữu vào lớp mầm. Đúng theo tuổi thì nhóc phải học lớp chồi rồi, nhưng thể chất quỷ thai đặc biệt nên không dễ hòa nhập với bạn bè cùng trang lứa. May mà Mộc Cát Sinh đã tỉnh lại, cậu nhóc ngày ngày ở chung với lão bất tử thân già tim trẻ mấy tháng, tính tình hoạt bát hơn hẳn, cuối cùng vừa bị dỗ vừa bị lừa mà đưa đi nhập học.

Ngày đầu Ô Tất Hữu đến lớp, cả ba người lớn cùng đi tiễn. Thiên Toán Tử, La Sát Tử và Tinh Túc Tử đồng loạt ra quân, đích thân đưa Vô Thường Tử đời này đi học. Phong thủy của trường mẫu giáo bị xung đột đến mức hỗn loạn: Tinh Túc Tử giáng điềm lành, La Sát Tử chủ hung sát, Vô Thường Tử mang quỷ khí, lại thêm Mộc Cát Sinh mang Thiên mệnh trấn giữ tại đây. Chẳng ai nói rõ được nơi này rốt cuộc biến thành đất phúc hay đất dữ.

Mộc Cát Sinh khéo mồm khéo miệng vài câu đã làm thân được với hiệu trưởng, còn dụ dỗ người ta thỉnh một con cóc ngậm tiền đặt ở cửa. Theo lý luận của y, mặc kệ đất phúc hay đất dữ, cứ chiêu tài vào là được.

Sau khi Ô Tất Hữu đi học, miếu Thành Hoàng yên ắng hơn hẳn. Mộc Cát Sinh cảm thấy đã điều dưỡng đủ, bắt đầu chuyên tâm rèn luyện cái thân già của mình. Đây không phải việc dễ dàng, ai cũng hiểu rõ dù y thuật Dược Gia có cao minh đến đâu, thể chất của y cũng không thể trở lại như xưa được nữa.

May mà tâm tính Mộc Cát Sinh không câu nệ chuyện đó. Chết cũng đã chết rồi, thân này tựa phù vân, làm hết sức mình là được, còn lại không cưỡng cầu.

Sau đó y bắt đầu lục tủ quần áo của Sài Thúc Tân, chẳng vì lý do gì khác, chỉ là mấy bài tập luyện của y khó tránh khỏi va chạm, quần áo Sài Thúc Tân chuẩn bị cho y toàn đồ vừa đẹp vừa tốt, rách thì phí, trái lại trong tủ của Sài đại công tử lại có không ít đồ thường ngày. Vóc dáng hai người tương đồng, đổi vài bộ cũng chẳng sao.

Chu Ẩm Tiêu lần đầu nhìn thấy cảnh đó thực sự cảm thấy mắt mình mù rồi, cơm chẳng buồn ăn đã bỏ về Thận Lâu. Y không dám giãy nãy trước mặt Sài Thúc Tân, chỉ khi về đến Thận Lâu mới dám buông thả. Tinh Túc Tử âm thầm thở ngắn than dài hồi lâu, chẳng biết cái món nợ này bao giờ mới đến hồi kết.

Rồi bỗng một ngày, Mộc Cát Sinh bới được một bộ đồng phục học sinh từ trong tủ quần áo của Sài Thúc Tân.

"Đây là đồng phục của trường trung học phổ thông số 1." Sài Thúc Tân nhận lấy bộ đồ từ tay Mộc Cát Sinh, nói: "Tôi từng dạy học ở đó."

"Trường trung học phổ thông số 1?" Mộc Cát Sinh suy nghĩ một chút, cười nói: "Hiểu rồi, chắc là địa bàn của lão nhị hoặc lão tam."

Từ ngày tỉnh lại, y thường xuyên nhắc tới Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư, nhưng những gì y nói đều là chuyện trước mắt, như món này ăn ngon, giống tay nghề của lão nhị hoặc con gái tôi đúng là đúc ra từ một khuôn với lão tam. Còn về việc trong bảy mươi năm y tạ thế, Mặc Tử và Vô Thường Tử rốt cuộc đã trải qua những gì, Mộc Cát Sinh chưa từng hỏi tới.

Y thậm chí còn không hỏi về kết cục của hai người họ.

Ngay lúc này đây, họ ngồi dưới gốc cây ngân hạnh, Sài Thúc Tân bưng tới hai tách trà, chậm rãi mở lời: "Sau khi chiến tranh kết thúc, tôi đã đi Liên Xô..."

<i>Chẳng nghe tiếng hoàng khuyển, thơ lá đỏ khó lòng trao gửi.</i>

<i>Trạm dịch không gặp sứ mai, một thân rời nước, ba nghìn dặm.</i>

<i>Một ngày đi, mười hai canh mới mong về.</i>

<i>Tựa lan can mà trông, nghe tiếng sông cuồn cuộn, nhìn núi non chập chùng.</i>

Hôm sau, Mộc Cát Sinh lại hôn mê.

Lần này y ngủ không quá lâu, khi tỉnh lại mọi thứ vẫn bình thường. Chỉ có Ô Tất Hữu là cảm thấy hoang mang vì cha nó ngủ quá kỹ, đứa nhỏ nói: "Con cứ tưởng cha chết rồi, nên chạy xuống Phong Đô xem thử, trên sổ sinh tử cũng chẳng có tên cha."

Mộc Cát Sinh vui vẻ không thôi, vỗ vỗ đầu đứa nhỏ, hỏi: "Trường mẫu giáo dạy con những gì rồi? Đưa cha xem nào."

Ô Tất Hữu ôm tới một chồng giáo trình dày cộp, từ bản đồ cho đến bảng phiên âm Hán ngữ. Mộc Cát Sinh nhìn mà tặc lưỡi lấy làm lạ. Ngay sau đó, y liền giật luôn băng nghe đọc của đứa nhỏ, ngày nào cũng "a o ê i u ư", học hành nghiêm chỉnh hẳn hoi, chính thức bắt đầu con đường trở thành công dân mới của thế kỷ 21.

Đợi đến khi Ô Tất Hữu nghỉ hè, Mộc Cát Sinh đưa nhóc tới thư viện. Y quẳng đứa nhỏ vào khu sách thiếu nhi, còn mình thì đi tới phòng lưu trữ. Y đã nhờ Sài Thúc Tân làm thủ tục trước, rồi nói với nhân viên tiếp đón: "Chào cô, tôi muốn xem báo cũ giai đoạn 1937 - 1945."

"Chào anh, khoảng thời gian này hơi dài." Nhân viên có chút khó xử: "Anh có phương diện cụ thể nào muốn tra cứu không ạ?"

Mộc Cát Sinh nhớ lại mấy câu mà Sài Thúc Tân từng nói với mình: "Tôi muốn tìm hiểu về... Cuộc kháng chiến chống Nhật."

Kỳ nghỉ hè của Ô Tất Hữu kéo dài hai tháng, một già một nhỏ đóng quân ở thư viện suốt hai tháng trời. Chẳng biết Mộc Cát Sinh dùng cách gì mà khiến đứa nhỏ chịu ngồi yên một chỗ cùng y đọc sách. Sau này, nhân viên quản lý cũng đã nhẵn mặt, họ thậm chí còn rất có thiện cảm với vị "Mộc tiên sinh" có khí chất đặc biệt kia. Cho tới ngày cuối hè của Ô Tất Hữu, Mộc Cát Sinh đã xem xong xấp báo cuối cùng, bước ra khỏi phòng lưu trữ.

Nhân viên quản lý chào y: "Mộc tiên sinh, ngày mai anh còn đến không?"

"Ngày mai tôi phải đưa con gái đi học rồi." Mộc Cát Sinh cười đáp: "Gặp nhau bao lần mà tôi vẫn chưa hỏi, cô sinh năm mấy?"

"Tôi thuộc thế hệ 8x." Người quản lý nói: "Đúng dịp cải cách mở cửa, vào thời đại tốt đẹp."

"Đúng vậy." Mộc Cát Sinh gật đầu: "Quả là một thời đại tốt đẹp."

Ngày hôm sau, Mộc Cát Sinh đưa Ô Tất Hữu đến trường. Y đứng ngoài vẫy vẫy tay, rồi rẽ sang một con đường khác hẳn ngày thường.

Y không trở về miếu Thành Hoàng.

Đây là lần đầu tiên Mộc Cát Sinh đi xa kể từ khi tỉnh lại, rời miếu Thành Hoàng tròn một tháng. Chu Ẩm Tiêu nghe tin thì sợ đến tái mặt, nhưng Sài Thúc Tân lại rất bình thản: "Em ấy cần phải ra ngoài đi dạo một chút."

Chu Ẩm Tiêu sốt ruột đến vò đầu bứt tai: "Anh cứ để lão tứ đi một mình vậy sao? Bôn ba bên ngoài với cái thân thể đó?!"

"Em ấy chịu được." Sài Thúc Tân rũ mắt: "Có những con đường, chỉ có thể tự mình bước đi."

Thực ra anh rất muốn đi cùng y, nhưng bao lần tỉnh giấc giữa đêm khuya, nhìn thấy y một mình nằm trên nóc nhà ngắm sao, anh đã hiểu Mộc Cát Sinh vẫn là Mộc Cát Sinh của năm nào.

Tướng quân thúc ngựa, ắt độc hành.

Nói thì nói vậy, nhưng Thất Gia Chư Tử tai mắt khắp nơi, hành trình mỗi ngày của Mộc Cát Sinh đều được báo thẳng về miếu Thành Hoàng. Nào là hôm nay Thiên Toán Tử ra chợ đêm chỗ nào bày sạp, ngày mai đi mượn chỗ ngủ nhờ ở đâu. Có hôm còn có cả Thổ Địa công chạy đến khiếu nại việc Thiên Toán Tử ăn sạch đồ cúng của ông ta. Chu Ẩm Tiêu túm cổ Ô Tất Hữu tới, bày một chiếc bàn tính trong miếu Thành Hoàng, bắt đứa nhỏ tiếp nối sự nghiệp của cha ruột, quyết toán sổ sách giúp Mộc Cát Sinh, rồi sau đó đi giảng hòa khắp nơi.

Mãi đến một tháng sau, hành trình của Mộc Cát Sinh lại được gửi về.

Y đã tới Bắc Kinh.

"Xem lễ kéo cờ phải dậy từ bốn giờ sáng, lão tứ dậy nổi à?" Chu Ẩm Tiêu bán tín bán nghi, nhìn Sài Thúc Tân đang bận rộn rửa nồi nhóm bếp: "Anh đang làm gì đấy?"

"Chuẩn bị thức ăn." Sài Thúc Tân nói: "Em ấy sắp về rồi."

"Không phải chứ, anh cũng nên coi ngó bọn em một cái chứ! Lão tứ vừa đi là cả nhà hít gió Tây Bắc, cháu gái em còn đang tuổi lớn. Đồ ăn nhà họ Ô em nếm thử rồi, đúng là sống không ăn nổi mà chết cũng chịu thua, em còn nghi đầu bếp nhà đó là kẻ năm xưa từng bị lão nhị đánh chết......"

Chu Ẩm Tiêu lải nhải không ngớt, sau đó thấy Sài Thúc Tân lấy ra một chiếc nồi đồng từ sâu trong tủ bát. Trông nó hơi quen mắt, mãi một lúc sau y mới ngớ ra: "Trời ơi, anh... anh định nấu món đó sao?"

Sáng sớm hôm sau, cổng lớn miếu Thành Hoàng bị người ta đá tung, một giọng nói trong trẻo vang lên: "Tam Cửu Thiên, tôi về rồi nè!"

Sài Thúc Tân bưng bát thuốc bước ra: "Đến giờ uống thuốc rồi."

Mộc Cát Sinh nhìn bát thuốc như gặp đại địch: "Này này, chắc tôi không cần uống nữa đâu nhỉ? Bấy lâu nay vẫn ổn mà, tôi thấy mình khỏe rồi! Giờ mỗi bữa đều có thể ăn được ba bát cơm!"

Sài Thúc Tân không mảy may lay chuyển, bưng bát đến trước mặt y, kiên nhẫn nói: "Uống thuốc trước, ăn cơm sau."

Mộc Cát Sinh: "... Cơm gì thế?"

Sài Thúc Tân: "Món cậu thích nhất."

Mộc Cát Sinh nửa tin nửa ngờ, bóp mũi uống cạn chén thuốc, sau đó bước vào sân sau. Vừa vào tới nơi, y đã ngửi thấy mùi thơm, lập tức vừa kinh ngạc vừa vui mừng: "Trời đất ơi, Tam Cửu Thiên, anh nấu món đó thật à! Trước đây tôi năn nỉ thế nào anh cũng không chịu, cứ bảo là thân thể tôi yếu quá chưa ăn được..."

Chu Ẩm Tiêu vừa thức trắng cả đêm canh bếp lò trợn mắt lườm nguýt, rồi bưng cái nồi xuống, mở nắp vung.

Món ăn đó là sự kết hợp của đủ loại nguyên liệu mặn chay, xếp thành từng tầng từng lớp: Tầng đầu là măng khô, tầng thứ hai là vịt rán, tầng thứ ba là thịt gà xào, tầng thứ tư là đậu hũ chiên, tầng thứ năm là viên thịt. Viền chảo được xếp thêm vài miếng sủi cảo trứng bọc tôm, dưới cùng trải nấm hương với thịt khô.

Lời xưa bảo thế nào ấy nhỉ?

Có đạo rằng: Oa như ý -

Nhất Phẩm như niên.*

<i>(Nồi như ý - một món bằng cả năm)</i>

<b>[ Edit by TeiDii ]</b>
 
Back
Top Dưới